This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Chắc bà con mình ai cũng biết cái máy đo điện tâm đồ. Nhứt là ai lỡ bị bịnh đau tim! Trên màn hình, nó vẽ một cái đồ thị, có những lằn nhảy lên, rồi tuột xuống liên tục. Nó cho biết là tim mình còn đập, là mình còn sống.
Tim còn đập ắt phải còn yêu! Chính vì vậy mấy họa sĩ mới vẽ trái tim yêu tựa máu đào. Dẫu ai cũng biết: “Ðường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn”.
Còn nếu cái lằn của đồ thị đó nó chạy ngang phè, máy kêu tít tít làm bác sĩ chạy quýnh đít, là trái tim hết đập, là mình ngỏm! Ngỏm tất hết yêu; vì có muốn, xụi lơ rồi thì yêu cũng hổng có được!
Cái “tình yêu đồ” cũng giống hịt cái “điện tâm đồ”. Tình yêu đồ cứ chạy ngang phè; tim còn đập, còn sống mà đã hết yêu em rồi… thì nói thiệt nhe, thà chết sướng hơn!
Còn đứa nào bị em đã hết yêu, đá vô đít một cái đau quá là họa sĩ nhà ta đau đớn, vẽ trái tim có mũi tên xuyên qua cái rẹt! Máu nhểu ròng ròng! Ðau lắm nha nhưng chưa có chết!
o O o
Biết rằng yêu là khổ mà không yêu là lỗ. Tui thà chịu khổ chớ không chịu lỗ. Bởi đời người năm tháng, nếu không có tình yêu, tình dục, tù tí để cùng sản xuất “bé bi” thì Thượng đế lấy xương sườn của Adam để tạo ra Eve làm cái giống gì? Thượng đế gởi một cái tin nhắn, trả lời tui như thế này: “Ta tạo ra người nữ để ngươi kính cẩn gọi là vợ, để nhà ngươi biết thế nào là hạnh phúc lúc còn sống độc thân”.
Nghe ông Trời hù như vậy; nhưng tui vẫn ngoan cố, tính yên bề gia thất, đi cưới vợ cho rồi đời son trẻ. Mấy thằng bạn tui có vợ con đùm đề, nghe tin dữ, đều xúm vô cản: “Làm cánh bướm vườn xuân, cứ bay hết bông nầy hoa nọ; thụ phấn xong rồi bay luôn là khỏe! Khỏi trách nhiệm “child support” (nuôi vợ, nuôi con gì ráo). Chớ đừng có ngu như tụi tao, đút đầu vô rồi là hổng còn lỗ chó để chui ra”.
Lễ Tình yêu, Valentine’s Day, Chủ Nhựt, ngày 14, tháng Hai vừa qua, toàn thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, Úc Châu bị ngoại bất nhập, nội bất xuất, bị cô lập 5 ngày vì con COVID-19.
Hổng có ai kêu tui đó, nên tui một mình ngồi buồn, trầm ngâm bên ly rượu đỏ, tui mới lờ mờ hiểu và phát hiện ra rằng: Mấy thằng bạn muốn tui tử thủ, muốn tui độc thân là vì tụi nó; chớ hổng phải thương tưởng, lo lắng gì cho tui đâu! Nó muốn tui lúc nào cũng rảnh, cũng sẵn sàng, cũng “stand back” và “stand by” (lui lại và chờ). Nghĩa là không có vợ con đeo theo, vướng bận tay chân là tui trực chiến 24/7. Tui sẵn sàng hành quân ra quán nhậu khi nghe tụi nó hú. Vì lúc buồn bực do mới gây lộn một trận tưng bừng với em yêu, ông pháo qua bà nã lại, tụi nó móc mobile phone, gọi tui đi nhậu… là bất cứ lúc nào – sáng, trưa, chiều, tối – kể cả nửa khuya về sáng, thiên hạ đang chỏng cẳng ngáy khò khò tui cũng đều “có mặt” hết ráo!
Thú thiệt với bà con, khoái đi nhậu không đồng nghĩa tui là một thằng nát rượu. Tui khoái đi nhậu vì hai lẽ: một là, một mình một thân; tối ngày chỉ nói chuyện với bốn bức tường được đứa bạn nào hú đi nhậu thì thiệt, tui mừng hết lớn. Hai là: không giống mấy anh Mỹ, nhậu phải chia, Úc vẫn còn thói nhậu theo lối Việt Nam mình, ai mời phải móc túi ra mà trả hết. Vậy là để tiết kiệm tiền, nhiều lắm chớ bộ, tui cứ chờ tụi nó kêu. Bằng hổng có ai kêu thì tui rót rượu “cơ hữu” ra, ngồi nhắm nháp một mình; nhứt quyết không gọi ai hết ráo. Chính tui chơi láu cá như vậy nên mấy thằng bạn nhậu đặt cho tui cái nickname là “Trùm Sò”.
Tuy nhiên, dẫu biết tui kẹo kéo, rít, rứt hổng ra như vậy nhưng tiếc tiền hổng gọi tui thì tụi nó biết gọi cho ai? Vì ở Úc nầy, tiền đô đâu phải mọc trên cây, cần xài cứ ra mà lặt? Ai cũng phải cày sâu cuốc bẫm, đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có. Cuối cùng muốn xả hơi cuối tuần vì cày mệt quá muốn kêu ai nhậu chơi mà người nào cũng “Sorry nha! Bả hổng cho tui đi” thì còn nỗi thất vọng nào hơn?
Té ra hai cái lỗ tai tui là cái thùng rác để tụi nó quăng vào đó toàn là rác rưởi của tình ta. Nhưng tui không có “ke” vì thương vụ cho mướn lỗ tai nầy làm ăn cũng khấm khá. Tuần nào cũng có mối hết trơn hè. Và thế là tui cứ độc thân tại chỗ!
Nên mỗi năm, nhân Valentine’s Day, ngày Tình yêu, mấy chiến hữu của tui xúm lại một đám, nâng ly, chúc mừng tui rôm rả: “Lễ Ðộc lập vui nhé”. “Happy Independence Day”, “Keep going!” nhe!
Cuối tuần rồi, thằng Tom làm chung sở, nó rủ tui đi nhậu. Nó tên Tom nhưng không phải Úc đâu mà là Mít mình. Hồi xưa bên nhà nó tên là Tép. Qua đây nó đổi thành Tom (đọc là Tôm) ngon hơn vì con tôm lớn hơn con tép.
Tom quên mua quà kỷ niệm 5 năm tình lận đận, lại đúng vào ngày Valentine’s nữa nên “honey” của nó giận dỗi, đi lên đá con mèo một cái, kêu meo meo; đi xuống đá con chó một cái, kêu gâu gâu! Chịu hết xiết, Tom hỏi: “Honey! Cần bao nhiêu để mua quà?”. Honey đưa tờ giấy “ó đơ” (order), trên đó em phun châu nhả ngọc như vầy: 500 đô để em mua cái xì cớt (skirt), nó giảm giá 50% off rồi đó. Hạn chót là Chúa Nhựt nầy nè!”.
“Eo ơi! Chỉ có một miếng vải để che cái “tam giác” phì nhiêu của em khỏi bị mưa rơi, gió cuốn, mà tốn tới 500 đô! Hết một tuần lương sau thuế của tui rồi. Nếu số tiền đó dành cho hai anh em mình đi nhậu, tới mút chỉ cà tha, mút mùa lệ thủy ít nhứt là cũng được tới 5 lần chớ bộ”. “Tiền chớ đâu phải là giấy vàng bạc. Và tui đâu phải là cái máy in tiền của chánh phủ Úc! Cần cứ việc in ra mà xài! Thế nên tức quá tui vọt, tui gọi bạn hiền mình đối ẩm để bớt sầu tình”.
Tui cũng giả lả, nói cám ơn, rồi bảo: “Bấy lâu nay thấy hai ông bà cũng hạnh phúc! Mấy lần tới chơi, tui thấy chị ấy cũng tiếp đón niềm nở. Ðồ ăn còn dư trong tủ lạnh, thay vì vụt thùng rác, chị ấy đều mang ra thết đãi tui hết ráo mà”.
Thì anh bạn lắc đầu: “Ôi, ông chỉ thấy mặt hồ yên tĩnh chớ đâu biết dưới đáy là biết bao cơn sóng ngầm dữ dội. Ông về rồi là tui nghe “honey” chì chiết nhức đến nhừ cả xương “ức” luôn”: “Sao tối ngày cứ tụ bè tụ đảng ăn nhậu hoài vậy cha nội? Chén không rửa; quần áo không giặt. Ngay cả cây đinh treo hình cưới đôi ta lên cũng không thèm đóng. Làm biếng nhớt thây chỉ có cái nhậu là siêng thôi!”.
Tui nghe, hổng lẽ xúi nó bỏ con chằn lửa này cho rồi! Mà xúi chưa chắc nó nghe, vì bên Úc này đàn bà, con gái hiếm, quý lắm! Bỏ con này chưa chắc kiếm được con khác, ngoại trừ phải bay về Việt Nam hoặc đi Philippines mới có. Nên tui an ủi Tom rằng: “Chén bát úp trong chạn đôi khi còn kêu rổn rảng vì… động đất, huống chi là chuyện vợ chồng ăn đời ở kiếp với nhau chớ! Thôi bỏ đi Tám!”
o O o
Tóm lại, thấy mấy thằng bạn Mít của tui chỉ có một con vợ thôi mà đứa nào cũng khổ quá xá! Cũng đầu bù tóc rối. Ngày cày không đủ; tối ngủ phải cày thêm nên ngẫm thân mình không có vợ, lòng sung sướng biết bao. Ngu gì mà ách giữa đàng lại mang vào cổ!
Rồi tui xin cám ơn cái chánh phủ Úc này đã nghĩ hết cách để cứu bọn đàn ông con trai chúng tôi khỏi một kiếp trâu cày bằng cách cấm đa thê, nhiều vợ. Một con nuôi muốn lòi con mắt! Nhiều con chắc tui chết!
Nhưng ngạc nhiên thay mấy ông giáo sĩ đạo Ða thê (Polygamy) cứ kêu gào thảm thiết: “Chánh phủ ơi! Cho tín đồ của tụi tui cưới thêm vài con vợ bé nữa đi. Theo giáo luật là tụi tui được quyền có tới bốn con vợ lận mà”.
Chánh phủ Úc trả lời là: “Ðúng! Theo giáo luật đạo Polygamy là mấy chú được quyền có tới bốn vợ. Nhưng làm sao mấy chú mày nuôi nổi?”.
“À! Cái vụ nầy là nhiệm vụ của Sở An sinh Xã hội! (Centrelink)”.
Thằng Tám không có cha, ở với một bà già còng lưng nghe nó gọi là Nội. Má mày đâu? Đừng hỏi nó câu đó nếu chẳng ưa nghe nó xỉa xói vào mặt tiếng Đan Mạch. Trong cái xóm qui tụ đủ mọi thành phần ô hợp này chả có ai chửi thề sướng miệng bằng Tám. Bài bản, ngân nga, ngọn ngành, vần điệu, và lê thê. Trên dưới 12, 13 tuổi thôi, nghề nghiệp nó cũng dạn dày tinh tươm đủ ngón. Ông Đán 46 năm tuổi Đảng cũng phải giở nón chào thua, làm cốc rượu đế cùng ông, nghe ông luận chuyện đời khốn nạn, tái mặt máu xong lại đi ca ngợi thằng Tám: Lúc bé, tớ chỉ biết có mỗi việc chăn dắt trâu, ngó trộm chị em trong làng tắm ao tắm suối rồi sáng mắt thành khẩn đi theo cách mạng, có đâu như thằng Tám trăm công nghìn chuyện kia, bươi rác nhé, bán vé số nhé, đi theo bọn sơn đông mãi võ nhé, diệu thủ thư sinh ở bến xe nhé, dắt mối nhé, làm cò nhé, thông thạo tin tức làng trên xóm dưới nhé… Bá thở. Nhà bà Quới có mấy con gà nó biết tỏng, nhà lão Tự có mấy đứa con ở nước ngoài nó tường mười mươi. Địt mẹ, nó mang tên Ngàn, tên Ức, tên Triệu mới đúng chứ lị! Hơn cả ma xó! Nó mà nuôi mộng làm công an thì chúng ta phải chịu chết một cửa tử, hết nhúc nhích.
Hắc ám đen đúa, da mốc thếch. Lăn lộn trường đời tự tấm bé thì không thể có ngoại hình dễ ngó hơn, tuy vậy con Tiếu bán rau ngoài chợ cũng hơi bị cảm tình. Ảnh có hiếu với bà nội lắm nghen, thời nay tui hổng thấy ai được như ảnh, bị cái miệng ba xí ba tú tào lao tầm phào dậy thôi chứ bụng ảnh lành thấy mồ, láo chết. Con Tiếu e cũng ngang trang lứa với Tám, hoặc già hơn đôi ba tuổi, vú đã đơm thành gò đống sau áo bà ba, thuộc diện một nắng hai sương nên khôn nẻ vỏ. Cậy nhờ điều gì chưa hề thấy thằng Tám từ chối. Ừ, có qua có lại mới toại lòng nhau, bánh ít trao đi bánh qui trao lợi. Chấm mút chưa? Vin vào cơ sở nào mà Tám xớn xác: Đù má, phải mà thuê được căn phòng hai đứa tui giả sống thử vợ chồng xem sao. Bà vật, cuộc đời này bầm dập thấy mẹ! Ông Đán động viên tinh thần: Rán chút xíu đi mày, nội mày hom hem gần đất xa trời, đợi ngày bả thác mày hẳn rước con Tiếu về sống chung cho đỡ quạnh quẽ.
Có chiều, cả xóm chộn rộn vì tiếng khóc la, lát sau thằng Tám xuất hiện phản ánh sự tình: Ông Thừa mới bị vợ thiến, hai thằng con được huy động đi lùng sục giúp tía nó mà hổng thấy. Bả dụt khúc dồi ngoài sân. Một là chó tha, hai là lăn xuống mương bị cá lòng tong rỉa mất. Căng quá. Người ta kíp chở ông nhăn nhó đi nhà thương nhưng điệu này đành ôm hận mình ên. Gương vỡ không cách gì lành huống chi đàn ông mà mất đi cái vật ăn nói ấy. Hết lủng lẳng đong đưa, từ nay lạnh ngắt như tờ. Khổ thế!
Nạn nhân mang tên Thừa này cũng có khối chuyện để kể, đó là nghe phong thanh theo miệng lưỡi thằng Tám. Chả làm cho công ty đấu thầu xây dựng, trách nhiệm hữu hạn, cung ứng vật tư hay chuyên gia phá hoại gì đó, một hôm đập nát bức tường căn nhà thuộc diện quy hoạch, có bao ny-lông đựng hai chục cây vàng Kim Thành rớt trước mặt thằng chả. Có thể mấy chục năm trước, cái hồi chính quyền đánh bọn tư bản mại sản, khổ chủ đã lén dấu chôn, ém trong tường mà vì một cớ sự nào đấy đã không thể tìm được cơ hội moi ra. Dĩ nhiên là Thừa láo liên trông trước ngó sau rồi âm thầm thu cất vật hoạnh tài, mang thiên trả địa, nhỏ giọt xé lẻ hưởng thụ cuộc đời. Chả hư đốn từ dạo ấy, cứ lậm bia ôm và phá trinh nhà nghỉ miết, mút mùa lệ thủy cho đến hồi mụ vợ chịu đời không thấu, mất khôn mài con dao thiệt bén lựa giờ hoàng đạo mà xuống tay.
Mụ vợ mặt tỉnh khô trân tráo đứng giao mạng cho công an lôi đi, chí ít cũng 2 năm tù, tội cố ý gây thương tích trầm trọng với người từng chung chăn chiếu sờ soạn. Cả xóm vô tình mà chia hai phe, nửa đá đảo ác phụ, nửa hoan hô bà xồn xồn anh hùng. Nửa hoảng loạn, nửa mừng vui, tựa như chiều dài một con phố mà mưa rơi ướt nhẹp phía bắc lại đổ lửa nắng cực phía nam. Chộn rộn dăm ba bữa thì người đời bắt đầu im re bình luận y như mưa sẽ tạnh nắng sẽ tắt. Họ nhẫn nhục sống để chờ đợi chuyện lạ xẩy ra, làm trò giải trí tiêu khiển. Có đứa ác khẩu nói: Thế nào thằng Tám cũng thịt nội nó giữa đêm khuya thanh vắng, dứt điểm kỳ đà cản mũi để thanh thản mang con Tiếu về làm uyên ương. Vậy mà có kẻ tin chuyện ruồi bu để vô ra khắc khoải chờ đợi đột biến. Ông Đán bảo: Rách việc như vậy thì hết ý kiến, bộ chẳng tìm ra mục tiêu nào để mang ra thư giãn một cách lành mạnh hơn sao? Thời nầy thật lạ, cứ chực nghe người ta gây án để làm mình mừng vui. Loạn quá nhỉ!
Ông Đán chắc sẽ tìm một từ khác vì chữ loạn ấy chẳng nói cụ thể tới điều gì sất. Căn hộ số 56/4b/a7 nằm trong hẻm Thắng Lợi mới tom góp tiền bạc tiễn đứa con út sang Thái-lan làm phẩu thuật chuyển giới. Thằng dở hơi ấy bình thường có bộ đi bẹo hình bẹo dạng mụ bà bắt lộn cho nên nguyện vọng nó mãi mong hiện thực là vào ngày đẹp trời nào biến đổi thân phận thành một bông hoa chân dài cực “hot”. Họ sẽ độn ngực cho nó, sẽ xẻo đi cái bộ phận nam nhi chí khí của nó, sẽ nhồi nắn râu ông nọ cắm cằm bà kia, để tháng sau họ tên nó sẽ lót thêm chữ thị. Một Nguyễn Thị Hoành Tráng.
Thằng Tám lại bép xép mồm miệng: Tui mà như anh Thừa hả? Tranh thủ đút lót cảm tình đặng chạy theo gia đình nọ qua Thái-lan mà xin con chim của “người đẹp” kia. Vất cũng phí, chi bằng gắn bu-gi ấy vào động cơ chết máy của tui. Có ngon cơm hơn xưa? Có phồng mang phổng mũi như cũ? Cái đó hậu tính, trước mắt là nghề nghiệp tui hổng phải thái giám khiến chúng bạn cười bấy lâu. Con Tiếu biểu đồng tình: Ừa, một công hai ba chuyện, sẵn dao kéo sẵn băng bông sẵn kim chỉ thì luôn tay mà khâu vá giúp người ta, sao đành lòng ngó người ta cuối đường tuyệt tự vậy cà!
Hai đứa nó lúc nào nói chuyện cũng có lối tung hứng với nhau, như cầu thủ bóng đá luôn giao banh ăn ý, chơi bật tường hay thọc khe xuống tận vùng cấm địa đều có bài bản. Cái đấy người sành điệu gọi là tâm đầu ý hợp. Rành đời như ông Đán thì lại phán: Láo lếu, bọn bây biết cái đếch gì mà luận chuyện, chúng đào đâu ra cả trăm triệu để làm lộ phí di chuyển, để trang trải phẩu thuật tiền nằm viện mí lị thuốc kháng sinh giảm đau chống nhiễm trùng. Mẹ nó chứ, nhất nhất cử động là phải lòi tiền ra. Tuy chưa rách như cái xơ mướp nhưng lão Thừa cũng ngẫm ra đạo lý mà an phận thủ thường, cam chịu đời vắng tiếng chim. Chẳng biết lão nói gì mà hai thằng con trước thương mẹ nó ngần ấy, giờ thì tuyệt tình chẳng vào trại giam thăm nuôi một phen. Bọn bây chưa ăn cơm tù một lần nên chả tường, phạm nhân đói nhất là mục tình cảm người thân, những tin tức liên hệ tới gia đình, ốm đau việc làm ai còn ai mất, ai theo giai ai bỏ mẹ vân vân và vân vân thảy đều cần thiết cả. Nhìn mặt, nghe tiếng thì thầm giải bày của kẻ đứng ngoài chấn song, đối với bọn tù quý hơn cả thuốc dưỡng sinh. Bởi qua đó, họ héo người mà nuôi giữ chút hy vọng. Này, tao hỏi thật nhé, chúng mày sống thế có đứa nào ấp ủ niềm tin, trông mong chút ửng hồng vào ngày mai? Thôi, cho con xin tía, sống xong ngày nào là giỏi cho ngày đó rồi. Khiếp, đáng nể thật, sao bà nội anh Tám sống dai sống dài sống dở vậy không biết? Sống kiểu 3D. Con Tiếu nói, nói mà như thể thở dài. Thằng Tám ngó thẳng vô cái hạt nút luôn cài chặt trước ngực áo con Tiếu. Khó hiểu à? Nói ăn mắm ăn muối chứ mai này bà nội mất đi thì tui không biết cách sao mà xoay trở. Đổ đồng, một đám ma xơi ngoẻn đi ba bốn triệu, sở hụi đâu mà mang ra chi trả đây? Bỏ đi Tám, vô tư đi anh hai, bộ chưa nghe câu trời sanh voi sanh cỏ hả, hơi sức đâu đi lo bò trắng răng. Bộ khu phố với lại ủy ban nhân dân huyện khoanh tay ngó anh chạy bay tóc trán sao? Đừng bày vẽ ma chay rình rang tốn kém gõ mõ tụng kinh thì đâu lại vào đấy, như bình sinh trước đây chưa từng có mặt một cụ già lưng còng anh Tám gọi bằng Nội. Nội ơi nội hỡi nội về chốn nao? Con Tiếu làm bộ tịch hát hỏng, nó tuy mù chữ nhưng có biệt tài nhìn màn hình hát karaoke không sai một dấu phẩy, cái mới lạ. Cặm cụi lớp tối bổ túc văn hóa cỡ ông Đán mà còn đánh vần sai nên ông một dạ tâm phục khẩu phục con Tiếu. Ông thích chuyện trò với chúng nó bởi lẽ qua cách suy nghĩ của thứ nhãi ranh kia, ông học hỏi được lắm trò. Hồn nhiên, bộc trực, thẳng như ruột ngựa là thứ đức tính mà cả thế hệ ông đều chẳng có được. Người ta dạy ông lươn lẹo dối trá đổi trắng thay đen, a dua xiểm nịnh lọc lừa và thoắt cái ông biến thành đảng viên. Trung với đảng hiếu với dân. Đấy, nghe thế có ngứa cái lỗ tai không chứ! Mẹ rượt! Còn đảng còn mình là cái đếch gì?
Ngày kia, đang lai rai ba sợi nơi quán nhậu heo hút cắm dùi ngoài rìa quốc lộ thì ông Đán nghe tiếng kéo ghế sát bên lưng, giọng người đàn bà gọi chủ quán: Bán tôi tô cháo gà với khúc giò chảo quẩy. Người khách nọ như vừa vượt đèo cao núi cả tới đây, tóc rối, áo quần lấm bụi, phục sức tuềnh toàn, tay chỉ xách cái giỏ nhựa mặt láo liên ngó gần trông xa chốn lạ, thấp thỏm ngồi như có lửa đốt trong bụng. Cháo bưng ra, vừa thổi vừa ăn vừa nhai vừa nuốt cơ hồ nhịn đói đã lâu, tựa cách ăn của kẻ chẳng có mấy thời giờ, ngấu nghiến. Hít hà, lau mồ hôi trán, rồi lại đảo mắt ngó quanh. Dân nhậu đa phần đều rỗi việc, lại chúa tò mò nên nhất nhất động thái của người đàn bà đều rơi vào tầm ngắm của họ. Mụ có chút nhan sắc nếu vặn ngược lại chiều quay của chân bước thời gian. Còn trẻ thì chắc hẳn mụ thuộc loại có da có thịt, người đẫy đà gợi cảm. Gần hoặc đang sáu bó mà thân mụ còn ám chút sắc sảo thuở hoàng kim. Lão Đán nhìn, trí óc lợn cợn tựa bùn non cố gạn đục khơi trong, in tuồng tớ đã gặp qua con mẹ này rồi thì phải? Tạm thời chỉ biết bán tín bán nghi có vậy, chẳng mảy may tin, xác tín đó là cả một sự thật. Bậy quá, tuổi tác và rượu chè làm bào khuyết xâm thực chất xám, hoặc trước đây cứ quen động não mãi để tồn vong nên bây chừ giây nhợ đã hết nhạy, tựa quần xà-lỏn giây thun lỏng, cà trật cà hót nghĩ mãi cứ chưa thông.
Rồi cuộc rượu tàn, lương hưu trí sống đắp đổi đoạn tháng bằng những cơn chếnh choáng đong đầy ảo tưởng. Thà vậy, say sưa chút đỉnh để tạm xa cái thực tại nham nhở này, đồng chí không còn ai, chúng cơ hội vinh thân phì gia ở quận lỵ thành phố đong đầy phồn vinh, huyện bé bỏng nầy chỉ dành cho đứa thất thế. Lão Đán bước về lộ trình cũ, tới xóm thì chất cồn trong máu cũng vừa bốc hơi. Đầu óc thôi nặng nề khi nhìn ra hoạt cảnh đoàn viên, ai đời cái con mẹ húp cháo gà hồi nãy lặn lội đi tìm con mà giọt máu hoang lại chính danh là thằng Tám. Nó nói, đù má, tui đâu có má. Bà lấy tư cách gì làm má tui?
Bà húp cháo gà lay nội thằng Tám, xin má nói vô, giúp con một tiếng, mười mấy năm nay con cứ mãi mang một oan tình khó giải. Trời ạ, sao tới phút giây này lại vướng trái ngang! Nội còng lưng thằng Tám gần đất xa trời nên chẳng thiết việc nhớ quên, buông tôi ra, chuyện đời trầy trụa đã chất quá tải trên lưng tôi rồi, sao trở chứng nhận bà con giòng họ làm chi vậy cho rối tung lên. Phải mà, bị con này trót lầm đường lạc lối mạt kiếp nên chúng khinh khi, giả tui là Việt kiều hồi hộp thì đã khác, đúng không nào? Xum xoe han hỏi không gọi cũng thưa không vâng cũng dạ, cơm dâng nước rót mở quạt đưa khăn. Tám, trong người con có vết lang ben màu đỏ nơi bẹn, nơi dái thì chỉ có một hòn. Đúng không nào? Má đẻ rớt con khi cơ sở bị càn, tổ chức hội ý đặt tên con là Tám để nhớ hôm ấy có 8 đồng chí bị hy sinh.
Thằng Tám đứng chết trân mà con Tiếu cũng ngây người, bả nói đúng quá, mình tưởng chỉ có riêng mình thủ đắc việc nắm giữ bí mật ấy, mình từng mân mê và năm ngón mình đếm tới đếm lui dưới chim ảnh chỉ có độc một hòn. Ảnh làm mặt nghiêm, tinh hoa là ở chỗ ấy đó cưng, hai hòn mà làm chi để thay lòng đổi dạ mèo mả gà đồng, một hòn thì chỉ biết có mình con Tiếu thôi, nghe đặng không? Hai đứa cùng cười bữa đó, trăng lu trên cỏ mượt, gió hiu hiu chỉ tiếc là ngứa mình ngứa mẩy quá xá quà xa, thiệt mất sướng.
Hai má con lần khân một chặp rồi sau rốt xáp vô ôm ấp nhau. Vậy chứ tía tui đâu? Chuyện dài lắm, rảnh rang má sẽ kể ngọn ngành. Trí nhớ lão Đán chợt sáng trong khoảnh khắc. Thảo nào trông khá quen thuộc, con mẹ này có bí danh Hai lẹo, đặc công chuyên cài đặt chất nổ trong các nhà hàng sang trọng có bọn Mỹ ngụy thường lui tới, chuyên gia đắp ụ giật mìn xe đò chạy suốt, phá hỏng cầu đường thành tích đầy mình. Tía thằng Tám? Chà, có họp chi bộ đả thông tư tưởng suốt tuần trong hầm cũng chưa chắc thấy ra ánh sáng. Thị đá lông nheo anh Tư sáng, thị trửng giỡn anh Năm chiều, thị ngồi lọt vào lòng anh Sáu tối, thị hú hí anh Bảy lúc bình minh. Nói chung nếu tổ chức lên tới hai mươi nhân mạng thì đồng chí mang bí danh anh Thập Bát cũng có thể được xơ múi. Trời, thông cảm giùm hoàn cảnh họ, vì lý tưởng cách mạng nên trai tơ phải vác thân đi ngủ bờ ngủ bụi, đêm nằm tơ tưởng bức xúc cái chuyện ấy vô hạn, mà bóng dáng Hai lẹo khỏa thân tắm suối là đại diện cho cả một thế lực siêu khủng, kẻ thù ấy thiệt khó chiến thắng trong trận đấu một còn một mất. Mà nguy hiểm tột cùng là kẻ thù nọ cứ xem ta là bạn, cứ lân la ưa thắt chặt tình hữu nghị, cứ răn đe ta coi chừng môi hở răng lạnh thì không ai mà chịu thấu. Bờ cõi thì phì nhiêu, ta muốn xâm lược chỗ nào cũng chả bị ngầy ngà, thế mới bở hơi tai! Nói có trời chứng giám, a hèm, hình như thuở ấy tớ cũng có rờ rịt chút đỉnh. Nó đói bụng, mình cho nó củ khoai mì, nó vô tư ăn mà mình tranh thủ dùng tay lùng sục hang cùng ngõ hẹp. Giời ạ! Sao kỳ lạ nhẩy, người mình tự khắc nóng ran, phước cho nó có đồng chí giao liên chạy tới, chứ không, có ai lại nhắm mắt bỏ qua thời cơ thuận lợi ấy. Ngay tình, má thằng Tám cũng khát tình, dường như ả ưa sưu tập của lạ cho rốt ráo cả tiểu đoàn dưỡng binh chờ tổng nổi dậy mới nguôi. Tội cho thằng Tám, cha nó là ai, hỏi chính má nó cũng bù trất. Lang chạ tứ tung bát giác biết gọi đích danh ai là kẻ tội đồ? Dẫu sao, chính mụ là người rặn ra nó, hôm nay ôm ấp cái tình mẫu tử bọt bèo nọ thì ngó cũng cảm động.
Thằng Tám hỏi, chớ bấy lâu má ở nơi đâu? Câu trả lời, lóng rày má mần ăn khấm khá ở Buôn Ma Thuộc, có điều kiện má bỏ hai tháng trời rày đây mai đó dọ hỏi tin tức về con. Ăn hiền ở lành khù khờ ông trời độ nên má con mình mới có lúc tao phùng. Lão Đán nghe chữ ăn hiền ở lành thì giật thót cả người. Không dám đâu, nội cái chuyện giật mìn xe đò không thôi cũng dư sức lấy mạng ngót ngét trên năm trăm thường dân vô tội. Họ an phận chí thú mần ăn đâu có dính dáng gì tới cuộc chiến đấu tranh giai cấp mà ra tay tàn độc quá thể! Eo ôi, khù khờ kiểu gì ngó ngộ hén? Phải thấy máu đổ mới an tâm, ác đức bất nhơn quá mạng!
Giờ tìm gặp con rồi má lấy làm khỏe trí, để bồi thường thiệt hại má dắt con đi Buôn Ma một tuần ăn chơi thỏa thích. Đi cho biết đó biết đây ở nhà với nội biết ngày nào khôn. Lão Đán nghe khát khô cổ họng. Mẹ kiếp, nó khôn dàng trời đấy bà ạ! Nó có thể bán trời không văn tự chứ ở đó ngờ nghệch phát ngôn linh tinh. Nó có chút máu di căn của bà, nó dẻo mồm dụ khị con Tiếu ngày một ngày hai là a lê hấp làm chuyện vợ chồng cái rột, gạo đã thành cơm. Lão Đán ưa lân la tới gần nhắc chuyện khi xưa ta bé ta chơi, nhưng ngại mụ bẻ mặt giả bộ không nhớ ra dấu kín thân phận. Quá khứ ấy chả có gì vinh quang thần kỳ để oang oang mồm năm miệng mười thế loa đi rêu rao cùng khắp. Ém được chút gì hay chút đó, tội ác tày trời chứ ích chi nơi? Về già, tìm lại đứa con bỏ rơi để nguyện đền bồi nuôi dưỡng cũng nên xem là một cách ăn năn hối cải, rửa tay gát kiếm.
Huyện Buôn Huyền cách Buôn Ma Thuộc 32 cây số đường chim bay, nối liền hai nơi chỉ duy có cách mua vé xe đò chú thích bên hông loăng quăng những địa danh Pleiku Lâm Đồng Đà Lạt, nói chung là chuyên trị vùng cao. Sẫm tối hôm nọ, lão Đán đang xơi hột vịt lộn với nắm rau răm ở quán nhậu chỏng chơ đồ nhắm thì tin dữ đưa về qua miệng thằng lơ xe chạy suốt miền Trung: Xe đò cách Buôn Ma khoảng hơn cây thì không dưng “té” lộn nhào, quay đảo nhiều vòng rồi rơi xuống vực thẳm. Việc cứu hộ cực khó khăn, nhân viên y tế xuống được tới nơi thì chẳng còn ai sống sót.
Lão Đán tỉnh rượu. Ta nhớ ra rồi, hình như bên vú trái của em có một cái bớt đen. Cơn mưa đổ ập xuống rừng cao su ngay hàng thẳng lối và chúng ta vội vã làm tình trong dáng đứng chả giống ai. Ôi thôi, giá như hôm ấy em nhận ra ta thì có thể tình huống đã đổi. Hay là bị lúc trước em ưa đắp mô xe đò nên bây giờ bị quả báo. Ta tin chắc thằng Tám không phải là con ta, hai mẹ con bây vậy là được giải thoát. Ta tứ cố vô thân sống giữa cuộc đời bội bạc này mà lòng chẳng biết hậm hực một điều gì cụ thể. Rồi con Tiếu sẽ có chửa, rồi nó rặn ra một hình nhân không cha. Phải thằng Tám là cha đứa nhỏ không mày, hỡi con ranh kia. Mày khóc làm cái đếch gì? Đời thì lúc nào mà chả tàn độc? Mày bán rau có khấm khá chăng? Sẵn tiền thì mua tao cốc rượu rồi tao nói ra tâm sự đắng lòng cho mà nghe, mà so sánh lấy đó làm vui. Này, dẫu sao thì cả mày cũng như tao, làm cách nào để đón xe đi Buôn Ma Thuộc mà nhận xác hai mẹ con thằng Tám về chôn cất đậy đằng số kiếp.
Mẹ nó, hợp rồi tan, ở rồi đi. Có là lãnh tụ tớ cũng đéo hiểu. Thế đấy, thế đấy…
Cốc rượu rời tay, rớt xuống nền quán nhậu, vỡ vụn. Huyện Buôn Huyền trời chóng nhọ mặt người, hoàng hôn đen bởi ngàn cánh dơi đập xao xác trước một tìm về tổ ấm. Nghe chừng như có tiếng bà nội thằng Tám tru lên, đơn độc, đớn đau trong cung bậc xé lòng.
Tôi là láng giềng xưa của ông ấy vì trước đây nhà tôi ở cạnh nhà ông. Đất ở đó khô cằn nên không có được một dậu mồng tơi xanh dờn ngăn chia. Chỉ có hàng rào kẽm gai, chỉ có cỏ dại sum suê và vô vàn hoa mắc cỡ. Cây gì kỳ cục, chân lại gần chưa đụng tới là chúng run bắn thân cành đồng loạt nhắm mắt. Hổ ngươi một cách quá đáng.
Ông lớn hơn tôi gần cả con giáp, tôi đoán vậy vì lối xóm chẳng ai tường tên tuổi thật của ông. Cán bộ mà, ai cũng sắm riêng cho mình một bí danh, phủ che một bí mật. Hơi sức đâu đi dọ hỏi rước phiền toái, ai kêu sao ta kêu vậy: Ông Tài phó giám đốc. Cơ quan nào? Bù trất. Công ăn việc làm coi bộ thong dong vì giờ hành chánh tôi luôn phát hiện ông, dáng to cao, loay hoay lui tới trên sân, địa phận phía bên kia lằn ranh. Thảng hoặc bắt gặp ông ngó chùng vụng sang biên giới, đặt để đôi mắt vào tấm tồn rỉ sét tôi án che làm chỗ tiêu tiểu rửa ráy. Đôi mắt ông sáng và linh hoạt đến lạ. Dẫu có vật che chắn nhưng tôi ngỡ như ông trông rõ một phần da thịt sởn ốc của tôi, nhột nhạt, nổi hột. Nghe thấy trên báo đài quen dùng thuật ngữ vòng một vòng hai vòng ba, dân dã như tôi thì hoang mang thắc thỏm không biết ôn hàng xóm rắn mắt nớ có chộ rõ bụ rõ khu của tôi không? Thiệt ốt dột!
Tôi đã có chồng và một đứa con. Nhờ trời chúng tôi đắp đổi cũng sống qua ngày, hơi bị xấc bấc xang bang chút đỉnh. Chẳng bữa đói bữa no vì chúng tôi biết cách chia đều lưng chén mỗi bận. Rứa mới động não chớ, mới phát huy chức năng của chất xám chớ. Câu nói “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt còn hơn le lói suốt năm canh” là thành ngữ tầm bậy tầm bạ của bọn chuyên ăn quàng nói xiên. Ăn dè ăn xẻn chớ ai lại nhẫn tâm đớp hít cố xá, tộng vô họng cho đã nư rồi mai thẫn thờ ngồi bức tóc dậm chưn than cha trách mạ. Tôi hay nói cho con nghe như rứa, như kiểu tưới nước lên cây bông, chui vô lỗ tai được chút mô hay chút nớ, trường kỳ giáo dục.
Ông Tài hàng xóm sát nách lại khác, đỏ da thắm thịt ngon cơm thấy rõ. Cứ nhìn cái nhà hoành tráng diêm dúa màu mè án trước xóm là biết. Mạ ơi, cán bộ mà, lẽ tất nhiên họ phải khác mình chớ. Khác tự cơ bản. Từ cách đi cách nói cách ăn cách mặc, cách gì đi nữa cũng tố cáo họ đẳng cấp hơn mình. Nói nào ngay, con mắt ông phóng qua hàng rào liếc ngang dòm dọc cũng khác thường, ngó chị em phụ nữ đi đái mà mãi trân tráo tỉnh như ruồi, không chịu noi gương bụi cây mắc cỡ dưới chân.
Rồi một bữa giông bão kéo về thịnh nộ khiến cả xóm chộn rộn, cả xóm chới với. Sét đánh ngang tai lùng bùng, xớn xác ù ù cạc cạc khi nghe tin ở trên ban xuống. Khu vực này nằm trong diện quy hoạch, cần phải giải toả để nâng cấp dựng xây hiện đại hoá thành phố. Đền bồi chút đỉnh tiền, nội trong vòng ba tháng, đồ đoàn mạnh ai nấy lo mà cuốn gói tức thì tức lệnh. Trên đã ra chỉ thị, đinh đóng cột chắc như bắp quyết không lung lay chuyển đổi mô tề. Đúng như rứa không anh Tài hèo? Bà con đi hỏi ông cán bộ Tài, phó giám đốc mặt cũng xuống sắc cà lăm cà cặp chẳng thốt nên lời. Có là tài thánh! Mô được như trong truyện chưởng của Cổ Long đẻ ra nhân vật ăn nói ngược ngạo coi trời bằng vung: “Nếu giết người mà khiến cho căn nhà nàng trở lại sự nguyên vẹn, ta nguyện giết cả thiên hạ!” Ui, con cái nhà ai mà không biết phép tắc rứa bây! Bà con với Độc Cô Cầu Bại đó hỉ?
Ba tháng, thời gian đủ để trời đất thay đổi khí hậu, mơn mởn hay héo hon mùa màng, xóm cũ giờ ni chổng chơ bình địa ngó tàn canh gió lạnh tợ một nghĩa trang. Nhưng trong nhãn mục bình thường của đứa thiếu suy luận vẫn ngó ra một cái dằm chọc thốn vào con ngươi. Xốn xang. Ủa, cớ sao căn nhà của ông Tài vẫn sừng sửng mà đứng giữa trời thách đố dư luận. Ông có bí kíp thượng thừa võ học đầy mình chăng? Ông sắp sửa động thủ để giết cả thiên hạ chăng?
Tôi lạc hồn buồn chân trở lại đường xưa lối cũ. Những công ty có ký hợp đồng thi công dựng xây đang chây lười lao động trở ngại sự cố. Giữa mênh mông lọt thỏm nguyên vẹn ngôi nhà của ông Tài. Vì lẻ loi nên nó to lớn ra bội phần. Nó vĩ đại nhưng nó trơ trẽn với tất cả đường nét phản mỹ thuật vây bọc.
Ủa, rứa em đi mô đó? Ông Tài chắp tay sau đít đứng với cô quạnh bủa vây, đơn thân nên lộ ra mừng tủi khi ngó ra tôi.
Tui nhớ cây ớt bỏ quên sau hè nên lộn lui bứng nó về trồng đất mới.
Chao, em cũng tình nghĩa gớm hè, có một cây ớt cũng không đành đoạn dứt áo ra đi. Hay em thể hiện đúng theo câu thơ của Trần Huy Sao: “Huế mình lên núi qua đèo, vượt truông trấn ải cũng khoèo ớt theo”.
Tui rất lấy làm ngạc nhiên.
Chớ chuyện chi rứa? Ờ, mà anh hiểu, em muốn biết vì răng mà thằng Tài ni hắn liều mạng quá thể. Đúng rứa không? Có rảnh thì vô nhà ngồi nói chuyện dông dài, mình thì thầm to nhỏ ở đây khiến chúng thừa hơi đoán non đoán già suy luận lung tung beng thêm rách việc. Sẵn, anh kiếm dụng cụ để xắn đào bứng cây ớt lên cho. Dễ như ăn ớt.
Vợ con anh đi mô mà không thấy?
Lâu ni chuyện di dời căn nhà căng quá nên mụ đi về làng xả xì-trét. Thằng con anh thì việc cơ quan chôn tới cổ, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm. Mà anh ưa như ri hơn, gặp mặt hắn thế nào cũng sinh ra cãi cọ, tư duy hắn đã đổi, coi ba hắn không ra kí lô mô cả. Tổ cha cái thằng bất hiếu.
Bà con lối xóm răm rắp thực thi ra đi chẳng hẹn ngày về mà anh cứ bình chân như vại. Lý ra khi làm cán bộ anh phải tập gương mẫu cho bà con noi theo.
Ui chao, răng em có cái luận điệu rập khuôn như thằng con anh. Nói em nghe, vì anh gương mẫu nên anh đã chịu biết bao thiệt thòi. Lo uốn nắn theo cái gương mẫu nên anh mới cực như ri đây.
Rứa còn tai tiếng?
Chao ôi, anh sợ chi chuyện nớ em. Anh thông hiểu vấn đề luật pháp cho nên anh sẽ cãi cho tới khi mô lẽ phải thuộc về anh. Họ bồi thường cho gia đình em được bao nhiêu?
Chút chút, gãi không đã ngứa, chuyện nớ thì anh dư biết. Còn anh?
Anh nói đưa tui 180 triệu thì họ ngậm câm, ổn thoả ngay từ đầu thì mô có lôi thôi như giờ chừ. Biểu anh hy sinh phần nào à? Còn lâu a, suốt cả đời làm phó giám đốc mần răng anh bòn cho ra 180 triệu, hỉ? Nì, làm miếng nước cho thông cái cần cổ. Chuyện chi cũng còn có đó. Đôi khi phải tập điếc không sợ súng nếu muốn sống.
Ông Tài lấy từ tủ lạnh ra chai nước trà sâm ướp lạnh của Hàn quốc mời tôi. Tôi ngồi trên cái ghế gỗ đen bóng chạm trổ cầu kỳ có khảm xà cừ ở lưng. Đồ vật trong nhà đều có giá trị, tuy vậy chúng không hài hoà khi đứng kề bên nhau, chúng đốp chát chửi nhau sang sảng. Ông Tài thôi đề cập chuyện kiện tụng bồi thường nhà cửa đất đai, ông ngó tôi:
Rứa em về chỗ mới có gặp vấn đề chi nan giải không? Nì, họ nói “gái một con trông mòn con mắt” mô có sai trật hè. Hiện thân em là một đáp án hùng hồn nhứt. Đời anh nói năng ít khi thiếu cơ sở, em tin không?
Tin chi được. Em cũng biết tranh thủ mà cầm gương lên soi cái mặt chớ bộ. Thời buổi khác, đối tượng khác chứ thời điểm ni em mô còn nước nôi chi nữa, mà tát cạn mà sóng sánh chảy tràn.
Không ngờ, tôi đã tỉnh rụi nốc hết chai trà sâm nước ngọt lừ đâm chích vị giác. Mặt tôi tê, đánh mất dần những biểu cảm. Tôi đang vọc súng ống với hai lỗ tai điếc đặc. Kệ cha mệ nội, ba vạn cũng bỏ, coi thử canh bạc đỏ đen tới ngang mô.
Anh nói cái ni, mất lòng trước được lòng sau, dù gì thì chúng ta cũng bạn chòm xóm láng giềng xưa cũ. Hiện anh có nửa triệu giắt lưng, chừng mô kiện tụng xong xuôi ôm nạm tiền lớn anh san sẻ thêm cho em để giúp kinh qua gian khó. Hiểu ý anh nói không?
Nửa triệu, ông Tài nói không sai. Tôi nhẫm đếm theo ông khi ông bỏ vô lại phong bì. Tôi sẽ nhét nó trong lưng quần sau khi lột lỗ ra trên cái giường vợ chồng lạnh lẽo của người đàn ông háu đói ưa mua dâm. Ông mua không chỉ một lần, ngựa sẽ theo đường cũ và tôi sẵn lòng bịt mắt để sải vó câu trên sạn đạo. Tôi đã mưu toan lựa chọn con đường ngắn nhất và xét ra, ông Tài có đủ điều kiện để làm gã nài ngựa. Tôi quen không nhiều, đàn ông tôi biết đều thuộc loại xác xơ như chồng tôi. Mang một cây ớt hiểm về nhà chỉ là vở kịch tôi tự biên tự diễn. Nguỵ tạo ra cái cớ để mạnh miệng trả lời, để làm an lòng ai đó luôn ngờ vực, an lòng ngay cả bản thân tôi.
Tôi còn giữ cái ruột tượng của mạ tôi để lại. Tôi dấu nó ở một nơi chỉ riêng tôi xác định ra vị trí. Tôi đếm những tờ giấy bạc xếp có thứ lớp sắp mãi lực từ nhỏ tới lớn. Đếm lui đếm tới vẫn chưa đủ năm triệu. Mấy hôm trước, con tôi đưa cái hoá đơn tính tiền học phí từ trường về. Tờ giấy liệt kê 12 hạng mục mà cái đúc kết bên dưới hiện ra con số cần phải thanh toán: 5 triệu đồng. Sao vô lý quá, thu nhập của chúng tôi rất thấp mà tiền ăn học của con… Mắt nó đỏ hoe. Ba nói: Mi nghỉ học họn cho rồi, chớ cắp sách tới trường kiểu ni thêm báo hại cả một tập thể. Mi thấy đó, ba mạ thiệt sự không có đất mà cạp, rã họng cả nhà ngóng đợi cho mi học thành tài à. Ôn mệ ơi, mồ tao cỏ héo ba đời e mi cũng chưa xong bậc trung học mô.
Điệu ni coi như con đành phải ở nhà, tập cắp rỗ ra chợ học khôn vặt học thủ đoạn giảo hoạt với người ta, mạ hỉ. Không có tiền đóng học phí thì thứ hai đầu tuần trước khi chào cờ thầy hiệu trưởng đọc tên ra để bêu rếu đó mạ nờ. Cất đầu không lên mô tề. Tủi hổ lắm lận!
Tôi ngó mái đầu xanh của con, tôi ngó hai bàn tay non dại cứ xoắn lấy nhau, bức rức, vặn vẹo. Không con ạ. Mạ sẽ lên trường đóng học phí cho con, mạ sẽ thưa với thầy những khó khăn mà mình gặp phải, chẳng hạn chuyện mặc đồng phục với bảng tên các thứ, đâu nhất thiết phải sắm cái mới. Ông bà nói: Liệu cơm gắp mắm. Thầy là người của bộ giáo dục đào tạo ra thì chắc thầy sẽ thông hiểu. Mạ nói thì mạ giữ lời, cố nuôi con ăn học tới ngang lớp mô tốt lớp nớ. Cứ còn nước còn tát, con hiểu không? Con nó ôm siết lấy người tôi mà không thể mở miệng, thân nó run lên và ngực tôi ướt sũng nước mắt.
Khuya, tôi đạp xe về xóm cũ. Tôi đứng lặng thầm trước căn nhà ngoan cố cản bước giải toả của ông láng giềng xưa Độc cô cầu bại. Bóng tối vây bọc thân tôi, thấy lạnh. Khi khổng khi không trong đầu tôi chợt hiện hai câu thơ của Thâm Tâm trong bài Hoa Gạo:
“Lòng ai bầm tím, ai buồn tối Cũng tại rừng đời lạc lối ra”.
Và rồi ngọn đèn hắt ra sân, cắt vuông đất đen lem nhem gạch đá. Và rồi tôi vội vàng lách người qua khung cửa hẹp. Bỏ quên bên ngoài tiếng dế rỉ rả than trong đêm thâu.
Hôm qua tôi mua được hai chai bia Huda xanh mướt xuất khẩu, khoe em hàng hiếm giá rẻ đợt xeo mùa hạ, em rờ một hồi tay ướt: Hu ke.
Bữa nay thu trong giỏ dộng thêm sữa đậu nành ướp lạnh, ra công viên nóng hổi tình tự riu riu cùng em, ngày thoáng rộng. Lựa chỗ nhiều bóng cây nghĩa là nơi hiếm người buồn chân lại, tụi ở đây nhường chỗ dâm cho đứa dại ta khôn ta tìm chốn nắng nôi. Nằm thẳng cẳng phơi nắng người đỏ như con cua luộc, đồ nhắm khoái khẩu đi tàng tàng không oải với bia. Rất bắt.
Nghỉ hè thiếu hụt tiền nên cuốc bộ lia chia sương sương quanh khu vực, em trải chiếu xuống bờ cỏ chẳng mượt lầm bầm: Hu ke. Đẻ đái nhiều lần em không ưa khoe da thịt, áo thun quần đùi kiểu mặc trong nhà, đôi dép nhựa: Hu ke. Tôi phanh ngực ngóc đầu ngó lá phong run quờ quạng, lá sẽ vàng lá sẽ rụng và cây sẽ nhớ lá đến chết trân khi tuyết về. Em vất mấy đứa con ngoài giá thú ở bên nhà chương một, sang chốn lạ lập lại cuộc đời chương hai với vẻ dửng dưng: Hu ke, tiểu thuyết còn dài xem sang hồi sau sẽ rõ.
Ngoài ghế đá chim chóc quần tụ trên tay trên vai trên đầu gã homeless lắm vụn bánh mì từ thiện, chúng dạn dĩ hát vang rân bài tình ca ngọt ngào. Chim muôn phương nên hợp tấu nhiều cung bậc, âm nhạc thần sầu ở chỗ nó cất lên mà chẳng cần một lời thoại rườm rà đi kèm. Đê mê.
Tôi nói ở bên mình chim bỏ bê loài người cô độc bởi loài người bạc ác với muôn loài. Em bảo người ngợm mang tật hót nhiều, ăn rắn rít thường hằng có chết thằng Tây nào đâu. Chuyện nhỏ. Hu ke.
Có tấm bảng dựng bên góc sát rìa mép cỏ nơi đặt nhiều thùng rác, lời chú thích trên đó viết đơn sơ: “Tất cả những tác phẩm nghệ thuật vốn nằm đầy trong thiên nhiên”. Tôi ngó xuống dáng em nằm lơi lả, em cũng đã tạo ra nhiều tác phẩm mà tôi không là đứa loay hoay cầm cọ thọc vọc mày mò. Tôi tu một ngụm Huda ưa nghe em nói hu ke nếu hai đứa mùi mẩn giữa công viên thanh thiên bạch nhật. Không cứ phải đỏ như cua gạch nấu chín, đứa uống bia cũng khát với nghêu sò ốc hến vậy. Xứ này có con moule, luộc xong nó bày ra thân thể đẹp như một báu vật. Vắt múi chanh, dặm vào chút muối tiêu, trước khi xơi hãy nán lòng ngửa cổ mà húp cạn chất nước ngọt đọng giữa hai bờ rãnh khe rịn ứa. Tôi không có căn tu nên mãi chém gió bằng tưởng tượng, luôn đi hoang vào vùng miền thiên đàng của kẻ này địa ngục của đứa khác. Tôi tâm sự hoặc đúng hơn là đặt nghi vấn: Tại sao có những cô gái ngon cơm lại năng nổ đi làm vợ cho mấy thằng cha già khú đế lớn tuổi hơn bố mình? Phải liệu cơm gắp mắm chứ, mần ăn tới nơi tới chốn đặng không? Em đưa tay gát trán che nắng cùi chỏ đâm êm ái bên sườn tôi, mắt hi hí máy động riềm mi: Nếu lão già dịch kia có lắm bổi lận lưng thì tui cũng kề cận nâng khăn sửa túi. Hu ke. Bất quá chịu thương chịu khó khoảng năm bảy năm là cùng, lão sẽ chính thức xuôi tay cho mệ nuốt chín suối gọi hồn. Năm bảy năm đâu có dài lâu, người ta nhập kho cả chục năm còn chưa tởn.
Có con kiến đen đi lạc bò lung tung không định hướng trên người em, tôi đợi nó rụt rè thò chân cẳng xuống khoảng bụng trắng hếu lộ hàng mới giả bộ đưa tay xua đuổi. Em đổi thế nằm, bàn tay anh nóng thấy mồ trong khi con kiến thì chỉ mang lại cái nhột nhạt thôi. Tôi đằng hắng a hèm, nóng chắc bởi tại bia tại trời nực nội và trong phim ảnh thì nghe mấy cô đào rên oh, so hot! Em ngó quanh chỗ nằm mà xuống giọng, hu ke!
Một người đàn bà đẩy xe trói ké con nít ngang qua, đứa nhỏ mất lòng điều chi mãi hu hu không dứt, tấm tức hu hu. Tôi là baby thuộc phường dễ nuôi lễ độ rất uy tín, nghe gia đình tán dương thuở nọ mày chỉ hu hu hồi nào khát sữa mà thôi, chả biết quấy rầy. Người đàn bà nọ cũng biết tỏng chứng tật đứa con, dừng xe đẩy cởi dây an toàn ôm nó lên ngồi bệt xuống cỏ vạch áo bày vú cho nó ngoạm. Hu hu đổi tông thành chút chít, miệng nút cố bú xá mà hai con mắt lim dim, sướng rêm. Em ngôn trẻ thơ bên nhà giờ này thảy đều bú bình, chúng chê bầu sữa mẹ sao lóng rày nhiễm chất độc mùi thuốc lá với lại la de. Tôi nghe xót dạ ôi chao thời buổi chi lạ, sao người lớn dại ngỗ ỏng ẹo ưa làm con nít ranh. Thông thường chỉ nghe: Đói bụng quá, mẹ ơi cho con bú tí. Sao lại đón nhận: Nằm yên cho anh bú nghe em. Thật trái khuấy khi chui vào màn nhĩ, nhỉ?
Hai gã cảnh sát chắp tay sau đít đi thơ thẩn từ xa thu bé cự ly, chúng đành hanh hoàn cảnh thơ mộng tôi đang hưởng tới bên cà khịa. Chốn công cộng ông không nên uống bia một cách lộ liễu như vậy, ông cần phải nguỵ trang bằng thứ bao bì nào đó, gần như dấu che chùng vụng. Ông hiểy ý tôi nói không? Tôi xin lỗi và tôi dụt chai Huda vào lại trong giỏ. Tôi lôi ra bịch sữa đậu nành đưa em. Cám ơn. Em nói cùng lần với nhân viên công lực. Em than mất sướng mà chẳng nói hu ke. Người đàn bà cho con bú cũng vội buông áo xuống đậy đằng, làm như cái vú bà có dán nhãn chất lỏng chứa 12 độ cồn bên trong. Đứa nhỏ đã say khướt lịm người mê man trong vòng tay tình ái. Nếu nó là con trai tôi cá độ trái ớt hiểm của nó đang chỉ thiên. Lạ gì, thuở bé tôi cũng vậy, qua dấu hiệu đó người mẹ sẽ hiểu thằng cu sắp đái để tránh ướt áo. Con gái thì sao nhỉ? Biểu hiện nằm ở chỗ mô? Bí hiểm. Bướm thì không thể mặt sưng mày sỉa được. Hèn gì phụ huynh thảy đều mặn con trai! Con chim bé nhỏ dễ thương của mẹ là cái phong vũ biểu luôn báo hiệu những thay đổi tâm sinh lý trong vô ngôn. Ngây thơ cho tới hồi lột da quy đầu mới vô số tội. Thế đấy. Tôi chưa kịp lập phương án gây vô số tội thì hai ông bạn dân lù đù dẫn xác tới khuyến cáo. Em bảo mất sướng thì đúng quá chứ còn gì nữa! Kỳ nghỉ hè dùng dằng đi qua bằng những chiều tà nhạt như nếp tẻ. Cơm cháo chẳng ra gì thầm thà thậm thụt lụt lịt mà địt không ra khói. Chán ốm!
Ngày đầu đi làm hồn xiêu phách lạc chưa quen trở lại kỷ cương giờ giấc ép uổng. Thằng bạn đứng máy quở trong tiếng xình xịch cà rịch cà tang: Ai nghỉ hè xong cũng tươi mươi thần khí chỉ riêng mày héo hon như hoa quên tưới nước. Lý ra mày chẳng hạn hán được vì ả đó thuộc tuýp hu ke. Nhưng mà cũng mừng cho mày, phải nên hiểu đối tượng chỉ thích quan hệ để lợi dụng. Ả mới từ bển qua, vứt bỏ tất cả để manh tâm dấn liều thì ắt ả đã nuôi sẵn một dự mưu. Chật vật như mày chẳng phải là bến đậu của ả đâu.
Tôi gọi nhiều bận vào số máy em nhưng chẳng được. Đó là cái iPhone 5 tôi mua biếu em sinh nhật tuổi 32 theo yêu cầu. Em xù em lặn em dông đéo thèm ra công viên ngồi bên tôi, linh hồn tượng đá để tình tự. Em vào nhà hàng đặc sản kéo ghế máy lạnh chạy êm ru bà rù với thằng đàn ông nhiều bổi. Em ngủ với nó trong khách sạn 3 sao nghe nó thành thật khai báo, anh đã có vợ em làm bồ nhí thì có phiền hà cho em không?
Em thảy cho nó cái condom chưa qua sử dụng rồi nhún vai: Hu ke.
Bài 21Tôi “lên bàn” (phỏng vấn thanh lọc, theo cách nói của đồng bào tỵ nạn, nôm na là “lên bàn”.) Như mọi người, tôi được phỏng vấn thanh lọc tại trại Marang. Tôi tới trại nầy lần đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1989, một ngày sau khi tôi tới đảo Bidong. Hai năm sau 1991, tôi lại tới trại nầy lần thứ hai để được phỏng vấn thanh lọc. Vậy là phải chờ hai năm, dài quá. Tiến trình công việc nầy, Cao Ủy và chính quyền Mã Lai thực hiện chậm chạp. Vì họ không có đủ người, các nước thứ ba đón người tỵ nạn quá chậm hay có một chủ ý gì khác. Không ai rõ. Thuyền nhân chỉ việc chờ… Tôi đến trại Marang vào cuối tuần, phải chờ đến thứ hai mới tới phiên “lên bàn”, tức là bàn thanh lọc, để được phỏng vấn. Sáng thứ hai, trước 9 giờ, xe mini-van của Hội Hồng Nguyệt, một hội tương tự như hội Hồng Thập Tự, Việt Cộng kỵ danh từ Hán Việt nên gọi là Chữ Thập Đỏ, chở các luật sư Cao Ủy, các thông dịch viên (cô Mai, ông Chính, ông Dũng, v.v…) đến.
Nhân viên Mã Lai đến bằng xe riêng của họ. Ông thiếu tá phỏng vấn tôi đi chiếc xe Proton, một loại xe sản xuất ở Mã Lai, nhỏ và trông giống như xe Toyota Corolla ở Mỹ, máy xe hiệu Mitsubishi. Xem ra, lúc ấy. Mã Lai đã phát triển hơn Việt Nam. Tôi cũng chuẩn bị áo quần tươm tất sạch sẽ, với một cái cặp bìa đựng giấy tờ hộ tịch cần thiết cầm ở tay, chuẩn bị được gọi tên. Phái đoàn chỉ phỏng vấn tôi là người đứng đầu “blue card”. Vợ tôi và con gái khỏi phải phỏng vấn. Sau khi nghe cô Mai gọi tên, tôi bước vào phòng thanh lọc, chào ba người trong phòng. Cô Mai giới thiệu tôi với hai người ấy. Cô ấy cũng giới thiệu hai người ấy với tôi. Một người là luật sư Cao Ủy, đại diện cho Cao Ủy Tỵ Nạn, giám sát cuộc thanh lọc, không rõ ông luật sư người nước nào. Sau đó, tôi mới rõ ông ta là người Hòa Lan, khi ông ra nghỉ ngoài sân và nói chuyện với vợ tôi. Người thứ thứ hai là một thiếu tá Mã lai, đại diện cho chính quyền Mã Lai. Theo nguyên tắc, chính quyền Mã Lai, nước thứ hai của người tỵ nạn (nước thứ ba là nước cho định cư) làm Chủ tịch và quyết định việc xác nhận có phải là người “tỵ nạn chính trị” thực sự hay không, để chấp nhận hay từ chối cho định cư. Luật sư Cao ủy là người chứng kiến việc phỏng vấn thanh lọc. Dĩ nhiên, người thứ ba là cô Mai, thông dịch viên hữu thệ. Tôi nghĩ ngay đến sự có mặt của viên thiếu tá. Thành phần thuyền nhân khá phức tạp, nhưng tám chín chục phần trăm là dân quê, làm ruộng, đánh cá. Một số khác là sĩ quan, binh lính Dziệt Cộng, cán bộ, hợp tác xã, xí nghiệp, thụt két xong vượt biên… Cả hai thành phần nầy đều học hành ít, kém văn hóa. Trước 1975 họ không quan hệ gì đến chế độ cũ. Mấy năm nay, Dziệt Cộng “mở cửa”, ngó lơ để người vượt biên cho thật đông, mai mốt làm “Việt kiều hồi hương”, (ai hỏng thanh lọc thì phải về nước, người ta gọi đùa là “Việt kiều hồi hộp”, sợ Dziệt Cộng bắt bỏ tù), áo gấm về làng, đem đô la về… Họ ở thôn quê, gần biển, hoặc ở các hòn đảo nhỏ trong vịnh Rạch Giá nên dễ ra đi. Người đi đông nhứt là quê ở huyện Long Phú, tỉnh Ba Xuyên cũ, nay là tỉnh Hậu Giang. Có lần tôi nói đùa: “Huyện Long Phú dời qua Bidong rồi.”
Còn lại, một ít là sĩ quan, công chức, cán bộ chế độ cũ, nhân viên sở Mỹ. Cũng không ít người “mang bệnh công thần”, thấy mình cao hơn các thuyền nhân khác, sống buông thả, gái góc, bồ bịch, muốn trở lại “thời hoàng kim” họ đã có thời chế độ cũ… Trong cách nhìn thành phần như thế, viên chức Mã Lai chủ tọa cuộc thanh lọc, thường là thiếu úy, trung úy…. Hôm nay, tôi gặp viên thiếu tá, cao cấp nhứt trong số họ. Họ suy nghĩ như thế nào đây?
Có phải vì tôi mang loon đại úy nên họ đưa một viên thiếu tá ra phỏng vấn tôi. “Lấy loon đè người” là một câu nói phổ biến trong quân đội Miền Nam trước đây, trong “Quân đội Quốc gia” hay trong “Quân đội Việt Nam Cộng hòa” thì cũng rứa thôi. Trước sự hiện diện của luật sư Cao Ủy, viên thiếu tá Mã Lai hỏi lại lý lịch tôi, như để xác minh những gì tôi đã khai khi mới tới đảo như: Nơi học hành, nơi dạy học. Thời gian ở quân đội và cấp bậc, công việc cũng như chức vụ, cấp bậc, và công việc khi làm Chỉ Huy trưởng Cảnh Sát và “tù cải tạo” 7 năm 10 ngày (kể cả những ngày nhuận trong tháng 2 Dương lịch)
Trong phần cuối của lý lịch, tôi giải thích với viên thiếu tá, với trách nhiệm là Cảnh Sát, thì “Thi hành Luật pháp”, “Bảo vệ Luật pháp”. Đó là nhiệm vụ của người Cảnh sát. Công việc đó có thể thích ứng với tình hình Mã Lai hiện nay, nhưng khi lực lượng du kích của Rashid và Trần Bình còn hoạt động, thì nhiệm vụ của người Cảnh Sát có khác đi, nghĩa là họ có nhiệm vụ phát hiện “hạ tầng cơ sở Cộng Sản”, “giải hóa” chúng. “Giải hóa” có nghĩa là vô hiệu hóa bằng cách phục kích giết chết hay bắt sống, đưa ra tòa xét xử tội “phá rối trị an.”
Nhiệm vụ của tôi khi làm chỉ huy trưởng Cảnh Sát cũng giống như nhiệm vụ Cảnh Sát Mã Lai khi du kích Cộng Sản Mã Lai còn hoạt động, chưa bị triệt tiêu. Nói cho đúng, tiêu diệt bọn “phá rối trị an” tức là triệt hạ bọn giao liên, du kích địa phương là quan trọng nhứt.
Viên thiếu tá đồng ý những gì tôi nói, và bỗng hỏi tôi:
– “Ông cũng biết Trần Bình (Chin Peng – (1) và Rashid?”
– “Trần Bình là người Mã Lai gốc Tầu, Tổng Bí thư đảng Cộng Sản Mã Lai. Tuy nhiên, sợ dân chúng Mã Lai không ưa một anh Ba Tầu (tôi giải thích chữ Ba Tầu theo nghĩa tiếng Việt khiến viên thiếu tá cười) nên Cộng Sản Mã phải dựng Rashid Maiden làm bình phong.”
Thật ra, đây là cái “may” cho tôi. Khi vừa tới đảo cũng như sau nầy khi thôi làm việc ở phòng “Phát triển Cộng đồng”, tôi thường tới đọc sách báo ở Thư viện Bidong trên đảo. Đó là một cái thư viện nhỏ, cái nhà vòm, lạ mắt và đáng yêu. Sách báo tuy không nhiều nhưng được cập nhật, nhất là báo Times, Newsweek, Asiaweek… không cũ lắm, chỉ mới ra vài tuần. Sau nầy, khi ông Cao ủy Allen đi Mỹ về, ông mang theo một số sách, nhạc do ông xin được ở các nhà sách hay nhà xuất bản tiếng Việt ở Mỹ, trong số có nhiều sách hay. Trong khi đó, những tạp chí như “Đường Sống”, “Lửa Việt” (xuất bản ơ Canada) thì vẫn thường có, do nhà báo gởi thẳng tới cho Thư viện. Riêng tôi, được anh Ngô Vương Toại, quen biết từ lâu, khi hay tin tôi ở trại tỵ nạn Bidong, thường gởi báo “Diễn Đàn Tự Do” của Toại choi tôi đọc.
Sau nầy, khi có phong trào đấu tranh chống thanh lọc, báo chí gởi tới đều bị cấm chỉ, dù gởi cho thư viện, văn phòng trại hay cho cá nhân. Trước 1975, tôi nhớ lờ mờ đã đọc đâu đó về lãnh tụ Cộng Sản Thái Lan là một người Thái gốc Việt, do ông Thầu Chín (bí danh lúc đó của Hồ Chí Minh đang hoạt động ở Thái Lan) dựng nên, một vài hiểu biết rời rạc, không sâu về du kích Hukb ở Phi. Tổng thống Phi Magsaysay trong một chuyến bay tìm cách giải quyết vấn đề du kích ở Phi thì bị tai nạn và qua đời. (2)
Còn như trường hợp Trần Bình và Rashid Maiden, tôi chỉ mới đọc trên báo Mỹ, ở thư viện Bidong, khi hai tên nầy xin buông khí giới, không chống lại chính phủ Mã Lai nữa. Cũng để “phản kháng” cái việc “lấy loon đè người” mà tôi đã từng là nạn nhân của ông đại tá Huỳnh Thanh Sơn, và ông trung tá Ngô Tấn Đức mà tôi đã kể trong cuốn “Hương Tràm Trà Tiên” (Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng) nên tôi từ từ trình bày về phong trào du kích Cộng Sản Đông Nam Á, phát sinh từ phong trào du kích chống Nhựt, đầu đuôi như sau.
Tôi nói:
“Sau khi quân Nhựt chiếm Đông Dương và Đông Nam Á, phong trào chống Nhựt nổi lên ở nhiều nước, tại Singapor, Mã Lai, Phi Luật Tân… Họ có một mục đích chung: Chống Nhựt, ủng hộ Tầu, không phân biệt Tầu Tưởng hay Tầu Mao. Các phong trào du kích nầy, trong ý nghĩa vừa nói, đều do những người địa phương nhưng gốc Tầu lãnh đạo. Lai Teck (3) là lãnh tụ Cộng Sản vùng bán đảo Thái Lan, Mã Lai và Singapor. Trần Bình là người kế vị y. Ở Phi thì có phong trào Hukbalahap do Luis Taruc, Jose Lava lãnh đạo
“Bấy giờ Tầu Cộng hay Tầu Tưởng đều bị Nhựt đánh thua liểng xiểng, nên chẳng giúp gì được cho các phong trào du kích ở Đông Nam Á! Các đối phương của Nhựt như Mỹ, Anh có giúp đỡ cho phong trào nầy. Cũng như Hồ Chí Minh từng làm tình báo cho OSS (4), Trần Bình làm tình báo cho Anh vì trước khi bị Nhựt đánh đuổi khỏi Singapore và Mã Lai, hai nước nầy bị Anh cai trị.
Đến khi Nhựt đầu hàng, các phong trào nầy vẫn hoạt động và hướng về Tầu Cộng. Sau Thế giới Chiến tranh Thứ hai, Tầu Cộng hỗ trợ tối đa cho số du kích nầy, và chính họ cũng tự biến thành các đảng Cộng Sản, thành Lực lượng Du kích Cộng Sản địa phương.
Tình thế phức tạp vì lúc bấy giờ là sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai chấm dứt, các phong trào du kích chống Nhựt nói trên không được nắm chính quyền ở các quốc gia đó. Ngoại trừ phong trào Việt Minh cướp chính quyền ở Việt Nam.
Các phong trào du kích Mã Lai, Singapore, Phi không được tham gia chính phủ, trở thành lực lượng đối địch, chống phá chính quyền và được Trung Cộng hỗ trợ, nhất là sau năm 1949, sau khi Mao Trạch Đông chiếm được lục địa Trung Hoa và đuổi Tưởng Giới Thạch chạy ra Đài Loan.
“Vì chiến lược Domino” bao vây Tầu Cộng, Phong trào Du kích các nước và chính phủ địa phương ở vào hai vị thế chống đối kịch liệt, sinh tử. Du kích thì được Tầu Cộng viện trợ, nuôi dưỡng, còn chính phủ các nước thì được Thế giới Tự Do viện trợ. Các nước nầy trở thành trận địa cho hai phe Tự Do và Cộng Sản đánh phá nhau. Có nơi, phe du kích Cộng Sản bị tiêu diệt như ở Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Phi. Ở Việt Nam thì Cộng Sản thắng lợi, nên tôi, hôm nay, mới có mặt… ở đây.
Nghe câu cuối, ai nấy đều cười.
Ông luật sư Cao Ủy ra khỏi phòng, ngồi hóng mát trong sân, và hỏi chuyện với vợ tôi.
Viên thiếu tá Mã Lai nói:
– “Luật sư chỉ cần xác nhận lý lịch. Chống chiến tranh du kích là việc của chúng ta.” Rồi ông ta tiếp tục hỏi:
– “Anh có biết tại sao Cộng Sản thắng lợi ở Đông Dương mà thất bại ở các nơi khác?”
– “Nó có hai nguyên tắc căn bản: Dân chúng và Tiếp vận.
Trước hết, tôi nói về tiếp vận. Tôi dẫn chứng tình hình cụ thể từng quốc gia một. Ví dụ Singapore. Đó là một “quốc gia thành phố”. Nó không có thôn quê, không có nơi để lập căn cứ. Bọn cán bộ Cộng Sản chỉ có thể ẩn náu tại các khu phố lao động. Việc ẩn náu ấy không thể lâu dài. Tụi nó chết ngắt là đương nhiên. Tên lãnh tụ Cộng Sản Singapore chạy trốn sang Anh. Trốn sang Anh mà không trốn qua Tầu Cộng, ông cũng thấy cái khuynh hướng của y như thế nào?
“Cộng Sản Mã Lai chẳng hạn. Tụi nó trốn trong rừng sâu, thiếu thốn đủ mọi phương tiện. Tầu Cộng thì xa quá, cô lập quá. Tầu Cộng không thể vượt biển đem hàng tiếp tế vào cho du kích Mã Lai được. Đường bộ thì Tầu cũng không mang khí giới cho du kích Trần Bình qua ngã Thái Lan được.
“Tình hình ở Phi cũng vậy. Tầu vận chuyển hàng viện trợ cho Hukb bằng cách nào, khi Phi là một quần đảo nằm xa ngoài biển.
“Việt Nam thì khác! Vì biên giới liền nhau, sau lưng bọn du kích miền Nam thì có Bắc Việt. Bắc Việt tiếp tế vũ khí, lương thực và cả quân đội Bắc Việt xâm nhập. Sau lưng Bắc Việt thì có cả Tầu Cộng và Liên xô. Quân đội chúng tôi không thể ngăn chận được con đường tiếp vận nầy, con đường được gọi là “Đường mòn Hồ Chí Minh”, và con đường ngang qua Kampuchia của Sihanouk. Đó là một trong hai yếu tố quan trọng khiến miền Nam chúng tôi thua trận?”
– “Còn yếu tố thứ hai?” Viên thiếu tá hỏi.
– “Thứ hai là nhân dân. “Chiến tranh du kích” là “chiến tranh nhân dân”, không phải chiến tranh súng đạn, trận địa. Hễ không được dân chúng ủng hộ, không xây dựng được “hạ tầng cơ sở” thì Dziệt Cộng không ngóc đầu lên được. Tôi lấy ví dụ: Dân chúng Mã Lai, Indonesia phần đông theo đạo Hồi, làm sao họ chấp nhận chủ nghĩa Cộng Sản. Vậy thì Trần Bình phải ra hàng, nếu không muốn thành “con xà niên”. “Con xà niên” là con người sống lâu trong rừng, cách biệt với thế giới loài người, tự nó sẽ biến thành con thú. Ông biết Aidit chớ gì? Y bị giết cùng với nửa triệu đảng viên vì dân tộc Indonesia đa số là Hồi giáo, không theo Cộng được.”
– “Vậy ở nước ông, dân chúng theo Cộng Sản?”
– “Không theo Cộng Sản. Họ bị Cộng Sản lừa gạt. Dân tộc Việt Nam bị người Pháp cai trị một trăm năm, nên ý thức dân tộc độc lập rất cao. Lợi dụng tình cảm đó, Việt Cộng núp dưới cái áo “Dân tộc Chủ nghĩa”. Những ai yêu dân tộc hơn yêu tôn giáo của mình thì rất dễ bị mắc lừa. Những nơi người ta yêu tôn giáo của họ hơn yêu dân tộc thì Việt Cộng không xây dựng được hạ tầng cơ sở, không xây dựng lực lượng du kích”
– “Tôi muốn ông nói rõ hơn!” Viên thiếu tá yêu cầu.
– “Những vùng dân chúng theo đạo Thiên Chúa, nhất là những người theo đạo Thiên Chúa di cư năm 1954, họ có kinh nghiệm đắng cay về sự dối trá và độc ác của Cộng Sản thì Việt Cộng hoàn toàn chịu thua. Ở những vùng dân chúng theo đạo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo cũng tương tự như vậy, Việt Cộng cũng không hoạt động được. Đừng để cho kẻ thù xây dựng được hạ tầng cơ sở. Chúng nó mà làm được thì khó có thể tiêu diệt được chúng. Đó là theo nhận xét của tôi.” Tôi nói.
– “Có phải ông muốn nói tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc giải trừ Cộng Sản?” Viên thiếu tá hỏi.
– “Đạo Hồi, đạo Thiên Chúa có xung đột nhau không? Có lẽ ông biết các cuộc “Thập Tự Chinh”, nó tàn ác như thế nào! Có lẽ ông biết “Richard Coeur de Lion” tên nầy tàn ác có hạng. Nhưng không chỉ riêng mình y. Nhiều tên tàn ác khác nữa, và bọn chúng được phong thánh đấy. Các cuộc thập tự chinh nầy thường có giáo chủ La Mã đứng đằng sau chỉ huy, hỗ trợ.
“Cộng Sản cũng là một tôn giáo. Bọn chúng không thể chấp nhận sự tồn tại của các tôn giáo khác. Những người muốn giữ tôn giáo của mình chấp nhận tôn giáo khác thế nào được, chấp nhận Cộng Sản thế nào được?”
– “Tại sao Cộng Sản thắng lợi ở miền Nam?” Viên thiếu tá hỏi.
– “Làm sao tôi có thể trình bày với ông một vấn đề to lớn như thế nầy bị giới hạn trong một cuộc phỏng vấn thanh lọc? Tuy nhiên, điều căn bản đây là một cuộc chiến tranh du kích. Hạ tầng cơ sở của chiến tranh du kích là ấp, xóm ở thôn quê chứ không phải ở thủ đô, ở các thành phố. Cộng Sản nắm lấy thôn quê trước, rồi “lấy thôn quê bao vây thành thị” như chiến lược của Mao Trạch Đông.” Tôi trình bày.
– “Chính phủ miền Nam không có chiến lược nắm giữ nông thôn.” Viên thiếu tá lại hỏi.
– “Nói có cũng không đúng. Nói không cũng sai nốt.” Tôi trả lời.
– “Tôi muốn ông trình bày rõ hơn.”
– “Như thế nầy. Thời Đệ nhứt Cộng hòa, các khu dinh điền, khu trù mật, đều là những vị trí chiến lược. Rút kinh nghiệm từ cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt (1945-54), chính phủ Ngô Đình Diệm thành lập các khu dinh điền, khu trù mật ở những địa điểm có tính cách chiến lược quân sự, gây khó khăn cho Dziệt Cộng trong việc thành lập các mật khu, các con đường di chuyển trong cuộc chiến tranh vừa qua. Đó là một thành công.
Cũng trong thời kỳ đó, ông Ngô Đình Nhu, cố vấn của tổng thống Diệm, đưa ra “Quốc sách Ấp Chiến lược”. Trên căn bản thì đúng, trong thực tế thì hỏng. Tôi nói rõ hơn. Nhìn thấy vai trò chiến lược của “ấp” là có nhận xét sâu sắc, tinh tế và căn bản. “Ấp” là đơn vị nhỏ nhất trong tổ chức làng xã Việt Nam. Xây dựng ấp là coi như có thể nắm được ấp. Nắm được “ấp” thì Dziệt Cộng không ngo ngoe gì được. Nhưng khi đem chiến lược đó ra thực hiện thì lại hỏng.”
– “Hỏng như thế nào?” Viên thiếu ta hỏi tôi.
– “Có nhiều lý do. Thứ nhất là cán bộ thi hành chính sách. Họ không nắm rõ chính sách của chánh phủ, không đủ khả năng, không có trách nhiệm. Những ông quận trưởng cứ lùa dân vào sống trong những hàng rào kẽm gai là coi như hoàn thành công việc, báo cáo thực hiện xong “Ấp chiến lược”, mặc dù họ có biết hay không làm như thế là gây khó khăn, khôn khổ cho dân chúng.
Người dân quê vốn sinh sống tự do, làm nhà hai bên bờ sông, bên bờ kinh rạch, có nước ngọt, đi lại dễ dàng bằng ghe xuồng, giờ giấc làm ruộng, đánh cá theo mùa. Lùa dân chúng vào trong “ấp chiến lược”, giờ giấc mở cổng, đóng cổng do nhà nước ấn định, trở ngại cho việc làm ăn sinh hoạt. Những chủ trương hay ho như mở trường học, trạm y tế, đường giao thông cho ấp chiến lược… thì lại không làm hay không làm được. Người dân vào ở trong ấp chiến lược không được giúp đỡ cái gì thêm mà lại gặp nhiều khó khăn thêm ra, như ở trong trại tù. Thành ra, chính phủ chủ trương “tát nước bắt cá” thì cá lại chui vào trong nước. Dziệt Cộng từ trong ấp chiến lược bắn súng ra chớ không phải từ ngoài tấn công vào.
“Còn một điều nữa, rất quan trọng. Cả hai nền Đệ nhứt và Đệ nhị Cộng hòa đều vi phạm. Đó là tính cách tự trị truyền thống của làng xã Việt Nam. Ngày xưa, vua chỉ cắt cử người của vua đến huyện, phủ là chót hết. Tri phủ, tri huyện là do nhà vua cắt cử. Còn trong mỗi làng, mỗi xã, chức sắc trong làng đều do dân bầu, mặc dầu việc bầu cử còn hạn chế ở một số người được đi bầu, nhưng nhà vua không can thiệp, không cắt đặt người của vua vào làng xã.
Thay vì giúp dân chúng phương tiện để tự xây dựng làng xã của họ thì chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, lại cho người của chính phủ nắm giữ một số chức việc ở làng, xã, sinh ra nạn nhũng nhiểu, bắt chẹt, tham ô…
“Rõ nhất là thời Đệ nhị Cộng hòa. Xã trưởng thì do dân bầu, nhưng phó xã trưởng an ninh là sĩ quan của chính phủ. Như thế thì tính cách tự trị truyền thống của làng xã Việt Nam không còn.
“Khi người Mỹ đi sâu vào chiến tranh Việt Nam, họ quan tâm đặc biệt đến nông thôn Việt Nam. Họ giúp chính phủ miền Nam thành lập các đoàn “Bình định Nông thôn”, sau đổi là “Xây dựng Nông thôn” hoạt động tại xã ấp, lại huấn luyện các viên chức xã ấp, nâng cao tinh thần và khả năng xây dựng thôn quê và chống Cộng. Dziệt Cộng rất thù ghét và rất sợ hàng cán bộ nầy, chứng tỏ sự hoạt động hữu hiệu của họ. Tuy nhiên, chương trình nầy không kéo dài. Vào cuối thập niên 1960, đầu 70 chương trình nầy càng ngày càng thu nhỏ lại, giảm nhân sự, bớt phuơng tiện, nên không còn hoạt động hữu hiệu như trước. Quân đội Mỹ vẫn tiếp tục dùng xe tăng và đại pháo hành quân tiêu diệt Dziệt Cộng.
“Chiến lược nầy, có tên gọi là “Tìm và diệt” làm tôi nhớ tới một câu nói của Sir Robert Thompson (5), một chuyên gia về chiến tranh du kích, là thầy của các ông, mà cũng là thầy của chúng tôi nữa, phải không?” (Tôi nhìn viên thiếu tá, ông ta nhìn lại tôi và cười), Sir Robert nói rằng “Cuộc chiến tranh có thể thắng bằng tim óc và chân trần”
Viên thiếu ta hỏi tôi:
– “Ông cũng có biết về Sir Robert?”
– “Về học tập trong ngành Cảnh Sát, tôi không thấy huấn luyện viên hay tài liệu nào dạy về Sir Robert, nhưng khi còn làm thầy giáo, tôi có đọc một số sách báo nói về ông ta. Ông là một sĩ quan không quân, chuyên viên thượng thặng về chiến tranh du kích, thành công ở Mã Lai, ở Phi luật tân. Thủ tướng Anh, tổng thống Mỹ phải lắng nghe ông ta nói.
“Tôi cũng có đọc một ít sách báo về tướng Lansdale (6), cũng là một chuyên gia chống du kích Cộng Sản. Công lao đoàn kết các lực lượng du kích chống Pháp để ủng hộ tổng thống Diệm, công lao xây dựng chế độ Đệ nhứt Cộng hòa của Nam Việt Nam là của tướng Lansdale.”
– “Theo ông thì người dân quê Việt Nam ủng hộ Cộng Sản?” Viên thiếu tá hỏi.
– “Thật ra, vấn đề nầy khác phức tạp.” Tôi nói. “Cái vỏ bọc “Chủ nghĩa Dân tộc” không lừa gạt được người theo đạo Thiên Chúa, người theo đạo Cao Đài, người theo Phật giáo Hòa Hảo là vì những tôn giáo nầy có những lý do chống Cộng đặc biệt của họ. Tôi không có thì giờ giải thích dông dài. Riêng về Phật giáo, nói chung, là tôn giáo của đa số người Việt, là một tôn giáo dính liền với văn hóa và lịch sử tồn tại của người Việt Nam, nhứt là dính liền với số phận dân tộc Việt qua những gian khổ, đàn áp và giết chóc của thực dân Pháp khi bọn Pháp xâm lăng Việt Nam, nên họ dễ bị mắc bẫy Cộng Sản vì cái vỏ bọc “Chủ nghĩa Dân tộc.”
– “Ông giải thích thêm được không?” Viên thiếu tá yêu cầu
– “Nó như thế nầy.” Tôi nói. “Văn hóa dân tộc Mã Lai có nền tảng trên đạo Hồi. Phải vậy không? (Viên thiếu tá gật đầu đồng ý). Khi người Anh xâm lăng Mã Lai, những giáo sĩ Thiên chúa giáo có liên kết với thực dân Anh đàn áp dân tộc Mã Lai để truyền dạo Thiên Chúa hay không? Nếu có, thì khi người Mã Lai chống lại đế quốc Anh, có chống lại đạo Thiên Chúa hay không?
Ở Việt Nam thì có đấy. Thực dân Pháp liên kết với các giáo sĩ Thiên Chúa giáo để xâm lăng Việt Nam. Đó là lý do khiến người dân quê Việt Nam nổi lên ủng hộ vua, trong các phong trào được gọi là “Phong trào Cần vương”, và phong trào tiếp sau đó, gọi là “Phong trào Văn thân.” “Bình Tây sát tả” là mục đích của phong trào nầy. Dĩ nhiên, người Pháp thắng lợi, các phong trào nầy bị đàn áp khốc liệt. Có nhiều làng, có nhiều người phải bỏ đạo Phật, theo đạo Thiên Chúa để được các giáo sĩ Thiên Chúa giáo che chở. Do đó, điểm căn bản của người dân quê yêu nước chính là ở chỗ đó. Đạo Phật ở Việt Nam cũng như đạo Hồi ở Mã Lai có chung số phận với dân tộc của họ. Như vậy, ông có thể hiểu rất rõ tại sao người dân quê cũng như các tu sĩ Phật giáo dễ bị Dziệt Cộng lợi dụng lòng yêu nước của họ.”
Viên thiếu tá nói:
– “Ở Mã Lai có khác, các giáo sĩ đạo Thiên Chúa không thể buộc dân tộc chúng tôi từ bỏ đạo Hồi được.”
Tôi nói:
– “Theo tôi hiểu thì đó là điểm căn bản của mỗi tôn giáo. Đạo Thiên Chúa là một tôn giáo “động”, Hồi giáo cũng là một tôn giáo “động”, Cộng Sản cũng là một tôn giáo “động”. Sự va chạm giữa các tôn giáo nầy rất kịch liệt, một mất một còn, như trong “thập tự chinh” vậy.
Phật giáo là một tôn giáo “tĩnh”, cam phận, chịu thua thiệt. Phật giáo chỉ phát triển ở những nơi chưa có tôn giáo, hay với những tôn giáo không gây va chạm như Lão giáo, Nho giáo… Từ đó, trong lòng người Việt Nam, nỗi đau khổ mất nước, mất đạo là một nỗi đau triền miên, tiếp nối từ thế hệ nầy qua thế hệ khác. Nếu không hiểu hoàn cảnh lịch sử bị Pháp xâm lăng của người Việt Nam, không hiểu tâm trạng của người Việt Nam bị đàn áp dân tộc và tôn giáo thì người ta sẽ có quan điểm rất phiến diện, có những cái nhìn rất lệch lạc về đạo Phật, về người dân quê Việt Nam, cho rằng họ ưa Cộng Sản.”
– “Bây giờ thì sao?” Viên thiếu tá lại hỏi:
– “Bây giờ thì dưới chế độ hiện nay ở Việt Nam, người mù cũng sáng mắt, có nghĩa là người ta đã thấy rõ bộ mặt thật của Cọng Sản.”
Viên thiếu tá tỏ lời khen ngợi tôi:
– “Cuộc phỏng vấn hôm nay rất lý thú. Ông là người hiểu biết về chống du kích Cộng Sản, có kinh nghiệm về công việc của ông. Ông từng nói chuyện với ai về công việc của ông chưa? Ông có khai báo với Cộng Sản khi ông ở tù không?”
– “Nếu tôi đã khai với Dziệt Cộng giống như hôm nay thì có thể tôi sẽ không được về sớm, chỉ hơn 7 năm. Tuy nhiên, tôi vẫn thường ấp ủ, suy nghĩ về những công việc tôi đã làm trong quá khứ, công việc dạy về văn chương Việt Nam cho học trò của tôi và công việc “giải hóa hạ tầng cơ sở Cộng Sản” khi tôi làm Cảnh sát trưởng.
Cả hai công việc nầy, tôi đang viết thành sách. Về môn văn chương tôi đã dạy, là môn Văn chương Bình dân Việt Nam, tôi đang viết. Xong, tôi sẽ dịch ra tiếng Anh, để cho trẻ con Việt Nam lớn lên ở Mỹ, không có cơ hội học tiếng Việt, sẽ biết về văn chương Việt Nam qua tiếng Anh, để chúng nó giữ gìn văn hóa ấy. Còn về công việc chống Cộng Sản, tôi cũng viết một cuốn sách, bằng tiếng Việt, nhan đề là “Chiến tranh Du kích, Chiến tranh Nhân dân”. Tôi viết bằng tiếng Việt, thuận tiện cho tôi. Nếu có dịp, tôi sẽ dịch ra tiếng Anh.”
– “Ông có thể cho tôi coi cuốn sách viết về du kích ông đang viết được không?” Viên thiếu ta yêu cầu.
Tôi nói:
– “Tôi không mang theo ở đây. Để tôi về phòng lấy.”
Sau đó, tôi về phòng lấy bản thảo cuốn sách đang viết lên. Viên thiếu tá cùng cô Mai thông dịch viên cúi xuống xem. Thỉnh thoảng, cô Mai dịch ra tiếng Anh những tiêu đề từng chương trong cuốn sách. Cuối cùng, viên thiếu tá nói:
– “Một việc tôi chưa từng gặp ở người tỵ nạn. Tôi rất vui. Tôi hy vọng ông sẽ sớm hoàn tất cuốn sách nầy. Nhiều người sẽ cần đến nó, không chỉ trong chiến tranh du kích chống Cộng Sản mà cả trong những cuộc chiến tranh du kích khác cũng vậy. Về căn bản, không khác nhau bao nhiêu.”
Thế rồi chúng tôi bắt tay nhau, hoan hỉ.
Tôi thầm nghĩ: “Khó mà hỏng thanh lọc.”
hoànglonghải.
(1) Trần Bình (Chin Peng), sinh năm 1924, lãnh tụ đảng Cộng Sản Mã Lai, do Cộng Sản Tầu dựng nên, hỗ trợ… Nguyên y là đàn em của Lai Teck (xem tiếp ghi chú số 3 ở dưới). Trần Bình lãnh đạo du kích Cộng Sản cho đến khi đầu hàng (1989), buông vũ khí về sinh sống ở miền Nam Thái Lan, sát biên giới Mã Lai.
(2) Ban đầu, Hukbalahap, thường gọi là du kích Hukb, là một phong trào du kích chống Nhựt, khi Nhựt chiếm Phi trong thế giới Chiến tranh Thế giới thứ hai. Phần đông là nông dân ở đảo Lữ Tống (Luzon), lãnh tụ của họ là Luis Taruc, một phần tử Cộng Sản. Phong trào du kích nầy chiếm cứ nhiều khu vực, lập chính quyền địa phương và hoạt động chống Nhựt. Sau khi Nhựt đầu hàng, du kích Hukb vẫn tiếp tục hoạt động và có nhiều hành động thổ phỉ. Dân chúng lên án bọn du kích Hukb, trong khi chúng vẫn tự xưng là “Quân đội Giải phóng Nhân dân”. Năm 1955, du kích Hukb bị quân đội chính phủ dưới quyền tổng thống Magsaysay đánh bại.
(3) Lai Teck, còn gọi là Lai Te, Loi Teck, dịch từ tên Hán Việt. Y là một người Việt lai Tầu, sinh trưởng ở vùng Đông Bắc Thái Lan, nơi có nhiều người Việt cư ngụ. Khi thầu Chín (Hồ Chí Minh) hoạt dộng ở vùng nầy, đã chọn y làm lãnh tụ cho phong trào Cộng Sản ở Thái Lan và bán đảo Mã Lai. Tuy nhiên, Lai Teck lại là một nhân viên tình báo bí mật của Pháp. Y lãnh đạo du kích kháng Nhựt, sau trở thành du kích Cộng Sản. Sợ bị tiết lộ, y rời bỏ phong trào nầy, Trần Bình (Chin Peng) thay y làm lãnh tụ phong trào du kích ở Mã Lai. Sau khi trốn qua Hồng Kông, Lai Teck trở về cư trú ở Thái Lan, không còn hoạt động gì.
(4) OSS viết tắt của mấy chữ Office of Strategic Services, cơ quan tình báo của Mỹ trong thế giới chiến tranh thứ hai, tiền thân của CIA ngày nay. OSS có văn phòng hoạt động ở vùng Hoa Nam và thượng du Bắc Việt. Khi hoạt động ở vùng nầy, Hồ Chí Minh từng cộng tác với OSS, nhận trợ cấp tiền bạc và vũ khí của Mỹ, liên hệ chặt chẽ với nhóm OSS nầy, đứng đầu là Chennault. Theo Hoàng Văn Chì trong cuốn “Từ Thực dân đến Cộng sản” thì Hồ Chí Minh cũng như Võ Nguyên Giáp có theo học một khóa về du kích chiến, do thiếu tá Smith huấn luyện. Viên thiếu tá nầy cũng thuộc trong nhóm OSS của Chennault.
Trích đoạn:
“Các học giả khác thì nhấn mạnh đến vai trò của người Việt Nam trong GBT. Theo Cecil B. Currey, từ năm 1942 các cán bộ Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng… đã cung cấp những thông tin hữu ích cho hoạt động tình báo của Đồng Minh – nhóm GBT. Phóng viên Robert Shaplen có quan điểm hơi khác về sự hợp tác này. Ông nhấn mạnh hợp tác của GBT với Việt Minh nhiều hơn là ngược lại: “Đến với ông (Hồ Chí Minh) là đại diện của nhóm dân sự các cựu doanh nghiệp Mỹ ở Đông Dương đã có thời cộng tác với người của ông”.
Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp cùng một số thành viên nhóm tình báo “Con Nai” tại Hà Nội năm 1945.
(5) Robert Thompson thuộc Không quân Hoàng gia Anh, từng hoạt động ở Miến Điện trong Thế giới Chiến tranh Thứ hai. Từ năm 1950, hoạt động ở Mã Lai, trong vai trò lãnh đạo công cuộc diệt trừ du kích Mã Lai. Ông thành công và nổi tiếng từ đó. Theo một số giáo sư đại học ở Saigon, quốc sách “Ấp chiến lược” của ông Ngô Đình Nhu được gợi ý từ “Strategic hamlets initiative” của Sir Robert thompson.
(6) Lansdale: Trong thế giới Chiến tranh thứ hai, ông phục vụ trong ngành tình báo (OSS). Khi chiến tranh chấm dứt, ông phục vụ tại bộ chỉ huy Tây Thái Bình Dương của Không quân Mỹ, cũng trong ngành tình báo, giúp xây dựng ngành tình báo cho quân đội Phi Luật Tân, giúp quân đội Phi tiêu diệt loạn quân Hukbalahap. Khi ông Magsaysay làm bộ trưởng quốc phòng Phi, Lansdale giúp đỡ rất đắc lực, và hai người trở nên bạn thân. Lansdale giúp quân đội Phi trong các công tác chiến tranh tâm lý, các hoạt động xã hội và phục hồi đời sống dân sự cho loạn quân Hukb sau khi họ ra hàng.
Năm 1953, Lansdale qua Việt Nam phục vụ trong phái bộ quân sự của tướng O’Daniel, cố vấn cho quân đội Pháp chống du kích Việt Minh. Giữa thập niên 1950, Lansdale làm việc ở Saigon, giúp đỡ việc xây dựng và phát triển Quân đội Quốc Gia Việt Nam (tiền thân Quân đội VNCH), vận động các lực lượng du kích không Cộng Sản chống Pháp về hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm và giúp tổng thống Ngô Đình Diệm trong việc ổn định gần một triệu người di cư do hậu quả của hiệp định đình chiến Genève 1954 về Việt Nam, xây dựng nền Đệ nhứt Cộng Hòa. Chính ông là người trực tiếp móc nối tướng Trình Minh Thế ở Tây Ninh về hợp tác với thủ tướng (chức vụ hồi đó) Ngô Đình Diệm, và cuộc trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 10 năm 1955. Tuy nhiên cũng chính vì sự gian lận trong cuộc trưng cầu dân ý nầy mà Lansdale có mối bất hòa với ông Ngô Đình Diệm. Mối bất hòa càng sâu sắc khi tổng thống Diệm dựng nên một chế độ độc tài ở miền Nam VN.
Sau đó, Lansdale rời Việt Nam. Từ năm 1961, Lansdale lại góp phần trong các chiến dịch chống lại Phidel Castro ở Cuba.
Phân biệt đối xử Trại Bidong thì có nhiều cơ quan chăm sóc cho người tỵ nạn như Phòng Phát Triển Cộng Đồng, Trung Tâm Phụ Nữ, Khu Cô Nhi, khu Thanh Nữ, Trường Anh (dạy tiếng Anh), trường Pháp (dạy tiếng Pháp), trường Tiểu học, v.v…
Trại Sungei Beshi thì không có gì cả, ngoại trừ lớp dạy về “Đời Sống Mỹ” cho những người sắp định cư ở Mỹ. Tất cả đều bị dẹp hết! Cơ quan Cao ủy Tỵ Nạn Liên Hợp Quốc chỉ còn lại một văn phòng nhỏ, chưa tới mười người, lo việc định cư cho những người đậu thanh lọc, có nghĩa là những người được xác nhận là tỵ nạn chính trị. Phần đông, số còn lại, bị coi là người tỵ nạn kinh tế, vì “đói ăn” mà phải rời bỏ quê hương. Những người nầy “không thuộc trách nhiệm của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hợp quốc”.
Họ phải gánh chịu nhiều thiệt thòi, từ các sinh hoạt thông thường như cái ăn, cái mặc, học hành, v.v… và v.v… Đời sống của họ, trên nguyên tắc, chính phủ Mã Lai phải gánh gồng lấy. Mã Lai thì nước không giàu, đất không lớn, dân không đông, lợi tức ít, thành ra việc nuôi ăn con số hơn mười ngàn người hỏng thanh lọc, còn ở trại là gánh nặng của họ. Họ muốn trút gánh nặng đó đi, càng sớm càng tốt, vừa đỡ “của nợ” cho họ mà Liên Hợp quốc cũng khỏe ra.
Người hỏng thanh lọc gánh đủ thứ chuyện, từ ăn uống bị hạn chế, cắt giảm, thiếu thốn. Quần áo cũ từ các nước gởi về, cũng không được cấp phát như trước. Trường Anh, trường Pháp cũng không còn. Chỉ còn trường tiểu học đang “hấp hối”. Các bà “xơ” cố duy trì ngày nào hay ngày nấy để trẻ con phải thất học. Bệnh viện cũng không còn, bác sĩ của Cao ủy cũng không còn, chỉ còn phòng khám bệnh với mấy ông bác sĩ tỵ nạn như bác sĩ Vũ Ngọc Khuê, vợ là bác sĩ Đinh Tuyết Hoa (cả hai ông bà nầy đều hỏng thanh lọc), bác sĩ Hồng Khắc Xuân Vinh. Ai bị bệnh nhẹ thì các bác sĩ nói trên chữa chạy. Gặp trường hợp nặng hơn hay đẻ đái gì đó thì họ xin với Task Force Mã Lai đưa ra bệnh viện Kuala Lampur.
Rõ ràng bây giờ thì người Mỹ muốn “dang” người tỵ nạn nên Cộng đồng Châu Âu thường đến “thăm” và khuyến dụ đồng bào hỏng thanh lọc hãy tình nguyện… về đi. Người về thì được cấp phát quần áo ưu tiên, cho năm chục “đô” để lận túi đi đường. Về tới Việt Nam thì mỗi tháng được chu cấp ba chục “đô”, kéo dài 12 tháng như thế. Sau đó thì… “sống chết mặc bây”, có bị Dziệt Cộng đàn áp, kỳ thị, gây khó khăn gì không thì Cao ủy… không biết tới.
Hồi còn trại Bidong, phái đoàn EC (Cộng đồng Châu Âu), gồm có mấy ông Tây bà đầm tới dụ dỗ một lần. Sau nầy, họ cón tới trại Sungei một lần nữa, cũng không mấy người nghe họ, coi như các nước Châu Âu giàu có, vừa đãi phái đoàn một chuyến du lịch Đông Nam Á, vừa làm Tô Tần (2) thuyết khách mà chẳng ăn khách chút nào.
hoànglonghải
(1) Tô Tần, người ở Lạc Dương nước Đông Chu, là một biện sĩ đi du thuyết thời Chiến Quốc, nổi tiếng về khả năng du thuyết.
Tô Tần đầu tiên định gặp vua Tần, lấy khả năng du thuyết của mình để thuyết phục Tần Huệ Vương. Nhưng Tần Huệ Vương vừa mới giết Thương Ưởng nên ghét những người biện sĩ, không dùng Tô Tần.
Sau đó Tô Tần lần lượt qua nước Triệu, nước Yên, nước Hàn, nước Ngụy, nước Tề, nước Sở. Trong thời gian ở Triệu, Tô Tần sợ Tần đánh Triệu liền trêu tức Trương Nghi khiến Trương Nghi sang làm tể tướng nước Tần. Tô Tần đi qua nước nào cũng dùng tài du thuyết của mình, chỉ ra cho vua các nước thấy cái lợi của việc hợp tung. Từ đó các vua đều tin Tô Tần muốn sử dụng thuyết hợp tung của ông. Tô Tần được vua Triệu phong làm Tung ước chưởng và cầm ấn Tướng quốc 6 nước.
Sau khi việc hợp tung 6 nước hoàn thành, nước Tần không mang quân đi đánh các nước khác trong vòng 15 năm. Nhưng về sau, các nước vì lợi của nước mình mà phá minh ước đem quân đi đánh lẫn nhau. Tô Tần liên tục qua các nước để du thuyết khuyên các nước bãi binh trả lại thành trì cho nhau. Cuối cùng Tô Tần ở nước Tề làm quan.
Ở nước Tề, Tô Tần bị các đại phu nước Tề ghét, tranh giành sự tin yêu của Tề Mẫn Vương nên sai người đâm Tô Tần. Tô Tần bị thương nặng. Vua Tề tìm hung thủ nhưng không bắt được. Đến lúc gần chết Tô Tần nói với Tề Vương:
“Thần chết xin dùng xe xé xác thần mà rao ở chợ: Tô Tần vì Yên mà làm loạn ở Tề. Như thế thì thế nào cũng bắt được hung thủ giết thần.”
Tô Tần nói vậy nhằm mục đích khiến mọi người tưởng Tô Tần là kẻ có tội bị vua Tề ghét, kẻ giết Tô Tần sẽ lộ diện.
Vua Tề làm theo. Quả nhiên người giết Tô Tần tự ra nhận. Tề Mẫn Vương bèn bắt hung thủ mang chém.
Tô Tần đến lúc chết còn báo oán người giết mình nhưng báo ân cũng rất đầy đủ. Khi ông được làm Tướng quốc có qua Lạc Dương liền đem nghìn vàng phân phát cho họ hàng, bè bạn. Khi trước ông có vay người khác một trăm quan tiền làm vốn đến khi phú quý báo đáp một trăm nén vàng.
Tô Tần được người đời sau coi trọng về tài du thuyết, người có tài ăn nói, gọi là thuyết khách.
Dĩ nhiên, ngôi nhà gọi là “Trung tâm Phụ nữ”, bảng ghi là “Woman Centre”, chớ không ghi là “Woman center” là cơ quan phục vụ cho các con, cháu của hai bà Trưng, Hai bà Triệu”. Khi vợ chồng tôi đến đảo, cô Hồng Bích đang trông coi cơ quan nầy, ngoài cửa văn phòng có bảng đề là “Tư vấn Hồng Bích”. Người phụ tá cho cô Tư vấn Hồng Bích cũng là một người tỵ nạn, tên là Phạm thị Thu Thủy, là “cô hàng xóm” của chúng tôi ở Việt Nam. Cô Thủy vượt biên cùng người em tên là Phạm Hoàng Mãnh, sau tết âm lịch 1989 mấy hôm.
May mắn, họ đến đảo trước ngày “cut off date”, nên khỏi phải thanh lọc. Hôm tôi đến trại, anh Phạm Hoàng Mãnh (PHM) biết nên đến thăm, “tha hương ngộ cố tri”, xứ lạ quê người, tìm nhau, thăm hỏi, chúc mừng. Vì mới tới trại hai hôm, chưa được lãnh phần thực phẩm gì nên anh Phạm Hoàng Mãnh đem đến cho đứa con nhỏ của tôi một hộp sữa đặc có đường, thực phẩm cho trẻ em, được trại cấp phát. Thân phụ hai chị em nầy là ông Phạm H. Hùng, trước 1975 là giáo sư trung học đệ nhứt cấp, biệt phái làm trưởng phòng nhân viên bộ Giáo Dục. Sau 1975, khi tôi đi tù cải tạo về, thường gặp nhau chuyện trò… Khoảng vài tuần lễ, sau khi tôi tới đảo, một hôm anh Phạm Hoàng Mãnh lại đến nói chuyện với tôi. Anh ta than rằng đang lo lắng về việc định cư. Bố anh ta có tham gia chế độ cũ, có thể anh ấy được đi Mỹ, nhưng anh ta lại muốn đi Úc vì ở Úc bảo lãnh vợ con dễ và mau hơn. Anh vượt biên một mình, để vợ con lại cho cha mẹ anh. Người chị thì chưa chồng con chi cả. Hai chị em cũng có mối lo chung như mọi người, không chắc phái đoàn nước nào sẽ nhận, bao lâu đi định cư. Họ không muốn ở đảo lâu dài, v.v… Tôi hỏi Phạm Hoàng Mãnh:
– “Anh muốn đi Úc phải không? Sao không nói với ba anh xin cho!”
Phạm Hoàng Mãnh trợn mắt, ngạc nhiên:
– “Ba em mà xin cái gì được?”
Tôi nói, từ tốn:
– “Anh phải nhớ, ba anh, trước 1975, có du học ở Úc, dự một khóa tu nghiệp về “Quản trị nhân viên” bên đó. Học xong, về lại Việt Nam thì “đứt phim”, phải không?”
Phạm Hoàng Mãnh trả lời “phải”.
– “Bây giờ như thế nầy nè! Anh viết thư về cho ổng, bảo tôi mách nước, ông viết một lá thư gởi thẳng cho thủ tướng Úc, bây giờ là ông Bob Hawke, nói rằng trước 1975, ba anh có du học bên đó, vô cùng hâm mộ nước Úc, văn minh tiến bộ, nhất là về giáo dục. Do đó, ông có tự hẹn với lòng khi con ông lớn lên, ông sẽ cố gắng cho con du học Úc. Không ngờ chuyện 30 tháng Tư làm ông thất vọng. Nay, ông có hai người con, – ghi tên cô Thủy và tên anh vào -, vượt biên, đang ở trại nầy. Ba anh hy vọng phái đoàn Úc sẽ chiếu cố, cho chị em anh định cư ở Úc, để ba anh đạt được cái ước vọng hai mươi năm trước. Tui hy vọng thủ tướng Úc sẽ xem xét cho trường hợp anh.”
Phạm Hoàng Mãnh nói:
– “Ý kiến chú ngon lành nghe! Nhưng gởi thư cho thủ tướng Úc bằng cách nào?”
– “Chán gì cách”, tôi nói. “Gởi thẳng cho tòa đại sứ Úc ở Hà Nội, gởi qua Canberra, thủ đô Úc, chính thức hay gởi chui. Thiếu gì đường giây chui.”
Tuy có vẻ tin tưởng điều tôi nói, nhưng Phạm Hoàng Mãnh lại lo:
– “Không biết thủ tướng Úc có chịu đọc thư ba em không?”
– “Ông đừng lo,” tôi nói. “Thì giờ đâu ông ta đọc. Tham vụ báo chí phủ thủ tướng đọc, tóm tắt, trình cho ông. Ông phê OK, thế là xong.”
Phạm Hoàng Mãnh vẫn thắc mắc:
– “Chú nghĩ tình hình Úc bây giờ có dễ nhận người tỵ nạn không?”
– “Họ nhận, nhưng chọn kỹ hơn, không như trước kia.
Nước Úc rộng gần bằng nước Mỹ mà dân số mới 17 triệu, trong khi đó Mỹ có 270 triệu (con số thời bấy giờ). Phía bắc Úc đất còn bỏ trống nhiều vì thiếu người. Muốn biến đất ấy thành của cải, làm giàu như Mỹ thì họ rất cần người, người có skill thì tốt, hoặc ai chịu học hành, họ sẽ giúp đỡ, sau ra phục vụ cho đất nước họ. Tình hình như thế, làm sao họ bỏ lơ cái thư của ba anh được. Nghe tôi đi, gởi thư cho ba anh, lẹ lên.”
Chỉ một tháng sau, phái đoàn Úc đến đảo và gọi ngay tên hai chị em Phạm Hoàng Mãnh lên phỏng vấn qua loa rồi nhận cho đi Úc. Phạm Hoàng Mãnh cám ơn tôi rối rít.
Cũng vì câu chuyện nầy, cô Thủy, chị Phạm Hoàng Mãnh đến thăm nhà tôi, cám ơn rồi mời lên “Trung Tâm Phụ Nữ” chơi, giới thiệu nhà tôi với cố vấn Hồng Bích, khoe rằng nhà tôi “Cái chi cô cũng giỏi, nấu ăn, may vá, đan len…” Cố vấn Hồng Bích thấy nhà tôi vui chuyện, hòa nhã, có “tài” nên cứ mời lên hoài, nay nhờ việc nầy, mai giúp việc khác, như dạy may cắt, thêu đan, dạy nấu ăn cho các chị em phụ nữ, thành ra quen thân. Từ đó, nhà tôi được nhiều người biết: Nấu ăn ngon nhất, thường nấu giúp cho cao ủy trong các bữa tiệc tùng, may giúp áo kimono cho các bà cao ủy. Dĩ nhiên, các cao ủy không bao giờ quên yêu cầu nhà tôi cho ăn món “egg roll” mỗi khi họ nhờ nấu ăn. Cũng do đó nhà tôi quen thêm các cố vấn nữ người Mã, cô cao ủy Daeng, các cô gái làm ở supply, trong đó có Mai Ly, con nhỏ đẹp lắm, là bạn của các con tôi khi cô ta chưa vượt biên. Các cô nầy thường được ưu tiên chọn áo quần, khi có hàng mới về, đem áo quần đẹp biếu nhà tôi để “trả ơn” nhà tôi chỉ cho họ cách sửa, cắt may lại, mặc cho vừa người vì hàng cứu trợ thường là hàng Âu Mỹ, rộng thùng thình.
Nhân đây, tôi cũng xin cám ơn vài người, qua nhà tôi, họ đã giúp đỡ gia đình tôi, như cô Mỹ Duyên, cho sửa nhà cửa, như tôi đã nói, cô giáo Trần Thị Yến, nay định cư ở Arizona, nguyên là giáo viên trường Lương Văn Can ở quận 6 Saigon. Ở đảo, cô là người dạy vỡ lòng cho con gái út của tôi. Nói tới việc giáo dục ở Bidong, cũng như sau nầy ở trại Sungei Beshi, không ai có thể quên được “xơ” Joan. Bà người Úc, làm việc thiện nguyện ở các trại tỵ nạn Mã Lai ngay từ những ngày đầu, khi trại Bidong mới được thành lập, đã gần 15 năm. Khi đến đây, bà còn trẻ. Trước khi đi định cư, chúng tôi lên trường tiểu học chào “xơ” Joan để từ biệt, lưng bà đã còng xuống, như cái cung. Vậy mà “xơ” Joan vẫn chưa chịu nghỉ hưu. Bà nói: “Bao giờ người tỵ nạn còn ở đây thì tôi còn ở đây.” Nhà tôi cầm tay bà nói lời từ biệt qua hai dòng nước mắt chảy dài trên má. Bà nhìn nhà tôi, cười, biểu đừng khóc. Bà bảo “Hãy vui lên đi! Mọi việc an lành, Chúa sẽ chăm lo cho.” Xong, bà mở ví lấy hai chục đồng tiền Mã, trao cho nhà tôi, bảo mua cái gì đó mang theo mà ăn.”
Bà nói mãi, nhà tôi mới cầm hai chục đồng bạc ấy. Khi bỏ hai chục đồng bạc bỏ vào bóp, nhà tôi nói với tôi: “Em sẽ không tiêu hai chục nầy. Nó là tấm lòng của bà “xơ”, để làm kỷ niệm, tiêu mất, tội nghiệp bà.”
Phụ lục:
Bài báo do Thu Hương viết, nói lên lòng biết ơn và lời tiễn biệt cố vấn Hồng Bích. Thu Hương, tác giả là nhà tôi. Bài báo được viết lại như sau đây:
Đưa tiễn và nhớ ơn. Kỷ niệm ngày CV Hồng Bích rời P. Bidong 14-6-1990 Trước Văn phòng thì bảng đề là “Tư vấn Hồng Bích”, nhưng đồng bào trên đảo thì thường gọi một cách thân mật là “Cố vấn Hồng Bích”, cũng như cố vấn Teoh, cố vấn Hùng. Ở đây, đồng bào hiểu một cách đơn giản chữ cố vấn có nghĩa là giúp đỡ. Sau gần 2 năm ở đảo, quả thật Cố vấn Hồng Bích đã giúp đỡ biết bao nhiêu người, không phải bằng vật chất mà chính yếu là bằng tinh thần. Đối với các em gái gặp hải tặc trên đường vượt biển, cố vấn Hồng Bích là người an ủi, xót xa thương cảm, khuyên bảo ngọt ngào của một người chị, người mẹ. Đối với những gia đình chị em gây gổ xung khắc, cố vấn Hồng Bích là sự hòa giải, đem lại cuộc sống yên vui cho mọi người. Đối với những “ngu phụ ngu phu, giận đánh nhau u đầu chảy máu” thì cố vấn Hồng Bích là sự hàn gắn, đem lại hạnh phúc lứa đôi. Đối với “nữ kê tác quái” thì CV Hồng Bích là ngọn đuốc soi đường để hướng dẫn họ trở về nẽo chánh.
Cho nên, tin CV Hồng Bích mãn nhiệm kỳ, không lưu lại nữa làm cho đồng bào xôn xao, bàn tán và tiếc nuối. Lẽ tất nhiên cũng không tránh khỏi những suy đoán, diễn dịch, cộng thêm “lời bàn Mao Tôn Cương” về một cô CV còn trẻ, duyên dáng và… chưa chồng.
Như trong buổi party đưa tiễn của các phòng, ban, đoàn thể và cả đêm văn nghệ giã từ CV 12 tháng 6 năm 1990, CV Hồng Bích đã xác nhận rõ ràng là cô đến đây, cũng như 9 năm trước, khi cô bắt đầu rời Mỹ để đến các trại tỵ nạn là không phải vì một mối tình tan vỡ nào cả mà lại phải đi tìm… quên. Lời nói của cô, rõ ra là lời nói của một người vừa khôn, vừa khéo lại có văn hóa. Nếu như cô đến đây vì một hành động “cắt dứt giây chuông” theo kiểu “Hà Triều Hoa Phượng” thì đâu còn cái Cao thượng của một người biết sống Vị tha và Hy sinh. Chín năm qua, cô đi từ trại nầy qua trại khác, phục vụ đồng bào là vì Thương mến đồng bào và cảm thông những nỗi cay đắng, ngậm ngùi của người Vong quốc, của kẻ bỏ xứ ra đi. Cái Cao đẹp của một cuộc đời là ở chỗ đó. Cái Vĩ đại của một con người là ở chỗ đó. Hèn chi các họa sĩ, điêu khắc của phòng PTCĐ đã tặng cô bức tranh chạm, có chiếc thuyền vượt biên đi trong biển máu, dưới có ghi hai câu thơ thật ý nghĩa:
Chín năm, sống cho đời,
Làm nên gương sáng để người soi chung
Với một Tấm lòng như thế, một tình cảm Cao thượng như thế, nên khi bước chân lên cầu tầu jetty, để giã từ Bidong, lại một lần nữa, CV Hồng Bích đã khóc như mưa, như một cô gái phải giã từ gia đình yêu dấu. Và cả Đại Gia Đình Bidong đưa tiễn, cũng không làm sao đong hết những giọt nước mắt ly biệt.
Trong hoàn cảnh hiện tại, kết quả thanh lọc không cao, bao nhiêu người đang lo lắng, sợ sệt, băn khoan, nhất là đối với các bà, các chị,… rồi đây, tình hình trại sẽ thế nào? May mắn được yên ổn như hôm nay chăng, thì sự thiếu vắng CV Hồng Bích là mất đi một chỗ nương tựa cho Cộng Đồng Người Việt Tự Do tỵ nạn Cộng Sản tại P.Bidong.
Đại dịch COVID-19 từ Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc bên Tàu tràn lan, làm người dân toàn thế giới phải lao đao. Thành phố bị phong tỏa, người dân bị cô lập, không mần hoặc ăn (chơi) gì được hết ráo.
Không đươc phép đi làm để kiếm tiền. Cứ bị nhốt ở nhà với vợ, với con. Con thì khóc nhè. Vợ thì càm ràm, cằn nhằn. Ngày này qua ngày khác, ánh sáng không thấy le lói cuối đường hầm. Càng lúc càng tuyệt vọng, làm mình muốn nổi điên lên.
Biết đem cái ấm ức, cái bực tức này trút về đâu? Trút vô lỗ tai của con vợ, đố cha mấy thằng Úc nó dám. Chỉ còn một cách là đem cái hầm hè nầy trút vào lỗ tai các chánh trị gia. Tại mấy cha mới ra nông nổi này!
o O o
Theo luật lệ của chánh phủ Liên bang đặt ra là: Từ hải ngoại trở về, ai cũng phải cách ly tại khách sạn do chánh phủ chỉ định suốt 14 ngày. Công du Hoa Kỳ trở về, Thủ tướng Scott Morrison không bị buộc phải cách ly tại khách sạn mà được ở nhà với “bà xã”, em yêu. Mặc dù đang bị cách ly không được phép nhưng Thủ tướng Úc Scott Morrison đã tổ chức một cuộc họp báo tại Dinh Thủ tướng The Lodge. Người dân Úc không ai càm ràm gì ráo; vì cho rằng thôi kệ cho ổng xé rào để phục vụ cho nước, cho dân.
Tuy nhiên khi thời gian cách ly vẫn chưa hết, Morrison đã đăng một bức ảnh mình đang nướng đùi gà. Ăn nhậu với bạn bè trên trang mạng xã hội Instagram. Với lời chú thích: “Ngày 13 của tiến trình kiểm dịch gần như đã hoàn thành… Ðêm tối thứ Bảy gà, cà tím, và rau”.
Thịt nướng và rau rác làm mồi! Bù khú hết chai này; vặn nút chai kia. Vui hết biết! Nhậu “chui” với bạn bè, lúc bị cách ly, mà còn đem khoe rùm. Ỷ làm Thủ tướng rồi coi trời bằng vung; ngồi xổm trên luật pháp?
Dư luận dân Úc phân hai. Một nịnh Scott Morrison: “Giỏi lắm! Ngon lắm! Tuyệt vời! Cứ thế nhé!”. Nhưng người khác bực bội đem Thủ tướng Scott Morrison ra làm bao cát. Bài đăng của ông ta không được người dân Úc “hồ hởi phấn khởi” đón nhận gì hết ráo! Họ quạu quọ nói rằng: “Scott Morrison “out of touch” (xa rời quần chúng). Hiện tại, NSW, Victoria và ACT vẫn còn bị phong tỏa. Người Úc bị mắc kẹt ở nước ngoài khó được trở về nhà. Nếu được trở về, là phải trải qua 14 ngày kiểm dịch trong một cơ sở do chánh quyền quản lý rất chặt chẽ. Thậm chí không thể mở cửa sổ. Tự mình nấu một bữa ăn còn chưa được nói chi đến việc tụ tập để ăn nhậu”.
Một người khác cho biết, bài đăng là một “giai điệu dành cho người điếc” vì không người Úc nào muốn coi, muốn nghe hết ráo trong thời ôn dịch này!
Scott Morison muốn quảng cáo? Dẫu làm Thủ tướng nhưng không sống xa hoa. Cũng ăn nhậu bình thường như thiên hạ. (Scott Morrison bắt chước Mike Pompeo, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ, từng mang tạp dề rửa chén cho vợ đó mà).
Ai dè bị chúng chửi. Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật mà chơi tiêu chuẩn kép. Một cho quan và một dành cho dân ngu khu đen. Chơi kiểu: “Hãy làm những điều tôi nói. Ðừng nói những điều tôi làm”. Chơi như vậy kỳ lắm nhe mấy cha. Nước Úc dân chủ chớ đâu phải là nước độc tài cộng sản!
o O o
Hịch hạc miền Tây, tánh của dân mình, nên tui coi hành động cuối tuần tụ bè, tụ đảng ăn nhậu tưng bừng của ông Thủ tướng trong lúc bị cách ly, dẫu làm dân Úc hầm hè, nó là chuyện nhỏ như con thỏ. Nó là cơn bão trong tách trà.
Vì tui đã biết cái chuyện này nó xảy ra hà rầm trước khi tui đào thoát khỏi chế độ độc tài CS. Tui thừa biết: Tiếng dân kêu khóc mà có lọt tới tai quan thì cũng như đàn khảy tai trâu. Các lãnh đạo trong chế độ độc tài CS, họ chỉ nghe cái họ muốn nghe. Biết cách lãng tai bất cứ lúc nào họ muốn.
Còn cái chuyện làm bậy, bị bắt gặp quả tang, phải đỏ mặt tía tai, tự mình ên xấu hổ là không có đâu. Vì bà con mình ai cũng biết: da mặt của họ dày cui như miếng da trâu. Nên tui nghĩ chánh trị gia xứ Úc nầy, nó cũng “sêm sêm”. Nhưng lần này, trước cái thái độ quan liêu của quan chức cầm quyền tại tiểu bang Queensland làm tui quạu thiệt nhe!
Chẳng qua chuyện vầy: Cháu Lenny, 6 tuổi, cần phải mổ não nên cha cháu là ông Fabio không còn lựa chọn nào khác là phải đưa con mình ra nước ngoài, đến Mỹ. Cho dù biết trước những khó khăn, ông có thể gặp phải khi đưa con mình từ nước Mỹ trở về nhà. Ông Fabio Silveira đã chuẩn bị và thông báo cho chánh phủ Queensland về tình hình của con mình từ nhiều tháng trước. Nhưng hành trình của hai cha con trở về nhà ở Bokarina, vùng Sunshine Coast, tiểu bang Queensland như ông tiên liệu đã không dễ dàng một chút nào!
Ông Fabio Silveira và con trai Lenny
Vì chuyến bay ngày trở lại Úc ga cuối là ở Sydney, nên họ bị buộc phải cách ly trong một khách sạn ở Sydney hơn một tuần. Sau ba lần nộp đơn xin đặc cách để được cách ly tại nhà, đều bị chính quyền tiểu bang Queensland từ chối.
“Tôi hiểu mức độ nghiêm trọng của đại dịch COVID-19 và hậu quả của bất kỳ sự miễn trừ nào, nhưng chúng ta đang nói về một cháu bé 6 tuổi cần một chương trình trị liệu phục hồi cực kỳ chuyên sâu 20 ngày sau khi phẫu thuật”, ông Silveira nói với chương trình Today của Ðài Truyền hình số 9.
Sau khi mời Lenny và ông Silveira làm khách mời trên Today, người dẫn chương trình Karl Stefanovic đã gọi cách giải quyết của chánh phủ Queensland là đáng “ghê tởm”.
Karl Stefanovic đặt câu hỏi, quốc gia kiểu nào lại làm như vậy với một cháu bé đang bị bịnh nặng mới mổ não từ hải ngoại trở về?
Stefanovic nói: “Hãy xem đứa trẻ bị bại não này, đang bị cách ly trong khách sạn. Thật đáng kinh tởm; nếu chúng ta không miễn trừ cho những trường hợp đặc biệt như vậy. Tôi không biết điều gì đã và đang xảy ra với đất nước này. Chánh phủ Queensland cần xem xét vấn đề này và sửa chữa nó ngay lập tức”.
Sau khi xem câu chuyện của Lenny trên chương trình Today, Bộ trưởng Y tế Liên bang Greg Hunt đã thúc giục chánh phủ Queensland cho phép cháu Lenny được trở lại tiểu bang. Cuối cùng trước sức ép dữ dội của dư luận từ tâm, chánh phủ Queensland phải nhượng bộ bằng cách chấp thuận cho Lenny Silveira được đoàn tụ với mẹ ở nhà. Bạn không thể lau sạch nụ cười trên khuôn mặt Lenny khi cháu nhìn thấy mẹ và anh chị em của mình tại phi trường, ngày gặp lại.
o O o
Nhưng câu hỏi hiện đang được dân Úc đặt ra là: “Tại sao lại phải xuất hiện trên chương trình Today của Ðài Truyền hình số 9 thì mới được những quan chức cho phép Lenny và Fabio trở lại Queensland?”, “Giám đốc Y tế của Tiểu bang Queensland đã biết từ tháng 7 thì không nên để chuyện đó được lên truyền hình rồi mới đưa ra quyết định”.
Câu trả lời có lẽ là do hành xử quan liêu, máy móc.
Dửng dưng trước cái khổ đau của người khác. Sợ trách nhiệm. Sợ mất cái “job” rất thơm. Lương Giám đốc Y tế của tiểu bang Queensland tới 622,000 đô một năm, nhiều hơn cả lương Thủ hiến. Tất cả những thứ đó hình thành cái thói ích kỷ của kẻ có chức, có quyền.
Dân Úc gọi những công chức cấp cao trong guồng máy điều hành của chánh phủ Úc là những con “Mèo mập”. Chúng chỉ biết ăn no rồi ngủ. Chúng lười biếng, không muốn động móng tay, làm bất cứ chuyện gì mà không có lợi cho mình.
Tiểu bang Queensland tự hào khoe mình là “Sunshine state” (tiểu bang đầy nắng ấm). Nhưng trong trường hợp nầy, chúng ta lại gặp tình người đối xử với nhau lạnh như nước đá.
May phước là ở nước Úc, chúng ta còn giữ được quyền Tự do ngôn luận, giữ được quyền Tự do báo chí, truyền thông. Nếu không có những quyền này, chúng ta, những người dân ngu khu đen cũng phải sống thống khổ, không ai “ke” (care). Sống trong sự dửng dưng của nhà cầm quyền phi nhân, như chế độc tài CS mà chúng ta đã liều chết trốn ra đi.
Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên Quảng trường Thiên An Môn tại Bắc Kinh vào ngày mùng Một, tháng Mười, năm 1949, cách đây 70 năm. Một cặp vợ chồng nông dân Tàu rất lấy làm phấn khích, bèn đặt tên con là ‘Ma Jianguo’ (nghĩa là xây dựng đất nước) để hy vọng hão huyền về một kỷ nguyên mới. Quan chức đặt tên cho nó lên gân; còn dân ngu khu đen bắt chước theo chi hè? Bắt chước theo là ngu vì họ đâu biết rằng: Niềm vui đã nằm trong thiên tai. Ngày tưởng vui đó lại là ngày khởi đầu một thời kỳ hỗn mang nhất trong lịch sử Trung Quốc thời hiện đại. Những em bé ngây thơ ngày ấy, sanh năm 1949, tuổi Sửu, con Trâu, đâu biết rằng Mao Trạch Đông, ‘giả’ bắt mình cày thấy ‘mẹ’; rồi tàn nhẫn hơn là mần thịt luôn cả con trâu để làm thịt trâu nhúng mẻ nhậu với rượu Mao đài trong Tử Cấm Thành, ‘xỉn’ rồi ngủ, để mơ về một ‘Trung Hoa vĩ đại’! Nhưng tiếc thay, vì bị tẩy não nên cho tới bây giờ có một chú Ba làm ruộng vẫn còn ngáo (đá) nói: “Thời Mao Trạch Đông là một kỷ nguyên tuyệt vời! Mặc dù cuộc sống sau này của Mao đã gây ra một số hỗn loạn cho Trung Quốc, nhưng đóng góp của ông ta là không thể phủ nhận được (?)”. Chú Ba nầy cho điểm Mao là: ‘Công 7; tội 3’. Trừ đi là còn 4 điểm trên 10! Vậy là dưới trung bình rồi nị ơi mà cứ theo ‘bợ đít’ thằng chả hoài hè? Có một chú Ba được Cộng sản Tàu xếp loại là trí thức tiểu tư sản, vì biết đọc tiếng Tàu, nói rằng: “Khi nghĩ về Mao, tui chỉ nghĩ đến nạn đói lớn và sự hỗn loạn của Cách mạng Văn hóa!”
Đất nước Trung Quốc, tiếp tục cái xấu xa của thời phong kiến, bọn tranh bá đồ vương đã đánh nhau, tranh giành quyền bính suốt hơn 20 năm, bắt đầu từ cuộc nội chiến giữa phe Dân tộc và phe Cộng sản từ năm 1927 và sau đó, năm 1937, với Phát xít Nhật. Để dụ khị dân chúng theo mình, Mao thề hứa về hòa bình và ổn định và người dân Trung Quốc, kể cả Stalin của Liên Xô, ngây thơ tin theo, giúp Mao cướp được chánh quyền. Đám tư bản đế quốc phương Tây gọi cái ngày nầy là: ‘Red dawn’ (Bình minh đỏ) Bình minh là khởi đầu một ngày mới. Đỏ là màu ưa thích của Cộng sản trước cả màu vàng. Nên không lấy làm gì ngạc nhiên khi CS chọn quốc kỳ là màu đỏ và màu vàng. Màu vàng là màu da; còn màu đỏ là máu của nhân dân. Quả vậy, từ khi Mao tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào năm 1949, người dân Trung Quốc đã đổ máu còn nhiều hơn lúc đánh nhau với quân Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch hoặc quân phiệt Nhựt.
*** Khi Đảng Cộng sản tiến hành cải cách ruộng đất ước tính khoảng 2 triệu ‘địa chủ’ đã bị xử tử trên cả nước. Đất của họ bị cướp để dem chia cho bần nông để ‘dụ khị’. Được chia đất, dĩ nhiên đám bần nông khoái chỉ tử; nhưng có biết đâu chỉ cuối năm 1950, Mao bắt đầu đổi ngược hoàn toàn, tước bỏ quyền tư hữu về ruộng đất mới ban phát cho bần nông, bằng cách lập ra các Nông trường tập thể khổng lồ.
Năm 1957, huyênh hoang đòi vượt mặt đàn anh CS Liên Xô, Mao tuyên bố là: “Sau 15 năm, chúng tôi có thể bắt kịp rồi vượt qua Vương quốc Anh”. Thì Khrushchev cười hè hè phán, nghe rất đểu: “Chủ nghĩa CS mà đồng chí định đi trước Liên Xô là: Chủ nghĩa CS mặc quần đùi và ăn cháo trắng!” Đúng như Khrushchev nói! Đó là một chánh sách kinh tế hoang tưởng vì mức sản xuất lúa gạo, lúa mì sụt giảm nghiêm trọng dến nỗi không có cơm mà ăn; không có hủ tiếu mì vừa ăn vừa húp nước lèo như ngày xưa nữa! Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tiến hành chiến dịch ‘the Great Leap Forward’ (Đại Nhẩy Vọt) năm 1958. Nhảy vọt nhưng bị lọi giò, đẩy nước Tàu vào một trong những nạn đói tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại! Chỉ trong vòng 4 năm, từ năm 1958 đến năm 1962, có ít nhứt 45 triệu người đã bị chết vì đói; bị giết vì chống đối. Sau nầy đàn em trung tín của Mao là Polpot, chỉ trong vòng có 3 năm (1976-1979) dã giết 2 triệu người, bằng ¼ dân số Kampuchia lúc đó. Xét về số người thì Mao giết gấp 20 lần Polpot. Nhưng xét về tỉ lệ phần trăm dân số thì tên đồ tể Polpot ăn đứt sư phụ của mình. ‘Killing field’ (Cánh đồng giết người) nhỏ máu đầy trong từ điển thế giới. So với Gulags (trại Cải tạo của Liên Xô) và Holocaust (của Đức quốc xã), Cải cách ruộng đất của Trung Cộng số nạn nhân bị giết chết là nhiều nhứt trong lịch sử nhân loại, chỉ thua số người chết trong Thế chiến thứ hai là 55 triệu người. Dân Tàu phải ăn rau dại, lá cây, rể cây, ngay cả ăn cỏ như bò để được sinh tồn. Ngay cả những gia đình vốn có của ăn của để cũng không tránh khỏi. Ngay tại trung tâm thủ đô Bắc Kinh, nhiều gia đình sống thoải mái trước đây; giờ sống sót nhờ bã đậu, thường được cho heo ăn, thì nói chi nói chi đến thịt. Còn quần áo của mình ngày càng trở nên rách rưới. Chính phủ Trung Cộng nói với người dân rằng: “Nạn đói là do phải chi trả các khoản nợ cho Liên Xô, và cũng bởi thiên tai. Nên có thơ rằng: “Mất mùa bởi tại thiên tai. Được Mùa là bởi thiên tài đảng ta”. Chớ hổng tại Đảng ngu gì hết ráo nhe! Dân Tàu lại tiếp tục ngây thơ tin, chấp nhận sống trong cảnh bần cùng để vượt qua khó khăn này của đất nước chúng ta với sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Mao Trạch Đông?! (Cái nầy tui hơi nghi nghi nghe. Hổng tin cũng hổng được; hổng chấp nhận thì nó cho vô hộp biết ngày nào ra. Tới chết mới được ra, để vợ con đem về chôn cất như Nobel Hòa Bình Lưu Hiểu Ba (1955-2017) chẳng hạn!)
***
Cuối cùng, chiến dịch điên khùng đầy hoang tưởng ‘Đại Nhảy Vọt’ lọt tuốt và chìm sâu trong nạn đói kinh hoàng làm thiên hạ đại loạn. Cái ghế lãnh tụ của Mao bị lung lay dữ dội. Bằng mọi cách để bám lấy quyền lực độc tôn, Mao bèn phát động cuộc ‘Cách mạng Văn hóa’ mà phương Tây gọi là: “the Cultural Revolution’ vào năm 1966. Hồng vệ binh hoặc vệ binh đỏ là bọn học sinh, sinh viên đại học giơ cao cuốn ‘Mao tuyển’ của Mao Trạch Đông, trong đó giao nhiệm vụ chung chung là tiêu diệt bất cứ văn hóa gì thuộc vào thời trước khi Cộng sản chiếm chánh quyền. (Như chánh sách đốt sách, chôn học trò của Tần Thủy Hoàng từ ngàn năm trước!) Cái thâm ý của Mao phát động cuộc ‘Cách mạng Văn hóa’ nầy thực ra để tiêu diệt những kẻ lăm le dòm ngó cái ngôi Hoàng đế của mình như đồng chí Lưu Thiếu Kỳ và Lâm Bưu chẳng hạn. Chỉ cần dán lên trán bè lũ nầy ba chữ ‘phản cách mạng’ thế là xong, bọn chúng sẽ đi tong, gọn bân hè!
***
Mao đi chầu ông bà ông vải vào năm 1976. Cái chết của Mao lôi theo cái chết của cuộc ‘Cách mạng Văn hóa’. Mấy đứa còn sống lại tiếp tục dùng mọi thủ đoạn để tranh giành quyền bính. Cuối cùng Đặng Tiểu Bình, sau khi bị bầm dập trong cuộc ‘Cách mạng Văn Hóa’ chòi đạp, ngoi được lên. Xong qua Huê Kỳ, đội nón cao bồi, cỡi ngựa đi chăn bò, lạy lục con cọp giấy đế quốc Mỹ để dẫn dắt cả dân tộc Trung Hoa đi làm mướn cho bọn tư bản Huê Kỳ đang giãy chết.
*** Thứ Ba, ngày mùng Một, tháng Mười, năm 2019, là 70 năm ngày sinh của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Cộng sản! 56 khẩu đại bác, tượng trưng cho 56 sắc dân Trung Quốc, khạt ra đằng mồm 70 tiếng ‘ùng oàng’ để ‘nhát’ thiên hạ.
Rồi 15 ngàn Giải phóng quân Trung quốc, như người máy, đạp chân rầm rập trên đại lộ Trường An. Xe tăng dưới đất, tàu bay trên Trời làm bầu không khí Bắc Kinh đã ô nhiễm lại thêm cực kỳ ô nhiễm! (Quốc Khánh các nước Phương Tây, trong đó có Úc nầy đây, là dành cho dân chớ không cho lãnh đạo. Chánh phủ chỉ có việc bắn pháo bông; dân chỉ có việc nướng thịt nhậu với beer cho đã rồi đi ngủ chớ hổng ai ‘quởn’ mà căng cơ bắp khoe sức mạnh quân sự để hù dọa thiên hạ là: “Không đứa nào cản được bước tiến của Trung Hoa!” Ha ha!
***
Suốt 70 năm qua, hàng chục triệu người Tàu đã chết bằng đủ cách, đủ kiểu. Rồi hàng triệu người Tân Cương, Tây Tạng, ngay cả người Việt Nam trong chiến tranh biên giới năm 1979; oan hồn còn vất vưởng đâu đây sẽ tụ về Quảng trường Thiên An Môn mà đòi mạng. Cho dù có chú Ba Tập Cận Bình, Chủ tịch muôn đời, làm Hoàng đế cho tới chết, có khoe hỏa tiển, tàu bay, xe tăng thiết giáp, giải phóng quân đi ‘rụp rụp’ thì cũng không làm át được tiếng kêu khóc của những oan hồn uổng tử đó đâu.
Người Do Thái có xây ‘Bức tường Than khóc’ ở Jerusalem để than khóc cho nghìn năm vong quốc, khóc cho những tai ương, bất hạnh của dân tộc mình rồi hẹn nhau “Next year in Jerusalem” để xây dựng lại. Người Tàu cũng nên làm như thế! Trên Đại lộ Tràng An thay vì duyệt binh rầm rộ thì dựng tượng những người đã bị giết trong Cải cách Ruộng đất, trong Cách mạng Văn hóa, trong vụ Hồng quân thảm sát sinh viên đòi tự do trên quảng trường Thiên An Môn vào ngày ‘Lục tứ (4/6/ 1989). Rồi trước cửa Tử Cấm Thành của Trung Nam Hải, chánh quyền Trung Cộng nên lấy xương cốt của 56 sắc dân Trung Hoa hòa chung với đất đá nước Tàu để xây nên ‘Bức tường Than khóc’! Để 1.4 tỉ người dân Trung quốc, kẻ trước người sau, lần lượt đến ‘than khóc’ cho một thời kinh khiếp và hứa với nhau rằng: “Tội ác đó không được quyền xảy ra trên đất nước nầy lần nữa”. Chừng ấy Trung quốc mới có hy vọng đi vào buổi bình minh cùng lương tâm nhân loại!
Cuối cùng thì tôi cũng chụp hết cuốn phim 24 poses. Thành phố này có nhiều khu phố cổ, kiến trúc lạ. Những con đường hẹp lát đá, những khúc quành uốn lượn khuất lấp, những ngã rẽ bày ra một bố cục đẹp bất ngờ, nhiều khoảng tối giao hòa với từng vạt ánh sáng; sự cân xứng và cái không cân bằng ở vài chỗ làm khung cảnh mang nét quyến rũ lạ thường. Bên chỗ tôi trú ngụ hoàn toàn khác, đó là những hộp vuông vô cảm đứng sát nhau; đồng điệu, tẻ nhạt. Người ta tất bật phóng xe đi làm, lên xuống con đường thẳng tắp và nếu có rỗi trí trong một đầu óc đầy chật cả toan tính, người ta chợt buồn rầu để nhận ra: Có thể mình đang biến dần thành một con robot?
Tôi không định mang phim đi rửa, chẳng có gì hứng thú cả. Nó khác với sự háo hức khi mình vừa chụp lén ai đó, nóng lòng xem kết quả, thử coi tấm ảnh có được “măng-rê-photo”? Tôi không định, nhưng sáng hôm đó mắt tôi tự dưng ngứa, như thể gió giữa lòng đường bỗng thổi lộng và có hạt bụi vừa vào ở đậu sau mi cay. Tôi dụi mắt rồi ngước lên, võng mô tôi khi đó đã chụp bắt toàn thể một tấm bảng hiệu, và cái màu sơn tươi mát của nó như ngầm xúi dục, buộc đôi chân tôi bước tới, thu ngắn dần khoảng cách. Có hai điều được lý giải: Một, tấm bảng ấy có nhiều chữ Việt chen vai. Hai, chữ KIM kẻ sơn màu xanh rất sắc nét, sắc tựa một ánh mắt vừa háy, nguýt. Tôi gọi thầm: Kim. Kim ơi…
Tiệm ảnh không có ai, vắng khách. Một cô thiếu nữ ngồi sau quầy thay đổi sắc diện khi tôi bước đến cái bục gỗ cao ngang ngực, biên giới ngăn chia giữa chủ và khách. Cô ta nói: Hi! Tôi cũng mở miệng: Hai. Trong đối đáp, tôi có ý nghĩ: Học sinh đang nghỉ hè, có lẽ cô ra đây ngồi trông coi cửa hàng, phụ đỡ cha mẹ. Hai tay đặt trên quầy, vòng trước ngực, áo thun trắng và da ở cánh tay để trần cũng chẳng nhường nhịn, trắng không kém màu vải.. Thứ da dẻ của người sợ mặt trời, đi khi bình minh về trong hôn hoàng với tất cả mũ mão khăn nón dù diết trang bị lỉnh kỉnh hơn cả một phó nhòm chính hiệu.
Tôi đặt cuốn phim Kodak lên quầy. Đó là mặt gương dày, thấy rõ những tấm ảnh bị đè bẹp bên dưới. Những tấm ảnh chụp vớ vẩn, dùng làm mẫu về kích thước cũng như chất giấy.
– Size?
Tôi nói: Bình thường.
– Bóng láng hay sao?
Tôi thưa: Bóng láng. Rồi kèm theo phụ chú: Tôi muốn sang hình trong một giờ.
– Ô-kê. Cô ta nói. Tên ông là?
Tôi khai tên họ. Để cho cô dễ viết, tôi đánh vần từng mẫu tự, như kiểu “a bê xê dắt dê đi ỉa, a á ớ dẫn vợ đi chơi”. Cây bút đỏ hí hoáy. Chữ to, tròn trịa, phóng khoáng, nhưng mềm mại đầy nữ tính. Cây bút ấy đặt vào một ô trống khác, đôi mắt không nhìn sang tôi:
– Số phone?
“I lost my phone number. May I have yours?” Tôi thoáng đỏ mặt khi câu đùa nghịch ấy vừa lướt qua trong đầu. Tôi đỏ mặt vì ánh mắt cô gái đang dừng rất lâu trên gương mặt tôi, chờ nghe những con số. Tôi là khách du lịch, tôi thuê khách sạn rẻ tiền ở gần đây và thú thật là tôi chẳng để ý đến số điện thoại của nó. Tôi tính nói vậy nhưng sau cùng tôi đọc ra được một dãy số phone lê thê. Đó là những con số tôi đã thử gọi nhiều bận nhưng không một ai trả lời. Đường truyền kêu u u một cách kì lạ xen kẽ trong từng hồi chuông ré lên, rồi lịm tắt. Đó là số điện thoại của người bạn gái, cô hiện ở đâu? Tôi cất công lặn lội đi thăm trong âm thầm, muốn gây chút bất ngờ cho cô mà xôi hỏng bỏng không, trật đường rầy, vô duyên đối diện bất tương phùng!
– Ông người Việt-nam phải không?
– Phải.
Tôi trả lời bằng thứ ngôn ngữ giống kẻ vừa gióng tiếng hỏi. Yes. Nhát gừng, yếu đuối. Tôi nói tiếng Anh không khá và thú thật tôi rất khổ tâm khi dùng ngoại ngữ để trao đổi với người đồng hương. Có gì đó không ổn thỏa, ngượng mồm lắm! Tôi đón nhận cái biên lai, cái rẻo giấy vừa xé ra từ phong bì có in chữ Kim màu đỏ. Tên gọi chẳng lấy gì làm đặc biệt, đàn ông mang tên đó khá nhiều, Kim là đàn bà con gái baby cũng chán khối. Và nó có vẻ made in Korea.
– Bây giờ là mười một giờ thiếu mười, khoảng mười hai giờ chú ghé lại lấy.
Cô gái có khuôn mặt hao hao người Hàn quốc ấy nói tiếng Việt ngon lành tới không ngờ. Trời, con ai mà khéo dạy! Lại thêm mặt mày sáng choang, thiệt là khéo nuôi! Xời, sao chẳng xổ tiếng mình ngay từ đầu cho chú khỏi ấp a ấp úng!
– Từ đây tới giờ ngọ tôi thiệt chẳng biết phải đi đâu, cô chỉ cho tôi một địa chỉ, có được không?
– Phía tay phải, đi gần cuối đường có một quán nước. Chú ngồi đó tới chiều cũng không chán, đàn ông con trai vô tích sự vẫn thường giết thì giờ kiểu ấy.
– Tôi có người bạn gái tên Kim, tôi không chắc là cô cũng mang tên đó?
Người con gái nhìn tôi, có vẻ quan sát, lượng định. Cô làm thinh một đỗi, khá lâu, mặt nghiêm nghị.
– Ban đầu là Hoàng Kim. Mọi người phê bình, nghe giống tiệm bán vàng quá. Sau bỏ đi một chữ, trơ lại mình Kim. Thực ra thì tên gọi chẳng có gì quan trọng, chữ nghĩa đừng rắc rối cho người bản xứ dễ gọi dễ nhớ.
– Nếu tôi có một cửa hiệu như thế này tôi sẽ lôi màu sắc ra để đặt tên. Ngũ sắc chẳng hạn, Bốn màu chẳng hạn…
– Không sợ trùng với tiệm bán chè sao? Bây giờ họ đã chế ra thứ chè bảy màu rồi!
Cô nhanh nhẩu, có duyên, thông minh. Điều này làm tôi càng nhớ Kim. Tôi bước ra đường, theo lời chỉ của cô ấy tôi tìm tới quán nước ngồi chờ giờ hẹn sẽ điểm. Tôi là thằng đàn ông vô tích sự. Lý ra tôi nên lùng sục, tìm cho ra tung tích Kim trước khi vác mạng tới thăm. Không một ai đi nghỉ hè, tới thành phố lạ mà trơ trọi thân mình, chẳng tìm ra người quen biết bà con xa láng giềng gần giống như tôi cả. Ngay bọn khủng bố, ít ra chúng phải có một đứa nằm vùng sẵn lòng chầu chực bày đường dẫn lối định vị sẵn chỗ nào sẽ tan nát thành bình địa. Chết mày chưa!
Tôi kêu một tách cà phê đen khi ngồi xuống chiếc ghế đặt trên vỉa hè mấp mô. Tôi thích phơi mặt ra ngoài đường, biết đâu sẽ có ai đó nhận diện rồi hú họa gọi tên, khan giọng thảng thốt. Trí tưởng của tôi lại quay vòng trở về điểm xuất phát: Kim. Ngày xưa chúng tôi học chung một lớp. Dạo đó Kim là thứ hoa lạc giữa rừng gươm. Cả trường Mỹ thuật, bóng dáng yểu điệu của phái nữ chẳng được là bao, xòe tay ra có thể đếm đủ, dễ như đếm có bao nhiêu cánh trên một cành hồng. Kim thuộc loại học sinh cứng cổ, khi vẽ, Kim biểu hiện một thủ pháp riêng, để lộ rất sớm. Anatomie, luật viễn cận, mấy thứ điều lệ căn bản ấy dường như Kim ít quan tâm tới; do vậy sự khác lạ nơi bản vẽ của Kim chẳng thuyết phục được những định kiến thủ cựu luôn bám cứng vào đầu mấy ông thầy. Họ có lối thuyết pháp: Hãy nắm vững cái cơ bản trước, sau đó cho bạn tha hồ quậy. Kim thường nói với tôi những câu, đại loại như: “Điều quan trọng là cái nhìn của bạn chứ không phải sự vật được nhìn”. (Mãi sau này tôi mới biết nhà văn André Gide là tác giả câu đó). Dĩ nhiên tôi rất “chịu” Kim. Ngoài tình bạn bình thường, đâu đó còn tiềm ẩn nỗi khát khao mù quáng. Khi nheo mắt nhìn ngắm đo đạc cô người mẫu khỏa thân để dựng hình khối lên giấy, tôi đã thầm ước có ngày mình sẽ được vẽ Kim với thế ngồi e ấp gợi tình như vậy. Lên năm thứ 3 chúng tôi xa nhau. Lý do: Bộ mặt hung hãn của chiến tranh đang reo hò quanh vòng đai thành phố Huế. Kim tản cư cùng gia đình vào Sài-gòn. Sau đó, nghe đâu bạn tôi đành lòng thành hôn, cam lòng ăn đời ở kiếp với người đàn ông lớn hơn Kim một con giáp. Sau đó nữa, lâu hơn một cuộc đổi đời đầy bát nháo, tôi gặp lại Kim ở Nha-trang tiêu điều, thành phố có tôi lạc hồn làm đứa cán bộ Thông tin văn hóa suốt ngày cắm cúi vào những tấm tranh cổ động mù lòa sắc đỏ. Trong phút giây được nhìn thấy nhau, tôi mang đầy nỗi hoài nghi về hai chữ tương phùng. Tôi không tin thành phố biển này là nơi gia đình Kim định cư. Bạn ạ, đã có những cuộc hạnh ngộ làm mình ngây ngất, lại có những đối mặt khiến mình buồn xo. Sự cơ cực của đời sống tác động lộ liễu, nó tàn phá hết mọi thứ, kể cả một tấm lòng thành. Tôi ngồi so vai, không hỏi Kim một lời mặc dù trong tôi có biết bao điều để nói. Lương cán bộ công nhân viên nhà nước luôn thiếu ăn, nhưng tôi cố gắng để đãi được Kim mẩu bánh ngọt và ly cà phê đá, thứ nước đắng chát, đen đúa, nhạt, chẳng hương mùi. Hãy để mọi thứ lui về an nghỉ vùng kỉ niệm, hiện tại đầy thương tích này khiến Kim trở thành vụng về trong vai trò diễn viên. Tôi biết Kim đang chờ ghe rước đi và đúng với linh tính tôi, chiếc “taxi” quái gỡ ấy đã mang Kim vượt được cả một đại dương mênh mông xa kinh hồn. Như thế mà hơn. Tôi luôn tin những chọn lựa của Kim thảy đều đúng. Mỗi ngày tôi đều bỏ công đi bộ ra đứng nhìn biển. Nhìn cái mặt phẳng đầy xao động, như thể gió đã hãm hiếp nước để sinh sản ra sóng xô mãi vào chân đứng ngàn nỗi bất an. Kim ơi, có lẽ chúng ta sẽ chẳng còn được nhìn thấy nhau! Trước khi âm thầm bỏ đi, Kim có tặng tôi bức sơn dầu “Chân dung tự họa”. Trong tranh, người đàn bà khỏa thân khoe cái bụng lớn gần ngày sinh nở. Những nhát cọ mạnh bạo, dứt khoát. Ánh sáng và bóng tối hoàn chỉnh, tựa như thứ không gian ấm áp trong gam màu tài hoa của những họa sĩ thời kì phục hưng. Khuôn mặt Kim hứng đọng nhiều nét cam chịu, cứng cỏi tuồng như bất khuất, như sẵn lòng đón đầu những tai ương…
Cà phê đã hết. Nắng chiếm ngự toàn thể những ghế bàn, đầu tôi nặng nhọc một nỗi niềm. Trước khi ghé lấy ảnh, tôi tạt vào Pharmacie mua lọ thuốc Tylenol.
Mấy ngày nghỉ hè tẻ nhạt trôi đi. Trở về, ngồi trên chiếc máy bay dằn xóc bởi phi trình đang ngang qua một bầu trời nhiều mây, tôi lấy xấp hình rửa ở hiệu Kim mang ra xem. Tôi đọc tên tôi được viết tròn trịa bên ngoài phong bì, nhớ ngón tay búp măng cầm viết của người con gái. Những ngón tay tinh nghịch đã dán keo một cách quá đáng làm khó chuyện mở. Dán kỹ như muốn cất dấu trong bao giấy một bí mật, một điều riêng tư. Mọi tấm đều trên trung bình, tôi săm soi, sau này nếu muốn vẽ phố có thể dùng nó làm tư liệu để mô phỏng. Tấm nằm sau cùng là hình chụp một thiếu nữ cúi đầu ngó xuống bàn tay đang sờ nắn trên bụng để trần. Máy hẳn tốt, kẻ chụp bắt hẳn có đo ánh sáng kỹ lưỡng, trông rõ mồm một cái đỉnh nhọn của lỗ rốn bị đẩy trồi ra ngoài, da bụng căng mỏng và người phụ nữ mang thai kia chắc sắp tới ngày lâm bồn?
Ai đã ngẳng nghịch nhét tấm hình “mặn” vào trong xấp ảnh “chay” của tôi? Tại sao thợ sang hình lại làm việc gây sơ suất đến thế? Tôi nhớ lại khuôn mặt lém lỉnh của cô gái đứng sau quầy. Tôi nhớ tới bức tranh Kim tặng mà khi vượt biển tôi đành phó mặc nó cho bức vách và cây đinh cắm lẻ loi trong căn phòng chật.
Về đến nhà an toàn, tôi mở máy vi tính. Có một email của người bạn phương xa gửi tới:
“Điện thoại cho ông chả ai thèm bắt phone. Xin ông vẽ cho tấm tranh nhỏ dùng làm bìa sách, sắp in. Chắc ông chưa nghe tin: Kim vừa mất sau thời gian dài nằm bệnh viện, xác hỏa thiêu và tro cốt mang về VN cách đây 3 ngày”.
Tôi ngồi chết cứng trên ghế rất lâu. Rất lâu sau, tôi gọi thầm: Hoàng Kim ơi!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.