Hỡi anh, còn nhớ Bảy Ngàn?

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Dec 2023

Tây chiếm được ba tỉnh miền Tây năm 1867. Sau khi dìm các cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân trong biển máu, tình hình coi bộ êm êm, bọn cướp nước tìm cách khai thác tài nguyên của quê mình để làm giàu cho mẫu quốc.

Cùng lúc, Tây làm quốc lộ, thiết lộ, đường bộ và làm thủy lộ, đường sông. Xáng thổi đất lên hai bờ kinh, Pháp ra lệnh mỗi nhà dân phải đổ thêm hai khối đất để đắp lộ cho thủy bộ song hành, nên dọc bờ kinh Tây đào bao giờ cũng có con lộ chạy dọc theo.

Năm 1901, Tây đào kinh xáng Xà No (Xà No, tiếng Khmer, nơi có nhiều cây điên điển). Công trình nầy lớn có thể so sánh với việc Tây làm đường xe lửa Sài Gòn-Mỹ Tho năm 1881.

Kinh Xà No rộng 60m, dài 34 cây số, từ Vàm Xáng, ngã ba sông Cần Thơ (một nhánh của Hậu Giang) đến ngọn Rạch Cái Tư (một nhánh của sông Cái Lớn) thuộc tỉnh Kiên Giang.

Kinh Xà No là thủy lộ cho tàu bè qua lại. Nhưng chánh là làm thủy lợi, dẫn nước ngọt từ Hậu Giang mang phù sa bồi đắp và xả phèn cho đồng bưng bát ngát, cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi, lưỡi thè ra vì mệt quá xá!

Kinh Xà No là xương sống. Còn xương sườn là những con kinh ngang, cách nhau chừng 1000 thước, do dân phu và tá điền đào. Từ đó có các địa danh như: Kinh số 0, sau này đổi là kinh Tân Hiệp, Một Ngàn, Hai, Ba… tới Mười Bốn Ngàn, thời mình thuộc tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ), tỉnh Chương Thiện và tỉnh Kiên Giang.

Kinh xáng Xà No, đào xong năm 1903, đã đẻ ra một giai cấp chủ ruộng ăn trên ngồi trốc, không động tới cái móng tay. Chủ ruộng cũng có hai loại: đại điền chủ đa phần là Tây rặt, mắt xanh, mũi lõ. Ðại là bự là có chừng vài chục ngàn mẫu đất dọc bờ kinh xáng trở lên. Còn chừng vài ngàn mẫu trở xuống là điền chủ, là những người Việt dựa hơi vào thế lực của Tây để khẩn đất như Tổng đốc Phương chẳng hạn.

Còn ông bà mình vốn từ miền Trung khô cằn, chó ăn đá gà ăn muối, phải bỏ “quê hương em nghèo lắm anh ơi” vào Nam lập nghiệp, đa phần làm tá điền (tá là mướn). Tá điền mướn ruộng để làm. Tới cuối mùa, tá điền đong lúa cho chủ bao người Việt làm trung gian giữa đại điền chủ Tây và tá điền người Việt.

“Hồi đó vùng Bảy Ngàn có “lầu Trắng” hai tầng và quét vôi màu trắng của vợ chồng Tây già. Còn “lầu Ðỏ”, quét vôi màu đỏ của thằng con tên Albert, bà con mình gọi nó là Tây Be.

Tây già và Tây Be là đại điền chủ có tới hơn 30 ngàn mẫu tây và 3 ngàn tá điền. Ðất ruộng của cha con nó chạy dài từ Kinh Tám Ngàn cho tới Kinh Mười Bốn Ngàn Rưỡi.

Tây già lại cho xẻ thêm những con kinh sườn chỉ cách nhau 500 thước ở giữa những kinh sườn đã có. Những kinh nầy đan xen nhau vuông vức như bàn cờ. Nước đưa phù sa vô đồng cộng với công sức của tá điền làm hai đại điền chủ Tây trúng mùa, lúa chở về chất đống mịt trời, nhiều vô số kể.

o O o

Ðất đồng bằng miền Tây minh mông hoang vu, dân rất ít; nên người Khmer, dân cố cựu xứ nầy, chỉ ở trên giồng đất dài và hẹp. Họ trồng lúa nước vừa đủ ăn, cộng thêm làm rẫy, cuốc khoai lang, cặm khoai mì…

Còn bưng, nơi nước đọng lưu niên; biền, bãi lầy cặp ven sông, rạch nơi nước lớn thì ngập, nước ròng thì bùn, dành cho cá lóc, cá trê, cá sặc, lươn, ốc bươu, rắn, rùa…và VC. Dân quê lúc huỡn thì đi cắm câu, câu rê, câu nhấp, đặt lờ, đặt lợp kiếm mồi, gầy sòng nhậu chơi.

Dưới đất là vậy còn trên trời là đủ loại chim bìm bịp, bồ nông, cò trắng, cồng cộc, diệc, le le…

Thiên nhiên hào phóng cho con cá, con chim cũng không quên cho rau đồng bưng như: bông sen, bông súng, choại chột, lá nhàu, lác, năn, rau tập tàng, sậy, đế…

Người miền Tây có câu: “Chim trời cá nước ai bắt được nấy ăn” vì hằng hà sa số, ăn sao hết, đâu có huỡn mà giành. Ðất nước đồng bưng sanh ra tấm lòng quảng đại của người miền Tây là như vậy đó đa!

Trời cho thứ gì là con người xài thứ nấy hè. Từ đó mới có câu hát huê tình:

“Hỡi anh có nhớ Bảy Ngàn.

Củ co ăn với củ bàng thế cơm!”

Xa quê hàng mấy chục năm mà nghe em hỏi về những ngày cùng khốn sau 75 thì kỷ niệm xưa ùa về, anh nhớ chớ sao không?

Bà con mình thấy dưới mặt đất, cái gì phình to gọi là củ. Củ co mọc hoang. Cọng nhỏ hơn đầu mút đũa. Lá bằng cỡ miệng chén, nhỏ hơn bông súng, tròn, màu xanh nhạt ửng hồng, nổi trên mặt nước đồng bưng. Khi hết mùa nước nổi, nước giựt gần cạn đồng, bà con mình thò tay móc sâu xuống dưới rễ của nó kéo lên những chùm củ lớn bằng ngón chưn cái, da đen, xù xì. Củ co nấu chín, lột vỏ, lộ ra lớp thịt màu vàng sậm, ăn bùi bùi. Móc củ co cực thấu trời như vậy nhưng:

“Ðói lòng đi móc củ co.

Thấy em hết gạo anh cho một nồi”.

Thanh niên quê mình xưa giờ cũng dại gái; giống tui quá xá há!

o O o

Cùng với củ co mọc ở đồng bưng là cỏ bàng, bà con chú bác với cói, cỏ năn, lác nhưng mình lớn, cứng, tròn bằng đầu đũa, rỗng ruột, cao từ một tới hai thước, có rễ chùm. Mùa khô, cỏ bàng rụi, chỉ còn lại cái gốc nằm sâu dưới bùn đất. Mùa mưa đến, có nước là nó giựt mình tỉnh dậy hồi sinh. Khi mùa lụt, nước nổi dâng cao cũng là lúc cỏ bàng cao vươn lên khỏi mặt nước, trổ bông.

“Trắng da vì bởi má cưng

Ðen da vì bởi lội bưng nhổ bàng”

Nhưng mà lỡ thương rồi nên anh không câu nệ da em trắng hay đen gì anh cũng thương hết ráo nên:

“Rủ nhau lên đất Bảy Ngàn.

Hái rau choại chột, nhổ bàng về đươn.

Choại chột thì chấm nước tương.

Bàng thì đươn nóp người thương tôi nằm.”

Lo nóp cho chàng ngủ rồi em yêu, người con gái miền Tây, dễ thương hết sức, vì còn lo cho chàng ăn nhậu nữa chớ.

“Ðốt than nướng cá cho vàng.

Lấy tiền mua rượu cho chàng uống chơi.”

Mà muốn có tiền đâu phải dễ nè! Phải đổ mồ hôi sôi nước mắt!

“Lấy chồng về Bàu Gõ, nước mắt nhỏ hai hàng

Tay bưng chén cơm để đó, giã chín neo bàng mới ăn!”

Bàng được anh nhổ về để em “tót bàng”. Tót bàng là dựng cỏ bàng vào cọc cao tới đầu người lớn thành bó lớn, có bó dài, bó ngắn. Xong dùng dây cột giữ lại thành từng bó gọi là “neo bàng”. Xong, em trải neo bàng ra hình rẻ quạt trên sân đất rộng hoặc treo trên giàn như phơi đồ chừng một nắng (khoảng 4, 5 tiếng đồng hồ) để giữ màu tươi. Nếu để neo bàng còn úng nước là nó ngả màu sậm sịt vừa xấu, vừa không giữ được lâu.

Cuối cùng, cực nhứt là giã bàng đến rã đôi tay. Giã bàng như giã gạo, phải cần cối và chày bằng cây sao vì nó cứng. Cối dùng để giã bàng gọi là “mục bàng”. “Mục” là một miếng cây dày trên 10 phân, rộng khoảng 40 phân, dài khoảng 2 thước, nặng 5-7 kí. Còn chày giã giống như chày đâm tiêu nhưng bự hơn và cao ngang đầu người.

Khi giã bàng, đặt “neo bàng” lên “mục bàng”, em đứng lên trên, hai tay nắm chặt cái chày nện đều đều xuống nghe “cụp cùm cum”.

o O o

Ôi quê người lưu lạc đã bao năm, đêm nay đọc lại câu ca dao ngày cũ, vẫn nhớ lời em dặn:

“Bảy Ngàn trên cỏ, dưới bưng.

Nhổ bàng đươn đệm, anh đừng đi đâu!”

Lòng anh nào có muốn đi đâu! Nghèo mà có nhau, cục muối chia hai, anh đâu có sợ. Nhưng anh không muốn là gánh nặng của đời em. Anh xin lỗi em, người con gái xứ Bảy Ngàn! Cũng vì phần số mất miền Nam vào tay cộng sản, cùng cực chẳng đã, anh mới bỏ đất quê mình mà đi vì tự do nhưng trong lòng anh vẫn còn vấn vương hoài cái hồn cố thổ.

Đoàn Xuân Thu

Hóc Môn!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Dec 2023

Mần văn nó khác mần ruộng. Mần ruộng là cứ lặp đi, lặp lại hoài, mùa nầy qua mùa khác, y chang hè.

Mần văn là sáng tạo, là làm ra cái mới! Muốn viết văn là phải đọc, phải học. Ông Nguyễn Hiến Lê nói một câu chí lý cho những ai làm nghề văn là: “Cái gì biết mà biết không rõ thì nên viết về cái đề tài đó”. Sao ổng nói vậy? Vì không rõ, mình phải bò vô thư viện, lục tung sách vở ra mà đọc, mà tìm cho nó rõ. Giờ thì khỏe hơn nhiều, khỏi cần đi cho mỏi cẳng; cứ lên ‘google search’.

Tuần rồi, đi nhậu tán dóc, một người đẹp ở Footscray cắc cớ hỏi tui về cái hóc? Một là hóc viết ‘o’ hay hốc viết ‘ô’. Sao em thấy CS viết lung tung, hồi ‘o’ hồi ‘ô’? Hai là: “Tại sao để chỉ những nơi xa xôi, vắng vẻ, đìu hiu (quạnh) dân Lục tỉnh Nam Kỳ của anh hay gọi là “Hóc Bà Tó”.

Ðược người đẹp hỏi, tui nở lỗ mũi bằng trái cà chua. Tui thấy hãnh diện lắm! Vì em nể mình! Em cho mình trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, biết chuyện thiên la địa võng, em mới hỏi chớ!

Vậy là để khỏi mất mặt bầu cua cá cọp, tui bèn trả lời đại; dẫu trong bụng tui vẫn còn hồ nghi; hổng biết câu trả lời của mình có đúng hay không?

Hóc Môn hay Hốc Môn? Năm 1975, CSBV vô, huyện Hóc Môn vẫn viết chữ ‘Hóc’ ‘o’ tới khoảng năm 1991. Từ 1992 đến 1997 chúng lại viết chữ Hốc ‘ô’. Bìa báo Xuân Nhâm Thân 1992, báo quốc doanh CS viết tên Hốc Môn, Hốc Môn trên chiếc xe đò, nhãn hiệu hàng hóa v.v.

Bớt lên đồng, ông lên bà xuống, múa may quay cuồng, từ 1998 tới giờ, chúng trở lại đường xưa lối cũ.

Ôi nhớ xưa bà con lao động Sài Gòn đa phần ở trong hẻm, trong hóc.  Phải có máu mặt lắm, nhà mặt tiền, số nhà mới không bị xuyệt  (sur). Trong hẻm xuyệt ít. Trong hóc xuyệt nhiều. Như vậy hẻm nhỏ hơn đường. Hóc nhỏ hơn hẻm. Trong Nam hẻm hóc; ngoài Bắc là ngõ ngách.

Ðó là trên bộ. Còn dưới rạch, khi một dòng nước đang rộng bị hẹp lại thì đó là cái hóc.

Hẻm hóc, Hóc Bà Tó chỉ nơi xa xôi, vắng vẻ, ít người lui tới. Như Hóc Bà Tó ở miệt Mỹ Tho, theo nhà biên khảo Sơn Nam cho biết.

Không phải chỉ Bà Tó mới có ‘hóc’ đâu. Mà quê mình còn có Hóc Hươu, Hóc Ớt, Hóc Ðùn… Nhưng nổi tiếng nhứt, ai cũng nghe tiếng, cho dù chưa một lần đặt chưn tới dẫu nó ở sát Sài Gòn: Ðó là Hóc Môn Bà Ðiểm.

Năm 1915, Hóc Môn là một trạm hành chính của tỉnh Gia Ðịnh. Hóc Môn là quận thuộc tỉnh Gia Ðịnh từ ngày mùng 1, tháng Giêng, năm 1918, quận lỵ đặt tại chợ Hóc Môn.

Tự vị tiếng nói miền Nam, học giả Vương Hồng Sển đã viết: ‘Hóc Môn: tên xứ, trước thuộc huyện Bình Long, nay thuộc tỉnh Gia Ðịnh’

Năm 1956, thời Ðệ nhứt Cộng hòa, Gia Ðịnh là một trong 22 tỉnh của Nam phần. Quận Hóc Môn có 2 tổng: Bình Thạnh Trung, Long Bình; quận lỵ: Thới Tam Thôn. Từ năm 1976, CS gọi là huyện Hóc Môn.

Hóc Môn là con rạch nhỏ với nhiều cây môn nước.

Ðịa danh có chữ môn hay dính với bàu với rạch. Như Bàu Môn ở Long An, Rạch Môn ở Thủ Ðức, Bưng Môn ở Củ Chi…

Như vậy Hóc Môn là hóc có cây môn nước. Hóc là đường nước từ rạch, (thiên nhiên) từ kinh (đào). Hóc nó nhỏ từ từ, nước đọng lại không còn thông thương với nơi khác.

Còn Môn có hai loại chánh: Môn ngọt và Môn nước. Môn ngọt làm rau, ăn cả thân cây, làm dưa chua, và ăn cả củ. Cây môn ngọt và cây môn nước giống nhau đến 90%. Khác nhau ở chỗ môn ngọt có một chấm màu tím ở ngay lá còn môn nước thì không.

Người ta chỉ trồng môn ngọt. Môn nước mọc hoang. Nghĩ là môn ngọt, nhưng ăn nhầm cây môn nước, thì cổ bị rát vì mủ của nó gây ngứa. Vì vậy môn nước còn gọi cây môn ngứa. Ngứa nhưng vẫn ăn được nếu biết cách làm. Làm cho heo ăn hoặc làm cho tui ăn.

Cho heo ăn: Môn nước về băm nhỏ, trộn với tấm cám để nấu cháo heo 1 phần tấm cám, 9 phần môn nước.

Em yêu muốn cho tui ăn môn nước thì em phải làm sao cho môn nước sạch mủ. Cách hay nhứt là em làm dưa. Cọng môn nước cắt thành các khúc nhỏ, dài khoảng vài lóng tay. Ðem ngâm nước muối qua đêm. Sáng ra, xả nước cho đến khi bẹ môn sạch hết mủ. Cho bẹ môn vào chum, đổ nước vo gạo hòa với muối vào, nén chặt lại. Chỉ vài ngày sau là dưa môn ‘chín’ và thơm. Dưa môn nước dùng để nấu canh, kho với cá.

Dĩa dưa chua chua giòn giòn chấm nước mắm đồng ăn với cơm trắng hơi nhão.

Môn nước cũng có thể nấu cháo lươn. Lươn làm sạch, khứa hoặc để nguyên con. Bẹ môn cắt khúc, ngâm nước muối vài giờ rồi xả bằng nước lạnh, rồi cho khô. Khi gạo trong nồi cháo nở toè loe, cho lươn vào. Cháo gần chín cho môn vào.

Bắt xuống đem đi đổ. Í quên dọn lên húp. Ðem đi đổ là có chuyện lớn; vì món cháo lươn môn nước nầy nó ngon thấu trời. Ngay cả dân Hóc Môn ai may mắn lắm mới được em yêu nấu cho ăn món cháo lươn. Nó bổ làm mình mẩy rạo rực thấu trời hè!

Xa quê, nghe hỏi về Hóc Môn là gì vậy anh Hai? Câu hỏi đó làm tui bùi ngùi canh cánh trong lòng một nỗi buồn thương nhớ quê hương quá mạng. Lại nhớ: Môn không bao giờ cô đơn. Không bao giờ sống một mình. Mà môn sống thành bụi môn: thành Hóc Môn.

Tục ngữ: Nói như nước đổ lá môn. Ca dao cũng có câu: “Gió đưa bụi chuối sau hè, Bụi môn trước cửa, ai dè em hư”.

Giỡn chơi nói tục có câu thơ lục bát chế từ tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Ðình Chiểu. Câu tám, tui không dám làm và cũng không dám viết huỵch toẹt ra. Tui sợ bị mấy em rầy, già rồi mà không nên nết! Ăn nói lung tung. Của người ta mà dám nhào vô đòi sờ mó tùm lum.

Cho nên tui chỉ dám viết hai câu thơ mắc ôn nầy rồi bỏ lửng: Vân Tiên ngồi dựa bụi môn. Chờ cho trăng lặn…

Tui nhớ em yêu của tui còn kẹt bên kia trời lận đận với ‘hóc môn’.

Hiếu sắc!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Dec 2023

Chữ rằng: ‘Trai tài; gái sắc’. Làm đàn ông mà muốn ăn khách, đắt mèo, là phải có tài. Con gái muốn ăn khách là phải đẹp!

Thời phong kiến, có tài là có quyền lực tột đỉnh như làm vua chẳng hạn. Nhà thơ Bạch Cư Dị trong Trường Hận Ca có viết: “Hán hoàng trọng sắc tư khuynh quốc, Ngự vũ đa niên cầu bất đắc” (Vua Hán hiếu sắc, luôn luôn nghĩ đến người đổ nước nghiêng thành, tuy tại vị đã lâu, vẫn chưa tìm được người toại ý).Thời tư bản, có tài là có tiền, cỡ tỉ phú như Rupert Murdoch, trùm truyền thông người Mỹ gốc Úc, hoặc Donald Trump đương kim Tổng thống thứ 45 của Mỹ.

Còn sắc là vẻ đẹp của phụ nữ. Nhan sắc, quốc sắc thiên hương, (đẹp cả nước, gọi là hoa hậu, em nào cũng ham). Nhưng có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai. Càng đẹp càng khổ. Nên thiên hạ nói: “hồng nhan đa truân, hồng nhan bạc mệnh” là vậy đó. Bởi có câu rằng: ‘Sắc bất ba đào, dị nịch nhân’. (Sắc đẹp, dù chẳng phải sóng gió, cũng dễ làm cho người ta chìm đắm).

Người ta ở đây là chỉ cánh đàn ông bọn mình. Một chục ông hết chín người hiếu sắc, khoái gái đẹp (chỉ trừ tui ra; tui chỉ thích gái giàu thôi; vì giàu là có tiền đi Hàn quốc đại tu nhan sắc, cắt cằm, bơm ‘ví’, độn mông dễ như ăn cơm sườn hổng bị mắc xương hè).

Nhưng tại sao đàn ông lại hiếu sắc đến thế? Vì hiếu sắc là một bản năng thuộc tính của người đàn ông từ thuở dậy thì cho tới khi chui xuống lỗ; từ thời ăn lông ở lỗ tới thời đại văn minh.

Từ chữ ‘hiếu sắc’, một chú Ba đặt chuyện là: Trung Hoa đời vua Minh Huệ Ðế, Trần Hoá Chiêu ở huyện Tế Hàng, tỉnh Sơn Ðông có người vợ là Lương Tiểu Nga rất xinh đẹp. Ở cùng huyện có nhà phú hộ tên là Trát Hiếu Sắc. Hiếu Sắc thấy Tiểu Nga đẹp, tìm cách kết bạn với Hoá Chiêu, rắp tâm chiếm cho được vợ bạn bằng cách bỏ ra rất nhiều tiền để giúp bạn trong việc làm ăn hoặc lúc mậu lúi. Qua hai năm, sau khi chiếm được lòng tin tưởng của bạn, Hiếu Sắc rủ Hoá Chiêu ngồi thuyền đi buôn, mọi vốn liếng đều do mình chịu cả. Thuyền đi một tháng đến Hàng Châu, Hiếu Sắc phục rượu cho Hoá Chiêu say rồi xô xuống biển. Mấy lần Hoá Chiêu trồi lên đều bị tên phản bạn trấn nước, ngộp, chìm luôn dưới đáy biển. Chừng ấy, Hiếu Sắc mới tri hô lên, lăng xăng mượn thuyền đến vớt (dĩ nhiên là không được).  Hiếu Sắc cho thuyền trở về, khóc lóc báo tin dữ cho mẹ và vợ Hoá Chiêu, bỏ tiền ma chay cúng kiến và cùng Tiểu Nga để tang. Mẹ Hoá Chiêu cảm động và ép dâu là Tiểu Nga ưng Hiếu Sắc làm chồng để đền công ơn giúp đỡ.

Hai người ăn ở với nhau ít lâu, một hôm vô tình bất ý, Hiếu Sắc ‘xì’ ra việc mình âm mưu hại bạn. Tiểu Nga đến huyện đường đầu cáo và Hiếu Sắc bị cắt cái đầu, không còn chỗ đội nón. Tiểu Nga lại nghĩ vì nhan sắc của mình mà cả hai người chồng đều bị chết nên cô thắt cổ tự tử.

Tự ải như vậy là sai. Cái sắc đẹp của người phụ nữ không có tội lỗi gì ráo. Kẻ làm nên tội là đám đàn ông con trai hiếu sắc, khoái gái, khoái đẹp, muốn giành, bày kế giết nhau đấy thôi. Chớ người con gái sanh ra lỡ Trời bắt đẹp thì có tội lỗi gì hè mà tự tử chớ?

Bàn về cái sắc thì cũng tùy dân tộc, tùy thời. Có em, dân nước nầy cho là đẹp, dân nước kia cho là không đẹp. Có em thời xưa đẹp, thời nầy lại không! Thuở xa xưa mấy hoàng đế Trung Hoa chọn phi tần mỹ nữ cũng theo tiêu chuẩn khác nhau. Thời nhà Ðường thích vẻ đẹp phốp pháp, tươi tắn, tràn đầy sức sống. (Dẫu có hơi hôi nách như Dương Quý Phi cũng đẹp như thường; vì Ðường Minh Hoàng chỉ khoái nhìn cái vẻ mặt, cái thể hình; chớ đâu có rảnh mà nhìn vô cái nách của em?!)Thời nhà Tống lại mê vẻ đẹp u buồn, mỏng manh chân đi không bén đất, miệng cười không hé môi. “Những người thắt đáy lưng ong/Vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con”.

Như trong Ðoạn Trường Tân Thanh, “Một hai nghiêng nước nghiêng thành, sắc đành đòi một tài đành hoạ hai”. Ðẹp mà biết thơ phú, đàn địch ca xang, là càng chết lớn nữa! Trước vẻ đẹp mảnh mai của Thúy Kiều, văn nhân tài tử như Kim Trọng, phàm phu tục tử như Mã Giám Sinh, Sở Khanh, kẻ lái buôn như Thúc Sinh, quan lại như Hồ Tôn Hiến hay anh hùng hảo hán như Từ Hải đều bị vẻ đẹp mê đắm ấy làm cho lao đao suốt cuộc đời, thậm chí tiêu tán gia tài, tan tành sự nghiệp, bỏ mạng nơi chiến trường.

Lịch sử đã từng ghi lại biết bao nhiêu tánh của quý phe ta ‘hiếu sắc’ làm cả triều đại phải tiêu vong. Chuyện rằng: Trần Viên Viên (1624-1681) quê ở Thường Châu, Giang Tô, thời Minh mạt. Sắc nước khuynh thành, hoa minh tuyết diễm, hát hay múa đẹp. Các danh sĩ, hào phú đất Tô Châu ai cũng mê đắm. Vua Sùng Trinh cũng khoái tỉ tê, bỏ bê việc triều chính làm Chu hoàng hậu ghen tức nên đem Viên Viên gả cho Ngô Tam Quế. Ngày 26 tháng Năm, năm 1644, Lý Tự Thành (tự xưng là Sấm vương) xua quân vào chiếm lấy Bắc Kinh, lên ngôi Hoàng đế. Sùng Trinh thua, bỏ chạy rồi tự vẫn ở Môi Sơn. Trần Viên Viên bị Lý Tự Thành chiếm làm chiến lợi phẩm. Ngô Tam Quế, tướng của Sùng Trinh, định đưa quân về hàng Lý Tự Thành, nhưng nghe tin người đẹp của mình bị phỗng tay trên nên ghen tức bèn liên kết với quân Mãn Thanh quyết ăn thua đủ với Lý Tự Thành. Nhiều trận chiến đẫm máu xảy ra, binh lính lẫn thường dân máu chảy đầu rơi thây phơi đầy nội, xóm làng xơ xác. Cuối cùng Lý Tự Thành bị liên quân Ngô Tam Quế và Mãn Thanh đánh bại, phải bỏ chạy khỏi kinh đô. Lý Tự Thành bị dân làng mần thịt, chấm dứt nhà Minh sau 276 năm tồn tại. Lý Tự Thành chỉ làm vua vỏn vẹn 43 ngày rồi sập tiệm, có phải cũng do sắc đẹp của Trần Viên Viên một phần (?!)

Quy kết như vậy là bất công! Ðệ nhứt mỹ nhân Trần Viên Viên chỉ là nạn nhân của mấy tay hiếu sắc, làm đồ chơi cho mấy đứa dê già. Ðổ thừa cho nhan sắc của Trần Viên Viên làm mất nước là đổ thừa tầm bậy!

o O o

Nói nào ngay chuyện đam mê nhan sắc là chuyện từ thuở tạo thiên lập địa tới giờ. Ðàn ông dù văn minh hay còn man di mọi rợ khoái ăn thịt người như ở Phi châu cũng đều khoái gái. Nên có chuyện rằng: Hai bố con thuộc một bộ lạc ăn thịt người đi vào trong rừng già để tìm thực phẩm. Ðến một lối mòn, hai người bèn núp trong một bụi rậm phục kích. Chẳng bao lâu có một cụ già lọ mọ chống gậy đi tới. Thằng con thì thào vào tai bố nó:“Có một đứa kìa!” Bố nó gạt ngang: “Hè! Bao nhiêu thịt đây không đủ cho một con chó. Kiên nhẫn chút đi; đợi thêm lát nữa!” Chẳng bao lâu có một bà mập ục ịch như con vịt đi tới; thằng con nói: “Nhiêu đây chắc đủ thịt cho cả nhà mình rồi bố ạ!” Ngạc nhiên thay, bố cũng lắc đầu: “Mỡ nhiều quá ăn vô sẽ bị nhồi máu cơ tim vì mỡ máu lên cao. Kiên nhẫn chút đi, đợi thêm lát nữa nhé!” Khoảng một tiếng đồng hồ sau một đứa con gái đẹp cực kỳ, nhún nhẩy đi tới. “Bố à! Thiệt là tuyệt! Bố con mình ăn thịt cô ấy đi nhen!” “Không! Chúng ta cũng không ăn thịt cô ấy!” Thằng con đói bụng quá, cự nự: “Già ốm, bố chê xương xóc; mập lù, bố chê toàn là những mỡ. Còn cô nầy không già, không mập, thịt rất tơ mà tại sao bố lại không ăn?” “Bố sẽ bắt sống cô ấy, mang về nhà… Rồi sau đó, bố sẽ ăn thịt mẹ của mầy!”

o O o

Còn tui nói thiệt nhe quý anh mình! Từ hồi mới cưới em yêu về cho tới bây giờ, em bao giờ cũng là đệ nhứt mỹ nhân trong mắt của tui. Lúc tui tỉnh cũng vậy mà lúc tui hơi xỉn xỉn, em còn đẹp rực rỡ hơn nữa kìa. Chính vì vậy mà mỗi lần ra quán nhậu tui hay lận hình em trong bóp để lâu lâu giở ra coi. Thấy em đẹp lên là tui trả tiền rượu ra về.

Thế nên ‘hiếu sắc’ không có trong tự điển đời tui rồi, vì tui rất ‘hiếu thảo’ với con vợ nhà!

đoàn xuân thu.

melbourne

Khắc da

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 29 Apr 2022

Post by Sơn râu 16 Dec 2023

Em làm bà quả phụ có hơi sớm. Chồng em chết khi em vừa thổi nến ăn mừng sinh nhật 21 chỉ hơn tuần. Đau răng mà chết? Hổng có đâu, bị ổng hơi bị già, hao tổn nguyên khí chớ bệnh hoạn gì cho cam. Chồng em thác, hưởng thọ ở tuổi 70, mọi người an ủi em: Tròn trịa quá, vậy là đẹp rồi, chuyến tàu suốt mang ảnh đi êm ru bà rù thì cũng mừng cho ảnh. Tía tui hả, nằm một chỗ dật dờ ăn có người đút, ỉa có người chùi đít thấy phát rầu. Nói em đừng cự nự, muốn chết hổng có dễ đâu nghen.

Đám tang đơn sơ thanh bần giản tiện, tính ảnh không ưa rùm beng lớn chuyện. Bị ảnh ước nguyện phút lâm chung chứ em đâu phải hạng người keo kiệt toan tính chi ly ngại hao tiền. Bà vợ cũ và mấy đứa con lớn bộn của ảnh ở dưới quê cạy mặt không lên, họ từng ra chỉ thị sống chết mặc bây bọn này vô can đếch biết, già dịch u mê ám chướng gì đâu, có bao nhiêu tiền đều dâng cho gái ăn, chưa đăng báo từ cha là đã phước đức ông cố nội để lại.

Tôi về Sài-gòn đã hơn tháng và em nói sẵn tang gia bối rối anh nán lại chia sớt nỗi buồn lặng cùng em. Em thở dài: Trời, Việt kiều người ta về ăn dầm ở dề hà rầm có đâu như anh loay hoay như gà mắc đẻ một hai kiếm cớ lên đàng lui quân. Tôi ngó bàn thờ thường trực cháy đỏ ba cây nhang, ngó tấm ảnh đóng khung một nhân diện râu tóc thảy đều bạc phơ. Tía má ơi, nếu tui là con gái làm sao tui đủ đởm lược để ăn nằm ôm ấp cùng khứa lão. Thân thể con người chia làm ba phần: Đầu, mình và tứ chi. Ba phần thảy đều da đồi mồi nhăn nheo thì ắt những bộ phận râu ria khác hẳn phải bèo nhèo ngầy ngật. Em quan sát thằng tôi đang lộn hồn lạc vía rồi ném vu vơ một câu hỏi: Chồng chết đem đi chôn, xong thì mất bao lâu mình có quyền vui vẻ trở lại hở anh? Tuần mươi ngày nhắm có ổn không? Đốm sáng trên đầu hai cây đèn cầy đồng loạt nhảy múa như có gió nhẹ vờn qua. Tôi trả lời, tiếng trầm trong cổ họng khát bia: Ở quẩn quanh chốn này thì buộc em phải hoa nhăn liễu rũ bằng không thì ắt sẽ bị chúng mắng. Tới một nơi xa tít mù khơi thì em có quyền đánh rơi mặt nạ thôi đeo khẩu trang, đoạn lìa hai màu đen trắng tang thương ủ dột. Ui, nói nghe ham, chắc hai đứa mình êm thắm chuồn đi tham quan về miền Côn Đảo chim kêu Phú Quốc vượn hú. Quang cảnh xa lạ ở đó nghe chúng đồn thổi đẹp nhất trần đời. Tôi ngó vẻ linh hoạt tràn về nơi gương mặt goá bụa mệnh phụ: Xa cũng chừng mực nào đó thôi, ai xúi phải vác xác lặn lội về miền Côn Đảo làm nhớ sực tới ba cái chuồng cọp ác đức bất nhơn. Không phải anh tuổi Dần sao? Em thích được nhốt cọp, sở hữu vỗ béo cọp một thời gian.

Lời qua tiếng lại, cà kê dê ngỗng, vô tình em đủ thẩm quyền đứng tên làm giấy gia hạn cho tôi nán lại quê nhà. Em biểu tôi nên chọn cái khách sạn bình dân khác để tá túc, thay đổi địa hình cũng là sách lược cẩn tắc vô ưu, thêm nữa ngày dài tháng rộng anh cần phải thắt lưng buộc bụng, ăn sang hoang phí xài lớn có ngày mà ôm đầu máu. Việt kiều ngu ngơ, em đi guốc trong bụng tôi nên chỉ ba mươi giây em tìm ngay ra Hoàng Hạc. Đó là tên cái nhà nghỉ nằm tuốt ở quận 7, khuất lấp đến độ ông chạy xe ôm cũng phải đi lòng vòng. Anh khờ quá, chả làm bộ vậy để moi thêm tiền thôi. Xe ôm kiểu gì kỳ khôi, bộ mù sao? Tấm bảng hiệu Hoàng Hạc to đùng đèn đóm cỡ đó.

Tôi bị nhốt trong nhà nghỉ cô quạnh đâu bốn bữa thì em tới. Từ chốn thiên thu tại ngoại em yểu điệu lộ hình làm sáng rỡ căn phòng đang tới hồi mốc meo. Em có mua cà phê sữa đá cho tôi, mua ở hàng quán nào mà lạ quá, thay vì nằm trong ly giấy hoặc một cái gì tương tợ vậy, đằng này họ đổ cà phê vào cái bao ny-lông rồi túm cột miệng lại cứ y như những nơi chuyên bán cá cảnh. Những cục nước đá bơi loạng quạng trong thứ dung dịch đậm đặc đục ngầu màu bùn nâu. Em nói, nhiều chuyện quá, hình thức quá, vấn đề là cà phê chỗ này tuyệt ngon. Thứ nhất, cho vào bao ny-lông cà phê sẽ không hao hụt thất thoát dẫu một giọt, thứ hai là anh chỉ uống cà phê hay uống luôn cái ly? Sao anh lại cười, nói không đúng sao? Hoàn toàn đúng, chẳng sai tí nào. Anh cười vì phát hiện ra con gái Việt Nam giờ này khôn dàng trời, ưa lý sự ưa triết lý ưa cự cãi ưa phản biện ưa manh động ưa đấu tranh, nghe đâu đến cả công an mà phận liễu yếu đào tơ khi phật lòng họ cũng cả gan dám tát tai mí lị mắng nhiếc um sùm trời đất. Ngó vậy mà hổng phải vậy, đã có thiếu khối nạn nhân khờ khạo nghe lời quyến dụ của mấy chàng diệt kiều. Sao bấy chầy anh chẳng giở bí kíp đặng rù quến em?

Em đi tham quan vào phòng vệ sinh, cửa khép hờ nghe vọng ra đôi ba vòi nước chảy lỏn tỏn lắc nhắc. Vòi nhỏ gây tiếng nhỏ vòi lớn gây tiếng lớn, tựu trung giải thuỷ thì mang tới một hệ quả: Vui tai. Mặt em đã bớt đỏ do đi đầu trần ngoài đường nực nội nắng nôi, vốc nước mát phả vào dung nhan làm em hạ hoả đôi phần. Mùa này Sài-gòn vắng mưa, thiếu gió và nắng thì luôn chan đổ xuống mọi tuyến đường, quận 1 cho tới quận 7, nó hung hãn tràn vào căn phòng nhỏ chẳng có máy lạnh. Tiền nào của đó, nhà nghỉ giá dễ chịu nhưng khi muốn dỗ giấc ngủ thiệt là chẳng dễ chịu chút nào, tôi không nói cho em hay là trú ngụ chốn này tôi luôn đón đầu ác mộng, kiểu như bị ma hù doạ, răn đe.

Em ngồi xuống giường, thử đo lường độ nhún nhảy ở tấm nệm mỏng lét, nó lãnh cảm chẳng hớn hở đàn hồi khi hứng chịu mông em nhúc nhích bên trên. Khách sạn 3 sao hả? Tấm nệm ở đó sẽ khiêu vũ cùng em, nó truyền độ rùng lên tới hai bầu vú em rung động. Tôi tưởng tượng vậy, không biết lọt vào cái khách sạn 5 sao thì giường nệm kê trong phòng nó hoành tráng cỡ nào. Mồ hôi bắt đầu tượng hình thành giọt, em cởi bớt áo rồi kiếm đâu ra sợi cao su dùng cột tém đuôi tóc lại. Cái nịt vú màu đen làm cho da thịt ở đó sáng trắng hệt như hai bóng đèn, tuyệt không gây chói chang. Em rất mỏi mệt khi tả xung hữu đột để chống cự bao công chuyện, anh thấy em có xuống sắc phần nào không? Em hỏi khi hất mặt lên cho tôi quan sát. Có gì đâu, tôi nói, cũng vậy thôi, em nên giữ bộ mặt như đưa đám ấy, khi em buồn anh thấy vẻ đẹp đó cũng có nét hay riêng. Em háy nguýt con mắt lá răm: Thôi đi, chẳng có ai như anh cả, cực chẳng đã thôi chứ em quan niệm đàn bà đẹp nhờ vào phấn son trang điểm, mắt sáng môi cười, đùa cợt rậm rật, nói chung là chảnh. Đã từ lâu em chưa tìm ra cơ hội để chảnh. Tôi không hiểu chữ chảnh mới lạ kia, có thể là sự khoe mẻ một cách quá đáng, bẹo hình bẹo dạng. Em kết luận, sơn ca muôn đời vẫn sáng giá hơn quạ, có đúng không?

Tôi ngồi xuống bên em, nãy giờ mông em đã làm tấm nệm toả nhiệt, thấy nóng đít. Tôi từng lao động ở công ty chuyên sản xuất nệm giường, nhân danh một kẻ có trên mười năm kinh nghiệm, tôi truyền đạt: Một tấm nệm tốt thì dẫu anh mài đít dầm dề cả tháng trời nó không gây nỗi khó chịu ở bàn toạ, đồng thời đứa nằm bên anh có làm mưa làm gió cách gì đi nữa cũng chẳng truyền độ rùng sang phía anh đặt lưng. Giá trung bình cho cái nệm dày 35 cm ấy là 1000 đô, queen size thì 1800 và nó viết giấy thị thực bảo đảm sử dụng tới mãn kiếp cũng chả hề hấn gì. Cha truyền con nối tới đời chít chắt nó vẫn cứ trơ trơ mắt thị. Chả biết làm bằng cái giống gì mà tốt thế? Một hôm xấu trời, tôi và năm tay người Mễ khác không dưng bị kêu đích danh, rằng thì là chúng tớ không mặn mà sự tiếp sức của các du nữa, chúng tớ ra quyết định đuổi việc. Xuống sáu câu tình đời lâm li, cuốn gói ra khỏi hãng làm nệm siêu tốt mà chẳng biết lý do gì. “Không ăn đậu không phải dân Mễ, không đi trễ không phải Việt Nam”. Cómo estás? Thay vì nói muy bueno bọn chúng xổ tiếng địa phương: Fuck you, man! Những tên người Mễ bặm trợn hẳn sẽ chất mạng có thứ lớp lên chiếc mini van để đôn đáo chạy đi tìm việc khác, trong khi sẵn cớ tôi nghỉ xả hơi bay một lèo trên chiếc air bus 330 về thăm quê cũ; và bây chừ thì ngồi trên một tấm nệm mỏng lét từ hồi cha sanh mẹ đẻ tới giờ tôi chưa từng thấy qua. Tôi đã vật mình trằn trọc trên đó, nằm nghĩ tới số phận mỏng dày của kiếp người.

Thì cứ giả bộ làm quạ một thời gian, lông đen sẽ rụng và em thay hình đổi dạng thành sơn ca lai hoàn như cũ, chết chóc đâu mà sợ, tha hồ chảnh. Anh uống hết cà phê chưa, ngả lưng mà ngơi một giấc để trắc nghiệm xem cà phê có làm mình mất ngủ không? Em nằm xuống, trườn thân để dọn cho tôi khoảng trống eo hẹp, có nghĩa là muốn khỏi té xuống đất buộc lòng tôi phải lấn đất dành dân lấy thịt đè người. Và người ngợm sung mãn như em, khi kề cận có là tài thánh mới ngủ yên, uống cả chục vĩ thuốc ngủ, nốc trăm viên an thần cũng dê kêu. Nói ráo hoảnh thì có hơi hàm oan, bức xúc bấn loạn như thể sắp nhồi máu cơ tim. Nóng chi lạ! Em than. Để khỏi nóng e chỉ còn duy một phương cách: Thoát y. Khi áo xống lôi thôi xà lỏn quần đùi đã đi hoang ra khỏi cơ thể tôi phát giác điều kỳ cục, ấy là trần như nhộng coi mòi nóng nảy hơn đậy điệm xiêm y. A hèm, giống như đi giữa sa mạc càng quấn quần này áo nọ vào thân thì ta càng mát mẻ, kỳ khôi rứa đó, trở lại thời hồng hoang ăn lông ở lỗ thì chỉ có nước chết thiêu. Em là sa mạc đủ đầy gò bồi trũng thấp cát mịn lũng khe và tôi, kẻ hành hương đang ngắt ngoải khát nước. Tôi hoa mắt nhìn ra bao ảo ảnh chập chờn bủa vây. Những dừa xiêm, những quả cam mọng nước, những hạt nho không hột, những bánh nậm bánh bèo, những sương sa hột lựu hạt é hột le. Lạc vào hoang đảo người ta cũng thường đối diện với những mơ mòng tựa thế, ám ảnh không nguôi. Biết làm cách chi để trường tồn, để nuôi sống?

Nằm đâu lưng với vách, em đưa một cánh tay ra quàng quanh bụng tôi và bắt đầu kể chuyện đời xưa. Nói trộm vía ổng chứ giao hoang cùng nhau chưa khi nào em tới bến, ổng thồ đi một đoạn ngắn thì xe hết xăng. Hoàng Hạc nằm cuối đường mà ổng trở chứng vất mình đứng bên lề lạc lỏng tủi thân. Quày quả chạy làng hổng thèm thu nhận tiền công. Hiểu ý em nói không? Anh hãy đóng vai gã chạy xe ôm giả bộ không thấy bảng hiệu, câu giờ chở đi lòng vòng, khi tới đích thì tha hồ chặt chém và em thề chẳng lấy đó làm điều.

Văn vẻ quá, bóng gió quá, xa rời thực tế quá, như vậy thì em đúng là kẻ ưa đi lòng vòng, cứ đứng ngoài cổng mà chưa chịu bước vào đạp đất bấm chuông. Để khỏi lôi thôi, tôi ôm lấy em, ôm toàn bộ một cục than hồng. Có thể mai hậu tôi sẽ là nhà vật lý hoặc toán học cực giỏi khi cố bảo vệ luận án: Nóng + nóng = mát. Khô + khô = ướt. Rồi đi tới đáp án siêu hóc búa: Hiện tượng giông bão đến từ đâu?

Ở một bên eo, lưng chừng trước khi bò lên mông em có đậu một vết chàm, tôi định thần chú mục quang: Ồ, hoá ra là một hình xăm mực đen. Sao kỳ vậy, tôi hỏi em, chim đâu, bướm đâu, chuồn chuồn đâu, cóc nhái rắn rít đâu không lựa để trổ hình mà lại chọn con số 13. Anh tin dị đoan không? Anh biết kiêng cử không? Sống đời phu thê với ông chồng già goắc cần câu kia, em ghi chi li vào sổ, trước sau tụi em làm tình có mười ba bận thì ổng nghẻo. Em xăm con số ám chướng ấy vào da thịt tủi hổ để nhắc nhớ một kỷ niệm đầy tì vết. Khi ăn cơm anh dùng một đôi đũa lệch thì hẳn là không ngon miệng. Vừa nói em vừa leo lên nằm trên người tôi. Hãy ăn tươi nuốt sống em đi, qua rồi phút giây mặc niệm chào cờ. Có nghĩa là sao? Tôi nói không thông suốt, nói đứt khúc. Em hào hển, nghĩa là lần thứ mười bốn em giao mạng cho anh, muốn chém muốn giết tuỳ ý. Giải hạn em, dìu đỡ em qua khỏi cột mốc xui xẻo kia. Vĩnh biệt quá khứ ám tối bèo nhèo ngó ra hừng đông phía trước trời hồng.

Nhân danh một công nhân nhiều năm kinh nghiệm từng lao động trong hãng xưởng sản xuất chăn ấm nệm êm, tôi trịnh trọng tuyên bố, đấy là khi yêu nhau, dù nằm trên tấm chiếu rách bươm hoặc ở lùm cây bụi cỏ đầy gai nhọn, ta có quyền phát ngôn, rất sung mãn, rằng: Nhằm nhò chi ba cái lẻ tẻ. Không cứ là sơn hào hải vị, cơm trắng ngấu nghiến cùng mắm nghêu sò ốc hến cũng khiến ta đê mê chấm mút, ta phá mồi ta ham ăn ta leo lên chức quân vương với sự dốc lòng đáp trả ơn mưa móc của hoàng hậu. Chẳng có quốc gia nào độc lập tự do hạnh phúc cho bằng xứ sở đó chỉ có đôi ta. Nam nữ thọ thọ xin cứ bu nhau như sam. Có đàn áp có bóc lột thì tuỳ hỉ, sợ đối tượng phản biện thì ta sẽ bú mồm không cho phát sóng, làm vậy hổng chừng nghe nó xúi, hãy bịt mắt hãy trói em đi. Em ưa làm tư bản giẫy chết trong vòng tay anh.

Em hỏi cái này nghen, anh phải thành thật, chớ có ba xạo, hồi đó anh đã từng ăn nằm với chị Hai chưa? Bậy nà, chị hai của em nghiêm thấy mồ, chỉ cho hôn hít nắm tay nắm chân bậy bạ vậy thôi, áo quần của chỉ như có bắt khoá lắt léo không tài nào mở được ám số. Thuý Vân đột ngột hỏi làm tôi nhớ Thuý Kiều năm cũ, cô làm hướng dẫn viên trong một công ty du lịch và trời xui đất khiến hôm đó cô dắt đoàn khách Việt kiều đi tham quan dã ngoại về miền Tây. Hình như thằng tôi là kẻ “mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao” nhất trong đoàn, “rảnh rỗi sinh nông nổi” tôi đã một bước không rời bám theo cô giao liên trên từng cây số và một chút tình bèo bọt bắt đầu sinh sôi theo con đò chạy trên sông xô động làm thổn thức hoa bằng lăng tím. “Màu tím màu nhớ thương ai”. Am tường nơi cô làm việc thì địa chỉ nhà cô dùng trốn gió mưa nằm ở đâu: Chiện nhỏ! Việt kiều này đã đường đột tới thăm, một liều ba bảy cũng liều nên đã tặng quà đã mời đi ăn và đã cùng nhậu sương sương ở nhà hàng đặc sản. Lảo đảo “3 say vẫn chưa chai” mượn hơi men buông lời cợt nhã, bồi hồi nắm tay mê muội kề môi và đến khi sờ vào nút áo thì chị hai cau mày đọc thơ Lục Vân Tiên: (Xin giữ cự ly) Tui là phận gái chàng là phận trai. Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, đã nêu quyết tâm lên kế hoạch vụ mùa thu đông thì đoàng một phát tin dữ to đùng hiện tới, chị Hai bị xe điên tông trên đường từ cơ quan đến điểm hẹn với chàng Việt kiều hồi hộp. Nắng năm xưa cũng chan hoà nực nội suốt nội thành Sè-gòn ưa chơi trò phân ly duyên nợ. Chuyện tưởng không ai biết ngờ đâu nó lọt vào mắt xanh của em cô hai, tức cô ba, tức Thuý Vân, nhan sắc so với chị tám phân vẹn tám, có nghĩa là hoa hổng nhường nguyệt hổng thẹn. Nhưng một khi đã lỡ nhìn thấy thì việc quay đầu xem chừng hổng đặng, ngó lơ lãnh cảm là động thái cực khó. Người gì đâu mà da thịt nảy nở quá hạn kỳ, ba hạt nút áo coi mòi chẳng canh giữ được, chực rụng rời bung khuy lộ hàng cho thông thoáng. Tôi nắm tay Thuý Kiều đại diện đàng gái đi ăn mừng ngày Thuý Vân lên xe bông. Chị Hai thương em Ba nên mở lời phi lộ phân bua chuyện em ấy phải lấy một người đáng tuổi bố mình: Thời buổi này nếu tìm chẳng thấy người thực bụng thương mình, chi bằng làm vợ thằng già có lắm tiền của. Tuy mang tiếng là nâng khăn sửa túi nhưng nhất nhất cử động lão không để mình đụng tới móng tay, ngồi mát mà ăn bát vàng, tha hồ đi shop mà diện cho ngất ngư; chỉ chịu khó chút đỉnh khi đêm về ôm ấp, thôi kệ cứ mặc xác bởi vì dân gian đã dạy: Đêm dài thì lắm mộng. Mộng cuồng chừng đôi ba năm thì trời kêu ắt lão ấy phải dạ, mình hoàn tục rồi mình ngộ mình than “chơi hoa đâu dễ mấy người biết hoa”. Em tân cổ giao duyên tiếp bản vọng cổ mà chị chưa kịp xuống: Kén cá chọn canh như chị để cuối cùng làm hồn ma trinh nữ có phí của giời không. Muốn ăn mặn cũng phải nương nhờ vô phước đức, thiếu căn tu như chị thì ăn chay trường phỏng có ích gì.

Sau cuộc mây mưa khiến em phải chảy nước mắt vì trải qua nhiều cảnh quang kỳ lạ nằm mộng cũng chẳng ngờ, em rủ tôi vào nhà vệ sinh đứng tắm chung dưới vòi sen nước chảy cần kiệm. Đối với anh thì con số nào khiến anh có cảm tình nhất? Hỏi chi vậy, tính chơi vé số hả? Thì cứ nói đại đi, biết đâu được mai sau có khi em cần tới. Ừ, anh thích số 28, trùng hợp lắm nghen, ngày anh tuyên thệ làm công dân Mỹ rơi vào ngày 28, ngày anh đặt chân xuống sân bay Tân sơn nhứt là ngày 28, ngày chị hai trao anh nụ hôn đầu lịch cũng ghi 28. Xem chừng con số đó ngó rất tròn đầy. Nếu xoá hình xăm số 13 hổng đặng em sẽ biểu người thợ xăm thêm dấu cọng với số 15. Số 28 đẹp mà số 15 nhìn cũng đáng yêu. Chi vậy? Thì trước ngày anh trở về bên Mỹ xa xôi, anh phải ráng sức đền bù cho em để vẹn toàn số đẹp 28. Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm cọng thêm giờ nghỉ. Em rất muốn có con với anh, với kế sách đó người ta dễ cho em mang con sang đoàn tụ cùng chồng. Tiền bạc không thành vấn đề, ưa thử DNA hả, con này chơi luôn, tốn kém mấy cũng hổng ngán. Em sẽ dắt anh ra trước mả chị Hai mà thề nguyền, nói láo cho chỉ vặn họng, xong rồi mình tranh thủ tạt ngang cửa hiệu tatoo, sẵn anh chơi hình một quả tim có lồng cái tên em vô bắp tay, có dám không?

Tôi quay người, nhờ em kỳ cọ đất bám nhột sống lưng. Chỉ là cái cớ, thực chất tôi không muốn để em trông thấy con quạ hùng dũng bỗng dưng biến thành chim sẻ xuội lơ cẳng cò, nôm na là teo bu-gi. Trời ạ, em có bà con chi với Khổng Minh? Sao em mưu thần chước quỉ dường ấy, em chơi ác hổng sợ từ nấm mồ chưa xanh cỏ ông chồng cũ của em đòi giải phóng hiện lên vặt trụi lông em sao. Chung quy tôi có hơi bạc mệnh, phải mà Thuý Kiều đừng vắn số e đời tôi chẳng hư hao khi nô đùa cùng Thuý Vân. Chưa đặt lưng ngủ ngáy mà đã thấy đêm dài lắm mộng. Nước vòi sen cứ chảy rỉ rả dù đã vặn khoá, điệu này chắc là nước mắt cho ngàn sau!

Hồ Đình Nghiêm

Kẻ âm lịch

Hồ Đình Nghiêm

P:ost by Sơn râu 16 Dec 2023

Mỗi năm, vào dịp lễ lớn, người ta bợn lòng đoái hoài tới bọn tù nhân. Ngày 2 tháng 9 vừa rồi, tôi được ân xá phóng thích trước thời hạn. Người cán bộ bảo tại tôi có nhân thân tốt, chấp hành thực thi đúng với nội quy, đạo đức, chẳng xẩy ra điều tiếng, nói chung là cải tạo giỏi, sẵn sàng hóa thân làm một thằng người mới để thích hợp với xã hội rậm rật bên ngoài.

Tôi chẳng hiểu gì cả, tôi không mừng vui mảy may. Tôi đứng lặng trước cổng trại tù, nhất y độc quởn che cái mạng không. Nắng trưa làm bóng tôi gãy gập dưới chân đứng. Thế giới bên ngoài những vòng kẽm gai cuộn sóng trên đầu đón tôi với sự hung hãn của âm thanh và bụi bặm. Tôi bơ vơ, hụt hẫng dưới bầu trời trống ngợp này. Tôi như một thai nhi vừa chui đầu vượt thoát khỏi cửa mình nhầy nhụa và tôi đã hiểu do đâu có một thằng tù mếu máo một hai xin được ở lại, chôn đời sau những chấn song ghẻ lạnh. Một thứ tâm lý không bất bình thường chút nào cả, tin tôi đi.

Thường thì có tiếng máy xe nổ bên hông, có tiếng nói biểu lộ nỗi hân hoan: Mừng được thoát nạn sớm… Rồi đón nhận điếu thuốc thơm. Rồi tay cầm chai bia ngửa cổ đổ trôi vào mồm, nhận chìm bao cảm xúc. Rồi xe thồ người đi: Việc đầu tiên mày phải nên xả óa cuộc đời. Và xe dừng trước tụ điểm mát-xa và thằng người âm lịch kia được một kiều nữ nồng mùi nước hoa “săn sóc, vui vẻ” từ A tới Z.

Thường thì những sự cố ấy chỉ xẩy ra trong phim ảnh. Hoặc nó đến cho một thằng người khác tôi. Và dường như, hồ đồ để nghĩ rằng sự thật vẫn luôn ngủ quên. Khi mở mắt, trần trụi một thế giới hư hao, đang chuyển động gần tới vô cảm. Một ngày mới chờ tôi bước vào với tất cả nỗi e dè, như thể bạn bị trói cứng đứng chờ tiếng chuyển động hen rỉ phát từ ổ khóa cánh cửa biệt giam.

Tôi dọ dẫm ra ngoài con lộ lớn. Nắng đổ làm đau mắt vì bản thân của màu nắng đã bị “chất độc màu da cam” căng đầy trên những biểu ngữ cờ quạt khẩu hiệu hủy hoại. Đang dịp lễ, bao nhiêu vải vóc màu đỏ được trưng dụng để giăng dọc ngang mắc cửi phố phường. Màu cách mạng, màu của chính quyền, màu của dọa nạt. Một cái đám cưới có song hỷ có tân hôn có động phòng e phải nên động não để đổi thay một tạp niệm có tự ngàn xưa: Đỏ ấy là giọt máu trinh tiết ứa ra khi màn trinh bị phá rách, chú rể mãn nguyện thu cất cái khăn mù soa thầm lén đặt dưới đít cô dâu. Hề, em đã không phụ ta! Đầu ta vẫn nguyên vẹn chưa hề bị cắm vào đó một cái sừng. Hề, cuộc đời vẫn đẹp sao!

Đi đâu anh hai? Chiếc xe ôm rà sát bên hông với bộ dạng thằng điều khiển xe máy trông tựa một oan hồn của Ninja tự tiền kiếp chưa siêu thoát. Nếu nó phạm pháp, gây án sẽ chẳng ai nhìn ra chân tướng mặt tròn hay méo. Công an sẽ ta thán đù mẹ cuộc đời này u ám quá, sao lắm kịch sĩ thế, sao chúng ưa đeo mặt nạ thế! Lý ra giai cấp chúng tao mới có quyền trang bị đánh tráo để khỏi phải gây hậu hoạn, dây dưa chuyện ơn đền oán trả. Tôi đọc tên con đường, hy vọng Ninja biết. Bản thân tôi thì chưa hề nghe biết qua vị anh hùng liệt sĩ nọ. Đem mạng mình đi ém vào lỗ châu mai có khẩu đại liên kẻ địch đang kích hỏa xả đạn? Gài đặt chất nổ vào nhà hàng có Mỹ Ngụy đang tổ chức liên hoan đình đám, kamikazé xả thân trừ gian diệt bạo? Giật sập cầu đường có xe đò qua lại? Sáng tạo ra khẩu súng trường bắn hạ pháo đài bay B-52? Thành tích và kiên cường. Mông muội và huênh hoang. Giai cấp và khát máu. Thất học và bần cố nông.

Hai lăm ngàn, đại ca. Mới ở trỏng ra hả? Vậy thì sửa giá lại Mười lăm thiên. Đẹp bụng không? Tôi leo lên yên sau và đội chiếc nón an toàn vào đầu gần như trụi tóc của mình. Xe chạy. Người ngợm lăng xăng lòn lách lạng quạng quanh mình. Đời có vẻ như muôn kiếp chẳng hề là bể khổ! Xe thồ sẽ vất tôi xuống tới bến trầm luân, người bạn tù cho tôi hay địa chỉ, hắn viết lá thư ngắn và dán kín vuông giấy nhỏ bằng đôi ba hột cơm nguội, dụng ý không muốn tôi đọc. Mày sẽ gặp em gái tao, có thể nó giúp mày tìm chỗ ngủ qua đêm rồi hẳn về quê đoàn tụ. Về quê. Hai chữ ấy nghe đau như có vết cứa vừa làm trầy trụa. Chốn ấy xa tít tắp với cha già mẹ yếu rường cột xiêu vẹo nhà tranh vách đất, tôi mang theo chân phiêu bạt bao kỳ vọng của kẻ ở lại vũng ao tù nước đọng. Năm năm không tin tức gửi về, chẳng biết vũng nước sân nhà đã bốc hơi, chẳng rõ mắt mẹ đã khô quắt giọt lệ héo mãi trông vời? Chẳng hay tôi có đủ tiền để mua được chiếc vé xe đò chạy đâm bụi mờ liên tỉnh lộ?

Người con gái e dè, lộ vẻ cảnh tỉnh khi nghe tôi trình bày ngọn ngành về thân phận, về giây mơ rễ má với thành phần bất hảo là anh ruột cô ta. Sao anh được thả mà ảnh thì không? Tôi đâu biết. Cứ nghĩ là cán bộ họ chơi trò bốc thăm. Họ xóc xáo, họ nghịch tay, họ thò ngón nhón lên rẻo giấy có ghi tên tôi. Mai kia mốt nọ sẽ tới phiên anh cô, chỉ nên biết vậy, làm sao hơn? Số mạng mà. Đọc lá thư này xem có rõ thêm điều gì không? Tôi trao vuông giấy vào tay đứa con gái cỡ tuổi 25. Cô còn trẻ, thon gọn, thuộc loại ít lao động chân tay. Vào hạn tuổi ấy tôi đã là thợ đụng rồi. Có nghĩa là bá nghệ, trăm công ngàn chuyện thứ gì cũng từng gánh vác. Lưng cong bầm dập cho tới hồi bó tay bằng còng số 8. Họ mạt sát tôi thậm tệ, tống giam vì tôi lỡ dại mặc áo thun có ghi hàng chữ Tự Do Dân Chủ. Thú thật tôi không hiểu được bốn chữ ấy nhằm nói lên một điều gì. Mặt ngang mặt dọc nó ra sao suốt đời tôi chưa hề thấy qua. Tôi thành thật viết bảng kiểm điểm và bị ông công an mắng: Đù mẹ thằng này ngon, điếc không sợ súng. Và tôi xa lánh trần gian từ dạo đó.

Tôi được Muối mua cho ly cà phê đá. Cô khai tên cho tôi dễ gọi và cô bớt ngán tôi, bớt ngại, bớt đề phòng. Không, anh của Muối còn lâu mới được tha, thuộc diện tù hình sự, có số má. Muối hỏi thật, đã có khi nào anh đâm chém người ta? Tôi rùn vai, ly cà phê đá làm kiêng răng. Anh sao vậy? Không, tôi chỉ thử nhớ đã bao lâu rồi tôi mới được uống lại một chất nước gọi là cà-phê. Cám ơn Muối. Cảm động có khi làm cho con người đâm ngu ngơ. Chắc anh không phải thứ trời sanh ra để cầm dao đi gây án? Do đâu Muối có nhận xét ấy? Dễ quá mà, kẹt tiền hủ tiếu cà phê cũng có thể phạm tội vậy. Ừa, nhưng anh thì không, nhìn thấy biết. Chủ quan là thứ luôn gây cho mình sự thua thiệt, Muối hiểu không?

Chúng tôi ngồi ngay ngạch cửa, chỗ Muối thường trú nhỏ, tối, ẩm thấp trông tựa nó vốn là một nhà kho, hoặc nơi cất giữ những phế phẩm, cuốc hư xẻn gãy ghế ba chân bàn một cẳng xe đạp oằn thân hình số 8… đại khái thế. Chủ nhân thu vén, sửa sang qua loa và treo bảng cho thuê: rất tiện cho cô cậu học sinh xa nhà, công nhân viên độc thân vui tính… đơn cử vậy. Và Muối dọn vào, và Muối trang hoàng nội thất và Muối phải có bản lãnh để một mình đối chọi với tất cả những hung hiểm mà đời này vốn bày biện một cách hào sảng, rộng tay. Nội cái chuyện ngồi hóng gió với một thằng người xa lạ như tôi cũng đủ nói là Muối ngon cơm, có cách làm chủ tình thế.

Anh có đọc qua lá thư này? Không, tôi chẳng có thời gian. Lại nữa thư phong kín có vẻ riêng tư thì tôi phải biết tôn trọng một tâm sự. Chiều nay, Muối thay mặt ông anh để mời anh một bữa ăn tạm gọi là ngon hơn cơm tù. Anh có tính ra được cảnh ngày mai không? Tôi chưa tính bởi quá phân vân. Chỗ làm cũ còn nợ tôi nửa tháng lương, vắng mặt lâu quá rồi không chắc họ còn nhận nhớ ra mình để chi trả. Chắc mất tiêu! Tôi cần có chút đỉnh tiền để về quê thăm lại gia đình, đó là điều làm tôi rối trí nhất. Trong thư, người anh Muối có ghi một địa chỉ, ở đó họ còn nợ bốn triệu rưỡi thời anh Muối làm phần việc bảo kê cho họ. Muối tính là ăn ở nhà hàng đặc sản xong chúng ta thuê xe đến đó lấy lại tiền. Anh nghĩ sao? Không thành vấn đề, Muối là con gái, một thân đi đòi nợ thì e không tiện. Đêm hôm có anh đi cùng để Muối an tâm là việc đáng làm. Thấy chưa, Muối chủ quan để tin là anh thuộc hạng người gây cho Muối sự kỳ vọng. Đến nhà hàng Muối sẽ gọi bia để cụng ly với anh. Đừng nói với Muối là anh chưa có người yêu đấy nhé. Có, người ấy bỏ anh trước khi anh bỏ đời để giam thân ngục tối. Lúc này đây, Muối muốn anh quên chuyện tù tội đi, anh phải thấy con đường trước mắt mình còn quá dài, đòi hỏi phải dung nạp thêm năng lượng. Tình yêu là thứ năng lượng cần thiết nhất. Anh cần tắm rửa gì không? Chẳng cần, sáng nay người ta đã cho anh tắm thỏa thích bên bể chứa lộ thiên. Người ta cho anh tẩy trần trước khi thả vào nơi lắm bụi đời thường. May mà anh gặp được Muối, may mà cuộc đời này còn sót lại mình Muối là kẻ dịu dàng. Anh không tắm thì ít ra anh nên thay đổi xiêm y. Để Muối vào lục soạn cho anh bộ áo quần tử tế, anh Muối chắc không lớn con hơn anh đâu.

Tôi chưng diện áo quần tử tế sánh vai Muối đi kéo ghế nhà hàng đặc sản. Tôi nghịch Muối: Trông anh còn váng vất dị tướng của một thằng tù? Không, đời nào. Anh giống một bác sĩ thú y chuyên đi chích thuốc tăng lực cho heo bò chó nai. Hi hi hi. Muối cười mà tôi cũng phụ họa cười bè. Hợp âm nghe rộn ràng, tiếng đực tiếng cái vui tai. Ông Thánh Thán về già ngẫm việc đời tự đặt cho mình những điều thống khoái nhất từng hưởng qua. Điều thứ 10: Nghe tin một thằng đại gian ác vừa chết, đó chẳng phải là điều thậm sướng lắm ru! Về già, tôi cũng sẽ lẩn thẩn ôn cố tri tân để nói: Nghe Muối cười rổn rảng bên tai ngày đầu tại ngoại, há chẳng phải đó là cả một trời hạnh phúc sao! He he he.

Ăn uống no say, ăn giả bữa, hợp khẩu có men bia dẫn đường khai vị, người tôi nóng ran thứ cảm giác được hưởng thụ. Muối ngồi kề, mặt rạng rỡ và tôi đọc phải có vô vàn những tia nhìn ganh tị của các đấng mày râu bàn kề bên. Như thể chúng so bì, đẳng cấp nọ là thứ chúng hằng mong với tới. Thôi, đi anh. Muối thanh toán hóa đơn và chúng tôi rời khỏi chỗ có ly tách chén bát đứng chen vai thấp cao nghiêng ngã cùng khói thịt nướng ùn dâng mù mịt một hướng về đứng gió. Gọi taxi, Muối mở lá thư nhàu nát để đọc lên một đích tới. Đó là căn hộ có bắt hai ngọn nê-ông xanh mét. Chùm lá thưa của cây trứng cá thân gầy làm nhem nhuốc một mảng vách vôi. Tôi trú thân vào đó, cảm nhận chút mát mẻ từ chùm lá lòa xòa trên đầu trọc. Muối lay cửa sắt dù cửa chưa đóng kín, vuông tối hiện hình một tên đàn ông bặm trợn nhìn đứa con gái vừa gây tiếng động. Làm gì vậy? Chớ cưng có rãnh việc không? Muối nói: Không, tôi rất bận rộn. Ông là Dách, phải chăng? Tìm đúng đối tượng đấy, chính anh đây cưng. Vào trong dễ nói chuyện hơn. Cánh cửa sắt có gắn bánh xe bên dưới khép lại những liếp để mở rộng lối vào cái hành lang thâm u. Dách thò đâu ra đảo mắt một vòng, hắn không quay lưng khi phát hiện ra tôi. Có chuyện gì? Thằng đàn ông bụng phệ lên tiếng. Ông thiếu nợ anh tôi bốn triệu rưỡi, ở trong tù, ảnh nhắn ra nhờ tôi đi đòi hộ. Giấy tờ đâu? Chứng cớ gì để đặt điều thằng Dách này thiếu nợ. Đêm hôm khi không tới bắt chẹt làm khó thằng này hả? Địt mẹ vừa buông chén cơm xuống, chưa kịp xỉa răng là đã thấy nực gà. Muối hướng mặt sang tôi, cô bận suy tính. Dách cũng ngó tôi, truy cứu thằng đứng trong sáng tối nhập nhòa ấy thuộc diện nào? Nếu đã từng kinh doanh thứ công việc phi pháp ấy, ông anh nên hiểu qua cách sử sự. Tôi góp ý. Bản thân anh ấy đang ngồi ở chốn lao lung, do đâu nên nỗi thì ông anh nên vị tình mà thanh thỏa cho người ta. Ân tình thì ghi nhớ, nợ nần thì sòng phẳng, chuyện ấy tôi học được trong tù khi nghe mấy đại ca luận bàn. Cô nầy là em đương sự, kẻ thiệt thòi, tôi là bạn kẻ không may, sẽ không dám tới quấy rầy ông anh nếu được giải quyết cho. Địt mẹ từ đời tám hoảnh nào tao chả nhớ ra, không nợ nần thì trả thế chó nào được. Thiệt là vô căn cớ, đợi ngày nó ra tù rồi hẳn tính, tụi mày là ai ông đéo biết.

Muối, như trăm cô gái khác, khi ra đường thường đeo dưới nách cái xách có quai, cô moi ra chiếc điện thoại di động. Không để gọi một ai, cô chỉ chụp khuôn mặt người đàn ông tên Dách. Tiếng Quảng-đông dách là số một. Number One. Cái tên có vẻ như là đầu đàn, thủ lãnh. Vì vai vế, Dách chẳng ưng hành động vừa rồi của Muối. Hắn bước khỏi bậc cấp, đặt chân ra sân đất, tiến gần tới Muối để giật lấy cái vật vừa ghi hình. Muối thả chiếc điện thoại bé cỏn con vào lại xách và tiện tay lôi từ trong ấy ra con dao chẳng bé tẻo teo một ly ông cụ. Đen đúa, nhớp nhúa, mỡ màng, bầy hầy, láng bóng. Có thể Muối đánh cắp ở nhà hàng khi cô vào trả tiền. Có vẻ như dao đang tạm ngơi nghỉ sau khi chặt xong xương thịt, giận cá chém thớt chưa rảnh tay kì cọ rửa qua bảng đao. Dao hẳn bén, mũi nhọn hoắc, chẳng phải hàng nội địa. Muối thon thẻo, gọn, nhỏ thó nên thật không thích hợp khi nắm cái hung khí kỳ cục ấy. Nắm, chẳng qua đó chỉ là vật dùng để tự vệ, hơn là thứ sẵn sàng lao vào cuộc binh đao sống mái một mất một còn ăn thua đủ. Nghĩ thế nên tôi dành lấy nó. So giữa hai đứa, Trần Hưng Đạo nắm gươm có uy vũ hơn Trưng Trắc cầm kiếm. Là giặc phương Bắc, chúng sẽ dồn cục khi ngó ra râu hùm và chúng ắt thoải mái đi khi bắt gặp một khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang đứng chận đường. Nhi nữ thường tình chỉ giỏi làm sập thành quách bởi nhan sắc trong lúc vũ khí mà được mân mê trong tay đàn ông, cái ấy mới chết người. Không máu đổ thì buộc lệ phải tuôn. Quả nhiên Dách chùn bước, hắn lộ hoang mang tấn thối lưỡng nan. Sẵn, tôi làm tới: Nếu ông đang chật vật, có thể ứng ra phân nửa tiền, ghi cho bọn tôi một tờ giấy gia hạn đến ngày nào đó sẽ xóa sổ nợ, và như thế cà song phương đều nhẹ bước qua lằn ranh căng thẳng nầy. Được, tôi sẽ vào nhà lấy tiền. Hãy đợi đây, không lâu, năm phút là cùng.

Muối dòm mặt tôi: Em nói không sai, trời sanh anh ra không phải là hạng người ưa thích kim loại. Liệu thằng chả có giở quỉ kế không anh? Là sao? Câu giờ hả? Cửa vẫn mở, mình loại bỏ giải pháp là nó lánh mặt chuồn đi cửa sau. Muối nắm cánh tay tôi: Nếu nó mang ra khoảng hai chục ngàn thì biết tính làm sao hả anh? Tôi nhìn cô gái mới quen nửa ngày, nửa ngày mà đã thích hợp với mùi hương chờn vờn quanh người Muối. Tụi mình trời sanh ra chẳng phải là thứ chuyên đi đòi nợ, cà anh lẫn Muối coi bộ ngu ngơ quá. Sau này giả thử chồng Muối ăn vụng đâu đó, e Muối không biết cách đánh ghen? Giỡn mặt, chuyện đó khác chớ bộ. À này, hay mình đi về, mai mình tìm thuê bọn đầu gấu đòi nợ giúp, như thế coi mòi chạy việc, anh thấy sao? Nếu vậy phải mẻ một khoản tiền, liệu anh Muối có trách móc cô em?

Chúng tôi thôi trao đổi vì có chiếc xe máy nhiều phân khối gầm rú chạy hộc tốc vào sân. Ngọn đèn làm chúng tôi hoa mắt. Khi máy tắt đèn lu câm chúng tôi nhìn ra hai thằng cô hổn rời khỏi xe tay lăm lăm hai thanh mã tấu. Dám tới dỡn mặt nhà anh Dách hả? Một đứa dòm Muối, thòm thèm ưa soán đoạt làm chuyện gừng cay muối mặn. Mày có thể an toàn ra về. Một đứa chỉ tay vào mặt tôi. Còn cô em nán lại cho anh đây cậy nhờ chút việc. Muối lẫn sau lưng tôi, thầm thì vào tai: Chỉ còn cách gọi công an thôi anh ạ!

Dách xuất hiện, xoa tay vào nhau, điệu bộ như đầu bếp vừa nấu xong một món sơn hào hải vị chưa hề đụng hàng. Cả ba đứa đứng ba góc, như kiềng ba chân giam ông Táo bà Táo bạc phước vào giữa. Một thằng mặc áo da bò phóng tới ôm Muối muốn dựt cái xách, theo phản ứng, như kiểu bị điện giật, tôi vung dao lên. Một tiếng thét, hai ba tiếng la và dưới đất một vài ngón tay rơi rụng. Nạn nhân lùi lại, đưa bàn tay thương tật ra nhẫm tính phép cọng. Hiện trường yên lắng một sát na bằng bặt. Máu nhỏ giọt từ bàn tay mất ngón nhưng máu kíp đọng khô trên con dao tôi mãi nắm. Nắm cho đến khi công an ùa tới. Một đứa đạp tôi ngã quỵ xuống. Bằng thứ thủ pháp cực nhanh, nó trói gô hai khủy tay tôi lại bằng đoạn giây nhựa trắng kỳ quái, bạn càng cử động vùng vằng nó càng siết cứng tựa hồ hàng nhái vòng kim cô chẳng cần lâm râm tụng chú. Thời Tôn Ngộ Không sống chắc yên bình hơn vì cõi ta bà ấy chưa đẻ ra bọn người gọi là công an. Một thằng xốc nách tôi đứng lên và vẻ ngạc nhiên lộ hình che đậy cái hung ác: Giời ạ, thằng phản động này mới ra tù ban sáng, chưa giáp vòng hai múi giờ nó lại cầm hung khí đi phá rối trật tự coi thường chế độ ưu việt. Mẹ mày, sao con ghiền cơm tù thế hở?

Muối khóc lặng lẽ sau khi hôn vào má tôi. Em hứa bằng mọi cách sẽ thường xuyên đi thăm anh. Tôi mang duy nhất hình ảnh Muối đứng như chực đổ lên xe bít bùng. Cửa đóng sập lại, chát chúa, đen đủi. Xe chạy dằn xóc trên địa phận muôn đời xa lạ với tôi. Chẳng thể quen được. Tôi chẳng rõ Thánh Thán có từng lập ngôn: Rơi xuống đáy địa ngục, liếm được vị mặn của nước mắt ai kia đau lòng đổ ra, há chẳng phải đó là một kỉ niệm đáng thu cất sao?

Tôi là kẻ âm lịch sống thiếu ánh dương quang kể từ cuối ngày 2 tháng 9.

Hồ Đình Nghiêm

Huyết học

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 Dec 2023

Vào sâu nội thành, khuất lấp hướng tây có căn nhà cổ được vây giữ giữa bao cây cao bóng cả. Chim chóc thường ghé tụ bầy hót lên đủ mọi cung bậc, nghe hân hoan, rót vào tai người cũng khiến trôi bớt bao phiền não. Dân cư trong nội thành dường như ai nấy đều biết tiếng chủ nhân căn nhà trầm tịch kia: Tên Nhàn, họ Khổng. Ba đời đều văn hay chữ tốt, hiểu biết rộng, chí thú xem sách vở là hiền hữu, là tình nhân, là kho báu, là vật bất ly thân. Nhà đầy sách, rộng ba gian thì rường cột kia đã thứ lớp xếp cho sách lưu trú tới hai gian. Một không gian chật cứng những bìa những gáy những trang giấy những chữ nghĩa những điển tích những điều hay lẻ phải bao đời truyền lại. 

Khổng Nhàn thích sống khép kín, tuy vậy cửa nhà vẫn rộng mở tựa chùa chiền. Ông sẵn lòng mang kiến thức thu nhập được để chỉ bày cho những kẻ hiếu học muốn tìm tới xin thỉnh giáo, đả thông vấn nạn thâm u của ngữ nghĩa đông tây. Vô hình trung Khổng Nhàn được chúng sinh kính nể tôn vinh là thầy. Không thầy đố mầy làm nên. Dân oan muốn bộc bạch niềm đau cũng nhờ thầy Nhàn soạn thảo cho một lá đơn kêu gào tới tai cửa quyền. Đứa già mồm mang tật cãi chày cãi cối cũng im thin thít cứng họng khi đối mặt Nhàn, người luôn nói có sách mách có chứng. 

Trong cổ thi thường ta thán chuyện vật đổi sao dời, truyện Kiều của Nguyễn Du cũng luôn bàn tới lẽ biến dạng kia: “Phong trần kiếp chịu đã đầy, lầm than lại có thứ nầy bằng hai”.Ngày kia sóng lớn ập về tả tơi làm đảo lộn mọi nấc thang đạo đức trong xã hội sinh hoài nghi sách thánh hiền “nhân chi sơ tánh bổn thiện”. Cái ác lộ hình, đi nghênh ngang từ hang cùng ra tới ngỏ hẹp, từ trung ương xuống địa phương. Cánh cổng gia trang Khổng Nhàn khép lại, hoang mang đợi hung tin dội xuống số phận. Giao du vốn không rộng, nay thu hẹp còn sót một người am tường đạo lý. Người ấy nói: Thời buổi này, hạng như ông, tôi đã chẳng còn chỗ đứng, bởi họ luôn thù nghịch kẻ có ăn học. Hôm qua tôi đã ném vỡ cái radio 4 băng tầng bởi tôi dị ứng với lời lẽ ngược ngạo vô học mãi tuyên truyền kia. Lúc này đây, tai điếc mắt mù mới giữ được chút tâm thân an lạc. Trớ trêu cho nghịch cảnh! Khổng Nhàn rót trà xanh ra hai cốc: Cứ xem đây là chung rượu đắng, chúng ta uống cạn bởi không rõ mai này có còn gặp nhau. 

Ngoài sân có xây bể cạn cùng hòn non bộ nuôi cá vàng thế tấm bình phong. Hai bên trồng hoa Mẫu Đơn sum suê nở từng cụm bông to bằng chén cơm, toả hương dịu nhẹ. Vườn cây vẫn thuỷ chung cành lá, chim vẫn một mực hát ca chẳng mỏi mệt. Khách ngồi yên đón nhận, lát sau tỏ bày: Chim hót tuồng đã có hơi sai nhịp và mùi thơm của hoa thì xem chừng có gì trộn lẫn vào. Gia chủ cười: Chỉ có tôi mới ngửi ra mùi ấy, đấy là mùi giấy mốc meo mục rã. Sách có linh hồn và giao cảm ông ạ, chúng biết mai kia mốt nọ sẽ bị chôn thây nên vấn vương gửi chút mùi xa vắng. Tôi có bộ sách quý từ đời cha ông để lại, nay muốn làm quà tặng cuối đời trao vào tay người lễ nghĩa trí tín. Bộ bốn cuốn tựa như cách vận hành của xuân hạ thu đông, đêm quạnh chùng lén mở ra xem thì không chừng mà nhớ đến thằng Khổng Nhàn này chăng! 

Khách cảm động siết chặt tay, bịn rịn ra về, trăng lu đầu ngõ. Quánh đặc bóng tối chỉ có tiếng chó buồn miệng tru sau bao cổng đóng then cài. Diện mạo nội thành bây giờ cũng đổi, suốt tuần chỉ có một hai hôm được sáng ánh điện soi. Tăm tối luôn đi cùng với mưu toan, với rình rập, với soi mói vụng chùng. Hai ngày sau khi bộ sách tứ quý rời khỏi giá sách nhà Khổng Nhàn, đúng ngọ có kẻ trung niên điều khiển một bọn thiếu niên kéo xe ba gác hăm hở xô cổng khuấy bụi mờ. Chim chóc bay đi, hoa mềm yếu gục đầu khi chủ nhà đứng dụi mắt ở bậc thềm. Gã trung niên nói: Nhà bác tàng trữ toàn cả văn hoá phẩm đồi truỵ, nhân danh chế độ mới chúng tôi buộc phải mang đi thiêu huỷ những tàn dư độc hại. Trên đã ra chỉ thị, mọi người đều hưởng ứng nghe theo chẳng cãi cự phản ứng. Bác là người thông hiểu nhiều, xin vui vẻ đứng bên chấp hành cho chúng tôi thi hành nhiệm vụ. 

Khổng Nhàn ngó đứa quyền lực đứng chống nạnh đang hô phong hoán vũ chỉ đạo bọn thiếu niên vào nhà tàn sát không nương tay bao gia sản tinh thần tích luỹ dài lâu hơn cả đời người. Từng cuốn từng cuốn vất vào chiếc xe kéo chuyên chở phế phẩm. Nhàn nhìn, nghe tim đập mệt cơ hồ không gian ấy đã thôi còn dưỡng khí, choáng váng ngồi bệt xuống thềm tựa kẻ hồn đang đoạn lìa thân. 

Trước, sớm tối chí thú bầu bạn cùng sách đèn. Nay, sách chẳng còn, nhà quạnh vắng trống hoác như mộ địa âm u. Khổng Nhàn ngồi trong bóng tối, đây là gia cư mà sao trông như nhà người lạ. Mùi giấy ấm cúng đã bỏ đi, hương hoa ngoài sân chừng cũng nhạt trong gió lùa, người Nhàn cứ thế mà hao hụt dần sức sống. Là ngọn lửa run trong bóng chụp cây đèn dầu thấp thỏm về cảnh giới lạ mặt chẳng soi tỏ. Và thu bé lại bằng hạt đỗ. Và đêm khuya đốm sáng tàn lực phụt tắt. Trước khi võng mô Khổng Nhàn đóng lại, có con bướm bay chập chờn quanh các tủ sách trống, vòng vo qua lại trên đầu Nhàn rồi chao đảo thoát thân ra vườn tối như linh hồn đã thôi lạc lối. Một giọt nước mắt ứa ra. Khổng Nhàn thọ đúng 60. 

Không ai khóc thương cũng chẳng có người tiếc nuối về sự ra đi câm lặng của vị học giả kia, chỉ có màu trời tự dưng ảm đạm và mưa trái mùa rơi suốt tháng xuống vùng đất dường như hiện hữu để hứng chịu những tai ương. Người ta sinh tồn với trái tim bị hao mòn những xúc cảm vu vơ và tuyệt đối vô cảm khi băng qua cuộc lữ vốn chứa lắm nghiệt ngã. 

Những người con Khổng Nhàn đi làm ăn xa, trước đây mỗi khi năm cùng tháng tận  chúng tự động kiếm cách về thăm cha, nán ở dài lâu vui vầy trong ba ngày Tết. Nhưng khi non sông liền lạc quy về một mối thì hoàn cảnh nọ tự dưng xúi lòng người thêm phân ly khó tìm ra cơ hội hòng đoàn viên. Kiếm ra cái giấy phép đi đường, mua được cái vé chợ đen leo lên xe đò chạy suốt, tái mặt máu về đến chốn xưa thì cha già đã vùi thân dưới ba tấc đất. Nghe đâu tang lễ diễn ra nhanh, thảy vin nhờ đến những kẻ cơ hàn từng hơn một lần chịu ơn thầy Khổng Nhàn “nhất tự vi sư bán tự vi sư”. Hai ba người họ mang Khổng Nhàn đi chôn ở một nơi được nhà nước chỉ định. Một đứa đào huyệt chẳng may cuốc phải một quả mìn khiến tứ chi chịu tàn phế một tay một chân. Tiếng nổ như trời gầm, thảng thốt, cảnh vật chao đảo trong sát na, tự dưng mà hiện ra ngay một mộ huyệt sâu đen chẳng cần hì hục với cuốc xẻn, chỉ hơi bất nhân vì đất ấy lỡ thấm qua chút máu thịt tươi ròng. Kẻ nào dị đoan thì ngây người chốc lát rồi liền nhanh tay thắp nhang mà quỳ sụp khấn lạy giữa mông muội gò đồi hoang dã. Kẻ ấy nghi ngại: Hay là chúng ta đã lỡ tay phạm tới long mạch đầy uý kỵ? Khi vùi thây Khổng Nhàn xuống hố nông, lấp đất xong, đặt tạm tấm bia lên, từ rừng sâu có con chim lông vàng đến lạ, bay ngang cất tiếng kêu dị thường, cung bậc nghe buồn đến xiêu hồn bạt vía. Kẻ tin vào chuyện hoang đường lại chắp tay: Phải chăng đó là con oanh vũ mà xưa kia vua Minh Mạng nuôi trong lồng son gác tía để các hoàng phi cung nữ một mực trân quý, khuây khoả chút tấc lòng khi mình rồng thờ ơ chẳng quan hoài tới thân lạnh? 

Hai người con Khổng Nhàn được người hảo tâm thuật rõ ngọn ngành cớ sự liền hội ý, bao nhiêu tiền của mà chúng ta dành dụm được, cốt lo hậu sự cho cha giờ nên mang ra chi trả viện phí cho kẻ vô phúc bị tật nguyền vô cớ. Một đứa nói, các bác hãy tha thứ cho những thằng con bất hiếu, e rằng cha tôi chết không nhắm mắt được, đã vậy mà khi thực sự xuôi tay vô tình còn gây đau thương hoạn nạn cho người khác, chúng tôi quả vô vàn áy náy và ray rức không cách gì bày tỏ được. Mộ cha cỏ chưa kịp mọc thì nhà nước đang hăm he soán đoạt lấy căn nhà. Tình hình này chúng tôi đành phải bỏ nhiệm sở trong kia, ở lại đây quyết đấu tranh hòng bảo vệ di vật kẻo mang tội với tiền nhân giòng họ. 

Lên phường, đi ra khu phố, tới huyện đường tất thảy đều có duy một lập luận giống nhau: Mấy anh nên trưng ra bằng cớ, giấy tờ chứng minh có hiệu lực rõ ràng. Bản sao khai sinh, căn cước, chứng minh nhân dân… nhằm nói rõ sự quan hệ giữa hai anh cùng gia chủ. Nguyễn Thức Giả và Nguyễn Tâm Thực mà gọi người tên Khổng Nhàn là bố thì có đáng nực cười chăng? Cứ mồm năm miệng mười ăn nói thiếu cơ sở thì ai tin? Cả hai Thực, Giả thay phiên nhỏ nhẹ: Rõ là các ông không hay biết cha tôi vốn là một học giả, có viết sách nghiên cứu. Và người dùng tên Khổng Nhàn xem như một bút hiệu. Nào khác gì mấy tay đi làm cách mệnh đều thủ riêng cho họ một bí danh, anh Bảy này anh Sáu nọ, đồng chí Mười thành uỷ hoặc chị Chín trông coi hội phụ nữ, cô Năm trước hoạt động nội thành, làm giao liên dẫn người lên Trường Sơn các thứ, một hai ba bốn, số này số nọ nhằm cải đổi số mạng của đứa thấp cổ bé miệng. 

Cán bộ quát: Muốn bảo toàn bí mật khi hoạt động giữa bao thế lực thù nghịch thì buộc phải thế mới không lộ ra cơ sở, trong khi đứa viết điều ám muội manh tâm phản động mới dùng bút hiệu để che đậy nguỵ tín. Các anh đưa ra dẫn chứng đầy sai trật thế thì không khéo phải cần đi học tập để nắm rõ đường lối thôi. 

Sách xưa dạy: “Thua keo nầy bầy keo khác”. Giả Thực hôm nay chẳng có keo nào mà bày ra, duy chỉ một cách: Bó tay. Có ông lão hành nghề chạy xe ôm mách nước: Xưa, thầy Nhàn giao du toàn hiền sĩ, người có ăn học mà còn trở mặt quay lưng huống chi phường chỉ quen chung đụng với ám muội, trau dồi cái ác của thú tính. Thời may ngập trong vũng bùn kia còn sót lại một cành sen. Tôi biết chỗ ông ấy quy ẩn, nếu muốn đến thỉnh cao kiến, tôi sẽ thồ hai anh đi. 

Nhà ở mà trông như am tự. Am tự thường trú thân trong quạnh quẽ, thanh bần. Xe chạy cho nóng máy, gần khét bỏng mới nghe ra tiếng gió đi xào xạc qua lối mòn cánh rừng tre rụng đầy xác lá. Muốn đoạn lìa quá khứ hay lòng chất ngất tâm sự u uẩn đều thích hợp khi sống thở với không gian kia? Chùa chiền vẫn trụ ở ngoại ô nhưng nhà thờ? Giáo đường thích cắm dùi ngay trong lòng phố thị. Người tu hành có nề hà tới sự tác hại của ngoại cảnh không? Ma nữ thoát y đùa cợt diễu hành quanh quẩn gốc cây bồ đề thì bần đạo có nên nhắm nghiền hai con mắt vốn đục bụi trần? Đi vào địa ngục để tìm sinh lộ cho chúng sinh? Thời đương đại này chả còn ai làm chuyện rồ dại tựa thế. Sinh lộ là gì? Hãy chí thú săn bắt ma nữ, hãy xé quần lột áo chúng ra bởi chân lý đã từng hiện tới, thiết thực: Bia đá sẽ mòn, bia miệng bị khoá chặt, bia chai sẽ bể; tất tần tật chỉ còn lại bia ôm. Ôm người á? Chuyện nhỏ! Ta chủ trương ôm thành quả, ôm tài sản, ôm trí tuệ của những kẻ thất thế. Này hiền hữu, chuyện rất giản đơn: Hãy trả công xứng đáng cho bọn tớ chứ, những đứa ngày nào bỏ phố thị nhiều cám dỗ để lên Trường Sơn tu tập. Nhại lời đức Phật nhé: Suốt mấy mươi năm ta nào nói gì, chỉ có AK 47 vang rền mùa xuân đại thắng. Có tín hữu đạt đạo: Ôi còn niềm vui nào choáng ngợp tợ hôm nay! 

Gia chủ đón khách đường đột tỏ bày thành ý, không phản ứng, đứng tựa kẻ bị điếc. Mây bay loang loáng qua đầu, phong linh làm bằng những thanh tre cưa cụt va vấp phát tiếng, nửa trong nửa trầm đục. Và gia chủ chừng nghe tỉnh thức: Việc kia quả rất nan giải. Khai sinh giá thú chứng chỉ bằng cấp nói chung là giấy tờ thì tôi đồ rằng chúng đã tới hốt đi cùng sách vở ngày nào. Bọn mình giống như vừa từ kiếp trước chợt đầu thai lên, chẳng có quyền lựa chọn. Không cội nguồn, vô căn cước, chẳng còn liên hệ giây mơ rễ má nào cả, toàn cả đặt điều. Hãy tạm an ủi là đời có vay có trả. Trước khi mất, ông cụ của hai anh có trao tặng tôi bộ sách quý. Như có linh cảm, tôi chỉ là đứa tạm thu mà giờ đây vật nên hoàn trả lại chủ, châu về hiệp phố. Theo cách tôi lượng định, nếu tìm đúng bọn lái sách lương thiện, bốn cuốn dày gần ba ngàn trang ấy giá tương đương với năm lạng vàng. Năm cây vàng Kim Thành, chừng đó cũng đủ mua hai chỗ ngồi trên một chiếc ghe mà dong duỗi về phương trời vô định. Tìm sinh lộ trong tử lộ, ván bài đó, theo tôi là hai anh nên đặt cược sự rủi may vào. Phải nuôi hy vọng, chứ còn ở đây ngày nào sự tuyệt vọng sẽ chôn lấp ta. 

Gia chủ quay lưng, thay vì đi vào gian nhà ẩm thấp ông lại di chuyển ra giữa sân sau khi nhẫm tính từng bước chân. Ông nhìn bóng nắng đọng vũng rồi nắm cuốc cong lưng mà đào xới. Tử thi thì nằm trong quan tài do vậy bốn cuốn sách được gói kín trong vải, liệm cùng bao ny-lông, bao bố, bao đựng cát trước đây của quân đội năm lần bảy lượt bó thây. Bao lâu thì xương thịt sẽ rã tan về với cát bụi? Nhưng sách, do được bảo quản tốt vả lại tháng ngày chưa kịp gấp nếp với thời gian nên chúng chưa bị hề hấn gì. Chúng chỉ lạnh, chúng chỉ thoảng ra mùi giấy cũ, như thầm gửi lời trách cứ về cái vong ơn ghẻ lạnh của chủ nhân. 

Tôi có cái ba-lô không dùng tới, hãy để chúng nằm vào, đeo sau lưng mà nhẫn nại dọ tìm một nơi xét là được giá. Nực cười, cái tên mà ngày nọ hô hoán đám lâu la, điều binh khiển tướng đi vào nhà soán đoạt toàn bộ tủ sách của bố anh, giờ này nó là người duy nhất đại diện cho thành phố về mặt kiến thức sở học văn hay chữ tốt. Nhà nó lớn rộng, cái gia sản bề thế kia có được e một phần vin vào giá trị của những cuốn sách quý được tuồn đi bốn phương? 

Thưa, bác kể chuyện này ra hẵng ngầm mang một dụng ý? Tôi nào dám đơm đặt ý nghĩ nào, cứ sợ mắc nhằm khẩu nghiệp. Tuỳ vào hai anh thôi, vạn bất đắc dĩ khi bí lối, thử dùng hạ kế bắn tiếng tới tên ấy xem. Dấu che thân phận, căn cơ nguồn gốc khi giao thiệp với hạng người như nó. Và cầu mong cho hai anh được vạn điều lành, thoát được ra ngoài những trùng vây oan nghiệt. Trong nhà tôi có lập riêng một bàn thờ chưng ảnh của cha anh, trước khi chia tay hãy nên vào dọn lòng thắp cho ông cụ ba cây nhang. Hai anh từ bỏ được chốn chôn nhau cắt rốn này e ông cụ cũng có đôi phần hả dạ. 

Giả Thực lên đường, nhẹ gáng hành trang, chỉ gùi đi cái xác thân luôn tơi tả khốn cùng. Tâm nguyện khấn vái trước nấm mồ hoang dại, rằng những mong phù hộ cho chúng con đến được bến bờ tự do, chừng nào an ổn kiếm được bộn tiền sẽ cố gắng trở về tu sửa chỉnh trang chỗ cha nằm ngó có chút khang trang nhằm chứng thực nơi an nghỉ của một học giả suốt đời chỉ biết vùi đầu vào sách vở, học lấy và thực hành những điều hay lẽ phải. 

Người ta định được ngày trời yên bể lặng, tính luôn cả đêm đen như mực, trông cá cá lặn trông sao sao mờ. Tính là tính vậy nhưng xưa nay hoàng thiên vô nhãn, nhân định đâu có tài cán gì để thắng thiên, sức người làm sao từ sỏi đá biến hoá ra cơm? Thuật ngữ đời thường kêu bằng bể mánh. Ghe chưa vô bờ, bãi đã “lộ hàng”. Súng tiểu liên bắn chỉ thiên cắt từng vệt đỏ tán loạn mù trời, hù doạ đã nư để sau đó lôi dây thừng ra trói xâu hơn chục cá bị mắc cạn, ngoi ngóp, trầy vi tróc vảy, mắt ươn, hả miệng ngáp. Phản bội tổ quốc đem vào tù ngồi chung với tội nhân hình sự, bỏ quên tục ngữ cá mè một lứa. Nói cũng đúng, cá sông hồ bạc phước hèn mọn đâu bằng cá vẫy vùng ngoài trùng khơi. Xêm xêm coi sao đặng! Dứt khoát hổng ô-kê Salem. 

Không biết chân đi tháng ngày bên ngoài bốn bức tường câm nín. Vô thời hạn. Giả Thực ngồi bó gối, không có mây trời để ngắm. Nỗi buồn cũng chẳng tồn đọng để vui tay gãi háng dái lăn tăn. Thực nói với Giả: Xét cho cùng, xã hội bên ngoài toàn chứa chấp bọn vô học cũng đúng thôi. Giả nhăn mặt: Lại nhớ tới câu “sách vở ích gì cho buổi ấy” à? Không, đang nhớ lại lời cha từng dạy: Sách vở luôn là người bạn tốt, nó không bao giờ biết phản bội mình! Cha ơi, chúng con đã bị sách vở phản bội. Chúng con đi theo đường mòn mà cha nhọc nhằn bước qua. Cha buồn đau đổ bệnh vì họ tới giải phóng sách. Tụi con tù tội vì… Nếu không có bộ sách quý để đổi mua lấy hai cái vé… Ra đi chân thẳng cẳng dùi, thương cha mả lạnh ngậm ngùi phận con. 

Ngoài song ngục thất có thoảng bay chút mùi thơm cồn cào. Nghe hai cán bộ kháo: Lâu lắm mới tự bồi dưỡng được một nồi cháo thịt chim, nhiều chất đạm, ngon ra phết. Bạn tù trao thông tin: Nghe kể đêm qua có con chim lông vàng đến dị kỳ từ đâu bay về đậu bên bệ cửa hót tiếng trầm như giọng người than van. Chim kể lể chẳng dài lời bởi viên đạn từ súng bắn hơi của một chú công an găm vào ngực, đứt hơi. Chim ơi ta bảo chim này, rừng sâu không trụ mày bày cháo oan!

Hồ Đình Nghiêm

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 16 Dec 2023

Bài 24

Mưa đêm Bidong, nhớ mưa dầm xứ Huế!

“Đêm Huế mưa buồn như em không nói,
Những cây mù u gục đầu,
(Đỗ Tấn)


Bỗng một hôm mưa gió thổi tới đùng đùng. Gió lắc lư những ngọn dừa; lá đập vào mái tôn rầm rập. Gió kéo lướt thướt trên những ngọn cây dọc theo sườn núi, thổi cây nghiêng ngã như một cuộc đuổi bắt giữa hai kẻ địch trong truyện phong thần với đủ mọi phép thần thông “hô phong hoán vũ”. Gió thốc vào những tấm màn cửa, chạy tuốt vào phòng trong, chỗ người ta đang ngủ nghê ngon giấc, làm người ta thức giấc cằn nhằn, trở mình, trùm mền kín cổ, hoặc tiếp tục giấc ngủ dở dang mà không một chút than phiền. Gió đem theo một chút hơi lạnh của biển khơi. Rồi mưa ào ào đổ xuống, như hối hả sợ rơi ra ngoài hòn đảo nhỏ vì gió đang xô đẩy mây chạy rất nhanh, khiến giọt mưa chưa kịp rơi xuống đất đã bị đẩy ra ngoài biển khơi. Mưa rầm rập trên mái tôn. Tiếng rầm rập chuyển theo hướng gió thổi, vừa mới ầm ầm trên mái nhà bỗng mất hút về phía xa, như tiếng bánh xe lăn của chiếc tàu hỏa đã chạy tới chỗ cuối đường “ray”. Tiếng mưa quấy động giấc ngủ cụ già, đánh thức em bé khiến bé khóc ré lên, thảng thốt. Kèm theo tiếng mưa là tiếng sét đánh trên “Đỉnh gió Bidong” nhưng nghe gần lắm, tưởng như sét đánh trúng cầu jetty ngoài bãi biển hay ngọn dừa bên cạnh “longhouse”, – nhà người tỵ nạn đang ở. Người đang ngủ say bỗng giật mình thức giấc, không xác định rõ là sét đánh ở hướng nào, xa hay gần.

Đó là cơn mưa biển. Mưa biển thật hung dữ, nước đổ ào ào như trút, gió lồng lộng như bão táp. Tiếng sóng, tiếng mưa ầm ầm làm cho không ít người hốt hoảng, lo sợ. Mưa gió đến cũng nhanh mà đi cũng nhanh, khiến người ta tưởng rằng ông trời thật nóng nảy mà cũng mau nguôi cơn giận. Trong phút chốc, khi cơn mưa qua rồi, mọi sự trở lại yên tĩnh lạ thường, tưởng như từ lâu lắm, hòn đảo chưa trải qua một cơn mưa gió ầm ì nào cả. Khi cơn lôi đình bùng lên, ông Trời gầm thét, sai thiên lôi đánh chỗ nầy, đánh chỗ kia, đánh mãi mà ông Trời vẫn chưa vừa lòng. Cũng may, chưa nghe nói ai nhận lãnh “một cú đánh như trời giáng” của ông Trời.

Sau thời gian ngắn ngủi đó, ông Trời trả lại bóng đêm, trả lại mảnh trăng treo trên ngọn dừa mà trước đây chưa bao lâu, bóng trăng trốn mất không sao thấy được, và trả lại sự im lặng cho hòn đảo hoang. Bây giờ không còn tiếng sóng biển giận dữ gầm thét mà lại là tiếng rì rầm như tiếng gọi của thiên nhai. Tiếng biển gọi thật kiên trì, vang vọng đâu đó, từ hòn Cá Mập kế cận bên kia đảo, từ hướng ghềnh đá có bức tượng “Ông già Bidong”, nơi mỗi chiều người tỵ nạn đến thắp hương cầu nguyện khói lên nghi ngút, hay phía bên kia “Đồi Tôn giáo”, nơi chùa và nhà thờ đứng lặng lẽ bên nhau trong niềm thông cảm của những tâm hồn bị bạc đãi ở quê nhà.
Thế rồi có những đêm mưa dầm. Cái đó mới da diết cho tấm lòng những người Huế tỵ nạn. Mưa dầm đến không có cái ồn ào, dữ dội cùng với tiếng sấm tiếng sét hoặc tiếng mưa sầm sập. Cơn mưa dầm đến len lén, lặng lẽ, chẳng có báo hiệu gì nên chẳng ai hay. Hồi đầu hôm, trước khi đi ngủ, người ta thấy gió biển còn thổi hiền hòa, thêm chút hơi lạnh hay chút nực giông của cơn mưa sắp đến mà người ta tưởng lầm đó là cái lạnh của biển đêm. Nửa khuya, chợt giật mình thức giấc, kéo chăn lên cao cho kín người, rồi tự hỏi: “Ủa, đêm nay lạnh nhỉ?” Nằm trong chăn ấm, người ta lắng nghe tiếng nước mưa nhỏ giọt “tong tong” đâu đó. Những giọt nước gõ xuống tấm “tôn” hay tấm ván bên hiên nhà, hay tiếng mưa rầm rì tưởng như ai đến gõ cửa phía ngoài. Tiếng gõ nhẹ lắm làm người ta nghĩ rằng người đến gọi sợ làm mất giấc ngủ chủ nhà. Người ta trấn tỉnh lại một chút và nhận rõ ra đó là tiếng mưa rơi. Trời đang mưa nhẹ, mưa dầm. Tiếng mưa nhẹ nhàng như tiếng ai đi len lén, như tiếng ai đang gọi ta ra. Tiếng mưa rỉ rả, dai dẳng ấy làm cho lòng người xao xuyến vô cùng, dù ai có muốn quay vào giấc ngủ trở lại cũng khó ngủ được.
Lắm khi người ta quên mất cơn mưa dầm ấy. Cơn mưa kéo dài một đêm hay quá lắm đến trưa hôm sau là dứt hẵn. Cái dấu tích một đêm mưa dầm cũng biến đi một cách vội vàng, mặt đất đã khô, chẳng còn lại vũng nước nhỏ nào. Lá cây xanh mướt, lấp lánh dưới ánh mặt trời rực rỡ. Cơn mưa dầm đêm qua như một lời nhắc nhở, sợ người ta xa xứ rồi quên mất những cơn mưa dầm miền Trung, ở xứ Huế.

Những cơn mưa dầm xứ Huế mới chính là những cơn mưa dầm không sao quên được! Những ai sinh ra và lớn lên ở Huế, những ai từng sống ở đó một thời, thậm chí cả những ai đến Huế vài bữa, nửa tuần, gặp cơn mưa dầm Huế thì cũng khó mà quên. Có lẽ không có ai trên đời nầy cho rằng những cơn mưa dầm xứ Huế là vui. Trái lại, nó là một nỗi buồn da diết, ngay khi người ta đang ở Huế, đang chịu cơn mưa ấy hay khi cơn mưa đã qua rồi. Thậm chí người ta đã đi xa, có khi thật xa, nhưng vài khi bỗng nhớ lại những đêm mưa dầm xứ Huế, lòng không khỏi buồn. Kỳ chưa?! Cái buồn và cái nhớ cứ xoắn lại với nhau, trói chặt, ray rứt, không lơi lỏng chút nào, làm người ta không thể quên, khó quên, không muốn quên mà dù có muốn quên cũng không quên được.
Người học trò Huế đến tuổi yêu thường ngâm nga với câu:

“Đêm Huế mưa buồn như em không nói

Những cây mù u gục đầu,

Lạnh về cắn xé đêm thâu 

Những chấm đèn côi cút

Những giọt lệ khuya nhĩu xuống,

nguyện cầu.

(Đỗ Tấn – Màu Hoa Sim Tím)

Dĩ nhiên khi em giận, em không nói thì buồn lắm vậy. Cái không nói ấy khác chi cái im lặng của dòng sông Hương. Êm đềm đấy mà buồn lắm đấy. Chẳng thà nước trôi cuồn cuộn, chẳng thà sóng vỗ lao xao. Nó cũng có thể làm cho người ta tưởng tượng ra đó là một điệu hò, điệu hát. Dù là ngọn sóng vô tình thì những âm thanh sóng vỗ ấy cũng đánh thức tâm hồn mình dậy, gọi mình đi. Có đâu nó êm trôi không một tiếng động, không một tiếng lao xao làm cho lòng người buồn đến thế! Chẳng thà em nói một lời giận dỗi, một cái nguýt háy “dễ thương” còn hơn là em không nói một lời nào!

Vốn dĩ cảnh Huế ngày hay đêm cũng đã buồn rồi, nói chi tới những đêm mưa dầm. Con đường Tam Tòa chạy tuốt lên Quốc Tử Giám, nay là trường Hàm Nghi (1) có hai hàng mù u lá rậm và dày, đến mùa nở ra một thứ hoa xấu xí chẳng ai buồn để ý. Chúng cho những trái mù u tròn, hấp dẫn bọn trẻ làm đồ chơi, cũng là một thứ vũ khí đặc biệt đánh giặc có một không hai trong lịch sử nhân loại. Đừng chê cây mù u! Nó từng tham gia vào việc chống Tây xâm lăng, thế không hơn những người bán nước theo Tây hay sao?! Đi ngang con đường Tam Tòa, đi ngang vài con đường khác trong Thành Nội có trồng mù u, người học trò có học sử thấy tội nghiệp cho tổ tiên mình: Những trái mù u tròn trịa kia chống lại với tàu sắt súng đồng được sao?!

Thế rồi nước mất nhà tan. Những cây mù u rời chốn binh đao để đi vào văn học. Nó trở thành đề tài cho vài nhà văn, nhà thơ tiền chiến. Và bỗng hôm nay, cây mù u hiện ra buồn bã trong thơ của Đỗ Tấn thời hậu chiến. Những cây mù u đứng gục đầu ở đó, trên con đường Tam Tòa trong Nội Thành, cành lá sũng nước mưa, đong đưa theo gió nhẹ, làm cho những ngọn đèn đường khuya le lói một ít thứ ánh sáng vàng vọt, khi tỏ khi lấp sau tàng lá dày. Có ai nghĩ cây mù u trở thành một một biểu tượng cho nỗi buồn xứ Huế, không còn là nỗi buồn mất nước của thế kỷ 19 mà chính là nỗi buồn của những người mới chớm tuổi yêu đương giữa thế kỷ 20. Đó chính là nỗi buồn của tôi thời niên thiếu ấy vậy.

Vốn dĩ tuổi 20 thường hay buồn vui vớ vẫn; những cơn mưa dầm xứ Huế như một chất xúc tác làm cho cái buồn ấy gia tăng, bành trướng thêm ra. Bầu trời mây đen dày đặc bao giờ cũng làm cho người ta có cái cảm tưởng trời mây sũng nước, nặng nề khiến Lưu Trọng Lư tỏ bày cảm xúc của ông bằng câu thơ “Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn”. Cái nặng của trời, cái dày đặc của mây, cái mưa đêm rã rích gợi lên nhiều nỗi buồn trong lòng thi nhân, nhạc sĩ. Ưng Lang thì hát: “Mưa rơi! Chiều nay vắng người! Bên thềm lá rơi, thương nhớ đầy vơi?” Thương ai, nhớ ai mà khi đầy khi vơi? Mà ai đó là ai, để “đèn nhớ ai, mà đèn không tắt, mắt thương nhớ ai? Mắt ngủ không yên”.

Cái “buồn buồn” của Lưu Trọng Lư không phải chỉ là cái buồn ít ỏi, phút chốc mà lại là nỗi buồn dai dẵng, triền miên, không chỉ vì mưa mà buồn, cũng không chỉ vì nhớ mà buồn. Đó chính là cái buồn Xuân Diệu đã từng than “Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Đó là cái buồn vớ vẩn của tuổi chớm yêu.

Những giọt mưa dầm “rơi tí tách” đó là thân phận của con người ta đấy, là “thân em như giọt mưa sa” như ca dao đã nói. Giọt mưa thân phận ấy cũng là nỗi buồn của những người lưu lạc. Bây giờ nó không còn là nỗi buồn vô cớ như tâm hồn của những người 20 tuổi nữa. Qua cái tuổi 20 buồn vớ vẩn đó, người ta dần dần nhận ra thân phận trôi nổi của mình, để rồi than vãn:

“Mưa chi mưa mãi,

Lòng nhớ thương hoài

Nào biết nhớ thương ai

Trăng lạnh về non không trở lại

Mưa chi mưa mãi

Buồn hết mấy đời xuân

Mộng vàng chưa kịp hái

Mưa chi mưa mãi

Lòng biết thương ai

Tiếc thương đời trẻ dại

(Lưu Trọng Lư)

Thế là một đời xuân lỡ làng, là chưa kịp hái giấc mộng vàng tuổi xuân vì kinh nghiệm đời chưa có, để rồi phải “Tiếc thương đời trẻ dại”. Trẻ thì dại. Tuổi trẻ, ai không có cái dại đáng yêu ấy! Cái dại không tính toán trong tình yêu, cái dại cho mà không nghĩ đến nhận, không so đo, không “cò kè bớt một thêm hai” như Mã Giám Sinh mua Kiều, không ích kỷ như Xuân Diệu “Cho rất nhiều song chẳng nhận bao nhiêu?”

Cái buồn của cơn mưa dầm xứ Huế, không chỉ gói gọn trong những ngày mưa kéo dài lê thê khiến Nguyễn Bính từng than vãn: “Giời mưa ở Huế sao buồn thế! Cứ kéo dài ra đến mấy ngày”. Đâu có phải có “mấy ngày”. Dài hơn thế nhiều lắm đấy. Có khi cả tuần, vài tuần. Cơn mưa kéo dài không dứt từ sáng đến chiều, từ chiều đến khuya, rồi qua ngày hôm sau, hôm sau nữa, cứ thế mà tiếp tục. Cơn mưa dầm kéo dài lê thê khiến Huế có thành ngữ “mưa tối trời thúi đất”, “mưa thúi đất thúi đai”. Cơn mưa dầm giam hảm bọn trẻ trong nhà, không cho chúng ra đường chạy nhảy. Mưa trói buộc người thanh niên, không cho ra phố uống cà-phê. Nhưng mưa không ngăn được những người yêu nhau, chờ nhau, dưới cơn mưa phùn lạnh lẽo xứ Huế:

“Nhà ai đổ chín giờ.

Đợi em tôi cứ đợi. 

Mưa từ đâu mưa tới,

Gió từng lớp bay qua.

Nhà ai đổ mười giờ.

Đợi em tôi cứ đợi”.

(Đỗ Tấn)

Trong tình yêu, nếu không có lòng chung thủy, đam mê thì làm sao có sự kiên trì chờ đợi như Đỗ Tấn, tác giả bài thơ nầy. Dù trong cơn mưa dầm rét mướt, “Đợi em tôi cứ đợi”.
Có hôm trời chợt ngưng mưa! Mặt trời hé lộ lên một chút, sau lớp mây mỏng. Người ta tưởng thế là cơn mưa qua rồi, mùa mưa dầm gió bấc sắp chấm dứt để trả lại cho cố đô những ngày xuân ấm áp. Nhưng chỉ thoáng chốc, chút nắng le lói biến mất, mây đen lại giăng kín khắp trời, không một chút hở. Người ta lại thở dài, buồn bã chờ cơn mưa dầm khác đang tới. Pháo xuân chưa nổ đì đùng, chúa Xuân chưa tới, thì hạt “mưa xuân phơi phới” chưa thể thay thế cho những hạt mưa dầm nặng nề của những tháng Đông lạnh giá.

Trong cái buồn hiu hắt của những đêm mưa dầm, nhìn giọt mưa rơi tong tả trước hiên nhà, nhìn những sóng nước tỏa ra từ chỗ hạt mưa rơi xuống, nhìn dòng nước nhỏ chảy quanh hiên ra phía đường cống xa xa, người có lòng yêu Huế không thể không nghĩ đến những giọt mưa rơi xuống đâu đó. Có những giọt rơi đều đều trên mặt sông Hương, trông như những bông hoa đều đặn trên một tấm vải rộng khổ mà các mẹ, các chị thường dùng may áo. Có những giọt mưa ghé vào núi Ngự, có những giọt mưa đậu lại trên những chiếc lá của những cây mù u, cây nhãn trên đường Hộ Thành chạy ngang Thành Nội. Có những giọt mưa rơi xuống Tử Cấm Thành, trên mái ngói rêu phong của điện Cần Chánh hay điện Thái Hòa. Có những giọt mưa ghé vào lăng Tự Đức, Minh Mạng âm u, tịch mịch. Có những giọt mưa làm ướt đẫm đôi vai của hai hàng tượng đá văn võ đứng hai bên sân chầu lăng Gia Long. Những giọt mưa âm thầm gọi hồn cung nữ; họ là những người đã sống một đời âm thầm như giọt mưa dầm xứ Huế, sắc đẹp tàn tạ và lặng lẽ chấm dứt một đời tài sắc đâu đó trong các lăng tẩm hay trong Chùa Sư Nữ.

Thế rồi một hôm Huế trải qua một cơn bão nhẹ. Lúc tôi đến tòa soạn báo Rạng Đông của giáo sư Lê Hữu Mục để đưa bài viết, thấy ông đang đứng trước hiên nhà xem cây trứng cá bị cơn gió lốc thổi ngang làm cho nghiêng gốc. Giáo sư than phiền về một truyện ngắn của ông nhan đề “Cây Trứng Cá” đăng trên báo dưới bút hiệu Quốc Sĩ khiến người ta dễ tưởng lầm với nhà văn Doãn Quốc Sĩ ở Saigon. Tôi cười nói với giáo sư – hiện ông đang dạy tôi môn Văn Học Sử ở Trường Đại Học Văn Khoa, – rằng những cơn mưa dông Saigon không thể làm cho cam Bố Hạ thành bưởi Biên Hòa, nhưng những cơn mưa dầm xứ Huế đã làm cho cam Bố Hạ ngọt và thơm như quít Thanh Cần.

Thầy giáo của tôi cười mĩm khi thấy tôi nói ám chỉ rằng giáo sư định cư ở Huế đã lâu, trước khi nhà văn Doãn Quốc Sĩ di cư vào Saigon hồi giữa thập niên 50. Thủ đô chính trị và kinh tế Saigon ngày nay không đủ sức tác động lên tư tưởng và tình cảm một người vốn sinh trưởng ở Hà Thành ngàn năm văn vật, nhưng văn hóa của cựu kinh đô đã để lại những dấu ấn sâu sắc trên tình cảm và tư tưởng của một giáo sư dạy môn văn học, như đã có lần giáo sư nói với tôi: “Những ai háo thắng sẽ không bao giờ chiến thắng, những ai háo sắc sẽ lụy vì tình và những ai hám lợi sẽ một đời thua thiệt”. Có phải đó là triết lý sống của người dân Huế đượm màu sắc tam giáo.

Trong nỗi buồn triền miên của những ngày mưa dầm, có phải người xưa đã ngồi nhìn những hạt mưa rơi tí tách bên thềm nhà mà tìm ra được lối sống huyền diệu ấy./


Viết tại Bidong năm 1990,
Viết lại tại Mass năm 2003.

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 16 Dec 2023

Bài 23

“Dũng tự tử”

Hỡi ơi!
Ngươi vẫn can trường như bại tướng
Lấy máu xương mà rửa hận núi sông!



Dũng thường nói những người tham gia tranh đấu, những người đã từng tự lấy dao đâm vào bụng, máu chảy tèm lem mà vẫn không chịu cho băng bó, cho đưa đi bệnh viện, mà chỉ cho khiêng lên văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn, nằm vạ tại đó suốt ngày, là chưa quyết liệt. Với những người ở chung một nhà, Dũng bảo “Tôi sẽ chơi một trận, Cao Ủy, Mã Lai đều kinh hoảng!” Mã Lai tức là Lực Lượng Task Force của chính phủ Mã Lai.
Thông thường, hơn hai mươi tuổi như Dũng, ở trại, người ta bồ bịch tùm lum, thường bị người ta phê phán về cái phẩm chất, tư cách. Dũng không thế. Ở đảo, anh ta chẳng có bồ bịch gì, chỉ lo học tiếng Anh. Hơn một năm sau, anh ta được chọn làm giáo viên, dạy Anh Văn cho người mới tới. Vậy là giỏi lắm đấy!

Khi phong trào đấu tranh đòi hủy bỏ thanh lọc nổ ra, anh ta không tham gia, nhưng có nói với vài bạn bè, phải quyết liệt hơn nữa, cho bọn họ biết mặt. Bọn họ là Cao Ủy và Mã Lai.
Dũng vượt biên với đứa em trai, thua Dũng hai ba tuổi gì đó. Mọi sinh hoạt Dũng lo lắng hết, từ áo quần, tắm giặt, ăn uống, xách nước, học hành… Em Dũng lủi thủi theo anh, như một cái bóng, mọi việc đều dựa vào người anh.
Hình như đó là nếp sinh hoạt mà người ta thường nói một cách nôm na “Chị lấy hết duyên em”. Người chị, người anh càng khôn ngoan, lanh lợi bao nhiêu thì người em ngù ngờ, bấy nhiêu, thiếu sự độc lập.
Nói cho đúng, hoàn cảnh gia đình, hay như thường nói: “back ground” của Dũng cũng dễ “đậu thanh lọc” lắm.
Bố Dũng là thiếu tá chế độ cũ. Ngày Đà Nẵng sắp mất, ông “đẩy” vợ con lên một chiếc ghe lớn, ghe chở hàng, chạy đường Saigon – Đà Nẵng. Còn ông thì ở lại, theo đơn vị, không thể bỏ đơn vị được. Ông bảo vậy. Mẹ và anh em Dũng vô tới Saigon, tạm trú tại nhà bà con, “chờ ba về”, như mẹ Dũng nói.

Nhưng ba Dũng có về đâu!
Đà Nẵng mất rồi, không thấy tin tức gì. Mẹ và anh em Dũng hy vọng ba sẽ đi bộ dần về Nam. Thế rồi Nha Trang mất, Cam Ranh mất, Phan Rang, Phan Thiết, Xuân Lộc mất… Mối hy vọng càng ngày càng mong manh! Mãi đến khi ông Minh đầu hàng, gia đình Dũng cũng không thấy tin tức gì của ba Dũng cả.
Mãi năm năm sau, khi có một ông trung úy nguyên là thuộc cấp của ba Dũng, tù cải tạo ở ngoài Trung được tha, về Saigon tìm được nhà, báo tin cho mẹ Dũng biết. Đơn vị chưa đánh đã tan tác, ba Dũng chỉ huy một số binh lính còn lại, từ Quảng Nam rút về Đà Nẵng, đi dọc theo bờ biển. Cứ đi một đoạn lại đụng địch. Hai bên nổ súng thật căng. Đơn vị của ba Dũng vượt qua được nhiều chỗ bị đánh chặn. Khi về gần tới núi Non Nước, hao hụt gần hết, chỉ còn hơn mười người. Ba Dũng đánh một trận nữa, hy vọng về tới Sơn Chà sẽ gặp cấp chỉ huy, sẽ được yên. Nhưng đó không phải là “một trận nữa” mà là “trận chót”. Đơn vị bị tiêu diệt hoàn toàn ở đó. Ba Dũng chết ngay bên bờ biển, sau một cái mô cát, còn ông trung úy thì bị bắt, bị đưa đi tù cải tạo.
Rõ rồi, mẹ và anh em Dũng không trông chờ gì nữa!
Ba Dũng đi lính cũng gần 10 năm, lên tới loon thiếu tá, nhưng không vì thế mà gia đình Dũng giàu có. Dũng biết ba má Dũng có ngôi nhà ở Đà Nẵng, nhà cũng đẹp, nhưng tới 30 tháng 4 / 75 là coi như mất. Tài sản chỉ có chừng đó.
Chạy về tới Saigon, thời gian đầu, mẹ Dũng chưa làm gì cả, ngồi chờ chồng. Được ít lâu, phải buôn bán nuôi con. Dũng và các em còn nhỏ tuổi cả.
Những năm vượt biên nhiều, gia đình Dũng không đi được. Không có tiền! Nội ngoại đều trung trung, không ai có thừa để giúp đỡ mẹ Dũng. Mãi đến năm 85, 86, khi Dũng đã học xong trung học, không hy vọng gì vô được đại học. Mấy năm sau, Việt Cộng cũng lỏng cửa cho đi, mẹ Dũng cho Dũng và đứa em trai vượt biên, hy vọng qua Mỹ, Úc… Dũng và đứa em có cơ hội học hành, sẽ thánh tài.
Khi chuẩn bị hồ sơ thanh lọc, soát xét lại những giấy tờ cần thiết như chứng chỉ ở trong quân đội Cộng Hòa, hình ảnh sĩ quan chế độ cũ của ba Dũng, Dũng không có gì hết. Dũng gởi thư về Việt Nam, nhờ mẹ tìm lại giúp; mẹ cũng chịu. Dắt con chạy giặc từ Đà Nẵng vào Saigon, mẹ Dũng chỉ có thể đem theo một ít quần áo, sợ con lạnh, một ít gạo sấy, sợ con đói, vài thứ nữ trang không cao giá. Chỉ có vậy. Dũng cũng biết mẹ chỉ có chừng đó. Dũng chỉ còn một hy vọng, trình bày rõ ràng, mạch lạc cho phái đoàn thanh lọc rõ. Đậu thì tốt, còn như hỏng, Dũng có cách làm cho họ phải kinh hoảng lên, để họ biết người Việt Nam là như thế nào, không phải ai cũng tầm thường như ai!
Sau khi được phỏng vấn thanh lọc ở trại Marang xong, Dũng và em được đưa về trại Sungei Beshi, gần Kuala Lumpur.
Tình hình kết quả thanh lọc bây giờ bết lắm, “rụng như sung”, không dễ thở như lúc ban đầu.
Khởi thủy, mặc dù người chủ tọa Ủy ban Thanh lọc là sĩ quan Mã Lai, nhưng người ta hiểu, đậu hay hỏng là do ở luật sư Cao Ủy. Luật sư Cao Ủy hồi đó là người Châu Âu: Hòa Lan, Thụy Sĩ, Đan Mạch hoặc Ấn Độ, Tích Lan. Họ không tha thiết với công việc của họ vì họ làm thiện nguyện, một năm hoặc hai năm, mãn giao kèo thì về nước.
Bây giờ người làm thiện nguyện ít đi, Cao Ủy phải thuê luật sư Mã Lai, phần đông là người Mã gốc Tầu, lương mỗi tháng hai ngàn đô, ngày chỉ làm việc một buổi. Lương lậu như thế, đối với tình hình kinh tế của Mã Lai lúc ấy, là cao lắm. Cho nên các luật sư Mã Lai cố giữ cái “job” của mình. Giữ cái “job” có nghĩa là đánh hỏng càng nhiều càng tốt. Đậu nhiều là thêm khó khăn cho Cao Ủy: Nuôi ăn, chờ các nước đến nhận cho định cư. Các nước bây giờ thì cũng nản, ít khi tới nhận người định cư, có cũng nhận ít đi, so với trước.
Để cho “boss” khỏi phiền, để “boss” vui lòng, để giữ quyền lợi hai ngàn đô mỗi tháng, cho hỏng nhiều càng tốt. Hỏng bao nhiêu, hồi hương bấy nhiêu! Đối với các luật sư Cao Ủy gốc Tầu-Mã, làm như thế là bớt trách nhiệm. Họ không cần biết khi hồi hương, những thuyền nhân đó sẽ gặp khó khăn gì!? Những người như hạng luật sư nầy, làm sao được định cư ở Mỹ, ở Úc. Còn như người tỵ nạn, từ trước tới giờ, ưu tiên định cư nơi họ muốn. Các ông luật sư, dù có học hành, có văn hóa, cũng có ít nhiều ganh tị với người tỵ nạn đấy chứ!
Hơn thế nữa, quyền lợi là trên hết. “Sống chét mặc bây, tiền thầy bỏ túi.” Sự tàn nhẫn đó, đâu phải chỉ có ở Việt Nam, trong tiểu thuyết của nhà văn Phạm Duy Tốn.
Dũng chuẩn bị đón kết quả thanh lọc thật kỹ.

Anh ta lên trường dạy nghề, gặp thầy Lê Vĩnh Tường, xin một khúc thép nhỏ và cứng. Tường lấy một đoạn ống thép trong máy chiếc xe hơi hư mà ông dùng để dạy học viên, cưa dọc, đưa cho Dũng. Ông Tường nói: “Thép Mỹ, cứng lắm”.
Dũng mượn dụng cụ ở chỗ ông Tường dạy, đập dẹp miếng thép, cắt thành hình một lưỡi dao, như lá lúa. Xong, Dũng tìm phía hàng rào, một cục đá mài. Nhẫn nại, cần cù, Dũng ra ngồi phía ngoài nhà tắm, mài một cạnh thật sắc, mũi dao thật nhọn. Công việc kéo dài hàng tuần. Mài xong, Dũng đem dấu, sợ lính Mã Lai xét đồ, bắt gặp, tịch thu. Lâu lâu, Dũng đem ra xem lại, lại mài thêm một lần nữa, sợ dao không được bén.
Dược sĩ Phạm Hồng Hóa chế độ cũ, ở chung một nhà với Dũng cho biết, hai anh em Dũng có chỗ nằm kế bên ông dược sĩ. Dũng yêu thích và kính trọng những người có trình độ hiểu biết để Dũng hỏi han, tìm hiểu về những gì thuộc chế độ cũ. Ba mươi tháng Tư, Dũng chưa tới 15 tuổi, Dũng có biết gì đâu về một chế độ mà ba Dũng đã phục vụ và hy sinh. Cứ nghe thầy cô giáo, cán bộ công an, gọi những người ba Dũng là Ngụy. “Ngụy là cái gì?” Dũng hỏi dược sĩ Phạm Hồng Hóa về ý nghĩa của chữ đó.

– “Ngụy là tà” – dược sĩ Phạm Hồng Hóa nói. “Tà thì nghịch với chánh. Việt Cộng họ coi họ là chánh, là có chánh nghĩa. Dân chúng miền Nam, quân đội miền Nam, chính phủ miền Nam là ngụy, là không có chính nghĩa, là tay sai đế quốc Mỹ. Bài bản người ta giáo dục kỹ lắm, bộ Dũng không học sao?”

– “Không học cũng phải học, không nghe cũng phải nghe. Nghe riết thì cũng thành quen, cho là phải, nhưng trong lòng lại tức anh ách. Cháu không tin ba cháu là tà, là tay sai, là Ngụy, nên cứ thắc mắc hoài!” Dũng nói.

– “Việt Cộng chơi trò lưu manh “Tăng Sâm giết người đấy” (1). Thật ra, người miền Nam có chính nghĩa đấy. Chính nghĩa của họ là Tự Do. Nói rõ ra là họ chiến đấu bảo vệ Tự Do cho dân chúng miền Nam, cho Tự Do, cho Thế giới Tự do. Không có họ thì ngày nay “Làn Sóng Đỏ” đã lan tới Singapore. Nam Dương cũng rét run, Úc châu cũng rung rinh. Thấy được như thế mới biết công trạng của họ to lắm.” Dược sĩ Hóa giải thích.

– “Vậy tại sao họ thua?” Dũng hỏi.

– “Chịu! Không thể hiểu được. Đó là vấn đề chính trị của các cường quốc, đại cường quốc. Sau nầy, khi Dũng định cư rồi, học hành, tìm tòi tài liệu, Dũng sẽ gặp những giải đáp rất hay đấy.” Dược sĩ Hóa giải bày.

Dũng mang cái hoài bảo đó: Định cư. Dũng sẽ học, sẽ tìm hiểu, nghiên cứu, để trả lại cho ba Dũng, cho quân đội Cộng Hòa, cho dân chúng miền Nam, cái danh dự họ đã có, cái trách nhiệm ba Dũng đã hoàn thành. Ông nằm xuống, có nghĩa là ông đã hoàn thành trách nhiệm của ông. “Người như ba mình mà là tà, là ngụy sao được.” Dũng không tin, không thể tin được. Dũng thường nói ý nghĩ ấy với dược sĩ Hóa.
Và Dũng lại chăm chỉ mài con dao lá lúa cho thật bén trong khi chờ đợi ngày nhận kết quả thanh lọc.

Có lần Dũng tâm sự với dược sĩ Phạm Hồng Hóa:

– “Tại sao khi mài dao, cháu thấy nước mài dao có màu đỏ máu?”

– “Chắc hòn đá mài dao là hòn đá đỏ chớ gì?” Dược sĩ Hóa nói.

– “Không! Không chú à. Hòn đá màu xám, như người ta thường gọi là màu gan gà. Cháu chọn đá kỹ lắm mà!” Dũng trả lời.

– “Kỳ thiệt hè?” Dược sĩ Hóa nói. “Hay cháu bị ảo giác. Cái ảo giác làm cho mình tưởng ra như thế!”

– “Cháu cũng có nghĩ như chú. Thấy nước màu máu, cháu nghĩ như thế. Cháu lắc đầu mấy cái cho tỉnh ra. Nhìn lại, cháu vẫn thấy màu đỏ máu.” Dũng nói, không vui!

Thế rồi, Dũng có tên trong danh sách những người sẽ được nhận kết quả thanh lọc ngày hôm sau.
Dũng dậy sớm, ra phòng tắm dội mấy gàu nước cho sạch sẽ, tỉnh ngủ. Xong, Dũng vào nhà lấy bộ quần áo Dũng đã để dành sẵn cho ngày hôm nay. Cái áo “sơ-mi” trắng tinh, mới may, để chờ ngày đi định cư thì mặc. Nghĩ gì đó, Dũng nói thầm: “Hôm nay cũng là ngày trọng đại của mình vậy.”
Xong, Dũng nấu mì gói ăn. Hai tô, một tô cho Dũng và một tô cho em mình. Ăn xong, Dũng lấy gói càphê của học trò biếu Dũng. Dũng pha càphe sữa cho anh em Dũng và cho duợc sĩ Hóa.
Thấy anh sửa soạn đi, người em của Dũng hỏi:

– “Em có đi theo anh không?”– “Khỏi!”
Thấy cách nói của mình hơi cộc lốc, Dũng lại dịu dọng với em:
– “Một mình anh đi được rồi. Anh đứng đầu “blue-card”. Hễ anh đậu thì em cũng đậu.”
Khi Dũng rời nhà, dược sĩ Hóa nói to, với theo:
– “Chúc may mắn nghe Dũng.”
Dũng quay lại, nói “cám ơn”. Rồi cười, mạnh dạn ra đi.
Khoảng một giờ đồng hồ sau, những người có tên trong danh sách được cô Mai, thư ký của Cao Ủy, yêu cầu sắp hàng trước của văn phòng Task Force.
Đây cũng là một cách “đổi tuồng”.

Ban đầu thì Cao Ủy phát kết quả thanh lọc.
Sau khi có biểu tình đấu tranh đòi bải bỏ thanh lọc diễn ra trước văn phòng Cao Ủy thì Cao Ủy đẩy việc phát kết quả thanh lọc qua cho Mã Lai. Do đó, cũng như mấy lần trước, Task Force bữa nay trao kết quả thanh lọc cho thuyền nhân.
Lần lượt, từng người được gọi vào văn phòng. Cứ nhìn thái độ của người nhận kết quả rồi, bước ra khỏi cửa, người ta biết người ấy đậu hay hỏng.
Người thì cười toe toét, đưa tờ giấy ghi kết quả đưa lên cao, hoa hoa, ấy là “đậu”. Không mấy người đậu. Phần đông thì vừa đi ra vừa khóc, có người khóc òa, nức nở…
Tới phiên Dũng đi ra, người ta không biết anh ta đậu hay hỏng. Anh không cười, không khóc.
Những người đứng chờ phía trưóc, nôn nóng hỏi: “Đậu không? đậu không?”
Không thấy anh ta trả lời.
Anh bình tĩnh đứng lại trước cửa, sau khi vừa bước ra xong. Đưa mắt nhìn mọi người, nhìn chung quanh, nhìn lên trời. Anh đưa hai tay lên ngực, không biết làm gì đó. Rồi bỗng anh gục xuống, té dài xuống đất. Mọi người lấy làm lạ chạy tới.
Một dòng máu chảy ra ở ngực anh, thắm đỏ chiếc áo trắng.
Thế rồi có người la lên: “Tự tử! Tự tử.” Có tiếng người là tiếp theo “Anh Dũng tự tử. Anh Dũng tự tử bà con ơi!”
Tiếng khóc, tiếng la chen lẫn. Thấy lộn xộn, lính Mã Lai chạy tới, xua những người đang xúm quanh Dũng ra xa. Dân chúng nghe tin, tụ họp càng lúc càng đông, bàn tán, xôn xao, giao động. Lại có tiếng khóc, tiếng than. Có mấy nhân viên khối An Ninh chạy ra. Cũng có hai người ở bệnh viện xách băng-ca chạy tới, đặt Dũng lên đó. Anh ta còn thoi thóp thở. Dũng liền được đưa vào bệnh xá. Bác sĩ thuyền nhân Hồng Khắc Xuân Vinh mở nút áo ngực, đặt ống nghe vào đó. Một lúc, bác sĩ Vinh lấy ống nghe, đứa mắt nhìn mọi người chung quanh, lắc đầu. Mũi dao đã thấu tim.
Té ra Dũng chuẩn bị khá kỹ. Nếu hỏng thanh lọc, anh sẽ tự tử ngay tại trước văn phòng Task Force.
Khi mặc áo quần xong để đi nhận kết quả, Dũng lén dấu lưỡi dao lá lúa vào túi quần, không ai hay cả. Đến khi nhận phong bì có tờ giấy kết quả ở trong, đọc tới hai chữ “từ chối”, Dũng từ từ bỏ tờ giấy vào giữa bì thư, xếp đôi lại, đút vào túi quần, quay ra.
Trên quãng đường ngắn từ bàn giấy của người phát kết quả ra tới cửa, vừa đi, Dũng vừa rút lưỡi dao trong túi quần ra. Các nhân viên Mã Lai đang làm việc, không ai để ý.

Ra khỏi cửa, nhìn mọi người đang chờ, Dũng mím miệng, không cười, không khóc, và như đã có chủ định từ trước, anh ta từ từ đưa mũi dao nhọn lên ngực, chỗ có quả tim. Có lẽ đã nghiên cứu rồi, Dũng canh mũi dao sao cho nằm giữa hai cái xương sườn. Rồi tay kia, tay mặt, Dũng ngữa bàn tay ra, để cán dao lọt giữa lòng bàn tay, ấn thật mạnh một cái. Mũi dao sắc, chỉ gặp thịt mềm, đi rất “ngọt”, qua lớp da và thịt mỏng, thẳng vào tim. Tới lúc đó thì có thể Dũng cảm thấy đau nhói ở ngực, và gục xuống… bất tỉnh.
Theo cách hiểu của bác sĩ thuyền nhân Hồng Khắc Xuân Vinh, Dũng đã làm như thế.

Nghe tin Dũng tự tử, thầy Nguyên Đạt, đang mặc sẵn chiếc áo nâu sồng liền chạy ra ngay Task Force. Tới nơi lại nghe Dũng đã được đưa vào bệnh viện, Thầy vội vàng tới ngay bệnh viện.
Bệnh viện đang chuẩn bị đưa Dũng đi Kuala Lumpur, may ra còn cứu được. Trạm y tế của trại tỵ nạn không đủ phương tiện. Thầy Nguyên Đạt nhờ người về tìm người em của Dũng lên. Một chốc thì anh ta tới nơi, mặt mày nhợt nhạt, kinh hãi đến nỗi như người vô cảm, không còn khóc được.
Thầy bảo:
– “Chút nữa con đi với Thầy ra bệnh viện.”
Anh ta chỉ biết dạ.
Thầy Nguyên Đạt xin với nhân viên y tế Mã Lai cho Thầy và người em của Dũng đi theo xe cứu thương.
Chiếc xe vội vàng ra cổng, ga lên mạnh, để lại phía sau một đám khói đen.
Cũng phía sau, hàng trăm người chen chúc trông theo chiếc xe, có kẻ khóc thầm, có kẻ khóc nức nở, tinh thần hổn loạn, hoang mang, hy vọng trong tuyệt vọng. Người cúi đầu, kẻ cầu nguyện…
&
Dũng tắt thở khi đang trên đường xe cứu thương đưa Dũng ra bệnh viện Kuala Lampur. Người y tá ngồi trong xe, bên kia cái “băng-ca”, đưa tay báo tin cho Thầy Nguyên Đạt cùng người em của Dũng ngồi bên nầy “băng-ca” biết.  Thầy cảm thấy có hai dòng nước mắt chảy trên má Thầy. Hai mắt thầy mờ đi vì những giọt nước mắt cứ tiếp tục tuôn ra.
Thầy đưa cánh tay áo nâu của Thầy quẹt lau những giọt nước mắt ấy. Là một người tu hành chân chính theo đạo Phật, Thầy hiểu rất rõ sự phù du của cuộc sống trần ai, nhưng những đau thương của đồng bào tỵ nạn diễn ra hằng ngày trước mắt thầy, và đỉnh cao của nỗi đau thương ấy là cái chết của Dũng ngày hôm nay, không thể không làm cho Thầy thấy đau xót cho kiếp người tỵ nạn.
Phật tổ vì sinh lão bệnh tử của người đời mà đi tu. Hôm nay, cũng vì cái sinh lão bệnh tử của người tỵ nạn mà Thầy khóc.
Thầy không khóc cho Thầy. Thầy có cái ham muốn gì đâu mà phải khóc. Chiếc áo nâu sồng đã cũ Thầy mặc mỗi ngày là biểu tượng cho cuộc sống chân chất của Thầy, của dân tộc, của Việt Nam. Cái mầu nâu sồng ấy, là tượng trưng cho mầu dân tộc, của ruộng rẫy, cày bừa. Nó không phải là mầu kiêu sa, mầu huy hoàng, mầu được thần tượng hóa, thánh hóa. Có khi nó sờn rách, bạc mầu, vá víu, nhưng nó không phải là cái mầu ngững cao đầu, tự hào, tự tôn, kiêu hảnh mà chính là cái mầu cúi xuống, chăm chỉ học hành, nghiên cứu, tìm hiểu trên những trang kinh sờn rách, chữ viết đã mờ phai…
Và hôm nay Thầy dùng cái áo nâu ấy để lau những giọt nước mắt mà Thầy đã khóc cho Dũng, khóc cho đồng bào tỵ nạn của Thầy, những người đang bị vây khổn trong bốn phía hàng rào kẽm gai. Đồng bào của Thầy như những con cá mắc trong lưới, dính vào lưỡi câu, càng vùng vẫy, nỗi đau càng lớn, càng sâu.

Khi trời chiều tắt đã lâu, đèn đường đã sáng, Thầy mới ra khỏi bệnh viện. Thầy phải chờ bác sĩ làm xong những thủ tục cần thiết, xác nhận Dũng đã chết vì vết thương, vì mũi dao lá lúa đâm thấu trái tim, máu từ trong đó trào ra dần dần đến kiệt hết, đến khi trái tim ngừng đập. Vậy là một đời người qua đi, trong ngắn ngủi, trong vây khốn, tức tưởi.
Thầy lại phải chờ. Khi nhân viện bệnh viện đưa thi hài Dũng xuống nhà xác, đưa vào phòng lạnh, và họ báo cho Thầy vậy là xong. Chờ sáng mai, khi Thầy và người em của Dũng ra lại bệnh viện, họ đem xác Dũng đi thiêu, như lời yêu cầu của người em Dũng.
Lại chờ hơn nửa tiếng, sau khi Thầy nhờ bệnh viện liên lạc với trại tỵ nạn cho xe ra đón Thầy về.

Thầy đứng ở cửa xe chờ người tài xế đi đâu đó. Nhìn quanh, thấy trời đã tối, lòng Thầy bỗng chùng lại.
Cái chết của Dũng, một biến cố quan trọng xảy ra quá đột ngột, cộng với sự xôn xao, dao động của đồng bào tỵ nạn còn đè nặng lên lòng Thầy, cộng thêm với ánh đèn vàng vọt đổ xuống trong sân bệnh viện, cộng thêm một thoáng hơi lạnh trong gió biển đang thổi tới, làm tăng nỗi quạnh vắng, lạ lẫm nơi xứ lạ quê người.

Từ bao lâu, chưa bao giờ Thầy cảm thấy xúc động vì đồng bào của Thầy, vì cuộc đời, quay quắt đến như vậy. Nghĩ tới ngày mai, nghĩ khi ôm bình tro cốt của Dũng về lại trại tỵ nạn, trước trăm ngàn cặp mắt đẫm lệ, thương xót của đồng bào Thầy, có lẽ Thầy sẽ không nói được một lời nào để an ủi họ, để trấn an họ như Thầy đã từng làm trước kia, khi những người hỏng thanh lọc đến khóc than cùng Thầy.

Dũng, một thanh niên tráng kiện như thế, đẹp đẽ như thế, nay chỉ còn là bình tro cốt. Thầy thấy ngại khi chỉ vào bình tro cốt mà nói với đồng bào của Thầy rằng cuộc đời nầy chỉ là “sắc không”.
Cuộc đời là hư vô (2), như Thầy đã học, Thầy đã suy gẫm về nó và cũng từng nghe một câu hát như thế, nhưng bên cạnh cái “hư vô” đó, những đau xót, những uất ức, những nhớ thương, cũng là hư vô đấy, nhưng liệu có mau phai tàn như người ta thường nghĩ.
Mai đây, khi người em của Dũng ôm bình tro cốt làm “Việt kiều hồi hương” từ trại tỵ nạn, đem về cho mẹ. Mẹ sẽ nghĩ gì về đứa con thân yêu của mẹ đã bỏ mình trong trại tỵ nạn, đã tự làm cho mình một con dao oan nghiệt, và cũng đã kết thúc cuộc đời mình bằng mũi dao oan nghiệt ấy.

Ở trại tỵ nạn, người ta thương Dũng, tiếc nuối cho Dũng. Nhưng riêng Thầy, Thầy nghĩ đến người Mẹ, người đã sinh ra Dũng, đã làm lụng vất vã nuôi Dũng đến ngày khôn lớn, lo cho Dũng vượt biên để ra ngoại quốc, Dũng có cơ hội học hành. Than ôi, nỗi đau đớn của Mẹ to lớn quá!
Tất cả đã vỡ tan, và nay, chỉ là bình tro cốt của người con yêu được mang về cho Mẹ. Lòng mẹ thật vĩ đại, nhưng trong hoàn cảnh nầy, nỗi đau của mẹ lại vô cùng to lớn, mênh mông, vô bờ vô bến…


hoànglonghải

(1) “Tăng Sâm giết người” là một truyện trong “Cổ Học Tinh Hoa” của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc và Tử An Trần Lê Nhân:

“Tăng Sâm là đại môn đệ của Đức Khổng tử, quê ở đất Phi, ở đấy có kẻ trùng tên với ông, giết chết người.

Một người hớt hải chạy đến báo mẹ ông Tăng Sâm rằng:

“Tăng Sâm giết người.”

Bà mẹ không tin, nghĩ rằng, chẳng khi nào con bà giết người. Rồi bà điềm nhiên ngồi dệt cửi.

Một lúc lại có người đến bảo:

“Tăng Sâm giết người.”

Bà mẹ hơi nghi ngại, nhưng không nói gì, cứ điềm nhiên dệt cửi.

Một lúc lại có người thứ ba đến bảo: “Tăng Sâm giết người.”

Bấy giờ bà mẹ sợ cuống, quăng thoi, trèo qua cửa sổ, chạy trốn.

Không tin, nhưng cứ nói mãi, người ta sẽ tin. Đó là phương cách tuyên truyền của Việt Cộng. Mẹ không tin nỗi con, huống gì người thường. Cứ tuyên truyền mãi, dân chúng sẽ tin “Cái láo thành cái thật.”

(2) “Cuộc đời là hư vô”: mấy câu cuối trong bài “Xin Thời Gian Qua Mau” của Lam Phương

. . . . . . .
“Dù rằng sau mưa bão
Gió hiền hòa lại về

Vẫn thấy lòng hoang vu

Cuộc đời là hư vô

Bôn ba chi xứ người

Khi mình còn đôi tay.”
 

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 16 Dec 2023

Bài 22

Con thú hoang

Hồi tháng 7 năm 1991, sau khi thanh lọc xong, đang ở trại Marang trên bán đảo Mã Lai, chờ chuyển sang trại Sungei Beshi, tôi buồn lắm. Trại thì nhỏ, công việc không có gì làm, suốt ngày lo ăn ngủ và đi lòng vòng quanh hàng rào, hết nhìn ra xa lộ coi xe chạy qua chạy lại cho đỡ buồn, tôi lại ra mặt sau trại, ngồi trên bậc cấp phía sau phòng thanh lọc, kế gốc dừa, nhìn ra biển cho đỡ nhớ nhà. Mùa này biển động, nhất là sau trưa, gió lộng lắm.

Ngoài kia là biển cả mênh mông, sóng bạc đầu hàng hàng lớp lớp, như điên cuồng giận dữ xô đẩy nhau chạy vào bờ. – Cuối chân trời, trời và nước gặp nhau, liền một màu xanh thẳm. Đôi khi tôi chợt nghĩ tới những chiếc ghe vượt biên, bé tí teo, lênh đênh trên biển cả, giật giờ như chiếc lá. Có những chiếc bị hải tặc tấn công, bị bão tố đánh chìm, bao xác người trôi trên biển. Bây giờ thân xác họ về đâu? Linh hồn họ nơi nào?

Thỉnh thoảng có những chiếc ghe đánh cá nhỏ của người Mã Lai chạy qua, cỡi những con sóng bạc đầu ấy mà đi. Có khi chiếc thuyền bị đưa lên cao, chênh vênh trên đầu ngọn sóng, có khi chìm khuất sau ngọn sóng lớn, tưởng như ghe bị chìm mất rồi, nhưng nó lại hiện ra. Cuộc đời của người tỵ nạn còn thua chiếc ghe đó nữa. Bao nhiêu sóng gió, ghe cũng có bến bờ mà đến, người trên ghe trở về với gia đình, vợ chồng cha mẹ anh em sum họp một nhà. Còn thân phận người tỵ nạn rồi sẽ ra sao, sẽ về đâu, bến bờ nào đón đợi, bao giờ gia đình mới hết lìa tan, cha mẹ anh chị em sum họp một nhà, kể cho nhau nghe những nỗi vui buồn, một đời lang bạt, nổi trôi?…

Tôi chờ hơn nửa tháng thì có tàu từ đảo Bidong chở thêm người qua để được thanh lọc. Một buổi trưa, tôi ra chỗ thường ngồi thì thấy chỗ ấy đã có một ông già của tàu mới đến, ngồi rồi. Ông ta đăm đăm nhìn ra biển, trên mặt ông không biểu lộ một nét vui, nỗi buồn nào nhưng tôi nghĩ là trong lòng ông cũng đầy những xúc cảm nhớ thương nào đó như bao người tỵ nạn đang phiêu bạt nơi xứ người.

Tôi lặng lẽ ra ngồi bên gốc dừa, không muốn quấy rầy sự yên lặng ông ta cần có. Tôi cũng phải kính trọng nỗi đau khổ của người khác cũng như người khác phải tôn trọng những khổ đau đang giày vò tâm hồn tôi.

Ngồi đến chiều, tôi thấy mỏi nên đứng dậy đi lang thang quanh hàng rào.

Ông ta vẫn ngồi trầm ngâm ở đó, mắt ngó mông ra ngoài biển xa, chẳng động đậy, không hút thuốc, không nói một lời.

Trưa hôm sau, và những trưa hôm sau nữa, khi tôi ra tới chỗ cũ thì đã thấy ông ta ngồi ở đó rồi. Mất chỗ ngồi thoải mái, tôi đâm bực mình. Vì vậy, một hôm, tôi cố giành lại chỗ cũ. Trưa hôm đó, ăn xong, bỏ giấc ngủ trưa, tôi ra sớm. Tới nơi, lại thấy ông ta đã ngồi ở đó. Ồ! Ông ta không ngủ trưa sao?!

Người già thường ngủ trưa, tại sao ông ta lại không?!

Ông ta ngồi ở đây cho tới chiều tối mới vào nhà, chiều nào cùng như chiều nào vậy, không mỏi mệt, không chán nản, mắt cứ đăm đăm nhìn ra khoảng trời biển ngoài xa. Nỗi buồn nào, nỗi nhớ nhung nào đã làm cho ông ta kiên trì ngồi đây suốt cả những buổi chiều dài buồn lê thê như thế?!

Một hôm, khi tôi ra tới nơi thì chỗ gốc dừa tôi thường ngồi, bóng dâm chưa đổ tới. Thấy tôi loay hoay tìm chỗ ngồi, ông ta nói: “Anh vào đây ngồi với tôi, chỗ còn rộng.” Tôi cúi đầu chào ông, bước tới.

Gió biển thổi lộng từ trưa cho đến tối mới ngưng nên mặt ximăng bậc cấp sạch bong, không một cọng rác. Tôi không cần phủi bụi, ngồi ngay xuống đó, thấp hơn ông ta một bậc. Ngồi ngang với người lớn tuổi tôi sợ bị cho là “hỗn”.

Tôi nhìn lui, ông ta đang nhìn đăm đăm ra biển, không nói gì. Tôi ngồi im. Khoảng mười phút sau, tôi quay đầu lui. Ông ta đang nhìn ra biển khơi, im lặng! Mười phút sau nữa, tò mò, tôi nhìn lui. Ông ta ngồi im như bức tượng đồng, nhìn đăm đăm ra biển xa! Một lúc nữa, lại tò mò, tôi nhìn lui. Vẫn vậy! Thái độ ông ta làm cho tôi thắc mắc nhiều hơn. Ông ta nhìn gì ngoài biển mà nhìn mãi hoài vậy? Ngoài xa đó, cũng chỉ những lớp sóng bạc đầu, đuổi bắt, đơn điệu đến buồn chán. Hay ông ta thấy có cái gì khác hơn? Tôi vươn mình lên hơi cao một chút, nhìn kỹ qua ô vuông của lớp hàng rào kẽm. Cùng vậy thôi, có gì đâu mà ông ta nhìn hàng giờ. Sau này tôi mới nghe người ta nói ông có một người thân còn nhỏ tuổi chết chìm ngoài biển khi vượt biên. Có phải ông ta tìm kiếm hình ảnh thân yêu của ai đó chăng?!!!

Qua mấy chiều như thế, một hôm, ông ta nhìn tôi, nét mặt hơi vui, như để xã giao, hỏi:

– “Anh thanh lọc chưa?”

– “Dạ rồi”. – Tôi đáp.

– “Bao lâu?” – Ông ta hỏi.

– “Dạ, gần bốn tiếng đồng hồ, hết Mã Lai, tới luật sư Cao Ủy hỏi.” Tôi trả lời.

Ông ta hỏi liền, như có vẻ nóng vội:

– “Lâu vậy, họ có “quây” anh không?”

Tôi cười, giải thích:

– “Không, nhưng thời gian cháu trốn công an lâu quá, tới 9 năm nên họ hỏi kỹ phần này.”

– “Tới 9 năm? Dài thật! Trốn ở đâu mà không bị bắt, hay vậy?” – Ông ta lại hỏi, vẻ thắc mắc.

– “Cháu trốn ngoài cồn Bà, giữa sông Hậu. Chỗ đó hầu hết là rừng hoang.” Tôi nói.

Một chốc, tôi nói tiếp:

– “Trong 9 năm trời đó, cuộc đời cháu như con thú hoang, để cháu kể cho bác nghe.”

&

Ba tôi có đi lính chế độ cũ đâu hồi tôi chưa sinh, tôi không rõ lắm, nhưng khi tôi còn nhỏ, ba tôi thường nhắc chuyện cũ – chuyện Việt Minh cướp chính quyền năm 1945 – Trong khi ba tôi theo “Nam bộ kháng chiến” thì Việt Minh cướp đất của ông nội tôi, là chủ điền, rồi giết ổng. Ba tôi bỏ kháng chiến mà về, thường nói: “Tao theo kháng chiến là để đánh Tây, giành độc lập, bảo vệ tài sản đất đai của mình chớ đâu có phải để Cộng Sản cướp ruộng của ông nội mày.” – Bỏ Việt Minh, cha tôi đi lính Quốc Gia để trả thù nhà, nợ nước.

Những năm sau này, khi trốn nghĩa vụ quân sự, nhiều đêm nằm trong chòi hoang giữa cồn Bà, không ngủ được, tôi vẫn thường suy nghĩ những điều ba tôi nói hồi xưa. “Ruộng của ông nội mày là do công lao khổ cực mà có, đâu có phải cướp giựt trên tay ai. Cọng Sản muốn cải cách ruộng đất thì phải có chính sách cho hợp lý, phải nghĩ tới công lao những người đã khai phá đất hoang thành ruộng đồng. Không những chúng nó cướp ngang ruộng của ông nội mày còn đổ tội cho ông là bóc lột nông dân. Vậy rồi chúng giết ông nội mày để giựt ruộng người ta. Chúng nó gây nợ máu, gây hận thù nên tao mới đi lính Quốc Gia.”

Lời ba tôi nói, đâu có sai. Lỗi tại ai? Ai chia đất nước này ra làm hai, ai chia dân tộc này ra làm hai; gây thù oán, giết chóc lẫn nhau là do ở ai? Khi tôi lớn lên, Cộng Sản đã “giải phóng” miền Nam nhưng mà để làm gì, để đày đọa và bóc lột người Miền Nam như người dân ngoài Bắc hồi đó chăng? Lớn lên, tôi thấy một bên là những người Cọng Sản, những người cầm quyền, đọa đày bóc lột những người bị cai trị. Vậy thôi. Những người như ba tôi, các anh tôi là là “phản động”, là “bán nước” là “ôm chân đế quốc” để kiếm “bơ thừa sữa cặn”. Nói ba tôi bán nước là tôi không tin. Không phải chủ quan nhưng tôi thấy rõ ba tôi là người yêu quê hương, làng nước, đồng bào còn hơn cả những người Cọng Sản nữa. Còn nói về lòng nhân ái, thương người thì rõ ràng ba má tôi nặng truyền thống “tu hiền” của dân Nam bộ. Với Cộng Sản mà nói nhân đạo, vị tha thì quả thật khôi hài. Nói bác ái, từ bi với họ có khi còn bị phê bình là “lạc hậu”, là “tôn giáo phản động”.

Ba tôi là người yêu nước. Nhớ ơn ông Bùi Hữu Nghĩa, ba tôi họp với thân hào nhân sĩ trong phường, góp công, góp của xây đền thờ ông Bùi. Vì tích cực và nhờ uy tín, ba tôi được các cụ bầu làm Trưởng Ban Tế Tự, hằng ngày lo nhang khói. Dân trong phường tôn sùng ông Bùi như thần hoàng của làng, chỉ thiếu có “sắc phong” của vua mà thôi.

Sau năm 75, Cộng Sản buộc dẹp bàn thờ ông Bùi, lấy chỗ làm kho lương thực. Ba tôi cùng mấy bô lão ngăn không được, bèn khiếu nại lên trên. Ông chủ tịch quận nói:

– “Thờ cúng linh tinh là mê tín dị đoan.”

Một ông lão nói:

– “Nhưng cụ Bùi Hữu Nghĩa là người chống Tây, yêu nước.”

Chủ tịch hỏi:

– “Thế ông ta có làm quan cho phong kiến không?”

Ba tôi nói:

– “Thi đậu, có làm quan, nhưng chống Tây, xin nghỉ quan.”

Chủ tịch nói:

– “Có làm quan cho phong kiến là có tội với nhân dân. Có đi học tức là nhà giàu, thuộc thành phần bóc lột, không được thờ.”

Ba tôi tức lắm, cố cải:

– “Vậy cụ phó bảng Sắc, thân sinh “Hồ Chủ Tịch” cũng đậu phó bảng, cũng làm quan phong kiến.”

Vì câu nói đó mà ba tôi bị ghép tội xúc phạm lãnh tụ, bị giam tù 7 ngày, làm kiểm điểm và phạt lao động 45 ngày. “Lao động là vinh quang” nhưng hễ ai có tội thì bị phạt lao động. Vậy thì phải nói lao động là khổ sai chớ sao lại vinh quang. Cộng Sản nói nhiều câu thật buồn cười!

&

Khi tôi khoảng chín, mười tuổi, ba tôi đang làm trưởng xưởng sửa chữa “bắc” trên bến “bắc” Cần Thơ. Mấy chú bác làm ở xưởng hay làm trên “bắc” thường lui tới thăm ba tôi nên biết tôi. Cũng qua đó, tôi khám phá ra cái thú sông nước mà sau này là một phần trong định mệnh của đời tôi.

Một hôm, tôi rủ mấy đứa bạn ra “bắc” chơi. Chúng tôi leo lên “bắc”, leo tuốt lên buồng lái mà nhìn sông Hậu. Từ hồi đó, tôi đã thấy cái mênh mông, hùng vĩ của sông Hậu rồi. Khi “bắc” vào bến, cảnh trên bến tấp nập thật vui. Nhưng rồi cuộc vui nào cũng qua nhanh và kết thúc không thiếu phần “bi thảm”.

Ba tôi cho tôi một trận đòn vào đít vì cái tội dám ra “bắc” chơi. “Lỡ rớt xuống sông thì sao?!” Rõ ràng nói câu đó, là ba tôi không tin tôi và thiếu thông cảm cho tuổi nhỏ. “Lỡ rớt xuống sông!” Làm sao có chuyện “lỡ” đó được. Tôi phải có lòng tự tin chứ. Còn nói tôi lêu lỗng thì không thể có được. Có tháng nào tôi bị sắp hạng ba đâu! Không nhất thì nhì ở bảng sắp xếp học lực hàng tháng.

Dù yêu thích thế nào đi nữa, cuối cùng, tôi vẫn phải vâng lời ba tôi. Sau này, đọc Tom Sawyer của Mark Twain, tôi thấy người Việt Nam mình thiếu tính mạo hiểm và ít tin tưởng con cái như người Âu Mỹ. Tôi cố gắng bù đắp cho tôi cái gì tôi thiếu. Thiếu mạo hiểm thì tôi đã sống một quãng đời rất mạo hiểm sau khi tôi trốn “nghĩa vụ quân sự”. Tới lúc đó dù ba tôi có không tin tôi thì cũng chẳng có cách gì được nữa.

Năm 18 tuổi, tôi tốt nghiệp cấp ba thì bị gọi “nghĩa vụ quân sự”. Trong xã hội Cộng Sản có những cái nghịch lý buồn cười đến chảy nước mắt. Gọi là “nghĩa vụ” nhưng ai ai cũng nói là “bị bắt đi nghĩa vụ”. Đã “bị bắt” thì còn “nghĩa vụ” gì nữa. Nghĩa vụ chỉ là mỹ từ còn bản chất sự việc thì từ ngàn năm trước cho tới bây giờ có khác gì nhau?! Ngày xưa đi lính cho vua, ngày nay đi lính cho đảng. Vua và đảng có khác gì nhau khi đã gọi là bị bắt. Đi lính cho vua là để “bảo vệ quyền lợi giai cấp thống trị vua quan” và đi lính cho đảng thì cũng chỉ là “bảo vệ quyền lợi giai cấp thống trị đảng viên” mà thôi. Voltaire có nói một câu rất hay “Trong bất cứ xã hội nào, giai cấp cầm quyền là giai cấp thượng lưu.” – Âu Mỹ bây giờ tự do dân chủ thì sao tôi không biết chứ ở xứ mình ngày xưa, thời vua Lê chúa Trịnh đi lính để người trong nước đánh nhau còn ngày nay thì cũng chỉ là Nam Bắc huynh đệ tương tàn vậy. Có điều, chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa khoa học triệt để nên việc bóc lột bây giờ cũng rất khoa học và triệt để vậy.

Nhiều khi tôi nghĩ tới việc ba tôi tình nguyện đi lính Quốc Gia và tôi bị bắt đi nghĩa vụ quân sự mà buồn cười. Không ai bắt ba tôi đi, vậy mà ông tự đi. Ông đi là để trả thù ông nội tôi bị Việt Minh giết, bị họ tước đoạt ruộng đất của ổng. Ít ra, ba tôi cũng có chính nghĩa của ông. Còn tôi chính nghĩa gì? Bảo vệ cái gì? Bảo vệ chế độ đã giết ông nội tôi? Chế độ đã đuổi ba tôi ra khỏi nơi ông đã đổ mồ hôi và trí tuệ gần 20 năm để phục xã hội, phục vụ dân chúng trong việc giao thông vận tải qua sông Hậu này, bảo vệ chế độ đã tịch thu tài sản, nhà cửa của cha mẹ tôi, bỏ tù các anh tôi, ngược đãi anh ba tôi trong trại lao động, v.v… và v.v…

Có thể nào như thế được không? Không nói gì tới triết lý chính trị xa xôi mơ hồ mà nhiều khi rất ngụy biện của Cộng sản, nói ngay thực tế của cuộc sống thôi, từ khi lớn lên, tôi chưa từng thấy ba tôi làm gì sai, với gia đình cũng như với xã hội. Ông sống bằng đồng lương do mồ hôi công khó ông đổ ra, Làm cha, ba tôi rất gương mẫu để các con noi theo, mẹ tôi có tiệm vàng ở phố thì có môn bài, có đóng thuế, chưa thấy ai nói mẹ tôi buôn gian bán lận. Thế mà Cộng sản họ đuổi ba tôi ra khỏi xưởng và tịch thu cửa hàng của mẹ tôi. Họ qui thành phần cả nhà tôi. Chắc chắn là tôi sẽ không “trúng tuyển đi nghĩa vụ quân sự”. Họ không tin tôi, họ sợ tôi một ngày nào đó sẽ quay súng bắn vào đầu họ khi họ phát cho tôi cây súng.

“Cách mạng triệt để” mà, cách mạng triệt để là vậy. Dù vậy, họ cũng không tha dù tôi chỉ đi làm bia đỡ đạn cho họ, họ sẽ bắt tôi làm nô lệ, nghĩa là tôi sẽ “tham gia lao động kinh tế quốc phòng”. Mỹ từ nghe hay thiệt.

Thực chất là cách mạng triệt để, không bóc lột đàn áp bằng ngã này thì bằng ngã khác, không phát cho cây súng thì phát cho cây cuốc, không chạy vào đâu được.

Anh ba tôi đã là nạn nhân của cái mỹ từ lao động kinh tế quốc phòng, trốn khỏi trại nô lệ đó mà đi. Anh tôi nói đùa: “Đi làm, tao có người cầm súng đi theo bảo vệ, bảo vệ tao chớ không phải sợ tao trốn trại. Tao là một VIP mới có người cầm súng đi theo kè kè bên lưng. Tụi Mỹ trắng nói với tụi Mỹ đen nô lệ hồi mấy thế kỷ trước như thế nào tao không biết, còn ở đây hay lắm mày. “Lao động là vinh quang, cuốc là số một”. Cái đuôi câu này tụi tao mới thêm vô cho đầy đủ “hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Ăn nhiều làm ít là bóc lột nhân dân nên cuốc đất có chỉ tiêu đàng hoàng, chỉ tiêu mỗi buổi là ngang một mét, dài 150 mét. Phải làm đủ mới ăn đủ. Cuốc không đủ thì giảm phần ăn hạng A xuống hạng B, ba chén bắp còn hai chén, nếu không đạt nữa thì chuyển qua việc làm nặng nhọc hơn, chặt tre, phá rừng, kéo cày thay trâu. v.v… Phần B muốn lên phần A phải phấn đấu, phấn đấu hai chén lên ba chén, phấn đấu ba chén để được no. Chúng nó tính kỹ lắm, kỹ từng thước đất, từng chén cơm, tính 50 mét là một chén, 100 mét là hai chén, 150 mét là ba chén, phải đủ hay vượt quá con số đó mới được ăn đủ. Cuốc tới 90 mét cũng chỉ được 1 chén, 140 mét cũng chỉ có 2 chén. Có thừa nhưng chưa đạt chỉ tiêu, coi như bỏ. Mày biết “đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành” là cái gì không? Mấy con mẹ địa chủ ngoài bắc sợ người làm lén lút ăn cắp nước mắm ăn với cơm nên “đo lọ nước mắm”, chúng chỉ cho “lấy chút nước cá mà ăn với cơm thôi nhé, mày đụng vào khúc cá là mày chết với bà”, “đếm củ dưa hành”, sợ người ta ăn cắp mới đếm từng củ. Cộng sản đánh đổ “giai cấp địa chủ bóc lột” nhưng khi chúng nó có quyền thì chúng rập y cái khuôn của bọn địa chủ đó, rồi đem cái khuôn đó mà “giải phóng miền nam”. Cách mạng? Chẳng có gì cách hết, chỉ là y chang cái khuôn phong kiến của Tầu cả ngàn năm trước, khác ở chỗ bây giờ bóc lột khoa học hơn, triệt để hơn và nhiều mỹ từ nghe hay vô cùng đáo để.”

Tôi thử đi trình diện và rồi cũng như anh tôi, được tham gia lao động kinh tế quốc phòng. Anh tôi từ cái địa ngục đó mà trốn đi, tôi còn chui đầu vào đó làm gì?! Cuộc đời tôi phiêu bạt từ đó.

Tôi chờ đến ngày trình diện ghi trong giấy mới rời nhà. – ở nhà với mẹ, gần mẹ được ngày nào vui ngày đó, rồi ra, trốn đi, biết khi nào mới gặp lại mẹ. Thay vì lên trình diện ở phường, tôi ra bến Ninh Kiều, “trình diện” thằng bạn, nó đậu ghe chờ sẵn, đưa tôi qua cồn Bà.

&

Kể ra tôi cũng có tính mạo hiểm. Ngay đêm đầu tiên ở cồn Bà, tôi đã thấy thích. Mấy chục năm trước, bà nội tôi và ba tôi có phá một công đất trồng cây ăn trái ở đấy, thỉnh thoảng tôi theo ba tôi qua đây chơi, thích lắm. Bây giờ thì được ở hẳn nơi này, ngày ngày chăm sóc cây trái rồi giăng câu, đặt lợp mà kiếm sống.

Cồn Bà dài khoảng 3 cây số. Chỗ rộng nhất nửa cây, lau lách rậm rạp, bần đước um tùm, mương lạch chằng chịt nên dân tứ chiếng giang hồ về đây không ít, phần đông là trốn nghĩa vụ, lao động có, quân sự có, “bỏ ngũ” cũng có, luôn cả những phần tử tội phạm hình sự trộm cắp, đâm thuê chém mướn.

Nhưng về tới đây cũng là đường cùng rồi, tới đáy xã hội rồi, mỗi người tay làm không đủ hàm nhai, có đâu mà ai bóc lột ai. Có điều hay, mấy tay hành hiệp trong chốn giang hồ chẳng tay nào chịu ở lâu. “Trời êm bể lặng”, họ lại về giang sơn cũ để cho đời lên hương chút đỉnh, chớ không chịu cơm rau mỗi ngày như chúng tôi, sống với sông nước, gần gũi với thiên nhiên như mấy ông tu tiên Lý Thiết Quày, Hà Tiên Cô được. Cần nhất là gạo, do gia đình tiếp tế hay đổi chác ở phía “bắc” Bình Minh, còn đồ ăn thì thiên nhiên cho gì ăn nấy. Có cá thì kho, nấu canh… không thì cơm rau muối qua ngày. Cuộc đời của người trốn chạy, còn gì nữa đâu mà kén cá chọn canh.

Đêm đầu tiên, chưa có mùng, tôi ngủ chung giường với thằng Phương, bạn tôi. Giường là cái sạp tre, có nhiều thanh đã gãy, phải chặt cây thế vào, nằm đau lưng muốn chết. Chiếc chiếu thì đã rách te tua, phải lót thêm mấy miếng báo nơi chỗ thủng để muỗi khỏi vô. Cái sạp tre cách mặt đất chừng nửa mét, trên là mái lá mới lợp nhưng chắc không cản nổi mưa. Thằng Phương bỏ mùng bên phía nó xong, nói:

– “Mày chèn mùng cho kỹ chớ không con “gái” nó chui vào mùng.”

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– “Con “gái” đâu vậy mày? Vụ này coi không êm. Cả đời tao chưa từng hun một con nhỏ nào chớ đừng nói là nằm chung mùng với nó.”

Thằng Phương cười hắc hắc:

– “Tao giả nói ngọng chọc mày chơi. Con “rái” chứ không phải là con gái đâu mà ham. Con rái hay tìm vô ngủ chung với người có hơi cho ấm. Tao hoảng hồn một lần rồi đó.”

Đêm đầu tiên ở cồn Bà, dù còn trẻ và vô tư, tôi cũng khó ngủ được ngay. Tôi nằm nghĩ tới biết bao nhiêu chuyện, hết chuyện nọ, xọ chuyện kia. Trước hết là chuyện xa cha mẹ, anh chị em, nhất là xa mẹ, nhớ lắm. Rồi đây làm thế nào tôi về thăm mẹ tôi, mà không về thì… nhớ mẹ lắm. Không chừng mẹ tôi dám ra chỗ này thăm tôi. Có mấy khi tôi xa nhà lâu đâu. Mẹ tôi mà ra tới đây, thấy cảnh sống của tôi như vầy, lấy gì mà đong cho hết nước mắt của mẹ.

Chi bằng Cộng sản… sụp đổ là sướng nhất. Thế là tôi về. Nhưng chuyện đó, nhắm ra, khó lắm! Nghĩ qua chuyện học, tôi cũng buồn! Thôi, thế là hết, thế là giả từ giấy, bút; giã từ sách, giã từ vở, giã từ hyperbol, parabol, giã từ vua Lê Lợi, ông Trần Hưng Đạo đại thắng quân Nguyên, giã từ thầy cô, bè bạn. Không, không nên để ông Lê Lợi, ông Trần Hưng Đạo ngang với bè bạn, dù chỉ là ở trong lòng tôi. Mấy ông này phải ở cao hơn. Xin thông cảm, ở nơi cồn Bà bốn bề sông nước này, tôi đành giã từ hết mà cũng nhớ nhung hết, chẳng sót ai. Tôi chứa tất cả trong lòng tôi.

Lòng tôi hẹp mà chứa thật nhiều, cả khu vườn nơi nhà tôi ở, cả không gian nơi trường tôi học, cả sân bóng đá tôi thường đá bóng với bạn bè; tất cả mọi người trong gia đình tôi, bà con gần xa trong phường, cả giòng lịch sử Việt Nam từ họ Hồng Bàng, có ông Lạc Long Quân chia tay với bà Âu Cơ dẫn 50 con xuống biển. Có ai trong năm mươi người con đó đã đẻ ra giòng họ Dương nhà tôi ngày nay mà đến đời tôi, tôi phải sống cuộc đời trốn tránh cô quạnh giữa chốn rừng hoang này!

Bây giờ hồn tôi có rộng bao nhiêu đi nữa, trí tôi có đi tận tới chân trời góc biển nào đi nữa, có theo chân ông Kha Luân Bố đi tìm Tân Thế Giới, theo ông Nansel lên thám hiểm bắc cực thì cái mạo hiểm đó cũng “hiểm” như cuộc sống tôi ở cồn Bà này! Đâu có phải đi thật xa, “đấu sức với ba đào, thi gan cùng sương tuyết” như ông Nguyễn Bá Học nói mới là mạo hiểm. Trong cuộc sống mỗi ngày, luôn luôn đề phòng bọn công an rình rập, vây bắt, đấu tranh với thiên nhiên bằng những phương tiện thô sơ nhất như thời thượng cổ để giành lấy cái ăn… cũng là một sự mạo hiểm đó thôi. Lội qua bao nhiêu con rạch để tìm cho được một ngọn rau hoang, ngồi rình bao nhiêu giờ mới chộp được một con cá, con lươn cũng là một sự mạo hiểm. Nhưng cái mạo hiểm nhất chính là canh chừng từng phút, từng giây mũi súng của bọn công an, canh chừng sự chết để giữ mạng sống. Cái mạo hiểm đó giống với chàng Lỗ Bình Sơn trong tiểu thuyết phiêu lưu. Tuy nhiên, ít ra, Lỗ Bình Sơn còn được chủ động trong cuộc sống. Anh ta được làm nhà để tránh mưa nắng, làm hàng rào ngăn thú dữ và một đệ tử là anh “Thứ Sáu”. Chúng tôi không dám làm nhà sợ Công an biết nơi ăn ở. Tôi thì có bạn bè, không có đệ tử. Lỗ Bình Sơn sợ bọn mọi ăn thịt người, tôi thì sợ công an. – Bọn mọi ăn thịt người và công an có khác gì nhau, cũng là một thứ làm hại đồng loại cả thôi. Thời mọi rợ man ri làm hại đồng loại kiểu khác, bây giờ văn minh tiến bộ hơn, khoa học hơn thì làm hại kiểu khác. Chống lại sự làm hại của chúng thì mũi súng của chúng sẽ nhắm vào người mà nổ. Thế là chết. Sự chết, từ ngàn xưa cho tới bây giờ, khác gì nhau. Dao mác hay súng đạn đều đem lại sự chết như nhau.

Chàng Lỗ Bình Sơn muốn về với đồng loại nhưng thiên nhiên không cho về. Từ đảo hoang của chàng, chàng không biết nơi nào là đất liền, có người ở, cách bao xa, biển bao sâu… Chàng sẽ về đất liền bằng gì? Ghe nào? Tàu nào đưa chàng về với loài người thân yêu của chàng. Tội nghiệp cho chàng sống bao nhiêu năm cô quạnh nơi hoang đảo đó.

Còn tôi, ở giữa cồn Bà này, cách bờ sông Hậu đâu có bao xa, chiếc xuồng ba lá chèo chẳng mấy lúc đã tới. Bên kia bờ đó, có loài người của tôi, có đồng bào của tôi, có bà con bè bạn của tôi, và trên hết là gia đình: Cha mẹ, anh chị em, ai cũng thương cũng mong tôi về. Vậy mà tôi không về được. Không có biển sâu sông rộng, trời đất nào ngăn cách tôi về mà bởi tụi công an đó. Công an không phải là Trời, không thể làm Trời. Chúng nó là giặc Trời, là Thiên kiêu. “Thước gươm đã quyết, chẳng dung giặc Trời”. Chẳng ai dung tha chúng nó, bọn giặc Trời. Có ngày chúng nó sẽ bị chặt đầu. Khi đó, tôi sẽ về, tôi về…

Cứ liên miên suy nghĩ như thế, đêm đó, tới ba bốn giờ sáng, tôi mới ngủ thiếp đi…

Cuộc sống nơi cồn Bà thiếu thốn mọi thứ nên tôi phải tạo dựng một cuộc sống “tự cung tự cấp”. Nhờ liên lạc được với gia đình, tôi nhờ mua hột thuốc lá để trồng lấy. Thu hoạch xong, thay vì xắt lá thuốc nhỏ như thuốc rê thì tôi lại vấn như điếu xìgà nhỏ. Rồi tôi trồng ớt, đậu, thậm chí trồng cả chanh. Hễ có hột cây gì tôi đem ương trồng hột đó. Chỗ đất nơi vườn cũ của cha mẹ tôi, tôi lên liếp cao cho khỏi ngập nước rồi trồng đủ thứ, khoai lang, rau muống, bạc hà… Dân nhậu phải trồng bạc hà để nấu canh chua. Tụi bạn tôi thấy hay hay cũng phụ vào trồng với tôi.

Những đêm nhậu, bao giờ cũng vui lúc đầu, vui từ khi nấu nồi canh chua, con cá lóc nướng trui và khi bắt đầu “dô! dô!”

Nhưng đến khi thấm rượu rồi, đứa nào cũng buồn. Người xưa nói “Uống rượu tiêu sầu” là chỉ tiêu khi mới uống mà thôi, còn sau đó thì “sầu dâng chất ngất”. Cũng có đứa hát, ca vọng cổ, ngâm thơ, kể chuyện tiếu lâm… như hồi liên hoan trong lớp vậy. Bây giờ chúng tôi mới thấm thía mấy câu thơ của Vũ Hoàng Chương:

“Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa,

Bị quê hương ruồng bỏ, giống nói khinh.

Đâu có phải quê hương ruồng bỏ chúng tôi nhỉ? Quê hương vẫn chờ đón tôi về đấy chớ!

Một mai, yên “giặc” rồi, tôi về. Cái cửa ngõ nhà tôi sẽ hớn hở đón tôi, những cánh hoa trong sân sẽ nghiêng mình chào tôi, và những con đường nhỏ trong làng chờ tôi về rong chơi lang thang như hồi tôi còn thơ ấu.

Giống nòi nào khinh tôi?! Vì tôi trốn chạy không dám đứng lên chống kẻ thù chung hay sao? Tôi đã trốn đi, còn bao nhiêu người còn lại đó đang sống trong cảnh đọa đày. Vậy mà tôi còn muốn trốn đi xa nữa chứ:

“Biển vô tận sá gì phương hướng nữa,

Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh.

“Thuyền này là thuyền vượt biên.” Thằng Phương nói câu đó xong cười ha hả. Cười xong, nó lại nói tiếp:

“Thuyền ơi thuyền theo gió tới Bidong.

Câu nhại thơ ấy làm cho ai nấy đều cười.

Nhậu xong, khuya về nằm trong căn chòi trống, nỗi buồn thật ghê gớm! Thằng Phương nhậu về ngủ say như chết. Tôi thì ngược lại, say mấy thì say, tôi vẫn không ngủ được. Tôi nằm thao thức, nhớ đủ thứ chuyện về gia đình, học đường, bạn bè, bà con, và lại… buồn.

Chắc là tôi phải đi, đi thật xa, dù phải tới chân trời góc biển nào đi nữa. Tôi phải tìm tới nơi nào tôi được sống tự do, nơi nào tôi đi hiên ngang trên đường mà không lấm lét nhìn trước nhìn sau sợ công an bắt, nơi nào tôi được nói điều mình nghĩ ra mà không ai cấm cản. Nơi đó chắc xa lắm, xa cồn Bà này ngàn trùng diệu vợi, thuyền nào đưa tôi đi, bến nào cho tôi tới, biết có ai đón đợi?

Khuya lắm, hết rượu trong người, nằm giữa bốn bề sông nước mênh mông, nghe tiếng sóng vỗ lao xao vào bờ cỏ, cảm bằng trí tưởng hơi nước bốc lên mịt mù, cả thân xác và cả tâm hồn thấm lạnh biết bao nhiêu!

Vậy mà có đêm trời mưa. Hột mưa đập sầm sập trên mái chòi, tưởng như mái chòi không chống đỡ nỗi, muốn sập. Gió ào ào, thổi tạt mưa làm ướt cả “giường”. Phương và tôi, hai đứa ngồi hai góc, ôm hết mền gối vào mình, trùm quanh người tấm nylon cho đỡ ướt và đỡ lạnh. Cũng may, xứ tôi không có mưa dầm, cơn mưa chỉ kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ thì tạnh.

Chúng tôi lại nằm xuống, đắp mền kín đầu, mặc dù mền chỗ ướt chỗ khô, cũng cố ngủ đi cho qua một đêm nơi cồn hoang này vậy.

Kinh nghiệm sống cho tôi thấy những ngày Tết – tết ta – không buồn bằng những ngày cận tết, mặc dù đối với phong tục ta, tết là ngày gia đình đoàn tụ.

Cuộc sống nơi cồn hoang trầm lắng, yên tĩnh; ngày Tết, ngoài kia cũng lắng đọng để mọi người đón xuân, không có gì thôi thúc lòng tôi lắm, chỉ buồn và nhớ nhà mà thôi. Nhưng những ngày cận Tết, người ta ai ai cũng chuẩn bị, hăm hở đón Tết, người người tới lui, mua bán, chuyện vãn.

Cuộc đời ngoài kia hối hả, nhộn nhịp, náo động biết bao nhiêu! Trời chưa sáng đã nghe tiếng còi xe hơi phía “bắc” Cần Thơ réo gọi inh ỏi. Tôi nghe rất rõ tiếng còi trầm mà hùng dũng của chiếc “bắc”, tiếng còi xe “Pho” vang dội và náo nức, như réo gọi tôi rời bỏ cồn hoang mà trở về với cuộc đời náo nhiệt. Có những buổi sáng tinh sương, trời còn êm, chỉ có chút gió nhẹ thổi, giúp tôi nghe thoang thoảng tiếng cười nói ồn ào của của kẻ mua người bán bên chợ Ninh Kiều vọng sang.

Nằm trong căn chòi vắng lặng bốn bề sông nước, nghe “tiếng đời” xôn xao từ xa vọng lại. Ôi! lòng tôi cô quạnh biết bao nhiêu! Chỉ có ai một mình đứng trên đỉnh núi cao, một mình ngoài biển rộng, một mình trong sa mạc cũng như tôi nơi hoang đảo này mới cảm nhận thấm thía một cách đau xót nỗi cô đơn, nỗi quạnh hiu, xa lìa nhân loại. Tôi khao khát một cách tha thiết và tuyệt vọng nghe được tiếng người cười người nói mỗi ngày, dù ruột thịt bạn bè, hay cả những người không thân quen. Tôi tha thiết muốn nghe được “tiếng đời” rộn rã ở ngoài kia. “Ngoài kia xuân đã bén duyên chưa? Tôi ở trong đây chẳng có mùa?” Chín năm nơi cồn hoang, “xuân chẳng có mùa” Có sống cô đơn như vầy mới cảm thông sâu sắc nỗi hiu quạnh của Hàn Mặc Tử ngày trước khi sống một mình trong căn chòi nhỏ bên bờ biển vắng.

Bên kia bờ sông là “cuộc đời”. – Nơi đó người ta đang nói, đang cười, đang chuyện trò, đi lại. Tôi muốn nghe tiếng họ nói – dù họ không nói với tôi – Tôi muốn nhìn họ cười – dù không cười với tôi – Tôi vẫn khao khát tiếng nói, tiếng cười của họ. Tôi thèm khát cái chất Người, vẻ Người, nét Người, tình Người nơi họ, không phải là sự thèm khát một nét môi, một đường cong giữa hai người khác phái, mà chính là tôi thèm khát đồng loại, thèm khát loài Người. Cho tôi đi giữa chốn đông người, cho tôi đi với mọi người, cho tôi hụp lặn trong tiếng người, trong hơi người, dù là cái hơi thơm tho hay thúi hoắc. Tôi yêu tất cả mọi người, tôi thèm khát tất cả mọi người, dù kẻ sang người hèn, dù giàu có hay nghèo khổ, dù xấu hay đẹp, cao hay thấp, đem hay trắng, già hay trẻ, tất cả đều là của tôi, loài người của tôi vì nơi cồn hoang tôi đang sống này hiu quạnh biết bao nhiêu!

“Chim xa rừng thương cây nhớ cội,

Người xa người tội lắm người ơi!”

Tội nghiệp cho tôi!

Tội nghiệp tôi phải sống xa người!

Loài người ở đó, “tiếng đời”’ ở đó, bên kia bờ sông Hậu, cách tôi có bao xa. Vậy mà tôi không đến được cùng đời, cùng người để hụp lặn trong nỗi hân hoan, cho lòng tôi sung sướng tràn đầy, rằng tôi đã được sống giữa mọi người, cùng mọi người trong cuộc đời bình thường của nhân loại để xua đuổi xa đi những nỗi “cô liêu cũ vạn đời” của Hàn Mặc Tử.

Dù vậy, cuộc sống chúng tôi chẳng có bao giờ yên được với bọn công an. Sau nhiều lần vây bắt không được, chúng tịch thu khu vườn ba mẹ tôi đã khai phái trồng trọt trước năm 75, giao cho bọn bảo vệ một công ty thu hoạch cây trái, với nhiệm vụ hằng ngày đến canh tác đồng thời vây bắt, xua đuổi chúng tôi. Đo đó, chúng tôi phải lùi dần về phía nam cồn Bà, không gian chúng tôi sinh sống hằng ngày bị thu hẹp lại. Để chống lại chúng – chúng tôi chỉ có tay không, bọn chúng thì có súng đạn, chúng tôi ứng dụng ngay bài học “dũng sĩ diệt Mỹ” mà ngày trước Cộng Sản đã dạy chúng tôi ở nhà trường. Chúng tôi làm một cái bẫy sập, khi chúng mắc bẫy thì tổ ong vò vẻ trên cây bần túa ra đánh chúng. Trận ấy chúng tôi thắng vẻ vang. Cả chục thằng vừa công an vừa bảo vệ phải nằm bệnh viện.

Sau trận đó, chúng nó phục thù. Bây giờ chúng không còn bắn chỉ thiên mỗi lần chúng đuổi theo chúng tôi nữa mà bắn thẳng vào người. Phương trúng đạn vào đầu, vào mình, chết tại chỗ. Cái chết của Phương làm rúng động bọn chúng tôi.

Chúng tôi thương tiếc cho số phận của Phương, người thanh niên trẻ trung ấy. Mấy viên đạn ghim vào đầu Phương, mình Phương. Viên đạn nào sẽ ghim vào mình chúng tôi? vào tôi? Cái chết đã cận kề, đã rõ ràng, không còn là sợ hoảng, không mơ hồ về tương lai.

Đời tôi đã cô đơn, nay lại càng cô đơn thêm sau khi Phương qua đời. Trước kia, có Phương, ăn chung, nằm chung, có người để chuyện trò, vui cười, để tỏ bày tâm sự. Nay Phương đã chết rồi, còn ai để hàn huyên, để chia xẻ ngọt bùi!

Và rồi lần lượt chúng tôi bỏ cồn Bà ra đi, đứa lén lút trở về nhà cũ, sống chui rúc như loài chuột sợ bóng người. Và rồi cũng tù tội. – Ở lại đây, rồi cũng… tù tội. Trước sau gì cùng bị bắt, không chừng bị bắn như Phương, chết một cách tức tưởi lạnh lùng. Cũng có đứa đã vượt biên, nhờ một cơ may nào đó. Thằng Phú, thằng Thọ, bạn tôi – ba nó cùng là bạn ba tôi – đã thoát tới Bidong. Câu thơ nhại đọc vui ngày nào “Thuyền ơi thuyền theo gió tới Bidong” đã thành sự thực. Cũng lắm đứa bị bắt và nay đang sống khổ trong trại giam “Cây Gừa” hay nằm tù ở khám lớn Cần Thơ.

Càng lúc bọn công an lùng sục, bao vây cồn Bà kỹ hơn. Chị tôi thường lén lút tiếp tế gạo cho tôi, bị chúng xét bắt được. Ban đầu chúng còn cảnh cáo rồi tha. Thương em, chị tôi vẫn đi. Lần chót, chúng nó giam chị tôi một tuần, và nếu tái phạm, sẽ cho đi cải tạo. Gia đình tôi đã “có vấn đề” rồi. Từ ông nội tôi trở xuống, cha mẹ tôi, anh chị tôi, ai ai cũng “có tội với cách mạng”, kể cả mấy ông anh rể tôi, người thì “nhảy dù”, người “lính thủy đánh bộ.” Khi các anh rể tôi cải tạo ngoài Bắc, các chị tôi và các con bị buộc đi “kinh tế mới”. Cả mấy chị đều bỏ trốn về thành phố, chẳng ai có hộ khẩu. Triệt để hơn, chúng tịch thu nửa căn nhà cha mẹ tôi đang ở làm “trụ sở dân phòng”, mỗi ngày Công an tới lui mấy bận, cho người theo dõi gia đình tôi. Cả gia đình bị “qui thành phần” và trong hoàn cảnh bị theo dõi, kiểm soát như thế nên họ đành bỏ đói tôi nơi cồn hoang.

Một mặt chúng lục soát liên tục cồn Bà, một mặt cắt đường tiếp tế, chúng tôi đành tan rã, mỗi đứa lưu lạc một nơi, mặc dù trong lòng vẫn luyến lưu cuộc sống nơi hoang dã, dù khổ cực nhưng có nhau, những người cùng cảnh ngộ chạy trốn như nhau.

Tôi nhờ mua một chiếc xuồng ba lá, bỏ lên đó mấy bộ quần áo cũ rách. Cái chén, đôi đũa, cái nồi, v.v… dĩ nhiên không phải để trở về với gia đình, với loài người tôi yêu mến, mà lại bắt đầu một cuộc đời sông nước nổi trôi khác nữa, hết cồn nọ, đến rừng kia, qua những sông rạch lớn nhỏ, đến đâu kiếm ăn ở đó bằng cách giăng câu, đặt lợp, lấy cá, lươn đánh bắt được để đổi gạo ở những xóm dân xa xôi hẻo lánh nghèo nàn mà công an không mấy khi đặt chân tới.

Rồi một ngày kia, tôi lưu lạc về tới mũi Cà-Mau, nhờ may mắn, tôi rời Việt Nam…

&

Người thanh niên kể xong câu chuyện anh ta đã lâu mà tôi vẫn ngồi im. Tay tôi còn nắm tờ giấy thông báo kết quả thanh lọc của anh do chính quyền Mã Lai ký và Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc trao lại.
Anh bị từ chối, không được xác nhận là người tỵ nạn chính trị. Trí óc tôi trống rỗng một cách kỳ lạ. Tôi không suy nghĩ hay tôi chẳng còn gì để suy nghĩ trước sự ngán ngẫm về cung cách đối xử với nhau giữa con người và con người.
Cộng sản là tàn ác, bất nhân, đã đành; nhưng giữa những con người văn minh, với cơ quan Liên Hiệp Quốc được gọi là nhân đạo, để cứu giúp những người bất hạnh, đã đối xử với anh ta như vậy sao?!
Cuộc đời khốn khổ của anh ở quê nhà là vậy đó, dài 9 năm. Đâu có riêng gì anh ta là nạn nhân của chế độ mà cả gia đình anh, từ ông nội bị giết, đến cha mẹ bị đuổi, bị tích thu tài sản, đến những người bị cải tạo, bị buộc đi kinh tế mới, mọi thứ quyền lợi căn bản của con người được xác nhận trong cái gọi là bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đều bị vi phạm hết và cả đến anh ta, với 9 năm chạy trốn, ai là người trong gia đình anh không phải là nạn nhân của chế độ độc tài đó?! Vậy thì mở trại đón người tỵ nạn là vì nhân đạo hay chỉ là một đòn chính trị đánh vào kẻ thù mà dân tộc Viêt Nam khốn khổ này, sau 30 năm huynh đệ tương tàn bằng súng đạn từ ngoài đem vào, nay lại bị lừa đẩy vào một mê hồn trận khác bằng những trại tỵ nạn mở ra khắp vùng Đông Nam Á?!

Tuổi trẻ Việt Nam, hết bị phỉnh lừa đẩy vào vòng chém giết, lại hoang phí một cách oan uổng vào những việc vô bổ. Chín năm chạy trốn, cọng với bốn năm trong trại tỵ nạn, 13 năm của cuộc đời anh trôi qua một cách hoang phí. Phải chi đất nước thanh bình, 13 năm tuổi trẻ đó, anh ta đã có ích cho đời, giúp cho đời, cho đất nước biết bao nhiêu! Giờ đây, rõ ràng anh ta không thể trở về, và mai kia có bị cưỡng bách hồi hương đi nữa thì đời anh chắc chắn không có tương lai sáng sủa nào đón đợi.

Tuổi thanh xuân của người Việt chúng ta hết mất dần đi trong chiến tranh vì súng đạn thì nay lại mòn mỏi trong các trại cải tạo, các trại tỵ nạn như vậy đấy. Trại tỵ nạn này là nơi mà anh ta sẽ phải trải qua không biết bao nhiêu năm nữa, trước khi có được một cuộc sống bình thường.
Ngoài kia, qua khung cửa sổ là một khung trời nhỏ có một nét mây mỏng vắt ngang qua, trông giống như một bức tranh màu nước. Thời gian êm đềm trôi trong bóng chiều lặng lẽ. Tôi quay đầu nhìn anh ta đang thẩn thờ đưa mắt vào cõi xa xăm. Một lúc sau, tôi quay lại nhìn qua cửa sổ thì trời chiều đã chuyển sang màu tím than rồi dần đen thẩm lại. Tôi mãi mê dõi theo màu trời chuyển sắc mà trong lòng cảm thấy buồn bã lạ lùng nên chẳng nói với anh ta một lời nào, dù chỉ là một lời an ủi.
&
Ngày anh ta tiễn tôi rời trại đi định cư, tôi vỗ vào vai anh, nói một cách gượng gạo: “Thôi, ở lại, hãy cố gắng và tin tưởng”.
Nói xong, tôi cũng không hiểu tôi khuyên anh ta tin tưởng vào cái gì? Tin tưởng vào lẽ công bằng và nhân ái của loài người mà anh ta tha thiết yêu mến đó chăng? Không chắc điều đó đã có qua những tổ chức nhân đạo như ở đây, hoặc lòng nhân ái đó đã thấm đen lại như bầu trời nơi khung cửa sổ nhà anh mà tôi đã mãi mê buồn bã dõi theo trong buổi chiều tôi đến thăm, để nghe anh kể một quãng đời bi thảm trên hòn đảo hoang giữa sông Hậu.
Khốn khổ thay, chàng Lỗ Bình Sơn của thời đại chúng ta, vẫn hoàn toàn cô đơn khi trở về giữa cuộc sống loài người.


hoànglonghải

(Viết tại Barre, Mass, tháng 6/1993. Sự kiện có thật, chi tiết do tác giả hư cấu, để tặng Dương Hùng và Phạm thị Minh Ngọc, trại tỵ nạn Sungei Bishi, Mã Lai, sau khi tôi đã rời xa trại tỵ nạn rồi mà lòng tôi còn lại đó)

Hẹ nước!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 15 Dec 2023

Muốn ăn mắm kho chỉ cần nửa ký lô mắm sặc, cho vô nồi nấu với hai lít nước lã để thịt con mắm rã ra. Lấy cái rây lược bỏ hết xương cá, nêm thêm bột ngọt, muối, đường, gốc sả đập hơi dập để tinh dầu xả tiết ra, rồi cột lại thành một nắm.
Chờ nồi mắm sôi lên, cà tím cắt khúc dài chừng ba, bốn phân, chẻ đứng, thả vài khứa cá ba sa vào. Cá ba sa là nhứt hạng, ăn mới đã. Không có con cá nào, kể cả cá lóc, cá ngát đua lại với cá ba sa trong nồi mắm kho nầy đâu! Thêm vài lát thịt ba rọi xắt nhỏ. Nhắc nồi xuống rưới nước mỡ tỏi phi lên mặt.
Nồi mắm kho bốc khói thơm phức, quyết liệt tấn công vào khứu giác; ai mà không ứa nước miếng cho được chớ?
Mùa gió chướng, sa mưa giông, người ‘ơn ớn’ lạnh; khỏi cần ‘aspirin’, chỉ cần ‘em yêu’ chơi cho một nồi mắm kho là giải cảm.

Ông bà mình đã dạy: “Đói ăn rau! Đau uống thuốc!”
Rau ăn với món mắm kho là các vị thuốc Nam, rau cỏ miền Tây, do ông Trời hào phóng ban cho như: bông bí rợ, bông điên điển, bông lục bình, bông so đũa; đọt bầu, đọt bí đao, đọt bí rợ, đọt mướp; lá chùm ruột, lá lốt, lá vông nem; rau càng cua, rau đắng, rau dền, rau diệu, rau dừa, rau má, rau mát, rau muống chẻ, rau ngổ, rau nhút, và cải trời; có đầy dẫy trong vườn hay ngoài ruộng.
Mỗi loại rau có cái vị khác nhau; đăng đắng, chát chát, chua chua hòa quyện với nước mắm kho đâu phải đâu cũng có; kể cả nước Úc nầy đây, cho dù đứa nào giàu nứt đố đổ vách, rủng rỉnh xu hào muốn mua cũng làm gì mà có!
Nhiều loại rau như vậy nhưng khi ăn mắm kho có ít nhứt ba loại không thể nào thiếu cho được! Đó là rau ngổ, cọng bông súng và hẹ ruộng (hẹ nước).
Rau ngổ mọc dưới ao, ruộng, đìa, láng ngập xăm xắp nước ở Miền Tây mới có. Thân rỗng giống rau muống, lá nhỏ và dài giống lá rau răm nhưng có răng cưa xung quanh. Vị đắng nhẫn nhẫn, dai dai giòn giòn Khi ăn chỉ lấy phần cọng rau, tuốt bỏ hết lá đi.
Ca dao cũng có câu: “Muốn ăn bông súng mắm kho. Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm!” Mắm kho không thể nào thiếu cọng bông súng cho được.
Cọng bông súng khi tước vỏ rất giòn dễ gãy, dùng dao tước mỏng, rồi chỉ cần bẻ thành từng khúc.
Nhưng tại sao rau ngổ và cọng bông súng chan với nước mắm kho lại ngon? Tui cho rằng do những khoảng không trong cọng bông súng, rau ngỗ, rau nhút, cà tím hút nước mắm kho vào rồi hòa quyện với nhau. Chớ không phải mắm đi đằng mắm; rau đi đằng rau đâu.
Cái anh hẹ nước nầy cũng vậy! Hẹ nước lá mỏng, có gân trắng chính giữa mỏng, mềm, xanh nhàn nhạt như lá sả, xốp và giòn. Chính vì xốp do có nhiều khoàng không để thấm thấu nước mắm kho vào.
Do đó, ông bà mình ăn món gì phải đi với rau gì mới đặng là một kinh nghiệm ăn uống hay hết biết, tích lũy từ mấy trăm năm khẩn hoang ở miền Nam chớ hổng phải chuyện một ngày một buỗi. (Xin đừng có mà giỡn mặt!)

Mùa nắng ruộng khô rang, nứt nẻ, không có cây cỏ gì sống được. Vậy mà mùa nước nổi từ tháng Bảy tới tháng Mười âm lịch không cần gieo, không cần trồng gì hết, như lúa ma trên đồng nước nổi tới đâu là hẹ nước nó đua tới đó.
Ruộng hẹ thường nước rất trong nên bà con mình phải đi theo lối, nhổ hết chỗ này mới đến chỗ khác để tránh làm đục nước không thấy hẹ. Bụi hẹ mềm, rễ chùm ngắn bám vào đất bùn nên nhổ cũng dễ. Thông thường, khi nhổ từ đầu đến cuối ruộng thì hẹ mới cũng đã mọc lên thay thế.
Ruộng đồng bưng nước càng sâu, lá hẹ càng dài, màu lá càng xanh nhạt, trong sáng, bề rộng lá lớn khoảng một phân. Ruộng nước thấp lá hẹ ngắn và màu sậm hơn, lá cũng dày hơn, bề rộng lá nhỏ hơn. Hẹ ở ruộng thì xốp, giòn và thơm hơn là hẹ mọc ở đáy mương.
Lội xuống ruộng sâu, trầm mình dưới nước, thò tay tìm cái gốc hẹ mà lắc lắc vài cái cho đất nhão ra rồi nhổ lên cả bụi lẫn gốc rễ. Nhổ về, ngâm trong thau nước khoảng một giờ đồng hồ để rửa phèn và sình. Xong xếp ngay ngắn đầu theo đầu, đuôi theo đuôi trong cái rổ lớn cho ráo nước. Lấy kéo cắt bỏ phần rễ đi, cuộn nó lại cỡ ngón chưn cái.

Hẹ nước được bà con mình ăn sống chấm nước cá kho, thịt kho nhưng ngon nhất là chấm mắm kho. Chấm với mắm kho, rồi bỏ vô miệng nhai rau ráu, vừa giòn tan, vừa mềm, vừa ngọt, vừa mát lạnh trong cổ họng, thiệt không có thứ rau nào có thể chiếm được ngôi bá chủ võ lâm trong các giống rau dùng ăn lẩu mắm.
Bưng chén đầy rau và hẹ ruộng không cần thêm bún mà chi, gắp thêm miếng cá ba sa chấm muối hột và ớt sừng trâu giả cho dập dập mới đặng. Ngon nhứt, mồi bắt nhứt là phần ức có mỡ hoặc thịt hai bên má của cái đầu cá ba sa. Gắp vài miếng thịt ba rọi, miếng cà tím, múc mắm kho chan ngập vào, thêm một lát ớt sừng trâu chín đỏ xắt miếng xéo xéo (cho miếng ớt được lớn).
Xong kính cẩn bưng chén lên lua vô họng, nhai rau ráu. Bên cạnh có ca nước mưa còn có tiền thì chơi một chai la de con cọp của ‘BGI’ để giải khát vì dẫu sao mắm kho cũng còn hơi mằn mặn làm mình khát nước!

Ở Mỹ Tho có cái địa danh ‘Chợ Bưng’! (quê của bà Ngoại tui). Hồi xưa tui cứ tưởng bà con mình đi chợ nầy mua gánh, bán bưng không hè; sau ngẫm lại không phải. Chợ Bưng là chợ của đồng Bưng; nơi đất nhiễm phèn nên có rất nhiều hẹ nước. Không có bán hẹ nước ngoài Chợ Bưng vì một lẽ muốn ăn với mắm kho thì cứ ra ruộng mà nhổ về ăn, ngu sao mà mua hè?
Tháng Bảy tới tháng Mười âm lịch hằng năm vào mùa nước nổi. Vùng trũng Đồng Tháp Mười, nơi giáp ranh biên giới Campuchia, do mưa kéo dài nên nhiều sông ngòi, kinh rạch, đồng đất đã có nước về. Dẫu nước chưa nhảy lên bờ nhưng cũng bắt đầu lé đé và đó cũng là lúc những đám hẹ nước không biết từ đâu ngoi lên giữa mênh mông đồng nước.
Tuy nhiên có không ít dân Sài Gòn hay ngay cả người miền Tây vẫn chưa biết tới loại hẹ nước độc đáo nầy. Như miệt Cần Thơ, mấy em mình nói với tui rằng sao em hổng thấy hẹ nước đó anh hai? Tại sao vậy? Chẳng qua thằng Tây nó ác lắm (He he) cho xáng cạp, xáng múc đào kinh dẩn nước rửa phèn; rồi phù sa sông Hậu bồi lắp bưng biền ngày một chút thành đồng bằng, thành đất thuộc để bà con mình lên liếp lập vườn hết ráo. Mà hẹ nước chỉ khoái mọc hoang trong bưng biền còn nhiễm phèn vào mùa nước nổi; nên miệt vườn Cần Thơ làm sao có nó cho em thấy, em ăn?

Suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam đã từng nhiều lần mất nước. Nhưng tập đoàn thống trị ‘cà chớn’ phương Bắc có bao giờ thành công trong việc đồng hóa dân ta đâu?
Sức sống của dân tộc chúng ta giống y chang như sức sống của loài hẹ nước là vô cùng bền bỉ lớn lên và tồn tại suốt cuộc đời trong nước. Hẹ nước cũng như đất nước mình không phải của riêng ai hết ráo mà là chung của chúng ta.
Cây hẹ khi nước cạn chúng lụi tàn, chỉ còn chút củ chìm trong đất. Khi mùa nước nổi về, đất biến thành bùn nhão, cộng thêm nước khiến củ nó bung ra, mọc thành cây.
Cũng giống như thân phận của bà con mình mất nước là héo rũ đi. Tưởng là chết ráo nhưng không, nó chìm, chìm xuống nhưng vẫn tiếp tục tồn sinh để chờ thời cơ đến. Chỉ cần có nước là nó lại đâm chồi, lại mọc.
Tui tin chắc như bắp vào tương lai của dân tộc mình. “Tao không chết đâu bây! Chỉ cần có nước về, là như loài hẹ ruộng tao sẽ sanh sôi nẩy nở! Không gì mà cản cho được!”

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.