Hòn Vọng Thê

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 4 May 2022

Post by Sơn râu 14 Dec 2023

Tác giả qua nét vẽ Đinh Cường

Tôi quen Phượng Vỹ qua facebook. Sau hơn tháng viết và đọc trôi những bức thư không bỏ dấu, chúng tôi quyết định gặp nhau. Những dòng chữ trần trụi chẳng có sắc huyền hỏi ngã nặng, không ô thời đội mũ ơ thì thêm râu khiến tôi chột dạ vớ vẩn thầm mong Phượng Vỹ ngoài đời đừng đui què mẻ sứt.

Tôi là kẻ luôn sống với những điều không thực, hoặc cái sự thật mà tôi đối đầu mãi phủ màn khó hiểu, sự khó hiểu chẳng thể lý giải. Tại sao? Tại sao, cứ tại sao riết khiến con người dễ đi tới cảnh buông xuôi đầu hàng vô điều kiện. Thây kệ, trời sinh voi sinh cỏ, hơi đâu lo bò trắng răng. Đi gặp Phượng Vỹ, tôi có hơi bồn chồn bởi không ai “tự sướng” quá lâu trong thế giới ảo. Một cô gái từ mộng mị bước ra, bằng xương bằng thịt sẽ ngồi sát bên mình, chao ôi đêm qua tôi đã mất ngủ cho tới sáng. Áo quần không bụi bặm đã vắt sẵn nơi lưng ghế và mắt thao láo ngó cây kim giây chuyển động tích tắc rùa bò tích tắc dục tốc bất đạt.

Dĩ nhiên Phượng Vỹ là người toàn quyền quyết định ngày giờ, nơi chốn. Cô viết, lôi chuyện xưa tích cũ ra: “May song anh cung loi may đeo anh cung qua. Nham nho gi ba cai le te, đung khong nao?” Tôi ở dưới quê mới lên tỉnh thành bám trụ chưa được lâu, phải vào lưới cậy nhờ ông nội Google chỉ bày đường đi nước bước. Địa điểm hơi xa, tôi phải đi sớm vì không tường địa hình. “An Cu nam duoi Cau Lon”. Hừ, phải vận dụng chất xám mới khỏi ám tối ăn quàng nói xiên. An Cư là tên quán cà phê, ở tận bên quận 3, dưới Cầu Lòn. Tôi đã thủ sẵn một nạm tiền, nhét sau túi quần cho ấm đít, năm trăm ngàn phòng hờ để nhỡ may người đẹp cao hứng đòi bỏ bụng một thức ăn đặc sản nào đó. Phút đầu mà, phải nên làm hoanh chi trả cái vụ có thực mới vực được đạo.

Má tôi ngồi uống trà ngay ngạch cửa: Mày làm gì dậy? Lăn xăn như gà mắc đẻ. Coi, tóc tém, áo quần bảnh bao, mới bảnh mắt mà chộn rộn săm soi mặt mày. Bình thường giờ này hẳn còn nướng thân trên giường trời sập cũng hổng hay biết. Con đi có công chuyện. Đại sự dữ hén! Chủ nhật, cơ quan nào mở cửa giờ này? Đi giao lưu việc tình cảm, thuận buồm xuôi gió thì… Má tôi háy: Thì sao? Ủa, bộ má không mong có ngày được thăng chức bà nội sao? Hổng dám đâu. Lương lậu như mày đắp đằng này đổi đằng kia sao còn tơ tưởng đèo bồng lấy vợ sanh con! Gan mày to dữ thần hén? Thời này họ sinh voi nhưng mà họ lại cào sạch cỏ, có mà bốc cứt! Bả ngó chăm vào hình hài tôi, y như nhà ngoại cảm định thần nhìn ngắm oan hồn vất vưởng chốn ta bà. Hú hồn, má cầu cho mày ra ngõ đúng giờ hoàng đạo được quới nhơn độ trì. Bốn chục tuổi đầu mà dại khờ hết biết! Chớ để chúng nó phỉnh gạt cho leo cây.

Ba mươi chín thôi, sao ưa tính tuổi ta vậy không biết. Mà cho dù chẵn năm chục, dưới mắt mẹ hiền, thằng đàn ông nào cũng nhỏ nhít ngây thơ chẳng biết đạo làm người. Gân cỗ cãi chày cãi cối hả? Xời, tao đẻ mày ra bộ hổng biết tánh tình mày sao? Đồ vải sưa mà che mắt thánh! Thực tình thì má tôi tâm lành như hòn đất, nhưng nói năng kiểu đó người dưng xa lạ thoạt nghe hẳn phải choáng. Con ruột thì hiểu mười mươi, nói dậy mà hổng phải dậy, nhưng con dâu phận gái mười hai bến nước nghe má càm ràm e chỉ chực khóc ròng mút mùa lệ thuỷ. Nàng dâu má chồng, tự thuở hồng hoang tới giờ cuộc trường kỳ kháng chiến ấy vẫn chưa nguội nòng súng, chả có bên nào thu hoạch thắng lợi. Má vợ chàng rể thì sao? Coi mòi dễ hoà hợp hoà giải hơn. Cổ thi gọi là dị sàng mà đồng mộng.

Trên Facebook, tôi thật thà chưng ảnh mình lên đẹp xấu tuỳ người đối diện. Phượng Vỹ thì không, avatar đóng khung ô vuông là cành phượng đỏ. Cho nên khi ngồi đợi trong quán nước, tôi là đứa sẽ bị đối phương điểm danh. Tôi đưa đầu trần không nguỵ trang cho đến hồi có tiếng rít của hòn đạn bắn sẻ ghim đúng tên tôi. Phượng Vỹ chẳng đi mình ên, hai bóng hồng thong thả bước lại gần với nụ cười gắn ở cửa miệng. Một đẹp một xấu, một tóc quá vai một hớt ngắn tợ trang nam tử. Một ngực bé một vú lớn. Một gầy nhom một phì nhiêu ba vòng nhiều ngấn. Một trong hai, tôi không biết ai là Phượng Vỹ. Tôi ngây ngất “nhìn đểu” kẻ thừa mỡ nhiều thịt. Má tôi lúc nào cũng chê bai những bọn thiếu ăn, người gì mà tóp teo như con cá mòi. Lời qua tiếng lại, kéo ghế rậm rật, giữ ý giữ tứ một hồi, ngượng ngùng bỏ đi, cuối cùng tôi ngộ ra Phượng Vỹ là cô mình hạc xương mai.

Trong internet, nhờ công nghệ thông tin chằng chjt đường dẫn, tôi có đọc phải hàng chữ của ai kia đề xuất bí quyết trường thọ: “Buổi sáng hãy đớp hít như một đại gia, buổi trưa thì thời cơm như một kẻ trung lưu, buổi tối thì xực phàn như một thằng ăn mày”. Hình dong Phượng Vỹ lẽ nào là kết quả tất yếu khi ba buổi đều làm ăn mày. Nhưng mà tình ngay, tất thảy những siêu mẫu ngoại hình thảy một duột y chang Phượng Vỹ. Đẹp, xấu, chuyện đó lệ thuộc lắm thứ, tuỳ thời buổi, tuỳ phong trào, tuỳ tạng người, tuỳ nhân duyên đức độ mỗi cá nhân. Tôi không đủ trình độ để bàn tới thẩm mỹ. Điện nước đầy đủ như cô kia muốn kiêng khem sụt ký giống Phượng Vỹ thì phải o ép tốn cả nạm tiền chứ chẳng chơi.

Hai người thuê nhà trọ ở chung. Người đường bệ vóc vạc đôi ba tháng nữa sẽ lên xe bông. Nhài đi và vất lại cho Phượng Vỹ rối bời, hao hụt một khoảng trống. Không chừng tôi bị dụ khị làm nhân vật “điền vào khoảng trống cho hợp nghĩa”? Cả Nhài và Phượng Vỹ đều có lối nói thẳng thừng chẳng khoan nhượng, không úp mở gì ráo. Nhài tuyên bố, tớ chả biết coi tướng số nhưng có thể khẳng định anh đây là người chơi được, củ mỉ cù mỳ đéo giống mấy thằng ba trợn xạo ke. Tôi cười, do đâu mà Nhài cả tin đến vậy? Tớ gặp đàn ông, chín mươi chín thằng đều chằm hăm đặt để con mắt chúng vào giữa ngực tớ, muốn xâm phạm chủ quyền, đằng ấy là thằng đàn ông ngoại lệ thứ một trăm. Khù khờ ông trời độ. Sen, mày có chung cảm nhận giống tao không? Tôi hỏi, Sen nào? Ai là Sen? Nhài cười hậc, còn ai trồng khoai đất này. Sen là tên cúng cơm, Phượng Vỹ là đồ giả khi gia nhập thế giới mạng. Hiểu chưa anh giai?

Tôi ngó Phượng Vỹ: Sen là loài hoa quý, thơm tho, thanh khiết sao lại muốn biến đổi thân phận thành Phượng? Bị tui hổng ưa người ta hiểu lầm mình là ô-xin, phận đầy tớ, người giúp việc, kẻ ở đợ, hiểu hôn? Tôi thoáng nhìn ra chút đanh đá, chút mồm năm miệng mười có ở Sen, và như thế phút đầu cô đã gây cho tôi thứ ấn tượng tốt. Má tôi nói thế gian này, dưới gầm trời này chẳng có ai dại khờ như mày. Giả dụ tôi lấy một mụ vợ khờ câm thì rõ là tai ương trời hành. Cuộc đời sẽ làm cho chúng nó trắng máu. Tôi vốn rất cần có ai đó thật chanh chua, thật khôn nẻ vỏ sánh đôi cùng mình để chân bước được tự tin hơn. Vấn đề là tôi chẳng biết bí quyết gì để mong lấy được cảm tình đối tượng, người có biệt nhãn thấy con tim tôi luôn đập quờ quạng.

Tôi mời nhị vị cô nương đi ăn, tôi trao cho hai ả thẩm quyền lựa chọn bởi thú thật tôi không rành chuyện ẩm thực hàng quán. Nhài biểu tôi chở Sen, cô đùa, mày đâu có lợi lộc gì khi ôm tao. Ôm chặt ảnh kẻo gió thổi bay.
Bị trời bắt ốm chứ nào phải Sen kiêng khem ăn như mèo. Sen gọi tô hủ tiếu lớn và thoáng chốc Mỹ Tho hay Nam Vang đều cạn kiệt tài nguyên, sạch sành sanh. Sen liếm môi, ở cô cái duyên ngầm bắt đầu lộ ra. Phải quen con mắt, người ta mới nhận thấy mỗi người trong chúng sinh đều tiềm ẩn một vẻ đẹp khuất lấp. Phải có thời gian, phải nhẫn nhục, phải chịu thương chịu khó mới thông hiểu vấn đề, nói chung là vậy. Chứ chưa gì đã vội vàng chê bai lắc đầu nguầy nguậy là hỏng, là xử oan cho người ta.

Rồi cái ngày trọng đại kia lù lù đi tới. Nhài ôm tôi hôn thắm thiết bên má: Nói chúc em hạnh phúc đi nào. Sẽ tranh thủ dắt thằng chồng tới viếng thăm hai người. Anh có yêu con Sen thì mang đồ đoàn tới cắm dùi căn hộ trống vắng này. Ở một mình, nó chẳng đủ sở hụi mà chi trả tiền thuê đâu. Nhài lên xe hoa và tôi, chẳng biết dùng từ gì để ba hoa cái vụ việc khi khổng khi không vác mạng tới sống thử cùng Sen. Sống y kiếp vợ chồng không giá thú, chẳng đăng ký kết hôn.

Tôi cày hai nơi, chất hàng ở siêu thị Big C và thay đồng phục cứng cáp để làm bảo vệ cho một cơ quan xuất nhập cảng hàng khô do người nước ngoài làm chủ. Tôi thật thà khai báo cùng Sen. Có qua có lại mới toại lòng nhau, Sen cho hay cô làm tiếp viên cho nhà hàng Diamond. Cô xuống giọng, thường thì thời khoá biểu làm việc chẳng nhất định, do tay quản lý sắp xếp chia ca, đa phần là ca tối. Sen hỏi: Biết nhà hàng ấy không? Tôi nói không. Xời, nhà quê một cục! Cái thương hiệu đó cực nổi tiếng, đêm hôm sáng đèn nhấp nháy cục hột xoàn to đùng xoay mòng làm lé con mắt luôn.

Có hôm mất điện, trời nực, lại nhằm buổi cả hai trùng hợp không phải đi làm, Sen buông mùng xuống và hối tôi lên giường. Mới tắm xong mà người đã tươm mồ hôi rít rát, tôi bình phẩm: Sao da thịt Sen nó tiết ra mùi kỳ dị? Mùi gì, nói nghe coi. Tôi hôn hít, giả bộ như chó đặc nhiệm đánh hơi hàng quốc cấm mà con buôn muốn tuồn sang cửa khẩu. Nồng, ngai ngái. Tôi nói, giống như cả một vại bia đang bốc hơi. Sen cười rú lên, như kiểu bị chọc nhột. Đúng quá, cái này người ta gọi là tác hại của môi trường, suốt ngày phục vụ rót bia da thjt không nồng mùi bia cái mới lạ!

Sen cởi phăng mọi thứ vướng bận, dùng cẳng đạp nó xuống dưới chân. Thèm nhậu không? Cho anh tha hồ phá mồi đó. Nói tới bia là phải nghĩ đến tôm khô củ kiệu. Sen dùng đôi bàn tay ôm giữ lấy cả khuôn mặt tôi rồi đẩy nó xuống hạ thể cô. Đôi chân Sen mở rộng, gác trên lưng tôi. Mất điện, đêm trường, trong mùng tối, tôi gục mặt xuống một hố đen. Sen la lên, đúng rồi, y bon, cứ thế mà phát huy. Anh ơi là anh ơi, có thực bụng thương em không?

Tôi thương Sen chẳng bút mực nào tả xiết, lại thương vạn lần khi thấy Sen ì ạch vác bụng bầu nhăn nhó đi vô đi ra. Tôi đề đạt nguyện vọng, xin thủ trưởng cơ quan ba ngày nghỉ được ăn lương khi Sen đi biển mồ côi một mình. Một tiếng khóc thét vọng ra, khóc hơn cả cha chết mẹ chết. Là con gái. Cô y tá nói, cái cô mà trước đó khoảng hai giờ đã nhận của tôi cái phong bao dùng để bôi trơn. Y tá là hạng người nào? Có đứa đã giải thích trên facebook: “Là người sẵn sàng đánh thức bạn dậy để bắt bạn uống thuốc ngủ”. Người ta nói với tôi, như thể truyền đạt kinh nghiệm: Mày liệu hồn mà quên việc biếu xén, nó ẳm con mày lên mang đi cho bú rồi lóng cóng đánh rơi xuống đất. Không thì quấn khăn kỹ quá khiến em bé ngạt thở. Làm gì nhau nào? Lương y như dì ghẻ. Mày nên nhớ, ngay cả Đường Tăng đi thỉnh kinh cũng phải bôi trơn mới suông sẻ mọi chuyện.

Cô y tá đá lông nheo với tôi, cháu nó cân nặng hai ký tám, tay chân đầy đủ và khóc rất to tiếng khi lọt cửa mình. Con bé này mai hậu không chừng là ca sĩ, thế ông đã mường tượng ra một cái tên dành đặt cho nó chưa? Tôi gãi đầu, chưa cô ạ. Gọi cháu là Đô-la, là Vàng là Bạc là Hiện Kim thì nghe có lọt lỗ tai không? Ba đời mình là vô sản chính hiệu mà đặt tên con như vậy e có lỗi với ông bà chăng. Ông thô lậu cổ hủ quá, thời buổi kinh tế thị trường mà, có điều chữ Đô-la thì sẽ bị người ta quy chụp là vọng ngoại, là chạy theo vật chất của bọn đế quốc.

Sen có nhắn tin trên điện thoại di động hay sao mà Nhài biết, cô đến thăm với một bó hoa điệu đàng trên tay ôm. Có thể vì đi gấp, đi thúc bách nên Nhài quên mặc nội y, chiếc áo thun thì mỏng tang, giời ạ, con bé nhà tôi mà thấy thế thì buộc lòng phải khóc thét. Tôi băn khoăn, hai búp sen chưa bung nở có trên người sản phụ Sen thì biết nuôi con mọn bằng thực phẩm gì? Chỉ người lớn mới biết nhậu tôm khô củ kiệu, ngó vào ngực Nhài không là hài nhi tôi cũng thấy ham. Chúng tôi dọ hỏi chỗ Sen nằm phục hồi sức rồi đi băng qua những nơi lầy lội trơn trợt nồng mùi khó ngửi để vào dòm mặt một tàu lá chuối có hai con mắt lim dim. Tóc bện ướt bám sát khuôn mặt nhợt nhạt. Dòm thấy, Nhài pháo kích ngay: Mày sinh đẻ tự nhiên hay có chích thuốc trợ lực? Sen đáp trả, nhỏ nhoi yếu xìu như phát súng hoa cải: Tự nhiên, đau xẻ dọc người. Tiền đâu mà chích thuốc giục! Tôi chen vô, thổi còi tu huýt: Ủa, tui có dúi cho bác sĩ một cái phong bì mờ, cầm mỏi cả tay! Nhài tung một chưởng vào vai tôi: Thôi đi bố, đấy là luật bất thành văn. Nó khác xa với những chi phí ghi thành biên bản. Dầu gì thì cũng mừng cho mày, được mẹ tròn con vuông. Sinh êm thắm chứ? Là sao? Không ngoác mồm ra: Đéo mẹ mày! Nhài tự bịt miệng sau câu nói. Cô phân bua, bà chị tớ khi đẻ con đã lôi ba đời giòng họ thằng sở khanh ra chửi cho hạ hoả. Bà nói, mẹ kiếp, không cách gì thằng khốn nạn đấy hình dung ra cơn đau của phận đàn bà. Sướng phút giây mà khổ cả thiên thu!

Trong mục giải đáp thắc mắc, tư vấn chuyện phòng the linh tinh tới việc đẻ đái trên một tờ báo mạng, tôi cóp nhặt để ghi ra giấy món canh súp giúp sản phụ có sữa cho em bé bú. Tôi đi chợ, tự đun củi lửa món giò heo hầm với măng khô, gia giảm thêm chút khoai tây hoặc khổ qua, đậu đũa hành ngò các thứ. Đừng mặn quá và nhớ vớt màng mỡ đi. Mang vào bệnh viện thăm nuôi, Sen cảm động đến chảy nước mắt và cô ăn như một du kích bị địch ác ôn vây khốn suốt tuần nằm im re dưới địa đạo. Củ chi đây? Ờ, củ khoai. Ăn được không? Ngon quá xá quà xa. Phải mà có mẹ tui ở đây… Thì sao? Thì bả cũng phải gọi anh là sư phụ. Nêm nếm vừa miệng, thịt thà vừa độ chín tới, nhức răng!

Ăn ba bữa, ăn như đại gia, đưa tay thoa, sờ soạn, nắn bóp, vú trái vú phải chẳng chịu ứa ra một giọt sữa. Kỳ khôi. Mắc cười quá hén. Bây-bi khóc ằng ặc, vung vẫy tay chân, mắt nhắm trít, da dẻ tím tái. Cho anh toàn quyền đặc tên cho nó đó. Sen thở dài. Tôi nói: Đói. Làm giấy khai sanh thì Nguyễn thị Thực.

Chúng tôi bắt đầu kháu ó, gây gỗ, giận hờn, mất hoà khí từ khi có sự hiện diện của nhân vật thứ ba. Tôi xăm mình ôm con dại về thăm má tôi, đập đầu xin tha tội để mong bà chỉ bày một cao kiến. Đánh người chạy đi chớ ai đánh đứa trở lại. Má tôi ngôn. Có lâm vào cảnh này thì mày mới sáng mắt ra. Tao nói mày đừng nực nội nghen, con bé này cái mặt lạ hoắc, tuyệt hổng giống mày một mảy may. Nói tội trời chứ rơi rớt của ai kia rồi tới phiên mày rộng vòng tay đón nhận. Kịch bản người ta viết sẵn từng chương hồi khi không mày nhào vào làm diễn viên đóng vai chánh. Người ta đã duyệt, sức nghỉn đâu mày dàn dựng lại từ đầu. Người ta chơi ác với mày thì mày có sanh tâm bất chính không? Là sao, má nói những gì mà con không hiểu, lùng bùng hai cái lỗ tai! Thôi, xem như tao á khẩu, nói ra thêm mang tội ngậm máu phun người. Hãy cứ coi như là số phận. Má già rồi, má không biết cách gì để giúp mày. Tình huống này má vô dụng!

Khi trở về không thấy mặt Sen, các ngăn tủ trống trốn biệt những áo quần vật dụng cá nhân. Chẳng có để lại tờ giấy ghi vội lý do khiếm diện. Tôi ôm con gọi taxi. Bác tài quay mặt, giọng quan hoài: Cháu sao rồi? Anh muốn vào nhà thương nào đây? Tôi đóng sập cửa: Chở tôi tới quán Diamond, nơi có cục hột xoàn to đùng ngó lé con mắt. Tôi không biết nó nằm đường nào, bác biết chớ? Dĩ nhiên là tui biết, nghề của chàng mà. Nhưng chốn kia là tụ điểm bia ôm, sao anh dở chứng vác con nhỏ lặc lè theo. Đừng nói với tui là đi đánh ghen, có rảnh tay rảnh chân đâu mà đánh với đấm!

Một người đàn bà ngó diêm dúa chận tôi lại ngay cửa. Áng chừng ba chín, bốn mươi tuổi ta. Có nghĩa là xêm xêm cá mè một lứa với tôi. Tôi thưa bẩm: Dạ thưa chị, chị làm ơn cho tui hỏi có cô Sen đó không ạ! Sen hở? Sen có nick name là Cindy đó hở? Nó thôi việc ở đây lâu lắm rồi. Người gầy nhom, họ không thích ôm. Ế chảy nên chủ đuổi. Ủa chớ không phải nó êm thắm chuyện tình duyên rồi sao? Anh tìm nó có việc gì? Con ai đây? Bà xấn tới, kiểu lấy thịt đè người, hăm hở việc xua đuổi, ra khỏi cửa mới thôi nói. Và một gã bảo vệ ốt đột đóng lại cánh cửa.

Đang bơ ngơ báo ngáo bên lề đường thì có mụ đàn bà xẹt tới sát bên lưng. Anh cần tui giúp không? Bả rướn người để mong nhìn rõ mặt con tôi. May phước nó còn ngủ, Đói mà thức thì Đói khóc cho náo động phố phường. Tui lăn lóc bụi đời đã bộn tháng năm chưa hề thấy qua cảnh đàn ông đứng ôm con mắt xa xăm tướng lạc hồn. Thôi, hổng tả tình tả cảnh nữa. Năm triệu, đồng ý không? Người đàn bà thôi nói, ngó săm soi vào mặt tôi. Lạ nhỉ? Sao lại vô cớ hô lên con số khủng thế! Nếu đồng ý thì có người tới giao tiền và họ ẳm đứa nhỏ đi. Tống khứ cục nợ mà có năm triệu lận lưng thì ấm đời quá rồi, đòi chi hơn?

Nhìn con bé say ngủ tôi thưa với con buôn ác đức bất nhơn: Năm triệu, đúng không? Đưa ngay đây, nó mới chết, xác đang còn ấm, bế nó đi rồi lo hậu sự cho nó giùm. Muôn vàn cảm tạ. Thôi bị quấy rầy, mụ đàn bà dông một lèo chẳng dám ngó lui thằng đàn ông đang có tang gia bối rối.

Tôi mở điện thoại thông minh, màn hình hiện ra một loạt con số đã lưu vào bộ nhớ. Tôi thử gọi cho Nhàn, chuông reo không lâu thì giọng đàn ông ồ ề vào lỗ tai. A-lô. Ai đấy? Tôi đây… Tôi tìm tới công viên bên kia đường, ngồi xuống một băng ghế trống, buổi chiều đang về, nhọ mặt người.

Nhài nó cũng bỏ đi rồi ông ạ. Ra đi không mang ba-lô, quần áo cứ thế cắp nách. Khốn nạn thật, ơn phu thê nghĩa vợ chồng thảy đều bèo giạt hoa trôi trong phút giây. Thằng đàn ông ca cẩm một hơi. Đéo mẹ, tôi soi gương không nhìn ra lỗi lầm mình tạo nghiệp. Bỏ là bỏ, chỉ ngần ấy thôi. Cái mà tôi nực gà là nó đéo cho mình hay nguồn cội. Thà trước khi đóng sập cánh cửa nó ngoái đầu ra chỉ thị: Anh là thằng dở hơi, xìu xìu ển ển, chả ra cơm cháo gì, sống với anh có ngày mà tôi mắc chứng lãnh cảm. Tôi đi đây, dầm thân trong một vũ lượng thật lớn, rầm rộ cho ướt đẫm hình hài. Anh hả? Chỉ là cơn mưa rào, rơi không thấm đất!

Đồng bệnh tương lân. Thằng chồng Nhài kết luận khi hay ra hoàn cảnh tôi.

Biết chỗ nào gửi con không?

Chi vậy? Tôi hỏi.

Vẫn còn hút thuốc mí lị uống rượu chứ?

Sao cơ ạ?

Thì chúng ta hẹn nhau tìm chỗ bia ôm làm nhẹ nỗi đau. Chỉ có rượu thương, thuốc thương chứ chẳng ai thương đâu ông ạ!

Tôi nói vào điện thoại. Có ba con đường ngắn ngủi để tìm tới cái chết. Một, hút thuốc mỗi ngày, anh sẽ chết sớm mười năm. Hai, nốc rượu mỗi ngày, anh sẽ chết sớm ba mươi năm. Ba, yêu một người mà kẻ ấy bội bạc, anh sẽ chết từng ngày.

Thôi đi ông thánh, có đi ôm gái không thì bảo. Láo lếu! Ông liệu ôm con dại được bao lâu mà triết lý ba xu!
Mẹ nó chứ, chết từng ngày à. Tớ không dại sa vào âm mưu thâm độc của chúng nó đâu.

Công viên đầy muỗi, hai bố con tôi bị chúng đâm vòi hút máu thoả thuê mà chẳng biết. Đói thức giấc, Đói run mồm khóc nấc lên. Tôi vỗ về cháu, ngó ngược xuôi con đường vừa lên đèn, mờ mịt bụi trần.

Bố cũng đang đói khổ, con ơi!

Hồ Đình Nghiêm

Hồn ma cũ

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 29 Apr 2022

Post by Sơn râu 14 Dec 2023

Tấm ảnh này thầm lặng sống sót quá nửa đời người thì bất ngờ tự cố hương nó trôi giạt qua sóng mạng, tấp vào địa chỉ email mình, vực dậy bao kỷ niệm ngỡ đã xanh cỏ trong lòng sầu của một kẻ đang đi kề bên lũng sâu của chứng bệnh nhớ trước quên sau.

Giống như một thành viên trong cộng đồng facebook, mình ngắm tấm ảnh “ngày xưa thân ái” không chán, sáng tối đối mặt tự sướng. Chao ôi, nỗi hạnh phúc nào thật nhỏ bé đang vây bọc quanh thân, lịm người! Có kẻ trông cọp vụng chùng để rồi phát ngôn: Sao ngỡ như chân dung ông Ủn, lãnh đạo xứ Triều Tiên. Nói tới ủn thì nhớ ngay ra ỉn, cặp đôi hoàn hảo ấy đẻ ra một hình tượng: Heo. Bậy! Bất lịch sự quá. Nếu mình là heo thì đã không được lắm người yêu thương, ngày ấy. Sĩ số thương yêu mình lên tới cấp số cả đại đội. Đại đội trưởng: Mạ mình. Đại đội phó: O.

Antoine de Saint-Exupéry xúi Le Petit Prince nói: Mais j’étais trop jeune pour savoir l’aimer. Mình dại khờ đã quên bẵng tên o. O tròn như quả trứng gà, sách đầu đời dạy nhóc con biết phân biệt mặt chữ nói thế. Mặt trăng mặt trời cũng tròn nhưng họ để dành cho những ví von tầm cỡ hơn, có lẽ. Mạ là mặt trăng, ba là mặt trời, đại loại thế. Còn o, o chỉ là một thiếu nữ khổ cực, ở ngoài làng vào giúp việc phụ đỡ mạ mình một tay. O ẳm mình đi dang nắng, o xách nách mình đi trốn mưa. O dỗ dành khi đút cơm, o van nài trước khi dắt đi tắm. O là bóng, mình là hình; và bóng sẵn sàng mang thân ra bảo vệ hình. O từng lẫm liệt: Ai ăn hiếp em thì người đó hẳn phải bước qua xác chị đã. Ui chà, Lê Lai e thiếu dũng khí để nói cho Lê Lợi an lòng tựa thế. Và thật khó thứ tha khi Lê Lợi đã quên khuấy tên Lê Lai. Hoàng tử bé đã vụng về nguỵ biện: Con nít chay đâu hiểu tình yêu là gì!

Có dạo mạ mình vì công chuyện phải đi xa, vắng nhà cả tháng trời. Vất thằng út ở lại với nỗi hụt hẫng chẳng bút mực nào tả xiết. O nhìn ra vẻ trời sầu đất thảm kia nên o vụng trộm tha mình về giường o mỗi tối. O hiểu mình lậm nhớ hơi hám của một người đàn bà và o cả gan đóng vai mạ mình để ấp ủ, mong thằng bé ưa hờn dỗi ấy sớm ngủ ngoan trong giấc mộng cơ hàn. Với đầu óc nghèo tưởng tượng nhưng o có thể cực lòng hòng đáp ứng yêu sách, kể ra những câu chuyện cổ tích thường biết ngay tới kết cuộc. Ừ, thì bao giờ chánh cũng thắng tà, quân tử thế nào cũng dẹp được tiểu nhân. O chánh đạo quá, o quân tử quá khi o co thân lại cho đứa tiểu nhân đưa tay vào áo sờ soạn cái búp sen chưa bung nở dấu thu trên ngực mịn màng. Lê Lai hơn một lần liều mình cứu chúa, mình ôm o lún sâu vào giấc ngủ. Ngủ say, mê man, ngủ như một đứa con nít chẳng biết trời cao đất dày.

Người ta cho hay, muốn đi vào làng, bà con phải dùng phương tiện khác. Xe đò chỉ chạy trên quốc lộ thôi. Ở khúc quành nọ có mọc cái quán nước, quán đìu hiu trống gió với đôi ba anh lính địa phương quân ngồi ngó chiếc xe đò vừa thắng đứng. Bụi đỏ dồn lên trong một thoáng, thoáng sau thì nhìn ra luỹ tre xanh và dáng mờ ngọn núi xanh thẫm chận bít tầm nhìn. Một người lính nói với gã lơ xe: Hôm qua tụi nó ra đắp mô, tính chôn mìn chỗ gần cầu, may mà anh em trong đồn đi tuần đã kịp thời triệt phá. Nhắm êm không đại ca? Êm, đó là tính riêng trong chu vi 4 cây số mà tiểu đoàn trông coi. Ngoài ra, lấn xa thì bọn này không chắc. Người lính nói tiếp: Tình hình cũng chưa đến nỗi nào, tháng qua chỉ có một chiếc xe đò bị dính chấu, banh càng. Năm bị thương, ba đi gặp ông bà ông vãi.

Chủ quán nước là một người đàn bà khoảng tuổi năm chục. Số tuổi đó vội cướp đoạt đi sự linh hoạt mà ta thường nhìn nhận ở những kẻ bán buôn nhanh tay lẹ miệng. Bà hết biết đon đả chào mời, bà hà tiện lời ăn tiếng nói. Khuôn mặt bà đọng vũng một nỗi buồn câm, như thể con bà bị chết vì mìn nổ; hoặc giả con bà là đứa đêm hôm nghe lãnh đạo xúi để lén lút đi chôn mìn giết hại bà con. Tôi gọi một ly nước chanh đá khi nước mía đã hết. Những con ruồi to một cách đáng ngờ bay vật vờ trên xác khô những khúc mía đã bị máy nghiền vắt kiệt lấy nước. Bà cho hay muốn vào làng thì chịu khó ngồi đợi xe lam từ trong đó ra. Duy chỉ một cách. Rất chậm rãi, bà nói, tui cũng đợi, đã hai ngày rồi xe đò từ hướng Nam ra giao hàng mà vẫn chưa thấy. Đường gần hết, cà phê gần hết, dầu hoả gần hết, thuốc lá gần hết… Chơi kiểu này có nước chết tới nơi. Tôi hỏi bà tình hình ở trong làng, hỏi tên những người có chức phận sau luỹ tre bưng bít kia nhưng bà nói: Tui không rành. Vật đổi sao dời, phải chính mắt anh vào nhìn nhận mới ngộ ra, đừng nghe bất kỳ sự thêu dệt nào cả. Có khi đêm hôm người ta nói thế này, sáng ra người ta nói thế khác. Đồ vật hoặc thực phẩm cũng thế, có người trách sao hôm qua cà phê uống thơm ngon mà hôm nay đắng chát dở tệ!

Tôi trả tiền nước khi chiếc xe lam lừ đừ rệu rã cất tiếng than van quẹo vào khoảng sân nồng mùi đất hực lửa. Tiền bạc cũng biết tráo trở, Lê Văn Duyệt Quang Trung thảy đều xuống giá mãi lực. Thế hệ của ba tôi, chỉ cần Năm Trăm Đồng, người sở hữu số tiền ấy đã trở thành đại gia có thể hô phong hoán vũ trong nhất thời. Vì thời cuộc ba tôi buộc phải mang gia đình đi lập nghiệp phương xa, o trở về làng vì không thể rời xa vuông đất chôn nhau cắt rốn. Tôi có thể mường tượng ra cảnh chia tay đầy yếu lòng nọ, nước mắt làm ngập lụt nhấn chìm dung mạo o. Quyến luyến o ôm tôi vào lòng thổn thức. Rời ra, chân đi ba bước lại dùng dằng ngược hướng, chạy tới đâm bổ vào người tôi, thút thít: Em đi mạnh giỏi, chị sẽ nhớ em đứt ruột đứt gan. Từ nay chị hết có cơ hội bênh vực em nếu có ai ỷ thế… Em có thương chị không? “Mais j’etais trop jeune pour savoir l’aimer”. Hối tiếc mình đã không làm đứa con nít ranh mương để ôm siết lấy cơ thể chị, dụi mặt vào ngực chị nghẹn ngào, thế cho bao hàm ơn về mối chân tình mà chị mãi trao. Tuy ở xa, hàng tháng ba tôi cho người về làng để nhận thu tiền bán lúa, khi trở lại người nọ có mang theo quà o gửi riêng tôi: Một đôi chim sáo hót giọng thanh tao đứng bên nhau trong chiếc lồng tre nghèo nàn giật vá. Tôi vẫn dại khờ không hỏi tên o, không nhắn gửi một lời hỏi thăm gia cảnh người chị tốt bụng ngàn trùng đầu tắc mặt tối.

Với tất cả những dằn xóc nó có được, chiếc xe lam mang tôi từ đường nhựa đi quanh co vào con đường đất hun hút bóng dim. Mùi khói xăng chiếc xe hộc tốc thở ra chẳng xoá được mùi ruộng đồng, mùi thôn dã, mùi hương đồng cỏ nội đang ngự đầy trong không gian tịnh vắng. Chỉ hơn ba cây số khoảng cách, chừng đó cũng đủ vẽ ra cảnh giới khác biệt giữa hai thế giới, thành thị và thôn quê. Nếu không có chiến tranh, tôi nghĩ một người luôn cổ suý cuộc sống lành mạnh như ba tôi, hẳn ông sẽ về lại làng cũ để xây dựng cơ ngơi. Một câu văn vẻ tiếng Anh chợt hiện trong trí tôi: “Life finds a thousand way to cheat lovers”. Đời kiếm đủ cách để gạt những kẻ yêu nhau.

Xe lam vất tôi xuống ở trạm cuối, với ý tưởng tự tin rằng mình chưa bị cuộc đời làm vấy bẩn đổi thay, tôi lùng xục hang cùng ngõ hẹp để nhỡ đụng đầu o, hẳn o còn nhìn nhận ra “em” để rồi chính o phải là người đầu tiên cất lời thảng thốt trước buổi đoàn viên nằm mộng cũng chẳng ngờ. Theo những thông tin mù mờ, người nọ chỉ tới người kia, ấm ớ hội tề khoảng hơn tiếng, sau rốt chân tôi đặt vào ngôi nhà tranh chôn chặt bóng tối. Nền đất được nện phẳng, trơn láng và đứng giữa thứ không gian mù mờ nọ, xúc giác tôi được mơn trớn bằng những vuốt ve gai lạnh dồn lên tự muôn phía.

Xin lỗi anh muốn hỏi ai? Một tiếng nói cất lên và đồng thời những liếp cửa tranh ở ba góc lần lượt được mở chống. Nắng ngoài sân đất dội vào trong thứ sắc màu hoàng thổ thôi còn hung hãn. Không có gì kỳ cục hơn khi khách đường đột tới thăm mà chẳng hề biết tên gia chủ. Muốn trình bày duyên do có khi phải dài dòng tựa viết đủ một bài luận văn. Tôi ngó cậu thanh niên áng chừng thua tôi hơn cả mười hai con giáp. Cậu vừa tan trường hay đã xong cơm nước chuẩn bị đi học xuất chiều? Trường công lập duy nhất trong thị xã chưa nghỉ hè, những cành phượng còn tươi màu nhưng bộ đồng phục của cậu học trò chừng đã nhuốm nhạt phai. Ánh sáng trong nhà tuy chừng mực nhưng đủ cho tôi nhìn rõ hàng chữ thêu chỉ xanh trên bảng tên may vào ngực áo. Một chi tiết ở đó khiến mắt tôi thêm tinh tường: Cậu ấy mang trùng tên với tôi, chỉ khác họ. Học đệ lục nhưng thông minh sớm nhìn nhận ra nguồn cơn lấn cấn mà vị khách không mời kia đang ấp ủ, đang cà lăm sắp đặt những biểu tỏ ú ớ. Thời còn nhỏ, mạ em hay kể chuyện cổ tích cho em nghe, thường chen cài vào trong là hình ảnh của anh. Mạ em nói mạ thương anh không dấu diếm, không che đậy; do lẽ đó khi đẻ em ra mạ đã cho em vay mượn đỡ cái tên anh. Mạ em thiếu ăn học, chẳng biết ý nghĩa sâu xa về một danh xưng, mạ nói là mạ luôn kề cận bên em để nhớ về một hình bóng cũ. Rồi phân trần, đó là một mối tình khó lòng cắt nghĩa.

Bụng dạ tôi bồn chồn, nóng bức. Thằng học trò nghèo khổ nói: Anh sốt ruột muốn ngó thấy lại mạ em phải không? Có tấm màn cáu bẩn buông thả chắn cuối phòng. Đứa con trai mang trùng tên tôi kéo dạt tấm màn sang bên. Một tấm ảnh đen trắng chợt vẹt ố vàng “ngồi” lẻ loi trên bàn thờ có hơi chao nghiêng. Ảnh người đàn bà và linh cảm mách cho tôi hay, đó là nhân diện O. Bàn thờ tàn lạnh không hương hoa không nước nôi không đèn đóm. Nguội ngắt một tình cảm mà người sống muốn thể hiện tưởng nhớ. Mạ em chết rứa là đã hơn bốn năm. Nhà xuống dốc từ độ ấy, ba em đi phụ thợ hồ ở làng bên, làm toé khói cũng chỉ đủ sống, chỉ đủ nuôi bốn đứa con dại. Tôi ngó sâu vào mặt o với đôi mắt cay. Khi xa tôi khuôn mặt o có sầu muộn tựa thế? Tôi vẫn tin nhan sắc của một người nữ lệ thuộc vào lắm thứ, nhưng trước tiên, dứt khoát người ấy không bị sống trong cảnh nghèo khốn, bởi sự túng bấn kia sẽ cướp đoạt không nương tay ở họ, dìm họ xuống rồi tàn nhẫn trao cho họ tất cả những tàn phai. Héo hon tới chạnh lòng. Tôi thắp cho o ba cây nhang. Thuở nít nôi tôi từng nghịch ngợm sờ vú o xuân thì, giờ chưa hẳn đã trưởng thành tôi lại vội chắp tay mếu máo vái lạy o: Chị có linh thiêng xin thứ tha cho em những lỗi lầm ngày xưa mắc phải. Em mang một nguyện ước là khi lớn lên, có điều kiện em sẽ cố gắng bảo vệ chị trong khả năng hắn có được nếu có ai ỷ thế ăn hiếp chị. Nhìn khuôn mặt chị, em hiểu chị là người chịu nhiều thiệt thòi luôn yếu đuối để cho kẻ khác bắt nạt. Và em vô phương, em tàn tệ chẳng biết cách giúp đỡ chị. Mạ em cũng đã mất, có thể chị sẽ gặp lại người. Em vừa là đứa may mắn vừa là kẻ bất hạnh. Em có được một lúc hai người nữ mãi thương yêu mình và cuộc đời cũng khắc nghiệt mang hai người ấy đồng loạt rời xa em.

Tôi nhờ thằng học trò mang trùng tên dắt ra thăm mộ mạ hắn. Tôi xúi hắn cúp cua giả bộ đau ốm để nghỉ học xuất chiều. Tôi nói, trước hết dắt anh vô chợ mua trái cây cúng, mua bó nhang, mua chén cơm trắng, mua ít heo quay. Em biết uống cà phê không? Hai anh em chơi hai ly cà phê đá rồi hẳn ghé lên mộ sau. Rứa ba em đi mô không thấy? Dạ cày bừa tắt quạt chạng vạng mới hiện về mồ hôi mồ kê.

Tôi ra ngoài sân đứng đốt thuốc ngửa mặt thở khói vào cao xanh chờ thằng con của O đóng cửa cài then. Tội nghiệp, cỡ tuổi nó, người thương yêu tôi có cả đại đội với đủ quân số, trong khi hiện thời, nó cô quạnh lẻ loi, tách biệt ra khỏi những chằng chịt đoái hoài của tình ruột rà máu huyết. Bốn anh chị em nó không chắc đã thương yêu nhau khi mâm cơm bày lên eo xèo những hột gạo có thể đếm được nằm trong chén.

Sở dĩ anh hỏi ba em khi mô về là vì anh muốn nhờ em trao tới tay ông ấy một ít tiền anh gửi tặng. Chạng vạng thì trễ quá vì xe đò chuyến chót rời bến là bốn giờ. Em hút thuốc không? Dạ không, tuổi em chưa được phép thử. Giỏi. Nếu đã mang tên giống anh thì phải cố mà học cho giỏi nghe không? Cho ba nở mặt nở mày, cho mạ được ngậm cười nơi chín suối.

Thú thật là tôi cũng chả dư dả gì, khi trao tiền tôi cũng hơi thắc thỏm ngần ngại. Nhưng tôi nghĩ nếu chuyến xe đò trở lại thành phố bị bọn ác ôn giật mìn thì hoá ra xôi hỏng bỏng không. Đi về bên kia thế giới mang làm gì tiền bạc dương thế cho nhọc thân. Tôi đón nhận bàn tay vung vẫy chào bên ngoài cửa xe, tôi hét to, nhắc lại ý muốn đã nói với hắn: Em chớ có quên, cố tìm cho ra một tấm ảnh khác của mạ, gửi lên cho anh để nhang khói lòng thành tri ân. Xe chạy sật sừ leo lên quốc lộ, tôi quay đầu ngó về luỹ tre xanh: Giã biệt O. Người “tình” không chân dung.

Hồ Đình Nghiêm

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 14 Dec 2023

Bài 18

Mẹ Âu Cơ
Phòng Phát Triển Cộng Đồng là một bộ phận của trại, phục vụ chung cho mọi tầng lớp tỵ nạn, không phận biệt nam, phụ lão ấu. Bên cạnh đó, trại tỵ nạn Bidong còn có những cơ quan có nhiệm vụ chăm sóc cho những thành phần đặc biệt nào đó, như ông cao ủy Bill, mục sư, thì trông coi các em nhỏ, gọi là “mai-no” (minor), có khi gọi là “cô nhi”, vượt biên một mình, không có cha mẹ hay thân nhân đi cùng. Bên cạnh mục sư Bill làm việc thiện nguyện, còn có những thuyền nhân khác, cũng tình nguyện làm việc ở đây, chăm sóc cho các em, chẳng hạn như anh Nguyễn Hữu Nhân, em cô Mỹ Duyên, con bác sĩ Nguyễn Hữu Phần, giám đốc bệnh viện Từ Dũ trước 1975. Hai chị em đều làm việc thiện nguyện ở đảo cả, hiện nay, họ định cư ở Úc.

Các em “mai-no” (minor) nầy sinh hoạt trong một khu vực riêng, được chia thành từng đơn vị, đặt tên là Âu Cơ-1, Âu Cơ-2, Âu Cơ-3, v.v… Vì số lượng các em “mai-no” ngày càng đông nên trại cũng có nhiều “Mẹ Âu Cơ” hơn. Trong ý nghĩa cách đặt tên như thế, mục sư Bill hay những người làm việc thiện nguyện như anh Nguyễn Hữu Nhân chăm sóc các em như những người mẹ, người anh, người chị. Tình cảm đó, đáng quí, đáng trân trọng biết bao nhiêu…

Mỗi ngày, việc ăn học của các em được chăm sóc, nhắc nhở, khuyến khích, la rầy, khiển phạt… nên có nhiều em học giỏi, lễ phép, có tư cách. Dĩ nhiên, cũng có những em hoang nghịch ít, nhiều. Trẻ con là như thế, không khác được.

Các em không được thanh lọc. Em nào cha mẹ còn ở Việt Nam, sẽ được trả về Việt Nam. Em nào có cha mẹ ở các nước thứ ba, sẽ cho sum họp cùng cha mẹ.

Cũng có trường hợp cha mẹ không muốn nhận lại con. Cho các em vượt biên là cha mẹ muốn cho con em mình thoát khỏi một chế độ độc tài, nghèo đói, kỳ thị, học hành khó khăn, không có tương lai gì ở đó cả. Được định cư ở các nước thứ ba, là hy vọng con cái có một tương lai tốt đẹp, có nhân phẩm, có tự do, bình đẳng. Đón con trở về là đi theo con đường vòng trở lại chốn cũ, lại tiếp tục sống trong cảnh tăm tối. Dù thương con như thế nào đi nữa, họ cũng không muốn Cao ủy đem con họ về lại Việt Nam nên họ từ chối là đương nhiên.

Tuy vậy, từ chối cũng không được. Cao ủy vẫn đem con họ về, giao cho chính quyền địa phương, buộc họ đến nhận.

Ban đầu, khi các em mới về lại Việt Nam, Cao ủy cũng có đến thăm chừng, ít lâu sau thì không còn. Tôi có nghe cao ủy Daeng kể lại, để thăm một em bé bị trả về quê ở Vĩnh Bình, cô phải đi xe đò, xe lôi, đi ghe, tìm tới nhà em đó, gặp cha mẹ em đó, chuyện trò với họ. Khi giã từ em và gia đình, cao ủy Daeng đã khóc. Cô bảo rằng họ đáng thương quá! Cô không kể gì thêm. Cô là người làm việc cho Cao ủy, nên cô không thể lên tiếng phê phán việc làm của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hợp quốc, dù không đồng ý với việc “cưỡng bách hồi hương.”

Các em có cha mẹ ở Việt Nam, nhưng có bà con ở Mỹ chẳng hạn, xin bảo lãnh cho định cư ở Mỹ cũng không được. Trong khi đó thì người ngoại quốc đến Việt Nam xin con nuôi vẫn được. Như vậy nghĩa là sao???!!! “Người ta” muốn chấm dứt “làn sóng vượt biên” nên mới khắt khe như thế. Thành ra cái gọi là Cao ủy Tỵ nạn, là một cơ quan làm việc nhân đạo mà có còn nhân đạo nữa hay không?

Có một số em gái, bắt chước người lớn, hỏng thanh lọc thì kết hôn với một người đậu thanh lọc để ghép chung “blue card” (hồ sơ), được cùng nhau định cư. Vậy nên nhiều em cũng “cặp bậy” với một anh chàng nào đó để mang bầu mà được đi chung với “chồng”, khỏi bị trả về Việt Nam. Độc giả có thấy đau lòng cho các em hay không?

Khi các em “mai-no” bị chuyển qua trại Sungei Beshi, các khu Âu Cơ không còn nữa. Các em ở chung với người lớn. Thế là, vì thanh lọc, mẹ Âu Cơ và các con tan tác, còn tệ hơn chim vỡ tổ, sau một cơn bão tố dữ dằn.

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 14 Dec 2023

Bài 17

Vượt biển… trở về
Đôi khi chúng ta cũng ngạc nhiên về những người đi ngược chiều!
Khoảng những năm sau 1986, 87 khi đi tù cải tạo về, hàng trăm, hàng ngàn người thường tụ tập ở sân cỏ trước Sở Ngoại Vụ của Dziệt Cộng ở Saigon, ngang đường Alexandre de Rhodes cũ, để lập hồ sơ đi Mỹ, theo cái gọi là “diện HO”.

Họ gặp gỡ nhau, chuyện trò vui vẻ, “hồ hỡi phấn khởi” – nói như Dziệt Cộng – chờ ngày ra đi, để thoát khỏi chế độ độc tài, được sống tự do, một thứ tự do mà ở Việt Nam chưa bao giờ có, và để có một cuộc sống no ấm hơn, nếu không nói là sẽ giàu có, để bù lại những năm tháng tù tội, đọa đày, gian khổ, v.v… và v.v…
Trước đó, cũng đã có “chương trình ra đi trong vòng trật tự” – ODP và người đi, cũng không khác tâm trạng với người ra đi theo “chương trình HO” bao nhiêu.

Thế nhưng vẫn có những ngưòi đi ngược chiều!
Cũng có người từ chối ra đi theo HO hay theo ODP.
Tại sao vậy?
Làm sao nói hết! Mỗi người một hoàn cảnh, một đời sống, một hay nhiều lý do riêng tư. Bài nầy không nghiên cứu về những trường hợp ấy nên không bàn tới. Tuy nhiên, những người từ chối ra đi chỉ làm một việc rất dễ dàng, như người Mỹ thường nói vậy: “Yes or No”. Và những người nầy chỉ cần nói “No” là xong việc.
Người vượt biên trở về thì khác. Khi tới đảo rồi, vì lý do riêng nào đó, họ tụ tập nhau mà trốn về. Trốn về, chớ không phải công khai xin về như thời gian sau nầy, khi tôi đang ở đảo.
Điều buồn cười là trong khi dân Saigon muốn vượt biên gặp khó khăn biết bao nhiêu, nói không hết được, thì những người nầy, họ đi (vượt biên) và về (lại Việt Nam) “như đi chợ”. Chẳng hạn như anh chàng tôi nói sau đâu, tên Vinh, dân Trà Vinh, vượt biên tới đảo năm 1980, rồi trốn về, rồi lại vượt biên thứ hai năm 1989.
Anh Võ Thế Long, người tôi đã nói ở phần trước, vượt biên đến đảo cũng là sự… tình cờ.
Võ Thế Long, đại úy Cảnh Sát, cử nhân luật, thuộc phòng Cảnh Sát Quốc Tế (Interpol) của bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia trước 1975, kể cho tôi nghe việc anh vượt biên như sau:
Sau mười năm ngồi tù gở mười cuốn lịch, năm 1986, sau khi ra tù, anh thay tên đổi họ, qua Kampuchia kiếm đường vượt biên, dưới cái vỏ bọc là người thợ máy, vì anh ấy tuy học luật nhưng mê… cơ khí.
Làm việc trong một xưởng đóng tầu của người Miên, anh được lệnh chủ tầu chạy thử chiếc tầu mới đóng. Chạy thử là chỉ chạy qua Thái Lan, tìm đường… buôn lậu.
Thế rồi ông Long lái tầu chạy dọc theo bờ biển, cố ý cho tầu chạy quá biên giới Thái Lan – Mã Lai, để thăm dò, để chuyến sau đem vợ con đi theo, trốn thoát khỏi quê nhà.
Không ngờ tầu của anh bị tầu tuần Mã Lai bắt giữ, kéo về Terrenganu. Không có cách nào khác hơn, Long đành khai thật tên họ thay vỉ tên giả là Võ Văn Ri, cùng quá trình lý lịch và làm người tỵ nạn bất đắc dĩ. Long không còn đường về nước, để lại ra đi một lần nữa, đem vợ con theo, như ý định ban đầu.
Ông Vinh thì lại khác, ông đã đến đảo, lại về, và lại đến đảo lần thứ hai.
Lúc ấy tôi mới làm việc hơn một tuần lễ ở phòng SB. Một hôm, ông Trần Quốc Phụ trưởng ban “điều hành” (tôi không nhớ rõ tên của cái ban nầy), cầm một hồ sơ đưa cho tôi và bảo:
– “Kê” (case) rắc rối đây. Anh xem hồ sơ trước rồi gọi lên điều tra cho thật kỹ.”
Tôi nhận hồ sơ và nói “Vâng”.
Xem lời khai sơ khởi. Đó là trường hợp ông Vinh, như tôi vừa nói ở trên. Tôi làm thông báo, gọi trên loa, để hôm sau anh ta lên phòng SB.
Vinh lên đúng giờ. Do người hướng dẫn chỉ tay, anh ta đến thẳng chỗ tôi, chào. Hỏi tên xong, tôi biểu anh ta ngồi xuống trên cái ghế băng, đối diện tôi.

Sau khi ngồi xuống xong, anh rút gói thuốc lá đặt lên bàn, mời tôi hút thuốc: “Mời thầy!” tôi nói “Cám ơn” nhưng không hút.
Nhìn qua, tôi thấy anh ta là hạng người có của ở trên đảo. Áo sơ mi cổ nhỏ (mode thời ấy), quần tây, dép da thay vì dép cao sư như mọi người, thuốc lá Kent, quẹt gas, v.v…
Tại sao anh ta gọi tôi bằng thầy? Đó là tiếng “thầy chú” như phong tục người miền Nam thường gọi các “thầy cảnh sát” hay viên chức làng nước. Té ra không phải. Anh ta lịch sự. Anh ở chung một longhouse với Tôn Thất Tường mà Tường là học trò cũ của tôi. Hôm tôi gặp Tường, Tường chào tôi, gọi bằng thầy, thì có anh ta đứng bên cạnh Tường.
Tôi hỏi:
– “Anh tới đây năm 1980?”
– “Dạ, vâng!”
Vốn tò mò, tôi hỏi tiếp”
– “Anh thấy Bidong hồi đó và bây giờ khác nhau nhiều không?”
– “Khác lắm thầy! Khác lắm.” Anh ta nhắc hai lần chữ khác làm tôi chú ý thêm.
– “Khác như thế nào. Anh kể lại đi!” Tôi nói.

– “Hồi đó không có khu nhà ở của Cao ủy ở bãi biển khu G. Sáng, họ từ trong đất liền ra làm việc. Chiều, họ lên tầu về trỏng. Task Force cũng không có. Chỉ có đồn Cảnh Sát Mã Lai, mấy ngoe. Đồn cũng ở chỗ bây giờ. Lúc ấy trên đảo khoảng bốn chục ngàn người, hồ sơ làm không kịp. Tầu Úc đậu ngoài cầu jetty cũ, bắt loa gọi ai muốn đi Úc thì xuống Tầu mà đi. Người ta kéo nhau xuống rần rần, đầy tầu thì nhổ neo, chẳng cần làm giấy tờ chi cả.”
– “Đời sống khó khăn nên người ta muốn đi ngay?” Tôi hỏi.
– “Cơm gạo, cá thịt thì không thiếu. Nhưng nhà ở thì không có!” Vinh trả lời.
– “Sao không có?”
– “Có dựng kịp đâu! Tầu thì tới mỗi ngày mà dân trên đảo đông lắm. Phần đông đi “bán chính thức”. Mấy chú Ba Tầu là nhiều nhứt. Họ giàu lắm, nên trên đảo có nhiều nơi bán hàng. Cửa hàng táo, cửa hàng trái cây, cửa hàng thịt, rau tươi… từ trong đất liền ra. Cũng là người Tầu Mã Lai đem bán cho người Tầu Chợ Lớn vượt biên. Cá thì người ta tự đánh lấy, không bị Mã Lai cấm như bây giờ.
– “Nhà ở, longhouse chẳng hạn?” Tôi hỏi.
– “Chỉ có hai ba longhouse gì đó ở khu A. Các khu B, C, D đều chưa có gì hết. Người ta tự dựng lều, dựng bạt lấy mà ở. Ai muốn dựng đâu thì dựng, kể cả ngoài bãi biển. Tối ra biển ngủ, lên núi ngủ, nằm ngữa mà xem trăng. Ai bắt cặp nhau cứ kiếm chỗ mà rù rì, chẳng ai cấm cản cả. Cũng giành gái, cãi cọ, quýnh lộn, đâm chém… Lộn xộn hết sức!” Anh ta than.

– “Loạn!” Tôi nói.

– “Đúng đó thầy. Thiệt là loạn.” Anh ta tiếp lời tôi.

– “Bệnh hoạn thì sao?”

– “Tự động kiếm thuốc mà uống, hoặc gởi mua. Hai ba bữa mới có bác sĩ từ trong đất liền ra. Chiều họ cùng về với Cao ủy.

– “Có người chết?”

– “Đôi khi thôi, cũng không đến nỗi. Năm truớc đó, có dịch tả, chết mấy chục, chôn trên sườn núi Bidong.” Vinh nói.

Đúng vậy, năm sau, nhân dịp ông trại trưởng Ngô Văn Thu, kêu gọi và khuyến khích đồng bào cũng như các đoàn thể sửa mồ mả không thân nhân trên đảo, tôi có tham gia.

Trên sườn núi, phía Cao ủy, chỗ đặt mấy bồn nước cũ, tôi thấy khoảng hơn chục ngôi mộ chôn kề nhau, có người nói đó là mộ những người chết vì trận dịch tả hồi đó.

&

– “Quê anh ở đâu?” Tôi hỏi.

– “Trà Vinh.” Anh ta trả lời, cộc lốc.

– “Vượt biển, anh về quê?” Tôi lại hỏi.

– “Tôi về ngay chỗ cũ.” Vinh trả lời.

– “Về bằng cách nào? Dễ không?” Tôi hỏi.

– “Bọn tôi tụ họp nhau 5 đứa, tìm cách về. Trước tôi khoảng nửa tháng, đã có ba bốn thằng về. Hồi đó ván ép trong đất liền chở ra để làm nhà, chất mấy đống ngoài bãi biển khu A. Tụi nó ăn cắp, vác ra sau núi Bidong, cưa đóng thành chiếc thuyền nhỏ, mũi nhọn, đít bằng, giống kiểu ghe đánh cá Thái Lan. Xong, tụi nó ăn cắp một cái máy Kohler gắn vào đuôi. Nửa đêm chúng nó ra biển. Ra quá một trăm mét, sóng đánh một phát, bể thuyền. Hú hồn, thuyền ra chưa xa, tụi nó bơi vào bờ được.” Vinh kể.

– “Anh có nhớ tên mấy người đó không?” Tôi hỏi.

– “Nhớ chớ! Thằng An, quê Rạch Giá, sau nó về với tôi. Thằng Khoe, quê Vĩnh Bình, sau cũng về với tôi. Còn một thằng nữa, sau đổi ý, không chịu về, đi Úc với con bồ. Thằng Lang thì hiện ở đây, đang chờ đi Úc.”

– “Còn anh thì sao, tại sao về?” Tôi hỏi.

– “Bọn tôi 5 đứa, đứa nào cũng có lý do na ná giống nhau. Đi với bồ qua đây, bị bồ đá, theo thằng khác, giàu tiền bạc hơn, buồn tình, bỏ về.” Vinh kể.

– “Không lý do “chính chị chính em” gì cả?” Tôi hỏi.

– “Chính “chị” gì đâu! Tôi đang làm ăn bình yên, vợ con đàng hoàng. Bỗng có con nhỏ đến rủ đi thì đi.”

– “Sao dễ dàng vậy. Con nhỏ như thế nào mà nó nói một tiếng, anh bỏ vợ con theo nó. Nó có bỏ bùa không?”

– “Bùa ngãi gì đâu! Vợ tôi thì quê mùa, lam lũ. Con nhỏ thì dân thành phố, đẹp lắm. Đẹp lắm thầy ơi! Tôi như người bị hớp hồn. Với lại nó nói hay lắm, hoàn cảnh nó tội nghiệp lắm! Cha mẹ anh chị nó ở Úc. Nó còn lại một mình, bơ vơ. Nếu tôi đi với nó là cứu vớt nó. Qua tới bển, ưng thì tôi ở với nó. Tôi không ưng thì nó về ở với cha mẹ nó. Tôi có thương vợ thương con thì lo cho vợ con qua sau. Dễ quá mà. Vậy là tôi làm anh hùng, cứu người đẹp…” Vinh vừa nói, miệng hơi cười.

– “Người đẹp giữa rừng gươm… Dziệt Cộng!” Tôi đùa.

– “Chớ chi!” Anh ta đồng ý.

– “Ở quê anh vượt biên dễ không?” Tôi lại hỏi.

– “Dễ lắm ông “thầy” à! Tiệm may tôi ở gần cửa sông, cách chưa tới trăm thước. Tổ chức đi đông, đón dân Saigon về mới khó. Còn như gia đình ở dưởi, kéo thêm một ít bà con để có tiền mua dầu thì khó gì đâu! Nghe nói định cư ở Úc, ở Mỹ sướng lắm nên người ta muốn đi. Bấy giờ Dziệt Cộng bắt vô hợp tác xã, nản lắm, nên người ta chán, đi cho xong” Vinh nói.

– “Anh cũng muốn đi?” Tôi nói.

– “Không, tôi đang làm ăn bình thường, may vá cũng có ăn. Mà tôi may quần tây đẹp lắm, nên đông khách. Đi là vì con ngựa cái đó.”

– “Sao gọi người ta là con ngựa cái?”

– “Nó xạo. Ba má nó đâu có ở Úc. Nó có chồng, bỏ chồng về nhà, bị cha mẹ nó mắng chưởi, nên nó muốn đi. Gặp tôi, nó nói xạo cho tôi xiêu lòng.” Vinh kể.

– “Qua tới đây thì sao?” Tôi lại hỏi.

– “Nó bỏ tôi chớ sao?” Vinh nói, giọng hơi to. Tôi ra dấu biểu anh ta nói nhỏ một chút. Các bàn chung quanh, người ta đang làm việc.

– “Anh nghèo… tôi chỉ muốn cao sang!” Tôi nhại theo một câu hát.

– “Tôi không nghèo ông “thầy” à. Tôi lận theo mấy cây vàng. Qua tới đây, tôi mở “cửa hàng táo” (bán apple, hàng từ đất liền chở ra). Tôi có để nó thiếu thốn gì đâu. Ông “thầy” biết, hồi đó, sau vụ “nạn kiều”, ba Tầu trên đảo đông lắm, bọn nó giàu lắm! Vậy là bọn nó bỏ tiền ra dụ dỗ mua chuộc mấy con ngựa cái. Tui có giàu cũng không bì kịp mấy Ba Tầu, bị chúng cướp mất vợ. Bọn con gái ham tiền, đạp đổ người cũ, theo người mới hết.”

– “Vậy rồi anh làm gì?” Tôi hỏi.

– “Tôi buồn tình, chán nản, không muốn gì nữa. Giờ mới thấy thương vợ, thương con, chỉ muốn về. Ngày ngày tôi lang thang, ra bãi biển ngồi, chỗ quán “Lup” bây giờ là bãi trống. Mấy đứa muốn về, biết tôi có tiền, tới rủ tôi về.”

– “Tại sao lại phải có tiền mới về được?”

– “Phải có tiền mua dầu, mua lương thực chớ!” Vinh giải thích.

– “Mua dầu ở đâu?” Tôi hỏi.

– “Hồi đó chưa có nhà máy điện như bây giờ. Ở đồn cảnh sát Mã Lai có cái máy điện nhỏ, khi nào Cao ủy ra làm việc, máy điện mới chạy. Đồng bào thì được phát dầu để thắp đèn. Nhiều người không thắp, những đêm có trăng ít ai thắp đèn. Dầu dư nhiều lắm, mua dầu là mua lại của họ.” Vinh nói.

– “Lương thực thì mua trong đất liền? Phải không?”

– “Không! Mì gói. Mì gói thì nhiều lắm. Cao ủy phát hàng ngày, ăn không hết.”

Vinh kể tiếp:

– “Tôi chi tiền, cũng không nhiều, mua dầu, đổ đầy mấy cái can nhựa, đem dấu trong mấy cái hốc đá ở quá bãi biển khu G. Nước ngọt cũng dấu ở đó, chờ ngày chôm được tầu là đi.”

– “Bao lâu sau thì đi được?” Tôi hỏi.

– “Có mấy bữa. Bữa đó có chiếc tầu từ Phước Tĩnh tới. Tầu còn tốt lắm, máy cũng tốt. Để ăn chắc, nhằm giờ trưa vắng người, thằng An, thằng Lang giả bộ đi đánh cá, leo lên ghe coi thử. Xong, chúng tôi gặp nhau, bàn chuyện khuya nay sẽ đi. Chậm một hôm, sợ Mã ai kéo tầu vô đất liền mất. Tầu nào còn tốt, Mã Lai kéo vô đất liền; tầu cũ, Mã Lai nhận chìm luôn.

– “Vậy là đi ngay tối đó?” Tôi nói.

– “Dạ, quá nửa khuya, thằng An, thằng Khoe lẻn ra chiếc tầu đó, mở đỏi, chống ghe cho đi ngược lên bãi biển khu G. Thật ra, việc dễ lắm. Buổi tối, Cao ủy về đất liền. Hai ba cảnh sát Mã Lai thì ở trong đồn, đâu có ló mặt ra ngoài làm chi. Khi có chuyện chi đồng bào la lối dữ dội, họ mới ra. Thành ra việc trộm ghe dễ như chơi. Khi tụi nó chống ghe lên tới khu G, chúng bật hộp quẹt ra dấu, bọn tôi núp trong lùm cây, cũng ra dấu trở lại. Vậy là ghe tấp vô. Dầu, nước, lương thực chất lên ghe. Chống thêm một đoạn nữa cho ăn chắc, chúng tôi cho nổ máy, cứ nhắm hướng bắc mà chạy.” Vinh nói.

– “Không la bàn, bàn đồ chi cả.” Tôi hỏi.

– “Cần chi! Hai ba thằng là dân đánh cá biển, rành đường lắm. Vã lại chúng tôi cũng có thấy một cái bản đồ vịnh Thái Lan, do đồng bào vượt biên, đem tới đảo. Cứ coi trong bản đồ, nhắm hướng bắc mà chạy thì về tới Việt Nam.

– “Không sợ công an Dziệt Cộng?” Tôi hỏi.

– “Làm sao chúng nó ngờ bọn tôi vượt biên mà về. Còn nói vượt biên đi cũng không được. Chúng tôi chỉ có năm ngoe. Ai lại vượt biên với năm ngoe như chúng tôi. Còn hỏi giấy tờ, chúng tôi nói ghe bị bão, mất hết. Ghe thì có số TH đàng hoàng. Ghe Phước Tĩnh mang số TH là Thuận Hải.”

“Đêm đó chúng tôi vui lắm, khui bia “liên hoan”. Sắp về với gia đình vợ con rồi.” Vinh nói, vui vẻ.

– “Tất cả có mấy người?”

– “Năm, tụi tôi năm người. Tôi, thằng An, dân Rạch Giá, thằng Khoe, dân Vĩnh Bình, thằng Lang, cũng Vĩnh Bình, thằng Sức, Cà Mau.”

&

“Đi đã ba ngày mà chẳng thấy chi hết. Chúng tôi chỉ sợ lạc đường. Nếu đi chệch về bên phải nhiều, ghe tôi có thể ra tuốt ngoài biển Đông. Đêm đó, đêm thứ ba, chúng tôi lại gặp một trận bão lớn, tưởng chết. May nhờ tụi nó đi biển rành, cứ cho ghe nổ máy, cưỡi lên sóng mà đi thì khỏi bị lật. Tắt máy mà cho sóng đập, ghe chìm như không.

“Đến sáng ngày thứ tư thì biển êm, êm lắm. Trời nước xanh ngắt một màu đẹp lắm. Chúng tôi không biết chúng tôi đang ở đâu.

“Bỗng thằng An la lớn:

– “Hà Tiên kìa.”

“Nó vừa nói vừa chỉ tay vào một đám mây ở xa. Chúng tôi hỏi cái gì đó. Nó nói: “Khói nhà máy ximăng Hà Tiên.”

“Đó là một đám mây dài, từ phía dưới mặt biển trồi lên. Có chỗ khói hơi đen một chút, giống như mây buổi chiều sắp mưa giông.

“Tôi hỏi, để cầm chắc, chớ tôi cũng đã từng thấy cột khói nhà máy ximăng Hà Tiên trước kia rồi.

– “Chắc không?”

– “Chắc mà!” An nói, xác nhận. “Tui đánh cá vùng nầy tôi rành lắm mà!”

“Cả bọn, ai nấy đều mừng.

“Bấy giờ có đứa đi tìm lò dầu, tìm mì gói, nước ngọt, làm mì, ăn cho no để về nhà.

– “Vậy là vui há!” Tôi nói.

– “Còn gặp xui, ông “thầy”. Chiều hôm đó, khi thấy rõ đất liền lắm rồi, không còn bao xa thì tầu của tôi bị gãy cốt máy. Cả tiếng đồng hồ sau, gặp chiếc thuyền đánh cá quốc doanh, mang số VT. Số VT là số tầu của Vũng Tầu – Côn Đảo. Thằng thuyền trưởng là một thằng Bắc kỳ 75 mất dạy. Nó cứ đổ riệt rằng chúng tôi vượt biên, tầu bị hỏng. Nó đòi tiền chớ có gì đâu! Dầu có bắt chúng tôi giao cho Công An, nó chẳng được mẹ gì đâu. Cuối cùng, chúng tôi gom lại, phần tôi bỏ ra là nhiều nhứt, gần chục cái khâu. Gần tối, chúng nó cho chúng tôi vào bờ, chỗ cuối dãy núi Hòn Chông, có cái ấp tên Rạch Đùng. Cách bờ khoảng năm chục thước, chúng nó bảo chúng tôi bơi vào. Tôi bơi yếu, phải ôm cái can nhựa, có thằng An và thằng Khoe bơi bên cạnh, đẩy tôi đi.

Lên bờ, chúng tôi núp trong một cái hang đá, cởi quần áo phơi khô. Gần sáng, đang dự tính tìm đường về, thì gặp thằng bé người Miên, nó chăn heo đi ngang qua. Chúng tôi sợ thằng bé đi báo công an, nên mạnh thằng nào thằng đó lo giọt, thằng An về Rạch Giá, thằng Khoe về Vĩnh Bình.

Tôi lội băng rừng, đi qua một cái đầm lớn, tôi nhớ người ta gọi là “Cà bây ngộp”, gần ấp Rạch Đùng, rồi tôi theo hướng ống khói nhà máy ximăng Hà Tiên mà về tìm đứa em bà con ở gần thị trấn nầy.

– “Cà bây ngộp” là tiếng Miên, có phải không?” Tôi hỏi.

– “Cà bây ngộp” tiếng Miên nghĩa là “Đầm trâu chết”. hồi xưa, lâu lắm, cả trăm năm, có trận dịch trâu. Trâu tìm về nơi cái đầm mà chết hàng trăm con, nên người ta gọi như dzậy.”

– “Anh nói, em anh là em gái?” Tôi hỏi.

– “Dạ! tôi có con em gái bà con nhà ở gần “cầu Cống Tre”. Chồng nó làm công nhân ở nhà máy. Về gần tới thị trấn Kiên Lương, tôi đi bọc phía sau trường học, đi băng qua khu cư xá công nhân rồi tới nhà nó. Nó hỏi tôi đi đâu về. Tôi nói tôi đi Cam-pu-chia tìm cách làm ăn. Nó cũng chẳng biết hay nghi ngờ chi cả. Ở nhà nó, tôi tắm rửa, giặt áo quần, ăn một bữa no nê, rồi ngủ một giấc ngon lành. Sáng hôm sau, tôi đón xe đò về Trà Vinh.”

– “Về tới nơi, chính quyền biết gì không?” Tôi hỏi.

– “Biết mẹ gì! Khi về ngang đồn công an, tôi còn huơ tay chào. Tụi nó còn hẹn cuối tuần đến nhậu chơi. Tôi cũng “OK”. Bể là tại tôi ngu.” Vinh nói.

– “Bể là sao?”

– “Bể là như dzầy! Khi còn ở Bidong, tôi ra chỗ bãi biển khu G, chỗ có mấy cái ghềnh đá, chụp hình gởi về Trà Vinh, giựt “le” với bà con chơi. Ai ngờ tụi công an, khi thấy thơ từ Bidong gởi về, bèn mở ra “kiểm tra”. Dzậy chúng nó mới biết tôi vượt biên chớ! Gần tối, chúng nó tới nhà bắt tôi về đồn điều tra tôi “vượt biên” theo đế quốc Mỹ. Hôm sau, công an huyện đem xe xuống chở tôi lên, lại điều tra. Không phải điều tra tội vượt biên.” Vinh khai.

– “Không tội vượt biên thì tội gì nữa?” Tôi hỏi.

– “Tội làm xịa, là CIA. Tụi nó nói, tôi vượt biên qua Bidong là để liên lạc làm xịa. Rồi nó hỏi lung tung.” Vinh nói.

– “Hỏi lung tung là hỏi cái gì?” Tôi lại hỏi.

– “Chúng nó hỏi qua Bidong liên lạc với ai? Thằng Mỹ nào? Thằng Mỹ đó tên gì? Học khóa nào? Nó dạy cho tôi cái gì? Cách theo dõi bộ đội, công an Dziệt Cộng như thế nào? Khi về lại Việt Nam liên lạc với ai? Người đó hiện ở đâu? Làm gì? Cách tiếp xúc với nhau như thế nào? Hòm thư chết như thế nào? Ở đâu?” v.v…

– “Anh có trả lời được không?”

– “Trả lời được cái chi? Có biết chi mà trả lời. Bây giờ có phòng “Ét-Bi” chớ hồi đó có ai thèm hỏi tới mình đâu!”

– “Dzậy rồi chúng nó làm gì anh?” Tôi hỏi.

– “Làm gì à? Nó “quýnh”. Nó “quýnh” trời đất ơi là nó “quýnh”. Cứ sau nửa đêm là chúng nó gọi lên điều tra. Dzậy rồi nó “quýnh” cho tới sáng. Sáng thì cho về.”

– “Sợ không?” Tôi hỏi.

– “Sợ lắm ông “thầy” ơi! Gần nửa đêm là thấy lo. Nghe nó kêu tên là lạnh người.” Vinh kể.

– “Nó “quýnh” như thế nào?” Tôi hỏi.

– “Nó “quýnh” đủ kiểu ông “thầy” ơi!” Vinh khai.

– “Tầu bay? Tầu lặn?” Tôi hỏi.

– “Tầu gì cũng có hết, không thứ nào thiếu!” Vinh nói.

– “Tui nghĩ những “món ăn chơi” đó chế độ cũ mới có chớ!” Tôi nói.

– “Ông “thầy” đâu có kinh nghiệm bằng mấy người cùng chung tù với tôi. Người ta nói Dziệt Cộng bây giờ cái chi cũng khoa học và hiện đại, tài giỏi hơn chế độ cũ. Cái chi cũng ưu việt, tài giỏi. Tra khảo tài giỏi hết sẩy!”

Tôi cười, làm thinh.

Vinh nói tiếp:

– “Càng lên cao chúng nó “quýnh” càng dữ”.

– “Càng lên cao là sao?” Tôi lại hỏi.

– “Là huyện đưa lên tỉnh, tỉnh đưa lên Bộ Nội vụ 2. Tới đâu, tôi cũng chỉ có một cách!”

– “Cách gì?” Tôi hỏi.

– “Quì xuống sát đất mà lạy. “Tôi lạy mấy ông. Tôi lạy mấy ông. Tôi không có làm chi hết. Tôi không có biết chi hết. Tôi chỉ bỏ vợ bỏ con đi với con bồ mà thôi. Tôi lạy mấy ông!”

– “Tui nó tin anh không?” Tôi hỏi.

– “Tin chớ! Nhưng phải hơn một năm sau mới tin. Thấy tôi cứ một mực “không biết chi hết”, nên tụi nó cũng phải “xác minh lại”.

– “Xác minh cái gì?”

– “Cũng may! Trước đó, tôi biết địa chỉ con nhỏ ở Trà Vinh. Tôi biết địa chỉ thằng cha ba Tầu già lấy nó ở Chợ Lớn. Tôi khai ra cho chúng nó xác minh. Xác minh xong thì chúng nó chỉ hỏi quá trình mà không đánh nữa.”

– “Tụi nó biết anh bị bắt oan không?”

– “Tội vượt biên thì không oan, nhưng tội làm tay sai cho “Xịa đế quốc Mỹ” thì oan.”

– “Oan thì cho về! Mấy năm thì về?”

– “Bảy năm mới về đó ông “thầy”. Oan mà dzậy đó. Không oan thì chắc “mút mùa Lệ Thủy” luôn. Nhưng cái tôi hận không phải chỗ tụi nó nghi tôi.

– “Nghĩa là sao?” Tôi hỏi.

– “Tụi nó có quyền nghi, có quyền bắt. Nhưng oan mà giam lâu quá nên khi tôi về, thì vợ tôi đi lấy chồng khác, con tôi bị gởi về ở với bà nội nó. Phải chi thấy oan, tụi nó cho tôi về sớm thì gia đình tôi không đến nỗi tan nát như dzầy.”

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 14 Dec 2023

Bài 16

Chùa tỵ nạn

“Hương sầu khói lạnh nằm ngơ ngác
Vách chắn đêm sương đứng dãi dầu”
(Hàn Mặc Tử – Chùa hoang)

Gọi cho đúng thì phải nói là chùa của người tỵ nạn, của người Việt, dĩ nhiên, và một số không ít người Tầu, và cả người Miên. Tôi không thấy người Lào mấy năm ở trong các trại tỵ nạn Mã Lai, nói chung. Còn như Phật, Chúa thì sợ chi Dziệt Cộng mà phải tỵ nạn!

Ngày tôi tới trại tỵ nạn Poulau Bidong, chùa Phật trên đồi tôn giáo không biết có thầy nào không, dù là thầy cúng, thầy chùa hay thầy tu. Tôi không đi chùa nên không rõ.

Hôm thầy Thích Nguyên Đạt vượt biên Bidong, chờ làm thủ tục nhập trại ở phòng SB, thái độ của anh Nguyễn Dương Hảo làm tôi cảm động. Anh là người đặc biệt tôn kính người tu hành, dù thầy Nguyên Đạt là một nhà tu hành đạo Phật, còn kỹ sư Hảo là người theo đạo Thiên Chúa.

Tôn kính người tu hành có lẽ là đặc điểm của người Huế.

Đoàn người tỵ nạn thuộc ghe mang số MC 504, từ bên Task Force chuyển qua. Tất cả đều ngồi bệt trên cái sàn gỗ trước phòng SB. Sàn có mái che.

Nhân viên SB thì ngồi trên những cái băng dài, đối diện với người tỵ nạn. Thầy Nguyên Đạt mặc áo tu mầu nâu, gồi chung trong đám người tỵ nạn ấy. Cái áo nâu của Thầy gây xúc động cho tôi không ít. Tôi đi chùa từ nhỏ. Hình ảnh sư cụ, các sư bá, sư thúc và các chú tiểu, chú điệu chùa Phật Lồi (1) với những chiếc áo nâu cũ, bạc mầu, có miếng vá không tiệp mầu ở cùi chõ đã in đậm vào nơi sâu thẳm tâm hồn tôi. Cái áo ấy biểu tượng cho sự nghèo khó, khổ hạnh của các bậc chân tu, biểu tượng cho đời sống đạo hạnh. Mầu nâu cũng là mầu dân tộc, của người nông dân Việt Nam, của miền trồng lúa nước. Cày, cấy, gieo, gặt khi nào người nông dân Viêt Nam cũng chỉ có chiếc áo nâu trên người. Trong ý nghĩa màu sắc như thế, khó phủ nhận tính cách đạo pháp và dân tộc là một.

Thấy cảnh Thầy ngồi chung với mọi người như vậy,

Hảo nói với tôi:

– “Anh nói với trưởng phòng mời thầy vô trong phòng ngồi đi. Để thầy ngồi chung với họ, tôi thấy tội nghiệp cho thầy quá!

Tôi vốn không “gần gủi” với trưởng hay phó phòng nên tôi nói lại ý của Hảo với ông Cao Dai là người quen thân. Cựu thiếu tá Cao Dai nghe lời tôi vội vã đi tìm ông cựu thiếu tá Trần Đình Khánh. Rồi cũng chẳng có việc chi xảy ra cả.

Chờ hơi lâu, tôi nói với Hảo:

– “Thôi để chờ Khối Xã Hội đến phát đồ xong, mình sẽ mời thầy vô trong kia.

Một lúc thì có mấy em trai và gái làm việc ở Khối Xã Hội đến phát quần áo, khăn, giép và muỗng đũa… cho đồng bào. Trong số nầy có Mai Ly, quê ở Quận 10, bạn với các con tôi khi cô ta còn ở Saigon. Tôi nói với cô ấy:

– “Con hỏi kỹ giùm vị sư đang ngồi kia, xem Thầy cần gì phát riêng cho Thầy. Quần áo tây chắc Thầy không dùng được đâu!”

Cô gái tới hỏi thăm thầy, rất cung kính. Lát sau, nó đến nói với tôi:

– “Thưa bác! Thầy bảo cứ phát cho thầy như mọi người. Thầy hỏi ở đây có chùa không. Thầy xin lên chùa ở.”

Vì vậy nên sau đó, khi khai báo xong, ông Cao Dai dẫn Thầy lên chùa Phật trên đồi tôn giáo.

Phong thái của thầy rất tự nhiên, nhẹ nhàng, thanh thản, dù Thầy vừa vượt qua một chặng đường vượt biên nhiều gian khổ và nguy hiểm, mệt nhọc. Tác phong Thầy đúng là của người tu hành đáng kính, mặc dầu Thầy còn trẻ, cũng chưa tới bốn mươi.

Thầy Nguyên Đạt đến đảo sau ngày “đóng cửa đảo” (cut off date) nên Thầy cũng phải chờ thanh lọc như mọi người. Tuy nhiên, người ta tin chắc, là ngưòi tu hành, Thầy cũng dễ “đậu” hơn mọi người khác.

Biết mình sẽ chờ đợi lâu mới được định cư, Thầy chăm sóc việc tu, việc chùa kỹ lưỡng hơn các sư tới đảo trước kia, chỉ thời gian ngắn, các thầy đã rời trại tỵ nạn rồi!

Tết, Thầy tổ chức lễ bái như thường lệ, lễ cầu siêu cho những người chết oan trên đường vượt biển và cầu an cho đồng bào đang sinh sống trên đảo, tai qua nạn khỏi, được “đậu” thanh lọc, v.v…

Buổi tối 30 tết, đồng bào đi chùa đông lắm. Con đường giốc lên xuống đồi tôn giáo, người đông nghẹt, khó tìm lối đi dễ dàng. Nhà tôi mua sẵn một ít trái cây, lên cúng ở tượng đài Quán Thế Âm Bồ Tát trước sân chùa, chớ không vào chùa. Tôi vốn không thích những nơi đông đảo. Nhà tôi thì không đi một mình bao giờ.

Khi nhà tôi đặt hoa quả lên trước bàn thờ xong, thắp nhang lạy. Cô ấy vừa cúi xuống lạy, xong, ngó lên bỗng thấy… mất mấy trái táo Tây. Nhà tôi hốt hoảng: “Đứa nào ăn cắp rồi!” Xong, quay qua hỏi tôi: “Anh thấy đứa nào không?” Tôi cười: “Có thấy gì đâu, thằng “mai-no” nào “chớp” nhanh thiệt!” Tôi vừa trả lời, hơi mỉm cười bởi vì thấy cảnh mất cắp trái cây khá buồn cười. Người trong trại đã nói với nhau “Bọn “mai-no” của ông Bill phá lắm.” Ông Bill là ông cao ủy đặc trách coi sóc những đứa bé vượt biên mà không có cha mẹ hay thân nhân đi cùng.

Tôi chợt nhớ tới hơn một chục năm trước, tôi đã xem một bức hí họa trong báo Phong Hóa Ngày Nay đã cũ, xuất bản trước năm 1945, ở nhà giáo sư Lê Hữu Mục, khi tôi tới thăm hai ông bà thầy giáo cũ của tôi. Tranh vẽ một bà vừa cúi xuống lạy, miệng niệm “Nam mô Quán Thế Âm Bồ…” thì vừa ngửng lên thấy có đứa bé đang ăn cắp trái cây, bà ta vừa niệm tiếp “Bồ… tát” và tiện tay “tát” cho thằng bé một cái đau.

Nhà tôi không thấy đứa bé nào ăn cắp trái cây. Thằng bé nào đó “hành nghề nhanh như chớp”, tôi đứng bên cạnh mà không thấy gì cả. Vã chăng, nếu nhà tôi có kịp thấy thằng bé ăn cắp, chưa chắc nhà tôi có thể “Bồ… tát” thằng bé một “tát” tai như trong tranh hí họa.

Qua hè năm sau, nhân dịp lễ Phật Đản, Thầy Nguyên

Đạt dự trù tổ chức rước tượng Phật quanh đảo, qua từng khu A, B, C, D…Tới đâu làm lễ tới đó, cầu cho đồng bào vượt khó khăn khi thanh lọc. Đồng bào ai biết thì hoan hô dự tính của Thầy.

Tôi không mấy khi đi chùa nên không biết việc nầy. Không hiểu tại sao Nguyễn Dương Hảo biết dự tính

của thầy, nói lại cho tôi hay.

Tôi nói:

– “Điều nầy sẽ gặp trở ngại đây. Ông Kỳ trưởng Khối Vệ Sinh mới cho tôi hay, Cao Ủy Liên Hợp Quốc vừa cấp cho trại hai trăm ngàn đô-la để sửa chữa và xây mới thêm các nhà vệ sinh cho các khu. Ông Kỳ cũng nói rằng vì ngân khoản không đủ, nên thay vì hệ thống ống dẫn phân từ các nhà vệ sinh ra ngoài biển phải đi chìm dưới đất, thì phải chạy ngang qua đầu người, đặc biệt ở Khu C, gần đồi tôn giáo. Rước tượng Phật đi, gặp những ống cống đó, làm sao qua được. Không lý đi lòn dưới ống?

Việc đó, Hảo có trình bày lại với Thầy Nguyên Đạt. Khối Vệ Sinh cũng cho Thầy biết như thế. Hệ thống nầy hoàn tất sớm vì ông kỹ sư người Anh được Liên Hợp Quốc thuê thực hiện công trình nầy, muốn xong việc sớm, trước ngày lễ Phật Đản, để ông ta về lại nước Anh.

Cuối cùng, dự tính của Thầy không thực hiện được vì lý do hệ thống nước dẫn phân mới hoàn thành như tôi nói ở trên. Ai ai cũng tiếc.

Tuy nhiên, năm sau nữa, khi Thầy thanh lọc xong, được chuyển qua trại Sungei Beshi trên đất liền Mã Lai, nhờ địa thế khu vực chùa ở đây rộng rãi hơn, thầy Nguyên Đạt tổ chức một lễ Phật Đản thiệt lớn, dựng nhiều cảnh trí đẹp đẽ và lộng lẫy. Gần tới ngày lễ, tình cờ đi ngang chùa, thấy cảnh trang hoàng đẹp đẽ đó, lại có cảnh dàn dựng 7 bông sen, và

đài dựng tượng Phật Thích Ca Đản sanh, tôi phải dừng lại xem một lúc lâu, rồi vào chùa tìm Thầy hỏi thăm, tán dương công đức của Thầy và tỏ lòng ngưỡng mộ của tôi.

Buổi thăm hỏi thật vui vẻ, cởi mở, nhờ đó giữa tôi và Thầy gần gũi hơn, tôi hợp tác với Thầy vài việc, tôi sẽ nói ở phần sau.

Bấy giờ có một Thầy ở Úc qua thăm trại tỵ nạn. Thầy xin tạm trú ở một ngôi chùa nào đó ở thủ đô Kuala Lampur, vì chính quyền Mã Lai không cho Thầy ở lại đêm trong trại.

Mỗi ngày, buổi sáng Thầy vào trại, làm lễ ở bàn thờ Phật, giảng kinh sách hay sinh hoạt với Phật tử. Chiều, Thầy trở về chùa ở thủ đô. Đường từ thủ đô vào trại khá xa, khoảng 10km, mỗi ngày hai lần thầy cuốc bộ đi về, không đi xe hơi hay xe gắn máy của ai hết. Thầy lại đi chân đất, đường nhựa nóng, nên thầy cứ trên lề cỏ mà đi, khiến ai nấy cũng ngưỡng mộ công đức của Thầy.

Thầy Nguyên Đạt dành cho Thầy những tiện nghi cần thiết, chỗ lễ Phật, phòng sinh hoạt với Phật tử… Không có điều gì làm cho Thầy không vừa lòng.

Thế nhưng rồi một hôm cả trại náo động lên vì hành động của Thầy. Chùa nầy là chùa chung cho người tỵ nạn Việt và Tầu, thờ Phật. Nhưng có một nhân viên thợ điện, phụ trách hệ thống điện của trại. Ông nầy cũng “cường quyền”, đem tài liệu quảng cáo về bà sư Thanh Hải phổ biến trong trại. Chẳng ai phản đối, ai muốn theo bà Thanh Hải thì cứ theo. Bên cạnh đó, anh chàng thợ điện, thường tự xưng là kỹ sư nầy, đem một tượng ông Quan Công vào chùa, thờ chung với chư Phật trên bàn thờ.

Hôm Thầy ở thủ đô vào, thấy tượng ông Quan Công, bèn nói: “Ông nầy không phải là Phật.” Bèn nắm tượng ông Quan Công quẳng ra sân. Sân ximăng cứng đụng với tượng Quan Công bằng đất sét trắng, làm tượng vỡ tan tành. Chẳng thấy ông Quan Công hiện lên la mắng hay làm gì ông Thầy tu cả. Có lẽ ông Thầy tu có “phép Phật nhiệm mầu”, cao cường hơn.

Nhưng một số Phật tử người Tầu và anh chàng thợ điện Mã Lai gốc Tầu phản ứng mạnh lắm. Họ vận động với chính quyền Mã Lai không cho Thầy vào trại nữa. Thầy rời trại chẳng có một lời từ biệt, đưa tiễn, thật đáng buồn!

Thật ra, người Trung Hoa thường hay thờ ông Quan Công trong nhà.

Thiên Địa hội là một hội kín bên Tầu, do người Tầu dựng nên để chống lại nhà Mãn Thanh hồi cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, mục đích lật đổ nhà Thanh, gốc là người Mãn Châu.

Vì là một hội kín, sợ quan quân nhà Mãn Thanh phát giác bỏ tù nên họ có một cái giao ước để nhận nhau bằng việc thờ ông Quan Công trong nhà. Bên cạnh đó, Quan Vân Trường là một nhân vật nổi tiếng trong truyện Tam Quốc, coi trọng tín nghĩa và trung với vua (Lưu Bị). Ở Việt Nam, tại một vài nơi như ở Chợ Lớn, Cần Thơ, Sóc Trăng, người Tầu cũng có thờ ông Quan Công trong chùa hay tại nhà riêng.

Người Việt Nam, tuy ngưỡng mộ ông Quan Công nhưng không thờ ông ta trong chùa bao giờ.

Hôm ghé chùa thăm Thầy Nguyên Đạt, nói chuyện với Thầy chuyện tượng ông Quan Công bị đập vỡ, Thầy chỉ nói: “Thầy ấy nóng quá.”

Cũng một hôm, tôi ghé chùa thăm Thầy thì Thầy cho biết rằng thượng tọa Quảng Ba ở bên Úc mới ghé chùa thăm đồng bào tỵ nạn.

Bấy giờ ở Việt Nam, nhân dịp “ôông” Đôn Hậu qua đời, đồng bào Phật tử xôn xao về việc Dziệt Cộng tạo ra vụ “Chúc thư giả” để bác bỏ việc “ôông” Đôn Hậu để di chúc, trao lại cái chức Viện Trưởng viện Hóa Đạo cho “ôông” Huyền Quang.

Dziệt Cộng ngăn cản, đàn áp đồng bào ở Huế biểu tình chống hành động gian trá nầy. Thầy Nguyên Đạt đưa cho tôi các tài liệu vụ chúc thư giả nầy, do Thầy Quảng Ba đem từ Úc qua. Tôi với Thầy bàn bạc với nhau, thấy rằng tài liệu nầy từ trong nước gởi lén ra hải ngoại, khá chính xác. Phần đông đồng bào Việt Nam không biết hành vi gian trá nầy của Dziệt Cộng, nên Thầy và tôi bàn nhau tìm cách phổ biến rộng rãi cho đồng bào ở ngoài nầy biết, để đừng mắc mưu Dziệt Cộng.

Bàn bạc xong rồi, tôi ôm mớ tài liệu về đọc, tìm hiểu, và viết một loạt khoảng gần 10 bài với nội dung như trên. Sau đó, Thầy Quảng Ba từ Úc gởi qua trại thêm nhiều tài liệu mới, tôi lại tiếp tục viết. Không có computer hay máy chữ, tôi viết tay. Thầy Nguyên Đạt nhờ một vài em Phật tử nào đó đánh máy lại. Xong, gởi cho báo chí Việt ngữ ở Mỹ, ở Canda, ở Úc, ở Pháp và đài phát thanh Chân Trời Mới.

Nhiều hôm đài Chân Trời Mới phát đi những bài tôi viết, Thầy nghe được, thu vô băng, chờ tôi lên thăm, Thầy lại mở ra cho nghe. Thầy có vẻ thích thú lắm, khiến tôi cũng hăng hái viết tiếp nữa, khi có tài liệu từ bên Úc hay trong nước gởi ra, cũng qua ngã Úc.

Kết quả việc làm nầy khá rõ. Mấy “ông” Dziệt Cộng tức tối lắm. Tờ báo Công An “Thành Phố Hồ Chí Minh” đăng một bài phản kích, lên án ba người. Một là Thầy Quảng Ba ở Úc, hai là giáo sư Võ Văn Ái ở Paris và ba là “Tuệ Chương ở Mã Lai.” Bỗng nhiên đứng chung “liên danh” với hai “ông lớn”, tôi cũng thấy khoái lắm và buồn cười nữa. Té ra Dziệt Cộng không biết cái chi hết! Hễ ai chống lại chúng thì chúng cho đi chung một bè cho tiện việc “thả trôi sông”. Khi nào tụi nó làm thinh thì thôi, còn như tụi nó lên tiếng phản bác tức là chúng nó bị chạm nọc đấy! Vui không?

Nhân dịp cao ủy Daeng về Việt Nam, tôi nhờ cô đến thăm các con tôi. Con gái tôi cắt bài báo đó, dấu trong thư bỏ chung phong bì gởi thăm cha mẹ, gởi qua cho tôi. Tôi đem lên chùa cùng đọc với Thầy, hể hả lắm!

Cũng xin nói vô đây chuyện Thầy Lương Minh Chánh được phong linh mục. Nếu không có 30 tháng tư 1975, Thầy Lương Minh Chánh đã được phong linh mục vào tháng 6 năm đó. Chiếm miền Nam xong, Dziệt Cộng áp dụng chính sách đàn áp tôn giáo ngay tức thì, nên việc phong linh mục cho Thầy Chánh bị hoãn lại. Phải 16 năm sau (1991), Thầy Chánh mới đuợc phong linh mục, mà phong ở ngoài lãnh thổ Việt Nam. Khi vượt biên tới Bidong rồi, Thầy liên lạc với giáo hội La Mã. Đức giám mục địa phận Kuala Lampur, thay mặt giáo hội, vào trại Sungei Beshi làm lễ phong chức linh mục cho Thầy Lương Minh Chạy. Lễ phong chức diễn ra uy nghiêm, đồng bào tham dự rất đông, không phân biệt lương giáo.

Người ta vui mừng nghĩ rằng buổi lễ phong chức rất có ý nghĩa, không riêng gì cho Thầy mà cho tất cả đồng bào tỵ nạn. Nó chứng tỏ cho thế giới và Cao Ủy tỵ nạn biết rằng, ở Việt Nam không bao giờ ngưng việc đàn áp chính trị, tôn giáo. Nếu việc đàn áp của chính quyền Dziệt Cộng ở Hà Nội không còn nữa thì làm sao có việc phong chức linh mục cho một người tỵ nạn ở trong trại, sau khi phải trốn chạy khỏi quê hương mình.

Tuy nhiên, sự kiện nầy chẳng có mảy may tác động vào Cao ủy Tỵ Nạn hay việc thanh lọc. Việc thanh lọc càng ngày càng khó khăn thêm ra, tỷ lệ hỏng thanh lọc ngay càng cao.

Sau hôm anh Dũng tự tử, đồng bào bàn tán xôn xao náo động quá! Ngồi nhà không yên, tôi lên chùa thăm Thầy Nguyên Đạt và thử coi tình hình như thế nào? Té ra hôm đó Thầy đi Kula Lampur.

Ngày hôm qua, Dũng tự tử ngay trước Văn phòng Lực lượng Đặc nhiệm Mã Lai, ngay khi vừa nhận tờ giấy thông báo kết quả. Ra khỏi Văn phòng, Dũng tự tử ngay tức thì tại chỗ. Dũng được đưa đi bệnh viện ở thủ đô Mã Lai. Dũng qua đời ngay trên đường cấp cứu. Hôm nay là lễ thiêu xác Dũng. Thầy Nguyên Đạt đi ra ngoài đó, làm lễ cầu siêu cho Dũng, rồi đem hủ tro cốt của Dũng về chùa, chờ tìm cách gởi về Việt Nam cho bà mẹ.

Tôi ngồi ở chùa, chờ Thầy Nguyên Đạt về. Một lúc Hảo cũng nóng ruột như tôi, lên chùa. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau.

Chúng tôi đang trầm ngâm vì cái chết đột ngột và tức tưởi của Dũng đang đè nặng trên tâm hồn nhiều người trong trại thì một lúc, Hảo nói:

– “Chút nữa Thầy đem cái hủ tro cốt về. Con người to lớn như thế, thiêu xong rồi, chỉ còn nắm tro, chưa đầy cái hủ nhỏ. Phi lý thật!

Tôi nói:

– “Nhiều nhà văn Pháp cho rằng con người là một phi lý. Thượng đế sinh ra con người, cho con ngưòi hứng trãi bao nhiêu đau khổ, rồi buộc phải chết. Người ta không hiểu nỗi cái mục đích của tạo hóa.”

– “Anh Hải có nghĩ rằng mọi sự ở đời nầy chỉ là hazard cả không?”

– “Sao “ông” nói trúng ý tui vậy? Nếu Hồ Chí Minh

không đi Tây, không ở bên đó mà theo đảng Cộng Sản, không biến thành tay sai cho Đệ tam Quốc tế, thì nước mình đâu có cuộc chiến tranh dài 30 năm, và bọn mình ngồi… ở đây?! Tất cả chỉ là một chuỗi tình cờ, hazard của lịch sử.

Nếu Chúa, Phật có khả năng cứu người thật sự thì ông Hoàng Vũ không phải làm câu thơ mà hỏi “Chúa, Phật ngài đang ngự cõi nào?” Chúa bị đóng đinh, Chúa còn chưa cứu được Chúa, nói chi cứu ai. Ông Tất Đạt Đa có thoát khỏi sinh, lão bệnh tử đâu?!”

Hảo nói:

– “Anh không nghĩ có số phận sao? Mỗi người hay mỗi dân tộc đều có số phận cả chứ?”

– “Số phận chỉ là một cách nói, một sự an ủi. Từ ngàn xưa, ông cha chúng ta đã tin như vậy. “Cái quay búng sẵn trên trời, Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm!” Chúng ta chỉ là người đi trong đêm tối, đêm tối của đời chớ không phải đêm tối của trời, mò mẫn mà đi tới đâu hay đó. Cái gì mình chuẩn bị, sắp đặt ra, có khi đạt được, có khi không, tất cả đều do tình cờ. Thượng đế cho cái gì, Chúa cho cái gì, hay chỉ là con người gây ra cho nhau, đem đến cho nhau cả thôi, không do Chúa, Phật hay ai cả.”

– “Anh bảo Chúa không cho, Phật không cho là không đúng. Ông địa còn cho nữa kia. Mấy tiệm buôn bán, người ta thờ ông địa để ông địa cho mua may bán đắt. Anh nghĩ sao?”

– “Có tín ngưỡng rồi mới có tôn giáo. Xưa, tổ tiên tin lung tung: Thần sấm, thần sét, thần mưa, thần gió. Tin ông địa cũng là sự thường. Gặp ngày buôn may bán đắt, ông địa được cúng thêm nãi chuối. Gặp ngày ế, ông địa cũng bị trách oán vậy. Tui không bàn tới tín ngưỡng, tôn giáo. Cái ấy dễ động chạm, nhưng ông trời, tạo hóa thì bị người ta trách oán dữ lắm. Người ta gọi ông trời là “lão tặc thiên”, là “hóa nhi”,

tức là thằng bé con. “Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán, chết đuối người trên cạn mà chơi.” (2) Tiếng Mỹ gọi God là chúa, là thần. Nhưng God có phải là chúa Giê Su không thì tui không biết. Khi có chuyện, người Mỹ kêu “O! my God” thì có giống như mình kêu “Trời ơi!” hay không? Trong tiếng Việt, chữ Trời rất phiếm định, nó có nghĩa là ngọc hoàng thượng đế, là tạo hóa. Mấy ông cha đạo đồng hóa Trời của người Việt với đức Chúa Trời của họ là sai. Nhưng dù trời hay tạo hóa, hay đức Chúa Trời đều đáng trách cả. Tui thích nhất là hai câu thơ của Huy Cận:

“Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán,

Khi đã nâng bình sữa ấp lên môi,

Thì hẳn Chúa cũng thẹn thùng hối hận,

Đã sinh ra thân thể con người.” 

Tui nghĩ rằng khi làm mấy câu thơ nầy, Huy Cận tỏ ý muốn chống lại quan điểm thượng đế của Thiên Chúa giáo, hay nói trắng ra là ông ta chống đạo Thiên Chúa cũng vậy.”

Một lúc lâu, Hảo nói, không phải phê phán gì về những điều tôi muốn nói, mà trở lại với cái ý trước:

– “Anh bảo rằng Chúa không cho, Phật không cho thì nhân quả là cái gì?”

– “Từ khởi thủy cho tới bây giờ, nhân loại có nhiều nền văn minh khác nhau. Nhìn một cách tổng quát như văn minh Lưỡng Hà, văn minh Hy La, văn minh Ai Cập, có thể gọi chung là văn minh Địa Trung Hải. Nam Á thì có văn minh Ấn Độ, Đông Á thì có văn minh Trung Hoa. Mỗi nền văn minh đó tạo ra những con người, những bậc siêu việt: Ông Chúa, ông Phật, ông Khổng. Họ là tinh hoa của văn minh đó. Họ tinh lọc cái tinh hoa của nền văn minh đó mà dựng nên các tôn giáo. Rồi các đại tín đồ của họ ghi chép lại những gì họ nói, họ làm mà dựng nên kinh sách, giảng giải, thậm chí cả xuyên tạc cho tín đồ của họ, mục đích là quyền lợi của các đại tín đồ chớ có phải vì vị sáng lập tôn giáo đâu. Cho nên kinh thánh, kinh Phật, kinh Koran, tam sao thất bổn, làm sai cái nguồn gốc những gì Chúa nói, Phật dạy. Tui không phải là người vô thần vì tui là người chống Cộng, nhưng tin và theo các tôn giáo của mấy ông ở Vatican, ở Népal, ở La Mecque thì tôi xin chịu, không tin được. Tui thiếu niềm tin tôn giáo, tôn giáo hiện đại chớ không phải tôn giáo từ nguyên thủy của nó.”

Một lúc sau, tôi nói tiếp:

– “Còn như nói nhân quả, nó không phải là sự sắp đặt của thánh thần. Nó mang tính khoa học đấy, nói rõ hơn là vật lý hay hóa học cũng được. Hễ cái trước như thế, cái nhân như thế thì cái sau phải như thế, tức cái quả như thế. Nếu nói tới tính cách thần quyền, chắc gì đã có nhân quả. Nhân như thế, nhưng nhờ thần linh mà cái quả nó sẽ khác đi.”

– “Tôi thấy anh mâu thuẫn!” Hảo nói.

– “Có thể dzậy! Hễ không có niềm tin tôn giáo, người ta dễ mâu thuẫn với chính mình.” Tôi nói. “Ở đây nè! tại trại tỵ nạn nầy, tui kính trọng Thầy Đạt vì ông là thầy tu, không phải thầy cúng hay thầy chùa. Nhưng “qui y tăng” thì tui xin chịu. Nhiều tăng tầm bậy quá! Ông nhớ ở Huế có câu ca dao “Cóc cóc chiêng chiêng, con gà mô béo để riêng cho thầy.” Đó là nhận xét chung của nhiều người về nhiều người “tu” nên nó mới thành ca dao. “Con sâu làm rầu nồi canh”. Qui y Phật, qui y Pháp thì tui mần được. Qui y tăng thì xin hưởn một chút, cho tui xem lại đã.”

Hảo cười, không nói gì thêm, đồng ý hay không đồng ý với tôi. Một lúc sau, hình như Hảo ngần ngại gì đó, mới nói với tôi:

– “Anh đừng trách tôi. Tôi có cảm tưởng như anh là người vô thần. Anh không tin cái gì hết.”

Tôi cải:

– “Không phải dzậy. Tui nhớ hồi tết đầu năm 1965, tui đi xem phim Spartacus với nhà tui. Tui bị xúc động dữ, không hẵn vì phim hay mà vì đoạn kết, đoạn Kirk Douglas, đóng vai Spartacus bị đóng đinh trên thập tự giá. Hy sinh của Spartacus cao quí lắm, huống gì sự hy sinh của Chúa, cũng bị đóng đinh như vậy. Trước kia, từng học với “xơ” Cần, từng nói chuyện với các cha, tui chưa bao giờ từng có những cảm xúc như vậy về chúa Giê-su, nhưng chỉ một đoạn phim ngắn, tui thấy rõ lòng nhân ái của Chúa. Là một “phật tử truyền thống” tui không thiếu niềm tin nơi ông Phật. Nhưng tui không tin tôn giáo của các vị ấy vì những đại môn đệ của các vị ấy huống gì tin được các ông thầy, ông cha. Cách giảng kinh sách của các ông ấy khiến tui nhiều khi không thể xúc động khi nghe một câu kinh. Tui chỉ thấy lời kinh toàn là những lời kêu than, van vỉ, xin xỏ. Tui không tin mình có thể van vỉ xin xỏ ai được, ngay cả tạo hóa là người sinh ra tui, cho tui sự sống, mặc dù tui vẫn tin rằng tạo hóa nhiệm mầu.

Ông thử nghĩ coi, cái cây vái cối, cái hoa, cái lá, bông đực bông cái, con bướm con ong làm thụ tinh nhị đực nhị cái, mình đã thấy tạo hóa tài tình. Ngay như thân thể mình, bộ máy tuần hoàn, bộ máy tiêu hóa, v.v… đã là quá nhiệm mầu, không thể có cái hazard nào mà có được. Sắp xếp cả đấy. Nhưng tạo hóa sinh ra con vật, con người, cho nó cái bản năng sinh tồn rồi bỏ đấy. Tự nó phải tìm cách sống còn. Loài

vật giết loài vật hay con người giết con người, thậm chí tàn sát giết chóc hàng loạt, tạo hóa cũng không ngó tới. Loài người muốn làm gì với nhau thì làm, có tạo hóa, có ông Phật, ông Chúa nào ngăn cản đâu.”

– “Anh nói vậy thì nhân loại tồn vong hay tự diệt là do tự nó hay sao?” Hảo hỏi.

– “Con người và thiên tai tự hủy diệt con người. Giả tỉ như có chiến tranh nguyên tử tràn lan, nhân loại tự nó diệt vong. Không do Chúa, không do Phật nào cả. Tuy nhiên, ngay cuộc sống hiện tại, tui vẫn thấy sự mầu nhiệm của tạo hóa trong việc cân bằng thiên nhiên. Một con diều hâu cắn cổ con chim chích, thế là mất đi một sự sống, nhưng bên cạnh đó, một sự sống khác hình thành, cũng do tạo hóa mà ra. Chỉ có tạo hóa mới tạo ra sự sống, nên giết người hay xử tử hình là sai. Người ta không thể lấy đi cái mà người ta không cho. Sự sống là do tạo hóa cho.”

Một lúc, thấy Hảo có vẻ không tin lời tôi, nên tôi nói tiếp:

– “Hồi ở trong trại tù cải tạo, mỗi kỳ Noel, lòng tui xao xuyến lắm. Buổi sáng, tập họp ở sân chờ tụi công an gọi đi lao động, đội bên cạnh tôi có nhiều tay còn rất trẻ, thường hát “Đêm đông lạnh lẽo…” hay “Jingle bell”… tui buồn dữ. Không phải buồn vì tôn giáo, nhưng tôn giáo là một phần kỹ niệm của tui. Ở Huế, hễ đêm Noel là tui chở vợ đi chơi, lòng vòng ở các nhà thờ. Tui không vào lạy Chúa, cũng như tui chẳng vào Chùa lạy Phật bao giờ. Ông thấy tui đi chùa thường, nhưng có bao giờ ông thấy tui đứng trước tượng Phật mà lạy không? Không có, Phật tại tâm. Phật là lương tâm của mình, là từ bi hỉ xã cũng trong đó, bác ái cũng trong đó, tu thân cũng trong đó, ăn ngay ở thật, sự chân thật cũng trong đó. Giữ được những thứ ấy trong lòng mình là Phật, tui tin như vậy.”

– “Anh nói trúng ý tôi.” Hảo nói. “Tôi ít đi nhà thờ, ngay khi còn nhỏ cũng vậy, nhưng tôi chọn sự ngay thẳng, chân thật để mà sống với mình, với mọi người.”

– “Chính sự chân thật mới dễ làm cho người ta xúc động. Tui chưa bao giờ xúc động khi nghe một bài cầu kinh, đọc kinh, nhưng nhiều khi tui rất xúc động vì một bài hát. Nhiều khi, như hôm mới tới đảo, nghe bài quốc ca, tui xúc động hơn nghe một bài kinh, một bài gọi là “thánh ca”. Mai kia, tui có chết đi, tui không tiếc nuối gì ở đời nầy hết, bởi vì… khi chết thì tất cả đều hư vô, nhưng chết rồi, không còn nghe được những bài hát hay thì tiếc lắm.

Hảo cười:

– “Tiền bạc của cải không tiếc lại tiếc vì không còn nghe được bài hát hay. Buồn cười anh nầy thật!”

Vãn chiều thì Thầy Nguyên Đạt về, mặt mày đỏ gay, bơ phờ, dáng Thầy mệt nhọc. Mới về chùa, thấy chúng tôi đứng dậy đón chào, sau khi đặt bình tro cốt lên chỗ thờ xong, quay lại chúng tôi, Thầy nói:

– “Hai bữa nay Thầy mệt thiệt! Hôm qua chầu chực gần một ngày ở bệnh viện. Khi họ đem xác Dũng vào phòng lạnh đâu đó rồi, chờ bữa nay thiêu, Thầy mới về. Bữa nay thì suốt từ sáng tới giờ, mọi việc đâu đó xong xuôi hết mới về tới đây. Mệt thiệt.”

– “Nhìn thầy cũng biết thầy mệt lắm.” Hảo nói.

– “Công đức vô lượng. Thầy làm vậy là công đức to lắm! Cha mẹ Dũng không có ở đây!” Tôi nói.

Thầy xin lỗi đi tắm rửa một chút, hẹn chúng tôi cùng ăn cơm tối cùng Thầy.

Sau khi Thầy đi vào trong. Tôi và Hảo ngồi chờ. Tôi nói đùa với Hảo:

– “Mệt nhưng mà thầy chịu lắm! chịu lắm!” (3)

Hảo cự nự tôi:

– “Anh thì thôi!”

Một lúc Thầy ra. Cơm được dọn tới. Thầy cùng anh

em chúng tôi ngồi ăn. Đang ăn, tôi nói:

– “Lâu lắm, tui mới ăn chay, ngon ghê!”

– “Tôi cũng vậy. Người Huế hay cúng chay. Khi nào đi ăn kỵ ở nhà bà con thì được ăn chay.” Hảo nói.

Tôi hỏi:

– “Ông không sợ?”

– “Sợ gì?” Hảo hỏi.

– “Bên đạo cấm ăn đồ cúng ma!” Tôi nói.

– “Tôi là đạo dòng. Mấy người mới theo mới giữ luật kỹ. Từ nhỏ, đi lễ nhà thờ thì đi, ăn giỗ thì tôi cũng cứ ăn. Đi ăn kỵ ở nhà bà con, người ta mời, không ăn sao được? Ở Huế, người ta có bà con bên đạo, bà con bên ngoại lung tung, không bỏ bà con ông bà được.”

Tôi cười, đọc đùa câu ca dao Huế:

“Cây bồ đề, lá bồ đề,

Đạo lấy ngoại có hề chi không?

Cây bình tinh, lá bình tinh,

Đạo lấy ngoại đọc kinh khó lòng.”

Nghe đọc, Thầy Nguyên Đạt nói:

– “Cây bồ đề tượng trưng cho bên Phật, Thầy hiểu. Bông huệ mới tượng trưng cho bên đạo, chớ thầy có nghe nói cây bình tinh đâu?”

– “Trong ca dao, đó là thể ví. Lấy chữ (bình) tinh để nói qua chữ (đọc) kinh. Thầy nói làm tui nhớ “liên danh Bông Huệ” là của mấy ông bên đạo. Bên Phật thì “liên danh Hoa Sen.” Tôn giáo đi vào chính trị là phiền lắm!”

Hảo nói:

– “Đem thần quyền vào thế quyền là lỗi thời.”

– “Cũng do hoàn cảnh đất nước cả thôi. Mấy ông cha, mấy ông giám mục Tây dựa vào thực dân Pháp mà truyền đạo, giảng đạo, buộc người ta theo đạo. Phật giáo lép vế nằm im cả trăm năm. Khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, người ta tưởng thời cơ đã tới, bèn muốn nắm chính quyền, đặt ra những thứ “chính phủ thân Phật giáo”, “chính phủ thân Công giáo” là trật lất. Như thế là sai. Sai lầm ghê lắm. Ông Trí Quang đưa ông bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn làm thị trưởng Đà Nẵng thì có khác bao nhiêu với việc ông Ngô Đình Thục chọn bộ trưởng, tỉnh trưởng hồi trước.”

– “Tại sao bác Hải nói sai, nghĩa là sao?” Thầy Nguyên Đạt hỏi.

– “Một tôn giáo mạnh là mạnh ở quần chúng, không mạnh ở chỗ cầm quyền hay không cầm quyền. Đạo Phật mạnh là vì đạo Phật ở trong dân tộc. Dân tộc sùng tín đạo Phật thì đạo Phật mạnh. Một chính phủ vì dân thì phải biết điều đó, mới gọi là chính phủ của dân, vì dân. Tây có cai trị một trăm năm, Việt Cộng có cai trị năm, bảy chục năm đi nữa, khi mà nó không phải là chính phủ của dân, vì dân thì cuối cùng cũng bị sụp đổ. Dân tộc lại trở về với dân tộc, với đạo pháp. Đạo Phật lúc đó mạnh lên. Một chính phủ dân chủ thực sự không ngó ngàng tới dân tộc, tới đạo pháp cũng không được, vì đó là trách nhiệm, là bổn phận của họ, của một chính phủ của dân. Nếu các Thầy thấy như vậy thì các Thầy nên củng cố đạo Phật, tu cho ra tu, củng cố cái tinh thần đạo pháp trong dân chúng, không cần phải đưa người của mình vào chính phủ, nắm chức nầy chức kia, để làm gì? Con người ta, giữ cái địa vị của mình là trước mắt. Khi cho họ cái ghế rồi, người ta lo giữ cái ghế hơn là giữ đạo pháp. Có thể tui đa nghi. Tui ưa chủ nghĩa hoài nghi của Anatole France. “Tất cả mọi việc thiện đều vì lòng ích kỷ…” Tui nhớ Thầy có nói câu đó của Larochefoucault rồi mà!” Tôi nói, một hơi dài. Thầy Nguyên Đạt, nghe nhắc tới câu ông nói, chỉ cười.

Một lúc, Thầy nói:

– “Bác Hải nói nghe cũng được. Thầy thì ít hoài nghi ai bởi Thầy đi tu từ khi 9 tuổi, nên Thầy rất tin ở lòng chân thật của mọi người, dù ai xấu, Thầy mặc họ.”

– “Thầy đi tu từ 9 tuổi. Tu được vậy là Thầy giỏi lắm.” Hảo tán tụng Thầy.

– “Tui hỏi tình thiệt. Có khi nào Thầy bị hay muốn “chệch hướng” một chút không?” Tôi nói.

– “Không đâu! Từ nhỏ Thầy đã quen, cứ một con đường tu mà đi, toàn tâm, toàn ý. Thầy không nghĩ khác đi bao giờ.”

– “Vậy là Thầy có căn tu. Tui thì chịu. Tui hay có cái ý thức phản kháng, dù tiêu cực. Để tui kể chuyện nầy cho Thầy nghe. Năm tui mười bảy, mười tám tuổi, tui làm précepteur ở nhà một người bà con. Làm précepteur là ăn, ở nhà chủ. Người ta cho cơm ăn để đi học. Tối lại dạy kèm cho con chủ nhà. Nhà bà con ăn chay một tháng hai ngày, rằm và mùng một. Tui có cái kỳ, hễ ngày nào ăn chay, nếu có tiền thì tui ghé lại tiệm bún bò Mai Lợi, gần nhà, bên cạnh vườn hoa Đông Ba, đớp một tô ba đồng. Tui có thèm bún bò hay thèm ăn mặn đâu, nhưng tui ưng làm “hư” vậy. Phản kháng ăn chay bằng cách ăn mặn!

– “Tự vì anh cho rằng “ăn mặn nói ngay, ăn chay nói láo chớ gì.” Hảo cười, nói.

Tôi chống chế:

– “Đâu phải. Câu đó chỉ để đã kích những người không thật bụng, đâu phải phỉ báng đạo Phật. Người giả dối thì ở đâu cũng có, ở đâu cũng bị phê phán, riêng gì ăn chay hay theo đạo Phật. Phải không Thầy?”

Thầy Nguyên Đạt cười, vẻ thích thú!

hoànglonghải.


(1)- “Chùa Phật Lồi” ở truông Ái Tử, tỉnh Quảng Trị. Khi hai châu Ô và Rí được giao cho người Việt (1309), người Chàm vùng nầy di cư về phương nam. Cũng như người Việt, họ thờ Phật. Đến khi ra đi, không muốn tượng Phật của họ về tay ngoại tộc, họ bèn chôn xuống cát. Lâu dài về sau, vì gió Nam (gió Lào) thổi mạnh, cát bay đi, tượng Phật lồi lên. Người Việt cũng thờ Phật, bèn lập chùa rước tượng về thờ, gọi nôm na là “Chùa Phật Lồi”.

(2)- “Cung oán ngâm khúc” Nguyễn Gia Thiều.

(3)- Khi còn làm việc ở phòng Phát Triễn Cộng Đồng,

tôi thường kể câu chuyện vui: Có ông thầy chùa dê lắm. Một khuya thầy đòi ngủ với một nữ đệ tử. Sáng hôm sau thức đây, ông thầy chùa nói: “Sáng nay thầy mệt quá!” Nữ đệ tử nói: “Hồi khuya con cản rồi, thầy cứ đòi cho được nên chi thầy mệt.” Thầy chùa trả lời: “Mệt nhưng mà thầy chịu lắm! chịu lắm!”

“Bỏ đi Tám!”

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 13 Dec 2023

Ca dao quê mình vốn có một câu dài thòng hè:

“Sáng mai đi chợ Gò Vấp. Anh mua một xấp vải đem về.

Cho con Hai nó cắt. Con Ba nó may. Con Tư nó đột. Con Năm nó viền. Con Sáu đơm nút, con Bảy vắt khuy.

Anh bước cẳng ra đi, Con Tám nó níu, con Chín nó trì. Ớ Mười ơi! Sao em để vậy còn gì áo anh?”

Thằng bạn nhậu cắc cớ vừa hỏi khó, vừa chọc quê tui: “Sao dân Lục tỉnh Nam Kỳ của ông có tới chín con vợ lận?”

Dân quê tui xưa giờ đâu ai có tới chín con vợ? Nuôi sao nổi? Chẳng qua thằng cha may mắn trong câu ca dao nầy là chủ một hãng may.

Nó bèn hỏi tiếp: “Ðặt tên là để kêu! Sao mấy ổng hổng chịu ‘Hồng, Lan, Mai, Cúc’ gì hết ráo mà kêu thứ không vậy cha nội?”

Chẳng qua là vầy, tui trả lời: “Hồi thời tui mới sanh ra, bậc làm Tía Má thường đặt hai tên cho con mình. Một gọi ở nhà; hai đề trong giấy khai sanh, hộ tịch. Tên trong khai sanh thì đẹp. (Thường là tên người yêu cũ của Tía mình hay người Tía thầm thương trộm nhớ, tình đơn phương vì ‘ẻn’ vẫn ngó lơ).

Còn tên ở nhà, xấu háy, do Má mình, ít chữ hơn Tía mình, đặt như ‘Cu đen’ chẳng hạn để người khuất mặt khuất mày không cà nanh mà bắt con mình đi mất!”

o O o

Quê tui họ ít kêu tên lắm. Tên chỉ xài lúc cúng cơm, tức lúc mình ngỏm củ tỏi để cho thầy tụng đọc. Còn ngoài xã hội, chợ đời, giai tầng xã hội cao thấp khác nhau thì cũng gọi bằng thứ không hè!

Thầy Hai không hẳn là thầy giáo. Chỉ cần có học chút đỉnh làm thông ngôn hoặc thơ ký… là thầy Hai hết ráo.

Chú Ba, là chú chệt và thiếm xẩm có tiệm bán mì, hủ tiếu hay bán hàng xén trong xóm. Ðể giữ khách, chú Ba bán chịu, ghi sổ tất nhiên là dộng thêm tiền lời chút đỉnh. Nhưng bà con mình dễ dãi, hịch hạc coi đó là chuyện nhỏ.  Coi chú Ba, như bà con trong nhà, em của Tía mình, để dễ mua chịu đó mà.

Nhưng xin bà con nhớ đừng thêm chữ Tàu thành chú Ba Tàu nhe! Chú Ba giận lắm, cho dù chú Ba là người Tàu thiệt; chớ hổng phải Tào lao. “Giận là vì ngộ với nị là bà con. Gọi chú Ba Tàu thì mình là người dưng sao? Ðâu có được!”

(Tui e rằng nị muốn tui kêu là chú Ba, là bà con, để be bờ không cho tui ve vãn A Lìn, con gái của nị phải hông? Nị là người phân biệt chủng tộc. Nị chỉ muốn gả A Lìn cho thằng Tửng không hè! Không chịu gả cho người Việt! Vì nó làm biếng lắm! Chỉ khoái ăn nhậu tối ngày! Không lo buôn bán mần ăn gì hết ráo để nuôi con gái và đám cháu ngoại của nị phải không nè?)

Còn anh Tư, là đại ca trong chốn giang hồ đâm thuê chém mướn. Còn anh Năm, chuyên đá cá lăn dưa ở chợ Cầu Ông Lãnh, là đàn em của anh Tư.

Anh Tư, anh Năm thì không thích gì đám thầy chú thứ Sáu. Ðó là đám ‘phú-lít’, giữ trật tự trong chợ. Còn gọi là Sáu Lèo. Lèo (chẳng hạn như trong chữ hứa Lèo) là chuyên đặt chuyện nói dóc, làm khó làm dễ, hù dọa bà con mua gánh bán bưng để kiếm chút cháo. Nên hay bị chúng ghét.

Dựa hơi Sáu Lèo để mần ăn, là anh Bảy Chà, còn gọi là Chà ‘Sét ti’ (Chetty) chuyên thâu tiền hoa chi của chợ; tiện thể cho vay tiền góp. Sáng xuất, chiều thâu. Tiền lời chỉ ‘xanh xít đít đui’ (‘cinq’ thành ‘six’; ‘dix’ thành douze) chỉ 20% thôi. Nhưng đó là cho vay cắt cổ, ăn lời cắt họng vì tính ra một tháng tới 600% vốn bỏ ra.

Riêng cái đám đông nhứt trong chợ đời là đám dân ngu khu đen, vác mướn, chạy xe ba gác, đạp xích lô là thằng Tám tay làm hàm nhai, có đồng nào xào đồng nấy.

o O o

Cũng cái vụ thằng Tám. Vì có cái giai thoại rằng: Sau 1954, hiệp định Genève đình chiến, chia đôi đất nước. Cả triệu đồng bào miền Bắc xuống tàu há mồm của Mỹ di cư vào Nam. Một nhóm trong Nam, từng tham gia kháng chiến 9 năm, xuống tàu Ba Lan tập kết ra Bắc.

Riêng ông Sơn Nam từ quê nhà, miệt rừng U Minh thượng lên Sài Gòn kiếm sống. Mẫu thân ông từ dưới quê lặn lội lên để coi ‘thằng Tám’ chết sống ra sao?

“Mầy lên đây làm gì để sống?”

“Viết văn!”

Bà già hỏi lại: “Viết văn là làm gì? Viết văn có sống được không?”

Ông Sơn Nam trả lời (chắc để cho mẫu thân của mình an tâm): “Viết một giờ bằng người ta đạp xích lô cả ngày!”

Tui kể cái giai thoại ngồ ngộ nầy cho bà con nghe chơi. Thì có có một ông nội đọc xong chỉ gởi cho tui hai chữ: “Chú Tám?”

Thú thiệt, tui không biết nhà văn Sơn Nam có phải thứ Tám hay không? Dù hồi xưa, cách đây chừng một thế kỷ, gia đình ở quê có tới 10 đứa con là chuyện rất bình thường.

Tui bèn trả lời là: “Thưa ông Nội! Hồi chút éc, cách đây cũng cỡ 60 năm, ở Cua Ðạo Ngạn, làng Ðạo Thạnh, Mỹ Tho, tui là bạn hàng xóm, sát vách nhà Ðào Thúy Hằng, con gái lớn của nhà văn Sơn Nam, để tui hỏi thử coi sao?

Rồi tui được Mỹ Linh, tên ở nhà của Ðào Thúy Hằng, trả lời tui nguyên văn như vầy: “Thu! Ông bà nội tui có ba người con: Bác Hai tui tên Phạm Minh Trí, kế là ba tui, Phạm Minh Tài mà hộ tịch cho thành Tày, cô Út là Phạm Thị Xuân. Bác Hai học giỏi, có bằng Thành Chung nhưng không được học bổng như ba tui, cô Tư cũng học hết tiểu học. Nhà ở miệt rừng, gói ghém đủ ăn nhưng sống thong dong, không lam lũ”.

Ủa vậy sao? Vậy mà có một nhà phê bình văn học tuốt bên Tây viết, lâu nay tui cứ tưởng thiệt giờ té ra trật chìa hết ráo. Ổng dám phán vầy nè:“Sơn Nam tên thật là Phạm Minh Tài, nhiều tài liệu ghi Tày, có lẽ vì trên khai sinh ghi Phạm Anh Tày. Chữ Tài đúng hơn vì ông có người em tên Trí!”

Phạm Minh Tài chớ Phạm Anh Tài cái gì? Vì anh của nhà văn Sơn Nam là Phạm Minh Trí, chớ hổng phải là em như ông phê bình văn học nầy đoán mò: anh là Tài thì tất phải có em tên Trí. Tài Trí!).

Mấy ông hộ tịch làng hồi xưa chỉ biết chữ quốc ngữ lẹt quẹt nên viết chính tả trật hà rầm hè. Tài thành Tày. Lan (tên một loài hoa) thành Lang (con chó sói).  Hoặc ông Vương Hồng Sển, thực ra là Vương Hồng Thạnh, giấy khai sinh lại ghi nhầm là ‘Sển’.

Ông còn tới luôn bác tài, phán là: “Gia đình là nghiệp chủ khá giả, ông sống tuổi trẻ thong dong.”

Hồ nghi lời nhà phê bình văn nghệ nầy nói, tui bèn lục tìm trong hồi ký của ông Sơn Nam thì:“Tôi chào đời vào năm 1926 ở vùng U-Minh, thuộc huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Nhà ở ấp Giữa, làng Ðông Thái, trên bờ con rạch Thứ Sáu, cong queo, từ giữa rừng chảy ra biển, khoảng 4 kilômét. Xóm tôi hồi đó còn vài mươi gia đình người Khơme. Chung quanh nhà, đầy lau sậy, luôn luôn có muỗi.”

… Ðược đi học ‘College de Can Tho’ là nhờ có học bổng. Dù vậy thân phụ ông phải cầm bộ lư và chân đèn để có tiền sắm quần áo cho ông đi học xa nhà.

Vậy mà nhà phê bình văn nghệ nầy còn ‘ủi’ tới là: “Bút hiệu Sơn Nam là do kỷ niệm người vú nuôi gốc Miên.”

Nhà nghiệp chủ, có của ăn của để nên có vú nuôi?  Cái nầy là người mù sờ voi thiệt rồi. Hồi xưa trong quê, đứa con nào còm cõi, còi cọc vì Má thiếu sữa thường hay nhờ bà hàng xóm cho bú thép. Nhà miệt rừng, đất phèn không thì làm gì giàu để có được chị Vú nuôi bao giờ?

Khi quyển Hương Rừng Cà Mau, tập truyện ngắn được nhà Phù Sa của nhà văn Ngọc Linh xuất bản, Sơn Nam nói: “Tôi gởi một quyển về cho bác Hai tôi, đã khoảng 90 tuổi. Ông không biết chữ Hán, chữ Quốc ngữ gì cả, nhờ đứa cháu ngoại đọc cho nghe. Nghe xong, ổng nói: “Thằng nầy nói dóc, nghe được quá. Nói dóc mà có căn cứ”.

Kết luận mần văn là nói dóc nhưng phải có căn cứ. Thế nên khi viết về tiểu sử của một nhà văn nổi tiếng thì mình cũng làm siêng siêng một chút tra cứu thêm đi nhe. Ðoán mò rồi đoán trật lất thì coi sao đặng nè?

Nhà văn Sơn Nam qua đời vào xế trưa ngày 13, tháng Tám, năm 2008, hưởng thọ 82 tuổi. Nếu ông còn sống, với cái tánh hịch hạc dễ chịu, dễ chơi của dân Lục tỉnh Nam Kỳ, chắc ông sẽ rầy tui: “Ðôi co, nói tới nói lui chi cho mệt vậy hè? Bỏ đi Tám!”

Đoàn Xuân Thu

Anh Ba Râu!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 13 Dec 2023

Anh Ba Râu là bạn cố cựu thuở ly hương rồi tha phương của tui ở cái đất Footscray, Melbourne, Úc Châu nầy đây. Dẫu là dân Nam Kỳ rặt ri, ảnh lại đi bán phở, món ruột của người Bắc để kiếm cơm. Anh phải bán cơm tấm, hủ tiếu mì hay bò vò viên mới đúng chớ?! Sao tréo cẳng ngỗng vậy anh?

Thì ảnh cười hè hè, trả lời: À! Bán phở là nghề cha truyền con nối của con vợ tui. Ông bà nhạc của tui bế nó từ Hải Phòng theo tàu há mồm vào Nam, năm 54. Mới đầu ở Ngã Ba Ông Tạ. Nhưng khu đó toàn là Bắc Kỳ di cư không hè! Ai cũng biết nấu phở. Có người nấu còn ngon hơn mình. Mở tiệm phở ở Ngã Ba ông Tạ ai thèm ăn? Vậy là nhà em mở tiệm phở ở vùng Tân Ðịnh. Dân Tân Ðịnh đa phần làm công chức. Ðời sống trung lưu, có tiền. Sáng ăn hủ tiếu, mì riết ngán; họ đổi qua ăn phở nên mình sống được và sống khỏe!

Còn ông Ngoại tui là điền chủ miệt Cái Bè, Mỹ Tho. Hồi 9 năm (1945-1954), Việt Minh dậy, tụi nó lấy đất điền. Lại còn giết ông Ngoại của tui. Nên Tía Má tui sợ quá phải bỏ nhà cửa; bồng bế anh em tui chạy tuốt lên cái đất Sài Gòn mà tị nạn CS.

Chạy cũng không thoát! Sau 75, CS Bắc Việt vào. Tiệm phở nhà tui nhỏ! Lính của Ðỗ Mười không bắt vô công tư hợp doanh. Nhưng khổ cái là: bữa nay thằng Bí thơ, mai thằng Chủ tịch, mốt thì tới thằng Công an Khu vực tới ăn chực. Rồi đóng góp quỹ bồi dưỡng an ninh tổ quốc, tức bọn Công an. Quỹ dân phòng của bọn Phường đội..

Dân thì mạt. Khách ăn Phở không nhiều như xưa nữa. Bán ế riết. Chịu hết xiết! Tui bàn với con vợ tui sang tiệm phở. Bán nhà luôn cho đám bà con của nó từ ngoài Bắc tràn vô đất Sài Gòn đông như ruồi. Vợ chồng gom đâu được hơn chục cây vàng; bèn bồng bế thằng Tèo, thằng Tí, hai đứa con tui, vượt biển.

Qua tới đây, thằng Tèo, thông minh giống tui, siêng học! Nó học tới Tiến sĩ rồi đi dạy Ðại học Melbourne.

Còn bà xã anh, chuyện chữ nghĩa bả hổng có ham. Bả ham phim tập Hàn quốc! Thằng Tí giống hịt Mẹ, nó nói: “Anh Tèo học đến mặt mày xanh xao vàng võ. Học đến kiếng cận thị dày cui, cả chục độ. Nặng trịch, đeo thiếu điều gãy sóng mũi. Cuối cùng có tiếng mà không có miếng. Lương Giáo sư Ðại học nghe oách thiệt nhưng năm kiếm được 200 ngàn đô Úc là đụng la phông. Chi bằng con theo nghề của Mẹ. Con đi bán phở. Năm con kiếm nửa triệu đô là chuyện nhỏ! Con cần miếng hơn cần tiếng!” (Thiệt cái thằng ở Úc mà nó thực dụng như Mỹ!)

“Cái còn vướng mắc là phải có người coi tủ tiền. Không thể giao trứng cho ác được. Nó ăn cắp ngày vài chục đô thôi là Tía mình cũng chết. Cốc mò cò xơi! Tía ở không đi nhậu làm gì? Mẹ cằn nhằn, cửi nhửi mãi! Nhà như cái địa ngục. Tía cứ bắt Mẹ làm chúa ngục hoài đâu có được! Ra ngồi thu tiền cho con! Con trả cho Tía ngày 100 đô. 9 giờ tối đóng cửa tiệm, nồi súp còn xí quách. Tía rủ bạn già, ai chơi được, đến nhậu thoải mái!”

“Nhưng Tía mầy chỉ biết tiếng Em! Tía đâu biết tiếng Anh.” “Ngồi thâu tiền cần gì biết tiếng Anh! Biết hai tiếng là đủ. Một là ‘ten đô la’ (ten dollars), giá tô phở. Hai là: ‘Thánh kiu’ (thank you). Phẻ re như con bò kéo xe thì Tía còn lo gì?”

Vậy là dòng đời của anh Ba Râu êm đềm trôi chảy như dòng kinh Nhiêu Lộc, Thị Nghè của quê nhà năm cũ. Mỗi tuần một lần, lúc 9 giờ tối, tiệm đóng cửa, có chuyện gì vui, ảnh hú tui đem hai cái lỗ tai ra để nghe ảnh chia vui. Có chuyện gì buồn, anh cũng hú tui đến để trải lòng tâm sự. Tui được nhậu chùa, không tốn tiền nhà! Nên con vợ tui cũng không có càm ràm gì ráo trọi.

Tất cả những ngày vàng son đó đột nhiên rã bèn như vàng mã mắc mưa. Cũng tại con ‘virus’ COVID-19 xuất phát từ Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc bên Tàu mà ra.

Nửa đêm tối thứ Ba, ngày 27, tháng Bảy vừa qua, sau hai tuần cô lập, nội bất xuất ngoại bất nhập, chánh phủ cho tiểu bang Victoria he hé mở cửa ra.

Tối thứ Tư, anh Ba Râu gọi tui ra quán nhậu chơi. Vì hai tuần lễ nằm nhà, ảnh cũng nhớ bạn hiền.

Lúc tui vác cái miệng tới, ảnh đóng cửa quán, tắt bớt đèn, cho đỡ tốn điện. Ảnh bưng ra một thau xí quách bự chà bá. Tui khui chai rượu đỏ giá 10 đô .

Mừng ngày tương ngộ, tui không thấy ảnh cười vui giựt giựt hai hàm râu cá chốt như xưa! Chỉ nghe tiếng ảnh thở than như cọng nhang tàn thắp khuya.

“Cô lập 5 lần rồi và lần nầy không phải là lần cuối đâu!” Nghe ảnh nói, tui cũng buồn trong tấc dạ.

“Tình hình dịch bịnh COVID-19 do biến thể Delta lây lan rất nhanh nầy làm thủ phủ Sydney và Sài Gòn găng lắm! Từ hải ngoại, nghe tiếng kêu cứu khẩn thiết của bà con ở quê nhà đang chông chênh trên bờ vực, đang rơi vào nạn đói như năm 1945! “Anh ráng cứu em!”.

Sức mình thì có hạn! Dẫu là sỏi đá nghe tiếng khóc bi ai như vậy hỏi lòng ai mà không tan chảy?”

“Anh sẽ thấy Sài Gòn sẽ xảy ra biến loạn vào những ngày sắp tới y chang như ngày 30 tháng Tư lúc CS Bắc Việt chiếm được Sài Gòn!”

o O o

Tui bèn hỏi anh Ba Râu nghĩ sao khi hơn cả chục ngàn người Úc biểu tình ở Sydney và Melbourne hôm thứ Bảy rồi để chống lịnh cô lập của chánh phủ tiểu bang.

Anh Ba Râu từ tốn trả lời: “Dân Úc xưa giờ hiền hòa, tuân theo luật pháp. Mấy lần bị cô lập trước, họ đâu có quậy quạng gì đâu? Nhưng cứ cô lập hoài! Chịu hết nổi! Tức nước phải vỡ bờ!”

“Một mặt, tui không ủng hộ việc tụ tập đông người! Vì cả trăm người Úc bị nhiễm ‘virus’ mỗi ngày. Mặt khác, tui cũng hiểu tại sao họ lại tức giận đến thế!

Nếu anh làm ăn cò con như: bán phở, bán hủ tiếu, bán bánh tiêu, bánh bò… bán lắt nhắt, hầm bà lằng xắng cấu làm cần câu cơm thì anh sẽ thông cảm cho họ! Nào là tiền mướn ‘shop’, tiền điện, tiền nước, tiền ga, tiền cáo sồ (Council rate). Tất cả phải chi ra. Mà không thu vô được cắc nào!

Melbourne cứ mở vài tháng lại đóng sập! Rồi mở rồi đóng! Làm nền kinh tế như bị mắc kinh phong. Làm riết, họ bị lâm vào vòng cùng quẫn, sát bên bờ khánh tận. Nghe tin tiểu bang Victoria lại bị cô lập lần thứ 5, những người Mẹ, người Chị đi làm kiếm sữa về cho con, kiếm cơm về cho Má, khóc nức nở trước ống kính truyền hình! Những người Mẹ, người Chị sớm hôm tần tảo đó, họ không có IQ thấp; họ không có ngu như bị một số người chửi bới họ đâu anh! Họ dám tụ tập biểu tình trong lúc dịch bịnh tràn lan là vì họ đã bị ví vào bước đường cùng. Nhìn nét bi thương đó, lòng tui đau xót lắm!

“Còn tiền trợ cấp của chánh phủ cho anh nghỉ ở nhà chơi chi anh?” Tui hỏi. Anh trả lời hơi lớn giọng làm tui giựt mình, thiếu điều té ghế: “Tiền chánh phủ Liên bang trợ cấp chỉ đủ ăn KFC, Hungry Jack’s hay McDonald’s…”

Tui vuốt đuôi cho anh hạ hỏa: “Thế giới sửng sốt nhìn mà không biết Úc đang làm cái giống gì?!” “Tại sao chánh phủ tiểu bang cứ hết đóng rồi mở! Mở rồi đóng! Như mắc bịnh cà lăm vậy?”

“Giờ làm sao mình ra khỏi cánh rừng nầy?”

Anh Ba Râu như một chuyên gia thứ thiệt dù không có bằng cấp gì ráo trả lời như đinh đóng cột: “Chích ngừa! Chích ngừa! Và chích ngừa!” Bằng chích ngừa cứ ầu ơ ví dầu như vầy nước Úc đóng mở cà lăm tới tận sang năm.

Các nước Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha… đã từng bị cô lập như Úc nhưng nhờ dân chích ngừa nhiều nên họ  đã từ từ mở cửa.

Xin quý ông bà Thủ tướng, Thủ hiến của nước Úc nầy đây đừng ngủ mê, ngủ say, ke chảy tùm lum khoé miệng nữa!

Vòng nguyệt quế của giới truyền thông quốc tế trao cho vì thành công trong việc kiểm dịch COVID-19 hồi năm ngoái đã héo rũ hết rồi mấy Cha, mấy Má!

Hoành đao

Hồ Đình Nghiêm
Post by Sơn râu 13 Dec 2023

1.
Khóm, dứa, thơm. Tuy ba nhưng một. Tuỳ vùng mà quen miệng lựa nhặt gọi riêng tên. Hình thù trái cây này xấu tệ, bộ vó chẳng mượt mà. Chúng trốn biệt, chỉ lộ hàng vào mùa hè và khi trời chan lửa, nó biến thành thức ăn cái uống được lắm kẻ ngợi ca.

Ở chợ Râm mọc lên chiếc xe đẩy bốn bánh tự chế, giữ bản quyền sáng tạo không đụng hàng. Xe thùng đóng bằng bốn năm miếng tôn đập dẹp, rộng tám tấc dài thước hai, chứa đủ máy xay, máy ép, máy nghiền chạy bằng bình ắc-quy. Động cơ gầm rú thì xe lảo đảo run theo. Cũng bình thường thôi, cái bắt mắt hơn cả là chủ nhân đứng sát bên luôn tay gọt vỏ, cắt trên bỏ dưới làm sạch sần sùi gai góc cùi lõm rồi thảy khóm dứa thơm vào một cái xô cao nửa thước. Người đàn ông đen đúa, áo xống không lành lặn nhưng đôi tay và con đao của ông phải nói là thuộc hàng cao thủ thượng thừa. Múa, hoa, xoăn xoắt chẳng ngơi nghỉ. Vung ra, chém gọt chỉ ba mươi giây, gọn gàng thành thục hơn cả một cỗ máy, lột bỏ cái sần sùi bên ngoài loại trái cây ngó mất cảm biến thành một hình thù vàng lườm trông xếch-xi gợi mời. Đều tăm tắp, mười như chục. Nuốt nước miếng.

Phụ ông là một cô gái đội chiếc nón lưỡi trai, tóc dài ngang eo thon, má đỏ môi hồng nhậm lẹ thực thi theo lời đòi hỏi của bọn người đang khát khô cổ họng. Thậm nhanh lẹ, chưa hề xẩy ra điều tiếng, việc phục vụ “vừa lòng khách đến vui lòng khách đi” đạt đỉnh điểm, nếu có cuốn sổ vàng thì e khách giang hồ tạt ngang hẳn đã ghi xuống hàng chữ đề cao công trạng, rằng em có là đẹp người đẹp nết chăng? Tay em không nắm cây đao, vậy cũng đủ cho bá tánh an tâm ngó chùng ngó vụng, lê thân đến gần sơ ý cọ quẹt chỗ này chỗ kia. Ruồi bu quanh ngọc thể, ta chỉ muốn đưa tay đuổi chúng đi thôi mà, người đẹp chớ nhăn nhó.

Đó chỉ là hạng gà mờ thích ghẹo nguyệt giỡn hoa. Người nuôi mộng lớn biết trông xa nhìn rộng lại chú mục riêng tới ba, cha, bố, tía của thiếu nữ xuân thì nọ. Người đó có thủ hạ đi theo, một bước không rời. Đợi chiều về, xe bán thơm dứa khóm thu vén quét dọn chuẩn bị rời chợ, người mới sai thuộc hạ đi lại bắn tiếng, cà khịa hỏi han:

– Cả hai lao động không hở tay suốt ngày, vậy chớ mức thu nhập có làm cuộc sống thêm dễ dãi phút nào chăng?

– Hỏi chi vậy? Thì cũng đắp đổi qua ngày. Nghề này sống chỉ một mùa thôi, chưa tính là khi đầu mối họ làm reo không chuyển giao nguồn hàng thì xem như thắt họng.

– Có muốn đổi nghề nhàn hạ mà lợi tức cao chăng? Chủ nhân tôi vẫn đang muốn kết nạp những người như ông.

– Lợi tức cao bao lăm? Có bằng nghề bán vé số dạo thu vào hàng triệu?

– Ôi dào. Họ vu khống ra thế, chớ tin miệng nhà quan. Đảm bảo là lương lậu cao vượt trần. Thử thì biết lời kẻ hèn này ngôn không ngoa.

2.
Lối vào chợ Dột, trước khi gặp cảnh lầy lội thì nơi cao ráo đứng án đầu ngõ có quán bán nước dừa tươi. Trái dừa thì ba miền đều thống nhất một tên gọi, chỉ phân biệt dừa ta khác với dừa Xiêm. Dừa vùng nào ngọt nước, cơm dầy cơm mỏng. Dừa màu xanh lại có nơi vỏ bọc màu nâu kêu bằng dừa lửa. Dừa mọc chốn khô ráo lại có thứ thích đứng nghiêng mình soi bóng bên sông, lả lơi bên bãi biển. Có cây thẳng tắp, có giống uốn thân cong. Leo dừa phải có nghệ thuật hẳn hòi, thường thì muốn bám hai bàn chân vào nên nương nhờ tới một sợi dây đặc biệt ràng quanh thân để khỏi trợt ngã, cứ thế mà lần lên cao. Dừa mọc sum suê từng chùm sai quả y như chuối ra từng buồng. Chúng chẳng lẻ loi như trái vú sữa như trái mãng cầu như trái đu đủ. Nhiều người thích chúng, khiêm nhượng, nguyện chỉ cầu dừa đủ xài. Trước, có môn phái nổi lên, kêu bằng “Đạo Dừa”, chẳng rõ rao giảng truyền bá ra điều gì để thu hút người theo, tuy vậy cũng gây tiếng vang một dạo.

Trong thực đơn thường nhật người miền Nam khi gia công củi lửa nêm nếm vẫn thường có bóng dừa lẩn khuất. Chè nước cốt dừa thì nói làm gì cho má nó khi, thịt kho với nước dừa tươi thì bàn làm chi cho ba sấp nhỏ rịn ứa nước dãi. Cá đem kho tộ cũng đừng quên châm vào chút nước dừa cho sánh đặc lại, ngấm rút khiến thịt ngọt, không tanh. Dừa, rõ là lợi hại hơn anh khóm chị thơm em dứa. Và dừa cũng chỉ đắc địa vào mùa hè, uống ly nước dừa hơn mười uống môi em ngọt. Nước chanh đường chỉ dành cho bọn thiếu địa, học trò nghèo.

Quán hơi bị tươm tất, sạch sẽ. Chỉ riêng một góc khá bừa bộn bầy nhầy là đất dụng võ của một cậu thanh niên luôn tay múa dao trông huê dạng. Ba phần vì nghề nghiệp xúi phải thế nhưng bảy phần e muốn khoe khoang điệu võ dương oai, nhanh một cách cực đoan, xoèn xoẹt. Dao dài lưỡi, thứ dao mà lính Mỹ qua Việt Nam khi đi hành quân thường dùng để phạt cây rừng, khai thông ra lối mòn. Dĩ nhiên, cây dao hôm nay đã bỏ công mài dũa, lưỡi bén ngót, cậu thanh niên nắm dao tay phải, tay trái nhặt quả dừa nguyên trạng lên, quay mòng, liên tu sát phạt, đều tăm tắp, rơi rụng vỏ dày gọn bân chỉ còn cốt lõi tròn nhẵn như sọ nhà sư quốc doanh. Đòn cuối quyết định là chặt phăng đỉnh đầu trái dừa, đưa thành quả ra, khách đón lấy và chỉ cần cắm ống hút bằng nhựa vào cái màn mềm mại vừa bày ra, hút tóp má, thưởng thức chất tươi bổ dưỡng trong khinh khoái, hạ hoả. Thủ pháp gã thi triển không sai chạy một phân ly, chẳng quá mỏng chẳng quá dày. Kinh nghiệm chơi dao phải trên mười năm mới thủ đắc được thứ công phu tựa thế.

Hết hè thì quán bán nước dừa tươi đổi sang chơi món khác. Linh động mùa nào thức đó y như lời dặn của tiền nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm:

“Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao
Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”.

Bán món khác thì tất nhiên đứa múa dao chặt dừa bị thất nghiệp, thôi còn đất dụng võ. Đừng nói là phú quý, mong nhặt ra đôi ba tờ giấy bạc hèn kém e cũng tựa giấc chiêm bao. Giấc ngủ bị thu ngắn bởi lắm ác mộng chực quấy rầy, thức giấc mới phát hiện, ủa hình như hôm qua ta nào đã ăn gì, muốn nạy cơm ở trái dừa khô dằn bụng cũng nào có. Than thở bữa nay thì tắp lự bữa sau có kẻ giỏi chân đến mời mọc, hứa hẹn trao ngay việc làm có mức thu nhập cao. Ôi, huynh đài múa dao thành thục cỡ đó sao lại chịu mai một thủ phận làm đứa gọt dừa để độ nhật? Hãy theo đệ thì chóng gặp hoàng đạo hanh thông, tự làm cách mạng bản thân là vừa, kẻo hối tiếc tuổi xuân sinh bất phùng thời.

3.
Vì tuổi tác, đứa chuyên chặt dừa gọi ông gọt khóm dứa thơm bằng sư huynh. Muốn che dấu thân phận hoặc sắp được giao nhiệm vụ mới, trái khóm mang ngoại hiệu là Trăm Mắt; trong khi sư đệ dừa có hỗn danh Tròn Vo.

Đệ hỏi huynh:

– Em biết anh cũng vừa khăn gói tới đây, nhưng em tin là anh đã có nắm bắt qua tình hình. Chúng ta sẽ lao động chuyện gì, thưa anh?

Khóm ngó dừa:

– Í, tao cũng đang lấn cấn muốn hỏi mi cho ra nhẽ. Bù trất, hơi bị lạ!

Khóm không đi mình ên, người ta hứa sẽ giao việc cho cô con gái rượu vẫn mang tên cúng cơm Nguyễn Thị Mận Đào. Hợp lý quá, gia đình có hai mống, đâu ai nỡ đoạn đành bày cảnh phân ly chia lìa. Dừa đảo mắt sang Đào:

– Thế còn em, có đánh hơi ra chút gì không?

Thiếu nữ tuổi đôi tám tuy quen đứng đầu đường xó chợ phụ cha việc sinh nhai bán nước sinh tố khóm thơm xay, một nắng hai sương là thế nhưng thời tiết khí hậu bụi trần dường như biết nhìn nhượng cô. Da dẻ thịt thà của Đào trắng trẻo mum múp, cái mới lạ. Đó chỉ là sơ khởi ở ngoại hình, riêng dung mạo xem chừng thông minh lanh lợi, tươi tắn khoe sắc như hoa bày bán vào các dịp lễ trọng đại. Ngày tình nhân chẳng hạn, ngày phụ nữ chẳng hạn, vu quy thành hôn chẳng hạn. Mận, Đào là hai loại quả, mỗi thứ ngon miệng vị khác nhau; ôm đồm cả hai lại để nhập thành một thì chắc phải đặc biệt khác thường. Nguyễn Thị Mận Đào trình bày:

– Em xem phim bộ Trung Quốc vẫn thường thấy cảnh rậm rật đánh phèng la chen cài tiếng trống, thu hút đám đông vây lại thành vòng tròn xem hoạt cảnh có hai người thi đấu công phu. Không chừng mà chúng ta được tuyển để làm việc ấy, quảng cáo tiếp thị khuyến mãi cho tập đoàn chuyên bán thuốc Bắc trị tiêu chảy hoặc dược thảo phương Nam trị chứng đái đường. Tía với anh giả bộ múa đao kiếm uýnh nhau loạn xị trong khi em cầm nón đi thu tiền của bá tánh. Mại dô mại dô, trong uống ngoài thoa ngày làm đêm nghỉ.

Dừa ngó vô hạt nút quên cài khuy trước ngực áo bà ba của Đào:

– Vậy mà anh cứ tưởng họ chở mình vào rừng cạo mủ cao su hoặc ngậm ngải tìm trầm, đốn chặt mấy loại gỗ quý. Chỉ mong sao tựu thành ra hình ảnh mà em vừa mô tả, vẽ nên, thì cũng tạm xem là ngồi mát mà ăn bát vàng. Bọn lâm tặc giờ này thằng nào cũng là đại gia.

Giống như một gia đình tiên tiến thì buộc phải giới hạn việc đẻ con, nên vị chủ nhân “tập đoàn bí ẩn” cũng chỉ thu nhận hai nhân viên: Trăm Mắt và Tròn Vo. Đưa lập luận: Thứ nhất, đông đảo chộn rộn thì bà con dị nghị sinh nghi ngờ. Thứ hai, nhiều người thì việc chia tiền trở thành manh múm, lợi tức có thể thua kẻ một mình một ngựa chạy xe ôm. Thứ ba, chỉ hai nhân mạng thì dễ đoàn kết hơn là cấp số một tiểu đội, vì giang hồ từng có câu: Ba người Việt chụm lại là đã thành một phòng thông tin, là một cái chợ bỏ túi. Thứ tư, kịch bản viết ra chỉ dành cho hai nhân vật, cách múa đao cực kỳ đẳng cấp của Trăm Mắt và Tròn Vo thôi, cũng đủ làm sinh động một thước phim, đâu cần thu nhận tới tam nhân đồng hành. Đó là luận về vai nam, riêng diễn viên nữ thì cô Mận Đào sẽ xuất hiện ở phân cảnh đầu, mỹ nhân kế làm xiêu lạc thần hồn một thằng tráo trở tiểu nhân.

Ủa, ở đời mấy ai học được chữ ngờ. Khi khổng khi không mà bọn mình được mời đi đóng phim. Thường thì minh tinh màn bạc hẳn phải le lói hơn bọn diễn hài vô duyên kịch dở trên mấy đài truyền hình phát sóng. Ta phải ngon cơm đẳng cấp hơn bọn chuyên trị mì ăn liền kia.

Cả ba được vào tạm trú trong căn nhà nương thân bên dòng sông nước đen lắm rác thải, khuất lấp. Có vị đóng vai phát ngôn viên cho hay: Vì địa điểm không xa trường quay, tiện cho việc di chuyển. Họ được ăn cơm hộp ngày hai bữa, được cấp phát áo quần lành lặn. Riêng Mận Đào khả ái, con gái ông Trăm Mắt thì được chăm sóc hậu đãi hơn, trao tay một bao phụ kiện đồ lỉnh kỉnh của phái nữ để thoa son đánh phấn gương lược đề huề. Em đang có tháng. Kinh nguyệt hả? Chuyện nhỏ, thò tay vô trong bao đi, cả chục miếng băng vệ sinh nằm trỏng. Ui, sao “chiên diên mần phim” ý tứ và chu đáo quá, để tâm đáp ứng những chuyện nhạy cảm của đờn bà riêng mang. Thế vòng ngực em số mấy? Mai người ta mang xú về cho em mặc. Màu đỏ nhé. Dạ, em xin cảm ơn. Màu đỏ dễ bắt con mắt hơn. Em xài nịch dú kích cỡ A 32 ạ.

Thuỷ chung, ông chủ tịch công ty không xuất hiện, nào hay biết mặt ngang mặt dọc tròn méo ra sao. Có một người kêu bằng “anh đạo diễn” tới gặp gỡ, chỉ đạo, dặn dò: Tuy chỉ là phim ảnh nhưng muốn thành công chúng ta phải làm như thật, bỏ bớt kịch tính. Để đạt hiệu quả cao, chúng tôi sẽ đặt caméra vào trong xe thùng hoặc ở chỗ nào thật khuất. Như thế dòng người vẫn lưu thông bình thường trên đường, trong hàng quán, trong chợ búa. Có hiểu không? Một khi họ phát hiện bị quay lén, mọi chuyện sẽ bị khựng lại, lỗi ấy làm hỏng cả công trình. Là phim hành động nên chúng tôi đã sắm hai cây dao giống như thứ mà hai vị từng sử dụng thành thục, hàng của Thái Lan, rất tốt. Chúng tôi chỉ định ra nhân vật xấu xa phản diện thì hai vị cứ mặc sức mà xông vào chặt chém mạnh tay. Đừng ngại gây thương vong, “nạn nhân” kia đã được mặc áo giáp bảo vệ. Đây, ba phong bì này là tiền ứng trước cho hợp đồng, mỗi phong bao đựng hai triệu. Hồi nào quây xong trường đoạn, chuyển cảnh, chúng tôi sẽ phát lương tiếp. Ô kê? Có ai thắc mắc?

Câm lặng, cả Khóm, Dừa, Đào bận đứng bên gốc sung vừa rụng quả, run tay đếm tiền trên trời rơi xuống.

4.
Bị cáo Nguyễn Thị Mận Đào, 18 tuổi, can tội bán dâm, lừa đảo. Nhân thân xấu lại mang âm mưu đầu độc quan đầu tỉnh. Do ăn năn thành khẩn khai nhận, án tuyên xử được rút ngắn là 40 năm tù khổ sai.

Nguyễn Văn Lé, còn được gọi là Trăm Mắt, 47 tuổi, bố của Mận Đào, say máu chém nạn nhân Trần Tiễn, tổng giám đốc tập đoàn xây dựng Fai Tak liên doanh với Trung quốc tới 13 nhát dao chí mạng dẫn đến tử vong. Một mực vòng vo không nhận tội. Tử hình.

Phan Văn Ngọt còn có tên là Tròn Vo, 22 tuổi cố ý giết người cấp độ một lại ngây ngô “em” đang chú tâm diễn xuất, đao pháp ra chiêu hiểm độc Mãnh Long Đoạt Ngọc. Bị hại là ông Han Su Kim, lãnh đạo tập đoàn người Triều Tiên, đối tác công ty phát triển ngành đường sắt. Do kẻ thủ ác mang chứng bệnh tâm thần hoang tưởng, bị cáo Ngọt chỉ chịu mức án tù chung thân.

Theo lời khai của Mận Đào, do nghiệp vụ cao, lực lượng công an ta đã tranh đấu, loại bỏ những gút thắt, tìm ra phương án hành động hiệu quả, thấu tình đạt lý, lần ra vết trốn chạy của Johny Dao, ngoại hiệu là Killer, Việt kiều, 29 tuổi, còn được kêu là nhà đạo diễn. Johny bất hợp tác, kẻ ác ôn đã tự tử trong trại tạm giam.

Vì nhiệm vụ chóng hoàn tất vượt chỉ tiêu nên đội hình sự đặc trách đã được trung ương thưởng nóng cho mỗi đồng chí 5 triệu đồng. Mặt khác, các đồng chí cao cấp trong tổ trọng án của bộ Công an vừa điều vào đây, phối hợp với chó đặc nhiệm đã dàn trải đội hình săn lùng ở các cửa khẩu, ở nhà ga, bến xe đò cũng như mọi sân bay hòng phăng ra, chận đứng, trói giải, bắt nguội kẻ ẩn mặt chủ mưu ma mãnh khôn ngoan quỷ quyệt, thế lực thù nghịch nhận tiền của CIA mãi lạm dụng danh nghĩa, nguỵ trá sau mặt nạ khúc ruột ngàn dặm thân thương nguyện tiếp tay xây dựng nước nhà, qua đó hòng tìm cơ hội phá rối trị an. Với quyết tâm cao độ, chúng tôi tin rằng sẽ sớm phá án, trả lại sự bình yên cho đất nước phú cường, đời sống nhân dân ấm no, tiếp tục biểu dương xứ sở có văn hoá cao, theo như cách đánh giá của cộng đồng thế giới hằng ngưỡng mộ Việt Nam anh hùng.

Bế mạc.

Phiên toà đếm đủ một tá người có mặt, không kể chủ toạ cùng bồi thẩm đoàn ngồi ghế cao cách ly, phía dưới gồm ba bị cáo là sát thủ, sáu người mặc sắc phục công an, còn lại là một ông già với hai bà đứng tuổi. Họ hành nghề bán nước rau má, chè hột é và gánh cơm bụi ngoài chợ. Họ từng thấy anh chàng bán nước dừa, từng đi ngang xe bán nước khóm thơm xay. Ừa thì nên mò vô coi cho biết chuyện tày đình thế sự đảo điên. Đang quỡn mờ. Bị chính quyền vừa ra lệnh giải toả mặt bằng vệ sinh hè phố, bao nhiêu nồi niêu quang gánh ly tách phụ kiện sinh nhai đã bị họ giải phóng sạch sành sanh, đập phá không khoan nhượng. Chời, có tuổi rồi khiến chậm lụt việc đi đứng, sanh thiệt thòi. Không biết mai này có đoàn làm phim nào chịu khó tuyển ông già bà cả đặng rắp tâm đi ký hợp đồng mần tài tử diễn viên, thí mạng cùi một phen hoạ may cải thiện cuộc sống!

Đối diện căn nhà treo bảng “Toà Án Nhân Dân” có xe bán bò viên đi kèm món đu đủ bò khô chợt phát sinh chộn rộn nhốn nháo. Chị bán hàng nắm cây kéo ở tay chạy quàng xiên giữa đường đuổi theo thằng thanh niên: Bớ bà con ơi giúp cho với. Cướp, cướp… Hắn vừa giật đi bao đựng tiền của tui. Hiệp sĩ đường phố ui, chết tui rồi!… Tổ mẹ mày, đồ ác đức bất nhơn…

Hồ Đình Nghiêm

Hoa Hồng đỏ

Quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 13 Dec 2023

Tôi và Thu là bạn. Thu mạng hoả, tôi mạng thuỷ; ngoài khác biệt ấy còn mắc phải lắm dị biệt khiến thầy bói e dè đưa ra lời kết luận: Mai hậu hai người chẳng thể cùng nhìn về một hướng.

Hai năm, tình bạn dậm chân tại chỗ. Một tiếng yêu nói ra nghe chừng như mưa rơi trên mái nhà chẳng dột. Mưa chỉ làm cây cối vật vã ướt át, mưa tuồng như không rơi thấm lòng người. Bốn năm, đích thân Thu phóng hoả đốt rụi những tàn tích kỷ niệm. Thu lấy chồng, Thu gửi thiệp hồng và kèm theo đôi dòng chữ viết đại để mong tôi hiểu cho vấn nạn “nửa đường đứt gánh”. Thu bảo tôi đừng buồn, hãy chứng tỏ sự cứng cỏi bằng cách tới dự tiệc cưới.

Dĩ nhiên tôi trốn biệt bởi tôi không tìm đâu ra sự can đảm. Tôi thầm cám ơn Thu, bởi dù sao sau bốn năm làm bạn với nhau, vô tình Thu đã cho tôi trải nghiệm qua một tâm cảm lạ lùng và chính nó giúp tôi viết được những trang văn tựa như bị đồng nhập. Nếu có buồn chăng, Thu nỡ lòng nào lấy một anh sĩ quan công an làm chồng.

Điều hệ trọng mà vị thầy bói uy tín kia quên thốt ra đó là con người Thu biểu trưng cho những gì liên hệ tới tính toan, so đo, thực tế trong khi thằng người đi cặp kè bên cô là đứa luôn sống trong mộng ảo, xa vời, dật dờ, không thực. Hắn dại khờ và hắn ngây thơ. Hắn mặc cho hoàn cảnh xô đẩy mà chẳng biết tìm cách đứng lên đối phó. Hắn cắm cúi viết và làm biếng không cãi chính nếu ai đó gọi hắn là nhà văn.

Bốn năm, 1460 ngày, những gì Thu gửi vào lòng tôi được bạch hoá thành 200 trang trong tập truyện đầu tay đã được tùng xẻo kiểm duyệt khi lộ hàng. Sách bày trên kệ, ì xèo chuyện bán mua, ẩm mốc như chính lòng tác giả khi mang nặng đẻ đau. Và đẻ xong, mưa chưa hề ngưng rơi trên hoang tưởng mơ mòng tới cơn nắng đẹp.

Một ngày “đẹp trời” tôi gặp cả hai vợ chồng Thu. Đối diện họ, thứ cắc cớ đầu tiên hiện hữu trong tôi là câu cổ văn “lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó thoát”. Có lẽ vì bộ sắc phục toả hào quang trên người chồng Thu và có thể do tôi đọc báo mạng chuyên mục hình sự họ vẫn thường dùng lời có cánh cho vị sĩ quan lỗi lạc đã từng phá những vụ án hung hiểm giàu tính nghiệp vụ. Khách quan, nhan sắc Thu đang mang đẹp tươi hơn thời làm bạn với tôi. Nói kiểu dân gian là chồng Thu mát tay hơn tôi! Chẳng biết khi mần ăn, ảnh có méo mó nghề nghiệp còng hai tay Thu lên đầu giường để tha hồ làm tình làm tội. Ảnh tuy không đẹp trai con nhà giàu học giỏi, nhưng ảnh cũng chẳng đến nỗi làm hung thần như quần chúng đồn thổi.

Cả hai, họ cương quyết mời tôi cùng đi ăn tối với họ ở một nhà hàng nằm trong địa bàn thuận lợi của vị quan công an. Ảnh tên Trần Chí Công. Thu giới thiệu. Rồi chỉ tay vào tôi: Bạn cũ. Chồng Thu bảo, em chớ dài dòng, anh biết quá mà. Phải chi có cuốn sách trong tay biểu anh ấy ký lưu niệm thì thích nhỉ? Có bao nhiêu phần trăm sự thật tkhi anh viết xuống? Tôi ngó trộm Thu: Hư cấu thôi mà, văn chương chứ đâu phải bảng tự khai kiểm điểm mà tôn trọng sự thật! Tôi nói, tưởng đó là lời từ chối khéo nhưng “đồng chí” Chí Công đã dùng tay xô đẩy tôi vào cái quán đang đông bọn nhậu. Quán ngưng tiếng động trong một sát na khi chúng tôi lộ diện nhưng sau đó, bản chất của dân nhậu là vô tư tới bến, thôi ngước mắt nhìn đểu.

Chồng Thu đi kiểm tra một vòng trong quán và anh ta đứng bắt tay với ai đó, mặt mày giãn nở như đang đón nghe lời chúc tụng đề cao. Lợi dụng không có mặt ảnh tôi ngó Thu đắm đuối. Ngó tóc, ngó lông mày, ngó mắt, ngó mũi, ngó môi, ngó cằm, ngó cổ, ngó ngực và đặt để tia mắt ở đó, chẳng dời đổi. Tôi nghĩ khi Nguyễn Du viết: “Khuôn trăng đầy đặn” là muốn đề cao vẻ đẹp nơi ngực Thuý Kiều, chứ mặt nàng mà dùng compas vẽ một vòng tròn thì chán ngấy. Tôi yêu mặt trái soan của Thu vì ngày ấy chưa chồng, Thu chưa ăn vận kiểu thông thoáng như bây chừ. Đầy đặn nó có vẻ gợi cảm riêng. Khi đã có chồng e cơ thể của con gái chóng phát tiết hơn. Trong mọi chữ, múp là chữ hay ho hơn cả.

Thu rất phóng khoáng để cho tôi mụ mị nghía cái múp kia. Sao rồi? Viết văn có khá không? Không. Tôi trả lời. Vẫn đói kém thường trực. Về điều gì? Về tất cả mọi điều. Có người yêu chưa? Chưa. Thôi, xạo vừa vừa á, hổng có tin đâu. Tôi nắm lấy tay Thu, ướt như bị đổ mồ hôi trộm. Ngón tay có đeo nhẫn hột xoàn và tự dưng tôi nghĩ tới bản tin mới nhất: Phố Tây Phạm Ngũ Lão có cô gái bị chặt lìa bàn tay vì lỡ đeo lắm tư trang. Vợ một ông công an, liệu Thu có an toàn không? Tôi mang chữ hạnh phúc ra hỏi Thu. Cũng tạm, Thu trả lời, ảnh không ghen tuông đâu nhé dù biết chúng ta từng làm bạn. Thấy Thu đọc tập truyện kia, ảnh hỏi em có xúc động không? Thu rút tay về, vén lại tóc. Tôi ngó bờ ngực đang thổn thức kia: Thu có xúc động không? Thu chẳng biết tìm ra câu trả lời, khó nói lắm. Khi nào có điều kiện thuận lợi Thu sẽ cho hay.

Chí Công trở lại bàn. Hai người đã chọn món ăn chưa? Anh thích ăn gì nào? Tôi nói, chẳng mấy khi vào nhà hàng, tuỳ ở anh định đoạt. Chồng bảo vợ: Hay em đi chợ giúp, vì em biết khẩu vị của từng người. Nhớ gọi bia luôn nhé. Vẫn luôn giữ giọng nói nhiều nội lực, chồng Thu nhìn vào mặt tôi: Đời sống anh ra sao? Có đặt ra một lằn mức để tự phấn đấu không? Tôi ngồi rụt cổ: Tôi muốn viết một cuốn tiểu thuyết về tội phạm. Hồi nào anh đi điều tra vụ án mạng nào gay go xin cho tôi được theo cùng thì quý lắm. Ồ, ưa đi thực tế đấy à. Chuyện nhỏ, tôi sẽ liệu cách thu xếp, biết đâu nhờ vào con mắt thọc mạch của nhà văn sẽ khiến tôi tìm thêm dữ kiện để chóng phá án. Khi đánh cờ tướng, người trong cuộc không sáng mắt bằng kẻ vòng tay đứng ngó. Hãy để tôi lưu số điện thoại của anh vào iPhone. Cái tay đứng nói chuyện cùng tôi đằng kia đang vò đầu bức tóc vì chẳng tìm ra manh mối một vụ án mạng có tạo ra hiện trường giả, tiếc là vụ ấy xẩy ra ở quận 7, chẳng nằm trong khu vực bảo vệ trị an của tôi. Ráng đợi, vì theo biểu đồ, cứ trung bình tuần lễ sẽ xẩy ra một vụ giết người. Hai tuần trước, có đôi tình nhân chết mờ ám trong nhà nghỉ ở quận 3, lần theo dấu vết tôi đã bắt kẻ thủ ác chỉ sau bốn hôm. Bữa ăn này xem như là quà thưởng nóng của thượng cấp, chúng ta cứ vô tư phá mồi. Thu nhìn chồng: Sao anh không khoe tiếp chuyến đi Vũng Tàu sắp tới? Ồ, chỉ đi dự buổi liên hoan nhằm đề cao những chiến sĩ có tay nghề cao thôi mà.

Chồng Thu đi hôm thứ bảy thì chủ nhật có tiếng dế kêu trong túi quần tôi. Mở sáng điện thoại di động, Thu đọc lên một địa chỉ nghe xa lạ và nói gọn nhẹ: Đúng ngọ. Ưa không? Sớm mai ảnh trở về rồi. Tôi dùng mật khẩu: Ô-kê, rồi dập máy. Tôi đi uống cà phê, ngồi viết nhăn cuội xuống cuốn vở được hai trang giấy thì gấp nó lại, đút túi quần. Gần trưa, tôi mang xe đi gửi rồi bắt xe ôm tới chốn hẹn hò. Học theo những gì trong phim ảnh từng xem, tôi đứng ở một góc khuất để nhìn ngắm kẻ qua lại trước cái nhà nghỉ kia mà chưa vội vào, tôi thử đánh hơi xem có gì khả nghi, dù gì thì chồng Thu cũng là công an, mức độ an toàn khi vợ ngoại tình không cao cho lắm. Vắng ngắt, tôi hơi phân vân, do đâu mà Thu biết được địa chỉ heo hút này? Tôi bấm số gọi Thu: Lấy phòng chưa? Số mấy? Thu la lên: Trời, đang ở đâu đó? Sốt cả ruột. Số 12.

Tôi băng qua đường, dòm trước ngó sau như kiểu sợ xe đụng rồi đi nhanh vào nhà nghỉ. Còn nhiều phòng trống, tôi lựa số 8, mướn nguyên ngày. Tôi bước vào hành lang nhỏ, mát lạnh tới rợn cảm. Những cánh cửa có gắn số đều đóng chặt, thu cất đằng sau những bí mật im tiếng. Nỗi lo ngại vẫn vơ đang bị sự háo hức đè bẹp, suốt đời tôi chưa hứng qua thứ cảm xúc quái gỡ như này. Tôi tự biện hộ, muốn viết xuống một trang văn về chuyện ăn vụng anh cần phải sống hết mình với thứ cảm giác tội lỗi anh sắp nhập cuộc. Vả lại trong hai đứa chính tôi là kẻ chìu lòn, nghe theo lời bảo ban của cô bạn cũ. Một lần nữa, chính Thu kích thích và trao cho tôi chút phiền muộn khó từ chối.

Bỏ băng qua những con số từ nhỏ tới lớn, tay tôi gõ nhẹ vào cánh cửa có số 12. Ừ, mọi thứ ở đời đều có gắn số nói chi tới số mạng của từng cá nhân. Thu không ngờ có ngày tôi bất đắc chí trở thành nhà văn và ơn Chúa, Thu đã yêu thương những đứa con tinh thần của tôi từng nhào nặn trong dằn vặt lắm buồn đau. Thu hẹn gặp chùng vụng như cách thức nhằm tỏ bày một lời cám ơn sâu đậm.

Cửa mở hé, ánh sáng trong phòng đủ tạo nên một đường viền, như thanh kiếm bén dựng đứng cạnh cửa và rồi nó biến thành đốm sáng cuối đường hầm có uy lực cuốn hút tôi vào. Cửa đóng lại, vặn khoá sau lưng tôi để trước mắt hiện hình một nữ nhân ăn vận có hơi mát mẻ. Chúng ta không có nhiều thời gian đâu. Thu nói và lạ lùng thay cái người mang mạng hoả ấy đã mạnh bạo vật tôi xuống chiếc giường. Thu hôn tôi, như đang bị sốt, người Thu nóng như thân nhiệt của kẻ vừa băng qua sa mạc. Một đôi khi thuỷ sẽ không tài nào chữa cháy, hoả hoạn vẫn thường xẩy ra. Ngay cả dân nhậu muốn uống cốc nước nhằm giải hạn cũng vô phương. Thuỷ tinh thắng Hoả tinh chỉ nằm trong truyện cổ nhằm ru ngủ trẻ con cho thét cho muồi.

Tình yêu tôi dành cho Thu đã mất tự ngày xưa. Tôi ôm Thu cuồng nhiệt hôm nay gần như hành động trả thù của đứa có tâm địa thấp kém. Yêu thương và trả thù là hai mặt của cái mang tên hạnh phúc. Dịu dàng và vũ bão vốn luôn khác nhau mà xem chừng Thu rất thích đón nhận sự năng nổ trả thù của đứa mang tâm phẫn hận. Chẳng biết hoả đã dịu chưa những hòn than luôn âm ỉ, nhưng thuỷ, phải tới lúc nó tưới cạn kiệt những giọt nước cuối. Tôi nằm thở gấp trên gò đồi lũng thấp nghe đê mê tiếng vọng dội cơn địa chấn lẫn trốn dưới bình nguyên mượt mà thơm thảo. Một người đàn bà có chồng, họ biết cách nắm tay bạn đi qua những cảnh giới lạ thường.

Ngày ấy, Thu có một linh cảm. Thu nói khi vuốt tóc tôi. Rằng thế nào chúng ta cũng có khi gặp lại nhau trong thứ khung cảnh y như vầy. Linh cảm hay giác quan của Thu ít khi sai trật, Thu từng nghi ngờ và đã từng bắt gặp cảnh chồng mình đi “giao lưu tình cảm” với một đồng chí nữ công an. Họ rất ngán Thu, bởi nếu làm Thu giận lên, đoạn phim Thu ghi trong điện thoại sẽ phát tán và họ sẽ bị kỷ luật. Vì sao Thu biết cái nhà nghỉ vắng tẻ này, vì đây là nơi chốn hai đứa ấy từng dùng để bù khú vui vầy. Hồi nào linh cảm hối thúc, chúng ta lại tìm tới đây để bù đắp những thất thoát.

Theo lời khai của M. 28 tuổi, công nhân xí nghiệp hàng tiêu dùng Thắng Lợi, người thuê phòng ở chung với L. 30 tuổi, thì sáng đó L. kêu đau bụng, nằm nhà không đi làm. Tan việc, M. ghé chợ, về nhà lúc 7 giờ 15 tối, mở cửa và phát hiện L. chết trần truồng. Khám nghiệm tử thi cho biết L. chết vì ngạt thở, có vết bầm ở cổ và âm đạo bị xâm hại. Mất khoảng vào ban trưa. Đồ dùng, dụng cụ tư trang cá nhân không bị lục lọi, ngay cả chăn giường cũng chẳng có dấu vết xáo trộn. Khi M. mở cửa, khoá phòng không bị cạy phá. Chí Công thôi nói, anh ta hỏi tôi có sẵn thuốc lá không và rồi chúng tôi cùng đốt khói. Cà phê vơi nửa ly, trong khi cốc nước cam của Thu vẫn còn nguyên. Tôi vừa nhận được tiền nhuận bút về cái truyện ngắn đề cao những phu phen lao động của sở vệ sinh thành phố. Muốn kiếm chút tiền tôi phải viết sai sự thật về cảnh đời cùng khổ kia và tôi mang tiền ấy ra nhằm khao đãi hai vợ chồng Thu xuất cà phê bụi. Tôi dùng chữ bụi vì thực sự những người quét đường chẳng bao giờ đủ sức làm sạch trong cái thành phố lắm rác thải này. Chuyện giữ gìn môi sinh chẳng tài nào hoàn thiện khi mà theo báo cáo của công an cứ trung bình một tuần thì có một vụ án mạng xẩy ra. Cướp bóc ngoài đường thì không tài nào đếm xuể bởi xã hội này vốn luôn bất ổn. Tôi và Thu đã làm tình ba lần, nói kiểu chí công vô tư chúng tôi cũng nên liệt vào thành phần có hơi bị tử tế. Bằng chứng Thu vẫn còn đeo chiếc nhẫn hột xoàn và bàn tay đếm đủ năm ngón chưa suy suyển thiếu hụt một vài.

Chí Công bảo là đang lấy lời khai của M. về những người liên hệ với L. Theo đánh giá sơ khởi chúng tôi không loại trừ khả năng M. có nhúng tay vô cái chết của cô bạn chung phòng, việc cô đi làm là muốn tạo ra chứng cớ ngoại phạm. Hồi nào xét thấy thuận lợi tôi sẽ dắt anh tới nhìn ngắm hiện trường. Mà này, cớ sao anh lại ưa viết tiểu thuyết án mạng hình sự các thứ? Tôi trộm nhìn Thu, tại vì tôi muốn trắc nghiệm xem khả năng tưởng tượng của tôi đến ngang đâu. Anh hiểu cho, đề tài ấy rất dễ thu hút người đọc. Chồng Thu dụt điếu thuốc xuống đất, tôi sẽ giúp anh bằng cách thuật lại trình tự điều tra của tổ chuyên án. Vậy nhé, chúng tôi bận chút việc phải đi đây. Vợ tôi rất nản khi nghe ba cái chuyện máu me liên quan tới công việc của tôi. Sao, em uống hết cốc nước rồi lên đường.

Bản thảo cuốn tiểu thuyết kiểu trinh thám đen chưa đặt tựa của tôi viết được 300 trang thì bế tắc, một nửa tôi muốn gã cảnh sát bị gài bẫy và nửa kia tôi muốn gã đối đầu sự thật khi vén được bức màn tội phạm. Tôi uống nhiều cà phê hơn, tôi hút thuốc nhiều hơn và tôi mất ngủ khi lấy đêm làm ngày. Và ngày thì oi ả, lắm tiếng động kèm theo cả triệu lý do làm tôi không tài nào ngủ xuống. Vừa kéo hết màn ngăn ánh sáng, đang co quắp cố ru giấc điệp bằng cách đếm số thì chuông điện thoại ré thảng thốt. 12 giờ, chỗ cũ, ảnh vừa đi học khoá bồi dưỡng nghiệp vụ. Đừng chậm trễ. Thương.

Mới 10 giờ, tôi quyết định đi tắm một phát cho lại thần hồn. Trong chương 5 xấp bản thảo kia, tôi viết ra một cảnh làm tình giữa hai nhân vật mà đọc xong, tôi vẫn chưa hài lòng. E sẵn đây nên mang lại cho Thu duyệt để xem cô có bổ sung vào thứ tâm lý thất thường của nhân vật nữ nọ. Đúng hẹn, tôi lọt vào được mật khu. Tôi đưa xấp giấy ra nhưng Thu ném nó xuống đất: Thơ văn ích gì cho buổi ấy! Nó không hề là thứ ưu tiên cần giải quyết. Giống như kịch bản được định sẵn, hoả vật thuỷ xuống giường và hai thứ biểu tượng cho sự xung khắc kia đã biến thành âm dương hoà hợp. Trần như nhộng và cơ thể có được sự giao lưu bảo hoà nên ấm áp, ẩm thấp vừa phải. Thu rên, nhớ quá, hãy giết Thu bằng sự dịu dàng mà anh có. Tôi sắp giết Thu thì cửa phòng bật mở. Một đồng chí nữ công an đứng án ngay độc đạo tay cầm sẵn điện thoại thông minh biết quây video. Hừ, có mà chạy trời cho khỏi nắng.

Thật mất sướng, thật là lôi thôi, thật là rắc rối cuộc đời. May mà Thu đã cất tiếng, dõng dạc xua tan niềm sợ hãi. Có hứng thú để nhập cuộc không? Gì mà phải hô hoán là chạy trời không khỏi nắng. Cô nữ công an ngó cũng nết na thuỳ mị chứ chẳng phải là thứ đầy tớ bặm trợn của nhân dân. Tham gia à, hẵn để bận khác. Lần này em tới đột xuất chỉ để ký kết hiệp định ngưng bắn, cả hai chúng ta cùng xoá chứng cớ một lần, chẳng ai mắc nợ ai. Chị có đồng ý không nào? Thu ngồi dậy, vẫn thách thức bầu ngực trần chả cần che đậy. Đến nước này thì đành phải dĩ hoà vi quý thôi, nhưng mà đã là chị em bạn gái với nhau tôi hỏi thực là cô và chồng tôi lén lút làm chuyện ấy được bao lần? Cô nữ công an đặt để ánh mắt đầy tính nghiệp vụ lên người tôi. Chỉ mới có bốn bận thôi mà. Vậy thì hoá ra tôi đành chịu thua lỗ một lần đến hẹn lại lên. Thu nói, giọng chở chút tiếc nuối. Lỗi tại chị chủ quan, thiếu gì chỗ lại vác xác tới khu vực tôi chuyên lùng sục, với tư cách là công an tôi có quyền mở tất cả những cánh cửa trong nhà nghỉ này một cách êm thắm. Bận khác có muốn vụng trộm thì tìm chốn khác nhớ. Tôi không nói cho ảnh biết đâu, cho được công bằng khỏi bắt đúng người đúng tội.

Tôi đứng dậy mặc lại áo quần, hổ ngươi vì súng ống xuội lơ chả ra thể thống gì. Nếu viết xong cuốn tiểu thuyết kia tôi hứa sẽ không bỏ sót câu nói kinh điển của một vị tướng ngành công an: Ngay cả những nước tiến bộ trên thế giới cũng phải cúi đầu ngã nón chào thua ngành công an chúng ta về tính nghiệp vụ cao, phá án cực giỏi, siêu an toàn, thậm mau lẹ, giảm cảnh đổ máu gây bức xúc.

Xuống đường gọi xe ôm, nắng trưa Sài Gòn vẫn chung tình làm người ta đổ mồ hôi hột. Hú vía, không có nước mắt để sôi. Nắng chan hoà, bức bối mọi ngõ ngách.

Hồ Đình Nghiêm

Hạnh phúc

Hồ Đình Nghiêm

quanvan.net

Post on 9 May 2022

Post by6 Sơn râu 13 Dec 2023

Tôi dắt xe ra sân.
Vợ hỏi: Anh đi đâu?
Đội mũ bảo hiểm vào đầu, tôi nói ngắn gọn: Cà-phê.
Hạnh ngó quần cụt tôi mặc, áo thun bèo nhèo tôi diện, cô không hỏi han thêm. Hạnh đóng cửa, rồi vợ tôi sẽ ngồi đâu mặt với cái TV xịn và xem cho hết bộ phim tình cảm của Hàn quốc. Cô sẽ lộn hồn lộn vía theo từng số phận của mỗi một nhân vật thiếu vắng nụ cười trong khi đợi tôi về. Tôi đồ thế.

Máy xe nổ tiếng dòn dã mang tôi đến nhà thằng Hậu. Hắn để sẵn cho tôi bộ áo quần tử tế, có nghĩa là đã qua khâu giặt ủi tươm tất. Thay đổi xiêm y trong khi nghe Hậu càm ràm: Đù má, xem thử mày diễn tuồng được bao lâu. Tôi cười: Như phim bộ nhiều tập vậy, còn khuya mới vãn tuồng. Mày mở mắt nhưng nhớ là ngậm miệng lại. Tôi đợi tiếng chửi quen miệng nhưng nó đã thuộc bài: ngậm câm. Vợ tôi sẽ chẳng được xơ múi gì khi muốn thu lượm tin tức vì Hậu dễ thương ở chỗ: Không thấy không nghe không biết. Nếu có mở miệng hắn sẽ nói ra sáu chữ khuôn vàng thước ngọc ấy. Rất được việc, rất đáng tin cẩn. Nếu có thứ tòa án lương tâm mang ra luận tội thì tôi thuộc diện tù chung thân, còn hắn chí ít cũng mười năm vì tòng phạm, che dấu giúp đỡ kẻ tội đồ. Hắn luôn miệng đù má và tôi thương giọng điệu ấy hết sức.

Hậu sống mình ên, là con chim từng bị thương nên giờ này sợ thấy cung tên, không ưa dính tới chữ phu thê. Hắn bị ngoại tình, vợ bỏ theo giai. Giai làm trưởng phòng, cùng cơ quan với thị. Hai đứa hiện sống nghêng ngang bên quận 5. Hậu từng nhậu say, gói dao vào báo Thanh Niên định bụng thù này phải trả nhưng tôi can ngăn. Mẹ mày, ấy là hạ sách! Nông nổi, thiếu lí trí. Quân tử mười năm trả thù chưa muộn. Hắn nghe lời, cất dao vào lại sau bếp, và ca cẩm: Tao không biết dao đằng nhà mày sắc bén cỡ nào, coi chừng có ngày mày ôm đầu máu. Tao nói trước, gõ, cửa không mở đâu. Tôi giả bộ nhăn nhó: Bạn bè, chơi kiểu gì kì khôi vậy cha nội?

Cửa mở. Tôi ngó quanh trước khi dắt xe vào. Tôi ôm Phúc và hai đứa khóa môi nhau bên chiếc xe máy tỏa nhiệt. Ngực Phúc lớn, thông thoáng chẳng có nội y dồn sóng vào người tôi nỗi thèm khát. Phúc xô tôi ra. Yêu đương phải nên theo trình tự của mỗi công đoạn. Như xem phim chính, anh phải đi qua những khúc dạo đầu. Cô dắt tôi vào giường và bộ đồ ăn nói của thằng Hậu bị chà đạp dưới chân Phúc. Bao giờ cũng thế, chúng tôi như tù nhân chết đói chết khát đã bộn tháng ngày, gặp mặt là gặm ngốn ngay. Chủ trương: Thời giờ là vàng bạc. Chậm lụt có khi xôi hỏng bỏng không. Bà chị Phúc dọn hàng ngoài chợ xi-đa về “đúng hẹn nại nên” thì bù trất. Quần áo cứ thế cắp nách, tẩu vi thượng sách.

Phúc nói, anh phải đưa em chút tiền. Bao cao su này là cái cuối cùng. Phúc thích tự tay cô mặc áo mưa cho thằng nhỏ tôi. Có thể là sự cẩn tắc vô ưu. Lo ngại một cách quá đáng. Hoặc cô ưa sờ soạn cái vật mà chốc nữa sẽ đi thăm thú vào người cô, lui tới cho bỏ những ngày cơ cực. Nói tóm, tôi thích tất thảy những cái lẻ tẻ ở Phúc. Thích sự nhiệt tình hưởng ứng, thích động thái mà cô biểu lộ, kể cả tiếng rên la chẳng nên khuếch đại “thưa bà tui ở bụi này”. Vợ tôi khác, Hạnh đè nén tất tần tật và trong đời chưa hề một lần xúi tôi làm chuyện ấy. Hạnh làm biếng ngay cả chuyện lột áo cởi quần. Nhắm mắt quay mặt mặc giông bão đang tới bên lưng, thịnh nộ giáng xuống phủ chụp lấy người.

Tôi đưa hai trăm ngàn cho Phúc để cô mua hộp condom dự trữ và cái quần lót màu đỏ mà tôi lỡ làm đứt giây thun. Một ngày nào đó tụi mình sẽ công khai làm chuyện này dẫu phòng bên có sự hiện diện của bà chị. Nghĩa là sao? Nghĩa là khi chúng ta hợp thức hóa bằng tờ giấy đăng ký kết hôn. Ừ, sẽ có một ngày. Tôi làm bộ mơ mộng trong khi tôi hình dung ra khuôn mặt bà Tâm, chị của Phúc. Chưa già nhưng thường trực nhăn nhó lãnh cảm. Ở góa, chẳng chồng con nên mắc chứng kháu ó tựa như đất hạn hán thiếu mưa trút thấm vào mơn man tươi nhuận. Khô đét, mỏng người tợ mấy ni cô sân si ưa động thủ trong phim bộ võ hiệp Trung quốc. Thí chủ không quay lưng kíp di dời hiện trường thì đừng trách. Đao kiếm vô tình, mỗi khi thoát khỏi vỏ bọc buộc phải nhìn thấy huyết lệ rơi, thí chủ đã nghe qua?

Tôi mặc lại áo quần. Phúc lộ vẻ tiếc nuối nhưng phải chịu tuân theo bước đi của hai kim đồng hồ chuyển động trên đầu giường. Tạm thời chưa tới thời cơ, nên để hắn rời khỏi trước khi bà chị phát hiện hô hoán. Lương lậu công nhân viên nhà nước thiệt không đủ sở hụi để dựng xây một mái ấm gia đình. Ra thuê nhà, sinh con đẻ cái chợ búa cơm nước tự lực cánh sinh đắp đầu này đổi đầu nọ tối lửa tắt đèn chóng mặt chóng mày e phải bốc cứt mà ăn! Eo ôi! Ai đã nói câu này nghe thậm chí lý: “Khi cứt bán được tiền, những người nghèo sẽ không có lỗ đít!” Chí lý và đắng cay. Chua xót và minh bạch. Sự thật và trơ tráo.

Tôi trở về nhà, nguyên vẹn, áo thun quần cụt. Những hao hụt trong tôi thì Hạnh sẽ không tài nào nhìn thấy. Phim đã hết, Hạnh đã tắm táp chuẩn bị đi ngơi. Về trễ thế? Cà phê, một ngày uống cả chục bận cũng chưa đủ sao! Vợ phán, chỉ phê bình mà không kiểm điểm. Tôi kiểm tra cửa nẻo đóng khóa trước sau, lui góc bếp đứng bên lu nước dội qua dăm gáo cho sạch sẽ mát mẻ. Những con loăng quăng trong lu sẽ biến thành muỗi, bay vo ve chuyên trị hút máu; những con tinh trùng tôi ra sức bắn vào cửa mình Hạnh mãi chết tiệt chẳng tượng hình một thai nhi. Anh tôi bảo, chúng mày dắt nhau đi khám xem thử lỗi phải ra sao. Vợ tôi lớn tiếng, chuyện nhỏ chớ quan hoài, có con thêm gây thảm họa, cứ vô tư thoải mái như vầy, vui được ngày nào hay ngày đó, tới bệnh viện xét nghiệm không chừng lòi ra một đống bịnh ác hiểm lại phải rước thêm sầu não. Tiền đâu trang trải chuyện thuốc men! Trả lời khơi khơi như vậy mà ông anh phương xa của tôi động lòng trắc ẩn qua đường truyền dây viễn liên. Bỏ điện thoại xuống hôm nay, hai ba hôm sau có giấy báo lĩnh tiền gửi về từ Mỹ quốc. Sương sương được hai triệu bạc. Cưa nóng hổi chồng triệu mốt vợ chín trăm ngàn tân trang TV màn hình phẳng đầu DVD cao cấp của Nhật bổn chính hiệu con nai vàng.

Chui vào giường, dằn mùng cẩn thận. Bóng tối mù lòa, nhờ nhợ trắng đục cái quần lụa Hạnh mặc đang lòi bắp vế, chẳng biết thứ nào phát quang. Để chứng minh mình không đi ăn vụng, mới uống cà phê hẳn hoi trở về, tôi thò tay âu yếm xoa nắn người Hạnh. Nóng thấy mồ, ôm ấp chi cho đổ mồ hôi! Nè, có nên xin anh Đại chút bổi để tậu một cái máy lạnh cho đỡ vã? Tôi nhích người ra, vắt tay lên trán. Vọng cổ chỉ có sáu câu, xàng xê lui tới một điệp khúc cũng ái ngại, người nghe sẽ ớn thấu cổ. Anh tôi từng báo cáo: Mi tưởng đô la là lá rụng mùa thu sao? Mẹ kiếp, lao động thấy mồ tổ chứ giỡn chơi a. Tao không phải hạng người luôn xem đồng tiền liền khúc ruột, nhưng hãy cho tao chút thời gian, tháng nào cũng chi viện hai ba trăm thì ngay cả bơ sữa cặn bã của đế quốc cũng không có mà xơi. Nhà mình thiệt bất hạnh, phải mà mi có thêm được bốn năm ông anh bà chị ở ta bà thế giới thì tao cũng nhẹ gánh phần nào. Khổ thế! Nghe người ta đồn thổi anh làm trong hãng điện tử lớn ở thung lũng hoa đỏ hoa vàng gì đó, lương lậu khủng, tiền cả ổ nhưng cứu trợ nhân đạo thì cứ xìu xìu ển ển gãi chẳng đã ngứa. Mặt dày mày dạn réo miết e không khéo gây căng thẳng làm đứt mất sợi giây máu mủ huynh đệ. Thằng mù phải nên sợ thằng chột!

Rút kinh nghiệm, lần này réo xin anh Đại tôi đọc thầm vụng địa chỉ nhà thằng Tân cho anh gửi tiền về. Thứ nhất, tôi chẳng muốn vợ tôi đòi “sang cơm xẻ áo”. Thứ hai, tôi đánh đòn quyết liệt, buộc anh Đại phải tin là nhà tôi ở đã bị thần hỏa thiêu rụi một đêm không trăng sao, chừ bơ ngơ báo ngáo dắt díu tới tạm trú nhà người bạn trong khu ổ chuột Bình Thạnh. Tiền tới hai lần, gộp lại đúng ngàn đô cùng hàng chữ viết tháo nơi ô vuông nhắn tin: “Mỗi người có riêng một phần số, mi phải cứng cỏi chống cự. Như vậy, lần sau, nếu có giúp mi chút đỉnh, thì phải đợi thêm bốn tháng, nhớ chưa? Có mang được tư trang áo quần khi cháy nhà không? Gửi lời thăm mụ vợ. Khám nghiệm chưa? Mi tắt ngòi hay vợ khô buồng trứng? Mẹ rượt. Sao khổ thế không biết! Anh mi. John Dai”.

Nghe lời quân sư Tân phán, tôi đưa hắn hai triệu. Hắn đi cà phê net truy cập tin tức, ngồi cà phê bụi hóng chuyện, đọc báo thể thao chuyên mục Euro rồi đi tới một kết luận đinh đóng cột: Pháp thắng Thụy Điển 1-0. Hai triệu tiền cá độ có thể hoạnh tài thu về tám triệu nếu đúng theo dự đoán. Ăn chơi không sợ mưa rơi. Hắn nói. Và mưa rơi, biết đâu chừng làm giải hạn. Đù má, sống ở đời phải đơm ước mơ. Thử tưởng tượng thần tài gõ cửa, nè cầm tám triệu trời ơi đất hỡi mà đốt cho đời chút le lói. Tưởng tượng thôi đã chảy nước miếng! Mày bảy tao ba hay sao?

Trắng đêm, khô cổ họng xót con mắt. Mười một con gà nuốt giây thun ăn nguyên hai hột vịt lộn và tài sản tôi bị mẻ mất hai trăm đô. Thà ngồi trong bóng tối luôn miệng chửi thề còn hơn đốt thắp đốm lửa chóng tàn oan ức tựa thế. Bảo đảm tôi đau đớn hơn toàn thể bọn thực dân Pháp, dứt khoát tôi ủ rủ hơn lá cờ tam tài chết đứng trên tay những cổ động viên. Quân sư Tân bình loạn: binh pháp có câu thắng bại lẽ thường chớ buông lời tuyệt vọng. Mẹ nó, trận tới nhất định phần thắng ắt về ta. Tôi nhổ bãi đờm đắng miệng: dạ thưa không có em lần sau, cho em được nguôi ngoai đào ngũ.

Bình minh, tôi dắt xe êm thắm dựng chân chống trước cửa. Miệng vợ đầy bọt kem đánh răng: Cà phê kiểu gì suốt năm canh vậy tía? Có mèo mỡ gà đồng thì kíp khai mau kẻo cháy nhà. Tôi moi bọc quần đưa Hạnh một triệu: Nè, nhét một cục cho ấm đít. Tiền thắng cá độ bóng đá đấy nhớ. Mẹ cái bọn Thụy Điển xung trận rất hăng và đội tuyển Pháp toe tua cứ y như đánh trận Điện biên phủ ấy. Con bà nó, mèo mỡ gà đồng thì làm chó gì thu về được cả ngần ấy tiền!

Đầu ngày, vợ tôi chưa kịp trang điểm nhưng bất ngờ có tiền lận lưng thì mặt nàng sáng tỏ. Hoa phải nhường và đương nhiên nguyệt sẽ thẹn. Trăng hoa vô tri còn vậy mà bản thân tôi đâu phải dính khuyết tật mù lòa. Tôi lên giọng, chúng nó bảo lần sau cá độ muốn chắc ăn phải nên xả xui, như trước khi đi hành quân lính phải ôm vợ ngủ. Hạnh bảo: Xem, giờ này mặt trời chưa lên, mát mẻ, đi vô đây em cởi quần cho anh xả xui.

Cà phê Trường Túc không mấy đông vì mặt bằng kinh doanh chả có được địa lợi. Theo hẹn, tôi tìm tới chẳng khó, đúng giờ. Phúc ngồi sẵn ở ghế tự hồi nào, khi quay ngó mặt đã úng thủy lệ nhòa. Anh ăn cái giải gì mà học thói lừa gạt gái thơ ngây? Anh có vợ đàng hoàng mà đi man khai độc thân vui tính. Anh rắp tâm phá đời người ta mà bộ tịch kịch cỡm sẽ làm giấy đăng ký vợ chồng… Một tràng tiểu liên AK-47 lia xong phải nạp thêm đạn. Phúc thì không, để ngấc tự động tuôn như sanh như sứa, miệng chẳng liền da có thể phát ngôn từ hoàng hôn nhuộm mực cho tới canh khuya chong đèn. Tôi phải đi mua ly nước mía cho Phúc tạm thời nghỉ mệt, uống khỏi khô hơi thấm giọng hạ hồi phân giải. Tình thế cực kỳ khẩn trương, tôi bị dồn vào vùng cấm địa chẳng dám đưa tay đụng người Phúc sợ tiếng còi ré đòi thổi phạt đền. Nói cho đã, ly nước mía lạnh vơi hơn phân nửa, chủ nhân lại gầm mặt xuống bàn mà thổn thức. Chi tôi nói đúng quá mà, dại khờ như em không khéo mà lủng túi đánh rơi cái ngàn vàng hồi nào chẳng hay. Sao anh ác với tui vậy cà, chúng mình lỡ gây thù hận gì nhau sao?

Tôi chẳng để ý bàn kề cận có hai thằng mặt mày gớm ghiếc vừa xô ghế đứng lên: Cưng có điều gì oan trái mà ca cẩm nghe chạnh lòng. Bọn anh đi lại trên giang hồ thấy cảnh bất bình buộc phải rút đao tương trợ. Ông anh này là kẻ gây nhiễu sự khiến mặt hoa phải nhăn nhàu. Đúng thế chăng? Dạ, ảnh là con ma nhà họ Hứa. Hứa cho cố xác rồi quỵt nợ chạy làng. Ảnh là hạng sở khanh, ảnh qua đường ngắt trộm hoa rồi vày vò trong đôi tay. Ảnh… Thôi được, phàm buộc tội ai ta phải chưng ra tang chứng vật chứng. Cưng chớ dựng chuyện nói chẳng có cơ sở ngọn ngành đầu mình tứ chi. Cái ấy là bài học vỡ lòng của Bao Công.

Phúc moi từ túi quần bò chật chội ra được cái điện thoại di động. Mấy anh xem cho tường, chị em trốn trong tủ lén quây đó. Tuy non tay nghề, chưa đẳng cấp nhưng hình ảnh cũng khá minh bạch, dòm là biết trắng đen.

Tôi đứng chết trân, xuất hạn đầm đìa, nực nội dồn tự muôn phía. Tôi ngó xuống Phúc, thất vọng và tuyệt vọng. Có thể sau vở kịch này cô sẽ tham gia vào đoàn kịch nói Trung ương để làm nghệ sĩ nhân dân có gắn huy chương sao vàng lên ngực khủng. Cô đi bóng siêu việt hơn cả đội tuyển Thụy Điển và suốt đời tôi chẳng tài cán được ngồi ghế dự bị trong đội bóng đá quốc gia Pháp. Tôi thua tả tơi, thua tới độ chẳng có quần để được rách lai cho oai.

Có gì để nói? Một gã mặt sẹo hỏi. Tôi ngậm bồ hòn trong miệng ú ớ. Tạm thời bọn này thay mặt người đẹp thu giữ chiếc xe máy của anh. Gia hạn đúng một tuần, ngay tại địa điểm này, anh phải mang tới mười triệu để đổi cái mô bai phôn thâu đoạn phim đồi trụy.

Anh hiểu luật giang hồ rồi chứ gì? Mọi thứ sẽ giải quyết một cách êm thắm trong thầm lặng. Đừng để vợ anh biết, chớ mở miệng ì xèo với công an. Anh có gì thắc mắc?

Thấy tôi đực mặt. Một đứa ngứa miệng: Ngay cả lời cuối dành cho người đẹp cũng không nốt? Nó há miệng, răng lởm chởm, tay quàng qua vai Phúc. Nếu là tớ, tớ sẽ phát ngôn: Đéo mẹ em!

Phúc cười. Đồng bọn cười. Tiếng cười như ngọn lửa bốc cao. Tôi thực sự là đứa vừa bị cháy nhà, trái tim nám đen, ám khói. Tôi đứng như cột nhà đợi một thời khắc nữa thôi sẽ thành than đổ ập xuống.

Hồ Đình Nghiêm
24 tháng 6. Fête nationale du Québec.