Kinh xáng Hà Tiên

Posted by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 6 Dec 2023

Bài 2

Quả lựu đạn

_ “Kiểu nầy thì chết!”

Tôi nói câu ấy khi thiếu tá Long, quận trưởng, vừa bước tới ngồi vào cái ghế bên cạnh bàn tròn, nơi tôi đang uống càphê. Nghe tôi nói, thiếu tá Long hỏi ngay:

_ “Gì mà ghê vậy?”

Thiếu úy Chiếu đỡ lời tôi:

_ “Thằng Chói! Tối qua quậy dữ. Sáng nay quậy nữa. Dân chúng than quá trời!”

Thiếu tá Long nói:

_ “Tôi cho một thằng đệ tử, vật cổ nó xuống là xong.”

Tôi cản:

_ “Đừng ông ơi! Quả lựu đạn của nó còn ngòi. Nó bật một cái là chết chóc tùm lum. Ghê lắm. Dân chúng chết lây. Không được đâu.”

Thằng Chói đi lính Biệt Động Quân ở Cao nguyên, hơn một năm nay nó mới được về phép. Về tới nơi, nghe tin con Hòa, bồ của nó, bỏ xứ lên Saigon bán bar Mỹ, chán đời, thất tình, nó bỏ phép luôn. Hết phép hơn mười ngày rồi mà coi như không, nhậu riết, từ trưa tới khuya, ai nói cũng không nghe, còn hăm dọa người ta.

Nó có quả lựu đạn. Mỗi lần nhậu, nó lôi quả lựu ra, tháo chốt, bỏ vào cái ly cối. Cái ly rộng vừa tầm để kẹp cái mỏ vịt quả lựu đạn lại, không bật lên được; rồi đổ bia vô ly, bưng uống. Ai thấy cũng sợ khiếp. Quả lựu đạn trật ra khỏi cái ly là coi chết, bị thương cả chục mạng người như không.

Sáng ra, nó vô quán con Bạch, kêu càphê, xong chầu càphê là tới bia, rượu. Chuyện tiền bạc, con Bạch chịu được, không tính lời lỗ, nhưng khi thằng Chói đã vô quán ngồi, ai mà dám vô đó nữa, thành ra quán nó vắng hoe. Thấy tay nó cầm cái ly cối, trong có quả lựu đạn, lắc qua lắc lại, thiên hạ bỏ đi cho mau, sợ lựu đạn văng ra, nổ bất tử. Coi như quán con Bạch ế xệ; đám “hạ bạc” (1) không tới, bà con cũng không ai tới. Quán con Bạch mỗi ngày chỉ có một người khách độc nhất, mà lại khách ghi sổ, biết khi nào khách có tiền mà trả.

Cũng đôi khi một thằng “hạ bạc” nào nó, vô tình đi vô quán, bị thằng Chói cặp cổ, biểu nhậu chung cho vui, vui nhưng mà phải trả tiền nhậu, thế mạng cho thằng Chói. Bữa đó thì con Bạch thu được ít tiền, cũng chẳng thấm vào đâu. Quán nó thường đông khách. Khách đâu có “chạy làng” như vầy.

Con Bạch chắp tay lạy thằng Chói mấy lần mà coi như không. Nó vẫn y cái thói dọa dẫm bằng cách dùng lựu đạn như thế, chuyện chẳng đi đến đâu.

Mùa hè năm nay, trước ba cái chết của ba người lính của tôi, tôi cũng đâm ra lạnh mình. Lạnh mình chớ không lạnh dò. Ở xã An Hòa, thiếu úy Sơn, trẻ và đẹp trai nhất của tôi, “hăng máu vịt”, dẫn mấy trung sĩ cảnh sát của nó – không có lệnh lạc gì của tôi cả – tấn công giải tỏa hai chốt Việt Cộng ở cuối ấp Lò Vôi cuối xã, trên đường kinh vô “mật khu Trà Tiên”, bị Việt Cộng pháo kích. Trung sĩ Lê Bình Thạnh lảnh một trái “mọc 60”, chết tại chỗ. Tình hình căng lắm, phải tới chiều, khi tôi với thiếu úy Ký, dẫn trung đội Cảnh Sát Dã Chiến vô gần tới nơi trung sĩ Lê Bình Thạnh chết, không tiến lên được nữa, trung sĩ Huỳnh Tho xung phong đi lấy xác Thạnh. Anh ta giả làm dân thường đi đốn tràm, kéo cái xác Lê Bình Thạnh xuống chiếc xuồng ba lá, chèo về. Thấy cái xác Lê Bình Thạnh đầu vỡ nát, nằm chèo queo trong cái xuồng nhỏ, tôi muốn chảy nước mắt. Ra tới chợ quận, vợ Lê Bình Thạnh chờ sẵn đó, thấy xác chồng, nó khóc thê thảm, ai nấy cũng não lòng.

Sau đó không lâu, nhân dịp “Mừng sinh nhật Hồ Chí Minh” của Cộng Sản, chúng tấn công vô “xã Vàm Rầy”, tôi lại mất thiếu úy Phan Trí Huệ, hai mươi tuổi, mới ra trường, nhà ở đường Nguyễn Cư Trinh, Saigon cùng với trung sĩ Lê Văn Út, phó cuộc. Bên quân đội chết thiếu úy Trực, phân chi khu trưởng.

Trong vòng một tháng mà có những ba bốn cái chết, lòng tôi “u ám” thế nào ấy. Hôm Việt Cộng tấn công “đồn Lung Lớn”, bị thiếu tá Long cho pháo dập, hơn một chục cái xác nằm trong, ngoài hàng rào. Tôi và thiếu tá Long đến nơi; ông ta nói với tôi: “Moa xông pha biết bao nhiêu trận, bây giờ thấy máu xương như vầy, moa cũng ngán”.

Lỡ như có án mạng nữa, tôi cũng ngán như ông ta. Đâu chỉ mình sợ cho mình, còn những người chung quanh mình nữa chi?! Chết là hết, “đời là vô thường”, sống đó, chết đó, nói nghe dễ. Người chết thì dễ, người sống mới khó. Đó là cái “hậu quả” người chết để lại. Thành ra, tôi chẳng “thúc đẩy” thiếu úy Chiếu, thiếu úy phân chi khu trưởng giải quyết vụ thằng Chói cho mau. Từ từ rồi cũng xong, nôn nóng ích chi. Nói vậy là để an ủi, lỡ như có ai biết ruột gan tôi mà chê bậy tôi nhát gan.

Buổi chiều, khi tôi ngồi vào vô-lăng chiếc xe Jeep, tính nổ xe về, thiếu úy Chiếu mặt buồn xo, hỏi tôi:

_ “Tính sao đại úy?”

Tôi nói như để an ủi anh ta:

_ “Thôi! Để thêm một bữa nữa thử coi. Mai tôi xuống.”

Thiếu úy Chiếu buông tay đang vịn ở cửa xe, tôi nhìn anh ta, không vui, và đạp gas cho xe chạy tới.

Hôm sau, giải quyết vài việc ở văn phòng xong, tôi đi ra garage định lên xe. Thấy Phan Chánh Tiêm, trưởng ban Truyền Tin đang đi vào sân, tôi nói với anh ta:

_ “Ông” gọi máy về nhà, báo cho cô biết, trưa nay tui không ăn cơm nhà.”

Việc tôi không ăn cơm trưa ở nhà xảy ra rất thường, bởi ngày nào tôi cũng xuống các xã, ngay cả những xã ở xa như xã Bình Trị, ở núi Hòn Chông, nơi căn cứ của Nguyễn Trung Trực ngày trước. Xã nầy Việt Cộng mạnh vì núi Hòn Chông là nơi chúng dễ ẩn núp; thứ hai, xã Tín Đạo, bao gồm cả vùng Nam Thái Sơn là vùng tôi thường gọi là “Cộng Sản ba đời.” (2)

Hôm qua, tới giờ đi ngủ, tôi vẫn còn băn khoăn về vụ thằng Chói, làm sao cho thằng Chói trở lại đơn vị là xong. Suy nghĩ hoài mà tôi chưa tìm ra cách chi. Tôi dự tính hôm nay cứ biểu thiếu úy Chiếu báo cáo sự việc lên cho tôi, tôi sẽ họp bàn với “ủy ban An ninh” coi có cách gì giúp đỡ.

Xuống tới nơi, trước khi vào cái quán càphê quen như thường lệ, tôi đi quanh quan sát một vòng. Bọn Việt Cộng thường theo dõi thói quen của chúng ta. Biết chúng ta hay tới lui ở những đâu, chúng sẽ gài bom, lựu đạn, v.v… Khủng bố là nghề của chúng đấy, chúng là “tổ sư”.

Xong, tôi vô quán, chưa kịp kêu cái gì uống thì thiếu úy Nguyễn Minh Chiếu từ trong “trụ sở cuộc Cảnh Sát” đi ra, kéo ghế ngồi bên tôi, nói:

_ “Con Hòa nó về rồi.”

Ban đầu, tôi tưởng thiếu úy nói tới cái tính “bay bướm” của mấy ông sĩ quan, bèn nói:

_ “Mấy ông còn trẻ, có muốn “léng phéng” thì nhào vô. Tui thì kẹt đấy. Ba nó khi còn sống là nhân viên của tui mà!”

Thiếu úy Chiếu trả lời ngay:

_ “Không! Không phải em muốn nói chuyện đó. Em muốn nhờ con Hòa…”

Tôi hỏi lại ngay:

_ “Nhờ gì?”

_ “Nhờ nó dụ thằng Chói trả phép. Thằng đó trở lại đơn vị là xong.”

Tôi cười:

_ “Mỹ nhân kế”? Phải không? Kế đó hay đó. “Sắc bất ba đào dị nịch nhân”. Sợ thiếu úy Chiếu không hiểu câu chữ Nho, tôi nói tiếp: “Khí phách kẻ anh hùng đựng không đầy đôi mắt mỹ nhân”. Ông nói với nó chưa?”

_ “Nó không chịu đại úy. Nó bảo là nó đã “phản” thằng Chói rồi, không chung thủy với thằng Chói rồi, gặp lại thằng Chói nó mắc cở. Nói chi nó cũng không?”

Tôi hỏi:

_ “Ông” nghĩ, thử tôi nói, nó có nghe không?”

_ “Đại úy nói nó nghe?”

_ “Bậy, tại sao nó nghe? Tại tui loon to hơn ông? Tui không tin vậy.”

_ “Nói ra buồn cười. Tụi con gái ở đây con nào cũng khoái “ông đại úy” vì “ông đại úy” có vợ đẹp. Bữa cô xuống đây chơi, tụi nó kháo với nhau “bà vợ ông đại úy” đẹp và sang lắm, ăn mặc đúng kiểu Saigon lắm. Tụi nó kéo nhau đi coi. Tụi nó đứng ở xa, cô lại gọi chúng tới, nói chuyện vui vẻ, cười đùa với tụi nó.”

_ “Tui nói mà nó không nghe, tụi biểu cô nói. Nhưng bọn mình là đàn ông mà công việc phải nhờ đàn bà thì… “quê” quá mậy!”

_ “Nói cho cùng, cũng tội nghiệp cho mấy đứa con gái nhà quê, ngưỡng mộ dân Saigon.”

Có lẽ thiếu úy Chiếu nói câu đó vì ông nhớ câu chuyện phim tôi kể cho ông ta nghe tháng trước. Hôm tôi về Saigon, đi xem phim “La fille de Ryan” về tôi thấy thương con lắm. Tự nhiên đem con về ở xứ ruộng, không có ciné, không có nhạc hội, không có sở thú, không có thư viện… giống như cô gái trong phim, “mê” Dublin quá mà phải lấy ông thầy già làm chồng, rồi phản bội chồng. Tôi phải tìm cách đem con về Saigon ở, học hành ở đó có thầy hay bạn giỏi, chúng mới có tương lai.

Vừa lúc đó thì ông phó quận trưởng Nguyễn Đức Nghiêm tới. Ông nầy tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh, hai ba năm nay. Tôi quay ra phía ông, gọi to:

_ “Vô đây đã ông phó quận ơi!”

Ông ta đi vào, ngồi xuống cái ghế bên cạnh tôi. Tôi hỏi:

_ “Uống chi? Tui kêu cho.”

_ “Được rồi, để tôi.” Xong ông kêu một cái “xí-nại.”

Trong khi chờ càphê, “ông phó Nghiêm” hỏi tôi:

_ “Chuyện thằng Chói xong chưa?”

_ “Ông cũng biết à? Chuyện không phải là bây giờ, bây giờ hy vọng xong. Tui nghĩ tới ngày sau.”

_ “Ngày sau là sao?” Phó Nghiêm hỏi tôi.

_ “Ông thử nghĩ coi. Mai đây hòa bình, mỗi thằng lính giải ngũ, lén ôm về một quả lựu đạn, rồi tụi nó “quậy” như thằng Chói nầy, xóm làng nào chịu nỗi. Chính quyền xã ấp “mệt cầm canh” với tụi nó đấy. Phải không?”

_ “Nghĩ chi cho xa!” Phó Nghiêm nhắp một chút càphê cô chủ quán vừa bưng tới, nói tiếp: “Suy ra, tui thấy ông nói nhiều cái nghe cũng hay, ở ruộng rẫy như thế nầy, có ông nói chuyện cũng vui.”

_ “Ông là người trí thức, cũng như đám mấy kỹ sư nhà máy ximăng Hà Tiên vậy, tui mới nói mà thôi. Nhìn xa thì như thế nầy:

“Thanh niên lớn lên ở thôn quê, tụi nó đang yên bình, tập cầm cày, cầm cuốc, làm ruộng, phát hoang… Bỗng chiến tranh! Chiến tranh lôi chúng ra khỏi ruộng đồng, lôi tay chúng ra khỏi cái cuốc, cái cày, dí vào tay chúng quả lựu đạn, cây súng, biểu nhắm cho trúng lỗ châu mai mà bóp cò, dạy cho chúng việc bắn nhau, giết nhau; rồi hòa bình, đuổi về. Tụi nó bây giờ lạ lẫm với cái cuốc, cái cày, không quen việc làm ruộng, ở lính khi nào không hành quân thì “cà nhỏng”, quen rồi, trong khi chẳng ai chuẩn bị cho chúng một cái nghề gì “hậu chiến” cả. Thật là cả một vấn đề khó khăn với hàng triệu thanh niên.”

Bỗng phó Nghiêm hỏi tôi:

_ “Nghe nói ông có làm việc ở “Phủ Quốc Vụ Khanh Kinh tế Hậu chiến?”

_ “Đếch gì đâu! Nói nào ngay, khi tôi nhập ngũ, tính kiếm một “đơn vị không tác chiến”, còn lo cho vợ con được, giáo sư VQT, vì một lý do riêng khi ông ra tranh cử Thượng viện, gọi tôi tới, tính giao cho tôi một cái chức công cán, công kiếc gì đó. Nhờ đó, tôi có đọc một vài tài liệu về “hậu chiến”, chẳng hạn như về “khu thương mãi quốc tế Thủ Thiêm”, về xây dựng mới “ga xe lửa Saigon 5 tầng lầu”, “kế hoạch kết nối hải cảng Tân Thuận – Vũng Tầu”, về kế hoạch “khai thác quặng nhôm Đắc-nông”… Tôi có để ý một điều, về cải tiến xã hội, không thấy có một tài liệu nào, ngoài cái của ông Nhu. Cái nầy lại không thực tế.”

“Thêm điều nữa, về đây, tôi mới thấy việc “đào giếng lấy nước làm ruộng là hay, không dùng nước kinh tưới ruộng để tránh phèn, chỉ làm được có một mùa. Còn như ổn định cho “cựu chiến binh” thì không thấy các “sư phụ” nói gì?”

_ “Sư phụ nào?” Phó Nghiêm hỏi tôi.

_ “Sư phụ nào nữa. Mấy ông trong “Kinh tế Hậu chiến” là “sư phụ” cả đấy.”

Một lúc sau thiếu úy Chiếu với con Hòa tới. Tôi mời hai người ngồi chung bàn. Họ ngồi xuống ghế sau khi chào ông phó Nghiêm.

Tôi hỏi Hòa:

_ “Mẹ em có khỏe không?”

_ “Cám ơn đại úy. Mẹ em khỏe.” Cô Hòa trả lời.

_ “Còn em thì sao?” Tôi hỏi tiếp.

_ “Em cũng khỏe.” Cô ta trả lời.

Tôi nói:

_ “Em trả lời vậy là không đúng đâu. Em phải nói là “em khỏe” và “đẹp thêm ra”. Đi Saigon về “đẹp thêm ra”.

Nghe tôi nói đùa, ai cũng cười.

Phó Nghiêm cũng cười, nói:

_ “Ông đại úy người Huế nầy “ga-lăng thầy chạy luôn.”

Mọi người lại cười.

Một lúc, tôi nói với Hòa:

_ “Việc thiếu úy Chiếu nhờ em là quan trọng lắm. Anh Chói chơi cái trò ấy rất nguy hiểm. Lỡ lựu đạn nổ, bà con trong xã có người chết, bị thương vì anh ta, anh ta có hối hận không? Một người vì mình mà tàn tật suốt đời, què một chân hay hư một mắt, gặp họ, hỏi trong lòng anh ta sẽ như thế nào? Tui suy nghĩ việc anh Chói làm lung lắm.”

_ “Đại úy nói làm em giật mình.” Hòa nói. “Lỡ có ai đui què vì mình như thế, chắc em bỏ xứ mà đi luôn đại úy à!”

_ “Lương tâm mà em. Ngoài mặt trận, bắn qua bắn lại, ai chết ai bị thương, là chuyện ở mặt trận, còn ở đây là quê hương mình, bà con mình, mình phải bảo vệ, phải không?” Tôi nói tiếp.

_ “Để em dẹp tự ái. Mình bỏ người ta rồi gặp lại người ta cũng mắc cở. Thôi để em qua khuyên nhủ hơn thiệt với ảnh.”

Nói xong, Hòa đứng dậy, chào mọi người ra về.

Cô ta đi rồi, thiếu úy Chiếu nói:

_ “Đại úy nói hay thiệt, trúng tâm lý, trúng vô lòng thương yêu làng nước của cô ta.”

_ “Liệu cách mà nói. Tui cũng thật lòng mà nói thôi, không dụ khị bậy bạ đâu, chân thành mà nói đấy. Với lại, – tôi nói đùa – giáo sư văn chương mà, dễ cua gái lắm ông!”

Chúng tôi kết thức bữa uống càphê. Hôm đó tôi về nhà sớm, hy vọng thằng Chói sẽ về đơn vị.

Câu chuyện trôi qua gần nửa năm. Bây giờ đã tới mùa đông. Trời chưa sáng hẳn, còn lạnh, tôi còn nán nằm trong chăn, hẹn với lòng, bữa nay đi làm trễ một chút cũng được. “Xếp” đơn vị mà, trễ sớm không thành vấn đề.

Bỗng có tiếng gõ cửa. Nhà tôi đi ra, nhìn qua khe cửa rồi mở cửa ra. Trung sĩ Tiêm vào. Thấy việc bất thường, tôi hỏi:

_ “Việc chi dzậy?”

Trung sĩ Tiêm nói:

_ “Thiếu úy Chiếu có việc gấp, xin gặp đại úy ở đầu máy.”

_ “Nói với ông chờ tui chút. Mười lăm phút nữa, tôi vô (bộ Chỉ Huy).

Nghe tiếng tôi, thiếu úy Chiếu nói ngay:

_ “Con Hòa nó mới về sáng nay, đi theo chiếc xe chở quan tài thằng Chói. Nó tử trận rồi.”

Tôi im lặng khoảng vài phút, hơi xúc động về cái tin thằng Chói tử trận. Một lúc sau tôi hỏi:

_ “Xe đi suốt đêm à?”

_ “Không! Tối hôm qua ngủ lại trên xe ở “bắc” Vàm Cống. Giới nghiêm, xe không được chạy. Ba giờ sáng, từ “bắc” Vàm Cống mới về tới đây.”

_ “Sao con Hòa biết thằng Chói tử trận mà đem quan tài về?”

_ “Hình như thằng Chói khai tên và địa chỉ thân nhân là con Hòa. Nhận tin đơn vị báo, nó xin theo xe đưa thằng Chói đem về xứ chôn.”

_ “Bây giờ xe đang ở đâu?” Tôi hỏi.

_ “Trước trường học. Chưa biết tính sao cả!” Thiếu úy Chiếu trả lời.

_ “Nhà mẹ thằng Chói?”

_ “Nhà đâu! Cái chòi lá. Thằng Chói đi lính rồi, nhà cửa không ai chăm sóc, dột nát cả. Mẹ nó qua ở bên nhà Tư Sậm, vá lưới cho Tư Sậm, vừa có ăn, vừa có chỗ ở. Cái chòi bỏ hoang, gần muốn sụm. Đâu có đem về đó được.” Thiếu úy Chiếu giải thích.

_ “Việc nầy là của Xã, Xã phải lo. Ông qua nói với xã Àn, để tạm quan tài phía sau nhà lồng chợ, chỗ ngó ra bờ kinh.” Tôi nói như thế là tôi biết phong tục ở xứ ta. Người chết bất đăc kỳ tử, không thể đưa về nhà.

_ “Chỗ đó trống lốc, mái che cũng không có.”

_ “Tui sẽ qua Thiết Đoàn 16 mượn cái tăng lớn, đem về dựng tạm mà để quan tài trong đó. Bao giờ chôn? Tính chưa?” Tôi hỏi.

_ “Chưa! Mới về tức thì mà. Chắc cũng mai mốt gì thôi. Không để lâu.”

Thế rồi tôi qua bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn 16, gặp trung tá Hồ Đàn, thiết đoàn trưởng, mượn tạm cái tăng nhà binh ít hôm. Xong, tôi bỏ cái tăng lên xe Jeep, lái thẳng về Vàm Rầy, không ăn sáng mà cũng quên uống càphê.

Về tới nơi, tôi thấy trưởng ấp Đực đã huy động một số Nhân dân Tự vệ cùng với mấy trung sĩ Cảnh Sát của thiếu úy Chiếu đợi sẵn. Họ đem cái tăng từ trên xe tôi xuống, rồi dựng lên phía đầu cuối nhà lồng chợ, ngó ra bờ binh như tôi đã dặn thiếu úy Chiếu hồi sáng. Xong, họ xúm nhau bưng quan tài từ trên xe xuống, đặt ngay ngắn giữa nhà tăng. Bạch, cô chủ quán càphê, “nạn nhân” của Chói, được con Hòa dặn đâu đó, đem tới bình nhang, một mân trái cây, chuối, v.v… cũng đủ lễ như phong tục của người dân quê Việt Nam, tuy có phần đơn giản.

Chỉ phút chốc, mọi việc xong xuôi.

Quan sát đám “đạo tỳ bất đắc dĩ” làm xong công việc, tôi mới để ý tới con Hòa. Nó đang ngồi trong nhà lồng chợ, bên cạnh một bà già ốm nhom. Tôi đoán chừng là mẹ của thằng Chói. Tôi bước tới chào cả hai người.

Trong trí tôi bất giác nghĩ tới mấy tiếng “Mẹ Việt Nam” mà tôi đã từng nghe lâu lắm, có lẽ từ khi Việt Nam bắt đầu có chiến tranh. Chiến tranh do đâu mà có, ai là người gây ra chiến tranh? Và đây, bà già tiều tụy nầy, cũng như mẹ tôi, cách đây hơn hai mươi năm khi người anh cả tôi bị Tây thủ tiêu, hay “Hùng móm” tử trận khi chỉ huy đại đội dù chiếm lại cổ thành Quảng Trị, cách cây chỉ có mấy năm, là nạn nhân của cuộc chiến tranh nầy, là những người gánh chịu cái hậu quả của những người gây nên cuộc chiến. Giữa mẹ tôi, một người dân tiểu tư sản thành thị, và bà già mẹ của Chói, một bà nông dân vô sản chính hiệu, đều như nhau, như nhau trong sự đau khổ, trong sự mất mát, trong sự thiệt thòi, trong sự bóc lột. Chiến tranh bóc lột tài sản của họ, nhưng điều đau đớn nhứt là bóc lột con cái của họ, thứ tài sản cao quí nhất, mà khi đã mất đi, họ đành chịu mất mát thiệt thòi, không bao giờ có lại được, không có gì bù đắp được.

Hình ảnh bà già tiều tụy, hốc hác, bơ phờ, hụt hẫng vừa mất đứa con yêu, làm cho tôi nhớ tới mẹ tôi đang ở đâu đó với các con: Ở Huế, ở Qui Nhơn với con gái hay ở Saigon với con trai. Nhà mẹ tôi ở thị xã Quảng Trị đã không còn lại gì trong trận chiến vừa qua, khiến mẹ tôi không trở về nhà cũ, nay nhà nầy, mai nhà kia ở với các con.

Còn tôi ở đây, một trong hai người con trai còn lại của mẹ tôi, đang lưu lạc về tận xứ “nắng bụi mưa bùn”, một nơi, trước kia, tôi chỉ đọc trong sách đia lý, không bao giờ nghĩ rằng, chính tôi, quê ở “vùng hỏa tuyến” lại có thể chân bước lang thang ở nơi tận cùng phía nam của giải đất hình chữ S nầy.

Tiếng khóc đục khàn của bà già nghèo khổ xứ quê mùa, hòa cùng tiếng khóc trong trẻo mà nức nở của con Hòa, cùng với nỗi thương mẹ đang gây sóng to sóng nhỏ trong lòng tôi làm cho tôi chào họ qua loa cho xong, rồi tôi tới nhà xã Àn ở cuối dãy phố chợ, sát bờ kinh, nơi xã Àn đang ngồi đó, chờ mời tôi cốc xí-nại.

Trong khi tôi đang ngồi với xã Àn, trưởng ấp Đực giúp “tang gia” làm lễ phát tang cho thân nhân. Thân nhân là ai? Chỉ có người mẹ già và “cô dâu hờ” tên Hòa vừa đem quan tài “người chồng hờ” từ Saigon về đây sáng nay. Lễ phát tang không có gì cả, không có chiêng trống, tiếng thầy chùa tụng kinh, tiếng khóc, tiếng gào của con đàn cháu đống. Lễ phát tang chỉ có tiếng khóc yếu ớt của bà “Mẹ Việt Nam” – nói như thế cho đúng thời thượng – giọt nước mắt của con Hòa, khóc cho một mối tình “đứt đoạn”. Cuộc đời đáng mai mỉa hay đáng nguyền rủa đây?!

Tôi bỗng nhớ tới những bài hát quen, nói về người lính tử trận, không sang giàu như “anh trở về hòm gỗ cài hoa”. Ở đây chỉ là người lính nghèo, một bà mẹ già, một “người yêu hờ” mặc dù họ yêu nhau thật lòng.

Ở ấp Vàm Rầy nầy, ai không biết ông Ba Nhì, cha của con Hòa. Cách đây mấy chục năm, ông làm hương quản. Cái chức hương quản cũng đủ thế lực để ông cưới mẹ của con Hòa, có tiếng đẹp, mặc dù, cô gái ấy không yêu ông ta. Hai người có hai con gái: Hiền, cô chị, và Hòa, cô em. Khi mẹ của hai đứa con gái qua đời, ông tục huyền. Hai đứa con gái không ở với người vợ kế: Con chị đi Saigon. Xã hội bấy giờ, con gái nghèo nhà quê lên Saigon có hai con đường để đi: Ở đợ hay bán bar Mỹ. Cả hai chị em đều đẹp, có lẽ nhờ cái gène của mẹ, cứ con đường đó mà đi, chị trước, em sau.

Tôi ở đây cho tới chiều, dùng cơm với mẹ thằng Chói, con Hòa và ông phó quận tới hồi trưa. Bữa cơm do An, trung sĩ Cảnh Sát, con của xã Àn khoản đãi. Cũng có xã Àn đến ngồi dùng cơm với chúng tôi.

Đang ăn, bỗng phó quận hỏi:

_ “Thiếu úy Thịnh đâu? Ông ta không tới à?”

Thiếu úy Chiếu trả lời:

_ “Ông ta không tới đây đâu!”

_ “Sao lại không tới!” Ông phó quận Nghiêm nói. “Ông ta là sĩ quan chiến tranh chính trị chi khu, ông ta học trường đại học chiến tranh chính trị ra. Đám ma nầy, ông ta phải tới chứ, phải “tâm lý chiến” chứ!”

Xã trưởng Àn nói đùa, có ý mai mỉa:

_ “Xã tui mới có trường sơ học còn ông thiếu úy Thịnh cao tới đại học lận, ông tới đây làm chi!”

Nghe xã trưởng mai mỉa, ông phó Nghiêm góp ý:

_ “Không thực tế, ông Hải nhỉ? Ở những nơi “hạ tầng cơ sở” xã hội như thế nầy, người dân đâu cần một ông sĩ quan xuất thân đại học. Người ta cần một anh cán bộ thông tin đến chiếu phim cho họ coi một tuần vài lần, một ông cán bộ thông tin đọc báo cho họ nghe, tin “xe cán chó, chó cán xe” hay “con ma vú dài khám Chí hòa” cũng hay chán. Dân chúng cần giáo viên, người khám bệnh, người chích thuốc, người tổ chức sinh hoạt cho các em thiếu nhi, v.v…”

Tôi góp ý:

_ “Điều ông phó nói, ông Hồ Hữu Tường gọi là “Văn minh Chính ủy” đó. Đó là thứ văn minh xã hội có tổ chức.”

_ “Điều đó không mới đâu!” Phó Nghiêm góp ý với tôi.

Tôi hỏi:

_ “Vậy ông phó nói cái gì mới?”

_ “Phan Chu Trinh đã nói trước Hồ Hữu Tường năm mươi năm.”

_ “Có phải “khai dân trí” không?” Tôi hỏi.

_ “Giữa Quốc Gia và Cộng Sản, khác nhau chỉ ở con đường “khai dân trí” mà thôi, khai trong cái dàm của con ngựa hay con ngựa không dàm. Đúng không?

Nói xong câu đó, ông phó Nghiêm nhìn tôi cười.

Tôi cười:

_ “Tôi phải hoan nghênh ông một phát mới được.”

Cái khăn tang trên đầu con Hòa sút ra, nó vấn lại. Tôi hỏi:

_ “Em chưa là vợ anh Chói, sao em bịt khăn tang?”

_ “Nếu không có em, đám ma chỉ một mình má anh Chói bịt khăn mà thôi. Đại úy không thấy lẻ loi quá hay không? Thêm em nữa, má anh Chói cũng thấy bớt… cô đơn.”

_ “Hay đấy!” Tôi nói.

_ “Còn với em,” Hòa nói tiếp, “bịt khăn hay không, đời cũng vậy thôi đại úy à. Dù có chồng hay không, cũng là… lỡ làng. Thời giặc giã mà.”

_ “Em với An học chung một lớp?” Tôi hỏi Hòa.

_ “Ba đứa!” Trung sĩ Cảnh Sát Ngô Văn An nói. “Tụi em có ba đứa, học với nhau a, b, c…”

_ “Hồi đó, vui lắm, trường lớp gì đâu!” Hòa góp ý.

An kể chuyện cũ:

_ “Hồi đó, không có trường lớp gì cả. Kế đám mả nhà ông chủ Ry, có cái chuồng trâu bỏ hoang. Bọn em đi học, mỗi đứa mang theo cái đòn để ngồi. Bàn là hai cái đầu gối. Kê lên đó mà tập viết.”

_ “Thầy hay cô giáo dạy?” Ong phó Nghiêm hỏi.

_ “Để tui kể cho nghe, tụi nó không nhớ đâu.” Xã trưởng Àn lên tiếng. “Có một tay “giang hồ cọc cạch” (3) nào đó, lưu lạc vô xứ nầy, chẳng cần phép tắc gì cả, ảnh kêu tụi trẻ họp ở chuồng bò dạy quốc ngữ cho tụi nó. Dạy hay lắm, hơn tháng là tụi nó lỏm bỏm đọc báo được. Tới thời “Đồng Khởi”, ảnh vô mật khu với tụi nó. Chưa được bao lâu, ảnh lại ra, phê phán bọn ở trỏng dữ lắm, rồi bỏ xứ nầy đi mất tiêu, cho tới bây giờ, không tin tức gì cả.”

_ “Thầy đi rồi, bọn em nhớ thầy, đứa nào ở nhà giúp cha mẹ, giữ em thì thôi, tụi em đi chơi, ra Xóm biển, xóm Chùa, đi giăng câu, khi xã mở trường thì vô trường, học tiếp, cô giáo tổ chức văn nghệ…” Hòa kể.

_ “Em biết hát mà!” Thiếu úy Chiểu nói.

_ “Hồi đó em hay hát bài: Mười mấy năm qua khi hoa vừa hé nhụy thì đời trai vui chinh chiến.”

_ “Hát xui!Mày hát vậy nên thằng Chói đi lính rồi đi luôn…” Xã Àn nói.

Hòa chống chế:

_ “Ảnh chết vì nước mà, đâu phải tự con đâu bác.”

_ “Hình như tết năm ngoái, khi xã tổ chức văn nghệ ở trường học, cô có hát bài gì đó hay lắm mà.” Tôi nhắc lại chuyện cũ.

_ “Em hát bài “Dấu chân kỷ niệm”. Hôm qua, ngồi trên xe, bên cạnh quan tài anh Chói, em hát thầm câu “Chuyện tình đôi mươi chan chứa không bao giờ vơi…” mà nước mắt cứ trào ra không ngớt. Sao nhạc của mình buồn quá dzậy.”

Thấy không khí buồn bã, tôi lảng sang chuyện khác:

_ “Đám ma xong, em về trển?”

_ “Dạ!” Hòa đáp.

_ “Em ở chung với chị Hiền?”

_ “Không! Chỉ đi Mỹ rồi! Chỉ sang cái “bar” của chị cho người khác rồi. Em ở một mình.” Hòa trả lời.

_ “Đi Mỹ? Đi thế nào?” Tôi ngạc nhiên.

_ “Chị lấy chồng Mỹ. “Xếp” của chị, ảnh về nước, đem chỉ đi theo.” Hòa giải thích.

Hòa nói tiếp:

_ “Chị bị ám sát, thoát chết. Chồng chỉ sợ!”

Tôi nói nhỏ với phó Nghiêm:

_ “Kiểu nầy là tụi “Biệt động thành bị mắc bẫy lắm.”

_ “Ông nói sao, tôi không hiểu.” Phó Nghiêm hỏi.

_ “Dễ hiểu lắm. Bọn Việt Cộng thường móc nối với dân chủ bar, bán bar làm giao liên, thu nhận tin tức. Gặp bà nầy, cao tay ấn, chơi hai mang. Tụi nó dính. Mưu sát là vì lý do đấy. Chắc tụi nó bị gài lại, đau lắm. Người trong ngành tình báo, nghe qua, biết ngay.” Tôi giải thích.

Hình như xã Àn có nghe lén tôi và phó Nghiêm nói với nhau, bèn góp ý:

_ “Hai ông không biết, con Hiền nầy ghê lắm: khôn lanh lắm, cha mẹ nó cũng “dzậy” mà .”

Tôi nói cho cả ba chúng tôi cùng nghe:

_ “Thấy chưa? Dân ruộng rẫy của xã tôi đấy. Tình báo Việt Cộng cứ tưởng bở.”

Khi chúng tôi ăn xong thì trời đã chiều. Mùa đông đã vào rồi nhưng trời không mây, xanh ngắt như màu biển. Mặt trời đã nghiêng về phía núi Cô Tô. Có lẽ vì sương và hơi nước, núi hiện ra không rõ như trong mùa hè. Mật khu Trà Tiên hiện ra thành môt hàng xanh xanh, từ hướng Kampuchia ở phía tây, ra hướng Rạch Giá ở phía đông. Tôi nghĩ tới “bọn chúng” đang ẩn núp trong đó, trong rừng hay trong những cai hầm làm bằng gỗ tram rất kiên cố.

Nhìn lại hướng nhà lồng chợ. Quan tài của Chói để trơ trọi trong đó, người thăm viếng đã hết, không còn ai quanh quẩn. Một lúc sau, con Hòa dìu mẹ thăng chói đi ra đó. Hai người đốt nhang cho nó. Có lẽ nhang đã tàn.

Ngày mai, xã Àn với trưởng ấp Đực cùng đám Nhân dân Tự vệ sẽ đem quan tài Chói ra chôn gần nghĩa trang gia đình ông Chủ Ry, phía cái mương cạn.

Rồi con Hòa sẽ lên lại Saigon, tiếp nối cuộc đời môt người con gái quê lưu lạc ở Saigon hoa lệ. Mẹ thằng Chói cũng sẽ ra đi trong một vài tháng hay vài năm nữa thôi.

Chiến tranh vẫn tiếp diễn. Có thể có thêm vài quan tài của vài người lính lại đem về quê, chôn bênh cạnh Chói. Và biết đâu, một trận chiến lại xảy ra ở đây, người chết, nhà cháy, như trận càn đầu tiên của lính Pháp đã xảy ra ở xóm nầy, cách nay gần ba mươi năm.

Lòng buồn bã, tôi lên xe. Trước khi nổ máy xe, tôi mở máy truyền tin gọi thiếu úy Chiếu:

_ “Mai tui không xuống được. Tui gởi lời cám ơn mọi người, gởi lời chào con Hòa, chúc nó đi bình yên.”

Rồi tôi nổ máy xe, chạy ra đường. Được một lúc, nhìn vào kính chiếu hậu, tôi thấy xe ông phó quận Nguyễn Đức Nghiêm, chạy xa xa, phía sau xe tôi.

Tôi bỗng nhớ một câu hát tôi từng hát “Đời buồn tênh, như lỡ một cung đàn.” Đâu có riêng gì Châu Kỳ, ai cũng “lỡ cũng lỡ cung đàn” vậy cả thôi, dù chiến tranh hay hòa bình.”

(1)Hạ bạc: làm nghề đánh cá biển. Tiếng địa phương.

(2) Năm 1945, thời “Nam bộ kháng chiến”, thế hệ thứ nhứt theo Cộng Sản. Thời cụ Ngô, mười năm sau, là thế hệ thứ hai. Tới bây giờ cháu của thế hệ thứ nhất, cũng theo Cộng Sản, tức thế hệ thứ ba.

(3) “Giang hồ cọc cách” có nghĩa là một tay lang thang lữ thứ nào đó, gốc miền Trung. Trước 1945, người miền Trung vào nam, thường để trong túi áo bà ba, hai viên đá để lấy lửa hút thuốc. Khi cần lửa, người ấy đập hai viên đá vào nhau, lửa tóe ra, bắt vào mồi. Khi người ấy đi, cái túi áo đánh đưa, hai viên đá đập vào nhau kêu “cọc cạch”. Do đó, “dân cọc cạch”, có nghĩa là người “dân gốc miền Trung”.

Kinh xáng Hà Tiên

saimonthidan.com

Posted on 16 May 2017

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 6 Dec 2023

Bài 1

Mộ Cũ

Gởi Đinh Văn Tuyền, đọc cho biết “quê hương tui…”

Mùa hè năm 1973, khi tôi lái xe sắp lên cầu Lình Quỳnh thì có chiếc xe Jeep màu trắng chạy ngược chiều, giành lên cầu trước. Tôi bực mình, nghĩ thầm “Cha nào mà dám qua mặt “xếp pô-lít” ở đây dzậy cà?” Tôi dừng xe lại bên nầy đầu cầu, chờ xe bên kia qua, coi thử ai mà “gan cùng mình”. Trên xe kia là một người đàn ông đã lớn tuổi đang cầm “vô-lăng”, và một cô gái trẻ đẹp, không phải dân xứ nầy.
Xong, tôi qua cầu, chạy về hướng ấp Tri Tôn, xã Tín Đạo. Được một lúc, gần tới “Đồn Giữa”, thiếu úy Chiếu, trưởng Cuộc Cảnh Sát xã Đức Phương gọi vào máy truyền tin cho tôi, nói: “Có “anh Hai Re” ở Saigon về, muốn gặp đại úy.”

Tôi hỏi lại: “Hai Re là thằng cha nào mày?”

_ “Dạ! Ông là anh bà thủ tướng.”

Tôi giật mình, vội trả lời: “Tôi quay lại ngay.”

Sau đó, tôi quay xe lại Vàm Rầy, gặp ông Hai Re.

Ông đang ngồi trong quán nước đầu nhà lồng chợ. Đúng là “ông già” lúc nãy, và cũng chính cô gái vừa trẻ vừa đẹp ấy. Thiếu úy Chiếu không dám ngồi ngang hàng, đứng xớ rớ bên cạnh.

Tôi chào tất cả mấy người rồi kéo ghế ngồi bên cạnh “anh Hai Re”.

Ông là con trai lớn ông Chủ Ry. Ông Chủ Ry là ông Henry, tên Tây. “Anh Hai Re” là con trai lớn của ông, tên là Andre, cũng tên Tây, tôi đoán chừng như vậy.

Xứ “Vàm Rầy” nầy – “Vàm Rầy” là tên thường gọi, trong địa bộ là xã Đức Phương -. Hai cái tên nầy “đối chọi” nhau kịch liệt giữa “nôm na” và “chữ nghĩa”. Dân chúng phần đông là tứ xứ tới lập nghiệp trong mấy năm chiến tranh. Hồi xưa, họ ở trong vùng kinh xa xôi, nôm na là “kinh cùng” – “death end” đấy – “rạch chẹt”. Rạch chẹt là cái rạch nhỏ chút tẻo, xuồng ba lá chèo tới không có đường quay lui. “Thời Ngô trào” – cũng là danh từ địa phương, dân chúng gọi như thế – thành lập “Ấp Chiến Lược”, dân chúng “bị lùa” về đây, ưng hay không ưng cũng dọn nhà mà đi – nhà là những cái lớn hơn chòi lá một chút, vách lá cả thôi, tháo ra thì chẳng còn gì. Dân có người than: “Cho một mồi lửa mà đi cho xong.” Về ở xóm nầy, gần lộ hơn, muốn đi Rạch Giá – Hà Tiên gì cũng dễ. Chính quyền “kiểm soát” cũng dễ.

Ở không được, đi cũng khó. “Cách Mạng” thì cấm dân chúng đi. Đi thì “mấy chả” ở với ai, ai tiếp tế, ai giao liên, chỗ nào cho họ trốn. Vậy họ phải rút sâu vô rừng Trà Tiên, ở với trăn, rắn, cá sấu, heo rừng hay sao?… Dân không đi thì lính làng lính lệ “hành quân” vô: la mắng, nạt nộ, có khi lớ ngớ còn “ăn báng súng” vì bị cho là ngoan cố, là “Dziệt Cộng”. Vậy rồi lính cầm súng đứng canh chừng cho dân chúng khăn gói, bỏ nhà ra ở sát ngoài lộ Rạch Giá / Hà Tiên.

Hồi trước “chín năm” – chín năm kháng chiến chống Tây 1945-54, tức là thời còn Tây đô hộ – khi ông Chủ Ry còn làm ruộng xứ nầy, tá điền của ông dựng nhà dọc hai bờ kinh Xà Tón – bản đồ ghi là Kinh 1 – và kinh xáng Rạch Giá / Hà Tiên; nay chỉ còn lại một ít, coi như “dân cố cựu” xứ Vàm Rầy.

Nhà ông Chủ Ry ở ngay “dzàm” kinh Xà Tón với kinh Rạch Giá / Hà Tiên, bị Việt Minh phá bằng phẳng khi ông bỏ nhà lên ở Rạch Giá.

Phía bên kia đường, ngang nhà ông, có mấy ngôi mộ xây, sơn trắng. Đó là di tích độc nhất của “ông Tây lai” mang họ mẹ, họ Đinh, còn lại ở xứ nầy.

Thân phụ ông Chủ Ry là một ông Tây chính cống, dân ở đây chưa ai từng thấy ông. Ông gốc ở đảo Corse bên Địa Trung Hải, qua Việt Nam khoảng đầu thế kỷ 20, lái kinh xáng thổi. Chính ông là người đào kinh Rạch Giá / Hà Tiên, kinh Núi Sập, kinh Long Xuyên / Rạch Giá. Người Việt Nam ngày nay, được hưởng tiện nghi di chuyển khi đi trên những con kinh xáng nầy, đâu có biết để nhớ ơn “ông Tây Corse” sang đây đào kinh cho ta.

Ông cưới một bà họ Đinh làm vợ. Đúng là một bà “đầu gà đít vịt”. Người ta chỉ gọi lén như vậy vì sợ mất lòng, mặc dù họ biết chắc chắn mấy cô “đầu gà đít vịt” – người Tầu lai Miên – ai cũng đẹp, chẳng bị ai chê xấu bao giờ. Qua thế hệ sau, ông Chủ Ry lại cưới một bà vợ Việt Nam. Cũng xin nói lén một chút, gia đình nầy mang nhiều dòng máu đấy: Tây, ta Tầu, Miên đủ cả, là “quốc tế” đấy. Hèn chi họ khôn dàn trời.

Từ nhà ông Chủ Ry ngược lên ngã Hà Tiên là “Xóm Miên” – ấy là hồi xưa, bây giờ không còn gia đình Miên nào đâu – phía dưới nhà ông là xóm Vàm Rầy và xóm Biển, hầu hết là gia đình người Việt. Năm “Thổ đậy” – tức là năm đầu “Nam Bộ kháng chiến” – chính quyền tan rả, tình hình lộn xộn. Ở vùng Tây Nam Bộ, người Miên thường nổi dậy, cầm dao, cầm mác, chà gạc… tấn công các xóm người Việt, giết người, hãm hiếp phụ nữ, đốt nhà, v.v… Ai đã xem tiểu thuyết “Chú Tư Cầu” của Lê Xuyên, chắc nhớ chuyện “Thổ dậy” nầy.

Ông Chủ Ry, là Tây lai, thường bênh người Việt, thấy người Miên làm bậy ông thường rầy la. Có mấy lần “Thổ” ở xóm Miên “dậy”, cầm đuốc cầm dao tính xuống tấn công xóm người Việt ở cuối nhà ông. Ông Chủ Ry bèn ra đứng giữa đường, chận người Miên không cho xuống; rồi ông đưa súng lên trời, bắn “đùng” một phát thị uy. Người Miên sợ súng, sợ ông Chủ Ry, bỏ chạy cả. Xóm Vàm Rầy được yên, cũng là nhờ ông Chủ Ry vậy.

Đời lắm chuyện tréo ngoe. Nhà có hai anh em, anh là ông Chủ Ry, là chủ điền, giàu có, ruộng hàng ngàn mẫu, (1) bỏ tiền thuê dân đào kinh xã phèn để làm ruộng, tên gọi là “kinh Chủ Ry”. Em ông, không ai còn nhớ tên là chi, thường gọi là “Chú Út”. Hai anh em là “Tây lai”, nhưng “Chú Út” lại không theo Tây, như ông cha người Việt Nam xứ đạo An Hòa. “Chú Út” lại theo Việt Minh chống Tây xâm lược nước ta. Không ai nhớ ông ở trong “đơn vị” nào, nhưng mấy trận đánh chặn Tây di chuyển trên đường Rạch Giá / Hà Tiên đều có “Chú Út” tham gia cả. Tư Trạng kể: “Chú Út gan lắm, Chú to con – Tây lai mà – thường ôm khẩu “FM đầu bạc”, đứng thẳng người mà bắn, chớ không núp sau mô đất như người ta.”

Vậy rồi “Chú Út” tử trận, sau khi ông Chủ Ry sợ Việt Minh – họ nghi ông “theo Tây” – phải dắt vợ con chạy lên trú ngụ ở Rạch Giá, để được an toàn hơn. Bấy giờ, Rạch Giá cũng như Hà Tiên, hai đầu tỉnh lộ 80 đã bị Tây chiếm rồi.

Mấy ngàn mẫu ruộng của ông bị “hoang hóa”, tức là bị bỏ hoang. Tá điền không có sức, không có tiền, không làm ruộng được, phiêu lạc tứ tán cả. Xóm Vàm Rầy trở nên tiêu điều, hoang vắng. Chiến tranh đáng nguyền rủa thực!!!

“Anh Hai Re” – dân chúng địa phương gọi thân mật như thế – và cô em gái ông, tên là Đinh Thị Xuân Yến, tên Tây là Annette – “Chị Tư Nết” – cũng dân chúng gọi “chị” thân mật như thế – cũng bỏ xứ lên Rạch Giá. Ở đấy, ông Chủ Ry được Tây cho đấu thầu, làm chủ “Câu Lạc Bộ” ở “Secteur de Rạch Giá”. Các ông quan Tây cũng như mấy ông quan Việt Nam thường vô ra ăn uống ở câu lạc bộ nầy. Trong số quan Việt Nam có một ông quan hai – sau nầy gọi là trung úy – Trần Thiện Khiêm, đóng đồn ở xã Mông Thọ, cũng trên tỉnh lộ 80 đi Long Xuyên, thường vô ra rồi phải lòng “Chị Tư Nết”. Bây giờ bà là phu nhân ông đại tướng / thủ tướng, quyền uy lớn vô cùng. Trùm cả miền Nam, chỉ sau ông tổng thống mà thôi.

Vừa ngồi xuống ghế, chưa gọi chi để uống, “Anh Hai Re” nói với tôi, thân mật, như đã biết nhau từ lâu:

_ “Tôi về tìm mộ chú Út. Chú theo Việt Minh, bị Tây bắn chết chôn đâu ở đầu kinh Xà Tón.”

Đoán chừng “ông anh” ham đi chơi với bồ nhí, thì giờ đâu mà đi tìm mồ, tìm mả, tôi trả lời ngay:

_ “Anh Hai đừng lo, để tui tìm; xong, báo cho anh Hai ngay.”

Đúng tim đen của “thằng chả”, ông cám ơn rối rít, giao việc cho tôi, lên xe nổ máy đưa bồ nhí đi Hà Tiên.

Hôm sau, tôi lái xe xuống Vàm Rầy, cho lính gọi Tư Trạng cho tôi gặp. Mấy tháng trước, do lời khai của mấy “giao liên Việt Cộng” bị bắt, tôi sai thiếu úy Kiệt xuống bắt Tư Trạng đem về điều tra.

Tư Trạng là lính Bảo An thời cụ Ngô còn làm tổng thống. Trong một trận đánh ở kinh Kháng Chiến, Tư Trạng bị thương ở cánh tay phải, đạn làm mẻ một chút xương. Anh ta được giải ngũ, về làm chủ Dzựa (vựa) tràm ở gần đầu cầu Vàm Rầy.

Vậy rồi Tư Trạng làm giao liên cho Việt Cộng, bị Cảnh Sát bắt. Tư Trạng khai với tôi:

_ “Khổ lắm ông à! Dân chúng như tụi tôi một cổ hai tròng.

Tôi cướp lời y:

_ “Tui biết rồi. Anh muốn nói tới chuyện cái bao tử của người dân chớ gì. Dân thì ở ngoài kinh với Quốc Gia, nguồn sống của dân thì ở trong bưng, Việt Cộng nắm chặt, cho ai được no thì no.”

Tư Trạng nói:

_ “Đốn tràm, giang câu, đặt lợp… đều ở trỏng. Quốc Gia có vô tới trỏng đâu. Tui không vô trỏng, nhưng họ cũng nắm đầu tui dzậy.”

_ “Anh nói rõ đi.” Tôi khuyến khích.

_ “Ai vô trỏng đốn tràm, phải nói tràm đốn về chỉ bán cho tui. Không bán cho tui, họ không cho đốn tràm.”

_ “Họ giúp anh làm ăn, độc quyền mua tràm. Anh còn than chi nữa.”

_ “Cái đó là cái chết tui đó ông. Saigon về mua tràm, là mua của tui. Xong rồi, ở trỏng họ nhắn với tui đóng thuế cho họ. Không làm lơ được đâu. Làm lơ hả? Họ gởi thơ ra cảnh cáo. Nửa đêm họ ra tới nơi, ai bảo vệ tui?”

Chuyện chỉ đơn giản như thế, nhưng đời sống dân chúng không đơn giản. Dân thì ở với Quốc Gia, bao tử thì do Việt Cộng ở trong rừng tràm nắm lấy.

Tôi đưa trường hợp Tư Trạng ra ban an ninh, đề nghị tha, cho về. Ai cũng đồng ý, không ai muốn làm khó dân.

Trước khi cho về, tôi gọi Tư Trạng, hỏi:

_ “Anh là bạn học với “Chị Tư Nết?”

_ “Dạ đúng.” Tư Trạng trả lời.

Vốn tính tò mò, tôi hỏi:

_ “Hồi đó trường ốc như thế nào?”

Tư Trạng giải thích:

_ “Xưa thì tui không biết. Xưa lắm, tỉnh Hà Tiên rộng tới Cà Mâu, Bạc Liêu. Hồi tui lớn lên, hồi Tây, tỉnh Hà Tiên chỉ qua khỏi ấp Lung Lớn là hết. Vùng nhà máy Hà Tiên bây giờ, xưa thuộc quận Hòn Chông. “Dzàm” Rầy nầy thuộc tỉnh Rạch Giá, không có trường ốc chi hết. Ông Chủ Ry, hồi còn làm ruộng, cho dựng mấy gian nhà tranh, kế nhà ông, mời thầy dạy chữ cho chị Tư Nết với các con ông. Ai có con muốn đi học, ông cho vô học chung, khỏi đóng tiền trường. Tui cũng được cha má tui cho đi học; biết đọc biết viết.”

_ “Còn “Chị Tư?”

_ “Khi “chỉ” lớn, ông cho lên học Saigon. Tới hồi Nam Bộ Kháng Chiến, “chỉ” cũng mới lớn, chưa có chồng.”

_ “Còn Chú Út?” Tôi hỏi.

_ “Dân ở đây ai cũng thương ông Chủ Ry, Chú Út. Chú “bình dân” hơn. Chú đi học đâu Saigon, mỗi khi về xứ nầy, Chú cũng đi đốt đồng bắt chồn, bắt rắn… đi chăn trâu chơi với thanh niên trong xứ. Ai cũng thương.”

_ “Chú theo Việt Minh hồi nào?” Tôi hỏi.

_ “Khi Tây tới Saigon. Người ta hô hào “Nam Bộ Kháng Chiến”, không những chú tham gia mà còn rủ rê thanh niên đồng trang lứa như chú tham gia. Đánh Tây mấy trận rồi chú tử trận.” Tư Trạng kể.

_ “Khi chú bị thương nặng, khiêng về đây, ai thấy cũng khóc. Không có thuốc men, cả thầy “phạm-nhe” (2) cũng không, không ai biết cách chăm sóc, chú qua đời.” Tư Trạng kể tiếp.
 

Một phần giữ lời hứa với “Anh Hai Re”, một phần yêu kính những người hy sinh vì nước, nay mồ mả thất lạc đâu đó nên hôm sau tôi lái xe về lại Vàm Rầy, đem theo Ba Cẩn, trung sĩ Cảnh Sát của tôi, nguyên là thợ mộc, Sáu Lợi, cũng trung sĩ Cảnh Sát, nguyên là thợ hồ, với hai “tà lọt”. Tôi cho gọi Tư Trạng tới quán càphê đầu lồng chợ, uống càphê với tôi.

Một lúc sau, thiếu úy Chiếu, trưởng cuộc, cũng ra ngồi uống càphê bên cạnh tôi.

Tôi nói với Tư Trạng:

_ “Bữa nay tui về tìm mộ “Chú Út”. Anh biết mộ chú ấy ở đâu không?”

_ “Biết chớ! Đầu dzàm (vàm) kinh Xà Tón chớ đâu!” Tư Trạng trả lời.

_ “Anh biết chắc vị trí chớ?” Tôi hỏi.

Tư Trạng nói:

_ “Chắc thì không chắc. Để hỏi chú Ba Lộ coi. Nhà chú bên nầy kinh. Mộ “Chú Út” ngang bên kia kinh.”

Tôi vừa nói vừa quay ngó thiếu úy Chiếu:

_ “Ba Lộ thưa ông Ra chớ gì. Gặp tôi, không biết ông ta có ngại gì không?”

_ “Không gì đâu, đại úy. Em gặp ông ta hoài, có thấy gì đâu.” Thiếu úy Chiếu nói.

Ông Ba Lộ có người con trai trốn quân dịch, thường trốn ở cái chòi dựng trong đồng. Hôm con trai ông lén về thăm nhà, bị trung sĩ Tám Honda phát hiện, báo cho ông Ra. Ông Ra đến bắt, đòi chạy hai chục ngàn, sẽ tha.

Việc xong rồi, Ba Lộ ức tình làm đơn thưa lên quận. Tôi hỏi ông Ba Lộ:

_ “Thiếu úy Ra đòi tiền bao nhiêu?”

Ba Lộ nói:

_ “Thưa ông, còng tay con trai tôi xong, ông thiếu úy đưa lên hai ngón tay. Tui tưởng hai ngàn, cho là rẻ, bèn đưa hai ngàn. Ông không chịu, nói tới “hai chục”. Tui vét hết tiền đưa cho ổng. Ổng mở còng biểu con tôi trốn vô trỏng đi.”

Tôi gọi thiếu úy Ra lên cự nự, nói:

_ “Dân họ thưa thì tui cho an ninh điều tra, trình lên trên, không làm khác được. Ông rán chịu.”

Kết quả, ông Phó Thao cho ông Chiếu về thay ông Ra. Ông Ra về tỉnh trình diện, không biết sau đó, ông Thao cho “đệ tử” của ông đi đâu!

Tôi bực mình chuyện thưa kiện. Hôm về họp ở tỉnh, “xếp” nói: “Phải đe chừng thuộc cấp, mang tiếng cho chú, cho tui, mà cho cả ngành nữa.” Tôi “dạ”, trong lòng không vui.
 

Xong chầu càphê, cả đám bọn tôi tới nhà Ba Lộ.

Nghe chuyện xong, Ba Lộ nói:

_ “Lui sau nhà tui, ngó qua cũng thấy rõ.”

Ba Lộ lôi cái xuồng ba lá cột ở sau hè ra, đưa tui với Tư Trạng qua kinh trước. Mấy người kia tự động qua sau.

Ông Ba Lộ chỉ ngay chỗ đất dưới chân ông, nói:

_ “Ông đại úy thấy không. Mấy năm nay, xe “Em – trăm mười Ba” (M-113) lên xuống chỗ nầy hoài, đất trài bớt đi, nhưng ngay chưn tui, đất vẫn còn cao. Mộ ngay chỗ nầy.”

_ “Này, chú Ba nầy. Ai chôn “Chú Út” ở đây?” Tôi hỏi.

_ “Dân chúng chớ ai. Hồi nẳm, ông Chủ Ry chạy lên Rạch Giá rồi.”

_ “Không ai cúng quảy gì cả?”

_ “Thân nhân đi hết. Tá điền cũng đi hết, ai mà cúng. Mấy năm hòa bình, ông Chủ Ry có về cho xây lại mồ mả. Chiến tranh lại xảy ra, đường sá mìn bẫy như dzầy, ai mà dám về.”

Tôi sai trung sĩ Cẩn và trung sĩ Lợi đóng cọc làm dấu quanh mộ, làm dấu hướng đầu, hướng chân…

Tôi không nói gì thêm với Ông Ba Lộ với Tư Trạng việc tôi hứa với “anh Hai Re”. Xong đâu đó, tôi chào mọi người ra về. 

Tuần sau, tôi đến chỗ cũ, cho ghe chở xi-măng, gạch tới, cho lính của tôi đào đất xây vòng thành bốn phía, làm bia ghi “Mộ Chú Út” – vì tôi không biết tên chú ấy -, sơn quét đàng hoàng. Xong, tôi biểu thiếu úy Kiệt chụp hình ngôi mộ.

Thật lòng, tôi không có “hậu ý” gì khi làm công việc nầy cả!

Tôi đưa mấy tấm hình cho nhà tôi coi. Nhà tôi nói: “Để em giữ”. Tôi không biết cô ấy có ý gì. Mấy hôm sau nữa, nhà tôi biểu tôi sai lính lấy vé máy bay nhà máy Xi măng Kiên Lương đi Saigon.

Té ra cô ấy khi lên Saigon, tới nhà ông Hai Re, đưa hình cho ông ta coi, rồi cùng ông Hai vô gặp bà thủ tướng Khiêm. Bà thủ tướng Khiêm cảm ơn rối rít, hẹn: “Khi nào đi Saigon ghé “chị” chơi. Cần gì “chị” giúp đỡ cho”. (Bà ấy tự xưng “chị” với nhà tôi). Câu chuyện nầy được mấy bà Rạch Giá kháo với nhau, tới tai bà vợ “xếp” của tôi.

Hôm tôi về họp ở Kiên Giang, “xếp” nói với tôi: “Chú đã khôn mà “con mẹ Hải” (tiếng mấy bà Rạch Giá thường gọi nhà tôi một cách thân mật) khôn “thầy chạy luôn”. Nó đem mấy tấm hình lên gặp “Chị Tư” thì nó đâu cần nhờ vã gì mấy bà ở đây nữa.”

Ý ông muốn nhắc tới chuyện bà trung tá Trỗ, tỉnh trưởng, nhờ bà Tám Nghĩa – bạn thời con gái với “Chị Tư” – đưa lên Saigon gặp “Chị Tư” vì có chuyện cần giúp đỡ.

Chẳng bao lâu thì tới Ba mươi tháng Tư, tôi mất cái dù che to tổ bố. Thiệt là “Thiên bất dung gian.”

Ông Tám Nghĩa (Bùi Nhật Nghĩa) là dân biểu thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, bị Việt Cộng xử tử tại sân vận động Rạch Giá sau tháng Tư/ 1975.

hoànglonghải

1)- Cuối mùa hè năm 1973, ông Chủ Ry từ Saigon về Kiên Lương. Ông Quận Trưởng với tôi đón ông ở văn phòng quận. Ông đưa bàn tay to tướng của ông, chụp lên tấm bản đồ quân sự 25/100 treo ở trong phòng, chỗ có con kinh mang tên ông: Kinh Chủ Ry.

Ông nói: “Ruộng của tui là chỗ nầy nè!”

Chỗ bàn tay ông chụp vô, tính ra chừng vài ngàn mẫu ruộng. Nếu cho lính vô đó hành quân, có lẽ phải “lội ba ngày trời” cũng chưa hết ruộng của ông.

Hôm đó ông về quận là để chính quyền địa phương xác nhận số ruộng của ông để ông xin chính phủ bồi thường “truất hữu” trong chương trình “Người Cày Có Ruộng” của chính phủ Việt Nam Cọng Hòa.

Chưa bao lâu thì miền Nam sụp đổ, tôi không rõ ông có được bồi thường đồng nào hay không.

Cách đây mấy năm, ông cựu thiếu tá Đinh Văn Tuyền, con trai thứ của ông Chủ Ry, gọi điện thoại cho tôi, nói chuyện “Xóm Cũ” thời thơ ấu của ông ấy chơi.

Lại tò mò, tôi nói:

– “Ông Cụ có cả mấy ngàn mẫu ruộng ở Vàm Rầy, tiền bồi thường chắc khẳm.”

Nói vậy là ý tôi đoán chừng là bố vợ ông đại tướng / thủ tướng, ông không gặp khó khăn gì khi lập hồ sơ đòi tiền “truất hữu”.

Ông Tuyền cười nói:

– “Lầm rồi ông ơi! Ai dám đòi “ăn chia” với ba tui, nên hồ sơ ngâm hoài, đến ngày ba mươi tháng Tư, coi như xong.”
 

2)-Infirmier: Y tá; dân chúng gọi nôm na là “phạm nhe”.

Đường Cao Thắng

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 5 Dec 2023

Ngã tư Cao Thắng, Phan Thanh Giản và tiệm Bảy Mập – nguồn Flickr.com 

Khi viết bài, nhà báo thường tham khảo tư liệu từ nhiều nguồn. Xong đem về lọc lựa, sắp xếp lại thành bài viết. Mới đây trên Google, trên Bing, có quảng cáo ‘Chat GPT’ trên thông thiên văn dưới tường địa lý. Hỏi cái gì cũng được. Hỏi cái gì nó cũng biết (?!). Có ‘Chat GPT’ thiệt là đỡ công sức cho đám thợ viết chúng tôi rất nhiều.

Vậy là: “Mau lên chứ vội vàng lên với chứ”, tui đặt câu hỏi như vầy:

“Lịch sử đường Cao Thắng quận Ba Sài Gòn?”

Thì Chat GPT trả lời như vầy: “Ðường Cao Thắng là một trong những con đường lâu đời và quan trọng của quận Ba Ðình (?). Vào thời kỳ thuộc địa, đường Cao Thắng được gọi là Rue Jean-Baptiste Charnay.

“Jean-Baptiste Charnay là một nhà thám hiểm và nhà khảo cổ học người Pháp. Ông sinh vào ngày 2 tháng 5 năm 1828 tại Lyon, Pháp và mất vào ngày 24 tháng 10 năm 1915 tại Paris, Pháp. Ông là một trong những nhà thám hiểm đầu tiên đến khu vực Mexico và Trung Mỹ và đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Maya và Aztec.

Khi Việt Nam độc lập, tên đường được đổi thành Cao Thắng để tưởng nhớ đóng góp của Tổng đốc Cao Thắng.

Ðọc chưa hết câu trả lời nầy, tui thấy tức như bị bò đá. Tui hỏi đường Cao Thắng ở Sài Gòn mà Chat GPT trả lời ngoài Hà Nội, nên tui cự lại: “Trong Việt Nam vong quốc sử, cụ Phan Bội Châu có viết về Cao Thắng như sau: “…Ở hạt Hà Tĩnh, trong khoảng 11 năm, (nhiều người) đã liều mạng đánh nhau với Pháp, vất vả trăm trận đánh trở thành danh tướng một thời, trong số ấy nổi bật có Chưởng doanh nghĩa binh là Cao Thắng,… Thắng quả cảm, thiện chiến, thấy một cái súng Tây mà có thể y theo kiểu chế tạo ra tinh xảo không kém gì của Pháp. Ðánh nhau với Pháp, ông đã chém được đầu những quan một, quan hai của Pháp, quân Pháp đã phải khuyên nhau hễ gặp Thắng là phải tránh đi…”

Như vậy “Cao Thắng là bộ tướng của lãnh tụ nghĩa quân Phan Ðình Phùng lo việc đúc súng. Ông chưa hề làm Tổng Ðốc bao giờ?

Thì trong chớp mắt, Chat GPT cư xử lịch sự như Tây: “Tôi là một trí tuệ nhân tạo và có thể mắc phải những sai sót trong quá trình trả lời câu hỏi về lịch sử của đường Cao Thắng”

Tóm lại, tới giờ phút nầy, nói qua nói lại với Chap GPT cũng nói với con vợ mình. Nghe mà hoàn toàn tin vào nó là sái cổ; là trao duyên nhầm tướng cướp!

“Người xưa đã nói thật chí lý: ‘Tận tín thư bất như vô thư’ (Nếu chỉ tin vào kinh sách một cách mù quáng thì thà rằng không có kinh sách còn hơn)”. Ðừng quên cái đầu của mình bà con ơi!

Nói nào ngay, tui dám cãi hăng tiết vịt với ‘Chat GPT’ về đường Cao Thắng vì tui rành nó sáu câu. Vì nhà tui ở gần Miễu Thần Hoàng trong hẻm đâm ra Chợ Hai Mươi gần cuối đường Cao Thắng. Bên kia đường là tiệm giặt ủi Ðức Lợi. Xít về Ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản là tiệm nước Bảy Mập (Tiệm nước nhưng không bán nước như CS; nó bán ‘cà phe’). Chắc ông Chủ tiệm nước thứ Bảy và hơi phì lũ.

Gần tiệm nước Bảy Mập, trên lề đường là xe bánh mì Tám Cẩu. Cẩu là 9 nút trong bài xập xám. Ổng thứ 8, tên Tám Cẩu là vậy. (Nhớ sau 75, Công An huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, có anh em sanh đôi. Anh: Sáu Lục, em: Bảy Sách. Gọi tên như vậy là dốt, là trật lất. Năm Lục, Sáu Sách mới trúng ‘sách’)

Ổng Tám Cẩu là người Tàu nhưng buôn bán lại không yêu nghề như những người Tàu lam lũ khác. Ổng vừa bán bánh mì thịt vừa coi truyền hình là cái ti vi đen trắng nhỏ xíu đặt ngay trước mặt trong thùng kiếng xe bánh mì. Buôn bán nhờ khách mà sống nhưng vừa bán vừa coi ‘ti vi’ không “eye-contact” gì ráo với khách mua bánh mì? Làm vậy đâu có được nè?!

Ngoài xe bánh mì Tám Cẩu ra, còn có tiệm Bánh mì Hoà Mã ở số 53 đường Cao Thắng. Chủ là người Bắc di cư 1954. Hòa Mã quê của ổng ngoài Bắc. Thời Pháp thuộc có tên là phố Ðô đốc Xe – nét (rue Amiral Sénés).

Hết bánh mì, tui lại nhớ tới bò vò viên trước rạp chiếu bóng Ðại Ðồng Cao Thắng. Tui nhớ chuyện ăn không hè. Hủ tiếu bò vò viên! Phá lấu bò của người Tiều (Triều Châu) là gân, lưỡi, tai, ruột, bao tử, sách bò. Ăn quá đã, ngon bá chấy bù chét!

(Ngoài ra còn rạp Ðại Ðồng ở đường Nguyễn Văn Học bên Gia Ðịnh, và hãng xe đò Ðại Ðồng chạy đường Sài Gòn Miền Tây nữa).

Hiện trường vụ ám sát Giáo Sư Nguyễn Văn Bông – nguồn corbis

Sau 75, CS bỏ tên đường Phan Ðình Phùng thay bằng Nguyễn Ðình Chiểu. CS xoá tên Phan Ðình Phùng nhưng giữ lại tên Cao Thắng thiệt là nghịch kỳ thiên. Sao kỳ vậy? Dẫu Phan Ðình Phùng yêu nước chống Pháp nhưng làm quan triều Nguyễn nên bị CS xóa tên. Chúng giữ tên Cao Thắng; vì ở ngã tư Cao Thắng Phan Thanh Giản bọn khủng bố đã đánh mìn giết chết Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành Chánh Nguyễn Văn Bông lúc 12 giờ trưa Thứ Tư ngày10 tháng 11 năm 1971.

Chỉ huy vụ ám sát là Vũ Quang Hùng, đồng bọn ngồi sau chiếc Honda 90 là Lê Văn Châu. Nguyễn Hữu Thái đã cung cấp sáu trái lựu đạn MK6 cho bọn khủng bố.

Vũ Quang Hùng và Lê Văn Châu dùng lựu đạn làm ngòi để ném chất nổ C4 vào xe chở ông Bông ngừng tại ngã tư Cao Thắng Phan Thanh Giản. Chúng tẩu thoát qua đường hẻm sau xe bánh mì Tám Cẩu. Hẻm nầy thông qua hẻm 382 đường Phan Thanh Giản. Quẹo phải có lò dạy cổ nhạc của nhạc sĩ Văn Vĩ và Ngọc Thạch. Quẹo trái thông qua đường Trần Quốc Toản nơi bọn khủng bố tẩu thoát.

Nguyễn Hữu Thái có chụp trong bức hình Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng trên Ðài Phát Thanh Sài Gòn vào trưa ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Ðiều tức cười là Nguyễn Hữu Thái bây giờ đã từ bỏ thiên đường xứ ‘Ðông Lào’ để chạy tuốt qua Canada rồi mà “Thái vẫn dúi”, vẫn khoe khoang về tội giết người (?!)

Ðường Cao Thắng quận Ba Sài Gòn, con đường tui đã đi lại nhiều lần thời thơ ấu, đã nhuộm máu Giáo sư Nguyễn Văn Bông, một người trí thức yêu nước như thế đấy.

Dề cơm cháy!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 5 Dec 2023

Vì thổ nhưỡng, khí hậu thích hợp cho việc trồng lúa mì nên Tây nó ăn bánh mì. Vì thổ nhưỡng, khí hậu thích hợp cho việc trồng lúa nước, nên ta ăn cơm. Bánh mì bán ế, Tây đem nướng già chút lửa, xắt thành lát, vô bọc bán. Mình mua về trét bơ, rắc đường cát trắng mịn lên, ăn giòn rụm hè. Cơm của ta cũng vậy! Cơm chín rồi chỉ cần già thêm chút lửa là có ngay dề cơm cháy. Mình chan mỡ nước, rắc thêm chút đường cát trắng mịn, và vài tóp mỡ. Xong đút vô miệng nhai giòn rụm hè!

Mà nói tới cơm cháy thì tui lại nhớ tới thời đi lính ở Trường Bộ Binh Thủ Ðức. Nhứt là 9 tuần đầu huấn nhục, tân khóa sinh. Cán bộ quân trường không cần biết đứa nào thân thế giàu hay nghèo gì ráo trọi, tất cả đều phải ăn cơm nhà bàn.

Trường Bộ Binh Thủ Ðức, KBC (tức Khu bưu chính) là 4100, đọc là bốn ngàn một trăm, nên mấy cha nội huynh trưởng, cũng như tui từng giẫm gót giày saut trên đồi Tăng Nhơn Phú đều biết cách đọc trệch đi là bốn người một mâm, một ca-rê (carré), 4 cục thịt kho nhỏ bằng ngón tay cái. Biết đời lính “ắc ê”, “on-đơ”, mau đói lắm nên em yêu tuần nào lên Khu Tiếp tân thăm đều cẩn thận lận theo một lon Guigoz thịt, hoặc cá chà bông hay tép rang hơi mặn (ăn ít hao và ít bị hư) cho chàng ăn để nhớ tới tình em, người yêu của lính. He he!

o O o

Hàng ngày, Trung đội trực của Tiểu đoàn cử vài sinh viên sĩ quan vào ban ẩm thực để kiểm soát, trông chừng mấy hỏa đầu quân, tay có nhám nhúa, có chôm chỉa bớt đồ hay không? Thịt thà, cá, tép thì tui không biết có bị chôm hông nhưng đồ lòng gà vịt thì chắc có. Ông nội con nít nào tối trực tuyến B, đêm gác tiền đồn Mả đá, ngang Học viện Cảnh sát Quốc gia, ba gai, lén bò ra chợ Nhỏ nhậu. Một dĩa gan, lòng, mề gà xào chua với dưa leo chấm muối tiêu chỉ hai chục bạc. Hai thằng đưa cay dĩa đồ nhậu đầy ứ ự; nhậu tới Tết còn chưa có hết!

Mấy chú SVSQ trực nhà bàn này, sáng sớm phải theo xe GMC chở hỏa đầu quân đi chợ. Chú nào cũng được cho ăn hủ tiếu, bánh bao xíu mại, uống cà phê sữa khỏi tốn tiền. Trưa, chiều, tới giờ cơm thì xơi trước thiên hạ. Quá đã! Thịt cá ê hề nên chú nào háu ăn, ăn hoài vẫn thấy đói, quyết liệt chạy chọt với thư ký đại đội giành trực nhà bàn. Nhứt là mấy đứa con bà phước, hổng có ai thăm nuôi hết ráo.

Tui giành không lại tụi nó, nên khi thằng nằm giường trên nói mai nó đi trực nhà bàn, tui biểu nó đem về cho tao vài dề cơm cháy. Nó nói cơm cháy khô, cứng ngắc, ăn gãy răng mầy xin làm gì? Mấy chú hỏa đầu quân chỉ mang cơm cháy về cho vợ nó nuôi heo. Ðể tao lựa cơm ngon giữa chảo đụn đem về cho mầy nhe! Tui nói: “Cơm cháy đã ráo nước, giữ được lâu, tao bóp vụn ra, bỏ vô lon guigoz để dành. Lúc muốn ăn, tao nấu nước sôi chế vô, chờ nó nở ra, ăn với tép rang hoặc cá chà bông của em yêu tao cho thì ngon gấp mấy lần ăn cơm sấy với đồ hộp của Mẽo!”

Bà con mình người miền Tây hay phát âm “gi” thành “d” nên cho rằng chữ “giề” và “dề” cùng nghĩa viết khác vì do cách phát âm. Tui thì nghĩ viết khác vì nghĩa nó khác nhau. Giề lục bình là một đám lục bình dày cui, xà nẹo với nhau trên mặt sông. Còn dề cơm cháy, nó mỏng tang hè, là cơm nằm dưới đáy nồi bị cháy.

“Con nhớ Má quê nhà bếp tỏa.

Khói lên trời ẩm ướt chiều hôm.

Già chút lửa, thương dề cơm cháy.

Cho giòn tan, bùi, ngọt tới quê người!”

Quê người giờ nấu cơm dễ ợt vì có nồi cơm điện do Nhựt Bổn nó làm. Xúc gạo đổ vô nồi cho nước vào ngập cỡ lóng tay, rồi ấn nút đợi một lát là cơm chín. Chớ hồi xưa nấu cơm lạng quạng thiếu củi lửa là cơm nó sình, trên sống dưới chín. Già lửa quá thì cơm bị khê, đổ cho chó ăn nó còn chê. Bữa nào ăn kho quẹt thì nấu cơm hơi nhão. Bữa nào có canh thì cơm phải hơi khô.

Hồi xưa, má của tui là con gái nhà quê, cẳng phèn không, theo chồng về phố chợ. Của hồi môn, ông ngoại cho đem theo chỉ là một cái nồi đồng. Nó là vật gia bảo đời bà sở, bà sơ, bà cố tui để lại.

“Cơm chín nồi đồng, già thêm chút lửa.

Dưới đáy nồi, dề cơm cháy vàng rơm.

Rải chút đường, má rắc thêm tóp mỡ.

Của quê nghèo, thương quá má – quê hương!”

Nồi đồng nầy má cưng dữ lắm! Ít khi má đem ra xài; trừ phi đám nhóc thèm mỡ, thèm đường, đòi ăn cơm cháy. Bằng không, má chỉ xài nồi đất, nồi gang hoặc nồi nhôm. Nồi đất là “dách lầu” nhưng dễ bể, nồi gang thì giòn, hay bị sứt quai.

Cả đời, tui không muốn đi đâu, xa má của tui hết ráo; vì tui vốn chết nhát, sợ ra đời đụng chạm không lại người ta. Ðời tui gẫm lại giống như cái nồi đất trong bài ngụ ngôn của La Fontaine:

“Nồi Gang đến chơi nhà nồi Ðất.

Ðề nghị cùng nhau dắt đi chơi.

Ðất rằng: “Yếu đuối như tôi.

Chỉ quanh xó bếp suốt ngày là khôn!

Bởi lẽ đệ xương mòn da mỏng.

Nếu chạm va tất hỏng cuộc đời!”

o O o

Theo các khảo cổ học, nhân loại đã trải qua các thời kỳ: đồ đá, đồ đồng, đồ sắt và nay là đồ… đểu.

Gọi là đồ đểu đúng quá xá luôn, vì ngay cơm cháy bán trong nước bây giờ nó cũng chơi đểu. Nó xài bếp gas nóng tới vài trăm độ C. Cho cơm mới chín lên chảo gang, dùng một cái vá, nhận lớp cơm cho đều, tráng chừng 5 phút thì ra được một dề cơm cháy. Xong thêm tôm khô, lạp xưởng, thịt ba rọi… gì gì đó lại càng trật sách vở. Cái nầy là cơm chiên khô cứng vì không xài dầu, xài mỡ. Còn cơm cháy quê hương, là cơm cháy đồng nội với khói lam chiều xưa, không phải là món ăn chánh, chỉ để ăn tráng miệng sau bữa cơm.

Bữa nào đáp ứng theo yêu cầu của đám con lóc nhóc đòi ăn cơm cháy, má tui mới đem cái nồi đồng ra. Rồi gạo lúa mùa, bếp chụm than đước. Cơm vừa chín, má cời than cho đều, già lửa thêm một chút. Xong xuôi, má cầm cái đũa bếp bằng tre cạy, lớp cơm cháy sẽ tróc ra. Má chan vài muỗng mỡ nước, rắc chút đường cát trắng mịn và vài tép mỡ. Mỗi đứa được má cho một miếng ăn, nhai giòn rụm là nhớ tới già hè.

o O o

Nhưng khi CS Bắc Việt tấn công Miền Nam làm binh lửa cháy lan nhà, quê cũ/Bồng bế nhau đi, khói lửa mịt mờ/Ði đi mãi… thương phận người ủ rũ/Dạt quê người đành nhận đó quê hương!

Bây giờ, quê người chỉ xài nồi cơm điện thì làm sao già thêm chút lửa? Nên dưới đáy nồi, dề cơm cháy… là mơ! /Bao năm sống quê người… chạng vạng/nẻo chưa về; chỉ thấy bóng hoàng hôn!

Tui thiệt tình trong bụng chỉ muốn chủ nghĩa CS nó “on-bon phi-nan”, tui sẽ lò dò dắt em yêu, vì hai đứa tui đã già háp cả rồi, bay về quê cũ, nhà cũ để tui lục ra cái nồi đồng của má tui để lại. Tui đi mua than đước Cà Mau, mua gạo Nàng Hương Chợ Ðào, Cần Ðước, Long An. Tui sẽ tự tay nấu cơm cháy giòn tan đãi cho em yêu ngán tui chơi, chớ tui không có dóc tổ, cái lưỡi dài hơn cái tay như VC đâu nhe.

Còn bây giờ thì thân tui:

Nước mắt cơm chiều, người viễn xứ.

Con mơ về nhà cũ đêm đêm.

Ba đọc báo, má ngồi may vá.

Anh em con, dề cơm cháy, bên hè.

Nói nào ngay:

Dề cơm cháy không phải dề cơm cháy.

Là bữa cơm chiều: có má, có ba.

Có anh, có em, quây quần mỗi tối.

Có thanh bình, có những ngày vui!

Nhớ hồi xưa thương thằng em, cho mầy một miếng.

Ðể sau này mày lãnh anh qua.

Ðể má mất anh em mình đều khóc!

Má mất rồi, dề cơm cháy còn đâu?!

Hu hu!

Bỏ đi chữ L

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 5 Dec 2023

Người tài xế bước lên xe. Ông đi dọc theo lối hẹp có giữa hai hàng ghế, đếm đầu người ngồi không yên chỗ rồi đối chiếu với con số ghi trên danh sách ông nắm trong tay. “Bon”. Ông ta nói một mình khi trở lại, như một dấu chấm, một kết luận. Như xăng đổ đầy bình, đóng nắp và an tâm chạy suốt đoạn đường dài.

   Đó là một người đàn ông to lớn, nịt da thắt ở lưng quần xệ làm phóng đại chiếc bụng có khá nhiều mỡ. Tướng tá phục phịch của ông tương xứng với chiếc xe cồng kềnh mà lát nữa ông sẽ vật lộn với nó, đưa nó ra khỏi những con đường bé hẹp trong thành phố để nhập vào xa lộ thong dong, hun hút một phương trời chắn lối. Máy xe nổ êm, mười bánh lăn trên những đường sơn vàng kẻ ô vuông như bàn cờ và bên ngoài cửa xe thấp thoáng nhiều bàn tay dong cao vung vẫy. Không bao giờ, có lẽ suốt cả cuộc đời, tôi chẳng hề đón nhận sự bịn rịn của thứ nỗi niềm được tiễn đưa. Tôi luôn là kẻ lữ hành đơn độc. Và tôi thích được vậy. Hình bóng người ở lại, đứng cúi đầu giữa bến xe nhiều gió lộng sẽ làm hành lý mình thêm nặng; tựa thứ quang gánh chất lên hai vai và dưới chân đi là một cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó qua. “Quý vị nên rà soát lại lần cuối giấy tờ tùy thân của mình, cho chắc ăn”. Người tài xế nói vọng lui. Trong gương chiếu hậu đong đưa một khuôn mặt đỏ da thắm thịt. Phương phi và đầy thần sắc. Ông ta như đã ngủ qua một đêm chất đủ mộng lành, thứ giấc ngủ rất cần thiết trước mỗi một lên đường đa phần sẽ làm cơ thể hao hụt. Chưa ra khỏi biên giới tỉnh bang Québec nhưng ông đã xổ tiếng Anh với cách phát âm nặng nề của một kẻ lỡ uống nhiều nước sông St-Laurent. Có lắm người đã chê tôi nói thứ giọng Huế khó nghe, tôi cúi đầu làm thinh không dám đổ thừa cho dòng Hương êm ả muôn đời thầm lặng chảy ở cố quận tiêu điều.

   “Cầu Trường tiền sáu vài mười hai nhịp, anh qua không kịp tội lắm em ơi!” Không, anh sẽ qua. Anh sẽ tới kịp. Dòng nhắn tin của em chói chang đập vào mắt. Anh đã như cậu bé con tập đánh vần chữ quốc ngữ một cách khó nhọc trước cái e-mail không thể bỏ dấu của em. Anh cà lăm hay tại dòng chữ tật nguyền? Ngồi đối mặt với những hàng chữ ấy, bao giờ đầu óc anh cũng đều mọc lên sự liên tưởng: Nó tựa hình ảnh một kẻ bị lột truồng xiêm y. Và đáng phàn nàn là kẻ ấy, tên nạn nhân xấu số kia chẳng có được một thân hình đẹp mắt. Em đồng ý không? Sắc huyền hỏi ngã chính là áo xống lụa là. Nó là xương cốt chống đỡ hộ cho những mẫu tự a b c khỏi gãy đổ. Đôi vợ chồng thợ săn gửi e-mail cho nhau khoe kỳ tích: “Hom qua em moi giet mot con ac thu. Eo oi, long lon rung qua that la nhieu…” Nếu em đỏ mặt thì xin hãy bình tâm mà đổ thừa cho máy vi tính. Bà gửi điện thư kia lòng trong vắt không gợn đục một mảy may. Mà kể cũng vô duyên, lông lợn rừng nhiều là điều hiển nhiên, bà viết ra làm chi chuyện lãng xẹt ấy cho chồng lo sốt vó trong ngộ nhận? Vật lộn với con ác thú nào đến nỗi phải ra cớ sự kia?

   Cảnh sắc trôi chậm rãi lui sau. Có giàu tưởng tượng đến mức triệu phú cũng không thể ví von mình đang trên xe đò chạy suốt Sàigòn-Huế. Quốc lộ Một chẳng bao giờ mang cái vẻ ghẻ lạnh vô bờ như đường ra biên giới này. Trống trải quá, mênh mông quá, đồng không mông quạnh quá! Không đèo, không cây, không luôn cả sông hồ biển sóng. Chỉ trơ trụi một màu xanh tẻ nhạt của cỏ dại đang chết điếng với gió chướng cộm phồng giữa không gian lạ mặt. Tôi mở túi xách để lôi cuốn truyện Lolita ra. Nếp gấp đánh dấu nằm lưng chừng giữa bề dày có hơn năm trăm trang. Văn Vladimir Nabokov chẳng phải thuộc loại dễ đọc. Nó lê thê một cách chẳng đáng để dài dòng khiến mình dễ nản lòng không muốn ông ấy dắt đi tới cuối đường. Tuy vậy tôi vẫn mê cái mối tình khốc liệt ấy. Thích cách ví von của một người đàn ông khi nói về cô bé mình yêu: “… Lo-li-ta: le bout de la langue fait trois petits bonds le long du palais pour venir, a trois, cogner contre les dents. Lo.Li.Ta. Elle était Lo le matin, Lo tout court, un mètre quarante-huit en chaussettes, debout sur un seul pied. Elle était Lola en pantalon. Elle était Dolly à l’école. Elle était Dolorés sur le pointillé des formulaires. Mais dans mes bras, c’était toujours Lolita”.

   Một mối tình. Làm sao tôi có thể cắt nghĩa cho em thế nào là cao đẹp, thế nào là tội lỗi? Chuyện đôi ta, tôi chẳng an lòng khi nghe em phân trần: tại duyên phận. Tôi là đứa dốt nát, lòng tăm tối trước những điều Phật muốn khai nhãn. Vụng tu, không duyên số, đó chẳng qua là lối biện hộ của một người thiếu can đảm. Một cái cớ tự trấn an của kẻ bị thua cuộc. Ngày ấy hai ta đều cháy túi. Ván bài nọ đen đủi như một đường hầm chẳng có lối ra. Nhưng tôi không một lời than van. Vô vọng đã giúp tôi nhìn ngó sự vật bằng một nhãn quang tinh tế hơn. Tôi vẫn yêu em như ngày xưa. Loan tin không? Tôi vượt biên ngày hôm nay là một bằng chứng. Loan. Tên gọi cũng gần như Lolita. Bỏ đi chữ L, còn lại nỗi oan trái nằm lẫn khuất giữa hai đứa.

   Xe chạy chậm dần để sau cùng ngừng hẳn. “Đến biên giới rồi, xin mời quý vị xuống xe xuất trình giấy tờ”. Người tài xế nói khi tắt động cơ. Cửa mở, thấy thấp thoáng hàng chữ duty free treo trên một cửa hàng nằm đàng sau đồn bót phân định lãnh thổ của hai quốc gia. Tôi ở bên này, phương Bắc; và bên kia, hướng Nam có Loan định cư. Một mối tình không suông sẻ tự khởi đầu, và hiện tại giữa chúng ta đã có lằn ranh biên giới minh bạch. Xa mặt cách lòng, điều ấy chẳng ai có thể tranh cãi được. Rơm gần lửa lâu ngày cũng bén, chuyện đó ai nấy đều tán đồng…

   Đám hành khách lố nhố sắp hàng trước trạm kiểm soát có hai nhân viên mặc đồng phục ngồi làm việc đằng sau ô cửa gương mở hé. Lần lượt, luân phiên giải quyết từng cá nhân. Tôi đưa giấy tờ tùy thân cho một người đàn ông trung niên. Tấm căn cước bọc nhựa chứng nhận cái bộ mặt ngác ngơ nơi tấm ảnh đó là công dân của xứ Gia-nã-đại mùa thu lá bay. Coi ảnh, nhìn mặt, đọc thầm họ tên; sau cùng người ngồi cách một bệ chắn ngước mắt lên. Đôi mắt xám, gần tiệp với những sợi tóc màu tro cắt ngắn chiếu thẳng vào mặt tôi:

  – Bạn tính đi đâu?

   Rất ngạc nhiên, nhân viên công lực kia đã hỏi tôi bằng thứ tiếng Việt rõ ràng, chuẩn xác. Tôi ngó lá cờ Mỹ may ở tay áo ông ta, cảm thấy thú vị. Bên kia lằn sơn vàng cũng có lá cờ ấy treo cao đang reo cùng gió. Biên giới thoáng rộng, không hàng rào kẽm gai, chẳng có cột chắn ngang. Trời xanh, cỏ cũng xanh, độc đạo con lộ đen mun phơi thân giữa nắng đang muốn nhuộm vàng. Con đường thì chạy dài mãi miết chẳng đứt đoạn, chỉ có đôi chân con người đôi khi phải chịu dùng dằng nán bước.

  – Tôi đi Virginia.

  – Ở đó khoảng bao lâu?

  – Ba bốn ngày, cùng lắm là một tuần.

  – Mục đích của bạn là gì?

   Chắc không ai cảm thấy phiền hà nếu đứng đó đón nhận cả trăm câu hỏi dồn tới từ một người Mỹ nói tiếng Việt sành điệu thế kia. Phiền hà sẽ đến chừng nào ông ta đổi qua thứ tiếng mẹ đẻ. I DIE 4 U.

   Tôi nuốt nước miếng.

  – Tôi đi thăm nhà.

   Ngang đây thì kẻ phỏng vấn thoáng nhíu mày. Mặt ông ta có nét phảng phất như tài tử Clint Eastwood trong “In the Line of Fire”.

  – Thăm nhà?

  – Đúng thế. Bạn bè, gia đình tôi có những người cư ngụ ở vùng đó.

  – A. Gia đình. Family. Clint Eastwood reo lên, mừng như thể phát hiện ra tên sát thủ có mưu toan bắn hạ Tổng thống. Đi thăm gia đình, nói thế mới đúng chứ. Nhà thì ta gọi là house mất rồi.

   Mặt tôi chắc ửng đỏ, người tôi nóng ran. Tôi lúng túng với sự hổ thẹn vừa ùa tới. Nhân viên phụ trách an ninh cửa khẩu như phát hiện nét thảm hại bao quanh tôi, ông trả lại tấm căn cước với vẻ mặt hiu hiu gần như tự mãn.

  – Hồi trước tôi đóng quân ở Đà-nẵng. Tôi tham gia chiến tranh Việtnam những sáu năm.

   Tôi giật mình. Sáu năm. Đủ để thấy sự khác biệt giữa gia đình và cái nhà. Giỏi thật! Phần tôi, tôi ở đây hơn hai mươi năm nhưng tôi không thể bắt bẻ được một ai, kể cả những con bé cỡ tuổi bằng Lolita, chúng bóp còi và thò đầu trợn mắt với tôi: “You asshole!” Merde hay Chien thì cũng xêm xêm. Cứt với đái. Làm sao thanh minh, làm sao chứng minh sự khác biệt của mỗi từ khi chúng áp đặt không đúng chỗ?

  – Đi đường bình an. Chúc vui khi đến nhà, gặp lại người thân trong gia đình.

  – Cám ơn ông. Thank you, sir!

   Tôi lắp bắp, cảm động trước câu nói của “tên giặc Mỹ xâm lược”. Giờ này ở nước tôi, có lẽ chẳng còn mấy ai căm thù bọn đế quốc. Coi Mỹ xịn nhất thế giới là đằng khác. Nhưng thực sự đã có một thiểu số vẫn ngưỡng mộ Bin Laden, xem ông nhiều râu tựa bác Hồ ấy là anh hùng, dám “tẩn” thằng Mỹ một vố đau.

   Ông ta không kiểm soát hành lý của tôi, như thể sáu năm vào sinh ra tử ở chiến trường ‘Nam xa xôi  đã cho ông cái kinh nghiệm: Bọn da vàng mũi tẹt ấy chẳng đủ máu lạnh để chơi theo kiểu nhóm Hồi giáo quá khích.  Tôi trở lại xe đò, leo lên và ngồi vào chỗ của mình. Tôi nhớ tới Loan, nhớ tới thứ tình yêu ngày cũ đã có khi dằn vặt mình đến độ chán đời suýt đầu quân vào binh chủng Biệt động. Một con cọp nhe răng may bên tay áo trận, một khẩu AR-15 dễ bị trở ngại tác xạ và đôi chân xuôi ngược suốt 4 vùng chiến thuật. Tình yêu có thể mang người ta đến một thế giới an lành và ngược lại, nó cũng thừa sức dẫn ta mù lòa vào hỏa ngục. Tôi chưa xem hết cuốn truyện Lolita, nhưng tôi tin, cuối cùng nó sẽ kết thúc bằng một cái chết. Chồng Loan mất cách đây ba năm, bạn tôi hiện vẫn ở vậy nuôi đứa con mười tuổi. Trong những bức điện thư không có dấu, tôi đọc và đoán lờ mờ hình như bạn tôi đang cảm thấy cần một khuôn mặt đàn ông kề cận. Tôi yêu Loan và điều đó không nhất thiết phải là thứ Kim Kiều tái hợp. Hoặc giả, muốn hay không, trước tiên tôi phải nên xem xét thái độ của đứa bé gái mười tuổi kia. Dân chủ, mở cửa, và quan trọng nhất, trưng cầu dân ý; lắng nghe tiếng nói đến từ mọi phía.

 Loan trước mặt không hề là Loan trong trí tưởng tôi. Mái tóc thề đã cắt ngắn đi, khuôn mặt nhiều phấn son; và đã mất rồi, những đường cong gợi hình trên cơ thể. Như phù sa bồi đắp một rẻo đất thon. Như bản đồ một quốc gia đã nhượng cắt để hình thù phải bị hoán đổi đi. “Sông kia rày đã nên đồng!” Bao nhiêu năm rồi? Như một sáng soi gương tôi đã nhìn ra biết bao là sợi tóc bạc mọc tùy tiện trên đầu mình. Tôi nhìn Loan, lòng rưng rưng một nỗi niềm không cắt nghĩa được. Ôn cố tri tân là phương ngữ của kẻ thành công. Với tôi quá vãng là những lượng vàng ròng mà ngày tháng xê dịch đã lần lượt tướt đoạt ở chúng tôi quá nhiều thứ, trắng tay. Nó dẫn chúng tôi vào căn phòng chật, bày cho thấy một bức tranh hiện thực khổ lớn, ngổn ngang những đường dao nét cọ tàn bạo chồng lấp, phủ hoen ố tấm bố trắng tinh.

  – Loan đã lấy vé rồi, hai hôm nữa sẽ về thăm nhà.

  – Cái gì?

   Tôi ngạc nhiên. Trong tự điển Nhà là House đó cưng! Mình ơi! Bà xã ơi! Nhà tôi ơi!

  – Dắt con bé về thăm bà ngoại, lần đầu tiên cũng là lần sau cùng. Mạ Loan đau nặng, bệnh viện Huế từ chối. Tuổi cụ gần đất xa trời, chạy đi mô để tránh nắng đây? Họ nói như rứa đó!

   “Màu nắng hay là màu mắt em?” Mắt Loan vẫn đẹp như xưa. To, sâu, muộn phiền. Lại có chút thơ ngây lắng đọng ở trong. Rèm mi mở ra và nhốt đủ một phương trời viễn mộng. Phương trời xa lắc xa lơ một sớm mai thấy mình chợt bể tiếng.

   Ngó tôi ngồi bần thần trên ghế, Loan đi pha cho tôi một cốc cà phê. Pha thơm ngon, vừa miệng như kẻ từng đi guốc trong bụng mình.

  – Gửi gì về cho gia đình không? Loan hỏi.

   Đấng sinh thành của tôi giũ áo ra đi gần cả chục năm rồi. Hai tấm bia xi-măng chẳng trơn láng đặt không ngay ngắn trên hai gò đất vun đắp với nhiều sỏi đá. Bên kia đồi thông là lăng Tự-đức, con đường mòn vắng lặng nhiều lùm cây bụi cỏ có những cặp cháu ngoan bác Hồ buồn đời dắt tay vào làm tình làm tội nhau. Tiếng rên thống khoái có thể át tiếng gió mơn trớn trên đồi thông mọc nhiều nấm mộ. Dưới đồi là chỗ giữ xe của ông thương phế binh một chân một tay, lởn vởn hai ba tên hành nghề chụp ảnh đi loanh quanh nhìn trời ngó đất. “Nghiệp đoàn lao động” ấy sẽ trấn lột du khách không tường nội quy lỡ mang máy hình ra lăng xăng sửa thế làm vài bô kỷ niệm chốn Thần kinh. ” Có muốn chụp ảnh thì chóng cất máy hình đi. Gọi tui tới có gì khó nhọc? Mấy ôn chơi kiểu nớ là muốn đạp đổ nồi cơm của tụi ni chớ còn chi nữa?” Cảnh sắc không được ghi lên âm bản, ra về mạng không cho chắc chuyện. Đời thuở, luật lệ ngày nay chẳng biết ai ban hành? Nghĩ không ra! Bên kia đường là quán cà phê, sau căn nhà tranh xiêu đổ ấy có bày biện vài chiếc giường tre màn che khăn rủ, một số chị em ta không hiểu từ đâu chợt hiện hình, phục vụ vượt quá mức quy định mà giá bèo tới độ không tin. Sướng giàn trời mà tiền trao tay chỉ mua chừng chục ổi xá lị. Nghe ham! Con đường dẫn về thành phố có đoạn chưa trải nhựa, đất nhiều bụi đỏ khi nắng và lắm bùn vàng khi mưa. Toàn thể là bức tranh nhợt nhạt luôn trôi chậm trong đầu tôi mỗi một hồi ức. “Mai chị về em gửi gì không? Mai chị về nhớ má em hồng. Đường đi không gió lòng sao lạnh? Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong… Quê chị giờ xa tít dặm xa. Rừng thu chiều xao xác canh gà…” Thơ Quang Dũng bao giờ cũng gợn sóng ở trong lòng, loang ra đồng tâm một nỗi buồn nhẹ. “Buồn dâng đôi mi hàng lệ hàng”.

   Trước khi sang thăm Loan tôi có đổi được hai trăm đồng US. Chừng đó tiền gửi về, người nhận sẽ la toáng lên: “Trời đất ơi, đứa nào bỏ quên bạc lẻ ở trên bàn. Cầm ngần ấy trong tay thì tiêu thế chó nào được!”

   Tôi lắc đầu.

  – Mình bạc phước, chẳng còn ai để giúp và không một ai giúp mình.

   Mắt Loan to, sâu, đen, láng ướt, đọng chiếu nhiều dấu hỏi bên trong.

  – Thích gì không? Loan biết để mua làm quà mang sang.

   Nón bài thơ, mè xửng, hạt sen… đặc sản của Huế da diết nghèo. Làm sao tôi có thể thích hợp với thứ quà “mặn mà tình quê hương” đó? Em hãy dùng xe đạp, vào cửa Thượng-tứ, rẽ trái, bỏ băng Quốc tử giám, quẹo phải. Con đường ấy trồng nhiều cây mù u và sầu đông, nếu nó chung tình còn đứng đợi ở đấy. Dãy tường thành nhiều rong rêu, theo trí nhớ của tôi. Em sẽ chậm rãi đi vào cổng Hiển nhơn, có thể họ, những người ở bảo tồn bảo tàng sẽ thu ở em một ít tiền như kiểu bán vé cho khách tham quan tò mò xem nơi vua chúa triều Nguyễn từng ăn ở. Đừng vào sâu làm gì cho mất thời giờ. Ngọ môn lầu và điện Thái-hòa là chuyện thứ yếu, chẳng đáng quan tâm. Em sẽ thấy ngôi trường Cao đẳng mỹ thuật với lối kiến trúc thời thuộc địa Pháp. Cầu trời nó vẫn yên vị mà không bị dâu bể dời đổi chỗ khác! Cây bàng bề thế vặn mình núp sau cổng, chìa ra những chiếc lá to vân vi đầy màu sắc kỳ lạ. Xin em hãy đi quanh thân nó một vòng. Nhìn ngắm và sờ mó, thế nào em cũng sẽ phát hiện trên lớp vỏ sần sùi ấy còn chìm sâu một trái tim mưng mủ. Tôi học ban điêu khắc và bài thực tập đầu đời là mũi dao đã cạo vụng về, khắc lẩy bẩy vào thân cây hình thể một trái tim với chữ Loan phụ chú ở bên dưới. Hình ảnh rất “sến”. Em có thấy vậy không? Cải lương! Nhưng câu vọng cổ nào rơi xuống cũng mang theo nó ít nhiều cảm động. Mấy mươi năm rồi, trái tim xưa có thể đã méo mó. Chữ Loan có thể đã biến dạng, nhưng tôi tin niềm bí mật ấy sẽ chờ Loan về nhìn nhận rồi sau đó vết sẹo trên cây bàng thân yêu mới chịu liền da.

  Buổi tối Loan mang mền gối xuống cho tôi. Chiếc ghế ngồi có thể kéo ra thành giường và đối mặt nó là TV đang có chương trình hài hước. NBC, ABC hay CBS, mọi băng tầng phát hình đều thế cả. Người Mỹ cũng lạ, chuyện gì cũng khiến họ phá ra cười. Cười đến chảy nước mắt, ho khan và tắt tiếng. Họ thua Việt-nam cũng phải, cái dân tộc ấy người người đều là thi sĩ, mặt khó đăm đăm như nhà hiền triết, táo bón một nụ cười vì đi mãi vẫn chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm. “Nay ở trong thơ nên có thép, là nhà thơ cũng phải biết xung phong“. Đọc thơ ấy xong mà không phá ra cười là thua xa thằng Mỹ đấy!

   Sau lưng Loan, cô bé mười tuổi nép mình nhìn tôi với đôi mắt đong đầy ác cảm. Loan đã từng giải thích người ấy là bạn cũ của mom, chỉ ở tạm một vài hôm thôi. Người ấy như kẻ homeless, tội nghiệp. Sang đây chỉ để đưa tiễn mẹ con mình về thăm ngoại. You know? Loan khôi hài thêm, mượn lời nhạc của Alice Cooper: ” Hắn ta biết đánh răng nè, biết chải đầu nè, biết đi nhà thờ nè. Hắn đích thực là một nice guy!”. Nước đổ đầu vịt, chẳng đắc nhân tâm. Thủy chung con bé vẫn giữ lập trường, khoanh vùng, phân định giai cấp. Nếu tôi được là E.T, có lẽ nó sẽ đến gần lân la với nhiều thiện cảm, lộ vẻ ân cần: “E.T có muốn trở về nhà không?”

   Tôi tắt máy truyền hình, nằm nghe gió về xào xạc ngoài vườn khuya. Có tiếng còi xe cứu thương hú vọng từ xa, khu Seven corners hay ở hướng thương xá Eden? Tôi nhắm mắt, vẽ trong trí hình ảnh một bà mẹ nhắc nhở con đánh răng cẩn thận, hối thúc nó đi ngủ sớm. Thay vì ngồi bên giường đọc truyện cổ tích cho nó nghe, bà ta cẩn trọng pha chút thuốc ngủ trong ly nước suối: “Uống đi con, rồi sẽ bắt gặp mộng lành sau đó.” Chiếc áo ngủ lay động trên dáng đi rón rén, đôi chân trần nhón bước xuống những bậc cấp có lót thảm êm. Hơi thở nóng khô kề cận và sau đó là sự ướt át rịn ứa từ sâu thẳm. Trái tim thúc hối những nhịp đập hoảng loạn. “Chúng ta đã trót phung phí tuổi trẻ của mình một cách oan uổng, không đúng chỗ. Hai đêm còn lại ngắn ngủi này xin hãy rán sức đền bồi cho nhau. Chết bỏ bể bỏ…”

   Tôi thiếp đi. Lolita của Nabokov và Loan xưa của tôi thay phiên nằm đè lên thân thể tôi nặng nhọc. Tất cả chỉ là mộng mị. Tôi thực sự đã không có House, không luôn cả Family. Hỡi ông John, người cảnh sát biên phòng vừa thoáng gặp ngoài đồng không mông quạnh!

Bỏ bú

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 5 Dec 2023

 Anh đón nhận đứa bé với tất cả vẻ cẩn trọng. Như tư thế trước đây của Audi, anh ôm nó bằng hai vòng tay, để đứa bé tựa đầu vào vai anh, tiếp tục giấc ngủ, ngủ như một baby.

 Tóc hoe vàng, thưa thớt, mỏng mịn. Môi ướt, thỉnh thoảng cười chùng vụng dù đang chìm vào giấc sâu. Mụ bà dạy, họ bảo thế. Nếu môi kia mếu máo hẳn đang bị bà mụ quở trách. Và Audi dĩ nhiên sẽ chẳng biết được điều “mầu nhiệm” kia. Audi tin vào giấc mơ, mộng đẹp hoặc mộng chẳng lành. Anh ngờ vực, nhỏ nhít thế sao lại sớm tựu thành một cơn mê sảng?

 Da thịt đứa bé thơm ngọt mùi sữa mẹ, tựa hương một giống hoa luôn ngậm sương ở chốn khuất lấp. Mùi cỏ mới cắt nơi khoảng sân sau tuy nồng đậm nhưng chẳng phủ lấp được sự tinh khiết có nơi con bé. Trẻ nít luôn là trang giấy trắng, nếu đúng thế thì càng già cỗi con người sẽ bị bôi bẩn đường ngang nét dọc vết cào xướt. Ngày tháng dự phần nhỏ, tác hại phần lớn do bởi những tiếp xúc với đồng loại. Họ trao cho ta chút niềm vui và soán đổi bộn bề bao khổ lụy. Mưu toan là hóa chất phun tưới lên hoa quả, sum suê những độc hại nằm dấu mình. Và khi ấy, đứng bên kẻ gần đất xa trời, người ta nhận biết một điều, thân thể kia hôi hám ngập ngụa bụi trần!

 Audi trở ra bằng hai tách cà phê có ở đôi tay. Da trắng, mỏng, thấy những đường đi xanh thẩm ngoằn nghèo của động mạch chạy bên dưới, và trên là lớp lông măng như bụi phấn  che đậy bớt cái trần trụi. Hai mươi tám tuổi, một con, Audi mang nét phiền muộn của một gái đồng trinh tuổi bốn mươi. Tuy vậy anh chưa nhìn thấy sự bẳn gắt lộ hình ở Audi dẫu có khi anh bỡn cợt điều mất lòng. Cô thích đón nghe anh bông lơn, cô bảo những đứa ưa bày trò thường dễ chơi hơn những thằng người nghiêm nghị. Sự đạo mạo làm cô oải, boring. Anh từng cắc cớ: Người bạn có mấy vòng?  Ba, vòng một vòng hai vòng ba. Ngực, eo, mông. Vậy thì vòng số bốn nó trốn đi đâu? Há? What? Không phải là logo của Audi có bốn vòng sao? Bốn vòng đều đặn, rất hấp dẫn. Audi cười phá ra, chẳng sợ kinh động giấc ngủ con thơ và với đôi tay rắn rỏi cô đã kẹp cổ anh lại dúi đầu vào vòng số một. Khi đó mặt anh mát rượi, rít rát, anh nghĩ tới cốc cà phê pha sữa mẹ hiện bán rất đắt ở London. Lúc nhỏ anh bú sữa mẹ và đáng phàn nàn một điều, con nít ranh thường vô tâm, nó đã quên ráo trọi những hương mùi quyến rũ kia. Quên cho tới gần năm mươi mới được tiếp cận, phát hiện trong buồn tủi, kèm theo chút tiếc nuối.

Cà phê đen, chỉ muỗng đường, không thêm gì khác. Vào giấc trưa, thường thì chẳng hề là thứ nước uống thích hợp. Nhưng anh biết, trong tủ lạnh kê góc bếp nhà Audi chẳng còn thứ gì hợp khẩu vị. Nước suối, nước bưởi và bịch sữa 4 lít 2% chất béo. Chung đụng và sánh đôi là những lu hủ nhỏ nhắn chứa nhiều vitamin dành cho người chưa mọc răng đang ngủ yên trên vai anh. Đi lui tới khép nép dưới bóng dâm hà tiện, cuối cùng anh buộc lòng phải ngồi ké né xuống chiếc ghế mây. Đứa bé cựa mình thức dậy, nó mở mắt nhìn anh, sự ngơ ngác có trên gương mặt làm cảm động, làm anh muốn hôn nó, như thế một lời chào. Nó ngó quanh, mắt hơi nheo vì sân cỏ ngập vàng màu nắng. Một con sóc uốn cong thân để đùa cợt với những chiếc lá vừa rơi, động tác hệt như con mèo xuẩn ngốc cố bắt chụp chiếc đuôi luôn ngo ngoe của chính mình. Con sóc vụt chạy lên cây, và sau cùng thì con bé òa khóc. Ôi, tội nghiệp con chưa? Kẻ lạ nào đang ẳm con thế? Mẹ đây honey.

 Bầu vú căng sữa, tròn vin, trắng bóng. Xuất hiện và có khả năng nuốt ngay tiếng khóc. Đứa nhỏ chúi mũi chúi lái vào đó, mắt lim dim ngước nhìn anh biểu lộ niềm hạnh phúc như thể nó hiểu rằng mình nó là độc tôn, chẳng tài nào anh hưởng được.

 Anh nâng tách cà phê lên, uống chậm rãi. Không ngon miệng, nhạt mùi, đắng chát là đằng khác. Con sóc đã trở lại khoảng sân, nó nhón bước bộ tịch như chùng vụng, cúi đầu xuống đánh hơi chăm chỉ trên từng đoạn đã di chuyển qua để sau rốt cào lia bới lịa xuống đất rồi khum tay dâng tận miệng thứ hạt gì đấy mum mum nhai khới liên tu kỳ tận. Có thể là hạt đậu phụng, kích cỡ lớn bằng đầu vú Audi. Anh ngó hai mẹ con, ăn uống no say xong, người mẹ sẽ kéo áo xuống, vỗ lưng cho nó phát tiếng ựa, sẽ đặt nó nằm ngửa cởi miếng dán sột soạt và thay cho nó chiếc tã Pampers mới. Nó sẽ chới với đạp hai chân vào khoảng không, nó sẽ đút năm ngón tay bụ bẫm vào miệng và từ đó vỡ ra những tiếng trong trẻo, vui tai dù khó hiểu. Luôn luôn, trước khi nói được chữ mẹ, cha, “mụ bà” sẽ dạy nó thứ ngôn ngữ riêng, như thể tập sự uống lưỡi. Audi sẽ hôn vào người nó, chọc nhột và hai mẹ con sẽ là hai con sóc đùa nghịch nhau không biết chán. Anh thấy thừa thải, như con chó nhìn tới loài động vật kia với đôi mắt khoan dung. Mèo thì có thể tìm cách thư giãn bằng cách chạy tới chơi trò cút bắt, đốt cholesterol lưu thông kinh mạch, hạ huyết áp.

 Buổi trưa yên tĩnh, thiêm thiếp gió nhẹ di chuyển lặng lờ trên đám lá cây phong, tiếng nút sữa của đứa bé, và xa khuất thỉnh thoảng tai nghe động cơ gào rú có ở cái máy cưa đang làm gãy đổ những thân cành. Âm thanh len lỏi đi qua hàng dậu thưa, xao xác trên thảm cỏ vừa cắt và tất cả chừng ấy thứ làm mắt anh ríu lại. Anh ngồi xuống ghế, cưỡng chống cơn buồn ngủ bằng cách cố tìm kiếm có bao nhiêu hạt nốt ruồi đậu ở da thịt để trần của Audi. Khuôn mặt, cổ, phần bụng, bên eo và một phần cánh tay. Hình như trước đây anh có đếm chúng, tới số 12 thì buộc phải chấm dứt, chưa giải xong phép tính đơn giản kia. Lúc đó anh ngồi bên giường có Audi nằm nghẹo cổ nhìn suốt dãy hành lang trơn bóng và luôn chộn rộn ở bệnh viện, khu hộ sản. Cái ghế nhựa, anh tưởng sẽ ngồi chết cứng ở đó trong sự ngầy ngật của đợi chờ. Nhưng không, một bà y tá nói khi đẩy chiếc giường gắn bánh xe vào căn phòng vừa mở toang cửa: Có lẽ bà nhà cần sự hiện diện của ông. Ông có thể đứng phiá trên đầu nằm trong khi chúng tôi đở đẻ. Anh ngó xuống cái xanh xao tựa một kẻ chết đuối ám trên gương mặt Audi, tay cô vẫn bấu chặt và anh nghĩ cách hay hơn cả là đừng tháo gỡ niềm trông mong kia. Anh đã đi vào căn phòng lạnh toát và chói chang ấy. Một trong bốn người đứng sẵn ở đó đã trao cho anh chiếc áo thụng thịnh giống hệt họ, một khẩu trang và hai bao giấy dùng để bao bọc lấy đôi giày của anh. Anh răm rắp nghe theo những gì họ bảo, trong gương phản chiếu anh nhìn ra chẳng có sự khác biệt nào, ngoại trừ họ lần lượt đi rửa tay, lau khô rồi mang vào tay đôi găng cao su. Tay anh tuôn đầy mồ hôi, anh nắm chặt vào thanh sắt đầu giường khi bắt đầu nghe chân run, mỏi.

 Anh muốn nói điều gì đó cho Audi nghe nhưng chẳng biết tìm lời. Anh vụng về tựa một con gà mắc đẻ, dáo dác. Bà nhà rất giỏi chịu đựng, tôi nghĩ mọi thứ sẽ êm đẹp. Một người trấn an anh khi anh thử vén một ít tóc đi lạc xuống trán Audi, anh vuốt ngay ngắn những sợi lòa xòa rồi thu giữ chúng sau vành tai Audi. Người ta đã ngộ nhận, chả có thời giờ để han hỏi. Anh chưa hề đứng dưới đôi chân dang rộng của Audi nên anh chẳng thể là người đang gieo cho cô nỗi đớn đau kia. Mặt Audi tươm đầy mồ hôi khi hít hơi sâu và bặm môi rặn nhọc mệt cho lần vượt cạn. Anh không là cha của hài nhi nhưng anh cảm nhận rõ nỗi bất an tựa hồ chiếc ghe chở anh ngày cũ đang lướt qua những tảng đá ngầm, lườn ghe rung lên khi thần chết thăm dò bằng những móng vuốt sắc nhọn cào vào mảnh gỗ sắp mục nát. Ghe mang anh cùng 18 người tới bến bờ tự do như nỗi huyền nhiệm không có được sự giải thích. Và sau cùng thì tiếng khóc cất lên. Tại sao loài người khi mở mắt đón chào cuộc đời này không hề bằng tràn cười hoan lạc? Khóc vì phận người hay hoảng sợ niềm trống trải đang khiến cơ thể đỏ tím, tái run. Cắt cuống rốn, lau qua quít rồi họ đặt nó lên bụng Audi. Chúc mừng ông. Người bác sĩ nói. Chúc mừng em. Anh nói với Audi và nhìn theo đường lăn của giọt nước vừa thoát khỏi đôi mắt xanh. Nước ối, nước tiểu, máu đã phọt ra ở chỗ khác và hiện tại có người đang phụ trách việc lau chùi, bông băng nhém chặt tựa đập chắn ngăn thủy triều.

 Anh ngó chừng nó giùm chút, tôi đi vào phòng tắm dội qua miếng nước rồi hẵn đi. Audi nói. Đã mấy tháng rồi, hình như vòng bụng chưa kịp đàn hồi, và người đàn bà trong thời gian hậu sản sẽ chẳng thể làm cho có eo trở lại. Không phải nhìn bằng mắt để phát hiện, tắm xong, mặc vào người chiếc áo, Audi bước ra và nhờ anh kéo lại cái zipper chạy dọc sống lưng. Eo ôi, phải nín thở, phải tốn tiền tậu loạt áo mới rồi! Cô than. Rồi hỏi: Ngó được không? Anh thành thật: Cũng ok. Dầu sao nó còn biết nhường nhịn so với hai vòng còn lại. Qủi! Lúc nào cũng tìm cách hạ bệ người ta! Cô mắng yêu khi lùa những ngón tay vào tóc anh. Có thích tìm hiểu vòng số bốn không? Hả? What? Nếu thích, hãy kéo cái zipper xuống, hãy cởi từ tốn mọi vướng mắc, chậm rãi cẩn trọng bao giờ cũng thú vị hơn vội vàng hộc tốc. Và lúc này đây chúng ta tạm quên con bé đi, hãy chú tâm cho nhau mà tiếng khóc mè nheo của nó chẳng thể phân lìa chúng ta ra. Hơn ai hết, anh gây vào lòng tôi sự qúy mến. Ôm chặt lấy tôi. Anh xứng đáng là người tôi đặt hết niềm kỳ vọng.

* * *

 Với cuốn sổ nhỏ kẹp cây viết chì nắm trong bàn tay, người mặc sắc phục cảnh sát ngồi xuống chiếc ghế mây. Trưa âm u như tức giông, khoảng sân chôn cất sự lặng lẽ dưới đám cỏ mọc cao. Ông dùng cà phê nhé? Vâng, xin vui lòng. Người cảnh sát sửa lại dây nịt, dùi cui và súng ngắn lỉnh kỉnh luôn can dự vào thế ngồi, không thoải mái, cứng ngắt. Tóm lại, y phục và đồ nghề linh tinh kia tạo ra một vỏ bọc, nhìn ngó, khó có thiện cảm. Ngay cả nụ cười tươi của ông ta cũng khiến kẻ thưa chuyện phải ái ngại. Cuốn sổ mở ra, hàng chữ viết tháo: Người Việt, nam, 48 tuổi, độc thân. Kẻ mướn phòng, 750 đô một tháng…

 Ồ cám ơn. Người đàn bà mang tách cà phê tới với một tay kẹp nách đứa nhỏ. Đứa bé có đôi mắt to, không nháy khi ngó ông bạn dân. Làm phiền bà quá. Không sao. Bà là người phát hiện? Đúng vậy. Tôi gõ cửa rất lâu, sau cùng tôi tìm chìa khóa và mở nó ra. Ông biết đó, là người cho thuê phòng tôi phải thủ riêng cho mình một cái chìa. Bà tới đòi tiền thuê? Không, đã đầu tháng đâu. Hai hôm không nhìn thấy ông ấy… tôi muốn nhờ anh ta cắt cỏ giúp. Ông ấy từng làm việc đó? Phải, rất vui vẻ, tự nguyện. Từng sốt sắng chở hai mẹ con chúng tôi đi bệnh viện, chợ búa các thứ. Cuộc sống ông ấy ra sao? Khép kín, ít ra ngoài, dường như luôn cô đơn. Nói chung ông ta là hạng người mà tôi luôn an tâm khi kề cận.

 Người cảnh sát ghi một vài chữ vào cuốn sổ. Ông uống hết cà phê và đặt tách xuống mặt bàn nhỏ kê giữa hai ghế. Bà có thể cho tôi vào ngắm qua chỗ ông ấy ở? Ồ, dĩ nhiên. Ông đi lối này.

 Không có nắng, căn phòng giam chật bóng tối. Người đàn bà mở sáng ngọn đèn. Chẳng có gì lạ, những kẻ độc thân thường bất cẩn bày ra cái luộm thuộm như vậy. Chiếc giường nhỏ, gối chăn xộc xệch. Một kệ sách. Cái TV màn hình vừa phải, chẳng lớn. Bàn gỗ vuông, có thể dùng để dọn cơm và cũng có thể làm bàn viết. Cuốn vở khoảng hai trăm trang ghi chật chội những hàng chữ viết tay, mở lưng chừng, như thể đó là nhật ký hoặc bản thảo một cuốn truyện chưa hoàn tất. Người cảnh sát kiếm ra một cái bao ny-lông rồi dùng chiếc đũa gạt cuốn vở vào trong đó. Điều gì đập vào mắt bà trước tiên? Ông ấy nằm vắt nửa người trên giường, qụy chân dưới sàn nhà, miệng há rộng. Bà có đụng vào người không? Không, tôi linh cảm điều xấu, hốt hoảng chạy về nhà mình nhấc phone gọi 911.

 Bà có nói là ông ấy vui tính? Có tâm sự gì với bà không? Ý tôi muốn hỏi là bà biết nhân vật trong tấm ảnh đặt trên kệ sách ấy? À, tôi nghĩ bà đó là người vợ bất hạnh của ổng. Bà mất trong khi chuyển bụng sinh con. Ông ta cho biết là nếu sống ở đây thì chuyện ấy sẽ không thể xẩy ra. Mỗi khi ẳm con tôi, ông ta đều liên hệ, nhớ về ngày tháng cũ đau buồn ở quê nhà. Cám ơn sự hợp tác của bà. Bà tính làm gì với căn phòng này? Tôi chưa biết, thú thật là lúc này tôi chưa tỉnh trí. Ông ấy mất, tôi rất buồn đau.

 Người đàn bà bồng con không tiễn đưa ông cảnh sát. Bà đứng bên một thân cây nhìn ra con đường vắng. Yên lặng quá. Bên góc sân, chỗ khuất lấp, ló ra phần đuôi một khối sắt đen trầy trụa lớp sơn. Chiếc xe Audi đời 2001 nằm câm lặng và vĩnh viễn nó sẽ thôi gào rú từng hồi. Nhớ không con, nó từng hộc tốc chở mẹ đến nhà thương với bàn chân con quẫy đạp trong bụng mẹ. Mẹ đợi chờ con khôn lớn, muốn nhắc nhở con về tấm lòng của ông nhưng chúng ta đã chẳng còn cơ hội. Dẫu sao thì mẹ còn lưu giữ một tấm hình chụp ông ấy. Ông bế con và cả hai đều nở rộng nụ cười thật trong sáng. Có con sóc xù lông từ cao cúi đầu bò xuống chậm rãi, đứa bé vung tay và miệng chảy nước phát ra những tiếng ầu ơ.

 Trời tức giông. Trời sẽ đổ mưa. Mưa hỗn loạn giấc chiều hay mưa đằm thằm rãi đều trên cơn ngủ muộn? Cỏ mọc cao và vuông sân thiếu bóng ai lao động chuyên cần. Thôi, xin cho anh được làm mây trôi về cố hương. Dù chỉ là phù vân, anh nhé!

Hồ Đình Nghiêm

Bia không ôm

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 5 Dec 2023

Con đường mang tên một vị thánh. Saint Nicholas. Thành phố này có không dưới ba mươi vị. Ông thánh, bà thánh nằm đó đây, cắt ngang nhau, chồng lên nhau, nối tiếp nhau và đa số quần tụ trên vùng đồi cao.

 Xe buýt nặng nề leo dốc, máy nổ lớn và cảnh vật bên ngoài trôi qua từ tốn, quen mặt. Những ngọn đèn luôn thắp sáng trước một tảng màu diêm dúa có treo hình cô gái khỏa thân đứng cheo leo trên mái che, những bậc cấp uốn lượn dẫn lên một dãy sân tennis có rào lưới chắn bên ngoài. Xe sẽ dừng ở trạm đổ, nơi ngã tư luôn tụ gió và cái bảng đường mang tên St-Nicholas đứng run chân dưới ụ đất vun nhiều cỏ dại với hoa vàng lưa thưa.

 Lữ đi lại trên lộ trình này không biết bao nhiêu lần. Mỏi mòn tới độ có thể ngồi ngủ gà ngủ gật một giấc ngắn để khi mở mắt ra, xe buýt vừa tấp sát vào lề, thả Lữ xuống đúng nơi chốn, cũ một lập trình. Lữ yêu cái màu xanh nhợt nhạt đong đưa bóng trải bị thu bé giữa hai hàng cây rậm lá, con số 40 nằm trên tấm bảng trắng nhằm lưu ý quý vị lái xe chớ nên đạp ga chạy vội mà làm chi. Cuối đường rồi cũng tới với nắng chan hoặc mưa vụng trút.

 Lữ đọc trên mặt báo địa phương một cột tin nhỏ: Thử nghiệm ở bến xe đò, cho phát thanh nhạc giao hưởng cổ điển để thế rock’n roll luôn gào thét, trong vòng tuần lễ, mức độ cướp giật và những hành vi phạm pháp gia giảm hẳn. Lữ kể lại cho Vân nghe khi cả hai ngồi bệt trên cỏ trong một buổi chiều yên ả và đứng gió. Nhà hàng xóm không còn gửi ra tiếng cười đùa của con trẻ, sợi dây căng phơi áo quần có máng tấm drap dài lết phết, dật dờ như cánh buồm nhác chơi của con thuyền lạc phương hướng giữa biển lặng. Trôi từ đâu lại mơ hồ tiếng dương cầm dìu dặt, vướng víu trên những bụi hoa cúi đầu bên hàng rào thấp. Những nốt nhạc rời đi, ẩn chứa thứ nỗi niềm khiến người nghe phải vọng tưởng ra nhiều điều.

 – Tại sao Lữ kể chuyện đó ra? Vì nghe được tiếng đàn rã rượi?

– Cũng có thể, nhưng sau hết nó mang chút liên quan. Những người trú ngụ trên con đường mang tên một vị thánh hình như có ảnh hưởng đôi phần. Hiền lành, ít nói và hơi khép kín.

– Đừng tưởng tượng.

– Ở quê nhà người ta sống bất an trên những địa danh Cách mạng tháng tám, Đồng khởi, Xô viết Nghệ tĩnh chưa đủ để chứng minh?

 Lữ ngưng nói, phân tâm vì tiếng đàn không dưng dừng lại, câm bặt. Những câu chuyện giữa Lữ và Vân đôi khi cũng tựa tiếng đàn khuất mặt ấy. Trỗi lên vu vơ, không đầu đuôi, gần mà xa, để ngưng đọng trong tẻ nhạt.

– Vân thích nhạc khích động không?

– Chẳng thích nhưng vẫn nghe. Người mình giống như bộ máy xe hơi vậy, chạy hoài ở một tốc độ tựa nhau là điều cần tránh, làm yếu bộ máy ấy đi. Chiều nào cũng nghe từ nhà hàng xóm vọng ra tiếng nhạc trầm buồn, thú thật Vân cũng hơi oải.

– Thử vào nhà mở một đĩa nhạc rậm rật lên xem không khí có thay đổi?

 Vân đứng lên, quay người đi tới cửa, chiếc váy màu vàng như vệt nắng cuối chiều rút vội vào khung đen án che. Lữ vén tay áo nhìn xuống mặt đồng hồ, thời gian luôn đi mau cho những đôi tình nhân, nó cũng vội vã không kém với riêng Lữ. Tấm bảng ấn định 40 cây số một giờ cắm ngoài kia vô tình đã là cái cớ để Vân ứng xử trong vận hành tình bạn giữa hai đứa. Song hành chậm chạp, không dẫm chạy trên đường biên, chưa đến lúc chúng ta phải gia tăng tốc độ. Người lái xe biết tuân thủ những biển báo quy định, kẻ ấy chẳng bao giờ gặp tai nạn?

 Vân trở ra, cô đi chân trần, tay cầm lon nước ngọt và cánh cửa mở đàng sau thủy chung vẫn tĩnh yên không một âm thanh khuấy động.

– Uống nước đi. Ba má Vân sắp về rồi.

Lữ chẳng đón nhận thức uống, Lữ đưa tay ra chỉ để bao phủ những ngón của Vân. Rờ rịt, rồi cảm nhận cái lạnh giá băng đang lan truyền. Có những đôi nhân tình không cần phải thốt bye, see you…một trong hai đứa sẽ tự hiểu thời điểm để quay lưng. Ba má sắp về là ảnh hình của cánh cửa sẽ đóng chặt, là lời chào tạm biệt không tiện nói ra.

 Lữ bước giữa lối mòn xuôi về bờ lề xi-măng, Lữ sững ngó tấm bảng đóng cọc trên bãi cỏ của một công ty địa ốc mua bán nhà cửa. Với Lữ, đó là bóng dáng chiếc xe xăm xăm chạy vào ngõ cụt và rồi thì nó chết máy liền khi.

 Lữ giật chuông làm hiệu khi xe buýt chạy qua hình vẽ sáng đèn cô gái tóc vàng khỏa thân. Lần này thì có một thay đổi nhỏ. Lữ đọc ra hàng chữ bóng lộn nhảy múa: “Hơn hai mươi vũ nữ trần truồng liên tục xuất hiện trên bục với vô vàn tiết mục đặc sắc. André kính mời”. Đường này mang tên gì hở ông André? Ông làm cách mạng và thay tên đường Lucifer rồi chăng? Hay đường Satan?

 Xe dừng để hoán đổi khách, kẻ lên người xuống. Những xác lá vàng không yên thân luôn xô giạt, trời sang mùa và Lữ co ro dẫm vào lối quen.

– Xin lỗi, có phải anh là người Việt?

Lữ quay mặt lại, người con gái luôn ngồi nhấp nhổm thắt thỏm hoang mang cũng đã xuống tới và đang chạy đuổi kịp Lữ.

– Anh biết đường Nicholas có nằm gần đây không?

– Là con đường chúng ta đang chôn chân.

Mặt cô gái ửng đỏ, nhưng mà Lữ biết là do thời tiết mang lại chứ chẳng phải ở nguyên nhân nào khác. Tay cô nắm một vuông giấy, không là bản đồ, nhưng thỉnh thoảng cô vẫn ngó vào đó.

– Ở đây có vẻ kín cổng cao tường. Anh biết nhà số 911 nằm ở đoạn nào không?

– Biết. Tôi đang đi tới con số khẩn cấp nằm lòng ấy.

– A, hay quá. Anh là gì của Vân?

Người con gái reo lên, vỡ ra thứ tiếng trẻ con ngồi trong cửa hàng McDonald’s cạo tấm vé trúng được cái hamburger free. Cô đi sát vào Lữ với sự cả tin rất hồn nhiên.

– Chỉ là bạn. Còn cô?

– Là láng giềng khi xưa ở Việt-nam. Tôi mới qua và Vân hứa sẽ tặng cho một đống đồ dư thừa.

 Lữ bước khoan thai, khác với lệ thường. Chậm chân cũng chỉ háo hức chờ nghe thêm những tin tức khác. Thứ tin thường lạ lẫm của người đang xào xạc chân khua vạn dặm khởi từ gốc gác của sự đến. Lữ nhớ tới những buổi uống bia cùng bè bạn diễn ra trong căn nhà trọ chôn thấp hơn mặt đường tựa một cái hầm tránh bom đạn. Khói thuốc đặc quánh, ngọn đèn vàng hiu hắt trên đầu, độ lượng cho thêm nhiều bóng đen ngồi quây quần xôm tụ: Mấy ông à, chỉ còn chờ đợi chuyện lạ đến từ những cô gái chân ướt chân ráo vừa ở quê nhà sang tới. Tình yêu, tui thấy đó là món hàng treo đàng sau cửa kính với giá tiền cao ngất ngưỡng trời ơi đất hỡi! Có đứa gằn giọng: Biết người ta ngu ngơ chưa kịp hoàn hồn thì bèn nhào tới chơi trò lợi dụng sao cha nội? Bất lương cũng vừa phải thôi chớ!

– Trời lạnh quá! Người con gái nói khi so vai rụt cổ.

– Chưa đâu. Lạnh này chỉ mới là lạnh nháp thôi, bữa nào nó mới thiệt tình bước tới, để có muốn than van cũng không xong khi cứng miệng chẳng mở lời được.

– Anh đang đe nẹt hù dọa đấy hở?

– Không, cô chưa nghe bài hát của dân tình chốn Québec này đó thôi. Mon pays c’est hiver. Mùa đông, trời ạ, bạc trắng cả tấc lòng trong sáu tháng nửa năm.

– Anh đã trải qua bao nhiêu cái bạc trắng nọ?

– Tôi chẳng nhớ chính xác. Hình như hai mươi sáu, hai bảy gì đó.

– Gia đình anh đều sang tuốt đây?

– Không. Tôi, chỉ một mình ên. Không rõ tôi may mắn hay bị chịu hình phạt lưu đày.

– Sao anh lại nói vậy? Tôi và Vân là hai đứa bạn thân, mỗi khi nhận được quà hoặc xem ảnh Vân gửi về, anh biết tôi đã từng ước nguyện điều gì không? Giá mà được gặp lại Vân, tôi sẽ chịu làm tôi mọi cho ai có công mang tôi đi.

– Và bây giờ? Người nào đã có được chức ông chủ diễm phúc kia?

Người con gái cười thành tiếng. Cô đã cởi bỏ được chút co ro trong bộ dạng.

– Tôi đi theo diện bảo lãnh. Tôi có ông anh trước kia du học ở đây. Vân chưa từng nói cho anh nghe về một người mang tên Bảo?

 Lữ lắc đầu. Bảo, cái tên nghe xa lạ nhưng cũng thật quen thuộc. Gọi dạ bảo vâng. Hay bão với dấu ngã, như đường ta đi nhiều giông bão quá.

 Khi bước hẳn khỏi lề đường, tiếng đàn dương cầm nhặt khoan xô tới. Bùi ngùi, Lữ nhấn chuông rồi nép người sau lưng cô gái, mái tóc dài rối ấy gây cho Lữ thứ cảm nhận mơ hồ về bàn chân đứng của mình chẳng thể thích hợp với nơi chốn. Váng vất chút lạc lõng, lúng túng hơn cả người vừa từ Việt-nam sang tới.

 Người mở ra cánh cửa dầy nặng là Vân. Lữ đọc được trong mắt Vân tràn đầy cả niềm vui, và nó chỉ phủ lấp tới người con gái. Hai người ôm nhau, òa vỡ những tiếng cười tròn trịa, và rồi thì xô đẩy nhau, tựa hạnh phúc quá thì ta chỉ có mỗi một động tác nọ để chia sẻ; chẳng biết làm gì hơn.

– Tao đâu ngờ nhà mày đẹp đến dường này, không có anh đây dắt lối dám tìm hoài chẳng ra.

– Anh Bảo có lại không?

– Dĩ nhiên rồi, biểu tao đến trước trò chuyện với mày, còn anh thì đi mướn chiếc xe van để tha đồ đoàn cho dễ.

 Vân nói Lữ đóng cửa kẻo gió lùa, lạnh. Tiếng đàn bị nhốt bên ngoài và trong nhà, Lữ nhìn ra nỗi trống vắng của những vật thể bị dời đổi. Mẹ của Vân từ nhà bếp đi lên, nhìn Lữ thăm dò rồi quay sang han hỏi người bạn của Vân. Qua đối đáp, Lữ biết ngoài tình láng giềng xưa cũ, hai gia đình họ vừa thắt chặt thêm mối liên hệ khác.

– Hồng, qua phòng bên này đi, tao đã lựa sẵn phần dành cho mày đây.

– Ừ, thích gì thì cứ lấy. Có dọn nhà mới thấy, đồ đoàn đâu mà lắm thứ. Còn cậu này thì sao?

 Câu nói đuổi sau lưng Vân, vọng dội trong phòng kín. Lữ đứng yên một đống ra đó, là món đồ đã buộc kín giây nhợ và nếu vất được thì có lẽ là thứ đáng dụt bỏ trước tiên. Vân sẽ dọn tới một khu vực khác, căn nhà này rộng quá so với gia đình Vân và nó vừa có người mua với giá cao. Bởi thế Vân ưa làm một buổi tiệc nhỏ gọi là tiếp nhận bạn mới tiện thể giã từ nơi chốn cũ. Một bữa tiệc mà kẻ đến sớm được tiếp đãi với ngộ nhận: Quét nhà ra rác, thích gì thứ cứ lấy. Nếu thích Vân tôi lấy có được không?

 Có thứ mùi lạ chờn vờn, nó cứu Lữ thoát khỏi sự bức rức khi mẹ Vân vội chạy tới nơi phát ra hương mùi. Thịt đút lò già lửa, nồi thịt hầm trào bọt, gà nướng khét? Dẫu là món gì thì khi nấu nướng ta cũng nên dọn lòng mà ân cần lân la với ông Táo, còn hơn phó mặc nó cho củi lửa để khoanh tay thẩm định tên thực khách đứng xớ rớ kia.

Còn lại một mình, Lữ bỏ ra ngoài trời với đôi chân thèm được sãi bước. Lữ bước xuống khỏi triền cỏ ẩm, trông xuôi ngó ngược con đường đang bắt đầu làm mặt lạ với Lữ, chẳng có lý do gì để mai này Lữ dẫm chân lên nó, giết qua những cuối tuần nhạt trôi, chẳng định hình. Một cô gái tóc nâu đang khom mình móc sợi dây dài vào cổ con chó đen. Người và chó tuồng như đang chuẩn bị một cuộc đi dạo. Chó luôn vẫy đuôi, còn người thì lần hồi gài kín những hạt nút áo. Lữ bước lại gần, rất đỗi buồn miệng:

– Hèn gì tôi không nghe được tiếng đàn. Cô chơi piano rất hay, ý tôi muốn nói, tiếng đàn như mang theo nó một cái gì đó, khó cắt nghĩa.

Người con gái ngước đầu lên, những sợi tóc mềm và màu mắt xanh đang như thẫm ánh chiều tà. Những ngón tay suông dài luôn xoa vào đầu con chó có bộ mặt hiền từ.

– Cám ơn. Sao ông biết tôi chơi đàn?

– Tôi cũng không biết, có lẽ do ở linh tính, tôi chưa một lần nhìn trộm qua cửa kính.

– Tôi cũng vậy. Biết láng giềng là người châu Á, nhưng chưa bao giờ tôi trông ra mặt ông.

 Cô gái nói tiếng Pháp chậm, rõ. Và Lữ, khi sử dụng ngoại ngữ anh dễ dàng dối gạt, láo khoét hơn là dùng tiếng mẹ đẻ. Buồn cười một điều là Lữ ít khi đỏ mặt nếu ba hoa bằng tiếng Tây.

– Tôi làm việc bù đầu, sáng đi chiều về và có thể cái thời khóa biểu ấy không trùng với sinh hoạt của cô. Tôi tên Lữ.

 Lữ cà khịa. Cố phát âm thật rõ một cái tên “đậm đà bản sắc dân tộc” khi nhìn xuống con chó. Ở bên nhà, ba anh có nuôi một con giống thế và đặt tên Lu.

– Tôi tên Christine. Hình như ông sắp phải dọn đi nơi khác?

– Đúng thế. Tôi sẽ lấy vợ và ba má tôi quyết định mua một căn nhà nhỏ hơn để ở, phải xa vùng đất dễ mến này rồi.

– Xin chia vui cùng ông.

– Điều ấy cũng có nghĩa là trong tương lai tôi sẽ phải chịu hy sinh, đánh đổi lấy cho mình một sự mất mác.

– Lấy vợ, đơn giản là làm phép cọng chứ ai lại làm toán trừ như ông nói.

– Tôi hết nghe thầm vụng tiếng đàn thánh thót của cô.

 Christine cười, bán diện được ánh sáng thoi thóp tô đường viền và hậu cảnh là khúc đường đang có lá rơi, thứ hình ảnh dường như chỉ có trên màn ảnh rộng, có nghĩa là mang đầy hư ảo.

– Cô chuẩn bị dắt chó đi dạo?

– Có rỗi việc thì đi cùng tôi, nếu ông muốn.

– Tôi có người anh. Ông ấy đã khiến lỗ tai tôi biết thẩm thấu, xiêu đổ bởi âm nhạc của Stravinsky. Le sacre du printemps. Tôi cũng mang cảm tình cho những đoạn của Brahms và chính cô là người nhắc nhớ tôi về những kỷ niệm cũ. Có phải vì thế mà tiếng đàn trở nên mê hoặc khi tình cờ mình được nghe?

– Có lẽ vậy, bởi vì tài nghệ của tôi chỉ tới ngang một âm vực nào đó thôi, vấp váp, chưa thoáng đạt. Hầu như tôi chưa hề đón nhận một lời khen, ngoại trừ ông.

– Ở xứ tôi có thành ngữ: Hát hay không bằng hay hát. Cô hiểu ý tôi không?

– Ông có thường đọc nhật báo hoặc theo dõi tin tức trên đài truyền hình?

– Loan tải về tin gì? Một cuộc thi thố tài năng piano?

– Không. Ông thấy căn nhà sơn màu xanh lục bên kia đường? Nửa tháng trước xảy ra án mạng ở trong đó.

 Lữ nhìn qua ngôi nhà, nó đang bị chôn bằng vô vàn xác lá chẳng ai vun quén. Những cánh cửa gỗ đóng kín, thân cành cây leo bám chằng chịt như muốn xâm thực toàn bộ mặt tiền vôi lở. Âm u và có khả năng nhốt chặt tất cả những hoài nghi.

– Mình quay về chưa?

– Ông thấy khó chịu phải không? Tôi đến thăm người bạn và đã tới nơi, ông về một mình nhé, cám ơn đã đi cùng tôi một đoạn đường.

 Lữ đốt một điếu thuốc, bởi chẳng còn ai để chuyện vãn. Điếu thuốc tàn lụn khi Lữ về đứng ngay lối vào. Lữ sẽ bước tới, sẽ ngồi xuống bàn tiệc, sẽ mang vụ án rùng rợn từ căn nhà màu lục về, thong thả kể tới cái chết của cô gái tuổi xuân xanh, thi thể trần truồng và cảnh sát tình nghi đó là hậu quả của mối tình tay ba. Mọi người sẽ tái mặt, sẽ nghi ngờ tên tường thuật. Có đứa sẽ hỏi, cớ sao anh kể chuyện ấy ra trong ngày vui này, bộ hết trò rồi sao, anh có hậu ý gì?

 Ô cửa gương nơi nhà bếp sáng đèn, nó tựa một cái TV màn ảnh nhỏ. Tuy không lớn nhưng nó đang tải khúc phim tình thật rõ nét, thật chi li và đoạn phim ấy buộc chân Lữ phải cắm đứng trên cỏ. Đôi trai gái ôm siết thân để hôn nhau sát bên tủ lạnh, bàn tay đứa con trai lùa sâu vào trong váy rộng của cô gái. Những con dao nằm gần, từ bé đến lớn thảy đều run rẩy, chớp sáng thứ màu lạnh ngọt của kim loại. Thằng con trai chắc tên Bảo, Lữ tin vậy, vì mặt nó rất giống cô em, mang tên Hồng. Còn đứa con gái thì nửa quen thuộc nửa xa lạ đối với Lữ. Không tin được là Vân, sao Vân lại đành lòng nhắm mắt táo tợn đánh rơi con tim luôn tính toan.

Lữ bước ra đường, đi một mạch tới ngã tư luôn tụ gió bốn hướng đổ về. Sau giờ hành chánh, vã lại cuối tuần, lịch trình những chuyến buýt sẽ chạy thưa ra. Buồng điện thoại công cọng sáng ngọn đèn xanh, tái mét. Lữ băng qua con lộ có vẻ vắng ngắt xe cộ, hun hút, thênh thang. Năm mươi xu và bảy con số lần lượt được nhấn vào. Chuông reo, tiếng chuông vọng vào tai đứt khoảng, rời rã. Kêu cho tới hồi chấm dứt sự thúc hối.

– A-lô…

– Tao, Lữ đây. Mày bận không?

– Có chuyện gì sao?

– Đếch có chuyện gì cả. Nếu không bận thì tới chỗ thằng André ngồi với tao.

– André nào?

– Hơn hai mươi vũ nữ trần truồng. Biết chốn ấy chăng?

– A. Thằng này có tiến bộ đó chớ. Được lắm.

– Mất bao lâu?

– Cúp máy là dọt ngay. Tới liền, tới liền.

 Đường tới chỗ đồi trụy xuôi đổ, ngược với xe buýt mỗi khi leo lên thảy đều gầm rú với khói đen. Nếu mọi lối đi đều buông xuôi đổ thân như thế này thì cơ thể nhẹ nhàng đỡ nhọc biết mấy mà kể.

Lữ đưa năm đồng cho tên mặc com-lê thắt nơ đen trịnh trọng đứng chực sau cửa. Hắn dềnh dàng đi dẫn lối, vai u thịt bắp lồ lộ dù không cần phải cởi quần áo ra minh chứng, chủ tiệm sẽ ngầy ngà. Ai cho mày khoe của chốn này, ưu tiên cho nữ quyền, biết không con? Cám ơn, chúc một đêm tốt lành. Hắn nói. Những cái răng trắng hếu lộ ra dưới ánh đèn ma mị. Thứ lân tinh phủ chụp để biến những động vật đi lại kia hóa kiếp thành đàn đom đóm lập lòe chợt sáng chợt tối. Nhạc kích động mở hết công suất làm những cái loa to dềnh dàng phải đàn hồi thì thụp 1000 W vỡ bờ, điếc con ráy. Một con đom đóm cái thơm nức mũi lượn tới, cọ quẹt vào người Lữ bằng thứ rung động tình cờ.

– Uống gì hả ông anh?

– Bia, xin vui lòng.

– Có tới hai mươi nhãn hiệu khác nhau…

– Thứ gì cũng trôi.

Lữ nói gần như hét bên đôi bông tai phát sinh mùi hương trần tục. Cô ở trần theo nội quy phải tuân và cô sở hữu cái báu vật đẹp trên mức trung bình. Cô có dáng đi mà nếu mang vào người hai bình nước không đậy nắp thì buộc lòng thủy sẽ hao, nước chảy khô dòng mới chịu thôi. Lữ nhớ lời bình phẩm của đứa bạn có tật ngứa tay ưa tìm hiểu người lạ chốn lạ: Chốn này thua bên mình ở một điểm. Bia mà không ôm. Vào đó thì xem như ngồi trên giếng mà khát nước, ông láng cháng cầm lòng không đậu để tháy máy tay chân thì nó quẳng xác ông ra ngoài đường ngay, đôi một cái rầm chẳng vị nể mình mẩy đui què mẻ sứt.

 Ở trên bục nhảy đặt giữa căn phòng có đứa con gái vừa lăn lộn vừa tháo bỏ miếng vải nhỏ, thua cả cái khăn mù-soa, nó ném cái vật che thân tối hậu kia vào mặt một thằng đàn ông đang hả miệng ra ngó. Nạn nhân cười khoái trá khi nhặt được, trùm vào đầu, cột ở cổ, lau ở mặt, hôn ở mũi và sau rốt ngồi thừ người ra, như thể bị chuốc bùa mê thuốc lú. Lữ mường tượng tới bàn tay của thằng Bảo khi lùa sâu vào chiếc váy Vân mặc. Lữ trả tiền chai bia vừa mang tới với bàn tay tự dưng run rẩy.

– Có bán bia ôm không?

Mái đầu cúi thấp, ngang tầm Lữ ngồi để lắng nghe rõ hơn. Ấm áp, thơm tho.

– Cái gì? Nhãn bia của nước nào? Chưa hề nghe qua.

 Lữ quay đầu, nhớn nhác. Đứa bạn vẫn chưa đến. Hắn từng nói, bia nội địa ở Việt-nam uống khá lắm. Hắn có vẻ thông hiểu nhiều chuyện. Tết này, cái thằng người rành đường đi nước bước kia lại có mặt tại Sài-gòn, hắn sẽ lò dò đi thăm thú những tụ điểm trá hình lành mạnh. Hắn sẽ… tới bến. Mẹ mày, có sung sướng thì cũng chừng mực nào đấy thôi. Hãy nhìn tao mà noi gương. Lữ sững mặt ngồi ngó những cánh bướm di động vây quanh. Hoang mang, chấp chới.

Hồ Đình Nghiêm

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 13 Oct 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 5 Dec 2023

Bài 36 (Bài cuối)

Bắt nửa triệu bạc giả, nhưng không được… xài chơi!

 Đầu tháng 3 -1975, tôi đi Rạch Giá, để nhận chỉ thị về việc triệt tiêu nguồn hàng lậu từ Thái Lan nhập vào Việt Nam qua ngã Hà Tiên.

Đây là hiện tượng chảy máu vàng, như tôi trình bày ở trước. Tuy nhiên, tôi không ở đầu nguồn đường giây buôn lậu, tôi chỉ ở khúc giữa, trách nhiệm “khỏe” hơn. Vả lại, tôi không đặt nặng việc chính phủ thất thu thuế vì hàng lậu. Việc ấy, nắm đầu mấy tay đầu sỏ ở Hà Tiên là xong. Tại sao không làm việc đó, tôi không biết. Bắt hàng lậu, bao nhiêu cảnh đau lòng xảy ra, nên tôi không muốn. Còn việc thất thu thuế: buồn cười chưa. “Trời mưa đất chịu.”  Việt Nam là “tiền đồn chống Cộng, bảo vệ thế giới Tự Do, đứng đầu là Mỹ” thì Mỹ phải viện trợ cho VN. Thành ra, Mỹ đã nắm tiền bạc, đã lo tiền bạc thì thiếu bao nhiêu tiền, Mỹ lo, Mỹ chịu!

Tuy nhiên, từ sau hiệp định Paris 1973 tới giờ, càng ngày Mỹ càng cắt bớt viện trợ, thắt hầu bao nên tình hình tài chánh miền Nam càng ngày càng khó khăn. Vì vậy, chính phủ cần soát xét lại những nơi, những sự việc làm chính phủ thất thu, nhất là đường giây buôn lậu Hà Tiên, làm thất thoát vàng một cách bất hợp pháp.

Về tới địa phương của tôi hôm trước, hôm sau, tôi gọi ông Tư Ngọc, người bán vé xe đò tại Kiên Lương, vào văn phòng tôi, có mặt trung úy Quy, thiếu úy Kiệt tôi nói:

_ “Tình hình bây giờ căng thẳng, nghiêm trọng, không như trước. Ông Nguyễn Văn Hảo, phó thủ tướng đặc trách kinh tế, chỉ thị là phải chấm dứt con đường buôn lậu Hà Tiên. Vì vậy, tôi nói trước với chú Tư, bắt đầu từ ngày mai, tôi sẽ cho xét bắt tất cả hàng lậu từ Hà Tiên về, không chừa một ai, không chừa một món hàng lậu nào. Chú Tư biết chúng tôi rồi. Nói là làm, chớ không dọa suông! Tui không muốn bắt bạn hàng đi buôn, gây ra nhiều cảnh đáng thương. Tôi không muốn. Tôi mời chú Tư vào văn phòng, có mặt mấy ông sĩ quan nầy là để chú Tư thấy tính cách nghiêm trọng của tình hình, làm ơn nhắc nhở với bạn hàng, tài xế, chủ xe đò phải chấm dứt việc buôn lậu. Nếu không vì tính cách quan trọng đó, lái xe đi ngang bến xe, tôi dặn chú Tư vài điều cũng được, bày vẻ gọi chú Tư vô đây làm chi. Chú Tư hiểu và giúp chúng tôi tránh cảnh bắt bớ đồng bào!

Ông Tư Ngọc hứa với tôi, rồi ra về. Sau đó, các sĩ quan trưởng cuộc về họp đông đủ, ngoại trừ thiếu úy Đước, xã Tín Đạo, ở xa, đường đi lại khó khăn nên tôi nhờ trung úy Quy chuyển đạt lại những gì phổ biến trong buổi họp hôm nay. Vả lại, xã của ông ở cuối đường giây buôn lậu ngang qua quận nầy, nên trên nầy làm ráo riết, ở dưới đó, còn gì nữa để ông ta lo. Thêm một chuyện nữa, rất đau lòng. Tháng trước, Việt Cộng tấn công vào xã ông. Ông ta cùng xã trưởng Nguyễn Viết Toán phòng thủ trên cao ốc, vụt lựu đạn và bắn xuống làm Việt Cộng chết và bị thương cũng khá bộn. Trong khi đó thì Việt Cộng tấn công vào nhà ông. Mặc dù ông ta không có nhà, không ai chống cự, chúng cũng quăng lựu đạn vào nhà ông, khiến vợ ông cùng ba đứa con đều chết cả. Trước cảnh đau đớn, ông ta dỡ điên, dỡ khùng, khi tĩnh khi không. Tôn trọng sự đau khổ của ông, tôi không còn thúc đẩy ông làm việc như trước kia nữa, để cho ông ta được thoải mái với công việc được chừng nào hay chừng đó. Khổ nỗi, tôi không tìm được một ông hạ sĩ quan nào giỏi để giúp ông ta.

Đại ý là tôi thông báo những gì tôi nhận trong buổi họp ở Rạch Giá, yêu cầu các ông trưởng cuộc thi hành nghiêm chỉnh, sau đó, tôi họp riêng trong nội bộ Bộ Chỉ huy, có trung úy Quy, thiếu úy Kiệt, trưởng ban Tư Pháp, trưởng ban Hành Quân và toàn bộ cảnh sát Đặc Biệt.

Tôi thông báo việc bắt hàng lậu triệt để. Việc ấy dễ, nhưng với nhiều tay buôn lậu ngoan cố, không chở hàng cồng kềnh được như đường, vải, v.v… thì chúng sẽ “đi” món hàng gì? Việc theo dõi nầy bên cảnh sát sắc phục vừa thiếu người, vừa không đủ khả năng đảm trách. Vậy bên ngành Cảnh Sát Đặc Biệt của thiếu úy Kiệt phải tiếp tay, tham gia, tìm ra những tên buôn lậu hàng quốc cấm như bạch phiến, thuốc phiện, v.v… hoặc ít ra cũng đồng hồ đeo tay hoặc những thứ hàng nhỏ, dễ dấu.

Khi có lệnh cấm hàng lậu một cách triệt để, số đông bạn hàng sẽ không đi buôn nữa. Xe đò trống vì không có khách hàng, hoặc sẽ thưa người đi. Người vẫn còn đi trên xe là ai? Đi thăm bà con, hay vẫn cứ buôn lậu thứ hàng khác? Điều nầy, nhân viên cảnh sát đặc biệt phải hết sức theo dõi, theo dõi những khách hàng còn đi trên xe là ai? Họ đi đâu, lý do gì. Theo dõi từng người, và dĩ nhiên, không cho khách hàng biết rằng họ đang bị theo.

Hai ngày sau, ngày 8 tháng 3 năm 1975, cảnh sát đặc biệt bắt được 1Kg rưởi thuốc phiện.

Họ làm như tôi chỉ thị. Khi chiếc xe hàng từ Hà Tiên (về Rạch Giá) dừng lại, có 2 người đàn ông bước xuống, tay xách tòn ten một cái giỏ lưới. Dùng giỏ lưới là để đánh lừa nhân viên công lực. Cái giỏ lưới có kín đâu. Rõ ràng bên trong có gói giấy nhỏ, có gì đâu mà phải xét!

Nhưng nhân viên của tôi tinh tế lắm. Họ lắng nghe hai người đàn ông đó bảo một người chạy xe lôi: “Chở tôi xuống cầu Cống Tre.”

Cẩn, trung sĩ cảnh sát đặc biệt của tôi tự hỏi: Xe đò nầy chạy xuống Cống Tre. Tại sao không ngồi trên xe đò đi luôn mà lại xuống đi xe lôi. Vậy là anh ta ra ám hiệu cho Hoài, đồng sự. Hai người đạp xe chạy theo chiếc xe lôi (Nhân viên tôi nghèo, một ít người có xe Honda, số đông hơn đi xe đạp, còn lại hầu hết cuốc bộ). Khi thấy chiếc xe lôi rẽ vào ngã trường trung học, Cẩn biết ngay hai tên buôn lậu nầy đi xe lôi là vì muốn tránh đi ngang qua cuộc Cảnh Sát An Bình của thiếu úy Bạch. Nắm chắc hai tên nầy làm điều phi pháp, Cẩn và Hoài liên lạc với bộ chỉ huy. Thiếu úy Kiệt phóng xe ra tới nơi, xét và tìm thấy thuốc phiện, bắt về. Thiếu úy Kiệt vui mừng nói với tôi: “Cứ vạch kế hoạch ra, thế nào cũng có kết quả.”

Sở dĩ thiếu úy Kiệt nói câu đó là vì tôi thường khiển trách thiếu úy Kiệt làm việc không có kế hoạch, hoặc kế hoạch vạch ra không chu đáo, nên ít thành công.

Trưa hôm đó, tôi gọi máy truyền tin liên lạc với các trưởng cuộc, thông báo kết quả việc làm của thiếu úy Kiệt và lưu ý các nơi phải cố gắng làm sao cho có kết quả. Bọn buôn lậu vẫn chưa chịu lùi bước đâu! Chúng chưa “tởn” đâu.

Riêng về cuộc cảnh sát Dương Hòa, phía đầu trên của đường giây buôn lậu, thiếu úy Lộc, sĩ quan mới ra trường, mới về nhậm chức được mấy tháng, chưa có kinh nghiệm, nên tôi điều thượng sĩ Nguyễn Văn Chuẩn về làm phó cuộc, phụ tá cho thiếu úy Lộc.

Lộc còn trẻ, dĩ nhiên thiếu kinh nghiệm và bản tính, theo tôi thấy: Thật thà, nên trước hôm thiếu úy Lộc về nhận nhiệm vụ, tôi gọi cả thiếu úy Lộc và thượng sĩ Chuẩn vào văn phòng tôi, giải thích rõ việc tôi làm. Tôi nói:

_ “Thiếu úy Lộc mới ra trường, cần có người phụ tá có kinh nghiệm. Thượng sĩ Chuẩn người xã An Hòa, sinh đẻ, lớn lên ở đây, vô Cảnh Sát cũng đã lâu, cũng lớn tuổi, có kinh nghiệm và rành rẻ mọi chuyện ở đây nên tôi đưa ông làm phụ tá cho anh (Thiếu úy Lộc) (1). Ngoài lý đo đó ra, tôi không có bất cứ hậu ý nào khác. Trong ngành nầy, người ta hay gài nhau. Tôi không quen việc đó. Thiếu úy Lộc hiểu chưa? Việc gì thông thường thì thôi, còn những việc quan trọng như theo dõi hạ tầng cơ sở Cộng Sản, vạch kế hoạch giải hóa bọn chúng, thì hai ông nên bàn thảo với nhau cho kỹ. Cái nầy học viện chẳng dạy – Họ biết đếch gì mà dạy – là: Chúng ta đang chiến đấu ở đây là một cuộc “chiến tranh nhân dân”, thì “tình báo nhân dân” là quan trọng (2). Tình báo chiến thuật, tình báo chiến lược chẳng giúp ích gì được ở đây cả. Ở đây chúng ta cần tình báo nhân dân, nhờ dân nên chúng ta biết ai tiếp tế, làm giao liên cho Việt Cộng, chúng nó đang chuẩn bị gì, ý đồ gì. Ví dụ: Một người đang giăng câu trên kinh. Chúng ta không biết gì về tên giăng câu đó cả. Người dân họ biết đấy. Họ biết người đó là ai, quen hay lạ, ở xa tới hay dân địa phương, làm nghề câu thật sự hay giả dạng đi câu để điều nghiên cái gì: đánh đồn, đánh phá nhà máy ximăng Hà Tiên, phá cầu, phá lộ, gài mìn, đặt bom (3)… Nếu anh về xã đó, anh tìm biết ai quen ai lạ, biết chào hỏi người nầy, người kia, biết “Tiếng chào cao hơn mâm cổ” thì họ sẽ có cảm tình với anh. Họ sẽ cho anh biết cái gì họ nghĩ anh cần biết. Còn như anh hoạnh họe, làm khó, đòi tiền thì dân họ chẳng cho anh biết gì cả. Đến khi biết thì súng AK đã dí vô đầu anh rồi. Đại khái như vậy, tôi sẽ nói thêm về sau. Bây giờ, tôi cho thượng sĩ Chuẩn phụ tá cho anh là vì vậy. Biết chưa?” (4)

Cũng trong ý nghĩa đó, hôm đó, tôi gọi cả thiếu úy Lộc và thượng sĩ Chuẩn lên đầu máy truyền tin nghe tôi dặn:

_ “Hai ông ở đầu trên mà chưa có kết quả gì cả. Thiếu úy Kiệt ở đầu dưới đã bắt được thuốc phiện rồi. Đừng nghĩ là thiếu úy Kiệt gặp may. Có kế hoạch thì xui cũng thành hên. Không có kế hoạch gì cả thì chỉ ngồi chờ sung rụng. Nói với mấy thằng Miên trên đó (Xã nầy phần đông dân chúng người Việt gốc Miên nên nhân viên cũng nhiều người Miên), tui đã cho tụi nó phục vụ gần nhà, có thì giờ giúp đỡ gia đình. Nghe nói tụi nó còn ham nhậu. Tui hẹn cho tụi nó ba ngày, không có kết quả gì, tui cho đi Hiếu Lễ cả đám.” (5)

Nói câu đó vì tôi nhớ hai trung sĩ cảnh sát của tôi ở đây, là hai anh em ruột, tên Dương Bộ Hương và Dương Bộ Hành. Hai người nầy là Tầu lai Miên, nguyên là giáo viên Ấp Tân Sinh, gia nhập cảnh sát để khỏi bị động viên. (Sau tết Mậu Thân, do thỏa thuận liên bộ Giáo Dục – Quốc Phòng, giáo viên Ấp Tân Sinh mới được hoãn dịch). Tôi rất có cảm tình với họ vì họ thật thà, chân chất, nhưng lại thường phải “đốt đít” cho họ làm việc mới có kết quả. Hơn nữa, tôi cũng “cục bộ”, cũng là thầy giáo đi lính nên cũng thông cảm hai ông thầy giáo nầy phần nào!

Quả vậy, nghe tôi dọa như thế, anh em hai ông nầy tưởng thật, rất sợ bị đổi đi Hiếu Lễ.

Ngày hôm sau, tôi đích thân lên xã Dương Hòa, gọi thiếu úy Lộc và thượng sĩ Chuẩn ra. Tôi đi bộ qua cầu Ba Hòn, tới ngay chỗ miếu bà Chúa Xứ, nói với hai người nên đặt một toán canh gác ngay nơi miếu nầy. Cho nhân viên ngồi trong nhà “vỏ cua” (mái hiên trước miếu), ít ai để ý, mặc sắc phục, mang máy truyền tin, canh chừng. Với xe đò, khi toán tuần tiểu ở miếu bà Chúa Xứ bên kia cầu gọi về, yêu cầu thì chận xét, còn không thì thôi. Thiếu úy Lộc và thượng sĩ Chuẩn xét xe ngay trước trụ sở xã (Cuộc Cảnh Sát đóng chung), bên nầy cầu Ba Hòn, công khai trước mắt mọi người. Làm như vậy là để bớt gây phiền nhiễu cho hành khách và khỏi ai dị nghị.

Toán tuần tiểu (Gọi là tuần tiểu nhưng chỉ ở môt chỗ), ở bên kia cầu, quan sát từng xe chạy qua. Khi thấy cần gì hoặc cần xét xe thì gọi về cuộc yêu cầu. Thấy xe nào không cần thì thôi. Toán nầy có nhiệm vụ quan trọng hơn: Quan sát và chận xét những người lạ di chuyển trên trục lộ. Bọn buôn hàng lậu, thay vì đi xe đò, chúng sẽ đi xe gắn máy. Khi thấy ai đi xe gắn máy, có thể cả xe đạp, là đồng bào quen mặt ở địa phương, không có gì khả nghi thì thôi. Còn người lạ đi ngang thì phải chận xét hết. Vì vậy, toán nầy, tôi đề nghị phải có mặt hai anh em Dương Bộ Hương, Dương Bộ Hành hay một trong hai người.

Khi tôi nói việc ấy với thiếu úy Lộc và thượng sĩ Chuẩn, tôi có gọi hai anh em ông nầy tới, để họ biết đây là chỉ thị của tôi, khỏi trách cứ rằng thiếu úy Lộc hay thượng sĩ Chuần “đì”. Công việc của toán nầy, tuy không nặng nhọc nhưng kéo dài, từ khi mới sáng sớm, cho tới chiều tối, khi không còn ai di chuyển trên trục lộ nữa, mới được ra về. Thời gian kéo dài quá như vậy, thế nào cũng có người than phiền, nếu họ làm việc quá sức.

Hai anh em nhà ông họ Dương nầy hiểu lầm tôi. Họ nghĩ rằng tôi muốn giao công việc khó khăn cho họ, nên buổi sáng ngày 10 tháng 3 – 1975 (ngày mất Ban Mê Thuột) họ làm thịt một con gà trống, luộc xong, đặt trên một cái dĩa bàn rồi mua thêm nhang đèn, bưng qua cúng ở miếu bà Chúa Xứ, khấn xin phù hộ cho họ bắt được hàng lậu, để khỏi bị đổi đi Hiếu Lễ như lời tôi dọa. Họ thật thà! Tôi thì dọa mà họ tưởng tôi sẽ làm thiệt.

Cúng xong, mấy thầy chú đem gà ra trước nhà vỏ cua, kéo thêm một két bia nữa, vừa canh gác vừa… nhậu.

Bỗng nhiên, có một người đàn ông khoảng 50 tuổi, chở theo một cô gái khoảng 20 tuổi, từ hướng Hà Tiên về, chạy xe Honda ngang qua. Thấy người lạ mặt, đám Dương Bộ Hương, Dương Bộ Hành cùng mấy “thầy” trung sĩ khác nữa, bèn bỏ bia, bỏ gà, từ trong nhà vỏ cua, mang máy, xách súng chạy ra đường, cách khoảng chừng hơn 20 mét. Vừa chạy vừa thổi còi rét rét, hô to “Dừng lại, dừng lại!”

Khi Dương Bộ Hương, Dương Bộ Hành ra tới nơi, cô gái đã xuống xe đi qua phía bên kia đường để đi tiểu tiện. Người đàn ông vẫn ngồi trên xe. Ông ta rút một xấp giấy bạc 500 đồng từ trong ngực áo của ông, nhét vào cái xách lớn của cô gái, gài một bên, phía sau, dưới yên xe.

Thấy vậy, Dương Bộ Hương hỏi:

_ “Tiền đâu mà nhiều dzậy? Của ai đây?”

Tiếng Dương Bộ Hương vốn đã to, lại hỏi gắt, trong khi mặt mày đỏ gay vì có lẽ anh ta cũng đã làm ít chai.

Thấy cảnh đó, và “hình như” cũng có bà Chúa Xứ “độ”, cô gái sợ hãi, nói:

_ “Không! Tiền của ông ta. Không phải tiền của tôi.”

Dương Bộ Hương lại nói gần như nạt:

_ “Sao người nầy đổ thừa người kia? Đưa đây coi!”

Cô gái cầm xấp bạc đưa cho trung sĩ Hương. Không hiểu sao, anh ta bảo trung sĩ Chao Sôl, đang đứng bên cạnh:

_ “Mày có tờ năm trăm nào không, đưa tao xem.”

Trung sĩ Chao Sôl mở bóp lấy tờ giấy năm trăm đồng màu xanh biển, đưa cho Hương. Họ so sánh hai tờ giấy bạc, và nghi là bạc giả, bèn dẫn hai người về trụ sở. Thượng sĩ Chuẩn liền gọi máy báo cáo cho tôi.

Lúc ấy, tôi đang ở nhà máy ximăng Hà Tiên, cùng với thượng sĩ Lâm Tấn Tài, đi theo toán kiểm soát chất nổ để bắn đá ở nhà máy, thì trung sĩ Thành tới báo cáo thượng sĩ Chuẩn muốn gặp tôi ở đầu máy truyền tin.

Tôi gọi máy, nghe thượng sĩ Chuẩn nói:

_ “Báo cáo đại úy, chúng tôi vừa mới bắt được bạc giả.”

_ “Nhiều ít?” Tôi hỏi.

_ “Nhiều lắm, tôi chưa đếm! Đại úy lên ngay với chúng tôi.” Giọng nói ông ta không được bình tĩnh lắm.

Tôi hẹn lên với thượng sĩ Chuẩn, xong tôi khoát tay chào đám kiểm soát chất nổ rồi tự tôi lái xe đi. Tài xế Thành ngồi bên cạnh.

Tới nơi, tôi thấy người đàn ông đang đứng ở phòng ngoài, sát trong góc, tay chưa bị còng. Cô gái đứng bên góc kia. Nhìn vào đống bạc để trên bàn, tôi biết là nhiều lắm, đoán chừng cỡ vài trăm ngàn, chưa biết rõ như sau nầy là nửa triệu. Tôi bảo còng tay người đàn ông lại. Xong, tôi đi vào văn phòng trưởng cuộc, gọi ông ta vào, hỏi cung sơ khởi. Tôi bảo nhân viên dẫn ông ta ra ngoài và gọi cô gái vào, cũng hỏi cung sơ khởi. Xong, tôi biểu gọi máy về cơ quan của tôi, biểu ban tư pháp lấy xe Dodge lên đưa hai người nầy về, hỏi cung kỹ hơn.

Tôi ngồi xuống cái ghế bên cạnh cái bàn lớn để bạc giả. Thiếu úy Lộc và thượng sĩ Chuẩn cùng vài nhân viên đang đếm bạc, sắp xếp lại từng gói 10 ngàn.

Tôi cầm từng tờ quan sát thật kỹ để phân biệt những chỗ giả. Tổng cộng gần nửa triệu bạc. Người đàn ông và cô gái đã xài cỡ vài chục ngàn ở Hà Tiên. Lúc đó, thiếu tá Long, quận trưởng cùng ông phó quận Nguyễn Đức Nghiêm đi công tác bên văn phòng xã, nghe nói bạc giả, bèn ghé sang. Tôi biếu mỗi người một tờ bạc giả năm trăm đồng để làm “kỷ nghệ”. Tôi nói đùa như vậy.

Hoàn tất thủ tục, tôi biểu thượng sĩ Chuẩn lấy cái bao bố tời, để bạc giả vào đó, mang lên xe, theo tôi về quận.

Tới nơi, tôi vào hầm truyền tin, gọi về Rạch Giá, xin gặp xếp, trung tá Thiều ở đầu máy. Tôi nói:

_ “Thưa trung tá, chúng tôi vừa bắt được nửa triệu bạc giả!”

Tiếng trung tá Thiều hỏi, giọng nói nhẹ nhàng:

_ “Thiệt hả?” Ngưng một lúc, tôi lại nghe tiếng của ông: “Thiệt không chú? Bạc thiệt mà chú nói bạc giả, về đây chú với tui dẫn nhau đi ở tù như không?”

Tôi trấn an:

_ “Trung tá chưa nghe ai nói bạc giả nên lo chớ gì? Đây là bạc giả thiệt sự. Trăm phần trăm. Để em nói rõ cho trung tá nghe. Thứ nhứt: – Số trùng nhau. Bạc thiệt làm gì có số trùng! Thứ hai, – Đường chỉ kim tuyến không có, chỉ là đường gạch bằng bút chì. Thứ ba: – Hình nổi đức Trần Hưng Đạo bị nhòe, không rõ như trong giấy thiệt. Thứ tư: Trên tờ giấy thiệt, màu xanh của sáu chữ “Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam” đậm hơn màu xanh trên “phông” của tờ giấy bạc. Trung tá yên tâm chưa?”

_ “Tin rồi, tin rồi! Chú lấy lời khai cho thật kỹ, rồi làm công điện gởi về cho tôi. Mai mốt giải hai người đó về sau cũng được.”

Nghe lời dặn ấy, tôi làm thật kỹ. Vì vậy, tôi thiệt mất một công trạng to!

Sau khi báo cáo về Rạch Giá rồi, tôi biểu nhân viên mời trung úy Qui, thiếu úy Kiệt, thượng sĩ Hai Râu, trưởng ban tư pháp, thượng sĩ Năm Hưng, trưởng ban điều tra của ngành đặc biệt của thiếu úy Kiệt vào văn phòng tôi và cho dẫn người đàn ông từ phòng giam vào, đích thân tôi điều tra, các vị kia ngồi nghe, thỉnh thoảng tôi yêu cầu họ đưa thêm câu hỏi.

Tóm tắt bản cung như sau:

Một cựu thiếu tá, giải ngũ vì đáo hạn tuổi, nguyên phục vụ ở Trung Tâm Ấn Loát bộ Tổng Tham Mưu, nay nghỉ hưu tại số nhà…. đường…. thị xã Long Xuyên. Ông nầy có một cái máy in loại pédale (đạp chưn – không dùng điện để vận hành) và sản xuất bạc giả. Bạc giả in ra được chia ra nhiều ngã tiêu thụ: Saigon, Cần Thơ, Tây Ninh, Châu Đốc, và Hà Tiên.

Hà Tiên cũng như Châu Đốc và Tây Ninh, là cửa ngõ biên giới, có chợ trời, buôn bán phức tạp, lộn xộn, dễ tiêu thụ nhất. Cứ mỗi người nhận một số tiền giả đi tiêu thụ. Người tiêu thụ được chia phần một nửa. Nói rõ ra, người đàn ông nầy nhận tiêu thụ nửa triệu, ông chỉ đem về nộp lại cho tên thiếu tá nói trên 250 ngàn tiền thật mà thôi.

Nhận tiền rồi, ông ta dụ cô gái nầy đi Hà Tiên chơi, mọi việc chi tiêu ông ta lo hết. Lên tới nơi, ông ta đã xài được ở chợ trời biên giới một số, rồi về ngay chợ Hà Tiên tiêu thụ một số nữa. Tại đây, có vài chủ hàng, khi nhận bạc, họ nhìn hơi kỹ nên ông ta chột dạ, bèn thuê phòng ngủ, ngủ với cô gái. Đêm đó, ông ta cưỡng bức cô ấy (Theo lời khai của cô ta, còn ông ta thì khai cô ấy thỏa thuận). Sáng hôm sau, hai người đi ăn sáng, lại trả bằng bạc giả. Chủ tiệm ăn cũng cầm tờ giấy bạc soi đi soi lại, trước khi nhận.

Thấy thái độ khách hàng khi nhận tiền như trên, ông ta sợ họ sẽ đi báo với Cảnh Sát nên rời Hà Tiên về lại Long Xuyên. Trên đường về, tới Ba Hòn thì bị bắt. Cô gái khai rằng, ban đầu cô ta chẳng biết gì việc nầy. Tiền bạc ông ta giữ, cô ta không giữ một đồng nào. Chỉ khi cô ta đi tiểu trở lại thấy người đàn ông cầm xấp tiền bỏ vào giỏ cô ta thì cô ta mới la to lên làm cho cảnh sát lưu ý.

Cô ta đi theo người đàn ông là vì tò mò muốn đi Hà Tiên cho biết, nhất là dư luận nói về việc buôn lậu trên con đường nầy. Đêm hôm ngủ ở khách sạn, hai người nằm chung một giường, cô ta bị người đàn ông cưỡng bức, mặc dầu cô ta có chống cự nhưng chống không lại. Cô ta còn con gái.

Vừa nói xong, cô ta trật lưng quần xuống, cho chúng tôi thấy cái quần lót cô ta đỏ lòm. Không rõ cô ta có kinh nguyệt hay bị mất trinh.

Thấy thái độ của cô, tôi hoảng kinh nói:

_ “Thôi! Thôi! Chuyện cô bị hiếp, ra Rạch Giá cô khai cho rõ. Ngoài ấy họ có nữ nhân viên, còn đây toàn đàn ông.”

Cứ như thế tôi báo cáo về Rạch giá, chẳng dùng mật mã gì cả. Ở Bộ Chỉ Huy tỉnh lại cũng chẳng dùng mật mã, sao y báo cáo của tôi mà gởi cho Cần Thơ và Saigon.

Trong hệ thống truyền tin của Cảnh Sát, khác với quân đội, ít khi đổi tầng số, nhiều cơ quan có một tầng số chung. Có nghĩa là khi Rạch Giá báo cáo cho Cần Thơ và Saigon, các tỉnh khác, nếu ở trong cùng một khu vực làn sóng điện đến được, họ cũng có thể nghe được. Vì vậy, những gì Rạch Giá báo cáo lên cấp trên, Long Xuyên nghe rõ cả.  Họ ghi nhận được tên họ, địa chỉ của người làm bạc giả.

Do đó, hai ngày sau, khi tôi chưa kịp xin lệnh biện lý đi Long Xuyên để tiếp tục công việc bắt bạc giả của tôi thì truyền tin của tỉnh gọi về, báo cho tôi biết rằng tôi đã bị “Cướp công cách mạng” rồi. Nghĩa là Long Xuyên đã bắt người làm bạc giả, tịch thu một máy in và một triệu rưởi bạc giả mới in xong, chưa kịp tiêu thụ.

Nghe xong, tôi tiếc hùi hụi về việc nầy. Tôi ở xa Long Xuyên quá, đường đi trắc trở, trở ngại cho công việc tôi không ít. Không thì tôi đã chụp được một vố lớn rồi.

Khoảng sau ngày 20 tháng 3 ít lâu, phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo xuống Hà Tiên để chủ tọa buổi tổng kết sơ khởi chiến dịch ngăn chận hàng lậu. Tôi được lệnh lên Hà Tiên để trình diện ông ta.

Tôi nói với thiếu úy Kiệt:

_ “Ông thay mặt tôi mà đi đi!”

Thiếu úy Kiệt ngạc nhiên:

_ “Tui nghĩ vì vụ bắt bạc giả nên ông ta xuống Hà Tiên. Công trạng đó của đại úy, tại sao ông không đi?”

Tôi cười nói:

_ “Đi để được cái gì? Để ông ta thoa dầu cù là chớ được quái gì (6). Gặp ông ta phải vòng tay cúi đầu phiền lắm? Ông có nhớ vụ tướng Đôn xuống đây khen tui hay không? (7). Thêm mệt. Ông đi giùm tui đi.”

_ “Đại úy không ưa gặp ông lớn. Vậy chớ ra tỉnh gặp trung tá thì sao?” Thiếu úy Kiệt hỏi.

_ “Khác chớ ông. Ông trung tá với bọn mình là “Huynh đệ chi binh”. Cả ông đại tá Vệ, hôm về đây, ông thấy không? Ông rất bình dân, nói chuyện rất thân mật với bọn mình, có quan cách gì đâu? Cả đại tá Kiểm, đại tá Biếc cũng vậy. Ông từng qua gặp họ rồi đấy, họ coi mình như em. Còn như mấy chả nầy, gặp làm chi?”

_ “Đại úy không muốn đi lại bắt tui đi!” Thiếu úy Kiệt than phiền.

_ “Tui đâu có bắt, tui nhờ ông đi giúp mà. Ai hỏi, nói tui bị bệnh là xong. Làm đếch gì tui? Cũng chưa chắc thằng chả hỏi tại sao tôi bệnh, tôi không đi. Chả đâu thèm biết ai đi, ai không, miễn có mặt người nào đó thay mặt là được rồi.”

Lần đó, thiếu úy Kiệt lên gặp phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo, được ông ta thưởng một trăm ngàn về việc bắt thuốc phiện. Về vụ bắt bạc giả, phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo nói:

_ “Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam” sẽ thưởng cho chỉ huy trưởng của anh một số tiền bằng số tiền giả đã bắt được. Họ sẽ gọi đến nhận.”

Sau khi kể lại chuyện ấy, thiếu úy Kiệt đưa một trăm ngàn cho tôi. Tôi nói:

_ “Thôi! ông giữ lấy mà chia cho mấy người có công.”

Tôi nói thêm, nửa đùa nưa thật:

_ “Mai mốt tôi nhận nửa triệu, ông không được tôi chia đâu nữa nghe!”

Tới 30 tháng Tư, tôi cũng chưa nhận được tiền thưởng của ngân hàng. Vậy là “Ngân Hàng quốc Gia Việt Nam” của thống đốc Lê Quang Uyển còn nợ tôi nửa triệu đồng đấy, quí độc giả ạ!

Tuy nhiên, có điều buồn hơn. Vụ bắt bạc giả ấy, dù tôi là người đầu tiên phát hiện, bắt giữ, nhưng bấy giờ, sau khi mất Ban Mê Thuột, tình hình chiến sự miền Nam như dầu sôi lửa bóng, càng ngày càng nguy ngập, ai nấy đều lo lắng, nên việc bắt bạc giả chìm đi, không ai còn nhớ tôi công trạng của tôi cả…

hoànglonghải

(1) “Nhân vật thổ công.” Sau khi tôi nhập ngũ, một hôm về thăm quê ở Quảng Trị. Anh tôi nói: “Mày biết thằng cha đại tá tỉnh trưởng mới nầy, sau khi nhậm chức, chả đi thăm ai trước tiên không?

_ “Không.” Tôi trả lời.

_ “Chả lái xe xuống tận nhà thăm tao trước tiên!”  Anh tôi nói, vẻ tự hào.

Tôi nói:

_ “Tự anh làm chủ sự phòng tài thâu. Thuế má anh nắm hết chớ gì!”

_ “Đâu phải! Tiền chính phủ, làm gì được. Tự tao là thổ công ở đây. Tất cả những gì trong tỉnh nầy, tao biết cả. Muốn biết có món lợi nào phải hỏi tao.”

Khi quân đội Mỹ làm phi trường Đông Hà, anh tôi nắm hết 9 hầm đá thuộc quận Đông Hà. Hai hầm thuộc quận Cam Lộ thiếu an ninh, anh tôi không “quản lý”. Những nhà thầu cung cấp đá cho quân đội Hoa Kỳ phải mua lại đá của ông. Ông kiếm bộn tiền.

Đó là kinh nghiệm khiến tôi thấy, khi làm việc cần phải xử dụng thượng sĩ Năm Hùng hay chọn phụ tá cho các thiếu úy mới ra trường là người địa phương. Chính họ là người biết rõ tình hình địa phương, không hẳn về kinh tế mà về chính trị. Nhờ họ, các sĩ quan không phải là người địa phương biết rõ và theo dõi được các cựu can phạm chính trị, hồi chánh viên và những gia đình có liên hệ với Việt Cộng.

(2) Tình báo Nhân Dân. Làm việc một thời gian ngắn, qua viên chức xã ấp và dân chúng địa phương, tôi thấy rõ rằng cuộc chiến tranh nầy là “chiến tranh nhân dân.” Cộng sản tuyên truyền và thúc đẩy dân chúng tham gia cuộc chiến đấu của họ, bằng mọi hình thức và phương tiện. Chúng ta cũng phải tuyên truyền và thúc đẩy dân chúng tham gia chống Cộng bằng mọi hình thức và phương tiện. Giao cho người dân một cây súng như trong tổ chức Nhân Dân Tự Về là buộc họ phải nổ súng chống lại Việt Cộng khi Việt Cộng về hoạt động hay tấn công. Nếu không có cây súng, họ sẽ bỏ chạy hoặc “trung lập”. Nhiều địa phương Nhân Dân Tự Vệ hoạt đông rất có hiệu quả như ở Gò Công, Long Xuyên chẳng hạn. Giữa năm 1974, Việt Cộng tấn công vào trụ sở xã Xóc Xoài, chính Nhân Dân Tự Vệ xã chống cự mãnh liệt. Trận đó Việt Cộng không chiếm được xã và thua đậm. Đâu phải chỉ có quân đội mới làm nên chiến thắng!

Cộng Sản chỉ hoạt động được khi chúng nhờ dân chúng, để xây dựn hạ tầng cơ sở. Muốn ngăn chận Việt Cọng xây dựng hạ tầng cơ sở, hoạt động và phát triển, phía chính quyền và quân đội quốc gia, nhứt là ỏ địa phương, phải nhờ vào nhân dân, tình báo nhân dân. Tình báo nhân dân sẽ giúp chúng ta “giải hóa hạ tầng cơ sở Cộng Sản”, triệt tiêu bọn nằm vùng. Sau hơn 7 năm “tù cải tạo”, tôi vẫn không hết suy nghĩ về vấn đề nầy. Vì vậy, khi ở trại tỵ nạn Poulo Bidong, Mã Lai, tôi dã viết lại những kinh nghiệm về việc nầy, qua một cuốn sách, tôi đặt tên là “Chiến Tranh Nhân Dân, Tình Báo Nhân Dân.” Khi thanh lọc để được đi định cư, phái đoàn phỏng vấn thanh lọc gồm một luật sư cao ủy, một thiếu tá tình báo Mã Lai. Viên thiếu tá hỏi tôi về chiến tranh du kích, tôi nói về một số kinh nghiệm của tôi hồi đó. Y hỏi tôi về nguồn gốc những kinh nghiệm đó, tôi trả lời tôi lấy từ bản thân và từ những sách báo của Sir Robert Thompson khi ông là “ông tổ” diệt trừ du kích Mã Lai khiến bây giờ Trần Bình và Rashid phải ra hang, và tướng Lansdale, người đã giúp tổng thống Magsaysay (Ramon) của Phi Luật Tân diệt trừ du kích Huks bên ấy. Theo lời yêu cầu của viên thiếu tá nầy, tôi đưa cho ông ta xem cuốn sách tôi đang viết. Xem qua vài trang, viên thiếu tá nói: “Tôi hy vọng cuốn sách của ông sẽ giúp ích không ít cho nhiều người chống du kích Cộng Sản”. Cũng vì đề tài nầy, cuộc phỏng vấn tôi kéo dài hơn 3 giờ đồng hồ.

(3) Giục Tượng:

(4) Tự trị

(5) Hiếu Lễ: Quận ở phía cuối cùng tỉnh Kiên Giang, sát tỉnh Chương Thiện, và mật khu U-Minh của Việt Cộng, và Thới Bình của Cà Mâu, nơi có nhiều hậu duệ của các “mỹ nhân” của Nguyễn Ánh bỏ lại đây khi “Gia Long tẩu quốc”. Các cô gái Thới Bình đẹp lắm nhưng bị bệnh phung, khiến nhiều người sợ.

Tình hình quân sự ở đây rất nặng nề. Không ai muốn bị đổi đi Hiếu Lễ bao giờ.

(6) “Thoa dầu cù là” là môt danh từ thường dùng để mai mỉa các bà lớn đi thăm thương bệnh binh ở các quân y viện nhân dịp các ngày lễ tết.

(7) Một dịp tướng Đôn, khi làm phó thủ tướng về thăm nhà máy ximăng Hà Tiên, tôi ở trong hàng các sĩ quan đứng chào ông. Ngang qua tôi, ông ta khen “Chào đẹp đấy.” Khi ấy tôi thấy lưng ông ta đã hơi còng. Sau đó, kể lại chuyện ấy với thiếu úy Kiệt và ông phó quân trưởng Nguyễn Đức Nghiêm, tôi nói: Hồi ở Huế ông ta trẻ và đẹp trai lắm. Tôi đã từng thấy ông đi theo tổng thống Ngô Đình Diệm khi tổng thống về dự lễ 60 năm trường Quốc Học, khi tôi là học sinh trường ấy. Tôi nói: “Lưng ông ta còng vì ông thuộc loại “dữ”. Có bà “mệnh phụ”, vợ một ông dược sĩ khoái ông ta, từng khoe với bạn bè: “Tối qua mình ngủ với André.”  Vì vậy, khi giám đốc Lê Hữu Phước đãi tiệc ông tướng và phái đoàn, thấy tôi, tướng Đôn hỏi: “Muốn về Saigon không?” Tôi cười: “Xin cám ơn phó thủ tướng.” Có nghĩa rằng tôi không muốn theo ông. Tôi không muốn làm tay sai! Ở đây “Biên thùy một cõi”, có phải khỏe hơn không?!

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 10 Oct 2014 by quanvan.net 

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 5 Dec 2023

Bài 35

Lãnh một triệu xài chơi

Buổi chiều ngày 14 tháng 12 năm 1973, tôi đứng giữa sân, xem trung sĩ Cẩn xây lại bệ cột cờ. Cột cờ nầy dựng từ lâu, bằng sắt. Mấy thầy chú của tôi, lái xe ẩu, mấy lần đụng nghiêng cột cờ, bị tôi cự nự. Dị đoan hay không, làm đổ cột cờ là điều không nên!

Để ngăn ngừa mấy thầy chú lái ẩu, tôi không dời cột cờ đi nơi khác. Người ta kiêng việc ấy. Hồi tôi còn đi dậy, trung tá TĐT Thiết Đoàn 7, đóng ở Trường Bia, cạnh chân núi Ngự Bình, nói với tôi chuyện ông ta dời cột cờ. Tháng sau, một chi đoàn của ông đóng ở La Vang, bị đặc công chui hàng rào vào tấn công, đốt cháy mấy xe, đại úy S., Chi Đoàn Trưởng bay chức. Đó là một kinh nghiệm, nên tôi chỉ củng cố chân cột cờ cho vững, xe không đụng được, không dời cột cờ.

Tôi vẽ kiểu, biểu thượng sĩ Hai điếc liên lạc với thầy Xinh, hiệu trưởng trường tiểu học Kiên Lương, chủ lò vôi, xin một ít đá vôi trắng, và xin nhà máy xi măng Hà Tiên ít bao xi măng về thực hiện công việc. Trung úy Qui đi học bổ túc ở Học Viện về, đem theo môt ít hột giống bông cúc tây vàng, rải trồng quanh cột cờ. Bông đẹp lắm.

Bỗng nhìn ra đường, tôi thấy một chiếc xe Taxi, sơn màu xanh trắng, hiệu Renault, “quatre cheveaux” dân Saigon thường gọi là “Rờ-nô cách” (Renault quatre) chạy qua. Trên xe có một người lái và một người ngồi bên cạnh. Cả hai đều là đàn ông. Tôi tự hỏi, xe Taxi Saigon về đây làm chi? Xe về quận tôi hay đi Hà Tiên?

Nghĩ vậy xong, tôi gọi thiếu úy Kiệt. Ông nầy làm việc chăm chỉ, nhưng thường thiếu kế hoạch. Vạch kế hoạch rồi, giao cho anh, anh làm hay lắm!

Môt chốc, thiếu uý Kiệt tới, tôi hỏi:

_ “Ông có thấy chiếc xe Taxi mới chạy qua không?”

_ “Có, tui có thấy chạy qua?” Thiếu úy Kiệt trả lời.

– “Ông có nghi gì không?” Tôi lại hỏi.

_ “Nghi gì?” Thiếu úy Kiệt hỏi lại tôi.

_ “Thì xe Taxi Saigon về đây làm chi? Coi thử có chi khác thường không?”

Tôi nói. Thiếu úy Kiệt không trả lời.

Một lúc, tôi lại nói:

_ “Gọi “thổ công” Năm Hùng đi. Hỏi cha nầy coi.”

Thượng sĩ Năm Hùng tới, không biết chuyện chiếc xe Taxi nên đứng ngó tôi. Tôi nói:

_ “Mới có chiếc xe Taxi chạy qua đây, chắc đi Hà Tiên. Anh có suy nghĩ gì không?”

_ “Chắc người ta đi vía Bà.” Thượng sĩ Năm Hùng trả lời.

_ “Vía Bà ở núi Sam. Phải không?” Tôi lại hỏi.

_ “Núi Sam bên Châu Đốc.” Thượng sĩ Năm Hùng trả lời.

_ “Bên Châu Đốc qua đây làm chi?” Tôi lại thắc mắc.

_ “Có khi người ta đi vía Bà bên đó rồi qua đây chơi!” Thiếu úy Kiệt trả lời.

_ “Vía Bà tháng mấy?” Tôi lại hỏi.

_ “Vía bà tháng sáu hay tháng bảy gì đó.” Thượng sĩ Năm Hùng trả lời.

_ “Bây giờ là tháng 12. Cái nầy nhắm bộ không xong!” Tôi nói.

Tôi đi vào văn phòng. Hai người ấy đi theo. Tôi ngồi xuống ghế ở phòng khách. Hai người kia ngồi đối diện. Tôi nói với họ:

_ “Tui vẫn chưa hết thắc mắc xe Taxi nầy. Mình cố tìm câu trả lời cho ra.”

Thượng sĩ Năm Hùng, vốn nhiều kinh nghiệm, nói với tôi:

_ “Dân Hà Tiên nhiều người lên Saigon làm ăn, có thể họ chạy Taxi. Ở nhà có đám cưới hay đám ma gì đó, họ về dự.”

_ “Thôi cho người theo đi, cho chắc ăn.” Tôi nói.

Nghe tôi nói vậy, thiếu úy Kiệt hỏi:

_ “Cho ai theo bây giờ?”

_ “Bên anh có anh chàng nào người Hà Tiên, cấp cho nó giấy phép đi Hà Tiên thăm nhà, đừng làm sự vụ lệnh, giao việc theo dõi cho nó.”

Thượng sĩ Năm Hùng nói:

_ “Phan Thành Long nhà ở Hà Tiên, sai anh ta đi. Tay nầy trẻ, lanh lợi, chắc được việc.”

Vậy là Phan Thành Long được gọi tới. Trong khi thượng sĩ Bảy Hùng làm giấy phép cho Long, tôi cùng thiếu úy Kiệt, Năm Hùng ngồi nói chuyện với Long. Sau khi thiếu úy Kiệt thuật chuyện chiếc xe Taxi xong, tôi nói với Long, anh ta đang đứng bên cạnh thiếu úy Kiệt.

_ “Không biết chắc chiếc xe Taxi về Hà Tiên làm chi! Dã dụ vài dự kiến như về đám ma hay đám cưới. Vậy khi em lên Hà Tiên kiếm nó, thấy nó đang đậu trước nhà ai, trong nhà đang treo đèn kết hoa làm đám cưới, hoặc nhà ai đang chuẩn bị giỗ kỵ, thì em chỉ cần hỏi qua cho chắc. Vậy là được. Mình chỉ cần đề phòng Taxi lợi dụng đám lễ để buôn lậu mà thôi. Còn như em thấy gì khác, có gì nghi ngờ thì sáng mai về đây cho sớm, đi chuyến xe đầu Hà Tiên – Saigon, về đây báo cáo cho tôi hay để tôi liệu cách. Còn trường hợp gấp lắm, không có cách nào nhanh hơn thì em vô bộ Chỉ Huy Hà Tiên, gọi máy về đây cho tôi. Nhớ kín đáo ghi số xe. Đừng cho Hà Tiên biết là em lên công tác trên đó. Tới lãnh thổ người ta làm việc mà không báo cáo, không phối hợp, nó chưởi cho mà nghe! Tôi cấp giấy phép đi nghỉ cho em là vì vậy. Nghe rõ không?”

_ “Em nghe rõ, đại úy.” Long trả lời tôi.

Vừa xong thì thượng sĩ Bảy Hùng đem giấy nghỉ phép qua cho Long. Anh ta ra đón xe đò đi ngay Hà Tiên.

Sáng hôm sau, ngày 15 tháng 12 năm 1973, – ngày sinh nhật đứa con gái thứ nhì của tôi được 10 tuổi, khoảng hơn 6 giờ sáng, mùa đông trời còn tối lắm, tôi vừa thức thì nghe tiếng xe đò ngừng lại cách trước nhà tôi không xa. Nghĩ rằng Phan Thành Long xuống xe, tôi thức dậy, đứng sát cửa, mở khóa nhưng chưa mở cửa. Tôi nghe tiếng chân đi vội vào sân nhà tôi, rồi qua khe cửa, tôi thấy vạt áo Long hiện ra phía ngoài. Tôi mở cửa cho anh ta vào, tay kia bật “công-tắc” điện.

Long vào nhà, tôi chưa kịp đóng cửa, thiếu úy Kiệt vào tiếp sau. Té ra ông Kiệt cũng lo việc. Khi nghe tiếng xe đò ngừng, đoán là Long về, thiếu úy Kiệt tức tốc qua nhà tôi. Chỉ ghế cho Long ngồi, tôi hỏi: “Sao?”

_ “Xe Taxi không ghé nhà ai hết. Hôm qua, xe đậu ở ngoài bến tàu. Trên xe chỉ có môt mình ông lái xe. Còn ông kia đi đâu không biết! Tới 12 giờ đêm, lang thang ngoài bến xe không tiện, em về nhà ngủ. Sáng nay, khi em ra bến xe về đây thì chiếc Taxi vẫn đậu ở chỗ cũ. Ông tài xế còn ngủ, ông kia cũng chưa về.”

Tôi cười:

_ “Ô-kê! Vậy là tốt, xem như em xong việc, về ngủ đi. Để đó tui với thiếu úy Kiệt lo.”

Trời còn sớm. Tôi nói với thiếu úy Kiệt: “Tui chuẩn bị kế hoạch xong rồi, mình đi uống càphê!”

Bảy giờ sáng, tôi về văn phòng, bảo tuyền tin gọi thiếu úy Chiếu, trưởng cuôc Cảnh Sát Dương Hòa, theo trục lộ thì ở phía đầu trên bộ chỉ huy của tôi, và thiếu úy Bạch, trưởng cuộc An Bình, ở phía đầu dưới, lên cho tôi gặp ngay.

Khi thiếu úy Chiếu tới, tôi dặn:

_ “Ông cùng hai nhân viên, mặc đồ dân sự, mang theo máy truyền tin, dấu máy, không cho ai thấy, ra ngồi ở miếu Bà Chúa Xứ, giả làm như khách đi cúng Bà. Hễ ông thấy chiếc xe Taxi sơn màu xanh trắng, từ Hà Tiên chạy về thì báo ngay cho tôi. Nhớ xem trên xe có bao nhiêu người. Tôi ngồi trong hầm truyền tin chờ tin ông. Nghe rõ không?”

_ “Nghe rõ, đại úy.” Thiếu úy Chiếu trả lời.

_ “Thôi, ông về ngay cho kịp, lỡ chiếc xe ấy xuống sớm.”

Xong, khi thiếu úy Chiếu ra sân, tới chỗ chiếc xe Honda của ông, tôi dặn với: “Đừng để vuột xe là không được đâu nghe!” Thiếu úy Chiếu “Dạ” rồi lên xe phóng đi.

Khi thiếu úy Bạch lên tới, tôi dặn:

_ “Ông về mang hia đội mão, loon lá đàng hoàng, cùng thêm với một vài nhân viên nữa, chọn ai lanh lợi. Nhớ mang máy truyền tin theo. Trực trong văn phòng, đừng đi đâu. Hễ tôi gọi máy xuống, bảo gì, ông làm ngay. Nghe rõ không?’

_ “Dạ! Nghe rõ, đại úy.” Thiếu úy Bạch trả lời.

Khi ông ta ra sân, sắp lên xe Honda, tôi cũng dặn với:

_ “Thường trực ở văn phòng nghe không, không đi đâu, tôi gọi có liền. Nghe không?”

Thiếu úy Bạch “Dạ” rồi cũng lên xe phóng đi.

Tôi gọi trung sĩ Phan Chánh Tiêm, truyền tin, nói:

_ “Tui ngồi đây. Anh trực trong đó, không được bỏ máy. Thiếu úy Chiếu hay thượng sĩ Chuẩn ở Dương Hòa gọi về thì báo cho tôi ngay.”

Trung sĩ Tiêm “Dạ” rồi đi vào hầm truyền tin.

Khoảng gần 10giờ rưởi, thiếu úy Chiếu gọi tôi lên đầu máy:

_ “Báo cáo đại úy. Xe Taxi mới đi ngang em.”

_ “Trên xe mấy người?” Tôi hỏi.

_ “Hai người, hai người đàn ông.” Thiếu úy Chiếu trả lời.

_ “Coi chừng xe chạy vô Chùa Hang mà không về đây. Nếu vậy thì ông theo ngay. Gọi cho tui.” Tôi dặn.

Vì thiếu úy Chiếu dùng máy FM-1, di động, nên tôi nghe không được rõ lắm, nhưng cũng không có chi trở ngại. Tôi gọi ngay cho thiếu úy Bạch:

_ “Có chiếc Taxi từ Hà Tiên về, vừa qua khỏi chỗ ông Chiếu. Nó sẽ đi về phía ông. Ông mang hia mão, ra đứng ngay trước cuộc của ông, chờ xe đi tới thì chặn xét, vừa xét vừa báo cáo cho tôi hay. Ông đề phòng. Có thể chiếc xe không đi ngang trụ sở của ông. Nó đi vòng phía sau, theo ngã cư xá. Nhớ canh chừng từ xa. Hễ thấy nó vòng vô cứ xá là ông lên xe Honda phóng theo ngay. Gọi cho tôi ngay.”

 Tôi nghe tiếng thiếu úy Bạch “Dạ” trong máy. Xong, tôi ra ngồi ở cửa sổ, tránh phía Hà Tiên về cho tài xế Taxi khỏi thấy, chờ chiếc xe đi qua. Tôi nghĩ thầm trong lòng: “Nếu mày chở hàng quốc cấm thì có chạy đằng trời!”

Một chốc, khi xe Taxi đi qua xong, tôi vào ngồi hẳn trong hầm truyền tin chờ thiếu úy Bạch gọi máy.

Mười phút sau, thiếu úy Bạch gọi cho tôi:

_ “Em đang xét xe.”

_ “Xét thật kỹ.” Tôi dặn.

Một lúc, thiếu úy Bạch gọi:

_ “Em không thấy gì hết.”

– “Lật nệm xe lên.” Tôi nói.

_ “Rồi! Không có gì hết.” Thiếu úy Bạch lại gọi.

_ “Xét kỹ mui xe. Gõ mạnh vào.” Tôi nói.

Một lúc, lại nghe thiếu úy Bạch nói:

_ “Cũng không có gì hết.”

Tôi nghĩ thầm, không lý xách một chiếc xe từ Saigon về, ngủ một đêm ở bến tầu, rồi lại về không. Tôi lại gọi thiếu úy Bạch:

_ “Ông xét cốp xe chưa?”

_ “Chỉ có máy xe, đại úy ơi!” Thiếu úy Bạch trả lời tôi.

Tôi nói:

_ “Xe Taxi máy nằm ở phía sau. Cốp xe ở phía trước. Ông xét kỹ cho tui.”

_ “Không có gì hết!” Một chốc, thiếu úy Bạch lại trả lời.

_ “Có bánh “xơ-cua” không?” Tôi lại hỏi.

_ “Dạ có!” Thiếu úy Bạch trả lời.

_ “Xem có dấu gì trong đó không? Lấy cây gõ mạnh xem. Gõ đều quanh bánh.” Tôi dặn.

_ “Chắc không có gì trong đó.” Lại có tiếng thiếu úy Bạch.

_ “Không có gì? Không có gì hết trơn hay sao?” Tôi hỏi, hơi gay gắt.

_ “Dạ, có hai khung hình.” Thiếu úy Bạch nói, giọng hơi run vì nghe tôi hỏi gắt.

_ “Khung hình mỗi bề bao lớn?” Tôi hỏi.

_ “Mỗi bề cỡ bốn năm tấc!” Thiếu úy Bạch đáp lại.

_ “Dày mỏng?”  Tôi lại hỏi.

_ “Dảy cỡ hơn lóng tay.”  Thiếu úy Bạch nói.

_ “Có thể dấu cái gì trong đó được không?” Tôi lại hỏi.

Thay vì tiếng thiếu úy Bạch trả lời, tôi lại nghe giọng nói xã trưởng Tạ Phước Thiện. Ông nầy là cháu nhà văn Sơn Nam, gọi bằng cậu. Thấy chuyện lạ, ông ta tò mò chạy ra xem, luôn dịp cầm máy truyền tin trả lời tôi:

_ “Dám lắm, đại úy!”

Tôi nói:

_ “Mở ra xem!”

Có tiếng thiếu úy Bạch:

_ “Khung hình làm bên Thái Lan, dán đẹp lắm, mở ra lỡ không có gì, người ta đền.”

Tôi bực mình vì cái nhát của thiếu úy Bạch, nói to, gần như nạt:

_ “Ông cứ mở ra đi, không có gì tôi đền cho!”

Một lúc, thiếu úy Bạch gọi tôi:

_ “Đại úy ơi! Em thấy có chất bột gì trắng, như bột giặt.”

Biết là bạch phiến, tôi vụt ngay ống nghe xuống, tức tốc phóng ra sân trước. Xe tôi đi công tác chưa về. Quay lui, thấy thượng sĩ Năm Hùng đang theo tôi, tôi hỏi to:

_ “Xe ông đâu?”

Thượng sĩ Năm Hùng vội dắt xe Honda của ông từ garage ra. Tôi ngồi lên, luống cuống, đạp tới lần thứ ba xe mới nổ. Nhìn lui thấy thượng sĩ Năm Hùng ngồi phía sau. Tôi phóng hết ga xuống chỗ thiếu úy Bạch. Sau nầy, thượng sĩ Hùng kể lại: “Ổng phóng như bay, y như đua xe trong ciné. Tui ngồi sau cũng hết hồn!”

Xuống tới nơi, tôi biểu đưa người và tang vật vào văn phòng, lập biên bản. Hai người đàn ông trên xe, chỉ còn một người. Tôi hốt hoảng hỏi thiếu úy Bạch, giọng thật to:

_ “Còn đâu một người nữa?”

Thiếu úy Bạch lúng túng chưa biết trả lời sao thì thấy thượng sĩ Tô Minh Tăng, mặt mày đỏ gay, sừng sộ với người thứ hai do ông ta đang dẫn vô.

Thượng sĩ Tăng nói:

_ “Thằng nầy bỏ trốn sang ngã Cư Xá. Tui chạy theo rút súng dí vô đầu nó, dẫn về. Nó tưởng qua được tui!”

Tôi cười vui mừng vì bắt lại được tên chạy trốn và cũng thấy buồn cười cho mấy ông nhân viên Nam bộ của tôi. Nóng nảy, dữ dằn vậy nhưng tốt bụng lắm.

Khoảng hai mươi phút sau, thiếu úy Kiệt đứng sát bên tôi, nói nhỏ, có vẻ ngại ngùng:

_ “Tụi nó chịu chạy để tha. Đại úy nghĩ sao?”

Tôi nói ngay:

_ “Không được. Không được đâu. Này, ông xem.” Tôi giải thích với thiếu úy Kiệt: “Vỡ lỡ ra, một là tù. Tù nầy nhục nhã lắm. Hai, tứ đổ tường (1), tui không chơi được; gốc tui là thầy giáo dạy Công Dân Giáo Dục mà. Ba, “Ăn khế trả vàng.” Bốn, cháu chắt tôi cả đống ở Saigon. “Gieo nhân gặt quả.” Tui tha cho đi, bạch phiến lên tới Saigon, cháu chắt tôi hút. Hại còn quá cha cái lợi. Bên quân đội người ta đánh giặc ngày đêm. Mình đỡ lạnh giò hơn, còn ăn hối lộ bạch phiến. “Đâm sau lưng chiến sĩ.” Mà dao nầy đâm mạnh lắm! Thôi ông ơi! Người ta chưởi cho mà nghe. Không xong, việc đó không xong.”

Thiếu úy Kiệt làm thinh. Đứng yên. Được một lúc, cũng có suy nghĩ về việc chạy chọt, chắc là món tiền to, tôi hỏi:

_ “Tụi nó chịu bao nhiêu?”

_ “Ba triệu!” Thiếu úy Kiệt nói.

_ “Úi trời! Bao giờ mình mới kiếm được ba triệu!” Tôi vừa nói vừa cười. Một lúc tôi lại nói với thiếu úy Kiệt:

_ “Ba ký lô bạch phiến, ít ra mình cũng được Ủy Ban Bài Trừ Ma Túy Trung Ương thưởng khoảng hơn hai triệu. Hai triệu nầy “an toàn xa lộ” hơn. Khỏe re! Ăn ít một chút mà khỏe re!”

Một lúc, thiếu úy Kiệt nói với tôi:

_ “Tính xa tính gần như đại úy, tôi cũng thấy an tâm, khỏe.”

Tôi cười, nói với vẻ vui sướng:

_ “Nhiều cái khỏe lắm ông ơi! Dã như mình đớp ba triệu, bể ra, mai mốt tụi nó về điều tra, hạch xách đủ điều. Có khi ba triệu mình nhận không đủ đút vô mõm chó tụi nó. Còn như bây giờ, sợ gì chúng? Tụi nó đàng hoàng, không hoạnh họe, mình đãi chúng nó ra nhà hàng ăn chơi. Đứa nào cà chớn, để cho tụi nó đói rã họng, ra giữa chợ Tròn mà ăn cơm lao động. Tôi nhớ khi tôi còn nhỏ, mẹ tôi thường nói: “Có tội bú dái không tha, không tội chưởi cha không sợ.” Mắc mớ chi mình đi bú dái ai. Mình không tội thì “Làm gì được nhau?”

Rút kinh nghiệm vụ bắt thuốc phiện ở Kiên Tân hồi trước, tôi gọi thượng sĩ Hai Râu làm báo cáo gởi về ngay cho Rạch Giá, yêu cầu cho người vào ngay.

Năm tôi về Kiên Tân, bàn giao chức vụ xong mấy ngày, tôi dọn dẹp đồ đạc giấy tờ trong các hộc bàn làm việc. Tôi lôi từ trong ngăn tủ bàn giấy, bên phải, một cái giỏ lớn, cỡ năm sáu ký lô, một thứ thuốc đen như thuốc tể người ta hay dùng. Tôi gọi thượng sĩ Lê Đức Vũ, trưởng ban hành quân, hỏi. Ông ta nói:

_ “Bắt được hồi năm kia, ban đầu tưởng là thuốc phiện, sau xem lại thì không phải. Hàng bị tịch thu, người được tha.”

Tôi cười, nghi ngờ:

_ “Nếu không phải thuốc phiện thì trả hàng cho người ta. Sao lại giữ hàng. Cái nầy có phải là hàng cấm đâu!”

Thượng sĩ Lê Đức Vũ không trả lời, chỉ nhìn tôi cười.

 Thấy vậy, tôi nói:

_ “Thuốc tể mà thành cứt dê! Hay thiệt. Người ta có phù phép biến hóa.”

Xong, tôi bảo thượng sĩ Vũ đem bỏ thùng rác. Việc xong rồi, còn giữ “tang vật” làm chi. Mấy ngày sau, thượng sĩ Vũ nói chuyện ấy với thiếu úy Rớt: “Ông người Huế nầy tinh lắm.” Nghe thiếu úy Rớt kể lại chuyện ấy, tôi nói đùa:

_ “Tui dân Quảng Trị, “Miền hỏa tuyến” nên tới đâu cháy đó!”

Bạch phiến, sau khi bắt phải thử mới biết chắc. Tôi sợ lỡ khi thử không phải thì người ta sẽ nghi tôi tráo hàng để ăn tiền. Do đó, tôi bảo thiếu úy Kiệt xuống cửa hàng chú ba Tầu Mao Thạch Thành mượn cái cân Roberval, để hai bao bạch phiến lên cân, rồi chưng ngay tại văn phòng Hội Đồng Xã, sát cửa sổ cho mọi người xem. Lỡ khi phòng tư pháp ở Rạch Giá cử người vào, xét không phải là bạch phiến thì thiên hạ làm chứng cho tôi. Giữa thanh thiên bạch nhật, giữa văn phòng Hội Đồng Xã, đồng bào hai ba lớp chen nhau đứng xem, tôi tráo hàng thế nào được?

Tôi muốn mọi việc rõ ràng để tránh tiếng, nhưng đó là một thất bại.

Khoảng hai giờ chiều, Rạch Giá gởi vào mấy người, gồm có ông thiếu tá Lê Văn Thao, chỉ huy phó tỉnh, trưởng toán cùng mấy ông thượng sĩ, trung sĩ phòng tư pháp, trong số có trung sĩ Lê Văn Lời. Anh nầy lấy thuốc ra thử, xác nhận đây chính là bạch phiến, rồi lập biên bản xác nghiệm. Sau đó, tôi giao hết tất cả tang vật và tội nhân cho họ. Riêng xe Taxi, họ chưa nhận, tôi cho tài xế Trang lái về cơ quan tôi, để trong garage.

Mới vào, quan sát chung sự việc đâu đó rồi, thiếu tá Thao nói với tôi:

_ “Được việc nầy, ông trung tá rất mừng. Năm nay bốn vùng thi đua bài trừ ma túy. Vùng 1, vùng 2, vùng 3 đã có kết quả. Có vùng đã bắt được bạch phiến số lượng lớn. Riêng vùng 4 chưa có gì hết nên nghe tin nầy, ở Cần Thơ cũng mừng để có kết quả với các nơi. Nghe tin, đại tá Lê Cảnh Vệ (2) cũng mừng. Ông sẽ xuống thăm, chúc mừng anh.”

Tôi hỏi:

_ “Nghe nói tháng trước ở Phú Quốc có bắt được thuốc phiện mà?”

_ “Nhiều lắm!” Thiếu tá Thao nói. “Vậy mà cuối cùng chẳng ai báo cáo gì hết. Chỉ là tin đồn.”

_ “Tìn đồn?” Tôi hỏi. “Tôi nghe nói có mấy bao thuốc phiện bị sóng biển trôi tấp vô Dương Đông.”

_ “Cũng tin đồn thôi! Không ai báo cáo bắt được gì hết. Ai nghĩ sao thì nghĩ.”

Một lúc, thiếu tá Thao nói với tôi:

_ “Đại úy chưng công khai ra như vậy là không nên. Gốc của nó là ở Hà Tiên. Đây làm ầm ầm như thế nầy, bọn Hà Tiên biết bị động, dời ổ. Lên đó, chắc tôi không đạt kết quả lớn.”

Thế rồi đám ở Rạch Giá đi, sau khi nhận bàn giao của tôi, kéo nhau lên Hà Tiên. Lên đó, họ bắt được một anh chàng Thái Lan. Trong ví anh nầy, có tấm hình một người đàn bà Việt Nam đang cư trú trên đó. Bà nầy lại là bồ hay gì đó với trung sĩ Sáu Lương, trưởng ban nhân viên bộ chỉ huy Cảnh Sát Hà Tiên. Thế là cả đám bị đưa ra tòa án ở Saigon. Hai người bị 10 năm tù là Vũ Văn Đặng, tài xế. Người đi với ông ta cũng y án, tôi không nhớ tên. Mấy người kia cũng vài ba năm gì đó.

Mấy tháng sau, tôi nhận tiền thưởng. Chia phần cho những người có công tham gia xong, tôi lấy máy bay hãng ximăng Hà Tiên cho nhà tôi đi Saigon, mang theo một triệu đồng xài chơi!

Trong khi đó thì các người phạm tội buôn bạch phiến còn ngồi trong tù? Vui hay buồn đây. Đời biết sao nói được?!

(1) Tứ đổ tường là danh từ rất phổ biến thời tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông muốn triệt tiêu hoàn toàn bốn thứ “hại dân hại nước” nầy: một là bạch phiến, thuốc phiện; hai là rượu chè; ba là cờ bạc; bốn là đĩ điếm.

(2) Đại tá Lê Cảnh Vệ, cùng quê Quảng Trị với tôi. Khi ông làm trưởng ty Công An ở đó, năm 1948-49, tôi còn là “học trò thò lò mũi xanh.” Năm 1971, khi được biệt phái qua ngành Cảnh Sát, cùng với Trương Tâm Như, Dương Trường Hội như tôi có kể phần trước, tôi đến gặp Thượng Nghị Sĩ Hoàng Xuân Tửu, – cũng quê Quảng Trị và anh một người bạn rất thân, vã lại nhà tôi là học trò cũ của ông; trước kia, vợ chồng tôi thường đến thăm ông, về việc phải đổi đi xa. TNS HXT trấn an tôi, bảo cứ về Cần Thơ, ông sẽ nhắn với ĐT LCV, có khó khăn gì, ông ấy sẽ giúp cho. Tôi nghe lời. Trước khi nhận nhiệm vụ ở Kiên Tân, tôi có đến cám ơn. Qua quan hệ đồng hương, tôi được giúp đỡ. Vì vậy, khi nghe tin tôi làm việc có kết quả, ĐT LCV rất mừng. Quả thật, vài tháng sau, ông xuống thăm, mừng tôi.

Hương tràm Trà Tiên

Posted on 9 Oct 2014 by quanvan.net

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 5 Dec 2023

Bài 34

Nghèo không chỉ là khổ mà…cay đắng

Việt Cộng gọi quân đội miền Nam là “lính đánh thuê” (cho Mỹ, dĩ nhiên). Nói cho đúng thì đó là chụp mũ. Nói rộng ra thì chưa hẳn ai là lính đánh thuê, ai không! Nhưng quả thật, Đế Quốc Mỹ là con buôn, con buôn thì ít khi rộng rãi, mà lại rất keo kiệt!

Miền Nam Việt Nam, được cái gọi là Thế Giới Tự Do gọi là “Tiền đồn chống Cộng”. Do đó, lúc ban đầu, miền Nam được giúp đỡ, được viện trợ khá giồi dào. Đến khi “ông nhà giàu” tìm ra con đường đi buôn khác tốt hơn, lời hơn, thu nhập nhiều hơn, bèn thắt hầu bao lại.

Vậy là sau khi Nixon đến thăm Hoa Lục ngày 21 tháng 2 năm 1972, gặp Mao, Mỹ “xóa bài làm lại”, rồi bằng hiệp định Paris 1973 thì Mỹ giảm viện trợ cho miền Nam Việt Nam.

Mỹ cắt bớt viện trợ, trong khi binh sĩ vẫn ngày đêm chiến đấu, không ngại gian khổ, hy sinh, thì vật giá leo thang, lương tiền không tăng theo nên bao nhiêu. Gian khổ, cay đắng xảy ra cho hầu hết mọi gia đình. Thế rồi, “Ký giả đi ăn mày”, thế rồi ở các trường tiểu học, các cô giáo vừa dạy học vừa làm công việc của “mụ cai trường”: Bán kẹo cho học sinh. Và không ít người, từ trước tới giờ chỉ lo việc nội trợ nay phải rời nhà xông ra chợ buôn bán, kiếm thêm ít tiền chi dụng trong nhà.

Sao mà số phận người Việt miền Nam cay đắng vậy!?

Trong viễn tượng đó, “Con đường ngọt ngào” trở thành hấp dẫn cho các bà, các mẹ, các chị, các cô gái đi buôn để kiếm thêm tiền cho gia đình.

Thành phần đi buôn trên “Con đường ngọt ngào” nầy có nhiều hạng. Đông nhất là gia đình binh sĩ, công chức hạng thấp. Hầu hết, vì lương lậu thấp, không đủ sống nên các mẹ, các bà, các chị, các cô phải xông pha mua bán kiếm thêm chút đỉnh để giúp đỡ gia đình.

Tôi nói kiếm thêm chút đỉnh là nói thật, lời lãi đâu bao nhiêu. Thông thường, mọi người, vốn ít, vã lại chủ xe cũng không cho chở nhiều, mỗi người buôn năm ba bịch, mỗi bịch 10Kg, đem từ Hà Tiên về Rạch Gia hay Cần Thơ thì kiếm bao nhiêu lời. Rồi tiền xe tàu, tiền ăn uống. Dĩ nhiên, họ ăn đường, ngủ chợ. Mỗi chuyến đi, mau thì cũng một ngày, gặp khi trắc trở cũng vài ba ngày, tốn kém lắm. Tôi từng gặp vài người quen cũ, từ Saigon xuống, từ Rạch Giá qua, ghé nhà thăm, hỏi tôi về việc đi buôn hàng lậu.

Tôi bảo:

_ “Đừng! Đừng nghe người ta nói, người ta đồn. Cực khổ, tốn kém lắm, lời không bao nhiêu!”

Tôi từng chứng kiến bao nhiêu thảm cảnh của những người đi buôn, nhất là khi họ bị bắt giữ, mất cả vốn lẫn lời.

Hoàn cảnh những người có trách nhiệm như chúng tôi thì kẹt lắm: Bắt thì kẹt; không bắt, lại kẹt hơn. Hoàn cảnh gia đình binh sĩ, công chức, lương thấp, vốn liếng không bao nhiêu. Bắt người ta khổ, mất vốn; cho đi tự do, cấp trên khiển trách.

Tôi dặn các sĩ quan do tôi chỉ huy:

_ “Khi không có lệnh, mấy ông làm sao thì làm. (Có nghĩa là làm ngơ, cho đi tự do, nhưng không nói rõ ra như thế). Khi có lệnh thì “một giọt đường cũng không cho về Rạch Giá” như lệnh trên. Đã bắt thì đừng thả. Thả là mang tiếng ăn tiền.”

Vậy rồi khi có lệnh bắt, người bị bắt lê thê lết thết, lắm người khóc, chận đường tôi, xin xỏ. Tôi làm gì được!?

Có lần, trong buổi họp, nghe báo cáo về việc bắt giữ và những lời than van, trách oán từ các nhân viên nói lại, bực mình, tôi nói: “Vì cái loon quèn nầy mà mình làm nhiều điều thất nhân tâm. Bỏ quách mà về là xong. Đúng là “Quyền lực là liều thuốc độc.” như người Tây phương nói vậy.”

Các nhân viên của tôi, nhìn tôi và thông cảm. Họ biết tôi là người đi lạc đường, như tôi thường nửa đùa, nửa thật với họ vậy.

Mười năm đi dạy là tôi lạc đường vào… giáo dục. Người như tôi mà “giáo dục” gì, ăn nói ẩu tả, cũng không ít lần chưởi thề, chưởi tục. Đúng là “Giáo bất nghiêm, sư chi đọa.” Tôi tình nguyện đi lính là vì cảnh năm ngàn người bị Việt Cộng chôn sống ở Huế hồi tết Mậu Thân, tôi thấy nên chống Cộng bằng cách “bóp cò súng” hơn cách “viết phấn bảng”. Biệt phái qua ngành Cảnh Sát, bạn bè tôi không ít kẻ ngạc nhiên. Vậy là tôi đi… lạc quá xa. Rồi bây giờ tới việc đi bắt hàng lậu. Nhìn tới tận cùng sự việc, không phải cho hàng lậu đi qua, hay bắt giải quan thuế là xong công việc. Ai đi buôn? Tại sao họ phải đi buôn, vốn liếng họ nhiều ít? Và tôi thấy họ y như… mẹ của mình, chị của mình, em của mình, hoặc vợ, con đồng đội mình! Khác gì đâu! Cô “Khôổn”, con gái ông đại úy Miên, Thiết đoàn 10 Kỵ Binh, mẹ người lai Việt, nhà ở sát nhà tôi khi tôi còn ở trại Phù Đổng, Gò Vấp. Bọn sĩ quan chúng tôi hồi đó thường gọi đùa là cô “Mai Liên” (Miên lai) đi buôn lậu, bị thiếu úy Chiếu của tôi bắt, xin gặp tôi. “Trời ơi!” Tôi than “Lặn lội chi cho xa dữ ri? Lời bao nhiêu!” Cô ta không nói được. Chỉ khóc.

Một ông đại úy khác, cũng người Miên, chỉ huy một pháo đội ở kinh 8, Kiên Tân, vợ đi buôn, bị bắt. Ông ta gặp tôi, nhờ giúp đỡ. Ông ta than: “Nhà tôi đông con, lương không đủ sống.”

Một bữa tôi xuống Vàm Rầy, một bà cụ cũng đã lớn tuổi, chận tôi lại. Tôi tránh mặt, đi thẳng vào văn phòng trưởng cuộc, hỏi:

_ “Bà cụ nào dzậy?”

Thiếu úy Huệ trả lời:

_ “Ba ta chỉ có ba bịch đường. Bả xin. Bà có bốn người con trai, đều đi lính. Một nguời được hoãn vì là giáo viên và con độc nhứt còn lại. Con cái đi lính cả, không những không lo cho mẹ được mà mẹ còn giúp đỡ cho con nên bà đi buôn. Tôi chờ hỏi ý kiến chỉ huy trưởng.”

_ “Ông nhắm mắt lại đi, rồi biểu phó cuộc Út trả hàng cho bà ta lại. Biểu bà đi cho lẹ, ra khỏi đây càng sớm càng tốt. Kẻ bắt người tha, người ta chưởi cho mà nghe!” Tôi nói.

Cách đó mấy hôm, khi tôi đi làm về thì thấy trên bàn có gói quà. Tôi hỏi vợ tôi ai cho. Nhà tôi nói: “Bà già mới đi ra. Nói chi bả cũng không chịu, bà bỏ lại đó mà đi.” Tôi biểu con gái đầu của tôi, hơn 10 tuổi, cầm gói quà chạy theo trả lại cho bà ấy. Một lúc sau, con gái tôi trở về, hai mắt đỏ hoe. Tôi hỏi: “Sao con khóc?” “Bả nhận lại gói quà mà bà khóc dữ, thấy tội nghiệp quá nên con khóc theo!”

Phải chi nắm được đầu Bà Gái Đen hay mấy ba Tầu Chợ Lớn, chủ chốt buôn lậu ở Hà Tiên mà dẫn ra tòa thì co gái tôi không khóc mà tôi thì “đã” biết bao nhiêu. Bọn đó sống đế vương, mỗi lần ở Saigon về, dẫn theo không ít gái đẹp. Không ai đụng tới cái lông chân chúng nó được. Đó là gốc. Mấy cái ngọn cây èo uột nầy đâu có đáng chi!

Có một số ít người đi buôn “chuyên nghiệp” hơn, có nghĩa là họ quan hệ chặt chẽ với tài xế, lơ xe, hàng hóa dấu kỹ hơn. Có không ít cô đi buôn như thế, và buộc lòng, mấy cô phải “ngủ” với tài xế hay chủ xe đò.

Tất cả các chủ xe đò, đều có buôn hàng lậu cho chính họ. Những người nầy thu lợi khá nhất. Vừa thu tiền vé khách hàng, vừa thu tiền cước, lại chính họ chở hàng lậu cho họ. Họ có chỗ dấu hàng trên xe, dĩ nhiên cho hàng của chính họ hay cho tài xế, “khách ruột” của họ mà thôi.

Có những người đi buôn tự túc, tự lái xe chở hàng, tự mua hàng lấy, đem về Saigon.

Một hôm, thiếu úy Nguyễn Minh Chiếu trưởng cuộc Cảnh Sát xã Đức Phương, – người thay thiếu úy Huệ, người tôi mới nói ở trên, tử trận -, gọi điện thoại, báo cáo:

_ “Em mới bắt giữ một cái xe đò lở (loại hơi nhỏ hơn loại thông thường). Trên xe có hai người đàn bà và một người đàn ông. Người đàn ông là trung sĩ, làm việc ở Nha ANCL, bộ Tư Lệnh, có sứ vụ lệnh đi công tác ở Long Khánh, không phải về đây. Hai người đàn bà thì một người đã lén trốn đi mất, có lẽ về Saigon. Một bà ở lại giữ hàng. Xét xe thì ông trung sĩ năn nỉ quá trời, xin đừng xét. Bây giờ em không biết làm sao?”

_ “Xe chở hàng gì?” Tôi hỏi.

_ “Em chưa xét.” Thằng cha trung sĩ và bà chủ năn nỉ quá!” Thiếu úy Chiếu trả lời.

_ “Nhiều hay ít?” Tôi lại hỏi.

_ “Cở một góc tư xe, không nhiều. Xe còn trống lắm.” Thiếu úy Chiếu báo cáo.

_ “Ông nghi người ta chở gì?” Tôi hỏi.

_ “Chắc là đường hóa học.” Thiếu úy Chiếu nói.

_ “Cho nhân viên canh giữ chiếc xe, giải giao tên trung sĩ đó về cho tui.” Tôi nói.

Nửa giờ đồng hồ sau, nhân viên của thiếu úy Chiếu dẫn anh trung sĩ về tới. Để hù, tôi gọi thượng sĩ Hai Râu, trưởng ban Tư pháp, nói:

_ “Ông nhốt anh nầy đi!”

Anh trung sĩ hốt hoảng năn nỉ tôi; hai con mắt đỏ hoe, gần như muốn khóc:

_ “Tội nghiệp tôi! Tôi nghiệp tôi. Tôi không chở gì quan trọng đâu!”

Tôi giữ mặt tĩnh:

_ “Cái gì trên xe, nói đi. Bao nhiêu ký lô bạch phiến?”

_ “Dạ không! Dạ không! Em thề không có bạch phiến. Em chỉ chở đường hóa học về bán cho các tiệm làm kem. Em thề không có gì khác hơn. Đại úy tha cho em!” Anh ta lại năn nỉ.

_ “Hai người đàn bà kia là ai? Một bà trốn rồi. Bà ta ở đâu?” Tôi hỏi.

_ “Dạ thưa! Hai bà nầy là chị em, còn em được nhờ đi, thiệt ra là sai đi. Một bà là chị ông Tư Lệnh, có cửa hàng ở chợ Cầu Muối. Bả về Saigon rồi” Anh ta khai.

_ “Vậy là tui không thể tha được. Tha ra, mấy bà về mách với ông Tư Lệnh, chúng tôi bắt rồi tha. Lãnh “củ” sao?” Tôi nói, mặt bớt khó chịu

_ “Thiệt ra, buôn chừng nầy có thấm gì đâu! Bà thủ tướng cho chở gạo vô Long Khánh, bán cho Việt Cộng thì sao!” Anh trung sĩ trình bày.

_ “Có thiệt hay anh nói bậy. Coi chừng đụng nhằm ổ kiến lửa ở tù như không!” Tôi nói.

_ “Em làm ở Nha ANCL, báo cáo về đó, người ta nói um trong phòng, ai cũng biết, riêng gì em đâu! Em nói là nhẹ. Người ta còn chưởi nữa kia. Chưởi thì chưởi, không ai làm gì được.” Anh ta kể.

Tôi biết là tôi gặp chuyện rắc rối đây, chị ông Tư Lệnh mà, nên nói với anh ta:

_ “Tôi không nhốt, nhưng anh không được ra khỏi đây, giấy tờ tui giữ. Anh muốn đi ăn uống gì, phải xin ông Hai Râu, trưởng ban tư pháp của tui. Ổng cho mới được đi. Thôi, anh đi ra đi.”

Anh trung sĩ mừng húm, đi ra khỏi phòng tôi, theo chân Thượng Sĩ Hai Râu. Tôi viết báo cáo tay, – không chính thức, – báo cho “xếp” toàn bộ chi tiết sự việc. Một giờ đồng hồ sau, nhân viên truyền tin báo cáo với tôi: “Trung tá Chỉ huy trưởng nói cứ giữ lại đó, coi ngày mai có tin tức gì không.”

Té ra, ông cũng như tôi, biết mình đang kẹt.

Vậy rồi, như ông ta đoán đúng, hay thật. Sáng hôm sau, nhân viên truyền tin báo cáo: “Tỉnh gọi về, theo lệnh bộ Tư Lệnh, bảo thả chiếc xe hàng cho đi ngay.”

Nhân viên truyền tin Rạch Giá thông báo cho nhân viên truyền tin ở đây, không rõ ai là người ra lệnh, chỉ nói là bộ Tư Lệnh, còn tôi là người nhận lệnh thi hành.

Tránh mặt anh trung sĩ hôm qua, tôi lại đẩy cho trung úy Đinh Văn Qui: “Ông gọi cho thiếu úy Chiếu biểu cho họ đi.”

Về mấy ông chủ xe đò.

Có những ông chủ xe đò tôi chưa từng trực diện, chỉ thấy ông ta xuất nhiện ở chỗ xe ông ta bị hỏng như ông chủ xe hàng hãng Tô Châu chẳng hạn, làm chủ bốn năm chiếc xe hàng gì đó, chạy đường nầy. Ông ta ăn mặc theo kiểu ca-bồi tếch-xa: Mũ nỉ rộng vành, quần jean, áo polo, kiếng Reyban, nghênh ngang chẳng thèm nhìn tới ai! Cái dù trên đầu ông ta to lắm. Chớ đụng vào mà mắc nạn. Những chủ xe khác thì thái độ bình thường. Dĩ nhiên, có những ông chủ xe đò “đặc biệt”, như ông Văn Công Võ chẳng hạn:

Ông ta còn trẻ, chưa tới 40 tuổi, quê xã Tân Hội (xã của Bảy Quẹo), nguyên là trung sĩ Cảnh Sát, trưởng ban căn cước của bộ Chỉ Huy tỉnh.

Một hôm, ông ta đi bệnh viện về, gặp tôi, ông ta nói:

_ “Tui ở bệnh viện mới ra, bị xe đè nhằm.”

_ “Ông bị căn cước đè chớ xe nào mà đè được ông!” Tôi nói đùa.

Khi ông ta còn làm trưởng ban căn cước, ông ta không khỏi bất mãn tôi.

Khi tôi còn ở Kiên Tân, toán của ông về đó làm căn cước cho đồng bào của quận tôi. Quận nầy có 96 ngàn dân. Khi hồ sơ làm căn cước được hoàn tất, chỉ huy trưởng địa phương ký tên trên biên nhận tạm thời. Chỉ huy phó tỉnh sẽ ký sau, trên tờ căn cước chính.

Buổi chiều, khi công việc của toán căn cước hoàn tất, tôi ghé lại ký biên nhận tạm. Tôi xem từng hồ sơ và ký tên trên biên nhận tạm cho những ai cư ngụ trong phạm vi quận của tôi. Tôi thấy có những hồ sơ ngụ ở các quận khác như Kiên Bình, Kiên An và cả quận Hiếu Lễ (Sát mật khu U-Minh của Việt Cộng). Tôi không ký những hồ sơ có địa chỉ ngoài quận. Trưởng ban căn cước liền gọi máy cho Đại úy Trịnh Ứng Hai, trưởng phòng Kỹ Thuật, từ Rạch Giá lái xe ra ký những hồ sơ nầy.

Sợ người ta nghĩ rằng mình làm khó, tôi nói chuyện với thiếu úy Rớt, phó của tôi:

_ “Anh có nghĩ trong các hồ sơ căn cước, có hồ sơ giả không? Làm sao phát hiện được? Không phát hiện được, sao ký ẩu. Phải không?”

Thiếu úy Rớt giải thích:

_ “Tui ở Cảnh Sát hơn chục năm nay, rành chuyện nầy hơn ông. Ai trên 40 tuổi thì quá tuổi quân dịch, khỏi đi lính. Vậy nên những người chưa tới 40 tuổi thì làm căn cước lớn tuổi.”

_ “Giá bao nhiêu?” Tôi hỏi.

_ “Bốn chục ngàn.” Thiếu úy Rớt nói.

_ “Nhiều người làm không?” Tôi lại hỏi.

_ “Thằng ấy mua đứt ông như không. Gây khó khăn cho nó, nó cho ông đi chỗ khác chơi, khỏi ngồi ở đây? Ông thấy không! Ông không ký biên nhận (tạm), nó cầm máy truyền tin gọi một tiếng, Trịnh Ứng Hai ra ngay. Anh trung sĩ ra lệnh cho ông đại úy thi hành. Buồn cười không?!” Thiếu úy Rớt lại giải thích.

_ “Còn ai làm căn cước giả nữa không?” Tôi lại hỏi.

_ “Không phải căn cước giả, căn cước thiệt, nhưng mắc tiền hơn.”

Tôi hỏi liền:

_ “Anh nói sao tôi chưa hiểu. Ai?”

_ “Việt Cộng!” Thiếu úy Rớt trả lời, mặt xịu xuống, giải thích thêm:

_ “Những thằng tỉnh ủy, huyện ủy, ở trong bưng, muốn có căn cước để đi Saigon, Đà Lạt chơi thì có ngay. Bản lăn tay thật, địa chỉ giả, tên giả, quá tuổi quân dịch. Đi đường ai bắt?!”

_ “Không sợ bị dân chúng nhìn mặt?” Tôi lại hỏi.

_ “Cũng khó nhìn mặt. Tụi nó chừa râu, cạo râu, để tóc, làm cho khác đi. Với lại, tôi nói đi Saigon hay Huế là để tránh mặt đồng bào địa phương. Giả tỉ như Trần Bạch Đằng, quê Rạch Giá nầy nè, muốn có căn cước, dễ quá. Bà con nó lo tiền, bản lăn tay đưa vô rừng cho nó lăn, xong đem về, kèm theo hình để râu, để tóc. Ít bữa là có căn cước cho thằng chả đi Saigon chơi!” Thiếu úy Rớt vừa nói vừa cười.

– “Tôi nhớ khi tôi còn học lớp nhứt, đọc “Nửa Bồ Xuơng Khô” của Vũ Anh Khanh, hình như trong tập 2 thì phải, có kể chuyện Trần Bạch Đằng vào Saigon, bị phát hiện chạy trối chết. Hồi đó chắc dễ hơn, chưa có giấy căn cước.” Tôi kể.

_ “Trên đó tụi nó ghê lắm, nhưng phe ta cũng nắm được đầu nhiều thằng. Ở đây dễ hơn. Có căn cước rồi, tụi nó ra Cần Thơ ăn cao lâu, coi cải lương, rồi … chơi bời; ai biết ai là ai. Có khi nó ngồi ngay trước mặt mình, mình cũng không biết.” Thiếu úy Rớt góp ý.

Tôi cười, nói:

_ “Giả tỉ như thằng Ba Kiếm ra đây, ai biết nó là ai không? Hồ sơ trận liệt đâu có hình.”

Sau nầy, khi trung tá Nguyễn Ngọc Thiều làm chỉ huy trưởng Cảnh Sát ở Kiên giang, Văn Công Võ bị đuổi khỏi chức trưởng ban, bị lập hồ sơ đưa ra tòa hay về bộ Tư Lệnh gì đó, tôi không nhớ chắc. Y được giải ngành, về dân sự, mua xe đò chạy đường Hà Tiên – Rạch Giá, chở hàng lậu. Cở nửa tháng trước khi y gặp tôi, tôi nghe báo cáo y bị xe của y đè. Xe chở hàng lậu trọng tải lớn quá, làm cho đường sá mau hư hỏng. Trời mưa, đất mềm, xe bị lún. Y cho con đội đẩy xe lên. Bất đồ, con đội bị lún, xe hạ thấp xuống, đè lên người y, may không chết. Y bảo là y bị xe đè. Tôi nói là y bị căn cước đè là do những sự việc như trên.

Cũng một hôm, khoảng 2 giờ chiều, thiếu úy Kiệt vào văn phòng nói với tôi: “Đại úy ơi! Trung sĩ Âu Quân cảnh Tư pháp Hà Tiên muốn nhờ đại úy giúp đỡ.”

_ “Chuyện gì dzậy?” Tôi hỏi.

_ “Nó bị thằng cha trưởng ty quan thuế làm khó! Nó có chiếc ghe chở đường, nhân viên quan thuế cho qua nhưng trưởng ty không cho. Tiền bạc sao đó! Thằng Ấu than “chịu không nổi”. Nó muốn nhờ chỉ huy trưởng.” Thiếu úy Kiệt giải thích.

_ “Chi mà làm khó dữ vậy. Nhờ tui bằng cách nào, tui làm gì thằng cha trưởng ty quan thuế được?” Tôi hỏi.

_ “Làm sao cho thằng trưỏng ty vắng mặt ở đó. Nhân viên của chả cho ghe qua là xong.” Thiếu úy Kiệt giải thích.

_ “Cái đó tui làm được. Nhưng ông có ăn chịu gì với nó không? “Phần nào thôi nghe em!” Đòi cao quá, sinh chuyện, mất công. “Ăn khế trả vàng.” (2) Tôi cười nói.

_ “Không có đâu đại úy. Tui dân Nam bộ, “điệu đời chút chơi”. Nhậu là chính, nhậu một bữa là coi như ta mình biết nhau là được rồi.”

_ “Vậy thì ông nói tài xế Nuôi xuống mời ông trưởng ty lên văn phòng tôi, nói là tôi có chút chuyện muốn hỏi ý kiến ông ta. “Điệu hổ ly sơn.” Được chưa?” Tôi cười hỏi.

_ Thiếu úy Kiệt cười hớn hở, nói:

_ “Ông người Huế mà chẳng giống ai, hèn chi quận trưởng khoái ông lắm!”

Tôi tin ông Kiệt nói thiệt tình, bản tính ông ta biết sợ cấp trên, nhưng không biết nịnh bao giờ.

Thế rồi tôi nói chuyện với ông trưởng ty vui quá, gần ba giờ đồng hồ mới xong. Khi tôi tiễn ông ta ra về, trời bắt đầu tối. Tôi vừa trở lại văn phòng thì thiếu úy Kiêt xuất hiện, nói:

_ “Trung sĩ Âu chờ đại úy quá trời, chờ không được, nó theo ghe đi Rạch Giá rồi. Nó gởi hai chục ngàn biếu ông.”

_ “Tui giúp nó chớ có đòi tiền đâu! Thấy ghét thằng chả trưởng ty làm khó người ta thì tôi chỏi lại chơi.”

Thiếu úy Kiệt cười:

_ “Được rồi! Tui biết mà! Nhưng kỳ nầy chỉ huy trưởng khỏi lo chạy tiền. Có công văn thông báo tuần sau phái đoàn thanh tra tới. Đại úy có tiền đãi phái đoàn ăn nhà hàng.”

Các ông chức cao quyền lớn ở Saigon, Cần Thơ không thể nào biết tới cái gian khổ, cay đắng của người dân, thân nhân binh lính, hạ sĩ quan, sĩ quan ở đây. Mọi người vì quá khó khăn phải đi buôn lậu, lời lãi không bao nhiêu mà gian khổ quá trời, kêu trời cũng không thấu. Chuyện xảy ra hằng ngày, nhắm mắt lại để khỏi nhìn mà được sao?!

hoànglonghải

(1) Ba Kiếm, bí thư huyện Châu Thành B, Rạch Giá, gốc Bắc vào Nam thời kỳ chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt (1945-54). Có người nói y là bố đẻ Nguyễn Tấn Dũng. Hồ sơ tình báo không ghi nhận hoạt động gì của y tại địa phương.

(2) “Ăn khế trả vàng. May túi ba gang mà đựng.” là chuyện cổ tích. Ngày xưa, có hai anh em nhà kia, cha mẹ chết cả. Gia tài cha mẹ để lại, người anh giành hết, chỉ cho người em cây khế. Một năm, tới mùa khế chín, có con chim đại bàng đến ăn khế. Thấy vậy, người em than:

_ “Đại bàng ơi! Tui chỉ có cây khế. Đại bàng ăn hết, tui lấy chi bán mua gạo.”

Nghe than như vậy, chim đại bàng nói:

_ “Ăn khế trả vàng, may túi ba gang mà đựng.”

Hôm sau, chim đại bàng tới, bảo người em cầm cái túi ba gang, leo lên ngồi trên lưng chim đại bàng.

Chim đại bàng bay tới một ngọn núi, toàn là vàng. Chim đại bàng bảo người em lượm vàng bỏ vài túi cho đầy, rồi leo lên lưng chim đại bàng chở về.

Nhờ vậy, người em trở nên giàu có. Người anh tò mò, hỏi em. Tình thực, người em có sao kể lại vậy.

Lòng tham nổi lên, người anh bèn giao hết nhà cửa cho em, chỉ lấy cây khế mà thôi.

Thế rồi, chim đại bàng lại đến, người anh leo lên lưng chim bay tới núi vàng. Thay vì may túi ba gang, vì tham, người anh may túi sáu gang. Khi về, bay ngang biển, nặng quá, chim đại bàng bay không nổi, bèn nghiêng cánh. Người anh bị rớt xuống biển, chết mất. Tham thì thâm là vậy.

“Ăn khế trả vàng” là câu tôi thường nhắc chừng thuộc cấp của tôi. Ăn hối lộ của người dân một, cơ quan an ninh hoặc thanh tra tới điều tra, lại phải chạy chọt, nhân viên an ninh lại ăn gấp đôi, có khi gấp ba mới thoát khỏi tội. Đúng là “Ăn khế trả vàng.” Tôi thường nói: “An ninh, thanh tra là cơ quan tham nhũng bậc hai. Chúng ta ăn bậc một, họ ăn bậc hai, chạy tiền chết luôn. “Ăn khế trả vàng.”