Lon và chai

Hồ Đình Nghiêm

Mỗi lần hẹn hò gặp mặt ở quán ăn, ông Hoan không quên mang bia theo. Bạn già kể cả quý bà khi đưa cay họ thảy đều mặn rượu chát, nhâm nhi, sành điệu. Thứ này “ăn” với hải sản, hiệu nọ hợp với thịt bò và nói chung “uống rượu chát rất tốt”. Vô tình, ông Hoan thành đứa nhà quê, lạc loài và mãi chung tình với anh “Tôn Thất Bia”.

Ông Hoan người Huế, chẳng dân hoàng phái, nghe bạn già đặt cho ngoại hiệu kia cũng nên ngậm cười sương sương chút vui thú. Máu ông Hoan thuộc nhóm gì? A, B hay O? Cái đó Hoan (không có g nằm đằng sau) chẳng bận tâm, chỉ biết là đổ bia vào người thì không răng cả, rứa chơ rượu chảy qua cuống họng, trôi xuống bao tử thì bỗng phừng phừng nóng nảy tợ Trương Phi, mặt đỏ hơn Quan Công và phát ngôn có đôi phần giống Tào Tháo: Phàm muốn tựu thành việc lớn trong thiên hạ trước tiên phải về nhà vấn kế vợ, vợ bảo sao cứ thế mà làm ngược lại, ắt thành công.

Một chị bảo, rượu uống thấy được phải trên ba chục bạc, tôi không rõ bia thì sao, có hét giá cao? Hoan thưa: Thua chị ạ, Công Tằng Tôn Nữ Nho Đỏ Trắng muôn đời vẫn có thế giá hơn, quý tộc hơn chàng bia nhà mình. Chị ấy hỏi tiếp: Rượu không vô lon, chỉ có bia mới vậy. Bia lon với bia chai, thứ nào ngon hơn? Hoan gãi đầu: Chị hỏi cái mới ngặt, e rằng chúng đều cá mè một lứa, Cô ca cô la cũng rứa, lon với chai cũng một nghĩa như nhau.

Anh Tĩnh, chồng chị khoanh tay ngồi kề bây chừ mới lên tiếng: Nói vậy là không đúng, giữa hai thể loại nhôm và thuỷ tinh đã có khác biệt ngay tự bản chất. Người ta thường nói “ba say chưa chai” hoặc “đẹp trai không bằng chai mặt” chứ có ai nói ba lon chưa say hoặc đẹp chai không bằng lon mặt… Vợ thúc cùi chỏ vào mạn sườn chồng: Bố thằng cu cứ bàn loạn linh tinh.

Ông Đăng, người vừa lãnh được tiền già, người thích theo dõi tin tức trong nước góp lời: Sau sự kiện tưng bừng ra mắt bộ lon Coca-Cola vừa diễn ra, bà Thu Hương cục trưởng cục văn hoá cơ sở cho hay “hãy giả sử nếu người ta thêm dấu, thêm mũ vào từ Lon Việt Nam thì sẽ có rất nhiều vấn đề”. Tôi tán thành ý tưởng của bà đó, vì người mình rất quởn cứ thích vạch lá tìm sâu, cứ mặn chuyện thêm mắm dặm muối. Phải mà họ đóng chai thì đã êm, chái chài chải chại chả gây sốc đâu nhỉ?

Hoan ngó quanh: Tui thực không hiểu mô tê, nếu lon được thêm dấu thì nó biến thành chữ chi mà hoảng sợ ra rứa? Bà Nguyệt ngồi đối diện ngó Hoan như ngó con cù lần ngủ gục trong sở thú: Uống mấy lon rồi mà giả bộ say? Lờn, lớn, lỏn, lòn, lộn. Ừa, có sao đâu cà?

Không có răng mô. Hoan gật đầu với kẻ “hữu duyên thiên lý, tương phùng đối diện”: Vô trong thang máy mà thấy chị đứng lẻ loi thì tui cũng làm mặt nghiêm không táy máy tay chân cưỡng dâm các thứ. Con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội, chị Nguyệt thì ta biết có làm thơ, mà lon là gì thì đó là thứ mà ta không tài nào hiểu được.

Ông Đăng hết nhìn bà Nguyệt người Sài Gòn lại quay mặt sang ôn xứ Huế: Xừ Hoan nhái giọng của Bùi Giáng, vậy có biết bài thơ này của Bùi tiên sinh? Bài Tuy Nhiên:

Tuy nhiên em có mặc quần
Mà không ắt hẳn là quần thật xinh
Nếu như em chẳng mặc quần
Thì ông trời ắt càng mừng rỡ hơn
Kể ra lúc em còn bé
Mới lọt lòng ra
Trăm năm trong cõi người ta
Thì khi đó quả thật là em chưa mặc quần.

Bà Nguyệt bình phẩm: Đúng là chất giọng riêng tây của Bùi Giáng, nghe hồn nhiên đến lạ! Ông Đăng chọc: Toàn bài không nhắc chi tới lon bia lon coca nhưng lởn vởn trong đầu tôi một nguồn nước mạch suối khe.

Tĩnh xoay cốc rượu đỏ đã vơi nửa phần: Các bạn còn nhớ ngày xưa, bọn trẻ thường mang những nhãn hiệu thuốc lá ra giễu nhại? Như Salem diễn dịch thành “Sao Anh Làm Em Mệt”, như Pall Mall “Phần Anh Là Lính Mừng Anh Lên Lon”… Chữ lon nọ hợp lý quá đi chứ, chớ nên mặc quần cho nó.

Hoan mở thêm lon bia Heineken: Lon lá khác với lon bia, cũng y như bia này khác xa với bia đá. “Trăm năm bia đá cũng mòn, bia chai cũng bể chỉ còn bia ôm”. Rứa là xong om. Thành quách sụp đổ, ba vạn cũng bỏ khi uống bia mà ôm em không mặc quần.

Tĩnh nói to, có vẻ là kẻ không sợ vợ: Ở bển sướng thiệt, có nhiều thứ giải khát. Hết sờ đùi lại cầm lon, tình hình kia xúi bà Thu Hương phải cẩn tắc vô ưu thôi. Lon có mấy size, lon nhỏ lon lớn?

Vợ chàng Tĩnh ho khan: Thôi, mình gọi thức ăn đi chứ. Ở quán này có bán đồ chay không?

Ông Đăng xoay tấm thực đơn bọc nhựa trơn láng: Nếu có, hổng lẽ chị xơi mình ên? Tôi đồ chừng ở đây ai cũng thích ăn mặn. Không tin hỏi chàng Hoan đi, mắm ruốc mắm nêm mắm tôm rất hợp tình khoái khẩu khi nắm lon bia trong tay.

Bà Nguyệt thò tay tới nắm mấy ngón người thích ăn rau xanh quả tươi: Sợ chi? Ai sao ta vậy. Nán mươi ngày nữa thì tha hồ…

Hoan để ý bàn tay bà Nguyệt quá đẹp quá sáng, chắc không phải nhờ vào cái hột xoàn to khủng lanh lợi: Chị nói rứa là răng? Tha hồ chuyện chi?

Ủa… Thì tiệc mừng đám cưới của bà Lệ đó, sáu bảy món tuyệt không vắt ra một giọt nước mắm, chay toàn tập. Cô dâu Lệ cho hay, mình già rồi mà còn lên xe bông thì âu cũng nên bày tiệc toàn thức ăn chay cho lạ đời luôn thể. Bà con ở đây có ai được mời tham dự không?

Mọi người ngồi ngậm tăm, ba bốn con ruồi tỉnh bơ bay qua về không biết là ruồi đực hay ruồi cái. Chai hay lon? Hoan ngó vô màu son đỏ thắm chưa nhạt phai trên môi bà Nguyệt: Theo chỗ tui biết thành phố Mộng Lệ An mình có tới hai ba bà cùng mang tên Lệ. Bà nào cũng tri thiên mệnh trở lên, rứa thì Lệ nào còn hăm hở “võng chàng đi trước kiệu nàng theo sau”?

Nguyễn Phan Thị Lệ tư chớ còn ai trồng khoai đất này? Cớ sao sau đuôi lại thêm vô chữ tư? Ờ, cái đó do chị em quen biết họ khắc ghi công trạng, nhắc nhở rằng Lệ sang sông đã bốn lần. Đương sự thu vai rút cổ ngôn: Hy vọng là lần cuối, sự bất quá ngũ, nôm na là qua cầu rút ván sang sông đắm đò.

Ông Đăng mặt lộ vẻ buồn, rất ư tâm tư: Thằng cha nào hưởng lấy diễm phúc được nâng khăn sửa túi ấy? Trông người lại ngẫm đến ta, đã hai chục năm nay tôi quen với chăn đơn gối chiếc lạnh ngắt phòng the. Chẳng phải già mồm chứ tôi gần như… ăn chay trường.

Màu đỏ ở môi Nguyệt lại co giãn: Ảnh tên Trường, tình duyên gia đạo chỉ trắc trở có đôi phen. Sướng một cái là con cái họ thảy đều tự lập cả rồi. Chúng nói với hai ông bà: Kệ đi mà, nồi không nên lựa cái vung vừa khít để đậy lên. Ngủ một mình tâm thân an lạc nhưng ngủ hai mình thì vẫn sướng hơn. Chị Lệ tâm sự: Ra đường hỏi già, về nhà hỏi trẻ. Bọn trẻ bây giờ còn giỏi hơn quân sư ngày xưa, phận bố mẹ nên nghe theo lời con dạy.

Thế chúng có dạy là tổ chức ở nhà hàng chuyên trị chiên xào toàn rau xanh? Đã ăn chay mà mình mang theo lon bia ngó cũng không phải phép. Hoan nói. Mình chẳng được vinh dự tới chúc mừng là đúng quá rồi.

Nguyệt bảo: Nhan sắc Lệ còn mặn mà lắm, Nguyệt này như trăng bị mây che. Còn hơn tuần mà giờ này nghĩ chưa ra là nên mua thứ quà gì để mang tới? Tĩnh góp ý: Chốn này truy cho ra phương thuốc “lục giao sinh ngũ tử” thì hơi bị khó, chi bằng mua phức đi một đống Viagra. Thực tế, thực tiễn, thực dụng. Thực chất là vậy, không mạnh bề ngang cũng khoẻ bề dọc.

Họ ăn gỏi tôm thịt, cá kho tộ, bò lúc lắc và canh chua hải sản. Cưa hết hai chai rượu chát của Pháp, phần Hoan tu đúng sáu lon bia. Đã lon thì gọi là lon, của em thêm dấu chìu lòn cuộc chơi. Chớ sinh sự thêm tả tơi, sao em mãi sợ sớm mơi dập bầm? Họ gặp đông đủ lúc 8 PM, 10.30 thì ai về nhà nấy. Đứng tuổi, hiểu chút luật của vô thường, nên không ai thốt lời hò hẹn dịp khác, tới đâu hay đó, tạm thời thì nên chia tay phút này, đêm hè oi ả lặng gió, le lói trăng sao nhạt thắp trời rộng xa quê.

Nguyệt kéo Hoan lại: Cho tôi mượn đỡ bờ vai. Quỉ thật, khi không mà bị chuột rút! Chuột rút là chi? Hay tại đôi giày cao gót? Răng không mang guốc mộc như xưa, lại mát mẻ thông thoáng mấy ngón. Quỉ nà, tới hàng quán phải cho người ta điệu đàng chút đỉnh, guốc với lại dép, quên đi nha. Thằng chồng dắt con vừa nghỉ hè đi thăm bà nội ở Sa Đéc, đưa tôi về nhà giùm nghen. Chuột rút là sợi gân ở bắp chân co thắt lại. Tôi nói mượn bờ vai là do vậy, dìu đỡ tôi ra xe.

Hoan nghe lời, người ở đây vẫn luôn cổ xuý việc nịnh đầm, gọi là ga-lăng. Suy ra, nịnh đầm là đức tính tốt, ở trong nước kêu bằng “người tử tế”; phương chi “đầm” ấy đang bị đau chân. Chỉ có hạng tiểu nhân mới nhắm mắt làm ngơ. Hoan ngửi ra mùi dầu thơm chôn dấu nồng nàn ở sau cổ Nguyệt, ba cốc rượu chừng làm cho Nguyệt đỏ da thắm thịt hơn. Vú Nguyệt trung bình nhưng đó là quả bưởi mềm mại với bén nhạy việc đàn hồi.

Thắt dây an toàn, cái băng đen kia làm nổi rõ những nhịp đập của con tim phập phồng trên đôi gò bồng đảo (chữ của bà Hồ Xuân Hương). Lạch đào nguyên hẳn là chửa thông? Nguyệt chép miệng: Tiếc là rượu ít quá, chưa đủ để mang mình tới cơn say. Ngoài rượu ra, mình vin vào thứ gì để say? Hoan nói: Bia. Không chai thì lon. Quỷ nà. Tình yêu vụng trộm cũng khiến mình say vậy, đảo điên, hờn thiên giận địa. Bộ chưa từng sống qua cảm giác kỳ thú ấy sao? Vừa căng thẳng, vừa mê muội. Vừa cố cưỡng vừa buông xuôi. Thêm bốn cái đèn đỏ nữa là tới nhà mình rồi. Nhớ không lầm là trong tủ lạnh còn vài lon bia. Xin tự tay khui mở để hậu tạ việc cho quá giang.

Qua sông hồi nào mà dùng chữ quá giang? Nguyệt trả lời Hoan liền khi: Ờ, sao tự dưng nghe trong người ẩm thấp những lượng sóng xô về bờ bãi hoang vu. Hoan nhìn qua gương mặt đọng nhiều bóng tối, thỉnh thoảng sáng lên những bóng điện đường vụt chiếu: Nhà thơ ra khác, chữ nghĩa nghe êm tai rất mực. Sao lại thả hổ về rừng, để cho ổng tự do đi về chốn nhiều cạm bẫy nọ? Ổng đi thăm mẹ già, ổng quen ai đó ở Hà Nội, ổng nói em an tâm ở nhà, để anh cà khịa thằng đó nó đứng ra chịu trách nhiệm việc in cho em một tập thơ. Bút hiệu là Cổ Nguyệt, xời, nghe được quá đi chứ.

Theo tay chỉ của trăng xưa, Hoan cho xe chạy lên vuông xi-măng trước căn nhà cửa đóng then cài đèn đóm tối thui. Chân cẳng đã êm chưa? Chưa, sao hôm nay nó làm trận dằng dai lâu mà chưa chịu rút đi. Điệu này chắc phải nhờ tới chai dầu nóng. Dầu nóng họ không vô lon đâu nghen. Thử tưởng tượng lon khuynh diệp, lon nhị thiên đường… Hoan tiếp lời, mới nghe qua đã thấy nóng. Quỉ nà. Nguyệt nói, buông tay khỏi bờ vai thằng nịnh đầm để xỏ chìa khoá vô ổ, vặn hai vòng cả trên lẫn dưới gắn ở cánh cửa lầu son gác tía.

Phòng vệ sinh ở chỗ mô? Cuối hành lang, quẹo trái. Kỳ cục, vô nhà người ta việc đầu tiên là đi thăm ngay chỗ kín đáo! Hoan vừa đi vừa cởi thắt lưng quần: Không biết nạp rượu thì răng chớ chơi vài lon bia là sinh ra mắc đái. Cửa chưa đóng, Hoan nghe vọng giọng Nguyệt: Trời nực ghê, thế nào đêm nay trời cũng đổ mưa. Và nhà thơ Cổ Nguyệt hát tiếp: Trời không mưa em cũng lạy trời mưa…

Hoan nhìn xuống dòng nước vàng sủi bọt, tay mân mê cho “nó” khỏi bắn nhầm mục tiêu. Rồi mình sẽ rửa qua loa năm ngón, mình sẽ nắm lon bia, mình sẽ cầm chai dầu thoa dịu dàng lên vùng da thịt bị chuột rút ở bắp chân Nguyệt, mình sẽ tự nguyện đi lấn chiếm vào đặc khu, hình như cỏ ở Thủ Thiêm đang tới hồi khô hạn. Mấy ông quan ở bển từng lập ngôn: Thời cơ đã đến, không nhanh tay cướp đi thì đợi tới bao giờ? Nếu Nguyệt là cây quế thì ta có đóng vai thằng mán thằng mường để leo, âu cũng nên hả dạ vậy. Nhằm nhò chi ba việc lẻ tẻ.

Sấm chớp đì đùng. Trời cầm lon cô ca cô la đổ nước xuống liên hồi kỳ trận. Nếu tức giông lâu, mút mùa lệ thuỷ sẽ sinh ra hồ chứa mưa vậy!

Hồ Đình Nghiêm

Giải cứu Huế Tết Mậu Thân

 Triệu Phong chuyển ngữ

Posted by Seashelloc ⋅ Tháng Một 27, 2020 

Post by Sơn râu 20 Dec 2023

Bài 3

CHƯƠNG HAI (phần một)

Hoa sen 

Thành phố Huế, theo truyền thuyết Phật Giáo, là đóa sen vươn lên từ vũng bùn. Mãi đến đầu năm 1968, Huế vẫn còn là một ốc đảo yên bình trong một đất nước đang bị dày xéo bởi chiến tranh.

Một thành phố với dân số 140.000 người, Huế vốn là kinh đô cũ thời đế chế trước khi đất nước bị chia cắt. Thành phố tỏa hào quang một quá khứ huy hoàng của triều Nguyễn cùng một kỷ nguyên thuộc địa của Pháp gần đây. Đồng thời Huế cũng có một sức quyến rũ huyền hoặc không thể định nghĩa hay giải thích được. Trong khi chiến tranh tàn khốc dày xéo trên mọi miền đất nước thì Huế là một thành phố được để yên như thể được bảo bọc bởi quá khứ và hiện tại hùng tráng của mình. Với vị trí nằm cách vùng phi quân sự chỉ 100 km về phía Nam khiến Huế càng tăng thêm sức hấp dẫn như một trung tâm du lịch.

Huế còn là trung tâm văn hóa và học thuật của VN. Đại học Huế là trường được xếp  hạng cao nhất nước. Trường Quốc Học nổi tiếng là lò đào tạo các tay tổ như cựu Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng. Thành phố này vốn giữ một vị trí độc lập tuyệt đối của mình. Mùa Xuân 1966 Huế từng là một lò lửa sôi sục qua những cuộc biểu tình chống chính phủ. Hai ông, TT Nguyễn Văn Thiệu và PTT Nguyễn Cao Kỳ của chính quyền quân sự đương thời, đắc cử trong cuộc bầu cử Tháng 9/67, quan ngại nhìn dân Huế với vẻ ngờ vực và chán nản. Tướng Kỳ bay bướm vốn là Tư Lệnh Không Quân kiêm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương từ 65-67 đã từng gởi quân ra Huế năm 66 để dẹp một cuộc biến loạn của khối Phật Giáo.

Vai trò của Huế trong lịch sử VN thật lâu dài và rực rỡ. Huế trở thành kinh đô của miền Nam kể từ năm 1687 trong cuộc Nam Bắc Phân Tranh. Hơn một thế kỷ sau, vào năm 1789, Nguyễn Huệ, một vị anh hùng dân tộc, đã đánh bại hai chúa Trịnh và Nguyễn của cả hai miền để thống nhất đất nước. Ông tự xưng hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung.

Một thập niên sau, Gia Long, một người cháu 16 tuổi của chúa Nguyễn bị truất ngôi, nhờ sự trợ giúp của quân Pháp đã quyết định phục thù cho tổ tông mình. Khởi binh từ Sài Gòn, ông Bắc tiến, chiếm lại được Huế rồi Thăng Long năm 1802, tái lập lại nhà Nguyễn. Gia Long cho xử tử toàn gia tộc của triều Tây Sơn, kể cả triều thần và thân thích. Ông dành cho Quang Toản, con của Nguyễn Huệ, một cách xử đặc biệt. Toản bị buộc đứng nhìn mộ cha bị khai quật lên rồi trông cảnh bọn lính đái lên xương cốt của Nguyễn Huệ. Sau đó Quang Toản bị trói tay chân vào bốn thớt voi đứng ở bốn hướng khác nhau rồi voi bị quất đau cho chạy đi, xé xác Quang Toản ra từng mảnh.

Tại Huế, Gia Long khởi công xây dựng một kinh thành kiên cố phỏng theo thành Bắc Kinh với gồm đủ tháp canh, hào lủy; bao bọc chung quanh là những tường thành cao bằng đá. Vòng ngoài tạo thành một hình vuông mỗi cạnh dài 2.700 m theo đó ba cạnh thẳng, chỉ một cạnh là hơi cong theo chiều uốn khúc của sông Hương. Các góc thành hướng theo chiều Đông Tây Nam Bắc. Tường cao 9m, bề dày có chổ đến 14m. Nhiều nơi xen kẻ bằng các công sự kiên cố do quân Nhật xây thêm lúc chiếm đóng thời Thế Chiến Thứ Hai. Ba mặt không tiếp giáp với sông Hương thì dích-dắc với hào nước rộng đến 30m và sâu 4m.

Bên trong tường thành lại có một vòng thành khác bảo bọc đời sống cai trị yên bình của các hoàng đế nhà Nguyễn, cho đến khi quân Pháp bắt đầu xâm lăng vào năm 1883 và đoạt quyền cai trị của triều đình. Cung điện nhà vua với cung son thếp vàng, cột chạm rồng uốn quanh, được xem như là đền thiêng đất nước. Tường bảo bọc khu Đại Nội này cao hơn 6m.

Người Pháp cai trị mãi đến năm 1945 khi mà vị vua cuối cùng là Bảo Đại thoái vị và trao quyền lạì cho Việt Minh. Nhưng năm sau Pháp quay trở lại cho đến lúc thua trận ở Điện Biên Phủ vào mùa Xuân 1954 trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất. Cuộc thảm bại đưa đến sự chia cắt và thiết lập một vùng phi quân sự giữa hai bên.

Ông Ngô Đình Diệm, sinh trưởng ở Huế, vốn là quan lớn trong triều đình nhà Nguyễn, sau một thời gian sống lưu đày ở ngoại quốc trở về đảm nhận chức vụ tổng thống vào giữa thập niên 50. Là người theo đạo Thiên Chúa nên không bao lâu có mâu thuẫn với khối Phật Giáo. Những cuộc nổi loạn ở Huế do các sư tăng lãnh đạo đưa dần đến sự sụp đổ của chánh phủ cùng cái chết của ông. Ba năm sau, lại nổi lên cuộc biến loạn khác cũng do nhóm phật tử dẫn đầu suýt làm rớt chánh phủ của chánh đảng quân sự Sài Gòn. Lần này nhờ sự trợ lực của Mỹ họ bị dẹp tan.Cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai dẫu sao cũng không làm phai nhạt mất tính độc lập và tinh thần bất khuất của Huế.

Vào năm 1968, Huế là thành phố lớn thứ ba, chỉ sau Sài Gòn và Đà Nẳng. Về mặt chiến lược, Huế  nằm ở vị trí hẹp nhất của lãnh thổ miền Nam. Cách biển Đông 5 km về hướng Đông, và 5 km về phía Tây là dãy Trường Sơn (Annamite Cordillera). Đi xa thêm 50 cây số nữa là giáp ranh với nước Lào. Giữa khoảng đó có thung lũng A Shau và đường mòn Hồ Chí Minh nổi tiếng, con đường thâm nhập quân CS và vũ khí từ Bắc vào Nam tấp nập nhất.4

Bản đồ khu Tả Ngạn sông Hương mà hoàng thành chiếm phần quan trọng nhất. Khởi đắp từ năm 1805, kinh thành Huế choán hết địa phận của 8 làng trong đó làng Phú Xuân bị mất nhiều đất hơn cả, vì thế thành Huế còn có tên là thành Phú Xuân. Ngoài vật liệu lấy tại chỗ còn phải chở thêm rất nhiều đá từ Thanh Hóa vào. Qua nhiều quá trình tu sửa, công việc xây dựng kéo dài đến năm 1824 mới hoàn tất. Nhìn vào bản đồ ta thấy cả bốn mặt kinh thành đều là sông. Ngoại trừ sông Hương ra, ba con sông Gia Hội, Cửa Hậu và An Hòa đều là sông đào, những sông này đều lấy nước từ sông Hương. Sát ngay chân thành lại có hào nước sâu bọc chung quanh, muốn vào thành phải qua cống bắc qua hào. Kinh thành có 10 cửa chính, mỗi cửa ba tầng cao chừng 16 m. (Courtesy of Vietnam Veteran Home Page)  

Thành phố được chia đôi bởi dòng sông Hương, con sông uốn lượn từ Nam sang Đông trước khi chảy qua Huế, tại đây nó lại quành lên phía Bắc ôm theo mé Đông của thành phố trước khi đổ ra biển. Khu kinh thành nằm ở mạn Bắc của con sông (khu Tả Ngạn) chằng chịt với những con đường chật hẹp và nhà cửa san sát, tuy thế xen vào đó cũng có nhiều khu trống trải. Bên trong tường thành là đền quách lăng miếu và những vườn cảnh đông phương. Có cả một phi đạo nhỏ dành cho phi cơ thám sát nhẹ. Ở góc bắc của tường thành là tổng hành dinh của Sư Đoàn 1 Bộ Binh Quân Đội Miền Nam, đây là một địa điểm kiên cố, từng là căn cứ hành quân của quân đội viễn chinh Pháp, bao bọc xung quanh với thành cao gần 3m bên trên có rào thép gai. Khu đông đảo dân cư khác nằm ở phía Đông gọi là khu Gia Hội, khu này ở dọc mép ngoài của thành Huế.

Bản đồ địa hình chỉ trung tâm thành phố Huế với sông Hương chia Huế thành hai khu vực: Tả Ngạn gồm kinh thành với tường cao bao bọc một khoảng đất lớn gần 8 cây số vuông, mỗi cạnh dài 2.700m; cũng thuộc khu Tả Ngạn có bán đảo Gia Hội nằm ở phía Bắc bao bọc bởi sông đào Gia Hội (sông Đông Ba) và một nhánh của sông Hương. Khu Hữu Ngạn kiến trúc nhà cửa mới hơn vì được Tây xây dựng vào thời thuộc địa nên còn được gọi là Quartier Francais. Cầu Nguyễn Hoàng mà dân chúng vẫn quen gọi là cầu Trường Tiền nối hai bờ sông Hương với nhau cũng là cây cầu chiến lược nối dài Quốc Lộ 1 đến Vĩ Tuyến 17. (Courtesy of Vietnam Veteran Home Page)

Một phần ba khác của dân số cư ngụ ở mạn Nam sông Hương (khu Hữu Ngạn), khu này vì tân lập nên có tổng thể mới hơn. Trong số các công thự ở đây có Tòa Hành Chánh Tỉnh Thừa Thiên, Tòa Lãnh Sự Mỹ, trường Đại Học Huế được quốc tế công nhận, Bệnh Viện Trung Ương, các ngôi trường công lập, Ngân Khố, Bưu Điện, và Nhà Đèn. Xa hơn về phía nam, điểm đầy các ngọn đồi nhấp nhô là hàng nghìn ngôi mộ, trong đó có sáu ngôi cổ mộ của hoàng triều. Những lăng tẩm này kiến trúc gồm trong những khu vườn cảnh, có thành cổng nguy nga, thu hút hằng ngàn du khách hằng năm.

Cũng bên bờ Nam này là địa điểm của tòa công sự Phái Bộ Cố Vấn MACV Hoa Kỳ, một tòa cao ốc hình chữ nhật không mấy kiên cố, trước đây dùng làm cư xá vãng lai. Dãy tường phía Nam của tòa cao ốc giáp với Quốc Lộ 1, con đường huyết mạch chạy xuyên qua thành phố. Từ đây lên hướng Bắc thêm chừng một khu nhà rưỡi nữa là cầu Nguyễn Hoàng (cầu Trường Tiền) sáu vài mười hai nhịp, cây cầu chính bắc qua sông Hương để qua khu Thành Nội. Ở mé chân cầu bên này có công viên Dốc Lão và bãi đổ hàng của Hải Quân Hoa Kỳ. Trong vài tuần sắp tới, hai nơi này sẽ trở thành địa điểm sinh tử cho sự sống còn của cả hai quân đội Mỹ và Nam Việt.

Huế bấy giờ là một tập hợp của nhiều lãnh địa. Guồng máy cai trị ở mỗi khu vực có chính quyền quân sự lẫn dân sự chồng chéo lên nhau. Ví dụ vị tỉnh trưởng lại là một trung tá của quân đội. Ngoài ra còn thêm các chức sắc Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo cùng đông đảo sinh viên học sinh cộng với kiều dân người Âu. Nơi đây ảnh hưởng của người Pháp vẫn còn mạnh, còn người Đức thì đóng vai trò bảo trợ cho trường Đại Học Y Khoa Huế. Ngay cả cán bộ CS cũng tha hồ tung hoành dẫu rằng trong bóng tối.

Do bất ổn chính trị thường xuyên, Huế là một trong vài thành phố hiếm hoi ở miền Nam thiếu vắng sự hiện hữu của các đơn vị chiến đấu Mỹ.

Vào thời gian có cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, hầu hết các đơn vị của SĐ1 BB VN đang đóng rải rác khắp Quân Khu 1. Ngoài một đại đội biệt lập thuộc SĐ1 đóng ở khu nội thành và một phân đội thiết giáp ở phía Hữu Ngạn ra, thì Huế coi như hoàn toàn bỏ ngỏ, không có phòng thủ.

Các đơn vị chiến đấu Mỹ gần nhất đóng ở Phú Bài, nằm trên Quốc Lộ 1 cách Huế 11 km về phía Nam. Phú Bài là tổng hành dinh chính của TQLC HK, còn là điểm tập trung các đơn vị yểm trợ quan trọng; lại là nơi đang diễn ra một cuộc bàn giao đơn vị qui mô. Bấy giờ, Phú Bài là hậu cứ của Lực Lượng Đặc Nhiệm X-Ray (Task Force X-Ray), một tổng hành dinh nhẹ của SĐ1 TQLC HK vừa mới dọn từ Đà Nẳng về để thay thế cho SĐ3 TQLC HK. Đơn vị này đang chuyển về Đông Hà ở phía Bắc, gần vùng phi quân sự.

Đúng 17 km về hướng Tây Bắc Huế trên QL1 là BCH của Trung Đoàn 3 BB thuộc SĐ1. Đơn vị này hoạt động ở một căn cứ cũ của Pháp có tên là PK17 (viết tắt từ tiếng Pháp poste kilomètre 17, người Việt quen gọi là Cây Số 17). Xa hơn một chút về hướng Bắc cũng dọc theo QL1 lại có căn cứ Evans, nơi đây cũng đang diễn ra một cuộc bàn giao căn cứ giữa một số đơn vị thuộc SĐ3 TQLC HK phải dọn đi và SĐ1 Kỵ Binh (1st Cavalry Division) thuộc Lục Quân HK đang dọn đến.

Nghe thì có vẻ như Huế sẽ được tăng viện dễ dàng từ cả hai mặt Nam Bắc mỗi khi có biến động; sự thật thì không hẳn như thế vì chưa hề có kế hoạch giải cứu nào được phác họa cho một cuộc tấn công quá bất ngờ. Hơn nữa, cả Phú Bài lẫn Evans đều đang diễn ra cuộc bàn giao đơn vị qui mô, cả hai nơi đều chưa có sẵn lực lượng phản kích để chống trả một cuộc tấn công lớn.

Hai lữ đoàn của SĐ1 Kỵ Binh HK có một số lớn trực thăng bị phân phối đều khắp một địa bàn rộng lớn chạy dài từ Phú Bài về phía Nam cho đến căn cứ Landing Zone Jane thuộc Quảng Trị ở phía Bắc. Thêm vào đó, Lữ Đoàn 1 thuộc SĐ 101 Dù HK vừa về đến Evans lại phải di chuyển lên hướng Bắc, mọi phương tiện yểm trợ phải chịu ở mức độ tối thiểu, trực thăng thì không có sẵn chiếc nào. Quân Dù không quen lối hành quân trên bộ như của lực lượng Kỵ Binh.

TQLC HK mới dọn đến Phú Bài, còn nhiều bỡ ngỡ, cần thời gian để quen với phong thổ, địa hình địa vật. Lực Lượng Chiến Đấu Thủy Bộ Đệ Tam (The III Marine Amphibious Force) của TQLC HK dự liệu rằng đến giữa Tháng Hai SĐ 1 TQLC mới đủ thời gian để hoạt động hữu hiệu trở lại phần nào trong vùng trách nhiệm chiến thuật vừa mới tiếp nhận và mất thêm một tháng nữa mới đạt hiệu năng toàn phần.

Mới dọn đến Phú Bài lúc này còn có BCH Tiền Phương (Forward Headquarters) mới thành lập của cơ quan MACV, nhờ nó mà Tướng Westmoreland mới rớ tay được nhiều hơn đến các cuộc hành quân ở phía Bắc Quân Khu I, nơi mà trước đây được giao cho TQLC. MACV Tiền Phương sẽ giám sát trực tiếp lên các hoạt động của cả TQLC lẫn Lục Quân ở hai tỉnh địa đầu giới tuyến của VN là Quảng Trị và Thừa Thiên. Sự sắp đặt này khiến ban tham mưu của quân đoàn TQLC thêm quan tâm, ngờ vực.

Giải cứu Huế Tết Mậu Thân

Triệu Phong chuyển ngữ

Posted by Seashelloc ⋅ Tháng một 26, 2020 

Post by Sơn râu 20 Dec 2023

CHƯƠNG MỘT

Việt Nam, trạm dừng chân kế tiếp

Bài 2

Con đường dẫn đến Việt Nam đối với tôi bắt đầu ở Panama vào giữa Tháng Bảy 1967 nơi tôi được đưa đến để theo học khóa Rừng Núi Sình Lầy kéo dài hai tuần lễ. Bấy giờ tôi mới 27 tuổi, cấp bậc đại úy Bộ Binh, đã 3 năm phục vụ tác chiến, vừa mới phục vụ cho một tiểu đoàn bộ binh cơ động tại Tây Đức. Hầu hết sĩ quan trong đơn vị tôi đều tốt nghiệp trường Võ Bị Westpoint, một số từng phục vụ ở VN trong vai trò cố vấn quân sự. Một số trưng binh mang phù hiệu cho thấy đã từng tham dự Thế Chiến Thứ Hai và Triều Tiên. Một sĩ quan từng là thành viên của đội quân Lê Dương của Pháp (French Foreign Legion). Việt Nam là trạm dừng chân kế tiếp cho hầu hết những người đã trót chọn đời lính làm binh nghiệp, và nhiều người hướng về xứ sở đó mong sao được sang phục vụ.

Nếu bạn đã chọn nghề lính rồi thì tác chiến là con đường ngắn nhất và nhanh nhất để thăng tiến; hầu hết dân Võ Bị và hàng hạ sĩ quan lão thành đều mang cùng tâm trạng đó. Trường hợp của tôi thì khác. Tôi chỉ là sĩ quan trừ bị được gắn cấp sĩ quan sau khi học hết chương trình Huấn Luyện Sĩ Quan Trừ Bị ở college, và tôi chỉ cần phải phục vụ hai năm trong một đơn vị tác chiến mà thôi. Đúng ra thì tôi đã có quyền xin ngưng nghĩa vụ quân sự sau khi đã xong vòng công tác ở Đức nhưng thời đó Việt Nam là mục tiêu ao ước trong đầu mọi người nên tôi tự nhủ nếu mình xin ngưng mình sẽ mất cơ hội một đời mới có một lần.

Lịch sử quân đội Hoa Kỳ vốn thường mê hoặc tôi; tôi trưởng thành trong phim ảnh chiến tranh Thế Chiến Thứ Hai, và môn học chính của tôi ở college là Lịch Sử Mỹ Quốc. Hơn nữa tôi luôn tâm niệm rằng phục vụ cho đất nước tôi là nhiệm vụ của mọi công dân Hoa Kỳ, thi hành nghĩa vụ đó thì không có giá nào gọi là quá cao. Do những suy nghĩ như vậy tôi đã tình nguyện xin được kéo dài thời gian tại ngũ và ước ao được tham dự vòng công tác ở VN. Trời đất, tôi tự nhủ, nếu chuyến này không được đi VN thì chẳng khác nào mình đã bỏ ngang college sau ba năm đèn sách và chẳng ra ông ra thằng vì không lấy được bằng biếu nào cả. Hơn nữa mình đã đi sâu vào đời binh nghiệp như vậy rồi thì việc gì mà không đi tới luôn cho trót?

Tôi khá tin tưởng rằng mình sẽ được chọn đi VN do quá trình huấn luyện mà tôi đã từng trải qua ở Đức. Chúng tôi thường xuyên được thao dượt tác chiến giống như thật gồm nhiều trận đánh giả bằng đạn thật ở những trận mạc lịch sử thời Thế Chiến Thứ Hai như Wildflecken, Hohenfels, và Grafenwohr. Việt Nam hiện thực cỡ nào hơn thế nữa chứ?

Tôi rời Đức Tháng Sáu 1967 vừa lúc đơn vị tôi đặt trong tình trạng báo động chuẩn bị có khả năng đi công tác ở Trung Đông, thời gian biến động sau này trở thành Cuộc Chiến Bảy Ngày (The Seven-Day War). Vài tuần sau đó, sau khi báo cáo trình diện ở Fort Jackson, South Carolina, tôi bay sang Panama để theo học khóa 2 tuần về rừng núi sình lầy. Trong đêm đen, chiếc phản lực cơ Braniff mang theo 200 sĩ quan cấp đại đội cùng hạ sĩ quan thâm niên đáp xuống phi trường của Căn Cứ Không Quân Howard nằm ngay bên ngoài Panama City. Thêm hai giờ chuyển vận bằng xe buýt băng qua dải đất nhỏ hẹp, chúng tôi đến trại Fort Sherman một căn cứ quân sự nhỏ của Mỹ nằm ở phía bên kia vịnh biển.

Chương trình huấn luyện rất súc tích và bao hàm toàn diện. Trọng tâm chương trình chú trọng đến mưu sinh thoát hiểm trong rừng sâu. Địa điểm huấn luyện là những địa hình khác nhau, nhiều bài học rừng núi mang đến cho bạn cảm giác tương tự một xứ Việt Nam có lắm bụi rậm. Ngày nào nhiệt độ cũng nóng hơn 100 độ F tôi nghĩ còn có nơi nào cùng trên đường xích đạo vào tháng Bảy có thể mát hơn được? Vắt hiện diện ở mọi khe suối và muỗi thì hết sức ghê gớm đến nỗi huấn luyện viên nhắc nhở chúng tôi phải bám chặt vào đâu đó kẻo không thì muỗi sẽ tha đi mất. Vùng này còn có nhiều bọ cạp nữa.

Chúng tôi học leo xuống các vực sâu, vượt qua những dòng suối nước chảy siết, kể cả tham dự những cuộc đổ bộ bằng tàu há mồm. Ngoài ra còn có bài học lùng và diệt địch, phục kích đêm và đặc biệt là bài dạ hành kéo dài tới sáng khiến tất cả chúng tôi mệt nhoài. Bài học vượt thoát kéo dài 2 ngày đêm bao trùm cả một vùng hoang vu của xứ Panama. Trong lớp chúng tôi có cả quân nhân của các quân chủng khác như TQLC, Không Quân và cả một toán Biệt Hải (Navy SEALs) nữa.

Tin vui nhất đến đúng ngày chúng tôi làm lễ mãn khóa khi chúng tôi được biết vòng công tác một năm ở VN được tính từ ngày chúng tôi bắt đầu trình diện ở Fort Sherman. Ngoài việc tiếp nhận phù hiệu chứng nhận đã học khóa rừng núi sình lầy chúng tôi nhận lệnh trình diện đơn vị. Tôi được đề cử đến Sư Đoàn 9 BB đang hoạt động ở vùng châu thổ sông Cửu Long ở phía Nam của Sài Gòn, Việt Nam. Sau một thời gian nghỉ phép ngắn ngủi, tôi đến trình diện ở Căn Cứ Không Quân Travis gần San Francisco rồi hai ngày sau tôi đáp chuyến bay dài 20 tiếng trên chiếc phi cơ quân sự C-141 bay sang Việt Nam. Vì chỗ ngồi của hành khách trên phi cơ quân sự quay mặt về phía đuôi nên tôi ngẫm nghĩ, ‘Gớm, mình phải ngồi nhìn về phía mình khởi hành chứ không phải nơi sẽ đến.’ Cho những buổi ăn tối trong suốt cuộc hành trình, tôi thủ 2 phần thịt gà tây và năm chai martini. Phi cơ dừng lại ở đảo Wake một tiếng đồng hồ để lấy thêm nhiên liệu, sau đó lại hạ xuống Căn Cứ Không Quân Clark ở Phi Luật Tân trước khi đáp xuống trạm cuối cùng ở Biên Hòa, Việt Nam. Tôi đặt chân lần đầu tiên lên đất Việt Nam lúc 7 giờ 45 sáng.

Điều đầu tiên tôi chú ý là đa số người Việt tôi thấy lúc ấy toàn là đàn bà. Trước khi tôi kịp mở miệng hỏi thì một gã lính Mỹ giữ an ninh phi trường đã lên tiếng giải thích với chúng tôi: “Tôi biết các anh đang nghĩ gì rồi. Đàn ông đi đâu hết chứ gì? Họ không có ở đây đâu. Họ theo VC vào trong rừng. Họ đang lo đặt mìn, mài lưỡi lê chờ thịt tươi mới đến như các anh để mà lụi.” Khôi hài thật. Nhưng theo tôi biết gã có thể nói đúng.

Việt Nam thật nóng, bụi bặm và ồn ào. Tiếng trực thăng xành xạch bay qua đầu không bao giờ ngưng. Thêm một cái thường xuyên nữa là kẹt xe. Những chiếc xe buýt đưa chúng tôi đến trung tâm chuyển tiếp phải giành đường với hàng đoàn công-voa, xe gắn máy và xe đạp. Mọi người mọi vật có vẻ như ùa ra đường cùng một lúc hối hả đi đâu đó trong thái độ ‘tôi trước tôi trước’. Thật giống như thành phố New York vào giờ cao điểm, chỉ khác là ở đây có nhiều người mang súng.

Dọc hai bên đường đầy dẫy những người ăn xin hoặc rao bán bất cứ món gì, từ kẹo, thuốc lá cho đến radio, TV.Nhiều cao ốc có rào lưới che phủ. “Họ rào để khỏi bị VC ném lựu đạn vào cửa sổ,” người tài xế xe buýt giải thích. “Tuy vậy đôi khi cũng chẳng ăn nhằm gì. Tụi VC quấn lựu đạn bằng dây có buộc nhiều móc câu. Khi ném vào móc câu móc lựu đạn dính vào lưới làm nổ bung cửa sổ và mọi thứ gần đó.”

Ban đêm có những âm thanh mới khác thay vào những âm thanh đã nghe trong ngày. Tiếng súng nhỏ bắn lẻ tẻ xen lẫn với tiếng đại bác ì ầm suốt đêm đến sáng. Tuy nhiên ngày đầu tiên chẳng có thứ âm thanh nào làm bận tâm tôi được vì qua một chuyến bay dài vượt Thái Bình Dương tôi đã hết xí quách rồi nên lăn đùng ra ngủ không biết trời trăng gì nữa. Phải rồi, vì đây là giấc ngủ của một kẻ ngây thơ vô tội mà.

Chúng tôi làm quen với thủy thổ thật nhanh. Chỉ sau hai ngày, đám người mới được đưa ra phía ngoài hàng rào phòng thủ của căn cứ Bear Cat, căn cứ gốc của SĐ 9 BB, để thực tập bắn đạn thật. Chúng tôi vô tình dẫm chân lên một toán khác cũng đang thực tập tương tự, thế là chúng tôi bắn nhau loạn xạ một hồi. May mắn không có thương vong nào. Sau đó trong khi xem biểu diễn mìn claymore anh chàng trung sĩ đứng cạnh tôi bị trúng vào chân một viên bi thép từ trái mìn bay lạc đến. Thấy vậy một tên bi quan yếm thế đứng đàng sau lên tiếng mỉa mai: “Cứ theo đà này thì chỉ mới tuần đầu tiên tất cả chúng ta đều sẽ được truy tặng chiến thương bội tinh.” Cuộc hướng dẫn dã chiến kết thúc bằng cuộc tuần tra đêm xuyên qua đồn điền cao su ở gần bên căn cứ; rất may khu vực tương đối an ninh nên không có việc gì xảy ra.

Học hiểu tiếng Việt đối với chúng tôi không cần phải mất nhiều thời gian; chỉ cần một ít để có thể thông tri một cách có hiệu quả là được. Khi đồng ý một điều gì người Việt chỉ nói ‘number one’, nếu tệ quá thì ‘number ten’. Ở VN tôi học được là tất cả mọi sự đều hoặc quá tốt hoặc quá tệ chứ không có chuyện lưng chừng đồi. Trong suốt vòng công vụ ở VN tôi chưa hề nghe ai đánh giá điều gì là ‘number 2’ hay ‘number 9’ cả. Ngay tuần lễ đầu tiên đó tôi nhận được công tác đặc biệt là đến trình diện ở phòng thông tin thuộc căn cứ Bear Cat; tôi đoán có lẽ khi xét đơn họ nghĩ tôi có kinh nghiệm về lãnh vực này. Số là sau khi hoàn tất khóa huấn luyện ở Trường Bộ Binh Fort Benning, Georgia, năm 1964 tôi được đề cử làm sĩ quan thông tin ở Đệ Nhất Lộ Quân tại Governors Island, New York. Tôi hoàn toàn không hề bận tâm khi được giao cho làm việc ấy.

Công việc thông tin khiến tôi có cơ hội được đi khắp vùng châu thổ sông Cửu Long để viếng thăm từng đơn vị thuộc SĐ 9 BB Hoa Kỳ. Tuần đầu tôi đến viếng tổng hành dinh Lữ Đoàn 1 ở Tân An và tiểu đoàn đóng các tiền đồn ở Tân Trụ và Biên Phước. Tại địa điểm sau cùng tôi tình cờ gặp lại người bạn cũ là Đ/úy Tom Russell trước đây từng phục vụ chung ở Tây Đức. Anh ta bây giờ là đại đội trưởng một đại đội thuộc Tiểu Đoàn 5 Trung Đoàn 60 Bộ Binh (Cơ Giới). Gặp lại khuôn mặt quen thuộc thật là thích thú biết bao; có điều bây giờ anh ta trông già hơn xưa. Trong khi thị sát nơi đóng quân của Russell tôi hỏi anh ta Việt Nam theo anh thấy như thế nào. Tôi còn dò hỏi về những lời đồn đãi rằng có nhiều hành vi thô bạo xảy ra ở trong khu vực trách nhiệm của anh đặc biệt là xác địch bị xẻo tai và bị rạch số 9 lên thân thể nữa. Nghe vậy anh ta không xác nhận cũng chẳng phản đối lời nào mà chỉ nói:

“Tụi địch cứ rình bắn lén chúng tôi hoài rồi thỉnh thoảng lại rót súng cối vào nữa. Chúng tôi chỉ biết bắn trả nhưng có bao giờ thấy chúng đâu, chúng biến dạng vào rừng hoặc các đầm lầy ngay. Chuyện cứ xảy ra như thế mãi khiến chúng tôi phải phát khùng. Anh nghĩ coi mình cứ mất con cái mà không bao giờ thấy được kẻ làm hại mình.” Chỗ đóng quân của Russell tại Biên Phước tọa lạc trên một vùng đất phẳng phiu trống trải có hàng rào kẽm gai bao quanh, ở mỗi góc đều có đặt tháp canh. Cách bố trí trông rất sơ sài tạm bợ như thể mọi người đều sẵn sàng khi có lệnh rút đi là có thể nhổ neo ngay. Doanh trại nghỉ quân đều toàn là lều vải và mỗi lều có bao cát chấn chung quanh cao chừng một hai mét. Chỗ chứa xe thiết vận xa là những bãi sình lầy. Nhiều M-113 nằm ụ vào đó để sử dụng như là vị trí chiến đấu.

“Ở đây chúng tôi không ai ăn không ngồi rồi,” Russell vừa nói vừa nhìn đảo một vòng quanh doanh trại. “Không ai ở vị trí cách xa hầm trú ẩn hoặc nơi cất vũ khí của mình. Chúng tôi luôn sẵn sàng ứng chiến.”

Phần việc của tôi là lượm lặt dữ kiện để viết những mẩu chuyện về con cái của SĐ 9 BB. Bài viết sẽ được in trên tờ nhật báo của đơn vị đồng thời cũng được gởi đến tờ báo địa phương của cá nhân về bài đó. Nhiều khi có bài được chọn đăng trên tờ nhật báo chính thức của Lục Quân Hoa Kỳ Stars and Stripes (Sao và Sọc) xuất bản ở Tokyo. Phần lớn thời gian di chuyển của tôi là bằng trực thăng qua đó tôi lấy làm lạ được biết những phi công loại phi cơ này đều rất trẻ và rất điềm tĩnh. Có lần đang bay, động cơ chợt ngưng hoạt động và phi cơ rớt tự do chừng hơn 100 mét mới khởi động trở lại. Bấy giờ hai anh hoa tiêu ngước nhìn nhau nhún vai mĩm cười, họ không hề có chút mảy may hốt hoảng nào cả. Bản thân tôi thì không được vậy đâu nhé. Một anh phi công khác tuổi chưa tới hai mươi làm dấu thánh theo truyền thống dân đạo Chúa trước khi cất cánh, xong mới quay qua phía tôi nói: “Tôi rất hi vọng chúng ta sẽ đi đến nơi về đến chốn.”

Xạ thủ trực thăng lại còn trẻ ghê hồn nữa. Họ là dân màu mè hoa lá cành thấy rõ, một số chơi nón cao bồi thay vì nón sắt trong khi bay. Một số coi dưới đất đâu cũng là vùng tác xạ tự do, thấy cái gì nhúc nhích là bắn không cần biết đó là người hay cái quái gì.

Cuối Tháng Tám tôi nhiều lần được lên Sài Gòn để viếng các cơ sở có dịch vụ viễn thông và truyền thanh. Tôi tham dự một buổi họp báo quân sự ngắn diễn ra hằng ngày lúc ban chiều mà giới dân sự ưa gọi mỉa mai buổi này là ‘The five o’clock follies’ (chuyện nhảm lúc năm giờ) hoặc ‘jive at five’ (chuyện vớ vẩn lúc năm giờ). Bản văn cuộc họp báo thật trau chuốt, có bản đồ khổ lớn, biểu đồ và ngay cả vài đoạn phim ngắn kèm theo. Phụ trách gồm một số cán bộ sĩ quan và hạ sĩ quan mặc đồ ủi hồ láng cón, bảnh bao, thuyết trình trước đám nhà báo dân sự trong đó một số trông rất toe tua như thể họ vừa mới chui từ dưới đầm lầy vùng châu thổ lên; mà quả thật không sai.

Dưới nhản quan của đám dân sự và ngay cả một số nhân viên quân sự đã từ lâu họ xem cuộc họp báo loại này chỉ là một hình thức tuyên truyền để trau chuốt càng nhiều càng hay cho bộ mặt của Hoa Kỳ trong nỗ lực chiến tranh ở VN. Ở đây chẳng ai nể nang một ai, ngay cả ông tướng có lên thuyết trình cũng vẫn bị nhà báo xoay như thường. Tôi còn có thêm nhiệm vụ tháp tùng nhà báo và giới chức quan trọng (VIP) trong công tác đi tìm hiểu sự thật (fact-finding mission), về sau công việc này trở thành chính thức của tôi. Trong suốt 6 tháng ở vùng châu thổ tôi có dịp đi theo nhiều cuộc hành quân và được viếng nhiều trận địa để lượng định tổn thất. Tôi từng mở nhiều cuộc phỏng vấn, thường là chung với một phái viên báo chí hoặc toán thu hình. Có lần tôi đi theo 3 ngày với Lực Lượng Lưu Động Sông (Mobile Riverine Force), tham dự cuộc rải truyền đơn và dự khán nhiều lễ trao tặng huân chương tại mặt trận. Tôi có dịp được gặp tài tử Charlton Heston, Tướng William Westmoreland, và cô đào bốc lửa Raquel Welch, người này tôi gặp trong chương trình văn nghệ lưu động dành cho lính xa nhà của Bob Hope mùa Noel 1967. Nói chung thì đi đâu tôi cũng có dịp được ăn pháo kích hoặc bị bắn sẻ nhưng không lần nào bị nguy hiểm cả.

Đầu Tháng Giêng tôi được sếp triệu về căn cứ Bear Cat để thông báo cho tôi hay là tôi được thuyên chuyển về Huế, một thành phố nằm bên trên và gần Vùng Phi Quân Sự (The Demilitarized Zone: DMZ) để làm cố vấn thông tin liên lạc cho SĐ 1 BB của quân đội Nam Việt. Cơ Quan Chỉ Huy Cố Vấn Quân Sự Mỹ tại Việt Nam gọi tắt là MACV (the Military Assistance Command, Vietnam) ngày càng trở nên khó chịu về những bản tường trình công khai tố cáo hành vi tham nhũng của nhiều phần tử trong quân đội Miền Nam và sự bất lực của họ. Các giới chức quân sự cao cấp Hoa Kỳ mới quyết định đưa các cố vấn thông tin Mỹ xuống làm việc chung với các đơn vị VN trong nhiệm vụ giao tiếp với quần chúng (public relation) với hy vọng sẽ giúp báo chí nhìn thấy rõ hơn thực trạng để tường thuật đúng đắn và tốt đẹp hơn với công chúng Hoa Kỳ.

Sư Đoàn 1 Bộ Binh của quân đội Miền Nam được coi như là đơn vị xuất sắc nhất nước nên theo lời sếp của tôi, Tướng Westmoreland muốn chúng ta đưa đến đó người sĩ quan thông tin nào xuất sắc nhất. Nếu thật là vậy thì rõ là xạo quá, tôi nào có đáng được vinh dự đó. Đêm ấy trong dòng nhật ký, tôi ghi chú về công việc mới được chỉ định và hùng hồn kết thúc với một câu: “Đây quả là một nhiệm vụ thích thú vô cùng.” Lúc ấy tôi đâu có ngờ đời tôi sắp trở nên ‘thú vị’ biết chừng nào và biết đâu chừng tôi suýt để mất cơ hội đó.

Giải cứu Huế Tết Mậu Thân

 Triệu Phong chuyển ngữ

Posted by Seashelloc ⋅ Jan 25, 2020 

Post by Sơn râu 20 Dec 2023

 Bài 1

Kể từ ngày mồng một Tết Canh Tý (2020), thân tri bắt đầu khởi đăng tập bút ký chiến tranh “The Siege of Hue” của George W. Smith do Triệu Phong chuyển ngữ.

“Những trận đánh giải cứu Huế Tết Mậu Thân” là đề tựa của bản tiếng Việt. Đối với nhiều sử gia, trận đánh Huế đánh dấu thời điểm quan trọng của cuộc chiến kéo dài 20 năm. Những tường thuật về những trận giao chiến ác liệt từng ngày tại đây khiến công luận Mỹ trở nên tin rằng cuộc chiến không thể đi đến một chiến thắng. Từ đó Mỹ bắt đầu tính đến chuyện rút khỏi cuộc chiến.

Tác giả George W. Smith đã vô tình bị kẹt ở Huế trong suốt thời gian xảy ra biến cố Tết Mậu Thân năm 1968. Với chức vụ sĩ quan ngành thông tin và làm cố vấn quân sự cho một số đơn vị lính miền Nam thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh, tác giả có cơ hội thu thập được nhiều dữ kiện quí báu và được dịp phỏng vấn các nhân vật liên quan đến biến cố. Qua tập bút ký của tác giả, ông thuật lại và phân tích cho chúng ta nghe diễn tiến từng ngày của trận Mậu Thân.

Đọc bút ký này để thấy một người khi đã khoác áo chiến binh đều có dũng khí can trường như nhau, bất kể họ đứng bên chiến tuyến nào. Ở đây chúng ta thấy người lính Mỹ, người chiến binh Bắc Việt hay người binh sĩ miền Nam đều quả cảm như nhau. Họ xông pha và nằm xuống một cách bình thản, không hổ thẹn, vì đã làm tròn bổn phận của một người quân nhân.

Dưới con mắt của một người lính, lời tường thuật của tác giả hoàn toàn chỉ có tính cách quân sự, vắng mọi bóng dáng của chính trị.

Đúng ra sách đã được dịch xong từ hồi năm 2004 và đã có giấy phép chấp thuận của nhà xuất bản nhưng mãi đến nay dịch giả vẫn chưa chịu đem in thành sách. Lần này thì dịch giả nhượng bộ khi bằng lòng để cho thân tri đem chia xẻ trước với bạn đọc qua không gian mạng lưới toàn cầu, dự trù sẽ được chia thành trên dưới 20 kỳ. Mong được sự đón nhận của bạn đọc.

~*~*~*~*~*~*~*~*~

Tựa của nguyên tác Anh ngữ
THE SIEGE AT HUE
LYNNE RIENNER PUBLISHERS. COLORADO

~*~*~*~*~*~*~*~*~

“This book is to be neither an accusation nor a confession, and least of all an adventure, for death is not an adventure to those who stand face to face with it. It will try simply to tell of a generation of men who, even though they may have escaped its shells, were destroyed by the war.”

Eric Maria Remarque, 1928
(In the forward to his book,
All Quiet on The Western Front)

~*~*~*~*~*~*~*~*~

LỜI MỞ ĐẦU

Mùi tử khí ập vào giác quan nồng như hơi nóng hực ra từ lò lửa. Một thứ mùi chua chua và hăng như mùi rác thối mục. Thoạt đầu hít phải thật không chịu nổi, để dể chịu phần nào tôi phải ráng thở bằng miệng.

Địa điểm nằm ở ngay bên ngoài khu tường thành Huế, nơi đó các phụ nữ lớn tuổi cùng con cái họ đang thận trọng bới từng vốc cát từ một nấm đất nằm trên một bãi đất rộng cỡ một sân banh. Những người đang đào áo quần tả tơi, mặt trùm bằng khăn mù soa.

Dần dần sau khi lớp cát trên mặt được dọn đi, một phần cơ thể con người lộ ra ngoài. Rồi một cái khác, lại tiếp một cái nữa. Nào xác đàn ông, xác đàn bà, và cả xác trẻ con. Họ được bới lên sau vài tuần nằm yên nghỉ dưới lớp cát mỏng. Có những xác có vết đạn ghim trên thân thể, có những xác tay bị trói quặt ra đằng sau bằng dây thừng hoặc dây kẽm. Nhiều người miệng vẫn còn mở há hốc vì tiếng thét lặng câm đã đông giá trên khuôn mặt họ.

Các xác chết đều đẫm ướt như thể họ đã bị trấn nước trước khi bị lấp xuống đất. Hình như nhiều người đã bị chôn sống. Mấy người phụ nữ lớn tuổi quì xuống cạnh hố chôn, mặt ngước lên trời xanh miệng mở lớn lộ ra những hàm răng đen. Thân hình họ đong đưa chầm chậm qua về. Không gian bao trùm đầy tiếng khóc não nùng lê thê. Mặt họ choắt lại vì đau đớn cùng tột. Tiếng kêu gào chợt ngưng để thay bằng những tiếng nấc nghẹn ngào.

Cách đó không xa một tốp người khác đào được một xác nữa, như thế lại thêm những tiếng khóc nối tiếp lên. Rồi cứ thế thêm nữa và thêm nữa. Không mấy chốc, vùng đất khô cằn ngập tràn mùi tử khí và những tiếng kêu khóc thảm thiết. Tiếng gào rú thanh âm như tiếng sói hú dưới đêm trăng. Mỗi xác chết cứ thế được đưa lên rồi đặt trên một khoảng đất bằng. Gia đình thân nhân tụ lại xung quanh và họ lại khóc lớn hơn. Các xác chết bị trói được cởi tháo cẩn thận rồi tay họ được xếp chéo ra trước ngực. Xe tải đến, các xác chết được chuyển lên để đưa về khu mộ gia đình. Sau khi lấy hết xác lên, người ta bỏ đi không ai màng đến việc lấp hố lại.

Buổi sáng không quên đó nhằm vào tháng Ba năm 1968, trời nắng ấm thật dễ chịu sau hai tháng ròng thời tiết xấu. Thật chua chát làm sao, người ta lại khám phá ra một việc rất đỗi kinh hoàng vào một ngày đẹp đẽ như thế. Người tài xế và tôi dừng xe trông về phía những gia đình bất hạnh đang lủi thủi bước theo đoàn xe đưa xác đi về hướng thành phố. Chúng tôi đưa mắt nhìn những chiếc hố ở hai bên bây giờ trống không, không ai nói với ai một lời. Qua cuộc giao tranh kinh hoàng của trận đánh Huế suốt tháng qua, giác quan chúng tôi hầu như đã chai lì qua những gì đã thấy và ngửi thấy về mùi chết chóc.

*

Trận đánh Huế kéo dài từ 31 tháng Giêng đến 25 Tháng Hai năm 1968 là trận chiến dai dẳng nhất trong chiến tranh Việt Nam. Riêng cuộc chiến này đã lấy mất 5.713 sinh mạng, trong đó phía Mỹ có 142 thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), 74 bên Lục Quân. Nam Việt mất 384 còn phía Miền Bắc tổn thất lên đến 5.113. Ngoài ra, vào những tuần và tháng kế tiếp người ta lại đào thêm được gần 3.000 xác khác bị chôn dưới những hố nông tìm thấy rải rác chung quanh Huế. Hầu hết họ đều là nạn nhân bị thảm sát bởi tay của quân lính CS cùng các cảm tình viên của họ.

SiegeAtHue_4Khác với vụ Mỹ Lai, gây ra bởi lính Mỹ xảy ra vào khoảng cùng thời gian, thế giới hầu như ít quan tâm tới cuộc thảm sát này ở Huế. Người ta chỉ xem vụ này như là một chú thích nhỏ trong dòng lịch sử của một cuộc chiến không mấy ai ưa. Các sử gia đều đồng ý rằng Huế là nơi mà giao tranh trên đường phố là khốc liệt nhất kể từ những cuộc giao tranh ác liệt ở Hán Thành (Seoul) trong chiến cuộc Triều Tiên. Các đơn vị quân Nam Việt và Mỹ đã một phen kinh hồn bởi lực lượng hùng hậu của đối phương làm họ phải vất vả trong nhiều ngày ở mức độ suýt bị tiêu diệt hoàn toàn. Trận tử chiến của Huế làm các cựu chiến binh thời Đệ Nhị Thế Chiến nhớ lại trận đánh ác liệt Bulge ở Bỉ.

Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc tấn công Tết Mậu Thân, đặc biệt là trận đánh ở Huế, đã đánh dấu một bước ngoặt trong chính sách can thiệp của Mỹ tại Việt Nam. Dầu rằng phe Cộng Sản đã chịu tổn thất nặng nề và không đạt được mục tiêu lôi kéo quần chúng miền Nam về phía họ nhưng họ đã tỏ cho thấy sức chịu đựng kiên cường trước hỏa lực hùng hậu của Mỹ. Sự chịu đựng vượt mức tưởng tượng và họ đã chịu đựng tới cùng. Nhiều chuyên gia tin rằng sau vụ Mậu Thân phe CS miền Bắc sẽ chủ động cuộc chiến vì rõ ràng quân du kích ở Miền Nam đã hoàn toàn bị quét sạch. Các cuộc công kích Tết Mậu Thân và cuộc vây hãm dai dẳng ở Huế đã khiến Hoa Kỳ phải xét lại chính sách can thiệp của họ ở Việt Nam và dần hồi đảo ngược lại sự cam kết của mình.

Đối với chúng tôi những kẻ tham chiến tại Huế, ít ai nghĩ đến những hệ lụy về lâu về dài. Chúng tôi chỉ nghĩ đến từng ngày một, mong sao được sống sót.

Ba vai chính trong trận Tết Mậu Thân: Nam Việt, Hoa Kỳ, và Bắc Việt

VIỆC TỪNG NGÀY

Tài Liệu từ Phía Đồng Minh

Ngày 31 Tháng 1 năm 1968
3 giờ 40 sáng:   Quân Cộng Sản Bắc Việt bắn rocket tấn công khắp mọi nơi trong thành phố Huế. Địch tràn ngập hầu hết các nơi trong thành phố, ngoại trừ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh nằm ở góc phía Bắc của kinh thành Huế, và cơ quan MACV của Mỹ ở phía Hữu ngạn sông Hương.
8 giờ sáng:         Cờ Mặt Trận Giải Phóng kéo lên trên kỳ đài Phu Văn Lâu.
2 giờ 20 chiều:   Hai đại đội Thủy Quân Lục Chiến Mỹ từ Phú Bài cách Huế 11 km về phía Nam đến được cơ quan cố vấn quân sự MACV.

Ngày 1 Tháng 2. Quân tăng viện quân đội Miền Nam từ phía Bắc của Huế đến được Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1. Một đại đội TQLC Mỹ khác đến được MACV.

Ngày 2 Tháng 2. Đại đội TQLC thứ tư đến MACV.

Ngày 3 Tháng 2. TQLC Hoa Kỳ đặt bộ chỉ huy trung đoàn ở MACV. Quân Mỹ tiếp nhận tiểu đoàn của SĐ1 Không Kỵ ở mặt Tây Bắc thành phố Huế.

Ngày 4 Tháng 2. Cầu An Cựu trên Quốc Lộ 1 cách Huế 3 km bị giật sập.

Ngày 5 Tháng 2. Tiểu đoàn Không Kỵ thứ hai đến Tây Bắc Huế.

Ngày 6 Tháng 2. TQLC Mỹ chiếm lại Tòa Hành Chánh Tỉnh Thừa Thiên và nhà lao Thừa Phủ.

Ngày 7 Tháng 2. 5 giờ sáng: Đặc công CS phá sập Cầu Trường Tiền, cây cầu chính bắc qua sông Hương. Tướng Westmoreland bay ra Đà Nẳng đề thẩm tra tình hình.

Ngày 11 Tháng 2. Hai Đại đội TQLC Mỹ cùng 5 chiến xa tiến vào Thành Nội.

Ngày 12 Tháng 2. Những thành phần còn lại của tiểu đoàn TQLC Mỹ và 2 tiểu đoàn TQLC Nam Việt tiến vào Thành Nội. Ba tiểu đoàn Dù NV rút về Sài Gòn.

Ngày 13 Tháng 2. TQLC Mỹ bị chận đường tiến sau khi khởi sự cuộc tấn công. Tướng Creighton W. Abrams thiết lập văn phòng chỉ huy Bộ Chỉ Huy Tiền Phương MACV ở Phú Bài.

Ngày 14-15 Tháng 2. Oanh tạc ồ ạt vào các cứ điểm địch ở Thành Nội.

Ngày 16 Tháng 2. Tướng Trưởng, tư lệnh Sư Đoàn 1 (SĐ1) Bộ Binh bay về Phú Bài để hội kiến cùng Phó Tổng Thống Nam Việt Nguyễn Cao Kỳ. Một đại đội thuộc SĐ101 Nhảy Dù Hoa Kỳ nhận trách nhiệm mặt Tây Bắc thành phố. Một tiểu đoàn TQLC Nam Việt thứ ba đến nội thành.

Ngày 19 Tháng 2. Tiểu đoàn Không Kỵ thứ ba của Mỹ tiếp nhận mạn Tây Bắc.

Ngày 21 Tháng 2. Quân Mỹ tràn ngập BCH trung đoàn địch ở La Chử, phía Tây Bắc Huế.

Ngày 22 Tháng 2. Hai tiểu đoàn Biệt Động Quân Nam Việt đến Thành Nội.

Ngày 24 tháng 2.
5 giờ sáng: Quân Nam Việt thượng cờ lên Kỳ Đài Phu Văn Lâu.
3 giờ 15 chiều: Quân Hắc Báo càn quét địch ở khu vực Đại Nội.

Ngày 25 tháng 2. An ninh ở Thành Nội coi như chính thức hoàn toàn được vãn hồi. Tổng Thống Nam Việt Nguyễn Văn Thiệu  vào Thành Nội để khen thưởng binh sĩ.

Sơ đồ các mũi tấn công của CSBV vào Thành Phố Huế đêm 30 rạng 31 tháng Giêng, 1968. (Map courtesy of US Army Center for Military History)

Tài Liệu từ Phía đối phương

(Trích từ tài liệu bắt được của phe Cộng Sản nhan đề ‘Hai Mươi Lăm Ngày Đêm Chiến Đấu Liên Tục Giành Lấy Thắng Lợi Thần Kỳ’)

Ngày 31 Tháng 1 năm 1968. 12 giờ 33 sáng: Ta mở cuộc tiến công vào Huế và làm chủ hoàn toàn thành phố. Mở 8 mũi tiến công; đánh và diệt một trăm tên địch.; Tiêu diệt 4 xe bọc thép M113 cùng nhiều máy bay.

Ngày 1 Tháng 2. Tấn kích phi trường Tây Lộc, hủy diệt 40 máy bay và đánh bật mọi cuộc phản công của địch; diệt được nhiều tên địch.

Ngày 3 Tháng 2. Tiếp tục đánh bật nhiều cuộc phản công và tiêu diệt hàng trăm tên địch. Hoàn toàn làm chủ thành phố.

Ngày 4-6 Tháng 2. Diệt 9 tàu tiếp tế của địch (Ngày 4, hai chiếc; ngày 5, hai chiếc; ngày 6, năm chiếc) tất cả đều đầy lính Mỹ và vũ khí đạn dược.

Ngày 7 Tháng 2. Tiêu diệt một tiểu đoàn và một đại đội địch ở cửa Chánh Tây và cống Thiếu Quan.

Ngày 8-10 Tháng 2. Đánh bật nhiều cuộc tiến công và tiêu diệt được nhiều tên địch.

Ngày 11 Tháng 2. Diệt 40 tên địch ở cửa Chánh Tây, phá hủy một tầu địch và bắt sống được nhiều tên khác, trong số có một đại úy của chính quyền bù nhìn Sài Gòn.

Ngày 12-13 Tháng 2. Đánh bật nhiều cuộc tiến công của địch và giải phóng thêm được nhiều khu vực.

Ngày 14 Tháng 2. Đánh bật 10 cuộc tấn kích ở cửa Đông Ba, cửa Thượng Tứ, cửa Chánh Tây và đường Cường Để; diệt 400 tên địch, bắn hạ một máy bay, phá hủy 2 xe bọc thép. Một tổ du kích của ta đã kiên cường chiến đấu suốt ngày trường diệt được 50 tên địch, giải phóng thêm nhiều khu vực mới và phá hủy một tầu địch.

Ngày 17 Tháng 2. Đánh bật 5 đợt tấn kích, diệt hằng trăm tên địch; tám tên bị bắt sống.

Ngày 18 Tháng 2. Đánh bật 5 cuộc phản công, diệt 190 tên địch; phá hủy 2 xe bọc thép, bắn hạ 2 máy bay, tiêu hủy hoàn toàn 6 tầu tiếp tế (Tầu chở 40.000 lít xăng)

Ngày 19 Tháng 2. Đánh bật ba đợt phản công, diệt 200 tên địch; phá hủy một tầu.

Ngày 20-21 Tháng 2. Đụng độ lực lượng địch ở Bôn Tri và Bôn Phả ở hướng Tây Bắc Huế; diệt hai trăm tên giặc Mỹ xâm lược, bắn chìm ba tầu chiến đấu chất đầy quân địch và vũ khí.

Ngày 22 Tháng 2. Đánh bật 7 đợt phản công, diệt hằng trăm tên địch ở khu vực Thành Nội. Diệt 100 tên lính Mỹ (gồm cả 30 lính đánh thuê Pắc-Chung-Hy), phá hủy 2 xe quân sự, hai tầu chiến, diệt thêm 8 tên xâm lược Mỹ ở La Chử.

Ngày 23 Tháng 2. Ta mở cuộc phản kích và diệt được 50 tên địch, phá hủy hoàn toàn một tầu chiến đấu, hai tầu đổ bộ khác. Diệt 23 tên lính Mỹ ở cửa Thượng Tứ và cửa Đông Ba; tịch thu 25 súng cá nhân. Trong suốt 3 ngày (21-23) ta diệt được 400 tên giặc Mỹ xâm lược ở An Hòa (góc Đông Bắc thành Huế), bắn hạ và hoàn toàn tiêu hủy một máy bay lên thẳng.

~*~*~*~*~*~*~*~*~ 

Trong một phiên họp ở Honolulu vào tháng 2 năm 1966, TT Lyndon Johnson hỏi vị Tổng Tư Lệnh Quân Lực Mỹ ở VN, Tướng William Westmoreland, rằng ông sẽ quyết định thế nào nếu ông là địch quân.

“Chiếm Huế,” Tướng Westmoreland trả lời không chút do dự, ông giải thích rằng Huế là biểu tượng của một Việt Nam thống nhất. “Lấy được Huế sẽ đạt được một tác động tâm lý sâu xa trong lòng người Việt của cả hai miền; trong chiều hướng đó phe CSBV nhờ nắm được hai tỉnh cực bắc sẽ sử dụng để mặc cả trên bàn thương thuyết.”

Hai năm sau cũng khoảng thời gian này địch quân chiếm Huế và giữ được nó trong suốt một tháng. Đơn vị chiến đấu duy nhất để đối đầu với đợt tấn công đầu tiên chỉ là một đại đội biệt lập Nam VN trong khi đơn vị quân Mỹ đóng gần nhất lúc ấy cách Huế đến hơn mười cây số.

Nạn nhân buổi giao thời

Pearl S. Buck

bản Việt ngữ: Nguyên Hùng
Post by Sơn râu 19 Dec 2023

Một ngày mưa

Tháng mười một, trời u ám và mưa lê thê. Vào giữa trưa mà chỉ có một chút ánh sáng bên ngoài len lỏi vào qua khung cửa sổ, lọt vào gian phòng của ngôi nhà thuộc giới tiểu tư sản Trung Hoa.

Một tia sáng yếu ớt lọt vào phòng theo ngã cánh cửa mở, lướt qua sàn gạch chiếu ngay hai bức hoành phi treo trên tường phết vôi, ngay trên bàn thờ. Trên hoành phi, người ta khắc những câu phương ngôn mà ai cũng biết và tôn kính.

Một nhóm người quây quần ở giữa, nơi sáng nhất trong phòng.

Ông lão họ Lý ngồi ngay giữa phòng, dưới hai bức hoành phi tức là chỗ danh dự.

Lý lão gia là tổ nội của Tế Xuyên. Ông là người đầu tiên lên tiếng với tư cách là gia trưởng.

Bài diễn văn của ông đã được chuẩn bị chu đáo và bấy giờ ông đọc lên với giọng trầm bổng nhịp nhàng.

Sau mỗi một câu, ông cẩn thận trích dẫn một câu danh ngôn của thánh hiền.

Thoạt tiên ông tằng hắng và khạc nhổ xuống nền gạch ẩm ướt. Sau đó ông đưa bàn tay với những móng để thật dài đã ngả sang màu vàng, vuốt chòm râu lưa thưa. Chiếc áo dài vải màu xám của ông lốm đốm những thức ăn rơi rớt sau bữa ăn. Bàn tay kia, ông cầm một dọc tẩu dài bằng tre đen sạm với năm tháng.

Ông lão họ Lý tiếp tục chạm rãi vuốt chòm râu bạc trong khi mọi người lắng nghe. Chỉ có cậu em út của Tế Xuyên là biểu lộ những cử chỉ nóng nảy. Cậu bực dọc, nhịp chân một cách nhẹ nhàng trên nền sạch. Cậu là người ông cụ cưng nhất nên mới có những cử động mà không ai dám có.

Riêng về Tế Xuyên thì thận trọng giữ dáng điệu thật đứng đắn. Câu ngồi ở một ghế khiêm nhường gần cửa.

Lý lão gia lần lượt nhìn từng người một trong gia tộc. Ông cảm thấy thích thú khi thấy mọi người lẳng lặng chờ đợi ông. Sau cùng ông mới nói. Ông không ngó ngay Tế Xuyên mà ông đang nhắn nhủ. Ông nhìn chăm chú những giọt mưa đang chảy từng giọt theo mái ngói xuống thềm đá. Ông đọc với giọng cao và run, mắt vẫn nhìn ra ngoài mưa:

– Con đã trở về giữa gia đình. Từ bốn tháng nay con sống trong tình trạng ăn không ngồi rồi. Con không tìm được một chức vụ mà tài học vấn thu thập ở Tây phương, nhờ sự giúp đỡ của những người ở đây, có thể giúp con, cấp dưỡng chu đáo cho ông bà cha mẹ cũng như anh em của con… “Cổ nhân đã nói gì?” Một người con phải lóc thịt của chính mình cho cha mẹ ăn để sống. Con không làm điều đó. Con đã quên là mọi người, trong gia đình này đã khó nhọc trong việc chạy tiền để gởi con ra hải ngoại ăn học. Kìa, người anh họ của con chỉ có một cái quán nhỏ nhưng cũng gom góp tiền dành dụm được tất cả hai chục bạc để giúp con ăn học theo người phương Tây để về sau con có một chức vụ cao cả. Nó có quyền được con đền ơn đáp nghĩa. “Cổ nhân đã nói gì? Người con nào không nuôi gia đình mình, nhứt là ông bà, cha mẹ mình, người con đó còn kém hơn con chó!”

Ông cụ ngừng lại để tằng hắng. Trong thời gian đó, một người đàn ông béo mặc áo ngắn và quần vải đen, ngồi ở ghế danh dự thứ hai ở phía bên kia bàn, vội nói:

– Còn một việc cũng tai hại không kém là thằng con bất hiếu của con lại không chịu cưới người con gái mà nó đã hứa hôn từ thuở nhỏ. Đứa con gái đó đã sống với chúng ta từ ngày cha mẹ nó mất thật sớm. Thằng con tôi nói về các phong tục Tây phương. Chúng ta đâu có yêu cầu nó học những thứ đó! Lẽ ra thì nó phải học những sách nào, có thể giúp nó có một địa vị cao cả, nhiều tiền. Bây giờ, nó không cho chúng tôi có cháu nội, thằng khốn đó muốn chúng ta, ông bà, cha mẹ nó về chín suối mà không có ai lo cúng kiếng.

Tế Xuyên ngồi nghe những lời lẽ đó với sự kinh ngạc cực độ.

Cậu là thanh niên mảnh khảnh, mặt tái xanh, miệng nhỏ như miệng phụ nữ. Cậu mặc một bộ âu phục màu xám nhạt mua ở Chicago.

Trên đường phố cậu có vẻ trang nhã và tự hài lòng khi vừa đi vừa quơ chiếc gậy, không buồn nhìn những kẻ chung quanh. Nhưng ở đây, giữa gian phòng tối tăm này, giữa những người lớn mặc áo dài, cậu chỉ là một cậu thanh niên không đáng kể, người nhỏ thó, ngực dẹp lép, tánh nhút nhát, cậu ngồi yên khẽ xoa hai bàn tay ở giữa hai đầu gối.

Cậu ngắm từng người một trong gia quyến của cậu. Ông nội cậu gật đầu tán thưởng những lời cha cậu trong lúc đôi mắt vẫn nhìn chăm chú ngoài mưa. Cha cậu mập tròn vì ăn uống quá nhiều. Chú cậu có gương mặt thon đầy vẻ ích kỷ, hai bàn tay luôn luôn cử động và hơi bẩn. Em cậu, một cậu bé trơ trẽn, luôn luôn nóng nảy, muốn được thả rong ngoài phố…

Trong một góc phòng mẹ cậu mặc áo vải xanh, ngồi trên ghế đẩu, lưng hơi gù. Bà lau mắt với chiếc khăn làm bếp cột trước ngực.

Sau bốn nhân vật kể trên, Tế Xuyên trông thấy nhiều người khác nữa, những anh em họ hà tiện vào háo ăn, một ông chú quạu quọ. Tất cả những người ấy tụ họp lại để chia nhau những quyền lợi mà cái vốn văn hóa thu thập được ở nước người có thể đem đến cho họ. Nhìn họ, Tế Xuyên hình dung những bàn tay – hay đúng hơn những móng nhọn sẵn sàng để tước đoạt những gì chàng có thể sản xuất.

Tế Xuyên nhận ra là người ta cho chàng đi học với lý do duy nhứt, chàng là đứa bé thông minh nhứt trong gia tộc. Người ta đã cho chàng đi học như là bỏ vốn vào một công việc làm ăn để nhờ vả khi về già.

Một nỗi bực điên rồ xâm chiếm tâm hồn chàng. Một dòng thác lũ danh từ dữ dội, táo bạo dồn lên cổ họng chàng. Tế Xuyên chờ vài phút, nghiến răng để cố giữ những lời lẽ không đẹp đó. Cố nhiên chàng biết sự vô hiệu của những lời lẽ mà chàng sắp nói ra. Chàng không hy vọng gia quyến chàng sẽ thông cảm những cao vọng của chàng. Vào lúc đó, cha mẹ có quyền tuyệt đối, kể cả quyền giết con, nếu muốn. Tế Xuyên không sợ chuyện đó, nhưng ý nghĩ đó nhắc nhở sự bất lực của chàng.

Tuy nhiên, một quá khứ tự chủ giúp Tế Xuyên đương đầu với nghịch cảnh trong giờ phút đó. Chàng đứng lên, nghiêng mình trước ông nội rồi cha và chú chàng. Sau cùng chàng chào mẹ chàng mà chàng biết là lúc nào bà cũng thương yêu chàng nhưng không dám biểu lộ ra.

– Con xin chư vị tha thứ cho con, con sẽ cố gắng trong tương lai để làm tròn bổn phận hơn.

Tế Xuyên cảm thấy một làn sóng phẫn nộ bốc lên trong người. Chàng cố gắng thật ôn tồn bước ra khỏi gian phòng, vượt qua sàn gạch với những bước cứng rắn.

Chàng xuống đường, mưa rơi đều đều, buồn thảm, không khí ẩm ướt giữa các bức tường cao chạy dài theo con đường hẹp tạo thành một sức lạnh giết người. Các con suối cạn tràn ngập những rác rến, cặn bã, nước nhờn đen và thối chạy lan trên mặt đường lát đá làm bẩn đôi giày vàng đánh thật bóng của chàng.

Tế Xuyên thốt lên một tiếng biểu lộ sự ghê tởm.

Tuần vừa qua chàng đã đến gặp ông Thị trưởng đề nghị lập một tổ chức vệ sinh coi sóc đường phố. Ông Thị trưởng ngọt ngào, khen chàng có những tư tưởng cấp tiến, nhưng không hứa hẹn điều gì. Đôi mắt buồn của chàng nhìn xuyên qua những giọt mưa rơi, những giọt mưa thật dài và thật thẳng, lòng nghĩ ngợi. Làm sao thành phố này, quê hương của chàng với những nhà lãnh đạo như thế có thể tiến bộ được. Chàng thấy bất lực trong việc đương đầu với chánh quyền.

Mưa rơi trên chiếc nón hợp thời trang của Tế Xuyên, nước mưa rỉ chảy dài theo rìa nón. Chiếc nón nỉ bị nước mưa thấm ướt sụp xuống trên đôi mắt chàng. Chàng bắt đầu thấy lạnh vì quần áo ướt dán chặt vào da thịt. Chàng vẫn bước đều, không ngừng.

Tế Xuyên không ngờ được cách đây sáu tháng, chàng có thể đứng trước diễn đàn của một trường đại học Mỹ, nhận lãnh cấp bằng tốt nghiệp. Người ta cũng đã tặng giải thưởng về bài luận triết lý so sánh Đông phương với Tây phương. Các giáo sư cho đó là một bài nghiên cứu xuất sắc. Lúc bấy giờ Tế Xuyên thật hãnh diện, thật là thỏa mãn. Một khi thi xong, chàng chỉ có một ước vọng: trở về quê hương, đem hết tài học giúp đỡ, phát triển xứ sở. Và chàng đã hồi hương, hân hoan gặp lại gia đình và sung sướng khi biết cha mẹ họ chàng hãnh diện vì chàng.

Nhưng ngay những ngày đầu, người ta đã nhào đến như một bầy quạ. Đêm hội họp đầu tiên, cha chàng nói về tiền lương mà chàng phải đòi nhà trường trả, nếu chàng đi vào ngành dạy học.

Tế Xuyên do dự đáp:

– Trước hết, con muốn suy nghĩ xem có giúp ích xứ sở về những công việc gì. Nếu nhà trường…

Ông cụ nhìn thẳng vào mặt chàng, hai gò má đầy thịt xệ xuôi xuống, quát:

– Con chỉ nghĩ có con thôi. Cha đã già rồi, sắp sửa không còn hoạt động gì được nữa. Thời buổi này rất khó khăn. Cửa hàng không đủ trả tiền sở phí. Rồi còn phải lo cho thằng em của con nữa… Chú con bịnh hoạn không làm lụng được. Hơn nữa, còn có nhiều bà con họ hàng đã bỏ tiền ra cho con học… và họ chờ đợi con đền đáp lại ơn nghĩa của họ… Sau cùng, nhưng điều này rất quan trọng, đó là người vợ tương lai của con đang ở trong nhà này. Trong những năm con du học, cha mẹ nó mất. Mẹ con cần người lo lắng trông nom, trong khi nhà có dâu thì tội gì phải mướn người… Tất cả những người ở đây đều trông cậy nơi con, con là trưởng nam, quyền huynh thế phụ…

Tể Xuyên thay bối rối. Chàng không hề nghĩ tới những chuyện ấy. Chàng đã xa nhà quá lâu – tám năm trường! Chàng nghĩ tới cô gái áo quần xốc xếch, gương mặt ngu đần, đi tới đi lui trong nhà. Thoạt tiên chàng ngỡ là đứa ở. Nhưng đó lại là vợ chàng! Trời ơi! Nghĩ tới đó, chàng thấy buồn nôn! Tim chàng đập nhanh. Không bao giờ! Chàng lấy làm bất bình với cha về vấn đề này. Mọi người trong gia tộc đều cương quyết chèn ép chàng theo ý họ. Người ta nghiền nát sức chống cự của chàng. Điều chàng sợ nhứt là thấy mình cúi mình dưới áp lực của gia đình. Chàng không tin là chàng đi đúng đường như trước nữa. Lý tưởng mà chàng ôm ấp khi bước xuống cầu thang chiếc tàu đưa chàng về nước đã thay đổi âm giai. Các lý thuyết cao đẹp của chàng mờ dần và bây giờ, dường như không xứng đáng để cố gắng tranh thủ.

Tế Xuyên cảm thấy cô đơn lạ lùng. Chàng có thể làm được những gì giữa bao nhiêu người không hề biết nghĩ về cuộc sống cao đẹp.

Tế Xuyên chợt thấy bùn dính trên đôi giày và hai ống quần. Chàng đã hấp tấp ra đi, không áo choàng và cơn mưa cứ tiếp tục rơi khiến áo quần chàng ướt đẫm. Chàng cảm thấy nước giá lạnh chảy giữa hai vai.

Lưng trời một màu chì ảm đạm. Những giọt mưa vẫn rơi không dứt.

Chàng rùng mình, tự hỏi không biết có một góc nhỏ nào ấm cúng trong thành phố hay chăng? Gian phòng của chàng cũng sầu thảm như các nơi khác trong nhà giữa lúc mưa dầm lê thê. Không khí ẩm ướt từ nền nhà gạch, từ vách tường thoát ra, và gian phòng nghèo khổ đó chàng lại phải chia đôi với cậu em. Tế Xuyên tức giận khi nhớ đến tánh tò mò của cậu em đã lục tung sách vở của chàng, để lại những dấu tay trên lề trắng.

Mới hôm qua đây, chàng thấy mất một trang trong quyển sách triết lý mà chàng chuộng hơn hết. Cậu em đã xé trang giấy để gói tiền mà cậu ta muốn nhét trong thắt lưng. Thành thử Tế Xuyên không thấy hài lòng về gian phòng của chàng.

Mắt vẫn nhìn màn mưa rơi đều, Tế Xuyên tự hỏi làm sao mình có thể sưởi ấm. Nếu có thể sưởi ấm, có lẽ chàng tìm được chút ít can đảm để tiếp tục theo đuổi mục đích. Chàng sợ nhứt là không đủ kháng cự, sợ phải cưới một người đàn bà ngu dốt và làm hỏng cả cuộc đời. Một mối lo ngại mới vụt lóe ra trong trí. Chàng kêu lên:

– Với một người mẹ ngu đần như thế, trong một ngôi nhà bê bối như thế. Con cái của mình sẽ ra sao? Mình có nên sanh ra những con người sau này tiếp tục nếp sống khổ sở của mình ngày hôm nay?

Tế Xuyên chưa nghĩ gì đến những đứa con như thế. Chàng có cảm tưởng như thấy chúng nó chắp hai bàn tay bé bỏng, cầu xin chàng đừng cho chúng nó ra đời. Từ đáy tâm hồn, Tế Xuyên hứa với chúng nó: Không! Tôi sẽ không bao giờ làm chuyện!

Một ngôi nhà cao đột nhiên dựng lên trước mặt Tế Xuyên. A! Đây là ngôi nhà của ông Hemingway, người thầy của chàng. Lúc đó chàng chỉ là một cậu bé con, học văn phạm với ông thầy này. Chàng còn giữ kỷ niệm về ông Hemingway. Lúc đó ông này là một người Mỹ trẻ, tử tế và trang nghiêm.

Chàng bước vào thăm thầy cũ. Có lẽ vô đó, chàng sẽ được sưởi ấm. Dù sao, chàng có thể nói chuyện với ông Hemingway, kể lại những khó khăn đang gặp và xin được giúp đỡ, được an ủi.

Chàng bước lên tam cấp thềm nhà, nhận chuông, chờ đợi. Chàng kéo bâu áo lên, cho hai bàn tay vào túi áo cho đỡ lạnh. Dàn hoa leo theo tường co quập lại dưới trận mưa to và mặt đất đẫm nước. Vài chiếc lá rơi cuốn tít xoay tròn, màu nâu và ướt đẫm.

Cánh cửa từ từ mở. Ông Hemingway bước ra. Ông đã già đi thật nhiều! Bây giờ ông là một người có tuổi, lưng gù và buồn.

Ông nhìn khách với vẻ do dự.

Tế Xuyên đưa bàn tay ra trước:

– Thầy không nhận ra con sao? Con là học trò của thầy lúc còn bé. Con đi du học ở nước ngoài mới về đây. Con đến thăm thầy.

Ông Hemingway ngập ngừng:

– Vậy sao…

Ông có rất nhiều học trò nên không nhớ Tế Xuyên.

– Mời cậu vào.

Tế Xuyên bước theo sau ông thầy cũ. Phòng ấm cúng lạ lùng, chiếc nồi nhỏ reo lên trong một góc phòng. Tế Xuyên đến gần đó. Quần áo chàng bốc khói. Ông Hemingway nhìn chàng chăm chú. Ông cận thị rất nặng.

– Trời! Cậu ướt như tắm!

Tế Xuyên nói:

– Chỉ ướt chút ít thôi.

Ông Hemingway lo ra:

– Phải!

Chồng bài vở phải sửa chất cao trên bàn, ông giáo già hy vong sẽ được một buổi chiều yên tịnh. Ông thấy khó chịu trong người, ông sợ bị cảm với trận mưa này. Ông muốn có một người phụ tá, nhưng tiền rất hiếm. Ông đang lúng túng trong vấn đề kiếm tiền để mướn một người từng du học ở Tây phương. Những người đó thường đòi lương rất cao, khó mà trả nổi.

Tể Xuyên ngồi xuống ghế, thật gần chiếc nồi con, đưa mắt nhìn chung quanh, gian phòng trống trải mà chàng thích. Sách nhiều quá! Và ấm cúng làm sao! Đúng là một góc lý tưởng cho chàng. Ông giáo Hemingway thật là một người sung sướng. Trong khuôn khổ như thế, rất dễ cho người ta tỏ ra rộng rãi, hùng mạnh. Tế Xuyên cảm thấy sức nóng êm đềm xâm nhập da thịt chàng.

Chàng chưa vội tâm tình với ông giáo. Chàng chờ cơ hội xảy tới. Chàng đã chuẩn bị để mở lời.

Ông Hemingway đặt vài câu hỏi. Tế Xuyên lễ phép đáp về quê hương của ông thầy. Đó là một nước kỳ diệu, đáng ca ngợi. Ông Hemingway nói vợi giọng có hơi nghiêm khắc:

– Tôi hy vọng là cậu sẽ dùng sự học ở ngoại quốc để phục vụ cho xứ sở. Đất nước Trung Hoa đang cần cậu. Có nhiều người khốn khổ…

Tế Xuyên lắng nghe. Hai người đã đi vào đề. Chàng sẽ có thể bày tỏ những điều lo ngại và những ước vọng. Chàng thật sự mong muốn phục vụ đất nước, nhưng…

Ông Hemingway nói tiếp:

– Tôi hy vọng là thái độ của cậu sẽ khác với đa số thanh niên du học ở Anh, Mỹ hay Pháp trở về nước.

Giọng ông thầy có hơi cao hơn, ông nghĩ đến buổi chiều quý báu đang trôi qua và chồng bài chưa sửa bắt đầu làm ông lo nghĩ. Đầu ông hơi khó chịu. Nếu có được một phụ tá thì tốt biết mấy! Người ta bắt ông làm việc nhiều quá. Nhưng ngân quỹ chỉ có một số tiền quá ít.

Không đủ sức giảm được cơn bực mỗi lúc một tăng, ông thầy nói tiếp:

– Cái khổ của chúng ta là những người đi du học về thường nghĩ có tiền mà thôi. Họ chỉ kiếm có vấn đề đó. Họ muốn có chức vụ cao, nhưng không lãnh trách nhiệm, lại muốn lương nhiều. Trong khi đó thì những công việc khó khăn đang cần người thì lại không ai nghĩ tới. Không có một người nào trong số du học sinh tỏ ra can đảm hay sao? Tôi phải thú nhận với ông – Ông Lý – là các du học sinh Trung Hoa ở ngoại quốc về đã làm cho tôi thất vọng.

Gian phòng rất yên tĩnh. Mắt ông giáo vô tình nhìn lên chiếc đồng hồ treo trên tường, tay ông cầm con dao rọc giấy đặt trên bà. Ông là một người can đảm đã từng chịu đựng. Ông không chịu nghỉ, sau tám năm liên tục vì không có ai thay thế, ông vừa mệt mỏi và chán nản. Lại nữa, là nhà giáo tận tâm với thiên chức, luôn luôn ông làm việc với các phương tiện thiếu thốn… cho nên về lâu ông kiệt sức…

Mưa vẫn rơi rơi đều đều lên kính nghe buồn, một bầu không khí căng thẳng dần dần xâm chiếm căn phòng. Ông giáo Hemingway nghĩ đến những thất vọng của ông mà chàng thanh niên Trung Hoa ăn mặc theo thời trang Tây phương là hiện thân. Tế Xuyên bỗng có cảm tưởng là mình bất ngờ trở về nhà, giữa những người tàn nhẫn tụ tập trong một phòng tồi tàn. Sự hiểu lầm chia cách hai người, làm tim họ giá lạnh, gian phòng mất vẻ ấm cúng.

Tế Xuyên đứng lên cáo biệt. Chàng đang đứng trước một ông thầy cũ mà chàng kính trọng. Chàng không thể quên rằng mình cũng có giáo dục, cũng biết lễ phép.

– Tôi rất não lòng khi chúng tôi, những người đi học ở ngoại quốc về làm thầy thất vọng, tôi xin chào thầy.

Chàng nói một cách trịnh trọng rồi trở xuống đường.

Thế rồi trong một phút yếu đuối bất ngờ, một tiếng nấc chận ngang cổ. Tế Xuyên nhìn thẳng tới trước để ngăn các giọt lệ, chàng bước đi, không bận tâm đến giòng nước bùn đen thấm đôi giày chàng.

Trời mưa lai dai! Bao nhiêu ấm áp mà chàng hưởng được trong nhà ông thầy cũ tan biến nhanh chóng. Chán nản và thối chí xâm chiếm tâm hồn chàng.

Đi đâu bây giờ đây? Chỉ có cách là trở về nhà. Đó là chỗ tá túc duy nhứt. Nhưng về đó là phải đầu lụy. Và chịu đón nhận một cuộc sống không thể chịu được! Chàng sẽ phải hy sinh cá nhân mình cũng như bao người đã làm và bao nhiêu kẻ khác sẽ làm trong mảnh đất cổ hủ này. Chàng sẽ phải từ bỏ những mộng đẹp, đập nát tất cả những ước vọng của chính mình. Chàng sẽ cưới vợ. Luật lệ bắt buộc chàng phải cưới vợ – luật lệ ngàn đời cũ kỹ, vô địch, chưa bị ai bẻ gãy hay đẩy qua một bên. Chàng nghĩ đến vẻ mặt càu nhàu của cô dâu, đến mớ tóc không chải của cô ta, cô nàng chỉ là một con tớ mướn với giá rẻ.

Hình ảnh một số gương mặt xinh đẹp vui vẻ hiện ra một cách tàn nhẫn trong trí Tế Xuyên, gương mặt của những cô gái cùng học với chàng ở trường Đại học bên Mỹ. Ở đó ngươi ta cưới vợ một cách tự do. Đàn bà con gái có quyền lấy chồng theo sở thích.

Tế Xuyên nghĩ đến các bạn trẻ, những bạn học cũ. Những người đó cũng được tự do để chọn vợ trong đám nữ sinh trẻ đẹp.

Nhưng chàng không có một sự giúp đỡ nào để hy vọng về khía cạnh đó. Nghĩ đến họ thật là vô ích.

Tâm hồn xao động, Tế Xuyên nhìn bên mặt, bên trái, chàng thấy các dãy nhà tối tăm chồng chất lên nhau dưới cơn mưa lạnh giá và dai dẳng. Chàng muốn chạy trốn, thoát khỏi hoàn cảnh hiện nay. Nhưng chàng không có phương tiện. Nếu có thể trốn tới Thiên Tân hay Thượng Hải, chàng sẽ tìm được việc làm và sẽ sống độc lập. Nhưng không bao giờ chàng có thể tự giải phóng, Tế Xuyên chua chát nhận ra điều đó. Gia đình vẫn chờ đợi – dù chàng trốn ở đâu – và đời chàng phải trở về. Và sau rốt chàng có thể tự giải phóng cho chính mình? Chàng có thể chịu đựng với cảnh bị loại ra khỏi gia tộc? Một người con trưởng nam không thể hèn hạ đến mức đó? Ít ra cũng phải giữ lấy đức tính tự trọng.

Bấy giờ các con đường trở nên vắng vẻ. Vài gã hành khất kéo lê những bước chân âm thầm, mình mẩy ướt đẫm nước mưa.

Một người đàn bà đi ngang qua Tế Xuyên. Bà hấp tấp đi mua nước nóng, tay xách ấm nước, đầu đội chiếc khăn choàng làm bếp, miệng cắn hai chéo khăn để che mưa. Một cậu bé từ trường trở về nhà dưới một cây dù to tướng lợp bằng giấy dầu.

Tháng mười một, ngày ngắn mau tối. Trời vẫn tiếp tục mưa. Không bao lâu, đêm xuống. Tế Xuyên bị bắt buộc phải tiến về một nơi nào đó, vì chàng ướt đẫm và lạnh thấu xương. Cố nhiên là chàng chỉ có nước trở về nhà. Nhưng trở về là đầu hàng.

Sau cùng không còn một giải pháp nào khác để nghĩ ngợi, chàng quay bước trở về nhà. Chàng thấy những năm sắp tới diễn qua trước mặt, những năm tối tăm – tuy chàng vẫn làm việc.

Nhưng những năm sau đó vẫn đem lại một cảm giác trống rỗng nội tâm, chàng có cảm tưởng như thấy ảo ảnh kỳ dị, lâm li, khi mấy đứa con chàng chấp tay cầu khẩn xin không phải sanh ra trên cõi đời đáng chán này. Và trong khoảnh khắc một tia chớp, Tế Xuyên hiểu rõ chàng phải làm gì để giúp cho chúng nó toại nguyện. Chàng vụt đứng lại và nhìn chăm chú qua màn mưa, mặt chàng thoảng một nụ cười. Quả thật là chàng đần độn trong suốt ngày mưa dầm hôm nay! Chàng ghé vào một hiệu thuốc ở góc đường hỏi mua với giọng thật nhỏ. Người bán thuốc nhỏ thó cẩn thận nghiêng đầu tới trước. Tế Xuyên lặp lại thật khẽ:

– Ba viên thuốc phiện.

Y gói nhanh ba viên thuốc phiện vào một mảnh giấy nâu, đưa cho Tế Xuyên rồi nhận tiền.

Tế Xuyên trở về nhà, trán ngẩng lên cao, không màng đến những giọt mưa chảy trên mặt… Chàng lấy làm ngạc nhiên không có ý định đó sớm hơn. Chàng khẽ cười, những năm dài ở hải ngoại trở nên vô ích, cũng như số tiền chi cho cuộc học hành. Trong giờ phút nguy biến này, không có lời dạy nào của các giáo sư Mỹ hướng dẫn chàng. Không có một ông giáo sư nào dạy chàng về nghệ thuật sống. Nhờ sự giúp đỡ của họ chàng đã soạn thảo được bài tham luận xuất sắc, gói trong lụa, cất kỹ dưới đáy rương chung với các mảnh bằng và một vài món mà chàng chỉ dùng trong lúc đó. Nhưng bấy giờ thì chàng phải hy sinh để chống lại một thế giới đảo lộn.

Chàng đi vào sân nhà, gian nhà bếp nằm bên trái cổng vào. Cánh cửa mở rộng và ngọn lửa trong lò chiếu sáng gương mặt đần độn và gắt gỏng của cô gái. Nàng đang dãy cỏ khô vào bếp.

Tế Xuyên khẽ rùng mình, cắn môi. Chàng đã có một quyết định sáng suốt. Gian phòng trống trải khi chàng bước vào. Trên bàn có một bình trà và hai chén, bình trà lạnh ngắt, tất cả đều lạnh. Tế Xuyên đâm bực, và cơn mưa giá lạnh khốn kiếp ấy cứ kéo dài không dứt!

Chàng rót trà vào chén, cọ rửa rồi hất nước xuống đất, đặt các viên thuốc vào đáy chén, chế trà thật cẩn thận. Chỉ cần một chút xíu nước cho ba viên thuốc. Chàng nuốt cả nước lẫn thuốc và uống thêm một ngụm trà nguội.

Chàng bước vào phòng riêng. Gian phòng chìm trong bóng tối. Chàng may mắn được ở một mình trong đó, cậu em chưa trở về.

Tế Xuyên đi về chiếc giường của chàng, cởi đôi giày và chiếc áo ngoài đẫm ướt. Rồi không buồn cởi quần áo còn lại trên người, chàng nằm xuống, quay vô vách, kéo chăn lên tới vai, rùng mình nhắm mắt cố ngủ.

Trên mái ngói, ngay trên đầu chàng, mưa vẫn rơi đều đều như những lời thì thầm dỗ dành an ủi.

Ngày lặng lẽ lướt nhẹ vào đêm…

Nạn nhân buổi giao thời

Peral S. Buck

bản Việt ngữ: Nguyên Hùng

Post by Sơn râu 19 Dec 2023

Cách mạng về làng

Vương Long là con nhà nông, cả đời sống trong làng sát thành phố Nam Kinh. Hàng ngày anh đi bán rau cải ở chợ nên anh cũng được mở mang. Cho nên anh là người đầu tiên trong làng hay tin hoàng đế thoái vị.

Biến cố này không hề xảy ra trước đó một năm. Chàng Vương liền báo tin cho cha anh và cha anh học lại chú anh làm biện trong làng, thế rồi những ai đến nhà viết thơ đều hay tin này. Trong thời gian ngắn, ai cũng biết tin nhà vua thoái vị.

Trong ít nhất là ba ngày, dân làng chỉ nói thì thầm. Người ta buồn rầu, lo ngại sẽ có tai biến xảy ra. Cố nhiên là trong làng, không có ai trông thấy nhà vua. Nhưng ai cũng xem nhà vua là một sức mạnh muôn đời. Thiên Tử là người sắp đặt mọi việc với các thần thánh trên trời. Tóm lại, người ta có thể giao tất cả tài sản quốc gia và những tội lỗi nho nhỏ vào tay Thánh thượng trong khi họ lo công việc riêng nhờ bán hàng bông vào mùa xuân, bán vịt vào mùa thu.

Nhà vua đã thoái vị, không ai dám rời làng. Ông nội của Vương nhớ đến thời Thái Bình Thiên Quốc và lo sợ sẽ xảy ra những vụ cướp bóc. Ông gom góp đồ tuế nhuyễn trong nhà: giấy đất, chiếc áo da dê bạc màu và dơ bẩn trải qua nhiều thế hệ, nhưng vẫn còn tốt để xài thêm vài đời nữa. Và chút ít đồ vật bằng bạc. Ông giấu tất cả trong bức tường xây bằng đất rồi ngồi vuốt râu, mắt ngó chăm chú vào chỗ đất bị đào. Đến đêm, ông dời chiếc giường ra ngoài và nằm ngủ sát chân tường.

Nhưng hết ngày thứ tư chẳng có việc gì xảy ra. Ông cụ lấy các món tuế nhuyễn giấu trong vách đất ra, càu nhàu vì có hơi thất vọng.

Dân chúng trong làng bắt đầu tiếp tục làm việc như trước. Ban đầu họ hơi run sợ, nhưng về sau, họ không cần đến nhà vua. Và với thời gian, họ lại thấy vui thích về sự thoái vị của ông ta vì mùa màng mỗi năm cũng tốt đẹp như lúc có vua ngự trị.

Rồi một ngày kia, tại một quán trong làng, Vương Long nghe một thanh niên lớn tiếng tuyên bố các nhà vua là những cha biếng nhác làm tốn kém ngân quỹ quốc gia. Vương kinh hồn khi nghe mấy lời đó. Anh chờ một lúc để xem có mảnh ngói nào từ trên mái nhà rơi xuống ngang đầu chàng thanh niên kia hay không. Hoặc là anh ta sẽ té xỉu vì trà làm cho nghẹn họng. Nhưng không việc gì xảy ra. Sau khi suy nghĩ, anh thấy người thanh niên nói đúng vì thần thánh không dám trừng phạt hắn. Vương nhìn chàng thanh niên đó với vẻ tôn kính.

Người thanh niên này mặc áo dài vải xanh đậm, không nặng và cũng không nhẹ, một thứ vải thích hợp với thời tiết. Lúc bấy giờ mùa xuân đã bước vào tháng thứ ba. Người này cắt tóc thật ngắn, chải bóng như tóc phụ nữ.

Vương nghĩ thầm: “Có lẽ hắn từ miền Nam tới. Mình chưa hề thấy nhưng người như hắn”.

Chàng lạ mặt nói thật nhanh và đảo mắt nhìn đám đông trong quán. Khi thấy mình được Vương Long chú ý, y vuốt tóc với hai bàn tay dài và trắng xanh rồi cất cao giọng:

– Người dân Trung Hoa chúng ta đông hơn tất cả dân tộc khác trên mặt đất. Tất cả các quốc gia khác phải kiêng nể chúng ta, vậy mà họ khinh rẻ chúng ta bởi vì chúng ta không có chiến xa, không có chiến hạm. Nhưng mà các thứ đó chỉ là những thứ xoàng xỉnh. Trong thời kỳ thượng cổ, các vị thánh hiền của chúng ta đã chẳng biết đằng vân cỡi rồng phun lửa đó sao? Những chuyện gì người ta đã làm rồi có thể làm lại được. Bây giờ chúng ta đã lập nên chánh thể cộng hòa. Nhà vua đã chết. Cái gì cũng có thể làm được.

Vương Long xích lại gần, cúi xuống lật tà áo người kia, lễ phép hỏi:

– Tôi xin phép hỏi ông… bộ đồ này giá bao nhiêu? Hàng này gọi là gì? Người ta có cảm tưởng là rờ một đám mây. Có phải là hàng dệt ở ngoại quốc? Giá bao nhiêu?

Chàng thanh niên giận dữ đẩy tay Vương ra:

– Đừng làm bẩn áo người ta! Đây là hàng “len” bên Anh, tám ngàn đồng một thước.

Tám ngàn một thước! Vương há miệng như cá ngộp nước. Anh chỉ kiếm có hai đồng một tháng. Phải mất bao nhiêu thước để may một chiếc áo từ cổ xuống gót chân?

Trong khi người thanh niên nói về các nền cộng hòa, Vương tính nhẩm giá chiếc áo mà anh đã sẵn dịp cưới vợ sáu năm về trước. Tất cả phải mất hai thước rưỡi, vị chi hăm tám đồng.

Anh cảm thấy ngẩn ngơ trước sự giàu có đó. Phải làm lụng vất vả năm năm mới sắm được một chiếc áo như thế.

Vưang lẩm bẩm:

– Thật là đắt!

Chàng thanh niên quay lại nhìn Vương với vẻ ân cần:

– Đây là hàng ngoại quốc. Người ta lấy lông cừu dệt đặc biệt cho những người tóc đen, do bàn tay của những tên nô lệ người Anh.

Khi thấy Vương ngớ ngẩn trầm trồ khen áo mình, chàng thanh niên nói tiếp:

– Như tôi đã nói, chúng ta không cần vua chúa. Đất nước vĩ đại của chúng ta, như các vị thánh hiền từng tuyên bố, phải có một chánh phủ của dân, do dân và vì dân. Anh cũng có thể đi bầu để chọn một vị Tổng thống.

Họ Vương lùi mấy bước, kêu lên:

– Tôi à? Tôi còn phải nuôi cha tôi, ông nội tôi, vợ tôi, và ba đứa con gái. Bao nhiêu miệng ăn trông đợi nơi tôi. Tôi không có thì giờ. Xin ông lo các việc đó dùm tôi…

Chàng thanh niên đập bàn; cười ha hả khiến mọi người quay lại.

Họ Vương quay đi, khó chịu trước sự dòm ngó của nhiều người.

Thanh niên kia nói:

– Anh ngu dốt quá. Có gì đâu, chỉ viết một cái tên trên mặt mẩu giấy rồi bỏ vào hộp.

Vương lo ngại:

– Nhưng tôi không biết viết.

Thanh niên nốc cạn chén trà, ném bốn đồng xu lên bàn, nói:

– Thì nhờ người khác viết cho anh.

Vương lại hỏi:

– Thưa ông, tôi chỉ là một con trùng. Nhưng tôi phải viết gì đây?

– Tên của người nào mà anh muốn chọn làm Tổng thống!

Người thanh niên tỏ vẻ nóng nảy khiến họ Vương không dám hỏi ý nghĩa của chữ “Tổng thống”.

Nhiều người xúm lại nghe. Người thanh niên bước ra thềm, nhấn mạnh:

– Thời thịnh vượng đã gần kề, những kẻ giàu sẽ trở nên nghèo, và người nghèo trở nên giàu.

Vương lắng tai nghe, thắc mắc “có thể nào người nghèo trở nên giàu”. Anh dè dặt hỏi:

– Thưa ông, làm sao có thể có chuyện đó?

Người thanh niên nói:

– Chuyện đó xảy ra trong tất cả nền cộng hòa. Ở Mỹ, tất cả mọi người đều ở dinh thự, chỉ những người giàu mới bị bắt buộc làm việc. Khi vua chúa không còn nữa, khi cách mạng xảy ra, thì xã hội sẽ biến đổi như tôi vừa nói. Chính vì vậy, mà tôi hớt tóc cao. Điều đó chứng tỏ là tâm hồn tôi được tự do. Tôi là một nhà cách mạng. Tôi và các bạn của tôi, chúng tôi sẽ cứu đất nước, cứu giúp những kẻ nghèo, những kẻ bị hiếp đáp.

Thanh niên chào mọi người, quay lưng bước đi. Họ Vương vẫn ngồi trên chiếc đòn gánh trước cửa quán, cản lối đi của người kia.

Người thanh niên dùng chân hất chiếc đòn gánh, nói:

– Dang ra cho tôi đi.

Họ Vương hấp tấp đứng lên gánh các giỏ cải ra đường, đứng nhìn chàng thanh niên bước đi, chiếc áo xanh lắc lư theo nhịp bước.

Trong những lời nói của kẻ lạ, họ Vương chỉ hiểu có một điều: “Những người nghèo trở nên giàu”. Anh đã ôm ấp hy vọng đó suốt đời, nhưng không hy vọng chút nào vì mấy đời nhà anh không có ai làm giàu trên mảnh đất mà anh đang canh tác. Bây giờ thì có thể hy vọng được lắm. Nhà vua đã chết, người ta có thể hy vọng bất cứ việc gì.

Họ Vương nhìn xuống đường, nghĩ ngợi khi thấy chiếc áo xanh hãy còn lấp lánh. Nếu làm ra tiền, anh sẽ sắm một chiếc áo như vậy, vừa dịu, vừa sáng, vừa ấm. Anh nhìn xuống, ngắm con người anh. Áo quần ngả qua màu vàng, chấm vá, hai chân đi đất. Anh tưởng tượng ngày kia mình sẽ mặc áo đẹp như chàng thanh niên cách mạng. Khi anh nghiêng đầu, chiếc bím rơi xuống, rối nùi vì không chải gỡ lâu ngày. Anh lẩm bẩm: “Làm sao mặc áo mới với cái đầu như thế này?”

Anh có cảm tưởng như đang mặc chiếc áo mới đó, đang cài các nút vàng mà anh trông thấy trên ngực chàng thanh niên kia. Dù chưa bán hết mớ cải xanh, họ Vương đếm tiền cẩn thận, xuống đường đi riết tới anh thợ cạo hớt dạo:

– Hớt hết tóc cho tôi. Tôi trả cho anh mười đồng tiền kẽm.

Thế là Vương Long trở thành một nhà cách mạng mà anh không ngờ.

Chiều ấy, dân làng ngồi trước sân nhà cười ầm lên khi thấy họ Vương cạo trọc đầu như nhà tu. Không ai nói gì trừ một cậu bé con. Mỗi ngày nó tới trường ở chợ cho nên biết nhiều hơn kẻ khác. Nó kêu lên:

– A ha! Một nhà cách mạng! Thầy con bảo chỉ có những nhà cách mạng mới cắt tóc.

Họ Vương lúng túng khi nghe cậu con reo lên như thế. Anh không biết một người cách mạng là như thế nào.

Anh không muốn vì một chút vô ý mà trở thành một kẻ lạ.

Để được bình tĩnh, anh ném chiếc đòn gánh thật mạnh xuống đất, kêu lên như thường lệ:

– Má sấp nhỏ, cơm nước xong chưa? Tôi đi làm đổ mồ hôi sót con mắt để lo cơm gạo cho mấy người, mà lúc trở về mệt mỏi, tôi không thấy một chén trà nóng…

Những người láng giềng thấy họ Vương giở trò hàng ngày như thường lệ, giải tán. Họ chỉ ngạc nhiên về cái đầu cạo trọc của anh chàng thôi. Nhưng danh từ “cách mạng” mà đứa con kêu lên một cách vô tình lại được người ta gán cho họ Vương, và từ đó về sau người ta gọi anh nông dân này là nhà cách mạng họ Vương. Về lâu danh từ này mất hẳn ý nghĩa ghê gớm của nó.

Riêng về họ Vương thì cứ tơ tưởng đến chiếc áo xanh mà anh sẽ sắm khi trở nên giàu có.

Ban đầu, anh trông đợi xảy ra những biến cố bất ngờ, nhưng khi tóc anh dần dần mọc lại, mùa hè nối tiếp mùa xuân, hết thu đến đông, năm này kế tiếp năm kia, cuộc đời của anh vẫn không thay đổi. Anh vẫn làm lụng từ sáng đến tối, nhưng vẫn nghèo và không kiếm được một thằng con trai nào.

Thét rồi chán nản, anh không ngủ được nữa, đêm đêm trằn trọc, thắc mắc nhiều điểm, nhưng điều làm anh đổ quạu là không hy vọng được hưởng lạc trong những ngày về già.

Cho nên một hôm, anh nói xa xôi để trách vợ không sanh con trai cho anh:

– Quả đất này toàn là những phường ăn hại, không được tích sự gì.

Mỗi khi nghe có ai sanh con trai, anh nghiến răng, trách ông trời bất công đối với anh. Anh cũng bực khi giá vải, giá dầu, giá củi tăng lên.

Lên tỉnh, anh bực khi thấy những kẻ ăn không ngồi rồi thả rong ngoài phố ăn mặc nhung lụa, hoặc ngủ gà ngủ gật trên bàn tiệc các quán nước hay ngồi đánh bài trong các kho hàng trong khi anh phải còng lưng gánh nặng để nuôi những kẻ đó.

Một việc nhỏ nhặt cũng làm cho anh gắt gỏng. Một con ruồi bu trên mặt đầm mồ hôi cũng có thể làm anh nhảy dựng lên, kêu ầm ĩ. Nhiều người trông thấy kêu lên “Kìa thằng điên gây gổ với con ruồi”. Thật ra thì nguyên nhân chánh của sự bất mãn là cái áo xanh mà anh mơ ước một cách vô vọng.

Một hôm, khi lên chợ, đi ngang qua văn miếu, anh trông thấy một thanh niên lớn tiếng diễn thuyết. Đó là một cậu còn trẻ, mặt tái xanh, mặc áo đen, cậu vừa hô hào, vừa quơ hai cánh tay gầy và đảo mắt nhìn đám đông đang bu chung quanh.

Vương vờ mệt đứng lại để nghe. Anh ngồi lên trên chiếc đòn gánh, lấy khăn lau mặt. Ban đầu anh không hiểu gì. Anh đinh ninh thanh niên kia sẽ nói về nhà vua, nói về Cộng Hòa. Nhưng không, anh chỉ nghe những danh từ mới lạ.

Giọng the thé của thanh niên vang lên:

– Bọn đế quốc, bọn ăn cướp ngoại quốc giết chúng ta, chà đạp chúng ta.

Họ Vương kinh hãi, anh không biết đế quốc là ai, nhưng vẫn ngồi nán lại nghe. Anh lấy dọc tẩu ra, hút vài hơi trước khi tiếp tục đi. Bỗng anh nghe thanh niên kia kêu lên:

– Tất cả tài sản là của chúng ta. Người ta đã cướp nhà, cướp đất, cướp tiền của bạc vàng. Chúng nó sống đế vương trong khi chúng ta làm nô lệ. Chúng đi xe hơi, có máy hát, mặc gấm vóc xanh đỏ vàng, cũng như các vị vua chúa. Đả đảo tư bản! Cách mạng muôn năm! Nhờ cách mạng mà kẻ nghèo trở nên giàu, kẻ giàu biến thành nghèo.

Họ Vương nhào tới, đánh rơi dọc tẩu, tiến gần thanh niên hỏi:

– Thưa ông, chừng nào?

Chàng thanh niên đảo cặp mắt sáng rực về phía anh nông dân, nói:

– Ngay bây giờ. Khi những ngươi cách mạng tiến vào thành phố, tất cả đều thuộc quyền sở hữu của anh. Anh chỉ còn chọn lựa. Đồng chí có phải là một nhà cách mạng?

Họ Vương ngây ngô đáp:

– Người ta gọi tôi là nhà cách mạng họ Vương.

Nhưng chàng thanh niên kia không để ý đến Vương. Y tiếp tục la khẩu hiệu:

– Đả đảo tư bản. Đả đảo ngoại nhân! Đả đảo tôn giáo, đế quốc! Cách mạng muôn năm! Người nghèo trở nên giàu! Người giàu biến thành nghèo.

Bây giờ họ Vương hiểu được chữ cách mạng. Còn mấy danh từ tư bản, đế quốc, tôn giáo chẳng có nghĩa gì. Chỉ có một điều rõ ràng là kẻ nghèo trở nên giàu, kẻ giàu biến thành nghèo. Nếu đúng như vậy thì họ Vương cũng muốn làm cách mạng.

Anh nhìn chăm chú thanh niên kia và trong khi nhìn như vậy, anh chợt thấy một tên lính cầm súng gắn lưỡi lê chĩa ngay mũi súng vào lưng diễn giả, quát to:

– Nhà cách mạng trẻ tuổi! Mời ông vào khám để xem ông có làm giàu được hay không!

Thanh niên kia vụt biến thành một kẻ không hồn, âm thầm bước xuống đi về khám dưới mũi lưỡi lê của người lính.

Đám đông giải tán như tuyết rã dưới ánh mặt trời. Họ Vương hốt hoảng chụp đòn gánh đi nhanh ra chợ.

Ngày hôm ấy, anh nông dân rất sợ, không dám nói chuvện với ai.

Đêm ấy, sau khi uống chén trà xanh, anh không ngủ như thường lệ mà đi cày mảnh đất dự định trồng khoai. Anh cày cho đến khi trăng khuất sau rặng liễu, trời tối không thể trông thấy luống cày.

Sáng hôm sau, họ Vương thức sớm để đi chợ. Đến cuối chợ, anh thấy nhiều biểu ngữ lớn dán trên tường. Anh nhìn một lúc lâu, tò mò, nhưng không hiểu. Anh liền nhờ một cụ già đọc cho nghe. Ông lão đứng lại, đọc từng chữ thật cẩn thận trong khi Vương nóng nảy chờ đợi vì trời đã trưa. Sau cùng cụ già quay lại nói:

– Chuyện này không ăn nhập gì đến anh. Người ta loan báo những người cách mạng bị bắt sẽ bị chặt đầu.

Họ Vương kinh hoảng kêu lên:

– Chặt đầu!

Ông lão gật gù:

– Phải. Người ta cho biết là nếu tới cầu Tam Nương, anh sẽ thấy bêu đầu những người làm cách mạng. Ông Tổng đốc của chúng ta không muốn những tên khởi loạn ở Quảng Châu lên đây.

Nói xong, ông lão tiếp tục đi, chiếc áo dài lắc lư một cách trịnh trọng.

Ho Vương đứng lại ngắm những hàng chữ trên biểu ngữ, trong lòng run sợ đến cực độ. Người ta đã gọi anh là “nhà cách mạng họ Vương”. Thật là nguy! Và anh oán chiếc áo xanh đã mê hoặc anh bước vào con đường ghê gớm. Anh không ham giàu sang nữa. Anh đang sợ. Nhưng sợ mà vẫn muốn đến cầu Tam Nương để xem. Giao gánh cải cho người bán nước nóng; có bà con xa với anh, họ Vương đi đến cầu, cách đó một dặm. Gánh cải bắt đầu héo với sức nắng buổi trưa, nhưng tánh tò mò vẫn thúc giục anh nông dân đi xem chuyện ghê gớm. Bảy chiếc đầu đầy máu được bêu trên đầu bảy cột tre. Những mép tóc đen rủ xuống, đôi mắt nửa khép nửa mở. Một chiếc đầu còn há miệng, chiếc lưỡi le ra ngoài bị hai hàm cắn gần đứt.

Nhìn kỹ, tim họ Vương đập mạnh vì nhận ra kẻ đó là người thanh niên vừa hô hào trong ngày hôm qua. Tất cả đầu bêu đó đều là của những người trẻ tuổi.

Đám đông kéo đến xem. Một ông lão sún răng nhổ nước miếng kêu lên “Đó, làm cách mạng là chết như vậy đó”. Vương giựt nẩy mình khi nghe tiếng cách mạng. Nếu có ai nhận ra anh, gọi anh là “nhà cách mạng họ Vương”, trong lúc này thì chết như chơi, Vương liền tất tả lánh xa.

Kể từ giờ phút đó, Vương làm việc thật nhiều và nói thật ít. Anh không than thở với ai, kể cả vợ anh. Người vợ lấy làm lo sợ đi tìm ông thầy bói mù trong làng để bói xem chồng chị có bịnh hoạn gì không.

Nhưng họ Vương chẳng có bịnh hoạn gì cả. Y chỉ lo sợ sẽ có một kẻ thứ tám bị chặt đầu bêu cạnh bảy chiếc đầu ở cầu Tam Nương.

Ban đêm, khi không đủ sức làm lụng nữa họ Vương cảm thấy trước mắt cái đầu của anh bị chặt với hai mắt nửa nhắm nửa mở và cặp môi xám.

Khi người bà con đi ngang qua nhà hỏi to lên: “Nhà cách mạng họ Vương đã trông thấy ở tỉnh ngày hôm nay” Vương liền chạy ra mắng y một trận nên thân rồi không thèm nghe những lời đầy kinh ngạc của người này.

Vương không dám tâm sự với ai về mối lo sợ của mình. Vì chứa chấp trong bụng, anh càng thấy khổ. Nhưng nói ra thì tự đút đầu vào cửa tử.

Vương đâm ra thù oán tất cả. Anh thù rẫy cải, nương khoai đã tiêu hao sức lực của anh, anh ghét những người láng giềng mà anh không dám tâm sự. Anh khi thường những người dân trong làng chỉ biết mặc quần áo thô, ăn gạo đỏ như tổ tiên của họ. Anh ghét thành thị với đường phố dập dìu, những kẻ du hí vô tư.

Khi mối bất bình gia tăng, sự lo sợ giảm bớt. Anh không nghe nói đến cách mạng nữa và càng bực thêm vì ngoài cách mạng anh không thấy có cách nào để biến những kẻ nghèo trở nên giàu.

Anh nghĩ đến những người giàu và chửi rủa họ. Anh biết những hạng người đó. Mỗi năm một lần, anh đến chúc tết các vị hương chức hội tề. Anh thấy ở trong nhà có màn che sáo phủ, ngồi trên ghế chạm có gối dựa bằng lụa, gia nhân của họ cũng mặc lụa. Còn anh thì cả đời không đụng tới tơ lụa, trừ một đôi khi vào cửa hàng rờ qua một cách lén lút cho biết tơ lụa êm đến mức nào.

Còn những người ngoại quốc? Chàng thanh niên kia cho rằng họ giàu hơn hết. Người ta thỉnh thoảng đề cập đến họ trong các quán nước. Người ta đồn là họ ngồi trên ghế bằng vàng trước các bàn bằng bạc, đi trên nhung một cách tự nhiên cũng như anh dẫm lên cỏ gai trên đường làng. Những người ngoại quốc đó ngủ trên giường chạm trổ cẩn ngọc. Thật là giàu! Họ Vương thấy thù oán những người ngoại quốc đó hơn hết, vì anh không thể chấp nhận cho họ sống đế vương như vậy trong khi ở trên đất Trung Hoa có nhiều người nghèo như anh. Lúc đầu, Vương muốn thấy những người nghèo trở nên giàu, nhưng bây giờ, khi nghĩ đến các bất công mà anh chịu đựng, anh muốn những kẻ giàu trở nên nghèo.

Càng nghĩ tới nghĩ lui những điều đó, Vương không thiết đến việc làm ăn. Anh không có thói quen giải quyết các thắc mắc đó. Anh không thể vừa dẫy cỏ vừa suy nghĩ trong một lúc. Anh đứng dừng lại mỗi khi gặp những vấn đề quá sức hiểu biết. Và càng xao lãng làm lụng, gia đình anh càng túng thiếu. Người vợ than thở:

– Làm sao mình có vải bông để may áo ngự hàn vào mùa đông này? Mình không thể vừa chạy ăn vừa chạy mặc được.

Những lời lẽ đó khiến Vương nghiến răng giận dữ, và chính anh không hiểu tại sao mình lại nổi nóng.

Một buổi sáng, cảm thấy mệt mỏi, anh nhứt định nghỉ trọn ngày, vì dù có cố gẳng làm cũng không giàu được. Anh đặt gánh cải xuống, bước vào quán nước. Anh ngồi thật gần cửa, gọi một chén trà. Một người đàn ông hãy còn trẻ có mặt trong quán từ bao giờ. Y mặc một chiếc áo dài đen, cắt tóc ngắn, lau mặt với chiếc khăn lông, nhìn Vương, ôn tồn bảo:

– Đồng chí làm việc có hơi nhiều.

Vương thở dài, sửa lại chiếc áo xám chấm vá và anh mở nút cho bớt nóng:

– Thưa ông, đúng vậy. Nhưng vẫn không đủ ăn. Với giá gạo quá cao, với một nhà toàn đàn bà vô dụng phải nuôi, tôi phải làm quần quật cả ngày, cháy da phỏng trán.

Người kia nói nhỏ vào tai anh:

– Anh nghèo quá. Lẽ ra thì anh phải giàu.

Họ Vương lắc đầu. Anh không muốn chữ giàu mà người kia vừa nhắc làm bận rộn đầu óc. Anh châm trà vào chén, uống thật kêu. Nước trà nóng làm cho anh thoải mái vì anh cảm thấy gây gây lạnh.

Người thanh niên nói:

– Anh làm lụng vất vả, anh lại thiếu ăn trong khi bao nhiêu kẻ khác vui đùa, ăn uống thỏa thích.

Vương vụt nói:

– Đúng vậy!

Người kia nói tiếp:

– Nhưng anh là một người can đảm, đáng giàu hơn những kẻ khác.

Họ Vương lắc đầu, nhưng mặt tươi vui lên.

Người kia lại nói:

– Đúng vậy! Tôi thấy anh là người lương thiện. Xin phép cho tôi rót trà cho anh.

Vừa nói người ấy đứng lên, trịnh trọng rót trà vào chén họ Vương như Vương là một người sang trọng.

Vương đứng lên cám ơn người kia, và nhủ thầm: “Người thanh niên này thông minh quá. Y đoán rất đúng về mình”. Anh hỏi lớn:

– Thưa ông, dinh tự của ông ở đâu?

Người kia đáp:

– Tôi cũng nghèo như anh. Nhưng tôi báo tin cho anh và các bạn của anh hay là các người sẽ giàu khi những người cách mạng về thành.

Vương vụt đứng lên nói:

– Tôi không phải là người cách mạng.

Thanh niên kia ôn tồn:

– Không, tôi thấy anh là người tốt.

Họ Vương yên tâm ngồi xuống.

Trời bắt đầu lạnh. Anh kéo áo sát vào người.

Thanh niên kia nói tiếp:

– Tôi thấy anh nghèo quá. Tôi thành thật buồn cho anh.

Họ Vương xúc động. Trước đây chẳng có ai thương hại anh. Người ta còn cho là anh khá giả vì dù phải làm lụng nhiều, nhưng một ngày nào đó anh sẽ hưởng sáu công đất và ngôi nhà đất ba gian của cha để lại vì anh là con một. Tự nhiên nước mắt trào ra khi có ngườỉ tỏ lòng thương hại, thông cảm mối nghèo khó, cực nhọc của anh. Họ Vương nghẹn ngào nhìn nhận:

– Đúng vậy!

Người kia nói:

– Thật là bất công. Anh là người thông minh. Tôi thấy anh xứng đáng được hưởng giàu sang. Nhưng mà cơ hội tốt sắp tới, khi cách mạng về làng thì dân nghèo sẽ giàu, người giàu sẽ nghèo.

Vương cúi đầu sát người kia để nghe cho rõ vì hai người thì thầm thật nhỏ:

– Tôi không biết điều đó. Nhờ ông giải thích.

Người kia liếc nhanh chung, quanh rồi nói vào tai Vương:

– Bọn ngoại quốc giàu lắm. Chúng chỉ cốt giữ vàng, còn bạc chúng ném đi. Mà vàng bạc đó, chúng nó cướp của người Trung Hoa chúng mình. Nếu không cướp của thiên hạ thì chúng ở đây để làm gì? Tại sao chúng không trở về xứ chúng? Chúng nó cướp hết vàng bạc thành thử chẳng còn gì cho anh, cho tôi. Nhưng mà vàng bạc đó là của chúng ta, khi cách mạng tới, anh phải sẵn sàng.

Nói xong, người kia đứng lên, bước khỏi quán nước.

Vương Long cố quên những lời vừa nghe đó vì anh nhớ đến bảy cái đầu bêu ở cầu Tam Nương! Nhưng nghĩ tới vàng mà bọn ngoại quốc cướp đoạt của đồng bào, anh nghĩ thầm: “Có lẽ chúng nó có mấy rương áo, loại áo xanh mà mình mơ ước khi trông thấy”. Và hình ảnh chiếc áo xanh kia hiện ra, lộng lẫy ấm áp, ám ảnh tâm tư anh.

Không đầy một tháng sau, họ Vương hay tin cách mạng sắp đến làng.

Anh không quên lời nói của người thanh niên. Chắc là những tin đồn mấy năm trước sẽ biến thành sự thật.

Một ngày kia, khi mặc cả với một khách hàng về một bắp cải, Vương nghe có tiếng thì thầm bên tai: “Trong mười ngày nữa, anh nên sẵn sàng”.

Vương vội quay lại. Anh thấy người thanh niên đã từng thương hại anh. Họ Vương muốn nói chuyện với y, nhưng y đã đi mất dạng. Người khách hàng nóng nảy kêu lên:

– Bắp cải này chỉ đáng hai quan.

Họ Vương trả lời như thường lệ:

– Không được! Thà chết đói hơn là bán dưới giá bốn quan.

Và anh thì thầm lặp lại lời của người kia: “Trong mười ngày nữa mình sẽ thấy nhưng chuyện sắp xảy ra”.

Anh chờ đợi, bán tín bán nghi, và có hơi lo. Nhưng người ta thấy có cái gì sắp xảy ra. Như một dòng nước đen tách ra khỏi con sông, hàng vạn binh sĩ kéo ngang qua làng. Họ Vương kinh hãi, nhìn đoàn người đi qua quán nước, đi mãi không thấy dứt. Anh hỏi người bồi bàn:

– Có phải quân cách mạng đó không?

Một người đứng gần đó trợn mắt kêu lên:

– Im đi! Đồ ngu! Ngươi muốn chúng ta bị bêu đầu hay sao? Không thấy họ to xương lớn xác, không nghe giọng nói trong cuống họng hay sao? Kia, hãy xem họ ăn toàn bánh mì chớ không chịu ăn cơm. Họ là dân miền Bắc, tức là những người chống cách mạng. Rồi đây sẽ còn nhiều cái đầu ngu ngốc như ngươi bị bêu trên cầu!

Rồi cúi xuống sát Vương, người đó nói nhỏ vào tai:

– Nên sẵn sàng, trong vòng bảy ngày nữa.

Nói xong, y bỏ đi thật nhanh.

Họ Vương chột dạ. Lại nghe những lời ghê gớm đó mãi! Anh hoàn toàn hoang mang, cả ngày không dám nói chuyện với ai. Anh làm lụng với vẻ bực dọc, tránh những con đường lớn mà đoàn quân miền Bắc vừa đi qua.

Đêm sau, một tiếng nổ hãi hùng từ trên trời rơi xuống. Sấm sét nổ bốn hướng, mặt đất rung chuyển. Cả nhà Vương đang ăn tối. Họ Vương đặt đũa xuống nghe ngóng. Anh phân biệt hai loại tiếng động. Một tiếng gầm kinh khủng chốc chốc lại vang lên và tiếng nổ “bụp bụp bụp” thật dòn. Vương chưa hề nghe tiếng này và không thích nó chút nào.

Anh đứng lên để tìm hiểu, nhưng đâm sợ, quay lại ra lịnh cho vợ:

– Đi ra ngoài coi việc gì vậy!

Vợ anh len lỏi theo bức tường nhìn ra ngoài. Một vật gì đập mạnh xuống đất ngay chân khiến chị vội lùi lại. Đất văng túa ra theo hình cánh quạt, lọt vào gian phòng, rơi trên bàn ăn và mâm cơm. Tất cả đều kinh sợ. Họ Vương liền nhào tới đóng cửa gài lại cẩn thận. Không dám đốt đèn, họ ở thầm lắng nghe đất rơi như mưa xuống mái nhà trong đêm, từng chập các tiếng nổ vang lên.

Họ Vương nhủ thầm: “Cách mạng đây rồi, chúng mình chết hết! Mình chết vì chiếc áo xanh”.

Ngày hôm sau, tiếng nổ nghe xa dần và im bặt. Họ Vương chúi mũi ra cửa, và giận dữ trước cảnh tượng trước mắt. Rau cải của anh bị đào lỗ tứ tung. Anh bước ra ngoài chửi bới ầm lên, quên cơn hãi hùng trong đêm. Anh nhặt vài bắp cải còn rơi rớt lại, không đầy một giỏ. Anh buồn bã trở vô nhà nói với vợ:

– Ngày tàn chúng mình đã đến. Phải mất một tháng nữa cải củ mới lớn. Mình lấy cái gì ăn đây?

Người vợ ngồi trên chiếc băng cây lắc lư, chậm nước mắt, nghẹn ngào:

– Tôi sống dở chết dở. Cuộc đời tôi chỉ toàn là những chuyện không may. Nhưng mà dù sao anh cũng phải đi bán cải kiếm được đồng tiền nào hay đồng tiền nấy.

Họ Vương buồn thảm đi lên tỉnh. Nhưng đi được một phần ba dặm anh dừng lại, hoảng hốt. Một xác chết nằm ngang con đường. Vương nhìn xác không chớp mắt. Máu chảy đọng vũng trên đất cát. Họ Vương không thích người ta thấy anh ở kế bên xác chết. Anh vội tiếp tục đi. Anh thấy ít nhứt một chục tử thi khác nằm gần đó. Và còn nhiều nữa ở đằng xa. Dường như tất cả dân ở chợ bị cơn thịnh nộ của ông trời trong đêm qua.

Anh chạy không kịp thở và đụng phải một đám đông nhộn nhịp, vừa ca vừa hát. Vương hỏi những người gần nhứt:

– Việc gì vậy?

Nhưng không trả lời anh. Họ chen lấn, thúc đẩy, dường như nổi cơn điên. Vương cũng bị lôi cuốn theo. Anh kêu thật to.

– Việc gì vậy mấy bà con.

Nhưng không ai thèm trả lời. Bị kẹt trong đám đông, không thể tiến hay lùi; anh đâm sợ.

“Mình ngu thật, tại sao mình không cho mẹ sấp nhỏ đi chợ sáng hôm nay cho được việc!” Kế có tiếng vang lên:

– Bọn nhà giàu kia kìa! Nhà bọn ngoại quốc ở trước mặt chúng ta đó!

Họ Vương hiểu ngay: “Cách mạng là đây”. Tim anh đập mạnh, anh hòa mình theo đám đông, chỉ cưỡng lại để khỏi bị đạp chết. Trong đám đông có cả những binh sĩ. Các binh sĩ này không giống các tử thi nằm dọc theo đường. Họ là những người nhỏ thó, mảnh khảnh, lúc nào cũng kêu liền miệng: “Tiến tới! – Bọn giàu! – Bọn giàu!”

Vương hoa mắt lên. Anh không hiểu người ta làm gì và đi đâu. Nhưng anh cứ đi theo đoàn người đến một cổng lớn. Đó là một khu phố mà anh chưa hề biết.

Vào những lúc bình thường, anh không hề nghĩ đến vượt qua cổng đó, nhưng hôm nay sự táo bạo của đám đông khiến anh liều lĩnh.

Hai người lính tiến tới trước, đập bá súng vào cánh cổng. Vương thấy mặt họ đỏ gay như say rượu, mắt họ dữ tợn, sáng ngời như kính. Họ đập cánh cổng cho đến khi một mảnh ván bật ra. Bấy giờ họ quay lại đám đông kêu to lên:

– Tất cả thuộc về các bạn! Người nghèo trở nên giàu! Người giàu trở nên nghèo! Cách mạng muôn năm!

Nhưng đám đông do dự. Sau cùng những kẻ táo bạo hơn hết chui qua lỗ hổng của chiếc cổng, rút cây gài cửa.

Tất cả thong thả bước vào. Vương ở về phía trước, trong đám đông. Sau khi chui qua lỗ hổng, anh đứng lại, nhìn chung quanh. Sân cỏ có trồng cây và hoa rực rỡ. Tất cả đều sạch sẽ và yên tĩnh. Không có một bóng người.

Đám đông rải rác tiến về ngôi nhà hai tầng. Người nào cũng có vẻ lúng túng, nhưng hai người lính nhảy lên tam cấp, đập mạnh vào cánh cửa. Người ta mở cửa ngay. Vương thấy một bóng người cao lớn, ăn mặc kỳ lạ với một gương mặt bình tĩnh và trắng.

Đám đông tụ tập lại xông vào nhà, vừa chạy vừa la hét, giống tiếng gầm của con vật trước miếng mồi. Nghe tiếng kêu đó, một sự thèm muốn xâm chiếm họ Vương, một sự thèm muốn mãnh liệt hơn sự đói khát. Như một con chó dữ, anh gầm hét xông tới, xô đẩy, chen lấn để tiến lên thang lầu.

Lên từng trên, đám đông biến thành những con vật tranh nhau một miếng mồi. Họ Vương cũng làm như những người khác. Nhưng anh không hiểu tại sao anh đánh đấm như vậy.

Rất nhiều vật chạy qua hai bàn tay anh. Có lúc anh thấy một vật bằng bạc chiếu sáng. Anh chụp lấy. Người ta giựt mất. Anh quên không biết phải tìm vật gì khác thế vào. Anh không chọn được món gì vì vừa lấy món này lại thấy món khác thích hơn.

Hai mắt anh bốc cháy; máu trong người anh đập mạnh. Anh la hét không ngớt, hét một cách vô tâm, cũng như tất cả đám đông. Đầu óc anh đầy ham muốn nên không còn chứa chất được một cảm nghĩ nào khác, mỗi khi người ta mở một tủ thì cả chục người nhào tới. Họ giành giựt, xô đẩy, lôi kéo, xâu xé nhau.

Vương bỏ hết những gì cầm trong tay, nhào tới để giựt những vật trong tủ.

Thế rồi đột nhiên đoàn người chạy biến ra ngoài. Giống như cơn gió thoảng một ngày hè.

Vương là một trong những người đầu tiên xông vào nhà cho nên anh cũng là một cuối cùng để trở ra. Còn lại một mình, anh nhìn chung quanh như một người vừa thức giấc.

Gian phòng gần như trống rỗng chỉ còn có hai chiếc ghế gãy, một bàn và một tủ bị người ta lấy mất các ngăn kéo.

Vương chợt tỉnh. Mình làm gì đây? Anh đang ở nhà người ngoại quốc. Anh ngắm mấy cái ghế, cái bàn.

Tất cả đều đóng bằng gỗ xoàng không phải bằng vàng như người ta nói. Tường phết vôi, bằng gỗ sơn, nhám nhúa.

Lần đầu tiên, Vương mới chú ý đến vật anh đang cầm trên tay, một bộ quần áo trẻ con vải trắng, một chiếc giày da lớn, hai quyển sách gáy cứng đầy chữ kỳ lạ, một bóp cũ đựng một đồng mỹ kim và vài đồng tiền kẽm, không có cái gì giống chiếc áo xanh mà anh mơ tưởng.

Anh thở dài, bỗng nhiên thấy chán nản. Anh ngồi thụp xuống gói tất cả các vật đó trong bộ quần áo nhỏ rồi quay trở xuống thang lầu.

Anh đi lên rất nhanh và dễ, nhưng đi xuống thật khó. Anh chưa thấy một thang lầu kỳ lạ như thế. Anh cho gói xách sang bên tay kia, ôm lấy tay vịn, từ từ bước xuống đến từng dưới, anh mệt đuối.

Vài người đàn bà còn ở nán lại gom góp lượm lặt những vật người ta đánh rơi hoặc bỏ quên trong lúc vội vàng. Vương đứng lại. Anh hy vọng tìm được một vật gì có giá trị, nhưng chỉ có một đống sách rải rác, hai chiếc ghế gỗ, một cái bàn cũng bẳng gỗ – một bức tranh xé nát và giẫm bừa lên, không có một vật gì có giá.

Anh cúi xuống lượm một mảnh vải xám và thấy một nhóm người ở trong phòng tận cùng. Vương chưa hề gặp những người như thế. Một người đàn ông, một người đàn bà, hai đứa nhỏ. Họ ôm chặt lấy nhau. Áo quần họ dơ bẩn, rách rưới, chỉ có phía dưới thân thể là được che lại. Người đàn bà khoác lên vai một mảnh vải. Người đàn ông có một dấu trầy trên trán, một dòng máu đỏ chảy dài một bên gương mặt trắng. Vương chưa hề thấy máu đỏ như vậy.

Anh nhìn họ thật kỹ và họ cũng nhìn anh, không hề sợ hãi. Hai đứa bé cũng không kêu lên một tiếng nào.

Vương không chịu nổi những cái nhìn đó. Anh ngoảnh mặt đi rồi lại nhìn lại lần nữa.

Người đàn ông nói mấy tiếng bằng một ngôn ngữ kỳ lạ. Người đàn bà cười chua chát và họ tiếp tục nhìn Vương, với đôi mắt sáng ngời, với vẻ tự tin.

Vương nói to lên: “Mấy người này không có vẻ gì sợ hãi”. Rồi anh tự thấy thẹn vì tiếng của mình vang lên to quá, vội chạy ngay ra cổng.

Đường phố vắng tanh, nhưng xa xa hãy còn nghe văng vẳng tiếng la hét của đám đông.

Sau một phút do dự, Vương quay trở lại, đi nhanh về nhà.

Những người lính chết hãy còn nằm trên đường. Ruồi nhặng bắt đầu bu các xác đó dưới bóng mặt trời nắng như nung.

Nhiều người dân làng hấp tấp ra tỉnh. Họ hỏi Vương, nhưng anh chỉ lắc đầu. Anh mệt và chán hết tất cả. Trên đời không còn thứ gì có thể làm anh ham muốn.

Khi về tới nhà, anh đặt gói lên bàn, nói vội vã:

– Đây là phần của tôi trong cuộc cách mạng.

Rồi anh đi vào phòng ở phía sau, leo lên giường nằm. Anh chỉ nhớ một kỷ niệm rõ ràng duy nhứt. Đó là cái nhìn ngạc nhiên và trong sáng của những người ngoại quốc. Vương lẩm bẩm: “Họ không có vẻ sợ hãi” và sau khi quay trở lại, Vương lại lải nhải. “Mình không tin là họ giàu”.

Vương nghe vợ kêu lên ở phòng bên:

– Mấy quyển sách này chỉ có thể dùng làm đế giày, nhưng đồng mỹ kim có thể giúp mình mua cái ăn trong khi chờ đợi lứa cải củ lớn lên.

Nạn nhân buổi giao thời

Pearl S. Buck

bản Việt ngữ: Nguyên Hùng

Post by Sơn râu 19 Dec 2023

Mùa xuân tang tóc

Vào một buổi chiều cuối tháng hai nóng bức, anh nông phu Xiêu ngồi trước thềm nhà, chỉ một gian duy nhất, cảm thấy mùa xuân sắp đến trong thân hình gầy gò của mình.

Làm sao anh có thể nhận ra mùa xuân, một mùa đánh thức sự sống trên mặt đất và khích động nhựa sống trong cây? Anh không thể nói được. Những năm khác chuyện đó rất dễ. Anh chỉ cần ngắm các chồi trên cành liễu chung quanh nhà. Nhưng bây giờ thì các gốc liễu ấy không còn nữa. Trong mùa hè ghê gớm này, khi người ta chết hàng loạt vì đói, anh đã phải đốn từng gốc liễu đem bán.

Ngày trước, ba cây đào và sáu cây mơ cha anh trồng quanh nhà cũng đánh dấu mùa xuân với những nụ hồng. Nhưng khi các cây đào đang độ phát triển và trổ trái nặng trĩu anh cũng phải hy sinh chúng nốt.

Những năm trước, anh thích nhìn ra những cánh đồng mà anh canh tác không ngừng, mùa đông anh ươm giống, mùa xuân anh cấy mạ. Nhưng bây giờ các cánh đồng đó trở nên câm nín.

Lúa không nẩy mầm vì sau mùa gieo mạ đã lâu, nạn lụt vẫn chưa chịu rút. Bây giờ thì mặt ruộng như đất sét nứt nẻ, mới vừa khô.

Vào một ngày tương tợ như hôm nay, nếu còn con trâu và cái cày, Xiêu sẽ đi cày. Dù cho không còn một hạt giống để gieo, anh cũng ham muốn cày trở để cho đất có bộ mặt của một cánh đồng.

Nhưng con trâu của anh không còn nữa. Anh sẽ cho là ngu ngốc kẻ nào tiên đoán anh sẽ phải ăn thịt con trâu đó, con vật mà năm này qua năm khác cày bừa thửa ruộng của anh, đạp lúa cho anh vào những ngày mùa. Vậy mà anh đã phải đi đến mức đó.

Anh, vợ anh, cha mẹ anh và bốn đứa con của anh, tất cả đều đã ăn thịt con trâu.

Còn cách nào khác để trải qua những ngày mùa đông thê thảm đó, khi mà lúa gạo trong nhà đã cạn và anh đã phải đốn cây chung quanh nhà bán cũng như những món còn sót lại trong nạn lụt. Họ chỉ có sườn nhà và các quần áo đang mặc.

Với lại con vật cũng đói như mọi người. Nước ngập các đồng cỏ và người ta phải đi thật xa mới tìm được chút ít cỏ khô để nướng thịt và xương con trâu. Ngày ấy Xiêu thấy gương mặt cha mẹ già yếu của anh tái ngắt như những kẻ sẳp chết. Anh cũng đã chứng kiến cảnh con gái bé nhỏ của anh hấp hối, nghe tiếng khóc của các con anh. Trong tình trạng quá tuyệt vọng anh đã mất trí, anh cố thu góp sức tàn, xách con dao bếp đâm chết con trâu của anh, một điều mà trước kia anh thề không bao giờ làm.

Dù đau khổ ghê gớm, anh vẫn rên siết vì anh có cảm tưởng như giết em ruột của mình. Anh vừa thực hiện một sự hy sinh cuối cùng.

Vậy mà vẫn chưa đã, gia đình anh vẫn đói và không còn gì để hy sinh.

Rất nhiều người tản cư bồng bế nhau đi xuống miền Nam hoặc theo con sông đi ăn mày ở các thành phố.

Nhưng Xiêu không hề đi ăn xin. Nếu phải chết hết tất cả thì dù sao nằm xuống trên mảnh đất của mình cũng là một điều an ủi. Người bạn năn nỉ anh tản cư với họ. Y cũng đã đề nghị rằng cha của Xiêu đi trong khi Xiêu có thể lo cho mẹ anh. Nhưng may thay, Xiêu đã từ khước vì hai ngày sau, mẹ anh mất. Nếu bà nhắm mắt trong lúc tản cư thì phải bỏ xác dọc đường nếu không muốn làm trễ nải mọi người và gây thêm những vụ chết chóc khác.

Nhờ vậy, Xiêu có thể chôn cất mẹ trên đất của mình. Nhưng anh đã quá kiệt lực nên phải mất ba ngày mới đào được một lỗ có thể chôn tấm thân nhỏ bé và sình thúi.

Vợ anh và anh đã gây lộn về những bộ quần áo rách nát dùng trong việc tẩm liệm bà cụ. Nếu anh không cản thì vợ anh đã chôn bà cụ trần truồng để lấy quần áo người quá cố cho con mặc. Xiêu bắt người vợ phải trả lại chiếc áo cánh và mấy chiếc quần rách nát cho mẹ khi thấy đất lạnh phủ lên xác mẹ. Còn niềm đau xót nào lớn hơn đối với một người đàn ông! Nhưng không thể tránh được.

Sau đó, Xiêu cố chôn cất ba người thân khác một cách chu đáo hơn. Ba người đó là cha anh, đứa con gái bé nhứt và thằng con trai bịnh hoạn.

Nạn đói mùa đông năm ấy đã gây bao nhiêu tai biến cho gia đình anh dân cầy. Nếu trong các ao do nước lụt tạo ra không có chút ít tép thì có lẽ cả gia đình anh sẽ chết hết. Những con tép đó, người ta ăn sống mặc dầu lúc bấy giờ có nạn kiết lỵ bất trị. Có những ngày vợ của anh lết ra ngoài, bứt mấy đọt cỏ đem về ăn sống vì không có cỏ khô để nấu. Nhưng vị đắng của mấy đọt cỏ đó rất hữu ích vì nó đánh tan được mùi tanh của tép…

Bây giờ mùa xuân đã đến. Xiêu tiếp tục ngồi một cách nặng nhọc, đôi mắt nhìn qua các cánh đồng. Nếu có thể tìm lại được con trâu và cái cày mà họ đã chụp trong thời gian lụt lội tràn lan, anh sẽ ra đồng cày bừa. Ý nghĩ đó luôn luôn lảng vảng trong đầu óc anh. Anh dân cày thấy mình bất lực như chiếc lá bị cuốn theo dòng. Con trâu đã mất cũng như tất cả công cụ bằng gỗ hay bằng tre. Bây giờ anh còn lại những gì?

Có khi, trong mùa đông ghê gớm đó, anh cảm thấy may mắn vì cơn lụt đã để cho anh ngôi nhà trong khi bao nhiêu nhà khác bị cuốn trôi. Nhưng anh vụt hiểu là anh chẳng may mắn gì cả khi qua nạn lụt, anh vẫn còn sống, cũng như vợ anh và hai đứa con lớn của anh. Anh cảm thấy đôi mắt cay cay. Anh đã không khóc nhiều lần khi lắp đất lên thi thể mẹ mà các mảnh áo rách không đủ che thân. Anh thấy được an ủi phần nào khi để cho bà cụ mang theo những mảnh dẻ đó qua cõi hư vô. Còn bây giờ thì anh không tìm thấy một sự an ủi nào. Anh lẩm bẩm:

– Mình không còn một hạt giống nào để gieo. Đây là đất. Nếu còn hạt giống mình sẽ cào đất với móng tay của mình. Đất sẽ lên mầm. Mình biết đất của mình tốt lắm. Nhưng mà mình không có gì để cho nó. Đất bỏ không. Mùa xuân đã về, nhưng chúng ta rồi cũng sẽ chết đói và tuyệt vọng, anh ngắm mùa xuân tang tóc.

Kén chồng!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 19 Dec 2023

Xưa giờ sống trong xã hội kim tiền đầy muộn phiền vì tình duyên vô cùng lận đận bởi phận anh nghèo rớt mồng tơi!
Nhà thơ Kiên Giang (1929-2014) viết: “Tiền không là lá em ơi! Tiền là giấy bạc của đời in ra. Người ta giấy bạc đầy nhà. Cho nên mới được gọi là chồng em!”
Trách móc của nhà thơ dành cho em yêu trúng được 99% còn 1% là trật lất. Vì có duy nhứt một em, hồi mới là tình nhân, em cũng rộng rãi lắm, cũng dám ‘chi’ lắm.
Tuồng rằng: Lan (Lệ Thủy) căn dặn Ðiệp (Trọng Hữu) vầy nè: “Ðây chút tiền mọn từ lâu em dành dụm, trao anh làm lộ phí đường xa. Mai mốt đây khi danh phận rỡ ràng, xin chớ phụ phàng tình xưa duyên cũ!”
Còn Ðiệp thì: “Nhớ người yêu trút ống cho anh ăn học, nguyện trọn một đời không vong phụ đổi thay?”
Xui cái là Lan đầu tư tiền bỏ ống nhầm người vong phụ, em bị ‘băng rắp (bankrupt) tức khánh kiệt, tức hết tiền! Buồn quá! Vì tình hết tiền cũng hết nên Lan bỏ đi tu rồi chết!

***

Từ bài học đắng cay: uổng công xúc tép nuôi cò. Cò ăn cho lớn cò dò lên cây; nên mấy em sau nầy thực tế hơn! Binh đường thủ cho chắc ăn. Ðể anh chi; mình khỏi móc!
Vì có người định nghĩa: “Tiền là Tiên, là Phật. Là sức bật con người. Là nụ cười người ấy!” Muốn em cười như hoa nở; đừng thọc léc; hổng ăn thua gì đâu. Cứ móc ra một xấp tiền, toàn giấy trăm đô Úc là em cười ‘khùng khục’ liền hè!
Có tiền, trắng chàng bảo đen; nàng cũng tấm tắc khen mắt chàng bị bù lạch ăn sao còn sáng như trăng rằm thế hở?
Danh hài Bảo Quốc đóng vai một ông râu quặp.Thiên hạ cười, chê?! Nên chống chế rằng con sư tử Hà Ðông ở nhà rất sợ ông. Ông nói gì là bà ấy làm ngay răn rắc. Chẳng hạn khi lãnh lương về, ông biểu vợ: “Cất đi!” Bả bèn riu ríu nghe lời ông đem cất vô túi bả!
Việt đã vậy mà Úc cũng y chang! Mấy em (Lan) Úc không biết có đọc được câu vè này không mà cũng hiểu quyền lực của đồng tiền hơn cánh đàn ông (Ðiệp) Úc một trời một vực! “No money! No honey!” “Không tiền thì chẳng có anh yêu nào ráo trọi!”.
Em nào mà không ‘yêu’ tiền. Không tiền làm sao mà sống, không tiền làm sao mua quần áo, phấn son để lon ton son phấn để đi ‘bum’ tức nhảy đầm mỗi tối?
Thế nên vì yêu tiền nên yêu người là một chuyện; lấy người nào làm chồng là một chuyện khác?!

*** Một em hoa hậu chân dài đầu ngắn ở Việt Nam tuyên bố một câu xanh dờn làm mấy anh nghèo xơ xác như tui rất lấy làm tự ái.
Em nổ rằng: “Lấy chồng nghèo cạp đất mà ăn hả?”

Em hoa hậu chân dài đầu ngắn! Do Trời cho em cái nầy cũng lấy đi một phần trí tuệ của em để cho nó công bằng. Chớ cái gì em cũng ‘number one’ hết ráo thì ‘number ten’ để ai hưởng đây?
Cái đầu ngắn của em ở câu tuyên bố xanh dờn nầy đó đa. Chuyện em cọp dê câu nói của người xưa nghèo cạp đất mà ăn nó cũng xưa rồi. Giờ cạp đất không những có ăn mà có chơi nữa; vì đất nó đẻ ra tiền, ra vàng để em bay đi chợ ở Singapore mỗi sáng mua ‘organic food’ (không nhiễm hóa chất) về nấu cơm mỗi tối cho chàng ăn để có sức mà ‘cạp đất’!

***

Chữ rằng: “Trai khôn tìm vợ chợ Ðông; gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân” hình như không còn đúng nữa. Con gái bây giờ muốn tìm chồng là bay qua ‘Cannes Film Festival’ bên Tây, trả tiền cũng bộn cho nhà tổ chức để được đứng 5 phút trên thảm đỏ cho thiên hạ chiêm ngưỡng và chụp hình. Vì trả tiền nhiều quá nên đâu còn tiền mua quần áo mặc cho nó đứng đắn đàng hoàng của người con gái Việt Nam; em đành mặc bộ đồ như không có mặc, tức giống như ở truồng nhong nhỏng.
Vậy mà tụi ác miệng nó dám nói em ‘sô’ hàng để quảng cáo cho cái vốn tự có của em! Rồi mấy ‘quan anh’ trong nước cũng hùa theo, không cảm thương mà đòi đè em ra bắt nộp phạt thêm một mớ vì tội khoe hổng đúng chỗ của quan, để quan coi mà dám ‘công xúc tu sỉ’ trước mắt mấy thằng Tây ở nước ngoài. Thiệt là nhẫn tâm quá đáng không tiếc ngọc thương hương gì ráo trọi hè?!

Như đã nói, đường nhân duyên, giàu ắt có vợ hè; tuy vậy nó cũng có phản đề nhe!
Tui mới trộm nghe có một ông ‘thần thừ’ bên thành phố Salt Lake, tiểu bang Utah, Hoa Kỳ hổng biết có ‘tưng tửng’ gì không mà gắn một cái bảng quảng cáo tìm vợ trên xa lộ suốt tháng Năm vừa qua.
Thằng chả khoe rằng mình là triệu phú, trẻ, khỏe, điển trai hơn ông chủ của mình, trong Tòa Bạch Ốc, dinh của Tổng thống Mỹ.
Làm gì? Thằng chả giấu! Chớ làm việc trong Tòa Bạch Ốc đôi khi cũng làm mấy công việc linh tinh, lang tang như hút bụi, giặt đồ, rửa chén, cắt cỏ làm vườn hay dắt chó đi dạo thay cho Tổng thống Donald Trump vậy thôi.
Ông nội con nít nầy tâm sự loài chim cô đơn là: thực sự muốn lấy vợ, đã tìm kiếm bạn đời bằng nhiều cách nhưng thất bại.
Giàu, đẹp trai, thông minh mà kiếm không được một con vợ nào về nâng khăn móc túi là chuyện khó tin! Tui e bản thân thằng chả có ‘vấn nạn’ gì rồi ?
Nếu tui là mấy em’ nghe vậy là đã chạy mất dép. Tuy nhiên ngay tuần đầu tiên của tháng Năm đã có tới 326 em lên tiếng: “Anh cưới em đi!” Thiệt là thớt có tanh hôi ruồi mới đậu mà.
Anh thành thật khuyên mấy em rằng: “Lấy thằng giàu chưa chắc em vô mánh đâu nhe. Vì cũng có đứa giàu nứt đố đổ vách mà vắt chày ra nước. Một tuần nó kiếm 100 ngàn đô mà chỉ cho em có 100 đô ăn xôi; sao bằng lấy anh tuần làm chỉ có 1000 đô nhưng lãnh lương xong là nộp vào túi áo khỉ của em hết ráo. Ðến nỗi đi đường đạp nhầm bánh tráng cũng không có tiền bắt thường cho thiên hạ.
Mới hôm qua nè, đóng bộ xong, tính chuồn ra Footscray nhậu với chiến hữu vì tới phiên mình phải trả, (Tui nhậu đứng đắn lắm nhe! Hổng có nhậu của bạn bè tới phiên mình lại im lặng vô tuyến bao giờ?)
Lục bóp xét tiền! Ủa tiền nhuận bút 500 đô mới hôm qua sao bữa nay còn có 50 đô hè? “Cu à! Bộ con lấy tiền của Tía hả?” “Ðâu có! Nhưng sao Tía lại hỏi con?”
‘Cu’ hổng lấy thì cho Tía xin lỗi. Tại vì Tía nghĩ nếu Má của ‘Cu’ lấy là đâu còn sót lại cắc nào!”

Tui thành thật khuyên mấy em ‘đèm đẹp’ hãy thực tế một chút đi! Ðừng mớ giữa ban ngày nữa. Từ tạo thiên lập địa tới giờ lấy chồng giàu, rồi bỏ chồng giàu (vì thằng chả nguyệt hoa ong bướm), dứt áo ra đi mang thêm vài chục tỉ đô la Mỹ như bà chủ Amazon chỉ có một mà thôi.
Hãy lấy một thằng chồng chăm chỉ cày sâu cuốc bẫm; làm được cắc nào là về cống nộp hết cho con vợ nhà mà không diếm lại mớ nào thì em cũng trúng số đó. Trúng nho nhỏ thôi nhưng lai rai hai tuần tới kỳ lương là lại trúng!
Tuy nhiên mấy em mơ cứ mơ; vì giấc mơ nào cũng màu vàng của vàng và màu xanh của đồng đô la Mỹ. Mơ không mất tiền thì quý em cứ việc mà mơ. Nhưng đừng mơ lâu quá kẻo ế chổng mông nhe. Hãy trở về thực tế lấy anh nào yêu thương mình hết lòng như anh đây là được. Anh chỉ cần ăn cơm ba chén lưng lưng uống nước cầm chừng để bụng thương em!
Người chồng dẫu làm ‘cu li’, lương ba cọc ba đồng, có đồng nào là xào đồng nấy, chỉ đủ tiền đưa cho vợ trả tiền nhà, tiền bill, tiền chợ, có sao nói vậy không bao giờ giấu vợ cắc nào để năm nay ba đau, năm sau má ốm mà có cớ ‘phịa’ với má thằng ‘cu’ để bay về Việt Nam bia ôm, bia iếc. Dẫu thời thế thế thời phải thế, phải làm cu li nơi đất lạ quê người nhưng nhớ người yêu trút ống cho anh ăn học, nguyện trọn một đời không vong phụ đổi thay?”
Em lấy thằng khờ như anh đó là ‘OK Salem’ rồi đó nhe em!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne

Huyền thoại la de trái thơm

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 19 Dec 2023

Bến là chỗ từ bờ de ra ngoài sông cho tàu bè, ghe thuyền đậu; để cho hành khách lên xuống hoặc bốc dỡ hàng hóa. Từ bến tàu bà con mình có bến xe trên bờ. Từ đò trên sông bà con mình có xe đò trên bờ.

Ðất Miền Tây có rất nhiều nhà dựa mé sông. Trước cửa nhà có cái bến nhỏ, là thân cây dừa có khấc, để khỏi trợt té, de ra sông, cắm dầm xuống sình, buộc sẵn chiếc xuồng ba lá.

Ðịa danh Bến Lức là bến có nhiều cây lứt. Theo Ðại Nam quốc âm tự vị (1895) của ông Huỳnh Tịnh Của: Lứt là cây lá nhỏ, thường mọc dọc mé biển. Còn cây lứt của Bến Lức là lứt sông, lứt bụi, lứt cây. Nó khác với lứt dây ở ven biển, trên các bờ kinh rạch, cửa sông của ông Huỳnh Tịnh Của.

Dân Miền Nam phát âm ‘lứt’ và ‘lức’ như nhau nên cha nội nào đó ghi địa danh Bến Lứt ra thành Bến Lức.

Hồi xưa, từ thủ đô Sài Gòn về Miền Tây, chạy trên Quốc lộ 4, qua cầu Bình Ðiền, Chợ Ðệm mình đụng Cầu Bến Lức. Cầu Bến Lức bắc qua sông Vàm Cỏ Ðông dài 530 mét, bề rộng chỉ 10 m, một làn xe hơi (và xe lửa Sài Gòn Mỹ Tho) chỉ cho chạy một chiều. Xe hơi phải đợi khoảng 15 phút, một chú lính Ðịa phương quân ngồi chong ngóc trên chuồng cu xoay bảng cấm. Xe không được hửi đít nhau phải giữ khoảng cách ít nhứt 15 mét, tuần tự chạy qua cầu.

Suốt đường từ thủ đô Sài Gòn hoa lệ về Miền Tây phì nhiêu có những chỗ xe đò phải dừng lại để lơ đổ nước làm mát máy; hoặc chờ qua cầu, qua Bắc. Mấy chỗ đó đều có bán trái cây đặc biệt của vùng đó. Trung Lương, Mỹ Tho bán mận hồng đào sọc giòn, ngọt. Bắc Mỹ Thuận bán xoài cát Hòa Lộc, ngọt như đường cát, mát như đường phèn. Bắc Mỹ Thuận cũng có bán ổi xá lị giòn cắn nghe rốp rốp. Bắc Bình Minh tỉnh Vĩnh Long bán bắp trái luộc còn bốc khói.

Bia 33, bia trái thơm và bia Quân Tiếp Vụ 

Trong lúc xe đò sắp hàng chờ qua cầu Bến Lức, con gái quê bán khóm trái cho má mua về cho sắp nhỏ hoặc khóm cắt miếng vàng ươm cho má ăn với muối ớt gói trong miếng lá chuối tươi. Chảy nước miếng hè! Nhưng ăn nhiều thì bị tưa lưỡi. (Chữ ‘tưa’ nầy, ông Tô Thùy Yên dùng hay lắm trong bài thơ Trường Sa hành: “Trường Sa! Trường Sa! Ðảo chuếnh choáng! Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề. Lính thú mươi người lạ sóng nước. Ðêm nằm còn tưởng đảo trôi đi. Mùa Ðông Bắc, gió miên man thổi. Khiến cả lòng ta cũng rách tưa…)

Khóm Bến Lức nổi tiếng, vang danh thiên hạ. Người Bắc không phân biệt được thơm, khóm khác nhau, họ gọi chung là trái dứa. Còn người miền Tây phân biệt rõ ràng trái khóm khác trái thơm. Khóm: lá có nhiều gai, trái nhỏ, chưa tới 1 ký, thịt vàng đậm, ngọt đậm đà. Thơm: lá không có gai, trái bự, có trái trên 3 ký, mắt thưa, hố mắt cạn, thịt hơi vàng, vị ngọt thanh hơi chua và mọng nước hơn khóm.

Nhớ năm 1975, CS BV chiếm được Miền Nam. Gốc là sĩ quan biệt phái nên VC không cho tui đi dạy nữa, tui thành ‘mất dạy’! He he! Người em sầu mộng bán quán nhậu ở nhà lồng chợ quận Kế Sách, tỉnh Ba Xuyên, Sóc Trăng cảm thương chàng dạy giáo nhưng tánh nghệ sĩ lăn lóc gió sương, ba ngày đêm nổi lên sình chương, nên tiễn hành anh, em thết đãi: khô cá sặc rằn, xoài thanh ca. Rắc chút đường, thêm vài lát ớt; em yêu còn làm thêm món phèo non xào khóm mau mềm. Em cho tui uống la de trái thơm, quán em bán còn sót lại, để tiễn tui về quê cũ mà em linh cảm lần nầy là vĩnh quyết, không bao giờ còn có dịp gặp lại anh yêu.

Nhắc tới la de trái thơm làm tui nhớ tới cái hãng BGI (Brasseries, Glacières d’Indochine), (Nhà máy bia, nước đá Ðông Dương). La de tiếng Pháp là Bière Larue. La de trái thơm, la de thường, la de Quân Tiếp Vụ. La de thường, la de Con Cọp vì chai có cái đầu con cọp màu vàng, chai lớn 66 ml. La de 33, thơm hơn, độ rượu cao hơn, uống đậm đà hơn, tên thường gọi là Bia Băm Ba, nhãn hiệu là Bière 33 Export, chai nhỏ bằng phân nửa chai lớn.

Theo ông Phan Văn Song, Chánh sở Tiếp thị (Chef du Service Marketing) của hãng BGI,  cạnh sân vận động Cộng Hòa, đường Trần Hoàng Quân quận 5, Chợ Lớn, năm 1973, trên nhãn cái đầu con cọp vàng ở giữa hai bên có hai chùm hoa houblons thêm cái vị đắng cho bia.

Nhưng ông họa sĩ chưa bao giờ nhìn thấy hoa houblon. Nghe thiên hạ nói houblon giống hình trái thơm nên ổng coi hình trái thơm vẽ đại theo. Rồi làm ‘décalques’ (đề can) đưa qua Công ty Thủy tinh Việt Nam (Khánh Hội) in vào 100 ngàn chai mới. In xong, mấy lão kỹ sư Tây mũi lõ cười hô hố, chọc quê: “Houblon sao giống trái thơm vậy mấy cha?!” Hổng lẽ vẽ lại, in lại lỗ thấy tía.

Mấy Chú Ba nhân lỗi lầm của người khác chụp cơ hội phao tin đồn thất thiệt là: la de trái thơm ngon hảo hạng, ngon đặc biệt, một két chỉ có một chai. Cũng như nghe lời xúi bậy của mấy Chú Ba Chợ Lớn, làm giàu bằng cách nuôi chim cút, bà con mình, ngay cả dân nhậu chánh tông, sáng xỉn chiều say, tối ôm chai mà ngủ cũng tin rầm rầm: “La de trái thơm ngon nhứt, xong đến la de Con Cọp và hạng chót là la de Quân Tiếp Vụ bán cho lính uống (?!)

Sau nầy thời thế đổi thay, làm thân lưu lạc, trôi dạt đến cái đất Melbourne nầy đây, tui đã và đang uống biết bao nhiêu loại bia. Xưa tía tui tin lời Chú Ba xạo ke la de trái thơm là ngon nhứt; giờ tui tin Úc Kangaroo nói: “Uống bia Úc khỏi bị trầm cảm, mồi bò bít tết (beef steak) dễ tiêu!”.

Úc đánh trống thổi kèn lung tung xèng: “Victoria Bitter, VB, ‘Vitamin B’ (sinh tố B). ‘Very Best’ (ngon nhứt) và ‘Victory Beer’ (Trùm thiên hạ)”.

Còn Mít mình VB là ‘Vợ Bỏ’. Vì VB ngon quá, cứ ôm chai hoài mà không chịu ôm em; nên em yêu bỏ. Tối lạnh ngủ một mình cho biết thân trong Mùa Ðông rét cắt da xứ Úc.

Lời hứa trong bóng tối

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 19 Dec 2023

Tôi thiếp ngủ một giấc ngắn, mù lòa, không hay biết trời có mưa. Lắc rắc, đôi ba hột, như mèo đái. Tôi giật chuông, chiếc xe buýt chạy dằn xóc một đỗi mới thả tôi xuống, co ro đứng ngáp với mùi hơi đất lấn át mùi dầu xăng.

 Đêm khuya, con đường chưa ngơi nghỉ, cựa mình nghe tiếng lá thì thầm với chút loáng ướt của nó dưới bóng điện vàng. Tôi không có đồng hồ. Tôi chỉ biết hôm nay thứ bảy, và cuối tuần thì giờ giấc sinh hoạt có khác đi. Người ta ưa bỏ những nơi quạnh vắng để chạy đuổi về một chốn vốn sẵn đã đủ đầy sự chộn rộn. Tôi ghét chộn rộn, nó luôn xô đẩy tới mình cái choáng váng, làm dâng cao thêm niềm lẻ loi giữa đám đông xa lạ.

 Tôi băng qua công viên cỏ ẩm, có người khom mình vào thùng rác luôn tay tạo ra những tiếng động. Một lon nước rỗng nằm trong đó đổi được năm xu và có đáng không để đêm hôm lặn lội đi bươi móc tích tiểu thành đại? Những đồng xu trong túi quần theo bước chân tôi đều đặn cất tiếng. Tiệm tạp hóa nằm cuối đường có lẽ đã đóng cửa. Nếu nó còn mở, tôi chỉ có thể mua được một ổ bánh mì cuối ngày, khô cứng. Ngược chiều với tôi, có bóng đen từ bên kia lề đang băng qua đường. Khoảng cách thu hẹp và có thể tôi là mục tiêu cho hắn hỏi thăm. Túi áo tôi còn mấy điếu thuốc nằm trong bao. Tôi nghĩ là hắn sẽ xin một điếu và tôi không lấy làm phiền hà vì chuyện đó. Tôi đứng dưới một ngọn đèn đường châm thuốc hút, chờ đợi. Tôi ngó thấy những tờ giấy quảng cáo dán nham nhở quanh thân cột điện. Đi New York hai ngày, 149 đồng. Garage sale. Kỳ diệu thay, bạn sẽ sụt mất 5 kí-lô trong vòng một tuần. Bán lại giàn computer còn mới…

 Người đàn ông không xin thuốc. Hắn chẳng nói một lời, hắn ngó vào mặt tôi khi chìa ra ở tay tấm hình màu. Tôi thấy khuôn mặt một đứa con gái đọng trong đó, ẩn hiện dưới bề mặt trơn láng. Tôi nhớ những tấm giấy dán nơi trụ điện chẳng có tờ nào in hàng chữ Missing- Disparue. Tôi nghĩ tới những ông thám tử tư lầm lì trong phim ảnh: “Mày có thấy qua con bé này lần nào không?”. Tôi lắc đầu. Gã đàn ông nhún vai, băng qua đường và lẫn mình sau hàng cây nhiều bóng tối.

 Điếu thuốc cháy hết bề dài của nó khi tôi bước lên ba bậc cấp. Tôi nhấn chuông, nhìn những xác lá nhẹ hẫng di động dưới sàn gỗ. Cửa mở, khuôn mặt Huy không biểu lộ điều gì khi nhìn tôi. Hắn quay lưng:

 “Mày có mua được những thứ tao nhờ không?”

 Tôi đóng cửa và ngửi được mùi đồ ăn. Tôi theo Huy lui sau bếp. Hắn chuẩn bị chiên cơm, hành tỏi bắt đầu vàng trên chảo dầu. Tôi moi túi quần, ném cái bao nylon nhỏ xuống bàn. Nó chứa những loại thuốc trụ sinh tôi nhờ người ta mua giùm, chẳng cần toa bác sĩ. Tôi không hỏi thuốc đó nhằm chữa chạy bệnh gì? Cường dương bổ thận hoàn, hay trị đứt nọc nhiễm trùng đường tiểu? Tôi không thắc mắc mà người đưa thuốc cũng chẳng màng ngó tới tôi bằng con mắt thọc mạch. Làm như thời buổi này, thằng đàn ông nào cũng nên uống ba loại thuốc mắc tiền ôn hoàn dịch vật đó!

 “Mày đói thì ăn cùng tao một lượt. Uống thuốc trước bữa ăn phải không?”

 Tôi nhìn căn bếp, mọi thứ chẳng có gì đổi thay, chỉ hiện diện sự bừa bộn. Ở cửa tủ lạnh vẫn còn dán tấm hình Soan chụp hôm sinh nhật cô ta tròn ba mươi bốn tuổi. Trong đó, một phần thân thể của Huy bị cắt lià, chỉ còn nửa người với cánh tay vắt qua vai Soan; và cái đứa làm phó nhòm thì thật đáng trách, nó bấm máy kiểu gì mà mắt Soan nháng đỏ như lửa nhóm ở bên trong. Một tấm ảnh không đẹp, lý ra Soan phải xé nó ngay hoặc Huy thủ tiêu không thương tiếc.

 “Sao, mày chê không ăn à? Trời ạ, đừng tưởng là moa chẳng biết chuyện bếp núc… Đùa dai!”

 Tôi mở tủ lạnh, lạnh tanh. Chẳng có thứ gì giải khát ngoại trừ hai chai bia đang run rẫy va thân vào nhau.

 “Làm bậy một chai. Đợi lát nữa tao pha cà-phê cho”.

 “Cô ta đang ở đâu? Mày biết không?”

 Huy nhìn tới cánh cửa tủ lạnh vừa đóng sập lại.

 “Làm sao tao biết được? Mà việc gì phải biết?”

 Tôi ngồi xuống ghế, ngửa cổ rót bia xuống cuống họng. Bia lạnh và người tôi nóng. Tôi buồn, ở đầu óc, ở cơ thể. Và buồn miệng:

 “Mày có dự tính nào không?”

 “Dự tính gì?”

 Huy cau mày trong khi ăn. Khói từ chén cơm tỏa bay, đọng mờ cặp kính trắng của hắn. Tóc dài rối, râu ria không cạo đen một vệt lọ nồi trên môi. Dường như từ lâu, hắn đã bỏ quên nhiều thứ. Hắn săm soi bao nylon đựng mấy hộp thuốc:

 “Tết này tao sẽ về thăm nhà. Có thể gọi đó là một dự tính không?”

 Tôi ngó tờ lịch in hình một đầu núi phủ tuyết trắng. Những con số đen đỏ ở đó nhòe đi. Mắt tôi bị yếu nhưng chưa sẵn tiền để đi khám, và sau rốt buộc lòng phải tậu một cái kính lão. Bốn mươi tuổi mà mắt đã sớm đục bụi trần rồi sao? Những con số gian dối nhập nhằng làm tôi mọc lên một dấu hỏi: Vợ chồng nó chia tay nhau đã bao lầu rồi?

 Tôi nhìn Huy:

 “Mày tính về Việt-nam thật sao?”

 “Ủa, ai cấm? Thử xáo trộn cái đời sống tẻ nhạt này xem sao. Cả mày nữa, sao mãi dật dờ… Mày là một thứ attentisme!”

 “Ừ, tao theo chủ nghĩa chờ đợi. Tao nằm chờ sung rụng. Rồi trời sẽ nổi gió”.

 Tôi nốc bia, Soan đã ba mươi lăm tuổi mà sao hình cô trông tươi trẻ như một kẻ hai mươi. Thật kỳ lạ. Sự buồn phiền thì không thể nào giúp cho con người đi thụt lùi vào quá khứ.

 “Mày phải tạm thời hoán đổi cái cảnh sống này đi. Xoay nổi một cái vé máy bay không?”

 “Xa quê hương nhớ mạ hiền, về xin tiền sợ bả la!”

 Huy cắn một trái ớt hiểm:

 “Đùa dai… Cặm cụi cày bừa mà được gì, lâu lâu nên thay đổi không khí”.

 “Về lại chốn cũ kinh hoàng tại sao lại gọi là thay đổi không khí?”

 “Lắm chuyện! Thì về lấy mẹ một đứa con gái làm vợ cho được việc!”

 “Tại sao lại phải mang hạ sách ấy ra?”

 “Ủa, chớ không phải bọn nó thảy đều binh có một nước đó thôi à?”

 “Ừ, chỉ một đường binh. Tụi nó dương hết cỡ, lừa gạt và dối trá. Giờ này mày về thì có thể mang tiếng là Việt gian”.

 “Địt mẹ mấy thằng Việt kiều, làm hư bột hư đường hết trơn!.. Mà không dối gạt thì nói sao cho người ta tin?”

 “Ừ, dối gạt. Bên này bên kia không tài nào hiểu nhau, tự thâm tâm mỗi người đã sẵn mang một ngộ nhận về nhau rồi. So ra dương còn hơn thủ!”

 Huy đứng lên, ném chén đũa vào bồn.

 “Mày biết Soan nói với tao ra sao không? Người như anh khó mà lấy được ai, ngoại trừ là đi lừa gạt họ”.

 Giọng Huy bình thản, không tỏ hằn học. Làm như hắn từng lừa gạt và Soan từng là nạn nhân.

 “Đùa dai. Cái câu nói cạn xợt kia lý ra đừng thốt ở cửa miệng khi mà cô ấy đã chung đụng với moa những bốn năm… Mày uống cà-phê gì?”

 Tôi đặt chai bia xuống bàn, chùi tay ướt vào quần.

 “Cà-phê đen”.

 “Tao rất nản khi nghe thằng Dương than. Vợ nó bảo: Anh chọn đi, hút thuốc hay ở chung với tôi? Vừa phải thôi, ba cái điều kiện vớ vẩn kiểu đó mà lại đem ra làm khó nhau”.

 “Nằm ở địa ngục thì bao giờ cũng thú hơn là lên thiên đàng”.

 “Tao không nói về cái khoản đó. Tao muốn nhắm tới chữ hiểu. Mà mày biết gì về địa ngục và thiên đàng? Địa ngục là cảnh mà thằng Dương đang phải đối đầu đó. Tao nói với hắn, nếu vợ mày bỏ, hãy nhớ tự tử bằng thuốc lá, hút cho cháy cái lồng ngực trống lạnh ấy đi. Đâu, có thuốc thì cho tao một điếu”.

 Tôi thảy bao thuốc ra giữa bàn. Tôi cố nhớ lại khuôn mặt vợ thằng Dương. Hơi son phấn, hơi tròn trịa, hơi dâm đãng. Mọi thứ đều thường thường bậc trung. Cô ta làm việc ở cơ quan nào nhỉ? Có thể ở bệnh viện trung ương? Có thể ở bộ y tế? Biết đâu được! Gần đèn thì sáng. Mặt mày thằng Dương thì lu câm!

 Huy bật lửa, lật sấp ngửa bao thuốc lá.

“La cigarette cause des maladies du coeur”.  y, thiếu gì đứa không hút thuốc mà luôn mang một trái tim nghèo nàn, bệnh hoạn!”

 “Vậy thằng Dương tính sao?”

 “Dĩ nhiên là nó không nghe lời tao xúi dại. Muốn làm quân sư, ít ra cái đứa ấy biết cột chân vợ lại. Không cột kiểu quân tử thì trói bằng cách của kẻ tiểu nhân. Tính tao thì mày biết rồi, chúa ghét hai hạng người trên”.

 “Hoá ra thằng Dương là một kẻ tiểu nhân?”

 “Cái đó là mày nói. Đôi khi nó ngại làm Việt gian lặn lội về quê nhà thắp đuốc tìm vợ. Kệ, làm tiểu nhân mà tề gia được thì cũng đáng phổng mũi”.

 “Cuộc đời thật lạ, biết sống cảnh độc thân là sướng, là thảnh thơi, vậy mà ai cũng đùng đùng quay quắt một hai đòi lấy vợ. Không lấy không xong!”

 “Uống cà-phê đi cha. Mày nói nghe như sư sãi trên chùa nói. Đùa dai!”

 “Bao lâu thì mày sẽ dọn đi?”

 “Tại sao?”

 “Một mình mướn chỗ ở rộng thì có phí không? Vả lại nơi này còn lưu giữ nhiều dấu vết của Soan quá”.

 “Tại sao mày không dọn tới ở chung với tao?”

 Tôi bưng tách cà-phê lên, thơm ngát. Tôi ngó ảnh Soan qua vành men trắng. Tôi nhấm nháp vị đắng. Làm thinh.

 Huy kiếm đôi giày, ngồi thắt giây:

 “Tối nay mày ngủ lại đây chứ? Bây giờ tao ra cái máy đằng góc đường rút ít nhiều trả lại tiền thuốc cho mày”.

 Đi tới cửa, Huy quay đầu lui:

 “Có muốn tắm thì vào phòng ngủ mà lấy khăn lông”.

 Chút gió lọt vào khi Huy bước ra đường. Ngai ngái mùi đất ẩm. Cánh cửa đóng sập lại và lát sau tôi nghe tiếng máy xe nấc lên. Tôi vào phòng ngủ, nhìn cái giường queen size, quá rộng nếu dành cho một kẻ độc thân, nằm lạnh lẽo giữa phòng. Tôi không rõ giờ này Soan sẽ đặt lưng xuống một mặt nệm có kích thước ra sao? Lớn, nhỏ? Bao lâu rồi? Hai tháng? Cứ cho là vậy đi. Sáu mươi ngày, với thời gian chật hẹp đó, người ta có đủ tài cán không, để xoay xở tìm ra đối tượng mới mà điền vào khoảng trống? Những đồ vật lỉnh kỉnh Soan để lại, Huy tôn trọng không đụng tay tới. Tôi thò tay sờ vào bộ đồ ngủ mỏng manh Soan móc trong tủ đứng. Chất lụa mềm, trơn mát cả xúc giác, đến rợn cảm; ở đó thoảng bay một hương mùi, xa vắng. Cái mùi hương… Làm sao Huy có thể ngủ xuống với nó được? Một thứ hoa lài trắng toát giữa canh khuya, dằn vặt trong gió vị ngọt ngào, đánh thức mọi vật dậy và rồi phủ chụp lên trên bằng mùi thơm quá đỗi u mê. Rất liêu trai.

Đầu óc tôi mụ đi, tôi bỏ ra bếp ngồi xuống lại vị trí cũ, ôm đầu. Tôi nhớ lại hôm sinh nhật Soan, chính tôi là đứa đóng vai phó nhòm. Phải, đích danh thủ phạm này đã đưa máy lên chụp bắt được đốm lửa đọng trong đôi mắt nâu của Soan. Cái đốm lửa kỳ lạ mà chỉ mình tôi có được lối giải thích riêng tư.

 Huy mở cửa. Hắn bước vào nhà không phải bằng tiếng động bình thường. Gỗ lót nền đang khua lóc cóc tiếng giày cao gót.

 “Cứ tự nhiên đi nhé”. Huy nói, bằng tiếng Pháp.

 “Có gì uống không, moa rất khát”.

 “Bia. OK? Hãy lui sau này”.

 Gót giày vang dội lối đi hẹp, ngắn. Ngập ngừng, rồi thắng đứng.

 “Ủa, hoá ra có thêm một nhân mạng nữa?”

 Đứa con gái nhìn tôi. Tia mắt không chứa đựng ngỡ ngàng, chẳng bối rối. Cô ta mặc áo thun, bó chặt làm thích thú nhãn quang khi đọc thấy hàng chữ in trước ngực. Chữ nghĩa chẳng được ngay hàng thẳng lối, lồi lõm lên đèo xuống núi: “Where will you be in 2012?” Một dấu hỏi đáng nêu ra. Thiên đường, địa ngục. Mặt trăng, hoả tinh. Đất lạ hay quê mình? Năm hai ngàn mười hai, năm tận thế, em ở chốn mô?

 “Tôi là Stéphanie”. Cô đưa tay cho tôi bắt. Bàn tay mềm, nóng. Những móng tay bôi sơn màu lá chuối non, lấm chấm dụ bạc. Những vòng sắt đeo ở cổ tay luôn phát tiếng. Tóc đen mun, cắt lởm chởm. Thợ còn non tay nghề? Không chắc lắm, nhưng thuốc nhuộm kia thì quả là thứ tốt. Đen hơn cả tóc tôi. Stéphanie còn trẻ, đừng nhìn ngực cô, thì cái mặt kia chắc vắt ra sữa. Được không?

 “Ông già đó là gì của cô?”

 “Ủa, ngồi ở nhà mà sao bồ biết hay dậy? Bị em thiếu nợ ổng, không đi là hổng xong với ông. Ô kê chưa?”

 Huy mở chai bia trao vào tay cô ta:

 “Đi? Toa đủ tuổi để đi được rồi chứ?”

 “Mấy anh nghĩ sao? Vị thành niên? Hừ, bảo đảm không có tai nạn nào xẩy ra đâu”.

 “Quên giới thiệu, đây là bạn moa”.

 Stéphanie cầm chai bia dựa lưng vào tường, dáng vẻ khiêu khích. “Cái trâm em cài là cái chai em cầm”. Đầu tôi mọc lên câu thơ, kiểu cóc nhái.

 “Lý ra anh phải cho tôi hay trước, như thế khỏi phải mất trớn, và đẹp lòng hai bên. Hay ba bên?”

 “Không sao đâu. Tôi ngoại cuộc, tôi không can dự cuộc chơi”.

 Tôi nói cho đứa con gái khỏi lo ngại. Nó lấy thuốc hút, tỉnh queo, chẳng màng tới lời trần tình.

 “Đừng cà chớn mày. Tiền bạc tao trả, chẳng có gì phải tính toan”.

 “Tao không thích thú lắm”.

 “Chính mày vừa nói là địa ngục vui vẻ hơn thiên đàng đó mà. Mày đã biết mùi vị đàn bà chưa?”

 “Soan bỏ đi đã lâu, trong lúc này tao nghĩ mày cần đàn bà hơn tao”.

 Đứa con gái nhìn chúng tôi đối đáp. Nó có nụ cười thật đáng yêu, như đứa trẻ nít nhìn tới con búp bê biết nhắm mắt mở mắt, biết khóc, biết bú, biết đái. Mắt cô ta to, sáng ướt, long lanh; dễ làm mình hoài nghi về hai chữ hồn nhiên.

 “Thôi bỏ đi”. Huy nắm tay đứa con gái dắt vào phòng ngủ. “Nó nhác chơi, chỉ mình anh thôi”.

 “Cái giường lớn rộng này có liên hệ với bức ảnh người đàn bà dán ngoài cửa tủ lạnh không?”

 “Phút giây này đừng nên nói năng. Hãy nghe anh hỏi, em ăn gì mà có đôi mắt đẹp thế?”

 “Thật hay xạo? Ăn cà-rốt. Loại nhỏ cỡ này nè”.

 Tôi bỏ ra ngồi ngoài bậc thềm với tiếng cười của hai đứa bám đuổi sau lưng. Gió làm xô động hàng cây, những chiếc lá lả thân cuống quít vào nhau nghe như tiếng áo quần cởi ra trong gấp rút. Đêm chôn sâu mọi âm thanh, bóng tối tựa một hình khối có trọng lượng đè xuống con tim mệt thở, bần thần và hoang mang. Đó là đêm rằm mà vành trăng treo kia đã mòn khuyết, là đêm dị thường không hề trùng lập lần thứ hai. Là đêm mà tiếng Soan thì thầm bên tai cùng hơi thở:

 “Đừng nói gì cả. Đừng thắc mắc. Mọi chuyện rồi sẽ có cho riêng nó một kết thúc. Hứa đi, sau đêm này chúng ta trở thành người dưng, đường ai nấy đi, không nhìn ngắm, chẳng quay đầu. Hứa đi, hãy giúp đỡ Huy những gì anh ta cần. Đó là một kẻ bệnh hoạn và sức chịu đựng của Soan đã dẫm lên lằn mức cuối. Tại Huy cả. Lý ra đêm nay sẽ là đêm kỷ niệm bốn năm làm vợ chồng… Anh chẳng nên nằm yên như thế, ôm Soan đi và hãy đóng trọn vai Huy lần diễn cuối. Hứa đi, đừng trách Soan, đừng khinh Soan. Hứa đi, yêu thương Soan nhé, chỉ lần này rồi thôi…”

 Tôi hứa. Và tôi đã làm hết khả năng tôi có. Tôi hung hãn tới độ đáng hổ thẹn. Tôi dấn sâu vào cõi u minh và ngạ quỉ đứng vỗ tay hai bên bờ vực nhấp nhô đổ mồ hôi sôi nước mắt. Khi Soan mặc lại áo quần, nhìn cái quần lót bé cỏn con của Soan phát sáng nhờ nhợ trong bóng tối, tôi nghĩ mình là một đứa tiểu nhân. Trắng không ưa, chỉ thích nhìn cái đen đúa có ở đằng sau. Soan bỏ đi, không nói năng. Cánh cửa đóng sập lại và hồn tôi mở ra một vực tối hun hút.

 “Sao rồi? Coi bộ suy nghĩ đến lao lung!”

 Đứa con gái ngồi xuống bên tôi. Đốm lửa đỏ trên môi và thân nhiệt cô mơn man xô qua tôi chút ấm áp.

 “Mấy giờ rồi?”

 Cô ta hỏi. Khói thuốc tan biến trước cửa miệng.

 “Tôi không có đồng hồ”.

 Tôi nói, mắt nhìn lên khoảng rộng đen sâu của bầu trời như kiếm tìm ở đó một dấu vết thời gian.

 “Khuya rồi”.

 “Anh không hứng thú thì thôi, tôi về”.

 Đứa con gái đứng lên, lấy tay vò đầu tôi:

 “Bai, ngủ ngon”.

 “Bai”.

 Cô ta bước xuống đường, cúi đầu đếm bước. Có vẻ mệt mỏi, rã rượi. Con đường vắng ngắt.

 “Đi một mình có sợ hãi bóng tối không?”

 “Có gì đáng sợ? Tôi quen rồi”.

 Gót giày gõ nhịp đơn điệu. Tàn lửa bùng sáng khi cô ném mạnh điếu thuốc xuống mặt đường.

“Stéphanie”.

 Cô gái dừng bước, ngoảnh mặt lại.

 “Chuyện gì nữa đó?”

 “Năm hai ngàn mười hai cô ở chốn nào?”

 Giọng cười của cô ta như biết xô giạt bóng đêm, trong trẻo. Để lộ hàm răng trắng:

 “Nếu không tận thế em vẫn ở đây. Em sẽ chờ anh. Tám chục bạc, có mắc mỏ gì cho cam, phải không anh?”

 Ừ, thật là rẻ rúng. Tôi nhủ thầm. Làm quân tử e chẳng mấy khó khăn. Vất qua cửa bốn tờ giấy hai chục, nhưng đổi lại được sự bình yên trong tâm hồn.

 Tôi bước xuống đường, băng qua công viên, ra ngồi trên băng ghế gỗ chờ chuyến xe buýt cuối ngày. Tôi là kẻ lỡ đường duy nhất. Tôi huýt gió một điệu nhạc, vấp váp, tắt nghẽn. Hình như đó là bài “Hoa Soan bên thềm cũ”? Người đàn ông lượm lon vác cái bao rác trên vai khua động tới gần.

 “Mày người nước nào? Đêm hôm khuya khoắt sao lại vác mạng tới ngồi một mình chốn đây?”.