Nạn nhân buổi giao thời

Pearl S. Buck

bản Việt ngữ: Nguyên Hùng

Post by Sơn râu 17 Dec 2023

Pearl S. Buck sinh năm 1892 tại Hillsbora (tiểu bang Virginie – Hoa Kỳ). Bà đã theo song thân sang truyền giáo tại Trung Hoa khi mới chào đời được ba tháng. Pearl S. Buck trưởng thành tại đây và học tiếng Trung Hoa trước khi học tiếng mẹ đẻ.

Sau đó, Pearl S. Buck về Hoa Kỳ để tiếp tục sự học cho tới khi thành tài và lại sang Trung Hoa sõng với song thân.

Năm 1917, bà kết hôn với một nhà truyền giáo Hoa Kỳ – John Buk – và theo ông lên vùng Hoa Bắc cư ngụ trong năm năm.

Cuộc Cách Mạng Trung Hoa buộc Pearl S. Buck phải rời vùng đất này và bà đã ly dị chồng vì cuộc hôn nhân không đem lại hạnh phúc.

Năm 1933, Pearl S. Buck cho xuất bản tác phẩm đầu tay viết về Trung Hoa: Gió Đông, Gió Tây.

Năm 1932, giải Politzer được trao cho cuốn Đất Lành của Pearl S. Buch (xuất bản năm 1931). Sau đó hai tác phẩm được xuất bản kế tiếp: Những người con trai Vương Long (1932) và Gia đình ly tán (1935).

Pearl S. Buck được giải thưởng Nobel năm 1938, bà đã dành phần lớn thời gian để sáng tác cuốn Nhà của lũ trẻ.

Văn nghiệp của Pearl S. Buck có khoảng 40 tác phẩm.

Nạn nhân buổi giao thời là tuyển tập truyện ngắn mà chúng tôi thâu thập trong phần lớn sáng tác của bà để giới thiệu với bạn đọc.

Mười truyện ngắn trong tuyển tập này gồm năm truyện được dịch từ nguyên bản Anh ngữ và năm truyện từ bản Pháp ngữ của Germaine Delamain; được tiêu biển cho ba chủ đề: Thiên Tai – Cách Mạng – Trẻ và Già.

GIÓ

Bà mẹ xưa

Bà mẹ già ngồi vào bàn ăn với người con trai, con dâu và hai đứa cháu nội.

Bữa ăn trưa đã được chị bếp dọn. Bà mẹ ngồi yên, hai bàn tay đặt lên đùi, nhìn từng món một khi chị bếp đặt lên mặt bàn, bà cố gắng giữ vẻ thản nhiên, không nói năng gì khi thấy một món ăn bà thích nhất. Bà biết người ta không nấu nướng món ăn đó cho bà, mà đó chỉ là một chuyện tình cờ; con trai và con dâu bà thường bảo bà là họ không thể ăn được các món ăn mà bà thích vì đó là những món ăn quê mùa. Cho nên có món đậu nấu tiêu hôm nay không phải là vì bà thích món này.

Khi nhìn dĩa ăn mình thích, nước miếng tự nhiên trào ra. Bà cụ rất đói. Bà muốn cầm đũa gắp món đó cho vào chén cơm người bếp đặt trước mặt bà. Nhưng người ta đã bảo bà không được làm thế.

Phải, trong bốn năm sống với con trai và con dâu bà đã học được nhiều việc. Cho nên bà chờ đợi một cách kiên nhẫn cho đến khi con dâu chánh thức mời khi bữa ăn dọn xong:

– Mời mẹ cầm đũa.

Tuy nhiên khi con dâu đưa các món ăn cho bà mẹ gắp, nàng cố cho thấy là mỗi dĩa đều có những đôi đũa riêng, và nàng sẵn sàng để nhắc nhở bà mẹ chồng nếu bà cụ thọc đôi đũa của bà vào các tô, các dĩa thức ăn.

Thoạt tiên bà cụ lúng túng về việc dùng đũa riêng để gắp. Nhưng về sau bà cũng quen đi. Dù vậy bà vẫn thắc mắc vì suốt cuộc đời con gái rồi đến làm vợ nhà nông; bà không hề bị ai chê cười khi dùng đũa của mình gắp các thức ăn. Chỉ có con trai và con dâu của bà là hai người đã nghĩ và làm khác hơn người ta. Cả hai đều du học ở ngoại quốc về, có lẽ dân chúng ở những xứ đó còn lạc hậu, còn ăn dơ ở dấy cho nên những con trai và con dâu của bà la hoảng lên ngày mới về khi chúng thấy bà cẩn thận liếm đôi đũa thật sạch trước khi thọc vào dĩa thức ăn để gắp.

Ban đầu khi nghe la, bà mẹ nhìn lên một cách ngơ ngác, đôi đũa còn đưa ra phía trước, ngay trên đĩa thức ăn. Bà hỏi:

– Cái gì vậy?

Bà cụ tưởng là có một vật gì trong dĩa đó, chẳng hạn như một sợi tóc hay một cây tăm.

Nhưng con trai bà kêu lên:

– Mẹ phải dùng đũa công cộng để gắp. Mẹ không thọc đũa riêng của mẹ, đôi đũa mà mẹ đã ngậm trong miệng.

Bà mẹ bất bình lắm, nói với vẻ giận dỗi:

– Con sợ mẹ mắc bệnh truyền nhiễm hay sao chớ?

Khi con và dâu cố giải thích cho bà biết là có những con sâu thật nhỏ, nhỏ đến mẳt thường không thể trông thấy, nhưng có thể đi từ người này qua người khác, mang theo các chứng bịnh, bà mẹ ngồi cứng ngắc, hoang mang, bán tin bán nghi. Bà lẩm bẩm:

– Mẹ không tin là mẹ có những thứ đó, mẹ không hề thấy sâu trong mình mẹ bao giờ.

Con và dâu lại cố giải thích thêm:

– Vi trùng nhỏ lắm, làm sao thấy được!

Bà mẹ liền kêu lên:

– Nếu vậy làm sao hai con biết là mẹ có những con vật đó?

Bà mẹ nghĩ là mình đã thắng nhưng cậu con trai nói với giọng cương quyết như cậu là trưởng gia đình:

– Thôi không phải nói thêm về vấn đề đó nữa! Con không muốn có những lối ăn uống dơ bẩn như thế trong nhà này.

Bà mẹ già xót xa lắm. Bà ngồi im lặng và chỉ ăn cơm lạt, không thò đũa gắp các món ăn, mặc dầu bà thấy thèm thịt cá, rau cải.

Nhờ trời bà ăn được và khi về già, sở thích độc nhứt của bà là hai bữa cơm. Dù vậy, bà cũng phải tuân theo lệnh con.

Có lần bà đã bị con dâu làm dữ, cững vì chuyện ăn uống. Chị bếp mang lên bàn ăn một tô súp dưa hường, một món ăn mà bà mẹ ưa thích. Vừa trông thấy là bà vui mừng hớn hở.

Bà quên giữ ý nên thọc muỗng sành vào húp một cách thích thú. Bà vừa thọc muỗng lẫn nữa thì con dâu đứng lên, bưng tô canh đi ngay lại cửa sổ đổ hắt ra ngoài sân. Vậy là mất toi đi tô canh ngon.

Bà me kêu lên:

– Coi, tại sao làm kỳ vậy?

Tức thì con dâu bĩu môi, đỏng đảnh:

– Chúng tôi không thể ăn đồ thừa!

Bà mẹ giận lắm. Lúc ấy bà còn đủ can đảm để nổi giận. Bà kêu lên:

– Tao không bỏ thuốc độc vào đó đâu mà bây sợ!

Nhưng con dâu tàn nhẫn:

– Cả đời mẹ không hề dùng tăm xỉa răng!

Bà mẹ đáp:

– Tao xúc miệng mỗi ngày ba lần, sáng sớm khi thức dậy và hai lần sau hai bữa cơm. Như vậy chưa đủ sao? Cả đời tao chưa nghe ai chê…

Bây giờ người con trai mới xen vào, giọng trịch thượng:

– Mẹ đừng nói về đời của mẹ! Nó xưa rồi! Ngày nay, phải đổi mới hết tất cả để người ta không còn cho đất nước này dã man nữa.

Bà mẹ không hiểu về lời lẽ của cậu con trai.

Ban đầu, khi nghe con nói, bà cụ cười khì. Bà nghĩ là con bà nghe người ta nói rồi bắt chước nói theo chứ không hiểu ý nghĩa của câu đó. Nhưng bà thấy vẻ mặt lạnh lùng và nghiêm nghị của con khi bà cười, và sự tôn kính mà khách khứa dành cho con bà, bà mẹ nín cười ngay. Thật ra thì khó cười một mình trước gương mặt nghiêm nghị của những kẻ khác.

Thế rồi về sau bà mẹ học được nhiều điều, chẳng hạn như ăn uống một cách lặng lẽ và chờ đợi người ta đem cơm và thức ăn đến cho mình.

Sau khi ăn xong chén cơm, bà lặng lẽ đứng lên đi về phòng. Nhưng đến trước cửa phòng, bà đứng lại. Thật ra thì bà hãy còn đói. Là nông dân, bà thường ăn ít nhứt là ba chén cơm. Bây giờ chỉ ăn có mỗi một chén, bà thấy lưng lửng và không đủ sức. Ở quê, người ta ăn chén to, loại chén sành. Còn bây giờ con bà dùng chén kiểu, loại nhỏ mà dân ở chợ thích dùng. Cho nên bà hãy còn đói. Nhưng bà không dám ăn thật no vì bà sợ con trai của bà nửa đùa nửa thật:

– Mẹ ăn sao giống nhà nông quá! Con chưa thấy một mệnh phụ nào ăn như mẹ. Mà mẹ có làm công lên việc xuống gì mà ăn nhiều thế.

Đó là cậu con nói đùa, bà mẹ biết rõ điều đó. Bà biết nó không tiếc gì với bà. Bởi vì tiền lương dạy học của con bà mỗi tháng nhiều bằng cha mẹ cậu cày cấy trong một năm.

Không, con bà không tiếc gì với bà. Nó chỉ xấu hổ vì bà thôi, khi con bà mời khách tới nhà ăn tiệc, chúng luôn luôn nói khéo để bà ăn riêng một mình trong phòng bà. Dù vậy, ít ra bà cũng ăn uống được tự do hơn.

Còn bây giờ đây, bà hãy còn đói. Bà âm thầm trở ra, vòng cửa sau, đi ngang qua sân gạch, xuống nhà bếp.

Bà mỉm cười với đám bồi bếp rồi lấy một chén xúc đầy cơm trong nồi gần đấy. Bà đến bên bàn, nơi thức ăn dành cho bồi bếp. Dĩa đậu nấu với tiêu hãy còn đó. Nhưng bà không dám động tới vì hãy còn ít, và đám bồi bếp không muốn bà ăn bớt khẩu phần của họ. Bà đành lấy một ít cải bẳp xào vì thứ này còn dư nhiều.

Rồi bà trở về phòng, không dám ngó đám bồi bếp và sợ đụng đầu con trai hay con dâu. Về đám bồi bếp, bà biết là chúng không muốn bà động đến phần ăn của họ, nhưng chúng thương hại bà cho nên dễ dãi với bà. Mặc dầu thích chế nhạo bà, chúng vẫn ngấm ngầm binh bà trước thái độ xấc láo của bà chủ.

Về phòng, bà nhẹ rón rén đóng cửa gài then lại rồi ngồi xuống ăn ngon lành. Bà ăn ngấu nghiến đến hột cuối cùng và đứng lên, cẩn thận lau chén đũa ngay trong phòng để tránh cho bồi bếp khỏi nhọc mệt thêm.

Ăn hết chén cơm, bà đến một tủ nhỏ bằng thiếc đặt trên bàn, mở lấy một ít cơm nguội mà bà để dành từ hôm qua. Bà ăn nốt nắm cơm đó, nhai thật kỹ. Bà có thói quen cất những thức ăn mà bà có thể lấy được vào trong tủ thiếc đề phòng khi đói giữa hai bữa ăn.

Ăn xong, bà ngồi lấy móc tai xỉa răng.

Một lúc sau, bà đứng lên, mở cửa nhìn ra ngoài. Bà muốn gặp hai đứa cháu nội. Bà không dám gọi chúng trước mặt con dâu vì con dâu không muốn cho chúng vào phòng bà nội chúng. Khi bà cụ phàn nàn thì con dâu nói:

– Mẹ không bao giờ mở cửa sổ. Phòng mẹ kín mít, không khí trong phòng không tốt cho mấy đứa nhỏ. Mẹ lại giữ áo quần cũ kỹ, ẩm nước. Chuột bọ đầy phòng vì mẹ có tật tích trữ đồ ăn.

Bà mẹ già nói:

– Quần áo đó là vết tích của ba xấp nhỏ. Lại nữa, quần áo đó hãy còn tốt, không nỡ vứt đi. Quần áo cũng như thức ăn, không nỡ vứt đi. Nếu con mà già như mẹ thì con sẽ biết cái nghèo tới bất thình lình, mình không thể ngờ được.

Nhưng con dâu cười lạt, nụ cười lạnh như tiền. Và mỗi khi thấy hai đứa bé mò đến phòng bà nội chúng thì nàng dâu ra lịnh cho chị vú đến bắt đi.

Cho nên bà cụ phải mở cánh cửa và chờ đợi hai đứa cháu nội lén lút tới chơi với bà. Mà hai đứa bé dễ thương, hấp dẫn làm sao! Chúng nó mập và thơm lạ lùng. Bà cụ thích chúi mũi vào cổ chúng khiến chúng nhột và cười ré lên. Khi con dâu sanh hai đứa bé ra, bà cụ lấy làm vui sướng. Bà yêu trẻ con. Mặc dầu thửa trước bà lấy chồng nghèo, làm không đủ ăn, nhưng lúc nào bà cũng mở rộng hai tay đón tiếp tất cả trẻ con tới nhà bà. Bà nuôi hết tất cả những đứa trẻ em nhà nghèo đến tá túc, trừ một năm thất mùa, nhà không đủ ăn, bà mẹ chồng phải ra lịnh cho bà không được nuôi các trẻ em nghèo. Năm ấy có rất nhiều người chết vì nạn đói.

Trong ba người con của bà, người con trai bà đang sống chung là người con duy nhứt còn lại. Người con trưởng nam chết vì bệnh thiên thời cách đây tám năm.

Người con thứ ba là một cô gái lấy chồng nghèo ở trong làng và không chắc thằng rể chịu rước bà về ở chung trong nhà.

Do đó, bà cụ chỉ còn có một người con trai duy nhứt. Nhưng bù lại, người con trai đó được bà và chồng bà xem là đứa con đẹp nhứt nhà.

Ngay từ lúc còn bé, nó đã tỏ ra khéo léo và cứng đầu hơn hết. Hai vợ chồng bà thường bảo nhau là phải cho đứa bé học đến nơi đến chốn để nó trở nên nhà thông thái.

Khi cậu bé lên mười, cha cậu đưa cậu đến trường của người ngoại quốc ở gần làng cho cậu ăn học. Cậu bé học tại đó trong mười năm. Vì trường dạy giỏi và học phí nhẹ nên hai vợ chồng cứ để cậu bé học ở đó, không quan tâm đến việc cậu bé phải theo học một tôn giáo của người ngoại quốc. Nhà trường chu cấp tất cả cho học sinh.

Vào dịp Tết và mấy tháng hè, cậu bé về nhà nghỉ ngơi. Nhưng chỉ một vài năm đầu thôi, còn về sau, cậu không về nhà nữa vì cậu trở nên người kẻ chợ, không thích về nhà quê.

Thế rồi người ngoại quốc lại nhét vào đầu cậu bé ý nghĩ đi ra hải ngoại để tiếp tục học hành. Họ còn giúp cậu một số tiền, nhưng số tiền đó hãy còn chưa đủ. Bà cụ nhớ ngày cậu bé về nhà một cách bất ngờ, cậu ra ngay ngoài đồng giữa lúc hai vợ chồng bà đang cấy mạ, cậu bảo:

– Mẹ ơi, con sắp đi ra nước ngoài để học thêm. Nhà trường cho con một ít tiền, nhưng không đủ. Con muốn xin mẹ và cha giúp thêm cho đủ tiền học. Sau này, cha mẹ già yếu, con sẽ lo cho cha mẹ đầy đủ. Cha mẹ khỏi phải lo ngại.

Ban đầu hai vợ chồng bà hết sức ngạc nhiên về câu chuyện đi học ở nước ngoài. Nhưng sau khi bàn luận với nhiều người trong làng, hai vợ chồng bà nghe người ta bảo: “Có nhiều người đi học ở ngoại quốc và khi trở về, họ lãnh lương rất cao. Nếu hai ông bà cho nó đi học ở nước người, sau nay hai ông bà không phải làm lụng khi về già”.

Hai vợ chồng nghe hữu lý liền đồng ý để cho con đi ngoại quõc. Hơn nữa, lúc đó con trai lớn bà hãy còn sống và có một cửa hàng ở tỉnh. Công việc buôn bán cũng khá, đủ sức nuôi tiểu gia đình của nó.

Hai vợ chồng cho cậu bé xuất ngoại, và cũng không tìm cho cậu một cô gái xứng đáng, để hứa hôn trước khi cậu đi như tục lệ bấy giờ. Bởi cậu bé đó có vẻ trí thức và bướng bỉnh, còn hai vợ chồng bà thì quê mùa, ngu dốt, không đủ sức để thuyết phục đứa con hay chữ.

Thế rồi người con của bà đã tự do kết hôn theo kiểu người dân ở chợ, không cần hỏi qua ý kiến cha mẹ. Cậu đã lập gia đình trong khi du học ở ngoại quốc. Đó là một người đàn bà trắng xanh, kiểu cách, chịu khó trải thảm trên gạch treo màn nơi cửa sổ, tắm con mỗi ngày làm như chúng nó dơ bẩn ghê gớm lắm vậy!

Hai năm trước khi cậu quý tử về, chồng bà mất. Một người vậm vỡ như chồng bà chết một cách bất ngờ vào một mùa đông lạnh lẽo. Ông than đau nhức ở ngực và trước khi bà gọi y sĩ tới thì ông chết. Bà phải lo an táng ông, nào quan tài, tang lễ, đủ mọi chi phí. Bà phải bán một ít đất vì tất cả tiền dành dụm được phải gởi ra ngoại quốc cho con ăn học.

Khi chồng nằm xuống, bà mẹ trơ trọi một mình, không đủ sức canh tác tất cả đất đai cho nên bà bán lần hồi. Bà kéo về cho ông một áo quan tốt và điều bà hài lòng là mua cho ông một áo mới màu xanh để mặc trước khi tẩm liệm. Chiếc áo đó đẹp hơn tất cả những chiếc áo mà chồng bả đã mặc lúc còn sống.

Mùa thu năm ấy, con trưởng nam bà mất. Vì không có con nên con dâu của bà trở về nhà cha mẹ ruột. Bà cụ chỉ còn có mỗi một đứa con duy nhất. Và khi nó viết thơ về xin thêm tiền, bà bán miếng đất cuối cùng đem tiền đưa cho người ngoại quốc nhờ họ gởi cho con bà.

Có một lần người láng giềng bảo bà cụ:

– Lẽ ra thì bà không nên bán đất vì dù cho con ruột đi nữa, chúng nó sẽ không thương một bà mẹ trắng tay.

Nhưng bà cụ không sờn lòng, bà nói:

– Con tôi là quý tử. Tôi không lo nó đối xử xấu với tôi. Hơn nữa đất này là của nó. Nó đang cần tiền thì tôi bán đất gởi tiền cho nó. Riêng về tôi thì tôi không lo. Bởi vì nó có hứa là sẽ săn sóc bảo bọc cho tôi không thiếu món gì. Chắc chắn là tôi phải có chỗ ở trong nhà của nó.

Vừa nói bà vừa cười vui vẻ vì lúc nào bà cũng tin tưởng nơi lòng hiếu thảo của con bà.

Nhưng bây giờ thì bà thở dài khi nghĩ đến những lời nói ngày xưa của bà. Bây giờ bà đang ở trong nhà con của bà. Ngôi nhà thật đẹp. Khách khứa đến chơi đều khen ngôi nhà cất theo lối ngoại quốc, đẹp ơi là đẹp. Nhà có lầu, và từ dưới lên trên có một thang lầu, nhưng con và dâu để bà ở từng dưới vì bà không đủ sức lên thang lầu, và nếu bà có rán trèo lên đó thì khi trở xuống phải có người dìu bà.

Những khi chúng không muốn ở chung với bà thì vợ chồng con cái rút lên lầu, bỏ bà ở từng dưới một mình.

Bà rất hiểu con trai và con dâu bà. Chúng ngỡ bà già cả, lẩm cẩm không đủ thông minh để hiểu tâm địa của chúng, nhưng mà bà hãy còn sáng suốt để hiểu biết những gì sâu kín nhứt trong lòng chúng.

Bỗng hai đứa nhỏ bước ngang phòng bà cụ. Hai đứa bé vừa thức dậy, mát mẻ, hồng hào. Bà thấy chúng ngồi trên sàn gạch, đùa nghịch với món đồ chơi. Cả hai đều là con gái.

Khi đứa bé thứ hai mới sanh, bà cụ nói với người con:

– Phải được con trai thì hay quá!

Nhưng người con xẵng giọng:

– Chúng con không nghĩ như mẹ. Đời bây giờ con trai con gái cũng y như nhau!

Bà mẹ cười lặng lẽ một mình khi nghĩ đến lời con nói. Phải rồi, nếu mọi người đều sanh con gái thì lấy đàn ông đâu mà nối dõi tông đường?

Phải có con trai con gái đầy đủ mới được. Đồ ngu!

Khi nhìn ra ngoài lần nữa, bà thấy đứa bé nhìn bà. Bà mỉm cười với nó. Phải nhìn nhận hai đứa bé đó xinh nhứt trong đám trẻ con và trong hai đứa nó bà cụ yêu đứa nhỏ hơn. Bà háo hức muốn bế nó vào lòng. Bà muốn chúi mặt già nua, nhăn nheo của bà vào cổ mềm mại thơm tho của con bé. Bà khẽ tặc lưỡi với đứa bé. Nó nhìn bà một cách do dự.

Bà cụ liền nảy ra một sáng kiến. Bà đứng lên, đi về phía mấy cái tủ con bằng thiếc của bà. Bà tìm thấy trong đó một mẩu bánh nhỏ mà bà đã cắt có lẽ cách đó mười ngày. Có một lớp mốc bên ngoài, nhưng bà thổi cho nó bay đi và lấy tay chà sạch. Rồi bà lặng lẽ đưa mẩu bánh đó ra dụ con bé.

Nó nhìn chiếc bánh và đứng lên, tập tễnh bước về phía bà nội. Con bé mới học đi nên bước một cách khó khăn. Nó đưa bàn tay tới trước để với lấy cái bánh. Bà cụ đón lấy đứa cháu nội, trao cho nó cái bánh. Nó ăn một cách trịnh trọng. Bà cụ khép cánh cửa lại, ngồi lên giường, bế cô bé vào lòng, chúi mũi vào cổ nó. Bà nựng nịu cháu trong vòng tay. Chao ôi! Cháu cưng của bà đây! Cháu cưng của bà đây!

Nhưng người ta đã dạy trẻ con ghét bà. Đúng vậy! Đứa bé kia, bị bỏ rơi một mình; đến mét với mẹ nó. Thế rồi bỗng nhiên cánh cửa vụt mở và con dâu đi nhanh vào. Nàng nói rất tử tế, nhưng với giọng lạnh như tiền:

– Thưa mẹ, đến giờ cháu phải ra vườn.

Bỗng thấy một chút bánh dính trên môi đứa bé, nàng dâu kêu lên, quên cả giữ gìn:

– Mẹ cho nó ăn gì vậy?

Bà cụ cố trả lời thật bình tĩnh vì một mẩu bánh nhỏ có hại gì đâu.

– Một miếng bánh nhỏ…

Con dâu vạch miệng đứa nhỏ, kêu lên:

– Bánh hạnh nhân!

Rồi nàng mím môi; không nói thêm một tiếng, bế đứa bé ra ngoài một cách vội vàng khiến nó hoảng sợ khóc ré lên.

Bà mẹ già ngồi xuống, trong lòng hết sức bất bình. Bà tự cho mình không có lỗi lầm gì. Dù vậy, vì quen nhịn nhục trong bốn năm qua, bà có cảm tưởng như mình có làm điều gì sái quấy. Bà ngồi nói lải nhải một mình, trong phòng. Cho cháu một mẩu bánh ngọt đâu có gì đáng tội!

Trong khi nói lẩm bẩm, bà nghe có tiếng động. Trước cửa phòng, đứa cháu lớn hãy còn đứng đó, bả cụ quên câu chuyện lộn xộn vì mẩu bánh vừa qua, mỉm cười và đưa tay ngoắt. Nhưng đứa bé lắc đầu rồi bỏ đi. Bà cụ buông tay xuống thở dài “chúng nó cũng dạy con ghét nội nữa, phải không?” và bà cười như mếu.

Đứa bé ngồi xuống tiếp tục chơi, quay lưng về phía cụ. Thỉnh thoảng nó quay lại, nhìn trộm bà nội nói.

Đêm đó, đứa cháu nhỏ phát bịnh! Không biết có phải vì ăn mẩu bánh nhỏ kia hay không. Con dâu thức sáng đêm săn sóc cho nó. Con trai của bà cụ cũng mất ngủ. Tới sáng, đứa bé đỡ nhiều và ngủ được.

Bà mẹ già hỏi thăm đám bồi bếp, bà thấy nhẹ lo khi hay tin cháu bà đã hết bịnh. Trong đêm, bà thấp thỏm lo sợ vì tiếng động xôn xao trên lầu.

Sau đó, khi vào phòng ăn, bà chỉ gặp người con trai. Bà nói:

– Con bé đỡ rồi phải không? Trẻ con nào lại không có những lúc ươn yếu như vậy! Mẹ nhớ khi con còn bé…

Nhưng người con ngắt lời bà cụ. Bà thấy rõ là cậu ta có việc muốn nói với bà. Mặt cậu tái xanh, có vẻ giận dỗi.

Tự nhiên bà cụ không ăn được nữa. Bà đặt đũa xuống nhìn thẳng vào mặt con. Bà cố nhớ nó là con trai bà, đứa con thứ, bà cũng cố nhớ, khi nó còn là một đứa bé sơ sinh khóc lóc đòi bú. Nhưng bà không thể nghĩ như vậy được. Bà có cảm tưởng là con của bà lúc nào cũng là một nhà trí thức, luôn luôn hãnh diện vì sự học cao hiểu rộng của mình, trịnh trọng trong bộ đồ ngoại quốc và đôi kính gọng vàng đeo trên mũi. Con bà là một người nghiêm khắc, không hề mỉm cười và bà cảm thấy sợ nó một cách tuyệt vọng. Lúc đó, bà muốn con dâu có mặt bên cạnh để nó ngăn chặn con bà lại, không để cho nỏ nói những câu tàn nhẫn, phũ phàng với bà. Nhưng trong phòng ăn chỉ có hai người, hai mẹ con bà. Người con đã cẩn thận cho chị bếp xuống nhà dưới… Nó sẽ làm gì đây? Nó sẽ giết mẹ nó chăng?

Người con nói:

– Con không muốn bất công. Con biết bổn phận của con. Và mẹ có một chỗ ở trong ngôi nhà của con. Nhưng mà nếu mẹ ở đây thì mẹ phải làm như con bảo, mẹ không được nuông chìu hai đứa nhỏ. Con có trách nhiệm với chúng nó. Hôm qua, mặc dầu con đã năn nỉ với mẹ từ lâu, chúng con bảo mẹ đừng bao giờ cho chúng nó những mẩu bánh mốc meo mẹ cất giấu trong phòng, làm như là chúng con bỏ đói mẹ không bằng…

Người con nín lại một lúc để dằn cơn nóng. Rồi tiếp tục nói, giọng lạnh hơn trước:

– Vậy mà mẹ đã cho con bé ăn một món mà ngay lúc tươi tốt chính con cũng không cho nó ăn. Đêm qua nó đã bịnh.

Bà cụ lải nhải:

– Chỉ có một chút xíu bánh mà, dữ hông!

Người con gắt lên:

– Nhưng chúng con yêu cầu mẹ không được cho chúng nó bất cứ món gì!

Bỗng nhiên bà mẹ già khóc òa lên. Bà không chịu đựng được nữa. Bà khóc to lên và kể lể:

– Để tôi đi! Tôi không thể ở đây được! Tôi phải đi….

Người con kiên nhẫn chờ cụ bình tĩnh lại, nói:

– Mẹ nên hiểu biết một chút. Bây giờ mẹ đi đâu? Ai chứa chấp mẹ?

Bà cụ kêu lên một cách giận dỗi:

– Tôi có thể tới nhà con gái tôi. Phải, tôi đi ra khỏi nhà này. Tôi làm thuê làm mướn cho thằng rể tôi. Tôi hãy còn mạnh, tôi có thể lên đồi hái củi, mót lá, đi hốt phân hay trông nom mấy đứa nhỏ, lau nhà, nhóm lửa. Tôi có thể làm lụng kiếm cơm qua ngày!

Nhưng người con cười, cay đắng:

– Mẹ tưởng là con không nghĩ tới chuyện đó? Năm ngoái, con đã viết thơ, chịu tiền cho tụi nó nuôi mẹ. Nói thật mà nghe, vợ con không muốn mẹ ở chung trong nhà, bởi vì mẹ không chịu học hỏi để hòa mình với nếp sống mới. Nhưng nhà tụi nó đông trẻ con không thể rước mẹ về ở chung được.

Khi nghe những lời này, bà mẹ bỗng trở nên im lặng. Trước đây, mỗi khi bà giận con trai hay con dâu, bà thường nói với đám bồi bếp và ngay cả khách khứa hay những người bán dạo là bà còn một đứa con gái có đất vườn ở quê, bà có thể đến ở với nó nếu bà không thích ở đây với con trai và con dâu. Nhưng bây giờ thì bà không còn nói như thế được nữa. Nếu bà nói như vậy, con trai bà sẽ chê cười bà hơn. Vì nó đã chịu gởi tiền cho người ta để tống khứ bà đi, nhưng người ta không nhận. Bà cúi gầm đầu xuống lắng tai nghe người con nói tiếp:

– Má thấy không, vợ con là người có học, là người văn minh, còn mẹ là người quê mùa dốt nát. Con có thể nói sự thật ra đây vì chỉ có hai mẹ con mình trong phòng. Con của chúng con phải được giáo dục theo thời buổi tân tiến. Con muốn như vậy. Nhà cửa con cũng không thể giống ngôi nhà cũ của mẹ. Bây giờ không ai khạc nhổ tứ tung dưới đất, cũng không cho gà vịt chạy tùm lum vô trong nhà! Con của chúng con không thể ăn vặt những món mà ngày xưa mẹ đã cho con mẹ ăn.

Bà mẹ kêu lên:

– Chính con cũng là con của mẹ.

Nhưng người con lạnh lùng đến độ tàn nhẫn:

– Nhưng con không muốn chỉ còn có ba đứa con trong khi sanh tới bảy lần như mẹ.

Đến đây bà mẹ vươn mình lên trừng mắt nhìn con, giọng nghẹn ngào:

– Trời ơi! Mày buộc tội mẹ mày giết con hả?

Người con không giữ được bình tĩnh nữa, gằn giọng:

– Con buộc tội mẹ về sự ngu dốt và không chịu học hỏi!

Cậu đứng lên vì không còn gì để nói. Cậu sắp sửa bước ra khỏi phòng bỏ bà mẹ lại một mình để ngẫm nghĩ về những lời cay đắng đó. Bà phải nói một câu cho con bà biết phản ứng của bà.

Với giọng run run, bà nói:

– Được rồi! Tao có thể chết cho vừa ý mày với vợ mày. Tao sẽ treo cổ…

Người con quay lưng lại. Cậu nhìn bà mẹ với đôi mắt giận dữ. Cậu thấy rõ nét mặt đau đớn đến cực độ của bà mẹ:

– Mẹ nói như vậy với con! Mẹ dám nói như vậy với con! Mẹ làm liều như vậy là mẹ làm xấu con. Thiên hạ sẽ đồn rùm cả lên là con ăn ở bạc ác để mẹ ruột phải treo cổ chết ngay trong nhà!

Cậu bấm chuông, người tớ gái nhanh nhẹn chạy vào.

Người con cố nói với giọng tự nhiên, vừa lạnh lùng cương quyết:

– Bà cụ cần có một người ở kề cận. Dạo này bà cụ yếu trong mình, đâm ra lẩm cẩm. Chị hãy kiếm cho tôi một người chuyên môn nuôi bịnh ở luôn trong nhà, ở ngay trong phòng bà cụ, ở cả ngày đêm. Tôi trông cậy nơi chị về việc này.

Người tớ cúi đầu lui ra.

Đây không phải lần đầu tiên tôi tớ trong nhà nghe to tiếng. Chúng có thể nghe mà không cần phải áp tai vào lỗ khóa. Chúng biết rõ những việc xảy ra trong ngày. Nhưng người tớ gái hài lòng vì thái độ của ông chủ. Đã nhiều lần chị than phiền với ông chủ và bà chủ là bà cụ còn rắc rối hơn cả hai đứa bé, cho nên phải cần mượn thêm một người chuyên môn săn sóc bà cụ cũng như chị vú lo trông nom hai đứa bé. Khi nghe ông chủ ra lịnh tìm mướn thêm người, chị ta nghĩ ngay đến cô em ăn không ngồi rồi và lấy làm vui vẻ.

Bà mẹ nhìn người tớ gái, than thân trách phận:

– Mình muốn chết phứt cho rồi nhưng người ta cũng không cho mình chết!

Bả lảo đảo đi về phía chị ở như một đứa bé đi tìm sự an ủi của một kẻ khác trong lúc đau khổ ê chề!

Người tớ dìu bà cụ ngồi xuống nghế, nói mấy tiếng an ủi lấy lệ:

– Thôi cụ đừng buồn. Cụ nên nghĩ lại. Cậu nhà là một người con chí hiếu. Cậu lo cho cụ thật hết sức đầy đủ. Chỗ ăn, chỗ ở, quần áo, đâu đó đàng hoàng, cụ còn than vãn gì nữa. Cụ rất có phước vì có một người con hiếu. Ai cũng bảo như vậy.

Hồn cố thổ!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 17 Dec 2023

Tết nào cũng vậy, tệ nạn cờ bạc nó rộ lên như nấm mối gặp mưa. Sòng bầu cua, sòng tài xỉu ngoài xóm. Đang ăn, nhà cái chưa kịp chung tiền, ai đó hô ‘lính tới’ cả bọn chạy thục mạng. Sau mới biết tụi nó chơi đểu, ăn vùa thua giựt. Thiệt là tức trào máu họng.

Còn bài xấu, cái đầu sù sụ con mắt trỏm lơ, mình đi phất phơ như con chó đói. Do đó lỡ binh xập xám, ba phé ba nơi hoài, đầu hôm xao xác bạc tốt như tiên, đến khuya không tiền bạc như chim cú.

Theo tui thì Tết đừng đánh bài là hay hơn hết. Lỡ mình ăn mình vui; thì người thua cũng bà con lối xóm không hè, họ buồn… Mà Tết nhứt mà làm thiên hạ buồn thì lương tâm mình cũng kẹt… ‘phé’.

Cờ bạc là chuyện không nên chơi; thôi mình nói đến chuyện ăn Tết cho nó no, nó vui hơn.

Tết là mứt bí, mứt dừa, mứt me, mứt mãng cầu, mứt gừng, kẹo chuối, chuối khô, …để quý bà uống trà rồi đàm đạo trong những ngày xuân.

Quý anh sui thì đem cái nhạo rượu nếp rót vô ly hột mít, sùi bọt tăm, thơm lừng mùi nếp; gắp miếng củ kiệu tôm khô, đưa vô mồm nhai ngồm ngoàm, xong khà một tiếng.

Đó là sui gia đến nhà nhau chúc tết, nhâu chơi chút đỉnh để giao tình thương mến thương…Sương sương rồi dông qua chúc Tết bà con lối xóm, đủ mặt văn võ bá quan không sót đứa nào, kẻo nó vạc miểng chén, miểng sành, rủa sả: “Giàu hổng bao nhiêu mà làm bày đặt làm phách!”

Cái vụ đi xông đất nầy tui hổng ham rồi vì rất ngại chủ nhà tin dị đoan, kiêng cử cái nầy cái nọ.  Anh Phát, Chú Tài mới đặng. Chớ anh Tài đang ngồi với lai rai với chủ mà ỷ mình tên “Quan’ (chớ không phải lính) lọ mọ bước vào thì bà chủ nhà sẽ lấy cái chỗi chà để mà rượt ‘Quan Tài’ đầu năm chạy xịt khói.

Tên Quan cứ ở nhà làm ‘quan’, nhậu với em yêu là ‘phẻ’ nhứt hạng. Ôi thôi lủ khủ, hầm bà lằng, bao nhiêu món ngon ngày Tết sợ ăn tới ra Giêng còn chưa hết.

Món ăn ngày Tết của bà con mình ba miền Bắc, Trung, Nam coi vậy cũng khá khác nhau. Tết thay vì ăn cơm thì người Bắc ăn xôi gấc có màu đỏ cho nó hên. (Rồi có câu ‘đen bạc đỏ tình’. Quánh bài thua là dê được gái. Cái nầy coi bộ khó tin nhe. Thua sạch bóc, không còn một xu dính túi, áo vũ cơ hàn, lại thả dê ra, tui e rằng em nào cũng bĩu môi chê hết ráo.)

Nói chuyện phong tục ngày Tết mấy nhà văn, biên khảo quê mình ‘phét’ nghe rất ‘bốc’. Chẳng hạn như trên bàn thờ, cúng trái cây phải có trái dừa, trái đu đủ, trái mảng cầu và trái xoài thì quý thức giả nầy phán rằng: “Sỡ dĩ có 4 loại trái nầy là vì bà con miệt Lục tỉnh quê mình tin dị đoan chưng trái cây cúng ông bà tiên tổ với lời ước nguyện là năm mới ‘cầu vừa đủ xài’. (Phải vậy hông?)

Chớ theo ngu ý của tui, Tết tới, mùa trái cây đang chín rộ, thơm ngon thì mình cúng ông bà trước để nhớ ơn người xưa đi mở đất, xong người nay rinh xuống ăn, đâu còn y nguyên đấy chớ ông bà vốn thảo ăn chỉ hưởng cái hương hoa thôi.

Rồi các bực thứ giả nầy tán hưu tán vượn, nói bà con mình tin dị đoan vì chịu ảnh hưởng của mấy chú Ba trong quận Năm, Chợ Lớn.

Tết, chú Ba người Quảng Đông, ăn tôm vì tôm là ‘há’, đồng âm với “hí há tài xiu”, là cười to ha hả trong nhà suốt tháng quanh năm.

Rồi ăn thịt heo, tức là ‘trư’, đồng âm với ‘châu’, ý là “châu long nhập thủy’, châu báu tràn vào nhà như nước. Rồi ăn cải xà lách là ‘phát soi’, đồng âm với ‘phát tài’.

Còn chú Ba, người Triều Châu, ăn bánh tổ là ‘niên cao’, mang ý nghĩa là ước mong cho năm mới, gia chủ được may mắn, phát tài, năm mới sẽ tốt hơn năm cũ.

Rồi chè ‘ỉ’ là viên nếp nhỏ, tròn, không nhưn, được nấu chung với nước đường và gừng, khi ăn rắc thêm muối mè. “Ỉ” nghĩa là “viên”, “tròn”. Ăn chè ‘ỉ’ với mong muốn gia đình sẽ luôn được đoàn viên. (Phải vậy hông?)

***

Cứ mỗi độ xuân về, miền Bắc hoa đào nở rộ, miền Nam mai vàng đua sắc thắm nên có bực thức giả phán như thánh rằng: “Chưng mai vàng vào dịp Tết vì sẽ đem đến may mắn”. (Phải vậy hông?)

Có ông còn đi xa hơn (tui e rằng ổng đi lạc) cắt nghĩa trong mâm cơm ngày Tết của dân Lục tỉnh Nam kỳ bao giờ cũng có canh khổ qua dồn thịt, vì ăn khổ qua là mong muốn cái khổ sẽ qua đi.

Dân vườn, miệt vườn như tui, gọi khổ qua là ‘hủ qua’, không có sướng khổ gì ở đây hết ráo, (người Bắc gọi là mướp đắng cũng nó đó). Hổng lẽ ăn mướp đắng dồn thịt heo bằm nhuyễn với bún tàu, nấm mèo thì mong đời mình sẽ đắng nghét như trái mướp đắng hay sao?

Ca dao cũng có câu: “Đói lòng ăn trái khổ qua. Nuốt vô thì đắng, nhả ra bạn cười.”

Khổ qua, ăn sống, nó đắng nghét như thuốc Tetracycline; nhưng dưới tài nghệ ‘cook, cook’ của em yêu, trái khổ qua bào mỏng, bóp muối cho bớt đắng, làm gỏi thịt bò cho chàng ăn và uống với beer. Quá đã!

Phần đói ăn rau đau uống thuốc nên mấy ông thầy thuốc Nam có cắt nghĩa vầy thuyết phục được tui nè: Trái khổ qua ăn mát, giải nhiệt trong cái nóng ẩm ngày tết miền Nam, loại cholesterol (mỡ xấu trong máu), ăn với thịt kho hột vịt không bao giờ ngán ngược.

Tui cho rằng bà con mình ăn Tết món gì là theo kinh nghiệm mấy ngàn năm ăn uống của ông bà mình truyền lại. Nên nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đưa ra cái định đề về nghệ thuật ăn là mùa nào thức nấy, trong bài Cảnh Nhàn “…Thu ăn măng trúc, đông ăn giá. Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao…”

Em yêu đã chỉ dạy tui một cách có lý rằng: ăn Tết không dị đoan gì hết ráo. Đừng nghe những nhà văn, nhà báo tán láo. Một mâm cơm ngày Tết ngon là phải có cay, chua, ngọt, bùi, đắng mới làm đã cái lưỡi của mình.

Nhà nào Tết cũng có nồi thịt kho hột vịt sắc cầm hòa hiệp với tô canh khổ qua hầm. Món mặn và món canh nầy nầy nó hợp rơ hết biết, như tình anh với em, chớ không phải ăn khổ qua để cầu mong cái khổ nó qua đâu (?!)

Nhắc tới món thịt kho, không cần tới Tết mới ăn mà giỗ chạp hay ngay cả ngày thường cũng có. Em nào trước khi về nâng khăn ‘móc túi’ anh yêu cũng được má dạy cho cách kho thịt nên rành sáu câu vọng cổ.

Thịt heo tươi, mua về rửa sạch bằng nước muối, cắt miếng vừa ăn có đầy đủ da, thịt và một lớp mở mỏng ở giữa. Ướp với nước mắm nhỉ, đường, bột ngọt, tỏi băm…Thêm một ít ớt sừng trâu chín đỏ. Hột vịt to đùng, lòng đỏ mới nhiều, luộc xong, lột vỏ. Nồi thịt màu cánh kiến, ớt đỏ sừng trâu, chén cơm trắng, dĩa cũ kiệu hay cãi làm dưa. Bảo đảm ăn hết nồi thịt kho, cây kim trên cái cân sẽ vụt cái rét, gãy làm hai vì cái thân bồ tượng của mình sau ba bữa Tết, nếu mình không ăn canh khổ qua để nó làm tan bớt mỡ.

***

Lại nhớ khoảng năm 65, 66 gì đó, thế kỷ trước, hồi tui nhỏ chút éc hè, Má tui kho nồi thịt không phải với hột vịt mà là trứng cút để giúp đồng bào mình qua cơn hoạn nạn.

Chẳng qua dân nghèo thành thị Sài Gòn bị lọt vào bẩy của mấy tay trùm tài phiệt Chợ Lớn cấu kết cùng bè đảng tuốt bên Hương Cảng để xí gạt dân mình. Đó là phong trào nuôi chim cút.

Cái mồi câu bằng cách mướn báo chí rầm rộ đăng tin trứng cút lên giá hàng ngày còn mắc hơn trứng gà, trứng vịt. Có bao nhiêu ‘bao tiêu’ hết bấy nhiêu nên đừng có lo nhe. Cứ mua cút giống về nuôi đi. Cút giống chừng hai tháng là bắt đầu đẻ ngày một trứng, kéo dài đến 9 tháng.

Sau hết đẻ trứng, cút đem ra bán thịt. Rồi lại mua cút giống về gầy đàn mới.

Trứng cút đem bán cho ông chủ tiệm chạp phô người Tàu, cười hè hè nói trứng cút bán chạy lắm, có bao nhiêu nị mang đến đây ngộ bao hết cho.

Trứng cút ăn với muối tiêu như trứng hột vịt lộn đều bổ, cường dương (chắc như viên màu xanh huyền diệu ‘Viagra’ bây giờ vậy). Thịt cút rô ti, chiên bơ lót dưới dĩa là cà tô mát đỏ xắt lát với cải xà lách, cút chấm muối tiêu nhậu với beer 33 là một trăm em ơi chiều nay một trăm phần trăm.

Cái thủ đoạn tinh vi, thâm độc nầy bơm giá chim cút giống phình từng ngày một. Cút giống từ 5,000 đồng một cặp cút giống bằng gần 20 đô la bấy giờ, tăng lên gấp đôi 10 ngàn, rồi tăng lên gấp 15 ngàn đồng một cặp.

Người dân Sài Gòn thuở ấy, cũng có mấy chú Ba nghèo nhưng lương thiện nhắm mắt, nhắm mũi có bao nhiêu tiền để dành, cũng xuất ra mua cút giống về nuôi.

Sau khi đã hốt được hàng chục triệu đô la của dân nghèo, bọn đầu cơ Chợ Lớn cùng đám đại xì thẩu Hong Kong dông mất. Trứng cút, thịt cút ê hề, ế nhệ rớt giá từng ngày nhưng vẫn ít người mua vì dội chợ.

Bà con mình ngơ ngác hổng biết đứa nào cầm đầu mà chơi quá ác, không để đức gì lại cho con cháu hết trơn?

Thôi thì bị xí gạt, bà con mình xúm lại giúp đỡ nhau qua cơn hoạn nạn. Trứng cút được làm nhân bánh bao, thay trứng vịt như bánh bao bà Cả Cần chẳng hạn.

Còn đứa nào làm ác, gạt tiền mồ hôi nước mắt của dân nghèo thì để bà bắt nó.

***

Mấy chú Ba Chợ Lớn, dân buôn bán, thường dán câu đối liễn giấy đỏ chữ vàng như: ‘Tân xuân đại cát. Nhất bổn vạn lợi’. Một đồng vốn bỏ ra mà kiếm được tới 10 ngàn đồng lời thì nằm mơ cũng không có. Nếu có, chỉ bằng cách đầu cơ như phong trào nuôi chim cút. Nhưng làm ăn như vậy thất đức lắm nhe.

Cuối năm, quê người, em yêu cũng nấu canh khổ qua rồi kho một nồi thịt bự ế kinh, nhưng tui thấy vẫn còn thiêu thiếu. Ước chi có được một nồi thịt kho hột vịt do Má tui nấu như ngày xưa cũ mang cái hồn cổ thổ cho tui lúc sống xa quê.

đoàn xuân thu

melbourne

Hỏi mắc cười!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 17 Dec 2023

Ông nhạc sĩ Tuấn Khanh, xin đừng nhầm với nhạc sĩ Tuấn Khanh tác giả bản “Hoa soan bên thềm cũ”.

Cái ngộ là ông nhạc sĩ Tuấn Khanh nầy không nổi tiếng về nhạc; ông lại nổi tiếng về viết báo. Vì ông có rất nhiều bài hay đăng trên trang web của đài VOA, BBC, RFA…

Ông nhạc sĩ Tuấn Khanh mặc dù còn trong nước nhưng mới đây ông có viết một bài về nước Mỹ đại ý là: Trên con đường dài dẫn ra biển Huntington Beach, Quận Cam và nhiều năm gần đây ở Texas, khu Bellaire có những khu nhà rất đẹp. Mỗi căn từ 1 triệu cho đến vài triệu USD. Chủ là những người rất trẻ sống khép kín trong những khu định cư mới của “Ðại Gia Việt cộng”.

Nhưng thiếu gia con của đại gia Việt Cộng nầy nói giọng Bắc mới. Họ mua nhà ngay bằng tiền mặt, mà họ dằn giọng là ‘tiền tươi! (mùi máu?)’.

Họ mua luôn các cơ sở thương mại. Từ các tiệm ‘nails’ với giá vài chục ngàn cho đến các siêu thị giá trên chục triệu USD.

(Ối ăn cắp nhiêu đây mà nhằm nhò gì? Không với tới gót chưn của Bạc Qua Qua, con trai của Bạc Hy Lai cựu Bí thư Trùng Khánh đang bị Tập Cận Bình nhốt trong hộp cho tới xí lắt léo).

Rồi Ilya Medvedev, con trai của cựu Tổng thống Nga Dmitry Medvedev, cánh tay phải đang giúp Putin giết đàn bà con nít ở Ukraine cũng đang sống xa hoa ở Mỹ.

Ilya Medvedev và bố cựu Tổng thống Nga Dmitry Medvedev – nguồn twitter

Nước Mỹ buôn bán tự do. Dư, Mỹ xuất cảng. Thiếu, Mỹ nhập cảng. Mỹ đang thiếu ‘con ăn cướp’ thì nhập vô cũng đâu có gì là lạ?

Nói nào ngay cái đám thiếu gia CS nầy sống khép kín là phải. Vì ngoài đồng chí, đồng rận với nhau thì bà con tị nạn CS có ai muốn dây dưa với họ đâu?

Chẳng qua hồi thời học Petrus Ký (63-70) trong lớp có một đứa theo ‘Vi Xi’ rải truyền đơn bậy bạ trong trường. Sau 75, từ từ nó leo lên tới thành ủy viên. Về mặt chánh quyền, nó làm giám đốc một cái Sở rất có ăn. Trong lúc chú em vinh thân phì gia thì mấy thằng bạn chung lớp đang đói nhăn răng trong hộp.

Ðầu những năm 90s, mấy anh chàng bị tù cải tạo nầy được Mỹ cho ‘quy mã’ tức ‘qua Mỹ’ theo chương trình HO. Tưởng một đi không gặp lại, nước sông, nước giếng không còn chung đụng gì với nhau nữa. Ai dè 20 năm sau, lại thấy cái bản mặt của thằng ‘Vi Xi’ nầy lù lù ngồi uống cà phê ngoài hàng hiên ở Quận Cam, thủ đô tị nạn CS. Chú em lái xe ‘brand new’ chừng 100 ngàn đô thôi. Và ở nhà bạc triệu.

Ðúng ra nếu nín khe, không khoe mẽ thì hổng có ai huỡn đâu mà để ý. Năm rồi, tay trưởng lớp có biệt danh là ‘Khỉ già’ bày đặt tổ chức 50 năm lớp cũ, trường xưa. Chú em theo Vi Xi nầy ghi tên đòi tham dự. Mấy đứa khác nghe tin bèn bắn tiếng: “Có nó không có tao!” Tụi nó xúm lại một bầy đòi tẩy chay cuộc họp mặt. Vậy là vài đứa tổ chức rét, giương cờ trắng đầu hàng. Kêu chú ‘Vi Xi’ nầy ở nhà chơi với vợ mầy đi! Vì tụi nó không muốn chơi với mầy!

o O o

Rồi ông nhạc sĩ Tuấn Khanh viết rằng: “Nhiều người Việt tại Mỹ sống bằng đồng tiền lương thiện ít ỏi của mình đã ngạc nhiên hỏi rằng: “Họ là ai? Sao giàu vậy?”

Rồi ông cho “Anh Mến” nào đó, sống ở Kansas hơn 10 năm đã thảng thốt kể rằng anh chứng kiến những người Việt đến Mỹ mua một lúc 2, 3 căn nhà. “Việt Nam bây giờ dễ kiếm tiền lắm hả anh?” anh Mến ngơ ngác hỏi. Thật khó mà giải thích với anh Mến, dù cùng là người nói tiếng Việt với nhau”.

Thưa ông nhạc sĩ! Nói ông đừng buồn, tui e rằng nhân vật Mến là do ông tưởng tượng ra. Vì câu hỏi của anh Mến nào đó nghe thật ngô nghê và thiệt ngu ngơ?!

Chúng tôi vượt thoát xích xiềng nô lệ của CS, nhào ra biển, một sống, mười chết cũng đi không ngớ ngẩn đến mức không biết được câu trả lời.

Những đứa trẻ nầy tiền rủng rỉnh đến từ một đất nước CS độc tài thì chúng tôi ai cũng biết hàng triệu đô la đó là tiền của cha mẹ chúng, là đảng viên cao cấp CS, ăn cướp, ăn cắp của dân chớ nó ở đâu ra?

Rồi ông nhạc sĩ Tuấn Khanh cho biết thêm những điều ai ai cũng biết là: “Những vùng quê đói nghèo phải xin gạo trợ cấp mỗi năm. Nhưng đầy dẫy các quan lớn vẫn lên nhà cao, tậu xe to và viết các dự án xây tượng đài hàng ngàn tỉ…”

“Sài Gòn, Hà Nội… nhớ những ngày nước ngập lụt lội đến tận giường. Những mùa nhập học hàng ngàn phụ huynh vật vã, lê lết khắp nơi chạy trường cho con mình, dù phải gửi lót tay.” Nên ông cho rằng: “Có lẽ người Việt đã quen sống vất vả và chịu đựng nên mọi thứ đã quen dần.”

Không! Không ai quen dần với chuyện bị ăn cướp đâu ông. Chúng tôi, ngoài và ngay cả trong nước, đều biết những chuyện khốn nạn như thế nầy. Ông nói vậy thì tội nghiệp bà con mình. Bị ăn cướp sao bà con không dám chống lại?! Bà con chúng ta buộc phải câm nín vì chánh quyền CS có súng mà người dân lại tay không.

Dẫu sao cũng cám ơn ông nhạc sĩ Tuấn Khanh đã la làng giùm những người bị ăn cướp mà không dám la vì sợ bị ăn… súng.

Nhưng “Ðời có Luật nhơn quả” hay không?

Cướp đồng tiền mồ hôi nước mắt của người ta rồi chạy đi xa, ngay cả chạy đằng trời cũng không thoát thì nói chi tới chuyện chạy qua quận Cam nước Mỹ?

Ông tin tui đi! Ngày phán xét cũng không xa lắm đâu!

Kịch liệt miên man

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 17 Dec 2023

1.

Muốn sống còn phải đấu tranh. Một đứa ăn không ngồi rồi đã buồn tay viết hàng chữ ấy lên bờ tường. Tường được quét vôi làm mới hôm trước Tết, nhưng không vì thế mà chôn lấp đi thứ tuyên ngôn kia. Như cô gái mặc vào người chiếc áo mỏng, vô tình hay hữu ý, màu sắc của nội y vẫn chực đòi giải phóng khỏi thứ che đậy thậm khói sương.

Cô Ba từng đấu tranh trường kỳ, và cuối cùng cô đã đạt thành tựu. Lao động là vinh quang, kỳ tích nọ trao cho cô Ba danh hiệu: “Cà-phê-bụi-em-ba”. Cô Ba rất bụi đời? Tuyệt chẳng chính xác để nói vậy. Bụi, vì cô Ba hổng có quán xá hẳn hòi, cô mưu sinh ngay bên vệ đường. Khách ưa ngồi dựa lưng vào tường vôi, khách không phàn nàn vì những chiếc ghế nhựa xanh đỏ, nhỏ nhắn tựa sản xuất nó ra chỉ dành cho một nhà giữ trẻ có đông hội viên nhi đồng. Khách không màng từng vạt nắng đâm loang lỗ trên thân, ngoại trừ trời đổ mưa, giang sơn cô Ba lúc nào cũng chứa đủ trên dưới hai mươi cảm tình viên. Những thằng đàn ông không cách gì thống nhất được một cách gọi, chúng rất tuỳ tiện, khi thì cô Ba cho qua cái cà phê đá, khi thì chị cho em, khi thì cưng cho anh, khi thì thím cho tui… Duy một điều chúng ngầm đồng tình: Cà phê đạt, giá mềm, chỗ ngồi thông thoáng cạnh một ngã tư sầm uất. Ngồi nửa ngày, đôi tai thừa mứa những lượng thông tin có thể vá trời lấp biển.

Đẹp xấu tuỳ người đối diện là câu nói của đứa thiếu tự tin, hãy tới nhâm nhi ly cà phê bụi em ba do chính tay chủ nhân mang lại mới đực mặt tự mọc nghi vấn: Ủa, con nhà ai mà nhan sắc mặn mòi thế kia? Một cánh hoa dại mọc thầm lặng ở bên lề đường. Bụi, chẳng đủ sức làm cho dung mạo kia đôi phần bị lấm lem. Đã có đứa dại khờ mang điện thoại thông minh ra chụp lén khuôn mặt cô Ba, nó post lên facebook và hệ quả… cà phê bụi em ba danh trấn giang hồ. Câu cổ văn có cớ hiện hình: Hữu xạ tự nhiên hương.

Khi mùi thơm toả lan đi ra ngoài dự kiến, cô Ba buộc lòng phải kiếm thêm nhân lực bởi sức người có hạn, chẳng ai tả xung hữu đột giữa trận tiền mà không run tay mỏi gối chồn chân đổ mồ hôi xuất hạn đầm đìa. Cô nhắm tới lão Tư chạy xe ôm sau khi đánh giá thực chất lương thiện phủ kín người đàn ông ngoài năm chục. Tư nói, động cơ máy nổ luôn cần xăng đổ vào bình, mỗi sáng tôi phải ghé cô Ba đổ cà phê vào bao tử, hai chuyện đó nào có gì khác biệt. Một đàng cho máy một đàng cho người, muốn chạy việc ta phải vin vô hai thứ chất lỏng kia. Cô Ba yêu tất thảy những gì liên quan tới chung tình. Nắng mưa gió giật lụt lội triều cường, ba cái lẻ tẻ đó chẳng khiến ông Tư quản ngại. Ông vẫn hiện hữu, không sớm thì muộn. Nếu thời gian khấu trừ bắt ông đi giật lùi ba mươi năm thì có lẽ bàng dân thiên hạ đã gọi ông là một cây si. Yêu một người, chỉ có duy cớ ấy ta mới cắm đất riêng một chỗ, không dời đổi.

Cô Ba gọi ông Tư bằng chú. Chú xem liệu nhắm ai tử tế cần công ăn việc làm thì giới thiệu lại phụ đỡ tui một tay. Thỏ thẻ hôm trước, hôm sau Tư đã thồ tới cà phê Ba bụi một thằng con trai mặt mày coi bộ cũng sáng láng. Tư làm một bản nháp thế đơn xin việc: Thằng Niệm tuổi mười sáu, gia cảnh có vấn đề nên buộc phải thôi học, nó tính đi Bình Dương làm công nhân nhưng má nó thương con cứ thậm thụt lòng chưa quyết. Nó gọi tui bằng cậu, nay cậu dắt cháu tới cho cô Ba sai việc. Tư này kỳ vọng nó không khiến cô Ba phải thất vọng chê bai. Sức trai tráng, chuyện phục vụ cà phê cà pháo thì nên xem là chuyện nhỏ.

Thưa chuyện cùng chủ quán mà ông Tư dường như muốn nói cho thằng cháu nghe, ông ngó lên hàng chữ bị vôi che, thiếu đường bạch hoá: Muốn sống còn phải đấu tranh. Cô Ba mát ruột đi pha hai ly cà phê không tính tiền dùng để đãi đằng. Cô hỏi thằng Niệm: Thấy sao, nhắm chạy việc hôn?

Niệm ngồi yên trên ghế nhựa, thân nhấp nhô: Dạ, xin sẵn lòng nghe cô chỉ bảo. Quyết không làm cậu Tư mất uy tín. Ông Tư vỗ vai: Tạm thời tao làm xe ôm không công để đưa đón mày. Cố gắng lên, sau này tự dành dụm mà sắm riêng cho mình chiếc xe để đi mây về gió. Mày được làm việc với cô Ba, má mày nghe thế cũng an tâm đôi phần.

Nếu Niệm còn cơ may cắp sách đến trường chẳng hiểu học lực nó có được mấy phần hoả hầu, chứ nay mang thân đi phục vụ quán cà phê bụi thì y như cá gặp nước vậy. Xoăn xoắt, nhậm lẹ, vẫy vùng, nhanh trí đáp ứng hết thảy những yêu sách người ta đòi hỏi. Cô Ba được rảnh tay rảnh chân và rảnh đôi mắt quan sát. Cô chịu đèn trong bụng, bụng chẳng hẹp hòi để chi trả tiền công xứng đáng. Nói nào ngay, chỉ 16, Niệm đã mang đủ tính khí một thằng đàn ông, chẳng kỳ kèo bớt một thêm hai chuyện lương bổng bạc tiền. Nó từng hào phóng băng qua hai ngã đường đi mua cơm bụi đãi cô Ba ăn, từng che chắn cô Ba khi bị một tên nát rượu đâm lời trêu chọc quá lố. Khi thu dọn hàng quán một chiều tà nực nội, cô Ba lau mồ hôi trán, giọng chở ít nhiều chân thành: Từ khi có em phụ việc, người chị mất dần những âu lo không rõ nguồn cơn. Chị tiếp xúc đủ mọi hạng người nhưng thú thật, chị chưa từng thấy ai đáng yêu như em. Chỉ sợ một chuyện, mất bao lâu nữa thì em sẽ biến đổi thành một kẻ khác?

2.

Hôm ấy có hai người khách lạ ghé quán cô Ba. Niệm săn đón, thưa hai chú uống gì? Con Ba đâu? Nhắn nó có chú Út dưới quê lên thăm. Người tên Út ngó láo liên, đọng tia nhìn đầy ngờ vực tới cô Ba. Nếu đúng là chú dưới quê vừa lên tới thì thời gian cách biệt giữa đôi đàng đã bộn bề năm tháng khiến bao đổi thay đã đánh lừa nhãn quang ít nhiều. Hoặc chú ấy hơi bị già nên mắt yếu, chứ bản thân cô Ba vẫn nhìn nhận ra ngay diện mạo người khách không mời kia. Ủa, chú! Chú Út! Cô Ba la lên, chỉ ngạc nhiên chứ chẳng oà vỡ niềm vui khi gióng tiếng. Một người lặn lội đường xa đến tìm thì y như rằng người ấy sẽ trao cho mình không ít phiền muộn. Một nguồn thông tin, thời buổi này thường chẳng mấy dịp đón nhận hân hoan. Đời bất thường, đời luôn chôn sâu niềm vui. Cô Ba ngồi xuống ghế, giao nhiệm vụ cho Niệm mần ngay hai ly cà phê đá để làm quà khơi mào câu chuyện. Ủa, sao chú biết tui đóng đô ở đây mà lại tìm? Mày ngon cơm quá mà, tiếng đồn lan xa, ngay cả chú mày cũng phải sửng sốt phút đầu tao ngộ. Nói thiệt chớ dung mạo mày ăn đứt con hoa khôi dưới quê vừa được hội phụ nữ bình bầu.

Thuỷ chung, người đàn ông ngang trang lứa chú Út, bạn đồng hành của chú vẫn ngồi bó gối mần thinh. Ông bận đắm đuối nhìn ngó cô Ba một mực chăm bẳm kiểu ưa ăn tươi nuốt sống. Vừa đẹp ở thể hình, nước da bầng quân mặn mòi, má lúm đồng tiền, ngực hăm hở tha hồ thừa sữa cho con măm. Eo thon mông nở. Tựu trung dù bán cà phê bụi, em Ba đã lột bỏ hoàn toàn cốt cách của một em đồng quê cày cuốc lấm bùn đầy mùi phèn chua. Ông khuấy liên hồi kỳ trận chiếc muỗng trong ly cà phê đá, tiếng động kéo chú Út trở lại hiện trường, thức tỉnh. Ba à, chú Mạnh đây là đại gia miệt dưới mình, vợ chú vắn số qua đời, tính đi bước nữa và một hai quyết dòm cho được mặt mày. Kinh doanh cà phê bụi một nắng hai sương có vất vả khổ cực thì mày có thể buông bỏ mà về dưới ngồi mát ăn bát vàng. Đi đâu thì có xe đưa rước, hất mặt lên trời nghe kẻ hầu người hạ thưa bẩm: Dạ thưa bà Mạnh có gì sai bảo.

Tự động, mặt cô Ba thoáng đỏ, cô yếu đuối không dám ngó vào tướng mạo chú Mạnh. Hình như ông ấy ưa khuấy động ly cà phê chỉ với một dụng ý, muốn người bàng quang thị thực hai chiếc nhẫn vàng to khủng có nạm mặt ngọc tròng nơi mấy ngón tay chuối mắn thô nần. Bán cà phê mãn đời cũng chẳng tài nào dành dụm được một chỉ vàng, trong khi vật trang sức của chú ấy giá trị chí ít cũng hơn mười lượng. Trời, người dưới quê thiếu vốn kiến thức về chốn thành đô gió bụi, chảnh kiểu đó không khéo mà rụng ngón bởi đao kiếm vô tình của mấy anh đi lại trên giang hồ có số má. Rõ là chú Mạnh ra đường đúng vào giờ hoàng đạo, xuất phát đúng hướng chứ không thì đã lọt vào tầm ngắm của mấy ảnh xã hội đen. Vật đi thay người mà cũng hổng chừng tiền mất tật mang, xui tận mạng thì lấy thế chó nào mà sắm vợ. Túm lợi là mất mịa nó hết chơn.

Hơi đột xuất, làm sao con có ngay câu trả lời đây. Ngày dài tháng rộng cho con tĩnh tâm tìm ra một sách lược vẹn toàn. Cô Ba nói, lời lẽ đôi phần học lóm ở phim bộ Hàn quốc mỗi tối lạc hồn dõi theo. Con vẫn kinh doanh bám trụ chốn này, có gì lại tới tìm gặp con trao đổi tin vui. Cô Ba đuổi khéo, phần vì phải lu bu lao động, phần khác cô chẳng mấy ưa ngồi hầu chuyện với mấy khứa lão. Cái đạo mạo mang nặng phần trình diễn tôn ti trật tự giữa các hạng tuổi kính trên nhường dưới phép tắc của họ dễ khiến cô Ba oải. Cô thích tính năng động ưa pha trò nói bóng nói gió dễ làm mát ruột có nơi đám trẻ hơn. Niệm chẳng hạn, cu cậu thường biểu lộ những hành vi mà chỉ có kẻ mê mệt mình mới chân tình bày biện, dẫu câm tiếng. Thứ “tử vì đạo” ấy e sắc son hơn vạn lần của cải sang giàu mang ra để đổi chác nhau.

Đến bất ngờ mà đi cũng đường đột, chỉ hơn tiếng cà kê dê ngỗng, đủ để chú Mạnh xiêu hồn lạc vía trước mộng tưởng có ngày em Ba sẽ là người nựng nịu nâng khăn sửa túi một tiếng mình ơi hai tiếng ơi mình. Dốt làm phép tính trừ, Mạnh cũng truy được đáp án: Nàng thua ta hơn hai con giáp, ta lấy vợ sớm thì đẻ con cũng xấp xỉ cỡ tuổi nàng. Xưa nay, đại gia đều duy một kế sách, vợ càng non tuổi thơ ngây chừng nào tốt chừng đó, âm thịnh để bồi đắp cho dương khỏi suy. Mạnh nói trước phút tạ từ: Những gì anh Út đã mào đầu tui không có chi cần bổ túc, chỉ mong cô Ba hiểu cho tui lúc nào cũng nguyện làm bến nước trong đợi ngày cô Ba về lại neo thuyền. Tạm thời trong thời gian tới, có gì nan giải khó khăn xin cô Ba đừng ngại ngần dốc lòng thổ lộ, Mạnh này quyết chẳng hẹp bụng lơ là. Tui lên đây trước là diện kiến cô Ba, sau là giỏi chân đi lo một thương vụ, ký hợp đồng phát huy thế mạnh cây trái đặc sản quê mình.

Mạnh đưa tay ra vồ vập lấy bàn tay cô Ba bóp nhẹ, ve vuốt như tuồng gửi thầm bao tâm sự trước lúc quay lưng. Vui không vui, buồn chẳng buồn nhưng diễn tiến vừa xảy ra đã khiến cô Ba ngầy ngật như bị luồng gió độc thổi trúng người làm quên bén lời hỏi thăm chú Út về tình hình sức khoẻ mẹ già dưới quê. Nếu biết con làm vợ chú Mạnh, trời ơi chẳng rõ má có vui không? Hay má cạy mặt, thằng chả bằng tuổi tao mà gọi tao là má vợ, thôi, hổng dám đâu!

Niệm không rời mắt trước hoạt cảnh nọ, ai xui khiến mà hắn cũng rụt rè nắm lấy bàn tay cô Ba, lật lòng bàn tay ra, cúi mặt ngó xuống những đường chỉ tâm đạo trí đạo. Cô Ba không phản ứng, bồi hồi đợi chờ ông thầy bói nói thánh nói tướng. Giọng Niệm ba phần lạc đi: Đôi bàn tay này sẽ thôi đếm bạc lẻ, thôi pha chế cà phê, lẽ nào đó là sự thật. Đời vắng cô Ba rồi chắc tui đi Bình Dương làm công nhân hay nương thân cửa Phật quét lá sân chùa. Những ngày êm đẹp thường chóng tàn, vẫn biết thế và vẫn tin đó là định luật. Cô Ba dù có đi về chốn chim kêu vượn hú thì cũng xin nói ra địa phận, dẫu sơn cùng thuỷ tận tui cũng vác xác lại thăm nom. Sinh ra tui là tía má tui, mà người tui thương chính là cô Ba vậy!

Cô Ba đứng xiêu đổ thân xác, nếu không có ngoại cảnh là hàng quán rậm rật giữa thanh thiên bạch nhật e ta đã mượn vòng tay ngươi nâng đỡ ôm siết để chan hoà cảm xúc. Ta cho bàn tay ngươi sờ vào ngực ta vun đầy để đón nhận bao tiếng lòng quờ quạng đập nhịp theo con tim thúc hối. Tiếng là mưu sinh giữa chốn gió bụi đầu đường xó chợ nhưng thuỷ chung người ngợm này vẫn y sì chữ trinh bạch. Nó có đáng ngàn vàng không, có thiệt thòi không nếu mang đổi lấy cái mối tình mê muội của ngươi trao.

3.

Vì quán cà-phê-bụi-em-Ba nép mình ở ngã tư đường, địa điểm thuận lợi ấy vô tình làm chốn hẹn hò tập trung của bà con già trẻ lớn bé không dưng lần lượt đến quây quần. Bảnh mắt ra đã có hai mươi nhân mạng mở hàng cà phê, khách đa phần đều không ngồi, họ đứng vì tay họ bận nắm giữ những băng rôn cờ quạt giấy bìa lủ khủ. Chẳng cần hỏi họ đang “âm miu” chuyện gì, chỉ nhìn những hàng chữ họ viết trên mấy tấm bìa cứng là đã rõ: Họ chuẩn bị đi biểu tình. Niệm rất hứng khởi khi phục vụ bưng bê cà phê cho họ, thậm chí hắn còn lén cô Ba để dúi vào tay họ những chai nước suối cho khỏi khô họng khi hét toáng: Đá đảo bọn xâm lược! Niệm thù oán những đứa mất dạy từng tuyên bố “tự do cái con kẹt” rồi mang dép chà đạp lên mặt kẻ thế cô. Nghe xuống đường lòng Niệm những nghe hân hoan như có sóng vỗ bên trong, tiếc cái tình cảnh này hắn không thể bỏ mặc cô Ba mình ên xoay trở giữa chốn xô bồ, chứ nếu được hắn sẽ gia nhập đi hò hét một lần cho thoả sức trai. Bất hạnh lớn nhất của con người là chẳng thể nói được điều ngay lẽ phải và thù một kẻ mà bị uốn lưỡi nói yêu.

Họ vừa lập xong đội hình có thứ lớp, chuẩn bị xuất phát tới đằng công viên để gia nhập đám đông đến từ bốn hướng thì bị một đám người có hung khí chẳng rõ ở đâu lộ hình, nhảy tràn vào loạn đả. Những tiếng hét la, những bàn chân dẫm đạp, những xô đẩy hỗn loạn. Và Niệm, chỉ cảm tình viên lơ ngơ oan khiên bị dính chấn thương. Hắn ngó lui, đón nhận khuôn mặt thất thần của cô Ba trước khi có tấm màn đen phủ chụp. Tiếng động mơ hồ chìm trôi, bằng bặt, mê thiếp.

4.

Tư xe ôm chở cô Ba tới cổng bệnh viện: Nó nằm trên lầu hai, tui chờ cô ở đây hay sao? Thôi khỏi, có gì tôi gọi chú sau. Cô Ba đi loanh quanh một hồi thì tìm ra chỗ Niệm nằm dưỡng thương. Căn phòng không lớn, kê bốn cái giường sắt nhỏ có trải chiếu lát, có chăn bông hoa hoè thứ hàng quen thuộc sản xuất từ Trung quốc. Cô Ba đi tới, ghé mông đặt đít xuống chiếc giường có hình nhân đầu quấn băng trắng đang nằm thẳng cẳng. Mặt hắn xanh mét, một mắt nhắm một mắt mở. Mắt nhắm sưng húp có dấu vết đường kim mũi chỉ, mắt mở loáng ướt thu đọng khuôn mặt kiều diễm đẹp hơn cả từ mẫu hơn cả mẹ hiền hơn cả lương y. Thiên thần nắm lấy bàn tay dấu trong chăn, lôi ra ấp ủ: Niệm thấy sao rồi? Thằng con trai nhăn nhở cười: Đã hết thấy sao, giờ thì đang phẻ lần. Cô Ba mắng yêu: Đồ con quỉ.

Quỉ nói với bà tiên: Tình hình bên ngoài ra sao? Biểu tình thất bại, chúng hốt gọn dẹp tan. Và chúng ra chỉ thị, không được kinh doanh bán buôn trên địa hình ấy nữa. Cà-phê-bụi-em-Ba làm mất vẻ mỹ quan thành phố, chưa kể là nơi chốn thuận lợi để bọn phản động tụ họp phá rối trật tự xã hội.

Mặt bà tiên dửng dưng khi thuật chuyện. Thằng quỉ bóp nhẹ mấy ngón tay mềm mại: Cô Ba tính sao? Tìm một nơi khác cắm dùi? Không, chắc phải giải nghệ. Cực thân quá, mình lao động mà chẳng vinh quang, mình trong sạch mà nhà nước cho là âm mưu bất chính. Mình đếm bạc lẻ nên chưa tìm ra cơ hội báo đáp chữ hiếu cùng song thân. Vắn tắt là cuộc đời này luôn bày ra chốn đoạn trường, hoàn cảnh xúi mình lên đường, không cho lựa chọn. Muốn nói thêm nhưng ngập ngừng kiểu kiếm chưa ra ngôn từ biểu cảm. Miệng ngậm lại nhưng tay lục soạn từ túi xách ra gói giấy: Đây là quà mọn trước cuộc phân ly. Mong vui lòng thu cất và nhớ cho giữa đôi đứa vẫn còn đó một thứ tình khó biện bạch những éo le.

Thiên thần chuẩn bị xa rời trần gian hoang lạnh, để lại một giọt nước mặn rơi xuống chiếu chăn con bệnh. Con bệnh bị du côn chém sạt đầu nhưng chấn thương buốt nhức vẫn là con tim bắt đầu đập sai nhịp. Khuôn mặt một người nữ dấu cất trong đó đang vụn rã trăm ngàn mảnh vỡ. Hắn nhăn nhó gượng đau để mở quà người trao: Năm triệu để trả viện phí. Năm triệu để bồi dưỡng sức lực hòng kiếm ra việc làm vững chắc. Duyên phận mình chỉ có bấy nhiêu. Thương.

5.

Phiên toà cuối cùng đi tới hồi buông màn: Bị cáo Lê văn Niệm, mười năm tù do tội cố ý đả thương, gây cho nạn nhân Trần văn Mạnh bị dính 58 phần trăm thương tật. Vợ nạn nhân, bà Nguyễn thị Hồng Ba khai trước toà rằng Lê văn Niệm từng bị thương ở đầu nên có đôi phần rối loạn dây thần kinh, hành động thiếu suy nghĩ, xin toà hãy giảm nhẹ bản án cho đương sự. Việc làm đầy tính nhân văn của bà Nguyễn thị Hồng Ba khiến toà đưa ra biểu quyết, rút ngắn thời gian ngồi tù của bị cáo Niệm là năm năm. Cần nói thêm là đại gia Trần văn Mạnh từng bày tỏ thái độ vũ phu đối với vợ mình đến nỗi làm hài nhi trong bụng của cô Ba phải chịu bức tử…

Niệm đứng ở vành móng ngựa, mắt mờ hoen lệ nhìn xuống dáng ngồi co ro của cô Ba. Hắn hằng tin, hắn mãi tin hắn là đứa vô tội. Kẻ tội đồ không ai khác hơn là tên Mạnh cục súc kia, kẻ dám giết đi giọt máu vừa tượng hình của hắn. Một ý nghĩ vụt thoáng trong trí, ý nghĩ chẳng thể biến thành lời. Hắn không thể nói rằng: Thưa quý toà, chưa bao giờ như lúc này tôi mong có chiến tranh xảy ra giữa ta và người anh em láng giềng hữu hảo.

Điều đó giúp quý vị hiểu: Đời là gì? Là thứ mà muôn năm quý vị không tài nào phá án nổi với một bộ luật có cũng như không.

Khói nhang

Hồ Đình Nghiêm

Mạ tôi không có nhiều áo dài, đâu chừng chỉ ba chiếc. Áo của mạ đúng là áo dài, dài miên man, vướng víu hai tà gần chấm gót. Cổ cao, in tuồng có độn mi-ca ở trong cho cứng cáp. Không mấy khi thấy mạ ủi, xếp trong tủ mà chừng như luôn phẳng phiu, chẳng nhăn nhàu. Thợ may khéo, đã đành, qua thời gian hàng vải lạ thường kia không hề thu rút lại một mảy may. Chúng vẫn ôm lấy, sát sao cơ thể một người đàn bà có đông con. Thường thì thời gian hậu sản, da thịt người mẹ hơi bị “phát tướng”, hơi bị sỗ sữa; nhưng mạ tôi cứ rứa, thuỷ chung thi gan cùng tuế nguyệt. Nếu dùng thuật ngữ mà thời buổi lạ lùng này, người trong nước cắc cớ ưa nhắc là “số đo ba vòng” thì chẳng cần dùng thước đo đạc, ngày đó mạ tôi vẫn “chuẩn” không cần “chỉnh”, không phì nhiêu chẳng giảm sút, ôm vào lòng vẫn ấm gọn một vòng tay, vẫn bất di bất dịch lượng suối trong nguồn chảy ra, vẫn chuối chín cây, vẫn biển Thái bình hiền hoà sóng vỗ êm đềm, che chở và bảo vệ suốt đời một bờ bãi luôn được bồi đắp phù sa. Có một câu tiếng Pháp viết như thế này: Je n’ai pas besoin de m’aimer avant de t’aimer, parce qu’il n’y a pas d’ordre, juste l’amour. Có lẽ tác giả chỉ dành cho tình yêu lứa đôi. Đâu cần phải yêu mình trước khi yêu người… Mình được mạ đẻ ra thì mình yêu thương mạ là chuyện ắt có và đủ. Không so đo, chẳng phân bì. Vẻ đẹp do tình yêu mang lại nó vốn thế.

Mạ tôi thương người con đầu ra sao thì thương thằng út một mực như vậy. Người con đầu ra riêng thì cán cân tự động lệch hẳn một phía. Nào lạ gì khi trong gia đình ai nấy đều thông hiểu câu “con út trút gia tài”. Tôi là đứa hưởng được cái đặc ân kia, thứ lề luật không tiện viết ra văn bản. Trong mâm cơm, món ngon hoặc thứ “hắn” thích mạ luôn xí phần: Ăn chi vô hậu rứa bây, cứ tranh ăn với em là tại vì răng? Thằng út hay bị chảy máu cam, mạ nấu cho nồi chè đậu đỏ ăn giải nhiệt sau khi biểu hắn nằm xuống tấm phản đắp trán bằng khăn ủ nước lạnh và lỗ mũi đã nhét chật một lá trầu xanh nhằm ngăn chận giọt máu đào thất thoát, hao hụt.

Hôm ấy (một sáng sương Thu đầy gió lạnh?) mạ tôi mặc lấy chiếc áo dài màu xanh rêu, hàng nhung êm mịn. Bối tóc sau khi chải mượt bằng chiếc lược làm bằng sừng trâu, xỏ đôi bông tai có nạm ngọc xanh vào trái tai chỉ thua đức Phật chút đỉnh về độ dài. Mạ đeo vòng kiềng bằng vàng 24 le lói, chỉ hèn kém thua vật trang sức của Nam Phương hoàng hậu nhưng đủ tăng hào quang khi tôi ngó sững tới mạ. Nó “ăn” với chiếc áo màu xanh rêu nhung gấm ấy quá và tổng thể, những vật phụ kiện vừa cài đặt kia đã khiến mạ ăn gian thần thời gian tới cả chục niên, hàm hồ mà nói rứa. Trong xóm vắng có ai lạc giọng hát bài “Tôi đưa em sang sông”, giọng chất ngất tâm sự:… chiều xưa mưa rơi âm thầm để thấm ướt chiếc áo xanh… hôm nao em sang ngang, bằng xe hoa thay con thuyền, giờ phút cuối đến tiễn em… gót chân ngày xa xưa sợ lấm trong bùn khi mưa…

Khi mạ chính thức sang ngang, bản nhạc này chưa thể hiện hữu. Ngoài làng mạ ở cũng có một dòng sông, nhưng cây đa bến cũ con đò năm xưa hình như chỉ dành riêng cho một mình ba tôi đến đón đưa. Thời đó, khi thất tình, người ta sẽ làm gì? Người ta bỏ làng nước để trốn đi làm cách mạng ư? Bây giờ thì xem chừng người ta đã làm quen với tất cả những cơn sóng tràn bờ, với thứ lãng mạn tiểu tư sản, dùng nó vỗ về chút thương đau. Ai thất tình mà hát giọng buồn chi lắm thế? “Anh” nhắc tôi nhớ hôm nay là ngày chị tôi thực sự lên xe hoa, không sang ngang chẳng qua đò, cũng không xác pháo vướng gót chân. Vì đại sự nên mạ tôi đã “diện” chiếc áo đẹp nhất mà mạ có. Chiếc áo “ăn nói” ít khi tìm ra cớ để khoác thân. Nôm na là xếp trong đáy tủ để “phòng khi hữu sự”. Và hữu sự đã tới, sánh đôi cùng những lời mạ thủ thỉ dành cho chị tôi, người từng ái ngại để bùn hoen gót chân trong ngày mưa:

Kể từ ngày mạ đẻ con ra
Ai mớm cơm, trún cháo lớn mà từng ni?
Hai tay bưng đọi chè tàu
Vừa đôi thì lấy ham giàu làm chi.

Rõ là:

Có cha có mẹ thì hơn
Không cha không mẹ như đờn đứt dây.

Có ngồi chào vao, có kiếm cách chuyển vẫn gì đi nữa thì cuối cùng chị tôi cũng “bỏ nhà ra đi”. Dù anh hàng xóm buồn đời hát hỏng “mưa bên chồng có làm em khóc?” thì mọi chuyện cũng đã lỡ sang trang. Dâu bể cuồng nộ vùi dập phận người tả tơi rồi cũng đâu vào đó huống hồ chuyện nhi nữ thường tình. Xe hoa mang đi chỉ một người đâu sánh bằng chiếc thuyền chở hàng trăm tính mạng bọt bèo trôi sông đổ biển? Nghe ai đó nói “người tình không chân dung” nọ đã xếp bút nghiên theo việc đao cung. Là sĩ quan lính thứ dữ, đánh đấm ra trò ở mặt trận cổ thành Quảng Trị, là nơi do vua Minh Mạng dựng xây mà trong phạm vi lớn chưa tới 3 cây số vuông đã hứng chịu 320 ngàn tấn bom đạn chăm cày xới trong 81 ngày đêm khói lửa triền miên. “Anh không chết đâu anh”. Anh cũng không làm bại tướng cụt chân, nhưng khi anh trở về thăm xóm, vô tình anh khiến mạ tôi siêng đi chùa.

Ngoài chiếc áo nhung xanh rêu mạ còn hai chiếc khác: Một màu lam và một màu nâu. Có người gọi lam là màu khói nhang, có người kêu nâu thành màu nu. Và có người đưa nhận xét, đó là những màu căn bản mà con em gia đình Phật tử vẫn thích mặc vào người. Không tin hả? Mấy sư cô, các sư nữ hằng tin rằng thứ sắc độ ấy ít trêu ngươi, ưa lắng chìm vào sự trầm tịch. Vậy thì chẳng lẽ kiếp trước mạ tôi là o con gái quét lá sân chùa, rót nước dâng hoa lên bàn Phật? Bên ngoài cảnh giới nghiêm cẩn đạm bạc ấy có lắm màu vui nhộn non tươi là thế răng mạ lại đi chọn thứ màu “kín đáo” rứa hè?

Giống hầu hết quý vị phụ nữ thời đó, mạ tôi làm thứ nghề nghiệp kỳ cục được ghi nắn nót trong sổ gia đình: Nội trợ. Phong trào nữ quyền là gì? Nào ai hay! Cũng như kế hoạch hoá gia đình là gì? Condom là cái quỷ sứ chi? Quý ông đầu đội trời chân đạp đất vẫn như vịt nghe sấm, nước đổ lá môn, chẳng làm nhăn mặt nước hồ thu từ bao lâu vẫn phẳng lặng. Nội trợ là giúp đỡ việc trong nhà? Quán xuyến việc chăm con, giặt giũ, may vá, đi chợ, nhặt rau, nấu ăn, rửa chén bát. Nếu có nuôi bầy gà thì sáng ra sân vãi nắm gạo cho chúng ăn để chạng vạng thì tục tác gọi chúng về chuồng. Đầu tắt mặt tối thì có vẻ hàm oan vì mạ tôi tự ví mình là ba đầu sáu tay “mặt trận nào cũng đánh thắng”. Đã thế còn biết cách thu xếp lịch lao động để chừa ra một khoảng trống trong hai mươi bốn giờ lu bu trấn nhậm hậu phương. Khoảng thời gian phù du ấy mạ tôi dành vào việc đọc sách. Bà có một trí nhớ phi thường, kể ra vanh vách từng chi tiết, tên các nhân vật nằm trong toàn bộ các tiểu thuyết của bao tác giả ở nhóm Tự Lực văn đoàn. Mạ nào con nấy, tôi cũng bắt đầu sa ngã lòng mình, thổn thức theo những trang văn chương có khả năng dắt trí tưởng mình dẫm chân vào những “vùng địa đàng” tuyệt đối không hề có cảnh tên bay đạn lạc. Người sĩ quan binh chủng Thuỷ quân lục chiến xóm giềng hết ba ngày phép, sang chào mạ tôi để kịp có mặt ở một trận đánh ác liệt khác. Anh nhìn tôi: Mi không lo học thì bữa mô chân cẳng cũng phải lội khắp bốn vùng chiến thuật như tao. Một xanh cỏ hai đỏ ngực là thứ khiến mạ tao phải ăn chay trường trì chú tụng kinh. Coi chừng, mạ mi cũng rứa thôi, kêu trời răng thấu?

Tôi học rất kém. Vẫn ước ao có được đầu óc minh mẫn giống mạ mình. Thông tín bạ luôn có hàng chữ mực đỏ của thầy cô phê: “Chăm chỉ, hiền ngoan nhưng học lực cứ không thấy tiến bộ”. Mấy thầy cô “học lực” coi bộ kém thua ba tôi. Ông phán, kiểu tam đoạn luận: Thằng ni luôn coi sách vở là kẻ thù, đã là kẻ thù thì buộc phải tránh xa, vì xa lánh sách đèn nên dốt đặc cán mai nào là chuyện lạ! Thấy chưa toàn vẹn, ba tôi buông một dấu chấm: Đồ con hư tại mạ! Mạ tôi chẳng lấy đó làm điều, bà hoá thân thành một nhà hiền triết: Không có học trò dốt, chỉ có thầy cô chẳng nắm vững phương pháp giáo dục thôi! Chao ôi, một người chỉ biết nghề nội trợ mà dõng dạc phát ngôn ra thế. Dễ nể thật! Khẩu khí nọ đi thẳng vào người tôi, sướng như cởi được tấc lòng, như đả thông được hai huyệt nhâm đốc. Mạ tôi mô phải là người mạ bình thường, bà còn là thần tượng của tôi nữa, không phải rứa hay răng? Bà là chưởng môn nhân môn phái Tình Thương: Hỡi những con chim chưa ra ràng đang bị vặt lông, hãy nối kết cánh lại. Tôi chưa đủ lông đủ cánh vì rứa nên cứ bu mạ như sam. Tôi nghĩ quẩn, e chiếc áo dài xanh rêu nhung gấm sang trọng và đẹp đẽ của mạ sẽ bị xếp xó, ngủ yên dưới đáy tủ, vì rằng cái ngày mà tôi cả gan “đem nàng về dinh”, đưa nàng sang sông, tam thập nhi lập… thì ngày đó có diễn ra sẽ không cách chi có sự hiện diện của mạ. Sức người có hạn, có là tài thánh mới bắt mạ mình chờ được, nhìn ngó đứa con út dại khờ tự lập thân chập chững vào đời.

Rồi thần thời gian đã lén “đi đêm” với thần chết. Quỷ khóc thần sầu đã vi phạm hiệp định ngưng bắn, đang an vui là thế họ tới gõ cửa, điểm danh đúng tên mạ tôi. Bà chẳng có một biểu hiện nào trước đó, rất đột ngột một cơn bệnh ngặt nghèo đã vật bà xuống. Anh chị tôi mang bà vào Sài Gòn, tìm đến một bệnh viện nổi tiếng nhất, nhưng họ bó tay sau một tuần làm đủ các xét nghiệm. Sẽ không lâu nữa đâu, chúng tôi buộc lòng phải nói thế. Hãy mang cụ về nhà để nhỡ có những việc cụ đang dở dang việc hoàn thành… Một người nội trợ, hãy nghiệm xem, những việc nhỏ nhặt họ làm thường nhật có đáng không để bận tâm mưu cầu một vuông tròn? Cho dù chẳng ra cơm ra cháo thì… ba vạn cũng bỏ. Hãy thõng tay vào chợ. Xin cho một lần được thảnh thơi. Không, tôi quả thật hồ đồ, tôi quá trẻ người non dạ. Tôi đâu biết tâm niệm của mạ là được ngó mặt tôi lần cuối. Không biết ở ngoài nớ, việc ăn uống ngủ nghê sách đèn của thằng út con mạ ra răng? Mạ ở xa hắn có nhớ quay quắt không?

Chị tôi nói trong nước mắt: Theo chị đoán thì thực sự tim mạ đã ngừng đập khi nằm trên máy bay, tay chân lạnh ngắt. Chị không ngờ mạ đã gắng gượng, dùng tàn lực để mở mắt ra trông em phút cuối. Hãy nhớ đến thời khắc nọ để ghi chính xác tới ngày giờ tử của mạ. Tôi không vuốt mắt vì thứ nhãn tuyến mù mờ ấy đã vội đóng, đồng tử khép lại liệu có kịp thu giữ nhân diện thằng con út của người? Một giọt nước mắt trườn ra khỏi khoé, bò chậm xuống những đường da nhăn. Ai đã mặc cho mạ tôi chiếc áo dài màu khói nhang trên người? Chiếc áo đã bạc tình thôi ôm giữ sát sao cơ thể mạ như ngày nào. Một bầu trời vừa sụp đổ xuống người tôi.

Trước khi chạy được sang tới đây, tôi mất cả mạ lẫn ba, bỏ lại hai nấm mồ hoang lạnh. Như ca dao ví, tôi là một cây đờn bị đứt hết dây, tình tang chi nữa hỡi con bạn mình ơi! Tôi vượt biển cùng một người con gái đất Thần kinh mà mạ tôi nào chứng giám là hắn vừa có vợ. Tôi lên đò chòng chành sóng lớn, ôm theo hành trang một “con sáo sổ lồng bay đi” vô phương hướng. Đất lành chim đậu là một từ ngữ thậm chính xác. Đất lành cho nên thống kê về số tử vong gần như chỉ đếm trên đầu ngón tay. Chuyện nhỏ. Cũng vì đất lành cho nên đến lúc trái gió trở trời, chim có lạc đường bay, có rụng lông gãy cánh thì người sống trên cuộc đất ấy sẽ ra công tô đậm thành ngữ “cho chim liền cách như cây liền cành”. Tôi từng vào nằm nhà thương, mát dạ mát gan khi nằm yên cho họ lắp cánh tháp cành. An tâm, rồi bạn sẽ chóng bình phục. Họ hỏi: Trong gia đình bạn có ai mất vì chứng ung thư không? Tôi nói có, hiền mẫu. Họ bày dao kéo chuẩn bị làm một cuộc banh da xẻ thịt, họ bảo mức độ nguy hiểm chỉ lên tới 17% và rồi tôi bị đánh thuốc mê, chìm trôi không hay biết chuyến đò chèo mát mái hay sông trôi lộn bờ. Nhận chén cháo lú hay hoàn hồn reo to chữ Freedom như ngày nào chính thức giã từ kiếp thuyền nhân.

Chuyến “sang ngang” ấy tối đen hơn mộ huyệt, chừng tám tiếng sau có người cúi mặt thấp xuống thăm dò sự hô hấp của tôi, mặt nạ dưỡng khí làm tôi trông lên không rõ hư thực một quang cảnh xa lạ, đầy hơi nước mù ẩm. Người ấy nói: Tôi tên Sylvie, y tá chăm nom bạn hôm nay, chúng tôi sẽ chuyển bạn lên tầng bốn, nằm ở phòng đầy đủ máy móc dụng cụ để dễ theo dõi tiến độ sức khoẻ bạn mang. Bạn thấy thế nào? Từ một tới mười, cơn đau của bạn đang ở lằn mức số mấy? Không cần nói, bạn dùng tay để ra dấu. Sylvie có mái tóc vàng, tôi chỉ nhận ra điều ấy trước tiên. Thật có hơi bất tiện nếu tôi di chuyển cánh tay trái, bởi ở đó còn ghim một mũi kim với ống nhựa chuyền nước biển. Tay phải tôi xoè cả 5 ngón, cọng thêm 3 ngón ở lần hai. Ô, vậy thì thuốc tê đã bắt đầu hết gây ảnh hưởng, hãy uống bốn viên này đi. Vừa morphin giảm đau vừa thuốc tăng lực, giúp chóng hồi phục.

Cửa thang máy mở. Một nam y tá cao to đẩy chiếc giường tôi nằm vào một diện tích quá đỗi rộng rãi. Sylvie theo cùng, cô ta cũng đẩy một cái bàn có bốn bánh xe đặt để hai cái máy hình thù kỳ lạ. Cô nhặt một tấm mền mỏng từ dưới giường, trải rộng rồi đắp vào người tôi. Trong bệnh viện dường như bao giờ cũng có một cơn gió lạnh vụt thoáng qua. Một ngày có mấy chục bệnh nhân câm lặng thay đổi chỗ trú thân? Từ “khách sạn 3 sao” này xuôi đổ về cái motel hoang lạnh mọc chơ vơ bên xa lộ, đưa mặt cho người ta tô son trét phấn như kiểu thủ tục làm đẹp để trình diện Diêm vương ngó sao cho tử tế?

Tôi nghĩ là bạn khỏi cần thở bình dưỡng khí nữa. Chừng nửa giờ sau, có người sẽ mang phim đặt dưới lưng bạn để chụp quang tuyến X. Sylvie nói khi phụ người y tá lực lưỡng cẩn trọng nhấc hỏng tôi đặt sang một chiếc giường khác, êm ái hơn, tươm tất hơn. Tối nay chúng tôi gồm ba người sẽ thay phiên vào xem chừng bạn, sợi dây này có cái nút nhựa đỏ, bấm nó chừng nào bạn cần tới sự giúp đỡ. Trong lúc này bạn ngủ được chừng nào tốt chừng đó. Tấm màn được kéo lại, bóng điện hạ độ sáng xuống sau khi Sylvie hý hoáy ghi vài hàng chữ vào tấm bìa cứng rồi máng nó gần đầu nằm. Cô bóp nhẹ vào vai tôi thế một lời tạm biệt.

Nửa khuya, chừng khoảng hai giờ sáng, tôi bị lôi ra cơn ngủ vùi do ảnh hưởng thuốc cứ mãi uống cách khoảng bốn tiếng. Một bóng trắng vừa lẻn vào, mang theo chút giá lạnh và bà mặc đồng phục y tá ấy đã vạch áo tôi thăm dò vết cắt cùng những đường chỉ khâu y như có một con rết mãi bám cứng, mãi hút máu, mãi truyền độc tố làm tê nhức. Đẹp. Ổn thoả. Chẳng sưng tấy. Bà từ tốn chậm rãi lau mặt cho tôi bằng chiếc khăn ấm áp vừa hấp tẩy xong. Bà dịu dàng điều chỉnh cho chiếc giường gấp lại để từ nằm tôi đổi qua thế ngồi, xong thì bà ôm lấy tôi vào lòng vỗ về, thì thầm nói hãy mơ tới một điều gì thật tốt đẹp, phải tự nhìn nhận rằng cuộc đời này vẫn còn đó những điều đáng yêu, dẫu nhỏ nhặt. Tôi dựa đầu vào vai bà, khứu giác ngửi ra một hương mùi quen thuộc, xa vắng. Tôi vòng tay ra ôm cứng lấy bà, tôi lục soạn trí nhớ và mơ hồ nghĩ rằng thân thể vừa kích ấy rất trùng hợp với mạ tôi. Bà nói bà biết tôi đang đắng miệng, vậy thì thèm ăn hoặc uống một thức gì cứ cho hay, khuya mai bà sẽ mang vô. Tôi có những cuốn truyện hay nhưng ngại là mắt người bệnh hẳn còn yếu, chưa nên đọc. Hãy nên thương mình trước khi yêu tha nhân. Hãy cố tĩnh dưỡng, bởi được đi lại bình thường là một món quà của thượng đế trao tặng cho mỗi chúng ta.

Những gì bà nói thoảng qua tai tôi có mãnh lực khiến căn phòng hồi sức này tự động biến sang vuông không gian ở Huế ngày cũ. Tự dưng tôi nhớ mạ mình đến muốn khóc. Trong đời, chỉ có mạ tôi mới quan ngại chăm lo kiểu đó, kỳ dư chẳng còn một ai. Lương y như từ mẫu hoặc y tá như mẹ hiền thì cũng nằm ở một chừng mực nào đấy thôi. Từ một tới mười, bà thương tôi ngang mức số mấy? Nếu có hỏi e rằng bà ấy chỉ xoè bàn tay đủ năm ngón là cùng. Mức trung bình. Vậy cũng nên xem là tốt phước.

Tôi chóng bình phục, tình trạng khả quan đến độ cả bác sĩ lẫn năm cô y tá thường theo dõi chăm sóc tôi cũng phải ngạc nhiên. Họ nhận xét: Thường thì người Á châu tuy thể lực không bằng dân Âu châu Nam Mỹ nhưng ngược lại, tinh thần của họ rất vững vàng, giỏi chịu đựng. Sự chịu đựng của bạn là phương thuốc quý, nhưng chúng tôi nghĩ, ngoài ra hẳn bạn phải nương vào một phép nhiệm mầu nào đó, khó giải thích. Họ thay phiên bắt tay tôi, chúc mừng ngày tôi trở lại sinh hoạt với nhân quần bên ngoài khuôn viên bệnh viện. Tạm thời quên chuyện mưu sinh đi nhé, chúng tôi sẽ viết giấy chứng nhận rằng bạn cần tĩnh dưỡng ít lắm là một tháng. Tháng sau nhớ vào lại đây cho chúng tôi xét nghiệm, một thủ tục cần có, chỉ vậy thôi.

Tôi thưa với họ là tôi chưa an lòng ra đi khi lỡ quên thốt lời cảm ơn chân thành đến một bà y tá. Ai vậy? Bà đó tên gì? Họ trố mắt nhìn tôi. Bằng vào sự ấp úng khi diễn đạt vừa tiếng Anh chen lẫn tiếng Pháp: Tôi thật vụng về quên hỏi tên bà ấy. Bà vẫn đến hằng đêm, vào khoảng hai giờ sáng, ôm ấp tôi, vỗ về tôi… Không biết tên, vậy thì nhân dáng bà ta ra sao? Mập, ốm, màu da, độ tuổi? Tôi cà lăm, phụ diễn bằng tay… rằng thì là tôi trông không rõ mặt, chỉ biết bà có một mái tóc đen… bà ngồi trên giường nên tôi cũng chẳng biết cao thấp ngang đâu… không ốm chẳng mập, đủ ôm vừa một vòng tay và người bà thơm thứ mùi nồng đậm tựa trầm hương. Cả ê-kíp vây quanh tôi, đứng nhìn nhau mặt nhăn mày nhíu, Sylvie là phát ngôn viên sau cùng: Mỗi ca trực chúng tôi đều ghi rõ tên họ, giờ giấc của từng y tá. Điều anh nói thì rõ là hoang đường, không riêng khu này, tôi e là khu lân cận cũng chẳng có một người y tá như anh vừa tả. Chúng tôi hy vọng là liều lượng thuốc mà chúng tôi trao anh uống suốt tuần lễ qua sẽ không gây cho bệnh nhân một ảo giác nào cả. Dù sao thì trường hợp này sẽ buộc chúng tôi nên lưu tâm. Vậy đi nhé. Chúc may mắn.

Về nhà, việc đầu tiên là tôi quét dọn bàn thờ, mua trái cây đặt lên, rót nước trà, thắp ba cây nhang cắm trước di ảnh đen trắng mạ tôi. Tấm ảnh duy nhất mà tôi có chụp mạ trong ngày cưới chị tôi. Chiếc áo dài nhung xanh rêu, đôi bông tai, cái vòng vàng quanh cổ, đầu tóc bối cao, đôi mắt đen láy, nụ cười đôn hậu hiền lành. Mạ tôi không thể hình dung được là có ngày đứa con út của bà vụng dại đi vào nghiệp viết văn. Tổn hao bao giấy mực nó chưa hề lắng lòng viết riêng cho mạ hắn một trang. Tôi nghĩ là chắc các bạn đọc cũng rộng lòng tha thứ cho lỗi lầm tôi mang. Khi đứng trước biển, bạn có tài cán gì để lột tả hết sự bao la vô bờ đến choáng ngộp mà con sóng từ ngàn trùng cứ mãi chuyên cần vỗ lao xao vào bờ, vào triền cát ẩm mơn trớn bàn chân trần mình đặt để, mỗi khi một lún xuống? Nếu bạn không có được sự ví von biển cả là lòng mẹ thì tôi xin thôi đối thoại cùng bạn. Chỉ một chuyện sau cùng xin bạn hiểu cho, mỗi khi gặp điều bất ưng khiến lòng sầu muộn tôi đều nhớ tới mạ mình để tìm quên. Ngay cả khi hoạn nạn bất ngờ đổ ập xuống, hình bóng mạ tôi là cái phao giúp tôi vượt qua gian khổ, kể cả vực tôi lên khỏi hai bờ tử sinh. Tôi quả quyết để thưa với bạn rằng: Bà y tá “vô danh” xuất hiện hằng đêm trong bệnh viện ấy, đó chính là mạ tôi.

Tôi đợi ba cây nhang cháy hết chiều dài nó mang, lụn tàn trong bát đựng gạo rồi mới “đi thưa về trình”: Mạ ơi, chừ thì đến giờ con vô phòng uống thuốc đã, mạ nghe!

Hồ Đình Nghiêm

Khe nước khô

Hồ Đình Nghiêm

Bún mắm cô Ba ngon nhức nách, đặc biệt cuối tuần có cháo lòng húp nhức răng. Quán Cây Khế chẳng mấy đông khách, bị con cô Ba đường đột bồng bột nông nỗi dại ngỗ bỏ má đi theo trai. Cô Ba tâm sự với đôi mắt như đang xắt hành, ươn ướt lộ ruột để ngoài da.

Cô làm như thực khách tới quán chỉ để nghía con Tưng. Sáo sổ lồng sang sông thì tình hình eo xèo đâm ế chảy bởi thanh niên trai tráng chẳng thiết vãng lai. Để mần chi, khi lưỡng mục không ngó ra mục tiêu đặng ký gửi một tia nhìn man dại. Ai kia có si tình thì chỉ hát được mỗi điệu “Lý quạ kêu”. Sáo bay mà quạ theo đó cũng tìm cách thăng. Nghe xao xác dật dờ quãng lặng.

Cô Ba không mắng đứa con hư sớm nhấm nháp mùi vị của hoan lạc đèo bồng chuyện chăn gối mà cứ than van cho bọn phàm phu tục tử “thực bất tri kỳ vị”. Cô Ba cũng dấu nhẹm tình trạng sức khoẻ khi đứa phụ bếp tài cán nọ trở chứng xé rào, giao bao công chuyện cho mình má nó tả xung hữu đột. Khách ăn thì nhức nách nhức răng, còn chủ quán đêm trường có nghe ra nhức mình nhức mẩy? Ơn trời là Cây Khế cũng biết đóng cửa vào ngày thứ hai hằng tuần, lao động quá thì ngay cả máy móc cũng sẽ lột dên đứt cu-roa cháy bu-gi tắt quạt huống hồ phận chân yếu tay mềm mình hạc xương mai!

Ông Tư làm nhân viên cho tiệm tạp hoá Vạn Thắng chung khu vực vẫn thuỷ chung kéo ghế, trừ thứ Hai, vẫn tâm đắc một mực thực phẩm ấy lành. Ai chứ cô Ba thì tui tin tưởng, tui ngó vô ngực thấy cổ đeo cái tượng Phật bằng ngọc to đùng. Lâu ngày chầy tháng ngọc lên nước láng bóng, người tâm hiền như cô Ba nên ngọc cũng cho là hợp tạng để xởi lởi khoe da. Ai đó nói ngọc đẹp cũng do người mang, tui biết vật trang sức tuy vô tri giác nhưng có khi nó thui chột ở kẻ này lại phát quang khi vào tay người khác. Rất đều tay chuyện củi lửa hay cái miệng tui đã hợp vị với tài nêm nếm của cô Ba. Món cơm tấm bì ngó đơn sơ vậy chứ cả tuần quên ăn, nói tội trời, đâm ra nhớ thương.

Cô Ba được tiếng hiền vì cho ông Tư ăn uống ghi sổ vô tư. Được cái, người đàn ông trên năm chục tuổi đầu kia chưa hề chạy làng, ngó trước trông sau rồi dõng dạc: Trên bước đường tha phương vô định vị mà tình cờ kỳ ngộ người đồng hương thì phải nên xem trời đãi kẻ khù khờ. Cứ giáp vòng hai tuần, đến thứ năm ra ngân hàng đổi tấm ngân phiếu là tui ba chân bốn cẳng tới Cây Khế thanh thoả những ân tình có với cô Ba. Tui với cô Ba liên hệ như kiểu cá với nước vậy. Cá mà không có nước, cá chết. Nước mà không có cá… Nước mà không có cá…

Tóc ông Tư đã sâu sia nhiều sợi bạc. Thời gian ngoài chuyện làm con người già cỗi đi, nó còn tác hại sâu đậm vào trí óc cây sậy biết suy tư. Ông Tư cà lăm cà cặp không biết tìm ra mệnh đề nối tiếp. Hoặc giả sợ mình vô duyên. Nước mà không có cá thì… có sao đâu! Trăng vành vạnh sáng chỉ mỗi đêm rằm, đôi lúc bầu trời cao rộng thẳm đen thắp lẻ loi một vài vì sao mờ nhạt cũng nên hiểu là lẽ thường hằng của tạo hoá. Mọi thứ đều có chu kỳ để vận hành đi quanh.

Quán Cây Khế là hình ảnh một bể nước cảnh giam đủ đầy bộ sậu: Máy lọc róc rách nổi bong bóng, rong đong đưa, giả sơn, sạn sỏi, hang động trầm mình mà chỉ gặp duy vấn nạn: Thiếu cá. Do đâu? Công tâm mà nói, do cái quán Fung Hinh án lối ngay đầu đường. Bề thế, hoành tráng, long hổ sum vầy, nhe nanh lộ móng, điệu võ dương oai, khách khứa rậm rật sáng chiều. Sáng thì dim sum mà chiều thì sơn hào hải vị tam thập lục thức bốc mùi xào xẹt. Bồi bàn đồng phục thắt nơ cột bím, gái trai tươi mươi đon đả chào mời vô ra nhanh lẹ tợ biết lăng ba vi bộ.

Nghe cô Ba chép miệng chắt lưỡi, ngồi trên ghế ông Tư nhấp nhổm phát lời bình luận: Ngó dậy mà hổng phải dậy. Hoặc ngó lùng tùng xèn như rứa đó mà tiền đồ là cả một tuột dốc đứt thắng không thể kềm hãm. Nói cô Ba nghe, trước hết là cái cây sồi hình thù kỳ dị án trước quán mà chính quyền sở tại bảo vệ môi trường không cho ai di dời chặt đốn. Thứ hai, cánh cửa sơn màu đỏ loét phản cảm. Thứ ba, nội thất trưng bày quá nhiều gương soi. Chỉ ba điều ấy thôi cũng đủ phạm tới những huý kị ở trong lãnh vực phong thuỷ. Fung Hinh sẽ điêu đứng và Cây Khế sẽ mọc lắm trái vàng. Cô Ba tin tui hông?

Cô Ba mang ra cho ông Tư bình trà nóng, ngồi xuống ghế đối diện sơ hở cho Phật ngọc lung lay thoát khỏi khu vực bị cưỡng chế, lộ hàng dễ thắt tim ông Tư. Dậy hén? Ngộ quá ta, hơn ai cả người Tàu họ rành phong thuỷ hơn người mình sao họ chẳng hay chuyện chí tử nọ? Mà nói nào ngay người đồng hương ai cũng ngôn kiểu anh Tư thì tui mới có sức ngậm đắng nuốt cay để đi tiếp cuộc trầm luân này. Con Tưng đã chọn ra ngày lành và mai hậu bên đàng trai quyết dùng địa điểm cái dằm nằm trong con mắt ấy mà tổ chức hôn lễ rình rang. Lão chủ quán Fung Hinh vin vô tình lân bang láng giềng kỳ cựu nên có tính toán sổ sách gia giảm chút phí tổn bớt năm mươi phần trăm gọi là chúc mừng lứa đôi răng long đầu bạc. Chao ôi, mình lớn tuổi chậm lụt khù khờ chẳng tính được chuyện tựa bọn trẻ ngày nay. Sách hoạch, thậm tinh ranh, thậm mưu lược. Nói bỏ lỗi, chúng mà ra yêu sách, chúng mà đặt đâu là cha mẹ phải ngồi đó, cấp kỳ cấp lệnh. Yên vị, chớ nhúc nhích, không vị tình thái sơn suối nguồn gì ráo, buộc phải nghe theo nghiêm lệnh. Bắt trao đô phải hao tiền, cho mua xế khủng mới thôi ghiền ô tô! Nuôi con cho rạc rài thần trí hao mòn thể lực mà lớn lên con ho một tràng thời cha mẹ phải run theo. Qua tới đây cha mẹ phải bỏ quên roi vọt ở cố quận, đi mình ên thúc thủ mà trả món nợ đời. Đêm nằm tứ bề yên vắng, nghe gió vật vã vườn lạ mà tự dưng mắt cay tim lạnh co thắt dồn nén bao chuyện tủi thân.

Cô Ba nói đi mình ên thì ông Tư phải tin, vì suốt tháng năm dài thọc mạch dòm chừng ổng chưa hề ngó ra một nhân dạng đờn ông nào chàng ràng chấu rấu quanh thân cô Ba chủ tiệm. Gà mái nuôi con đằng đẵng nhưng con gà trống đạp mái thuở xưa đã cứng cựa bỏ đi đâu biền biệt chẳng vọng gửi về tiếng gáy mê sảng. Bình minh không hiện mọc vậy cô Ba có thực bụng tơ tưởng một đánh thức đầu ngày? Eo ôi, phận công nhân viên quèn lương ba đồng ba cọc không thể giúp ông Tư tròng đôi hia bảy dặm tự tin vượt biên tới những bến bờ trần tục. Ông đã vỡ mộng lắm phen, đã bị tình phụ muối xát gừng thoa lắm bận… nhưng tình ngay, có khi buồn chân ngang qua cửa hàng La Vie En Rose chuyên bán nội y đờn bà, ông vẫn tưởng tới một thứ định mệnh nằm dấu mặt sau ngổn ngang gò đống kia. Thế mới là màu hồng chứ. Đóng đô thường trực vào quán Cây Khế, người ơi, không phải đó là nuôi dưỡng sắc son niềm hy vọng ư?

Họ, cô Ba và ông Tư thường trò chuyện ngắn dài những thứ vô thưởng vô phạt lúc quán vắng. Cái ấy chưa thể gọi là tâm sự để dốc lòng sẻ chia đồng cam cộng khổ. Ngồi bên nhau, cảm nhận vu vơ thứ thời tiết sáng nắng chiều mưa và tối tuyết đổ câm nín chẳng phải là phương thuốc làm nguôi ngoai một nỗi niềm chưa tiện nói ra? Nhà trống lạnh thì gia chủ có thể bày biện thêm vật thể cho vui mắt. Treo lên vách bức hình tự sướng, đổ nước đầy bình để cắm vào đấy đôi ba cành hoa nụ hé ướt át ngậm giọt sương trong. Ngồi bên người nữ tợ cô Ba, ông Tư mường tượng là được buông xuôi thân xác, thả lỏng tứ chi để chăm mắt đọc từng hàng chữ đầu Ngô mình Sở có trên cuốn sách mà cô Ba không ngại giở lật. Đa phần là những trang đánh số mù mờ với nội dung chẳng mấy vui. Mà thực lòng, khi nghe ông Tư vạch áo chuyện mình, hẳn cô Ba cũng vấp phải điều gì thoạt nghe không ổn thoả. Phận di dân thường hiếm muộn niềm vui. Hoặc cái hạnh phúc họ muốn tích luỹ thảy đều bèo bọt. Ra ngồi bờ bãi hoang vu nghe sóng mãi gào ở xa, vốc một nắm cát thì chúng dần vơi hao hụt trong kẽ tay. Nhẹ đi, rơi mãi, luôn cạn kiệt.

Cô Ba than, con Tưng nó hại tui dàng trời. Khi khổng khi không bỏ quán làm tui hoa mắt tối lửa tắt đèn không biết đường mà rờ. Định bụng dìa Việt-nam một chuyến mà đành bù trất chết một cửa tử. Quán không ai trông coi, chẳng lẽ đóng cửa cả tháng nhìn đời hiu quạnh? Về bển làm gì? Đi thăm thú những ai? Hẳn anh Tư sẽ hồ nghi cật vấn. Số là con em tui ở dưới quê điện qua cho hay nhà nước sẽ san bằng mảnh đất nơi có mộ phần tía má tui an nghỉ. Họ chỉnh trang nâng cấp làm văn phòng du lịch, tụ điểm đưa đón chỉ bày cho khách đi tham quan thắng cảnh với di tích đổ vỡ hào hùng thời chiến tranh. Tui rảnh thì ngồi nói chuyện cùng anh, nhà nước mà quỡn thì họ bày ra khối chuyện để thêm rách việc. Phá cái này dẹp cái kia, chỉ thị thu mua thức này ra quyết định bán buôn hàng khác. Họ lu bu kiểu của riêng họ mà dân ngu khu đen không hiểu được. Ở chốn này mần ăn không khấm khá e do bởi chốn kia mồ mả gia tộc bị động chăng?

Cô Ba sa sầm nét mặt khi nói xong. Một chút thất thần, một chút hụt hơi, một chút ngây dại, tựa diện mạo của kẻ vừa bị móc túi, chới với cái mạng không đang sứt mẻ trầy trụa.

Con Tưng nó có vẻ đẹp tươi sáng của đứa con gái vừa đủ lông đủ cánh, nghĩa là sắc đẹp kia vừa hồn nhiên, vừa tự tin, vừa mơn mởn lụa là sung mãn. Một sự dấn thân rộn ràng đầy sức sống ít chạm trán nỗi buồn. Má nó thì khác, thứ hoa chỉ nở trong bóng tối, mang sầu muộn tới, dằn vặt để tượng hình ra một điều gì kề cận với mong manh. Khi về già người ta buộc phải sầu héo, và tàn phai không hẳn là điều nhằm trút bỏ hết những vàng son cũ. Phún xuất thạch đã trào dâng tự lòng núi lửa, nhưng nó sẽ để lại trên hoang mạc một chu vi màu mỡ ăn sâu vào đất. Ông Tư ước ao được làm nông dân chí thú việc cày bừa khai khẩn dẫu loay hoay trong tay lắm thứ phương tiện thô sơ ông đang sở hữu. Một lòng thành, chỉ có vậy thôi. Và lòng thành phải đi đôi với cam chịu những hy sinh tổn thất.

Không nói tới chuyện tiền trao cháo múc, khi xong việc đằng tiệm tạp hoá ông Tư tấp về quán Cây Khế, gắp thức ăn nóng sốt cô Ba vừa dọn ra, nhai, thưởng thức, ngó cô Ba mồ hôi mồ kê ướt áo xống, nuốt xuống và lòng ông ăm ắp chộn rộn hình ảnh người chồng đang được vợ hiền săn sóc hỏi han chu đáo, thiệt mát cả ruột gan, ngậm mà nghe. Sướng rêm mé đìu hiu. Con Tưng khiếm diện thường trực là điều kiện thuận lợi. Một kẻ thứ ba, sự hiện hữu của nó thường làm người trong cuộc rối trí, chao đảo lung lạc những trận đồ.

Khi có khách vào, ông Tư đã lắm phen tự động cầm tấm thực đơn lại mở rộng nụ cười chào mời, cơm dâng nước rót. Ngồi không cũng chướng, mấy lúc mà có dịp đi “xã giao” làm bộ làm tịch tợ người của Cây Khế, chua ngọt khoan nói tới, chưa đả động việc leo trèo hái bức. Cô Ba chỉ can ngăn cho có lệ, cho phải phép thế thôi chứ bản thân cô đâu phải hạng người có ba đầu sáu tay mà mần từ a tới z. Sao tới bến đặng? Cô oải và hơn ai cả ông Tư đã chứng nghiệm bộn lần cái hoạt cảnh một con vụ có tứ chi đầu bù tóc rối. Người ta mệt ngất ngư con tàu đi mà mình làm đứa vô cảm thì có đáng trách không? Càm ràm với háy, nguýt, giận cá chém thớt thì tình hình mất vui, môi hở thì răng sẽ lạnh, điều ấy ắt sẽ tới.

Thằng Sáu đảm nhận chức vụ rửa chén, quét dọn vệ sinh kiêm luôn job của Thiên lôi sai đâu uýnh đó, thấy ông Tư lăng xăng làm việc thiện nguyện, ngứa cổ đưa ra lời bàn, vọng từ chốn lầy lội xó xỉnh khuất tất: Không ấy chú bỏ mẹ chỗ làm kia đi, trôi về đây sum vầy có ngày mà đạt đạo. Chốn ni âm thịnh mà dương suy, phải có chú vô ra mới cân bằng được hoàn cảnh. Đôi khi riêng mình tui con chim đa đa lẻ bạn cứ bị nạt nộ rầy rà nghĩ mà tủi thân cho phận đờn ông thất cơ lỡ vận.

Ông Tư ném nguyên chồng chén bát đũa muỗng vào bồn nước đục lờ nghe thằng Sáu ca cải lương mùi, miễn cưỡng phải đằng hắng giọng, lên cung bậc giao duyên: Thôi đi mày ơi, chớ vẽ đường cho hươu chạy mà hư bột hư đường, tao hổng có kinh nghiệm gì ráo, ngộ nhỡ ưa gồng mình cũng sợ người ta chê bai. Tìm người phụ việc thì chí ít cũng ngon cơm sức lực như mày vậy, trọng tuổi như tao chỉ tổ làm họ thêm vướng tay vướng chân chứ được ích gì. Thằng Sáu cười, nghe như dê kêu, he he he: Chú nhiêu tuổi mà sớm nhụt chí? Ông bác tui hơn sáu bó mà còn chơi bảnh, dã về nước cưới con vợ có ba mí xuân xanh, đêm bảy ngày ba vào ra không kể. Lại khe khe khe, cười mà như bị mắc xương cá vào cần cổ.

Ông Tư lộn ra, ngó cô Ba đứng nơi quầy thu ngân. Tóc búi lên, cột một cục trên đầu nhỉnh hơn trái chanh, nhường cái cổ trắng cho ông Tư đặt mắt vô. Lưa thưa ở đó vài sợi lông măng in tuồng đang dựng đứng. Ông Tư thủ thỉ: E đi dìa quê một thời gian thay đổi không khí chẳng chừng là phương án tốt. Chớ nên bội bạc, phải quan hoài tới chuyện mồ mả ông bà cha mẹ đang bị người ta đào xới. Nhắm đi được không? Khoảng nửa tháng mươi ngày thôi. Thử kêu con Tưng một tiếng, có gì tui xin phép đặng tháp tùng theo chim trời mỏi cánh. Mấy chục năm rồi tui cũng chưa ngó lại mặt ngang mặt dọc cố hương. Đường xa vạn dặm có người đồng hành cho đỡ cực thân.

Cô Ba nhìn sâu vào mặt đối tượng, mắt long lanh. Cái khăn vắt vai bị cô lôi xuống vày vò trong đôi bàn tay. Cô chùi dầu mỡ thịt thà hành ngò mắm muối tỏi ớt và cũng muốn chùi trơn một cảm xúc vừa vướng mắc. Khi hoang mang thường người ta có những động thái thừa thải đến vậy, biểu tỏ sự khó xử. Vày vò cũng là cách thức nhằm gỡ rối những ý tưởng dùng dằng tiến thối lưỡng nan. Chùi tới chùi lui, trải ra xếp lại, như khăn ấy có ai vừa trao vào tay ở một sân ga diễn đầy cảnh đưa tiễn, người lên tàu lìa ra, kẻ ở lại đứng lóng cóng dậm chân nghe hao hụt lùa tới khi tiếng còi hú lên riết róng, nẫu ruột.

Trong vô thanh, giữa câm nín, mơ hồ một dự tưởng lần hồi được tượng hình, ngày mỗi nhích gần tới hiện thực. Giác quan của ông Tư đánh hơi ra bản hợp đồng tròn trịa mà cô Ba sẽ vui vẻ tác thành. Không chắc ông sẽ về quê nếu hay tin mồ mả bố mẹ đẻ bị cày xới, ông sẵn lòng đưa ra cả vạn lý do để thoái thác; nhưng giờ đây, một mãnh lực nào ập tới hối thúc, mụ mị mong chóng hoàn thiện cuộc lữ kia. Đường Tăng cùng Trư Bát Giới đi thỉnh kinh e cũng nghe ra sự khinh khoái lớn bằng ngần ấy thôi.

Và cô Ba gọi điện thoại cho con Tưng. Gọi khó khăn, ba chừng bảy đỗi bữa nhiếp bữa kia để bây chừ nó mới lộ hình. Tưng đến, như trăm khi, tựa vũ bão ập vào quán với những tiếng động đặc biệt mà Tưng tự khuấy động. Áo xống chễnh mảng ưa khoe da thịt và người ngợm thì luôn thịnh vượng hương thơm, reo rắc thứ mùi khó phân giải làm dật dờ mọi vật, làm át và giết ngay lập tức mùi mắm mùi lòng mùi dồi mùi cật mùi tim gan phèo phổi heo gà bò. Sự có mặt của đứa con gái mười tám tuổi điện nước thừa mứa như làm bừng tỉnh những bóng đèn vàng ưa chiếu sắc ủ dột, khung cảnh trong quán bỗng sáng hẳn lên.

Tưng vọt vào bếp, động nồi động niêu để nấu riêng cho mình món hải sản cầu kỳ chẳng có niêm yết trong thực đơn. Khuôn mặt đỏ au khi mang tô xe lửa ra bàn ăn. Tóc nhuộm nâu chen cài với vàng, cắt tuỳ tiện sợi ngắn sợi dài. Ngực vun đầy núp sau chiếc áo thun có nhiều lỗ thủng. Thằng Sáu lui cui sau bếp mà không lé mắt cũng uổng! Vừa ăn Tưng vừa liếm môi, cau mày nhọn mỏ: Má đi, con không có ý kiến. Con có thể kêu đôi ba đứa bạn tới phụ, trông coi hàng quán bán buôn thế má dăm bữa nửa tháng… Nhưng kẹt một nỗi, con đang lánh mặt người ta. Con xù, con bỏ. Vất hết, thèm vô! Mẹ rượt, nôm na là con không lấy thằng mắc dịch đó nữa. Khốn kiếp, ba thằng Tàu thảy chơi không được. Má biết nó nói với con ra sao không? Địt mẹ em tưởng em ngon hả, chỉ là người Việt thôi mà, ưa làm tàng hả? Rồi thằng a Pạt đằng quán Fung Hinh đổ thêm dầu: Cái quán Cây Khế của má nị chết tới nơi chứ béo bổ gì mà lên mặt. Đâu có “hủ xực” như đồ ăn Tàu. Má mà đóng cửa quán thì chúng ngộ nhận thêm khinh khi. Má nghe con nói không? Về bển mà được nước nôi gì trong lúc này. Người ta tìm cách chạy ra má lại kiếm cớ lộn vô, muốn từ chết tới bị thương hả?

Ông Tư ngồi rùn vai, thu nhỏ người lại. Vậy là hết. Chắc chẳng ra ngô khoai cơm cháo gì nữa. Nói trước bước không rời, tắt thở chuyến song hành cùng nhau đi về miền quá khứ xa xôi. Ta lại phải nhắm mắt cày bừa như số phận đã định. Tiệm tạp hoá đằng ấy cũng có phần hùn của người Trung quốc, hàng hoá đa phần đều dán nhãn Made in China, từ cây tăm tre xỉa răng cho chí những máy móc kềnh càng rắc rối. Áo nịt ngực cho phụ nữ có thể làm ung thư vú, giày da dành cho phái nam có thể gây tác hại lỡ móng sưng chân. Gối kê đầu có thể tạo biến chứng mất ngủ rụng tóc. Đồ chơi dành cho con nít thì baby đụng vào cơ thể không chịu tăng trưởng. Thiên hình vạn trạng các thứ nhuốm độc tố trên từng cây số, ông Tư chẳng tường, chỉ nghe báo đài cảnh giác vậy thôi. Ngực con Tưng “xịn” thế kia, bềnh bồng như hai hòn đảo mà để rơi vào tay thằng Tàu mân mê sờ soạn, nghĩ cũng phí. Xem ra con Tưng thuộc diện thức thời. Nó ăn nói bổ bã vậy chứ thực bụng thuộc tuýp ưa tắm ao nhà, chả ham thích của lạ, biết phân biệt chánh tà.

Ông Tư tợp hết chén nước trà đắng sau khi nghe cô Ba khẻ khàng bên tai: Xin lỗi anh Tư nghen, anh giỏi chân dìa cho má con tui đóng cửa nói chuyện riêng tư đại sự. Nhờ trời sau này tình hình yên vui thuận lợi nhứt định tui gọi anh Tư tới bàn tiếp việc thăm quê cho bỏ những ngày cơ cực.

Ông Tư nghĩ mình bị đuổi khéo, tuân thủ bỏ ra ngoài đường thấy lạt miệng nhạt mồm. Ông ngó xuôi dòm ngược chẳng biết đang muốn mong một điều gì. Thằng Sáu mang hai bao rác lớn đi vất dáo dác đến gần: Bặp điếu thuốc cho thơm râu, tía. Dù buộc kín, đồ cặn bã hầm bà lằng nằm trong bao cũng xông mùi chua lét khiến xây xẩm. Ừ, chơi một điếu cho lai tỉnh thần hồn. Mẹ, cái xứ này mênh mông buồn tới độ tìm không ra chỗ để đi! Thằng Sau nhổ nước miếng: Trời, nói chi như không vậy tía. Sợ hổng đủ sở hụi thôi, chứ đất này chán khối mục cám dỗ. Muốn yêu tinh có yêu tinh, muốn ma nữ có ngay ma nữ. Thích chay có chay, ham mặn có mặn. Hang ổ đồi truỵ mọc đầy như nấm sau mưa. Bị tía chí thú đi mần việc, tan tầm lại tới quán này ngồi đồng nên bù trất chuyện rậm rật bên ngoài cảnh giới.

Ông Tư quăng điếu thuốc. Thôi mày, lúc nào cũng ưa ca cẩm lung tung, để tao về ngủ cho yên thân phận già. Ông quay lưng, chất nỗi sầu trong dáng đi cắm cúi. Ông tới đứng bên tấm bảng hiệu mà chốc lát nữa xe buýt sẽ dừng đổ để tha ông về, thả ngay trước phòng trọ quanh năm yên hàn quạnh quẽ, một mực lặng như tờ. Phố lên đèn, bóng lá cây phong đen đúa vờn trên thân ông. Tự dưng ông Tư nhớ ra câu ca dao coi mòi hợp tạng:

“Lên non đốn củi đụng chỗ đốn rồi,
Xuống sông lấy nước gặp chỗ cát bồi khe khô!”.

Hừ, bún mắm với cháo lòng. Nhức đầu với nhức xương. Quê hương và cây khế, từ nay xin vĩnh biệt, người ơi!

Hồ Đình Nghiêm

Huế, trận đánh Mậu Thân

Keith William Nolan – Huế, Trận đánh Mậu Thân

Hoàng Long Hải dịch

Posted on 29 Dec 2014 by quanvan.net

Post by Sơn râu 17 Dec 2023

(Bút ký về trận đánh kéo dài 26 ngày tết Mậu Thân năm 1968 ở Huế)

Bài 2 

Lời Nói Đầu

Huế, cũng như Saigon, tới đêm thứ hai mới bị tấn công. Và cũng như Saigon, Huế chẳng chuẩn bị gì để đối phó với địch mặc dù được báo động trước một ngày. Dù vậy, những người bảo vệ Huế không đủ khả năng chống lại những người tấn công họ. Cộng Sản đã đạt được những điểm tựa vững chắc và hoàn thành mục tiêu của họ.

Thực ra, Huế có hai thành phố: Khu Nội Thành, thường được gọi là Thành Nội Huế, là một pháo đài có tường thành bao bọc, theo kiểu hoàng thành Bắc Kinh. Một khu vực tường cao và vuông vức, mỗi cạnh dài khoảng hai dặm Anh, nằm bên bờ sông Hương, một thời là nơi sinh hoạt của các vị “hoàng đế An-Nam”. Ở đây có nhiều kiến trúc cổ và tôn kính, gồm cả kỳ đài Ngọ Môn và điện Thái Hòa. Một trong những ít ỏi đền đài văn hóa của người Việt Nam, bao bọc che chở bằng một tường thành cao mười sáu bộ và bề dày tường thành thay đổi từ sáu mươi đến trên hai trăm bộ.

Tướng Ngô Quang Trưởng (năm 1968 là đại tá – ngd), Tư Lệnh Sư Đoàn 1, làm lễ thượng kỳ tại thành Mang Cá, (bộ Tư Lệnh Sư Đoàn) vào sáng ngày 30 tháng Giêng dương lịch, để kỹ niệm ngày đầu năm âm lịch. Ngay sau đó, ông ta nhận được nhiều tin dữ, báo cho biết quân Cộng Sản tấn công nhiều nơi trong nước. Một cách thận trọng, nhưng không biểu lộ lo lắng quá đáng, ông ra lệnh báo động toàn sư đoàn và chỉ thị cho quân nhân phục vụ tại Bộ Tư Lệnh cấm trại đêm hôm đó. Hành động cẩn mật nầy làm cho Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn không bị thiệt hại gì và toàn bộ sư đoàn không rơi vào tình trạng đột ngột. Mặc dù tướng Trưởng không biết, nhưng đặc công Cộng Sản đã xâm nhập vào thành phố từ hai ngày trước và đang chờ hai trung đoàn Cộng Sản từ bên ngoài tấn công vào.

            Những trung đoàn nầy, trung đoàn 5 do trung tá Nguyễn Vân chỉ huy, và trung đoàn 6 do trung tá Nguyễn Trọng Dần chỉ huy, bí mật tiến về Huế trong lúc tướng Trưởng làm lễ chào cờ đầu năm. Nhìn chung, tám tiểu đoàn của hai trung đoàn nầy, gồm bảy ngàn rưởi binh lính, kể chung cả quân Việt Cộng Miền Nam và Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) đảm nhận việc đánh chiếm thành phố Huế.

Vào khoảng hai giờ sáng, binh lính của Dần, nhờ sương mù dày đặc và hướng dẫn viên đưa vào thành phố đã bí mật tới được vùng ngoại ô Huế, rồi tiến thẳng vào mục tiêu: Thành Nội Huế.

Vào lúc 3giờ 40 phút sáng họ tiến tới một khu vực, làm cho lính canh hoảng hốt, ngạc nhiên, và tức khắc quân Cộng Sản thiết lập được một đầu cầu. Trong khi đó, binh lính trung đoàn 5 của trung tá Vân, bị trì hoãn vì lọt vào một cuộc phục kích của Quân Đội VNCH. Họ phải vội vàng chống trả một toán quân nổi tiếng thiện chiến. Vì vậy, tới sáng, hai trung đoàn chỉ chiếm được có một phần Thành Nội. Họ không thể chiếm toàn bộ khu nội thành mà phải chia phần trong với những người lính chiến đấu một cách dũng cảm của tướng Trưởng. Khoảng hai tiểu đoàn quân số và trang bị đầy đủ chiếm đóng phần trọng yếu trong Thành Nội. Trong khi hai tiểu đoàn nầy lo củng cố vị trí mới chiếm được thì các tiểu đoàn khác củng cố vị trí của họ bên ngoài thành phố, đặc biệt ở khu hữu ngạn (phía nam) sông Hương. Tới 8 giờ sáng, các sĩ quan Đồng Minh cảm thấy buồn phiền khi một lá cờ to của Cộng Sản ngạo nghễ bay trên cột cờ Ngọ Môn.

Ngay lập tức, lực lượng Đồng Minh phản công.

Hải Quân Mỹ, quân Nhảy Dù, Thiết Giáp Việt Nam Cọng Hòa cố gắng đánh bật quân Cộng Sản ra khỏi thành phố. Họ thất bại. Cố gắng đầu tiên của họ trở thành một mô hình. Ngày hôm sau, các đơn vị Đồng Minh nổ lực đẩy quân Cộng Sản ngoan cố ra khỏi Thành Nội và nới lỏng việc nắm giữ chặt chẽ vùng phụ cận. Tuy nhiên, họ thấy tình hình khó khăn đến nỗi không thể không gánh chịu thương vong nặng nề. Họ cũng hết sức miễn cưỡng phải xử dụng các loại vũ khí có sức tàn phá lớn tại đây, trung tâm văn hóa mà địch quân đã đào hào đắp hố để chống cự. Kết quả là một cuộc chiến đấu căng thẳng, đánh cận chiến qua từng nhà một, vô cùng đẫm máu và kéo dài.

Rút từ “Summons of the Trumpet”

                Dave Richard Palmer, Presidio Press, 1978 trang 192-93

Huế, trận đánh Mậu Thân

Keith William Nolan – Huế, Trận đánh Mậu Thân

Hoàng Long Hải dịch

Posted on 28 Oct 2014 by quanvan.net

(Bút ký về trận đánh kéo dài 26 ngày tết Mậu Thân năm 1968 ở Huế)

Keith William Nolan

hoànglonghải dịch

Vài lời của người dịch:

            Có hai lý do chính thúc đẩy tôi dịch tác phẩm nầy. Thứ nhất là vì chúng ta biết ít về việc người Mỹ đã chiến đấu ở Việt Nam như thế nào. Tôi là nạn nhân trận đánh Tết Mậu Thân ở Huế, tuy có theo dõi và quan sát tình hình xảy ra tại chỗ và qua báo chí, đài phát thanh, cũng như trong thời gian phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, làm phóng sự phát thanh, phục vụ trong ngành Cảnh Sát Quốc Gia, tại những vùng quê xa xôi hẻo lánh; tôi cũng không rõ lắm về những người lính Mỹ đã chiến đấu, chịu nguy hiểm, thương vong như thế nào.
Có lẽ điều đó không riêng gì tôi mà thôi. Do đó, tôi dịch cuốn sách nầy để người Việt chúng ta thấy người lính Mỹ đã chiến đấu và hy sinh ra sao, đã giải phóng những vùng ở Huế bị Việt Cộng chiếm đóng và giết chóc đồng bào như thế nào.

Ngày 9 tháng Giêng âm lịch Tết Mậu Thân, khi Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đẩy quân Việt Cộng ra khỏi Bến Ngự, đồng bào khu vực nầy lánh nạn về trường Kiểu Mẫu Huế. Họ vui mừng biết bao nhiêu. Chính tôi cũng như bạn bè gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi, vì vừa thoát khỏi vùng tử địa. Chính gia đình của nhạc sĩ phản chiến Trịnh Công Sơn cũng từ khu nhà cho thuê của Giám Mục Ngô Đình Thục bên cạnh cầu Phú Cam cũng chạy về đây lánh nạn.

Thứ hai là vì gần đây, trong cuộc tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2004, báo chí và truyền hình Mỹ nhắc lại quá trình hoạt động của ông John Kerry, Thượng Nghị Sĩ. Sau khi tham chiến ở Việt Nam về, ông John Kerry tham gia phong trào phản chiến ở Tiểu Bang Massachusetts, tố cáo rằng lính Mỹ ở Việt Nam đã bắn giết bừa bãi cả trẻ con, đàn bà, hãm hiếp phụ nữ và cướp bóc. Tất cả những gì mà quân đội viễn chinh Pháp (trong đó có người Ma-Rốc, Senegal, v.v…) đã làm trong cuộc chiến tranh Việt Pháp 1945-54, nay ông John Kerry đổ hết lên đầu những chú lính GI của Quân Đội Hoa Kỳ. Đó là một sự vu cáo trắng trợn, bôi đen Quân Đội Mỹ.
 Đọc lời dẫn nhập trong phần sau đây, độc giả sẽ thấy những người lính Mỹ sau khi tham chiến ở Việt Nam, họ phải gánh chịu một tình cảnh hẩm hiu và đáng thương như thế nào. Điều đó, một phần nào đó là do lỗi chính ở ông John Kerry và những người trong phong trào phản chiến của ông ta vậy.

Massachusetts
tháng 9/04
tuệ chương

Bài 1 – Dẫn nhập

            So với cuộc chiến tranh nổi tiếng như Thế Giới Chiến Tranh thứ Hai mà Mỹ đã tham gia thì ngày nay, trận đánh ở Huế vẫn là một tên tuổi gần gũi. Hơn thế nữa, những người sống sót trở về, thay vì được hoan hô như những anh hùng, và những ai đã ngã xuống phải được tưởng nhớ, thì những điều ấy đã không thành hiện thực. Những người Mỹ từng chiến đấu ở Huế là một phần của một thế hệ kém may mắn, những người chính đất nước họ không thể tách rời chiến tranh ra khỏi chiến binh, và họ là những người bị xa lánh vì đã không từ chối khi trách nhiệm đến với họ. Tuy nhiên, đối với chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến không được dân chúng mong muốn, người dân Mỹ tuồng như quên rằng binh lính của họ đã từng chịu đựng nhiều nỗi gian khổ và thiếu thốn như những người đi trước họ, những người từng được tán dương mạnh mẽ trong Thế giới Chiến tranh thứ Hai.

Cuốn sách nầy (The Battle for Huế) tập trung nói lên những nỗi gian khổ ấy, – một cuộc chiến tàn bạo, kéo dài suốt một tháng, đánh nhau từ nhà nầy qua nhà khác, chính yếu bằng ba đại đội thiếu quân số và thiếu trang bị, thuộc các tiểu đoàn bộ binh Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (TQLC/ HK).

Khi các người lính TQLC/ HK đang đánh nhau với kẻ địch ở Huế hồi ấy, tôi mới có ba tuổi. Khi lớn lên thì cuộc chiến đó càng lúc càng mờ nhạt, xa xôi mà người ta coi đó như là những gì xấu xa. Trong niềm im lặng ấy, – pha hợp phức tạp bằng vẻ khiếm nhã của các thầy giáo có trí óc cởi mở của tôi, khi nói về vụ Mỹ Lai, và với những cựu chiến binh nghiện ma túy và thần kinh rối loạn, – đã làm nảy sinh trong tôi sự yêu thích đề tài chiến tranh nầy. Điều làm tôi băn khoăn là nhiều đồng bào tôi chẳng thể chịu đựng được nhiều như thế, hoặc rất ít người quan tâm tới. Điều làm tôi băn khoăn nữa cũng là việc những người bỏ trốn qua Canada hay ở nơi nào đó, để khỏi tham gia chiến tranh Việt Nam, tán dương lòng nhân đạo của họ, trong khi những người không trốn chạy thì phải đối đầu với gian khổ và hiểm nguy một năm trong chiến tranh địa ngục Việt Nam, những người đó bị coi là đã bắn giết đàn bà trẻ em, nghiện hút và non nớt, dễ bịp.

            Tôi bắt đầu tìm kiếm tài liệu cho đề tài tôi ưa thích và tôi tìm được một nguồn tài liệu độc nhứt nhưng thực sự quan trọng: Những người từng có mặt tại trận chiến đó.

Dĩ nhiên cuốn sách nầy được viết bằng cách phỏng vấn những người đó, là một câu chuyện lịch sử nói về thời điểm, chiến thuật, đơn vị, tiếp liệu và những gì đã tạo ra cuộc chiến ở Huế.

            Nhưng những tài liệu hữu ích của các cựu chiến binh nầy, còn có thể nói lên thêm vài điều nữa. Nó mô tả sự hiện hữu hằng ngày của các chiến binh TQLC trong trận chiến dài một tháng đó, những nỗi sợ hãi, chiến thắng, bạn bè mất mát, tình chiến hữu, chán nản và mệt mỏi. Tôi được may mắn nói chuyện với các vị chỉ huy trong trận đánh Huế, lại càng may mắn hơn được nói chuyện với những người lính bộ binh. Cuốn sách nầy hầu hết nói về họ, về trận chiến được nhìn bằng chính mắt họ vậy.

Tôi vẫn thường nhớ ơn một cách sâu xa những cựu chiến binh đã giúp tôi hoàn tất tác phẩm nầy. Tôi cũng từng nói chuyện với những người không ở Huế, và tinh thần những cuộc nói chuyện đó được ghi lại trong sách nầy. Tôi có cơ may chuyện vãn với khoảng 3/4 cựu chiến binh tham dự trận đánh Huế. Một số những người đó, ngày nay là các tướng lãnh, mặc dù rất bận bịu, cũng dành thì giờ xem lại bản thảo của tôi, cũng như rà soát lại tin tức tôi có được. Những người khác, những người lúc ấy còn trẻ, đã giúp tôi công việc nầy, ngay từ khi bắt đầu và kéo dài suốt nhiều năm. Tôi xin cám ơn tất cả mọi người. Tôi xin bày tỏ lòng cám ơn sự giúp đỡ của họ cũng như niềm tin đã đưa tới một kết luận vững chắc.

Các cựu chiến binh đặc biệt giúp đỡ hoàn thành cuốn sách nầy gồm có:

            -Tướng William C. Westmoreland (hồi hưu),

-Tướng Foster C. LaHue (hồi hưu), tướng John J. Tolson (hồi hưu).

            -Đại tá Frank Breth, đại tá James Coolican, đại tá Marcus J. Gravel, đại tá Robert H. Hamilton (hồi hưu), đại tá Myron C. Harrington, đại tá Edward J. LaMontagne (hồi hưu), đại tá Wayne R. Swenson, đại tá Robert H. Thompson (hồi hưu).

            -Trung tá Gordon D. Batcheller, trung tá Terry Charbonneau, trung tá William Harvey, trung tá Ralph J. Salvati (hồi hưu)

            -Thiếu tá James V. DiBernardo (hồi hưu), thiếu tá Harold Pyle (hồi hưu).

            -Đại úy Dale A. Dye, William Dickman,

            -Trung sĩ Frank Thomas, trung sĩ Joseph L. McLaughlin (hồi hưu), trung sĩ Paul Thompson (hồi hưu), trung sĩ Josef Burghardt (hồi hưu), trung sĩ Richard W. Carter, trung sĩ Edward F. Neas, trung sĩ Steve Berntson (hồi hưu).

            -Thiếu úy Richard Lyons (hồi hưu), thiếu úy Patrick Polk (hồi hưu).

            -Hạ sĩ Dan Allbritton (hồi hưu), Peter Braestrup, hạ sĩ Bill Jackson (hồi hưu), hạ sĩ Edward Landry (hồi hưu), hạ sĩ Lewis C. Lawhorn (hồi hưu), hạ sĩ Brian Mayer (hồi hưu), George Schamberger (hồi hưu), và Don Webster.

-Đặc biệt chân thành cám ơn Tướng O.K. Steele (ra trường cùng lớp và cùng năm 1956 với thân phụ tôi, William F. Nolan). Khi là đại tá, làm chỉ huy trưởng một đơn vị Hải Quân đóng tại Washington D.C. Năm 1981, Steele mời tôi đến sống hai tuần với gia đình ông ngay trong doanh trại quân đội. Đó là một cuộc thăm viếng kỳ lạ. Tướng Steele không những kể cho tôi nghe những hồi ức của ông về Huế, chỉ cho tôi thấy hướng thành công do TQLC đạt được, và sắp đặt cho tôi phỏng vấn Bill Harvey và Harold Pyle.

            -Cũng xin bày tỏ lòng cám ơn với Trung Tâm Tư Liệu Lịch Sử Binh Chủng TQLC tại Washington D.C., đã cung cấp cho tôi vô số tin tức cũng như tài liệu liên quan đến TQLC tại Việt Nam. Hai vị trong cơ quan nầy, tướng hồi hưu Edwin H. Simmons và Robert Skidmore đã tận tình giúp đỡ và khuyến khích tôi trong suốt mấy năm tôi tìm kiếm tư liệu ở đây.

Keith W. Nolan
Tháng Tám 1983

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 17 Dec 2023

Bài 26 – Bài cuối

Bidong, huyền thoại về một hòn đảo rắn

Trước 1975, có lẽ người Việt Nam không mấy ai biết tới đảo Bidong. Ngay cả những hòn đảo nhỏ như hòn Khói, hòn Tre, hòn Ngang, hòn Heo, cái thì ở Biển Đông, cái thì ở trong vịnh Rạch Giá, người Việt chúng ta cũng không biết nữa là, nếu không học địa lý hay có dịp đi ngang qua, dừng lại. Huống chi đảo Bidong nầy, hòn đảo nằm tuốt gần cuối vịnh Thái Lan, gần tiểu quốc Terrenganu của Mã Lai, hòn đảo nhỏ xíu, thiếu đất trồng trọt, thiếu nước ngọt, nên cư dân không ở được. Đó chỉ là trạm dừng chân của ngư dân Mã Lai trên đường đi đánh cá ngoài biển xa. Họ dừng lại đó một bữa, vài hôm, chờ qua cơn biển động, chờ lấy thêm tiếp tế, v.v…
Thế rồi bỗng nhiên nhiều người Việt Nam biết tới Bidong. Bidong là nơi đón thuyền nhân tỵ nạn. Vậy nên tôi cũng tò mò, muốn xem thử Bidong nằm ở đâu trong vịnh Thái Lan. Từng dạy môn lịch sử địa lý, vậy mà tôi cũng chẳng biết gì về Bidong cả.
Tìm được một bản dồ Đông Nam Á, coi thật kỹ, chẳng thấy Bidong đâu. Lại phải tìm một bản đồ Mã Lai, ở nhà ông anh rể tôi, một người từng ôm mộng vượt biển biết bao nhiêu lần nhưng thất bại. Bây giờ thì tôi thấy Bidong rồi. Hòn đảo nhỏ xíu, nằm phía dưới đảo Redang lớn gần gấp đôi. Bên cạnh chữ P., viết tắt chữ Poulo, có khi là Palau, có khi là Pulau, là chữ Bidong, viết nguyên chữ. Tôi nói thầm: Đây rồi! Bidong đây rồi.
Tôi có một cảm xúc kỳ lạ khi tìm ra hòn đảo ấy!
Có phải nó đóng một vai trò nào trên con đường Nam Tiến của người Việt?
Theo sử thì: Người Lạc Việt, không muốn bị đồng hóa như 99 Việt khác trong “bách Việt”, theo con chim Lạc, con chim được vẽ hình trên trống đồng Ngọc Lũ, từ Quảng Châu đi dần về phương Nam, định cư ở lưu vực sông Nhị Hà, dài tới quận Cửu Chân tức Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay.
Và rồi dân tộc nầy không chịu dừng chân ở đó: Phía bắc đèo Ngang.
Họ đi dần về phương Nam, mở mang quận Nhật Nam, lấy đất Chiêm Thành, khai phá vùng Thủy Chân Lạp…
Tới đó là biển, người Việt Nam đã dừng lại chưa? Cuộc di cư nầy cũng giống như cuộc Tây Tiến (Westward) của ngưòi Mỹ.
Tới California, gặp bờ biển Thái Bình Dương cản đường, họ dừng chân lại. Liệu họ có mãi mãi đứng lại nơi nầy, hay họ thực hiện ý đồ xa hơn, biến Thái Bình Dương thành biển nội địa của Mỹ, như viễn tượng của nhóm New Frontier (1) của anh em nhà Kennedy?
Người Việt Nam cũng không dừng chân ở mũi Cà Mâu, ở bờ biển vịnh Thái Lan. Họ đã đóng tầu đi nữa, tương tự như ý tưởng của thằng bé Jody trong The Red Pony của John Steinbeck, vượt qua cái vịnh mênh mông nầy, tạm dừng chân ở Bidong, trong cuộc viễn hành tìm Tự Do.
Cuộc Tây Tiến của người Mỹ đầy gian khổ, máu và nước mắt. Vậy thì cuộc Nam Tiến của người Việt có kém gian khổ hay không?
Trong tâm tư của người Việt đi dần về phương Nam, có một nỗi lo sợ lớn lắm, sợ cảnh rừng cao núi thẳm, sợ “Cọp Khánh Hòa, ma Bình thuận”, chính là những “Ma Hời sờ soạng dắt nhau đi” như trong thơ của Chế Lan Viên. Họ sợ cả dòng nước cạn, núi thẳm, đèo cao, sợ cả tiếng chim hót, tiếng con cá quẫy:
“Tới dây đất nước lạ lùng,
Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh.”
Vậy mà họ không dừng lại ở Rạch Giá, Cà Mâu, họ đi nữa, dù bão tố, dù hải tặc, cả trăm cả ngàn cái chết rất cận kề, trước mắt. Sư gian khổ, can đảm đó, và cả sự liều lĩnh đó nói lên sức sống, tinh thần của một dân tộc. Dân tộc đó, không dễ bị khuất phục dưới bạo quyền.
Vì vậy, trong một ý nghĩa nào đó, Bidong là biểu tượng tinh thần Yêu Tự Do, Yêu Công Lý của dân tộc đó vậy!
Nhưng quả thật cuộc Tây Tiến của người Mỹ và cuộc Nam Tiến của dân tộc Việt Nam, chỉ giống nhau ở những gian nan, nguy hiểm, ở sự chết chóc và khổ đau, đầy máu và nước mắt, nhưng khác nhau ở một điểm khá lạ lùng! Người Mỹ đi về phía Tây là để mở mang bờ cõi, làm cho đất nước thêm giàu có, thêm thống nhứt, bền vững. Cuộc Nam Tiến của người Việt có giống như vậy không?
Trước sức mạnh Hán hóa của người Tầu, thực chất cuộc di cư của giống Lạc Việt di cư về phương Nam là một cuộc trốn chạy.
Thêm một biến cố nữa: Khi Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm chống nhau với nhà Mạc, tạo nên cuộc phân ly “Nam – Bắc triều”, thì những người tụ lại ở phương Nam, không phải là vì sợ nhà Mạc “Bắc triều” hay sao? Thế rồi vì cái chết của Nguyễn Uông, nên Nguyễn Hoàng sợ mà xin Trịnh Kiểm về trú ở phương Nam, năm 1558, tìm một chỗ “Vạn đại dung thân” thì há không phải đó cũng là một cuộc trốn chạy nữa hay sao?
Biến cố lớn của gần một triệu người di cư năm 1954, cũng chỉ là một cuộc trốn chạy chế độ Cộng Sản ở bắc vĩ tuyến 17. Biến cố 30 tháng Tư-1975, với hơn một trăm ngàn người chạy ra biển Đông, và ngày nay, người Việt lại vượt biển đi về phương Nam, há không phải là một cuộc trốn chạy Cộng Sản một lần thứ nữa?!
Và cũng lắm khi tôi bâng khuâng tự hỏi, trong tương lai, con cháu chúng ta còn chạy trốn ai nữa hay không? Liệu người Tầu chịu ở yên trong cương giới của họ, hay với sự tiếp tay của Cộng Sản Việt Nam, “cỏng rắn cắn gà nhà”, người Tầu sẽ đem hàng triệu dân và quân xâm lăng phía Nam như người họ đã từng làm trong lịch sử, thì chắc chắn tai họa sẽ giáng xuống đầu người dân Việt. Như vậy thì đợt ra đi nầy chỉ mới là đợt đầu? Và còn bao nhiêu đợt trốn chạy nữa, nếu như Việt Nam bị Bắc thuộc lần thứ tư, thứ năm.
Đợt đầu đã ra đi. Đi là vì không muốn nhân phẩm bị chà đạp, bị bóc lột, bị tước đoạt tự do… Nhưng đi cũng là chia lìa. Có người ra đi bỏ lại cha mẹ, bỏ lại vợ con, bỏ phố phường, bỏ xóm làng, bỏ giòng sông, bỏ lũy tre, bỏ hàng phượng, bỏ và bỏ…
Đi là bỏ hết. Nhưng cái mà người ta bỏ lại, chính nó lại là hành trang của người ra đi, là hành trang trong tâm tưởng. Người ra đi cố gói ghém những cái bỏ lại mà để sâu trong lòng mình.
Và rồi, đâu có phải là không có gì thay đổi. Hình ảnh của giòng sông ngày ra đi được gói vào trong long. Nó không phải là giòng sông của ngày trở lại. Hàng me của ngày ra đi, nó không phải là hàng me của ngày trở lại…
Mọi vật đều biến thiên, thay đổi. Vì chính lòng người cũng đổi thay kia mà? Ai mà lòng không thay đổi. Từ giờ khắc lúc gặp gỡ ban đầu và giây phút cuối trước giờ ly biệt, lòng người ta không ai thay đổi chăng? Có cái gì cứng như đá, vững như đồng để không đổi thay. “Rêu nhạt” đã đành mà “đá cũng mòn” đấy! “Đá mòn rêu nhạt, nước chảy huê trôi” (2). Đồng cũng cứng đấy, nhưng bây giờ có ai biết “đồng trụ chiết” ở đâu?!
Thi văn ca nhạc, nói tới thủy chung, ca ngợi thủy chung nhưng thường đó chỉ là mộng mị.
Khi người ta kéo nhau đi, nói trước rằng sẽ đi, hay lặng lẽ ra đi, và không hẹn mà gặp nhau ở … Bidong. Tại sao là Bidong mà không phải nơi nào khác. Có gì đâu, Bidong là cửa ngõ: “Ngưỡng cửa tự do”, “Cánh cổng của Thiên đường”. Muốn vào Thiên đường, muốn đến vùng đất tự do, trước tiên người ta phải gặp nhau ở đấy. Đó là những cuộc gặp gỡ có hẹn trước, hoặc không hẹn mà gặp. Mỗi người cũng nhìn mỗi cách khác:
Đó là ân sủng của thượng đế, của Chúa, của Phật, của cả thánh Ala hay nói cho cùng, như tôi nghĩ cũng chỉ là những ngẫu nhiên (hazards) trong cuộc sống. Vâng, chính là ngẫu nhiên. Đời người, khởi thủy từ tiếng khóc khi rời bụng mẹ, cho tới khi đã nằm yên trong ván quan tài, chỉ là những ngẫu nhiên tiếp nối. Tạo hóa sinh ra con người, và rồi để tự mặc cho con người tự nó vùng vẫy trong cuộc sống, “khôn sống, bống chết”, như tục ngữ, hay “Khôn chết, dại chết, biết sống” như lời ông Khổng Tử.
Bidong là một xã hội thu hẹp. Ở đó người ta thấy nhiều mặt của cuộc sống khôn dại, biết hay không biết gì, có tình hay vô tình, có thương yêu giúp đỡ và cũng có ghét bỏ, tị hiềm, và có cả những người làm quan cũng như có cả những cô làm đĩ.
Có tới Bidong, người ta sẽ thấy sức chịu đựng dẻo dai và sức sống mãnh liệt của người Việt Nam. Ở đây, ăn thì không đói, có nghĩa rằng gạo không thiếu. Người ta còn dư gạo để nấu rượu lậu nữa là. Nhưng thức ăn thì thiếu. Mỗi tuần ba lần phát thức ăn: Thứ hai phát cá, thứ tư phát gà, thứ sáu phát cá hay gà. Cá thì thường là các nục, một món khoái khẩu của người Việt, nhưng gà thì thuộc loại gà công nghiệp, thịt đã không ngon, nhảo nhẹt, nhưng hình như đó là loại thịt của những con gà mái không còn sức để đẻ trứng được nữa. Nói theo kiểu hài của Phi Thoàn thì đó là thịt của những con gà đã có cháu ngoại, có khi là chắt, chiu chít…
Vậy thì người ta thiếu rau. Các gian hàng Mã, gian hàng Tầu trên đảo không thể cung cấp đủ. Và thế là thuyền nhân tự trồng lấy. Không thể trồng rau trên bờ biển cát.
Bidong có một ngọn núi, và từ trên đỉnh của nó, có một con suối cạn, chảy xuống biển. Con suối ấy chảy qua khoảng giữa hai triền núi mà cuối triền là khu B và khu D. Vì vậy, con đường nối liền hai khu có một cây cầu gỗ, khá chắc, xe chở rác chạy qua được.
Vậy là hai bên bờ suối, từ khu B trở ngược lên đầu ngọn suối, thuyền nhân cuốc, san những mảnh vườn nhỏ, trồng rau muống, đậu bắp, cà… Có không biết bao nhiêu mảnh vườn hai bên bờ suối ấy.
Nó có từ hồi nào, không ai biết, bởi vì những vị “khai canh” những mảnh vườn nầy đã đi định cư từ hồi nảo, hồi nào. Cả đám “hậu duệ” hưởng cái của “hương hỏa” ấy, cũng không biết vị “khai canh” là ai. Rồi sau ngày “đóng cửa đảo”, người tỵ nạn đến càng đông, thời gian ở lại càng lâu, nên “khu nông nghiệp” hai bên bờ suối càng phát triển, càng đi dần ngược lên “Đỉnh gió”. Đất ở đấy, suối ở đấy, người ta cứ xuống suối xách nước tưới cho rau trái mau xanh, để dùng hay đem bán.
Tới mùa nắng, suối đã cạn, không còn nước để tưới.
Phải phục cái trí thông minh của người Việt. Suối chỉ cạn trên mặt, nhưng dưới đáy suối còn những mạch nước ngầm. Thế là người ta đào giếng lấy nước. Mỗi cái giếng thành một trung tâm: Nơi để lấy nước tưới rau, nơi để tắm giặt và cũng là nơi người ta dựng một mái lá, giăng võng và đánh một giấc ngủ để… quên đời.
Tôi cũng đã đến một vài “trung tâm” như thế, không phải để đào giếng, mà để tắm giặt, đưa võng, nhìn một khoảng trời mênh mông có vài làn mây trắng.
Trời ở đâu cũng giống nhau nên dễ làm cho người ta nhớ tới bầu trời ở quê hương, bầu trời trên một giòng sông, trên một ngọn đồi, trên đỉnh Trường Sơn hay trên một cánh “đồng chó ngáp” (3) của vùng đất Nam bộ.
Thuyền nhân ra đi từ quê nhà, không ít là những ngư dân. Họ ở gần biển, ở các hòn cù lao trong vịnh Rạch Giá nên dễ vượt biên.
Rồi khi đến Bidong, vì nhu cầu cuộc sống, các ngư dân lại hành nghề “lậu”. “Lậu” là vì chính quyền Mã Lai không cho người tỵ nạn xuống biển, không hẳn là vì họ sợ mất ít, mất một chút xíu tài nguyên. Nhưng nếu như có một người chết, dù bất cứ lý do gì, cũng là điều chính quyền Mã Lai bị Cao Ủy Liên Hợp Quốc trách cứ vì nhiệm vụ họ là giữ và bảo vệ người tỵ nạn.
Trong cái “khó khăn” của việc đánh cá, người Việt lại bày tỏ cái “khôn khéo” của mình, cái khôn khéo có tính truyền thống, làm vui lòng các quan thời xưa, các ông xã, ông quận của thời Cộng Hòa, và cả những “ông cán bộ” của đời cách mạng. Người lính cảnh sát Mã Lai lại được ngư dân chúng ta “xỏ mũi dắt đi”. Ấy là nói theo cách thông tục ở xứ sở chúng ta vậy.
Rõ ràng người tỵ nạn có cá, có thịt gà. Người ta còn ăn thứ thịt gì nữa chăng?
Cái dạ dày của người Việt trong cuộc Nam Tiến có một sức mạnh khủng khiếp. Không có cái gì mà nó không tiêu hóa được. Bảo là sợ “Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận”, dĩ nhiên, nói theo nghĩa đen, người ta không ăn ma được, nhưng cọp có sống được với người? Da cọp thì thuộc, treo lên vách làm kỹ niệm, không ai vứt bỏ thịt cọp, nanh cọp được gắn vào dây chuyền cho trẻ nhỏ làm bùa trừ ma, thậm chí xương cọp cũng đem nấu “cao hổ cốt”.
Cả một số đông sinh vật ở vùng đồng nước Nam bộ, không nói chi đến cá mú mà đến như cá sấu, trăn, cần đước, ba ba, rùa, rắn, cào cào, châu chấu… có thứ nào không “bắt mồi” cho dân nhậu, có thứ nào mà bộ tiêu hóa của người Việt không nghiền chúng nó thành phân người?
Vốn tôi là người tò mò. Một hôm, tôi hỏi một người Mã Lai làm việc ở Hội Hồng Nguyệt rằng, trong tiếng Mã, Bidong có nghĩa là gì? Ông ta trả lời: “Rắn.”
Rắn? nhưng nó là snake hay python? Ông ta cười: “Gì cũng được, vì thời xa xưa, nơi nầy có nhiều loài rắn ở.”
Tôi nghĩ tới những con rắn biển trên đường vượt biển. Khi qua gần hết vịnh Thái Lan, sắp tới đất Mã Lai, – anh tài công cho biết vậy -, chúng tôi đã gặp những chú rắn biển. Con rắn vàng, ngóc cao đầu, lội trong nước. Người đi chung ghe bảo đó là những vị sư đón người tỵ nạn. Tôi không khỏi thấy buồn cười về cái tính dị đoan của người bình dân Việt Nam chúng ta. Hôm qua, mấy con cá heo lội theo ghe, hai bên hông, trước mũi…. có khi chúng phóng mình lên khỏi nước, để vui chơi hay để làm gì, tôi không biết. Người trên ghe gọi một cách kính cẩn là “Ông đưa”. Nó có nghĩa rằng có ông đưa thì chuyên hải hành sẽ được tốt đẹp, thuận buồm xuôi gió. Nay thì thầy chùa đón, hy vọng đến đảo bình yên.
Chuyến đi của tôi bình yên thật, nhưng tin vào “Ông đưa” và “Thầy đón” hay không thì tôi là người không thể nào tin được.
Cũng rất nhiều thuyền nhân trên đảo Bidong không tin như tôi. Bởi vì sao? Bởi vì tên là đảo rắn mà suốt gần hai năm sống trên đảo, tôi không thấy một chú rắn nào cả. Tôi đã từng đi ngược theo con suối Bidong, lên tới “Đỉnh gió” và đi xuống phía sau núi, chỗ rừng hoang, nhưng có thấy chú mảng xà, thanh xà nào đâu? Hỏi ra thì có người cười bảo: “Nhậu hết rồi. Nhậu hết, rắn nào mà còn.”
Hơn hai trăm năm mươi ngàn người lần lượt đã đến và sống trên hòn đảo nhỏ nầy.
Thời gian tôi ở, dân số trên đảo là 14 ngàn người. Cao nhứt, sau vụ gọi là “nạn kiều”, đi “bán chính thức” là hơn 40 ngàn người. Phần đông là dân Nam bộ, không ít là dân nhậu. Vậy thì chắc là rắn trên đảo đã được “chung vui” với rượu mà “đi vào lòng người”, nói theo nghĩa đen.
Mồi (rượu) thì dùng nhiều thứ: cá, thịt. Cao ủy phát không đủ ăn thì mua của mấy anh chàng đánh cá lậu, hay mua ở “gian hàng Tầu”, “gian hàng Mã” là hai tiệm chạp phô trên đảo. Ruợu thì người ta tự nấu lấy. Đó là mối lợi lớn. Ở đảo, chính quyền cấm không cho dân tỵ nạn được nuôi một thứ gì, dù những thứ gia cầm như chó mèo gà vịt, v.v…
Thức ăn ăn không hết không chịu bỏ vào thùng rác cho khối Vệ Sinh thu gom đem đốt mà vất bừa bãi, là tạo ra môi trường tốt cho chuột sinh sôi nảy nở một cách kinh khiếp: Đâu cũng có chuột, trong nhà, trên nóc, dưới gầm, ngoài sân, ngoài bãi hoang.
Ăn no, đêm đêm chúng kéo nhau ra sân nô dởn, đú đởn, thật đáng ghét. Khu đồng bào tỵ nạn nhiều chuột đã đành, khu Cao ủy cũng bị chuột xâm lăng, cậy quyền, cậy thế, bệnh công thần, tâm lý kẻ viễn chinh chiến thắng, không thua kém.
Để diệt chuột, ông bà Cao ủy nào đó, đem từ trong đất liền ra một chú trăn. Khu Cao ủy có hàng rào B-40, ngặt nỗi chú trăn không đủ thông minh để hiểu là chỉ nên quanh quẩn trong khu Cao ủy thì nó vượt ra khỏi hàng rào, thực hiện câu nói của “anh già Rô”: “Không có gí quí hơn độc lập tự do.”
Dân nhậu thì không thể chấp nhận có thứ tự do cho loài vật. Nên khi chú trăn bò ra tới nơi thì dân nhậu thực hiện ngay những câu châm ngôn nghe ra rả từ khi Cộng Sản Bắc Việt vô tới miền Nam: “Nhiệt liệt hoan hô” chú trăn ngu đần. Thế là hôm ấy dân nhậu có thêm mấy thứ rất bắt mồi: Nướng, xào và một nồi “cà-ri trăn” vàng rượm. Lại phải nói tới rượu!
Dân Nam Bộ không ít là dân nhậu, đệ tử, mà “đệ tử ruột” của Lưu Linh, nên hay nhậu. Nhậu mà không rượu thì nhậu thế nào được. Cờ mà không gió là cờ rủ, cờ ma, cờ tang chế. “Nam vô tửu như kỳ vô phong”. Rượu là chính. Đồ nhắm chỉ là để dùng bắt mồi.
Khổ một nỗi, người tỵ nạn Bidong không ít là dân Nam Bộ. Vì vị trí địa lý, người miền Trung và miền Bắc, vượt biên thường lên hướng bắc, lên Hongkong, Nhựt Bổn. Miền Nam thì hướng về phía nam, Bidong hay Galang. Việc nấu rượu chỉ cần bốn vật liệu chính: Gạo, nước, củi và men. Gạo thì do Cao ủy phát, có dư mà không thiếu bao giờ. Nước thì lấy từ khe suối ra, củi thì củi rừng, còn men thì mua ở đất liền, qua gian hàng Mã, hàng Tầu, hay khi đồng bào tỵ nạn phải qua đất liền vì công việc gì đó: khám bệnh, ra tòa, theo cao ủy Daeng đi Thái Lan nhìn mặt hải tặc, v.v…
Dĩ nhiên, Cao ủy và chính quyền Mã Lai có lệnh cấm uống rượu, cấm nấu rượu. Không mấy ai bị bắt vì tội uống rượu, mặc dù người Mã Lai theo đạo Hồi, cấm rượu rất ngặt! Cũng không ai dám nấu rượu trong các longhouse. Người ta nấu rượu trên núi, Mùi rượu có tỏa ra, tan loảng vào không khí, cũng khó phát hiện.
Khi ông cựu trung tá Bùi Văn Xuân làm trưởng khối An Ninh của trại, cũng là dân nhậu, và cũng vì lý do gì nữa, ai mà biết, nên nhân viên khối An Ninh không mấy khi lên núi lùng sục phá hủy các lò nấu rượu, bắt người nấu rượu lậu đem nhốt vào Monkeyhouse. Nhân viên Mã Lai thì sợ, không dám lên núi bao giờ. Họ không có đông người để đi tuần tra.
Khi ông cựu thiếu tá Cao Dai làm trưởng khối An Ninh, vì ông không phải là dân nhậu, vì ông cũng muốn làm được việc để được tiếng khen của đồng bào, cũng vì động lực từ cố vấn Trương Mạnh Hùng và phòng Phát triển Cộng đồng, nơi ông Cao Dai có nhiều người quen thân nên ông cấm nấu rượu gắt hơn ông Bùi Văn Xuân. Dân nấu rượu phải “di tản” lò rượu, qua bên kia sườn núi, phía sau “Đỉnh gió”. Trước tình hình khó khăn như thế mà chỉ có một điều xảy ra: Giá rượu cao hơn. Việc nấu rượu và uống rượu chẳng chấm dứt bao giờ!!!
Khi tôi mới tới đảo, vài vụ án mạng xảy ra vì tranh nhau “bảo vệ” các lò nấu rượu. Hai ba “băng” Bồ Tạt (tức là du đảng, tiếng Mã Lai), rèn dao, mài gươm, không phải vì “Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma” mà để đâm chém lẫn nhau. Băng Bồ Tạt chợ Cầu Muối, chỉ chịu thua băng Bồ Tạt Cần Thơ sau khi băng Cầu Muối có người bị phe kia đâm chết.
Ở Bidong cũng có những đêm trời lạnh, chỉ đủ lạnh một chút và cũng dễ chịu vì đó là cái lạnh biển. Có đêm tôi lên phòng Phát Triển Cộng Đồng về khuya, đi ngang lò mì ở khu B, ngửi thấy hơi bánh mì nóng từ trong lò mới lấy ra, bỗng thấy nhớ quê, nhớ Saigon, nhớ Huế “chết đi được!” Những đêm Huế lạnh và buồn, học bài thi vào khi trời đã khuya, bụng đói, nghe tiếng thằng bé rao bán bánh mì, kêu lại mua một ổ.
Ổ bánh bì lấy từ trong cái bao mì dày những hai ba lớp bao bố tời, còn nóng, còn thơm. Ăn bánh mì không sữa, không đường, không xá xíu, không “con lạp xường”, sao mà ngon đến thế!
Bốn, năm mươi năm sau, lưu lạc nơi xứ người, cũng cái mùi thơm ấy, cũng cái hơi nóng ấy, kỹ niệm thời niên thiếu xa xưa từ trong ký ức sâu thẳm về một chốn quê nhà xa vời vợi bỗng thức tỉnh, vùng dậy, choáng ngập cả tâm hồn bé nhỏ của tôi. Sao mà nó làm tôi nhớ quê hương da diết đến làm vậy!!!
Sau hơn nửa năm thanh lọc, vì phong trào đấu tranh, sau khi phỏng vấn xong, đồng bào được đưa thẳng qua trại tỵ nạn Sungei Beshi, gần thủ đô Kuala Lumpur mà không đưa ngược trở lại Bidong như trước kia nữa.
Như thế thì “nhân số” Bidong càng ngày càng ít đi. Thuyền tỵ nạn không còn tới đảo nữa, người thanh lọc thì cứ ra đi dần dần. Vậy thì mai đây, không còn bao xa nữa đâu, Bidong không còn người tỵ nạn. Đảo nầy sẽ trở lại thành một đảo hoang như ngày trước, trả lại cho ngư dân Mã Lai.
Lại trở thành đảo hoang, đảo bị hoang hóa?
Lòng tôi bỗng chùng lại khi nghĩ tới tình cảnh ấy.
Các longhouse sẽ không còn người ở. Điều đó không quan trọng. Nhưng chùa, nhà thờ trên “Đồi tôn giáo” thì sao? Các thầy, các cha sẽ đi hết. Chắc chắn không ai xin định cư ở Bidong, trên “Đồi tôn giáo” để tiếp tục sớm khuya nhang khói, kinh kệ, cầu nguyện Chúa Phật cho “thân tâm an lạc”, cho “thế giới hòa bình” cho “nhân loại thương yêu đùm bọc nhau”. Nếu vậy, Phật sẽ ngồi trơ trọi trên tòa sen, Chúa vẫn còn bị đóng đinh một mình trên chữ thập giá mà không còn tín đồ đến bái lạy cầu xin…
Tiếng chuông nhà thờ không còn rộn ràng mỗi chiều hôm, sớm mai. Tiếng chuông chùa sẽ không còn chậm rải, âm vang từ longhouse nầy qua longhouse nọ, trải dài trên sóng biển Bidong. Thay vào tiếng chuông, tiếng người cầu kinh sẽ là tiếng côn trùng tỉ tê đâu đó, trong hốc đá, dưới sàn nhà cũ… Tiếng côn trùng không bao giờ là tiếng vui, nhất là tiếng côn trùng trong cảnh thanh vắng, trong đêm khuya. Đó là tiếng “dế khóc canh dài” như trong “Cung Oán Ngâm Khúc” vậy.
Đồi tôn giáo sẽ vắng vẻ, hoàn toàn vắng vẻ, không còn một bóng người. Rồi chùa, nhà thờ sẽ “nhện giăng cửa mốc, như nền Vũ Tạ!” sẽ lạnh lẽo như “Gác Thừa Lương” trong Cung Oán Ngâm Khúc. Nhưng nền Vũ Tạ hay Gác Thừa Lương là nơi vui chơi của vua và cung nữ, còn đây là nơi thờ phượng! Ví von sao được!
Nhưng dù giống hay khác, mạng nhện nằm ngang nằm dọc trên điện thờ, nơi trai phòng, trong cửa, ngoài cửa.
“Hương tàn bàn lạnh”. Hương đã tàn mà không ai thắp tiếp, đèn đã hết mà không ai nối tiếp. Lau sậy sẽ um tùm, lất át vào vách, vào nền, vào bàn thờ, sẽ leo lên mái, sẽ làm mục nát mái chùa, nóc nhà thờ.
Cảnh ấy có nghĩa là một hay nhiều thế hệ đến đây đã dứt, và không còn thế hệ tiếp nối.
Trong truyền thống người Việt, cảnh hoang tàn nơi thờ phượng là một cảnh đáng lo, đáng sợ, là tội lỗi với “đấng bề trên”.
Bàn thờ hoang lạnh là cảnh đáng sợ, cảnh chùa, nhà thờ trở thành “nhà dột, cột xiêu” lại càng đáng sợ hơn nữa. Điều đó chứng tỏ một sự chấm dứt mà không còn ai tiếp nối.
Ở quê nhà, từ khi có giặc Pháp xâm lăng, rồi chiến tranh kéo dài qua bao thế hệ, hàng trăm năm, hàng chục năm, cùng với chính sách bài trừ tôn giáo của bọn xâm lược, của bọn vô thần, biết bao nhiêu cảnh chùa, cảnh nhà thờ hoang vắng đã từng xảy ra. Những tưởng việc ấy chỉ xảy ra ở quê nhà, dưới hàng trăm năm dân tộc mất quyền tự chủ, nào ngờ việc ấy lại xảy ra ở đây, nơi được gọi là ngưỡng cửa của tự do, nhân phẩm.
Thời đại ngày nay không còn những vị chân tu, tìm một nơi hoang vắng để tu hành nữa chăng?! Người tu hành phải “nhập thế”, muốn tu hành nơi đông đúc để có nhiều tín đồ lui tới cúng dường chăng?
Biết đâu, cũng có vị chân tu nào đấy, xin ở lại trên “Đồi tôn giáo” mà chính quyền Mã Lai không chấp thuận chăng? Biết đâu đấy, tinh thần tu tập người Việt Nam vẫn còn, dù leo lét như ngọn đèn dầu sắp cạn!
Cũng không nên quên “Ông già Bidong”!
Từ ngày có thanh lọc, người tỵ nạn bỗng đâm ra sợ hãi cho tương lai mình nhiều hơn. Câu thơ của Trần Dần “Người vẫn kinh hoàng trước tương lai” tưởng chỉ là câu thơ nhắm vào Hồ Chí Minh, ai ngờ nay cũng là tình cảnh của người tỵ nạn. Nghĩ mà đau lòng, không lý một người kinh hoàng cho tương lai của mình mà lại nỡ lòng đẩy hàng triệu người dân của mình lâm vào tương lai đáng sợ như chính mình đã sợ.
Cái lo cho tương lai khiến người ta đâm hoảng mà cầu lạy nhiều nơi. Từ cái tâm lý đó mà tượng “Ông già Bidong” ngày nay nhang khói ngày đêm nghi ngút hơn trước. Người ta cầu Chúa, cầu Phật chưa đủ sao? Nếu mà đủ thì tượng Ông Già Bidong không nhiều nhang khói như vậy.
Trước những kinh hoàng về tương lai của đồng bào tỵ nạn, Phật vẫn trầm ngâm trên tòa sen, Chúa vẫn im lìm trên thập giá, và “Ông già Bidong” vẫn trơ như ximăng. Tay ông vẫn ôm lấy đứa cháu gái cùng chung số phận như ông, mắt ông vẫn đăm đăm nhìn ra biển khơi. Ông tìm gì ngoài xa kia? Có con đường giải phóng nào cho những người tỵ nạn đang bị đe dọa trên đảo, hỡi Ông Già Bidong yêu quí?
Và người tỵ nạn vẫn vô phương, vẫn tuyệt vọng, vẫn tự mình thương xót cho số phận mình, số phận lưu lạc nơi xứ người.
Trong từng longhouse một, trong canh vắng đêm dài, có ai đó, một cô gái đơn độc lìa xa gia đình, một thanh niên lẻ loi đi tìm nguồn sống, sẽ cất lên những tiếng than dài, không rõ rồi mai đây, tương lai sẽ đi đâu, về đâu. Có ai nhớ cha, nhớ mẹ mà khóc thầm, cám cảnh cho phận mình xa cha xa mẹ mà cất tiếng than của nàng Kiều vào một thuở xa xưa:
Dặm nghìn nước thẳm non xa,
Biết đâu thân phận con ra thế nầy!
Ngày xưa phận người đã vậy. Ngày nay nhân loại có tiến bộ hơn nhưng phận người đâu có khác chi. Bên cạnh tiếng thở dài là tiếng gọi:

“Mẹ ơi!!!!!….”

hoànglonghải

(1)-“Tân Biên Cương” là một danh từ được Kennedy trình bày trong diễn văn của ông khi ông được đảng Dân Chủ đề cử ứng cử chức vụ tổng thống Mỹ năm 1960. Theo ông Robert D. Marcus thì “Kennedy đã đảm nhiện chức vụ tổng thống với tham vọng nhằm xóa bỏ sự nghèo đói và nâng cao tầm nhìn của người Mỹ tới các vì sao xuyên qua chương trình không gian”
Nói rõ hơn, theo một số sách báo ghi nhận, “Tân biên Cương” là một chương trình tiến bộ nhằm cách tân và phát triển kinh tế, lao động, giáo dục, văn hóa, xã hội, quốc phòng… Các chương trình nầy, không chỉ nhắm mục tiêu ở trong nước Mỹ mà còn phát triển trong mối quan hệ với châu Âu và toàn thế giới.
Vì vậy, nhiều chuyên gia cho rằng cái tham vọng của “Tân Biên Cương” là nhằm vượt ra ngoài “biên cương” nước Mỹ, vói tay tới châu Á và biến Thái Bình Dương thành “biển nội địa” của nước Mỹ.
Có thể như thế. Trong cách xử dụng danh từ, người Mỹ thường gọi biên giới giữa Mỹ và Canada hay Mêxicô là boundery. Biên cương vùng Viễn Tây Hoa Kỳ là Frontier. Frontier, trong ý nghĩa của người Mỹ, nó không cố định ở một miền nào, Trung Tây, hay Viễn Tây. Nó (frontier) càng đi xa về phía Tây, thì nước Mỹ càng bành trướng, càng tốt đẹp hơn cho Hoa Kỳ.
Có thể không phải ngẫu nhiên mà John Steibeck được giải thưởng Nobel về văn chương năm 1962 (ông sinh năm 1902). Ông là hậu duệ một giòng máu pha trộn giữa Đức và Ái Nhĩ Lan, gặp nhiều khó khăn trong quãng đời trẻ trung vì tình hình đại suy thoái kinh tế hồi thập niên 1930, trở thành một nhà văn nổi tiếng với nhiều tác phẩm như “Of Mice and Men”, “The Grapes of Wrath”, “Tortilla Flat”, “In Dubious Battle”… và một cuốn sách mỏng, chỉ hơn một trăm trang tên là “The Red Pony”. Cuốn sách nầy tưởng như là khơi dậy quan điểm mới mẻ của nhóm “Tân Biên Cương”.
Vì sự suy thoái kinh tế, có phải vì người Mỹ muốn phục hưng kinh tế nên họ có ý muốn mở rộng hơn nữa biên cương (frontier) của họ về phía tây. Nó không phải là ý tưởng ngông cuồng của cậu bé Jody khi nó nằm ở sân cỏ sau nhà, nhìn lên rặng Rocky Moutain phía Tây mà thắc mắc trên núi đó có gì. Và nếu đúng như người lớn đã giải thích với nó rằng sau núi đó là biển, người Mỹ không thể đi xa hơn được nữa, thì cậu bé Jody không chịu dừng chân ở bờ biển đó. Nó sẽ đóng tầu đi nữa, đi xa hơn về phía Tây.
Điều nầy có thể làm cho chúng ta nghĩ tới những gì xảy ra trong hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945. Cuộc họp đó gồm thủ lãnh 3 cường quốc. Sir Wilson của Anh, Staline của Liên Xô và Roosevelt của Mỹ. Kết quả hội nghị là câu thề của Sir Wilson, thề không bao giờ nhìn vào tượng Thần Tự Do đứng ở phía ngoài cảng Nữu Ước, nếu Sir Wilson đến Mỹ.
Tại sao thế?
Tại vì Roosevelt và Staline bí mật đi đêm với nhau, chia lại thế giới mà gạt nước Anh ra ngoại sự chia chác đó. Điểm căn bản mà thủ tướng Anh chống lại là, Roosevelt chia Đông Âu (Ba lan, Hungary, Bulgary, Tiệp khắc) cho Nga. Ngược lại Mỹ mở rộng ảnh hưởng đến châu Á, coi như Tầu thuộc về Mỹ. Lẽ dĩ nhiên, người Cộng Sản bao giờ cũng chỉ hứa cuội.
Tuy nhiên, nếu tầm ảnh hưởng của Mỹ vươn tới châu Á thì đó không phải là thực hiện ý tưởng “đóng tầu đi nữa” của cậu bé Jody, là “biến Thái Bình Dương thành biển nội địa của Mỹ” như mong muốn của anh em nhà Kennedy?

(2) “Đá mòn rêu nhạt…”
(3) Đồng chó ngáp

Bèo giạt

Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 17 Dec 2023

Bài 25

Đứa em tội nghiệp
Một buổi chiều đầu tháng năm, chị em chúng tôi đang ở nhà, ba má đi vắng, xe Công An tới đậu ngay trước cổng, bao vây quanh nhà và lục soát rất kỷ đồ đạc trong các phòng. Chúng tịch thu một số bản thảo do ba tôi viết, phần nhiều là hồi ký và những suy nghĩ cũa ba tôi về cuộc đời tù đày, về triết lý chính trị, về chế độ bắt ông ngồi tù hơn bảy năm.
Chúng hỏi chị em chúng tôi về những người khách hay đến nhà, những người và những nơi ba tôi thường lui tới. Nghi là chúng có thể bắt ba tôi như vẫn thường xảy ra, Quỳnh nhanh chân chạy ra cầu Kinh, chờ ba má tôi về, báo cho biết và dặn ba má tôi đừng về nhà nữa.
Ba má ở lại nhà một bà thầy bói mà má tôi quen thân, gần chợ Thị Nghè. Chỉ có tôi là chị cả được lên thăm. Ba má tôi quyết định trốn đi, chỉ còn một cách là vượt biên theo đường giây của người hàng xóm vừa đi lọt hôm tết. Ba má tôi định đem theo cả hai đứa út nhưng tôi cản lại, chỉ cho một đứa. Cuối cùng thì bé Hí được đi còn bé Bi ở lại với chị em chúng tôi. Khoảng cuối tháng Sáu, Diễm, em gái tôi, ở Mỹ gọi điện thoại về báo cho biết là ba má đã tới Bidong. Chúng tôi quá mừng. Thế là ba tôi thoát khỏi tù tội Cọng Sản một lần thứ hai nữa. Nhưng bây giờ tất cả gánh nặng đổ lên đầu tôi vì tôi là chị cả.
Khi Diễm gọi về, chúng tôi được gọi ra Bưu Điện Saigon để chờ nghe điện thoại. Nghĩ lại mà tức cười. Tôi chỉ vừa nghe: ỏAlô! Diễm đây! ở là Diễm khóc nức nở. Tôi vội vàng la to lên ỏHà đây! Hà đây Diễm ơi!õ Rồi tôi cũng khóc, cả mấy em tôi, đứa nào cũng giành lấy ống nghe, gọi tên và khóc. Chúng tôi chỉ nghe được có mấy tiếng “Ba má đến Bidong rồi”, thế thôi! còn lại toàn là khóc. Chị em chúng tôi xa nhau thế mà đã năm năm, vắng tiếng, vắng hình mà chị em chúng tôi thì thương nhau lắm, đứa nào vắng nhà một ngày thôi cũng đã nhớ đã thương, huống gì năm năm trời đằng đẵng.
Niềm vui gặp gở qua thật nhanh. Ở nhà vắng ba má, nhà vắng vẻ lạ lùng. Nhìn cái gì cũng nhớ ba má cả. Ngoài sân, trong nhà, sau bếp, trên lầu, chỗ nào cũng nhớ, cũng thấy có ba má. Ba má ngồi chỗ này, ba má ăn chỗ này, ba má nằm chỗ này, ba má ở chỗ này… Chỗ nào cũng thấy ba má. Nhớ ba má và nhớ Hí không tưởng được.
Ba ngày sau ngày đầu tiên, xe Công An lại đến. Lần này không xét nhà nhưng chúng hỏi kỹ ba má đi đâu, đi bao giờ, đi bao lâu về. Chị em chúng tôi nói liều là về Quảng Trị thăm ngoại bệnh. Ngoại già lắm rồi, hơn 90 tuổi. Nói vậy cho có lý. Tháng đầu thì sợ, sợ ba má vượt biên bị bắt, nhưng nhờ ơn trên…
Tháng Sáu tháng Bảy, xe Công An đến liền liền. Chúng hỏi đi hỏi lại là ba má đi sao lâu về, hỏi địa chỉ của ngoại ở Huế. Tôi nói dối là ngoại ở quê, chúng tôi xa Huế từ hồi nhỏ xíu, không rõ. Nghe nói các bạn của ba như chú V. Chú S. đều bị bắt cả, chú T. thì bị đánh chết trong tù. Cuối cùng, Công An biểu tôi về Trung gọi ba má vào, chúng dụ là chỉ hỏi chuyện ba má thôi. Tôi nói là chị cả, không đi được, bỏ em không ai coi sóc, tụi nó toàn là con gái. Công An bèn bắt thằng em trai tôi, Bảo Long, biểu ra ngoài Trung gọi ba má về. Chúng tôi cũng chẳng lo vì bây giờ biết ba má ở Bidong rồi.
Mấy hôm trước cô tôi xuống thăm, không nói gì, chỉ khóc. Cô tôi rất mau nước mắt và rất thương ba tôi. Cô tôi dặn là coi chừng tụi nó sẽ xét nhà, tịch thu nhà, có gì quí thì lo cất. Tôi và thằng em trai cạy miếng gạch bông trong phòng ăn, lấy mấy lượng vàng lận vào lưng. Sau lần bị đánh tư sản và sau bao nhiêu lần vượt biên bị bắt, bị gạt, của cải ba má cất dấu chỉ còn lại chừng đó. Nghĩ mà thương ba má quá, một đời vất vã dành dụm, bỗng tài sản đi như nước chảy.
Công An phường lại đến tìm thằng em trai tôi, buộc phải đi Trung tìm ba má về. Tôi sợ thằng em trai tôi dám bị bắt lắm. Công An bắt nó để ba má tôi trốn ở đâu đó phải về. Nhân dịp chú Sáu, chú Mười ở Cà-Mâu lên thăm, hai ông là người tổ chức cho ba má tôi đi, tôi lại biểu thằng em tôi đi. Sau mấy lần ngần ngại, nó nghĩ là ba má đã đi rồi, trong nhà chỉ có nó là trai, còn lại toàn là chị em gái nên nó không muốn đi. Nhưng sau lần Công An gọi nó qua phường, đe dọa, biểu phải khai rõ ba má trốn ở đâu, còn không thì sẽ qui cho nó tội ngoan cố, bao che phản động làm thằng bé sợ quá. Hôm sau, 3 giờ sáng, tôi đưa nó ra bến xe Miền Tây, cho nó về Cà Mau theo đường giây cũ của ba má mà đi vượt biên.
Tội nghiệp thằng nhỏ ở cả tháng dưới ruộng mới đi được. Nó mà chịu ở ruộng lâu như thế là nó sợ Công An lắm chứ cậu ta vốn dĩ là con trai độc nhứt của gia đình có tới sáu chị em gái, đẹp trai, con nhà giàu, cả nhà ai cũng cưng, ăn diện dữ lắm, chưa bao giờ phải khổ cả. Cũng tội nghiệp cho nó nữa: Ghe nó tấp vào đảo Redang, nghe nói chỉ cách Bidong có một hòn đảo vậy mà nó bị kéo ra khơi. Nó phá ghe để vào đất liền, lại bị kéo ra. Nó xin người ta cho nó vào Bidong, bập bẹ mấy tiếng Anh “My parents are on Bidong, let me come there” nhưng cũng bị đẩy ra. Ba lần như thế, nó cố đến với ba má mà không đến được. Cuối cùng nó bị đẩy qua Indo. Bây giờ thì nó thui thủi một mình ở trại tỵ nạn Galang.
Công An thấy vắng luôn thằng nhỏ, lại truy riết tới. Ngày nào Công An phường cũng gọi tôi lên hạch hỏi, lấy cung, bắt làm tờ khai, kiểm điểm. Những thằng Công An này thường đến uống cà-phê nơi quán tôi, để xã giao, tôi không tính tiền. Vậy mà bây giờ chúng làm mặt lạ. Tính tôi đã lì, lại ỷ mình là đàn bà con gái, tôi lại lì hơn. Ngày nào tôi cũng làm kiểm điểm giống ngày nào. Công An tức lắm. Vã lại, tôi cũng muốn chọc tức mấy thằng này. Ba má và Bảo đi rồi, còn lại năm chị em gái, chúng nó làm gì được? Chúng dọa tịch thu nhà vì nhà má tôi đứng tên. Tôi dọa lại tôi sẽ dẫn các em ra trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Thành phố khiếu nại. Chúng nó thách. Dù sao thì án chưa xử, chưa tịch thu nhà được, nhưng nếu khi xử, dù xử khiếm diện ba má, chúng cũng sẽ lấy nhà vì luật lệ ở trong tay chúng. Chúng viện cớ quán cà-phê má tôi đứng tên, tịch thu môn bài, đóng cửa. Thật xui, quán mở chưa được mười hôm thì ba má trốn đi. Nhưng chị em tôi cũng chưa đói. Bảo đi ngay gốc nên tốn chỉ hơn một cây, còn Diễm ở Mỹ, nghe chị em tôi ở nhà loe ngoe với nhau, gởi tiếp mấy thùng quà, đủ tiêu chán. Có điều chị em chúng tôi buồn lắm. Bỗng dưng gia đình ly tán, ba má một nơi, chị em mỗi đứa một nơi. Chúng tôi không tổ chức party mỗi kỳ sinh nhật nữa. Mấy năm sau khi ba ở tù về, ba má cho mở party nhảy đầm. Ba má nói nhỏ Để cho các con được vui!õ Ba má chỉ cấm không được làm ồn ào quá lắm, Công An lưu ý, còn ba má thì bắt ghế giả bộ ngồi chơi trước cổng, canh chừng Công An để “các con được vui!”
Tình hình thế này thì chị em chúng tôi cũng phải đi thôi, không thể ở được nữa. Chúng nó ghim nhà tôi kinh quá, bao vây kinh tế kỷ quá. Không cho bán càphê là chị em chúng tôi ngồi không tối ngày. Công An cứ gọi tôi hoài, cảnh cáo là đi xa phải xin phép. “Không thì khó khăn đấy.” Đó là lời chúng đe dọa.
Chú Sáu, chú Mười lại lên. Sợ Công An, tôi gởi họ bên nhà cậu mợ, bàn với họ cách cho chị em chúng tôi đi. Bi nhỏ không kể, bây giờ còn bốn chị em, không đủ tiền ghe tàu cho tất cả. Tuy nhiên, nếu đưa vàng trước cho chủ ghe tổ chức thì đủ, nhưng nếu không đi được thì coi như mất vàng. Tôi suy đi tính lại thật kỷ: Ba má đi đường này, Bảo cũng đi đường này, an toàn. Chú Sáu và chú Mười thật thà, đáng tin. Chỉ sợ gặp xui. Dù gì thì cũng phải liều thôi, như câu bà nội hay nói đùa mà nay thành ra thật: ỏMột liều ba bảy cũng liều, cầm như con trẻ chơi diều đứt dây.õ Diều đứt dây là coi như… không dám nghĩ tiếp. Chị em chúng tôi tới đường cùng rồi, đi thì may ra thoát còn không đi thì coi như chết cứng ở đây.
Từ khi ba má đi rồi, Bi tội lắm. Nó không chơi với trẻ con hàng xóm nữa, chỉ chơi một mình. Đang ngồi, tự nhiên nó thừ ra, mắt nhìn vào đâu đâu, rồi Bi khóc. Hỏi, Bi nói: Bi nhớ ba má và Hí lắm.
Đúng ra Tân Long là út. Tân sinh năm 1972. Mười hai năm sau, khi ba tôi đi ở tù về, vừa đúng 49 tuổi. Má nói đàn ông 49 tuổi xui lắm, nếu má sinh một đứa nữa thì sẽ xả xui cho ba. Vì vậy, năm đó, để xả xui cho ba, má tôi sinh liền hai đứa. Cả nhà, và cả bà con nữa, ai cũng cười. Hai đứa nhỏ này cách chị nó, đứa áp út những 12 năm, trong khi chị em chúng tôi cách nhau đều đều chỉ có 2 năm.
Hai đứa bé sinh đôi, lớn lên, ăn, chơi, ngủ với nhau nên thương nhau lắm. Vậy mà bây giờ Hí thì đã đi, chỉ còn lại thui thủi một mình Bi. Nó rất người lớn, không nhỏng nhẽo như trước, mỗi ngày đôi ba lần nó thờ thẩn nhìn đâu đâu, nghĩ đâu đâu, rồi khóc, cũng khóc một mình, không quấy rầy các chị. Tôi nghiệp, nó không còn cái vui hồn nhiên của trẻ thơ nữa. Năm tuổi đầu, Bi đã biết buồn đau vì những ly tán, xa cách, nhớ nhung và âm thầm chịu đựng. Bi không còn bắt chước các chị gọi đùa tôi là ỏHà ỏcheõ (ke)õ nữa (vì tôi gầy lắm), không gọi “Bảo xún” (vì Bảo sún răng). Bi gọi đúng tên, nghiêm chỉnh. Nó mất đi cái tính vui vẻ, đùa nghịch. Có khi nghe một bài hát quen, nó bỗng gọi tôi: “Hí biết hát bài này, nó có hát đấy”. Tôi nhớ hai đứa nhỏ rất thích bài Ali Baba. Mỗi khi quán càphê mở bản nhạc nầy ra, tôi thấy Bi thờ thẩn, nhớ nhung. Nó thường nhớ những kỷ niệm khi hai đứa nhỏ sống với nhau. Bi chỉ còn một thú vui duy nhất, chơi trò chơi điện tử. Đôi khi đưa Bi đi chợ, qua chỗ có trò chơi điện tử, nó nằng nặc xin hai trăm đồng để vào chơi. Tôi đứng ngoài chờ. Nhìn cái lưng nhỏ bé của nó đang ngồi chung với đám con trai trên dưới hai mươi tuổi mà tức cười. Vậy mà chơi lúc nào nó cũng ăn. Mấy đứa trong phường mỗi lần thấy Bi, nói với nhau: “Con bé đó, nhỏ vậy mà chơi điện tử hay vô cùng.” Bi giống chị em chúng tôi, đứa nào cũng thông minh.
Mấy đêm trú nơi cửa biển chờ vượt biên, nó đã khôn lại khéo. Nó bảo là đi gặp ba má phải mặc quần áo đẹp cho ba má thương, lại còn chuẩn bị đem quần áo sang cho Hí. Nó nói là gặp Hí sẽ không gọi mày tao nữa, gọi là em Hí, xưng là chị Bi, để khỏi bị người ta mắng là mất dạy. Buổi chiều hôm trước khi ra biển, tôi nhờ bà chủ nhà mua cua về luộc ăn. Đòi ăn cái càng cua, Bi nói: “Đưa cái miệng cua cho Bi” khiến mấy chị em tôi cười. Đêm ra đi, Bi tắm rửa, soi gương, chải tóc, lấy rái tai, thay quần áo đẹp. Bi chuẩn bị đi thăm ba má kỷ đến thế.
Khi xuống ghe, ghe có mui, Vũ Long bồng Bi ngồi trong cùng. Chúng tôi ngồi ở ngoài. Vì vậy, khi ghe lật, Vũ và Bi kẹt trong mui, không văng ra khỏi ghe như mấy chị em. Mọi người bám vào ghe. Tôi đứng trên lưng ghe, lạy lục, van xin, người ta chui vào ghe cứu các em tôi. Quỳnh, Tân lên được trên lưng ghe, còn tỉnh. Khi lôi được Vũ ra ngoài thì nó bất tĩnh rồi, bụng đã phình lên vì uống nhiều nước. Vì bất tĩnh nên Vũ không giữ được Bi, Bi chết trong tay Vũ.
Người ta vớt mấy chị em chúng tôi đưa lên ghe lớn. Vũ được hút nước, làm hô hấp nhân tạo, cả tiếng đồng hồ sau mới tỉnh lại. Mấy chị em ôm nhau mà khóc sướt mướt, thương Bi quá, và thương thân nữa. Thương Bi nhiều nhất. Vượt biên dễ sợ quá, kinh hoàng quá, ghê gớm quá! Chúng tôi ở trên ghe chờ suốt đêm hôm đó, qua hết ngày hôm sau để người ta tìm xác Bi. Nếu tìm được, tôi sẽ nhờ chủ tàu đem Bi về chôn, chúng tôi tiếp tục đi. Đến Bidong không có Bi biết ăn nói với ba má ra làm sao?! Nếu không tìm được xác Bi, chúng tôi sẽ quay về, cố tìm xác em để chôn em vào đất cho được ấm áp. Tội nghiệp cho đứa em bé nhỏ của tôi, âm thầm chịu đau đớn vì ly tán, vì thương nhớ, âm thầm đi vào cõi chết, không một tiếng khóc đau đớn, không một tiếng than cho số mệnh, không một lời nhỏng nhẽo, một cái chào tay giã từ, nhớ lời Vũ Long nói, Bi chỉ kêu lên mấy tiếng “Ba ơi, má ơi” trước khi nước tràn vào ngập cả mui ghe.
Chiều hôm đó, không tìm được xác Bi, người chủ tàu đem ghe ra đón mấy chị em chúng tôi về. Ngày ra đi vui tươi, hy vọng bao nhiêu thì ngày về buồn bả và đau đớn bấy nhiêu! Năm chi em gái đã thiếu một đứa nhỏ nhất, bé bỏng nhất, dễ thương nhất.
Ba giờ sáng, người chủ ghe đón tàu đò cho chúng tôi về Cà-Mâu. Chúng tôi sẽ ở lại đó chờ tìm xác Bi, chôn cất xong, chúng tôi mới về Saigon. Nhà chắc không còn. Chúng tôi khóa nhà đi đã hơn mười ngày. Công An đang ghim nhà tôi, thấy vắng, chắc chúng sẽ niêm phong. Nhà không còn, tiền bạc cũng không còn, chúng tôi sống bằng gì bây giờ. Nhưng vì thương em, thế nào chúng tôi cũng phải về.
Người ta bọc xác Bi trong một cái áo mưa nylon, đóng vội cái quan tài bằng sáu miếng ván thuyền, chôn ở một khu rừng nào đó, tại một cửa sông nào đó … Bi nhỏ bé của tôi, Bi dễ thương của tôi, Bi “sinh sau đẻ muộn”, Bi đến muộn màng trong gia đình mấy chị em chúng tôi, Bi ra đi vội vàng trong gia đình mấy chị em chúng tôi, và rồi Bi đã nằm lại đó, ở một cửa sông, giữa một khu rừng đước hoang dại, cô đơn, lẻ loi, lạnh lẽo. Ôi, Bi yêu dấu; tội nghiệp cho Bi của tôi biết bao nhiêu!
Sáu tháng sau, tôi nhắn người chủ tàu lên, đưa tôi về bốc mộ cho em. Ngày đi, có Vũ Long đi theo, phòng khi tôi bị ngất xỉu vì đau đớn. Tôi về ở lại nhà người chủ tàu. Bốn giờ sáng, tôi, Vũ Long, người chủ tàu và hai người làm công chèo thuyền ra cửa sông. Tôi ngồi trên ghe, nghĩ đến đứa em bé nhỏ tội nghiệp mà nước mắt cứ tuôn ra ròng ròng. Tôi thấy Vũ Long cũng lau nước mắt. Hai chị em âm thầm khóc. Gần tới cửa sông, ghe rẻ vào một con rạch. Đi càng xa, rạch càng nhỏ dần, hai bên là rừng hoang. Sợ Công An, người ta đã đưa em tôi vào đây, chôn dấu một cách lén lút, vội vàng. Ngôi mộ được đánh dấu bằng hai cọc cây: Một cao đằng đầu, một thấp đằng chân. Đầu em tôi quay về hướng nam, hướng đảo Bidong, nơi ba má tôi đang sống trong trại tỵ nạn. Không biết vô tình hay cố ý, người ta đã chôn em tôi hướng về phía ba má tôi. Đất mềm và ướt, chỉ cuốc một chốc, tiếng cuốc đụng nhẹ vào nắp hòm một tiếng cộp nhẹ, tiếng dội nhẹ đập thẳng vào tim tôi. Tôi kêu lên hai tiếng “Bi ơi” và khóc nức nỡ. Vũ cũng khóc. Tôi cố chồm tới để cố nhìn vào quan tài nhưng người chủ ghe giữ tôi lại, bảo tôi khóc nhỏ, sợ Công An, du kích nghe thấy, tìm tới thì bị bắt cả đám. Một lúc sau, quan tài được đưa lên mặt đất, ván còn nguyên, chưa mục. Tôi lại nhoài người tới để xem em tôi nằm trong hòm nhưng người ta lại không cho. Tôi ngoan ngoãn ngồi yên. Tôi nghĩ tới nỗi đau đớn khi nắp hòm cạy ra và Bi nằm yên lặng trong đó. Tôi nhắm mắt và cố nghĩ tới ba má. Nghĩ tới ba má sẽ vơi đi những nỗi khổ đau…
Ba má ơi! Nếu con đưa được em về thì coi như con đã làm tròn phần nào bổn phận đối với ba má. Con tưởng là con đem em đi cho ba má được gặp em, cho ba má đỡ nhớ, đỡ thương, cho ba má được gần gủi đứa con ăn sau chạy dọi bé nhỏ tội nghiệp mà ba má thương lắm, cho hai chị em sinh sau muộn màng được gặp nhau, được ăn uống vui đùa cùng nhau. Ngờ đâu hôm nay con lại đưa em về, cũng lén lút như khi đưa em đi. Người ta đang sắp những lóng xương, đốt xương nhỏ bé tội nghiệp của Bi vào cái rương thiếc con đã mua sẵn. Khuôn mặt dễ thương ấy, bàn tay bàn chân nhỏ nhắn ấy, giờ đây chỉ cò lại những cái xương vô tình, còn đâu da dẻ hồng hào trắng muốt của em.
Ba má kính yêu,

Hí phiêu bạt của chị Hà,
Con đã lén lút đưa em về, và lại một lần nữa lén lút đem chôn em bên mộ bà nội. Con đã khấn trước mộ: “Nội ơi! Bây giờ ba má đi xa mà em thì côi cút. Con đưa em về ở với nội, gởi cho nội gần gủi hôm sớm để nội chăm sóc cho em, để em vui đùa với nội. Tối tối, nội sẽ hiện lên ngồi trên mộ, em sẽ bắt chí cho nội như mẹ con Cúc Hoa ngày xưa. Đến khi gà gáy sáng, em và nội sẽ về lại cõi âm. Có lẽ em sẽ hỏi bao giờ thì ba má về thăm nội, thăm em. Nội cứ liệu mà trả lời cho em khỏi buồn!

Ba má kính yêu,

Hí phiêu bạt của chị Hà

Sau khi chúng con về, nhà đã bị tịch thu nên chị em chúng con không về nhà cũ nữa. Nhà không còn mà chị em cũng không muốn trở về lại căn nhà dấu yêu và quá nhiều kỷ niệm ấy! Để sống, chúng con phải chạy trốn kỷ niệm. Ba má tha lỗi cho chúng con.

Tết vừa qua, chỉ có bốn chị em chúng con ở với nhau, nhớ ba má, nhớ Hí, nhớ Bảo, nhớ Diễm vô cùng. Nhiều đêm bốn chị em nằm ôm nhau mà khóc. Con khóc ít nhất vì con là chị cả, nhưng con cũng ngủ sau cùng khi các em khóc nhiều, mệt và ngủ thiếp đi, cũng vì con là chị cả.

Một năm sau ngày ba má đi, nhiều sóng gió quá mà chị em chúng con thì cô quạnh quá. Ba bị ở tù Cọng Sản 7 năm, vắng ba còn có má. Bây giờ thì vắng cả ba lẫn má.

Một năm qua, một năm kinh hoàng, đau khổ và cô đơn. Kinh hoàng, con không sợ vì chị em chúng con sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong chiến tranh, đã quá quen với bao nỗi kinh hoàng. Kinh hoàng vì năm ngàn người bị giết ở Huế hồi tết Mậu Thân, lúc gia đình mình còn ở ngoài ấy, con mới 5 tuổi; kinh hoàng vì ngày 30 tháng Tư, con mới mười ba tuổi. Đau khổ, con cũng không sợ, vì con chấp nhận triết lý Phật giáo, ỏĐời là bể khổõ, nhưng chị em chúng con rất sợ cô đơn. Xa ba má, chúng con rất cô đơn. Tất cả chị em chúng con đều sợ cô đơn. Ba má nhớ thư Diễm viết về khi nó ở Bidong năm 1984 không: “Tối qua, lúc ba giờ, giật mình thức dậy, cảm thấy bơ vơ và nhận thấy một cách rõ rệt và đau đớn rằng giờ ba má đã xa rồi, các em đã xa lắm rồi. Mai đây và dài lâu nữa, con một mình sống cuộc đời của kẻ tha huơng, biết bao giờ con mới gặp lại ba má và các em…”

Giờ thì “ba má đã xa lắm rồi!”, đang lạc loài nơi đất khách, lưu đày nơi xứ lạ, sống đời vong quốc. Bốn chị em chúng con ở đây, ngay trên quê hương mình, cũng đang chịu kiếp lưu đày. Lưu đày ngay chính trên quê hương mình, đó là câu của Saint Exupery mà ba thường nói khi còn ở nhà. Bây giờ mấy chị em sống côi cút với nhau lại càng thấm thía lời ba nói, đau xót cho ai bị lưu đày ngay chính trên quê hương mình.

Hôn ba má và Hí ngàn vạn cái.

Hà Long