This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Mỹ đây là Mỹ Tho. Cái vụ bỏ mất chữ “Tho” nó xảy ra hà rầm. Bằng chứng là trong ca dao: “Cúc mọc bờ ao kêu bằng cúc thủy. Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa. Viết thư thăm hết mọi nhà. Trước thăm phụ mẫu sau là thăm em”.
Tui e ông viết mấy câu thơ hay hết biết này nhà của ổng ở khúc giữa Mỹ Tho và Sài Gòn. Như Tân An chẳng hạn. Ổng đúng là một người “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”. Viết thơ mèo, lời nói đầu đúng y chang theo bài bản. Ðầu tiên là thăm hết ráo mọi nhà. Rồi sau mới thăm em, người mình thương nhớ. Yêu kiểu đó gọi là yêu kiểu học trò lễ. Vô bái, ra lạy. Thiệt là huỡn quá xá!
Tui nhớ lúc còn ở cái đất Tân Ðịnh, Sài Gòn, tui cũng nghe câu ca dao: “Trên Sài Gòn, dưới Mỹ Tho. Ðâu đâu thiên hạ cũng nhường cho”. Nghĩa là cái đất Mỹ Tho ăn đứt mấy chỗ khác. Nó chỉ thua cái đất Sài Gòn mà thôi. Tui đâu dám cãi mà còn đế thêm vô một câu là: “Thua mà còn thua xa nữa kìa!”. Bằng cớ là trong ca dao cũng có câu: “Ðèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ. Ðèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu”.
Ðầu năm1966, đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ vì dọc theo đường Hai Bà Trưng từ Công trường Mê Linh chạy dài tới chân Cầu Kiệu ban đêm mà sáng trưng như ban ngày. Trời mới dứt cơn mưa, sụp tối, tui còn thấy đường để đi dọc bờ tường nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi bắt dế lửa về cho nó đá với dế than của mấy thằng chung xóm. Con đường Hai Bà Trưng sáng trưng nhờ dãy đèn thủy ngân cao áp.
Cuối năm đó, ba tui đổi về Bưu Ðiện Mỹ Tho, tui theo về quê cũ. 9 giờ đêm Mỹ Tho, trời tối hù. Không có ngọn tỏ đâu mà đèn lu câm hè. Vì toàn là đèn néon dài 1.2 m, vàng vọt cái cháy, cái không.
Ðêm quê người cuối năm, sau vài ly rượu đỏ, tui lại thả hồn về thuở hàn vi quê cũ. Tui nhớ chợ bông Mỹ Tho ngay khúc Vườn hoa Lạc Hồng ngày xưa đó. Giờ VC đã đổi tên thành Công viên Thủ Khoa Huân.
Chợ bông cuối năm, mỗi độ Xuân về, nằm cuối đường Gia Long, từ ngã ba đường Lê Lợi kéo dài tới đường Trưng Trắc. Ðường Lê Lợi là con đường nhiều me nhứt Mỹ Tho. Ðường Trưng Trắc là đường có nhiều quán ăn nhứt Mỹ Tho, là những căn nhà sàn dọc theo bờ kinh Bảo Ðịnh. Sau 75, có người kêu là sông Bảo Ðịnh. Kêu như vậy là trật lất. Sông, rạch là do thiên nhiên. Kinh, mương là do con người đào. Kinh Bảo Ðịnh là do dân phu đời Gia Long đào (1819).
Chợ bông nhóm từ 20 tháng Chạp cho tới trưa Ba Mươi. Năm nay chỉ tới trưa 29 thôi; vì không có 30. Ghe chở cây hạnh, cây tắc, cây mai, bông cúc, mồng gà, ớt kiểng, thược dược, vạn thọ… từ Cái Mơn, Chợ Lách, Cái Bè đậu ken chật bến nước dưới mé sông. Cái chợ bông này xưa là ga xe lửa Mỹ Tho – Sài Gòn. Bà con mình từ nơi khác đi đò xuống đây mướn phòng ngủ Mê Giang, Ðịnh Tường ngủ một đêm rồi rạng sáng mai leo lên xe lửa đi Sài Gòn.
Tui nghe má tui kể sơ sơ là hồi xửa, hồi xưa ông sở, ông sơ của tui là người yêu nước hết biết. Ổng đã từng nghe lời triều đình Huế vô thành Mỹ Tho mà tử thủ, chờ Tây tới. Lúc đi, ổng còn ngoái lại dặn bà sở, bà sơ của tui là: “Chẻ tre bện sáo cho dày. Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau”. Tuy nhiên, liên quân Pháp và Tây Ban Nha tấn công thành Ðịnh Tường bằng 2 mũi. Một đi theo kinh Bảo Ðịnh từ Tân An xuống. Tới Trung Lương, tàu chiến của Tây bị đại bác triều đình thụt trúng. Trung tá Bourdais chết ngay tại trận. Hai là từ vàm Kỳ Hôn đánh ra. Quân xâm lược trang bị tối tân hơn nên ngày 14/04/1861 thành Ðịnh Tường thất thủ. Quan hộ đốc Nguyễn Công Nhàn phải bỏ thành mà chạy.
Thất trận quân lính hy sinh nhiều vô số kể mà còn bị ông Học Lạc làm thơ chọc quê nữa chớ: “Có quan hùng dũng Nguyễn Công Nhàn. Hùng dũng nhưng mà lại nhát gan. Giặc tới Bến Tranh run lập cập. Tàu vô cửa Tiểu chạy bò càng. Mưu thần trước biết ngang sông chắn. Kế dữ sau toan đóng cũi hàng. Thất thủ muốn liều cho vẹn tiết. Ngặt vì con vợ bận chưa an!”.
Ông Học Lạc là ai mà dám chọc quê thủ lãnh của ông sở, ông sơ tui như vậy chớ? Té ra ổng cũng là một người yêu nước. Thấy quân mình bị thua nên ổng nóng ruột đấy thôi.
Học Lạc, sinh năm Nhâm Dần, 1842, năm Thiệu Trị thứ hai. Ông tên thật là Nguyễn Văn Lạc, người làng Mỹ Chánh, tỉnh Mỹ Tho. Nhà nghèo, nhưng học giỏi, ông được triều đình tuyển vào ngạch học sinh (cấp lương cho đi học, như bây giờ có học bổng vậy). Do đó, người ta gọi ông là “học sinh Lạc”, dần dần rớt mất chữ “sinh”, chỉ còn lại hai chữ “Học Lạc”.
Học giỏi, nhưng thi hoài không đậu. Rồi thời cuộc nhiễu nhương, năm 1862, triều đình Huế ký hòa ước Nhâm Tuất, nhường ba tỉnh miền Ðông cho Pháp. Học Lạc không còn thiết tha gì đến chuyện thi cử nữa. Ông bỏ làng Mỹ Chánh, tản cư về chợ Thuộc Nhiêu. Ông làm tới 3 nghề thầy để mưu sinh: thầy giáo, thầy thuốc và thầy bói cho đến cuối đời. Học Lạc mất vào năm Ất Mão (1915), thọ 63 tuổi.
Thơ của Học Lạc viết theo thể Ðường Luật đã khó; mà ông lại cắc cớ gieo vần trắc nữa. Thiệt là đáng nể! Chuyện rằng, Học Lạc làm hương văn. Ðình làng cúng Kỳ Yên, mỗi hương chức góp một mâm xôi có đề tên. Mâm xôi của ông chỉ đề có hai chữ: “Thằng Lạc”. Làng bắt lỗi, ông làm bài thơ “Tạ hương đảng” để xin lỗi ban hộ tề. Nhưng lời lẽ vẫn châm biếm, xỏ xiên. “Vành mâm xôi, đề: “Thằng Lạc”. “Nghĩ mình ti tiện không đài các. Văn chương chẳng phải thứ mèo quào. Danh phận không ra cái cóc rác. Bởi thế bơ thờ thẹn núi sông. Dám đâu vúc vắc ngạo cô bác!”
Mà tại sao tui lại lục lọi, tìm hiểu về một nhà thơ trào phúng đất Mỹ Tho không thua kém gì Tú Xương đất Bắc (1870-1907)? Chẳng qua, thuở đó, mới lớn tui đã đeo đuổi một người em năm cũ. Nhà em ở ngã tư đường Học Lạc và Ðốc Binh Kiều, gần nhà đèn, phía bên kia Cầu Quay. (Cầu Quay quay hai kiểu. Ðúng mười hai giờ trưa thì cả hai phần đầu cầu được máy điện xoay cho nó xếp vào bờ kinh. Hai là nhịp giữa được tách ra và kéo lên cao như cái nóc nhà để có độ cao cho tàu bè qua lại kinh Bảo Ðịnh).
Thuở mới “dê” em, tui đã thề thốt lung tung là: “Chừng nào cầu Quay nọ thôi quay. Thì qua với bậu mới dứt dây cang thường”. Ðạo cang thường thường dùng để chỉ tình cảm vợ chồng. Vì hồi xưa thay thế bến đò Ðiều Hòa nối hai bờ kinh Bảo Ðịnh, vào năm 1890, Tây cất cầu sắt tên là Cầu Quay Mỹ Tho là một kiến trúc Eiffel. Năm 1938, Cầu Quay sập, Tây xây lại cầu đúc. Cái dạ cầu nó cao lên; tàu đò qua lại phẻ re nên không cần quay nữa. Bây giờ cầu hết quay rồi; “dê” em mà muốn em tin thì phải kiếm cái khác mà thề. Thề dưới sông sợ ma da, hà bá nó kéo giò thì leo lên đường rầy xe lửa mà thề như ông Bình Nguyên Lộc trong truyện ngắn: “Xe lửa Mỹ bung vành”.
“Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành. Tàu Tây kia lủng đáy, anh mới đành xa em!”. Tui thấy tàu Tây lúc đó bằng cây cũng đâu chắc chắn gì? Tui thấy thay chữ “tàu Tây kia lủng đáy” bằng “tàu Tây kia liệt máy” thì hay hơn. Vì thời đó xe lửa Mỹ và tàu Tây chạy bằng máy hơi nước khó liệt lắm. Có nồi súp de, chỉ cần chụm củi là máy chạy, biết tới chừng nào mới liệt?
Tưởng thề như vậy cắt không đứt, bứt không rời; là cứng khừ. Thề ác liệt như thế em mới chịu tin cho hun một cái nhe. Ai dè lúc VC chiếm được Mỹ Tho nó đứt thiệt. Ở tù cải tạo về, tui vọt luôn ra cửa Tiểu. Tui đành đoạn đi luôn cho tới tận bây giờ. Lời thề tui đã gởi cho gió ngàn bay. Lỗi tại tui muôn phần. Tui đã lỗi thề với em từ độ ấy. Hu hu!
Sau một năm trì hoãn vì đại dịch COVID-19 tràn lan, Thế vận hội Mùa Hè đã bắt đầu tại thủ đô Tokyo của Nhựt Bổn vào ngày 23 tháng 7 và đã kết thúc vào Chủ Nhật ngày 8 tháng Tám năm 2021.
Cũng giống như lễ khai mạc, lễ bế mạc khán đài vắng hoe, không khán giả. Chỉ có các quan chức và những lực sĩ còn lại.
Lá cờ Olympic hạ xuống. Quan chức chủ nhà trao nó cho người đứng đầu IOC. Ông này đã chuyển cho quan chức đại diện thủ đô Paris, nước Pháp, nơi tổ chức Thế vận hội tiếp theo vào năm 2024.
(Năm 2028 là thành phố Los Angeles, California, Hoa Kỳ. Năm 2032, là thủ phủ Brisbane, tiểu bang Queensland, Úc Châu)
Cuối cùng của lễ bế mạc là tắt ngọn lửa Olympic huyền thoại.
o O o
Nhìn lên bảng tổng kết huy chương thế vận: vàng, bạc, đồng, bà con có người hỏi ROC là đứa nào mà nó dám nằm trên nước Úc mến yêu của chúng ta?
Té ra ROC là một sản phẩm đứt dây thần kinh xấu hổ của Vladimir Putin. Putin là cựu Trung tá Mật Vụ KGB, đương kim Tổng thống ngồi hoài tới chết của nước Nga.
Năm 2019, Nga đã bị Cơ quan chống Doping Thế giới World Anti-Doping Agency (WADA) cấm tham gia các sự kiện thể thao toàn cầu do bao che và gian lận, sử dụng thuốc cấm.
Vậy là Nga không chỉ bị loại khỏi Thế vận hội Mùa Hè tại Tokyo lần nầy mà còn không được tham dự Thế vận hội Mùa Ðông 2022 tại Bắc Kinh và Giải vô địch Bóng đá thế giới 2022 tại Qatar.
ROC là viết tắt chữ: Russian Olympic Committee (Ủy ban Olympic Nga). ROC không phải là một quốc gia, chỉ là cách để các lực sĩ người Nga (không chơi doping) có thể tranh tài tại Thế vận hội Tokyo 2020.
Ðiều đó cũng có nghĩa một lực sĩ Nga dù giành được huy chương vàng, quốc kỳ của Nga sẽ không được kéo lên và quốc ca Nga sẽ không được vang lên. Thiệt là nhục!
o O o
Hình như tất cả sản phẩm của các nước độc tài cùng một lò cộng sản đều có chung một đặc tính là cứu cánh biện minh cho phương tiện.
Ðối với những người cộng sản không có từ trung thực. Họ không từ bất cứ thủ đoạn đê hèn nào để đạt cho bằng được mục đích.
Năm 2019, tại giải vô địch thế giới về bơi lội, lực sĩ người Úc Mack Horton đã từ chối đứng cùng một tên gian lận trên bục nhận huy chương.
Sun Yang, cao tới 2m, ba lần vô địch Olympic và đoạt được 11 huy chương vàng trong 5 lần vô địch thế giới liên tiếp. Nhưng mặt trái của những tấm huy chương hào nhoáng đó là hành vi phản thể thao, hành vi gian lận.
Tòa án Trọng tài Thể thao Thụy Sĩ đã cấm Sun Yang thi đấu trong 4 năm, 3 tháng. Vậy là Yang đã không thể bảo vệ danh hiệu Olympic của mình ở Tokyo. Yang có thể trở lại Thế vận hội Paris 2024 khi đã 32 tuổi. Ở tuổi đó còn bơi, còn lội lại ai?
Cuối cùng cái vinh quang của một lực sĩ bơi lội nổi tiếng nhất của Trung Quốc lại là một lực sĩ làm chế độ cộng sản Trung Quốc nhục nhã nhứt trước bàng quan thiên hạ. Tuy nhiên với một chế độ cộng sản mặt dày, mày dạn thì chuyện ăn gian nhiêu đó cũng đâu có nhục bao nhiêu! Ðối với Trung cộng, cái nhục nhứt là thua đảo quốc Ðài Loan đang đòi độc lập kia kìa.
Ðài Loan tham dự Olympic với tên gọi “Ðài Bắc, Trung Quốc”, phải xài cờ của Ủy ban Olympic Ðài Loan. Nhưng ở lễ khai mạc, đài NHK của Nhựt Bổn, thằng nầy chả ngán thằng nào, đã chơi xỏ Trung cộng một vố bằng cách giới thiệu đội tuyển “Ðài Loan” (ngầm ý, Nhựt coi Ðài Loan là một quốc gia độc lập).
Trung cộng lên tiếng la lối: “Tả nị, tả nị!” um sùm, yêu cầu các nước khác phải tôn trọng nguyên tắc “một Trung Quốc”, bằng không sẽ biết tay ngộ. Nhưng hình như chẳng có đứa nào ngán Chú Ba Tập Cận Bình hết ráo.
Ðúng là Trời hại người gian mà! Trong trận chung kết vũ cầu đôi nam, Lý Dương và Vương Tề Lâm của đảo quốc Ðài Loan đã đoạt huy chương vàng bằng cách hạ 2 tay vợt Trung cộng.
Lần đầu tiên trong lịch sử Olympic, bài hát đại diện cho đảo Ðài Loan được vang lên. Truyền hình Trung cộng tức như bị bò đá, lập tức ngưng chiếu lễ trao huy chương.
Còn mấy Chú Ba, Thím Ba bấy lâu nay được Tập Cận Bịnh dung dưỡng tinh thần ái quốc cực đoan, kiểu Ðại Hán, kiểu bành trướng Bắc Kinh la lối rằng: “Có thể thua bất cứ ai, nhưng không được thua những đối tượng Ðài Loan đòi ly khai”.
Không cho phép nó thua nhưng sau cùng hai chú Tửng Tàu cộng nó lỡ thua rồi thì sao? Thì la cho hạ hỏa, đỡ tức thôi, chớ còn trăng sao gì nữa?
o O o
Một chế độ cộng sản cai trị đất nước Trung Hoa như thế nào mà ngay cả người cùng chủng tộc cũng không ưa! Người Hong Kong biểu tình đòi dân chủ đòi tự do thì bị đàn áp rất dã man. Họ phải nhờ tới Mỹ cho tị nạn. Chính vì thế nên giới truyền thông Phương Tây ra mặt ghét cay, ghét đắng Trung cộng.
Theo “tiêu chuẩn vàng” của Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC), cho tới ngày 7 tháng 8 năm 2021, Trung cộng dẫn đầu bảng sắp hạng với 38 huy chương vàng so với 36 của Mỹ. Nhưng tại Hoa Kỳ, một số hãng truyền thông lớn ở Mỹ như: New York Times, Washington Post và NBC, đài truyền hình phát Thế vận hội và thậm chí cả Ủy ban Olympic quốc gia (USOPC) xếp theo cách tổng số huy chương (chứ không tính riêng số huy chương vàng) là tiêu chí chính.
Trang News.com của Úc đã thày lay, xía vô chuyện của người ta. Thằng Úc nầy hổng binh đại ca, mà lại binh thằng Tàu cộng! Nó dám cáo buộc Hoa Kỳ “ăn gian” trong việc xếp hạng huy chương.
Nó nói: “Thế vận hội 2016 tại Brazil, Hoa Kỳ đứng đầu về cả tổng số vàng và tổng số huy chương thì xếp kiểu cũ! Giờ đế quốc Mỹ đang thua Tàu cộng hai cái huy chương vàng thì đòi xếp theo kiểu mới”.
Kiểu mới là tính tổng số huy chương vàng, bạc, và đồng. Tính vậy thì Mỹ sẽ về nhứt vì có tới 108 huy chương các loại. Trong khi Tàu Cộng về nhì vì chỉ có 87 huy chương.
(Thằng Úc nầy nói ngộ quá hè! Cái gì cũng ăn thì đổi cách xếp hạng để làm cái giống gì hè? Tại thua huy chương vàng mà hơn huy chương bạc, huy chương đồng nên Mỹ mới cãi chớ!).
o O o
Dựa trên quan điểm khách quan, không ăn hiếp Chú Ba và cũng không nâng đỡ Chú Sam. Ðể công bình trong việc xếp hạng; đứa nào được quyền nằm trên và đứa nào phải nằm dưới, chúng ta nên cho điểm từng huy chương.
Vàng: 20 điểm.
Bạc: 15 điểm.
Ðồng: 10 điểm.
Cộng điểm lại ai nhiều thì ăn. Chớ giả sử một đứa chỉ có một vàng mà đứng trên một đứa có tới 4 bạc thì thấy cũng hơi kỳ kỳ.
Chấm điểm kiểu tui nói kết quả tới bữa nay thì Chú Ba cũng thua Chú Sam. He he! Nhưng để dành kiểu tính nầy vào Thế vận hội Mùa Hè năm 2024 tại Paris nước Pháp đi, nếu cần. Vì ngày cuối cùng của Thế vận hội Tokyo hôm Chủ Nhật, Hoa Kỳ đã kết thúc Thế vận hội với nhiều huy chương vàng nhất. Tổng số huy chương cũng nhiều nhứt. Do Hoa Kỳ đã đánh bại Brazil để lần đầu tiên giành huy chương vàng môn bóng chuyền nữ Và Hoa Kỳ đánh bại Nhật Bản, 90-75, để giành huy chương vàng lần thứ bảy liên tiếp môn bóng rổ nữ.
Sau rốt Chú Sam hơn Chú Ba một huy chương vàng, 39 so với 38 và một rổ huy chương bạc và đồng. Vậy là Chú Ba tâm phục, khẩu phục. Hết cãi rồi nhé!
o O o
Cái vụ đòi xếp hạng ai hay ai dở cũng cho thấy Hoa Kỳ và Trung Quốc đang là đối thủ của nhau trên toàn cầu, dù là về kinh tế, chính trị hay thể thao.
Vậy cũng tốt thôi! Có cạnh tranh thì thế giới sẽ tiến bộ. Nhưng nên nhớ đua nhau một cách lương thiện, trong tinh thần thượng võ, ăn không được thì bỏ, chớ hổng có đứt dây thần kinh xấu hổ rồi ăn gian. Nhớ đừng chơi trò láu cá vặt nhe Chú Ba Tập Cận Bình!
Thị bỏ hắn đã hai năm. Cỡ đó. Không chính xác, chừng lâu hơn, bởi hắn nhớ rõ đã lội nước lụt những bốn lần. Đồ vật úng thuỷ, những tập vở, những trang thư tình lấm lem trôi lềnh bềnh ra tận ngõ. Như nước cuốn, thị đi và thị chẳng để sót một thứ gì trong căn nhà 6 mét vuông tróc lở gạch đá này.
Khi uỷ ban xã ra quyết định nâng cấp toàn bộ khu vực, sợ tốn kém, sợ lôi thôi, và sẵn xáo trộn hắn bán căn hộ ấy cho một tổ hợp chăn nuôi gia súc. Hắn quyết ra đi, xuôi vào Nam, mường tượng ra cảnh một cặp lợn xề được di dời địa bàn tới trú ngụ chỗ hắn từng ở. Chỉ có heo mới chịu nổi, không rõ trước khi giũ áo ra đi thị có thốt câu đó? Hình như rất kín tiếng, thị ngậm hột thị lẳng lặng biến mất. Đau cho hắn ở cách chơi chẳng hô hoán ấy. La lên một tiếng, rống lên một hồi thì dễ chịu xiết bao.
Vào chốn xa, tứ cố vô thân, lạ nước lạ cái hắn buộc phải học lắm thứ để thích nghi. Xin được chân làm thợ mộc trong xí nghiệp gỗ, thuê nhà gần xưởng cưa đục đẻo bào, ăn uống giản đơn cần kiệm rồi mừng thầm cho cuộc đổi đời chẳng đi vào đường cùng ngõ cụt. Ông Tư, người được giao trách nhiệm dạy việc cho hắn phút đầu không có mấy thiện cảm. Bị tui hổng nghe hiểu ra những gì chú em nói, vô rừng nghe gió thổi qua cây còn biết chúng nói gì với nhau, nói bỏ lỗi người cùng xứ sở mà sao chơi khó nhau quá. Khi giả giọng Nam, có nghĩa là dụt bỏ dấu nặng chêm dưới mỗi chữ khi ấy ông Tư mới chịu thu ngắn khoảng cách. Vậy có khoẻ trí không? Trước mày cứ chơi đúng bài bản “nói dậy mà hổng phải dậy” rắc rối thí mẹ!
Ông Tư có đứa con gái rượu (hắn rất muốn hiểu chữ rượu này, chắc hổng liên hệ với bia ôm) khi rảnh rỗi ổng thường mang cô này ra làm đề bài để tả tình tả cảnh. Nó tên Liễu vì má nó sanh nó ra ở Bạc Liêu. Má nó vắn số khiến thằng Tư này chịu cảnh gà trống nuôi con đã bộn bề bao niên kỷ.Tháng 10 tới nó đúng 19 tuổi. Nó may giỏi lắm nghe mậy, từng là công nhân gương mẫu bên xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng may mặc… Không như bàn ghế tủ, thợ mộc khi gia công hẳn dùng thước đo đạc chuẩn xác để đẻo đóng khít khao, ông Tư nói về con thường chẳng có kích thước ngắn dài cong thẳng. Cũng chớ trách, con người chớ nào phải đồ vật. Một ngày đi từ a tới z ông Tư dư sức đóng xong 4 cái ghế, nhưng bàn tới nhân vật Liễu ổng “bào” miết khúc gỗ quý ấy mà ngày hoàn thành e bộ còn lâu để chốt con mộc cuối.
Dù gì thì thằng thanh niên trai tráng người ở ngoải thiệt thà củ mỉ cù mì (cù lần) chăm làm ăn cục vắt thành hòn chưa vợ chưa con ít nói thánh nói tướng nọ cũng có hồi được ông Tư dắt về nhà tham quan một bữa xấu trời. Mưa lai rai, mày mua vài chai bia, tao đã sẵn hai con khô mực nhằm làm khuây một chiều cuối tuần. Có gì biểu con Liễu phụ vô chai rượu trắng coi có tới bến đặng hôn. Tương ngộ xảy đến như sấm chớp chiều giông, hắn ngắm Liễu và Liễu nghía hắn, sóng giao thoa dễ say hơn triệu lần con mực khô mặn mòi sực nức mùi quyến dụ gượu bia. Sao mặt mày đỏ vô chừng vậy Gia? Tại tui ít khi chung đụng hơi men, tạng người tui không sánh bì được với dân miền Tây Nam bộ. Liễu à, Gia này làm ở đẳng, đệ tử của tao, mày huỡn đãi chuyện bếp núc bỏ đó ra đây ngồi chuyện trò thoải mái một phen. Đệ tử của tía thì con kêu cách sao? Huynh, muội? Chú, con? Hay kêu anh xưng em. Mồ tổ mày, kêu sao chẳng đặng, miễn sao nó còn biết đường về là được, nó gục tại trận thêm khổ tao. Nè, vô cái này coi. Rượu vào lời ra, tao hỏi thật cái này nghe Gia, hằng tháng mày trả tiền thuê phòng là nhiêu, thêm tiền cơm hàng cháo chợ cà phê cà pháo e tiền lương chẳng còn xu dính túi?
Hắn ngồi tính nhẫm một phép cọng rồi đưa ra cái kết quả. Liễu la lên: Ác đức bất nhơn, sứt mẻ kiểu đó mà sao mặt anh cứ tỉnh như ruồi vậy. Mai này tính chuyện đại sự lấy đâu ra tiền mà trang trải. Khù khờ quá mạng! Ông Tư tiếp lời, hay là này, có gì mày lại đây ở, giá cả phải chăng, tao thu tiền phòng, mày góp thêm cho con Liễu ít tiền chợ. Tao đã chôm được ít tấm ván, ít thanh gỗ, bỏ ra nửa ngày là mày có gian phòng tươm tất chốn đây. Giản tiện một công đôi ba chuyện, tao nói vậy mày nghe có thông không. Coi như mình là người nhà với nhau. Tiết kiệm cả nạm tiền. Hợp lý quá đi chớ!
Buổi ra mắt thuận lợi xuôi chèo mát mái. Khi ông Tư đi lui nhà sau giải thuỷ, Liễu thì thầm: Không hiểu sao tía em mết anh dữ thần, chắc bị người ngoài miền Trung lạc loài vào đây kiếm cách sinh nhai, chớ mấy thằng loanh quanh chốn này ưa chòng ghẹo em bị ổng chửi cho thiếu đường sập mả , chạy toé khói ông bà ông vãi. À mà này, từ rày về sau anh bỏ cái giọng pha tạp đó đi, nghe không thật lòng. Xí nghiệp em mần có chán khối dân lao động từ quê anh tấp vào làm, nghe họ tán chuyện riết cũng thông lỗ tai đâu có gì khó nghe như tía em phê bình này nọ. Anh nói mà ổng hổng nghe ra có khi mà lại hơn. Hắn đắm đuối, hắn ngây dại: Vậy thì tới chừng nào anh được ăn cơm do Liễu nấu? Nằm buông mùng cách chỗ Liễu có tấm ván mong manh? Liễu nhai cái râu mực: Cuối tháng anh trả phòng đằng đó, xong đầu tháng anh dọn tới đây. Có nhiêu đó mà tính không ra sao cà!
Mưa lâm thâm dễ chịu quá chừng quá đỗi chớ mấy hổm rày nực nội sảy cắn ngứa mình gãi mẩy ngủ thiệt chẳng êm. Anh thích mưa hôn? Chừng nào thiếu thì cảm tình mình sâu nặng, chứ quê anh chốn nọ mưa liên miên ngó bắt nản, bắt chán, bắt ớn. Cứ coi như anh vô đây cũng là một kiểu trốn mưa. Mưa ở đây khác chớ bộ, dội cho mát chút đỉnh rồi ngưng rơi, có đâu trời sầu đất thảm như quê anh. À, sau nhà có xây cái giếng, nước hiền lắm nghen, em thường ra tắm vào nửa khuya mát trời ông địa.
Hắn chuyển đổi địa bàn nơi ăn chốn ở được đâu ba bữa thì lương nhận có tăng chút đỉnh do khéo tay học mau thuộc bài và chăm chỉ chịu khó với công việc. Người ta thử giao cho hắn việc cưa, bào, làm mộng, đẻo gọt, chạm trổ một cái quan tài ngó sao cho hợp nhãn, hợp bụng kẻ quy thiên khi sở hữu căn nhà đẹp đẽ gói thân về cát bụi. Những thanh gỗ xẻ chả biết lấy từ nguồn cung cấp nào mà khi cắt da xẻo thịt nó xông lên hương mùi thật ngọt ngào. Hắn bào mịn thớ gỗ, mồ hôi đổ xuống và ngây ngất cái độ nồng mà gỗ trao gửi. Có những trưa oi ả, ăn xong hắn chùng vụng vào nằm trong áo quan để đánh một giấc êm ả, phảng phất mùi trầm hương, u mê như dính phải bùa mê thuốc lú. Thành quả hắn làm ra không chê vào đâu được và xưởng mộc ngợi ca đẻ cho hắn một danh xưng: Gia Tài. Gia là tên cúng cơm, tài là chuyên trị đóng quan tài. Chỉ vậy thôi, chẳng hàm ý nào khác. Trong chu vi ba cây số vuông, không ai không biết đến Gia tài. Ông Tư rất vui bụng, ổng nói: Năng nổ lên con, rồi có ngày sẽ thêm hai chữ điền sản sau đuôi. Khó hiểu, nhắm chừng hồi nào Gia tài điền sản đâu ra đó thì hẳn gọi ổng là tía vợ hay sao đây?
Nói ông Tư khù khờ thì hơi bị hàm oan, nhưng nói Liễu khôn nẻ vỏ thì đích thị. Hôm ấy mưa tháng bảy rầm rộ trút, mịt mù từ rừng cao su đổ trắng trời xối xả chạy ra huyện lỵ. Mưa mù khiến ông Tư thèm nhắm chút chất cay và Liễu luôn minh chứng lòng hiếu thảo cho xứng tầm con gái rượu. Liễu moi từ túi áo Gia tài ra hai trăm ngàn chạy u đi tha về lít rượu trắng kèm tôm khô củ kiệu. Chạy không tơi nón dưới thịnh nộ đất trời, chừng thích thú với tầm tã để khi trở về mái nhà xưa áo xống dán chặt vào châu thân, biến hoá thành một món nhậu ngon mắt chẳng có gì so sánh được. Gia tài nuốt nước miếng, nuốt khan, đánh ực với độ rung mãi co giật nơi trái cấm luôn chuyển động ở cần cổ. Liễu có cách làm chủ tình hình trong mọi tình huống, không đi ra ngoài dự liệu, ban đầu ông Tư lè nhè về y phục ướt như chuột lột của Liễu, ca cẩm chuyện nắng mưa và rồi thì goắc cần câu. Nồng độ cồn không pha tạp đánh gục ông xuống chẳng biết trời cao đất dày. Liễu giả bộ than: Tía ơi là tía, tửu lượng có bây nhiêu thôi mà lúc nào cũng vỗ ngực. Liễu giả bộ hắt hơi nhảy mũi: Thôi chết, sao người khó chịu thế này, hổng lẽ bị mắc mưa. Anh Gia à, có vào xức dầu nóng cạo gió cho em không nè. Giọng nũng nịu tuồng như chưa bị gió máy tác hại và thân di động y như con rắn đang lột vỏ. Áo trước quần sau, vào tới giường em thì lồ lộ cả tấm thân ngọc nữ. Hắn từng có vợ, nào mới mẻ gì cho mắt tắm gội hình tướng một nữ nhân, nhưng nói nào ngay con vợ cũ nó mướt kiểu khác, đằng này rõ là dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên. Người quê hắn thiếu ăn, đa phần xương xóc hiếm thấy thịt thà, sinh nở ở miền Nam nên Liễu được đất đai trù phú hào sảng làm vun bồi đồi này núi nọ. Ngay cả chuyện cây cỏ cũng vậy, rậm rạp phồn thực chớ không hề lưa thưa mọc trên đất cày lên sỏi đá. Liễu nằm dang tay dạng chân thứ bản đồ hình như chưa bị xâm phạm, nếu đúng vậy hắn là thằng thực dân xâm lược đang mang mộng cắm dùi bóc lột. Nói yêu em đi, bằng chất giọng nguyên bổn ở ngoài nớ, em rất thích đồ ngoại vật lạ. Hắn không nói, máu chạy rần rần loạn xạ đả thông cả chục huyệt đạo chớ không riêng hai huyệt nhâm đốc. Luýnh quýnh láng cháng cởi hoài mà áo quần chết tiệt bày đặc làm khó. Người Liễu thơm hơn một cây quế chảy mủ, có nơi ngọt có chốn mặn, có chỗ chua nồng có khúc… Hắn phá mồi mà chả cần nhắp chút rượu cay. Nhậu say không cứ phải chịu lệ thuộc vô bia rượu, chỉ nhậu khan, hắn biết mà Liễu cũng hiểu chuyện làm nháp trước khi vào văn bản chính thức trọ trẹ ra tiếng yêu mệt bá thở.
Cả hai ngầm thoả thuận chơi theo chiến thuật du kích thầm lén mà không báo cáo cùng thủ trưởng. Nhậu sương sương, phá mồi non tháng thì xảy ra đột biến. Trong xí nghiệp của Lài có cô nhân công gặp cảnh tang gia bối rối, chồng cưới mới nửa năm ảnh đã vội rửa chân leo lên bàn thờ ngồi. Cơn đau đứt ruột của người vợ trẻ đánh động lòng thương cảm Liễu, chỗ tía em nức tiếng anh Gia tài có hoa tay làm áo quan không chê được, để em nói giúp một tiếng chắc họ sẵn lòng lấy giá du di xem như thay tiền phúng điếu. Nói hôm trước hôm sau đã dẫn một thiếu phụ mặc áo tang sầu muộn đến chọn lựa mua nhà mới cho kẻ bạc phần. Đi chưa tới bảy bước, cả hắn lẫn mệnh phụ chít khăn trắng đực mặt đứng như trời trồng. Éo le chẳng có bút mực nào tả xiết. Ủa, chơ anh vô khi mô? Ủa, chồng em đau răng mà chết? Anh làm thợ mộc răng chừ? Em có mụn con nào không? Nửa đường đứt gánh có hơi sớm hỉ? Căn nhà ngoài nớ anh bán rồi à. Liễu với anh quan hệ ra răng? Chết cha, nếu đúng là thành quả lao động của anh thì không chừng anh tặng không cho em chớ tiền bạc chi, phải rứa không? Tầm bậy nà, nguyên vật liệu là của xí nghiệp, mình quyền hạn chi mà xem cái hòm như đồ của chùa. Không lấy nhiều thì phải nộp một ít, ngay cả tình cũng rứa mô có cho không biếu không đâu nà!
Cả mười mấy mạng trong xí nghiệp gỗ đồng loạt nghỉ tay giương mắt ra ngó. Í, ngộ hén, thằng Gia tài mà từng có vợ rồi sao ta. Nó bỏ vợ hay vợ bỏ mà đoàn viên trong cảnh ngộ trái ngang này? Tha phương mà ngộ cố tri mừng vui làm sao nói hết, nghiệt một chỗ thiếp đang là nàng cô phụ, đành lòng nào mà xáp lại ôm ấp nhau! Nhưng nói nào ngay, tình cũ không rũ cũng tới, áo tang cởi bỏ mấy hồi rồi châu lại về hiệp phố, chuyện nhỏ! Cha con ông Tư lặng câm trước bao xôn xao của đám bình loạn viên. Đại diện hội đồng quản trị xí nghiệp thuận lòng cho Gia tài thuê xe ba gác khiên đi cái quan tài giá bèo nhất, giảm giá 50 phần trăm cùng điều kiện hắn phải gia công làm thêm giờ. Chuyện bất khả, xin chia buồn khi người thân thích thầm lặng ra đi. Ông Tư lớn tiếng, chớ có đi luôn nghe mậy, xí nghiệp chờ mày về trả lời cụ thể mọi nguồn cơn. Bày đặt giở trò mèo dấu cứt!
Đi quàng xiên trên đất lạ, ai đâu ngờ được chúng nó từng có quá khứ gừng cay muối mặn của kiếp vợ chồng. Chồng cũ kéo cái quan tài đôi ba hôm sau sẽ vùi lấp thằng chồng mới. Vợ nửa cũ nửa mới đi bên cố gạt vẻ u sầu: Anh có oán hận em không? Chuyện đã lỡ bây chừ xin niệm tình tha thứ. Gia tài nói: Tụi mình giống như một cuốn tiểu thuyết đọc chưa hết buộc phải gấp lại, không lộn xộn mở trang giấy cũ ra, không háo hức xem sang hồi sau sẽ rõ. Anh giúp em lần nay là bị du vào cái thế chẳng đặng đừng. Thiệt khó ăn khó nói khi trở lại xí nghiệp gỗ, có nghĩ tình xưa nghĩa cũ em chớ có lộn lui chốn ấy mà làm bể nồi cơm của anh. Chồng vừa chết thì cứ giả bộ giữ tròn đạo nghĩa, chớ loạng quạng đi ta bà để chịu tiếng dị nghị âm mưu bất chính người đời gán cho. Thề một tiếng cho anh an tâm. Vợ cũ không nói gì, về tới ngõ như quả bóng xì hơi: Mả cha cuộc đời! Anh ơi là anh ơi, có sống khôn thác thiêng thì chứng giám giùm cho con vợ bất hạnh này!
Đúng là nhà có tang, lắm kẻ chộn rộn đứng ngồi không yên. Hắn chùi mồ hôi: Em đi kêu ai ra vác nó vào. Anh không hiếu kỳ vô dòm mặt thằng chồng em sao? Cho anh xin, anh nhát gan lắm, sợ vãi chuyện kề cận tử thi. Anh về đây, em nhớ giữ trọn nghĩa vợ chồng. Mụ cô anh, tính chửi khéo người ta hả? Ừ, con này sẽ giữ trọn tình nghĩa, đám tang xong con nay tới xưởng mộc thăm viếng quà cáp trả lễ cho anh, được chưa. Hắn quành chiếc xe ba gác lui về đường cũ. Đi giữa đàng thì đụng mặt Liễu, mặt ủ mày ê. Em đi mua rượu, chiều nay quyết đánh chén, say chết mẹ luôn. Bả là vợ cũ của anh à? Gia tài gầm mặt: Liễu nói sao cũng đặng, có điều bả không xứng làm vợ anh. Về đi cha, tía tui đang đợi dẹp yên dư luận đó. Rồi tối trời lại đến phiên tui, lột đồ ra, mài con dao bén, không thành khẩn tui cắt phén thằng nhỏ, giải phóng cho khỏi sanh hậu hoạn. Phỏng dái mà nhằm nhò gì! Gia tài than, cả em mà cũng xử anh kiểu đó sao Liễu? Anh thương em giàn trời hổng thấy sao. Không có em thì nào khác gì Gia tài mà mất đi điền sản. Em là cánh đồng cò bay thẳng cánh của riêng anh. Nói láo cho bà vật!
Như thường lệ, phục rượu cho ông Tư khỏi lèm bèm tới phiên Liễu lôi hắn vào buồng trấn lột. Em là con gái rượu của tía em đồng thời em cũng là hủ mắm treo đầu giường của anh. Bây giờ việc anh cần làm là chí tình liếm mút cái hủ mắm ấy, chừng nào anh càng u mê lậm phải bùa thì chừng đó em mới an tâm… Ui chao, gia tài ơi là gia tài, chừng nào em biểu thôi mới được thôi…Ui, thế con vợ cũ anh có từng bày ra trò này chưa? Ở ngoài đó, cái đầu của nam nhi chỉ được phép đội ơn công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ thôi, giữ không được ô uế. Bây chừ em bắt anh chúi mũi chúi lái vào cái cửa tử này thì đủ chứng minh anh thương em chết bỏ bể bỏ rồi. Ui, nói nghe mát ruột quá… Ui, em sướng quá mình ơi…
Bụng Liễu lộ hình cái thai hai tháng tuổi, sau hai tuần họp chi bộ đả thông tư tưởng, ông Tư đi tới chỉ thị: Nhận đồng chí Gia làm con rể. Quá trình nó phấn đấu lâu quá mạng rồi chớ còn eo xách gì nữa. Đạo đức tốt, nhân thân tốt, thường nhận được bằng ban khen của xí nghiệp và quan trọng nhất, nó thương con Liễu không cách gì tả xiết. Con Liễu có bùa ngải gì thì không biết, mà nếu có chăng, mời thầy pháp về thằng Gia tài cũng một mực từ chối chẳng ưa thanh tẩy xua đuổi tà ma ám khí. Mấy khúc gỗ đi cùng tấm ván ép từng ngăn chia biên giới, giờ được tháo gỡ cho thêm phần thông thoáng đặng có chỗ tiếp rước quan khách từ hai xí nghiệp đến chung vui ngày hệ trọng. Bản thân ông bố vợ tương lai đã cùng đứa con gái rượu áp tải anh Gia tài ra tuốt ngoài mả bà già vợ mà thắp nhang khấn vái thề nguyền theo kịch bản do Liễu chủ động viết ra. Hắn đọc trơn tru thì không khéo mà nắm xương tàn kia sẽ ngóc đầu ngồi dậy, cười lên ba tiếng cho caí sự tình lâm ly nọ. Chúng làm như cõi đời ô trọc này chưa từng nghe qua hai chữ thuỷ chung, hai chữ son sắc, bốn chữ đầu bạc răng long. May mà lời khấn nguyện kia chẳng viết thành văn bản nhuốm mùi trần tục: Tui mà phụ bạc thì Liễu có quyền cắt con chim cu tui ra dụt bên nấm mồ cô quạnh này để chứng giám.
Ông Tư tâm sự: Làm đờn ông khổ chứ không phải chơi đâu nghen mậy! Tao một mực ở không, chẳng đi bước nữa là vì vậy. Mẹ nó chứ, ba má sanh ra lành lặn là thế, được có mỗi con chim ăn nói khi không nó vụt bay đi mất thì ta nên xếp vào tội bất hiếu vậy! Thân con chẳng giữ trọn sự vẹn toàn tía má ơi!
Làm đàn ông thậm khổ, chí lý thay! Bụng Gia co thắt khi nhát thấy con vợ cũ mặc đồ đại tang vừa đi qua cánh cổng có trang hoàng đơm bông kết trái quanh chữ lễ thành hôn. Giọt nước mắt rơi xuống có thể làm dâng lên trận lụt vỡ bờ. Không ai đi chúc mừng mà lại ăn vận thứ y phục quái gỡ dị dạng tựa thế. Theo sau là người đàn ông bế trên tay một đứa bé. Cả ba đều không có tên trong danh sách khách được mời. Họ bước vào sân mang theo cả một trời đe doạ làm hoang mang cục diện. Người ẳm đứa nhỏ mặc đồng phục công an, chẳng ai lạ gì vì ảnh có chút chức phận ở huyện đường. Ảnh đứng đó làm những nụ hoa tươi dùng để trang trí buộc phải thôi khoe sắc, xìu xìu ển ển. Ảnh ngậm câm nhường cho bà quả phụ khai hoả phát súng đầu, nhắm bắn tới người đóng vai chú rể: Trước khi cuộc vui diễn ra, chúng ta cần hoàn tất một hợp đồng, đó là hàng tháng anh phải gửi tiền trợ cấp con anh cho tới khi nó trưởng thành. Tôi nhận nuôi dưỡng nó vì anh không đủ tư cách để làm cha. Chẳng nhiều nhặng gì đâu, năm triệu cho mỗi tháng. Anh đồng ý thì tôi xin ôm con rút lui, quyết không dây dưa ngó ngàng tới bộ mặt tráo trở của anh lần nào nữa.
Đám cưới nhà người đám ma nhà mình. Câu ấy sai lạc toàn bộ bởi đâu đâu cũng nhìn ra cảnh tang gia bối rối. Ăn không được thì phá. Câu ấy cũng trật tuốt luốt. Bởi nào có cảnh ăn uống gì đâu, phá cũng không, cô ấy chỉ cho nổ một trái bom to hơn cả thứ mà bọn khủng bố quen dùng. Xao xác, tan tành, vùi dập mau thứ phông màn song hỷ. Pháo đỏ rượu nồng chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. Tài hùng biện có uốn ba tấc lưỡi như các thánh mưu sĩ cũng hết có đất dụng võ. Gia ôm hận làm kẻ tiểu nhân đợi bóng chiều nhuộm tím đất trời thầm lặng ôm tư trang chạy trốn ra bến xe, lẫn vào cuộc lữ lắm bụi chưa định ra mốc cuối. Thì cứ trôi, trôi đi dù con nước cạn chẳng tài nào giáp mặt cảnh quang hào phóng của biển cả độ lượng. Nước đầy rong bèo, nước đục bùn, nước ô nhiễm, nước ao tù, nước chẳng thu được cho riêng nó một khoảng trời xanh phản chiếu mây dạt.
Người ở khu phố nói chung, ở xí nghiệp gỗ nói riêng dần dà sáng mắt sáng lòng tựu thành một nghi vấn rồi đi gần về với đáp án đầy biện chứng: Thằng Gia tài vô tội. Đứa bé kia không phải là con hắn. Cái chết đường đột ám tối của thằng chồng không loại trừ khả năng bị đầu độc, mà kẻ tiếp tay con vợ trắc nết ấy chẳng ai khác ngoài gã công an tình nhân của bả, là cha đứa nhỏ ngác ngơ kia. Sẵn thời cơ, chúng chụp bắt và đổ riết mọi tội vạ lên đầu thằng Gia tài thứ kịch bản nằm mộng cũng chẳng ngờ.
Liễu ra mả bà già thắp nhang khóc lóc kể vắn than dài để đêm về mộng thấy má hiện lên chỉ bày năm điều ba chuyện. Liễu xin nghỉ việc, Liễu nói với ông Tư: Tui đi nghe tía, chừng nửa tháng là cùng. Tức quá mà, không lôi ảnh về lại đây hoá ra là mình thua chúng nó, mắc mưu chúng nó. Con Liễu này sẽ một mình đương cự chúng nó, đánh tới rách cái lai quần vẫn hổng ngán. May mà tui còn sáng suốt, nghe lời xúi bậy của tía tới bệnh viện trục cái thai ra thì có phải tui là phường ác đức bất nhơn không. Liễu đưa tay xoa bụng: Con yên tâm, để má tìm ba con về, bà ngoại chỉ đường cho má rồi, lưới trời lồng lộng nhưng ba mày sẽ chạy không thoát bàn tay của má đâu. Kẻ sống thì đa phần đều mù loà chẳng biết phân biệt trắng đen, chỉ có người khuất bóng mới tường tận bao oan trái trên thế gian này. Bể khổ là chỗ ấy. Nghịch lý là chỗ ấy. Phân lìa cũng do chỗ nọ! Ưa chửi thề mới gớm!
Liễu đeo cái túi vải lên vai bước đi. Ông Tư nói với theo: Biểu nó giỏi chân về, thằng già này rất nhớ hắn, nhớ thằng rể côi cút hẩm hiu. Mẹ rượt, ngồi uống rượu mình ên mà nghe rượu đắng, nuốt hổng trôi! Mày đi đường mạnh giỏi, cẩn thận cái bụng bầu, hén.
Trung úy Hùng không cao nhưng thuộc hạng người vạm vỡ. Qua bộ đồng phục cảnh sát có độn áo chống đạn bên trong, mắt kẻ phàm tục cũng hiểu thằng chả từng qua nhiều lớp tu luyện kung-fu. Dĩ nhiên, Hùng là người Việt. Ổng nói giọng Nam, mặt khá điển trai, chừng ngoài 30.
Trước khi làm việc, ông tâm sự: Tôi rất nản khi cấp trên giao cho tôi phải hoàn thành vụ nầy. Vì sao nản? Vì tôi không thích đón nhận những tai tiếng xấu xa do người đồng hương gây ra. Tôi từng bắn cụt giò một tên tội phạm và tôi đã dằn vặt nhiều ngày vì thằng con trai ấy là người Việt. Trước, tôi chỉ huy đồn 36 ở phía Đông thành phố, nơi đa phần là dân da màu cư ngụ, sau này họ điều tôi về đây chỉ vì một lý do: Khu vực nầy mỗi lúc một đông người Việt, và như thế chúng ta có thể nói chuyện trực tiếp không cần qua miệng một thông ngôn. Anh hiểu không? Theo kinh nghiệm, tôi cho là khi người ta tâm sự, dẫu vụn vặt, những dốc lòng đó chẳng xa sự thật bao nhiêu, nhất là nó không bị hàng rào khác biệt ngôn ngữ quấy phá. Nói suông sẻ chứ không nói ấp úng bởi mãi tìm từ tiếng Tây tiếng u.
Anh hút thuốc phải không? Thường thì nghiêm cấm bởi phòng hỏi cung này quá chật, không cửa sổ, nói chung là bí, nhưng tôi phá lệ để cho anh tìm được chút thoải mái. Hãy thư giản. Nếu muốn, tôi sẽ xuống cafeteria mua cho anh một ly… Trung úy Hùng sửa lại khẩu súng ngắn, đen đủi dị hình máng ở thắt lưng trước khi ngồi trên một góc bàn. Phòng kê độc chiếc ghế nhựa và chiếc ghế ấy muôn đời không phải là nơi cho vị cảnh sát tọa mông. Hùng ngó xuống thằng thanh niên ngồi cứng nhắc trên ghế. Như bao thằng khác, hắn đặt hai cánh tay trên bàn, ngón xoắn lại với nhau, thảng hoặc cúi mặt tẳn mẳn moi đất đen bám sau móng tay. Một, để cố giữ bình tĩnh. Hai, đang bận suy nghĩ lao lung. Ông bạn dân ho khan, đằng hắng: Tấm ảnh này chụp đã lâu, có ghi ngày tháng. Để xem, vậy là bảy tháng trước. Bảy tháng, dung mạo chẳng thay đổi nhiều ngoại trừ dao kéo của thẩm mỹ viện can dự vào làm cho biến dạng đi. Và đây là ảnh mới nhất, lưu trữ trong cái iphone 4 của cô ấy. Anh nhận diện rồi nói cho tôi biết tên của cô ta.
Một. Tôi là Nguyễn văn Một. Tôi không biết cô này là ai cả. Tấm ảnh cũ thì xem có hơi ngờ ngợ, hơi quen quen, dù không nhớ đã thấy qua một lần ở đâu đó. Anh Hùng, à Trung úy Hùng, Trung úy biết đó, tôi làm việc trong một tiệm disco, phục vụ bán rượu, mỗi tối, nhất là cuối tuần, tôi phải chạm mặt cả ngàn cô gái đủ mọi sắc tộc. Ánh đèn mờ ở quầy rượu không giúp gì cho trí nhớ tôi, ngoại trừ những cô tóc vàng mang vào người một cái gì thật ấn tượng. Trung úy Hùng cắt ngang, đưa tay phủi sạch một vệt dơ bám vào quần. Anh Một hình như là dân vượt biển, phải không? Một làm thinh, kéo tấm ảnh lại gần. Hình này, xem nào… Ồ, không chừng là Thị. Tôi chẳng xác tín được bởi thời gian đi mau quá. Cái gì? Cô gái mang tên Thị à? Dạ phải, Thị, như câu “hu thị thị rớt bị ăn mày” ấy. Tựa một loại trái có mùi rất thơm. Nói tiếp đi, những gì còn nhớ. Dạ, năm ấy, trước khi Hồng-kông bàng giao lại cho Trung quốc, tôi ở trại tị nạn khu vực Cửu-long, lúc ấy, một chủ nhật xấu trời có mưa sa, tôi co ro chứng kiến một hình ảnh lạ, phải nói là kì cục, một đoàn xe sang trọng bóp còi inh ỏi từ ngoài cổng trại có giăng kẽm gai chạy thẳng vào, băng qua khoảng sân đọng vũng bùn lầy và dừng lại có thứ lớp trước một vuông cửa tối đen bẩn thỉu của dãy nhà A-4. Một chú rể bản xứ với sự trợ giúp của đám bạn ồn ào tiếng Quảng-đông đã vào tận hang ổ để rước về một cành hoa lưu lạc made in Duỵt-nàm. Cô dâu là Thị. Cô khoảng 18 tuổi, người Bắc, nghe đâu nằm ở trại tị nạn đã 3 năm mà không được một phái đoàn nào tiếp kiến phỏng vấn. Ở chỗ giặt giũ áo quần tôi nghe cô nói: Đéo mẹ, ngay cả bọn Đan Mạch cũng đéo thích bà. Chúng xem bà như mụ già nằm chai người, ế chảy. Cơ khổ! Lầm to lầm to. Bà ngon hơn chúng mày tưởng… Tôi để ý tới cô ta vì thứ ngôn ngữ nghe thật lạ tai, cô ưa dùng những chữ mà bọn chúng tôi gọi là tiếng Đan Mạch. Đéo, đếch, cái hĩm nhà bà đây nầy, được có mỗi con buồi chứ đâu có cái đếch gì khác… Đại khái là vậy, nói không ngượng miệng. Thứ nữa, Thị sở hữu một thân hình đẹp, phải gọi là rất xếch-xi. Chỉ có thế, tôi ngỡ cô định cư ở Hồng-kông. Trung úy có tin người giống người không? Một sự trùng hợp, nhầm lẫn ngoài ý muốn.
Tôi là Trần văn Hai. Tôi đứng bếp cho một tiệm phở bên Vancouver, nâng cao tay nghề xong tôi “mu” về đây tự mình mở quán. Người trong ảnh này có thời gian đến xin việc, thẻ an sinh xã hội mang tên Tràng An, 27 tuổi. Cô khai, thời còn bên nhà cô nấu phở rất ngon, tôi thử cho cô thi thố tài năng và quả tình cô không man khai. Quán tôi đông khách từ ngày có Tràng An. Cô ta đòi lên lương 20 đồng một giờ, tôi đồng ý. Vì công việc, chúng tôi sớm tối gần gũi nhau và xin thưa thật chúng tôi đã quan hệ với nhau. Vụng trộm chưa được một năm thì vợ tôi phát hiện, giải pháp êm đẹp nhất là cô cuốn gói ra đi với 25 ngàn tiền mặt nằm trong xách tay. Tôi không biết tin tức Tràng An từ dạo đó, hai năm trước. Giờ đây, thỉnh thoảng nhớ vu vơ. Chuyện gì đã xảy tới cho cô ấy. Mất tích, tù tội hay án mạng?
Trung úy Hùng kéo ghế. Tuy làm bằng nhựa, chân ghế cũng phát tiếng nghe ê răng khi bị kéo lê trên nền xi-măng. Ngồi xuống đi. Phạm văn Ba phải không? Dạ. Thằng đeo khoen tai tóc dựng đứng ké né ngồi vào chỗ chỉ định.
Hắn buông thỏng hai tay thu cất dưới bàn. Y phục tuyền màu đen, từ trên xuống dưới, ngoại trừ một đốm màu đỏ tươi dính chặt ở bắp tay. Phạm văn Ba chắc tốn bộn tiền để xâm vào da thịt hình một trái tim rướm máu bởi vô số gai nhọn ràng buột, bức bối. Cái ví da đựng giấy tờ tùy thân của Ba nằm sau túi quần được nối với thắt lưng bằng một sợi dây xích, lủng lẳng, rối rắm và… ngó gai con mắt. Da dẻ Ba xanh tái tựa hồ Ba là truyền nhân của bá tước Dracula, sợ quang minh chính đạo. Hắn không dám ngó mặt Trung úy Hùng như thể ở trán ông quan hai cảnh sát có xâm hình một chiếc thánh giá. Nói tóm, bao bọc quanh thân Phạm văn Ba là thứ gì đó mà phát hiện đầu tiên của mắt nhìn là sự thiếu thiện cảm. Một thằng punk đi lạc chốn, cô đơn cùng cực. Trung úy Hùng ngắm con mồi, hắn đẹp trai quá, sáng láng, có vẻ con nhà giàu học giỏi. Trung úy Hùng, theo thói quen, ngồi lên góc bàn, ra vẻ thị uy. Và nhập đề: Ba biết tiệm cho thuê DVD “4U” chứ? Dạ biết. Khách quen? Dạ, quen biết gì đâu, thường ghé xem có gì mới lạ. Biết tên chủ nhân không? Dạ biết, nghe bà vợ anh ấy gọi là Mình. Tầm bậy. Minh, không có dấu huyền. Minh cũng có thể gọi vợ là mình ơi vậy. Qua đây lâu mau? Dạ, hai mươi năm rồi. Có nghĩa là má ẳm qua hả? Dạ không, dì bế qua, má em mất khi đẻ ra em. Nói tiếng Việt giỏi hé? Dạ, bị dì em siêng dắt tới chùa trau dồi tiếng Diệt. Thôi được, tôi có ghé tiệm anh Minh cách đây hai hôm. Tôi biểu Minh nên hợp tác với cảnh sát và cậu ấy cho tôi xem danh sách của ba người Việt thường đến thuê phim. Tôi gạt hai đối tượng kia ra vì họ đứng tuổi, chả có gì đặt nghi vấn. Phạm văn Ba là kẻ còn lại, tôi ghi được tất cả những phim Ba đã mướn, kể cả ngày tháng. Khiếp, bạn giải trí với mức độ chóng mặt, gần như chỉ cách khoảng đôi ba hôm. Và điều đáng nói là bạn chỉ xem phim bạo động hoặc phim đen 3X. Trong danh mục phim người lớn mà bạn mượn tôi để ý tới phim “Hãy đi sâu vào và làm tôi khóc”. Vì sao? Vì cái poster in hình cô gái đó rất giống với tấm hình này. Tôi nói nãy giờ Ba có hiểu không? Cần xổ ngoại ngữ không? Dạ hiểu. Dạ không cần.
Trung úy Hùng thảy xuống bàn hai tấm ảnh cũ. Một của Thị, một của Tràng An. Có thể tuy hai mà một. Ba biết ai đó không? Dạ biết, dì dắt đi ăn phở để tìm hương vị quê hương nơi xứ lạnh tình nồng và em đã thấy cổ. Em kêu chị, cổ nói đừng gọi thế đéo sướng. Chị khen em đẹp giai, chị ghi cho em số phone rồi nói, nhớ gọi em nhé, anh giai… Rồi sao nữa. Rồi em muốn tìm hiểu. Rồi hai đứa hẹn nhau. Hỏi tên, chị bảo, gọi là Honey đi, cho mùi. Rồi Honey xúi em đi thuê phim để thêm hưng phấn. Khoan, khoan… Trung úy Hùng ngắt lời. Cô ấy tự nguyện hay Ba phải chi trả mỗi lần lên giường. Phải trả tiền chứ chú, à Trung úy. Cô nói lý ra không nên dây tới tiền bạc, đếch lãng mạn, nhưng cô hiện đang thất nghiệp. Cô nấu phở ngon lắm chú, à Trung úy. Thế Ba tốn bao nhiêu? Tùy thuộc vào sự buồn vui của Honey. Khi thì 250, có lúc cô đòi 300. Nói chung là chẳng có giá nhất định, Honey bảo cô không hề là một cô điếm. Mà sao Trung úy hỏi em kỹ thế? Có chuyện gì xẩy ra cho Honey sao? Tiền đâu mà Ba sẵn thế? Ông cậu em hiện là đại gia quy hoạch đất đai ở Việt-nam. Cậu thương em mồ côi mẹ sớm nên gửi cho ngàn đô hằng tháng. Đại gia là gì hả Trung úy? Có phải là Thiếu úy xong tới Trung úy xong tới Đại gia? No. Fuck. Đại là to, gia là nhà. Chỉ biết ngần ấy thôi, ngoài ra tớ bù trất, chả đủ chất xám để thông hiểu. Thôi, Ba về đi, buổi nói chuyện của chúng ta coi như chấm dứt. Thay mặt đồn cảnh sát 42 cám ơn sự hợp tác sốt sắng của Phạm văn Ba.
Trung úy Hùng đứng bấm chuông. Hôm nay ông mặc đồ dân sự, xuềnh xoàng giản dị lè phè. Có vậy mới thấy cái vỏ bọc luôn quan trọng, hèn gì người ta ưa bình phẩm: Cha chả, thằng này diện bộ đồ ăn nói trông thiệt le lói! Cởi bỏ đồ ăn nói ra, Hùng bình thường và tầm thường như vạn thằng đàn ông khác. Chuông gióng hồi thứ ba thì cửa mở, đứa con trai nheo mắt vì ánh sáng bẳn gắt của trưa hè đang dội ngập sân, chôn vùi hình thù chậu hoa lớn trong biển nắng. Mày còn nướng người trên giường sao? Chủ nhật mà anh, sinh hoạt phải thay đổi chớ. Mày đã nghe cuốn băng thu âm chưa? Đã. Vì thế mà trăn trở suốt đêm. Anh thấy sao? Tao thấy mày hên. Chả có đứa nào biết rõ thân phận con bé. Chỉ biết có mỗi việc là nó ưa dây tới chuyện xác thịt. Vụ nó bị xây xát phải nằm bệnh viện thì sao? Tao đã đóng hồ sơ với thứ kết luận: sau khi điều tra, đương sự bị đánh ghen và đương sự chẳng có ý định thưa gửi kiện cáo gì ráo. Nhắm dễ ăn không anh? Tao đã dằn mặt thằng côn đồ kia, bảo nó thăng khỏi thành phố, chớ héo lánh. Bắt chúng nó cũng dễ, chỉ sợ phải dẫn về đồn lập biên bản, như vậy câu chuyện thêm phức tạp, dấu đầu lòi đuôi. Bao lâu nó xuất viện? Tối nay em đến rước nó. Mày cũng tìm cách biến khỏi chốn này đi, cùng nó ém vào thị trấn xa khuất nào đó. Tình hình lắng dịu, tao hú mày về.
Trung úy Hùng đến mở tủ lạnh, khui bia ngữa cổ tu hơi dài. Em để tiền trong cái phong bì dấu dưới đám rau quả ấy. Con bé giao dịch với bọn trồng cỏ hơn hai năm, ký gửi trong sổ tiết kiệm được sáu chục ngàn. Phong bì ấy đựng tiền mặt. Em đếm rồi, cả thảy hơn hai chục xấp.
Hùng đóng cửa tủ lạnh, nhét cái bao thư màu vàng sau lưng quần, gần chỗ khẩu súng ngắn ẩn mình. Mày nhớ những gì tao từng căn dặn chưa? Có việc nan giải gọi tao ở cái cell phone. Tao đề nghị mày lái xe về chốn cũ rồi hẳn lấy vé máy bay sau, cho mặt con bé nhạt bớt vết trầy trụa. Đừng sử dụng phương tiện xe hỏa hoặc xe đò. Tao tạt về sở một chút.
Mở cửa, Hùng đứng ở tam cấp đeo kính rayban vào mắt, vặn vẹo thân hình qua lại. Buổi trưa, hai đầu đường vắng ngắt, êm thắm.
Thủ tục xuất viện rất đơn giản, vả lại, nạn nhân Huỳnh thị Trinh Nữ chỉ ê ẩm ba sườn, chợt da cùi chỏ và hai mũi kim khâu bên trên mày trái. Mắt bớt sưng, đi lại bình thường, bắt đầu buồn miệng: Xong cả rồi anh? Xong tất. Yên ổn từ nay về sau? Ừ, yên hàn vô sự. Mẹ kiếp, thằng ấy có võ anh ạ và phường vũ phu, ra tay tàn độc đau đéo chịu được. May mà mồm em to, em rống lên và dân tình chộn rộn, có thằng Tây con mặt bô giai chạy tới giải hạn, nó xốc ngực em đứng dậy, ma đàm sao rồi, ma đàm có ô-kê không? Ma đàm con bà mày, tao còn xuân thì mày xốc nách tao mày không cảm nhận gì sao?
Thằng đàn em Trung úy Hùng dìu Trinh Nữ tới chỗ đậu xe. Thương em thật lòng không? Hỏi lãng xẹt, không thương cớ sao cùng vào sinh ra tử với cưng? Khi nằm trên giường bệnh, em nghĩ tới anh, cầu mong sao anh là bến đỗ an toàn, sau chót của em. Đếch dám tơ tưởng gì hơn.
Xe gài số, lùi lại, xém đụng phải thằng thanh niên đang khởi động máy nổ chiếc xe gắn máy trông bụi bặm. Hắn mặc tuyền một màu đen, vừa càm ràm vừa bước tới cửa xe. Ủa, Honey, lâu ngày không gặp, em mới mướn được cuốn phim nóng thuộc hàng siêu khủng. Phim ảnh làm đéo gì giờ nầy? Có thấy người ta đang tàn tạ hay không? Honey honey! Ôi, thời oanh liệt nay còn đâu, hở Trinh Nữ!
Lắm kẻ ở trong nước mặc nhiên xem bóng đá là môn thể thao vua. Cũng nhiều đứa gọi CR7, tiền đạo xứ Bồ Đào Nha là người ngoài hành tinh vì khả năng làm bàn cũng như những tuyệt chiêu anh ấy cống hiến trên sân cỏ. Tôi yêu football nhưng chưa đến nỗi cuồng tín hâm mộ các siêu sao tới mù quáng, khóc khi nghe các đôi chân vàng gặp chuyện buồn bên xứ lạ. Và thú thật rằng, hơi ốt dột, tôi đã bỏ ra 149 đô la chưa tính thuế để mua cho bằng được chiếc áo màu tím giống y trang Ronaldo. Chi vậy? Dạ thưa, sẽ có dịp tôi diện nó. Và dịp ấy đang tới.
Có nhiều người không ưa lọt vào cõi người ta, đơn giản vì họ từng trải qua một cuộc bể dâu. Tôi không hiểu câu “lạ gì bỉ sắc tư phong”, tôi nào là phận má hồng, vì vậy tôi quyết tâm chui đầu vào cõi người ta, “đã xi-đa mà xông pha hiến máu”. Cứ xem một năm chỉ có một cái rằm. Chết bỏ bể bỏ! “Tôi về không gặp nàng, má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối…” Thơ Hữu Loan đè nặng lòng tôi khi xuống tới phi trường và hành lý bị rạch nát tan hoang như ai kia đã giải toả sè sè nắm đất bên đàng. Thiếu lắm thứ và bay mất tiêu chiếc áo màu tím “ăn nói” giá không bèo của tôi. Tôi người Huế, cũng như tôi là thẳng con rể của trường Đồng Khánh. Răng chơi chi mà ác nghiệt rứa mấy ôn? Về đây nghe anh, về đây chẳng nhẽ anh ở trần! Thà mà để anh dối mẹ qua cầu gió bay cho được đôi phần loãng moạn! Anh hải quan nào đã thương tôi tới mức soán đoạt lấy tư trang. Người về ta cho người về, ta nắm vạt áo đề huề mạng không.
Ngày 3 tháng 3 năm nay, ở Huế người ta bỏ công tổ chức đình đám lễ hội kỷ niệm 100 năm trường Đồng Khánh. Hoành tráng ra phết. Rất máu, mấy mệ, mấy bác, mấy mạ, mấy thím, mấy dì, mấy o, mấy chị lưu lạc ta bà bốn phương trời hẹn hò rậm rật về Hương giang luận kiếm. Níu tay níu chưn chọc ghẹo mắc cỡ làm duyên tạo dáng y như tuổi học trò thèm ăn khế xanh. U 70 có, U 60 có, mà ngũ thập tri thiên mệnh cũng hằng hà. Nhan sắc tàn phai, võ công thì bị phế bỏ sau 1975, bây giờ đầu bạc răng long nghe tình quê hối thúc vui được chút mô hay chút nớ. Chống gậy sụm bà chè yếu lòng thổn thức khi dẫm chân lại “con đường xưa em đi buồn vương mái tóc thề ngõ hồn nghe tái tê”. Trời Huế tím rịm một màu áo dài. Tiếc đứt ruột chẳng có tôi mặc áo cộc tay chẳng đụng hàng. Những cánh bướm tím bay chập chờn giữa cố đô, nơi mà năm 1968 quý vị nữ lưu kia từng thắt quanh đầu một vành khăn tang. Cha mạ ơi, vì răng mà phải chịu cảnh đoạ đày! Mưa trút ròng rã cả tháng trời nhăn nhó trần mây ám núi Ngự Bình trước tròn sau méo.
Năm 1941, Nguyễn Bính viết:
Giời mưa ở Huế sao buồn thế! Cứ kéo dài ra đến mấy ngày Trường Tiền vắng ngắt người qua lại Đập Đá mênh mang bến nước đầy.
2017, cảnh vật tuồng y hệt, cứ rứa mà buồn. Mô có, anh cứ nói lừng lựng, tại vì mọi con đường đều dẫn về trường Hai Bà Trưng, chỗ ni lao xao thì chốn tê quạnh vắng, ấy là lẽ thường. Tui nhớ không lầm ở Huế e tuồng chẳng có ngôi trường nào mang tên nớ? Chao, mệt anh lắm, ngẵng nghịch ghê nơi, Đồng Khánh là xưa rồi diễm, là tiền nhiệm của Hai Bà Trưng. Mấy ôn nói: Đồng Khánh là thằng vua phản động nên chôn cái tên hắn đi, đổi thành Hai Bà nghe ngon cơm uy tín hơn đó nà, mặc dù mấy ôn nỏ biết hai bà Trưng đánh thắng bọn giặc nào. Kỳ khôi quá! Chuyện chi eng? Trước, Đồng Khánh là trường dành riêng cho con gái, răng hai bà giờ ni chứa chấp luôn cả bọn con trai? Dễ lửa gần rơm quá! Chà, anh hỏi cái mới ngặt, nghe bức xúc hung! Rứa khi xưa anh ở mô? Dạ thưa chị, tui ở trong nhà. Lạt lát chưa nợ! Vỹ Dạ Kim Luông Thành Nội Tả ngạn hay Hữu ngạn? Tuy mênh mông chi xứ nhưng chí ít phải có nơi làm sổ hộ khẩu chớ! Tui nói tui ở trên đò thì chị tin không? Ái dà, Việt kiều ni rắn mắt quá, nghe dễ nổi xung. Rứa để tui thiệt thà khai báo: Kẻ hèn ni sinh ở điện Thái Hoà, lớn học Quốc Tử Giám, vịnh thơ ở Ngọ Môn Lầu mà lấy vợ là hoa khôi trường Đồng Khánh. Nghe giựt chắc, lát con mắt luôn. Nì, cho tui hỏi ngu tí, muốn ôn kỷ niệm bữa ni chui xuống ngủ đò e bất khả? Người chi mà chẳng có chút đạo đức cách mạng, có ưa đồi truỵ thì thiếu cha chi chỗ trên bờ, quận một quận hai quận ba, phường này huyện nọ ra tới ngoại ô. Sóng nước dập dìu thì có thuyền rồng, bỏ trăm đô mặc long bào ăn cơm cung đình mà tuyệt đối đừng tơ tưởng tới món thuốc nhất dạ lục giao sanh ngũ tử của vua Minh Mạng. Cám ơn chị rộng lòng trao thông tin, để tui bắt xe ôm chạy u qua Đồng Khánh, í lộn, Hai Bà Trưng, kẻo người ta chờ người ta mong người ta xù người ta chảnh.
Một tà áo dài tím đi thơ thẩn trước cổng trường vôi hồng, áo may cực gấp ở chợ Đông Ba, may hối may hả hay răng mà tôn vinh số đo ba vòng gần bằng nhau, bắt mắt hơn đòn bánh tét lá chuối gói u nần kém mỹ thuật. Ủa, chơ đi mô mà xăm xăm vô đây? Thích làm hoa lạc giữa rừng gươm sao? Rõ là con cháu của hai bà, ưa nạt nộ. Thiếu voi, thiếu lọng, thiếu quân hầu. Thiếu đao kiếm, thiếu múa roi đi quyền nhưng cũng đủ làm khó cho đứa nào ưa nuôi mộng bành trướng. Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau, chưa kể là gà trống ni cũng gáy cùng giọng Huế, phe mình cả. Ủa, răng ngó quen quen ri hè! Năm 72 mùa hè đỏ lửa học đệ nhất Quốc Học? Nói chí phải, Ngọc đó hả? Trời, ấy tên Long, đúng không? Rứa thì ngọn gió nào xô Long tấp về đây? Gió Bắc cực chớ gió mô nữa? Mền ở Canada mới về hôm bữa. Ngọc thì răng? Ngọc từ Đà Lạt xuống được hai ngày rồi, mai lại lên núi. Nghe ghê, làm như môn đệ phái Nga Mi. Rứa túi ni kiếm chỗ để mền nhổ lông mày cho. Xì, chưa có thằng Việt kiều nào ăn nói sống sượng như huynh đài. Bản cô nương là Chu Chỉ Nhược chớ mô phải Triệu Minh. Già dê gì đâu á! Hề hề, ở Đà Lạt hèn chi da trắng môi hồng má mũm mĩm với hai đồi thông một mộ phần, nhớ ngày nớ dại khờ chưa kịp ôm hun.
Tà áo dài vùng vằng đứng dậm cẳng một hồi, ra vẻ bất bình. Lông mày ta vốn đã sắc lẻm rồi, việt gian ngươi có ưa rửa chân cho ta thì ô kê. Không nói không rằng, làm thinh nhưng cả hai tuồng như đi guốc vào bụng nhau. Thời nớ hắn doạ đằng ấy không cho tớ thơm tí thì tớ sẽ đầu quân đi Biệt Động cọp nhe nanh bên tay áo trận. Chưa kịp hôn nhau thì biến động bùng lên ngoài cổ thành Quảng Tri. Đại lộ kinh hoàng dẫn tới người đi muôn lối để bặt tin nhau. Xa mút cần câu như rứa đó mà qua dâu bể vẫn còn nhìn ra nhau, cảm động chẳng có bút mực nào tả xiết. Tình cũ có khi không rũ cũng tới như thường. Vì răng Ngọc thiên di lên xứ Hoàng triều cương thổ? Đời sống dư dả cơm áo gạo tiền tới mức mô mà trông khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang điện nước thừa mứa thế kia. Ưa khám phá quá. Hoa mới nhú có cái đẹp e ấp riêng, hoa mãn khai có vẻ đẹp tràn nhựa sống và hoa sắp tàn úa cũng chôn ở đó thì thầm không ít một gợi cảm. Khi đôi đứa chào đời, cùng thời điểm Tế Hanh đã viết bài thơ “Vườn Xưa” với nhiều câu hợp tạng cho hậu bối:
một ngày xuân em trở lại nhà nghe mẹ nói anh có về hái ổi em nhìn lên vòm cây gió thổi lá như môi thầm thì gọi anh về
lần sau anh trở lại một ngày hè nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt anh nhìn giếng, giếng sâu trong vắt nước như gương soi lẻ bóng hình anh.
Bọn mình lớn lên chịu nhiều thua thiệt đổ vỡ quá. Càng đi gần tới hiện đại, chiến tranh và sự đố kỵ của lòng người đã dìm xã hội này xuống những đớn đau bất lực một tỏ bày. Chịu đựng trong câm nín. Thú thật với Ngọc là mền có mua một ít quà mang về nhưng không may đã rơi vào tay thảo khấu Lương Sơn Bạc. Gặp bạn cũ ở đây mà cứ đứng thu lu ngó chán mới gớm!
Cô cựu nữ sinh Đồng Khánh cúi đầu thỏ thẻ, giọng phai nhạt ít nhiều bởi sương xuống điệp trùng vây bọc chốn cao nguyên. Tóc thề đã cắt, xót đời chẳng nối vuông tròn một mộng ước. Bao giờ ngó lui quá vãng cũng tìm nhặt được những hình ảnh đẹp. Khi Ngọc đặt chân về lại cố đô, răng tự nhiên thơ của Tường Linh vụt hiện trong đầu. Thơ làm năm 1959 nghĩa là khi Ngọc còn nằm trong nôi:
hôm qua có người quen về Huế đi chuyến tàu đêm ga buồn, mưa nặng anh nghĩ về em nhưng không gì gửi tặng còn rất nhiều sầu nâu nỡ gửi cho em
chừ còn gì đâu gửi ra Huế nữa mất hết từ ngày đi mất hết từ hôm bắt đầu nỗi nhớ đường ra như có lắm biên thuỳ!
Khuôn viên trường mỗi lúc một thu bé khoảng cách bởi lắm người xưa rộn ràng tìm về thăm thú, ôn cố mà không tri tân. Bọn ấy thảy thấp kém bạc lòng, chúng vừa cạo sạch bao dấu tích văn hoá từng khắc ghi vào bia Quốc Học. Mới hay là muốn nhớ lại cảnh cũ người xưa, chúng sinh đã phải chín bỏ làm mười, chấp nhận và cố nén bao ngược ngạo mãi chạy bên đường Lê Lợi dựng biển trang trí rối mắt như sân khấu một gánh hát cải lương. Nơi đây có trường Mỹ Thuật đắc địa và cũng chính nó xuôi tay, minh chứng rõ nét sự xuống cấp tai hại, như không muốn xiển dương vẻ đẹp thuần khiết. Khi anh đi gần tới sự đơn giản, chính là lúc nghệ thuật được thăng hoa. Chiếc nón bài thơ, tà áo dài bây giờ cũng đã đổi khác, rắc rối, màu mè, kiểu cọ và kệch cỡm. Em đường em tôi đường tôi, tình nghĩa đôi ta có thế thôi. Ngay cả vật thể cũng khó khắng khít sắc son sánh đôi đi cùng người. Tao loạn!
Người từ vạn dặm về lạc hồn đứng với những khó hiểu. Đội tuyển Huế có mời được Ronaldo số 7 làm thủ quân e chàng cũng quờ quạng chạy như một anh nghiệp dư chuyên đá chân đất, chưa biết xỏ giày. “Mất hết từ ngày đi, mất hết từ hôm bắt đầu nỗi nhớ!”.
Đứng rục cẳng cũng chẳng nhìn ra một hình bóng cũ. Tình ngay bắt được tay day được cánh Ngọc đây thì cũng chẳng cần tơ tưởng một ai khác. Hai tay dùng ôm một người, sức nghỉn nào để bắt cá hai tay? Mền trú tại khách sạn Hương Giang, Ngọc thì răng? Ngọc ở nhà bà con gần Bến Ngự. Mền thèm cơm hến quá mạng, 35 năm rồi chưa hề xơi qua, Ngọc đi ăn với mền hí? Long không sợ đau bụng à? Ông Tào Tháo đã ngôn một câu thậm hay: “Cuộc đời ta chỉ thích rượt mỗi thằng Lưu Bị, vậy mà giờ nầy thằng nào tiêu chảy cũng oán trách ta!”. Hề hề, Lưu Bị này đã cụ bị sẵn một bịch thuốc Tây, gì cũng có, kể cả Viagra. Tên nghe nửa lạ nửa quen, nó trị bệnh chi rứa? Mền ăn nói bổ bã sợ Ngọc bạt tai lắm. Đi hí, trong túi mền có cuốn cẩm nang ghi đủ những hàng quán cần ghé qua nếu bạn tới Huế. Hay Ngọc thích ăn bánh ướt thịt nướng ở Kim Long? Hay qua Thượng Tứ thời bánh khoái? Răng cũng được, tuỳ ở Long cả. Mền dị đoan không thích ghé quán cơm Âm Phủ. Đi ăn cơm hến cho tiện đường vì ăn xong tụi mình tạt qua quán cà phê Vỹ Dạ Xưa.
“Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa…” Nói thiệt nghe, mền đã nửa hồn thương đau khi Ngọc đi xa mà chẳng biết lạc tới chốn nào. Nhức nhối dễ sợ! Nói nghe chảy nước mắt. Phải mà sân trường khi hè về, vắng như chùa bà Đanh thì Ngọc dám hun Long lắm. Hun một miếng thôi thế cái bắt tay với định mệnh.
Người ta bảo khi về già, bạn giống như con nít, câu ấy tin được mấy phần? Hai đứa mình thử làm con nít một lần, Ngọc thấy răng? Ngọc đâu đã già mà tính giở trò dụ khị. Có thích đi ăn thì nên rời bỏ hiện trường sớm, chứ đứng hồi lâu thế nào cũng có kẻ nhận diện thêm xôi hỏng bỏng không. Kỳ cục, kỷ niệm 100 năm trường Đồng Khánh mà cũng treo cờ búa liềm, ca ngợi đảng quang vinh với dựng đầu thạch cao cha già dân tộc cho bằng được. Thời trước mô có dính dáng chi tới ba cái thứ đầu Ngô mình Sở kia! Áp đặt và tra tấn người ta cũng chừng mực nào thôi chứ. Cựu học sinh toàn cả bọn Việt kiều phản động có cha anh là nguỵ quân nguỵ quyền cả đấy. Thiệt ngó gai con mắt!
Mền kêu xích lô chở hai đứa đi cho oai phong. Thôi, dị òm, mặt trân mày tráo bắt người ta đạp hộc gạch toé khói. Gọi taxi thì kín đáo và mau lẹ hơn. Mền thương Ngọc quá. Chuyện chi nữa đó? Cách suy nghĩ, sự cảm nhận của Ngọc về buổi lễ màu mè này. Thôi đi, bộ hết chỗ thương rồi hay răng? Thằng Việt kiều có quốc tịch Canada ngó người sở hữu chiếc áo dài tím chật chội muốn sứt chỉ đường tà: Sau cơm hến, đòn bánh tét là thứ cũng khiến mền thèm rỏ dãi. Xa quê hương không nhớ mẹ hiền mà cứ nhớ toàn đồ tào lao, tính luôn con yêu bánh nậm cho đủ bộ sậu. Nghĩ tới chuyện lột lá đã thấy run tay, thấy rít rát. Đồ quỷ gì đâu không á! Taxi kìa, đứng thét nghe run chân.
Tôi về dụ được nàng, má còn sống chắc thương con dâu. Sau ăn cơm hến mà chẳng chộ mặt Tào Tháo, tôi cà kê dê ngỗng dắt tay nàng vào quán cà phê nhà vườn Vỹ Dạ Xưa phát toàn nhạc họ Trịnh. “Cuộc đời đó có bao lăm mà hững hờ”. Hãy uống cốc cà phê để kích hoạt chất xám. Tuy bên bến sông chẳng có hoa bắp lay và đò dứt khoát từ chối chở trăng về kịp tối nay. Cảnh sắc huyền ảo hiện thực ùn dâng sương khói tự dưng khiến lòng mềm cách chi. Về Bến Ngự thì xa trong khi khách sạn Hương Giang đang nằm kề. Nàng ngồi bên giường nhiều bóng tối, tôi ở phương tây ôm nàng rồi lại xa, nàng cười xinh xinh nhìn tôi ực viagra , về cố đô mấy người đi trở lại, đừng đổ hô quất ngựa truy phong. Trời xui đất khiến giao duyên cùng tình xưa nghĩa cũ, sau cùng tôi cũng lột được ba bốn miếng lá chuối. Ui, thơm quá mùi nếp chín, ui bánh nậm nhân tôm giã nhuyễn đỏ au chẳng hư bột hư đường, ui lá rơi đường lá mủ nhờn tay, mút qua mút lại thêm mặn mòi. Ăn sống ăn sít chứ chẳng thèm chan nước mắm. Cá sông hồ biển hẹp ngắt ngoải thì ắt nước mắm cũng phiêu bồng.
Mền cứ rứa hay mền phải sắm áo mưa? Tối lửa tắt đèn có mưa rơi cũng mặc, đã gọi là cựu học sinh thì Ngọc bây chừ đã tới hạng tuổi tắt kinh, cho tha hồ dập liễu vùi hoa xem được mấy phần hoả hầu mà cứ eo ót. Boa cho cậu tiếp tân có hậu hỉ? Cho ít quá hắn đi trình công an đường đột vào xét giấy thêm mất vui. Mấy chục năm mới được đền bồi, phút giây này mà nghe tiếng gõ cửa thì xong om. Nước tới chân mới nhảy thì chịu răng nổi với xả lũ đúng quy trình. Ôi độc lập chửa có thì vin đâu mà đòi tự do hạnh phúc! Từ từ thôi nghe dục tốc bất đạt, rồi thở hào hển trách móc đêm dài lắm mộng người ơi. Bu như sam kẻo ngày qua rất vội, nì muốn sang thăm xứ tuyết có khó không? Ra ngoài phường làm giấy đăng ký kết hôn người đời thêm dị nghị, chơi trò bảo lãnh đoàn tụ gia đình thì di trú hẳn nghi ngờ. Thôi xin người cứ án binh bất động, mền bên nớ tắt quạt khi cày bừa, hàng năm dành tiền cứ đúng xuân về thì lên Đà Lạt sân trước một cành mai vui vầy không quên nhiệm vụ, làm Việt kiều cũng có nỗi khổ tâm riêng chớ giỡn chơi chi nơi! Ngọc đang tính sửa sang mái tranh nghèo mà chưa biết thở than cùng ai, không ấy Long cho Ngọc vay chút đỉnh. Khúc ruột ngàn dặm ơi, thương quá, đi vô người Ngọc đi kẻo mai này than ngồi trên giếng mà khát nước. Cái gàu mô rồi, ui tới rồi đó, khỏi cần nối thêm dây.
Bở hơi tai hai ngày thì diễn tuồng chia tay. Trăm năm trong cõi người ta, chữ tiên liền với chữ tiền mới ra. Mấy mợ cựu học sinh trường Đồng Khánh mượn sân Hai Bà Trưng hội ngộ giờ ni e cũng đã tan đàn sẩy nghé hồng nhan đa truân bị trời đánh ghen rơi về lại chốn trú thân phồn vinh giả tạo. Ngày tôi ra phi trường Phú Bài để bay vào Sài Gòn trời Huế buồn câm nín chực mưa rơi.
Mấy chục năm trước đi chui một đêm không trăng sao trời sầu đất thảm. Ra đi không mang ba-lô cũng chẳng có quần áo cắp nách, vác mạng không thách đố thương đau sóng cao biển cuồng nộ. Bây giờ mang tiếng Vịt kìu cũng cứ rứa thuỷ chung trên răng dưới dái hai hòn một gậy may chưa rụng sợi lông. Vì răng? Vì vật dụng cá nhân tư trang giá trị cộng thêm năm trăm đô tiền mặt chêm cho ấm đít đã giao khoán cho bạn hiền. Ngọc lau nước mắt giọng ráo hoảnh: Hy vọng năm sau tui sẽ trả cả vốn lẫn lời, cần thề không? Tui mà nói láo thì sẽ bị ung thư dú. Tôi hôn Ngọc: Em nói chi tiếng thâm trầm, đêm nằm nghĩ lại anh nát bầm lá gan. Lạ, chắc mền không duyên nợ với Huế, ngay phút đầu cái áo thể thao bóng đá tím cả chiều hoang biền biệt cũng bị chúng nó moi đi, đoạt mất. Ngọc ơi, túi nớ ham vác cày qua núi để mang em lên đỉnh thì giờ ni mới nghe mỏi gối chồn chân. Thiệt là già dịch, già dê và già mà chẳng chịu lượng sức như lời em quở yêu. Cựu học sinh Đồng Khánh chê ỏng chê eo thì huống chi đám học trò 9x con cháu hai bà Trưng nhỉ. Haizz, sức lực nhà ngươi bao tá? Tưởng Việt kiều Canada là ngon hả? Mắc cười. Ốt dột. Hổ ngươi. Trẽn. Rút lẹ cho em nhờ! Ừ, xin vĩnh biệt cõi người ta.
Hà Tiên là một thị trấn biên giới do ông Mạc Cửu thành lập. Muốn tìm lịch sử Hà Tiên cũng không khó. Sách sử nói thiếu gì! Việc ấy tôi không bàn tới. Tôi xin trình bày qua về tính cách chung của những thành phố biên giới như Tây Ninh, Châu Đốc, Hà Tiên. Nói chung, vì là những thành phố biên giới nên đó là những nơi buôn lậu hàng hóa giữa hai nước. Rõ hơn là hàng hóa giữa Campuchia và Việt Nam.
Hà Tiên khác hơn.
Suốt mấy năm chiến tranh, con đường Rạch Giá – Hà Tiên bị Việt Cộng phá dữ lắm, nào chôn mìn, đắp mô, phục kích, nào tấn công, bắt cóc… Xe cộ không đi lại được. Sau hiệp định Paris 1973, tình hình yên ổn, một phần là vì hiệu lực của hiệp định nầy, thứ nữa là vì chiến dịch Diều Hâu của các tướng Trưởng, tướng Nam.
Việt Cộng sợ, nằm im trong bưng, cục R (Rờ) trở thành cục “Rút”, rút tuốt qua Miên. Việt Cộng ở lại bên Việt Nam lạnh giò nên đường sá yên ổn, không còn bị Việt Cộng phá phách nữa, xe hàng chạy lui chạy tới, ban đầu xe Rạch Giá – Hà Tiên, rồi xe Hà Tiên – Saigon. Hàng lậu càng nhiều, khách buôn càng đông, hàng hóa càng lắm. Con đường buôn lậu hình thành, càng đông càng vui…
Hàng từ Việt Nam bán sang qua Miên không có gì. Hàng từ Miên qua Việt Nam thì gồm có thuốc lá Cheval (thuốc đầu lọc), Apsara (Không có đầu lọc, như Bastos xanh). Hãng Bastos của Tây có nhà máy sản xuất thuốc lá ở Saigon. Có lẽ Bastos hay một hãng nào đó của Tây, cũng có hãng thuốc lá ở Phnom Pênh (Nam Vang), bán rẻ hơn bên Việt Nam nên thuốc nầy được buôn lậu sang Việt Nam. Ngoài thuốc lá, Miên có gì “xuất khẩu” sang Việt Nam? Đường thốt nốt. Xứ Miên là quê hương của cây thốt nốt. Tới biên giới, Trảng Bàng chẳng hạn, du khách sẽ thấy bên thổ địa Miên mấy hàng thốt nốt chạy dài.
Cây thốt nốt cho một chất nước ngọt như đường, gọi là đường thốt nốt. Người ta lấy một cây tre dài, đục thông các mắt tre, đầu vót nhọn đâm vào ngọn cây thốt nốt. Từ đó, một chất nước rỉ ra, chảy từ theo ruột cây tre. Phía dưới người ta hứng chất nước đó vào một cái thùng sắt tây. Nước đường đó dần dần quánh lại, trở màu, hơi đen, trông không được sạch và đẹp mắt lắm. Nhưng đường thốt nốt nhẹ hơn, thanh hơn đường mía. Số đường nầy ở bên Miên bán lậu qua Việt Nam, chở bằng xe đò nhỏ, đi cùng với khách. Số lượng ít, không đáng gì.
Món hàng thứ ba từ Miên qua ở Hà Tiên là trâu (ở Tây Ninh là bò). Tôi không rõ trâu nầy tiêu thụ ở đâu, nhưng trâu chở qua Việt Nam, theo đường thủy thì phương tiện là trẹt, (một loại xà lan nhỏ) hoặc bằng xe tải. Mỗi con trâu đều có thẻ, nhận dạng bằng xoáy trâu. Dĩ nhiên, một cái thẻ trâu được xử dụng nhiều lần. Cứ cầm cái thẻ so sánh với xoáy trâu thì biết ngay rằng nó… trật lất. Có nghĩa rằng đó là trâu lậu. Tuy nhiên, người chủ chốt các vụ buôn trâu là đại úy Ngô Thành. Tr., đại đội trưởng QCTP Hà Tiên. Rút giây động rừng, rừng tư pháp của lính rất khó đụng. Ông nầy cũng thuộc hàng “nhanh chân, đầu trơn”. Gần tới 30 tháng Tư, ông cùng với xã trưởng, chủ tịch hội đồng xã Mỹ Đức, thị trấn Hà Tiên, trốn vô bưng với Nguyễn Tấn Dũng. Không biết bây giờ Nguyễn Tấn Dũng cất nhắc ông ta làm tới chức gì?!
Nói cho đúng, hàng lậu vào Hà Tiên để chở về Rạch Giá, Saigon không phải là hàng Miên, mà chính là hàng Thái Lan.
Hàng Thái Lan buôn lậu là nhằm vào thị trường Việt Nam, đem về Saigon, Cần Thơ, Rạch Giá tiêu thụ. Dân Việt ở bên nầy biên giới, dân Miên ở bên kia biên giới, nghèo lắm, làm sao có tiền để có thể tiêu thụ những thứ hàng đó được, mà với số lượng nhập vào rất lớn.
Hàng Thái Lan nhập vào Hà Tiên gồm có: Nhiều nhất là đường cát (Loại thường dùng để uống càphê), vải để may quần, nhiều hơn loại để may áo, đồng hồ Movado, ghế xếp (khá đẹp, bọc simili và xi mạ sáng loáng), xách Samsonite do Thái Lan sản xuất, gàmèn nhôm, và bạch phiến.
Hàng (phần nhiều là đường cát) từ Thái Lan chở qua bằng ghe. Ghe đậu ngoài xa, cách bờ biền Hà Tiên khoảng năm, ba ki lô mét, khi xa khi gần, do tình hình tàu Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa tuần tiểu ở khu vực nầy. Khi có tàu tuần, ghe buôn lậu Thái Lan dạt xa một chút, không phải để khỏi bị bắt, mà để tránh người ta… dị nghị. Ngang nhiên quá, đâu có được! Hoặc khi căng lắm, ghe Thái Lan dạt qua phía bên kia biên giới: Lãnh hải Miên. VNCH không có trách nhiệm, không vượt biên vì chưa có lệnh, không trách cứ Hải Quân được.
Khi tàu tuần lui xa về phía Rạch Giá thì ghe Thái Lan lại áp sát vào phía Việt Nam. Người mua hàng, phần đông là người Việt, dân Hà Tiên, chạy ghe ra (ghe nhỏ hơn ghe Thái Lan), cặp vào ghe Thái Lan, tay cầm một số vàng lượng đưa lên cho người Thái Lan (chủ hay nhân viên) thâu vàng đứng trên ghe. Sau khi đếm vàng và kiểm soát xong (vàng thật hay giả). Nếu xong rồi thì người Thái ấy ra lệnh cho “thủy thủ” của anh ta bỏ hàng xuống ghe cho người mua. Cứ một lượng (sau nầy khi Việt Cộng chiếm miền Nam xong rồi thì gọi là cây) là bao nhiêu tạ, tôi không rành. Tạ nặng 100Kg. Người mua chở vào bờ, phía đất Miên, chớ không phải bên phía VNCH. Tạ đường được chia thành nhiều bao nhỏ, mỗi bao 10Kg, đựng trong bao giấy, loại giấy giống như giấy bao ximăng. Xong, hàng từ bên kia biên giới, được thồ bằng xe đạp, mỗi xe trên dưới 10 bao, chuyển về Việt Nam, vượt biên giới, đi ngang qua ngã chùa Xà Xía của ông đại đức Công Xa Phanh (xin xem lại bài 6), rồi vào Hà Tiên, bày bán la liệt ở chợ, bến xe Hà Tiên.
Người nắm chủ chốt công việc buôn lậu nầy là một người đàn bà nổi tiếng ở Hà Tiên, người Miên lai Tàu, thường gọi là đầu gà đít vịt, tên tục là “Bà Gái Đen” (1). Lai Miên, nên, dĩ nhiên, bà ta không thể trắng được. Gái là tên. Gọi bằng bà vì bà cũng hơi lớn tuổi, thuộc hàng “cự phách trong giới buôn lậu”.
Được ít lâu, khi việc buôn lậu phát triển ngày càng lớn, bà được sự “tiếp ứng” của các xì thẩu Chợ Lớn. Các chú ba nầy hùn hạp vốn liếng hay đem vàng từ Saigon về cho bà Gái Đen như thế nào tôi không rõ, nhưng trên thực tế, tôi nghe (và đã thấy) mỗi lần mấy chú ba nầy từ Saigon về có mang theo mấy cô gái Tầu đẹp lắm, trẻ lắm. Mấy cô nầy, có cô ở lại trong nhà ông trưởng ty QT Hà Tiên, tên Ng. K. K. Việc chi xảy ra, đố ai biết?!
Dĩ nhiên, đây là hiện tượng được gọi là “Chảy máu vàng”. Vàng từ Việt Nam đi ra, đường từ Thái Lan tuồn vào. Dân Việt Nam thuộc loại “ngon”: Đem vàng đổi đường ăn chơi. Vậy mà tới 30 tháng Tư cũng còn 16 tấn vàng, chưa kịp đem đổi hàng, nên Việt Cộng đem đổi “giùm”!!!
Khi được biệt phái qua Cảnh Sát Quốc Gia, tôi trình diện tại Bộ Tư Lệnh ở Saigon. Tất cả có 600 cái đơn xin biệt phái, vậy mà số người được cho chuyển ngành chỉ có 3 “ngoe”, mang “loon” thiếu úy:
_Trương Tâm Như (con trai đại tá bác sĩ Trương Khuê Quang, Giám đốc nha Xã hội, bộ Quốc Phòng, thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. (2)
_Người thứ hai là Dương Trường Hội, em ông Dương Văn Hiếu, Trưởng đoàn Công tác Đặc biệt miền Trung của “cậu” Cẩn.
Hai anh nầy còn trẻ, đi lính khi vừa tới tuổi, còn người thứ ba, lớn tuổi hơn hai anh kia, chính là “tui”. Tui đi dạy 10 năm mới đi lính. Gặp nhau, hỏi thăm, ba đứa nhìn nhau và… ngao ngán: Cả ba đều bị đuổi cổ về miền Tây bằng sự vụ lệnh hẳn hoi.
Đám sĩ quan cấp trung úy, đại úy biệt phái thì đông hơn, phần đông là thương binh, ít nhiều sứt que gãy gọng. Đám nầy theo học một khóa Chỉ huy trưởng ở Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia Thủ Đức, còn ba ngoe chúng tôi, trước khi ca khúc “Có ai về miền Tây”, được gởi theo học một khóa “tào lao” gì đó, vui chơi, nhậu, phá hơn là học với các sĩ quan biệt phái thuộc quân khu 3 ở Biên Hòa. Trong số nầy có em út của cố đại tướng Đỗ Cao Trí là Đỗ Cao Thông. Xem ra, anh chàng nầy có “tư cách” hơn chúng tôi, ít ra là anh ta ít nói bậy, chưởi thề. Nhưng nhậu thì anh ta xếp sòng. Hết tiền mua rượu, anh chàng về nhà “chôm” rượu của “ông già”. Thứ rượu ông ta tự nấu lấy, uống vào cỡ một ly là… không còn biết trời trăng gì nữa, sau khi la to: “OK! đưa tao cái thau” (để ói vào đó).
Trong số sĩ quan biệt phái cấp trung úy, đại úy tôi nói ở trên, có đại úy thương binh Nhảy Dù Nguyễn Văn Thành. Khi tôi về Kiên Lương thì ông Thành về Hà Tiên, hai quận gần nhau. Được ít lâu thì ông Thành bị “Việt Cộng giết” ở ấp Việt Nam 1- Thị trấn Hà Tiên.
Tôi viết ở câu trên rằng “bị Việt Cộng giết”. Có người cải chính: “Bọn buôn lậu giết”. Có người nghi ngờ xa hơn: “Anh em mình chớ ai! Ông Thành chỏi với họ.”
Kết luận, tôi nói: “Cho rằng ai giết cũng có lý cả.”
Tôi xin giải thích:
Nhìn lên bản đổ biên giới Việt Miên ở Hà Tiên, người ta thấy loạn xa ngầu những “dấu hiệu kinh tài” và cơ quan dân sự, quân sự:
Trên bản đồ, bên kia biên giới có gắn những dấu hiệu kinh tài (Nói nôm na là thâu thuế hàng lậu): Ban ngày thì có Khmer Lonol, ban đêm thì Khmer Đỏ, và dấu to nhất, có nghĩa là thu thuế mạnh nhất, nhiều nhất là Việt Cộng. Ba dấu hiệu nầy sát cạnh nhau.
Bên phía Việt Nam thì có dấu hiệu các cơ quan: Quan thuế, ban 2 Chi Khu Hà Tiên, Quân Cảnh Tư Pháp Hà Tiên, bộ chỉ huy Cảnh Sát QG Hà Tiên, pháo binh, các đơn vị quân đội VNCH có khi là thiết giáp, có khi là một trung đoàn của Sư Đoàn 9 hay sư đoàn 21. Bên phía Việt Nam dấu hiệu tuy không có dấu đồng ($), có nghĩa là không thu thuế hàng lậu, nhưng ai cũng có thể thu thuế dân buôn lậu được hết vì họ có súng, có quyền. Lẻ tẻ thì trên con lộ 80A, từ Kampot, – một thành phố nhỏ của Kampuchia cách Hà Tiên không xa – qua, người Miên, không có tiền mua hàng lậu, không thuộc đường giây, họ đi thồ mướn cho chủ. Một anh lính chẳng hạn, sợ thiếu rượu nhậu hơn sợ cấp chỉ huy, bèn gọi anh chàng Miên chở thồ lại, biểu đưa vài chục xài chơi. Anh chàng chở thồ không từ chối được. Đó là nói “việc ngoài đường”. Còn bên trong các văn phòng, đố ai ở ngoài biết được!
Đại úy Thành là một ông nhà binh chân chính. Có nghĩa rằng ông thi hành mệnh lệnh cấp trên một cách nghiêm chỉnh. Khổ nỗi, trung tá Nguyễn Ngọc Thiều, cấp chỉ huy trực tiếp của tôi và đại úy Thành, gốc Biệt Động Quân, dân Long Xuyên, thuộc loại “anh hùng Lương Sơn Bạc”. Ông chẳng ngán cấp trên của ông. Chính vì ông không ngán cấp trên của ông nên cấp dưới của ông thì lại rất sợ ông. Thành ra, có việc phải lo làm. Ông ra lệnh thì phải chấp hành nghiêm chỉnh. Đừng tin tưởng gì vào cái dù mình đang được che.
Tôi không rõ đại úy Thành có cái dù nào không nhưng khi trung tá Thiều ra lệnh: “Không được cho hàng lậu về Rạch Giá”, thì ông Thành, ở chỗ đầu đường giây buôn lậu, thi hành ráo riết nghiêm chỉnh hơn ai hết nên ông bị chúng nó giết.
Chúng nó là ai?
Những ai “bị mất quyền lợi” thì làm sao có thể “tha tội” cho đại úy Thành được. Người mất quyền lợi thì nhiều lắm, gồm có những người buôn lậu, như “Bà Gái Đen” (3), các chú Ba Tàu Chợ Lớn, và những ai nhận chia chác với bọn buôn lậu. Ai thu lợi càng lớn thì ghét đại úy Thành càng nhiều, càng dữ.
Vậy thì ai giết đại úy Thành? Rõ quá rồi còn hỏi chi nữa?! Cả bọn hè nhau lại “thịt” ông Thành. Ông chạy đường nào cho thoát? Trong truyện Kiều, Nguyễn Du viết “Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.” Câu nầy áp dụng ở đây cũng đúng vậy!!!
Khổ là ông Thành chết đi để lại một vợ 3 con. Thế Lữ viết cuốn truyện phiêu lưu mạo hiểm “Vàng và máu.” Đây là truyện buôn lậu, nên thêm vào chữ đường, cho đủ nghĩa: “Vàng+ Đường và Máu”.
Sau khi về Kiên Lương, tôi đề nghị cấp trên cho dẹp trạm kiểm soát ở đầu thị trấn, ngay cầu Cống Tre. Muốn ngăn chận Việt Cộng đột nhập vào thị trấn, trạm kiểm soát đó làm được cái gì, chỉ giúp cho mấy “thầy chú” thu tiền mãi lộ mà thôi. Việc ngăn chận Việt Cộng, cần nhất là phải diệt cho hết đám giao liên, tụi nằm vùng. Việt Cộng nằm vùng ở ngay trong thị trấn thì cái trạm đó ở đầu thị trấn có ích lợi gì đâu! Dẹp trạm, là có thêm nhân viên tuần tiểu và theo dõi hạ tầng cơ sở Cộng Sản, ích lợi hơn nhiều. Tôi đích thân trình bày với “xếp” để được cho dẹp trạm.
Tuy nhiên, trước khi dẹp trạm, thấy hai chiếc xe đò chở đầy Phật tử của một ngôi chùa nào đó ở Saigon đi hành hương ở Hà Tiên về, tôi ra lệnh chận xét, tịch thu tất cả số hàng lậu Phật tử mua. Độc giả thử tính coi, tính sơ mà thôi: Nếu mỗi người mua một bao đường 10kg, hai chiếc xe đò chở khoảng một trăm Phật tử hành hương, thì trên hai cái xe ấy, có bao nhiêu đường?
Khi tôi vừa xuống xe ở chỗ hai chiếc xe bị bắt giữ, một ông thầy chùa, có lẽ là người lãnh đạo đám đi hành hương, tuổi cũng chưa cao lắm, cỡ một ông đại đức chớ chưa phải là thượng tọa, xăm xăm đi lại phía tôi. Có lẽ ông ta muốn can thiệp việc bị bắt hàng lậu. Biết vậy, tôi quay lưng đi sang hướng khác, để khỏi phải nói chuyện với ông ta. Một bà ngồi trên xe nói to lên: “Coi kìa, thầy tới mà ông ta bỏ đi, không nói chuyện với thầy.” Tôi nói nhỏ với thượng sĩ Năm Hùng đang đi bên cạnh tôi: “Ông thầy chùa nầy mở miệng can thiệp việc chở lậu, tui ghi băng rồi nhốt ông ta luôn cho biết mặt. Đi hành hương, hành tỏi thì lo hành hương. Còn chở hàng lậu!”
Năm Hùng cười: “Tôi làm việc ở đây hơn hai mươi năm, chưa thấy ai ngang bướng như ông.” Tôi cười, nói đùa với Năm Hùng: “Mười hai con giáp không có tuổi tui. Tui tuổi con cua.”
Khi tôi về văn phòng, một ông trong số người hành hương, xin gặp tôi, tự xưng: “Tôi là thiếu tá giải ngũ, muốn nói chuyện với ông.” Tôi nói ngay: “Giải ngũ hay không giải ngũ không quan trọng. Ông nghĩ rằng ông thiếu tá, loon to hơn loon tui, nên ông tính chuyện “lấy loon đè người” chớ gì? Xin lỗi, thiếu tá Bằng, tiểu đoàn trưởng 530 ở ngay nhà máy ximăng là học trò cũ của tui. Tui không phải là người đi lính kiếm cơm nên không sợ chuyện loon lá đâu!” Ông ta quay lưng đi ra, không thèm chào tôi một lời.
Việc buôn lậu nầy, sau được giao cho tỏa Hành Chánh tỉnh Kiên Giang giải quyết. Ông Phạm Văn. Th, khóa 8 Quốc gia Hành Chánh (Khóa nầy, vì tình hình khó khăn tiền bạc, không ai chăm sóc cho hai đứa em của tôi, “Hùng móm” và chị nó, tôi trình diện học chưa được một tuần thì bỏ ngang, trở về Huế đi dạy học trở lại), phó tỉnh trưởng, than phiền với xếp của tôi: “Ở Hà Tiên hàng lậu bày bán ngang nhiên, ở Kiên Lương lại bắt.”
Đó là lời khiếu nại của ông thầy chùa với ông phó tỉnh trưởng. Kể lại chuyện ấy với tôi, Trung tá Thiều, “xếp” của tôi cười, khuyến khích: “Cứ làm dzậy đi, đừng ngán. Thầy hay cha, ông nào làm bậy cứ làm tới cho tôi.” Tôi hỏi: “Tại sao đại úy Lương không bắt?” Đại úy Huỳnh Ngọc Lương, nổi tiếng cầu thủ bóng đá hồi còn trẻ, có lẽ gia nhập ngành Cảnh Sát trước khi “Quốc trưởng hồi loan”. Xếp của tôi nói: “Ông ta kinh nghiệm hơn. Việc đại úy Thành chưa nguội.”
Đây là dịp béo bở cho những người có trách nhiệm trên con đường Hà Tiên – Rạch Giá, nhưng quả tình nhiều khi các sĩ quan do tôi chỉ huy, khổ sở về việc buôn lậu nầy.
Một hôm, cầu Vàm Rầy sập, mấy ngày xe cộ không qua lại được. Xe đò chở hàng tư Hà Tiên về tới Vàm Rầy thì dừng lại đó, hàng lậu phải chuyển qua sông bằng đò. Do đó, chỗ đầu cầu Vàm Rầy biến thành một cái chợ trời. Hàng lậu bày bán đầy hai bên đường, khách tới lui xôn xao, nhộn nhịp. Về tới nơi, đứng tại chỗ, tôi gọi thiếu úy Nguyễn Minh Chiếu, trưởng cuộc, hỏi mỉa: “Ông mở cái chợ trời nầy hồi nào vậy?”
Thiếu úy Chiếu sợ hãi, nói:
_ “Em có mở đâu. Họ ưng thì họ bày ra. Đông quá, dẹp không được. Vã lại, bên quan thuế có người từ Rạch Giá vô tới đây thâu tiền. Dân đóng tiền rồi, nên họ bày bán ngang nhiên.”
_ “Ông không thâu thuế thì ông dẹp đi.” Tôi nói.
Thiếu úy Chiếu chỉ một người khoảng 50 tuổi, mập, đen, đang đứng xa chỗ tôi một chút, nói với tôi:
_ “Ông ấy là quan thuế từ Rạch Giá vô đây thu thuế,”
Tôi nói với thiếu úy Chiếu:
_ “Anh tới gọi ông đó tới đây gặp tôi.”
Rồi tôi quay qua nói với Thiếu úy Kiệt, hôm ấy cùng đi với tôi: “Mấy thằng nầy phải còng nó lại dẫn ra cho biện lý, chúng nó mới chừa.” Bất ngờ lúc đó, xã trưởng Àn đi cùng ông phó quận trưởng Nguyễn Đức Nghiêm tới gặp tôi. Ông xã trưởng than phiền mấy bữa nay cầu cầu sập nên tình hình ở đây rất phức tạp, lộn xộn, ông ta không kiểm soát được mà cảnh sát thì bất lực. Tôi bàn với ông phó quận trưởng và ông xã trưởng tìm cách dẹp cái chợ trời nầy đi. Đang mãi mê nói chuyện, khi tôi quay lại hỏi thiếu úy Chiếu về tên nhân viên quan thuế đâu rồi thì tên ấy đã lủi mất, xuống đò qua sông trốn về Rạch Giá mất rồi. Bắt hụt tên thu thuế lậu, tôi bực mình cằn nhằn thiếu úy Chiếu những mấy lần.
Tôi ghi đầu bài là con đường “ngọt ngào”, vì nó chở đường lậu, nhưng trên thực tế nó cay đắng biết bao nhiêu. Muốn biết nó “cay đắng” như thế nào, xin đọc “hồi (bài) sau sẽ rõ”.
hoànglonghải
(1) Sau 1975, bà Gái Đen tổ chức vượt biên nhiều chuyến lớn, đi trót lọt. Chính Việt Cộng che chở cho bà Gái Đen. Vì việc nầy, bà càng nổi tiếng hơn. Trong số vượt biên, có một người bà con của tôi đi theo đường giây nầy, một chuyến là xong. Sau khi Nguyễn Quang Quýnh mất chức bí thư tỉnh ủy Kiên Giang, đường giây vượt biên nầy không còn. “Đàn bà dễ có mấy tay”.
(2) Ông nầy vừa là bác sĩ riêng của Tổng thống, (hình như bác sĩ riêng của gia đình ông Nhu là bác sĩ Hoàng Văn Đức). Bác sĩ Quang còn là đệ tử của ông Trí Quang, ông nhận lệnh Tổng thống ra Huế gặp ông Trí Quang để dàn xếp, sau khi vụ đàn áp ở đài phát thanh Huế xảy ra đêm 8 tháng 5 năm 1963, việc bất thành.
(3) Khi có chiến dịch chận bắt buôn lậu do lệnh của phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo, tôi nhận chỉ thị từ “xếp” của tôi, “một giọt đường cũng không qua lọt”. Bỗng nhiên có một người đàn ông từ Hà Tiên xuống, đến nhà tôi đưa 300 ngàn đồng. Vợ tôi – theo lời tôi dặn trước -, hễ ai tới nhà cho cái gì, phải gọi tôi về, để tôi xem lại đã. Thấy vợ tôi cầm máy gọi, người ấy sợ, chạy ra xe Honda dọt mất… Ba trăm ngàn là tôi nghe ông Tư Ngọc, bán vé xe ở thị trấn Kiên Lương thuật lại về câu chuyện người từ Hà Tiên xuống nhờ ông Tư nói giúp với vợ tôi.
Sau hiệp định Paris 1973 một thời gian ngắn, tôi nhận được một văn thư từ trung ương gởi về, lưu ý rằng Việt Cộng đang âm mưu giết các cha, các thầy rồi đổ vấy cho nhau, cố gây mâu thuẫn giữa các tôn giáo, nhất là Phật giáo và Thiên Chúa giáo, để tạo ra những xáo trộn xã hội, tạo điều kiện cho chúng len lỏi hoạt động, phá rối trị an.
Đọc xong văn thư đó chưa được mấy ngày thì vào ngày ba mươi Tết, tôi nhận được một tấm card, lớn bằng nửa trang giấy học trò. Tấm card ghi như sau, phía trên, bên góc trái:
Linh mục An-tôn Nguyễn Bá Lộc
Chánh xứ Kinh 1 Hà Nội.
Hiệu trưởng trường Trung Học Kinh 1 Hà Nội
Bên phải, Linh mục viết tay:
Kính gởi ông chỉ huy trưởng
Trong kinh, hiện có một người có ý muốn giết cha. Nhờ ông chỉ huy trưởng giúp đỡ.
(Bên dưới là chữ ký của cha Lộc)
Tôi biểu nhân viên lấy tắc ráng đưa tôi vào gặp cha Lộc ở kinh 1 ngay.
Cha Lộc niềm nở tiếp tôi. Chưa được năm phút, cha gọi anh trung đội trưởng nghĩa quân lên. (Chi khu Kiên Tân biệt phái một trung đội đóng thường xuyên trong nhà thờ kinh 1 của cha Lộc, đặt dưới quyền chỉ huy của ông. Thực chất, phần đông các nghĩa quân nầy là lính kiểng).
Cha Lộc nói với tôi; “Ông đi theo anh nầy – chỉ anh trung đội trưởng – Nó chỉ nhà thằng đó cho ông.”
“Thằng đó”, có lẽ là thằng có ý đồ giết cha Lộc.
Anh trung đội trưởng dẫn tôi đi, lặng lẽ, không nói gì.
Tới nhà “thằng đó”, tôi đi thẳng vào nhà. Một ông già khoảng năm hay sáu chục tuổi tiếp tôi, mời vào nhà, rót nước, nói chuyện.
Trong khi tôi đi thẳng vào nhà thì mấy anh em nhân viên đi theo tôi, tỏa ra chung quanh nhà. Một lúc, anh Nguyễn Xuân Dương, chỉ huy toán nhân viên, vào nhà, kề tai tôi nói nhỏ: “Múm được thằng bé rồi, nó trốn trên nóc chuồng bò.”
Tôi tưởng “thằng đó” là một người lớn. Người lớn mới có gan tính chuyện giết linh mục. Sao ông Dương gọi “thằng bé”. Tuy nhiên, tôi vẫn giữ nét mặt tự nhiên, ngồi nghe ông già thuật chuyện:
_ “Thưa ông! Cha Lộc muốn làm cho to chuyện chớ có gì đâu. Thằng con tôi dại dột. Nó cầm cây súng pháo đi chơi, rồi xuống tắm ở bến kinh. Thấy cây súng, bạn nói hỏi. Nó nói: “Có cái súng nầy, tao bắn cha Lộc.” Chuyện chỉ chừng đó mà cha báo cáo với Cảnh Sát.”
Tôi không nghĩ là chuyện chỉ chừng đó. Nó phải có một nguyên nhân sâu xa nào đó, cần phải tìm hiểu. Vả lại, cha Lộc đã thưa thì không thể làm qua loa được. Mấy ông cha, như người ta thường nói, “phiền lắm.”
Tôi nói với chủ nhà:
_ “Tôi đem cháu ra ngoài Bộ Chỉ Huy, xem thử câu chuyện đầu đuôi ra sao. Xong, tôi sẽ trình bày với cha Lộc. Nếu không có gì lôi thôi, tôi sẽ cho cháu về.”
Ông già “dạ”, tỏ vẻ tin tưởng nơi tôi.
Ra về, trên ghe tắc ráng, tôi gọi thằng bé, nó khoảng 15 tuổi, đến bên tôi, hỏi sơ qua chuyện gì. Hình như cha Lộc muốn mượn tay cảnh sát, kiếm chuyện với gia đình nầy, bằng cách thưa họ. Mệt thiệt!
Tới văn phòng, thượng sĩ Phạm Văn Thanh, trưởng ban tư pháp, hỏi tôi:
_ “Nhốt nó vào khám hay sao ông?”
Tôi nói, vẻ không vui:
_ “Nhốt sao được. Nó có tội gì đâu, chỉ là chuyện trẻ con. Ngày mai là mồng một tết, tôi không muốn có ai ở trong khám hết. Trong khám không có tù mình ăn tết mới vui. Người có tội rõ ràng, tôi còn chưa muốn nhốt, huống gì thằng con nít nầy.”
_ “Vậy cho nó về trong kinh?” Thượng sĩ Thanh hỏi.
Tôi cười:
_ “Ông muốn giỡn mặt cha Lộc à? Ổng thấy mình chưa giải quyết gì mà cho nó về trỏng, ông la toáng lên thì sao? Ổng thưa tới ông Tổng thống đó.”
_ “Vậy thì sao?” Thượng sĩ Thanh lại hỏi.
_ “Anh có bà con với ông già thằng bé nầy phải không?” Tôi hỏi.
_ “Mẹ tôi là bà con con dì với vợ ông ta. Cùng ở một xóm trong kinh, nên thường hay qua lại.”
_ “Ông làm giấy bảo lãnh tạm thời đem thằng bé về ăn tết ở nhà ông đi.” Tôi cười, nói thêm: “Biểu bố mẹ nó “tăng cường” bánh chưng, bánh tét cho ông. Chờ ăn tết xong rồi tính. Nhớ đừng cho nó về trong kinh.”
Thượng sĩ Thanh gọi thằng bé theo ông về nhà. Qua tết, bắt đầu điều tra. Tôi ngán ngẩm khi đọc hồ sơ, sự việc như sau:
Thằng bé có một người anh là sĩ quan, thuộc sư đoàn 9 Bộ Binh. Anh nầy có một người bạn học cũ, hiện là phi công trực thăng. Anh xin người bạn phi công cho anh ta một cái “flare gun” (súng bắn pháo hiệu của phi công). Hôm anh sĩ quan phi công về thăm nhà, đem flare gun cho bạn, nhưng bạn anh ta hôm đó không về được. Anh gởi cây súng cho bố của bạn. Ông nầy để cây súng trên tủ thờ, có tượng Chúa Giê-Su, chờ con về đưa lại cho con.
Không ngờ thằng bé, em anh sĩ quan bộ binh, thấy cây súng hay hay, bèn lận lưng đi chơi. Trong lúc đang tức giận cha Lộc, anh ta “phát thanh” bậy một câu nên mang họa.
Hỏi tại sao ghét cha Lộc, thằng bé giải thích: Hồi năm ngoái, bố nó mua một cái máy cày John Deer để cày ruộng nhà và cày thuê cho dân trong kinh. Việc nầy đụng chạm tới quyền lợi của trưởng ấp Đông là trưởng ấp kinh 1, cũng là quyền lợi cha Lộc. Ông Đông được cha Lộc giao cho một cái máy cày của cha để cày thuê cho dân trong ấp. Trước nay, ông Đông độc quyền việc cày ruộng nầy, nay có thêm một chiếc khác nữa nên xảy ra việc cạnh tranh. Trưởng ấp Đông báo cáo sự việc với cha Lộc. Tình hình đang căng thẳng thì bỗng xảy ra chuyện thằng bé nói bậy. Thế là cha yêu cầu cảnh sát can thiệp việc có người âm mưu sát hại cha.
Giải quyết làm sao bây giờ?
“Flare gun” chỉ là súng bắn pháo hiệu, nhưng theo tôi biết, nếu bắn gần cũng có thể làm bị thương, chết người.
Tôi gọi bố thằng bé ra, nói cho ông biết hết mọi chuyện rồi khuyên ông ta xin gặp cha Lộc, xin lỗi cha về việc con mình còn dại, lỡ nói bậy. “Con dại cái mang.” Ông ta nghe lời, nhưng khi vô nhà thờ xin gặp cha, cha từ chối.
Hai ngày sau, hai ông bà cha mẹ thằng bé ra gặp tôi khóc lóc, nhờ tôi giải quyết cho thằng bé về nhà. Tôi phải đích thân gặp cha Lộc, trình bày hơn thiệt với cha, xin cha cho bố mẹ thằng bé gặp để cha bãi nại việc cha thưa thằng bé.
Nghe lời tôi, cha Lộc cho hai ông bà ấy gặp, chịu cho xin lỗi nhưng buộc họ phải đóng tiền phạt cho “nhà chung”.
Ban đầu cha đòi đóng phạt một trăm ngàn. Hai ông bà năn nỉ, tới lui nhà thờ xin xỏ nhiều lần, “Hồi lâu ngã giá ra ngoài… sáu mươi (ngàn).”
Việc cha Lộc phạt con chiên của cha như thế có đúng với luật nhà thờ, luật giáo hội Thiên Chúa La Mã hay không? Chịu, tôi không biết luật lệ đó. Và nếu như tôi có biết, tôi cũng không rõ nó đúng hay sai. Còn như đối với luật pháp quốc gia, tôi cho rằng đó là một vụ tống tiền.
Biết vậy nhưng đành chịu. Làm gì mấy ông cha?!
Làm việc ở Cái Sắn, không dễ dàng như các nơi khác! Rất nhiều người đụng chạm với các ông cha, quảy gói ra đi. Những người không phải là dân địa phương, không phải là tín đồ đạo Thiên Chúa, biết phận mình, nên có đụng với mấy cha, cũng chỉ đụng nhẹ nhàng. Căng nhứt là những người chính là con chiên của cha, khi đụng thì đụng dữ dội. Có phải họ biết “tẩy” mấy ông cha hay có tâm lý “Gần chùa gọi bụt bằng anh.” Những người giữ nhiệm vụ trước tôi như ông Thi, ông Tấn, mỗi khi gặp họ, bao giờ họ cũng hỏi mấy ông cha có làm gì phiền tôi không. Sau đó, thì họ lôi chuyện cũ đụng với mấy ông cha ra, nói liên hồi, nghe thấy mệt. Chuyện đụng chạm nhiều nhứt là với hai ông cha “đặc biệt”, gọi là đặc biệt vì hay gây đụng chạm với người làm việc cho chính quyền là cha Lộc và cha Uyển.
Khi tôi nhận sự vụ lệnh về Kiên Tân rồi, ghé thăm ông Đại Tá LCV, là người, qua nghị sĩ Hoàng Xuân T., giúp đỡ tôi, dặn:
_ “Chú về dưới đó nhớ cẩn thận. Công vụ là trên hết. Thứ hai, dưới đó có 27 ông cha, liệu giao tế cho khéo. Mấy ông cha nầy hay thưa gởi lắm.”
Về tới nơi, tìm hiểu, tôi thấy ra 27 ông cha nầy tự hình chung, chia thành ba phe: Phe cha Lộc (kinh 1), phe cha Uyển (Kinh 6 Rọc Bà Ke), như tôi đã trình bày, hai ông nầy là “mặt trăng mặt trời”, “trăng mọc sao mờ”, “trăng lặn sao tỏ”. Phe thứ ba là cha Triết, cha bề trên ở kinh 5. Tuy cha Triết là cha bề trên nhưng hình như cả hai người, cha Lộc và cha Uyển đều “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” như Từ Hải, “có biết bề trên” nhưng không mấy quan tâm. Còn một phe nữa, cha Đức, hiệu trưởng trường trung học Thái Hòa, phụ tá là cha Vũ Văn Hà Nội, cùng một số các cha khác làm giáo sư trường nầy. Mấy ông cha nầy phụ trách về giáo dục, không dính dáng gì tới “cõi ta bà” nên cũng đỡ cho tôi. Vì công vụ, tôi cùng từng tiếp xúc với cha Đức, cha Hà Nội nhiều lần, chẳng hạn như tổ chức nói chuyện và giải thích cho bọn học trò biết về cái hại của ma túy, băng đảng, v.v… Vả lại, con gái đầu của tôi, 10 tuổi, đang học lớp đệ thất ở đây, thuộc loại mà cha Hà Nội nói với tôi: “Nó đặc biệt thông minh, xuất sắc tất cả mọi môn, nhưng cũng thuộc loại quậy, thường hay “móc đuôi” các cha.” – (lấy giấy làm đuôi lén gắn sau áo các cha để cả lớp cười chơi). Nói chung, các cha ở trường Thái Hòa đứng đắn, tốt bụng. Còn cha Triết thì tôi chỉ đến thăm một lần rồi thôi, không có gì để nhờ cha, cũng như cha cũng chẳng có yêu cầu gì.
Về cha Uyển, tôi có kể trong một bài trước, nay khỏi kể lại. Riêng về cha Lộc, tôi thấy cha có nhiều cái đặc biệt, và quả thật, tôi thấy thương cha Lộc, trước hết là vì công lao của cha đối với đồng bào dinh điền.
Như tôi đã trình bày, tình hình dinh điền những ngày đầu vô cùng khó khăn. Khoảng tháng 9 tháng 10 tây, là tới mùa nước nổi. Nước lên mênh mông, lênh láng khắp mọi nơi. Ban đầu, đường chưa đắp, nền nhà chưa cao, mỗi nhà chỉ còn cái giường là nước chưa ngập vì nước lên chừng nào kê giường lên cao chừng đó. Nấu ăn cũng trên giường, ngủ nghê cũng trên giường, và như người dân thường nói đùa “Ăn ở đâu, ỉa ở đó.”
Tới khi nước rút là mùa xuân tới, có nắng, có mưa, cây cối xanh tươi. Ruộng chưa kịp phát hoang thì lau lách đã lên um tùm, xanh mướt, chẳng còn miếng đất trống để gieo hột giống.
Cũng có người muốn làm ruộng, nhưng tình hình như thế, ai ai cũng ngán ngẩm. Có người thì chỉ có tên ở dinh điền, gia đình còn ở lại Xóm Mới, Bảy Hiền. Người có mặt ở dinh điền chỉ để… lãnh đồ cứu trợ.
Nhiều người đã bỏ dinh điền mà đi. Nhiều người chuẩn bị rời đi nếu… hết đồ cứu trợ.
Cha Lộc là người kêu gọi đồng bào ở lại, trụ lại cùng cha, cùng bỏ công khai thác đất hoang thành ruộng rẫy; sửa sang, dựng lại nhà cửa. Hễ đồng bào thiếu thức gì thiết yếu như gạo ăn, lúa giống, phân bón, xi măng, v.v… thì cha Lộc can thiệp, xin xỏ với chính quyền. Có khi cha lên tận Saigon, vào phủ Tổng Ủy Dinh Điền, thậm chí cả Phủ Tổng thống, xin gặp Tổng thống Ngô Đình Diệm, Tổng Ủy Trưởng Dinh Điền để xin giúp đỡ dân, v.v…
Do đó, tình trạng dinh điền tốt đẹp như ngày nay là do công lao của các cha, nhất là cha Lộc đóng góp không ít. Cha có uy tín, được mọi người kính trọng cũng vì những công lao đó.
Khi các ông Tướng Thiệu Kỳ ra ứng cử, biết uy tín của cha nên cả hai ông bay về kinh 1, nhờ cha vận động giúp. Nhìn bức hình cha chụp với hai ông nầy, cha Lộc đứng giữa, hai ông hai bên thì đủ biết họ trọng vọng cha Lộc như thế nào. Vì vậy, nhiều người đến nhờ cha Lộc giúp đỡ, xin giúp việc nầy việc khác. Có người đem xe Huê Kỳ từ Saigon xuống đưa cha đi Saigon hay Cần Thơ để cha Lộc xin giúp việc gì đó.
Về việc cha Lộc che chở cho bà chủ cây xăng ở quận lỵ Kiên Tân buôn xăng lậu, mua từ bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận, như tôi nói trong bài trước, nó cũng tương tự như các việc kinh tài khác của cha. Cha cho người khác mượn cái tên của cha, còn như lời lỗ bao nhiêu, người chủ lo trà nước cho cha sao đó, tôi không rõ khoản chia chác nầy. Việc nầy làm cha Lộc mang tai tiếng nhiều lắm, giống như việc cha Uyển cho người khác mượn danh để buôn cọc sắt, kẽm gai vậy.
Hai ông cha, với tiếng tăm hai món hàng đặc biệt.
Tiếc rằng, về sau, khi ghế ngồi mấy ông lớn tương đối vững, không cần các cha, nhứt là cha Lộc vận động kiếm phiếu giúp nữa thì từ Saigon có văn thư phổ biến lưu ý đồng bào rằng cha Lộc không có uy tín gì, không nên nhờ cha can thiệp những việc liên quan tới chính quyền, phê phán việc cha mượn danh chính quyền để thủ lợi.
Vợ chồng tôi là người được cha Lộc thương mến. Những khi ở nhà thờ cha có lễ lược, tết nhứt, cha đích thân ghé nhà chúng tôi mời vô tham gia. Những buổi tiệc cha mời khách xa tới, dù mời bất cứ ông lớn, ông nhỏ nào, tướng tá gì đó, cha cũng mời hai vợ chồng tôi dự tiệc chung. Trong bàn ăn, trước mặt là khách quí của cha, dù ông ta cấp bậc hay chức vụ gì thì chỗ ngồi hai vợ chồng tôi là hai bên cha. Tôi ngồi bên phải, vợ tôi ngồi bên trái. Cha không cần lưu ý tới việc tôi chỉ là sĩ quan cấp úy, ngồi bên cạnh cha, còn trước mặt là một ông tướng, ông bộ trưởng hay tỉnh trưởng.
Khi tôi làm việc ở Cái Sắn là lúc cha đang xây lại nhà thờ. Nhà thờ mới xây xong, rất lớn, rất Âu Tây, gác chuông cao, nhưng phía trong chưa hoàn tất. Chỗ cung thánh đang được xây dựng trang trí. Họa sĩ Trọng Nội được cha Lộc mời trang trí bàn thờ Chúa và vẽ tranh ở cung thánh. Mỗi tháng cha Lộc phải trả 40 ngàn đồng cho họa sĩ, đã ba tháng rồi mà công việc mới được một nửa.
Cha Lộc thường nói với tôi rằng việc xây nhà thờ mới tốn kém lắm. Chỉ một việc trả tiền công cho họa sĩ Trọng Nội, tôi thấy cha cần nhiều tiền là phải. Có lẽ, phần lớn số tiền cha Lộc có, được chi vào việc xây dựng nhà thờ, một ngôi nhà thờ, như cha Lộc nói với tôi: “Lớn nhất, đẹp nhất ở dinh điền Cái Sắn nầy.”
Nhìn kỹ sự việc, tôi thấy một điều rõ là các ông cha nầy bị người ta lợi dụng, nhất là cha Lộc. Từ chủng viện, ngoài kinh sách, cha Lộc không có kiến thức, kinh nghiệm gì về cuộc sống ngoài đời. Học ở chủng viện xong là coi như chấm dứt việc học hành. Sau đó thì sách không đọc. (tôi thấy tủ sách cha Lộc chưa tới vài chục cuốn, toàn là sách đạo – Thiên Chúa -), không bao giờ cha nói với tôi về việc đọc sách, đài phát thanh trong nước cũng như ngoại quốc không nghe, dài dài ngày tháng quanh quẩn trong kinh, nhiều lắm là ra tới quận, lâu lâu đi Saigon, khách tới thăm thì vâng, dạ nhiều hơn là trình bày việc nước, việc đời với cha. Các cha phần đông lại ưa nịnh, khác xa với các linh mục dạy tôi ở đại học, tốt nghiệp từ Pháp về. Do đó, các cha ở thôn quê, phần đông thật thà, bị người khác lợi dụng là điều không khó hiểu.
Giữa năm 1973, khi Việt Cộng tấn công và chiếm một ấp thuộc xã Tân Hội, ấp nầy sát với Tà Keo, là nơi đầu tiên Nguyễn Tấn Dũng làm du kích cho Việt Cộng, bỗng nhiên cha đem trung đội nghĩa quân đi đánh Việt Cộng.
Trước khi di cư, khi còn làm linh mục của một họ đạo nào đó ở Thái Bình, cha Lộc kể: “Cha thường đem Dân Vệ đi đánh nhau với Việt Minh.”
Tôi nhớ khoảng năm 1950, ở xứ tôi, nhiều làng có Dân Vệ là lực lượng bán quân sự ở thôn quê, thường là những làng có đạo, tự họ chống lại Việt Minh, bảo vệ làng. Họ có những cây súng cổ lổ sĩ, loại 24-29, “pọc hoọc” hay Mousqueton, có loại dài như cây sào giữ vịt. Lực lượng Dân Vệ của cha Lộc có lẽ cũng như thế.
Quân đội Quốc gia lúc đó chỉ mới có Mas 36, chưa có Garant M-1 thì làm gì họ có súng hiện đại hơn, nhưng cũng đủ chống lại mã tấu của Việt Minh.
Tôi hỏi cha Lộc: “Cha đem lính qua bên kinh?” (Núi Sập). Cha Lộc trả lời: “Không, cha ở bên nầy, nã cho bọn nó mấy quả mọoc 60”.
Tinh thần chống Cộng của cha cao như vậy đó. Vậy mà ít lâu sau, cha Lộc lại nói với tôi: “Việt Cộng gởi thư cho cha, gọi cha là “Kính thưa cha cố” đấy! Họ gọi cha là cha cố”.
Cha nhấn mạnh hai chữ cha cố. Cha thích thú khi thấy Việt Cộng gọi cha là cha cố. Thật tội nghiệp cho sự ngây ngô của cha. Cha từng mấy chục năm chống Việt Cộng mà cha còn ngây ngô vậy hay sao! Nghĩ vậy, tôi nói nửa đùa nửa thật: “Nếu cần thì bọn chúng gọi cha là ông nội, ông cố, là ông thánh của chúng nó cũng được. Nhưng hễ chúng nắm được cha rồi thì cha chỉ có nước chết với chúng mà thôi! Cha đừng tin tụi nó!” Cha Lộc làm thinh, không nói, không cười.
Sau 1975, từ Cái Sắn cha chạy lên Saigon, trốn trong khu hưu dưỡng của các cha già ở nhà thờ ngã sáu. Mấy người quen ở Cái Sắn nói với vợ tôi – khi đó tôi đang ở trong trại “tù Cải Tạo” – rằng Việt Cộng nói rằng cha Lộc là “Chuẩn tướng CIA” – Bọn chúng ghét cha lắm, thù cha lắm. Vậy mà khi nghe chúng gọi cha bằng cha cố, cha lại khoái. Cha không biết tụi nó nịnh cha, muốn lợi dụng cha hay sao? Gì chớ về khoản nịnh và lợi dụng, Việt Cộng không thiếu tài. Vậy mà cha Lộc còn nghe chúng được. Cha chống Cộng bao nhiêu năm mà chẳng có kinh nghiệm chống Cộng hay sao?
Trước khi “đóng tiền đi ở tù”, vợ chồng tôi tới thăm cha. Cha chỉ xuất hiện ở cái ô nhỏ nơi cánh cửa cổng, nói: “Cám ơn các con. Về đi, nguy hiểm lắm.” Tới bây giờ cha mới biết rằng Việt Cộng nguy hiểm lắm hay sao?! Đọc hồi ký Võ Long Triều, tôi thấy tác giả có nhắc tới cha Lộc ở trong khám Chí Hòa. Có người quen nói với tôi cha cũng qua đời trong cái nhà tù đó.
Quả thật, tôi không có ác cảm gì với các ông cha. Họ cũng là người, có tốt, có xấu và dĩ nhiên, họ tin Chúa. Tin tới mức độ nào, tôi không rõ. Nhưng các cha thường có cách nói: “Chúa cho.” hay “Chúa gọi về” khi nói tới cái chết. Tôi không tin như thế. Tôi nhớ có một hôm, khi còn ở Saigon, đi công tác ở Long Khánh về, tôi biểu tài xế ghé Hố Nai 1 – Hà Nội, thăm môt anh trung sĩ nhân viên của tôi. Cảnh nhà anh trung sĩ cũng không nghèo, nhờ vợ làm bồi cho căn cứ Mỹ Long Bình. Anh có một bầy con. Nếu chỉ sống bằng lương trung sĩ, chắc anh ta không đủ gạo nuôi con. Tuy nhiên, trong số các con của anh có một đứa khoảng 3 hoặc 4 tuổi là Mỹ lai. Rõ lắm: Tóc nâu, mắt xanh. Cũng giống như các đứa khác, con bé gọi anh trung sĩ bằng bố, gọi vợ anh bằng mẹ. Đứa bé chính do vợ anh đẻ ra, không phải con nuôi. Trên đường về, trung sĩ Thiều, người lái xe cho tôi đi hôm đó, cũng là một tín hữu Thiên Chúa, nói với tôi: “Anh Nh. may mắn, nhờ chúa cho nên cũng khá giả.” Tôi nghĩ thầm, không nói ra, sợ mất lòng Thiều: Chắc chắn đứa bé lai, dù Chúa có cho thì cho vợ anh ấy, chớ không phải cho chính anh. Anh ta không vui gì khi Chúa cho gia đình anh môt đứa bé lai như thế.
Tôi là người hữu thần. Tôi tin Tạo Hóa. Không có Tạo Hóa làm sao có cuộc sống kỳ diệu ở cõi đời nầy. Chỉ có mấy chất hữu cơ, do đâu mà khi kết hợp nhau thì nó thành nước, thành rượu, thành metan, thành acetylen, v.v…
Tôi nhớ năm học đệ nhất, có anh bạn hay thắc mắc, mỗi khi giảng về các công thức khai triển, thầy nói cái nầy là chất nầy, cái nầy là chất kia, v.v… Anh bạn tôi cứ thắc mắc hỏi thầy “Tại sao?” sau khi thầy giải thích xong về một chất. Nó thắc mắc đúng đấy: Cũng C (carbon), cũng H (hydro), cũng O (Oxy) tại sao khi thì thành chất nầy, khi thành chất kia… nó hỏi hoài, có lần, ông thầy tôi, đậu cử nhân khoa học, bực mình nói: “Tự nó kết hợp mà sinh ra như vậy. Cứ hỏi tại sao?” Một lúc, hình như không nén được giận, ông ta nói: “Tại sao? tại sao? Vậy tại sao cha mày lấy mẹ mày mà sinh ra mày?” Cả lớp muốn cười nhưng biết thầy đang giận nên không dám cười.
Khoa học chỉ biết như thế, còn như tại sao nó thành chất nầy mà không thành chất kia thì đó chính là do Tạo Hóa. Tạo Hóa mầu nhiệm, làm sao con người biết được.
Quả thật tôi tin Tạo Hóa, tôi tin có Tạo Hóa, có sự mầu nhiệm ở cõi đời nầy. Do đó, tôi không thể tin Cộng Sản được. Cộng Sản vô thần. Nhưng bảo tôi tin Chúa, tin Phật là thượng đế hay con cái của thượng đế thì tôi cũng không tin nốt. Chúa, hay Phật hay ông Khổng, ông Lão chỉ là những “siêu nhân”, theo một ý nghĩa nào đó. Nói cho đúng, họ chính là sản phẩm, là kết tinh, là tinh hoa của các nền văn minh nhân loại: Văn minh Trung Hoa sản sinh ra ông Khổng, ông Lão. Văn minh Ấn Độ sản sinh ra ông Phật và ông Chúa là sản phẩm của nền văn minh Địa Trung Hải. Từ họ mà có các tôn giáo trên thế giới nầy.
Kinh nghiệm cho thấy, trong cuộc sống của loài người, không có tôn giáo thì không được. Không có tôn giáo làm sao có đạo đức. Rõ ràng không có tôn giáo, không thể có đạo đức. Tôn giáo làm ra đạo đức. Tiêu diệt tôn giáo là tiêu diệt đạo đức. Sống dưới chế độ Cộng Sản, người ta thấy rõ điều đó hơn đâu hết.
Sau đó ít lâu, tôi đem câu chuyện cũ kể với ông Nguyễn Đức Nghiêm, phó quận trưởng – Sở dĩ tôi hay nói chuyện thường với ông ta, không phải ông ta có trách nhiệm gì, nhưng ông là người có trình độ kiến thức, thông hiểu nhiều vấn đề phức tạp, tư tưởng cấp tiến. Ít ra, ông cũng đã tốt nghiệp đại học, xuất thân Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, khác với các kỹ sư ở nhà máy Ximăng Hà Tiên. Các ông nầy tuy tốt nghiệp đại học, nhưng chỉ giỏi ở lãnh vực chuyên môn. Tôi nói:
_ “Trung ương tiên liệu được vấn đề xung đột tôn giáo như vầy cũng là hay. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ, về tôn giáo ở đây không dữ dội như ở Huế. Chuyện nầy ở Huế mệt lắm, phần đông bên nào cũng cuồng tín nên rất dễ xung đột.”
Phó Nghiêm nói:
_ “Cộng Sản gọi tôn giáo là thuốc phiện. Ông biết không?”
_ “Biết chớ sao không! Vì thuốc phiện nên người ta dễ mê, dễ cuồng tín. Hễ mê với cuồng tín thì không rứt ra được.” Tôi nhận xét.
Phó Nghiêm nói:
_ “Lòng người ta có ác có thiện. Hễ cuồng tín rồi thì cái thiện ít đi mà cái ác nhân lên.”
Tôi nói:
_ “Dân ở đây hơi lạ. Ngay cả dân có đạo trong núi Trầu cũng không cuồng tín, nói chi tới dân An Bình. Không cuồng tín thì bớt mâu thuẫn, bớt xung đột. Việt Cộng khó lợi dụng, mình cũng khỏe.
Sau khi nói chuyện với ông phó quận xong, tôi họp nhân viên, nêu vấn đề, giao công tác. Ngoài việc theo dõi các cựu can phạm, các hồi chánh viên sát và kỹ hơn, đặc biệt theo dõi các người gần gũi với các ông cha, các ông thầy. Tôi nói với nhân viên:
_ “Các ông cha, các ông thầy, tôi không ngại. Mình biết rõ họ, nhưng với những người thân cận với các cha các thầy thường dễ bị Việt Cộng lợi dụng, xúi bẩy. Có khi chính họ là Việt Cộng nằm vùng, núp kín lắm, mình không hay, không ngờ. Các ông thầy trẻ trên chùa ông Bổn, nơi đó vắng vẻ, ban đêm Việt Cộng dễ mò ra tuyên truyền, xúi bậy. Họ ngây thơ, dễ nghe theo. Vậy nên theo kỹ các ông thầy chùa nầy. Các ông thầy chùa Miên, sợ quốc gia, cũng không ưa Việt Cộng nên không đáng ngại, nhưng cũng không nên bỏ qua, ỷ y. Thiếu úy Kiệt cắt người theo dõi những nơi tôi vừa nói, giao mấy ông thầy trẻ trên chùa ông Bổn cho Năm Hùng thì hay lắm.”
Thiếu úy Kiệt gật đầu với tôi, tỏ ý vâng lời. Sau buổi họp, tôi kể cho thiếu úy Kiệt nghe cuốn phim “Ông Đại Sứ” do Marlon Brando đóng (1). Phim hay lắm và chính là một kinh nghiệm, một bài học cho ai hoạt động trong lãnh vực tôn giáo.
Thật ra, ở Kiên Lương, tình hình các tôn giáo không có gì phức tạp. Về tôn giáo có 4 thành phần khác nhau: Đạo Phật của người Việt, đạo Phật của người Miên, Thiên Chúa Giáo và Hòa Hảo. Không có đạo Cao Đài. Có một số người, cũng là Phật tử nhưng hay đi cúng miễu như miễu Bà Chúa Xứ ở Ba Hòn, ngọn núi sát biển, thuộc xã Dương Hòa.
Đạo Phật của người Việt có hai chùa. Chùa ông Bổn là một ngôi chùa cũ, dựng lên từ hồi xưa, trước 1945. Chùa nằm trên một ngọn đồi nhỏ, phía đông nam quận lỵ Kiên Lương. Có lẽ chùa có ông sư già, đã viên tịch hồi nào, tôi không biết. Khi tôi vào thăm chùa thì chỉ thấy mấy ông thầy chùa trẻ, khoảng trên dưới ba chục tuổi. Vì chùa thống thuộc Giáo Hội Việt Nam Thống Nhứt nên các ông thầy chùa nầy được hoãn dịch vì lý do tu sĩ. Rất ít tín đồ lui tới cúng bái, nên chùa nghèo. Các thầy sinh hoạt theo truyền thống đạo Phật Việt Nam từ xưa, tự làm ruộng, trồng tỉa rau ráng, làm tương chao. Khi tới mùa khô họ cũng vào mùa “Kiết hạ an cư” như truyền thống tu học của đạo Phật nước ta vậy. Thỉnh thoảng, tôi có mời ông thầy chùa lớn tuổi nhứt tới văn phòng tôi, hỏi thầy về phong thổ, tử vi. Ông cũng là người rành rẽ về các việc nầy.
Chùa thứ hai, cũng thuộc hệ thống Giáo Hội Việt Nam Thống Nhứt, ở ngay quận lỵ. Chùa nầy đông phật tử, nhứt là các gia đình gốc Tàu.
Năm 1972, Việt Cộng đánh phá nhiều nơi, quận Kiên Lương cũng bị tấn công. (Xin xem lại bài 20 của anh Đinh Nam Triều), chùa bị sụp đổ hoàn toàn. Đại đức trụ trì chùa nầy, cũng còn trẻ, xuất thân Phật Học Viện, dựng tạm lại trên nền chùa cũ một mái chùa bằng “tôn”, tạm che mưa nắng, để làm nơi thờ phật và để phật tử có nơi lui tới cúng bái, lễ tết hằng năm. Chùa có được ty Xã Hội “bồi thường chiến tranh”, nhưng tiêu chuẩn cũng như dân chúng, không có gì gọi là ưu đãi, có nghĩa là chùa nhận 40 ngàn tiền mặt, và 20 tấm tôn lạnh (của Úc Đại Lợi viện trợ), chứ không nhiều hơn ai.
Phật tử phần đông thì nghèo, ngoài tiền bồi thường ít ỏi, chùa không có phương tiện nào khác, ông đại đức phải ngồi chờ gom tiền phước sương để xây lại chùa. Việc gom tiền kéo dài lâu quá, tới 30 tháng Tư -1975, tiền vẫn chưa đủ. Việt Cộng chiếm miền Nam rồi, cho rằng tôn giáo mê tín dị đoan, cản trở con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội là con đường “thiên đường hạ giới”, nhanh hơn đường lên niết bàn, nên ông thầy chùa bị đuổi đi.
Ông đại đức bị đuổi đi. Ông bỏ chùa, bỏ đệ tử, rồi trôi nổi về đâu cũng chẳng ai hay biết!
So ra, nhà thờ cha Đại gần đó, cũng bị hư hại vì chiến cuộc; giáo dân, so với phật tử cũng ít hơn, vậy mà cha đã dựng lại nhà thờ, và cha đốt một lò vôi kiếm tiền xây tháp chuông như tôi kể trong một bài trước. Cha Đại biết xoay xở, có kế hoạch và cũng được giáo hội hỗ trợ ít nhiều.
Mấy thầy trẻ trên chùa ông Bổn cũng bị Việt Cộng bắt hoàn tục, mặc dầu mấy ông thầy nầy đi tu thì cũng tự canh tác lấy mà sống chớ có bám vào lưng ai đâu, chớ đừng nói là mấy thầy “Ngồi mát ăn bát vàng” như Việt Cộng thường chê trách những ai giàu có. Chùa bỏ hoang. Cõi đời nầy đúng là cảnh trầm luân! Đạo Phật càng ngày càng suy vi là phải!
Thật ra, vấn đề suy vi của đạo Phật phải nói lại từ đầu, từ khi người Việt vào định cư, khai khẩn đất Nam phần, đặc biệt là kể từ khi Pháp xâm lăng nước ta.
Như tôi đã có lần trình bày, đạo Phât du nhập vào nước ta từ hơn hai ngàn năm trước, theo con đường trực tiếp từ Ấn Độ sang nước ta, hay theo con đường gián tiếp, từ Ấn Độ qua Trung Hoa rồi đi dần về phương nam mà tới vùng lưu vực sông Nhị, là thổ địa nước ta hồi đó.
Trong quá trình Nam tiến, trong hành trang của những lưu dân hồi đó, họ mang theo trong tâm tư họ đạo Phật theo phái đại thừa. Đến khi nhà Nguyễn thống nhứt sơn hà, củng cố nền cai trị, thì nhà Nguyễn áp dụng triệt để Tống Nho để bảo vệ và củng cố ngai vàng. Tuy nhiên, từ Huế là điểm giữa, miền Bắc trọng Nho thì miền Nam phần đông dân chúng theo đạo Phật. Cuộc sống nơi xứ lạ, người ta cần tình thương, tương trợ, giúp đỡ, che chở cho nhau. Trong ý nghĩa đó thì vai trò của đạo Phật hữu hiệu hơn đạo Nho.
Trong tiến trình định cư, xây dựng cuộc sống ở vùng đất mới, đạo Phật đại thừa của lưu dân, hòa trộn với tiểu thừa của người Miên, pha trộn với bùa chú của dân tộc nầy. Nói theo sách vở thì môn phái Tịnh Độ Tông, Thiền Tông của lưu dân pha trộn với Mật Tông của người Miên. Từ đó, trong đạo Phật của người miền Nam, vừa có chùa đại thừa, vừa có am của tiểu thừa, pha trộn với cốc của các ông đạo. Ông đạo là một sản phẩm tôn giáo đặc thù của người dân miền Tây Nam Bộ, nó vừa là Mật Tông của Phật, vừa vô vi siêu thoát của Lão, vừa bùa chú của người Miên,
Từ cung cách sinh hoạt như thế, bề ngoài, người ta tưởng như đó là tính cách hiện đại hóa Phât giáo cho phù hợp với tình hình dân chúng địa phương, nhưng thật ra, đó chính là sự xa rời kinh sách tôn chỉ của đạo Phật, nhất là Thiền Tông và Tịnh Độ Tông làm cho đạo Phật suy vi.
Chính vì sự suy vi đó mà vai trò của ông Đoàn Minh Huyên nổi bật lên. Việc ông thành lập tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật Giáo Tứ Ân chính là sự khôi phục đạo Phật theo một đường lối mới, thích hợp với dân chúng. Vì tính cách thực tiển và hữu ích của Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa nên đồng bào tôn sùng, ngưỡng mộ, theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương càng ngày càng đông, trở thành một tôn giáo mới, đặt căn bản trên đạo Phật.
Dù ông Đoàn Minh Huyên đã có công phục hưng đạo Phật qua tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Phật càng ngày càng bị đàn áp mạnh mẽ, dữ dội, kể từ khi Pháp xâm lăng Việt Nam.
Trước hết là việc xâm lăng Nam bộ, sau đó lan dần ra phía Bắc, theo chân bọn thực dân Pháp chiếm đóng nước ta là bóng đen của các tu sĩ đạo Thiên Chúa, là những người Việt “tân tòng”, làm quan chức cho Pháp để mưu cầu danh lợi. Họ dựa vào thế lực của thực dân Pháp để bành trướng tôn giáo; thực dân Pháp cũng dựa vào các tu sĩ Thiên Chúa giáo để củng cố ách cai trị. Hai bên song hành, dùng đủ mọi biện pháp của chính họ và của nhau để đàn áp, tiêu diệt đạo Phật. Trong nhiều trường hợp, ở một nơi nào đó, nếu cần thiết, cả hai bên hợp tác chặt chẽ để thực hiện ý đồ của mình. Thực dân thì củng cố nền cai trị bằng cách đàn áp khốc liệt dân chúng, giết chóc, tù đầy những người yêu nước. Các linh mục thì dụ dỗ “rửa tội” để dân chúng được che chở, tránh sự đàn áp của Pháp. Nhiều xóm, làng từng là cơ sở, căn cứ của nghĩa quân nổi lên chống Pháp bị bọn thực dân Pháp đốt sạch, giết sạch. Tiếp theo tiếng súng của bọn Pháp là sự “giúp đỡ” của các tu sĩ Thiên Chúa giáo. Đó là một trận chiến hiệp đồng tuyệt hảo đều có lợi cho cả hai phe phi-dân-tộc.
Vì chính sách đó, nên sau khi có những làng nổi lên chống Pháp, đi theo các phong trào của Nguyễn Trung Trực, Trương Định, v.v…(- ở Nam bộ -) những làng nổi lên theo Phong Trào Cần Vương, Phong Trào Văn Thân ở Trung và Bắc Bộ bị tiêu diệt hoàn toàn hay “trở lại đạo toàn bộ.” Chỉ có cách đó, người dân trong làng mới được ở yên, sống yên, không còn bị Pháp tới lùng bắt hay đốt phá làng để tiểu trừ nghĩa quân nữa.
Đó là lý do chính yếu nhứt làm cho Phât giáo càng ngày càng thêm suy vi.
Đến đầu thế kỷ 20, nhiều người thấy rõ sự suy vi đó của đạo Phật, bèn tìm cách phục hưng. Nhìn chung, sự suy vi của đạo Phật cũng có nghĩa là sự suy vi của dân tộc.
Bắt nguồn từ Bửu Sơn Kỳ Hương, ông Huỳnh Phú Sổ xây dựng nên đạo Phật Hòa Hảo. Đó là một tôn giáo mới, một đạo Phật mới với những lời cầu nguyện bình dị, dễ hiểu, pha lẫn với “sấm truyền” chịu ảnh hưởng Mật Tông, hòa hợp giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa.
Nét đặc thù chính yếu đạo Phât Hòa Hảo là phổ biến, truyền bá trong giới bình dân, trong số đồng bào làm nghề ruộng rẩy, săn bắt, lao động chân tay, v.v… Nhờ tính chất thực tế, và đơn giản, nhắm vào việc“tu hiền”, hiếu thảo cha mẹ, anh em, ăn ở phúc đức, hiền lành, cứu người giúp đời, đúng với tình cảm và tâm lý của người Việt nên Đạo Phật Hòa Hảo đã phát triển rất nhanh. Trong chiến tranh Thế giới Thứ hai, chính sách Đại Đông Á của Nhật Bản là chống lại các đế quốc, thực dân cai trị các nước nhược tiểu. Chính sách đó gần gủi với tinh thần người Việt, chống lại ách cai trị bóc lột và tàn ác của thực dân Pháp. Từ căn bản đó đạo Phật Hòa Hảo với tinh thần Tứ Ân, sau ân cha mẹ là “Ân đất nước” đã có những tiếp xúc với quân đội Nhựt, hầu mong tìm một ngày độc lập cho dân tộc. Cũng từ ý nghĩa đó, đạo Phật thành lập Dân Xã Đảng (Dân Chủ Xã Hội) cũng như lực lượng quân sự để chống Pháp khi Pháp quay trở lại Nam Bộ hồi tháng 9 năm 1945. Đây cũng là lực lượng chống Cộng rất tích cực và hữu hiệu sau khi Việt Cộng sát hại Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ.
Tuy nhiên, tình hình đạo Phật Hòa Hảo ở hai quận Kiên Tân và Kiên Lương có phần khác nhau: Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo ở Kiên Tân đông hơn và sinh hoạt mạnh hơn.
Như tôi trình bày trước đây, tín đồ Phât giáo Hòa Hảo ở Kiên Tân có một ngôi chùa chung, có ba phe Phật giáo Hòa Hảo tranh chấp nhau ngôi chùa nầy.
Ngoài ông Lê Minh Châu là người như tôi đã kể trước đây, đem lựu đạn vào chùa để phòng thủ chống lại hai phe Phât Giáo Hòa Hảo kia, còn có một ông Châu khác nữa. Ông nầy trước kia là một hạ sĩ quan trong một đơn vị Địa Phương quân thuộc tỉnh Kiên Giang. Sau đó, ông Châu nầy đào ngũ, bỏ lên Saigon. Khoảng cuối năm 1973, ông ta tham gia một lực lượng ma, cùng mấy người khác nữa, họp nhau ở Khánh Hội, tự trao cấp bậc cho nhau. Ông Châu tự phong làm “thiếu tướng không quân” (làm tướng nhưng không có quân đội). Khi chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ra lệnh truy tố thì ông Châu trốn về Kiên Tân. Hôm ông quận trưởng Huỳnh Đầm Sắn được lệnh đi bắt ông ta, ông quận trưởng kéo tôi cùng đi, chỉ để làm chứng, sợ “mấy ổng” vu cáo, bày chuyện thưa gởi lung tung. Khi ông quận trưởng đến nhà Châu, ông ta đứng ngoài (tránh không vào nhà), gọi lớn” “Châu, mày ra đây. Mày lên Saigon làm gì trên đó nên tao được lệnh đi bắt mày!” Tôi thấy “ông tướng Châu” nầy líu ríu mặc áo đi ra xe theo ông quận trưởng. Hỏi ra, tôi biết thêm, ông quận trưởng trước kia là cấp chỉ huy trực tiếp của “ông tướng Châu”.
Tôi chưa từng đọc một tác phẩm nào nghiên cứu về tình cảm, tư tưởng và tâm lý của những lưu dân khi họ đến định cư ở vùng đất mới. Dù là lưu dân của vùng viễn Tây Hoa Kỳ hay lưu dân Việt Nam ở miền Tây Nam bộ, họ có những tâm lý, tính khí giống nhau: Những chàng cao bồi xứ Mỹ cởi ngựa quăng giây giỏi cũng chính là những anh hùng cứu khổn phò nguy cứu giúp dân lành. Họ chính là Lục Vân Tiên của miền viễn Tây: “Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha.” Bên cạnh đó, họ cũng mang đậm nét tướng cướp Phong Lai và cũng mang giòng máu anh hùng Từ Hải: “Một lời đã biết đến ta, trăm chung nghìn tứ cũng là có nhau.”
Tính khí đó pha hợp với nhau rất phức tạp trong tâm hồn Ba Cụt, Năm Lửa (2) và những người theo họ. Họ có thể là người giàu lòng nhân ái, tính khí trung trực, nhưng lại ưa sống ngoài vòng luật pháp, ưa chuyện phiêu lưu và cả việc làm những điều tham lam, độc ác.
Gốc gác những lưu dân Nam Bộ, không hẳn vì đói nghèo mà tha phương cầu thực. Họ giống như những đợt lưu dân đầu tiên từ Châu Âu đến vùng Bắc Mỹ, có một nét chung là bị đàn áp ở quê nhà.
Một số người là binh lính Chúa Nguyễn. Khi Tây Sơn khởi nghĩa, chúa Nguyễn chạy trốn vào miền Nam. Họ cũng theo chúa vào Nam. Đến khi “Gia Long tẩu quốc”, họ không theo chúa Nguyễn qua Xiêm la được, đành mai danh ẩn tích, tìm nơi trốn tránh ở chốn kinh cùng rạch chẹt.
Đến khi Gia Long lên ngôi, họ không về theo chúa nữa. Cuộc sống trốn tránh bao nhiêu năm đã tạo nên cho họ một đời sống ổn định, bình yên. Họ không còn muốn tham gia vào những cuộc chém giết giữa những đồng bào cùng một giòng máu, một dân tộc. Đến lúc đó thì miền Tây Nam Bộ đón nhận một đợt lưu dân mới. Họ chính là những người trước kia từng theo phò Tây Sơn, nay đang bị Gia Long lùng bắt, nên từ Quảng Nam, Bình Định họ chạy trốn vào đây.
Hai hạng người, trước kia từng ở hai chiến tuyến đối nghịch nhau, nay đồng cảnh ngộ: Trốn chạy chính sách hà khắc, lưu lạc quê người. Sự đồng cảm đã kéo họ lại gần với nhau, trong từ bi hỉ xã của đạo Phật, họ sống nương nhờ nhau ở một nơi ca dao có câu:
Tới đây đất nước lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh!”
Rõ hơn là trong câu ca dao:
Rồng chầu ngoài Huế
Trong bối cảnh lịch sử xã hội giống như tình hình lúc hình thành đạo Phật Hòa Hảo, đạo Cao Đài ra đời.
Đạo Cao Đài tên thường gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một hình thức phục hưng đạo Phât trong giới trí thức miền Nam.
Vùng tôi phục vụ trước 1975 rất ít tín đồ đạo Cao Đài sinh sống tại đây nên tôi không bàn tới.
Nhìn chung, đạo Phật chưa bao giờ được chính quyền ngó ngàng xem tới chứ đừng nói là được hưởng những gì ưu đãi, trong khi tư tưởng Phật giáo đã thấm sâu vào lòng dân tộc.
Do tình trạng suy vi, đạo Phật đã bị nhiều người lợi dụng làm cho nó biến thái, trở thành một thứ mê tín dị đoan, bùa mê thuốc lú, sản sinh ra nhiều ông đạo như đạo Sờ, đạo Liếm, phật không ra phật, thánh không ra thánh, nặng tính chất bùa chú, bán cho những người dân chất phát, thật thà, ngu dốt để họ xin xỏ Phật tổ những thứ mà Phật không thể có được, không đúng với bản chất của đạo Phât là một tôn giáo cứu khổ và giải thoát chúng sanh.
Trong hoàn cảnh suy vi của đạo Phật như thế, hàng trăm năm qua, bên cạnh những nhà thờ lớn, nhà chung lớn xây dựng liên tiếp, mở rộng, thì nhiều chùa, miễu bị phá bỏ đi để xây dựng nhà thờ. Sinh hoạt Phật giáo càng ngày càng co cụm lại, sống âm thầm đâu đó trong cảnh nghiêng chùa đổ chái, hay trong truyền thống dân tộc, lưu tồn một cách kín đáo trong tâm hồn của những nông dân nghèo khó, ít học, sống lam lũ ở nơi bùn lầy nước đọng, hạn chế tiếp xúc với cuộc sống văn minh vật chất, với sự cấu kết quyền lợi giữa các giai cấp thống trị mới.
Tài sản của chùa và nhà thờ khác nhau một trời một vực. Bằng nhiều phương cách, kể cả việc xử dụng thế lực hay mua bán, cho vay nặng lãi, trong khi mỗi nhà thờ là một địa chủ, có nhiều đất ruộng cho tá canh, thì mỗi chùa chỉ có năm ba sào ruộng, đủ để trồng lúa nuôi tăng chúng. Nhà chùa tự trồng tỉa rau ráng, tự làm tương chao. Việc tu bổ, sửa sang chùa chiền, hoàn toàn trông cậy vào tín đồ đóng góp đa thiểu, tùy đạo tâm, chớ nhà chùa không có một thứ giúp đỡ nào khác, từ chính quyền hay từ viện trợ bên ngoài, ngay cả thứ hàng thường thấy nhan nhản ở miền Nam trước 1975, với tấm nhản hiệu hai bàn tay bắt nhau, có hàng chữ “Mỹ Quốc Viện Trợ.”
Sau 1975, tài sản của tất cả mọi tôn giáo, dù ít dù nhiều, đều bị Việt Cộng tịch thu. Trong tình hình hiện nay, chính quyền Hà Nội bắt buộc phải trả tài sản lại cho các tôn giáo. Trong tình trạng đó, tài sản của đạo Phật, của Phật giáo Hòa Hảo, chỉ là một thì tài sản của giáo hội Thiên Chúa bằng mười, bằng hai mươi. Một ông giáo sư cũ của tôi, người từng là một nhân vật thân cận với ông Ngô Đình Cẩn, khi ông Cẩn còn là “Lãnh chúa miền Trung” nói với tôi cách đây mấy năm:
“Khi về làm tổng giám mục địa phận Huế, lấy thế là anh tổng thống Ngô Đình Diệm, ông ta buộc chính quyền chuyển nhượng tất cả số “Ruộng Ngự” – Ruộng trồng lúa cho vua và hoàng triều dùng, tên người Huế thường gọi là “Đồng An Cựu – và toàn bộ các ngọn đồi quanh dòng tu Thiên An cho giáo hội.”
Đó chỉ mới là một thí dụ điển hình.
Thật ra, sự mâu thuẫn tôn giáo ở miền Tây Nam bộ không sâu sắc như ở Huế. Ở đây, sự xung khắc trong mỗi tôn giáo là chính nó với bản thân nó. Thiên Chúa giáo thì mỗi cha một cõi. Hòa Hảo thì có ba phe. Đạo Cao Đài không mạnh như ở Gò Công, Định Tường, Bến Tre.
Sự xung khắc giữa đạo Thiên Chúa và đạo Phật ở Huế, và các tỉnh miền Trung khá kịch liệt. Nó bắt nguồn từ “những tên thực dân mặc áo thầy tu” – như người ta thường gọi – từ cuộc xâm lăng của Thực Dân Pháp, từ “Phong Trào Cần Vương”, “Bình Tây Sát Tả” kéo dài tới cả trăm năm sau. Nhưng vấn nạn đó, ít thấy ở miền Tây nên không bàn dông dài.
Thật ra, tôi không phải là một phật tử, theo nghĩa thông thường. Tôi đến làm việc ở đây, không mang môt mặc cảm, một đặc tính nào về một tôn giáo nào. Tôi không tin tưởng mù quáng vào ông Phật hay ông Chúa. Nhưng tôi tôn trọng đặc biệt vào ý nghĩa đạo đức của tôn giáo. Quan điểm của tôi, trong viễn tượng đó, rất bình dân, mà không cuồng tín. Đó cũng chính là đời sống tôn giáo của những người dân nghèo khổ ngu dốt nơi tôi đến, để được gọi một cách văn vẻ là “phục vụ đồng bào”.
hoànglonghải
(1)_ “Ông Đại Sứ” là một cuốn phim Mỹ, tài tử chính là Marlon Brando. Chuyện phim là một ông thấy chùa thiên tả, lãnh đạo tín đồ chống lại chính quyền nước đó. Khi tình hình thuận tiện đã tới, quân du kích do Tàu Cộng hỗ trợ, nổi lên cướp chính quyền. Tên cán bộ Cộng Sản nằm vùng, – dưới danh nghĩa là bí thư của nhà tu hành lãnh đạo tôn giáo-, bèn giết vị sư để giành quyền lãnh đạo dân chúng.
Trước tình hình dầu sôi lửa bỏng đó, Mỹ đổ quân cứu nguy. Ông đại sứ Mỹ tại quốc gia nhỏ bé nầy họp báo, giải thích lý do can thiệp của Mỹ. Chương trình đang được chiếu lại trên TV Mỹ thì bỗng một công dân Mỹ từ phòng tắm đi ra, thấy ông đại sứ đang nói chuyện, bèn tắt TV. Có phải sự thờ ơ của người dân Mỹ đối với những vấn đề trên thế giới có hậu quả là tòa tháp đôi ở Nữu Ước bị tấn công?!
(2) Tôi được vài người trong Dân Xã Đảng kể lại vài mẫu chuyện về ông Năm Lửa như sau:
Ông thứ năm, tính nóng như lửa nên tục danh là Năm Lửa. Tên thật là Trần Văn Soái, xuất thân là đại ca dân anh chị bến xe Cần Thơ, tính khí hào hiệp, độ lượng, thường giúp đỡ những ai nghèo khó, sa cơ lỡ vận và có lòng yêu nước. Ông nghe theo lời kêu gọi của đức Huỳnh Giáo Chủ, tập họp anh em đệ tử thành một đạo quân, tham gia Nam Bộ Kháng Chiến, hoạt động vùng Cần Thơ – Sadec, chống quân Pháp trở lại Việt Nam. Ông và binh lính của ông lập nhiều chiến công.
Có lần, ông tập họp binh sĩ lại, dạy rằng:
_ Đ.m. Đức thầy nói rằng lính của mình là lính giáo phái, cần phải có đạo đức, tư cách, không được ăn nói tục tằn. Từ nay trở đi, Đ. M. đứa nào chưởi thề là không được, sẽ bị phạt.
(ghi chú: chưởi thề là thói quen thường của dân Nam bộ).
Khi Việt Minh phản bội, giết đức thầy, ông Năm Lửa chống Việt Minh kịch liệt. Tình thế đó buộc ông hợp tác với Pháp khi Pháp đề nghị với ông. Pháp đồng ý trang bị và chu cấp tài chánh cho quân đội của ông, và đồng hóa ông với cấp bậc đại tá.
Ông bảo:
_ Số tao làm tướng. Tụi Tây trả tao loon đại tá đâu có được. Nó không chịu tao làm tướng, tao vẫn cứ đeo loon tướng.
Vậy rồi ông gắn lên mũ ông một ngôi sao. Trong quân đội Pháp, thiếu tướng đeo hai sao. Ông đeo một sao, giống như loon chuẩn tướng của Mỹ hay quân đội VNCH sau nầy. Ông là người đầu tiên làm “Tướng một sao” trong quân đội Quốc Gia
Ông tham gia phái đoàn qua Hồngkông đón vua Bảo Đại về lãnh đạo đất nước. Đi dạo phố bên ấy, ông mang loon một sao gắn trên mũ nồi. Có người bạn thân nói với ông:
_ Nè! Anh Năm. Anh đeo loon hơi kỳ, thiếu tướng là hai sao, anh đeo một sao, tụi Ănglê thấy vậy nó bắt anh lại mất công. Xứ của nó chớ đâu phải xứ mình mà anh muốn sao thì làm vậy.
Nghe lời nhắc nhở của người bạn, ông vội vàng gở sao trên mũ, bỏ vào túi áo.
Tôi có hỏi thăm việc Việt Minh và Dân Xã đảng giết nhau sau khi Đức Thầy bị thủ tiêu. Chẳng hạn, như Hòa Hào, cũng như Việt Minh, bắt được người của đối phương thì giết, thả trôi sông. Bỗng nhiên, người đi ghe thuyền trên sông thấy một giây bốn năm xác người cột vào một cây tre dài, trôi trên mặt nước. Việt Minh giết Hòa Hảo hay Hòa Hảo giết Việt Minh, không ai biết chắc? Hoặc người dân đang chèo ghe trên sông, bỗng bị gọi vô bờ, biểu mua một cái đùi hay một cánh tay (người). Người ta sợ quá, không muốn mua cũng phải mua, xong ra đem ra giữa sông, thả xuống nước.
Các vị trong Dân Xã Đảng chỉ cười, không trả lời việc đồn đãi ấy có thật hay không!
Không rõ có ai ở tỉnh Kiên Giang và xã Mỹ Lâm vui mừng khi nghe tin Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng, nhưng có lẽ không ít người thất vọng. Người ta không có định kiến gì về một ông thủ tướng nguồn gốc là một du kích. Gốc gác bình thường mà làm tới vua chúa là chuyện đã từng xảy ra trong lịch sử. Hồi nhỏ, tôi đã từng học: “Ông Mạc Đăng Dung làm nghề đánh cá ở đất Hải Dương” (bài thầy giáo tôi trích trong “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim). Lãnh tụ Cộng Sản, chóp bu như Hồ Chí Minh, gốc gác cũng là dòng dõi “lạc vất, lạc vơ” (Tiếng Huế) bởi vì ông nội ông Hồ là con “lộn sòng” của ông Hồ Sĩ Tạo. Thân phụ ông ta, Cộng Sản tô vẽ là người “từ quan chống Pháp”. Thực chất là quan tri huyện Bình Khê bị cách chức vì tội “Say rượu đánh chết dân”. Ngay bản thân Nguyễn Sinh Cung cũng chỉ là anh học trò lớp ba trường tiểu học Đông Ba (Mấy “ông” ngoài Bắc vẽ vời thành học sinh trường Quốc Học). Nói chung, tổ tiên ta nhận xét bằng một câu khá đau: “Sâu bọ thành người”.
Dù gì thì Nguyễn Tấn Dũng, dù có tốt nghiệp bậc tiểu học hay chưa ở thị xã Rạch Giá (Thời kỳ ông ta học ở đó, đã có lệnh bỏ thi bằng tiểu học. Học trò, người nào đủ điểm thì được cấp bằng), dù là du kích ấp Tà Keo, ông ta đã tiến rất nhanh trên hoạn lộ, cũng chứng tỏ ông ta, dù ít dù nhiều, cũng là người “tài ba”. Tuy nhiên, tổ tiên chúng ta lại nói: “Đi với bụt mặc áo cà-sa, đi với ma mặc áo giấy” hoặc là “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Dù có mặc áo cà-sa cũng chưa có thể thành ông bụt. Tục ngữ Tây nói “Cái áo không làm nên ông thầy tu” cũng cái ý như vừa nói. Mặc áo giấy cũng chưa hẳn là ma vì áo cà-sa hay áo giấy cũng chỉ là cái bề ngoài, có thể nội dung chưa thay đổi. Câu tục ngữ sau đây sâu sắc hơn: “Gần mực thì đen…” ấy là nói thay đổi cả nội dung lẫn hình thức”.
Vậy thì ông Nguyễn Tấn Dũng, mấy chục năm nay, kể từ khi ông ta vào làm du kích xã Mỹ Lâm thì ông ta đi với ai?
Tổng thống Ngô Đình Diệm có một chữ gọi Cộng Sản rất hay là “Cộng phỉ”, tức là “Cộng Sản thổ phỉ”. Tự Điển Hán Việt Đào Duy Anh giải thích thổ phỉ là giặc cỏ, tức là bọn giặc nhỏ, cướp giựt ở đầu xóm, cuối làng, hoặc đón người, chặn xe đòi tiền mãi lộ, tương tự như tướng cướp Phong Lai trong truyện Lục Vân Tiên, bị Lục Vân Tiên đánh cho một gậy chết tươi. Cái bản chất thổ phỉ của Cộng Sản hiện rõ lắm. Ngày trước, chúng nó thổ phỉ như thế nào, xin độc giả chờ, tôi sẽ giải thích.
Tôi là người đánh giặc ở miền quê, miệt vườn, miệt ruộng, nên tôi “rành sáu câu” về bọn thổ phỉ nầy. Lần đầu tiên, đọc một cái thư của huyện ủy Hà Tiên, gởi cho ông Chín Vĩnh (Hồ Văn Vĩnh), chủ lò vôi ở Hà Tiên, sau khi Việt Cộng bắt ông Năm Thanh, anh ruột ông Chín Vĩnh để đòi tiền thuế, – thực chất là bắt cóc đòi tiền chuộc -, thấy trong thư bọn chúng tự xưng là “cách mạng” tôi bật cười to! Bọn nầy là cách mạng thực sao? Những bài sau, trong loạt bài “Kể Chuyện Đánh Giặc ở Quê Hương Nguyễn Tấn Dũng”, tôi sẽ kể lại quí độc giả xem cho biết việc chúng thu thuế, đòi tiền – bắt cóc đòi tiền chuộc – ở nhà quê như thế nào, có phải là thổ phỉ hay không!
Tổng thống Ngô Đình Diệm khi gọi chúng là Cộng phỉ là không đánh giá cao chúng, chúng chỉ là giặc cỏ, còn thua xa Hoàng Sào, nhân vật được nhắc trong truyện Kiều qua câu: “Ngàn năm ai có khen đâu Hoàng Sào” hay quận He (Nguyễn Hữu Cầu) một tướng cướp nổi danh thời Lê Trịnh.
Tôi có nói cái bản chất thổ phỉ của Cộng Sản Việt Nam nó hiện rõ lắm. Ngay như thời bao cấp của “chúa đảng Lê Duẩn”, việc “ngăn sông cấm chợ”, “thủ tục đầu tiên” khi tới cơ quan xin việc gì, tất cả mọi việc người dân phải lòi tiền ra, hoặc thất thân (Nói trắng ra là đàn bà con gái phải ngủ với với cán bộ) đều là việc y chang như bọn giặc cỏ trong truyện Tàu.
Đó là nói bọn hạ tầng cơ sở, bọn ở xã, huyện. Còn bọn ở tỉnh, ở trung ương thì sao? Hồ Chí Minh là một tên Sở Khanh, mà còn độc ác hơn Sở Khanh. Sở Khanh chỉ gạt Kiều để Tú Bà đánh đập Kiều, khiến Kiều chịu tiếp khách, làm đĩ. Hồ Chí Minh ngủ với Nông Thị Xuân đến có con (Thằng nầy tên là Vũ Trung – Con nuôi Vũ Kỳ. Tên thiệt của Vũ Trung là Hồ Chí Trung hay Nguyễn Tất Trung cũng là chính y) rồi để cho Trần Quốc Hoàn hiếp Xuân. Xong, đem thủ tiêu. Tội nầy do Hồ Chí Minh là chính, là thủ phạm. Nếu Hồ Chí Minh yêu Nông Thị Xuân thực sự, đầu gối tay ấp, coi như vợ, dù không chính thức, thì Hoàn đâu dám làm bậy với Xuân, lại còn đem thủ tiêu cho vừa ý Hồ. Nếu Hồ lắc đầu, Hoàn có dám giết thị Xuân hay không? Chẳng qua, Hồ Chí Minh và cả Trần Đăng Ninh là người dắt gái cho Hồ theo lệnh của bộ chính trị, thì chung lại, Hồ là tên Sở Khanh, Trần Đăng Ninh là tên ma cô, và cả cái bộ chính trị lo việc dắt gái cho Hồ cũng là những tên ma cô, “bộ chính trị ma cô” hết. Chúng nó biến Nông Thị Xuân thành một con đĩ vì đĩ thì nay ngủ với thằng nầy, mai ngủ với thằng kia. Cứ nghe ông Việt Thường nói chuyên với Tường Thắng trên V.N. Exodus mới thấy khủng khiếp cho cái đám người mà Nguyễn Tấn Dũng chui đầu vào đó:
-Cù Thị Hậu phải ngủ với cả chục thằng để nắm cho được chức chủ tịch Tổng Công Đoàn.
-Nguyễn Thi Hằng ngủ với Xuân Thủy mới mò lên tới chức phó thủ tướng.
Vậy thì Nguyển Thị Bình ngủ với ai, Lê Duẩn hay Đỗ Mười để làm bộ trưởng “bộ (vô) Giáo dục”, sau lên phó chủ tịch nước.
Thằng Bảo Định Giang làm gì với hai mẹ con cô ca sĩ ở Hà Nội, nay đang ở Cali, mà ông Việt Thường không tiện nói thật tên ai. Hoàng Tùng ngủ với vợ Thép Mới, phó của Hoàng Tùng khiến Thép Mới bỏ vợ, v.v… Những chuyện bỉ ổi đó, người Miền Nam xa cách không biết rõ nhưng dân Hà Nội biết như biết chuyện nhà.
Nguyễn Tấn Dũng trưởng thành, chín mùi sự nghiệp trong cái đám bỉ ổi xấu xa đó. Vậy ông ta là người như thế nào? Thủ tướng trước Dũng là Phan Văn Khải. Khải là người tốt hay xấu. Chắc chắn là xấu, chỉ là xấu tới bực nào mà thôi. Phan Thanh Hoàng là con Phan Văn Khải, hiện là 1 trong 8 người giàu nhất Việt Nam. Do đâu mà Phan Thanh Hoàng giàu như vậy, có núp bóng Khải hay không? Khải cho bao che cho không? Hoàng (con) giàu có lên chừng nào thì cái tư cách, phẩm giá của Khải (cha) xuống thấp chừng đó. Hai cái đó tỷ lệ nghịch và là một điều khẳng định. Một người làm quan cả họ được nhờ. Tinh thần, lề thói của người Việt là vậy, huống gì đây là cha con!
Khi Phan Văn Khải làm thủ tướng, Dũng là phó. Trưởng và phó có đi chung một bè hay không? Người ta lại nói, cuộc đời Dũng lên nhanh cũng là nhờ Lê Đức Anh. Anh là người làng Bàn Môn, huyện Hương Thủy, tỉnh Thưa Thiên, gốc là cai đồn điền cao-su Phú Giềng, là người bị thiên hạ chê dữ lắm và y từng nắm ngành an ninh của chế độ Cộng Sản Hà Nội.
Thôi! Hãy cứ cho Dũng là người tốt đi. Tốt theo cái nghĩa hạn chế: Không tham nhũng. Đó là chưa nói tới những khía cạnh khác của vấn đề mà người dân cần ở Dũng như tiến bộ, có tư tưởng dân chủ, khuynh hướng tự do, chấp nhận “đa nguyên đa đảng”. Chỉ nói một việc không tham nhũng (như người ta khen) và chống tham nhũng (như người ta hy vọng) thì Dũng sẽ làm được gì?
Muốn chống tham nhũng, ngoài ý chí, quyết tâm, trên phương diện thực tế, người lãnh đạo chống tham nhũng cần có luật pháp mà phải là luật pháp nghiêm minh, người phạm tội phải bị nghiêm trị. Nghiêm minh, nghiêm trị, v.v…. tất cả đều phải dựa trên luật pháp.
Luật pháp mà Dũng muốn dựa vào đó để nghiêm trị những kẻ tham nhũng thì hiện nay ở Việt Nam… không có. Nói trắng ra, như người ta thường nói là ở Việt Nam bây giờ không có luật pháp. Không có luật pháp đã đành mà dân chúng không có tinh thần tôn trọng luật pháp. Điều đó, so với những xã hội văn minh ngày nay, nó rất khác xa.
Nói tới việc tôn trọng luật pháp thì nhà nước, viên chức, cán bộ phải làm gương. Nói như vậy, có người sẽ cười tôi. Chính bọn viên chức, cán bộ, từ trung ương đến địa phương, chẳng ai, chẳng nơi nào tôn trọng luật pháp. Nói vậy cũng là nói chung chung, mơ hồ. Có lẽ tôi nên đưa ra một vài trường hợp điển hình, không phải của một cá nhân mà của cả chế độ.
Chẳng hạn như vụ ông bà Hoàng Minh Chính về Việt Nam sau khi trị bịnh ở Mỹ. Nếu ông Hoàng Minh Chính làm điều sai, cứ lôi cổ ra tòa, tòa xử, mắc mớ chi phải chơi trò xã hội đen, cho người xông vào hành hung, đập phá, bôi phân vào nhà người ta. Ở Mỹ, thấy việc đó xảy ra, người ta “cười thối mũi vì mấy thằng Việt Cộng” (Lời của một người bạn tôi).
Nhớ hôm Kenett Star hạch tội Bill Clinton vì anh nầy léng phéng với Lewinsky, mặt mày Bill cố giữ bình tĩnh thấy rõ, nhưng nhìn kỹ, người ta thấy bàn tay Bill … run. Tổng thống nhất thiên hạ đấy, nhất là vì nước Mỹ giàu nhất, mạnh nhất thiên hạ. Vậy mà Bill còn phải run. Cố sống cố chết mà nói “Tôi không có quan hệ gì với woman ấy” mấy bữa sau lại xin lỗi vì đã nói dối. Việc là việc tào lao, vì gái, chỉ là mấy anh đảng phái chơi nhau, không có chi quan trọng cả nhưng tổng thống cũng… run. Tổng thống cũng không ngồi trên luật pháp được. Ấy là nói xứ có luật pháp (Dân chủ pháp trị).
Ở Việt Nam, đâu có phải một việc ông Hoàng Minh Chính. Mới đây, đọc báo, tôi thấy có chuyện một bà thiếu tá công an nói với dân: “Tao cho xã hội đen trừng trị mày”.
Buồn cười chưa? Nhiệm vụ của công an, an ninh là “Thi hành luật pháp”. Vậy mà không dựa vào luật pháp để truy tố người phạm tội, lại đem xã hội đen ra đe dọa thì còn trời đất gì nữa?
Theo cách nhìn của những nhà nghiên cứu xã hội, những người làm báo thì xã hội thường có hai thứ luật pháp: Một là luật pháp nhà nước (của vua, của chính quyền tùy theo chế độ xã hội…) và luật giang hồ. Luật giang hồ, nhiều khi nó cũng là một thứ luật pháp bất thành văn. Ví dụ: “Xuân thu nhị kỳ.” Xuân thu nhị kỳ là luật giang hồ bắt nguồn từ bên Tàu. Người buôn bán, làm ăn mỗi năm hai kỳ xuân thu (Xuân là dịp lễ Tết âm lịch, thu là dịp tết trung thu) phải có quà cáp biếu xén quan trên. Cứ cái luật bất thành văn đó, mỗi năm hai kỳ mà làm vui lòng quan. Cái đó là văn hóa Tàu, người Việt noi theo.
Nó không phải là văn hóa Mỹ. Thật đấy. Trong trại cải tạo, hồi năm 1976, anh Trương Phương Tuyên (Giặc lái, như tôi thường nói đùa) kể lại hồi anh học khóa lái trực thăng ở Mỹ (Những khóa trực thăng đầu học ở Mỹ, những khóa sau học ở Việt Nam). Học xong, mãn khóa, trước khi về nước, mấy anh em hùn nhau mua biếu “ông thầy” hai chai Martell. Ông thầy trố mắt nhìn, ngạc nhiên. Ông ta chưa từng biết cái việc “trả ơn thầy” như vậy bao giờ, nói chi tới “xuân thu nhị kỳ”. Việt Nam bây giờ thì khác đấy. Ở Việt Nam có “Ngày Nhà Giáo”, học trò phải biết ơn thầy cô. Trò nào không có quà cáp biếu cô thầy vào ngày nhà giáo thì hốc hác đấy!
Trong một xã hội mà luật rừng, luật giang hồ, luật xã hội đen hơn hẵn luật pháp quốc gia thì ông Nguyễn Tấn Dũng dựa vào đâu mà nghiêm trị bọn tham nhũng. Đứa nào tham nhũng, ông Dũng đưa ra tòa. Tòa nào xử? Tòa căn cứ vào luật nào mà xử? Liệu bị cáo có sợ thứ luật pháp đó không? Hay ông Nguyễn Tấn Dũng đưa tội phạm cho xã hội đen xử? Thiên nan vạn nan đấy!
Điều căn bản thứ nhất là luật pháp. Thứ hai là cán bộ. Ông Dũng có được cán bộ gì?
Một chế độ muốn tồn tại, vững mạnh và phát triển, điều cần thiết là phải có cán bộ. Rõ ràng lắm: Phong trào Đông Du của cụ Phan chính là chương trình đào tạo cán bộ ở trường Đồng Văn (Hành Chánh) và Chấn Võ (Quân sự) ở Nhựt. Tổng thống Ngô Đình Diệm mới cầm quyền đã lo chấn chỉnh trường Quốc Gia Hành Chánh để đào tạo cán bộ cho ngành hành chánh và Trường Võ Bị Quốc Gia để đào tạo cán bộ cho quân đội. Ngoài Bắc, ngoài các trường hành chánh, ngành quân sự, trường công an, họ còn mở Trường Đảng để đào tạo cán bộ chính trị, quan trọng nhứt cho đảng Cộng Sản Việt Nam.
Tất cả những cố gắng đào tạo cán bộ của chính quyền Cộng Sản Hà Nội đều thất bại. “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”, lãnh đạo như thế thì cứ nhìn những vụ tham nhũng, từ trung ương đến địa phương, chúng ta thấy rõ sự thất bại của chúng. Thay vì đào tạo ra những cán bộ, viên chức phục vụ nhân dân, đầy tớ nhân dân thì viên chức cán bộ Cộng Sản bây giờ chỉ toàn là một lũ ăn cắp, ăn trộm, ăn giựt, ăn chặn… Vậy thì muốn diệt trừ tham nhũng, Dũng xử dụng loại cán bộ nào để thực hiện chương trình, kế hoạch của y? Với những loại cán bộ đó thì Dũng chỉ là người có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe, có mũi mà không ngửi được, có tay mà không cầm nắm được, có chân mà không đi chạy được.
Chưa kể một điều khác, rất quan trọng, rất độc hiểm, không chắc Dũng có thể vượt qua. Ấy là thái độ của cán bộ.
Người bạn tôi nói: “Nguyễn Tấn Dũng không cho tụi nó ăn, tụi nó phá cho mà biết. Nhất là bọn ở ngoài Bắc, chúng có những thủ đoạn thần sầu.”
Lệnh ban xuống, bọn chúng không thi hành. Không thi hành, lại còn phá, bằng những thủ đoạn tinh vi, hiểm độc. Anh Nam Kỳ bộc trực phổi bò, nóng tánh liệu có làm gì chúng xong?
Lại còn những tập đoàn tham nhũng. Có biết bao nhiêu tập đoàn tham những ngồi ngay tại Hà Nội. Đó là những Tập Đoàn Lê Đức Anh, Tập Đoàn Đỗ Mười. Còn tập đoàn nào nữa không?
Trong khi đó Tập Đoàn Chống Tham Nhũng (Cho là có chống tham nhũng đi) thì chỉ đơn độc, đơn thương độc mã.
Tập Đoàn Tham Nhũng thì dông, tập đoàn chống tham nhũng thì ít. Bọn nó xông lại, chém đầu Nguyễn Tấn Dũng rơi xuống ngựa mấy hồi!
Thêm nữa, nếu Nguyễn Tấn Dũng là người thân Tàu hay không, y không thể làm việc gì trước khi người Tàu làm. Ngay việc đổi mới kinh tế, Hà Nội cũng phải đổi mới kinh tế sau… Trung Cộng. Bên Tàu chưa chống tham nhũng, chưa quyết liệt chống tham nhũng thì Dũng cũng không thể đi trước quan thầy!
Những người dân bình thường, muốn làm được việc lớn thì khó lắm vì người dân không có quyền. Những người chức cao, quyền lớn, muốn làm việc lớn, không khó vì có quyền lực trong tay.
Sau mấy chục năm chiến tranh lạnh, Liên Xô không những đi sau Mỹ mà còn đi sau các nước Châu Âu hàng chục năm.
Trên đà sụp đổ, trên bờ vực, Gorbachov thấy rõ Liên Xô, nếu không khéo, hoàn toàn tan rã vì sự phát triển kinh tế của Liên Xô quá chậm. Người ta đi bằng tốc độ hỏa tiển, máy bay, còn Liên Xô phát triển kinh tế bằng tốc độ xe đạp. Vậy muốn phát triển, bắt kịp người ta, phải hội nhập với người. Thấy được con đường đó, Gorbachov đã có câu nói lịch sử: “Liên xô thuộc về Châu Âu” (Để hội nhập với châu Âu) và giải tán chế độ Xô Viết. Ông ta đã làm một hành động lịch sử và đã để lại một dấu son trong lịch sử.
Nguyễn Tấn Dũng nên nhìn vào tấm gương Yeltsin và Gorbachov. Nếu Dũng có một hành động lịch sử, sẽ cứu được nước Việt Nam, ông ta sẽ trở thành một nhân vật lịch sử, một người cứu nước (cứu nước, không phải cứu đảng). Còn nếu ông ta chỉ làm những việc như các thủ tướng trước đã làm như Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải thì Dũng cũng chỉ là một tên việt gian hại dân hại nước.
Khoảng cách giữa một vị cứu tinh đất nước và một tên Việt gian bán nước chỉ có một khoảng ngắn, chỉ bước một bước là xong. Điều quan trọng chính là ở lương tâm, lòng yêu nước và sự can đảm! Gorbachov, Yeltsin đã bước đi, Nguyễn Tấn Dũng, nếu có lương tâm và đủ can đảm thì còn chần chờ gì?!
Trong kho tàng văn chương truyền khẩu của quê mình có truyện cổ tích, ngụ ngôn, tục ngữ và ca dao…
Truyện cổ tích, ngụ ngôn thường là dạy đời. Tục ngữ thì truyền bá kinh nghiệm về môi trường sống, về cách xử thế…
Về hình thức, tục ngữ ngắn gọn, có nhịp và yêu vận (vần giữa câu) cho dễ thuộc, dễ nhớ.
Còn ca dao thường là tình cảm gia đình, cha mẹ, anh em; nhứt là tình yêu trai gái.
Về hình thức, ca dao là thơ (lục bát, song thất lục bát biến thể) vừa có yêu vận, lẫn cước vận (vần cuối).
Phân loại sơ sơ như vậy thì câu: “Ở đời có bốn cái ngu! Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu” tui cũng không biết phải xếp loại nó vào tục ngữ hay ca dao?
Nhưng xếp loại gì cũng được mà. Cái quan trọng là phần nội dung, ý nghĩa, tui thấy nó trớt quớt hè!
– Lãnh nợ:
Ðồng tiền nó liền khúc ruột mà bấm bụng lãnh nợ cho ai kia là một hành động cao thượng đáng để ngợi ca!
Em yêu dám lãnh nợ cho chồng lỡ Tết về đi quánh bầu cua thua hết ráo còn thêm tiền mượn nợ. “Anh Hai cho em khất lại tiền mượn của thằng chồng em! Từ từ em trả xin đừng có đốt nhà em tội nghiệp!”
– ‘Gác cu’?
Ðâu có ngu? Chỉ nuôi một con Cu mồi rồi dạy cho nó gù, nó gáy thật hay để dụ khị những con cu khác, đến chui vô bẫy tranh tài ‘karaoke’. Mình hốt gọn, đem ra bán ở chợ chim ở đường Hàm Nghi Sài Gòn năm xưa vậy.
– Còn ‘cầm chầu’?
Hổng dám ngu đâu! Cầm chầu, khỏ cắc cắc vào thành trống để chê. Khỏ mặt trống tùng tùng để khen mấy em hát ả đào hay quá!
Người cầm chầu phải là bậc tao nhân mặc khách; xấu trai cũng đặng, nhưng chữ nghĩa thơ, nhạc phải đầy một bụng.
Về nhạc, phải có cái lỗ tai của Tử Kỳ! Nghe Bá Nha chơi đàn mà hiểu núi cao thăm thẳm hay nước sông cuồn cuộn chảy về xuôi.
Người cầm chầu phải biết khen, chê đúng chỗ, đúng lúc. Khỏ cắc cắc chê bậy, khỏ tùng tùng khen bậy thì mấy cô đào nương sẽ bĩu môi tao nhân mặc khách cầm chầu gì mà lại ngu như con trâu (năm Tân Sửu).
Trong văn học, xưa cầm chầu, gọi là Ngự sử văn đàn. Giờ gọi là nhà Phê bình văn học. Cứ ‘tùng tùng’ khen nhà văn hay mời ta nhậu; rồi ‘cắc cắc’ chê đứa không hề cho ta nhậu khín thì bị chửi hoài hè!
– Cuối cùng là ‘làm mai’.
Hổng dám ngu đâu.
Ca dao miền Nam quê mình có câu: “Bên dưới có sông; bên trên có chợ! Ta với mình chồng vợ nên chăng?” là chàng dê nàng một cách sỗ sàng, ‘đìa rét’ (direct), tình lính tính liền. Nếu em chịu đèn, anh có thương em thì thủng thẳng em ừ thì lúc đó chàng mới nhờ tới ông Mai chỉ là hình thức thôi.
Cần hàm râu cá chốt, khăn đống trên đầu như một khúc cá kho, dưới đóng cái áo dài nữa là xong.
Ðến nhà gái chỉ cần hỏi: “Gả con đòi sính lễ, tiền bao nhiêu, vàng mấy lượng?” Ðàng trai kham nổi thì ủi tới. Quá sức mình thì gài số de.
Tác thành được cho đôi trẻ thì ông Mai vác cái đầu heo 5,10 ký về làm dưa đầu heo, nhậu mệt nghỉ. Nhứt là Tết, mùa cưới làm mai đắt lắm. Ðược ba mối thôi, là dưa đầu heo ăn tới Tết năm sau vẫn còn ba mớ!
Còn chuyện chồng vợ của tụi nó sau nầy ai mà biết? Chén trong sóng còn khua thì nói chi đến chuyện vợ chồng. Vợ chồng nó lỡ có: “Cất tiếng than hai hàng lụy nhỏ. Anh nói thương em rồi lại bỏ em đây!” là chuyện riêng của tụi nó. Làm ông Mai, đám cưới rồi thì mình đâu có ‘lan can’, trách nhiệm gì nữa chớ?
Ðâu có cái vụ: “Cây oằn vì bởi trái sai. Xa anh vì bởi ông Mai lắm lời” bao giờ hè?
o O o
Lại nhớ cách đây hơn 30 chục năm, tui đã từng xúi biểu và làm Ông Mai như vậy đó!
Từ đảo lon ton tới nước Úc nầy đây, tui với thằng Hùng, nhỏ hơn tui chừng hai chục tuổi. Hai chú cháu mướn một căn nhà của một ông Ý ở Coburg, cách Melbourne chừng 10 cây số về hướng Bắc.
Tụi Ý di dân tới đây hồi tiểu bang Victoria bùng nổ cơn sốt đào vàng vào giữa thế kỷ thứ 19. Rồi sau Ðệ nhứt, Ðệ nhị thế chiến, đánh thua thiên hạ, đất nước Ý bị chiến tranh tàn phá, kinh tế kiệt quệ nên dân Ý lũ lượt chạy ráo tới nơi đây. Ý đến trước mua nhà. Mít mình đến sau mướn nhà của nó.
Ông Ý chủ nhà tui mướn tánh cà chớn, độc tài phát xít như Mussolini nhưng lại có hai đứa con tên Elisa và Violetta, đẹp não nùng như tài tử Sophia Loren hồi năm 20 tuổi.
Sáng nào đi học ESL ngang qua nhà ổng sát bên, tui thấy con Elisa đứng tưới bông bụp sau hàng rào mà mắt em nhìn tui đắm đuối. Trên tay cầm cái vòi nước, em xịt lung tung làm ướt cả cái ‘váy’ của em.
Chỉ một tuần sau thôi là em Elisa rủ tui ra đường Lygon, thuộc khu Carlton, sát City, mà tụi Ý gọi là ‘Little Italy’ để ăn ‘pizza’ mà em nói là ngon nhứt thế giới.
Thằng Hùng nó nể, bái phục tui thiếu điều trật cái cần cổ: “Sao chú hay vậy? Ðẹt ngắt mà cua được một em bồ tượng Ý, Fat Cow, (Con bò mập) chỉ trong vòng có một tuần. Bí quyết nào chỉ cho con với chú!”
“Sáng sáng, chú mầy canh con Violetta, em gái của con bồ tao, ra trước cửa tưới nước bông ‘Violet’ thì chú mầy hãy lượn qua, lượn lại. Nhớ bỏ trong quần một củ khoai tây!”
Nhưng ngày lại ngày qua mà không kết quả gì ráo. Em Violetta thấy nó là mặt quay đi chỗ khác hè!
Cuối tuần, thằng nhỏ đành móc túi ra mua một thùng ‘Victori Bitter’ kiến tui; rồi than thở nghe đứt ruột, đứt gan hè: “Cháu đã làm theo lời chỉ dạy của chú, mang một củ khoai tây trong quần nhưng hổng ‘xi nhê’ gì ráo trọi!”
“Hãy làm lại vào ngày mai, nhưng lần này, chú mầy nhớ nhét củ khoai tây vô túi quần phía trước!”
Quả nhiên hiệu nghiệm tức thì. Thằng Hùng với con Violetta:
“Ðôi ta bắt gặp nhau đây?
Như con bò gầy gặp bãi cỏ hoang!”
Rồi ngày 14 tháng 2 năm sau đó, con Violetta, chuyên kẻ mắt màu Violet, tọt ra cho Hùng một thằng Cu, tên là Valentine.
Vợ chồng nó mời tui đến ăn thôi nôi. Tui rầy: “Mầy tên Hùng thì con mầy tên Dũng. Hùng Dũng có yếu xìu đâu mà chú mầy lại cữ? Bày đặt đặt tên Ý”
Con cũng tính vậy! Nhưng con Violetta nó nói Dũng tiếng Úc không bỏ dấu là Dung, thì cái nghĩa không được thơm tho cho lắm!”
Con Violetta mang nặng, đẻ đau nên con cho nó quyền đặt tên sao có hơi hướm chút chút của con là được!”
Thằng nhóc tì đẻ vào ngày 14, tháng 2, nên vợ con đặt tên nó là Valentine, tiếng La tinh nghĩa là khỏe, là Dũng của dân Mít mình vậy.
Ngoài ra, Valentine cũng là tên của một ông Mai, làm mối cho những kẻ yêu nhau trong thời giáo gươm chém giết theo lịnh của bạo chúa Claudius Ðệ nhị đế quốc La Mã.
Là trai trẻ đang yêu thì đâu có đứa nào ngu mà xách gươm, vác giáo đi đâm chém làm chi chớ? Yêu sướng hơn cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng!
Tức giận đến mức nổi khùng, phát điên lên, Claudius Ðệ nhị cấm tất cả các đám cưới hoặc lễ đính hôn ở thành La Mã.
Ông Valentine nghĩ rằng: “Cấm bậy bạ quá hè! Yêu mà tại sao lại cấm?!” Ông bèn làm ông Mai giúp những cặp đang yêu nhau nồng thắm, bí mật làm đám cưới chui!
Claudius Ðệ nhị biết được cho lính đánh ông Valentine bằng gậy cho tới chết rồi sau đó còn tàn nhẫn chặt đầu ông nữa.
Thiệt là cái thằng hôn quân vô đạo mà! Valentine đâu có làm tội lỗi tày đình gì đâu?!
Vì vậy, ngày 14 tháng 2 hằng năm là sinh nhựt của Valentine, con của con, cũng là ngày ‘Make Love! Not War” (Yêu nhau! Không quánh nhau!), là đám giỗ Valentine vì làm ông Mai mà phải bị mất chỗ đội nón!
Tui gật đầu tán thưởng, chọn tên con như vậy chứng tỏ con vợ Violetta của chú mầy cũng thông minh ‘quá khứ’
Phần tao ngày nầy dễ nhớ, lỡ năm nào chú mầy quên mời nhậu là tao nhắc đó nhe! He he!
Đã 45 năm rồi mất nước, làm thân phận bèo dạt hoa trôi viễn xứ. Đêm đêm ngồi trầm trầm bên ly rượu đỏ, màu vang đỏ như màu nước mắt hồng quê hương (khóc đến mắt chảy máu). Cạn hết vài ly, lúc xỉn xỉn, lưng chừng say, tui lại thả hồn mình về quê cũ.
Người ta nói tuổi trẻ sống cho hiện tại rồi nghĩ về tương lai. Còn tuổi già sống cho hiện tại lại ‘U turn’, nghĩ về quá khứ. Tui cũng vậy! Già rồi, thân xa quê, tui nhớ nhà, tức cái quê của mình, thuở còn thanh xuân sao mà tha thiết?.
Vậy là tui lại dỡ những bài thơ cũ ra đọc:
“Đêm qua Bắc Mỹ Thuận. Mối sầu như nước sông!”
***
Nhưng em yêu của tui, tức con vợ tui, lại có tâm hồn ăn uống chớ không thơ ca gì ráo trọi!
Từ Cần Thơ theo chồng, tức là tui, về Mỹ Tho làm đám giỗ Má của tui, gặp bữa kẹt Bắc Mỹ Thuận tới cả tiếng đồng hồ. Qua Bắc rồi mà xe lại chưa qua tới thì em yêu xề ngay vô mấy cái sạp bán nem Lai Vung, bánh phồng tôm Sa Đéc, mấy cái sạp bán ổi xá lị Mỹ Thuận, nhai dòn rụm hay xoài cát Hòa Lộc ôi thôi nó ngọt như đường cát, mát như đường phèn. Em mua vài chục (chục tới 14) cho tui xách thấy Tía tui luôn!
Sở dĩ em yêu thích mua mấy thứ đó là để làm quà, hối lộ mấy đứa em chồng (Kẻo chị dâu, tụi nó ghét, len lén nó bỏ thêm muối vào nồi canh em mới nấu, (mặn chát ai mà ăn cho được?)… là có nước đem đi đổ chớ cúng kiến gì?
Còn tui không phải mua để hối lộ như em yêu mà tui mua thứ tui thích, tui ăn.
Tui thích ăn ‘chim’!
(Cái sở thích ăn chim Mỹ Thuận chẳng qua tui theo cái truyền thống của Tía tui đấy thôi! Ôi nhớ xưa trào Đệ nhứt Cộng hòa thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, cái thuở VC chưa có dậy, chưa đồng khởi vùng lên mất tự do gì gì đó thì đất nước, quê mình thiệt là thanh bình hết biết.
Mấy người bạn văn chương làm báo chung với Tía tui, chiều sập tối rồi mà từ Sài Gòn còn chạy xe ‘Traction’ đen xuống ghé nhà tui ở Cua Đạo Ngạn Mỹ Tho để rù quến rủ rê Tía tui đi Mỹ Thuận ăn chim.
Tui xin theo nhưng mấy ồng hổng cho, còn phán rằng:
“Con còn nhỏ chưa biết ăn chim đâu. Trộng trộng thêm chút nữa, chim thiếu gì thì ăn đâu có muộn!”
Sau nầy lớn lên, tui mới biết là mấy ông thần văn nghệ văn gừng nầy hổng muốn con nít theo chộn rộn mất vui cả đám. Phần có con nít theo mấy em Mỹ Thuận lại nghĩ trùng ngay chóc là: “Anh có vợ con đùm đề rồi sao còn ve vãn, ‘dê’ em nữa mà chi?)
***
Mỹ Thuận cũng không xa miệt Đồng Tháp Mười lắm đâu, nơi chim trời cá nước ai bắt được nấy ăn. Vào đầu mùa mưa, khoảng tháng Ba, tháng Tư Âm lịch, lúc ấy lúa đang ngậm sữa trổ đòng, đàn chim trời kéo đến kiếm ăn, nào le le, chằng nghịch, cúm núm, gà nước, quốc, trích, ốc cao, võ vẽ…
Dĩ nhiên thịt chim ngon hơn thịt gà. Vì nó bay lượn nhiều, tập thể tháo nhiều là thịt nó cứng hơn; ngon hơn hè.! Nên bà con mình lũ khủ kéo nhau đi bắt ‘chim’! Vừa có ‘chim’ ăn; vừa ngăn không cho phá lúa!
Còn anh nào dở ẹc như tui, chỉ biết ăn thôi hỏng biết gì; hỏng biết bắt chim trời, cá nước gì hết ráo thì đành phải bỏ tiền ra mua! Mua mấy con cúm núm, gà nước hay một chị le le, về ‘rô ti’ ăn với bánh mì như Tây là bá cháy.
Có người gọi là khìa, còn ai khoái tiếng Tây thì gọi là ‘rô ti’. Tên khác nhau như xét cho cùng cũng vậy!
Cách làm nhổ lông chim cũng như nhổ lông gà! Xong để ráo nước, rồi xát gừng, ngâm rượu trắng quanh mình. cho thơm thịt chim. Ướp tiêu, muối, bột ngọt, đường, hành, tỏi để thấm khoảng một giờ. Phi hành tỏi thật thơm, bỏ thịt vào chiên vàng đều, đổ nước dừa tươi rim thật vàng, nước còn sền sệt là được.
Xong dọn xuống ‘quất’. Thêm một xị rượu đậu nành! Rồi có chết cũng đành!
Một em bán chim, đẹp mặn mòi, hương đồng gió nội, thấy tui xà lại, bèn ăn nói gió đưa ngọt ngào như mận Trung Lương:
“Anh qua Bắc Mỹ Thuận. Nhộn nhịp khách lữ hành.
Nên em mời đon đả:
“Ăn ‘chim’ em đi anh!” “Chim em toàn những nạc. Chim em chẳng có xương. Anh sờ đi: toàn thịt! Lại to hơn chim thường!”
Tui dáo dác dòm chừng; thấy em yêu đứng cách tui hỏng có bao xa, thủ trước cho chắc ăn, bèn xuống xề, hạ giọng nho nhỏ với em bán chim trên bờ Bắc Mỹ Thuận như vầy:
“Ừ! Chim em bự lắm! Nhưng anh cũng… có rồi?”
***
Tui xa quê thiệt là lâu, đã ¼ thế kỷ, tức tới 25 năm, mà chưa có về khi còn mấy đứa răng hô, mang ‘sắc cốt’, chưn dép râu, đầu nón cối, ngồi kiểu nước lụt đang làm cha trên cái đất nước yêu thương đã từng bị thương vì đạn pháo 130 li của Nga Xô, Trung Cộng năm nào.
“Em như hoa tím lục bình. Nhấp nhô trên sóng biết mình về đâu? Chiều về óng ả ngàn dâu ?. Hoàng hôn không khói biết đâu là nhà. ..”
Thôi thì chỉ biết đêm nay, đêm của những ngày sắp 30 tháng Tư oan khốc đó, tui xin đốt nén hương lòng để nhớ về:
“Những người muôn năm cũ! Hồn ở đâu bây giờ?.
Cho dù bây giờ đất nước có tự do, tui có bò về thăm quê cũ thì tất cả đã muộn màng hết cả rồi!
Tui đã già rồi. Hết xí quách rồi!
Chim Mỹ Thuận, nếu thấy, tui chỉ còn biết ‘dòm’ thôi!
Răng cỏ đâu mà nhai rau ráu cả xương lẫn thịt như ngày xưa, thuở còn thanh xuân nữa?
Giờ qua sông Mỹ Thuận Nhớ chiếc Bắc ngày mơ! Thương cô em mười tám. Biết tìm đâu bây giờ?… Chim ơi!”
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.