This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Cùng thời gian Trung Đoàn 6 BV tấn công Thành Nội, Trung Đoàn 4 từ vùng núi non phía Tây Huế bắt đầu xâm nhập vùng hữu ngạn sông Hương. Hai lực lượng này tiến quân êm thắm nhờ bóng đêm và sương mù dày đặc. Ngoài một số TQLC trực gát ở cổng ra vào và tháp canh góc phía Bắc, số quân trú phòng còn lại ở Tòa Công Sự MACV đều mãi mê ngủ không chuẩn bị đề phòng gì cho một cuộc tấn công của địch nào cả. Đ/úy Coolican con dân của Carbondale, Pennsylvania, làm cố vấn quân sự cho SĐ1 BB từ tháng 4 đến tháng 10 thì chuyển qua làm việc với đại đội tinh nhuệ Hắc Báo. Với chiều cao 6 bộ 5, anh đứng lênh khênh giữa những người lính VN. Nhờ thành thạo tiếng Việt nên anh hiểu rõ tập quán của những người lính VN nhỏ nhắn và rất quí trọng họ.
Bình thường anh ngủ lại với đơn vị này ở trong Thành Nội. Đến phút chót anh quyết định qua ghé chơi với mấy người bạn TQLC HK ở MACV để mặc cho anh em Hắc Báo ở lại ăn Tết với nhau. Leo lên xe lúc sau nửa đêm 30 tháng Giêng 1968, Coolican đem theo đồ trải ngủ lái qua cầu Nguyễn Hoàng (Tràng Tiền) sang phía hữu ngạn sông Hương. “Tôi nhớ đã dừng lại gần đầu cầu bên kia, nhìn lui vào hướng thành phố; tôi thấy Thành Nội rực sáng ánh đèn như lễ Giáng Sinh,” Coolican kể. “Cảnh sắc thật đẹp mắt. Tôi ngắm một chốc rồi mới dọt xe đi tiếp qua cầu.”
Trước 2 giờ sáng ngày 31 tháng Giêng, Coolican sang đến MACV. Hai lính TQLC phải ra kéo cổng cho anh vào. Anh đậu xe sát hàng rào cạnh bên cổng chính rồi đi thẳng vào phòng mình ở bên trong công sự nơi anh trọ chung với một sĩ quan TQLC khác. Anh hên mới còn chỗ để ngủ vì tối nay nhiều dân cố vấn, được rỗi rảnh do các đơn vị VN đang bận đón Tết, cũng kéo về chơi. Ở đây không thấy tăng cường an ninh dù Coolican biết Tướng Trưởng đã ban hành lệnh báo động cho các đơn vị VN của mình từ ngày hôm trước. Anh cũng chẳng mảy may quan tâm trước khi buông mình thiếp vào giấc ngủ.
Cố vấn trưởng ở MACV là Đ/Tá George O. Adkisson, vừa mới nhận chức vụ được mấy ngày sau khi về quê nghỉ phép ở Texas trở lại. Tốt nghiệp Võ Bị West Point khóa 1945, ông 43 tuổi, cao lỏng khỏng, dáng dấp quí phái, ăn nói nhỏ nhẹ nhưng đầy uy lực. Ông khác hẳn với người tiền nhiệm là Đ/Tá hung thần Pete Kelly, vua xì gà. Tôi nghe kể dân cố vấn đều khiếp vía ổng. Ổng rất thân cận với Tướng Trưởng thuở làm việc với SĐ1 BB.
Dĩ nhiên Adkisson biết Tướng Trưởng đã đặt lính của mình trong tình trạng báo động 100 phần trăm nhưng ông không biết rằng Tướng Westmoreland cũng đã ban một lệnh tương tự cho toàn lực lượng Mỹ. Hậu quả là đêm 30 tháng Giêng MACV vẫn sinh hoạt bình thường, không có lệnh báo động, không nhắc nhở đề phòng bất trắc.
Tòa nhà MACV không thiết trí gì đặc biệt để phòng khi bị tấn công. Tọa lạc giữa một khu đông đảo dân cư mà dân ngụ trong MACV cũng toàn là dân không tác chiến. Chỉ có vài TQLC và một số cố vấn là có kinh nghiệm chiến đấu, còn lại thì toàn là thư ký văn phòng, đầu bếp, tài xế xe Jeep và một ít nhân viên ngành yểm trợ. Hơn nữa vào đêm 30 tháng Giêng này, dân cố vấn lại đông hơn thường lệ.
Từ cổng vào MACV là tòa nhà phụ hai tầng, mỗi tầng có 20 phòng. dãy cao ốc này chạy song song với cổng ra vào và nằm cách 10m. Có một lối đi rộng hơn 3m ở giữa dãy nhà phụ và tòa cao ốc chính của khách sạn. Tòa nhà này giáp ranh với Quốc Lộ 1 bên hướng Tây. (Courtesy of The US Army)
Tòa công sự có hình thể chữ nhật, rộng 300 m, sâu 200 m, bảo bọc bằng tường cao gần 3 m, ngoại trừ cổng chính là một lớp rào cao hơn 3 m. Sát bên cổng này là một ụ chất bằng bao cát kiên cố, ở đây thường có 2 TQLC đứng kiểm soát lưu thông ra vào của cả quân lẫn dân sự. Trên bờ tường bọc theo chu vi là lớp thép gai, cách khoảng có đèn pha chiếu sáng và mìn claymore chống biển người được đặt ở những chỗ trọng yếu. Có một khoảng trống và rộng ở bên mặt Đông Nam ngó qua Sân Vận Động thành phố, ba mặt còn lại thì tiếp giáp với xóm nhà dân hoặc những cao ốc, nhờ vậy khỏi sợ bị tấn công từ các hướng đó.
Từ cổng vào là tòa nhà phụ hai tầng, mỗi tầng có 20 phòng. dãy cao ốc này chạy song song với cổng ra vào và nằm cách 10m. Có một lối đi rộng hơn 3m ở giữa dãy nhà phụ và tòa cao ốc chính của khách sạn. Tòa nhà này giáp ranh với Quốc Lộ 1 bên hướng Tây. Phòng ăn tập thể nằm ở tầng trệt. Sau dãy nhà phụ là sân thể dục, nơi đây có lớp rào lưới mắt cáo rất cao nên nếu cần trực thăng không thể lên xuống được. Tiếp sau sân thể dục là khu nhà ngủ gồm ba dãy, có cái lợp mái tôn, có cái căng bằng vải bạt. Bên mé Đông Nam thuộc nửa phần sau tòa nhà nơì ngó qua khoảng đất trống cũng có vài công sự phòng thủ. Có hai tháp canh trên đó được bố trí đại liên, một nhìn được hướng lên xuống QL1 cùng cổng chính, một nằm trên công sự chỉ huy nhìn rộng xuống toàn bộ cổng ra vào.
Trong khu vực này còn có câu lạc bộ sĩ quan (nằm bên dãy nhà phụ), nhà nguyện, phòng hớt tóc, và một trạm xá nhỏ. Trạm xá này đúng ra được dùng để băng bó thông thường, gồm hai phòng giấy nhỏ và một phòng mổ tí hon. Đúng ra thì MAVC chỉ là một cơ sở hậu cần, chuyên trị bít-tết, tôm cua các thứ chứ vũ khí nặng thì không. Cư dân toàn là cố vấn viên, yểm trợ viên, không có sát thủ viên.
Phòng hội quán sĩ quan vào buổi chiều là điểm nóng qui tụ đông đảo nhân viên. Phòng ăn tập thể lớn hơn nằm bên tòa nhà khách sạn chính được biến thành khu trình diễn văn nghệ mỗi khi có USO (Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương Mỹ, gồm các ca nghệ sĩ thượng thặng chuyên đi trình diễn giúp vui các binh sĩ Mỹ tập trung gần các căn cứ lớn) đến giúp vui. Tôi nhớ có lần ban nhạc Tito cùng đoàn kiều nữ Phi đến trình diễn trong nhà ăn tập thể mà khán giả đều phải đứng để xem, họ bị lôi cuốn đến độ cha tuyên uý cũng ra lắc lư.
Ở trong này chúng tôi giải quyết vấn đề giặt giũ bằng cách giao cho dân bản xứ. Mấy người địa phương này đa số là phụ nữ mỗi ngày qua thủ tục khám xét để vào ra cổng nhưng rồi thì họ tự do đi lại khắp nơi. Họ làm công việc thật chu đáo, tôi chưa hề nghe xảy ra một vụ ăn cắp vặt hay phá hoại nào.
*
Thoạt đầu tôi được cho ngủ ở một nhà lều nhỏ nằm cạnh trạm xá. Lúc ấy có khoảng 5, 6 sĩ quan khác cũng ngủ cùng lều với tôi. Trong số họ có một sĩ quan liên lạc mới toanh từ SĐ1 Kỵ Binh dọn đến là Th/tá Joe Gunter. Một vị khác là một đại úy TQLC trẻ tuổi mới từ Khe Sanh được chuyển về làm cố vấn cho một đơn vị lính Nam Việt. Ông này vừa kéo giường ra cách xa khỏi bức tường, vừa cười nói.
“Tôi thích xếp đặt giường như vậy vì mỗi khi bị pháo kích thì tôi có thể nhào xuống phía nào cũng được.” Dĩ nhiên về vấn đề này hẳn ông ta đã có kinh nghiệm bản thân.
Chiếc giường nhỏ nhắn của tôi được lót bằng một tấm nệm hơi và che bằng mùng để tránh bị muỗi đốt, cạnh giường, tôi để sẵn một máy thu thanh rẻ tiền và một đèn bấm để đọc sách trước khi ngủ. Phòng vệ sinh nằm cách xa 10 m trong một căn nhà có chất bao cát chung quanh; chỗ đi đại tiện là một mặt bằng để ngồi xổm có khoét lỗ chính giữa, gần đó là một đường ống làm nơi đi tiểu. Hầm trú ẩn gần nhất cách 10 m nằm về một hướng khác.
Tôi về giường ngủ lúc trước nửa đêm ngày 30 tháng Giêng. Đêm nay tôi vừa chơi ném tên với mấy người Úc thật vui, đây là trò tiêu khiển ruột của dân Úc, vậy mà tôi hạ họ được hai ván. Họ thật cởi mở và thân tình làm tôi nhớ bè bạn thời đại học. Tôi thấy hài lòng được về làm việc ở đây.
Vào đến lều thì đèn đã tắt ngúm cả. Tôi lặng lẽ cởi giày và máng áo quần lên trên một chiếc ghế gần đó. Tôi nghe một loạt súng M-16 và tiếng nổ như tiếng pháo. Có lẽ có người đang tiễn đưa ngày đầu một năm. Trong lều chẳng thấy ai cựa quậy. Tôi đi vào giấc điệp với nụ cười nở trên môi.
*
ẦM …. Tiếng này thì khó mà lầm được. Sức nổ làm bắn tôi lên khỏi giường. Một trái rocket 122 mm, thứ hỏa tiễn lớn nhất của địch, rơi xuống cách chỗ tôi ngủ chưa quá 16 m.
Theo bản năng, tôi xỏ lẹ quần, đội nón sắt lên đầu, chụp lấy đôi giày trận và khẩu M-16 rồi chạy chân không ra khỏi cửa về phía hầm trú pháo kích, tôi va lung tung với mấy người chung phòng khác. Trong hầm có đến 12 người; thêm hai trái nữa nổ bùm làm lay chuyển tòa nhà. Mấy phút giây đầu tiên chúng tôi lo mặc cho xong quần áo và kiểm lại vũ khí cá nhân. Chỉ có được một hai người là nhớ lấy theo áo giáp. Tôi nhìn đồng hồ, kim chỉ 3 giờ 45 sáng.
Mấy hột mồ hôi chảy xuống thái dương và đọng trước trán tôi. Có chuyện trọng đại đang xảy ra nhưng bọn tôi không biết được chính xác đó là gì. Có người tò mò thò đầu nhìn ra cho biết và thấy đường đạn xanh bay vèo trên trời. Dấu hiệu chẳng lành! Tôi được biết đường đạn xanh là của loại đạn thuộc khối Cộng. Tiếng đạn rít cao là tiếng của AK-47 còn tiếng nổ thật lớn là B-40, hai vũ khí thông dụng của Cộng quân. Tôi có thể phân biệt chúng xen kẻ với tiếng nổ quen thuộc của đại liên M-60, súng phóng lựu M-79 và tiếng ‘pop pop’ của M-16.
Không ai nói với ai một lời nhưng ai cũng nghĩ là không nên nằm đây lâu. Nếu đặc công mà lọt vào được với một túi chất nổ thì chúng tôi sẽ thành miếng mồi ngon lành.
Một trái rocket khác lại nổ nhưng gần hơn, tôi nghe tiếng la rồi tiếng kêu gọi trợ y. Chúng tôi vẫn đợi trong hầm chừng nửa tiếng thì được chỉ định đi tiếp ứng cho các trạm canh nằm khắp quanh khu công sự. Ở đó chúng tôi trong tư thế sẵn sàng. Để làm gì, không ai biết.
*
Đ/úy Coolican lăn ra khỏi giường khi vừa có tiếng nổ. “Chắc chắn mình đang bị pháo rồi,” anh kể lại. “Điều đầu tiên là tôi chui ngay xuống gầm bàn rồi bật radio nghe ngóng, sau đó đi ra ngoài một vòng để quan sát tình hình. Tôi thẳng tới khu bệnh xá xem nơi đó có thiệt hại nào không. Có nhiều lửa bốc lên từ phía sau khu nhà nên tôi thẳng đến hướng đó xem sao. Một hầm trú ẩn bị trúng ngay một quả làm năm người bị thương, họ đều là phi công trực thăng. Tôi cầm lấy băng ca phụ đưa họ về bệnh xá.”
Trong khi Coolican đang lo bố trí việc phòng thủ ở mặt sau thì có người báo cho anh biết nhân viên vô tuyến của anh là Hạ sĩ Frank Doezema, Jr. bị trúng đạn ở chòi canh phía Bắc. Anh liền tức tốc chạy tới đó.
“Tôi bảo vài người lo dập tắt lửa dưới chân tháp còn mình thì trèo lên.” Coolican tiếp, “Doezema bị thương ở cả hai chân, máu tuôn xối xả. Tôi chích cho anh ta một mũi mọt-phin rồi vác anh xuống.”
Sau đó Coolican leo trở lên, lần này cầm theo cây súng phóng lựu M-79 với 30 quả đạn, anh xả hết ra khu vực chung quanh cổng chính.
Chuyên viên truyền tin Doezema vốn là cư dân của Kalamazoo, Michigan. Anh tập trung hỏa lực từ cây đại liên M-60 về hướng cổng chánh, nơi đã phá hỏng được một đợt tấn công của đặc công. Anh giết được sáu địch quân trước khi bị thương. Còn Coolican về sau được Huân Chương của Hải Quân nhờ hạ được 4 mạng làm im họng một ổ chiến đấu địch đang bắn thẳng vào cổng chính.
Trong khi Coolican đang rót M-79 về hướng cổng chính thì Th/Tá TQLC Frank Breth, sĩ quan liên lạc của SĐ3 TQLC, dẫn toán quân đặc biệt trèo lên nóc tòa công sự, từ đó họ thấy được nhiều đặc công và bộ đội CS đang tiến theo QL1 về hướng MACV. Một địch quân thẩy một trái lựu đạn vào hầm chiến đấu ở dưới mặt đất làm một TQLC thiệt mạng, nhưng kế đó toán quân địch còn lại đều bị diệt sạch trước khi tới được cổng. Hành động chớp nhoáng của Th/Tá Breth và những người khác khiến địch phải phân tán mỏng.
Doezema lúc ấy bị thương quá nặng cần được điều trị lập tức nếu không chắc sẽ thiệt mạng. Có hai người khác bị thương nặng cũng đang có nhu cầu tương tự.
Như nhiều lần trước đây, Coolican phải chuẩn bị để gọi trực thăng tải thương nhưng kẹt là tìm đâu ra chỗ cho máy bay đáp. Căn cứ MACV không có khoảng trống nào đủ rộng để cho trực thăng xuống. Anh lật bản đồ ra tìm và chọn được một nơi nằm ở công viên Dốc Lão, bên bờ sông, cách đó chừng 200 m .
Không ai biết địa điểm ấy có an ninh không nhưng vì tình thế quá khẩn trương nên không thể nghĩ ngợi được nữa. Coolican gặp khó khăn liên lạc với TQLC ở Phú Bài, anh quay sang BCH SĐ1 Kỵ Binh ở 25 km phía Bắc Huế. Dù lúc bấy giờ họ không có sẵn trực thăng tải thương nhưng anh cứ tiếp tục năn nỉ.
Đồng thời Coolican còn phải tính toán làm sao đừng để thêm ai bị hạ trong lúc tải thương tới bãi đáp. Anh biết địch đang kiểm soát không những khu vực đó mà còn cả các con đường dẫn tới đó nữa.
Đến xế trưa mới xin được trực thăng. Lập tức một xe tải không mui được trưng dụng để chuyên chở thương binh, họ được chất ngay lên xe. Hai xe Jeep sẽ đi theo hộ tống. Vừa khi phi cơ gọi cho hay họ đang trực chỉ đến Huế thì đoàn xe bắt đầu túa ra cổng và phóng về hướng bãi đáp dưới làn mưa đạn. Trong khi vài sĩ quan cố vấn lo giữ cho thương binh khỏi bị rớt xuống đường thì người khác điều khiển đại liên gắn trên xe Jeep, có người thì bắn M16.
Đến nơi an toàn, Coolican bình tĩnh liên lạc trực thăng để hướng dẫn đáp xuống. Con chim sắt lớn xà xuống thật nhanh trước làn đạn tua tủa; nhận thương binh xong liền bốc khỏi mặt đất trong không đầy 30 giây. Đám cố vấn liền tức tốc quay trở về MACV, họ trở về đến nơi an toàn mà không chịu thêm tổn thất nào, thật là phép lạ. Theo lịch trình thì Doezema sẽ được về nước trong vòng 20 ngày nữa nhưng rất tiếc anh đã chết khi phi cơ vừa đáp xuống Phú Bài vài phút sau đó. Hạ sĩ James Mueller đến Huế làm việc từ Tháng Năm 1967 với chức vụ đả tự viên, tức thư ký đánh máy, anh hồi hương với huy chương đồng vì đã anh dũng chiến đấu ở MACV trong hai ngày đầu của cuộc bao vây Huế.
“Tôi la báo động ‘pháo kích’ theo như lệ thường mỗi khi địch rót súng cối hoặc hỏa tiễn vào cơ quan. Bây giờ cái đó đã thành phản xạ rồi,” nhiều năm sau Mueller kể lại.“Tôi bò ra khỏi giường, xé tung cái mùng, đội nón sắt lên, mặc vội áo giáp. Chưa tới vài giây tôi đã sẵn cây Carbine và băng đạn trên tay và, chân mang dép Nhật biến ra khỏi phòng. Bạn đồng sự luôn luôn đem tôi ra làm đề tài trêu chọc cái tật không bao giờ chịu mặc cho xong bộ đồng phục. Bởi thế họ cứ mãi thấy tôi cụ bị đầy đủ sẳn sàng tác chiến nhưng vẫn còn mặc đồ lót và mang dép đi tắm. Với tôi tốc độ là quan trọng hơn mọi thứ — Tôi muốn được sống.”
Đây không phải lần đầu tiên Muller bị ăn pháo ở MACV nhưng lần này là tệ hơn cả.
*
Theo lệ thường hễ mỗi lần Charlie (Tiếng lóng quân Mỹ ám chỉ quân du kích) pháo kích là chúng tôi phải thi hành lệnh báo động kéo dài chừng nửa giờ là xong, sau đó về giường ngủ tiếp. Lần này thì khác, sau khi chúng tôi đã chui vô hầm an toàn rồi thì mọi sự như trời sập. Đạn súng nhỏ nghe từ mọi hướng, sau tiếng mọt-chê và hỏa tiễn còn nghe thêm mấy tiếng nổ chát chúa khác nữa.
Viên trung sĩ xuất hiện bảo chúng tôi hể cứ thấy cái gì nhúc nhích là tự do bắn bỏ. Một loạt đạn đầu bắn ra chạm phải dây nổ làm kích ngòi hệ thống pháo sáng ở hàng kẽm gai trên bờ tường cao. Cả một vùng tòa nhà sáng loé lên như ban ngày. Tôi nghe tiếng súng nhỏ bắn thật rát từ phía trường học và tiếng súng liên thanh từ khu sĩ quan chỉ huy. Lính VN ở doanh trại đối diện bắn mấy phát sang vị trí chúng tôi, đoán là họ sơ ý nên không bắn trả. Một hai phút sau tiếng súng từ bên đó ngưng bặt. Nhưng tiếp đó thì nào là tiếng nổ inh tai, pháo sáng, súng nhỏ, tiếng huyên náo, tiếng la thất thanh, và những tiếng ồn đó cứ kéo dài như thể bất tận. Chúng tôi không tài nào biết được việc gì đang xảy ra ở chung quanh. Cứ ngồi yên trong hầm chiến đấu, theo lệnh viên trung sĩ lo bảo vệ an ninh mặt bên này là được. Cầu trời sao cho thoát cảnh địa ngục trần gian này.
*
Đây là lần đầu tiên tôi được cắt cử gác ứng chiến và qua cường độ súng nổ tôi đoán được địch đông tới ngần nào nhưng tôi không hề cảm thấy hiểm nguy gì cả. Không biết phải cắt nghĩa sao đây mà thực lòng tôi có cảm giác khoái hơn là sợ.
Trong khi ngồi đảo mắt tìm kẻ muốn giết mình để mà giết họ thì người ta có khối thì giờ để nghĩ ngợi vu vơ. Đêm đầu tiên đó vì điều tiết quá độ, mắt tôi chắc lồi ra to bằng trái banh chơi bóng chày (baseball) là ít. Định bụng sẽ không để xẩy mất tên nào muốn giết mình.
Tôi ngồi canh chung với một đại úy TQLC tên Bob Williams ở tầng lầu hai của dãy nhà phụ trông xuống cổng chính. Suốt hai tiếng đồng hồ chúng tôi nói chuyện cũng nhiều nhưng hầu hết thời gian là im lặng và chăm chú quan sát. Tôi không nhớ lúc ấy mình có thấy sợ không, chắc vì cảm giác này quá mới đối với tôi nên tôi cũng không biết phải nghĩ sao nữa.
Tôi đảo mắt không ngừng đúng theo sách vở đã học ở Fort Benning 4 năm trước đây trong bài tác chiến đêm. Đột nhiên tất cả chợt yên hẳn đi. Bầu trời ở phía Đông sáng dần, rồi bình minh đến. Trước mặt tôi trên mặt đất là một lỗ to tướng do trái rocket nổ lúc sớm. Một chiếc Jeep nằm chổng bánh lên trời, một chiếc khác nằm nghiêng dựa lên hàng rào. Ngoài đường, ở gần cổng có hai cái xác người nho nhỏ, thoạt đầu tôi tưởng của trẻ nít hóa ra đó là của đặc công. “Mọi người vô sự cả phải không?” Có tiếng hỏi từ bên dưới, rồi từng người một chúng tôi lên tiếng đáp lại từ mỗi vọng gác. Đã 6 giờ sáng, tòa công sự bao trùm một bầu không khí lạnh và ẩm. Đằng trước tuyệt nhiên không thấy bóng dáng người qua lại. Chúng tôi vẫn ngồi yên tại chỗ, mong có ai đó cho chúng tôi biết chuyện gì đang xảy ra. Tôi rời chỗ một lát để giải quyết bầu tâm sự; xong, tôi thấy nhẹ hẳn ra. Lúc đứng dậy tôi không quên kiểm tra khắp thân thể xem thử có bị thương chỗ nào không vì kiếng vỡ vung vãi đầy khắp phòng. May thay mọi sự đều tốt đẹp hết. Một lát sau hai chúng tôi thay phiên nhau canh chừng để về phòng lấy thêm áo quần và mấy thứ khác còn để sót lại. Tôi cúi khum người chạy băng qua một hai tòa nhà tường bị lỗ chỗ vết đạn. Có vài lỗ lớn do đạn B-40. Những người khác cũng đang di chuyển trong tư thế như tôi. Tiếng đạn bắn sẻ vẫn bay rít trên đầu.
Nhìn qua bờ tường phía bên phải tôi thấy mái trên của lầu chuông nhà thờ; tôi tin chắc địch đứng đó để bắn sẻ qua đây. Nhà thờ này nằm trong khuôn viên trường nữ trung học Jeanne d’Arc; tòa kiến trúc sơn vôi vàng, đàng trước được chống đỡ bởi hàng cột. Ngôi trường và một trạm y tế có sơn dấu thập đỏ phía ngoài đều nằm kế cận chúng tôi. Ngày nào địch còn chiếm nóc chuông đó, bên này ai di chuyển cũng phải lẹ và lum khum mà chạy. Tôi ghé vào lều thật nhanh, mặc thêm áo sơ mi, áo giáp. Chụp lấy bộ đồ cạo râu, đèn pin và máy thu thanh rồi hết tốc lực trở về trạm gác. Có người ghé qua phát khẩu phần C lương khô và đạn M-16, tôi bật radio nghe tin tức thì đài phát thanh quân đội Armed Forces Network loan tin là Sài Gòn đang bị tấn công. Các thành phố khác cũng trong tình trạng tương tự nhưng không nghe đá động gì đến tình hình Huế cả.
*
Đại tá Adkisson cho triệu tập các cố vấn trưởng lại để báo cáo tình hình. Dầu đường dây điện thoại nối với BTL SĐ1 BB VN đã bị cắt đứt nhưng ông vẫn có thể điện đàm được với Tướng Trưởng bằng vô tuyến. Cả hai bên đều rõ là toàn thành phố nay đầy tràn bộ đội CS và du kích. Ông Trưởng cho biết mình đang bị nguy khốn, còn theo Adkisson thì MACV đã thoát qua cơn hiểm nghèo.
“Theo tôi, nếu muốn, quân BV có thể tràn ngập chúng ta dễ dàng,” ông nói. “MACV chắc không phải là mục tiêu mà họ quan tâm. Vậy chúng ta chắc sẽ không bị hiểm nguy đâu.”
Dẫu sao thì sao Adkisson vẫn kêu cứu viện.
*****
Nơi có thể tiếp cứu gần nhất là căn cứ TQLC ở Phú Bài trong khi chính đây cũng đang bị địch tấn công. Cách Huế 11 km, Phú Bài là nơi đặt BCH tiền phương SĐ1 TQLC tên gọi là Lực Lượng Đặc Nhiệm X-Ray (Task force X-Ray). SĐ3 TQLC đã từng đặt tổng hành dinh ở đây mãi cho đến ngày 13 Tháng Giêng. Vào thời gian tấn công Tết, nhiều đơn vị của cả hai sư đoàn vẫn đang di chuyển ra vào vùng này để bàn giao đơn vị.
Hôm 31 Tháng Giêng, LLĐN X-Ray gồm có BCH của các Trung Đoàn 1 và 5 TQLC cùng 4 tiểu đoàn bộ binh, mỗi đơn vị đều được trang bị đầy đủ cấp số. Khi có lệnh phải giúp Huế, Chỉ Huy Trưởng X-Ray, Chuẩn Tướng Foster C. LaHue, mới quyết định là ông chỉ thừa một đại đội để gởi đi giúp thôi. Điều mà LaHue và những người khác lúc ấy chưa am tường là Huế đang bị địch với quân số cấp sư đoàn tấn công với đầy đủ tiếp liệu, đạn dược và viện binh đủ để chiến đấu lâu dài.
*
Buổi sáng tiếp tục lên, các viên cố vấn tụ tập ở bên trong MACV bắt đầu thở ra nhẹ nhõm. Chúng tôi ngồi nhắc lại về sự may mắn mà địch quân đã không tấn công bộ binh ồ ạt tiếp sau cuộc xung phong đặc công. Ngăn được địch là một việc. Đẩy được họ ra khỏi Huế mới là chuyện khó nhất trong toàn trận chiến.
Nghĩ là chuyện đã xong, tôi lấy nhật ký ra bắt đầu kể lại:
‘Hôm nay Thứ Tư qua nhanh. Ngoài kia có kẻ không ưa chúng tôi. Họ pháo kích không ngớt, không đếm kịp số lượng đạn cối. Quả đầu nổ nghe lớn lắm (sau này tôi mới biết đó là hỏa tiễn 122 mm). Bình minh còn lâu mới xuất hiện. Tôi không thấy sợ, chẳng biết vì sao. Ngoài đường có hai xác chết nằm cách chỗ tôi ngồi gác hơn 15 mét. Trong này có tiếng kêu la nhưng chung chung thì khá yên tĩnh, ngoại trừ tiếng đại liên, M-16 và đạn cối. Khẩu M-16 của tôi chưa bắn được phát nào. Nhưng tôi vẫn sẵn sàng. Tôi đang ở trung tâm của cơn bão lửa. Thật đó, chính tôi đã từng mong được vậy. Đây là chiến địa mà.’
*
Mười giờ sáng ngày 31 tháng Giêng, tôi nghe tiếng trực thăng xung trận đầu tiên bay qua về hướng sông kéo theo đằng sau hằng tràng súng. Vài phút sau tôi nghe thêm tiếng súng nhưng chiếc trực thăng không còn bay trở lại. Sau này mới hay nó đã bị bắn hạ, phi hành đoàn thoát được vào một doanh trại lính miền Nam rồi vài giờ sau họ được cứu thoát. Cuộc giải cứu táo bạo do Chuẩn Úy Frederick Ferguson thực hiện mang về cho anh Huân Chương Danh Dự của Quốc Hội (Congressional Medal of Honor).
Ch/úy Frederick Ferguson, một phi công trực thăng kỳ cựu thuộc Đại Đội C, Tiểu Đoàn 277 Không Yểm của Sư Đoàn 1 Kỵ Binh. Sư đoàn này tạm thời hoạt động gần phía Bắc Chu Lai trong khi đang chuẩn bị dọn về căn cứ Evans ở 25 km Tây Bắc Huế. Bãi đậu trực thăng của đại đội anh là một bãi đất thuộc Tiểu Đoàn Công Binh Kiến Tạo nằm cách Phú Bài chừng 2, 3 cây số. Sáng sớm 31 tháng Giêng địch pháo dữ dội bằng đạn cối và rocket. Khi trận pháo thưa bớt, các phi công liền vội di tản 12 chiếc trực thăng. Họ phải cất cánh mà không mở đèn.
Nhiều năm sau Ferguson kể lại: “Sợ đạn cối gây tỗn hại cho phi cơ nên chúng tôi phải cấp thời cho di chuyển đi ngay.”
Họ chọn bay về hướng căn cứ Evans. Đến nơi thì bị sương mù dày đặc không xuống được phải quay vòng trở lại phía Nam trực chỉ phi trường Tây Lộc nhưng được biết ở đây cũng đang bị tấn công. Sau cùng qua liên lạc vô tuyến họ được Phú Bài cho phép đáp, dù rằng địch vẫn chưa ngưng pháo. Đằng nào họ cũng phải hạ cánh vì phi cơ chỉ còn đủ nhiên liệu cho 20 phút phi hành nữa thôi.
Sau rạng đông, khi đã lấy xong nhiên liệu, họ lại bay về căn cứ cách đó không xa để chờ chỉ thị. Trên điện đài, Ferguson được biết có một trực thăng thuộc đại đội của anh bị bắn rơi ở Huế, năm chiếc khác cùng đơn vị đã tìm cách cứu nhưng không chịu nổi hỏa lực địch từ dưới bắn lên. Lệnh trên đưa xuống rằng đừng nên lai vảng gần Huế.
Lập tức Ferguson hiểu ngay mình cần phải làm gì.
“Đặt trường hợp tôi là họ, dĩ nhiên tôi muốn có người đến cứu tôi,” Ferguson tiếp. “Đây là nhiệm vụ, trọng trách của tôi là phải mang họ ra.”
Ferguson bảo phi hành đoàn lấy bớt đồ trên phi cơ xuống để giảm tối đa sức nặng và chuẩn bị công tác giải cứu đồng đội. Anh thuyết phục thêm được ba chiếc gunship (loại trực thăng được trang bị đặc biệt để chiến đấu) bay theo yểm trợ tác xạ trong khi anh xuống cứu. Canh thời gian thế nào để hành động cho được ăn khớp là việc vạn nan. Anh hình dung mình chỉ có 20 giây của cơ may để đáp xuống và rồi cất cánh. Lại thêm sự vận hành cơ phi đòi hỏi độ chính xác cao, nơi anh sẽ hạ cánh là một doanh trại VN bé tí, là một sân nhỏ nằm giữa các dãy nhà và một cột cờ. Đường kính cánh quạt lớn của trực thăng chỉ kém bề ngang sân có vài mét.
Khoảng trưa, Ferguson liên lạc với trại lính cho biết anh sẽ xuống ngay khi địch ngưng pháo. Anh thông báo 3 chiếc gunship hãy sẵn sàng, đồng thời dặn dò phi hành đoàn phân công nhiệm vụ cho họ. Anh dự tính sẽ từ hướng Đông bay thấp vào dọc theo Sông Hương rồi rẽ trái sau khi vòng qua khỏi cầu Trường Tiền, kế đến là cho phi cơ đáp thật nhanh vào sân trại.
“Tôi nhớ lại khi nhìn qua bên phải và trông thấy lá cờ của CS trên kỳ đài,” Ferguson kể. “Một gã ngồi bên phía ấy tên Ford bị đặt biệt danh Edsel hay tên là Edsel có biệt danh Ford tôi không nhớ rõ, gã nói, ‘Lúc trở về nhớ bay ngang đó để lấy lá cờ.’ ”
Con tàu của Ferguson xà xuống giữa hàng loạt đạn và anh thả nó rơi tòm ngay giữa sân trại trong bụi đất mịt mờ.
Năm 1997 Ferguson tường thuật lại, “Ba mươi năm rồi, bây giờ tôi không nhận ra trại lính đó nữa, chỉ nhớ là nó nằm ở đâu đó gần sông thôi.”
Chất người lên xong, anh cho phi cơ lên thẳng đứng để khỏi đụng vào nhà hoặc cột cờ, rồi chuồn lẹ. Ngay khi đang cất khỏi mặt đất, một trái cối nổ cạnh bên làm phi cơ xoay đi 180 độ buộc Ferguson phải bay ra khỏi trại lính theo một hướng nghịch xa hẳn chỗ 3 chiếc gunship đang đứng chờ để yểm trợ.
Đúng ra thì có lên từ hướng nào cũng không có chi khác vì mấy chiếc gunship đều bắn hết đạn cả rồi. Chiếc trực thăng của Ferguson bị ghim đầy lỗ đạn của địch, là chiếc duy nhất lết về được đến Phú Bài.
Ferguson kể lại cho nhà văn Tim Lowry năm 1985:
“Lúc ấy nếu không có năm người bị thương trên boong chắc tôi buộc phải đáp xuống đâu đó lâu rồi.
“Máy truyền tin thì hỏng, áp suất dầu rớt xuống gần số không. Mùi hôi chịu không nỗi. Ở đằng sau nóng như lửa. Phi cơ lắc đến độ không đọc được các đồng hồ trước mặt nhưng ít ra là nó vẫn còn bay được và tôi ép nó phải lết cho đến Phú Bài. Vừa vượt qua khỏi vòng rào phòng thủ thì phi cơ vừa trượt xuống đụn cát ngoài phi đạo. Nếu hồi đó hàng thép gai ở dãy rào chỉ cao hơn một sợi tóc thôi là coi như tôi đi đong.
“Thật là một sứ mạng rợn tóc gáy nhưng may chúng tôi không ai chết cả. Thôi thì hết người này đến người kia vỗ lên lưng nhau. Bạn có thể tưởng tượng nỗi xúc động lúc ấy nó như thế nào chăng. Ai cũng quá sức sung sướng, quá khích động vì mừng vui.
“Phải mất một ngày nỗi ngây ngất đó mới lắng xuống, nhưng rồi chúng tôi cũng phải trở lại chiến đấu ngay ngày hôm sau.”
Chuẩn Úy Ferguson rời nhiệm vụ tác chiến năm 1972 nhưng vẫn phục vụ cho Vệ Binh Quốc Gia (National Guard). Năm 1997 anh về hưu sau 39 năm trong quân ngũ.
Tuần tiễu trước lúc nửa đêm trong phạm vi nhiều cây số phía Tây kinh thành, ĐĐ Thám Báo 36 người thuộc SĐ1 mà Tướng Trưởng đã giao phó nhiệm vụ làm tai mắt cho sư đoàn, phát giác ra mình đang nằm ngay trên đường tiến quân của địch. Vị chỉ huy toán thám sát là Tr/úy Nguyễn Thi Tân nhanh chóng nhận chân ra rằng lực lượng mình quá nhỏ không nên chạm trán với địch. Anh ra lệnh anh em binh sĩ án binh bất động trong khi lo liên lạc vô tuyến với Tướng Trưởng báo động địch đang xâm nhập ồ ạt về hướng kinh thành. Nằm gần đường tiến của địch đến nỗi Tr/úy Tân phải thì thào trong ống liên hợp để không bị lộ.
Rõ ràng địch đang di chuyển hai tiểu đoàn, 800 và 802, thuộc Trung Đoàn 6 chính quy. Quân BV phối hợp với du kích địa phương đang xâm nhập xuyên qua mạng lưới lọc của ĐĐ Thám Báo tiến về mặt Tây Nam kinh thành, ở đó họ nằm chờ hiệu lệnh để xuất kích chiếm lấy thành phố. Khi có hiệu lệnh, nội tuyến ở trong thành sẽ tiêu diệt các chốt gát để mở cổng thành. Đồng thời địch cho bố trí thêm một tiểu đoàn thứ ba là Tiểu Đoàn 806, đơn vị này án ngữ mặt ngoài Tây Bắc kinh thành, chắn ngang QL1 để chặn quân cứu viện. Đại đội xuất sắc nhất của tiểu đoàn này là đơn vị đặc công mà thành viên rất được tuyển lọc, lãnh sứ mạng đột kích BTL SĐ1 BB nằm bên trong Thành Nội. Lực lượng tấn công Huế còn được sự trợ lực của Tiểu Đoàn Đặc Công 12 BV.
Theo lời một tù binh bị bắt một hai tuần sau đó, rằng các thành viên xung kích vào Huế được cấp phát thịt vịt, bánh chưng, thịt khô, và gạo. Họ còn được nghe tuyên truyền là chuẩn bị tham dự một “cuộc tiến công lớn nhất lịch sử đất nước.” Cuộc tiến công thần kỳ sẽ long trời lỡ đất. Một số quân thâm nhập đã lo thay bộ đồ đi rừng bằng áo quần ka ki có quân hàm phù hiệu huân chương đầy đủ, làm sao trông thật bảnh bao để tham dự diễn hành chiến thắng như đã được dự trù. Để tỏ tình đoàn kết với các đồng chí miền Nam, một số bộ đội miền Bắc mang bên tay áo hàng chữ “Sinh Bắc Tử Nam”.
Lực lượng xâm nhập rồi ra đã không thực hiện được cuộc diễn hành chiến thắng đó vì sự chiến đấu anh dũng của ĐĐ Hắc Báo, lòng quả cảm của ban tham mưu cùng anh em binh sĩ còn sót lại trong BTL SĐ1 cùng sự lãnh đạo cứng rắn của Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng. Đại Đội Hắc Báo được chỉ huy bởi một trong những sĩ quan trẻ tuổi ưu tú của Tướng Trưởng. Tên được đặt theo tên của thành phố, Trung Úy Huế sinh trưởng ở đây nên mọi ngỏ ngách, nhà cửa, hầm hố trong thành phố anh đều thuộc cả. Các cố vấn Mỹ gọi anh là “Harry”, anh là người dễ tạo cảm kích nơi người khác. Cao và lớn con hơn các binh sĩ VN bình thường, Huế là nhà chỉ huy táo bạo và gan dạ, có phong cách và tư cách khác với những người khác cùng thời. Có thể nói lính của anh dành cho anh cảm tình tôn kính thường dành cho các thần linh, họ sẵn sàng chết cho anh theo mệnh lệnh.
Địch vẫn tiếp tục dồn quân đến mặt ngoài mạn Tây kinh thành chờ tín hiệu cho một cuộc tấn công hiệp đồng. Cấp chỉ huy CS nhận chỉ thị rằng cuộc xuất kích sẽ khởi sự lúc 2 giờ rưỡi sáng, hiệu lệnh là một loạt hỏa tiễn được bắn từ vùng núi phía Tây thành phố nhưng sau đó nhiều lần bị hoãn lại ngoài dự liệu. Một trong những quan sát viên của cấp chỉ huy này báo cáo: “Tôi thức để chờ, tôi nhìn xuống phía Huế…ánh đèn thành phố vẫn còn sáng, bầu không khí êm ả không nghe động tĩnh gì cả.” Tín hiệu đến lúc 3 giờ 40 sáng bằng một loạt hỏa tiễn. Hai tiểu đoàn CS, 800 và 802, lập tức tràn ngập chốt giữ Cửa Chánh Tây rồi tỏa rộng ra, khởi đầu một cuộc tấn công hiệp đồng từ Tây sang Đông.
Tr/úy Huế đang nằm trên giường khi loạt tiếng nổ đầu tiên nghe được ở nội thành. Trái hỏa tiễn đầu tiên bay vèo qua trên nhà anh rồi rớt ngay bên trong tường thành phía Tây. Ở nhà hôm ấy có vợ, đứa con gái 4 tháng và cha mẹ của anh. “Tôi vụt dậy mặc nhanh áo quần, vơ lẹ quân tư trang rồi dọt ra khỏi nhà,” Tr/úy Huế kể lại. “Nhớ lại chiếc Jeep mình đã cho một trung đội trưởng nhà ở bên kia sông mượn về tối qua, tôi liền nhảy tót lên xe đạp phóng về hướng chốt chỉ huy của mình nằm phía bên kia phi đạo. Tôi thấy địch quân chạy quanh gần hai bên tôi; chờ xem chúng chạy về hướng này thì tôi liền đạp đi hướng khác. Tôi là thổ công ở đây, tôi biết tôi đang đi đâu còn họ thì làm gì biết.” Nhờ bóng đêm che khuất, Huế xen lẫn giữa quân địch đang phân vân mất định hướng trước đường ngang lối dọc chật hẹp và nhà cửa san sát. Anh nghe rõ tiếng súng phát ra từ phía phi đạo; biết rằng đơn vị đang chạm địch. Đến gần, anh lên tiếng để đồng đội biết có sự hiện diện của mình.
Phi trường Tây Lộc nhìn về hướng Tây Bắc. (cc.gatech.edu)
Lập tức nắm quyền chỉ huy, Huế chụp lấy một cây súng chống chiến xa M-72 (LAAWs: Light Antitank Assault Weapons) mà đơn vị anh vừa mới được trang bị thêm. Anh bắn vòng cầu một trái vào cả tá địch quân ở phía bên kia phi đạo. Sức nổ làm bắn ba mạng bay cao lên trời. Toàn trung đội còn lại của ĐĐ Hắc Báo nhả liên tục hàng tràng đại liên và M16. Góp phần chống trả còn có một trung đội thuộc ĐĐ1 Quân Cụ có trách nhiệm giữ kho đạn và vũ khí ở gần phi trường.
Trái đạn làm chồn chân địch quân và càng gây thêm sự mất định hướng của quân BV. Sau đó họ bèn giạt qua bên phải, đánh vòng để tránh hỏa lực từ phía kho quân cụ và tiến thẳng vào ngay trung đội Hắc Báo. Quân của Huế chận đường tiến của địch băng qua phi đạo gây cho họ nhiều tổn thất nặng nề. Sự kháng cự mãnh liệt khiến Tiểu Đoàn 800 phải ngoặc qua hướng Nam để rồi phối hợp với Tiểu Đoàn 802, tiểu đoàn này đang cố mở đường tiến đến BTL SĐ1 nằm ngay mé thành Tây Bắc. Về sau Hắc Báo và trung đội Quân Cụ đã rút vào được bên trong BT, góp phần chận đứng cuộc tấn công thứ hai nhằm tràn ngập bộ chỉ huy này. Trong lúc đang chống trả cuộc tấn công ở phi trường, Tr/úy Huế phát hiện thấy hai ông TQLC Mỹ lạc loài có nhiệm vụ giữ an ninh.
“Tôi cho lệnh ngưng bắn và ra hiệu để họ tiến về phía chúng tôi,” Huế kể tiếp. “Hóa ra cả hai đều còn non trẻ, thấy họ sợ sệt ra mặt. Tôi còn chụp được hai tên địch và bắt sống làm tù binh. Một trong hai mặc quân phục bộ đội miền Bắc có điểm một ngôi sao trên cổ áo. Lính của tôi ai cũng lên tinh thần hết, họ tưởng chụp được một ông tướng.” Một người khai là được đưa từ miền Bắc vào và đã lẫn khuất trong khu vực suốt 7 ngày qua. Y được cho biết là sẽ có người đón để đưa đường dẫn lối và sau ngày tấn công sẽ có một cuộc diễu binh mừng chiến thắng.
Một điều khác lạ mà Huế ghi nhận được là cả hai đều được trang bị lương thực bằng khẩu phần K của quân đội Mỹ. Chúng gồm 3 bịch nhỏ, mỗi bịch được bọc bằng giấy thiếc. Một bịch đựng gạo, hai bịch kia đựng cá và lươn. Ngoài bịch có ghi chú bằng tiếng Mỹ. Ngoài ra, linh tinh còn có thuốc viên vitamin, một gói đường, nhiều gói muối và tiêu, cả một ít kẹo gum nữa. Ngoài hộp ghi rõ bao bì được đóng ở Okinawa. Về sau Huế cho viên cố vấn Mỹ của mình là Đ/úy TQLC James J. Coolican, đêm đó đang kẹt ở trong tòa MACV bên Hữu Ngạn, biết rằng chính nhờ súng M-72 mà đã gây được sự tán loạn tinh thần đối với địch đến độ họ không còn cơ hội để tái hợp hòng mở cuộc tấn công vào BTL SĐ1 được hữu hiệu nữa.
“Trở lại thành phố Huế sau khi cho đem dợt thử ở Vùng Phi Quân Sự, chúng tôi mang M-72 ra dạy qua nhiều buổi huấn luyện về cách sử dụng.” Coolican nói, “Tôi tin chắc là nhờ dùng đến M-72 ngay từ buổi đầu của cuộc tấn công đã cứu được tổng hành dinh của Tướng Trưởng.” Tướng Trưởng đồng thời cũng cứu được chính mình nhờ những quyết định được đưa ra đúng lúc. Thứ nhất phải nói đến là ông đã chỉ thị cho ĐĐ Thám Báo sứ mạng đi dọ thám vùng phía Tây hôm trước khi có cuộc tấn công. Kế đến, ông đã báo động tình hình nguy ngập kịp thời cho ĐĐ Hắc Báo. Thứ ba, ông cho lệnh tạm bỏ phi trường Tây Lộc hòng dồn lực lượng lại để cố thủ kịp thời BTL. Chỉ một mảy may lưỡng lự, Hắc Báo và ĐĐ Quân Cụ có thể bị bao vây và bị tiêu diệt dần từng mảng nhỏ ở khu vực phi đạo, hậu quả đưa đến sự sụp đổ của BCH vì thiếu quân chiến đấu.
*
Lệnh triệu hồi đã mang về cho Tướng Trưởng không ít thì giờ quí báu. Số là trong khi Tiểu Đoàn 800 CSBV bắt đầu tấn công phi đạo Tây Lộc đã bị bỏ ngỏ và vơ vét kho vũ khí của ĐĐ Quân Cụ, thì ông tập trung thời gian để lo củng cố phòng thủ cho BCH, nơi vừa đẩy lui được đợt xung phong thứ nhứt của Tiểu Đoàn 802 BV. Sự kiện vừa qua chứng tỏ khả năng có thể kháng cự được đợt xung phong thứ hai dự liệu sẽ xảy đến. Trong đợt đầu, BTL suýt bị địch tràn vào sau khi họ chọc thủng được bức tường ở khu Quân Y. Các bác sĩ, trợ y lẫn công chức dân chính phải đánh cận chiến mới đẩy lui được địch. Phe phòng vệ thiệt mất 11 chết, 6 bị thương. Phía bên kia có 20 bị hạ.
*
Tr/úy Huế kể lại rằng anh nhận được lệnh bỏ phi trường để rút về BTL lúc 7 giờ sáng, anh liền chọn ngay một con đường triệt thoái ngắn và an toàn nhất. Huế gom quân và đã đưa được tất cả nguyên vẹn về đến BCH trong thời gian kỷ lục. Trên đường rút, anh lượm được thêm người ở bên Quân Cụ, một số con nhạn lạc đàn kẹt ở nhà vì đang nghỉ phép. Anh hướng dẫn đoàn người bây giờ lên đến con số 150 len lỏi qua nhiều ngõ hẻm quen thuộc mà anh thường chơi cút bắt hồi còn bé. Từ hướng Nam họ về đến được trước cổng chính BTL.
“Tôi thấy có vài xác chết ở phía ngoài thành. Tôi còn nhìn thấy địch đang lập ba ổ đại liên chĩa về hướng cổng chính để yểm trợ cho cuộc tấn công.” Tr/úy Huế kể, “Tôi liền cho sử dụng vài cây M-72 để tiêu diệt mấy khẩu đại liên rồi dùng trái khói hầu tạo màn che để chạy vào. Thật may mắn cho chúng tôi vì chỉ cần đến trễ một giờ nữa thôi thì BTL chắc đã không còn.”
Tới lúc bấy giờ trời đã sáng bạch, thấy mọi dự tính đều không được như dự liệu, lực lượng địch bắt đầu quay ra lo thanh toán trước những chỗ ít được phòng thủ ở khu vực Đại Nội. Ngay chính nơi đây địch cũng chạm phải sức chống kháng bất ngờ, lần này của ĐĐ Thám Báo 36 người là những người sau khi dọ thám ở ngoài mặt Tây kinh thành đã tìm cách lọt được về Thành Nội vài giờ trước đây. Tuy nhiên với quân số áp đảo, đến 7 giờ quân CS tràn được vào Đại Nội.
Thành Mang Cá nơi đặt Đại Bản Doanh của Sư Đoàn 1 Bộ Binh quân đội Miền Nam, nằm ở góc Bắc kinh thành Huế. Toàn thành phố đều rơi vào tay quân CS ngoại trừ nó và cơ quan MACV của Hoa Kỳ ở mặt Nam, phía hữu ngạn sông Hương. Đây là nơi đóng vai trò quan trọng trong việc tái chiếm Thành Nội sau này. (edited from photo of popasmoke.com)
Bộ đội CS thay nhau leo lên ngai vua chụp hình lưu niệm, rồi đến 8 giờ sáng một trung đội thuộc Tiểu Đoàn 800 chiếm lĩnh kỳ đài, nơi mà 24 giờ trước đây Tướng Trưởng và ông Thị Trưởng TP Huế đã đứng làm lễ chào cờ đầu năm. Quân CS hạ cờ vàng ba sọc đỏ của Nam Việt xuống rồi kéo lên lá cờ khổng lồ của MTGP rộng 6×9 bộ anh (2×3 m).
Trong khi mặt kia thuận chèo mát mái thì phía này toán đặc công 40 người tinh tuyển thuộc Tiểu Đoàn 806 vẫn chưa thực hiện được kế hoạch đánh úp BTL SĐ1 từ phía ngoài Kinh Thành ở mặt Bắc. Địch quân nhận thấy chiếc cầu bắc qua hào nước dẫn vào BCH đã không còn, thay vào đó là đống bùi nhùi thép gai. Tập hợp lại, địch cố làm suy yếu bớt lực lượng bên trong bằng cách bắn một loạt trăm trái đạn cối 82 ly.
Khi đợt xung phong thứ hai mở màn thì Tr/úy Huế và lực lượng tăng viện của mình đã sẵn sàng.
*
Đ/úy Ralph Bray, quê nhà ở Olathe, tiểu bang Kansas, là một trong nhiều sĩ quan Hoa Kỳ trực đêm đó ở BTL SĐ1. Lúc 1 giờ sáng sau khi nghe báo cáo của Tr/úy Tân về hoạt động địch ở hướng Tây, Tướng Trưởng liền cho một trinh sát cơ hạng nhẹ L-19 cất cánh từ Tây Lộc để thẩm tra tình hình. Theo ghi nhận trong sổ trực của Đ/úy Bray thì phi cơ trở về lúc 3 giờ sáng, viên phi công cho hay là không thấy có gì khả nghi. Không đầy một giờ sau đó phi đạo bị tấn công còn BTL bắt đầu ăn mưa pháo của đạn cối.
Một trong các phần việc của Bray là nghe ngóng các cuộc điện đàm và diễn giải ra tình hình chung.
“Tôi lo ghi chép các sự kiện nghe ngóng được nhưng rồi diễn biến đến quá nhanh đến độ tôi phải cần thêm một thông dịch viên VN,” Bray kể. “Ưu tiên hàng đầu của tôi là liên lạc ngay với các đơn vị để báo động cho họ, vì rằng mỗi khi mình đã bị đụng địch thì rồi ra cũng sẽ đến lượt họ.”
Cũng như mọi người, Bray phải ngưng phận sự để cầm súng khi địch lại bắt đầu tấn công.
“Bị ăn B40 và đạn cối tôi biết ngay địch đang ở cận kề,” Bray tiếp. “Một khi địch đã xung phong đến vòng thành BTL thì toàn thành phố chắc có lẽ đã bị họ chiếm hết rồi.”
Các đốm màu trên bản đồ chỉ vị trí nơi tập trung đông đảo quân BV vào hôm 31 tháng Giêng. (FMFPac Headquarters)
Khi cuộc tấn công bắt đầu, Tướng Trưởng liền gọi máy kêu cứu viện. Ông ra lệnh cho 4 tiểu đoàn của Trung Đoàn 3 BB đang đóng rải rác ở các hướng Tây, Nam và Đông về tiếp cứu. Ông còn nhờ xếp trực tiếp là Tr/Tướng Hoàng Xuân Lãm yêu cầu Sài Gòn cho phép ông được chỉ huy trực tiếp Lực Lượng Đặc Nhiệm Dù Số Một là một lực lượng trừ bị chiến lược đang thi hành phận sự ở phía Bắc Huế. Lữ Đoàn Dù này gồm có 3 Tiểu Đoàn 2, 7, và 9. Các đơn vị khác được lệnh chuyển về Huế còn có Tiểu Đoàn 4 thuộc Trung Đoàn 2 BB và Tiểu Đoàn 3 thuộc Trung Đoàn 7 Thiết Kỵ, cả hai đều thuộc SĐ1 và đang đồn trú ở phía Bắc.
Tướng Trưởng còn chỉ thị cho phân đội thiết giáp thuộc Trung Đoàn 7 Thiết Kỵ, doanh trại ở phía hữu ngạn cách BTL chừng 1 dặm lập tức kéo vào Thành Nội. Đoàn xe dưới quyền chỉ huy của Tr/Tá Phan Hữu Chi gồm 26 chiến xa hạng nhẹ M41 và khoảng chục xe thiết giáp M-113 vừa ló đầu ra khỏi đơn vị liền bị phục kích. Địch đẩy lui được đường tiến của đoàn xe bằng hàng loạt B-40 và đại liên. Nhiều xe bị mất vào tay quân địch mà sau này địch sẽ dùng để tấn công TQLC Mỹ. Một chiếc qua được bên kia cầu nhưng rồi cũng bị tiêu diệt do hỏa lực từ phía trong Thành Nội bắn ra.
*
Trong ngày đầu, không đơn vị tiếp viện nào về đến được BCH. Quân bảo vệ chỉ có ĐĐ Hắc Báo vốn là một đại đội trinh sát tí hon của Sư Đoàn, cộng với thành phần dân chính không chiến đấu kể cả ban quân nhạc. Theo lệnh, tất cả đều phải cầm súng chiến đấu dưới quyền điều động của Tr/úy Huế. Ai ai cũng cần góp tay cho sự sống còn của BTL.
Một yếu tố khác gây quan ngại cho công cuộc phòng thủ là sự thiếu vắng của vũ khí nặng. Họa hoằn chỉ có được hai khẩu đại liên 30 gắn trên xe Jeep và một ít M-72 của Hắc Báo. Hôm đó hoàn toàn không có được sự yểm trợ của pháo binh hoặc không quân. Mọi hình thức tiếp tế đều bị gián đoạn trong suốt một tuần lễ.
Lúc sớm tinh mơ từ cửa sổ văn phòng chỉ huy nhìn ra sân thao diễn rộng mênh mông Tướng Trưởng thấy địch đang dùng dây móc để leo qua bờ tường ngoài. Viên phụ tá bắn về phía đó hết một băng đạn súng sáu.
Người hùng đầu tiên trong ngày thứ nhất là Tr/úy Nguyễn Ái vốn là một nhân viên Phòng Tư của Tướng Trưởng. Mặc dù bị thương vì trúng đạn ở bả vai, ông vẫn cùng các công chức dân chính hạ được năm địch quân, số còn lại leo tường trở ra tẩu thoát. Kế đó ông còn góp phần đẩy lui được đợt xung kích của đặc công vào cổng chính.
“Tôi biết là mình mới né được một mẻ lớn,” Brad đề cập đến cuộc xung kích. “Nhưng chưa biết rõ nó lớn cỡ nào mãi cho đến xế trưa khi nhìn thấy nhiều xác chết và mấy gói chất nổ quăng lại ngoài cổng mới hình dung ra được nhiều hơn.”
Tướng Trưởng duyệt xét lại tình thế để thấy rằng nó vô cùng tinh tế. Một quân số nhỏ nhoi đã chận đứng được một cuộc xung phong bão táp, thật là quá may mắn. Nếu viện binh không đến sớm e rằng rồi đây chắc sẽ bị địch tràn ngập. Ông không thể biết khi nào viện binh mới đến được, chỉ biết ráng cầm cự và chờ. Một ngày rồi một đêm qua đi. Sáng ngày 1 Tháng Hai đợt chi viện đầu tiên đến.
May cho Tướng Trưởng, nhờ biết trước ông đã có đủ thời gian để tổ chức phòng vệ, ông còn rất may mắn là phận sự khó khăn ấy được gánh vác tuyệt vời bởi Tr/úy Huế, một sĩ quan trẻ tuổi đầy nhiệt huyết chiến đấu. Ngày hôm ấy địch mở thêm ba đợt xung phong nữa nhưng đều bị đẩy lui. Mỗi lần mỗi yếu đi vì họ nay phải lo đối phó thêm với viện binh Nam Việt từ hướng Bắc đang đổ về theo QL1. Đêm 31 Tháng Giêng BTL SĐ1 chịu thêm một đợt tấn công nữa rồi thôi.
Bản đồ chỉ rõ các địa điểm quan trọng ở hai bên bờ sông Hương: 1) Đại Nội. 2) BTL SĐ 1. 3) Cơ Quan MACV. 4) Cầu An Cựu. 5) Ngã tư có xây vòng xoay. 6) Đoạn đường qua đồng An Cựu. 7) Sân vận động Tự Do. 8) Cầu Trường Tiền. 9) Sông đào An Cựu (hay Phú Cam). 10) Kỳ đài Phu Văn Lâu. 11) Nhà Lao Thừa Phủ. 12) Tòa Hành Chánh Tỉnh Thừa Thiên. 13) Trường Quốc Học và Đồng Khánh. 14) Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. 15) Công viên Dốc Lão. (Map copied from the book “The Siege of Hue”)
Địch rút khỏi khu vực BTL để tăng cường củng cố vùng phi đạo vừa chiếm được. Đám quân khác thiết lập BCH ở phạm vi Đại Nội trong khi đám khác di chuyển về hướng Tây Nam để tạo áp lực đối với quân trú phòng của Tướng Trưởng ở bên Hữu Ngạn.
Đ/úy Bray chỉ còn hai tuần nữa là đủ thời gian phục vụ để được về nước, lại cũng thuộc đơn vị yểm trợ không chiến đấu để rồi kẹt vô đây phải chiến đấu để sống còn. Mỗi đêm Bray chỉ ngủ được ba tiếng cho tới ngày 4 Tháng Hai thì được thay thế. Một tuần sau, anh hồi hương, quả là kẻ may mắn.
Tuy nhiên, một năm rưỡi sau Bray quay trở lại VN với tư cách là đại đội trưởng rồi bị tử trận gần Chu Lai.
Tháng Giêng đến với vùng phụ cận Huế trong khung cảnh cực kỳ hỗn độn một khi mà các lực lượng Mỹ chợt tăng gấp đôi rồi gấp ba. Người và chiến cụ nườm nượp trên đường làm ứ nghẽn giao thông trên các con lộ xuyên qua thành phố. Sự hỗn độn đã vô tình che lấp được các ý đồ của địch quân, kẻ đã lợi dụng thời cơ này để lặng lẽ thâm nhập người và vũ khí vào thành phố, chuẩn bị cho cuộc tấn công sắp diễn ra.
Một trong những người tôi gặp gỡ khi vừa đến Huế hôm 24 tháng Giêng là Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng, Sư Đoàn Trưởng SĐ1 BB NV. Ông Trưởng rất thông thạo anh ngữ đã tiếp tôi thân mật khiến tôi cứ ngỡ mình là nhân vật tối quan trọng (VIP: Very Important Person). Ông còn dành nhiều thì giờ để giới thiệu tôi với nhiều người trong ban tham mưu của ông.
Ông Trưởng 38 tuổi, cao 1 mét 7 và gầy gò với trọng lượng chỉ chừng 140 cân. Trên môi luôn có một điếu Salem. Đường nhăn ở hai khoé miệng và mắt trông ông như lúc nào cũng đang nheo, cũng có thể do khói thuốc luôn luôn quyện trước mặt ông. Hai bờ vai ông rụt lại và dáng bước như kéo lê nặng nề nhưng bộ điệu rất quả quyết không vội vàng hấp tấp.
Tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt năm 1954, làm đơn vị trưởng các đơn vị Sư Đoàn Dù VN suốt 12 năm, leo từ trung đội trưởng lên đến phụ tá sư đoàn trưởng. Bắt đầu nhận chức Tư Lệnh SĐ1 BB vào tháng 6/66 thời gian mà phong trào Phật Giáo gây dấy động ở Huế; ông thường được coi như là người khéo léo biết giải quyết các khó khăn trong ôn hoà.
Tướng Trưởng là con người táo bạo, rất kỷ luật, và dâng hiến cuộc đời cho binh nghiệp. Khác với những người khác cùng thời được thăng cấp vì phe đảng bè nhóm hoặc đút lót thì ông kiếm được ngôi sao qua ngả chiến trường. Tướng Trưởng được coi như là người tự bươn chải mà lên, nơi ông không có chút bóng dáng tham nhũng hay vị kỷ. Dưới mắt người Mỹ ông là sĩ quan chiến đấu cao cấp tuyệt vời nhất trong quân đội Miền Nam.
Tướng Norman Schwarzkopf trong cuốn hồi ký “It Doesn’t Take a Hero” đã gọi Tướng Trưởng là “nhà chỉ huy chiến thuật lỗi lạc nhất” ông từng gặp trong đời. Schwarzkopf làm cố vấn cho SĐ Dù VN cuối năm 1965 lúc vừa mới được thăng cấp thiếu tá. Tướng Trưởng bấy giờ đã mang cấp bậc trung tá và nắm chức Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn.
“Các sĩ quan và binh sĩ đều nễ sợ ông ta — Cấp chỉ huy địch biết tiếng ông cũng đều kinh sợ cả,” Schwarzkopf sau đó viết trong cuốn sách được xếp hạng bán chạy nhất xuất bản năm 1993. “Mỗi khi đụng phải những khúc mắt trong hành quân, tư lệnh SĐ bấy giờ là Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống liền trao quyền chỉ huy cho Trưởng; chỉ cần nhìn qua địa thế và rút tỉa từ kinh nghiệm chiến đấu suốt 15 năm, kỳ lạ thay ông có thể đoán được ý định của địch quân … Tướng Trưởng ân hận một điều là ông chưa có dịp để theo học khóa tham mưu cao cấp. Tôi thấy Trưởng không cần phải học ở trường tham mưu Fort Leavenworth — Ông ta có thể viết sách dạy nữa là khác.” Tướng Trưởng biết vận dụng tài tình hỏa lực của Hoa Kỳ mà cấp chỉ huy như ông có quyền đòi hỏi và ông sử dụng thật khôn khéo.
Tướng Trưởng và Tướng Schwarzkopf. (nguyentin.tripod.com)
Tướng Trưởng rất cảm kích trước vẻ thiện nghệ và lòng tận tụy của các cố vấn Mỹ trong sư đoàn mình. Ông lấy làm lạ sao họ có thể dấn thân hết mình như vậy được trong khi một số sĩ quan thuộc cấp trong đơn vị mình rõ ràng là không có những đức tính đó.Ai ai cũng hướng mắt về SĐ1 BB bởi nó nổi danh là đơn vị thiện chiến nhất trong quân đội Miền Nam và cũng bởi TT Thiệu từng là sư đoàn trưởng của nó trước đây. Sư đoàn này vẫn giữ được tiếng tăm là đơn vị xuất sắc một phần nhờ nó hoạt động trong cùng phạm vi của TQLC HK, binh sĩ của binh chủng này không ngần ngại tự xem mình là những chiến binh lẫy lừng nhất trên hành tinh.
Tướng Trưởng là người duy nhất đủ tiêu chuẩn để vẫy vùng trong chiếc bể quân sự này. Ông khác với nhiều tướng VN khác là những kẻ chỉ biết lo làm giàu hơn là lo việc quốc gia đại sự. Ông không mưu tìm lạc thú trần gian. Ông là một người dâng hiến đời mình cho binh nghiệp và là một người yêu nước chân chính. Một điều khác biệt nữa nơi ông là khi ra chiến trận ông sát cánh bên anh em binh sĩ, tiến lên phía trước với họ, đích thân giết quân thù. Ông thích như vậy. Trong khi những tướng lãnh khác lo tích lũy của cải, thì ông miệt mài tiêu diệt địch quân. Sự khác biệt này của ông khiến thượng cấp nhìn ông với vẻ quan ngại, e rằng rồi đây biết đâu ông sẽ là một đối thủ lợi hại chống lại họ. Cảm giác đó nảy sinh từ lòng đố kỵ và mặc cảm tự ti về sự bất tài vô tướng của mình.Nếu cấp trên của ông miễn cưỡng không màng tới việc khen thưởng ông thì ngược lại bộ tham mưu HK sẽ không quên điều đó. Các cố vấn Mỹ đều đánh giá cho sư đoàn ông là sư đoàn số một và thiện chiến nhất. Ngay TQLC HK là đơn vị ít khi bình phẩm đến các đơn vị thuộc các binh chủng khác cũng dành điểm tốt cho SĐ 1 BB NV. Đây là đơn vị duy nhất của VN mà họ hài lòng đi hành quân chung.
Bởi thế, khi quân BV quyết định tấn công Huế, họ đụng đầu phải một đơn vị của miền Nam không những biết đánh giặc mà còn ưa đánh nữa là khác. Hơn nữa địch quân cổ động kêu gọi binh sĩ miền Nam đầu hàng, đó là một trong những điểm chính của chiến lược tấn công Tết Mậu Thân, nhưng họ đã không mấy thành công. Điểm son này dành hết cho Tướng Trưởng, một vị tướng chỉ huy biết chinh phục được sự nễ trọng và lòng trung thành của binh sĩ thuộc cấp.
*
Tôi thấy nơi Huế có một sự tương phản kỳ thú so với Sài Gòn; dù rằng Huế cũng có chỗ đông đúc như SG nhưng Huế vẫn có vẻ thanh tao hơn. Ở đây không có các quán bar nơi các chàng G.I. (Tiếng gọi tắt chỉ lính Mỹ) và gái điếm tụ họp, không ánh đèn néon màu của các hộp đêm, tuy cũng có những người đứng đường rao bán các đồ chợ đen nhưng ít hơn.
Phải nói rằng Huế đẹp thật, rất sạch sẽ so với Sài Gòn. Các công viên,vườn cảnh, ao hồ, chùa miếu đều trông như hình trong mấy trang quảng cáo về du lịch. Nhưng có điều lưu thông sao mà chậm quá. Ngày đầu đến Huế tôi phải mất hết 15 phút mới lái xe Jeep qua được cầu Trường Tiền. Người và xe ùn ùn tranh nhau lối đi, nào xe quân sự, xe Lambretta ba bánh, xe Peugeot, xích lô đạp, và xe gắn máy; xe cộ đủ hiệu đủ màu mạnh ai nấy giành quyền ưu tiên. Tôi chỉ biết tận dụng những phút giây chờ đợi đó để thưởng ngoạn cảnh sắc và hương thơm toát ra từ thành phố. Những con đường hai bên bờ sông viền bằng những hàng phượng màu lửa rực, dọc ven sông thơm ngát hương sen và dừa kè. Trên sông thuyền tam bản chuyên chở rau trái, hoa quả lững thững tiến về phía chợ. Đò ngang đưa công chức, học sinh qua về dòng sông. Tôi thầm nhủ trong đầu có dịp sẽ đi thử một chuyến, nhưng nói thì nói thế chứ sau này tôi không hề có dịp.
Dọc bờ sông phía hữu ngạn, tôi thấy một nhà hội quán trông rất thanh lịch, có hàng lan can đưa ra phía ngoài mặt nước. Bên trong có nhiều sân chơi quần vợt. Lối vào tráng xi măng sáng sủa. Trước đây nó là hội quán thể thao của người Pháp (Cercle Sportif), nay là nơi lui tới của dân máu mặt, của mặc khách tao nhân. Về sau tôi cũng lỡ mất dịp đến viếng nơi này.
Qua đến hữu ngạn tôi phải tạm dừng xe để nhường đường cho đoàn nữ sinh áo trắng đang đạp xe đi đến trường dọc theo đại lộ Lê Lợi rộng rãi. Tóc buông thả xuống tấm lưng mảnh mai trong chiếc áo dài với quần trắng phủ đến gót. Hai vạt áo xẻ lên đến eo phất phơ nhè nhẹ theo cơn gió mát đưa lên từ mặt sông. Sinh hoạt êm đềm quá, như thể chiến tranh chưa hề đụng đến Huế bao giờ. Chạy thêm vài trăm mét nữa, tôi đến trước cổng vào cơ quan MACV. Hai người lính TQLC gác cổng vẫy tay cho vào. Tôi trình diện sĩ quan trực và được tạm cho tá túc ở phía sau tòa nhà, trong một nhà lều nền đất bụi bặm; sau đó, tôi được dẫn đi giới thiệu một vòng các nơi trong cơ quan và nghe giải thích sơ lược.
Tòa công sự Phái Bộ Cố Vấn MACV Hoa Kỳ. (Courtesy of The US Army)
MACV là hậu cứ của hầu hết dân làm cố vấn như tôi, ngoại trừ một vài tay ở riêng bên ngoài như Tr/úy TQLC James V. DiBernardo là người phụ trách trạm phát thanh và truyền hình quân đội mà trụ sở nằm trên đường Lê Lợi dọc theo bờ sông, cách MACV mấy khu nhà. Đêm đầu tiên ở Huế, tôi gặp DiBernardo ở câu lạc bộ sĩ quan trong MACV. Anh mời tôi ngày sau ghé thăm chỗ anh làm việc và cũng là chỗ ở, mà hôm sau tôi có đến. Hầu hết những cuộc gặp gỡ sơ khai với những người khác đều diễn ra ở hội quán này vì những cố vấn viên thường ưa lui tới nơi đây mỗi khi họ không cần phải có mặt tại đơn vị.
Đáng chú ý ở đây là đám cố vấn Úc; họ ưa sống tụ bầy với nhau; mấy tay tổ uống rượu hoặc ném tên lên bia cứ thế mà tụ tập. Họ còn ưa ca hát và kể chuyện tàm khào. Ch/úy Terry Eagan, cố vấn cho ĐĐ Thám Báo thuộc SĐ 1 BB NV, ưa kể chuyện lính của mình không bao giờ ngủ trong khi gát, gã nói:
“Lúc mới đến, tôi bắt gặp một tên lính canh đang ngủ. Tôi khẻ bò tới gần, đưa cây colt sát bên tai hắn rồi từ từ lên cò. Bảo đảm lúc đó hắn chỉ có đái trong quần.” Thế là Eagan làm cho mọi người cười ré. Tôi lại tự nhủ, dịp tới lấy ngày phép mình sẽ đi Sydney, Úc Châu. Nhất định phải thực hiện cho được. Nhớ lại hồi đó tôi nghĩ rằng được về làm tại đây thật có lý. Mọi việc đều có vẻ ô kê và ai ai cũng thân thiện cả. Ở CLB SQ, đồ ăn ngon, bia nhiều và luôn luôn lạnh. Mọi người đều niềm nỡ với tôi thực lòng.
Quả đúng không sai, tôi tự nhủ, mình hên lắm mới được đưa về làm gần đây.
*
Ở Huế có những tay bí ẩn lạ kỳ, xuất hiện khi thì dân chính lúc thì quân nhân. Điển hình là một gã tên Johnson, đến độ tên gã tôi cũng nghi là tên giả nữa. Một người quen ở MACV cho tôi biết gã là CIA nhưng không lấy làm chắc. Sau khi gặp ở CLB SQ, gã mời tôi ghé chơi nơi gã ở cách đó vài khu phố.Tên Johnson này sống thật như ông hoàng. Gã có lính gát, người hầu và tài xế riêng. Còn có những người Việt có máu mặt lui tới o bế gã nữa. Khi đón tôi ngoài cổng gã có mang bên hông cây súng sáu, một băng đạn đại liên vắt ngang trước bộ ngực trần. Trông gã cứ như mấy tên cướp người Mexico.
Gã sai lấy bia dọn ra ở hiên ngoài. Khi đồ uống đã được mang ra, gã sai đặt mấy chai rỗng lên bờ tường đối diện chỗ gã ngồi. Xong, gã đứng dậy, rút cây Colt 45 khạc hết băng đạn. Tường ghim lỗ chỗ mấy vết đạn mới cộng thêm một chai bị bể. “Muốn thử không?” Gã hỏi tôi trong khi người “tà lọt” đang lo thu dọn chiến trường rồi đặt lên thêm mấy chai khác. Tôi tu hết chai bia, đưa mắt nhìn gã với vẻ quái gở.
Rõ ràng Johnson có một vai trò gì đó ở đây nhưng tôi không biết chắc đó là cái quái gì. Tuổi gã có vẻ dưới ba mươi. Gã mang đồng hồ Rolex, lủng lẳng sau băng đạn đại liên là cặp dây chuyền vàng. Trên một mặt bàn, nằm sờ sờ trước mắt là một cọc tiền đô. Máng trên một chiếc ghế là bộ binh phục cấp hàm đại úy. Tôi hỏi gã đang làm gì thì gã nhún vai đáp.
“Thứ này một chút thứ kia một tí vậy thôi.” Tôi hiểu ngay là gã không ưa xì ra một tí gì về gã cho tôi biết.
Bia lại tiếp tục mang ra, tôi vừa sắp khui thì gã vụt đứng dậy khạc đạn tiếp. Một chai bia khác bể tan. “Hết sẩy!” Gã reo lên rồi buông mình xuống ghế. Một chốc sau tôi cáo về vừa đi vừa cười mím chi. Mình sẽ không bao giờ gặp tên Johnson này nữa, nếu thiệt đó là tên thiệt của gã.
*
Tuần đầu của tôi ở Huế hầu hết thì giờ dành cho sự gặp gỡ các giới chức Mỹ lẫn Việt. Người Việt thì đang lăng xăng chuẩn bị đón Tết. Có thể hiểu Tết cũng như tổng hợp của lễ Giáng Sinh, lễ Độc Lập 4 tháng 7, và sinh nhật gom lại làm một, đủ thấy nó đặc biệt chừng nào đối với người Việt. Lễ này có từ lâu đến 4.000 năm về trước ở bên Tàu, một tập tục tôn giáo cổ xưa, diễn ra vào dịp trăng tròn trước vụ gieo mạ mùa Xuân. Người xưa cúng kiến cầu mong một năm mới được mùa. Ngày nay, Tết là thời gian nghỉ ngơi để ôn lại quá khứ, vui hưởng hiện tại và phác họa cho tương lai. Đó là lúc mà nợ nần phải lo thanh toán, lỗi lầm phải sửa chữa, cầu xin tha thứ những lầm lỗi, đoàn tụ gia đình và nhớ tưởng đến ông bà tổ tiên. Hoa quả thức ăn đem dâng cúng trên mộ người đã khuất để cùng chia xẻ niềm vui ba ngày Tết.
Gần đến Tết các con lộ dẫn vào Huế tấp nập những xe và người. Trà trộn giữa đám hỗn mang đó là những binh lính CS, miền Bắc và miền Nam, họ cải trang làm thường dân hoặc binh sĩ Cộng Hòa đi phép ăn Tết; lợi dụng cơ hội này để chuyển vào Huế vũ khí, đạn dược, quân cụ và nhân lực cho cuộc tấn chiếm sắp tới. Súng đạn như thế đã dễ dàng được chuyển đến khắp thành phố, thậm chí họ còn có thể thử súng khi pháo mừng Xuân đang rền vang. Người người không phân biệt tôn giáo đều ăn Tết. Đây là ngày mà theo tập tục, con cái từ xa về thăm cha mẹ mang theo quà bánh. Nhà cũng như hàng quán đều giăng đèn kết hoa, đỏ vàng rực rỡ. Bên trong không thể thiếu một cành mai, lớn nhỏ tùy theo túi tiền, phải có một cành như người ta. Pháo nổ rền hằng đêm, phong càng dài, tiếng nổ càng lớn càng tốt để xua đuổi tà ma xúi quẩy. Chợ búa đầy ắp hàng hóa, người mua kẻ bán vào ra tấp nập, không gian ngát thơm mùi đủ các thứ hoa xuân. Khắp toàn cõi nước Việt Nam thực không đâu ăn Tết chu đáo bằng Huế.
Nhiều gia đình có liên hệ với các cố vấn Mỹ không quên mời họ đến dự tiệc tân niên. Hầu hết các món ăn đều đậm đà mùi nước mắm, một thứ nước chấm vị nồng nồng làm từ cá, ngoài ra đâu cũng thấy toàn ớt là ớt, xanh có đỏ có cay xé lưỡi. Mới cắn đâu có một miếng nhỏ là lưỡi tôi đã muốn bốc lửa rồi. Tôi nhớ được mời dùng thử món thịt heo trông chưa được chín tới. Người khách danh dự hôm ấy là Tướng Trưởng. Tôi thấy như thể ăn món nào người ta cũng cụng rượu đế hoặc scotch whisky tùy thích. Tiếng nhạc tiếng cười rộn rã, tôi cũng thấy người ta vừa cười vừa cúi đầu xá nhau nữa. Con nít thì đuổi bắt nhau chạy vào chạy ra, tựa như trẻ con Mỹ đùa chơi trong mấy ngày lễ mừng sinh nhật hoặc Giáng Sinh. Vì nễ sự hiện diện của Tướng Trưởng nên các vị cố vấn phải gạt nước mắt ăn túi xụi bất kỳ món nào mà gia chủ mời, không cần biết món đó thấy ra làm sao, vị như thế nào. (Thật tức cười không biết tôi có trông gà hóa cuốc không chứ tôi xin thề là tôi thấy như có món ăn nào đó có cái gì nó nhúc nhích).
“Cứ rán nghĩ coi như mình đang thực tập mưu sinh thoát hiểm, bạ gì cũng rán mà ăn để sống còn là được,” Một cố vấn quân sự khuyên một vị trung úy trẻ tuổi khi phải đối đầu trước một tình huống như thế. “Rán mà nuốt đi không thì nó xơi mày đó.” Một lát sau, ngồi trong này cũng có thể nghe rõ anh ta đang khạc nhổ rền trời ở ngoài hè.
*
Một nghi thức đầu năm nữa là Lễ Thượng Kỳ ở kỳ đài Phu Văn Lâu trước cửa Ngọ Môn. Lễ bắt đầu lúc bình minh ngày Mồng Một Tết nhằm vào Thứ Ba, 30 tháng Giêng; với sự hiện diện của Tướng Trưởng, ba vị trung đoàn trưởng của ông và thị trưởng Thị Xã Huế. Ban quân nhạc sư đoàn trỗi bài quốc thiều trong khi đại đội tinh nhuệ Hắc Báo đứng nghiêm dàn hàng quân danh dự. Trời thật đẹp, điềm báo cho một năm mới tốt đẹp.
Dầu một số tin tình báo ước lượng tình hình địch có thể làm hỏng dịp vui ngày Tết bằng cuộc tấn công quân sự nhưng không ai nghĩ là cuộc tấn công lại sẽ với quy mô lớn như thế. Cũng không ai nghĩ Huế sẽ là mục tiêu hàng đầu của cả miền Nam. Sự thật mà nói, ngay Tướng Trưởng và các sĩ quan thuộc cấp cũng tin tưởng là Huế sẽ được bỏ qua như vẫn thường xảy ra hằng năm. Xưa nay Huế vốn được xem là lãnh địa an toàn, sĩ quan muốn được về đồn trú tại đây hoặc phải có thần có thế hoặc đút lót mới được. Ngay chính phía BV họ cũng nhìn Huế với vẻ trân trọng vì tính cách lịch sử quan trọng đối với cả đất nước.
Người Mỹ thì e ngại nhiều hơn, rằng BV đang có kế hoạch tấn công vào dịp Tết. Chứng cớ thu thập được từ nhiều tháng cho thấy sẽ có một việc ghê gớm sắp xảy ra. Ngày 18 Tháng Chạp, Tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân HK, Earle G. Wheeler, khuyến cáo rằng “hoàn toàn chắc chắn là CS sẽ tấn công mạnh như cuộc tấn công ồ ạt của quân Đức trong nỗ lực tuyệt vọng trong trận Bulge vào Thế Chiến Thứ Hai.” Hai ngày sau, Tướng Westmoreland báo cáo với sếp lớn ở Washington rằng địch quân đang ‘vận dụng toàn lực toàn quốc cho một chiến dịch ngắn ngày.’
*
Có một thông báo lạ kỳ ở miền Bắc khi đột nhiên thay đổi ngày Tết đầu năm. Lấy lí do vì sự giao hội bất thường giữa mặt trời, mặt trăng và trái đất nên có sự thay đổi ngày mùng một Tết sẽ là 29 Tháng Giêng, sớm một ngày thay vì 30. Sau này phía đồng minh mới vỡ lẽ là Hà Nội muốn cho các cán binh có dịp được hưởng một ngày vui Xuân trước khi xuất trận.
Chỗ tập trung quân của Westmoreland như đã có trước đây vẫn là Khe Sanh nơi đang có 5.000 binh sĩ TQLC HK đồn trú và đang bị từ 20 đến 40 ngàn quân chính qui BV bao vây. Tin tưởng CS sẽ cố tràn ngập căn cứ này trước khi chiếm lấy hai tỉnh cực Bắc khiến Westmoreland càng cương quyết phải giữ Khe Sanh bằng mọi giá. Quyết định này được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ phía Tham Mưu Trưởng Liên Quân và TT Mỹ Johnson, người luôn lo lắng không muốn thấy một Điện Biên Phủ thứ hai.
Tướng Westmoreland vẫn liên tục thúc TT Thiệu nên quyết định hủy bỏ lệnh ngưng bắn dịp Tết Nguyên Đán nhưng Thiệu vẫn thẳng thừng chối từ; lý luận rằng làm vậy sẽ ảnh hưởng đến tinh thần binh sĩ quân đội Miền Nam và chỉ có lợi cho bộ máy tuyên truyền của CS mà thôi. Thay vì vậy, Thiệu chỉ đồng ý cho giảm thời gian ngưng bắn xuống còn 36 tiếng, đồng thời ông chỉ thị cho giảm quân số đi phép xuống còn 50 phần trăm.
*
Sáng 30 tháng Giêng, Tướng Trưởng cảm thấy có điều gì đó bất thường. Sau buổi thượng kỳ đầu năm, thay vì về tư thất ở bên phía hữu ngạn, ông cho lái xe về BTL SĐ để xem tin tình báo có gì mới không. Trên bàn giấy nào là báo cáo về những trận tấn công quy mô lớn vào tám thành phố, tất cả đều vi phạm trắng trợn lệnh ngưng bắn song phương.
Tướng Trưởng cho triệu tập tất cả sĩ quan tham mưu, ngoại trừ những người đang đi phép. Họ duyệt lại hết những báo cáo tình báo về hoạt động địch tại địa phương trong những tuần vừa qua. Càng bàn thảo, càng đọc, Tướng Trưởng càng chắc chắn là Huế đang chịu một nguy cơ tấn công nào đó. Nhưng lớn cỡ nào? Đó mới là vấn đề. Tin tình báo đánh giá rằng lực lượng địch không đủ mạnh để mở cuộc tấn công ồ ạt vào Huế, nhưng sự lượng định sức mạnh của lực lượng địch có thể sai. Ông kiểm lại với các bộ chỉ huy cấp cao hơn thì được biết rằng họ không có tin tức gì về sự tập trung quân đông đảo của địch trong vùng.
Dầu sao Tướng Trưởng cũng vẫn như đã đánh hơi thấy một cái gì đó đang âm ỉ chực nổ bùng. Tuần trước, Tiểu Đoàn 2 Dù khám phá ở cách Huế 5 dặm về phía Tây một hầm vũ khí đủ lớn để trang bị cho một trung đoàn. Là một cấp chỉ huy chiến đấu, linh tính cho biết là ông cần phải hành động. Ông ra lệnh báo động 100 phần trăm toàn sư đoàn cho những ai vẫn còn có mặt tại đơn vị, ai có phép mà chưa đi thì bị thu hồi. Quyết định này quả là táo bạo vì ngày Tết quan trọng đối với người Việt biết dường nào. Ông hiểu rõ việc thu hồi những phép đã xin trước của những người chưa kịp đi có một tác động tâm lý không tốt cho ban tham mưu vì quanh năm họ đã cố gắng làm việc quá sức. Nhưng Tướng Trưởng vẫn vững tin đó là một quyết định rất thích đáng phải làm.
Lệnh đưa ra và được lập tức thi hành. Tất cả sĩ quan tham mưu sư đoàn, các binh sĩ trong BTL ai ở nguyên vị trí nấy. Các trung đoàn trưởng ở các trung đoàn được chỉ thị phải trở về vị trí chỉ huy của mình đồng thời đặt các tiểu đoàn trực thuộc trong tình trạng báo động. Tướng Trưởng còn cố liên lạc với những người đã cầm phép đi về nhà rồi, gọi họ quay về đơn vị nhưng coi bộ khó thành công vì họ đã tứ tán cả.
Tướng Trưởng ra lệnh cho viên chỉ huy đơn vị xung kích của sư đoàn là Tr/úy Trần Ngọc Huế phải báo cáo việc thi hành về những lệnh đã ban xuống. Lực lượng của Tr/úy Huế là Đại Đội Hắc Báo mà tất cả thành viên đều là người tình nguyện; đồn trú trong Thành Nội gần phi trường Tây Lộc. Quân số Hắc Báo tổng cộng là 200 người chia ra làm 6 trung đội. Tr/úy Huế cho gởi 3 trung đội qua phía Hữu Ngạn để giữ an ninh cho Tòa Hành Chánh Tỉnh, Nhà Đèn và Lao Thừa Phủ. Hai trung đội khác bị xé lẻ ra để chia đều đi trấn giữ 10 cổng thành. Tr/úy Huế chỉ còn lại một trung đội cộng thêm thành phần phụ khuyết nằm ở BCH là 50 người nữa để đương đầu với cuộc tấn công vào Thành Nội nếu có.
Tướng Trưởng còn huy động ĐĐ Thám Báo 36 người đi lùng sục mặt phía Tây, chỗ tiếp cận Huế, nơi đáng khả nghi nhất là địch sẽ từ đó mà thâm nhập vào. Việc còn lại trong ngày là kiểm tra chiến cụ, đạn dược, củng cố lại các nơi phòng thủ. Các ban thông tin truyền tin thì lo tu chỉnh máy móc để tiếp nhận tin và đưa tin cho hữu hiệu.
Mệnh lệnh của Tướng Trưởng quả là đáng nễ phục, là cả một quyết định của sinh và tử. Nhiều sĩ quan ban tham mưu cũng sống ở bên phía Hữu Ngạn như ông, giá mà họ không bị thu hồi phép, chắc gì họ về được BTL một khi cuộc tấn công đã bắt đầu.
Cuối ngày hôm đó, chính phủ Nam Việt mới ban hành hủy bỏ lệnh ngưng bắn Tết Nguyên Đán nhưng ít đá động đến chuyện đề cao cảnh giác về việc CS có thể tấn công bất ngờ. Các đơn vị khác có cho thu hồi một số phép nhưng quân sĩ chỉ đặt trong tình trạng sẵn sàng thôi chứ không phải trong tình trạng báo động. TT Thiệu thì rời Sài Gòn bay về ăn Tết bên vợ ở dưới Mỹ Tho, một thành phố ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Hôm 30 tháng Giêng, Tướng Westmoreland công bố lệnh báo động cho tất cả quân Mỹ, nhưng có điều lệnh đó chưa bao giờ đến tay chúng tôi ở tại Huế. MACV ở trung ương biết rõ CS sẽ mở màn cuộc tấn công dịp Tết này nhưng không tài nào đoán được màn này sẽ ngoạn mục cỡ nào. Sĩ quan tình báo của Tướng Westmoreland là Chuẩn Tướng Philip B. Davidson sau này có tiết lộ quan điểm của mình, “Dù tôi có biết rõ mọi sự sắp diễn ra, nếu tôi báo động cũng không mấy ai muốn tin vì nó nghịch lý quá. Vì sao đối phương lại bỏ đi lợi điểm quan trọng của mình là khả năng né tránh đụng độ và tránh bị tổn thất?”
Câu trả lời cho câu hỏi của Tướng Davidson mà bấy giờ ông chưa hình dung ra được là sự đạt được yếu tố bất ngờ, dù phải trả một giá cực kỳ đắc về nhân mạng.
“ Không ai ngờ địch sẽ thí quân trước hỏa lực hùng hậu của chúng ta bằng những đợt tấn công tự sát.” Ông tiếp, “vậy mà địch vẫn làm.”
Phe đồng minh bị ru ngủ trong niềm tin rằng địch tập trung quân hùng hậu để bao vây cứ điểm Khe Sanh gần giới tuyến, sẽ không còn đủ quân để tung một cuộc tổng tấn công khắp miền Nam. Điểm này phía tình báo cũng đã đánh giá sai nốt.
Đêm 30 Tháng Giêng tôi ghé chơi nhà Tr/U DiBernardo nhưng đã từ chối lời mời ngủ lại đêm của anh. Như thể định mệnh đã an bày, khu doanh trại của DiBernardo bị địch tràn ngập ít hôm sau đó và anh ta bị bắt sống. Tiếp đó anh phải sống hết 5 năm trời trong nhà tù CS, phải chịu đựng nhọc nhằn, những đối xử khắc nghiệt, nhưng cũng cám ơn trời là anh vẫn còn sống. Những cố vấn quân sự khác cùng làm việc ở đó lại không được cái may mắn như anh.
Ở tòa MACV dành cho dân làm cố vấn, tôi đi ngủ giữa tiếng pháo đì đùng xen lẫn với tiếng M-16, trời mát mẻ dễ chịu. Lính Cộng Hòa nghỉ phép ăn Tết tại nhà khuya đêm đó xả hết nguyên băng đạn lên không để mừng tiễn ngày mồng Một Tết Mậu Thân. Tiếng súng phát ra từ cả hai bờ sông Hương tạo ra những lằn lửa đan chéo lên bầu trời. Mấy phút sau không gian chợt trở nên im lặng nặng nề.
Gần cuối tháng Tư/ 1972, từ miền Tây, tôi trốn phép về thăm nhà. Vừa gặp nhau, vợ tôi nói ngay:
_ “Anh L. vừa từ Đà Nẵng gọi về. Anh ấy nói tình hình Quảng Trị không êm, Việt Cộng đã vượt Bến Hải, không chắc giữ được Quảng Trị. Anh ra ngoài ấy đi.”
Nếu Quảng Trị chạy loạn thì nhiều khó khăn lắm. Gia đình tôi, bên ngoại và gia đình nội ngoại bên vợ tôi đều là dân Quảng Trị cả. Không biết bà con chạy cách nào, chạy đi đâu.
Hôm sau nữa, xin được máy bay quân sự, mới sáng sớm, tôi nhờ xe trực ở Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp đưa vô phi trưòng Tân Sơn Nhứt.
Ở trạm hành khách, một số đông người đang chờ lên máy bay. Phần đông là quân nhân, mặc đồ lính. Binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan cấp úy. Một số là dân sự: đàn ông, đàn bà. Không có trẻ em. Tôi nghĩ thầm: Toàn dân nhà nghèo không! Mấy ông lớn chắc là đi Air Việt Nam, khỏe hơn.
Chờ chưa được nửa tiếng, một anh Trung sĩ Không quân, đứng ngay cửa ra phi đao hô lớn: “Ai đi chuyến bay số xxxx, theo tôi lên máy bay.
Nhiều người sắp hàng đi ra. Tôi đi gần chót, trước mặt là hai ông bà già, có lẽ vợ chồng nhà quê. Người chống mặc áo sơ mi trắng, màu cháo lòng, lưng áo lỗ chỗ nhiều vết thâm, vết chất dơ giặt không sạch. Vậy mà cũng “áo bỏ vô thùng”, quần tergal hay dacron gì đó, màu xanh sẫm, chân mang đôi “giép mũ” màu trắng.
Bà vợ áo kiểu bà ba, mầu nâu nhạt, quần đen, chân mang giép Nhật. Ông chồng thì xách cái va-li bằng thiếc, không to lắm, thứ hàng nội hóa, Chợ Lớn sản xuất, chợ Việt Nam nơi nào cũng có bán.
Cái va-li còn mới lắm, mới dùng lần đầu. Người vợ xách cái bị vải lớn, hơi nặng. Có lẽ đựng áo quần. Cả hai đều già, khoảng gần 70 tuổi. Người nhà quê lam lủ, thường già trưóc tuổi. Sau lưng tôi là mấy anh lính trẻ. Tới gần cầu cửa máy bay, mấy anh lính chen lên, cố giành lên máy bay trước. Tôi cũng dợm tranh với họ, nhưng hai ông bà già trước mặt, vẫn đi bình thường, làm tôi thấy kỳ, nếu tôi vượt mặt họ, nên thôi.
Tấm bửng sau chiếc C-119 hạ thấp xuống để mọi người vô trong máy bay. Một anh Trung sĩ Không quân khác, đứng ngay chỗ mép cửa, hỏi giấy phép lên máy bay từng người. Ông già nhà quê đưa giấy tờ ra, ông đã cầm sẵn ở tay. Bà vợ đứng bên cạnh im lặng.
Anh trung sĩ coi giấy tờ xong, đưa mắt nhìn vào cái va-li thiếc hơi lâu một chút. Tôi không rõ vì sao. Xong, anh bảo: “Lên đi”. Hai ngưòi đi vào. Tôi là người lên máy bay sau cùng.
Vào tới bên trong, tôi thấy chỉ còn một cái ghế vải sát cạnh hai ông bà già. Tôi liền ngồi xuống đó. Tiếng động cơ đang chạy ầm ầm, có lẽ chuẩn bị cất cánh.
Loại ghế trên máy bay quân sự là loại ghế xếp dã chiến, nằm sát thân tầu. Ngồi xuống thì cũng có giây “beo”, cũng gài vào móc một cái cạch như ghế xe hơi bên Mỹ vậy. Không như ở Air-Việt Nam, ai muốn thắt giây “beo” thì thắt, còn không thì thôi. Mấy ông trung sĩ phục vụ trên máy bay chẳng nhắc nhở ai, không như ở Air Việt Nam, nữ tiếp viên hàng không đi nhắc nhở và kiểm soát từng người.
Tiếng động cơ gầm rú mạnh hơn, rồi thân máy bay giựt mạnh một cái. Nhìn qua ô cửa tròn nhỏ, tôi thấy ngôi nhà kế phi đạo đang chạy lui. Vậy là máy bay ra phi đạo. Tới cuối đường để ra phi đạo rồi, tiếng máy bay lại gầm rú. Tôi nghĩ là phi công chuẩn bị cất cánh. Nhưng tiếng đông cơ lại rú lên, lại xuống, lại rú lên, lại xuống, mấy lần như vậy. Cuối cùng, tôi có cảm tưởng như máy bay quay lui, đi dần vè chỗ cũ. Máy bay dừng lại. Tôi nhìn ra qua ô cửa tròn, mái nhà lúc nảy lại hiện ra. Có nghĩa là máy bay không cất cánh, trở về chỗ cũ. Mọi người vẫn ngồi yên trong phi cơ. Tôi lại nghe tiếng xe hơi ngừng lại bên ngoài máy bay. Cửa phía phi hành đoàn mở. Hai người mặc đồ không quân lên chỗ phòng lái. Lại có tiếng động cơ gầm rú hai ba lần như thế. Cuối cùng, hai người mới lên lại xuống. Tiếng động cơ gầm lên. Máy bay lại di chuyển. Có lẽ lại ra đầu phi đạo.
Cũng tới ngay chỗ cũ hồi nảy, tôi lại nghe tiếng động cơ gầm rú. Tiếng rú lại hạ xuống, lại gầm rú lần nữa. Mấy lần như thế. Cuối cùng, máy bay ra đầu phi đạo. Tiếng động cơ rú lên, dài hơn, và máy bay cất cánh. Nhìn qua cửa ô tròn nhỏ, tôi thấy những cái dấu mốc hai bên phi đạo chạy lui rất nhanh. Máy bay cất cánh. Bây giờ nhìn ra phía ngoài, chỉ thấy trời và mây. Máy bay lên chưa cao lắm, tôi có cảm tưởng máy bay nghiêng vòng. Chắc là để lấy hướng, tôi nghĩ vậy. Nhưng không phải. Tiếng động cơ kêu nhỏ trở lại. Một chốc tôi lại nghe tiếng bánh xe chạm phi đạo, và tiếng bánh xe đang chạy. Máy bay lại hạ cánh. Tôi không rõ chuyện gì. Khi máy bay dừng lại chỗ cũ, chỗ đầu tiên lên máy bay. Mọi người được lệnh xuống, không rõ vì sao! Cánh quạt đã ngưng quay. Hành khách kẻ đứng người ngồi xổm bên cạnh thân phi cơ. Tôi thấy người Trưởng phi hành, mang lon thiếu tá, tên ở ngực là Lan có thể là Lân- Đàn ông ít tai có tên đàn bà, – đến trước mặt tôi. Tôi tưởng ông ta muốn nói gì với tôi, nhưng không. Ông nhìn ông già tôi nói ban nảy, đang đứng cạnh tôi, tay đang ôm cái va-li.
Thiếu tá Lân hỏi xẳng giọng:
_ “Ông có giấy phép không?”
_ “Dạ có.” Ông già trả lời lí nhí.
_ “Giấy phép cái va-li kìa!” Thiếu tá Lân vẫn gằn giọng.
Ông già lập cập lấy trong túi áo một tờ giấy quay rô-nẹ-ô, có chữ viết tay. Xem xong, Thiếu tá Lân trả lại cho ông già, bỏ đi.
Ông già gần như khóc, hai mắt đỏ hoe. Bà vợ thì khóc thút thít, không dám khóc to.
Tò mò, tôi hỏi:
_ “Cái chi dzậy?”
_ “Dạ! Ông Thiếu tá hỏi giấy phép mang hài cốt lên máy bay. Tui có giấy đó.” Ông già trả lời, giọng nhỏ, từ tốn.
_ “Bác bốc mộ cho ai?” Tôi lại hỏi.
_ “Con trai tui. Nó đi lính Nhảy Dù, tử trận.”
Tôi im lặng. Dân “Quảng Trị tui” có cái lạ! Đi lính, ưa đi “thứ dữ”. “Hùmg móm” em út tôi cũng vậy. Ra trường, cố đi cho được Nhảy Dù. Cẩm, bạn tôi, em Đại tá Bé, là “dân Biệt Động Quân”, trước đó là “Nha Kỹ Thuật.” Ông Lô, cũng Nhảy Dù. Dục, bạn tôi và ông em nó, Dưỡng: Thủy Quân Lục Chiến.
Rồi tôi nghĩ tới việc ông Thiếu tá Lân hỏi giấy phép mang hài cốt đứa con của ông già. Dân xứ tôi hay tin dị đoan. Đem hài cốt lên xe đò, xe hàng hay lên máy bay là xui. Có khi tài xế không cho mang hài cốt lên xe, nên thân nhân phải dấu. Chỉ đi xe lửa là không ai hỏi.
Thân phụ tôi “đi kháng chiến” qua đời trên chiến khu năm 1948. Năm 1954, hòa bình rồi, anh em tôi lên chiến khu bốc mộ đem về. Tới nhà, mẹ tôi phải dựng một cái chái tranh bên kia đường, chỗ đất trống để cái va-li thiếc đựng hài cốt ở đó. Theo tục lệ, người ta cử đem hài cốt vô nhà. Anh Xạ Thử, lý trưởng phườngg tôi, nói với mẹ tôi: “Nể tình chị, chớ tục của mình, đem về làng, người ta cũng cấm.”
Nghĩ tới đó, nhìn lại, tôi thấy ông bà già có vẻ sợ hãi chớ không như lúc đầu, tôi mới thấy ông. Có lẽ ông sợ người ta sẽ không cho ông đem hài cốt con ông lên máy bay. Một lúc sau, mọi người được hướng dẫn lên một chiếc C-119 khác. Người ta đổi máy bay. Chuyến bay bình thường, cất cánh rời phi đạo, êm ru. Ngồi trên máy bay lâu quá, tôi hơi bồn chồn. Tôi nghĩ sao máy bay chưa hạ cánh. Họ có bay lạc không? Tôi có cảm tưởng như máy bay đã ra tới Đồng Hới, không chừng Việt Cộng bắn lên mà rớt máy bay như không. Hỏi ra, anh Trung sĩ Không quân cho biết “Mới tới Quảng Ngãi.” Máy bay chi mà chậm như rùa, như “Chuyến Xe lửa mồng năm” của Trần Văn Trạch.
&
Suốt trong chuyến bay, có lúc tôi hỏi chuyện ông già. Một là vì thấy ông là người cùng quê: Quảng Trị. Quê ngoại tôi ở đó, bên kia sông, làng Nhan Biều. Bên nầy song là thị xã Quảng Trị.
Tôi sinh ra, lớn lên, học hành thời thơ ấu là ở thị xã. Năm 16 tuổi, tôi trốn nhà đi xa, làm một kẻ, như các bạn tôi thường gọi: “Thằng lãng tử”. Vậy là gần hai mươi năm, tôi từ miền Tây Nam Bộ, cực nam của nước Việt Nam Cọng Hòa, về thăm Quảng Trị, ở vĩ tuyến 17, cực Bắc Việt Nam Công Hòa. Vậy là không biết, trong đời nầy, có ai đi xa hơn tôi?
Thứ hai, tôi thấy tội nghiệp cho hai ông bà già. Lặn lội đường xa, từ ngoài kia, “Về Thủ Đô”, không phải để làm một du khách, thưởng ngoạn mà làm kẻ bốc mộ cho con, đem về quê.
Tôi hỏi:
_ “Con bác chôn ở đâu?
_ “Ở nghĩa trang Quân Đội Gò Vấp.” Ông già trả lời.
_ “Tui tới đó rồi. Nghĩa trang đó cũng đẹp lắm, để nó ở lại đó cho có bạn bè, đem về quê làm chi?” Tôi lại nói.
_ “Đem về cho nó nằm chung với ông bà, cho ấm mồ ấm mả thiếu úy à!” Ông già nói. Ông gọi tôi là thiếu úy vì thấy tôi đeo trên cổ ao một bông mai vàng.
_ “Quê bác ở mô?” Tôi hỏi.
_ “Ở Lai Phước. Thiếu úy biết làng đó không?” Ông già hỏi lại tôi.
-Làng đó có cây cầu trên Quốc lộ 1. Còn có cây cầu sắt trên đường xe lửa nữa, phải không?” Tôi hỏi.
_ “Thiếu úy rành lắm!” Ông già trả lời tôi.
_ “Hồi còn nhỏ, tui học ở thị xã mà, hay ra Đông Hà chơi! Con gái Đông Hà đẹp lắm! Ông biết không?” Tôi vừa cười vừa nói chuyện với ông.
_ “Tui quanh quẩn trong làng, không biết chi hết. Ngày mô (nào) đi làm củi, tui đi dọc theo đường từ cầu ván, lên cầu sắt rồi lên rú.”
Tôi hiểu cầu ván là cầu xe hơi trên Quốc lộ, còn cầu sắt là cầu xe lửa.
Cuộc nói chuyện với ông già không có gì hứng thú; một là vì tiếng động cơ kêu đều nhưng cũng to, nhiều khi không nghe rõ ông ta nói gì, tôi chỉ đoán chừng. Thứ hai, tôi cũng thấy buồn ngủ. Khi còn ở đơn vị, tôi ít ngủ. Hai hôm về nhà thì một hôm đưa vợ đi nghe nhạc ở Queenbee, về khuya. Sáng nay lại dậy sớm ra phi trường.
&
Xuống máy bay, vô tới “trạm hành khách” thì tình hình náo động lắm. Kẻ lui người tới vội vả, người nầy người nọ bàn tán xôn xao.
Té ra là Quảng Trị đã mất hôm qua, ngày 1 tháng 5. Quân đội đang trên đường rút lui. Bấy giờ chưa mấy ai biết lệnh Tổng Thống buộc binh sĩ phải dừng lại bên nầy sông Mỹ Chánh, lập tuyến phòng thủ.
Đồng bào Quảng Trị chạy tán loạn về Huế. Việt Cộng từ trong núi pháo kích ra, hàng ngàn người chết trên “Quốc Lộ mới”, đoạn phía Nam Cầu Dài, phía dưới kia, trên Quốc lộ 1 cũ là Cầu Bến Bá, còn gọi là cầu Trường Sanh, trên sông Trường Sanh, còn có tên là sông Diên Trường (1). Mấy hôm sau, báo chí đưa tin, đặt tên cho đoạn đường nầy là “Đại Lộ Kinh Hoàng”.
Huế cũng hoảng loạn theo. Chợ Đông Ba bị đốt cháy. Dân Huế tranh nhau vượt đèo Hải Vân chạy trốn vào Đà Nẵng. Tôi lo lắng, băn khoăn, lúng túng không biếp phải làm gì bây giờ. Tôi tìm một chỗ ít ồn hơn, ở phía góc trong của “trạm hành khách”, bình tỉnh một chút, tôi nghĩ thầm để coi phải làm gì trong khung cảnh náo nhiệt hổn loạn và đầy lo lắng nầy. Tới góc phòng, tôi thấy hai ông bà già đang ngồi lột thỏm trong góc nhỏ. Ông già vẫn còn khư khư ôm cái va-li thiếc trước ngực. Thấy tôi, ông nhìn tôi, như muốn hỏi gì đó mà không dám hỏi.
Tôi thấy ái ngại cho ông, lên tiếng trước:
_ “Bác nghe tin gì chưa?”
_ “Dạ, nghe rồi!” Ông già trả lời.
_ “Không chắc về Quảng Trị được đâu. Tình hình nầy là chạy hết rồi, làm “rang” (sao) về?” Tôi nói.
_ “Tui ở “già” (nhà) quê, chắc không phải chỗ hai bên đánh “dau” (nhau), về được.” Ông già trả lời.
_ “Không chắc có xe mà về. Người ta chạy vô, có ai chạy ra.” Tôi giải thích.
_ “Dạ! Không biết răng!” Ông già nói. Giọng nói nhỏ và yếu, tưởng như ông không mấy hy vọng.
Bất thần có người gọi tôi “Cậu”. Nghe giọng quen, tôi quay lại. Té ra Tịnh, một người cháu gọi tôi bằng cậu, sáng nay nghe vợ tôi gọi điện thoại ra, cho biết “Cậu ra Đà Nẵng rồi” nên lái xe đến đón tôi. Anh làm tiểu Đoàn Phó cho Tiểu Đoàn Truyền Tin, được cấp xe Jeep riêng. Trước khi quày quả đi theo người cháu, tôi nói với ông già: “Bác liệu tìm xe ra ngoài đó. Nhớ tránh mấy chỗ đang đánh nhau.” Chưa kịp nghe ông già trả lời gì, tôi len vào đám đông đi mất.
Tối hôm đó, tôi định mượn xe gắn máy của Tịnh để đi tìm thân nhân chạy loạn từ ngoài kia vào. Tịnh nói:
_ “Cậu không đi được đâu! Hai bữa nay, Đà Nẵng giới nghiêm 6giờ chiều. Để Tịnh đưa cậu đi. Xe cháu có phép đi trong giờ giới nghiêm.”
Hôm đó, nhờ Tịnh, tôi đi thăm vài nơi. Em gái tôi, cùng mấy đứa con, chạy từ Huế vào tạm trú nhà bà con ở đường Bạch Đằng, người chồng nó phải ở lại với đơn vị, Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương Huế; chị và anh rể vợ tôi từ Quảng Trị chạy vào tạm trú bên Sơn Chà. Gia đình anh tôi và mẹ tôi thì đã chạy vào Qui Nhơn. Nhiều người nữa, nhưng không liên lạc được, không biết địa chỉ…
Sau khi đưa tôi về nhà, Tịnh lại vào đơn vị. Khuya lắm, anh ta mới về. Tôi vẫn còn thức, đang băn khoăn, lo lắng, không ngủ được. Chúng tôi ngồi ở phòng khách uống nước. Tịnh nói:
_ “Lệnh Tổng thống không cho quân đội rút lui nữa, phải lập phòng tuyến chận địch ở sông Mỹ Chánh. Tin còn mật, nhưng vài người ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn đã biết: Tướng Trưởng ra thay Tướng Lãm – (2). Mai cháu phải đi Huế. Nhiều đơn vị của Tổng Trừ Bị đang trên đường ra Đà Nẵng. Khuya nay hay sáng mai họ đến. Phải giữ Huế, không được mất. Lệnh Tổng Thống đấy.”
_ “Có chuyện chi gấp không mà phải đi trong tình hình nầy?” Tôi hỏi.
_ “Vừa quan trọng vừa gấp. Tiểu đoàn ở đây, (3) lo việc liên lạc giữa Quân Đoàn với Saigon. Tịnh phải ra củng cố và phát triển một đài truyền tin của Tiểu Đoàn ở Huế, giữ nhiệm vụ truyền tin không được trở ngại hay gián đoạn của các đơn vị đang đánh nhau liên lạc với Quân Đoàn. Truyền tin mà có chuyện gì thì mệt lắm.”
Một lúc, tôi nói: “Tui đi với được không?”
_ “Được thì được, nhưng cậu ra làm gì ngoài? Về tới Huế thôi, không về Quảng Trị mình được.”
_ “Dĩ nhiên, dù sao ở Huế cũng gần hơn, hỏi thăm được tin tức, coi có ai còn kẹt lại.” Tôi nói.
_ “Không an toàn lắm đâu!” Tịnh giải thích.
_ “Ông ở truyền tin, ông biết chỗ nào đánh nhau, chỗ nào không. Biết thì tránh được. Chắc không can gì!” Tôi nói.
_ “Chỉ sợ bắn sẻ, nhất là ở trên đèo (4). Mới rồi, một người bà con bên mợ bị bắn sẻ ngay trên đèo. Trúng ngay đầu.” Tịnh nói.
Sáng hôm sau, Tịnh vô đơn vị sớm. Chị tôi, mẹ của Tịnh cũng dậy sớm, nấu bún bò cho tôi ăn sáng. Khi đó hai vợ chồng Tịnh đã đi rồi. Tịnh vô trại, còn vợ Tịnh đi làm.
Bún bò bà chị tôi nấu không có giò heo, như ở quê tôi hồi trước, nhưng thịt bò xào lăn thì hết sẩy. Biết tôi thích ăn những món do bà nấu, chị ấy bảo tôi: “Cậu ở chơi vài “bựa” (bữa) chị kho cá nục cho ăn. Tôi không chắc chị tôi biết nấu những món cao lương mỹ vị, nhưng cá nục kho, cá ngừ kho, rau muống luộc, tôm chua thịt heo, v.v… thì ăn một bữa, một đời khó quên.
Gần trưa thì Tịnh về, ăn qua loa vài chén cơm cùng với tôi rồi hối tôi mặc quần áo quân nhân đi gấp. Tịnh nói đùa:
_ “Đi với cháu là đi hành quân, không phải vô lớp giảng bài đâu mà thắt cà vạt.” (5)
_ “Mặc xi-vin dễ thành mục tiêu cho tụi nó bắn sẻ, ông sợ tôi chết trước ông chớ gì. Còn lâu! Số tôi thọ lắm. Nhưng có chuyện gì cũng mệt đấy.”
_ “Mệ gì?” Tịnh hỏi.
_ “Tui trốn phép, lỡ có bị thương hay gì, khó khai báo. Đơn vị ở trong Nam mà tôi bị thương ngoài Trung, lại không có giấy phép hay công tác gì cả.” Tôi nói.
_ “Kệ! Không can gì đâu. Có gì cháu lo.”
Xong, chúng tôi lên đường. Thấy tôi nhìn chiếc xe Dodge, không đi xe Jeep, có vẻ ngạc nhiên, Tịnh nói ngay:
_ “Cháu phải đi xe Dodge vì có thêm mấy chuyên viên, chở theo linh kiện. Cậu ngồi phía sau, ngay sau lưng cháu.”
Thế rồi chúng tôi lên đường, sau khi chào bà chị, Tịnh thì chào mẹ. Vợ Tịnh đi làm chưa về. Xe có tất cả 7 người: Tài xế, Tịnh, mấy trung sĩ chuyên viên truyền tin và tôi.
Xe bon bon ra hướng Liên Chiểu. Tới ngã ba Cây Lan, xe và người đông quá, nên tài xế chạy chậm lại. Tôi chợt nhìn qua bên đường, thấy ông già và vợ ông, người đồng hành hôm qua, đang đứng bên đường. Tay ông vẫn khư khư ôm cái va-li thiếc ở ngực, tôi chợt nói: “Ông bà già!”
Tịnh hỏi ngay:
_ “Ông bà già cậu kể hồi tối hả?”
Tôi nói: “Đúng họ.”
_ “Chắc họ không kiếm được xe ra Huế. Bây giờ xe ngoài kia người ta chạy vô thì có, làm gì có xe ra.”
Rồi Tịnh ra dấu cho tài xế biểu ngừng xe lại.
_ “Tịnh cho ông ta quá giang hả?” Tôi hỏi.
_ “Để cháu hỏi lại coi.” Xong, Tịnh bảo tài xế cho xe “de” lui.
Thấy ngại, tôi nói:
_ “Ông ta có cái hài cốt đấy. Tịnh có ngại không?”
_ “Cháu biết! Cháu muốn làm phước cậu à. Để cái đức cho con. Tin dị đoan làm gì.” Tịnh giải thích.
&
Chúng tôi ra tới Huế, trời cũng còn sáng. Trời mùa hè! Tịnh cho xe chạy thẳng ra bến xe Nguyễn Hoàng, nói với ông bà già: “Hai bác xuống đây. Không có xe về Quảng Trị đâu, hai bác phải liệu cách.”
Hai ông bà già xuống xe, tôi xuống theo. Tôi nói với Tịnh: “Để chỉ đường cho ông ta đi, họ không biết đường đâu!
Tôi đứng trước mặt ông già, nghiêm trọng nói:
_ “Từ đây, bác có thể ra Mỹ Chánh bằng xe ôm. Không có đò đâu. Từ Mỹ Chánh ra, bác không thể đi theo Quốc lộ được. Hai bên đang đánh nhau. Vô đó là chết. Đi đường nầy may ra êm hơn: Từ Mỹ Chánh, bác đi về làng Vân Trình. Từ đó, bác ra ngã làng Trung Đơn mà về Ngô Xá. Từ Ngô Xá, băng qua Vân Hòa, Đại Hào, rồi qua sông Thạch Hãn mà qua Trung Kiên. Từ đó mà về Lai Phước thì dễ lắm.”
Ông già cứ ôm cái va-li thiếc vào mình, nói luôn miệng:
_ “Cám ơn thiếu úy. Cám ơn ông Đại úy. Cám ơn mấy thầy. Thiệt phúc đức quá. Vợ chồng tôi gặp may.”
Tôi hơi bực mình, nói:
_ “Cám ơn chi nói hoài. Mấy cái làng tui nói tên, bác có nhớ mà đi qua không?”
_ “Dạ nhớ! Mấy làng đó tui biết.” Ông già trả lời.
Tịnh hỏi tôi:
_ “Sao cậu rành địa thế vậy. Đi chơi khi nào mà biết hết.”
_ “Đi chơi đâu!” Tôi nói, “Hồi chạy tản cư, vùng đó tui có chạy qua. Dân Quảng Trị mà.”
Tôi quay qua nói với ông già:
_ “Mình người cùng quê giúp nhau. Ông Đại úy nầy, – Tôi chỉ Tịnh – người làng Cổ Thành. Ngoại tui là bên Nhan Biều.”
Ông già vẫn cứ khư khư ôm cái va-li thiếc vào ngực, mặt mếu máo, nói:
_ “Thiệt là hai vợ chồng tui gặp may. Ông bà với con tui phù hộ mới gặp được mấy thầy. Cám ơn Trời Phật, Cám ơn Trời Phật.”
Tịnh nói: “Thôi bác vô trong bến xe tìm xe ôm đi đi. Ra tới Mỹ Chánh là trời tối lắm. Lại còn đi theo con đường cậu tôi chỉ, không dễ lắm đâu.”
Ông già nói: “Dạ! Cám ơn Đại úy. Tui biết đường!”
Khi ông già tính quay đi, Tịnh nói theo:
_ “Vừa đi vừa hỏi dò đường người ta. Nghe chỗ nào có lính, có súng nổ thì đừng tới. Nghe chưa?”
Ông già lại “dạ, dạ” thêm mấy tiếng nữa, rồi đi nhanh vô bến xe.
Tịnh nói với tôi: “Con sống cũng khổ, con chết cũng khổ.”
hoànglonghải
(1)-Sông Trường Sanh, còn gọi là sông Diên Trường, có “bến đò Diên Trường”, chỗ có câu hò:
Trăm năm “diều” (nhiều) nỗi hẹn hò,
Cây đa bến “cộ” (cũ) con đò khác đưa
Cây đa bến cộ còn “lưa” (còn lại)
Con đò đã “thác” (chết) năm xưa “tê” (kia) rồi.
(2)-Tịnh là em rể Tướng Lãm, có lẽ vì vậy nên anh ta biết tin ấy sớm hơn những người khác.
(3)-Tiểu Đoàn 610 Truyền Tin, đóng ở Đà Nẵng – đơn vị của Tịnh
(4)-Tôi đi dạy 10 năm trước khi nhập ngũ.
(5)- Đèo Hải Vân, xe Quân Đội qua đèo, thường bị bắn sẻ.
Ngày hôm ấy, ông lái trà chờ đợi đứa con trai độc nhứt du học ở ngoại quốc trở về nhà. Người thanh niên này đã vắng nhà bảy năm và tất cả trong gia đình thắc thỏm chờ mong. Cha cậu, mẹ cậu, vợ cậu, hai đứa con của cậu, một trai một gái. Trong bảy năm qua người ta không thấy cậu và mỗi người một cách, tất cả đều trông chờ giờ trở về của người thân.
Không ai rõ chắc chắn giờ trở về vì thành phố này không nằm ở ven biển hay sát đường sắt. Đó là một thành phố nhỏ nằm giữa một vùng đồng bằng, nơi đây các nông trại mọc chi chít dọc theo con sông nhỏ lững lờ và nông cạn.
Mỗi bên bờ sông là một dãy núi. Thoạt tiên các dãy núi này chỉ là những gò nông rồi dần dần đi lên cao thành những đỉnh đầy sương mù. Vùng này nổi tiểng về các sở trà trồng ở sườn núi.
Mùa đông, nước sông xuống quá thấp, xuồng ghe không đi được cho nên ngoài một số người di chuyển bằng ngựa và xe, vùng này cô lập với thế giới bên ngoài.
Nhưng vào cuối mùa hè năm ấy, nhờ mưa to, nước sông lên cao đủ cho các ghe nhỏ tiến sâu vào nội địa cách bờ biển một trăm dặm.
Một trong các chiếc thuyền đó sẽ đưa cậu con trai của ông lái trà trở về mái nhà xưa. Giờ chuyến đi tùy thuộc nơi gió, nước, có thể cậu sẽ về trong ngày hôm ấy, vào xế chiều hay trong đêm. Nhưng nếu thuận buồm xuôi gió thì chuyến đi có thể tới sớm hơn.
Gia đình ông lái trà thức thật sớm, ăn mặc chỉnh tề để đón người đi xa về. Người cha là một ông lão hiền lành. Ông được cha mẹ để lại các khu đất lớn, nơi sản xuất trà thứ thật ngon. Ông cũng giữ cửa hiệu bán trà có từ mấy thế kỷ. Ông là một người được kính trọng, có uy tín đối với mọi người. Trong khi chờ đợi, ông ngồi trên một chiếc ghế riêng của ông ngay giữa nhà. Để mừng đứa con độc nhứt, ông mặc chiếc áo dài đẹp nhứt bằng sa ten đỏ xậm, mặc thêm bên ngoài một chiếc áo ngắn sa ten đen có thêu những đường cong theo lối cổ.
Người ông ốm và tái, cái tái của những người hút nha phiến… Ông hút từ thuở nhỏ, nhưng vẫn giữ một mức độ và hút đúng giờ. Ông chỉ chịu hút thêm khi nào bịnh. Cho nên nha phiến không làm cho ông gầy ốm cũng không làm cho ông hốc hác. Nó chỉ làm cho thịt ông nhão và nhuộm da ông một màu vàng đều đặn.
Đối điện với ông là bà vợ, mẹ của cậu con duy nhứt. Bà có bốn người con, nhưng chỉ còn sống có một đứa. Hai vợ chồng yêu thương đứa con một vô bờ bến.
Bả cụ không từ chối một cái gì với cậu con. Nhưng bà là người cương quyết – như cặp mắt đen và sáng của bà biểu lộ – và khi phải nhân nhượng chồng con thì bà chỉ nhân nhượng sau những cuộc giằng co.
Trong lúc chờ đợi, bà ngồi trên chiếc ghế giống như ghế của chồng, nhưng đặt thấp hơn. Bà giữ im lặng theo đúng phép vì người đàn bà không được quyền nói trước chồng.
Một người tớ già cũng lớn tuổi như bà chủ, đứng kế bên với một bàn đèn bằng đồng. Khi bà cụ đưa bàn tay lên thì người tớ già trao ống hút cho bà cụ kéo hai hơi. Người tớ già tiếp tục làm thuốc một cách lặng lẽ. Khi một chút tro rơi lên chiếc áo sa ten màu xám của bà cụ, người tớ lấy ngón tay phủi ngay.
Con dâu ngồi trên chiếc ghế đặt dưới thấp. Nàng không tới ba mươi tuổi, không đẹp, không xấu, nhưng có những nét đều đặn. Hai bàn tay cực đẹp của nàng cầm một mẩu sa ten màu hồng nhạt mà nàng đang thêu tỉ mỉ những cánh hoa đỏ rực và một con chim con đậu trên cành.
Thỉnh thoảng nàng cúi xuống nói nhỏ với cô bé mười tuổi ngồi trên một chiếc ghế đẩu bên cạnh mẹ. Cô bé cũng thêu, nhưng chậm và đầy cố gắng trên một mẩu vải. Cô bé thường nhìn ra sân, nơi cậu bé bảy tuổi đang đùa với một con dê con. Cậu vén chiếc ác dài màu xanh dưới thắt lưng đỏ cho tiện chạy nhảy. Cậu cười to lên khi đưa nắm cỏ cho con dê con. Khi con vật cao lêu nghêu vụng về bước tới trước thì cậu bé nhảy lùi lại cười vang lên thích thú trước vẻ ngơ ngác của con vật. Cứ mỗi chuỗi cười là cô bé nhìn lên mỉm cười theo với vẻ thèm muốn và mẹ cô phải lặp lại nho nhỏ vào tai: “Con phải chăm chú vào công việc con đang làm”.
Chân người mẹ và bà nội cô bé đều bó chặt và mang dép nhỏ bằng sa ten. Nhưng chân cô bé thì để tự nhiên. Cha cô đã từ ngoại quốc viết thơ về dặn không được bó chân đứa bé.
Gian phòng im lặng như tờ, đầy không khí hồi hộp chờ đợi. Hai vợ chồng ông lái trà nóng gặp lại người con xa vắng quá lâu ngày. Người vợ cũng mong gặp người chồng cách biệt trong bảy năm dài.
Mỗi người cố gang kiên nhẫn một cách. Ông cụ ngồi nhìn đứa cháu nội đùa với con dê con, nhưng sự bất động của ông chứng tỏ tư tưởng ông rất xa cách đứa bé.
Bà cụ quay lại người tớ già hỏi:
– Có bảo chúng nó mua vịt để làm cơm chiều nay?
Con dâu ngước mắt lên nói với giọng dịu đàng:
– Thưa mẹ, con đã lo xong vấn đề cơm nước. Sẽ có các món ngon mà ba sấp nhỏ ưa thích.
Rồi thấy chén trà của bà cụ đã hết, nàng đứng lên, rờ bình trà để xem nước còn nóng hay không, rót trà vào chén, hai tay bưng chén trà dâng mẹ chồng.
Nàng đổ trà nguội trong chén ông cụ, châm trà mới vào, rồi tiếp tục trở lại chỗ cũ thêu như trước.
Hai bàn tay đẹp của nàng đưa đi đưa lại một cách tự nhiên và nếp nhăn trên môi nàng có vẻ thanh thản, nàng có vẻ trầm lặng. Vì bất động cho nên mặt nàng có vẻ u tối. Chiếc áo saten xanh của nàng cũng ngả sang màu xám. Nhưng đôi mày của nàng rất đẹp, giống như hai lá liễu sắc lẻm đen nhánh vẽ lên đôi mắt đen. Tóc nàng cũng đen được xức dầu và bới tròn ra sau ghim trâm vàng. Nàng đeo đôi hoa tai nhỏ vừa vặn.
Thỉnh thoảng nàng cho đầu lưỡi liếm thắm môi một cách tế nhị.
Đứa bé trượt té ngoài sân và nằm khóc chờ người đến đỡ lên. Người mẹ trẻ vội vàng chạy ra giúp nó đứng lên, phủi bụi bám vào áo quần. Nàng giữ đứa bé sát bên mình, nói với giọng ồn tồn:
– Đừng khóc. Cha con có thể về tới bất cứ vào lúc nào. Nếu thấy con khóc thì phiền lắm. Ngày cha con đi con mới có một tháng. Lúc đó con cũng khóc. Cha con sẽ nghĩ là con đã khóc bảy năm trời, trong thời gian cha con đi xa.
Cậu bé đưa tay quẹt nước mắt rồi cười. Mẹ nó rút khăn tay nhét trước ngực lau nước mắt cho con rồi đưa nó trở vô trong nhà, cho nó uống nước.
Ông cụ mỉm cười, vuốt chòm râu lơ thơ nhìn đứa cháu với vẻ hiền lành thường nhựt:
– Thằng Vương sẽ lấy làm hài lòng về con. Con đã cho nó một đứa bé xứng đáng. Cha sẽ nói cho nó biết, con là một con dâu thảo, là một người mẹ hiền. Ngày cha mẹ chọn con cho thằng Vương, cha mẹ rất vui sướng, nhưng lúc đó cha mẹ chưa đánh giá đúng mức niềm vui sướng như ngày nay.
Bà cụ xen vào:
– Nhưng ông và tôi đều biết nó gia đình trâm anh ở thôn quê. Lúc nào tôi cũng thích chọn dâu ở vườn chớ không ưa những cô ở chợ, họ tự cao tự đại và nông nổi lắm. Tôi cũng xuất thân nhà nông và nhà nông thì biết cách dạy dỗ con gái.
Ông cụ cười:
– Tôi thấy đúng như vậy trong ba mươi lăm năm nay, khi tôi và bà ăn ở với nhau. Bà chỉ có một điều không hay là không giữ được tất cả mấy đứa con. Nhưng tôi không bình phẩm bà được vì mỗi người đều có số.
Bà cụ thở dài đáp:
– Nhưng thằng út nhà mình là đứa xuất sắc hơn hết và nó đã sống… Nó học hành đỗ đạt và nếu là thời xưa thì nó phải là Tổng đốc. Ngày nay, tôi không hiểu gì hết…
Ông cụ có vẻ hãnh diện và tự tin:
– Thằng Vương nhà mình không có cái gì phải ngại. Nhờ sự học rộng, nó sẽ được nhàn. Đông Tây gì nó cũng lão thông hết ráo.
Nói đến đây, có tiếng gọi ngoài cổng, tiếng người khuân vác rương tráp. Tiếng gọi ngoài ngõ chính là của người tớ già được phái đi rước cậu Vương.
Và sau đó, có tiếng nói rất quen thuộc, tiếng nói mà mọi người chờ đợi. Nhưng tiếng nói này có hơi khác xưa, trầm hơn và xa lạ hơn:
– A! Tới nhà rồi!
Ông cụ đứng lên khi nghe mấy tiếng đó. Nhưng chợt nhớ nề nếp gia phong, ông ngồi xuống chờ đợi.
Bà cụ bóp mạnh hai bàn tay đặt trên đầu gối.
Con dâu, gọi nhanh đứa con gái và ngồi xuống chiếc ghế phía sau bà mẹ chồng. Cậu bé vụt sợ hãi, chạy lại nắm tay mẹ, còn cô bé thì ngó chăm chú ra ngoài rào, tay vẫn cầm mảnh vải đang thêu. Nhưng mẹ chúng không ngẩng đầu lên. Nàng ngồi im, cố nhìn một kẽ hở giữa hai tấm gạch dưới đất.
Bỗng cánh cổng mở. Nàng… nghe người đi và bước lại gần, những bước cứng rắn và vững chắc Vương mang đôi giầy đế da cứng, nện vang lên sân gạch.
Chàng bước vào, đứng trước thêm. Rồi đi ngay lại ông cụ. Từ đuôi mắt, nàng thấy ông cụ đứng lên và nghe chồng nàng kêu lên “Cha, con mới về”.
Ông cụ đáp:
– Sau bảy năm xa cách… – Giọng ông nghẹn lại và nước mắt chảy quanh.
Vương nói:
– Cha ngồi xuống cho khỏe.
Rồi mỉm một nụ cười không được tự nhiên, cậu châm trà vào chén của ông cụ.
Quay sang bà cụ, Vương nói:
– Thưa mẹ con đã trở về bình yên, dù trùng dương xa cách.
Bà cụ run run đứng lên, hân hoan đặt bàn tay lên cánh tay con:
– Vương, con đã lớn nhiều, mẹ thấy con lạ.
Vương nói với giọng rõ ràng:
– Bảy năm phải thay đổi chớ mẹ.
Bây giờ đến lượt Vương chào vợ. Chàng đứng trước mặt nàng, và nàng không ngước mắt lên. Là con nhà gia giáo, nàng biết giữ lễ với chồng. Nàng chỉ thấy có đôi giày da và hai ống quần may bằng vải ngoại quốc mà nàng không biết.
Với giọng xa xôi và lễ độ, chàng nói:
– Mẹ sấp nhỏ vẫn mạnh giỏi?
Ông cụ bỗng nhiên trở nên hoạt bát:
– Nó là con dâu thảo nhứt hạng. Không bao giờ nó quên bổn phận với cha mẹ cũng như với con cái. Luôn luôn săn sóc nhà cửa, rộng rãi với kẻ ăn người ở.
Vương hỏi:
– Còn con trai tôi đâu?
Câu bé kêu lên thật to:
– Thưa cha, con đây.
Cậu đứng nhìn cha với đôi mắt mở to, tròn như hai đồng tiền.
Vương cười, nhấc bổng cậu bé lên:
– Bây giờ con được bảy tuổi. Lúc cha đi con có một tháng, đỏ hỏn như một củ cải. Bây giờ con trở thành một người lớn, đẹp ra.
Trong khi chồng quay đi chăm chú nhìn đứa con, nàng liếc nhanh nhìn chàng. Phải, chàng đã thay đổi, đã trưởng thành. Nàng có thể nhận thấy sự thay đổi đó. Lúc ra đi, chàng mới có hăm bốn, dù học cao hiểu rộng, chàng có vẻ trẻ và mảnh mai. Bây giờ chàng đã mập ra, có hơi cao hơn, vẻ mặt của chàng cũng khác hẳn. Bảy năm trên đất khách đã thay đổi chàng nhiều. Trước kia lúc nào Vương cũng tỏ ra tự tin, sẵn sàng để cười nói, trẻ trung, hăng hái. Còn bây giờ, chàng là một người chững chạc, trưởng thành.
Bỗng nhiên nàng thấy lúng túng và e lệ. Mặt nàng đỏ ửng và thấy nóng dưới vành tai.
Lặng lẽ, nàng đẩy cô bé tới trước, nói nhỏ:
– Nói chuyện với cha đi con.
Nhưng cô bé chỉ mỉm cười, cúi đầu xuống cho đến lúc cậu em kêu lên:
– Còn chị con đây nữa.
Bấy giờ Vương mới quay lại vồn vã với cô bé. Chàng nắm tay cô bé, bàn tay nhỏ bị kim đâm, hỏi:
– Con làm gì đó Thúy Lan? May dép hay gối cho con hả?
Bà cụ nói:
– Năm nay Thúy Lan 10 tuổi. Nó đã khá lớn để bắt đầu thêu gối cưới. Mẹ nó đã dạy cho nó đủ cả tam tùng tứ đức.
Cô bé lắng nghe mấy lời bà cụ với vẻ khó chịu. Nó cúi mặt xuống dường như muốn nói, nhưng mẹ nó đặt bàn tay lên vai nó. Cử chỉ đó khiến cô bé im lặng.
Vương không đáp câu nói của bà cụ. Chàng mở miệng rồi lại mím môi và sau một sự im lặng kỳ lạ dường như mọi người đều lắng nghe, chờ đợi người khác nói. Vương nói để xô đuổi không khí khó chịu:
– Được trở về nhà sau một thời gian đi xa thật là thích! Bây giờ con phải đi tắm sau ba ngày ở trên thuyền. Một trăm dặm mà phải mất ba ngày, thật là chậm so với các phương tiện giao thông Tây phương.
Rồi chàng tươi cười bước ra. Ông cụ nhìn mông ra xa, nói với bà cụ:
– Ba ngày, đâu có lâu gì! Đó là nhờ thuận buồm xuôi gió. Nếu ngược gió, người ta phải lên bờ kéo thuyền, thì phải mất ít nhứt là năm hay sáu ngày.
Ba cụ nói:
– Mỗi ngày tôi đều đi chùa. Tôi cầu nguyện cho thuận buồm xuôi gió. Tôi đã mua hai đồng bạc nhang và trà cho ông từ. Tôi đã tốn công tốn của như thế, đâu lẽ không có kết quả tốt.
Ông cụ nhìn bà cụ với vẻ rộng lượng. Ông không bao giờ tới chùa miếu, không hề tin tưởng thần thánh. Ông là người theo Khổng học, ông dành chuyện đi chùa cho đàn bà con nít.
Với giọng ôn tồn, ông nói:
– Mùa này là mùa gió.
Nghe ông cụ nói, bà cụ ngẩng đầu lên, gằn giọng:
– Ông không tin, nhưng tôi đã thử nhiều lần. Tôi bảo đảm với ông là thần thánh nghe lời khấn vái của mình. Nếu tôi không đi chùa thường thì biết đâu con mình gặp tai nạn trên trùng dương đầy sóng gió hoặc ở xứ lạ quê người?
Cụ già đấu dịu:
– Thôi được! Bà cứ tiếp tục sùng bái thần thánh và nếu bà cầu khẩn đúng mùa thì tôi tin chắc thế nào bà cũng mãn nguyện.
° ° °
Đêm đó, khi ăn tối xong, Vương tặng quà cho mọi người. Nàng bước vào phòng chồng. Từ ngày chồng đi nàng không ngủ trong phòng này vì thấy cô đơn trong đêm dài. Ban ngày nàng lau chùi, trong phòng không có một hột bụi, nhưng ban đêm nàng sang phòng bên nhỏ hơn ngủ với hai con. Đôi khi nàng ngồi trong phòng trống bỏ không với giỏ đồ thêu. Đêm ấy nàng ngồi trong phòng chờ chồng về.
Vương về rất trễ. Bạn bè nghe tin chàng về kéo tới mừng chàng ở phòng ngoài. Ông cụ ra lịnh hâm rượu, thứ rượu địa phương nấu bằng gạo.
Ngồi trong phòng vắng, nàng nghe bạn bè kêu gọi, uống rượu mừng chồng. Họ la lên: “Cạn chén nghe anh em. Cạn chén để mừng Vương vừa được bổ nhiệm ở Thủ đô, cạn chén để chúc Vương có thêm nhiều con…”
Sau lời chúc tụng, một tiếng cười vang lên và một mình trong phòng tối nàng mỉm cười có hơi buồn tủi và thấy máu bốc lên nóng dưới vành tai.
Rồi nàng hiểu là người ta mang các thức ăn ra cho thực khách ăn và uống rượu.
Sau đó tiếng giã từ vang lên, những lời chúc tụng vui vẻ và hứa hẹn sẽ gặp nhau lại, tất cả những tiếng cười bay khắp sân và tiếng cười của Vương vượt lên trên hết.
Thế rồi trong sự yên tĩnh bất ngờ của ngôi nhà, nàng nghe tiếng chân chàng trở vô. Chàng nói: “Uống rượu như thế này, ngày mai mình sẽ nhức đầu ghê lắm. Từ ngày xuất ngoại mình không có uống nhiều như thế”.
Ông cụ ngạc nhiên hỏi:
– Ở xứ ngoài không có rượu sao?
Vương trả lời chiếu lệ:
– Có chớ, nhưng con ít uống. Con phải giữ tâm trí luôn luôn sáng suốt. Bây giờ con còn phải giữ gìn hơn vì con được giao một chức vụ quan trọng ở thủ đô. Ngày mai con sẽ trở lại vấn đề này. Bây giờ thì đã khuya rồi.
Ông cụ hỏi:
– Nhưng con không nhậm chức ngay bây giờ chớ? Con đi xa lâu ngày. Cha biết chức vụ ở thủ đô là vinh hạnh và cha không giữ con lại ở đây. Nhưng con du học quá lâu, cha mẹ muốn con ở lại nhà ít hôm. Hơn nữa còn vợ con nó là dâu thảo, mẹ hiền. Nó sống cô đơn trong bảy năm qua.
“Chàng sẽ trả lời như thế nào?” Nàng ngả người tới trước lắng nghe bên cạnh cánh cửa mở, hai gian phòng chỉ cách nhau có một bức màn. “Chàng sẽ nói gì?”.
Vương im lặng rồi như chợt nhợ đến một bổn phận, kêu lên:
– Con còn một bức thơ phải viết trước khi đi ngủ. Con quên đi mất. Bây giờ cha đi ngủ đi. Cha vịn tay con, con dìu cha vào phòng.
Nàng nghe tiếng chân của chàng và ông cụ. Tiếng giày nhung của cụ chạm đất nhẹ nhàng còn tiếng giày da của chàng nện mạnh trên nền gạch.
Gian phòng im lặng và nàng âm thầm ngồi chờ chồng đến với mình theo bổn phận của người vợ.
Nàng đánh diêm thắp đèn rồi lại ngồi như trước, kiên nhẫn, đôi mắt nhìn xuống đất. Hai bàn tay nàng lạnh và nàng xoa hai bàn tay lại cho ấm.
Chàng bước vô phòng; theo thói quen, đột ngột, vô tư và tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy nàng ngồi đó.
– Ủa, em hãy còn ngồi đó? Không nên chờ anh. Em đi ngủ đi. Anh còn một lá thơ phải viết gấp trước khi đi ngủ.
Chàng ngồi lại bàn viết, ở bên kia phòng, chiếc bàn viết mà trước kia chàng học thi trong những năm trước khi chàng xuất ngoại.
Trong bảy năm dài, nhiều lúc nàng hình dung thấy chàng ngồi chỗ đó.
Nàng vẫn ngồi yên. Một lúc sau chàng bực tức ném ngọn bút lông, kêu lên:
– Mình quên cách dùng bút lông. Bao lâu nay mình chỉ quen dùng bút ngoại quốc.
Chàng lấy trong túi áo một cây bút kim khí lạ lùng và bắt đầu viết.
Chàng lại ngửng đầu lên lần nữa và khi thấy vợ vẫn còn ngồi đó, kêu lên với giọng hơi bực:
– Coi, em đi ngủ đi chớ! Anh không thích em ngồi đó chờ anh.
Nhưng sau đó, giọng chàng dịu lại:
– Em tha thứ cho anh. Anh không muốn tỏ ra thô lỗ. Anh mến phục cử chỉ của em lắm. Nhưng mà bây giờ chúng ta có thể bỏ qua những nghi thức quá câu nệ xưa cũ. Em hãy đi ngủ đi.
– Con nó giựt mình! Trong mấy năm qua con ngủ với em…
Gương mặt Vương tươi sáng lên:
– Vậy thì em qua bên ấy với nó, đêm nay anh ngủ trễ. Anh còn phải ghi chú trong quyển sách của anh. Anh không muốn làm rộn thói quen của em, trong đêm nay.
Chàng đứng lên đầy vẻ lịch sự. Nàng nhìn chàng một lúc với đôi mắt trầm lặng. Giữa hai người có một lúc do dự, tế nhị, khó khăn. Rồi thu hai bàn tay vào tay áo theo thói quen của phụ nữ, nàng khẽ cúi đầu nói:
– Xin anh hãy ngồi xuống.
Nàng đi lại trong phòng, dịu dàng và âm thầm như thường lệ, với những cử chỉ duyên dáng. Nàng rờ bình trà, thổi cho than cháy đỏ trong chiếc thau đồng ở dưới, trải chăn lên giường, bỏ màn xuống. Khi nước nóng, nàng châm trà vào chén cho chồng. Chàng cúi đầu mỉm cười nhưng hai mắt dán chặt vào mảnh giấy.
Rồi nàng bước ra khỏi phòng với sự bình tĩnh hoàn toàn. Nàng thay áo, mặc toàn hàng trắng, lau mặt lau tay và xúc miệng. Trước khi nằm, nàng đến bên giường cô bé đặt bên kia phòng, một chiếc giường nhỏ bằng tre phủ màn chung quanh. Nàng vén màn sờ bàn tay con bé đặt ra ngoài cạnh giường. Bàn tay ấm và hơi thở đều đặn, nhẹ nhàng. Cầm ngọn đèn sáp trên bàn, nàng xem xét cẩn thận chiếc màn trước khi khép lại. Nàng sợ muỗi cắn con. Thấy một con trong màn, nàng đập chết. Sau đó nàng bước sang giường cậu bé con. Trời nóng, cậu ngủ không mặc quần áo chỉ trừ một vuông vải đỏ đắp ngang bụng. Nàng đẩy chân con sang một bên thật dịu dàng, âu yếm, để có một chỗ nhỏ nằm xuống nhẹ nhàng. Và khi cậu bé thức giấc, nàng vỗ nhẹ vào người nó theo một nhịp điệu đều đều, êm ái. Cậu bé cảm thấy sự hiện diện thường lệ của mẹ ở bên cạnh, tiếp tục ngủ lại. Nhưng người vợ trẻ vẫn thao thức, bất động. Nàng lắng tai nghe từng tiếng động ở phòng bên.
Trong một lúc lâu, chỉ có tiếng giấy vò nát và tiếng hộc tủ đóng lại. Một nghiên mực rơi xuống đất, bể tan. Nàng nghe chồng kêu lên một tiếng ngoại quốc mà nàng không hiểu. Trước khi ngủ, nàng tắt ngọn đèn mỡ bò, sợ hao và tỏa mùi hôi trong phòng. Nàng thắp ngọn đèn dầu phong. Từ ngày chồng đi xa, nàng không chịu được bóng tối trong đêm. Bây giờ chồng đã trở về, nhưng chàng không như xưa nữa. Ngọn đèn dầu tỏa một ánh sáng lờ mờ và trở nên vô nghĩa khi ánh trăng thu từ bên ngoài chiếu rọi vào phòng.
Nàng lẩm bẩm:
– Bình minh sắp ló dạng.
Nàng nghe tiếng chồng thở dài, đứng lên đi về phía giường của chàng.
Mấy phút im lặng trôi qua. Nàng nghe ngóng, thầm mong chàng sẽ gọi nàng chăng? Nhưng chàng ngả lưng trên chiếc giường gỗ kêu răng rắc. Đó là một chiếc giường lớn chạm trổ có từ hai đời.
Chàng lại thở dài. Sau đó, im lặng hoàn toàn. Chàng đã ngủ.
Còn nàng, nàng nằm trong đêm như bảy năm qua, cánh tay ôm ngang người cậu bé con.
° ° °
Sáng hôm sau, nàng thức theo thói quen, một giờ trước người ăn ở kẻ trong nhà. Nàng chui ra giường nhẹ nhàng không làm thức giấc cậu bé.
Dưới ánh sáng lờ mờ của bình minh, nàng chải tóc bằng chiếc lược trắng bằng sừng. Nàng ngồi trước bàn con, tấm gương in rõ nét mặt nàng.
Theo phong tục địa phương, loại bàn này là vật thân thiết mà cô dâu phải mang theo khi về nhà chồng. Cha nàng cũng khá giả nên chiếc bàn được đóng bằng loại danh mộc, các hộc tủ đều có tay nắm bằng đồng. Cũng như tất cả đồ vật của nàng, chiếc bàn được chăm sóc lau chùi luôn luôn. Nàng chải tóc cẩn thận.
Có tiếng ho ngoài cửa. Nàng vén màn lên. Một người tớ gái mang đến một ấm nước nóng. Nàng cầm lấy đặt lên trên bàn nhỏ, cho khăn lông vào, vắt ráo lau mặt, tay. Thoa sơ một lớp phấn trên má và trán, nàng đã sẵn sàng. Dù ăn mặc giản dị nàng trông hãy còn trẻ, vóc người mảnh mai, đều đặn. Không ai nghĩ là nàng đã có con, khi thân hình rất thẳng và đôi vú nhỏ. Dù vậy, nàng không đẹp. Nàng thiếu linh động, hoạt bát. Nàng quá trầm lặng…
Sau khi sửa soạn xong, nàng xuống bếp xem những gia nhân nấu cơm sáng.
Nàng bảo một bà lớn tuổi chỉ dạy hai cô gái đồng quê giúp việc trong nhà:
– Hôm nay làm món gà phơi khô.
Bà bếp nói:
– Tôi sẽ cắt vài miếng. Cậu nhà còn thích những món nào khác?
Nàng nói:
– Anh ấy thích đậu đỏ hầm thịt bỏ tiêu. Nhớ pha trà, thứ thiệt ngon.
Bà tớ chánh hôm qua, đứng bên cạnh bà cụ bước xuống bếp, mang theo chiếc khăn sạch, một cục xà phòng đỏ và một thau đồng, đựng nước nóng. Một cô gái bước theo sau, cầm một ấm trà mới, hỏi:
– Thưa cô, mình đi bây giờ chớ?
Nàng gật đầu:
– Phải, Wang Ma.
Nàng hướng dẫn hai người tớ gái tới trước cửa phòng mẹ chồng. Nàng ngừng lại, khẽ tằng hắng. Bà mẹ kêu lên:
– Vô đi!
Ba người bước vào trong. Với gọng dịu dàng, nàng hỏi:
– Mẹ có ngủ ngon giấc không?
Hỏi xong nàng lấy ấm trà người tớ đặt lên bàn, chế vào chén rồi đứng trước cửa màn chờ đợi.
Một bàn tay gầy và vàng thò ra màn bưng chén trà.
Nàng dâu châm thêm một chén nữa và cũng được bà mẹ chồng uống như lần trước. Sau đó nàng đứng bên bàn đèn, làm thuốc cho mẹ chồng. Khi nàng dâu và cô tớ gái bước ra ngoài, người tớ già ở lại để tiếp tục phục vụ bà chủ.
Mỗi sáng, công việc phục vụ kể trên tiếp diễn đều đều! Lo cho mẹ chồng xong nàng dâu trở về phòng mình thay quần áo cho con. Nhưng bây giờ còn có một người khác để cho nàng săn sóc. Trước kia, mang trà buổi sáng cho chồng là chuyện tự nhiên. Bây giờ, điều ấy có hơi khó một chút. Chồng nàng đã thay đổi quá nhiều khiến nàng có cảm tưởng như vào phòng một người lạ. Dù vậy, bổn phận làm vợ của nàng vẫn không thay đổi. Nàng bảo cô tớ nhỏ:
– Mang tới cho chị một thau nước nóng và một bình trà, lấy bình đẹp nhứt, và cho trà mới vào.
Nàng chờ cô tớ mang trà tới, mở nắp bình, ngửi hương thơm của trà. Nàng tiến về phía cửa phòng chồng, tằng hắng. Cô tớ đứng phía sau.
Không có tiếng đáp lại. Nàng áp tai vào cửa màn nghe ngóng rồi len ngón tay qua vai màn. Chồng nàng đã đóng cánh cửa. Nàng khẽ đập cửa bằng lòng bàn tay.
Tiếng chồng nàng kêu lên:
– Ai đó?
Nàng giựt mình sợ hãi về giọng cộc lốc đó. Từ lâu nàng quên cảm giác về sự có mặt của một người đàn ông trẻ tuổi, khỏe mạnh, trong nhà. Bảy năm là một thời gian dài mà nàng đã trải qua bên cạnh cha mẹ chồng già và mấy đứa con. Từ ngày cha mẹ ruột nàng mất, nàng trở về mái nhà xưa. Cho nên nàng không biết rõ một người đàn ông có thể kêu to đến mức nào.
Cánh cửa vụt mở và Vương đứng trước thềm, mắt còn nhắm, tóc tai rối bời. Chàng hỏi với giọng bực dọc:
– Việc gì vậy?
– Em mang trà cho anh. – Nàng ấp úng.
Vương kêu lên:
– Trà!
Rồi mỉm cười, vuốt tóc, ngáp:
– Được. Đem vào. Tôi quên lửng chuyện uống trà. Trong bảy năm qua, tôi không hề uống trà quá sớm như vậy – Đôi mắt nhìn xuống chiếc thau đồng, Vương nói – Tôi cần nhiều nước hơn. Tôi có thói quen tắm mỗi buổi sáng.
Nàng nhìn cô tớ với vẻ kinh ngạc. Cô tớ là người ở quê, không biết phép lịch sự nên nói cụt ngủn:
– Tắm phải tốn nhiều nước. Nếu muốn tắm thì tới chỗ tắm công cộng.
Người vợ trẻ khó chịu về giọng của con bé, nghiêm nghị bảo:
– Cậu muốn gì là phải có cho cậu.
Rồi quay về phía chàng, nàng nói:
– Trong chốc lát sẽ có nước cho anh.
Vương nói một cách vô tư:
– Nếu mất công thì thôi.
Nàng nói:
– Không có gì mất công, nhứt là anh mới về sau bảy năm xa vắng.
Vương quay mặt đi, châm thêm trà vào chén.
Khi thấy không còn gì để nói, nàng bước ra ngoài để trông nom việc nấu nước. Người thiếu phụ có cảm nghĩ là ngày trở về đầu tiên của chồng nàng phải khác hẳn bảy năm trầm lặng mà chàng đi vắng. Biến cố quan trọng nhứt trong mấy trăm ngày đó là việc nhận thơ của Vương, ông cụ đọc lớn lên cho cả nhà nghe. Bà cụ, nàng dâu và hai đứa bé ngồi đúng vào ghế của họ.
Các bức thơ của Vương đều giống nhau. Chàng nói về sự học hành của mình, một đôi khi kể chuyện mà chàng chứng kiến hoặc ra một lịnh cho gia đình thi hành. Chẳng hạn như Vương viết “không được bó chân con gái tôi” hoặc “con trai tôi phải được gởi vào trường chánh phủ. Nó sẽ không học Tứ thơ như cha nó trước kia. Ngày nay những sách đó trở nên vô ích”.
Hai vấn đề đó đã gây kinh hoàng cho cả nhà. Ông cụ ngừng lại ở các đoạn đó, và qua đôi kính trắng nhìn bà cụ và nàng đâu.
– Nếu không bó chân cho con bé, làm sao có thể kiếm cho nó một người chồng xứng đáng?
Bà cụ kêu lên đầy kinh hoàng. Bà kéo chân lên, hai bàn chân nhỏ và nhọn mà bà đang sưởi ấm trên một đĩa than nóng. Bức thơ ấy về đúng vào mùa đông.
Ngay lúc đó không ai chịu chấp nhận lịnh không bó chân con bé của Vương. Ông cụ liền viết cho Vương nói rõ là khó thi hành ý muốn của chàng.
Vương trả lời ngay, bức thơ tới nhà không quá hai tháng, Vương nhấn mạnh là “Con muốn không ai cãi lại ý con. Nếu không con sẽ không hài lòng”.
Ông cụ bất mãn, trợn mắt và đưa tay run run vuốt râu nói:
– Tôi hy vọng thằng Vương đừng quên là khi nào tôi còn sống tôi là người chỉ huy trong gia đình. Tôi nghĩ là nó phải nhớ điều đó.
Sau cùng con dâu nói thật ôn tồn nhưng cương quyết:
– Con thấy nên nghe lời chồng con thì hơn. Mình nên nghe theo những lời căn dặn của anh ấy.
Và đôi chân cô bé được để này nở tự do, mặc dầu nỗi buồn của người mẹ khi thấy bàn chân của con dài ra một cách tuyệt vọng. Nàng chỉ đành đặt giày thật chật cho con mang.
Cách đó không bao lâu vấn đề học vấn của cậu bé lại được đặt ra. Cậu bé hãy còn nhỏ quá, nhưng ông cụ đã vội lo xa. Ông lẩm bẩm một cách não lòng “Không học được Tứ thơ! Vậy là không biết những lời chỉ dạy của Thánh hiền! Rồi nó sẽ biết những gì đây?” Ông cụ đã đọc hết sách của Khổng Tử và ông tin chắc là không có sách nào dạy đúng hơn. Chính ông đã cố gắng xử sự đúng theo sách của Khổng Tử. Cho nên ông không bao giờ rơi vào những sự thái quá. Ông luôn luôn giữ đúng mực Trung Dung.
Ông thấy điều quan trọng vào bực nhứt là hai đứa cháu nội của ông phải biết rõ đạo làm người. Đối với người đàn bà, ông cho việc học sách thánh hiền là thừa. Đàn bà thường giản dị và trí óc họ thiếu thông minh. Người ta cần đưa cho họ xem những chuyện dễ thấy.
Ông cụ nghiêm nghị nói:
– Cháu nội tôi sẽ lớn lên vô đạo đức!
Nhưng lúc bấy giờ đã quá muộn để viết thơ cho Vương. Cho nên cả nhà cố kiên nhẫn chờ đợi.
Đó là những vấn đề nghiêm trọng nhứt đã làm sôi nổi gia đình trong khi Vương vắng mặt, kỳ dư các năm ấy trôi đi vô tích sự.
Về con dâu thì cha nàng mất về bịnh kiết lỵ vào một mùa hè. Mùa đông năm sau mẹ nàng mất về một bịnh kỳ lạ không ai biết. Gia sản chia cho bốn người con trai và ngôi nhà cũ chia làm tư cho bốn gia đình. Người thiếu phụ trở nên xa lạ, không muốn trở về mái nhà xưa. Nàng đành chôn vùi cuộc sống riêng trong gia đình nhà chồng với một lòng tận tụy vô bờ, yêu mến cha mẹ chồng đã tỏ ra tử tế với nàng.
Nàng không biết phải tạ ơn trời Phật như thế nào cho xứng đáng khi đấng vô hình đã ban cho nàng một bà mẹ chồng quá phúc hậu. Khi cùng cha mẹ chồng đi chùa lễ Phật, nàng cám ơn vị thần đã giúp nàng đẹp duyên cùng chồng nàng.
Nàng biết có những bà mẹ chồng khắc nghiệt, ganh ghét con dâu và làm cho cuộc sống của con dâu không thể chịu được. Nhưng bà mẹ chồng của nàng là bà mẹ xứng đáng. Nàng dâu và mẹ chồng hết sức hòa thuận với nhau. Cô dâu thì trầm lặng còn bà cụ thì hiền lành và sống ẩn dật. Từ lâu bà cụ ăn chay trường và luôn không động đến sanh vật. Khi một con bướm bay vô nhà bà cụ không cho đám gia nhân giết. Bà bảo người tớ bắt con bướm thả ra ngoài.
Thật ra thì cha mẹ chồng rất đáng được nàng dâu yêu mến và phục vụ. Ông cụ xem nàng như con ruột. Mỗi sáng, ông đến cửa hiệu trông các người đứng bán và kiểm tra kho hàng. Khi trở về, áo quần ông còn thoang thoảng mùi thơm của trà, cô dâu đem đến cho ông một bình trà và một chiếc quạt nếu là mùa hè và một đĩa than hồng nếu là mùa đông. Nàng học làm thuốc theo sở thích của cha chồng. Nàng lau sách trên án thư của ông cụ, nàng sắp đặt mấy chiếc quạt cổ mà ông cụ chịu khó sưu tăm, những chiếc quạt ấy quá cũ kỹ và mỏng manh, nàng không dám giao cho đám gia nhân trông coi.
Không như với các ông cha chồng khác xem chuyện nàng dâu phục vụ cho mình là chuyện tất nhiên, ông cụ luôn luôn cám ơn các công việc nàng dâu làm cho ông. Ông cụ luôn luôn nhã nhặn lịch sự với cô dâu và những lời khen của ông cụ làm cho nàng vui vô cùng.
Ngôi nhà không rộng như các ngôi nhà khác vì đã được chia cắt trong thế hệ trước. Ngôi nhà có ba vườn hoa, một vườn mẫu đơn, một vườn trúc và một vườn cúc.
Ông cụ rất yêu hoa. Ông thích thưởng thức hoa mẫu đơn nở, hoa huệ trổ dưới khóm trúc và cúc nở vào mùa đông.
Ngày xuân đẹp nhứt là ngày người ta thấy lần đầu tiên các nụ mẫu đơn từ dưới đất đen vươn lên. Cả nhà đều ra thưởng thức.
Có một lần duy nhứt nàng dâu thấy ông cụ nổi giận. Đó là lúc cậu bé nghịch ngắt một nụ hoa. Không nói một tiếng, ông cụ cúi xuống, tát vào cổ cậu bé. Bốn ngón tay xương xẩu của ông cụ hằn trên chiếc cổ tròn của cậu bé. Nó kinh ngạc một lúc rồi kêu ré lên đầy sợ hãi. Ông cụ tái mặt. Ông ấp úng: “Mình đã quá nóng”, rồi đi nhanh vào phòng đóng cửa lại ở trong đó thật lâu.
Đến tối, nàng dâu nắm tay cậu bé đưa đến ông cụ. Nàng bắt nó quỳ xuống lạy ông để xin lỗi. Chính nàng cũng xin lỗi cha chồng.
– Thưa cha, con không hiểu tại sao con của con lại thiếu tư cách đến thế. Con rất lấy làm xấu hổ và khổ sở. Con xin cha tha lỗi con đã vụng về trong việc dạy dỗ con cái.
Ông cụ dịu dàng đỡ cậu bé lên rồi ôm nó trong tay:
– Lẽ ra thì nó không được chạm tới cành mẫu đơn. Khi bị ngắt như vậy gốc mẫu đơn sẽ không thể nở những nụ đẹp, hoa lá cũng kém đi. Nụ hoa kia đã bị ngắt đang giữa lúc còn đang nảy nở. Nhưng cháu nội của cha hãy còn bé quá. Lỗi là ở nơi cha, một người đã già và bao nhiêu năm qua đã theo học thánh hiền, tưởng là đã đạt tới chánh đạo nhưng lại còn nóng nảy một cách phàm phu. Cha hãy còn chậm tiến!
Ông cụ thở dài, nàng dâu không chịu được khi thấy cha chồng buồn. Nàng nói thật dịu dàng:
– Cha là người đàn ông hoàn toàn nhứt mà con đã gặp. Cha là một người cha xứng đáng nhứt đối với con và đối với tất cả những người khác.
Ông cụ mỉm cười trước những lời đó. Ông thấy được an ủi phần nào, dù ngoài mặt ông vẫn giữ thản nhiên, ông tiếp tục đọc sách và nàng dâu đưa con ra ngoài.
Những vụ nho nhỏ như vậy tạo nên những biến cố lớn trong gia đình. Từ ngày Vương vắng mặt, không ai chú ý đến những ngày lễ cho nên bảy năm trời qua như một giấc mộng. Mùa hè lặng lẽ trôi sang mùa thu, hoa cúc nở rực rỡ ngoài sân. Mùa đông các búp măng nở hồng trên tuyết trắng. Rồi xuân lại đến với những nụ hoa huệ và hoa mai nở trên cành đen trụi lá. Và cuộc đời cứ thế trôi đi, năm này qua năm khác.
Trong cuộc đời của người thiếu phụ chỉ có hai biến cố quan trọng xảy ra sau khi nàng sanh cậu bé.
Biến cố thứ nhứt là việc dứt sữa khi con lên bốn và biến cố thứ hai là cậu bé lâm bịnh vào mùa hè, cách đây hai năm. Lần đó nàng trải qua một cơn lo sợ hãi hùng nhứt đời nàng. Buổi sáng cậu bé hãy còn mạnh khỏe vui vẻ nhưng đến xế chiều thì cậu ỉa mửa dữ dội và chỉ vài giờ sau là cậu bé chỉ còn xương bọc da. Cả nhà đều kinh hoàng. Bà cụ tất tả chạy lên chùa. Ngày thường bà cụ chỉ đi được vài bước ngoài sân thôi. Bà cụ hứa sẽ cúng cho nhà chùa cả nắm bạc nếu cháu nội bà sống.
Bà cụ quỳ xuống dưới chân Phật Bà, đập mạnh trán xuống nền gạch, nghẹn ngào khấn vái. Bà thành tâm cầu nguyện thật lớn làm xúc động các quả tim, kể cả quả tim của các pho tượng đất sơn son phết vàng. Các nhà sư cũng đâm ra hốt hoảng vì sợ bà cụ chết đến nơi nên vội vàng đỡ bà lên, bảo:
– Cụ đã cầu nguyện xong và Phật Bà sẽ chứng kiến lòng thành của cụ. Bây giờ cụ nên trở về nhà.
Khi bà cụ về đến nhà thì cậu bé thay vì đỡ, lại trở bịnh nặng thêm. Đôi môi cậu tái xanh và các móng tay của cậu tím đen.
Bấy giờ Waog Ma, người tớ già đã thấy bảy đứa con của bà chết lúc bà hãy còn trẻ, kêu rú lên:
– Phải hú hồn nó, mau lên!
Bà đốt đèn giấy lên chạy ra sân, bảo người mẹ trẻ xách chiếc áo của đứa bé chạy theo. Cả hai chạy trên các nẻo đường lát gạch. Wang Ma nêu cao chiếc đèn giấy lên, vừa chạy vừa réo: “Ba hồn chín vía cậu bé hãy trở về nhà mau”. Người mẹ trẻ đưa chiếc áo đỏ của cậu bé lên cao, chiếc áo mà con nàng thường mặc, để hồn cậu bé nhận ra mà trở về. Đã nhiều lần nàng nghe tiếng gọi hồn của những bà mẹ khác và những lúc ấy nàng run rẩy ôm chặt lấy đứa con thơ trong lòng. Bây giờ đến lượt nàng! Những người đi đường trông thấy bảo nhau: “Vái trời cho hồn đứa bé trở về”. Người mẹ trẻ tiếp tục chạy, hai bàn chân nhỏ bé lướt trên những hòn đá tròn và trơn, không chú ý đến những cảnh bên ngoài thành phố mà từ lâu nàng không trông thấy. Nàng chỉ nghĩ tới đứa con trai duy nhứt của nàng đang hấp hối. Nhưng kết quả đã đạt. Khi trở về nhà, mệt nhoài, họ thấy ông cụ ngồi gần giường, người tớ đứng bên cạnh cầm một chén cháo nóng. Ông cụ từ từ đút từng muỗng nhỏ vào miệng đứa bé. Cậu bé hãy còn nhắm mắt, nhưng nó nuốt được cháo. Hồn nó đã trở về.
Cậu bé phục hồi nhanh chóng cũng như cậu lâm bịnh nhưng những người lớn phải mất nhiều thì giờ mới qua cơn kinh động trong đêm. Mấy ngày sau, ông cụ hãy còn tái xanh, và chốc chốc ông lại gọi cậu bé đến gần, rờ rẫm để xem cậu có bình phục, mập mạp như trước không, ông vui vẻ bảo:
– Bây giờ con mới thật là của nội. Con đã khỏe mạnh như trước.
Còn bà cụ thì cứ lải nhải:
– Nếu tôi không đi chùa và nếu Phật Bà không chứng kiến lòng thật của tôi, bảo toàn sanh mạng cho nó thì tôi hỏi có trời mới cứu được nó! Tôi nghĩ là tôi đã cúng chùa không mất mát đi đâu!
Riêng về người mẹ trẻ, nàng thường thức giấc trong đêm, toát mồ hôi lạnh vì nằm mơ thấy mình chạy cuống cuồng trên các nẻo đường tối tăm, tay cầm chiếc áo đỏ để cho hồn đi lạc của đứa bé trở về.
Bảy năm dài đã trôi qua như thế, trôi qua trong một nếp sống bình thản trầm lặng. Tất cả hy vọng đều tập trung vào ngày trở về của kẻ đi xa.
Ông cụ thấy đứa con của mình được nhấc lên một địa vị cao, trở thành một nhân vật lỗi lạc, cũng như trong quá khứ dòng dõi ông đã sản xuất nhiều người hữu dụng. Dòng dõi ông chưa hề có ai chiếm một chức vụ quân sự trong các triều vua. Nhưng đã có nhiều người giữ vai trò quan trọng hơn nhiều như, thái phó, phó vương và tể tướng. Dòng dõi ông có những người đi vào ngành thương mãi, có người trông nom các sở trà để cung cấp tiền bạc cần thiết trong trường hợp thay đổi các triều vua, bắt buộc kẻ xuất chính phải tạm thời treo ấn từ quan.
Ông cụ không thấy có điều gì đáng cho con ông hãnh diện hơn là giữ một chức vụ quan trọng. Kể ra thì thời buổi vua chúa đã qua rồi và các vấn đề quốc gia đại sự đã thay đổi. Nhưng chánh phủ vẫn là chánh phủ và khi Vương đến tìm ông tại văn phòng và năn nỉ ông cụ xin được đi học ở hải ngoại, ông cụ thấy lo ngại trước những lời của chàng: “Con không hy vọng kiếm một chức vụ trong ngành hành chánh nếu không hấp thụ một nền văn hóa Tây phương. Trong hai việc, một là con bỏ học để theo cha buôn trà, hoặc là con phải đi du học, con phải chọn một”.
Ông cụ hơi bực:
– Tứ thơ đã trở nên vô dụng rồi sao? Cha đã dạy con nhiều và con cũng đã học thêm với một nhà thông thái, con còn theo đuổi cuộc học vấn ở các trường ngoài bờ biển, các trường của người ngoại quốc, nơi đó người ta dạy văn hóa Tây phương…
Nhưng Vương đáp một cách cương quyết:
– Tứ thơ ngày nay chỉ là những quyển sách xưa. Các sách đó không mở đường cho một nghề nào.
Ông cụ không thể tin được lời lẽ của con, dù vậy ông phải nhượng bộ. Nhưng bà cụ tỏ ra bướng bỉnh hơn. Bà không đồng ý cho Vương du học.
– Không. Thằng Vương chỉ có thể du học sau khi có được một đứa con trai.
Giọng bà rất dịu, nhưng cặp mắt bà rất sắc và nghiêm khắc.
– Làm sao con có thể đẻ một đứa con trai cho mẹ? Ví dụ như vợ con chỉ sanh toàn con gái như một số người đàn bà khác, thì con có thể bỏ hết sự tiến thủ chỉ vì vợ con không sanh con trai?
– Này con, nhứt định con phải có một đứa con trai. Nếu con chết ở cái xứ dã man đó thì ở nhà cha mẹ hãy còn máu thịt của con…
Bà cụ lấy lại sự bình tĩnh thường lệ, nói tiếp:
– Mẹ sẽ cố giúp cho con. Mẹ sẽ đi chùa lễ Phật, mẹ sẽ van vái, cầu nguyện gấp đôi để cho con có một đứa con trai. Mẹ sẽ tặng thêm lễ vật cho vị thần trông coi về việc cầu tự.
Vương cười bảo:
– Con cám ơn mẹ đã nhân nhượng với giá đó. Con muốn chia niềm tin của mẹ và biết là con sẽ có một đứa con trai.
Bà mẹ nói thêm một cách nghiêm trang:
– Con phải biết là chúng ta sẽ được Trời Phật chứng giám tùy theo mức độ tin tưởng của chúng ta.
Vương im lặng. Chàng đã không còn tin tưởng từ lâu, khi còn trẻ nhỏ, khi cậu theo cha mẹ vào chùa. Cậu nắm chặt lấy tay mẹ, kinh hãi trước nét mặt hung bạo của các vị thần. Nhưng cậu không dám thú nhận là cậu sợ, dù là thú nhận với cha, vì cậu đã bác bỏ những nguyên lý của Khổng giáo mà cha cậu đã dạy dỗ cậu từ tấm bé.
Nếu biết được những biến đổi trong tâm hồn của Vương, cha mẹ cậu đã phải kinh hoàng vì Vương chỉ tin tưởng ở các chiến hạm ngoại quốc mà họ chưa thấy lần nào. Vương chỉ tin tưởng ở các khẩu đại bác khổng lồ, ở các đạo quân có kỷ luật và ở tất cả những gì tượng trưng cho sức mạnh. Vương thường thầm mơ một ngày nào đó cậu có thể đúc những khẩu đại bác khổng lồ đó cho đất nước của cậu, đúc những khẩu súng trường cho đàn ông xử dụng, đóng các tàu thép vĩ đại có gắn những thớt đại bác to tướng, đóng các phi cơ thả bom xuống những kẻ khác ở dưới. Tất cả những thứ đó cha mẹ cậu không hề nghe nói đến.
Chính vì những điều đó mà cậu đã xuất ngoại trong bảy năm dài: Vương học chế tạo các thứ máy đó.
Trong thời gian Vương ở ngoại quốc, ông cụ đọc sách, thưởng thức các chiếc quạt cổ, chăm sóc các gốc hoa còn bà cụ thì luôn luôn lo giữ không cho ai trong nhà sát sanh, lo cho những con bướm không bị đèn sáp thiêu cháy. Cũng trong thời gian ấy nàng dâu lo trông nom mọi việc trong nhà.
Bây giờ sau bảy năm xa cách, Vương đã trở về. Nhưng tất cả đều cảm thấy một sự thay đổi. Trước khi bước sang ngày thứ hai, tất cả đều hiểu là Vương đã trở thành một kẻ khác. Cả đến lúc chàng hát hay cười, người ta thấy tâm hồn chàng ở đâu, như gởi trọn vào một cuộc sống khác.
Vương rất bận trong việc thư từ. Ba bức thơ đến trong một ngày, mỗi bức đều đóng dấu lớn.
Vương im lặng đọc và không cho ai biềt nội dung.
Nhưng khi bức thơ thứ ba đến, chàng rời bàn viết đến tìm ông cụ đang ngủ trưa trên ghế bành bằng mây dưới gốc thông, mặt phủ khăn để che ruồi.
Vương tằng hắng và ông cụ mở mắt nhìn dưới chiếc khăn tay. Khi thấy Vương, ông cụ gắng ngồi dậy, có hơi ngượng vì đã ngủ.
– Có việc gì vậy?
Vựơng đi ngay vào đề:
– Thưa cha, con được gọi gấp lên thủ đô. Con không thể kéo dài những ngày ở đây. Ngày mai con phải lên đường, đi thật sớm. Con rất tiếc, vì con dự định ở nhà đúng một tháng. Nhưng có nhiều biến cố, các biến cố quốc tế…
Vương hơi do dự.
Ông cụ lau mặt với chiếc khăn tay, vuốt chòm râu, miệng mở rồi lại khép lại, “Quốc tế” ông lẩm bẩm danh từ xa lạ đó vì ít khi nghe nói. Vương giải thích:
– Quốc tế có nghĩa là giữa các nước ngoài.
Ông cụ kinh hãi:
– Con muốn nói là con lại đi ra nước ngoài?
Vương mím môi, cố giằn sự bực bội, đáp:
– Không, không phải như vậy. Sự thật là có nhiều tin đồn là sắp có chiến tranh xảy ra với một nước ở phía Bắc chúng ta. Người ta đang cần con.
– Vậy à! – Ông có hơi lảo đảo và đặt bàn tay lên cánh tay Vương:
– Con cứ đi nếu con cần phải đi, nhưng đừng xen vào chiến tranh, chiến tranh tai hại lắm. Chỉ có những phường vô lại hạ cấp mới dấn thân vào.
Miệng Vương khẽ run, nhưng chàng nói thật nghiêm nghị:
– Không đúng như vậy đâu, thưa cha.
Rồi bước đều theo cha, Vương trở vô nhà.
Vương không trình bày với vợ như đã giải thích với cha vì chàng nghĩ là nàng không thể hiểu được những chuyện ngoài phạm vi bếp núc. Dù vậy, chàng dịu dàng nói với nàng:
– Tôi rất tiếc không thể ở nhà một tháng như đã dự định. Tôi mới vừa gặp hai con và tôi có nhiều dự định về chúng nó. Có lẽ vào dịp Tết, tôi sẽ ở nhà lâu hơn.
Vương đi vắng cả ngày hôm đó, bỏ cả bữa cơm trưa ở nhà. Đến tối chàng đi dự một buổi tiệc. Trước khi đi, chàng dặn nàng:
– Không nên chờ tôi. Tôi sẽ về thật trễ và sáng hôm sau tôi sẽ đi vào hừng đông.
Nàng không nói gì, chỉ đứng trước mặt chàng, sẵn sàng để trao cho chồng một chiếc gậy kỳ lạ uốn cong mà chàng thích xách đi mỗi khi ra khỏi nhà.
Nàng chờ đợi chồng, đó là bổn phận của nàng. Trong đầu óc nàng không hề hỏi tại sao.
Đêm ấy, khi các nhiệm vụ thường lệ đã làm xong nàng ngồi trong phòng của Vương. Nàng ngồi trên chiếc ghế bên cạnh bàn, cặm cụi thêu áo gối cưới của con gái.
Về sau, mệt mỏi, nàng cẩn thận xếp vuông vải lại, ngồi khoanh tay, im lặng. Hai bàn tay của nàng thật đẹp, trắng xanh, và người ta có thể ngỡ là hai bàn tay chạm khắc hay vẽ. Nàng ngồi như vậy, bất động.
Khi nghe tiếng người ngoài rào, nàng đứng lên, thổi mớ than dưới bình trà và nghe ngóng. Tiếng đàn ông kêu gọi thật vui vẻ. Tiếng Vương cười đùa đáp lại với những chuỗi cười dòn. Thế rồi có tiếng chân vang lên và tiếng gọi cổng.
Trong chốc lát, Vương bước vào phòng, nụ cười thỏa mãn còn tươi trên gương mặt. Chung quanh đôi mắt và dưới má, mặt chàng hồng lên vì men rượu. Nhưng không phải là say vì Vương biết đến lúc nào phải ngưng uống. Là người có học, chàng không hề đi quá mức như những kẻ phàm phu. Màu hồng trên má chỉ là dấu hiệu của sự hân hoan thường lệ, vì nó giúp cho Vương có lý do để không uống thêm nữa. “Tôi đã uống nhiều rồi. Nếu uống thêm, mặt tôi sẽ đỏ bừng lên”.
Vương giựt mình khi thấy nàng đứng yên như một chiếc bóng trong gian phòng lờ mờ. Chàng kêu lên:
– Kìa, tôi không ngờ. Em không nên chờ đợi…
Rồi chàng buông mình trên chiếc ghế, lấy khăn tay lau mặt, vuốt tóc, trong khi vẫn tiếp tục cười:
– Vui ơi là vui. Tất cả bạn bè đều có đủ. Có những người ở tận bờ biển cũng đến. Nhiều người nghe mình có một chức vụ quan trọng ở thủ đô nên muốn tỏ ra thân thích để hy vọng nhờ vả. Nhưng chuyện đó về sau sẽ hay. Mình chỉ giúp những kẻ hữu ích.
Chàng dang hai cánh tay ra, vươn vai ngáp và nói tiếp:
– Buồn ngủ quá. Và ngày mai mình phải thức trước hừng đông. Em đừng chờ tôi nữa. Tôi van em. Bây giờ nhất định là tôi phải ngủ.
Một lần nữa, không khí im lặng đè nặng lên hai người, và cũng như đêm qua, nàng là người phá bầu không khí im lặng đó. Hai bàn tay chui trong hai tay áo, nàng cúi đầu và nhẹ nhàng ra khỏi phòng. Chàng chăm chú nhìn nàng bước ra, bỗng kêu lên:
– Sáng mai, em đừng thức sớm vì tôi đi thật sớm. Mà em có thức cũng vô ích vì anh đã căn dặn tôi tớ trong nhà rồi.
Nàng dừng lại bên cửa, nói thật bình tĩnh:
– Mai em sẽ thức sớm để lo cơm nước cho anh.
Vượng hơi bực:
– Không! Tôi cấm em. Tôi không thể ăn quá sớm như vậy.
Nàng do dự rồi nói:
– Em sẽ làm đúng theo ý anh.
Dù vậy, khi thức vào hừng đông, Vương vẫn thấy bữa ăn dọn ra trên bàn, với đôi đũa riêng của chàng. Các đĩa đựng thức ăn và một thùng cây đậy nắp đầy cơm nóng. Không thiếu một món gì. Chàng đã bảo không đói nhưng hương thơm của các thức ăn quá khiêu gợi, quá hấp dẫn nên chàng ngồi xuống ăn thật ngon miệng.
Phía sau màn, nàng đứng nhìn nhưng không bước ra vì chàng đã cấm. Nàng chỉ đành dọn buổi cơm sáng ra đó để hy vọng là chàng sẽ đổi ý và ăn cho no trước khi lên đường.
Khi Vương sắp sửa đi, ông cụ đến trước cửa phòng, hai vạt áo dài cẩn thận vén lên cao.
Vương cúi đầu nói:
– Cha không nên thức quá sớm. Cha già yếu rồi, cần ngủ cho thẳng giấc. Cha đi nghỉ đi. Con sẽ còn trở về đây mà.
Ông cụ đặt bàn tay vàng mét của ông lên cánh tay Vương:
– Con nên lo cho con, con nên giữ gìn sức khỏe và trở về đây mau. Nói với quan Tổng trấn thượng cấp của con cho ông ta biết con là con một của gia đình. Nói vậy là ông ta hiểu. Chỉ về được có hai ngày sau bảy năm!
Vương hăm hở muốn lên đường sớm nhưng lễ phép đợi cha rút bàn tay trên vai mình.
Chàng đáp:
– Thưa cha vâng!
Rồi chào lần nữa trước khi bước đi. Khi cánh cổng khép lại, người vợ trẻ dọn bàn.
Ông cụ nhìn nàng dâu thật chăm chú nhưng nàng vờ quan tâm đến công việc và gương mặt nàng không biểu lộ một cảm nghĩ gì. Nàng trắng xanh, nhưng không hơn ngày thường. Mặc dù trời hãy còn lờ mờ tối, nàng vẫn ăn mặc theo lệ thường, tóc vẫn chải láng trơn.
Bỗng ông cụ vỗ tay kêu lên:
– Mình quên nói chuyện về việc cho thằng bé học Tứ Thơ. Con chạy nhanh ra ngoài xem nó đã đi xa chưa.
Nàng vội vàng mở cổng nhìn ra ngoài đường tối đen và im vắng. Các tia sáng đầu tiên của bình minh cho thấy những ngôi nhà khép kín ở hai bên đường, nhưng Vương đã biến mất. Chỉ còn một ngọn đèn nhỏ chiếu sáng ở đầu đường. Đó là ngọn đèn của người tớ có bổn phận đưa Vương ra bờ sông để xuống thuyền.
Nàng trở về:
– Thưa cha đã quá muộn.
Gương mặt ông cụ dài ra, ông nói:
– Không hề gì. Nó sẽ trở về đây sớm, không trễ hơn mấy ngày Tết. Chỉ trong vòng sáu tháng thôi. Mà sáu tháng có nghĩa gì đâu so với bảy năm.
Ngày tháng trở lại trầm lặng như thời gian qua.
Chỉ khác có một điều là các bức thơ của Vương không có những con tem mang hình kỳ quái và kể lại công việc học hành. Bây giờ thơ của Vương nói về các hội nghị, các cuộc tiếp xúc với các yếu nhân, các tiệc tùng mà chàng đi dự với các mệnh phụ.
Ban đầu ông cụ ngồi ngay người trước bà cụ và con dâu khi đọc đến những đoạn nói về mệnh phụ đó. Ông cũng đã bỏ cả một câu trong đó Vương viết “đêm qua con dự tiệc với bà Ching”. Ông nghĩ thầm:
– Có lẽ bà này là một người tánh tình lôi thôi. Nếu đọc câu này mình thiếu lễ độ với vợ và con dâu. Không ai đề cập đến tên của những người đàn bà không đứng đắn trước vợ và con dâu.
Một lần khác, Vương viết: “Đêm nay con dự tiệc với Thủ tướng phu nhân”. Điều đó, ông cụ vờ không đọc ra chữ và trong khi bà cụ và nàng dâu chờ đợi ông tiếp tục, ông do dự và bỡ ngỡ. Ông nghĩ thầm: “Nếu các Thủ tướng phu nhân mà tự do như thế thì chánh phủ sẽ như thế nào?”
Ông nhảy vài hàng rồi tiếp tục đọc. Sau đó ông đứng lên đi vô phòng, kéo màn cánh cửa để cho biết là ông không muốn bị khuấy rầy.
Một mình trong phòng, ông ngồi trước án thư đánh bóng, dưới dàn hoa trên cửa sổ, ông mài mực cẩn thận trên nghiên. Khi có đủ mực theo ý muốn, ông tém đầu ngọn bút lông rồi nắn nót trên giấy những chữ thật đẹp. Trong số những người buôn trà, ông là người nổi tiếng văn hay chữ tốt.
Nhưng mặc dầu chữ tuyệt đẹp, lời cũng rất cay đắng. Ông viết:
“Vương con, con phải thận trọng đừng để những bà mệnh phụ lung lạc. Nên thăng quan tiến chức từ từ chờ không nên nhờ vả đàn bà”.
Ông ký tên, dán bức thơ lại rồi cho người mang đi. Sau đó ông châm lửa đốt tiêu bức thư vừa nhận được.
Trong thư trả lời, Vương thấy khó giải thích tình thế cho ông cụ rõ. Bức thư ấy rất dài và rất may là khi ngươi ta mang tới, ông cụ ở nhà một mình. Ông thấy không thể đọc lớn cho bà vợ và nàng dâu biết nội dung. Bức thư chứa đựng nhiều việc mà ông không hề nghe nói.
Trong phòng đóng kín, ông cụ đọc bức thư đến ba lần rồi đốt ngay. Ông thấy cần làm như vậy mặc dầu trong nhà chỉ có ông là người biết đọc. Bức thư có nhiều câu như sau: “Ở vào thời buổi tiến bộ của chúng ta, đàn bà phải ngang hàng với đàn ông”. Trong những ngày mới này chúng ta không thể chấp nhận những phong tục cố hữu biến đàn bà thành những người vợ kiêm đầy tớ. Không lấy người vợ có học là một trở ngại lớn cho việc tiến thủ của con. Con không có người nào có khả năng trông nom nhà cửa hoặc tiếp khách, hoặc làm bạn với con. Ngay từ bây giờ, con lấy làm lo ngại vì mấy đứa con của con chưa có một nền học vấn xứng đáng.
Sau khi đốt bức thư thành than, ông cụ ngồi bất động thật lâu. Đến khi thấy mệt, ông vỗ tay.
Nàng dâu nghe, chận người tớ đang chạy tới, bảo:
– Để tôi vào. Hai đứa nhỏ đang chơi với mấy con thỏ, chúng không cần đến tôi.
Khi thấy con dâu bước vào, ông cụ nhìn nàng một lúc, hai mắt ươn ướt. Ông bảo:
– Cha hài lòng khi thấy con vào đây chứ không phải người khác. Cha đang mệt và muốn hút vài hơi.
Theo thói quen, khi hút ông cụ nằm trên bộ ván chạm, ngắm thân hình mảnh khảnh của nàng dâu trong khi nàng cúi xuống chăm chú làm thuốc. Mắt ông không rời nàng khi nàng cúi đầu xuống. Lúc nàng trao dọc tẩu, ông hỏi:
– Con, năm nay con bao nhiêu tuổi?
Nàng dâu ngạc nhiên:
– Dạ hăm bảy.
Ông cụ chậm rãi hỏi thêm:
– Con đã về đây từ mười năm?
– Dạ mười năm. – Tiếng của nàng nghe chừng như một tiếng vang, nhưng nàng không có vẻ gì buồn. Nàng vẫn dịu dàng, chịu đựng như thường lệ.
Bỗng ông cụ nói:
– Cha mẹ đã sai lầm. Mẹ con đã sai lầm, cha cũng vậy. Con cũng như là con ruột của cha mẹ. Cha mẹ luôn luôn nương dựa nơi con, luôn luôn cần có mặt của con. Chính vì vậy mà cha mẹ quên phứt là đã để hai vợ chồng con xa cách. Khi nó còn ở nước người, con không thể dẫn mấy đứa nhỏ theo nó. Nhưng bây giờ nó đã trở về đây. Nó có nhà riêng ở trên thủ đô. Nó cần một người nội trợ để trông coi tiệc tùng, để sai khiến tôi tớ. Nó cần có người nó thương yêu ở bên cạnh.
Đôi mày đẹp như lá liễu của nàng dâu hơi rung động trên đôi mắt. Nàng hỏi:
– Cha muốn nói là…
Ông cụ:
– Cha muốn nói là con phải đi theo chồng con.
Thuốc phiện nướng trên ngọn đèn tỏa một mùi thơm khắp gian phòng, lơ lửng trên không.
Ông cụ chưa hút. Nàng dâu cúi xuống đưa ngọn đèn ra xa, dáng điệu thật duyên dáng. Ông cụ thừa lúc đó để ngắm con dâu. Là người gia giáo ông cụ không bao giờ nhìn thẳng người đàn bà mình trọng. Ông thấy dưới vành tai của nàng ửng đỏ. Ông hỏi thật nhân từ:
– Con có thích đi không?
Nàng im lặng một lúc. Nàng đang suy nghĩ. Đôi mày nàng hãy còn run run. Sau đó, nàng hỏi:
– Con không đi nếu không có ai ở bên cạnh cha mẹ.
Ông cụ:
– Cha mẹ sẽ giữ lại Wang Ma. Không sao đâu! Chắc chắn là cha mẹ sẽ thấy thiếu con. Nhà thiếu mấy đứa nhỏ sẽ vô cùng trống trải. Nhưng cha phải nghĩ đến thằng Vương trước nhứt. Cha không xử sự đúng đắn với nó. Cha đã suy nghĩ nhiều. Cha thấy con cần phải theo chồng con.
Nàng lẩm bẩm:
– Nhà con ra đi vội vàng quá!
Ông cụ thở dài:
– Phải. Nó đi quá vội vàng. Để cha viết thư cho nó.
Ông cụ bắt đầu hút, nét nhân hậu hiện rõ trên gương mặt khi ông ngủ.
Nàng dâu chờ một lúc lâu rồi thấy sự có mặt của mình không cần thiết nữa, bước ra ngoài.
Như thường lệ, vào lúc xế chiều, nàng đến tìm bà cụ ở phòng giữa và tiếp tục công việc thêu thùa. Con chim xanh đã thêu xong, và tiếp tục thêu cành mai trổ hoa con chim đậu. Trong mười năm nữa, con gái nàng là con dâu và sẽ ngủ trên chiếc áo gối thêu đó.
Lúc đó người ta nghe thấy tiếng la ngoài sân và cậu bé chạy nhào vô, xách tai con thỏ trắng đang giãy giụa hai chân. Cậu kêu lên:
– Chị bảo con thỏ này của chị, nhưng con biết là nó của con…
Người mẹ đứng lên nắm cánh tay tròn lẳn của đứa bé đi ra cửa. Cậu bé nũng nịu kêu lên không ngớt:
– Con muốn con thỏ này phải là của con. Nó phải thuộc về con.
Chị nó đang ở ngoài sân cúi xuống chuồng thỏ, đút những lá cải vào như không nghe gì cả.
Người mẹ gọi:
– Con.
Con bé quay lại, nhìn thẳng vào mặt mẹ, ương ngạnh. Cô bé có những nét đều đặn như mẹ nó, nhưng linh động, hoạt bát hơn. Nó nói với giọng bình tĩnh và tự tin:
– Con thỏ đó của con.
Người mẹ lặp lại:
– Con…
Rồi lại im lặng.
Cô bé đứng thẳng lên, ném các lá cải đang cầm trên tay, cắn môi, rồi nói với giọng cộc lốc:
– Lúc nào con cũng bị xử hiếp hết! Con không chịu đâu!
– Con…
Người mẹ lặp lại lần thứ ba và cô bé òa ra khóc rồi chạy nhanh vào phòng.
Cậu bé kêu lên đắc thắng:
– A ha! Con thỏ này của con!
Người mẹ bảo:
– Phải. Nó của con.
Rồi nàng vào trong tiếp tục thêu.
Bà cụ đã nghe tất cả, thở dài, nói:
– Nếu con có được một đứa con trai nữa thì tốt biết mấy. Phải có một đứa con trai để thằng bé kia chơi với. Mẹ thấy tánh nó rất bướng bỉnh.
Người mẹ trẻ không đáp. Nàng lắng nghe tiếng động xuất phát từ phòng bên trong. Nàng nghe tiếng nức nở nghẹn ngào, dường như con bé che một vật gì trên miệng. Sau cùng, người mẹ đứng lên, không chịu được thêm nữa. Với sự bình tĩnh lạ thường, nàng bước vào phòng trong, bước lại gần giường cô bé đang nằm vùi đầu vào chăn.
Nàng kéo cô bé ra, nó quay lại; mặt đầm đìa nước mắt, đôi mắt lạnh lùng. Không nói không rằng, người mẹ đưa tay lên trán, vuốt mớ tóc lòa xòa.
Cử chỉ êm ái đó, khiến vẻ khó chịu của cô bé từ từ biến đi. Nàng trở nên buồn thảm. Khi người mẹ trông thấy sự thay đổi này, nàng nói thật nhỏ như thì thầm:
– Này con, khi nãy mẹ không hỏi con thỏ kia của ai. Mẹ muốn tập cho con tánh phục tùng bằng cách này hay cách khác. Phục tùng cha, phục tùng anh, phục tùng chồng. Nếu em con muốn con thỏ đó, thì con phải nhường cho nó.
Cô bé vừa kêu vừa khóc:
– Tại sao con phải nhường? Nó là con thỏ của con. Con biết chắc chắn vì nó có một chấm đen trên râu…
Người mẹ kiên nhẫn giải thích, cũng như nàng lặp lại một bài học, được nghe nhiều lần:
– Con học tánh phục tùng trước hết bằng cách nghe lời cha, nghe lời em, về sau con có thể phục tùng chồng con. Một người đàn bà phải học vâng lời. Chúng ta không nên hỏi tại sao. Một khi sanh ra, chúng ta không thể thay đổi gì được. Chúng ta phải chấp nhận và làm tròn bổn phận của chúng ta.
Bàn tay nhẹ nhàng của nàng vẫn không ngừng vuốt ve trán cô bé, dường như để đem lại sự bình tĩnh mà lời lẽ của người thiếu phụ không đem lại được. Những lời lẽ đó, người mẹ trẻ đã nhiều lần lặp lại để giáo dục đứa con gái. Những lời lẽ đó không phải mới, nhưng cũ từ mấy thế kỷ. Sự vuốt ve đều tay và ru ngủ là một thông điệp câm nín và trực tiếp mà người mẹ truyền cho con bé. Cô bé nhận và thấy dễ chịu.
Vài ngày sau, khi cả nhà ngồi vào bàn ăn vào buổi tối, ông cụ nhìn con dâu với nét vui tươi, ông vừa vuốt râu vừa tằng hắng. Trông ánh mắt của ông, người ta biết là ông có điều gì trong trí.
Lúc nàng dâu đặt trước mặt ông tô canh và món thịt heo mà ông ưa thích và đặt trước mặt bà cụ đĩa rau cải nấu chay đặc biệt cho bà, ông cụ vuõt râu và tằng hắng một lần nữa trước khi nói với giọng hăng hái:
– Này con, hôm nay cha viết thơ cho thằng Vương báo tin cho nó biết là con đã chuẩn bị sẵn sàng để đưa hai đứa nhỏ lên Thủ đô ở với nó. Nó đã nói trong thơ gởi cho cha một câu rất chí lý: “Một người đàn ông phải có một người nội trợ trong nhà để trông coi nhà cửa, sai khiến tôi tớ”. Cha cho nó biết là nó nên về đây rước con nếu nó xin phép được vài ngày. Nếu không thì cha sẽ cho gia nhân đưa con lên đó. Chuyến đi này không có gì khó khăn. Gia nhân của cha lớn tuổi và trung thành. Cha cũng sẽ đưa con xuống thuyền. Con chỉ mất ba ngày đường và khi tới nơi, Vương sẽ ra đón con tại bến! Sau đó con tiếp tục đi đường bộ không đầy một ngày. Tóm lại, con không có gì phải ngại, vì gia nhân đã đi lại con đường đó nhiều lần khi thằng Vương hãy còn trẻ. Chuyện rất giản dị. Một người đàn ông cần có người vợ ở trong nhà. Thằng Vương nói rất chí lý.
Nàng dâu không đáp. Tâm hồn nàng đang xúc động vì những ý nghĩ dồn dập. Nàng cảm thấy vui mừng trong lòng khi biết chồng muốn có nàng ở trong nhà. Nàng hãnh diện vì thấy nàng hữu ích đối với chồng. Và nàng thấy mình đã lầm khi nghĩ là chồng đã thay đổi thái độ đối với nàng. Chàng hãy còn cần sự có mặt của nàng. Nàng run run khi cầm đôi đũa gắp một miếng thịt gà nấu nấm mà cậu bé đòi ầm ĩ:
– Kìa mẹ, miếng trắng đó. Không, ở đây nè!
Cô chị nói với vẻ trách móc:
– Đó là miếng nội thích.
Người mẹ trẻ ngừng lại:
– Đứng rồi con à. Đó là miếng nội con thích.
Cậu bé mím chặt môi, đôi mắt trợn tròn và sáng ngời như sắp khóc. Ông cụ liền cúi xuống gắp miếng thịt gà mà đứa cháu thích bỏ vào chén của nó.
– Đó, nội cho con.
Đứa bé cười rộ lên, thích chí.
Người mẹ nghiêm nghị bảo:
– Cám ơn nội đi con.
Sau khi đã được những gì mình muốn. Cậu sẵn sàng vâng lời. Cậu đứng lên, cúi đầu về phía ông cụ.
Ông đưa bàn tay ra vuốt đôi má đỏ hồng cậu bé. Với giọng dịu dàng, đầy lưu luyến, ông nói:
– Rồi con cũng theo mẹ con đi khỏi mái nhà này…
Cậu bé hăm hở kêu lên:
– Con cũng đi nữa hả mẹ? Mình đi bằng thuyền?
Cậu vội vàng đứng lên, làm đổ chén cơm và miếng thịt gà:
– Mẹ, chừng nào mình đi? Mình đi đâu hả mẹ?
Người mẹ rầy:
– Nín đi! Bây giờ hãy còn quá sớm để bàn bạc. Hãy chờ quyết định của cha con.
Ông cụ liền nói:
– Nó sẽ viết thư cho con ngay. Để tính xem. Bảy ngày nữa chúng ta sẽ được thơ của nó. Hãy cho thêm một hai ngày phòng ngược gió.
Bà cụ bắt đầu hiểu người ta bàn về việc gì, bảo:
– Tôi không biết ra sao nếu thiếu con dâu của tôi.
Bà cụ vừa húp cánh cải trên chiếc muỗng sành. Bà cụ chỉ còn có vài chiếc răng và canh là món bà ưa thích nhứt. Bà đặt muỗng lên chiếc đũa nhỏ, nhìn chung quanh:
– Tôi quen sống bên cạnh con dâu của tôi. Với một người già như tôi mà thiếu con dâu thì thật là khổ. Tôi không thể trông coi kẻ ăn người ở trong nhà như lúc còn trẻ.
Ông cụ đáp:
– Khi nhà chỉ còn hai kẻ già chúng mình thì làm gì có chuyện trông nom với sai khiến.
– Nhưng…
Bà cụ vừa nói lại nín lặng. Bà vừa trông thấy vẻ mặt nghiêm nghị ít khi có của chồng. Bà cụ đâm sợ, mà không biết làm gì hơn là tiếp tục húp canh như trước.
Ông cụ lặp lại, nhìn cậu bé:
– Nhứt định là mình phải để cho nó theo thằng Vương. Còn con nữa, con cũng đi theo mẹ con.
Con bé lắng nghe, đôi mắt tròn xoe.
– Con cũng đi nếu bà nội con không thấy cô đơn.
Cô bé tái mặt, buông đũa xuống không buồn ăn, nói với giọng cả quyết:
– Nếu không đi được thì con chết!
Bà cụ ngẩng đầu lên giận dữ:
– Đừng có nói những tiếng đó, quan hệ lắm! Coi chừng cô hồn…
Người mẹ trẻ nói:
– Nếu mẹ thấy không cần chúng con và nếu chúng con phải đi, con muốn đưa hai con theo vì đã đến lúc con bé phải học hỏi nhiều việc. Nhưng cố nhiên là không phải con quyết định, với tuổi già, mẹ khó thể sai khiến kẻ ăn người ở trong nhà. Mình phải luôn luôn dòm ngó, nếu không họ sẽ đâm lười…
Ông cụ nói với vẻ tin tưởng:
– Không sao. Đã có Wang Ma lo, trông coi đám tôi tớ, tiêm thuốc và đưa bà cụ đi chùa. Mình sẽ thu xếp sau.
Dù bình tĩnh, người vợ trẻ vẫn không thể ăn đến cuối bữa cơm. Tuy nhiên nàng trông coi sai bảo đám bồi bếp mang thức ăn đầy đủ cho mọi người. Nàng chú ý chúng mang trà đúng với sở thích của cha mẹ chồng. Ông cụ thích loại trà đỏ trong khi bà cụ thích loại trà xanh. Mỗi chiều, nàng làm tròn công việc của mình, không bao giờ xao lãng. Sau khi gia nhân dọn bàn, và trong lúc cha mẹ chồng uống trà, nàng đưa hai con đi rửa mặt rửa tay. Nàng lo cho cậu bé, còn cô bé thì giao cho người tớ già.
Chỉ lúc đó người thiếu phụ mới tách rời thói quen. Nàng vào phòng của Vương thay vì trở qua phòng của cha mẹ chồng. Trong bóng tối, nàng ngồi lên chiếc ghế của chồng. Nàng bắt đầu nghĩ đến tương lai. Nàng không thể hình dung chuyện rời bỏ ngôi nhà mà nàng đã ở hơn mười năm qua. Nàng nghĩ riêng từng vật mà nàng có nhiệm vụ trông nom. Ai sẽ lo quét dọn ba vuông sân, ai sẽ lo chăm sóc các cành trúc, ai sẽ xắn măng để ăn và để các gốc khác vươn lên?
Đám gia nhân không người sai khiến sẽ làm biếng không chịu xắn măng xào nấu cho đôi vợ chồng già. Tôi tớ bao giờ cũng thế. Ai sẽ lau bụi các chiếc quạt cổ của ông cụ? Hai bàn tay của ông cụ đã bắt đầu run…
Tất cả những công việc lặt vặt đó ám ảnh tâm trí nàng và bao bọc chung quanh nàng như một cái lưới vô hình khó phá vỡ được. Có những công việc tế nhị mà chỉ có nàng làm được như lau chùi những pho tượng, cuốn lại những liễng vào những mùa nhứt định và thay vào đó những thứ khác. Ngày xuân nàng lo việc cúng kiến tảo mộ.
Tất cả công việc đó đem lại cho gia đình vẻ trang trọng và khi thực hiện các công việc đó nàng thấy thoải mái với nhiệm vụ của người con gái, người vợ và người yêu. Nhưng nàng còn có người chồng. Nàng sẽ rất cần thiết trong nhà của chàng. Bây giờ không hy vọng chàng sẽ trở về ở trong thành phố nhỏ bé này như lúc còn trẻ. Một người lỗi lạc như chàng sẽ không có chức vụ nào xứng đáng với tham vọng của chàng. Với sức học uyên thâm và ngôn ngữ ngoại quốc lão thông, chàng chỉ có thể sống ở thủ đô và nơi đó người ta hết sức cần đến chàng.
Nàng khẽ thở dài. Nếu theo chồng, có lẽ nàng sẽ trông nom một ngôi nhà giống như ngôi nhà cha mẹ chồng nhưng nhỏ hơn. Nàng sẽ trông coi bếp núc, như hiện nay. Nàng sẽ nấu các món ăn mà chàng thích hoặc đứng điều khiển nấu các buổi tiệc nhỏ không đáng gọi những đầu bếp nhà nghề. Nàng sẽ trông lo rót rượu như ở đây. Sẽ có bàn tủ để lau chùi, có vườn để vun tưới. Nàng sẽ dạy dỗ con gái như đang dạy ở đây và sẽ trông nom cậu con trai. Tất cả công việc của người đàn bà, nàng đều hiểu rõ không sót một việc nào.
Bỗng nàng nghe tiếng tằng hắng của cha chồng ngoài cửa. Nàng đứng lên bước ra. Bà cụ đã về phòng riêng, chỉ còn một mình ông cụ. Ông cụ bảo:
– Cha nhất định là con phải đi. Vậy con nên sửa soạn rương trấp mang theo quần áo của con và của hai đứa nhỏ, nếu con thấy cần đưa hai đứa nhỏ nó theo, vì con sẽ phải ở luôn ngoài đó với chồng con.
Nàng khẽ cúi đầu:
– Con tuân ý cha. Con đem con bé theo vì đã đến lúc phải sửa soạn cho cuộc đời của nó. Con phải dạy nhiều việc cho tương lai của nó. Chỉ tội cho mẹ già mà không có con cháu bên cạnh.
Nhưng sau rốt, người vợ trẻ phải ở lại. Đúng vào lúc nàng nghĩ đến việc ra đi theo chồng với tất cả sự rung động dịu dàng và thầm kín thì có một bức thơ mà ông lão giữ kín. Ông lão xúc động mạnh khiến bà cụ và nàng dâu không biết phải làm thế nào. Thuốc phiện cũng không đủ sức trấn tĩnh cơn xúc động của ông lão. Ông ngồi nhìn nàng dâu trong khi mọi người chờ đợi ông lên tiếng. Nhưng ông không nói một lời.
Sau cùng nàng không chịu được nữa vì nàng khiếp sợ, với sự táo bạo hiếm có, nàng vào phòng cha chồng, vờ săn sóc ông cụ và hỏi:
– Thưa cha, nếu có thể, xin cha cho biết ngày nào cha muốn con lên đường. Con cần biết để thu xếp công việc trong nhà trước khi đi. Con phải trông coi, quần áo ngự hàn chuẩn bị mùa đông, phải phơi các áo lông để sau này mẹ con khỏi phải bận tâm về những chuyện đó.
Ông cụ lại ho lâu hơn thường lệ, dường như ông thấy lúng túng. Sau cùng, ông nói sự thật:
– Con à, cha vừa nhận được một bức thơ kỳ lạ của chồng con. Cha không thể lặp lại nội dung bức thơ cho con nghe. Bây giờ chính cha phải đích thân xuống thủ đô tìm hiểu nếp sống của nó như thế nào. Chừng cha trở về thì con sẽ đi. Con nên chuẩn bị sẵn sàng.
Ông cụ chưa hề đi xa từ lúc hãy còn trẻ, bà cụ và nàng dâu lấy làm lo ngại khi biết quyết định của ông. Nàng dâu nghĩ là ông cụ không thể đi được. Làm sao chịu nổi sự vất vả của chuyến đi? Ai sẽ làm thuốc cho hút? Ai nấu những thức ăn mà ông thích?
Bà cụ đâm cuống lên. Cả hai người đàn bà năn nỉ ông cụ giải thích vì sao ông lại nhứt định như vậy. Phải chăng là Vương lâm trọng bệnh? Nhưng ông cụ vẫn một mực không nói lên sự thật. Ông chỉ đáp:
– Không, thằng Vương không bịnh hoạn chi. Nhưng tôi phải gặp nó mới được.
Chưa bao giờ người ta thấy ông cụ cương quyết đến mức đó. Cũng chưa bao giờ ông chịu giữ bí mật như vậy.
Mẹ chồng và nàng dâu, không còn cách nào hơn là thu xếp hành lý cho ông cụ. Nàng dâu cẩn thận cho vào rương áo quần đủ bốn mùa vì nàng không biết mưa gió như thế nào nơi chồng đang ở. Nàng cũng không quên hộp trà thật ngon mà cha chồng thích. Nàng biết là ông cụ không đời nào chịu uống loại trà người ta bán cho khách đi đường. Nàng bỏ theo vài hộp bánh mứt để ông cụ dùng cho thơm miệng. Nàng cũng bảo hai người tớ tâm phúc đi theo ông cụ. Một trong hai người này là ông lão đã từng đưa Vương đi học ngày xưa.
Khi ông cụ lên kiệu, hai tay run rẩy vuốt chòm râu bạc, đôi mắt sáng và nghiêm, hai người đã trở vô nhà chờ đợi.
Nàng dâu chờ đợi trong suốt thời gian ông cụ đi vắng. Đến ngày thứ bốn mươi, ông cụ trở về. Không ai biết rõ ngày giờ ông cụ về. Ông không viết thư vì trong nhà có một mình ông biết đọc. Và không thể nhờ một kẻ khác đọc một thư nói về chuyện riêng tư trong gia đạo của mình.
Ông cụ về đến cổng rào không ai hay. Ông bước vào sân, lảo đảo như mệt mỏi quá sức.
Ông không nhìn lên và cười với vẻ kiệt quệ khiến hai người đàn bà đâm sợ.
Bà cụ theo ông vào phòng riêng. Nàng dâu hối hả nấu cháo gà để giúp ông lại sức.
Ông cụ nằm luôn ba ngày không nói. Thỉnh thoảng ông rên rỉ hoặc ấp úng một tiếng cám ơn khi nàng dâu săn sóc.
Hai người đàn bà cố kiên nhẫn chờ đợi vì họ biết có một điều gì ghê gớm, không thể nói được đã ám ảnh ông cụ.
Đến ngày thứ ba ông cụ mặc áo quan thường nhựt, cố gắng lê bước đến ngồi trước án thư. Ông cho gọi bà cụ và nàng dâu đến. Ông có một chuyện khó nhọc để nói với hai người.
Bà cụ lo ngại những tin chẳng lành, sợ con trai bà lâm trọng bịnh. Người vợ trẻ nghĩ đến chồng với sự lo âu tương tự. Có lẽ chàng bịnh hoặc có thể là đã chết. Cả hai đều không có một ý nghĩ nhỏ nào về câu chuyện mà ông cụ sắp nói ra.
Ông cụ nói:
– Tòi đã xuống Thủ đô. Tôi đã gặp thằng Vương vả các bạn của nó. Tôi đã ở trong đó hai mươi ngày để xem những vật mà tôi chưa biết. Nhà cửa thật cao, xe cộ chạy tự động và còn rất nhiều chuyện lạ khác mà tôi sẽ không kể lại vì các thứ đó không liên hệ đến hai người. Tôi đã hiểu những gì thằng Vương nói về các phụ nữ ở thành phố. Họ còn lạ hơn những điều tôi trông thấy. Họ đi đứng một mình không cần có ai đi theo. Họ cắt tóc ngắn như đàn ông, và giống y như đàn ông. Ban đầu tôi thầm nghĩ: “Đó là những đàn bà hư thân mất nết. Con tôi đã hư hỏng vì bọn này”. Nhưng sau đó tôi thấy mình đã lầm. Tôi đã nghe nói đàn bà thay đổi nhiều trong thời buổi này. Và tôi đã hiểu. Trước đó, tôi không tin, vì ở đây, đàn bà vẫn không có gì đổi mới.
Ông cụ ngừng lại, dường như nhớ một điều gì khó chịu và nhìn chăm chú xuống đất.
Bà cụ lắng tai nghe thật kỹ, hỏi:
– Nhưng thay đổi như thế nào?
Ông cụ đáp:
– Họ được nuôi nấng trong các trường giống như trường mà thằng Vương đã học. Họ biết đọc biết viết và có người ở ngoại quốc nữa. Thằng Vương đã quen biết họ lúc du học ở hải ngoại. Nếu không nghe thằng Vương nói thì tôi đã không tin. Tôi có theo nó đến nhà một người bạn của nó. Người bạn này có một người vợ giống như những người đàn bà tôi vừa kể. Ban đầu tôi không dám nhìn vì sợ nàng là hạng người không đứng đắn. Nhưng nàng nói chuyện thật dịu dàng và lịch sự, bốn đứa con của nàng lễ phép và sạch sẽ. Nhà cửa sắp đặt chu đáo, dù có hơi kỳ lạ. Tất cả đều có ngăn nắp trật tự. Tôi thấy không có gì xấu đối với cô nàng. Thằng Vương cho tôi biết là người đàn bà đó đã dạy các con nàng đọc và viết và nhiều việc khác trong sách. Tôi chưa hề gặp những người đàn bà như thế. Nàng ngồi nói chuyện và cười với đàn ông và tôi thấy những người đàn ông này kính trọng nàng lắm.
Hai người đàn bà lắng nghe ông cụ nói trong sự im lặng hoàn toàn. Nàng dâu trở nên tái xanh, xanh hơn thường nhựt và nàng liếm môi bằng đầu lưỡi.
Ông cụ tiếp tục với vẻ do dự và tế nhị:
– Thằng Vương ở một mình trong một ngôi nhà không giống ngôi nhà mình. Đó là một ngôi nhà kỳ dị. Đó là hai cái nhà chồng lên nhau và có cửa sổ bằng kính.
Ông ngưng lại một lúc rồi tiếp tục, sôi nổi hơn:
– Tôi nói với thằng Vương: “Nhà con không có ai để săn sóc. Vợ con có thể đến đây ở với con khi nào con muốn, vì cha và mẹ con có thể cố gắng để không phải nhờ vả đến nó…”
Hai người đàn bà ngồi yên, hai mắt dán chặt vào gương mặt cúi xuống của ông cụ. Bàn tay vàng, gầy, và nhăn nhún không ngớt vuốt râu, ông hết gác chân lên đùi bên này lại gác chân lên đùi bên kia.
Bà cụ không chịu nổi sự im lặng đó, hỏi:
– Rồi nó trả lời như thế nào?
Ông cụ lại ho rồi vụt trả lời lớn lên:
– Nó nói: “Cha à, chính mắt cha trông thấy, làm sao vợ con có thể trông nom một ngôi nhà như thế này, làm sao vợ con có thể là một người vợ xứng đáng với con? Nó không biết đọc cũng không biết viết. Con sẽ xấu hổ trước mặt bạn bè và vợ bạn của con”.
Nghe những lời đó mặt người vợ trẻ như hóa đá. Nàng không có một cử động. Đôi mắt nàng nhìn xuống, hai bàn tay nắm lại và nàng ngồi như thể bất động.
Ông cụ lên nhìn con dâu, thở dài thật to, nói tiếp:
– Tôi hiểu những gì nó muốn nói. Nhưng tôi quả quyết và tôi lặp lại “Làm sao kiếm được một người đàn bà như con! Không ai có thể sánh kịp với con”.
Ông cụ lại thở dài rồi nói với giọng chua chát chưa từng thấy:
– Nhưng con không biết đọc, không biết viết. Dường như ngày nay đàn bà phải biết đọc, biết viết.
Một tiếng hét vang ngoài sân, tiếng hét của cậu bé. Nếu vào lúc khác mẹ nó sẽ chạy nhào lại nó. Nhưng lúc bấy giờ nàng không nhúc nhích. Dường như nàng không nghe con hét.
Bà cụ nó thật nhanh và lớn:
– Nhưng tất cả những việc đó là nghĩa gì? Thằng Vương muốn cái gì? Không, tôi không hiểu vì sao nó nói như vậy. Nó đã tìm một người nó thích hơn. Chính thế. Tôi biết chắc. Tôi đã nói trước là con đi học ở nước ngoài chỉ đem lại toàn chuyện không hay!
Ông cụ đưa tay lên để bắt bà cụ im lặng:
– Bà nó không hiểu đâu! Tôi không thấy một người đàn bà nào mà nó thích như bà nói. Không! Nó đã đề nghị một thu xếp như thế này. Nó bảo: Vợ con phải đi học trong ba năm ở một thành phố sát bờ biển, một trường học của người ngoại quốc mà con biết bà hiệu trưởng, con sẽ viết thơ giới thiệu vợ con với bà ấy. Vì con, họ sẽ nhận cho vợ con học trong trường. Ở trong đó vợ con sẽ dần dần giống như các phụ nữ ở đây. Vợ con sẽ học đọc, học viết mà còn học cách dạy dỗ con cái nữa”.
Bà cụ vụt cười, một nụ cười thật nhỏ, nhưng chua chát. Nhưng gương mặt nàng dâu ửng đỏ. Nàng ngẩng đầu lên, đôi mắt ngấn lệ. Nàng nói mặt cách khiêm nhường:
– Phải con không biết gì hết. Anh Vương nói chí lý. Con không xứng đáng với anh ấy. Con sẽ đến trường nào anh ấy muốn. Khi con phơi xong quần áo ngự hàn, chuẩn bị cho mùa đông xong, con sẽ đi…
Nàng nói thêm với giọng hổn hển:
– Con sẽ đi nếu anh ấy muốn con giống như những người khác.
° ° °
Nhưng làm sao một người mẹ trở lui lại vào thời con gái? Nàng đã rơi nước mắt khi tách rời hai đứa con. Nàng đã quay lại một lần chót để nhìn hai đứa con đứng sát vòng rào, dang hai cánh tay ra gọi mẹ.
Nàng đã ra đi bên cạnh người tớ già, bất bình trước sự việc kỳ quái như thế. Nàng đã vào trường, ngồi vào chỗ dành riêng ở dãy phòng ngủ, giữa những hàng giường và trong phòng học, ở bàn riêng của nàng.
Làm sao nàng quên được tình cảnh éo le của nàng giữa cảnh xa lạ đó? Người ta đã tỏ ra tử tế với nàng. Những người đàn bà ngoại quốc trắng xanh và kỳ lạ, rất lịch sự với nàng. Nhưng nàng phải ngồi trong một góc phòng, ở giữa đám bé con, phải cúi xuống các quyển sách có những chữ thật lớn.
Nàng quyết chí học hành, để học cho xong, càng sớm càng hay. Nhưng khi nàng tập trung tâm trí vào các chữ cái thì hồn nàng bay bổng trở về nhà và nàng không thể trách rời ra được. Nàng nghĩ thầm “với gió lạnh như thế, có ai mặc áo ấm cho hai đứa bé không?” Nàng lo sợ không ai lo cho các công vỉệc hàng ngày. Thế rồi thời gian trôi qua thật nhanh, giờ trả bài đã đến. Nàng không thuộc bài, giáo sư quở trách và nàng cảm thấy xấu hổ.
Đêm đến, khi phải thay áo nằm ngủ trong phòng giữa nhiều người, nàng thấy ngại ngùng, khó chịu. Nàng trèo lên chiếc giường sắt nhỏ, cố nhắm mắt lại, nhưng hai mắt vẫn mở to. Nàng nhớ đứa con trai mà nàng đã ngủ chung từ khi sanh nó ra.
Ba năm mà nàng phải theo học trong trường dài vô tận. Ngày lại ngày, tâm hồn của nàng bay bổng về mái nhà xưa, về hai đứa con. Nàng không hề tập trung được tinh thần vào việc học. Nhiều người cho nàng ngu đần. Nàng nghe được hai giáo sư nói về nàng. Một người nói:
– Bà ta không học được gì. Điều đó khiến người ta khó chịu khi nghĩ đến sự thông minh và sức học của chồng bà ta. Có những người sanh ra ngu đần và không có cách nào cứu chữa.
Người kia nói với giọng mến tiếc vì bà giáo có cảm tình với nàng.
– Dường như không có cách nào mở mang trí óc bà ta.
Người ta tập hợp nhà trường lại để nghe một nhân vật lỗi lạc diễn thuyết. Người này sẽ thuyết trình về Cách mạng, về Tam dân chủ nghĩa, về tân kỷ nguyên.
Người thiếu phụ ngồi giữa những người khác, lòng se lại vì những lời nghe lóm. Nàng nhìn chung quanh, ngắm các cô bé đang chăm chú nghe diễn thuyết. Các cô học trò lớn – đã quá tuổi lấy chồng – được nàng đặc biệt chú ý. Các cô này học cao hơn nàng rất nhiều năm.
Bây giờ nàng chợt thấy những người đàn bà mà Vương đề cập cũng ở kế bên nàng. Họ đọc và viết nhanh như đàn ông.
Tất cả đều hiểu những lời của diễn giả, còn nàng thì không hiểu một chút gì về những danh từ như “chế độ kinh tế” và nhiều câu khác mà nàng chưa hề nghe. Nàng không dám hỏi vì biết là mình quá dốt.
Bây giờ nàng mới biết chắc các cố gắng của mình thật là vô ích. Nàng sẽ không bao giờ giống được những người đàn bà kia, dù cho nàng cố gắng tận lực. Nàng biết điều khiển ngôi nhà cũ, săn sóc con cái, cha mẹ chồng. Nhưng ở đây người ta đã đòi hỏi những điều quá sức nàng. Nàng phải trở về nhà. Và trong khi giọng nói trong trẻo và to tiếp tục vang lên, người thiếu phụ suy nghĩ sắp đặt chương trình. Nàng quyết định từ bỏ và trong sự từ bỏ đó, nàng tìm thấy con đường đi của nàng.
Nàng tự nhủ “Mình sẽ trở về nhà mình lo cho con và cha mẹ chồng như trước. Mình sẽ năn nỉ ông cụ viết thơ cho chồng nói là ‘Em không thể là hai người đàn bà. Nếu anh muốn một người vợ theo kiểu đó thì xin anh cứ cưới để nàng ở bên cạnh anh, dù điều đó làm em tan nát cõi lòng. Về phần em thì em sẽ ở nhà săn sóc cho cha mẹ và các con’.”
Quyết định đã chọn, nàng cảm thấy một nỗi buồn sâu xa nhưng êm đềm. Nàng có thể chịu dựng nỗi buồn đó hơn là sự tuyệt vọng trước đó.
Buổi diễn thuyết kết thúc, học sinh giải tán. Nàng lên tìm bà hiệu trưởng nói:
– Tôi nghĩ là tôi nên trở về nhà. Quả thật ở đây tôi không học được gì, vì tôi cứ nghĩ mãi về mấy đứa con.
Bà hiệu trưởng có nhiều công việc hơn là để săn sóc một người học trò nên đáp:
– Có lẽ bà nói đúng. Bà nên trở về nhà. Tôi rất tiếc bà không thể ở đây.
Bà hiệu trưởng cười, nhưng nụ cười đó cho thấy là tâm trí bà đang nghĩ về các vấn đề quan trọng hơn.
Nàng gom góp quần áo, cột hành lý lại, trả học phí, bước ra khỏi cổng nhà trường, mua vé tàu về nhà.
Không ai để ý sự vắng mặt của nàng sau hai tháng đến trường vì nàng sống xa cách những kẻ khác.
Chưa hề đi xa một mình, nàng vẫn bình tĩnh tự tin cho nên không ai trông thấy sự bỡ ngỡ.
Đến ngày thứ tư, nàng mở cánh cổng mái nhà xưa. Lúc bấy giờ mọi người ngồi trong vườn mai, ông cụ đang bón phân mấy gốc mai, chuẩn bị cho mùa đông sắp tới.
Người ta nhìn nàng một lúc, không nói một tiếng vì người ta không nghĩ là nàng. Nàng vội vàng giải thích tại sao mình trở về và năn nỉ ông cha chồng:
– Thưa cha, con xin chịu. Con chịu để cho nhà con cưới vợ lẽ theo ý anh ấy muốn. Xin cha cho con ở đây với cha với mẹ, với các con như trước đây. Con không thể học được gì trong cái trường ngoại quốc đó. Con đã cố gắng, nhưng lúc nào con cũng nghĩ về mấy đứa con. Con cứ thắc mắc: “Có ai tấn màn cho mấy đứa nhỏ”. “Thằng bé có ngủ ngon khi thiếu mẹ bên cạnh”. “Nó có lăn trở hay chăng? Và chị nó có thức giấc để đắp chăn cho nó hay không? Nhưng chị nó cũng chỉ là một con bé tí xíu!”. Không! Con vẫn là con. Con chỉ thông minh và hữu dụng trong gia đình này mà thôi, bên cạnh cha mẹ và các con. Con ở ngoài kia, con là một kẻ vụng về đần độn. Cha không đoán được điều đó vì cha không trông thấy. Những đứa bé nhứt trong trường con hiểu rành hơn con về những lời người ta giảng dạy… Anh Vương nói đúng. Con chỉ thích hợp với ngôi nhà này, bên cạnh cha mẹ và hai đứa bé. Con không thể ra đi một lần nữa.
Nàng vừa khóc vừa trình bày mọi việc. Giọng nàng run run, khác hẳn giọng thường ngày. Đôi mày liễu chập chờn trên đôi mắt lo âu.
Đôi vợ chồng già lẳng lặng nhìn nhau. Nhưng hai đứa bé không hiểu tí gì về những lời của mẹ chúng. Chúng nhào tới. Cậu bé kêu lên:
– A ha! Bây giờ chúng con có bánh ăn!
Cô gái cũng mơn trớn mẹ:
– Khi nào mẹ trở vô trường, mẹ cho con theo với. Con muốn được đi học.
Ông cụ hoàn toàn thông cảm nàng dâu. Ông vuốt râu, thở dài:
– Cha hiểu những chuyện của con. Cha sẽ viết thơ cho thằng Vương kể hết tất cả và chúng ta chờ xem nó có đổi ý?
Nói xong ông trở về phòng, tiếp tục thở dài.
Bà cụ im lặng, nhưng nắm tay con dâu, vuốt ve rồi cúi xuống nói nhỏ vào tai: “Đừng lo nghĩ gì. Để mẹ nói với nó khi nó trở về đây”.
Nàng chỉ đáp bằng một nụ cười héo hắt.
Nàng biết rõ tánh bướng bỉnh của chồng sẽ không bao giờ chịu nghe ai, dù là những lời của người mẹ.
Nhưng nàng tìm lại được nguồn vui trong các bổn phận đối với gia đình. Có khi trong đêm nàng giựt mình hoảng sợ vì thấy trở lại trường giữa những dãy giường giống hệt như nhau. Khi đứa bé lăn trở hoặc đạp vào người nàng, người mẹ tỉnh giấc mừng thầm là mình chiêm bao.
Trong những ngày đầu, nàng thấy trong nhà có nhiều xao lãng cần phải chỉnh đốn. Người ta đốt quá nhiều củi trong bếp vì đã để nồi niêu đóng lọ quá dầy. Các ngọn đèn không được lau chùi, và nhiều việc khác mà đám gia nhân không chú ý. Bà cụ cũng không trông thấy những sơ xuất này vì từ lâu bà không còn trông nom công việc nhà. Người vợ trẻ bắt tay vào việc cho đến khi trong nhà lấy lại vẻ trang trọng thường lệ.
Không ai nhắc tới Vương và cũng không ai đề cập đến việc nàng phải đi. Một đôi khi nàng đề cập tới là chỉ để nói với hai con hay để lo việc thu xếp trong gia đình.
Nhiều lúc ông cụ trông thấy vẻ sợ hãi của nàng dâu mãi khi ông đột ngột phá bầu không khí im lặng. Nàng chỉ trấn tĩnh lại sau khi hiểu ông cụ nói về vấn đề gì.
Ông cụ bảo vợ:
– Không bao giờ để vợ thằng Vương đi như trước. Bà có thấy nó trở về đây gầy ốm và run rẩy. Nó đau khổ nhiều lắm rồi.
Ông cụ không quở trách con dâu và nóng lòng chờ đợi bức thơ của Vương. Thật ra thì ông cụ chưa bảo cho Vương biết là con dâu ông chịu cho chồng cưới vợ lẽ. Ông giải thích cho con trai ông hiểu tình thế theo ý ông như thế này: “Vợ con rất đảm đang trong nhà nhưng không thể hòa mình trong sự thay đổi mới nếu phải ra ở chung với con. Trước những người đàn bà có học, nàng sẽ mai một”.
“Không ai chú ý đến và biết, giá trị của nó. Con phải để nó ở nhà với cha mẹ. Con trở về đây khi nào con thích và đưa bạn bè về chơi”.
Bức thơ ông cụ chỉ có thể và ông cụ chờ thơ trả lời của con.
Bức thơ đến rất nhanh, lời lẽ rất tử tế, Vương không biểu lộ một cách tàn nhẫn nào. Chàng viết: “Cha mẹ đã cư xử hết sức tử tế và thông cảm với vợ con. Con cũng xin cha mẹ cư xử như thế với con. Thưa cha con mới mười tám tuổi khi cha cưới vợ cho con, một người con gái mà con không hề biết. Vào tuổi đó, con lấy bất cứ người đàn bà nào. Và con thấy hơi thỏa mãn với người con gái mà cha chọn cho con. Con sẽ hài lòng về nàng nếu con theo cha đi vào ngành thương mãi, không rời khỏi mái nhà xưa. Trong gia đình chúng ta, đàn ông không có thói quen cưới nhiều vợ. Con sẽ ở với vợ con nếu con ở mãi trong nhà, cũng như mẹ và cha cùng sống bao nhiêu năm trong niềm vui êm đềm, niềm vui càng phát triển thêm với tuổi già. Nhưng con đã đi xa, với sự đồng ý của cha mẹ. Cha mẹ đã đặt tham vọng nơi con và con đã bước vào một cuộc sống khác, cách xa thành phố êm đềm mà cha mẹ đang sống như trăng sao cách xa mặt đất.
Con cần một người bạn để chia nếp sống mới, con muốn có một người bạn để nói chuyện. Con không có gì để nói về người vợ mà cha đã chọn cho con. Giữa chúng con không có một điều thích hợp nào. Người tớ gái mà con mướn cũng làm y những công việc mà vợ con làm. Con muốn có một người vợ có học như con, thích ứng với kỷ nguyên mới. Xin cha hãy rộng lượng với con”.
Ông cụ không đọc bức thơ này cho hai người đàn bà nghe. Ông đọc bức thơ ba lần, than thở một mình vì không biết phải xử trí như thế nào.
Sau cùng ông viết thơ cho Vương: “Vợ con chịu cho con cưới vợ khác theo ý còn muốn. Nó vẫn ở đây săn sóc cho cha mẹ như trong thời gian qua”.
Ông cụ tưởng vậy là xong chuyện. Ông không ngờ con trai ông có thể nghĩ khác hơn.
Trong thơ gởi cho cha, Vương nói:
Trong thời buổi này, một người đàn ông không thể cưới hơn một người vợ. Như vậy là không thích hợp mà cũng không hợp pháp. Người đàn bà tân tiến không chịu làm vợ lẽ. Như vậy, con phải được ly dị với vợ con, để chỉ có một người vợ mà thôi. Nhưng con sẽ hết sức rộng rãi, con sẽ bồi thường xứng đáng cho vợ con. Con sẽ không để cho nàng thiếu thốn một điều gì. Con không muốn nàng đau khổ.
Ông cụ không giữ được bình tĩnh khi đọc những dòng chữ ấy. Ông trợn tròn xoe đôi mắt và đọc lại để biết chắc là ông đã hiểu thật sự nội dung.
Thế rồi trong cơn phẫn nộ, ông viết thơ cho Vương.
Thời buổi này thật là lạ đời, người đàn ông có quyền bỏ vợ, khiến cho người vợ đó mất hết tất cả. Không ai tôn trọng, không chỗ dung thân! Thời xưa còn tốt hơn nhiều. Ngày xưa người vợ không sợ mất chồng. Nàng không mất mát gì cả và sống đến mãn đời trong nhà. Những gì con đã viết cho cha, thật không xứng đáng với con.
Ông cụ vuốt râu nóng lòng chờ đợi thơ của Vương. Trong thời gian đó cụ gầy ốm thêm, vẻ mặt hốc hác. Ông chỉ tìm sự an ủi trong khói thuốc. Ông hút nhiều hơn bao giờ hết.
Khi bức thơ của Vương tới, ông bước vô phòng xé phong bì nhưng khi ông cầm bức thơ, ông cảm thấy thấy không đủ sức đọc được vì quá xúc động. Ông choáng váng, phải ôm đầu một lúc mới khỏi.
Nàng dâu rón rén bước vào phòng, thấy ông cụ đang mệt, rót cho ông một chén trà. Mặt nàng tái xanh, nàng không hỏi về bức thơ đang nằm trên án thơ nhưng nàng đoán biết xuất xứ. Nàng không hỏi gì, chỉ kiên nhẫn chờ đợi những gì sẽ xảy ra.
Lần này bức thơ rất vắn tắt và rõ ràng:
“Con thấy rõ là cha không thể hiểu. Con thấy cần phải thẳng thắn với nhau. Con đã chuẩn bị xin ly dị và con đã hứa hôn với một cô gái cùng du học một trường với con ở ngoại quốc. Nàng cũng được cha mẹ hứa gả cho một kẻ mà nàng không hề biết. Nhưng nàng can đảm hơn nên đã cắt đứt liên hệ. Nàng và con rất xứng đôi vừa lứa. Con tỏ ra rộng rãi đối với vợ con, nhưng chúng con không thể xem là vợ chồng với nhau được. Xin cha đừng quở mắng con. Cha nên nhớ là con đã cố gắng giúp vợ con nhiều. Con đã đưa nàng vào trường. Con không chịu trách nhiệm về việc nàng bỏ trường ra về. Nếu nàng chịu khó học hỏi, có lẽ nàng sẽ đạt được kết quả. Con không trách con điều gì hết. Rất nhiều người xử sự như thế vào thời buổi này. Người phụ nữ ngày nay cũng gặp khó khăn. Những người đàn ông mà họ có thể lấy làm chồng – những người cùng thế hệ với họ, cùng một học vấn như họ – những người đó đều có vợ vào lúc thiếu thời, cũng như con. Phải có người chịu đau khổ. Nhưng những người đàn bà có học phải lãnh nhiệm vụ nội trợ và làm mẹ, như thế có lợi cho đất nước và cho con cái… Con nói lại lần nữa là con rất rộng rãi với vợ con. Con sẽ cho nàng tất cả những gì mà cha thấy cần thiết. Nhưng mà nàng phải ra khỏi nhà, sống nơi khác vì nàng không còn quyền sống ở nhà con.. Nếu còn ở nhà nàng sẽ làm phiền con, khi con đưa vợ sắp cưới của con về thăm cha mẹ”.
Nàng dâu hãy còn đứng trong phòng. Nàng hy vọng ông cụ sẽ nói về bức thơ. Nhưng ông cụ ra dấu cho nàng đi ra. Ông không muốn nói gì. Miệng ông khô lại. Ông yếu hẳn. Ông ngồi thật lâu như thế, uống từng ngụm trà nóng mà con dâu rót vào chén trước khi đi ra.
Ông cụ mài mực cẩn thận, lấy bút mực viết:
“Con Vương, nếu vào thời của cha, và nếu mỗi quan hệ cha con ta là mối quan hệ giữa cha và ông thân của cha thì khi cha ra lịnh, con phải vâng lời. Nhưng bây giờ thì cha không làm được như thế nữa vì con đã không còn nghe lời cha. Bây giờ chính cha lại phải vâng lời con! Ngày nay con cái làm theo ý chúng nó, thành thử làm cha mẹ không ra lịnh với ai hết. Cha chỉ nói với con điều này. Nếu công việc phải giải quyết theo ý con thì ít ra con cũng phải để vợ con mà cha mẹ; xem như con ruột sống với cha mẹ. Dù nó không còn là vợ con đi nữa, nó cũng là con của cha mẹ. Cha mẹ không bao giờ thay đổi đối với nó. Người vợ mà con sắp cưới rất xa lạ với cha mẹ. Cha mẹ sẽ thấy khó chịu với sự hiện diện của nó. Những người đàn bà học thức, nhanh nhẹn hoạt bát mà cha đã thấy ở Thủ đô, những cô bạn của con, và những người vợ của bạn con, đã làm cho cha sợ. Cha không quen với loại đàn bà đó. Con nên để cho con dâu của cha mẹ ở đây, bên cạnh cha mẹ và hai đứa nhỏ. Con không được cho vợ con biết là con đã ly dị nó. Riêng về cha thì cha không đá động đến vấn đề đó, và ở đây, trong ngôi nhà yên tĩnh này, nó sẽ tiếp tục không biết đến những hành động của con”.
Khi viết và gởi bức thơ rồi, ông cụ thấy nhẹ nhàng thơ thái. Nhưng ông thấy cần nói một phần sự việc cho nàng dâu biết. Một đêm, khi hai đứa bé đã ngủ ông cụ cho mời nàng dâu tới gian phòng chánh trong nhà.
Nàng dâu đến, và theo thường lệ là châm trà nóng cho cha mẹ chồng.
Ông cụ nói:
– Này con, cha đã viết thơ cho thằng Vương. Thơ từ hai bên qua lại giống như chim bay từ Bắc xuống Nam và từ Nam lên Bắc. Sau cùng, nó chịu chấp nhận sự rộng rãi của con. Nó sẽ cưới vợ lẽ, nhưng con ở đây, tự do trong ngôi nhà này. Và chúng ta sẽ tiếp tục sống như ngày trước, chỉ có một điều khác là thằng Vương sẽ ít về đây vì nó sống riêng ở nơi khác.
Bấy giờ nàng dâu mới khóc, lần đầu tiên nàng khóc trước mặt cha mẹ chồng:
– Con đã xử sự quá kém, không xứng đáng với lòng thương yêu của cha mẹ. Vì con mà cha mẹ xa cách người con yêu quý!
Bà cụ mở to đôi mắt ra. Bà chưa bao giờ thấy con dâu khóc trong bao nhiêu năm qua, dù trong lúc con nàng bịnh chí tử.
Bà cụ xúc động kêu lên:
– Để mẹ nói với thằng Vương cho. Mẹ nhứt định không cho nó cãi lịnh cha mẹ.
Nhưng ông cụ lắc đầu, ôn tồn nói:
– Không. Không ai có lỗi hết. Con không có gì đáng khiển trách. Con đã ăn ở đúng phép dâu con. Thằng Vương cũng không có lỗi gì, nó cũng rộng lượng như ngày xưa.
Ông cụ đưa bàn tay tái xanh lên vuốt chòm râu bạc, hơi do dự một lúc:
– Cha không thể quở trách ai… Vào thời buổi kỳ lạ này, cái gì cũng xáo trộn. Một người có vợ hoàn toàn mà vẫn thấy là chưa đầy đủ hạnh phúc!
Bà cụ bướng bỉnh:
– Đó là do người ta coi thường thần thánh. Nếu người ra biết tôn trọng…
Ông cụ nhắm mắt lại, chờ cho bà cụ nói dứt để tiếp tục nói nốt nghĩ của ông:
– Nhưng con vẫn có thể ở đây, vì đây là nhà của con. Chúng ta tiếp tục sống như cũ. Chúng ta sẽ xem hoa nở, chúng ta sẽ vui với mấy đứa nhỏ. Vậy là chúng ta cũng có hạnh phúc…
Ông cụ cố an ủi bà cụ và con dâu, nhưng cuộc sống không như ông nghĩ.
Sáu ngày sau, khi cả nhà dùng cơm tối thì có tiếng động bất thường ngoài cổng. Kế nghe tiếng người nhà kêu lên:
– Cậu đã về!
Mọi người ngẩng đầu lên. Vương đứng trước mặt họ. Chàng gầy đi, mình đầy bụi và có vẻ mệt.
Vương nói với cha mẹ bằng vẻ không được tự nhiên, hối hả và dường như không chú trọng tới ai khác. Người ta có cảm tưởng là chàng bị bắt buộc phải hoàn tất một công việc khó khăn.
Một người gia nhân mang đến một thau nước nóng. Vương nhúng khăn lông vào, vắt ráo rồi lau mặt, lau tay. Sau đó chàng ngồi vào bàn, cầm đũa ăn ngay.
Người vợ trẻ vội vàng mang các thức ăn nóng lên. Chàng gật đầu cám ơn và sau khi ăn xong một chén, chàng không bao giờ ăn nhiều. Vương quay lại nói chuyện với song thân. Chàng nói thật nhanh không kịp thở như trả bài thuộc lòng.
Vương nói với ông cụ:
– Thưa cha, con phải trở về thủ đô ngay trong đêm nay. Vì vậy con đi ngay vào vấn đề. Việc thư từ qua lại rất lâu. Vấn đề đã đặt ra, không thể nào kéo dài. Đơn xin ly dị đã thảo xong, phải có chữ ký của hai đương sự. Hôn lễ thì con sẽ cử hành vào ngày mồng sáu tháng tới. Tốt hơn là vợ con nên đến nhà một người bà con nào đó mà tá túc. Nếu không con khó mà đưa vợ mới cưới của con về đây. Con muốn giới thiệu vợ mới của con với cha mẹ. Nếu thấy nó rồi, cha mẹ sẽ hiểu.
Nàng dâu lắng tai nghe. Không ai nói cho nàng biết về vụ ly dị. Khi nghe Vương nói, nàng quay mặt tái xanh về phía chồng bảo:
– Nhưng tôi không biết phải đi đâu! Tôi không có một người bà con nào để tá túc với hai đứa con!
Vương không nhìn nàng. Đến khi nàng nhắc đến hai đứa con. Vương ngẩng đầu lên nói với vẻ ngạc nhiên:
– Cố nhiên là tôi không yêu cầu cô mang hai đứa. Tôi có trách nhiệm lo cho chúng. Sau đám cưới tôi sẽ bắt chúng nó về để chúng nó được vợ tôi trông nom dạy dỗ.
Khi thấy vẻ mặt ngẩn ngơ của người vợ, Vương kêu lên giận dữ:
– Đừng đổ lỗi cho tôi! Tôi đã cố tìm cách giúp cô, nhưng cô đã làm ngơ!
Người thiếu phụ tiếp tục nhìn sửng sốt vào mặt Vương trong khi chàng nói. Nhưng nàng không hiểu gì cả và cũng không thấy gì cả. Nàng toan nói hai lần, đôi mày nhíu lại, nhưng không thốt ra được một lời nào.
Ông cụ nhìn xuống đất, vuốt râu, mặt ông xám lại như tro. Bà cụ vụt khóc nỉ non.
Nhưng Vương vẫn bận tâm đến mấy đứa nhỏ:
– Con có muốn theo ba ra thủ đô không?
Cậu bé nhảy dựng lên, kêu lên mừng rỡ:
– Con sẽ được đi tàu! Con sẽ được đi tàu.
Con bé lo ngại hỏi cha:
– Con cũng đi nữa, phải không cha?
– Cố nhiên!
Cô bé sướng đỏ mặt, quay về phía mẹ:
– Con sẽ đi học. Lúc nào con cũng muốn tới trường.
Không ai chú ý đến người thiếu phụ. Cũng không ai quan tâm đến những cảm nghĩ của nàng. Nhưng nếu có ai nhìn nàng thì họ sẽ thấy mặt nàng tái xanh hơn thường lệ. Sự im lặng của nàng vốn quá quen thuộc nên không ai cho là bất thường. Không ai thấy toàn thân nàng run rẩy. Trong gia đình, chỉ có ông cụ là người thông cảm với tình cảnh bi đát của con dâu, nhưng lúc bấy giờ ông bận nhìn xuống đất và vuốt râu không dám nhìn nàng.
Vương hớn hở trước sự vui tươi của cậu bé, nói:
– Rồi con sẽ lên xe lửa, rồi con sẽ thấy những đường phố thật rộng thật lớn, máy bay, xe hơi, tất cả những thứ mà con chưa hề thấy, những thứ không có ở đây.
Cậu bé quá kích thích chạy vòng tròn, kêu ầm lên:
– Chừng nào mình đi? Con muốn đi ngay. Con muốn đi ngay.
Đôi mắt người mẹ trẻ hết nhìn cậu bé đến nhìn đứa con gái. Cô bé bắt gặp đôi mắt của mẹ mỉm cười một cách mơ màng, lặp lại câu nói khi nãy:
– Lúc nào con cũng muốn đi học, mẹ ạ!
Người thiếu phụ không chịu đựng được nữa. Có phản đối cũng vô ích. Nét mặt xám tro của ông cụ, nước mắt đầm đìa của bà cụ nói lên cho nàng biết là lời nói trở nên vô ích.
Vương nắm tay cậu bé khi nó chạy qua mặt chàng, siết nó vào ngực, hít hơi thở thơm ngát của nó và cậu bé thích thú được cha cưng, nhìn mẹ với vẻ xấc láo.
Vương áp má vào mặt con, nghiêm nghị bảo thiếu phụ:
– Cố nhiên là cô sẽ không thiếu một một món gì. Tôi sẽ luôn luôn lo cho cô có thật nhiều tiền.
Nàng nhìn Vương với tất cả kiêu hãnh, nhìn thẳng vào mặt chàng, nhưng Vương mãi âu yếm với con, không trông thấy.
Với tuổi thơ vô tư, hai đứa bé chỉ nghĩ đến cha.
Thế rồi mẹ chúng âm thầm lén đi ra xa chúng nó.
Nàng bước vào phòng nơi mà nàng đã ngủ giữa hai con trong bao nhiêu năm. Nàng nặng nề buông mình xuống giường.
Trong khoảnh khắc nàng chợt nhận ra cuộc đời của nàng, nhận ra tương lai của nàng, và nàng hiểu ngay những gì mà nàng phải làm cho tất cả những người thân. Phải, cho Vương, cho hai đứa con mà cũng là cho nàng nữa.
Nàng đứng lên, mở hộc tủ, lấy một thắt lưng lụa mà nàng chỉ dùng trong những ngày lễ. Thắt lưng màu trắng, dịu nhưng thật chắc.
Nàng đứng lên chiếc giường, hai bàn tay cương quyết thắt một vòng tròn ở cuối thắt lưng, cho vào cổ và leo lên cột đầu dây kia vào kèo nhà ngay trên giường.
Tiếng kêu vui vẻ của cậu bé từ phòng ngoài vọng vào: “Con sẽ lên phi cơ”.
Ông cụ nói thật khẽ, buồn thảm, van lơn, nhưng nàng không nghe rõ. Nàng không lắng nghe nữa. Nàng cột chặt thắt lưng, nhìn chung quanh gian phòng thân yêu một lần chót rồi cắn răng, nhắm mắt…
Bình tĩnh và cương quyết, nàng đưa một chân ra ngoài giường rồi nhảy vào quãng không. Chiếc thắt lưng giựt mạnh và siết chặt.
Trong một giây đó, người thiếu phụ còn nhớ một việc cuối cùng cần phải làm không cho hai bàn tay tìm một chỗ tựa. Nàng khoanh tay trước ngực trong một cử động co giựt.
Máu chạy nhanh và mạnh đập vào hai tai.
Tiếng cậu bé tới nàng, nghe chừng như thật xa xôi. Nó cười và lặp lại không ngớt: “Con sẽ lên phi cơ”.
Nhưng tiếng động nho nhỏ đó cũng tàn lụn. Nàng không nghe gì nữa. Hai bàn tay nàng rơi thõng xuống.
bản Việt ngữ: Nguyên Hùng Post by Sơn râu 20 Dec 2023
Người đàn ông cáu kỉnh nhìn đám đông tụ tập trên con đường làng trước nhà anh. Họ là những người láng giềng, độ bốn mươi người, vừa đàn ông đàn bà, trịnh trọng lắng nghe hai vợ chồng anh cãi lộn. Trẻ con mình trần dưới sức nóng mùa hè chen qua chân người lớn để chui vào giữa nơi hai vợ chồng anh đang đứng để nghe thấy tất cả không sót một tí gì.
Người đàn ông không nhìn vợ đang khóc. Anh nghiêng đầu về một bên với nỗi bực dọc và trông thấy con của anh trong đám đông trẻ nhỏ vừa chen vào giữa. Đứa con của anh độ tám hay chín tuổi. Rồi hai đứa em của nó cũng bắt chước đi theo để xem cãi lộn. Khi lọt vào giữa, ba đứa trẻ ngơ ngác nhìn cha mẹ chúng.
Bỗng người đàn ông không chịu đựng được.
Trong mấy ngày qua, anh đã bị bắt buộc phải nghe những tiếng khóc, những tiếng cằn nhằn, những lời bóng gió xa xôi. Anh gầm lên một tiếng, nhào tới chụp thằng con thứ ba, vừa tát vừa hét.
– Vô trong nhà, đồ chó!
Cậu bé ré lên khóc, đưa tay lên xoa chiếc đầu trọc, đứng ỳ ra đó tiếp tục khóc, tin chắc rằng là đám đông sẽ có cảm tình với nó.
Đang khóc thầm, người vợ liền hét to lên, hết nhìn người này đến nhìn người kia để phân bua:
– Đó bà con thấy không, ngày nay chồng tôi thay đổi tánh tình như vậy đó.
Đám đông im lặng trố mắt nhìn người đàn ông. Họ đã nghe hết tất cả từ lời tố cáo của người vợ đến câu trả lời của người chồng và sự im lặng của hai vợ chồng. Đám đông không hài lòng về thái độ của người chồng. Chính người đàn ông cũng nhận thấy điều đó. Y nhìn xuống hai bàn chân chai cứng, cho ngón cái quẹt tới quẹt lui trên mặt đất. Bụi đất khiến anh nhớ đến cánh đồng khô hạn đang chờ anh tưới nước. Anh lẩm bẩm:
– Mình còn biết bao nhiêu công việc cần phải làm, nhưng mình bị kẹt ở đây phí cả một buổi chiều.
Ý nghĩ đó sục sôi trong lòng anh trong một lúc, bỗng mặt anh đỏ bừng lên và mạch máu căng lên đen sậm trên thái dương. Anh ngẩng đầu lên nhìn vợ với vẻ giận dữ, quát to:
– Đồ chó. Mày muốn gì chớ? Nói trắng cho tao biết rồi để cho tao ra đồng? Ở đây riết, làm sao tao kiếm tiền nuôi hết cả đám chúng bây!
Người vợ lại rên rỉ:
– Đó, bà con thấy ngày nay nó biến đổi như thế nào. Nó nói chuyện với tôi như vậy đó. Cách đây hai tháng, nó là ngươi đàn ông hiền lành nhứt. Các chị em thường nghe tôi cám ơn trời Phật đã ban cho tôi một người chồng gương mẫu. Luôn luôn kiếm được đồng nào, nó đưa hết cho tôi đồng đó rồi nó xin tiền tôi đi hớt tóc trước ngày có tiệc tùng, hoặc đánh bài, hoặc mua thuốc hút như một đứa con nít. Và tôi rất vui vẻ cho nó những đòi hỏi đó. Còn bây giờ thì khác. Trong hai tháng nay, nó không đưa cho tôi đồng xu nào, mặc dầu nó bán gạo rất được giá mà nó cũng không cho tôi biết là nó thu được bao nhiêu.
Người vợ khóc to lên, gương mặt nhăn nheo nhỏ bé đen xạm đầm đìa nước mắt. Chị kéo chiếc khăn choàng trước ngực lên che đầu, tiếp tục khóc.
Đám đông chung quanh vẫn im lặng và mấy đứa bé mở tròn xoe đôi mắt ra nhìn. Hai đứa nhỏ của người đàn ông đến sát bên mẹ, úp mặt vào chiếc quần dài xanh rộng ống của mẹ chúng, òa lên khóc nức nở.
Trong không khí im lặng hòa tiếng khóc đó, người đàn ông vô tình liếc về một cánh cửa ở bên đường.
Một người con gái mặc áo dài xanh, như các phụ nữ ở chợ thường mặc lúc bấy giờ, có mái tóc cắt ngắn sát gáy. Nàng có một gương mặt xinh xinh, tinh quái. Nàng hơi mỉm cười khi lơ đãng tựa người vào khuôn cửa lắng nghe cuộc cãi vã. Khi bắt gặp cái nhìn trộm của người đàn ông, nàng lấy chiếc lược trên mái tóc chải lên mớ tóc xòa xuống trán, chấm mi lông mày vẽ đậm. Nhưng người đàn ông cúi mặt nhìn xuống. Mặt y trở nên tái hơn. Y nói với giọng nghẹn lại:
– Tao không hiểu tại sao lúc nào mày cũng đòi tiền. Trong nhà có gạo, có bột, có dầu, ngoài vườn có cải bắp…
Người vợ kéo chiếc khăn trên mặt xuống, ngả về phía người chồng, hai mắt ráo nước mắt vì cơn giận bốc lên.
Chị chống hai bàn tay nhăn nheo lên hai bên hông ốm teo, ngả thân hình gầy gò tới trước, hét the thé:
– Còn vấn đề mặc nữa chứ! Mấy đứa nhỏ không còn giày để mang. Bà con ơi, ngó tôi mà xem. Ngó chiếc áo chấm vá mà tôi đang mặc đây. Chừng nào tôi mới có được một tấm áo mới? Cách đây ba năm chồng tôi đánh bài ăn mười đồng bạc. Nó mua cho tôi hai cây vải trắng, loại thật thô, thật rẻ. Tôi đem đi nhuộm xanh, cắt cho nó hai bộ quần áo, cho tôi một bộ, cho thằng lớn nhứt một bộ. Đến ngày nay tôi cũng còn mặc, chấm vá không biết bao nhiêu lần. Bây giờ thì không thể chấm được nữa.
Tôi cũng không có giày. Chân tôi bị bó làm sao tôi đi chân không như mấy đứa nhỏ. Sáng hôm nay, tôi hỏi xin một ít tiền mua giày. Nó nói thế nào bà con có biết không? Nó chỉ chửi bới chớ không cho gì. Nó còn giận hờn không chịu về nhà hồi trưa này. Nó vô quán ăn uống trong khi bỏ phí bữa cơm tôi dọn cho nó ở nhà. Vậy mà nó nói nó không có tiền!
Cơn bực khiến chị òa ra khóc nữa.
– Đâu phải tôi đòi tiền để mua sắm áo dài như các cô các bà mặc trong những ngày này. Tôi biết là nó có tiền để mua áo dài cho một người đàn bà nào đó, chớ không phài cho tôi.
Lúc bấy giờ gương mặt người đàn ông có vẻ ghê gớm. Anh nhảy tới đưa cánh tay lên, toan đấm người vợ, nhưng từ trong đám đông nhiều người bước ra bắt cánh tay của y lại. Vài người đàn bà cũng kéo người vợ ra.
Một người đàn ông ôn tồn nói:
– Nên nhớ người này là vợ anh và là mẹ của mấy đứa con anh.
Người vợ được dịp rên rỉ:
– Tôi đã sanh cho nó mấy đứa con trai.
Ngay lúc đó có tiếng dịu dàng vang lên, tiếng của một bà lão chống gậy đứng bên ngoài đám đông.
Bà lão nói:
– Hai đứa bây không còn trẻ dại. Này Lý, mày đã bốn mươi lăm tuổi rồi. Tao biết rõ vì lúc mẹ mày sanh mày, có tao ở đó. Vợ mày năm nay cũng bốn mươi tư.
Tao biết rõ vì tao có đi dự đám cưới và rước dâu. Hai đứa bây đã ăn ở với nhau hăm tám năm. Con vợ mày sanh mười hai lần, nhưng chỉ còn có bảy đứa.
Thằng trưởng nam của mày, nếu còn sống cũng được hăm bảy tuổi. Và bây cũng có thể là ông nội, bà nội. Đứa con nhỏ nhứt của bây mới lên ba. Hãy nghĩ đến những điều đó và những năm bây sống chung với nhau mà nên giải hòa ngay bây giờ đi.
Bà lão là người lớn tuổi nhứt trong ấp và là mẹ của người giàu nhứt trong làng. Ai cũng kính trọng và nghe lời bà.
Sau khi bà nói dứt lời, người vợ quay về phía bà, nói:
– Bà cụ dư biết tôi thường khen chồng tôi là người hiền lành nhứt, tử tế nhứt. Nhưng cách đây hai tháng, nó vụt đổi tánh.
Chị đảo mắt nhìn ông chồng. Đám đông cũng chăm chú nhìn y.
Người đàn ông lại cúi gầm đầu xuống, cổ y dần dần đỏ.
Người vợ nói tiếp:
– Bà cụ xem kìa. Nó là người hiền lành mà bây giờ nó quạu như chó. Hễ ra ngoài thì nó cười cợt vui vẻ với mọi người, nhưng về nhà thì nó quậm lại, nín thinh. Không một lời nào vui tươi, dễ chịu. Hễ mở miệng thì chê tôi thông biết chải tóc, áo không được sạch hoặc tìm chuyện này chuyện kia để rầy. Mà tôi thì vỏn vẹn có chiếc áo này. Làm sao tôi có thể sạch được luôn luôn chớ? Còn công việc trong nhà, còn mấy đứa nhỏ, rồi còn công việc ngoài đồng. Làm sao tôi có thể ngồi không đánh phấn, xức dầu như một vài người đàn bà khác!
Người chồng không thể chịu đựng được nữa. Anh ngẩng đầu lên, gắt:
– Tao hỏi mày, mày muốn cái gì? Chuyện không đáng mà mày làm rùm beng lên. Mày muốn cái gì chớ?
Người vợ nóng nảy lặp lại:
– Tao muốn cái gì hả? Tao chỉ muốn có một điều. Tao muốn mày ăn ở với tao như trước đây hai tháng. Tao chỉ muốn có bao nhiêu đó thôi.
Đám đông dường như không còn ở đó nữa. Chỉ còn có hai vợ chồng đang sôi nổi gây gổ với nhau, bất chấp mọi người chung quanh.
Chị đưa hai bàn tay chai cứng với móng tay đen kêu lên:
– Tôi chỉ muốn được như ngày trước…
Đám đông thở dài, khó chịu.
Người đàn ông liếm môi hai ba lần thật nhanh và từ mái tóc đen hai hàng mồ hôi chảy dài xuống má. Anh lại liếc về phía cánh cửa, nơi bóng dáng thiếu nữ mặc áo xanh nhạt tựa người trong ánh chiều tà. Anh không nhìn lên gương mặt của nàng. Nhưng anh biết thật rõ gương mặt của nàng như thế nào. Anh biết rõ làn da trắng xanh, đôi môi đầy đỏ thắm, luôn luôn mỉm cười, đôi mắt đen không hề biết sợ, không hề ngó xuống hay quay đi khi anh nhìn nàng. Chính cách nhìn của nàng đã làm cho anh đắm say mỗi khi đi ngang qua. Anh thường đi ngang qua để tìm cái nhìn đó mặc dầu anh không hề nói một lời nào vái nàng.
Làm sao anh có thể nói được khi nàng là cháu của người giàu nhứt trong ấp, còn anh thì chỉ là một gã nông dân không có một mảnh đất cặm dùi. Trong hai tháng qua, anh đã phải dành dụm để sắm một chiếc áo xanh như nhiều người thường mặc và một vớ trắng với một đôi giày trắng sản xuất ở chợ.
Khi nghĩ đến số tiền dành dụm khó nhọc đó, anh đâm bực với bà vợ hay khóc lóc cằn nhằn. Trong bao nhiêu năm qua, anh là người chồng trung thành với vợ. Anh đã bốn mươi lăm tuổi rồi mà chưa hề biết hưởng lạc thú ở đời. Chưa bao giờ anh bước vào những nơi buôn hương bán phấn mà một kẻ nghèo cũng có thể vào đó mua vui với một đồng bạc thôi. Ngày lại ngày, anh chăm lo cày cấy cho vợ, cho con. Và đến nay khi đã bốn mươi lăm tuổi đời, anh chỉ có mỗi một chiếc áo cũ kỹ dính trong người, không còn một món gì khác, trừ những bộ áo rách chấm vá để mặc khi làm lụng.
Nhưng có một điều làm anh thắc mắc. Đôi mắt mở to và mơn trớn của người thiếu nữ kia chỉ dành riêng cho anh hay cho tất cả mọi người đàn ông? Chính điều đó đã làm anh bâng khuâng cả ngày lẫn đêm trong thời gian qua.
Mỗi khi đi ngang qua cửa nhà nàng, anh thường liếc nhìn nàng và lần nào nàng cũng nhìn anh, nhìn thật tự do và táo bạo. Anh có nghe người ta nói với nhau là ngày nay đàn bà thay đổi ghê lắm. Họ không sợ đàn ông, muốn ai thì chọn người đó, tự do quyến rũ…
Anh lại liếm môi, mồ hôi chảy dài xuống cổ. Làm sao biết được là nàng nhìn riêng một mình anh hay là nhìn tất cả mọi người? Nhứt định anh phải tìm hiểu sự thật.
Người vợ lảm nhảm từng cơn:
– Tôi muốn hai vợ chồng ăn ở với nhau như trước…
Chị vét một góc khăn lên lau nước mắt. Chị hết giận, trong lòng chỉ còn lại sự lo ngại.
Người chồng vụt nhìn lên cánh cửa mở rộng, anh muốn biết sự thật.
Khi đám đông thấy anh nhìn lên, họ cũng ngẩng đầu lên nhìn theo.
Cô gái đứng ngay khung cửa bận lo trang điểm. Nàng cầm chiếc lược xương trắng, đưa cao cánh tay xinh đẹp lên, nàng chải mớ tóc đen óng ánh về phía sau vành tai nhỏ bé, trắng xanh, có đeo hai hoa tai vàng. Mấy người đàn bà nhìn cô gái với vẻ thù nghịch. “Đàn bà con gái mà mặc áo dài như đàn ông”! Vài người đàn bà vụt lên tiếng bình phẩm.
Nhưng đám đàn ông nhìn cô gái, im lặng và trầm trồ.
Bấy giờ bà cụ đứng bên ngoài đám đông cũng tò mò nhìn theo. Cô gái mà mọi người đang nhìn, chính là cháu kêu bà bằng bà cố. Cô bé này ở chợ và được cha mẹ nuông chiều. Đã nhiều lần bà đã rầy người con trai vì quá nuông chiều để con bé hư hỏng không xứng đáng cho đàn ông đi nói. Bà thương hại cho người chồng tương lai của con bé. Hôm nay, bà cụ nhìn cô bé chăm chú hơn. Và, đây là lần đầu tiên bà cụ trông thấy gương mặt xinh xinh nhưng đầy vẻ tinh quái đang nhìn một người nào đó trong đám đông. Đôi má nhìn nheo đỏ rực lên, bà cụ nặng nề bước về phía cửa, nện mạnh đầu gậy xuống các tảng đá trên đường, ngó theo hướng cô bé đang nhìn. Cô bé đang phóng tầm mắt về phía chàng thanh niên la cà trước cửa.
Thoạt tiên, cậu này nhập vào đám đông để nghe cãi lộn. Nhưng sau đó, cậu quay lại nhìn cô gái. Đôi mắt cậu có vẻ ngốc nghếch và xấu hổ, một chút nước miếng chảy dài ở khóe miệng.
Bà cụ đập mạnh chiếc gậy lên đá. Bà biết cậu thanh niên đó. Hắn là con của ông chủ quán, không có một tấc đất và chỉ là một hạng làm công lặt vặt.
Bà kêu kêu giọng the thé đầy vẻ giận dữ và oai quyền khiến cô bé quay lại.
– Đi vô trong nhà? Đồ hư thân mất nết.
Cò bé bĩu môi chưa chịu vô.
Bà cụ lại hét lên, quơ gậy một cách dễ sợ:
– Tao bảo đi vô trong nhà! Nghe chưa?
Cô gái bước thật nhanh vào trong. Nhưng bàn tay của nàng đặt trên đà ngang cánh cửa, bàn tay thon nhỏ, trắng xanh với chiếc nhẫn vàng ở áp ngón út. Bà cụ tiến tới, quất mạnh vào bàn tay đó. Cô gái đành rút tay vào.
Bà cụ kêu lên:
– Tôi chưa hề thấy một con bé như thế. Đứng trước cửa nhìn bất cứ người đàn ông nào đi qua trước nhà. Mà nó đã có người đi hỏi rồi chớ đâu phải còn con nít! Người ta bảo tất cả con gái bây giờ đều như thế, thật tôi không biết đâu mà rờ!
Đám đông không còn háo hức, tò mò nữa. Người vợ khẽ cười, có hơi thấy dễ chịu. Mấy người đàn bà cũng bớt cáu kỉnh, còn mấy người đàn ông nhìn lên trời hoặc nhìn ra đồng, hoặc nhổ nước miếng xuống đất.
Một đứa trẻ khóc, đám đông tản ra, sẵn sàng để giải tán. Chỉ có cậu thanh niên con ông chủ quán là còn tần ngần đứng đó, nhìn về cánh cửa không người, như bị thôi miên.
Nhưng không phải chỉ có một mình cậu đã thấy ánh mắt rực rỡ của cô gái. Người đàn ông cũng đã trông thấy, và người vợ của y cũng đã trông thấy. Mặt người chồng không còn một chút máu. Gương mặt đó trở nên vàng như một chiếc lá khô. Anh đứng nhìn xuống đất. Bây giờ anh đã biết.
Nhưng bà cụ vẫn không chịu thôi. Bà chợt hiểu tất cả. Bà quay trở lại, quơ chiếc gậy về phía người đàn ông:
– Cậu Lý. Cậu là một thằng điên. Hãy ra đồng, nhưng trước hết phải đưa số tiên cậu cất giấu trong mình cho vợ cậu.
Từ từ, người chồng moi trong thắt lưng, lấy ra bốn đồng bạc. Anh không quay mặt lại, cầm tiền trong bàn tay đưa ra xa, cho đến khi các ngón tay của anh chạm vào lòng bàn tay khô cứng của vợ. Anh buông rơi mấy đồng bạc vào đó và cũng buông rơi tất cả mộng đẹp của anh.
Anh vươn người lên, nhìn đám đông đang giải tán, gương mặt hơi tái nhưng thanh thản. Anh nói với giọng hơi gay gắt như thường lệ:
– Tôi không hiểu tại sao vợ tôi lại kiếm chuyện gây gổ như thế này. Nó chỉ cần bảo nó cần tiền để làm gì. Và như nó đã nói, bao giờ tôi cũng đưa hết tất cả cho nó.
Anh cúi xuống lượm chiếc cuốc giẫy cỏ mà anh đã ném khi có người gọi trước đó, vác lên vai, và không nhìn ra sau, trở lại cuộc đời bình thường của anh.
Tui nghi rằng hồi xưa bậc chú bác, cô dì cũng như Tía tui và tui chắc ai cũng có học sách Quốc văn Giáo Khoa Thư. Trong sách đó, có kể chuyện Tổng thống Cộng hòa Pháp Marie François Sadi Carnot (1837-1894).
Một hôm nhân lúc rảnh việc, về chơi quê nhà. Khi đi ngang qua trường làng, trông thấy ông thầy dạy mình lúc bé, bây giờ tóc đã bạc phơ, đang ngồi dạy học, ông ghé vào thăm trường và chạy ngay lại trước mặt thầy giáo, chào hỏi lễ phép mà nói rằng: “Tôi là Carnot đây, thầy còn nhớ tôi không?”
(Dịch như vầy là ‘dịch vật’! Tiếng Pháp, ngôi thứ nhất là ‘Je’ (Tôi, em, con) làm chủ từ; còn ‘Moi’ cùng nghĩa nhưng làm túc từ. Cho dù người học trò cũ có làm ông to, ăn trên ngồi trốc thì đối với người thầy cũ, mình vẫn phải khiêm cung.
Nếu thầy còn trẻ chỉ lớn hơn mình chừng chục tuổi đổ lại thì phải dịch là: “Em là Carnot đây, thầy còn nhớ em không?”
Còn nếu thầy đã già cỡ Tía mình như trong câu chuyện nầy thì phải dịch: “Con là Carnot đây, thầy còn nhớ con không?”
“Trong câu chuyện dạy cách xử thế của trò khi gặp người thầy cũ đã từng góp một phần để dạy dỗ ông Carnot thành đạt, tui không tìm được chi tiết nào để biết cách đối xử của người thầy cũ với đứa học trò bé nhỏ ngày xưa giờ làm tới Tổng thống thứ tư của nền Ðệ tam Cộng hòa Pháp (1887- 1894) ra sao?”
Nghe anh bạn văn hỏi vậy, tui nói: “Ờ tui cũng hổng biết luôn. Nhưng tui nghĩ có thể người thầy cũ đã nói: “Carnot! Thầy nhớ con đó chớ! Hồi xưa con thường không thuộc bài, lơ đễnh hay ngủ gục trong lớp lắm thì làm sao thầy quên cho được”
Hay cũng có thể là: “Thưa Tổng thống Carnot! Tôi rất lấy làm hân hạnh được chào mừng Ngài trở về thăm trường cũ”.
Nhưng chuyện ở Việt Nam bây giờ thì anh bạn văn của tui lại biết rất rõ. Ông Ðại tướng, Chủ tịch nước về Kim Sơn, Ninh Bình thăm thầy cũ thì cờ xí rợp trời, kèn trống tưng bừng, dân cả huyện, cả làng đi rước Ngài Chủ tịch nước vinh quy bái tổ.
Trò cũ lịch bịch như con vịt (vì mập quá) leo lên bục đọc diễn văn. Ngài vừa đưa tay chém gió, vừa dạy bảo các thầy cô của ngôi trường mình đã từng theo học là hãy thi đua dạy tốt và học tốt.
Còn thầy cũ thì phát biểu cảm tưởng, đáp từ: “Dạ thưa Ngài Chủ tịch nước! Ngày xưa người thường hay bỏ học, tụ tập với bọn chăn trâu lấy cờ lau tập trận như ông Ðinh Bộ Lĩnh rồi làm nên nghiệp bá.”
Tui lại thắc mắc: “Ờ Ngài Chủ tịch nước về thăm Thầy cũ là vậy. Còn Ngài Tổng Bí Thư làm lớn hơn ông ni một bực; sao tui hổng thấy bài báo nào thuật lại chuyện ổng tưng bừng về thăm trường cũ hết vậy anh?
Anh bạn văn cười khè khè trả lời: “Ngài Tổng Bí Thư chưa hề đi học thì làm sao có trường cũ, thầy cũ để về thăm?”
Ðó là chuyện của mấy ông tai to mặt bự. Còn đây là chuyện của một người tai nhỏ, mặt cũng nhỏ luôn vì sau 75, đói, hốc hác đến xanh râu. Chuyện của tui!
Tui còn nhớ sau năm 75, là giáo chức gốc quân nhân biệt phái nên đương nhiên tui không còn là thầy giáo. Tui phải ‘tháo giày’, tui mang dép!
Ông Ðại úy Trưởng phòng Hành chánh Trung tâm Huấn luyện (Nghĩa quân và Ðịa phương quân) Chi Lăng, Thất Sơn Châu Ðốc tù cải tạo về, thấy tui cứ ‘cà nhỏng chống xâm lăng’, quá huỡn, ở không đi đánh cờ tướng, bèn rủ tui đi bán vé số.
Bàn vé số đặt trên lề công viên trước Trung tâm Y tế Toàn khoa Thủ Khoa Nghĩa, số 4 đường Nguyễn An Ninh hồi xưa. Sau 75, đổi tên là Bệnh viện Ða khoa Hậu Giang, đường Châu Văn Liêm.
Ông nội nầy cũng hổng tốt lành gì đâu! Ổng chơi cha! Tui được ổng phân công ngồi trước bàn vé số canh Công an cho ổng ghi số đề.
Bán vé số lời đâu có bao nhiêu? Lấy vé số của thầu một tờ giá 45 xu, bán 50 xu. Lời được 5 xu tức 10%. Bữa nào xui rủi bán ế là khoảng 4 giờ chiều, một tiếng đồng hồ trước khi xổ số thì mình phải ‘sổ’ vé số còn cù cặn của mình trước. Phải giựt khách mua giờ chót với các bàn vé số khác. (Ðói rách làm con người phải giành ăn, trở nên ác như thế đó bà con ơi). Phải xuống giá 45 xu, bán phá huề, chỉ lỗ công. Kẻo bán không hết là phải ôm dò. Mà dò thì lần nào cũng trật. Dò riết chịu hết xiết vì nợ đầy đầu.
Cách thứ hai là ‘tản’ vé. Nghĩa là đem vé số cù cặn gởi cho những bàn vé số thân quen khác. (Có đứa có bằng Cử nhân Luật lận đó nhưng thời cuộc đảo điên phải ngồi trên Ðại lộ Hòa Bình bán vé số như tui!) Ế nhiều quá thì phải chẻ ra nhờ tới thằng cha Ba Tàu nhà vẽ Bút Ngân, sát hẻm Tài Xỉu, đường Lý Thái Tổ, gần sân vận động bán tiếp. Lúc nào nó ế thì nó lại nhờ dần lân với mình!
Ghi số đề, số đầu, số đuôi mới có ăn. Ghi được 100 đồng tiền huê hồng của thầu đề chia lại tới 30%.
Tiền lời bán vé số thằng chả chia hai với tui. Tiền huê hồng số đề thằng chả lủm hết. Huynh đệ chi binh nó cay đắng ngậm ngùi trong thời buổi hỗn mang là như vậy đó bà con ơi!
o O o
Rồi có một chiều tháng Năm, năm 1981, tui ngồi dưới tán dù che bàn vé số, môi xám ngoét (như thằng ghiền á phiện), bập bập điếu thuốc Hoa Mai nhìn trời hiu quạnh, vần vũ sắp mưa giông. Huỡn quá, vé số ế quá, tui ngồi tiếc thương ngày tháng cũ; không thèm để ý đến thiên hạ lại qua.
Bất ngờ, tui giựt mình báo động: “Bò Vàng!” Ðang cắm đầu kết sổ làm phơi để chuẩn bị đi giao cho Thầu đề, thằng chả nhìn lên; mặt mày xanh cành như đít nhái! Vì hai con ‘Bò Vàng’, công an phường An Lạc đi dẹp lòng lề đường đã tới sát ngay bên đít.
Luống cuống gấp bàn vé số và ghế ngồi lại, chuẩn bị chạy thì một con Bò Vàng nhìn tui rồi hỏi: “Anh từng dạy em ở Phan Thanh Giản! Anh còn nhớ em không?”
Nghe vậy tui quạu ngang xương hè, đâm xuồng bể: “Dạ thưa cán bộ! Tui có dạy ở trường đó thiệt nhưng hình như học trò của tui không có ai giống cán bộ hết trơn!”
Hổng phải tui tiếc gì chữ thầy lúc mình bị “mất dạy’! Nhưng trò cũ không nhìn thầy thì thôi. ‘Who cares?’ Nhưng đã nhìn thì thầy ra thầy; trò ra trò chớ hổng có anh anh em em gì ở đây hết ráo!”
o O o
Rồi chuyện ông thầy của nhà thơ Ðỗ Trung Quân trong bài “Có một chiều tháng năm” cũng na ná như thế!
“Thầy còn nhớ con không…? Tôi giật mình nhận ra người đàn ông áo quần nhếch nhác. Người đàn ông gầy gò ngồi sau tủ thuốc ven đường.
“Thầy còn nhớ con không…?” Câu lặp lại rụt rè rơi vào im lặng. Hoa phượng tháng năm rơi đầy vỉa hè. Rụng xuống trên vai người thầy học cũ.
“Không… xin lỗi… ông lầm… tôi chưa từng dạy học. Xin thối lại ông tiền thuốc… cám ơn…”
…Vành nón sụp che mắt nhìn mỏi mệt. Câu phủ nhận phải vì manh áo rách. Trước đứa học trò quần áo bảnh bao?”
Tui thấy ông nhà thơ nổi tiếng nầy hơi bị quê xệ khi ông thầy khước từ nhìn người học trò cũ. Không phải vì thầy nghèo, vì manh áo rách, vì phải đi bán thuốc lá lẻ vỉa hè. Thầy khước từ là vì người học trò cũ của mình giờ quần áo bảnh bao trong khi cả nước ăn độn bo bo thấy Mẹ. Trò bảnh bao trong lúc bao nhiêu người bần cùng thiếu đói lại không biết nhục thì mình lỡ làm thầy mình nhục giùm cho nó!
Chiều tháng Năm hoa phượng rơi đầy trên tóc (chỉ có trong thơ!). Bãi trường, học trò đi lượm ve chai làm ‘Kế hoạch nhỏ’. Thầy đi bán thuốc lá lẻ lề đường cũng như tui đi bán vé số vậy thôi. Buôn bán kiếm ăn lương thiện thì có gì đâu mà phải nhục nhã, phải tự ti mặc cảm?
Nhục nhã là mấy đứa tạo ra cái cảnh đau lòng nầy! Chớ ‘giáo chức, dứt cháo’ dài dài như đám tụi tui thì có gì đâu mà nhục?
Kieu Phan sits with three of her children, Hanna and Lindsey Luong and Ryan Phan when they lived in Hinesville.
Năm 2008, Lam Luong, 37 tuổi, vốn là một người Việt tị nạn đến Mỹ khi hãy còn là niên thiếu, hiện ngụ tại Irvington, tiểu bang Alabama, miền Đông Nam Hoa Kỳ. Sau khi cãi nhau với vợ là 1111 đã nhẫn tâm ném ba đứa con của chính mình và một đứa con riêng của người vợ, từ độ cao 24 mét ra khỏi cây cầu từ đất liền nối ra đảo Dauphin xuống biển. Lương khai dối với Cảnh sát rằng mấy đứa trẻ nầy gồm: Danny Luong, mới 4 tháng tuổi, Linsey Luong 1 tuổi, Hannah Lương 2 tuổi và Ryan Phan 3 tuổi đã bị hai phụ nữ dáng vẻ Á châu bắt cóc. Luong bị truy tố ra tòa với 4 tội sát nhân và bị kết án tử hình vào năm 2009. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã ra lệnh cho con ác quỷ đội lốt người nầy phải nhìn vào một bức ảnh của những đứa trẻ thơ ngây vô tội mỗi ngày cho đến khi hắn ta bị xử tử. Tội ác tày trời của con quỷ đội lốt người nầy làm rúng động dư luận Hoa Kỳ! Tuy nhiên mới đây, án tử hình đã được chuyển ra án tù chung thân không bao giờ được ân xá; vì Tòa án Tối cao Hoa Kỳ cấm hành hình nhưng phạm nhận có IQ, tức chỉ số thông minh, dưới 70 điểm. Chỉ số thông minh của Luong chỉ có 51 điểm nghĩa là Luong bị thiểu năng trí tuệ, nếu hành hình bắt hắn ta đền tội ác lại là vi hiến.
Rồi sáng thứ Tư, ngày 19, tháng Hai, năm 2020, trên đường Raven Street, vùng Camp Hill, Tây Nam thủ phủ Brisbane, tiểu bang Queensland, ngay trước căn nhà của cha mẹ mình, bà Hannah Clarke chuẩn bị lái xe đưa ba đứa con của mình đi học. Rowan Baxter, người chồng đang ly thân và là cha ruột của ba đứa trẻ thình lình xuất hiện, cầm bình xăng tạt vào xe rồi châm lửa. Ngọn lửa bùng lên Hannah lao ra ngoài kêu cứu. Một người hàng xóm cố lao vào xe để cứu ba đứa trẻ nhưng không kịp và ông bị bỏng tại vùng mặt. Một người hàng xóm khác đã xịt nước vào bà Hannah để cố dập lửa, một số gọi Triple Zero xin cấp cứu. Laianah, 3 tuổi, Aaliyah, 4 tuổi và Trey, 6 tuổi đã bị chết cháy trong xe. Hannah bị bỏng nặng và qua đời tại bệnh viện Royal Brisbane and Women’s Hospital ngay vào tối hôm đó, khi chỉ mới có 31 tuổi. Ngay lúc đó, tên thủ ác, con quỷ đội lốt người, Rowan Baxter trong cơn điên loạn rút dao ra tự đâm vào bụng mình và chết ngay tại chỗ.
***
Rowan Baxter là một cựu cầu thủ bóng bầu dục ‘rugby’ kiểu Úc, 42 tuổi. Hannah Clarke từng vô định môn nhào lộn “trampolining”, đã đại diện tiểu bang Queensland trong các cuộc tranh tài trong bốn năm liên tiếp. Sau khi giải nghệ, hai vợ chồng kiếm sống bằng cách mở một phòng tập thể hình nhưng đã đóng cửa vào cuối năm ngoái, sau 5 năm hoạt động. Rồi hai vợ chồng ly thân và đang tranh nhau về việc ai có quyền nuôi con. Vấn đề tranh cãi này vẫn chưa được hai bên đưa ra Toà án gia đình để phân xử. Khi quyết định rời xa, ly thân một ông chồng hung bạo, Hannah đã từng tâm sự với bạn bè, qua mang xã hội Instagram, rằng: “Cuộc sống thường nhật của tôi cũng hơi bị đảo lộn nhưng tôi vui vì đã đưa ra quyết định đúng đắn cho tôi và các con tôi hướng về về phía trước!” Để đối phó lại với hành động toan vượt thoát của Hannah, Rowan Baxter đã nhiều lần đe dọa rồi hành hung người vợ cũ của mình. Chỉ vài ngày trước khi xảy ra thảm kịch Camp Hill, Rowan đã cố bẻ gãy cổ tay của Hannah, gây ra những vết bầm tím trên thân thể nạn nhân. Hannah Clarke đã nhiều lần báo Cảnh sát về vấn nạn bạo lực gia đình mà mình đang phải gánh chịu. Tuy vậy cuộc đời tươi đẹp của một người mẹ trẻ và ba đứa con còn thơ dại bị một bàn tay tàn bạo vô nhân tính, quỷ đội lớp người, từng là chồng, là cha của các nạn nhân chấm dứt một cách tức tưởi! Điều nầy chứng tỏ hệ thống bảo vệ người phụ nữ Úc trước nạn bạo hành gia đình đã thất bại.
***
Bạn bè cũ với lòng thương cảm, xót xa kêu gọi dân Úc quyên góp. Số tiền đã lên tới hơn 50 ngàn đô, để làm đám tang cho Hannah và ba đứa con thơ dại của mình. Đau đớn nhưng có người cố tự an ủi là: “Cuối cùng Hannah cũng được tự do và có thể bình yên với Aaliyah, Laianah và Trey, những đứa con tuyệt đẹp của mình”. Hoa được chất đầy trong một buổi cầu nguyện, tưởng niệm bốn nạn nhân gần hiện trường nơi tay thủ ác đã ra tay. Nhiều phụ nữ dắt con đến tham dự đã không cầm được nước mắt. Tòa thị chính thủ phủ Brisbane, tiểu bang Queensland đêm về trang trí bằng đèn laser màu hồng nhạt để biểu cảm tình yêu với những nạn nhân xấu xố.
Hannah Clarke with their children Laianah, Aaliyah and Trey.
***
Một mặt dân Úc buồn đau; mặt khác là: “Tất cả chúng ta cần phải đập cửa chính phủ để yêu cầu hành động thực sự đối phó với nạn bạo hành gia đình; đã trở thành cơn dịch; vì cứ mỗi tuần bình quân giết chết một người phụ nữ tay yếu chân mềm” Vậy là tại phiên họp của Hạ viện Liên bang Úc, trong khi các nữ dân biểu thuộc hàng ghế sau đưa khăn giấy lên chậm nước mắt, Thủ tướng Scott Morrison tuyên bố: “Hannah xứng đáng để cảm thấy an toàn và được an toàn sống để nhìn những con của mình hồn nhiên vui vẻ sống rồi lớn lên. Aaliyah và Laianah và Trey xứng đáng có một tuổi thơ hồn, và có cuộc sống hạnh phúc dài lâu!” “Đất nước Úc của chúng ta xin gửi tình yêu của mình đến những người thân trong gia đình đang chịu nhiều đau đớn, họ có quyền giận dữ về tội ác khủng khiếp nầy; vì mọi thứ chúng tôi đã làm trên khắp đất nước này để bảo vệ phụ nữ và trẻ em đã không bảo vệ Hannah và các con của cô ấy khỏi cái ác này, vụ giết người man rợ này.”
***
Trên trang mạng xã hội Facebook, hàng loạt ‘video clips’, Rowan Baxter ghi lại cảnh chơi đùa với con cái, có cảnh ông ta tập võ với con, cho thấy tình cảm cha con rất thắm thiết. Không ai ngờ rằng sau đó ông ta có thể nỡ lòng giết chết ba con của mình, những cái chết cực kỳ đau đớn. Trên 700 người vào tài khoản Facebook của Rowan để bày tỏ sự phẫn nộ, cho rằng hắn ta là một tên khốn khiếp, sẽ mục ruỗng trong hoả ngục. Hèn nhạt vì giết con mình do không đủ bản lĩnh của một người đàn ông để đối mặt với cuộc đời! Đúng là đồ khốn!”
***
Vậy mà Điều tra viên của Cảnh sát tiểu bang Queensland đang phụ trách điều tra vụ án mạng nầy lại chơi nhịp chỏi một cách tầm xàm bá láp khi trả lời phỏng vấn của mấy cái đài phát thanh lại tỏ ra thông cảm với Rowan Baxter. “Phải có nguyên do nào đó mới đưa hung thủ đến đường cùng ra tay giết hại vợ con mình?” Hậu quả thấy liền là dân Úc cực kỳ phẫn nộ hỏi ông cớm tào lao nầy: “Có phải ý ông là muốn đổ lỗi một phần là do những nạn nhận, những người đã chết một cách thảm khốc hay không?” Bà Katarina Carroll, Tổng giám đốc Cảnh sát tiểu bang Queensland phải vội vã nhào vô, mong làm dịu bớt cơn sôi sục của quần chúng đối với thuộc cấp của mình bằng cách tuyên bố: “Một người Mẹ và ba đứa con còn thơ dại lại bị chính chồng cũ của mình, cha của mấy đứa con, đã nỡ nhẫn tâm giết chết thì không thể nào thông cảm, biện minh dù chỉ một chút cho một tên thủ ác mất hẳn tính người nầy?” Thầy đội phải từ chức, de vô hậu trường cho người khác tới làm thay!
***
Dù đã quá trễ, Hannah và ba đứa con thơ là Aaliyah và Laianah và Trey đã chết. Nước Úc nầy mỗi tuần trung bình có một người phụ nữ phải bỏ mạng dưới tay người đã từng đầu ấp tay gối với mình. Không thể nào chấp nhận đó lại là chuyện bình thường; chúng ta phải hành động quyết liệt để loại bỏ cho tuyệt gốc cái nạn bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em. Chúng ta sống trong một đất nước tự do. Tự do nghĩa là tôn trọng sự tự do của người khác. Không thể nào dùng võ lực để buộc họ phải làm theo ý của mình. Bạo hành gia đình là vi phạm nhân quyền. Những hành động nhẫn tâm nầy không thể nào biện minh cho được!
Nghe nói đây này, bỏ cả cục vô họng, cấm nhai, nín thở cố nuốt cái ực, nhớ chưa? Nuốt ngang xương, nuốt khô khan, khó khăn như bóp họng bóp hầu. Thì trước mắt cứ nuốt cái đã rồi hậu tính, xong húp miếng canh coi thử có trôi đi, hết nấc cục.
Cục cơm nằm trong cuống họng y như con cóc nằm chẳng cục cựa trong miệng rắn, phồng mang trợn mắt. Mọi người bỏ đũa dừng nhai chú mục ngó, người ngồi gần đưa bàn tay tạo thành nắm đấm đập nhịp ba sau lưng nạn nhân. Xong, khoẻ re, thấy chưa, đâu có sao đâu. Gắp rau muống xào mà ăn cho xong bữa, chớ đụng đũa vô khúc cá chiên.
Hắn mới bị mắc xương cá, dù không ngán, thua keo này bày keo khác thì con cá chiên co rúm hình hài nọ đã bị năm miệng ăn kia rỉa cho sạch sành sanh. Đứa mút đầu đứa nhai cái đuôi, xương xóc trắng hếu còn sót nằm chỏng chơ mang vẻ đe doạ. Rau muống xanh đen y như những sợi ny-lông xoắn rối, nhai mỏi miệng không đứt đành vo viên theo cục cơm đã mở đường rớt xuống bao tử. Hú vía, bữa cơm trưa chằn ăn trăn quấn rồi cũng xong, chả cơm lành canh ngọt gì cả. Được ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch là đã may. Chỉ hai thôi mà trước sau đều chan lùa mặn muối với nước mắt.
Theo quy định của xí nghiệp, mỗi bàn có mười khẩu phần, bữa nay đếm ra chỉ sáu đầu người, bốn mạng kia thì đang nằm góc kẹt nào đó trong bệnh viện vì lý do ngộ độc thực phẩm. Nhân số còn lại mừng cho hắn, chỉ mắc xương thôi và đã nuốt chợt cuống họng thứ ám khí ấy xuống mà không cần chạy đôn chạy đáo vào nhà thương. Ăn như ăn cướp, ăn lia ăn lịa thế kia, nếu mày ăn thong dong nhai từ tốn thì đâu đến nỗi. Có đứa đưa ra lời bình. Tía nói sao a chớ, tía có ngon thử ngồi ăn chung với tụi này xem. Công nhân viên nhà nước mà tía, khoan thai có mà đói cho rã họng! Ngoài việc tranh nhau thò gắp, ăn vội vàng tựa như bị ma rượt có thêm lợi điểm là cố tống khứ thứ thực phẩm có vẻ dành cho heo. Ngon lành gì hở tía? Thiệt trần ai khoai củ!
Xí nghiệp chia ba ca, khác biệt giờ ăn giờ mần. Ca đứng máy dệt của hắn tan tầm lúc 5 giờ chiều. Trước cổng xí nghiệp có cái chợ lưu động, hắn ghé gian hàng bán trái cây. Chị Bảy đang rảnh tay, chả thèm cầm quạt mo xua đuổi bọn xâm lược ruồi bu kiến đậu. Ậy, sao mặt mày xanh mét vậy Chín? Dạo này quên cái vụ mắc chịu đi nghen, lôi thôi rắc rối lắm. Hắn lựa được hai trái cam, nặng tay, có vẻ nhiều nước. Nè, có nho Mỹ mới về, ngọt lắm nghe mậy. Nghe nho Mỹ, hắn nói ô-kê. Không cho ghi sổ thì chị đừng hét giá bà chạy, nhân công thôi mà, tiền đâu bồi dưỡng hàng chất lượng! Trời, cớ sao mày đâm nghi kỵ con Bảy này. Tụi mình còn qua lại dài dài mà Chín, chém đứa lạ chớ ai nỡ cứa cổ mày! Hắn trả tiền sòng phẳng, cầm túi ny-lông: Chà, nói nghe thương! Chị Bảy đá lông nheo. Bả lên chức bà nội bà ngoại rồi mà điệu ve kêu. Có lắm anh công nhân viên vô ra những muốn phải lòng quàng xiên như bị trúng gió.
Chạy xe lòn lách một thôi thì ngó ra cổng bệnh viện. Gần 6 giờ mà nắng ở đây vẫn hung hãn quét vằn vện lên tường vôi ngó đau con mắt. Cam và nho, thấy hơi lỏng lẻo Chín mua thêm chai nước trà sâm ướp lạnh sau khi gửi xe. Hắn vòng vo trong hành lang nhiều tiếng khóc than quặn thắt một đỗi thì ngó ra Nhài. Giấy chứng minh nhân dân ghi rõ tên họ: Trần Thị Lài, vậy mà đầu quân vào xí nghiệp sản xuất hàng may mặc tất thảy từ nhớn tới bé đều thống nhất kêu gọi: cái Nhài hoặc bé Nhài hoặc em Nhài hoặc con Nhài. Chính đương sự Lài cũng cười phá ra: Kệ mẹ nó đi mà, chỉ mình bồ gọi đích danh là Lài thì cũng yên tâm, chẳng sợ mai một biến tướng.
Lài mặc quần xa tanh đen, nằm úp mặt vô vách, co cả hai chân nên Chín thấy một đoạn da trần trắng như trứng gà bóc. Tóc rối bung trên gối và tấm chiếu lát hàng nội địa lắm chỗ phai màu. Sao rồi, nghe êm chưa? Chín nói khi ngồi xuống giường con bệnh. Lài trở mình, mặt xanh, mắt quầng, môi khô: Hổng chừng chạng vạng họ đuổi cổ mình về dù chưa nghe êm. Cái bụng nó thốn đau kiểu lạ lắm nghen. Hắn ngó xuống thấy cái lỗ rốn ẩn nấp trên lưng quần luồn sợi dây thun chặt chịa có vẻ như theo đúng chủ trương thắt lưng buộc bụng. Mang Lài đi súc ruột e y tá bệnh viện cũng toát mồ hôi trong công đoạn lột truồng. Lài từng nghịch hắn: Quần chống hiếp dâm đó tía.
Chín bày quà chi viện bồi dưỡng ra: Ăn mấy thứ này vào cho mau lại sức. Lài cầm tay hắn vụng dại: Cả tập thể xà quần nọ chỉ có riêng bồ là đáng yêu, ưa thơm quá. Lài ngồi dậy, tưởng thơm bồ tèo hoá ra là vọc nho cam. Có nên rửa qua không đây, bị sợ ngâm tẩm hoá chất. Lài ngó quanh: Ngồi đây trông chừng giùm cái túi xách, để tui mang trái cây dội qua miếng nước tiện thể đi đái luôn, óc ách nãy giờ. Lài thò chân xuống dò xâu đôi dép cũ mòn, nếu giày dép còn tử tế thì bệnh nhân hẳn đã thu cất dưới gối. Lài đi, như kịch sĩ hài từ cánh gà bước ra sân khấu, bộ điệu một là chọc cười khán giả hai là dòm thấy thương. Đi như một sản phụ mới đẻ con còn đau rát ở cửa mình.
Chú là gì của cổ? Bà nằm giường gần bên ngóc đầu lên hỏi. Tui có con dao Thái Lan sắc bén lắm hồi nào cần cắt cam cứ nói với tui. Chừng tiếng trước có cái anh mặc đồ bảo vệ vào thăm cổ, hai người đút bom lê mận đào cho nhau xong thì anh dẫn xác vô. Tui nằm đây cả ngày trời chả có ma nào vào uỷ lạo, mồ tổ cái phường bạc tình! Chín quay mặt sang con bệnh láng giềng. Nồi nào úp vung nấy, cỡ bốn bó lẻ mấy que hệt bà thì phai nhạt hương tình ắt có lý do, chớ lấy đó làm điều. Nhưng một cái nồi mà có lắm nắp đậy thì ta phải nên ngó lại, tự vấn. Cám ơn chị đã trao cho thông tin, hắn nói, tui làm chung trong xí nghiệp với cổ. Bữa nào tui gặp tai nạn không biết cổ có vào thăm? Rồi cũng nằm ra một đống ngó đời hiu quạnh giống chị vậy. Chú nói sao khó nghe quá, gì mà nằm một đống. Ừ, thà mình ên như tui, tuy có chạnh lòng có tủi thân nhưng so ra, còn hơn rộn ràng quan hệ với bọn người chuyên bắt cá hai tay. Em hổng dám đâu!
Chị có cái ly nào không? Uống cùng tui chai nước trà sâm này cho khỏi đắng họng. Chín khui mở nắp nhựa rồi khom lưng rót đúng nửa chai vô cái ca nhựa bà ấy vừa lấy đi cái bàn chải đánh răng. Hề hề, cái này gọi là bôi trơn đây, tui sẽ làm nhân viên CIA cho chú, sẽ báo cáo cụ thể mọi diễn tiến. Nằm không cũng oải, ngó chùng ngó vụng cũng thú, tin tui đi. Thời bây giờ bạc ác lắm, có con mẹ rách như cái xơ mướp, vào chốn này rồi mà thằng bị cắm sừng còn mang hung khí tới sát giường tính màn chơi tiếp. Bả rên hừ hừ thấy thảm lắm kìa. Thằng giang hồ nọ trước khi bị bắt còn để lại câu nói xanh dờn: Biết vậy ông tạt vào người mày một ca a-xít thì êm đẹp hơn!
Người đàn bà uống sạch ca nước trà sâm ướp lạnh, liếm môi ngó về hướng tới nhà vệ sinh. Ủa, đi đái thôi mà, sao lâu trở ra quá hén! Chú thử rảo một vòng xem có xảy ra sự cố gì không? Chín nhìn cái túi xách Lài đặt bên gối, tần ngần do dự rồi sau cùng ôm lấy nó mà rời khỏi giường. Phòng vệ sinh đâu quá tải chuyện giải thuỷ mà chịu cảnh sắp hàng chầu chực, có hai kẻ đứng tựa người vào tường nhưng họ chủ yếu đang làm sướng mồm chứ chẳng thiết tha chuyện ỉa đái. Lài và một anh y tá mãi huyên thuyên, không biết có phải đang bức xúc bày tỏ thái độ về việc cá đang bơi chuyển sang từ trần? Tay anh y tá đang cầm chùm nho và chí ít ảnh đã xơi hơn chục hột. Hổng rõ Lài đang bôi trơn chuyện gì? Chín nghe chàng mặc áo choàng trắng lên giọng sốt sắng: Không ấy để anh đề đạt với bác sĩ, tối nay anh chuyển em sang nằm phòng kín đáo hơn. Em tắm rửa cho sạch, thay cái áo thông thoáng của bệnh viện và nhớ không được mặc nội y để dễ cho việc làm nội soi. Bác sĩ bảo chỉ lưu tâm tới riêng trường hợp của em thôi đó. Đã sướng chưa? Vậy nhé, tối nay mình gặp lại.
Sao lại đứng lấp ló ở đây? Biểu ngồi đẳng chờ, nói mà hổng khi nào chịu nghe. Đưa cái xách đây, có buồn tay lục soạn không đó tía? Đồ của đàn bà con gái không à, chớ có mó tay tò mò. À mà này, bồ có thủ sẵn cái áo mưa trong túi quần không, cho tui mượn đi. Chín nói, ừa mình kéo nhau vào trỏng, chốt cửa lại làm đại một phát đâu có chết thằng tây nào mà sợ. Đã đến lúc Lài biểu tỏ “thấy thương muốn thơm” tui rồi đó, đúng hôn? Chít mịa, bị ngộ độc đầu óc hả, đồ khùng gì đâu á. Tui đang bỏ công sức đi giao lưu tình cảm với người ta, người ta hứa chăm sóc tui rốt ráo, người ta viết giấy chứng thương hậu hỉ cho tui, người ta khuyên nằm lán lại chớ về cày bừa trong xí nghiệp dễ gây tổn hại… Có thương tui thì bồ về đi, đừng đứng loạng quạng ra đó làm cản trở lưu thông. Về nghỉ cho khoẻ lấy sức mà cày bừa tiếp, không cày cơm đâu mà ăn? Má tui dạy, cơm thương chớ hổng có ai thương đâu. Thấy mặt Chín buồn xo, nghĩ cũng chạnh lòng nên Lài nhón chân thơm vào bên má Chín kêu cái chút. Chắc Lài có xơi nho, môi thơm ngọt rít rát. Bệnh viện chộn rộn lắm người nên tui hôn ở má, chốn phòng the cô quạnh yên hàn thì tui sẽ thơm cùng khắp. Nhớ chưa, nhín đợi năm bữa nửa tháng cho cơ thể thấy sung rồi lúc đó có đòi nợ cũng chưa muộn. Về đi, nói biết nghe thì thương hơn.
Chín bước ra khỏi cánh cửa kính ngăn chia hai cảnh giới khác biệt, bên bầm dập bên dưỡng thương, bên đâm chém bên xức thuốc. Đó chỉ là cái hiểu đơn giản trong đời thường chứ thực chất có lúc tuy hai mà một. Xã hội bên ngoài cũng có kẻ hào hiệp đứng ra xức thuốc cho mình và bệnh viện ấy cũng chẳng thiếu đứa giỏi sử dụng đao gươm, lương y như dì ghẻ, chuyện ấy nào lạ gì, thấy chết không cứu, việc ấy không riêng tiểu thuyết giả tưởng mới thủ đắc.
Chín đứng moi thuốc ra thắp lửa, thở khói vào bóng chiều đang lần đi dần vào màn đêm. Một mụ đàn bà hiện ra sau thân cây to bước lại gần. Mụ nói nhỏ, giọng trọ trẹ khó nghe: Anh muốn sở hữu mười triệu đồng không? Trong xách tôi có chiếc áo choàng trắng của bệnh viện, mặc nó xong anh đi theo lộ trình trong bản đồ tôi vẽ, vào tới cái giường có đánh dấu sẵn rồi bồng ẵm đứa bé nằm đó trở ra. Sau đó người của chúng tôi sẽ lo liệu hết. Chúng tôi đã quan sát, mức độ an toàn lên tới 75 phần trăm. Theo chúng tôi nhận định, anh nào khác gì một y tá, thú thật là ngay cả bác sĩ có khối thằng xấu trai hơn anh.
Chín rít khói, ruột cồn cào. Hắn hỏi, ngay bây giờ? Người đàn bà có đeo khẩu trang nói, tuỳ anh, nhưng càng khuya thì dễ gặp khó khăn hơn. Đi mua cho tôi một chai bia có được không? Chuyện nhỏ. Điều đó có nghĩa là anh đã thoả thuận. Mười triệu? À há, anh nhận trước một nửa, nửa kia sẽ trao khi chúng tôi bồng đứa bé lên xe. Không thành vấn đề, Chín nói, một chai bia lạnh và một con dao nhọn. Người đàn bà gật đầu, không vội vàng, đi thong dong băng qua mặt lộ để bước vào tiệm tạp hoá sáng đèn. Chín không rảnh trí về chuyện sẽ làm gì khi có được mười triệu, đầu óc hắn lợn cợn một điều, giả như vô phúc gặp mặt Lài, có thể Lài là người hứng chịu mũi dao nhọn đâm thủng trái tim bạc tình. Thương cho dao cho kiếm ghét cho nho cho cam. Ghét em hồi đầu rồi thương em hồi sau là vậy. Mười triệu, bán luôn chiếc xe máy, chêm tiền cứng người rồi đi giang hồ một chuyến đoạn lìa quá khứ đau thương.
Người đàn bà đang băng qua đường, đi mà không ngán xe đâm ngang xẻ dọc, đi như vào chốn không người. Lon bia và con dao nằm trong túi ny-lông, phía trên là con mắt biết cười ngó vào mặt Chín.
Vua Tự Đức dụng bút: “Tứ thời giai hữu hạ, nhất vũ tiện thành đông”.
Minh quân, cai quản đế đô, ăn dầm ở dề nên hiểu thấu diện mạo nó, ngôn một câu thơ thậm ấn tượng về “tính tình” Huế: Bốn mùa thảy đều hè, chỉ mưa một trộ là biến thành mùa đông.
Vua có nói quá không? Mùa đông hình thành bởi vạn cơn mưa, chí ít. Mưa một trận, chỉ một mà thôi? Vậy thì mưa nọ hẳn rơi triền miên, dầm dề, lê thê, giọt ngắn giọt dài chẳng đứt đoạn ròng rã ngày này qua tuần nọ, hết tuần lại đến tháng. Ướt át sang giêng, hai.
Người xứ Thần kinh, do chịu ơn mưa móc kiểu đó nên lòng dạ úng thuỷ đôi phần, phên dậu ẩm thấp hứng tạt vào nơi sâu khuất chút thâm trầm, hơi bị chảnh. Một ông người Pháp mang tên Jean Hougron viết trong cuốn sách “Soleil au ventre”: Các cô gái Huế kiêu sa, làm ra vẻ khinh khỉnh, bởi chăng họ là đám hậu sinh của các phi tần không bao giờ quên rằng một giọt máu thiên tử đang trôi chảy trong huyết quản mình.
Tên vua chúa được mang ra đặt cho những ngôi trường. Trường Khải Định, trường Hàm Nghi, trường Đồng Khánh… Ngoài mưa, nón lá và áo dài điểm xuyết vào, tạo ra và bao phủ lấy một địa chỉ độc tôn. Nhắc tới Huế mà quên đi cái vườn hoa đầy kỳ hoa dị thảo mang tên nữ trung học Đồng Khánh là một thiếu sót khó thứ tha. “Đồng Khánh gánh cứt trâu” phát ra từ cửa miệng của mấy “trò” nam bên Quốc Học khi đã hơn một lần bị mấy o Đồng Khánh dòm bằng nửa con mắt. Đôi khi cũng chả thèm nhìn để ngó ra mặt ngang mặt dọc của cái đuôi đeo bám nọ. Ốt dột một phần, phần khác do bởi cái vùng đất mọc lên ngọn núi Ngự Bình trước tròn sau méo kia. Nết na thuỳ mị, đoan trang hiền thục, lễ nghĩa gia giáo, công dung ngôn hạnh… có cả vạn điều can dự làm bóp méo, làm rào cản bưng bít một tấm lòng ưa thổ lộ buồn vui cùng tha nhân. Không đánh đổ thành kiến được, bước theo lối mòn của nề nếp để rồi than thở trong cuốn lưu bút: Mình đã hai mươi mùa lá đổ, nhưng chưa một lần nắm cổ tay ai! Mình ăn mặn nói ngay chứ không là hạng ăn chay nói láo. Mình trinh trắng từ ngoài vô trong tuyệt chưa một lần rớm máu.
Chỉ Nhược học trường Đồng Khánh. Đạp xe đi học mất khoảng hai chục phút có khi nửa tiếng vì nhà nằm không mấy xa, ở đường Giao Thuỷ. Tên nghe ướt át và vô tình con đường trở nên nổi tiếng, một địa chỉ hoa. Dài khoảng 150 mét nhưng Giao Thuỷ đã cho Huế biết bao bông hoa nức lòng: Cao thị Phố Châu, Hà thị Như Nguyện, Minh Nguyệt, Lưu thị Kim Đính, Ngọc Hà…
Dĩ nhiên Chỉ Nhược luôn được điểm danh, chen vai cùng chị em “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” kia. Nhược khác họ, thích xông xáo ra khỏi khuôn viên kín cổng cao tường, thích phô bày cái sản phẩm mà tạo hoá biệt đãi nặn trao. Nhược yêu thích bơi lội. Hè về, Hương giang là người tình thuỷ chung cho Nhược đắm thân vào vùng vẫy. Mười sáu tuổi, nẩy nở sớm hơn hạn kỳ, Nhược đã sở hữu một hình thể vẹn toàn đúng với những số đo chuẩn mực. Và rất đỗi bình thường, Nhược cũng rơi vào tầm ngắm của biết bao người con trai, những đứa chỉ vì ngộ ra một vẻ đẹp thoáng qua đầu đường mà có thể biến đổi hắn ta thành kẻ bán trời không văn tự. Hắn khoe sự đột biến vừa xảy ra, tỉ như: Nước mắm chanh dành ăn bánh hỏi, tui thương Nhược dịu dàng theo dõi bao niên. Những kẻ ấy ngồi cà phê Lạc Sơn sát chợ Đông Ba không ngớt tán dương vẻ sexy mà Nhược chẳng ngại ngần thu dấu. Họ sẵn lòng cạo sửa câu nói của Voltaire: Ý tưởng cũng giống như lông tóc vậy. Con gái không có nó cho tới khi họ trưởng thành.
Nhược trưởng thành. Như hầu hết các cô gái Huế, Nhược tự đóng cho mình một cuốn vở bằng giấy pelure xanh để chép tay bao bài thơ gây rung động của Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử… Nhược sưu tập những hình ảnh các diễn viên điện ảnh tuyệt sắc như Ava Gardner, Audrey Hepburn, Elizabeth Taylor, Grace Kelly, Romy Schneider, Marilyn Monroe, Gina Lollobrigida, Sophia Loren, Brigitte Bardot, Claudia Cardinale… Những đêm đi dưới lòng đường Lê Lợi sum vầy bóng lá cào xướt vào bóng tối rung động, dưới kia là Vỹ Dạ dâng đầy sương, Nhược đã đọc thầm câu thơ của Baudelaire: Entends, ma chère. Entends la douce nuit qui marche. Lắng lòng em yêu, lắng nghe đêm dịu dàng bước đi. Đó là giai đoạn Nhược rối trí trước những bày tỏ tình cảm của đôi ba kẻ khác phái. Phân vân giữa sự giằng xé: Tình yêu sẽ thăng hoa khi đi kèm với xác thịt hay giữ thân cho nhau để ngợi ca một cuộc tình trong sáng thánh thiện? Nhược biết, điều không thể chối cãi, chính cái vóc vạc ngồn ngộn sức sống của mình luôn có sức quyến dụ, và họ hăm hở lao vào chỉ với một mục đích, khám phá, lột truồng, cưỡng hãm, chiếm đoạt. Nhược nhớ một lời khuyên: How others see you, is not important. How you see yourself means everything. E hèm, thú thật tôi ưa làm con thiêu thân lao vào thử lửa và đằng khác, tôi lại sợ tiếng thị phi. Thành phố này nhỏ và dân cư sẵn lòng có ít xít ra cho nhiều, họ thiện nguyện vẽ rắn thêm chân. Tôi sẽ chết chìm dưới biển dư luận bạc ác mà không một kẻ chau mày cảm xót. Bọn con gái trời bắt xấu nghe tin sẽ hả hê, sẽ cả tin vào lẽ thường của đời bày biện: Mất cái này được cái khác, tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
Mỗi bận hoang mang không biết nhờ ai gỡ rối tơ lòng Nhược thường mặc áo tắm hai mảnh phóng thân xuống nước. Nhược bơi, bơi mãi miết. Sự bình an sẽ đến trong tâm trí, gạn đục khơi trong. Mặt khác sóng nước vỗ về ôm kín thân Nhược, vuốt ve đến rợn cảm từng phân da. Hưng phấn như khi dùng những ngón tay tự khám phá lấy ngóc nghách chìm ẩn vào thân thể mình. Thuật ngữ gọi là thủ dâm. Nhược ghét chữ đó nhưng rối trí chẳng tìm ra chữ điền thế. Quạnh vắng, mênh mông, chỉ có nước, chỉ có mây bay, trời yên bể lặng và có thể, chỉ một mình hà bá mới thấy bàn tay nàng tiên cá giúp Nhược tìm ra khoái cảm, xối xả, dâng trào. Sông Hương sẽ thơm hơn nếu như tất cả các nữ sinh trong thành phố đồng loạt xuống ngâm thân giao hoan cùng thuỷ thần tựa Nhược. Nước trong người họ rỉ ra, kể cả nước tiểu sẽ làm cho con sông không bao giờ cạn, thêm sâu thẳm mông lung. Con sông mà khi đứng núi cao nhìn về Nguyễn Trãi đã nhận xét: Nó nằm đó, tựa một thanh kiếm báu ngời sáng. Và hậu thế, ai đó nói: Vẻ đẹp nó mang, giống như lưỡi gươm đâm sâu vào lồng ngực, vào tâm hồn kẻ thưởng ngoạn. Rồi Nguyễn Du: Hương giang nhất phiến nguyệt, kim cổ hứa đa tình.
Đầu tiên là vòng số một, kế đến là vòng số ba. Rồi đôi chân dài, rắn rỏi, mạnh khoẻ của em… Trong lúc này, nói năng là chuyện vô bổ, điều anh cần làm là hãy chứng minh anh yêu tôi tới mức độ nào. Nhược nói, tự mình cởi bỏ y phục. Giao cho đàn ông? Những thằng ấy thảy đều vụng dại, lóng cóng tựa trẻ con. Hoặc chúng nôn nóng khiến áo quần mình toe tua trong chóng vánh. Chỉ một cái móc nằm đằng sau nịt vú, mất nửa giờ chúng chẳng tài nào gỡ xong với đôi tay run. Dầu sôi lửa bỏng, nước tới chân rồi mà không biết cách nhảy, đành phải dẹp bỏ chướng ngại cho chúng nhờ, cho khỏi lôi thôi rách việc.
Nhược đã rời Huế, xuôi Nam theo cách định nghĩa của gia đình: Lớn rồi, đủ lông đủ cánh rồi, phải bay xa mưu sinh lập nghiệp cho thoả dạ. Điều này đồng nghĩa với động thái Nhược tự cởi bỏ cái vòng kim cô vô hình mãi chụp vào đầu. Xa Huế là quay lưng với những điều lệ nội quy y như mười điều răn gắn ngay cổng tu viện luôn chùi sạch bụi. Xa Huế là điếc đặc thính giác chẳng còn vang vọng tiếng chuông chùa Thiên Mụ gợi nhắc một giữ mình. Hừ, kinh kệ ích gì cho buổi ấy!
Nhược nằm ngửa ra đón đợi cơn chấn động sẽ đi sâu vào người. Bước chân vào vườn địa đàng, người ta không thể bỏ quên trái táo mọng đỏ nằm gần tay với. Hãy bức hái, hãy khiến cây cành rung động, hãy cắn nhai và nhâm nhi cái vị ngọt, hay chát đắng? Nước mắt tự nhiên ứa ra. Khóc vì ý thức mình mất trinh, và lệ đổ do bởi sự thống khoái sớm từ giã. Hạnh phúc chẳng hề là cái gì ghê gớm đến độ ta phải hát khúc hoan ca, nó mong manh vội tàn úa chỉ trong một sát na. Sát na sau là cả một sự bẻ bàng đầy hối tiếc. Như nỗi thất vọng của kẻ đầu đời tự sắm cho mình viên kim cương, phút giây sau nhìn nhận đó là hột xoàn giả. Bàng hoàng.
Không. Phim ảnh cũng như tiểu thuyết có lối diễn giải khác thế. Cái thơ mộng tiềm ẩn dẫn đến sự trao thân để sau đó người ta đón nhận sự vỡ bờ của ngàn cảm xúc khiến sướng rêm người. Buộc người ta phải kêu gào trong bải hoải. Nhược thất vọng, có lẽ đối tượng không phải là đứa nắm vững nghệ thuật gối chăn? Hắn lanh lợi ở mặt tán tỉnh chìu lòn nhưng hắn khù khờ dốt đặc cán mai trong việc cõng Nhược dìu qua bên kia bờ khổ nạn. Hắn khóc ngoài biên ải và Nhược tấm tức về cơn mưa chưa giải nhiệt vùng đất khô hạn.
Ngạn ngữ Nga có nói: Nếu bạn săn đuổi hai con thỏ, bạn không tài nào bắt được một con. Nhược chẳng săn đuổi, thỏ tự nguyện đến chầu chực vây quanh và Nhược toàn quyền gạt bỏ những anh chàng playboy dở hơi. Cắt bớt râu ria tua tủa cho lành. Nhược hứa sẽ thôi phiêu lưu hồi nào tìm được một người hướng đạo mang Nhược lên tận đỉnh vu sơn. Trác táng, tạm gọi thế, làm Nhược chóng già tựa một cánh hồng cắm trong bình cạn nước. Khi phát hiện cái manh nha của sự úa tàn tìm tới, Nhược thường thừ người nhớ vu vơ về quãng đời êm đẹp cũ. Nhớ có đêm tá túc nhà người anh cô bạn, Nhược đã tỉnh queo nằm giữa hai người đàn ông trên chiếc giường hẹp bé, Nhược thích thú khi tự mình cá cược, ai là kẻ động thủ trước, tả hay hữu? Họ sẽ thức trắng đêm, thúc thủ với những giấc mơ xằng bậy luôn diễu hành trong rối trí. Họ sẽ thầm đọc câu chú: Ngồi trên giếng mà khát nước. Và một sớm mai nào họ sẽ lập nên một bản án nhằm áp đặc vào thân Nhược: Ác phụ!
Những kỷ niệm thường không mấy đẹp, khi xấu nó sẽ là một vết thương lòng. Nhược đã hai lần phá thai, hai bận hát khúc đoạn trường. Nhược trách mình muôn đời không làm chủ được bản thân. Nếu sáng suốt và cứng rắn thì lần thử nghiệm bằng lý trí kia lại bị đối tượng lọc lừa. Thua cuộc, cháy túi. Đời biến Nhược thành một kẻ vô sản. Không tiền của, không chức vị, không gia đình, không luôn một người hiểu mình. Cô đơn gieo cho Nhược cái ý tưởng, hãy chìm quên, đắm mình vào kinh kệ an tâm dưỡng tánh. Năm tháng trôi chênh vênh, trước khi đóng cửa diện bích, có người run rủi tình cờ phát hiện ra Nhược. Cô ta khai tên Trinh, chị còn nhớ em không? Nhược tần ngần, gạn đục khơi trong để mong hiện ra một hình bóng nằm lắng đọng dưới bao hư ảo của bộ nhớ 60 GB. Trinh người Huế, em gái một người bạn trai. Khi Nhược đến thăm anh ta, ngày đó Trinh còn bé xíu, không nhớ là chuyện dễ hiểu.
Hai thế hệ già trẻ dắt nhau vào quán nước tha phương tâm sự. Xa nửa vòng trái đất nhưng qua chuyện trò của họ, tưởng chừng như Huế đang nằm ngoài sân, xô cánh cửa là dẫm phải đất đá trầm mặc, là rêu phong thành quách, là gió Lào bỏng rát thiêu đốt nung lửa, là lụt lội sông Hương lên bờ cá lội đầy mương. Địa hình khắc nghiệt đói kém ảnh hưởng tới tính tình người ngợm. Răng ri rứa một lát lại đến ui tội chưa tề chi mà đoản hậu dễ sợ. Làm đày làm láo một lúc lại thành tâm chuyện vãn riêng mục bí ẩn chị em ta. Nhược nói, đời chị sưu tập được tá chuyện tình. Trinh nheo con mắt lá răm. Chỉ một tá, mười hai thôi? Láo chết, rứa cũng đủ tổn thọ rồi em nợ. Sướng sung chi mà phải phách tấu. Còn em? Noái chị đừng cười, nhiều quá, tới độ em chưa tỉnh trí để kiểm điểm làm phép toán cọng cho được minh bạch. Nhược quan sát Trinh, quả là tuổi trẻ tài cao, đúng là sóng sau dồn sóng trước. Hỏi thăm một vài nhân vật, hoá ra những kẻ kia từng ăn nằm qua với Trinh, bất luận tuổi tác chênh lệch dễ khiến người bình thường phải ái ngại e dè khi ráp lại. Lạ lùng chi những cái mặt mâm nớ chị. Ui chào, chơi kiểu chi ba de rứa em, chơi nỏ sợ cha già mẹ yếu.
Lạ. Tên con người có vận vào mình, vào số phận họ mang không? Có đấy. Nguyễn Khoa Nam, Lê Minh Đảo, Ngô Quang Trưởng… Xướng tên là thấy ngay ra một vị võ tướng tài ba lỗi lạc. tên họ đó tuyệt không thể áp đặt vào một vị quan văn chân yếu tay mềm. Nhưng Trinh, nói bó lỗi, mợ này thuộc loại ưa đi làm cách mạng để lật đổ sự dị đoan. Phải vin nhờ vô ca dao để minh hoạ thân phận Trinh mang:
Chữ trinh đáng giá ngàn vàng từ anh chồng cũ đến chàng là năm còn như yêu vụng nhớ thầm họp chợ trên bụng hàng trăm sá gì!
Chuyện trò nóng sốt đâu hai canh giờ là bắt đầu nguội lạnh. Nhược đang tập quên, đang muốn quay đầu vào bờ mà ngồi gần ma nữ này thì thị vẽ ra bao là sóng dữ tai ương khó bề tìm nhặt chút thanh tịnh. Chị hết xí quách rồi em nợ. Vóc vạc em còn năng mược sức mà trửng giỡn. Chị có cho em một lời khuyên thành tâm thiện ý? Chị mô có tư cách để bảo ban ai. Hay là thế này, em thử ngả chữ ra giấy viết hồi ký thật trung thực, có sao nói vậy người ơi, bảo đảm khi in thành sách nó mà không đắt như tôm tươi thì em chặt đầu chị đi. Bạch hoá chuyện thầm kín chăn gối thì có khối thằng lo sốt vó chị hí. Ừ, hãy cho bọn đó biết chút lễ độ khi vày vò trong tay một cành hoa. Ông Mai Thảo nói “Đời tôi sử chép cả ngàn trang” thì cuốn hồi ký của Trinh e phải lên tới hai ngàn, chí ít. Cầm mỏi tay đọc mờ con mắt.
Họ chia tay trong thứ viễn ảnh sẽ gây sốt dư luận. Họ cả tin, họ sẽ trả thù cuộc đời bội bạc này bằng chữ viết, hoặc không thì tôi nói lần cuối, cạn tàu ráo máng cho lòng dạ nguôi ngoai, vay thiên trả địa sòng phẳng. Họ sẽ thêm một lần nữa thoát y, bày cho bá tánh soi mói chiêm nghiệm về cụm chữ hồng nhan đa truân.
Trinh nói, em đọc truyện của Kim Dung, ông ấy cho một nhân vật nữ mang tên y như chị rứa. Chu Chỉ Nhược, qua bao đổ vỡ đắng cay trong tình trường, cuối cùng hấp thụ võ học cái thế và được đề cử làm chưởng môn nhân phái Nga Mi. Đạo sĩ thúi phái Võ Đang lắm thằng tẩu hoả nhập ma.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.