This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Trần có hai tay, tay nào cũng thuộc loại diệu thủ. Bạn bè thương Trần, lếu láo gọi hắn có ba đầu sáu tay. Trần nghe, chẳng nói gì, chỉ cười lành. Nguyễn bảo, vậy là hàm oan, bởi chàng ta từ khi sang đây tả xung hữu đột đã làm tới bảy nghề khác nhau, thợ đụng thứ thiệt phải nể mặt, cung kính không bằng chào thua.
Trần giỏi việc chợ búa bếp núc, nấu ăn ngon, luôn biết cách sáng tạo thay đổi các món dù nguyên vật liệu vẫn chừng ấy thứ. Tình ngay, với ba năm nai lưng chân phụ bếp trong nhà hàng của Pháp, gặp đứa cục vắt thành hòn thì chẳng thể có hoa tay như Trần được. Phan đơm mộng quấy: Hàng tuần ông đều mua vé số, trời kêu một tiếng thì ông mở ngay cái quán ăn, kêu Trần tới làm sếp để hét ra lửa chơi. Trần cười hiền, ép dầu ép mỡ sao nỡ ép tôi, quan hoài cho nhau kiểu đó hèn gì thần tài chưa gõ cửa nhà ông, mấy khi mà sung rụng ngay chỗ nằm!
Ngày lễ các bà mẹ, nhằm cuối tuần,Trần điện thoại gọi bạn tới nhà nhậu lobster, cua xanh và nghêu sò đang được mùa. Nguyễn chém gió: Nói nghe thương, nhưng cớ sao lại vin vào lễ mẹ hiền? Chỉ chém cho Lê cùng Phan nghe chút gió đìu hiu vậy thôi. Và cả ba đóng góp chút rượu bia cùng thùng xoài, chục mãng cầu, hẹn hò nhau lại gõ cửa lúc sáu giờ chiều.
Khi bạn bè tới thì hai đứa con của Trần đã tề tựu, chật tiếng nói cười. Một gái một trai đã thành người hữu dụng cho xã hội. Vì công việc, chúng phải ở xa Trần, thỉnh thoảng lái xe nuốt dặm dài về thăm bố. Nếu làm cuộc phỏng vấn bỏ túi, hẳn chúng sẽ không dấu sự hãnh diện khi có được một người bố “công, dung, ngôn, hạnh” như Trần, hơn cả ba đầu sáu tay. Tuy ngày lễ các bà mẹ, hai đứa con vẫn có quà cho cha, vì Trần vừa là núi Thái sơn lại kiêm luôn nước trong nguồn chảy ra. Đã mười năm, Trần đích thị là một con gà trống, chưa rụng lông, chưa chạy làng, chưa hao mòn tiếng gáy. Phong thái xem chừng ung dung tự tại, ưỡn ngực chào bình minh mà không hề quan ngại bóng chiều tà nhuộm sẫm. Mình ên vô ra chuồng, quên béng chuyện đạp mái.
Vì con gái, An yêu thích bông hoa và nhân ngày Mother’s Day, hoa lá cành là mặt hàng bày bán khắp hang cùng ngõ hẹp nên cô con hiếu thảo đã ôm tới cho bố một bó rõ to. An đang cắt tỉa chúng, cắm vào bình nước, loay hoay trình bày một bố cục vẹn toàn rồi mang ra đặt giữa bàn ăn. Nguyễn ngắm hai loài hoa, nhưng Nguyễn chỉ để tâm thưởng thức tới thứ hoa di động kia. Hoa có mái tóc dài, hoa có nước da trắng, hoa rạng ngời một vẻ đẹp khiến Nguyễn mơ hồ nhớ về người sở hữu gương mặt tới tám phần giống hệt An. Bà ta giờ này ở đâu? Lý ra người xứng đáng đón nhận bó bông nhiều màu sắc đó là bà, danh chính ngôn thuận hơn gã đàn ông mang tên Trần một mực hồn nhiên trong cuộc lữ. Nguyễn nói:
Bác có đọc một chuyện khôi hài mang tên “Sách vở đôi khi không tốt” để kể cho An nghe: Nhà nọ có trồng vườn hoa rất đẹp, ông chồng đã bỏ ra lắm công sức cũng như đổ tiền bạc vào trò tiêu khiển thú vị và lành mạnh ấy, ông tự hào mình là kẻ chăm bón gần đủ bao loài hoa quý phái trong thiên hạ. Một chiều kia, đi làm về, ông ta tối tăm mặt mũi khi nhìn ra khu vườn trơ trụi, xác xơ trong khi người vợ thì say sưa cúi đầu nghiền ngẫm cuốn sách “Nghệ thuật cắm hoa”.
Chỉ giúp vui cùng An, người vừa cắm hoa có nghệ thuật, nhưng thứ chuyện cười kia lại lọt vào tai Bảo, cậu em kỹ sư đầu quân cho công ty điện lực đưa ra câu hỏi: Bác còn viết lách không? Sách bác có tốt không? Nguyễn thấy thất bại vì mẩu chuyện đã chẳng làm đôi trẻ bật cười. Thì bác vẫn viết đều đấy thôi. Vì sao Bảo hỏi thế? Vì bác phải hình dung ra ai là người đọc sách truyện ấy? Thời buổi này người ta đều chúi mũi vào internet cả!
Nguyễn nhìn Bảo, ngạc nhiên vì cậu ta nói tiếng mẹ đẻ còn ngon lành quá. Khá suông sẻ, rất ngon cơm dù đôi lần Bảo bịt mũi trước chén nước mắm mà Trần chưa kịp pha chế chanh đường ớt tỏi. Công việc mà cháu đang làm có bao giờ phát sinh ra lỗi kỹ thuật? Ý của bác là thành phố Bảo ở từng bị mất điện chưa? Hãy xem việc bác in sách cũng tựa như một tai nạn ngoài ý muốn, bác cố đốt thắp ngọn nến trong khi đợi có điện trở lại… An mang tới cho Nguyễn một chai bia: Bác nói vậy cũng không đúng, bởi vì bác đâu sáng tác ra sách nghệ thuật cắm hoa, phải vậy không? Là sao, bác chưa hiểu cái bóng gió của An?
Lê hút xong điếu thuốc, từ ngoài vườn trống chẳng có hoa dại hồi sinh sau kỳ nghỉ đông quá dài, bước vào góp tiếng: An biết không, có nhiều người rất giỏi việc cắm hoa nhưng lại vụng về trong chuyện cắm tin yêu vào bao người thân, có nghĩa là họ quá tệ việc ứng xử… Trần xuất hiện từ vuông bếp chật, hắng giọng: Đàm thoại như vậy xét đã đủ, giờ thì nên để miệng mồm được nhai nuốt thức ăn, dĩ thực vi tiên, hoặc muốn đạt đạo phải chìu chuộng cái bụng trước. Cơm no hẳn bò cỡi. Phan đùa: Lời nhà ngươi thật hợp ý ta. Để chấm dứt, có một câu xét thấy cần tra vấn nhất, đó là đến bao giờ thì mấy bác ngồi đây được góp mặt trong ngày vui của An? Con chưa tính được bởi con không tìm ra cuốn “Làm thế nào để giữ hạnh phúc dài lâu?”
Khi da mặt của bốn tên Trần Nguyễn Phan Lê đổi màu thì hai người đầu xanh xin phép được rút đi. Bảo nói, nghe các bác kể chuyện đời xưa thì cũng học hỏi được lắm điều, mặc dù toàn buồn đau, không thấy có vui chen chân. Mấy bác tài thật, khi nhớ những thứ chẳng đáng nhớ. Máy móc đôi lúc phải thay cái mới khi muốn nó vận hành tốt, gọi là phải bảo trì chúng, dụt bỏ các thứ cũ xưa, hết thời hạn… Có thể Bảo muốn nói dài lời nhưng cậu ta tìm chưa đủ vốn chữ. Thôi, tụi con phải về, qua cầu xa lộ dễ bị kẹt xe lắm. An tiếp, cảm ơn mấy bác luôn đến nhậu với ba con, không có ai thân cận chắc ba Trần cô đơn lắm. Con đi nghe ba, mấy món ba làm quá super.
Trần đứng lên, tiễn hai đứa con ra: Lái xe cẩn thận. Lời đề nghị của hai con, ba xin nghe theo, nhưng phải tới khi nghỉ hưu mới tính được, bởi hơn ai cả, ba luôn muốn sống gần với các con, ở đây lạnh lẽo quá. Phan nhìn qua ô cửa: Hai đứa thật dễ thương, rõ là ở đời vẫn còn đó luật bù trừ. Lê nói nhỏ, giọng mềm như tẩm nhiều men bia: Vợ tôi có facebook, bả lùng sục kiểu gì đó mà tình cờ lạc trôi tới giáp mặt một bóng hình, bả nhìn nhận ra ngay đó là vợ cũ của chàng Trần nhà mình. Điều đó không kinh khiếp bằng chuyện nay mai “người đẹp” sẽ lấy một anh chồng nhỏ thua tới mười cái xuân xanh, hôn lễ đình đám diễn ra ở tận Biên Hoà. Ngồi uống chất cay tôi những muốn ngứa miệng mới gớm. Phan hoa tay: Ông nuốt xuống là đúng, bốn đứa mình thì chẳng hề hấn gì nhưng để hai đứa An, Bảo nghe được thì không hay, mất vui đi. Ngày lễ mẹ, xin cho chúng hình dung ra một ảnh hình khác với thứ nằm mộng cũng chẳng ngờ kia.
Tiếng động cơ nhỏ dần, có thể Trần nhìn theo chiếc xe vụt mất mới mở cửa trờ vào nhà, nhìn xuống bàn vung vãi một “bãi chiến trường” đã đến hồi tàn cuộc. Tất cả chừng như không còn giữ được sự nguyên vẹn như ban đầu, chỉ duy những bông hoa là khởi sắc, tươi mươi, ướt át dâng trọn vẻ đẹp hằng cửu. Hằng cửu là nói chung về nhan sắc của hoa chứ thực ra, sau lễ mẹ hẳn nó sẽ chịu rụng tàn đi trong kiếp ngắn mà phận hoa vẫn mang. Dâng cho đời, kín tiếng một màu sắc để rồi nhạt phai. Đôi khi nó đẹp chỉ do bởi cái tạm bợ ấy. Vậy thì thẩm mỹ có nương náu vào sự bất biến? Trần hỏi, có bạn nào uống tiếp nữa thôi? Và không chờ một ai hưởng ứng, Trần mở tủ lạnh lôi ra xâu bia: Nguyễn à, hồi nào ông cạn đề tài thì cứ hỏi tôi. Ông ngờ được không là tôi vẫn còn giữ cuốn nhật ký từ thuở bắt đầu làm chồng làm cha. Tôi sẽ trao cho ông hôm nào xét thấy nhác chơi, nghe bệnh tình thăm viếng. Tôi có niềm tự hào riêng, là tôi hứa sẽ tìm mọi cách không cho hai đứa con tôi nghĩ xấu về mẹ chúng nó. Rằng chúng ta mỗi người có lấy một hoàn cảnh riêng, và hoàn cảnh của tôi là do lỗi lầm tôi tự gây ra. Tôi từng giải thích cho An và Bảo biết về câu “Tiên trách kỷ hậu trách nhân”. Tự xét mình trước khi đỗ lỗi cho kẻ khác. Chúng nó muốn tôi dọn về ở gần để lỡ có gì chúng còn biết đường mà xoay trở. Điều đó có nghĩa là tương lai gần tôi sẽ chia tay cùng các bạn. Trong chúng ta, ai mà không có lúc nói tiếng giã từ… Vô cái này đi chứ, khà khà, bia thương chứ không ai thương đâu! Nói bỏ lỗi chứ chúng ta đứa nào cũng đều mất mẹ, buổi nhậu này là cái cớ để dành một phút mặc niệm cho mẹ già, cho hiền mẫu, cho một nhân vật mà thượng đế ưu ái dành riêng cho mỗi đứa chúng ta. Nói mấy cũng không cùng, có đúng không?
Nguyễn, Phan, Lê bước khỏi Trần gia trang khi đêm dịu dàng vây bủa bóng tối. Sương xuống, mát lạnh, đẫm vai. Nguyễn đã nhanh tay ngắt từ bình hoa An cắm một cành hoa hồng màu trắng, nhét vào túi áo. Phan hỏi: Ông đang nhớ mẹ chăng? Ừ, tôi mãi là thằng con bất hiếu, chưa thể hoàn thiện một đoản văn ngợi ca mẹ mình. Lê nói: Vậy thì mai hậu có viết nỗi chuyện đời, một nửa của bạn Trần? Nguyễn gật đầu: Sẽ cố, nếu bạn ấy đã tín nhiệm gửi trao. Các bạn có hiểu sự ví von: Tuổi già hạt lệ như sương?
Người uống ít nhất là Lê. Lê sẽ ngồi vào tay lái. Xe nổ máy, chiếc Honda đời 2008 chưa tiện đun vào nghĩa địa sắt thép đang run bần bật, húng hắn chạy ra giữa con lộ ướt sương.
Một “nữ độc giả xin được giấu tên” viết e-mail gửi mình:
Tôi biết anh đã hai mươi năm, không sớm không muộn. Tôi đọc gần hết những gì anh viết, chẳng khen chẳng chê. Tôi chỉ là một người đọc bình thường, nghĩa là tôi không quan tâm tới những quan niệm của anh về cõi riêng: Viết làm gì? Viết cho ai? Tại sao viết? Vân vân và vê vê. Tôi nghĩ ngợi, xem đó chẳng qua là một phương tiện dùng trải lòng và cách anh trải lòng khiến tôi bất chợt vui bất chợt buồn khi đối mặt. Và như vậy, với chút ấn tượng đó, gieo cho tôi sự kiên nhẫn để tìm đọc những sáng tác của anh. Tôi thực sự hối tiếc khi biết anh đã từ bỏ con đường tạo hình, nếu anh còn vẽ vời, biết đâu chừng sẽ có bức tranh đẹp. Và thật dễ dàng cho tôi khi đề nghị dùng tiền để mua lấy nó, sở hữu cái thành quả hội hoạ có ký tên anh. Một hoạ sĩ, họ có dễ bị thuyết phục không anh?
Điều mà tôi sẽ trình bày sau đây có thể khiến anh ái ngại, anh do dự anh đắn đo. Và thú thật tôi cũng đã từng đắn đo, mất ba hôm tôi gạt bỏ nó đi. Tôi dùng cụm chữ “một độc giả xin được giấu tên” với hy vọng nó khiến anh bớt đi sự áy náy suy nghĩ vu vơ. Rào đón quá! Mất thì giờ quá! Hẳn anh sẽ trách thế. Anh có lối dẫn truyện khá lạ trong khi tôi quen với khuôn khổ một bài luận văn mẫu mực, có nhập đề, tới thân bài mới vẹn chung một kết luận. Sẵn, tôi cũng mạo muội thưa, một vài truyện của anh có cái kết thúc khiến tôi hụt hẫng. Tôi tự nhủ, giá mà tôi là người viết truyện ấy tôi sẽ cố viết dài cái tình huống đa phần gợi mở ra nhiều lối thoát.
Nhập đề đã xong, tôi xin vào phần cốt lõi của bức email đường đột. Sau ba tháng vào ra bệnh viện này nhà thương nọ, kết quả hồ sơ mang tên tôi (xin được giấu tên) được ghi chú rất luộm thuộm. Vắn tắc, cô đọng cho đỡ tốn giấy: Tôi bị chứng hiểm nghèo (lại xin được giấu nhẹm), bệnh không có thuốc chữa và chết thì chẳng rõ còn bao lâu. Tin vào sự huyền nhiệm thì cỡ một năm mà làm mất lòng thượng đế thì sẽ bị gọi tên vào mùa đông tới. Vậy đó, tôi vẫn còn giữ được sự sáng suốt khi viết những dòng chữ này cho anh. Tôi không đem theo cái hoang mang nào cả khi thưa chuyện cùng anh. Trước, sau. Lâu, mau thì tôi cũng làm cuộc đi xa. Những ngày nằm viện dật dờ cho người ta săm soi phân chất truy tìm chính danh thủ phạm, con em tôi đã “bới” cho chị nó một lô sách truyện cũ khi đến thăm, uỷ lạo tinh thần. Một lô sách, khi khổng khi không tập truyện ngắn của anh đòi thoát ly rớt xuống nền sạch như lau như ly hay bẩn tạp vô số vi trùng? Rớt mình ên kêu cái xoạch. Con em tôi nhặt lên và đó là cuốn “ăn nằm” dài lâu trên tay tôi nhất. Mắt tôi yếu đi vì những dòng chữ của anh, tôi đọc chậm do ảnh hưởng của thuốc an thần khiến díu mắt, không để anh nắm tay lôi tới dấu chấm cuối. Đôi dòng tiểu sử ghi ở bìa sau khiến tôi làm bài tính nhẫm, như vậy anh lớn hơn tôi khoảng vài tuổi. Chỉ một vài nhưng đã là khoảng cách mênh mang. Anh còn loay hoay thong dong ngày lại ngày trong lúc tôi đang đứng tê người bên triền vực. Nhãn tuyến tôi nhìn xuống cuộc đời hẳn sẽ không xanh như màu đọng chiếu vào mắt anh. Chẳng đợi tới thời điểm cực chênh vênh này, trước đây tôi hằng tin là mỗi chúng ta đều có riêng cho nó một căn phần, một cung cách ứng xử trước những vấn nạn. Viết văn, anh đâu ngờ là thứ nghiệp dĩ kia vô tình đã khiến anh thêm bạn bớt thù hoặc thêm thù bớt bạn. Tôi là kẻ xa lạ, tuyệt chưa nhìn thấy anh ngoài đời nhưng tôi mong được anh xem là một người bạn ẩn mặt, nếu có thể. Và khi được tròng chiếc áo thụng thịnh kia, tôi đủ tự tin để đưa ra lời đề nghị, anh hãy in thêm một tập truyện ngắn nữa, tôi xin biếu anh ba ngàn tiền Mỹ (3000) để thanh thoả những chi phí về mặt in ấn, tựa như tiền viện phí nhằm trả khi sanh con. Đứa con anh sẽ chào đời trước khi tôi nhắm mắt. Có được không anh? Tôi chẳng đưa ra một điều kiện nào cả, không luôn một hàng chữ in trang đầu: “Tập truyện này hình thành do bởi tấm lòng một người nữ phương xa không thích được gọi tên. Xin được cám ơn. Tác giả”. Vô ích.
Nếu buộc phải có điều kiện thì tôi sẽ gạn lòng để kể cho anh nghe một mảnh đời vụn nát của tôi. Giả thử nó gây xúc động cho anh thì anh có quyền nhào nặn hư cấu thêm khi viết thành truyện. Có bao giờ anh tự gia hạn, rằng tới ngang thời điểm ấy thì buộc phải hoàn thành một tác phẩm đang viết dở dang? Tôi khác, tôi biết ngang đâu thì mình thực sự xuôi tay. Tôi đã nhờ cô em chuyển gửi một ít tiền về VN giúp đỡ những gia cảnh khó khăn qua hội từ thiện và tôi cũng yêu cầu họ chú thích: Một kẻ vô danh.
Kẻ vô danh này xin ngừng ở đây. Tôi biết anh chẳng vô cảm để im hơi lặng tiếng. Tôi nghĩ anh sẽ hồi đáp dù không mấy tin anh sẽ bằng lòng việc nhận tiền để in thêm một đầu sách. Sao thời buổi này người ta đâm phụ rẫy sách truyện vậy anh?
Chúc anh mạnh khoẻ, viết được những điều tâm đắc. Tạm biệt.
* Tạm biệt nghĩa là còn nuôi hy vọng nhìn ngó lại. Cuối một bản chúc thư, chia chác những tài sản vật chất người ta có dùng chữ Vĩnh Biệt không anh?
Mình ngồi thừ người trước màn hình trắng xoá. Mình có kinh nghiệm, thường thì đối mặt với xúc cảm, những gợn sóng nhấp nhô ấy đã cướp đoạt ở mình sự tập trung. Buồn, vui ập tới, nó khiến bạn loay hoay vụng dại, cách tốt nhất là bạn chờ đợi một nguôi ngoai. Bỏ mặc máy đấy, xô ghế đi pha một tách trà xanh, giả lơ “con trỏ” cursor cứ nhấp nháy hối thúc. Bạn có để ý, nhịp tim bình thường của kẻ không buồn vui sẽ hoà nhịp ăn khớp với con trỏ mất hiện, hiện mất? Nhiều người nói máy móc vô tri ghẻ lạnh, họ chẳng ưa đối mặt với computer. Mình từng mang thứ ý nghĩ ấy, nhưng giờ đây khi ngó chăm vô “nhịp đập” đều đặn của cursor, mình tin đó là biểu tượng của một linh hồn, một chứng nhận sống thở. Một cái máy đã tắt nghỉn, đã bị vi trùng thâm nhập, đã cháy ổ cứng, đã vô phương cứu chữa, đã chết đi thì nó sẽ chường cái mặt vuông đen thui cho bạn ngắm trong tịch lặng. Cắm giây điện, nhấn nút On Off cho cố xá, thậm chí giận hờn dằn mạnh nó xuống bàn, “người tình” vẫn ngoan cố nhắm mắt. Bạn mang chôn nó ngoài thùng rác có in cái logo đồ tái sinh của sở vệ sinh thành phố mà lòng nhăn nhúm một nỗi buồn không bút mực nào tả xiết. Bao buồn vui, bao nỗi lòng, bao thành thật, bao lừa dối, bao con chữ, bao thơ văn, bao thư đi tin lại, bao địa chỉ hư không… tất thảy đồng loạt ra đi chẳng thốt lời giã từ. Hôm qua bạn là thằng người đại gia ôm giữ một kho tàng giàu sụ là thế, vậy mà hôm nay bạn trắng tay. Vô thường.
Mình đọc nhiều lần bức điện thư không thể gọi là black-mail ấy. Con chuột kéo lên kéo xuống, con trỏ nhấp nháy ở mẫu tự cuối. Một dấu chấm hỏi. Mình không ăn gì, mình đã uống cạn ly trà xanh, ực nửa chai nước suối trong vắt và buồn miệng pha thêm cốc cà phê đen. Ra bao lơn phì phà điếu thuốc-có-hại-cho-sức-khoẻ-bạn. Hại kiểu gì kỳ cục thế? Không hút thì người bần thần đầu óc mụ mị, mà ém khói thần dược thì người linh hoạt và trí não bắt đầu ngo ngoe nhận biết đâu là lá vàng đâu là cây xanh đâu là cỏ mượt đâu là gió đi ngang gửi lại da gà trên tay trần. Nhiều kẻ vẫn nuôi dưỡng cái ác cảm khi ngó tới một đứa-giờ-này-vẫn-còn-hút-thuốc. Không nguỵ biện, bạn hãy bình tâm nhìn lại đi, biết bao nhiêu tác phẩm nghệ thuật thuộc loại bất tử để lại cho trần gian nhiều định kiến này mà tác giả cưu mang nó, sản sinh nó ra đều nương nhờ vào khói thuốc trong quá trình vật lộn với mê muội. Một thứ “khói huyền vươn lên cây”. Nhớ nhà, e cũng chỉ biết vàng tay đốt thuốc như hình ảnh trong nhạc tiền chiến đầy thơ mộng.
Mình rất muốn in thêm một tập truyện. Trong trí mình đã mường tượng ra cái hình bìa, tuyền màu đen, chữ trắng kiểu chân phương, nhỏ, sắc nét, khiêm tốn, đơn giản. Người nhìn ngắm sẽ mọc lên ý nghĩ: Một mộ bia? Một nơi cáo thị về những cuộc lìa xa, vô phương đoàn tụ. Không phải sao, bản thân một cuốn truyện đang lần hồi khiếm diện? Hãy chí tình khi viết tới khung cảnh một nghĩa trang. Và ruột, khoảng 250 trang in trên giấy báo vàng xỉn, thứ giấy quen thuộc luôn nằm trên sách truyện ngoại quốc.
Rất muốn. Buồn ngủ mà gặp chiếu manh. Người “xin giấu tên” sẵn lòng ban cho nhà ngươi điều mầu nhiệm để thoả cơn mộng rồ dại. Vậy thì nhà ngươi chỉ có hai cách: Ưng hay không ưa. Và lựa chọn cách nào đi nữa thì ngươi cũng nên kíp trả lời “kẻo người ta chờ kẻo người ta trông”.
Thưa chị,
Dẫu biết nhỏ thua đôi ba năm tuổi, tôi vẫn dùng chữ chị để xưng hô khi hồi đáp bức điện thư chị gửi cho. Đó là cốc rượu ngọt mà từ khi tập tành viết văn đến giờ này khờ dại tôi được uống, được nếm thử. Cám ơn tấm lòng bao dung chị trao, cám ơn “rượu nào mà uống không say?” Tôi đã chếnh choáng. Có hai hạng người, cái tâm cảm của họ khi mượn rượu để dốc lòng sẻ chia: Vui mừng uống cạn chén đoàn viên. Buồn bã vô hạn chuốc rượu giải sầu. Thú thật là tôi đang ở trong trạng thái thứ hai. Suốt cả cuộc đời tôi chưa bao giờ đón nhận một lá thư gần như tuyệt mệnh tựa thế. Tôi chậm trả lời cho chị là vì vậy. Cái hình ảnh chị tả “khi khổng khi không cuốn truyện ấy mình ên thoát ly rớt xuống” gieo cho tôi cái ý tưởng đó là một cuộc bốc thăm tình cờ hơn là sát na của định mệnh. Nhưng mà dù có giải thích cách nào đi nữa thì tôi muôn năm không quên lòng thương của chị dành cho những hàng chữ mỏi mắt của tôi. Tôi tâm sự: Rằng cái phần thưởng quý giá nhất dành cho đứa viết văn, không gì khác hơn là sự cảm thông từ phía tha nhân. Hơn cả sự cảm thông, chị còn ban phát một nghĩa cử là xúi dục, yểm trợ tôi “đẻ thêm một đứa con”. Lời cám ơn tôi sẽ nói chẳng mang tới được điều gì cả. Nó tầm thường quá. Tôi xin có lời đề nghị: Tôi sẽ nhận số tiền chị trao, và thay vì “trả viện phí sau khi sanh con” tôi sẽ mua vé máy bay, tìm tới bệnh viện và sẽ ngồi xuống bên giường chị để han hỏi nhau, để nhìn ngó nhau, để thu giữ vào lòng nhau một nhân diện quá đỗi tử tế. Điều cần kíp là xin chị địa chỉ, vùng miền chị định cư, một cái đich để hướng tới cho dẫu đó là Alaska bạt ngàn giá băng. Tôi ước ao được gặp mặt chị, hy vọng nhiều, dù thông thường một phụ nữ họ ái ngại để kẻ lạ nhìn ra vẻ tiều tuỵ ho đang mang. Tôi đi ngủ, luôn trong trí mình đọng chiếu một khuôn mặt với nhiều dung mạo. Và tôi cả tin, chị là người sở hữu một nhan sắc thanh tú. Xin chị sớm có quyết định để tôi thu xếp lịch trình nghỉ trong chỗ làm. Chưa khi nao tôi háo hức như hôm nay. Một cậu bé lòng rộn ràng được mẹ nắm tay dẫn tới ngày tựu trường là tôi đây, không ai khác. Mong chị an vui. Thân mến.
Thưa Anh,
Tôi xem thư anh viết cho chị tôi và tôi có bổn phận phải thông báo: Chị tôi đã ra đi khuya hôm qua. Chị sẽ được hoả táng vào ngày mai sau một ngày đặt ở nhà quàn và tôi dự tính sẽ xé một đôi trang trong tập truyện của anh để gửi cháy cùng. Là người Việt, tôi tin tới duyên phận và số mạng. Trong lúc buồn đau này tôi chẳng biết nói gì. Mong anh thân tâm an lạc. Kính. Em gái người vô danh.
Mình tắt máy. Mình ra bao lơn thắp thuốc hút. Cây xanh, lá vàng. Gió đi ngang thầm thì tiếng vô ngôn, gửi lại tái tê trên da thịt. Mình xin làm khó dễ bạn: Có bao giờ, một đôi lúc bạn nhìn nhận thật rõ ràng, thân xác bạn mang thực sự là một cõi không, trống trải, quạnh vắng? Chẳng được diễm phúc như vầng trăng bị mây đen vây khốn. Người bạn tựa một chiếc lá, rụng xuống, quay mòng nhẹ hẫng trước khi trở về với mặt đất âm u cỏ sầu.
Trong khi việc càn quét quân Cộng Sản tiếp tục trong Thành Nội, Đại Đội 1/1 và 2/5, hành quân về phía nam Huế càng lúc càng xa hơn. Ngày 26 tháng Hai, một cuộc tuần tiểu lớn nhất khởi sự vào lúc quá nửa đêm một chút. Trung tá Cheatham chỉ huy toàn bộ tiểu đoàn truy quét quân Cọng Sản. Ông ta để thiếu tá Steele ở lại bộ chỉ huy cùng với một toán xạ thủ đại bác không giật 106 ly để giữ an ninh, còn ông ta theo Đại đội Fox, Golf và Hotel vượt qua cầu phao trên sông An Cựu rồi ngược lên phía bắc truy kích binh lính Cọng Sản bị tụt hậu ở giữa họ và sông An Cựu. Đêm hôm ấy trời tối đen, sương mù nhưng đến sáng thì trời sáng trong.
TQLC/ Mỹ bắt đầu tiến về phía đông, hướng Phú Cam. Súng nổ.
Cheatham và ban chỉ huy đóng tại căn cứ Công Binh Việt Nam trên đồi Nam Giao. Không ai biết bãi mìn do quân đội Việt Nam gài ở đây nên người lính TQLC đầu tiên bước lên cổng đã bị mìn chết. Vì vậy, số binh lính còn lại tìm một con đường khác để vào bên trong. Trung tá Cheatham đặt ban chỉ huy bên trong trại.
TQLC truy kích các binh lính Cộng Sản tụt hậu, giết 37 người. Phía TQLC có ba người tử trận…
Tại ban chỉ huy đặt trong thành phố Huế, thiếu tá Steele nhận lệnh tiến lên cùng với xe tăng và hàng tiếp liệu. Họ chất đồ lên xe GMC và thành lập môt đoàn xe, xe Jeep của Steele đi đầu. Xe qua một khúc quẹo, Steele thấy một khung cảnh kinh hoàng nhất mà ông ta chưa bao giờ từng thấy ở Việt Nam: Một đoàn xe trống không, đã bị địch tiêu diệt. Đó là đoàn xe của Tiểu Đoàn 11/ TQLC bị phục kích hôm Tết, khi chiến sự mới bắt đầu. Chẳng ai sống sót. Xe tải và chiến xa hạng nhẹ chạy bên hông, nhìn vào đoàn xe bị phục kích, thấy người bên trong như đang hối hả. Cửa còn mở, đạn còn sẵn trên súng.
Tới thêm mấy thước, thiếu tá Steele thấy đất phía sau tung lên. Chiếc xe chở hàng chạy phía sau trúng mìn, toàn bộ phần đầu xe bay mất. Máy xe cũng bay, thùng xe rách nát móp méo, người tài xế vẫn còn sau tay lái, mặt đen sì, tóc cháy trụi, trông như bức hình hoạt họa. Các TQLC sửng sốt, đưa tài xế lên xe tải, chuyển về MAC.V. Thiếu tá Steele gọi công binh nhưng họ đang gặp rắc rối trong việc gỡ mìn. Binh lính Cọng Sản BV bỏ mìn trong những thùng gỗ trước khi đem chôn nên máy dò mìn không phát hiện được.
Steele đứng bên đường, nói chuyện với viên trung sĩ của chi đoàn chiến xa là một người bạn cũ của ông ta. Một chiếc xe GMC chạy tới, xe chở đầy binh lính VNCH và thường dân. Người tài xế quẹo quanh qua đoàn xe TQLC, chạy xuống phía dưới, chưa được mấy chốc thì trúng mìn, chiếc xe văng vào đống bùn. TQLC lại phải lo thêm cho người bị thương. Cuối cùng, Steele ra lệnh cho binh sĩ ông chạy bộ, băng qua một nghĩa địa để vào trong doanh trại của Việt Nam Cộng Hòa.
Từ doanh trại của Quân Đội VNCH trên đỉnh đồi, Cheatham thấy quang cảnh toàn bộ thung lũng ở bên dưới và ngọn đồi bên cạnh. Trên đỉnh đồi ấy có mấy công sự lớn đúc bằng xi-măng từ thời chiến tranh Pháp Việt. Quân CSBV đang núp ở bên trong.
Đại uý Downs và đại đội Fox tiến qua thung lũng, về phía họ. Hai khẩu súng máy đang nã đạn. TQLC đi bọc bên ngoài để ra mặt sau ngọn đồi.
Trung úy Harvey và Đại Đội Hotel núp ở phía trước, tạo thành chữ L mà đại đội Fox ở cạnh đáy. Vị trí quân CSBV cách xa khoảng vài trăm thước. Toàn bộ khu vực đầy bụi bờ, cây cối, không thể nhìn xa được. Nếu cúi mình xuống để tránh đạn thì chẳng thấy gì hết. Đại đội Hotel tiến vào một con đường kín. Trung úy Harvey thấy lưỡng lự nếu gọi không kích vào những công sự lớn đúc bằng xi-măng nầy. Anh ta gọi máy cho Downs, nhưng vì nhiều tàng cây rậm rạp, anh ta không rõ vị trí của Đại đội Fox. Do đó, thay vì chỉ điểm cho máy bay phản lực đánh bom song song với phòng tuyến như trong binh thư, anh ta gọi máy bay oanh tạc phía trước anh, để tránh tai nạn cho Đại đội Fox.
Máy bay phản lực bay thấp, rít trên không và thả bom lửa. Quân Cọng Sản Bắc Việt ngưng tiếng súng. Nhân khi súng ngưng nổ, Harvey đứng lên để quan sát rõ hơn. Anh ta hoan hỉ vì thấy mục tiêu đang bốc khói vì quả bom thả xuống chính xác. Harvey dùng máy truyền tin liên lạc với phi công, hướng dẫn máy bay oanh kích thêm một lần nữa.
Đứng trên đường mòn, Thomas quan sát máy bay phản lực, lấy làm lạ tại sao máy bay lại bay ngang trên đầu mình thay vì bay song song với tuyến tấn công. Trong khi không rõ vị trí của Đại Đội Fox, Harvey lại gọi máy bay thả bom lửa.
Một chiếc phản lực đảo vòng quanh, rú thật thấp ngang ngọn cây, thả bốn trái bom lửa, và nổ súng khi chúi xuống và bay lên. Bất thần có một tiếng gầm dữ dội, Harvey như bị dội vì một một chấn động kinh khủng. Anh ta té xuống đất, bụng thót lên. Đất rung chuyển. Khi tiếng nổ qua rồi, và đất đá không còn rơi xuống như mưa nữa, anh ta lắc thử đầu của mình. Harvey nhận ra rằng hai tiếng nổ từ đằng sau dội tới. Anh ta nghĩ là tìm ra cớ sự rồi: Phi công bấm nút sớm một giây. Binh sĩ đứng lên, lắc mình, choáng váng kinh ngạc, nhìn quanh. Quái gì xảy ra vậy? Họ ngơ ngác một lúc. Vài người bị thương, rồi tìm thấy thêm bốn người nữa, xác bị tanh banh, chân, tay ruột văng lên cành, bụi. Có lẽ bom trúng ngay họ. Ai cũng thấy buồn nôn, quay mặt đi, không muốn nhìn vào cảnh tượng ấy.
Thomas chẳng còn cách chọn lựa nào khác. Vài người đi nhặt từng mảnh xác, bỏ vào áo mưa lính. Thomas kêu to lên, gọi mấy người lính phụ một tay.
Phía hông, Đại Đội Fox tiến lên để chiếm ngọn đồi. Họ tìm thấy hai mươi mốt xác binh lính Cọng Sản Bắc Việt trong ngôi nhà đổ nát. Tuy vậy, con số đó cũng chẳng có ý nghĩa gì với binh sĩ Đại đội Hotel.
Thiếu úy Harvey ngồi trên con đường mòn dưới chân đồi. Anh ta nhìn theo con đường tiến lên đồi, nghĩ tới việc máy bay đánh bom lầm làm cho 4 người lính TQLC thiệt mạng mà đau lòng, hoàn toàn chán nản.
Hạ sĩ Allbritton cùng với tiểu đội của anh uể oải đi xuyên qua hàng cây. Anh ta thấy mệt. Mệt, uể oải và mòn mỏi. Bốn tuần lễ ở Huế đã đem lại chừng ấy điều. Bây giờ thì vẫn tiến lên chiến đấu. Hôm qua, một người lính trong tiểu đội anh tử trận khi hai quả súng cối nổ tới. Rồi lại tới chiếc máy bay phản lực bỏ bom ngay phía trước mặt. Việc ấy xảy ra ngày hôm qua hay hôm kia, anh ta cũng chẳng nhớ. Quá nhiều việc dồn dập xảy ra. Anh ta lại bị thương nhưng không nhớ bị thương lúc nào. Chuyện cứ xảy ra mãi hoài, và một ngày anh ta thấy người anh có mảnh đạn, hoặc có thể đó là một phần viên đạn nhỏ, chẳng biết nói làm sao! Allbritton hết sức chán nản, chẳng muốn suy nghĩ gì cả. Anh ta chỉ huy tiểu đội vượt qua một khoảng ruộng trống… và quân Cộng Sản nổ súng.
Allbritton nhào xuống đất, lăn tròn và nắm một quả lựu đạn khói giắt bên hông. Phải quăng lựu đạn khói để thoát ra khỏi đây. Anh ta lại nghe tiếng B-40 bắn phía bên cạnh, liền quay đầu về hướng đó. Ba cây thông nhỏ nằm chung thành một hàng, và từ nơi đó, một trái B-40 đang bay tới phía anh. Trái hỏa tiễn bay qua khỏi anh ta, bay chậm đến nỗi anh ta thấy hàng chữ vàng sơn bên hông trái đạn màu ô-liu. Trái hỏa tiễn bay cách anh ta cở vài ba tấc và nổ cách xa hơn một thước. Một mảnh đạn lớn đâm vào bắp vế anh ta, ngay trên đầu gối. Số binh sĩ còn lại của Trung đội 3 bắn che cho tiểu đội của anh rút lui. Allbritton chồm lên chiếc xe đang trờ tới để di chuyển người bị thương. Anh hiệu thính viên của Allbritton, Moses, nằm sau lưng anh ta. Mặt anh ta trúng mảnh đạn, dập miệng nên anh ta không nói được.
Allbritton và Moses bị thương nặng. Họ là những người cuối cùng nguyên thủy của tiểu đội khi họ được trực thăng bốc đến Huế. Họ cũng có được những giây phút thoải mái. Trước khi hành quân, binh lính đến bổ sung, có đem theo một ít đồ dùng sạch sẽ, Allbritton dùng một tấm ra mới để quàng vào thân hình lùn và nặng 130 pound của anh. Đại đội cũng gởi kèm theo một lưỡi dao cạo hiệu Gillette, vì là tiểu đội trưởng Tiểu đội 3 của Trung đội 3, anh ta được lưỡi dao cạo ấy. Dùng nước lạnh, anh ta cố cạo hàm râu của anh rồi đi xuống hành lang, ngang qua chỗ của Moses và một người lính mới bổ sung. Anh ta đi ra ngoài và cở vài phút sau, Moses đi theo, nhìn anh ta nhăn răng cười. Anh ta kể cho Allbritton nghe khi anh nầy đi ngang qua, anh chàng lính mới tới hỏi người mới tới kia là ai vậy vì anh ta lầm khuôn mặt mới cạo của Allbritton làm cho y tưởng là người mới. Moses trả lời đó là hạ sĩ Arkie. Anh chàng nầy cười ha hả: Chúa ơi! Trông anh trẻ quá và giống như thiên thần.
Bây giờ thì anh chàng mới kia trở thành cựu chiến binh. Allbritton cũng như Moses được trực thăng bốc về. Toàn thể tiểu đội bây giờ chỉ toàn là binh sĩ mới bổ sung.
Burghardt và Neas cũng là những người được sống sót. Họ đã chiến đấu ở Huế 24 ngày. Sau những tuần lễ chiến đấu trên đường phố, một nửa Đại đội Alpha vừa chết vừa bị thương. Bây giờ thì họ được đưa về hậu cứ TQLC được coi như thành phần thay thế.
Sáng sớm, đại đội bắt đầu xuất quân, họ tiến về hướng nam, qua từng nhà một, tới một cây cầu ở khu nam, dọc theo sông đào, phải qua cây cầu ấy để ra khỏi thành phố. Họ chẳng tìm thấy ai trên đường tiến quân nên cuối cùng Burghardt, Neas và vài binh sĩ khác đi vòng quanh một ngôi chùa nhỏ và dừng lại bên cạnh một bức tường thấp. Hai người trong bọn họ đứng sau một bức tường gạch, cao ngang vai và Burghardt ra hiệu cho hai người tiến qua cầu để giữ an ninh cho trung đội có thể vượt qua tiếp luôn.
Khi người thứ nhứt vừa tiến lên thì súng địch bắt đầu nổ. AK và súng cối ầm ĩ. Người lính ở trên cầu nằm xuống, chộp lấy đầu gối.
Bỗng một loạt đạn dội vào bức tường. Burghardt thấy một khối lửa trắng bay qua mặt. Anh ta phóng mình núp vào bức tường đối diện. Cái nón sắt trật xuống đập vào mũi anh ta thật mạnh. Anh ta la to: “Lạy chúa, tha cho tôi!” Neas nằm bên cạnh anh, dựa vào tường, hai tay khoanh lại. Có tiếng hỏa tiễn nổ. Anh ta để tay trên cổ của Burghardt để báo cho anh ta biết là anh ta bị thương. Anh ta thấy máu. Anh ta không tin là viên trung sĩ của anh bị thương. Một y tá chạy lên rạch áo giáp của Burghardt ra. Viên đạn xuyên qua cổ và đâm vào vai. Y tá băng chỗ đạn thoát ra và chích cho anh một ống thuốc giảm đau. Burghardt thấy sợ, không phải vì đau mà vì không thấy đau đớn gì hết. Anh ta không thể nhúc nhích được.
Khi thấy y tá băng bó cho Burghardt, Neas khóc. Burghardt vẫn cứ gọi anh ta bằng biệt danh là Alphie, biểu anh tìm cái ví. Neas không cảm thấy đau vì cái tay bị thương nhưng đau lòng khi nhìn người bạn tốt của anh và an tâm khi thấy người ta đặt Burghardt lên cánh cửa gỗ khiêng đi.
Có người đang xông tới cứu người lính bị thương ở trên cầu. Một anh TQLC biệt danh là là Hoppy lái một chiếc xe Jeep tới. Họ để Burghardt nằm ngang trên cáng. Neas và một người khác leo lên xe và Hoppy lái chạy về phía sân vận động Huế. Burghardt bắt đầu thấy mọi vật mờ đi. Họ vào bãi đáp trực thăng trong sân vận động. Burghardt thấy lạnh. Sau đó, trực thăng tới chuyển đi Phú Bài. Sau một lúc chờ ở Phú Bài, một chiếc trực thăng khác tới đưa anh ta ra tàu bệnh viện Repose đậu ngoài khơi biển Đông. Hai giờ sau, anh ta được đưa vào phòng mỗ.
Ngày hôm sau, các bác sĩ cho anh ta biết anh bị một viên đạn bắn vào cột sống, ảnh hưởng tới giây thần kinh, làm anh ta bị tê liệt. Đó là ngày thứ hai ở trên tàu, anh ta bị buộc vào giường, đầu bị giữ chặt khi một sĩ quan tới gắn vào ngực anh ta Chiến thương Bội tinh.
Vào tuần lễ thứ ba trên tàu bệnh viện, có bài báo viết về anh xuất hiện trên tờ Stars & Stripes . Y tá gắn bài báo vào đầu giường cho anh. Đầu đề bài báo là: Một TQLC giết được 7 địch quân trong những trận đánh ở Huế. Từ đó, Burghardt chỉ có thể chuyển động được tay trái mà thôi.
Hạ sĩ Carter thấy mệt vì căn cứ Phú Bài. Lần đầu tiên khi anh ta tới Phú Bài, chỉ có một cái chân đầy mảnh đạn mà thôi. Vì thiếu Novocain nên bác sĩ cột một cái que thăm xuyên qua vết thương. Ông ta để mảnh đạn lại trong người anh, khâu một vết thương dài rồi băng lại. Suốt hai tuần điều trị, Carter thấy nản bịnh viện. Anh không muốn ở hậu cứ, cũng chẳng có việc gì làm, nên đâm ra nhớ bạn bè. Ở hậu cứ, anh lại càng thêm mệt vì mấy viên trung sĩ bắt đi lấy cát đổ vào bao để làm công sự. Anh ta còn nghe nhiều chuyện sai trái trong đại đội vì viên trung sĩ thường vụ. Có bốn thương binh được nghỉ dưỡng sức nhưng viên trung sĩ bắt họ đi giữ an ninh cho đoàn xe tiếp tế. Ba trong số họ bị phục kích chết. Vì vậy dư luận về viên trung sĩ thường vụ Carter tin là có thật. Anh ta ghét viên trung sĩ nầy, không muốn làm bất cứ việc gì với những người chẳng bao giờ ra mặt trận như viên trung sĩ nầy.
Cuối cùng, Carter xin xuất viện. Anh ta mang balô và súng ống lên xe trở về Huế. Trên thùng xe có nhiều bao cát đầy vết máu, chắc là xe đã từng chở nhiều thương binh di tản.
Trên đường đi chẳng có tiếng súng nổ. Trận chiến đã chấm dứt rồi.
Carter tìm tới ban chỉ huy Đại đội Fox. Các trung đội đang truy kích quân CSBV dọc theo sông An Cựu. Ngày đầu tiên trở lại với đơn vị, anh ta đi với Trung đội 3. Họ vượt qua các hàng cây, trong khi dân chúng chạy nạn đông như nước chảy, hướng về trung tâm thành phố nay đã được an toàn. Mấy cô gái đẹp mĩm cười và hoa tay chào khi họ đi ngang bên cạnh binh lính Mỹ. Họ cố hoa tay thật nhanh vì còn e ngại bị lính My bắn vì họ là người Việt Nam. Mấy người già đi chung trong đám vẫn cứ tiếp tục đi, không dừng lại khi lính Mỹ muốn hỏi cho biết ít tin tức quân Việt Cộng. Họ nói thật nhanh: Chúng tôi không phải là Vixi.
Cuối cùng một anh lính chặn một ông già lại, mặc dù ông già nói “Tôi không phải là Vixi.” Người lính nầy, một hạ sĩ, mặt mày giận dữ, một tay đưa nắm đấm lên, tay kia nắm cổ áo ông già, la to: “Được rồi, không ai được ra khỏi đây. Ông đi đầu, ông phải nghe lệnh.” Carter lo lắng nhìn ông già.
Viên trung sĩ đi nhanh về phía trước, kéo ông già đi theo. Mấy người lính còn lại đi theo sau. Họ đi xuống con đường đất, ngang qua một cây cầu nhỏ và vào một khu rừng. Từ bên kia đường, có tiếng súng AK nổ dồn dập. Ông già lãnh nguyên loạt đạn và té xuống chết. Viên hạ sĩ bị thương nặng, giả chết, trong khi quân CSBV từ dưới giao thông hào chui lên, tước đồng hồ và balô của anh ta, lấy hết đạn M79. Nhờ đó mà anh hạ sĩ sống sót được.
Số binh sĩ TQLC còn lại bắn yễm trợ mạnh mẽ, mặc dù các tàng lá cây dày làm cho họ không thấy được gì hết. Trung sĩ MaCoy bắn mấy phát đại bác không giật 3.5 inch, Carter và một anh xạ thủ nằm sát xuống đất. Binh lính CSBV thì núp trong những cái hầm họ đào như hang chuột, qua các giao thông hào và bụi rậm.
TQLC bò qua các hàng cây vào trong một ngôi chùa nhỏ đối diện với giao thông hào của lính Cọng Sản, bắn lại dữ dội. Đại úy Downs gọi không yểm. Hai máy bay trực thăng bay tới. Carter gần như muốn la to hoan hô khi thấy trực thăng bắt đầu tác xạ, bắn tung hệ thống giao thông hào của địch.
Quân CSBV bắt đầu bỏ chạy bán sống bán chết. TQLC nổ súng. Carter cầm súng phóng lựu bắn theo. Anh ta thấy được bóng địch té xuống trong các hàng cây trước mặt. Một cây đại liên của quân CSBV nổ dữ dội, bắn che cho đồng đội rút lui. Carter nhìn vào đám cây xanh phía trước, tìm mục tiêu. Anh ta thấy chỗ khói bốc lên bèn nhắm vào mục tiêu đó cho nổ hỏa tiễn Laww. Phát đầu tiên, hỏa tiễn đi quá mục tiêu. Anh xạ thủ đại liên hoảng kinh trèo lên khỏi hầm. Carter nhắm vào đầu anh ta và cho nổ quả thứ hai. Xác anh ta bung lên cùng với tiếng nổ.
Tối hôm đó, Richard Carter kỷ niệm lễ sinh nhựt của anh bằng cách quẹt một vài que diêm lấy từ trong hộp bánh ra. Anh ta được 21 tuổi.
Ngày hôm sau, vào lúc nửa đêm, cuộc hành quân Huế dài 26 ngày chính thức chấm dứt.
Chàng lính trẻ, phía sau là cửa Thượng Tứ vào Đại Nội, Huế
Chương 8: Thành Nội – Phần Hai: Đại Nội
Ban chỉ huy tiểu đoàn đóng bên ngoài Mang Cá, trong một biệt thự xây theo kiểu trang trại của người Norman dễ làm cho người ta nhớ lại khung cảnh của một phần tư thế kỷ trước. Có đèn cầy và bát hương trên bàn thờ, mấy chai rượu vang đặt trên một cái kệ đã bị hỏng và đầy bụi. Một cái thánh giá to nặng có trang trí treo trên vách tường.
Thiếu tá Thompson ngồi trong gian nhà nầy, mơ hồ nghe những ngọn gió lạnh và súng nổ chung quanh, nhìn đi nhìn lại bản đồ Đại Nội. Ông ta và ban tham mưu cố gắng thực hiện một nhiệm vụ khó khăn: Làm thế nào để đánh bật một lực lượng cố thủ một cách vững chắc trong Đại Nội mà binh sĩ không phải hy sinh nhiều. Chẳng có cách nào khác. Thompson nghĩ: Tình thế thật căng thẳng, một tình thế gay go và hao tổn không ít cho đơn vị.
Trận tuyến hầu như có lợi thế cho quân CSBV. Thành Nội là nơi phòng thủ hoàn hảo. Nhiều dãy nhà Tình thế thật căng thẳng, một tình thế gay go và hao tổn không ít cho đơn vị.
Trận tuyến hầu như có lợi thế cho quân CSBV. Thành Nội là nơi phòng thủ hoàn hảo. Nhiều dãy nhà một tầng, vách tường dày nằm thành từng hàng liền nhau, ở giữa là những con đường hẹp, hoặc là các con hẽm, xe tăng hay xe thiết giáp khó hoạt động. Sân thì có tường bao quanh, nhiều cây già gốc to, có hàng rào, cách xa khoảng hai chục mét là không thấy được rõ. Bức tường thành phía đông-bắc bên hông trái của lực lượng TQLC được xây bằng gạch, thành đất, chạy thẳng lên đầu thành, lại có tường góc lan can, thỉnh thoảng có nhiều bụi rậm, nhiều cây cối. Quân CSBV chiếm khu nầy đã hai tuần, chuẩn bị sẵn chiến trường để chờ TQLC tới. Khu Thành Nội thuận tiện cho họ. Họ đào hầm kiểu hang chuột dọc theo bờ thành đất và hàng rào, có nhiều cửa sổ hay gác nhỏ để núp ở đó bắn lén được. Họ đào chỗ ẩn núp trên tường thành, có hàng trăm chỗ ngụy trang một cách tự nhiên, khó phát hiện và họ hỗ trợ tác chiến cho nhau được. Có nhiều vị trí vững chắc, nhiều vị trí đặt súng máy tốt có thể cầm chân toàn cả đại đội TQLC.
Phía ngoài Thành Nội, bên kia hồ sát bờ thành đông-bắc, quân CSBV chiếm nhiều ngôi phố lầu bốn hay năm tầng. Từ ngoài phố đó, họ có thể bắn qua đầu bức thành để che cho binh lính họ. Phía trước TQLC và bên phải là Đại Nội đã bị CSBV chiếm và cột cờ Ngọ Môn, có lá cờ Cộng Sản treo trên cao. CSBV đặt súng cối trong Đại Nội, đặt súng máy trên đầu tường cao bắn xuống mà TQLC khó phản ứng mạnh được. Lệnh ban ra thì cấm làm hư hại cung điện có tính lịch sử và tinh thần dân tộc mạnh mẽ. Tuy nhiên, Quân Đội VNCH thì được phép bắn súng cối vào Đại Nội nhưng họ lại thiếu hợp đồng tác chiến toàn diện với TQLC/ HK khi thực hiện cuộc tấn công nầy.
Thời tiết cũng chẳng thuận lợi gì. Cơn lạnh kéo dài, mưa phùn, mây thấp, hạn chế không yễm. Máy bay phản lực không hoạt động được và trực thăng khó bay vào ra Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 1/ BB, là nơi có bãi đáp trực thăng. Hàng tiếp liệu không đến được, thương binh khó chuyển đi. Chỉ còn một phương tiện di chuyển duy nhất là tàu, nhưng CSBV chiếm nhiều vị trí dọc sông đào và sông Hương, làm cho việc vận chuyển của Hải Quân gặp khó khăn. Các TQLC tử trận bị kẹt lâu dài trong thành Mang Cá, người bị thương nặng phải chờ, chỉ có những người bị thương nhẹ, được băng bó xong lại ra đơn vị.
Tuy nhiên, Thompson và Hughes thành công trong việc đề nghị bải bỏ lệnh hạn chế hỏa lực. Phụ tá tướng Wesmoreland là tướng Creighton Abrams, ngày13 tháng Hai, thiết lập thêm một bộ Chỉ huy Tiền phương của MAC.V tại Phú Bài, đồng ý cho III MAF đưa loại đại bác Howitser 8 inch tới Phú Bài rồi đem xử dụng ở Huế. Tướng Oscar E. Davis, Phụ tá Tư Lệnh Sư đoàn 1 Không kỵ, vào cuối trận đánh, thiết lập một văn phòng trong Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1/ BB để điều hòa hỏa lực hỗ trợ giữa TQLC Mỹ, Quân Lực Mỹ, Quân Lực VNCH và TQLC Việt Nam. Tuy thế, vẫn còn nhiều vấn đề. Hỏa lực Hạm đội 7 ngoài biển Đông Hải (bắn xa 26 ngàn yards) hết sức chính xác nhưng đạn lại rớt bên ngoài khu thành đông-bắc hoặc sái mục tiêu hàng trăm thước. Chỉ có pháo binh bắn từ Phú Bài bằng các loại đại bác 8 inch và 155ly, hầu hết là của các đơn vị 1/11 và 2/11, với khoảng cách 8 dặm là chính xác. Các đại bác 8 inch bắn rất trúng mục tiêu (Đại úy Harrington điều chỉnh cho nổ cách vị trí của anh ta chỉ có 25 mét, và các sĩ quan của anh ta, ở trên các nhà cao tầng hai bên hông đường tiến quân cũng điều chỉnh cho bắn rất chính xác). Tuy nhiên vị trí của Đại đội 1/ 5 nằm ngay trên đạn đạo, khá nguy hiểm. Do đó, hai đại đội nhiều khi tiến cách nhau có mấy thước. Tiền sát viên khôn khéo và láu lĩnh khi gọi pháo binh tác xạ. Nhà cửa dày đặc làm cho họ nhiều khi không thể quan sát viên nạn nổ mà lại đoán chừng bằng cách nghe tiếng nổ mà thôi; phương pháp nầy thiếu chính xác. Các đơn vị súng cối 81 ly cũng bắn hết sức chính xác, nhưng với loại đạn súng cối, địch quân trốn tránh trong các hầm hố không tác hại gì. Hai toán súng cối 4.2 inch của đơn vị Whiskey 1/11 đặt ở MAC.V bên kia sông Hương bắn trúng vị trí địch trong Đại Nội, nhưng việc tiếp tế đạn lại khó khăn.
Trên bộ, hỏa lực của TQLC thuộc quyền thiếu tá Thompson chỉ huy đạt vài thắng lợi. Bốn chiến xa hạng nhẹ có trang bị đại bác và các toán đại bác 106 ly không giật của tiểu đoàn luôn luôn ở tuyến đầu, hỗ trợ cho bộ binh. Trung đội 3 của Đại Đội Alpha và Chi Đoàn Chiến Xa số 1 do trung úy Ronald Morrison, một người rất can đảm, chỉ huy, gồm tám chiến xa M-48 đạt thành công lớn. Suốt ngày, và trong toàn bộ trận đánh, các chiến xa nầy đến ngay các vị trí do Thompson yêu cầu. Trung úy Morrison, người được thưởng Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao bạc vì những chiến công của anh, xử dụng chiến thuật từng cặp: Một chiến xa nhỏ hoạt động kèm một chiến xa lớn mỗi khi bộ binh yêu cầu hỗ trợ. Các chỉ huy bộ binh báo cáo ngắn gọn cho người chỉ huy chiến xa biết vị trí địch. Vậy là chiến xa tiến lên ngay phía trước, có bộ binh bắn yểm trợ để nã đại bác 90 ly vào mục tiêu, rồi chiến xa thụt lùi, nhường chỗ cho chiến xa hạng nhẹ lên, nổ ngay một loạt 6 viên đạn của 6 cây đại bác 106 ly không giật, làm cho mục tiêu hoàn toàn tê liệt. Tuy nhiên, chiến xa gặp khó khăn khi di chuyển trên những đường phố hẹp, binh sĩ trên xe dễ chết hoặc bị thương. Trong suốt trận đánh, mỗi chiếc bị địch bắn ít nhất một chục quả hỏa tiển B-40. Mỗi đêm, các chiến xa nầy lại rút về thành Mang Cá, sửa chữa, tiếp tế và trang bị để sáng hôm sau lại lên đường tiếp tục chiến đấu.
Bên cạnh vấn đề địa hình, thời tiết cũng như tất cả những trở ngại khác, vấn đề khó khăn của cuộc chiến trong Thành Nội thực ra là binh lính CSBV. Họ được trang bị tốt và tiếp tế đầy đủ, và họ cũng là những người lính can đảm. Có nhiều phúc trình của Quân Đội VNCH cho biết có 3 lính CSBV bị giết khi họ bị xích chân vào nhau và vào cây đại liên của họ. Dẫn một trong những tù binh CSBV về ban Chỉ huy, vài TQLC nói với Thompson họ thấy người nầy không hoàn toàn tỉnh táo, bị bắt khi đang núp ở trong hố cá nhân. Anh CSBV nầy bị thương vài lần, vết thương nhiễm độc và hôi thối, và có thể chết ngay nếu TQLC không tìm thấy anh ta kịp thời. Thompson suy nghĩ: CSBV không quan tâm đến cái giá họ phải trả. Đó là điều thấy rõ trong cuộc đụng độ đẫm máu ở Thành Nội. Đối với TQLC, việc CSBV không quan tâm đến tính mạng binh sĩ của họ cũng chẳng có ý nghĩa gì với họ, nó chỉ làm TQLC thêm mệt mỏi mà thôi. Họ bị tiêu hao khi phải đánh từng nhà, qua những đống gạch vụn, đếm từng tấc đất giành được. Thiếu tá Thompson thất vọng và e ngại, mọi người cũng thế.
Hỗ trợ cho Đại Đội 1/ 5 trong Thành Nội, và hai tiểu đoàn TQLC khác ở Khu Huế-nam là một sự hỗ trợ có tính giây chuyền của Hải, Lục, Không Quân từ Phú Bài, Đà-Nẵng và ngay cả Saigon, do bộ chỉ huy Sư đoàn TQLC số 1 điều hành, bộ chỉ huy Lực lượng Chiến thuật, bộ Chỉ huy Hoạt động Hỗ trợ Hải Quân ở Đà-Nẵng. Bằng bất cứ phương tiện nào có được như xe tải, trực thăng, thuyền bè, vấn đề tiếp liệu ưu tiên cho các đơn vị TQLC ở Huế là đạn được (1). Trong suốt trận đánh, 104 chuyến vận chuyển giữa Phú Bài và Huế đã được thực hiện, nhiều chuyến bị phục kích ngay trên sông An-Cựu. Mặc dù bị tấn công bằng súng cối và súng thường tại bãi đáp, trực thăng TQLC và quân đội Mỹ đã vận chuyển 525 tấn tiếp liệu và 270 phi vụ, chuyển một nghìn người bị thương và chết. Hầu hết hàng tiếp liệu cho TQLC trong Thành Nội là được vận chuyển bằng tàu đổ bộ LCU, gồm cả súng 106ly không giật cùng với tốc đỉnh hộ tống cho binh lính. Mặc dù bị phục kích và bắn sẽ từ hai bên bờ sông, cản trở việc di chuyển, các thủy thủ đã chuyển vận đến 400 tấn tiếp liệu.
Cái giá phải trả cho công việc tiếp tế nầy, trong thành phố có sáu chục trực thăng bị bắn hay bị rớt, nhiều chiếc trở về căn cứ với phi hành đoàn bị thương hay chết. Tệ hại nhứt là cho các thuyền Hải Quân di chuyển trên sông Hương. Quân CSBV đã dùng hỏa tiễn, mìn, và phục kích khi tàu vào ra Huế. Sức tấn công của CSBV dày đặc đến nỗi vào đầu tuần lễ thứ ba của trận đánh, tướng Abrams yêu cầu thành lập một toán hải quân hợp đồng tác chiến với các tàu di chuyển trên sông. Do đó, dưới sự kiểm soát của III MAF, lực lượng đặc nhiệm tên là “Dọn sạch Đường Sông” được thành lập, do đại úy Gerald W. Smith chỉ huy. Lực Lượng Đặc Nhiệm gồm thuyền tuần phòng trên sông, trực thăng, máy bay, pháo binh và tuần tiểu bộ. Tuy nhiên, các cuộc phục kích của CSBV không bao giờ hết được. Trên đường vận chuyển tiếp liệu cho Huế, một tàu LCU chở đạn và hai tàu chở nhiên liệu bị bắn cháy.
Điều quan tâm lớn nhứt của thiếu tá Thompson là binh sĩ của ông. Binh lính CSBV chiến đấu giỏi nhưng TQLC của ông tài giỏi hơn. Đánh cận chiến từng nhà một là một loại chiến tranh của hàng binh sĩ, những người lính trẻ khi được giao nhiệm vụ, xông vào từng nhà như điên, kéo người bị thương hay người chết ra dưới lằn đạn địch, chiến đấu từ ngày nầy qua ngày khác. Trong chiến thuật nầy, cấp chỉ huy ít phải ra lệnh, có đôi khi lầm lẫn; lòng can đảm thì không thể tưởng tượng được. Đại úy Harrington hết sức xúc động vì tinh thần người lính TQLC của hai hạ sĩ trẻ, một người được tưởng thưởng Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao bạc, người kia thì Ngôi Sao đồng. Sau khi tiểu đội trưởng của họ bị thương, Harrington buộc chia hai người chiến đấu riêng ra. Cả hai muốn cùng chiến đấu bên nhau trong cùng một tiểu đội.
Tiểu đoàn trưởng Thompson nói:
“Tôi không bao giờ quên lòng dũng cảm chiến đấu của hai người bạn trẻ nầy. TQLC chiến đấu rất cừ, không phải hoàn toàn vì tài ba nhưng chính vì lòng can đảm vô cùng của họ, vượt qua những trở ngại không thể tưởng được trong khi hoàn thành nhiệm vụ. Hai người có lòng kiên quyết đáng nể trọng. Tuy nhiên, tôi không thấy bằng chứng nào về sự hèn nhát của họ, ngại ngùng khi thi hành nhiệm vụ. Đại úy Harrington và Đại đội Alpha anh dũng của ông ta đảm nhận vai trò chính trong cuộc tấn công địch. Họ chiến đấu hết khả năng cùng với lòng can đảm đặc biệt.”
Thompson cho rằng có một TQLC trong trận Huế được coi là biểu tượng cho danh từ Sức Chiến Đấu của người lính TQLC. Anh ta là một thanh niên trẻ người da đen tên là Howard, người có dáng dấp như một công tử, nón sắt thì hay trật lui đằng sau, lưng áo giáp viết câu: “Howard Là Tên Tôi. Rắc Rối Là Trò Chơi Của Tôi.” Anh ta còn ưa đăng báo nữa. Một phóng viên báo chí nói chuyên đó với vài TQLC. Anh ta nói to: “Đưa tên tôi lên báo của anh.”
– “Tôi có thể nói gì về bạn?”
– “Anh viết về hạ sĩ Raymond Howard, 18 tuổi, được biết là “Người Hay Gây Rắc Rối”, quê ở Minette, Alabama, tiểu đội trưởng, Trung Đội 2, Đại Đội Delta, Tiểu Đoàn 1, Trung đoàn 5, sẽ vượt qua sông đá bay tụi nó ra khỏi thành phố.”
Ở Huế, Howard lái chiếc xe thớt nhỏ tại ban Chỉ huy Đại đội 1/ 5 và Thompson có thể ra lệnh cho anh ta chuyển vận đạn dược tới cho ai hoặc chỗ nào có người bị thương cần di tản. Anh ta gật đầu rồi thi hành, lái xe đi, chở tiếp tế tới cho đồng đội, chở người bị thương về, có khi phải chạy xe tới khu vực hai bên đang đánh nhau hay qua chỗ có thể bị bắn sẻ.
Một trong các bạn đồng hành với Howard trên chiếc xe thớt nhỏ là hạ sĩ Brian S. Mayer, thuộc tiểu đội súng không giật, Đại đội 1/ 5. Anh nầy cũng 18 tuổi, ít nói, lùn, vào lính ngay sau khi rời trường cấp ba tại thành phố Nữu-Ước, chẳng phải vì anh ta quan tâm gì tới Việt Nam nhưng vì học dở. Anh ta chẳng tham gia đội bóng bầu dục của trường hay hoạt động thể thao gì khác, anh ta chỉ muốn chứng tỏ anh ta có điều gì đó hay, và hình như TQLC là nơi anh ta có thể thi thố được điều anh có.
Mayer chẳng bao giờ có thể là một TQLC như trong phim ciné, lúc nào anh ta cũng cảm thấy giống như một thằng bé cố làm sao bắt kịp những người chung quanh. Khi còn ở trung học, anh ta làm công việc dọn bàn tại một nhà hàng đôi khi có mấy TQLC đến ăn. Trông họ mạnh khỏe và tự tín, Mayer ao ước được sống như họ. Nhưng sau khi qua khỏi trại huấn luyện, anh ta nghĩ rằng anh ta khó trở thành một TQLC thực sự. Anh ta vẫn còn tự thấy mình là thằng khờ. Cuối khóa huấn luyện, các huấn luyện viên làm một trò cười là cho anh qua giữ máy giặt quần áo. Anh ta được tái huấn luyện làm lính có nghề chuyên môn rồi được lệnh qua Việt Nam. Anh ta sợ tới xương, bèn viết thư cho mẹ và cho dân biểu địa phương nhờ can thiệp. Cuối cùng, anh ta đành bỏ cuộc, sợ rằng người ta cho là điên và làm phiền gia đình.
Vậy là Mayer lên đường đi Việt Nam, cố gắng sống ngày qua ngày, chấp hành mệnh lệnh chẳng chút thắc mắc, cố gắng làm việc giỏi vì anh không thể sống trong cảnh đơn độc. Nhiều lần đi hành quân ở miền quê, và khi chỉ mới tới Việt Nam có hai tháng, anh đã được thưởng Chiến thương Bội tinh. Tuy nhiên, Mayer nghĩ, chưa bao giờ anh gặp cảnh tệ hại như ở Huế. Đó là nơi tệ nhất. Có khi anh ta nghĩ, mình làm gì ở đây nhỉ? Viên trung sĩ ở ban chỉ huy sai anh ta đi đâu đó, thế là anh nhảy lên chiếc xe thớt lái đi. Đó là cách sống tới đâu hay đó, làm những gì làm được, đi những đâu tới được, bởi chỉ vì là người lính TQLC. Nhưng nó không có nghĩa không biết sợ là gì. Những điều tệ hại bao giờ cũng có thể xảy ra được. Các tay bắn sẻ Cộng Sản trên đường phố, đâu cũng có hỏa tiển B-40. Các toán bộ binh và bắn sẽ phải luôn luôn cảnh giác phía trên đầu tường thành, thỉnh thoảng có tiếng la to di chuyển và hai bên bắn nhau. Suốt ngày, chẳng có phút nào được nghỉ; đêm tối chợp mắt chút đỉnh. Một lần, Mayer đón vài TQLC dọc đường để đi nhận lương khô, nghỉ chút ít. Bỗng súng cối nổ trên đường, và chiến trận lại nổ ra. Lúc ấy, có nhiều phóng viên báo chí đang ở với họ. Khi súng nổ dữ, họ nói họ muốn lên phía trước cùng TQLC. TQLC biểu họ im đi và ngồi xuống tại chỗ. Trí óc Mayer choáng váng, các tay phóng viên nầy làm như đang đóng phim hay biểu diễn trò gì đó vậy.
Anh ta chưa bao giờ thấy một cán binh CSBV nào khi đang đánh nhau, nhưng có rất nhiều bạn bè anh ta bị thương, một anh bộ binh bị thương ở lưng được anh ta dìu lên xe thớt. Anh còn tiếp tục giúp nhiều bạn thân khác bị thương. Một buổi tối, có một anh lái xe thớt, trông còn vẻ như là một sinh viên chăm học, mang kiếng trắng, râu mép lưa thưa, trước trận Huế còn làm thư ký cho đơn vị, giữ nhiệm vận chuyển người bị thương ở đại đội Charlie. Trên đường về, anh bạn bị lạc trên đường sá ngang dọc lung tung, quẹo lộn đường nên bị CSBV bắn chết tại chỗ. Tử trận trong khi hoạt động (KIA). Mayer nghe nói CSBV dựng xác anh bạn bị chết lên để làm bia bắn thực tập. Mayer còn nghe tin hai thằng bạn chết cùng một ngày. Hôm ấy có chiếc xe tăng chạy vào trong một doanh trại của quân đội miền Nam VN bỏ trống. Tám người lính bộ binh quây quần chung quanh chiếc xe, vừa hút thuốc vừa nói chuyện, rồi mọi người đi quanh, còn Mayer thì đi ngang qua sân tới chỗ các thùng giấy đựng lương khô, tính tìm chút gì để ăn. Bỗng anh ta nghe có tiếng đạn rít trên đầu và nổ ngay bên cạnh. Hai người lính còn đứng bên chiếc xe tăng bị thương. Một người, tính hay đùa, bị một mảnh đạn vào cuống họng và chết tức khắc, mắt còn mở, miệng hé ra, như đang cười. Mayer hết sức xúc động. Người kia là một người ít nói, đang nằm trên đất, rên xiết, nhiều mảnh đạn đâm vào mình anh ta. Người ta kéo người bị thương vào trong và gọi y tá. Chỉ mấy phút sau người lính ấy chết. Mayer khó tin được hai người bạn chết chỉ vì một viên đạn quái quỉ như thế, chẳng đâu vào đâu! Mayer chờ tới lượt mình. Thế nào cũng tới lượt anh ta!
Mọi người rồi ai cũng vậy thôi. Cuộc chiến vở tan từng mảnh nhỏ, từng chút một, chẳng ai biết việc gì sẽ xảy ra trước.
&
Thiếu tá Swenson trở lại thành Mang Cá khi một trong những chiếc xe tăng của TQLC lắc lư chạy về, chiếc xe bị bắn thủng mấy lỗ, có người thương vong. Ông ta ra lệnh cho toán xe tăng chùi rửa sạch sẽ vết máu của người trưởng xa đã tử trận. Đó không phải là điều mà người ta muốn nói tới.
Một hôm, Berntson đi xuống đường khi thấy linh mục McGonigal, tuyên úy MACV, đi về phía anh ta đang ở tuyến đầu. Ông ta thường đi ra tuyến đầu. Hai người chào nhau. Vị linh mục dặn Berntson cẩn thận. Berntson nói đùa là các tay bắn sẻ tốt lắm. Linh mục McGonigal cười và đi lên phía trước. Berntson nghĩ ông ta thiệt là người tử tế.
Sáu quả súng cối rơi xuống nổ ầm ầm. Anh phóng viên nhà báo Mike Herr nằm rạp xuống đất tránh đạn. Xong, anh ta nghe có tiếng la hốt hoảng ở phía sau và thấy ba người lính TQLC đang chụm lại với nhau, tay cầm nón sắt, hát: “Chúng tôi sẽ ra khỏi nơi nầy, nếu đó là điều cuối cùng chúng tôi làm…”
Họ lại tiến lên trước, bên dưới tường thành, lom khom bò qua một chỗ bằng phẳng vì ngôi nhà bị đạn pháo binh bắn sụp, rải rác các mảnh tôn thiếc lợp nhà, gỗ và gạch đá. Lawhorn khom mình xuống, tay cầm cây súng M-16. Một hạ sĩ da đen, không đội nón sắt, đứng phía trước, tay quăng lựu đạn trông như người ta đang ném lao, giây đeo đạn lắc lư trước ngực. Bất đồ, có tiếng nổ phía sau và anh hạ sĩ té xuống. Y tá và hai TQLC kéo anh ta lui. Lawhorn nhìn anh ta, thấy cánh tay gảy, hình như có hai ngón tay bay mất. Anh ta nắm lấy cánh tay bị thương, vừa khóc vừa nhìn vào chỗ bị sưng. Một anh lính đen khác đi lom khom bên cạnh, trông có vẽ thân thuộc, nói giọng ganh tị: “Mày về Mỹ, chẳng có gì đâu, mày sẽ về nước thôi.”
Thứ Bảy, 17 tháng Hai, trời sáng nhưng khắp thành phố, bầu trời còn xám xịt. Hôm nay không có không yễm, không có đạn tiếp tế cho đại bác 90 ly, cũng không còn đạn cho đại bác 106 ly không giật. Lựu đạn gần hết, lương thực chỉ đủ cho một ngày.
Thiếu tá Thompson cho tiểu đoàn nghỉ. Hôm ấy không tác chiến. Lính được nghỉ, chỉ có ít người phải đi tuần phòng. Nhưng cuộc chiến đấu thì vẫn chưa ngưng lại.
Đi lững thững phía trước, trung sĩ Berntson tách khỏi đại đội coi thử binh lính khác trong tiểu đoàn đang làm gì. Anh ta đi qua bên phải, chỗ nhà cửa đổ nát thì nghe tiếng súng nổ phía trước, không phải tiếng súng nổ loạn xạ mà giòn, lẫn lộn giữa M-60 và M-16. Tò mò, anh ta đi tới hướng đó, chỗ khúc quẹo, thấy một chiếc xe màu xanh đậu ngay giữa con đường dài. Hai TQLC núp trên mui xe với cây đại liên M-60. Có hai người nữa núp ở hai bên xe, nơi cái chắn bùn. Berntson lom khom chạy tới chiếc xe, núp phía sau vè xe, hỏi người lính:
– “Quái gì xảy ra vậy?”
Anh lính nhăn răng cuời:
– “Này, bạn, tao đang tham gia lễ “Ngày Thi Bắn Gà Tây” lần đầu tiên ở Huế.”
– “Mày nói gì vậy?”
– “Đếch họ. Có mấy tên CSBV ở dưới đó, mấy thằng khùng nầy thỉnh thoảng chạy qua chạy lại trên đường. Có hai hay ba thằng chạy qua đường bây giờ. Bọn mình hạ chúng.”
Berntson không tin, nói lầm bầm: “Mày dọa tao hả?”
Người lính TQLC chỉ tới cuối đường, cách ba khu nhà, khoảng 150 mét. Berntson thấy bốn hay năm xác lính CSBV nằm chết chồng lên nhau giữa đường.
Người lính nói:
– “Canh chừng nhé, một chút nữa, có một tên chạy qua đuờng.”
Vừa nói xong, Berntson thấy một bóng người chạy nhanh qua, ngang chỗ đống xác chết. Chờ bóng người ấy tới giữa đường, cả bốn TQLC đều nổ súng, nhưng anh ta chạy thoát. Berntson không thể tin điều anh ta thấy. Anh ta chồm sát tới cái vè xe và chờ. Vài phút sau, một anh lính CSBV chạy từ trong một ngôi nhà ra, tới giữa đường, bỗng thay đổi ý kiến, chạy ngược lui chỗ cũ. Tất cả TQLC đều nổ súng, anh ta té xuống, bò trên lề đường. Từ phía bên kia đường có hai anh nữa chạy ra, kéo người bị thương. Đại liên M-60 nổ, một người chạy mất, một người gục tại chỗ.
Thật là điên khùng.
Berntson hỏi:
– “Chơi trò nầy bao lâu rồi?”
– “Chúng tao phục đây đã bốn mươi lăm phút. Thiệt là hay! Bọn chúng cứ chạy lui, chạy tới, không bắn lại. Nầy, anh bạn, có muốn bắn một phát không?”
– “Sao không?” Berntson nói, cầm cây M-16 lên.
– “Đếm thử coi. Tao hạ hai, nó hạ hai. Mấy tay trên kia hạ ba. Coi, anh hạ bao nhiêu cho biết.”
Berntson dựa vào vè xe, nắm chắc súng, nhắm vào đầu ruồi, nghĩ như là đi tập bắn hồi còn ở trại huấn luyện. Anh ta nhắm vào đống xác trên đường, nhìn hoài nhìn hoài cho đến khi chảy nước mắt sống. Rồi anh ta thấy một bóng người chạy qua đường, bóp cò, cho đi nguyên cả băng đạn. Người lính CSBV gục ngay, không một chút nhúc nhích. Đại liên M-60 lại nổ bồi tiếp vào tên địch. Ồ, bậy thật. Tao bắn nó rồi. Nếu tao biết chúng nó bắn tệ vậy, tao để cho nó chạy thoát.
Người lính hỏi anh ta còn muốn bắn nữa không, Berntson nói “không”. Bắn nữa, anh ta sẽ bắn hụt. Anh ta chụp một bức hình mấy người lính nầy để kỷ niệm “Cuộc Thi Bắn Gà Tây” lần đầu tiên ở Huế, xong mang súng đi. Mấy người lính TQLC cười nói với Berntson báo cho mọi người ai muốn bắn thì ra đây. Anh ta lắc đầu bỏ đi. Chưa bao giờ anh ta thấy địch hoạt động ngu xuẩn như vậy. Họ chẳng bắn lại phát nào.
Berntson tiếp tục đi quanh đến khi anh ta thấy một cái lỗ ở vách tường một ngôi nhà quay mặt ra đường. Anh ta biết đi qua một cái lỗ tường như thế không khác nào đi xuống địa ngục. Berntson làm đúng y, bắn vào cái lỗ tường ấy, rồi phóng vào một cái hố bên kia đường. Có hai TQLC thuộc Đại đội Bravo đang núp sẵn trong hố, một trung sĩ và một y tá. Viên trung sĩ nói có hai người bị thương phía trước, anh ta cần giúp đỡ để kéo họ về. Anh ta chỉ về phía họ. Trên đường, ngay giữa ngã tư, Berntson thấy có hai bóng người đang nằm, áo quần xanh và to con như TQLC vậy.
Anh ta hỏi:
– “Họ bị thương lúc nào?”
Viên trung sĩ nói:
– “Chỉ mấy phút trước. Tôi tới đem họ về. Đi đi.”
Bỗng người y tá nói, chậm và chắc:
– “Bob, họ chết rồi!”
– “Không, họ chưa chết. Họ mới bị thương. Tao thấy họ còn động đậy. Tao biết họ chỉ bị thương. Mình đem họ về. Này, đi.”
– “Bob! Họ chết rồi!”
– “Mẹ! Mày không đi, tao đi một mình.”
– “Bob! Họ chết rồi, họ bị giết từ tối qua.”
Berntson bỗng nhiên nhận ra viên trung sĩ nhầm lẫn. Tiểu đội của viên trung sĩ bị phục kích tối hôm trước. Y tá có nói với Berntson bốn TQLC chết, chỉ có viên trung sĩ sống, kéo về hai xác. Quân CSBV biết thế nào TQLC cũng ra lấy xác. Bọn bắn sẽ đang chờ ai ra ngay ngã tư.
Viên trung sĩ cắt ngang:
– “Mẹ! Mày biết rõ hơn chắc. Cả hai còn sống mà. Mày đúng là thứ gà mờ, mày không đi cứu bọn nó à?”
– “Bob! Họ chết thật. Bây giờ đem họ về ngay cũng chẳng ích gì.”
Viên trung sĩ nói:
– “Tao đi.”
Nói xong, anh ta lao ra khỏi hầm và chạy nhanh trên đường. Anh ta chạy được nửa đường thì bọn bắn sẻ nổ súng. Thêm hai TQLC nhảy vào trong hầm với y tá và Berntson. Họ bắn trả, cố bắn che cho viên trung sĩ. Anh y tá nói nhỏ: “Quỷ thiệt! Chắc thằng khùng bị bắn chết.” Nói xong, anh ta cũng phóng ra khỏi hầm, chạy chữ chi trên đường. Berntson và hai TQLC chạy theo anh ta, vừa chạy vừa bắn. Cả bọn cố chạy tới chỗ hai cái xác chết. Berntson và y tá nắm cổ chân một xác chết kéo mạnh anh ta lui, cái xác úp mặt xuống đất, bị kéo lê trên mặt đường. Viên trung sĩ và một TQLC thì kéo cái xác kia chạy theo sau. Cuối cùng, có một TQLC thứ năm chạy tới, bắn hết băng đạn nầy đến băng đạn khác vào các cửa sổ. Berntson và y tá lại nhảy xuống hầm, ngồi dựa lưng, thở hổn hển. Ba người kia cũng nhảy xuống sau lưng họ. Viên trung sĩ nhìn cái xác bị phù mặt do Berntson và y tá kéo về, la lên: “Chúa ơi! Bộ tụi bây kéo sấp mặt thằng chả hay sao vậy?”
Khuôn mặt người chết bị thâm, sứt vì bị kéo lết trên mặt đường. Viên trung sĩ ngồi thụp xuống trong hầm, khóc hu hu, hai vai rung lên:
“Tụi bây đừng kéo xác nó úp mặt xuống đường, mẹ nó nhìn không ra. Tụi bây làm hư mẹ cái mặt của nó rồi.”
Anh y tá bò đến bên, ôm lấy anh ta: “Bob, bọn mình về đi. Mọi người bình an rồi. Về trạm xá đi.”
Cả bọn họ đi chầm chậm về phía thành Mang Cá. Viên trung sĩ vừa đi vừa khóc nên y tá đỡ anh ta, dẫn đi lên đầu. Berntson và một TQLC theo sau. Mang cái xác thằng bé bị nát mặt. Vào trong thành, viên trung sĩ gặp y tá trưởng rồi họ ngồi xuống trong góc nhà. Có ai đó đặt cái xác bên cạnh anh ta. Khi Berntson quay lưng đi ra khỏi tòa nhà, viên trung sĩ vẫn còn ngồi bên cạnh xác người bạn thân của anh ta, hai tay úp mặt mà khóc.
Hôm sau, ngày 18 tháng Hai, việc trở ngại tiếp tế vẫn chưa giải quyết xong nên tiểu đoàn hoạt động chỉ có một phần thôi. Trung sĩ Dye núp trong một căn nhà với mấy TQLC, cố nghỉ một chút, nhưng lại có một tay bắn sẻ CSBV núp đâu phía trước họ. Tay nầy có cây đại liên và bắn chặn ngang căn nhà, làm bay khúc gỗ trên đầu tường khiến mọi người sợ. Trung sĩ Dye còn gặp một chuyện rắc rối khác nữa: Đói cồn cào; hai ngày không ăn gì là một thời gian lâu dài. Có điểm tiếp tế phần lương khô ở phía đằng kia nhưng tên bắn lén bắn hoài nên không ra được.
Cuối cùng, dạ dày của Dye làm anh ta nảy ra một ý hay. Anh ta nói: “Quái gì thế nầy. Mấy thằng con hoang nầy một là bắn tao chết hai là bị thương, nhưng nó không thể làm tao chết đói được.”
Mọi người theo dõi, quan sát anh ta chạy qua mấy căn nhà, sau bức tường đá. Tên bắn sẻ nã đạn lách cách. Dye nghe tiếng đạn bay trên đầu, tiếng u u của một trái đạn đang bay và đụng vào bức tường trước mặt, nổ như sấm. Trái đạn súng cối nổ làm văng bụi đầy người anh ta. Anh ta phóng tới trước, nhanh hơn, tới được điểm tiếp liệu, ôm mấy hộp thực phẩm khô, chạy ngược về căn nhà cũ. Cả bọn họ ngồi trên đống gạch ngói đổ, ăn ngấu nghiến.
Mãi sau anh ta nhìn vào chiếc nón sắt. Cái bông hoa màu vàng lớn Berntson lấy gắn vào đó khi anh ta tới một ngôi chùa Phật đã bị đạn bắn bay mất, vết đạn chỉ cách đầu anh ta có 1 inch. Khi anh ta chạy xuống bờ tường, tên bắn lén thấy rõ cái hoa trên nón sắt anh ta nên nó bắn ngay vào đó. Sau nầy, anh ta cứ nghĩ là nếu tên bắn lén bắn thấp hơn cở 1 inch thì thật là xui. Ở Huế, câu chuyện cái hoa nầy trở thành câu chuyện vui.
Đại đội Bravo tiến qua từng nhà, khu vực sửa chữa xe hơi. Berntson đi với một tiểu đội. Họ đi vào một sân nhà kế cận, bò qua chỗ vòi nước cửa sau, quăng lựu đạn và bắn; rồi đá mạnh vào cửa sau cho cửa mở ra. Bất thần thấy ba lính CSBV đang núp trong đó, Hai bên thấy nhau, một giây kinh ngạc. Ai nấy bò lăn ra. Một tràng đạn bay ngang đầu Berntson, đụng thẳng vào vách tường phía sau, cát bụi bay ra che cho anh ta khiến địch không thấy. Anh ta bắn một băng M-16, một trong mấy người lính CSBV té ngay xuống ngưỡng cửa, người kia thì té giật lui sau, rơi xuống nền nhà. Các TQLC còn run. Cuộc chạm súng chưa tới ba giây.
Họ kiểm soát cho nhau coi ai bị thương. Chẳng ai hề hấn gì hết. Mọi người cười ngất. Họ ngồi hút thuốc. Tiểu đội trưởng nói họ có thể ngồi nghỉ đến khi toán còn lại của đại đội di chuyển lên phía bên hông. Một TQLC kéo một cái xắc dã chiến của người lính CSBV đã chết, đổ đồ bên trong xắc ra giữa nền nhà, có ba cái gói bao lại rất gọn, bên trong là những miếng vàng sáng.
Anh lính nhặt một gói lên, hỏi: “Nầy! Cái gì vậy nè? Nó nặng đấy. Gói nầy là cái gì?”
Anh ta đưa cho Berntson. Đó là những miếng vàng mỏng. Anh ta chuyền quanh cho mọi người xem, quan sát. Mỗi miếng vàng có hàng chữ Pháp: “Vàng ròng”, Saigon, Danang, Hongkong, Bangkok.
Berntson nói: “Trời ơi! Gói nầy là vàng đấy.”
Anh lính trẻ thấy thế bèn với chụp một trong mấy gói đựng vàng, một anh TQLC khác chụp cái thứ ba. Berntson đếm được 20 miếng trong gói của anh ta. Anh ta lấy một miếng bỏ trong cuốn sổ tay. Họ bắt đầu tìm các gói khác, bất thần hai quản B-40 nổ trên đầu cửa sổ. Lửa bùng lên. Họ bò lui ra cửa sau. Trong khi đó thì một loạt đạn AK bắn vào cửa trước. Một quả súng cối nổ ngoài sân. Berntson vấp chân té xuống nền ximăng, cây M-16 rơi xuống. Anh ta cúi lượm thì gói vàng văng ra khỏi túi. Thêm hai quả súng cối nổ nữa. Anh ta phóng đi, tiếc hùi hụi, nhìn lại gói vàng còn nằm ngay chỗ rơi xuống. Sau khi tìm được chỗ núp, anh ta nhớ còn có lá vàng bỏ trong cuốn sổ, thấy đỡ tiếc một chút.
Sau khi chia tay với Đại Đội Bravo, TQLC, Berntson tìm đường trở lại với các bạn cũ ở Đại Đội Delta. Anh ta đi ngang trạm cứu thương thì có mấy TQLC nhờ anh ta giúp một tay, đi lấy xác mấy TQLC chết về. Họ chỉ cho anh ta thấy một ngôi nhà thủng lỗ chỗ, Berntson thấy có 3 xác TQLC nằm kế nhau bên trong. Có người nói là họ ở qua đêm trong ngôi nhà đó và bị CSBV bắn B-40 vào nên có người bị tử trận. Berntson cúi xuống nắm xác một người lính trẻ và thấy có điều hơi lạ. Anh nầy mang đôi giày da màu đen, mang lon chuẩn úy còn mới tinh nơi cổ áo, mặc đồ quân sự tiểu bang, quần còn hồ cứng. Họ kéo ba người chết về trạm y tế.
Berntson ngồi lại hút thuốc. Y tá moi trong túi người lính trẻ ra các đồ dùng do tiểu bang cấp phát và một xấp giấy viết. Anh ta đọc, và nói thầm: “Nầy, đọc đi.” Xong anh ta trao cho Berntson. Đó là giấy chứng nhận cấp bậc chuẩn úy của người sĩ quan trẻ, ký tại trại huấn luyện Pendelton, California, ngày 29 tháng Giêng/ 1968. Berntson nhớ lại có tin nói lính vừa tăng phái từ California qua, bay thẳng tới Đà Nẵng, rồi trực thăng chuyển từ Đà-Nẵng ra Mang Cá. Và đây là hậu quả. Berntson ngồi nhìn xác anh ta, cảm giác như tê cứng lại cho đến lúc anh ta buồn bã đứng dậy bước ra ngoài.
&
Thứ Hai, ngày 19 tháng Hai, ba quả súng cối 82 ly bắn từ trong Đại Nội, bay qua đầu TQLC và nổ tại điểm tiếp liệu của tiểu đoàn. Hai TQLC chết. Luật lệ cấm TQLC phản pháo vào Đại Nội.
Buổi sáng trời lạnh, sương mù bốc lên che mờ mặt hồ dọc theo bờ thành. Lính TQLC ngồi trong đống gạch ngói đổ nát, đốt lửa lên, chen nhau sưởi ấm. Khoảng vài gờ sau, mặt trời lên cao, sương mù tan dần, Đại đội Delta bắt đầu di chuyển.
Hai người đi tiền thám cùng với đại đội thuộc trung đoàn 5. Hạ sĩ David Morales và binh nhì Eric Henshall, cả hai vừa được Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao đồng vì giết được sáu lính CSBV. Họ đang ngồi dựa lưng vào tường. Henshall lôi trong túi đồ ra một lá cờ Mỹ nhỏ anh đã mua một tuần trước Tết ở Phú Bài với ý định là các tay bắn sẻ của đơn vị sẽ ký tên vào đó để mang về nước làm kỷ niệm. Nhưng rồi anh ta nghĩ ra một cách khác hay hơn. Anh ta và các TQLC xoáy đâu đó một cây sào tre để cột lá cờ vào đó. Xong, Henshall, chẳng nón sắt mà cũng chẳng cần áo giáp, cột cây tre vào một chiếc ghế tìm thấy trong ngôi nhà hư, đem dựng lên tường thành cho các tay phó nhòm chụp hình chơi.
Berntson bước tới nói với Henshall, tay cầm cuốn tập dành cho các phóng viên TQLC Mỹ:
– “Này, Eric, mày kiếm đâu ra lá cờ nầy hay quá vậy? Tao sẽ viết một câu chuyện về lá cờ nầy mới được.”
Henshal nhăn răng cười, tự hào về lá cờ của anh, nói, vừa khi Berntson ghi nhanh trên sổ tay:
– “Mẹ kiếp! Chúng nó thấy lá cờ ở đây mà tại sao không bắn. Mình cột vào ghế dựng lên đây để chúng nó bắn vào chơi.”
Lá cờ bay trong gió lạnh. TQLC đứng dựa lưng vào tường, la lối chưởi bới kẻ địch đang núp ở đâu dưới kia.
Hai tay bắn sẻ CSBV núp ở cuối bức tường bắn lách cách vài phát. TQLC cúi đầu núp sau bờ tường. Viên đạn bay qua trên đầu khiến Berntson cảm thấy giận tên bắn sẻ. Hôm trước, anh ta đã giúp y tá đem một người bị thương ra khỏi bờ thành, trong khi một tên bắn sẻ bắn hai viên qua trên đầu anh, sát đến nỗi anh ta cảm thấy được hơi nóng của viên đạn. Anh ta chỉ la lên được: “Ôi! Chúa ơi!” rồi nhào xuống đống gạch ngói bể, nằm yên mười phút không dám nhúc nhích.
Rồi lại có tiếng súng AK-50 nổ đâu đó phía trước, đạn dội vào tường. Cuối cùng, tiếng súng dứt. Cái ghế và lá cờ vẫn còn đứng nguyên.
– “Anh viết truyện hả?”
– “Vâng.”
– “Trung sĩ, bữa nay anh ở đây với tụi tôi?”
– “Vâng.”
– “Vậy là hai mươi sáu.”
Anh ta đếm tất cả được 26 người. Sau chín ngày đánh nhau ở Huế, quân số còn lại chẳng bao nhiêu!
Các TQLC vẫn ngồi dọc theo bức tường dài, chờ đợi. Vài binh sĩ tới tăng cường đang đi về phía họ. Họ mới cạo râu láng bóng làm cho Berntson thấy không hợp tình hợp cảnh chút nào cả. Tất cả binh sĩ ngồi quanh đây, mắt ai cũng sâu, râu ria xồm xoàm, dơ bẩn, người đầy bụi cát gạch đỏ. Vài người vác các thùng lương khô. Mọi người đang ăn sáng. Đại úy Harrington tới gặp mấy binh sĩ vừa đến, họ thuộc Trung đội 3. Trước đây, họ được tăng phái theo giữ an ninh cho đoàn xe tiếp tế Phú Bài-Huế, nay trả lại cho đại đội, mới tới Thành Nội. Đi với họ có thiếu úy Dean Williams, sĩ quan hành chánh Đại đội Delta. Anh nầy đã từng chỉ huy trung đội sáu tháng nhưng vì bị thương nên được giao việc tại hậu cứ. Tới Huế, anh ta tình nguyện trở lại chiến đấu. Harrington biểu anh ta nắm Trung đội 1. Đại đội nay được tiếp tế đầy đủ nên họ lại tiếp tục cuộc hành quân dọc theo bờ thành.
Khoảng sau 1 giờ chiều, Harrington ra lệnh tiến lên.
Tại điểm nầy, tường thành hẹp lại. Lớp đất đắp vào phía trong thành bề ngang còn lại khoảng 40 fít. Thiếu úy Williams cùng với một tiểu đội bò lên trên đó. Từ đó, họ tiến về phía đống gạch ngói đổ, đi lom khom, và tiến nhanh hơn. Đại úy Harrington dẫn số còn lại, tiến qua các ngôi nhà nằm dưới chân thành. Một chiếc xe tăng chạy lách cách trên đường. Berntson nhìn vào chiếc xe ấy, thấy sung sướng. Ít ra, họ cũng được yễm trợ hỏa lực. Xe tăng bắn một viên đạn 90 ly, bỗng một quả B-40 nổ ngay chỗ tài xế, đèn xe bay mất. Chiếc xe tăng rú máy thối lui. Berntson nhăn mặt khó chịu.
Đại đội đang tiến tới trước, cách khoảng nửa khu nhà, bỗng chạm súng dữ dội. Hoảng hốt vì đạn rải như mưa, TQLC lo tìm chỗ núp. Hai người đi đầu bị bắn chết ngay tại chỗ. Họ chẳng gặp may. AK-47 và B-40 bắn dữ dội chỗ khúc đường hẹp. Harrington, đang núp phía sau, cách khoảng bảy mươi lăm bộ, nhìn TQLC đang ở trên tường thành. Thiếu úy Williams, đang núp phía trước, bỗng người bị giật bắn lên khi chỗ đất quanh anh ta bị đạn bắn cày tung lên. Rồi anh ta té nhào xuống như một con búp bê rách. Anh ta bị một viên đạn vào cổ, hai viên vào ngực, mỗi chân một viên đạn. Harrington nghĩ: “Chúaơi!” Và cảm thấy đau lòng vô cùng. Anh ta thấy tuyệt vọng.
Berntson thấy có một thiếu úy đang bò xuống, ngang qua một bụi tre trong sân trước của một ngôi nhà, cùng một tiểu đội bò theo sau. Ở phía trước, súng đạn vẫn không ngừng gầm thét. Quả thật không thể nào nhúc nhích được. Các tiểu đội tiến từng bước một. Trước mặt là các căn nhà đổ nát, hàng rào cây, cây cối, tường gạch bọc quanh sân, gạch ngói ngỗn ngang. Berntson dùng cùi chỏ bò qua những chỗ đó, cố cách xa một toán M-60 đang bắn che từ phía sau. Anh ta thấy cần bắn mạnh hơn vào phía địch nên đưa cây M-16 lên quá đầu, anh ta sợ nếu ló đầu lên dễ lãnh đạn, rồi bóp cò cho nổ vào vị trí quân CSBV trên thành. Anh ta lại chạy nhanh về phía một hàng rào gỗ, phóng vào cái sân nhà bên cạnh, vội vàng núp theo bức tường đá, rồi chun vào cái nhà bên cạnh và lại núp sau một bức tường. Hai TQLC, một người cầm M-16 và một người cầm súng phóng lựu M-79, bò bên cạnh anh ta. Có ai đó ở bên kia bức tường la to: “Y tá, lên đây gấp.” Berntson nhìn quanh, chẳng thấy một người y tá nào hết. TQLC bắn qua bức tường đá vào vị trí CSBV phía trước. Berntson ló đầu qua bức tường kêu to: “Y tá.” Cách xa khoảng ba chục bộ, núp sau bức tường căn nhà kế, là hai người lính đội nón sắt, mặc áo giáp.
Không cần suy nghĩ, Berntson phóng qua bức tường. Anh ta hạ cây súng M-16 và chạy thật nhanh về phía một toán TQLC. Anh ta cùng núp với họ trong khi súng quân CSBV đang bắn vào cái sân trước căn nhà, đất cày tung lên. David Greenway của tạp chí Time bị thương. Một người bị thương nữa là binh nhất Michels. Berntson nghĩ thầm: “Chúa ơi! Không phải Michels.” Thoát chết vì quả lựu đạn nơi vọng lâu trên cửa thành, bây giờ trúng đạn. Anh ta bị thương nặng, đạn vào ngay cổ, máu trào ra ở cuống họng, mắt trợn ngược, thở ngáp, tay chân xuội xuống. Berntson la to: “Y tá!” rồi nắm tay Michels kéo lui. Vừa lúc đó, y tá hối hả chạy tới, giúp Berntson kéo Michels lui, rồi họ chạy lui về phía bức tường đá, la to: “Bắn che cho tôi. Bắn che!” Các TQLC sau bức tường bèn nổ súng như điên. Súng quân CSBV còn gắng gượng bắn lại. Berntson và y tá chạy tới chỗ bức tường, thấy không thể chạy trở lại chỗ Michels nằm được. Cả hai phóng xuống đường, chạy dọc theo đường mương bên đường. Berntson nghe tiếng đạn nổ lách cách trên đầu và rít trong không khí.
Họ chạy khoảng ba chục thước, rồi chui vào trốn trong một cái cổng sân bên trái. Berntson tuột quần, cắt mấy chỗ bị kẽm gai làm rách xơ ra. Anh ta bò lại chỗ Al Webb, phóng viên hãng thông tấn UPI, núp dưới bờ tường. “Chúa ơi! Al, giúp tao một tay. Thằng nầy bị thương nặng lắm.”
Berntson, Webb, Greenway và cứu thương lại đến chỗ Michels, chạy qua bên kia đường. Có một chiếc xe tải do Pháp sản xuất bị bắn hỏng nằm một bên đường. Họ đến núp sau cái xe ấy, để Michels nằm phía sau bánh xe. Charles Mohr, một phóng viên của tờ Nữu Ứớc Thời báo (New-York Times) chạy lên phía trước cùng với vài TQLC nữa để giúp đỡ. Y tá lấy băng băng quanh cổ Michels, chỗ cuống họng bị đạn nhưng thằng bé bị ra máu nhiều quá nên nghẹt thở, y tá phải mổ họng. Mọi người núp phía sau xe tải, nhìn y tá đẩy một ống nylong vào khí quản Michels. Berntson thấy có cánh của sổ màu xanh rơi trên mặt đường, nên nghĩ có thể dùng cánh cửa ấy để làm cáng khiêng Michels đi được.
Anh ta đứng dậy, một trái hỏa tiễn B-40 rớt nổ cách chỗ anh ta có 4 bước.
Khi anh ta tỉnh dậy, thấy mình đang nằm sấp, cách chỗ anh ta đứng lúc nảy cỡ 12 bước. Anh ta không nghe được, hình như có tiếng gì như chuông rung trong tai. Miệng anh ta có vị thuốc súng, rồi anh ta thấy có vị máu từ trán chảy xuống miệng. Anh ta cố đứng dậy nhưng không nhúc nhích được. Tay bắt đầu thấy đau kinh khủng và khi nhìn xuống anh ta thấy một khúc vải dính vào ngay dưới vai. Tay anh ta tê dại, chân cũng vậy. Toàn thể thân mình lỗ chỗ mảnh đạn. Chỗ đau nóng đỏ lên. Anh cố nhìn, thấy Michel còn nằm bên cạnh, trên mặt đường, mình uốn cong lên vì viên đạn B-40 nổ lúc nảy. Anh ta nghiêng đầu nhìn ngang thì thấy Greenway, Webb, Mohr, và y tá cùng mấy TQLC đang núp dưới gầm xe tải. Webb và Greenway cũng bị thương. Một tràng đạn AK vãi xuống đường, cày một đường dài. Michels lại trúng đạn, giựt bắn người. Berntson lại nhìn mấy khuôn mặt núp dưới gầm xe: “Trời, nhờ ơn Chúa. Có ai đến cứu tôi. Xin làm ơn!”
Y tá và Greenway vội chạy ra kéo anh ta vào dưới gầm xe.
Hai người lính TQLC chạy lại chỗ Michels. Berntson nói nhỏ với y tá: “Lo cho nó trước, tao không can gì đâu, chăm sóc cho nó trước.”
Webb cũng còn nằm tại chỗ. Mảnh đạn ghim vào chân và mắt cá anh ta. Berntson lại nói: “Lo cho Webb trước, tao không gì đâu!”
Bỗng nhiên, anh ta nghĩ chắc mình có thể chết. Y tá chích cho anh một mũi morphine (thuốc giảm đau). Mấy TQLC chạy tới, nắm lấy cánh tay anh ta làm anh thấy đau tê tái. “Trời! Đau quá!” Họ mang anh vào trong một cái sân nhà, chỗ khuất lằn đạn. Tự nhiên Berntson hơi tỉnh một chút, nhớ lại mọi chuyện rõ một cách lạ lùng, mấy người lính TQLC cũng không quên dụng cụ của anh. Họ đưa máy chụp hình và cây súng Colt .45 cho Greenway, nói với anh ta là anh muốn giao tất cả lại cho văn phòng báo chí của Sư đoàn 1/ TQLC.
Một chiếc xe thớt chạy lên. Anh lính TQLC bị thương ở vai trèo lên xe, ngồi, xong họ đem Berntson và Michels đặt nằm phía sau. Người y tá nhảy lên ngồi bên cạnh, cố gắng lo cho Michels. Chiếc xe thớt rú máy chạy về Mang Cá. Họ được đưa vào một trong những tòa nhà làm bằng nhôm theo kiểu trại lính, đặt bên cạnh những người bị thương khác. Vài bác sĩ và y tá chạy tới cắt áo anh ta ra. Bỗng một bác sĩ đắp mặt anh ta lại, nói: “Chết.”
Anh ta sẽ chết. Rồi họ để anh ta vào góc nhà, tới lo cho những người bị thương khác. Chỉ có một cơ hội hết sức mong manh rằng Michels sẽ sống được, nhưng ở Huế, người bị thương thì quá đông mà bác sĩ thì ít quá và vì vậy, những ai bị thương nặng thì được chọn riêng nên những người gặp may sẽ được chăm sóc ngay. Các bác sĩ không muốn thế, thấy người bị thương gặp trở ngại, nhưng họ không thể chăm sóc đủ mọi bề cho thương binh.
Berntson nằm ở đó, nhìn lên trần nhà và nghĩ tới Dennis Michels, nước mắt chảy xuống. Một lúc sau, anh ta mê đi, mọi thứ như chìm sâu trong sương mù dày đặc. Có ai đó cúi xuống nhìn anh ta và bỗng la lớn: “Chúa ơi! Lẹ lên, tới đây, anh ta bị xuất huyết nặng lắm.”
Một mảnh đạn to bằng đồng đôla bạc, đâm vào động mạch nơi chân anh, máu chảy lan xống nền nhà. Người ta đắp thêm bông băng, chích thêm morphine. Y tá chích ống kim vào và treo phía trên mặt anh một bình nước biển.
Có chiếc trực thăng Sea Knight hạ xuống. Người ta đặt Berntson trên cáng cùng với một cái poncho và đưa ra trực thăng cùng với những người bị thương khác. Cánh quạt trực thăng quạt gió làm cho poncho đắp lên mặt anh ta. Anh ta không thể kéo nó khỏi che mặt được. Chiếc máy bay bay lên mà không mang anh ta theo. Ít phút sau, có một chiếc khác đến, người ta đưa anh ta vào trong máy bay. Chiếc máy bay cất lên, Berntson nhìn xuống bãi đáp nhưng chỉ thấy làn khói trắng của chiếc máy bay trước dần dần xoắn theo hình trôn ốc ở phía bãi đáp khuất dần bên dưới.
Berntson thức giấc ở trạm xá Phú Bài, thấy mình được đặt trên nền nhà cùng các TQLC khác. Một y tá cúi xuống cắt cái áo xơ xác của anh. Anh ta thấy y tá lục đồ trong túi, gom những đồ vật riêng tư, lấy mất tấm bản đồ thành phố Huế mà anh ta mang theo trong suốt trận đánh. Anh ta khóc, nói: “Cho tôi lại tấm bản đồ. Bản đồ của tôi.” Người y tá nói không được. Họ không được phép cho giữ tất cả những gì có tính cách tình báo. Xong, họ đem anh ta vào phòng quang tuyến X và cẩn thận đặt anh ta nằm xuống một cái bàn. Anh ta cảm thấy đau vô cùng, lạnh cóng vì trần truồng, nửa mê nửa tỉnh.
Khi tỉnh, anh ta thấy có một TQLC đi tới, cho điếu thuốc, nói chuyện với anh ta, cố làm cho anh quên đau. Berntson hỏi anh ta thuộc đơn vị nào, anh ta trả lời là thư ký. Berntson nghĩ: “Thư ký thì biết cái mẹ gì.” Nhưng anh ta làm tốt việc của anh, và Berntson thật sự hoan nghênh việc ấy.
Sau đợt di tản thương binh đầu tiên, Đại Đội Delta tiếp tục gia tăng sức ép tấn công địch qua từng nhà. Một chiếc xe tăng tiến lên, bắn đại bác vào mục tiêu. Chỉ trong vòng 10 phút, ba quả B-40 bắn vào xe tăng khiến nó phải thối lui. Súng cối trong Đại Nội bắn ra, rơi vào vị trí TQLC, làm họ phải ngừng lại. Harrington gọi máy ra lệnh ngưng cuộc tấn công. Harrington nhìn tới phía trước thấy hiệu thính viên, – lần thứ ba từ khi trận đánh bắt đầu – bò lui giữa đống vôi gạch đổ nát. Anh ta bị thương nơi cánh tay, mỗi khi tim đập thì máu phun ra. Harrington cùng với y tá vội vàng chạy lên băng bó cho anh ta. Nhờ có TQLC bắt đầu bắn che nên các người bị thương và chết được kéo vào bờ thành. Có người đem thiếu úy Williams vào. Anh ta vẫn còn tỉnh mặc dù bị thương tới năm chỗ trên người. Rồi người ta chuyển viên thiếu úy nầy về thành Mang Cá.
Đại đội quay lại nghỉ qua đêm tại vị trí có lá cờ cột nơi cái ghế. Tới sáng, ngày 20 tháng Hai, họ lại đánh nhau từ sáng tới chiều tối. Họ củng cố vị trí tại những căn nhà hư dọc theo tường thành để nghỉ qua ở đó thêm một đêm nữa. Lawhorn và các bạn thân của anh ngồi nói chuyện nho nhỏ. Chẳng ai muốn ở lại thêm Huế chút nào. Họ quá mệt mỏi vì đánh nhau. Quân CSBV rất ngoan cố, và thật là tệ. Lawhorn thấy vui chỉ vì một điều. Đại úy Harrington luôn luôn sát cánh chiến đấu cùng binh sĩ. Trong suốt trận đánh, khi nào anh ta cũng ở tuyến đầu, tham gia cùng TQLC của anh. Mặc dù là người ít nói nhưng anh ta tận tình chăm sóc binh sĩ. Nhưng Chúa ơi! Anh ta là sĩ quan độc nhất còn lại của đại đội. Thiếu úy Green bị bắn ở Thừa Lưu, thiếu úy trung đội trưởng Trung đội 2 thì bị bắn ở cửa thành, một loạt đạn rải xuống như mưa trong một trận đánh gay go phía sau cửa thành khiến thiếu úy Imlah phải bị tải thương, thiếu úy Williams chỉ sống thêm được có một ngày. Viên trung sĩ nắm quyền chỉ huy Trung đội 1 bị thương trên một con đường phố nào đó và người tiểu đội trưởng phải lên nắm quyền thay. Y sĩ Rhino cũng đã tử trận. Lawhorn chỉ là một binh nhì mà bây giờ lên làm tiểu đội trưởng. Tiểu đội còn lại chỉ có sáu người. Lawhorn không ưa trách nhiệm. Đạn dược, lương thực còn lại ít. Ai cũng mệt mỏi, khổ sở và đói khát. Chiến đấu quá gian khổ mà mỗi ngày chỉ tiến được có mấy trăm thước. Tiến thêm nữa cũng chẳng ích gì! Pháo binh nổ tới, phản lực bỏ bom, quân CSBV cũng không chịu tháo lui. Tuồng như không thể nào diệt được chúng.
Vài TQLC cũng nói đến việc ấy, tự hỏi họ sẽ làm gì nếu sáng hôm sau có lệnh tấn công nữa. Vài người có ý kiến là sẽ trả lời không khi có lệnh.
Chỉ còn khoảng vài trăm thước là tới cuối bức tường thành. Lá cờ Cộng Sản vẫn còn treo trên cột cờ trước Đại Nội. Nhiều người thấy nản không còn ham tiến lên hạ lá cờ ấy xuống nữa.
Thiếu tá Thompson thấy sự thay đổi trong tiểu đoàn. Họ đã mất hết nghị lực. Họ đang thất vọng, nhưng ông ta giận binh lính ông một chút ít thôi. Họ đã hăng hái chiến đấu nhiều tuần lễ mà không được nghỉ ngơi chút nào từ trước khi trận đánh Huế khởi sự. Trong tám ngày đánh nhau căng thẳng ở Huế, từ 13 tới 20 tháng Hai, tiểu đoàn có 47 tử trận, 240 bị thương nặng, 60 người khác bị thương nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu. Cha tuyên úy McGonigal cũng qua đời. Từ ngày đầu, ông ta đã ở với các tiểu đội TQLC mặc dù Thompson muốn ông ở lại tuyến sau vì chính sự an toàn của ông. Đêm 17 tháng Hai, ông ta mất tích. Sáng hôm sau, người ta tìm thấy xác ông trong một căn nhà trống, đạn bắn ngay đầu. Có thể là có tay bắn sẻ nào đó bắn ông, nhưng có dư luận rằng ông đi lạc ra ngoài phòng tuyến và bị CSBV bắn chết.
TQLC đã hạ một số địch gấp 4 lần hơn (đếm từng xác chết thì con số là 219 mạng) nhưng cả bốn đại đội đều bị tiêu hao mất một nửa khả năng chiến đấu của họ. Chỉ còn lại có ba thiếu úy chỉ huy trung đội, binh sĩ và hạ sĩ quan đảm trách chức vụ chỉ huy. Bốn trung đội trưởng của đại đội Bravo chỉ là hạ sĩ.
Sức ép về mặt tinh thần có thể làm cho binh sĩ càng thêm dễ bị thương vong. Thompson biết vậy. Vì thế, ông ta thấy cần phải làm điều gì đó để binh sĩ lên tinh thần, thêm sức mạnh và tiếp tục chiến đấu. Giải pháp của ông ta là: Đánh đêm. Tối này 20 tháng Hai, ông ta triệu tập các đại đội trưởng họp để thảo luận chiến thuật nầy. Phía trước mặt, cách khoảng 300 mét là một công ốc lớn, hai tầng, có sân rộng, do CSBV chiếm đóng. Họ có xạ trường thoáng, dễ tác xạ khi TQLC tấn công. Một đại đội sẽ đánh chiếm ngôi nhà nầy bằng cách tấn công đêm, củng cố an toàn, làm bàn đạp để toàn bộ tiểu đoàn tiến lên tấn công địch. Harrington, Jenning và Nelson tất cả đều đồng ý với kế hoạch nầy. Họ hứa cố gắng nhưng Thompson biết họ không nhiệt tình lắm với kế hoạch của ông.
Thiếu úy Polk cho biết đại đội Alpha sẵn sàng lên đường. Tuy nhiên, lúc đó, cả đại đội chỉ còn 81 người.
Ngày 21 tháng Hai, trời còn tối, họ tiến quân. Trung Đội 2 do trung sĩ James Munroe chỉ huy, một tiền sát viên, và toán hỏa lực nhẹ. Họ bò vào căn nhà lầu và hai căn nhà phụ bên cạnh, không bắn một phát súng. Quân CSBV đã rút. Có một tiếng ho làm ai ấy sợ run, một người dùng đèn pin loại tí hon (để đọc bản đồ) rọi xem thì thấy có một ông già cùng ba đứa bé đang run lẩy bẩy ở góc phòng. Mặc dù biết những người dân nầy sợ hãi, TQLC cũng không đưa họ đi ngay được, biểu ngồi lại. Binh lính TQLC bố trí ngôi nhà mới chiếm được và chờ trời sáng.
Tại ban chỉ huy, Thompson nói với các đại đội trưởng liên lạc thẳng với Polk, đề phòng nếu có gì khó khăn có thể có phản ứng kịp thời. Thật sự lý do của Thompson là ông ta muốn các đại đội trưởng thấy có niềm tin nơi viên sĩ quan trẻ làm cho họ sẽ hăng hái chiến đấu.
Trời vừa sáng thì trung sĩ Munroe thấy một toán binh lính CSBV đang tới. Họ không một chút đề phòng, đi ngang qua sân trước để vào ngôi lầu. TQLC nổ súng, địch chạy tán loạn, có người gục tại chỗ, hoặc tìm chỗ núp, bắn lại. Tiền sát viên pháo binh hối hả gọi cho đơn vị pháo Whiskey 1/ 11 bên kia sông Hương, giọng phấn khởi: “Chúng tôi tấn công họ… họ đang ở chỗ trống… hết sức gần, năm chục mét,… Nhanh lên, nhanh lên, nhanh lên với…” Họ bắn cả bốn khẩu cối cùng một lần, hai chục viên nổ liên tiếp, hết đạn chụp, họ xử dụng đạn nổ rồi cả đạn cay. Binh lính CSBV hoảng kinh bỏ nơi ẩn núp chạy ra ngoài khoảng trống. TQLC dùng loại súng săn kiểu 700 Remington bắn từng người một. Cuộc chạm súng kéo dài khoảng một giờ, mười chín xác địch để lại trên bãi cỏ.
Thiếu tá Thompson ra lệnh tấn công. Mọi người – những ai mới hôm qua còn chưởi thề, sợ, ngại ngùng – đều nhất tề xông lên tấn công. Lawhorn sau nầy kể lại bây giờ anh ta tin tưởng cấp chỉ huy. Cũng bởi họ là những người lính trẻ, thất vọng khi chiến đấu trong Thành Nội Huế, nhưng không bao giờ hoàn toàn mất tinh thần. Khi một anh TQLC trẻ thuộc Đại đội Alpha bị thương vì một mảnh đạn súng cối, Polk gọi máy cho anh ta di tản thì anh từ chối: “Không, chúng ta đang chiến đấu gay go ở đây mà.”
Cuối cùng, tiền sát viên làm xong việc với trung đội của Polk, cùng Landry tới một vị trí súng cối của Whiskey nghỉ một chút cho xương thịt thư dãn. Sáng nay, họ đã hoàn thành ba nhiệm vụ. Một cho Đại Đội 1/ 1, cách 800 mét về phía nam (Quân CSBV ở chỗ trống, đếm tại chỗ 9 xác); một cho tuần tra tiểu đoàn trinh sát, 2 ngàn mét phía hạ lưu sông Hương, rồi tới Đại Đội Alpha 1/ 5 gọi. Chẳng có bao giờ ngừng được. Landry và các người khác ngồi tựa lưng vào bờ tường làm bằng bao cát, mệt nhọc nói chuyện, hút thuốc và chờ nhiệm vụ tiếp. Vào khoảng 7 giờ sáng thì có điện gọi tới, yêu cầu bắn ít viên vào vị trí quân CSBV đang trấn giữ ngôi nhà trước mặt Đại Đội 1/ 1. Rồi lại có điện 2/5 gọi, yêu cầu tác xạ vào căn nhà có mấy quân CSBV núp bắn vào ban chỉ huy tiểu đoàn. Họ nã vào nơi yêu cầu ba quả.
Landry lại nghe 2/5 gọi trong máy: “Bắn thẳng vào vị trí.”
Đại đội 1/5 lại có yêu cầu mới: “Bắn đạn cay, làm cho địch sặc hơi cay phải bỏ vị trí.”
Họ mới bắn được một số đạn thì Cọng Sản pháo bằng súng cối vào bến tàu, sau đó bắn thêm mấy tràng AK-47. Landry thấy một chiếc thuyền neo ở bờ bên kia sông Hương, bên phải, cách khoảng 8 trăm mét. Họ biết quân CSBV đặt súng trên chiếc thuyền ấy. Trung sĩ Reliss gọi cho đơn vị pháo 155 ly đóng ở Giạ-Lê, cách 6 dặm phía nam Huế. Yêu cầu pháo của viên trung sĩ bị từ chối vì tất cả các trọng pháo đang bận bắn yễm trợ hành quân. Quân CSBV bên kia cứ từng chặp bắn qua, đạn và mảnh nhiều khi trúng vào các bao cát đặt quanh các ụ súng cối. Bản năng tự nhiên của con người thúc đẩy người ta núp tránh sau chướng ngại, nhưng Landry biết họ không trốn tránh mãi được vì nhiệm vụ của một xạ thủ trọng pháo. Họ làm ngơ như không nghe tiếng đạn rít trên đầu và tiếp tục bắn pháo.
Tiền sát viên thuộc Đại Đội 1/ 5 gọi, cho biết anh ta thấy hỏa tiễn bắn đi. Họ bắn mười quả qua sông và qua tường thành. Bất thần, có 4 trái nổ trên sông làm nước tóe lên, cách xa họ khoảng một trăm thước. Lệnh cho biết là đại bác howitzer ở Giạ Lê bắn tới. Reliss gọi máy báo cáo lại, yêu cầu ngưng bắn. Nhưng pháo binh báo cho biết họ đã bắn rồi. Quân CSBV bắn hỏa tiễn vào vị trí súng cối. Dù vậy, toán súng cối cứ tiếp tục bắn. Đại Đội Bravo 1/ 1 tiếp tục hành quân, yêu cầu bắn chỉ điểm vào vị trí súng cối địch; xong cho đạn nổ, vị trí tác xạ hết sức gần, nguy hiểm, chỉ khoảng 100 mét.
Quân CSBV lại pháo súng cối và bắn sẻ. Một viên đạn súng cối nổ cách vị trí của Landry chỉ 10 thước. Vài người la lên. Hai TQLC của đơn vị chiến xa 1 đang sửa xe gần đó, viên đạn nổ ngay phía sau họ khiến một người bị một mảnh đạn, nhưng người kia thì bị nặng hơn và rơi từ trên pháo tháp xuống. Lúc đó chẳng có chiếc trực thăng nào sẵn cả. Mười phút sau có chiếc xe tải chạy tới và chuyển người bị thương vào trạm xá trong MACV.
Súng cứ tiếp tục bắn đi từ chiếc thuyền neo trên sông Hương. Vài chiếc tàu đổ bộ LCU của Hải quân Mỹ chở hàng tiếp liệu đang đi ngược sông Hương buộc phải rút lui. Mười phút sau, hai chiếc tốc đỉnh của Hải Quân xuất hiện. Từ vị trí của mình, Landry có thể quan sát được toàn bộ khung cảnh khi hai chiếc tốc đỉnh tiến tới. Quân CSBV bắn vào hai chiếc tàu nầy. Hai chiếc tốc đỉnh phản ứng bằng đại bác 20 ly, bắn lên tường thành, lên bờ sông và nhà cửa trên bờ. Trung sĩ Reliss gọi cho MACV yêu cầu liên lạc với hai chiếc tốc đỉnh bắn vào chiếc thuyền trên sông. Không có kết quả. Mấy tên bắn sẻ CSBV lại tiếp tục nổ súng. Cuối cùng, toán súng cối la lên, đặt súng trên bao cát, bắn vào chiếc thuyền bằng chính súng M-16 của họ. Các thủy thủ trên tốc đỉnh vội vàng quay súng đại bác 20 ly và đại liên 50 nòng đôi bắn dọc theo bờ sông và vào chiếc thuyền neo trên sông.
Và rồi bất thần, mọi sự im lặng. TQLC lại tiếp tục bắn pháo.
Mười phút sau, họ thấy bóng người di chuyển trên cây cầu phía đông-bắc thành Huế (cầu Gia Hội – Ngd). TQLC không thấy rõ gì ngoại trừ thấy họ đội nón lá trắng. Landry nghĩ rằng có thể là quân CSBV đang xâm nhập nhưng thời gian nầy, ở đâu cũng có người chạy giặc nên cũng chẳng biết nói sao. Tuy nhiên, TQLC không bắn vào họ.
Đại Đội 1/ 5 liên tiếp yêu cầu tác xạ. Nhiều lần trung sĩ Reliss biểu họ gọi cho các trận địa pháo đặt ngoại thành Huế. Một chút sau, đại bác hoạt động, tăng cường cho súng cối. Landry nghe M-16 và AK-47 nổ đủ mọi phía. Cuối cùng, khoảng 8 giờ rưởi, súng ngưng nổ. Một đoàn xe tải tới chở theo đạn dược. Cùng lúc, một toán dân thường chạy loạn xuất hiện trên đường phố, phía sau vị trí súng cối. Người dân lúc nào cũng làm cho Landry kinh ngạc, việc tác xạ sẽ trở nên khó khăn. Nhưng khi súng ngưng nổ thì họ lại bu tới coi như không có gì xảy ra. TQLC thường nghe chuyện binh lính CSBV giả làm dân thường nên họ cầm súng chỉa vào dân và la to lên. Các người dân chạy loạn lại chạy dạt đi. Một người lính TQLC đứng gần vị trí súng cối – anh nầy không mang lon lá gì cả, nhưng Landry nghĩ rằng anh ta là sĩ quan – gọi họ. Anh ta nói là binh lính sẽ bắn nếu họ lại liều lĩnh đến gần vị trí súng cối. Anh ta nói có vẽ hết sức nghiêm trang nên chẳng ai dám tới nữa.
Quay trở lại nhiệm vụ tác xạ, họ bắn một loạt đạn do MACV yêu cầu nã vào vị trí tình nghi quân CSBV, che cho Đại Đội 1/ 5 vượt qua một con đường, cho một đơn vị thuộc trung đoàn 5/ TQLC ở ngoài thành phố, và Đại Đội 1/ 5 gọi bắn đạn cay vào vị trí quân CSBV – từ chối, bắn quá gần vị trí quân bạn làm họ e ngại. Đại Đội 1/ 5 lại gọi, xin tác xạ vào một vị trí súng máy địch, quá gần, chỉ 50 mét mà thôi.
Tới chín giờ, nghỉ, ăn sáng bằng lương khô. Họ ngồi xuống đất, lấy muỗng múc đồ ăn ngọt thơm dịu, vừa ăn vừa nhìn tàu đổ bộ LCU vào bến. Tàu lũi vào bến chẳng màng tới việc các tay bắn sẻ đang nổ súng. Hai hỏa tiễn của quân CSBV bắn trúng vào bờ sông, mảnh đạn và bùn bay tung tóe. Đại bác 20ly và đại liên 50 nòng đôi trên tàu đổ bộ LCU bắn trả. Quân CSBV bắn theo một lúc rồi biến mất. Nửa giờ sau có lệnh kiểm soát tác xạ vì có không trợ. Có tiếng rít của mấy chiếc phản lực Phantoms từ phía sau vị trí súng cối, ầm ầm bay ngang qua trên đầu họ và bắn đại liên, thả bom 500-pound, rồi máy bay vụt biến mất. Cách vị trí súng cối cở mấy trăm thước (Landry và đồng đội đứng ngay hàng đầu quan sát), nhiều đoạn thành rung động và nổ tung, chấn động thật khủng khiếp, dội ngược về phía họ như gió đập qua cánh cửa xe đang chạy trên xa lộ.
Mấy chiếc Phantoms lại quay trở lại và oanh tạc, rải đạn cay xuống trông như máy bay đang xịt thuốc ngày mùa. Tiếng súng quân CSBV im bặt. Tàu đổ bộ LCU lại vào bến. Một giờ sau, tàu LST của Hải Quân Mỹ chở đạn súng cối đến. Mọi người ai cũng nãn vì phải uống nước sông, vì thế trung sĩ Reliss nói với Landry và bạn thân của anh ta là Rabby đi tìm xem coi có thể chôm được ít nước ngọt và lương khô phần C từ chỗ mấy anh lính Mỹ trên tàu LST. Họ đi tới chỗ chiếc tàu neo, tay cầm phiếu mua hàng, đúng lúc có hai lính Mỹ đang đứng uống bia. Landry vừa định nói kiếm bia uống thì ầm, quân CSBV pháo kích. Anh ta té xuống sàn tàu một cú như trời giáng. Hông tàu lỗ chỗ nhiều vết đạn, thùng nước ngọt của tàu bay mất. Hai anh lính đang đứng uống bia chạy lẹ về vị trí đặt súng.
Raby té xuống, nắm vào lưng của Landry la: “Tao bị rồi.” Landry thấy chân mình chảy máu – một mảnh nhỏ, không có gì nghiêm trọng lắm. Anh ta giúp Rabby đứng dậy trên sàn tàu, nơi có mấy người lính khác cũng bị thương. Chiếc tàu rú máy lùi khỏi bến để tránh tầm đạn địch. Landry không muốn ở gần số đạn mới vận chuyển tới, sợ bị bắn nữa, anh ta lại chẳng có súng ống gì trên tay cả, nên la lên biểu Rabby chạy xuống bến. Rabby bị thương nặng không chạy được. Landry vội nắm lấy tập phiếu mua hàng, phóng suống sông, nước ngang ngực. Anh ta vội vàng bơi vào bờ, phóng chạy rất nhanh qua khỏi chỗ các cây súng cối đang bị bỏ không, rồi vào một căn nhà đồng đội của anh đang núp ở đó.
Một anh TQLC la to: “Thằng kia, mày may quá.”
-“Hả?”
– “Mày mới thoát một loạt đạn pháo.” Landry không tin, anh ta chẳng nghe gì hết. Anh ta chạy là chỉ vì sợ mà thôi.
Một lát sau, tàu LST lại vào bến, dừng lại đó cho đến khi súng hết nổ. Rabby được đưa lên bờ. Toán súng cối lại tiếp tục hoạt động, bắn vào phía tây, yễm trợ cho một đoàn xe đang tiến về Huế, bắn về phía đông – vào Cồn Hến – vị trí quân CSBV ở đó. Pháo binh và máy bay Phantoms lại tấn công Thành Nội. Tàu đổ bộ LCU vào ra bến tàu. Sáu chiếc GMC liên tục vận chuyển đạn dược thêm. Một cuộc chạm súng xảy ra gần khách sạn nơi có nhiều người tỵ nạn đang ẩn náu. Trên sàn cao, phía trên đầu những người tỵ nạn, có ánh lửa của súng phát ra. TQLC lại nổ súng phản ứng. Từ trên thượng thành, quân CSBV lại nổ súng hỗ trợ. Các tài xế lái xe tải dùng đại liên 50 bắn trả quân địch, bắn qua sông Hương. Landry và đồng đội cầm súng M-16 bắn theo.
Chiều hôm đó, thứ Tư, 21 tháng Hai, khu thành đông-bắc lọt vào tay TQLC. Họ hoàn thành sứ mạng, nhưng cuộc chiến cũng chưa chấm dứt. Trong khi họ chiến đấu giải tỏa khu Thành Nội thì quân đội VNCH chỉ ngồi chờ. TQLC/ Việt Nam tăng cường đánh chiếm được mục tiêu cuối cùng: Chiếm khu đông-nam Đại Nội, nhưng tình hình bên phía Việt Nam tiến triển rất chậm. Do đó, thiếu tá Thompson phải điều động đơn vị của ông qua phía phải để đảm nhận mục tiêu của Quân đội VNCH. Ông ta chỉ có một điều thuận lợi là có thêm một lực lượng tăng cường: Đại Đội Lima, Tiểu Đoàn 3, Trung Đoàn 5, Sư Đoàn 1/ TQLC/ HK do đại úy John D. Niotis làm đại đội trưởng.
Trung sĩ Joseph L. McLaughlin, 24 tuổi, có gia đình, quê ở Braddock, tiểu bang Pennsylvania là hạ sĩ quan thuộc Trung Đội 1, Đại Đội Lima. Lần đầu tiên khi nghe tin đi Huế, anh ta tưởng được đi bồi dưỡng hàng năm, cho thế là hợp lý lắm. Đại đội Lima hành quân nhiều tuần vòng đai an ninh Đà-Nẵng. Vài binh sĩ của anh ta đã đi Huế, về khoe ầm lên về vẻ đẹp của thành phố nầy. Laughlin là người hoạt động rất hăng hái và được thưởng Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao đồng vì chỉ huy hai tiểu đội giữ tiền đồn trong khu rừng trên cù lao Gò Nổi. Đơn vị anh ta bị địch tấn công dữ dội, máy bay trực thăng hỗ trợ bị bắn rớt. Laughlin chỉ huy 2 người đi cứu phi hành đoàn. Họ trốn qua đêm trong rừng, có bốn trực thăng yễm trợ; sau đó đánh cận chiến với địch.
Ngày 20 tháng Hai, đại đội tới Phú Bài, ngủ qua đêm trong nhà bạt, sáng hôm sau thì lên xe GMC đi Huế. Mọi hy vọng được đi nghỉ đều tan biến. Họ đang trên đường ra mặt trận, có xe tăng dẫn đường và bọc hậu để giữ an ninh cho đoàn xe. Họ tới MACV, trên bờ nam sông Hương, và McLaughlin thấy những điều nghịch với anh ta suy nghĩ: Mọi thứ gì cũng có lỗ đạn, đường phố đầy gạch đá ngỗn ngang và vẫn còn đang đánh nhau. Anh ta gặp một người bạn cũ, anh nầy tới cùng với năm hay sáu TQLC thuộc Đại Đội 1/ 1.
Anh ta nói đùa: “Này, mày tới đây chi vậy?”
Người bạn nói: “Tất cả tao chỉ còn chừng nầy thôi.”
McLaughlin biết mọi việc sẽ không có gì tốt đẹp đâu. Ba giờ chiều hôm đó, Đại Đội 3/ 5 được máy bay trực thăng đưa qua bên kia sông Hương, giữ vị trí nối tiếp với Đại Đội 1/ 5 ở phía đông-bắc Thành Nội.
Thứ Năm, 22 tháng Hai, đại úy Niotis nhận lệnh tấn công cửa Thượng Tứ ở đông-nam Thành Nội. Hôm đó trời tốt hơn nên sau khi trời sáng, binh sĩ của anh di chuyển tới cửa Đông Ba để tiến tới mục tiêu. Trung sĩ McLaughlin, phụ tá cho anh ta cùng vài TQLC bắt đầu tiến trên đường. Phía trước, binh lính đi dàn ra hai bên đường, quan sát cẩn thận khi đi qua các ngôi nhà hai bên đường đi. Tới góc đường, họ tập trung để tổ chức lại đội hình. Chỗ hai con đường gặp nhau có hình chữ T. Ngay trước mặt là cửa Thượng Tứ, bên phải, cách vài trăm thước là con đường song song với tường thành mặt tiền Đại Nội.
Viên phụ tá cầm ống nói từ hiệu thính viên gọi cho đại úy Niotis, trong khi McLaughlin đứng bên cạnh, chờ nghe lệnh. Tình hình lúc đó rất yên. Thình lình súng AK nổ, anh ta thấy một vệt trắng rơi bên cạnh. Các TQLC người thì té, người lao xuống đường. Anh ta ngồi xuống. Súng ngưng nổ liền tức khắc, mau như khi bắt đầu vậy. Hiệu thính viên té xuống đống gạch đá, chết tại chỗ, đạn xuyên vào áo giáp. Bên cạnh anh ta là hai TQLC bị thương. McLaughlin cùng hai TQLC chạy tới. Không có súng nổ. Họ vội vàng kéo những người thương vong lui đằng sau một ngôi nhà và gọi y tá.
Họ bắt đầu bò lên phía trước.
Có người la: “Chúng nó đây.”
McLaughlin thấy vài binh sĩ của anh bắn vào một ngôi chùa Phật quá phía bên phải một chút, chỗ có mấy ngôi nhà nằm sâu vào phía trong đường. Cửa trước đóng, cửa sổ chỉ mở có một cánh, cách xa khoảng 9 bước. Vài TQLC chạy tới, nép sát tường, ra dấu cho một người tiến lên. Họ tống vào trong cửa sổ mười trái lựu đạn, nổ như giây chuyền. McLaughlin cùng vài TQLC chạy lên, đá cho cửa lớn mở tung, bắn mấy tràng đạn M-16 vào trong.
Sau bàn thờ có hai CSBV nằm chết, xác banh ra vì lựu đạn.
Họ tập hợp chung quanh ngôi chùa, chuẩn bị tiến về bên phải, dọc theo con đường khu cửa Thượng Tứ dẫn tới Đại Nội. McLaughlin đang ở đằng sau một ngôi nhà trong khi một phóng viên đài NBC đi tới, mang một dụng cụ kỳ quặc: Tòn ten trước ngực một cái gói có giây điện, bình điện, ông kính quay phim loại nhỏ, Anh phóng viên nói là anh ta sẽ đi tới khoảng giữa các ngôi nhà để quây vài cảnh Đại Nội.
McLaughlin nói: “Chưa làm được. Tôi chẳng biết anh làm quái gì nhưng nếu anh bước ra khỏi đây với những dụng cụ kỳ cục như thế, mấy thằng cùi nghĩ là anh có vũ khí mới, nó sẽ dộng hết mọi thứ vào đây cho xem.”
Anh nhà báo nhắm bộ không tin. McLaughlin đang giận, sợ và đau lòng vì những người vừa bị thương vong, bèn rút súng colt ra, nói với anh phóng viên: “Anh bước ra một bước là anh chết.” Anh chàng mang máy quay phim biến mất.
Từ trong Đại Nội, súng bắn ra dữ dội. Đại đội phải thoái lui. McLaughlin dẫn một toán lên trên thành. Đó là chỗ đất cao, xây bằng gạch, có cây cối và bụi rậm, có hầm và xác chết quân CSBV. Lính bắt đầu tản ra. McLaughlin đứng lên, anh ta thấy đại úy Liotis, các sĩ quan và các hiệu thính viên đang nói chuyện vụ tấn công vào ngôi chùa lúc nảy. Anh ta quay lại và thấy sát chân anh là một cái hầm ngụy trang, một mũi súng AK đang ngọ ngoạy trong hầm. Anh ta sợ tái người, không dám nhúc nhích. “Ôi Chúa ơi! Quái quỷ thiệt, chắc tôi chết.” Mũi súng AK di chuyển xa ra, hướng về phía đường, chỗ ban chỉ huy Đại đội. Anh ta vội vàng chỉa súng vào miệng hầm bóp cò, rồi nhảy lui, mồ hôi toát ra, run lẩy bẩy. Người lính CSBV núp trong hầm chết ngay tức thì. Ba chiếc xe tăng rú máy chạy qua con đường và bắt đầu nổ súng bắn vào thành bao quanh Đại Nội. Quân CSBV cũng tiếp tục tác xạ và chỉ trong vòng năm phút, cả ba chiếc xe tăng đều bị trúng hỏa tiễn nên rú ga thối lui. Phía trước, cách khoảng một trăm mét của con đường trước mặt là một cổng thành hình cung ở phía đông-nam. Đại Đội Lima cố gắng vượt qua cửa thành ấy. McLaughlin cùng với mấy binh sĩ trong trung đội anh ta nằm ở bên sau một gốc cây ngang bức thành, đạn bay mù mịt khiến họ không dám đưa lên một ngón tay. Ngay bên dưới, anh ta thấy hai hay ba nhóm binh sĩ từ những ngôi nhà bên phải chạy băng qua đường, bổ nhào xuống đất. Tới lúc nầy, hai đại đội đã vượt qua được bức tường, khoảng một chục TQLC bị thương và chết.
Một chiến xa loại nhỏ tiến lên, bắn che cho những người bị thương. Xạ thủ cho nổ hết cả sáu cây súng đại bác không giật, tài xế cho quay xe lại và đứng tại vị trí. Cửa chiến xa mở, toán binh sĩ bên trong nhào ra, khom xuống để tránh đạn, lại có tiếng đạn nổ. Những người bị thương cố gắng bò tới chỗ giữa con đường và bờ thành, chỗ nầy che đạn cũng không được kín lắm. Đạn vẫn bay tới như mưa.
McLaughlin vẫn còn núp phía sau gốc cây, nhìn tới thấy một trong các tiểu đội trưởng, một hạ sĩ người Porto-Rico tên là Giullemo Collins đang bò ở một chỗ đất hơi lõm sâu, tại đây mấy người bị thương đang cụm vào nhau. Anh ta bò sát đất tới phía họ và cố cứu họ được chừng nào tốt chừng đó. Nhưng anh ta chẳng kéo ai lui được cả. Muốn kéo được, anh ta phải ngóc đầu cao lên chút ít nữa mà ngóc đầu cao có nghĩa chắc chắn là chết. Hạ sĩ Collins thất bại bò lui. McLaughlin thì nghĩ tại sao họ cố kéo những người bị thương ra để làm gì trong khi súng nổ dữ dội như thế nầy.
Brian Mayer, tài xế xe thớt của Đại Đội 1/ 5 đang lái xe trên đường, khi anh ta quẹo phải ở góc đường để vào chỗ đại đội Lima đang đánh nhau thì thấy TQLC bắn như điên và chạy lung tung. Anh ta không biết chuyện gì xảy ra. Bỗng anh ta thấy mấy người bị thương chen nhau trong một cái hầm lộ thiên, cũng chưa biết chuyện gì xảy ra. Suốt trong mấy tháng huấn luyện, và trong tình chiến hữu, anh ta sống một cách tự nhiên nên anh lái thẳng chiếc xe thớt tới phía họ. Nhưng chỉ phút chốc, anh ta thấy sợ khiếp. Từ Đại Nội, súng bắn ra dữ dội. TQLC thì núp trong nhà dân bắn trả. Mayer thấy hình như có đạn rơi lụp bụp bên cạnh. Chiếc xe dội trên đường như khùng nên anh ta cho xe ngừng lại, nhảy xuống và chạy tới chỗ mấy người bị thương. Anh ta đưa mấy người đó lên xe rồi lái xe chạy đi. Súng bắn đuổi theo. Từ đầu chí cuối, súng cứ nổ về phía anh mà anh thì chẳng hề hấn gì cả. Mayer nhìn lui, thấy một TQLC đang quì trên cái gờ của xe thớt. Anh ta la to cho những người khác giúp kéo người ấy lên hẵn trên xe. Xong anh chạy thẳng về trạm cứu thương. Trên tường thành, McLaughlin kinh ngạc nhìn và nghĩ rằng chẳng có cách nào mà người ta có thể sống được trong cảnh lửa đạn như thế nầy. Quả vậy, trong khi anh ta lắc đầu kinh ngạc, và nghĩ làm cách nào để đưa những người bị thương ra khỏi đây thì thấy chiếc xe thớt quay trở lui. Thớt xe trống, sẵn sàng đón thêm người bị thương khác. Anh ta nhìn người tài xế ngồi chóc ngóc trống không, lái xe chạy vào chỗ đạn bay qua lại như đan chéo vào nhau, đưa người bị thương cuối cùng lên xe rồi lại chạy đi một lần thứ hai nữa. Thiệt không thể tin được. Anh chàng nầy là ai vậy? Dù anh ta là ai, thì cùng phải thưởng cho anh một Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao đồng.
Súng vẫn tiếp tục nổ. Một vài cố vấn quân sự Úc và quân đội VNCH tiến lên ngôi chùa bên cạnh, mang theo một cây súng đại bác 106 ly không giật, hòa chung âm thanh hỗn độn bằng cách bắn mấy quả vào tường thành Thành Nội. Mặt trời cao, trời sáng tỏ. Cuối cùng, cửa Thượng Tứ biến thành một mục tiêu hợp pháp để có thể bị tấn công bằng súng lớn. Do dó, đại úy Niotis gọi máy bay. Một phi đội Phantoms bay tới, bắn vào nóc vọng lâu và thả bom lửa vào tường thành. Bom thả xuống, lắc lư. Máy bay bay ngược lên. Phía trước mặt các TQLC, cách khoảng một trăm mét, lửa bùng lên cuồn cuộn, hơi nóng và khói lan tới tuyến đầu của tiểu đoàn. Quân CSBV bắn càng lúc càng yếu đi. Đại Đội Lima chiếm lĩnh mục tiêu.
Trong khi Đại Đội Lima tấn công, thiếu tá Thompson xử dụng quân số còn lại tổ chức một cuộc tấn công đồng bộ khác. Thompson, ban chỉ huy tiểu đoàn, di chuyển vào một ngôi nhà thuộc cơ quan hành chính do Đại Đội Alpha chiếm được trong cuộc tấn công đêm và chỉ huy cuộc tấn chiếm mục tiêu cách khoảng vài trăm thước. Cuộc tấn công tiến triển tốt đẹp, theo một chiến thuật khá cổ điển, gồm bộ binh, thiết giáp và không quân. Một chiếc xe tăng do một trung sĩ chỉ huy, sẵn sàng bên cạnh, nã đại bác 90 ly vào nhiều mục tiêu khác nhau. Trong niềm hứng khởi và sự đa dạng của trận đánh, Thompson chú ý thấy viên trung sĩ quay mũi đại bác về hướng ban chỉ huy. Nòng súng quay đi nhưng một chốc lại nhắm vào mục tiêu, rồi bất thần súng nổ. Thompson và mọi người cúi xuống tránh đạn. Đạn nổ nhưng không ai can gì! Họ nhìn ra bên ngoài, một cửa thành vòng cung giữa họ và chiếc xe tăng vở nát, cát bụi bay tung tóe. Viên trung sĩ thấy mặt họ ở khung cửa sổ nên cho nã đại liên 50 tới, khiến họ phải cúi đầu tránh đạn. Mãi đến khi thiếu tá Lynn Wunderlich, sĩ quan hành quân tiểu đoàn, một người điềm tỉnh bậc nhứt mà Thompson chưa bao giờ thấy trong khi đang lâm trận, nắm lấy ống nói gọi cho viên trung sĩ hỏi anh ta bắn gì kỳ cục vậy thì chiếc xe tăng mới quay súng bắn về phía địch.
Đại Đội Alpha tiến quân cùng với Đại Đội Lima ở khu thành đông-nam, chuẩn bị tấn công. Họ đang chờ ở chỗ có nhiều gạch đá vôi vữa tùm lum, thỉnh thoảng địch pháo đạn cối tới. Thiếu úy Polk tìm thấy một cây đàn ghi-ta bị bể bèn lấy đánh thử chơi. Người hiệu thính viên trẻ của anh ta nói chen vào: “Này, thiếu úy, tôi trèo lên trên tường trước.”
Polk vừa tiếp tục đánh đàn vừa nói: “Nếu chú mày gan cùng mình thì cứ lên.”
Bỗng có lệnh tấn công, họ tiến về phía địch. Tới một giờ trưa thì họ củng cố được vị trí trên cửa thành đông-nam. Một trong các binh sĩ của Polk, hạ sĩ James Avella, 21 tuổi quê ở New Jersey, lôi một lá cờ trong ba-lô của anh ta ra, cột vào một cây sắt nhỏ, trèo lên trên mái nhà thiếc, buộc vào cột điện thoại.
Có lẽ hôm đó những người hạnh phúc nhất là binh sĩ của đại úy Jennings thuộc Đại đội Bravo. Trận mạc hầu như chấm dứt, và nhờ có Đại Đội Lima tăng cường, Đại đội Bravo, đơn vị TQLC đầu tiên hành quân trong Thành Nội, được đưa lên xe về nghỉ dưỡng quân và bổ sung quân số ở Phú Bài. Báo chí mô tả đơn vị được ra về như là kiệt sức, hao hụt quân số, nhưng tinh thần vẫn còn dũng cảm. Họ cũng may mắn. Đại Đội Bravo, cho tới ngày chót ở Huế, vẫn còn có người bị thương và chết, nhưng đến khi đại đội lên đường về hậu cứ, vẫn còn 61 người khỏe mạnh.
Đại đội Lima bố trí ngủ qua đêm dọc theo bờ thành. Trung sĩ McLaughlin nói chuyện với hạ sĩ Collins, anh hạ sĩ trẻ được thưởng Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao đồng vì đã cứu được ba đồng đội bị thương. Collins nói với viên trung sĩ về một trong những người bị thương là một xạ thủ đại bác không giật 3.5 inch, hạ sĩ Thomas E. Falk. Khi Collins tới băng bó cho anh ta, anh ta biểu đi lo cho người khác đi vì anh bị thương nặng lắm, có cứu cũng vô ích. Tới lúc anh ta đưa hết những người bị thương về tới trạm xá thì Falk qua đời.
McLaughlin biết Falk toàn về những điều sai trái mà thôi, chẳng hạn như bắt gặp anh ta gác mà ngủ gục, mặc dù anh ta không phải là người thường gây phiền nhiễu cho đồng đội, nhưng mỗi khi có chuyện rắc rối thì bao giờ cũng có anh ta dính dáng vào. McLaughlin nghĩ có lẽ trước kia anh ta có một vấn đề gì đó, nhưng đến phút cuối, anh ta bèn đăng vào TQLC.
Vì vậy, McLaughlin viết thư cho mẹ của Falk.
&
Lúc mười giờ sáng, McLaughlin đang ở với trung đội của anh, phía sau ba chiếc xe tăng đang nã đạn vào Đại Nội. Một phát đạn súng đại bác không giật 106 ly bắn tới, một hỏa tiễn B-40 bay ra và chỉ trong vòng mấy giây, cả ba chiếc tăng đều bị trúng đạn. Xe tăng rú ga tháo lui, bộ binh cúi đầu lom khom chạy theo, núp đạn bên hông xe tăng. Bất thần, lựu đạn nổ ầm ầm quanh họ. Quân CSBV núp dọc theo đường, bên trong những bức tường trong sân ném ra. Ai nấy vừa la vừa bắn, chạy tán loạn. Một quả lựu đạn rơi vào chân một TQLC, anh ta bèn nhảy ngược ra sau, ngay giữa đường trong khi xe tăng đang chạy tới, cán ngang người anh. Chưa chết hẵn, anh ta còn kêu la. Người bạn thân của anh, đang chạy bên lề đường, thấy thế chỉ biết khóc. Trong danh sách báo cáo thì nói anh ta bị xe tăng cán chết, nhưng trong thực tế thì McLaughlin đã bắn anh ta chết bằng một phát ân huệ để giải thoát cho anh khỏi cơn đau kinh khiếp đó.
Vì có lệnh của tướng Lãm hạn chế hỏa lực bắn vào Đại Nội, nên một kiểm soát viên ngồi trên máy bay quan sát chiến thuật được xử dụng tại chỗ. Anh ta kiểm soát phi vụ của một chiếc A-4 sử dụng bom nổ và bom lửa để tấn công khu thành đông-bắc. Máy bay anh ta bị quân CSBV bắn rớt. TQLC cứu được quan sát viên, phi công tử trận. Các cuộc không tập bị đình hoãn.
Đại Đội Lima bắt đầu tiến vào các dãy nhà trên đường tấn công, đánh chiếm từng nhà bằng lựu đạn, xông vào cửa. Họ vào một ngôi nhà và chuẩn bị tấn công ngôi nhà bên cạnh. McLaughlin bỏ súng xuống để lấy hai quả lựu đạn trong áo giáp ra, nói với binh lính chuẩn bị xông vào nhà sau khi nghe lựu đạn nổ. Anh ta nắm mỗi tay một quả lựu đạn, lấy răng cắn để rút hai cái chốt ở lựu đạn ra, tay giữ chặt mỏ vịt, đi nhẹ vào một con hẽm hẹp nằm giữa hai ngôi nhà. Khi anh ta vừa tới khung cửa sổ có chắn song gỗ thì chợt nhìn thấy ở cuối hẽm là một lính CSBV. Anh ta thấy rõ lắm vì bức tường chỉ cao tới thắt lưng. Người lính CSBV đang vác cây súng B-40 nhắm vào McLaughlin mà bắn. Anh ta nhào lui ra sau thì vừa lúc quả đạn B-40 bay tới, nổ vào hàng rào gỗ phía sau. McLaughlin ném một lần hai quả lựu đạn vào địch thủ rồi chạy ngược lại ngôi nhà cũ tìm cây súng.
Trận đánh tiếp diễn. TQLC tiếp tục tấn công từng nhà một, quăng hàng chục lựu đạn, dùng M-16 quét từng phòng. Họ giết được mấy lính CSBV khi những người nầy từ một quán hớt tóc phóng qua bên kia đường. McLaughlin và vài TQLC xông vào quán, bắn lia lịa, diệt hết lính CSBV còn núp bên trong. Bên kia đường, cách khoảng năm mươi mét, vài quân CSBV còn bắn lóc chóc. TQLC đi vòng phía sau, bò sát xuống đống gạch ngói vụn, và nổ súng vào quân địch.
Mọi người an toàn. Lúc đó, họ không thể tấn công binh lính CSBV bố trí phía trước quán được. Cuối cùng, một xạ thủ đại liên M-60, một anh chàng tóc đỏ, lực lưỡng, bỏ súng, nắm hai quả lựu đạn, chạy vào trong quán – quân CSBV có thể thấy được vì bị tấm gương soi phản chiếu hoàn toàn – chạy lên lầu hai, quăng lựu đạn vào vị trí địch. Lựu đạn nổ, McLaughlin và đồng đội cúi xuống tránh mảnh đạn cũng như gạch cát gỗ bay tung tóe. Khi bụi cát tản bớt, anh xạ thủ đại liên chạy về phía đồng đội, thở hổn hển, mắt anh ta sáng lên như muốn nói: “Tôi diệt được mấy thằng đó rồi.” Anh ta lại lấy thêm lựu đạn, chạy lên lầu hai. Lựu đạn lại nổ ầm ầm. Anh ta chạy xuống và tiếp tục quăng lựu đạn lần thứ ba. Xong, anh ta bò lui để tránh đạn vì quân CSBV bắn vào quán như mưa. Tuy nhiên, anh ta chẳng chợt một chút da. Địch ngưng bắn.
Trung đội lại tập hợp bên trong quán. Khoảng một giờ sau, McLaughlin ngạc nhiên thấy một gia đình người Việt Nam đi qua chỗ gạch ngói đổ để vào quán hớt tóc. Người cha thì lo dọn dẹp kiếng bể, người mẹ và các con thì kéo xác lính CSBV chết ra ngoài, để ở phía sân sau. McLaughlin ngạc nhiên vì thấy thái độ lãnh đạm của họ trước cảnh chết chóc nầy. Anh ta nghĩ chắc họ cũng thường gặp cảnh trạng như vậy rồi!
Ngày hôm trước, 22 tháng Hai, trung sĩ Dye bị thương. Anh ta đang tiến tới trước cùng Đại Đội Delta thì súng từ trong Đại Nội bắn ra dữ dội. Anh ta trốn sau bức tường đổ cùng nhiếp ảnh viên của TQLC, hạ sĩ J.C. Pennington, khi một quả B-40 nổ bên cạnh, làm cho đá cát và mảnh đạn bay tung lên. Penny bị thương nhẹ ở đầu còn Dye thì bị thương ở cánh tay trái, vai và chân. Họ băng cho nhau và quay lui tìm y tá. Xong, Dye trở lại tiếp tục chiến đấu.
Bây giờ anh ta hành quân cùng với một tiểu đội của Đại đội Alpha tiến về phía Đại Nội. Họ cẩn thận di chuyển về phía trước, qua các ngôi nhà bị bắn phá hư hỏng, tiến sát bờ thành Đại Nội mà không bị địch phát hiện. Trên thành có nhiều lỗ hổng do xe tăng bắn thủng. TQLC trèo qua thành bằng những lỗ hỗng đó rồi tản ra. Phía trong lại có một bức thành nữa và một cái hồ. Quanh đó là những con đường hẹp, những cái lều lợp thiếc và cung điện. Khi họ đang lục soát những căn nhà nầy thì có một ông già từ trong một căn nhà khác chạy ra, hai tay đưa lên đầu. TQLC bao quanh ông ta hỏi: “Vixi đâu? Vixi đâu?” Người đàn ông chỉ về phía đông bắc, ở đó, quân đội VNCH đang giữ một phòng tuyến. Mọi người cũng đã vượt qua đó và quyết định không tiến về phía ông già chỉ.
Kế là một cung điện mái lợp ngói, trang trí đẹp đẻ. Một tiểu đội cẩn thận tiến lên cầu thang. Họ dừng lại bên ngoài cửa, quả tình không muốn xem phía bên kia có gì. Nhưng Dye thì tò mò. Anh ta ló đầu qua cửa, chẳng thấy gì hết nên bước vào trong. Một người lính đi phía sau anh ta nói nhỏ: “Nầy, coi chừng bị bẫy.” Dye rón rén đi vào trong. Anh ta muốn xem thử có gì bên trong. Thực sự anh ta đã ở trong hoàng thành. Nó là cực điểm của toàn bộ trận chiến nầy. Anh ta lặng lẽ đi qua hết phòng nầy tới phòng nọ, nắm chắc súng M-16, sợ điếng người, mồ hôi ra như tắm. Anh ta đi xuyên qua một cái cửa khác và anh ta tới đây: Chánh Điện, nơi có đặt ngai vàng của hoàng đế. Tường sơn đỏ vàng óng ánh. Hai cái ngai vàng, một cái lớn và một cái nhỏ, đặt trên bệ cao. (Có thể người viết sai ở chỗ nầy, trong Đại Nội chỉ có một ngai vàng của vua, không có ngai của hoàng hậu như bên Âu Tây – ngd). Anh ta e sợ nhìn vào cái ngai sơn son thếp vàng, chạm hình rồng và sư tử. (Năm 1950, tôi đã thấy cái ngai ở điện Thái Hòa. Ngai chạm rồng, không chạm hình sư tử – ngd). Anh ta như bị mê hoặc, tự hỏi các tay hiệp sĩ cảm nhận gì khi đã lọt vào một cung điện như thế nầy! Ánh sáng từ khung cửa sổ bên trái rọi vào, hai người lính CSBV nằm cạnh cửa. Dye cầm súng đi về phía cửa sổ, nòng súng chỉ thẳng vào hai người lính CSBV nhưng họ đã chết cứng tự bao giờ.
Anh ta bỗng nhận ra tất cả TQLC đã vào bên trong điện cùng với anh. Anh ta cười, nói với binh lính là hình như có điều gì buồn cười và thiếu tôn kính. Các TQLC nhăn răng cười rồi họ quay ra ngoài.
Đến sáng thứ Bảy, 24 tháng Hai, tiểu đoàn của thiếu tá Thompson thực hiện xong nhiệm vụ đánh đuổi quân Cộng Sản ra khỏi Thành Nội. Ba ngày trước, bốn tiểu đoàn của Sư đoàn 1 Không Kỵ cùng với không quân, pháo binh, hải pháo, và trực thăng vũ trang quét sạch Bộ Chỉ Huy Cao Cấp Quân CSBV và địa điểm tiếp liệu của họ ở phía tây Huế, thuộc khu rừng của làng La Chữ (Thuộc làng La Chữ – truy tìm và tấn công ngay vào bộ tư lệnh chiến trường, địch phải bỏ chạy. Đó là chiến thuật vẫn xử dụng trong chiến tranh Việt Nam như trận Dambe, trận Việt Cộng tấn công vào nhà máy Ximăng Hà Tiên năm 1974, tôi tham gia bên lực lượng phòng thủ và tấn công vào bộ tư lệnh chiến trường nên Việt Cộng rút chạy khỏi nhà máy ximăng – ngd).
Lực lượng Mỹ cũng đã chận đứng được con đường tiếp liệu cho các đơn vị binh lính cuối cùng của CSBV trong thành phố. Ngày 23 tháng Hai, bộ chỉ huy địch, trung đoàn 6 CSBV ra lệnh rút lui. Họ bắt đầu rút xa khỏi các đơn vị TQLC, vừa đánh vừa rút qua vị trí của quân đội VNCH để đi về phía tây, cố tránh bị pháo kích liên tục trên đường trốn chạy.
Chỉ có một con đường phía trước TQLC chưa được củng cố nằm kế Đại Nội. Đại đội Lima bố trí ở phía thành đông-nam, chuẩn bị tấn công. Ai cũng ngán bởi vì họ phải vượt qua một khoảng trống vài trăm mét giữa họ và tường thành Đại Nội. Họ e rằng sẽ có một cuộc tắm máu như ngày 22. Nhưng 15 phút trước khi khởi sự thì lại có lệnh quân đội VNCH đến thế chân họ. Thompson đã lập kế hoạch cho TQLC tấn công nhưng phía chính phủ Việt Nam thì muốn chính quân đội của họ đảm nhận nhiệm vụ nầy. Đó là vấn đề danh dự.
Đại đội Lima ngồi quan sát đại đội Hắc Báo, do đại úy Coolican làm cố vấn và đại úy Huế làm đại đội trưởng, từ phía hông họ tiến lên, xông thẳng vào Đại Nội, vừa hô xung phong vừa bắn. Họ mang theo thang trèo tường hay chui qua các lỗ hổng do đại bác trên xe tăng đã phá sẵn. Từ chỗ úp an toàn, TQLC ngồi nhìn trận đánh, sẵn sàng nổ súng tiếp ứng nếu quân CSBV xuất hiện. Họ nói với nhau: “Coi! Mấy tay nầy làm chuyện nhảm không!”
– “Vâng, nhưng họ đánh hay hơn bọn mình đấy!”
McLaughlin cho là nhiều TQLC muốn chê Quân Đội VNCH nhưng quả thật những người lính Hắc Báo nầy chẳng biết sợ là gì cả!
Quân Đội VNCH lọt vào trong Đại Nội, tiếp đó là hơn 200 lính của Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 3. Súng chẳng nổ bao nhiêu. Quân CSBV đã rút, đêm trước, những kẻ sống sót sau cùng đã rút lui, vượt qua tuyến phòng ngự của Quân Đội VNCH. Họ để lại mấy quả đạn không nổ, vài thứ trang bị, xác chó và xác ngựa, bò mà họ đã ăn trong khi đói. Người ta cũng tìm được hai người lính trinh sát của Quân Đội VNCH. Họ bị mất liên lạc với đơn vị, và suốt trong thời gian trận đánh diễn ra, họ phải trốn bên trong vị trí của quân Cộng Sản. Trông họ hốc hác và gần như muốn điên vì mừng khi được Đại Đội Hắc Báo giải thoát.
Lá cờ Cộng Sản treo trên cột cờ Ngọ Môn hai mươi lăm ngày thì nay bị kéo xuống và Đại Đội Hắc Báo treo vào đó lá cờ vàng đỏ của Việt Nam Cọng Hòa. TQLC/ HK và Quân Đội VNCH hoan hô vui mừng khi thấy lá cờ vàng được kéo lên. Thiếu tá Thompson nghĩ rằng Quân Đội VNCH đã kéo cờ lên kỳ đài, và ông ta thấy vui khi Đại Đội Hắc Báo được giao nhiệm vụ vinh quang ấy. Ông ta đã từng thấy đại úy cố vấn Cooligan cùng binh lính của ông khi chiến đấu. Cooligan cùng đi với họ, tham gia mọi trận đánh. Nhưng Thompson nghĩ họ phải biết một ngoại lệ: Tài liệu ở MAC.V cho biết Quân Đội VNCH, với sự hỗ trợ của Đại Đội 1/ 5 đã đánh đuổi quân Cộng Sản BV ra khỏi Thành Nội. Trong suốt trận chiến, ở MAC.V có những lời đồn nhảm nhí cho rằng Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 5 TQLC/ HK đã đánh đuổi Cộng Sản ra khỏi Thành Nội, còn quân đội VNCH chỉ ngồi xem mà thôi.
Cuối ngày hôm đó, Thompson và ban chỉ huy của ông đi thăm các đại đội, thấy có một đám lính Cọng Hòa Việt Nam không có cấp chỉ huy, đi cướp của trên đường phố. Bọn chúng phá cửa vào các quán tiệm lấy máy truyền hình, tủ lạnh bỏ lên xe GMC rồi chở đi. (Tiệm Việt Tuyến ở đường Trần Hưng Đạo bị cướp, hàng chở bằng xe GMC – ngd)
Ngày 25 tháng Hai, pháo binh bắn vào một nhóm nhỏ quân CSBV còn núp lại ở phía nam Thành Nội. Biệt Động Quân của Quân Đội VNCH chiếm xong toàn bộ vùng Gia Hội ở phía đông thành Huế. Thành Nội Huế coi như đã hoàn toàn giải tỏa, cuộc chiến đấu chấm dứt. Lawhorn cảm thấy an toàn. Anh ta có thể ngóc đầu lên cửa sổ mà không còn sợ bị bắn sẻ nữa. Sức lực hoàn toàn kiệt quệ, cả vật chất lẫn tinh thần, anh ta nghĩ tới một điều anh tự cho là kỳ lạ: “Tại sao anh ta vẫn còn sống?” Anh ta gặp may, hết sức gặp may. Hết một nửa đại đội bị thương hay tử trận mà anh ta chẳng một chút chợt da. Đêm đêm anh ta cầu Chúa.
Lawhorn đi vòng quanh, nhìn vào những ngôi nhà đổ nát vì súng đạn, và hàng đống xác quân CSBV chết không mang đi được.
Mỗi khi đi qua một địa điểm bị quân CSBV chiếm giữ trước đây, anh ta thấy có điều không thể hiểu được: Đó là những người thường dân tử nạn. Họ không chết vì bị pháo kích hay tên bay đạn lạc. Họ bị bắn vào đầu, lấp vội vàng xuống những hố cạn bên đường. Đơn giản là chỉ vì họ bị Cộng Sản tàn sát. Anh ta không thể nào hiểu được lý do. Anh ta chẳng nguyền rủa gì những xác chết binh lính Cọng Sản anh đã thấy, nhưng cái chết của tất cả những người dân thường làm cho anh ta đau lòng.
Đến hôm thứ Tư, 28 tháng Hai, Đại Đội 1/ 5 rút ra khỏi Thành Nội để đảm nhận công việc thu dọn quanh thành phố. Mayer cho rằng khi trận đánh xong rồi, họ sẽ được đưa về hậu cứ nghỉ ngơi ít ngày. Nhưng anh ta lại được đảm nhiệm công tác mới cùng với Đại Đội Charlie. Anh ta nghĩ: “Được thôi, bao giờ cũng vậy thôi.”
Bạn bè anh trong toán xạ thủ đại bác không giật, trong đại đội công vụ, chất đồ đạc lên ba chiếc xe thớt, cùng với đại bác 106 ly, chạy xuống con đường đất bụi bên ngoài Thành Nội. Xe chạy qua một khu có nhiều cây có tàng lá xanh. Mayer và đồng đội đang ngồi bên đường khi xe họ chạy ngang để tới một vùng quê. Một viên trung sĩ ra lệnh cho họ xuống giữ an ninh mặt hông. Họ dừng lại ở đầu một cây cầu xây bằng đá, chờ lính Đại Đội Charlie lên ngang họ để cùng tiến song song với nhau.
Mayer đứng gần chiếc xe thớt của anh ta, cầm cây súng M-16, nhìn quanh, không biết tại sao mình lại đến đây. Bỗng có tiếng động dội vào xe, nghe như ai lấy đá cuội ném tới vậy. Anh ta quay lại coi thử ai chơi nghịch thì bỗng có tiếng súng AK nổ bên tai. Tiếng súng bắn từ phía bên kia cầu.
Mọi người nhào xuống đất, cầm chặt súng, tìm chỗ núp. Mayer chạy tới ngồi phía sau một cây cột đá đầu cầu. Chỗ nầy có hai TQLC đang úp, một người là một viên trung sĩ bị đạn ở chân, quay lại la vào mặt anh ta: “Chỗ này tao chiếm rồi.”
– “Ồ! Đếch người ta.”
Mayer chạy như điên tới chỗ chiếc xe thớt đang đậu, cất nón sắt và bò thật nhanh, nằm phía sau xe. Chung quanh, TQLC đang phản công dữ dội. Một trái hỏa tiễn từ sau bụi cây bay ra, tóe lửa như quả cầu. Mayer nắm cây súng và cố tìm mục tiêu ở bên kia cầu để bắn lại, nhưng anh ta chỉ thấy lùm bụi rậm rạp, chẳng có cơ may nào để bắn được một phát súng. Bỗng có cái gì như cái búa tạ đánh vào chân anh ta đau quá khiến anh ta la to, nắm lấy cán búa, đẩy lui sau lưng. Một giây sau, một loạt AK bay tới, anh bị thương ở hai chân và ở cả hai bắp đùi.
Một TQLC nhảy tới chỗ anh: “Đi! Tao đem mày lui.”
Mayer biết anh lính nầy, to con, xạ thủ đại bác 106 ly. Anh ta chỉ nghĩ là anh xạ thủ nầy sẽ được đi nghỉ ở Hawaii và sẽ gặp vợ anh. Mayer la to: “Không! Mày có vợ rồi, Đi đi, ra khỏi đây!”
Rồi người cọng sự của anh ta, Howard kiên cường, chạy tới vác anh ta lên vai. Anh ta chạy lui một cái lều nhỏ lợp tôn ở phía sau họ, vấp vào một cái lỗ, té xuống, Mayer rớt xuống đất, đau quá, la lên. Súng vẫn nổ, đạn bay chéo nhau. Anh ta liếc thấy đất bị đạn cày lên bên cạnh. Howard lại vác Mayer lên vai, chạy thêm một đoạn nữa, rồi đặt Mayer xuống để thở. Mayer nằm dài ra, nói với Howard: “Được rồi, từ chỗ nầy tao làm được.” Xong anh ta dùng tay và cùi chỏ cố bò tới một cái lều nhỏ. Anh ta không còn thấy cảm giác gì nơi hai chân nữa. Anh ta nghĩ: “Chúa ơi! Mình gắng làm.” Anh ta thấy hai con trâu cột vào một gốc cây bên cạnh cái lều. Một con thì đã bị đạn chết, sợi giây còn cột ở mũi trâu. Con kia thì lặng lẽ nhai cỏ. Đạn vẫn bay trên đầu nhưng anh ta đã bò tới căn lều, kiệt sức, mồ hôi vả ra. Hai anh y tá nhát gan núp sau căn lều mấy bước. Họ la to biểu anh ta nằm ngữa ra, rồi họ chạy tới, nắm áo giáp kéo anh ta lui phía sau.
Cũng có mấy người khác bị thương được gom lại phía sau căn lều. Y tá sắp Mayer chung với họ thành một hàng. Một trong số nầy là một bạn thân của Mayer, nằm bên cạnh anh ta, hút thuốc và nói chuyện với y tá trong khi y tá đang băng bó cho anh. Anh nầy bị mất một cánh tay. Mayer nhìn xuống chân mình, chiếc giày bị đạn xơ ra, lỗ chỗ vết đạn và máu. Cả ba băng đạn trúng vào người anh. Anh ta thấy đau không thể tưởng được. Anh ta nằm tại đây, bực bội lo lắng không biết mình sẽ còn hay sẽ bị cưa chân, hay sẽ về chín suối. Vài TQLC chạy tới, đặt người lính bị thương mất một cánh tay lên một cánh cửa gỗ, khiêng đi qua chỗ con trâu, và qua một cái hàng rào dày. Xong họ quay lui, mang theo một cái cáng và chuyển Mayer đi. Đó là Brian Mayer, người được thưởng Chiến thương Bội tinh, mới tới Việt Nam được ba tháng và nay mai sẽ lên đường hồi hương.
Từ MAC.V đến Phú Cam – Củng cố vị trí phía Nam sông Hương
Sau khi Đại Đội Hotel củng cố an toàn toà Hành chánh vào ngày 6 tháng Hai, TQLC tìm ra bộ chỉ huy của quân CSBV. Họ thấy ở đây vũ khí, bản đồ, trang bị, giấy tờ và tiền bạc cùng nhiều tài liệu khác. Trung tá Cheatham nói với báo chí: “Chiếm được Tòa Hành Chánh là đánh vở mặt hậu của họ. Đó là công việc khó khăn. Bây giờ chúng tôi chỉ gặp phải những ổ kháng cự lẻ tẻ.”
Viên đại tá không quá chủ quan (tuy nhiên, không quá lạc quan như ở bộ Chỉ Huy cao cấp, tuyên bố tình hình Nam Huế ổn định kể từ 10 tháng Hai), nhưng về căn bản thì ông ta đúng. Tuần đầu tiên thì CSBV và Việt Côjng còn gây được áp lực. Sau đó đại đội 2/ 5 đã chiếm được khu vực Bưu Điện và Tòa Hành Chánh, củng cố vị trí của họ, đại đội 1/ 1 thì củng cố MAC.V và hai ngày chiến đấu đẩm máu tại trường Jeanne d’ Arc. Sau đó, ưu thế thuộc về phía TQLC. Đại Đội 2/ 5 tiến dọc theo sông Hương và Đại Đội 1/ 1, xa hơn về phía nam, hành quân dọc theo sông An-Cựu, tiến về phía bắc, đến sông Hương. Trong tuần lễ đầu tiên đó, TQLC chưa bao giờ bị đánh bật lui. Họ tấn tới, đánh từ nhà nầy qua nhà khác, từ khu nầy qua khu khác, củng cố vị trí vào ban đêm, tiến công vào ban ngày. Sức kháng cự của địch càng lúc càng yếu dần. Họ không còn sức chiến đấu, giữ từng phòng hay từng nhà như trước nữa và chủ yếu là phản công bằng bắn lén, pháo kích bằng súng cối hay hỏa tiển.
Cường độ trận chiến càng lúc càng yếu đi, thời gian phản ảnh chiến cuộc đã rõ hơn.
Một trong những vấn đề lớn trong hàng binh sĩ ở vài đơn vị, – và một trong những phản ảnh hoạt động của các sĩ quan trong quân đội – sĩ quan thì ngồi trong ghế bành chỉ huy các đại đội trưởng, các đại đội trưởng ngồi trong công sự chỉ huy các trung đội; các tiểu đoàn trưởng thì ngôi trên trực thăng, khuất tầm tác xạ của địch. Ở Huế có sự trái ngược với những điều như thế. Trong trận đánh, sĩ quan TQLC đi đầu, mức độ thương vong của sĩ quan cấp úy chứng minh như thế. Sĩ quan cấp chỉ huy tiểu đoàn cũng thế. Mặc dầu đây chỉ là những trận đánh ngắn, rời rạc, nhưng cấp chỉ huy tiểu đoàn cũng ở ngay tuyến đầu. Cả hai trung tá Cheatham và Gravel chia xẻ công việc cho nhau, tiến lên cùng với binh sĩ, ngay cả trong những lần đụng độ hết sức nặng nề. Đặc biệt Cheatham được nhiều người ca ngợi. Các phóng viên báo chí theo dõi trận đánh thường có khuynh hướng tốt về đại đội 2/ 5, viết về lòng can đảm cao độ của họ. Sĩ quan hành chánh của ông, thiếu tá Salvati, sau nầy tuyên bố:
“Mọi người biết công nghiệp của tôi trong lực lượng TQLC. Tôi dám mạnh bạo nói rằng đại tá Cheatam là một cấp chỉ huy hoàn hảo nhứt mà tôi có dịp phục vụ dưới quyền ông ta. Tài lãnh đạo của ông rất năng động. Chỉ trong những ngày đầu tiên của trận đánh, nhiều lúc dưới hỏa lực địch, ông đã xuất hiện chỉ rõ từng mục tiêu một để binh sĩ tấn công. Ông chỉ huy tiểu đoàn của ông theo đúng truyền thống tốt đẹp nhứt của một sĩ quan TQLC.”
Huế, có nhiều điều tự hào vì thực ra, (mặc dù đã gánh chịu tất cả những cuộc tuần tiểu tao-ngộ-chiến, những thất bại, và trì trệ ở An Hòa), TQLC đã đánh bại, giành thắng được một trận chiến cam go, dữ dội, đè bẹp được các đơn vị quân chính qui CSBV. Đại úy Christmas nói với các phóng viên báo chí: “Quả thật đây là một trận chiến dành cho các người chỉ huy cấp tiểu đội, một phương cách chiến đấu. Các TQLC trẻ phản ứng rất cừ.”
Thiếu tá Salvati phát biểu: “Những người lính TQLC của chúng tôi ở Huế, nhìn chung đến từ trận thua ở An-Hòa. Đó là một trận đánh căn bản là ở ngoài đất nước chúng tôi, có phần cách ly với dân chúng. Hầu hết thì giờ là dùng để tuần tiểu. Thường khi đi tuần tiểu trên đường dễ bị phục kích; nếu không, đi trên đường thì lại dễ bị mìn bẫy. Các TQLC của chúng tôi thường không đụng lớn với quân CSBV. Vấn đề tinh thần gặp khó khăn. Tuy nhiên, ở Huế, tôi thấy họ là những người chiến đấu tài ba nhất. Những người trẻ nầy họ biết cách phải đánh nhau với địch như thế nào. Từng ngày, họ cải biến cách chiến đấu hay hơn. Họ tìm cách tác xạ và điều động, che chở nhau, xử dụng tài trí các loại chất nổ. Người bị thương nhẹ từ chối di tản vì họ tự nhận thấy có trách nhiệm hoàn thành chiến công. Họ cố giành cơ hội mặt đối mặt với kẻ thù và họ chiến thắng. Tôi trải qua những giây phút hết sức xúc động, hồi hộp chứng kiến người lính trẻ TQLC đã đem hết tài ba của mình giành lấy những gì họ đã giành được từ tay kẻ thù.”
“Tuy nhiên, trậnh đánh còn lâu mới chấm dứt. Trong khi gặt hái được những chiến công lớn lao, và kẻ địch bị đẩy vào vị thế chiến đấu càng lúc càng phản ứng kém đi, cũng còn cần phải quét sạch quân CSBV còn lén lút đâu đó. Các cuộc nổ súng gây nhiều tai hại. Sức kháng cự càng lúc càng yếu đi không có nghĩa là không còn thương vong. Những cuộc chạm súng như vậy chỉ ít đi mà thôi. Đối với người lính bộ binh, những người chỉ có cây súng M-16 và tài khôn khéo của mình giúp họ sống còn, mà trận chiến cũng chưa chấm dứt. Họ vẫn còn chiến đấu hàng ngày ở đó, trên đường phố, không mềm lòng, không xao lãng.”
Trung sĩ Burghardt cùng với trung đội của anh đang lục soát trong bệnh viện. Họ đang cố gắng vượt qua một khoảng sân trống trước mặt họ để tới dãy lầu bên kia. Hai bóng người bắt đầu băng qua. Họ chạy theo rãnh nước trong sân – bỗng có tiếng súng AK-47 nổ. Hai TQLC té xuống đất, bị thương.
Từ trên cửa sổ, Burghardt nhìn thấy cảnh ấy, gọi cho hai y tá đang núp bên trong với đồng đội. Anh ta biểu một y tá chạy ra kéo người bị thương vào. Người y tá anh ta ra lệnh là một người lùn, chỉ còn hai tuần nữa là tới phiên về nước. Anh nầy chần chừ.
Burghardt nổi giận, mắng anh ta: “Thằng chết nhát nầy.” Nói xong, anh ta phóng ra khỏi cửa. Anh ta chạy như bay trên đám cỏ, nhào xuống một cái hố. Súng nổ lốp bốp trên đầu. Anh ta nắm một trong hai người bị thương và kéo người nầy xuống hố với anh ta. Khi anh ta với lên để kéo người thứ hai thì bị địch bắn chết.
Trung đội xông ra và cứu họ.
Trung tá Gravel cùng Đại Đội Alpha di chuyển trên đường phố. Điểm đến là ngã tư gần tòa Lãnh Sự Trung Hoa Quốc gia. Quân CSBV bắt đầu pháo kích họ. Mảnh đạn văng vào tường gạch, mọi người tìm chỗ núp, nép người xuống hoặc bằng cách nào khác để tránh mảnh đạn. Gravel đưa mắt nhìn quanh, Canley đang đứng nghênh ngang giữa tiếng nổ. Anh ta tựa lưng vào cột đèn, súng trong tay chực nhả đạn, ra lệnh cho binh sĩ trong khi súng nổ dữ dội, rõ ràng hết sức nguy hiểm. Gravel kinh ngạc: “Chúa ơi! Bộ anh ta đang chờ xe bus chăng?” Chưa bao giờ ông ta thấy cái cảnh như vậy.
Trên đường rút lui, quân CSBV đã chọn một trong những người trẻ tuổi của họ, một “đồng chí” còn trắng trẻo, xích chân vào nhà và giao cho một cây súng để làm chậm đường tiến quân của TQLC. Người lính Cộng sản nầy tỏ ra không mấy nhiệt tình với sứ mạng được giao nên vội vã đầu hàng khi TQLC Mỹ tiến chiếm khu vực. Họ giao “chú lính sữa” cho trung sĩ tình báo. Tuy nhiên, các TQLC Mỹ cay cú vì bạn bè thương vong, nên bắt đầu đánh hay giết tù binh mà họ đã bắt trói. Người trung sĩ nói: “Hây! Thằng bé sợ lắm đấy. Nó sợ hơn bạn sợ đấy. Anh nghĩ là anh ngon lành khi đánh nó hay sao?” Người lính bước lui và lầm bầm: “Ồ! Thằng đê tiện, chẳng đáng để đánh nó.”
Trung sĩ Dickman, nhiếp ảnh viên của TQLC, chụp bức hình anh trung sĩ đỡ thằng bé đứng dậy. Đó là một ấn tượng mạnh mẽ cho thấy làm thế nào một người biết ứng dụng tâm lý một cách đơn giản để ngăn ngừa một vụ giết người.
Người tị nạn đổ xô ra khỏi nhà như dòng suối, chạy về hướng các TQLC Mỹ. Hạ sĩ Soukup và binh sĩ trong tiểu đội anh ta lãnh nhiệm vụ kiểm soát người tỵ nạn, chặn các người già và các bà mẹ đang bồng em để kiểm soát giấy tờ, truy tìm cán binh CSBV lẫn lộn trong dân chúng, tịch thu vũ khí của họ. Ai kiểm soát xong rồi thì được chỉ hướng chạy về MAC.V; ở đó có các cố vấn Mỹ và quân nhân QĐ/ VNCH chuẩn bị nơi tạm trú cho hàng ngàn người mới bị mất nhà cửa.
Có một ông già và một đứa bé tách ra khỏi nhóm người tỵ nạn, bỏ đi băng qua đám cỏ trước mặt các TQLC. Soukup thấy hai người nầy bèn gọi lại nhưng họ cứ chạy.
Soukup đưa súng lên và bắn một tràng đạn. Đứa bé té về phía trước nhưng cố gượng lên, bò bằng hai tay và đầu gối. Ông già chạy ngược lui chỗ thằng bé bị té, các TQLC khác nổ súng. Ông già cũng trúng đạn, ngã xuống. Một người khác bắn một quả M-79, đứa bé nằm im, bất động. Khi TQLC tiến lên để kiểm tra hai xác chết, họ không có giấy tờ gì cả. Lật xác ông già lên, thấy ông ta dấu một băng đạn của CSBV dưới áo. TQLC không biết chắc ông già thuộc thành phần gì, có thể là người cảm tình với Cộng Sản và cố tiếp tế đạn cho họ. Ông ta dắt đứa bé theo là muốn làm ra vẻ dân lành vô tội.
&
Trong tiến trình tác chiến ở đây, cạnh việc chiến đấu lại nảy sinh một vấn đề khó khăn mà TQLC phải đối phó. Đó là việc làm hư hao nhà của của dân chúng, vấn đề người chạy nạn và chôn cất người chết.
Các cố vấn quân sự Mỹ được giao nhiệm vụ đảm trách công việc nầy, một trong những chướng ngại cũng do từ phía người Nam Việt Nam tạo ra. Trung tá Phạm văn Khoa (Ông ta họ Phan, không phải Phạm – ngd), tỉnh trưởng Thừa thiên kiêm Thị trưởng thành phố Huế, là ứng viên lãnh trách nhiệm việc nầy. Xui xẻo! Ông ta không làm được gì cả.
Trong 5 ngày đầu tiên của trận đánh, ông ta bị kẹt lại đằng sau phòng tuyến địch, buộc lòng bỏ trốn cùng cận vệ. Tới ngày 5 tháng Hai, đại đội Fox 2/ 5 tìm thấy ông ta. Sau một cuộc chạm súng ngắn, vài CSBC bị giết trong một tòa nhà. Khi đại úy Downs vào, ông ta thấy một trung sĩ trong ban tham mưu của ông, đang giữ chức vụ quyền trung đội trưởng, đứng trước hai người Việt Nam đang bị bắt đứng giang tay úp mặt vào tường. Anh trung sĩ nói: “Chỉ huy trưởng, thằng ngốc chó đẻ nầy nói với tôi nó là thị trưởng thành phố Huế.”
Downs kiểm soát lại và tin rằng người Việt Nam đó nói thật. TQLC cho ông ta mấy cái kẹo, nước uống rồi chuyển ông ta về tiểu đoàn.
Việc Cộng sản tràn ngập là một sự kiện quá lớn đối với Khoa. Ông ta ngoan ngoãn, không đương đầu nỗi với tình thế, và quá nặng gánh lo cho gia đình, vẫn trốn cùng một nơi khi Cộng Sản kiểm soát thành phố Huế. Đến khi Đại Đội Golf 2/ 5 tìm ra gia đình ông ta vào ngày 10 tháng Hai, Khoa mới bắt đầu lo tới trách nhiệm của ông, nhưng ông vẫn chưa có kế hoạch kiểm soát cần thiết. Có một số binh lính VNCH tại MAC.V – Họ rời đơn vị từ hôm Tết và nay vẫn chưa liên lạc được. Nhưng khi một sĩ quan cố vấn đề nghị xử dụng các binh sĩ nầy thì Khoa lẫn tránh, nói rằng Khoa không có quyền hạn gì với họ.
Dù có hay không một ông thị trưởng gánh chịu trách nhiệm trực tiếp các vấn đề trên, nó cũng không thể bỏ đi được. Thiếu tá Jack E. Walker, quê ở Baltimore, một sĩ quan quân đội Mỹ thuộc cơ quan CORDS được chọn đảm trách công việc nầy. Để hỗ trợ cho ông ta, một trung đội thuộc đại đội Dân Sự Vụ 29 được gởi từ Đà Nẵng ra. Một trong những nhiệm vụ đáng ngại nhất mà họ phải thi hành là di chuyển và chôn xác chết. Nhiều xác lính CSBV còn để lại nơi họ bị TQLC bắn chết. Xác chết người dân còn nằm trong sân và trong đống ngói gạch ngỗn ngang. Các xác chết nầy đã sình thối và lôi kéo chuột tới. Vấn đề sức khỏe trở nên nghiêm trọng. Với sự giúp đỡ của Cảnh Sát Trưởng Huế, Walker lập kế hoạch đào những ngôi mộ tập thể, nhưng phía Việt Nam thì từ chối không làm và không muốn đụng tới xác chết. Vì vậy, các tù binh được lệnh mang xẻng cuốc đào huyệt chôn ngay nơi họ tìm thấy xác chết.
Về phía người sống, thiếu tá Walker thực hiện cuộc kiểm tra chưa chính xác, có khoảng 5 ngàn người tạm trú tại nhà thờ Công Giáo (Ở đây, các linh mục tổ chức tương đối tốt) và khoảng 17 ngàn người tạm trú tại trường đại học (Trường Kiểu Mẫu Huế – ngd). Walker và toán của ông phải chăm sóc cho 22 ngàn người tỵ nạn, nhưng lương thực thì thiếu hụt, y tế không đủ và dụng cụ vệ sinh cũng không có sẵn. Ông ta gặp trung tá Khoa để yêu cầu cung cấp lương thực cho dân chạy nạn. Khoa cho biết có tất cả có 25 kho gạo trong thành phố, đủ cho dân chúng xử dụng trong 2 tháng. Chính phủ VNCH sẽ cung cấp cho dân chúng. Walker yêu cầu cung cấp gạo ngay cho dân chúng vì tình hình khẩn cấp. Nhưng đến khi Walker lo gom gạo để phát cho dân chúng thì thấy không có gì hết. (Không bao giờ ông ta tìm được ai đã lấy gạo đi hết, nhưng ông ta chú ý thấy rằng dân chạy nạn có tiền thì vẫn mua được gạo. Một phóng viên báo chí điều tra thấy giá gạo chợ đen nhảy từ 20 xu lên tới 4 đôla một kýlô). Walker gởi điện khẩn cấp cho bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I ở Đà-Nẵng, yêu cầu cung cấp gạo cho dân chúng. Nhờ đó, người tỵ nạn được cung cấp 380 bao gạo một ngày. Có một vài vấn đề nhỏ khác: Khi có 21 miếng thịt sườn được cứu tế cho người tỵ nạn do Walker nhận từ Khoa và văn phòng của ông ta, thì sau đó có 6 miếng biến mất.
Nhờ có sự trưng dụng nầy mà dân tỵ nạn không ai bị đói cả.
Tại Bệnh Viện Trung Ương Huế, Walker phải đương đầu với nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn. Một số người tỵ nạn bị thương, người ta đang gặp nguy cơ có thể chết, nhưng chăm sóc y tế thì rất ít. Vấn đề vệ sinh rất nghiêm trọng. Người bệnh ỉa đái ngay tại chỗ và xác người rửa thúi ngay nơi họ ngã xuống. Nhờ sự giúp đỡ của nhân viên Dân Sự Vụ Mỹ của Văn Phòng Y Tế Công Cộng tại Quân đoàn I và bác sĩ người Úc là Froweys, xác chết được chuyển ra khỏi khu vực bệnh viện, đem chôn cất và bệnh viện được chùi rửa sạch sẽ. Bác sĩ và y tá người Việt trong thành phố đến giúp đỡ, cũng như một toán y tế của Hải Quân được gởi tới, người tỵ nạn được chích ngừa, bệnh viện mở cửa đón bệnh nhân.
Những quan tâm về tình hình trong khu vực trận địa đều được giải quyết tốt đẹp như người ta hy vọng. Tuy nhiên, về phía các nhà lãnh đạo ở Huế thì không chu toàn được nhiệm vụ của họ. Một tuần lễ sau khi trận đánh chấm dứt, một nhà viết sử quân lực Mỹ hỏi bao lâu thì chính quyền Việt Nam có thể tự đảm đương trách nhiệm một mình, thiếu tá Walker trả lời: “Chẳng bao giờ được cả. Họ quá ích kỷ, chỉ nhắm vào mình, sợ hãi và thiếu khả năng quản trị. Các sĩ quan trẻ sợ không dám quyết định, họ từ chối hoàn toàn và gặp phải đủ loại vấn đề rắc rối. Họ không có trách nhiệm, chúng tôi phải làm lấy.”
Một vấn đề xảy ra đằng sau chiến tuyến của TQLC là thổ phỉ. Ai cũng có hết. Một sĩ quan TQLC hết sức ngây thơ nghĩ rằng binh lính trẻ của anh ta đã vượt quá việc giải phóng những cái gọi là say sưa và tiền bạc tìm thấy trong những căn nhà trống. Suốt trong những ngày đầu TQLC đã “chôm” một số kính hiển vi ở viện đại học và khi đại đội 2/ 5 ổn định khu Kho Bạc rồi, một số TQLC bỏ túi một ít vàng thỏi. Một số TQLC từng làm quen với những người ăn mày nghèo khổ sống trong làng quê, ngạc nhiên trước sự giàu có của Huế, và có một số vật kỷ niệm bị lấy đi. Cũng có một số xe dân sự bị trưng dụng. Những thứ “chôm” được đó được đem ra xử dụng như mua đồ tiếp liệu, di tản người bị thương và ngay cả … hết xăng giữa đường.
Tuy nhiên, việc cướp bóc của TQLC có liên hệ đến vài lý do nhỏ nhặt. Trước hết, và quan trọng nhứt, các đại đội trưởng không khoan thứ cho một hành động cướp bóc nào. Lệnh nghiêm nhặt tôn trọng tài sản dân chúng và binh lính bị lục soát kỹ để ngăn ngừa việc cướp bóc. Thứ hai, TQLC không có cơ hội để cướp bóc của dân. Họ đang chiến đấu, luôn luôn phải tiến tới phía trước nên không có thì giờ để thực hiện những hành vi như thế. Họ chẳng có thể mang theo cái gì kềnh càng được. Mặc dù có vài hành vi cướp bóc nhỏ nhặt, báo chí vẫn tường trình việc ăn cắp ồ ạt. Chẳng hạn như nhà nhiếp ảnh Philip Jones Griffith tố cáo TQLC đã xé nát thành phố bằng việc cướp bóc chè chén say sưa. (Tin tức của Griffith sai lầm vì sự thực ông ta đã viết rằng TQLC ở Huế là những chiến binh rất nghèo khó)
Nhìn chung, việc cướp bóc ở Huế là từ người Việt Nam. Người tỵ nạn báo cáo nhà cửa họ bị ăn cắp. Những bị cáo lớn nhứt là binh lính Miền Nam VN. Vai trò của họ là quét sạch Cộng Quân sau khi TQLC Mỹ đã tiến qua, nên họ đi từ nhà nầy qua nhà khác để tổ chức băng nhóm cướp bóc, lấy bia, máy nghe nhạc, tủ lạnh, tiền bạc và các thứ khác. Trong một vài trường hợp, binh lính VNCH còn lục soát dân chúng và lấy những gì chúng muốn. Chỉ trong mấy tuần đánh nhau, việc các binh lính cướp bóc nầy lên đến mức độ không thể khoan dung được, đến nỗi các nhà lãnh đạo ban hành nhiều biện pháp quyết liệt: Xử tử những kẻ cướp bóc (1). Trung tá Gravel sợ những hàng chữ như TQLC Hoa Kỳ hãm hiếp, cướp bóc, và cưỡng đoạt các cổ vật trong Đại Nội nên ra lệnh cho các cố vấn Mỹ “Kể từ 12 giờ hôm nay, bất cứ binh lính VNCH cướp bóc sẽ bị bắn tại chỗ.” Ông ta còn nói thêm: “Tôi phải đổi hướng tấn công. Nếu cần, tôi sẽ làm như thế.”
Ông ta không cần phải làm như thế, cũng không có một lính TQLC nào bắn hạ một tên cướp bóc nào. Các cố vấn quân sự thông báo cho binh sĩ VNCH biết việc gì có thể xảy ra. Mặc dù việc cướp bóc không bao giờ chấm dứt hoàn toàn nhưng đã giảm thiểu nhiều. Nhưng tất cả kinh nghiệm còn lại là một chút chua xót nơi cửa miệng. Trung sĩ Dye ghi nhận: “Binh lính VNCH quả là bất trị, luôn luôn tìm cách ở sau xa TQLC khi chúng tôi chiến đấu ở khu Nam thành phố Huế. Sau một trận đánh cam go, tôi thấy chúng lái xe GMC tới cướp bóc tại những ngôi nhà chúng tôi mới đánh chiếm xong. Cũng có nhiều anh TQLC chó má về việc cướp bóc nầy nhưng tôi nghĩ rằng nếu binh lính VNCH không lợi dụng cái uy danh của TQLC qua các trận đánh ở đây thì họ đã đánh mất cái uy danh ấy rồi.”
Sáng ngày 7 tháng Hai, chiếc cầu thứ hai và cũng là cuối cùng trên sông Hương bị đặc công Cộng Sản đánh sập (2). Tuy nhiên, về chiến thuật không có gì ảnh hưởng nhiều vì bến tàu Hải quân vẫn còn hoạt động hữu hiệu.
Ngày hôm sau, bác sĩ Hamilton và 4 y tá chờ tàu thủy trở về lại Phú Bài. Họ đã ở đây 5 ngày. Một ngày sau khi họ thiết lập trạm y tế ở MAC.V, một trung úy VNCH tên là Ba (hay Bá? – ngd), người nầy khai tốt nghiệp bác sĩ ở Saigon, hăng hái giúp đỡ. Họ gọi ông nầy là bác sĩ Ba và ông làm việc hết sức mình để chăm sóc những người bị thương. Điều làm cho bác sĩ Hamilton hết sức xúc động về Huế là tinh thần của TQLC vô cùng anh dũng. Hầu hết những người lính trẻ sau khi băng bó xong đều xin trở lại đơn vị ngay. Cuối cùng, tất cả các bác sĩ sau hôm họp ở Đà-Nẵng đều trở lại thành phố, do đó, bác sĩ Hamilton nghĩ rằng đã tới lúc ông và nhân viên của ông trở lại Phú Bài.
Trời mưa nhẹ trên bến tàu. Bác sĩ Hamilton đứng nhìn đám người chuẩn bị ra đi. Có khoảng một chục người tỵ nạn Việt Nam, vài phái viên báo chí đang chụp hình và phỏng vấn, một vài TQLC, binh lính VNCH và khoảng 30 TQLC bị thương, vài người đi cà nhắc, đầu bị băng, đội nón sắt và áo giáp, vài người nằm trên cáng có che áo mưa. Sáu TQLC được bỏ vào bao bó xác chết.
Thỉnh thoảng có tiếng nổ lác đác gần đó. Có tiếng súng cối và lựu đạn. Hamilton chỉ lưu ý tới những tiếng nổ đó, tiếng nổ không gần lắm và có vẽ như càng lúc càng xa đi.
Một chiếc tàu đổ bộ (LCU) của Hải Quân cập bến. Người ta lên tàu. Những người chết và bị thương nằm trên cáng được chuyển lên. TQLC và dân chúng tập trung trên sàn tàu. Hamilton lấy làm lo. Chỉ một trái súng cối nổ trên sàn tàu sẽ làm cho khối người chết và bị thương. Chiếc tàu ra giữa dòng và từ từ chạy lên hướng Bắc, vào một con kinh đào gần bờ thành Thành Nội. Khi chiếc tàu đi vào một khúc sông hẹp, quân CSBV từ hai bên bờ bắn ra. Hamilton núp phía sau một cái thành sắt, nhìn ra sông. Cây cối dày đặc, bụi bờ, và cỏ ống. Lửa từ các họng súng núp dưới đất bắn ra.
Các TQLC còn đi lại được núp bên thành sắt trên tàu bắn trả. Bác sĩ Hamilton cũng chụp một cây súng M-16 cùng nổ súng với họ. Chẳng ai trên tàu bị thương. Tàu tiếp tục đi, chẳng bao lâu bờ thành khuất dạng, để lại tiếng súng phía sau. Rồi tàu lại quay vào sông Hương và hướng ra biển đông.
Hai ngày sau khi bác sĩ Hamilton rời Huế, một đợt tăng cường khác chuyển đến. Đó là trung đội đại bác không giật 4.2 inch, súng cối thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 11, Sư đoàn TQLC, dưới quyền chỉ huy của Pháo Đội Dã Chiến Số 1 LLDN X-Ray. Họ có 12 người và 4 súng cối, trung sĩ Reliss chỉ huy. Ông nầy là một TQLC thuộc loại cừ, một hạ sĩ quan. Khi trận Huế bắt đầu, trung đội ông có nhiệm vụ yểm trợ cho các đơn vị hoạt động ở Phú Bài – Phú Lộc. Họ được lệnh chuyển về căn cứ Phú Bài. Ngày 10 tháng Hai, sau ít ngày lau chùi súng đạn, tái tiếp tế, và tổ chức lại, trung đội được máy bay Sea Knight chở đến thành phố Huế.
Chiếc trực thăng gầm thét, lách qua lại để tránh đạn quân CSBV từ dưới đất bắn lên. Reliss và lính tráng của ông lót áo giáp mà ngồi, để tránh đạn từ dưới bắn lên. Chiếc trực thăng đáp xuống bãi đáp bên cạnh bến tàu Hải Quân, binh lính thoát ra cửa đuôi. Quân CSBV nổ súng. Những người bắn sẻ núp bên kia sông hay trên tường thành bắn qua, hai quả đạn súng cối hạng nhẹ rớt trên sông. Một toán súng máy trí súng trên bến tàu bắn trả, la to biểu đám súng cối di chuyển. Trung đội chạy nhanh tối đa, kéo theo cây súng cối nặng 650 pound.
Có mấy người đi sau để bảo vệ, chiến trực thăng lao vào bầu trời sương mù, tiếng súng tắt dần.
Sau 20 phút chờ đợi một chiếc xe GMC tới chở trung đội đi về hướng đông bến tàu, tới một địa điểm cách khoảng vài trăm mét. Họ được gom lại trong khách sạn Hương Giang, nằm bên kia đường đối diện với vị trí Đại Đội 1/ 1, phía bắc là sông Hương và hoàng thành. Ở đây TQLC gác cổng, nhưng chung quanh đó toàn là người Việt. Khách sạn Hương Giang đông đặc người tỵ nạn: đàn bà, trẻ em và ngay cả đàn ông còn trong tuổi lính. Trên xe, Edward M. Landry, một người trong toán của Reliss rất ngạc nhiên. Ở Quân Đoàn I, anh ta đã quen hiểu rằng tất cả những người còn trẻ hễ không ở trong quân đội VNCH thì là Việt Cộng.
TQLC chuẩn bị súng cối 4.2 inch. Thấy một người có vẻ lớn tuổi hơn, Landry hỏi: “Này, ông ơi, chúng tôi đi với ai đây?”
Người ấy trả lời ông ta không phải là xạ thủ, ông ta là thiếu tá đang làm việc với Đại Đội 1/1 và trung đội nầy sẽ hợp tác với tiểu đoàn của ông ta và Đại Đội 2/ 5. Rồi viên thiếu tá giúp họ chuyển vào một căn nhà trống bỏ hoang, cho họ tần số truyền tin thuộc hệ thống LLĐN X-Ray. Trung đội lo chuẩn bị đạn dược, dựng công sự quanh súng cối bằng thùng đạn đổ đầy cát vào đó, sẵn sàng nhiệm vụ chiến đấu sau khi đến Huế.
Còn có nhiều việc phải làm. Đối với Landry, 21 tuổi quê ở Lynn, Massachsetts, vào TQLC vì bộ Quốc Phòng gởi giấy động viên tới nhà, ở Việt Nam 6 tháng. Huế là nơi tồi tệ nhất trong thời gian của anh ở Việt Nam. Anh ta nghĩ Huế là nơi tiêu biểu nhứt, nếu dùng cho đúng chữ. Ở Huế, nhóm của họ có 12 người: Anh ta và trung sĩ Reliss, Dave Raby, George Schamberger, Billy Barr, Ed Shaw, Powell, O’ Neil, Edenfield, Miller, Torres, và Fuerst- Họ tự gọi họ là “Mười Chàng Dơ Dáy” bởi vì họ thiếu trang bị và kẹt giữa đống rác dơ dáy. Landry chẳng muốn thế. Đôi khi anh ta trông thật mệt mỏi và lo sợ, chỉ muốn khóc. Là một xạ thủ súng cối, anh ta chưa bao giờ cận kề với giặc như thế nầy. Chỗ nầy hôi hám vì xác chết bắt đầu sình thúi trong các đống gạch ngói vụn, mưa dầm và bầu trời u ám làm cho lòng anh thấy ảm đạm u sầu.
Hơi đạn cay xử dụng lưu lại trong không khí nhiều ngày làm cho việc hô hấp không được thoải mái. Máy bay trực thăng tới bãi đáp để thả đạn dược xuống và chuyển binh sĩ tử trận đi. Họ phải xử dụng thứ nước ở ngoài sông và bắn súng liên miên. Theo lý thuyết, có 7 người phụ trách một cây súng: Anh ta, Reliss, người truyền tin, tiền sát viên; họ chỉ có 4 người. Họ làm việc suốt ngày suốt đêm đằng sau công sự do họ dựng nên, lắng nghe tiếng chạm súng chung quanh, nghe tiếng gọi pháo trong máy truyền tin và bắn yểm trợ. Đạn cay, đạn nổ và đạn chiếu sáng ban đêm. Nhiều lúc tiếng của tiền sát viên, tiếng bộ binh gọi trong máy: “Lặp lại.” Gọi đi gọi lại nhiều lần, sau một loạt đạn bắn liên tục vào vị trí địch. Lặp lại, có nghĩa là tác xạ lại trên một mục tiêu. Quân địch đút đầu núp đạn. Landry nghe tiếng “lặp lại” không nhiều lắm. Ngủ rất ít, mệt thường xuyên. Một lần anh ta chui vào ngủ trong góc công sự, nằm cuộn lại dưới cái bàn trong phòng, mệt quá chẳng biết ra làm sao nữa cả. Khi mặt trời lặn, chỉ có vài khoảnh khắc là trời tối, thế rồi máy bay tới thả trái sáng, máy bay tới tác xạ, biến đêm thành ngày. Landry nghĩ ánh sáng hỏa châu như điều thần bí, làm cho mọi vật trở thành hư ảo, trông giống như nhìn vào địa ngục. Súng cối địch bắn liên tục, mấy tay bắn sẻ từ bên kia sông, phía Thành Nội bắn sang. Khi họ tới gần bờ sông, một lính CSBV nổ súng, Schamberger lăn mình tránh đạn, rồi nghe một tràng đạn sát trên đầu. Anh ta chụp cây M-16, quay tròn, thấy khói súng tỏa ra, anh bắn một băng vào cửa sổ, tiếng súng ngưng. Nhiều ngày sau, Landry mới rõ chuyện: Cổ áo dưới cằm anh ta thủng mấy lỗ vì đạn địch rồi bay trúng cánh tay O’ Neil đang đứng bên cạnh anh ta.
Cũng có những giây phút vui vẻ, như khi họ gặp mấy đứa bé mồ côi. Có một lần Schamberger đi vào MAC.V, một em bé gái tên là Lê (Li) báo động cho anh ta đừng đi vào con đường em bé đưa tay chỉ vì con đường đó, như em bé nói: “Beaucoup Vixi.” Lời báo động của em bé đã cứu mạng anh ta. Nhiều năm sau anh ta còn giữ ấn tượng sâu sắc đó nên khi sinh con gái, anh cũng đặt tên con anh là Sherri Li.
Mặc dù đêm đầu tiên của họ ở Huế thật tệ, họ vào ngủ trong khu vực MAC.V. Landry có nhiệm vụ phải đi gác. Anh ta đi tuần trên con đường một bên là các ụ súng và một bên là sông Hương, bỗng nghe có tiếng đạn xé trên không. Anh ta phóng xuống đất, bò như cua để tránh đạn và nhìn lên trời. CSBV pháo kích. Đạn lửa bay trong không gian vạch từng lằn vàng trong đêm đen. Cuối cùng, hết pháo kích, máy bay thả trái sáng, chiếu sáng toàn bộ khu vực.
Đêm nào trái sáng cũng thả suốt đêm, Landry có thể đánh cá với bạn hễ cứ 3 người TQLC thì có một anh mang dù trái sáng quanh cổ, cột quanh đầu hay đồ dùng.
Ban đêm, TQLC củng cố vị trí phòng thủ, gài mìn claymore phía trước và đặt vị trí canh gác cẩn mật. Đêm đêm, CSBV mò tới bắn lén hoặc quăng lựu đạn vào phòng tuyến TQLC, nhiều khi họ bị pháo sáng phát hiện và bị bắn chết tại chỗ như đã xảy ra ở Đại đội 1/ 1. Có đêm, TQLC nghe có tiếng động của kiếng và gạch ngói bể dưới chân người đi hay bò trong một căn nhà phía trước. Họ dùng M-16 và hỏa tiễn bắn xuyên qua cửa sổ. Một đêm, hạ sĩ Soukup và số lính còn lại trong tiểu đội của anh ta phải bỏ lại một cây súng đại bác 106 ly đằng sau một căn nhà và chui qua một lỗ vách để phòng thủ chung với binh sĩ Đại đội 2/ 5. Phía trước nhà, ngoài sân là một bức tường; phía sau đó, quân CSBV đang giữ một khu nhà. Nếu có anh CSBV nào trong bọn họ lẻn qua được vách tường đó vào khoảng nửa đêm thì có thể đó là điều chẳng lành cho mọi người.
Soukup và một TQLC khác đặt một vị trí nghe ngóng bên bức tường.
Họ gọi thầm báo cho nhau, gom vũ khí rồi bắt đầu bò thật thấp qua một cái sân cỏ. Họ ép sát vào tường, rồi ló đầu lên trên bờ tường quan sát. Cảnh thật đẹp. Trăng sáng. Họ có thể thấy một ngã tư trước mặt. Nhà cửa trông màu xám, cửa sổ thì đen. Mọi vật đều yên tĩnh. Đúng là yên tĩnh. Họ ngồi như thế khoảng 2 giờ đồng hồ, tay đặt trên súng, quan sát, chờ đợi. Chẳng có gì xảy ra cả. Bỗng tự nhiên họ thấy lo. Nếu có ai trong bọn họ thấy lâu không có động tĩnh gì cả sẽ bò ra đây và chuyện rủi ro có thể xẩy ra. Họ quyết định ngồi nín thinh cho tới sáng, ba hồi ngủ ba hồi thức canh.
Soukup đang ngủ gật gù bên bờ tường thì bất thình lình đồng đội đánh thức dậy. Anh nầy cúi xuống thầm thì nghe có tiếng gì đó bên kia đường, anh ta chắc có gì đó. Soukup hé nhìn qua tường.
Bốn lính CSBV nhảy ra đường.
Đồng đội của Soukup bắn một quả lựu đạn, mảnh bay tung tóe trên mặt đường. Soukup bắn thêm một băng M-16 rồi cả hai phóng mình nằm sát xuống đất. Đạn từ bên kia đường bắn sang bay ngang trên đầu họ, đụng vào vách tường kêu lụp bụp. Soukup vừa bò vừa chạy về hướng nầy còn đồng đội của anh về hướng kia rồi cả hai vòng lui cửa sau ngôi nhà. Họ hô mật khẩu và nhảy vào trong.
Họ kiểm tra tình hình, mọi người đều đủ mặt, ai cũng bình an.
Tới khi mặt trời lên, họ tiến qua phía bên kia đường. Căn nhà trống không. Địch đã rút lui trong đêm. Họ thấy có bốn CSBV chết chụm vào nhau trên đường, súng đạn và xắc mang lưng còn y.
Trung tá Gravel đặt ban chỉ huy gần QL. 1, tại địa điểm mới chiếm lại được. Chỗ nầy gần trường học, ngôi trường CSBV đã chiếm trong trận đánh với TQLC vào hôm đầu tiên. Gravel nhận được lời cám ơn đã đánh đuổi được Cộng Sản ra khỏi khu vực nầy. Một linh mục Công Giáo tại một trường dòng nói với Gravel nhiều trẻ em của viện mồ côi núp đầy trong các lớp học. Hôm 10 tháng Hai, mấy TQLC của Đại đội 2/ 5 đã hộ tống vị Tổng Giám Mục được giải thoát về lại Trường Dòng ở gần ban chỉ huy của Đại Đội 1/ 1. Gravel đến thăm đức Tổng Giám Mục. Đức Tổng Giám Mục, tóc đã ngã bạc, mang một cái thánh giá lớn bằng bạc trước ngực, mời Gravel tham dự buổi lễ tạ ơn cùng với đông đảo con chiên trong giáo xứ, cầu nguyện cho việc tái chiếm thành phố Huế được thành công tốt đẹp. Bằng một thứ tiếng Pháp không được trôi chảy, Gravel trả lời đồng ý với Giám Mục và ra lệnh cho TQLC ai muốn thì có thể tham dự lễ với Gravel vào lúc 9giờ30 ngày hôm sau. Một cách trùng hợp, buổi lễ diễn ra vào ngày Chủ nhật, 11 tháng Hai. Gravel cùng vài TQLC đến thăm một nhà nguyện của Trường Dòng với các linh mục. Ông ta bị xúc động bởi một điều: Có 4 lỗ đạn đại bác 90ly bắn thủng vách tường mặt tiền, nhưng các khung gỗ thì còn nguyên.
Đêm hôm trước lễ tạ ơn, Cộng Sản lại tấn công.
Vào khoảng nửa đêm, Gravel trở lại ban chỉ huy khi Cộng Sản bắt đầu pháo kích bằng hỏa tiễn 120 ly. Không có công sự để ẩn núp nên ai cũng ngồi xuống, giữ lấy nón sắt và nghiến răng chịu đựng. Trận pháo kích kéo dài 5 phút, vài tiếng nổ nhanh. Bụi cát bay tung lên và TQLC thò đầu ra canh chừng địch. Thiệt hại nặng nhứt là một chiếc GMC trúng đạn. Chẳng bao lâu người ta mới thấy đau lòng tại sao TQLC chẳng hề hấn gì. Hầu hết hỏa tiễn đều bắn không tới mục tiêu, nổ bên Trường Dòng của Giám Mục. Trẻ con được tập trung vào đây làm nơi ẩn trú nên khoảng 20 em bị chết, 40 bị thương nặng. Một linh mục chạy qua ban chỉ huy của Gravel cầu cứu. Gravel gọi máy cho đại tá Hughes, được mấy phút, y tá và xe GMC đến cứu giúp. Các em bị thương nặng đều được chở xuống bệnh viện Quân Đội Hoa Kỳ ở Phú Bài.
Binh lính TQLC xúc động thấy rõ, còn Gravel giận muốn sôi lên. Cộng Sản chẳng tôn trọng luật lệ gì cả, chẳng quan tâm người bị họ giết là ai.
Ngày 11 tháng Hai, Đại đội Fox 2/ 5 chiếm xong một khu gia cư ngó xuống cây cầu bắc ngang sông An-Cựu, phía nam ngã ba sông đào nối với sông Hương, (Khu cư xá đại học, gần cầu Ga – ngd). Như thế, đại đội nầy đã quét dọc theo con đường đi về phía tây, từ MAC.V đến bờ phía đông sông An-Cựu. TQLC dừng chân ở khu cứ xá nầy, khám xét tất cả tác tòa nhà, lục lọi từng hộc tủ, và vì vậy, đã xoáy một số vật kỷ niệm. Trung sĩ Carter tìm thấy một hộc tủ đầy thư từ, hình ảnh của một người đàn ông da trắng và vợ ông ta. Một trong số hình đó, có hình người đàn ông mặc đồng phục sĩ quan Quân Đội Đức Quốc Xã hồi Thế Giới Chiến tranh Thứ hai. Trung đội ba thì tìm thấy một vài hộp thịt heo muối cũ khẩu phần ăn của Quân Đội Mỹ, nên quyết định làm ngay một món ăn với thứ thịt đó.
Trung đội 2 bên kia đường thì “giải phóng mấy con gà”, và trung đội 3 mua lại bốn cái trứng với 4 đôla. Carter gần như muốn bệnh khi đập trứng vỡ ra. Lòng đỏ thì bầy nhầy màu xanh rêu. Anh ta chẳng đụng tới, nhưng có mấy tay cực kỳ ngoan cố thì đem nấu và ăn hết. Đại úy Downs đem tới mấy ống nước và bọn họ dựng ngay một chỗ tắm ngoài nhà xe. Trời thì lạnh mà nước gần như đóng băng, nhưng chẳng ai thèm quan tâm. Lính TQLC thấy khoái khi tuột áo quần dơ và chà cho sạch các vệt máu khô, mồ hôi và đất bùn.
Khi mọi sự đang diễn ra ngon lành như thế, trung đội 3 nhận thêm lính đến bổ sung, một nhóm lính tóc húi-cua, áo quần còn sạch sẽ mới tới Việt Nam. Thiếu úy Hausrath đưa mấy anh lính mới nầy vào trong nhà nói chuyện với họ. Trước hết, anh ta và trung sĩ trung đội gọi điện yêu cầu bắn súng cối vào mấy tòa nhà bên kia sông mà họ nghi là có CSBV núp bên đó, bắn sẻ qua bên nầy. Mấy trái súng cối rớt ở phía xa bờ bên kia, vào các mục tiêu chết. Hausrath hứng chí tới gần bên cửa sổ để quan sát.
Thình lình, bên kia bờ một tràng đạn AK nổ dòn.
Người Hausrath giật ngược lên, té xuống nền nhà, đạn trúng ngực anh ta. Các chú lính mới nằm xuống, lăn bò càng, mắt mở to kinh ngạc. Hausrath thở được ít phút, mắt trợn ngược và chết.
Hạ sĩ Allbritton bước tới mấy bước báo tin hạ sĩ Burnham. Burnham thì thào: “Trời ơi, tôi mới đi theo anh ta.”
Carter cảm thấy buồn vì cái chết của thiếu úy Hausrath. Anh ta thường không thích sĩ quan lắm vì những qui định nầy nọ và lạm dụng quyền hành. Hausrath là một sĩ quan mới ra trường nhưng tuồng như lúc nào anh ta cũng đúng. Anh ta thường chăm sóc lính tráng của mình, chia nhau từng cái bánh và tạp chí Playboys mà người yêu của anh ta gởi cho, chẳng bao giờ nói mãi cái câu: “Thi hành đi, tôi là cấp chỉ huy”, câu thường nghe trong trung đội. Anh ta được mọi người kính trọng và yêu mến. Có một lần trước khi trở lại Huế, khi viên thiếu úy nầy mới tới và đang chờ hành quân, Carter đang gắn một trái mìn chiếu sáng vào trái mìn claymore, anh ta vô tình làm cho trái mìn claymore nổ, bay mất mấy ống phát hỏa, Hausrath từ ban chỉ huy chạy bổ xuống, một tay cần mũ sắt, một tay cầm M-16. Khi thấy mọi sự, anh ta mắng Carter. Nhưng kể từ khi thấy Carter đứng đó trông như con cừu. Tự nghĩ lại mình, và làm y như kiểu của John Wayne, anh ta cười to lên.
Khi đại úy Downs nghe tin, anh ta vội chạy tới vị trí Trung đội 3. Cái chết của viên thiếu úy làm cho anh ta choáng váng. Chỉ mới 4 ngày trước, người hiệu thính viên rất được anh ta yêu mến bị Cộng Sản giết chết. Anh nầy trẻ, đẹp trai, biệt danh là Red. Họ đang lục soát từng nhà dọc theo sông Hương thì súng nổ, đạn bay chéo trên đầu ban chỉ huy đại đội. Downs không hề hấn gì nhưng Red thì ngã xuống ngay bên cạnh. Bây giờ thì bọn bắn lén giết Hausrath. Tình thế khó khăn. Viên đại úy gọi những người thuộc Trung Đội 3 có mặt từ ngày đầu lại.
Họ tập trung sau tòa nhà gạch. Hạ sĩ Allbritton kinh ngạc nhìn quanh. Toàn bộ chỉ còn có 12 người. Ngoài tiểu đội của anh, chỉ còn có anh ta, hiệu thính viên và một anh chàng trẻ biệt danh là Moses. Downs bắt đầu nói chuyện với họ. Anh ta nói: “Các bạn chiến đấu thật kỳ diệu. Điều tôi muốn là chúng ta có một đại đội trưởng giỏi hơn.” Rồi anh bị bị xúc động. Mọi người thấy anh chảy nước mắt. Allbritton nghĩ: “Anh ta giỏi đấy. Đại úy là một người tài giỏi.”
Thiếu tá O.K. Steele, TQLC, sau khi vào Huế đã gặp khó khăn. Ông ta to cao, đẹp trai, 35 tuổi, có gia đình ở tại Oakland, California, hết sức trầm lặng và thông minh. Trước Tết, ông ta được giao một công việc không mấy thích thú là sĩ quan tại ban chỉ huy đại đội, tiểu đoàn, hậu cứ sư đoàn 1 TQLC tại Đà-Nẵng. Ông ta nói chuyện với đại tá Bohn và cố giành một công việc ở trung đoàn như là sĩ quan quản trị của Đại đội 2/ 5. Ông ta được phân công với một người bạn cũ, thiếu tá Salvati, ông nầy còn vài tháng nữa thì đến phiên về Mỹ.
Lệnh bàn giao có hiệu lực từ 1 tháng Hai nhưng ông ta bị kẹt ở Đà-Nẵng vì đặc công và pháo binh tấn công ngoại vi trong khi Salvati thì đang đánh nhau với địch ở Huế.
Cuối cùng, sau mấy ngày Steele đi nhờ được chuyến bay của chiếc trực thăng khổng lồ CH-53. Phi công thay vì bay trên đất liền phải vòng ra ngoài biển Đông và khi vào đất liền, ông ta phải ghì chặt vào máy bay vì máy bay phải bay đảo để tránh phòng không. Tại Phú Bài, Steele báo cáo cho bộ chỉ huy Trung Đoàn 5 TQLC của đại tá Bohn rồi đi thăm ông nầy sau khi đi quan sát sân bay. Ông ta không thể đi Huế được vì thời tiết xấu và máy bay đi Huế thì chất đầy đạn dược. Vài ngày sau, ông ta được lệnh báo cáo cho sĩ quan quản trị của Sư đoàn 1/ TQLC. Ông nhận lệnh làm chỉ huy trưởng đoàn xe đi Huế, chở thiết bị đi sửa cầu An-Cựu. Theo tin báo cáo, cầu bị thủng nhiều lỗ trên mặt cầu. Steele có một toán lính sửa cầu không chuyên nghiệp: Một thiếu úy và một tiểu đội súng trường của Đại đội 2/5, toán bắn sẻ, toán yễm trợ pháo binh, công binh biệt phái với xe GMC chở đầy gỗ, xe cần cẩu, thiết bị thay thế và thương binh mới xuất viện. v.v…
Thiếu tá Steele có khoảng 120 người, chẳng có ai là người ông quen biết trước kia.
Buổi sáng ngày 10 tháng Hai, họ lên đường, chạy hết tốc lực trên QL 1 bởi vì ai cũng ngại bị phục kích, nhưng người ta chỉ thấy TQLC của các đơn vị hỗn hợp Việt-Mỹ đứng gác cầu. Bộ Chỉ huy LLĐN/ X-Ray báo cho Steele biết Đại đội 1/ 1 chưa củng cố an ninh tại khu vực An Cựu/ Phú Cam, nên ông ta phải dừng lại tại tháp phát thanh cách Huế khoảng 1 Km. Họ dừng lại lập phòng tuyến kháng cự bằng các xe GMC và các xe tăng hạng nhẹ hộ tống. Steele đưa mắt nhìn 3 cái tháp cao tự hỏi tại sao địch không đánh sập những tháp nầy.
Họ chờ ở đây hết ngày. Vài người tỵ nạn chạy ngang bằng xe đạp. Vài lính Cộng Hòa mang súng bên vai đi ngang đưa mắt dò hỏi, nói lúng búng và nhe răng cười như họ vừa đi chơi ở công viên về. Mọi người đều đi ngược hướng về Huế.
Tới khi trời tối, LLĐN X-Ray gọi Steele ra lệnh cho đoàn xe quay lại Phú Bài.
Sáng hôm sau, họ lại lên xe. Có lệnh cho biết một đoàn xe từ Phú Lộc sẽ đến với lực lượng tăng cường Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 5/ TQLC. Họ chờ hết cả buổi sáng nhưng chẳng thấy đoàn xe từ Phú Lộc tới. Bộ chỉ huy LLĐN X-Ray lại ra lệnh cho đoàn xe của Steele lên đường. Xe chạy nhanh qua ba cái tháp phát thanh hôm qua, và Steele đứng trên lưng chiếc xe tải chở ban chỉ huy, nhìn cái xe cần cẩu lắc lư ở phía sau. Tới ngoại ô thành phố Huế, xe dừng lại và Steele cho đoàn xe tải quay lại Phú Bài với một nhúm bộ binh giữ an ninh. Xong Steele ra lệnh cho các trung đội hỗn hợp của ông ta thám sát phía trước và củng cố an ninh cây cầu An Cựu. Không có súng nổ. Trong vòng mấy phút, viên thiếu úy trung đội đi đầu gọi điện báo cáo cho Steele và họ cùng xe tăng và xe cần cẩu tiến lên cầu.
Cầu An Cựu dài khoảng 100 bộ, đúc bằng xi-măng. Phần trung tâm đã bị hỏng sụp xuống. Hai đầu cầu còn dính vào bờ. Nước chảy ở giữa. Mấy cây sắt móng cầu lồi ra, xoắn cong lại trông như cọng bún khô.
Steele và viên đại úy kỹ sư đứng trên bờ quan sát sự thiệt hại.
Steele nói: “Được! Tiến hành đi, nối nó lại.”
Viên đại úy nói không thể làm được. Việc nầy vượt ngoài khả năng của anh ta. Người ta báo cho anh biết chỉ có mấy lỗ thủng giữa cầu. Anh ta chỉ đem theo vật liệu để vá cầu mà thôi. Steele nghĩ trong lòng muốn đá anh kỹ sư nầy một đá cho rớt xuống sông. Tất cả mọi việc rồi chẳng ích lợi gì hết. Sau nầy, anh ta mới biết cây cầu sập đã một tuần. Vậy mà 7 ngày qua, LLĐN X-Ray vẫn nghĩ rằng cây cầu chỉ bị mấy lỗ thủng ở giữa. Tin tình báo quả thật là tệ.
Ông ta gọi điện cho Phú Bài, báo cho biết cây cầu không sửa được nữa và khuyến cáo nên trì hoãn bất cứ một sự tăng phái nào của 1/ 5 cho đến khi cầu sửa xong. Xong ông ta gọi điện cho trung tá Cheatham, báo cho biết đã tới địa điểm và báo cáo cho tiểu đoàn mới của ông. Viên đại úy kỹ sư nói có thể dựng nhanh một cái cầu cho người đi bộ. Steele ra lệnh tiến hành và bố trí binh lính ở những căn nhà hai bên bờ sông. Bờ bên kia trông có vẻ an toàn, nhà cửa không bị hư hại, ngoại trừ mấy lỗ trên vách tường bị bắn thủng. Ông ta có thể thấy TQLC trong những căn nhà ấy. Người Việt Nam đội nón lá đi bên bờ sông. Steele và viên thiếu úy thuộc Đại Đội 1/ 1, anh nầy mang cây Shotgun và nóng lòng muốn về với đơn vị, tìm thấy một cái xuồng gần cầu. Họ lội xuống quăng áo quần và súng vào chiếc xuồng rồi chèo qua sông trong nước lạnh giá. Họ cố cúi đầu xuống, đề phòng bị bắn sẻ.
Qua bên kia bờ, họ mặc áo quần vào và đi tìm TQLC trong các ngôi nhà gần đó. Họ là người của Đại đội 2/ 5 nên Steele đi tìm đại úy Meadows. Viên đại nầy, ốm và mang kính trắng làm Steele nhớ lại hình ảnh các ông thầy giáo. Meadows như bó rọ trong cái áo giáp của anh ta, M-16 vác trên vai, mặt mày hốc hác, râu mọc dài, mắt đầy vẻ mệt mỏi. TQLC có mấy anh trinh sát, và mấy chiếc xe bị trưng dụng ở đây. Meadows đề nghị Steele tới ban chỉ huy tiểu đoàn. Anh ta leo lên một chiếc xe của trinh sát, xe nầy lỗ chỗ vết đạn. Anh ta đeo chặt vào xe trong khi tài xế TQLC rú ga chạy hết tốc lực vượt qua một ngã tư.
Họ đến ban chỉ huy theo cung cách giống nhau như vậy. Steele quen biết nhiều người ở đây. Cheatham từng là một cán bộ đại đội khi ông ta mới nhập ngũ ở trại huấn luyện. Salvati đã nhập trường sĩ quan với ông ta. Ông ta cũng đã phục vụ dưới quyền chỉ huy của Christmas và Downs trước khi tới Việt Nam. Steele chính thức nhận chức vụ sĩ quan quản trị do Salvati bàn giao lại. Cheatham khuyên ông ta nên trở lại và giữ lực lượng phòng thủ qua đêm.
Ông đại tá nói rằng Đại đội Hotel của Christmas sẽ giữ an ninh một cây cầu còn nguyên gần khu gia cư. Sáng mai họ có thể qua cầu được. Mặc dù không biết chuyện ấy và mặc dù có lời khuyến cáo của thiếu tá Steele về cây cầu, lực lượng tăng cường từ 1/ 5 đã sẵn sàng nhiệm vụ của họ.
Các TQLC của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 5, Sư đoàn 1 được lệnh leo lên 8 chiếc xe GMC chạy chậm chậm qua con đường bùn và lá rụng phủ đầy dưới bầu trời âm u và thấp. Các TQLC ngồi trên sàn xe, súng đạn để đống quanh họ. Trời gió bấc lạnh khó chịu. Có một anh nhà báo chen chúc với họ. Đó là Michael Herr, người lùn, mang kiếng cận thị dày cộm, phái viên của tạp chí Esquire. Anh ta may mắn ở trên chiếc xe giữa đoàn xe. Đầu đuôi đoàn xe thường là mục tiêu dễ bị phục kích. Tuy nhiên, TQLC và anh bạn phóng viên của họ an tâm cho rằng sẽ không nổ súng. Trên đường, họ thấy hàng trăm dân tỵ nạn rời Huế chạy về phía nam. Trẻ em thì trông có vẽ thích thú và thân thiện, trong khi người già thì nhìn chằm chằm vào họ với vẽ mặt vô tình như thường thấy.
Binh lính đang nói chuyện, huýt sáo và hút thuốc. Herr ghi nhận: Trông có vẽ như ở khu thay quần áo trước trận đấu bóng mà chẳng ai hứng thú gì cả.
Phía trước, họ có thể thấy khói đen ở Huế đang bốc cao lên.
Khi tới cầu An Cựu, TQLC, Herr và các phóng viên báo chí khác xuống xe. Họ gặp trung sĩ Dye, phóng viên chiến trường của Sư đoàn 1/ TQLC. Herr lưu ý Dye, anh ta không phải là một TQLC bình thường. Dye, 23 tuổi, quê ở Girardeau, Missouri, cao, gầy và đẹp trai, khôn ngoan và nhạy bén. Trên lưng áo giáp, anh ta vẽ hình Alfred E. Newman với khẩu hiệu: “Có điều chi? Tôi lo lắng!” Và dán lên vải bọc nón sắt một bông hoa màu vàng bằng plastic mà anh ta nhặt được trong trận đánh ở khu nam Huế. Anh ta và người cộng sự, trung sĩ Berntson chui vào một ngôi chùa Phật. Phía trước bàn thờ là một bình cao cổ cắm hoa màu vàng. Sau bình hoa là tượng Phật. Berntson ngồi nghỉ trong chùa, rồi đi vòng quanh xem cách trang trí. Bất thần anh ta thấy có bóng người chuyển động phía sau tượng Phật nên nổ súng. Tượng Phật và bình hoa bể tan, một anh lính CSBV té nhào ra phía trước. Berntson lấy một cái hoa trong bó vừa rơi ra khỏi bình, gắn lên tấm vải che nón sắt của Dye và nói rằng hoa đó tượng trưng cho việc cứu mạng Dye.
Cái hoa trở thành một mục tiêu rõ ràng cho những tay bắn lén nhưng Dye đã quen và cứ để như vậy. Thiệt là một hành động điên khùng.
Việc ấy xảy ra đã hai tuần. Bây giờ anh ta đứng đây, nói chuyện với Herr và các người khác, đảo mắt và nhe răng ra cười dưới bộ râu quặp.
Thiếu tá Steele trở lại, lội qua sông để về với ban chỉ huy của ông ta, thấy TQLC của đơn vị 1/ 5 chuẩn bị sẵn sàng đâu đó để lên xe, ông ta ra lệnh phòng thủ chu vi. Khi các phóng viên báo chí muốn qua sông An Cựu để vào thành phố, ông ta nói với họ phải chờ tới ngày hôm sau và biểu họ vào trong một căn nhà bỏ hoang. Ông ta sợ cho họ vì ông ta bị buộc ở lại đây ban đêm.
Ông ta leo lên tầng ba của một căn lầu, để từ đó có thể quan sát toàn bộ khu vực. Vừa lên tới mái thì Steele thấy hai chiếc trực thăng có trí súng đại liên của Sư Đoàn 1 Không Kỵ bay tới, bay sát mặt sông. Ông ta nhìn mà không tin được: Đại liên trên máy bay nổ bùm bùm, võ đạn rơi loảng xoảng trên mặt đường.
Dye, Herr và một vài TQLC bước nhanh trên đường, dọc theo bờ sông, vừa đi vừa mở hộp phần ăn tối để ăn, bỗng nhiên có tia đạn lửa bay tới phía họ. Anh ta cùng mấy người trong nhóm lăn người xuống tránh đạn. Thức ăn và nón sắt văng ra. Chỉ trong mấy giây, chiếc trực thăng bay mất. Họ đứng dậy, ngạc nhiên hơn là sợ. Cũng may, chẳng ai bị thương.
Họ trải qua đêm trong những căn nhà trống bên bờ sông, ngủ trên những tấm áo mưa trãi trên gạch và kiếng bể. Dọc theo bờ sông, bên phía trái, hướng tây bắc, hỏa châu và súng bắn suốt đêm.
Chiếc cầu Ga Huế nằm ngang sông An Cựu vẫn còn nguyên. Cầu nầy ở gần chỗ sông đào nối với sông Hương, phía tây bắc chỗ đóng quân của Steele. TQLC giữ phía bờ đông, quân CSBV giữ bờ tây. Phải cũng cố an ninh phía bên kia mới có thể tăng cường đơn vị qua sông được. Do được súng cối yểm trợ, Trung đội 1 của thiếu úy Myers thuộc Đại đội Hotel được giao nhiệm vụ qua cầu và đóng chốt phía bên kia. Lệnh là phải giữ vị trí suốt đêm. Họ đã hoàn thành.
Đó là trận đánh gay go – hai tiểu đội trưởng nổi tiếng bị giết. Thiếu úy Myers cũng hăng hái tham gia trận đánh, ném lựu đạn – tuy nhiên, sáng ngày 12 tháng Hai, TQLC của Đại Đội Hotel vẫn chưa di chuyển. Trên sông đào, cùng với nhóm của thiếu tá Steele, trung đội trinh sát và TQLC của Đại Đội 1/ 1 được biệt phái qua cầu làm điểm tựa cho công binh, bắt tay được với đơn vị tiểu đoàn của họ. Steele cùng nhóm còn lại của lực lượng ông ta và lực lượng tăng cường của Đại Đội 1/ 5 bắt đầu quét địch dọc theo bờ sông. Họ ngạc nhiên vì chẳng thấy tay bắn sẻ nào cả. Qua hai giờ đồng hồ quét dịch dọc theo con sông, họ gặp Đại Đội Hotel vẫn còn đóng ở cầu. TQLC giữ vị trí quan trọng đó, rồi cẩn thận tiến qua bên kia cầu. Họ ra dấu cho đồng đội mới tới di chuyển. Nhóm đầu tiên phóng nhanh qua cầu, đạn bắn sẻ bắt đầu nổ lách cách.
Thiếu tá Steele khom mình xuống chạy với nhóm còn lại.
Tiếng súng bắn sẻ rít lên. TQLC của Đại Đội Hotel chạy ngược lại. Họ củng cố vị trí tại khu cư xá và nhà máy điện gần đầu cầu. Chủ nhà máy điện người Pháp cùng gia đình may mắn không ai hề hấn gì nay được Mỹ che chở.
Ngày thứ Hai, 12 tháng Hai, một ngày sau khi thiếu úy Hausrath bị giết, Đại Đội Fox vượt qua sông để càn quét những tên bắn sẻ. Carter, xạ thủ đại bác 3.5 inch được chỉ định đi với Trung Đội 2, đơn vị mũi nhọn, dùng thuyền máy bị trưng dụng để đổ bộ qua sông, xong quay ngược lại, quét sạch khu nhà giữa nơi họ đổ bộ và cây cầu. Họ tấn công từng nhà một rồi tới căn nhà kế, tìm thấy mấy xác Cộng Sản. Trung đội tiến được vào sân ga xe lửa.
Một trung sĩ nói với Carter bắn một phát vào một toa xe đang nằm trên đường sắt. Anh ta bắn hai phát, xong họ tiến vào lục soát thấy một toa xe có hai xác CSBV trong đó, một xác bị mất đầu. Carter tịch thu một cái khăn quàng cổ màu xanh đỏ trên xác một người chết. Họ tiếp tục tiến quân.
Trung đội 3, – bây giờ do James H. McCoy, một trung sĩ chỉ huy, – vượt qua cầu, và bắt đầu quét dọc theo con dường bờ sông, dùng lựu đạn khói để che khi tiến công. Hạ sĩ Allbritton tới gần một ngôi nhà, khi nhìn lui thì thấy thiếu tá Salvati và một trung sĩ của tiểu đoàn đang tản bộ trên đường – ngay giữa đường – giống như người ta đi bộ tập thể dục buổi sáng vậy. Viên trung sĩ nầy là một cựu chiến binh từng tham gia trận đánh trên đường phố ở Hán Thành, Nam Triều Tiên. Allbritton cảm thấy phục họ, nhưng anh cũng cảm thấy mệt tới tận xương vì thấy quá nhiều TQLC đã hy sinh.
Anh ta la lên với họ: “Đừng có làm bia cho tụi nó nữa. Tôi không muốn lính của tôi lôi xác mấy ông ra khỏi đây.” Nói xong, Allbritton nhảy tìm chỗ núp mất dạng nên hai người kia không thấy anh ta. Họ bèn tìm chỗ núp.
Súng nổ lác đác. Một tay bắn lén bắn một tràng vào Trung Đội 2. Carter tiến lên phía trước. Anh ta nạp đạn vào súng, viên đạn trợt qua ống phóng và rơi ngay tại chân anh ta. Trong suốt trận đánh, anh ta xử dụng đại bác 3.5 inch. Súng bắt đầu bị trục trặc.
Cách mấy khu nhà xa xa phía trước, có ngôi nhà họ nghi là địch từ đó đã bắn chết viên thiếu úy. Không có gì ngần ngại, họ làm ngay, gọi điện cho toán súng cối và toán đại bác không giật tác xạ: Ngôi nhà bị san bằng.
Đêm tới, các trung đội rút về bên nầy sông.
Carter ngủ qua đêm với Trung Đội 3. Anh ta quàng mấy tấm màn để che cơn gió bấc lạnh, nhìn mấy con chuột chạy quanh nhà lục lạo. Cây súng của anh để sát bên chân, đạn sẵn trong nòng, chờ động dụng.
&
Trước khi chia tay với tiểu đoàn, thiếu tá Salvati đi ra ngoài cùng thiếu tá Steele để tìm nơi đặt bộ chỉ huy cho ông đại tá và Tiểu Đoàn 2. Hai người bạn cũ đi bộ dọc theo đường Lê Lợi bên bờ sông Hương. Steele ngạc nhiên vì cảnh tượng thành phố bị tàn phá. Khi ông ta tới Phú Cam, các ngôi nhà cũng chưa hề hấn gì lắm, ngoại trừ những lỗ đạn lớn nhỏ rải rác đây đó. Tuy nhiên, địch kháng cự rất căng trên con đường Lê Lợi nầy. Đây là nơi suốt hai tuần lễ, tiểu đoàn phải chiến đấu gay go và đổ máu nhiều. Điều nầy làm Steele nhớ lại cuốn phim thời sự Thế Chiến thứ II về trận đánh Monte Cassino, những bức tường vở trơ trụi giữa đống gạch ngói.
Họ vào Câu Lạc Bộ Thể Thao, một câu lạc bộ cũ của Pháp, nhìn xuống sông Hương, có những thảm cỏ trãi dài tới bờ sông, những khoảnh đất rộng, sân quần vợt. Bề ngoài, trông còn tốt, nhưng khi đi từ cửa nầy qua cửa kia, họ thấy vết đạn loang lỗ trên tường mỗi phòng, vết đạn kéo từ phòng nầy qua phòng kia, bông băng dính máu vứt đầy chứng tỏ địch đã dùng chỗ nầy làm bệnh viện. Việt Cộng và quân CSBV không có trực thăng để di tản người bị thương nặng, không có bệnh viện thật sự, chỉ có một số y sĩ huấn luyện cấp tốc. Nơi nầy chứng kiến nhiều nỗi đau khổ.
Cuối cùng họ đi vào đây và đặt ban chỉ huy ở khu nhà Đại Đội Fox đã củng cố an ninh, tầng trệt thì dùng làm trạm cứu thương, tầng hai thì dành cho Cheatham và ban chỉ huy của ông ta. Tầng thứ ba thì để trống, phòng khi địch pháo trúng mái nhà như thường ngày địch đã pháo. Ban chỉ huy Đại Đội 2/ 5 cũng đóng ở đây.
Trung sĩ Dye đứng bên một cái hầm tìm thấy trong khu vực do Đại Đội 2/ 5 chiếm lại. Các TQLC khác đứng bên cạnh lầu bầu: “Chúa ơi!”
Một mùi hôi thối khó chịu từ hầm bay lên, một mùi thúi đến lộn ruột bao trùm hết không khí chung quanh, lên tới bầu trời thấp đầy mây và mưa phùn. Dưới đó, bên dưới giày dép là hàng trăm xác người. Họ là người dân miền Nam Việt Nam, chết chồng lên nhau, nằm ngang nằm dọc, tưởng như níu lấy nhau khi người ta xã súng máy vào họ. Dye có nghe người ta đồn Cộng Sản tàn sát hàng loạt người dân Huế, nhưng anh ta không bao giờ nghĩ có thể có một cảnh tượng như thế nầy. Thân nhân và bạn bè của người chết đang tìm cách để tìm người thân trong đám xác chết hỗn độn bắt đầu thối rữa ấy. Họ lấy khăn tay để bịt mũi miệng lật từng xác chết tìm người thân.
Không bao giờ Dye có thể quên được hình ảnh ấy. Một năm sau, anh ta cũng nghĩ đến hình ảnh ấy khi vụ Mỹ Lai được đăng trên báo. Dye không thể tin được, khi báo chí làm ồn ào vụ Mỹ Lai nhưng lại chẳng bao giờ nói đến việc tàn sát của quân CSBV ở Huế. Cuối cùng, việc ấy cũng sẽ phai mờ theo thời gian cũng như những mối xúc cảm về một cuộc chiến tranh vậy.
Thứ Ba, 11 tháng Hai, trung tá Cheatham ra lệnh quét sạch các tay bắn lén, ngoan cố và những tên lính bị lạc đường phía bờ tây sông An Cựu, gởi Đại Đội Fox và Đại Đội Hotel qua sông. Christmas cùng đơn vị tiến xuống phía nam, qua ga xe lửa, trong khi Downs tiến lên phía bắc đẩy quân CSBV vào giữa hai gọng kềm.
Carter và trợ viên mới của anh, hạ sĩ Chek, người Mỹ gốc Trung Hoa quê ở Nữu Ước, đi trước trung đội. Họ dùng súng 3.5 inch bắn bay cửa của một ngôi nhà rồi một vài TQLC tiến vào trong. Nhà trống không. Carter bước vào trong “chớp” nhanh vật kỷ niệm của một cặp vợ chồng ở phía ngoài phòng của trẻ con. Họ tiếp tục đi tới, không có súng nổ, không có ai hết, kể cả người dân thường. Cuối cùng, họ thấy nghi. Cách mấy chục thước phía trước là căn nhà xây theo hình chữ L, cửa đóng; một dấu hiệu không lành. Allbritton đi phía trước tiểu đội, đưa tay ra dấu cho toán xạ thủ hỏa tiển vượt lên, yêu cầu bắn vài phát vào nhà. Một quả đạn vượt qua song sắt cửa sổ bay vào. Từ sân thượng của một tòa lầu hai tầng, Carter nhắm và nổ súng. Cái cửa sổ nhỏ bay mất, khói tuôn ra.
Một anh xạ thủ khoái chí bắn một tràng, Carter lại nhắm, nhưng Chek dụng vào chốt súng nên súng không nổ, bỗng Carter nghe Allbritton la to: “Ngừng bắn.”
Anh chú ý thấy người từ trong nhà chạy vòng ra từ một cánh cửa bị khuất. Trước tiên là một ông già lụm cụm, đầu hói, và râu dài tới ngực. Mặt và tay ông ta đầy máu. Hai đứa bé nắm lấy áo ông già và khóc. Bắt đầu có thêm nhiều người từ trong nhà chạy ra, người nầy dìu người kia như bị thương, hoặc là chết. Một người nói với TQLC rằng họ là dân thường, CSBV đã giữ họ để làm con tin. Tình cờ họ đã được TQLC giải thoát.
Đại úy Christmas để Thomas lại làm hậu bị cho đại đội rồi đưa anh hiệu thính viên đi theo trung đội mũi nhọn cho Đại Đội Hotel. Anh ta nghĩ một cách mơ hồ rằng hôm nay là ngày 13, và trầm ngâm suy nghĩ tới con số không may.
Họ tiến qua khu ga xe lửa, rồi tiến về phía tây, ngoại ô Huế, vượt qua một doanh trại của quân đội VNCH (ở Nam Giao ngd), qua một khu rừng gỗ, và những ngọn đồi thoai thoải, một khu nghĩa địa cổ và mấy ngôi chùa nhỏ. TQLC chú ý tới mấy ngôi mộ mới đắp, những huyệt mới đào còn cạn. Christmas cùng mấy TQLC tiến lên quan sát.
Trong phút chốc súng nổ dữ dội. Họ nghe tiếng súng cối bắn đi. Christmas và ban chỉ huy của anh ta kẹt giữa một khoảng đất trống khi đạn bắn tập trung vào khu vực, mảnh đạn bay lung tung. Ai cũng muốn lao vào một nơi nào đó để tránh đạn. Họ chen chúc nhau trong một chỗ đất hõm, trong khi đạn vẫn nổ. Christmas quay nhìn lui thấy bóng của một lính CSBV núp sau một cái đền hơi xa. Anh nầy bắn một quả B-40 trong khi đó Christmas chỉ kịp nghĩ: Mình đâu phải là chiếc xe tăng. Hơi nóng mảnh đạn sắc như dao cạo đâm sâu vào chân phải anh ta. Anh ta liền nhảy vào một cái huyệt cạn mới đào bên cạnh, nằm co lại, một cái xác Việt Cọng nằm bên cạnh. Đạn súng cối tiếp tục rơi xuống, anh ta cố ép mình thật sâu trong huyệt, xác chết im lặng nằm bên cạnh anh.
Carter và mấy người lính TQLC vượt mấy hàng cây thấp và tới một ngôi chùa nhỏ ở giữa một khu vườn. Họ đứng nhìn một lúc. Chùa thật đẹp, mái cong lợp ngói. Nhang trong bình chưa đốt. Carter thấy tượng Phật ngồi trên bàn thờ, anh ta rất muốn lấy tượng Phật đó để làm kỷ niệm. Tuy nhiên, anh ta biết phải dấu ở đâu đó trong đồ dạc suốt 9 tháng trước khi về nước. Vã lại, anh ta nghĩ nếu “chôm” pho tượng ấy, Chúa sẽ không cho anh là người làm điều phải.
Họ bắt đầu rời ngôi chùa và đi bộ lên một ngọn đồi nhỏ có rào kẽm gai. Carter và Shek vác súng tìm đường bước qua, người mang máy truyền tin và mấy TQLC đang đi phía trước. Bất thần, họ nghe tiếng bắn đi của súng cối, đạn nổ phía trước cách khoảng hơn trăm mét. Họ nhìn quanh, tự hỏi: Đại Đội Hotel đang ở đâu nhỉ?
Rồi đạn nổ gần hơn. Họ quay ngược lui chân đồi. Carter thấy khói đen và tiếng nổ trên đầu hàng cây, cách xa khoảng 30 thước. Có cái gì đụng mạnh vào chân anh ta, giống như ai lấy cái chày khúc côn cầu đánh mạnh vào. Anh té về phía trước, rơi vào giây kẽm gai, đũng quần vướng vào kẽm gai không gỡ ra được. Anh ta thận trọng tìm cách chui ra. Đạn súng cối lại nổ nhiều thêm. Cố thoát chết, Carter gần như muốn điên khi xé rách quần ra rồi lăn tròn xuống chân đồi.
Anh ta chạy ngược lại ngôi chùa và nhảy vào trong. Có mấy TQLC đang núp trong đó, có một người khác nữa bị mảnh đạn ở đầu gối và một anh cứu thương Hải Quân. Người y tá xem vết thương của Carter, trông có vẽ hơi nặng. Mảnh đạn đâm sâu và có thể đụng xương. Máu còn chảy. Y tá lấy băng băng lại cho anh. Những người bị thương được đưa về sông An Cựu. Một chiếc xe Jeep đưa họ về ban chỉ huy tiểu đoàn. Tuyên úy tiểu đoàn, to con như một cầu thủ bầu dục, chạy tới. Ông ta ôm một người bị thương ốm như cây sậy đem vào trong. Carter cẩn thận tìm cách xuống khỏi xe và đi cà nhắc vào.
Khi bắt đầu bị pháo kích thì Thomas còn ở phía sau của trung đội. Có tin lộn xộn gọi trong máy nên Thomas và vài TQLC chạy lên phía trước, chỗ có tiếng súng. Họ thấy mấy TQLC thối lui phía đường lộ. Đó là những người chỉ huy trung đội: Thiếu úy Myers, thiếu úy Lambert, và mấy trung sĩ trong ban tham mưu. Những người nầy bị thương và được băng một cách vội vàng. Họ nói là bị thương vì đạn súng cối và chỉ hướng trung đội cho họ. Thomas thấy Chritmas nằm dựa lưng vào bức tường một căn nhà, y tá đang ở bên cạnh và chân Christmas bị băng kín. Christmas đi cà nhắc về phía họ.
Đạn súng cối lại nổ, Thomas nằm xuống bên cạnh Christmas và y tá. Đạn lại nổ tiếp, Thomas nằm chồm lên người Christmas để che đạn cho cấp chỉ huy của anh. Họ gọi máy và nghe có tiếng người gọi một chiếc xe bị trưng dụng. Họ leo lên xe và rú ga chạy. Đại đội có 23 người bị thương. Cũng may, chẳng có ai chết. Thomas ngồi bên cạnh Christmas trên sàn xe, nói chuyện với nhau để cố quên đau trong khi xe chạy.
Đằng sau họ, TQLC đang phản pháo.
Tới trưa họ về tới căn nhà đặt ban chỉ huy. Christmas nằm trên cáng đặt sau xe Jeep trong khi y tá chăm sóc vết thương cho anh ta. Cheatham, Steele và những người còn lại quây quần chung quanh. Christmas lấy khuỷu tay chống xuống giường, cố gượng dậy, hút một điếu xi-gà bự và nói chuyện, làm thế nào anh ta có thể trở lại đơn vị sớm, sau khi các bác sĩ băng bó cho anh ta xong.
Tuồng như anh ta không quan tâm lắm tới vết thương nơi chân khá nặng, làm cho anh ta đau đớn lắm.
Sau khi những người bị thương được di tản hết về MACV, Cheatham gọi điện cho trung úy William L. Harvey, sĩ quan phụ tá hành quân tiểu đoàn. Ông ta ra lệnh chỉ có 3 tiếng: “Lo hành trang.” Harvey là đại đội trưởng mới của Đại đội Hotel. Quê ở vùng nông trại tiểu bang Vermont, 24 tuổi, là một sĩ quan hành quân nhiều kinh nghiệm, từng giữ nhiệm vụ trung đội trưởng một năm ở Đại đội Golf, trước khi kéo dài thời hạn phục vụ và được chỉ định phục vụ tại ban chỉ huy Đại đội 2/5. Ở Huế, tiếng gọi gần nhứt để ông ra trận không phải là do CSBV tấn công mà từ một sĩ quan TQLC khác. Một hay hai ngày trước, ông đang tắm trong nhà tắm dành cho sĩ quan thì trong một phòng khác, đại úy Fine, tò mò với một súng phóng B-40 tịch thu được, trái đạn bỗng nhiên nổ. Trái đạn làm thủng bức tường và nổ trên đầu Harvey. Anh ta giật mình tưởng chết.
Đại úy Pyle của tiểu đoàn đảm nhận nhiệm vụ của Harvey. Harvey gom hết hành trang rồi ra đi, tìm đại đội mới của anh ta. Cũng phải mất một tiếng đồng hồ. Anh ta làm việc với trung sĩ Miller, người tạm nhận chức vụ. Ngoài ra còn có Thomas, người không bị thương trong trận pháo kích. Harvey nhìn vào đám lính của anh, họ ngồi lộn xộn chung quanh, hết sức chán nãn, ủ rũ. Họ bị mất tinh thần. Cheatham kéo họ về một ngôi trường đạo gần đó (Pellerin, Ngd) để tái tổ chức, thực ra là để họ nghỉ ngơi một chút.
Sau đó, khi gom được tin tình báo, người ta mới biết chỗ những ngôi mộ cạn là nằm ngay trên đường rút lui của bộ chỉ huy quân CSBV. Giống như những người lính rành nghề, họ đặt súng ngay trên vị trí sẵn có, và Đại Đội Hotel tình cờ hành quân ngay trên cửa hậu của họ.
Carter được đưa bằng xe tới bãi đáp trực thăng cùng với những người bị thương khác. Hai tuần trước, khi anh ta tới đây, các trực thăng thường bị địch xạ kích. Tuy nhiên, tới 13 tháng Hai, trực thăng muốn tới lui lúc nào cũng được. Ở đây có phóng viên báo chí, các tay nhiếp ảnh, người tỵ nạn tập trung từng đám chung quanh chờ được về nhà, hoặc nếu được ưu tiên sẽ cho di tản.
Carter ngồi ở đây, chăm sóc cái chân của anh bị thương và nhìn chung quanh. Có một đống xác chết của quân CSBV nằm ở kia. Có chiếc xe cần cẩu ở đó nữa. Người tài xế hạ cái mỏ cẩu xuống, kẹp ba bốn xác chết. Mỏ cần cẩu cất lên, đủ cao cho xe chạy được, rồi thả mấy cái xác đó xuống một cái hố. Mấy cái xác rớt xuống, chồng lên nhau. Những người Việt dân sự đứng nhìn há miệng cười, la to hoan hô. Carter thấy có vẽ vui.
Phía bên kia bãi, anh ta thấy những xác chết thuộc phe anh ta. Xác chết TQLC xếp hàng như đống gỗ, những cánh tay đen hay trắng giang ra, tất cả đều còn mang giày trận nên mỗi xác trông nặng đến cả hàng trăm pound, xếp thành đống trên thùng xe tải. Carter nghĩ chắc chưa gấp để phải đưa họ đi bằng trực thăng.
Một lúc sau, một chiếc trực thăng đến và thương binh được chuyển đi Phú Bài. Người phi công lượn nghiêng chiếc máy bay để tránh địch xạ kích khiến các thương binh níu lấy nhau. Đại úy Christmas níu lấy Carter để giữ cho anh ta khỏi rơi ra ngoài.
Sau cuộc càn quét ngày 13 tháng Hai, Đại Đội 2/5 TQLC bắt đầu ít gặp địch thường xuyên như trước. Có những cuộc chạm súng gay go mỗi ngày nhưng hoàn toàn vì mục đích thực tiễn. Với họ, đó là phần cuối của một trận đánh dữ dội trên đường phố.
Những cuộc tuần tiểu bắt đầu vượt qua bên sông, những hàng cây và làng mạc ngoài rìa thành phố. Nhưng cứ đêm tới, các tay bắn lén tiếp tục quấy rối căn nhà ban chỉ huy đóng. Cuối cùng, TQLC đóng tại căn nhà nơi trước đó quân CSBV đã đóng – căn nhà nhỏ màu hồng – Cheatham cho gài mìn. Đêm đó, qua ống kính viễn vọng, họ thấy vài lính CSBV lẽn vào. Bấm nổ ngòi điện, toàn bộ căn nhà sụp đổ tan tành.
Trong tình trạng bình thường, sau khi trận đánh chấm dứt, người ta làm đề nghị tưởng thưởng cho những người chiến đấu gan dạ. Tuy nhiên ở Huế, vì cuộc chiến đấu hết sức căng thẳng và số thương vong quá cao, một đại úy và nhiều binh lính được đề nghị phải gởi danh sách về bộ tư lệnh sư đoàn. Họ thiết lập một văn phòng ngay ban chỉ huy tiểu đoàn và thực hiện bản đề nghị ngay giữa mặt trận. Đó là tình trạng hoàn toàn bất thường. Có chuyện kể về một trái đạn súng cối không nổ rơi phía ngoài cửa sổ của viên đại úy. Ông ta đứng xem một TQLC tháo ngòi nổ viên đạn ấy, và tức thời viết ngay câu tuyên dương Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao đồng. Thiếu tá Steele nghe một câu chuyện khác nói về một anh cứu thương Hải quân thuộc đại đội Fox được đề nghị thưởng tới mấy huy chương. Theo như câu chuyện, người nầy vừa mới tới Việt Nam, trải qua hai ngày tại lớp hướng dẫn rồi gởi ra đơn vị. Trong một thời gian ngắn, anh ta bị thương nhẹ trong khi cứu cấp cho một TQLC và được thưởng một Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao bạc. Ngày hôm sau, anh ta bị thương nặng sau một anh TQLC khác, anh ta lại được đề nghị tưởng thưởng và được di tản. Trong khi nằm trên cáng đặt tại bãi đáp trực thăng, anh ta lại bị một mảnh đạn súng cối nữa. Thành ra, anh ta được cho về nước cùng với một huy chương ngôi sao bạc, một huy chương ngôi sao đồng và ba Chiến thương Bội tinh chỉ sau một tuần chiến đấu.
Một hoặc hai ngày sau khi nắm Đại Đội Hotel, trung úy Harvey có một trung đội trưởng mới, thay thế cho tất cả các thiếu úy và trung sĩ bị thương vào ngày 13 tháng Hai. Anh nầy mới được thăng thiếu úy do sư đoàn gởi tới. Anh ta không đọc bản đồ được. Anh ta gọi điện cho ban chỉ huy báo cáo rằng anh ta đang ở trong một căn nhà như thế như thế và Harvey phải kéo hiệu thính viên theo để đi tìm họ. Họ bắt đầu đi vào một con đường hẽm, Harvey nhìn lên thì Chúa ơi! Họ đang đứng chân kề chân với hai lính CSBV. Cả bốn người đứng trân ở đó trong một giây vì sửng sốt, nhìn vào nhau. Harvey tưởng như dài lắm rồi bỏ chạy về hướng khác. Harvey thấy một trong hai người ấy kéo cây AK-47 đang đong đưa lên. Anh ta nằm sát tường và một tràng đạn rớt bên cạnh, mảnh xi-măng văng trúng mũi và tai anh ta. Hai lính CSBV chạy mất. Anh ta nhìn lại hiệu thính viên, anh nầy run lên vì sợ, nôn ọe xuống đường.
Kể từ ngày 10 tháng Hai, khi khu vực từ MACV tới Phú Cam hầu như hoàn toàn nằm trong tay Đại đội 2/5 kiểm soát, trung tá Gravel ra lệnh quay hướng hành quân, trở lại quốc lộ 1 và bắt đầu mở ra hướng đông, từ MACV tới sân Vận Động Huế, và những sông đào chạy theo rìa nam Huế. Cho tới lúc nầy, ông ta cũng chỉ có hai đại đội: Đại Đội Alpha của trung úy Smith và Đại Đội Bravo của đại úy Robert A. Black Jr. Việc càn quét phía đông còn nặng hơn trước. Không hoàn toàn căng thẳng như tuần đầu ở Huế, nhưng vẫn có nhiều tay bắn sẻ, nhiều tay ngoan cố, tụt hậu làm cho mọi người phải luôn luôn đề phòng, sợ hãi, và mệt mỏi, lục soát từ nhà nầy qua nhà khác, từ khu nầy qua khu nọ.
Đang trong trận đánh, Gravel đi MACV để tham dự buổi họp tham mưu của đại tá Hughes. Ông ta vào bộ chỉ huy, và lạ chưa, một người ngồi bên một cái lều vải nhỏ trong hành lang, mặc áo giáp có cái bình bằng sắt là Walter Cronkite.
Ông ta đi ngang qua người nầy, vào phòng tham mưu, nói đùa: Trông như ông mới kiếm được một mạng nào ngoài đó vậy?
Huhges nói: “Tất cả cho anh đó.”
Ông ta nói kể từ khi Gravel là vị chỉ huy TQLC đầu tiên đến Huế, ông ta có thể giải thích trận đánh cho mọi người biết. Huhges giới thiệu Gravel với Cronkite cùng vài TQLC đi theo và đám quay phim, truyền thanh, nhiếp ảnh, báo chí. Gravel, có cảm tình ngay với Cronkite, biểu ông ta gọi ngay cho vợ ông khi về tới Nữu Ước và nói rằng ông ta vẫn mạnh khỏe.
Tại ban Chỉ huy tiểu đoàn, Gravel muốn Cronkite gặp các sĩ quan của ông ta. Đại úy Jim Gallagher, sĩ quan hành quân mới, Gallagher đã chỉ huy một cách xuất sắc Đại Đội 1/1 và đã tới phiên về nước hôm 1 tháng Hai, nhưng khi nghe tin chiến trận ở Huế và cái chết của Walt Murphy, anh ta vội vã quay lại mặt trận. Ngày hôm trước Cronkite đến, Gravel và Gallagher đã thức suốt đêm để vạch kế hoạch và tìm hiểu coi ai là người giỏi nhất của họ để họ gặp. Gallagher đã chọn Walter Cronkite.
Khi Gravel và Cronkite về tới ban chỉ huy, Gallagher đang khom mình trên bản đồ. Gravel nói: Xin lỗi, Jim, đây là người anh muốn gặp đây nầy. Walter Cronkite, còn đây là Jim Gallagher, một trong những sĩ quan tác chiến giỏi nhất của TQLC, anh có thể hy vọng được.
Gallagher nói lắp bắp: Vui lòng gặp anh.
Về sau, Gravel nhận ra trong cuộc phỏng vấn bên đường của phóng viên CBS, trong bối cảnh có lồng tiếng súng. Gravel nghĩ quả thật là đồ chết tiệt, chỉ là trò thương mại.
Trung uý Smith và Đại Đội Alpha càn quét vùng sân vận động Huế, đụng một trận hết sức tệ hại khi tiến về phía đông. Họ tiến xuống một con đường đất, xe tăng đi đầu, xe phun lửa đi sau, bộ binh hai bên. Phía trước là mặt tiền của một doanh trại VNCH bỏ trống.
Hạ sĩ Neas cùng với toán súng máy di chuyển bên phải các chiến xa. Anh ta thấy phía trước có một lỗ tường thủng nơi doanh trại quân đội. Từ lỗ đó, bất thần một trái B-40 bay tới nổ bùm. Chiếc xe tăng bị đạn lắc lư, mảnh đạn bay ra. Súng AK-47 bắt đầu nổ, cày đất lên. Một trung sĩ, biệt danh là Chunky, từng bị thương hai lần, bây giờ bị một mảnh đạn ở chân, té xuống đường. Vài TQLC bắt đầu bắn trả, trong khi các TQLC khác thì kéo Chunky qua một bên, và các TQLC khác đưa người bị thương lên sau xe tăng, người lái chiếc xe tăng đi trước bị đạn được lôi ra khỏi chiếc xe. Chiếc xe tăng chở người bị thương dọt đi. Trung sĩ Burghardt nhìn theo chiếc xe tăng khi đang quày lui – chạy qua chỗ một người y tá bị thương nằm gần ngã tư, cán gãy tay anh nầy. Hai người lính TQLC kéo anh ta vào dưới một gốc cây. Anh ta nằm ở đó, khóc vì sợ, súng nổ thêm dữ.
Neas nhìn lui chiếc xe tăng đi đầu, anh ta thấy người chỉ huy chiến xa, một trung sĩ da đen, quì đằng sau chiếc xe đang cháy. Anh ta đang khóc, la to lên rằng anh ta muốn có một chiếc tăng khác để đi tìm quân CSBV đã bắn cháy chiếc tăng M-48 của anh ta.
Neas ra lệnh cho một trong mấy người thuộc toán hỏa lực của anh, rồi họ bò thật thấp trên mặt đường, nhảy qua một cái cửa sổ. Họ đặt cây đại liên M-60 lên thành cửa, nhắm vào chỗ quân CSBV ở bức tường đối diện. Neas núp ở cửa sổ bên cạnh. Có một căn nhà nhỏ đối diện với anh ta, ngay sau bức tường trại lính. Anh ta biết chắc chút nữa, CSBV sẽ từ trong căn nhà ấy rút ra. Đặt sẵn cây M-16 lên vai, kê băng đạn lên ngưỡng cửa sổ, nhắm ngay vào cửa sau của tòa nhà. Toán súng cối ở phía sau họ bắt đầu nã hơi cay, trong phút chốc, ba CSBV phóng ra khỏi bức tường và chạy vào căn nhà nhỏ. Neas quay đi một giây, rồi lại nhìn lui chỗ cũ để canh chừng CSBV thoát ra cửa hậu. Có tiếng hô to của TQLC: Bắn. Neas xiết cò một lần, một mạng ngã lăn ra đất. Anh nầy bắt đầu bò đi. Neas đứng thẳng lên, không tin anh ta còn sống. Như mê mẩn, anh ta đổ hết một băng đạn vào người lính CSBV.
Cuộc chạm súng tiếp tục. TQLC nã đạn liên tiếp vào trại lính, hỏa lực phản công của địch càng lúc càng yếu dần. Toán đại liên M-60 của Neas xài hết một tràng đạn khi anh ta thấy bóng vài người bận đồ xanh, đội nón sắt chạy băng qua sân. Anh ta không thấy mặt họ nhưng đoán chừng khoảng một tiểu đội và la to: “Ngưng bắn.”
Xạ thủ đại liên M-60 ngưng bóp cò. Mấy bóng người mặc đồ xanh nầy chạy vào căn nhà chính. Nhưng không có tiếng súng M-16 trong đó. Neas chưởi: “Mẹ!” Anh ta tự rủa thầm. Một vài lính CSBV mặc đồ lính Mỹ. Thật là dễ bắn mà để cho chúng chạy mất.
Súng cối bắt đầu nã vào trại. Tiếng súng địch càng lúc càng yếu dần.
TQLC đứng lên rồi chạy băng qua đường, đổ dồn vào doanh trại. Chẳng phải nổ súng gì nhiều mà cũng chẳng làm gì khác là đếm xác địch. Trung sĩ Burghardt đi vào căn nhà nhỏ nơi Neas đã bắn ngã vài CSBV. Burghardt kêu Neas và chỉ cho anh ta thấy. Một anh lính CSBV bò ra tới ngưỡng cửa, chết cứng, tay còn giữ lấy bụng, ruột lòi ra vì bị thương. Có hai cây súng nằm bên cạnh anh ta. Burghardt lấy một cây AK máng lên vai còn Neas thì lấy kỷ niệm một cây tiểu liên Nga có băng đạn tròn. Họ quay trở lui đường phố, khi đó anh trinh sát người Việt của đại đội thấy cây súng tiểu liên thì nhảy tung tăng, cười và la lên: Nhứt rồi! Theo thông dịch viên thì những người mang loại súng như thế nầy phải là sĩ quan.
Trong vòng 1 hay 2 ngày, Đại đội 1/1 đã bình định xong khu vực dọc theo sông đào. Bây giờ chỉ còn tiêu diệt những tay ngoan cố hoặc chưa biết là đã có lệnh rút.
Trung úy Allen W. Courtney, Jr. Trung đội trưởng Trung đội 3 thuộc Đại Đội Alpha, tóc vàng hoe, quê ở Texas, nguyên là binh nhì, toàn cả đại đội ai cũng kính trọng. Trong những trận đánh ở Cồn Thiên hồi tháng Chạp, anh đã được gắn Anh dũng Bội tinh Ngôi Sao bạc. Giống như tất cả trung úy của Đại Đội Alpha, anh ta bị kẹt ở Đà-Nẵng vì một khóa học khi trận đánh ở Huế bắt đầu. Anh ta cũng không xin được về đơn vị cho mãi đến ngày 11 tháng Hai. Suốt hai ngày, anh ta cùng trung đội hành quân dọc theo sông đào. Một trong các tiểu đội vượt qua bên kia cầu chiếm một ngôi nhà để củng cố an ninh. Họ vào trong nhà thì một quả B-40 nổ trúng ngưỡng cửa sổ. Một vài TQLC bị thương trong khi CSBV bắn dồn thêm. Courtney đứng dậy, nắm lấy cây M-60 của Neas bắt đầu quạt lại hướng địch. Một viên đạn trúng vào bắp chân anh ta, nhưng anh ta vẫn tiếp tục nổ súng cho đến khi tiểu đội rút về bên kia cầu. Y tá băng quanh bắp chân cho anh ta, nhưng anh ta cũng chẳng thèm lưu tâm cho đến khi trung úy Smith thấy và biểu anh ta rút lui phía sau. Vết thương nặng, nhưng Courtney không chịu đi, anh ta muốn ở lại với trung đội. Cuối cùng, trung tá Gravel ra lệnh anh ta di tản đi bệnh viện ở Phú Bài, theo cái cách mà anh nghĩ như người dân Texas thường nói: “Ra khỏi thành phố trước khi trời tối.” Gravel cũng nghe một câu chuyện như thế nầy: Một anh TQLC trẻ đang nằm trên cáng đặt tại MACV chờ máy bay trực thăng tải thương. Một anh phóng viên báo chí hỏi: “Anh bị thương bao nhiêu lần rồi?” Anh lính trẻ nhìn lên và hỏi: “Hôm nay đấy hả?”
Đại Đội Alpha tuần phòng khu ngoại ô thành phố, càn quét địch. Trung sĩ Burghardt được lệnh dẫn theo 3 TQLC kiểm soát hàng cây trước mặt họ. Họ đi băng qua hàng cây đó, ló mặt ra, và có một lính CSBV đứng cách mấy chục thước phía trước, đứng như vậy mà kinh ngạc nhìn mấy TQLC. Xong anh ta quỳ xuống bắn một quả B-40. Mọi người tìm nơi ẩn núp. Quả đạn trúng một thân cây, nổ, không ai bị thương. Burghardt chạy lên trước, bắn bằng cây súng Colt-45. Anh lính CSBV bỏ chạy. Burghardt bỏ cây súng Colt xuống, cầm cây M-16 lên, bắn một tràng, người kia té xuống, chết.
Chủ nhật, ngày 18 tháng Hai, hạ sĩ Soukup và tiểu đội của anh ta cùng TQLC hành quân với vài TQLC thuộc Đại Đội 1/ 1, chiếm một căn nhà để nghỉ qua đêm. Họ để trang bị xuống sát vách tường tính làm chỗ nghỉ ngơi thì bỗng có tiếng đạn B-40 bay. Viên đạn rít qua cửa sổ đụng vào trần nhà nổ. Hơi nóng và mảnh xi măng bay xuống, đụng vào áo giáp và mũ sắt. Mảnh đạn đâm vào bắp vế, tay và đầu Soukup. Hai TQLC khác cũng bị thương.
Sau tiếng nổ một giây, mọi người la lên. Soukup và một TQLC khác bắn qua cửa sổ, một TQLC khác thì quăng lựu đạn. Mấy giây sau, có người la to: “Tao bắn trúng nó, tao bắn trúng nó.” Soukup và những người còn lại nhẹ nhàng thoát ra ngoài. Anh lính CSBV nằm trên cỏ, bị thương vì mảnh đạn, cây súng B-40 nạp đạn sẵn nằm lăn bên cạnh. Anh ta còn trẻ, mập mạp, mặc quần xà lỏn. TQLC đứng chung quanh, thấy anh ta thì nhìn họ mà không biết anh ta mong ước điều gì.
Thiếu tá Steele đang ở tại ban chỉ huy Đại Đội 2/5 khi một toán quân CSBV vượt qua sông Hương. Họ từ bên Thành Nội đi qua, thực hiện cuộc rút chạy như điên khùng để giữ mạng sống. Mọi người ở gần bắn như điên vào họ. Trừ một người. Đứng bên cạnh Steele là một ông trung sĩ già của MACV. Ông ta la lên to: “Tại sao không để cho họ đi đi, mình có thể rút lẹ ra khỏi đây.”
TQLC chẳng ai để ý đến lời ông, quân CSBV hiện ở trong Thành Nội tìm mọi cách để thoát ra ngoài.
Ghi chú (của Ngd):
(1)- Sau khi đánh đuổi quân Cọng sản ra khỏi thành phố Huế, tình hình vẫn căng thẳng, chiến sự còn tiếp tục ở ngoại ô, tình trạng cướp bóc diễn ra khá phổ biến. Những vụ điển hình như cửa hàng bán TV, Radio “Việt Tuyến” trên đường Trần Hưng Đạo, gần cửa Thượng Tứ, bị kẻ cướp dùng xe GMC tới chở sạch. Việc cướp dùng xe GMC chở hàng cho thấy “bọn” cướp thuộc hạng người nào. Đại úy Lê B. Ng. đại đội trưởng CSDC Thừa Thiên- Huế vào cướp hôi ở Ty Ngân Khố Huế. Chưa thỏa lòng tham, y còn cướp hàng tại tiệm “Bát Tiên” trên đường Phan Bội Châu, Huế. Xui cho y, tiệm nầy là bà con với tướng Nguyễn Ngọc Loan, cục trưởng cục ANQĐ kiêm Tổng giám đốc CSQG, nên ngay lúc đó, tướng Loan đến Huế, y bị cách chức và trả về BDQ là đơn vị cũ của y.
Ngoài ra, tại bùng binh đầu cầu Trường Tiền, trước trường Đại Học Khoa Học (Morin cũ) có dựng một pháp trường cát. Có dư luận nói là để xử tử ai bị bắt về tội cướp, lại có dư luận nói là để xử quận Cán (quận trưởng Cảnh Sát). Khi Cộng Sản chiếm Huế, y ở Gia Hội ngày ngày vác loa đi hô hào dân chúng nổi dậy “chống Mỹ cứu nước”. Khi Cộng Sản rút lui, y ở lại và bị dân chúng tố giác nên bị chính quyền Nam VN bắt giữ, chờ đem xử tử. Có dư luận nói là nhờ gia đình y chạy chọt với một bà tướng lớn ở Đà-Nẵng nên y được tha. Cuối cùng, pháp trường cát dựng lên chỉ để dọa thiên hạ chứ chẳng bắn giết người nào cả.
(2)- Có lẽ tác giả chưa nắm rõ sự kiện nầy. Trên sông Hương lúc bấy giờ chỉ có hai cây cầu (Cầu Trường Tiền và cầu xe lửa. Cầu sông Hương – ngang bệnh viện Trung ương Huế sau nầy mới hoàn thành -). Cầu xe lửa còn nguyên, cầu Trường Tiền bị đặc công Cọng Sản phá sập đêm mồng 5 tết Mậu Thân, ngày 4 tháng Hai/ 1968)
Sau khi củng cố an ninh khu Ngân Khố – Bưu Điện mới chiếm được, ngày hôm sau, Đại Đội 2/ 5 (ĐĐ) chiếm Câu Lạc Bộ Thể Thao, Thư viện Đại Học, Bệnh Viện Trung Ương Huế. Tài liệu cho biết có 38 TQLC Mỹ bị thương trong khi 66 lính CSBV bị giết và 30 chục CSBV bị bắt khi đang điều trị trong bệnh viện Trung Ương Huế.
Mục tiêu chính của Đại Đội bây giờ là tòa Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên/ Huế. Đại úy Ron Christmas, Đại Đội Trưởng Đ/Đ Hotel được giao nhiệm vụ nầy. Anh ta gặp phải vài điều rắc rối về chiến thuật. Tòa Hành Chánh nầy là một khu nhà lớn, hai tầng lầu xây theo kiểu Pháp, mái bằng, rất tiện cho quân Cộng Sản núp trên đó để bắn xuống đường. Một bức tường cao 8 bộ bao quanh tòa nhà, phần trên tường nầy lại có những khe hở. Christmas không biết có gì sau những bức tường nầy.
Tuy nhiên, viên đại úy trẻ tuổi nầy gặp một điều thuận lợi lớn: Binh lính ông ta muốn chiếm ngôi nhà nầy. Vào ngày đầu tiên khi chiếm Huế, quân Cộng Sản đã treo một lá cờ sao vàng lên cột cờ của toà Hành Chánh. Đó là một hình ảnh cứ hiện ra dai dẳng mà xạ thủ súng máy Frank Thomas thường phản ảnh ý nghĩ của nhiều TQLC khác, khi anh ta nói rằng: “Cần phải hạ lá cờ của quân CSBV đó xuống.” Họ đã thực hiện được việc ấy hôm 6 tháng Hai.
Ngày 6 tháng Hai, sau trưa một chút, họ tiếp tục tiến quân, theo sau là cỡ một tiểu đội phóng viên báo chí, gồm cả Don Webster của đài truyền hình CBS và hai người Việt mang máy quay phim cho anh ta, trung sĩ Bertson và trung sĩ Dye, trung sĩ Bill Dickman, trung sĩ Paul Thompson. TQLC Mỹ tiến phía trước, đi ngoằn ngoèo qua những cây cọ đã bị bắn ngã và mấy ngôi nhà nhỏ bị cháy cho đến khi vào được bên trong một cái sân rộng có trồng cây rải rác. Phía sau sân là tòa nhà lớn, hai tầng. Bên phải họ là đường Lê Lợi và sông Hương, cuối sân là dãy nhà xe thấp, quay mặt ra con đường kế đó, ngay bên kia đường là toà Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên/ Huế. TQLC bò trên cỏ, về hướng nhà xe, cúi xuống thật thấp. Quân CSBV bắn dữ dội.
Ngay khi súng bắt đầu nổ, thiếu tá Salvati kéo theo tài xế của ông và hai TQLC trẻ xạ thủ đại bác 3.5 inches tìm đường vào bệnh viện vừa được giải tỏa xong. Bệnh viện vắng, ngoại trừ một phòng dài đầy bệnh nhân nằm trên giường. Mấy bệnh nhân nầy đã già và sợ điếng người. Salvati coi như họ đã chết. Mấy TQLC vào cuối phòng và tìm một cửa sổ ngó qua tòa Hành Chánh rồi trí súng đại bác 3.5 lên trên ấy. Xạ thủ nổ súng, hơi bật hậu dội vào hành lang, các giường bệnh bị đùa xa ra, dồn vào góc nhà. Các TQLC kinh ngạc nhìn những người bệnh già bất thần chui ra khỏi giường và từ từ biến mất.
Họ bắn thêm mấy phát súng nữa. Salvati gọi máy cho Cheatham mang tới ít đạn hơi cay để bắn sang tòa Hành Chánh. Ông ta muốn lặp lại thành công đã đạt được ở ty Ngân Khố. Nhưng lần nầy thì gió ngoài sông Hương thổi vào hơi cay bay mất.
Đại úy Christmas đứng trên đám cỏ trước căn nhà lỗ chỗ vì đạn, súng M-16 mang trên vai, đang nói vào máy truyền tin. Ông ta còn trẻ nhưng mặt mày phờ phạc, râu ria lởm chởm, giọng nói mệt mõi. Ông ta và đại đội đánh nhau với quân CSBV ở Huế đã 5 ngày. Bên cạnh là hai hiệu thính viên còn trẻ và các phóng viên báo chí. Thomas đứng kế bên, mang cây shotgun trên vai trông như cái gậy của người đi bộ. Anh ta đang bàn với Cheatham làm thế nào để tấn công vào mục tiêu dễ hơn.
Chẳng bao lâu sau, viên trung úy gọi một chiếc xe tăng hạng nhẹ có trí súng đại bác tiến lên phía đường Lê Lợi, bên hông phải của đại đội Hotel, dừng lại phía ngoài bức tường. Qua khỏi ngã tư phía trước, bên trái là toà Hành Chánh. Muốn có một xạ trường tương đối rõ, chiếc xe phải tiến lên một chút nữa, qua khỏi bức tường, chỗ khúc đường trống. Chiếc xe tăng hạng nhẹ ló mũi ra khỏi bức tường và cho nổ ba phát 106 ly vào hướng quân CSBV trong tòa Hành Chánh.
Ban Chỉ Huy của Christmas vẫn còn đứng trong sân khi có tiếng đạn bay ngang trên đầu. Rồi có tiếng nổ dữ đội như tiếng sắt thép chạm nhau. Người hiệu thính viên cúi xuống núp và nhăn nhó, trong phút chốc trông họ như những đứa trẻ đang run sợ bên cạnh Christmas và Thomas già dặn hơn, chẳng một chút nhúc nhích gì cả. Một tràng AK nổ ngay trên đầu. Vài giây sau, có tiếng một người trẻ gọi: “Y sĩ”.
Thomas và vài TQLC tiến lên trước. Viên thiếu úy và ba người lính trong đội xe đang ở phía sau bức tường nhà xe, ai cũng bị thương hoặc run vì tiếng nổ. Thomas buông cây shotgun xuống và quì bên cạnh người bị thương nặng nhứt, một anh lính rất trẻ, mũ sắt văng mất, nằm úp bụng xuống cỏ. Thomas lật anh lính bị thương nằm ngữa ra lại. Anh ta nói yếu ớt và chỉ vào mắt, có mảnh đạn nằm trong ấy.
Thomas nhìn lui chỗ ban chỉ huy, gọi: “Y sĩ lên đây.”
Họ đem người bị thương để ở phía sau bức tường bị đạn lỗ chỗ, tránh đường đạn nổ lốp bốp từ hướng tòa Hành Chánh bắn tới. Một y sĩ mở đường cho họ đi. Anh ta cẩn thận băng quanh mặt anh lính trẻ. Màu băng trắng dính đất cát. Băng che mắt người lính, anh ta bắt đầu rên rỉ: “Tôi bị thương, tôi bị thương.”
Phía trước, lính CSBV vẫn còn bắn vào nhà xe. Christmas quyết định tấn công địch, anh ta ra lệnh cho Trung Đội 1 tiến lên.
Chỉ huy Trung Đội 1: Thiếu úy Leo Myers, còn trẻ, mang kính trắng, chừa râu. Anh ta và mấy người lính của anh đang túm tụm bên ngoài nhà xe, chờ lệnh tiến quân. Họ chạy xuyên qua hai cánh cổng sắt để vào con đường ở mặt tiền tòa Hành Chánh. Cánh cổng đang mở và Thomas lo ngại lính của anh sẽ bị thương vong khi cố vượt qua cánh cổng ấy. Anh ta tìm được một góc phía sau cánh cổng, lấy một viên gạch đỏ cột vào đầu sợi giây rồi liệng qua cánh cổng, kéo cánh cổng ra và cột xuống đất.
Thiếu úy Myers cầm M-16, huơ tay ra dấu cho lính. Họ phóng nhanh vào cổng, ai cũng mang mặt nạ. Trung sĩ Berntson, Dye và thiếu tá Aloysius McGonigal, linh mục tuyên úy, cùng nhào vào tấn công cùng với trung đội. Dye hoảng kinh: Cái mặt nạ anh ta mang bỗng quá nóng, ngộp, anh ta chẳng thấy được quái gì hết.
Súng lại bắt đầu nổ. TQLC băng qua đường, tìm chỗ núp dọc bờ tường sân tòa Hành Chánh và hàng cây dọc theo lề đường. Quân CSBV bắn ngang trên đầu họ làm họ không nhúc nhích được. Christmas gọi một chiếc xe tăng hạng nhẹ lên tiếp sức. Một chiếc ầm ầm chạy lên. Christmas tới bên chiếc xe, mở máy truyền tin gắn sau xe, cúi xuống tránh đạn và chỉ điểm mục tiêu cho khẩu đại bác 90ly trên xe. Nhiều tiếng nổ như xé phát ra trong tòa Hành Chánh. Bỗng một trái B-40 nổ ngay phía trước chiếc xe tăng, mảnh bay tung tóe. Thêm một trái B-40 nữa nổ tiếp, Christmas không đeo được xe, té xuống. Chiếc xe tăng vẫn bắn.
Súng cối 81-ly của ban Chỉ Huy Đại Đội bắt đầu nổ chung quanh. Thiếu tá Salvati và nhóm của ông bắn thêm mấy quả hơi cay, lần nầy trúng ngay mục tiêu. Quân địch bắn ít đi và Christmas gọi điện cho Myers: “Tiến lên.” Trung đội cho nổ một lỗ nơi vách tường sân, tiến vào, khom mình xuống dưới nón sắt, áo giáp và đồ trang bị. Họ khom mình núp sau hàng cây và bức tường thấp bằng đá trong sân, rồi cứ mỗi lần hai hay ba người phóng như tên bắn vào tòa nhà chính. Cửa trước bị bắn bung ra, lựu đạn tống vào, TQLC tiếp tục bắn. Súng AK vẫn nổ từ bên trong và hai người lính TQLC xông vào đầu tiên gục ngay nơi cửa. Trong cảnh súng nổ dữ dội, linh mục McGonigal chạy tới và nằm xuống bên cạnh người lính vừa chết, làm phép thánh lần chót cho người nầy. Số TQLC còn lại quăng thêm lựu đạn vào nữa. Toán CSBV rút lui, súng vẫn nổ, bắn đuổi theo họ.
Trung đội 2, do trung sĩ John Miller chỉ huy, và Trung đội 3, do thiếu úy Mike Lambert, vượt qua đường cùng với Christmas và Thomas cùng ban Chỉ Huy Đại Đội. Việc đầu tiên Thomas và các TQLC làm là chạy ngay tới cột cờ, hạ lá cờ Cọng Sản xuống.
Tình hình trong khu vực tòa Hành Chánh được yên, các TQLC đứng nghỉ ở đó, ai nấy mệt nhoài, dựa lưng vào tường, nói chuyện với nhau bằng một giọng nói yếu ớt, không ra hơi. Thomas kẹp cây súng Shotgun giữa hai đầu gối, mở nút áo giáp, và kéo ra: Một lá cờ Mỹ.
Đối với TQLC đó là một hình ảnh đẹp.
Trước khi trận đánh bắt đầu, Cheatham và Christmas thảo luận về việc treo cờ. Theo luật pháp miền Nam Việt Nam, kể từ khi Mỹ được xem là khách của Việt Nam, trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Cọng Hòa, không thể treo lên một lá cờ Mỹ mà không kèm lá cờ vàng đỏ của Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên, thật ra, chẳng ai muốn treo lá cờ Việt Nam lên đây. Đây là lính TQLC, với những bạn hữu của họ, những người vừa mới chết trên đường phố, họ không phải là binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Ông đại tá và các đại úy tự hào về chiến công của binh lính mình, vì vậy trong trường hợp nầy, luật lệ không được quan tâm tới.
Cheatham nói: “Chúng ta không có quyền treo lá cờ Mỹ ở đây. Nhưng chúng ta đã tiến lên, treo cờ và chẳng ai nói với chúng ta không được phép làm việc ấy. Chúng ta đang chiến đấu, chúng ta cần có lá cờ để giữ niềm tin. Tôi muốn mấy tay CSBV ở bên kia sông phải thấy lá cờ nầy.”
Thomas mới tới Việt Nam, nói với Christmas rằng ở quê nhà, mỗi sáng anh ta phải chào cờ. Mấy hôm trước, khi cấp chỉ huy nói với Thomas họ được phép treo cờ, Thomas biểu lính đi xoáy đâu đó một lá cờ. Không ai tìm ra. Họ lại được sai đi một lần nữa với chỉ thị là không có cờ thì không về. Họ kiếm được một lá. Có người nói là họ chôm lá cờ ở cột cờ MAC.V. Thomas chẳng cần lưu tâm lá cờ được lấy ở đâu. Anh ta ra trận với lá cờ xếp lại cất trong áo giáp.
Thomas, một người đã có gia đình, quê ở Camden, New Jersey, đúng là dáng dấp của một TQLC, ốm, dẻo dai, dửng dưng, chạm hình con rồng và con chó bull ở cánh tay trước. Tuy nhiên, trong 17 năm ở trong TQLC, anh ta chưa bao giờ ra trận. Huế là trận đánh đầu tiên, và chiếm tòa Hành Chánh tỉnh là phút giây huy hoàng của đời anh.
Đại úy Christmas quay về phía Thomas và la to: “Làm đi.”
Lúc ấy là vào khoảng quá 4 giờ chiều một chút. Thomas chạy tới cột cờ, nắm sợi giây. Súng vẫn còn nổ lốp bốp phía ngoài tường. Walter R. Kaczmarek, 19 tuổi, người mang máy truyền tin cho trung úy Myers và Alan V. McDonald giúp Thomas kéo cờ lên. Nhóm truyền hình của hãng thông tấn CBS và các nhiếp ảnh viên của TQLC/ HK quì trên sân cỏ, quay phim và chụp hình. Thomas kéo lá cờ “Sao và Sọc” lên giữa tiếng la hét hoan hô của TQLC. Christmas đưa tay lau nước mắt. Họ đã treo được lá cờ lên, phóng viên Don Webster của CBS mô tả lại trên truyền hình như sau: “Chẳng có người lính đứng thổi kèn chào và TQLC quá bận rộn không ai có thì giờ đứng nghiêm trước quốc kỳ, nhưng ít khi có được một lá cờ nào được kéo lên trong niềm tự hào như vậy.”
Tại ban Chỉ huy Đại đội, Cheatham gọi máy cho Bộ Chỉ Huy của đại tá Hughes tại MAC.V: “Chúng tôi đã chiếm được tòa Hành Chánh tỉnh và bằng mọi cách, một lá cờ Mỹ đang bay phất phới tại đó.”
Thomas, McDonald, Kaczmarek và Myers cùng một vài TQLC khác đứng sắp hàng cầm lấy chiến công của họ: lá cờ Cọng Sản họ vừa mới lấy được cho các phó nhòm chụp hình. Các TQLC ai nấy đều dơ dáy và mệt đứt hơi, râu tóc không cạo, trang bị nặng trĩu – nhưng đây là lần đầu tiên kể từ khi đánh Huế, họ cười to và sung sướng.
Thomas, súng Shotgun mang sau vai, gọi to, đùa với toán truyền hình CBS:
“Chúng tôi đang đói, Đại đội Hotel. Quay phim đi.”
Vài người cười to.
Một TQLC nói to với người quay phim: “Xong chưa, chúng tôi muốn ra khỏi cái địa ngục nầy.”
Người ta lại cười vì câu nói đùa.
Thomas rời khỏi đám người đang chen chúc quanh cột cờ và thở dài luyến tiếc. Anh ta cảm thấy tự hào, vui sướng và cả sợ hãi khi kéo lá cờ lên, và bây giờ thì anh ta cảm thấy hết sức xúc động, nước mắt lưng tròng. Anh ta một mình đi về hướng bức tường để tự trấn tĩnh. Bất thần, như có tử thần trên đường đi! Kìa, xa chưa được một thước phía trước, ngay phía chân tường, một người lính CSBV đang núp trong một cái hố, súng AK kẹp giữa hai đầu gối. Mắt họ thấy nhau.
Thomas chụp súng bắn mấy phát. Người lính CSBV cúi núp xuống hố. Thomas phóng mình qua một bên và gọi TQLC: “Coi mấy cái hố, coi mấy cái hố ở đằng kia.” Có khoảng gần một chục cái hố dọc theo các bức tường. McDonald và nhóm hỏa lực của anh xông tới, đi dọc theo bờ tường, nổ súng vào từng hố một. Chỉ trong ít phút, công việc xong. Lính CSBV chẳng bắn lại phát súng nào. TQLC giết 6 mạng trong các hố đó, mỗi người súng nằm bên cạnh.
Có một người lính CSBV sống sót. Anh ta còn trẻ, đi chân đất, kịp đưa tay lên hàng trước khi TQLC nổ súng. Hai người mang máy truyền tin, một đen, một trắng nắm cổ tay lôi anh ta đi.
Một lúc, sau khi thiết lập an toàn khu tòa Hành Chánh, một đại tá ở MAC.V gọi máy cho Christmas biểu phải tuân theo luật lệ, hạ lá cờ Mỹ xuống. Anh ta không tuân lệnh. Một lát sau, có hai đại úy Mỹ đến và nói với Christmas, họ đến để giám sát việc hạ lá cờ Mỹ xuống. Christmas nói với hai người nầy nếu họ muốn lấy lá cờ Mỹ đi thì họ cứ tự làm lấy, nhưng anh ta không bảo đảm binh sĩ anh ta không có phản ứng.
Các TQLC đứng lại để xem cấp chỉ huy của họ đối phó với hai viên đại úy. Họ kinh hoảng về việc hạ cờ. Chiến hữu họ tử trận chưa kịp mang đi, họ còn đang đấu súng với địch còn núp lén ngoài tường. Bây giờ thì có hai thằng cha xỏ lá tới đây nói chuyện thủ tục lễ nghi. Các TQLC càu nhàu: “Tao không thể tin được.” Họ nguyền rủa cuộc đời và mấy tên quân nhân kỳ quặc. Thomas cố trấn an họ. Nhưng Kaczmarek nạp một băng đạn M-60 và cằn nhằn một cách cay đắng với Berntson: “Nếu một trong hai thằng chó đẻ nầy đụng tới lá cờ là tao bắn tan xác nó.”
Hai viên đại úy đành về tay không.
Cuối cùng, một sĩ quan TQLC tại MAC.V can thiệp, và Christmas đồng ý cho hạ cờ xuống khi họ đã rút ra khỏi khu vực nầy.
Sáng hôm sau, sau một đêm pháo kích bằng súng cối, TQLC chuẩn bị lên đường. Họ hạ cờ xuống như không để lại gì nơi đó cả. Một sĩ quan nói với một phóng viên báo chí dân sự: “Nếu chúng tôi không treo lá cờ Mỹ lên đó thì chúng tôi cũng không treo một lá cờ nào khác.”
Thomas xếp lá cờ lại, bỏ vào gói rồi cùng binh sĩ tiến qua những ngôi nhà đổ nát bên cạnh.
Như Don Webster của hãng CBS thuật lại: “Ngay lúc nầy thì tòa Hành Chánh là tuyến đầu. Và họ đã chận được một cuộc tấn công. Trận đánh nầy làm cho họ nổi tiếng và một sự đánh giá lớn lao không phải thắng hay bại mà chính căn bản là ca ngợi lòng can đảm của họ. Lòng can đảm đó không thiếu gì trong hàng ngũ binh sĩ TQLC.”
Trong cuộc chiến tranh xử dụng mìn bẫy, TQLC nếu có ai bị thương nhẹ cũng hy vọng được nghỉ đôi ba ngày tại trạm nghỉ trước khi trở lại chiến trường. Tuy nhiên, trong cuộc chiến trên đường phố Huế, bác sĩ và y tá tại trạm xá MAC.V đã phải khó khăn khi khuyên thương binh khoan trở lại chiến trường. Mấy anh lính trẻ khi bị thương về trại nghỉ một lúc rồi quay trở lại trạm xá, nói với y tá bây giờ họ đã khỏe, để được ra đơn vị trở lại. Trung úy Ray Smith, đại đội trưởng Alpha 1/ 1 thế cho Batcheller, sau khi cuộc chiến chấm dứt vài tuần lễ, viết thư cho đại úy cũ của anh ta như sau: “Nếu ai ở với TQLC tại Huế trong những ngày đó, không thể không thương họ. Vài người lính của tôi bị thương nơi chân và tay, đi cà nhắc vòng quanh để tìm tôi xin được ở lại, không phải tải thương. Họ chiến đấu thật dũng cảm, rất hòa thuận với nhau, và không khi nào tôi nghe một lời than phiền. Đó là tinh thần TQLC trong trận đánh Huế.”
Một trong những yếu tố quan trọng nhất là thái độ năng nổ dậy lên từ ngày họ rời chiếc xe bus ở trường huấn luyện. Họ thấy họ là chiến sĩ, là kẻ thắng, và là “Những Phần Tử Tinh Túy”. Họ có lòng tin tưởng cấp chỉ huy, – từ những người chỉ huy cấp tiểu đoàn cho tới anh trung sĩ hay trung úy, thiếu úy trẻ chỉ huy trung đội. Tất cả những ai ngay bên họ trên đường phố, cùng nhau chiến đấu, cùng bị thương vong. Các người lính trẻ TQLC cũng tự hào đặc biệt vì họ là bộ binh, và cảm nhận trái ngược với lòng tự hào là không ai tệ hơn người lính chiến. Thêm vào đó họ có niềm tự hào căn bản về binh chủng TQLC Hoa Kỳ và đất nước họ.
Nhưng niềm tự hào đó chỉ được giải thích một phần. Lý do cao thượng vì tự do cho Miền Nam VN không là động cơ thúc đẩy người lính TQLC xông pha lửa đạn để cứu một đồng đội bị thương. Một nhà chính trị ở quê nhà ca ngợi các thanh niên của chúng ta ở ngoại quốc không thể là lý do để cho một người lính từ chối di tản sau khi bị thương một hai lần. Ba, má và apple-pie chỉ là một việc không đáng kể với một người lính TQLC muốn giữ cân bằng giữa một trong những hành động kinh khiếp nhất trong chiến tranh Việt Nam. Điều gì trong những yếu tố đó đã xẩy ra ở Huế đơn giản chỉ là tình chiến hữu.
Có một ít kinh nghiệm nhân bản so sánh được trong tình thương đồng đội và anh em của người lính TQLC khi họ chiến đấu. Nó không phải là vấn đề gốc gác như thế nào, màu da ra sao, học hành tới đâu, hoặc cha mẹ giàu có như thế nào. Tất cả vấn đề là người sống chung trong tiểu đội, trung đội. Toàn bộ vấn đề là giúp đỡ nhau, chia xẻ với nhau, giúp nhau bảo toàn tính mệnh khi súng bắt đầu nổ. Đêm đêm, họ ngủ chung với nhau trong một hầm chiến đấu, cùng nhau chịu đựng cái nắng như thiêu như đốt hay cái giá lạnh của những cơn mưa phùn gió bấc, ì ạch lội qua những đám ruộng sình và cùng chiến đấu chống kẻ thù chung. Trong chiến đấu, mỗi người lính TQLC đánh giặc hết sức mình vì họ không thể để cho bạn mình ngã xuống. Hy sinh, không có gì thắc mắc. Đó là chân lý của họ trong cuộc Thế Giới Chiến Tranh thứ Hai, trong Chiến Tranh Cao Ly và một lần nữa, trong Chiến Tranh Việt Nam.
Nhưng ở Huế, có một khúc quanh đặc biệt: Hận thù. Trước khi đánh nhau, có thể người lính TQLC chưa bao giờ thấy một anh lính CSBV hay Việt Cộng trong trận đánh. Điều họ biết là việc giết chóc tàn ác và việc làm thương tật ghê gớm bằng mìn bẫy. Họ đã nếm mùi kinh hãi mà chẳng làm gì chống lại được. Họ thấy thất vọng trong việc đi tuần trên một con đường mà chẳng phát hiện được gì hết, bị bắn sẻ từ trong làng bắn ra mà không được bắn trả vì sợ thương vong cho người dân. Tuy nhiên, ở Huế, họ cảm nhận được những gì họ đang làm: Mặt đối mặt với kẻ thù – Họ có thể giết kẻ thù. Đại úy Pyle từng nói: “TQLC ở Huế thành công. Đó là thời điểm trả lại cái thua ở An Hòa.”
Tinh thần cao là động cơ tốt đẹp cho việc thành công của người lính TQLC. Tiểu đoàn trưởng Gravel nói: “Sự đóng góp lớn nhứt của những người lính ấy, không phân biệt cấp bậc, đã hoàn thành ở một mức độ ít thấy. Chẳng hạn như những trung úy đại đội trưởng, các trung sĩ trung đội trưởng, hạ sĩ và tiểu đội trưởng đã hoàn thành tốt đẹp trách nhiệm của họ. Binh sĩ của tôi làm được nhiều điều, nhiều phương cách mà quí vị không thể hy vọng nơi những người lớn tuổi hơn và chín chắn hơn, thực hiện chính xác những công việc hết sức nguy hiểm… Tôi không lo lắng gì hay chỉ lo chút ít vì tôi biết, tôi cảm nhận những gì họ làm, họ thực hiện là hết sức tốt đẹp mà không cần chỉ dẫn gì nhiều.”
Dale Dye, phái viên báo chí Sư đoàn 1 TQLC đã tìm hiểu cẩn thận và kết luận như sau: “Hầu hết chúng ta đều có băng cứu thương để băng bó những vết thương nhỏ. Chúng ta đều bẩn thỉu dơ dáy mà tôi nghĩ chắc giống như những tay kẻ cướp người Mê-Xi-Cô, nhưng với TQLC thì đó là cái dơ dáy trong sự huy hoàng. Tinh thần của họ là tinh thần đặc biệt của người lính TQLC trong bất cứ một cuộc chiến đấu gian khổ nào. Họ chưởi thề, họ khóc và họ nguyền rủa mọi thứ từ cấp chỉ huy cho tới người lính CSBV hay nguyền rũa ngay cả khí hậu khắc nghiệt. Nhưng tôi nghĩ tinh thần là một ngôn từ không đúng, không nói được hết. Đó là một thứ cay đắng giai dẵng, là điều quyết định để thấy việc đánh nhau chẳng là gì cả. Chúng ta quá chán nãn, bị căng ra quá lâu do những thúc ép triền miên và tất cả chúng ta đều yếu đuối cam chịu. Tôi không nghĩ bất kỳ ai trong chúng ta nghĩ rằng mình sẽ còn sống sau cuộc chiến đấu, tôi không nghĩ ai trong chúng ta sẽ trở thành đê tiện bằng cách nầy hoặc bằng cách khác.”
Bên cạnh tình chiến hữu, các TQLC Mỹ ở trận đánh Huế có một điểm chung – ghét quân CSBV và Việt Cọng. Vấn đề nầy không phải nhìn theo nhãn quan chính trị, mà phần lớn là vì cá nhân. Đó là vì bạn bè họ chết một cách thảm khốc. Vì vậy, họ cho rằng quân địch là những kẻ dơ dáy, ti tiện và bướng bỉnh. Vì vậy, họ có bị giết cũng không có chi ân hận và về sau có thể trở thành một câu nói đùa. Đó là điều không thể không quan tâm hay từ chối, làm ngơ. Nhưng người ta có một cảm nhận khác đối với kẻ thù – một sự quan tâm bất đắc dĩ – Đó là những người Việt Nam ốm yếu, nhỏ bé chiến đấu rất mãnh liệt và ít khi chịu thua cuộc. Trung sĩ Dye cũng kết luận như vậy: “Quân CSBV ở Huế là một thứ con hoang tận tụy và chiến đầu cừ. Chúng nó thì cố thủ trong khi chúng ta thì di động suốt ngày và chuyển qua tấn công vào ban đêm. Chúng ta thường phải tìm cách lấy lại khu vực mà chúng ta đã giành được ngày hôm trước vì ban đêm quân CSBV đã chiếm lại, chúng ta không đủ quân để bảo vệ những gì giành được. Tôi nghĩ rằng người lính CSBV vừa quá khích mà cũng vừa hèn nhát.
Về điều tôi nghĩ, đáng nguyền rủa là có quá nhiều những tên quá khích. Tuy nhiên, sự thực rõ ràng là chúng ta giỏi hơn họ.”
&
Y Sĩ Hải Quân Robert C. Hamilton nhận nhiệm vụ tại Đại đội Bravo, Tiểu đoàn Quân y số 1, Sư đoàn 1/ TQLC, có đến thăm thành phố Huế trước khi trận đánh Huế bắt đầu. Ngày Chủ Nhật trước Tết, ông ta cùng tài xế của ông và một sĩ quan trẻ đặc trách công tác Dân Sự Vụ thực hiện một chuyến du ngoạn Huế. Họ uống cà-phê ở một tiệm cà-phê ngoài trời; chụp hình trong Đại Nội cho đến khi lính canh đến đuổi họ đi và cạn cốc với đại úy Stephen Bernie trong câu lạc bộ MAC.V. Ông nầy là y sĩ tại trạm xá tại đây.
Mọi việc đều hết sức bình thường. Y sĩ Hamilton nghĩ qua đêm Tết đầu tiên ở Phú Bài với mấy người lính TQLC của ông và y tá Hải Quân trong khi hỏa tiển nổ.
Sau đó, tướng LaHue gọi ông ta, yêu cầu ông tường trình sự việc tại trạm chỉ huy của ông. Lúc đó là khoảng nửa đêm, điện bị mất. Tuy nhiên Hamilton tìm được một người tài xế TQLC gốc da đỏ, dám lái xe trong bóng đêm đen như mực đưa ông ta vào Bộ Chỉ Huy. Cũng từ đó, Hamilton là sĩ quan quân y của LLDN X-Ray. LaHue giải thích cho ông ta hay có chuyện lôi thôi ở Huế nhưng ở đó chẳng có đơn vị nào có y sĩ cả. Bằng một sự trùng hợp kỳ cục, các y sĩ tham dự một hội nghị về y học ở Đà-Nẵng khi Tết bắt đầu nên họ không trở về đơn vị kịp. Tướng LaHue hỏi Hamilton có thể làm gì được bây giờ.
Hamilton trả lời có thể gọi một toán gồm 20 nhân viên trợ y của Tiểu đoàn 1 Quân Y ở Đà-Nẵng. Tuy nhiên, ông ta nói nếu tình hình không quá nghiêm trọng thì ông cùng với ít y tá đến trạm y tế MAC.V ở Huế để giúp Bernie chờ khi bác sĩ giải phẩu của tiểu đoàn tới. Tướng LaHue đồng ý.
Hamilton gặp sĩ quan Quân Vận để sắp đặt chuyến đi Huế rồi quay lại đơn vị để lấy y tá đi theo ông ta. Nhiều người không bằng lòng. Ông bèn ra lệnh cho y tá trưởng ở lại coi sóc mọi việc khi ông vắng mặt. Rồi ông ta tìm một y tá trẻ, giải thích với anh nầy tình hình mọi sự. Anh nầy hỏi Hamilton có đi Huế không, nếu đi thì anh ta xin đi theo. Hamilton nói rất vui nếu y tá nầy cùng đi với ông. Xong, ông ta chọn anh y tá nầy cùng hai người nữa, một ông già của đại đội, người được họi là Pappy Reinhart.
Sáng ngày 4 tháng Hai, họ lên đường. Hôm đó, có hai chuyến xe đi Huế. Họ theo chuyến đầu, khoảng 30 xe GMC chở đồ tiếp liệu và đạn dược. Nhân viên ẩm thực và thư ký cầm M-16 đi theo giữ an ninh. Đó không phải là chuyện không bình thường. Châm ngôn của TQLC là mỗi người một tay súng, dù đảm trách công việc gì chăng nữa. Hamilton ngồi trên thùng xe GMC chở đầy lựu đạn M-26.
Vừa qua khỏi sông Phú Cam (An Cựu), qua chợ An Cựu thì từ những toà nhà hai bên đường, quân CSBV nổ súng.
Hamilton ngồi trên một thùng chở lựu đạn trong khi lính bếp và văn phòng kê súng lên lưng ghế bắn trả; tài xế cho xe chạy nhanh hơn. Họ tới MAC.V, xe chạy vào trong, Hamilton cùng các y tá nhảy xuống xe. Y sĩ Bernie cười đón họ và đứng vòng quanh nói chuyện với nhau. Hamilton cảm thấy an tâm khi được ở trong những bức tường thành nầy.
Bất thần địch quân pháo kích bằng hỏa tiển.
Đạn pháo bay qua bức tường nổ trên mái một toà nhà, mảnh đạn và đá cát bay xuống họ. Chẳng ai phản ứng gì kịp đành đứng chịu trận. Khi Hamilton đưa mắt nhìn quanh, ông ta thấy chỉ có một y tá không bị thương. Bernie thì bị một mảnh đạn nhỏ nơi tay, một người trong nhóm họ là một nhân viên dân sự của chính phủ bị chảy máu đầu vì mảnh ngói vỡ, máu ra nhiều, người ta vội vàng đưa ông vào phòng cứu cấp.
Hamilton, 34 tuổi, bác sĩ thực hành ở Chicago, bị động viên sáu tháng trước, nhận được vài sự chào đón nồng nhiệt khi tới đây. Hôm nay chỉ mới là ngày đầu tiên: Hamilton, Berinie, và tất cả y tá còn lại của TQLC, các y sĩ băng bó chăm sóc cho tất cả các TQLC bị thương đang nằm ở đây rồi khi có thời gian nghỉ ngơi, Hamilton tới câu lạc bộ của đại tá Hughes ở bộ Chỉ huy. Người ta cho biết chuyến xe chiều hôm đó, sau chuyến của Hamilton đã bị phục kích dữ dội.
Chuyến xe buổi chiều do trung úy Terry Charbonneau, 25 tuổi, quê ở Detroit, trung đội trưởng Trung Đội 2, Đại đội Charlie, Tiểu Đoàn Quân Vận số 1, Sư Đoàn 1 TQLC chỉ huy.
Tại trại Evans của Kỵ Binh 1, anh ta lúng túng vì một trung đội xe vận tải từ một đại đội khác tới trong khi một tướng lãnh biểu anh ta tìm cách giải quyết việc tài xế xe tải thiếu hụt. Charbonneau phải nhờ tới hậu cứ tiểu đoàn quân vận đóng ở Giạ Lê, nhưng tài xế và xe ở trại nầy lại kẹt ở Phú Bài. Thực ra thì anh ta cũng chẳng làm gì được hơn. Trong dịp Tết, trung đội của anh được phái đi chung với các đơn vị khác và hiện đang kẹt ở Huế. Một vài xe GMC từ căn cứ tiếp liệu đến với một số ít lính tăng cường trên xe. Có người không có nón sắt và áo giáp. Anh ta hỏi thì họ cho biết trong kho hết nón sắt và những thứ khác không đáng quan tâm lắm. Anh ta biểu họ vào trạm xá xin mượn nón sắt trong đó để đi Huế.
Charbonneau biết đại úy đại đội trưởng Đại Đội Alpha, anh nầy tổ chức đoàn xe bằng người của Đại Đội A và B và vài người trong Trung Đội 2 TQLC của chính anh ta. Anh ta đi kiếm đại úy nầy và hỏi đoàn xe anh ta đi đâu? Huế. Charbonneau muốn đi cùng, nhưng viên đại úy hỏi anh ta có biết ở Huế đang đánh nhau không? Anh ta biết. Lala, nhân viên anh ta vừa được thưởng Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Bạc cũng muốn đi. Viên đại úy nhìn anh ta, nói: “Được rồi, anh sẽ là người đi sau”. (Chịu trách nhiệm an ninh mặt hậu đoàn xe). Charbonneu nhận lãnh trách nhiệm và cùng mấy người trong nhóm lên chiếc xe thứ hai, ngồi cạnh tài xế, xạ thủ đại liên 50 và hiệu thính viên. Đằng sau anh ta, trung đội y tá trên chiếc xe chót, một xe cần trục. Hai chục chiếc xe chở đầy đạn dược, thực phẩm, y tế, v.v… cùng nhân viên văn phòng, hỏa đầu quân, thợ máy, nhân viên tiếp liệu đi theo với nhiệm vụ giữ an ninh.
Họ lên đường lúc quá trưa một chút. Viên đại úy ngồi trên xe Jeep đi đầu. Chạy trên QL 1. Họ chẳng thấy ai. Dân chúng núp trong nhà. Có một thằng bé Việt Nam đứng bên đường, hoàn toàn một mình. Khi đoàn xe đi qua thằng bé đưa ngón tay cái lên ra hiệu số 1 (tốt).
Charbonneau nghĩ rằng đó là ấn tượng đẹp. – thằng bé và gia đình nó sẽ gặp khó khăn lớn nếu Việt Cộng thấy nó làm như thế. TQLC nhìn xuống sàn xe, chẳng ai cười vì họ không biết gì đang đợi họ đây. – Và đưa tay ngoắt lại thằng bé.
Gần tới cầu An Cựu, xe dừng lại. Charbonneau lo lắng chờ đợi. – một chếc xe GMC đang nghiêng xuống đường – bèn bước ra khỏi xe. Anh bước qua bên lề đường vói nhìn lên trước. Mấy chiếc xe đầu đang chạy chậm chậm. Anh ta tự hỏi không biết có việc gì rồi quay lại xe và cầm máy gọi viên đại úy. Bất thần có tiếng nổ dữ dội. Chiếc xe của viên đại úy bị cháy. Tiếng súng nhỏ nổi lên.
Tiếng của sĩ quan quản trị đại đội (qua hệ thống bộ chỉ huy quân vận) bất thần xen vào trong máy điện đàm. Ông ta nói với trung úy Charbonneau rằng ông đang đảm trách công việc, yêu cầu tiếp tục di chuyển.
Phía trước, các xe GMC rú hết máy vượt qua cầu, xe Charbonneau tiếp theo. Anh ta biểu tài xế dừng lại bên chiếc xe Jeep đang cháy rồi nhảy xuống xe tìm viên đại úy và người tài xế trong khi khẩu đại liên 50 bắn yểm trợ cho anh ta. Charbonneu không tìm thấy ai hết. Trước mắt họ, đoàn xe tiếp tục đi vì vậy anh ta phải nhảy lên xe chạy cho kịp. Đoàn xe chạy tới, gặp một bùng binh có trạm xăng Shell bên đường rồi tiếp tục qua một đoạn hai bên là ruộng. Và rồi – Charbonneau không thể tin được – quân CSBV chạy xuyên qua đám ruộng, bắn vào các xe vận tải. Mọi người bắn trả lại. Cây đại liên 50 trên xe Charbonneau nã đạn, TQLC trên các xe chạy phía sau dùng M-16 bắn lốp bốp về phía địch. Toán hỏa lực thì phản công bằng đại bác M-79. Nước và bùn văng lên ở các đám ruộng. Quân CSBV chúi đầu vào các đường rãnh, đường hầm, không bắn lại nữa.
Đoàn xe cứ lo bắn để chạy, phía trước, hai bên hông và đằng sau.
Mấy hôm trước, mồng một Tết, Charbonneau đã lái xe đi Huế, khi dân chúng đang làm lễ năm mừng mới. Anh ta có cho dân chúng rượu vang, kẹo. Bây giờ thì thành phố vắng hoe, mặt tiền các cửa hàng chất đầy củi cây vì quân địch dựng công sự chiến đấu. Quân địch làm công sự như vậy hai bên đường cho tới khu MACV, phía ngoài cổng thì hẹp lại như cái cổ chai. Charbonneau nhìn lui, không thấy chiếc xe cần cẩu chạy theo sau. Anh ta bèn chạy lui nói với toán hỏa lực quay lui tìm chiếc xe nầy. Một người lính trong bọn tỏ ý chán nãn, anh ta không muốn chạy giữa lằn đạn một lần nữa.
– “Gắng lên.”
Người lính gần như muốn xin lỗi:
– “Chúng tôi là xạ thủ vũ khí chống máy bay.”
– “Chúng ta không thấy chiếc máy bay nào. Anh có thể bắn chúng nó. Đi đi.”
Anh lính lái xe lách ra khỏi đoàn xe đang ngừng, tìm cách quay lui thì chiếc xe cần cẩu trờ tới. Viên đại úy bị mảnh đạn ở sau lưng. Tài xế của ông ta thì phía trên mắt cá chân bị rách đong đưa mấy miếng da, xạ thủ cũng ở đây, gò má bị mấy vết sứt và người y tá có bộ râu như ghi-đông xe đạp xử dụng súng tiểu liên Thompson đang cúi xuống chăm sóc cho những người bị thương nầy. Có mấy miếng gỗ được dùng chèn thùng nước xe bị bắn bể. Mấy người lính VNCH mang cáng tới cho một người bị thương. TQLC mở cáng ra, thận trọng đặt người tài xế lên đó rồi nhẹ nhàng khiêng vào trạm xá.
– “Lẹ đi, anh lính nằm trên cáng nói, tôi sắp chết rồi đây. Nhanh lên.”
Charbonneau bước vội vào trạm xá theo tài xế. Y Sĩ Hamilton khám và chích cho anh ta một mũi thuốc. Người lính TQLC nhìn chằm chằm vào chân anh ta. Hamilton lấy kéo cắt mấy miếng da tòn ten đi.
Charbonneau quay lại sân trong MACV. Vài TQLC hỏi anh ta bao giờ thì trở lại Phú Bài. Chẳng ai biết gì cả. Có mấy chiếc xe tải bị hỏng, chiếc thì bể vỏ xe, chiếc chảy bình nước. Các thợ máy đang sửa xe thì có pháo kích. Đạn hú và nổ trong sân. Ai nấy tìm chỗ núp. Charbonneau lăn xuống gầm một chiếc xe tải trước khi kịp nghĩ ra đạn súng cối nổ sát mặt đất. Thêm mấy loạt đạn bắn vào nữa nhưng chẳng ai bị thương, chỉ làm cho một chiếc xe GMC thủng lỗ chỗ mà thôi.
Tới tối, Charbonneau, viên đại úy bị thương, y tá, và một số TQLC mang những người bị thương băng qua một lỗ nơi vách tường để đi vào trong tầng đầu của một tòa nhà chờ trực thăng đến tải thương. Y tá hỏi anh tài xế bị thương ở chân cần chích thêm morphine cho đỡ đau không.
Rõ ràng người nầy đang đau nhưng anh ta lắc đầu. “Không.” – Anh ta nói, anh không muốn ghiền. Anh thường chịu đau đã quen.
Charbonneau nghĩ thật là mai mỉa. Trước kia anh lính nầy bị bắt gặp ngủ gục khi đang gác và bị giữ ở Việt Nam vì hút cần sa nhưng bây giờ thì lại chứng tỏ can đảm khi đang bị thương.
Cuối cùng có tin trực thăng tới bãi đáp ngoài bờ sông, phải đem thương binh đi, theo con đường thường đi; trời đang mưa và sương mù. Hai chiếc Sea Knight từ hướng Phú Bài bay tới, không bật đèn. Máy bay nhận thương binh xong bay đi liền. Đại úy đại đội trưởng Đại Đội Alpha, mặc dầu đang bị thương, quyết định ở lại. Ông ta quay lại MAC.V cùng Charbonneau lo chuẩn bị đoàn xe tải.
Buổi sáng. Họ lại đem thương binh ra bãi đáp. Thỉnh thoảng trực thăng tới nhưng chỉ chuyển ai bị thương nặng đi trước. Một anh TQLC, thân mình bị băng bó bốn nơi, khấp khiểng ra tới bãi đáp ngồi chờ với những người khác trong đám cây cọ và bao cát làm công sự. Sĩ quan phi hành nói có một chiếc trực thăng khác đang trên đường bay tới. Khi Charbonneau thấy đó là chiếc trực thăng Quân Đội Mỹ đang bay tới hướng họ – không phải máy bay của TQLC – hạ xuống, anh ta bèn chế giểu anh sĩ quan phi hành. Anh nầy bèn nói cho biết có nhiều trực thăng của TQLC bị bắn hạ, không có cách nào khác. Chiếc máy bay vừa đậu lại thì anh thương binh bị băng 4 chỗ cùng những người khác lên tàu, một viên trung úy bị băng quanh đầu tới máy bay.
Người trưởng toán phi hành đuổi người lính ra khỏi máy bay, nhường chỗ cho viên trung úy. Charbonneau nhìn chằm chằm vào viên trung úy ấy một lúc và nghĩ: “Với tên nầy thì trước đàn bà và trẻ em, y muốn được trước. Trông y hoàn toàn lúng túng và sợ hãi.”
Chiếc máy bay cất lên. Charbonneau nhận ra rằng anh vừa chứng kiến một cảnh tồi tệ của con người có cấp bậc và đặc quyền ưu tiên: Viên trung úy trông có vẽ bị thương không nặng lắm. Truyền tin báo cho biết khoảng hai giờ đồng hồ nữa sẽ có trực thăng tới. Nghe vậy, anh TQLC nói anh sẽ chờ tại MAC.V. Charbonneau nói với người lính anh ta sẽ dìu anh lính về nhưng anh ta cám ơn rồi khập khểnh bước đi.
Mấy ngày sau, viên đại úy bị thương ra lệnh cho Charbonneau trở về liên lạc với tiểu đoàn. Anh ta trở về bằng tàu Hải Quân, đi chung với vài người dân Việt Nam, các TQLC tử trận và cái chân của người tài xế đựng trong cái bao.
Mãi đến ngày 4 tháng Hai, trung tá Gravel vẫn còn ở tại MAC.V. Ông ta chẳng có gì nhiều để lựa chọn. Toàn bộ tiểu đoàn ở Huế, ngoài ban tham mưu và các trung đội thuộc Đại Đội Alpha 1/ 1 thiếu hụt quân số và binh sĩ thương vong. Ngày 2 tháng Hai, hai trung úy Smith và tiền sát viên của Alpha, Perkins – cố về lại tiểu đoàn bằng chuyến xe của Đại Đội Hotel 2/ 5. Khi qua An Cựu thì bị phục kích, các thùng đạn trên xe bị đổ và đè chết Perkins. Sĩ quan kia, trung úy Ray. L. Smith, trung đội trưởng Trung đội 2 chỉ huy đại đội Alpha thay cho Gunny Canley.
Sáng ngày 4 tháng Hai, Gravel quyết định tiến công.
Mục tiêu bây giờ là trường Janne D’ Arc và nhà thờ (nhà thờ nhà nước – tên thường gọi – ngd), cách MAC.V khoảng một trăm mét. Gravel biết có lực lượng quân CSBV ở đây. Buổi sáng ngày 1 tháng Hai, dân chạy nạn đổ vào MAC.V thật đông, trong số có vài bà xơ người Việt. Gravel nói chuyện với họ bằng một thứ tiếng Pháp không được gãy gọn lắm do học được khi còn ở trường cấp ba. Các bà xơ nhỏ bé ăn mặc áo tu đen trắng nầy cho biết quân CSBV đã chiếm nhà thờ. Họ nói: “Ít cũng có khoảng một trăm người, chia làm bốn, ở trong các lớp học và trong phòng ngủ của các bà “xơ”. Tiến đánh lực lượng nầy gồm có hai trung đội rưởi của Đại Đội Alpha, do Smith và Canlay chỉ huy.
TQLC tiến vào mục tiêu, quân CSBV bắn như mưa. Lính bị thương khi họ chạy vòng qua góc nhà hay tấn công vào cửa. TQLC bắt đầu dùng chất nổ C-4 và hỏa tiển tấn công để phá hủy vách nhà và sân tường thành những lỗ có thể tiến quân qua được. Đó là một cố gắng bền bĩ và chậm. Cuối cùng. Họ tấn công thẳng vào địch quân. Các lớp học nầy là một khu tứ giác lớn, ở giữa là sân rộng.
Nhà thờ nằm cạnh bên lớp học, giữa những hàng cây xanh.
Trung úy Smith và Canley cho quân tiến lên, bắn vào vị trí địch. Hai người dẫn đầu, chạy từ chỗ núp nầy tới chỗ núp khác, vừa chạy vừa la xung phong và điện đàm với Gravel qua máy truyền tin. Hạ sĩ Jackson dừng lại với tiểu đội. Hỏa tiển B-40 do địch bắn nổ liên tiếp, mảnh bay lung tung. Chưa bao giờ anh ta nghe hỏa tiển nổ nhiều như vậy. “Chúa ơi! Thiệt là cảnh kinh hoàng!” Anh nghĩ thế. Hai quả đạn nổ trên mái nhà, làm vài người bị thương. Ở phía bắc, nơi Đại đội 2/ 5 đang tấn công vào ty Ngân Khố, trận đánh đang gay cấn. Hơi cay của Đại Đội 2/5 xử dụng bay ngược về phía Đại Đội Alpha làm cho cuộc tấn công bị ngưng lại.
Gravel đang ở trên máy, nói với bạn:
– “Ernie Cheatham, đừng bắn hơi cay nữa”.
– “Xin lỗi ông bạn già.”
Các trung đội tấn công, xông vào nhà thờ, bất thần lựu đạn nổ âm ầm vào toán hỏa lực tiên phong. Mấy TQLC vừa chết vừa bị thương. Lựu đạn nầy từ trên mái quăng xuống.
Địch núp trên nóc nhà thờ.
TQLC phải bò ngược trở lại điểm xuất phát.
Smith gọi máy hỏi Gravel: “Chúng tôi làm gì bây giờ?”
Gravel nghĩ tới các bà xơ đang tạm trú ở MAC.V với lòng biết ơn, nhưng ông ta không có cách chọn lựa nào khác:
-Bắn trốc mái đi.
Smith điều một chiếc tăng lên và bắt đầu tác xạ. Một toán đại bác không giật cũng lên, hòa âm ầm ầm cùng đại bác xe tăng. Nhà thờ rung rinh, ngói, gỗ bay khỏi mái. Cột và cửa sổ mặt tiền đổ sụp xuống thành đống. Địch trên nóc nhà thờ đều chết cả. TQLC lại tấn công, bắn đục tường để lấy đường vào bên trong, diệt các toán CSBV trong các phòng học và các phòng ngủ nhỏ của các xơ. Địch chiến đấu từng thước đất một. Thật là một cuộc đổ máu kinh hoàng. Chẳng còn lệnh lạc gì nữa hết. Toán hỏa lực chạy vào các lớp học, bắn như điên như cuồng, quăng lựu đạn nổ ầm ầm. Khói bay mù mịt, tiếng la hét, vôi vữa bay khắp nơi, xác người nằm ngỗn ngang. TQLC thấy mình đã chiếm được cánh bên nầy của trường học, bắn nhau với địch đang núp ở cánh bên kia, cách nhau bằng sân trường. Trung sĩ Gonzalez, hôm qua đã bị thương hôm nay vẫn chiến đấu, đá bung cửa một lớp học, xộc vào trong cùng với mấy TQLC của Trung Đội 3. Từ hai cửa sổ phía trước, hỏa tiển B-40 bay tới. Gonzalez cầm hỏa tiển LAWW lên nhắm. Anh ta bắn ít nhất 10 trái hỏa tiển, lửa và khói bùng lên ở vị trí quân CSBV. Súng ngưng nổ.
Thêm một ngày Gonzalez chiến đấu.
Quân địch rút khỏi nhà thờ và trường Janne D’ Arc. TQLC vào chiếm đóng. Kiểm điểm quân số: TQLC hai người chết, 20 bị thương.
Hạ sĩ Jackson cùng với binh lính của anh ta tiến vào một trong các phòng học, bỗng phòng bên cạnh có một tiếng nổ kinh hồn làm rung rinh cả tòa nhà: Địch ở bên kia bắn qua một quả B-40. Hạ sĩ Jackson cùng mấy người lính TQLC chạy băng qua hành lang đầy đặc khói, xông vào một phòng khác. Tấm sắt ở trên của sổ văng vào trong lớp. Hai TQLC bị thương té xuống và – Chúa ơi! Gonzalez nằm dài trên nền nhà, ruột lòi ra. Bụng anh ta trúng một trái hỏa tiển. Jackson không muốn để anh ta lại một mình trong đống vữa, gạch vụn – Anh ta không muốn quân CSBV có cơ đụng đến thân thể bạn anh, anh cùng hai TQLC khác kéo Gonzalez tới một cánh cửa bị đổ. Rồi họ chạy lui phía sau trường học, băng qua khỏi ngôi nhà thờ nhỏ nơi Gravel đặt bộ chỉ huy tạm.
Gravel nhìn lên. Kinh ngạc. Trung sĩ Gonzalez, người lính TQLC tuyệt vời đã chết. Họ đặt xác Gonzalez phía sau ngôi nhà thờ nhỏ cùng với những người bị thương khác. Có hai phóng viên báo chí đang đứng ở đây, họ chụp hình các người chết và bị thương. Họ đang nói chuyện đùa, Jackson nghĩ có lẽ họ là người Pháp. Jackson cũng chẳng thèm lưu tâm, chạy trở lui với trung đội của mình.
Gravel bắt đầu tiến lên nữa, tìm một vị trí an toàn. Ông ta thấy hai tu sĩ cùng TQLC chạy tới nhà thờ của trường Janne D’ Arc. Các tu sĩ nầy vừa được giải thoát khỏi tay quân CSBV. Gravel lấy làm lạ tự hỏi tại sao họ vẫn sống được – TQLC thường tự động bắn vào những ai mặc đồ đen. Mặt các tu sĩ nầy thì trắng: Một là người Pháp, người kia là Bỉ. Các tu sĩ hết sức giận dữ, một người thì có vẻ sốc vì súng đạn, người kia thì thét vào mặt Gravel vì nhà thờ bị bắn sụp.
Ngoài việc xin lỗi, Gravel chẳng biết làm gì hơn. Ông ta cũng biết chẳng còn chọn lựa nào khác. Ông ta đi băng qua đám gạch ngói đổ và nhìn lên mái nhà thờ. Quân CSBV phá vở mái hiên bằng gỗ, Gravel nghĩ bọn địch đeo đẳng quá lâu ở đây, và thế là qua một buổi chiều đánh nhau dài dằng dặc, tốn hao xương máu.
Trung sĩ Gonzalez đánh giặc giỏi và bây giờ thì anh ta đã qua đời!
Buổi chiều khi hai trung đội rưởi của Đại Đội Alpha đang đánh nhau với địch ở trường Janne D’ Arc, thì các binh sĩ còn lại thuộc Trung Đội 1 bị mắc kẹt ở Quảng Trị lên đường về Phú Bài. Ở đây, họ nhập với Đại Đội Bravo 1/ 1 và tiến ra QL. 1.
Xe chất đầy đạn dược, không còn chỗ ngồi, hạ sĩ Edward F. Neas của toán súng máy Trung Đội 1 chỉ còn chỗ đứng mà thôi. Nếu có gì được xem là điển hình cho người lính bộ binh TQLC trong chiến tranh Việt Nam thì có thể xem Neas là một con người thích hợp với điều đó. Quê ở Queens, to con, gồ ghề, tóc đen, 19 tuổi, bỏ trường năm 16 tuổi, vì hay cãi lại cha mẹ, vào TQLC năm 17 tuổi, tình nguyện qua Việt Nam năm 18 tuổi vì muốn làm một cái gì đó, xăm hình con phượng hoàng, quả địa cầu và mỏ neo (huy hiệu TQLC) lên bắp tay và viết mấy chữ DTK (Down To Kill) vào lưng áo giáp. Anh ta ghét quân CSBV chỉ vì họ bắn vào anh và bạn bè anh, và đánh giặc thật hay chỉ vì anh ta là TQLC. Khi được về hậu cứ thì anh ta nghe radio, uống vài loon bia và hút thuốc với bạn bè.
Tới gần sông An-Cựu, đoàn xe chạy qua những chiếc xe tăng do Mỹ sản xuất đã bị hư hỏng, đâm đầu vào các ngôi nhà gạch hai bên đường, súng đại bác bị bung khỏi pháo tháp, rớt xuống bên cạnh. Có vẽ như những xe nầy bị B-40. Neas và bạn anh im lặng, căng thẳng, nhìn ra hai bên đường, súng sẵn sàng trong tay. Bất thần có mấy tiếng nổ, tiếng súng nhỏ từ trong những dãy nhà hai bên đường bắn ra. TQLC bắn trả, xe dọt nhanh tối đa. Neas tưởng như xe chạy có hai bánh hướng nhanh về MAC.V. Vào tới nơi, phóng xuống xe và họ sẵn sàng đứng vào vị trí dọc các vách tường. Quanh khu MAC.V đầy xác quân CSBV, kẻ thì vắt trên hàng rào, nhiều xác nằm dài trong sân, có xác mắc trong kẽm gai, cứng đơ và đã sình.
Neas nghĩ: “Chúa ơi, trông như trong một cuốn phim chết tiệt.”
Có người báo cho biết: “Đại úy Batcheller bị thương nặng, trung úy Perkins chết, trung sĩ Gonzalez chết, bác sĩ Brooklyn cũng chết.”
Neas bị xúc động mạnh. Kẻ thù đã giết mất những người giỏi nhứt. Nhưng Neas tự an ủi, ít ra cũng còn Canley, những người bị thương và tất cả mọi người.
Chỉ mới 6 tuần trước, đại đội thực hiện một cuộc tấn công quân CSBV trong các hầm hố ở Cồn Tiên. Neas lom khom đằng sau một chiếc xe tăng khi chiếc xe nầy tiến tới. Một trong các xạ thủ đại liên bị đạn vào ngực. Y tá chạy lên, cũng trúng đạn và ngã xuống. Neas thấy Canley chạy vượt qua chỗ anh ta, ôm lấy người y tá bị thương bây giờ trông rất tơi tả, rồi nhanh như chớp quay trở lại, vừa chạy vừa bắn mà chẳng bị chợt da một chút nào.
Neas rất tin những người chỉ huy Trung Đội 1. Thiếu úy William R. Donnelly là một người dẻo dai, tóc vàng, vừa mới được gắn loon ra trường tại học viện Annapolis. Vì Neas và những người lính khác mới 18, 19 tuổi trông anh ta còn trẻ nên họ đặt cho Donnelly biệt danh là “Chú Bé”. Trong trung đội cũng có một anh trung sĩ, trung sĩ Josef Burghardt, 21 tuổi, dáng người rắn chắc, đẹp trai và thông minh. Anh ta từ Nam Tư di dân đến Mỹ hồi 5 tuổi, và muốn tạo sự nghiệp trong TQLC. Anh ta xăm một cái hình lớn biểu tượng cho TQLC/ Hoa Kỳ trên bắp tay. Năm 1966-67, anh đến Việt Nam một lần, khi ở Sư đoàn 9, được thưởng Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Đồng – như anh ta thường nói, chẳng nghĩa lý gì cả -, khi anh ta cùng đồng đội phản kích một cuộc tấn công của Cộng Sản sau khi đã bị thương.
Neas yêu mến Burghardt; anh ta là một TQLC giỏi, một người bạn, một hạng người có thể tin tưởng hết lòng. Cả Trung Đội 1 ai cũng có lòng tin anh ta như vậy.
Thiếu úy Donnelly và trung sĩ Burghardt không có thì giờ nghỉ ngơi một chút sau khi sắp xếp đơn vị lại tại MAC.V. Viên thiếu úy được lệnh đưa trung đội của anh ta, một trung đội lấy từ đại đội Bravo và hai cái xe tăng nhỏ có trí súng đại bác đi tìm xác hai TQLC bị giết ở phía đông MAC.V, quanh sân vận động Huế. Họ đã để lại hai xác chết nầy trên đường. (TQLC có truyền thống là không được bỏ xác đồng đội lại sau khi rút đi).
TQLC tiến ra, vòng theo các đường phố và con hẽm, không ai biết chắc việc gì sẽ xảy ra. Trước đây, họ chưa bao giờ chiến đấu trong thành phố. Mọi người ai cũng căng thẳng thần kinh. Bất thần có bóng người di chuyển phía trước, thập thò ở cái hố bên đường. Tức khắc, hai TQLC quỳ xuống và nổ súng, chiếc xe tăng có gắn đại bác đi đầu cũng nổ súng. Mấy bóng người gục xuống. Khi TQLC tiến lên, họ bối rối vì quang cảnh trước mặt: Dưới đáy hầm và bên lề đường là xác mấy người Việt Nam mặc đồ dân sự. Có thể đó là quân CSBV xâm nhập ngụy trang dân sự. (đơn vị 1/ 1 đã gặp rắc rối vì tình trạng nầy) hoặc cũng có thể họ là người dân thường thật sự.
Dù sao thì cũng có vài TQLC chẳng quan tâm lắm.
Cuộc tuần tiểu tiếp tục. Có tiếng súng AK nổ phía trước. Ngay phát súng đầu tiên, Burgdardt và Neas nằm sát xuống đất, bên chiếc xe đại bác đi đầu. Xe quay súng về phía căn nhà nhỏ nằm
Có người phát hiện ra mấy cái xác họ đang đi tìm nên bốn TQLC chạy lên trước để nhận xác. Súng AK và B-40 lại nổ khiến ba người té xuống đường, bị thương. Thiếu úy Donnelly và trung sĩ nhứt James R. Bresnahan cùng Dagley, cả hai thuộc Đại Đội Bravo chạy lên trước. Lính TQLC bắn như điên để che cho những người nầy. Cách khoảng mấy chục thước phía trước, địch bắn tới, đất như bị cào lên chung quanh. Donnelly bị mấy mảnh đạn hỏa tiển, nhưng ba người nầy vừa khom mình chạy vừa bắn để kéo mấy người bị thương lui.
Trung đội tập trung người bị thương và bắn ngược lại phía đường cũ: MAC.V. Thiếu úy Donnelly đem trung đội tiến ra hướng tây để tham chiến cùng những người còn lại trong đại đội. Họ vào một ngôi nhà lớn và Donnelly thấy mình đang đứng hàng đầu. Anh ta điện đàm với trung úy Smith, người muốn anh ta rút lui. Tuy nhiên, lúc ấy trời đã tối, di chuyển trong đêm rất nguy hiểm. Vì vậy, trung đội ở lại. Chỉ còn có 19 người. Donnelly gọi điện cho Smith bắn súng cối yểm trợ cho anh ta.
Trung sĩ Burghardt trải qua một đêm ngồi bên cửa sổ, nhìn qua đám ruộng và hàng cây phía bên hông. Thỉnh thoảng hỏa châu bắn lên, rọi xuống đường và các đám ruộng đầy nước. Ngay ở đây, nhìn qua cửa sổ, anh ta thấy quân CSBV. Họ đi từng đoàn, từng đoàn phía bên kia ruộng lúa, giống như đàn kiến, hướng về phía biển. Họ không mang súng, nhưng pháo binh hay súng cối cũng không được gọi tới tác xạ vào họ. Suốt đêm, quân CSBV an toàn di chuyển, không bị hề hấn gì, mang người chết và bị thương ra ngoài thành phố và mang đồ tiếp tế vào. Burghardt nghĩ: “Thiệt là ngu xuẩn.”
Hôm đó, đại tá Hughes ở trong MAC.V khi có pháo kích. Sau đó, có tin báo cáo là cầu An Cựu đã bị đặc công địch phá sập. Như thế, con đường bộ từ Phú Bài đi Huế bị cắt đứt. (Có vài cây cầu khác nữa nằm phía tây cầu An Cựu, cũng trên sông đào nầy, một nhánh sông từ sông Hương chảy vào, nhưng tất cả cầu nầy còn nằm trong tay địch). Đó là tin xấu, nhưng địch cũng không may gì. Họ đã để một thời gian quá lâu mới phá cầu. Đó là chỗ hỏng lớn trong kế hoạch hành quân của họ. Cây cầu đã giúp đưa các Đại đội A/ 1/ 1 và G/ 2/ 5 vào MAC.V ngay ngày đầu tiên, cứu được nơi nầy, thiết lập điểm phòng ngự, chuẩn bị cho cuộc tấn công của Hoa Kỳ. Cầu nầy giúp đưa thêm vào Huế nhiều binh lính và tiếp liệu. Đến khi quân CSBV phá cầu An Cựu thì đã có 5 đại đội ở Nam Huế. Xem xét tình hình địch, Gravel thấy có lý do để mỉm cười.
Sáng hôm sau, thứ Hai, ngày 5 tháng Hai, hai Đại Đội Alpha và Bravo bắt đầu tiến chiếm các ngôi nhà dọc theo ruộng lúa. Hạ sĩ Neas cùng toán súng máy chạy qua một con hẽm, bắn vào các cửa sổ ở những ngôi nhà trước mặt họ. Quân CSBV bắn lại như mưa.
Trung sĩ Burghardt vẫn còn ở trong căn nhà lớn với hạ sĩ Norris Brennen, anh nầy là tiểu đội trưởng súng máy, đang bắn qua bên kia đường. Burghardt gọi máy cho Donnelly báo rằng cần thêm hỏa lực hỗ trợ. Anh ta biểu Brennan tránh xa các cửa sổ cho đến khi họ có thể xử dụng xe tăng được hay sẽ làm gì đó rồi rút ra khỏi hành lang. Anh ta mới đi được có mấy bước thì nghe Brennen bắt đầu nổ súng trở lại. Rồi anh ta nghe có tiếng vũ khí đụng lách cách trên sàn nhà. Burghardt vội quay lại phòng. Brennan là người chậm chạp, để súng cướp cò trúng mặt, máu tuông ra.
Neas đang trí súng vào thành cửa sổ để bắn thì thấy mấy TQLC đang ở phía dưới đường vội vã khiêng một người ra cửa. Đó là Brennan, đầu anh ta băng kín. Còn sáu tuần nữa thì anh ta hết phiên ở Việt Nam, nhưng anh bị xuất huyết cho tới khi chết.
Có nghĩa là bây giờ hạ sĩ Neas làm tiểu đội trưởng.
Vài phút sau, tiếng xích sắt xe tăng kêu leng keng dưới đường. Xe dừng lại, pháo tháp quay chậm chậm về phía ngôi nhà có quân CSBV ẩn núp, bắn mấy phát. Đại bác 90 ly nổ bum lên, người chỉ huy bắn đại liên 50 vào các cửa sổ, gạch ngói bay lung tung, khói lên cuồn. Địch chạy ngược lui cửa sau, trợn tròn mắt kinh hoàng, không bắn được phát súng nào, chạy vượt qua khoảng sân sau. Burghardt chạy tới cửa sổ tầng lầu 2. Cách khoảng mấy chục thước, quân CSBV đang bò. Vài người giật bắn lên và rơi xuống vì trúng đạn. Số khác chạy thoát được. Burghardt nổ súng nhưng cũng không chắc anh ta có gặt hái được gì.
Cuối cùng, anh ta ngưng bắn, mang súng M-16 chạy xuống cửa sau nơi quân CSBV chạy ra. Một lính địch nổ súng. Anh ta bắn lại một tràng, địch ngã ngay xuống sân. Rồi một tên phóng ra, anh ta bắn hạ, lại một tên nữa phóng ra, anh bắn hạ, cứ thế mà anh ta đã hạ được nhiều địch quân.
Một lúc, tình hình yên tĩnh trở lại. TQLC hé nhìn qua các khe cửa, Họ thấy có 9 địch quân chết nằm chồng lên nhau mà các đồng chí của họ không kéo đi được. Gravel thấy tự hào về thành quả đó. Quả thật đơn giản là quân CSBV không thể nào đương cự nỗi với những người lính TQLC trẻ trung của ông ta.
Các thương binh TQLC vẫn tiếp tục chiến đấu hoặc được đưa vào trạm xá trong MAC.V. Lúc tình hình lắng dịu, y sĩ Hamilton tới bộ chỉ huy của đại tá Hughes. Ông ta đang đứng đó thì có bức điện gởi tới cho đại tá Hughes. Mấy TQLC phát hiện quân CSBV trong một ngôi chùa và xin phép bắn súng cối vào ngôi chùa ấy. Hughes làm theo chỉ thị về cuộc chiến ở Huế, nên gọi điện xin phép bộ chỉ huy LLĐN của tướng LaHue ở Phú Bài, rồi từ đây chuyển cho bộ tham mưu tướng Robertson tư lệnh Sư đoàn 1 TQLC ở Đà Nẵng. Từ đây, điện lại chuyển cho bộ tham mưu tướng Cushman. Hai giờ sau, Hughes nhận được lệnh cho pháo kích ngôi chùa nhưng kèm theo lời khuyến cáo giảm thiểu tối đa sự hư hại ngôi chùa cũng như những kiến trúc quanh chùa. Tới khi TQLC bắn đại bác không giật vào chùa thì quân CSBV đã rút mất rồi.
Hôm sau, ngày 6 tháng Hai, trung sĩ Burghardt leo lên tầng trên của ngôi nhà lớn khi anh ta nghe la có quân địch ở phía sân sau. Anh ta chạy tới cửa sổ nhìn xuống thấy có một Việt Cộng và hai quân CSBV đang núp dưới mấy cây dừa ở trong sân, lặng lẽ quan sát vị trí của TQLC. Họ không biết là họ đã bị phát hiện. Burghardt đưa súng lên nhưng vì lá dừa che nên không trông rõ địch. Anh ta mang súng chạy xuống tầng dưới tìm một cửa sổ khác trông ra. Bây giờ anh ta thấy rõ. Họ đang ngồi quay lưng về phía anh. Anh ta từ từ đưa súng lên vai và nhắm bắn. Một lính CSBV đâm đầu gục xuống gốc cây. Phát thứ hai: Anh kia rơi phịch lui sau. Cả trung đội nổ súng: Tên địch thứ ba và lá cây như bị xé nhỏ ra.
Dù vậy, họ không phải thanh toán hết đám địch trong khu nầy.
Một lúc sau đó Burghardt đang đứng ở tầng dưới nói chuyện với trung úy Donnelly thì có tiếng nổ lớn phía sau bức tường họ đang đứng. Hai người lính TQLC đang đứng ở đây, tai bị vưng lên, phủi bụi và chùi máu phía sau cổ. Một mảnh đạn xuyên qua áo giáp và mũ sắt. Anh ta nhận ra quân CSBV đã dùng ngay chính hỏa tiển của họ để bắn.
Hai người đều được Chiến Thương Bội Tinh nhưng không ai chịu di tản cả.
Trong tuần đầu tiên chiến đấu trên đường phố, Đại đội 1/ 1 lấy làm vui vì đã hoàn thành nhiệm vụ trong trận đánh Huế. Từ ngày đầu tiên, Gravel đã gọi điện tiếp xúc với bán Phi Đội Cat Killer của Không Quân Hoa Kỳ, họ đang đóng gần MAC.V và đang bị quân CSBV bao vây. Họ đào hầm trong nhà, đặt mìn claymore chung quanh nhà, chờ giải cứu. Mỗi khi Đại Đội Alpha hay Bravo tiến gần tới họ thì họ bị địch bắn rất gắt. Họ có một bản đồ và thông báo vị trí địch cho Gravel. Mỗi khi địch bắn vào nhà hay bắt đầu quấy rối bên ngoài thì họ chỉ điểm vị trí địch cho Gravel. Do đó, Đại đội 1/ 1 bắn súng cối vào vị trí địch, đẩy địch ra chỗ trống để dễ tác xạ. Được ít ngày, pin trong máy của họ bắt đầu yếu đi. Do đó, Gravel nói với họ gọi hạn chế giờ lại để báo cáo tình hình mà thôi. Một hôm, họ nghe được trong máy tiếng nói như thì thầm. Gravel biểu họ cố giữ liên lạc bằng việc lắc ống nói. Không Quân cố thả pin xuống cho họ nhưng lại lạc dấu. Cuối cùng Đại đội 1/ 1 chiếm lại được ngôi nhà và giải cứu họ. Đó là kinh nghiệm giữa 1/1 và toán phi công Cat Killer. Sau Huế các phi công nầy hết lòng giúp binh lính của Gravel.
Nước ngập tràn lan, cả cánh đồng chìm sâu dưới làn nước bạc. Trên một gò đất cao, đám dân quê tom góp bàn ghế, nồi niêu dọn lên ở tạm. Nhưng các nồi niêu này lạnh tanh từ mấy tuần nay vì không có củi khô để nấu. Cơn lụt đã cuốn trôi hết tất cả.
Một đống bàn ghế ngổn ngang là một gia đình kể cả người và súc vật. Ngoài ra tất cả nhà cửa, mùa màng đều chìm sâu dưới nước. Người ta chỉ tom góp được những gì còn có thể vơ vét được: một người đàn ông, một người đàn bà và vài đứa trẻ; ít khi có những người già cả. Thường thì một gia đình chỉ gồm có cha mẹ và mấy đứa con.
Một cuộc tranh chấp âm thầm xảy ra giữa cha và mẹ và một bầu không khí im lặng rợn người ngăn cách hai người. Họ tranh chấp về việc gì vậy?
Đây, người cha, một nông phu trẻ tuổi. Y nhìn người vợ với vẻ bực tức, khó chịu. Cặp vợ chồng này lấy nhau rất sớm nên ngày nay có năm con, đứa lớn nhứt chỉ mới tám tuổi. Người chồng không quá hăm sáu hăm bảy và người vợ còn trẻ hơn nữa.
Người chồng đen sạm, vạm vỡ, nhưng đã ốm đi rất nhiều. Y giống như các nông phu mà người ta thường gặp ở nhà quê, họ thích hãnh diện về cánh đồng cày bừa cẩn thận, hãnh diện về đống lúa vàng hoe trước sân hay các hoa mầu tươi tốt vừa gặt hái. Y hãnh diện vì đó là kết quả mồ hôi nước mắt của mình. Y thấy hài lòng về sự làm lụng tích cực đó. Gương mặt của y có vẻ hiền, tuy nghiêm và hơi tàn bạo.
Mặc dầu tình trạng cay đắng hiện tại, người ta vẫn thấy tiềm tàng vẻ hiền lành trên gương mặt y. Đôi mắt thành thật nhưng đầy tuyệt vọng.
Người vợ nhìn trộm chồng và đảo mắt thật nhanh về phía khác. Đó là một thôn nữ xinh đẹp với đôi má tròn trịa. Hai chân nàng không bó như những người lớn tuổi, nếu không gầy đi nhiều vì thiếu ăn thì tầm vóc nàng cũng vừa vặn. Lúc bấy giờ đôi mắt nàng thụt vô sâu, mái tóc đen ngả sang màu nâu, tả tơi trước gió. Từ ngày lụt lội, nàng không hề chải gỡ. Nàng thường liếm đôi môi khô cho ướt át, nhưng vô hiệu.
Người mẹ bận rộn. Nàng không ngớt trông chừng các đứa con. Hai đứa bé không bao giờ rời nàng. Một đứa đeo cứng trước ngực nàng. Nó teo lại, chỉ còn một chút da nhăn nhiu. Dù vậy, tìm được một chút an ủi khi được mẹ ôm sát lòng, nó bớt rên trong giây lát.
Người mẹ cũng bế trên tay một cô bé đèo đuột, nằm im lặng và bất động.
Ba đứa trẻ kia cũng không cử động, nhưng khi có đứa nào mon men gần mé nước thì người mẹ kêu giựt ngược lại. Nàng chỉ yên tâm khi chúng nó trở về vị trí cũ, ở trong tầm tay nàng.
Ban đêm, mối lo ngại của người mẹ tăng gấp đôi. Nàng cố gắng để thức, để trông chừng năm đứa con. Cả chục lần nàng chợt tỉnh để đưa tay sờ mó thật nhanh năm đứa bé. Chúng nó có còn đủ năm hay không? Đứa con gái nhỏ đâu rồi? Kìa, nó đây rồi. Vậy là đủ.
Khi nghe chồng cử động, nàng gắt gỏng:
– Làm gì vậy? Có việc gì?
Đôi khi người chồng bực mình kều ầm lên, chửi bới lung tung.
Người vợ biết vì sao chồng chửi mắng mình và không trả lời. Nàng chỉ giữ mấy đứa con sát một bên và lẩm nhẩm đếm mãi trong bóng đêm.
Sáng hôm sau, người mẹ làm ra vẻ bận rộn, như là có rất nhiều thức ăn phải lo nấu nướng. Nàng xách nước ở bờ sông, nhồi một chút bột. Nàng nói với vẻ vui tươi:
– Mình còn khá nhiều bột hơn là mình nghĩ. Vậy là chúng mình còn có thể chịu đựng được nhiều ngày.
Nàng cố sắp xếp để chia miếng lớn nhứt cho chồng và cố khuyên dứt hai đứa lớn không được than thở về phần ăn ít oi của chúng. Nàng vừa khuyên con vừa ái ngại nhìn chồng. Trước cảnh thương tâm, người cha nhìn gia đình mình với vẻ buồn thảm câm nín.
Người mẹ chỉ để cho mình miếng nhỏ nhứt và ăn một cách ồn ào.
Nàng nhường nhịn, viện lẽ không đói hoặc đau bụng. Và khi chồng quay lưng đi là nàng chia phần ăn của mình cho hai đứa con lớn.
Nhưng người cha không mắc mưu. Khi trông thấy hành động của người vợ, y nổi giận kêu lên:
– Tôi không muốn mình chết đói; dù là để cứu mạng sống của một trong mấy đứa con.
Người chồng chỉ hài lòng khi thấy người vợ đưa bát lên miệng. Nàng húp từng húp nhỏ, cố làm như là trong bát còn rất nhiều. Dù nàng cố hết sức để tạo một không khí bình thản, người chồng vẫn thấy là mớ bột còn lại rất ít. Y cũng nghe những lời than thở thiếu ăn của hai đứa con lớn. Hai đứa bé này không nghe những lời khuyên của mẹ. Chúng khóc rên thường xuyên. Trước kia, chúng nó mập mạp, đỏ hồng. Trong nhà không thiếu món gì. Chúng không hiểu tại sao lại xảy ra nạn lụt. Chúng nghĩ là cha chúng có bổn phận phải tìm cái ăn cho chúng.
Trong khi đám con khóc rên, người cha đến ngồi bên bờ nước bịt lỗ tai lại.
Lúc bấy giờ gương mặt người mẹ đầy vẻ hãi hùng. Nàng van mấy đứa con đừng than khóc nữa.
– Nín đi. Chúng bây dừng làm điên đầu cha chúng bây.
Mấy đứa con nhìn châm châm vào mặt mẹ chúng. Linh cảm cho chúng thấy có một tai họa ghê gớm mà chúng không biết rõ như thế nào đang chờ đợi chúng. Cơn sợ hãi làm chúng im lặng.
Trong tình thế đó, cuộc tranh chấp ghê rợn và âm thầm giữa người cha và người mẹ tiếp tục.
Mỗi ngày qua là mớ bột trong thúng vơi đi. Nhưng nước vẫn chưa chịu rút.
Và mỗi đêm, trong bóng tối, người mẹ âm thầm đếm con.
Nhưng không thể thức mãi được cho nên một đêm, vì cơ thể thiếu ăn nên ngủ quên mà người mẹ không hề hay biết. Dù dang hai cánh tay ra để bao bọc mấy đứa con, nàng vẫn không hay biết khi chồng cử động và nói thì thầm với hai đứa gái nhỏ.
Hai đứa bé lặng lẽ đi theo cha chúng một đỗi xa không hề nghi ngại.
Không bao lâu người cha về một mình, chân thấp chân cao ngã xỉu ngã té, trong bóng tối y nằm xuống chỗ cũ. Một đôi khi, y thở dài một tiếng não nuột như tiếng rên.
Bình minh chớm sáng, bà mẹ giựt mình thức giấc. Nàng hoảng hốt khi biết mình ngủ quên. Hai bàn tay nàng sờ soạng đếm mấy đứa con.
– Còn hai đứa nữa đâu?
Nàng ngồi nhổm dậy, bỗng nhiên thấy mình mạnh khỏe hơn trước. Nàng lao về phía chồng, nắm chặt, hét to:
– Hai đứa nhỏ đâu?
Người chồng ngồi bệt dưới đất, đầu gục xuống hai đầu gối, không đáp.
Người mẹ mất trí, khóc như mưa, nắm vai chồng, lắc mạnh:
– Tôi là mẹ chúng nó, tôi là mẹ chúng nó!
Tiếng kêu đánh thức mọi người trong cái thế giới khốn khổ nhỏ bé này. Nhưng không một ai lên tiếng. Ai cũng hiểu chuyện gì đã xảy ra. Ở đâu cũng có những cuộc xung đột như thế.
Người mẹ la hét thảm thiết, giọng nghẹn ngào:
– Một người mẹ không thể làm được những việc như thế. Chỉ có những người cha không thương con, đi tiếc từng chút thức ăn với con…
Bây giờ người đàn ông buồn thảm kia mới nhứt định lên tiếng.
Y ngẩng mặt lên, nhìn người đàn bà trong bóng tối lờ mờ, nghiến răng nói:
– Mình tưởng là tôi không thương chúng nó?
Y quay đầu sang bên rồi một lúc sau, nói tiếp:
– Bây giờ chúng nó không còn đói nữa.
Thế rồi bỗng nhiên y khóc, khóc một cách lặng lẽ. Và trước gương mặt nhăn nhó đau thương đó, người mẹ đành câm nín.
Bà Barclay kêu lên với chị ở. Bà nhổm dậy trên chiếc ghế đặt bên cạnh cửa sổ khi một chiếc xe chạy vòng theo con đường vô tới trước nhà và hai người con trai của bà, Lane và Harry nhảy xuống.
Chị ở chay vào phòng và đứng sau lưng bà Barclay nhìn ra ngoài, lẩm bẩm:
– Harry cũng cao gần bằng Lane. Nhưng Lane trông đẹp trai trong bộ quân phục.
Bà Barclay cố nén cơn bực. Bà thường bảo chị ở phải gọi “cậu Lane”, nhưng không bao giờ chị ở nghe, chị cứ quen mồm gọi tên hai cậu con trai trong nhà. Bà Barclay không tin là chị ở có thể nghỉ việc, nhưng vào thời buổi này, không ai biết chắc được ngày mai, cho nên bà không nói gì.
Bà đi nhanh ra mở cửa và dang hai tay đón Lane. Bà là người cao ráo, nhưng Lane còn cao hơn. Bà ôm cậu con trai đầu lòng, lòng rộn rã sung sướng. Má cạo nhẵn của cậu cạ vào thái dương bà, Lane hôn mẹ thật nhanh. Bà Barclay ngửi mùi xà bông và mùi da, nhưng dưới mùi đó là mùi da thịt của cậu con mà bà cũng xem là mùi da thịt của chính mình.
Bà khẽ kêu lên: “Cục cưng của mẹ!” Rồi buông hai tay ra vì biết Lane không thích mẹ ôm lâu. Bà lùi lại một bước để nhìn con rõ hơn.
Trong quân phục Thiếu úy, Lane rất đẹp trai và bà mẹ hãnh diện đến rơi nước mắt.
Từ trước đến nay, bà Barclay rất hài lòng có một đứa con đẹp trai như Lane.
– Cục cưng của mẹ đẹp như bức ảnh người ta quảng cáo hãng Brooks Brothers. Con có thấy nhột nhạt vì quá xinh trai hay không?
Lane bỏ mũ, bao tay và chiếc áo choàng lên bàn, xoa hai tay và thổi vào hai bàn tay, nói:
– Trời trở lạnh. Đêm nay sẽ có nhiều sương đó mẹ.
Harry xen vào:
– Vậy là mấy gốc hồng của mẹ sẳp chết đến nơi rồi.
Bà mẹ chỉ lọ hoa, nói với Lane:
– Mẹ đã hái hết tất cả, hái đến cả búp nữa bởi vì hôm nay mẹ biết con về.
Bàn tay của hai mẹ con giống nhau như đúc, dài và thon, nhưng bàn tay của Lane rắn chắc hơn. Bà mẹ nắm lấy bàn tay mặt của con, vờ ngắm nghía.
– Sạch quá! – Bà ta vừa kêu vừa cười – Mẹ nhớ trước đây mẹ thường rầy con về hai bàn tay. Cho tới bây giờ, mẹ vẫn còn phải rầy thằng Harry.
Harry bước theo mẹ và anh vào phòng khách: Cậu ngồi lên chiếc ghế bành, nhìn cảnh quấn quít giữa hai người, đôi mắt xanh của cậu chớp nhanh. Cậu cắn móng tay. Bà mẹ bắt gặp, bảo:
– Harry, con không được cẳn móng tay.
Cậu lẩm bẩm:
– Con cắn cho nó ngắn để đờn vĩ cầm.
Bà mẹ:
– Vậy thì cắt nó đi.
Lane hỏi:
– Vẫn chơi nhạc như thường lệ hả Harry!
Harry cho hai bàn tay vào túi áo, gật đầu.
Bà mẹ nói:
– Harry đờn hay lắm. Nó ở trong ban nhạc của nhà trường và đang dượt các bản nhạc của Beethoven.
Bà biết Lane không thích nhạc, nhưng bà mơ ước Lane trở thành một nhạc sĩ như Harry.
Khi Lane không đáp, bà nói tiếp:
– Harry, sau bữa ăn tối, con phải lấy vĩ cầm ra kéo nghe.
Harry ngồi dậy, lắc đầu:
– Thôi đi! Lane không bao giờ muốn nghe con kéo vĩ cầm.
Lane nhoẻn miệng cười. Cậu đi vòng quanh trong phòng, nhìn mọi vật, rồi cậu đứng lại, vờ bất bình:
– Mày chỉ nói không hay cho tao. Không, tao thích nghe mày chơi vĩ cầm lắm chớ!
Bà mẹ nói:
– Con nói như vậy là không tốt. – Giọng bà dịu dàng, không có vẻ nghiêm khắc, nhưng cả hai con đều nhìn bà với vẻ lo sợ.
Lane đến bên bà, vỗ nhẹ vào má mẹ, nói với giọng nũng nịu:
– Thôi má! Harry nói là nói, chứ không cân nhắc.
Bà mẹ chụp bàn tay Lane giữ lại bảo:
– Harry. Xem móng tay của Lane đây nè. Đẹp quá thấy không! Còn bàn tay của con…
Harry nói ngay:
– Bàn tay Lane giống bàn tay mẹ. Còn bàn tay con giống bàn tay cha.
Bà mẹ bỏ bàn tay Lane ra, nhìn sững Harry. Bà kinh ngạc không hiểu tại sao Harry lại đọc được cảm nghĩ của bà. Phải, Harry nói đúng. Bàn tay của Tom, chồng bà, đầy và xanh mét, các đầu ngón tay mập và móng tay hình lưỡi xuổng.
Làm sao bà quên được bàn tay ấy! Tom đã mất năm năm rồi, nhưng đôi khi nhìn bàn tay của Harry, bà Barclay có cảm tưởng như trông thấy hình ảnh một người đàn ông to lớn tóc màu vàng hoe như cát, người gầy xanh mà bà đã lấy làm chồng và sau đó bà đâm chán ghét. Bà tự thấy mình điên rồ khi lấy Tom để toan làm cho Arnold Foster đau khổ, nhưng mỉa mai thay Arnold Foster không hề yêu bà! Khi hành động như vậy, bà chỉ bóp nát trái tim của mình mà thôi!
Bà nói với Harry:
– Chuyện đó không ăn nhập tới chuyện con cắn móng tay.
Lane vẫn đi loanh quanh trong phòng. Cậu vụt hỏi:
– Còn con chó đâu?
Giọng bà mẹ trở nên dịu lại:
– Mẹ không muốn viết thơ cho con về nó. Nó bị xe cán chết trong tháng qua. Mẹ không biết rõ vụ đó xảy ra như thế nào, chỉ biết là nó cứ chạy trước đầu xe ngoài đường. Chiếc xe cam nhông của tiệm giặt ủi cán nó. Nhà mình tìm thấy nó nằm trong bụi, tội nghiệp, lúc đó mình mẩy nó đã cứng rồi. Nó rán lết vô đó để chết. Harry chôn cất nó thật tử tế.
Lane nói:
– Đồ con chó ngu!
Harry nhướng mày, đôi mắt xanh của cậu lộ vẻ bất bình:
– Nó không ngu đâu! Tại anh không chịu dạy nó cẩn thận. Làm sao muốn có chó khôn khi mà chủ không chịu khó dạy bảo!
Lane đốt điếu thuốc, ôn tồn hỏi:
– Mình nên kiếm một con chó khác.
Harry lẩm bẩm:
– Tôi không thích một con chó nào khác.
Không ai nói năng gì trong một lúc. Bỗng Lane nói:
– Để con đi thăm Elise.
Bà mẹ:
– Đêm nay con phải về đây ăn tối. Nếu không Freda sẽ giận. Nó đang lo nấu nướng thật ngon.
Lane đồng ý dễ dàng:
– Cố nhiên. Nhưng con định sẽ đưa Elise đêm nay đi chơi ở một nơi nào đó.
Cậu bước ra khỏi phòng. Bà mẹ nhìn theo nói với Harry.
– Lane mặc quân phục, đẹp quá phải không?
Harry không đáp. Bà mẹ tưởng cậu bực, Harry càng giống cha. Bộ đồ vải “tweed” nhàu nát của Harry nhăn nheo và mái tóc rậm của cậu đen quá. Nếu mặc quân phục, có lẽ Harry sẽ trông đỡ hơn, nhưng cậu mới mười bảy. Bà có một ảo tưởng kỳ quái là khi nhìn Harry, bà lại thấy Tom. Khi mất, Tom hãy còn trẻ, mới có bốn mươi sáu. Những người đàn bà thường gọi Tom là “thanh niên”. Nhưng bà không bao giờ cảm những thanh niên kiểu đó, những người có thể già theo năm tháng trong khi tâm hồn hãy còn trẻ, những người đàn ông có dáng dấp trẻ con trong đôi mắt đàn bà.
Khi biết rõ Tom, bà thấy là mình không thể yêu Tom được. Lúc lấy chồng, bà không hiểu lấy một người mình không yêu là ác độc.
Khi nhận được sai lầm của mình, bà luôn luôn bị mặc cảm tội lỗi dày vò. Và khi nhìn Harry bà luôn luôn nhớ đến mặc cảm đó. Giọng bà trở nên dịu lại:
– Harry, bữa nay má thấy con thế nào ấy! Con không vui khi anh con về sao?
Giọng vui vẻ của Lane cười vang ở phòng bên: “Elise đó hả! Anh đây”. Harry đứng lên, nhưng vẫn cho hai bàn tay nằm trong túi:
– Cố nhiên là con vui khi anh Lane về.
Cậu vươn vai nhìn thẳng mẹ:
– Anh Lane và con chuyện trò vui vẻ lắm. Chúng con nói chuyện từ ga về đây. Nhưng mẹ đã làm cho hai anh em con khó chịu.
Chưa bao giờ Harry nói thẳng như vậy. Bà mẹ thấy bực.
– Con ganh với Lane. Chuyện chỉ có thế. Lane đẹp hơn con.
Vừa nói ra là bà mẹ thấy hối hận vì sự tàn nhẫn của mình. Má Harry đỏ rần:
– Con biết Lane đẹp trai. Còn con thì xấu xí. Điều đó mẹ đã cho con biết ngay từ khi con có trí nhớ.
Giọng Harry thật bình thản, đó là điều duy nhứt Harry khác hẳn cha. Giọng Harry không ồn ào nhưng nói lên sự âm thầm chịu đựng.
Đến lượt bà mẹ nghẹn thở và đỏ mặt. Bà đã tàn nhẫn đến mức đó sao? Bà không tin được điều đó.
– Harry, con đừng nói oan cho mẹ. Có bao giờ mẹ nói điều đó…
Nhưng Harry cắt lời:
– Con không ngu đâu mẹ. Đâu cần tới mẹ nói. Con chỉ trông thấy ánh mắt, giọng nói và cử chỉ là con hiểu. Luôn luôn con biết những cảm nghĩ của mẹ về con.
Bà mẹ xúc động rơi nước mắt. Tom không bao giờ nói như thế. Thật là đáng ngại khi những lời buộc tội đó xuất phát từ cửa miệng của Harry. Bà có cảm tưởng như Tom đã trả thù bà qua lời lẽ của Harry.
– Harry, sao con có thể nói như thế được trong khi Lane về nhà chỉ có một vài giờ. Ngày mai anh con sẽ đi rồi – mà có lẽ đi không bao giờ trở về.
Nói xong, bà tự trách thầm: “Mình đã đem cái chết của Lane để tránh né không dám nhìn thẳng sự thật”.
Bỗng nhiên Harry có vẻ già như cha cậu. Với giọng thật bình tĩnh, cậu nói:
– Điều đó không có gì lạ đối với con. Con biết mẹ thương anh Lane. Con cũng không muốn nghĩ tới điều đó. Chỉ mấy phút trước đây thôi, tự nhiên ý nghĩ này nảy ra trong trí con.
Bà mẹ kêu lên:
– Cố nhiên là mẹ thương Lane. Nhưng mà mẹ cũng thương con. Hai con đều là con của mẹ.
Harry cười, một nụ cười thật buồn và nếu bà mẹ thật tình yêu Harry thì nụ cười đó sẽ làm cho bà đau nhói trong tim. Bà biết như vậy cho nên tất cả mặc cảm ngày xưa trở về khiến niềm vui của bà tan biến.
Bà đứng lên, đến bên cạnh Harry, đặt tay lên vai cậu:
– Harry, con không nên nói chuyện đó trong ngày hôm nay. Mẹ thấy khổ lắm. Mẹ không biết mẹ đã làm những gì để con nghĩ như thế… Mẹ đã cố gắng làm một người mẹ hiền.
Harry nhìn mẹ, nói:
– Mẹ đã cố gắng nhiều lắm.
Bàn tay đặt lên vai Harry rơi xuống và bà nhìn con, kinh ngạc.
Harry nói tiếp:
– Con muốn mẹ không nên cố gắng như vậy.
Bà mẹ biết là Harry cảm thấy một sự cố gắng trong việc mẹ đặt bàn tay lên vai cậu.
Mồ hôi của Harry giống hệt mồ hôi của Tom. Bà mẹ nhận ra ngay điều đó mỗi khi bà tới gần Harry, đứa con giống đến cái mồ hôi của cha nó.
Bà nói:
– Harry, con đã làm mẹ xúc động. Mẹ không biết nói gì bây giờ. Nhưng mẹ nghĩ là nên vì Lane mà làm sao cho ngày hôm nay êm đẹp.
Harry đứng lên, cao lớn nhưng lưng hơi khom, hai tay vẫn giữ nguyên trong túi áo.
– Cố nhiên.
Một nụ cười nở trên đôi môi dầy và tái:
– Nhưng má biết rõ là Lane thực sự không để ý tới một việc gì. Anh ấy không như mẹ hay như con.
Bà mẹ mở miệng nhưng không nói nên lời. Mí mắt bà chớp nhanh. Harry nói tiếp:
– Mẹ với anh Lane trông giống nhau, nhưng mẹ và con giống nhau hơn.
Bà mẹ không thể trả lời sự thật làm phật lòng đó. Bà cố phủ nhận điều đó từ lâu. Bà cố giấu kín điều đó sâu kín trong lòng, tin chắc là không ai biết, nhưng cậu bé xấu trai này biết điều đó. Bây giờ cậu lại khui ra và đặt trước mặt bà ngay trong ngày hôm nay, ngày mà bà muốn sống thật thoải mái với Lane, cậu con cưng của bà.
Bỗng nhiên bà thấy sợ Harry và bà muốn chạy ra khỏi nhà để tránh Harry. Bà muốn cùng đi xa với Lane.
Bà cúi đầu xuống lấy hai bàn tay che mặt, nức nở:
– Sao con có thể độc ác với mẹ như thế?
Harry lẩm cẩm “Tội nghiệp cho mẹ tôi” rồi bước ra khỏi phòng.
Bà nghe tiếng cửa đóng lại và thấy dễ chịu khi còn một mình ở trong phòng. Bà ngồi sâu vào ghế bành, lau nước mắt. Bà có thể nghe tiếng Lane nói trong điện thoại “Thôi nhé, Elise. Anh sẽ đến vào khoảng 9 giờ rưỡi. Chắc chắn. Chúng mình sẽ dạo phố”. Bà mẹ không đủ thì giờ để sửa bộ khi Lane trở qua. Để Lane khỏi nghi ngờ, bà nói một câu để cậu không chú ý đến bà:
– Con có yêu Elise không?
Lane ngồi xuống ghế, cười:
– Mẹ hỏi khó trả lời quá. Con cũng chưa biết. Có lẽ đêm nay con sẽ tìm hiểu.
Bà mẹ:
– Elise là một cô gái khả ái.
Nói xong bà thấy ngạc nhiên với chính mình. Luôn luôn bà cảm thấy khó chịu khi các cô gái điện thoại tới chuyện trò với Lane, săn đón, tán tỉnh con trai cưng của bà. Nhưng bây giờ bà không còn thấy khó chịu nữa. Nếu một cô gái thông minh như Elise mà có thể yêu Lane thì điều đó chứng tỏ là bà nghĩ đúng, còn Harry thì nghĩ sai.
Bà mẹ vụt nói:
– Con có thấy Harry có gì khác?
Lane hơi ngạc nhiên:
– Nó trổ giò, cao quá. Con không thấy gì khác nữa.
Bà mẹ:
– Tánh tình nó khác thường. Mẹ không hiểu được nó.
Lane:
– Bao giờ nó cũng khác hơn thiên hạ. Lúc nào nó cũng đọc sách và đánh đờn, những thứ mà ít ai chịu khó chú ý tới. Con thì không thích những việc đó.
Bà mẹ ngồi xuống ghế, nhìn con, không đáp. Cậu con trai cưng của bà đã làm bà thất vọng, đã làm bà xót xa, nhưng cậu ta không hề hay biết. Khi sanh ra Lane, bà mẹ đã thương yêu nó một cách say đắm. Nó là huyết nhục của bà. Nó có tóc đen và mắt nâu như bà. Nó, có cả nước da ngâm ngâm, thân hình thanh thanh và cả đến đôi chân của bà. Bà đã nắm đôi chân đó khi nó hãy còn trẻ, vuốt ve mơn trớn đôi chân đó và giờ đây đôi chân đó giống hệt đôi chân bà.
Bà mẹ nói:
– Mẹ thường đọc chuyện cho con, mẹ đọc chuyện ngắn và thơ cả tiếng đồng hồ khi con bịnh. Mẹ thường nô đùa và hát cho con nghe…
Lane nhìn mẹ có hơi ngượng:
– Mẹ cưng con lắm nhưng mà con nghĩ là tánh con giống cha, chắc mẹ biết điều đó.
Bà mẹ ngoảnh mặt nơi khác, thở dài:
– Mẹ cũng nghĩ như vậy.
Bà không chịu nói sự thật phũ phàng đó. Bà nhổm đậy, hai tay vuốt mái tóc, hỏi:
– Mình làm gì trong ngày hôm nay? Hôm nay là ngày đẹp nhất trong đời mẹ con mình. Con muốn mình làm những gì?
Lane hăm hở:
– Mình nên cưỡi ngựa đi dạo một vòng. Con thích điều đó nhứt.
Đó cũng là điều mà bà mẹ và chồng bà thường làm. Dù hai người không yêu nhau nữa, dù hai tánh ý khác nhau, nhưng cả hai đều có thể dạo chung trên lưng ngựa. Nhưng từ ngày hai vợ chồng gây gổ với nhau, Tom bỏ nhà ra đi và tử nạn, bà không hề cưỡi ngựa nữa. Bà chỉ nuôi mấy con ngựa vì hai con.
Bà mẹ đáp:
– Được, chúng mình sẽ cưỡi ngựa đi dạo một vòng.
° ° °
Bà đã chiều theo ý con. Con đường mòn đi sâu vào rừng. Trên nền xanh tươi của cây lá, bóng dáng hùng dũng của Lane nổi bật lên. Bà mẹ cảm thấy lâng lâng trong lòng. Ánh sáng mùa thu tỏa lên đầu chàng trai một hào quang chói lọi. Bà mẹ hãnh diện đã sanh ra một con người như thế.
Bà cố giấu niềm hãnh diện vì Lane chỉ là con chớ không phải tình nhân. Bà nói:
– Mẹ tin chẳc những người đẹp trai trong bộ quân phục như con bày ra chiến tranh.
Lane cười thật dễ dàng, những nụ cười như thế nói lên rất nhiều. Nhưng cậu chỉ có một hãnh diện được nữ giới chú ý tới cậu.
Niềm hãnh diện đó càng làm cho cậu thêm xinh trai.
Đôi mắt sáng ngời, cặp môi đầy tự tin, hai bàn tay cầm cương thật dẻo. Bỗng cậu thúc ngựa phi vượt lên trên. Bà mẹ giữ ngựa ở sau để được dịp ngắm con phi ngựa. Bà nghĩ thầm: “Không chắc là Elise sẽ có hạnh phúc bên cạnh Lane”.
Bà không bao giờ nghĩ đến vấn đề Lane có thể đem hạnh phúc lại cho người đàn bà. Trước đó bà không hề nghĩ là Lane đã làm cho bà khổ. Các nhà giáo thường an ủi bà. Hãy để cho cậu một thời gian. Bây giờ cậu hãy còn trẻ, chưa biết nghĩ suy. Khi trưởng thành…
Bà mẹ đã dựa vào những lời an ủi này để đỡ khổ. Trước khi niên khóa chấm dứt, chiến tranh đã cướp Lane khỏi ghế nhà trường và bây giờ bà mẹ không biết thời gian có giúp cho con bà trưởng thành hay không.
Lane phi ngựa quay về, tay cầm mũ, tóc lộng theo gió, hai mắt ngó lên và cơ thể cậu đẹp như một vì vua trên lưng ngựa.
Một lúc sau, hai mẹ con đề huề đi song song với nhau.
Trong ánh nắng, bà mẹ nói:
– Lane, con nghĩ gì về chiến tranh? Có lẽ hai mẹ con mình không được ở bên nhau như bây giờ, mẹ muốn hỏi con một điều – và điều đó sẽ giúp mẹ thoải mái khi con ra đi. Mẹ muốn biết con nghĩ gì về chiến tranh. Và nếu có bất trắc xảy ra cho con, mẹ sẽ được an ủi nhiều khi mẹ biết con đã chiến đấu cho một cái gì đáng cho con hy sinh.
Bà mẹ nghĩ về điều đó rất nhiều và muốn biết cảm nghĩ của con.
Lane đảo đôi mắt sáng và ngơ ngác nhìn mẹ:
– Con không nghĩ về vấn đề đó nhiều. Nhưng con hy vọng là đời lính sẽ vui thú lắm.
Những ký ức ngày xưa len lỏi về như những bóng ma từ khu rừng xuất hiện đưa các bàn tay lạnh giá lên người bà. Tom, cha của Lane cũng có thể trả lời như Lane về những câu hỏi tương tự như thế.
Bà nói:
– Chỉ vậy thôi sao?
Lane đáp:
– Chớ còn gì nữa? Mẹ muốn con nghĩ như thế nào?
Bà mẹ lắc đầu:
– Không…
Khi hai mẹ con trở về, Harry không có ở nhà. Cậu đến trường hòa nhạc. Chị bếp bảo là không biết chừng nào cậu trở về.
Bà mẹ nói:
– Lane và tôi ăn chung vậy!
Hôm qua, bà lo nghĩ, sợ có Harry, hai mẹ con bà không tiện trò chuyện tự nhiên. Bây giờ Harry đã tự ý lánh mặt, giúp bà giải quyết được thắc mắc đó một cách thật giản dị. Nhưng bà mẹ không được nói chuyện riêng tư với Lane. Bà vẫn nghĩ tới Harry. Bà suy nghĩ, không hiểu mình đã làm cậu bé đau khổ đến mức nào. Bà nghĩ đến Harry với một tình cảm mới, một tình cảm pha lẫn tò mò. Tại sao bà không hiểu được Harry? Phải chăng vì không yêu chồng mà bà không yêu Harry? Bà chỉ săn sóc có một mình Lane thôi. Bà không hề bận tâm đến Harry. Cậu là một đứa bé trầm lặng, tánh tình đứng đắn ở nhà cũng như siêng năng cần mẫn ở trường. Harry không làm bà bộn rộn như Lane. Chỉ mới sau này Harry tỏ ra sốt ruột và đôi khi không nghe lời mẹ. Cậu tập tánh về trễ và không chịu nói rõ cậu đã ở đâu từ đầu hôm đến khuya.
Khi ăn, bà mẹ vụt nói với Lane:
– Mẹ muốn con không đi xa. Mẹ muốn có người giúp đỡ trong việc trông nom Harry. Dạo này mẹ không hiểu được nó nữa.
Lane nói:
– Cứ để mặc nó. Năm tới, quân đội sẽ bắt nó.
Rồi cậu tiếp tục ăn. Thịt ram là món cậu thích nhất. Cậu khen chị bếp:
– Bữa ăn thật ngon đó, chị!
Freda mỉm cười thích chí. Chị cũng mến Lane hơn Harry.
Bà mẹ nói:
– Mẹ không cho việc Harry vào quân đội là giải quyết được nỗi bâng khuâng của mẹ, người mẹ. Harry có nói chuyện nhiều với con.
– Nó nói nó muốn đi vào ngành hóa học. Con không chú ý đến chuyện đó. Con không thích hóa học. À mẹ, chiều nay mẹ cho phép con đi thăm mấy thằng bạn. Mẹ có phiền không?
Bà mẹ:
– Cố nhiên là không (…) những gì mà con thích.
Nhưng bà cảm thấy (…) thường khi ở nhà một mình trong buổi chiều khi đứa con cưng ra đi có thể không trở lại. Và Harry cũng không trở về nhà. Bà điện thoại đến trường hồi năm giờ. Nhưng không ai trả lời. Không còn ai ở trong trường.
Bà chợt thấy không thể ăn tối với hai đứa con trai bỗng nhiên trở thành người đàn ông xa lạ. Sau khi nghĩ ngợi, bà điện thoại cho Elise.
– Có phải Elise? Bác không chắc là cháu có ở nhà.
– Dạ, cháu phải bận rộn cả buổi chiều để sửa soạn đi chơi với anh Lane.
Elise cười vang trong điện thoại, tiếng cười của một cô gái đang yêu. Bà mẹ nhận thấy điều ấy và bà cũng cảm thấy lo sơ.
– Elise, đêm nay cháu tới dùng bữa với bác. Có thêm cháu nữa là tất cả bốn người. Bác biết Lane sẽ thích lắm.
Tiếng Elise thật vui tươi:
– Cháu chỉ mong được bác gọi.
– Nhớ đến nhé.
Bà mẹ đặt điện thoại xuống, cho chị bếp biết có thêm người rồi trở về phòng nằm dài trên ghế dài nghỉ một tiếng đồng hồ. Đến sáu giờ, bà ngồi dậy, đi tắm, sửa soạn và xuống lầu. Sáu giờ rưỡi, Lane chạy nhào vào nhà mở cửa phòng khách kêu lên:
– Chà! Mẹ đẹp quá. Chắc đang chờ con dùng bữa?
Bà mẹ đưa má cho con hôn, bảo:
– Đúng vậy. Mẹ có bảo Elise đến ăn tối. Nàng sẽ đến trong chốc lát.
– Hay quá! Con muốn mời Elise nhưng Harry không biết là mẹ có thích như thế không.
Bà mẹ nói:
– Con đã gặp Harry?
Lane đang lên nửa thang lầu nói vọng xuống:
– Không. Con không thấy nó ở đâu!
Bà tự nhủ:
– Mình sẽ không lo nghĩ nhiều về Harry.
Nhưng bà lại nghĩ không lẽ Harry làm chuyện rồ dại như chạy trốn.
Sau câu chuyện buổi sáng, bà mẹ cảm thấy bà không hiểu một tí gì về Harry.
Mười phút sau Elise tới, trông tươi mát như một đóa hoa. Bà mẹ thấy có cảm tình với cô gái xinh đẹp này. Elise hãy còn trẻ, mới mười tám. Lane hơn nàng một tuổi. Nhưng ngày nay trẻ con bị bắt buộc phải trưởng thành nhanh chóng. Các cậu thanh niên đã trở thành người lớn ở tuổi mười tám còn các cô thì biết yêu, lấy chồng trước tuổi.
Bà mẹ:
– Lane sẽ xuống đây trong vài phút.
– Còn Harry đâu bác?
– Nó đi hòa nhạc từ sáng tới giờ.
Elise:
– Harry sẽ trình diễn một màn độc tấu vĩ cầm. Bác có biết?
Bà mẹ ngơ ngác:
– Không. Bác không biết. Thằng chó đó có nói gì đâu!
Elise:
– Mới hôm qua cháu gặp Harry và anh ấy cho cháu biết. Bác phải hãnh diện về Harry. Anh ấy đàn tuyệt diệu!
Bà mẹ nói nhanh:
– Có chớ. Bác hãnh diện lắm!
Ngay lúc đó, bà nghe tiếng cửa trước mở. Và không hiểu tại sao bà đi thẳng ra nhà ngoài. Harry xách vĩ cầm, có vẻ mệt mỏi.
– Harry, cả ngày nay con ở đâu?
– Con theo về nhà ông thầy dạy nhạc của con. Con muốn nhờ ông ta giúp.
– Tại sao con không cho mẹ biết là con sẽ trình diễn độc tấu vĩ cầm? Mẹ mới vừa nghe Elise nói.
Harry:
– Con tưởng là mẹ không quan tâm tới.
Tánh thẳng thắn của Harry đã làm bà mẹ không nói thêm được gì nữa. Bà chuyển qua chuyện khác.
– Bữa ăn tối sắp dọn. Con hãy rửa mặt.
Mười lăm phút sau, khi Harry xuống lầu, sau Lane, cậu mặc bộ đồ xanh đậm và chải tóc cẩn thận. Gương mặt trắng mét của cậu rất trầm lặng. Cậu bắt tay Elise, không nói tiếng nào rồi đến bàn ăn ngồi đối diện với Elise. Lane ngồi ở đầu bàn, nơi cha cậu thường ngồi lúc còn sống,
Buổi ăn thật là vui và Lane là thượng khách. Lane nói và mọi người lắng nghe, Harry hầu như không nói tiếng nào. Nếu là những ngày khác, bà mẹ sẽ không để ý đến sự im lặng đó. Nhưng bây giờ đây, bà mẹ cảm thấy mình bỗng quên Lane để nghĩ nhiều về Harry. Hai hay ba lần, bốn mất hai mẹ con nhìn nhau rồi ngoảnh đi thật nhanh.
Harry cũng nghĩ về mẹ. Bà mẹ cảm thấy điều đó. Và bà bắt đầu lo ngại khi nghĩ đến ngày mai, khi Lane trở về với quân đội. Ngày mai, vào giờ này, bà và Harry sẽ ngồi đối diện với nhau trong phòng. Sẽ không có một bức màn nào giữa hai người… Bà mẹ tự thấy mình nghĩ nhiều về sự lo ngại phải ngồi đối diện với Harry hơn là việc ra đi của Lane. Bà cũng ngạc nhiên khi thấy mình im lặng một cách bất thường.
Đêm ấy bà trằn trọc không ngủ được và sáng hôm sau, bà thức sớm. Bà sợ Lane ra đi vì sợ phải ở lại một mình với Harry. Bà tự nhủ: “Mình vô lý quá! Việc gì mà ngại. Harry chỉ là một thằng bé – một thằng bé mà mình đã trông nom, dạy dỗ từ thuở sơ sinh”.
Nhưng thật ra thì bà không phải dạy dỗ Harry nhiều. Bao nhiêu thì giờ và tâm tư, bà dành riêng cho Lane. Dù vậy Harry vẫn học được nhiều, phần lớn là tự học. Bà mẹ chỉ tách rời Lane khi cậu bị quân đội động viên, và bà tự an ủi: “Vậy cũng hay. Quân đội sẽ đào tạo Lane thành một quân nhân xuất sắc”. Ngày xưa, chồng bà, Tom cũng là một quân nhân. Tom được nhiều quân chương ở Pháp về hành động can đảm phi thường. Hồi đó bà thường nghĩ “Những kẻ ngu ngốc luôn luôn là những binh sĩ giỏi” Nhưng bây giờ bà sửa lại “Lane không ngu ngốc, Lane không giống cha nó. Nó hãy còn trẻ, chưa thể nói trước được”.
Ngày chia tay mà bà lo ngại bỗng nhiên không còn nặng nề nữa. Dường như người ra đi không phải là Lane mà là một kẻ bà không yêu thương đầy đủ như Lane.
– Thưa mẹ con đi. – Lane ôm mẹ hôn giã biệt.
Bà mẹ cảm thấy ngạc nhiên khi mắt bà ráo hoảnh, không một giọt lệ:
– Con đi bình an.
Nhưng Elise khóc ré lên khi xe lửa chuyển bánh. Nàng khen bà mẹ:
– Bác cứng rắn quá!
Bà mẹ thản nhiên:
– Rồi nó sẽ trở về! Bác tin chắc là rồi nó sẽ trở về!
Bà đã nghĩ đến chồng khi nói như thế. Tom đã tham gia suốt trận giặc vừa qua và khi trở về, không hề bị một vết thương nào. Tom chết vì ngã ngựa cách đây hai mươi năm.
Harry lái xe trở về, bà mẹ và Elise ngồi băng sau cho đến khi tới nhà Elise. Lúc Elise xuống, bà mẹ lên băng trước ngồi với Harry. Bà nghĩ đến cách giải quyết các thắc mắc giữa Harry và bà.
Nhưng Harry vẫn trầm lặng suốt buổi sáng. Cậu lái xe rất tài, hai bàn tay nắm vững tay lái. Cậu không nói năng gì và bà mẹ nhìn xéo gương mặt của cậu. Gương mặt đó nói lên một cái gì quan trọng, suy tư,
Một lúc sau bà nói:
– Nhiều khi mẹ nghĩ, không biết Elise có thành đôi đứa…
Harry ôn tồn đáp:
– Con hy vọng là không.
Giọng cương quyết và đầy tự tin của Harry khiẽn bà mẹ ngạc nhiên thích thú:
– Tại sao?
– Con nghĩ là sau một năm đầu, cả hai sẽ khổ. Con muốn nói là Lane rất đẹp trai – và Elise phải mất một thời gian mới hết đam mê. Và khi nàng hết đam mê rồi nàng sẽ chán. Elise rất thông minh.
– Còn Lane thì không?
– Con không nói là Lane không thông minh. Nhưng Elise thì thật là phi thường. Điều đó sẽ khó cho Lane sau này.
– Vậy sao?
– Khó cho cả hai.
Hai mẹ con không nói gì thêm cho tới khi xe về đến nhà. Bấy giờ Harry nói:
– Con lại đi hòa đàn.
– Con cứ đi.
Harry nhìn mẹ, mở miệng toan nói nhưng lại thôi, quay lưng ra đi.
Cả ngày ở nhà một mình, bà mẹ thắc mắc về cái nhìn của Harry và mãi đến xế chiều bà mới hiểu. Bà đã gọi Harry bằng “con”. Đây là lần đầu tiên bà gọi Harry như thế. Bà đặt giỏ kim chỉ xuống, nhìn thẳng về phía cuối phòng. “Trời ơi, ta đã quá độc ác. Harry đã đau đớn vì sự độc ác đó trong bao năm qua mà ta có hay biết gì đâu”.
Đêm ấy, Harry về sớm, lên lầu tắm rửa trước khi gặp mẹ. Khi thấy mẹ, cậu không đụng tới mẹ và bà hiểu Harry biết rõ là mẹ không muốn cậu chạm tới. Bây giờ bà mới nhớ ra là Harry không hề đến gần và chạm tới người bà ngay từ lúc hãy còn thơ và bà cứ để y như vậy. Bây giờ, bà muốn đưa hai cánh tay ra nhưng bà biết làm như vậy sẽ khiến cho Harry bỡ ngỡ và ngượng.
Hai mẹ con vừa ăn vừa thảo luận về âm nhạc và Harry cho mẹ biết cậu đang tập các ngón đàn cầu kỳ khó khăn. Cậu hỏi thăm công việc làm của mẹ. Bà cho biết:
– Ngoài may vá, mẹ không làm gì khác.
Harry:
– Con mong rằng mẹ sẽ không cô đơn.
Bà mẹ:
– Không. Trước đây mẹ đinh ninh là mẹ sẽ cô đơn khi Lane đi rồi. Nhưng bây giờ mẹ không cô đơn nữa.
Harry nhìn mẹ một cách kỳ lạ, một cái nhìn chứa đựng nhiều hiểu biết. Bà mẹ nghĩ thầm: “Nó biết hết tất cả. Mình không thấy gì trong hồn nó, còn nó thì biết hết tất cả về mình”.
Bà đứng lên bên kia bàn. Những giọt lệ đã không chảy ra trong buổi sáng, lúc tiễn Lane đi, bây giờ trào ra. Harry trông thấy và bước nhanh về phía mẹ nhưng cậu vẫn không đụng tới mẹ. Cậu lo lắng hỏi:
– Mẹ không được khỏe?
Bà mẹ nắm lấy tay con bảo:
– Con ra phòng ngoài với mẹ. Mẹ muốn nói chuyện này với con.
° ° °
Harry cho hai bàn tay vào túi áo, ôn tồn nói:
– Không ai nói cho con hết. Con không nhớ con biết chuyện ấy vào lúc nào.
Hai mẹ con nói chuyện một lúc lâu và bà mẹ cảm thấy khoan khoái lạ lùng. Bao nhiêu thắc mắc mà bà mang nặng trong lòng đã được thanh toán.
Harry tiếp tục nói:
– Con biết điều đó có lẽ vào lúc con lên bảy. Thoạt tiên, con chỉ nghĩ là mẹ không ưa con. Thế rồi con bắt đầu suy nghĩ tại sao… và sau một thời gian con hiểu. Đó là tại vì con trông giống cha.
Bà mẹ giựt mình khi nghĩ trong mười năm trời, Harry đã chịu đựng những đau khổ mà trước đó bà đã chịu đựng. Vậy mà bà không hề hay biết gì.
Harry nói tiếp:
– Mãi cho đến khi con lớn lên, khi con lên mười ba con mới hiểu thêm. Phải rồi, vào dịp ngày sanh nhựt của con. Mẹ có nhớ là năm đó, mẹ cho con một con dao? Con ao ước con dao đó từ lâu. Và mẹ đã cho con món quà đó đúng với ý muốn của con…
Bà mẹ cắt lời:
– Nhưng con đã cho Lane con dao đó ngay trong đêm ấy. Mẹ nghĩ là con không thích.
Harry nói tiếp:
– Lane muốn con dao đó ngay khi thấy. Và con thấy mẹ cũng muốn cho Lane một con dao như thế. Cho nên con cho anh ấy con dao của con. Từ ngày đó, con biết là mẹ thương Lane nhiều hơn con, vì mẹ đã để cho con tặng Lane con dao đó.
Một lần nữa bà mẹ không nói nên lời. Hai mẹ con im lặng một lúc khá lâu.
– Đến lúc nào… con mới biết là con giống tánh mẹ.
Harry:
– Con nghĩ là con biết điều đó từ lâu. Bởi vì con luôn luôn thông cảm với mẹ. Con luôn luôn biết những gì mẹ nghĩ ngợi và rung cảm.
Bà mẹ khẽ kêu lên.
– Trời ơi!
Bà đứng lên, bước tới, đặt hai bàn tay lên vai Harry. Cậu nhìn lên, mỉm cười thường nhật, nụ cười thật buồn khiến bà mẹ thấy rờn rợn.
Bà nói:
– Mẹ cảm thấy như là mẹ thật sự hiểu được tâm hồn con. Mẹ đã tự trách mẹ về những sai lầm của mẹ trong những thời gian qua. Harry, con có tha thứ cho mẹ chăng?
Hai má Harry ửng đỏ và bà mẹ thấy mấy giọt nước mắt trên má con.
Harry nhìn xuống và môi cậu run run. Cậu lau nước mắt, thở dài. Sau đó cậu có thể nói:
– Cố nhiên. Mẹ không nên thắc mắc nghĩ ngợi. Mỗi người đều có cảm nghĩ riêng tư. Con biết điều đó từ lâu.
Lữ Chính có một quán nước nóng ở ngay góc con đường cửa Bắc với con đường họ Hoàng. Đây là địa điểm tốt trong khu phố. Ở đây có rất nhiều cửa hàng, mà nổi bật hơn hết là các hiệu buôn tơ lụa gấm vóc.
Ngoài ra khu này còn là nơi trú ngụ của các gia đình giàu có nhất trong vùng.
Mỗi ngày hàng chục lần các hiệu buôn sai người đến quán ông lão họ Lữ mua nước sôi về pha trà để uống. Và các mệnh phụ trong các gia đình quý tộc kia cũng bảo gia nhân mua nước nóng về xài. Như vậy mà quán nước nóng họ Lữ làm ăn phát đạt. Quán này có từ đời nội tổ của ông chủ hiện nay, thuở ấy Hoàng cung chỉ cách đó có vài dặm và con đường này giáp ranh với vườn thượng uyển.
Lữ Chính thừa hưởng cái quán này cùng với một bao bố đầy nén bạc lúc ông thân qua đời.
Khi cưới vợ, họ Lữ phải trút hết bao bạc đó ra mua sắm sính lễ cho bên nhà gái, nhưng không bao lâu bao bạc lại đầy. Nhờ túi bạc đó mà họ Lữ lo vợ cho con trai, nuôi nấng thằng cháu nội.
Điều làm ông chủ quán lo ngại là thằng cháu nội. Cả ngày nó cứ lẩn quẩn bên mấy cái nồi đồng hàn dính luôn vào mấy cái lò đất.
Ông lão thường bảo thằng cháu:
– Khi tao còn nhỏ, tao không hề lò mò tới sát bên mấy cái nồi đồng. Tao biết nghe lời người lớn chớ không cứng đầu cứng cổ như mày.
Nhưng thằng bé không chú ý đến lời khuyên của ông lão. Nó hãy còn quá nhỏ để nói rành rẽ, nhưng nó biết chắc chắn chiếm trung tâm điểm trong quả tim của ông nội nó. Cho nên nó tiếp tục lẩn quẩn bên cái nồi đồng dưới cặp mắt lo âu của ông lão. Nó đã quá quen với cái cảnh bị ông cụ tóm cổ đưa bổng lên cao để rồi đặt ngồi xuống trên đùi ông ta.
Lão thường nói với cậu con trai:
– Tao không chịu nổi thằng con của mày. Nó bướng bỉnh quá. Chừng nào mày mới dạy cho nó biết nghe lời người lớn.
Cậu con vốn tánh lười biếng, lắc đầu nói:
– Thời buổi này, không ai còn chịu nghe lời như thời buổi của cha.
Ông lão trừng mắt nhìn thằng con. Nhưng ông không nói gì.
Nhiều khi bà vợ thì thầm bảo ông trong đêm vắng:
– Cái thằng Lữ Anh nó làm biếng gì đâu! Quán thì nhỏ, chỉ cần một người làm cũng đủ rồi. Nếu ông cứ nai lưng ra làm thì nó cứ ở không chơi hoài. Ông đã trên năm mươi rồi. Ông có quyền nghỉ ngơi. Để cho thằng nhỏ tập làm ăn với người ta. Nó cũng đã hai mươi tuổi rồi, đâu phải còn nhỏ bé gì!
Ông lão hất cái mền đầy màu xanh ra, trong lòng không được vui. Hễ nói tới chuyện giao quán lại cho thằng con là ông đâm quạu. Ông muốn nắm cái quán càng lâu càng tốt và vì vậy cho nên ông cho cậu con đi học năm này qua năm khác để nó không chúi mũi vào công việc của ông.
Nghe bà vợ nói, ông đáp:
– Thằng Lữ Anh làm biếng thật. Mấy cái nồi đồng không bao giờ được đánh bóng như tôi muốn. Tôi đã bảo nó nhiều lần, phải lấy tro chùi cho bóng, nhưng nó không hề làm.
Bà vợ nói:
– Mà cũng tại ông. Không bao giờ ông hài lòng về công việc của nó làm.
Ông lão to tiếng:
– Là tại vì nó làm không đúng theo ý tôi!
Bà vợ ôn tồn:
– Có bao giờ ông bằng lòng một việc gì!
Thái độ bình tĩnh của bà vợ càng làm cho ông thêm nóng. Ông ngồi phắt dậy trợn trừng nhìn vào gương mặt của bà vợ:
– Bà nói tôi khó tánh hả? Không. Tôi không khó tánh đâu!… Tôi muốn làm đâu cho ra đó, không thể đập dập được.
Bà vợ hạ thấp giọng xuống:
– Thôi mình ngủ đi, khuya rồi!
Ông lão thở dài rồi nằm xuống.
– Bà không hề lo cho cái quán.
Đó là lời buộc tội nghiêm khắc nhứt của ông. Nhưng bà vợ không đáp. Một lúc sau, bà ngủ ngon lành.
Sáng hôm sau, ông lão thức sớm chùi bóng bên trong hai cái nồi đồng cho đến khi thấy mặt ông in hẳn trong đó. Ông muốn để vậy cho cậu con trông thấy công việc phải làm cẩn thận như vậy, nhưng không thể được. Cậu con dậy quá trễ, còn tôi tớ các nhà giàu thì đến mua nước rất sớm cho các mệnh phụ tắm.
Ông đổ nước vào nồi và nhúm lửa. Không bao lâu nước sôi làm động đậy các nắp gỗ bên trên.
Người ta vác ấm đến mua lai rai. Ông lão châm thêm nước vào nồi có đến ba lần cậu con mới thức! Cậu nhảy xuống giường, dụi mắt, quần áo xốc xếch, tóc tai rối bù.
Ông lão trừng mắt nhìn hắn.
– Khi còn nhỏ, tao thức sớm, đánh bóng mấy cái nồi, nhúm lửa trong khi ông nội mày hãy còn ngủ.
Cậu con trả lời một cách thản nhiên:
– Hồi xưa khác. Bây giờ khác. Bây giờ là thời buổi Cách Mạng, cha quên rồi sao?
Ông lão nhổ một bãi nước miếng xuống đất:
– Tao chỉ nhớ bây giờ là thời buổi của mấy thằng con cứng đầu cứng cổ như mày. Mày nên liệu hồn. Thằng con mày sẽ coi mày ra cái thứ gì nếu nó thấy mày ăn rồi chơi không, chẳng làm gì động tới móng tay.
Nhưng cậu quý tử chỉ mỉm cười cài nút áo rồi đến nồi nước gần nhứt lấy nước cho vào thau, rửa mặt tại chỗ.
Ông lão nhìn cậu con, bảo:
– Tao giữ cái quán này là vì mày. Tao muốn truyền lại cho mày, cho con mày. Cái quán này lập ra tới nay trên sáu mươi năm nay ai cũng nghe tên biết tiếng. Cả đời ông nội mày, cả đời cha mày rồi tới đời mày đã nhờ nó mà cơm no áo ấm. Rồi tới đời con mày.
Cậu con vắt khăn ráo nước, lau mặt, nói:
– Người ta nói nhiều về xa lộ…
Đây là lần đầu tiên Lữ Chính nghe nói tới xa lộ. Nó chẳng có nghĩa gì đối với lão. Con trai lão đi cả ngày, biết rất nhiều về tin tức từ ngày cách mạng lan tới tỉnh thành. Cách mạng là gì, lão già chẳng hiểu rõ. Lão chỉ biết những ngày công việc làm ăn của lão thất bại, đó là lúc hiệu buôn lớn đóng cửa vì sợ cướp giựt. Cũng trong những ngày đó, các gia đình giàu có, khách hàng mua nước nóng quen thuộc của lão – phải tản cư đi Thượng Hải. Lúc bấy giờ quán nước nóng của lão chỉ bán lai rai cho những khách hàng nhỏ, nghèo. Người ta chỉ mua từng ấm nước nhỏ để pha trà và mặc cả từng xu. Người ta bảo đó là cách mạng và lão rất thù cách mạng. Sau đó bỗng nhiên lính xuất hiện ở mọi nơi. Họ mua nước bán không kịp. Thế là bao bạc của lão trở nên đầy. Đó cũng là cách mạng chứ gì. Ông lão lấy làm thắc mắc, nhưng không thù cách mạng nữa.
Không bao lâu sau, các hiệu buôn lớn tiếp tục mở cửa và các gia đình giàu có hồi cư. Quân đội rút đi mất. Đời sống trở lại bình thường chỉ trừ giá sanh hoạt tăng cao. Nhưng ông lão không thắc mắc vì ông cũng tăng giá nước nóng của ông lên theo.
Một sáng, ông lão nói với cậu con:
– Cách mạng mà mày nói đó, nó như thế nào? Mày có đi học, chắc có lẽ mày biết. Nó làm xáo trộn quá chừng. Tao lấy làm hài lòng khi nó đã qua rồi.
Cậu con nhướng cặp lông mày:
– Qua rồi! Không đâu! Nó chỉ mới bắt đầu. Cha hãy chờ xem. Thành phố này sẽ là thủ đô của cả nước. Rồi mọi việc đều thay đổi.
Ông lão lắc đầu:
– Thay đổi? Không bao giờ có những sự thay đổi lớn lao. Dù cho hoàng đế, tổng thống hay cái gì khác cai trị xứ này, dân chúng cũng phải uống trà, cũng phải tắm gội, những việc đó phải có luôn luôn.
Nhưng còn xa lộ? Ông lão không rõ lắm.
Ngay ngày hôm ấy, một cô bé mua nước nóng cho nhà giàu nói với ông lão chủ quán:
– Tôi nghe ông chủ tôi nói người ta mở con đường này đến mười tám thước. Vậy mấy cái nồi đồng của ông sẽ tính như thế nào?
Bây giờ ông lão đang múc nước nóng cho vào ấm. Cánh tay trần của lão đỏ au vì hơi nước nóng. Nhưng lão đã quen với sức nóng. Khi nghe cô bé nói, ông thọc chiếc gáo vào nồi nước sôi có hơi sâu hơn. Tay lão hơi run nên chiếc gáo nghiêng một bên làm nước trong gáo rơi xuống, lửa than đỏ rực. Mấy tiếng xèo xèo vang lên.
Lão không buồn trả lời cô bé ngu xuẩn đó. Lão vờ đẩy các que củi vào trong bếp. Nhưng sau khi cô bé đi rồi; lão nhớ ra cô bé ở cho nhà họ Lâm và trưởng nam họ Lâm là một viên chức. Như vậy chắc là họ Lâm biết rõ về xa lộ.
Lão nhìn các bức tường gạch màu xám của căn quán nhỏ bé mà lòng lo ngại. Khói biến mấy bức tường này trở màu xám xậm và hơi ấm đã làm lớp vôi bên ngoài nứt nẻ, những bức tường thân yêu mà ông đã quen mắt từ ngày thơ ấu.
Tự nhiên ông nghĩ: “Rộng mười tám thước? Vậy là cả cái quán của mình sẽ bị san bằng. Mình phải đòi tiền bồi thường thật cao cho họ không thể trả nổi. Phải đòi bao nhiêu đây?”. Lão nghĩ đến những con số thật cao để làm lung lay một chánh phủ. “Mình sẽ đòi một vạn đồng”.
Nghĩ vậy, lão thấy dễ chịu. “Ai mà trả một vạn đồng cho một cái quán tồi tàn nhỏ tí xíu vừa đủ để bắc hai chiếc nồi đồng! Làm gì có một số tiền to như thế!”
Càng nghĩ, lão càng an tâm, quên hẳn xa lộ. Mọi việc đều trở nên bình thường đối với lão.
Một buổi sáng, lão đang ngồi uống trà nghỉ ngơi. Lão luôn luôn pha một bình trà riêng sau khi bán sạch nồi nước nóng châm đến lần thứ năm. Từ đó, lão có thể nghỉ ngơi cho đến buổi trưa, khi người ta đến mua nước nóng vào đúng ngọ. Trong thời gian đó lão rảnh rang chơi với đứa cháu nội. Lão bế nó lên đùi, cho nó uống nước trà cùng với lão.
Bỗng một người quân nhân bước vào quán.
Ông lão khúm núm vì người quân nhân trẻ tuổi đó có mang súng và sợi dây nịt gắn đầy đạn.
– Thưa ông…
Nhưng sĩ quan kia ngắt lời:
– Xa lộ sẽ đi ngang qua quán ông. Tên ông là gì hở ông lão?
Sĩ quan rút mảnh giấy trong túi ra xem rồi mới tiếp:
– À, lão Lữ. Nghe tôi nói đây, xa lộ sẽ nới rộng thêm 9 thước, vậy là nó đi ngang quán ông. Ông phải dỡ nhà trong vòng mười lăm ngày. Nếu không thì chúng tôi bắt buộc phải san bằng hộ ông.
Ông ta xếp tờ giấy lại, bỏ vào túi, quay lưng đi. Theo sau ông là ba người lính.
Lậo chủ quán không nói được tiếng nào. Cổ họng lão khô lại. Không một âm thanh nào thoát ra được. Một người lính nhìn lão với đôi mắt tò mò, có vẻ thương hại. Sự thương hại đó giúp lão bớt nghẹn ngào. Ông kêu lên:
– Một vạn đồng.
Sĩ quan đứng lại, ngoảnh mặt nhìn quanh:
– Cái gì?
Họ Lữ:
– Quán của tôi trị giá một vạn đồng.
Vị sĩ quan nâng khẩu súng lên. Ông lão hốt hoảng bước nhanh vô nhà, đóng cửa lại. Nhưng sĩ quan kia không buông tha. Hắn trở lại dùng bá súng đập vào cửa quán. Ông lão càng thêm kinh hoảng, đâm bổ vào đứa cháu khiến nó khóc ré lên.
Mỗi lần thằng bé khóc là ông lão bỏ hết tất cả để chạy lại bế nó lên, dỗ dành. Nhưng bây giờ ông lão không nghe tiếng nó khóc. Ông đang nhìn thẳng vào vị sĩ quan trẻ tuổi, và lải nhải như người máy: “Một vạn đồng! Một vạn đồng”.
Người sĩ quan nhìn lão một lúc rồi cười ré lên:
– Đó là phần đóng góp của ông vào việc xây cất thủ đô mới của chúng ta.
Nói xong hắn dõng dạc ra lịnh cho ba tên lính kia đi.
Đóng góp? Đóng góp cái gì chứ?
Đứa bé vẫn nằm ỳ dưới đất, rên rỉ. Nó quen tật mỗi khi té là nằm vạ cho đến lúc có người bế lên. Nhưng hôm đó không ai săn sóc nó. Ông lão đứng trước cửa, nhìn theo bóng dáng vị sĩ quan.
Ông buồn chán quá, không còn thiết đến chuyện gì khác. Dẹp quán thì làm sao sống đây? Xây một thủ đô mới là chuyện riêng của người ta, đâu có liên quan gì với công việc làm ăn của lão. Vậy sao bắt lão dọn nhà dẹp quán.
Lão từ từ quay vào trong và khi thấy đứa bé hãy còn nằm vạ, vội tiến tới đỡ nó đứng lên. Đứa bé ôm chầm lấy chân lão. Lão ngồi xuống, nghĩ ngợi.
– Cái quán nay mình định để lại cho con, cho cháu. Không ai có quyền đoạt của nó.
Tự nhiên ông thấy bực tức. Sự bực tức đó khiến ông dễ chịu hơn vì nó đẩy lui cái sợ khi nãy. Lão nhứt định không dẹp quán, không đời nào lão chịu dẹp quán. Lão nhứt định ngồi lỳ lại cho người ta tới giựt sập cái quán của lão.
Lão đặt thằng cháu xuống đất rồi bắt đầu cho nước vào nồi, châm lửa thêm. Không bao lâu nước sôi và hơi nóng đẩy cái nắp ván động đậy nhảy lên nhảy xuống. Khách tới lai rai. Ông lão quen tay, châm nước đều đều, không nhiều không ít. Một cô bé đòi thêm nhưng lão không nghe.
Cô bé tinh quái nói:
– Ông này ke re cắc rắc quá. Chừng xa lộ tới đây thì cái quán của ông cũng chẳng còn đâu!
Ông lão ăn miếng trả miếng với nó:
– Còn lâu! Không ai có thể phá cái quán của lão được! Xa lộ! Hừ! Xa lộ!
Lão nhổ nước miếng xuống đất sau mỗi tiếng xa lộ!
Một lúc sau cậu con trai trở về. Cậu đi ngay lại bình trà, đưa tay rờ xem trà còn nóng hay không rồi hỏi:
– Cha có nghe gì về xa lộ?
Ông lão tức lắm, kêu lên:
– Dẹp, dẹp! Đừng nói chuyện về xa lộ với tao. Từ sáng tới giờ mày đi đâu? Bây giờ tới bữa cơm, mày lết về, phải không?
Cậu con ngậm cái vòi bình trà tu một hơi rồi hỏi:
– Nhưng xa lộ sẽ đi ngang qua nhà mình. Người ta đã ra lịnh cho các nhà hai bên đường phải lùi ra xa 9 thước. Như vậy là mình chỉ còn có nửa cái nhà sau.
Ông lão trừng đôi mắt nảy lửa. Ông đưa tay lên đập mạnh vào bình trà khiến nó sút khỏi tay cậu con, rơi xuống đất bể thành ba mảnh.
Giọng ông lão thật gay gắt:
– Mày còn đứng đó uống trà hả?
Khi thấy nét mặt ngẩn ngơ của cậu con, ông bố bước nhanh vào phòng để tự do khóc.
Sáng hôm sau, khi thức dậy, lão hãy còn giận cậu con. Khi cậu ta ăn cơm một cách tự nhiên, ông lão nhướng mày nói:
– Ngày ba bữa mày ăn cơm một cách tự nhiên. Con mày cũng vậy. Nhưng hai cha con bây đâu có biết nhờ đâu mà bây có cơm ăn đều đều!
Dù vậy, ông lão vẫn không tin là người ta sẽ phá quán của ông để làm xa lộ. Ông tiếp tục công việc như thường lệ.
Đến ngày thứ mười một sau ngày vị sĩ quan trẻ tuổi báo tin dữ, bà chủ quán hơ hải đến nói với chồng:
– Thiệt ông ơi! Xa lộ sắp tới đây rồi. Ông ra đây mà xem. Đó, ông bước ra giữa đường, nhìn thẳng tới trước thì thấy.
Bả vợ đưa tay lên quẹt mồ hôi trán. Nhưng nét mặt bà không xúc động nhiều.
Ông lão nhìn bà vợ rồi bước ra khỏi cửa, đứng trên đường nhìn thẳng lên. Trước đây, con đường trước nhà ông rất hẹp, quanh co và tối vì những tấm biển treo trước các cửa hiệu. Cho nên người ta chỉ thấy xa chừng vài thước mà thôi. Nhưng bây giờ thì ông thấy ánh sáng chói chang trên các tảng đá ẩm ướt lát trên mặt đường.
Trước mặt ông, tất cả các tấm bảng hiệu đều biến mất, và người ta đang triệt hạ nhà cửa hai bên đường. Từng đống gạch ngói không biết có từ bao nhiêu đời nằm ngổn ngang trên đường. Nhiều đám lừa với giỏ mây trên lưng đứng đợi để chở những đống gạch ngói đó đi nơi khác.
Vị sĩ quan mà trước đây ông lão đã gặp đi tới đi lui, theo sau ông ta là bốn người đàn bà la hét, tóc tai rối bời. Họ rủa mắng, khóc kể, ông lão nghe được mấy tiếng: “Chúng tôi chết mất! Nhà cửa chúng tôi tiêu tan!”
Ông lão bước trở vô nhà, đóng cửa lại, cài then cẩn thận. Ông ngồi trên chiếc ghế gỗ sau chiếc nồi đồng; hai đầu gối run, đầu óc choáng váng.
Xa lộ đang tiến tới nhà lão. Đứa cháu từ trong phòng sau chạy ra, đứng tựa vào gối ông nội nó, nhưng ông lão nhìn nó một cách dửng dưng. Đứa bé thấy ông nội không chú ý đến nó, đưa tay toan rờ nồi nước nóng.
Nhưng lần đầu tiên trong đời ông lão không rú lên. Một ý nghĩ lờ mờ thoáng hiện trong trí: “Phỏng?… Phỏng thì đáng gì quan tâm. Mày sắp chết đói đến nơi rồi đó”.
Ngay lúc đó có tiếng đập cửa dữ dội. Tim ông lão đập loạn lên. Ông hồi hộp mở then cửa. Sĩ quan hôm trước lại đến, theo sau là ba binh sĩ.
Ông ta mặc một bộ quân phục mới và sạch. Không ai nghĩ là trước đó không bao lâu họ đã bị chửi bới nguyền rủa. Mặt người nào người nấy vẫn thản nhiên như thường.
Nhìn họ, ông lão bỗng thấy mình trở nên già yếu không thể tưởng tượng được và cái chết đến với ông, có lẽ giúp ông đỡ khổ hơn.
Sĩ quan dõng dạc ra lịnh:
– Trong bốn ngày, quán của ông phải dọn đi. Nếu ông tự dỡ nhà thì vật liệu còn là của ông. Nếu để chúng tôi dỡ thì chúng tôi tịch thu hết tất cả.
Ông lão ấp úng
– Nhưng còn tiền…
Sf quan đập chiếc gậy vào đôi giày da đánh bóng, hỏi:
– Tiền gì?
Ông lão cố thu hết can đảm:
– Cái quán này trị giá gần một vạn đồng.
Sĩ quan cười vang lên, gằn từng tiếng, giọng lạnh như tiền:
– Không có tiền gì hết! Ông hiến dâng cái quán nay cho nền Cộng Hòa.
Ông lão nhìn chung quanh, như tìm một vị cứu tinh giúp ông qua cơn nguy nan. Ông kêu to lên giọng nghẹn ngào như nói với những người đi đường:
– Mấy người có thấy không? Tôi đang bị người ta cướp đoạt tài sản. Nền Cộng Hòa đã cướp đoạt tài sản của tôi. Mà nền Cộng Hòa là ai mới được chứ? Nền Cộng Hòa đó có cho tôi, cho vợ con tôi thức ăn để sống?
Ông lão thấy có ai nắm áo mình. Người lính hôm trước đã nhìn ông với cặp mắt nửa tò mò nửa thương hại, nói nhỏ vào tai ông:
– Đừng chọc giận ông đó. Chọc giận chỉ có hại cho ông thôi.
Rồi lên giọng, anh ta nói lớn:
– Đừng than van gì ông lão ơi. Dù sao đi nữa thì cái quán của ông cũng phải dẹp. Trong những ngày sắp tới, người không cần đến những quán nước nóng. Nước nóng sẽ chảy khắp nơi trong những ống sắt.
Ông lão toan trả lời tên lính, nhưng cậu con trai nắm tay ông kéo lại. Cậu bước tới trước, đối diện với vị sĩ quan, lễ phép nói:
– Xin ông tha lỗi cho cha tôi. Ông ấy già cả, lẩm cẩm, không hiểu là cách mạng đã đem tới một ánh sáng mới. Tôi sẽ cố gắng thuyết phục ông ấy. Chúng tôi sẽ triệt hạ nhà này. Thật là một vinh hạnh cho chúng tôi được hy sinh đóng góp cho xứ sở.
Nét giận dữ trên gương mặt vị sĩ quan tan dần, ông ta gật gù rồi bước nhanh ra ngoài.
Người con trai đóng cửa, cài then lại trước những cặp mắt tò mò của đám đông. Cậu đứng tựa lưng vào cánh cửa nhìn ông lão.
Ông chủ quán chưa bao giờ trông thấy cậu con bạo dạn và cương quyết như thế. Cậu con nói:
– Không lẽ vì cái quán này mà gia đình chúng ta phải chết hết!
Ông lão ngồi xuống ghế, bên kia cái bàn, đối diện với bà vợ:
– Thế nào rồi cả nhà chúng ta cũng sẽ chết đói.
Từ lúc xảy ra vụ lộn xộn, bà vợ ngồi khóc một cách lặng lẽ, thỉnh thoảng đưa vạt chiếc áo xanh lên lau nước mắt.
Cậu con nói:
– Con đã tìm được việc làm. Con làm cai coi một toán thợ làm xa lộ.
Ông lão nhìn người con, nhưng không có một hy vọng nào chớm nở trong lòng:
– Mày cũng tham gia?
Cậu con hất mái tóc lòa xòa trước trán:
– Chống chỏi cũng vô ích. Thế nào thì xa lộ cũng được hoàn thành. Nó sẽ đi ngang qua đây. Cha nên hình dung một con đường lớn chạy ngang qua thành phố của chúng ta. Xe hơi sẽ chạy qua lại. Ở trong trường, con thấy hình vẽ quang cảnh tấp nập của một con đường ở một thành phố ngoại quốc. Có hiệu buôn lớn và có xe hơi chạy lên chạy xuống. Còn mình thì chỉ có xe “bù-ệt”, xe kéo và xe ngựa! Các con đường của mình có từ mấy ngàn năm trước đây. Tại sao mình lại không có những con đường mới?
Ông lão mới thấy xe hơi trong vài ba tuần nay. Ông thấy các chiếc xe này chạy qua rầm rập khiến dân phải chạy nhào vô nhà hoặc tránh vô các con đường nhỏ. Ông rất ghét xe hơi. Ông nói:
– Xe hơi để làm gì chớ? Ông bà mình…
Nhưng cậu con trai búng tay một cái tách:
– Thôi đừng nói tới cái thời xưa đó. Làm xa lộ con sẽ lãnh lương năm chục đồng mỗi tháng.
Năm chục đồng một tháng? Ông lão bàng hoàng ngẩn ngơ. Ông chưa hề thấy một số tiền to lớn như thế. Ông lão thấy đỡ khổ, còn bà vợ thì hết khóc nữa. Ông hỏi:
– Tiền ở đâu họ có nhiều vậy?
Cậu con đáp:
– Tiền của chánh phủ.
Mặt bà mẹ sáng hẳn lên:
– Tôi sẽ sắm một cái áo sa ten đen mới.
Và một lúc sau, bà vụt cười với ý nghĩ sắp có một chiếc áo mới.
Riêng về ông lão, ông suy nghĩ lung lắm, ông thấy không còn gì hy vọng về cái quán nữa. Nhưng ông không lo sợ như trước. Cái quán không còn là nguồn sống duy nhứt của gia đình ông.
Ông ngồi cả ngày, không buồn nhúm lửa nấu nước. Và lần đầu tiên trong vòng sáu chục năm, mấy cái nồi lạnh tanh.
Khi có ngươi đến mua nước nóng, ông nói:
– Bây giờ cái quán của tôi vô dụng rồi. Người ta sẽ bắt ống dẫn nước. Và trong khi chờ đợi thì mấy người hãy tự nấu nước lấy.
Cô gái lè cái lưỡi đỏ chót ra cười với ông lão như thường lệ, nhưng ông lắc đầu không giận cô ta.
Ngày hôm sau cậu con nói:
– Mình nên gọi thợ đến dỡ nhà. Nếu để người ta dỡ thì mình sẽ mất hết.
Lời nói đó khiến ông lão xúc động, ông kêu lên:
– Không! Người ta tính cướp đoạt tài sản của tao thì hãy để cho người ta tự do cướp đoạt.
Và trong bốn ngày liền, ông ngồi trong nhà, không ăn, không mở cửa, mặc dầu ông nghe sự tiêu hủy tiến tới từ từ – tiếng gạch đổ, tiếng ván rơi hòa với tiếng la khóc của dân chúng cùng cảnh ngộ với ông.
Đến sáng ngày thứ mười lăm, có tiếng đập cửa. Ông lão đứng lên, mở cửa. Trước nhà ông có mười hai người võ trang búa, xà beng. Ông nhìn thẳng vào mặt họ, hỏi:
– Mấy người tới phá quán tôi. Đó, các người muốn làm gì thì làm.
Và ông ngồi xuống chiếc ghế cây khi đám người kia bước vào nhà. Không có một nét cảm tình nào trong nét mặt họ. Họ đã triệt hạ mấy trăm nhà, quán. Đối với họ, ông chỉ là một ông già, một ông già rắc rối hơn những ông già khác.
Vợ, con trai, con dâu và đứa cháu nội ông đã tản cư qua nhà một người bạn từ sáng và họ đã mang theo tất cả đồ đạc, trừ chiếc ghế cây ông lão đang ngồi và hai cái nồi đồng.
Người con nói với ông:
– Đi với con. Con có sửa soạn cho cha một chỗ ở. Con đã mướn một gian nhà nhỏ. Người ta đưa trước cho con một ít tiền.
Nhưng ông lão vẫn cứ lắc đầu và ngồi lỳ trên chiếc ghế gỗ.
Trước mặt ông là hai cái nồi đồng to lớn gắn chặt vào lò. Hai người lao công dùng búa đập vào hai cái nồi.
Ông lão vụt nói:
– Ông nội tôi xây cái lò này. Bây giờ không có người thợ nào làm được.
Nhưng ông lão không nói gì thêm khi người ta dỡ ngói trên nóc và ánh sáng mặt trời chiếu qua các cây cột kèo.
Không bao lâu người ta dỡ hết mái nhà và ông lão ngồi đó giữa bốn vách tường, dưới ánh nắng như nung như nấu của buổi trưa.
Ông lão thấy bản thân choáng váng nhưng ông vẫn cố ngồi lỳ cho tới xế chiều. Đêm xuống rồi, ông hãy còn ngồi đó, giữa đám gạch ngói cột kèo ngổn ngang. Hai chiếc nồi đồng cũng chơ vơ ra đó, giữa cảnh điêu tàn.
Người ta nhìn ông lão một cách tò mò nhưng không ai nói gì và ông cứ tiếp tục ngồi.
Cho đến khi tối mịt, cậu con đến, nắm tay ông bảo:
– Thằng bé không chịu ăn cơm vì cha không về.
Ông lão đứng lên, nắm tay người con, bước đi.
Gia đình ông dọn về một túp tranh ở trong cửa Bắc, nơi đây có nhiều đồng ruộng bỏ hoang. Ông già họ Lữ cả đời sống giữa sự náo nhiệt của phố phường không thể chịu được sự yên tĩnh ở đây. Ông không chịu nổi sự vô duyên của đồng không mông quạnh. Cả ngày ông ngồi trong phòng nhỏ tí xíu. Vì không phải làm gì, ông bỗng trở nên già cỗi một cách nhanh chóng.
Đến cuối tháng, người con mang về khoe năm mươi nén bạc. Cậu nói:
– Nhiều hơn số hoa lợi của cái quán.
Cậu không còn cái vẻ ăn không ngồi rồi như trước. Cậu ăn mặc cũng sạch sẽ hơn. Nhưng ông lão chỉ lẩm bẩm: “Hai cái nồi đồng của mình có thể chứa ít nhứt là hai đôi nước sông”.
Một hôm bà vợ khoe với ông chiếc áo sa ten mới. Bà vuốt chiếc áo ngay trước ngực vun tròn của bà. Nhưng ông lão không buồn nhìn bà vợ. Ông lẩm bẩm:
– Bà già tôi hồi đó cũng có một cái áo hàng màu xám.
Rồi ông lại trầm ngâm nghĩ ngợi. Không ai có thể làm sao cho ông lão bước ra khỏi cửa. Ông ngồi trong phòng, ngày này qua ngày khác, tóc ông càng bạc trắng và má ông càng nhăn nheo. Mắt ông trở nên mờ đi. Chỉ có thằng bé là có thể làm cho ông thoải mái đôi chút. Chính đứa bé đã bước ra khỏi cửa. Ông thường ngồi bên khung cửa sổ nhỏ bé, nhìn ra ngoài suốt cả ngày. Ông chỉ rời chỗ ngồi đó mỗi ngày ba lần, vào ba bữa ăn.
Về đêm, ông ngủ chập chờn. Có khi ông ngủ ngồi, đầu gục lên trên bàn.
Thế rồi sau một tuần mưa dầm lê thê, trời bắt đầu sang thu, mặt trời chiếu nghiêng nghiêng qua mấy đám mây xám, khiến khung cảnh bên ngoài trở nên quang đãng. Ông lão thấy lòng rạt rào, mở cảnh cửa sổ ra. Mùi đất mát xông lên. Ông nói một mình: “Mình có thể hứng nước mưa đầy một nồi đồng. Ngày trước nước mưa bán được giá lắm”. Ngay lúc đó đứa cháu bước vào nắm tay ông, vừa nói vừa cười:
– Ra ngoài chơi, nội.
Ông lão xao xuyến trong lòng: “Phải, có lẽ mình ra ngoài chơi một chút”.
Ông nắm tay đứa bé, bước ra ngoài.
Trời nắng ấm, ông lão thấy dễ chịu. Ông hăng hái bước vài bước, đi ngang qua ngôi nhà gần đấy để tìm hiểu tình hình. Từ lâu rồi, ông không biết gì về tin tức. Cậu con bận rộn cả ngày. Còn đàn bà con gái thì chúng biết gì mà nói chuyện.
Cậu bé nói líu lo như tiếng ve kêu trên cành. Mùa thu trong sáng không khác gì mùa xuân. Ông lão tò mò nhìn chung quanh. Ông đang ở đâu đây? Đằng kia là cửa Bắc. Nơi đầu đường kia là cái quán nước nóng của ông, khi chưa bị phá vỡ. Ông đi lần tới đó, “Mình có chịu đựng được cơn xúc động chăng?” Ông bước nhanh hơn. Đến một khúc quanh, xa lộ hiện ra trước mắt ông. Xa lộ? Phải cái này là xa lộ? Một dải đất mênh mông chạy thẳng vào giữa lòng thành phố. Nó cắt đứt tất cả con đường chật hẹp, quanh co và tối tăm, cắt gọn như một con dao sắc bén.
Ông lão nhìn xa lộ bỗng thấy sợ hãi trước cái vĩ đại của nó. Người ta làm con đường rộng thênh thang như thế này để làm gì? Lao công làm lụng trên xa lộ trông nhỏ như kiến. Tất cả dân số trên thế giới có thể đi lại trên xa lộ không cần chen lấn xô đẩy.
Có những kẻ đứng nhìn, cũng như lão, nhìn một cách êm lặng và khuất phục. Ông chú ý đến nét mặt xúc động của họ. Quay lại một người đứng gần, ông hỏi:
– Chú em ở đây?
Người kia khẽ gật:
– Nhà tôi cất từ đời nhà Minh. Rộng lắm. Có tới mười phòng. Bây giờ tôi ở một túp lều, lụp xụp như ổ chuột. Tôi hoàn toàn phá sản.
Ông lão gật gù, góp chuyện:
– Tôi có một cái quán – quán nước nóng…
Ông muốn nói thêm một cách khó khăn:
– Tôi có hai cái nồi đồng to tướng đủ chứa năm đôi nước…
Nhưng người kia không chú ý nghe. Y đứng lặng nhìn con lộ chạy dài dưới ánh nẳng. Có người tiến đến gần. Ông lão nhận ra cậu con. Cậu chạy lại, tươi cười:
– Kìa cha. Cha ra xem xa lộ? Cha nghĩ như thế nào?
Môi ông lão mấp máy, ông không biết phải cười hay khóc. Một lúc lâu ông nói:
– Cha có cảm tưởng như là một cơn gió lốc đã thổi qua thành phố.
Nhưng cậu con chỉ cười, nói:
– Cha thấy không, con cũng có góp phần vào công trình xây cất xa lộ. Kìa, hai bên lề sẽ có lát đá dành cho những người đi bộ. Ở ngay giữa thì là đường sắt cho xe điện. Còn hai bên đường dành cho đủ loại xe. Dân số cả thế giới có thể đi bộ hay lái xe trên con xa lộ này. Xa lộ này chạy xuyên qua kinh thành!
Có tiếng người gọi, cậu con trai đi nhanh về phía đó.
Ông lão đứng yên, tiếp tục ngắm con đường. Xa lộ rộng mênh mông và dài vô tận cả hai chiều. Ông lão không biết nó dài đến bao nhiêu. Trong đời ông chưa hề thấy một con đường rộng lớn và thẳng tấp như vậy. Xa mút tầm mắt của ông, con lộ vẫn tiếp tục chạy dài.
Thật là một cảnh tượng kỳ ảo, mới lạ và đẹp mắt.
Và ông chợt nghĩ ra một điều. Từ trước đến nay, trải qua mấy triều Vua Chúa, chưa có vị minh quân nào đắp một con đường vĩ đại như thế.
Ông lão nhìn xuống đứa cháu nội đứng bên cạnh ông, thằng bé không biết thắc mắc. Bất cứ chuyện gì nó cũng cho là tự nhiên.
Đó là đặc tính của trẻ. Chẳng hạn như con trai ông thản nhiên trước việc triệt hạ cái quán.
Chợt nghĩ đến cái quán, ông lão vẫn còn thấy tiêng tiếc nhưng lần đầu tiên ông không dùng danh từ “cưỡng đoạt” hay “cướp phá”. Ông lại nghĩ đến một khía cạnh khác. Ông hài lòng khi thấy thằng con trai lười biếng của ông bỗng nhiên trở nên một kẻ hữu dụng. Và ông tự hỏi “Có phải nhờ xa lộ này mà con mình trở nên một kẻ trưởng thành?”
Ông cũng thấy một điểm hai cha con ông giống nhau. Nếu ông lo cho cái quán nước một cách tha thiết thì cậu con ông cũng mải miết với xa lộ một cách say mê.
Ông lão nắm tay đứa cháu, tiếp tục đứng đó, mắt ngắm xa lộ mà lòng nghĩ ngợi rất nhiều. Ông lẩm bẩm:
– Cuộc cách mạng này, xa lộ này sẽ đưa người ta đến đâu?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.