Bèo giạt

Hoàng Long Hải
Post by Sơn râu 13 Dec 2023

Bài 15

Thằng“Đế Quốc”



“Quê mẹ không dung,
Quê cha không đợi”.


Thằng “Ê-Rích” lo việc nước nôi thật chăm chỉ, đàng hoàng. Không ai chê nó vào đâu được.
Sáng sáng, từ thứ Hai đến thứ Sáu, – ngoại trừ những ngày nghỉ lễ bất thường, bữa nào nó cũng dậy thật sớm, xuống bếp nổi lửa bắt một nồi nước sôi to. Khi ngọn lửa đã cháy bùng, nó trở lên lầu, đánh thức mấy đứa bạn nó trong “Tổ Trật Tự”, theo phiên trực đã phổ biến tối hôm trước, xuống trại kêu gọi nhắc nhở đồng bào các tàu ở đảo Bidong chở qua thanh lọc hãy chuẩn bị, hoặc các tàu đã thanh lọc xong thì sẵn sàng để chuyển qua trại tỵ nạn Sungei Besi ở gần thủ đô Kuala Lumpur, hoặc làm vệ sinh trong trại.

Sân trước, sân sau, khu nhà có các phòng “phỏng vấn thanh lọc” quét dọn sạch sẽ, bàn ghế lau chùi sạch sẽ, không còn một chút bụi.

Nó vừa canh củi lửa ở nồi nước sôi, vừa nhắc chừng mấy đứa bạn lo làm cho xong công việc. Rồi nó bưng mâm ly tách, muỗng dĩa xuống bếp, lau rửa sạch – không còn một chút quặng trà hay caphê dính trên dĩa hay đáy tách. Lau khô ly tách xong, nó sắp ngay ngắn trên mâm rồi bưng ra dãy “nhà phỏng vấn thanh lọc”. Ở đó, giữa hai bậc cấp ximăng cao ngang ngực, nó kê một cánh cửa sổ sơn trắng, nước sơn còn tốt. Tấm cửa đó, trở thành một cái bàn đựng các thứ giải khát cho luật sư Cao Ủy, sĩ quan thanh lọc Mã Lai và các thông dịch viên đến phỏng vấn đồng bào tỵ nạn.

Bên cạnh bộ ly, dĩa, muỗng, nó đặt một bình thủy to – nước đổ vào bình là nước đang sôi sùng sục trong nồi – và “một bộ” gồm trà, caphê, đường. Gọi là “một bộ” vì mỗi ngày, nó phải bày ra ba thứ: Một bình caphê nhỏ, một hộp sữa đặc có đường, một hộp trà “caphê giựt” – tức là trà Lipton. Khi nói chữ “caphê giựt”, nó toác miệng ra cười vì hồi mới “giải phóng”, bộ đội Cộng Sản gọi trà Lipton là “caphê giựt” – và một hộp đường miếng. Mấy thứ nầy phải là “nguyên xi”, chưa khui mở gì cả. Cái nào hôm trước khui ra xài rồi mà còn thừa thì coi như bỏ. Thường thì thằng “Ê-Rích” và các bạn nó thừa hưởng của dư đó. Tiền mua các thứ giải khát nầy là do các tàu đến thanh lọc đóng góp. Tàu nào ít “kê” (case) thì chịu tiền giải khát một hai hôm. Tàu nào đông thì bốn năm ngày. Mỗi bộ giải khát như vậy dùng cho một ngày – khoảng 9 đồng Mã Lai -, chẳng bao nhiêu. Vả người Việt Nam cũng hiếu khách, biết ơn nghĩa nên chẳng ai thắc mắc khi phải đóng góp tiền giải khát. Một người, đại diện cho cả tàu, gom tiền người tỵ nạn, trung bình mỗi đầu người lớn là một đồng rưởi tiền Mã. Tiền thu được nộp cho ông Nguyên, làm “Thông dịch người bệnh”. Ngày nào có tranh lọc, thằng “Ê-Rích” lên phòng ông Nguyên nhận một bộ đem xuống đặt nơi bàn giải khát. Tính nó cẩn thận, lo xong việc giải khát, nó cầm cái khăn lau lại các bàn ghế trong phòng phỏng vấn một lần nữa, dù bàn ghế bạn nó đã lau sạch, nó vẫn làm lại một lần nữa. Nó có cái tật chỉ tin ở mình. Xong rồi, nó sắp bàn ghế lại thật ngay ngắn. Cái quạt máy có chân cao, nó đẩy vào góc phòng, cầm giây điện quạt máy quấn lại, không cho vướng lòng thòng.

Khi mọi việc xong xả rồi, bấy giờ nó mới quay vào bếp làm cho nó một tô mì gói để ăn sáng. Có khi nó làm thêm một tô cho bạn, cũng có khi bạn nó làm mì sẵn cho nó rồi.

Ăn xong, nó chờ cô Mai – Cô thông dịch của Cao Ủy – vào. Thường khi cô ấy vào thì có việc sai bảo nó. Chẳng hạn như biểu nó cầm trả lại giấy tờ cho những người đã được phỏng vấn ngày hôm trước. Giấy tờ đó cô cần giữ lại đem về văn phòng chính photocopy để lưu trong hồ sơ. Theo lời cô ấy dặn, giấy tờ ấy nó trao lại tận tay người chủ để khỏi thất lạc, yêu cầu kiểm soát lại có dư thiếu gì không. Giấy tờ của ai nấy coi, không cho người nầy coi giấy tờ của người kia bao giờ. Nếu có gì trắc trở, nó phải báo cáo lại với cô Mai.

Cũng từ chỗ coi việc nước nôi đó, các luật sư Cao Ủy, viên chức Mã Lai, thông dịch viên làm việc ở các phòng thanh lọc, ai cũng biết nó, có thể là có cảm tình với nó nữa – Nó cũng nghĩ và hy vọng như thế – . Có khi các người ấy sai bảo nó một việc gì khác, như tìm lại một người vừa thanh lọc xong nhưng luật sư hay viên chức Mã Lai muốn gặp lại, hoặc bưng đồ ăn lên cho các viên chức trong ban thanh lọc như bữa cô Thu làm món chã giò mời phái đoàn ăn lấy thảo, v.v…

Và khi đồng bào rời trại đi Sungei Bési, ai cũng có bao bị, vali, xách, túi tùm lum. Người thì ngồi xe “ca”, hành lý thì chất lên xe tải. Muốn đồ đạc khỏi bị hư bể, chất lên phía trên hay để phía dưới – Dấu những con dao cắt thịt, làm cá bị chính quyền Mã Lai cấm xử dụng – để sát trong hay mé ngoài xe, ai nấy đều dặn nó, nhờ nó sắp xếp giúp. Nó làm y tăm tắp như mọi người yêu cầu.

Về phía nhân viên Lực Lượng Đặc Nhiệm Mã Lai (Task Force), mỗi chiều khi điểm danh người tỵ nạn, thường có “Ê-Rích” làm “phụ tá”. Nhân viên Mã Lai thì cầm cuốn sổ và cây viết, hô to từng số tàu. Tàu nào sắp hàng theo tàu đó -. Tàu nào được hô thì đi ngang trước mặt nhân viên Mã Lai để “Ê-Rích” đếm số – Nó đếm bằng tiếng Anh, gọi to từng số –. Nhờ vậy nên việc điểm danh mỗi chiều được nhanh gọn, đồng bào khỏi chờ đợi lâu. Nhân viên Mã Lai cũng nhẹ việc. “Ê-Rích” lanh lợi mà làm việc đàng hoàng nên viên chức Mã Lai tin nó lắm.

Từ những việc như thế, nó trở thành “nhân vật quan trọng” ở trại Ma Răng, trại thanh lọc người tỵ nạn. Từ việc người thanh lọc nào muốn gặp cô Mai nhờ cậy gì đó để trình báo lại với phái đoàn thanh lọc, cũng nhờ “Ê-Rích” giới thiệu giúp, việc đến trại, chuyển trại, việc xin xỏ gì đó với nhân viên Task Force hay Hội Hồng Nguyệt (MRCS – Malaysia Red Crescent Society) nhờ nó giúp đỡ nên được mau lẹ và đỡ ngại ngùng.

Người ta gọi tên nó là “Ê-Rích” nhưng đó không phải là tên thật của nó.

Từ khi còn ở đảo Bidong, đồng bào đã gọi tên nó là “Ê-Rích”. Ban đầu, khi nghe người ta gọi mình bằng một cái tên “nước ngoài”, nó toét miệng ra cười để làm vui với mọi người. Dần dà, tên ấy biến thành tên thật của nó. Ai ai cũng gọi nó là “Ê-Rích” hay “Thằng Ê-Rích” mà quên mất cái tên Việt Nam của nó. Đầu tiên, vì nó là thằng Mỹ lai, người đã gầy, lại cao, có râu quai nón. Việc gì nó cũng chăm chỉ làm, nhiệt tình, thường giúp đỡ ngưòi khác giống như ông “Cao Ủy Erik” làm việc tại Văn Phòng Cao Ủy trại tỵ nạn Bidong vậy. Hình dạng và khuôn mặt thằng “Ê-Rích” cũng gần giống như ông “Cao Ủy Erik”, có thể nhỏ con một chút vì khi còn ở Việt Nam nó bị thiếu ăn. Hai người cùng đều có râu quai nón cả. Ông Cao Ủy thì làm biếng cạo râu hay ông ta ưa chừa râu, còn “Thằng Ê-Rích” thì thiếu tiền mua dao cạo râu nên hay để râu dài. Vậy là người ta lấy tên ông Cao Ủy tốt bụng mà đặt tên cho một thằng Mỹ lai tỵ nạn cũng tốt bụng như ông Cao Ủy. Ban đầu chỉ là đùa, sau thành tật. Có khi người ta còn gọi nó là “Cao Ủy Ê-Rích” rồi dần dần bỏ mất chữ Cao Ủy chỉ còn “Ê-Rích” hoặc “Thằng Ê-Rích” vì nó cũng còn trẻ.

Có khi tôi nghe bạn nó gọi: “Ê-Rích”. Cái mày lảnh đâu rồi?” Hay: “Cô Mai kêu thằng “Ê-Rích” kìa. Nó đâu rồi?”

Gọi tên nó như thế cũng hơi kỳ cục đấy! Nhưng chính tôi cũng quen và cũng muốn gọi nó là “Ê-Rích” thay vì tìm cho ra tên thật nó mà gọi. Suy nghĩ, tìm tòi cho trúng tên vừa chậm mà vừa lười biếng, mất công. Thôi cứ gọi nó là “Ê-Rích” như mọi người cho xong.

Vui nhất là những đêm thằng “Mócta” lên phiên trực. “Mócta” là anh lính trẻ của Task Force Mã Lai.

Nó vui tính, ưa trêu ghẹo mọi người và chơi thân với “Ê-Rích” cùng mấy đứa “Cô-Nhi”, là những đứa bé vượt biên một mình, không có cha mẹ hay thân nhân đi theo. Ngay cả tôi, lớn tuổi, không mấy khi giao thiệp với thằng lính Mã Lai, cũng bị nó trêu ghẹo. Một buổi chiều, tôi ngồi chơi ở bực thềm sau phòng thanh lọc, đi ngang qua tôi, nó chào hỏi đàng hoàng. Vừa xong thì nó giả bộ giáng đi của một ông già, tay chân run rẩy, lụm cụm. Tôi hỏi to: “Mócta”, mầy giởn với tau đó hả?” Nó quay lại nhìn tôi nhoẻn miệng cười, nói (Bằng tiếng Việt): “Đâu dám papa!”

Tối nào tới phiên trực, thế nào thằng “Mócta” cũng dẫn bọn trẻ phá phách suốt đêm. Trại Ma-Răng có một vườn dừa lớn. Cây nào cũng sây trái, nhưng lệnh Task Force cấm hái dừa. Dừa có buồng đã già, nhiều trái đã khô, nhưng người ta cứ để vậy, không ai được phép hái.

Có thằng “Mócta” bao che, bọn trẻ mặc sức trèo hái suốt đêm. Chúng nó hái xuống lấy nước dừa uống, đập lấy cơm dừa, mặc sức! Tới gần sáng trò nghịch phá ấy mới chấm dứt. Tới lúc đó, thằng “Mócta” biểu “Ê-Rích” cùng mấy đứa trong Tổ Trật Tự đào lỗ chôn hết các cùi dừa, không chừa lại một dấu tích gì hết. Thằng “Ê-Rích” cũng như bạn nó được “Mócta” dành cho mấy trái dừa.

Có lần tôi đang ngủ, “Mócta” đến đập vào chân tôi đánh thức tôi dậy. Nó nói: “Có hai trái dừa dấu trong cái xô ở dưới gầm cho papa. Đừng quên đó nhé. Đừng cho mấy ông kia thấy.”

Một hôm tôi thấy thằng “Ê-Rích” nói chuyện với nhân viên Mã Lai. Miệng nó nói thì ít mà dùng “động từ to quơ” (đua tay ra dấu) thì nhiều. Tôi nói đùa:

– “Tao tưởng mày nói tiếng Anh hay lắm.”

Nó cười:

– “Đâu có bố! (Bọn trẻ thường gọi tôi bằng bố). Con qua đảo mới học tiếng Anh.”

Tôi đùa:

– “Mắt xanh, mũi lỏ, râu quai nón mà lại nói tiếng Anh không được. Nhưng con cá “gô” bỏ trong “gỗ” nhảy “gôộc” “gôộc” thì rất ngon lành.”

Nó cười, thật thà:

– “Con ở dưới “guộng” không. Qua tới đảo mới thấy bánh mì, đèn điện đó bố.”

Ở trại, nhiều người rất quê mùa nhưng cứ làm ra vẻ ta đây văn minh, sang trọng. Trong mặc cảm quê mùa đó, họ ăn mặc nhiều cách dị kỳ nhưng lại tưởng thế là đúng “mốt”, thành ra nhiều khi nhìn họ rất lố lăng, giống như mặc cảm của các cô Mít, cô Xoài ngày xưa biến thành Trâm hay Điệp khi lên Saigon bán “Bar” cho Mỹ vậy. Ngày nay, người ta cũng thấy cái mặc cảm đó trong cách ăn mặc của mấy cô cán bộ miền Bắc “chi viện” cho miền Nam sau ngày “giải phóng”.

Hôm tôi thanh lọc xong rồi, thằng “Ê-Rích”, theo lời dặn của cô Mai, đem giấy tờ xuống trả lại cho tôi. Nhân tiện, nó mời tôi lên phòng nó uống caphê chơi.

Tôi nói đùa:

– “Chà! Ông Tây nầy sang dữ, sáng chiều caphê đều đều.”

Nó cười cải chính:

– “Mấy ông uống không hết, còn thì mình uống, bỏ uổng!”

Thấy nó vừa cạo hàm râu quai nón xong, tôi hỏi:

– “Sao không chừa râu để thanh lọc mà lại cạo đi? Thấy hàm râu, luật sư Cao Ủy cũng như Mã Lai biết mình là con lai dễ đậu thanh lọc hơn.”

“Ê-Rích” trả lời:

– “Gần “lên bàn” (phỏng vấn), con mới chừa. Chừa bây giờ ngứa lắm. Con muốn cạo hằng ngày mà tốn tiền dao cạo quá! Cực chẳng đã mới để vầy.”

Tôi nói:

– “Tôi tưởng anh cạo râu cho trẻ, để kiếm “xe”. (Bồ bịch, bạn gái. Tiếng lóng ở trại tỵ nạn).

Nó cải chính ngay:

– “Không có đâu bố! Con biết con là người tỵ nạn thì phải sống cho ra cái người tỵ nạn, không có “xe cộ” chi hết! Bao giờ được định cư, có công ăn việc làm đàng hoàng con mới tính chuyện bồ bịch, vợ con.”

Tôi nói:

– “Tao thấy ở đây tụi nó xe cộ tùm lum. Vượt biên chưa tới đâu hết, còn phải thanh lọc nữa mà đã lo vợ chồng, ghép “Blue-Card”, sinh con đẻ cái thật là phiền phức. Cao Ủy, Mã Lai nuôi mình như vầy đã là khó khăn lắm rồi, còn đẻ đái ra nữa, thêm gánh nặng cho người ta là điều không nên. Mình phải biết tự trọng chớ!”

Có đứa phản đối:

– “Bố nói vậy chớ có nhiều người già rồi, vợ con còn ở Việt Nam, qua tới đây quên mất vợ, quên mất con, xe cộ tùm lum. Ông nào làm chức to chừng nào thì xe cộ nhiều chừng đó.”

Tôi trả lời:

– “Cái đó khó nói vì là đời tư của người ta. Cũng có kẻ đi tìm “thời hoàng kim” của họ ngày xưa chớ không phải là đi tỵ nạn.”

Thằng An, bạn của “Ê-Rích”, nói chen vào:

– “Có mấy con nhỏ thấy thằng “Ê-Rích” dễ đậu nên đòi ghép “lu-ca” (blue card) với nó nhưng nó không chịu đó bố.”

Tôi lại hỏi đùa thằng “Ê-Rích”:

– “Có không mày. Chắc không có con nào đẹp nên mày không chịu chớ gì? Có vợ đẹp là “nguy hiểm” lắm!”

“Ê-Rích” trả lời:

– “Đẹp hay không con chẳng thiết. Nó đòi ghép “lu-ca” là hễ mình đậu rồi thì nó cũng đi theo mình luôn. Qua tới bển là nó đá mình đi theo thằng khác. Tụi nó mơ kỹ sư, bác sĩ không, còn mình mới qua, tiền bạc không có, công việc chưa ổn, nó bỏ mình là chắc.”

Tôi cười:

– “Ông Tây lai nầy khôn lắm, sợ bỏ công bắt tép nuôi cò.” Rồi tôi đọc tiếp câu ca dao:

“Tiếc công bắt tép nuôi cò

Đến khi cò lớn co giò cò bay.”

“Với lại Cao Ủy bây giờ họ cũng rút kinh nghiệp, chưa chắc họ đã cho đi theo mà cũng buộc phỏng vấn thanh lọc như thường.”

Thằng Định, ở trong đám nầy, nói:

– “Có người họ nói làm như vậy là Cao Ủy vi phạm nhân quyền. Quyền tự do hôn nhơn. Không cho ghép “lu-ca” là vi phạm hôn nhơn tự do.”

Tôi nói:

– “Cao Ủy muốn xác minh là người ta có yêu nhau thực sự để kết hôn không. Nếu chuyện yêu nhau là chuyện thật thì họ cũng không cấm đâu. Người ta sợ đó là việc lợi dụng sự dễ giải của luật pháp. Luật pháp nào cũng có kẻ hở.”

Tôi ngồi giữa, ngay mặt tôi là thằng “Ê-Rích”, chung quanh nó là đám bạn nó trong “Tổ Trật Tự”. Hớp xong một ngụm caphê sữa, tôi hỏi chuyện vượt biên của bọn chúng. Nhiều câu chuyện rất hãi hùng, cũng nhiều chuyện vui.

Một lúc, tôi hỏi “Ê-Rích”:

– “Ê-Rích” mày chuẩn bị lý lịch để thanh lọc kỹ chưa?”

Nó mau mắn trả lời:

– “Dạ, xong rồi bố. Lý lịch con dễ nói lắm.”

– “Coi chừng. Đừng chủ quan.” Tôi nói. Rồi tôi hỏi nó một câu mà luật sư Cao Ủy trước nay vẫn thường hỏi mọi người. “Xin cho biết lý do rời Việt Nam?”

“Ê-Rích” ngồi thẳng người lên, nghiêm mặt quan trọng, nghiêm chỉnh trả lời:

– “Dạ thưa phái “đàng”. Tôi là con lai. Đời tôi có nhiều đau khổ lắm. Tôi không có cha mẹ, bị người ta khinh khi, chế độ kỳ thị không sống nổi nên tôi phải trốn khỏi quê hương tôi.”

Nó nói “đàng” thay vì “đoàn” như cách nói ngọng của người miền quê trong Nam khiến mấy đứa ngồi quanh nó nhìn nó cười.

Tôi hỏi tiếp:

– “Anh nói anh không có cha mẹ là thế nào? Phải nói cho rõ chỗ nầy.”

Thái độ và nét mặt của nó cũng làm ra vẻ quan trọng như lúc nẫy. Nó từ tốn trả lời:

– “Dạ thưa phái “đàng” tôi không có cha mẹ là do…”

Thấy điệu bộ và cách trả lời trịnh trọng của nó, cả bọn cười ồ lên, cắt ngang lời nó. Thằng Định nói:

– “Mày làm như bố là Cao Ủy với Mã Lai, còn mày thì đang lên bàn thiệt sự.”

Nó trả lời ngay, vẫn vẻ mặt quan trọng:

– “Tụi bây ngu! Bố nghĩ coi. Con phải “Dạ thưa phái “đàng” cho họ thấy mình lễ phép, lịch sự, họ mới có cảm tình. Với lại, bố còn ở đây, bố dợt thử con. Có gì sai bố sửa giùm. Mai mốt bố đi Sengei, ai giúp con?”

Thấy nó nói có vẻ gay gắt vì không vừa lòng mấy đứa, tôi vừa an ủi vừa dàn hòa:

-“Thôi! Thằng “Ê-Rích” trả lời tiếp đi. Có gì không ổn, tao coi lại coi.”

Nó trở lại điệu bộ quan trọng như cũ, coi như không có chuyện gì xảy ra:

– “Dạ thưa phái “đàng”. Tôi không biết cha mẹ sanh đẻ ra tôi là ai. Năm 1972, khi cha nuôi tôi nằm bệnh viện ở Cần Thơ. Người ta thấy một đứa bé mới đẻ, ai đem bỏ kề đống rác ngoài bệnh viện. Mẹ nuôi tôi đi thăm chồng, thấy tội nghiệp, đem về nuôi. Đó là cha mẹ nuôi của tôi. Không ai biết ai là cha mẹ ruột tôi.”

Tôi cũng làm ra vẻ quan trọng:

– “Vậy rồi cha mẹ nuôi của anh nuôi anh đến khi anh khôn lớn”?

– “Dạ không! Cuối năm 1974, cha mẹ tôi bị Việt Cộng phục kích bắn chết cả hai ông bà vì cha nuôi tôi làm trưởng ấp. Chỉ còn lại một người chị gái do mẹ nuôi tôi đẻ ra với tôi mà thôi.”

Tôi hỏi:

– “Vậy rồi ai nuôi chị anh và anh?”

– “Dạ thưa phái “đàng”. Ông bà “goại” đem hai chị em chúng tôi về nuôi.”

– “Tôi muốn xác minh cho rõ ràng. Cha nuôi anh làm trưởng ấp ở đâu?”

– “Dạ thưa phái “đàng”. Cha nuôi tôi làm trưởng ấp Mò Ó, xã Đại Ngãi, huyện Long Phú, tỉnh Hậu Giang.”

Tôi giải thích:

– “Nên nói theo cách gọi của chế độ cũ, rồi giải thích thêm theo tên gọi của chế đội mới. Ví dụ anh nói ấp Mò Ó, xã Đại Ngãi, huyện Long Phú, nhưng tỉnh thì phải nói là tỉnh Ba Xuyên, nay gọi là tỉnh Hậu Giang. Mình phải nói làm sao để gợi ý cho họ hỏi câu tiếp, vừa dễ cho mình mà cũng dễ cho họ. Chẳng hạn như nói phải về ở với ông bà ngoại già cả thì họ sẽ hỏi tiếp cuộc sống của mình với ông bà ngoại như thế nào!?”

“Ê-Rích” tiếp tục nói, vẫn với vẻ quan trọng:

– “Dạ thưa phái “đàng”. Khi cha mẹ nuôi tôi bị Việt Cộng giết chết rồi, ông bà “goại” tôi già cả và nghèo khó cũng đem chị em chúng tôi về nuôi.”

Tôi khuyến khích:

– “Vậy đó! Nói tiếp cảnh sống với ông bà ngoại, ăn uống, học hành, làm lụng vất cả tuy còn nhỏ tuổi…”

– “Dạ thưa phái “đàng”. Trước 1975, tôi chưa được ba tuổi. Ông bà “goại” cho chị em tôi vào một cái nhà trẻ của mấy bà “xơ” ở nhà thờ xã. “Giải phóng” rồi, nhà trẻ bị dẹp bỏ. Tới năm 1977, tôi mới học lớp một thì phải bỏ học vì ông bà “goại” tôi bây giờ nghèo “gồi”. “Guộng” bị tịch thu hết.”

– “Trả lời như vậy là hay đấy! Nói tiếp chuyện ruộng vườn bị tịch thu.”

– “Dạ thưa phái “đàng”. Ông bà “goại” tôi bị tịch thu năm mươi chín công “guộng”, gần sáu mẫu. Một cái vườn năm công với một nhà máy xay lúa. Tất cả bắt giao cho “Hợp Tác Xã” hết. Ông bà “goại” tôi sống là nhờ có của cải đó. Bị tịch thu, mà ông bà già lắm, không đi làm thuê làm mướn cho ai được nên không có gì sinh nhai. Đời sống rất đói khổ.”

Tôi giải thích:

– “Không cần nói mẫu. Cứ nói bao nhiêu công là được rồi.” Tôi lại hỏi tiếp. “Bị tịch thu hết tài sản thì ông bà ngoại anh lấy gì nuôi chị em anh?”

“Ê-Rích” trả lời, giọng xúc động thật sự:

– “Dạ thưa phái “đàng”, ông bà “goại” tôi vẫn phải đi làm thuê cho người ta, việc gì nhẹ thì làm, việc hơi nặng nặng thì “gán” làm, kiếm ăn qua ngày. Tôi bỏ học theo phụ với “goại”. Tới năm 1980 thì khổ lắm, tôi đi ở đợ cho người ta, lâu lâu có tiền gởi về cho “goại.”

Tôi đùa:

– “Bây giờ đi ở đợ là thuộc giai cấp số một của “Cách Mạng” rồi. Giai cấp tiên tiến số một, vậy còn vượt biên làm chi?”

Ê-Rích” cũng cười:

– “Ai kia! Chớ còn con! Cán bộ, Công An thấy mặt là tụi nó ghét, khinh bỉ.”

Tôi nói:

– “Thôi tiếp đi! Từ khi đi ở đợ, có những khó khăn gì?”

“Ê-Rích” cũng trở lại điệu bộ như lúc ban đầu:

– “Dạ thưa phái “đàng”. Đi ở đợ, tôi không gặp khó khăn gì bởi vì ông bà chủ nhà cũng là người tu hiền. Khi ông bà “goại” tôi không chịu nhận tiền tôi đem về cho nữa, thì ông bà chủ cất giùm. Nói là để lo cho tôi vượt biên.”

– “Anh ở đợ với ai? Trong chế độ mới, họ làm nghề gì có tiền mà nuôi người ở đợ?”

“Ê-Rích” trả lời:

– “Dạ thưa phái “đàn”. Ông bà chủ rất thương tôi. Ông bà chủ có cái sạp bán cá khô, nước mắm, thuốc lá lẻ, trà ở chợ xã. Họ có con cái ở nước “goài” gởi tiền về cho. Vì vậy, họ nói tôi nên đi vượt biên để kiếm tiền về giúp đỡ ông bà “goại” tôi. Họ nói ông bà “goại” tôi và cha mẹ nuôi tôi ngày xưa tốt bụng lắm. Ai cũng thương. Vậy mà cha mẹ nuôi tôi chết sớm thật là tội nghiệp! Công việc của tôi là gánh hàng ra chợ cho bà chủ. Bán xong, tôi gánh về. Ở nhà thì quét dọn nhà cửa, gánh nước tưới “gau” và nấu cơm. Đồ ăn thì bà chủ tự nấu lấy…”

– “Sống như thế, anh có gặp gì khó khăn nữa không?”

– “Dạ không! Khó khăn là khi nào tới cơ quan hay đi lao động, đi thủy lợi.”

Tôi hỏi:

– “Anh đi lao động năm nào, làm những công việc gì?”

“Ê-Rích” trả lời:

– “Dạ thưa phái “đàn”. Tôi đi lao động năm 1987…”

Tôi ngắt lời:

– “Năm 1987 mày mới 15 tuổi, chưa tới tuổi lao động mà?”

“Ê-Rích” vẫn bình tĩnh:

– “Dạ thưa phái “đàn”. Năm 1987, chính quyền xã gọi tôi trình diện để đi lao động. Tôi khiếu nại tôi mới 15 tuổi thì họ nói “Mày Đế Quốc Mỹ” nên được “ưu tiên”.

Tôi hỏi “Đế Quốc Mỹ” là sao?

“Ê-Rích” trả lời, vẫn nghiêm nghị nhưng hai con mắt có vẻ đau khổ.”

– “Dạ thưa phái “đàng”! Chính quyền, cán bộ, Công An xã ấp, họ không gọi tôi bằng tên thật – tên Thắng – Ở đây đồng bào gọi tôi là “Ê-Rích” là gọi cho vui. Còn chính quyền bên nước gọi tôi là “Thằng Đế Quốc Mỹ” là họ gọi mỉa mai vì tôi là con lai Mỹ. Họ nói cha đẻ tôi có tội “xâm lược Việt Nam” nên tôi cũng phải chịu tội chung với cha đẻ tôi. Nay tôi dù chưa tới tuổi cũng được ưu tiên lao động để chuộc tội cho cha tôi. Đi lao động, đi thủy lợi, việc gì nặng, họ kêu tôi làm. Họ gọi: “Ê! “Thằng Đế Quốc Mỹ” đến đây làm việc nầy!” Vác đá, khiêng cây, đào đất, việc chi tôi cũng được “ưu tiên” hết mà tôi thì mới mười lăm tuổi.”

Tôi cười:

-“Khai như vậy là đậu thanh lọc đó! Mới mười lăm tuổi mà lao động như người lớn là ngược đãi. Đó là nói về vật chất. Còn gọi mày là “Thằng Đế Quốc Mỹ”, mai mỉa, khinh thị là ngược đãi về tinh thần. Có muốn đánh hỏng thanh lọc, cũng không đánh hỏng được.”

Tôi cười hỏi tiếp:

– “Nhưng có thật như vậy không hay mày bắt chước người ta mà đổ tội cho Việt Cộng.”

“Ê-Rích” cũng cười:

– “Bố nghĩ coi, nhiều khi con tức chết đi được. Tủi thân con khóc “goài”. Ông bà “goại” con thường an ủi. Dù gì thì máu mẹ con cũng là máu Việt Nam. Con sinh đẻ ở Việt Nam thì con cũng là người Việt Nam! Vậy mà một chút họ gọi con là “Thằng Đế Quốc Mỹ”. Họ còn nói “Thằng Đế Quốc Mỹ” làm biếng, “Thằng Đế Quốc Mỹ trốn tránh lao động.” Con sinh đẻ ở Việt Nam, lớn lên ở Việt Nam, ăn cơm Việt Nam, con có dòng máu Việt Nam mà con cứ bị kỳ thị “goài”, bị mai mỉa “goài”, bắt lao động nặng nhọc, con tủi thân, con buồn lắm. Con “gời” Việt Nam nhưng con buồn lắm. Con “gất” thương ông bà “goại.”

Tôi hỏi:

– “Nếu trả anh về Việt Nam thì anh nghĩ sao?”

“Ê-Rích” trở lại thái độ nghiêm chỉnh như ban đầu:

– “Dạ thưa phái “đàng”. Tôi là người Việt Nam. Tôi ở Việt Nam là đúng. Nhưng tôi không muốn bị người ta khinh khi, mỉa mai gọi tôi là “Thằng Đế Quốc Mỹ”. Ai cũng phải làm việc mới có cơm ăn, nhưng đừng đối xử ác với con như Cộng Sản.”

Tôi cười:

– “Hay! Trả lời hay đó. Bị đối xử ác, bị bạc đãi, bị khinh thị thì lam sao trở về được. Nhưng giả thử như phái đoàn hỏi mày qua tới Mỹ rồi thì có đi tìm cha không thì mày trả lời làm sao?”

“Ê-Rích” trả lời, giọng nói xúc động:

– “Dạ thưa phái “đàng”. Con thì phải tìm cha. Nhưng tôi thấy hơi khó. Mẹ đẻ tôi bỏ tôi bên đống “gác” bên ngoài bệnh viện Cần Thơ, không một miếng giấy, không một tấm hình, biết căn cứ vào cái chi mà tìm cha. Nếu như tôi tìm được cha, chắc tôi sung sướng lắm”.

Tôi nói đùa:

– “Mày chắc đậu nhưng chờ nhận diện và định cư thì lâu lắm.”

Nó trố mắt hỏi tôi:

– “Sao? Tại sao bố nói lâu định cư?”

Tôi cười:

– “Tao sợ mấy ông chờ họp nhau, coi thử “con anh hay con tui”. Ông nào cũng mắt xanh mũi lỏ. Biết bao nhiêu ông tới Việt Nam: Ông Mỹ, ông Úc, ông Tân Tây Lan, ông Canada, không chừng lại có ông Ba-Lan, Hungary trong Ủy Hội Quốc Tế. Ông nào nhận là con mình thì cho đi định cư nước ấy.”

Cả bọn cười ồ. Thấy mặt nó có vẻ tiu nghĩu, buồn buồn, tôi thấy hối hận, thấy mình đùa một cách vô ý thức, lại tàn nhẫn nên tôi vội nói:

– “Nói chơi vậy thôi. Người Mỹ họ nhận trách nhiệm về vấn đề nầy nên chắc chắn đậu rồi thì đi Mỹ. Chỉ sợ qua tới đó, có tiền có bạc rồi quên ông bà ngoại, quên mất chị thì tội cho họ lắm.”

“Ê-Rích” cải chính, vẻ cương quyết:

– “Không bao giờ bố! Không bao giờ. Không quên ông bà “goại”, không quên Việt Nam. Đó là thủy chung.”

Mấy hôm sau, ông Sáng, một người xem tướng nổi tiếng ở Bidong, có rất nhiều khách hàng – có lẽ trước tương lai bấp bênh nên người ta đâm ra muốn xem tướng số – ngồi chơi với tôi ở bậc cấp phía sau nhà thanh lọc, nhìn ra biển cả mênh mông. Bỗng tôi hỏi ông Sáng:

– “Này! Anh xem tướng giỏi, vậy anh thấy thằng “Ê-Rích” tướng mạo nó như thế nào?”

Ông Sáng trả lời:

– “Xem về tướng chớ không xem về số thì tướng thằng “Ê-Rích” là tướng khổ. Anh thấy khuôn mặt nó cũng hao hao với khuôn mặt “Cao Ủy Ê-Rích”. Trong số các Cao Ủy, ông ấy trông có vẻ khổ hơn những người khác, làm việc chăm, tối ngày không nghỉ, nhưng rất có lương tâm. Tấm lòng nhân ái của ông ấy lớn lắm. Khuôn mặt như ông “Cao Ủy Ê-Rích” và thằng “Ê-Rích” là khuôn mặt chữ thân. Trong sách tướng, thân là con khỉ, mặt hơi dài, cằm dài. Đó là khuôn mặt Hòa Thượng Thích Quảng Đức. Những người ấy có lòng nhân ái, có thể giàu có nhưng suốt đời thì cực. Đó là tướng mạo.”

Vậy mà hơn một năm sau ngày đậu thanh lọc, thằng “Ê-Rích” vẫn còn ở trong tại tỵ nạn Sungei Bési. Mặc dù câu nói của tôi ngày trước chỉ là câu nói đùa nhưng tôi vẫn thắc mắc không hiểu tại sao lâu rồi mà trường hợp thằng “Ê-Rích” chưa được cứu xét cho rồi.

Tội nghiệp thằng bé Mỹ lai. Nó khổ từ khi lọt lòng mẹ cho tới bây giờ.

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 13 Dec 2023

Bài 14

Dĩ oán báo ân

“Tất cả mọi việc thiện đều do lòng ích kỷ,
cũng như mọi con sông đều chảy ra biển.”

(La Rochefoucauld)




Sau khi chiếm miền Nam, Lê Duẫn nhắc nhở đảng viên của ông “chớ ngủ quên trên chiến thắng” và ngay sau đại hội đảng Việt Cộng lần thứ Tư năm 1976, trong một lần đến thăm tỉnh Hà Sơn Bình, Lê Duẫn bảo rằng chỉ trong vòng một hai kế hoạch 5 năm, mỗi nhà sẽ có một TV, một tủ lạnh, v.v…

Đúng ra Lê Duẫn nên nói rõ nhà đó là nhà cán bộ đảng viên, còn nhà dân, nhất là dân miền Nam thì thay vì sắm, nhà nào đã có TV, tủ lạnh thì phải bán đi để chạy gạo nuôi con.

Thế rồi sau 10 năm “ngăn sông cấm chợ”, đảng Dziệt Cộng đứng trên bờ vực thẳm, tài sản quốc gia, ngoài người dân cu đen, không còn gì nữa cả, nên Việt Cộng bèn…xuất cảng người. Thế là Việt Cộng mở cửa cho dân vượt biên, mai mốt làm Việt kiều hồi hương, “áo gấm về làng” đem tiền về nuôi Việt Cộng.

Đây là lần thứ hai đảng Việt Cộng bán dân lấy tiền. Lần trước, năm 1979 là vụ “nạn kiều”, thu vàng cho vợ chồng cha con các chú Ba ra biển, điều người miền Nam hồi đó gọi là “đi bán chính thức”. Các tỉnh đua nhau đóng tầu cho nạn kiều đóng 12 cây một đầu người mà đi. Việt Cộng vừa xua đuổi được người Tầu ra biển, “sống chết mặc bây”, vừa cướp vàng của họ. Bây giờ thì không thu vàng, nhưng chờ người về đem tiền đô về nuôi. Đảng Việt Cộng thật “thông minh, sáng tạo” trong việc bán người cướp của.

Cả hai lần, phe Tư Bản chỉ đỡ đòn, thế thụ động, chứ không đánh trước được. Kết quả lần trước là chương trình ODP (ra đi trong trật tự). Lần nầy, đòn phe tư bản đỡ là “Đóng cửa đảo và buộc thanh lọc”. Đòn thụ động nầy dở ẹt mà lại còn vô nhân đạo.

Sau một hội nghị quốc tế, có Liên Hiệp Quốc tham dự, việc thanh lọc được đề ra. Các quốc gia thứ hai, gọi là nơi tạm dung, có trại định cư như Thái Lan, Mã Lai, Singapor, Indonésia, Phi luật Tân, HồngKông, phải tổ chức thanh lọc người tỵ nạn, có luật sư Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc giám sát cho được…công bằng.

Ức lòng vì bị thanh lọc, sợ bị cưỡng bức hồi hương, phong trào đấu tranh nổ ra ở hầu hết các trại tỵ nạn.

Người ta có thể nhận định ba thành phần như sau: Cao ủy Tỵ nạn LHQ (thứ nhứt), chính quyền của quốc gia tạm dung (thứ hai) và đồng bào tỵ nạn (thứ ba).

Những người làm việc cho Cao ủy Tỵ nạn ở đảo Bidong, quả thật họ có lòng thương người tỵ nạn, nhưng khi thực hiện chức năng của mình lại quá máy móc. Mâu thuẫn giữa các phong trào đấu tranh và Cao ủy Tỵ nạn phát sinh từ đây.

Ông Allen là Cao ủy trưởng ở Bidong.


Ở Bidong, trước khi có đấu tranh, đồng bào tỵ nạn rất kính trọng và có cảm tình với ông cao ủy nầy.

Như tôi có nói trong một bài trước, khi có ghe vượt biên tới đảo, nếu ghe cập được vào bờ hay cầu jetty, có người nhảy lên bờ hoặc lên cầu, thì coi như chính quyền Mã Lai “thua”, phải cho đồng bào trên ghe vượt biên lên bờ, vào trại. Còn ngược lại, dù ghe vượt biên tới đảo, nhưng chưa có ai lên bờ thì Mã Lai có quyền kéo đi, coi như Cao ủy “thua”.

Một hôm, ông Allen đang cởi trần, chân không, đá bóng với thanh niên tỵ nạn trên bãi cát khu A thì ghe vượt biên tới. Không kịp mang giày, không cần mặc áo, cứ người ngợm như thế, Cao ủy Allen chạy thẳng ra cầu jetty, nơi có chiếc ghe sắp cập cầu tầu. Ông gọi người trên tầu nhảy xuống nước, bơi vào bờ. Rồi một người trên ghe nhảy xuống, bơi tới cầu tầu. Ông Allen vói tay kéo người thanh niên đó lên giữa tiếng reo hò, hoan hô của mọi người đang dứng quanh cầu, trên bờ biển.

Biết là thua, những người trong lực lượng Task Force của Mã Lai có mặt hôm đó cũng vui lây, và vỗ tay như mọi người.

Trường hợp ông cao ủy Erick đáng thương hơn.

Đang làm việc, nghe tin có ghe vượt biên tới đảo, ông liền chạy ra cầu jetty. Khi ông ta vừa ra tới nơi thì chiếc ghe vượt biên mới tới đã bị lính Mã Lai đuổi ra xa, kéo ngược lên phía bắc. Cao ủy Erick liền bỏ cầu jetty chạy dọc bờ biển, vừa chạy vừa vẫy gọi chiếc ghe vượt biên. Vậy mà ghe cứ đi, Erick cứ chạy theo, dọc bãi biển khu A. Tới chỗ hết bờ biển rồi, đường đi đã nghẽn, mà ghe vượt biên cứ đi. Ông Erick luồn rừng chạy theo ghe, vừa chạy vừa ngoắt tay, vừa gọi.

Một giờ đồng hồ sau, cao ủy Erick mệt mỏi trở về, ngồi nghỉ mệt ở cái băng ghế, phía trước nhà máy điện. Mặt ông đỏ gay, phanh áo cho đở nóng, bày ra một đám lông dày nơi ngực ông. Lá mục, mạng nhện vướng khắp mặt mũi chân tay ông. Ai đi ngang chào ông, ông chào lại và lắc đầu chán nãn. Trận ấy, coi như cao ủy thua, mà thua đậm. Chiếc ghe vượt biên mất hút, không biết họ có tới được Singapore, Indô hay lại bị hải tặc Thái Lan tấn công, đàn bà con gái bị bắt, đàn ông con trai làm mồi cho cá biển. Đó là thân phận những người vượt biển sau ngày gọi là “Đóng cửa đảo.”

Câu chuyện “Đồng bào mới tới đảo” thường thường xảy ra như vậy. Khi đồng bào được lên bờ, đưa vào Task Force trước khi qua lập hồ sơ sơ khởi ở phòng SB, người tỵ nạn ùa ra đứng sát hàng rào tìm người quen, thân nhân. Họ gọi nhau ơi ới, mừng nhau thoát khỏi chế độ nô lệ ở quê nhà, thoát khỏi hải tặc Thái Lan, hy vọng xây dựng một đời sống mới, có cơm ăn áo mặc, có tự do ở quê hương mới. Vậy mà nay họ bị thanh lọc, có nguy cơ bị cưỡng bức hồi hương.

Nhìn chung, Cao ủy Tỵ nạn ở đảo, từ Cao ủy trưởng Allen, người Mỹ, cao ủy Erick người Hòa Lan, cao ủy Francesco, người Ý… đều tốt bụng, chu toàn trách nhiệm được Liên Hợp Quốc giao phó. Các cao ủy người Mã, phần đông Mã gốc Tầu có khác. Họ làm tròn trách nhiệm vì quyền lợi của họ hơn là vì bác ái, thương người tỵ nạn Việt Nam.

Tuy nhiên, khi có lệnh thanh lọc người tỵ nạn, khi đối phó với các cuộc đấu tranh có phần dữ dội, các cao ủy phản ứng một cách máy móc, nguyên tắc.

Khi có người đấu tranh mổ bụng mà không cho băng bó, không cho đưa đi bệnh viện, các ông cao ủy hốt hoảng, lo lắng, thiếu phương cách phản ứng tế nhị, thông cảm người tỵ nạn. Từ chỗ họ tìm ra những người lãnh đạo cuộc đấu tranh là những kẻ dấu mặt, cứng rắn nếu không muốn nói là ngoan cố, bất thương thuyết, thì cao ủy tạo ra một “chiến tuyến” giữa những người lãnh đạo cuộc đấu tranh và cao ủy. Từ chỗ đứng đó, Cao ủy Tỵ nạn trở thành những người đối kháng, đứng đằng sau Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai để đàn áp người tỵ nạn. Thật ra, nếu Cao ủy có phản ứng thì phản ứng với những người lãnh đạo cuộc tranh đấu chứ không phải phản ứng với tất cả đồng bào tỵ nạn, nhưng họ không khôn khéo làm được như thế.

Trong số hơn mười ngàn người tỵ nạn trên đảo, không phải ai ai cũng muốn đấu tranh, không phải ai ai cũng tham gia phong trào đấu tranh, và không phải ai ai cũng chung lập trường với những phương cách đấu tranh như thế.

Cao ủy tỵ nạn trên đảo Bidong đã không phân tích được như thế. Họ nhìn người tỵ nạn ai ai cũng giống nhau, cũng “chống lại cao ủy”. Cái nhìn phiến diện ấy đã đẩy tất cả người tỵ nạn về một phía, cao ủy về phía khác, phía Mã Lai. Vậy thì bên phía ấy có 2: Cao ủy và Mã Lai, phía bên tỵ nạn chỉ co một. Tục ngữ nói: “Hai đánh một không chột cũng què.” Huống chi bên phía hai lại có súng đạn và cơm gạo, còn phía một chỉ có hai bàn tay không và cái bụng dẹp lép.

Chức năng của cao ủy bây giờ là thi hành chính sách thanh lọc, trong khi người tỵ nạn chống lại chính sách đó. Bên cạnh đó, Cao ủy cũng thấy họ không đủ sức đối phó với người tỵ nạn, họ bèn núp bóng lực lượng quân sự Mã Lai trên đảo. Về sau, khi đảo Bidong giải tán, tất cả đồng bào tỵ nạn bị đưa về trại Sungei Beshi ở ngoại ô thủ đô Kualar Lumpur của Mã Lai, Cao ủy càng ngày càng tránh mặt, để mặc cho bọn lính tráng Mã Lai đàn áp, đánh đập, người tỵ nạn.

Phải chi Cao ủy nhìn vấn đề khác đi, đúng với chức năng nguyên thủy căn bản của họ là “cứu giúp người tỵ nạn” thì đâu đến nổi “ân biến thành oán” như đã xảy ra ở hầu hết các trại tỵ nạn.

Chức năng của Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai thì hoàn toàn khác với chức năng của Cao ủy. Lực lượng nầy gồm có một chỉ huy trưởng là một sĩ quan cấp tá, với các binh lính thuộc quyền. Có thể đây là một lực lượng bán quân sự, địa phương quân chứ không phái quân đội chính qui thường trực. Nhiệm vụ của lực lượng nầy là giữ trât tự, an ninh trên đảo. Nói chung, họ thuộc về những kẻ cai trị, với tâm lý của người cai trị, có quyền, coi đồng bào tỵ nạn là kẻ bị trị. Người cai trị có bạo lực của họ. Đồng bào, thành phần bị trị, chỉ có tay không.

Có thể từ ban đầu, khối An Ninh của người tỵ nạn là bộ phận hỗ trợ cho người Mã Lai giữ gìn an ninh, trật tự trên đảo. Mã Lai làm việc với người tỵ nạn qua khối An Ninh trong hầu hết mọi sự việc, từ những vụ giết người, lập thủ tục truy tố ra tòa án Mã Lai, hoặc ẩu đả, đâm chém, tranh giành, v.v… Khi cần, khối An Ninh nhốt người ở phòng giam gọi là Monkey House trong khu vực Mã Lai.

Từ khi có thanh lọc, có kẻ đậu người rớt, có đấu tranh, trại Bidong giải tán, không còn “đồng bào mới đến đảo” nữa thì phòng SB đóng cửa. Một vài người, trước kia, khi còn ở Bidong, làm việc ở phòng SB, biết mình sẽ đậu thanh lọc, “không ưa” các vụ đấu tranh thì nay quay ngược lại, tham gia “làm tham mưu” – chỉ làm tham mưu mà thôi – cho phong trào đấu tranh.

Khối An Ninh thì vẫn còn, nhưng vì theo như trước kia, khối nầy là một bộ phận hỗ rợ Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai, mà nay Mã Lai đàn áp người tỵ nạn thì khối An Ninh coi như đứng trước ngã ba đường.

Sau nhiều manh động của vài phần tử cực đoan như đánh lén ông trưởng khối An Ninh, và vì đồng cảm với đồng bào, việc làm của khối An Ninh trở thành lững lơ, chiếu lệ, không còn tích cực như trước, nhất là chống lại việc lính tráng Mã Lai đánh đập tàn bạo đồng bào tỵ nạn thì Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai không còn tin tưởng, không làm việc hay quan hệ chặt chẽ với khối An Ninh nữa.

Vốn dĩ cung cách làm việc của Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai từ trước tới giờ là cai trị, cậy quyền, trừng phạt, đàn áp, lại thêm nhiều tên lính Mã Lai vốn thiếu học, thiếu trình độ hiểu biết, quen thói đàn áp hung dữ nên chúng đánh đập nhiều người tỵ nạn rất tàn ác, dã man, chẳng chút nhân đạo, chẳng chút thương người.

Không dùng khối An Ninh nữa, Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai chơi trò bá đạo, xử dụng bọn “bồ tạt”, tiếng Mã Lai, có nghĩa là bọn du côn, dân dao búa, để dùng người Việt đàn áp, đánh đập dã man người Việt. Bọn “bồ tạt”, vốn dĩ là những tay du côn, dân dao búa ở Việt Nam, một số ở chợ Cầu Ông Lãnh, trước nay vì sang vùng đất mới, không dám làm gì như khi còn ở trong nước, nay được bọn binh lính Mã Lai che chở, xúi dục, lại tung hoành như xưa. Càng được Mã Lai hứa giúp cho đậu thanh lọc, bọn chúng đối xử với người tỵ nạn càng hung tợn, đánh đập và cướp bóc người tỵ nạn càng hung tợn, trắng trợn, thật đáng ái ngại.

Mà có đứa “bồ tạt” đậu thanh lọc thật. Tên “bồ tạt” T., gốc là dân chợ Cầu Muối, từng đánh bác sĩ Vũ Ngọc K. rất dã man, lại được đậu thanh lọc. Khi nhận được tin đó, tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, giám đốc cơ quan Boat People SOS, đã phải vận động đồng bào tỵ nạn hải ngoại, lên tiếng với những quan chức có trách nhiệm ở chính quyền địa phương, không chấp thuận cho tên “bồ tạt” nầy đến dịnh cư.

Đồng thời, Cao ủy Tỵ nạn đưa nhiều người, nhiều phái đoàn đến trại, nói chuyện vơi đồng bào tỵ nạn, khuyến khích họ nên tự nguyện hồi hương sau khi hỏng thanh lọc, đúng theo chính sách của Liên Hiệp Quốc. Những người châu Âu, châu Mỹ nầy hiểu một cách lờ mờ về tình hình Việt Nam, về Việt Cộng, về người miền Nam, người miền Bắc, về “đánh tư sản”, về chế độ cũ, chế độ mới thì biết đếch gì tới việc thanh lọc, chống thanh lọc, đậu hỏng mà khuyên người tỵ nạn trở về. Chẳng qua, là một chương trình do Liên Hiệp Quốc tài trợ thì mấy ông mấy bà cũng bỏ công mà di du thuyết một lần, vừa khỏi mất tiền, vừa được du lịch một vòng Đông Nam Á. Cũng là tiền chùa cả, đâu có đau lòng ai mà sợ.

Buồn cười nhất là việc du thuyết của ông đại tá Mỹ Nguyễn Văn Hai. Ông ta là người Mỹ, tên thiệt là “Mái Cồ” hay “Xì Mít” gì đó, từng qua Việt Nam hồi còn chiến tranh, lúc Mỹ chưa “bỏ của chạy lấy người”, từng làm cố vấn cho quận trưởng Bến Tranh, không biết có phải là ông Ngô Văn Th., người cho thủ tiêu ông già Lê Văn Duyện, người cả gan chống lại “quan quận trưởng”? (1)

Cũng có thời, ông đại tá Mỹ tên Việt Nguyễn Văn Hai nầy làm cố vấn cho trường hay bộ Xây Dựng Nông Thôn gì đó. Vì vậy, khi tới đảo, ông tìm hỏi xem ai trước kia là cán bộ Xây Dựng Nông Thôn. Thế là đám cán bộ nầy mừng quýnh lên, hy vọng ông đại tá Hai sẽ đưa cả hai tay ra giúp đỡ các ông cán bộ nầy đậu thanh lọc. Thế rồi, mỗi khi ông đại tá Hai vào trại du thuyết bằng tiếng Việt ai hỏng thanh lọc hãy nên về Việt-Nam. Nếu ai muốn “thống nhứt” với gia đình (Thống nhứt là chữ ông ta dùng thay cho tiếng sum họp. Ông ta khoe đậu cử nhân văn chương Việt Nam đấy!) thì hãy ghi tên, chính phủ Mỹ sẽ giúp đỡ. Trong khi các ông cán bộ thì lo điếu đóm cho ông đại tá Hai, kẻ pha cà phê, người che dù cho ông đại tá khỏi bị nắng Mã Lai làm cháy mặt, thì đồng bào lại cho rằng ông đại tá Mỹ hứa lèo. Người ta bảo: “Ông tổng thống đại cường quốc còn hứa lèo với ông Thiệu, huống gì ông đại tá biết nói tiếng Vìệt. Mấy tay tình báo Mỹ nầy tin gì được.”

Bên cạnh đó, để gây áp lực cho người tỵ nạn phải hồi hương, Cao ủy Tỵ nạn đã không làm đúng chức năng của mình như trước kia. Lấy lý do những người hỏng thanh lọc không phải là đối tượng phục vụ của họ (tỵ nạn chính trị), họ bèn chơi trò bẩn thỉu, hạ cấp. Ban đầu thì giảm bớt lương thực: Thay vì phát gạo đủ ăn thì nay bớt đi, cho ăn đói. Nhiều gia đình phải ăn cháo. Trước kia mỗi tuần phát thức ăn ba lần: hai lần gà, một lần cá thì nay chỉ còn mỗi tuần một lần. Trước kia có phát muối, rau thì nay cho ăn lạt. Ăn lạt là vì thiếu muối chứ không phải ăn lạt là ăn chay. Trước kia có gian hàng Mã, gian hàng Tầu bán chạp phô thì nay chẳng có gian hàng nào hết. Thứ hai là núp sau lưng Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai, làm ngơ trước việc lính Mã Lai, chơi trò “bồ tạt” như tôi nói trên kia. Khi những người bị lính Mã Lai đánh đập, lên thưa với Cao ủy thì Cao ủy làm ngơ, coi như không phải phần việc của họ. Vậy thì họ là “Hạ ủy” chớ “Cao ủy” gì nữa!

Thưa độc giả, đó là những hành động “cao thượng” của cái cơ quan được gọi là “Cao ủy Tỵ nạn Liên Hợp Quốc”. Cơ quan nầy nhận không ít tiền tài trợ từ chính phủ Mỹ, mà tiền đó cũng một phần là tiền thuế của người Việt ở Hoa Kỳ. Có ai nghĩ tới điều đó hay không?

Sau khi các ông Cao ủy không còn cứu người tỵ nạn nữa, người tỵ nạn trông cậy vào ai?

Không có ai hết!

Đó là mối “Hận” mà nhà thơ Hoàng Vũ ghi lại trong mấy câu thơ:

Chín tầng lồng lộng cao xanh ấy

Phật, Chúa ngài đang ngự cõi nào?

HẬN nén vào thơ treo đỉnh gió,

Gọi tình người bốn bể năm châu!

Phật, Chúa ở đâu không biết, thánh Ala ngự nơi đâu không hay, nhưng lính Mã Lai thì có mặt hằng ngày, lùng sục, tìm dao tìm búa, sợ người tỵ nạn bạo động, đã không có các gian hàng Mã, hàng Tầu bán chạp phô mà việc mua bán giữa người tỵ nạn trong trại với người Mã nhà ở phía ngoài, sát hàng rào cũng bị theo dõi, bắt bớ và kiểm soát rất chặt.

Trại Sungei Beshi, như đã nói, nằm phía ngoại ô thủ đô Mã Lai. Hàng rào trại được che bàng tôn, rất kín, trong không thấy ngoài, ngoài không thấy trong.

Thường mỗi sáng tinh mơ, khi lính Mã Lai chưa thức dậy, chưa đi tuần thì người trong trại lui phía sau, chỗ có nhà dân phía ngoài để liên lạc nhờ mua hàng giúp.

Bên trong trại là những cô gái chuyên đi mua hàng lậu. Hàng lậu có nghĩa là hàng Mã Lai cấm buôn bán chớ không phải lậu thuế. Ai không quen mua hàng lậu thì nhờ mấy cô gái nầy mua giúp với chút ít tiền công. Bên ngoài, nếu là người Mã Lai chính gốc thì có thể nhờ họ mua những món thực phẩm gì đó, rau, cá thịt bò, chớ không bao giờ nhờ họ mua thịt heo. Người Mã theo đạo Hồi, không ăn thịt heo, và cũng không mua giúp thịt heo cho người khác ăn. Người Việt miền Nam thì lại thường ưa ăn thịt heo. Nếu độc giả là người ở miền Tây hay có về vùng nầy, sẽ thấy chợ nhỏ, chợ lớn ở đây có nhiều sạp thịt heo hơn thịt bò, có khi không có sạp thịt bò. Vì vậy, người tỵ nạn, có ai “nhớ” thịt heo mà muốn ăn thì có bà Tầu nhà sát ngoài hàng rào mua giúp cho. Dĩ nhiên bà người Mã gốc Tầu không phải là tín đồ ông Mohamad.

Bọn lính Mã Lai, tôi không biết chúng có lén ăn thịt heo hay không, nhưng rất thính mũi khi thấy mùi thịt heo nấu chín. Vì vậy, mua thịt heo về rồi, rửa, cắt thì cũng phải làm lén, mà nấu cũng phải nấu lén. Và lỡ khi nồi thịt đang sôi, đang bốc mùi thơm lựng mà có tên lính Mã Lai xuất hiện tuần tiểu ngang qua, có khi không những không được ăn mà còn phải “Trình diện Task Force”.

Việc trình diện nầy cũng khá độc đáo. Nếu người bị bắt vì “tội thịt heo” mua bán, nấu, ăn… là một cô còn trẻ, gặp tên sĩ quan Mã Lai xử tội có máu 35, máu dê thì nó cho hai giờ trình diện một lần, từ 8 giờ sáng đến 6 giờ chiều là chấm dứt ngày hôm đó. Gặp “tội nhân” là bà già hay đàn ông thanh niên thì nó bắt một giờ trình diện một lần. Trình diện ba ngày thì nó tha. Gặp ngày phải trình diện thì chẳng còn thì giờ để nấu ăn huống chi làm việc gì khác.

Trốn trình diện là không xong. Người ít bị bắt thì bọn lính Mã Lai rất dễ nhận biết nếu vắng mặt; còn những cô gái buôn bán thường xuyên, bị bắt nhiều lần thì bọn chúng rất quen mặt giới “chị em tiểu thương”, trốn đâu cho thoát.

Một hôm Arlington đến trại! Thế là bắt đầu câu chuyện vui!

Arlington là một cựu trung tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, nay qua làm việc cho bộ Ngoại giao Mỹ, phụ trách “Phái đoàn Hoa Kỳ”. Gọi là phái đoàn nhưng chỉ có một mình anh ta. Lâu lâu, anh ta từ đâu đó, Bangkok hay Indo hay ở Hoa Kỳ tới xét hồ sơ người tỵ nạn, cho định cư ở Hoa Kỳ.

Thái độ của anh ta, như người ta thường nói là “coi trời bằng vung”, chẳng coi “ai” ra gì. “Ai” đây là viên chức Mã Lai hay Cao ủy Tỵ nạn, chớ với người tỵ nạn thì thái độ anh ta rất khác, độc giả hãy cố gắng xem tới phần sau sẽ rõ.

Một hôm, anh Nguyễn Công Chính, thông dịch viên thanh lọc cho Cao ủy Tỵ nạn Liên Hợp Quốc, làm việc xong, đến thăm tôi, nói chuyện chơi như anh thường đến trước kia. Anh ấy nói:

-“Chú Hải! Hôm qua cháu đi taxi do một người Mã lai lái. Nói chuyện với ông ta về việc ăn thịt heo, cháu kể lại một chuyện mà cháu đã đọc trong sách nào đó đã lâu. Người ta kể hồi ông Mo-Ha-Mát đang còn truyền đạo, có một trận dịch lớn lắm vì người ta ăn thịt heo. Vì vậy nên ông Mô-Ha-Mát cấm tín đồ ăn thịt heo để tránh dịch, chớ có phải kinh Koran cấm đoán gì đâu! Nghe nói vậy, ông ta nổi giận đùng đùng, thiếu đường muốn đuổi cháu ra khỏi xe!”

Tôi nói:

-“Kinh Koran nào? Ông Mo-Ha-Mát tiêu đời rồi thì có tới 6 bộ kinh Koran do 6 ông “đại đệ tử” của ông ta soạn ra. Ông nào cũng cho mình đúng. Sáu ông đúng, nên có 6 chân lý của kinh Koran. Ông Mô-Hát-Mát có sống lại cũng không biết ông đại đệ từ nào đúng, nói chi tín đồ. Tín đồ mù quáng, cuồng tín, biết cái gì? Cấm ăn thịt heo là họ tu đấy!”

-“Tu như thế nào? Nguyễn Công Chính hỏi tôi.

-“Ông” coi phim “cô-song” chưa? Mình gọi là “phim con heo”. Tại sao biết không? Tại vì heo dâm nhất trong hàng loài vật. Cấm ăn thịt heo để khỏi dâm như heo.” Tôi trả lời.

-“Cháu tưởng con dê mới dâm nhất chớ. Người nào dâm người ta gọi là “dê” chú à!”

-“Ông” đọc “Lục Súc tranh công” chưa? Trong sáu con gia súc gà, ngựa, chó có tới những hai con vật dâm. Không lý người ta phải nhịn ăn thịt gia súc.” Tôi nói.

-“Nhịn ăn thịt gia súc thì hết dê, bộ phải ăn chay sao?” Chính nói.

Tôi nói đùa bằng câu tục ngữ: “Ăn mặn nói ngay, ăn chay nói láo!”

&

Theo luật lệ do Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai đặt ra thì ngay cổng có cuốn sổ. Ai vào ra trại thì xuất trình giấy tờ, xong ký tên vào sổ, khi vô cũng như khi ra.

“Ông trời con” Arlington chẳng cần xuất trình giấy tờ cho lính gác hay ai xem cả. Và hình như người ta cũng biết cái tính cà khịa của anh trung tá nầy rồi. Đậu xe xong là anh ta đi thẳng vào cổng trại. Tới chỗ có cái bàn có cuốn sổ xuất nhập mở sẵn thì anh ta đóng cuốn sổ lại mà chẳng cần ký tên hay ghi danh gì cả. Xong đi vào, thấy một hàng người xếp hàng đứng chờ trình diện, anh ta bước tới, hỏi: “What?” Người tỵ nạn chỉ cần nói “Pork” là anh ta biết ngay họ bị phạt vì tội ăn thịt heo. Vậy là anh ta thu mấy tờ giấy trình diện. Thu tờ nào anh ta xé bỏ tờ đó, vụt xuống đất, đuổi người tỵ nạn “Go home”. Thế là ai nấy hớn hở ra về, việc trừng phạt coi như xong. Mỗi khi xếp hàng trình diện, thấy Arlington đi vào, người ta coi như gặp “vị cứu tinh”, còn hơn “cứu tinh cho dân tộc”.

Vào tới văn phòng Cao ủy, Arlington kéo ghế ngồi, gác chân lên cái ghế trước mặt, và rút thuốc ra hút, mặc dù ngay cửa vào đã có dán mấy chữ “No Smoking”. Vừa hút, vừa xem hồ sơ, Arlington gạt tàn xuống đất. Cô Cao ủy Daeng tìm một cái gạt tàn thuốc đem tới để cạnh đống hồ sơ. Arlington đưa tay đẩy cái tàn thuốc ra xa, không xài tới.

Chưa hết đâu! Anh ta ngồi trong phòng, gọi từng người vào phỏng vấn để xét hồ sơ. Anh thông dịch viên ngồi bên cạnh làm cái công việc “thông dịch thông gà” (mờ).

Có hai mẹ con người Việt, chồng định cư ở Mỹ. Trường hợp nầy, người ta gọi là “diện đoàn tụ”, rất dễ đậu thanh lọc và đã đậu rồi mới được Mỹ xét. Bà mẹ được gọi vào phỏng vấn trước. Xong, bà ta ra khỏi phòng, đứng cạnh cửa, hồi hộp chờ đợi. Cô con gái vào phỏng vấn. Chỉ ít phút, người con gái cũng được ra. Thấy con, người mẹ lo lắng từ nảy giờ, bèn hỏi con:

– “Sao? Thằng Mỹ nó hỏi mày sao?”

Đứa con gái chưa kịp trả lời thì anh thông dịch viên bước ra cửa, gọi người mẹ vào. Arlington không cho bà ta ngồi, nói ngay, bằng tiếng Việt:

– “Tôi gọi bà bằng bà, gọi con gái bà bằng cô. Tại sao bà gọi tôi bằng thằng Mỹ?”

Bà mẹ chỉ kịp ngồi sụp xuống đất chắp tay lạy lia lịa mà nói rằng:

– “Tui lạy ông! Tui lạy ông! Tui lỡ lời!”

Tưởng là “thằng Mỹ” từ chối hồ sơ, ai ngờ chỉ tháng sau bà ta cùng cô con gái qua Mỹ theo chồng. Hú hồn!

Người ta tranh cãi nhau về trường hợp trung tá Arlington khá nhiều! Kẻ thì cho rằng ông ta khước, dốc, kiêu ngạo. Có người thì bảo rằng y ghét việc thanh lọc, đày đọa người tỵ nạn thì quậy chơi cho bỏ ghét. Vậy thì ông ta chống thanh lọc, cho thế là bất công, chống đối bằng một thái độ tiêu cực chớ làm gì được bây giờ!

Làm gì được bây giờ?

Làm gì để cứu người tỵ nạn?

Chịu! Luật tỵ nạn đã có rồi, ai làm ngược lại được.

Khi tôi còn ở trại Marang, thuộc tiểu quốc Teranganu trên đất liền, chờ thanh lọc thì nghe tin tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng đến trại tỵ nạn Sungei Beshi. Ở các trại tỵ nạn, nhiều người biết ông tiến sĩ người Việt, làm chủ tịch cơ quan Boat People SOS nên khi nghe tin ông đến trại, ai ai cũng hy vọng, chờ đợi, may ra ông có thể giúp đỡ gì họ, những người đã hỏng thanh lọc, định cư được chăng!

Thăm thì đến thăm, ông Thắng không làm kẻ du thuyết như mấy ông bà mắt xanh mũi lõ châu Âu đến khuyên người tỵ nạn hãy trở về. Ông đến gặp trại gặp nhiều anh em trong trại tỵ nạn, nhất là những người hỏng thanh lọc, đang tham gia phong trào tranh đấu đòi quyền định cư, nói họ biết, giải thích cho họ rõ về những khó khăn họ phải đương đầu vì luật tỵ nạn đặt ra.

Điều ông Thắng hứa với anh em là trở về Mỹ, ông sẽ gây nên một phong trào, vận động với các dân biểu, nghị sĩ Mỹ, xét lại vấn đề người tỵ nạn bị hỏng thanh lọc. Ông khuyên những người đậu thanh lọc, sắp đi định cư, tới Mỹ, Úc hay Canada, vận động với ngườì Việt đã định cư tại chỗ, liên lạc và đặt vấn đề người tỵ nạn hỏng thanh lọc, với các vị dân cử ở địa phương. Đó là động cơ khiến tôi viết hơn 10 bài nhan đề là “Thảm Trạng Thanh Lọc ở Mã Lai” đăng trên báo Văn Nghệ Tiền Phong và tham gia những buổi vận động ở Masss do ông Phạm Thư Đăng tổ chức như tôi đã trình bày ở trên, cũng như các cuộc vận động do chị Julitte Hạnh tổ chức, gặp vài dân biểu liên bang ở địa phương để trình bày vấn đề như tôi đã làm với các dân biểu Neal, Peter Blute và McGovern của Central Mass. Trong khi đó thì tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng và cơ quan Boat People SOS của ông thì lobby tại quốc hội Hoa Kỳ.

Nhiều người tin rằng, với sự hoạt động tích cực và bền bĩ của tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, quốc hội Mỹ đã thông qua chương trình định cư cho người hỏng thanh lọc, được đi Mỹ theo “diện RORV” (Resettlement Opportunity for Vietnamese Returnees).

hoànglonghải

(1) Ông trung tá quận trưởng Bến Tranh, tỉnh Định Tường tên là Ngô Văn Th. bị ông già Lê Văn Duyện tố cáo tham nhũng. Ông quận trưởng bèn cho lính giả làm Việt Cộng bắn chết ông già to gan. Báo chí điều tra làm tùm lum lên, ông trung tá quận trưởng bị đưa ra tòa án quân sự vùng 4, ở Cần Thơ. Nhờ ông trung tá có cô em vợ là người đẹp làm speaker của đài TV Cần Thơ, quen lớn với ông tướng vùng. Thế là khi ra tòa, ủy viên công tố, làm chuyện ngược đời, thay vì lên án ông trung tá quận trưởng, thì lại bênh vực, khiến báo chí lại nhao lên lần nữa vì trò đời chơn giả khó phân, bảo rằng đời bây giờ không phải “Nén bạc đâm toạc tờ giấy” như tục ngữ nói mà phải sửa lại là “cái ấy” đâm toạc tờ giấy mặc dầu “cái ấy” cũng chỉ là “Thịt da đâu cũng thế mà thôi” chớ không phải sắt thép chi cả.

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 13 Dec 2023

Bài 13

Thánh cứu người

Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán

Khi đã nâng bình sữa ấp lên môi

Thì hẳn Chúa cũng thẹn thùng hối hận

Đã sinh ra thân thể con người

(thân thể – Huy Cận)


Chuyện của Phùng Trí Hằng, hiện định cư ở Florida.
Hai hôm sau, buổi trưa, cha Queentin đến chỗ tôi ở. Ông mang theo một cái gói, nói với vợ chồng tôi rằng cha mua cho, theo lời yêu cầu của vợ tôi. Mở gói ra xem, tôi ngạc nhiên và thích thú khi thấy một cái ống vố hiệu Dunhill và ba gói thuốc lá, một gói hiệu “79” là thứ tôi thường hút trước 1975. Tôi cám ơn cha rối rít. Cha Queentin nói thêm, cha không biết tôi ưa loại thuốc gì. Cho cha biết, lần sau qua đất liền, cha sẽ mua thêm. Tôi vâng dạ, nhưng thầm nghĩ, sẽ nhờ “Gian hàng Mã” (1) mua giùm.

Tôi nói với cha về việc tranh đấu. Những người rớt thanh lọc, quả tình rất đáng thương. Họ không thể trở về. Với cha, tôi chỉ nói tới việc họ sợ Dziệt Cộng trả thù, theo dõi, kềm kẹp, rất khó sống.

Tôi không nói về tự do. Lý thuyết, nhiều khi không thực tế, nên nói cũng vô ích. Sở dĩ tôi chủ trương như vậy vì tôi nhớ câu cha Quentin nói hôm tôi gặp cha ở văn phòng Cố Vấn Hùng:

“Tự do ở trong trái tim” Khi nói câu ấy, cha Quentin đưa bàn tay to nhưng gầy để lên phía trái ngực của cha. Khi cha đã nói như thế, thì lý luận với cha như thế nào để cha có thể hiểu ở Việt Nam bây giờ không có tự do.

Tuy nhiên, tôi không nói với cha về lòng tự ái, nỗi buồn rầu, khi người hỏng thanh lọc phải trở lại quê nhà. Tâm lý người Việt, sau chiến tranh, bỗng trơ cứng đi, vô cảm. Cái chết, cái đói, sự đau đớn về lửa đạn, chinh chiến làm cho lòng người chai đá, thấy người chết không buồn, thấy người đói không thương, thấy người hoạn nạn không xúc động. Người tỵ nạn bị cưỡng bức hồi hương chắc gì sẽ được đồng bào thương xót, thậm chí còn mai mỉa cho là ham vui, ham sướng ra đi để nay bị trở về, mất mát, đói rách… và “đáng đời”.

Thật vậy, anh Phan Trí Hằng nói với tôi:

“Nhà em ở trên đường lên Quang Trung (2). Em kiếm việc làm không ra. Vợ em buôn gánh bán bưng nuôi con. Sống không nỗi, đành bán nhà để vượt biên. Nay về lại, nhà không có mà ở, việc không có mà làm, lấy gì nuôi năm đứa con.”

Tôi nói:

– “Phải đi! Đi thì còn sống, về là chết. Chết một “cửa tứ.”

Sống chung với đồng bào tỵ nạn, nghe họ kể về đời mình, nghe họ than thở, kêu rêu, thật đau lòng nhưng có sống với họ mới hiểu, thông cảm và biết thêm tình người!

Hồi tôi mới định cư ở Mỹ, trong một buổi họp ở Boston, do ông Phạm Thư Đăng tổ chức, có anh Nguyễn Đình Thắng từ Virginia về dự, để bàn cách làm thế nào giúp đồng bào đang kẹt bên các trại tỵ nạn Đông Nam Á. Bỗng nghe một người, qua Mỹ chắc cũng đã lâu hiện làm thư ký thư kiếc gì đó cho một khách sạn ở Boston, phát biểu một câu làm tôi ngạc nhiên đến sững sờ:

– “Những thứ đó, cho qua đây làm gì, chỉ xấu hổ thêm. Biểu họ về đi.”

Nói xong, ông ta bỏ ra khỏi phòng, đi một mạch.

Thì ra vậy, những người nghèo khổ, giành giật miếng ăn nên ghét bỏ nhau đã đành. Những người nay giàu có sung sướng rồi, sợ dây vào đám bần cùng, chỉ thêm “xấu hổ” mình.

Tôi không hiểu cái “xấu hổ” đó, người ta lấy từ đâu ra: Từ văn hóa của người Việt, từ Từ bi của đạo Phật hay từ Bác ái Công giáo. Không! Nó không từ những chỗ ấy mà ra. Nó từ lòng ích kỷ, đố kỵ nhỏ nhen, từ tâm lý của chính người ấy hay từ cái gène của gia tộc anh ta đó thôi!

Khi còn ở trại Sungei Béshi, một buổi trưa, vừa ăn cơm xong thì một cô gái, tên Lữ, cũng gần tới 30 tuổi, cao gầy, quen với vợ tôi, đến chơi. Vợ tôi mời cô lên gác, chỗ ngủ. Vừa ngồi xuống, tôi nghe tiếng cô ta khóc nức nở, và tiếng than:

– “Chị ơi! Má em nuôi em cực khổ. Em chưa làm gì trả hiếu cho má mà nay em hỏng thanh lọc rồi chị ơi!”

Nghe tiếng khóc, lời than cô ấy, tôi bỗng thấy xúc động mạnh, tưởng như có cái gì đè nặng lên ngực mình, chẹn nơi cổ tôi. “Chưa làm gì để trả hiếu cho má mà nay em hỏng thanh lọc.” Vậy thì rõ ràng cô ta mong đậu thanh lọc, mong đi định cư để trả hiếu cho mẹ. Trả hiếu cho mẹ, có nghĩa tới nơi định cư, Mỹ, Úc gì đó, làm lụng, chăm chỉ, chắt bóp từng đồng, từng xu để gởi về “trả hiếu cho mẹ”, để mẹ có cơm canh ngon ngọt, để mẹ sắm cái áo, cái quần, để mẹ sửa sang nhà cửa, thay một mái tranh, vá lại bức vách. Chuyện thì nhỏ mà vĩ đại quá, lòng thương mẹ của cô Lữ, của người Việt vĩ đại quá.

Ai cũng có mẹ, ai cũng muốn làm lụng, dù vất vã, tiết kiệm từng đồng xu để lo cho mẹ, giúp mẹ. Cái vĩ đại của con người, chính là hoàn tất những việc làm nhỏ nhặt thường ngày. De Amicis (3) nói vậy! Cái vĩ đại của người con chính là làm những việc nhỏ nhặt thường ngày… để lo cho mẹ. Đó là vị tha… cho mẹ.

Trường hợp của cô gái nầy vĩ đại hơn! Cô ta vượt biên, xông pha vào nơi nguy hiểm, có hải tặc, có sóng to gió lớn, có bão táp. Để làm gì? Để kiếm tiền gởi về cho mẹ!

“Mà nay em hỏng thanh lọc rồi chị ơi!”

Nó có nghĩa là em không lo tròn chữ hiếu, không có cơ hội kiếm tiền gởi về cho mẹ. Đó là tiếng kêu than vô cùng đau đớn, là tiếng kêu tuyệt vọng của một sinh vật bị một vết thương trí mạng. Hỏng thanh lọc rồi, có nghĩa cô ta phải trở về, sống bên mẹ mà không lo gì được cho mẹ cả, không giúp đỡ gì được cho mẹ cả, là tiếp tục những ngày sống mòn của tuổi thanh xuân một cách vô ích, trong sự hao mòn của năng lực, của sức sống, và lại chìm ngập trong bóng đêm của những ngày tháng u buồn, tuyệt vọng. Ra đi, tìm thấy một nguồn sáng ở cuối chân trời. Hỏng thanh lọc là tia sáng vừa le lói ấy đã vụt tắt.

Anh chị em chúng tôi rất thương mẹ. Điều ấy khá dễ hiểu. Cả gia đình tôi đi kháng chiến, lên chiến khu. Năm 1948, cha tôi bị bệnh qua đời cũng ở trên ấy. Người chị cả cũng qua đời trước đó một năm. Thế rồi mẹ tôi đem 7 đứa con còn lại, từ chiến khu, về “theo Tây” để anh em chúng tôi được đi học trở lại, được no cơm ấm áo, là nhờ công lao của mẹ. Lúc đó, mẹ tôi mới 41 tuổi! Công ơn mẹ như thế, có đứa con nào mà không biết thương yêu, nhớ ơn mẹ. Từ chỗ đó, tôi kính trọng những ai biết thương yêu mẹ như anh chị em tôi. Tiếng khóc than của cô Lữ, là tiếng lòng của cô ta, nhưng đó chính là tiếng lòng của ai có mẹ, thương yêu mẹ, như anh chị em chúng tôi, như chính tôi vậy.

Có ai hiểu tâm trạng của những người hỏng thanh lọc?

Có ai thương xót cho những người đang đi trên một cuộc hành trình gãy đổ, có ai thương cho những người phải quay lại một vòng tròn, tiếp nối những ngày đau buồn, đói khổ, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu cả tự do ở quê nhà. Giá như chúng ta là những người hỏng thanh lọc và bị cưỡng bức hồi hương, chúng ta sẽ nghĩ gì, thấy gì, khi gặp lại những tên Công an, trở lại với buôn gánh bán bưng, đầu tắt mặt tối mà không đủ chén cơm, không đủ cọng rau cho con ăn, thiếu cái áo lành cho con mặc, thiếu đôi dép cho con mang.

Những đứa trẻ sinh ra ở Mỹ, lớn lên ở Mỹ, và cả những người sống quen đời sống Mỹ, sẽ không bao giờ tưởng tượng ra được ở Việt Nam, ngay bây giờ, lúc nầy, có những đứa bé đi chân đất, chưa bao giờ xỏ chân vào đôi dép nhựa, đừng nói chi tới hai chiếc giày, những đứa bé chưa bao giờ xỏ tay vào cáo áo mưa bằng nylon, mà phải co ro trong cái tơi lá, với quần xà lỏn, với chiếc áo vải mong manh, giữa cơn lạnh mùa đông, trong cảnh mưa phùn gió bấc mà có lần bác sĩ Lê Trọng Lộc vừa kể lại vừa chảy nước mắt khi thấy đứa bé “chự bò” (4), như tôi viết về cuộc đời ly hương của ông.

Có khi, nửa đêm, tôi giật mình thức dậy, toát mồ hôi lạnh vì một giấc mơ tôi còn ở trong trại cải tạo.

Tất cả những cảnh tượng đó, chính là cảnh “Đoạn trường” – như Nguyễn Du viết “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.” Những người nhanh chân hồi 30 tháng Tư 1975, chưa từng trải qua cảnh đoạn trường khi quân Cộng Sản chiếm miền Nam. Cũng không ít người đã từng “qua cầu”, đã hay nó, biết nó, nhưng có ai còn nhớ lại không để thương cho những người phải quay trở lại cảnh đoạn trường ấy theo một

con đường vòng.

Dù vậy, rõ ràng cô gái ở trên ra đi vì tìm đường nuôi mẹ. Đâu có một động cơ chính trị nào thúc đẩy hay buộc cô ta rời bỏ quê hương như luật tỵ nạn đòi hỏi. Người ta quên đi một điều, hầu như phần lớn những người vượt biên là vì lý do kinh tế. Nhưng động lực kinh tế đó không phải là do chính trị tạo ra hay sao? Chế độ chính trị độc đoán, hà khắc đã tạo ra tất cả, đã đẩy người dân vào hoàn cảnh thất nghiệp, thiếu ăn thiếu mặc. Ai có liên hệ đến chính quyền miền Nam trước 1975 thì đều giống nhau cả, chỉ tùy thuộc ở “mức độ phản động” cao thấp, ít nhiều mà thôi.

&

Phùng Trí Hằng hỏi tôi:

– “Làm sao em đậu được anh?”

– “Làm sao? Phải nói láo chớ làm sao? Đậu hay hỏng, ai cũng phải nói láo mới qua được thanh lọc, láo ít hay láo nhiều mà thôi. Anh là người có đạo. Anh có nói láo được không?” Tôi hỏi.

– “Được chứ anh! Nói láo để đậu thanh lọc là em nói láo liền.”

– “Phải nói láo. Không có cách nào khác. Bọn mình không có con đường nào khác. “Ông” lên nhà thờ xưng tội đi, rồi tôi bày cách nói láo cho “ông.”

– “Khỏi anh! Chả cần! Khỏi xưng tội! Em đậu được, em xưng tội một lần luôn.” Hằng vừa cười vừa nói.

– “Tui bày cho “ông” nói láo, còn nói hay không là tùy “ông”. Khi xưng tội, “ông” đừng đổ thừa cho tui, tại vì “thằng tui” mà ông nói láo, nghe chưa!”

Khi nói hai tiếng “thằng tui”, tôi đưa tay chỉ vào người tôi.

Hằng cười, sung sướng:

– “Anh bày cho em đậu thanh lọc, ơn anh lớn lắm. Chưa cám ơn sao lại có thể đổ thừa cho anh. Chúa biết, em càng thêm nặng tội.”

Tôi bỗng nhớ tới bốn câu thơ của Huy Cận: “Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán, Khi đã nâng bình sữa ấp lên môi, Thì hẵn Chúa cũng thẹn thùng hối hận, Đã sinh ra thân thể con người.” Chúa sinh ra con người làm chi mà để con người khổ vậy hè?!

Tôi nói với Hằng:

– “Tui có cách nói láo rồi, để tui sắp xếp lại cho có đầu có đuôi. Sáng mai, sau mười giờ, “ông” lên gặp tui. Tui sẽ bày trò cho. Trò nầy chắc ăn trăm phần trăm.” Tôi lại đùa: “Ông” không đậu thì tui đốt hết sách vở thánh hiền tui đã học cho xong.”

Hôm sau, đúng giờ hẹn, tôi với Hằng ra ngồi ngoài bãi biển Khu C, gần chỗ Hoàng tự tử để nói huyện cho dễ. Vừa yên chỗ, tôi hỏi Hằng:

– “Ông có biết vụ phong thánh cho 117 vị tử đạo không?”

– “Biết chút chút.” Hằng trả lời.

– “Mẹ” – tôi chưởi thề – “Tui không phải là người có đạo, tui cũng biết. Ông đạo dòng mấy đời mà chỉ biết chút chút! Nghe muốn nổi sùng.”

– “Biết chút chút là được rồi. Vợ chồng em lo chạy gạo toát mồ hôi, còn chưa đủ cho con ăn. Biết tới mấy ông thánh cho nhiều, nồi cơm có đầy thêm được đâu!” Hồng phân trần.

– “Chủ nghĩa thực dụng!” Tôi nói. “Vậy là chủ nghĩa thực dụng đấy. “Bác Hồ” của tụi Việt Cộng sợ điều nầy lắm. Cán bộ mà “chủ nghĩa thực dụng” thì chỉ lo cho đầy túi – túi tham đấy – túi tham không bao giờ đầy. Dân thì khổ mà cán bộ thì giàu có.”

– “Cán bộ bây giờ giàu lắm anh ơi!” Hằng thêm vào.

Tôi cười:

– “Rơi vào cái nầy thì “ông cố nội cũng xa”. Má tui hồi xưa hay nói câu “Phú quí đa đinh hội, cùng bần ông cố nội cũng xa.” Ông cũng bỏ luôn 117 ông thánh. Ông có biết bây giờ tôi nhờ 117 ông thánh cứu ông đây!”

– “Là sao? Anh! Anh giúp em đậu là nhờ anh chớ có ông thánh nào vào đây?” Hằng nói, với vẻ lo lắng.

– “Từ từ. Để tui nói cho ông nghe. Ông có biết tấm hình nói về 117 ông thánh Việt Cộng cho phổ biến ở Việt Nam không?” Tôi hỏi.

– “Biết! Em có thấy ở trước khi vượt biên.” Hằng nói.

– “Ông” có thấy bức hình đó được vẽ lại trên nhà thờ Bidong không?” Tôi lại hỏi.

– “Có! Em có thấy!” Hằng trả lời.

– “Ông có thấy hai bức hình đó có chi khác nhau không?” Tôi lại hỏi.

Hằng không trả lời, có vẻ suy nghĩ. Tôi cứ để yên cho anh ta suy nghĩ. Một lúc lâu, Hằng nói:

– “Em thấy hình như có chỗ khác anh à!”

– “Khác thật chớ hình như mẹ gì nữa. Ông rán tìm cho ra cái chỗ khác đó đi. Tại sao nó khác nhau? Suy nghĩ đi.”

Một lúc lâu, Hằng lại nói:

– “Anh chỉ cho em đi! Việc nầy rắc rối, em không rành!”

– “Tui muốn “ông” suy nghĩ là để “ông” nhớ cho lâu, khi phỏng vấn, dễ trả lời. Chớ tui nói thì dễ thôi, nhưng “ông” phải nhớ kỹ, thuộc lòng mới được.” Tôi nói.

Ngưng một lúc, tôi lại hỏi Hằng:

– “Bức tranh trên nhà thờ là bức tranh nguyên thủy, do tòa thánh La Mã phát hành. Đúng không?”

– “Đúng!” Hằng trả lời.

– “Bức tranh được phổ biến ở Việt Nam” tôi nói: “là bức tranh bị Việt Cộng bắt sửa lại. Nó khác nhau ở chỗ nầy, phải nhớ kỹ:

“Cái giống nhau là trời xanh, hình mấy ông thánh, lũy tre làng.

“Khác nhau là dưới lũy tre làng, tranh của La Mã thì vẽ gông xiềng, người bị trói chờ xử chém, người cầm mã tấu giơ cao lên, để chém tử tội. Đúng chưa”

– “Dạ đúng!” Hằng nói.

– Tranh ở trong nước, Việt Cộng bắt sửa lại là không có cảnh chém giết đó mà chỉ có ruộng vườn, con trâu, người đi cày, bé chăn trâu. Nhớ chưa?”

– “Dạ nhớ!” Hằng nói.

– “Ông” có biết tại sao Việt Cộng bắt sửa như thế, biết không?” Tôi hỏi.

– “Dạ không!” Hằng trả lời tỉnh bơ.

Tôi cười, giải thích:

– “Một là, nếu nói về dân tộc, thì người Việt Nam hiền hòa, không muốn chém giết nhau nên không muốn vẽ ra cái cảnh ấy! Tuy vậy, điều nầy không quan trọng. Chính yếu là việc chém người theo đạo Thiên Chúa là nghề của Việt Cộng. Chúng nó ác không thua gì vua chúa ngày xưa, mà có phần trội hơn. Cảnh ấy làm cho chúng nó chột dạ, nó nhắc người

Việt Nam nhớ lại những gì chúng nó đã đối xử, đã chém các cha, các tín đồ. Vì vậy chúng nó sợ, không muốn có, bắt phải xóa đi. Việc nầy có liên gì đến việc thanh lọc của “ông”? “Ông” biết không?”

– “Dạ chịu!” Hằng trả lời nhanh, không suy nghĩ. Một lúc, anh ta nói tiếp:

– “Bố em đi lính Quốc Gia, tử trận ở lò đường Bình Dương, khi Việt Cộng tấn công phá lò đường. Còn em là trung sĩ. Em tưởng khai cái đó chứ!”

– “Điểm chính là lý do tại sao rời Việt Nam? Điều nầy mới quan trọng. Các điều khác cũng khai, nhưng là lý do phụ.”

Một lúc sau, tôi nói với Hằng:

– “Lý do chính khiến anh phải rời Việt Nam là vì tụi nó tìm bắt anh. Anh làm gì mà tụi nó tìm bắt anh? Ấy là việc anh phổ biến bức tranh phong thánh 117 vị tử đạo của La Mã. Hình ấy từ ngoại quốc lén gởi về, “ông” đem phổ biến cho bà con tín đồ. Việc bại lộ, chúng nó tìm bắt “ông” nên “ông” phải trốn đi. Tuy nhiên, nói có sách, mách có chứng mới được.”

– “Là sao anh?” Hằng hỏi, lo lắng.

– “Ông gởi thư về Việt Nam, nói cho bố vợ anh, gởi cho anh một bức hình thánh tử đạo in ở trong nước. Thứ hai, nhờ một ông cha ở Ý hay ở Pháp, ở Mỹ gởi cho anh bức hình do La Mã phổ biến. Khi thanh lọc, anh trình cho luật sư Cao ủy và Mã Lai hai bức hình nầy, chỉ cho họ thấy rõ sự khác nhau.” Tôi giải thích.

– “Em có quen ông cha, ông chú nào ở “nước ngoài” đâu!” Hằng nói.

– “Tui mà phỏng vấn thanh lọc, tui cho anh rớt cái bịch ngay. Phải nói là “hải ngoại” như hồi trước 1975. “Nước ngoài” là danh từ Việt Cộng. “Ông” bị “Việt Cộng hóa” thì tui cho “ông” về ở với tụi nó.” Tôi nói nửa đùa nửa thật!

– “Anh thông cảm, em quen miệng, cứ chúng nó nói sao, em theo vậy.” Hằng trả lời, vẻ không vui.

Ngưng một lúc, tôi nói tiếp:

– “Để tui hỏi cha Đại là người tui quen thân ở bên Mỹ coi. Đối đế lắm, anh kêu thợ chụp hình lên nhà thờ chụp lại bức tranh trên đó. Nhưng phải kín, kẻo người ta “cướp công cách mạng” thì hỏng ăn.”

Tôi nói thêm:

“Ông phải khai tên tuổi, địa chỉ một ông cha nào đó ở Mỹ. Tui sẽ cho “ông” mượn tên, địa chỉ cha Đại để khai. Để phòng chừng, tui sẽ nói trước với cha Đại là cha đã gởi bức hình nầy về cho bố vợ anh, không qua đường bưu điện mà do một người quen của cha lén đem về.

“Ông” phải khai bố vợ “ông” đưa tấm hình nầy cho “ông”. “Ông” có trình bày với hội đồng giáo xứ, tức là họ đạo đấy, và mấy ông ấy đồng ý giao cho anh phổ biến bức hình nầy. “Ông” có quen ai làm thợ hình không?”

– “Dạ có, thằng bạn em. Thằng đó vượt biên sau em, hiện ở Indô.” Hằng nói.

– “Tốt. Anh phải nhớ tên tiệm, địa chỉ, khai là nó in giúp 100 tấm, giá rẻ. Nhớ gởi thư bảo nó nếu ai hỏi thì nói có in giúp anh một trăm tấm hình phong thánh. Còn bố vợ anh?”

– “Ông bỏ xứ lên Lái Thiêu rồi. Ông “điện chạm” hơi nặng, xăng đít (110) lên đơ xăng vanh (220)”, (4) ba hồi tỉnh ba hồi điên.”

– “Tốt! “điện chạm” là tốt. Cần nhứt là hai tấm hình khác nhau trình cho phái đoàn xem. Còn như tên địa chỉ người nào đó, sức mấy mà Cao ủy xác minh, thì giờ đâu! Cao ủy cũng chẳng nhờ Dziệt Cộng đâu. Họ không tin Dziệt Cộng đâu. Cần nhứt là “ông” nói láo rất tỉnh, như thật, có thứ lớp, khiến Cao ủy tin là được. Nhưng “ông” có một cái khó khác.”

– “Cái gì anh?” Hằng hỏi, vẻ nôn nóng.

– “Việc phổ biến hình thánh tử đạo khiến anh phải đi trốn, vượt biên một mình “ông” thì hợp lý. Tại sao lại vượt biên cả gia đình được? Vô lý quá!”

– “Em có vượt biên cả gia đình đâu!” Hằng cải.

– “Cả nhà qua một lần, cùng một “phom”, một blue card mà?!”

– “Thực ra, em đi trước một tuần. Vợ và mấy đứa con em đi sau. Lên ghe lớn, em mới gặp lại vợ con. Chỉ có đưa con gái đầu, nó không chịu đi. Nó sợ.” Hằng giải thích.

– “Ông” kể đầu đuôi câu chuyện vượt biên của “ông” đi. Tại sao “ông” đi trước, vợ con đi sau.” Tôi đề nghị.

– “Vậng!” Hằng nói. “Chuyện của em như thế nầy. Sau 75, em xin vô làm ở một gara sửa xe hơi trong Chợ Lớn với thằng em vợ. Sáng đi chiều về. Bây giờ Saigon chẳng ai đi “ô-tô con”. Chỉ còn xe đò thôi. Gara em làm, chuyên sửa, tân trang xe đò nên cũng có việc đều đều. Thỉnh thoảng có sửa xe Jeep của tụi Công an. Được gần hai năm, Dziệt Cọng bắt gara vô hợp tác xã. Thế là em mất việc. Khai lý lịch, tụi nó nói bọn chế độ cũ không tin được, nhứt là có sửa xe cho Công an. Thằng bí thư phường nói với ông chủ người Tầu: “Khi sửa xe, “ló” gài “nựu đạn” vào xe Công an “nà” ông tù mọt gông đấy nhá.” Ông chủ người Tầu nhát gan, sợ quá, biểu em nghỉ. Vậy là em thất nghiệp”

Không hiểu sao, hơn nửa năm nay, người ta đem máy Yanmar đến sửa nhiều quá! Nghi là người ta sửa máy ghe để vượt biên. Chuyện y như thật. Thế là thằng em vợ em tìm cách làm quen với một ông chủ sửa máy, chuẩn bị ghe vượt biên thật. Ông ta đã làm hai chuyến, trót lọt, đang chuẩn bị chuyến thứ ba. Rồi thằng em vợ ghé nhà biểu vợ chồng em đi. Nó bảo tình cảnh anh chị kéo dài chắc chết. Đi đi! May ra còn sống! Nó không đi vì chưa có vợ con gì, còn độc thân, chưa đói rách. Vợ chồng em thì tả tơi quá rồi, phải đi thôi. Kẹt là đi cả nhà, phải trả trước 7 khoen, tiền taxi cho 7 người.

Ngưng một lúc, Hồng kể tiếp:

– “Tìm đâu ra 7 khoen, một khoen cũng đủ chết, huống chi 7. Em gặp thằng em vợ lần nữa. Nó hẹn em gặp ông chủ ghe. Tin tưởng lắm! Thế rồi em bàn với vợ bán nhà để đi. Em bán cái nhà 6 cây, đưa trước một cây. Em phòng xa, nếu vợ chồng em đi được, thì người mua lấy nhà. Nếu không đi được, em về lại nhà cũ, trả lại cây vàng. Người mua nhà là ông cậu em, nên cũng dễ thông cảm nhau. Thế là em chuyển hộ khẩu cho ông vào nhà em để nhận cây vàng. Cái khó là nếu gia đình em không đi được, mất ít nhứt là 7 cái khoen, lấy đâu trả lại cho người mua nhà, dù là cậu cũng phải giữ lời. Bàn đi tính lại, không có cách nào khác hơn là liều.

“Thế rồi đến ngày đi, ông chủ ghe cho em đi trước, về ở nhà ông, Hộ Phòng, ở Bạc Liêu cho an toàn. Công an có bắt vợ con em, đàn bà con nít, chúng cũng phải thả ra. Em chẳng biết cách họ tổ chức như thế nào cả. Biểu ở thì ở, biểu đi thì đi. Khi lên “con cá lớn”, em mới gặp lại vợ con.”

Tôi nói:

– “Cứ sự thực như thế mà khai. Sửa một chút là vì Công an tìm bắt nên ông phải trốn đi, trước nửa tháng. Phải kéo thành nửa tháng cho hợp lý. Mọi việc chuẩn bị ghe tầu, tổ

chức là do em vợ và người quen của nó là ông chủ tàu lo. “Ông” mới trốn môt tuần mà cả nhà đi liền là nhanh, không hợp lý lắm. Riêng đứa con gái lớn, có đi với mẹ, nhưng bị Công an bắt vì tình nghi nghi vượt biên. Phải đổ cho Công an cái tội mà chúng nó thường làm, cho đáng đời. Nếu Cao ủy có hỏi con gái bị bắt như thế nào, “ông” nói không biết, xin hỏi vợ “ông”. Hễ Cao ủy kêu vợ “ông” thì vợ “ông” phải khóc nghẹn ngào, trả lời không rõ. Thấy người mẹ khóc vì thương con bị tù, Cao ủy mủi lòng, sẽ không hỏi nhiều, không làm khó dễ! Yên tâm.”

Một lát sau, tôi lại nói:

– “Nếu luật sư gọi vợ ông lên phỏng vấn, thế là “ông” có hy vọng, tụi nó tin ông. Coi như “ông” khai thế là được. Điều thứ hai, vợ “ông” có dễ khóc không! Giả khóc mà nước mắt đầm đìa than vãn, cầu Chúa, lạy Phật tứ lung tung lên, thế là “ăn” lắm.”

Hằng cười, trả lời tôi:

– “Anh có biết mấy bà Bắc kỳ khóc thuê đám ma không? Khóc thuê, chẳng bà con gì mà người ta khóc như thật.”

– “Tôi có nghe nói, nhưng chưa từng thấy bao giờ.” Tôi trả lời.

– “Bữa nào Cao ủy gọi vợ em lên, anh đứng rình mà xem.” Hằng vừa nói vừa cười, “Vợ em mà đi khóc mướn, người ta phải trả công gấp đôi mới xứng cái tài của vợ em. Cục đá mà thấy vợ em khóc, cũng phải cho đậu, nói chi Cao ủy”

Tôi cũng cười vì câu trả lời của Hằng. Kết thúc “buổi học bài”, tôi nói:

– “Ông về lo chuẩn bị tất cả như tôi dặn. Cố nhớ và suy nghĩ những gì tôi bày cho anh mà thấy chưa hợp lý. Hai tuần nữa, tui sẽ giả làm Cao ủy phỏng vấn, “ông” trả lời. Mình phải dượt cho kỹ, thực tập cho nhuyễn trước khi “ra quân”. Nhớ không.”

Hằng dạ, chúng tôi đứng dậy ra về.

Hơn hai tuần sau, tôi “dợt” cho Hằng lần đầu tiên. Anh ta trả lời cũng tạm ổn. Hai tuần trước khi thanh lọc, tôi “dợt” lại hai lần nữa cho Hằng.

Vậy mà, cũng cách hai tuần trước thanh lọc, Hằng tìm tôi, giọng thiểu não:

– “Em nói thật với anh, em đào binh!”

Tôi hốt hoảng:

– “Đào binh là sao?”

– “Là đào ngũ! Em đào ngũ khỏi quân đội!”

– “Chết cha!” Tôi nói. Rồi hỏi tiếp:

– “Ông” đào ngũ lúc nào! Sao không nói.”

– “Dạ! Tết 75, em được phép về Saigon thăm nhà. Vợ em sắp đẻ. Vả lại, ở Quảng Ngãi, lúc đó đánh nhau dữ quá, em cũng ngại trở lại đơn vị. Thấy em chuẩn bị trả phép, vợ em khóc. Nhìn cái bụng vợ thề lề, em “đào” luôn.”

Tôi không nói gì, trầm ngân suy nghĩ. Một lúc lâu, tôi hỏi Hằng:

– “Khi tới đảo, ông có khai ở phòng SB là đào binh không?”

– “Không! Em mới nói với anh lần đầu.”

Tôi nói, và giải thích:

– “Được! Không can chi! Anh về phép tết, ở luôn Saigon, tức là đào ngũ khoảng tháng 2- 1975. Cuối tháng 2, đại đội trưởng mới báo cáo lên tiểu đoàn. Ít ra, cuối tháng 3 tiểu đoàn mới báo cáo lên trung đoàn. Cuối tháng tư, chẳng còn ai để báo cáo cho ai hết. Vậy là trong hồ sơ bộ Tổng Tham Mưu, anh chưa bị báo cáo đào ngũ, coi như còn ở lính. Ấy là chưa kể, có thể mỗi nơi, dìm vài tháng để lảnh đồng lương lính ma của anh. Dại gì họ báo cáo liền để mất “quyền lợi.” Cứ cái “hệ thống quần dài” như thế mà báo cáo, thì trước ngày 30 tháng Tư, trong hai cái dĩa IBM hồ sơ quân vụ của một triệu lính Việt Nam Cộng Hòa, không có tên anh trong mục đào ngũ. Cứ yên yâm, anh không khai ra thì đại tá Bill (6) cũng chịu thua “chăm phần chăm”.

Nghe tôi giải thích như thế, Hằng yên tâm, hớn hở ra về.

&

Y như rằng, luật sư Cao ủy gọi vợ anh ta lên.

Tôi phải sửa lại câu tục ngữ “Biết con không ai bằng mẹ” thành “Biết vợ không ai bằng chồng.” Xong buổi phỏng vấn, hai vợ chồng Hằng dắt tay nhau vui vẻ ra về. Chẳng cần hỏi, cũng biết họ đậu thanh lọc.

Tôi không bao giờ hối hận việc bày cho hai vợ chồng Hằng nói láo khi phỏng vấn thanh lọc, nhứt là sau khi biết họ định cư ở Florida, làm ăn khá giả, mua nhà tậu xe, bảo lãnh cho đứa con lớn qua Mỹ, đoàn tụ với cha mẹ và tôi cũng không vui khi biết cả hai “Áo gấm về làng.”

hoànglonghải

(1) Tại Bidong có hai gian hàng bán chạp phô cho người tỵ nạn, một gian của người Tầu-Mã (Nguời Mã gốc Tầu), đồng bào tỵ nạn thường gọi là “Gian hàng Tầu”. Gian hàng thứ hai của người Mã Lai, thường gọi là gian hàng Mã.

(2) Con đường từ chợ Gò Vấp lên “Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung” cũ.

(3) Nhà giáo dục người Ý, tác giả cuốn “Grand Coeur”, Hà Mai Anh dịch thành “Tâm Hồn Cao Thượng”, sách gối đầu giường của học sinh tiểu học thời kỳ Việt Nam Cộng Hòa.”

(4) Chự bò: Giữ bò. Tiếng địa phương Trị-Thiên.

(5) xăng đít lên đơ xăng vanh, tiếng Pháp có nghĩa là điện 110 volt lên 220 volt. Câu hài của hề Phi Thoàn, Khả Năng.

(6) Đại tá Bill, xin xem lại bài số 2, viết về phòng SB.

Hậu chấn chiến tranh!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Bà con mình ai cũng biết sau cơn động đất tàn phá là những cơn hậu chấn tiếp theo sau. Chiến tranh cũng thế! Bom đạn tàn phá kinh hoàng: nhà cửa tan hoang cháy, người chết.
Buồn thay, chiến tranh đã chấm dứt nhưng hậu chấn chiến tranh còn tiếp tục dài dài, gây cho những người mắc kẹt trong cơn binh lửa nầy những chấn thương trầm kha về tâm lý, đeo đẳng mình hoài cho tới khi về với mộ!

***

Tui có thằng bạn Úc, tên Johnny, dưới mắt tui, nó là một anh hùng. Hồi mới 20 tuổi là đã tình nguyện đi Afganistan đánh nhau với quân khủng bố. Ra trận để quên đi nỗi sợ hãi, nó dựa vào rượu rồi mắc kẹt luôn trong đó không biết đường ra.
Tui cũng từng đi lính, từng vào sanh ra tử, từng bị ảnh hưởng ít nhiều của hội chứng chiến tranh. Nên chính tui cũng đang từ từ, tiệm tiến sa chân vào và sẽ chết đuối trong thùng tô nô đựng đầy rượu chát.
May nhờ có em yêu của tui! Tình em như tình Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào; thấy tui chìm trong men rượu đắng chỉ còn chừa cái lỗ mũi lên để thở như cá ăn móng thì em lại thò tay nắm lấy lỗ mũi tui mà kéo tui lên.

*** “Nói thiệt nhe tui đâu phải là người nghiện rượu. Người nghiện rượu cần phải uống. Còn tui tui uống rồi mà!” “Đối với tui rượu chỉ là một thứ gia vị của cuộc đời đi với món ăn. Không có nó thức ăn trở nên dỡ nhạt thếch nuốt không trôi. Vậy thôi!”

Nhưng Johnny, thằng bạn nhậu thân mến của tui nhìn qua triệu chứng sáng không rượu là tay chân run lẩy bẩy, cầm ly rượu đầu tiên đưa lên môi chưa kịp hớp là nó đã sóng sánh muốn đổ hết ra ngoài. Làm xong, chỉ một ly là mặt trời hồng hồng đã mọc trên mặt của Johnny, nó cười như hoa nở, triết lý vụn: “Người ta nói tiền không mua được hạnh phúc. Nói vậy là trật. Thử lấy tiền đi mua rượu uống coi. Vui hết biết chớ bộ!”
Dẫu Cha cố có khuyên nó là: “Rượu là kẻ thù nguy hiểm nhứt của đời mình.
Nhưng kinh thánh lại dạy hãy yêu thương kẻ thù như chính bản thân ta! Hỏi vậy tui còn biết phải làm sao bây giờ?”
Johnny ghiền rượu, ghiền rất nặng đến nỗi vợ nó bế con bỏ đi; nó đến tìm tui rủ ra quán khóc hi hi! Tui khuyên rằng giữa rượu và em chú mầy nên chọn em! Johnny là thằng ngoan cố: Con vợ nó bỏ đi chắc khoái thằng khác chớ nó đâu có ghiền rượu. Một năm chỉ uống có hai lần. Một là vào ngày sinh nhựt của nó. Hai không phải vào ngày sinh nhựt của nó mà thôi!

***

Úc đây có cái yếu đuối là găp chuyện khó khăn trong cuộc đời là chán sống là tự vận. Có lẽ vì sanh ra ở một nước giàu, giàu trong trứng giàu ra nên đụng chuyện hay ngã lòng nản chí.
Bị vợ bỏ, Johnny cưới vợ khác nhưng vẫn không quên được nỗi buồn chiến tranh. Nên tuần rồi, mặt buồn thỉu buồn thiu ngồi trong quán rượu, mắt cứ đăm đăm nhìn vào ly rượu sóng sánh trước mặt mình. Bất ngờ một tay thuộc băng đảng mô tô gọi là ‘bikie gang’, mặt mày bậm trợn, xăm trổ đầy mình, bước tới gần, đưa tay cầm ly rượu nầy ngửa cổ lên nốc cạn.
Johnny òa lên khóc nức nở. Tay đầu gấu nầy hối hận nói: ”Thôi đàn ông mà chú mầy mau nước mắt quá hè! Ta chỉ đùa chút mà. Thôi để ta kêu một ly rượu khác đền cho chú mầy vậy!”
Johnny gạt nước mắt; nhưng vẫn sụt sùi “Không phải chuyện ly rượu đâu. Chẳng qua đây là ngày xui xẻo nhứt đời tui!”
“Trước tiên đồng hồ báo thức hết pin, tui đi làm trễ. Boss của tui rất tức giận nên đuổi cổ tui, kêu mai đừng tới nữa.
Tui ra bãi đậu, xe tui không còn ở đó; ai đó đã ăn cắp nó rồi. Báo phú lít, mấy thầy đội nói không thể làm được gì; tui đành bắt ‘Uber’ về nhà!”. Ra khỏi chiếc Uber, mới hay là mình làm rớt cái bóp tiền có thẻ tín dụng trong đó!”
Vô nhà tui càng đau lòng hơn khi thấy người vợ yêu dấu mới thỉnh về của tui để lại thơ vĩnh biệt để trốn đi xây tổ uyên ương với thằng làm vườn của tui.
Tui rời nhà với cõi lòng tan nát đến quán rượu nầy đây tính chấm dứt cuộc đời xui xẻo củamình. Vậy mà xui xẻo vẫn còn không tha; cứ đuổi miết theo tui hè! Ly rượu độc có hòa thuốc chuột của tui lại bị ông giành uống cạn. Hu hu!”

Em yêu của tui đọc thấy bài: Hậu chấn chiến tranh, bèn xì một tiếng rõ dài, miệng cũng dài ngoằng, bĩu môi phán: “Nhậu là một thói hư tật xấu của quý ông mà cứ biện hộ đổ thừa cho chấn thương tâm lý thời hậu chiến hoài hè! Nghe ngứa lỗ tai tui quá hè!” Nói
xong, em tính bắt chước Hứa Do và Sào Phủ bên Tàu ra suối để rửa hai cái lỗ tai. Tui biết chắc rằng nước suối trong leo lẻo như vậy em yêu rửa hai cái lỗ tai xong rồi nó sẽ đục ngầu như nước Cửu Long mình chở nặng phù sa mùa nước nổi vậy!
Nhưng cãi với em làm gì cho hao hơi tổn tiếng. Chẳng ăn thua gì đâu. Vì Tía tui có dặn tui ngày tui đi cưới vợ là: “Khi cãi nhau, hãy để cho vợ của con nói lời cuối cùng. Bằng không sẽ bắt đầu một cuộc cãi lộn mới!”

***

Do đó muốn tránh cuộc chiến tranh sẽ nổ ra với em yêu tui bèn đáo tẩu ra quán rượu. Nhưng chiếu nay mình nhậu món gì ? Đến quán nào trong hàng trăm cái pub ở đất Footscray nầy đây?
Ôi tìm hiểu dài dòng chi cho nó mất công! Đi ăn nhậu, thấy tiệm rượu nào khách vô ra nườm nượp là mình cứ cắm đầu vô.
Chọn món gì, rượu gì thì cứ hỏi mấy em phục vụ chọn dùm mình luôn cho nó tiện sổ sách. Nghề của mấy em mà. Chi cần học một câu tiếng Anh cho thuộc nằm lòng là xong! Trước là để nổ với chiến hữu, mình cũng biết tiếng Anh chớ bộ. sau là nhờ em chọn hộ. Câu đó là: “What do you recommend?”
Trừ trường họp mình nhậu ghiền đến mức thượng thừa như ông Trịnh Công Sơn sành rượu: “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui!” tức là chọn loại rượu nào uống cho đã, cho vui. Để cho mặt mày xấu đau xấu đớn , xấu hoắc như Chí Phèo hay xấu ma chê quỷ hờn như Thị Nỡ cũng đều có cơ hội yêu nhau, ‘tù ti tú tí’ với nhau khi hai đứa cạn hết hai chai ‘tequila’!

hau chan chien tranh 02Tửu sắc!” Sau khi nốc rượu là có cái chuyện đó liền hè; nên Johnny, một lần đi nhậu với tui, lân la đến đòi ‘bao’ một em Úc, tóc vàng mỏ đỏ mắt xanh, ngực chành bành như hai trái dưa hấu, một ly rượu mạnh!
Nhưng em ỏn ẻn mà rằng: “Rượu không tốt cho đôi chân của em! “Bộ chân nó sưng lên hả?” “Không nó cứ bẹt ra hè!”
Rồi bác sĩ nói: “Johnny đang bị hội chứng lạm dụng rượu, nói nôm na là uống quá chén, quá nhiều. Rượu có thể giết Johnny chết. Điều đó hoàn toàn đúng, tui phản bác, nhưng chưa đủ vì rượu cũng tạo nên sự sống!
Rượu làm biết bao nhiêu đứa trẻ được sanh ra!”

***

“Ôi nhớ ngày cưới em, tui đã từng tuyên bố như đinh đóng cột rằng: “Anh yêu em vô cùng! Anh không thể nào sống được nếu thiếu em” Nàng hồ nghi hỏi lại cho chắc: “Đó là anh nói hay rượu nói?” “Anh đang nói đó! Anh đang nói với chai Johnnie Walker!”

***

Để kết bài nầy: “Dù em nói ngả nói nghiêng; anh đây vẫn vững như kiềng ba chân. Tui sẽ còn nhậu dài dài để chữa chấn thương thời hậu chiến; bởi đất nước tình ta đều tan vở; chén rượu cạn đi, cạn chén sầu. Hu hu!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Hải tặc

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Tui vừa trộm nghe bản tin trên đài VOA, đài Tiếng nói Hoa Kỳ của đế quốc Mỹ, là: “Quân đội CS Việt Nam, lần đầu tiên ở khu vực Ðồng bằng sông Cửu Long, vừa thành lập Hải đội dân quân thường trực ở Kiên Giang!”

Hải đội dân quân nầy có nhiệm vụ đấu tranh, giữ vững môi trường hòa bình, phòng, chống tội phạm, bảo vệ ngư dân, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Nói Hải đội là nói tưng lên cao, là một tấc tới trời, cho nó oai! Chớ hổng lẽ kêu là ‘Hải giám’ (giống tên của Tàu cộng)! Kêu vậy thì Chú Ba Tàu cộng nó đi thưa cái tội ăn cắp ‘Trade mark’ (Nhãn hiệu cầu chứng tại Tòa). Dân thì nó biết té ra mình cũng ‘vũ như cẩn’, vẫn như cũ! Là một bọn Sơn Ðông mãi võ, cầm gươm, xách kích thấy ghê vậy; nhưng chỉ để đánh cuội hay sao?

Hải đội nầy thiệt ra chỉ là những thuyền đánh cá tư nhân của ngư dân tỉnh Kiên Giang mà thôi! Ngư dân có thuyền, quan có súng. Hai bên hùn hạp để kiếm ăn giữa lúc tình hình Biển Ðông giữa các cường quốc: Mỹ, Nhựt, Anh, Pháp, Úc và Tàu Cộng ngày càng thêm căng thẳng.

Căng thẳng ở Trường Sa, ở Hoàng Sa thì mấy cha cứ tự nhiên căng thẳng đi! Còn Vịnh Thái Lan ở tuốt luốt trong nầy thì Hải đội Kiên Giang của ‘chúng ông’ an nhiên tự tại, vừa đi đánh cá, vừa làm Hải tặc!

Ðánh cá để kiếm ăn, Hải tặc để làm giàu. Cả hai đều để kiếm tiền, vàng về nhét cho đầy túi áo khỉ của bu nó, vợ của người đã từng thề bán mạng là về vườn sẽ làm người ‘tử tế’!

Có người vốn đa nghi như Tào A Man, tức Tào Tháo, nghe rõ ràng như vậy nhưng vẫn còn hồ nghi!

Ối cái thói nổ banh-ta-lông, nói cho dân nghe cho sướng lỗ tai thôi; chớ quan hổng dám làm.

Hổng nhớ cái vụ Gac- Ma hay sao cà?

Sáng ngày 14 tháng 3 năm 1988, tại đảo Gạc Ma (Trường Sa), tàu Trung Quốc chở lính Trung cộng cầm AK ào lên chiếm đảo. Tướng độc nhãn, (xin bà con đừng nhầm với tướng Moshe Dayan của Do Thái) Bộ trưởng Quốc phòng của CSVN ra lịnh không được nổ súng vào các đồng chí anh em vô sản toàn thế giới liên hiệp lại.

Hậu quả là 64 bộ đội CS Việt Nam (tình nguyện một cách tức tưởi) làm bia sống cho chính các đồng chí anh em môi hở răng lạnh thử súng! Hơn 30 năm rồi, hài cốt của những bộ đội, bị chính cấp chỉ huy cao nhất của mình phản bội một cách đê hèn, vẫn còn chưa được đưa về quê quán (?!)

Tại sao vậy? “Vì sống chết mặc bây! Tiền thầy bỏ túi đó thôi!

Bảo Huân

o O o

Ðó là chuyện hồi xưa! Dẫu xưa nhưng máu me cũng còn tươi rói! Vậy mà một ông Tiến sĩ, (bây giờ ở Hà Nội hoặc ở Sài Gòn ra ngõ là gặp Tiến sĩ hè! Vì Tiến sĩ nó đông như ruồi vậy), một nhà nghiên cứu Biển Ðông, nói: “Ðối với sự hung hăng của Tàu cộng, quạu thì quạu ghê! Mà quạu nghe yếu xìu!”. Xìu xìu ển ển như vậy mới đúng với đường lối của đảng ta! Trịch mắt me là bỏ Mẹ!

“Hiện nay tại Biển Ðông, Việt Nam đang phải đối phó với sự vi phạm chủ quyền. Việc khai thác dầu cũng ngay trong vùng Ðặc quyền kinh tế của Việt Nam, và nếu chúng ta sử dụng hải đội dân quân thì việc bảo vệ chủ quyền của chúng ta sẽ tốt hơn (?!)”

Ðường chín đoạn của Tàu cộng vẽ ngoài Biển Ðông. Dân quân biển của Việt cộng trong vịnh Thái Lan! Ăn cướp nó ở cửa trước, bố con nó lủi ra sàn nước đằng sau nhà mà ‘tập võ!’ “Nị có ngon vô nhà ngộ cướp cá, cướp dầu hết đi; rồi ra sau sàn nước, ngộ ‘tả nị sẩy’ à!

o O o

Rồi thêm một ông cũng ‘huỡn’, ở không quá, bèn đem cái sách lược của đàn anh Tàu cộng và đàn em CSVN ra mà so sánh coi nó giống và khác nhau ở chỗ nào?

Té ra nó y chang như đúc, như hai anh em sanh đôi, như hai điếu thuốc, như hai sản phẩm chui ra cùng một lò!

Ối cái chuyện nầy xưa rồi Diễm, hồi CS xâm lược VNCH chớ đâu phải mới đây đâu cha nội?

Một ông (lại) Tiến sĩ ở Sài Gòn, chuyên gia luật quốc tế: “Khi so sánh dân quân biển của Việt Nam và Trung Quốc, về tên gọi Hải đội, Hải giám có thể giống nhau! Nhưng về bản chất và quy mô, và mức độ trang bị thì rất khác nhau! Dân quân Trung Quốc được trang bị bài bản từ lâu và đã hỗ trợ đắc lực cho lực lượng hải giám Trung Quốc (để đi làm hải tặc ở Biển Ðông!)

Nghĩa là sao? Nghĩa là thằng Hải giám của Tàu cộng trang bị hùng hậu hơn, làm hải tặc Biển Ðông rộng lớn hơn. Còn thằng em, CSVN bắt chước thằng anh Tàu cộng đi hù thằng Thái, thằng Miên bằng cách làm hải tặc Vịnh Thái Lan nhỏ hơn!

Ðã chia rạch ròi giữa đại ca với em. Nước sông, nước giếng không xâm lấn nhau nữa nhe! Bằng đại ca tiếp tục chơi cái trò láu cá thì em buộc phải ngã vào vòng tay lông lá của Chú Sam. Lúc đó thì đừng có tiếc ngọc thương hương gì ráo! Nghe không?

Cha con ngư dân Thái, Miên dám xâm phạm miền biên cảnh, hải phận của Kiên Giang, là em xách ‘B-40’ ra bùm một phát chỉ thiên lên trời cho nó đái ướt cả quần! Xong bắt thuyền đánh cá, cao tới hai từng lầu, của bọn chúng đem về, em sơn lại. Sơn xong, em cho gia nhập Hải đội dân quân biển của em!

Sách này nguyên ủy tác giả là Huỳnh Văn Ve tức Năm Vịt! Thời chiến, thằng chả là nội tuyến cho VC, lính của Sư đoàn 21, Sét Miền Tây. VC vô, thằng chả được thưởng công phản loạn (giống phi công F-5 Nguyễn Thành Trung), làm Giám đốc Quốc doanh Ðánh cá tỉnh Hậu Giang hồi năm nẳm, năm 1978!

(Dù trình độ học vấn của Năm Vịt thua cả chăn trâu, chỉ tới lớp chăn vịt. Vì trong nhà thứ 5, nên thằng chả mới có cái ‘nick name’ là ‘Năm Vịt’ đó chớ).

Quen cái thói: ‘Ðến đây gặp vịt cũng lùa’; nên Năm Vịt đã từng xua lính Quốc doanh Ðánh cá Côn Ðảo đi ăn cướp, đi làm Hải tặc ở Vịnh Thái Lan!

Các xì thẩu Ba Tàu Chợ Lớn, bị đánh tư sản, mất hết nhà cửa, nộp vàng để được vượt biên bán chánh thức. Mấy xì thẩu nầy ‘diếm’ theo rất nhiều vàng bạc mấy đời dành dụm, thì bọn Quốc doanh Ðánh cá Côn Ðảo nhào vô cướp!

Thấy tàu Thái lởn vởn gần bờ, chờ tàu vượt biên ra khỏi cửa sông hổng bao lâu là cũng xáp vô be thuyền để cướp! Thì Năm Vịt xua quân qua cướp lại chiến lợi phẩm của bọn hải tặc Thái Lan. Tịch thu tàu! Cùng lúc bắt hải tặc Thái đem về Cần Thơ nhốt. Chờ cha con mấy thằng hải tặc bên Thái gởi tiền qua chuộc rồi mới chịu thả ra!

Ðúng là kẻ cắp gặp bà già, vỏ quýt dầy gặp móng tay nhọn. Tao lột tụi bây sạch bóc luôn!

(Tóm lại! Ðứa nào có tiền vàng, tàu tốt, thuyền to là tao cướp hè!)

Năm Vịt một thời hét ra lửa, mửa ra khói ở Vịnh Thái Lan (còn ác ôn hơn cả hải tặc Vùng Biển Ca- Ri- Bê (Pirates of the Caribbean) trong phim chớp bóng.

Năm Vịt nhiều lần làm mấy thằng Hải tặc Thái Lan chạy xịt khói; vì đồ chơi của đám lâu la Năm Vịt tốt hơn đồ chơi của bọn cướp biển Thái Lan!)

Ðó là hồi xưa! Còn bây giờ ngoài Biển Ðông, đại ca Tàu cộng muốn đôi co, gây lộn gì với thằng Phi, thằng Mã, thằng Nam Dương thì đại ca cứ làm! Em không dám ‘lan can’ tới!

Ðại ca với tiểu đệ ‘chai hia’ tức chia hai đi! Ðại ca mập, bự con miếng lớn: Biển Ðông! Ðàn em ốm yếu, nhỏ con miếng nhỏ: Vịnh Thái Lan!

Nếu lỡ thằng Ðế quốc Mỹ nó quạu, nó dộng đại ca cái lỗ mũi ăn trầu, cái đầu xỉa thuốc thì đại ca ráng mà chịu nhe! Ðàn em hổng dám ‘lan can’ vô! Lỡ nó quạu nó đục luôn em thì ngay cả Bố em cũng phù mỏ!

Thân phận thấp hèn, là ruồi, là muỗi nên em chỉ vo ve bay kiếm ăn gần mấy cái đống rác mà thôi! Em hổng dám vo ve bay lại gần khi Trâu Bò nó húc nhau đâu! Khi hổng có xơi được cái giải gì thì ngu sao mà làm chớ?

Đoàn Xuân Thu

Hành lý

Hồ Đình Nghiêm 

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Khi anh đạp xe tới ngã giữa thì trời đổ mưa. Mưa ở Huế lạ thường, rơi mà hầu như chẳng kèm gửi một lời nhắn nhủ đi trước. Sau đó, người ta không ngạc nhiên vì sự lì lợm của nó, dai dẳng. Ban đầu là mùi đất nồng, ẩm rít. Thoáng chốc, gió lùa ngang, xua tan, và rồi vướng víu trên da thịt chút gai rợn nổi hột.

  Anh dắt xe lên lề đường, đứng trú mưa dưới mái hiên một căn nhà đóng kín cửa. Đất trời như tối hẳn và không lí gì nhà nước lại hào phóng thắp đỏ những bóng đèn khi buổi chiều chưa thật sự ra đi. Con đường dẫn tới cửa Đông-ba giam giữ thứ sắc màu chập choạng. Mắt anh có vẻ yếu khi nhận không rõ cảnh vật. Cảnh vật chẳng chung tình, nó thay đổi nhiều. Và có thể nó biết trách cứ: Ai biểu anh đi tha phương cầu thực đã quá lâu!

  Bên kia đường có dáng ngồi thu lu của một người đàn bà. Bà hút thuốc Cẩm-lệ để thỉnh thoảng anh nhìn ra từng đốm đỏ vụt sáng vụt chìm khuất sau màn mưa. Tựa như đầu hương bén lửa âm thầm lụn tàn trên một nấm mồ quạnh quẽ. Anh nhớ tới mạ anh, bà cũng hút loại thuốc tựa thế, nhai trầu cau và hai hàm răng nhuộm đen luôn vững chắc. Anh ít có kỉ niệm với bà bởi anh chóng rời gia đình đi phương xa lập thân. Tuy thế, anh nghĩ, mỗi người đều luôn thu giữ hình ảnh của người mẹ trong trái tim bồi hồi của họ. Người ta đã có cớ khi gạt bỏ hết những mỹ từ, chỉ cô lại hàng chữ để khắc xâm lên da thịt: “Xa quê hương nhớ mẹ hiền”. Vụng dại biết bao, mà cũng chí tình xiết kể! Thời còn bé, mạ anh đã biết bao lần can ngăn những roi vọt có vẻ thù hằn của người anh giáng xuống. “Mạ bênh vực chi hắn? Học dốt như thế lớn lên chỉ có nước đi ăn mày! “ Ôm che, bảo bọc trong vòng tay, mạ nói: “Chỉ có phương pháp giáo dục sai lầm, chỉ có thầy dạy dốt chứ không có học trò ngu. Và mai sau lỡ hoàn cảnh có khiến nó đi ăn xin thì nó sẽ không đời nào muối mặt tới gõ cửa nhà con đâu mà lo”. Bây giờ anh trắng tay, anh gần biến thành một đứa hành khất, và anh đã thực thi lời mạ dạy: Không hề viết xuống một lá thư cầu cứu gửi tới người anh đang ở Mỹ. Ông ấy là người sáng dạ, học hành thành tài, tiền bạc rủng rỉnh và kì lạ thay, suốt cả cuộc đời ông ta chẳng bao giờ giúp đỡ ai trong gia đình. Cha chết mạ chết cũng dê kêu. Ông xâm trên cánh tay hàng chữ: “Xa quê hương chỉ nhớ mỗi mụ vợ”.

  Trời chưa ngớt mưa nhưng anh không đủ kiên nhẫn đợi. Anh nghèo đủ thứ, kể cả thời gian; nó eo hẹp biết bao. Anh sửa lại cái túi vải đeo sau lưng rồi nhấc xe xuống khỏi bờ lề. Mưa như có thưa hạt. Cửa Đông-ba kia rồi, ngang chợ Xép chiếc áo sơ-mi mới bắt đầu đẫm ướt. Quẹo phải, anh đạp xe tới ngã tư Âm hồn. Bóng tối quánh đặc dưới tàng cây đa già tuổi. Địa điểm này, ngày xa xưa không bao giờ anh lai vãng tới. Ngay cả buổi trưa, những am miếu ở đó như tiềm ẩn chút đe dọa khó diễn đạt. Giờ này, khi tóc hai màu anh mới nghiệm ra được: Chỉ có con người mới làm phiền nhiễu nhau, đày đọa nhau, chửi rủa nhau, thù hằn nhau… Và ma qủi, suốt đời nó vẫn hiền lành ẩn mình trong bóng tối, bất biết những hệ lụy luân phiên diễn ra ở bên ngoài âm giới lạnh lẽo. Nó không hiện hình vặn cổ những kẻ lật lọng xảo trá, nó chẳng phù hộ những đứa bất hạnh bần cùng. Đời sống vẫn trôi, vận hành giữa những điều khó hiểu. Hoặc chính nó, đẻ ra toàn chuyện khó lường.

  Anh thắng xe trước cổng có hai bụi hoa lài. Màu trắng nhờ nhợ và hương thơm của nó lẫn khuất dây dưa suốt dãy hàng rào chè tàu. Không có tiếng chó sủa nhưng đằng sau ngạch cửa âm u vọng ra giọng nói, có vẻ trách móc:

 – Trời đất! Thiệt đoản hậu! Làm chi giờ ni mới tới, bắt Hoa chờ sốt cả ruột.

   Anh đứng tần ngần giữa sân. Hơi khó chịu khi ngọn đèn trong nhà vụt thắp lên, bất thần xô ùa tới người anh luồng sáng mạnh bạo.

 – Mình mang xe tới trả. Trời mưa mà, ngoài ý muốn.

 – Ngó tề. Vô nhà cái đã. Ướt nghe ngói như rứa có mà đau!

  Anh dựng xe ở bực thềm, vò đầu khi bước vào nhà. Anh ngó người đàn bà trắng trẻo, son phấn có phần diêm dúa. Hơi đẫy đà, hơi béo tốt. Hơi bị thơm. Chột mắt cũng biết người ấy là Việt kiều. Mang trên dáng dấp chút lạ lẫm. Có ngờ không, lúc bé hai đứa từng ở truồng tắm mưa. Hai đứa nhìn nhau, tia mắt dừng lâu ở mỗi bộ phận sinh dục. Sự khác biệt hoặc có điều gì quái gỡ làm thích thú khi ngắm nghía. Ngay cả sách giáo khoa vạn vật, họ cũng chẳng giải thích minh bạch vì sao chim lại khác bướm.

 – Đã cơm nước chi chưa?

  Câu hỏi làm gián đoạn những hồi tưởng chắp vá. Anh nhớ có lần hai đứa ngồi đâu mặt nhau khi tiểu tiện. Tiếng cười rúc rích, trong hồn nhiên đã nghe ra chút hoang đàng. Ở ngây thơ đã tượng hình niềm mong ước sao cho sớm đủ lông đủ cánh. Để làm gì? Cả hai không có được một đáp số. Khi ôm lấy nhau đứng dưới máng xối, da dẻ trơn tuột tự dưng thấy thinh thích. Chỉ biết có thế. Và tìm cách để được tái diễn trò chơi có vẻ chỉ dành riêng cho người lớn.

 – Nè. Hoa có cái này cho anh.

  Anh chùi đôi tay vào áo, vào quần. Ở nơi nào sứa vải còn khô, chưa thấm nước mưa. Bao thuốc lá 555 đưa tới tay anh.

– Hút đi. Đợi ngưng mưa mình đèo nhau đi ăn.

 Anh nghe lời. Có lẽ khói thuốc sẽ làm mình ấm lại mà không chắc một vòng tay ôm sẽ mang tới thứ kết qủa tựa thế. Hôm kia Hoa đã bất thần ôm lấy anh, hôn mãi mê trên đồi Vọng cảnh. Trời ui ui. Gió lộng. Và anh vô cớ thấy mũi lòng. Tứ cố vô thân, cái cảm giác bỗng dưng có một ngày được ôm hôn làm anh ngạt thở. Bần thần nghĩ không ra chữ duyên số đầy cắc cớ. Anh cúi đầu nghe thông reo ở xa và đón nhận từ Hoa những thứ gần như huyễn mộng. Mạ anh cũng mang tên một loài hoa, nhưng bà có thứ nhãn quan sắc bén. Biệt nhãn ấy bổ sung vào linh tính, giúp bà phân biệt được ai là kẻ đáng tin. Anh thì bao giờ cũng mù lòa, mềm lòng khi kề cận phái nữ. Bị gạt, bị lừa, những đớn đau nọ không hề tích lũy để làm nên một kinh nghiệm nhớ đời. Anh vẫn quan niệm, rằng một kẻ nghèo kém như anh chẳng còn gì để sợ hãi khi bị mất mát. Trời đãi kẻ khù khờ. Câu nói đó tin được mấy phần?

 – Ở Mỹ, nơi Hoa sống, trời chẳng đời nào mưa kiểu lạ lùng như ri.

  Anh thổi khói ra thềm. Hôm nay anh chu toàn thứ công việc cũng lạ lùng không kém. Nặng nhọc, mệt mề. Tứ chi rã rượi như vừa vác cày qua núi. Vác hai ba bận, bải hoải, hết sung. Người đàn bà ngó anh:

– Chị Cẩm Chướng định cư ở vùng nào?

  – Thủ đô Hoa-thịnh-đốn.

  – Chị về thăm lần nào chưa?

  – Chưa.

  – Tại sao?

  – Mình làm cuộc so sánh. Thay vì mua vé máy bay, cực nhọc đủ điều, buồn nhiều hơn vui, chị dùng số tiền ấy cho em thì ích lợi hơn. Mình cắt mẫu báo cứu đói Phi châu gửi qua và quả nhiên chị mềm lòng ngay.

  – Báo loan tin ra răng?

  – Bạn ăn uống dè xẻn trong ba bữa thì có thể giúp một gia đình bốn nhân mạng bên ấy sống sót nguyên cả tuần lễ.

  – Kể cho Hoa nghe cái sinh hoạt gần đây của anh. I mean, ý Hoa muốn nói, anh mưu sinh bằng nghề gì? You know? Trông anh ốm o gầy còm như một thiền giả diện bích trong hang động đã lâu.

  – Mình là giáo viên, điều ấy chắc Hoa đã từng nghe biết. Sau này được chị Cẩm Chướng cho ít tiền, mình bỏ dạy, từ Đà-lạt xuống Sài-gòn mở quán bán cà phê.

  – Và lỗ lã, rồi dẹp tiệm. Đúng không?

  – Lí lịch của mình rất đơn giản. Bị lừa gạt, bị mất mát. Xuôi tay trước hoàn cảnh gay cấn… Có lẽ không nên kê khai ra thêm, nhắm mắt an tâm cải tạo.

  – Đeo sau lưng cái túi gì thế? Sao không cởi ra mà ngồi cho thong dong thoải mái.

  – Không hề gì. Chẳng nặng lắm đâu.

  Anh trả lời, ngó quanh gian nhà. Trống trải, đồ vật bày biện không nhiều. Những rường cột bằng gỗ đen bóng, chiếc phản dày tiệp màu kê ở góc. Tấm màn vải buông che và gian nhà sau chẳng gửi ra một tiếng động nào cả.

  – Hoa không ở khách sạn là vì thế. Thấy phí. Nhà của bà dì. Đứa con trai đi làm ca đêm, đứa con gái đi học thêm Anh văn buổi tối, còn bả thì đi coi T.V đâu đó bên nhà hàng xóm.

  – Cảm giác của Hoa khi về nhìn lại chốn cũ nó ra sao?

  – Không rõ. Bừa bộn đủ thứ. Nhưng nổi cộm một điều là sự khó chịu. Phải chi mình được giàu có để mang về nhiều tiền đô. Người ta cực khổ quá. Nói đâu xa, nhìn anh đổi thay Hoa như không tin ở mắt mình.

  Anh mở gói thuốc để hút điếu thứ hai cho thơm râu. Chẳng mấy khi được mó tay vào, nó luôn xa tầm với. Hầu như nó hiện hữu với một lợi ích: Làm quà biếu xén, hối lộ đút lót, mua chuộc cảm tình với kẻ quyền thế. Sau nhà nước kế đến là Việt kiều, giai cấp anh luôn cúi đầu trước thuốc cán ba số.

– Hoa hỏi anh chuyện này nhé. Thời ở Huế có khi mô anh thử ngủ đò chưa?

– Chưa.

– Thành thật đi. Ngay cả ngủ chay cũng không?

– Chẳng hề.

– Mưa như thế này xuống đò để ngủ chắc thích phải biết. Biểu người ta chèo lên hướng thượng nguồn. Đêm khuya, mưa rãi đều hạt xuống, sông Hương khi ấy mang đầy vẻ đẹp huyền hoặc, đúng không anh?

 – Ừ, chỉ mường tượng đôi chút đã nhìn ra toàn cảnh.

 – Đò chòng chành, mình say theo nó. Cái cảm giác bồng bềnh nhắm mắt thả trôi chắc thú vị lắm. Cho anh đóng vai hoàng thượng một đêm đó. Hoa làm cung tần mỹ nữ. Và chúng ta, hai đứa mình make love. Nhớ khi xưa không? Vú người ta chưa tượng hình mà bày đặt đưa tay xoa tới xoa lui làm đau muốn khùng!

 – Mấy giờ rồi?

  Hoa nhìn vào cổ tay rồi đọc lên một con số. Đồng hồ ấy chắc đã điều chỉnh giờ Việt-nam.

 – Tám. Đợi bà dì về rồi tụi mình đi giang hồ đêm nay. Nghe nói về khuya có những con đò bán bún bán cháo chèo ngang mời mọc. Trời ơi, ở Mỹ có nằm mộng cũng không thể bắt gặp được thứ hình ảnh tình tứ đậm đà bản sắc địa phương này! Đi nhé, để Hoa dốc lòng bồi dưỡng cho anh. Nghe ham chưa?

 – Không. Mình không thể đi được. Rất lấy làm tiếc.

 – Vì răng?

 – Chín giờ có chuyến tàu xuôi nam. Mình đang mang trên vai cái nhiệm vụ nặng nề buộc phải hoàn tất sớm.

  Hoa nhìn anh, chăm chú. Đôi mắt lột rõ niềm hoài nghi. Anh hỏi mà lãng tránh tia mắt bực bội kia:

 – Hoa còn ở lại đến bao lâu?

 – Mai mốt đi thăm Hà-nội. Ở đó ba ngày, xong lấy máy bay vào Sài-gòn và rồi thì khăn gói trở lại Mỹ.

 – Chương trình kín không một khe hở?

 – Đêm nay mở ra cho anh một đường khe. Thoái thác thì cơ hội vuột mất. Khi xưa anh cũng là người từng đánh mất thời cơ. Are you crazy? Hạnh ngộ đã rộng lòng đến với anh lần thứ hai.

  Búng điếu thuốc cụt ra thềm mưa, anh đứng lên.

 – Hoa còn thương tôi không?

 – Đừng hỏi kiểu stupid như rứa.

 – Nếu thương, xin cho một tấm ny-lông. Nhỏ thôi, đủ để trùm kín cái túi vải sau lưng cho khỏi ướt.

 – Chơi kiểu chi lạ vậy? Nói đi là đi liền sao? Không có ny-lông ny liếc gì cả. Có ngon thì dầm mưa mà đi, đi một lèo đừng quay đầu lại.

  Anh ném bao thuốc xuống bàn. Anh không trẻ con đến độ phải lẫy hờn. Anh chẳng lấy vì nghĩ là cuối cùng nó cũng chịu ướt đầm đìa thôi. Làm sao hút? Uổng, phí. Hoài công!

 – Sau này có điều kiện mình sẽ nói cho Hoa hiểu. Chúc đi chơi vui. Trở về Mỹ bình an.

  Người đàn bà níu tay anh:

 – Để Hoa kiếm cho một tấm ny-lông. Nhưng trước tiên hãy trả lời cho Hoa biết. Vấn đề tình dục của anh ra sao? Có trở ngại gì không, hay vẫn ngon cơm?

 – Không trục trặc, nhưng ăn cơm thì chẳng thấy ngon.

 – Là sao? Nước tới chân rồi mà còn câu giờ. Nói rõ đi.

 – Đùa đó. Câu trả lời sẽ tới vào hai ba hôm nữa. Chịu khó đợi nhé, để mình chu toàn chuyện hệ trọng này trước đã. Sau đó mình chứng minh cho Hoa rõ thế nào là ra cơm ra cháo.

 – Tui nghi kế hoãn binh này quá. Đi tìm thuốc cường dương hay nhân sâm bổ thận hoàn? Làm gì mà mất những hai ba hôm? Không được. Với tiền trong túi, người ta chỉ mất khoảng nửa giờ là có ngay viên Viagra nhiệm màu.

  Anh thở dài:

 – Tạm biệt.

 – Vĩnh biệt. Sayonara. Người đàn bà nói to. Sẵn người chưa khô anh làm ơn mang chiếc xe vào nhà giúp Hoa.

 – Cám ơn Hoa những ngày qua. Cám ơn thứ tình bạn cũ tưởng bọt bèo.

 – You’re welcome!

  Cà chớn! Anh chửi thầm. Nếu Hoa tị nạn ở Đức quốc, quen mồm phát ngôn linh tinh thứ ngôn ngữ của con cháu Hitler thì hiểu thế chó nào được! Anh đội mưa đi như bị ma rượt. Hộc tốc sải bước dài, gần như chạy. Anh hi vọng phiá sau không một ai réo gọi tên anh. Vũ. Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách! Hoa biết câu cổ thi ấy không? Đừng nói là mưa, ngay cả súng đạn bắn chan chát ngoài trời, khi cần đi là phải dọt thôi, chẳng cầm chân được. Mậu thân, anh đã lom khom men theo con đường này về nhà trọ ở hồ Mưng tìm kiếm lương thực. Người chết bụi chết bờ thiếu giống. Việt cọng có, bọn nằm vùng đeo băng đỏ có, thường dân vô tội có. Mỗi kẻ khi chết có những tư thế khác nhau. Điểm trùng hợp là máu loang vũng, ruồi bu kiến đậu tựa xác súc vật. Lạnh lùng. Không hương đèn nhan khói. Chẳng vật vã tiếng khóc than. Đã lâu rồi, cho tới giờ này người ta cứ mãi hứng chịu hoạn nạn. Căn nhà nhỏ bé khiêm nhường của Mạ anh nằm chốn khuất lấp cũng bị nhà nước điểm danh, ra thông báo nó nằm trong phạm vi thuộc khu giải tỏa. Họ gia hạn trong vòng ba mươi ngày, thân nhân phải tự giải quyết lấy vấn nạn. Sau đó mọi thứ sẽ san bằng thành bình địa. Kế hoạch năm năm biến nó thành khu giải trí cao cấp, hoặc một sân chơi Golf dành cho các đại gia.

  Ra tới đường Phan bội Châu anh mới gọi được một chiếc xe thồ. Những trụ đèn đường xanh mướt, những đám lá cây vặn mình bóng loáng và len lỏi trong mưa giăng nghe mơ hồ tiếng còi tàu Thống nhất hú lên mệt mỏi. Mạ, con không thể nghe lời đường mật của Hoa, cõng mạ xuống đò, chốn ô uế. Hơn tất cả mọi điều, con phải sớm tìm được cho mạ nơi nương náu mới, sau cùng và ổn định. Đà-lạt, hoàng triều cương thổ, nơi con dung thân cũng là chốn thích hợp cho mạ an nghỉ. Mạ có linh thiêng xin giúp cho con chút nghị lực. Mang hài cốt mạ trèo đèo lội suối thế này là chuyện không nên. Nhưng nhà nước, Mạ ơi, họ là kẻ vô thần. Họ chỉ biết có một thứ: Tiền đô và thuốc ba số. Họ ưu tiên giải quyết bởi con học thuộc bài học vỡ lòng: Biếu xén, lì xì, tiền boa. Chị Cẩm Chướng sẽ gửi tiền về, điều này có nghĩa là căn nhà mới của mạ ngó tươm tất hơn trước.

 – Anh đi tới mô. Vô tuốt Sài-gòn à? Người đạp xe ôm gợi chuyện.

 – Ừ.

 – Đi xa xôi mệt nhọc cũng chịu khó mở hai con mắt hí. Đừng ngủ ngáy.

 – Răng rứa hè?

 – Cái ba-lô của anh đó. Loạng quạng là không cánh mà bay chớ giỡn chơi chi nơi. Mất tài sản vật dụng đồ đoàn linh tinh thì chỉ có nước khóc. Kêu không thấu trời mô!

 – Nói cũng phải. Có nước khóc. Có nước chết. Trời thì lúc mô cũng ở chỗ quá xa!

 – Lạ, thời buổi chi mà ngồi co cẳng vén ống quần gãi bắp chuối. Đã ngứa, bèn thò cẳng xuống rà thì đôi dép Nhật mới đó mà trốn đi mô thiệt tài. Thôi, tới rồi. Đi mạnh giỏi.

 – Cám ơn bác.

  Sân ga loáng ướt, mưa đọng vũng. Bụng đói, anh mua khúc sắn với một củ khoai luột. Anh xin người bán hàng ba cây hương. Tiếng còi tàu bất thần thét lên, nghe bất an. Anh dớn dác ngó đất trời sùi sụt. Mạ ơi, cho con chắp tay lạy tạ nơi chào đời lần chót. Giờ này mạ con mình xin vĩnh biệt cố đô.

  Anh mua vé lên tàu, ôm khư khư cái túi vải. Ngoài cửa kính, diện mạo Huế móp méo trôi vuột lui sau.

 Hồ Đình Nghiêm

Hàn băng chưởng

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Họ đếm ngược những con số. Chín, tám, bẩy… Như người ta vẫn thường đếm khi phóng phi thuyền du hành vào vũ trụ. Sáu, năm… Số đông góp tiếng, có vẻ thích thú; chộn rộn như đám trẻ con nhập cuộc lắc bầu cua. Bốn, ba… Những gương mặt đỏ nhấp nhổm trên ghế ngồi. Hai, một… “Chúc mừng năm mới”. Họ đồng loạt ré lên.

  Có người đứng khui rượu, chỗ tập trung nhiều ánh sáng. Anh ta loay hoay, gấp gáp và vụng về. Một thanh niên thắt nơ đen ở cổ lật đật bước tới phụ việc nhưng kẻ đang ôm cứng chai rượu xoay lưng, không muốn bị tranh công. Sau cùng thì rượu trào bọt trắng ra khỏi chai, tràn chảy lai láng như uất nghẹn đã quá lâu. Có vài tiếng vỗ tay lẻ tẻ. Tiếng lục bục phát ra từ cái micro trên những ngón cầm luôn ngứa ngáy. A-lô… A-lô… Một hai ba. Người điều khiển chương trình thử giọng, thử hệ thống âm thanh. Và lần này thì những con số được đọc thuận, từ nhỏ tới lớn. Một, hai, ba… A-lô… A-lô. Người đàn ông sẽ lập lại điệp khúc đó nếu đám đông chưa thực sự chú ý, chưa tái tạo được sự lặng yên. A-lô… On, đơ, troa…

  Hắn mắc đái, từ bỏ chỗ ngồi đầy khói thuốc để bước tới tấm bảng có chữ exit thắp bóng điện đỏ quạch bên trong. Lối đi băng qua nhà bếp có trổ vuông cửa để tiếp tế thức ăn lên trên. Xuyên suốt hành lang nhỏ có gắn máy điện thoại công cộng, để cuối cùng phòng vệ sinh hiện ra với cánh cửa đóng kín có vẽ bên ngoài cái logo âm dương tựa bảng hiệu môn phái Võ đang. Âm và dương. Nghĩa là nữ bước vào giải thủy, tô son điểm phấn cũng được mà nam xô cửa đi vô rửa tay bức lông mũi cũng chẳng sao. Bình đẳng, đề huề. Cửa khóa chốt bên trong. Hắn đứng chờ, nghe ai hát bài “Ly rượu mừng”, giọng chát chúa. Mười hai giờ tám phút khuya khoắt mồng một Tết dương lịch. Bao lâu nữa thì tới Tết ta? Hắn không biết. Hắn mắc đái và điều nên thắc mắc giờ này là mấy phút nữa thì xong, cái kẻ đang chiếm ngự nhà xí? Hắn làm một bảng tổng kết, như vậy là hắn đã uống một ly nước suối, một tách cà-phê sữa, chén nước trà hoa Lài và ba chai bia ướp lạnh. Khởi từ đầu bữa tiệc, 9 giờ tối cho tới phút giây trì trệ nặng người này. Hắn thử mạnh tay xoay cái trái chanh màu trắng nhưng không có kết quả. Thật là bất lịch sự nếu đấm tay dồn dập lên cánh cửa gỗ. Hắn sang đây chẳng mấy lâu, chưa học hỏi gì nhiều nơi xứ người văn minh; tuy vậy, hắn quan niệm: Lịch sự là điều cơ bản nhất, cần có, nếu anh muốn chung đụng, hòa lẫn với những kẻ tiến bộ. Bất lịch sự là gì? Tờ báo tiếng Pháp ở đây có làm cuộc thăm dò dân tình. Một: Nói lớn trong điện thoại di động giữa chốn đông người. Hai: Lái xe mà ưa táy máy bóp còi. Ba: Xô một cánh cửa mà không giữ hộ cho kẻ đi sau được hanh thông… Có tới 10 điều răn. Hắn chẳng đọc thấy số 11: Chớ trụ trì trong nhà vệ sinh công cộng quá lâu.

  Hắn ngó cái máy điện thoại đen đúa bắt cứng nơi vách. Hắn ngại đánh thức người bạn dậy bằng tiếng chuông reo. Hắn sẽ đi ngủ hoang và điều ấy thực chẳng cần phải thông báo cho một ai hay. Bộ nhớ trong đầu hắn không lưu giữ được nhiều con số. Vả, hắn mới qua, chưa quen biết được nhiều người. Có gặp lại một cô bạn cũ, nhưng cô ta chẳng hứng thú thổ lộ số điện thoại ra. Phiền phức, hắn nghĩ vậy, nhấc điện thoại mà lấm lét dòm trước ngó sau sợ có kẻ phát giác. Cô ta đã có chồng con. Hạnh phúc là gì? Là được chuyện trò đùa cợt mà không sợ ai đó đứng sát bên lưng nghe ngóng, hiểu lầm, ghen tuông?

  Sau cùng thì cánh cửa âm dương được mở. Ở trong, ngọn néon dài tám tấc hắt vội ra hành lang ám tối một đường sáng xanh. Đôi trai gái cùng lần xuất hiện làm hắn hơi giật mình. Khoảng nửa giờ trước, một người trong bàn tiệc đã kể chuyện tiếu lâm: “Có ông già nọ rất lười biếng, nhác nhớm tới độ đêm hôm đề nghị với vợ: Em có thức dậy đi đái thì nhớ cho anh gửi ké với”. Cả hai cùng đi tiểu một lần? Kỳ cục. Hắn khóa cửa, cởi quần, cúi đầu nhìn vòi nước chảy. Rùng mình. Hèn gì người ta bảo, được xã bầu tâm sự cũng nên xem là một trong tứ khoái. Hắn thấy ai vứt vào thùng rác một cái condom nằm hớ hênh, nhăn nhúm, bèo nhèo. Và hắn chợt hiểu. Đứa con gái còn nhỏ tuổi. Hắn thử nhớ lại. Cô bé mặc chiếc váy ngắn, hình như bên môi có đính một nốt ruồi. Hắn chưa có người yêu. Hắn hoàn toàn không một chút kinh nghiệm. Làm sao người ta có thể thuyết phục được tình nhân để dắt diú nhau vào đây làm tròn cái chuyện thương yêu kiểu ấy? Trên vách tróc sơn có dấu vết chùi xóa một hình vẽ tục tiũ. Ai phụ chú hàng chữ KCUF bên dưới mà hắn không tài nào hiểu nghĩa. Tiệm ăn này nấu nướng vừa miệng, tuy thế khoảng vệ sinh thì cần phải xét lại. Hắn sẽ ói hết những nem công chả phượng nếu còn đứng đấy săm soi mặt mày. Cửa mở, lỗ tai hắn đón ngay một giọng nữ đang kể lể tâm sự loài chim đa đa bằng tiếng hát tràn đầy nhiệt huyết. Thê thiết và cơm gạo. Họ đang chơi trò Ka-ra-ô-kê. Thông thường, đó là một tiết mục rất dễ gây tai nạn. Nếu không ai bị đổ máu thì chí ít cũng có đôi đứa phải chịu thương tật ở hai tai. Ngày nay, âm nhạc đã được người ta dùng để ru ngủ những đứa trẻ khó tánh, bằng giao hưởng của Mozart chẳng hạn. Ở bến xe đò, mức độ cướp giật gia giảm hẳn khi họ thử phát thanh nhạc cổ điển thay cho nhạc Rap hoặc Rock rậm rật trước đó. Và mai hậu, hắn nghĩ, những ông công an cũng nên dùng lời ca tiếng nhạc để làm giàu thêm bộ sưu tập những dụng cụ tra tấn con người. Hắn muốn bỏ về nên dáo dác tìm người đã chở hắn tới đây.

 – Bậy nào, còn sớm nhăn. Cậu nên kiếm một con bé nào đó mà gạ chuyện, sẽ rất chóng tàn.

  Người đàn ông hét vào tai hắn. Ông ta khoảng năm mươi tuổi nhưng sung như một đứa con trai mặt vừa nổi mụn, bể tiếng. Đó là người đàn ông duy nhất hắn thân thiết trên xứ lạ, xem như anh ruột; bởi dễ hiểu, hai người Việt làm chung trong một hãng toàn dân mắt xanh tóc vàng. Tuần trước, ông ấy nói: Cậu có tám chục bạc không? Đưa cho moa để đổi lấy một đêm vui. Hắn chồng tiền và hắn đã đứng đây, giờ phút này. Một đêm vui? Lý ra ông phải thay cách dùng chữ. Nhiệt náo chẳng hạn. Dị hình dị tướng chẳng hạn. Đi để thu thập thêm kinh nghiệm thương đau chẳng hạn. Hắn không mấy rành đường sá, lại ngại khi phải gọi một chiếc taxi; bởi thế hắn tìm một chỗ ngồi thật khuất, kiên nhẫn đợi. Chỗ ngồi ấy không hoàn toàn vắng vẻ, linh tính chưa say men bia báo cho hắn biết có ai đã chú mục quan sát hắn. Hắn ngó người ngồi cách hắn mênh mông một mặt bàn xô lệch những chén bát bên trên. Như một đại dương mà ly tách hũ lọ muỗng đũa là những con thuyền dật dờ đang cố tìm một bến đỗ. Người đàn bà ấy mặc áo đen, vòng tay trước ngực, nơi có đính những hạt cườm tấm. Những hạt cườm đang bắt ánh sáng và phiá trên là đôi mắt long lanh. Hai bờ môi khai sinh ra một nụ cười e ấp. Hắn vụt đứng lên. Nụ cười ấy đã giáp múi một vòng tròn liền lạc có đường kính dài gần mười năm. Hắn bật nên một tiếng kêu, cùng lúc với tràng pháo tay ai đã rộng lòng ban thưởng cho tiếng hát chim đa đa lẻ bạn vừa chấm dứt.

  Phải không và đúng rồi. Nghi hoặc và xác tín. Hắn và người đàn bà ấy đã xích lại gần nhau sau ngờ vực chen lẫn với hân hoan. Gọi tên nhau, nhìn ngắm nhau. Tìm nhớ thời gian cũ qua dấu vết mặt mũi hết còn là thuở ban đầu. Một câu in trong báo Beauté chợt hiện trong đầu hắn: “Thời gian có thể là một bác sĩ tuyệt vời để chữa lành vết thương lòng, nhưng lại là một bác sĩ thẩm mỹ quá tồi tệ”. Hãy gạt bỏ mọi định nghĩa. Hãy dọn lòng đón nghe bồi hồi đang sum họp. Khoẻ không? Qua lâu chưa? Làm gì? Ở đâu? Gia cảnh? Tựa như cuốn sách được lật giở từng trang. Một cuốn sách sáo mòn những điệp ngữ, dung tục, tầm thường nhưng không thể thiếu vắng. Một cuốn sách bày ra những cảnh đời chẳng có lớp lang. Bỏ băng, nhảy lò cò, hiện tại và quá khứ chen cài tuỳ tiện, nhưng thông suốt. Người đàn bà giúp hắn nhớ lại nhiều điều, những thứ vụn vặt mà hắn đã vô tình đánh rơi. Rất thú vị để lượm nhặt lại chúng. Lâu lắm rồi, hắn lò dò làm đơn xin nhập môn một võ đường Judo. Thuở đó, người ngồi cạnh hắn giờ này là một cô gái thắt đai vàng, cột quanh bụng; và luôn luôn, hắn rất ưa song đấu với vị sư tỉ ngực nở eo thon ấy. Hắn đai trắng, thường thì chỉ biết tập té cho đúng cách hoặc phóng người qua bạn đồng môn đang cong lưng làm chướng ngại vật. Hắn quan sát mấy sư huynh thắt đai nâu và học lén chiêu thức đòn hy sinh. Sư tỉ không thích hắn thi triển chiêu ấy bởi tay chân hắn đụng chạm tới hai ba yếu huyệt tối kỵ trên thân thể phụ nữ. Võ phục sư tỉ xộc xệch, áo may bằng vải bố dùng đựng bột mì hai ba lớp luôn thấm đẫm mồ hôi. Bị kẹp đầu ở nách, hắn chẳng muốn chống cự tìm cách thoát nạn. Từ người đối phương nồng nàn một hương mùi ngây ngất. “Đồ quỉ nà, bao bột mì nào mà chẳng có mùi chua như thế?” Sư tỉ nạt nộ. Hắn thấy trong nách áo sư tỉ dấu diếm một hàng chữ mực xanh: Made in Canada.

 – Canada là nơi chốn nào? Hắn thắc mắc.

 – Là một nơi ở trên trái đất này. Sư tỉ giải đáp.

  Hắn có cảm tình với lối trả lời ấy. Cũng như khi một anh thắt đai đen lân la tới gợi chuyện với người cột tóc đuôi ngựa:

 – Đường Đoàn thị Điểm khá dài, rứa thì em ở chỗ mô?

 – Thưa anh, em ở trong nhà.

  Hắn nhìn nụ cười lém lỉnh của người con gái và hắn đã đem lòng thầm yêu. Ở tuổi mười lăm.

  Trái đất là một hành tinh bé nhỏ. Có ai ngờ hắn gặp lại vị sư tỉ võ công cái thế ở chốn này. Chốn đã sản xuất ra bột mì đem đi viện trợ những nơi nghèo khổ, đã cho người con gái bộ võ phục ngát hương, đã rộng lòng mở cửa đón hắn làm thường dân cách đây sáu tháng. Hắn nhớ cặp tình nhân lách người ra từ phòng vệ sinh. Hắn xua đuổi nhanh cái ý nghĩ cùng người đàn bà gõ cánh cửa âm dương của phái Võ đang để vào đó thách đấu. Nếu con đường võ nghiệp trơn tru, có thể giờ này hắn đã huyền đai đệ tam đẳng, còn người đàn bà thì dựng bảng hiệu làm chưởng môn, đồ đệ vào ra tấp nập. Hắn nhìn lén cơ thể người mặc áo đen bó chặt. Sử dụng đòn vai, chưa chắc giờ này hắn đánh ngã được cái vóc vạc coi bộ thích hợp với phong thủy xứ người ấy. Nếu chọc cô ta giận, mười phần hết chín hắn sẽ xuội lơ cẳng cò thân bại danh liệt dưới tay hắc y nữ hiệp ngay.

  “Một tinh thần minh mẫn luôn ở trong một cơ thể tráng kiện”. Trên vách võ đường ngày cũ có hàng chữ tô sơn như thế. Rất khoa học, khó chối cãi. Cơ thể hắn đang suy yếu nên tinh thần hắn thường lao đao. Vì lao đao, nên lắm khi sản sinh ra những ý nghĩ ám tối. Một thứ tam đoạn luận rất biện chứng. Hắn ngó vũng ngực phập phồng của người đàn bà:

 – Hát được Ka-ra-ô-kê không?

 – Không. Tại sao?

 – Chúng ta cùng song ca bài “Mười năm tình cũ” để đánh dấu buổi tái hợp này.

 – Đừng đùa… Còn tập võ không?

 – Giã từ vũ khí lâu rồi. Gãy một cái xương sườn nên bà già ra sắc lệnh bế môn. Còn sư tỉ?

 – Giải nghệ khi leo lên tới đai xanh.

 – Gặp tai nạn?

 – Không… Ừ, cũng gần như thế. Có người không thích lấy nhằm một bà vợ biết tu luyện võ công.

 – Người ấy đâu? Có phải cái ông đang gân cổ hát bài “Máu nhuộm bãi Thượng hải” đấy không?

 – Đừng đùa. Tụi này ly dị nhau lâu rồi!

  Hắn ngồi rụt cổ, ngó năm ngón tay người đàn bà đang vọc những cánh hoa rụng trên khăn trải bàn màu đỏ rượu chát. Hắn muốn uống một tách cà phê đen. Trước khi đi mua hắn hỏi người đàn bà về một loại giải khát ưa thích. Diet Coke chẳng hạn. Hắn nghĩ. Thứ nào làm cho cơ thể gầy gò, có hiệu quả nhất? Nước bưởi? Dấm? Hay đêm nào cũng hát hò cho tới sáng? 24/24. 7/7. Tuyệt đối không đóng cửa vào ngày lễ lạc. Gào thét chết bỏ bể bỏ?

 – Ở đây ồn quá, cà phê thì nhạt. Sao không kiếm một chỗ khác?

  Người đàn bà đề nghị. Hắn hơi sửng sốt, sau đó là động từ mở cờ trong bụng, mừng vui. Hắn hoán đổi câu ta thán của Chu Du trong Tam quốc: “Trời sinh ra ta nên phải sinh ra em”. Hoán đổi luôn câu nói dễ thương của Tào Tháo: “Sinh ra ta là cha mẹ ta, mà người có thể giết ta chính là em vậy!”.

  Trời lồng lộng gió, đất hun hút giá băng. Xứ sở này có thật nhiều cái đáng ghét và cũng vô vàn cái đáng yêu. Đêm đầu năm lạnh căm này là một bằng chứng, bồi đắp vào lòng tri ân đầy cảm mến ấy. Người ta sẽ ấm quá chừng chừng nếu đi bên nhau như vậy trên lộ trình dài hai trăm bước chân, từ cửa nhà hàng dẫn tới chỗ đậu xe. Hắn phát biểu cảm tưởng đó ra.

 – Đừng đùa. Không phải là đến một lúc nào đó con người mình sẽ mất dần sức chống cự hay sao?

  Người đàn bà thì thầm. Câu nói chứa nhiều ẩn dụ. Hắn nghe thích thú. Người đàn bà tìm trong túi áo xâu chià khóa và run tay không mở được cửa. Hắn nắm bàn tay ấy, ấp ủ giây lâu, rồi như một ảo thuật gia, hắn đút được chìa vào ổ khóa. Trơn tru, dứt khoát, chỉ một lần, chẳng trở ngại, cửa mở trong êm thắm.

  “Đừng, đừng bỏ em một mình, trời lạnh quá, sao đành..”

  Băng nhạc phát tiếng khi máy xe nổ giòn. Mọi diễn tiến xẩy ra đều theo trình tự từ A tới Z, thẳng tắp, có vẻ sắp đặt.

 – Chết, chút xíu nữa thì quên mất tiêu.

  Người đàn bà tắt CD và la lên. Giọng trong, thanh, cao vút. Nếu chiếm đoạt được sân khấu để độc diễn bằng lời ca, sẽ không một ai trong đó dám có ý kiến, thắc mắc, kiện tụng, phân bì, xắn tay áo. Và hắn, đương nhiên sẽ là đứa vỗ tay rất to, rất nhiệt liệt hoan nghênh.

 – Chuyện gì thế? Bỏ quên xắc tay?

 – Không. Chuyện nhỏ. Chịu khó đợi trong giây lát thôi.

  Chiếc xe lăn bánh chậm rãi, dừng trước cổng nhà hàng. Hắn cũng mở cửa bước xuống cùng lần với người điều khiển xe. Hắn sẽ chui vào đám đông trong ấy tìm người đồng nghiệp để loan báo là hắn đã chọn được vị tiên cô cho quá giang, ông cứ việc ở lại chơi đùa cho xứng đồng tiền bát gạo đã đổ ra. Hắn sẽ bắt tay ông già và chúc một năm mới ắt hẳn sung hơn vạn lần năm xưa.

 – Cindy…

  Hắn nghe giọng người đàn bà phát tiếng đâu đó, thật gần.

 – Cindy. Con ở đây chơi nhé. Mẹ đi một lát sẽ trở lại đón con. OK?

 – Mẹ đi với ai thế?

  Hắn vặn vẹo người giữa đám đông đứng ngồi lộn xộn.

 – Bạn cũ của mẹ.

  Người đàn bà nói khi thấy hắn bước tới.

 – Con chào bác đi. Đã mười năm rồi mẹ mới được gặp lại đó. You know? Ten years…

  Cindy nhìn hắn. Chăm chú, kiểu đang rà soát lại bộ nhớ. Soi mói tới lộ liễu. Hắn ngó đứa con gái mặc váy ngắn, mình hạc xương mai. Tại sao lại gọi nó là Cindy? Hắn thấy nốt ruồi đen nằm duyên dáng bên khóe môi phai nhạt màu son và tự nhiên hắn nhớ cái áo mưa cao su tránh bệnh tật bầu bì ai quẳng vào thùng rác trong phòng vệ sinh.

 – Mẹ cứ đi, đừng lo cho con.

 – Khoảng một tiếng thôi, đi tìm cốc cà phê ngon.

 – Sao mẹ không mời bạn mẹ về nhà cho ấm cúng, thoải mái. Nhà mình có chán khối cà phê ngon.

 – Con nói sao?

 – Đêm nay con ngủ lại đằng chỗ con Hiền. Ba má nó có làm party ăn khuya. Nhà không có ai, mẹ và bác đây tha hồ tâm sự.

  Nói chí phải. Hắn thầm nghĩ. Thật là con nào mẹ nấy!

 – Chúc mẹ và bác một đêm về sáng vui vẻ.

  Con bé nói, vừa đá lông nheo với hắn như thế cho một hiệp ước câm nín. Trao đổi, bảo mật. Người đàn bà ôm hôn vào má Cindy vị thành niên. Nó có được truyền thụ võ công không? Đạt tới mấy phần hỏa hầu? Sao vứt nó lại, làm hoa lạc giữa rừng gươm?

 – Cám ơn con, mẹ đi nhé.

 – Bảo trọng.

 – Con cũng thế. Đêm nay không về nhà chứ gì?

 – No. Thank you.

  Người đàn bà quay gót. Đêm Montréal rùng mình ớn lạnh. Chiếc xe nổ máy, hàn khí dâng đầy, mù mờ cảnh vật. Em ở đâu giữa phố người? Thưa anh, em ở trong nhà. Và nhà rất mực hoang liêu, đơn lẻ. Thôi, hãy phó mặc cho số kiếp làm thân lưu lạc. Nè mình, chúng ta chưa rõ ai là người động thủ trước, ra đòn hy sinh?

Hồ Đình Nghiêm

Giới nghiêm

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Một

 Trời nhiều sương khi chúng tôi ra khỏi rạp chiếu bóng. Cuốn phim không mấy hay nhưng tôi vẫn tiếc rẻ chỗ ngồi ấm cúng. Phim chẳng dài vì cái kết thúc có hơi đột ngột. Tại sao người ta không kéo thêm giờ mà lại nỡ lòng buộc hai nhân vật chính phải diễn tuồng lià xa?

 Tôi đưa Nga về. Nhà Nga ở đường Phan Đình Phùng, xuống khỏi dốc Minh Mạng thấy những ngọn đèn vàng còn đong đưa sáng cảnh chè cháo xì xụp ở mỗi hàng quán, tôi hỏi Nga có đói bụng không? Nga lắc đầu. Gió lạnh đi quanh chúng tôi, tôi ưa ôm vai Nga nhưng lại sợ hãi điều gì, mơ hồ, vô cớ. Tôi luôn là đứa vụng về ở mỗi một biểu tỏ. Nga ít nói, gần như câm nín suốt cả con đường loang lỗ bóng cây. Những ngọn đèn cũng thế, có vẻ lúng túng khi cháy đỏ, rót xuống không đều khoảng sáng tối. Cuốn phim như để lại trong Nga nỗi ám ảnh và Nga yếu đuối không thấy được đâu là sự khác biệt giữa phim ảnh và cuộc đời, giữa những hoang tưởng và sự thật trần trụi.

 Đã mười giờ, tôi biết sắp tới giờ giới nghiêm của riêng Nga. Nga như một người lính về lại đồn bót đúng giờ và người lính đó mãi tin rằng kỷ luật luôn là sức mạnh của quân đội. Đồn bót? Có thể gọi căn nhà Nga ở bằng hai chữ đáng ghét ấy không? Căn nhà có lối đi trải sỏi, có cánh cổng gỗ và những cọc nhọn dùng làm hàng rào thảy đều sơn trắng. Tôi chưa gặp mặt ba má Nga nhưng cảnh trí bày biện ở mặt tiền căn nhà khiến tôi mường tượng ra vẻ nghiêm khắc luôn có trên gương mặt lãnh đạm của họ. Tôi nghe bạn bè trong lớp thông tin là họ có phần hùn với một công ty xuất nhập khẩu nào lớn lắm, và chính điều này dường như khiến tôi co quắp không ưa đụng đầu họ. Tôi hình dung ra cảnh một đứa con trai buông thỏng hai tay, đứng không cục cựa trước những gạn hỏi của “qúy vị phụ huynh” luân phiên tra khảo. Tôi ghét hình ảnh những hòn đạn bay ra và ghim đầy lỗ thủng trên một tấm bia. Còn Nga? Tôi không quả đoán được khi ấy cô có nhỏ nhẹ thành tâm khai báo với song thân là hắn ta ở Huế lưu lạc vào trọ học thuê nhà ọp ẹp lạnh lẽo bên đường Hai Bà Trưng; và giả như thất tình, ai kia khi rẻ thì hắn chẳng còn hồn viá nào mà lo việc sôi kinh nấu sử. Hắn xuống tóc và trái ngược với thầy tu, hắn chui đầu đi làm lính thú ở một tiền đồn khuất mắt xa xăm cho bỏ ghét.

 Cổng không treo bảng “Coi chừng chó dữ” nhưng luôn luôn nó là giới hạn cuối của chân đứng. Đứng ở đó để thấy hối hận dồn lên tự muôn phiá và sự tiếc nuối làm dằn vặt đủ điều, biến mình thành kẻ ngu ngơ thật lộ liễu. Những cọc nhọn hàng rào cao chỉ tới ngang rốn nhưng mang ngầm vẻ răn đe “vô phận sự cấm vào”. Nó là thứ vĩ tuyến rạch ròi mà chúng tôi chưa được ai trao sức mạnh để vi phạm “lấn đất dành dân”. Nó không bày biện ra đó một chậu hoa rậm lá như hoạt cảnh trong phim mà chúng tôi vừa mãn nhãn vãn tuồng, nơi thu dấu chiếc chià khóa riêng lẻ để “anh” mở được lãnh cung giữa đêm hôm khuya khoắt gió táp mưa mù.

 Con đường thật ngắn. Bao giờ cũng vậy, nó chỉ dài lê thê cho ai đó chở vợ đang đau bụng đẻ thôi. Nó luôn hà tiện cho những đôi tình nhân. Nó bắt người ta sớm đụng đầu với những gì khó nói nhất trong ngày. Thôi, về đi. Về? Còn sớm mà. Phải hai tiếng nữa thành phố mới tới giờ giới nghiêm. Đừng giỡn. Ngủ ngon… Gió nói lời thầm thì với đám lá cây trên đầu. Hơi lạnh mơn trớn vào da thịt nổi hột tái tê. Mặt đất chao đi trong thứ đèn đường quét những đường chổi vằn vện sáng tối xuống chân đứng. Một đôi chân kiệt sức. Buông tay Nga ra. Những ngón mãi mê cầm vùng vằng trườn thoát. Rùng mình, như thể bàn tay ấy đã rút về, mang tất thảy những nhiệt lượng theo nó. Như cắt tất cả những mạch điện trở khiến cỗ máy phải chết khựng lại. Đứt phim! Ăn mặc kiểu gì phong phanh quá, coi chừng bị cảm đó. Nga nói, giọng dễ thương chở đầy nỗi quan tâm, quan hoài, quan ngại ở nơi… quan san có nhiều quan sát. Nga cởi chiếc áo len đang mặc ra. Chiếc áo ấm, mềm mại, dịu dàng lan truyền nhanh vào xúc giác. Hương thơm ấp ủ ở đó nồng nàn hơn thảy những loài hoa nở ngát trong đêm mật ngọt. Và rồi cái nụ hoa rời cành, quay lưng, nhòa nhạt trên lối đi vào nhà xào xạc những viên sỏi trở mình thao thức. Tôi ôm chiếc áo như thằng ăn trộm sững sốt với thành quả đạo chích. Tôi mặc cái báu vật ấy vào người, một ngọn đuốc nóng cháy hừng hực bập bùng tỏa lan, ấm vô hạn. Sao tuyết không đời nào đổ xuống Đà Lạt để cho tôi có cớ dầm thân trong đêm, cho tôi chứng thực một điều thế nào là sức mạnh kỳ diệu của một chiếc áo ngự hàn vừa được cởi ra, bưng bít thân nhiệt của người tình ngây ngất.

 Hai

 Người đàn bà bước xuống xe. Trời mưa nhỏ hạt. Cây dù đen bung ra, gương mặt người đàn bà lưu giữ một vùng bóng tối. Bờ vai tròn, chiếc váy mỏng lay động những nụ hoa tím. Thứ màu mà có thi sĩ đã thảng thốt bôi lên cả một chiều hoang biền biệt. Buổi chiều hôm nay mưa trở về đột ngột, con đường nhão dưới bánh những chiếc xe chạy vụt ngang. Ở đây vẫn luôn có những chiếc xe kỳ cục, rộn ràng, hốt hoảng. Chẳng biết họ phóng tới đâu và rồi thất thanh rượt đuổi tán loạn về một hướng nào? Cấp bách và bất an. Giữa dòng chảy chẳng mệt mỏi kia vừa có một chiếc thắng đứng lại, bỏ quên hết mọi thứ, từ tốn đậu bên lề, chả thèm dòm những tín hiệu xem chỗ đậu ấy có hợp lệ không. Cây dù đen bung ra che nửa diện mạo. Và rồi người ấy băng qua đường. Mặt lộ có đoạn trông như một tấm gương soi, loang loáng đọng vào đấy những hình ảnh huyễn hoặc, của một quá khứ xa xăm, của một trùng lai bất khả.

 Quán cà phê tuy đông người nhưng chiếc bàn kê gần cửa kính vẫn luôn còn đó một ghế trống. Trước khi ngồi xuống, người ấy đưa tay níu cổ tôi lại gần để hôn. Nụ hôn mát rượi nước mưa, đâu đó gần sát môi, ngạt thở. Nga tới trễ vì ngoài đường 15 xảy ra tai nạn. Như chưa đủ, người ấy thêm thắt. Có lẽ cô ta sẽ chết mất. Chưa già lắm, chắc cỡ tuổi Nga. Mặt kiếng vỡ toang, máu bện một vạt tóc mai và xe cứu thương tới với tất cả sự chậm lụt. Tôi nhìn vào đôi môi vừa khép, nghĩ tới những tai nạn đã từng xảy tới cho hai đứa. Máu không đổ bởi đó là thứ nội thương. Trầm trọng, dai dẳng, rối loạn kinh mạch. Bác sĩ sẽ bảo: Hừ, chưa điên là may!

 Nga cần ăn uống chút gì không? Thôi khỏi, tụi mình luôn chẳng có nhiều thời giờ, phải không? Người ấy uống chút cà phê còn sót trong tách rồi đặt trả nó về lại vị trí cũ, nằm giữa hai tay tôi. Bên tay trái có ngón đeo chiếc nhẫn vàng, người ấy nói khi nhìn thấy nó: Nga vẫn tưởng mình là kẻ thong dong. Là kẻ đến sớm và ngồi chờ đợi. Hoá ra lại khác. Bệnh viện nằm đâu? Không xa, cách một con đường cắt ngang ngoài kia. Nga sẽ đứng đợi sau cửa, hoặc Nga sẽ đi nhìn mặt đứa bé. Tùy ở Nga. Trai hay gái? Có điểm nào đặc biệt để dễ phân biệt? Nôi con trai sơn màu xanh, nôi con gái thì màu hồng. Có bốn cái nôi màu hồng nhưng hết ba đứa nằm trong đó là tóc vàng rồi. Đã đặt tên chưa? Liên-xô thì nghe kỳ cục quá, nên baby đành phải mang tên Nga. Cả gan! Vợ chẳng có ý kiến gì sao?

 Gió gửi xuống những giọt nước, khi mà lá cây bỗng dưng rung động. Những con chữ bằng đồng gắn nơi cổng bệnh viện sạch bóng và lá cờ tiểu bang gầm cuốn chẳng bay được cùng gió. Tên Nga không hay sao? Ít ra cũng hay hơn Nancy, Stephanie hoặc Cindy chứ?

 Cửa tự động mở, bày ra thứ thế giới của sự hồi sinh, thương tật, dị dạng. Của sống, chết, hấp hối. Nhắm khép võng mô lìa xa dương thế hoặc mở mắt nai ngơ ngác chào cuộc đời chất chồng lớp lang bài bản định mệnh. Người đàn bà dừng chân ở gian hàng bán quà lưu niệm. Khi trở ra, tay ôm bó hoa gói trong giấy kiếng. Cầm lấy đi, cho hợp lệ… Và cái này nữa, Nga vừa đan xong hồi hôm. Lấy từ xách tay ra một hộp giấy, người ấy mở hé cho thấy có chiếc áo len màu xanh nhỏ nhít nằm gọn bên trong. Nó hệt như chiếc áo ngày tháng cũ đã tuyệt mệnh và thời gian đằng đằng ấy đã làm nó co thắt lại để vừa kích cho một trẻ sơ sinh. Hãy nói láo là mua ở một cửa hàng thủ công nào đó. Muốn hạnh phúc đôi khi người ta phải tập dối gian. Nga có tin không, là chiếc áo Nga trao cho hồi xưa vẫn còn lành lặn nằm trong ngăn tủ. Nga tin, giống như Nga vẫn còn treo bức chân dung màu nước kia. Nó ngấm nước biển, nó hoen ố bạc màu nhưng chẳng hề chi. Mình phải nên có một nguyên cớ để hồi ức về những thơ mộng cũ.

 Hành lang bệnh viện sáng loáng sạch như lau ly, như bụi trần là thứ không tài nào len lỏi vào được. Mất bao lâu cho việc thăm viếng? Khoảng mười lăm phút. Được, có gì xuống tìm Nga ở cafeteria. Nga không muốn vào nhìn chân dung một người vừa sinh con? Có gì lạ? Nga ghét nhìn một người nằm trên giường hồi sức. Vã lại Nga chẳng thích đóng kịch. Người ấy nhăn mũi khi nói. Một hai cánh cửa phòng mở hé, có lẽ là chốn phát sinh thứ mùi sát trùng khó ngửi. Bao giờ xuất viện? Ngày mốt, hình như thế. Điều đó có nghĩa là hai ngày nữa sẽ tới giờ giới nghiêm? Dường như lúc nào Nga cũng xem tôi như một kẻ yếu đuối, sợ hãi mọi chuyện. Làm cha rồi đó ông. Ông phải lu bu những thứ mà người ta gọi là bổn phận. Nga đóng vai y tá tới nhà giả bộ xem chừng tình trạng sức khỏe đứa nhỏ… Không, đã nói là Nga chẳng thích đóng kịch. Nga ghét con nít. Kể cả một đứa ngây thơ vô tội mang trùng tên mình? Thôi vào đi kẻo bà xã đợi. Nga đi tìm mua chai nước suối uống cho trôi nỗi nghẹn.

 Người ấy bước lại chỗ có gắn thang máy. Đoạn đường không cắm hàng rào sơn trắng nhưng bước chân đầy vấp váp, như thể đang dẫm lên những viên sỏi xào xạc, cựa mình đớn đau ở những buổi chia tay về đêm. Đêm của mọi bưng bít, chẳng tìm được lối thoát cho cuộc tình vụng trộm, dấu nhẹm song thân.

 Ba

 Gõ đến tiếng thứ hai thì cửa mở. Căn phòng đồn trú nhiều bóng tối, những kệ sách im lìm, những bức tranh câm lặng và có đôi mắt ngây dại mở lớn nén chặt tiếng kêu. Người ấy lách mình vào, nhìn quanh, khuôn mặt không buồn chẳng vui. Ngày mai Nga đi, bây giờ đến từ giã, không tiện gọi điện thoại. Giọng nói nhỏ, có gì chận giữ trong cổ, một vụn trái táo lỡ cắn, nhai nuốt chẳng trôi. Nga vào ngồi một lát có được không? Phòng khách cách phòng ngủ bằng hành lang hẹp, dài khoảng tám thước. Ánh đèn mờ chui qua cánh cửa khép hờ, cắt lát lem nhem lên sàn gỗ trầy trụa vẹc-ni. Nếu đường sáng ấy nới rộng phạm vi, có lẽ người ấy sẽ tìm được ngay lối giải thích ổn thỏa. Hồi nào tới giờ Nga vẫn thông minh, cô luôn là người biết cách làm chủ tình hình hoặc giả Nga là người lính thông hiểu đường đi của một viên đạn, bất quá nó chỉ gây sây sướt chút đỉnh, làm tổn thương chút ít chứ chẳng thể mang cô tới miền cực lạc, tôi tin thế. Tôi đóng cửa bằng tất cả sự nhẹ nhàng, cẩn trọng. Từ ngày ẳm con về, tôi vẫn tập cách làm lụng, xoay trở, đi đứng mà đừng tạo ra tiếng động. Giật mình thì luôn có hại cho sức khỏe, nó làm yếu tim mất. Tôi chưa suy tim, tim tôi vẫn đập cà rịch cà tang, có điều nó đang ở một vị trí khác trong cơ thể. Chuyển dịch nặng nề, co thắt trong việc đổi dời kia. Tôi cà lăm: Từ giã? Nga đi đâu? Tôi nắm đôi bàn tay lạnh kéo vào chiếc ghế nằm gần cửa nhất. Thời tiết thật thất thường, mới đó mà chuyển rét tự bao giờ? Người ấy hơi run rẩy khi ngồi xuống. Tuyết rơi bên ngoài rồi sao? Nga về thăm lại Đà Lạt. Tôi ngó người ấy, mê đuối như muốn thu cất một hình ảnh sau cùng, thật trọn vẹn. Để mà làm gì? Còn ai thân thích ở chốn vắng kia? Người ấy cười. Để mà làm gì? Ừ, để được cái giải gì chứ! Nga không biết nữa. Tìm kiếm một người chồng? Hừ, đáng ngờ vực quá hả! Tôi đề nghị: Mình đi tìm một quán nước ngồi nói chuyện cho ra lẽ nhé? Một lắc đầu, một mái tóc nhiều sợi rối, lạc đường ngôi. Không, lôi kéo một người rời khỏi chăn ấm nệm êm? Nga chẳng được phép làm vậy. Chị ấy ngủ rồi à? Có thể, đang còn yếu, ít khi xuống giường và ăn ngủ như mèo đang cảm. Chị ấy cần bạn hơn. Còn Nga, Nga là cái thá gì, đúng không? Những ngón tay đan lấy nhau, cuống quýt. Bốn mắt nhìn chăm lấy nhau, đọng tận đáy, mù lòa. Làm cha mệt lắm phải không? Nhìn rõ sự xuống sắc. Mệt, nhưng vui thú, vã lại trước sau trong đời sao tránh đi khỏi con đường này. Một sự khổ lụy dịu dàng. Hãy cho Nga hôn sâu, ngày ấy có biết bao điều răn làm tổn hại tới đức hạnh của chúng ta. So bì, cấm đoán, tước đoạt hết những hạnh phúc hèn mọn. Chiếc ghế không nhẹ nhưng buộc lòng nó phải xê dịch bởi người ấy chồm người qua. Một cọng một bằng hai, nên chi bốn chân ghế phải phát biểu cảm tưởng bằng tiếng kêu nặng nhọc khi bị ức hiếp. Nga không ốm nhưng sau lưng chẳng có nhiều thịt. Sờ thấy bả vai, đường lõm khuyết ở giữa chạy dọc xuống. Ôm chặt Nga đi, tưởng tượng một cuộc di tản sẽ lắm tai ương làm thất lạc nhau.

 Vọng ra từ phòng ngủ là tiếng ho khan. Tiếng rời đi của một cuốn sách từ giường va xuống nền gỗ. Thôi Nga đi. Về Đà Lạt sẽ chụp một lô ảnh, những nơi từng có dấu chân tụi mình. Sẽ bày trò đố vui để học nếu nó hoán đổi hình tướng sau bao thăng trầm. Người ấy tự mở cửa, tự đóng lại. Cứng rắn hoặc không muốn kẻ khác nhìn thấu vẻ yếu lòng của mình. Căn phòng thảng thốt với tiếng gỗ lót nền vừa vặn mình ta thán. Chỉ có hương thơm phảng phất còn sót như một chứng thực, ngoài ra tất cả hệt chuyện hoang đường. Diện tích vuông vắn ấy giam tôi chết cứng trên ghế bải hoải tứ chi. Anh trò chuyện với ai mà thì thào ở ngoài đó? Tôi đi đến cuối hàng lang hẹp, vùng thoát những hoài nghi. Em dậy từ hồi nào? Có ngủ nghê gì đâu. Mắt mỏi, đọc sách không rõ, nằm lơ mơ như bị vật gì đè nặng. Ai vậy anh? À, một người đi rao giảng kinh thánh. Cũng cái bà hôm trước nữa sao? Mặt trơ như thạch cao, lúc nào cũng một câu: Tôi đến báo tin mừng, rằng Chúa… Không phải bà ấy đâu. Giờ này chẳng nhắc tới Chúa. Kỳ cục, họ không thấy cái bàn thờ mình bắt trên vách có thờ Phật bà Quan âm sao? Em đừng nói vậy, có nhiều người muốn nghe họ ngôn mình phải xuất tiền túi. Nghe những điều hữu ích mà khỏi tốn tiền thì đâu có gì đáng phàn nàn. Mệt anh lắm, ngang như cua. Bây giờ việc hữu ích của anh là khuấy giùm cho bé Nga một bình sữa, ngâm sẵn trong nước ấm và giặt hộ em đống đồ dơ trong thau.

 Tôi nghe lời vợ. Vợ tôi cũng là dân Hoàng triều cương thổ. Ở cách nhà Nga một con hẽm vậy mà hai bà chẳng biết nhau. Rất đỗi lạ lùng! Kỳ quái như thể sang tới xứ người mênh mông chi xứ, vậy mà người ta nhận ra nhau trong siêu thị, bắt tay trong quán phở và nếu cần, vất tăm tre xuống để rãnh mồm kể thấu suốt tới ba đời nhà anh ra. Chi li ngọn ngành tựa một cuốn truyện khoa học giả tưởng.

 Khuấy sữa cho bé Nga xong, tôi lôi cái máy giặt ở góc bếp ra, chất đồ dơ từ thau nhựa qua, lần lượt có thứ lớp. Áo quần hai mẹ con thay ra khá nhiều, phía dưới thau là cái drap trải giường nhăn nhàu dấu diếm với nhiều vết ố. Tôi ôm lên mũi hôn. Bần thần, trong trí hiện ra vùng da thịt trắng ngần, chiếc thánh giá rơi xuống dưới trũng ngực đầy… Trên sứa vải ẩm còn lưu giữ thứ mùi ngai ngái, nồng, ngọt và đôi ba sợi tóc Nga còn vấn vương. Tôi đổ bột giặt vào, mở máy. Tiếng nước chảy và rồi thì dấu tích được gội xóa. Tôi nói thầm, chùng vụng: Lạy Chúa, con là người có tội! Tiếng khóc ré bất ngờ làm điếng hồn. Ằng ặc. Trời! Mới đó, Nga đã vùng thoát giấc điệp. Oh, my baby! Tới ngay, tới ngay!

Hồ Đình Nghiêm

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Bài 12

Mười Năm Vượt Biên.

“- Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,

Chí lớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại!

Ba năm mẹ già cũng đừng mong.”

(Tống biệt hành – Thâm Tâm 1940).


Khoảng cuối mùa hè năm 1989, khi tôi còn làm việc ở phòng SB thì bên Task Force (Lượng lượng Đặc Nhiệm Mã Lai) chuyển qua khoảng 15 hoặc 16 người vừa tới đảo. Việc nầy hơi lạ, họ tới đảo lúc nào mà không ai biết cả. Số người nầy, phần đông còn trẻ, khoảng trên dưới hai chục tuổi, không phải người miền Nam, Saigon, Biên Hòa hoặc miền Tây, đông nhất là người Sóc Trăng như thường thấy mà người miền thượng du Bắc Việt. Họ của họ cũng đặc biệt như họ Chung (Chung A Dũng), họ Phù (Phù A Lầu), Họ Bành, họ Wòng, v.v… (Những người sau, tôi không nhớ tên).

Tôi làm việc với Chung A Dũng. Anh chàng nầy 21 tuổi, dáng người khỏe mạnh, hơi mập, mặt vuông. Khuôn mặt bình thường, hiền hậu, nhưng hai lông mày cao ngược lên, trông có vẻ hơi dữ.

1)- Lời khai của Chung A Dũng:

– “Quê em ơ bản…. (tôi không nhớ) bên nầy ải Nam Quan, cách Lạng Sơn không xa. Bà con em ở bên kia biên giới. Trước khi có chiến tranh Trung Quốc – Việt Nam, người bên nầy cũng như bên kia biên giới qua lại, giao thiệp “bình thường.”

Tò mò về việc nầy, tôi bảo Chung A Dũng khai rõ thêm, có ví dụ nào nói rõ về sự “bình thường” đó.

– “Ví dụ như thế nầy” Dũng nói. “Hai anh em ruột. Em ở bên nầy, anh ở bên kia” (biên giới)

– “Tại sao vậy?” Tôi hỏi.

– “Tại vì ông anh lấy vợ bên kia thì qua bên kia sinh sống. Có vậy thôi.” Dũng nói.

– “Hai bên cùng một “dân tộc ít người” như nhau hay khác?” Tôi hỏi.
– “Khác gì đâu! Em người Nùng, chị dâu em bên đó cũng người Nùng. Người Nùng với người Nùng lấy nhau. Có gì đâu?”

Tôi ngạc nhiên, hỏi:

– “Vậy khi cưới nhau như thế, làm giấy hôn thú như thế nào? Hai người hai quốc tịch.”

– “Có quốc tịch gì đâu!” Chung A Dũng nói. “Làm thịt một trâu hay hai heo, bà con tới ăn. Ai cũng biết hai người ấy là vợ chồng. Vậy là đủ rồi.”

– “Từ xưa đến nay như vậy?” Tôi hỏi.

– “Không biết nữa. Ai cũng làm đám cưới, cha mẹ ông bà ngày xưa cũng thế.” Chung A Dũng giải thích.

Tôi hỏi:

– “Vậy thì bên nầy hay bên kia biên giới có liên hệ với nhau, có bà con với nhau!”

– “Bà con nhiều lắm á! Buồn buồn thì qua lại chơi. Anh của Dũng qua chơi bên ấy, quen người ta rồi cưới.” Chung A Dũng giải thích.

– “Vậy bên nầy bên kia không có ranh giới gì cả.” Để rõ hơn, tôi nói: “Không có ràng rào hay dấu tích gì cả?”

– “Không! Không có gì hết. Dũng có nghe nói cột mốc, nhưng Dũng chưa tới đó.” Chung A Dũng giải thích.

Câu chuyện của Dũng làm tôi nhớ lại một câu chuyện cũ rất buồn cười. Tôi có người anh con bà dì, chị mẹ tôi. Anh ấy đóng loon “đội” (trung sĩ). (Anh ưa người ta gọi là thầy đội hơn là trung sĩ, và đăng lính pháo binh Pháp, ưa gọi là artillerie hơn là pháo binh). Sau trận Điện Biên Phủ, anh ấy ở ngoài Bắc về. Anh khoe: “Tao lên tới tận biên giới Si-noa.” Hỏi biên giới có gì lạ, anh ta bảo: “Ở biên giới, có trời làm lằn ranh: Cỏ Việt Nam thì nghiêng về bên Việt Nam, cỏ Tàu thì nghiêng vê bên Tầu.” Hỏi về cây, anh cũng bảo cây bên nào nghiêng về bên nấy, không mọc thẳng lên trời. Hồi ấy, tuy còn nhỏ, nhưng tôi đã nghi anh ấy nói xạo. Sau nầy, học sinh vật, thì rõ ràng anh ấy xạo quá. Tôi hỏi kỹ Chung A Dũng về sinh hoạt ở biên giới, có lẽ cũng do ám ảnh về cái xạo của ông anh con dì tôi.

Tôi hỏi Dũng:

– “Vậy có cái gì để phân biệt ranh giới, bên nầy là đất Việt Nam, bên kia là đất Tầu hay sao?”

Chung A Dũng, có lẽ hơi lạ về câu hỏi của tôi, nói:

– “Có cái gì đâu! Ngay cột mốc là ranh giới, chỉ ở đó thôi á!”

Tôi hỏi thêm:

– “Vậy về hành chánh thì sao? Giấy tờ chứng minh nhân dân thì sao? Có chủ tịch, bí thơ đảng ủy không, họ ở đâu?”

– “Có nghe nói. Nhưng Dũng chạy qua Trung Quốc năm 11 tuổi, Dũng không biết gì việc đó.”

Cái khác là việc học. Bên nầy, có hai lớp học: lớp 1, lớp 2. Học tới đó là hết, khỏi học thêm vì không có trường, không có tiền để đi học xa. Bên nầy thì học chữ Việt Nam, bên kia, cũng chỉ có hai lớp, học chữ Tầu. Ngoài chừng đó, Dũng không biết gì thêm. Tuy nhiên, cũng nhờ học chừng đó, khi tới đảo, Chung A Dũng đọc bập bẹ chữ quốc ngữ, biết đọc tên của Dũng và biết ký tên mình.

“Thiên đường Cộng Sản”, dù ở bên nầy biên giới là vùng Dziệt Cọng hay bên kia biên giới là Trung Cộng, cũng chỉ chừng đó, không cao hơn được.

&

Dũng “vượt biên” năm 11 tuổi, là năm 1979, khi “Láng giềng hữu nghị” thành ra “Anh em thù địch” đánh nhau trối chết trên 6 tỉnh biên giới Việt-Trung. Từ năm đó đến nay (1989), tính ra là 10 năm. Mười năm vượt biên.

Khi chiến tranh nổ ra, quân Trung Quốc tràn qua biên giới thì gia đình Dũng nghe lời Trung Quốc kêu gọi, cho Dũng “vượt biên.”

Hỏi Dũng vượt biên như thế nào, Dũng bảo rằng chẳng có gì hết, cứ bên nầy vượt qua một ngọn núi thấp, bên kia là nhà anh chị Dũng. Bên đó dân chúng cũng chuẩn bị di tản, đề phòng “quân Việt Nam phản công, đánh qua.”

Hỏi trưóc kia sao không vượt biên thì Dũng nói hồi trước có biết gì đâu! Bây giờ nghe Trung Quốc gọi đi thì đi.

Bà con nói qua tới Trung Quốc, sẽ đi HồngKông rồi đi Mỹ, sướng lắm. Thế là nhà biểu Dũng đi, Dũng vâng lời.

Dũng đi theo một đám trẻ, khoảng ba chục đứa, đi gần một ngày, sâu vào lãnh thổ Trung Quốc. Tới một nơi có một cái đình hay chùa cũ gì đó, Dũng không rõ. Trước cổng có treo một tấm biểu ngữ bằng vải đỏ, dài, viết chữ Tầu, màu vàng. Viết chữ gì, Dũng không hiểu. Đồng bọn giải thích cho Dũng hiểu là nhà nước Trung Quốc “vui mừng tiếp đón nạn Kiều”, những người “trở về với đất mẹ thân yêu!”

– “Khi đó chú mầy mừng không?” Tôi hỏi.

– “Mừng chứ! mừng lắm! Được ăn ngon mà không mừng sao được. Gà! thịt bò, heo, cơm trắng tinh, ngon lắm!”

-“Xong, họ cấp cho mỗi người một bộ quần áo, một cái chăn. Tối đó ngủ lại ở ngôi nhà nầy. Rệp khiếp luôn! Ba ngày sau, họ đưa đi.”

-“Đưa đi đâu?” Tôi hỏi.

– “Họ nói nạn kiều trở về đất mẹ đông lắm, những ai đến trước, cần phải đưa đi, để dành chỗ cho người đến sau. Vậy rồi lên xe lửa đi hai ngày, lại lên xe molotova đi thêm ba ngày nữa. Tất cả 5 ngày. Có người đưa đi, lo việc ăn uống”

– “Đi đâu mà xa thế?” Tôi hỏi.

– “Đi nông trường.” Chung A Dũng nói. “Đi lên phía bắc, rồi đi sâu vào hướng tây-bắc.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– “Chú mầy mới 11 tuổi mà đi nông trường làm gì?”

Người ta bảo không được “ăn bám nhân dân”, “ăn bám là có tội với tổ quốc, nhân dân.” Vậy là mình phải làm việc để tự nuôi mình, “tạo điều kiện” để mình đi học. Mai mốt thành tài “phục vụ đảng, phục vụ tổ quốc.”

– “Tổ quốc Tàu?” Tôi cười, hỏi.

– “Tầu hay Việt, Dũng đâu có biết, đâu có thì giờ suy nghĩ tới. Dũng còn nhỏ thì cầm cái cuốc nhỏ, dẫy cỏ ở những gốc chè. Đây là nông trường chè, lớn lắm, rất đông người, hái chè, làm cỏ, phơi sấy, vô bao, nhiều việc lắm.”

– “Không đi học?” Tôi hỏi.

– “Không có thì giờ.” Dũng nói. “Làm cỏ phải đạt chỉ tiêu. Muốn đạt chỉ tiêu thì phải làm hơn 12 giờ một ngày. Làm về, mệt lắm, có khi ăn không no, có khi mệt quá, không ăn được.”

– “Bọn nạn kiều như Dũng ở đây nhiều không?” Tôi hỏi.

– “Chỉ trẻ con bằng tuổi Dũng. Không có đứa lớn hơn. Những đứa lớn đi đâu không biết.” Dũng giải thích.

– “Làm việc suốt ngày, sao biết được như vậy?” Tôi hỏi.

– “Chủ nhật nghỉ. Mỗi tuần nghỉ một ngày, ra phố chơi gặp nhau.” Dũng nói.

– “Ra phố xa không?” Tôi hỏi.

– “Khi nào có xe nông trường đi, cho đi theo thì hơn nửa tiếng. Còn đi bộ, băng qua nông trường thì nhanh cũng phải hơn một tiếng, nhưng phải lội suối.” Dũng nói.

– “Ra tới phố, đi ăn, mua ít dụng cụ, gặp bọn ở Việt Nam qua giống như Dũng nhiều lắm. Hầu hết những đứa tới Bidong với Dũng đều gặp nhau ở đó.”

– “Cả Phù A Lầu?” Tôi hỏi.

– “Phù A Lầu thì không? Dũng gặp nó ở một trại khác. Rồi cùng trốn đi.”

– “Nó thưa mầy hiếp dâm nó, có không?” Tôi hỏi.

– “Nó nói bậy. Nó nói chuyện với Dũng nhiều. Dũng tưởng nó yêu Dũng. Nhưng không! Không thì thôi. Chán gì đứa!” Dũng nói, vẻ làm cao.

– “Ở nông trường đó bao lâu?” Tôi hỏi.

– “Trốn đi chứ!” Dũng nói. “Gần bốn năm, không thấy tương lai gì cả, chết già ở đó sao? Khi bắt đầu đánh nhau, Trung Quốc tuyên truyền trở về đất mẹ sẽ cho đi học, sẽ được sung sướng, đời đời tự do. Nay không thấy gì hết thì bàn nhau trốn đi.”

– “Bàn lúc nào?” Tôi lại hỏi.

– “Cứ chủ nhật, ra phố, gặp nhau bàn chuyện trốn. Đứa nào cũng gởi thư về gia đình, than khổ, đói, xin tiền. Có tiền mới trốn đi được. Trốn ra Hồngkông để đi Mỹ hay đi châu Âu. Thế rồi định ngày, có tiền, ra phố, cùng nhau ra ga, mua vé đi HồngKông.”

– “Rồi Dũng ở trại HồngKông?” Tôi hỏi, dịu dàng hơn.

– “Đâu có! Tới gần Cửu Long thì bị bắt lại. Công An đánh cho một trần nhừ tử, bảo rằng đã trở về với đất mẹ, đã được nhân dân tổ quốc yêu mến giúp đỡ, lo lắng cho mà còn tư tưởng phản động, còn muốn chạy theo đế quốc. Rồi nó giải tới một nông trường khác.” Dũng kể.

– “Không ở tù?” Tôi hỏi.

– “Không! Dũng khai nhỏ tuổi lại, 14 tuổi nên khỏi ở tù. Những đứa khai tuổi thiệt, bị đưa đi trước Dũng, không biết đi đâu, sau nầy không gặp lại.” Dũng kể.

– “Nông trường mới trồng gì?” Tôi hỏi.

– “Cũng trồng chè. Cũng rất đông “nạn kiều”, còn trẻ như cháu. Nhưng bọn nầy không phải quê ở Lạng Sơn, phần đông quê ở Quảng Ninh. Dũng gặp Phù A Lầu ở đấy!” Dũng nói.

– “Phù A Lầu quê ở Quảng Ninh?” Tôi hỏi.

– “Vâng!” Dũng trả lời.

Tôi cười:

– “Mày nói yêu nó mà không biết gì về nó. Nó ở một bản làng từ Quảng Ninh đi sâu núi vào gần năm chục cây số, trên một độ cao cao lắm, nhưng bộ lạc nầy ít người lắm phải không?”

– “Sao chú rành thế?” Dũng nói.

– “Rành gì đâu! Hôm qua ông Thừa phỏng vấn nó, sát bên cạnh tao nầy nè! Tới đoạn nào hơi lạ, tao lắng nghe!” Tôi giả nói lãng chứ tôi đã phỏng vấn Phù A Lầu hôm qua rồi.

Dũng nói:

– “Thật ra cháu có yêu nó, nhưng con bé nầy khùng khùng, dỡ hơi, nên cháu không quan tâm lắm. Nó có kể về bản nó như chú nói vậy, nhưng cháu có biết chỗ nó là chỗ nào đâu.”

– “Bây giờ, tôi cho anh về nghỉ một hai ngày, suy nghĩ lại cho kỹ. Bọn anh khai trốn từ HồngKông, đóng bè ra biển trôi ra tận ngoài Thái Bình Dương, rồi lại trôi về Bidong là xạo lắm, không phải đâu! Phải khai lại cho thật mới hy vọng đi định cư. Người Âu Mỹ ít nói dối như người Á Đông, người Tầu, người Việt. Chú mầy nói láo, Mỹ nó không tin, nó cho ở lại đây, mục đảo luôn. Đừng trách người ta làm khó.”

Tôi vừa khuyên mà cũng vừa dụ Chung A Dũng như thế để nó khai thật. Trong đám nầy, hình như Dũng thường làm “tham mưu trưởng”, nhưng lại là đứa tương đối chân thật.

Dũng về xong, tôi báo cáo với trưởng phòng SB về trường hợp bọn nầy. Người miền núi, tuy chân thật, nhưng lớn lên với Việt Cộng, Trung Cộng, lăn lộn từ nông trường nầy sang nông trường khác, từ lúc mới hơn mười tuổi, thành ra cũng “ba đá” lắm, phải dối trá để sống còn, rất đáng thương. Tuy nhiên, bản chất chân thật, nói ngọt chúng nó sẽ khai thật hơn làm dữ. “Nói ngọt lọt đến xương.” Tôi phân giải như thế vì ông truởng phòng tính dùng biện pháp mạnh, cho nhốt vào Monkey House để chúng sợ mà khai thật.

2)- Lời khai của Phù A Lầu

Bản làng Phù A Lầu là một trong những nhóm của người Sán Dìu. Sán Dìu đã là một dân tộc ít người, lại chia thành nhiều nhóm nhỏ, sống trên những vùng cao, thuộc rặng Đông Triều.

Xin nói qua một chút về vùng núi nầy.

Theo sách địa lý, nói chung sách nào cũng vậy, là những dãy núi vùng thượng du Bắc Việt có hình nan quạt mà cái “tâm” là đồng bằng Bắc bộ hay Bắc phần, cũng vậy.

Rặng Đông Triều nằm phía ngoài cùng, chạy dọc theo bờ biển vịnh Bắc bộ. Đây cũng là vùng có nhiều than đá, thuộc tỉnh Quảng Ninh, thị xã là Quảng Yên.

Vùng Quảng Ninh là quê hương nhà Trần. Vì vậy, khi vua Trần Nhân Tôn nhường ngôi cho con, lên làm Thái Thượng Hoàng, ông về núi Yên Tử tu hành, lập ra phái Trúc Lâm Thiền Tôn, và trở thành tổ thứ nhứt của tông phái nầy. Xin chép lại một trích đoạn nói về lịch sử Phật giáo Việt Nam:

“Yên Tử trở thành trung tâm của Phật giáo từ khi vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng khoác áo cà sa tu hành và thành lập một dòng Phật giáo đặc trưng của Việt Nam, đó là dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử và trở thành vị tổ thứ nhất với pháp danh Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông (1258–1308). Ông đã cho xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên núi Yên Tử để làm nơi tu hành và truyền kinh, giảng đạo. Sau khi ông qua đời, người kế tục sự nghiệp là Pháp Loa Đồng Kiên Cương (1284–1330), vị tổ thứ hai của dòng Trúc Lâm. Trong 19 năm tu hành, ông đã soạn ra bộ sách “Thạch thất mị ngữ” và cho xây dựng 800 ngôi chùa, am, tháp lớn nhỏ trong nước với hàng nghìn pho tượng có giá trị, trong đó có những chùa nổi tiếng như viện Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên ở Đông Triều… Tại trung tâm truyền giáo của Pháp Loa còn có Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254–1334), vị tổ thứ ba của phái Trúc Lâm.” (theo wiki).

Vì là quê hương của các vua nhà Trần, các vua lại trọng đạo Phật nên vùng nầy có rất nhiều chùa như độc giả thấy ở trên.

Về dân tộc vùng nầy, nói chung, nguồn gốc của họ là từ bên Tầu qua, một ít từ đảo Hải Nam của Tầu di cư vào. Văn hóa tương đối cao, gần bằng người Việt, ngoại trừ những dân tộc sinh sống trên vùng thâm sơn.

Vì Quảng Ninh là vùng mỏ, Cộng Sản tưởng là môi trường tốt để tuyên truyền và chiêu mộ đảng viên. Tuy nhiên, tình hình ngược lại. Dân chúng Quảng Ninh có tinh thần chống Cộng rất cao, ngay từ khi Việt Minh mới cướp chính quyền năm 1945. Lực lượng Bảo An Quảng Yên nổi tiếng chống Cộng có thành tích cao, hầu hết đều di cư vào Nam sau hiệp định Genève 1954. Về sau, trở thành những lực lượng chống Cộng nổi tiếng trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều người lên tới cấp tướng, tá và làm dân biểu hay giữ những chức vụ cao cấp trong chính quyền miền Nam Việt Nam.

Họ dùng danh từ Hán, nhưng không phát âm theo tiếng Việt mà theo ngôn ngữ của họ thành ra họ có những tên, họ hơi lạ như họ Phù, họ Bành, họ Chương (chuẩn tướng Chương Gìn Quay), họ Gíp hay Wòng (Wòng A Sáng hay Gíp A Sáng). Tuy nhiên, họ vẫn nói được hai ngôn ngữ: Tiếng dân tộc (của họ, gần với tiếng Tầu) và tiếng Việt.

Vùng nầy có nhiều chủng tộc (Việt Cộng gọi là dân tộc ít người) bởi vì trong dân tộc Việt Nam nói chung có rất nhiều dân tộc ít người. Thông thường, người ta biết ở miền Trung thì có Radhé, Banà, Hmong… ngoài Bắc thì có Tày Nùng, Lôlô, Thái, v.v…

Có lẽ trong sách địa lý cấp trung học ngày trước, các tác giả chỉ giới thiệu sơ qua về các dân tộc thiểu số, không nói nhiều, nói đủ vì không cần thiết. Nếu như có ai tò mò, mê đọc tiểu thuyết mới đọc thêm “Ai hát giữa rừng khuya” của Lan Khai hay “Thần Hổ” của TCHYA hay “Vàng và Máu” của Thế Lữ hoặc ít ra “Mắt Thần”, “Lệ Hằng phục thù” mới biết thêm chút ít về các giống dân nầy. Còn ngoài ra, những nhà nghiên cứu hay sách báo của họ thì tôi không rành rẽ lắm.

Chính vì vậy, khi nghe Phù A Lầu khai là dân tộc Sán Dìu thì tôi cũng hơi ngợ. Có lẽ, tôi đã đọc đâu đó cái tên của dân tộc nầy, lâu ngày cũng đã quên, nay nghe nhắc mới nhớ lại một cách mơ hồ. Nếu hai chữ Sán Dìu không làm tôi liên tưởng tới một loài ký sinh dài như chiếc đũa trong ruột người thì tôi cũng đã quên tên dân tộc của cô ta, nay không nhớ để viết lại. Tuy nhiên, khi nghe cô ta nói hai tiếng Sán Dìu, tôi muốn cười vì sự liên tưởng trên nhưng không nói ra. Chữ ấy, cách nói ấy chỉ dùng để đùa giỡn trong số bạn bè vui chơi chứ nói ra với người lạ, lại là đàn bà con gái thì thô bỉ quá. May mà tôi đã kịp ngậm miệng lại mà không nói bậy.

Cũng xin nói thêm về nhân dạng của Phù A Lầu như tôi có nói về nhân dạng Chung A Dũng như tôi đã nói ở trên. Có phải người miền núi hơi lớn con? Hai người giống nhau ở điểm đó. Cô gái hơi mập hơn một chút, cũng có nét mặt của người đàn bà con gái nhưng có vẽ “núi rừng” một chút. Thành thử, nếu cô ta có đóng vai Sơn nữ Phà Ca thì thích hợp hơn Thanh Nga nhiều. Khuôn mặt Thanh Nga có gì “núi rừng” như ca sĩ Siu Black để có thể đóng vai cô gái miền cao? Điểm đặc biệt, ở trại, người tỵ nạn không ai mang giày, chỉ mang dép Nhựt nên tôi thấy rõ hai bàn chân Phù A Lầu to quá khổ. Đúng là bàn chân của người leo núi, leo đồi nhiều từ khi còn bé. (1)

Tò mò về vùng Đông Triều, hỏi thêm thì cô ta chẳng biết gì về quê hương núi rừng của cô cả. Vã lại, cô ta vượt biên hồi 10 tuổi. Một con bé mười tuổi không thể biết nhiều về quê hương mình cũng là lẽ đương nhiên.

Bản làng cô ta nằm trên vùng cao rặng Đông Triều. Dân số trong bản làng chỉ có hơn trăm người, còn giữ nhiều phong tục hủ lậu, và ít giao thiệp với thế giới bên ngoài.

Vậy cô ta có lý do gì để vượt biên?

Chỉ là phong trào!

Dân tộc Sán Dìu của cô, tuy liên lạc không nhiều với thế giới bên ngoài nhưng vì bản làng cô ta không xa biển nên biết ít nhiều về vượt biên qua HồngKông. Chị Phù A Lầu vượt biên cũng vì vậy. Mặc dù người chị vượt biên sau Phù A Lầu, ra đi năm 1979, nhưng nhờ đi theo đường biển, tới thẳng HồngKông trước ngày đóng cửa đảo nên đã định cư ở Hòa Lan. Trước khi tới Bidong, Phù A Lầu vẫn thường liên lạc với chị và nhận tiền cứu trợ do chị gởi về. Sau khi tới đảo ít lâu, Phù A Lầu, nghe lời chị, xin đổi tên là Phù Hạnh Lan. Tôi không rõ hai tiếng A Lầu có tương đương với hai tiếng Hạnh Lan trong tiếng Hán Việt hay không.

Chuyện Phù A Lầu vượt biên không quan hệ gì tới việc Tầu Cộng – Dziệt Cộng đánh nhau. Vì ở gần biển, họ biết việc vượt biên từ trước thời gian đó, sau 1975, phong trào người Nam vượt biên lan ra tới ngoài Bắc. Và người Bắc cũng đi theo, hy vọng một đời sống sung sướng tự do không như dưới chế độ Dziệt Cọng. Nhất là dân Quảng Ninh nhờ nối lại được quan hệ với bà con thân tộc đã ra đi trong cuộc di cư môt triệu người sau hiệp định Genève.

Tuy nhiên, số phận Phù A Lầu ở “đất mẹ thân yêu” không khác lắm với số phận Chung A Dũng. Cò lẽ đó là chính sách chung của Trung Cộng.

Những đứa bé “trở về với đất mẹ thân yêu” đều được đưa đi nông trường.

Trong khi Chung A Dũng vác cuốc đi làm cỏ thì Phù A Lầu đeo gùi đi hái đọt trà non. Việc làm nào cũng có chỉ tiêu. Không ai có thể đạt được chỉ tiêu nếu chỉ làm việc 8 giờ mỗi ngày. Người làm nông trường thì cho rằng ban giám đốc đưa ra chỉ tiêu cao, nhưng ban giám đốc thì nói ngược lại. Họ cho rằng người làm nông trường làm việc kém, lao động lơ là, chỉ muốn “Ngồi mát ăn bát vàng”, bóc lột nhân dân…Và cuộc đấu đá, bề ngoài có vẻ dân chủ, nhưng không bao giờ chấm dứt vì không bao giờ đạt tới chân lý. Ban giám đốc bao giờ cũng tự cho rằng họ có quyền, và cần đạt “chỉ tiêu trên giao”.

Khi Chung A Dũng trốn đi Hồng Kông thì bị bắt và đưa về đây, cùng nông trường với Phù A Lầu. Hai người biết nhau, tuy đã lớn nhưng vẫn còn ở tuổi vị thành niên.

Tôi cho Chung A Dũng về trại hai ngày, suy nghĩ cho kỹ rồi lên khai thật việc chúng vượt biên như thế nào, làm sao mà hơn một chục thanh niên, trốn khỏi trại tỵ nạn ở HồngKông bên Tầu mà lại đến được trại Bidong ở Mã Lai. Chúng nó khai rằng chúng đi bằng bè, bè trôi ra ngoài Thái Bình Dương rồi lại trôi về vịnh Thái Lan, tấp vào đảo Bidong. Chúng nói khai như thế, tin được không?!

Dĩ nhiên là không, không ai tin lời chúng khai.

Tôi cho việc nhốt chúng vào Monkey House như thế là tàn nhẫn. Mười năm vượt biên, từ Việt Bắc, qua Tầu rồi nay, sau 10 năm phiêu bạt, chưa đạt tới đích, nay bị đem nhốt vào tù. Tôi nghĩ là không nên làm vậy, nên đề nghị trưởng phòng cho chúng về, khuyên chúng khai thật. Có gì gấp đâu, và chúng nó có trốn đi đâu được mà ngại. Đằng nào rồi chúng cũng sẽ khai thật thôi!

Hai ngày sau, Chung A Dũng lên trình diện. Thái độ nó vẫn thế, vẫn che dấu việc chúng rời HồngKông như thế nào để tới được đây.

Tôi biết tôi nóng tính, hỏi nữa, Chung A Dũng vẫn không khai, ngoan cố, không chừng tôi không giữ được bình tĩnh, có thái độ hung dữ, tát tai nó không chừng! Vã lại, tôi cũng sợ mất mặt với trưởng phòng, cứ nhốt vào Monkey House là xong chuyện. Làm cho chúng sợ, không chừng chúng lại bị tụi lính Mã Lai đánh cho, chúng nó sẽ khai hết, vừa mau mà lại khỏe. Nhưng để chúng bị Mã Lai đánh thì tội nghiệp lắm!

Tôi biểu Chung A Dũng ra phòng ngoài ngồi chờ, trong khi tôi chán nãn vì mớ hồ sơ gồm những lời khai của bọn nầy còn để trước mắt, trên mặt bàn.

Kỹ sư Nguyễn Dương Hảo ngồi bên cạnh tôi, cũng vừa kết thúc một cuộc phỏng vấn. Người tỵ nạn được phỏng vấn đã ra về. Hảo hỏi tôi:

– “Bộ nó không khai à?”

– “Bọn nầy ở với Việt Cộng quen rồi, ngoan cố lắm, cứ “ba không” là mình chẳng làm gì được. Bực mình, tui muốn đục vào mặt nó.” Tôi trả lời.

Hảo cười:

– “Đừng nóng. “Thương thì thương cho trót.” Hay anh để tui nói chuyện với nó coi.”

Tôi cười:

– “Đừng nóng sao được. Người ngợm nó như thế, họ tên nó như thế mà nó cứ khăng khăng cải với tui nó là ngưòi Kinh. Kinh cái mẹ gì ở cái thằng mọi Việt Bắc họ Chung.”

Hảo cười:

– “Cứ như anh, qua Mỹ tụi nó thưa cho cái tội kỳ thị.”

Tôi cười, mệt mỏi:

– “Ông vô đi! Ông nói năng mềm mỏng, dịu dàng, không chừng nó nghe. Tui quen thói “Cảnh sát là bạn dân”, đụng tới đâu nạt nộ tới đó, nhiều khi chúng nó biết tẩy của mình. Không khai thì làm gì được nhau!”

Hảo cười, không nói gì, đem hồ sơ trả lại cho ông trưởng ban Trần Quốc Phụ rồi ra phòng ngoài ngồi với Chung A Dũng.

Hảo thiệt là thiên tài. Anh ta nói gì với Chung A Dũng, tôi không biết, cũng chẳng lắng nghe! Một lúc sau, anh ta dẫn Chung A Dũng đi uống càphê. Trời cũng đã chiều, tôi lấy áo quần đi tắm để về nhà.

Ở Bidong, nước ngọt khan hiếm. Người tỵ nạn mỗi ngày được Mã Lai phát cho một xô nước ngọt, cỡ 10 lít. Nước ngọt nầy là nước đã lọc, do tầu chở từ trong đất liền ra, ở tiểu quốc Terranganu. Khi tầu ra tới nơi, đậu ở bến thì nước ngọt được bơm vào các bồn chứa ở lưng chừng núi. Sáng sáng, khoảng 10 giờ, Mã Lai bắt đầu phát nước. Người tỵ nạn sắp hàng dài, hai ba cái xô không sẵn sàng, chờ tới phiên, có tên lính Mã Lai đưa vòi cho nước vào xô. Nước đầy thì xách đi.

Trên đảo cũng có một cái giếng, ngay giữa trại nhưng nước còn mặn, không xài được. Ở lưng chừng núi, người tỵ nạn ban đất trồng rau. Họ trồng đủ loại, ngắn ngày như rau thơm, rau tần ô, rau muống, dài ngày thì có khoai mì (sắn), và đào giếng sát bên con suối cạn để lấy nước tưới rau. Suối chỉ cạn trên mặt, bên dưới còn mạch ngầm. Đám thanh niên, chiều chiều kéo nhau lên núi, lấy nước ở những cái giếng ấy tắm giặt, vì một xô nước 10 lít chỉ đủ để nấu ăn mà thôi.

Riêng tại phòng SB cũng như khu Task Force, Cao Ủy… thì nước ngọt dùng thoải mái. Những người làm việc ở phòng SB đều được tắm giặt ở đó. Đó cũng là cái “mồi” để trưởng phòng SB dùng để câu hoặc ràng buộc người làm việc ở đó. Hôm tôi nhận việc, ông cựu thiếu tá, lúc ấy là phó phòng Lữ Quới Trang (lúc đó còn làm phó phòng) nói với tôi:

– “Làm việc ở đây, anh có nước ngọt dùng thoải mái. Đó là sự ưu đãi.”

Nghe câu đó, tôi bỗng nhớ câu thơ trong truyện Kiều. Từ Hải nói với Kiều, sau khi nghe lời Kiều xúi Từ Hải ra hàng:



“Nước nôi” buộc trói lấy nhau,

Vào luồn ra cúi công hầu mà chi?”

Ở Bidông, khó so sánh việc có nước ngọt tắm táp thoải mái với tiêu chuẩn danh lợi trong truyện Kiều. Ở đây không có áo xiêm, không có “Xe ngựa rợp trời mây,” không có “Áo đỏ mũ pha chàm” như trong bài thơ “Vào Thành” của cụ Phan Bội Châu mà chỉ là một xô nước ngọt. Một xô nước ngọt mà cũng đủ trở thành “Cái vòng danh lợi” khiến nhiều người phải cúi đầu. Cuộc đời buồn cười đến thế hay sao?

Cũng vì nước ngọt, đại tá Nguyễn Thiều, tuy không làm ở phòng SB nhưng chiều chiều cũng lên đây tắm giặt, bởi vì ông ta là người lon lá cao nhất đảo, người ta nể vì. Tuy nhiên, không biết do đâu, một hôm tôi nghe cựu thiếu tá Lữ Quới Trang, vừa mới lên trưởng phòng thay cho Trần đình Khánh, thì ông “quan tư” nầy đã đuổi Trần Đình Khánh về longhouse ở, không cho ăn ngủ tại phòng SB nữa, và với đại tá Thiều, ông Trang bảo: “Đại tá Thiều lên đây tắm, tôi đuổi về.”

Bỏ phòng SB qua làm việc ở phòng Phát Triển Cộng Đồng, tôi cũng như Hảo, Liệu đều bị mất “quyền lợi nước ngọt”. Uổng thật! Vậy là không còn ưu tiên nước ngọt là anh em chúng tôi đã thoát vòng danh lợi được rồi hay chăng??!!!

Hôm sau, Chung A Dũng dẫn cả đám chúng nó lên. Dũng nói với trưởng phòng, nhưng nói to, ai cũng nghe:

– “Chúng cháu xin khai thật. Thế cũng là mất lời hứa với người ta. Chúng cháu đành chịu vậy.”

Thế là trưởng phòng cho tập trung nhân viên để phỏng vấn lại đám nầy. Những “case” đang tiến hành, được tạm thời cho về, “sẽ gọi lại sau”. Ấy là trưởng phòng nói với họ, trước khi họ ra về.

Tôi lại phỏng vấn Chung A Dũng lần nữa.

Chung A Dũng khai tiếp:

Ở nông trường mới, Chung A Dũng làm quen với một đám thanh niên nam nữ mới, chưa đứa nào được 18 tuổi, trong số có Phù A Lầu. Ai từ 18 tuổi trở lên, đều bị đưa đi những nông trường rất xa, về phía tây lục địa Trung Hoa. Dũng không biết những nông trường nầy tên gì. Tuy nhiên, qua thư từ với gia đình, Dũng biết có một số thanh niên vượt biên hồi chiến tranh 1979, ai trên18 tuổi hoặc nay đã trên 18 tuổi đều bị đưa tới những nông trường nầy. Đời sống ở đây gian khổ lắm, tuy được ăn no nhưng làm việc hết sức cực nhọc.

Nông trường đưa ra những chỉ tiêu mới trong các dịp lễ lạc: Mừng đảng, mừng tổ quốc, mừng sinh nhựt chủ tịch Mao, chủ tịch Đặng, thi đua giành cờ đỏ, lao động tiên tiến, v.v… là coi như làm việc 18 giờ một ngày, liên tiếp nhiều ngày trong các đợt thi đua. Những thanh niên ấy báo cho gia đình biết đừng hy vọng gì có ngày họ trở về. Khó trốn ra khỏi nông trường. v.v…

Bọn Dũng biết khi chúng tới 18 tuổi, sẽ bị điều tới những nông trường như các thanh niên kia đã đi. Vì vậy, mỗi lần gặp nhau, chúng đều bàn cách trốn khỏi nông trường.

Sau khi hẹn nhau, một ngày chủ nhật, chúng nó chia làm nhiều toán, trốn khỏi nông trường, đón xe đi Sán Đầu. Từ Sán Đầu, Chung A Dũng và Phù A Lầu đi xe lửa về Cửu Long. Lúc nầy, người Anh còn cai trị HồngKông nên việc kiểm soát người vào HồngKông cũng bình thường.

Nhưng rồi bọn chúng gặp may, bởi vì lúc nầy chính quyền Cộng Sản Trung Hoa cố ý làm ngơ để người Hoa lục địa được vào HồngKông dễ dàng, nhằm giải tỏa bớt nạn thất nghiệp và đói kém ở lục địa. Việc kiểm soát người vào HồngKông bên phía chính quyền Cộng Sản mới gắt gao, khó qua lọt. Còn như nay, khi họ đã cố ý làm ngơ thì việc vào HồngKông tương đối dễ, nhất là với người già và bọn trẻ vị thành niên. Bọn Chung thuê thuyền nhỏ đi từ Cửu Long vào HồngKông rồi xin vào trại tỵ nạn, khai là từ Việt Nam qua.

Khi khai lý lịch ở trại, chúng phải quê quán ở Việt Nam, tên cha mẹ và anh chị em ở Việt Nam. Phù A Lầu khai thêm tên người chị, cũng vượt biên, hiện định cư ở Hà Lan. Kinh nghiệm cho chúng biết, nếu khai là từ các nông trường ở lục địa đến, dù gốc gác là từ Việt Nam, cũng bị chính quyền HồngKông trả lại cho Cộng Sản Tầu. Nhờ khai gian như vậy nên chúng khỏi bị trả về “địa ngục nông trường” (lời của Dũng).

Tuy nhiên, tình hình ở trại tỵ nạn HồngKông cũng khá tuyệt vọng vì lúc bấy giờ tuy HồngKông chưa “đóng cửa đảo” nhưng việc được xét cho đi định cư rất khó, nếu không phải là người ra đi từ miền Nam Việt Nam, có nghĩa là chưa từng sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Dũng nói:

– “Cháu đã lớn, cháu cần nhiều thứ, nhứt là thuốc lá. Ở quê, 10 tuổi cháu đã biết hút thuốc rồi. Ở quê cháu, người ta tự trồng lấy thuốc lá mà hút, bọn con nít phụ giúp cha mẹ nên được hút theo, đâu có ai la rầy gì.”

– “Ở nông trường, người ta cũng phát thuốc lá cho trẻ con như anh à?” Tôi hỏi.

– “Không! Không bác à! Nhưng cháu cũng có thuốc lá hút. Cháu đổi “tiêu chuẩn” cho người lớn, họ trao “tiêu chuẩn thuốc lá” cho cháu.”

– “Anh trao cho họ những gì?” Tôi hỏi.

– “Xà phòng, đường, quần áo… Cái gì không cần lắm thì đổi cho người ta lấy thuốc lá hút.” Dũng trả lời.

– “Chế độ Cộng Sản ở đâu cũng giống nhau!” Tôi nói, nhưng không thấy Dũng tỏ vẻ đồng ý. Tôi mới sực nhớ rằng, có thể anh ta chưa có kinh nghiệm hay đọc sách báo nói về chế độ nầy. Tôi lại hỏi:

– “Ở trại tỵ nạn HồngKông, người ta có phát thuốc lá cho người tỵ nạn không?”

– “Không bác à! Ai muốn hút phải mua.” Dũng trả lời.

Tôi lại hỏi:

– “Ở trại đó, ăn uống, quần áo người ta phát có đầy đủ không?”

– “Vâng! Đủ, thừa! Nhưng tiền thì không có, khổ lắm!” Dũng nói.

– “Anh cần tiền để tiêu gì?” Tôi hỏi.

– “Thuốc lá! Cháu thèm thuốc lá lắm.” Dũng nói. “Mấy tháng đầu, thèm thuốc lá quá! Cháu tìm ra cách có thuốc để hút.”

– “Kể đi.” Tôi bảo.

– “Cháu phát hiện đêm đêm tụi lính canh đi tuần dọc hàng rào. Bọn nầy hút thuốc lá. Chúng quăng tàn thuốc lá dọc đường đi. Vậy là cứ mỗi sáng, cháu dậy sớm, đi dọc theo con đường chúng đi tuần để lượm tàn. Gom nhiều cái tàn lại, lấy giấy báo mỏng vấn thành điếu thuốc mới, vấn kiểu sâu kèn, hút cũng được mấy hơi. Đã lắm.”

Câu chuyện của Dũng làm tôi nhớ tới một cảnh tượng tôi đã chứng kiến ở Trảng Lớn. Chúng tôi vào trại “tù cải tạo” đã mấy tháng, cho gởi thư về thăm nhà nhưng chưa cho thăm nuôi hay gởi quà gì cả.

Nhiều người nghiện thuốc lá, tin Việt Cộng, cứ tưởng đi “học tập” vài tuần thì về, như thông báo của tướng Trà, “Chủ tịch Ủy ban Quân quản”, đem theo năm bảy gói thuốc lá là vừa. Người ta mấy ai nghĩ đi lâu quá vậy, thành ra nhiều người thèm thuốc lá lắm. Một hôm tôi cùng một số người nữa, đi từ L3/T3 là “đơn vị tù” của tôi qua phía khu vực nhà thờ vác gạo xuống xe. Nhà thờ thành nhà kho. Trên đường về, thấy có một toán người đi ngược chiều, tôi dáo dác tìm xem có ai quen không, thì thấy Phan Văn Hộ, một bạn học cũ, và Huỳnh Hữu Ủy, một người em bà con. Khi hai toán người vừa gặp nhau, thì một vài người từ cả hai nhóm, chạy nhanh tới lượm một cái gì đó nằm ở giữa đường. Sau hỏi ra mới biết là cái tàn thuốc lá, có lẽ do một “chú bộ đội” nào đó, hút xong vụt xuống mặt đường. Bộ đội hút thuốc không có “cán” thành ra cái tàn thuốc cũng có phần “phong phú.”

Cuộc đời ở trại, dù là trại gì, trại tỵ nạn, trại tù, hay “trại cải tạo” có những cái giống nhau, rất đáng buồn!

Thuốc lá tàn thường ngon hơn thuốc cả điếu, vì vậy mới có câu tục ngữ “Thuốc ngon nửa điếu”. Bạn bè, nếu biết thương nhau, cũng thường chia nhau những điếu thuốc tàn:

Bạn vàng chơi với bạn vàng

Không tiền mua thuốc lượm tàn hút chơi.

Tuy nhiên, tôi không nghĩ rằng những người tranh nhau cái tàn thuốc trên đường hôm ấy, coi nhau là “Bạn vàng,”

Tôi hỏi Chung A Dũng:

– “Chú mầy lượm được nhiều tàn thuốc không?”

Dũng nói:

– “May rủi thôi! Có hôm những đứa khác ra sớm, nó lượm hết nên không được gì!”

– “Chú mày không có đồng xu nào dính túi để mua thuốc lá hay sao?” Tôi hỏi.

– “Cháu có ít tiền, nhưng cháu phải để dành. Chưa biết tương lai ra sao mà có bao nhiêu tiêu hết là chết đấy bác ạ!”

Được một thời gian, chúng nó được cho ra khỏi trại kiếm việc làm. Vậy là bọn chúng có tiền, chuẩn bị vượt biển một lần nữa, nhưng chưa biết đi đâu. Phải rời khỏi trại HồngKông, nhưng con đường sắp tới thì vô định.

Bọn chúng mua một chiếc ghe buồm, đã cũ. Cũ và không có máy nổ thì rẽ tiền, nhưng bọn chúng đã quyết, cứ giong buồm ra khơi. Lên phía bắc thì tới Nhật Bản, như vài người tỵ nạn đã tới được.

Tôi hỏi:

– “Lỡ buồm đưa bọn chú mầy về phía nam, vô đảo Hải Nam hay Hải Phòng thì sao?”

– “Vô Hải Nàm thì không sợ. Nhiều người từng vô Hải Nàm, được giúp đỡ, trước khi tới HồngKông nhưng về lại Việt Nam thì coi như chấm dứt.” Dũng trả lời.

– “Chấm dứt “một đời phiêu lãng” 10 năm! (1)” Tôi nói chen vào.

Dũng cười, rõ ràng là cười gượng. Anh ta không muốn trở về Việt Nam. Cuộc đời đáng buồn thật! Ra đi mà sợ phải trở lại cố hương!

Vậy là sau gần bốn năm ở trại tỵ nạn HồngKông, chúng lại trốn đi. Không biết bọn chúng gặp xui hay hên. Vừa ra khơi được hai ngày thì chúng gặp một trận bão. Cột buồm gãy, buồm cũng không còn. Vậy là chiếc ghe trôi giật dờ trên biển.

Vì vừa thiếu kinh nghiệm vượt biển, vừa không có tiền nhiều để chuẩn bị lương thực và nước ngọt cho đầy đủ. Tới ngày thứ tư thì tất cả bọn chúng nằm la liệt trên sàn ghe: Khát, đói, mệt lã, không còn đứng ngồi gì được nữa. Tội nghiệp nhứt là hai đứa bé con của hai cặp vợ chồng trẻ. Chúng lấy nhau trong trại tỵ nạn. Đứa bé nào cũng chỉ khoảng hai tuổi.

Ngày thứ năm trôi qua…

Rồi ngày thứ sáu trôi qua…

May mắn, tối hôm đó, trời đổ mưa lớn. Chúng nó hả họng uống nước mưa, tìm dụng cụ hứng để dành. Cũng chỉ đỡ khát trong ngày thứ bảy mà thôi.

Ngày thứ tám thì coi như chết cả. Cả bọn nằm la liệt trên sàn ghe, không đứa nào nhúc nhích gì được. Chung A Dũng nghĩ rằng chuyến đi của bọn chúng coi như vậy là xong. Đời nó chấm dứt ở đây, trên biển. Nó sinh ra ở núi, chết ở biển. Thật mai mỉa!

Thế rồi chiều hôm đó, khi mặt rời sắp lặn, bỗng nhiên, có một bóng đen vĩ đại chụp tới, che hết ánh nắng mặt trời chiều còn gay gắt, rồi dần dần che luôn cả ánh sáng. Chung A Dũng có cảm tưởng cái gì đó như một con quái vật khổng lồ bao trùm, che hết không gian, làm cho trời tối lại.

Thì ra, một chiếc tầu thủy rất lớn dừng lại bên cạnh. Thế rồi vài thủy thủ theo thang giây xuống ghe của chúng. Nhưng, Chung A Dũng nói: “Cháu thấy tuyệt vọng. Những người nầy là Liên Xô. Cháu nghĩ có lẽ chúng sẽ đưa bọn cháu về lại Việt Nam.”

“Bọn cháu chẳng đứa nào nhúc nhích gì được, chỉ nằm nhìn mấy thủy thủ Liên Xô. Chúng ngẩng đầu lên boong tầu cao, gọi và nói gì với những người trên tầu. Một lúc, chúng thòng xuống một thùng nước uống cùng với cái ca nhựa. Các thủy thủ đổ nước ra ca, đem đến cho từng người, trước hết là cho hai đứa bé rồi đến người lớn. Chúng cháu chỉ được cho uống vừa phải thôi. Mấy người Liên Xô ra dấu hẹn một chút nữa sẽ uống tiếp. Bọn cháu tỉnh dần dần.

Sau đó, họ thòng xuống một cái lưới như lưới cá nhưng lớn lắm. Do các thủy thủ Nga ra hiệu, bọn chúng cháu vào nằm trong lưới. Lưới cất lên cao và đặt chúng cháu xuống sàn tầu.

Họ cho chúng cháu ngồi nghỉ một chút, cho uống nước cam. Ai cũng thấy khỏe lại, rồi họ đưa cả bọn vào phòng ăn cho ăn cháo loảng.”

– “Cháo không, nấu bằng gạo, không có thịt cá gì hết?” Tôi hỏi.

– “Không phải nấu bằng gạo như người mình. Hình như bằng bột, có rau, có thịt nhưng loảng hơn cháo ta.”

– “Họ tốt không?” Tôi hỏi.

– “Tốt lắm! Ăn xong, họ biểu nghỉ một lúc, rồi phát quần áo, vải mỏng nhưng tốt lắm. Họ phát khăn tắm, biểu đi tắm. Đàn bà tắm trước, đàn ông tắm sau. Tắm xong thì vào một cái phòng rất lớn, chẳng có giường chiếu gì hết, nhưng họ phát cho mỗi người hai tấm chăn, cái để nằm, cái để đắp. Xong họ ra dấu chúc ngủ ngon rồi đi ra.” Dũng kể tiếp.

– “So với người Tầu thì sao?” Tôi hỏi.

– “Người Tầu so với họ thế nào được! Người Tầu đã không tốt bụng, không giúp đỡ mà nói thì toàn nói dối.” Chung A Dũng giải thích.

– “Bên nào cũng Cộng Sản, nhưng chú mầy có thấy Cộng Sản Tầu và Cộng Sản Nga khác nhau không?” Tôi hỏi câu đó là vì tôi bị ám ảnh bởi một câu văn tôi đã đọc khi còn trẻ, trong cuốn “Kẻ Nội Thù” (The enemy within) của linh mục Raymond J. De Jaegher, đại khái như sau: “Cộng Sản sau bức màn tre tàn ác hơn Cộng Sản sau bức màn sắt.” “Cộng Sản sau bức màn tre” là Cộng Sản Châu Á, đứng đầu là chú ba Mao Xếnh Xáng. “Cộng Sản sau bức màn sắt” là

Cộng Sản bên Đông Âu, đứng đầu là Nga Xô.

– “Khác hoàn toàn. Tầu thì chơi gì được.” Dũng kết luận.

– “Ngày hôm sau thức dậy, bọn cháu lại được ăn sáng, bánh mì, bơ, thịt heo… được nghỉ ngơi. Đến trưa thì một ông có vẻ là người chỉ huy, đã lớn tuổi, cùng một người khác, trẻ hơn, có lẽ là phụ tá hay gì đó, đến nói chuyện với bọn cháu. Họ nói, bọn cháu không hiểu gì cả. Thế rồi hai người nói gì với nhau, người phụ tá bỏ đi, một chốc, ông ta trở lại, mang theo một cái bản đồ xếp gọn. Trở lại phòng, ông ta trải tấn bản đồ ra trên sàn, chỉ chỏ trên bản đồ và nói.”

– “Nói gì anh có hiểu không?” Tôi hỏi.

– “Hiểu chứ!” Dũng nói.

Tôi cười, nói đùa:

– “Chú mầy học tiếng Nga nhanh thế.”

– “Đâu có hiểu họ nói gì. Họ chỉ trên bản đồ nên cháu hiểu.” Dũng nói, tin tưởng.

– “Họ chỉ một điểm ở ngoài biển. Cháu hiểu đó là điểm chiếc tầu bọn cháu đang ở trên đó.” Dũng giải thích.

– “Điểm đó nằm ở đâu? Gần HồngKông, Hải Nàm hay gần Việt Nam?” Tôi tính nói vịnh Bắc bộ nhưng sợ Chung A Dũng không hiểu nên nói gần Việt Nam cho y dễ hiểu.

– “Không gần đâu hết! Họ chỉ cho cháu biết chỗ nào là HồngKông, đảo Hải Nàm và Hải Phòng, nơi họ sẽ đến. Chỗ nào cũng xa lắm. Họ chỉ tuốt ngoài biển khơi.” Chung A Dũng nói.

– “Ngoài Thái Bình Dương?” Tôi ngạc nhiên hỏi.

– “Vâng, cháu biết chắc là Thái Bình Dương vì nó xa đất liền lắm. Vậy là suốt mấy ngày lênh đênh, thuyền của bọn cháu bị đẩy ra ngoài xa đến vậy.” Dũng nói.

– “Nếu lênh đênh thêm ít ngày nữa, bọn mầy đến được Mỹ rồi đấy. Khỏi thanh lọc.” Tôi nói đùa.

Dũng cũng nói đùa:

– “Chỉ còn mấy các xác khô trên ghe!”

Tôi hỏi:

– “Thế rồi họ nói gì nữa?”

– “Họ nói sẽ đưa mấy đứa cháu vào Hải Phòng. Tầu họ sắp ghé Hải Phòng. Nghe thế, mấy đứa con gái khóc lóc, con Phù A Lầu cũng khóc. Bọn chúng quì xuống chấp tay lạy hai người Nga. Bọn con trai cũng làm theo, lạy lấy lạy để. Thế rồi ông lớn tuổi cười. Thấy ông cười, bọn cháu bớt sợ, hết lạy, chỏng tai nghe ông nói gì.” Dũng trả lời.

– “Ông ta nói cái gì mà tụi bây hiểu đươc?” Tôi hỏi.

– “Ông chỉ vào bản đồ.” Dũng nói. “Ông bảo tầu ông sẽ đi Singapore. Ông ta phải nói những hai ba lần cháu mới nghe ra chữ Singapore, và hiểu rõ sau khi ông ta đưa tay chỉ vào cái chót mũi của đảo Mã Lai. Sau đó, ông ta mới quay trở lại Hải Phòng. Ông hỏi bọn cháu muốn đi đâu?” Dũng nói.

– “Bọn cháu nói muốn đi Singapore. Ông ta lắc đầu. Ông ta không có cách đưa bọn cháu vào Singapore. Ông ta bảo vào Mã Lai thì được. Ông ta chỉ vào dãi bờ biển gần Singapore. Bọn cháu mừng quá, chấp tay lạy mà cám ơn ông ta. Ông ta cười, xoa đầu cháu rồi bỏ đi.”

– “Thế rồi tầu đi về phía nam?” Tôi hỏi cho có chừng.

– “Phải ba ngày sau tầu mới tới nơi. Cháu không rõ vì tầu chạy chậm hay chỗ họ cứu bọn cháu ở ngoài Thái Bình Dương xa quá.” Dũng trả lời.

– “Tất cả là ba ngày ba đêm. Thời gian đó, bọn mầy làm gì? Họ có cho lên trên boong tầu không?”

– “Không! Chỉ ở trong phòng. Khi nào đi tắm mới ra khỏi phòng. Tới bữa, họ đem đồ ăn tới. Đồ ăn để trên cái xe. Ăn xong, họ tới lấy đem đi. Bọn cháu chỉ ăn rồi nghỉ.”

– “Con Phù A Lầu khai, trong thời gian ở trên tầu Liên Xô, mầy hiếp nó.” Tôi hỏi, nghiêm nghị.

– “Không bác à! Bác đừng nghe con điên đó.” Dũng nói, có vẻ sợ.

Tôi hỏi gắt:

– “Nhưng mầy có làm gì nó, nó mới tố cáo mầy. Tại sao nó không nói mấy đứa khác.” Tôi nói, cứng rắn: “Có lửa mới có khói.” Mầy có làm gì nó, mầy phải khai ra. Con nhỏ đó mà thưa bên Mã Lai, tụi Mã Lai cho mầy nhừ đòn luôn.”

– “Vâng! Vâng! Đầu đuôi như thế nầy. Cháu quen nó hồi ở nông trường. Hồi đó bọn cháu mới 15, 16 tuổi gì đó! Nó cũng dễ thương. Rồi bọn cháu trốn khỏi nông trường đi với nhau. Mua ghe vượt biển, cháu cũng rủ nó đi theo. Bao giờ cháu cũng lo chăm sóc cho nó. Mấy hôm ở trên tầu Liên Xô, cháu lo cho nó đủ mọi chuyện, giặt áo quần cho nó, quét chỗ ngủ, trải chăn cho nó. Nó có nói gì đâu?” Dũng khai.

– “Vậy mà mầy cũng xông vào làm ẩu nó được?” Tôi nói.

– “Không phải vậy đâu! Một đêm, khuya lắm, cháu không ngủ được, nó cũng không ngủ được. Hai cặp vợ chồng nằm phía bên kia, cứ lục đục trong cái chăn. Tưởng nó bằng lòng, cháu qua nằm bên cạnh nó.” Dũng nói.

– “Vậy là mầy “Thừa cơm rửng mỡ”, “Ăn no bò cỡi”. Mầy làm gì nó chưa?” Tôi hỏi.

– “Dạ chưa! Cháu chỉ mới đưa tay ôm ngang bụng nó, nó đã ngồi bật dậy. Nó dọa la to lên cho mọi người hay. Hoảng quá, cháu bỏ về chỗ ngủ của cháu!” Dũng khai.

– “Vậy mầy chưa làm gì hết? Chắc không?” Tôi hỏi.

– “Dạ, chắc chắn! chưa làm gì hết. Cháu thề có ông Chúa, ông Phật.” Dũng nói.

– “Để tao hỏi lại con Phù A Lầu coi. Nếu nó khai như mầy thì tao tha. Còn nó khai khác, tao sẽ điều tra lại, giao mầy cho Mã Lai. Mầy có đem ông Chúa, ông Phật hay ông thánh Ala ra làm chứng mà khai gian thì cũng coi như bằng thừa? Làm gì mầy mời cả Chúa, cả Phật làm chứng cho mầy dữ vậy? Một ông là đủ rồi, một ông mà mầy khai thật là tốt. Mầy mời cho lắm vào mà khai gian thì cũng vô ích. Không ông nào giúp được mầy!”

– “Cháu có theo đạo Phật, đạo Chúa gì đâu! Ở trại tỵ nạn, nghe người ta cầu thì cháu cũng cầu, làm theo như họ.” Dũng giải thích.

– “Mầy lớn lên ở với Việt Cộng mà Chúa với Phật gì. Tao ở với Quốc Gia nhưng tao cũng ít cầu Chúa, cầu Phật. Có thề thì tao thề với lương tâm. Lương tâm cũng là Chúa, là Phật. Tụi Việt Cộng không có lương tâm. Tao khác với Việt Cộng chừng đó cũng đủ rồi.”

Một lúc sau, tôi nói với Dũng:

– “Đến đây, tao cho mầy về, nghỉ, ngày mai, tao phải phỏng vấn con Phù A Lầu, ngày kia mầy lại lên, nhớ chưa?

Phù A Lầu khai giống như Chung A Dũng. Nhưng tôi không hiểu sao con Phù A Lầu có vẻ ghét Chung A Dũng lắm. Tôi nói:

– “Trong suốt thời gian mầy và nó đi với nhau, nó lo lắng chăm sóc cho mầy nhiều lắm. Tại sao mầy lại ghét nó?”

Câu trả lời của Phù A Lầu làm cho tôi thấy “nản tình đời”. Sao mà bọn con gái nó “quỉ quái” thế?

– “Tại vì chị tôi đã chọn cho tôi một người sẵn ở Hà Lan, chờ khi tôi qua tới nơi thì nó cưới tôi.”

Chung A Dũng khai tiếp:

“Ông già thuyền trưởng hỏi chúng cháu có muốn đưa vào trại tỵ nạn Mã Lai không? Chúng cháu đồng ý, mừng lắm.”

“Chiều hôm đó, trời cũng chiều lắm rồi. Bây giờ họ cho bọn cháu lên cả trên boong, gói xách mang theo, chuẩn bị rời tầu. Áo quần thì họ cho luôn. Chăn màn để lại.

“Chiếc tầu thủy dừng bên cạnh chiếc ghe đánh cá Mã Lai. Hai thủy thủ leo thang giây xuống chiếc ghe đánh cá. Họ nói gì với nhau chúng cháu không hiểu. Một người leo lên, nói chuyện với thuyền trưởng. Ông nầy ra lệnh thòng đồ trong lưới thả xuống cho ghe Mã Lai. Hình như đó là lương thực. Sau đó, họ chuyển dầu xuống cho ghe Mã Lai nữa. Rồi họ thòng chúng cháu trong lưới xuống ghe đánh cá. Cháu đoán rằng sau khi hai bên trao đổi với nhau đã xong, họ cho bọn cháu xuống ghe, ghe Mã Lai sẽ đưa chúng vào bờ.

“Bọn cháu khóc khi chào ông thuyền trưởng, ông ta tốt quá! Ông ta thì cười rất hiền từ, chúc chúng cháu may mắn. Ông dặn và buộc phải hứa là không được khai với ai, cả với Liên Hợp Quốc rằng được tầu Liên Xô cứu. Tất cả chúng cháu đều hứa chắc với ông ấy như vậy, sẽ không khai ra tầu Liên Xô cứu.

“Trời tối một lúc lâu, ghe đánh cá Mã Lai mới đưa chúng cháu vào bờ. Họ cũng bảo rằng không được khai ra ghe của họ. Khai ra họ, họ sẽ bị tù. Họ đưa hai tay chéo vào nhau ra dấu bị còng tay.

“Khi ghe vào gần, nước cạn ngang bụng, họ bảo chúng cháu lội xuống nước mà vào. Xong rồi ghe chạy mất dạng.

“Đêm đó, chúng cháu nằm trên bờ biển. Khuya gió rét lắm. Sáng hôm sau, cảnh sát Mã Lai tới. Bọn cháu đã chuẩn bị sẵn, khai rằng đi bè vào đất liền. Bè bị nước cuốn đi đâu không biết, không có ghe tầu nào giúp đỡ cho tới đây cả. Khai như thế nào, Mã Lai nghe như thế, không hỏi đi hỏi lại gì!”

Việc tầu Liên Xô cứu người tỵ nạn, khoảng vài năm trước khi Liên Xô sụp đổ cũng đã từng xảy ra. Thành ra, việc bọn chúng được tầu Liên Xô cứu cũng không có gì lạ.

Điều đáng buồn là sau 10 lần vượt biên, bỏ nhà, trốn nước ra đi, nay chúng mới tới được trại tỵ nạn ở Bidong, lại phải bị thanh lọc.

Trong số bọn chúng, chỉ có Phù A Lầu có người chị ở Hà Lan bảo lãnh, được đi định cư, tất cả những đứa còn lại, đều bị Liên Hợp Quốc từ chối vì không phải là “người tỵ nạn chính trị.” Chúng ở trại tỵ nạn thêm 3 năm nữa, cộng chung là 13 năm, trước khi bị “Cưỡng bức hồi hương” về lại Việt Nam.

Đọc xong câu chuyện nầy, tôi hy vọng độc giả sẽ thấy xúc động, thương cho bọn Chung A Dũng. Thật ra, chuyện vượt biên 10 năm, ngày nay đâu còn gì lạ! Thế người Việt vượt biên bị kẹt lại ở Phi gần 20 năm thì sao? Không đáng thương hay sao? Cứ nghe những bài ca của Trầm Tử Thiêng thì biết: “Bên em đang có ta” hay “Làng Việt Nam đang xây ở ngoài Việt Nam.”

Tất cả đều do Việt Cộng mà ra cả, mà đứng đầu là “Già Rô”. “Già Rô” chính danh là Hồ Chí Minh, là tiếng lóng của anh em chúng tôi thường nói trong trại tù cải tạo mỗi khi muốn nói đến y, trước mặt tụi cán bộ nhưng không muốn cho chúng nó biết.

Giả tỉ như khi Việt Minh mới cầm quyền năm 1945, Hồ Chí Minh tổ chức bầu cử tự do, thành lập một nước Việt Nam dân chủ thực sự thì làm gì hai ba chục năm sau, có bọn trẻ con 10 tuổi như Chung A Dũng, Phù A Lầu trốn khỏi quê hương mà đi, làm gì có hàng trăm người Viêt tỵ nạn kẹt lại bên Phi gần 20 năm?

Nghĩ cho kỹ, những người ấy thật đáng thương!

Tôi không rõ hoàn cảnh những người Việt bị kẹt ở Phi như thế nào nên tôi không viết gì về họ được. Nhưng hoàn cảnh bọn Chung A Dũng thì đáng thương biết bao nhiêu!

Vậy mà cũng đã hai mươi năm, kể từ khi tôi phỏng vấn bọn Dũng ở Bidong. Nay chúng cũng đã trên bốn chục tuổi cả rồi đấy, nhưng lòng tôi vẫn không rứt ra được những thương cảm đối với chúng từ hồi ở trại tỵ nan Bidong đến bây giờ.

Những đứa bé trốn ra khỏi nước hồi trên dưới 10 tuổi, lưu lạc qua nhiều nông trường ở bên Tầu, qua nhiều trại tỵ nạn, hơn 10 năm sau lại bị buộc phải trở lại nơi chúng đã không muốn ở, phải bỏ ra đi. Thử hỏi ai không thấy tội nghiệp!

Cái kết quả trở về đau xót đó do đâu mà ra?

Là do những cái tổ chức mà người ta gọi là nhân đạo đấy. Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hợp Quốc là một cơ quan nhân đạo đấy! Mà họ có nhân đạo thiệt hay không? Hay cái tổ chức đó cũng chỉ là những đòn ảo thuật chính trị của những quốc gia đầu sỏ đứng sau cái bình phong có tên là Liên Hợp Quốc?

Thành ra, độc giả đừng trách tôi tại sao tôi ưa sự hoài nghi của Anatole France, một ông nhà văn Tây mà tôi từng mê khi tôi mới đọc được lỏm bỏm tiếng Pháp ở những năm đầu bậc trung học. Đó là “chủ nghĩa hoài nghi.”

Có cái gì ở đời nầy mình có thể tin được mà không phải hoài nghi?

Đâu có cái gì làm cho mình có thể hoàn toàn tin tưởng được đâu? Với một người, với một ông A, bà B nào đó, là những người rất bình thường, không tham lam, không háo danh, không mưu cầu danh vọng, địa vị, và có một tấm lòng chân thật, mà tôi từng quen biết, chuyện trò với họ, thì tôi tin họ có lòng từ bi, lòng bác ái thật đấy. Còn ngoài ra, những tổ chức nhân đạo, dù của chính Liên Hiệp Quốc, của chính quyền một quốc gia nào đó, hay kể cả tôn giáo thì tôi thường tự lòng tôi nhắc lại câu của LaRochefoucal: “Tất cả mọi việc thiện đều qui vào lòng ích kỷ cũng như mọi con sông đều chảy ra bỉển.”

Chính vì “lòng ích kỷ” đó nên mới có những người thực hiện những chuyến vượt biên mà phải kéo dài vài chục năm./

(1) Hai bàn chân to là tướng xấu, không phải tứng ác. Trong tứ đại mỹ nhân của Tầu thì Tây Thi gái Việt là người có hai bàn chân to, hơi thô (Xin xem “Nôm Na là cha mách qué” – cùng tác giả-)

Cũng theo sách tướng, hai bàn tay to là tướng giết người. Khi còn ở Hà Tiên, tôi từng thấy hai chị em cô gái “Đầu gà đít vịt” (tiếng địa phương gọi người Miên lai Tầu) có hai bàn tay to quá khổ. Có phải họ là hậu duệ người Hải Nàm làm hải tặc trong vịnh Thái Lan hồi mấy thế kỷ trước?


Anh cam
Tháng Tư 14, 2015 vào lúc 4:49 chiều


Nhân bài này viết về cậu Dũng, người Nùng, mà lại quê quán với già tôi, nên xin phép tác giả “Bèo Giạt” thêm chút ý kiến về bản Noọn, thuộc phủ Thất Khê trên Đồng Đăng khoảng vài cây số, cũng có con đường dẫn tới biên giới Tầu, nơi này là cả một khối kỷ niệm êm đềm thời ấu thơ của tôi, khi mẹ mất lúc tôi mới 6,7 tuổi, bà Bá (Chị họ mẹ) và chị Vá (con nuôi của mẹ), dòng máu của tôi là Bố Tầu mẹ Tầy (Thổ), đón tôi về nuôi nấng, từ đó, tôi thoát cảnh thân phận nhóc tì côi cút khỏi phải xin ăn đầu đường góc chợ!! Từ Đồng Đăng, có con đường rẽ phải độ hơn 4 cây số, tới ải Nam Quan, à gốc tích về ải này thì nhiều tranh cãi, bởi theo sách lịch sử dạy rằng; “đất nước VN, từ hướng đông, kéo dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau”,bọn trẻ chúng tôi phải tin như vậy do những ông thầy dạy từ tiểu tới trung học, ải Nam quan là của VN ta!? Nhưng thực tế là của Tầu, như trong Thánh kinh TCG, có nói “Phước cho ai không thấy mà tin” đằng này, bản thân tôi đã thấy và chui qua nó từ bên Long Châu thuộc Tầu (1947) về VN, trên đó quân Tưởng trấn giữ, vừa chui qua khỏi cái cửa ải đó thì thấy ngay cột mốc 0 km, rẽ phải thì tới Đồng Đăng và xuôi Nam về Lạng Sơn, vậy thì cái ải đó đâu phải của VN!?. Mà là của VN tại sao gọi là Nam quan, ngược lại là Bắc quan chứ? Đa tạ.

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 11 Dec 2023

Bài 11

Phong trào tranh đấu chống thanh lọc người tỵ nạn
Sau đám ma Hoàng, tôi đi lòng vòng vài nơi mới về phòng Phát Triển Cộng Đồng. Về tới nơi tôi thấy cha Quentin đang ngồi với Cố vấn Trương Mạnh Hùng. Thấy tôi, Cố vấn Hùng nói:

– “Bác Hải lại đây, tôi hỏi chuyện một chút.”

Tôi đi tới. Sau khi bắt tay hai người xong, tôi vừa ngồi xuống ghế trước bàn cố vấn Hùng, đối diện với cha Quentin, cố vấn Hùng hỏi tôi:

– “Bác Hải có nghĩ gì về cái chết nầy không?”

Tôi trả lời:

– “Việc tranh đấu là không thể tránh được. Đồng bào có nguyện vọng và “oan ức” của họ nên phải đấu tranh. Chỉ chờ có dịp là việc tranh đấu sẽ nổ ra. Đám ma nầy có thể là cái ngòi nổ, là giọt nước làm tràn ly.”

Cố vấn Hùng nói:

– “Có gì đâu mà “oan ức”. Ai đến sau ngày “cut off date” thì phải thanh lọc. Chỉ có vậy thôi!”

– “Tôi không nghĩ đơn giản như Cố Vấn. Trước một ngày, sau một ngày, một bên thì cho đi định cư, một bên buộc thanh lọc. Trên một bình diện nào đó, có thể gọi là bất công. Người vượt biên, khác gì nhau ở người đến trước người đến sau?”

Cố vấn Hùng ngồi im. Tuy nhiên, tôi không nghĩ ông đồng ý với tôi. Việc thanh lọc là do Cao ủy Tỵ nạn và một số nước trong Liên Hợp Quốc “sáng tác” ra. Văn phòng Cao ủy ở đảo, những người làm việc ở đảo như Cố vấn Hồng Bích, Cố vấn Hùng làm sao họ có thể làm khác. Thậm chí, họ cũng không thể nghĩ khác về các quyết định của Cao ủy Tỵ nạn.

Ai cũng vì quyền lợi của mình. Thuyền nhân, không những nghĩ mà còn lo, rất lo cho tương lai của mình nên họ phải đấu tranh để giành cho được quyền định cư.

Ngày 14 tháng 3 năm 1989 là ngày “đóng cửa đảo” ở Mã Lai và Indonesia. Thuyền vượt biên mang số MC 326 đến trước 12 giờ đêm 13 rạng ngày 14 nên khỏi phải bị thanh lọc. Tầu mang số MC 327 đến chậm hơn, sau 12 giờ đêm hôm đó nên phải thanh lọc.

12 giờ đêm hôm đó là giờ định mệnh. Không cần phải cách nhau một vài ngày hay một vài giờ. Chỉ là phút. Phút trước 12 giờ đêm là vui vẻ, hạnh phúc. Phút sau 12 giờ đêm là nước mắt và chết chóc. Phi lý chính là ở cái phút đó, giây đó trên cái kim đồng hồ.

Tôi thấy cần nói rõ hơn với cố vấn Hùng nên tôi trình bày:

– “Tất cả chỉ là ý đồ chính trị. Nói trắng ra là như thế. Cần đánh sập Cộng Sản thì thuyền nhân (boat people) cũng chỉ là một lá bài, dù đó là một gánh nặng. Nay thấy rõ chắc chắn thắng lợi rồi thì dẹp bỏ lá bài đó đi. Đó chính là nỗi uất của người Việt Nam. Người Việt đã bị lợi dụng trong chiến tranh, bị lợi dụng sau chiến tranh, bây giờ bị rẻ rúng, bạc đãi. Tôi sẽ bị thanh lọc. Tôi hy vọng là tôi sẽ đậu. Dù đậu, tôi vẫn cứ uất ức cho tôi và tất cả cho mọi người.”

Cô vấn Hùng dặn tôi:

– “Những điều bác nói, đừng viết trên báo Cộng Đồng, đụng chạm dữ lắm.”

Tôi trả lời:

– “Tôi biết, ông Cố vấn! Nó đụng chạm tới đường lối của Cao ủy. Nói cho thật, đó là đường lối của cái gọi là Thế giới Tự do, đứng đầu là Mỹ. Mỹ là con buôn. Có lợi thì nhào vô, không có lợi nữa thì lui ra. Bây giờ họ biến người tỵ nạn thành những đứa con vô thừa nhận. Vớt vài ba người để làm phúc, để được cái tiếng là nhân đạo!”

– “Nhưng bác phải biết trong số thuyền nhân nầy có biết bao nhiêu là Việt Cộng, cũng phải loại họ ra chứ.”

Tôi trả lời:

– “Không loại ra được. Đã là cứu giúp người tỵ nạn thì ai trốn ra khỏi Việt Nam đều là nạn nhân Cộng Sản cả, không thể nói rằng Việt Cộng không phải là nạn nhân của Cộng Sản Việt Nam.

“Dù trong thâm tâm mình không muốn, nhưng cũng phải đón nhận họ. Nguyên tắc đặt ra là như thế, không thể làm khác được. Có khi họ là người chống Cộng, vì lý tưởng, vì thấy rằng chủ nghĩa đó là sai lầm, tàn ác. Nhưng không thiếu gì những tay tham nhũng, ăn cắp, ăn trộm, “bể bạt” chạy trốn ra ngoại quốc. Nhưng ở đây là ngoài Việt Nam, lấy gì để điều tra, xem xét vấn đề, để biết chuyện của mấy tên Việt Cộng ấy đã làm gì ở trong nước, biết rõ mà xét. Hỏi Việt Cộng cũng bằng không. Nó tạo dựng hồ sơ để cho định cư, sau làm tình báo cho nó, như Việt Cộng đã dùng con đường vượt biên nầy để gởi tình báo ra ngoại quốc. Nếu những người nầy chống Cộng thật sự, họ sẽ tạo hồ sơ để mượn tay tư bản giết kẻ chống họ. Cộng Sản ghê gớm lắm, xảo quyệt lắm, nói không hết được. Tôi đã từng điều tra vài vụ khi còn làm ở Phòng SB.”

– “Vụ gì?” Cố vấn Hùng tò mò hỏi.

– “Nhiều tay là cán bộ, cướp tiền rồi vượt biên. Trường hợp Lê Hoàng Vốn chẳng hạn. Chủ nhiệm hợp tác xã huyện Long Phú, hốt một mớ tiền, xong đi Úc. Thứ hai là Trần Triệu, thiếu úy bộ đội, ra quân (giải ngũ), làm giám đốc xí nghiệp, cũng ở Long Phú, hốt một mớ tiền rồi dông ra khơi. Về những tay làm tình báo, tôi chưa gặp, nhưng theo Trần Văn Chính Mù, thông dịch viên cho phái đoàn Mỹ. Mỹ phát hiện một tên Việt Cộng, giả danh làm một đại tá Việt Nam Cộng Hòa.”

– “Theo bác Hải, Việt Cộng ở đảo nầy có đông không?” Cố vấn lại Hùng hỏi.

– “Chính danh Việt Cộng thì không đông, đếm chưa đủ năm ngón tay. Nhưng theo Việt Cộng để kiếm ăn thì đông lắm, toàn là thứ tép riu, không đáng quan tâm. Điều đáng nói là, Cố vấn có biết tại sao Bidong có một thời gian dài đã vắng người tỵ nạn, nay bỗng nhiên đầy nhóc như vầy không?”

– “Không!” Cố vấn Hùng trả lời.

– “Tại vì Việt Kiều gởi tiền về nhiều quá. Năm ngoái (1988), gởi tiền mặt là gần một triệu. Còn “áo gấm về làng” mang tiền về nữa chi! Việt Cộng hốt một mớ tiền đã quá. Năm nay họ làm lơ, mở cửa cho đi. Vừa thu được tiền người đi, vừa nhận tiền người về. Vì vậy nên Mỹ phải bày ra thanh lọc, chận người đi. Toàn là đòn phép với nhau cả.”

– “Bác Hải có tham gia tranh đấu không?” Cố vấn Hùng hỏi tôi.

– “Với Cố vấn thì tui nói thiệt. Vì các con tui chưa qua, nên tui chỉ ủng hộ mà không tham gia. Tuy nhiên, những người có liên hệ đến chế độ cũ sẽ đấu tranh dữ lắm. Họ không thể về lại Việt Nam. Đấu tranh để mà đi, để sống! Về là chết.”

Trong suốt cả buổi nói chuyện nầy, mặc dù cha Quentin cũng biết tiếng Việt, hiểu những gì tôi và cố vấn Hùng trao đổi với nhau nhưng cha không nói gì. Tới cuối cùng, cha mới nói:

– “Người ta đi tìm tự do. Tìm ở đâu? Tự do là chính ở ngay trong tim mình.”

Tôi chỉ cười, không trả lời ông!

Thế rồi cuộc đấu tranh nổ ra!

Hôm ấy, tôi không nhớ rõ ngày, có hai thanh niên lấy dao tự đâm vào bụng, máu chảy đỏ cả áo, cũng không nhiều lắm. Thế rồi những người trong nhóm hành động lấy cáng khiêng họ lên Văn phòng Cao ủy. Anh Vân, người đại diện cho những người tranh đấu đưa một thỉnh nguyện thư lên cho Cao ủy (trưởng) Allan. Ông nầy nhận thỉnh nguyện thư, hứa sẽ gởi lên cấp trên giải quyết.

Thấy có máu đổ, có đồng bào tụ tập đông, ông ta vội vàng yêu cầu cho đưa mấy người đâm bụng đi bệnh viện Sickbay. Nhóm tranh đấu đã không chịu đưa đi, lại không cho băng bó cứu cấp. Việc ấy làm cho Văn phòng Cao ủy hoảng sợ.

Nếu không cho cứu cấp, không đưa đi bệnh viện, lỡ có án mạng, sinh chuyện lớn thì Cao ủy sẽ chịu trách nhiệm, bị khiển trách. Dĩ nhiên, họ không muốn chuyện ấy xảy ra.

Thứ hai nữa, dưới quan điểm của người Tây phương, bị thương, tự đâm dao vào bụng là một hành động hung dữ, những người gọi là văn minh không chấp nhận bao giờ. Lại không cho băng bó, không đưa đi bệnh viện thì dã man quá. Điều ấy cũng không thích hợp với những người có văn hóa cao.

Thế rồi việc dàn xếp xảy ra. Hết Cao ủy trưởng Allan, đến Cao ủy Erick, Cao ủy Francesco ra gặp ông Vân, ông Tám. Ông Tám mới xuất hiện sau. Hai bên giải thích, trình bày, nói qua nói lại, v.v… suốt cả buổi chiều hôm đó nhưng không có kết quả gì.

Tuyệt nhiên, tôi không thấy ông Cố vấn Hùng xuất hiện ở đây. Có lẽ, sau vụ ông vô ý bôi lọ ông Bửu Tộ, nhiều người chống ông, trong đó có cả tôi, nên ông tránh mặt. Ông biết, ông đang ở cái thế nhiều người chống ông, trước khi xảy ra vụ đấu tranh nầy.

Thật ra, ông Vân, ông Tám là những người ở mặt nổi. Đằng sau đó, là một “bộ tham mưu”. Dĩ nhiên, những người tôi quen thân ở đảo, tôi từng làm việc với họ, đều ở trong “bộ tham mưu” nầy. Tuy nhiên, tôi cũng đã nói với họ, như tôi nói với Cố vấn Hùng trên kia rằng tôi chỉ ủng hộ, không tham gia. Vì vậy, khi mấy chả họp tham mưu, không có mặt tôi.

Thật ra, tôi ủng hộ tranh đấu, nhưng phương cách đấu tranh như thế nầy thì tôi không đồng ý. Tôi không đặt vấn đề đấu tranh như thế có “dữ dằn” hay không, có “dã man” hay không nhưng tôi chú trọng tới một điểm khác: Tính bước tới thì phải tính chuyện lui, như đi đánh giặc vậy. Tấn công có hai cách lui. Lui trong thắng lợi hoàn toàn và lui khi không đạt thắng lợi.

Việc thanh lọc không do quyết định của Cao ủy Tị nạn Pulau Bidong. Nó thuộc Cao ủy Tỵ nạn Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, ngay chính Cao ủy Tỵ nạn Liên Hợp Quốc cũng không có quyền quyết định đơn phương. Đó là quyết định của một Hội nghị Quốc tế có sự tham gia của Cao ủy Tỵ nạn. Nó là “luật quốc tế”.

Cao ủy Tỵ nạn và quốc gia liên hệ (thường gọi là nước thứ hai, có trại tỵ nạn) có nhiệm vụ thi hành. Vì vậy, việc Cao ủy Allan làm là đúng, là hết lòng, ông không thể làm gì hơn được, dù có thông cảm, có thương người tỵ nạn đến đâu, thì cũng chỉ làm được chừng đó thôi.

Nếu biết quyền hạn họ chừng đó thì những người tranh đấu chỉ nên yêu cầu chừng đó. Làm quá hơn, có nghĩa là yêu cầu họ làm những điều mà họ không thể làm được, là tạo ra mâu thuẫn. Chính vì những người tranh đấu không tính tới chỗ đó, nên tạo ra mâu thuẫn với Cao ủy.

Cao ủy biết rõ – do đâu mà họ biết rõ thì tôi không biết, vã lại có muốn biết việc nầy cũng không có gì khó – là những người lãnh đạo tranh đấu thì không xuất đầu lộ diện, đứng ở đằng sau giật giây. Những người tự đâm bụng thì tự họ xung phong sau khi nhóm lãnh tụ đưa ra yêu cầu. Những người như ông Vân, ông Tám (chủ tịch phong trào) thì chỉ làm bình phong.

Vì vậy, khi mâu thuẫn xảy ra, thì mâu thuẫn là giữa những người lãnh đạo và cao ủy. Lãnh đạo thì tránh mặt, những người tiếp xúc với cao ủy thì vô quyền. Cho nên, hôm sau, khi đài BBC phỏng vấn Cao ủy Allan thì ông ta gọi những người lãnh đạo là đầu sỏ (“topdog” – tg (1). Nói như thế là xúc phạm những người tranh đấu, nói chung. Dĩ nhiên, tình hình càng ngày càng thêm căng thẳng.

Cao ủy Allan đã gọi như thế thì phong trào không còn nhờ cậy, hy vọng gì nơi ông cao ủy nầy được nữa cả. Cao ủy thì tìm cách chống lại phong trào. Những cuộc biểu tình tiếp sau đó trở thành những cuộc biểu tình “đã đảo Cao ủy” chớ không còn là đòi hủy bỏ thanh lọc. Thay vì những người tranh đấu nhờ Cao ủy tìm hiểu hoàn cảnh của họ, thông cảm họ và đệ đạt lên trên những yêu cầu, có biện pháp nào đó giúp đỡ người tỵ nạn thì lại đẩy nhau vào cái thế chống đối lẫn nhau, từ giúp đỡ trở thành chống đối, thành thử kết quả không những không có gì đáng khích lệ mà tạo thành mâu thuẫn giữa người tỵ nạn với nhau, giữa Cao ủy và người tỵ nạn, giữa người tỵ nạn và Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai. Lực lượng nầy gồm những binh lính, quen sự hung dữ, đàn áp, đánh đập tàn bạo, nhốt vào nhà giam (gọi là monkey-house) mà về sau, rất nhiều người là nạn nhận của bọn lính tráng nầy.

Trước kia, khi những người bị nhốt vào “nhà giam” (monkey-house) thường được Cao ủy, giúp đỡ, can thiệp. Bây giờ thì ngược lại, Lực lượng đặc nhiệm Mã Lai, có lẽ có sự phối hợp với Cao ủy tỵ nạn như thế nào đó, mà những người tranh đấu bị giam không còn được Cao ủy chiếu cố nữa và những người hỏng thanh lọc bị chuyển trại. Thay vì còn ở lại Bidong như trước, họ bị chuyển qua trại Sungei Bési là trại nằm trong đất liền, gần thủ đô Kuala Lampur.

Sau nầy, khi Phong trào Tranh đấu lắng xuống, sinh hoạt rời rã, có dịp nói chuyện với các anh em đứng đầu cuộc đấu tranh nầy như Nguyễn Dương Hảo, Bửu Tộ, Hồ Đắc Liệu, Bác sĩ Hồng Khắc Xuân Vinh, Tăng Thanh Thảo, Nguyễn Văn Tám tôi cho rằng “Anh em mình có tính cực đoan, đấu tranh thì phải làm cho dữ vào mà không nhìn thấy bản chất đối tượng thành ra thất bại.” Anh em có người không đồng ý với tôi, nhưng công nhận rằng nếu cho rằng Cao ủy Tỵ nạn trên đảo là đối tượng thì sai rồi.

Khi Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng là giám đốc hay chức vụ gì đó, của “People SOS” đến trại Sungei Beshi nói chuyện với các anh em ấy, – khi ấy tôi còn ở đảo – thì người ta thấy tuyệt vọng. Dù là Cao ủy Liên Hiệp Quốc cũng không làm gì được. Thanh lọc là kết quả từ một cuộc họp quốc tế về người tỵ nạn. Nhưng chắc chắn là người Mỹ và các nước Tây phương đứng đằng sau hội nghị nầy.

Khi người Mỹ buông tay, Miền Nam sụp đổ, “có súng mà không có đạn”, như người ta thường nói, thì còn đánh chác gì nữa. Vấn đề cứu người hỏng thanh lọc không còn chỉ là nhiệm vụ của người tỵ nạn mà của toàn thể Cộng đồng người Việt tỵ nạn, dù chưa được định cư hay đã được định cư rồi, đã lâu hay mới. Việc đó khó như bắt chim trên trời bằng tay không. Tuy nhiên, cũng nhờ tất cả những cuộc đấu tranh của tất cả người Việt, dĩ nhiên là không có Việt Cộng, cũng đã có kết quả đấy. Những người trở về, sau nầy cũng được định cư tại Mỹ, theo chương trình mà người ta gọi là “diện ROVR.”

Việc mâu thuẫn giữa Cố vấn Hùng và anh em chúng tôi cũng làm cho sự hợp tác do ông Cố vấn Hùng kéo tôi về phòng Phát Triển Cộng Đồng cũng mau tan rã.

Khi tôi về làm việc ở phòng nầy thì Cố vấn Hùng có sáng kiến thành lập môt Trung tâm Dịch vụ, đảm trách các công việc như hớt tóc, sửa và may quần áo cho đồng bào tỵ nạn, sản xuất các vật lưu niệm bán cho người đi định cư… Dịch vụ nầy có trả tiền, rẻ hơn các hàng quán tư nhân ở ngoài. Người điều hành trung tâm dịch vụ nầy là kỹ sư Nguyễn Dương Hảo. Khi anh Hảo qua trại Marang ở đất liền để thanh lọc, công việc được giao lại cho anh Bủu Tộ. Không hiểu do đâu, và do động cơ nào, một buổi tối, trời đã khuya, có phát thanh trên loa: Cố vấn Hùng yêu cầu anh Bửu Tộ phải trả chìa khóa Trung tâm Dịch vụ lại cho ông Cố vấn gấp, nội trong đêm nay. Nếu không, ông Cố vấn sẽ yêu cầu lực lượng Mã Lai truy tìm anh Bửu Tộ.

Ông Bửu Tộ, kỹ sư canh nông, là người rất vui tánh, hòa nhã với mọi người, được nhiều người yêu mến, thế tại sao có thông cáo khẩn cấp nầy. Thông cáo lại có tính cách nhục mạ, làm như Bửu Tộ là tội phạm không bằng.

Sáng hôm sau, đến làm việc, tôi hỏi ông Cố vấn Hùng tại sao lại có cái thông cáo lạ lùng như thế. Cố vấn Hùng không trả lời tôi. Tôi nói với Cố vấn Hùng, nếu ông không tôn trọng người khác, làm sao người khác tôn trọng ông được. Cố vấn Hùng cũng chẳng trả lời tôi. Chán nãn, tôi bỏ về. Tôi nghĩ rằng, nếu cần, ông ta sẽ gọi tôi lên giải bày sự việc. Nếu ông không cần tôi nữa, thì ông sẽ không gọi và tôi cũng nghỉ việc luôn, chẳng lên làm việc lại. Làm việc với ông ta, biết đâu, có ngày tôi cũng sẽ có một cái thông cáo giống như ông Bửu Tộ.

Đời có nhiều tấn tuồng. Và đây cũng là một tấn tuồng!

Tuy nhiên, điều tôi thường suy nghĩ là khi Cố vấn Hồng Bích hết nhiệm kỳ, rời đảo, người đưa tiễn cô đứng đầy đặc cả bãi biển khu A. Có nhiều người đi theo cô tới đầu cầu jetty, nắm tay cô mà khóc.

Cố vấn Hùng rời đảo lặng lẽ, âm thầm, một mình, không một người tiễn chân, ngay cả cô Mỹ Duyên là người từng làm việc thân cận với ông.

Đó cũng là một tình người đáng buồn, chẳng có gì vui.

hoànglonghải

(1) Phải chi ông ta gọi họ là “ringleader” cho nhẹ một chút có hơn không?! Gọi là “topdog” nghe nặng nề quá, không thích hợp với một người làm công việc nhân đạo, cho người tỵ nạn. Thật ra, ông ta cũng làm vài việc đáng quí lắm. Có một dịp về Mỹ, ông ta đi “xin” các hiệu sách ở Cali, cho không một số sách đem về cho phòng Phát Triển Cộng Đồng. Tôi là người trông coi tủ sách nầy, cho nguời tỵ nạn đến mượn về đọc. Dĩ nhiên, cũng có người mượn mà “quên” trả. Trước khi rời đảo, ông kết hôn với Cao ủy Hồng Bích. Vợ trước của ông, cũng là một người Việt, đã qua đời.