This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Thời hậu chiến, dân Châu Âu mới đầu mua một chiếc xe đạp có gắn động cơ kẹp trên sườn xe. Sau đó họ mua một chiếc ‘xì-cút- tơ’ (scooter). Rồi một chiếc xe mô tô. Rồi một chiếc xe hơi nhỏ và cứ thế. Nước Nhựt cũng không là ngoại lệ. Còn Miền Nam ta sau 75 thì cứ thế mà ngược lại!
Năm 1954, khi đến thăm Cộng Hoà Liên Bang Ðức (Tây Ðức), Soichiro Honda, phụ trách sản xuất, và Takeo Fujisawa, giám đốc tài chánh của công ty Honda Motor, đã bị chiếc xe gắn máy Kreidler K50 đời 1954 của Ðức Quốc hoàn toàn chinh phục.
Về nước, Takeo Fujisawa thúc đẩy Soichiro Honda nhắm vào thị trường nội địa của Nhựt, dựa trên kiểu xe của Ðức để chế ra một chiếc xe rẻ tiền hơn cho dễ bán. Vì thời buổi đó, người dân Nhựt đang nghèo mạt rệp. Nước Nhựt tan hoang vì hai trái bom nguyên tử rồi thua trận.
Fujisawa thấy chiếc xe máy của hãng Ðức chế cho người Ðức, vóc dáng cao to, xe cồng kềnh. Vóc dáng người Nhựt nhỏ con, xe phải nhỏ, gọn. Fujisawa muốn hãng Honda Motor chế ra một chiếc xe cỡ 50 cc, với một tấm bửng nhựa ‘polyethylene’ che động cơ và các dây bên trong để giảm trọng lượng xe. Tất nhiên giá thành hạ dễ bán.
Chiếc xe nầy có thể lái một tay. Tay kia có thể mang theo một khay mì. Mỗi cửa hàng bán mì sẽ muốn có một xe như thế để giao hàng. Mà khắp nước Nhựt có cả mấy chục ngàn tiệm mì. Vậy là Honda Juno, tay vặn ga đầu tiên của Honda Motor Co. Ltd. ra đời năm 1954.
Honda Juno
Honda Juno gắn động cơ 4-thì chạy xăng, không cần pha nhớt, cạnh tranh quyết liệt với các xe Fuji Rabbit và Mitsubishi Silver Pigeon. Hãng Honda Motor thành công vang dội. Mỗi tháng, Fujisawa bán được 30,000 chiếc xe, chiếm phân nửa số xe 2 bánh trên thị trường Nhật Bản.
Thừa thắng xông lên, tiến ra hải ngoại, American Honda Motor Company được thành lập ở Hoa Kỳ vào năm 1959. Năm 1961 một mạng lưới bán hàng được thành lập ở Ðức. Sau đó tại Vương Quốc Bỉ và Vương quốc Anh vào năm 1962. Và ở Pháp vào năm 1964.
Honda Motor con của một người thợ rèn thành một công ty sản xuất xe gắn máy tầm cỡ toàn cầu. Thật là đáng kể và đáng nể.
Sau nầy khi qua Úc, tui thấy sáng nào chó trong nhà nhào ra sủa chú phát thơ, đòi xin tí huyết. Chú ta rồ ga vọt lẹ. Nói nào ngay, nghề phát thơ ở Úc phẻ. Hổng cần tiếng Anh, tiếng em gì ráo. Sáng vô Sở, lựa thơ rồi lái Honda ‘xì-cút-tơ’ đem đi phát. Phát xong, về nhà để tưởng thưởng một ngày lao động vinh quang, không để vợ con lang thang chết đói, nó kêu con vợ nó xào cho miếng thịt bò bít tết (beef steak) để nó uống bia (beer) chơi. Ngặt là có hai cái sợ, đôi khi tè ra ướt cả quần. Ðó là: đi phát thơ sợ chó! Về nhà sợ vợ!
Nhớ hồi chân ướt, chân ráo mới qua, một đứa qua trước dụ bán cho tui một chiếc xe Honda đời tám hoảnh giá 1000 đô. Sau nầy ở lâu, tui mới biết chiếc Honda nầy kêu cho, nó không lấy mà còn xịt chó cắn. Cái tình đồng hương của Mít mình chua như vậy đó bà con ơi.
Ngoài ra, cỏ trước sân nhà phải cắt, kẻo cáo sồ (council) hội đồng thành phố, nó phạt. Tui phải móc xỉa ra tới 300 đô để mua một máy cắt cỏ hiệu Honda.
Soichiro Honda (trái) và Takeo Fujisawa
o O o
Trước khi Hiệp Ðịnh Genève 1954 chia đôi hai miền Nam Bắc, dân Sài Gòn xài xe gắn máy của Âu Châu như Mobylette-Motobécane, Vélo Solex của Pháp. Ischia, Follis, Rumi, Phénix, Vespa, Lambretta của Ý. Puch Ischia, Follis, Rumi, Phénix, gắn máy Sachs, của Ðức.
Ðến ngày 20, tháng Mười Hai, năm 1960, VC thành lập Mặt trận Giải phóng Miền Nam, CSBV theo đường 559 xâm nhập Miền Nam. Tổng thống Ngô Ðình Diệm bị giết. 1964 Mỹ đổ quân vào Ðà Nẵng. Tình hình chánh trị Miền Nam rối ren. Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ lên làm Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương (Thủ tướng). Chánh phủ của Tướng Kỳ tự xưng là chánh phủ của dân nghèo cho thi hành chánh sách ‘Hữu sản hoá’ người dân. Hũu sản hóa là làm cho người dân nghèo có tài sản. Như cho mua trả góp xe Lambro của Ý (dân Sài Gòn gọi tắt là xe Lam) để chở hành khách. Công chức và quân nhân được mua trả góp xe Honda dame màu đỏ, đời quân đội.
Xe Honda được nhập cảng và xuất hiện trên đường phố Sài Gòn từ độ ấy! “Dame” người phụ nữ còn trẻ. Honda dame là xe Honda dành cho quý cô. Xe Honda dame màu đỏ hay xanh lá cây nhạt. Honda dame và Suzuki dame, Yamaha dame sang số chân không cần phải bóp ‘embrayage’ tay.
Nữ sinh Sài Gòn và xe Honda Dame
Honda SS dành cho quý ông anh, là chữ viết tắt của ‘Super Sport’, (siêu sì pọt), mà xi lanh chỉ có 50 cc xuất hiện vào năm 1966. Tay lái (guidon) ngắn. Cần đạp bên phải. Ðạp nhẹ là máy nổ. Hai bên có thanh ngang để chân. Bên phải là thắng chân. Bên trái là cần sang số. ‘Embrayage’ tay trái. Tay thắng trước bên tay phải. Bình xăng ở phía trước, có hai miếng cao su để đầu gối áp vào cho êm. Xe không có đèn ‘xi-nhan’ (signal). Hộp số có 4 số. Yên xe làm thấp để người Á Châu lùn dễ leo lên xe, chống xe dễ dàng hơn.
Năm 1967, Honda có tay lái rộng hơn, hộp số có 5 số, có đèn xi-nhan, ống nhún trước có bọc cao su, tốc độ tối đa 80k/giờ. Mặc dù trên đồng hồ tốc độ chỉ tới 100 km. Xe đời 67 (SS50) máy mạnh nên được dùng để kéo xe lôi thay cho các hiệu xe Ðức. Honda SS50 màu đỏ, màu hồng quân, màu đen chỉ dành cho đàn ông chạy. Phụ nữ chạy coi không hay.
Chiếc xe Honda dame, thời đó, được chánh phủ giảm thuế khi bán cho quân nhân, công chức, giá chỉ 28,500 đồng. Chớ theo giá ngoài thị trường, chiếc Honda dame nầy tới 32,500 đồng. Honda SS 67 giá tới 36,500 đồng.
Nhớ xưa, năm 75, CSBV đổi tiền, 1 đồng của nó ăn tới 500 đồng tiền mình. Sau 47 năm, giờ muốn ăn một tô phở phải tốn tới 60 ngàn đồng. Vậy mà đất nước ta chưa bao giờ được như hôm nay? Giễu dở!
Tình cờ lên ‘Google Images’, thấy em xưa mặc quần ‘xì cớt’ (skirt) chạy Honda dame màu xanh lá trên đường phố Sài Gòn. Hình ảnh thân yêu đó gợi trong lòng người xa xứ chúng ta cả một trời kỷ niệm.
Nhà thơ Cao Tần trong bài ‘Cảm Khái’ với những lời thơ trác tuyệt đã khen hết biết… tên chụp hình căn cước cho ông, khi vừa lên 18 tuổi, là một lão tiên tri:
“Mười tám tuổi thành công dân nước Việt / Tên chụp hình làm ta xấu như ma/
Thằng khốn nạn làm sao mà nó biết / Ta sẽ thành dân mất nước tan nhà
Hình căn cước anh nào mà chẳng xấu / Tên chụp hình như một lão tiên tri
Triệu mặt khôi ngô bàng hoàng xớn xác / Cùng đến một ngày gẫy đổ phân ly!”
Mất nước rồi, trên bước đường tỵ nạn, nhà thơ chỉ còn giữ lại trong ‘Kho tàng’ một vật quý báu là:
“Đáy túi nhỏ thì đầy danh thiếp cũ/ Những tên người tên tỉnh đã xa xưa/ Những dòng vội ghi hẹn hò gặp gỡ/ Những đường quen không trở lại bao giờ.
…Với danh thiếp những tên đường đã đổi/ Những số nhà chớp mắt đã tang thương
Những chốn hẹn nghìn năm không trở lại/ Những tên đời tơi tả khắp quê hương…”
Vâng, bài nầy tác giả xin viết về những tên đường, tên đời tơi tả khắp quê hương!
***
Thường thường khi thay đổi một cái gì người ta cũng muốn làm cho nó tốt hơn. Nhưng việc CS đổi tên đường phố Sài Gòn chủ ý thâm độc là hủy diệt những kỷ niệm êm đềm ngày tháng cũ của người dân Sài Gòn còn luyến nhớ chế độ tự do VNCH.
Ông Phan Thanh Giản là cha, ông Phan Tôn và ông Phan Liêm là con. Cả dòng họ Phan đều là người yêu nước. Nên đường Phan Thanh Giản có hai con đường nhỏ song song, qua khỏi nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi là đường Phan Tôn, Phan Liêm.
Chuyện đó đã rõ vì sau khi Phan Thanh Giản uống thuốc độc quyên sinh, hai người con của ông vẫn tiếp tục theo lãnh đạo nghĩa quân mà kháng Pháp ở Vĩnh Long.
Làm gì có cái chuyện “Phan Lâm mại quốc; triều đình khí dân”
(Với động từ ‘mại’ là ‘bán’ và ‘khí’ là bỏ, tức Phan (Thanh Giản), Lâm (Duy Hiệp) bán nước; triều đình bỏ dân như sử gia CS Trần Huy Liệu nói tầm bậy tầm bạ)
Bây giờ thay tên đường Phan Thanh Giản bằng Ðiện Biên Phủ thì hai ông Phan Tôn và Phan Liêm dù chết đã lâu cũng bị CS cắt lìa với thân phụ của mình.
Ngoài cái chuyện địch ta, CS đặt lại tên đường một cách tùy tiện, tủn mủn, lộn xộn, không theo một quy tắc nào hết ráo.
Nhiều tên đường, người dân chẳng biết đó là ai cả! Gò Vấp có đường Trần Bá Giao, ai rành lịch sử thì cho biết giùm nha? Nếu không biết thằng chả là ai thì cứ cho đó là tên liệt sĩ một thời nằm ‘mùng’ chống Mỹ là đúng ngay chóc.
Rồi Nguyễn thị Minh Khai là ‘ải’ là ‘ai’? Và hồi trước 75, đường đó tên gì? Thì một ‘xếnh xáng’ Tiến sĩ Sử học Lê Trung Hoa chỉ rõ (nhưng chỉ bậy) ra là: Ðó là đường Hồng Thập Tự với “ngụ ý cứu giúp người hoạn nạn’.
Bà con cố cựu dân Sài Gòn cười khè khè, chọc quê là: Xếnh xáng Lê Trung Hoa có bằng cấp hay bằng ‘cắp’ vậy? Hay là vì tên ‘Trung Hoa’ tức Ba tàu nên ông không rành sử Việt mà lại dám cắt nghĩa ‘xạo ke’. (?!)
Đường Hồng Thập Tự xưa
Ðường tên Hồng Thập Tự là vì trên đường đó có trụ sở của hội Hồng Thập Tự đấy thưa ‘Lê xếnh xáng’!
Rồi bà con còn dạy bảo thêm rằng: Ðặt tên đường, số nhà là việc rất lớn. Ðể người dân có thể tìm ra được nhà. Cùng lúc ôn lại về lịch sử danh nhân để càng hiểu, càng yêu đất nước mình hơn.
Hãy trả lại tên thành phố, tên đường thời VNCH vì nó khoa học và hợp lý. Như đường Công Lý xưa chỉ một chiều, ngụ ý rất thâm thúy rằng Công Lý là chỉ có một chiều (hổng có cái vụ hồi chiều nầy, hồi chiều ngược lại). Rồi đường phát xuất từ Chợ Lớn đặt tên là Lục tỉnh vì nó chạy về miền Tây.
Những anh hùng dân tộc cùng thời thì đặt tên đường gần kề với nhau như đường Lê Lợi, Lam Sơn, Chi Lăng gần kề đường Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi. Những tên đường là một chương Sử Việt thời chống giặc Minh oanh liệt của ông cha ta.
Vậy mà CS muốn đổi là đổi! Như đường Phan Ðình Phùng, một anh hùng hưởng ứng hịch Cần Vương của Vua Hàm Nghi, nổi lên chống Pháp ở Hương Khê, Hà Tĩnh bị thay tên, trong khi bộ tướng của ông là Cao Thắng thì được giữ yên. Sao kỳ vậy?
Hai người đều hy sinh đền nợ nước. Nhưng lãnh tụ khởi nghĩa Hương Khê, Phan Ðình Phùng bị đuổi nhà, trong khi Cao Thắng, một bộ tướng của người lại được giữ nguyên tên (?). Làm ơn cắt nghĩa cho tui thông một chút coi hỡi thằng ông nội con nít!
***
Riêng tui nhớ cái tên đường Cao Thắng vì đối với tui nó có quá nhiều là kỷ niệm.
Nhà tui thuở đó nằm trong một cái hẻm thông ra chợ Hai Mươi, một chợ nhỏ, nằm dọc theo đường Cao Thắng.
(Sở dĩ tên là chợ Hai Mươi là xưa thiệt là xưa đường Phan Thanh Giản thoạt kỳ thủy tên là đường Hai Mươi, trong khi đường Trần Hưng Ðạo là đường Ba Mươi).
Một giờ trưa đi học, lội bộ dọc đường Cao Thắng, qua rạp Ðại Ðồng!
(Rạp nầy chiếu phim ‘pec-ma-năng’ (permanent), tức thường trực giá đồng hạng 5 đồng. Vô rạp coi mỏi mắt làm một giấc, mở mắt ra coi nữa… chỉ có cái tệ là hình như hơi nhiều rệp và ‘khai khai’!)
Trước rạp Ðại Ðồng có cái xe bán bò vò viên, thêm vài miếng lá sách, bao tử bò, rắc cải bắc thảo, hành, ngò rí… ngon hết ý! Tiếc là hổng có tiền ‘lồ một tam’ làm một tô, đành nuốt nước miếng đi qua.
Lên khúc trên nữa là Tam Tông Miếu, chuyên sản xuất lịch nổi tiếng cùng tên. Xưa nhà nào cũng ‘thỉnh’ về một cuốn… để đi thi coi ngày, đi cưới vợ coi ngày, đi chết cũng coi ngày luôn.
Sau nầy mới biết là trong khuôn viên có chôn Phó Tổng trấn Gia Ðịnh thành, Huỳnh Công Lý, cha vợ của Vua Minh Mạng nhưng lại bị Ðức Tả quân Lê Văn Duyệt xử chém vì tội nhũng lạm của dân.
Chiều đi học về tà tà bên tay trái. Nhà bảo sanh tư nhân Ðức Chính, nơi má tui sanh em bé nè! Rồi rạp Việt Long chiếu phim mới hơn rạp Ðại Ðồng, 12 đồng một vé, có máy lạnh. Tốn tiền nhiều… đỡ cái là rệp ít cắn hơn.
Xuống chút nữa là cái tiệm bánh mì Hòa Mã, (đặt theo tên một làng ngoại thành Hà Nội nơi cố hương của ông bà chủ vốn là người Bắc di cư vào Nam năm 1954) giờ đây nức tiếng giang hồ, lan ra tới hải ngoại.
Hồi xưa tui chưa được ăn bánh mì Hòa Mã lần nào. Chỉ ‘khoái ăn sang’ ‘sáng ăn khoai’ là hết mức!
Mấy thằng Tây ba lô qua Việt Nam du lịch bụi, chỗ hang cùng ngõ hẻm nào mà tụi nó bò không tới! Hai đứa xơi hai phần, chỉ tốn 91 ngàn đồng, bằng 4 đô 21 xu Mỹ nên tụi nó viết bài đăng ‘clip’ trên ‘Youtube’ khen ngon mà rẻ
Nhìn cái mặt ham ăn, xé miếng bánh mì ‘ba gết’ (baguettes), phết ‘pa tê’ (pâté), thêm miếng ‘giăm bông’ (jambon) quết vào tròng đỏ trứng gà ‘ốp la’ (Oeufs au plat) kèm với hành ngâm giấm, hành tây, cà chua xắt lát, rắc chút muối tiêu, đút vào họng, nhai ngồm ngoàm, mắt lim dim… làm mình coi cũng nhểu nước miếng.
Xong chơi luôn một ly trà nóng cho tan dầu tan mỡ, đỡ bị cholesterol.
(Giờ tui mới hiểu tại sao bà con người Việt mình đi ăn ‘yum cha’ dịch một cách thần sầu, thâm sâu là: đi ăn nhẩm xà (uống trà), vì đồ ăn Tàu ngập ngụa toàn dầu với mỡ!)
Thằng bạn học cũ của tui, từ Cali mới bay về quê cũ, thăm lại đường xưa. Vừa nhai ngồm ngoàm bánh mì ‘ốp la’… nó ‘la’ trên cái điện thoại di động làm tui tưởng nó bị ngọng chớ.
Nó nói rằng: nhạc sĩ Trúc Phương viết nhạc đã hay mà làm thầy bói cũng giỏi. Bằng cớ là trong tác phẩm ‘Con đường mang tên em’, ông đã tiên tri rằng: “Nên khi vắng em, đường đã thay tên còn chăng kỷ niệm? Lạnh đầy theo tiếng bước ưu tư đi tìm!”
Nó ưu tư đi tìm em năm cũ. Hỡi ơi! Nhan sắc em đã tàn phai, sớn sác nhìn, tao tưởng em là bà ngoại của tao. He he! (Làm như nó còn trẻ lắm vậy!)
Tìm em nhan sắc tàn phai… tìm ăn thì hương vị bây giờ không còn là hương vị của cố nhân xa nửa địa cầu, ngàn trùng kỷ niệm kéo theo nhau ngày xưa nữa.
“Tụi mình mất nước rồi. Bây giờ về tìm lại hồn ma cũ thì không còn gặp cái ‘hồn’ chỉ gặp toàn là ‘ma’… ‘ma le’ để ráng sống trong cái thời buổi nhiễu nhương nầy mà chờ tới bình minh? Nhưng mà bình minh sao lâu quá vậy mậy?”
Tôi quen ông Chu Du khi ông đã ngoài năm mươi. Tóc bạc, thưa sợi. Người gầy ốm, nét mặt khắc khổ dù đang cười rộng miệng. Áo quần dù tươm tất vẫn ngó ra chút luộm thuộm, chẳng mấy khi chỉnh chu. Tôi không tiện hỏi tên thật của ông cũng như do đâu ông lôi tên một vị quân sư trong truyện Tam Quốc Chí ra dùng làm bút hiệu. Tôi gọi ông là anh vì tuổi tác chúng tôi cách biệt quá lớn. Những đứa viết văn làm thơ dù chúng chỉ tầm mười tuổi cũng nên gọi tôi là anh, ông Chu Du nói, vì sinh hoạt ở lãnh vực này, kêu chú gọi bác quả thật xa cách, không nên.
Trước khi lưu lạc sang đây ông Chu Du từng là giáo viên môn văn ở một vài ngôi trường trung học ngoài miền Trung. Tôi quen ông trong hai trường hợp: Ngồi cùng bàn trong buổi liên hoan do hội cựu giáo chức tổ chức và lần khác, hẹn ở quán ăn Cố Đô để ông trao tấm ngân phiếu trả nhuận bút cái truyện ngắn của tôi vừa được in ở tờ báo do mình ông điều khiển, tả xung hữu đột, bao thầu từ hạ tầng cơ sở lên tới thượng tầng kiến trúc. Ông từng phê bình tôi, văn bạn khúc mắc trắc trở quá, lại nữa nên loại bỏ bớt những từ mà báo chí trong nước ưa dùng. Tôi ghi nhận, tự nhủ thầm sẽ cố sửa đổi. Bữa cùng ăn bún bò cay xé họng đó tôi nhanh tay và giỏi chân chạy tới quầy tính tiền để chi trả. Tôi thành thực, chẳng ngờ có khi được ngồi đối mặt với ông chủ một tờ báo bề thế chốn đây. Ông lau miệng, nhớ nhé, siêng gửi bài cộng tác với tôi; cứ tưởng tượng là chúng ta mê muội phá mồi trên chiếu rượu lai rai ba sợi.
Ông Chu Du có làm thơ, đôi bài hơi khó hiểu. Tân hình thức hoặc hậu hiện đại gì đó. Trộn một tí không khí thơ Đường vào tính cách cô đọng của Haiku. Và khi nói chuyện, thường chẳng mấy suông sẻ nếu không muốn bảo ông bị tật nói lắp. Tôi đồ chừng chắc ông từng trải qua một cơn tai biến mạch máu, ông đánh thắng khỏi bị bán thân bất toại nhưng miệng lưỡi… ôi, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ! Ăn còn biết quán này sở trường món gì quán nọ sở đoản thức chi. Sành điệu và ngon cơm, không phải ai cũng thủ đắc tựa thế. Buổi gặp mặt ban sơ, ông hỏi tôi: Trước đây anh là thầy giáo à? Dạy học ở đâu, trường nào? Tôi thưa: Dạ không, trước đây tôi chỉ là sinh viên, có anh bạn là cựu giáo chức, ảnh kéo tới chung vui… Ông Chu Du ngắm tôi: Tôi hiểu, tạm gọi là cảm tình viên, một thứ phô trương thanh thế. Chẳng khó hiểu cho bằng “Đêm Trưng Vương” mà sĩ số bọn mày râu lại đông đúc chộn rộn lấn át cả phận hoa nhường nguyệt thẹn mãi bận bịu với con đàng cháu đống.
Có dạo tôi tính mời ông Chu Du đến quán Hương Đồng Quê để lai rai ba sợi nhưng bất thành, lý do tôi gửi tới ông một cái truyện ngắn trong đó nhắc tới một kỷ niệm khó quên xẩy ra trong đêm bão tuyết. Qua điện thoại, ông Chu Du cho hay: Bây giờ đang mùa hè, tôi đi truyện ấy e không thích hợp, hãy nán đợi tới dăm ba tháng nữa nhé… Truyện đó tôi rất hài lòng và tôi đành thu mình ngồi đợi mùa đông về. Kinh nghiệm kiểu mùa màng như vậy khiến lòng tôi vẩn đục về sức sáng tác của mình. Trong hoà bình chớ nên viết tới cảnh bom rơi đạn lạc? Trong đám cưới có kẻ nào ngồi bưng mặt khóc thầm không? Vậy thì nhà văn, anh đừng tưởng bở để tự tung tự tác hô phong hoán vũ. Anh phải luôn nhớ tới bài hát với ca từ như đinh đóng cột: “Không bao giờ, không bao giờ giữa mùa hè tuyết rơi”. Một đôi kẻ yếu bóng vía đã phải thủ đắc câu này: Tên của nhân vật cũng như những tình huống xẩy tới trong truyện đều là sản phẩm của tưởng tượng. Tác giả không chịu trách nhiệm nếu có sự trùng hợp ngoài ý muốn. Nắng mưa là bệnh của trời, nhưng viết xuống giấy làm ơn nên hội ý trước với nha khí tượng hoặc chuyên viên dự báo thời tiết kẻo bị cung đàn lạc điệu. Ở quê nhà, người ta xúi phải đi thực tế là vì vậy, người ta lập ra trại sáng tác là vì vậy và người ta đã xây riêng một ngôi trường để dạy bạn viết văn. Viết tơ lơ mơ là không xong với tớ đâu nhé. Đằng ấy thấy không, con két nhốt trong lồng mới biết nhái được tiếng người chứ bọn sống với rừng sâu hoang dã thì đừng hòng! Không thầy đố mầy làm nên là vì thế!
Rồi thì mùa đông tới đúng với hẹn thề, cái cây chôn trong chậu giờ đây mới chịu nở hoa. Tên tôi in ở trang bìa nằm sát cây thông, dưới hàng chữ “Số đặc biệt chủ đề Giáng Sinh”, khiêm nhượng, khó phát hiện. Tờ báo dầy hơn lệ thường nhưng giá bán vẫn không thay đổi. Ông Chu Du điện thoại hỏi, thứ bẩy nầy có bận gì không? Tôi thành thật khai rằng mình là đứa tỷ phú, rất hào sảng việc chi tiêu thời gian, thứ nào cũng vậy không cứ là thứ bẩy. Ô kê, tôi tính làm buổi tiệc nhỏ, mùa này kiếm chỗ hơi khó nên đành chọn cái nhà hàng Tầu. Đến với anh em cho vui nhé. Lâu nay có viết được gì không? Tôi thành tâm khai báo là viết được ba truyện ngắn gửi cho các tờ tạp chí chẳng hề biết tới chuyện nhuận bút. Ông ậm ừ rồi đọc địa chỉ quán Tai Fat, giờ giấc và gát máy.
Mùa đông ở đây rất lạnh, trẻ lên ba cũng biết điều đó. Nhiều kẻ lạc quan luôn theo triết lý “Vui để sống” nên họ xẳng xái nói “Xứ lạnh tình nồng”. Trẻ lên ba nếu hiểu ra chắc phải khóc thét lên, hơn gặp cảnh khát sữa mẹ. Chiều thứ bảy, tôi độn một đống áo quần tới gặp bá quan văn võ ở quán ăn nghe giang hồ đồn nổi tiếng món vịt Bắc Kinh. Quý vị văn thi sĩ địa phương đã an vị bên chiếc bàn tròn, mặt mày có ám chút tư lự. Địa phương giá rét nên chữ nghĩa co quắp, bàn mười chỗ nhưng vỏn vẹn có năm mái đầu chụm lại mong san sẻ chút “tình nồng”. Không lai rai ba sợi vì hầu như ai cũng bận việc nhà, kẻ sợ về muộn vợ càm ràm, người nói cho em về sớm kẻo thời tiết này qua cầu xa lộ ắt chẳng êm. Họ ăn và họ chẳng ưa tỉ tê tâm sự, đòi hỏi gì thêm khi bao nguồn cơn chúng tôi đã phơi bày trên mặt báo, hoàn cảnh lắm anh ạ!
Kim đồng hồ chỉ mười giờ, chén bát xô lệch riêng mình tôi và ông Chu Du chứng giám. Mặt vị quân sư buồn như thể đấu trí mãi thua Khổng Minh. Đã đọc hết lá thư toà soạn in ở trang đầu chưa? Khan giọng, lời nặng như có đá tảng cột vào. Tôi ngồi làm thinh vì tôi không thể thú nhận rằng, chưa khi nào tôi phải chú mục vào những con chữ phi lộ vớ vẩn ấy. Đọc một bài thơ rất đỗi siêu thực của ông xét thấy đáng công hơn. Tôi có trình bày trong ấy nỗi khổ tâm của tôi và rồi tôi quyết định nghỉ chơi. Tôi về hưu sớm, tờ báo sống được bốn năm, buồn nhiều hơn vui và chừng đó tháng ngày như bóc lột hết của tôi bao nhiệt huyết. Tôi giam cái truyện của bạn để dùng vào ở số cuối là có lý do, đánh dấu một kỷ niệm, một chia tay trong tốt lành. Bữa ăn này cũng là thế cho lời tạ từ. Giờ nầy tôi mới hiểu ra vì sao văn bạn viết luôn dấu ở đó thứ không khí ảm đạm và đầy thương tích. Uống hết ly rượu này đi, khả năng tưởng tượng của mình dù phong phú tới cỡ nào đi nữa cũng chẳng thế ngó ra sự chờ chực của ngày mai thường ám tối.
Đó là hoạt cảnh sau cùng tôi nhìn ông Chu Du quy ẩn. Thành phố vắng bóng tờ báo và tôi đồ rằng ông chủ bút đã dọn tới một thành phố ấm áp phía cực tây. Nhuận bút ông trả chẳng lớn lao gì, nhưng tám chục bạc, lắm lúc nó giúp bạn giải hạn. Tôi từng trải qua những ngày trong túi chẳng có lấy một xu, tự dưng tôi đâm tiếc uổng về cách chết non của một tờ báo. Ở khu vườn quạnh quẽ này đã chẳng còn một loài cây biết đơm bông. Thi thoảng tôi có gặp một nhà thơ nữ trong chợ, cô đi cùng chồng thành ra ái ngại chẳng muốn nấn ná bên tôi dài lâu, chỉ vắn tắc là ông Chu Du ở đâu tui cũng không rõ. Buồn hí? Lỡ nghe tin ông ta chết, ở đây chả còn tờ báo nào để gửi đăng đôi dòng phân ưu. Bà nói sao a chứ, tôi nhủ thầm, thành phố có những ba tờ báo chợ ngập mặt ra đó. Nhưng tại sao lại ác miệng nghĩ ra cảnh ông ấy chết? Thực sự bà từng gặp một Khổng Minh vô ra chợ này rồi sao?
Tôi vẫn làm phận lính đánh thuê không ăn lương, gửi bài sang bên kia biên giới. Mỹ giàu có nên hợp chủng quốc có khối báo bổ sẵn lòng mở rộng cửa để hoan nghênh tôi đầu quân vào. Số nào có in truyện thì họ gửi bưu điện cho tôi số ấy.
Có số đăng bài thơ hoài cảm, giọng buồn nhưng không bi luỵ, mang đủ tính cách khí khái của một vị quan chán cảnh triều đình cởi áo treo đai. Tuy bút danh lạ nhưng linh cảm tôi xác quyết khẩu ngôn ấy chỉ có Chu Du mới đủ hoả hầu. Tâm sự đắng lòng kia gửi về một người trẻ đã thôi đối ẩm, uống rượu mình ta để nhớ lại thời lai rai ba sợi đã sang trang. Tôi có hơi xúc động khi nghĩ “một người trẻ” ấy chính là tôi. Ném một hòn cuội nhỏ dò đường, không gì hơn là trắng đêm tôi ngồi viết ra một cái truyện ngắn kể lại những kỷ niệm về một người cựu giáo chức, một ông Chu Du chân xiêu lạc giẫm lên xứ tuyết. Viết xong mang ra bưu điện gửi tới địa chỉ tờ báo có đăng bài thơ “Chung Rượu Đắng”.
Dĩ nhiên là bài tôi được chọn đăng, bởi những gì phát tiếng trong thành thực nó sẽ mang lại ít nhiều cảm động. Vì địa hình xa ngái, tuy gửi “par avion” nhưng phong bao nặng nề kia đến chẳng đúng với hạn kỳ, phải mất hơn hai tháng hòn sỏi nọ mới chạm đáy giếng, sóng gợn lăn tăn. Giống như mục “Thư Đi Tin Lại” hoặc “Kết Bạn Bốn Phương” in đầy ở các tờ báo chợ, một hôm có con nhạn la đà chui vào thùng thư tôi nằm đẹp xấu tuỳ người đối diện. Phong bì xanh, nét chữ mềm viết mực tím:
“Thưa anh, chồng tôi bị tai biến mạch máu não đã tròn năm. Hơi nặng, nói ú ớ và viết run rẩy khó khăn. Thời gian ở bên xứ lạnh tình lạnh kia tôi luôn đọc những thứ anh trải lòng. Bài thơ mà anh đọc phải do chính tôi sáng tác, với ý nghĩ nếu có duyên phận nó sẽ lọt vào mắt anh. Và giờ đây cái duyên bọt bèo kia đã thành tựu. Trước đây có thể vì lu bu việc dọn nhà và do trăm chuyện ập tới, chồng tôi đã quên gửi anh số tiền nhuận bút truyện sau cùng. Nay một kẻ tai biến mạch máu não mới chợt nhớ ra trong ăn năn, trong sơ sót; xin gửi kèm ở đây tấm ngân phiếu đầy lỗi lầm cùng lời chúc anh luôn sức khoẻ, viết được những điều tâm đắc. Kính chào anh”.
Tấm ngân phiếu 150 USD. Lạ không? Vợ ông Chu Du đẹp xấu ra sao, thể hình thế nào tôi chưa hân hạnh được thấy qua. Bà làm thơ rất gân guốt, rất khí khái như một trang nam tử và ắt hẳn khi mưu sinh bằng tay phải, bà làm việc cho một ngân hàng nào đó, để méo mó nghề nghiệp tính thêm tiền lời khi trả trễ cho thân chủ. Số tiền ấy quá lớn đối với kẻ viết mướn như tôi. Tôi đi sắp hàng ở nhà băng, giá băng phủ trùm nhưng lòng ấm vì đối mặt với những thứ nằm ngoài dự tưởng. Quy ra Gia kim tôi được gần hai trăm sau khi trừ đi một số lệ phí. Cô nhân viên nói, ông bị xui bởi gặp lúc tiền Mỹ đang xuống chứ bình thường hẳn đã được khoảng 220. Chúc mừng mùa Giáng Sinh đầy an lành. Chuyện nhỏ. Tôi nói thầm.
Tôi cầm tiền đi đốt hết vào các món ăn chơi. Mua bột cà phê, mua thuốc lá, mua chai rượu ở hàng quán Tây, ghé qua chợ Tầu mua đồ nhắm đặc sản heo sữa quay có chú thích tuyệt đối không ngâm tẩm hoá chất độc hại. Tối về nhà soạn ra hai cái ly hai cái chén bốn chiếc đũa để ngồi đối mặt với khoảng trống: Tôi hỏi thật anh này, có thằng Khổng Minh nào đã chọc anh tức khí đến nỗi phải tê liệt nửa người. May mà trời bù sự thua thiệt khi anh có được một nửa rất chu đáo, chị đã thanh toán những vướng mắc giữa chúng ta. Tuy anh còn sống nhưng tôi mạo muội rót chén rượu này để nhớ một cuối năm nào chúng ta cùng lai rai ba sợi. Trăm phần trăm nổi không? Tôi uống cạn đây, tôi sống đây mà cũng xem như thác rồi, anh ơi!
Tại sao lại lai rai ba sợi mà không bốn năm sáu bảy tám chín? Bởi đời người ngắn quá, chỉ ba sợi thôi đôi khi cũng chẳng uống xong, phải không anh? Nhiều, sức người có hạn. Chỉ một truyện ngắn, bây giờ chúng sinh hổng có thì giờ để đọc, để hiểu thấu. Cái điệu này tôi cũng về quét lá sân trước đuổi gà vườn sau!
Vào mùa hè, thảm cỏ xanh trong công viên có đôi ba phụ nữ trải khăn, phanh ngực nằm dang tay dạng chân phơi nắng. Bốn năm đứa nhỏ quây quần gần đó nghịch đùa cùng trái bóng lăn. Ruồi tụ bầy trên những thùng rác, chúng bay lên khi có đứa hổn hển chạy bộ vụt qua. Công viên thu cất một bộ mặt không mấy vui, dường như nó thiếu bóng cây, vẫn rát mặt chẳng khác gì người đi bên ngoài phạm vi nó. Nói chung, đó là chốn khá vắng tẻ; chẳng trông ra một hấp lực nhằm trì kéo đôi chân bộ hành muốn vào tìm chỗ ngơi nghỉ.
Mùa thu, diện mạo nó dễ nhìn hơn. Màu vàng kia chẳng do nắng cưỡng chiếm, gió thổi lá rơi tích tụ để dần dà phủ đè lên bãi cỏ xanh, quét lớp sơn mới đẹp hơn màu hoàng thổ, đánh lừa cảm nhận để làm quân bình chút se lạnh chợt dấy lên. Màu sắc vẫn luôn ký gửi về một thứ giá trị, người ta sẽ rùng mình chừng nào bị vây khổn giữa mênh mang sắc trắng, lạnh. Điều ấy nào lạ gì, trong lãnh vực hội hoạ đã phân chia sẵn hai nhóm màu: Nóng và lạnh. Mùa thu nằm giữa biên độ kia, ấm.
Chim chóc trên đường thiên di trốn lạnh có thể mượn công viên nọ làm trạm trung chuyển. Hai ba loài khác nhau, khác tiếng kêu, khác vóc vạc, khác bộ lông và giống định luật sinh tồn của đại dương, cá lớn nuốt cá bé; loài chim cũng thích ỷ mạnh hiếp yếu. Mạnh chậm chạp, yếu nhanh nhẹn, đó cũng là thứ trời sinh để bảo hoà. Chim to khó bề tấn công chim nhỏ. Vì vậy thoạt nhìn ngỡ rằng chúng sống trong hoà bình. Cũng tuỳ vào vùng miền, chim chóc ở xứ này rất dạn dĩ, có vẻ thân thiện cùng loài người với điều kiện giống sinh vật hai chân không có cánh kia đừng đông đúc chộn rộn. Công viên vắng tẻ lại hợp ý với loài lông vũ. Tiếng kêu quang quác, tiếng hót giàu cung bậc hoặc chiêm chiếp kiệm lời cũng đủ truyền âm đi xa, kêu gọi đồng bọn lỡ bay sai đường.
Không biết từ bao giờ, trên chiếc ghế đá lẻ loi mọc lên một hình người. Mùa Halloween đã gần kề và bộ dạng người đàn ông rách rưới kia tựa như một hình thể trang trí mà người ta sớm mang ra dựng đặt. Nếu ông ta đứng ngoài cánh đồng bắp có thể nhát được những cánh chim yếu bóng vía. Nhưng ngồi trong công viên, ông rõ là một người bạn chân tình. Ông cần cù, trì chí cho chim ăn bằng tất cả những gì ông có được. Ăn quen bén mùi, thêm thay “thằng chả” y như một tỳ kheo, Phật tử thuần thành hay sao á, mà lần hồi đã có lắm con dạn dĩ hơn mức quy định, “lờn mặt” dám đậu xuống trên cái mũ nồi bạc màu của “thiền sư”. Để đánh đổi, chúng ríu rít hát ca vui nhộn bên tai và ông, chỉ mong được vậy là đã hài lòng. Những loài chim nhỏ có một hai con thay phiên đậu vào lòng bàn tay ông, cắn hạt đậu hoặc quẹt mõ. Vì thức ăn, vì tâm người, nên vô tình chim đã “coi trời bằng vung”, xem sanh mạng nhẹ tựa… lông hồng.
Ông đến thường nhật, có vẻ đúng hẹn và chim như mừng vui khi bắt gặp dáng đổ ông xiêu lạc bước vào vị trí cũ. Chim có tổ người có tông và ông, dường như không có mái nhà ổn định. Thứ trang phục diện trên người ông nói rõ một điều: Kẻ vô gia cư. Ốm gầy, xác xơ, có vẻ đói khổ. Lạ, một hình nhân như vậy lại hào sảng chia sớt lương thực cho chim. Thực đơn thay đổi, hôm nay chim được ăn bánh mì. Loại bánh mì đặc sản của Pháp, ốm. dài, dòn, ít ruột. Baguette Francaise. Hành trang ông mang theo bên người lỏng lẻo, từ cái bị vải èo uột lôi ra chai nước suối, mày mò một lát lại nắm được cái tô vốn đựng mì trụng ăn liền của Korea. Ông chế nước vào cái hình thể móp méo dị dạng kia, đặt bên chỗ ngồi và chim đã hiểu ý. Có con gục đầu vào uống, có con thích thú nhúng thân vào chậu để tắm táp qua loa, vẫy đuôi hớn hở kêu réo liên tục. Mọi cử động của ông thảy nhẹ nhàng, cẩn trọng, rụt rè chừng sợ buổi liên hoan của chim hốt hoảng mất vui. Ông nhìn chúng bằng đôi mắt linh hoạt, sáng trong như con trẻ chú tâm vào một trò chơi nhiều mê đắm. Hạnh phúc thường không lâu, khi no nê thoả thích chim vụt bay về cây cành xa khuất, chúng hót lãnh lót như một lời chào gửi lại, hẹn hò ngày mai.
Cách một lòng đường khá rộng có hai chiều xe xuôi ngược, từ trong cửa hàng tạp hoá người đàn bà thỉnh thoảng vẫn phóng mắt ra lơ đãng nhìn. Vui mắt khi chim tụ bầy để có khi phát hiện một ô trời câm lặng đóng khung, mới thấy dáng ngồi nhẫn nhục đó, lơ đễnh một chốc chỉ còn chiếc ghế đá cứng thân; chẳng rõ ông ta biến đi đâu? Ông nhắm hướng nào và đâu là đích cuối? Theo sự hiểu biết của bà, có một cái công viên khác nhưng phải mất cả tiếng mới lội bộ tới. Và cũng theo phỏng đoán, bà biết ông ấy chẳng còn gì để cho chim ăn. Đứng sau quầy tính tiền, để tìm chút thư giãn mắt bà luôn đặt để về phía công viên, tuy tầm nhìn bị giới hạn nhưng cái ghế đá, chỗ ông ấy ngồi cho chim ăn vẫn là phạm vi nằm trong nhãn tuyến của bà. Ban đầu là sự tò mò, dần dà thứ hình ảnh người ngồi cho chim ăn ngoài kia, qua những chấn song cửa, đã trở thành một nỗi gì quen thuộc, quen thuộc cả thời khắc đang trôi, chẳng nhìn đồng hồ cũng hay biết giờ giấc đang điểm tới ngang đâu. Vắng hình ảnh đó thì nghe trong lòng có chút gì bất an. Đã nhiều lần bà có ý định sẽ nhờ ai trông coi phần việc của mình chỉ chừng năm mười phút để vội khoác thân chiếc áo ấm, tay cầm iPhone hối hả chạy băng qua đường, dẫm chân lên bãi cỏ để chụp bắt đàn chim đang quây quần bên cạnh ông. Một ông già Noel phát quà cho bọn trẻ con trong mùa lễ chưa chắc đã mang đủ nét đẹp tựa thế. Một vẻ đẹp chính bà không thể tự mình cắt nghĩa. Quá đẹp. Chỉ biết có vậy thôi. Đã nhiều lần, cứ lu bu, cứ rối trí nhận tiền thối tiền… mà chưa rảnh tay để thực hiện. Một khuôn mặt tự bà vẽ ra trong trí mãi còn nằm đó, thế nào cũng phải có khi mình nhìn ra hoàn chỉnh thứ chân dung bằng xương bằng thịt kia. Râu tóc rối rắm? Da nhiều nếp nhăn? Chừng khoảng 60 tuổi?
Vì khá lớn tuổi, vì đàn bà, nên người chủ tiệm tạp hoá sắp việc cho bà vào ca hai, từ 11.30 AM đến 6.30 PM. Ngày có ba ca, chia giờ giấc như vậy là hợp lý. Quá sớm hoặc quá khuya nên để cho thanh niên trai tráng đảm trách. Mức lương thấp nhưng người đàn bà chẳng đòi hỏi gì, bởi sức khoẻ của bà trông như thích hợp với công việc tạm xem như nhàn nhã, chẳng dơ bẩn, chẳng vật lộn tay chân quá đáng.
5 giờ chiều, trời chóng tối, con đường vắt thân bên ngoài đã thắp sáng hai hàng cùng lần với đôi ba ngọn tù mù trong công viên vừa bật điện. Cửa tiệm tạp hoá mở, chút gió lạnh lùa vào theo chân đi hai người cảnh sát mặc sắc phục. Một người đứng chống nạnh nhìn hờ hững bao đồ vật xanh đỏ chất đầy trong tiệm và một người tiến lại quầy. Chào buổi chiều, ông ấy có bao giờ lân la tới hỏi chuyện bà không? Cái ông già hay ngồi ngoài công viên đấy. Xin lỗi. Chuyện gì ạ? Người cảnh sát lập lại câu hỏi, rồi thêm cho rõ ý: Chúng tôi tìm thấy trong túi áo ông ấy có cái bao ny-lông in tên cửa hiệu này. Ồ, có thể ông ta vào đây mua thức ăn cho chim, tôi bắt đầu làm việc lúc 11 giờ 30, thành ra tôi chưa từng gặp mặt ông ấy. Tôi đang tự hỏi là đã hai hôm, vì sao tôi không thấy cảnh ông cho chim ăn. Đã có chuyện gì xẩy tới? Người cảnh sát nhặt lấy một phong kẹo cao su và đếm nạm tiền lẻ vừa đổ xoà trên mặt quầy, giọng tỉnh khô: Ông ta chết rồi. Chẳng ai phát hiện cả, bị chim chóc rỉa và moi ra cả hai tròng con mắt. Theo bà thì ông ta vào chỗ này để mua thực phẩm khoảng mấy giờ? Có mua rượu không? Tôi nghĩ là vào giấc sớm, ngày mai ông có thể hỏi cô Jane, phụ trách ca đầu tiên. Ừ, cũng chẳng quan trọng. Cám ơn bà.
Sáu rưỡi, người đàn bà vào rửa tay rửa mặt, cởi tạp dề. Bà lựa một cánh bông hồng, màu trắng. Một hộp đèn cầy dùng thắp hôm sinh nhật, cửa hàng chỉ còn có loại đó và cuối cùng bà nhặt một cái bánh sừng trâu cho vào bao giấy. Bà đặt tất cả lên quầy tính tiền trong lúc mặc áo ấm. Ông Henry, người thế chỗ bà để cày ca cuối, nheo mắt: Một ngày đặc biệt, đúng không? Hơi khiêm nhượng đấy nhé. Cả thảy là 7 đồng 25 xu. Tôi lấy một bao diêm sinh. Ơ,cái này thì cho không. Chúc buổi tối vui vẻ.
Người đàn bà đứng đợi đèn chuyển màu ở ngã tư, băng qua đường. Công viên thu giữ một vũng tối, bóng đêm chừng như khuếch đại tiếng chân bà dẫm lên đám lá, ngỡ như ngoài mình ra còn có đôi bàn chân nào khác cùng hoà nhịp. Bà tới đứng bên chiếc ghế đá, nhìn về tiệm tạp hoá, tự hình dung ra chỗ mình từng trông qua. Hộp đèn cầy chứa 12 cây nhỏ với bốn màu, xanh đỏ vàng trắng. Bà đốt và cắm hết một tá đốm sáng lên ghế xi măng ẩm lạnh. Một cánh hoa trắng và chiếc bánh sừng trâu, hay croissant, hay nửa vần nguyệt. Ăn lấy thảo, hẳn không đầy bụng đâu. Khoảng trống ấy là chỗ ông ta vẫn ngồi. Bà đi bọc quanh thân băng ghế dài dành cho bốn người, nếu ông ta nằm xuống, hẳn mình sẽ không tài nào trông thấy bởi sự che choáng của tấm xi măng dùng để tựa lưng.
Chẳng một ai hiếu kỳ bước vào nhìn những đốm sáng không chịu tắt bởi gió hắt ánh vàng vọt lên khuôn mặt một người phụ nữ châu Á. Hoặc những kẻ bộ hành ngoài kia thảy đều đã bị mù mắt. Người đàn bà không rõ lắm về lề luật chốn này, họ sẽ giải quyết hậu sự như thế nào dành cho một kẻ vô gia cư, vô gia đình, chẳng có ai thân thuộc bên mình. Bà vừa di dân tới đây không lâu, thuê một căn phòng nhỏ và khu vực quanh đây chỉ riêng bà là kẻ lạ mặt. Họ tên bà mang: Nguyễn Thị Thương, nhưng giấy tờ tuỳ thân bị đảo ngược và rơi rụng hết dấu. Người ở đây dù sáng mắt, đủ đầy lưỡng mục cũng chẳng bao giờ gọi đúng tên bà. Ra đón xe buýt, bà nói thầm: Tiếc là chỗ tôi họ không nhập ba loại hàng lỉnh kỉnh dành cúng cho người vừa khuất. Ông ơi, tôi hối hận vì đã chẳng thể đứng trộm nhìn vào mắt ông được một lần và giờ này quá đỗi buồn khi chẳng thắp được cho ông một cây nhang. Ngày mai nhé. Và tôi nhất quyết sẽ không cho chim ăn.
Một quán cà phê. Một rạp chiếu bóng. Một cái công viên. Trong ba địa điểm em đề nghị, anh chọn chỗ nào xét thấy thích hợp? Dĩ nhiên là em đã bỏ công thăm dò, khu vực đó tương đối yên tĩnh nhất trong thành phố. Anh bảo sao ạ? Công viên á? Được thôi, em sẽ gửi tin nhắn bày cách anh đến đó, đi tàu điện mất chừng hai chục phút. Có một cái tượng đồng đặt ngay cổng, quẹo trái chừng trăm thước có cái hồ nhỏ, có ghế đá có liễu rũ có chim chóc. Anh nên ăn mặc giản dị, chọn màu áo sẫm tối và nếu được nên đội một chiến nón. Bây giờ đã 10 giờ, khoảng 12 giờ em sẽ có mặt ở đó, em mua bánh mỳ kẹp thịt và cà phê mang tới cho anh dùng.
Hôm nay đầu tuần, mùa nhập học chính thức còn tới cả nửa tháng. Học sinh chưa đến trường do vậy phương tiện di chuyển công cộng không mấy đông đúc. Thu chưa ló mặt nhưng chút heo may lẩn khuất làm cây cối bao quanh công viên thôi xao động. Trời không nắng dù đang giấc trưa. Thưa vắng. Ngoại cảnh dường lưu trữ thứ gì hơi khác thường. Người đàn ông tựa hẳn người vào một thân cây, thử mượn nó làm vật che chắn để đảo mắt quan sát. Chỉ có một bà lớn tuổi dắt chó đi dạo. Chỉ có cậu thanh niên vừa chạy bộ ngang qua đoạn uốn lượn dẫn về hồ nước. Chỉ có đôi trẻ tập tranh bóng và cố không để trái banh da thoát khỏi vuông cỏ. Nếu chúng vụng về, banh sẽ lăn xuống chân người đàn ông hoặc sẽ đổ thân về phía những băng ghế dựng bên bờ hồ. Đàn vịt vẫn chăm bơi, chẳng để tâm tới một cụ già mãi cho chim ăn bằng vụn bánh mì rơi từ tay vung vãi.
Người đàn ông bước về một băng ghế trống khi nhìn ra dáng dấp một cô gái đang từ xa tiến lại gần. Cô đeo một cái túi xách và dù trời im mát cô vẫn đeo một cái kính râm gọng to. Cô tên Nguyệt nhưng người đàn ông nghĩ đó chỉ là một danh xưng, chính thức ghi trên giấy tờ hẳn là một cái tên khác. Điều đó thật không mấy quan trọng, sang đây đã có lắm kẻ tự động thay tên cha sinh mẹ đặt, thậm chí có đứa man khai số tuổi để chóng ăn tiền già. Đừng truy tầm lý lịch nhau làm gì, mình đã trốn chạy được cái xã hội chuyên điều tra ấy rồi kia mà! Thư giãn đi nhé, vô tư đi nhé. Nguyệt rất xinh, ba đời đều sống ngay thủ đô Hà Nội. Bên này người ta xem việc hỏi tuổi nữ nhân là bất lịch sự, tuy vậy Nguyệt từng cho hay: Em sẽ đúng 27 tuổi vào tháng 10 nầy. Rồi làm bộ rùn vai: Mùa cách mạng Nga. Nguyệt có ông bác công tác ở bộ ngoại giao, khi kể ra chi ly người đàn ông nhận biết bố mình là bạn thân của ông bác kia. Và quan trọng hơn cả, ông ta đã bị khai trừ ra khỏi đảng, thành phần bất mãn chế độ. Nguyệt sống lưu vong, chẳng muốn mang tài sức sở học về giúp nước nhà là vì vậy. Một bọn vắt chanh bỏ vỏ! Nôm na Nguyệt có máu phản động di truyền tới ba đời. Trước, chả ai dại dây dưa với thành phần tựa Nguyệt cả, nhưng giờ đây “thế giá” của Nguyệt khiến người đàn ông an tâm khi muốn kết giao. Tôi đã biển thủ gian dối nguỵ tạo đánh cắp của nhà nước tới hơn 500 tỷ đồng, tôi trốn được sang đây và một đường dây tín nhiệm từ trong nước rò rỉ sang: Hãy tìm mọi cách để giao lưu cảm tình với em Nguyệt, mọi chuyện ắt sẽ ổn. 500 tỷ đồng chỉ là giọt nước cuối làm tràn ly, trước đó tôi lợi dụng khe hở để tuồn ra nước ngoài biết bao nhiêu mà kể.
Nguyệt ngồi xuống ghế, cô trải vuông giấy báo giữa khoảng cách hai người rồi bày thức ăn nước uống ra. Dĩ nhiên là tờ nhật báo địa phương, người đàn ông không tài nào hiểu chữ nghĩa loạn xạ kia thông báo ra chuyện gì. Ồ, ba cột chữ nầy là bản tin hôm qua cảnh sát đã bắt giữ bốn du khách người Trung Quốc. Nguyệt chỉ tay, cô đọc và giải thích. Bọn họ đi tham quan viện bảo tàng và đã dong tay chào nhau: Heil Hitler! Anh biết đó, ở xứ này xem hành vi kia ngang với phạm tội hình sự. Họ đã buộc bốn anh nhặng xị kia chóng làm thủ tục rời nước họ. Nguyệt thăm dò phản ứng có trên mặt người đàn ông. Em nghĩ là anh cần thay đổi chỗ trọ mới, em đã lấy phòng ở một cái khách sạn 3 sao nằm gần bến xe Euro Star. Em cũng tính tới giải pháp là anh nên sử dụng giấy tờ giả. Bỏ ra 5000 euro anh sẽ có một cái sổ thông hành mang quốc tịch Đức, hoặc Hung hoặc Tiệp. Người ta chẳng thể làm bóng ma mãi được. Ngay cả em cũng ái ngại giùm khi thấy anh phải co cụm trong bóng tối. Người đàn ông lột tờ giấy bao quanh khúc bánh mì thịt nguội. Nguyệt cho hay: Chỗ bán bánh này thuê đúng 8 nhân viên và họ làm không hở tay. Ngay cả báo chí địa phương, Tây u chúng cũng một mực ca ngợi thức ăn nhanh của người Việt, đề cao 3 tiêu chí: Ngon, sạch và giá rẻ không đâu bằng. Nguyệt thêm thắt: Mẹ nó chứ, dân Sài Gòn ngày cũ đấy. Nầy, anh có thèm được đường bệ để rình rang vào quán ăn một bát phở chính gốc Hà Nội không? Ăn chùng ăn vụng thì mất ngon đi. Người đàn ông nhìn qua Nguyệt: Thực sự thì có những thứ khiến mình rất phấn khích, rất ngon miệng, rất háu ăn khi bị cấm đoán. Nguyệt à, tới bao lâu Nguyệt mới đến khách sạn ngủ qua đêm cùng anh? Sau khi anh có được cái pass-port đút túi, chúng ta cùng nhau đáp tàu hoả đi xuyên châu Âu. Ngủ một đêm ở khách sạn thì thấm béo gì, chúng ta còn những ngày thênh thang rộng cẳng ở phía trước.
Nguyệt khuấy cốc cà phê trao tay gã đàn ông. Hắn tầm 46 tuổi nhưng dáng vẻ linh hoạt, là một con báo đói mồi sẵn sàng vồ chụp nạn nhân nếu có môi trường thuận lợi. Rừng xưa đã khép. Con báo đã bị nhổ móng mài răng và lặng lẽ trốn xuống bình nguyên những mong biến đổi thân phận. Nó gặp được linh miêu, bằng mọi cách Nguyệt luôn chứng tỏ cho hắn thấy, không có cô, hắn phải tự mình đối phó với bao vấn nạn hiểm nguy. Nguyệt thăm dò: Số tiền anh giữ ở khách sạn có thể mang ra trang trải hết mọi tốn kém về giấy tờ không? Anh nghĩ là chẳng thành vấn đề. Tốt, ngày mai em sẽ xúc tiến đi dò la và thương lượng với đối tác. Con số có thể vượt hơn những gì mình hoạch định. Khi đổi qua khách sạn khác, em sẽ gọi bọn người có dịch vụ hớt tóc tại gia tới để cắt và nhuộm tóc cho anh. Anh nên mang một cái kính cận, sắm một loạt áo quần thời trang để thay đổi. Người đàn ông uống cạn cốc cà phê: Bây giờ em theo anh về khách sạn để lấy tiền hay sao? Tạm thời chúng ta nên hạn chế việc tiếp xúc qua lại. Anh không thu dấu một ít tiền ở chỗ khác sao? Người đàn ông ngó ra phía hồ nước, trầm ngâm một lát. Ông cởi từ cổ ra sợi giây chuyền mà vật trang sức móc ở đó là chiếc chìa khoá: Được rồi, trước sau gì cũng phải dùng tới. Ở bến xe trung tâm thành phố, lối ra hướng đông, hộc tủ anh thuê mang số 537 E. Cái ba lô màu đen nằm trong đó, em tạm giữ hộ anh, dùng để trả bao phí tổn. Có được giấy tờ tuỳ thân, anh sẽ mua tặng em chiếc nhẫn hột xoàn để đánh dấu sự hợp tác tốt đẹp giữa anh em mình.
Nguyệt nắm trong bàn tay chiếc chìa khoá, cô hôn một bên má gã đàn ông rồi đứng lên. Anh nghĩ ra một danh xưng mới chưa? Chừng năm ba ngày nữa con người cũ của anh sẽ được khai tử. Chúng ta đi ăn phở Hà Nội trên xứ lạ để chào mừng con người mới. Gã đứng lên: Và anh có quyền động phòng? Có thể, ai cấm đoán được chúng ta. Nguyệt nói. Chừng 6 giờ chiều em sẽ gọi anh để trình bày tiếp phương án hai.
Khi gã về đến khách sạn, có hai người đàn ông thấp lùn mặt mày bặm trợn trông cùng quốc tịch với nhau áp sát hai bên lưng. Súng ngắn 38 ly bán tự động của Tiệp lãnh cảm dí cục sắt nguội sát hông. Phòng gã bị lục tung, đồ vật lăn chiêng đổ đèn không khoan nhượng và dĩ nhiên họ đi xuống dưới với thứ hành trang đã chọn lọc, không thừa không thiếu. Trước khi bị đẩy vào xe, gã bị còng tay ngó vào mặt cái đồng hồ Rolex. Mới 4 giờ. Một trong hai đặc vụ móc điện thoại di động ra: Đối tượng đang chung xe với bọn tớ, sẽ về trụ sở chừng nửa tiếng nếu đường thông thoáng. Mẹ nó chứ, cần đéo gì nhờ interpol cho thêm rách việc nhỉ. Không chừng mà bọn chúng phải chạy qua ta xin huấn luyện nghiệp vụ cao cấp đấy. Thì thế, ngay cả các chiến sĩ chó đặc nhiệm của ta cũng giỏi việc đánh hơi tìm ngay ra ma tuý tổng hợp với thuốc lắc dấu ở những chỗ không ngờ tới. Mẹ, nói tới chó mà phát thèm, xứ văn minh như này mà đếch có lấy một quán bán cầy tơ. Tối này khao tiệc ăn mừng chiến công hiển hách chả nhẽ chỉ uống khan!
Lúc 6 giờ chiều, phố vừa lên đèn Nguyệt cũng vừa cởi xong miếng vải cuối. Cô xô ngã người đồng chí xuống mặt nệm khách sạn. Ở cửa sổ vẫn còn đó cái ống nhòm dài ngoằng đứng trên ba chân, sinh hoạt của gã tội phạm mướn ở khách sạn bên kia đường nhất nhất cử động vẫn không thoát khỏi tầm nhắm cái ống nhòm cực tốt sản xuất ở Đức, bà con với thương hiệu Leica. Có phải vì vậy mà em vẫn treo cục mỡ ngoài miệng mèo? Em không muốn anh nhìn vụng trộm khả năng giết người của một cành hoa? Anh coi thường em thế, vui mấy cũng không quên nhiệm vụ, phải nhử mồi cho tới lúc thời cơ chín muồi. Nó hứa hẹn những gì với em? Một chiếc nhẫn hột xoàn to khủng và chuyến đi xuyên lãnh thổ các nước châu Âu. Bọn ta hành động có hơi sớm, anh nhỉ! Em tiếc nuối à, cứ thử xem anh là hắn đi. Hãy hiếp đáp anh, dù sao thì em cũng nên thưởng công anh chứ. Được rồi, trước khi nhập cuộc hãy cùng nhau nâng cốc rượu mừng. Có rượu nữa cơ à? Ừ, thứ đặc biệt, thứ ông uống bà khen hay. Nhất em rồi, chu đáo không tưởng được. Đưa thơm hạ thể em tí nào, bố ôi rượu chưa nhấp môi mà lòng đã say!
6 giờ 15, bộ nội vụ đặc trách khu tình báo đối phó người Việt nước ngoài mất đi trung uý gián điệp Tám Lúa, bí danh Y-48. Rượu có tẩm một liều độc dược cực mạnh, đặc sản do cục tình báo Triều Tiên sản xuất, cung cấp có điều kiện. Mắt Y-48 trừng mở, miệng sủi bọt trắng, da thâm tím trên cơ thể rắn chắc mới thoát y có phân nửa. Chết không nhắm mắt, có ai ngờ được kẻ hạ thủ lại là đồng chí gái của hắn từng vào sinh ra tử có nhau. Hắn không biết cô ấy mang tên Nguyệt, chỉ thi thoảng nghe kêu là cái Yến; chính xác nhất là đồng chí có bí số Y-36. Ngoài nghiệp vụ cao từng đào tạo từ Liên Xô về, Y-36 còn sở hữu một vũ khí lợi hại: Sắc đẹp thể hình khiến điên đảo bọn phàm phu tục tử. Y-48 có chết cũng không lấy làm lạ, bởi Y-36 đã lấy vé máy bay đáp chuyến 8 giờ 30 sang Na Uy. Cô muốn mình ên làm chủ cái ba lô chứa hơn nửa triệu euro. Làm điệp viên xứ mình nghèo khổ lắm ai ơi, bộ điên hay sao mà đổi ngần ấy tiền để thu về chỉ có tấm giấy lộn được lộng kiếng ban khen thành tích nhiệm vụ nào cũng hoàn thành khó khăn nào cũng vượt qua kẻ thù nào cũng đánh thắng.
Y-36 ngồn ngộn đứng tắm dưới vòi sen, hưởng thụ tia nước ấm mơn trớn. Lau mình lau mẩy, tô son điểm phấn rồi đội đầu tóc giả chỉ ngắn ngang cằm. Soi gương, mặt xinh đáo để. Cười ruồi tự mãn. Y phục cắt khéo, bó thân, hớ hênh có thể lộ hàng, ngực vun không mặc nội y. Nước hoa xịt thơm lừng giữa đường khe, chẳng hôn cũng điếc mũi. Cô xuống thang máy và biểu cậu phục vụ trong khách sạn gọi giúp chiếc taxi. Cô hát nhỏ: Đường ra phi trường mùa này đẹp lắm. Ở Na Uy đéo nhớ Việt Nam…
Thắng lợi. Cuộc hành quân êm thắm chỉ diễn trong non tuần. Báo chí đăng tin, kèm hình chụp tên tội phạm bị dẫn độ từ nước ngoài về tới sân bay Nội Bài. Mặt tên tội phạm trông già nua, xuống sắc hơn ảnh chụp những ngày trốn chạy ở xứ người. Hắn chẳng ngờ đến bản tin dựng đặt mà người ta loan ra, gắp lửa bỏ tay người, dồn chó vào chân tường: Vì bỏ công truy lùng săn bắt kẻ tội phạm nguy hiểm nên tổ đặc nhiệm đã có một đồng chí bị hy sinh trong khi thực hành sứ mạng. Họ chẳng nhắc nhở về một đồng chí gái tài sắc vẹn toàn. Nguyệt, giờ nầy em ở đâu? Liệu một mình em nuốt có trôi số bạc to đùng cỡ đó? Bụng anh từng thốn nhưng chưa nghe buồn. Đã ba hôm lòng dạ rối bời chẳng có triệu chứng mắc ỉa. Anh đã nhanh tay nuốt được chiếc nhẫn kim cương giá 9.000 euro, chiếc nhẫn mà anh định bụng sẽ tròng vào ngón tay em khi chúng ta đã leo lên được con tàu euro star băng mình qua bao biên giới, bao lãnh thổ bình yên.
Vì nhân thân đặc biệt, tội phạm lắm mưu mẹo này được nhốt riêng, cách ly với các thành phần nguy hiểm có số má khác. Để cho chúng giao lưu móc ngoặc tình cảm với nhau là điều nên tránh. Con sâu làm rầu nồi canh, cả trăm con sâu lúc nhúc vào thì còn đếch gì nữa những nước với nôi! Ung dung một mình một cõi nên việc ỉa đái nhờ vậy cũng được thông thoáng đôi phần. Bao tử vẫn còn nghiền nát thứ thực phẩm thơm lừng ăn được bên trời Âu, đợi cơm tù hẩm hiu chốn này dộng vào hậu môn nghe nhột mới chịu tống khứ “của nợ” ra. Hắn chăm chỉ dùng năm ngón tay vân vê, mò nắn, với sức người sỏi đá cũng thành cơm, cuối cùng cũng nhìn thấy cái hột mang màu lanh lợi toả sáng trong đống phân vừa bóp nát. Nhẫn là nhẫn nhục, cái nhẫn này sẽ là viên đá dò đường tìm ra động tĩnh một bọn người chuyên làm chuyện đội đá vá trời. Tớ sẽ bôi trơn, tớ sẽ chia sớt phân nửa tài sản nếu các huynh đài bỏ công làm thu ngắn thời gian cải tạo ngậm đắng nuốt cay ở chốn ngục tù. Hãy gia công đổi trắng thay đen, bẻ cong con tạo xoay vần để búa gõ trên bục cao tuyên án “thằng phản động này” nhập kho chỉ đúng 3 năm. Có đồng ý với thứ hợp đồng ấy không nào? Mẹ kiếp, ba năm trời dài miên man nghe mấy bố, chẳng đùa đâu đấy. Phải động não một điều, đời rất phù du, biết đâu có thằng oán hận tớ, nó trộn thuốc độc vào cơm tù buộc tớ phải đi gặp Các-Mác Lê Nin liền khi thì hoá ra xôi hỏng bỏng không. Kinh nghiệm của tớ là ăn được thứ gì thì nên ăn ngay, kẻo hối không kịp. Đấy, đôi lời tâm huyết nên khắc ghi. Cầm chiếc nhẫn nầy mà lo đi chạy việc sớm ngày nào hay ngày đó. Biểu thằng giám thị tuồn vào cho tớ cây viết cùng cuốn vở, mẹ nó chớ, mai hậu sẽ có khối thằng đâm tâm đắc 200 trang Ngục Trung Nhật Ký của thằng hèn nầy!
Ôi, đau khổ chi bằng mất tự do Giá mà có Nguyệt ở bên song Nhất nhật trong tù không đi đong Lá đa chẳng đen sự đời thong dong Còn tiền còn của còn nỗi mong Hết vàng hết bạc hết mắt chong Nhưng mà không biết… có còn đảng còn mình? Hề hề thơ bất tận ngôn!
Hiếu lắng nghe tiếng còi tàu từ sân ga vẳng lại, tiếng đứt quãng, không dài như khi tầu sắp rời ga hay sắp qua Cầu Ga. Có lẽ tàu đang “mơ-nê”, (1) chờ chuyến tàu sáng sớm mai, từ Đông Hà vào, ráp vào đuôi để đi Huế. Cái kinh nghiệm đi chơi lang thang những năm học trung học ở cái thành phố bé nhỏ nầy cho Hiếu biết vậy.
Kim đi giỗ ở nhà bà ngoại, phải tới 10 giờ đêm mới về, khiến Hiếu chờ. Ít ra cũng phải hai giờ đồng hồ nữa. Muốn gặp Kim, hồi chiều, khi xuống sân ga, Hiếu vội vã về nhà Kim, mong gặp cô ta sớm, để còn về Đông Hà thăm mẹ. Hiếu tính toán giờ giấc thật kỹ, thế mà cũng trật. Thăm Kim, kể cho Kim nghe vài chuyện về Đăng, chồng của Kim, trước khi Đăng tử trận, trao lại cho Kim cái đồng hồ Titanum, cái đồng hồ kỷ niệm, Kim mua bằng tháng lương đầu tiên của cô, tặng cho Đăng, trước khi hai người kết hôn, theo lời dặn của Đăng cùng với ước nguyện của Đăng trong việc thủy táng, rồi Hiếu sẽ về Đông Hà thăm mẹ, trở lại Huế cho kịp chuyến tàu suốt Saigon, khởi hành lúc 5 giờ. Tới Huế, Hiếu ra phi trường Phú Bài kịp trở về đơn vị đang hành quân.
Cuộc đời nhà binh, những giờ phép bao giờ cũng ngắn ngủi, eo hẹp, làm người lính phải tất bật.
Việc thăm Kim chắc phải trễ, hơn một tiếng đồng hồ mới xong chuyện trò, Hiếu phải tìm cách làm thế nào để ra Đông Hà, thăm mẹ ít giờ trước khi trời sáng rồi lên ga. Ga cuối cùng của một đường tàu đi xa ngút ngàn về phương nam. Lạ thật, cái ga xe lửa nhỏ bé cuối một đường tầu chẳng có gì đặc biệt, vậy mà bao giờ nó cũng để lại những ấn tượng buồn bã sâu sắc về những ly biệt cho Hiếu và bạn bè.
Vậy là coi như Hiếu sẽ có một đêm không ngủ. Mất ngủ, không cần thiết, Hiếu đã quen với những đêm không ngủ, đêm chờ giặc ngoài chiến trường.
Khi thăm Kim xong, Hiếu sẽ ra Đông Hà bằng cách nào? Ít ra, lúc ấy cũng đã quá nửa đêm. Phải chi còn vài thằng bạn cũ, đánh thức nó dậy, kiếm một chiếc xe gắn máy, cùng “dông” ra Đông Hà. Tình hình bấy giờ an ninh, khi lực lượng quân sự Mỹ còn đóng ở Ái Tử.
Nhưng bạn bè của Hiếu ở thị xã nầy chẳng còn ai. Bọn nó, cũng như chàng và Đăng vậy, nhập ngủ hết rồi. Được chục anh còn đi học, lên đại học, đi xa, chẳng anh nào ở lại đây mà nhờ cậy. Có lẽ gặp Kim xong, Hiếu sẽ lên cầu Ga, đón đường một chiếc xe nhà binh nào đấy, Việt hay Mỹ, quá giang ra Đông Hà. Nếu xe chỉ đi tới Ái Tử, không tới được Đông Hà thì Hiếu cuốc bộ ra Lai Phước, bên kia căn cứ Ái Tử. Hiếu có người cậu đang dạy học ở đó, nhờ cậu lấy xe gắn máy đưa ra Đông Hà, chỉ cách có mấy cây số.
Vậy là Hiếu về nhà sau nửa đêm, đánh thức mẹ dậy để thăm mẹ. Mẹ Hiếu sẽ vui mừng, mắng Hiếu một vài câu vu vơ, kiểu mắng yêu vậy mà. Mẹ sẽ lục đục nấu một nồi xôi, nướng vài khúc lạp xưởng, để Hiếu ăn cho “chắc bụng”, khỏi “bị gió máy”, theo phong tục quê mùa ở quê chàng, như ngày trước, khi Hiếu còn đi học.
Đăng, chồng của Kim, bạn của Hiếu, tử trận cách đây hai tháng, khi Đăng và Hiếu, tham gia một trận đánh khá căng thẳng ở Kontum.
Núi rừng mù mịt, tin tình báo không nắm chắc. Cứ tưởng tiểu đoàn của Đăng và Hiếu sẽ đụng với một trung đoàn Cộng Sản Bắc Việt xâm nhập, ai ngờ lại là một sư đoàn, sư đoàn 10.
Bộ tư lệnh chiến trường tăng cường một tiểu đoàn Biệt Động Quân nữa. Hai bên cầm chân nhau đã hai ngày. Thế rồi hôm ấy địch tăng cường pháo mãnh liệt, nhất là phía đại đội của Đăng, bên kia đồi, cách nhau bằng một cái khe cạn, tre, mây, cây lá rậm rạp.
Trước khi bị địch pháo kích, Đăng gọi cho Hiếu:
_ “Hiếu giang, Đăng xương gọi.”
Hiếu giang và Đăng xương là danh hiệu truyền tin của hai người. Hiếu sinh trưởng ở Đông Hà, chỗ có sông Đông Hà, tên chữ là Hiếu Giang chảy qua, nên danh hiệu truyền tin là tên con sông ở quê anh. Đăng, sinh trưởng ở thị xã Quảng Trị, xưa, trong lịch sử, thuộc huyện Đăng Xương. Đăng chọn cái danh hiệu ấy.
Đăng nói qua máy truyền tin:
_ “Nhớ mẹ không mày?”
_ “Không nhớ mẹ thì nhớ ai! Còn mẹ để mà nhớ là còn may.”
Nói tới đó, bỗng Hiếu khựng lại. Anh chợt nhớ ra Đăng mồ côi mẹ từ nhỏ. Anh đánh lãng ra chuyện khác:
_ “Mày có nhận được thư Kim không?”
_ “Nhận đều. Chắc Kim trông “moa” lắm. Kỳ nầy mày về
nhớ ghé thăm giùm tao.”
Hiếu thấy có cái gì đó hơi kỳ ở câu nói của Đăng. Tại sao Đăng không nghĩ là anh ta sẽ về mà lại bảo “mày về”. Hiếu nói:
“Trận này xong, mày xin đại bàng về đi. Về thăm vợ
một chuyến.”
Hiếu chỉ nghe tiếng Đăng thở dài ở đầu máy.
Sau khi Đăng chết rồi, Hiếu nhớ lại câu chuyện hai người nói với nhau hôm ấy. “Điểu chi tương tử, kỳ minh giả ai. Nhân chi tương tử, kỳ ngôn giả thiện.” – Con chim trước khi chết, tiếng kêu bi thương, Con người trước khi chết, nói lời nói thiện – Thật ra, trước khi chết, Đăng không nói một lời nào với Hiếu. Cái không nói, nhiều khi lại là nói rất nhiều, là những tâm sự, là nỗi nhớ nhung, tình nghĩa vợ chồng và quê hương… Tất cả gom lại trong một tiếng thở dài của Đăng trước khi Đăng “cúp” máy.
Ngay chiều hôm ấy, khi địch đang pháo kích dữ dội bên phía của Đăng, Hiếu nghe tiếng máy gọi:
_ “Hiếu giang đây Phẩm chất”
Hiếu hơi ngạc nhiên và bỗng đâm lo, như có cái gì đó không may. Sao Đăng không gọi cho Hiếu mà lại là ông thượng sĩ thường vụ đại đội, ông Chất.
Thượng sĩ Chất nói ngay, giọng hốt hoảng:
_ “Đích thân của tui bị pháo!”
_ “Nặng không?” Hiếu hỏi.
_ “Nặng lắm”. Thượng sĩ Chất trả lời.
_ “Tui qua ngay”. Hiếu nói.
_ “Khoan, để tui cho mấy đứa xuống đề phòng dưới ghe.
Hôm qua, có mấy “thằng cùi” (2) chém dzè xuống đó. Tui gọi lại Hiếu giang.”
_ “Đại đội phó đâu? Hiếu hỏi.
_ “Ông đang phản công phía hông. Tụi nó đang lên”.
Hiếu nghĩ phải sang với bạn, nhất là khi biết Đăng bị nặng. “Sống chết có nhau” mà, nhất là ở chiến trường.
Hiếu giao đại đội cho đại đội phó rồi cùng “tà-lọt” bươn bả xuống suối. Chẳng có “thằng cùi” nào đón đường Hiếu. Bọn chúng sợ, nằm im hay tối hôm qua đã trốn hết rồi. Khi Hiếu tới chỗ, Đăng đang nằm trên tấm poncho, máu ướt hết vạt áo ngoài, mặc dù y tá đã băng vết thương. Đăng không nói được nhưng còn tỉnh. Có tiếng động cơ trực thăng phành phạch. Hiếu gọi cho Tiểu Đoàn trưởng nói: “Đại bàng, tui muốn đưa Đăng về.”
Đại bàng hốt hoảng:
_ “Ở phía đó, không có Đăng thì còn ông. Ông đi luôn, hở sườn, ai đỡ đòn cho tiểu đoàn?”
_ “Nhưng Đăng là bạn…”
Tiểu Đoàn trưởng nói ngay:
_ “Tôi biết. Nhưng phía đó không có ông, nguy hiểm cho ba trăm lính của tôi. Tình cảm thì tôi xin ông ở lại, không thì tôi ra lệnh cho ông. Ông phải bảo vệ tiểu đoàn cho tôi”.
Nghĩ tới đơn vị, Hiếu không theo mấy người lính khiêng Đăng ra trực thăng. Đăng chỉ thều thào được một tiếng nhỏ: “Về…”. Hiếu gật đầu… nghĩ rằng đó là lời trối, dặn Hiếu phải về thăm Kim, kể lại những giây phút cuối cùng của Đăng như hai người đã từng chuyện trò, dặn dò.
Khi trực thăng bốc cao, thấy binh nhì Tất cũng đứng nhìn theo trực thăng như chàng, Hiếu hỏi:
_ “Sao mầy không về với ông thầy?”
_ “Hôm qua, bỗng nhiên ông giận em. Ổng nói em xui xẻo, em tự ái. Trước khi chết, ông đâm ra khó tánh. Ổng linh lắm trung úy à.”
Thấy trên tay Tất cầm cái đồng hồ của Đăng, Hiếu hỏi:
_ “Mày lấy đồng hồ của ông thầy?”
_ “Lấy đâu! Ông đưa em giữ, nói đùa “Tao cho mày.”
_ “Sao mày biết nói đùa?” Hiếu hỏi.
_ “Em biết đồng hồ nầy của cô mua biếu ông thầy.
Nhưng ông thầy chết rồi, em cũng bán thôi.” Tất nói.
_ “Mày bán để làm gì?” Hiếu hỏi.
_ “Nhậu chơi. Nhậu mà nhớ ông thầy chớ!”
Hiếu nói: “Mày đưa đây tao. Muốn nhậu, hành quân về, tao cho mày một ngàn đi nhậu”. Hiếu muốn đem cái đồng hồ về trả lại cho Kim.
Đời lính buồn cười thật. Nhậu để nhớ ông thầy. Cũng lắm đứa vừa uống rượu vừa khóc cho bạn đã chết. Rượu làm cho người ta quên được thật sao, hay uống rượu là để khóc cho người mà cũng để khóc trước cho mình? “Ngày mai ra trận ta còn sống, Về ghé sông Mao phá phách chơi.” Phá phách? Có phải phá phách thật? Không! Phá phách chơi thôi, là biểu lộ một sự phẩn nộ trước con đường chông gai, đầy hiểm nguy, không xa cái chết bao nhiêu nhưng chẳng có lối thoát nào.
Trước khi vào “trận”, dù có học như chàng hay Đăng, hoặc học hành ít hơn, người ta nghĩ đến bao nhiêu cái hay, cái đẹp đã thu nhận dưới mái trường. Đã “Thất phu hữu trách” thì người ta không thể hèn nhát. Và còn bao nhiêu cái đẹp khác nữa. Không là “áo chàng đỏ tựa ráng pha” thì cái áo trận ngày nay không làm cho người thanh niên cảm thấy mình hào hùng hơn hay sao? Vậy nhưng khi đối diện với cái chết, người đời nay cũng bi quan như người xưa vậy: “Kỷ kiến hữu nhân hồi.” Người xưa còn say rượu nằm ngoài sa trường “ôm yên gối trống” thì ngày nay “đốt tiền mua vội một ngày vui” với gái điếm, thế vẫn còn hiền lắm.
Hiếu đi dọc theo con đường từ cửa thành cổ ra bờ sông, nơi có một cái bến nước của bọn học trò như Hiếu, khi anh còn học ở đây.
Hiếu ngồi dựa lưng vào một gốc dương liễu già, chờ cơn gió mát từ ngoài sông thổi lại.
Hình như có mấy người, có lẽ là lính, đang tắm ở bến sông. Những cái đầu nhấp nhô và tiếng đập nước của người bơi ra xa rồi lại bơi vào.
Bến sông nầy và con sông nầy, với Hiếu, nó có những sự “quấn quít” kỳ lạ. Nước nhà độc lập đã mấy chục năm mà người ta không thể dựng lại một cái nhà máy nước như thời còn Tây đô hộ. Có nhà tự đào lấy giếng nước mà dùng. Phần đông thì “gạo chợ nước sông.” Nhà Hiếu trọ không có giếng, cho nên những ngày nắng, cái bến sông nầy là nơi Hiếu “gìn giữ vệ sinh.” Không phải Hiếu chỉ tắm mà đây còn là nơi bơi lội, bơi thi với bạn bè, nơi đùa giỡn với bạn bè. Kỷ niệm ấy nói không hết được. Ngoài những ngày mưa, nhất là những ngày “mưa phùn gió bấc” lạnh như “cắt da cắt thịt”, hễ có nắng nóng là có Hiếu tắm giặt ở bến sông nầy. Ngay cả những ngày nắng đầu hay giữa thu, trời đang nắng mà có nước sỉa (3), Hiếu cũng không sợ nước, vẫn tắm ở đây. Dĩ nhiên, ngày lụt, là khi nước lũ dâng cao, tưởng như nước có thể tràn ra khỏi bờ sông, những đám rều rều, củi, trôi cuồn cuộn giữa dòng thì Hiếu sợ thật, chẳng thể tắm bao giờ.
Thế rồi khi học Việt Văn cuối cấp 2, đầu cấp 3, Hiếu gặp các giáo sư văn chương, tưởng như họ mở ra một chân trời mới văn học cho trí óc Hiếu, với thi văn thời tiền chiến, với bốn bản đàn của cô Kiều, với “hình ảnh kẻ chinh phu, trong lòng người cô phụ”, với Chinh Phụ Ngâm. Nó đưa Hiếu về một thời kỳ xa nữa trong văn học, về một thế giới đầy tiếng lẻng xẻng gươm đao, ở một nơi xa ngút ngàn nào đó tận xứ sở của người Hồi Đột, với Thái Sơn, Tần Lĩnh, với Sơn Hải Quan, với Lũng Tây, với Tương giang mà Hiếu không thể ngờ trong cuộc đời nầy, trong thế giới nầy, lại có những khung cảnh huyền ảo, những hình ảnh trong đời thật mà mơ hồ như tiên cảnh của Hoàng Hạc Lâu, những chiến trận hùng vĩ mà đau xót, dữ dội như Xích Bích, Đương Dương Trường Bản…
Nhiều khi bất chợt, Hiếu tưởng như Tương Giang không xa chừng ấy. Nó ở chính ngay con sông nầy của Hiếu vậy. “Tương giang đầu” ở ngay phía Trường Sơn, là Động Ông Đô, đèo Lao Bảo, sông Dakrong… nơi có những ngọn núi xanh nhấp nhô, “ngọn nọ ngọn kia không dứt” như làng Từ Lâm trong “Người Quay Tơ” của Nhất Linh. “Tương giang vĩ” là ngay chỗ hai con sông Hiếu giang và Thạch Hãn gặp nhau, là ngã ba làng Gia Độ, nơi hai bờ xa nhau đến nỗi tiếng gọi đò không tới. Ai là “Quân” ở “Tương giang đầu”? Ai là “Thiếp” ở “Tương giang vĩ” để ai “đồng ẩm Tương giang thủy”. Thủy ấy là giòng nước đang chảy qua trước mặt chàng.
Hiếu rất ngưỡng mộ cô giáo dạy Việt Văn. Cô là biểu tượng cho “gái Huế lãng mạn”. Dường như cô dành hết trái tim cô cho văn chương, cho những tác phẩm văn chương do cô dạy, mà những câu thơ, bài thơ, những Loan của “Đôi Bạn”, Nhung của “Lạnh Lùng”, Thu của “Bướm Trắng” trong Tự Lực Văn Đoàn chính là tâm hồn của cô vậy.
Mặc dù ngưỡng mộ cô giáo, Hiếu đã có lần đụng độ với cô. Khi cô giảng về bài thơ “Phong kiều dạ bạc” của Trương Kế, đến câu thơ “giang phong ngư hỏa đối sầu miên” thì cô giải thích “giang phong” có nghĩa là hàng cây phong ở bên sông. Hiếu không tin như vậy. Kinh nghiệm từ thời niên thiếu làm Hiếu nhớ những đêm dân chài đốt lửa bên sông.
Mùa hạ, để bảo vệ thuyền, người ta thường kéo thuyền lên bãi, kê chiếc thuyền lên khỏi mặt đất, ngoài việc sửa chữa những chỗ hư hỏng, ngư dân đốt đuốc để đốt những con hà bám phía ngoài mạn thuyền vì hà thường ăn hư gỗ. Việc thắp đuốc đốt hà phải cẩn thận vì hà thường ăn sâu vào gỗ và đốt đi đốt lại nhiều lần. Ngọn lửa bập bùng trong cơn gió ngoài sông thổi vào.
Dù ngọn lửa chập chờn bên kia sông Hiếu giang, – ngang làng Điếu Ngao của Hiếu, – hay bên kia sông Thạch Hãn, ngang thành phố Quảng Trị, – nơi Hiếu học trung học -, trong đêm khuya, như bóng những con “ma đuốc” đuổi bắt nhau trong bóng tối, để lại trong trí Hiếu những ấn tượng sâu sắc, khi Hiếu còn trẻ.
Chính cái ấn tượng ấy, với lòng chân thật và ngay thẳng, Hiếu đã làm mất lòng cô giáo khi phát biểu:
_ “Thưa cô, theo em nghĩ, “giang phong” không có nghĩa
là hàng cây phong ở bên sông, mà phong đây nghĩa là gió. Ngọn đuốc “ngư hỏa” của thuyền chài chập chờn là vì gió thổi trên sông… Thạch Hãn.”
Cả lớp cười ồ vì hai chữ Thạch Hãn của Hiếu.
Cô giáo nói:
_ “Trong chữ Hán, có bộ kèm theo. Nếu có bộ mộc thì
đây là cây phong. Cây phong thuộc bộ mộc.”
Hiếu vẫn chưa chịu thua:
_ “Theo em nghĩ, chữ phong nầy thuộc bộ phong.” Hiếu
nói liều như thế, chứ thật ra, Hiếu chưa từng học chữ Nho nên Hiếu không biết có bộ phong hay không?
“Để cô xem lại.”
Có lẽ cô cũng không rành chữ Nho nên đó là kế hoãn binh.
Kể từ đó, cô thường để ý đến Hiếu. Có lần gặp cô đi với chồng mới cưới ở rạp Ciné Tân Tân, Huế. Hiếu cũng đi xem ciné, tình nguyện mua giúp vé cho thầy cô. Hiếu mua ba vé liền ghế nhau. Vào rạp, cô gồi giữa, ông chồng cô ngồi bên kia, Hiếu ngồi phía bên nầy. Lợi dụng bóng tối trong rạp, cô giáo nắm tay Hiếu, bóp những mấy lần làm Hiếu bàng hoàng, sững sờ. Hiếu có cái cảm tưởng mơ hồ như đang “trôi” trong cuốn tiểu thuyết “Vòng Tay Học Trò.”
Sau cuộc gặp gỡ kỳ lạ đó, đôi khi Hiếu thấy lòng mình bâng khuâng. Không ít lần, khi trời đã tối hẳn, một mình Hiếu lang thang bên bờ sông Thạch Hãn, con đường đi dạo của đám học trò nam nữ.
Có chiếc thuyền đánh cá bên sông. Sau khi giăng lưới xong, người thuyền chài chèo thuyền chạy vòng quanh, vừa chèo vừa gõ vào mạn thuyền, tạo ra những âm thanh mạnh và đều, để đuổi cá chạy vào lưới. Chiếc thuyền nhỏ có cắm đuốc, ngọn đuốc chập chờn trong gió như muốn tắt.
Hình ảnh đó làm Hiếu nhớ tới câu chuyện Trương Chi mà cô giáo dạy Việt Văn đã kể ở lớp. Có thể nào Hiếu là một Trương Chi. Hiếu đâu có tiếng hát hay hoặc tiếng sáo tuyệt vời của Trương Chi, làm cho Mỵ Nương, con quan Tể Tướng phải yêu mến đến độ mắc bệnh tương tư. Nhưng Hiếu vẫn muốn mình là một Trương Chi của thời đại, một Trương Chi không có Mỵ Nương bởi vì thành phố nầy không có quan Tể Tướng, không có lâu đài nào ở bên sông, cũng không có cửa sổ bán nguyệt, để mỗi chiều Mỵ Nương đứng đó, nhìn xuống dòng sông dài, tìm hình bóng anh thuyền chài đang neo thuyền bên kia sông.
Cuối cùng, Trương Chi chết trong cảnh cô đơn, nghèo khổ. Hiếu tự cho mình có thể là một người hát hay, thổi sáo hay như Trương Chi, nhưng không thể chết như vậy vì Hiếu không bao giờ thất tình, bởi vì Hiếu không tìm thấy Mỵ Nương, và ngay cả cô giáo Việt Văn của Hiếu, dù cô có giảng bài hay như thế nào, dù cô có lãng mạn như thế nào, lãng mạn hơn cả việc Mỵ Nương mê tiếng hát của Trương Chi, trái tim Hiếu không bao giờ biến thành đá, và cũng không thể tan hòa với giọt nước mắt của Mỵ Nương mà biến thành nước.
Trương Chi Mỵ Nương chết rồi, đời chỉ còn lại một câu chuyện tình lãng mạn và chung thủy. Có lẽ câu chuyện Trương Chi Mỵ Nương là câu chuyện tình lãng mạn nhất, chung thủy nhất, và dĩ nhiên cũng là bi thảm nhất, kỳ lạ nhất trong văn học, trong cả văn chương bình dân cũng như văn chương bác học, và cả trong văn học thế giới. Có lẽ thế giới không có câu chuyện tình nào chung tình với người tình bằng trái tim hóa đá của anh thuyền chài, và cũng không có giọt nước mắt chung thủy nào có đủ mãnh lực làm cho đá tan thành nước theo giòng nước mắt của Mỵ Nương.
Hiếu yêu thích văn chương lãng mạn, yêu những mối tình chung thủy. Hiếu cũng biết chắc, văn chương lãng mạn thì nhiều, mà chung thủy thì chỉ là điều trong trí tưởng. Đời làm gì có chung thủy! Đường Minh Hoàng, Dương Quí Phi yêu nhau biết bao nhiêu. Có biết bao nhiêu thơ văn viết về mối tính của hai người, đến nỗi cả ngàn năm sau, người ta vẫn còn mơ ước. “Khi xưa ta là Đường Minh Hoàng, Ta yêu nàng Dương Quí Phi” (4). Có mối tình nào say đắm như Châu U Vương mê nàng Bao Tự. Có mối tình nào như Phạm Lãi với cô gái “Bên cầu dệt lụa”.
Thế rồi có mối tình nào là chung thủy?
Nếu Dương Quí Phi chung thủy với Đường Minh Hoàng thì sao có loạn An Lộc Sơn? Nếu Bao Tự chung thủy với Châu U Vương thì làm sao vua lại có thể chết thảm trong đám loạn quân thua trận. Phạm Lãi chỉ có thể sống mãn đời với Tây Thi khi hai người bỏ xứ đi sâu vào Động Đình Hồ mà người đời không biết họ đi đâu!
Đó là ngày xưa, còn như ngày nay. Nếu có chung thủy thì làm sao có cái nắm tay trong rạp ciné?
Văn chương là mộng mị.
Hiếu thấy rõ như vậy.
Vì cuộc sống, người ta phải sống. Cô Kiều phải yêu Từ Hải mà quên Kim Trọng vì cô muốn thoát ra khỏi cảnh thanh lâu, khuyên Từ Hải ra hàng cũng chỉ là để thực hiện “giấc mơ hồi hương”. Người ta phải quên để mà sống. Ý nghĩa của thời gian là quên. “Cái nghĩa hợp ly là thế đó, Thời gian thường đổi nhớ ra quên.” (5) Đó là lẽ sống ở đời, là lẽ sinh tồn nếu người ta không muốn… tự tử.
Kim, vợ của Đăng, rồi vài ba năm sau, cô ta sẽ lấy chồng khác. Đăng sẽ bị quên lãng. Cả ngày kỵ, ngày giỗ, biết còn ai nhớ để đốt cho Đăng một nén hương. Đó là “định luật” tàn nhẫn của cuộc sống. Cũng may, trước khi nhắm mắt, Đăng đã không nói câu mà những người bạn khi sắp trút hơi thở cuối cùng ở chiến trường thường nói với bạn: “Mày hãy rán chăm sóc cô ấy…” nghĩa là thay mặt người quá cố để chăm sóc cho người vợ trẻ góa bụa. Nghĩ tới đó, Hiếu cảm thấy nhẹ nhõm.
Cuộc chiến nầy kéo dài quá lâu khiến cho mọi người chán nản. Thế hệ cha chú của Hiếu đã vì cuộc chiến nầy mà hy sinh, mà qua đời. Hiếu có cảm tưởng như thanh gươm báu đời cha đã trao lại cho đời con như “Chiếc hùng gươm danh tướng dưới tà huy” mà trong vỡ kịch “Hòn Vọng Phu”, Đăng đã được chọn đóng vai người ra trận.
Hiếu, Đăng và các bạn bè đã lên đường vì thanh gươm báu ấy. Nhưng Đăng có vợ mà chưa có con, còn Hiếu thì không nghĩ đến chuyện lấy vợ, mặc dù mẹ Hiếu nhắc nhở nhiều lần. Thế hệ của Hiếu có nhiều hay ít những “đứa bé đang nhìn cha chờ giặc dưới giao thông hào” như câu hát của Duy Khánh, để tiếp nối cha nó cầm súng chờ giặc?
Hiếu thấy nặng ở ngực, buông tiếng thở dài khi nghĩ đến thế hệ mai sau. Chúng nó sẽ tiếp nối công cuộc của thệ hệ Hiếu hay cam chịu số phận như câu thơ của Đỗ Tấn: “Ta sợ một ngày Cộng Sản, Về đây xé nát tâm tư. Chắn ngăn những giòng lệ nhỏ, Đời như chết tự bao giờ”.
Hiếu không muốn sống bằng “xé nát tâm tư”. Hiếu muốn được chết trong chiến trận, trong kiêu hùng, như Đăng vậy. Và Hiếu cũng muốn một việc như Đăng đã trăn trối: “Đốt xác của mình đi, rồi đứng trên Cầu Ga, thả cho tro cốt trôi theo nước sông Thạch Hãn.
Về với sông, cũng là về với quê hương, cũng là về với mẹ.
Hiếu hiểu rất rõ Đăng. Ba của Đăng là mộng đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng từ khi Pháp còn cai trị. Ông vào đảng để giành lại độc lập cho đất nước. Góa vợ sớm, ông ở vậy, không tục huyền, chăm sóc nuôi dạy Đăng. Mỗi khi Đăng ham chơi hơn ham học, ông không mắng “Giá áo túi cơm” mà ông gọi là “Sống chi cho chật đất.”
Vậy thì chết, giành một chỗ đất, xây mồ to mả đẹp để làm gì? Có phải đó là nguồn gốc ý nghĩ Đăng muốn thủy táng. Việc ấy, Đăng không muốn cha của anh làm mà giao cho Kim. Ngày sau, khi trở về cố hương, nhìn giòng sông là Kim và Hiếu cũng như bè bạn đều nhớ tới chàng.
Lại có tiếng còi tàu giục giã ở sân Ga vẳng lại. Có lẽ gần tới 10 gờ. Hiếu đứng lên, lững thửng đi về hướng nhà Kim để thực hiện lời trối trăn của bạn./
hoànglonghải
Mener: dẫn dắt. Tiếng thường dùng trong giới xe lửa
ngày trước.
Thằng cùi: Tiếng lóng, trong quân đội, để gọi Dziệt Cộng
Hoàng Long Hải (dịch)Posted on 1 Jan 2015 by quanvan.net
Post by Sơn râu 18 Dec 2023
Chương 3
Bắt đầu đánh chiếm từng nhà Ty Ngân Khố và Bưu Điện
Vài lời trình bày:
Trước khi vào Chương 3, tôi xin nói vài điều về trường hợp tôi.
Các Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã núp ở phía trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công Huế để tấn công vào Ty Ngân Khố (người Huế thường gọi nôm na là Kho Bạc). Một người lính TQLC Mỹ, 19 tuổi, đã tử trận ở sân cỏ của ngôi trường nầy.
Đây là ngôi trường tôi đã dạy học ở đó 10 năm. Sau khi tình hình an ninh vãn hồi, tôi đi dạy lại, và được nghe ông cai trường thuật lại cái chết của người lính ấy, một cái chết rất đáng thương.
Khung cảnh của trường sau trận đáng năm Mậu Thân, làm cho một nửa học trò của tôi, trai cũng như gái, đeo khăn tang khi đi học trở lại. Đó là lý do khiến tôi “tự ý bỏ viên phấn đi cầm súng”.
Cũng vì câu chuyện đó, tôi đặt thêm cho Chương 3 nầy một đầu đề mới:
“Người Lính Mỹ Chết ở Sân Cỏ Trường Bán Công Huế”.
Kính cẩn.
Phần 1:
Của người dịch.
Tôi học đại học năm đầu tiên vào niên khóa 1958-59, sau ba năm làm precepteur tại nhà một người bà con. Rời khỏi nơi sống tạm nhưng khá yên ổn ấy, nỗi lo cơm áo hằng ngày đè nặng lên vai tôi. Tôi ở lang thang nhiều nơi, tìm những nơi nấu cơm tháng rẻ nhứt, chỗ ở rẻ nhứt vì tôi không tìm ra một công việc gì khác có thể giúp tôi, ngoại trừ một ít tiền nhuận bút nhờ cộng tác với tờ Rạng Đông của giáo sư LHM. Những người đã có uy tín trong giới báo chí còn chưa sống nỗi với nghề cầm bút, huống gì tôi, mới chỉ là một “Mầm non văn nghệ”. Tôi mong cho chóng tới hè để về quê, thị xã Quảng Trị, sống với mẹ, bớt lo chuyện cơm áo.
Nhưng niên học tới, gánh nặng đè trên vai tôi lại có phần gia tăng. Mẹ tôi đã già, muốn nghỉ việc. Các anh chị đều có gia đình riêng. Tôi có ba đứa em: Hai đứa em gái, một cô đã lấy chồng, tạm yên phần nó. Một đứa vừa thi hỏng trung học, nói: “Sang năm em ở nhà, tự lo học để thi lại”. Riêng “Hùng móm” mới vừa đậu trung học, hạng bình. Trước mặt anh chàng nầy, ngôi trường Quốc Học mở ra tươi sáng, đang chờ anh ta bước vào. Việc ăn ở học hành của Hùng là gánh nặng trên vai tôi, ngoài phần tôi tự lo cho bản thân mình.
Gần hết hè, tôi vào Huế sớm để kiếm một chỗ dạy học. Lúc bấy giờ, tôi có thể xin bổ dụng làm giáo sư dạy giờ tại một vài trường trung học xa Huế. Nhưng ngay tại Huế thì không có nhu cầu. Tôi không thể xa Huế, một là vì việc học của Hùng cần có tôi bên cạnh, hai là tôi cũng không muốn gián đoạn việc học của tôi vì phải đi xa. Tôi không quen ai, thấy khó xin một ít giờ dạy tại các trường tư ở Huế. Tôi có nhờ giáo sư LHM xin dạy ít giờ ở trường Bình Minh gần cầu Thanh Long do cha Lập làm hiệu trưởng, nhưng khi tôi gặp ông ấy lần thứ hai thì ông lắc đầu, không hy vọng gì. Trước tình trạng bế tắc như thế, tôi làm một cái đơn, một bức thư thì đúng hơn, kể lể hoàn cảnh của tôi và xin dạy ở trường Trung Học Đệ Cấp Bán Công Huế. Đây là trường Đệ Nhị Cấp, chỉ có mấy lớp Đệ Nhứt Cấp, làm sao tôi có thể có giờ dạy ở đây được. Nhìn thành phần giáo sư ở đây, tôi thêm thất vọng. Toàn là những bậc “Lão Tiền Bối”: Cụ Đinh Thành Chương, cụ Lâm Toại, cụ Lê Trung Chi, các ông Cao Xuân Lữ, Trần Điền… là những bậc thầy của tôi.
Chẳng qua, trước tình trạng không có lối thoát, tôi chỉ làm một công việc cầu âu.
Tôi không có nhà ở Huế, mượn tạm địa chỉ người chị dâu tôi để tiện liên lạc. Một tuần lễ sau, khi tôi ghé lại nhà chị tôi, Mỹ Châu, cô em gái của chị, hỏi tôi:
– “Trường Bán Công kêu anh đi dạy, anh biết chưa?”
Tôi nói chưa. Cô ta bảo:
– “Anh qua trường gấp đi kẻo người ta mời người khác mất”.
Tôi đạp xe thật nhanh đến trường. Đoạn đường dài ba cây số bị nuốt đi thật nhanh. Khi tôi dựa chiếc xe vào vách tường, bác cai trường chưa kịp khóa cổng thì tôi đã nhảy ba bước đứng ngoài hành lang. Tôi vuốt lại tóc, sửa lại cái áo trắng hơi ngã màu “cháo lòng”, vuốt lại cái quần kaki màu xanh biển, lấy khăn tay chùi bụi bám vào đôi giày “xăng-đan” cũ, bước vào cửa chính. Trước mặt tôi là ông Nguyễn Văn Hai, một người đang mang trên vai một lô chức vụ: “Giám Đốc Nha Đại Diện Giáo Dục”, “Dân Biểu Quốc Hội” và Hiệu Trưởng ngôi trường nầy. Tuy nhiên, tôi cũng không ngại lắm vì mấy năm trước, ông ấy là hiệu trưởng trường Quốc Học (khi ấy còn mang tên Khải Định) và tôi đã gặp ông vài lần vì công việc báo chí của trường. Tôi đứng thẳng, chào: “Thưa thầy!”
Bên cạnh bàn ông, ông Châu Trọng Ngô, giáo sư Toán của tôi mới chỉ cách đây hơn một năm. Hai người đang thảo luận công việc gì đó. Ông Hiệu Trưởng nhìn tôi hỏi:
– “Cậu là Hoàng Long Hải?”
Tôi trả lời: “Thưa thầy, vâng”.
Ông ta nói: “Cậu chờ ta một chút”. Tôi thấy hơi vui. Biểu chờ tức là còn có hy vọng. Với những học trò ông có cảm tình, ông thường tự xưng ông bằng “ta”.
Chưa đầy một phút, ông ta ngưng thảo luận với ông Châu Trọng Ngô, hỏi tôi:
– “Cậu học gì bên đại học?”
– “Thưa thầy, con học luật và văn khoa”. Tôi nói theo đúng lễ nghĩa hồi ấy: Gọi bằng thầy và xưng con, dù thầy còn trẻ.
Ông ta nói ngay:
– “Học làm chi cho nhiều. Bỏ văn khoa đi. Học luật thôi, sau dễ kiếm việc. Học luật dễ lắm, chỉ cần một tháng trước ngày thi, học riết vào mà thi, còn cả năm lo đi dạy”.
Ngưng một chút, ông ta nói tiếp:
– “Hiện có ba lớp Việt Văn Đệ Ngũ, hai lớp Việt Văn Đệ Tam, cậu dạy hết đi. Được không?”
Tôi mừng khấp khởi. Chừng đó giờ dạy, đủ cho tôi và hai đứa em sống và học hành thoải mái. Tôi trả lời:
“Thưa thầy, được”.
Cụ Võ Mão, giám thị, ngồi phía bàn của cụ, nhìn ngang với bàn hiệu trưởng, nói:
– “Chút nữa có hai giờ ở lớp Đệ Ngũ 2. Thầy coi có dạy ngay được không. Không thì tôi cho học trò về”. Ngưng một chút, ông cụ nói tiếp: “Học trò về giữa buổi là phiền lắm”.
Tôi vội trả lời:
– “Tôi dạy được!”
Ông Châu Trọng Ngô, giáo sư, còn đứng bên cạnh bàn ông Hiệu Trưởng, e ngại hỏi:
“Hải xem có dạy được không? Chưa chuẩn bị gì cả”.
Tôi là học trò của ông, biết tính ông rất cẩn thận, bài dạy ông soạn rất kỹ nên ông ta mới nói thế. Tôi trấn an:
– “Không can chi thầy. Vô lớp, giảng lại chương trình cho học trò, giới thiệu sơ qua những tác phẩm, tác giả sắp sửa học cũng đã cả tiếng đồng hồ rồi. Rồi còn chuẩn bị cho bài mới, có lẽ không dư giờ bao nhiêu”.
Ông ta nói, vẫn giọng ôn tồn muôn thuở:
– “Vậy thì Hải vào phía trong uống nước, chờ chuông reo thì theo cụ Mão vào lớp”.
Sau nầy tôi nhận ra rằng tôi được giao nhiều giờ dạy chẳng phải tôi tài cán gì cả. Ông Nguyễn Văn Hai, Hiệu Trưởng là người quê ngoại ở Quảng Trị, họ Hồ làng Cổ Thành. Ông rất thương những người cùng quê mẹ của ông. Có lần ông nói với tôi: “Học trò Quảng Trị thuộc vùng giới tuyến, đất đai nghèo nàn lại bị chia cắt. Tâm lý chúng phức tạp, nghịch ngợm, ưa phản kháng nhưng học chăm”.
Tôi vào phòng uống nước, vuốt tóc lại cho gọn, rồi lấy ly uống nước trà. Nhìn lên tấm gương soi, tôi thấy thích thú bởi một câu ai viết một cách nắn nót, cẩn thận dán lên phần trên cùng tấm gương soi: “Sĩ phu ba ngày không đọc sách, soi gương thấy mặt đáng ghét, nói chuyện lạt lẽo khó nghe”. – Hoàng Đình Công. Tôi cũng là người mê sách. Khi chuông reo đổi giờ, tôi bước ra cửa chính văn phòng. Cụ Mão đứng chờ tôi ở đó, tôi theo cụ lên lầu trên. Lớp Đệ Ngũ 2 ở ngay giữa lầu.
Khi tôi đưa mắt nhìn quanh lớp thì học sinh ngưng không thì thào nói chuyện nữa. Tôi không “khớp” nhưng hơi ngại. Học trò Đệ Ngũ, khoảng từ 13 đến 15, 16 tuổi, kém tuổi thầy không bao nhiêu. Xem ra thì có mấy anh lớn con ngồi phía sau cùng còn hàng đầu có hai chị em CTTN. Minh Nghĩa và Bửu Trí nhỏ tuổi và nhỏ con nhứt, ngồi lọt thỏm trong cái ghế Macadi (Học trò ở đây ngồi ghế Macadi như ở đại học) trông như con gấu vải đặt vào cái ghế nhỏ trong phim ciné.
Tôi nói sơ qua về bài giảng sắp tới và nói chuyện thơ về “Phong trào thi ca lãng mạn tiền chiến” cho học trò nghe. Ai nấy đều im lặng. (Xem “Một Chút Tình Thu”) Khi tôi bắt đầu nói tới “Cõi âm trong thơ”thì chuông reo hết giờ. Tôi phủi phấn bảng bằng cách xoa hai bàn tay vào nhau, chuẩn bị bước ra khỏi phòng. Không vở, không sách, không một mảnh giấy, suốt hai giờ nói chuyện thơ, tôi hơi mệt. Một học sinh ngồi ở đầu phòng nói vừa đủ nghe: “Đi dạy hai tay không, như một nghệ sĩ”. Câu nói đó ám ảnh tôi suốt mấy năm, nhứt là nhiều khi tôi vào lớp với hai tay không và khi xem bức hí họa trên báo Sổ Tay Sư Phạm do Đ.C. vẽ. Câu chú thích trong hình vẽ là: “Thầy giáo phải là một kịch sĩ”. Tôi nghĩ khác thế. Nếu là một thầy giáo dạy môn văn chương, thì thầy phải là một nghệ sĩ chứ không hẵn là kịch sĩ mà thôi. Kịch sĩ còn có đạo diễn. Nghệ sĩ là người tự mình làm đạo diễn cho mình, bằng tâm hồn của mình. Và cái tinh hoa của “người xưa” được diễn đạt lại cho “người đời sau” bằng tâm hồn nghệ sĩ ấy. Những người học với tôi giờ đầu tiên chiều hôm ấy, sau nầy, trong lĩnh vực văn học, báo chí có người rất thành công: Đó là nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, nhà báo Ngô Vương Toại, nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, và một số người thành công trong lãnh vực khoa học kỹ thuật.
Tôi tưởng tôi chỉ dạy ở ngôi trường nầy vài năm sau khi tôi học xong và “Hùng Móm”, em tôi vào đại học, có thể tự lo liệu cho Hùng được. Thế mà cuộc đời đưa đẩy, tôi dạy ở đây mười năm. Trong thời gian ấy, năm nào tôi cũng chuẩn bị một chuyến rời trường đi xa, nghe như có tiếng gọi giang hồ ở cuối thiên nhai mà không đi được, cho đến Tết Mậu Thân.
Sau tết Mậu Thân, học trò lục tục đi học trở lại. Nhìn bọn chúng, tôi bỗng mất tinh thần. Lớp nào cũng vậy, hơn một nửa nam sinh mang băng tang đen trên áo còn nữ sinh thi bịt “khăn chế” ngang đầu. Đứa mất cha, đứa mất anh, đứa mất chị… Con gái tuổi 15, 17 quấn khăn tang ngang đầu là một hình ảnh đau đớn não nề. Câu thơ của Xuân Diệu “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang” chỉ có thể là cái đẹp trong văn chương, còn trong đời thực đó là một hình ảnh đau thương xoáy vào tận đáy lòng nhân ái.
Đi dạy lại chưa đầy một tuần, tôi bỏ lớp xuống văn phòng, nói với anh Ấu Đức Tài, hiệu trưởng, rằng tôi nghỉ dạy, chuẩn bị nhập ngũ. Ai cũng chưng hửng vì tôi đang được hoãn dịch. Mấy người bạn thân xúm lại hỏi tôi, tôi không nói thẳng ý tôi là “muốn chống Cộng bằng bóp cò súng chứ không bằng phấn bảng” (Câu tôi hay nói đùa với bạn bè) vì sợ mất lòng họ, cho họ là không “gan” như mình, nhưng ai cũng cho rằng tôi điên. Bỏ dạy trình diện nhập ngũ trước khi hết hạn kỳ hoãn dịch, mà còn có thể xin tái hoãn dịch được nữa, là một hành động điên rồ.
Tôi gọi điện thoại cho người em rể đang làm việc ở Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, hẹn có rảnh lái xe qua đưa tôi vào trình diện phòng Tuyển Mộ Nhập Ngủ Thừa – Thiên / Huế.
Trong khi chờ người em tới, tôi bước ra bãi cỏ trước sân văn phòng. Thợ hồ đang xây lại chỗ tường bị bắn thủng, phía ngó qua bên kia đường Hoàng Hoa Thám là Ty Ngân Khố.
Bác Nguyễn Tốn, cũng quê ở Quảng Trị, cai trường, đang đứng đó, kể cho tôi nghe:
– “Một thằng lính Mỹ rất trẻ chết ngay chỗ ni (nầy)”.
Thấy tôi đưa mắt hỏi, bác nói tiếp:
-“Từ chỗ ni, nó phóng qua cái lỗ ni, qua bên tê (kia) đường. Nó bị đạn bắn vô đầu. Một thằng khác cỏng nó về đây, rồi nó nằm chết ngay chỗ ni, trên cỏ”.
– “Sao bác biết rõ vậy?” Tôi hỏi.
Bác cai trường nói:
– “Mấy bữa đó, tui với vợ con tui núp phía sau “ga-ra”. “Ga-ra” ni mái đúc, không sợ pháo kích. Một thằng lính Mỹ còn trẻ lắm, khoảng 18, 19 tuổi, buổi sáng hôm nớ (ấy) nó ngồi nghỉ ở con đường hẽm giữa “ga-ra” với lớp Đệ Nhị. Nó ngồi dựa lưng vô tường, tay cầm tấm hình, nó gọi chi đó, rồi khóc. Tôi hỏi thằng con trai tui. Thằng con tui nói: “Nó kêu mạ ơi! “Hi! Mom”. Tiếng Mỹ là “mạ ơi” đó. Có lẽ người trong hình là mạ nó”. Một lúc sau, thấy mấy đứa dỏ (nhỏ) con tui lấp ló, nó kêu lại cho mấy miếng “sô-cô-la”. Rồi lấy mấy hộp thịt hộp, mứt, cho mấy đứa dỏ. Thấy mấy đứa dỏ còn thèm, nó nói hết rồi, còn hẹn ngày mai đem cho nữa.
“Nhưng khoảng xế trưa thì có lệnh tấn công Việt Cộng núp bên Ty Ngân Khố. Nghe lệnh, thằng lính leng teng chạy ra, mình mang balô nặng trịch. Nó theo mấy thằng tê, chui qua lỗ hàng rào, phóng qua bên tê, rồi bị đạn vô đầu. Thiệt tội nghiệp cho thằng lính Mỹ, chết còn quá trẻ!
Người xưa nói: “Nhân chi tương tử, kỳ ngôn giả thiện”. Thằng lính Mỹ không biết văn chương, không nói một cách bóng bẩy như Lưu Bị. Nó vừa khóc gọi mẹ vừa chiến đấu. Nó gọi bằng một lời chân thật nhứt: “Mom”. Đó là tiếng gọi Mẹ. Mẹ là nơi người ta sinh ra mà cũng là nơi người ta trở về.Mẹ là chân nguyên. Ra đi từ nơi mẹ, là ra đi từ chân nguyên, và chết là trở về với chân nguyên, với mẹ. Số phận con người! Đáng thương thay!
Thằng lính Mỹ bên kia Thái Bình Dương qua chết nơi nầy. Chết cho ai? Cho quyền lợi tư bản Mỹ, cho quyền lợi của nhân dân Mỹ, hay cho quyền lợi của nhân dân Miền Nam Việt Nam. Nhìn vào lăng kính nào chúng ta cũng thấy có lý và không có lý cả, nhưng nếu nhìn vào mặt nhân bản thì những cái chết của người lính Mỹ trên đất nước nầy, hay của chính người lính miền Nam chết ngay trên quê hương của họ, há không phải là để bảo vệ tự do, chống lại một chế độ độc tài tàn ác hay sao? Và không ít những người học trò của tôi, nghe theo lời thầy dạy trong câu thơ “Chinh Phụ Ngâm”: “Xếp bút nghiên theo việc đao cung” đã bỏ mình trên chiến trường đâu đó.
Trong ý nghĩa bảo vệ tự do, chống lại một chế độ độc tài tàn bạo thì những cái chết đó là có lý tưởng, là những hy sinh cao cả thật sự, vinh quang thật sự cho cả nhân loại chứ không phải chỉ riêng cho ai, cho một dân tộc nào. Đó cũng là ý nghĩa của sự gần gũi giữa những người khác màu da, khác chủng tộc đứng chung một chiến tuyến vậy.
Trong suy nghĩ đó, tôi bước lên ngồi trên xe để người em rể đưa đi trình diện nhập ngũ, nghe như có lời kêu gọi của một chuyến phiêu bạt phương xa, mà lòng không còn một chút đắn đo, suy nghĩ.
người dịch
Phần 2:
Dịch từ sách của Keith W. Nolan
Các đồng sự nói rằng trung tá Ernest C. Cheatham, Jr. là sĩ quan khéo léo nhứt mà họ đã từng phục vụ. Đó là điều họ muốn nói tới ông ta. Ông ta người cao lớn, 6 fít, một cựu cầu thủ bóng bầu dục chuyên nghiệp, hăng hái, tài ba, can đảm của một cấp chỉ huy quân đội. Ông là người có trách nhiệm cao theo phương cách của tướng Patton (thường gắn cặp kính che mắt trên mũ sắt), ông ta quan tâm sâu sắc đến các TQLC trẻ dưới quyền chỉ huy của ông. Trong tiểu đoàn người ta gọi ông là Big Ernie. Ông ta bị vỡ mộng. Ba trong bốn đại đội của ông: Fox, Golf và Hotel đang chiến đấu ở Huế. Trong khi ông ta thì bị kẹt lại ở Phú Bài mà không biết việc gì đang xảy ra cho binh sĩ của ông. Ông ta quấy rầy Trung Đoàn Trưởng, đại tá Robert D. Bohn, và cuối cùng, ngày 3 tháng Hai, ông ta được lệnh nắm lại tiểu đoàn. Họ tổ chức một đoàn xe. Cheatham và trung sĩ tham mưu trên một chiếc xe Jeep, ban tham mưu tiểu đoàn thì chen nhau trên những chiếc xe Jeep có gắn máy truyền tin. Lính bổ sung, ban Chỉ Huy, Đại Đội Công Vụ, Văn Phòng thì lên xe GMC. Một chiếc có trí súng đại liên 50 đi đầu để giữ an ninh. Cũng trên GMC trong chuyến đi có đại tá Stanley Smith Hughes, vừa mới được chỉ định làm Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn TQLC số 1, chịu trách nhiệm chỉ huy và kiểm soát Lực Lượng Đặc Nhiệm thành phố Huế. Đoàn xe tiến ra QL. 1, lên hướng bắc vào lúc sáng sớm. Lại cũng là câu chuyện cũ: Bầu trời xám xịt, không có dấu hiệu gì về phía địch, không có bóng người. Họ vượt qua sông Phú Cam (An cựu), hướng về phía MACV và bị quân CSBV tấn công. Từ trong các tòa nhà, AK-47 bắn ra như mưa. TQLC 1/ 1 ở một bên, bắn trả. Đoàn xe tiếp tục di chuyển. Một chiếc xe Ontos trên đường bị giật mạnh vì trúng đạn B-40. Phía tay mặt súng bắn dữ hơn, phía sau là gần nhà thờ công giáo.
Khoảng 1 giờ chiều, họ vào tới MACV. Đại tá Hughes gọi ngay Gravel và tức thời lập bộ chỉ huy trong câu lạc bộ sĩ quan trong MACV. Hughes là người được chọn đúng để chỉ huy cuộc hành quân. Quê ở tiểu bang Nữu Ước, người chắc nịch, da hơi đen – có mang huyết thống da đỏ – ít nói, thân mật. Năm 1944, khi còn là một trung đội trưởng trẻ, ông đã được thưởng huy chương Hải Quân do chỉ huy thêm hai trung đội sau khi các sĩ quan bị tử thương trong một cuộc tấn công dữ dội vượt qua một con suối ở mũi Gloucester. Khi làm trung đoàn trưởng, ông được mọi người kính trọng. Tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân, Hughes và ban tham mưu trung đoàn đặt bản đồ xuống và cố xem xét coi thử ở Huế đang xảy ra chuyện gì và phải ứng phó như thế nào. Tướng LaHue và những người ở LLĐN X-Ray không có tin tình báo chắc chắn. Thực ra, chẳng ai nắm chắc tình hình địch. Có một điều Hughes hy vọng được là những gì ông hiện có trong tay để ứng phó ngay tại mặt trận. Buổi chiều ngày 3 tháng Hai hôm đó, trong tay ông ta có: Đại đội Fox, Đại đội Golf và Đại đội Hotel 2/ 5 do trung tá Cheatham chỉ huy.
Hầu hết Đại đội A và Trung Đội Công vụ 1/ 1do trung tá Gravel chỉ huy. Toán súng cối và đại bác không giật lấy từ Đại Đội Công Vụ của tiểu đoàn; xe vận chuyển súng chống chiến xa của chi đội; Chi Đoàn Chiến Xa số 1; bốn chiến xa còn lại của Chi Đoàn 3 Chiến Xa thuộc Sư Đoàn 3/ TQLC, xe trang bị đại liên 50 của Pháo Đội D, Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 44/ Pháo Binh và Trung Đội Pháo Dã Chiến của VNCH. Nhân viên Toán Cố Vấn số 3 tại MACV, thủy thủ tàu Hải Quân ngoài bến tàu sông Hương, một số nhân viên mới được gởi tới tăng cường, một số TQLC thuộc Tiểu Đoàn Quân Vận số 1 giữ nhiệm vụ chuyển vận giữa Huế và Phú Bài. Một số ít đơn vị thuộc QĐ/ VNCH. Lệnh của đại tá Hughes là quét sạch Cộng Quân tại khu nam thành phố Huế, nửa mặt trận bên kia sông, trong Thành Nội, do tướng Trưởng và QĐ/ VNCH chịu trách nhiệm, không có sự hỗ trợ của bộ binh Hoa Kỳ. Với ý đồ như thế, đại tá Hughes vội vàng vạch kế hoạch. Cheatham gánh một trách nhiệm nặng nề, đẩy lùi quân địch từ MACV dọc theo sông Hương tới ngã ba sông An Cựu, chỗ khúc sông nầy nối với sông Hương (khu trường Pellerin – ngd). Trục hành quân chính cho Đại đội 2/5 là dọc theo đường Lê Lợi, đường nầy chạy song song với sông Hương, (chỗ khúc đường nầy hơi cong là bộ Chỉ huy của quân Cộng Sản và hầu hết quân lính họ tập trung ở đây). Đơn vị 1/ 1 của Gravel hành quân cùng Đại đội 2/ 5 dọc theo sông An Cựu, giữ an ninh QL. 1 giao thông với MACV. Trong hai nhiệm vụ nầy, nhiệm vụ Gravel dễ hơn vì đơn vị của ông thiếu quân số trầm trọng. Vã lại, so ra thì Gravel tính tình cẩn thận hơn. Sự thật, trước khi được tăng cường, – trước khi Bộ Chỉ Huy biết chắc những gì xảy ra ở Huế, LLĐN đã thúc đẩy ông ta tiến nhanh và hoàn thành nhiệm vụ. Họ nghĩ ông ta đã làm hết sức mình. Đại tá Hughes ra lệnh Quân đội VNCH quét sạch địch ở hậu tuyến TQLC, tiêu diệt những tay bắn sẻ còn trốn lại, chịu trách nhiệm giúp dân tỵ nạn, thường dân bị thương tích xảy ra khi phải cận chiến từng nhà một. Cheatham và Gravel đứng trong phòng hành quân khi đại tá Hughes ra lệnh. Cheatham hơi chần chừ một chút, chờ thêm tin tức. Chờ gì nữa. Chẳng có thêm tin tình báo hay gì khác. Đại tá Hughes biết ý, nói: “Nếu muốn có gì thêm thì anh chẳng được gì hết”. Giống như mọi người đến Huế, Hughes chỉ có những tin tức đại khái. Ông ta nói thêm: “Anh phải tự lo liệu lấy, bằng cách nào đó thì cách. Còn như thượng cấp có gì thì tôi sẽ lo cho anh”. Nghe vậy, Cheatham đội nón sắt lên đầu, tay với cây súng M-16 rồi đi ra mặt trận. Mấy phút sau, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 5 TQLC đụng giặc. Trung tá Cheatham đặt Ban Chỉ Huy bên kia đường, ngang với MACV, trong một ngôi nhà của viện Đại Học Huế. Các Đại đội Fox, Golf và Hotel đang đóng chung quanh ngôi nhà nầy. Khu vực của họ chỉ có chừng đó. Trước mặt là quân Cộng Sản BV, thỉnh thoảng nổ súng. Bên phải là đường Lê Lợi và sông Hương. Bên trái là đại đội 1/ 1. Phía trước, bên phải, địch đang nắm hết mấy con đường, có khoảng 11 khu nhà và chín cái nằm sâu bên trong. Cứ mỗi một đường đi, mỗi góc đường, cửa sổ, ngã tư là có thần chết ngự trị ở đó. Phải đánh chiếm từng khu một, từng nhà một, từng viên gạch một. Họ có thể xoáy được bản đồ ở cây xăng Shell, Ty Cảnh Sát và nhân viên quân sự tại MACV. Cheatham, ba đại đội trưởng, chín trung đội trưởng chia nhau ba cái bản đồ. Mục tiêu đầu tiên nằm ngay trước mặt: Ty Ngân Khố, sát ngay đó là Bưu Điện. Quân CSBV đào hầm núp ngay bên trong. Họ không có ý định phân tán hay rút lui như họ thường rút lui trong vùng quê hay trong rừng rậm. Hạ sĩ Dan Arkie Allbritton, 20 tuổi, 4 tháng làm tiểu đội trưởng, thuộc Trung đội 3, Đại đội Fox. Anh ta lùn, mang kiếng, quê ở Arkansas, nói giọng mũi, có Chiến Thương Bội Tinh với dấu tích ở mấy cái sẹo sau lưng vì bị mìn ba tháng trước tại An Hòa. Lần đầu tiên vào Huế, Allbritton nghe một anh trung sĩ nói họ đã quét được mấy tay bắn sẻ. Chỉ trong mấy ngày, câu trả lời của anh là: Chuyện nhảm nhí.
Ngay trong những ngày đầu, Trung đội 3 kiểm soát được khu vực quanh MACV và khu Đại Học. Ở đây cũng có một chiến xa của QĐ/ VNCH, đậu sát tường. Allbritton quan sát, đùa giỡn với mấy người lính Việt Nam phía sau chiếc xe tăng, bắn vài tràng đạn trên pháo tháp trước khi các tên bắn sẻ làm được gì, rồi toác miệng cười với TQLC. Cuối cùng thì có lệnh. Tuy nhiên, hạ sĩ Allbritton, hạ sĩ Carter, và những người còn lại trong Trung đội 3 còn gặp may. Trung đội 2 được chọn đi đầu. Họ quan sát Trung đội 2 TQLC đi quanh các bức tường rồi biến mất ở đầu đường, phía bên trái, tiến về ty Ngân Khố và Bưu Điện. Chỉ trong mấy phút, cả con đường súng nổ dậy lên.
Trung úy Donald A. Hausrath, Jr. trung đội trưởng Trung đội 3, được lệnh tiến lên, giúp Trung đội 2 rút lui. Hai chiếc xe tăng của TQLC di chuyển thật chậm phía trước, trên con đường rộng có hai hàng cây bai bên. Từ trên mái những căn nhà phía trước quân CSBV bắn xuống. Đạn rớt và kêu lụp bụp chung quanh. TQLC lom khom núp sau hai chiếc xe tăng, đi từng bước một, quan sát rất cẩn thận, đầu cúi xuống tránh đạn. Carter thấy một anh TQLC da đen nằm bên lề đường. Chung quanh súng vẫn nổ. Carter nghĩ, Chúa ơi, Trung đội 2 chắc bị quét sạch cả rồi. Xe tăng bắn trả bằng đại liên 50 và đại bác 90ly. Vài TQLC núp sau xe tăng cũng bắn phụ vào. Thiếu úy Hausrath cùng với những người khác cố kéo những người bị thương hay chết vào phía sau xe tăng. Trong trung đội, những người còn sống núp vào trong các ngưỡng cửa hay các con hẽm, bắt đầu tháo lui. Có ai đó quăng một anh TQLC còn trẻ, đã bất tĩnh lên lưng chiếc xe tăng, ngay trên đầu Carter. Bất thần, một quả B-40 bắn vào pháo tháp, trượt qua trên mình anh lính bị thương, mảnh đạn văng ra. Anh lính TQLC bị rớt xuống khỏi chiếc xe tăng, tỉnh dậy và rên. Một chân anh ta bay mất. Họ bỏ hết cả người bị thương và chết lên xe tăng rồi vừa lùi vừa bắn dữ dội. Súng cối từ ban chỉ huy đại đội bắn tới yểm trợ. Đó chỉ mới là một sự thử thách ngắn ngủi và đẫm máu. Đại úy đại đội trưởng bị thương nhẹ vì mảnh đạn B-40. Những người bị thương được chuyển về trạm xá. TQLC lui về ẩn núp trong những ngôi nhà và các bờ tường, ngay nơi họ vừa xuất phát. Carter đang đứng nơi đó thì trung úy Hausrath nắm lấy anh ta:
– “Carter, có phải anh là người bắn hỏa tiễn. Anh được xác nhận năng lực rồi phải không?”
– “Vâng, đúng, thiếu úy.” Carter trả lời. “Tôi là chuyên viên về hỏa tiển. Đó là khả năng chuyên môn quân sự của tôi.” (MOS)
– “Được rồi, anh là người bắn hỏa tiển của chúng tôi.” Một cây súng bắn hỏa tiễn 3.5 inch, na ná cây bazooka cũ, được mang tới. Carter được lệnh mang cây súng xuống đường, nơi họ vừa mới bị chận đánh tơi bời, đục một lỗ ngay trong sân, phía bên phải. Kế hoạch là đưa Đại đội Fox vào trong một cái sân trước, rồi đánh chiếm từng nhà cho tới khi vào ty Ngân Khố, như thế là mở được an ninh cho các con đường trong khu vực nầy. Một chiếc xe tăng bắt đầu tiến tới, Carter đi lom khom bên cạnh, giữa bức tường và chiến xa. Anh ta vác khẩu súng trên vai, súng nạp sẵn một viên đạn. Carter nhắm mục tiêu, bắn, cái cổng sắt ngang bức tường bay mất. Phần còn lại của đại đội tiến tới trước, núp bên những cái lỗ trên tường. Họ bắt đầu chiếm từng nhà. Carter thì mở cửa nhà bằng đại bác, TQLC thì quăng lựu đạn, rồi tiến vào nhà kiểm soát. Địch không bắn trả. Sự việc kéo dài khoảng 15 phút. Carter khom lưng xuống, lại nạp đạn khi anh thấy một vài TQLC của đại đội 2 tiến vào bờ tường một cái sân nhà khác (mỗi sân nhà cách nhau bằng một bức tường). Họ đẩy một anh lính qua cái sân nhà bên cạnh. Vừa khi đầu anh lính ló lên khỏi đầu tường là súng AK- 47 của những tên bắn lén không biết núp ở đâu bắn lốp bốp. Anh lính té ngược lui, đạn trúng mặt. Anh ta chỉ kịp kêu lên “Mẹ ơi”, rồi chết. Carter bắn toang cánh cửa ngôi nhà bên cạnh. Rồi anh ta cùng với một anh hạ sĩ khác chạy nhanh vào. Chẳng có ai hết. Họ phóng qua bức tường trước mặt. Carter từ từ mở cánh cửa sổ và nhìn ra bên ngoài, tim muốn ngừng đập. Tại “ban-công” căn lầu hai tòa nhà bên cạnh có 3 lính CSBV đứng đó. Họ đội nón cối có gắn sao đỏ phía trước, gần đến nỗi có thể thấy được mặt nhau. Anh ta hơi ngại. Nếu bắn, không chắc an toàn cho vị trí của trung đội gần đó. Carter gọi anh hạ sĩ: “Ê! Nhìn đây nầy. Tom, có mấy thằng cùi đây nầy.”
– “Nói với tao làm quỷ gì? Bắn đi.” Cú bắn đó thật dễ. Carter tháo cây M-16 và để lên vai. Anh ta nhắm một tên mặc kaki và bóp cò. Anh nầy té ngược lui. Carter nhắm lẹ qua anh thứ hai, anh nầy té qua “ban-công” xuống đất. Người thứ ba biến mất.
Carter nhăn răng cười với bạn, nhắm một chút nước bọt vào mấy đầu ngón tay và ngửi ngửi đầu nòng súng.
Mặt trời lặn, suốt đêm súng ba hồi nổ, ba hồi ngưng. Đêm đó, Cheatham gọi tên các đại đội trưởng. Sáng ra, ông ta nói, toàn bộ tiểu đoàn sẽ tập trung tấn công Ty Ngân Khố và Bưu Điện. Đại đội Fox của đại úy Downs thì chiếm khu vực hai ty Ngân Khố, Bưu điện; Đại đội Hotel của đại úy Christmas chiếm ty Y Tế, nằm bên phải của Đại đội Fox; đại uý Meadows và Đại đội Golf của ông ta vì bị hao hụt hết 1/ 3 trong những ngày đầu nên được chọn làm trừ bị. Với cố gắng bảo tồn vẻ đẹp và tính lịch sử của thành phố Huế, tướng Lãm và chính phủ ở Saigon yêu cầu bộ Chỉ huy TQLC hạn chế xử dụng vũ khí nặng, có nghĩa là không dùng bom, hoặc đại bác của hải quân, không dùng vũ khí gây hỏa. TQLC đối đầu với một lực lượng địch cao hơn về quân số, công sự chuẩn bị kỹ, bảo vệ kín, trang bị vũ khí tự động, đại bác không giật, súng cối và hỏa tiển. Chỉ có xe tăng là khí cụ TQLC có mà quân CSBV thì không. Lại có báo cáo quân CSBV xử dụng một số đại bác được gắn trên thiết vận xa của QĐ/ VNCH do họ chiếm được. Tình hình rất tồi tệ cho phía TQLC đang tham chiến ở đây, từ người đại đội trưởng 30 tuổi cho tới anh binh nhì 18 tuổi có nhiệm vụ chiến đấu trên từng đường phố.
Cheatham nói với các đội trưởng một cách vắn tắt: “Các anh phải đào chuột từ trong hang của nó.
Buổi sáng ngày Chủ nhật, 4 tháng Hai, trời buồn rầu u ám, và lạnh. Súng lại nổ trên đường phố. Đại úy Christmas cùng xạ thủ đại bác, trung sĩ Frank, A. Thomas, Jr. chỉ huy Đại đội Hotel tiến tới. Trung đội 1 tìm cách chiếm ngôi nhà sát ty Y Tế (Nhà thuốc Tây Lê Đình Phòng – ngd), trung đội ba chiếm ngôi nhà bên kia đường nhưng bị quân CSBV bắn dữ dội. Họ tháo lui, hai người bị thương. TQLC thảy lựu đạn khói xuống đường để che địch nhưng súng địch phía mặt hông bắn rất sát, xuyên qua màn khói. TQLC của Đại Đội Golf từ các cửa sổ của viện Đại Học (Morin cũ – ngd) bắn xuống. Đại úy Christmas và xạ thủ đại bác hội ý với trung đội trưởng, quyết định đưa cây đại bác 106 ly không giật lên để bảo vệ việc băng qua đường. Họ thả trái khói, quan sát tình hình, và toán xạ thủ 106 ly làm việc. Viên đạn bắn xuống đường, khói đen bốc lên, quân địch cúi đầu núp trong mấy phút. Thế là đại đội vượt qua bên kia đường. Họ chiếm ty Y Tế. Súng nổ trong giây lát, một TQLC và một chục CSBV chết.
Lính TQLC leo lên mái nhà, chiếm các cửa sổ, và bắt đầu tác xạ vào phía hông ty Ngân Khố và Bưu Điện. Ở bên trái, Đại đội Fox đang đánh nhau với địch.
Thiếu úy Hausrath và trung đội đang ở phía trước. Carter đục một lỗ ở bức tường sân trước ngôi trường hai lầu của giáo hội Catholic (Thực ra đây là trường Trung Học Đệ Nhị cấp Bán Công Huế, đối diện ty Ngân Khố, bên kia đường Hoàng Hoa Thám – ngd) và các TQLC vội vàng chui qua đó tiến tới bức tường đối diện. Bên kia đường, ngay trước mặt là Ty Ngân Khố. Từ trên lầu ty Ngân Khố, quân CSBV bắn xuống đường như mưa, đạn vải lụp bụp trên tường và sân cỏ của ngôi trường. Ty Ngân Khố được xây vững chắc như một nhà kho gồm hai tầng, chung quanh là bức tường cao 8 bộ, sân có hàng cây. Quân CSBV cố thủ bên trong. Đại úy Downs và người mang máy truyền tin của anh ta vào được trong trường. Viên đại úy muốn một toán hỏa lực tấn chiếm kho bạc nên gọi Carter phá tường cho họ tiến vào. Carter ôm đại bác 3.5 nhưng phía nầy sân trường lại không có cửa. Anh ta phải bắn thủng một lỗ trên tường, cát gạch đổ xuống đường. Rồi anh ta phá một lỗ nhỏ ở bức tường trước của ty Ngân Khố, cẩn thận nhắm vào một điểm cách xa 15 bộ, chỗ quân CSBV từ trên lầu bắn xuống có thể bị cây và tấm bia đá cản tầm bắn của họ. Việc đó phí công. Vừa khi toán hỏa lực đổ xuống đường, quân CSBV bắn như điên khùng. Các TQLC núp vào bờ tường, đạn bay qua đầu và dội trên mặt đường ngay sau lưng họ. Một anh lính trẻ tên là Washburn ló đầu lên bờ lỗ tường và ngọ nguậy. Bỗng người anh ta giựt mạnh và chùng xuống – anh ta bị địch bắn vào đầu. Mấy người khác vội vàng kéo anh ta ra khỏi cái lỗ đó. Anh ta còn hơi thở yếu nhưng đồng đội không thể mang anh ta quay lại bên kia đường mà không lảnh đạn. Dọc theo bờ tường trường học, hạ sĩ Allbritton và tiểu đội của anh bắn như điên, cố gắng hỗ trợ cho toán hỏa lực. Phía quân CSBV cũng bắn dữ dội. Toán trưởng hỏa lực, hạ sĩ Thomas R. Burnham quê ở Pennsylvania, chạy lom khom dọc theo tường, gần Allbritton, trông có vẻ chán nản. Bernie Burnham là con người huyền thoại của tiểu đoàn. Trước hết, anh ta 31 tuổi, từng chiến đấu ở Triều Tiên nhưng khi chiến tranh chấm dứt thì anh ta còn ở trong trại huấn luyện. Rồi anh ta làm thợ điện. Khi chiến tranh Việt Nam hâm nóng trở lại thì anh đăng lính qua Việt Nam. Bốn tháng trước, trong khi Cộng Sản tấn công Nông Sơn, anh ta đè mình lên một trái lựu đạn. Lựu đạn không nổ, anh ta sống một cách gan lì – Anh có được Hải Quân Chiến Công Bội Tinh – và là thần tượng của những anh TQLC 18, 19 tuổi trong trung đội, là người mà người khác nhờ cậy được. Một lần nữa, hạ sĩ Burnham lại chứng tỏ thiên tài của anh. Anh ta ló đầu lên lỗ tường rồi phóng thẳng xuống đường. Ai ai cũng nổ súng bắn che cho anh ta. Đạn của quân CSBV rơi chung quanh. Anh nằm sát vào bờ tường ty Ngân Khố, rồi nhắc bỗng Washburn lên vai chạy ngược lui bên nầy đường. Toán hỏa lực đứng dậy chạy trối chết theo anh ta trong khi anh ta chạy trong đám lửa đạn, nhào vào phía trong bức tường trường học. Nếu có thì giờ thì đám lính đồng đội la to hoan hô anh. Washburn chết tại sân cỏ trường học trước khi kịp chuyển về MACV. Burnham thực hiện kỳ công đó khi Allbritton thấy một phóng viên và người mang máy quay phim dọn đồ quay về. Họ nói là họ trở về ban chỉ huy. Allbritton biết họ là dân sự và không nên có mặt ở đây làm anh ta thêm bực mình. Mấy TQLC hỏi anh nhà báo người Úc sao không quay trở lui giống như những người Mỹ, anh ta nói là sợ, không dám đi một mình. Carter lại ngồi xổm bên cạnh bức tường với cây súng đại bác 3.5inch. Anh ta biết là anh có cây súng quái quỉ nầy và phải làm gì đây. Anh ta nghĩ là nên quay lại ngôi trường, đặt súng trên lầu hai mà bắn nát họng mấy thằng cùi bên kia đường. Carter gọi to cho Hausrath và nói ý định của anh.
Trung úy Hausrath đang ngồi nghỉ bên bờ tường, gọi lại:
–“Làm thử đi, coi chừng bị bắn.” Carter giỡn trở lại: “Trung úy muốn vậy hả?” Carter và trợ viên khi thì bò, khi trườn, rồi chạy về phía ngôi trường. Bụi, đất, gạch đá văng tung tóe quanh hai người. Lính đang ngồi nghỉ, không ai bắn trả địch. Họ lại đứng lên, súng lại nổ. Phải hai chục phút họ mới băng qua được sân cỏ. Rồi họ xông vào một cái cửa lớn. Carter lấy làm lạ tại sao anh ta không bị thương. Họ đi ngang qua chỗ đại úy Downs và người mang máy truyền tin rồi theo cầu thang lên lầu hai. Tầng nầy dài, một phía là cửa lớn làm theo kiểu Pháp, phía kia có khoảng 15 cửa sổ ngó qua ty Ngân Khố. Carter đặt súng lên vai, hơi cúi mình xuống, anh trợ viên tra đạn vào nòng. Xong, Carter tiến ra cửa sổ, để mắt vào ống nhắm, bấm cò.
Viên đạn nổ bên phía ty Ngân Khố (Kho bạc). Carter lại cúi mình xuống, trợ xạ thủ nạp đạn, rồi hai người lần ra hành lang, cho đạn bay qua cửa sổ. TQLC mang súng M-60 chạy lên cầu thang tiếp sức. Họ kê súng lên ngưỡng cửa sổ và bắn vào những chỗ họ thấy họng súng của địch ló ra bên phía ty Ngân Khố, xác định mục tiêu cho Carter. Thêm nhiều TQLC chạy lên lầu nữa, bắn liên tu, vỏ đạn đổ thành đống trên sàn nhà. Carter tiếp tục bắn. Anh ta không biết đã bắn bao nhiêu quả đạn nữa, có lẽ cả trăm. Địch cũng bắn lách cách bên ngoài làm cho Carter sợ, nhưng đồng thời anh ta cũng thấy vui. Lính TQLC vừa bắn vừa chưởi thề: “Đ. mẹ, trả lại cho chúng nó đi.” Allbritton ngồi xổm đằng sau mấy cây cột bằng gạch, dùng M-16 bắn như mưa qua bên kia đường. Bất thần đạn bắn trúng vào cột làm văng mảnh ximăng vào mặt anh ta. Anh ta nhảy qua chỗ mới, gở nón sắt xuống, nhổ ximăng trong miệng ra. Anh ta nhìn lên thấy một TQLC đang núp phía sau, nhìn anh ta nhăn răng ra cười, nói lè nhè: “Mày biết không, Arkie, có thể được thêm một chiến thương bội tinh nữa đó.”
Cheatham chạy vòng quanh các tòa nhà trong trường chỉ huy cuộc đấu súng, cố làm thế nào để chiếm cho được ty Ngân Khố. Anh ta gọi máy, chỉ cho một chiến xa mục tiêu phía trước. Chiếc chiến xa ló đầu ra khỏi hai khu nhà hai bên, trước khi bắn được phát súng thì một quả B-40 nổ ngay trước mũi xe tăng. Tài xế dọt xe lui, càn lên đống kẽm gai. Cheatham chưởi thề, rồi gọi toán đại bác không giật 106 ly tới bắn mấy phát đạn làm vỡ bức tường.
Đại úy Harold Ernie Pyle hết sức bối rối. Trước khi đoàn xe đi Huế với ban chỉ huy của Đại đội 2/5, sĩ quan liên lạc không quân của Trung đoàn 1 TQLC có báo cho anh ta biết vài qui định khi vào Huế. Nếu gọi không yểm thì anh ta chỉ được hỗ trợ súng với loại đạn 7. 62ly và 20ly, hỏa tiễn 2.75 inch. Anh ta nghĩ, quỉ thiệt, bọn lính bộ có nhiều vũ khí hơn thế, điều họ cần là bom 500 cân Anh, bom lửa. Vào Huế, anh ta đã từng thấy máy bay oanh tạc Skyraider của Không Lực/ VNCH thả bom trong Thành Nội, vậy mà TQLC/ Mỹ thì bị cấm. Anh ta muốn – nếu thời tiết tốt – cho mấy chiếc Phantoms tấn công Kho Bạc (Ngân Khố), giúp cho TQLC chiếm mục tiêu được dễ hơn. Nhưng không được vậy. Đại úy Pyle thấy đại úy Tom Fine, sĩ quan kiểm soát không yểm đi theo với vai trò như một sĩ quan bộ binh. Họ leo lên tầng hai viện Đại Học (lầu Morin ngd) và tìm hướng cửa ngó ra ty Ngân Khố. Họ mở một cánh cửa làm theo kiểu Pháp, núp ở hành lang và bắn qua Kho Bạc. Họ thấy đại liên địch núp trong ty Ngân Khố bắn xuống đường. Đó là chỗ Đại Đội Hotel phải tiến tới. Và đó cũng là điểm gay go cho đại đội Fox. Đại úy Pyle đi tìm Cheatham. Cheatham và sĩ quan quản trị, thiếu tá Ralph J. Salvati xuất hiện. Cheatham nhìn một lúc rồi gọi toán xạ thủ đại bác 106 ly. Toán nầy cho xe chở súng lên. Thiếu tá Salvati giúp họ đưa cây súng lên cầu thang và đặt vào góc phòng. Họ nhìn vào ống ngắm để định vị trí và bắn vài tràng đại liên 50. Xạ thủ nới giây buộc rồi tất cả bọn họ chạy lui núp sau hành lang. Xạ thủ lại kéo mạnh sợ giây, súng nổ, toàn bộ căn phòng rung rinh. Khi bụi tan đi, họ quay lại phòng. Trần nhà thủng một lỗ và cây súng 106 thì bị lấp dưới lớp vữa và gạch. Kế hoạch của Cheatham thành công: Phía dưới đường, tiếng súng của địch im bặt. Thiếu tá Salvati nắm cây súng Thompson chạy đi quan sát xem Đại đội Fox hành quân như thế nào. Ông ta thấy đại úy Downs ở trong trường học. Anh ta thất vọng. Súng của TQLC chỉ bắn trúng vào tường ty Ngân Khố, quân CSBV thì có một xạ trường rất tốt. Mặc dù toán súng cối 81 ly của đại đội nằm trong sân trường Đại Học rót đạn trúng mái nhà nhưng tuồng như không mấy hiệu quả. Salvati biết ông ta không thể ở lại với ban Chỉ Huy Đại Đội được nữa nên gọi mấy TQLC cùng lấy 1 khẩu đại bác không giật 3.5 inch, ở lại với Đại Đội Fox. Toán xạ thủ nầy núp phía sau bức tường và bắt đầu tác xạ vào Kho Bạc. Từ vị trí của mình, Carter bắn thêm một phát đại bác nữa, anh trợ thủ nạp đạn, Carter lại thò ra cửa sổ. Carter nhớ ra trợ thủ chưa đóng cơ bẫm. Anh cúi xuống, vói tay đóng cơ bẫm thì một trái B-40 bay vù vào, xuyên qua cửa sổ và nổ ầm trong hành lang. Bụi cát, đất, đá kiếng bể bay đầy hành lang trường học. Carter nhoài người lui phía sau cánh cửa lớp. Rồi anh ta nằm yên, không còn cảm giác gì về thân thể mình nữa, cũng không nghe mà cũng không thấy. Tất cả mọi thứ chỉ có một màu xám xịt. Điều anh ta làm được là tự nói thầm: “Chúa ơi! Chắc tôi chết.” Anh ta có cảm tưởng như đang kẹt trong một cái hầm đá, có một chút ánh sáng ở cuối hầm mà thôi. Anh ta tự nói thầm với mình nếu tay còn nhúc nhích được, đầu còn lắc lư được là chưa chết. Anh ta thử lắc đầu nhưng không được. Có tiếng la to: “Đem nó ra khỏi đây, chắc nó chết rồi.” Có ai đó nắm vào cổ tay anh ta lôi đi. Carter quẫy người, lắc đầu rồi ngồi dậy. Tay anh ta đau vì mảnh đạn. Toàn cả hành lang đầy khói và mảnh tường vỡ. TQLC chạy lên chạy xuống cầu thang mang người bị thương đi. Vài người phía sau Carter rên lên, anh ta giật đầu nhìn lui. Phụ xạ thủ ngồi trong đống vữa, hai má dính máu, mảnh kiếng vô trong mắt. Carter không biết làm sao, không dám đụng vào mắt anh ấy. Anh ta lấy hộp giấy đựng phần ăn C và lanh lẹ quấn quanh đầu người bị thương. Những người bị thương nhẹ lại bắt đầu trở ngược lên cầu thang. Toán xạ thủ M-60 lại nổ súng. Carter bước trên đống vữa đi tìm cây đại bác 3.5 inch của anh và lại bắt đầu bắn.
Trước khi tới phiên, khi ông ta còn trong ban Chỉ Huy Đại Đội, thiếu tá Salvati đã biết xử dụng súng phóng lựu đạn cay E-8. Đó là một loại thiết bị cao 2 bộ, có thể phóng trái đạn ra xa tới 250 mét. Thứ lựu đạn khói hiện được ném vào ty Ngân Khố tạo ra không đủ khói và tan rất nhanh. Ông ta nghĩ loại E-8 có thể đem ra xử dụng được. Ông ta nhớ trong khi MACV có cất giữ, chưa xử dụng tới. Ông ta rời trường học, đi tìm Cheatham và nói với ông nầy ý định xử dụng loại vũ khí đó. Ông đại tá cho là ý hay. Salvati gọi tài xế, nhảy lên xe jeep, lái về MACV. Có vài quân nhân VNCH đang đứng gần nơi cất E-8. Họ trố mắt nhìn khi thấy Salvati vụt mấy cây súng phóng nầy lên thùng xe kéo sau xe Jeep. Trở lại trường học, Salvati cùng với vài TQLC mang mặt nạ vào và chạy vào sân trường mang theo vũ khí E-8. Họ đặt súng phóng xuống, canh cho đạn vượt qua đầu tường, lọt vào Kho Bạc rồi họ chạy lui sau bức tường. Salvati kéo giây cò, không có gì hết. Quái gì đây?
E-8 có thể cho nổ bằng cò điện nên Salvati chạy kiếm một hộp pin. – Ở đâu đó, ông ta cũng chẳng nhớ – xong quay trở lại sân trường và nối giây. Quả đạn nổ và bay qua Kho Bạc. Chất hơi không làm chết người bắt đầu xịt tóe ra khắp tòa nhà, bay ra khỏi cửa sổ và các khe hở. Lính CSBV không có mặt nạ chống hơi cay.
Đại úy Downs gọi Carter xuống, đại đội đang tấn công, anh ta phải yểm trợ hỏa lực bằng đại bác 3.5 inch. Carter vác súng kèm theo mấy viên đạn chạy xuống sân trường. Anh ta quỳ xuống và nhắm mục tiêu. Không thấy kẻ địch bắn anh. Anh ta đoán là họ đang chờ và sẽ nghiền nát đại đội ngay trên mặt đường. Phát súng đầu tiên của Carter phá toang cổng kho bạc, bay vào cửa chính, nổ, một cánh cửa rơi xuống. Phát thứ hai làm cánh cửa còn lại bay đi nốt. Anh ta bắn thêm một quả khói lân linh vào trong cửa rồi chạy tới bờ tường bắn trái khói xuống đường. Gió thổi khói bay ngược về phía ty Ngân Khố. Trong sân trường, đại úy Downs chuẩn bị binh sĩ tấn công. Allbritton và tiểu đội nằm sát bờ tường, mang mặt nạ, giữ chặt súng M-16, chờ. Có người la to: “Tiến lên.” Họ đứng lên chui qua các lỗ trên tường và chạy như điên, băng qua bên kia đường. Chạy, chạy, chạy… vượt qua sân trước, qua cánh cửa bị sập, qua cửa Kho Bạc, toát mồ hôi! Allbritton cùng đồng đội quăng lựu đạn, rồi xông vào, bắn ngang hông. Họ chạy vào hành lang, có một phòng bên phải, một phòng bên trái. Allbritton kêu hai người bắn yểm trợ cho anh ta rồi chạy tới cánh cửa cuối hành lang. Cửa nầy bị kẹt vì gạch cát đổ xuống. Có tiếng chân chạy sau cánh cửa, có tiếng người chạy từ trên cầu thang xuống. Có tiếng nói Việt nam. Allbritton la to, chỉ, xạ thủ M-60 bắn vào cửa. Họ quăng thêm lựu đạn. Cánh cửa bung ra. Người người chen nhau chạy lên cầu thang, bắn loạn xạ. Allbritton vượt cầu thang chạy ra một phòng nhỏ, ném lựu đạn, bắn M-16. Chẳng có ai ở đây cả. Vỏ đạn AK-47 rơi trên sàn một phòng nhỏ trên cao.
Allbritton thấy mảnh E-8 trên sàn. Anh ta bước ra cửa sổ. Tường nhà dày 2 bộ, giống như công sự, đạn khó qua nổi. Anh ta nhìn qua kẻ hở. Địch thấy rõ ngoài đường và sân trường học. Đúng là một xạ trường lý tưởng. Anh ta bước lui, vừa đi vừa lẫm bẫm: “Đồ chó đẻ. Đồ chó đẻ!” Hạ sĩ Burnham gom góp người trong tiểu đội lại ở trong lầu 1. Lính CSBV rút đi rồi, qua ngã mấy ngôi nhà và sân sau. Burnham chạy vào hành lang, bắn theo họ như điên. Có một người lính CSBV bị thương đang bò trong hành lang. Burnham trút hết băng đạn vào ngực anh nầy, trả giá. Trong ít phút, ty Ngân Khố và Bưu Điện được an toàn. Lính TQLC đi băng qua đường. Đếm xác địch nằm trong đống gạch vụn. Mấy TQLC chớp mấy gói vàng thẻ và mấy gói bạc. Chẳng ai nói gì. Carter giúp đưa mấy người bị thương vì lúc nãy họ băng qua đường và bị CSBV bắn. Rồi anh ta đi quanh tòa nhà, thấy một cây B-40 bị bắn vỡ, mấy cái bao và thư rơi trên nền nhà. Trên lầu, có mấy hỏa tiển không nổ dính trong vách tường. Trong một văn phòng có mấy bức tranh vẽ còn treo trên tường, hình một cặp vợ chồng mới cưới và đồ chơi trẻ em nằm lẫn trong đám gạch cát vụn. Anh ta tìm một chỗ và chợt ngủ thiếp đi.
Sáng sớm, vài TQLC đánh thức Carter dậy, biểu anh vác đại bác tới Bưu Điện gấp. Có khoảng một chục CSBV núp trong căn nhà nhỏ, gọi không chịu ra. Căn nhà nhỏ nầy cách Bưu Điện khoảng 15 bộ, gần quá nên Carter không bắn được, mảnh đạn có thể văng ngược lui trúng anh ta. Anh ta leo lên mái, ra tới rìa, và nhắm. Anh ta bắn ba phát, cửa xoắn lại. Một TQLC Trung đội 2 quăng vào một trái lựu đạn cay. Lính CSBV từ trong tuôn ra, vừa ho vừa khóc. Súng máy nổ. Xong, Carter tụt xuống. Một trong các trung sĩ khen anh ta giỏi và hỏi anh ta có bị bắn sẻ phải không? Carter nói vâng. Anh ta nghe tiếng súng nhưng vẫn cứ tập trung vào việc bắn. Anh trung sĩ cho biết đề nghị Carter được tưởng thưởng Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Đồng. Nghe thế, Carter thấy hơi thích. Về sau anh ta chẳng bao giờ nghe nói tới huy chương, cũng chẳng bao giờ anh ta thấy anh trung sĩ đó nữa; có người nói là đã tử trận.
Cuộc chiến đấu trên đường phố Huế vẫn còn tiếp tục.
Vào ngày thứ nhì của trận đánh, thứ Năm, ngày 1 tháng 2 năm 1968, Bộ Chỉ Huy LLĐN X-Ray, cách Huế 8 dặm, bên QL1, trong không khí phức tạp vừa lạc quan, vừa hoài nghi và tin tức sai lạc. Cọng thêm vào đó là vấn đề cố hữu của các chỉ huy trưởng ở Việt Nam – do áp lực từ Hoa Thạnh Đốn, muốn nói những gì họ muốn nghe mà thôi. – Người ta có thể hiểu tại sao Tướng LaHue, khi được phái viên UPI phỏng vấn nói là vào ngày thứ hai của cuộc chiến: “Hoàn toàn chắc chắn là chúng tôi kiểm soát phía nam thành phố. Chúng tôi nghĩ là họ (CSBV) không thể nào chịu đựng nỗi. Tôi biết họ không thể chống đỡ được. Tôi không nghĩ là họ có đủ tiếp tế, và khi xử dụng hết những thứ họ đem lẻn vào được thì họ không còn gì nữa cả.”
Không phải một mình Tướng LaHue tin lầm như vậy. Tin tức báo chí đưa ra ở Saigon dựa trên tin tức của các phân bộ MACV nói rằng địch đang bị càn quét. Toán cố vấn Quân Đoàn 1 ở Đà-Nẵng cho biết quân Đồng Minh sáng nay đã đẩy quân Việt Cộng ra khỏi Huế và Tư lệnh Quân đoàn 1, Tướng Lãm nói rằng địch đã bị đánh bại ngoại trừ một trung đội đang cố thủ trong thành nội.
Huế, Cọng Sản đang nắm quyền kiểm soát thành phố.
Trong Thành Nội, Tướng (bấy giờ là đại tá) Trưởng và binh lính của ông vẫn còn giữ được Bộ Tư Lệnh trong thành Mang-Cá. Ở phía nam thành phố, lực lượng của Trung Tá Gravel giữ được Alamo (1). Trong thành phố thì các nhóm Mỹ và binh lính Nam Việt Nam bị cô lập, đang cố giữ cơ quan của họ mà Cộng sản bỏ qua hay đang bao vây. Vào lúc nầy chẳng ai có đủ sức mạnh quân sự để giúp đỡ các nhóm nầy hay phản công địch.
Quân CSBV và Việt Cộng (VC) thực hiện một công tác tuyệt hảo khi xâm nhập và chiếm giữ thành phố. Họ di chuyển nhanh và lén lút. Điều quan trọng nhất là có thể hỗ trợ cho nhau trong thành phố. Một cách lý tưởng, quân Mỹ và quân Nam VN đã triển khai các đơn vị trong toàn thành phố, cắt đứt đường tiếp tế của địch trong khi TQLC càn quét các toán quân địch đang thiếu tiếp liệu, lương thực, quân số mà thương vong càng lúc càng cao vì bị kẹt lại trong thành phố. Nhưng tình hình thì không phải hoàn toàn lý tưởng. Đây là cuộc tấn công vào dịp Tết. Cuộc tấn công vào tòa đại sứ Mỹ coi như thất bại, nhưng trận đánh ở Saigon thì chỉ mới bắt đầu. Khe Sanh còn tiếp tục bị bao vây, nhiều thị xã ở lưu vục sông Cửu Long bị địch chiếm. Mặc dù Huế là mặt trận tấn công vào dịp Tết lâu nhứt và đẫm máu nhứt, sự lưu tâm của phe Đồng Minh vẫn đồng nhứt. Căng thẳng quá độ vào dịp Tết, cọng thêm với sự kiện Bộ Chỉ huy X-Ray điều động một cách mập mờ khó hiểu các đơn vị thuộc Sư Đoàn 1 TQLC chỉ cho phép một vài đơn vị liên hệ hành quân ở Huế. Việc bao vây thành phố Huế là điều cần thiết, theo tính toán, phải cần tới 16 tiểu đoàn bộ binh. Rõ ràng không có sẵn một số lượng binh lính như vậy.
Trong cố gắng đánh bại quân địch trong và ngoài Huế, tướng John J. Tolson, một cấp chỉ huy có trách nhiệm cao và được tưởng thưởng nhiều huy chương của Sư Đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ được lệnh gởi lực lượng trực tiếp đến bên ngoài thành phố Huế. Sư Đoàn 1 Không Kỵ được ủy nhiệm tham gia những mặt trận nặng như Quảng Trị và bất cứ nơi nào khác. Vì vậy, ngày 2 tháng Hai chỉ có tiểu đoàn 2 của trung đoàn 12 Kỵ Binh triển khai ở căn cứ Evans, phía bắc Huế. Họ được trực thăng vận đến một bãi đáp kế bên Quốc Lộ 1, cách Huế 10 cây số về phía tây-nam và tiến nhanh về phía thành phố. Sông Hương ở phía bên hông phải của cánh quân nầy. Trước khi trận đánh kết thúc, thêm ba tiểu đoàn kỵ binh được trực thăng vận tới một nơi gọi là “Hành Quân Jeb Stuart”. Thời tiết rất xấu, mây thấp, vấn đề tái tiếp tế gặp nhiều khó khăn, khó thực hiện các cuộc thả dù tiếp tế mà trong nhiều trường hợp, đó là phương cách duy nhứt, ngay tại căn cứ chính Evans cũng vậy. Việc chiến đấu trong rừng rậm hết sức căng thẳng, ít nhứt có một trung đoàn CSBV đang hoạt động trong vùng. Công việc tiến hành hết sức chậm chạp.
Kết quả là địch quân ở Huế, – dưới sự kiểm soát của trung đoàn 6 CSBV – có thể duy trì lực lượng của họ. Ngoài việc lấy được một số lớn vũ khí đủ loại do Mỹ chế tạo cho Thiết Giáp QĐ/ VNCH, quân CSBV tiếp tục nhận được tiếp liệu từ phía tây Huế chuyển tới. Ngoài ra, họ còn có nhiều đường tiếp tế khác chuyển vận tới như lương thực, đạn dược, trang bị y tế; họ cũng được tăng cường lực lượng. Để tăng cường cho 9 tiểu đoàn chiếm đóng Huế trong ngày đầu tiên, có thể thêm 5 tiểu đoàn nữa đã vào Huế; tiểu đoàn 146, trung đoàn 5 CSBV, tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 6 của trung đoàn 24/ CSBV, tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 8 trung đoàn 90/ CSBV. Tính chung, khoảng 6 ngàn quân CSBV đối đầu với TQLC và Quân Đội VNCH. (Lực lượng tăng cường nầy cho thấy rõ là không đủ để thắng Cộng Sản. Sau trận đánh có cuộc thảo luận, cho rằng CS đã khôn khéo kéo một trong những sư đoàn 10 ngàn người của họ ẩn náu trong vùng núi non bao vây căn cứ TQLC Hoa Kỳ ở Khe Sanh gởi cho mặt trận Huế – một khả năng thúc đẩy tướng Creighton Abrams nói với một phóng viên nhà báo hồi tháng Giêng/ 1969 rằng: “Chúng tôi vẫn còn chiến đấu ở đây.”
Thời tiết xấu cũng có lợi cho địch. Trời lạnh, một cái lạnh bất thường 50 độ, gió bấc mưa phùn của cơn “Gió Mùa Đông Bắc” đôi khi biến thành những cơn mưa ẩm ướt và lạnh. Cùng với mưa là mây che phủ bầu trời và sương ngang mặt đất cản trở máy bay trực thăng và phi cơ oanh tạc hỗ trợ cho TQLC. Quân Đồng Minh lại ở vào vị thế bất lợi vì tướng Lãm, tư lệnh Quân Đoàn 1 yêu cầu tránh tối đa thiệt hại cho dân chúng và giảm thiểu việc làm hư hại thành phố lịch sử. Pháo binh, bom và bom lửa bị cấm xử dụng.
Với những bất lợi đó, các nhà chỉ huy quân sự CSBV có vài sai lầm nghiêm trọng và tính toán trật. Tin vào đường lối tuyên truyền của mình, Cộng Sản tin rằng dân chúng sẽ nổi dậy, hoan hô người đến giải phóng họ và chiến đấu cùng với quân Cọng Sản. Điều đó chẳng bao giờ có. Mặc dù có một số nhỏ cảm tình viên theo Cọng Sản, – hầu hết bọn họ là các sinh viên học sinh trẻ làm điểm chỉ viên cho Cộng Sản – toàn bộ dân chúng tìm cách tránh xa nơi có đánh nhau.
Địch quân cũng không có khả năng bảo vệ thành phố sau khi chiếm được nơi nầy. Họ không phá được cầu An Cựu trên sông An Cựu và cắt đứt đường giao thông giữa Phú Bài và khu Nam thành phố Huế, rồi lại thất bại trong việc chống lại quân Mỹ phản công khi vượt qua cầu nầy. Họ cũng thất bại nhiều lần khi cố đánh phá các cây cầu trên Quốc Lộ 1, nối liền Phú Bài với Huế. Họ hy vọng chiếm Huế trong 1 đêm rồi dùng Huế để tấn công, lập các phòng tuyến kháng cự nằm bên ngoài Huế. Tuy nhiên, MACV và Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 tự biến thành các điểm kháng cự từ bên trong – họ phải chấp nhận TQLC phản công từ bên trong đánh ra – Quân địch chỉ sở trường khi tác chiến ở vùng quê, rừng rậm, và thất bại khi tấn công Huế, không chiếm được hai vị trí quan trọng (MACV và BTL/SD 1/BB) sau khi TQLC Mỹ tăng cường. Họ bị đánh bật lui, trụ lại và tiếp tục cầm cự.
Hành động như thế là họ tự giết họ. Từ bên trong MACV, các binh sĩ của trung tá Gravel có thể vượt qua bên kia đường, khu trường Đại Học, bảo vệ khu bờ sông, bảo vệ vùng trời để trực thăng hoạt động được, mang theo tiếp liệu và lực lượng tới tăng cường.
Hạ sĩ Carter và số binh sĩ còn lại của đại đội Fox 2/5 trải qua một đêm căng thẳng ở trên đồi, theo dõi tiếng nổ và các vệt lửa nổ lốp đốp ở thung lũng bên dưới. Tới sáng, một đoàn xe GMC chạy tới. Họ lên xe và tài xế mở tốc lực 60 dặm một giờ. Mọi người ai cũng sợ bị phục kích. May sao chẳng có tiếng súng nào.
Họ đi qua một ngôi làng bên đường và thấy cảnh tượng xảy ra đêm trước. Người ta đang khóc than rên xiết bên cạnh xác chồng, mẹ hay con cái. Tất cả họ, ai cũng mặc đồ tang. Xe chạy qua một làng và thấy một đơn vị hỗn hợp Việt Mỹ phía sau hàng kẽm gai. Xác Việt Cộng nằm vắt trên hàng rào kẽm gai và ruồi bu đen. Một Việt Cộng nằm chết gần đường đi, xác bị bắn, mất đầu. Carter không tin ở mắt mình khi chợt thấy chiếc xe chạy trước không lạng qua một bên được. Bánh xe cán lên đầu anh ta kêu bụp một tiếng như tiếng bí đỏ bị cán vậy. Carter la lên: Trời ơi! ghê quá!
Họ về tới căn cứ Phú Bài, được tiếp tế thêm, nhận thư, thức ăn nóng, và đi mua hàng PX. Họ trải qua một đêm trong lều vải và tới sáng hôm sau, ngày 1 tháng Hai, tập trung ở bãi trực thăng. Lệnh đi Huế. Đại đội trưởng, đại úy Michaels P. Downs đã có mặt sẵn ở đó. Carter chẳng biết nghĩ thế nào về ông đại úy nầy. Ông ta là một sĩ quan giỏi, một người lạnh lùng, rất chuyên nghiệp. Cái vẻ lạnh lùng ấy làm Carter không ưa. Tuy nhiên, Carter nghĩ có thể cấp chỉ huy gạt bỏ tình cảm riêng tư qua một bên và bày tỏ một thái độ lạnh lùng để công việc được thực hành. Tuy vậy, cũng có khi tuồng như anh ta chẳng quan tâm đến những điều đó nữa. Carter tin tưởng đại úy Downs, con người biết phải làm gì khi đánh nhau với địch.
Chỉ trong mấy phút, mấy chiếc CH-46 Sea Knight bay đến, trông giống như những con châu chấu khổng lồ. Đại đội Fox trên đường bay đến Huế. Rock Christmas là đại uý, 27 tuổi, quê ở Yeadon, Pennsylvania, cưới con gái của đại tá Davids Lownds, người hùng Khe Sanh. Đại úy Christmas chỉ huy đại đội Hotel 2/5 khi trận đánh Tết xảy ra hôm 31 tháng Giêng. Quân CSBV tấn công cây cầu trên QL 1 do binh lính anh ta canh giữ. Cuộc tấn công kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Tới sáng, địch quân bị đẩy ra phía bờ sông.
Đại úy Chritmas sẵn sàng phản công thì có tin điện. Anh ta la to trong máy:
– “Cái gì? Đừng có giỡn.”
– “Không có. Bộ chỉ huy muốn chúng ta rút ra QL-1 chờ lệnh mới.”
Binh lính kéo ra tới đường. Christmas điện đàm với tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 5/ TQLC. Trung tá Ernest Cheatham giải thích tình hình các đơn vị: Huế bị địch tấn công. Đại đội Golf của Chuck Meadow đang hành quân với 1/1, Đại đội Fox của Mike Downs, đang trên đường tới Phú Bài để được vận chuyển đi Huế.
“Sau đó có thể là anh” – Cheatham nói với Christmas – “Thực ra, tất cả chúng ta sẽ gặp nhau ở Huế.” Rồi ông đại tá càu nhàu: “Tại sao họ thường đưa từng phần chúng ta vào mặt trận?”
Carter ngồi dựa lưng vào tấm vải bạt nịt đai của chiếc trực thăng cùng với số binh lính còn lại, thấy cấn một cục gì đó trong dạ dày. Những cái bồn chồn trước trận đánh nầy; cứt thiệt! mình lại đi.
Khi gần tới Huế, máy bay bay thấp để tránh súng phòng không, là là vào bãi dáp. Carter nhìn qua của sổ tròn bên thân máy bay, thấy sông Hương, cầu Trường Tiền, mái nhà, từng hàng cây xanh và lửa tóe ra từ các họng súng. Một tràng đạn quạt vào máy bay. Hai TQLC bị thương nhẹ ở chân. Xạ thủ đại liên 50 ngồi ngay cửa quạt lại mấy tràng. Chiếc trực thăng hạ xuống bãi đáp bên bờ sông, kế bến tàu. Hai thủy quân lục chiến bị thương được ở lại trên tàu trong khi những người khác chạy nhanh ra khỏi máy bay, giống như các cầu thủ banh bầu dục mang nón sắt, áo giáp và balô. Súng nổ trên đầu. Carter chạy lom khom phía sau một bức tường cao cở 2 fít, chụm đầu với những người khác trong khi một tràng đạn bắn tới rào rào. Họ được gọi tập trung thành nhóm 3 người ở một bức tường dẫn tới bên trong khu đại học, rồi tiến xuống con đường ở bên phải để vào MACV. Các TQLC khác và ba người thuộc nhóm đầu tiên chạy đi. Carter với số còn lại chạy theo họ. Carter chú ý thấy một nhà báo đang quì bên kia đường máy quay phim nhỏ đặt trên vai đang quay phim họ. Anh ta quay mặt về hướng ống kính và cười, hy vọng ba má sẽ thấy anh ta đang cười. Bất thần anh ta té xuống một hố đạn, nằm dài ra, ba lô vuột khỏi vai, nón sắt và súng M-16 mỗi cái văng mỗi đường. Carter và hai người bạn thân vào được trong tòa nhà, trung đội anh ta đi khuất bãi đáp.
Họ lại chạy xuống đường, cũng không biết mình đang ở đâu, lại sợ. Họ gặp một chiếc xe tăng bên đường, bèn núp dưới nòng súng, vừa lúc đó thì tiếng súng gầm lên. Carter té giật lui lề đường, tai vưng lên, đầu lạch cạch. Một anh TQLC ló đầu ra khỏi pháo tháp nhìn bọn họ, nói một cách xỏ lá: “Xin lỗi nghe. Có thể đi qua được rồi.”
Cách mấy chục thước phía trước, họ thấy trung đội của họ đi vào MACV.
&
Ngày thứ nhì, từ lúc trời mới sáng, dân chúng bắt đầu ló dạng ra và rồi tuôn ra đường đông đảo ở phía đông nam của thành phố. Phần đông họ là đàn bà và trẻ em, một ít người già và binh sĩ VNCH. Trong một phút hy vọng, Gravel cho rằng chiến trận đã xong và đêm qua, quân địch đã rút lui, không còn cầm giữ dân chúng nữa. Chẳng bao lâu người ta biết không phải tình hình như vậy. Gravel chuyển người tỵ nạn cho các cố vấn quân sự, kiểm soát lại tình hình và củng cố vị trí.
Như vậy, ông ta có được Đại đội Alpha 1/1, Golf 2/5 và Fox 2/5 mới đến. LLDN X-Ray giao cho ông ta nhiệm vụ mới: Gởi Đại đội Fox tới giữ nhà lao, không cho địch giải phóng tù nhân ở đây. Nhà lao cách khu chiếm đóng của CSBV có mấy lô đất, và theo cảm tưởng chung, cũng như theo tin đại cương thì Cộng Sản đã giải phóng tù nhân ở đây ngay ngày đầu tiên. Ông ta báo cáo lại cho cấp trên là tù nhân đã được thả hết rồi. Do dó, lệnh của LLĐN được thu hồi.
Vì số thương binh càng lúc càng cao, chẳng bao lâu Gravel nhận ra rằng cần củng cố gấp con đường từ MACV ra bãi đáp trực thăng và bến tàu. Đánh chiếm từng nhà cách để mở đường đi như họ đã thực hiện đêm đầu tiên là điều khó chấp nhận được. Cuối cùng, Gravel ra lệnh dọn một con đường tới bãi đáp trực thăng, bằng cách đánh sập những chỗ tường cản trở đường di chuyển. Đại tá Adkisson giận tím người vì việc phá tường như thế nhưng chẳng làm sao hơn. Đó là con đường chuyển các người bị thương nặng ra bãi đáp trực thăng mà không gặp gì khó khăn. Tuy nhiên, Gravel lại phải đụng đầu với đại tá Adkisson vì một vấn đề nhỏ nhặt khác. Chỉ trong vòng mấy ngày TQLC không còn thuốc hút. Ở PX (Post Exchange) thì đầy thuốc lá nhưng TQLC lại chẳng ai có tiền mua, Adkisson lại chẳng muốn phát không cho lính rồi báo cáo là tổn thất khi đánh nhau. Cuối cùng, biết rằng có thể làm cho binh lính giận dữ, Adkisson ra lệnh mở cửa PX.
Trên lưng áo giáp, hạ sĩ Jim Soukup vẽ mắt một con bò mộng thật to và viết câu: “Gắng gặp may, Charlie.” Đó là cách làm ra vẽ hiên ngang của một anh TQLC mới 20 tuổi. Nhưng điều Soukup quan tâm là anh ta không muốn thấy một người Việt Nam nào khác trong đời anh ta nữa. Anh ta đã đi đánh trận 10 tháng và mới đi nghỉ phép từ Úc về được 6 ngày thì trận đánh nầy bắt đầu. Sau một thời gian nghỉ ngơi với những người đàn bà mắt tròn, má hồng, bia lạnh, Soukup quyết định là anh ta không muốn chiến đấu cho cái lỗ đít đầy máu hôi hám ấy. Hai tháng còn lại, anh ta muốn đứng ngoài rìa mọi việc nhưng trận đánh Tết làm tan hoang kế hoạch của anh ta. Rồi ngày 1 tháng Hai, lệnh đưa ra là lên yên, nạp đủ đạn vào súng. Và anh ta được đưa tới Phú Bài giữ nhiệm vụ tiểu đội trưởng như cũ. Là một TQLC, xạ thủ súng đại bác không giật. Anh ta tiếp tục phàn nàn. Người trong tiểu đội đều là bạn thân của anh.
Họ lên một chiếc Sea Knight, kéo lên theo khẩu đại bác không giật 106ly, nặng 350 pound rồi máy bay bay lên. Chiếc trực thăng chất đầy người và trang bị. Soukup chẳng biết là đi đâu cho tới khi đến Huế và được thả xuống bãi đáp gần viện đại học.
Chung quanh, súng địch nổ lóc bóc. Một tràng đạn trúng sàn máy bay. Xăng và nước chảy quanh chân. Soukup căng thẳng, lo lắng. Anh ta nói như trẻ con: “Đừng rớt.” Chiếc trực thăng đổ nghiêng một bên trên bãi đáp. Cửa sau máy bay bị kẹt, mở có một nửa. TQLC vội vàng nhảy ra khỏi máy bay ở độ cao 10 fít, tìm chỗ núp. Từ bên kia sông, Quân CSBV bắn như mưa vào bãi đáp trực thăng.
Có mấy TQLC khác xuống bãi đáp rồi, đang la hét và chỉ chỏ. Soukup thấy một tia chớp lóe lên ở cửa sổ một ngôi nhà bên kia sông. Anh ta bắn một tràng đạn M-16.
Súng tiếp tục nổ. Một anh lính trong tiểu đội chạy tách ra, la hét và bắn loạn xạ chẳng nhắm vào đâu hết. TQLC cúi mình núp sau những cái cây và các hồ nước trên sân cỏ, mắng anh ta. Anh ta không nghe. Cuối cùng mấy TQLC nắm lấy anh và đè xuống đất. Họ quẳng anh ta lên chiếc máy bay sắp bay đi. Soukup không bao giờ thấy anh ta lần thứ hai nữa.
Quân CSBV bắn thưa dần.
Soukup và tiểu đội chạy lại chỗ chiếc trực thăng đang chờ, hạ cánh cửa xuống, phụ nhau đưa khẩu súng đại bác ra khỏi máy bay. Từ bãi đáp họ lom khom tiến về phía MACV. Vì họ phải dùng cả hai tay để ôm đại bác nên súng cá nhân lắc lư bên hông. Mọi người ai cũng sợ bị bắn sẻ. Họ vào bên trong và Soukup đi tìm chỉ huy. Anh ta không biết đường và cũng không biết tiểu đội anh phải làm gì. Anh ta không biết trí súng ở đâu và cũng không rõ đạn nằm ở đâu, cũng không biết tiểu đoàn cũng như đại đội ở đâu. Anh ta bèn quyết định nhập với trung đội đầu tiên gặp được và cứ theo thói quen mà chiến đấu.
TQLC nói họ thuộc Đại đội Fox 2/5. Anh ta không chắc. Mọi sự đều lộn xộn ghê gớm và thật căng thẳng trước khi trận đánh kết thúc. Tiểu đội 10 người của Soukup có 2 người bị giết và 7 người bị thương. Nhưng lại được tăng cường, chỉ có vài đơn vị tăng cường quá trễ.
&
Trung úy James V. DiBernado 33 tuổi, xuất thân là một nhà báo TQLC, quê ở Fulton, Nữu Ước, hiện phục vụ tại Bộ phận 5, đài phát thanh và truyền hình Quân Đội Hoa Kỳ đặt tại phía nam thành phố Huế. Ông ta có cách sống hòa hợp giữa TQLC, Việt Nam và nhân viên dân sự trong một căn nhà cách MACV mấy lô.
Trước hôm đánh nhau, thiếu tá Breth và Swenson đến thăm. DiBernardo cười vì cuộc sống rất tiện nghi hai ông nầy cũng như xếp của ông ta vậy. Hai ông thiếu tá đề nghị DiBernardo dọn vào ở trong MACV nhưng anh nầy từ chối. Chỗ anh ta ở tương đối an toàn. Vậy rồi Cộng Sản tấn công.
DiBernardo và người của anh ta bị cô lập; chờ hai ngày, tiếp tế bị cắt đứt, lắng nghe chừng tiếng súng trên đường phố. Tới ngày thứ ba, anh ta ra phòng trước khi một ngươi lính canh chạy vào la to là đại đội TQLC đã tới. DiBernardo ra cửa sổ nhìn, thấy lính CSBV lom khom chạy theo bờ tường bên ngoài, sẵn sàng tấn công vào nhà. Anh ta chạy vào phòng khách, mọi người vào vị trí. Anh ta chụp lấy cây súng carbine và ra phục nơi cửa sổ. Người lính CSBV đi đầu bèn rút lui và chuẩn bị ném lại một bọc chất nổ. DiBernarso bắn một tràng đạn, người lính CSBV chết vì bọc chất nổ nổ tung.
Thế là hai bên đánh nhau. Phía Mỹ nổ súng. Bắc Việt Nam cũng nổ súng, suốt mấy tiếng đồng hồ. DiBernardo bị thương mấy chỗ nơi cánh tay. Ai cũng có bị thương hết. Sau cùng, lính CSBV trèo lên cao, bắn vào mái nhà. Lửa cháy, khói đầy đặc nhà. Người trong nhà bèn chạy ra, vừa chạy vừa bắn. Quân địch bắn vào họ xối xả, người cố vấn kỹ thuật dân sự té xuống chết ngay trên mặt đường.
DiBernardo và những người sống sót chạy tới cuối khu phố.
Mấy chục thước trước mặt họ là một đám ruộng trống. Làm sao vượt qua được? Lính CSBV đuổi theo sau lưng. Phía nào cũng có súng nổ. Một tràng đạn trúng vào tay DiBernardo. Chẳng biết chạy vào chỗ nào. Nhìn quanh, họ thấy có khoảng 50 lính CSBV núp ở những ngôi nhà chung quanh. Họ chỉ còn lại có 4 người, ai cũng bị thương vì đánh nhau ban nãy. Họ đưa tay đầu hàng.
Sau trận đánh, trung sĩ Steve Berntson và Dale Dye, hai phóng viên báo chí của Sư đoàn 1 TQLC tới ngay căn nhà nầy. Họ biết những người trong ban tham mưu làm việc và ở đây. Họ tìm thấy trung sĩ Tom Young nằm chết ngoài bờ hào. Tay bị trói ra sau lưng, phần sau của sọ bị bắn nát. Berntson va Dye gở cánh cửa đặt người bạn của họ lên đó khiêng về MACV. Họ khóc vì họ thấy Tom không gặp may. Họ cũng nghĩ rằng trung úy DiBernado đã chết rồi, không biết rằng DiBernardo đang ở trên đường dẫn ra Hà Nội.
Mặt trận Huế cũng là nơi bất an cho một người đàn bà Pháp. Đó là bà Cathy Leroy. Sinh trưởng ở Pháp, bà rời trường âm nhạc đi làm phóng viên chiến trường. Nhỏ con, nhanh nhẹn, tóc vàng, bà ta đến các khu đánh nhau ở Việt Nam trong bộ quần jean, giày ống, tóc đánh con rít, máy ảnh treo tòn ten nơi cổ. Để làm nhiệm vụ của mình, bà đi với lính nhảy dù Mỹ, chụp hình các trận đánh dữ dội ở vùng Phi Quân sự hồi mùa hè 1967, bị thương sau đó hai tuần lễ khi một đơn vị TQLC bị pháo kích. Thời kỳ đi theo TQLC Hoa Kỳ, bà viết bài đăng trên tạp chí “Life” (2) TQLC Mỹ luôn nhắc tôi nhớ những điều chúng ta gọi là lính Lê Dương… to mồm với những trái tim vàng.
Khi Cathy nghe tin TQLC Mỹ đang đánh nhau ở Huế, nơi bà muốn tới, liền đi cùng Francois Mazure, một người bạn phóng viên khác. Nghe TQLC Mỹ đang canh giữ đường, họ tìm một chuyến xe nhà binh đi Huế nhưng không kiếm được, lại gặp một người Việt biết nói tiếng Pháp. Tốn ít đồng bạc, họ thuê một chiếc xe đạp. Đó là chiếc xe đạp đôi hai người ngồi. Họ đạp xe đi Huế trên con đường vắng hoe.
Dân chúng đóng kín cửa, núp trong nhà. Việc nầy làm cho hai nhà báo bồn chồn. Khi nào thấy có người ló mặt ra nhìn, Mazure la to:
– “Bonjour!” như để nói cho biết họ không phải là người Mỹ.
Khi họ tới phía nam thành phố Huế, tiếng súng nổ lốp bốp chung quanh khiến họ nhận ra rằng họ đã đi vào vùng Cộng Sản kiểm soát. Họ lo lắng đứng chung với những người dân đang tụ họp thành cái chợ trời, lắng tai nghe tiếng súng và xem máy bay Quân Đội Nam Việt Nam đánh bom trong Thành Nội. Chẳng ai nói gì với họ, nhưng khi có ai tới gặp họ, họ nói nhanh bằng tiếng Việt rằng họ là các phóng viên báo chí người Pháp từ Paris tới. Những người Việt Nam nầy có vẻ thù địch nên làm cho Cathy và Francois sợ. Họ thấy toát mồ hôi suốt hai giờ đồng hồ. Cuối cùng có một người đàn ông đến gặp họ, chỉ cho thấy một nhà thờ công giáo và đề nghị họ nên vào ở chung với nhiều người tỵ nạn đang núp trong nhà thờ. (Dòng Chúa Cứu Thế – ngd)
Có mấy ngàn người đang trốn trong nhà thờ. Đám người nầy chẳng giúp đỡ và cũng không nhường đường cho họ đi. Đám trẻ con thì chen lấn hoặc nhìn họ chăm chú.
May mắn có một linh mục già thấy họ nên đến chào, nói chuyện bằng một thứ tiếng Pháp trôi chảy, chỉ cho họ nhìn chung quanh và nếu như muốn đi một vòng quan sát thì sẽ dẫn đi. Ông linh mục nói với họ rằng hai chục năm trước, vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam cũng được đưa vào trốn trong nhà thờ nầy, khi phong trào Việt Minh nổi lên. Dân chúng trong nhà thờ – phần đông là đàn bà, trẻ em và người già – nằm la liệt khắp nơi, giữa những hàng ghế dài trong nhà thờ, chung quanh bàn thờ. Một người đàn bà mới đẻ nằm nghỉ sát phòng xưng tội.
Không khí hết sức ồn ào. Trẻ con thì khóc, người lớn nói chuyện, các tu sĩ cầu nguyện lớn tiếng. Bên ngoài súng nổ suốt đêm.
Hai nhà báo nằm cố ngủ trong một cái phòng nhỏ của một linh mục. Tới sáng, họ được báo cho biết là người Việt ở đây không bằng lòng việc họ có mặt vì họ sợ mặt mũi trông giống như người Caucase, có thể khiến cho Cộng Sản tấn công vào nhà thờ. Một linh mục nói với họ nên tìm đến khu vực Mỹ và một em bé có thể dẫn đường tới MACV. Cathy và Mazure bỏ lại hết các thứ trang bị nhà binh trong nhà thờ, cả giày ống, thẻ nhận dạng, và làm một lá cờ trắng bằng vạt áo của một linh mục. Một linh mục viết một cái thư, giải thích họ là người trung lập, dân sự.
Họ đi theo em bé dẫn đường ra tới một con đường đầy bụi bặm, chẳng bao lâu thì tới một cái cổng một biệt thự rất lớn (Cung An Định – ngd), bên trong là một vườn hoa xanh tươi. Họ dừng lại, nhận ra có mấy người mặc áo quần màu xanh lá cây, trong dáng bộ mệt mỏi, mang súng AK-47 và nhìn chăm chú vào họ. Em bé dẫn đường phất thật mạnh lá cờ trắng. Có ba người lính CSBV mặc đồng phục kaki đi về phía họ. Họ có vẻ thù địch nhưng không có gì giận dữ nên Cathy thấy đỡ lo một chút. Mazure đưa cho họ bức thư của linh mục nhưng họ không có vẻ gì muốn nhận thư ấy. Khi Mazure, do tự nhiên muốn che cái máy chụp hình thì những người lính CSSBV liền nắm lấy mấy cái máy ấy, rồi ra dấu gọi thêm ba người khác trong vườn hoa. Họ trói tay hai nhà báo lại rất kỷ bằng một sợi giây dù. Có khoảng 15 lính CSBV đang ngồi bên cạnh những cái hố trong vườn cây. Hai nhà báo bị giữ ở đó khoảng 45 phút. Mazure nói tiếng Pháp liên miên, cố chứng tỏ anh ta không có gì sợ hãi cả. Mấy người lính CSBV thì chỉ trố mắt ra nhìn.
Cuối cùng, một người lính khác tới và dẫn họ ra phía sau biệt thự. Một người da trắng, có lẽ là người Pháp, ngồi sau một cái bàn.
Mazure hỏi: Ông là người Pháp phải không?
Ông ta là người Pháp, rất vui khi gặp các phóng viên. Ông ta đi vòng sau lưng và bắt tay họ trong khi tay họ còn bị trói. Ông ta và gia đình cũng là tù nhân ngay chính trong nhà họ nhưng không bị đối xử tàn tệ. Người Pháp giới thiệu một sĩ quan CSBV trẻ đến phỏng vấn. Người nầy khoảng 25 tuổi, có thể một thời là sinh viên du học ở Pháp, anh nầy nói với họ là họ có thể đi. Họ được cởi trói, dụng cụ được trả lại. Người sĩ quan cho biết Cộng Sản đã chiếm thành phố, và họ đang giải phóng toàn thể nước Việt Nam.
Cathy và Francois lấy lại được bình tĩnh, xin phép cho chụp hình. Người sĩ quan tỏ vẻ thích, đưa họ lui đằng sau góc vườn. Các người lính khác cũng vui sướng đến chụp hình chung. Họ còn trẻ và tự tín.
Tuy nhiên, đó không phải là bầu không khí thanh bình. Cathy và Mazure chú ý thấy họ chuẩn bị để có thể bắn qua mấy lỗ hỗng trên tường nếu TQLC bất thần đến tấn công. Họ như đang ở giữa cuộc chạm súng, trang bị vũ khí đầy đủ: AK-47, SKS, hỏa tiễn B-40, vũ khí chiếm được do Mỹ chế tạo, máy truyền tin và nhiều đạn dược.
Sau khi chụp mấy tấm hình, Mazure trở lại biệt thự và tuyên bố một cách vô tình rằng sẽ viết lại câu chuyện nầy. Chẳng ai phản đối.
Người Pháp mời mọi người hút xì-gà, bắt tay và chúc mọi người may mắn. Cathy và Francois cùng với em bé dẫn đường đi ra cổng. Họ quyết định trở lại nhà thờ, được an toàn hơn rồi sau đó tìm đường khác để tới MAC.V.
Dân chúng ở nhà thờ biết ngay họ có tiếp xúc với CSBV.
Thằng bé dẫn đường tỏ ra tự hào về việc nó đã làm. Hai nhà báo vui cười, lại cố làm cho có vẻ vui lên và thêm hứng khởi. Những người dân chạy giặc cũng cười, chia vui với họ. Họ biếu hai nhà báo thức ăn. Vị linh mục tiễn họ ra cửa và chào từ biệt.
Chỉ có Cathy và Mazure đi trên đường. Họ cẩn thận đi ngang một khu không có một bóng người. Có lúc họ khom mình đi qua khu Quân đội VNCH để tránh xa chỗ đang có đánh nhau. Họ thoát ra được ngoài thì trời đã chiều.
Đại đội Fox 2/5 được sắp xếp lại sau khi rút lui về tới MAC.V.
Đại úy Downs được lệnh cho lính qua bên kia đường, ngang chỗ bãi đáp trực thăng để dò thám vị trí địch. Trung đội 3 di chuyển trước và khi vòng tới cuối đường thì thấy TQLC Đại Đội Alpha 1/1 và Golf 2/5 trên các cửa sổ. Họ dồn đống ở ngã tư. Hạ sĩ Carter chạy lom khom dọc theo bờ tường cùng với toán súng máy M-60. Phía trên, hai TQLC và trung sĩ Mahoney đứng gần cuối bức tường. TQLC là những người chiến đấu trong rừng rậm rất giỏi, nhưng đánh nhau trên đường phố với họ là điều mới mẻ. Họ không biết rằng nếu cứ đi thẳng mình là coi như mời thần chết tới. Họ không biết trước khi di chuyển là phải dọn đường bằng lựu đạn và M-16. Họ thiếu kinh nghiệm về loại tác chiến nầy. Do đó, người ta hiểu tại sao hai người lính TQLC và anh trung sĩ đi qua đường bên kia trông như đi tản bộ.
Trung sĩ Mahoney bất thần phóng vào chân tường và ra dấu cho hai người lính TQLC bắn yễm trợ cho anh ta. Ngay lúc đó, – Carter há họng ra mà nhìn – AK-47 nổ một tràng trên đầu anh trung sĩ. Anh nầy to con, rơi xuống bên cạnh Carter một cái bịch như một bao đá. Anh ta bị bắn nát mặt, chết tức khắc. Carter nắm tay anh ta kéo lui nhưng chẳng nhúc nhích được gì. Carter không nghĩ anh trung sĩ nặng đến như thế. Carter gọi to, kêu người đến giúp. Hai TQLC chạy tới. Một loạt súng bất thần từ căn nhà bên kia ngã tư nhắm tới. Đạn rớt chung quanh, dụng vào bức tường. Tất cả bọn họ trườn lui để tránh đạn. Carter ở đằng sau bức tường, thở khó nhọc, không ngờ mình còn sống.
TQLC bắn trả. Trong khi đó mấy TQLC chạy lên lôi xác Mahoney lui. Rồi họ cùng nhau về lại MACV.
Đêm đó, quân CSBV lại bắn vào các bức tường ở MACV, cố tấn công như những lần trước, nhưng bị TQLC phản công mãnh liệt nên chịu thất bại. Đêm đó, Đại đội Fox không đánh nhau. Họ được vào nghỉ trong một căn nhà lầu trong khi súng vẫn nổ ngoài cửa sổ. Ngày đầu tiên của họ ở Huế khá vất vả và một TQLC mới tới Việt Nam bỗng nổi cơn điên. Anh ta đứng lên, la to là anh ta không thể chịu đựng được, rồi khóc, rồi chạy lòng vòng quanh những người đang ngủ.
Mấy TQLC nắm lấy anh ta, đè xuống và tống anh ta ra khỏi Huế. Tiếng súng bên ngoai mỗi lúc mỗi thưa và dứt hẵn, đám lính ngủ được một giấc ngon.
Buổi sáng ngày thứ Sáu, 2 tháng Hai/1968, TQLC thấy cầu Trường Tiền trên sông Hương bị giựt sập. (TQLC gọi cầu Trường Tiền là cây cầu bạc vì nó sơn màu bạc). Có tiếng nổ lớn và khi khói, bụi tan hết, họ thấy hai vài giữa rơi xuống nước. Giao thông giữa bờ nam và Thành Nội bị cắt đứt. Chẳng có sẵn đơn vị công binh nào để sửa cầu. Có tin báo quân địch xuất hiện bên kia sông, gần đầu cầu. Họ là những người lớn con, lớn hơn khổ người Việt Nam trung bình và mặc một thứ quân phục khác với CSBV hay Việt Cọng. Đầu tiên, người ta cho đó là một trung đội quân Trung Cọng. Cũng có thể là không phải nhưng cũng chẳng ai phủ nhận.
Về phần Carter, anh ta thấy buổi sáng đến nhanh quá, TQLC ăn sáng xong rồi lên đường, đi ra phía ngoài, tuần tiểu trên đường phố chính. Carter đi giữa với Trung đội 3, sau lưng là đại úy Downs và anh lính mang máy truyền tin. Họ đi dọc theo con đường có hai hàng cây hai bên. Phía trước mấy tay bắn sẻ núp trên các cây cọ dừa bắn vào trung đội đi đầu. TQLC bắn lại như mưa, hạ mấy tên bắn sẻ. Những tên bắn sẻ nầy từ trên cây nhảy xuống, tính bỏ chạy thì bị bắn hạ ngay. Họ đi xa hơn nữa, ngang qua một chiếc xe Jeep đã bị phá hư, có mấy xác quân CSBV nằm trong bùn và giây kẽm gai.
Trung đội đi đầu tới ty Cảnh Sát nằm cách MACV mấy lô nhà. Các TQLC ai cũng ngạc nhiên khi mấy cảnh sát Nam Viêt Nam từ trên những phòng nhỏ trên nóc nhà ló mặt ra rồi chạy xuống . Họ vừa khóc vừa cầm lắc tay các TQLC rồi quì xuống cám ơn. Người thông dịch viên đến hỏi chuyện thì được biết họ trốn trên trần nhà mấy ngày trong khi Cộng Sản chiếm tầng dưới. Chỗ nầy bị đạn bắn lỗ chỗ. Carter nhìn vào trong, có vết máu dính vào tường. Mấy xác người nằm trong đống gạch vụn. Vài TQLC vào bên trong và kéo các xác người ấy ra ngoài sân. Carter không nhận rõ những xác nầy là ai: CSBV, VC hay QĐ/VNCH hay dân sự. Anh ta nghĩ chẳng có ai lưu tâm đến họ, dù là ai đi nữa thì họ cũng như nhau.
Lại có tiếng súng bắn sẻ. Những người bắn sẻ nầy núp chung quanh nhà thờ. TQLC tập trung phía sau ty Cảnh Sát, chỗ đó có con đường đất dẫn qua nhà thờ. Một chiếc xe tăng loại nhỏ trang bị súng chống chiến xa 106 ly lách cách chạy tới. Carter nhắm vào ống nhắm đặt trên xe. Súng nổ ầm, lá cây và bụi bay mù mịt. Cái tháp chuông nhà thờ cao mấy chục thước vỡ tan, cửa kính bay mất, mặt sau nhà thờ bị sập. Bụi bay lên, một đám đông từ trong nhà thờ chạy ra như ong.
Carter nhìn vào khẩu súng, rồi nhìn vào đám dân chúng đang kinh hoàng và bị thương. Chẳng ai muốn giết những người dân vô tội.
Cathy Leroy, đang đứng chụp hình, liền chạy về hướng các TQLC. Thấy người sĩ quan đầu tiên, một bà xơ (Soeur) ta nắm tay la to: “Có bốn ngàn người chạy giặc núp trong đó. Họ không phải là quân Cọng sản. Họ là dân.” TQLC đã ngưng bắn nhưng trong khi đó thì Cọng Sản vẫn cứ tiếp tục nổ súng. Những người chạy giặc mang bao bị, bồng bế trẻ em, có người cột một miếng vải trắng vào đầu gậy. Họ lết thết chạy về phía MACV.
Hạ sĩ Soukup đặt súng đại bác không giật 106 ly trên lề đường cách MACV hai lô nhà. Trước mặt là quân CSBV. Đám xạ thủ làm việc chiếu lệ, đẩy vào trong nòng một viên đạn dài, đóng cơ bẩm, bấm nút. Cứ bắn mỗi viên thì cát bụi lại bay lên. Viên đạn nổ phùm ở cuối đường. Soukup đứng ở ngưỡng cửa với một đám TQLC nhưng anh ta không biết họ, chờ lệnh để nhắm mục tiêu.
Có tiếng kêu rắc trên không. Có cái gì như mảnh đạn trên đầu Soukup, bay vào đụng bức tường bên trong nhà. Khi rảo bước vào trong, anh ta thấy vết đạn xuyên thủng bức tranh treo trên tường. Bức tranh có thể dùng làm vật kỷ niệm. Anh ta nhét bức tranh vào balô và nhăn răng cười. Nhưng rồi anh ta lặng người đi khi nhận ra rằng một anh lính CSBV nhắm một đường đạn đi thẳng từ đầu anh vào tới bức tranh. Rõ ràng kẻ bắn lén muốn giết anh ta. Đó không phải là một tràng đạn bắn hoảng mà một mục tiêu được nhắm đàng hoàng. Chỉ cần viên đạn đi thấp một chút nữa thì anh ta trở thành một đống thịt. Anh ta té xuống rồi lết vào trong.
hoànglonghải
Chú thích:
Alamo: Phòng tuyến của Tây Ban Nha tại San Antonio, Texas. Đây là di tích lịch sử anh hùng. Năm 1836, chưa tới 200 người Texas cố thủ ở đây chống lại Mexico để bảo vệ độc lập. Trong số những người nầy có Davy Crockett và Jim Bowie hy sinh trong cuộc bao vây lâu dài của 4 ngàn lính Mexico do tướng Santa Anna chỉ huy. Câu nói Nhớ Alamo là nhắc tới cuộc bao vây nầy.
(2) Life, xb ngày 16 tháng Hai/ 1968. Từ trang 22 đến 29.
Người lính Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) đã chết, đầu lắc lư, lọt ra khỏi chiếc xe Jeep đang chạy ngang toán lính đi trên con đường bụi mù, tên gọi là Quốc Lộ (QL) 1.
Rich Carter đứng bên đường nhìn theo chiếc xe Jeep biến mất trong bóng đêm ở cuối đường. Quân địch phục kích toán tiền phong của đại đội, giết tiền sát viên, làm bị thương ba người khác. Bây giờ địch quân biến mất, lẫn vô rừng và đêm đen. Bao giờ cũng vậy, kể từ khi Carter về đại đội nầy ba tháng trước, bọn họ không mấy khi thấy địch. Họ chỉ thấy có mìn, bẫy, bắn sẻ, và phục kích; họ thất vọng. Chiến tranh kiểu đó không phải là điều Carter muốn. Carter vào TQLC một tuần sau khi rời trường cấp ba ở Carteret, New Jersey vì bố anh ta là một TQLC, chú anh ta cũng vậy. Mười tám tuổi, anh ta tin chiến tranh, – và anh ta cũng muốn giống như những người đi trước.
Carter đến Việt Nam với đầy nỗi lo ngại, kích động và niềm chua chát của một người lính mới bộ binh. Nhưng rồi mọi sự cũng tới. Những lần tuần tiểu đẫm mồ hôi trên những đám ruộng lúa nắng cháy và những hàng cây xanh bên bờ sông An-Hòa, những cuộc hành quân bình định, đưa dân lên các toa xe, – đàn bà thì khóc, trẻ con thì la hét – rồi đốt cháy các xóm nhà lá. Việt Cộng thì ở khắp nơi nhưng ít khi thấy họ. Carter đã trải qua một đêm tuần tiểu, ngồi trong rừng đêm ẩm ướt, trong khi vài con ma vô hình nào đó tới hét vào mặt anh: Tên độc ác, tối nay mày chết. Có một đêm, toán phục kích của anh bắn chết một Việt Cọng vô tình di chuyển trên đường mòn; tới sáng, cái xác biến mất. Một lần khác, bọn họ lục soát một căn nhà và thấy chiếc nhẫn của một TQLC đã chết. Anh thấy có ba cái bẫy. Trời, những cái bẫy nầy! Lựu đạn buộc vào giây thép giăng ngang, che bằng lon thiếc đựng đồ ăn phần C, buộc với bom hay đạn đại bác không nổ hoặc mìn 30 pound. Tuồng như ở đâu cũng có mìn bẫy. Một hôm, ở trong rừng, Carter nghe một tiếng nổ thiếu đường điếc tai; rồi có tiếng la khiếp đảm: “Y tá lên trước.” Một trái đạn đại bác 155ly ngụy trang phát nổ. Chín TQLC chết. Ngày hôm sau, một TQLC đi dưới hàng cây, dọc theo một con đường nhỏ. Đất dưới chân như nổi sóng, có cái gì đập vào đầu Carter, và khi anh ta lắc đầu cho tỉnh thì anh ta thấy chiếc giày của một người lính văng tới bên cạnh. Chiếc giày đang cháy và bốc khói mà cái chân thì vẫn còn ở trong giày. Anh lính còn ở trên đường mòn, kinh hãi la lên vì thấy chân mình còn mắc trong đất như đóng cọc. Từ đầu gối trở xuống, hai chân anh ta bay mất.
Chiếc xe Jeep chở xác đi rồi. Toán lính xuống đường và bắt đầu bố trí. Họ đào hố cá nhân, đặt mìn claymore chung quanh và chia nhau canh gác. Hạ sĩ Richard Walter Carter thuộc toán súng máy Trung Đội 3, Đại Đội Fox, Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 5, Sư Đoàn 1 TQLC; ai nấy ở trong hố cá nhân, cố ngủ một chút giữa đám muỗi vo ve và những âm thanh rền rĩ của đêm đen.
Đó là đêm 30 rạng ngày 31 tháng Giêng/ 1968.
Còn mấy tiếng đồng hồ nữa thì trận đánh Huế năm Mậu Thân bắt đầu.
Hôm đó, phòng theo dõi truyền tin ở căn cứ Phú Bài trên Quốc lộ 1, phía nam Huế, bắt được làn sóng truyền tin của địch cho biết địch sẽ tấn công vào thành phố Huế. Theo thủ tục, tin điện bắt được nầy không gởi thẳng cho Huế mà báo cáo cho bộ Chỉ Huy Cao Cấp ở Đà-Nẵng để ghi nhận và phân tích. Cùng lúc, tin nầy cũng gởi cho Huế bằng teletype.
Đại úy James J. Coolican, một sĩ quan TQLC tài ba, làm cố vấn cho đại đội Hắc Báo Sư Đoàn 1 Bộ Binh (BB) Việt Nam Cọng Hòa (VNCH), lo ngại vì tình hình có vẽ khác thường. Hôm qua, 29 tháng Giêng, Đại Đội Hắc Báo của ông được xe GMC đưa từ vùng Phi Quân Sự về hậu cứ sau mấy cuộc hành quân ở đó. Tết, năm mới âm lịch – năm 1968 là năm con khỉ – một người Mỹ như ông muốn được hưởng những ngày nghỉ – như người ta thường nói – ngày sinh nhựt, lễ Giáng Sinh, lễ Độc Lập, cứ tiếp nối như vậy… Theo thông lệ, hai bên cùng tuyên bố tạm thời ngưng bắn. Tuy nhiên, trên đường rút quân về chỗ tạm nghỉ, Coolican thấy đường đi rất ít người, chẳng có ai chen lấn, hối hả lo về nghỉ Tết. Có vẻ gì bất thường. Đại úy Coolican biết như thế có nghĩa là địch sắp tấn công.
Nhưng họ sẽ tấn công vào lúc nào và ở đâu?
Bên trong thành phố Huế, tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, Tướng Trưởng (thật ra lúc đó ông Ngô Quang Trưởng còn mang cấp bậc đại tá – ngd) Tư Lệnh Sư Đoàn cũng thấy có điều không ổn. Bộ Tư Lệnh Cao Cấp của Tướng Westmoreland ở Saigon ra lệnh đình chỉ lệnh ngưng bắn theo truyền thống sau khi địch tấn công vào 8 thành phố. Tướng Trưởng là sĩ quan giỏi nhất Quân Lực VNCH. Để đề phòng, ông tập trung tất cả các sĩ quan tham mưu lại trong Bộ Tư Lệnh, ra lệnh báo động trăm phần trăm, và cũng ra lệnh báo động cho các đơn vị đóng bên ngoài thành phố. Dù vậy, một nửa quân nhân của sư đoàn đã được nghỉ phép Tết, hầu hết họ có gia đình ở Huế. Tin tình báo cho biết lực lượng địch khoảng 2 trung đoàn đang tập trung ở phía tây, cách Huế 40 cây số. Ở phía nam Huế, địch quấy rối quận Phú Lộc, vì vậy Tướng Trưởng nghi rằng địch sẽ tấn công Phú Lộc, cố gắng cắt đứt Quốc lộ 1. Ông cho một tiểu đoàn triển khai tác chiến ở vùng nầy.
Tướng Trưởng tiên liệu một cuộc tấn công có thể xảy ra ở xa, và chẳng có dấu hiệu gì Huế sẽ là mục tiêu địch tấn công cả. Đối với người Việt, Bắc cũng như Nam, Huế là thành phố thiêng liêng, vì Huế một thời là kinh đô của Đế Quốc Việt Nam. Trong lịch sử hàng trăm năm đẫm máu của xứ nầy, hai lần Huế là nạn nhân. Lần đầu tiên là vào năm 1883, (1) khi quân Pháp tấn công, trước khi chiếm kinh đô; lần thứ hai là vào năm 1945, khi du kích Cộng Sản cố đè bẹp quân Pháp mà không thành. Thực ra, Huế rất hiền hòa, yên tĩnh. Người ta biết sĩ quan QĐ/ VNCH phải chịu hối lộ mới được đổi về làm việc ở Huế.
Huế là thành phố lớn thứ ba ở Nam VN, dân số 140 ngàn người, nằm cách bờ biển khoảng mười cây số, và cách Khu Phi Quân Sự, nơi có nhiều trận đánh dữ dội một trăm cây số. Huế là thủ phủ của tỉnh Thừa Thiên. Huế có hai phố, cách nhau bằng sông Hương, sông nầy chảy ra biển.
Trên bờ Bắc là khu thành cổ, rộng ba cây số vuông, có các bờ thành bao bọc chung quanh. Thành nầy do một nhà quân sự Pháp và Hoàng Đế Việt Nam vẽ kiểu xây vào khoảng đầu những năm 1800. Chung quanh thành có hào sâu, nước xanh, trồng sen và hết khu nầy đến khu khác là những hàng cây xanh. Trong nhiều thế kỷ trước, chính trong những bức trường thành nầy, hoàng đế cai trị đất nước.
Bên kia hoàng thành, phía bờ nam là khu trú dân, mới hơn. Khu nầy lớn bằng nửa khu hoàng thành và hơi giống hình tam giác, sông Hương ở cạnh bắc; sông đào An Cựu (2) từ sông Hương chảy vào, vòng xuống phía Nam làm thành hình chữ V.
Về mặt quân sự, Huế là thành phố quan trọng. Đường xe lửa và Quốc Lộ 1 chạy ngang qua thành phố nầy, vượt qua sông Hương, mang đồ tiếp liệu từ Đà Nẵng tới khu Phi Quân Sự, và cũng có một điểm tiếp liệu Hải Quân vận chuyển bằng tàu nhỏ từ Huế ra biển. Tuy vậy, thành phố lại khó giữ an ninh. Trong thành nội, góc thành phía bắc là Bộ Tư Lệnh của Tướng Trưởng có thành bao bọc chung quanh. Tại đây, không có đơn vị tác chiến, chỉ có bộ tham mưu và lính phòng vệ. Bên kia sông, phía nam là bến tàu Hải Quân Mỹ, nơi chuyển vận hàng tiếp liệu. Cách khoảng mấy trăm mét là cơ quan Phân Bộ Cố Vấn Quân Sự Mỹ, (MACV) do đại tá George O. Adkisson là cố vấn cao cấp của Sư Đoàn 1 BB/ VNCH chỉ huy. Khu MACV gồm vài tòa nhà, gồm cả một khách sạn (Khách sạn Thuận Hóa,- ngd) được sửa chữa lại, có tường bao chung quanh. Toán Cố Vấn Quân Sự số 3 sống thoải mái ở đây.
Về lịch sử, Huế chưa bao giờ là một trung tâm quân sự nhưng lại là một thành phố nổi tiếng. Đó là trung tâm văn hóa Việt Nam, một nơi để học, để hồi tưởng truyền thống và giá trị của thời quá khứ. Huế được người ta biết tới vì có thành cổ, hoàng thành và lâu đài cung điện, với những cái tên như là Đại Nội, Tử Cấm Thành, điện Thái Hòa. Huế nổi tiếng với những khu vườn sum suê hoa trái, các hào thành chung quanh, cung điện sơn son thếp vàng, những công trình bằng đá đẻo phức tạp, mỹ thuật. Ở bờ nam có viện Đại Học, tòa Hành Chánh xây theo kiểu Pháp, Câu Lạc Bộ Thể thao có nhiều bãi cỏ rộng chạy dài tới bờ sông, và hàng hiên xây theo kiểu 1930. Huế có những con đường hai bên là hai hàng cây xanh, có tiếng chuông chùa, những kiến trúc thanh nhã kiểu Pháp Việt, và các nữ sinh mặc áo dài trắng bay theo gió, có mái tóc đen như lụa. Theo huyền thoại Phật Giáo, Huế là đóa sen mọc trong bùn, Huế là thành phố đẹp, thanh bình trong một đất nước đang có chiến tranh.
&
Đại úy Coolican cao 6 fít rưởi, là một người to con, quê ở vùng than đá Carbondale, Pennsylvania và khi ở mặt trận, ông ta như cái tháp che khuất các người lính Việt Nam nhỏ con. Có một điều đáng để ý giữa họ với nhau là trong thời gian 9 tháng làm cố vấn cho Sư Đoàn 1 BB/ VNCH, ông ta trở thành người của họ. Ông ta nói tiếng Việt, mặc đồng phục của họ, ăn cơm Việt, và khi bệnh hay bị thương thì được y sĩ Việt Nam điều trị. Ông ta biết văn hóa của người Việt và nể tài chiến đấu của họ. Coolican yêu người miền Nam Việt Nam. Ông ta buồn bã nhận ra rằng ông là người thiểu số trong đám chiến hữu quanh ông. Nhìn chung, quân nhân Mỹ thường có cái nhìn chiếu cố đến người Việt, đặc biệt ở trong Quân Đội VNCH. Về phần Coolican, như tất cả các người Mỹ khác, cố gắng nhận xét mọi việc, mọi người, theo quan điểm của người Mỹ, chẳng biết gì về lịch sử và truyền thống người Việt Nam cả. Chẳng hạn như một anh lính Mỹ trẻ thường thấy người Việt Nam đưa tay lên thì cho rằng anh ta đang chiến đấu cho một đất nước đồi trụy, anh ta đâu có biết rằng lối đưa tay như thế là tỏ dấu bắt tay với người Mỹ. Hoặc như một lần Coolican chứng kiến, một đoàn xe Mỹ chạy ngang qua một làng quê, và thấy Nghĩa Quân rỗi rãi ngồi quanh với nhau tán chuyện gẫu, có người chẳng có súng ống gì cả, thì kết luận rằng người lính Việt Nam vô tích sự – và chưa bao giờ thấy Quân Đội VNCH đang hành quân. Cách nhìn như vậy hạn chế vì chưa từng trải kinh nghiệm, làm phiền Coolican không ít. Ông ta thấy người lính miền Nam hết sức can đảm, chiến đấu khéo léo, và luôn luôn sẵn sàng chống địch.
Đầu tiên là một cú sốc văn hóa có tác động đến ông ta. Trong một trận đánh từ nửa đêm tới sáng xảy ra phía nam Quảng Trị, khi ông ta còn ở Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 3; ông tiểu đoàn trưởng là một người can đảm và nổi tiếng giỏi, bị tử trận. Tới sáng, Coolican cho xếp thi hài những người tử trận bên đường chờ trực thăng tới bốc đi, thì ông ta bị kích động vì thấy lính tráng ngồi bên cạnh các xác chết một cách tỉnh bơ, ăn cơm, uống trà và nói đùa với nhau. Ông ta nói với một trong các sĩ quan trong tiểu đoàn rằng ông ta lấy làm lạ chẳng ai lưu tâm tới cái chết của cấp chỉ huy họ cả. Một người trả lời ông ta: “Dễ hiểu thôi, tại sao chúng tôi lại phải buồn. Ông ta là một người tốt, một người can đảm. Ông ta sống một đời tốt đẹp, chết một cách anh dũng thì gia đình ông ta phải tự hào chớ. Chết là số phận, ông ta thấy hạnh phúc cho số phận mình. Vì vậy, thay vì than khóc cho ông thìchúng tôi hân hạnh vì ông ấy.” Coolican cũng biết thêm rằng người Việt thường làm đám ma lớn để vinh danh cho người chết. Khi đánh nhau, người ta thường chuyển người chết đi sau khi cho tải thương những người bị thương nặng. Hoa Kỳ thì khác, người chết được chuyển đi sau cùng. Phải nhiều tháng ông ta mới quen cảnh sống như người Việt Nam. Họ có thể làm những điều khác ông, Coolican nghĩ vậy, nhưng cuối cùng thì cũng giống nhau cả vậy thôi.
Bởi vì hiểu được văn hóa Việt nên ông ta biết những ngày nghỉ Tết quan trọng đối với binh lính của ông như thế nào. Coolican, một người ngoại quốc, cảm thấy phải tham gia cùng với lính khi ngày lễ tết bắt đầu. Thấy có vài sĩ quan tham mưu, cố vấn và người lính truyền tin của toán Cố Vấn số 3 đang làm việc tại cơ quan MACV của đại tá Adkisson nên Coolican dự định vui tết với lính. Ông ta chào từ biệt các người trong nhóm rồi lên xe Jeep tới bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1/ BB.
Ông ta tính lái xe vô Thành Nội, đèn xe cắt một vệt sáng qua bóng đêm đen. Và Coolican dừng lại trước khi cho xe vượt qua chiếc cầu bắc ngang sông Hương (Cầu Trường Tiền – ngd). Coolican xuống xe, đứng yên lặng và nhìn quanh. Đêm thật đẹp và êm đềm, (trăng cao và sáng) (3). Cây bên bờ sông hiện thành bóng đen dài. Tuồng như chẳng có ai chung quanh.
Bên dưới cầu nước đen và lóng lánh, dưới ánh vàng của bóng trăng, sóng vỗ vào mạn thuyền bập bềnh dưới chân cầu. (4)
&
Phía hạ lưu, cách phía tây nam thành phố khoảng 4 cây số, trung úy Tân, một cấp chỉ huy Đại Đội Thám Báo của Sư Đoàn 1 đang ngồi với cố vấn của anh ta, một người thuộc Quân Đội Úc, WO2 Terry Egan và 36 binh lính. Họ đang ở gần bờ sông và theo dõi tình hình. Họ núp trong bóng đêm, chờ đợi và quan sát một cách lặng lẽ. Bất thần lúc 10 giờ đêm, súng nổ ở phía đông. Một đơn vị quân Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) tấn công một đại đội địa phương quân. Họ nghe hai bên bắn qua lại rồi thấy bóng người di chuyển trong hàng cây. Trung úy Tân và Egan gọi điện báo cáo vị trí, quân số và trang bị của địch cho bộ tham mưu của tướng Trưởng. Họ ngồi trong bóng đêm im lặng quan sát địch quân thấm nhập qua phòng tuyến của họ. Ít ra có khoảng hai đại đội địch đang hướng về Huế.
Một giờ bốn mươi phút sau khi trung úy Tân báo cáo tin tức địch về bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, vào lúc 3giờ 40 sáng ngày thứ Tư 31 tháng Giêng/1968, quân CSBV và Việt Cộng tấn công thành phố Huế. Hỏa tiển và súng cối từ những ngọn đồi ở phía tây bắn xuống thành phố. Hỏa châu bừng sáng chiếu lên các mái nhà. Bộ binh CSBV tiến theo sau, vượt qua các cây cầu và tiến vào thành phố. Bên trong, một số Cộng quân thâm nhập vào trước bằng các phương tiện vận chuyển dân sự, nay thay quần áo binh lính, lấy súng cũng như tiếp liệu đạn dược, được bí mật chuyển vào thành phố từ trước.
Tại MACV ở bờ nam sông Hương, quân địch chỉ mới tấn công cửa chính. Một phi công vừa mới thực hiện chuyến bay quan sát về, đáp xuống phi trường trong Thành Nội (người Huế gọi là phi trường Tây Lộc hay phi trường Thành Nội – ngd) lái xe về tới cổng thì bị quân CSBV bắn. Khoảng một chục hỏa tiễn 122 ly từ trong bóng tối rít lên, bay vào, đào thành những cái hố sâu khoảng 8 bộ, một trái đạn phá một lỗ trên mái tòa nhà Trung Tâm Hành Quân (TOC), giết và làm bị thương mấy người bên trong, trong khi một trái khác thì phá hỏng một chiếc xe Jeep. Nhiều trái khác thì may mắn vì hỏa tiển bay quá hay không tới mục tiêu. Ngay những trái nổ đầu tiên, binh lính trong doanh trại đã ra ngay tuyến phòng thủ.
Hỏa tiễn ngưng rót vào. Vì một vài lý do nào đó, có một khoảng thời gian chừng 5 phút yên lặng trước khi quân CSBV tấn công. Năm phút nầy đủ cho binh sĩ chụp lấy súng đạn và chiếm vị trí của họ dọc theo bờ tường. Khoảng bốn chục lính CSBV từ những tòa nhà chung quanh MACV nổ súng dữ dội. Họ ôm theo chất nổ chạy tới các bức tường bao quanh MACV. Một anh binh nhì trẻ người Mỹ đứng trên tháp canh cao làm bằng gỗ nã súng máy vào chỗ các bức tường bị sập. Anh ta hạ khoảng năm sáu lính CSBV và làm cho cuộc tấn công chậm lại khoảng 5 phút. Rồi B-40 và lựu đạn bắn vào tháp canh. Bị thương nặng ở chân, anh ta la cầu cứu. Coolican bò tới chỗ tháp, dưới hỏa lực của địch, đem anh binh nhì xuống được.
Một trung đội CSBV tiếp tục tấn công, chiếm được cổng chính. Các TQLC (thuộc đơn vị an ninh ở Đà-Nẵng) tăng cường cho toán công sự giữ cổng chính, chận đứng được sức tấn công của địch mấy phút trước khi họ bị bắn bằng một quả B-40. Súng ở phía bờ tường bắn vào dữ dội. Coolican cùng binh lính núp sau chướng ngại bắn trả bằng cả súng M-79.
Việc anh binh nhì trên tháp canh và toán công sự phía cổng chính chặn được địch mấy phút đã giúp thiếu tá TQLC Frank Breth và người ở cùng phòng thuộc quân đội Úc lên được trên tầng lầu chót. Họ mang theo súng và lựu đạn. Breth bị thương – trái hỏa tiển bắn trúng xe Jeep, làm sập mái nhà, rơi trúng đầu ông ta khi đang ngủ, thủng một chỗ trên trán, nhưng ông ta kịp thời băng bó và bây giờ đã sẵn sàng đánh trả. Phía dưới đường, cách khoảng 40 bộ, ông ta thấy mấy lính CSBV còn sống – Họ có khoảng 16 người – cố gắng vượt qua cổng chính. Bọn họ mang chất nổ. Breth đảm trách chức vụ sĩ quan liên lạc tại MACV giữa Sư Đoàn TQLC Mỹ và Sư Đoàn 1 BB/VNCH, nhưng trước đó, ông ta phục vụ tại Cồn Tiên và bị thương khi làm đại đội trưởng nên có nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Trong ánh sáng mờ mờ ông ta dùng M-16 quét sạch người lính CSBV nào vượt qua khỏi cổng chính, trong khi đồng đội của ông thì quăng hết trái lựu đạn nầy đến trái lựu đạn khác. Bên dưới xác địch trải dài ra từ cổng chính vào tới bên trong.
Địch chấm dứt cuộc tấn công bộ.
Quân CSBV chiếm các ngôi nhà chung quanh MACV, đặt súng máy tại các cửa sổ, bắn vào dữ dội. Hỏa tiển B-40 và súng cối cũng được xử dụng mạnh mẽ.
MACV không phải là một doanh trại, không trang bị vũ khí. Bên cạnh người Mỹ có một nhóm sĩ quan Úc chiến đấu giỏi. Họ có trữ vũ khí và đạn dược cho các cuộc hành quân dã ngoại. Nhờ vậy, mọi người được trang bị đầy đủ và sẵn sàng. Họ nghe súng nổ mọi phía nhưng quân CSBV không mở cuộc tấn công trực tiếp vào MACV nữa. Đại úy Coolican chẳng có cách nào trở về ngay tức khắc bên bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 BB/ VNCH ở trong Thành Nội. Ông ta chứng tỏ là một người chủ biết tổ chức an ninh cho doanh trại. Ông ta thu gom binh lính rải rác lại, và với sự trợ giúp của trung úy Steve Lampo, TQLC/ Hoa Kỳ, và trung úy Fred Drew, quân đội Mỹ, họ chia ra canh gác, tuần phòng và chuyển thương binh vào trạm xá.
Đại úy bác sĩ Stephen Bernie đóng ngay trong MACV, đang làm việc hết sức căng thẳng. Cần phải chuyển những người bị thương nặng tới một nơi có trang bị đầy đủ dụng cụ y khoa hơn. Có một trung tâm truyền tin dưới đường phố, cách MACV một lô nhà, không hiểu sao địch không chiếm nơi nầy. Do đó, việc liên lạc với bên ngoài vẫn còn tiếp tục. Yêu cầu cho trực thăng di tản thương binh được gởi ngay cho Bộ Chỉ Huy Cố Vấn Quân Đoàn 1 ở Đà-Nẵng, qua lực lượng đổ bộ TQLC III và Sư Đoàn 1 TQLC. Kết quả lời yêu cầu phải gởi quanh co như thế là: Chẳng có kết quả nào. Binh lính trong MACV cũng yêu cầu tiếp viện ngay tức khắc. Họ đang bị cô lập và khả năng liên lạc với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 BB/ VNCH cũng bị cắt nên họ không rõ những gì đang xảy ra trong Thành Nội. Kết quả lời yêu cầu của họ là chỉ có một ít tin tức tình báo. Họ không biết địch tấn công toàn quốc vào dịp Tết, ngay họ cũng không biết toàn bộ thành phố Huế bị địch chiếm hoặc họ biết cuộc tấn công nầy dữ dội nhưng hạn chế. Họ không biết như thế thật, nhưng hầu hết mọi nơi trong thành phố, quân CSBV và Việt Cọng muốn đi đâu thì đi, vượt qua các xác chết của binh lính VNCH, và bắt đầu đào hầm hố, thiết trí súng máy và súng cối trong nhà dân. Tất cả mọi người dân Huế đều ở trong nhà, đóng kín cửa, bối rối và lo lắng. Trên bức trường thành trong Đại Nội, bên bờ sông Hương, một lá cờ xanh đỏ vàng của Việt Cọng treo trên cột cờ Ngọ Môn.
Chỉ trong mấy tiếng đồng hồ, địch chiếm được thành phố.
&
Hạ sĩ Carter đang ở trong hố cá nhân thì bị đánh thức dậy. Một người nói: “Tụimình có lệnh báo động trăm phần trăm.” Carter ngồi dậy, cằn nhằn: “Mày chẳng nể gì tao. Tao mới ngủ một chút.”
Người tiểu đội trưởng cho biết bọn “Cùi” tấn công mọi chỗ. Có tin đồn Huế đã mất. Từ vị trí đại đội trên đỉnh đồi, Carter nhìn chăm chăm xuống thung lũng. Anh ta thấy nhiều vệt xanh đỏ nổ lốp bốp tới lui nơi đơn vị hỗn hợp Việt Mỹ đang trấn giữ một ngôi làng. Xa hơn nữa, anh ta có thấy các đốm lửa lòe sáng lên: Căn Cứ Phú Bài đang bị pháo kích bằng hỏa tiển.
Anh ta nghĩ: Ngày Tết thiêng liêng cái xái bò gì.
&
Bộ Chỉ Huy chính ở căn cứ Phú Bài là Lực Lượng Đặc Nhiệm (LLĐN) X-Ray, được gọi một cách chính thức hơn là Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Sư Đoàn 1/ TQLC. Bộ Chỉ huy nầy được thành lập hôm 13 tháng Giêng vì trách nhiệm khu chiến thuật của Sư Đoàn được mở rộng, từ nam Đà-Nẵng tới gần bắc Huế. X-Ray chịu trách nhiệm khu vực từ đèo Hải Vân tới biên giới phía bắc của TAOR (Tactical Area Of Responsibility), có nhiệm vụ bảo vệ căn cứ Phú Bài, kiểm soát khu phía tây Huế và bảo vệ Quốc Lộ 1 từ đèo Hải Vân cho tới Huế. Đơn vị của các sư đoàn đã di chuyển vào khu vực, giải nhiệm cho các đơn vị của Sư Đoàn 3/ TQLC để các đơn vị nầy chuyển ra khu chiến thuật nằm phía nam Khu Phi Quân sự. Trên thực tế, Bộ Chỉ Huy Lực Lượng Đặc nhiệm X-Ray đảm nhiệm khoảng trống do Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3/ TQLC di chuyển để lại.
Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm là tướng Foster C. LaHue, phụ tá Tư lệnh Sư đoàn 1/ TQLC. Ông ta là một cựu chiến binh Thế Chiến Thứ Hai được thưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Bạc và Chiến Thương Bội Tinh. Tại Phú Bài, ông ta là cấp chỉ huy của hai trung đoàn 1 và 5/ TQLC, bốn tiểu đoàn bộ binh, toàn bộ các đơn vị yểm trợ gồm thiết giáp, pháo binh, quân vận, công binh và quân y. Tướng LaHue được đặt dưới quyền chỉ huy của Sư Đoàn (tướng Donn J. Robertson), Lực Lượng Đổ Bộ TQLC III (tướng Robert E. Cushman), toàn bộ khu vực hành quân, Quân đoàn I, dưới quyền kiểm soát của Nam Việt Nam đặt ở Đà-Nẵng: Trung tướng Hoàng Xuân Lãm. Tại Phú Bài, sáng ngày 31 tháng Giêng, tin điện báo cáo được tới tấp đưa vào trình ở Bộ Chỉ Huy của tướng LaHue. Hoạt động của địch được Khu Chiến Thuật báo cáo: Các làng mạc đều bị tấn công, địch đánh phá các cầu trên Quốc Lộ 1, các vị trí của TQLC bị pháo bằng súng cối, các đơn vị hỗn hợp Việt-Mỹ bị địch quấy rối, tin tình báo cho biết địch sẽ tấn công thêm vài nơi và các đơn vị TQLC dưới quyền chỉ huy của tướng LaHue đang gặp đe dọa, nhưng không ai nắm chắc mục tiêu và cường độ tấn công của Cộng Sản. Chỉ là mới bắt đầu cuộc tấn công toàn diện vào dịp Tết, cùng một lúc, địch xuất hiện khắp nơi. Và người ta cũng đồn thành phố Huế bị bỏ ngõ. Lời kêu cứu xin tiếp viện của MACV đi lòng vòng tới Quân đoàn I, sau khi qua các đơn vị hữu trách, cuối cùng tới X-Ray. Khi bức điện kêu cứu đó tới tay tướng LaHue thì hình hình đã khác đi nhiều và cũng không biết chắc tình hình ở Huế lúc đó như thế nào nữa.
Lệnh từ Lực Lượng Đổ Bộ III yêu cầu gởi binh sĩ tăng cường Huế, nhưng tướng LaHue chỉ gởi một đại đội có thể sẵn sàng tiếp viện cho Huế mà thôi.
Chẳng ai biết hành động bằng cách nào. Nhưng phía địch ở Huế thì đã tập trung các tiểu đoàn 804, K4B, và K4C của trung đoàn 4 CSBV, các Tiểu đoàn 800 và 802, 806 của Trung Đoàn 6/ CSBV, Tiểu đoàn 810 độc lập của CSBV, Tiểu đoàn 12 và Tiểu đoàn đặc công Cổ-Bi. Đó là một lực lượng cở sư đoàn, kiểm soát mọi nơi trong thành phố, ngoại trừ MACV và Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1/ BB.
Lực lượng chống Cộng Sản gồm có Đại Đội A của Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 1, Sư Đoàn 1/ TQLC. Họ tiến thẳng trên Quốc Lộ 1, con đường được đặt tên là “dãy phố buồn thiu” (5) vì nhiều người Pháp đã bỏ mình ở đây trong nhiều năm trước.
Alpha 1/ 1 là đơn vị được trang bị đầy đủ mà phần lớn là nhờ ông đại đội trưởng, đại úy Gordon D. Batcheller, một người to cao, khiêm tốn, thông minh và nghiêm nghị, mà vì khí hậu Việt Nam khó chịu vì ẩm ướt, nên ông ta cạo đầu trọc lóc.
Hai mươi tám tuổi, đại úy Batcheller sinh ở Boston, con thứ hai trong một gia đình có ba người con trai của một đô đốc hải quân. Khi còn trẻ, anh ta chẳng ưa đời lính vì hay di chuyển, phân ly, chẳng bao giờ quan tâm một cách nghiêm trang về việc thi hành quân dịch. Nhưng khi học tại trường đại học Princeton, anh ta được tiếng là người chơi banh bầu dục giỏi, và người ta bảo anh ta phải làm gì cho quê hương. Do đó, anh theo học trường đào tạo sĩ quan TQLC. Anh ta chỉ muốn phục vụ trong binh chủng nầy mà thôi, nhưng vì bị thương ở đầu gối nên không được nhận. Anh ta vội vàng bỏ ý định đăng lính. Nhưng khi học năm thứ nhất ở đại học, lương tâm anh ta lại thúc hối. Năm 1960, anh qua được việc khám sức khỏe, rồi tốt nghiệp sĩ quan. Sau hai năm mang lon trung úy, anh ta muốn mở rộng binh nghiệp.
Lần đầu tiên khi TQLC đổ bộ ở Đà Nẵng, Batcheller muốn trao nhiệm vụ ngay. Phải chờ hai năm, tới tháng Tám/ 1967, anh ta nhận lệnh lên đường đi Việt Nam, chào giã từ vợ con ra chiến trường. Anh ta rời nhiệm vụ tham mưu, sĩ quan tình báo đơn vị 1/ 1, một công việc bực bội, tìm chức vụ đại đội trưởng đại đội vũ khí nhẹ. Cuối cùng, vào dịp lễ Giáng sinh/ 1967, anh ta làm đại đội trưởng Đại Đội Alpha. Anh ta gọi đùa đó là món quà lớn lễ Giáng sinh.
Batcheller đang ngủ trong cái bạt vải tại căn cứ Phú Bài thì bị đánh thức dậy, có lệnh tập trung đại đội. Anh ta chẳng nhận được tin tức gì rõ ràng, chỉ bị đánh thức dậy mà thôi và nhiệm vụ là phối hợp với một đơn vị Quân Đội/ VNCH đóng ở bên ngoài căn cứ.
Anh ta gặp trở ngại là thiếu tin tình báo, đại đội thiếu quân số trầm trọng. Sĩ quan thì được luân phiên nghỉ ba ngày, trung đội trưởng trung đội 3 thì đang thụ huấn ở Đà-Nẵng. Trước đó mấy giờ, đại đội được trực thăng bốc từ Quảng Trị về (Một phần tiểu đoàn đặt dưới quyền kiểm soát của X-Ray), một chiếc trực thăng bốc lộn phần còn lại của trung đội 1 và hai ông thiếu úy và trung úy trung đội bị kẹt lại Quảng-Trị. Sáng hôm 31 tháng Giêng đó, Batcheller chỉ còn lại có trung sĩ J.L. Canley, pháo thủ đại đội, giọng nói rề rề, da đen, to con và nổi tiếng gan cùng mình; hiệu thính viên, hạ sĩ Larry Williams, trẻ, tóc vàng trông như thằng bé con, gốc California; còn lại đây nữa là trung đội 1 do trung sĩ C.D. Godfrey chỉ huy; trung đội 2 do hạ sĩ Bill Jackson quyền chỉ huy, anh nầy quê ở thành phố Nữu Ước, gan lì, 19 tuổi, phục vụ ở trung đội 6 tháng, có Chiến Thương Bội Tinh trong trận Cồn Tiên. Chỉ huy trung đội 3 là là trung sĩ Alfredo Gonzalez vì sĩ quan vắng mặt. Anh nầy ít nói, 21 tuổi, gốc Mexicô, quê ở thành phố biên giới Edinburg, tiểu bang Texas.
Batcheller tin tưởng những người nầy, họ là những TQLC đánh giặc giỏi.
Batcheller và các trung đội thiếu quân số nói trên lên mấy chiếc xe GMC ở Đại Đội C, Tiểu Đoàn Quân Vận 1 do trung úy Jerome Nadolski chỉ huy. Một xe GMC trí súng đại liên 50 đi đầu, một chiếc khác đi sau, giữ an ninh mặt hậu. Sau khi có hiệu lệnh, đoàn xe hướng về phía nam, bên ngoài thành phố Huế, tới điểm hẹn với đơn vị Quân đội VNCH. Trời sáng sớm, xám xịt và lạnh. Ai cũng khó chịu vì không biết điều gì sẽ xảy ra. Sau gần hai giờ đồng hồ, họ tới điểm hẹn. Đoàn xe dừng lại, chờ đơn vị Quân đội VNCH tới tăng cường, nhưng toán quân nầy chẳng bao giờ xuất hiện.
Đại úy Batcheller báo cáo về Phú Bài. Lệnh được thay đổi. Cho đoàn xe chạy vòng quanh, theo Quốc Lộ 1, gặp một đơn vị VNCH khác ở phía bắc Huế. Batcheller xem lại bản đồ. Đơn vị anh ta đã đi được một nửa đường. Đồng thời, khi họ đang di chuyển sát phía nam thành phố thì gặp một toán khác đang trên đường đi: 4 Chiến xa M-48 của Chi Đoàn 3 Chiến Xa, thuộc Sư Đoàn 3/ TQLC, một xe Jeep, và một xe cần trục do trung tá Edward J. LaMontagne, sĩ quan Sư Đoàn 3/ TQLC chỉ huy. Ông nầy đang thực hiện chuyến đi thường lệ trên Quốc Lộ 1, hộ tống cho đơn vị Hải Quân ở mặt Nam đặc trách vận chuyển tiếp liệu cho sư đoàn của ông ta ở Khu Phi Quân Sự. Tuy nhiên, tới gần sông đào Phú Cam (sông An Cựu), họ thấy một khung cảnh ngạc nhiên. Vài chiến xa của QĐ/ VNCH bị cháy, xác binh lính nằm bên cạnh. LaMontagne là một người thô kệch, có 3 năm kinh nghiệm đảm trách nhiệm vụ quân y cho Hải Quân và cố vấn cho TQLC/ VNCH. Ông ta vội tổ chức lại lực lượng để ứng phó với tình hình. Gặp Đại Đội Alpha là một ngẫu nhiên, cả hai kết hợp với nhau và tiếp tục lộ trình.
Batcheller lại nhận được lệnh mới: Tới giải cứu cho MACV đóng ở trong thành phố Huế. LaMontagne ra lệnh cho đoàn xe tiến nhanh hơn. Đoàn xe chạy bọc theo một làng ở phía nam, bất thần bị bắn sẻ. Ngay lần chạm súng đầu tiên nầy, vài TQLC Mỹ bị thương. Quân Mỹ bắn trả dữ dội vào các ngôi nhà và bụi cây hai bên đường trong khi chiến xa và xe GMC tiếp tục di chuyển. Một lúc sau đoàn xe vượt qua cầu An Cựu trên sông đào Phú Cam (sông An Cựu). Mặt cầu bị mấy lỗ hủng lớn do địch cố phá sập cầu nhưng không thành công. Nếu cầu sập, Cọng Sản sẽ cầm chân được lực lượng Mỹ ở Phú Cam vì phải chờ mới qua sông được thì MACV có thể bị đánh chiếm. Quân CSBV đã thất bại. TQLC Mỹ vượt sông An Cựu không có gì khó khăn. Batcheller ra lệnh dừng quân bên bờ sông. Trước mặt là con đường chạy giữa hai dãy phố (An Cựu), làm cho Batcheller nhớ tới một thành phố kiểu Châu Âu cổ: Những căn nhà gỗ hai tầng, nhà sát cạnh nhau, thiếu cả hè phố.
Đường sá lặng im.
Batcheller ra lệnh cho binh lính rời xe GMC leo lên xe tăng. Còn anh ta và hiệu thính viên, hạ sĩ Williams thì rời xe jeep leo lên pháo tháp chiếc chiến xa đi đầu. Anh ta ra lệnh: Đi. Chiếc xe tăng cuốn bụi lên mù mịt, tiếng máy xe gầm rú dữ dội. Để đề phòng, mọi người nã đạn vào các ngôi nhà hai bên đường.
Bất thần họ bị bắn trả.
Không biết hỏa tiển B-40 từ đâu bắn ra. Chiếc xe tăng của Batcheller bị giật mấy lần. Có tiếng nổ khác và súng AK-47 từ trong các ngôi nhà hai bên đường bắn ra. Tài xế xe tăng cố cho xe vượt nhanh tối đa. Cuối cùng chiếc xe thoát ra khỏi hai dãy nhà cay nghiệt và dừng lại tại bùng binh ở ngã tư đường, bên trái là cây xăng. TQLC đưa mấy người bị thương xuống núp dưới đường mương bên cạnh. Batcheller sợ anh ta bị thủng màng nhĩ vì tiếng nổ B-40 và bị mấy mảnh đạn nhỏ. Bấy giờ, anh ta bất thần nhận ra hạ sĩ Williams đâu mất tiêu. Có lẽ trái hỏa tiễn đẩy anh ta văng khỏi chiếc xe tăng. Anh ta thấy y tá, một người quê ở New-York, có biệt danh là Bác sĩ Brooklyn nằm bất động bên pháo tháp. Chân anh ta từ đầu gối trở xuống bay mất. Chỉ có một chút máu, Batcheller nhìn chằm chằm hai chân anh ta, bị cắt gọn như một miếng dồi. Brooklyn đã chết.
Sau lưng anh ta, trên đường phố súng vẫn nổ dữ dội. Mấy chiếc xe tăng vừa cố bắn trả vừa cố vượt qua hai dãy phố, tiếp tục bảo vệ thương binh.
Hạ sĩ Jackson nhảy xuống đường, gục đầu xuống đường mương. Chúa ơi! Chúa ơi! Thiệt là tệ. Anh ta thấy lính CSBV núp trên mái nhà, trong các cửa sổ, phóng như tên bắn trong các đường hẽm, nổ súng lia lịa. Các TQLC cũng bắn lại một cách điên cuồng. Người dân kẹt giữa hai lằn đạn.
Bất thần, Jackson thấy trung sĩ Gonzalez xông tới phía anh ta, máu chảy vì bị thương nhưng vẫn còn kéo theo che cho một TQLC khác. Jackson nhìn người lính đó. Té ra Williams, hiệu thính viên. Hai chân anh ta đầy máu. Y tá vội băng cho anh ta. Súng vẫn nổ, cỡ vài phút. Rồi xe tăng lại di chuyển về phía trước, lính núp phía sau xe, vừa đi vừa bắn, kéo các thương binh theo. Quân Bắc Việt bắn lộp độp chung quanh.
Cuối cùng họ tới được chỗ bùng binh An Cựu, có Batcheller ở đó.
Trước mặt họ là các đám ruộng lúa kéo dài ra, tới chỗ có hàng cây và mấy ngôi nhà. Con đường trước mặt cao hơn và cắt ngang đám ruộng. Có hai căn nhà lớn ở hai bên đường. Từ hai căn nhà nầy, súng máy bắn ra tạch tạch. Vài trái súng cối nổ quanh đám TQLC. Đại úy Batcheller và trung tá LaMontagne ra lệnh bắn trả. Đại bác 90 ly trên xe tăng và đại liên 50 bắn xối xả, vỏ đạn rơi leng keng xuống mặt đường. Súng của quân CSBV cứ tiếp tục nổ. TQLC tiếp tục bắn M-16 vào vị trí địch.
Con đường đi tới MACV còn xa, xe tăng tiếp tục tiến tới, bộ binh theo sau. Cây cối và cột điện thoại đổ ngang xuống đường, bị lá cây che khuất. Batcheller lom khom chạy theo sau chiếc xe tăng dẫn đầu. Anh ta chẳng liên lạc được với ai cả. Máy truyền tin bị nhiễu vì nhiều tiếng nói Việt Nam. Anh ta cũng chẳng biết đó là tiếng của quân Bắc hay Nam VN hoặc cả hai. Chung quanh anh ta, TQLC đang nã đạn vào các tòa nhà hai bên đường, vữa và bụi tung lên.
Họ giết hết mấy người lính CSBV trong hai tòa nhà, nhưng khi họ vượt qua hai ngôi nhà nầy thì súng máy lại nổ. Một lính Hải Quân và mấy người lính bị thương nằm dài trên đường. Batcheller trụ lại đằng sau xe tăng và cố kéo họ lui. Súng máy lại nổ. Người lính bị thương vuột khỏi tay Batcheller, chết vì một tiếng nổ. Bỗng Batcheller vướng cái ấm nấu nước, té mạnh xuống phía trái, vướng vào cuộn kẽm gai concertina.
Anh ta nhìn quanh, có mấy cái lỗ ở cánh tay phải trước, đùi phải và đầu gối trái. Máu thấm qua chiếc áo giáp. Anh ta nghĩ chắc là xuất huyết cho tới chết. Anh ta nghe tiếng súng nổ mau, tiếng la to gọi TQLC trở lui. Anh ta nằm đó, kẹt trong đám kẽm gai, nhìn qua các cành cây trên đầu. Anh ta thấy buổi sáng sớm trở nên u ám và mây che mất bầu trời xanh trong.
Batcheller bắt đầu cầu nguyện.
Khoảng trưa hôm đó, tin Đại Đội Alpha bị tấn công thiệt hại nặng về tới Phú Bài. Trung tá Marcus J. Gravel, tiểu đoàn trưởng 1/1 vội vàng tổ chức lực lượng phản công gồm có: Ông ta, thiếu tá Walter M. Murphy, sĩ quan hành quân, một vài người khác thuộc Đại Đội Chỉ Huy và Đại Đội 2/ 5.
Trung úy Richard Lyons, thuộc Hải Quân, sĩ quan tuyên úy 1/ 1 mới đi thăm thương binh của đại đội hiện điều trị tại Đà-Nẵng về, vừa bước ra khỏi sân bay trực thăng thì chiếc xe Jeep trờ tới. Ngồi trên xe là mấy TQLC, gồm cả Gravel và Murphy. Trung tá Gravel gọi anh ông ta: “Có muốn đi Huế đánh nhau trên đường phố không?” Lyons, ở Việt Nam đã gần một năm nay, nổi tiếng là một sĩ quan tuyên úy dã chiến tốt bụng, – Ngay cả khi ông ta cầm súng bắn che để di tản thương binh – leo lên xe Jeep. Xe lái tới khu Đại Đội 2/ 5 đang được lệnh tập trung. Gravel thiếu cả thì giờ để lập kế hoạch cho lực lượng phản công của ông. Chỉ vừa la to: “Lên xe”. Xong, đoàn xe hướng ra Quốc Lộ 1.
Qua cầu An-Cựu đã bị hỏng, họ chạy vào chỗ các chiến xa, xe GMC đang dồn lại và Đại Đội Alpha đang bị cầm chân. Do lệnh của Gravel, binh lính nhảy xuống xe và tiến tới. Lyons nhìn qua bên phải thấy xác mấy người dân thường nằm bên đường. Trong số có xác một người đàn bà chết đã cứng, hai tay đưa lên trời. Lyons nghĩ: Thật kinh hoàng. Rồi ông ta quên hết cả nóng và khát nước.
Xa hơn một chút, ở phía trước, mấy TQLC đang phòng thủ trên đường phố. Tuyên úy Lyons tiếp tục bò tới phía trước cùng mấy TQLC, tụm với nhau, nằm sát lề đường. Phía bên trái, ông ta thấy bóng một người bạn đang nằm cứng đơ: đại úy Batcheller. Giữa Batcheller và Lyons là 2 xác chết. Ông ta bò sát mặt đường đầy bụi và lá khô, làm dấu thánh giá lần chót cho hai người chết nầy. Bò tới gần hơn chút nữa, ông ta thấy Batcheller rõ hơn: bị thương nặng, trông gần chết. Điên tiết lên, Lyons cầm cây M-16 ria một tràng vào hàng cây bên phía ruộng lúa.
Lyons nghe Batcheller bảo ngưng bắn, làm thế chỉ tổ cho địch bắn lại như mưa mà thôi. Batcheller la to bảo Lyons bò lui.
Phía sau họ, chiếc xe Jeep của đại đội đang chồm lên. Người lái xe là đại úy Don Schultz, cho xe dừng lại để chuyển người bị thương đi. – Chiếc xe trở thành một mục tiêu ngon lành cho địch. Trung tá Gravel cố giải quyết tình hình thật nhanh: Trung sĩ của Trung Đội 1 bị thương ở chân. Gunny Canley trong ban chỉ huy đại đội, anh nầy vẫn còn tự đi được. Phía trước địch còn bắn liên tục. Điều nầy cũng không lạ. Canley là một trung sĩ nổi tiếng trong đại đội. Các TQLC cố kéo người bị thương về phía lực lượng cứu viện. Batcheller được mang tới bên kia đường, sau chiếc xe jeep. Hạ sĩ Jackson và mấy người khác cố bó cái chân gãy của cấp chỉ huy họ bằng cái cán xuổng và băng.
Đại úy Batcheller, trung sĩ Godfrey, hạ sĩ Williams và một số người khác cần di tản gấp. Gravel cúi xuống xem những người bị thương và quyết định chuyển họ lên xe GMC nhưng không cho ai hộ tống. Điều đó hết sức nguy hiểm nhưng chẳng còn cách nào khác. Ông ta không thể chia người để lo công việc nầy. TQLC vội chuyển người bị thương lên xe. Một anh lính nhảy lên ca-bin để lái nhưng bị bắn té xuống, bị thương ở mắt cá. Anh ta được chăm sóc qua loa rồi đưa vào nằm chung với mấy người bị thương trong thùng xe. Có người hỏi to: “Có ai lái xe không?” Một TQLC nhảy lên cầm tay lái. Trong cảnh đạn bay vèo vèo, chiếc xe dọt đi. Gravel, Jakson và những người còn lại chăm chú nhìn theo chiếc xe. Chẳng mấy chốc chiếc xe biến mất.
Khoảng gần tối thì chiếc xe chở đầy thương binh về tới Tiểu Đoàn Quân Y ở Phú Bài. Sau khi giải phẩu, đại úy Batcheller được chuyển vào phòng dưỡng bệnh, hạ sĩ hiệu thính viên nằm giường kế, mê man. Dưới tấm ra, chỗ cái chân hỏm sâu một khoảng. Batcheller khâm phục anh chàng trẻ nầy, anh ta cao to, đẹp trai và chơi thể thao giỏi. Hơn thế nữa, anh ta là một người trẻ, vào quân đội không phải vì bị động viên, hay muốn làm người hùng. Chẳng qua anh ta thấy mình có trách nhiệm với đất nước, không thể sống an nhàn nơi quê nhà trong khi bao nhiêu người trẻ khác đang chiến đấu và hy sinh bên kia nửa vòng địa cầu. Batcheller nghĩ: Larry đúng là một thanh niên hoàn hảo.
Ngay tối hôm đó, hạ sĩ Larry Williams qua đời ngay trên cái giường ấy trong bệnh viện dã chiến. Batcheller nhìn người ta kéo tấm ra lên phủ mặt Larry.
Từ phía hai bên hông, quân CSBC bắn như mưa. Hạ sĩ Jackson và hai TQLC khác đứng dậy chạy ra khỏi con đường lộ. Họ chạy lom khom dọc theo các bụi cây và xóm nhà lá rồi ẩn núp. Từ một căn nhà đúc, một tràng AK-47 bắn ra. Ba người lính TQLC bắn trả bằng M-16 rồi xông về hướng địch. Họ vụt lựu đạn, cánh của lớn bung ra. Họ phóng qua cửa trước khi địch chưa có phản ứng kịp thời. Hai lính CSBC đang núp bên trong chưa kịp kinh hoàng vì tiếng nổ thì chết ngay tức khắc.
Trước toán lính TQLC, trung tá LaMontagne nhận lãnh nhiệm vụ. Ông ta mới vượt qua một chiếc xe tăng của quân đội VNCH, họ thấy những người lính sống sót của đơn vị mới bị đánh tan nầy ở Phú Cam và bây giờ sát nhập với toán TQLC. Súng vẫn tiếp tục nổ, cày nát khu vực đang chiến đấu. TQLC núp sát vào lề đường. LaMontagne kéo theo mấy TQLC và hai chiếc xe tăng chạy băng qua cánh đồng về hướng MACV.
Bên trong MACV, người ta nghe súng nổ dữ dội phía còn đang đánh nhau. Rồi có tiếng xe tăng. Mấy người lính la lên mừng rỡ: Tuyệt diệu! Quân cứu viện tới.
Thiếu tá Breth thấy bóng người đi vào cổng chính và nhận ra đó là LaMontagne: thấp, lùn, và chưa bao giờ trông có vẽ xấu xí như vậy, miệng ngậm điếu xì-gà bự, hai chiếc xe tăng hai bên. Breth la to trong khi binh lính hoan hô: “Nhìn kìa. TQLC”.
LaMontagne vào cổng chính và cho biết ông ta cần giúp đỡ. Trước hết, Breth chỉ vào vị trí quân CSBV, ngay bên kia đường. Xe tăng nã đạn vào đó. Xong, họ tổ chức lại binh lính để giải cứu đơn vị 1/ 1 đang kẹt trên đường. Thiếu tá Breth và thiếu tá Wayne R. Swenson, sĩ quan liên lạc Lực Lượng Đặc Nhiệm (LLDN) X-Ray với Sư Đoàn 1BB/ VNCH tổ chức một nhóm gồm các binh sĩ tình nguyện, leo lên một chiếc xe tải dân sự. Đại úy Coolican và trung úy Lampo gom một toán khác leo lên đầy một chiếc GMC chuẩn bị tiến ra. Đại tá Adkisson yêu cầu họ ở lại doanh trại nhưng họ không nghe và hai chiếc xe tải dọt ra đường. Một chiến xa theo sau. Nhưng họ lại phải ngừng vì xe không vượt qua đám ruộng được nên phải nổ súng bắn chặn để phòng thủ.
Họ tiếp xúc với binh sĩ Đại Đội Alpha. LaMontagne ra lệnh di tản thương binh. Ông ta cùng Breth và Sewnson đang chỉ chỏ ra lệnh thì bất thần một loạt đạn bay tới làm ông ta hạ tay xuống tức khắc.
Cuối cùng những người bị thương được đưa lên xe tải, xe chạy về hướng MACV.
Trên đường, ở phía cuối toán lính 1/ 1, trung tá Gravel và thiếu tá Murphy đang tìm cách tiến tới. Gravel bỏ lại xe Jeep trên đường và ra lệnh cho Lyons ở lại với Ban Chỉ huy. Viên sĩ quan tuyên úy miễn cưỡng ở lại với họ. Lyons cho rằng Gravel là một cấp chỉ huy giỏi, đang gặp tình trạng hết sức nguy hiểm. Ông ta không ích kỷ, hoàn toàn quan tâm tới binh sĩ của mình. Ông ta đang ở với mấy người lính TQLC, hiệu thính viên bên cạnh, cần ăng-ten lắc lư phía trên; cảnh ấy không khác chi phất ngọn cờ đỏ trước con bò mộng. Lyons cố bò xa ra.
Đại đội Golf do đại úy Charle Meadows chỉ huy tiến lên trước, Đại Đội Alpha bị tổn thất nặng tiến theo sau. Họ dàn ra hai bên đường, cố nhìn cho rõ, canh chừng địch, thỉnh thoảng nổ súng đề phòng. Bất thần, một toán lính CSBV nổ súng từ phía trước, bên trái, rồi chúng bắt đầu chạy lui, từ nhà nầy qua nhà khác mà có lẽ chỗ đó là một ngôi trường.
Gravel lấy làm lạ. Sáu tháng ở Việt Nam và đây là lần đầu tiên ông ta thấy địch đang hoạt động.
Bồn chồn muốn tới MACV và không biết có gì trong những căn nhà ấy, ông ta ra lệnh cho binh sĩ tiếp tục đi mà không cần tấn công quân CSBV quanh ngôi trường. Khoảng vài trăm mét phía trước là một ngã tư. Quân CSBV đang trí một cây súng máy ở bên mặt và đang bắn vào TQLC đang núp sau xe tăng. Gravel thấy trung sĩ Gonzalez, trung đội trưởng Trung đội 1, đang bị thương, từ phía sau xe tăng phóng ra lề đường, bò dọc theo đường mương lên phía trước, vụt mấy trái lựu đạn, nổ ngay trên đầu ổ súng máy.
Khẩu súng máy im tiếng. Binh lính tiếp tục tiến tới.
Gravel nhìn lui con đường mới đi qua, thấy chiếc xe Jeep vẫn còn đó và sực nhớ ra rằng quân CSBV có thể lấy máy truyền tin trên xe. Ông ra lệnh cho một trong những người chỉ huy xe tăng nã vào chiếc xe Jeep một phát đạn. Chiếc xe Jeep bật tung lên. TQLC tiếp tục đi chuyển, tiếp xúc với binh lính của LaMontagne đang ở gần khu MACV. Lúc đó khoảng 3 giờ chiều. Họ lên tinh thần, có thêm chỗ dựa, bây giờ lại có cả chiến xa. Hay nhứt lại là có thêm hai đại đội TQLC. Thiếu tá Swenson sau nầy kể lại: “Tôi hơi ngại. Tất cả chúng tôi chẳng ai sống sót nếu mấy người lính TQLC nầy không đến kịp lúc”.
Chung quanh MACV, địch vẫn còn nổ súng lác đác. Xe tăng bắn trả. TQLC của hai Đại Đội Alpha và Golf bố trí quanh khu MACV và con đường dẫn xuống bến tàu. Họ cũng giữ an ninh cầu Nguyễn Hoàng (Cầu Trường Tiền – ngd), trên Quốc Lộ 1, bắc ngang sông Hương và dẫn vào Thành Nội, bên phía đó có một bến tàu phụ thuận tiện cho Hải Quân.
Trong MAC.V, Breth giới thiệu Gravel với Adkisson. Breth ngạc nhiên khi Adkisson trả lời cộc lốc với Gravel là ông ta không cần lưu tâm lệnh lạc như thế nào cả. Binh sĩ ông ta ở lại đây và bảo vệ MAC.V. Adkisson là một người to cao, đẹp trai, mới nhận nhiệm vụ chỉ khoảng một tuần trước. Breth cho rằng ông ta phản ứng theo cách một sĩ quan tham mưu không tác chiến. Tuồng như ông ta không phải là người biết điều, hay lo lắng những điều nhỏ nhặt và chậm phản ứng vì chẳng biết việc gì đang xảy ra cả. Việc giới thiệu đẩy Gravel vào vị thế đối đầu với một người mà ông ta mới giải cứu xong.
Có khoảng vài chục người bị thương được gom lại trong MAC.V, đại úy Bernie, y sĩ, cố gắng chăm sóc thương binh hết mình trong khi ông đòi tản thương. Lời yêu cầu được điện đi. Thiếu tá Murphy và Canley tổ chức đưa thương binh ra bãi đáp trực thăng ngoài bến tàu. Breth và Sewnson biết rằng phải nhờ TQLC giúp đỡ. Coolican cũng giúp Murphy liên lạc với trực thăng. TQLC và chiến xa của QL/ VNCH bảo vệ an ninh cho bãi đáp. Một chiếc trực thăng loại lớn CH-46 Sea Knight từ Phú Bài bay tới, bỏ đạn xuống và chở người bị thương đi. Tới đợt thứ hai thì phần lớn thương binh đã được di chuyển.
Có một lúc tình hình tạm lắng dịu. Trong khi TQLC giữ vị trí chung quanh bãi đáp trực thăng, thiếu tá Breth, Murphy và Swenson; đại úy Coolican, trung úy Drew và Lampo đứng vòng tròn nói chuyện đằng sau mấy chiếc xe tăng, bỗng có tiếng đại bác không giật nổ. Breth nghiêng đầu đúng lúc thấy một đám bụi đen đang bung ra trên mặt sông. Viên đạn bay tới chỗ họ như mũi tên đen. Một cách kỳ lạ, viên đạn bay ngang ngực họ, vượt qua khỏi chỗ họ đứng và mấy chiếc xe tăng, chạm và nổ vào vách tòa nhà ở đằng sau, làm tòa nhà bay mất một góc. Họ cúi xuống. Quân Cộng Sản từ phía bên kia đầu cầu Trường Tiền bắn vào chỗ TQLC và bãi đáp trực thăng.
Thiếu tá Breth và người tài xế, hạ sĩ Robert Hull của Sư đoàn 3/ TQLC nhảy vào phía sau chiếc xe tăng của QĐ/ VNCH đang bảo vệ mặt hông. Họ leo lên chỗ trí khẩu súng đại liên 50 trên xe tăng. Breth bắn trả qua bên sông và Hull tiếp đạn. Những người khác chạy dạt ra và leo lên các xe tăng khác. Các người lính VNCH trên xe tăng sợ không dám mở nắp pháo tháp ra.
Hai chiếc tàu Hải quân xuất hiện trên sông, dùng đại liên 50 nòng đôi bắn dữ dội vào bờ sông bên kia. Chiếc máy bay tải thương thứ ba đáp xuống bãi đáp được rồi lại bay lên với đầy thương binh bên trong máy bay. Mọi việc yên lặng trở lại.
Trước đó cũng lâu, Bộ Tham mưu LLĐN X-Ray ở Phú Bài tiếp xúc với Gravel bằng truyền tin. Lệnh của tướng LaHue – từ Đà Nẵng nói thẳng với ông ta là phải đưa Đại đội 1/ 1 Alpha và 2/ 5 Golf vượt qua sông Hương vào trong thành Mang Cá với Sư đoàn 1/ BB, chỗ Bộ Tư lệnh của Tướng Trưởng. Nơi nầy cũng giống như MAC.V, đang bị tấn công nặng.
Gravel nghi ngờ việc ấy. Khó lòng giữ được MAC.V trước lực lượng Cộng Sản đông đảo trong thành phố. Tập trung qua sông tấn công là làm cho vị trí MAC.V hiện giờ thêm bị đe dọa. Ông ta thấy hoàn toàn chẳng có lý do gì phải hy sinh những gì đã gặt hái được bằng cách vượt qua sông trong tình hình lực lượng đang yếu kém. Không có tin tình báo nắm rõ tình hình địch như thế nào, không ai chắc được điều gì sẽ xảy ra. Gravel muốn củng cố vị trí MAC.V. Ông ta trả lời điện cho tướng LaHue như vậy. Lực lượng đặc nhiệm X-Ray phúc đáp: “Thi hành”.
Gravel chỉ có thể lắc đầu. LaHue không nắm rõ tình hình ở Huế. Gravel nghĩ rằng LaHue cho Huế là một xóm nhà lá chứ không phải là một thành phố có nhiều nhà cửa xây cất chắc chắn hiện đại hay sao? Có thể nào đưa ra một vài ví dụ báo cho bộ tham mưu ở xa biết sự thực về trận địa họ đang đối diện.
Gravel bỏ lại xe tăng của TQLC tại bãi đáp trực thăng vì ông ta cho rằng cầu Trường Tiền (Nguyễn Hoàng) yếu, không chịu nỗi sức nặng. Khi họ yêu cầu các chiến xa VNCH tháp tùng với họ thì toán xe tăng nầy từ chối.
Gravel bỏ lại Đại đội Alpha thiếu quân số và nhiều thương vong tại MAC.V, ra lệnh cho Đại đội Golf của đại úy Meadow tiến lên cầu, trong khi đó thì xe tăng VNCH và TQLC thì yểm trợ mặt hông, bắn dọc theo bờ sông. Trung đội đi đầu qua được nửa cầu thì súng nổ.
Mười người đi tiên phong chết và bị thương. Súng địch đặt ở xa. TQLC bắn trả vào đó. Hạ sĩ Lesler A. Tully, đi trước, nhảy vào một hầm súng của địch, giết 5 lính CSBV núp trong đó. Với hành động nầy, anh được thưởng Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao bạc. Cây cầu được an toàn, Gravel cùng ban tham mưu và phần còn lại của Đại đội Golf vượt qua cầu. Gravel nhìn vào hầm địch thấy năm người lính CSBV nằm gục trong đó, giống như mấy con sâu nằm trong cái hộp thiếc. Một người lính Bắc VN còn thở. Thông dịch viên của Gravel, một hạ sĩ TQLC quì xuống bên cạnh nói với anh ta, bằng tiếng Việt để hỏi tin tức. Người lính nầy chưa nói được gì thì tắt thở.
Những người bị thương được đưa lên xe, sĩ quan tuyên úy Lyons đi theo, quay trở lại MAC.V. Lúc ấy trời đã chiều, mặt trời còn chiếu trong mắt những người đang ở bên phía Thành Nội. Lính TQLC quẹo phía trái (theo đường Trần Hưng Đạo – ngd), đi qua từng căn nhà và hàng cây bên ngoài Thành Nội rồi ngoặt vào một con đường dẫn vào bức trường thành hùng vĩ (của Thượng Tứ, – ngd). Con đường nầy đi vào bộ Tư lệnh Sư đoàn 1/ BB VNCH. Tiểu đội đi đầu vừa tới hàng cây thì bị phục kích. Từ những căn nhà phía trước, hỏa tiển B-40 và AK-47, súng máy và đại bác không giật nổ dữ dội. Đạn bắn xuống đường. Mảnh xi măng gạch vỡ bay tung tóe. Lính TQLC nằm sát vào ngưỡng cửa nhà dân hay núp trong các đường hẽm. Họ bắn trả. Người bị thương và chết còn nằm ngay tại chỗ, chưa kéo đi được. Y tá của Đại đội Golf, Donald, v.v… Kierkham chạy tới trước cố kéo những người bị thương. Anh ta cũng bị thương nhưng chẳng lưu tâm, tiếp tục giúp đỡ thương binh, băng bó qua loa cho họ. Anh ta chạy qua một vị trí bên kia đường. Một tràng đạn AK bắn anh chết ngay tại chỗ.
Đại đội của đại úy Meadow tới lui đều không được. Súng nổ liền hai giờ đồng hồ không dứt.
Đại đội Golf có 150 binh lính, có 5 chục vừa bị thương vừa chết. Gravel biết không thể tiếp tục được. Không thể chấp nhận thương vong như thế. Không cần chờ lệnh của LLĐN X-Ray, ông ta cho lệnh rút lui về bên kia sông. TQLC tung một loạt trái khói vàng. Quân CSBV bắn bừa vào đám khói trong khi TQLC Mỹ rút lui từng tấc một, kéo theo những người chết và bị thương.
Gravel gọi điện cho cho đại tá Adkisson, yêu cầu gởi người và trang bị tới giúp di tản thương binh. Vì MACV đang bị tấn công và có thể bị địch tràn ngập, Adkisson không đáp ứng lời yêu cầu. Vã ông ta cũng chẳng có lực lượng nào để giúp đỡ.
Phía bên kia cầu, Gravel vẫn chờ. Chẳng thấy dấu hiệu gì, ông ta tức điên lên. Cái ông đại tá chó má kia làm như MACV là tài sản riêng của ông ta, chẳng muốn giúp đỡ hay chia xẻ gì cùng với ai cả.
Gravel cùng với hiệu thính viên và người thông dịch TQLC chạy ngược về phía bên kia cầu, vào khu MAC.V và hỏi Adkisson giúp đỡ cái gì đâu? Adkisson đứng yên, chẳng nói gì cả. Gravel nổi đóa. Cuối cùng mấy sĩ quan trẻ cùng mấy binh nhì quân dịch tự động leo lên xe, lái chạy qua cầu, chở Gravel đi với họ. Mấy anh lính TQLC khôn khéo cột mấy chiếc xe của người Việt Nam đang đậu bên đường lại với nhau. Người bị thương và người chết được chất lên xe.
Quân CSBV vẫn còn bắn dữ dội. Một chiếc xe GMC của Mỹ từ phía bên kia cầu chạy qua dừng lại một bên cầu, bắt đầu bắn vào vị trí địch bằng đại liên 50. Breth từ bãi đáp trực thăng nhìn qua, thầm phục toán xạ thủ can đảm. Ông ta thấy có hai lính BV từ trong một căn nhà phóng ra. Cách khoảng mấy chục thước, hai người nầy quăng lui một bọc chất nổ. Chiếc xe GMC và người bị nổ tung lên.
Cuộc di tản vẫn tiếp tục.
Thiếu tá Murphy đi tới mấy chiếc xe để đích thân lo việc chuyển thương binh đi. Tuyên úy Lyons lúc nảy đi theo thương binh nay vừa theo xe GMC quay trở lại, chạy tới chỗ Murphy, giúp một anh TQLC mang một người bị thương lên xe. Bỗng một trái B-40 nổ dữ dội, đẩy Lyons văng ra một quảng cách đó mấy bước. Ông ta nằm trên đất, rồi bò băng qua đường tìm chỗ núp. Lyons thấy máu chảy ướt cả chân vì mảnh đạn đâm vào đùi và tay. Một y tá chạy tới băng cho Lyons. Ông ta lại đứng dậy, khập khiểng giúp người ta chuyển số thương binh còn lại. Lyons chợt thấy Murphy nằm cách đó không xa, bị thương nặng vì quả đạn B-40 lúc nãy. Murphy vẫn còn tỉnh. Lyons giúp chuyển người bị thương lên xe trong khi đó thì chân ông ta sưng to lên, cuối cùng không đi được nữa. Các TQLC khác lo lắng cho tình trạng đau đớn của vị tuyên úy của họ, bèn đẩy ông lên xe GMC. Lyons cùng Murphy được chở về MACV.
Cần có thêm hỏa lực bắn qua cầu để chặn địch. Việc nầy là nhờ binh nhì Nolan J. Lala, một trong những tài xế GMC của Đại đội Quân vận 1. Lala tóc đen, 19 tuổi, bỏ học năm lớp 8, quê ở Denver, Colorado. Tính khí ngang tàng, hay gây chuyện rắc rối, trông sáng sủa, can đảm, nhưng chẳng bao giờ muốn tuân lệnh các ông trung sĩ hay sĩ quan chỉ huy, đặc biệt sau khi anh ta kiếm được một huy chương Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao bạc trong trận đánh nhau với Cộng Sản ở Huế. Lala đang ở bãi đáp trực thăng, quan sát bên kia sông, bỗng tự ý kêu thêm mấy tay tình nguyện nữa, nhảy lên xe, lái qua bên kia cầu. Khi anh ta vừa ngừng xe thì đám của anh trên xe nhảy xuống giúp tải thương binh. Lala thì tụt khỏi ghế tài xế leo lên vị trí xạ thủ đại liên trên xe. Anh ta bắn liên hồi, quét qua quét lại các vị trí địch. Mọi người cố làm cho xong việc để rút khỏi nơi đây. Lúc ấy, có một quân nhân mặc quân phục QĐ/ VNCH từ trong một cửa hàng bên đường chui ra. Qua thông dịch viên, người nầy cho biết ông ta là một trung úy y sĩ Nhảy Dù VNCH về quê ăn Tết. Chẳng có cách nào để xác minh lời ông ta cả. Tuy nhiên, đang có nhiều người bị thương, Gravel nghĩ rằng Chúa biết họ đang cần một y sĩ. Hãy nắm lấy dịp may. Gravel nói với thông dịch viên giữ ông bác sĩ nầy lại và đưa lên xe GMC về MAC.V. Mấy chiếc GMC và TQLC quay trở lại bên kia cầu, binh nhất Lala bắn yểm trợ. Anh ta là người lính cuối cùng trở về bờ phía nam.
Tại bãi đáp trực thăng, thiếu tá Breth gần như choáng váng khi thấy binh lính quay về. Súng trên cầu bắn rát đến nỗi ông ta có cảm tưởng như đốt pháo đêm lễ Độc lập Hoa Kỳ vậy.
Trong căn cứ MACV, Gravel lại đấu khẩu với Adkisson một lần nữa. Adkisson không thích ông bác sĩ Việt Nam. Ông ta nghĩ rằng đó có thể là một cán binh Việt Cộng giả dạng xâm nhập.
– “Ông ta là ai?”
– “Ông ta là bác sĩ.
– “Làm sao anh biết?”
– “Vì ông ta nói ông ta là bác sĩ.
Gravel thấy mệt, không phí thì giờ cho những chuyện lặt vặt như vậy. Ông ta cảm thấy bệnh vì một ông đại tá như vậy. TQLC chẳng ưa gì ông. Khi Gravel cố gom ban Chỉ huy trong MAC.V lại, nhưng Adkisson chẳng dành một ngôi nhà nào cho TQLC cả, để họ ở ngoài sân. Cuối cùng, Gravel mắng ông đại tá là thứ cứt bò và đòi đưa binh lính của mình ra khỏi MAC.V.
Cách MAC.V vài khu nhà, có mấy nhân viên dân sự Mỹ đang mắc kẹt trong trụ sở của cơ quan CORDS. Adkisson nói với Gravel cần di tản những người mắc kẹt nầy về MAC.V tức khắc. Một tiểu đội TQLC được lệnh đi giải cứu. Một chiến xa hộ tống. Bất thần cỡ mấy chục quả B-40 bắn vào xe tăng dữ dội. Chắn bùn, ống khói, xăng bung lên trời, cháy và bốc khói. Ở MAC.V nhìn ra ai cũng thấy khiếp. Người ta nghĩ rằng người trên xe chẳng ai còn sống. Vậy mà chiếc xe tăng chạy quay trở lui MACV. Xe mở nắp ra và thiếu tá Breth thấy người ngồi trong xe nhe răng cười. Thật là một khung cảnh kỳ lạ.
Chiếc chiến xa ấy cùng một chiếc khác vòng trở lại chỗ phục kích để cứu tiểu đội TQLC đang kẹt ở đó.
Để giúp di tản thương binh, thiếu tá Breth và Swenson tổ chức một toán khoảng hai chục người tình nguyện, gồm TQLC, bộ binh và quân nhân Úc vừa tiến vừa bắn cặp bên hông xe tăng. Một chiếc xe tăng khác bắn thủng một lỗ vách tường, nhờ đó, họ chui qua tường được và thấy một ngôi nhà thờ nhỏ bên trong đó. Tại đây có khoảng hai chục bà xơ cùng bốn chục em bé gái. Binh lính vẫn còn nổ súng nên những người dân thường nầy hết sức sợ hãi. Breth ra lệnh cho hai binh sĩ hộ tống những người dân nầy di tản đến MAC.V.
Nhóm binh sĩ tiếp tục di chuyển song song với các xe tăng và TQLC. Breth đi vào hành lang của một tòa nhà. Cùng đi với Breth là một tài xế xe GMC của Sư đoàn 1 Không Kỵ bất thần một đêm đi ngang Huế phải dừng xe ngủ lại. Hai người đi vào một căn phòng, thình lình nhìn qua của sổ thấy một người lính CSBV đứng trên đầu một bức tường bên ngoài. Breth chỉa súng và bóp cò. Chẳng kết quả gì. Tài xế GMC cũng chỉa súng về hướng đó bắn một tràng. Người lính CSBV vụt một trái lựu đạn về phía họ rồi phóng đi mất. Trái lựu đạn lăn trên mái nhà nhưng lại rơi vào chỗ núp của người lính CSBV nổ bùm, hất anh ta vào tường. Breth bắn một tràng M-16 và chạy ra phía cửa sổ. Bốn người lính CSBV từ đằng sau bức tường bỏ chạy. Breth và người tài xế đuổi theo, bắn mấy tràng đạn ngang hông họ. Cả bốn gục xuống.
Vì hết đạn, toán lính Mỹ quay lại MAC.V. Lúc nầy các xe tăng cũng như TQLC đem được mấy người bị thương thuộc toán đi tiên phong lúc nãy về. Trụ sở CORDS, nơi họ được lệnh tới giải cứu rơi vào tay CSBV.
Những người bị thương được đưa vào phòng quân y, bác sĩ Bernie chăm sóc cho họ. Lyons nằm trên một cái băng-ca gần Murphy. Một người lính TQLC trẻ bị thương đang nằm bên cạnh. Anh ta vừa đau vừa sợ, và khóc. Murphy gọi những người đã cáng anh lính tới, nói với họ là bảo anh ta im đi, mọi việc sẽ tốt đẹp cả thôi. Lyons lo lắng – Murphy bị thương nặng, nhưng anh ta vẫn còn tỉnh, còn khuyến khích được những người bị thương khác. Lyons thấy Murphy cũng như Gravel vậy, bao giờ cũng nghĩ tới người khác trước khi nghĩ tới bản thân mình.
Cách đó không xa, đại úy Coolican đang gọi xin máy bay tải thương. Nếu không chuyển đi gấp, nhiều người chắc phải chết, trong số có cả hiệu thính viên của ông ta là Frank Dozerman, một người bạn cũ: Walt Murphy, đang bị xuất huyết nội. Cuối cùng, người ta biết là đã quá trễ. Breth và Swenson đỡ tuyên úy Lyons dậy khỏi cáng, đưa tới chỗ Murphy. Lyons chỉ kịp làm phép thánh trước khi Murphy qua đời. Người ta lấy poncho đắp lên người ông và đặt xác ông vào chỗ an toàn. Breth, Coolican và Awenson từng phục vụ dưới quyền chỉ huy của Murphy một thời gian dài trước khi qua Việt Nam. Mọi người cảm thấy buồn và đau đớn. Khi Gravel được báo tin buồn nầy; ông có cảm tưởng như không còn nghị lực nữa. Ông ta và Murphy từng làm việc với nhau rất gần gủi, vui đùa với nhau, trải qua một mùa Lễ Tạ ơn ở Cồn Tiên, mùa Giáng Sinh ở Quảng Trị và mong muốn được làm việc ở Washington D.C. sau khi ở Việt Nam về.
Một lát sau, có tin máy bay tải thương đang trên đường bay tới.
Những người bị thương được đưa lên xe GMC và chuyển ra bãi đáp bên bờ sông Hương. Họ vừa đi vừa tác xạ mở đường, do đó số thương binh nặng của họ từ 16 tăng lên 2 chục. Trời tối đen như mực và sương mù, chiếc trực thăng đang bay trên đầu. Hạ sĩ Chisler, một người to cao và lanh lợi, da đen, thuộc đơn vị 1/ 1 TQLC liên lạc với phi công bằng máy truyền tin. Anh ta hướng dẫn cho phi công đáp máy bay xuống đúng ngay vị trí.
Phi công hỏi:
– “Anh ở đâu? Tôi không thấy.”
Hạ sĩ Chisler đưa tay đập nhẹ nhẹ vào mũi chiếc trực thăng. Phi công lại hỏi có bao nhiêu thương binh.
– “Hai chục, thưa ông.”
– “Anh gọi có 16 người.”
Chisler nói: “Vâng. Đúng vậy, Nhưng có điều buồn cười khi đến đây, chúng tôi nghĩ là ông có thể chở thêm.”
Họ đưa người bị thương lên máy bay, một chiếc Sea-Knight. Phi công rồ máy bay khỏi bãi đáp. Một trong những người có mặt trên máy bay là Frank Dozerman, anh ta chết trên không, trên đường tới bệnh viện.
Các TQLC ở bãi đáp lại mở đường về lại căn cứ MAC.V.
Đêm hôm đó, tất cả bọn họ canh giữ MAC.V, bãi đáp trực thăng và bến tàu. Họ tổ chức lại đơn vị để phòng thủ đêm, phản ứng khi CSBV tấn công. Họ phát hiện địch, la hét, nguyền rủa, bắn trả ầm ầm. Quân CSBV ngưng bắn, các TQLC lo lắng bồn chồn, mệt mỏi, và nổ súng suốt đêm.
Trung tá Mark Gravel ngồi bên cạnh máy truyền tin. Chưa bao giờ ông ta thấy trống rỗng và tuyệt vọng đến như vậy. Bạn của ông, Gordon bị thương nhiều nơi trên mình bây giờ đang nằm một nơi nào đó trong bệnh viện. Chỉ có phép lạ mới cứu Batcheller khỏi chết. Anh chàng TQLC trẻ đáng nể, Larry Williams cũng đã chuyển đi rồi, không biết chết sống ra làm sao! Năm chục TQLC bị thương và chết khi vượt qua cầu Trường Tiền. Ông ta muốn chưởi thề một tiếng: Thật là phí phạm. Tại sao? Chỉ là vô nghĩa. Mạo hiểm vô ích qua cái cầu chết bằm ấy. Để làm gì? Để đi uống càphê với Tướng Trưởng, coi thử ông ta làm sao, bày tỏ lòng tôn kính. Với chỉ có hai đại đội thiếu quân số, Gravel tính thử Tướng Trưởng và sư đoàn của ông ta sao lại không đến tiếp xúc với Gravel?
Điều ông ta chỉ có thể cám ơn là quân CSBV nổ súng quá sớm vào Đại đội Golf khi đại đội nầy tìm đường vào Thành Nội. Nếu họ cứ bắn thật dữ và đẩy TQLC vào những con đường phố chằng chịt bên đó thì có lẽ chẳng ai còn sống hoặc bị bắt hết, và giữa họ và MAC.V chẳng còn gì nữa cả. Ông ta trầm ngâm suy nghĩ, việc ấy làm cho trận đánh cuối cùng của tướng Custer (6) trông giống như đi vào khu rừng gỗ. Gravel nghĩ rằng những chú lính CSBV nổ súng sớm là vì họ còn quá trẻ, thiếu kinh nghiệm. Hoặc có thể cấp chỉ huy của họ ra lệnh như thế. Dù bằng cách nào thì bên phía địch cũng đã cố xiết chặt hỏa lực của họ. Đó là một ngày quá dài, Gravel không còn cảm thấy kiệt sức nhưng rõ ràng ông ta cũng thể tài nào ngủ được.
hoànglonghải
Người dịch chú thích:
Đúng ra là năm Ất Dậu, 1885, Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết đánh úp quân Pháp ở Huế, thua trận. Triều đình và vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị.
Con sông đào nối với sông Hương tại ngã ba trường Bình Linh thường gọi là sông An-Cựu. Ca dao Huế có câu: Núi Ngự Bình trước tròn sau méo
Sông An-Cựu nắng đục mưa trong
Đôi ta như chỉ lộn vòng
Thương thì thương vậy nhưng chuyện vợ chồng khó nên.
Ngay chính người Huế cũng vậy, ai ai cũng gọi nó là sông An Cựu. Vì những lý do nào đó (?!), trên bản đồ quân sự xuất bản của Nha Địa Dư, trụ sở ở Đà-Lạt thời chế độ Ngô Đình Diệm, tự ý đổi tên sông đào An-Cựu thành sông đào Phú Cam. Tác giả cuốn sách nầy, viết lại theo tên trên bản đồ quân sự, nên gọi nó là sông Phú Cam. Phú Cam chỉ là một xóm, thuộc làng Phước Quả, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Gia Đình ông Ngô Đình Diệm, kể từ đời thân phụ ông là Ngô Đình Khả, định cư ở xóm nầy. Ông Ngô Đình Khả gốc ở làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Theo một số người Huế đã lớn tuổi nói cho tôi biết thì thật ra, quê quán ông Ngô Đình Khả cũng khộng thuộc làng Đại Phong mà thuộc một vạn chài, tức là làng “thủy cư”, thường neo thuyền kế làng Đại Phong. Để tránh cái gốc thuyền chài như Mặc Đăng Dung trong lịch sử, ông Ngô Đình Khả khai quê quán ở Đại Phong thay vì tên của vạn thuyền chài của ông.
(3) Đoạn nầy tác giả hư cấu nhưng không đúng thực tế vì đêm mồng một tết trời chỉ có một chút trăng lúc đầu hôm mà thôi. (Mồng một lưỡi trai, mồng hai lá lúa, v.v…)
(4) Đoạn nầy cũng hư cấu không đúng. Vì tình hình an ninh, nhà cầm quyền Huế cấm neo thuyền thuyền dưới chân cầu.
(5) Street without joy (Con đường buồn thiu) của Bernard B. Fall. Bernard B. Fall chết vì mìn tại Phò Trạch, Thừa Thiên lúc 4giờ30 chiều ngày 21 tháng Hai năm 1967, thọ 40 tuổi, khi ông đi theo một toán TQLC Hoa Kỳ trong một cuộc hành quân. Lời cuối cùng của ông ghi trong máy ghi âm ông đeo trước ngực là Last reflections On A War (Những phản ảnh cuối cùng về một cuộc chiến –
(Xem “Con Đường Buồn Thiu” trong Viết Về Huế -tập 1)
(6)- Custer, George Armstrong (1839-76): Một sĩ quan kỵ binh nổi tiếng của Hoa Kỳ, ông tự chứng tỏ là một nhân vật lãnh đạo giỏi của lực lượng kỵ binh Liên Bang trong cuộc nội chiến Mỹ. Năm 1866 được chỉ định làm trung tá, tham gia lực lượng của tướng Hancock trong cuộc tiểu trừ bộ lạc Cheyenne. Trong một trận đánh nổi tiếng ở Little Bighorn (bắc Wyoming và nam Montana), ông bị giết chết.
Đoàn người kéo lê những bước chân mệt mỏi đi xuyên qua kinh thành, họ có cảm tưởng như kẻ xa lạ lạc loài mặc dầu quê hương của họ chỉ cách con đường họ đang đi có vài trăm dặm.
Đồng ruộng, mảnh đất quê nghèo của họ nghe chừng như xa xôi ngàn dặm. Họ có cảm tưởng như bỗng nhiên bị một sức mạnh kỳ quái kéo ra khỏi thế giới quen thuộc để ném vào nơi vô định.
Họ chỉ quen với những con đường làng và đồng ruộng, cho nên khi đặt chân lên đường phố nhộn nhịp chốn kinh thành, họ hết sức bỡ ngỡ.
Phố phường đầy dẫy đồ vật suốt đời họ chưa hề thấy. Chẳng hạn như xe hơi, nhưng họ vẫn không chú ý một thứ gì. Họ chỉ bước đi, mắt mở trừng nhưng chẳng thấy gì, như những kẻ mộng du.
Nếu họ không nhìn ai thì cũng không ai nhìn họ.
Thành phố có quá nhiều người tị nạn, cả ngàn người, đói rách, tạm nương náu dưới những tấm đệm chiếu căng lên thay lều ở ngoài thành.
Hằng ngày, bất cứ vào giờ nào, cũng có từng đoàn người đói rách lang thang, bồng con dắt vợ tiến về các lều tạm trú.
Nếu có một thị dân nào trông thấy đoàn người khốn khổ này thì họ kêu lên:
– Lại thêm một số tị nạn! Chừng nào mới hết tai nạn này? Rồi đây thành phố sẽ chết đói cả lũ vì có thêm quá nhiều miệng ăn!
Nỗi lo sợ đến lượt mình thiếu ăn khiến cho người ta thêm dửng dưng, lạnh lùng với những người tị nạn.
Có những chủ quán đã tàn nhẫn xua đuổi những kẻ hành khất chầu chực trước cửa hàng giờ để xin một ít cơm thừa canh cặn.
Người ta cũng trở nên gay gắt với những phu xe mà con số tăng lên gấp mười lần, và phần đông là những người tị nạn.
Những anh phu xe chính cống hành nghe lâu năm đâm ra thù oán những ông bạn đồng nghiệp bất đắc dĩ, và những người đói khát chịu rước khách với bất cứ giá nào, khiến giá cả hạ xuống đến một mức quá thấp làm cả giới đều bị thiệt.
Thành phố tràn ngập những người tị nạn. Họ đi xin làm những nghề không cần khéo léo để kiếm cơm. Mỗi sáng đều có một số người nằm kềnh ra đường chết cóng vì lạnh. Những chuyện đó quá thông thường đối với dân chúng thị thành. Không ai buồn chú ý đến toán tị nạn mới tới.
Nhưng những người này không phải như những người tị nạn trước.
Họ không ồn ào, không sẵn sàng để gây gổ, giành giựt như những kẻ khác. Họ là hạng người mà bất cứ nước nào cũng hãnh diện có những người dân như thế.
Người ta thấy họ là người cùng một địa phương. Áo quần cùng một thứ vải xanh đậm may cẳt theo kiểu xưa, vạt và tay dài.
Đàn ông lẫn đàn bà đều cao, lớn, nhưng bàn chân đàn bà nhỏ xỉu vì phong tục bó chân từ bé.
Trong đám đông có vài cậu thiếu niên. Mấy đứa trẻ nhỏ được ngồi lủng lẳng trên mấy chiếc thúng cha chúng gánh trên vai.
Tuyệt nhiên không có con gái hay trẻ nhỏ sơ sinh trong bọn.
Mỗi ngưòi đàn ông, cả đến các cậu thiếu niên đều có vác bao, bị trên vai. Họ cẩn thận mang theo mền, gối. Tất cả đều sạch sẽ. Ngoài ra người ta còn thấy một cái nồi sắt nhô lên các bao, bị. Nhưng trong các giỏ xách, không có một chút lương thực nào.
Sự kiện thiếu thức ăn được xác nhận khi người ta nhìn kỹ vào mặt đám người tị nạn.
Một cái liếc nhanh dưới ánh sáng lờ mờ của buổi hoàng hôn, người ta không thấy gì khác thường. Nhưng khi nhìn kỹ, thì người ta thấy rõ đoàn người đang đói và tuyệt vọng. Họ đã gần kề tử thần nên không trông thấy gì. Cảnh lạ không đánh thức được tánh hiếu kỳ của họ.
Đoàn người này đã ở lì lại làng cho đến giờ phút chót, cho đến khi nạn đói thúc đẩy họ lên đường. Cho nên họ lầm lũi tiến bước, âm thầm, xa lạ, như những kẻ biết mình sắp chết, không còn thiết tha gì đến sự sống.
Người đi sau cùng là một cụ già nhỏ thó. Dù vậy, ông cũng gánh trên vai một gánh như những kẻ khác.
Đồ vật mang theo cũng gồm chiếc mền xếp gọn và một cái nồi. Mặc dầu gánh nhẹ, nhưng đối với ông lão, nó cũng quá nặng. Vì ông lão đã quá tuổi để làm lụng nếu ở vào thời bình và có lẽ ông cũng không quen làm những công việc lao động trong những năm qua.
Ông thở hổn hển trong khi lảo đảo bước, hai mắt nhìn những người đi trước. Ông sợ bị bỏ rơi ở phía sau. Trên mặt nhăn nheo của ông hiện rõ vẻ sợ hãi của kẻ hấp hối.
Bỗng ông không bước được nữa. Ông đặt gánh xuống đất, ngồi trên vệ đường. Đầu ông gục xuống giữa hai đầu gối, mắt nhắm lại thở dồn dập.
Sự cố gắng quá sức khiến máu chạy dồn lên thái dương.
Ngọn đèn của chiếc xe bán mì gần đó hắt ánh sáng vào ông lão. Một khách đi đường dừng lại, nhìn ông rồi lẩm bẩm: “Mình tự hứa không bố thí nữa vì phải để dành cho mình. Nhưng thấy ông lão này, mình không thể làm ngơ. Mình cho ông lão số tiền mình vừa kiếm được trong ngày hôm nay mà mình định để dành cho ngày mai. Ngày mai mình sẽ kiếm cái khác”.
Người này móc trong túi một đồng bạc và sau một lúc do dự, ấp úng, y nói:
– Ông ơi, ông cầm lấy cái này để mua mì ăn đỡ đói.
Ông lão từ từ ngẩng đầu lên. Khi thấy đồng bạc, ông không đưa bàn tay ra nhận. Ông nói:
– Cám ơn ông. Nhưng tôi không phải là hành khất. Chúng tôi có điền đất phì nhiêu và trước đây chúng tôi không hề đói khát như ngày nay. Nhưng năm nay, nước sông dâng lên, ngập lụt. Dù cho ruộng đất phì nhiêu, người ta cũng phải chết đói về nạn lụt. Cả đến lúa giống của chúng tôi cũng không còn. Chúng tôi đã ăn hết lúa giống. Tôi đã bảo người ta là tôi không thể ăn lúa
giống. Nhưng chúng nó hãy còn trẻ và háu đói nên ăn hết sạch.
Người kia bỏ đồng tiền vào túi ông lão, bảo:
– Xin ông cứ nhận cho tôi.
Rồi y thở dài, tiếp tục rảo bước. Ông lão đi về phía xe mì bán rong.
Anh bán mì hỏi:
– Ông ăn mấy bát?
Bây giờ ông lão mới thò tay vào túi, ông tìm thấy hai đồng tiền, một đồng, một bạc. Ông đáp:
– Một bát cũng đủ rồi!
Anh bán mì ngạc nhiên:
– Ông chỉ ăn có một bát nhỏ sao!
Ông lão đáp:
– Không phải cho tôi.
Anh bán mì ngạc nhiên, nhưng cũng tiếp tục nấu mì. Xong rồi, anh đưa bát mì, bảo:
– Mì đây!
Và y chờ xem ai sẽ ăn.
Bây giờ ông lão mới đứng lên một cách khó nhọc, hai bàn tay run rẩy bưng tô mì đến cái thúng bên kia.
Trong khi anh bán mì tò mò đứng nhìn, ông lão kéo chiếc mền qua một bên để thấy gương mặt nhăn nheo của một cậu bé đang nằm trong cái thúng, hai mắt nhắm nghiền.
Người ta có thể tưởng cậu bé đã chết nếu ông lão không đỡ nó lên để cho miệng nó kê sát vào vành tô.
Ông lão khuyến khích:
– Ăn đi con! Ăn đi!
Anh bán mì:
– Cháu ông?
Ông lão gật đầu:
– Phải. Nó là cháu nội. Con của con trai tôi. Cả hai con trai và con dâu tôi đều chết chìm khi vỡ đê.
Cậu bé ăn xong, ông lão lấy mền đắp lại cẩn thận rồi le lưỡi liếm sạch những cọng mì còn sót lại. Liếm xong ông lão trả bát lại cho anh bán mì, y như là ông đã ăn xong.
Anh bán mì ngạc nhiên không thấy ông lão bảo nấu thêm tô nữa.
– Ông không ăn? Ông còn một đồng bạc kia mà!
Ông lão lắc đầu:
– Không. Đồng bạc này để mua lúa giống, khi tôi thấy đồng bạc này là tôi nghĩ ngay đến việc mua lúa giống. Chúng nó đã ăn hết lúa giống rồi. Mà không có lúa giống thì lấy gì gieo mạ làm mùa?
Anh bán mì:
– Nếu tôi không quá nghèo thì tôi có thể biếu ông một bát mì. Nhưng biếu không tô mì cho người có một đồng bạc thì…
Anh lắc đầu lúng túng.
Ông lão nói:
– Cám ơn chú em. Nhưng tôi không xin chú bố thí cho tôi. Tôi biết là chú không thể hiểu được. Nhưng nếu chú có đất ruộng, chú sẽ hiểu là phải giành lúa giống để làm mùa. Nếu không thì năm tới sẽ còn có nạn đói nữa. Điều quan trọng mà tôi có thể giúp cho thằng cháu của tôi hiện nay là tìm một ít lúa giống cho nó. Nếu tôi chết thì người khác sẽ gieo số lúa giống đó. Đất ruộng phải được gieo giống.
Ông lão cất gánh lên vai, đôi chân run rẩy. Ông nhìn con đường dài trước mắt, lảo đảo tiến bước.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.