This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Như mọi lần, khi chiều tắt nắng, Gia vẫn ra ngồi ở chỗ ấy, bên sông. Như mọi lúc, tôi đi băng qua khoảng sân đất cất dấu nhiều bóng tối, để cuối cùng hình ảnh quen thuộc kia lại hiện ra. Chiếc ghế thấp như bất di bất dịch, sự dời đổi không hề xảy tới. Ngay cả dáng vẻ của Gia cũng thế, tựa hình khối một bức tượng. Cứng ngắt, vô hồn và cũ kỹ. Một sự chung thủy ngó nao lòng.
Dòng sông không bao giờ là một tấm gương óng ả. Nếu có, đó là một bề mặt luôn vỡ vụn. Nó không ngừng xao động và nó bẻ gãy cái thoi thóp của ráng chiều đang rãi đều xuống thân nó. Một hai con đò lặng lẽ trôi ngang, bếp lửa đỏ nhóm sau mui như con mắt vừa mở trừng, giây lát, rồi vội đóng kín, khuất lấp. Khói vướng viú trôi lui, một vệt xám cắt ngang tầm mắt, nơi mà đằng sau, phố thị bên sông đang lần lượt thắp sáng đèn. Nước mấp mé bờ, chỗ Gia ngồi, nó thì thầm mãi hoài một đơn điệu. Tẻ nhạt nhưng không nhàm chán. Như vỗ về, như nhắn nhủ. Gia từng kể, có khi thức giấc, sáng mai nhìn ra thấy nó hao mòn xuống thấp. Cũng có đôi khi nó âm thầm leo lên tới tuốt bậc thềm và nếu ta ngồi đây, ta phải chịu ngâm chân tới đầu gối. Gia có vẻ yêu dòng sông này. Cái dòng sông tuôn ra cửa biển và mang đi hết những người thân thuộc trong gia đình rong ruổi tới một bến bờ khác. Sao Gia còn ở lại? Đó là câu hỏi tôi từng nêu và chưa khi nào Gia đưa ra một câu trả lời hợp lý. Tôi thắc mắc bởi lẽ tôi nuôi hy vọng: Tôi chính là nguyên nhân khiến Gia khó giũ áo ra đi.
Chính quyền thì luôn có một bản án dành cho những kẻ trốn chạy kiểu ấy: “Phản bội tổ quốc”. Họ không hay biết đôi khi người ta ở lại chỉ vì những kẻ không may ấy lỡ bị cột trói bởi một thứ tình tầm thường nhỏ bé hơn. Tình yêu giữa tôi với Gia chẳng hạn. Và trong nhãn quang của hai kẻ yêu nhau, tổ quốc là thứ gì xa vời, trừu tượng; nằm ngoài những thao thức của hai kẻ đang bận lòng chia ngọt xẻ bùi. Tẳn mẳn, vụn vặt, nhưng khó có gì so sánh được.
– Bữa ni có chi lạ không?
Gia hỏi. Mỗi khi tôi tới Gia đều mở đầu bằng lời nói đó. Tựa tiếng sóng vỗ, nghe quen tai. Gia như luôn hoài nghi về cuộc sống này, về cái cách biến đổi không ngừng của nó. Dĩ nhiên quá trình của biến đổi sẽ sản sinh ra sau đó những chuyện lạ. Tôi thì không. Tôi thấy thời gian trôi chậm, trì trệ và mọi thứ tuồng như đứng yên. Hiểu ở một nghĩa nào đó thì tất cả đều đã tụt hậu, đã lùi về phiá sau. Nhưng mà cổ tích thì luôn ẩn chứa chuyện lạ. Thêu dệt, đặt điều cho nhiều vào, để lấp đầy khoảng trống.
– Thầy Huy đau nặng. Trong lớp phải sáng tạo ra một buổi lao động ngoài trời để điền thế tiết học.
Tôi nói, đồng thời ngó lên cái trang thờ bắt trên một thân cây. Cây nhiều lá và lá lan tràn như muốn bôi đen cái hộp gỗ vuông vắn kỳ dị ấy, vì thế trông nó tựa một cái chuồng bồ câu mà chim đã bỏ đi hoang. Cả Gia cũng không hay biết gia đình dựng nó lên để thờ phượng ai? Nhưng bao giờ, khi tôi tới, tôi cũng muốn thắp vào đó một vài cây hương. Một trang thờ không lạnh lẽo, điều đó cũng có nghĩa là kẻ ngồi bên dưới nó sẽ cảm nhận ít nhiều nỗi bình an trong tâm hồn. Tôi luôn bất an, tôi linh cảm một điều gì đó xấu xa đang chờ chực. Mơ hồ, không tượng hình, nhưng luôn ám ảnh. Tôi nghĩ tới khuôn mặt của thầy Huy, nét khắc khổ, sự cam chịu tỏa đầy trên con người thầy. Thầy ốm nặng và trong trường, mọi người thầm hiểu, đó là dấu hiệu khởi đầu về một cái chết. Thầy sẽ thực sự vắng mặt, sẽ bỏ đi. Không hôm nay thì hôm sau.
Hương không thơm, khói tỏa ra chẳng xua đuổi được đàn muỗi khát máu.
– Gia thì sao?
– Gia đan gần xong chiếc áo ấm. Chỉ có năm búp len, chắc phải chịu chật một tí.
Mùa hè vẫn còn dùng dằng nán lại. Chưa khi nào tôi mong là thời tiết sẽ chóng lạnh như bây giờ. Hãy bỏ băng qua mùa thu để đông trở về với gió mưa, với rét buốt. Tôi sẽ mặc chiếc áo Gia đan và giã từ nỗi cơ hàn luôn quấy phá hằng năm. Ôi, ấm áp biết chừng nào nếu người ta được mặc chiếc áo do tình nhân đan cho!
Tôi nắm đôi bàn tay Gia với ý nghĩ mười ngón mát lạnh ấy chẳng khác mấy đôi tay của những người nghệ sĩ tạo hình. Lá trong vườn giao động, như những giác quan trong người tôi đồng loạt tỉnh thức. Bồi hồi, xao xuyến. Chúng tôi hôn nhau và môi rời ra khi những con dơi đập cánh ngang qua làm rạn vỡ cái thời khắc cô đọng niềm hạnh phúc. Ba cây hương đã tắt. Trời không có trăng. Chiếc áo trắng Gia mặc cơ hồ như có tráng lân tinh, như cả triệu con đom đóm vừa quây quần tụ lại. Một thứ sắc màu rất hoang đường.
– Răng không thử đề nghị chở Gia đi chơi?
Gia nói. Nhỏ nhẹ, gió thoảng. Khuôn mặt nửa khuất lấp sau tóc phủ rối, nửa bày ra nét đẹp trắng xanh của một nhan sắc mà suốt ngày tôi vọng tưởng không nguôi.
– Đi những đâu?
– Chỗ mô cũng được, bị cấm cung cả ngày rồi!
Tôi tới lấy xe đạp dựng bên cây sầu đông, ý thức rõ rệt về nỗi buồn của một kẻ không tiền. Chưa bao giờ tôi mời Gia ăn một ly chè, uống được một cốc cà phê như bao cặp tình nhân khác thường bày tỏ cho nhau. Thầy Huy có lần mượn câu ngạn ngữ của Tây-ban-nha để nói với tôi: “Ngay cả khi trong túi hết tiền, cái mũ trên đầu anh cũng phải đội cho ngay ngắn”. Câu nói đơn sơ, chẳng rắc rối nhưng lắm lúc tôi không hiểu được. Nó nói tới nhân cách, có phải không? Và nhân cách, đó là điều mà tôi chưa từng thấy một ai có được ở thời điểm này. Người cha đi theo Cách mạng, ngày hòa bình trở về nhà hiếp dâm đứa con gái mười sáu tuổi của mình. Người mẹ vị thành niên chưa điên loạn ấy mang đứa con vừa lọt lòng đặt trước cổng chùa và cô không hề biết chùa chiền đã bị giải tỏa, lạnh vắng tiếng chuông…
Có tiếng chó sủa vu vơ trong bóng đêm. Tôi chở Gia thoát khỏi con đường kiệt hai bên trồng chè tàu như trường thành thẳng tắp. Gia nhẹ tựa một kẻ thiếu ăn, và đứa ăn không mấy no như tôi bao giờ cũng lấy gạo cơm để làm đơn vị so sánh. Thật thấp hèn, khốn khó và đáng nguyền rủa. Mối tình của chúng tôi sẽ thơ mộng biết chừng nào nếu được trưởng thành ở một nơi chốn khác. Tôi chia xẻ cùng Gia cái ý nghĩ ấy.
– Một nơi khác? Nơi đó biết có còn đủ đầy hai đứa không?
– Là sao?
– Là khi mình đạt được điều này cũng có nghĩa là mình sẽ chịu mất đi một điều khác.
– Anh sẽ đánh đổi hết mọi thứ để xin chỉ được có mỗi mình Gia.
– Anh nói như một kẻ tư bản chính hiệu. Anh hiện đang có những gì?
– Ừ, anh vô sản, anh trắng tay, anh tham sân si. Một tấm lòng vàng thì chẳng làm nên cơm cháo gì!
Tôi thở gấp khi đạp xe lên triền dốc. Mệt mỏi, già nua, cực lòng. Tuy vậy tôi muốn chở Gia đi tới một nơi xa xôi, quạnh quẽ. Tôi sẽ rã rời đôi chân, sẽ kiệt quệ sức lực tuổi xanh và rồi tôi sẽ ngã người xuống một bãi cỏ hoang liêu, ngữa mặt nhìn lên trời cao hấp hối ánh sao. Ba tôi kể, đêm Trường sơn bầu trời đẹp lạ lùng. Sao lấp lánh, sáng không đồng đều như số phận của mỗi một con người. “Bố mừng vì con còn đeo đuổi việc học mà không đi lính cầm súng cho Ngụy…” Và sau đó, sau đó là tiếng khóc tức tưởi không nguôi của em tôi. Tôi chẳng rõ bây giờ nó ở đâu? Hôm chia tay nó đóng bộ tịch cứng rắn: Em đi giang hồ, em xuôi Nam. Đừng lo cho em, con gái thời nào cũng lợi thế hơn bọn đàn ông con trai. Em bán bia ôm, em làm thợ mát-xa đấm bóp, em làm vũ nữ thoát y, em làm đĩ, em đi khách cho bọn Việt kiều hồi hộp…
Mặt nó lạnh căm, trân tráo; trong khi tôi không cầm được nước mắt. Chưa bao giờ trong tôi nổi cộm sự hận thù bằng lúc đó. Tôi muốn có được lòng can đảm, tôi muốn hóa thân thành một đứa vô học, nắm con dao trong tay run và chém vung vãi lên người bố tôi. Chiếc xe đò rời bến An cựu, mang em tôi đi trong thinh lặng nhạt nhòa. Tôi đứng chết sững với một niềm tủi hổ dâng lên, vô bờ. Tôi chửi tôi: Địt mẹ mày, thằng khốn nạn! Bố mẹ mày! Thằng không đủ tư cách làm anh…
Người ta gọi đây là đồi Từ hiếu, hay đồi Vọng cảnh? Tôi cũng không nhớ rõ. Hay là đồi Thiên an? Núi Ngự bình? Phương hướng, địa hình địa vật, tôi mù mờ khuấy quên. Sương muối ở đâu tới, dồn tụ trên hàng thông luôn đứng dáng mặc niệm, để phả xuống người chút gai lạnh, ẩm ướt. Chiếc áo Gia mặc lẫn vào dòng sữa đang trôi ấy và nó cho tôi cái ảo giác chúng tôi không hề là của nhau. Hoặc nó ngụy tạo ra, đây là một trò chơi trốn tìm, cố đào xới sự thật đang ẩn khuất. Tôi buông chiếc xe đạp và ngã cùng nó xuống bãi cỏ rậm. Những bụi mắc cở rùng mình đồng loạt khép lại tất cả mọi cánh lá. Nếu em tôi chết đi, kiếp sau em không thể hoá thân thành loài hoa trinh nữ bé dại này. Tội nghiệp em, mà cũng tội nghiệp cho cái ý tưởng của tôi. Tôi mở trừng mắt cố tìm kiếm một vì sao. Đất trời giao thoa liền lạc trong vũng mờ không biên giới, đậm đặc. Một bóng trắng hiện ra, án che, để sau cùng võng mô tôi đóng kín lại. Tôi ngửi mùi tóc Gia, hôn hít. Tôi ôm siết cơ thể Gia đang phủ lấp người tôi. Tôi lặng chìm trong thứ cảm xúc mình được chìu chuộng, được săn sóc, được vuốt ve, được thương yêu. Một dòng nước ấm, trơn nhờn vụt bắn ra khỏi cơ thể. Tôi rên lên, mường tượng tới tấm lưng trần của bố tôi, tới bàn tay thô bạo bịt kín miệng mồm em tôi và sau đó tinh dịch cũng như nước mắt đồng loạt chảy. Cả hai dòng cùng một cội nguồn tuôn lai láng…
Đám tang thầy Huy đơn sơ, lặng lẽ. Trước ngày thầy chết ít hôm, tôi có đến thăm, nhìn mặt lần cuối người đàn ông luôn đặt nặng vấn đề sĩ diện, nhân cách lên trên hết mọi thứ. Thầy hỏi: Bạn coi mình là con người hay thú vật? Tôi cúi đầu, nhìn cái bô mạ kền móp méo trốn dưới chân giường xiêu vẹo. Tôi là chiếc giường tre hay cái bô dơ bẩn kia? Tôi tự hỏi. Nếu tôi thú vật và thầy yếu lòng đánh mất sĩ diện, có thể tôi đã dìu thầy qua được cửa ải của thần chết. Chỉ cần tôi năn nỉ bố tôi, lạy lục cả tơi lẫn nón ông đảng viên thâm niên ấy, họa may ông sẽ khoan hồng giúp thầy Huy nhập viện, diện cán bộ. Mà cũng không chắc, đôi khi cái chết nó giúp người ta nhiều điều, nếu người ta quan niệm sự vắng mặt ở đời sống này là chuyện cần thiết chẳng hạn.
– Khám ở phường họ bảo suy dinh dưỡng, chẳng có gì phải bận tâm.
– Bạn như người trút hết sinh lực vào một chuyện bí ẩn nào đó. Hoặc không thì bạn là kẻ vướng tật thủ dâm… Trầm kha, nhợt nhạt…
Tôi cười:
– Được dạo chơi cùng lần với thầy thì thú biết mấy!
– Đừng đùa. Bạn tin tới thế giới siêu hình không? Bạn có bao giờ biết thắp hương cúi đầu khấn nguyện người khuất mặt? Hay bạn là đứa duy vật?
Buổi nói chuyện cuối cùng đó không diễn ra lâu. Gia đình thầy muốn tái lập sự lặng yên trong gian nhà nhỏ bé ngột ngạt ấy. Tôi đi về, suy nghĩ những điều thầy nói và nghiệm ra đôi khi người ta chẳng nên tạo cho mình cái sĩ diện hảo. Chẳng ích gì. Vì thế tôi làm mặt dày mày dạn, đội mũ không ngay trên đầu, mạnh bạo nện gót đến tìm bố tôi. Tôi đói khổ triền miên và tôi muốn có chút tiền lận lưng, bồi dưỡng cái thân thể nhợt nhạt túng thiếu trầm kha.
Bố không mấy vui khi thấy tôi. Ghẻ lạnh là đằng khác. Bên bờ sông, những đứa con riêng của ông đang câu cá, bọn nó tuồng như có một ngôn ngữ dị biệt để mang ra cợt đùa, những lời nghe lạ tai. Hai ba đứa thảy đều chửi thề không ngượng mồm và những mái đầu xanh ấy chẳng thể hình dung ra đứa ăn mặc rách rưới đứng ngó láo liên kia là anh cùng cha khác mẹ với chúng. Đây là lần đầu tôi đến tìm ông, nhưng sao cảnh vật ở nơi nầy trông quen thuộc quá. Lý ra chỗ kia có đặt để chiếc ghế thấp, lý ra nơi nọ phải có một lùm cây bao phủ cái trang thờ màu đỏ. Sao lại đốn chặt, khai quang tới độ trống trải lạ lùng?
– Mày không nên đến đây với một điệu bộ khẩn trương kiểu quái gỡ như vậy. Cầm chút tiền này và lần sau gặp chuyện hệ trọng nào thì hẳn tìm tao ở cơ quan.
Bố tôi nói. Ông bước sát vào người tôi như ngầm xua đuổi. Có thể ông đã thay tên đổi họ và thú thật tôi không tài nào nhớ nổi cái bí danh của ông ta. Chức tước ông khá lớn, ở ủy ban quân quản thành phố hay bí thư quái quỉ gì đấy tôi chẳng bận tâm. Cầm nắm tiền trong những ngón rịn đổ mồ hôi, tôi hiểu rõ buổi nhờ vã hôm nay là lần duy nhất và sau cùng.
Tôi cúi đầu bước vội khỏi vuông sân như đang mất dần sức hút, trọng lực. Vẫn là hàng rào hai dãy thẳng thớm chạy dài ra đường nhựa. Vẫn là quán bán chè nằm đầu ngõ với đám hoa dâm bụt đang đỏ thắm một cách riêng tư.
– Anh ăn chè hay uống nước chanh?
Đứa con gái chào đón. Nó khoảng tuổi mười hai. Nhỏ nhắn, dễ nhìn, nhanh miệng lẹ mồm. Nó biết phụ giúp gia đình để lao động kiếm ra đồng tiền. Nó hơn đứa lớn sầm đầu này mọi mặt. Tôi ngơ ngáo, bó tay quẫn trí không biết cách kiếm bạc và luôn dật dờ như một kẻ mộng du.
– Cho anh ly nước chanh.
Bóng nắng ghim xuống thân tôi lỗ chỗ những đốm tròn. Mái tôn che chắn phiá trên như từng mang thân ra hứng đạn. Tôi ngồi đếm những tờ giấy nhàu nát, chẳng mấy thơm tho. Có phải là đồng tiền nào cũng đều dơ bẩn? Tôi chẳng biết. Tôi đưa hết cho đứa con gái. Nó kẹp tóc đuôi ngựa, mặt có vẻ già so với vóc vạc nhỏ nhít.
– Mô có nhiều như ri. Chỉ là ly chanh đá thôi mà.
– Em hãy cầm hết đi, để rồi nói cho anh nghe một chuyện.
Đứa con gái ngập ngừng. Nó nhìn tôi như nhìn một cải tạo viên ngày đầu được phóng thích khỏi trại tù vĩ đại. Nửa thương hại, nửa nghi ngờ. Tọc mạch, khó hiểu.
– Anh muốn biết chuyện chi? Chị Hoa của em thì đi lấy chồng đã hơn ba tháng rồi.
Ly nước chanh hà tiện đường làm tôi nhăn mặt. Nó chua chát tới độ đáng ngờ vực vị giác mình.
– Em biết căn nhà mang số 33 ở trong xóm không?
– Có phải là cái nhà đã bị cách mạng chiếm đoạt tịch thu không?
– Đúng là em có biết. Em thử nhớ trước đây, trong căn nhà ấy có một người con gái tên là Công tằng Tôn nữ Hoàng Gia…
– Lạ lùng chi. Họ lần lượt kẻ trước người sau vượt biển hết rồi. Nghe đồn…
– Đồn đãi chuyện chi?
– Chuyến cuối, chiếc ghe chở họ bị đắm chìm…
– Em tin lời đồn nhảm ấy không?
– Tin. Có nhiều đêm mắc đái mà không dám ngồi dậy. Nghe có tiếng ai khóc thút thít thật gần, nghe bụi chè tàu ngoài nớ run lẩy bẩy như có ai lướt chạy ở trên.
Tôi nhìn những ngón tay đè lên tim của đứa con gái. Ngó nét mặt vừa biến đổi của nó để rồi cảm nhận rõ ràng ly chanh đá đã đông cứng trong buồng ngực tôi, như thanh đao lạnh lẽo vừa đâm thốc vào.
– Anh cũng sợ ma phải không?
– Đời nào. Tại vì em kể chuyện có duyên, hơi bất ngờ. Cám ơn em.
Tôi đi bơ vơ giữa trưa, trơ trụi dưới nắng. Không còn ai thân, tôi tìm tới ngôi mộ mới tinh màu sỏi đá ôm choàng lên thân xác thầy Huy. Tôi gục đầu trước tấm bia xi-măng đang rịn ứa mồ hôi. Tôi nhớ hai câu cổ thi Gia từng đọc lên để đố tôi, mà sau đó tôi đã phải cầu cứu tới thầy Huy, nhờ giảng giải:
“Các trung đế tử kim hà tại?
Hạm ngoại trường giang không tự lưu”.
Hai câu này của Vương Bột, dịch thoáng ra: “Đế vương giờ ở nơi đâu? Ngoài hiên sông lớn vẫn sầu lặng trôi”.
Tôi chảy nước mắt. Tôi đau buồn cho Gia đã không có được một nấm mồ. Hoàng Gia ơi, Em đang ở đâu? Đời sống này vẫn sầu lặng cuốn chìm lấy anh.
Hôm nay ngày đầu năm, thứ hai đầu tuần mình cũng đi làm như thiên hạ. Ra về tuyết mỏng, nhẹ rơi, câm nín. Đường tới métro trơn trợt, gió đuổi sau lưng, tự dưng buốt lạnh: Mình đang lần hồi già yếu đi, có phải? Lực vơi, dầu cạn, ngọn lửa yếu. Đèn dần lu mờ soi chẳng tỏ, ái ngại nhìn ra phận mình chẳng làm nên công trạng gì suốt tháng năm dài đầu tắt mặt tối. Sáng đi chiều về, an tâm vì có việc làm, chỉ rứa thôi. Không đòi hỏi, vui được ngày mô hay ngày nớ. Và ngày, ôi thôi, trôi rất mau. Hết xuân tới hè, qua thu lại gặp đông. Bữa ni lạnh dữ, xứ này chưa tới xuân, mùa màng xa nửa vòng trái đất kỳ khôi trái khuấy!
Trời lạnh, mình ghé chợ mua cá về kho với thịt ba chỉ, ớt trái cùng thơm cắt lát mỏng; vô internet họ bày sao thì nghe vậy, tùy miệng lưỡi mà gia giảm muối tiêu đường nước mắm. Chuyện ăn, mình chẳng nhiêu khê cầu kỳ, mình thích ăn cá vì tình cờ đọc thấy ở đâu đó câu nói cảm động, chân tình, và mộc mạc: “Cơm với cá như mạ với con”. Bao giờ cũng vậy, trước khi ăn, mình ra trang thờ thắp cho đấng sinh thành một cây nhang. Chỉ một, không ba cây vì ngại khói dâng rồi đánh thức còi báo động đề phòng hỏa hoạn. Nó thức, nó ré kêu thảng thốt, nghe mệt tai, nghe hồi hộp, mất sướng! Dĩ nhiên trên miếng gỗ mình mua từ cửa hàng Ikea về tự đóng lấy có đặt để khuôn ảnh trắng đen người mình thờ phượng hoài tưởng. Hôm nay mồng Một, mình nói cho mình nghe, rồi tự nhiên đâm nhớ tứ tung, quàng xiên về ngày tháng cũ.
Mạ mình thời trẻ ngó đẹp gái, chẳng biết trai làng có anh mô xao xuyến? Không nghe anh chị mình kể duyên do đâu thành hình một mối tình và rồi người lấy Ba mình làm chồng, để sau này chăm chỉ đẻ lai rai những mười đứa con. Trong “đội tuyển” của ông bà, mình khoác áo số 10 mà lại vào vai hậu vệ. (Một đội bóng đá, số 10 bao sân trên, thường là vua phá lưới). Mình là nâm-bờ ten, cú rặn cuối cùng, để mạ giã từ ngao ngán kiếp bầu bì sinh nở. Đẻ mình, nghe nói mạ không hao tổn sinh lực cho lắm, như thể ra đồng ẻ một bại, khỏe re. Cục thịt đỏ hỏn đặt lên bàn cân, kim độ lượng chỉ ngang lằn vạch 4 kí 200 gr. Bệnh viện nhỏ xớn xác, y tá nổi hứng bồng mình chạy đi khoe tứng lừng lựng: Ngó nì, ngó thằng cu con mụ tra nì. Ý nói già như rứa rồi mà đẻ thằng qúy tử bồng bắt trẹo tay, chưa kể cái khoảng nhan sắc: Ngó nì, cái mặt chộ dễ ghét chưa!
Người quê mình có cái dở mà cũng có cái dễ thương. Nói dễ ghét là do sợ vào điều gì đó, nói trại đi kẻo ai đó quở. Vì thế, tuy là bây-bi mà mình đã lộ ra cái vấn nạn dễ thương rất mực. (Chủ quan cũng có cái “dễ ghét” của chủ quan. Hihi). Chữ hoa cũng thế, kiêng cử nên đẻ ra chữ huê. Xứ Huê-kỳ. Một vài bông huê… Tên mạ mình là một loài huê hiếm, tựa như hoa Trang, màu trắng và thường nở rộ từng cụm lớn. Mình không muốn nói tên người ra, quen rồi, như thuở học trò luôn dấu kín tên cha mẹ bởi sợ bọn bạn nhất qủy nhì ma sẽ kêu đích danh khi đứng ngoài ngõ réo gọi đi học. Chắc bạn cũng từng gặp vấn nạn như vậy, để người trong nhà nghe được rồi quở mắng: Học trò học bè chi mà mất dạy rứa bây! Thiệt ba de… Giống hoa, thân thể mạ luôn sản sinh ra mùi quyến rũ. Mình đeo bà không sợ chúng bạn cười, lớn đầu rồi mà tối ngủ phải thò tay sờ bụ mạ mới an giấc. Ba mình đánh không nương tay do bởi cái tật xấu ấy. Đánh và chửi: Đồ con hư tại mạ! Mình nghĩ, quả nhiên mình có lỗi với ông, đeo mạ như rứa thì ba mình không có cơ hội để dụ khị mạ mình làm chuyện tối lửa tắt đèn. Giáo dục có khi phát sinh từ lòng ghen tuông. Mạ thằng Yên cưng thằng Út quá làm tao chẳng được xơ múi gì! Thôi đi tiá, bộ tiá hổng sợ tui có thêm đứa em sao tiá? Tiá nơ-pa nhưng má ngán sinh con thì nên để cho bả nghỉ hưu chớ. Bệnh viện kêu là mụ tra thì phải nên hiểu là rơi vào hạng tuổi đó, người thông thường chả còn tơ vương ham muốn chuyện mần ăn. Xem ra để cho thằng út sờ bầu sữa mẹ e dễ chịu hơn là hứng đỡ cái thân xác nặng nhọc của ba thằng Yên. Yên là tên gọi nựng nịu đứa con đầu của hai người. Mình sinh sau đẻ muộn nên chả biết mặt ngang mặt dọc của tay “đầu sỏ” kia. Ổng bỏ nhà đi làm cách mạng từ đời tám hoảnh cơ. Mạ mình quay quắt thương nhớ. Gạt lệ đôi ba phen để âm thầm tìm cách đi thăm đứa trai trưởng. Nghe nói mạ mình thu vén việc nhà, cực khổ lặn lội ra tuốt ngoài Vinh, han hỏi bới xách cho kẻ bỏ nhà ăn bờ ngủ bụi ấy, chẳng biết phút giây đoàn tụ ngắn ngủi kia có làm cho bà nguôi ngoai phần nào? Có nghe được lời hứa hẹn gì không? Mình ghét thảy những đứa nổi loạn ưa đi làm cách mạng, bởi ít ra, trước mắt, cái đứa ấy vô tình hành hạ xác thân mạ mình quá lắm. Anh bất hiếu cũng chừng mực nào đó thôi, sao không lo ở cạnh người để phụng dưỡng mà dâng hết tuổi xanh cho một bọn người cuồng tín với những học thuyết xa lạ? Từ đó về sau nhà mình đoạn tuyệt hẳn với đứa con “rơi” kia. Tựa như anh bị thẻ đỏ, truất quyền thi đấu, kéo áo che mặt hổ ngươi buộc phải rời khỏi sân cỏ. Đội tuyển thưa người dần nhưng điều đó chẳng khiến ba mạ mình đỡ chật vật một mảy may. Trong sổ gia đình ghi, ba mình: công chức, mạ: nội trợ và một dọc con cái bên dưới toàn là học sinh. Ngần ấy miệng ăn nương nhờ vô hai chữ công chức, mà công chức hạng trung một đời trong sạch. Đói cho sạch rách cho thơm. Giấy rách phải giữ lấy lề. Đại loại thế, là thứ phương ngữ mà ba mình ưa nói. Thanh bần, đạm bạc, hơi bị nghèo là hoàn cảnh sống của gia đình mình thời ấy. Mình nhỏ nhít, lại ham chơi nên chẳng lưu giữ những đắng cay thuở nọ, chơi không sợ mưa rơi. Hết thả diều thì đá banh, cầm sào hái trộm trái cây vườn kẻ khác, cầm que có bôi keo để bắt ve, moi lỗ đổ nước để bắt dế, suốt ngày chạy rông ngoài đường để chiều về mạ quở: Úi chào, cái đầu hôi cứt trâu, mồ hôi mồ kê rít chìn chịt như hủ mật, có ra giếng tắm lia tắm lịa không thì nói. Ăn ở kiểu mất vệ sinh như ri đây đố họa tối ni tao cho nằm chung.
Dĩ nhiên là mình trần như nhộng sau đó, đứng bên giếng cho mạ mình xối từng gàu nước ngộp thở. Mạ kì cọ, mạ giứt đất, mạ bôi xà phòng 72 phần dầu. Răng con cu hắn sưng ri? Con không biết, chắc bị kiến cắn mạ nờ. Con đừng ngẳng nghịch đái trước am miếu mà bị thánh thần khiển trách. Với mình, mạ có cả vạn điều răn, mạ chuyên cần nói tới điều hay lẽ phải. Và mình thuở nọ giống cái gàu bị thủng, hứng chẳng đầy những lời vàng ngọc kia. Dạ dạ cho có lệ rồi sáng mai lòng vẫn hồn nhiên theo chúng bạn bổn cũ soạn lại. Rứa đó, nhỏ nhít mà, làm sao tránh đi trên con đường “thơ mộng” ấy? Nhưng tình ngay thì mình không hề là đứa phá làng phá xóm, mình ngon cơm hơn mấy đứa khác. Chúng hả? Đi ăn cắp hương hoa quả phật trên bàn thờ người ta bày cúng ngoài trời, đi rình mấy o mấy chị tắm sông tắm giếng, chúng hoang dàng trời và chúng “sáng mắt”. Mi còn con nít ranh, tụi nó nhận xét về mình như rứa đó. Mi nỏ biết rình bụi môn mà dòm Nguyệt Nga đi ẻ chùng ẻ vụng. Ui chào, cơ thể đàn bà con gái hắn lạ lùng lắm thê, nói không ngạ. Chỗ ni thì lồi ra, chỗ nớ thì có tóc, nơi nọ thì… nơi kia thì… Chúng sa đà tả tình tả cảnh mặc dù đứa nào đứa nấy đều bị ăn hột vịt môn luận văn. Ai đời cô ra đầu đề: “Em hãy tả người mà em yêu thương nhất trong nhà” thì có đứa viết như ri: Trời ơi, ngó xuống mà coi, một lòng hy sinh không chịu ngủ để canh chừng ăn trộm, một dạ trung thành không phản bội, đeo cứng bên chưn cẳng lại còn vẫy đuôi lè lưỡi liếm. Em thương con Vện nhà em không bút mực mô noái hết.
Tuy không đứng đầu môn luận văn nhưng bài tập của mình cũng được cô đọc cho cả lớp nghe. Cô nói, đây là một trong năm bài mà cô ưng ý, bởi khi nói về mẹ mình các em này đã biểu lộ cái thành thực dù vụng về. Công sinh thành dưỡng dục thì ngay cả cô cũng không đủ sức để viết hết ra giấy và cô thấy chúng ta chỉ cần lòng thành là đủ. Lòng thành cũng khiến người ta cảm động. Bài luận ấy mình viết khá dài, mình nói về một đêm mưa và mình ấm áp vô hạn khi có mạ mình ngủ sát bên lưng, chẳng có gì an toàn hơn khi mình ý thức đó là nơi nương tựa có một không hai; mình nói khi yêu thương mình chẳng đề ra một điều kiện nào cả, sai đi mua thuốc Cẩm lệ ngoài phố là mình cầm tiền chạy u đi ngay. Và mình kết luận, có lẽ suốt cả cuộc đời, điều mình ao ước là mạ mình mãi khỏe mạnh, mãi an vui để sống lâu, nhìn nhận ra thằng con út của bà đã trưởng thành qua bao gian khó.
Mạ mình gặp bạo bệnh, anh chị mình đem người vào Sài-gòn để điều trị nhưng các bác sĩ trong bệnh viện nổi tiếng ấy bó tay. Bà hấp hối, tay chân lạnh ngắt, khi mang bà về lại Đà-nẵng mạ mình mới thật sự ra đi. Anh chị mình giải thích: Mạ dùng tàn hơi để mong nhìn thấy em lần cuối. Xin cho mình được cải lương ở đây, bao nhiêu lạc thú và mộng tưởng về cuộc đời của mình đều sụp đổ ở phút giây oan nghiệt ấy. Mình sẽ phải gắng gượng bước đi trên con đường hoàn toàn chẳng có ánh mặt trời. Mình ngồi bên quan tài câm lặng trong ba đêm, mình cắt giấy thành hình hoa sen và dán thành quả vụng về kia quanh áo quan sơn đỏ. Mình nói với người nằm xa hơn một đâu lưng: Con đang là kẻ mù, con tuyệt đối không nhìn ra một lối đi khi ngày mai người ta chôn mạ xuống ba tấc đất.
Mình từng nói ở đâu đó, trong một cuộc phỏng vấn đã lâu, rằng mình luôn quý chuộng các vị phụ nữ, nghiệm lại, có thể do bởi trong tâm mình luôn tỏa sáng hình ảnh mạ mình. Hồi xưa bà là người ưa thích đọc sách truyện, điều ấy vô tình bà cấy vào người mình lòng yêu văn chương. Mình viết văn và tiếc thay mạ mình chẳng thể đọc được những thứ nhăng cuội này. Mạ ơi, ngoại trừ bài luận thuở đầu đời, con chưa hề một lần ngợi ca tấm lòng mạ dành cho con. Con đúng là đứa tệ hại, hệt như khi người ta chê bai ai, họ có sẵn câu: Đồ nâm-bơ-ten!
Mình muôn đời là số 10, chẳng thể le lói 1, 2. Xin được ngụy biện lần cuối: Viết về một người Mẹ, mình biết dùng những từ gì để chuyên chở cho vừa đủ? Người xưa dặn dò: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Họ ví von, đó là chuối, như mật, tợ đường miá lau… Liệu chúng ta có nguôi ngoai với thứ hình ảnh nghèo nàn kia không? Hơn một lần họ đã bất lực, và mình cũng đã bất hiếu. “Mẹ ơi xin đánh con đau, để con hiểu thấu vết thương dại khờ”.
Mồng một, mồng hai, mồng ba. Mấy ngày tết lưu lạc mình chỉ ăn cơm với cá. Không mứt món, không bánh chưng bánh tét, chẳng “cầu dừa đủ xoài”. Không pháo nổ (đã đành) chẳng lì-xì (chuyện tất yếu). Không rượu nồng (đau gan, ăn tục nói phét). Không nhìn thấy “chỗ ni lồi ra, chỗ nớ có tóc”. Trời lạnh căm, mình co ro ngồi gõ chữ và chữ thì quá đỗi thanh bần. Các bạn thân mến, ngày đầu xuân, hãy vị tình nếu mình nói điều không vui. Xin cho mình sống lại chút hương vị ngày cũ, dẫu mỗi một hồi tưởng là mỗi một đớn đau. “Tết nhất làm chi, ai bày?” Mình ra bếp, chuẩn bị ăn “cơm với cá như mạ với con”. Rứa thôi. Đòi chi hơn?!
Hướng về Nông thôn – Phần 2: Tôi đứng giữa đồng nâu
Về tới Vàm Rầy, tôi thấy Ba Hà đang ngồi uống cà-phê với con Hòa. Tôi nghĩ thầm “không lý cha nầy cũng lăng nhăng vậy sao?” Dừng xe xong, tôi vào ngồi cạnh Ba Hà sau khi chào hỏi ông ta. Thấy tôi nhìn ông ta rồi nhìn con Hòa, Ba Hà nói như để đánh tan sự nghi ngờ của tôi:
_ “Hôm qua con nhỏ nầy về tới Rạch Giá, nghe tôi đi Dzàm Rầy, nó xin quá giang.”
Con Hòa cũng lanh trí, nói thêm:
_ “Chú Ba với ba em ngày xưa là bạn. Hai ông nhậu với nhau hoài.”
Lời nói của hai người làm tôi nhớ tới việc tôi với con Lý ở với nhau tại khách sạn Tân Hòa mấy bữa trước. Tôi ở lại với con Lý được mà với con Hòa tôi không có ý đồ gì cả. Ba Hà chắc cũng vậy, đừng nghĩ bậy cho ông ta – tôi nhủ thầm -. Đó là cái gì người ta còn lại một chút tình đồng đội với nhau, để khỏi tự mình thấy xấu hổ với mình.
Tuy nhiên, với gia đình con Hòa, hay nói đúng hơn là với ba nó, một người vô làm “rờ-sẹc” thời Tây còn đô hộ, khi ông ta còn trẻ, và cả nhạc phụ ông ta, Huỳnh Công Tấn, một người từng theo Tây, phản Trương Định, góp phần vào việc tấn công Nguyễn Trung Trực, khi ông Trực đem quân về đóng ở núi Hòn Chông, thuộc quận Kiên Lương. Chị em Hòa là cháu ngoại ông Huỳnh Công Biện, con trai Huỳnh Công Tấn.
Khi tôi phục vụ ở Gò Công, tôi thuê nhà ông Biện. Biết ông Biện là con trai ông Huỳnh Công Tấn, tôi có vài suy nghĩ.
Nhà ông Biện không giàu. Ông cũng làm “rờ-sẹc” cho Tây ở Gò Công. Cha thì phản quốc, theo Tây; con thì làm mật thám cho Tây, người ta thường gọi mỉa là làm “chó săn” cho Tây, để được cái gì?
Câu chuyện nầy làm tôi nhớ câu nói của “Ông Năm Chuột” của Phan Khôi trong truyện ngắn cùng tên đăng trong cuốn “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc” của Hoàng Văn Chì: “Cha thì chết vì Tây mà con thì ra làm việc với Tây.” Câu nói của Năm Chuột làm cho Phan Khôi “chột dạ”. Phan Khôi là cháu ngoại cụ Hoàng Diệu, người thắt cổ chết ở Văn Miếu khi Tây đánh chiếm thành Hà Nội; về sau, con cụ Hoàng Diệu ra làm tri huyện khi Tây đã cai trị nước ta. “Miệng thế gian” là vậy đấy! Ai cấm ai được?!
Người cháu nội – con ông Biện – là Huỳnh Công Bạch, trung úy đại đội trưởng một đại đội Địa Phương Quân của tiểu khu Gò Công, tăng cường cho tiểu khu Kiến Hòa, tử trận cách đây mấy tháng. Ông Biện, ông Bạch, ông nào cũng là con trai độc nhất. Ông Bạch có vợ, có đứa con gái. Dòng họ Huỳnh này coi như thế là “tuyệt tự”, nếu theo cách người xưa “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Tôi không biết con Hòa có biết nó có một người bà con, con gái ông Bạch để nhìn nhau hay không!
Một thời ông Huỳnh Công Tấn hét ra lửa ở miền Nam nầy, sợ Tây nên dân chúng cũng sợ ông Tấn. “Sợ cọp nên sợ cứt cọp” Tục ngữ nói như thế. Nhưng nhìn lại một dòng họ kết thúc như thế, cũng buồn lắm, phải không?
Tôi hỏi Ba Hà:
_ “Anh về chơi hay có công chuyện gì không?”
_ “Tôi về gặp anh đây. Việc định cư đồng bào xứ anh xúc tiến chớ?” Ba Hà hỏi.
_ “Vâng! Xong rồi. Chờ lệnh ở tỉnh.” Tôi trả lời.
_ “Không chắc đâu. Trước hết tôi muốn nhắc anh một việc như ngày xưa: Thời ông Ngô Đình Diệm, xã trưởng không do dân bầu, mà do tỉnh chỉ định. Mấy ông xã nầy dựa thế lực ông lớn, coi dân có ra gì đâu! Tỉnh, trung ương cung cấp gì thì mấy ông xã ăn chận, ăn bớt. Mặt khác, thấy dân ai có chút máu mặt thì vòi vỉnh. Họ có phải là người cùng xứ để giữ một chút thể diện hoặc tình bà con, chòm xóm với nhau! Trong tương lai, khi dân định cư tới đây, “tôn”, xi-măng, gạo, muối… làm sao những chuyện cắt xén, ăn cắp, ăn chặn… như thế không xảy ra.” Ba Hà nói.
_ “Nếu còn tôi ở đây,” Tôi trả lời, “tôi xách đầu tụi nó ra tòa. Tui mới “dẫn trình biện lý” xã trưởng Tạ Phước Thiện về việc tham nhũng ở xã Bình An, anh biết không?”
_ “Biết chớ! Vậy tôi mới về đây tìm anh.” Ba Hà nói thêm.
Ba Hà nói tiếp:
_ “Chuyện cấp đất cho dân, do anh hoạch định?”
_ “Không! Tôi chỉ phụ với phó Nghiêm. Ông lo về mọi sinh hoạt, tôi đặc trách về trật tự, an ninh.” Tôi nói.
Ba Hà nói: “Tôi muốn nhắc anh một điều quan trọng, đừng làm như “ấp chiến lược”.
Tôi cãi:
_ “Tôi nghĩ “ấp chiến lược” hay lắm chứ, ngoài nông nghiệp, chương trình của ông Ngô Đình Nhu còn chủ trương giáo dục, y tế…”
Ba Hà cướp ngang lời tôi:
_ “Tôi không nói lý thuyết. Lý thuyết thì hay lắm. Cứ ngồi ở Saigon mà suy nghĩ, nhiều khi nghĩ bậy cũng cho là hay. Tôi muốn nói về căn bản.”
Tôi hỏi:
_ “Về căn bản là cái gì?”
Ba Hà giải thích:
_ “Trước hết, nơi người dân định cư là phải có nước ngọt. Anh thấy không, dọc theo kinh xáng nầy, nhà dân ở giữa kinh xáng và lộ, mặt nhà ngó ra kinh, lưng quay ra lộ. Bên kia kinh, nhà cũng quay mặt ra kinh. Kinh nằm dài ra, thành ra khu dân cư có cái hình chủ nhật, dọc theo kinh. “Ấp chiến lược” của ông Nhu gom dân lại ở trong một cái hình vuông hay hình tròn. Vậy là hỏng, gây khó khăn cho sinh hoạt của dân chúng. Muốn có nước ngọt phải đi xa cả mấy trăm thước, ra khỏi cổng “ấp chiến lược” lấy nước về, lại phải sắm lu mái chứa nước; khác với trước, đi mấy bước, quăng cái gàu xuống kinh kéo nước lên, dễ dàng biết bao nhiêu! Lại còn bao nhiêu cái khổ khác, ấn định giờ giấc mở cổng vào ra ấp, soát xét đồ đạc đem theo, làm như dân là tù…”
_ “Tôi nhớ hồi đó người ta có nói cọc sắt kẽm gai làm hàng rào “ấp chiến lược”, ngăn ngừa Việt Cộng, hữu hiệu lắm. Tôi góp ý.
_ “Hữu hiệu con mẹ gì. Hàng rào đó rào ai? Rào người dân? Dzậy là thua rõ ràng. Cái hàng rào trong lòng người dân là cái hàng rào tốt nhất, hay nhất, hữu hiệu nhất, bền vững nhất. Các “quan” ở trung ương ngu thấy mẹ, chỉ nghe báo cáo không. “Làm thì láo, báo cáo thì hay.” Họ coi người dân như người tù, như nô lệ.” giọng Ba Hà gay gắt, bất mản.
Tôi cười:
_ “Khi tôi làm việc ở dinh diền Cái Sắn, tôi biết được một điều hay lắm. Người ta dùng cọc sắt kẽm gai để đúc cột nhà. Vì lớp sơn ở cọc sắt tốt quá, nên xi-măng không “ăn” được. Về sau, người ta phải đốt cho lớp sơn đó cháy đi, xi-măng mới “ăn”. Cha Uyển ở Kinh 6 “Rọc Bà Ke” nổi tiếng buôn cọc sắt kẽm gai để dân làm nhà, thay vì để rào “ấp chiến lược”.
Ba Hà cũng cười:
_ “Dân dinh Điền Cái Sắn thì cần gì rào “ấp chiến lược”, Việt Cộng nào mò về tới đó, chưa kịp làm gì, dân người ta nắm đầu mất rồi. Quyền lợi sinh tử của dân mà.”
_ “Tôi biết xe be lấy gỗ của đức Cha, của bà Nhu vô trong rừng sâu cũng đóng thuế cho Việt Cộng cả đấy. Ai bắt bớ gì đâu! Đó cũng là “quyền lợi sinh tử” của họ thôi.” Tôi giải thích.
_ “Anh nói quyền lợi sinh tử là tôi không tin. Có quyền trong tay, họ có nhiều quyền lợi khác nữa, chớ gỗ thì sinh tử gì đâu, chỉ là tham mà thôi!” Bà Hà góp ý. “Chỉ có dân nầy là nghèo”. Ba Hà nói thêm.
_ “Thời cụ Ngô, tôi có nghe một vài chương trình cho nông thôn: “Nông Tín Cuộc”, “Cộng đồng Đồng tiến”, “Cải tiến Dân sinh”… Mấy năm nay không nghe nói có chương trình gì lớn cho dân. Dân ở đây làm ruộng nhưng không có khả năng, không có tiền, sống bằng giăng câu, đặt lợp, tát cá trong bưng, đốn tràm trong rừng. Có dễ dàng gì đâu! Việt Cộng cấm cản, bắt chẹt đủ cách. “Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ, đốn tràm xanh rước Mỹ về nhà”. Anh biết cả rồi đó!”
_ “Tôi chẳng muốn gì. Tôi chôn nhau cắt rốn ở đây, lớn lên ở đây, sướng khổ ở đây. Nội tôi về đây, cha tôi ở đây, tôi sinh đẻ ở đây, chỉ muốn về sống với bà con, làm xã trưởng mà lo cho bà con. Đời vậy là thỏa mãn lắm.”
_ “Nghe nói cụ nội anh về đây sau khi trốn khỏi Hòn Chông?” (3) Tôi hỏi.
_ “Hồi đó ông Trực thua rồi (3), nghĩa quân tan rã, ai trốn đường nấy. Nội tôi trốn về đây làm ruộng. Nhờ dân che chở mà ông khỏi tù tội. Thành ra cha con tôi cảm cái ơn của đất nầy, bà con ở đây nặng lắm. Đó cũng là điều tôi không muốn bỏ dân mà đi đâu!” Ba Hà giải thích.
_ “Nghĩ cũng buồn cười!” Tôi nói. Con Hòa là cháu Huỳnh Công Tấn. Cụ nội anh là người theo ông Trực. Vậy mà rồi, hai người bây giờ đứng chung một phe.”
_ “Đau đớn là chỗ đó. “Vàng thau lẫn lộn”. Đó là cái mưu thâm của Cộng Sản. Nhất Linh chạy theo quân Tưởng mà qua Tầu thì sao? Những người chống Tây phải trốn vào Bùi Chu, Phát Diệm núp bóng Cha Sáu đạo Thiên Chúa thì sao? Đó chính là cái thế sinh tử.”
_ “Xã Àn nói với tôi, có thời anh lên núi Bà Đen?” Tôi hỏi.
_ “Hay nhứt là con đường của ông Trình (4) anh à! Chống Tây, chống cả Cộng Sản. Ổng ở trên núi một mình, ông là vàng, không lẫn lộn với thau được. Tôi phục ổng lắm.”
_ “Xã Thiện là cháu ông Sơn Nam đấy! Trong nam nầy, người ta chuộng Sơn Nam lắm. Anh cho xã Thiện mất chức là về việc gì?” Ba Hà hỏi.
_ “Chẳng có gì quan trọng đâu! Xã Dậm cũ “chơi” xã trưởng mới. Ganh nhau mà. Tui biểu phó Nghiêm lo dàn xếp đi, làm ra mất lòng ông quận! Việc dàn xếp không xong, tui phải “dẫn trình biện lý”. Nội vụ chỉ có công trình đắp đập chỉ có năm chục ngàn là cao nhất. Thưa ở biện lý mà.” Tôi giải thích.
_ “Có năm chục ngàn, có đáng gì đâu! Người ta ăn cả trăm, cả triệu thì sao!” Giọng Ba Hà dài ra, chán nản. Rồi anh ta nói tiếp:
_ “Tui lo cho cái chương trình định cư của anh quá!”
_ “Lo gì? Tôi hỏi. “Phó Nghiêm dự trù cấp cho mỗi gia đình khoảng hai mẫu.” Tôi nói tiếp.
_ “Đấy! Anh chưa có kinh nghiệm đâu! Tôi sợ cách làm việc máy móc như vậy đấy! Mỗi gia đình hai mẫu. Còn bao nhiêu công việc khác nữa: khai hoang, đốt đồng, dẫn thủy… xã phèn, cày bừa, công cấy, công gặt. Ai giúp đỡ họ, ai hỗ trợ tiền nong, trả tiền cày, tiền gặt, phơi phong, tiền mua giống, phân bón, trừ sâu… Đâu có đơn giản.”
Nghe Ba Hà nói, tôi thấy rõ hơn cái khó khăn của người làm nông:
_ “Căng nhỉ?”
_ “Không làm được, người ta bỏ hoang, bán rẻ, người mua ruộng, ai mua nhiều thành chủ điền, lại xuất hiện giai cấp mới, lại bóc lột, Cộng Sản có chỗ sinh sôi, như trước, hồi còn Tây. Anh coi như nhà Tư Sậm, nó có con trai, sẵn sức lao động, làm ăn thành công. Rồi nó mua hết ruộng người ta cho mà coi, thành chủ điền mấy hồi. Anh thấy không?” Ba Hà hỏi.
_ “Sao anh tiên đoán được vậy?” Tôi hỏi.
_ “Có gì đâu! Tôi sinh ra ở đồng, lớn lên ở đồng, tôi biết chớ. Chính quyền không cần đào tạo cán bộ trung cấp, cao cấp. Vô ích. Phải đào tạo cán bộ xã ấp, hạ tầng cơ sở như tôi. Lấy người ở xã như tôi mà cho đi học. Hồi xưa, bọn tôi chỉ có tiểu học là cao. Đời bây giờ, bọn trẻ học tới cấp ba, đại học nên dễ huấn luyện hơn. Cứ có trình độ làm xã ấp là được. Xã ấp là quan trọng.” Ba Hà nói một hơi.
Ba Hà nói tiếp:
_ “Anh biết, bên Cờ Đỏ, Tây làm ruộng nó cũng phải lo đào tạo cán bộ nông nghiệp cho nó vậy. Đâu cần người có học cao: Lớp Tư, lớp Ba… đọc viết được là được. Tây tuyển cho đi học xịt thuốc trừ sâu, bón ruộng, chọn lúa giống, lúa xuất nhập kho, cọng trừ nhân chia… Tới hồi Nam Bộ Kháng Chiến, mấy ông ấy đi lính ông Ba, ông Năm, sau nầy sát nhập Quân Đội Quốc Gia, cũng làm lớn cả đấy, như ông đại tá S. ở Cần Thơ bây giờ nầy, hồi xưa ở sát nhà vợ tôi.”
Tôi nói: “Thời thế tạo anh hùng” mà anh, tục ngữ nói vậy rồi. Nếu không có cảnh máu đổ xương rơi, lớn lên họ làm gì? Giặc giã triền miên mấy chục năm, xứ Vàm Rầy nầy trở nên tiêu điều, dân tình điêu linh. Nhìn lại nơi chôn nhau cắt rún, ai khỏi buồn lòng!”
Một lúc, anh ta nói tiếp:
_ “Tôi nghĩ làm tổng thống mà dễ, làm xã trưởng mới khó. tổng thống muốn cái chi, chỉ ra lệnh. Xã trưởng à? Phải tự làm lấy: Làm sao trong xã không có người đói, làm sao trong xã không có người thất nghiệp, không có trộm cắp, làm sao trẻ con được đi học hết, làm sao ai đau cũng có y tá, cấp đủ thuốc men… Anh nghĩ làm xã trưởng như thế có dễ đâu!”
Tôi trầm ngâm, suy nghĩ về những lời Ba Hà nói. Việc nầy, tôi đã từng “đụng độ” với xã Thông – Nguyễn Thành Thông – ở xã Yên Luông, quận Hòa Lạc, Gò Công. Y nổi tiếng làm điều “ngang ngược”. Xe “hủ lô” đang cán đá trên con đường ngang qua xã. Y lấy xe đạp của y cản trước xe hủ lô, không cho chạy. Y cho rằng đá trải xuống đường mỏng quá, không đủ tiêu chuẩn. Trưởng ty công chánh phải xuống dàn xếp. Khi tôi được lệnh điều tra việc nầy, y nói: “Tôi muốn việc chi trong xã tôi cũng đều tốt đẹp cả, ngon lành cả. Tôi đòi đường cho dân xã tôi đi, tôi có đòi “ăn đá” đâu.” Tôi đem việc ấy kể lại với một người bạn đang làm ở phủ Đầu Rồng, người bạn nói “Thằng cha đó làm được đó. Trung ương ở đây “kín cổng cao tường” biết mẹ gì việc xảy ra cho dân chúng ở chỗ quê mùa xa xôi.” Câu nói làm cho tôi nhớ lập luận của giáo sư Lê Trí Viễn bàn về Chinh Phụ Ngâm mà tôi đã nói ở phần trước.
Một lúc, tôi hỏi Ba Hà:
_ “Tôi còn thắc mắc về vụ làm ruộng. Cấp ruộng cho dân mà dân không làm được ruộng thì sao?” Tôi hỏi.
_ “Phải thành lập tổ hợp, hợp tác xã. Không phải làm như Việt Cộng. Đâu phải chỉ có một thứ khuôn mẫu Việt Cộng mà thôi. Mình phải nghĩ ra cách thích hợp với tình hình mỗi địa phương.” Ba Hà nói.
_ “Như trong “Con Đường Sáng” của Hoàng Đạo?” Tôi hỏi.
_ “Tôi không biết sách đó, nhưng phải từ ấp, năm mười nhà thành một tổ hợp, một hợp tác xã. Tôi nghĩ làm được.” Ba Hà trả lời.
_ “Cái nầy tôi cũng chưa nghĩ ra.” Tuy nói thế, nhưng trí tôi nghĩ tới Minh Đạo của Hồ Hữu Tường. Về khoản nầy, ông Tường nói cũng còn mơ hồ.
Tôi uống hết cốc ca-phê, rồi hỏi Ba Hà:
_ “Tôi cố gắng hiểu anh, bởi vì tôi sinh ra, lớn lên ở thành phố; học hành, đi dạy ở thành phố, biết thôn quê qua sách truyện. Về đây, cái chi đối với tôi cũng lạ lẫm. Tôi nhớ một chuyện buồn cười. Hồi nhỏ, đọc sách Quốc Văn của anh chị tôi học, có bài “chim Sơn Ca”. Tôi mê lắm. Nó bay rất cao, không thấy nó đâu cả mà tiếng nó hót vọng xuống nghe rất rõ, rất hay. Tôi từng cố tìm hiểu xem chim sơn ca là chim như thế nào. Sau nầy, lớn lên, về quê chơi, tôi mới biết chim sơn ca là con chim ở quê tôi người ta gọi là “chim chiền chiện”. Chim chiền chiện thì có gì lạ! Nhưng khi ta bắt nó nhốt vào lồng thì nó không hót nữa. Nó chỉ hót trên quãng trời cao mà thôi. Lạ không? Không lý nó có tâm hồn một nghệ sĩ, chỉ sáng tác được thơ văn khi có tự do?”
Ba Hà cười:
_ “Anh biết anh thiếu cái gì không?”
_ “Không!” Tôi trả lời gọn.
_ “Anh thiếu cái chất “nông thôn” trong lòng anh. Người Việt Nam mà không có cái chất “nông thôn” là không được.” Ba Hà giải thích.
Tôi hỏi:
_ “Ý anh muốn nói dân tộc mình là “dân tộc nông nghiệp” chớ gì?”
Ba Hà cười:
_ “Biết thế mà còn hỏi!”
Tôi kể:
_ “Phải tìm hiểu, phải học hỏi! Hồi tôi học đại học Huế, lớp trước tôi một năm, được lệnh bà Tăng Thị Thành Trai, bà làm khoa trưởng, ra bài cho sinh viên “nghiên cứu về kinh tế Huế” khiến ai nấy đều cười. Huế là cựu kinh đô. Huế sống bằng đồng lương công chức, quân nhân. Kinh tế Huế có gì mà phải nghiên cứu. Tụi sinh viên thảo luận với nhau, hiểu được cái ý của bà khoa trưởng là muốn sinh viên phải đi vào thực tế đời sống như người Tây phương. Bấy giờ bọn tôi mới hiểu thêm công việc của một thằng sinh viên Anh đến Huế làm thiện nguyện.”
_ “Tôi chưa hiểu!” Ba Hà nói.
_ “Khi đại học Huế mở được năm thứ hai”, Tôi nói, “có một sinh viên người Anh đến sinh hoạt với sinh viên Huế. Anh ta dạy thực tập Anh Ngữ cho sinh viên Văn Khoa. Rồi chúng nó đi chơi với nhau, uống “cà phê Dung” – tiệm cà-phê đông sinh viên – ăn bún bò Lạc Sơn (5). Tôi không biết tụi nó có dẫn thằng nhóc đi chơi bời không. Hình như thằng nầy mê ca sĩ Hoàng Lan, em gái Nguyễn Đình Thống, bạn học tôi. Cô nàng dạy cho nó hát tiếng Việt “Tôi đi giữa hoàng hôn…” Năm sau nó về Anh. Tôi nghe nói, đi ngoại quốc một năm như thế, nó qua khỏi học năm dự bị đại học.”
Ba Hà tán thán: “Tinh thần thực tế hay thiệt! Còn hơn một năm dự bị, nó học được gì hay?”
_ “Anh có biết “Đoàn Thanh niên chí nguyện” của Kennedy không?” Tôi hỏi.
_ “Tôi có nghe “Phối trí viên” (6) nói chuyện, tôi không rõ lắm.” Ba Hà trả lời.
_ “Cán bộ Xây dựng Nông thôn” trường học của đại tá Bé là từ cái tinh thần chí nguyện đó. Chương trình “Xây dựng Nông thôn” là của Mỹ mà. “Thanh niên Chí nguyện” là công việc tiên phong, thăm dò để hình thành các công việc về nông thôn sau đó. Tôi cho rằng đó là hoạt động đi vào thực tế của Mỹ”. Tôi trả lời.
Tôi nói tiếp:
_ “Từ chuyện thằng sinh viên người Anh, hồi đó sinh viên Huế có nêu ra một đề nghị, tôi thấy hay lắm, nhưng sau đó thấy “chìm xuồng”.
_ “Đề nghị gì?” Ba Hà hỏi.
_ “Thay vì sinh viên học một năm dự bị đại học, nên cho họ về nông thôn một năm, tìm hiểu nông thôn như thế nào, xong về, vô năm thứ nhất.” Tôi nói.
_ “Sinh viên học ngành nào thì nghiên cứu về ngành đó. Phải không?” Ba Hà hỏi.
_ “Đúng vậy! Nghiên cứu một năm về y tế xã ấp, về làm luận văn, xong vô năm thứ nhất y khoa. Một năm về nông nghiệp xã ấp, về làm tham luận, xong vô kỹ sư, cán sự nông nghiệp…” Tôi giải thích.
_ “Xã tôi mà được vậy là đại phúc cho dân chúng đó. Sau nầy, khi ra trường, họ lại về nông thôn; người bác sĩ, kỹ sư, cán sự đâu có lạnh giò, sợ phải về nhà quê, không còn muốn ngồi ở thành phố mà lượm tiền.”
_ “Tinh thần thư lại, quan liêu, vốn là truyền thống của người Việt mình.” Tôi nói.
_ “Tôi hoan hô anh. Nhận xét hay đấy! Người mình ưa làm quan. Làm quan chỉ ngồi ở công đường. Đúng là những ý tưởng tôi chưa nghe nói.” Ba Hà góp ý.
_ “Không phải của tôi. Từ cái tinh thần thực chứng của Âu Mỹ đó anh. Cộng Sản cũng không có đâu. Người Cộng Sản vậy mà còn quan liêu hơn người Quốc Gia nữa.” Tôi phân bua.
Một lúc tôi nói:
_ “Anh có biết người ta đã từng chê cái “tinh thần quan liêu” đó như thế nào không?”
_ “Chê làm sao?” Ba Hà hỏi.
_ “Người ta nói lý thuyết nhiều quá, mấy ông lớn ở Saigon, ở tỉnh ưa “ban huấn từ” quá. Ông Phan Khôi chê: “Ưa thắt cà-vạt,đọc diễn văn, ăn tiệc nhồm nhoàm”. Nói nhiều, nói nhiều như câu thơ:
“Các anh nói nhiều quá!
Làm cửa sổ nhà tôi
phải mở toang cho loảng gió.”
_ “Chê thối chớ gì? Thối mồm!” Ba Hà cười hỏi.
_ “Còn nữa” Tôi đọc tiếp:
“Các anh trồng những dòng hoa đại lộ.
Những dòng hoa cổ lỗ,
Những dòng hoa đau khổ quá đi thôi.”
“Văn chương thành phố, ngồi ở thành phố mà “hướng về nông thôn”. Đỗ Tấn chê nhóm Sáng Tạo đấy. Không phải “hướng về nông thôn” mà phải “về nông thôn”, giống như Phạm Duy hồi đi kháng chiến vậy, không phải “hướng về đồng quê”. Phạm Duy hát “Về Đồng Quê”. “Hướng” mẹ gì! Ngồi ở thành phố mà “hướng” thì được gì? Cách mạng là phải về ngay tận nơi. Về tận nơi mới thấy Mao Trạch Đông” (7).
_ “Bữa nay tôi mới được một buổi nói chuyện vui.” Ba Hà nói.
Tôi tiếp lời anh ta:
_ “Tôi cũng vậy. Năm 1970, “Người cày có Ruộng”, ông Thiệu về Cần Thơ, ông hỏi một nông dân tại sao trái xoài hay bị thối ở cái cuống. Người nông dân giải thích: Xoài hái sau cơn mưa, thường có nước đọng ở cuống, làm xoài thúi ở đó. Muốn khỏi thúi thì khi hái xong, lấy khăn vải, lau sạch nước ở cuống đi; xoài sẽ không thúi. Nghe xong, ông Thiệu nói: “Bữa nay về nông thôn, học được một bài học hay”. Tổng thống còn khoe học nông dân nữa mà.”
_ “Hay nhỉ?” Ba Hà nói.
_ “Hồ Chí Minh hay hơn ông Thiệu nhiều!” Tôi cười.
_ “Hay làm sao?” Ba Hà trợn mắt nhìn tôi.
_ “Đừng nóng! Hay là như thế nầy nè. Khi ông Trần Đức Thảo – ông nầy là triết gia nổi tiếng ở bên Tây – về gặp ông Hồ Chí Minh ở Việt Bắc. Hồ Chí Minh bảo: “Chú học bên Tây, chú giỏi. Nhưng không giỏi hơn nhân dân. Vậy chú nên đi học nhân dân.” Vậy rồi Hồ Chí Minh sai cấp cho ông Thảo một bộ đồ đen, một cái nón cối, một đôi giép râu để ông nầy “đi học nhân dân”, học riết, ông vô nhà thương điên luôn; nước ta mất một nhân tài. Cộng Sản có “độc” không?” Hồ Chí Minh giỏi hơn ông Thiệu ở cái “độc” đó! “Trí thức không bằng cực cứt” mà. Hồ Chí Minh coi Mao như bậc thầy! Thỏa mãn chưa?” Nói xong, tôi cười nhìn Ba Hà. Anh ta cũng cười.
_ “Cán bộ của ta còn mang tính quan liêu, hách dịch lắm. Chính phủ cần cho hấp lại như viên chức xã ấp mới được.” Ba Hà nói.
Tôi hỏi:
_ “Anh có nghĩ cán bộ xã ấp học xong một khóa Vũng Tầu về có thay đổi không?”
_ “Hơn năm mươi phần trăm?” Ba Hà trả lời.
_ “Đổi như thế nào mà anh gọi là năm mươi phần trăm?” Tôi hỏi.
_ “Họ là dân địa phương. Họ yêu làng xã của họ. Họ muốn xứ sở họ “đi lên”, nên họ có tinh thần cách mạng, muốn làm cách mạng cho quê hương họ. Trong cách đó, sự thay đổi về suy nghĩ và tinh thần, ít nhất phải có năm mươi phần trăm.” Ba Hà giải thích.
_ “Ông bà mình nói “Ở trong chăn mới biết chăn có rận”. Anh đúng là con người như thế!” Tôi nói.
_ “Còn anh?” Ba Hà hỏi tôi.
_ “Tôi là người của chính phủ, đến đây với tinh thần thư lại của một công chức. Nay ở mai đi. Có phải quê hương bản quán của tôi ở đây đâu. Nói thật lòng, nếu không có một tấm lòng với người đời, tôi với họ chỉ là “người dưng”. Anh đồng ý không?” Tôi giải bày.
Ba Hà không nói gì, một lúc sau, hỏi tôi:
_ “Anh có biết bên Đài Loan người ta trồng chuối như thế nào không?
_ “Anh có đi bên đó?” Tôi hỏi.
_ “Cách đây khoảng năm năm, chính phủ có cho một số xã trưởng “du hành quan sát” bên đó. Họ tổ chức hay lắm.”
Ngưng một lúc, Ba Hà kể: “Đài Loan chỉ là một ngọn núi lớn, làm gì có đồng bằng rộng như ở ta. Họ tận dụng đất đồi, đất núi, trồng nhãn, trồng chuối rồi đóng hộp, xuất cảng lấy ngoại tệ. Chuối hạ xuống, lấy buồng xong, thân chuối chặt ra, tước thành bẹ, trải trên mặt đất, giữ đất cho ẩm, giữ màu, làm phân. Dân tại địa phương, người trồng trọt, người làm ở nhà máy đóng hộp. Ai cũng có công việc, không ai thất nghiệp, không ai đói cả.”
Tôi hỏi:
_ “Theo anh, ở xã nầy, mình thành lập hợp tác xã nông nghiệp được không?”
_ “Ở Xóm Đạo của ông chủ chùa Phạm Bình An nầy nè, người ta bắt đầu thành lập “tổ hợp” rồi đó. Nghe nói tỉnh biểu anh điều tra để cấp phép rồi mà. Năm bảy nhà họp nhau thì làm tổ hợp. Lớn hơn thì thành hợp tác xã. Trồng lúa, trồng thần nông thì để ăn, trồng gạo ngon, trồng nếp thì xuất khẩu. Tôi vẫn mơ ước ở đây, mình trồng chuối xuất cảng cũng ngon lành vậy. Đất nầy dễ trồng hơn bên Đài Loan nhiều. Không làm như “Nông trường chuối” của ông tỉnh trưởng. Mình làm ăn đàng hoàng, mình làm được?” Ba Hà khẳng định.
_ “Có bao giờ anh nghĩ tới chuyện trồng bông không?” Tôi hỏi. “Trồng hoa đấy!” Tôi xác nhận lại.
_ “Anh hỏi làm tôi nhớ một chuyện mắc cười. Hồi chuẩn bị khánh thành nhà máy Xi-Măng Hà Tiên, không hiểu do đâu, thiếu tá Nô, quận trưởng ở đây, biểu dân trồng bông vạn thọ, trồng thật nhiều, ông quận sẽ mua. Nghe nói ổng dự trù đem về trồng quanh khán đài, bởi vì cụ Ngô ưa hoa vạn thọ lắm. Đến khi có tin tổng thống không về, quận Nô không mua bông nữa. Dân thì trồng xong, không biết bán cho ai. Người ta kêu quận Nô mà chưởi, cho là quận Nô gạt dân. Thật ra, ông có gạt đâu. Tự tổng thống không tới chớ!”
_ “Giống như chuyện Bảo Thái (8) vậy!” Nói xong, tôi lại hỏi Ba Hà: “Anh biết tại sao cụ Ngô ưa bông vạn thọ không? Đây là chuyện của Huế tui.” Tôi nói.
_ “Chuyện của cố đô, tôi không biết đâu! Anh nói đi.”
_ “Huế là kinh đô. Vạn thọ là thọ vạn năm, ấy là người ta muốn chúc vua vạn tuổi đấy. Hồi tôi mới lớn, tôi không nhớ chúc thọ vua Bảo Đại hay bà Từ Cung mà triều đình Huế tổ chức “Tứ tuần đại khánh”. Người ta nói câu “Vạn thọ vô cương”. Ba tôi nói đùa “Vạn thọ vô cương, trong xương ngoài nạc.” Ấy là tổng thống Diệm chưa rửa hết cái “mùi phong kiến” đấy. Bây giờ, vua không còn, người ta ca ngợi “hoa đồng nội” như trong “Đồng Quê” của Phi Vân hay “Đất Hậu Giang” của Sơn Nam, anh biết không?”
_ “Vùng nầy đất tốt, trồng gì không được. Lựa thứ bông gì không cần khí lạnh như ở Đà Lạt.”
Một lúc Ba Hà cười, nói tiếp:
_ “Có một thứ không trồng cũng đẹp, người ta “ca” nhiều lắm. Thứ gì anh biết không?”
_ “Thứ gì anh?” Tôi hỏi.
Ba Hà quay qua nói với con Hòa.
_ “Cháu hát cái bài chiều hôm qua khi ở trên xe, chú khen hay đó!”
_ “Cháu hát nghe, đừng cười nghe!” Hòa nói.
_ “Hát đi! Giáo đầu nữa.” Tôi giục.
“Qua một rừng hoang, gió núi theo sang rủ bụi đường trên vai…”
Tôi cười, nói to: “Cây mắc cở”.
Ba Hà giải thích: “Cây mắc cở là hoa đồng nội đó. Hoa mắc cở đưa lên phố bán, ai mà mua!”
_ “Người ta làm thuốc chớ. Nhưng hoa nầy nó hay ở ý nghĩa của nó, e lẹ như con gái nhà quê.” Tôi nói.
Ba Hà cũng cười to:
_ “Bọn con gái quê bây giờ, như con Lý, con Hòa xứ nầy má mắc cở cái chi. Hôm chiếm được xã, con Sau Lánh xách cây FM của cuộc Cảnh Sát bắn chơi, lại khen “súng ngụy bắn ngon”. Thiệt là hết ý luôn.”
Một lúc, Ba Hà nói tiếp:
_ “Vấn đề là như thế nầy. Anh thấy không. Bọn con gái ở đây, vì nghèo khổ, “hận” đời nên có đứa bỏ vô bưng theo Việt Cộng như con Sáu Lánh; con Lý, con Hòa thì lên Saigon tìm “một đời hương phấn”, tránh nơi bùn lầy nước đọng. Những người làm cách mạng họ nghĩ gì về tình trạng nầy? Nếu họ biết đem thành phố về nông thôn, thay vì con gái nhà quê phải tìm lên thành phố làm đứa ở, làm gái thì xã tôi đâu có càng ngày càng phải điêu tàn, quạnh vắng như vầy. Anh nhớ lấy: “đem thành phố về nhà quê, không phải làm ngược lại.” Ba Hà nói, nhấn mạnh từng tiếng vào mấy chữ thành phố, nhà quê.
_ “Đem về như thế nào?” Tôi hỏi.
_ “Đem trường học, đem y tế, đem chợ, đem đường sá, cầu cống, đem xe cộ, ghe tàu, cho dân đi lại, đem phòng đọc sách, đem rạp chiếu phim. Ty thông tin nào cũng có đoàn chiếu phim. Vậy mà cả chục năm nay chưa có đoàn nào về xã nầy chiếu phim cho dân coi một bữa. Chưa từng có đoàn kịch, đoàn cải lương nào về đây diễn cho dân coi một đêm. Hiện giờ, chỉ sót lại mấy gánh “Hát Bội giữa rừng” của Sơn Nam, sống dở, chết dở, không một chút ngó ngàng của bộ Dân Vận Chiêu Hồi. Cái nầy là của nhân dân nên chính phủ không cần biết tới hay sao?!” Ba Hà giải thích.
Tôi nói mỉa:
_ “Chính phủ nầy là chính phủ của dân mà anh!”
Một lúc, tôi nói tiếp:
_ “Miền nam nầy, quá dư thừa các nhà chính trị mà nhà cách mạng thì tìm không ra. Những người như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Tường Tam không thấy tái sinh.”
Một lúc, tôi góp ý, cũng gay gắt:
_ “Nhưng nhà quê là cái gốc của dân tộc Việt Nam nầy chớ. Dân tộc nông nghiệp mà! Có cái nhìn như Hoàng Đạo trong “Con Đừong Sáng” quả là hiếm.”
Ba Hà nói:
_ “Việt Cộng nó bám vào nông thôn anh biết không?”
Tôi giải thích:
_ “Cái đó không phải của “Mác”, “Mác” nhắm vào giai cấp công nhân, cho nên “Mác” cho rằng “Cách mạng vô sản” chỉ xảy ra ở các nước công nghiệp như Anh, Pháp, Đức. Tuy nhiên, “Cách mạng vô sản” lại xảy ra ở Nga, nước nửa nông nghiệp, nửa công nghiệp. “Cách mạng vô sản” mà xảy ra ở nước nông nghiệp là “tư tưởng Mao”. Lấy “Nông thôn bao vây thành thị” là tư tưởng Mao. Khó khăn của miền Nam là chỗ đó. Chính phủ lại ít quan tâm tới nông thôn.”
Tôi nói:
_ “Có một điều tôi muốn biết, nhưng chưa hỏi được ai. Hồi ở Kiên Tân, có lần tôi được mấy ông cựu “Dân Xã Đảng” mời dự một bữa giỗ mấy ông tướng (9). Hỏi về hoạt động của lực lượng mấy ông ấy ngày trước, họ trả lời qua quít. Họ “giã từ vũ khí” lâu rồi, làm như họ cố quên cái thời oanh liệt cũ. Anh có biết gì về họ không?”
_ “Biết gì là biết gì?” Ba Hà hỏi.
_ “Là biết về hoạt động của họ vậy, chẳng hạn như họ đông ít, đánh Tây như thế nào. Việc lương thực, tiếp tế súng đạn như thế nào…” Tôi hỏi.
_ “Họ chính là quân đội của nhân dân; đánh nhau với Tây là để bảo vệ dân, cơm gạo do ở dân nuôi họ.” Ba Hà nói.
_ “Còn vũ khí, đạn dược, quần áo?” Tôi hỏi.
_ “Về hợp tác, bộ đội ông Ba được Tây cung cấp cho. Đến khi ông đòi hỏi gì đó, hay Tây đòi liểm soát lực lượng của ông, ông không chịu, thì ông lại rút ra. Ông muốn giữ “độc lập”, lại cần tiếp tế của Tây, ông lại hợp tác, thành ra ông cà giật với tụi nó để có tiếp tế, nhất là cần súng đạn.” Ba Hà giải thích.
_ “Bộ đội ông sống trong dân?” Tôi hỏi.
_ “Tôi không hiểu do đâu mà ông Ba học được “binh thư tiến vi quân, thối vi nông”. Có lần lính ông về đây, sống với dân, làm ruộng với dân ở kinh Tám Ngàn. Mấy lần Việt Minh trong mật khu Trà Tiên mò ra, bị lính ông Ba đánh cho chạy dài. Cũng có lần Tây tập trung, qua chưa khỏi Mỹ Lâm đã bị bộ đội ông Ba đánh cho.” Ba Hà kể lại một cách thích thú.
_ “Tại sao lại thua Quân Đội Quốc Gia thời ông Diệm.” Tôi hỏi.
_ “Mấu chốt là ở đây. Cái lợi thế cua ông Diệm là “đã Thực”, là chống Tây. Cái chánh nghĩa của ông Diệm và ông Ba như nhau. Đó là lý do chính làm cho lính tráng của ông Ba từ mười ngàn xuống còn hai ngàn. Ông Ba lại bỏ cái thế đánh du kích. Ông thành lập các đại đội, tiểu đoàn… như quân chính qui. Thay đổi chiến thuật như thế, lại thiếu tiếp tế súng đạn, ông Ba thua là đương nhiên. Nếu còn giữ cái thế đánh du kích, đánh nhau mười năm nữa chưa biết ai thắng ai.” Ba Hà nhận xét.
_ “Cái thế dân chúng ủng hộ bây giờ cũng yếu đi, phải không?” Tôi hỏi.
_ “Nhận xét đó đúng chỉ một phần, nhưng dân quê và những người giàu vẫn còn ủng hộ ông Ba. Tôi kể anh nghe một thí dụ. Ông thân bà Cao Thị Nguyệt giàu lắm. Ông Ba sai người đến yêu cầu ủng hộ. Ông nhà giàu bảo: “Mày về bảo ông Ba đến đây tao nói chuyện, tao ủng hộ cho.” Ông Ba tới, điệu bộ hiên ngang. Bà Nguyện lúc đó du học bên Tây về, thay cha nói chuyện với ông Ba. Nói qua nói lại làm sao mà bà Nguyệt theo ông Ba luôn, làm vợ thứ hai của ông Ba.” Ba Ha kể chuyện cũ.
_ “Có phải bà Nguyệt sau nầy làm vợ phó thủ tướng Nguyễn Van Hảo?” Tôi hỏi.
_ “Đúng y chang!” Ba Hà cười, trả lời.
_ “Nhưng khi ra tòa, công tố buộc tội ông Ba là thổ phỉ?”
_ “Ủng hộ bộ đội ông Ba, như trường hợp thân sinh bà Nguyệt đâu phải là độc nhất. Anh nên nhớ cái danh tiếng của ông Ba là cái danh tiếng anh hùng. Còn như phe ông Diệm, kẻ thắng nói gì chẳng được. Cứ moi móc chuyện không xấu thành xấu, miễn là cố làm cho ông Ba mất chánh nghĩa là được.” Ba Hà giải thích.
_ “Nhớ hồi đó ai làm chánh án, ai là công tố viên không?”
_ “Nhắc làm gì những cái thứ đó. “Khuyển mã” nhà họ Ngô cả. Thành ra cái chức phận họ được ban thưởng, cũng là thứ đi kiếm ăn cả. Ra gì đâu!”
Một lúc sau, Ba Hà nói tiếp:
_ “Huỳnh Hiệp Thành làm chánh án. Lâm Lễ Trinh làm công tố viên.”
_ “Sao anh nhớ kỹ vậy?” Tôi hỏi.
_ “Ân oán giang hồ mà anh. Dân “cờ đà” (10) ở đây khó quên bọn hèn hạ ra tay giết người kẻ anh hùng của họ.”
_ “Lâm Lễ Trinh sau nầy làm bộ trưởng bộ nội vụ phải không?” Tôi hỏi.
_ “Thưởng cho cái công khuyển mã giết người trung tín đó anh à.” Ba Hà nói, giọng bất mản.
_ “Tôi nhớ hồi đó tờ báo “Cách Mạng Quốc Gia” của ông Đỗ La Lam kể rằng buổi sáng đem ông Ba đi chém, ông Ba sợ quá la to lên “Tao đi chết đây tụi bây ơi”, rồi ông ta khóc. Việc ấy có không?” Tôi hỏi.
_ “Một bọn hèn hạ với nhau, bôi xấu ông Ba! Ông Ba hiên ngang ra pháp trường, có sợ hãi gì đâu. “Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục”, dân miền Nam nầy anh hùng lắm anh à.” Ba Hà tán thán.
_ “Vậy mà sau nầy, khi làm dân biểu, bà Nguyễn Thị Hoa không vạch mặt chỉ tên bọn nầy.” Tôi nói.
_ “Kẹt! Bà Phấn cũng muốn giữ cái ghế dân biểu, nên không muốn đụng tới “dư đảng nhà Ngô”. Còn như dân miền Tây nầy, họ có quên được đâu.” Ba Hà giải thích.
_ “Nếu nhìn theo lăng kính giai cấp, thì đó là giai cấp thống trị cấu kết với nhau để bảo vệ quyền lợi của chúng đó đấy. Bị đàn áp, không cho lên tiếng cũng chỉ có những kẻ bị trị mà thôi.” Tôi nói.
&
Một lúc sau, tôi hỏi Ba Hà:
_ “Ở đây, trước khi tập kết, Việt Cộng có gài “nhân tố” lại không?”
_ “Gài “nhân tố” là sao?” Ba Hà hỏi.
_ “Tức là gài “tình cảm”. Chẳng hạn như chồng, con đi tập kết, gài tình cảm lại cho vợ, cho mẹ; ít nữa, từ ngoài Bắc mò về, móc nối lại với gia đình, nhờ gia đình che chở, lập lại hạ tầng cơ sở Cộng Sản chẳng hạn.
_ “Có chớ! Nam-Thái-Sơn, vùng Hòn Sóc, Hòn Đất thiếu gì. Cà Mao cũng vậy. Nơi nào Tây tàn ác, giết người đốt nhà, thì “cơ sở” của tụi nó càng mạnh. Nhất là Bến Tre! Thằng Tây lai Le Roy tỉnh trưởng ở đó tàn ác lắm. Ngày nào nó cũng đem dân ra cầu gỗ bắn vài ba người, xong đạp xuống sông. Bến Tre Việt Cộng “đồng khởi” mạnh là chính vì lý do đó.” Ba Hà giải thích.
_ “Hèn chi tui nghe trên đài “giải phóng” hay đọc câu “Hỡi người chị của Bến Tre, Cửu Long đồng khởi bốn bề đó chăng!” Tôi góp ý.
_ “Xứ nầy không có. Dọc kinh xáng Hà Tiên nầy, chỉ hai đầu là có “cơ sở” Việt Cộng. Ở đoạn giữa nầy, dân người ta không theo. Anh thấy ở An Hòa không? Người từng theo “Nam Bộ kháng chiến” thiếu gì. Việt Cộng tập kết rồi, ai ở lại chỉ theo quốc gia.” Ba Hà giải thích.
_ “Ngoài tui có một chuyện vui lắm, để tui kể anh nghe.”
Thế rồi tôi nói tiếp:
_ “Gần ngày tập kết, Việt Cộng vận động tổ chức “đám cưới tập thể”, cho “cưới nhau xong là đi”. Toàn là người còn trẻ không. Người chồng thì đi, vợ ở lại. Mai mốt thằng chồng ngoài Bắc mò về, có con vợ dọn sẵn “cơ sở” cho chồng. Ở quận Trung Lương – quận nầy mới thành lập, dọc theo bờ Nam sông Bến Hải – làm quận trưởng là anh Hoàng Đức Thạc, cựu đảng viên đảng Cộng Sản, trốn, không theo Việt Cộng, theo Quốc Gia. Anh nầy gọi má tôi bằng o – o là cô, theo cách gọi trong Nam -. Cộng Sản mới hiểu Cọng Sản, chơi nhau nhiều đòn độc. Nhà nào có con gái “cưới nhau xong là đi”, anh ấy cho cán bộ Công Dân Vụ, Công An Quốc Gia vào “vận động, công tác”. Riết rồi nhiều cô mang bầu… Bấy giờ thì mấy cô đâu còn muốn chồng cũ trở về, nói chi bao che. Má tôi nói: “Thằng ấy – là ông quận trưởng cháu má tôi đấy – khôn mà khôn độc. Nó biết mấy con nhỏ “ăn quen nhịn không quen.” Ai nghe câu má tôi nói, cũng cười. Đời mà. “Vỏ quít dày, móng tay nhọn.”
Tôi hỏi Ba Hà:
_ “Anh có biết cái vai trò làng xã Việt Nam trong lịch sử không?”
_ “Không!” Ba Hà đáp gọn lỏn.
_ “Nó quan trọng lắm.” Tôi nói – nhiều người viết sử nhận xét làng là cái thành trì chống ngoại xâm rất hữu hiệu. “Một ngàn năm đô hộ” mà người Tầu không đồng hóa được người Việt mình là nhờ có làng. Làng có tính độc lập mạnh lắm. “Phép vua thua lệ làng” mà. Chính sách cai trị của quan lại Tầu đụng tới “lũy tre làng” là khựng lại, không “xâm lăng” vô làng được. Cái lũy tre làng đó, vừa là thực tế của các lũy tre bao quanh làng, mà cũng là cái thành trì vô hình trong lòng người Việt Nam, là cái lòng yêu làng nước mình. Việt Cộng chúng nó bám vào trong bốn lũy tre làng kỹ lắm, bằng những tình cảm cha mẹ, vợ con, thân tộc. Nhờ đó mà chúng xây dựng được “hạ tầng cơ sở Cộng Sản”. Muốn Cộng Sản không xây dựng được hạ tầng cơ sở của chúng, phải phá vỡ cái tình cảm mà Việt Cộng bám víu vào đó. Điều nầy khó lắm. Tình cảm gia đình, vợ chồng, cha con, chòm xóm, làng nước. Việt Cộng lợi dụng cái tình cảm nầy của dân làng. Phải vạch mặt chúng ra cho dân làng thấy.”
_ “Anh nghĩ “Bộ Dân Vận Chiêu Hồi” làm được?” Ba Hà hỏi.
_ “Đếch họ. Tinh thần quan lại thì làm được gì. Ít ra, phải như các đoàn cán bộ xây dựng nông thôn cấp xã. Căn bản là xã ấp, không phải từ trên xuống mà tự dân làng.” Tôi nói.
_ “Anh nói vậy thì nhờ cái lòng yêu làng ấy mà người Việt giữ được nước?” Ba Hà hỏi.
_ “Đúng đấy! Tinh thần ấy mạnh lắm, già cũng như trẻ, đàn ông cũng như đàn bà. “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.” Quân Mông Cổ chạy dài là vình tinh thần đó đấy. Tôi đọc nhiều sách nói tới cái tinh thần đó vậy. Người ta gọi đó là “văn minh Việt Nam.” Tôi giải thích.
_ “Anh nói vậy thì cái tinh thần người lính Cộng Sản thì sao? Bọn “sinh bác tử nam” thì sao?” Ba Hà hỏi ngược tôi.
_ “Họ khác chứ! Họ là lính Cộng Sản, lính của đảng, của giai cấp vô sản, của đấu tranh giai cấp, họ được dạy hận thù. Người lính miền Nam thì không, không ai dạy cho họ hận thù”. Tôi nói.
Ba Hà lại hỏi ngược tôi:
_ “Anh có làm cán bộ “tâm lý chiến” không đấy?”
“Trăm lần không, vạn lần không!” Tôi nói đùa. “Tôi hỏi anh, bọn thanh niên trong xã nầy, có thằng nào đi lính vì hận thù? Chính phủ gọi thì chúng nó đi. Ngay cả khi lính của anh, lính của tui, vô tận rừng mà phục kích Tư Ngọc, tui có thấy tụi nó nói hận thù đâu. Người miền Nam đi lính, giống như trong bài hát con Hòa hát vậy: “Tôi chỉ là người lính xa nhà, thấy hoa nên nhớ người yêu rất xa.” Câu nầy cũng hay. Anh nhớ mình đi phục kích ở Cây Số 15 không? Tôi từng nằm ở đó, khuya trời sương xuống lạnh, kéo áo “trây-di” lên cho thật kín người mà thấm thía với câu hát của Trúc Phương “Áo nhà binh thương lính, lính thường quê.”
Người lính miền Nam thật là hiền hòa. Anh không thấy sao?”
_ “Anh nhận xét đúng đấy. Nhưng dân thành phố như anh sao biết những chuyện ấy.” Ba Hà lại hỏi tôi.
_ “Một là đọc, đọc sách, đọc báo và kinh nghiệm đi nhiều mà anh… Quan trọng nhất là giáo dục. Hồi tui đi học, đệ Thất, đệ Lục, ông thầy dạy Việt Văn của tui biểu chúng tui đọc rất nhiều sách viết về nông thôn: “Nhà Quê”, “Quê Người”, “Đồng Quê”, “Nhà Nghèo”, “Chị Dậu”, “Lều Chõng”… thậm chí cả “Con Đường Sáng” của Hoàng Đạo. Khi đi dạy, tui lại dạy về “Văn Chương Bình Dân” – “Văn Chương Bình Dân” là dạy về ca dao, tục ngữ, chuyện cổ tích là văn chương của người nhà quê. Tui là dân Quảng Trị ở vĩ tuyến 17, bỏ cục phấn rồi, tui ôm súng lang thang nhiều nơi trong Nam mà anh không ngờ đâu: Gò Công có 4 quận, quận nào tui cũng có tới: Tui tới “Lăng Hoàng Gia”, quê hương bà Từ Dũ; tui tới Đồng Sơn, quê bà Nam Phương Hoàng Hậu; tui tới ấp Pháo Đài, một bên là sông Cửa Tiểu, một bên sông Cửa Đại. Về Cái Sắn, tui tới “đồng cho ngáp Huệ Đức”, núi Sập, tới vùng Cờ Đỏ ở Thạnh Tây. Về đây, từ xã Mỹ Lâm tới Hòn Chông, Chùa Hang, Mũi Nai, Giang Thành. Tui chưa tới đồn Trà Phô, ưa đi lắm, nhưng mới bay trực thăng ngang trên mật khu Trà Tiên với trung tá Đàn mà tui đã lạnh giò. Anh hỏi tui, bộ tui đui hay sao mà không biết gì?” Tôi kể chuyện cho Ba Hà nghe.
_ “Anh hơn tui!” Ba Hà nói. “Xứ tôi thì anh đi hết, còn tôi thì chưa ra tới Huế.”
_ “Quê hương mình mà. Đi cho biết thì vui.” Tôi cười góp ý. “Tui ưa nhà quê hơn thành phố, mặc dù nhà quê buồn hơn nhiều.”
Tôi nhìn ra ngoài trời. Gần hết mùa hạ rồi, hàng lau dày bên bờ kinh Vàm Rầy đã tàn, âm thầm chuyển sang màu vàng rơm hồi nào ai đâu ngờ tới. Màu vàng của nó trông thật buồn. Màu lau già hòa lẫn với màu mái tranh của ngôi chùa vắng bên bờ kinh, trông cũng buồn và âm thầm như vậy. Phía sau chùa là những cành cây khô già trụi lá của một cái cây lưu niên gì đó không cao lắm, tưởng như một ông sư già đang ngồi thiền định, cố gắng giữ chút hơi tàn để tồn tại trên cõi đời. Những cành cây giơ lên trời như những cánh tay khẳng khiu của một bà cụ già ốm yếu, da bọc xương, in rõ trên màu xanh lạt của một buổi trời chiều vắng lặng, không một chút mây.
Tôi nói, giọng buồn: “Anh thấy không? Mới ba giờ chiều mà cảnh vật vắng vẻ, lặng lẽ như vầy. Không cả tiếng trẻ em chơi đùa.”
_ “Chiến tranh mà anh. Tôi lớn lên ở xứ sở nầy. Trước chiến tranh, nơi nầy cũng vui lắm.” Ba Hà nói, như có ý “cứu chữa” cho quê hương của anh ta.
Tôi đọc mấy câu thơ của Đỗ Tấn:
Tôi đứng giữa đồng nâu,
Giữa những người cuốc bẫm cày sâu
Nghe vang vang từ mạch đất
Tư tưởng nào cũng từ đất mà ra…”
Ba Hà nói, giọng hơi buồn:
_ “Nói thì hay nhưng con gái xứ nầy lần hồi bỏ đi hết! Con trai làm sao có vợ. Cưới ai. Con Hòa nầy nè. Sắp đi Mỹ theo chồng đấy.”
_ “Anh nói làm tui nhớ mấy câu ca dao nói về con chim đa đa. Tôi đọc:
Chim đa đa đậu nhánh đa đa Chồng gần không lấy, bậu lấy chồng xa Mai sau cha yếu mẹ già Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà ai dưng?
Ba Hà cười “Khỏi lo! Ông bả rủ nhau đi lâu rồi!”
_ “Vô trong Nam nầy,” – Tôi nói – “Tui học được nhiều câu ca dao hay lắm – nói cho đúng là “tình cảm” lắm, lãng mạn nữa. Người miền ngoài ít có như thế.”
_ “Tôi nghĩ Bắc Trung Nam giống nhau chớ?” Ba Hà cải chính.
_ “Không! Nhìn chung, có giống nhau, nhưng thổ ngơi mỗi nơi mỗi khác, nên tình cảm khác anh à. Tui thích nhất câu nầy:
“Tàu xúp lê một, còn thương còn nhớ.
Tàu xúp lê hai, còn đợi còn chờ.
Tàu xúp lê ba, tàu ra biển Bắc.
Tay vịn song sắt, nước mắt chảy ròng ròng
Đôi ta mới ngộ mà ông trời không thương.”
Câu nầy tui mới đọc trong “Chú Tư Cầu” của Lê Xuyên”.
Ba Hà hỏi:
_ “Anh hiểu cái ý của câu nầy không?
_ “Lò mờ thôi! Anh giải thích đi!” Tôi yêu cầu.
_ “Nam kỳ thuộc địa” mà. Bên Tây đánh nhau nên Tây bắt dân Nam Kỳ đi lính Tây. Bài nầy nói chuyện anh con trai Nam Kỳ
mới có bồ mà bị Tây bắt đi. Qua Tây xa lắm, khi nào mới về!”
_ “Câu nầy thì nói cái gì?” Tôi hỏi:
“Tới đây đất nước lạ lùng,
Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh.”
_ “Lưu dân đó anh.” Ba Hà nói. “Lưu dân trong cuộc Nam Tiến của người Việt mình. Hầu hết miền Tây nầy là lưu dân nên ông bà chúng ta ngày xưa thương nhau lắm, là vì vậy.”
_ “Đi nhiều. Thành ra tui có cái nhận xét như thế nầy. Anh thấy cái thằng cha tỉnh đoàn trưởng Xây Dựng Nông Thôn ở Rạch Giá không? Dân Quảng Nam phải không? Làm việc với thằng cha khó chịu lắm phải không?” Tôi hỏi một hơi.
_ “Đúng đấy!” Ba Hà nói.
_ “Dân Nam Ngãi Bình Phú, xưa gọi chung là Quảng Nam. Họ có tính “nghiêm”, đôi khi cực đoan, thành ra “Thẳng mực Tầu, đau lòng gỗ”.
_ “Quảng Nam hai cãi?” Ba Hà hỏi.
_ “Hay cãi” là do cái tính cực đoan đó anh. Cực đoan là vì “đâu ra đó”, “cái gì ra cái nấy”. Ông tỉnh đoàn trưởng nầy phải vậy không?” Tôi hỏi.
_ “Đi họp, tôi cãi không lại chã. Tính đập lộn mấy lần.”
_ “Ảnh hưởng của hát bội đó anh!” Tôi giải thích.
_ “Tại sao lại hát bội?” Ba Hà hỏi, ngạc nhiên.
_ “Quảng Nam là quê hương của hát bội; cũng như Nam Bộ là quê hương của cải lương. Tuồng tích hát bội thiên về luân lý. Coi hát bội là học hỏi về “trung, hiếu, tiết nghĩa”… về “tu thân tề gia”… Khi hát bội theo chân lưu dân mà vô tới miền Nam, Tiền Giang, Hậu Giang thì vì cái cảnh sắc và đời sống trong Nam dễ dàng hơn, đất đai phì nhiêu hơn, trời cao sông rộng thành ra hát bội biến thành cải lương, cái tính chất luân lý nhẹ bớt đi, tình cảm hơn, đa tình hơn, lãng mạn hơn… Có phải không?”
_ “Tôi nghĩ anh đi nhiều, nhận xét kỹ, nên ý anh nói không sai lắm đâu.” Ba Hà góp ý.
_ “Có lẽ sau nầy, chiến tranh hết rồi, nước mình có nhiều nhà xã hội học, âm nhạc học, sẽ nghiên cứu để vấn đề sáng tỏ hơn. Tôi chỉ gợi ý như thế thôi.”
Trầm ngâm một lúc, Ba Hà nói:
_ “Về xã nầy anh thấy đó. Dân xã tôi có muốn theo Việt Cộng đâu. Vậy mà tại sao Việt Cộng càng ngày càng mạnh lên mà mình thì yếu đi?”
_ “Cái bao tử thôi. Dân thì ở đây, nguồn sống thì ở trong bưng. Vô trong đó kiếm ăn là chui đầu vô cái rọ của tụi nó. Làm sao không theo chúng nó được.” Tôi giải thích.
_ “Anh biết thiếu úy Huệ chết là vì sao không?” Ba Hà lại hỏi.
_ “Không!” Tôi trả lời gọn.
_ “Tụi nó vừa trả thù Quốc Gia vừa khủng bố dân chúng đấy! Tôi biết tụi nó quá mà!” Ba Hà nói.
_ “Vụ Tư Ngọc bị giết?” Tôi hỏi.
_ “Anh giết thằng Tư Ngọc là nó phải giết lại người của mình để trả thù. Điều đó không quan trọng. Quan trọng là phía dân chúng. Khi Tư Ngọc bị giết là dân chúng nghiêng về phía Quốc Gia, sợ Quốc Gia. Muốn lấy lại cái thế mạnh của nó, trên “cơ” mình, tụi nó phải đánh xã. Nó làm dzậy, dân mới sợ nó. Khủng bố mà!” Ba Hà giải thích.
Nghe Ba Hà nói, tôi thấy anh ta có kinh nghiệm chống Cộng, chống khủng bố. Việt Cộng là sư tổ của khủng bố mà. Tôi hỏi:
_ “Ấp nầy, tôi không ngại lắm. Hai cái ấp ở đầu rìa xã, tụi nó ở trỏng ra, dễ như không!”
_ “Đương nhiên! Ai giữ dân để tụi nó không dám ra? Nhân dân Tự vệ đâu có mấy ngoe. Súng ống như thế, carbine M-1, garant M-1 làm sao bắn lại AK. Nó ra được thì nó xây dựng được “hạ tầng cơ sở”. Ban đầu thì ấp loại A (11), lần hồi thành ấp xôi đậu. Ban đêm mình đâu dám tới. Rồi mất hẳn. Xã co cụm lại, ngày càng nhỏ. Tụi nó hốt mình không mấy hồi.” Ba Hà giải thích.
_ “Mình phải ở lại đó, đêm cũng như ngày?” Tôi hỏi.
_ “Phải ở với dân, trụ lại với dân. Cán bộ xã ấp, cán bộ “Xây dựng Nông thôn”, “Nghĩa Quân”, “Địa Phương Quân”… Chúng ta cần người lính đánh du kích để giữ ấp – người lính đánh du kích – Anh nhớ vậy, dân cần người lính đánh du kích hơn là người lính Sư Đoàn. Người lính ở trong dân, cùng với dân đánh lại du kích Việt Cộng, không cho nó đặt “hạ tầng cơ sở”. Phải nắm cho được “hạ tầng cơ sở”. Anh phải nhớ vậy!” Ba Hà nói một cách gay gắt.
“Đắp chăn mới biết chăn có rận”. Phải ở xã ấp mới hiểu vai trò xã ấp trong “Chiến tranh Nhân dân”, “Chiến tranh Du kích” quan trọng như thế nào. Nghe Ba Hà nói, tôi nghĩ tới bài “The Street without joy” của Bernard Fall mà tôi đã đọc (12).
Một lúc sau, ông Phó Nghiêm đi Tri Tôn về, thấy tôi và Ba Hà đang ngồi với nhau, bèn ghé lại chơi. Thiếu úy Chiếu, sau khi làm xong công việc, cũng ra ngồi “góp chuyện”.
Trong khi đó, ông quận trưởng đang ngồi “bàn riêng” với Xã Àn trong nhà xã trưởng. Tôi nói “bàn riêng” là vì mấy bữa nay, ông quận trưởng đang “chữa cháy” cho cái ghế của ông bởi ông trung tá tỉnh trưởng, sau khi ông tướng vùng bay chức, sợ mất bảy chục triệu, phải nhờ Bà Tám Nghĩa ở Rạch Giá đưa vợ ông tỉnh lên “trình diện” chị Tư Nết ở Saigon (13). Về, tới nơi, ông trung tá tỉnh trưởng vội lo “hồi sức” phòng khi có “sự cố” về sau nữa, nên ông “gõ đầu” mấy ông quận trưởng, khiến ông quận xứ nghèo của tôi phải tìm gặp các ông xã trưởng. Xã mới có “tư cách pháp nhân”. Quận, mà quận nghèo như xứ tôi thì chỉ có “nắng bụi mưa bùn”, khó cho ông quận lắm. Đó là ý chính những gì về ông quận do ông phó “tiết lộ” cho tôi.
Tôi với ông phó thì giống nhau, chẳng phải lo “hụi chết, hụi sống” cho ai cả. Về chuyện “đóng hụi” nầy, có lần ông phó quận nói đùa với tôi: “Mấy thằng chã cấp trên có hỏi, tôi biếu cho vài cục đá vôi. Xứ nầy nhiều đá vôi.” Còn như ông xếp của tôi, có lần giữa buổi họp, ông nói to: “Mấy chú ăn hối lộ, nhớ để đức cho con.” Nhờ đó, bọn tôi, dưới quyền ông, thấy “khỏe”.
Sau khi cà phê đem ra xong, nhân có ông phó quận, Ba Hà hỏi:
_ “Trong khu định cư “của mấy anh” có nhà thờ, chùa chớ?”
_ “Có chớ anh!” Biết là việc của mình, phó Nghiêm trả lời:
_ “Tốt! Nhưng ông phó có kinh nghiệm gì không?” Ba Hà hỏi.
_ “Kinh nghiệm gì?”
_ “Vai trò của tu sĩ.” Ba Hà giải thích.
_ “Anh nhớ “Láng Linh” ở Long Xuyên không? Trại ruộng của Phật Thầy Tây An đó. Phải nói là rất thành công, đến nỗi khi tấn công chiếm miền Tây, bọn Tây đốt hết các trại ruộng nầy, tình hình mới êm. Ở Cái Sắn, theo tôi thấy, vai trò các ông cha trong kinh là quan trọng. Không có mấy ông, dân dinh điền bỏ đi hết! Hồ Hữu Tường, trong Minh Đạo, cũng có cái ý như vậy, vai trò của các ông tu sĩ là quan trọng. Đúng như vậy, mặc dù, trong Minh Đạo, ông Tường chỉ mới nghĩ ra, ông Tường nghĩ ra trước những điều ông Nhu, ông Diệm thực hiện sau nầy. Ông Tường mới là nhà tư tưởng thiên tài.” Tôi nói.
_ “Còn các ông cha?” Ba Hà hỏi.
_ “Các ông cha giữ dân lại dinh điền.” Tôi giải thích.
_ “Bây giờ mà ông đem các “ông cha dinh điền” vô vùng định cư của anh là sai trật lất, sai ghê lắm. Anh biết không?” Ba Hà nói ngược những ý nghĩ tôi vừa nói ra.
Tôi ngớ ra, hỏi:
_ “Há?”
Ba Hà nói tiếp:
_ “Dân dinh điền là dân có đạo. Họ có theo các ông cha là đương nhiên. Anh biết ông Nhu, ông Diệm thất bại ở Ấp Chiến Lược là tại sao không?”
Ông phó quận và tôi không ai trả lời.
Ba Hà nói tiếp, giọng bực dọc:
_ “Dân trong ấp chiến lược là dân Nam Bộ. Họ không phải là con “chiên”, con “xào” của mấy ông cha. Họ là người lương, họ là người “tu hiền” của Đức Thầy, họ là người“thờ đủ thứ” của Cao Đài. Chính quyền lùa họ vô ấp chiến lược, là gây ra khó khăn cho dân – mà rất nhiều khó khăn, đời sống thiếu đủ thứ – chỉ có mấy ông cha mới giúp họ được. Ông cha nói gì, ông tỉnh trưởng, ông quận trưởng vâng, dạ. Họ mà không nghe mấy ông cha, ôm khăn gói đi rất lẹ. Ông cha thì giúp dân bằng tay trái, tay phải cầm xâu chuỗi tròng lên đầu dân. Chỉ có ai mang thánh giá mới là người chống Cộng; đâu mà có cái ý tưởng kỳ cục, cực đoan như vậy.”
_ “Như vậy có nghĩa là buộc dân vô ấp chiến lược là buộc họ theo đạo?” Tôi hỏi.
_ “Chớ gì nữa. Làm xã trưởng, tôi từng gặp không biết bao nhiêu lần dân xứ tôi đến khóc lóc vì bị các ông cha buộc bỏ ông bà.”
_ “Tôi tưởng ông Nhu nghiên cứu từ kolkhoze, sovkhoze của Nga hay từ kibbuz của Do Thái gì chớ!” Tôi nói.
_ “Tôi không rõ.” Ba Hà nói. “Đây chỉ là trại tập trung. Dzậy thôi! Chỉ khổ dân. Anh thấy “Xóm Đạo” ở khúc quẹo của kinh nầy không? Họ từ bên Tri Tôn Châu Đốc, trốn vô ấp chiến lược mà chạy qua đây. Họ là “đệ tử” của Đức Thầy, bị “ấp chiến lược” theo riết, bây giờ họ thiên Cộng luôn, bởi vì bị ông Đạo Sáu xỏ mũi dắt đi.”
Một lúc, Ba Hà nói tiếp:
_ “Tôi từng bị gọi đi học một khóa ấp chiến lược ở tỉnh. Mấy chả ở Trung Ương chẳng biết mẹ gì về nông thôn Việt Nam cả. Ngồi ở Saigon nói lý thuyết, khoe tài học cao hiểu rộng, coi thường đám nhà quê như chúng tôi là thứ ngu dốt, không biết gì, bảo sao nghe vậy! Mấy thằng chả đi học ở Suối Lồ Ồ thì cũng chỉ là đám nịnh thần, rán vỗ tay cho thật to để bợ đít ông Nhu chớ có bao giờ về xã về ấp ngủ một đêm để “thăm dân cho biết sự tình” đâu. Sinh ra ở thành phố, lớn lên, học hành ở thành phố, chưa một ngày về sống ở xã, ấp. Vậy mà ngồi vạch ra kế hoạch để xây dựng xã ấp. Họ muốn làm trò xiệc hay sao?! Tôi cho chuyện đó là chuyện lạ lùng, vô lý, buồn cười… Chống Cộng kiểu đó thì muôn năm không thắng được Cộng. Anh thấy lính của tôi không? Đâu cần ngủ ấp, vô tận trong bưng, chỗ tụi nó đang ăn ngủ, gài mìn chơi luôn. Chơi vậy mới đã!”
_ “Tôi nghe nói Colby có đi ngủ ấp?” Tôi hỏi.
_ “Cha ấy gan. Nó cười vô mũi mấy ông lớn Saigon đấy!” Ba Hà ca ngợi.
_ “Đó là cái di sản của “thư lại” đấy. Tinh thần công chức hủ lậu mà, từ thời thực dân. Ông Diệm, ông Thiệu kêu gọi cách mạng là làm trò hề đấy. Tinh thần đâu mà cách mạng.” Tôi nói.
Một lúc, tôi kể:
_ “Năm kia, tôi về Huế. Rồi tôi cùng người bạn về thăm quê ổng, phía ngoài sân bay Phú Bài. Chúng tôi gặp một người bạn học cũ, ông bạn đang đang làm phó quận trưởng Hương Thủy, tham gia “chiến dịch Hướng về Nông Thôn” của chính phủ. Ông đi thuyền trên sông Lợi Nông. Trên chiếc ghe nhỏ, một anh cán bộ xây dựng nông thôn cầm máy Kohler ngồi sau, ông phó quận ngồi giữa, hai đầu là hai cô thư ký quận, áo dài đàng hoàng, một cô áo xanh, một cô áo hồng. Ông bạn tôi la lên: “Trời ơi! “Hướng về nông thôn mà như đi du lịch”. “Cách mạng Hành Chánh” của tổng thống Thiệu đấy. Ngộ chưa?”
Ông phó Nghiêm cười:
_ “Cán bộ cách mạng” ngồi giữa. Hai đầu là hai miếng ruộng chéo chớ còn gì nữa. Vói tay chút xíu là tới “hợp tác xã nông nghiệp” ngay chớ gì!”
Con Hòa ngây ngô hỏi:
_ “Hai miếng ruộng chéo là cái gì?”
Cô chủ quán, vừa dọn cơm trưa ra cho chúng tôi ăn theo lời Ba Hà dặn, nghe con Hòa hỏi, cười trả lời:
_ “Hỏi “dzô dziên”. Cái đó mà không biết sao còn hỏi!”
Bốn người chúng tôi cùng cười.
Vì thấy thiếu úy Chiếu đi công tác ở Xóm Đồn Giữa về, mặt mày còn đỏ gay, mồ hôi nhễ nhại. Tôi đoán chừng chưa ăn cơm, bèn nói:
_ “Đói bụng không? ăn luôn đi.”
Thiếu úy Chiếu nói với cô chủ quán:
_ “Cho tôi ly trà đá, ly cối nghe.” Rồi quay sang nói với chúng tôi; “Khát quá, “chơi” luôn một ly cối mới đã.”
Tôi hỏi:
_ “Ông Thầy Chùa đâu rồi?”
_ “Trung sĩ An đưa về sau. Cho ông ta xếp dọn quần áo đã. Thấy mà khiếp.”
Tôi hỏi:
_ “Có còng ông ta lại không?”
_ “Không! Ổng trốn đi đâu được mà còng.”
Tôi nói:
_ “Còng cũng được, nhưng phải nhớ cởi cái áo tu ra. Nhốt vô khám cũng vậy; luật đó. Không nó thưa cho; phiền lắm.”
Ba Hà nói:
_ “Tôi nghe nói “me xừ” tư lệnh Cảnh Sát vô trách nhiệm lắm; phải không? Hễ có dư luận báo chí hay thưa gởi đối lập là “chã” cách chức nhân viên của chã trước đã, tránh búa rìu cho yên thân chã, oan ưng tính sau!”
_ “Anh muốn nói chuyện thiếu úy Vây ở Thạnh Đông chớ gì.” Tôi nói. “Oan cho thiếu úy Vây.”
_ “Đúng chuyện đó! Dân Rạch Giá chê dữ lắm.” Ba Hà nói.
_ “Đáng ra, nên khen thiếu úy Vây, cho thằng chã “hội đồng Tỉnh” vô tù tội “đồng mưu trộm” mới đúng. Thượng cấp nhát gan quá, thành ra pháp luật bất minh.” Tôi nói.
_ “Anh biết rõ chuyện đó?” Ông phó quận hỏi.
_ “Thiếu úy Vây là đệ tử tôi mà!” Tôi trả lời.
Một lúc, tôi kể:
_ “Thằng cha “hội đồng Tỉnh” nầy lưu manh lắm. Nhà nó ở Kinh Tám, kế nhà có cô gái, ở với em gái. Hai chị em mồ côi cả cha lẫn mẹ. Thằng chả đã già muốn “dê” cô chị. Cô ta không chịu. Y trả thù bằng cách cha cho chĩa cái ống khói máy điện của ông vô vách nhà cô ta; nóng, khói um, ai chịu nỗi. Cô ta khiếu nại lên tôi. Thằng cha lo hối lộ, nhờ thiếu úy Vây đưa cho tôi hai chục ngàn. Tôi thấy cha làm sai quá, câu chuyện sẽ nhiều rắc rối, bèn chuyển nội vụ ra tòa. Biện lý làm gì thì làm. Tụi không muốn dính vô.
Sau đó chã lấy một bà già mù, nguyên là con gái chủ điền. giàu lắm. Chã âm mưu với hai đứa cháu trai; chã giả đi vắng, chỉ chỗ bà già mù giấu nữ trang cho hai đứa cháu vô ăn trộm. Thiếu úy Vây điều tra, tìm ra thủ phạm. Thằng chã sợ, thưa kiện lung tung, lên tới Giám Sám Viện. Ngô Công Đức, Dương Văn Ba, không biết mẹ gì, cũng nói là thiếu úy Vây vu cáo cho cháu thằng chã. Ông Tư lệnh Cảnh Sát sợ đám đối lập bèn cách chức thiếu úy Vây mà không cho điều tra. Dân Cái Sắn chưởi dữ.”
_ “Oan cho thiếu úy Vây chớ gì.” Ba Hà nói.
_ “Cũng như Phạm Duy Tốn nói vậy mà “Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi”, làm vậy cho chắc cái ghế tư lệnh của chã.” Tôi trả lời.
_ “Thiếu úy Vây có thể kiện ông tư lệnh được đấy.” Ba Hà góp ý.
_ “Anh nghĩ một thằng gốc “lính tẩy” như chã mà có tinh thần dân chủ hay sao?” Tôi hỏi lại Ba Hà.
Ba Hà hỏi thiếu úy Chiếu:
_ “Ông thầy chùa nầy phá đạo phải không?”
_ “Tu hành gì đâu. Cái chòi hoang của ai bỏ không, ông vô đó đặt bát nhang, gọi là chùa?” Thiếu úy Chiếu giải thích.
_ “Ông ta một mình?” Tôi hỏi.
_ “Một cô gái nữa. Một thầy “đực” với một nữ đệ tử “cái”. Đêm hôm “đực, cái” làm gì nhau, ai mà biết. Thầy bà phá giới.”
_ “Ông ta có giấy tờ gì không?” Tôi lại hỏi.
_ “Ông có giấy căn cước, có giấy chứng minh của ông đại úy đại đức tuyên úy ở Rạch Giá, có giấy hoãn dịch vì lý do tu sĩ.” Thiếu úy Chiếu trả lời.
Ông phó Nghiêm góp ý:
_ “Dư luận ngoài Rạch Giá nói rằng ông đại úy tuyên úy nầy “thầy chạy” luôn.”
_ “Ông biện lý có lần dặn tôi không cho ông tuyên úy nầy vô thăm tội nhân khi điều tra chưa xong. Ngay ở tòa Sơ Thẩm Kiên Giang, ông tuyên úy lợi dụng sự nể nang của ông biện lý cho vô thăm tội nhân, ông “mớm cung” cho người ta đấy.” Tôi nói tiếp.
Ba Hà hỏi thiếu úy Chiếu:
_ “Còn ông thầy chùa nầy thì sao?”
_ “Ông đi tu mà không muốn tu, không muốn ở chung với mấy thầy khác chùa ngoài Rạch Giá. Vô đây ở một mình, miễn khỏi đi lính là được. Ở với nữ đệ tử “vui” chán.” Thiếu úy Chiếu cười, trả lời.
_ “Trong chùa có gì?” Tôi hỏi.
_ “Có bàn thờ, bát nhang lạnh lẽo vì thầy bận đi buôn đường. Có một cái giường gỗ tạp.”
_ Chay mặn gì ông chơi tuốt”. Ông “thích đủ thứ” mà.” Thiếu úy Chiếu trả lời. Xong, Chiếu lại hỏi tôi.
_ “Giải quyết sao đại úy?”
Tôi nói:
_ “Cho người đưa ông Lỗ Trí Thâm nầy về ngoài Rạch Giá, trả cho Giáo Hội là xong.”
(Vậy mà không xong, trên đường dẫn ông ta về ngoài ấy, ông thầy chùa có máu giang hồ ấy lợi dụng không bị còng tay, ông bỏ trốn mất).
_ “Còn con nhỏ nữ đệ tử?” Thiếu úy Chiếu lại hỏi.
_ “Nghe nói con nhỏ đó là em gái một Cảnh Sát Dã Chiến của đại úy Năm phải không? Gọi về ngoài, biểu thằng anh vô đem em nó về.”
Thiếu úy Chiếu nói:
_ “Em không ăn cơm đâu, mấy ông ăn đi. Em vô Cuộc lo việc cho xong.”
Gần xong bữa ăn, tôi nói với Ba Hà:
_ “Về tôn giáo, ngoài Bắc, ngoài Trung, ngoại trừ những người theo đạo Thiên Chúa, phần đông dân chúng theo đạo Phật có vẻ “chân truyền” hơn. Trong Nam nầy, đạo Phật vừa có tính tiểu thừa, vừa pha tạp với “Đạo Giáo” nên có nhiều “ông đạo” tu một mình trong hang núi, nhất là ở núi Tà Lơn vùng Thất Sơn. Vùng Kiên Lương nầy cũng vậy. Núi đá nhiều, có nhiều hang động. Nhiều ông đạo tu một mình trong hang. Mỗi ông tu một cách, chẳng ai giống ai. Núi Còm ở nhà máy xi măng Hà Tiên là nơi tu của ông đạo Còm. Không ai biết tên ông, gọi là ông đạo Còm vì lưng ông còm, cong như cái cung. Năm 1962, khi nhà máy Xi Măng bắt đầu khai thác đá núi Còm, người ta thấy bộ xương của ông. Ông chết rục trong hang hồi nào người ta không hay. Đạo Liếm, đạo Sờ, đạo Dừa, “Bác vật Lang” (14) cũng từ cách tu đó mà ra. Chiến tranh qua rồi, người ta sẽ đi tu nhiều đấy, chắc không thiếu gì các ông đạo như ngày xưa.”
Nghe tôi nói, Ba Hà thở dài.
Một lúc, Ba Hà nói:
_ “Thật ra, tu như ông đạo Còm hay các ông đạo ở Thất Sơn là hay lắm. Dân người ta biết họ là người tu hành chân chính cả đấy.”
Phó Nghiêm quay qua hỏi tôi:
_ “Ông có nghe người ta nói về ông đạo Còm chớ gì?”
_ “Có nghe. Chuyện hay lắm. Để tui tóm tắt cho nghe.”
Một lúc sau, tôi kể:
_ “Ở quận, ông phó biết phía sau sân vận động là Chùa ông Bổn chớ gì. Chùa ở trên ngọn đồi nhỏ. Chùa nầy có lâu lắm, trước chiến tranh.
Tôi kể tiếp:
_ “Trụ trì là một ông thầy già, mấy ông sư trẻ. Tui hơi ngại. Việt Cộng thường lợi dụng mấy ông sư già nhà quê, thiệt thà, có lòng yêu nước ít nhiều để dựng “hạ tầng cơ sở” hay giao liên, tiếp tế, v.v… Vì vậy, một hôm tui kêu mấy “đệ tử” theo tui lên chùa. Tui lên chùa thắp nhang, chào hỏi thầy rất kính cẩn. Ổng cũng đối xử với tôi đàng hoàng lắm. Tui nói với ông thầy chùa hồi tui còn nhỏ, thường theo cha đi chùa Phật Lồi ở truông Ái Tử cho ông ta nghe. (15). Ông cũng kể chuyện ông đi tu từ nhỏ, sư phụ ông lại chính là “đệ tử” ông đạo Còm, khi ông đạo Còm còn tu ở cái hang trên núi Còm.
“Ông đạo Còm có thời theo Phật Thầy Tây An. Trước khi đi tu, ông có vợ, có người con trai. Người con trai sau theo nghĩa quân chống Tây, sau không biết tin tức. Cũng không rõ ông đạo Còm lên núi lúc nào. Ông có một “triết lý” rất lạ, không thờ Phật – dĩ nhiên là không thờ Chúa – chỉ thờ Trời như người dân Nam Bộ ngày xưa, chủ trương đạo Hiếu và bổn phận con người đối với gia tộc và đất nước.”
Bỗng Ba Hà cắt ngang:
_ “Tui biết cách tu nầy, không riêng gì của ông đạo Còm mà nhiều ông đạo vùng Tà Lơn cũng vậy.”
Tôi nói:
_ “Anh người địa phương, chắc rõ hơn tui, kể đi.”
_ “Được thôi.” Ba Hà nói. “Có gì anh em mình bổ sung.”
_ “Theo “giáo phái” nầy, “giáo phái” là cách nói thôi nghe! Hạ thể con người ta mới là phần quan trọng. Phần tim óc chỉ là nói cho văn vẽ. Từ lỗ rún trở xuống: lỗ rún là nơi tiếp nhận “sự sinh” từ nơi cha mẹ khi mới tượng hình bào thai. Rồi ta được cha mẹ sinh ra, nuôi dạy khôn lớn. Đó là “cha sinh mẹ dưỡng”. Công lao đó có ai sánh bằng. Cho nên, họ chủ trương thờ Trời – tức là Tạo Hóa đấy – và thờ Cha Mẹ. Công ơn cha mẹ là lớn nhất. Thờ ai nữa chỉ là chuyện phụ. Khi tắm, nhìn vô cái lỗ rún, là nhớ công ơn cha mẹ. Dù cái rún đã cắt đi rồi, thì cũng coi như “cuống rún chưa lìa.”
_ “Còn phần dưới nữa chớ!?” Tôi góp ý.
_ “Phần dưới nữa là bộ phận sinh dục. Bộ phận sinh dục giữ cái trách nhiệm của sự tồn tại: Tồn tại gia đình, dòng họ, tồn tại dân tộc, tồn tại nhân loại. Các loài sinh vật cũng nhờ cái bộ phận đó mà tồn tại. Nó không phải là cái để chơi cho sướng. Nó là cái để lưu tồn nòi giống. Người ta phải dùng nó để tồn tại nòi giống. “Giáo phái” nầy chỉ đi tu sau khi đã cón con, mà con trai mới được. “Nữ nhi ngoại tộc”. Chưa có con là chưa đi tu, bởi chưa làm tròn cái bổn phận giữ gìn nòi giống mà ông Trời đòi hỏi.”
_ “Ông Tất Đạt Đa đi tu sau khi có con.” Tôi góp ý.
_ “Giáo phái” nầy không còn tồn tại nên tôi không rõ họ có khuynh hướng như Phật tổ hay không! Tuy vậy, cái “triết lý” của giáo phái nầy, từ giữa thế kỷ 19, hàng “đệ tử” của Phật Thầy Tây An rất hoan nghênh, mặc dù họ có thờ Phật, không thờ các ông Đạo.” Ba Hà trả lời.
_ “Vấn đề là chỗ nầy: “Trách nhiệm và cái sướng. Tạo Hóa thì cho cái việc ấy phải có sướng, con người hay loài vật đều vậy cả. Nếu không có cái sướng thì con người cũng như súc vật sẽ làm biếng làm cái việc ấy. Vậy thì làm sao nòi giống lưu tồn? Tuy nhiên, với loài vật, việc ấy là do bản năng. Tới thời gian cần sinh sản, con vật cái cần giống đực. Sau khi con cái thụ thai thì thôi. Thành ra, việc sinh dục chỉ theo mùa. Con người thì khác, không có mùa mà thường trực hơn. Với luân lý, việc ấy là để “nối dõi”. Nhưng vì ông trời cho việc ấy có sự khoái lạc, nên con người đã lạm dụng việc ấy. Vợ chồng liên tục hơn, đàn ông đa thê…”
_ “Đại úy không nghĩ Cộng Sản nhìn vấn để theo “duy vật biện chứng” à?” Ông phó quận hỏi.
_ “Ông phó tốt nghiệp học viện, trình độ đại học, hiểu biết chính trị hơn tôi chớ?” Tôi trả lời.
_ “Học là một việc. Học để thi nên nhiều khi học đủ bài thì thôi. Tôi nghĩ đại úy từng làm giáo sư nên có hiểu biết đấy.” Ông phó quận trả lời tôi.
_ “Tôi không rành đâu, nhưng có câu chuyện nầy vui lắm, để tui kể”. Tôi nói. “Mấy năm tôi học làm “mầm non văn nghệ”, viết bài cho các tờ báo ở Huế như “Mùa Lúa Mới”, “Ý Dân” – tờ báo của “Phong trào Cách mạng Quốc gia”. Những người viết cho các tờ báo nầy, như ông Võ Thu Tịnh, Phan Du, Võ Phiến, Đỗ Tấn, đều ở “vùng Việt Minh” mới về hợp tác với chính quyền miền Nam sau hiệp định Genève 1954. Anh Lê Mộng Hòa, một hạ sĩ quan Quân Đội, từng làm cho đài Quân Đội ở Saigon, vừa bị giải ngũ về Huế, thường đến chơi với tôi. Anh nầy cũng có thời theo Việt Minh, chắc cũng biết ít nhiều về chủ nghĩa Mác do Cộng Sản nhồi nhét cho. Một hôm, mẹ tôi nói: “Con đừng chuyện trò với ông Hòa nữa. Cả xóm nầy, người ta chưởi ông ta dữ lắm.” Hỏi ra, tôi mới biết hôm trước, ông ta gây lộn với mẹ ông. Ông mắng mẹ: “Cha mạ nằm với nhau là kể cái chuyện sướng, chớ đâu có phải muốn sinh ra tui. Công ơn chi! Mạ đừng nói chuyện công ơn cha mạ với tui.” Mẹ tôi nói thêm: “Cái thứ vô đầu vô vĩ mới nói như rứa.”
Nghe xong, ai nấy đều cười.
Bỗng con Hòa lên tiếng, nhắc chừng: “Con chưa có chồng đó nghe!”
Nghe thế, phó Nghiêm cười trả lời:
_ “Phải “văn minh” lên chớ. Bên Tây, tới tuổi dậy thì, người ta đã dạy cho con nít việc nầy rồi.”
Ba Hà nhận xét:
_ “Lý luận như vầy, chỉ từ hồi có Việt Cộng mới có mà thôi. Ông bà ngày xưa mà nghe nói vậy, chắc mấy ông nổi giận đùng đùng.”
_ “Mẹ ông Hải cũng đã ngăn cấm ông chơi với Việt Cộng rồi đấy.” Ông phó Nghiêm cười, trả lời.
_ “Tui nói thật, tui mồ côi cha năm mười tuổi, khôn lớn là nhờ mẹ, mới nghĩ tới cái ý tưởng đó, tui đã vội xua đuổi nó ra khỏi trí óc tôi. Cái ý nghĩ chỉ thoáng tới tôi, tui đã thấy có tội rồi, nói chi tới việc có “lập trường” như thế, nói năng như thế với mẹ.” Tôi bày tỏ ý kiến một cách chân thành.
_ “Chỉ có Cộng Sản mới nghĩ như thế thôi ông ơi! Có vậy chúng nó mới “đấu tố cha mẹ” được.” Ba Hà nhận xét.
Tôi nói “để tui kể cho nghe thêm một chuyện nữa.”
Mọi người nhìn tôi cười.
_ “Cái nầy tôi đọc trong “Bách Khoa”, cả chục năm rồi. Ông Bùi Bạt Tụy, dạy ngữ học ở Đại Học Văn Khoa”, viết trên báo nầy một câu chuyện. Trước 1945, có một làng chài ở Bình Định, làng có tục thờ hai cái “sinh thực khí” bằng đá, một của đàn ông, một của đàn bà trong một cái hang. Hàng năm, đến ngày hội, làng rước hai cái sinh thực khí nầy đi quanh làng, trước khi rước về lại hang để làm lễ tế. Khi rước quanh làng, người đầu làng, ông lý trưởng hay tiên chỉ gì đó, cầm hai cái sinh thực khí đó đi đầu. Vừa đi, ông ta cầm cái có hình dương vật thọc qua thọc lại cái có hình của người đàn bà, nói rằng: “Cái sự làm sao! Cái sự làm vầy. Cái sự làm vầy! Cái sự làm sao.”
_ “Làng nầy thờ “dâm thần?” ông phó Nghiêm hỏi.
Tôi nói:
_ “Chữ “dâm” ông phó nghĩ như thế nào?
_ “Việc ấy gọi là “dâm” chớ gì nữa.” Phó Nghiêm nói.
_ “Cái nầy,” Tôi nói, “Không phải là “cho đáng kiếp tà dâm” như trong truyện Kiều. Trong đạo Phật, người ta phân biệt “chánh dâm” với “tà dâm”. Vợ chồng ăn nằm với nhau để sinh con đẻ cái là “chánh dâm”. Ngoại tình, chơi bời là “tà dâm” có phải không? Ông phó có nghĩ Mác vì dốt, không phân biệt được “chính dâm” với “tà dâm” như Phật, nên nói sai, dạy sai cho đảng viên, phải không?”
_ “Có khi nào người ta thờ thần “tà dâm” không?” Ba Hà hỏi.
_ “Có chớ sao không? Tú Bà thờ thần “Bạch Mi” cho được đắt hàng là thờ “dâm thần” chớ gì nữa.”
_ “Ngay ngoài tôi cũng có thờ “dâm thần”, mà thờ một cách “hợp pháp” nữa đấy.
Ba Hà nói đùa: “Đúng ông nầy nhiều chuyện”.
_ “Chuyện như thế nầy.” Tôi nói. “Hồi tôi còn nhỏ, có lần tôi nghe ông anh tôi – ông nầy nghịch lắm – nói câu: “Muốn dòm lồ…, ra cồn Dĩ Hạ.” Dĩ Hạ là tên làng, ở ngay phía nam vĩ tuyến 17 – Có thể tên là Nhĩ chớ không phải Dĩ. Cồn là một cái truông cát. Cát rất trắng. Làng có một cái khe nước. Tới mùa mưa thì nước lên cao, mùa hạ thì nước ngang mắt cá. Ở chỗ có con đường lội qua khe nước, có ngôi miếu thờ thần. Theo tục của làng, đàn ông thì khỏi, đàn bà, bất cứ già trẻ, có chồng hay chưa, khi lội qua khe thì phải cởi quần ra, không được vén quần lên, dù nước sâu hay cạn. Ai không tuân làng bắt vạ vì ông thần sẽ gây tai họa cho làng.”
_ “Tôi mà đổi về làm việc ngoài xứ anh, tôi sẽ hợp tác với ông thần đó đấy.” Phó Nghiêm vừa nói đùa, vừa cười.
_ “Bọn tôi gọi là ông “thầm dòm lồ…” đó. Người ta sẽ gọi ông là ông phó… gì?” Tôi nói.
Mọi người cùng cười.
Một lúc, phó Nghiêm nói:
_ “Tôi nhớ hình như Nguyễn Khuyến có một bài thơ nói về việc ấy.”
_ “Để tui nhớ coi.” Tôi nói, “nghỉ dạy lâu, nhiều khi cũng quên.
Một lúc sau, tôi đọc:
Đầu làng Ngang có một chỗ lội, Có đền ông Cuội cao vòi vọi; Đàn bà qua đấy vén quần lên, Chỗ thì đến háng, chỗ đến gối; Ông Cuội ngồi trên mỉm mép cười, Cái gì trăng trắng như câu cúi? Đàn bà khép nép đứng liền thưa: – Con chót hớ hênh ông xá tội; – Thôi, thôi con có tội chi mà, Lại đây ông cho giống ông Cuội; Từ đấy làng Ngang đẻ ra người, Đẻ ra rặt những thằng nói dối.
Một lúc sau, Phó Nghiêm nói:
_ “Thật ra, trong cách thờ phượng của người Việt Nam, ngoài chùa, có nơi đền đài miếu mạo, người ta thờ Thàng Hoàng, thờ danh nhân lịch sử là chính. Các nhân vật lịch sử được thờ nhiều nơi, nhất là Đức Thánh Trần, Hai Bà Trưng, Bà Chúa Liễu Hạnh. Người ta tôn sùng Bà Chúa Liễu Hạnh như là người mẹ của Dân Tộc. Trong gia đình người Việt chân chính, thờ tổ tiên, ông bà cha mẹ đã khuất núi là việc quan trọng nhất.”
_ “Người Việt có khuynh hướng đa thần! Ngay ở ngoài Trung, ngoài Bắc, làng xã có từ lâu đời, có phong tục, lề thói, tập quán, thờ Trời, thờ Thành Hoàng mà vẫn thờ đa thần”. Tôi nói.
“Thật ra, “lưu lạc” từ cực bắc tới cực nam VNCH, tôi có cái cảm tưởng như đi theo dấu “chân Nam Tiến” của tổ tiên, nhận xét về sự thay đổi của người Việt mình: Ngoài Trung, ngoài Bắc thì là “Nàng Tô thị”, “Mẹ bồng con”; vô vịnh Rạch Giá đổi thành “Hòn Phụ tử”. Cha thay cho mẹ. Ngoài kia thì thờ Trời, thờ tổ tiên, anh hùng liệt nữ. Vô tới trong Nam thì thờ Trời, thờ chữ “hiếu”, và thần linh, “Thất Sơn huyền bí”, pha ít nhiều bùa chú. Cũng Trời, cũng Phật đấy, nhưng hình như có chỗ khác nhau, pha ít nhiều mê tín bùa phép người Miên, có nhiều ông đạo trên các vùng Tam Sơn, Thất Sơn, Cô Tô, núi Cấm, núi Bà, Tà Lơn. Phải chi hòa bình, đi hết vùng nầy mà tìm hiểu, có lẽ chúng ta sẽ thấy rõ hơn “văn minh miệt vườn”, hay “Văn minh miền Tây Nam Bộ”, lý thú không kém gì “Tìm hiểu đất Hậu giang” của Sơn Nam.”
hoànglonghải
(Ghi chú: Ngay sau tháng Tư/ 75, Ba Hà cùng đệ tử không chịu “trình diện, học tập cải tạo”, kéo nhau vô rừng Trà Tiên, chống lại Việt Cộng. Sau khi quân Việt Cộng xâm lăng Kamphuchia 1979, người dân vùng Hà Tiên, Kiên Lương không còn nghe tin tức gì của Ba Hà và đệ tử của ông nữa.)
(1) _ “Thạch Hào Lại” – Đỗ Phủ
(2) _Về “Đại tá Bé”. Thân phụ ông Nguyễn Bé tên là Nguyễn Nẫm, quê ở Thừa Thiên. Trước 1945, ông cùng với một người bà con -người nầy qua đời khoảng năm 1950 vì xe bị mìn trúng số độc đắc một triệu đồng Đông Dương, khi hai người chạy xe đò đường Đông Hà – Xavanankhet (Lào). Do đó, ông Nẫm sắm xe Vedette, vui chơi… Năm 1948, khi gia đình tôi hồi cư về thị xã Quảng Trị, nhà tôi ở gần nhà ông Nguyễn Bé. Gia đình tôi là cố cựu, gia đình ông Nẫm mới đến ngụ cư sau khi chiến tranh bùng nổ. Nguyễn Cẩm, em kế ống Bé là bạn học từ lớp Ba với tôi, chơi thân với nhau đến trung học. Năm 1975, Cẩm là thiếu tá Biệt Động Quân. Năm 1951, ông Bé cưới vợ, người quê ở Lai Phước, phủ Triệu Phong, quê mẹ của ông. Năm 1952, ông Bé rủ anh kế tôi và anh Đỗ Văn Nghiêm, hai người là bạn học, theo học khóa 4 Võ bị Địa Phương (ở Đập Đá – Huế). Đời binh nghiệp ông Bé lên rất nhanh: Huấn luyện viên của trường, làm phó tỉnh tưởng nội an tỉnh Bình Định, chỉ huy trưởng trường “Cán bộ Xây dựng Nông thôn Vũng Tầu”. Năm 1969, nhân dịp hướng dẫn Hướng Đạo Sinh Quân Đội cắm trại ở đây, tôi ngạc nhiên về cách tổ chức cho cán bộ xây dựng nông thông và viên chức xã ấp về thụ huấn ở đây. Ông Bé biết cách khích động lòng yêu nước, yêu dân tộc, và cách sinh hoạt gần gũi và phục vụ nông thôn. Ngay tại trung tâm nầy, ông có dựng một nhà thờ, thờ vua Lê Lợi, – coi như là “ông tổ” của chiến tranh du kích Việt Nam. Chính vì biết xử dụng loại chiến tranh nầy, Lê Lợi kéo dài cuộc kháng chiến đến 10 năm và cuối cùng đánh bại quân nhà Minh.
Tối hôm đó, tôi và người bạn thân, anh Lương Thúc Trình ngủ lại qua đêm tại nhà thờ nầy. Ông già cán bộ “thủ tự” cho biết phó tổng thống Hubert Humphrey, khi qua VN dự lễ nhậm chức của tổng thống Thiệu, chỉ ở dinh Độc Lập một giờ đồng hồ nhưng ở lại trung tâm nầy hơn một ngày và cũng ngủ lại tại nhà thờ vua Lê Lợi nầy. Tôi hỏi Trình: “Ông Bé làm gì mà ông Humphrey ở lại đây lâu thế? Không chừng Mỹ đang chuẩn bị một candidat tổng thống tương lai cho miền Nam hay sao?”
Ít lâu sau, ông Thiệu chuyển trung tâm huấn luyện cán bộ xây dựng nông thôn, viên chức xã ấp thành trung tâm gì đó cho cuộc “cách mạng hành chánh” do tổng thống mới đặt ra. Thực ra, đó chỉ là việc “bứng” đại tá Bé đi chỗ khác (chơi). Tổng thống Thiệu lo xa, “triệt tiêu” một đối thủ tranh chức tổng thống với ông trong tương lai chăng.
Những năm làm việc ở nông thôn, từ xã ấp, tôi thấy ở đây, viên chức xã ấp, cán bộ xây dựng nông thôn, những ai từng qua huấn luyện ở trung tâm huấn luyện ở Vũng Tầu của đại tá Bé, họ ngưỡng một đại tá Bé như thế nào! “Anh đại tá Bé” là tiếng họ thường nói, họ coi “anh đại tá Bé” như là người của họ, giúp họ phục vụ và xây dựng thôn ấp của họ chống lại Việt Cộng và phát triển đời sống dân chúng địa phương bằng những chương trình xây dựng nông thôn do “trung tâm” vẽ ra cho họ khi học thụ huấn ở đây.
Đối với Việt Cộng, giết một cán bộ xây dựng nông thôn, một viên chức xã ấp có ích hơn là giết một người lính. Chính họ là người phát hiện và giải hóa Việt Cộng ngay tại “hạ tầng cơ sở”.
Tôi không rõ vì sao, hoạt động của Bộ Xây Dựng Nông Thôn thu hẹp lại, nhiều cán bộ xây dựng nông thôn gia nhập quân đội hay chuyển ngành Cảnh Sát. Chương trình “Bình Định và Phát triển nông thôn” bị “teo” lại. Bundy thôi làm phó đại sứ, đặc trách về bình định và phát triển, trở về Mỹ.
(3)-Nguyễn Trung Trực:
Tượng Nguyễn Trung Trực tại sân đền thờ chính ở TP Rạch Giá.
Sinh ra dưới thời Minh Mạng, thuở nhỏ ông có tên là Chơn. Từ năm Kỷ Mùi (1859) đổi là Lịch (Nguyễn Văn Lịch, nên còn được gọi là Năm Lịch), và cũng từ tên Chơn ấy cộng với tính tình ngay thật, nên ông được thầy dạy học đặt thêm tên hiệu là Trung Trực.
Nguyên quán Nguyễn Trung Trực ở xóm Lưới, thôn Vĩnh Hội, tổng Trung An, huyện Phù Cát, trấn Bình Định (ngày nay là thôn Vĩnh Hội, xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định). Ông nội là Nguyễn Văn Đạo, cha là Nguyễn Văn Phụng (hoặc Nguyễn Cao Thăng), mẹ là bà Lê Kim Hồng.
Sau khi hải quân Pháp nhiều lần bắn phá duyên hải Trung Phần, gia đình ông phải phiêu bạt vào Nam, định cư ở xóm Nghề (một xóm trước đây chuyên nghề chài lưới), làng Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, Phủ Tân An (nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An) và sinh sống bằng nghề chài lưới vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ. Không rõ năm nào, lại dời lần nữa xuống làng Tân Thuận, tổng An Xuyên. (nay là xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau).
Ông là con trưởng trong một gia đình có tám người con. Lúc nhỏ, ông rất hiếu động, thích học võ nên khi lớn lên ông là người có thể lực khỏe mạnh, giỏi võ nghệ và là người có nhiều can đảm, mưu lược.
Tháng 2 năm 1859 Pháp tấn công thành Gia Định. Vốn xuất thân là dân chài, nằm trong hệ thống lính đồn điền của kinh lược Nguyễn Tri Phương, nên ông sốt sắn theo và còn chiêu mộ được một số nông dân vào lính để gìn giữ đại đồn Chí Hòa, dưới quyền chỉ huy của Trương Định.
Sau đó ông là quyền sung Quản binh đạo và chỉ huy đốt cháy tàu L’Espérance của Pháp, nên còn được gọi là Quản Chơn hay Quản Lịch. Trong sự nghiệp kháng thực dân Pháp của ông, có hai chiến công nổi bật, đã được danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt khen ngợi bằng hai câu thơ sau:
Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên đia
Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.
Thái Bạch dịch:
Sông Nhật Tảo lửa hồng rực cháy, tiếng vang trời đất, Đồn Kiên Giang lưỡi kiếm tuốt ra, quỷ thần sợ khóc.
Sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ ngày 25 tháng 2 năm 1861, Nguyễn Trung Trực về Tân An. Đến ngày 12 tháng 4 năm 1861, thành Định Tường thất thủ, quân Pháp kiểm soát vùng Mỹ Tho, thường cho những tàu chiến vừa chạy tuần tra vừa làm đồn nổi di động. Một trong số đó là chiếc tiểu hạm L’Espérance (Hy Vọng), án ngữ nơi vàm Nhựt Tảo (nay thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An).
Sáng ngày 10 tháng 12 năm 1861, Nguyễn Trung Trực cùng quyền sung Phó Quản binh đạo Huỳnh Khắc Nhượng, Võ Văn Quang, quản toán Nguyễn Học, và hương thôn Hồ Quang Chiêu (Đại Nam thực lục chép là lương thân Hồ Quang)… tổ chức phục kích đốt cháy tàu chiến này.
Trận này quân của Nguyễn Trung Trực diệt 17 lính và 20 cộng sự người Việt, chỉ có tám người trốn thoát (2 lính Pháp và 6 lính Tagal, tức lính đánh thuê Philippines, còn gọi là lính Ma Ní).
Lúc đó, viên sĩ quan chỉ huy tàu là trung úy hải quân Parfait không có mặt, nên sau khi hay tin dữ, Parfait dẫn quân tiếp viện, đốt cháy nhiều nhà cửa trong làng Nhật Tảo để trả thù.
Theo sau chiến thắng vừa kể, nhiều cuộc tấn công quân Pháp trên sông, trên bộ liên tiếp diễn ra…
Sau lần đốt tàu L’Espérance của Pháp, Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân tiếp tục chiến đấu qua lại trên địa bàn Gia Định, Biên Hòa. Khi Hòa ước Nhâm Tuất 1862 được ký, ba tỉnh miền Đông lọt vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Trung Trực nhận chức Lãnh binh, đưa quân về hoạt động ở ba tỉnh miền Tây. Đầu năm 1867, ông được triều đình phong chức Hà Tiên thành thủ úy để trấn giữ đất Hà Tiên, nhưng ông chưa kịp đến nơi thì tòa thành này đã bị quân Pháp chiếm mất vào ngày 24 tháng 6 năm 1867. Không theo lệnh triều đình rút quân ra Bình Thuận, Nguyễn Trung Trực đem quân về lập mật khu ở Sân chim (tả ngạn sông Cái Lớn, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang). Từ nơi này, ông lại dẫn quân đến Hòn Chông (nay thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, lập thêm căn cứ kháng Pháp.
Ở Kiên Giang, sau khi nắm được tình hình đối phương và tập trung xong lực lượng (trong số đó có cả hương chức, nhân dân Việt – Hoa – Khmer); vào 4 giờ sáng ngày 16 tháng 6 năm 1868, Nguyễn Trung Trực bất ngờ dẫn quân từ Tà Niên (nay là xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang) đánh úp đồn Kiên Giang, do Trung úy Sauterne chỉ huy.
Kết thúc trận đánh, nghĩa quân chiếm được đồn, tiêu diệt được 5 viên sĩ quan Pháp, 67 lính, thu trên 100 khẩu súng cùng nhiều đạn dược và làm chủ tình hình được 5 ngày.
Đây là lần đầu tiên, lực lượng nghĩa quân đánh đối phương ngay tại trung tâm đầu não tỉnh. Nhận tin chủ tỉnh Rạch Giá cùng vài sĩ quan khác bị giết ngay tại trận, George Diirrwell gọi đây là một sự kiện bi thảm (un événement tragique).
Hai ngày sau (ngày 18 tháng 6 năm 1868), Thiếu tá hải quân A. Léonard Ausart, Đại úy Dismuratin, Trung úy hải quân Richard, Trung úy Taradel, Trần Bá Lộc, Tổng Đốc Phương nhận lệnh Bộ chỉ huy Pháp ở Mỹ Tho mang binh từ Vĩnh Long sang tiếp cứu. Ngày 21 tháng 6 năm 1868, Pháp phản công, ông phải lui quân về Hòn Chông (Kiên Lương, Kiên Giang) rồi ra đảo Phú Quốc, lập chiến khu tại Cửa Cạn nhằm kình chống lâu dài.
Tháng 9 năm 1868, chiếc tàu Groeland chở Lãnh Binh Tấn (tức Huỳnh Văn Tấn, còn được gọi Huỳnh Công Tấn, trước có quen biết ông Trực vì cùng theo Trương Định kháng Pháp. Sau này, Tấn trở thành cộng sự cho Pháp), cùng 150 lính ở Gò Công đến đảo Phú Quốc để bao vây và truy đuổi ông Trực.
Hương chức và dân trên đảo bị đội Tấn dọa phải theo và phụ lực với hắn để bao vây bọn ông Trực. Sau hai trận ghê gớm, bọn ông Trực phải trốn vào trong núi. Đội Tấn rượt theo, nghĩa quân bị kẹt trong một khe núi nhỏ hẹp. Cùng đường, bọn ông Trực phải ra hàng…
Giám đốc Sở nội vụ Paulin Vial viết:
Nguyễn Trung Trực chịu nộp mạng, chỉ vì thiếu lương thực và vì mạng sống của bao nghĩa quân đang bị bao vây hàng tháng trời ròng rã tại Phú Quốc.
Nhưng có người lại cho rằng để bảo toàn lực lượng nghĩa quân, nhân dân trên đảo và lòng hiếu với mẹ (Pháp đã bắt mẹ của ông để uy hiếp), Nguyễn Trung Trực tự ra nộp mình cho người Pháp và đã bị đưa về giam ở Sài Gòn.
Nhưng theo lời khai ít ỏi của Nguyễn Trung Trực khi ông bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn với Đại úy Piquet, thanh tra bổn quốc sự vụ, thì sự việc như thế này, trích biên bản hỏi cung:
…Tôi cho biết rõ rằng tôi đã tự ý quy thuận lãnh binh Tấn. Vì hắn đến đảo, hắn bảo viết thơ yêu cầu tôi quy hàng, vì chúng tôi bị bao vây trong núi không có gì để sống, tôi bảo một người dân trói tôi và dẫn tôi đến Tấn. Nếu tôi muốn tiếp tục chiến đấu, hắn không bắt tôi được dễ dàng như thế…
Rất tiếc bản cáo của lãnh binh Tấn gửi cho thống đốc Nam kỳ về “việc bắt Nguyễn Trung trực và Tống binh Cân” đã bị thất lạc từ ngày 23 tháng 5 năm 1950, vì thế sự việc chưa được tường tận.
Bắt được Nguyễn Trung Trực, Pháp đưa ông lên giam ở Khám Lớn Sài Gòn để lấy khẩu cung. Theo Việt sử tân biên, mặc dù Lãnh binh Tấn đã hết sức can thiệp để Pháp tha mạng cho ông Trực, nhưng Thống đốc Nam Kỳ G. Ohier không chịu. Vì cho rằng không thể tha được “một người đã không coi luật quốc tế ra gì, đã hạ một cái đồn của chúng ta và giết chết 30 người Pháp!”
Và rồi ngày 27 tháng 10 năm 1868, nhà cầm quyền Pháp đưa ông Trực về lại Rạch Giá và sai một người Khmer trên Tưa (người dân thường gọi ông là Bòn Tưa) đưa ông ra hành hình tại chợ Rạch Giá, hưởng dương khoảng 30 tuổi.
(4)_ Tướng Trình Minh Thế.
Ông sinh năm 1922 tại tỉnh Tây Ninh trong một gia đình khá giả theo đạo Cao Đài. Thân phụ ông là một chức sắc trong Giáo hội Cao Đài, đồng thời cũng là một thương gia phát đạt. Do sinh trưởng trong một gia đình có thế lực, ông được hưởng sự giáo dục tốt hơn rất nhiều người Việt đương thời. Ông tốt nghiệp Tiểu học (Certificate of Primary Education), nhưng sau bị đuổi học vì tội ngang ngạnh, bướng bỉnh.
Đầu năm 1940, ông tham gia vào đơn vị vũ trang đầu tiên của Giáo phái Cao Đài, với danh xưng Chi đội 78 (tiền thân của Quân đội Cao Đài). Sau đó ông được gửi đi huấn luyện quân sự tại trường Nội ứng Nghĩa đinh ở Cái Vồn. Tốt nghiệp, ông trở về đơn vị và trở thành một cán bộ chỉ huy.
–Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Nhật tiến vào Đông Dương. Phản ứng trước tình hình phong trào chống Pháp càng ngày càng gia tăng, toàn quyền Đông Dương là Đô đốc Decoux hành động quyết liệt. Ông ta cho đóng cửa một số nơi thờ tự của Cao Đài, rồi tới ngày 26 tháng 8 năm 1940 cho đóng cửa Tòa Thánh Tây Ninh. Tới ngày 27 tháng 7 năm 1941, nhiều lãnh đạo của Cao Đài, kể cả Hộ pháp Phạm Công Tắc bị bắt giữ. Để giành được sự ủng hộ của các tổ chức Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia, phát xít Nhật tiến hành bắt liên lạc và hỗ trợ cho họ, trong đó có Cao Đài. Tới tháng 2 năm 1943, Nhật giúp vị Phối sư Cao Đài là Thượng Vinh Thanh (thế danh Trần Quang Vinh) mở lại Thánh thất Cao Đài tại Sài Gòn. Để đáp lại, Cao Đài hợp tác tích cực với Nhật, Phối sư Thượng Vinh Thanh kêu gọi giáo dân Cao Đài xung phong đăng lính cho quân Nhật, 10.000 giáo dân Cao Đài làm việc cho Nhật, đáng kể nhất là tại xưởng đóng tàu Nitian. Số người này sau giờ làm việc được huấn luyện quân sự.
Năm 1944, ông được du học lớp huấn luyện quân sự tại Cao Miên và Lào trong trường sĩ quan của Hiến binh Nhật (Kempetai). Khi trở về nước ông trở thành một sĩ quan của Giáo phái Cao Đài.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, cùng với Lực lượng Quân sự Cao Đài ông tham gia cuộc đảo chính Pháp của Quân đội Nhật Bản.
–Được sự bảo trợ của Nhật, Phối sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh) tổ chức lực lượng vũ trang gồm 3.000 người, tiếng là theo chỉ thị của Hoàng thân Cường Để. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, lực lượng Cao Đài mặc đồng phục trắng, đội mũ bê-rê, vũ trang bằng gậy tre vọt nhọn tham gia hỗ trợ Nhật đảo chính Pháp. Thủ lĩnh quân sự của Cao Đài là tướng Nguyễn Văn Thành tuyên bố Hoàng thân Cường Để chỉ thị thành lập lực lượng vũ trang Cao Đài liên minh với Nhật Bản để chống Pháp. Không có tài liệu cho biết cụ thể hoạt động của Trình Minh Thế trong thời gian này, nhưng có thể cho rằng thời kỳ này Trình Minh Thế đã gia nhập lực lượng vũ trang Cao Đài và tích cực hợp tác với Nhật.
Tháng 9 năm 1945 Quân đội Nhật tại Đông Dương đầu hàng Đồng Minh, ông cùng với đoàn quân Chi đội 78 rút vào chiến khu Cao Đài Kháng chiến chống Pháp, sau khi Pháp tái chiếm Nam Kỳ.
Ngày 7 tháng 11 năm 1946, ông rời chiến khu trở về Tòa thánh Tây Ninh, đồng thời được thăng cấp Đại tá. Cùng với Lực lượng Vũ trang Cao Đài, ông bắt tay hòa hoãn với Pháp và nhanh chóng thăng tiến. Năm 1947, cùng với một số chiến sĩ Cao Đài thành lập Đội Du kích. Sau đó, ông trở thành Chỉ huy trưởng Du kích Bến Cầu (Tây Ninh) kiêm trưởng phòng Tác chiến khu vực. Kế tiếp trở thành Tổng chỉ huy khu vực Liên tỉnh Miền Đông.
Tháng 1 năm 1948, ông cùng đơn vị thuộc quyền tuyên bố ly khai khỏi Quân đội Cao Đài, nhưng sau 48 tiếng quay trở lại. Sau đó, ông sáng kiến thành lập đội quân xung kích Hắc y (cải biến từ đơn vị do ông chỉ huy), mặc quần áo bà ba đen. Về sau trở thành đồng phục cho tất cả dân quân của Lực lượng Liên Minh. Đầu năm 1949, ông triệu tập lãnh tụ Cao Đài các tỉnh miền Đông, tổ chức Đại hội để ủng hộ Giáo chủ Phạm Công Tắc, đồng thời đưa toàn bộ lực lượng này về Tây Ninh (Tuy nhiên, “tính cách” của ông cũng khiến cho ông có nhiều kẻ thù trong Quân đội Cao Đài, và dính dáng nhiều đến các âm mưu, tranh giành tại Tòa thánh Tây Ninh). Tháng 9 cùng năm, ông di chuyển lực lượng bản bộ ra khỏi ngoại ô Tây Ninh. Cuối năm này, ông được giữ chức vụ Chủ tịch Uỷ ban Chỉ đạo Việt Nam Phục Quốc Hội.
Thượng tuần tháng 6 năm 1951, ông được cử làm Tham mưu trưởng Quân đội Cao Đài, thay thế Thiếu tướng Nguyễn Thành Phương. Nhưng chỉ hơn 24 tiếng sau, nửa đêm về sáng ngày 7 tháng 6, ông bí mật đem khoảng hơn 1.500 quân bản bộ ly khai khỏi Cao Đài Phục Quốc, vượt sông Vàm Cỏ Đông đến rừng Bưng Rồ để lập Tổng hành dinh tạm, về sau di chuyển xuống hướng nam trong rừng Bưng Rồ dọc theo biên giới Việt-Miên và lập chiến khu Bù Lu. Ngày 8 tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tướng Cao Đài tại chiến khu do Trung tướng Nguyễn Văn Thành Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài, đại diện cho Hộ pháp Phạm Công Tắc, gắn sao giữa đêm khuya. Nhưng ngay sau đó, ông cùng đội quân của mình chính thức rời khỏi hàng ngũ giáo phẩm Cao Đài và thành lập lực lượng riêng, lấy tên là Liên Minh với chủ trương chống cả Pháp và Việt Minh.
–Trên thực tế, hoạt động chống Việt Minh của Trình Minh Thế có hiệu quả đáng ngờ. Chẳng hạn ngày 17 tháng 2 năm 1950, Trình Minh Thế cung cấp cho lực lượng Việt Minh tại Trảng Bàng vũ khí để tấn công một đoàn xe của Pháp, ông cũng gửi đại diện đến các cuộc họp của Việt Minh tại Long Thành ngày 30 tháng 4 và Đồng Tháp Mười ngày 14 tháng 6 năm 1950, ngoài ra, Trình Minh Thế còn lớn tiếng công kích Pháp. Các vụ đụng độ giữa quân Liên Minh và Việt Minh chỉ gây ra những tổn thất nhỏ, phần nhiều giới hạn trong việc giành giật lương thực, ngũ cốc của hai phe. Một lý do được nêu ra, có thể là do lực lượng của Trình Minh Thế chỉ có giới hạn, chừng 2 tới 3 ngàn người, không phải là đối thủ của Việt Minh. Dù sao, hoạt động của Trình Minh Thế cũng giúp cho Tòa Thánh Tây Ninh tránh được các cuộc tấn công của lực lượng Việt Minh.
Tháng 8 năm 1953, quân Pháp mở cuộc tấn công vào căn cứ của ông, sử dụng một Tiểu đoàn sơn cước Nùng tinh nhuệ. Quân Liên Minh phải tránh vào các hang động ở núi Bà Đen. Về sau ông phải dời Bộ chỉ huy về núi Heo. Tới năm 1954, Liên Minh đã mở rộng địa bàn hoạt động về phía tây-nam, tới tận sông Cửu Long. Lực lượng của họ được chia làm nhiều Tiểu đoàn, quân số có lẽ vào khoảng 2.500 người.
Quân đội Việt Nam Cộng hòa (1954-1955)
–Thời kỳ đầu năm 1954, khi nội bộ Cao Đài còn đang ngấm ngầm tranh giành ảnh hưởng, thế lực với nhau, thì Pháp thua trận Điện Biên Phủ. Chính phủ Mỹ không muốn Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, nên quyết định can thiệp, hỗ trợ Lực lượng thứ ba. Cố vấn quân sự Mỹ là Edward Lansdale, người chịu trách nhiệm hỗ trợ chính phủ Ngô Đình Diệm, đàm phán với tướng Trình Minh Thế về việc sử dụng lực lượng vũ trang của ông ta để hỗ trợ cho Thủ tướng Diệm và Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Chính phủ Ngô Đình Diệm dành ra 5 triệu quan (piastre) cho Liên Minh, để thu xếp định cư cho 10.000 người tị nạn ở khu vực Tây Ninh. Thông qua Lansdale, Mỹ tiếp tục tài trợ cho tướng Thế và các nhóm Cao Đài khác. Tuy nhiên, do chính phủ Đệ nhất Cộng hòa còn yếu ớt, nên nhiều chỉ huy các phe nhóm vũ trang tuyên bố chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm và tổ chức đảo chính. Thời gian này, khó xác định được là tướng Thế trung thành với ai, và cũng khó xác định được liệu chính phủ Mỹ có ủng hộ Ngô Đình Diệm chống lại phe nổi loạn. Một số người cho rằng tướng Thế có thể là một lựa chọn khả dĩ để thay thế Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên khi lực lượng Liên Minh tiến vào Sài Gòn, thì có lẽ đó là để đáp lại lời kêu gọi vào phút cuối cùng của Lansdale ủng hộ Ngô Đình Diệm. Tháng 9 năm 1954, Lansdale phát hiện ra tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam Cộng hòa, đang tiến hành âm mưu lật đổ Ngô Đình Diệm. Cùng lúc, quân Pháp phong tỏa các lực lượng Cao Đài định tiến vào Sài Gòn giải nguy cho Ngô Đình Diệm. Cuộc đảo chính bị thất bại khi Lansdale mua chuộc được các sĩ quan cấp dưới của tướng Hinh đi nghỉ mát, thiếu những thuộc hạ cốt cán này, cuộc đảo chính không thể tiến hành được.
Cuối tháng 8 năm 1954 (sau khi ký hiệp ước Geneve 20/7/1954), qua trung gian của Đại tá Hoa Kỳ Lansdale, chuyên viên ngoại giao đặc trách vùng Đông nam Á, trao tận tay ông bức tâm thư với thủ bút của Thủ tướng Diệm, để mở đường cho ông trong sự tiến tới thảo luận việc trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia và cuộc tiếp xúc đầu tiên đã diễn ra ngay sau đó.
–Đầu năm 1955, Đại sứ quán Mỹ dành ra một ngân khoản bí mật, ước tính khoảng 2 triệu dollarđể thuyết phục tướng Thế gia nhập Chính phủ Quốc gia. Ngay cả các khoản chi chính thức cho tướng Thế cũng rất đáng kể, như ngân sách dành cho lực lượng vũ trang bỏ ra 108.000-dollar để chi ông. Số tiền Lansdale bỏ ra để mua chuộc các chỉ huy giáo phái lên đến 8,6 triệu dollar, còn nếu tính cả số tiền Thủ tướng Diệm bỏ ra thêm nữa thì tổng cộng có đến 12 triệu dollar đã được chi cho 246 chỉ huy giáo phái.
Ngày 31 tháng 1 năm 1955, bằng phi cơ trực thăng xuất phát từ phi trường Tân Sơn Nhất, đích thân Thủ tướng Diệm cùng với Bộ trưởng Quốc phòng Hồ Thông Minh đến viếng thăm Kháng chiến Liên minh tại Lò Rò ngay trong chiến khu núi Bà Đen ở Tây Ninh. Sáng ngày 13 tháng 2 sau đó, Thủ tướng Diệm khai mạc buổi lễ tiếp nhận Trung đoàn Bộ binh Liên minh trên Đại lộ Nguyễn Huệ (Sài Gòn), gồm 2.500 chiến sĩ thuộc Lực lượng Kháng chiến Liên minh (tức Quân đội Cao Đài ly khai) trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia và gắn cấp bậc Thiếu tướng đồng hóa Quân đội Quốc gia cho ông. Từ ngày 18 đến ngày 28 tháng 4 cùng năm, ông tháp tùng phái đoàn sang Nam Dương (Indonesia) để dự Hội nghị Á-Phi của các nước không liên kết. Trong Hội nghị có: Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru, Tổng thống Nam Dương Sukarno, cựu hoàng Cao Miên Norodom Sihanouk. Cùng tháp tùng với ông còn có: Đại tá Cao Đài Phục Quốc Hồ Hán Sơn, Thiếu tá Cao Đài Liên minh Nhị lang Lê Khắc Hoài.
–Trong khoảng thời gian từ tháng 3 tới tháng 5 năm 1955, tình hình tại Sài Gòn trở nên rất căng thẳng. Mâu thuẫn gay gắt về cả quyền lực chính trị lẫn kinh tế khiến đụng độ vũ trang giữa phe Chính phủ và Liên minh lực lượng vũ trang giáo phái cùng Bình Xuyên là khó tránh khỏi. Thủ tướng Diệm kiên quyết tiêu diệt lực lượng vũ trang đối lập, còn lực lượng Giáo phái nhờ vào sự hậu thuẫn của Pháp cũng quyết không chịu nhượng bộ. Thủ tướng Diệm đưa vào Sài Gòn các đơn vị trung thành gồm 3 Tiểu đoàn Nùng, rồi 2 Tiểu đoàn dù dưới quyền Đại tá Đỗ Cao Trí. Các đơn vị này cộng vào số binh sĩ của tướng Trình Minh Thế (Cao Đài Liên minh), Đại tá Nguyễn Văn Huê (Hòa Hảo) và Thiếu tá Nguyễn Văn Đày (Hòa Hảo) làm cho cán quân lực lượng nghiêng về phía quân Chính phủ, so độ 4.000 đến 5.000 quân Bình Xuyên tại vùng Sài GònChợ Lớn. Ngày 8 tháng 3 năm 1955, 7 Tiểu đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa bắt đầu hành quân tiêu diệt lực lượng đối lập là đảng Đại Việt tại Quảng Trị, và tới ngày 25 tháng 3, quân dù mở cuộc tấn công vào phe đối lập tại Sài Gòn, nhưng Cao ủy Pháp là tướng Paul Ely cùng tướng Lawton Collins (Mỹ) gây sức ép buộc quân Chính phủ phải ngưng chiến. Tuy nhiên, thế lực của quân Chính phủ được củng cố lên nhiều khi ngày 29 tháng 3, tướng Nguyễn Thành Phương, Tư lệnh các lực lượng Cao Đài tuyên bố ủng hộ Chính phủ. Tình hình căng thẳng giữa hai bên kéo dài, các thỏa hiệp do Pháp và Mỹ làm trung gian đưa ra đều bị hai bên bác bỏ, tới ngày 26 tháng 4, xung đột quân sự bùng nổ trở lại. Quân đội Chính phủ nhanh chóng đánh tan sức kháng cự của quân Bình Xuyên, tới cuối tháng 4, quân Bình Xuyên hoàn toàn bị đánh bại, bị đẩy khỏi thành phố, bị quân chính phủ truy kích.
Ngày 2 tháng 5 năm 1955, ông được giao chỉ huy 1300 quân, vượt kinh Tàu Hũ tiến vào cầu Tân Thuận hành quân truy nã lực lượng Bình Xuyên của Thiếu tướng Lê Văn Viễn (tự bảy Viễn) tại Khánh Hội, Sài Gòn. Chiều ngày 3 tháng 5, ông bị tử thương khi đang ngồi trên xe Jeep tại dốc cầu Tân Thuận do một viên đạn Carbine bắn sẻ từ phía sau trúng phía dưới tai phải xuyên thẳng qua đầu trổ ra mắt bên trái. Hưởng dương 33 tuổi.
(5) _Bún bò Lạc Sơn: Gánh bún bò bán tại cà-phê Lạc Sơn ngay trước chợ Đông Ba – Huế.
(6) _Phối trí viên: Cố vấn Mỹ tại các cơ quan Cảnh Sát Quốc Gia trước 1975.
(7) _ “Tư tưởng Mao Trạch Đông”: Lấy nông thôn bao vây thành thi. Bài học chính trị ở Trường Bộ Binh Thủ Đức.
(8) _Truyện cười Ba Gia Tú Xuất: Một hôm Tú Xuất cho người nói với các bà bán thịt ở chợ sẽ mua một số lượng lớn, nhưng thịt phải thái nhỏ, chiều cho người ra lấy. Các bà nghe lời, thái thịt xong, chờ mãi, chẳng thấy ai tới lấy, bèn than với nhau, thịt đã thái nhỏ biết bán cho ai. Tú Xuất bảo, không ai lấy thì cứ kêu thằng “bảo thái” ra mà chưởi. Bảo Thái là niên hiệu chúa Trịnh.
(9)_ “Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng” – thường gọi tắt là “Dân Xã Đảng – đảng của Đức Thầy (Phật giáo Hòa Hảo.)
(10)_ “Cờ Đà”, cờ màu đà (màu nâu), cờ của Phật Giáo Hòa Hảo.
(11)_Theo “lượng giá ấp” của chính phủ VNCH trước 1975. Ấp loại A là ấp hoàn toàn an ninh, Việt Cộng không hoạt động.
(12)- “Năm 1959, ông nhận giải thưởng của Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (SEATO) với công trình nghiên cứu về sự lật đổ của Cọng Sản. Là tác giả của nhiều sách và nhiều bài viết về chiến tranh Đông Dương, ông trở thành nhà phân tích có ảnh hưởng nhứt về chính sách của Mỹ ở Việt Nam.”
Bài dịch sau đây trích ở chương 7, (Street Without Joy) của cuốn sách cùng tên, nói về cuộc hành quân Camargue. Người dân Huế và Quảng Trị, hồi đó gọi là “Trận Thanh Hương.”
Tới cuối ngày D+2, mọi sức kháng cự không còn. Ngày hôm sau các đơn vị tiên phong, nhảy dù, các toán đổ bộ và biệt động được lệnh rút lui. Bây giờ là công việc kiểm soát thường trực vùng mới chiếm đóng. Những cây cầu bị phá mấy năm trước nay được dựng lại, những con đường bị Việt Minh cắt khúc được đắp lại. Những hầm hào chiến đấu do Cọng sản dựng chung quanh “Con Đường Buồn Thiu” bị loại bỏ. Viên chức chính quyền Quốc Gia e ngại xuất hiện trước con mắt dân chúng thù nghịch hay sợ hãi sau một tuần chiến đấu và nhiều năm sống cô lập mà mọi thứ đều thiếu thốn, ngay cả viên thuốc trị bệnh sót rét.
Thiếu tá Derrieu của Tiểu Đoàn 6 Ma-Rốc, nhìn một vài viên chức chính quyền mới ở trong làng Đơn Quế, nói: “Thực là buồn cười, trông họ chẳng bao giờ có thể thành công, làm đúng những gì người dân mong muốn, dù họ có muốn tạ lỗi với tất cả mọi người. Chúng ta mới thực hiện một cuộc hành quân bằng máy bay và chiến xa còn họ thì khoác lác khoe khoang hoặc đe dọa dân làng làm như họ là kẻ thù của đất nước mà chúng ta phải đối đầu.”
Dujardin, một trung úy còn trẻ, đứng cạnh bóng im của một chiến xa M-24, nói: “Có thể như vậy, nhưng tối nay tôi chẳng quan tâm đến họ sau khi chúng ta rút quân ra khỏi vùng nầy. Họ sẽ ở lại đây cùng với nhóm nhân viên hành chánh ngay trong ngôi nhà người chỉ huy Cọng Sản ngủ ở đó tối hôm qua, cách cái đồn gần nhứt là ba trăm mét. Tôi chắc rằng họ không dám ngủ ở đây mà vào ngủ trong đồn.”
“Có lẽ vậy, họ sẽ mất mặt với dân làng và công việc của họ trở thành vô ích.”
“Nếu không vào ngủ trong đồn, ngày mai họ chết. Đúng là chẳng ích lợi gì. Dù sao, với hậu quả tâm lý của cuộc hành quân, chúng ta có thể bắt đầu với toàn bộ công việc ngay từ bây giờ cho tới ba tháng tới. Thật là một thứ hổn độn vô ích.”
“Vâng, nếu người Việt Nam không thể thắng thì chúng ta cũng vậy thôi. Dù sao, đây cũng là đất nước của họ. Chúng ta hãy lên xe thôi.” Rồi hai người nhún vai đi về phía các chiếc xe tăng, trèo lên pháo tháp.
Bên dưới, trong làng Đơn Quế bị chiến trận tàn phá, các viên chức hành chánh người Việt trẻ đầy nhiệt tình mặc áo kaki và quần đen vẫn còn nói chuyện với dân làng đang đứng im lặng và bất động như các pho tượng gỗ.
Ngày 4 tháng 8/1953, Bộ Chỉ huy Cao cấp tuyên bố chấm dứt cuộc hành quân Camargue. Theo tin báo chí, cuộc hành quân hoàn toàn thắng lợi, một lần nữa chứng minh sự tiến bộ và linh động của quân đội Pháp và giá trị trang bị lưu động của họ trong chiến tranh đầm lầy. Tuy nhiên, trong chính báo cáo của họ thì cuộc hành quân đem lại những cảm giác lẫn lộn.
(13)- Vợ tôi thường “đi Rạch Giá chơi”. Ra ngoài đó, cô ấy được bà vợ ông “xếp” của tôi và các bà thuộc “gia đình cố cựu” Rạch Giá như bà Tám Nghĩa, Bà Hai Simon… đón tiếp, vui chơi, chuyện trò. Bà Tám Nghĩa là bạn thân với bà thủ tướng từ khi “họ còn con gái.” (Ông Tám Nghĩa bị Việt Cộng xử tử cùng với cựu trung tá Trương Cuội tại sân vận động Rạch Giá sau ngày 30 tháng Tư/ 1975). Người dân Rạch Giá gặp việc khó khăn, thường nhờ bà Tám Nghĩa lên “gặp Chi Tư Nết” – tên ho gọi thân mật bà thủ tướng – để “chị giúp đỡ” cho. Khi vợ ông đại tá tỉnh trưởng Lê Kh. bị bệnh, ông đại tá buồn tình xin thôi chức tỉnh trưởng. Vì ông đại tá Lê Kh. là em môt ông tướng nổi tiếng ở Saigon, nên “trung ương” không để ông Lê Kh. thôi chức tỉnh trưởng mà chuyển qua làm tỉnh trưởng Sadec. Tỉnh nầy, về tình hình quân sự “nhẹ” hơn. Ông trung tá tỉnh trưởng Sadec qua ngồi thế vô cái ghế tỉnh trưởng của ông Lê Kh. “Người ta đồn” rằng ông trung tá tỉnh trưởng Sadec phải “chung” cho ông tướng vùng bảy chục triệu. Đến khi ông tướng vùng bị bay chức vì tội tham nhũng, ông trung tá tỉnh trưởng mới của Rạch Giá sợ mất số tiền đã đóng, nên nhờ Bà Tám Nghĩa đưa lên gặp Chị Tư Nết xin giúp đỡ, chỉ tốn có mấy chục chai nước nắm ngon Phú Quốc mà thôi. Vì việc nầy mà ông thiếu tá quận trưởng quận tôi phải vất vả khi bị ông tỉnh trưởng lo việc “hồi sức”. Chuyện tham nhũng thời chế độ cũ, đâu có dễ “ăn”.
(14)- Ông đạo có nhiều thứ: Ông đạo Dừa, kỹ sư canh nông, học bên Tây về, chỉ sống trên ngọn dừa, ăn dừa mà sống. Ông “Bác vật Lang”, cử nhân sinh học bên Tay về, xuốn Thạch Động, nơi có con đường “đi xuống âm phủ”, thấy “cái gì đó mà Phật Bà cấm nói”, nên ông “tịnh khẩu” cho đến khi qua đời. Cũng có những ông đạo làm bậy như đạo Liếm, đạo Sờ mà một thời báo chí tìm hiểu, lên án. Có thể có hang tram ông đạo khác, tu ở núi Cấm, núi Cô Tô, núi Bà, núi Tà Lơn, không ai ghi nhận hết. Đây là nét đặc sắc của tôn giáo miền Tây Nam Bộ, nhất là vùng Thất Sơn.
(15)- Năm 1309, vua Chế Mân của Chiêm Thành dâng đất hai châu Ô và Rí làm sính lễ để cưới Công Chúa Huyền Trân. Người Chàm ở Ái tử, Quảng Trị, thuộc châu Rí, bỏ đi về phương Nam. Họ cũng theo đạo Phật, không muốn tượng Phật của họ rơi vào tay ngoại tộc, họ chôn các tượng Phật nầy xuống cát. Về mùa Hè, gió Lào thổi mạnh, cát bay đi – hay cát nóng làm cho các tượng Phật không muốn nằm dưới cát nữa -các tượng Phật trồi (tiếng địa phương gọi là lồi). Người Việt di dân tới, cũng theo đạo Phật nên rước tượng Phật về lập chùa thờ, nôm na gọi là “Chùa Phật Lồi”.
Em về thương lấy mẹ già, Đừng mong ngóng chị nữa mà uổng công. Chị giờ sống cũng như không Coi như chị đã sang sông đắm đò.
(Lỡ bước sang ngang Nguyễn Bính)
Một hôm, từ Rạch Giá về, khi qua “Đồn giữa”, đồn nằm giũa kinh Lỳnh Quỳnh và kinh Vàm Rầy, tôi qua mặt một đoàn xe máy cày khoảng hơn mười chiếc, đang nối đuôi nhau chạy cùng hướng với tôi. Tôi nói với thiếu úy Kiệt, ngồi bên cạnh:
– “Cha chả, tới mùa rồi, thiên hạ làm ăn dữ.”
Vùng ruộng của ông Chủ Ry, bỏ hoang từ thời chiến tranh Việt – Pháp tới giờ, được dân chúng cấy cày trồng lúa trở lại.
Các “chủ ruộng”, thật ra chủ ruộng là ông Chủ Ry, bây giờ ai muốn vô chỗ ruộng cũ của ông cày cấy thì cứ tự do, có ai cấm cản, khiếu nại gì đâu. Người làm ruộng chỉ cần xin ông thiếu tá quận trưởng Sầm Long hay ông phó quận trưởng Nguyễn Đức Nghiêm, một cái giấy phép tạm, dựa trên bản đồ quân sự 25 phần ngàn, từ “tọa độ” nầy, tới tọa độ kia, đủ bốn tọa độ cho khu ruộng canh tác. Vậy là được, chẳng ai kiểm soát gì cả. Các ông “chủ ruộng chia nhau mà làm, đừng “sinh chuyện” thì thôi. Giấy phép chỉ cho phép canh tác, không phải là chủ quyền hay bằng khoán, giá trị một năm.
Các ông “chủ ruộng” khi xin giấy phép có “trà nước” gì cho ông trưởng hoặc ông phó quận thì tôi không biết. Việc của họ, “xoi mói” mất lòng. Vả lại, có “chi” chút nào đó, cũng không đáng bao nhiêu đâu, bởi vì nếu cái “chi” đó “có giá” thì dân chúng cũng đồn đãi quá lắm. Đằng nầy, tôi không nghe dư luận gì cả.
Giấy tờ về phía “phe ta” quả thật không đáng gì. “Phía trong bưng”, không cấp giấy tờ gì cả, nhưng “chém đẹp” lắm. “Lưỡi gươm cách mạng” vừa bén vừa ngọt, “đi một đường” là ba chục ngàn trên mỗi xe máy cày; không có biên lai biên nhận gì hết. Xe nào đóng trễ, phải cọng thêm tiền phạt. Chậm nữa thì “cách mạng” gỡ con heo dầu. Khi nào “đóng đủ”, heo dầu mới được “cách mạng” trả lui. Gì chớ làm tiền dân thì ba đời vô sản thông minh không kém ai!”
Độc giả tính thử coi. Mỗi chiếc xe máy cày đóng ba chục ngàn. Khoảng trên ba chục chiếc xe máy cày ì-xèo suốt ngày đêm trong ấy, cán bộ+ kinh tài của “cách mạng” thu bao nhiêu tiền. Hơn một triệu bạc đấy. Cán bộ đem về nộp lại cho “cach mạng” bao nhiêu, “dằn túi” bao nhiêu? Hèn chi, cán bộ ở trong bưng bao nhiêu người không biết, nhưng trong hồ sơ trận liệt của tôi, số cán bộ kinh tài cũng không ít đâu. Nhiều cán bộ kinh tài rất “nhiệt tình công tác” cũng không có chi lạ, và cũng có người bị phe ta “giải hóa”.
Năm trước khi tôi hỏi chuyện thượng sĩ Sâm, trưởng cuộc cảnh sát xã Tân Hội, thuộc quận Kiên Tân, dưới quyền tôi, về việc máy cày hoạt động ở đồng Huệ Đức, dân chúng thường gọi là “đồng cho ngáp”, sát với xã Tân Hội, thượng sĩ Sâm báo cáo có khoảng hơn năm chục cái máy cày cày ở đồng nầy.
Thượng sĩ Sâm nói khi ông ta về xã nầy, ông có một mối lợi lớn: Bán dầu cho máy cày. Xe máy cày hoạt động 24 giờ một ngày, 7 ngày một tuần và suốt mùa cày, kéo dài ba, bốn tháng. Cứ một chiếc cày chạy 24 giờ, ngốn hết môt “phuy” dầu cặn. Thượng sĩ Sâm thuật lại. (Thuật nghe chơi chớ không phải khai):
_ “Tui năn nỉ họ mua giúp dầu cho tui. Giá mỗi lít dầu là 12 đổng. Tui mua bên Tân Hiệp 10 dồng, kiếm được hai đồng, chưa trừ di chuyển bằng “trẹt” và công lao người làm mướn.”
Tôi cười, nói:
_ “Coi chừng uống dầu nhiều quá tức bụng đó.”
_ “Cũng tạm sống được, ông à!”
Thượng sĩ Sâm mắc nhiều lỗi đấy. Thì giờ đâu mà ông di mua bán dầu. Vậy là ông ta “ăn cắp” giờ làm viêc. Vì cái thế “trưởng cuộc” nên chủ máy cày phải mua dầu của ông: Vậy là tham gia “cạnh tranh thương trường”. Chắc chi mấy người làm công cho ông Sâm không phải là người trốn “quân dzịt, quân gà”, ấy là can tôi “tán trợ bất phục tòng” đấy.
Vậy mà bữa đó, tôi chẳng la rầy gì thượng sĩ Sâm cả. Không phải ông ta có “đấm mõm” tôi rồi, mà vì dầu ông Sâm mua là dầu của “Cha Lộc” – linh mục Nguyễn Bá Lộc, chánh xứ Kinh 1, một nhân vật nổi tiếng ở Cái Sắn – và bà cô ruột “bà thủ tướng đại tướng”. Dầu nầy lại tuồng từ “Bộ Chỉ Huy IV Tiếp Vận ra. “Rút giây động rừng”; giây nầy là giây nylon, chắc lắm, rút mạnh mấy cũng không đứt. Rừng nầy là rừng già, gốc cây bự lắm. Chúa rừng là “Le roi and trois seigneurs” (1). Ngậm mồm lại cho yên!
Bây giờ, ở Vàm Rầy, chẳng có ông trưởng cuộc nào “phát huy sáng kiến” của thưõng sĩ Sâm cả. Mấy ông sĩ quan nầy còn trẻ, ham làm việc và cũng ham chơi, chẳng ông nào có óc “thương trường”. Vì vậy, mấy chục cái máy cày hoạt động ở trong, tự mua dầu mà chạy, chẳng ai dòm ngó tới. Dầu nầy, Việt Cộng ở trong cũng không dùng tới: Chúng nó đi bộ, có nơi, có khi dùng xuồng ba lá chớ không dùng máy móc có dầu cặn. Chính quyền an ninh ngoài nầy, khỏi phải theo dõi.
Tuy nhiên, những người đóng thuế cho Việt Cộng thì sao?
Theo nguyên tắc, trước hay sau khi – thường là sau khi – đóng thuế cho Việt Cộng, “nạn nhân” phải khai báo cho chính quyền Quốc Gia, xã trưởng, phó xã trưởng an ninh hay trưởng cuộc Cảnh Sát. Vậy là xong. Tuy nhiên, để xã giao, người đóng thuế cho Việt Cộng – chủ xe máy cày, mời những người nói trên một bữa nhậu. Đây cũng là trường hợp hậu “Lục Súc tranh công”: Heo kể công:
“Khiêng heo ra để lại giữa dòng,
Mọi việc xấu đều xong trơn trảy.”
Không cần phải heo, một con vịt xiêm, “sương sương” vài két bia “la-dze”. Dân Nam Bộ mà! Không quen với “không khí nhậu nhẹt” của dân miền Tây, tôi thường “trốn” các bữa nhậu nầy.
Mùa hè năm 1973, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa có các chương trình thủy nông ở Kiên Giang: Truởng ty Thủy Nông Nguyễn Đăng Sa bận rộn với các công trình đào kinh, vét kinh ở phía nam dinh điền Cái Sắn. Một cái xáng đang vét kinh xáng Hà Tiên, đoạn gần thị xã thì nửa đêm bị Việt Cộng xuống đặt mình phá banh cái xáng. Công trình bị bỏ dở. Ở Vàm Rầy có chương trình đào “giếng đóng”. Trong đồng, đoạn gần ngã ba kinh xáng Hà Tiên – và kinh 1, có mấy toán người đang đóng mấy cái giếng.
Tò mò việc nầy, tôi tìm gặp ông chủ thầu đào kinh.
Khi tôi ngồi nói chuyện với ông chủ thầu, có cả ông phó quận trưởng Nguyễn Đức Nghiêm.
Giải thích công việc của mình, ông chủ thầu nói:
_ “Nước ngọt là nguồn sống của dân chúng. Chính phủ cho đào giếng nước ở đây là có chủ trương như vậy.”
_ “Đóng bao nhiêu giếng ở đây?” Phó Nghiêm hỏi.
Nhà thầu trả lời:
_ “Tôi ký 5 cái. Nếu không có gì trở ngại, tôi sẽ ký hợp đồng đóng thêm.”
_ “Chừng đó đủ làm ruộng không?” Tôi hỏi.
_ “Làm sao đủ.” Nhà thầu trả lời. “Nước giếng được cái là không có phèn, sản lượng lúa cao hơn. Dùng nước kinh rửa phèn, phải mất nhiều năm.”
_ “Chính phủ học theo Mỹ đấy. Bên Mỹ người ta không đào kinh rạch tùm lum như mình đây. “Đại nông canh tác” mà kinh rạch ngang dọc là trở ngại cho máy kéo.” Phó Nghiêm nói.
_ “Vậy thì việc hôm trước, tui với ông phó nói chuyện vét kinh Xà Tón cho dân “Quảng Trị tui” coi như xong, khỏi làm.” Tôi nhắc lại chuyện cũ.
_ “Chính phủ có cách giải quyết thôi. Họ có chuyên viên mà.” Phó Nghiêm giải thích.
Nhà thầu nói:
_ “Kinh nghiệm của tôi, việc đào kinh dẫn nước ngọt tạo ra nhiều vùng dân cư với kinh tế lớn lắm. Các ông biết không, khi Tây đào kinh Cờ Đỏ, họ tạo ra được một nông trường trồng lúa rộng tới ba chục ngàn mẫu đấy. Lúa chở lên Saigon bằng các ghe chành, bến Bình Đông thêm nhiều chủ “chành”. Mấy năm nay chiến tranh, ruộng bên đó bỏ hoang hết.”
_ “Đó là kinh Thạnh Tây, bên nầy là kinh Thạnh Đông là nguồn nước ngọt của vùng Cái Sắn. Kinh Núi Sập là nguồn nước ngọt của đồng Huệ Đức.” Phó Nghiêm nói.
Tôi hỏi:
_ “Theo ông phó thấy, kinh Vĩnh Tế có vai trò gì không?”
_ “Lớn lắm chứ! Nó là ranh giới giữa Việt Nam với Miên, không cho người Miên nổi loạn sang quấy phá người Việt ta. Nó làm cho nông nghiệp hai bên, ta cũng như Miên đều phát triển, giao thông từ Châu Đốc ra biển ngắn hơn, tiện hơn.” Ông phó Nghiêm giải thích.
_ “Cũng bị cạn ở đoạn “Giang Thành dạ cổ” (2) rồi. Dân buôn lậu không chở hàng ngang qua đó được.” Tôi nói câu ấy là vì trung sĩ Ấu, Quân cảnh Tư pháp Hà Tiên và người bạn của Ấu, một “đệ tử” của ông Nguyễn Khoa Khương, trưởng ty Quan thuế Hà Tiên cho tôi biết như thế.
_ “Có đào giếng, có dân Quảng Trị vô định cư. Tương lai Vàm Rầy chắc là phát triển lắm.” Tôi nói thêm.
Một lúc, tôi hỏi:
_ “Ông phó coi, Vàm Rầy nầy, có phải là nơi “địa linh nhân kiệt không?”
_ “Đại úy nghĩ sao mà nói thế?” Ông phó quận hỏi tôi.
_ “Ông phó nghĩ thử coi, trước chiến tranh, Tây cho đào kinh Xà Tón, dẫn nước từ sông Hậu về. Ông Chủ Ry, ông Thầy Ban làm ruộng được, hơn chục ngàn mẫu. Vàm Rầy nầy phát triển lên không phải là nhờ đó sao!” Tôi giải thích.
_ “Còn nhân kiệt?” Ông phó Nghiêm hỏi tôi.
_ “Chị Tư Nết nầy. Bà lấy chồng khi ông ấy mới mang loon “quan hai”. Bây giờ ông là đại tướng. Đàn bà như thế ngoài Huế tui gọi là “làm quan cho chồng”. Với lại, trong phong trào “Cây đèn dầu” (3), bả là cánh tay mặt, tay trái của bà Nhu đó.” Tôi nói thêm.
_ “Cũng chỉ mới một người – cho là như vậy đi.” Phó Nghiêm miễn cưỡng chấp nhận ý kiến tôi.
_ “Mai đây, dân “Quảng trị tui” định cư ở đây, có bao nhiêu nhân kiệt.” Tôi cười, nói chừng.
_ “Đại úy tin tưởng đồng bào quê hương mình dữ vậy sao?” Phó Nghiêm lại hỏi.
_ “Không phải!” Tôi nói. “Đồng bào nào cũng người Việt cả thôi. Hễ “nhược thị minh thời” thì “Nhân tài tú phát”. (4). Kinh nghiệm của tui ở Cái Sắn như vậy. Đang làm việc trong văn phòng, bỗng nghe tiếng trực thăng xành xạch trên trời. Tưởng ông lớn nào tới, tôi chạy ra đón. Té ra tụi trong kinh, đi lính, lái trực thăng, công tác đâu đó, về ngang nhà, đáp xuống thăm cha mẹ. Hồi xưa, Cái Sắn bùn lầy nước đọng. Vậy mà mấy chục năm canh tác, khá giả, con cái được đi học, bị động viên, vô lính, làm ông lớn, ngon lành cả. Dân dinh điền đâu còn như xưa nữa.” Tôi lại giải thích.
_ “Có cái tui chưa rõ!” Tôi nói tiếp.
_ “Cái gì?” Ông phó Nghiêm hỏi.
_ “Xứ mình, tự bắc chí Nam, có nhiều “mẹ bồng con”, là “nàng Tô thị”. Tại sao ngay xứ nầy, không có “Tô thị” mà có “Hòn phụ tử?” Tôi hỏi.
Ông nhà thầu cười:
_ “Cái nầy tôi học ở Văn Khoa, có người hỏi ông Lê Văn Siêu rồi.”
_ “Giáo sư Lê Văn Siêu?” Tôi hỏi.
_ “Ông chứ ai. Ngày xưa, lưu dân vô Nam, đất thì rộng mà sình lầy, sậy đế, lau lách um tùm. Muốn phát hoang, người ta dùng phảng. Phảng là dụng cụ phát hoang đặc biệt của người miền Tây Nam bộ. Đọc Sơn Nam thì biết ngay. Cái phảng nặng lắm, phát hoang nhanh lắm. Chỉ có đàn ông sức lực mới dùng được. Nhìn chung, việc phát hoang là của người đàn ông, của con trai. Đàn bà phải ở nhà. Do đó, vai trò người đàn ông trong việc định cư, canh tác quan trọng hơn. Từ đó mới có “Hòn phụ tử” thay vì “Mẹ bồng con.”
_ “Hay thế!” Tôi tán thán.
Một lúc, tôi nói thêm:
_ “Tui khám phá ra cái nầy, mấy ông nghĩ sao? Miền Tây nầy nè! Nói chung là “sương lam chướng khí”. Buổi chiều, đi làm rẫy về, cơm nước xong, người đàn ông làm một chung rượu để lấy sức, tránh tật bệnh. Đầu tiên là một chung, lần hồi tới một chai, tới nữa là “nhậu chết bỏ”. Cái tật nhậu của dân Nam Bộ là từ đó mà ra chớ gì.”
Nói xong, tôi cười to, mấy người kia cũng cười theo.
Một lúc, phó Nghiêm cười:
_ “Ông làm như ông là nhà xã hội học.”
Tôi cũng cười:
_ “Đúng sai không biết, nhưng cái gì cũng có nguồn gốc. Cái tục “nhậu chết bỏ” cũng có cái gốc của nó chớ.”
&
Đang vui vẻ thì bỗng chiếc xe đò Saigon – Hà Tiên về ngang Cuộc Cảnh Sát thì dừng lại. Anh lơ xe vội vả chạy vào trong Cuộc rồi chạy ra.
Một lúc, trung sĩ Cảnh Sát “Tám Honda”, từ trong Cuộc đi vội ra, hướng về phía chúng tôi. Thiếu úy Chiếu hỏi:
_ “Cái gì dzậy?”
_ “Có thư Saigon gấp.” Tám Honda nói. Xong, anh ta đưa một phong bì cho thiếu úy Chiếu.
Đọc ngoài bì thư xong, thiếu úy Chiếu nói:
_ “Thư nầy của nhà thầu.”
Ông nhà thầu nhận thư, mở ra. Hình như lá thư có mấy chữ, ngắn. Đọc xong, ông ta hớt hải:
_ “Chết cha, má tôi đau nặng lắm. Tôi phải về gấp. Làm sao bây giờ.”
_ “Mai ông đón xe Hà Tiên – Saigon về được chớ gì!” Ông Nghiêm nói.
_ “Xe Hà Tiên lên tới trễ lắm, nhiều khi kẹt xe ở “bắc” nữa. Căng lắm. Làm sao tôi về với mẹ tôi bây giờ. Có chuyện gì chắc tôi không sống nỗi.” Ông nhà thầu than, mắt đỏ hoe, gần muốn khóc.
_ “Ông thương mẹ lắm, phải không?” Tôi hỏi.
_ “Mẹ là số một trên đời. Người Việt Nam mà!” Giọng ông ta như nghẹn ở cổ.
Tôi ngồi trầm ngâm một lúc. Cuối cùng, tôi nói:
_ “Tôi có cách giúp ông. Trưa mai là ông tới Saigon rồi.”
_ “Đại úy giúp tôi đi. Tôi muốn về sớm.” Ông nhà thầu nói.
_ “Như thế nầy nè!” Tôi nói. “Bữa nay thứ Ba. Hai, Tư, Sáu là có máy bay Saigon – Kiên Lương của nhà máy xi măng Hà – Tiên. Máy bay chỉ có 6 chỗ thôi. Tôi xin một chỗ. Xin là được ngay. Dễ lắm; tôi thường lấy vé Nhà Máy cho nhà tôi về Saigon chơi! Mai ông cứ ra phi trường. Tới đó “Nhà Máy” có hỏi thì ông mới nói tên. Nhớ một điều.” Tôi ngưng nói.
_ “Điều gì đại úy?” Ông nhà hầu hỏi.
_ “Giám đốc Phước của Nhà Máy thường xã giao với phía Quân Đội vì bên đó họ giữ an ninh cho. Khi về, ông xách theo chai brandy, ngon thì Henessy cổ đen. Kẹt tiền thì chai Napoleon cũng được, đem biếu cho ông giám đốc. Đây chỉ là xã giao qua lại với nhau thôi. Mai mốt, nhà tôi đãi tiệc, có khi chả cũng xách rượu qua uống với nhau thôi!” Tôi giải thích.
_ “Cám ơn đại úy. Tôi thiệt may mắn.” Ông nhà thầu cám ơn.
Tôi quay qua nói với thiếu úy Chiếu:
_ “Ông vô Cuộc, gọi truyền tin, nói với tài xế Thành, qua “Nhà Máy”, gặp ông Chánh Sở Điều Hành, xin cho tôi một chỗ mai đi Saigon. Nói là “xin một chỗ”, đừng nói tên ai cả. Biểu nó chờ, khi nào Nhà Máy trả lời OK rồi mới về.”
Thiếu úy Chiếu vội vả đi vô Cuộc, làm theo lời tôi.
Quay qua ông nhà thầu, tôi nói:
_ “Yên tâm rồi nghe. Chơi một chút rồi mình “tan hàng, cố gắng.” (5)
Ông phó Nghiêm hỏi ông nhà thầu:
_ “Ông có học Văn Khoa?”
_ “Ra trường mấy năm, tôi được đưa về toán cán sự xây cầu Bình Triệu. Có thì giờ tôi học Văn Khoa cho vui, sau khi tự học đậu tú tài. Tôi không theo chương trình của Khoa mà thích gì học nấy. Nhiều chứng chỉ hay lắm, nhiều giáo sư dạy cũng hay lắm.” Ông nhà thầu nói.
_ “Tôi thích mấy môn về văn minh nhân loại: Lưỡng hà, cổ Hy – La, Ấn hay Trung Hoa.” Ông phó quận nói.
_ “Mấy môn đó tôi có học hết. Càng học, tôi càng có ý tưởng “phản tôn giáo.” Ông nhà thầu nói.
_ “Cái gì mà “phản tôn giáo”? Tôi hỏi.
_ “Chẳng hạn như việc tôi thương mẹ tôi nè! Tôi thương mẹ lắm, từ thực tế cuộc sống, chớ không theo kinh điển.” Ông nhà thầu nói thêm.
_ “Tôn giáo có mẹ. Mẹ nào?” Tôi lại hỏi.
_ “Mẹ Maria của đạo Thiên Chúa, Quan Âm của đạo Phật. Ông biết không. Tâm lý con người ai cũng thương mẹ. Thành ra tôn giáo phải có mẹ để tín hữu dễ đến với tôn giáo. Nó cao hơn âm nhạc trong tôn giáo một bậc. Kinh kệ phải được ngâm nga, kèm theo những bài hát. Đó cũng là vấn đề lôi cuốn trong tôn giáo vậy.” Ông nhà thầu nói.
_ “Thật không ngờ ông có những ý tưởng sâu sắc và triệt để khi phân tích tôn giáo như vậy. Nhận xét của ông làm mất cái tính thiêng liêng, huyền bí của tôn giáo, chắc mấy ông tu hành không ưa!” Tôi góp ý.
Ông phó quận cười:
_ “Nói huỵch toẹt tới ruột gan người ta thì người ta ưa làm sao được.”
_ “Như khi tôi làm việc ở Cái Sắn mà nói như vậy, không biết 27 ông cha ở đó, dằn tôi ra mấy khúc.” Tôi vừa nói vừa cười.
_ “Theo truyền thống, người Việt Nam không thờ Phật trong nhà. Phật chỉ thờ ở chùa. Trong nhà chỉ thờ ông bà tổ tiên. Ông bà cũng linh thiêng, cũng có quyền năng siêu hình để giúp đỡ, cứu độ con cháu vậy.” Ông nhà thầu nhận xét.
_ “Điều ấy là theo Nho phải không?” Tôi hỏi.
_ “Không phải Nho. Nếu Nho, Lão thì người mình đã thờ Khổng tử, Lão Đam.” Một lúc ông nhà thầu nói tiếp. “Không tử chỉ thờ ở Văn Thánh, văn miếu. Lão Đam chỉ thờ ở miếu mạo. Còn như rước tượng Chúa vô nhà thì còn thờ ai nữa đâu!” Ông nhà thầu giải thích.
_ “Những điều nầy ông học ở Văn khoa?” Tôi hỏi.
_ “Văn khoa cũng có dạy. Giáo sư Lê Văn Siêu có nói trong “Văn minh Việt Nam”, Kim Định cũng nói trong nhiều tác phẩm. “Việt Nam Văn Hóa Sử Cương” của Đào Duy Anh cũng có nói. Đọc hết những tác phẩm đó, tổng hợp lại, chính là cái ý tưởng tôi vừa nói ở trên. Riêng tôi, tôi tìm thây một điều nữa.” Ông nhà thầu nói.
_ “Ông hay đấy. Tôi dạy văn chương, chăm vào thơ văn mà bỏ quên văn hóa, những điều như trong “Việt Nam Văn Hóa Sử Cương”. Đi lính rồi, có thì giờ, muốn đọc lại thì sách mua không ra. Không lý chính quyền trong Nam nầy lại “kỵ” xuất bản sách các ông ở ngoài Bắc?”
Một lúc, ông phó quận hỏi ông nhà thầu:
_ “Điều mà anh tìm thấy là cái gì?” _ “Có hai điều, ông phó. Thứ nhất, sự hy sinh của mẹ mình cho mình là lớn nhất. Đi khắp thế gian không ai sánh bằng mẹ. “Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn”, “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”, “Mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi mẹ lót là mà nằm”. Nói sao cho hết… Tôi thương mẹ tôi nhất, thương hơn thương mẹ Maria hay mẹ Quan Âm.” Ông nhà thầu giải thích.
_ “Nhưng mẹ Maria, mẹ Quan Âm là mẹ của nhân loại.” Tôi cãi.
_ “Ai theo đạo nào thì sùng bái đạo ấy như vậy. Tôn giáo nào sùng bái mẹ của tôn giáo đó. Sự sùng bái đó không thực tế. Nhiều khi, nó còn là cái “mốt” nữa. “Bông hồng cài áo” là một cái “mốt” của ông Nhất Hạnh; nhưng nó hay đấy, hay ở cái chỗ cài bông hồng để nhớ ơn mẹ mình chớ không phải ơn mẹ Quan Âm.” Ông nhà thầu giải thích.
_ “Bông hồng cài áo” là của Nhật, không phải của đạo Phật.” Tôi cải chính.
Ông phó quận hỏi:
_ “Ông mới nói điều thứ nhất, còn điều thứ hai?”
_ “Điều thứ hai là văn hóa. Mẹ Maria là từ “Văn hóa Trung Đông”, mẹ Quan Âm là từ “Văn hóa Trung Hoa”. Mỗi văn hóa có những nét căn bản khác nhau. “Văn hóa Hồi giáo” cũng từ Trung Đông nhưng đạo Hồi không thờ mẹ thì sao? Bởi vì mẹ tôi là nhất nên tôi không thể thờ mẹ Maria hay thờ mẹ Quan Âm. Đặt vị trí họ sau mẹ mình thì kỳ. Nhưng mẹ tôi là người hy sinh cho tôi nhiều nhất nên tôi không thể đặt các mẹ ấy ngang hàng với mẹ tôi được.” Ông nhà thầu nói rõ hơn.
_ “Ông cực đoan đấy!” Tôi nói.
_ “Tôi không phủ nhận điều đại úy nói. Nhưng tôi không thể thờ ai mà không thờ mẹ tôi.” Ông nhà thầu cố cãi.
_ “Nhưng mẹ Maria hay mẹ Quan Âm từng cứu khổ cứu nạn chúng ta?” Tôi nói.
_ “Khi mình thoát khỏi một tai nạn, mình gọi là mẹ cứu, mẹ thương mình. Khi mình không thoát được tai nạn thì mẹ không thương, không “cứu khổ cứu nạn” hay sao? Thành ra, đó chỉ là niềm tin mà thôi. Nếu mình tin thì nó có, không tin thì nó không có. Đó cũng là một quán tính nữa.” Ông nhà thầu nói.
_ “Nhưng có khi người ta thoát được một tai nạn trong gang tấc, không lẽ không có ai cứu mình hay sao?” Tôi lại cố cãi.
_ “Không! Chỉ là hazard. Đời có nhiều hazard. Người Công giáo thì cho là phép mầu. Người tin Phật thì cho là “duyên”. Không tin mẹ nào cả thì đó là hazard. Vậy thôi.” Ông nhà thầu khẳng định.
_ “Tôi gặp một trường hợp như thế nầy. Hơn ba năm trước, tôi đi hành quân ở cù lao Phú Thạnh Đông. Cù lao nầy, một bên là sông cửa Tiểu, một bên là sông cửa Đại. Việt Cộng từ bên Thượng Đức, Kiến Hòa thường lén lút qua hoạt động. Tôi ra tới ấp Pháo Đài thì bị Việt Cộng tấn công. Tôi đứng núp sát thân một cây dừa. Một viên đạn, có lẽ bắn sẻ, trúng thân dừa. Viên đạn đi sát lắm. Vỏ dừa văng ra, từng miếng nhỏ, văng lên mặt tôi, lấm chấm nhiều vết thương như bị kim châm. Vậy ai cứu tôi?” Tôi hỏi. _ “Đại úy tin ai thì người đó cứu đại úy. Tin Phật thì Phật Bà cứu. Tin Chúa thì mẹ Maria cứu.” Ông nhà thầu nói.
_ “Nếu tôi không tin Chúa, không tin Phật thì ai cứu?” Tôi gặng hỏi.
_ “Nếu ông tin ông bà, tổ tiên thì ông bà cứu.” Ông nhà thầu nói.
_ “Nếu tôi không tin ai cả. Cả ông bà.” Tôi hỏi gặng lần nữa.
_ “Thì đó là hazard. Hazard có cái hên, có cái xui. Hazard xui thì viên đạn vô ngay mặt ông. Hazard hên thì viên đạn trúng cây dừa. Tuy nhiên, tôi là người tin phúc đức ông bà, như tổ tiên chúng ta ngày xưa vậy. Tôi theo truyền thống dân tộc.” Ông nhà thầu vừa cười vừa nói.
Tôi nói với cả hai người:
_ “Hai ông có biết ai là nạn nhân của viên đạn đó không?”
Ông phó quận hỏi:
_ “Ai?”
Tôi cười:
_ “Thời gian ấy tôi có con bồ, là học sinh, 17 tuổi. Nó thường đến phòng tôi. Thấy nó còn nhỏ, sợ bị tù, tôi tránh chuyện ấy. Đến khi thấy mình “chút xíu” nữa là “chầu ông bà”. Tôi rủa thầm: “viên đạn chếch “chút xíu” thì sao?” “Kỷ kiến hữu nhân hồi” thì uổng đời quá. Sau đó, nó đến thăm, tôi nghĩ liều “tù còn hơn chết” vì cái “chút xíu” đó. Tôi bèn “dứt điểm” cô “em gái hậu phương” 17 tuổi. Con nhỏ trở thành nạn nhân của viên đạn, trong khi tên Việt Cộng bắn sẻ là bắn tôi chớ đâu có bắn nó. Phải không?”
Cả hai người cùng cười.
Một lát sau, ông nhà thầu hỏi tôi:
_ “Tôi ra hiện trường dặn dò công nhân vài việc. Có thể cả tuần lễ tôi mới về lại đây. Tính nhờ hai ông chuyện nầy: Lỡ khi công nhân cần báo cáo gì, có cách gì họ liên lạc với tôi cho nhanh được không?”
Tôi cười:
_ “Dễ ẹc! Cần gì, viết ngắn gọn trong tờ giấy, đưa cho tôi. Tôi nhờ Nhà Máy gọi về Saigon. Ở Saigon họ gọi cho ông. Nhưng ở Saigon, anh phải có điện thoại mới được.”
_ “Vâng!” Ông nhà thầu nói. “Ở Saigon, nhà tôi có điện thoại. Nhờ hồi làm cầu Bình Triệu, bộ Công Chánh can thiệp mới có được đó.”
Tôi dặn:
_ “Nhớ dặn công nhân ghi số điện thoại của ông vào giấy.”
Xong, ông nhà thầu đứng dậy, chào chúng tôi rồi đi về phía các công nhân đóng giếng.
Khi ông ta đi rồi, tôi cười, nói với ông phó Nghiêm:
_ “Thằng chả nầy không khùng thì cũng điện “xăng đít” lên “đơ-xăng-vanh”. Ngày mai lỡ máy bay có bị Viêt Cộng bắn như đại úy Vinh chết cháy, thì không biết mẹ Maria hay mẹ Quan Âm thiêu ông ta đây!”(5)
Phó Nghiêm cự nự tôi:
_ “Bậy! Có chết cũng là vì Việt Cộng, ai lại gán tội cho hai bà mẹ!”
_ “Biết đâu! Hồi xưa ai theo đạo thì bị vua chém đầu thì sao! Tới hồi dẹp xong “Bình Tây Sát Tả”, ai chịu rửa tội thì tha, ai không chịu thì cũng bị chặt đầu vậy. Tôn giáo mà. Ông Mo-ha-mát tay cầm cuốn kinh Koran, tay cầm thanh kiếm thì cũng vậy thôi. “Niềm tin tôn giáo” là nặng nề lắm. Chuyện chi mà làm không được. Thành ra, tôi là người theo đạo lòng vòng cho khỏe.”
_ “Gì cũng có mà gì cũng không có!” Phải không?” Ông phó quận cười cười hỏi tôi.
_ “Học trò Huế mà ông! Lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, mấy năm “hòa bình” bọn tôi, trai cũng như gái, rủ nhau đi hết các chùa phía Tây Nam Huế, nhưng không lạy Phật ở chùa nào hết. Tới trưa, khi đói bụng thì về chùa Sư Nữ “ăn cơm chùa”. Noel thì đi hết nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, nhà thờ Phú Cam, nhà thờ Gia Hội, nhà thờ Nhà Nước, nhà thờ Tây Linh… Khuya về lục cơm nguội nếu không có ai kêu ăn reveillon. Khi đó thì không cần tới “Chúa Cứu Thế” đâu. “Chúa Cứu đói” thì cần lắm!” Nói xong, tôi cười.
_ “Vui nhỉ?” Ông phó quận nói.
_ “Cái thú du ngoạn nầy có từ hồi còn Tây. Ông đọc “Nửa bồ xương khô” của Vũ Anh Khanh thì thấy ngay.” Tôi nói thêm.
_ “Tôi cũng ưa đạo lòng vòng! Tại sao ông biết không?” Phó Nghiêm hỏi tôi.
_ “Thế hệ bọn mình có quan điểm tôn giáo giống nhau. Ông phó thử nói coi có giống tui không?” Tôi đề nghị.
_ “Bởi tôn giáo mà chúng ta thấy, là tôn giáo của các “đại đệ tử”, đâu có phải từ nguồn gốc tôn giáo của giáo chủ. Phải không?” Ông phó Nghiêm giải thích.
_ “Tôn giáo của “Giáo hội La-Mã” đâu phải là tôn giáo của chúa Giê-Su. Đạo Phật Mật tông, Thiền tông, Tịnh Độ tông, “tông” nào chính là của thái tử Tất Đạt Đa? Sai lạc là một chuyện, bất công lại là một chuyện nữa. Vô chùa, người ta cũng thấy bất công, bất bình đẳng vậy:
Chị là con gái nhà giàu,
Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen.
Em là con gái nhà hèn,
Ăn mặc rách rưới mon men ngoài hè!
Khi sự việc đã thành ca dao thì không thể cho là cá biệt, mà lại là phổ thông. Những người tu hành nói thì hay, nhưng thực tế, vẫn phân biệt giàu nghèo. Do đó, tôn giáo không giải quyết được những vấn nạn của nhân loại. Đạo lòng vòng, đừng vô trong chùa hay trong nhà thờ là đúng. Phải không?” Tôi và ông phó đều cười.
_ “Trong “Dương Từ / Hà Mậu, đại úy không thấy cụ đồ Chiểu ông phê phán cả Phật, cả đạo Thiên chúa sao?” Ông phó Nghiêm góp ý.
_ “Ông đồ Nho đó chủ trương dân tộc trên hết mà.” Tôi nói.
_ “Cũng đúng thôi.” Phó Nghiêm lại góp ý.
_ “Tôi kể chuyện nầy ông phó nghe cho vui.” Tôi nói tiếp. “Tôi có cô bạn gái từ hồi còn đi học. Mỗi năm vài lần gởi thư thăm nhau. Biết tôi là dân “Quảng trị tui”, cô ta nói phải chi có dịp đi hành hương La Vang một lần cho thỏa ước ao. Sau 1972, tui nói hết hy vọng rồi, khu vực đó bây giờ không được an ninh. Cô ta tiếc hùi hụi. Trong khi đó tui lại thấy buồn cười. Tôi “đi chơi” La Vang hồi còn nhỏ. Tới hồi tui với nhà tui bắt bồ nhau, chúng tôi “đi chơi” La Vang quá thường, kể tới hàng chục lần. Chán La Vang, chúng tôi còn đi sâu hơn nữa, vô nhà thờ Phước Môn – nhà thờ nầy của ông Phước Môn Quận Công Nguyễn Hữu Bài, xa hơn bốn năm cây số, gần trong dãy Trường Sơn. Vô xa hơn nữa, chúng tôi xem “đồi thông hai mộ” – Đây là một rừng thông có hai ngôi mộ: mộ ông Bài và vợ ông. Chỗ nầy vắng, không sợ ai thấy, ôm nhau chặt, hôn nhau đã lắm! Rồi chúng tôi đi vòng lên hướng bắc, tới làng Như Lệ, bên bờ sông Thạch Hãn. Từ đó, chúng tôi theo “đường Bảo Đại” – đường ông Bảo Đại đi săn – về lại thành phố. Hồi đó, đầu thập niên 1960, tôi chỉ có cái xe vélô. Đèo bồ ngồi phía sau, nhiều khi xe lên dốc không nỗi, tôi phải đạp phụ. Tôi vừa đạp vừa nói đùa: “Mẹ Lavang ơi! Cứu con. Lên dốc mệt quá.” Nhà tôi ngồi sau, đấm vào lưng tôi thùm thụp mà cười, nói: “Tầm bậy! Mẹ phạt cho bây giờ.” Mẹ mà phạt? Buồn cười không? Mẹ đâu phải là “pô-lít”…”
hoànglonghải
(1)-Câu nầy tôi nghe từ một người bạn làm ở “Phủ đầu rồng”, ám chỉ tướng Nghi, và ba ông đại tá đứng đầu ba ngành: Cảnh Sát, An Ninh Quân Đội và Tiếp Vận.
Sông Giang Thành bắt nguồn từ Vương quốc Campuchia, xưa người Khmer gọi sông này là Prêk Ten, vì bên cạnh nó có một thôn ấp cổ tên là Tà Ten. Sông chảy vào Việt Nam theo hướng Bắc Nam, dài khoảng 23 km, rồi đổ vào vũng Đông Hồ ở thị xã Hà Tiên, trước khi ra vịnh Thái Lan.
Sông Giang Thành nối liền với kênh Vĩnh Tế, tạo thành tuyến đường thủy quan trọng từ thị xã Châu Đốc đến thị xã Hà Tiên. Nó cũng góp phần đưa nước ngọt từ sông Hậu về tỉnh Kiên Giang phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt. Chỗ sông Giang Thành và kênh Vĩnh Tế gặp nhau gọi là ngã ba Giang Thành; và đây chính là một thắng cảnh của trấn Hà Tiên xưa, mà Mạc Thiên Tứ đã chọn làm đầu đề.
Thời Mạc Thiên Tứ cai quản trấn Hà Tiên, ông đã cho xây dựng ở Giang Thành một lũy đất dài 17 km, rộng khoảng 1m; chạy dài từ bờ sông đến chân núi Châu Nham, và cho đặt vài đồn canh phòng nhằm ngăn chặn sự xâm lấn của quân Chân Lạp dưới thời vua Nặc Bồn…
Phiên âm Hán-Việt: Giang Thành dạ cổ Thiên phong hồi nhiễu đống vân cao, Toả thược trường giang tương khí hào. Nhất phiến lâu thuyền hàn thủy nguyệt, Tam canh cổ giác định ba đào. Khách nhưng cánh dạ tỏa kim giáp, Nhân chính can thành ủng cẩm bào. Vũ lược thâm thừa anh chủ quyến, Nhật Nam cảnh vũ lại an lao.
Đông Hồ dịch thơ: Tiếng trống đêm Giang Thành. Gió cuốn trời cao mây lạnh tung,Sông dài vây tỏa khí anh hùng.Lâu thuyền dãi bóng trăng sương lạnh,Trống mõ cầm canh sóng nước trong.Kim giáp đã nhờ đêm chặt chẽ,Cẩm bào cho được chốn thung dung.Lược thao đem đáp tình minh chúa,Nước Việt biên thùy vững núi sông.
Bài chữ Nôm:
Bài này nằm trong tập Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh, gồm một khúc vịnh dài 36 câu, và kết thúc bằng một bài thơ Đường luật như sau:
Trống quân Giang thú nổi oai phong,
Nghiêm gióng đòi canh ỏi núi sông.
Đánh phá mặt gian người biết tiếng,
Vang truyền lệnh sấm chúng nghiêng lòng.
Phao tuôn đã thấy yên bao vạc,
Nhiệm nhặt chi cho lọt mảy lông.
Thỏ lụn sớm hầu trưa bóng ác,
Tiếng xe sầm sạt mới nên công.
Kênh Hà Giang ở huyện Giang Thành ngày nay
Lời bình:
Bài Giang Thành dạ cổ này sóng đôi với bài “Tiêu Tự thần chung”, thi sĩ Đông Hồ giải thích thâm ý của tác giả như sau: Ngoài việc để “tiếng chuông” chùa Tiêu đối lại với “tiếng trống” ở đồn Giang Thành; Mạc Thiên Tứ còn muốn nói lên rằng: một cảnh biểu thị cho đạo đức là chùa chiền, một cảnh biểu thị cho ý thức quân sự là đồn lũy.
Toàn thể hai bài đều tả tiếng trống canh ban đêm ở một đồn thú bên sông. Nhờ tiếng trống này mà đối phương không dám xâm lấn cõi bờ, giúp cho nước nhà được yên ổn, an vui.
Bình riêng cho bài Hán thi, Đông Hồ viết: Nửa bài trên tả tiếng vang động của trống mõ, khí thế hùng mạnh của quân lính; nửa bài dưới kể công lao của những người tướng sĩ, đem thân ra chống đỡ cho biên thùy được yên ổn, triều đình được vững vàng. Qua đây, tác giả còn có ý muốn kể công của mình đối với chúa Nguyễn ở Đàng Trong…
(trích lại trong Wikipedia ViệtNam)
(3) _ “Cây đèn dầu” dấu hiệu tranh cử của “Phong trào phụ nữ liên đới” của bà Ngô Đình Nhu.
(4) -Câu sấm nói về vùng Thanh Nghệ Tĩnh: “Hồng lĩnh sơn cao, song ngư hải khoát, nhược thì minh thời, nhân tài tú phát”. Núi Hồng Lĩnh cao (núi nầy ở phía bien giớ Lào Việt). Ngoài cửa sông Lam có hai hòn đảo trông giống như hai con cá ngoài biển rộng. Gặp lúc minh thời (thái bình thạnh trị), phát sinh nhiều nhân tài.
(5)_ “Tan hàng/ Cố gắng” là châm ngôn của “Tân binh Nhảy dù” ở trại Vương Mộng Hồng trong khu vực Liên Đoàn A của “Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung”.
(5)- Đại úy phi công Vinh, người cùng khóa với tướng Kỳ, hang tuần thường bay chiếc Cessna Hà –Tiên / Saigon và ngược lại, cách đây hơn một tháng, bị hỏa tiển Việt Cộng bắn rớt ở Kiến Phong, trên đưòng bay nói trên. Phi công và 5 hành khách – công nhân của nhà máy – đều bị chết cháy cả.
Hôm tôi xuống Vàm Rầy, mới sáng sớm, thấy “phông màn” còn giăng lung tung ở nhà lồng chợ, bèn hỏi ông ta: “Có gánh cải lương nào về hát á?”
Không trả lời câu tôi hỏi, thiếu úy Ra nói:
_ “Cô đào đẹp lắm, còn trẻ măng, giọng không thua chi Lệ Thủy”.
Một lúc, tôi hiểu thêm về “truyền thống hát bội miền Tây Nam Bộ”. Điều mà tôi tưởng là “chết” rồi, tức là “Hát bội giữa rừng” trong “Hương Rừng Cà Mâu” của Sơn Nam đã theo Sơn Nam “đi” rồi, thì nó vẫn còn đấy, chỉ khác một điều là không cần phải quây đăng chung quanh mấy cái xuồng của khán giả để tránh cá sấu như ngày xưa mà thôi. Súng đạn mấy chục năm rồi, cá sấu nào mà còn!
Gánh hát bội di chuyển đến đây bằng ghe, thay vì bằng xe hơi như các gánh cải lương lớn ở Saigon. Chiếc ghe bầu chở đủ: “phông”, màn, đào, kép. Phía sau ghe là nơi sinh hoạt của gia đình ông bầu gánh. Kép và đào phụ chia nhau phần trước.
Gánh hát không đủ sức để ghé hát ở các thành phố lớn như Cần Thơ, Rạch Giá, Long Xuyên. Nó chỉ có thể ghé lại ở các thị trấn hay các xã lỵ nhỏ, khán giả đã ít mà lại nghèo, hát vài ba đêm rồi nổ máy Kohler đi tới một xã khác, sống qua ngày. Gánh “sống giang” mà! (1)
Tôi không rõ những người theo các gánh hát nầy vì sinh kế hay vì cái “nghiệp”. Không đi sâu vào đời sống của họ, khó biết được. Nếu vì cái “nghiệp” mà làm đào kép thì đó cũng là một cái “lạ” trong nhiều cái “lạ” của cuộc đời ô trọc nầy. “Máu truyền thống” của ông tổ Đào Duy Từ khó bỏ đi được!
Tôi ngồi uống cà-phê ngay gian đầu tiên dãy nhà bên hông nhà lồng chợ, quên bẵng lời tán thán của thiếu úy Ra về cô đào vừa trẻ vừa đẹp mà thiếu úy Ra ca tụng không hết lời sáng nay. Một lát sau, tôi thấy ông bầu, một người đàn ông đứng tuổi vừa ốm vừa đen từ chiếc ghe hát bội đi lên cùng một cô gái còn trẻ lắm, đáng tuổi con ông ta.
Để tránh cho họ uống cà-phê được tự nhiên – tôi đoán chừng họ vừa thức dậy và cùng nhau đi uống cà-phê – tôi giả quay mặt nhìn ra đường, làm như không thấy họ.
Thiếu úy Ra nói nhỏ bên tôi:
_ “Đại úy, cô đào chánh đấy.”
Tôi hỏi (theo ý của thiếu úy Ra nói hồi nãy, vẫn không nhìn lui):
_ Đẹp lắm hả?”
Thiếu úy Ra im lặng, không nói gì.
Tò mò, tôi từ từ quay mặt nhìn lui.
Đó là một “con nhỏ” – còn trẻ như thiếu úy Ra nói – nhưng da đen ngăm ngăm, tóc tai bù xù – có phải mới ngủ dậy chưa kịp chải hay sao – mặc cái bà-ba màu xanh lục đã phai, quần đen nhăn nhúm. Cô ta ngồi gác một chân lên ghế. Khi ấy, có một cô gái khác, bồng tới cho cô ta một em bé đang khóc. Cô ta đưa tay đỡ em bé, rồi kéo vạt áo trước lên cho con bú.
Hình ảnh trông thiệt… nản.
Tôi cười, nói nhỏ với thiếu úy Ra:
_ “Trông như con “mọi Miên”; giữa chợ mà còn vạch vú cho con bú nữa chớ!”
Thiếu úy ra vẫn cứ cải chính:
_ “Tối hôm qua nó đẹp lắm mà, ai cũng khen, mặt nó trắng bóc.”
Tôi nói đùa:
_ “Ông bắt thằng cha bầu gánh, truy tố nó tội “dụ dỗ gái vị thành niên” là vừa.”
Nói như thế là vì theo kinh nghiệm, mấy đứa con gái nhà quê thiệt thà, ham vui, ham làm đào, ham ca hát, dễ bị mấy anh kép, mấy ông bầu gánh dụ dỗ bỏ nhà đi theo là việc thường xảy ra.
Tôi bỏ đi.
Vậy mà cả xã xôn xao vì việc con Lý bỏ nhà đi theo gánh cải lương từ Saigon về hát ở Rạch Giá.
Mấy hôm trước, vì công việc, tôi ra Rạch Giá. Buổi chiều, tôi với cả “bọn” làm việc ở Bộ Chỉ Huy Tỉnh, rủ nhau ăn nhậu ở nhà hàng Thanh Thúy. Đây là “khổ nạn” của tôi. Tôi đang làm “xếp pô-lít” trên khu vực đường buôn lậu từ Hà Tiên đi Rạch Giá, Saigon, nên “anh” nào cũng nghĩ cái ghế tôi ngồi là ngon ăn, khi nào về Rạch Giá cả “bọn” bắt tôi đãi một chầu.
Sau vụ bắt hơn hai ký lô bạch phiến, tôi có tiền thưởng và một “chiến công bội tinh”, nhưng cấp trên mới đề nghị chứ tiền đã có đâu, vậy mà cả “bọn” làm như tôi cất tiền đầy túi trước lẫn túi sau không bằng. Có người còn vạch bóp tôi, moi cho hết tiền chẳn, tiền lẻ trong đó mà lấy, khiến nhiều khi tôi phải dấu tiền trong bít tất mới có đủ tiền trả cho nhà hàng.
Hôm đó, ăn nhậu xong, mấy chả còn yêu cầu đi coi cải lương – Gánh hát gì đó, tôi không để ý tên gì, có kép chánh là Thành Được.
Hôm sau, tôi về; được mấy bữa thì nghe tin con Lý bỏ nhà theo gánh hát rồi. Dân trong xã thắc mắc, không rõ con Lý mê hát, mê làm đào cải lương hay mê anh kép nào.
Mê gì thì nó cũng đã đi rồi!
Người ta nói con Lý đẹp không thua gì Thẩm Thúy Hằng. Và người ta cũng tự hào về việc xứ của họ có đứa con gái đẹp như thế.
Nghĩ cũng phải. Cha nó là một ông Tây lai, ổng có mẹ Việt. Mẹ nó là một cô “đầu gà đít vịt”, tức là Miên lai Tầu, cũng nức danh một thời trước khi về làm vợ ông Tay lai đẹp trai.
Từ những cái đẹp về cha mẹ như thế, cấu tạo nên một con Lý không thể xấu xí được. Có thể nó thông minh nữa đấy. Hình như tôi có đọc môt cuốn sách hay bài báo nào đó, nói rằng những người có “dòng máu quốc tế” thường là những người thông minh, không cần phải trai hay gái.
Tôi từng gặp con Lý một hai lần trước khi nó bỏ nhà đi. Cũng như mọi người, thấy con Lý đẹp, và tôi cũng đã ghẹo nó vài câu cho vui, như mọi người thấy gái đẹp vậy thôi.
Nhớ hôm tôi uống cà-phê với thiếu úy Ra ở quán cà-phê chúng tôi thường ngồi thì con Lý đi ra quán mua cái gì đó. Thấy nó, thiếu úy Ra gọi: “Lý”.
Nó đi tới, hỏi, rất lễ phép:
_ “Thiếu úy kêu em.”
Thiếu úy Ra nói:
_ “Em ngồi uống cà-phê. Ông đại úy mới về làm việc ở đây.” Nói xong, thiếu úy Ra đưa tay chỉ tôi.
Tôi nói:
_ “Em có gì vội không, ngồi uống cà-phê rồi về.”
Cô ta ngồi xuống ghế bên cạnh thiếu úy Ra, nhưng từ chối, không chịu uống gì cả, mặc dù thiếu úy Ra hỏi đi, mời lại mấy lần.
Bấy giờ tôi nhìn kỹ cô ta hơn, và… ngạc nhiên. Tại sao ở nhà quê lại có người đẹp như thế nầy nhỉ? Đẹp quá chừng, có thể ngang với… vợ tôi. Vợ tôi cũng sinh trưởng ở nhà quê, nhưng làng cô ấy kế cận tỉnh lỵ, nên không khác dân thành phố chút nào. Còn như con Lý nầy, sinh ra lớn lên ở một xã mà từ đây ra tới thị xã Rạch Giá cũng phải mất nửa ngày đường.
Tôi bỗng nhớ tới nhà văn Đình Ngân, giáo sư Việt Văn của tôi khi tôi học lớp đệ lục với ông. Có lần ông nói với bọn học sinh chúng tôi: “Nên lấy vợ nhà quê, thiệt thà hơn dân thành phố.” Và ông ta cưới môt cô ở quê ông làm vợ thật. Cưới xong, ông phải dạy cho vợ đánh vần quốc ngữ a, b, c… như “cô Tú huyện Thanh Vân”, trong bài hát “Cô Tú” của Nguyễn Long Châu vậy.
Tôi đã có vợ, con. Tôi không nghĩ lung tung, nhưng vì con Lý đẹp thật nên hôm đó tôi nói đùa, bằng cái giọng Huế của tôi:
_ “Tháng năm rồi, qua mùa hạ rồi, mà hoa còn nở đẹp quá hỉ?”
_ “Hoa nào đâu!” thiếu úy Ra thật thà hỏi.
Tôi cười:
_ “Hoa Lý đó!”
Hai người ấy cùng cười. Tôi nói:
_ “Hoa Lý đẹp thiệt! Lý à!”
Cô ta cười:
_ “Đại úy đừng khen, em mắc cở.”
Tôi lại đùa:
_ “Mắc cở nhưng mà ưa khen.”
Rồi tôi hát nho nhỏ, bằng giọng Nam: “Ban ngày thì mắc cở, tối ở quên “dìa.”
Hai người kia nghe hát, đều cười vui.
Từ hồi đi lính, bỏ cái vỏ thầy giáo, mặc áo “trây-di”, tôi thường có cách ghẹo gái như vậy. Cô nào ghét tôi mới là chuyện lạ.
Thiếu úy Ra nói:
_ “Ông thầy có cách chọc gái hay thiệt. Cô ta nhìn ông hoài kìa.”
Tôi lại đùa bằng cái giọng Huế:
_ “Nhìn mô?”
Rồi tôi vui vui giảng giải:
_ “Có nhiều cách chọc gái. Một là theo cách “ba trợn”, nghĩa là chọc cho nó ghét mình, nguýt háy mình, nhưng mà “dính” đấy. “Ghét của nào trời trao của ấy” mà. Cách thứ hai là “Anh chẳng nói…” là mình liếc chừng đối tượng mà không nói gì nhiều. Lâu lâu thả vài câu nhẹ nhàng mà hay ho, chí lí. Cách đó, người Huế gọi là “Thả giọng trầm nhiều nỗi mê man”, mê man là yêu say đắm đấy…”
Xong, tôi ngồi im, nhắp một ngụm cà-phê.
Một lúc, tuồng như đang chờ mà thấy tôi không nói gì, con Lý nôn nóng hỏi:
_ “Còn cách thứ ba đại úy?”
_ “Cách thứ ba là do trời sinh; là người con trai phải có tài gì đó: hát hay, ca cải lương ngọt…”
_ “Còn một cách nữa?” Con Lý lại nôn nóng hỏi.
_ “Ấy là cách thứ tư; nhưng người ta không luyện tập được. Đó là tính vui, tính khôi hài. Mình nói ra môt câu ai nấy đều cười… Làm cho người ta vui cũng là một cách “cua” gái.”
Con Lý nói:
_ “Cả bốn cách đó, đối với em đều không có hiệu quả.”
_ “Tôi quên nói với cô một điều: danh vọng, lon lá, tiền bạc. Đó không phải là tình yêu. Tình yêu không so đo, không tính hơn thiệt. “Cho rất nhiều song chẳng nhận bao nhiêu!” mà tình yêu con mẹ gì.”
Cả ba chúng tôi đều ngồi im, sau tiếng chưởi thề của tôi.
Một lúc, con Lý nói:
_ “Mai mốt mà đại úy mở trường dạy “cua”, chắc tụi thanh niên theo học đông lắm.”
_ “Cô nói đúng đấy, mai mốt hòa bình, bỏ đời lính, tôi đâu có sợ thất nghiệp. Tôi về mở trường dạy… “cua” gái!”
Chúng tôi lại cười.
Mấy hôm sau, khi tôi đang ở Vàm Rầy thì gặp con Lý mang hai giỏ hàng cá lóc khô. Nó tính đem ra chợ Rạch Giá bán cho được giá, vừa ra tới đường một lúc thì có chiếc xe hàng từ hướng Hà Tiên chạy tới. Tôi nói với con Lý: “Đi theo tôi.”
Tôi ra đứng bên cạnh chiếc xe vừa ngừng lại, ngang cửa sổ tài xế, nói với ông ta:
_ “Cho tôi gởi cô nầy đi Rạch Giá.”
Tôi không biết ông tài xế nghĩ gì, nhưng ông vội vàng biểu anh “lơ xe” xách hai gói hàng lên xe cho cô ta, đồng thời, ông chọn một chỗ ngồi tốt bên cạnh ông. Khi con Lý lên xe, ông vồn vã nói: “Cô ngồi đây.” Con Lý đã đẹp, lại thấy tôi đích thân gởi cô ta cho tài xế, hành khách nhìn nó có vẻ tò mò.
Sau đó, gặp tôi, con Lý cám ơn: “Bữa đó em đã khỏi trả tiền xe, mà còn được chú tài xế sai “lơ xe” xách hàng cho. Đã thiệt. Em mà đã vậy, huống gì “bà Trưởng”, sướng quá héng.”
Dân chúng địa phương thường gọi tôi là “ông Trưởng”, vợ tôi là “bà Trưởng”.
Con Lý bỏ nhà đi được hơn nửa năm thì nó lại về. Bây giờ thì nó “huy hoàng” lắm.
Nó về bằng xe taxi, cùng với một vali quần áo cho ba mẹ nó. Hôm sau, ba mẹ thay áo quần mới đẹp đẽ, giày vớ đàng hoàng, lại có chiếc xe lăn cho ba nó – ông bị cụt chân phải trong chiến tranh, thời ông theo “Nam bộ Kháng chiến”. Nó dìu mẹ nó, tài xế taxi thì đẩy xe lăn cho cha nó. Nó dời gia đình đi Saigon, bỏ lại xứ Vàm Rầy quê mùa, nghèo khổ, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu cả trường học, trạm y tế, nơi mà nó sinh ra ở đấy, trải qua một thời thơ ấu, một thời niên thiếu với nhiều nỗi đắng cay. Người ta ai cũng mừng cho nó, cho cha mẹ nó.
Có điều tiếc, đẹp như thế, muốn thoát ra khỏi cảnh cơ cực ở xứ sở bùn lầy nước đọng nầy, nó phải làm vợ bé một ông Tầu già giàu có ở Chợ Lớn.
Nó cùng cha mẹ đi thăm từng nhà, từ nhà nầy qua nhà khác, chúc phúc cho nhau…
Khi nó lên xe, nhiều người ra tận xe tiễn gia đình nó đi. Xe rú ga chạy, để lại phía sau một đám bụi mù…
Hôm sau, khi về Vàm Rầy, nghe tin nó đi rồi, tôi cũng… bâng khuâng.
Tôi vẫn thường xuống Vàm Rầy vì công việc. Trong phạm vi trách nhiệm của tôi có 9 xã, xã Vàm Rầy, tức Đức Phương là xã tương đối phức tạp nhất, dĩ nhiên là về an ninh, so với các xã khác như Tín Đạo, xã của “Ba đời Cộng Sản” như tôi nói đùa nhưng đúng với thực tế, xã An Hòa của núi Trầu, xã Dương Hòa, tên nôm na là Ba Hòn, là con đường xâm nhập của Việt Cộng từ Phú Quốc vào, hay xã Bình Trị, nơi có núi Hòn Chông, là căn cứ chống Pháp của Nguyễn Trung Trực hồi thế kỷ 19… Có dịp tôi sẽ nói rõ thêm về sau.
Mấy đứa con gái trong xóm Vàm Rầy lần hồi bỏ xứ đi hết. Con Hòa lên Saigon, có thể theo chân chị nó mà đi Mỹ, con sáu Lánh bỏ vào bưng theo Việt Cộng để trả mối hận bị con tư Sậm hiếp dâm mà không kêu ca vào đâu được. Con Lý, đẹp nhất xứ, cũng đã lên Saigon, lấy một chú Ba Tầu già nào đó, giàu sụ, để thoát khỏi cuộc đời nghèo khó ở xứ nầy.
Tôi thường cùng thiếu úy Kiệt, thiếu úy Chiếu, xã trưởng Ngô Văn Àn và trưởng ấp Đực theo dõi các “đối tượng” giao liên, để biết tin tức Việt Cộng ở trong bưng và “giải hóa hạ tầng cơ sở Cộng Sản” – danh từ Phượng Hoàng – Tụi cán bộ kinh tài thu thuế các xe máy cày, những người làm ruộng, đánh cá ở trong rừng sâu. Quan trọng nhất vẫn là việc quân Cộng Sản di chuyển trên đường giây 1C. “Bộ đội” Cộng Sản từ phía Bắc vào Kampuchia, rồi theo con đường nầy qua mật khu Trà Tiên để về Chương Thiện. Mặc dù Hiệp định Paris đã ký kết, nhưng quân Cộng Sản di chuyển trên con đường giao liên nầy ngày càng đông, càng nhiều, chứng tỏ Cộng Sản không từ bỏ mưu đồ đánh chiếm toàn cõi Miền Nam Việt Nam.
Mặc dù tướng Nam, tư lệnh Quân khu IV, ra lệnh phải gắt gao ngăn chận Việt Cộng “vượt tuyến” ở Cây Số 15, khiến nhiều khi quân Việt Cộng phải khựng lại trong rừng tràm; nhưng rồi chúng vẫn cứ tiến quân, cố sống cố chết vượt qua cái núi thắt họng ở cây số 15. Trong rừng tràm, chúng xuất hiện, rồi di chuyển mất dạng. Chúng tôi vẫn theo dõi chúng, báo cho phía quân sự để họ có biện pháp giải trừ bằng những đơn vị lớn.
Khoảng gần một năm sau, con Lý lại về Vàm Rầy: Ba nó vừa qua đời ở Saigon. Theo lời dặn của ba nó, nó thiêu cốt “ông già”, đem về gởi ở chùa làng. Đợi khi mẹ qua đời nốt, cũng thiêu xác rồi đem tro cốt của cha mẹ, chôn ở nghĩa địa của làng, nơi phần mộ của thằng Chói mà con Hòa đã đem về chôn ở đấy.
Vậy là nghĩa trang càng ngày càng dày… Mai đây còn ai nữa không?
Nó nhắn với thiếu úy Chiếu rằng nó muốn gặp tôi.
Tôi nói với thiếu úy Chiếu, ngày mai tôi đi họp ở tỉnh. Tôi sẽ gặp nó khi đi ngang Vàm Rầy.
Con Lý ngồi chờ tôi trong quá cà-phê kế nhà lồng chợ, thấy xe tôi từ xa tới, nó chạy ra. Tôi lái xe, thấy nó, dừng xe lại. Nó hỏi:
_ “Đại ca” đi Rạch-Giá?”
Tôi cười:
_ “Dân Saigon có khác, cô phong cho tôi chức “đại ca” hồi nào dzậy?”
_ “Có khi em thấy người ta gọi đại úy là “đại bàng” nên em nói chơi! Được không?” Nó vừa nói vừa cười.
_ “Gì cũng được. Tôi vẫn là tôi. Khi nào đi hành quân, qua máy truyền tin, binh sĩ mới gọi tôi là “đại bàng” để ngụy danh.” Tôi giải thích.
_ “Việt Cộng không dễ lừa đâu!” Cô ta lại nói.
Tôi hỏi:
_ “Bữa ni gặp tôi có chuyện chi không?”
Con Lý trả lời, rất tự nhiên:
_ “Em muốn đi Rạch Giá với đại úy.”
Tôi không trả lời, tính toán. Một lúc tôi nói:
_ “Tôi đón cô ở đây không tiện đâu. Cô đi bộ qua bên kia cầu, chút xíu nữa, tôi qua đó, cùng đi.”
Nghe tôi nói xong, con Lý vội vàng cầm xách tay đi qua cầu. Nhìn nó, tôi có vài suy nghĩ: Áo dài màu hoàng yến, quần trắng ống rộng, giày cao gót, che dù, cũng màu vàng. Những nét quê mùa của cô gái nghèo cách nay hơn một năm đã biến mất trên con người cô ta. Tôi cũng thấy bâng khuâng, nên vui cho cô ta thoát đời nghèo khổ, hay buồn vì những gì thay đổi trên con người cô? Còn tâm hồn thì sao? Đó mới là điều quan trọng. Và tôi thấy xót xa cho những đứa con gái ở chốn quê mùa… Bao giờ thì “ánh sáng văn minh” mới chiếu rọi tới xóm quê mùa nầy, như điều mơ ước của Hoàng Đạo trong “Con Đường Sáng”, cuốn truyện viết ra gần năm mươi năm nay. Năm mươi năm qua rồi, nước Việt Nam cũng vẫn vậy hay nghèo khỏ hơn? Tôi lại nhớ tới một đoạn văn trong “Xóm Giếng ngày xưa” của Tô Hoài mà nhà văn Đình Ngân dạy tôi khi tôi học lớp đệ lục với ông, ở Quảng Trị: “Ngoài kia, qua một lớp vườn hoang là cánh đồng bao la. Buổi chiều, trẻ con thả diều; người lớn thong thả dạo mát. Cuộc đời êm đềm không một chút đổi thay như trong tranh vẽ.”
Tôi không ưa cái gì “không một chút đổi thay”. Nhân loại văn minh, đang đi tới. Người Việt Nam cũng phải đi tới. Cũng phải có điện, có xe cộ, có máy cày, có tiện nghi, có áo quần đẹp… không thì đất nước chúng ta sẽ trở lui với thời kỳ… đồ đá.
Tôi vẫn cầm lái xe của tôi. Con Lý ngồi ghế bên cạnh. Cũng trên ghế đó, trung sĩ Thành ngồi ké phía ngoài, tay vẫn lăm cây súng M-18. Trong suốt đoạn đường dài khoảng năm mươi cây số nầy, Việt Cộng có thể xuất hiện bất thần, nhất là ở những đoạn vắng, hai bên chỉ có lùm bụi um tùm.
Nghĩ tới cuộc chiến tranh nầy, tôi vừa thấy buồn cười vừa thấy vô lý. Tuy “họ” ở trong rừng sâu – như tôi từng nói với ông phó quận – “bọn nó luôn luôn tìm cách giết mình; mình cũng chực, chờ diệt cho được tụi nó”. Để làm gì? Để “nhân danh” cái gì? Để bảo vệ cái gì? Để bảo vệ nhân dân, nhưng rõ ràng ở đây, ở cái xóm Vàm Rầy nầy, dân chúng chỉ là nạn nhân: “nạn nhân chiến tranh”, “nạn nhân chiến cuộc”, “nạn nhân Cộng Sản”, nạn nhân của cả hai bên mà người dân không kêu cứu vào đâu được. Ai, bên nào, còn chút lòng thương người, thương đồng loại thì người dân được nhờ. Còn không thì họ đành cắn răng chịu đựng. Có một điều rất rõ, lòng thương người chỉ có ở những người có học, có văn hóa, có truyền thống dân tộc; còn những người được dạy lòng hận thù: hận thù giai cấp, hận thù giàu nghèo, hận thù vì hận thù thì ở họ không có chút lòng thương người. Người dân quê chỉ cúi đầu gánh chịu sự đàn áp, đày đọa, giết chóc, bóc lột…
Tôi và con Lý vui vẻ chuyện trò. Nghĩ tới chuyện nó lấy ông chồng Ba Tầu già, tôi hỏi đùa:
_ “Nói thiệt nghe! Tui có những mấy ông thiếu úy trẻ tuổi đẹp trai, nhắm bộ không có ông nào lọt vào mắt xanh của em hay sao mà em lên Saigon “dzớt” một chú Ba Tầu?”
Con Lý cười:
_ “Sao lại không? Đại úy thử điểm mặt từng ông đi rồi em nói cho nghe.”
Tôi nói:
“Chín ông thì sáu ông có vợ con rồi, còn ba ông chưa vợ, em nghĩ sao?”
_ “Ông nào?” Con Lý hỏi.
_ “Thiếu úy Nhâm, xã Bình Trị.” Tôi nói tới ông thứ nhất.
Con Lý cười:
_ “Ông nầy chơi bời lắm. Con gái sợ mấy ông nầy. Ham chơi, bỏ vợ con.” Con Lý bình phẩm.
_ “Không phải vậy đâu. Ông nầy tu xuất, tu tới thầy ba thầy tư gì đó mới xuất khỏi nhà dòng, đi lính. Bất quá ông gỡ gạc chút ít, cho bù với mấy năm “túng bấn” trong nhà tu thôi à. Xong rồi, ông lại hiền từ. Ông ấy ngoan lắm, tui rầy hoài, chỉ cười.” Tôi giải thích.
Rồi tôi hỏi tiếp:
_ “Thiếu úy Sơn, xã An Hòa? Ông nầy đẹp trai nhất!”
_ “Cao ráo, sáng sủa, miệng hay cười dễ thương, nhưng mà…” Con Lý nhận xét.
Tôi cướp lời:
_ “Nhưng mà sao?”
_ “Ông nầy không có trái tim, không có chiều sâu, khi nào cũng khơi khơi…” Con Lý phê bình thiếu úy Sơn.
_ “Em nói đúng đấy. Vì nó khơi khơi mà trung sĩ Lê Bình Thạnh bỏ mạng. Đau lắm. Không phải là Sở Khanh, nhưng nó coi đời “như con bướm lượn vành mà chơi.” Hôm ra mắt đảng Dân Chủ ở Rạch Giá, cả chục con gái đi theo nó ra ngoài đó, tui cự cho một trận… Còn thiếu úy Huệ.” Tôi hỏi.
_ “Thiếu úy Huệ là số một, hơi lùn nhưng tướng ngon lành, trầm tĩnh, điềm đạm, ôn hòa, thương người…” con Lý nói.
_ “Tui cứ nghĩ tương lai nó sáng lạn lắm, ai ngờ chết trẻ.” Tôi tỏ ý thương tiếc.
_ “Đại úy biết không! Em khóc mấy đêm vì cái chết của thiếu úy Huệ đó. Sau nầy, em quyết định bỏ xứ mà đi là vì cái chết của anh ấy!” Con Lý nói.
_ “Em yêu anh ta nhiều dzậy?” Tôi hỏi.
_ “Đã có gì đâu. Con gái ở xứ quê mùa như em, dù đẹp dù xấu, gặp một người như thiếu úy Huệ là lý tưởng. Em biết gia đình con Liêu Tú Oanh ở Kiên Lương cũng muốn chọn anh ấy cho con gái, nhưng em tin em giành được. Hôm đem xác ông từ trong Cuộc ra, đưa lên xe, em nghĩ thế là hết. Ở cái xứ Vzàm Rầy nầy, không bao giờ xuất hiện một người thứ hai như anh Huệ. Xong rồi, em quyết định đi. Tuổi trẻ như thế là xong; bây giờ nghĩ tới cha mẹ thôi, không nghĩ tới mình nữa. Đó là lý do em lấy chồng Tầu giàu có. Đem cái sắc đẹp của mình mà đổi một đời ấm no cho cha mẹ.”
Tôi làm thinh, nhìn thẳng con đường trước mặt, lặng lẽ cho xe chạy, nghĩ tới lời nói của cô gái, thấy buồn!
Một lúc sau, con Lý nói:
_ “Đại úy biết ba em nói gì không?”
_ “Nói gì? Nói về tui?” Tôi hỏi.
_ “Nói chung, không riêng gì đại úy.” Con Lý nói.
_ “Ba em nói sao?” Tôi hỏi.
_ “Ba em nói mấy ông nầy chống Việt Cộng mà không tìm hiểu gì về Việt Cộng hết?”
_ Chết rồi.” Tôi nói. “Sao ba em lại nói thế?”
_ “Ba em nói là ba em biết hết mấy người ở trong bưng, biết rất rõ, mà chẳng ai hỏi ông một tiếng.”
Tôi trầm ngâm. Trong “Hồ sơ trận liệt” tôi có đủ tên tuổi chức vụ, hoạt động của từng cán bộ Việt Cộng trong bưng. Sao ông ta lại nói thế.
Một lúc, tôi hỏi:
_ “Ba em biết gì về Ba Vốn, tự Lèo không?”
_ “Sao không! Em cũng biết huống gì ba em. Ông nầy xưa đi lính Bảo An, bị thương, về làm kinh tài xã cho Quốc Gia. Cờ bạc thâm tiền xã, trốn vô bưng, theo trỏng.” Con Lý nói.
_ “Tôi cũng biết như vậy. Chắc ba em biết rõ hơn?” Tôi hỏi.
_ “Ba em là cấp chỉ huy cũ của họ mà, biết cá tính, thói quen từng người. Ba em nói phải biết như vậy mới chống họ được. Theo thói quen họ mà tìm họ.” Con Lý nói.
_ “Phải đó em.” Ba em nói đúng.
_ “Ba em nói không biết mùa thì làm sao mà đánh giặc.” Con Lý nói.
_ “Biết mùa là sao?” Tôi hỏi.
_ “Là “giặc mùa” đó. “Mùa cày” là mấy chả đi thu thuế máy cày. “Mùa lúa”, mấy chả thu thuế nông nghiệp. Biết họ đi thu thuế thì theo họ đó mà đánh. Chắc ăn trăm phần trăm.”
Tôi nhớ hôm tôi gặp “phối trí viên” ở bộ Chỉ Huy Tỉnh. Nói chuyện với y, tôi thấy rõ ràng người Mỹ không rành về Việt Cộng như mình. Người Việt hiểu người Việt hơn. Nhưng Mỹ làm việc khoa học hơn. Họ thiết lập “phóng đồ” về hoạt động một “đối tượng” nào đó, vẽ lên “phóng đồ” sự xuất hiện liên tục của “đối tượng”. Nhờ đó, có thể đoán biết ý đồ của “đối tượng” để lập kế hoạch phục kích. Tôi học cách làm đó mà phát hiện hoạt động của Tư Ngọc, cán bộ kinh tài xã, Trần Chí Tài, phó bí thư kiêm kinh tài huyện Hà Tiên. Từ những tin tức đó, các lực lượng đặc biệt địa phương “giải hóa” được hai đối tượng nầy.
Tôi cũng nhớ hôm trung tá Đ. H. Dung, thuộc “Ủy ban Phụng Hoàng” Quân Khu đến thanh tra tôi. Ông gọi tôi đón ông ở Tri Tôn, ranh giới địa đầu của quận tôi. Khi ông mới dừng xe, tôi đứng sát xe đưa tay chào ông. Cứ ngồi trên xe Jeep, ông hỏi: “Chỉ tiêu giải hóa hạ tầng cơ sở” của anh quí nầy là ai?” Nhờ làm việc theo cách khoa học của người Mỹ, tôi nhớ hết tên và hoạt động của từng cán bộ Việt Cộng địa phương. Kể xong tên từng đối tượng và hoạt động của chúng, tôi “kéo” ông ta vào phòng hành quân, chỉ trên bản đồ những vị trí đối tượng xuất hiện và trình bày kế hoạch giải hóa. Vừa nói xong, mới hơn nửa tiếng, ông vỗ vai tôi, cười bắt tay tôi rồi khen, trước khi lên xe ra về: “Được lắm! Được lắm. Biết hết như vậy là tốt lắm. Chúc anh có kết quả.”
Bây giờ, trước câu nói của con Lý, tôi lại chưng hửng. Tôi nói:
_ “Ba em rành họ dữ vậy.”
_ “Anh không biết ba em với “Chú Út” theo Việt Minh từ thời “Nam Bộ Kháng Chiến” à?” Con Lý nói.
_ “Tui không biết thiệt đấy! Biết thì hôm tìm mộ “Chú Út”, tui đi tìm ba em rồi.” Tôi thành thật nói.
_ “Hồi đó, ba em với Chú Út theo kháng chiến. Chú Út tử trận, ít lâu sau ba em bị thương, mất một chân, ba em bỏ kháng chiến. Không bỏ thì họ cũng loại thôi anh à. Ba em nói vậy.”
_ “Sao vậy?” Tôi hỏi.
_ “Tây lai, mà lại có học, con chủ điền. Ai người ta cho theo.”
Tôi lại im lặng.
_ “Ba em còn mơ kháng chiến lắm. Về ở ngoài kinh nầy, có vợ, nhưng lòng ông thì hướng về những ngày đánh Tây nên ông buồn lắm. Tàn tật, tài sản mất hết, ông sống nhờ mẹ em, qua ngày. Em thương ông lắm.” Con Lý tâm sự chuyện nhà.
_ “Hồi trẻ ông có đi học?” Tôi hỏi.
_ “Ông học ở Saigon với Chú Út. Chiến tranh xảy ra, hai ông rủ nhau về quê, tham gia kháng chiến.” Con Lý nói.
Một lúc, nó hỏi:
_ Anh có nghĩ là em thuộc thơ không?”
_ “Thơ gì?” Tôi hỏi.
Không trả lời tôi, con Lý đọc:
“Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”
Tôi nói to, ngạc nhiên: “Chinh Phụ Ngâm”. Ai dạy em?”
_ “Ba em chớ ai! Ổng kể hồi ở Saigon, ông học với ông Kỳ, em không biết họ ông thầy nầy. Ông kể ông thầy dạy hay lắm. Vào lớp, ông đọc một hơi hết câu thơ nầy tiếp câu thơ khác. Khi nào có câu khó, ông thầy mới dừng lại giảng. Học trò mê lắm.” Con Lý kể chuyện ba nó.
_ “Em có mê không?” Tôi hỏi.
_ “Sao không? Mùa hè, ông treo võng nằm đầu hè. Buổi chiều, ông đong đưa cái võng, đọc thơ, nhiều bài hay lắm.”
Quả thật tôi có định kiến với cái xứ quê mùa, đâu có thể có những người như thế nầy. Trong “Tình báo Nhân dân”, vai trò những người nầy là quan trọng lắm mà tôi không biết. Những người phe Quốc Gia không khai thác, không xử dụng.
Ra tới Rạch Giá, khi tôi dừng xe lại trước Bộ Chỉ Huy Tỉnh, con Lý nghiêng về phía tôi, nói nhỏ vào tai:
“Mai em mới đi Saigon, tối nay, đại úy ở lại với em.”
Giao tay lái cho tài xế Thành, tôi nói:
_ “Anh đưa cô Lý tới khách sạn Tân Hòa, lấy một phòng cho cô ấy. Bốn giờ, tới đây đón tôi.” Xong, tôi đi vào trong.
Chiều hôm đó, tôi trốn mấy người bạn, về đưa con Lý đi ăn tiệm. Xong, về lại khách sạn.
Tôi và con Lý nằm với nhau trên giường. Lấy tay chống đầu cho cao lên, tôi nhìn vào mặt con Lý, nói:
_ “Em đẹp thiệt. Không ngờ ở Vàm Rầy có cô con gái đẹp như vầy!”
_ “Thật không?” Con Lý hỏi lại.
_ “Cả xã ai không nghĩ vậy. Bộ anh xạo sao?” Tôi cố cãi.
_ “Anh là ghê lắm. Anh nói ai cũng nghe. Sợ anh luôn.” Con Lý nhận xét về tôi.
_ “Tính anh hay đùa. Thường thì anh ưa nói cho người ta vui thôi. Thành ra, nhiều người ưa. Phải không?” Tôi nói.
_ “Đó là cái nguy hiểm cho anh. Anh biết không?” Con Lý nói.
_ “Anh không hiểu!” Tôi trả lời.
_ “Người ta” ở trong bưng, người ta sợ người nào được cảm tình của dân. Nguy hiểm cho họ. Cỡ như thiếu úy Ra, không ai ưa, thành ra họ không sợ. Ba em nhận xét như vậy đấy!” Con Lý giải thích.
Tôi nằm im. Không vui! Đây cũng là một mặt nào đó trong “tình báo nhân dân” của cuộc chiến tranh vô lý nầy. Người miền Nam thì “chiến đấu bảo vệ tự do”. Cũng là một cách nói, lại là một sự thật. Trong khi điều người dân quê mong muốn là được yên ổn làm ăn. Họ biết gì về tự do hay không tự do, miễn sao chính quyền đừng làm khó dễ họ trong việc sinh sống hàng ngày, và bom đạn đừng xảy ra trong xứ sở của họ. Cái họ muốn là no ấm. Và ngay cả những người dân ở địa phương nầy trốn vào trong bưng cũng chẳng có lý tưởng gì cả. Họ cũng muốn được bình yên làm ăn. Rồi vì một duyên cớ nào đó, họ phải trốn vào trong kia.
Nghĩ tới đó, tôi hỏi con Lý:
_ “Mấy lâu nay em có nghe tin gì sáu Lánh không?”
_ “Cũng nghe mấy người đi “làm đồng” kể lại thôi. Vào trỏng thì họ gặp nó. Nó cũng hiền mà anh.” Con Lý trả lời.
_ “Anh vẫn oán thằng cha dự thẩm. Thằng chả ham tiền mà vô tình đẩy người ta theo Việt Cộng. Anh thường nghĩ, nếu không có vụ con tư Sậm làm bậy nó mà nó bị oan ức, chắc nó không vô trỏng đâu. Phải không?” Tôi nói.
_ “Thôi chuyện qua rồi anh, chuyện xứ em, nhức đầu lắm. Nói chuyện khác đi.” Con Lý đề nghị.
Tôi đưa mắt nhìn nó. Nó mặc cái áo ngủ mỏng, thân hình lồ lộ. Tôi đưa một bàn tay thoa lên bụng nó, hát đùa:
_ “Bây giờ, mấy tháng rồi hỡi em…”
_ “Em không có con với ông ba Tầu đâu. Em mà có con trai giống ổng chắc em nản lắm. Giống anh thì được.”
_ “Giống anh?” Tôi cười. “Giống anh là chết anh đó.” Tôi cười nói.
_ “Em đẻ thì em nuôi. Không bắt vạ anh đâu. Đừng lo. Nhưng mà anh biết không…” Con Lý bỏ lửng câu nói.
_ “Biết cái gì?” Tôi hỏi.
_ Người ta yêu nhau mà lấy được nhau thì hạnh phúc phải không?” Con Lý hỏi.
_ “Cũng có thể, như anh với cô ấy chẳng hạn.” Tôi trả lời.
_ “Vợ anh?”
_ “Chớ ai vô đây. Anh với cô ấy yêu nhau ba năm mới làm đám cưới. Sống với nhau mười mấy năm nay. Hồi còn đi dạy, lương thầy giáo không dư giả gì, vợ chồng cũng êm ấm. Khi anh đi lính, khi đơn vị nầy, khi đổi nơi khác. Nơi nào cô ấy cũng đem con đi theo, vừa lo cho chồng, vừa lo cho con. Chưa bao giơ anh thấy cái gì không vừa lòng.”
_ “Ba năm mới cưới? Sao lâu dzậy?” Con Lý hỏi.
_ “Nhà nghèo mà em. Ba anh đi kháng chiến, rồi chết trên chiến khu. Anh lớn lên, mồ côi cha, học hành xong, phải lo các em ăn học. Xong rồi, mới cưới vợ. Người Trung mà em.” Tôi trình bày hoàn cảnh tôi.
_ “Người Nam không dzậy đâu anh.” Con Lý nhận xét.
_ “Đời sống trong Nam khác em à!” Tôi nói.
Một lúc, tôi nói tiếp:
_ “Trong đời sống vợ chồng, người Nam họ cũng trọng cái nghĩa hơn tiền tài.”
_ “Em không hiểu!” Con Lý nói.
Tôi đọc câu ca dao Nam Bộ:
“Một mai thiếp có xa chàng,
Đôi bông thiếp trả, con chằng thiếp xin.”
Người ta cần đứa con.” Tôi nói tiếp.
_ “Em cũng vậy. Nếu có con với anh, anh đừng hòng bắt con em.”
Một chốc, tôi nói:
_ “Em cũng lãng mạn dữ!”
_ “Em ưa cải lương! Bộ anh nghĩ cải lương không lãng mạn à?” Con Lý nói.
_ “Về phong cách, cải lương giống hát bội, nhưng tuồng tích, nhất là tuồng mới, mấy ông soạn giả bây giờ vừa có cái lãng mạn của văn chương hiện đại, vừa có cái đạo lý của tuồng tích hát bội cũ, nhưng “xuống xề” thì anh mê lắm.” Nói xong, tôi cười.
Bỗng con Lý hỏi tôi:
_ “Anh biết trong các bài hát bây giờ, bài nào lãng mạn nhứt không?”
_ “Chịu.” Tôi trả lời.
_ “Em thích bài “Mùa thu cho em” lắm.” Rồi con Lý hát nho nhỏ:
“Em có nghe mùa thu cho ai nức nở…”
_ “Tiếp đi, bác tài!” Tôi nói đùa.
_ “Nắng úa, dệt mi em…”
Khi nó hát tới câu “Nhạt môi, môi em thơm nồng…” thì tôi hôn nó. Nó hôn lại và không hát nữa. Tôi ngừng hôn, nói đùa: “Chết cha quên rồi!”
Con Lý hỏi:
_ “Quên cái gì?”
_ “Ham hôn nhau, quên hát là quên luôn… ông Ngô Thụy Miên.”
_ “Anh thì thôi.” Nói xong, nó ôm chặt tôi.
Khi đang ở trên bụng nó, tôi hỏi:
_ “Khi ông ba Tầu muốn ngủ với em, ổng nói sao?”
_ “Sao?” Con Lý hỏi, ngạc nhiên.
_ “Ông nói câu tiếng Việt còn ngọng: “Cho ngộ “(l)ụ” một cái. Phải không?”
_ “Khi nào anh cũng giởn. Em xô xuống giường bây giờ.”
Nói thế, nhưng con Lý lại ôm chặt tôi. /
hoànglonghải
(1) _ “Sống giang” là hát xong một đêm, sáng dông”!
Hôm mùng Một, tháng Chạp, năm 2016, tại Tòa Bạch Ốc, thủ đô Washington DC của Hoa Kỳ, Tổng thống Barack Obama đã cử hành Lễ thắp sáng cây Giáng Sinh quốc gia lần thứ 94, (the 94th annual National Christmas Tree Lighting Ceremony) và là lần thứ tám, lần cuối cùng, trước khi chấm dứt hai nhiệm kỳ làm Tổng thống Mỹ!
Barack Obama đã hợp ca bài ‘Jingle Bells’ cùng các ca sĩ nổi tiếng của Mỹ
“Jingle bells, jingle bells/ Jingle all the way/ Oh, what fun it is to ride/ In a one-horse open sleigh…”
Là chúng ta biết mùa Giáng Sinh đã gần kề! Mùa của yêu thương và chia sẻ giữa những người tương đối đủ ăn đủ mặc với những kẻ cùng khốn hơn mình!
Mùa vui! Nhưng Cộng đồng người Việt ở Úc Châu nầy đây, nhứt là bà con buôn bán nhỏ tại Footscray lại gặp chuyện buồn!
Chẳng qua là hồi 6 giờ 30 sáng, thứ Ba, ngày 13, tháng Chạp, năm 2016, lửa đã bùng lên, thiêu rụi toàn bộ ‘Little Saigon Market’, của người Việt mình tại Footscray, ngoại ô về phía Tây của thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, Úc Châu.
Cháy lớn! Hơn 70 lính cứu hỏa đã tham gia vào việc dập tắt ngọn lửa. Khói bốc cao lên trời! Những con đường xung quanh thương xá bị phong tỏa; vì lính cứu hỏa e rằng những bức tường sẽ đổ sập.
Hiện trường vụ cháy từ trên trực thăng trông xuống giống như là một bãi chiến trường.
Cư dân xung quanh khu chợ được khuyến cáo là nên đóng tất cả các cửa, tắt hết máy điều hòa không khí và ở trong nhà.
Nguyên nhân vụ cháy là do chập điện. Chỉ có chút may mắn là không có ai bị chết hay bị thương; nhưng thiệt hại vô cùng lớn. Đánh giá sơ khởi bước đầu là lên tới 12 triệu Úc Kim.
Khoảng 25 cơ sở buôn bán nhỏ: gồm tiệm ăn, tiệm bánh bánh mì, tiệm thịt quay, tiệm thuốc tây, tiệm hớt tóc… và một khu chợ bán thực phẩm, rau cải, cá thịt, đa phần là của người Việt bị ảnh hưởng nặng nề nhất.
Mùa Giáng Sinh, Tết Tây và Tết Việt Nam sắp đến, là mùa mua bán bận rộn nhứt trong năm; nên bao nhiêu vốn liếng bà con tiểu thương mình đã bỏ hết ra để nhập hàng về; trong phút chốc biến trở thành tro bụi! Nhiều bà con không có mua bảo hiểm hàng hóa nên mất tất cả! Cả trăm người làm công bị mất việc! Hỏi làm sao mà không xót?!
Thương xá Little Saigon chắc chắn sẽ được xây dựng lại; nhưng chí ít là phải mất cả năm trời!
Thật là một mùa Giáng Sinh rất không may cho những tiểu thương, khi Tết đã gần kề!
Không chỉ riêng bà con người Việt mình là nạn nhân mà trẻ em người Úc và các sắc tộc cơ nhỡ khác cũng chịu cùng chung số phận!
Trên lầu hai của thương xá Little Saigon là văn phòng và kho đồ của Tổ chức thiện nguyện Les Twentyman, chuyên giúp đỡ thanh thiếu niên vùng Tây Melbourne cũng hoàn toàn bị cháy rụi.
Hơn 8000 sách giáo khoa, quần áo, giày dép để giúp các em lang thang bỏ học được trở lại trường và những món quà dự trù cho những trẻ không nhà mùa Giáng Sinh nầy không còn nữa!
Quý hóa thay! Trong tinh thần chia sẻ mùa Giáng Sinh, người Úc đã dang tay ra, lá lành đùm lá rách, của ít lòng nhiều, để giúp đỡ tổ chức thiện nguyện nầy.
Báo, đài Úc loan tin về vụ cháy và phát đi lời kêu gọi chung tay thì chỉ trong 24 tiếng đồng hồ đầu tiên đã có hơn 300 ngàn đô được dân Úc hiến tặng.
Tổ chức thiện nguyện Les Twentyman sẽ có khả năng để tiếp tục phát quà, quần áo, đồ chơi cho những trẻ không nhà và đãi các em một bữa ăn truyền thống Giáng Sinh vào trưa ngày 25 tháng Chạp, dự trù có tới 400 trẻ tới dự.
***
Thưa bất cứ ở đâu trên thế giới nầy đều có người từ tâm giống như nước Úc đấy thôi! Chớ tui không dám mèo khen mèo dài đuôi! Lưu lạc giang hồ tấp vào nước Úc, kẹt lại, rồi cái gì của mình là tốt là hay còn của người ta là dỡ ẹt.
Mở miệng ra: nước Úc là ‘number one’ còn các nước khác là ‘number ten’!
(Nếu lỡ có nghĩ như vậy thì để bụng đi; đừng có nói ra… Coi chừng bị bà con la đó!)
Như bên Mỹ nè, trừ tỉ phú Donald Trump ra, thì còn biết bao là người dẫu nghèo hơn Trump nhiều…nhưng cũng tốt đó chớ!
John Lunceford
Chẳng hạn như John Lunceford, một quân nhân Mỹ đã giải ngũ, về lái xe bus cho học khu thuộc trường the Kennewick School District ở tiểu bang Washington, Hoa Kỳ được 3 năm!
Một sáng lái xe đi từng trạm để đón và trả khách thì John thấy một đứa trẻ học trò nhỏ đang đứng run lẩy bẩy chờ xe bus.
John mở cửa xe, thấy lệ trào ra khóe mắt của thằng bé. Tay và lổ tai của thằng nhỏ ửng đỏ lên vì Trời bên ngoài xe rất lạnh!
John tháo đôi găng tay của mình rồi tự tay mang vào cho cháu; vì tay nó cóng hết trơn hết trụi rồi!
Sau khi cho đứa học trò xuống tại trường, John lái xe thẳng ra tiệm,mua mười cái nón trùm đầu và mười đôi găng tay, màu đen cho con trai và màu hồng cho con gái.
Xong, John quay trở lại trường để tìm thằng nhỏ. Nhân viên trong trường dẫn Johnxuống thư viện, nơi thằng bé đang học với cả lớp.
John đã đưa cho thằng bé một cái nón và đôi găng tay!
John nói: “Tôi đã được đám cháu gọi là ông! Thì làm sao tôi có thể nào làm ngơ khi trông thấy bất cứ đứa học trò nghèo nào, mặc không đủ ấm, run lẩy bẩy trong mùa Đông buốt giá khi phải đứng chờ ngoài Trời để chờ xe tôi đến đón, đưa đi học!
***
John ơi! Người dân Mỹ, tui chắc, đang rất cần nhiều người như John đó.
Mà họ cũng cần ông Santa Claus trong câu chuyện tui sẽ kể sau đây biết bao!!
Santa Claus Eric J. Schmitt-Matzen
Ngày Lễ Giáng Sinh, là ngày ông Schmitt Matzen, với thân hình đồ sộ, nặng hơn 100 kí lô và có bộ râu dài trắng như cước làm Santa Claus!
Santa Claus nầy rất được cư dân và trẻ con vùng Knoxville yêu thích hàng cả chục năm nay!
Nhiều tuần lễ trước đây, nghĩa là còn khá lâu mới tới Giáng Sinh, ông Santa Claus nầy bất ngờ nhận được một cú gọi từ một nữ y tá của bịnh viện khu vực. Cô ấy nói rằng: “Có một bé trai 5 tuổi, là một bịnh nhân đang sống những ngày cuối đời, rất muốn gặp Santa Claus!”
Schmitt, trong bộ quần áo hóa trang thành Santa Claus, tức tốc đến bịnh viện chỉ trong vòng 15 phút.
Và câu chuyện, sau đó, được thuật lại trên một tờ báo địa phương, làm ai đọc cũng phải rơi nước mắt!
Đứa bé nói với Santa Claus: “Bác sĩ nói rằng cháu sẽ chết! Sao bác sĩ không cho cháu biết cháu sẽ chết lúc nào và sau đó cháu sẽ đi về đâu?”
Santa Claus nói: “Cháu hãy làm dùm ta điều nầy nhé!”
Cháu bé trả lời: “Được!”
“Khi cháu lên Thiên Đường, cháu hãy giới thiệu với họ rằng: “Cháu là con tuần lộc giỏi nhứt của Santa thì ta chắc rằng Thiên Đường sẽ rộng cửa đón cháu vào!”
Đứa bé lại hỏi: “Họ sẽ cho cháu vào phải không?” Santa Claus trả lời: “Chắc chắn vậy rồi!”
“Cháu muốn ngồi dậy! Santa hãy giúp cháu!”
Tôi choàng tay quanh thân cháu. Trước khi tôi có thể nói thêm điều gì nữa thì cháu bé đã trút hơi thở cuối cùng trong chính tay tôi!
Tôi cứ để vậy cho đến khi cha mẹ cháu nhận ra là cháu đã ‘đi’ rồi!
Tôi rời bịnh viện mà nước mắt rơi lã chã suốt cả đường về.
Suốt ba ngày trời, tôi thu mình lại, không thiết đến chuyện gì nữa cả. Phải mất đến cả tuần lễ, tôi mới có thể không nghĩ về chuyện đau lòng ấy!
Tim tôi đà tan vỡ, tôi không thể nào nhập vai làm Santa Claus nữa đâu!
Tôi nhớ vô cùng bộ quần áo trắng đỏ, tôi mặc lúc mùa Giáng Sinh về! Tôi nhớ vô cùng những tiếng cười trong trẻo của trẻ thơ!
Nên sau khi suy nghĩ kỹ lại, tôi quyết định rằng mình không thể nào bỏ cuộc!”
Như vậy ý nghĩa đích thực là mùa Giáng Sinh là hi sinh, là sẻ chia cho tha nhân mà không cần điều kiện gì hết cả.
Thấy ai cơ hàn, đói rét, là xót thương, chìa tay ra giúp đỡ! Chớ không nhứt thiết phải là giàu sang mới có lòng từ thiện.
Có câu chuyện ngụ ngôn, hằng kể, về mùa Giáng Sinh như thế nầy:
Corine là một bé gái mồ côi cha lẫn mẹ. Hậu quả là em đã sống một cuộc đời khổn khổ. Không có gì để mà ăn! May mắn lắm chỉ có được vài mẫu bánh mì mà kẻ từ tâm thương xót cho, để em khỏi bị chết đói.
Em không có một mái nhà, không có tới một chiếc giường để ngã lưng mỗi lúc đêm về.
Dù bị cả thế giới lãng quên, quay lưng lại nhưng em không hề tuyệt vọng!
Vì em tin một ngày nào đó Thượng Đế sẽ để ý đến và giúp em ra khỏi cảnh khốn cùng.
Một hôm, em quyết định rời làng lên thị trấn.
Đi một đỗi chưa xa, em đã thấy một cụ già ngồi ăn xin bên vệ đường.
Ông lão đói rách nầy thì thào: “Ôi! Đứa con gái của ta! Hãy cho lão già nầy cái gì để ăn đi. Lão đói lắm!”
Corine không ngần ngừ, cho ông lão nốt những mẫu bánh mì mà em mang theo để ăn dọc đường.
Đi thêm một đỗi đường nữa, khi gác chuông nhà thờ làng em đà khuất dạng, em gặp một bé trai chỉ mặc một bộ quần áo phong phanh giữa Trời tuyết đổ!
“Chị có thể cho em cái gì để trùm đầu không? Trời rét quá!”
Corine cảm thương người cùng cảnh ngộ, bèn lột chiếc mũ trùm đầu của mình trao cho thằng bé!
Xa hơn, phía bìa rừng, Corine lại gặp một bé gái khác. Em run lẩy bẩy trong bộ quần áo đã rách tả tơi.
Corine không ngần ngại cởi chiếc váy và cái áo khoác của mình trao cho đứa bé gái đáng thương đó!
Huyền diệu thay! Khi Corine không còn gì để ăn và cũng không còn gì để mặc trong mùa Đông rét mướt, gió căm căm, tuyết rơi trắng xóa như thế nầy thì bất ngờ trên Trời, những ngôi sao lấp lánh sa xuống như bông tuyết, bao phủ khắp người em.
Corine thấy thân thể mình được bao trùm bởi quần áo, chiếc mũ trùm đầu lấp lánh kim tuyến. Tất cả đều đẹp hơn những thứ mà em đã cho đi.
Từ đấy, Corine trở nên giàu có, không còn phải lo đến cái ăn, cái mặc như những ngày xưa khốn khó!
Là một câu chuyện ngụ ngôn nên dĩ nhiên mình thường nghĩ rất là “phi hiện thực”. Là không có thiệt!
Nhưng bà con ơi! Thượng Đế rất công bằng, sẽ thưởng công xứng đáng cho những người dưới thế có lòng từ tâm!
Những tấm lòng vàng, hiện thực, có thiệt, vẫn đã và đang ở quanh ta và ngay chính lòng ta, trong đời thường đó thôi!
Thưa bà con! Mùa Giáng Sinh tới! Đi bất cứ nơi đâu mà gặp Úc, bà con mình vẫn nghe câu chúc ‘Merry Christmas’ cho dù mình là lương hay là giáo, có đạo hay không!
Christmas là mùa vui; nên tui xin kể chuyện vui!
Chữ có câu rằng: “Chàng đi cho thiếp theo cùng! Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam!”
Người con gái Việt Nam mình dễ thương như vậy đó, khi yêu là OK Salem hết ráo, gì cũng đặng! Chỉ duy có một cái, em rất cương quyết giữ miết, là cái họ và tên của Tía Má đặt cho lúc em mới chào đời!
Chớ con gái Tây phương như ở Úc nầy thì khác nhe!
Em lấy chồng là bỏ quách cái họ của Tía em để lấy cái họ của anh yêu.
Đời em mà qua cầu, gãy đổ, chừng 5, 7 lần là em có 5, 7 lần cái họ khác nhau đó.
Hồi thì bà Brown (Nâu) vì chồng em là ông Brown! Rồi bà Green (Xanh) vì chồng em là ông Green. Rồi bà White (Trắng) vì chồng em là ông White. Cuối cùng là bà Black (Đen) vì chồng em là ông Black!
Em nầy là con tắc kè; vì đổi màu lung tung hè! Cuộc đời tình ái của em sao mà giống bức tranh lập thể của Pablo Picasso rất nhiều màu sắc.
Nhưng trường hợp em Hồng mao (cái lông… chưn màu hồng) là chuyện khác!
Chẳng qua em tên là Mary Young; nhưng khi em về ‘nâng khăn móc túi’ anh Brian Christmas thì tên em thời con gái, nhũ danh là Mary, thì em vẫn giữ nhưng họ đã chuyển qua họ của anh yêu rồi nên khuê danh (tên lúc có chồng) thành Mary Christmas.
Mà ‘Mary’ thì đồng âm với ‘Merry’; nên tên em ‘Mary Christmas’ giờ phát âm y hịt như là ‘Merry Christmas’.
Thế nên người ta chỉ chúc nhau năm một lần vào mùa lễ. Còn em bất cứ ai gọi đến em đều chúc em một mùa Giáng Sinh vui vẻ! Suốt 365 ngày một năm. Nên em sướng nhé!
Nên em cho rằng ông Trời thực có óc hài hước nên mới ghép duyên em với người đó… như thế đó ?!
Nhưng thực ra không phải ông Trời ‘đặc cách’ gì em đâu. Mà ngoài em ra, trong cuốn gia phả của nước ‘Mẽo’, có hơn 100 bà cùng có tên ‘Mary Christmas’ như em vậy đó! Nên đừng vội mà… mừng hụt!
(Bà con mình cũng biết rằng họ Christmas nầy, thoạt kỳ thủy, xuất phát từ xứ Wales, dành cho người nào mở mắt chào đời, cô mụ vỗ vô đít một cái rõ đau, khóc oe oe vào chính ngày Giáng Sinh đó!)
***
Đó là về câu chúc mùa Giáng sinh. Còn bây giờ là lời ước mùa Giáng sinh của trẻ lẫn già nhe!
Chuyện rằng: Mary Christmas giờ là mẹ đơn thân, tức ‘single mum’, một mình nuôi dưỡng thằng con, mới vừa lên 8 tuổi, tên Happy. Dĩ nhiên họ tên đầy đủ của thằng bé là: Happy Christmas!
Happy nghĩa là vui nhưng thằng bé lại buồn; vì hỏng có ai chơi với nó hết ráo hà! Nên Happy Chirstmas lấy giấy ra, nắn nót viết một bức thơ gởi Santa Claus với lời cầu xin là: “Xin Santa Claus hãy gởi cho con một đứa em!”
Santa Claus đọc xong rất hào hứng, gởi ngay tin nhắn cho Happy Chirtsmas rằng: “Hãy gởi ngay Mẹ con đến đây nhé!”
Rồi cũng có chuyện rằng: George làm thư ký cho Ty Bưu điện. Nhiệm vụ của George là xem xét những bì thơ mà địa chỉ do người gởi viết tháu, không rõ muốn đi đâu, George rán tìm để giao xuống cho Bưu tá phát trúng nơi mà thơ muốn đến!
Một hôm, trước lễ Giáng Sinh, có một bức thơ mà ngoài bì chỉ đề ba chữ: “Gởi Santa Claus!” Ngoài ra không có thêm chữ nào hết ráo trọi.
George bèn dở thơ ra đọc. Nó như vầy:
Santa Claus kính mến!
Con vừa được 73 tuổi già. Chồng con đi bán muối đã lâu nên con cô đơn lắm!
Con có đăng báo tìm bạn bốn phương, nối dòng lá thắm. Điều kiện phải có việc làm, không ghiền rượu, không ghiền xì ke, ma túy, không đánh bài, đánh bạc, hay cá đua ngựa. Nếu hợp, sẽ tiến tới hôn nhân. Nhưng quan trọng nhứt là phải làm chủ một căn nhà đã trả hết nợ nhà băng. Xin gởi hình căn nhà!
Đáp lại lời rao kết bạn bốn phương của con, có một chàng từ miền Viễn Tây bay tới, sau khi hình ảnh căn nhà ảnh gởi, chu choa, không phải là nhà mà là một Tòa lâu đài, có bảng tên đàng hoàng là ‘Viện Dưỡng Lão!’
Tuần tới là Giáng Sinh và con đã lỡ miệng, mời ông bạn già đó, đến tệ xá một chiều đông, nhăm nhi chút rượu và hàn huyên tâm sự trong buổi chiều, cả hai đều bóng xế!
Nhưng hôm qua đi chợ, có đứa nào đó chơi ác đạn cu li, đã móc túi lấy mất cái ví tay của con rồi!
Trong đó có 100 đô; là tất cả số tiền con có! Mà tiền già đợt tới phải sau Lễ Giáng Sinh mới có!
Bị móc túi hết tiền, thì tiền đâu mua đồ ăn đồ nhắm và rượu đây? Gia đình con, chị em đều chết hết ráo rồi… nên không còn ai thân thích để mà vay mượn đỡ.
Thế nên chỉ còn Santa Claus là niềm hy vọng duy nhứt còn lại của con thôi! Santa ơi xin hãy giúp con! Hãy gởi cho con vay 100 đô Úc! Lãnh tiền già đợt tới, con sẽ trả đủ kèm theo tiền lời 17 % có cộng thêm thuế GST!
(Hỡi ơi! Bà cụ nầy cứ nghĩ ông Santa Claus là nhà băng hay sao mà lúc nào cũng có tiền kè kè trong tủ sắt!?)
George đọc thơ xong rất lấy làm cảm động! Bèn, dưới sự ủy quyền của Santa Claus, hồi âm là: “Con hãy cầu nguyện cho Santa Claus trúng số TattsLotto nhé!”
***
Thưa bà con không phải chỉ riêng có bà cụ nầy cần tiền mới gởi thơ xin Santa Claus đâu; mà quý thầy phú lít ở thị trấn Marignane gần thành phố Marseille, nước Phú Lãng Sa, đã từng gởi thơ xin y như vậy đó!
Thơ vầy: “Santa Claus thân mến!
Lực lượng Cảnh sát của chúng tôi, mùa Giáng Sinh nầy, có thể được Santa Claus tặng cho một chiếc xe tuần tra mới hay không?”
(Bì thơ với in ấn huy hiệu của đồn Cảnh sát địa phương, viết trên giấy dùng để ghi biên bản chánh thức của Cảnh sát đàng hoàng nhe! Chứng tỏ đây là một hành động rất nghiêm túc; chớ không phải trò đùa cùa mấy thằng Cảnh sát hỏng có chuyện gì làm, ở không nên rắn mắt, bày chuyện tầm xàm bá láp!)
“Santa thân mến!
Chiếc xe tuần tra của lực lượng Cảnh sát chúng tôi không còn đáp ứng một cách có hiệu quả cho công việc giữ gìn an ninh trật tự cho đồng bào ta được nữa!
Nếu Santa cho rằng chúng tôi nói quá, phóng đại, thì Santa có thể tự tay mình lái thử đi thì sẽ thấy.
Ngay cả con tuần lộc của Santa, nó còn chạy nhanh hơn chiếc xe tuần tra của chúng tôi nữa đó!”
Bức thơ nầy được in trên tuần báo địa phương trong mục: ‘Chuyện Giáng Sinh’ thì mấy quan lớn, đầy tớ của nhân dân, thuộc Tòa Thị Chính sở tại đã đồng ý xuất ngân quỹ thành phố ra mua cho mấy thầy đội nầy một chiếc xe mới cáu chỉ để rượt đuổi, truy bắt bọn tội phạm!
Chớ bấy lâu nay Cảnh sát cứ chạy chiếc xe từ đời tám hoảnh nầy, chỉ có việc hửi khói và bọn đầu trộm đuôi cướp nầy nó cười vào mũi.
***
Thưa bà con! Lễ Giáng Sinh ở Nam Bán cầu nầy đây, oái ăm thay, nó rơi vào mùa Hè nóng chảy mỡ đi. Mồ hôi, mồ kê cứ chảy ròng ròng! Thành thử tui không bao giờ cho đám cháu của tui chụp hình kỷ niệm Giáng Sinh với Santa Claus Úc bao giờ.
Vì mấy chả nách… hơi ‘bị’ hôi vì mồ hôi nhiều quá. Lỗ mũi ai mà chịu cho nổi chớ?!
Tuy nhiên những nước đối xứng với nước Úc qua đường xích đạo, thuộc Bắc Bán cầu, thì mùa Giáng Sinh là chính Đông; nó lạnh quéo luôn. Teo hết ráo!
Nên anh Ba Xị, người bạn học cùng lớp ngày xưa của tui, giờ bèo dạt hoa trôi tới tận xứ lạnh tình nồng, Toronto, Canada, nằm nhà, rót một ly rượu ông Già chống gậy, Johnny Walker’s, blue label, nhãn xanh, tới 200 đô một chai, ngồi sát bên bà xã, cái lò sưởi 37 độ rưỡi; nhưng e chừng không đủ ấm! (Ôm mới ấm! Chớ ngồi gần, chả ăn thua gì?!)
Ba Xị bỏ thêm củi vào lò sưởi đang tí tách cháy; thì cô công chúa, tiểu thơ, con của ảnh, từ phòng ngủ bước ra, miệng chúc: “Merry Christmas!”; tay đằng sau lưng chìa tới cho Ba Xị quà Giáng Sinh là một cái hộp có dán giấy màu sặc sỡ.
Theo lệ thường của Tây, nên anh Ba Xị bắt chước làm theo, nhập gia tùy tục mà; mở hộp quà ra luôn trước mặt con mình!
(Chớ không phải như tui, nhận quà thì để nguyên xi đem về, chờ mai mốt có ai mời tiệc đầy tháng, thôi nôi sinh hay sinh nhựt gì đó, tui đem đi tặng lại… cho nó đỡ tốn tiền!)
Ai dè mở ra cái hộp không hè! Ba Xị cự nự: “Ê con nhỏ kia! Tặng quà mà đưa cái hộp không là hỗn hào vô phép lắm nha!”
Con bé nghe Tía Ba Xị của mình rầy oan, phụng phịu muốn khóc, cà hước, cà hước:
“Trong cái hộp con đã bỏ đầy ngàn cái hun dành cho Tía đã cực khổ cày như trâu, nuôi con và Má suốt cả một năm qua rồi đó! Tía không thấy hay sao?”
Anh Ba Xị nghe con gái cưng mình nói vậy cảm động đến rưng rưng nước mắt. (Vợ mình có bao giờ nói được những lời dấu yêu dành cho mình như con gái của mình đâu he?!)
Mỗi sáng, tôi vẫn có mặt dưới đường hầm khoảng 7.30. Tứ thời bát tiết đều vậy, nếu có sai biệt năm bảy phút là lỗi của chuyến buýt mang tôi tới đó, chứ người ngợm tôi đã như con robot chạy đúng lập trình. Battery chưa hỏng hóc yếu kém và hình như vi trùng chưa đến hồi thâm nhập làm rối loạn những mạch điện trở.
Trạm đợi trong đường hầm metro khá dài, có thể muốn làm vui mắt, người ta đã kiếm cách treo dọc những tấm poster quảng cáo đủ mọi thứ có thắp đèn đằng sau và tôi luôn đứng chôn chân đối diện với một cô gái mặc áo tắm hai mảnh. Da dẻ rám nắng, cơ thể săn chắc với hậu cảnh là một bãi biển xanh tiệp màu trời. Cuba hay Mexico thì chẳng rõ nhưng chắc hẳn chốn ấy không có tuyết rơi như chốn này. Nóng toát mồ hôi chứ chẳng cảm mạo ho hen run từ trong xương run ra. Năm bảy lớp áo xống đùm đụp mà ngó qua một kẻ điện nước đầy đủ thiếu đường lột truồng đang trửng giỡn với biển mặn nhằm quảng cáo cho công ty du lịch đường hàng không thì ngẫm cũng oái ăm, nhỉ!
Cũng chỗ này đứng trông sang, cảnh quang bên nọ non tháng là đổi thay. Trước, tôi dòm ra một dãy condo đường bệ tân kỳ, bán hoặc cho thuê. Thoáng cái, tấm bích chương quảng cáo phim “Ngày Tận Thế” 3D rùng rợn trám chỗ. Nhàm con mắt tình này huống nọ mãi thao diễn thì giờ đây là đóng khung một kẻ da thịt phì nhiêu bẹo hình bẹo dạng. Mỗi sáng sớm tôi được rửa mắt và tai tôi chừng như đang nghe có tiếng sóng vỗ rì rào từ bên đó tràn qua. Tôi nhớ biển, nhớ da diết một địa danh và tôi đã bần thần vì chốn đó mang trùng với tên em: Thuận An.
Tới bảy giờ bốn mươi a.m thì em xuất hiện. Mỗi ngày chúng tôi hẹn hò nhau ở trạm này để cùng lên tàu điện chạy đến chỗ làm. Với tôi, đó là thứ điểm tâm cung cấp nhiều năng lượng trước khi lao động. Tàu lao đi, băng qua sáu trạm thì đến chỗ buộc phải không còn đứng bên nhau, Thuận An biết nơi tôi cày bừa xa ngái phải lắc lư thêm bốn trạm nữa mới tới và em nói, như vậy thiệt cho anh quá, phải 9 giờ mới bắt đầu, đi sớm thế anh biết cách gì để đốt thời gian? Anh sẽ vào quán gọi một cốc cà phê, nếu trời ấm anh sẽ bảo “mang đi” rồi cầm ly giấy ra ngoài hàng hiên đứng hút thuốc. Nóng hay lạnh thì quanh quán cà phê ấy luôn có đàn chim không rõ lai lịch vẫn tụ bầy trên giây điện lãnh lót hợp xướng một bài, anh nghĩ là tình ca, nghe sướng đôi tai. Đôi tai mà trước đó nó hứng đọng lời em nhắn gửi: Hút thuốc có hại cho sức khoẻ, chừng nào thì anh nghe lời em để từ bỏ thuốc. Tây đầm chúng thường hôn nhau, chúc nhau một ngày lành trước khi tạm biệt. Anh đứng yên và em quay bước khi cửa tàu mở, chỉ ngần ấy thôi, đôi ta chưa thể làm khác hơn. Qua sông, nếu chẳng có cây cầu bắt ngang thì người muốn quá giang phải luỵ đò. Sức người quá hạn, anh không biết bơi và con sông chắn giữa đôi ta tuyệt chẳng hiện hữu một con đò hoặc hình ảnh cây cầu cho dù là cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi. Chúng ta chui xuống đường hầm, thứ hai tới thứ sáu mỗi sáng, đứng bên nhau khoảng mười lăm phút, nói dăm câu vô thưởng vô phạt về chuyện nắng mưa và tàu dừng, và tàu chạy, và đường ai nấy đi. Và tôi chưa nói trắng cái nguyên cớ vì sao siêng dậy sớm trong lúc phải 9 giờ chuông mới reo trong hãng xưởng, áo mão chỉnh tề để đứng lẻ loi chưa lại thần hồn trong đường hầm u u tiếng gió. Rằng tôi rất muốn nhìn thấy em mỗi ngày, nghe giọng em bâng quơ thường là phê bình hoặc trách cứ tôi. Rằng ít ra thì tôi lỡ phải mang ơn nhà thơ Vũ Hữu Định: “May mà có em đời còn dễ thương”. Sẽ buồn cho tôi khi hôm đó em “nhác chơi” không nhìn thấy tăm dạng, tôi đến chỗ làm và năng suất lao động hao hụt thấy rõ. Khi đồng minh tháo chạy, em nên hiểu là nó gây thương tổn biết dường nào cho đứa nhẹ dạ cả tin. Tan hoang, đổ nát và bể dâu hiện hình. Có một chuyện tôi từng tâm sự với em, tôi nói: Anh mang ơn Thuận An, vì Thuận An đã giúp anh xuôi chèo mát mái. Trước, anh nhờ Nha Trang, anh nhờ Thanh Bình Đà Nẵng thảy đều thất bại đổ bể. Anh bị tù với tội danh phản bội tổ quốc. Anh lì lợm tiếp tục phản bội mà may phước cho anh, Thuận An với sóng bạc đầu gầm thét xua đuổi anh ra hải phận quốc tế để một đêm tối trời anh mang lý lịch mới: Vô tổ quốc. Thuận An ơi, còn gì tủi hổ hơn khi thằng người mãi say sóng ấy chịu thêm nỗi dật dờ: Vô gia đình.
Sáng ấy trời rét hơn thường nhật, tháng hai vẫn có những cơn gió bê nguyên khối giá băng từ Bắc cực tràn về. Cái lạnh nhắc tôi về hình ảnh những nụ mai vàng hé nở chào Xuân, năm hết tết tới phía bên kia bán cầu. Cô gái mặc áo tắm đùa nghịch cùng biển cả đã trốn mất, thế chân là bích chương quảng cáo cuộc triễn lãm tranh sơn dầu của các danh hoạ phái ấn tượng được sự hợp tác quý báu từ viện bảo tàng của Paris giúp sức. Những sắc màu những đường nét sáng tạo ở vào đôi ba thế kỷ xa xưa kia như biết làm cho khoảng đường hầm này vơi hẳn sự nhiệt náo. Hoặc ít ra nó khiến thời gian phải đình trệ trong khoảnh khắc để khi chờ em tới tôi không nghe ra sự bồn chồn. Dẫu sao tôi linh cảm là Thuận An sẽ nghỉ làm bữa nay, những chuyến tàu đã vụt qua và tôi đang ở cuối lằn ranh đợi trông, tôi cần một rời đi trước khi chuông đồng hồ thong thả đổ xuống 9 tiếng. Tôi vẫn biết có nhiều người tự cho phép mình thong dong trong ngày đầu năm nhưng em không thuộc hạng người đó. Giống tôi, đã ngập đầy tháng năm mụ mị, Thuận An chẳng còn biết đến Tết. Chữ ấy được ai đó nhắc tới, thoáng qua tai và nó không gửi lại một thông điệp gì quan trọng. Dần dà nó sẽ chìm quên, sẽ biến mất trong cuốn tự điển của bộ nhớ. Vậy thì Thuận An ở nhà, không đi làm do bởi một lực cản trở bất ngờ, hơn là cái nguyên cớ xằng bậy mồng Một mồng Hai tinh khôi năm mới đón đường.
Thứ Tư thứ Năm và thứ Sáu tôi vẫn đi đúng giờ, vẫn đợi trong lẻ loi và vẫn chui đầu lên mặt đường ngập tuyết ghé mua một ly cà phê mang đi. Tôi chung tình, là khách quen của hàng quán ấy, đánh đổi bằng bộ mặt thân thiện của thằng đứng bán, hắn luôn thay đổi cách xưng hô, khi thì “Chào ngài Đại uý”. Khi thì “Ông sếp có khoẻ không?”. Khi thì “Người bạn lớn”… Điều này không làm sứt mẻ 3 đô, số tiền tôi phải trả cho ly cà phê size trung bình. Cà phê là thứ dung dịch đen đúa mang nhiều chất bổ dưỡng cho cơ thể, mỗi ngày có khoảng tám phần mười dân số trên hành tinh này uống lấy nó. Khi vui cũng ực khi buồn cũng xơi. Hôm nay đặc biệt đàn chim thôi tập trung trên dây điện hót líu lo, tôi đứng với sự câm lặng của tuyết khi chuyên cần rơi xuống mênh mông một khoảng trống vắng. Tôi co thân dưới mái hiên, cà phê và thuốc lá dần dà giúp đầu óc tôi chút minh mẫn: Rằng nhà ngươi phải nên cất công dọ hỏi cho ra lẽ. Điều gì đã xảy đến với Thuận An?
Hôm chủ nhật, khác với ngày trong tuần, tôi mặc bộ áo quần nghĩ là tử tế nhất, chỉ tuyền sắc đen. Tôi nghe tiếng chuông giáo đường đổ từng hồi ở chốn xa, hồi chuông như làm cho bông tuyết thêm vỡ vụn bay quàng xiên giữa khoảng không trắng ngần. Nhà thờ không là nơi tôi ghé tới, tôi sẽ dùng metro đi gấp đôi lộ trình hàng ngày để xuống đúng trạm cuối, nơi mà tôi băng qua hai ngã tư thì đụng mặt với nhà quàng được chưng bày thứ cảnh quang lạnh lẽo từ cổng cho tới tuốt đằng sau những bức tường xám xịt màu béton. Tôi sẽ nhìn thấy Thuận An và con tim tôi như đang thắt lại. Mọi thứ dường như chìm trong câm lặng hoặc đặt để đôi chân vào hành lang trải thảm màu huyết bầm này người ta cố gắng thực thi lời “cảnh buồn người có vui đâu bao giờ”. Vui mới mồm năm miệng mười. Buồn thì anh nên ngậm miệng hến. Anh rón rén, anh ngại ngần và nếu cần anh làm ra vẻ nhăn nhó chực khóc. Có năm bảy người đứng sắp hàng trước cái bục gỗ, cuốn vở lớn đã từng lật giở những tờ giấy trắng đang chận giữ họ để khiến họ nghịch tay vào cây bút, bôi bẩn thứ gì đó, cào xé vào lòng giấy. Tôi nhớ lại một câu chữ đọc trong cuốn sách ngày đầu tôi được định cư chốn này: “Chỉ năm phút sau khi chào đời, người ta khai sinh ra tên bạn, quốc tịch, tôn giáo, màu da… và rồi suốt cả cuộc đời, bạn phải chống chọi với những thứ mà bạn không hề có được sự chọn lựa”. Tôi quen Thuận An và tôi hằng tin đó là sự chọn lựa đúng đắn.
Đứng như loài hoa khiêm nhượng trong góc vườn, Thuận An nhìn thấy tôi và cả hai cứng thây bước chậm thu ngắn dần khoảng cách. Một vòng băng trắng quấn trên đầu và mùi khói nhang, chừng ấy thứ đã làm cho gương mặt em xanh gầy tuồng đã mất sinh khí. Chỉ còn đôi mắt ướt là linh hoạt, nó đang lưu trữ hình dáng một thằng người suốt tuần đã chẳng trông thấy nhau. Mặt đất như chết tiệt sức hút, em xiêu thân và tôi vội ôm lấy em, thổn thức. Sẽ chẳng có ngôn từ nào thích hợp cả, trong lúc này nếu bạn nói ra. Tôi chỉ biết dùng tay vỗ về ở lưng ở vai em. Bình thường chúng tôi chưa từng ôm lấy nhau và đến khi nghe rõ tiếng nhịp đập của trái tim vọng dội qua bao vách ngăn, nước mắt đổ ra và nhắc nhớ tới một niềm đau chẳng gì bù đắp được. Lý do của sự kề cận không gì khác hơn là cái chết. Tôi nhìn tấm ảnh đen trắng đặt trên bàn thờ nằm trước quan tài người vừa xuôi tay. Ba của Thuận An từng là cựu sĩ quan của quân lực miền Nam và ông từng không biểu lộ sự thiện cảm khi tôi đến nhà. Tôi phép tắc chào ông và “kỷ niệm” giữa hai người chỉ xảy ra có đôi lần. Tôi đủ khôn để hiểu một đứa cày sâu cuốc bẩm trên cánh đồng nhiều gió chướng như mình sẽ muôn đời chẳng đủ tư thế để gọi ông là bố. Ông là hình ảnh rập khuôn của ba tôi ngày cũ. Thương con gái mình, không gì khác hơn là mong cho con quen được một thằng người ngó tử tế, cái tử tế tính luôn tới công ăn việc làm.
Thuận An nói, có lẽ là hai đứa tạm vắng xa một thời gian. Đang chịu đại tang, đồng ý, nhưng điều luật nào bắt chúng ta phải tuân thủ cảnh đôi đàng cách chia? Khoan, em chưa nói hết. Ba em muốn rải tro cốt xuống dòng sông Hương và do vậy em phải về Huế để thực thi ước nguyện ấy. Rất tốn kém, rất nhọc sức, rất mệt mỏi nhưng bù lại em sẽ vui vẻ đảm nhận công việc đó. Em đã lấy vé… và như thế…
Và như thế tôi vẫn chuyên cần đi làm từ thứ hai đến thứ sáu mà không màng tới ba ngày Tết bạn nên xuất hành vào giờ nào, đi hướng nào để cả năm được thông suốt. Không còn gặp em, tôi dậy trễ hơn đi làm muộn hơn và vẫn đón nghe thằng bán cà phê xởi lởi: Chào Đại Uý buổi sáng. Tôi phải trả 3 đô 95 xu vì lấy cái ly to khủng. Hết nhìn ra em lóng rày tôi uống nhiều cà phê cũng như siêng đốt khói cho ấm bờ môi. Tôi vẫn đứng bên hiên quán, dưới bầu trời tuyết đổ. Tôi nghĩ tới chuyến tàu cuối cùng sẽ mang tôi đi trong thinh lặng. Có nên nằng nặc đòi hỏi phải mang đống tro tàn nhọc xác về trút xuống cố quận. Tôi đã thành thằng người Gia-nã-đại, nếu được, xin vui lòng cho tôi nằm xuống trên dòng St-Laurent. Và Thuận An ơi, liệu khi ấy em còn giọt nước mắt nào đổ xuống bề mặt một con sông đang đóng băng? Em đi về quê mạnh giỏi, đề phòng cướp giật, coi chừng xe cộ và cẩn tắc chuyện ăn uống. Có như vậy đôi ta mới còn nhìn thấy lại nhau. Ừ, thì hẹn gặp mặt sau đôi ba tháng đằng đẳng, dài bằng cách hoá thân của mùa màng đông xuân thu hạ. Cuộc đời đã không cho ta một chọn lựa nào khác, phải rứa không Thuận An? Muốn an lành phải nên thuận thảo?
Chuyện tôi sắp kể có thể có bạn không tin. Viết truyện, tôi luôn hư cấu thêm mắm nêm muối nhưng lần này thì không, nói theo kiểu người còn ở trong nước rằng thì là “hơi bị vô tư”. Chuyện gì thế? Ô, chuyện về một con mèo. Động vật bốn chân hẳn hoi chớ không phải mèo hai chân có bí danh “bồ nhí”. Vì sao đàn ông ngoài chuyện thích ăn phở họ còn chùng vụng dại khờ việc mèo mả gà đồng? Lãnh vực này hôm khác sẽ viết riêng một bài dài sau khi đã tra cứu tài liệu do các nhà phân-tâm-lý-học bỏ công thăm dò soạn thảo (cũng nên hội ý với mấy ông bác sĩ thú y chuyên trị về mèo?). Bỏ qua đi nghen, bị đang nói tới mèo bốn chân, về con vật có lắm người chẳng thích nuôi, nghe meo meo tưởng nó trù yểm cho mình nghèo suốt kiếp.
Tôi nhớ lại thời tiểu học, giờ tập làm văn từng cắn bút trước cái đầu đề cô ra: “Em hãy tả về một con thú cưng đang nuôi và trình bày những cảm nhận về nó”. Nhà tôi dạo đó nuôi tới hai con, một chó một mèo. Tôi thấy con nào cũng đáng nói cả, về tính tốt cũng như thói hư tật xấu và vì vậy bài luận văn của tôi bị cô phê mực đỏ: “Luộm thuộm, dài dòng, lạc đề. Chọn một trong hai con thôi chớ!”. Tuy không ăn hột vịt nhưng điểm thấp, gần đội sổ. Tấm bé đã học được kinh nghiệm là chớ nên thương yêu bao đồng, mai sau có vợ bên lưng thì đừng mơ mòng tới bồ nhí nghe cưng! Thuở nhỏ tôi học rất dở, không cứ là luận văn, môn toán đố cũng chẳng mấy khi được chia tay giã từ zéro, thầy quen tên và quen tay cứ cho “hắn” số không miết. Một lần thầy dạy toán chỉ mặt tôi: Bây giờ tôi cho em hai con mèo, thêm hai con rồi cho tiếp hai con. Như vậy tổng cọng em có được mấy con mèo? Tôi đáp: Bảy. Thầy lắc đầu: Này, hãy nghe lại cho rõ nhé, lần đầu cho hai con lần sau thêm hai lần cuối cho tiếp hai, cả thảy được mấy con? Tôi nói: Bảy. Lại lắc đầu, mặt nhăn nhó. Thôi thì thế này, bây giờ tôi cho em hai viên bi cho thêm hai viên rồi thêm hai viên nữa. Em có mấy viên bi? Sáu. Giỏi. Vì sao bi lại đáp đúng mà mèo thì tính sai. Răng trò cứ đòi nhét thêm một con vô rứa ? Thưa thầy, tại em có sẵn một con ở nhà…
Con mèo, nhân vật chính trong chuyện kể sau đây mang tên Katy. Không phải là con mèo tam thể thời xa xưa đã chết mất đất. Bất đắc dĩ tôi nuôi nó, chẳng đặng đừng do bởi bạn dọn nhà đi xa, vợ chồng hắn có tới ba con mèo nheo nhóc bèn vất bớt cho tôi một con kèm mấy chữ “giữ làm kỷ niệm”. Ở đời bộ hết cái giữ làm kỷ niệm rồi sao tía má? Vợ chồng nhà ngươi thật là không biết chơi chữ! Thấy tôi chẳng phản ứng gì, bạn bồi tiếp: Vì mỗi lần mày ghé tao, trong ba con thì Katy luôn tìm cách lân la cọ quẹt vào người mày. Katy cũng từng dạn dĩ nhảy vào lòng mày, mắt lim dim, nhớ không? May mà chữ duyên số hắn không dùng tới trong trường hợp này. Hắn vốn rất đào hoa, có nhiều người tình, hắn kể với bộ mặt tự cao tự đại rồi kết luận: Cuối cùng lấy bà này làm vợ thì rõ là do duyên số sắp đặt.
Bạn có tin tôi nhận nuôi con Katy là do duyên số xúi không? Đi làm cả ngày, đóng cửa cài then nhốt giữ con vật nội bất xuất ngoại bất nhập nằm im re trong nhà, nghĩ cũng áy náy. Nhưng tình ngay mèo là con thú lười biếng không có tính năng động như chó nên lương tâm “ông chủ” tạm nguôi ngoai, thôi bị gặm nhắm vào hai chữ ác ôn. Có mặt hay vắng bóng mình thì nó đâu quan hoài tới. Ngoài chuyện “như mèo dấu cứt” giống nòi nó cũng thuộc hạng kín tiếng rất mực, chỉ kiệm lời meo meo chừng như muốn diễn đạt: Đói bụng rồi đây này, kíp bày thức ăn ra ngay.
Thiết nghĩ bài luận văn hôm nay đã khá dài phần nhập đề, sợ luộm thuộm lạc đề tôi xin được vào phần thân bài (kẻo bị cô la ngựa quen đường cũ). Hôm đó, chẳng phải một sớm sương thu đầy gió lạnh. Bữa nọ, trời chiều nhá nhem tôi vác xác nhừ tử từ hãng xưởng về nhà thấy có đôi ba ánh đèn chớp đỏ bắt trên trần xe đậu ngay trước chung cư nơi tôi thuê ngụ. Bà Yarek người Ba Lan mướn căn sát nách đang đứng ngoài sân hóng tin, thấy tôi liền thông báo cớ sự bằng thứ tiếng ấp úng khó hiểu thường lệ của bà, chưa vô thân bài thì một ông cảnh sát bất thần đứng chen vai: Phải ông Trần không? Ở căn số 12? Ông nói thêm một câu, có thể suy đoán diễn dịch: Còn ai trồng khoai đất này! Tôi hơi tái mặt, cố giữ bình thản: Chuyện gì đã xẩy ra? Vị cảnh sát sửa lại thắt lưng quần mang lắm “đồ nghề” bằng sắt thép dễ làm giảm thọ chúng sinh: Tôi có dọ hỏi những người sống quanh nhưng tôi muốn chính ông trả lời, bởi vì những kẻ độc thân không hẳn kẻ đó chỉ côi cút mình ên. Hiện tại ông đang sống với ai? Tôi thưa: Thông tin mà ông thâu nhặt quả chính xác. Bộ đồng phục khó ưa của ông ta làm tôi mất hứng, nếu không chắc tôi đã hát thể điệu boléro: Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không xong… Lạ nhỉ? Thế thì ông vắng nhà lúc mấy giờ? Dạ thưa tôi làm công nhân bảy giờ ra khỏi nhà năm giờ trở lại chốn phát xuất, bốn mươi hai tiếng một tuần từ thứ hai đến thứ sáu, mười năm nay chưa một ngày cáo ốm, quay như vụ. Người bạn dân cười toe. Hẳn là được trao bằng cấp Công Nhân Gương Mẫu có lộng kiếng? Lạ thật. Chắc tớ phải theo ông vào nhà thử xem sao? Tôi moi trong túi quần ra xâu chìa khoá: Nãy giờ quý vị vẫn chưa cho tôi hay chuyện gì đã xảy ra. Ồ, là thế này, khoảng tiếng trước có người gọi số 911 mà chẳng thông báo việc khẩn cấp, hỏi gì cũng mần thinh. Theo đường truyền chúng tôi dò ra địa chỉ ông là nơi phát xuất cuộc gọi. Sống đây mười năm ông từng gặp ma chưa, ông Trần?
Tôi mở hai ổ khoá gắn ở cửa phòng, bấy giờ có thêm ba người cảnh sát vũ khí tận răng e dè bước theo tôi. Điện thoại tôi đặt trên bàn viết nằm ngoài phòng khách nên mở cửa, đi dăm bước là tới nơi. Điện thoại tôi thuê ở công ty Bell, lựa thứ rẻ tiền nên kiểu dáng không mới chẳng cũ và hiện tại ống liên hợp đã rời ra khỏi vị trí ngơi nghỉ, nằm ngửa thân trên bàn, rõ là có kẻ đã mó tay, đã “nai oan oan” oan ôi ông địa. Theo phản ứng, có hai vị cảnh sát đã rút súng ra khỏi bao. Tôi nhìn quanh, đồ vật y nguyên không có dấu tích của đạo chích vào lục soạn. Mà giả như có trộm cướp vào, chúng đời nào buồn tay nghịch tới cái điện thoại rồi vất lăn vất lóc ra đó. Có là điên mới lạy ông tui ở bụi này!
Một vị cảnh sát đã lẻn lui sau bếp, nói vọng ra: Ủa, một con mèo! Nó vào từ lối nào nhỉ? Ồ, mèo tôi nuôi mà, nó tên Katy. Ố là la, sao hồi nãy lại bảo là sống côi cút mình ên. Ủa, tôi tưởng là chim cá mèo mình nuôi làm cảnh thì không cần phải khai báo. Theo đúng với nghiệp vụ, họ đi dòm ngó loanh quanh kiểu vạch lá tìm sâu. Ngoài con mèo này ra, ông còn nuôi con gì khác? Nuôi chỉ mình nó thôi ạ. Katy khoan thai đi tới cạ mặt vào ống quần, nó nhìn lên tôi bằng đôi mắt xanh vô cảm như thông lệ. Đuôi vất qua vất lại như phủi bụi từ vết giày mấy ngài bạn dân mang từ cõi bất an vào tới chốn yên hàn cô quạnh. Mất khoảng hai chục phút hội ý với nhau, ba ông cảnh sát đi tới kết luận: Katy là thủ phạm. Còn chuyện do đâu nó chọn ba số “chết người” kia để nghịch chân thì tạm bỏ qua, hạ hồi phân giải. Vị cảnh sát từng hỏi “mười năm đã gặp ma chưa?” nhìn tôi lần chót, nói thế lời chia tay: Vợ tôi có nuôi con két biết giả giọng tôi, ngày nào cũng anh yêu em, mình vui vẻ chút xíu… Toàn một lũ yêu tinh… Vặn cổ thì sợ xúc phạm tới hội bảo vệ thú vật. Đề nghị ông máng cái điện thoại vào vách tường, cẩn tắc vô lôi thôi.
Tối đó, người cũng như thú ăn uống xong, tôi làm màn phỏng vấn bỏ túi với Katy: Mày có bất mãn điều chi trong cuộc sống? Mày dùng tới điện thoại để trình bày nỗi oan ức? Chủ cũ của mày điện thoại dài tới mười số nên mày nhác bấm? Katy nằm trên sofa nghe tôi độc thoại. Ừ, tao hiểu niềm cô đơn mày đang gánh chịu, giá mà trong chung cư này có chuột nhỉ. Chẳng biết khi ấy mày có vui không? Tha hồ canh me rượt đuổi, vận động cho khỏi bị cholesterol. Người ta biểu tao bắt điện thoại chỗ cao để mày thôi nghịch phá nhưng tao cho đó là hạ sách. Tao cứ giữ nguyên trạng, như vậy nhỡ bất tử tao có bị nhồi máu cơ tim thì mày nhớ bấm số 911 giúp tao nha.
Đang tính bồng Katy tới bàn đặt nó xuống sát bên điện thoại thử xem nó biểu diễn trò thủ thuật thì có tiếng gõ cửa. Bà Yarek ở bên căn số 11 hiện ra, vẫn trang phục y như hồi chiều và hình như bà thích mặc bộ đồ ấy. Cái váy rộng chẳng lấy gì làm mới, có thể kỷ niệm đáng nhớ bà mang từ Ba Lan sang, trên là chiếc áo khoác bằng vải thô in nhiều bông hoa đã bạc màu. Ông Trần, đã dùng bữa tối chưa? Sẵn nấu nhiều nên mang cho ông món đậu hầm sườn heo đây, chứa rất lắm chất đạm bổ khoẻ. Tôi mời bà vào, đón nhận cái bát còn ấm trên tay bà, mang thẳng ra sau bếp. Bà uống trà nhé? Khỏi, tao sang để hỏi cho biết chuyện gì đã xảy tới. Bà Yarek, gần năm chục tuổi, ở với đứa con gái chưa chồng mặc dù cô ta đã ngoài ba mươi. Hình như người Ba Lan chẳng biết câu “tam thập nhi lập” và họ cũng bỏ ngoài tai thành ngữ “đợi nước đến chân mới nhảy”. Chẳng nghe họ than thở nói bóng nói gió về cuộc sống thiếu mặt mũi đàn ông con trai của họ. Hai mẹ con rất ham chuộng món chả giò cuốn nhân thịt bằm với cua tôm tôi tự làm lấy. Họ nhắc cho tôi hay là trước đây nước họ và Việt Nam sau 75 cùng nằm trong khối anh em vô sản với nhau, rất mực gắn bó. Tôi ngó người con của bà Yarek, bây giờ tất cả đều bỏ của chạy lấy người, lưu lạc chốn lạ khi không mà ở sát vách nhau, hoàn cảnh xem ra vẫn còn gắn bó nhỉ? Họ cười tít mắt rồi xơi thêm cuốn chả giò khác sau khi dùng xà-lách bọc quanh bên ngoài cho đỡ phỏng tay. Ngấu nghiến, tợp bia, đưa cay rồi như chạnh lòng hỏi tới gia cảnh tôi, bạn muốn thử thách điều gì mà cứ mãi lui cui ngoài hãng xưởng rồi loay hoay trong xó bếp. Hai mẹ con như này còn buồn chết đi được, chúa ngó xuống ông cũng mủi lòng chẳng biết nói năng, gạt lệ thua buồn. Tôi đùa với hai mẹ con: Hỡi những kẻ bị cô đơn áp bức hãy đoàn kết lại!
Ba Lan gắn bó với Việt Nam ra sao tôi chẳng màng quan tâm, toàn một lũ đói kém chật vật cả, nhưng tình ngay dạo xấc bấc xang bang xưa cũ đó phim ảnh của Ba Lan cũng như Tiệp Khắc là vượt trội hơn hẳn mấy chú bác cô dì trong họ hàng cộng sản nghèo khổ. Cũng tình yêu gái trai da diết chứ không gân cổ nguyện chết cho chế độ. Hy sinh kiểu lãng mạn tiểu tư sản còn biết cởi áo này quần nọ, có đâu đồng phục tinh tươm đậy đệm chỉnh chu ôm chân lãnh tụ mà đang sống chuyển qua từ trần, trăng treo trên đầu súng AK 47.
Bát súp bổ khoẻ mà bà Yarek biếu tôi đặt trên bàn ăn, chưa kịp thưởng thức mặn ngọt thì Katy đã tiên hạ thủ vi cường, thọc chân vào bới móc nhắm sườn non mà rỉa thịt. Ngày mai mang bát đi trả phải sáng tác ra bài luận văn phát biểu cảm tưởng: Ngon cách chi, ăn vào không mập bề dài cũng nở bề ngang. Cảm ơn Yarek, mong tình hữu nghị song phương đời đời bền vững, bà đừng hở môi để khiến cho răng tôi lạnh nhé. Tôi có thuật chuyện nàng mèo Katy biết nhấn số điện thoại mà mặn duy ba số 911 ác ôn. Mặt bà Yarek tỉnh khô, không thèm bảo rằng ở cuộc đời này điều gì cũng có thể xẩy ra sá gì chuyện mèo vờn điện thoại. Có gợn lòng chăng là sợ nó buồn tình lại tái diễn trò cũ thôi. Sẵn ngồi không, bà kể truyện ngày xửa ngày xưa: Vợ một tay bạo chúa nọ muốn tìm trò tiêu khiển, biểu người chồng hôn quân chất củi nổi lửa rậm rật đốt chơi. Mấy nước nhỏ lân cận thấy sáng một góc trời tưởng hoàng thành nguy biến liền mang quân đến cứu. Bé cái lầm, người ta đang bày trò giải trí mà mấy chú, thật là mất hứng. Tháng sau thì một nhóm quan võ khởi nghĩa vào thành đốt trụi kho lương thực, lửa hừng hực sáng tỏ suốt năm canh. Chòm xóm láng giềng ngó thấy, nhớ lại trò đùa cũ nên mặc tình án binh bất động, bình thân như vại. Lần trước đã quê một cục rồi, ai hơi đâu mắc cỡ tới hai cục… Yarek kết luận, ví dụ mà mèo gọi 911 lần nữa thì cảnh sát cứu thương cứu hoả chẳng chộn rộn hú còi chạy quàng xiên tới đây đâu. Đó là luận việc theo kiểu tình hình bên quê tao, xuất quân không chính đáng kiểu đó thậm tốn kém công sức tiền bạc.
Một buổi tối, tôi vừa tắm rửa tẩy trần xong, đợi tóc khô sẽ đi ngơi thì nghe tiếng gõ cửa. Phải thính tai mới đón nhận vì thật sự tiếng động ấy tựa như mèo cào. Nếu người đứng ngoài là bà Yarek thì âm thanh phát ra phải thô bạo hơn bởi bà quen ăn to nói lớn. Tôi nhìn đồng hồ rồi đảo mắt tới cái futon, Katy vừa ngóc đầu lên, dóng đôi tai và đuôi ve vẩy. Tôi mở cửa, cô Katherine, con gái bà Yarek lách thân vào còn nhanh hơn loài mèo. Ngoài mùi nước hoa vướng đâu đó trên thân, Katherine còn mang vào phòng chút nồng độ cồn thường hừng hực nằm trong trong dung dịch rượu bia. Cô làm ca đêm trong một xí nghiệp sản xuất đồ lót phụ nữ cao cấp không thua công ty Victoria Secret, phải 12 giờ nửa khuya về sáng mới tan ca. Katherine nói vừa đủ nghe: Tôi vừa bị chúng nó sa thải, tôi chẳng muốn làm mẹ tôi lo âu. Tôi ngồi đây tới 1 AM có được không? Như kiểu vừa xong công việc đồng thời để bay bớt mùi rượu. Đâu có phiền hà nhỉ? Làm ơn khuấy cho tôi ly nước chanh. Mắc đái quá. Cô cởi áo khoác, ném cùng lần với cái túi xách lên futon khiến Katy đang nằm phải giật thót người phản ứng: Meo… eo…eo.
Hình như tôi đã say rượu. Cô ta nói khi đón lấy ly nước chanh đường. Ôi, trên cả tuyệt vời, hình như ngoài món chả giò ra thứ gì anh làm cũng ngon lành cả. Say rượu? Tôi không có kinh nghiệm về nó vì tôi rất ghét những đứa ôm cột điện mà gục đầu nôn mửa, miệng luôn lải nhải, áo quần xộc xệch. Katherine không nôn mửa vì Vodka nhưng cô đang lải nhải, đang xiêm y chễnh mảng và đang ôm cứng người tôi. Cô điều khiển tôi như đôi tình nhân đang dìu nhau trong điệu khiêu vũ bấn loạn rồi bất thần ngã người xuống futon. Katy chắc bất mãn vì đột ngột bị lấn đất dành dân, nó gào lên thứ tiếng sắc lạnh chưa từng có. Hãy gắn bó, hãy vỗ về tôi hỡi đồng chí mến yêu. Katherine nói như trong cơn mê sảng, đầu tóc màu hung đỏ đặc thù của cô rối bung khiến tôi ngạt thở. Tôi nhớ lời ông bà mình thường nói: Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Đồng thời cũng nhớ về tác phẩm nổi tiếng ở một đất nước xa xôi: Ba Lan mùa tuyết tan.
Nếu tôi kết thúc bài luận văn ngang đây chắc rằng thầy cô sẽ cho tôi ăn hột vịt? Vậy thì xin dọn lòng thòng thêm cái đoạn cuối cho ra đầu Ngô mình Sở: Hai hôm sau tôi điện thoại vô chỗ làm xin nghỉ, thành khẩn báo cáo: Nóng sốt phải đi gặp bác sĩ. Ông ấy người đồng hương, luôn mở đầu bằng lời cảnh báo là hạn chế việc ăn phở, có lắm chất béo, phải tìm cách vận động cơ thể, biết chơi quần vợt bóng bàn gì không? Cởi áo ra để nghe nhịp tim đập và đo huyết áp… Ố là la, sao cái lưng của cậu… Tôi cúi đầu lặng câm, có cho tiền tôi cũng không kể chuyện làm tình gay cấn với cô bạn láng giềng ngàn năm một thuở… Lạ thật! Này, cậu có ngủ với mèo à?
Như đa số các cô gái khác, bàn tay Katherine cũng có để móng dài và tô sơn hồng. Cô ôm tôi, để biểu cảm niềm hạnh phúc cô cũng bấu víu cào cấu các thứ nhưng… Tôi nói thật đấy, nhà cậu nuôi bao nhiêu con mèo cả thảy? 2+2+2=7 là bài toán vỡ lòng… Dấu vết để lại trên lưng là do mèo cào, tấy sưng và đang nhiễm trùng. Tôi ghi cho cậu đơn thuốc trụ sinh đi kèm với loại kem thoa ngoài da. Cậu làm gì để khiến mèo nó ghét đến nhường ấy? Mèo cái phải không? Nát nhừ cả lưng. Cơ khổ!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.