Đất lành

Pearl S. Buck

Dịch giả: Hoàng Quân

Post by Sơn râu 25 Dec 2023

Chương 11

Cái chết của O-Lan

O-Lan vốn không phải là một phụ nữ lớn tuổi, cơ thể cô khỏe mạnh, vậy mà cô phải nằm liệt giường trong nhiều tháng. Cô ăn uống rất ít, thân hình trở nên gầy gò và xạm lại như một chiếc lá mùa thu, nhưng bụng lại sưng phồng lên.

Nhà buôn cho con gái của ông ta tới nhà Wang Lung. Con bé đã mười bảy tuổi và rất tốt bụng, nó chăm sóc cho O-Lan hết sức chu đáo.

Khi O-Lan thấy con bé, cô liền nói với Wang Lung: “Có một việc em muốn được thực hiện trước khi em chết. Em muốn được nhìn thấy lễ cưới của thằng con cả của chúng ta với con bé này”.

“Đừng nói đến cái chết như thế”, Wang Lung thốt lên. Nhưng anh vẫn cho người đưa tin tới thành phố miền bắc. Anh nhắn Nung En phải trở về nhà gấp.

Và cậu con trai cả đã sớm có mặt ở nhà. Wang Lung hài lòng khi thấy con anh giờ đây là một thanh niên tốt và anh quên đi sự lo lắng mà thằng con đã từng mang đến cho anh lúc trước.

Chàng trai đến bên giường mẹ và an ủi: “Trông mẹ khá hơn là bố đã nói với con. Chắc chắn mẹ sẽ khỏe thôi mà”.

Nhưng O-Lan đáp: “Mẹ sẽ chứng kiến con làm đám cưới rồi mẹ sẽ chết”.

Wang Lung liền sắp xếp việc đám cưới ngay vào ngày hôm sau và mời nhiều khách đến dự, đồ ăn thì mua trong thị trấn. Bữa tiệc rất lớn và tràn đầy hạnh phúc. Ngay cả ông cụ, cha của Wang Lung, đã quá già nên lẩm cẩm, cũng la lớn: “Một đám cưới! Mà đám cưới thì có nghĩa là con cháu sẽ đầy nhà!”

Cô dâu cùng với chú rể đến chỗ O-Lan. Hai đứa ngồi bên giường mẹ và O-Lan ngắm nhìn họ ăn cơm cưới, uống rượu cưới. “Con trai và con gái của mẹ”, cô nói, “nhớ chăm sóc cha và ông nội các con nhé, và cả đứa con gái ngu ngốc tội nghiệp của mẹ nữa”.

Khi tiệc cưới đã tàn, O-Lan thiếp đi một lúc. Wang Lung ngồi bên giường vợ trong lúc vợ anh lúc ngủ lúc thức.

“Tôi tuy xấu xí, nhưng tôi đã sinh con trai cho ông”, O-Lan thều thào nói với Wang Lung. “Tôi là một nô tì, nhưng tôi lại có con trai trong nhà của tôi”.

Cuối cùng, O-Lan nhìn Wang Lung chăm chú như thể cô không nhận ra được anh, rồi đầu cô ngả ra sau và cô qua đời.

Wang Lung sắp xếp tất cả mọi thứ cho đám tang của O-Lan. Cả gia đình đều có mặt lúc đặt xác O-Lan vào trong quan tài.

Người cha già nua của Wang Lung nhìn thấy O-Lan bị đưa vào trong quan tài mà khóc rống lên. Sau đó ông cụ trở về giường, nằm xuống rồi qua đời luôn. Thế là nhà Wang Lung cùng lúc có tới hai cái đám tang.

Mọi người đều mặc quần áo màu trắng vì màu trắng tượng trưng cho sự chết chóc. Họ đưa hai cỗ quan tài lên ngọn đồi trong mảnh đất của Wang Lung và chôn cất cả hai ở đó. Có rất nhiều tiếng khóc và nước mắt. Mặc dù xảy ra nhiều điều không may như thế, nhưng cô con gái ngốc nghếch không hiểu được gì cả, cô vẫn luôn cười toe toét.

° ° °

Nhà Wang Lung giờ đây không còn tồn tại cái cảnh hai gia đình trong một nhà nữa, nhưng ngày càng đông người. Bây giờ có con trai lớn của ông và vợ của anh ta, vợ chồng người chú của Wang Lung, rồi những gia nhân và tá điền. Lại đến lúc đứa con trai thứ Nung Wen cưới vợ và sẽ tăng thêm số người trong nhà. Ông sẽ sắp xếp họ ở đâu cho đủ bây giờ?

Wang Lung vừa đi vừa suy nghĩ trong lúc vào thị trấn và tới ngôi nhà bỏ hoang mà trước đây vốn là của đại gia đình họ Hwang. Cánh cổng làm bằng gỗ và sắt có hai con sư tử đá đứng gác đằng trước giờ đây mở toang. Ở sân ngoài, một đám người nghèo dựng lên những túp lều bằng chiếu.

Wang Lung bây giờ là một chủ đất giàu có. Ông không còn là một nông dân nghèo nữa. Ông có đất, ông có vàng bạc. Ông nhìn những người trong sân mà cảm thấy họ dơ dáy và hôi hám.

Cửa vào sân trong bị đóng. Một bà già sống trong nhà người giữ cổng và Wang Lung nhận ra bà ta. Bà ta vốn là vợ của người giữ cổng năm xưa, người đã từng đưa Wang Lung đi gặp lão phu nhân.

“Dậy đi bà ơi, cho tôi xem sân trong nào”, Wang Lung lên tiếng.

“Tôi chỉ cho những người nào muốn mua hoặc thuê chúng xem thôi”, bà ta nói. Wang Lung liền nghĩ: “Mình là chủ tất cả đất nhà họ Hwang. Tại sao mình lại không nên có ngôi nhà tương xứng như thế này nhỉ?”

“Cho tôi xem sân trong nào”, Wang Lung yêu cầu. “Vì tôi sẽ lấy ngôi nhà này đấy”.

° ° °

Giờ đây, vào những ngày này, khi Wang Lung quyết định việc gì, ông đều mong muốn nó được thực hiện nhanh chóng. Ông sẽ trở nên giận dữ nếu mọi thứ trễ nải. Ông thu xếp việc thuê nhà họ Hwang và chỉ mong gia đình mình chuyển đến đó ngay lập tức.

Nhưng ông ở lại căn nhà cũ của mình sau khi những người khác trong gia đình đã chuyển sang nhà họ Hwang. Chỉ có Ching, người quản gia già và cô con gái ngu ngốc ở lại với ông.

Wang Lung luôn luôn giữ cô con gái lớn bên mình và tự ông đút cơm, tắm rửa cho cô. Những người khác trong gia đình chẳng bao giờ làm việc gì cho cô ta cả. Cô con dâu cả nói: “Kẻ ngu ngốc như thế không nên cho ở chung”.

Cuối cùng, Wang Lung quyết định tới chỗ nhà họ Hwang. Ớ đó, ông sống trong khu riêng với cô con gái ngu ngốc của ông. Cô ta suốt ngày chỉ ngồi dưới ánh mặt trời.

Cho đến lúc sự yên bình trong nhà bị phá vỡ. Người em họ của Wang Lung và con trai cả của ông lúc nào cũng cãi vã nhau, vợ chồng lão chú thì đòi thêm phòng, thức ăn, và thêm cả người hầu nữa. Wang Lung không biết phải làm gì đối với tất cả bọn họ.

Một hôm, ông đến hiệu bán thuốc lá vì dạo này ông thích hút thuốc bằng tẩu vào buổi tối. Trong lúc người bán đi lấy thuốc, ông ngửi thấy một mùi thơm bay ra từ phía sau cửa hiệu. Mùi thơm khiến ông nghĩ đến lão phu nhân nhà họ Hwang.

“Ông có thuốc phiện tốt chứ?” Wang Lung hỏi.

“Ngày nay bán thuốc phiện là bất hợp pháp đó”, người bán thuốc trả lời. “Nhưng nó được bán trong căn phòng đằng sau cửa hiệu ấy. Một đồng bạc một phân”.

“Tôi sẽ mua sáu phân”, Wang Lung nói.

Tối hôm đó ông đến thăm người chú và hút thuốc bằng tẩu với lão ta. Rồi ông nói: “Tôi tìm thấy cái này trong mấy thứ đồ của cha tôi đấy”. Ông đưa thuốc phiện cho người chú và nói tiếp: “Tôi mua nó lúc cha tôi không ngủ được. Chú có muốn hút không?”

Mắt lão chú sáng lên: “Ta đã từng hút nó, nhưng thuốc phiện đắt quá nên không hút thường xuyên được”.

“Sẽ có nữa mà”, Wang Lung nói. “Có lẽ vợ chú cũng thích hút một chút chứ?”.

Từ ngày đó, Wang Lung mua thuốc phiện cho vợ chồng người chú, thế là họ chịu yên ắng trở lại. Trải qua một thời gian, bỗng nhiên người em họ thô bạo và lêu lổng của Wang Lung thông báo: “Có chiến tranh ở miền nam. Tôi sẽ đi đánh nhau đây”.

Wang Lung nói với vợ người chú: “Con trai chú thím sẽ trở thành một sĩ quan quân đội. Cậu ấy sẽ mang lại vinh quang cho gia đình ta”. Nhưng trong thâm tâm ông lại thầm rủa: “Có rất nhiều người bị giết trong chiến tranh. Ta hy vọng hắn sẽ là một trong số đó”.

Wang Lung hy vọng giờ đây gia đình ông lại có được sự yên bình. Nhưng rồi vợ người con trai cả của ông lại sinh một đứa con trai, và anh con trai đến nói với ông: “Chúng ta bây giờ đã là một đại gia đình. Chúng ta hãy mua tất cả nhà cửa của họ Hwang đi cha. Hãy biến nó thành nhà của họ Wang Lung”.

Thế là Wang Lung đưa tiền cho con trai cả mua nhà vì lợi tức từ những mảnh đất đến với ông rất dễ dàng. Giờ đây Wang Lung chỉ mong sự yên bình. Nhưng đến lượt cậu con thứ hai đến nói với ông: “Tại sao cha lại sử dụng tất cả số tiền này vậy? Nếu chúng ta cho vay tiền lấy lãi hai mươi phần trăm, rồi nó sẽ tăng lên gấp năm lần như thế thì có phải là hay hơn không”.

Wang Lung nhận thấy hai thằng con này luôn tranh cãi về chuyện tiền bạc. Ngược lại, đứa con trai thứ ba thì làm lụng siêng năng trên những thửa đất nên Wang Lung rất hài lòng với cậu.

Thế nhưng cậu ta lại đến dằn dỗi với ông: “Có phải vì con làm việc ngoài đồng nên mới dốt nát không? Các anh con chế nhạo rằng con không biết đọc và viết. Cha gửi con đi học ở miền nam hay tìm cho con một thầy giáo đi”.

Wang Lung liền tìm một thầy giáo cho cậu con trai thứ ba bởi vì ông không muốn có thêm sự tranh cãi nào nữa. Tất cả điều ông muốn chỉ là sự yên bình mà thôi. Ông đang ngày càng già đi. Ông chỉ mong muốn được hưởng sự giàu sang mà ông đã vất vả cả đời mới có được.

Nhưng đứa con cả suốt ngày cứ lo ngôi nhà không còn tốt nữa, còn đứa thứ hai thì luôn sợ rằng gia đình chi tiêu quá nhiều tiền. Và đứa thứ ba thì giận dữ vì nó đã không được đến trường từ lúc còn nhỏ.

Rốt cuộc cô con gái cả ngu ngốc khốn khổ lại chính là người mang lại cho ông niềm vui. Cô không đòi hỏi gì cả, suốt ngày chỉ ngồi dưới ánh nắng mặt trời, chơi với mảnh vải và luôn mỉm cười. Cả đứa cháu nội đích tôn cũng khiến ông vui vẻ. Thằng bé chạy quanh các sân trong nhà Wang Lung. Mấy cái sân này đối với nó chẳng lớn cũng chẳng nhỏ, vì ngoài ngôi nhà này, nó đâu biết thêm ngôi nhà nào khác.

Đất lành

Pearl S. Buck

Dịch giả: Hoàng Quân

Post by Sơn râu 25 Dec 2023

Gia đình của Wang Lung

Chương 10

Cuối cùng thì nước lũ cũng rút hết và để lại đất đai ẩm ướt toàn một màu xanh thẫm.

“Cuốc của tôi đâu? Cày của tôi đâu? Cả hạt giống để trồng nữa, chúng đâu hết rồi?”, Wang Lung rên rỉ.

Anh dẫn người làm ra đồng và họ làm việc cả ngày dưới ánh mặt trời nóng bức. Thế là Wang Lung lấy lại được cảm giác hạnh phúc.

Wang Lung cảm nhận được sự yên bình đang ngự trị trong ngôi nhà của anh, bởi vì anh đều đối xử tốt với hai người đàn bà. O-Lan làm anh hài lòng vì cô đã là mẹ của mấy đứa con trai, còn Lotus thì khiến anh hài lòng với khuôn mặt và thân hình xinh đẹp của ả.

Hai cậu con trai lớn, Nung En và Nung Wen, giờ đây là đã trưởng thành và chúng đã chán trường học. Wang Lung biết rằng anh phải tìm việc làm cho Nung En, con trai cả, vì nó là đứa tháo vát và không nên làm việc ngoài đồng. O-Lan nhắc: “Ông phải tìm vợ cho nó thôi”.

Vì vậy Wang Lung nói chuyện với một nhà buôn ở thị trấn: “Chúng ta đã từng buôn bán với nhau nhiều năm rồi, ông vẫn thường mua ngô của tôi. Nay con trai cả của tôi, Nung En, đã đến tuổi lấy vợ, mà ông lại có một cô con gái”.

Nhà buôn biết danh tiếng của Wang Lung và hiểu được anh đang muốn gì. Rất là ích lợi nếu con gái ông cưới con trai của một nông dân giàu có. Nhưng hai người đàn ông không nói ngay đến việc đám cưới vào lúc này, họ chỉ đồng ý với nhau rằng sẽ có một sự sắp xếp ổn thỏa.

Wang Lung về nhà bảo Cuckoo chuẩn bị việc đám cưới. Ngay lập tức, Cuckoo nghĩ đến món tiền mà ả sẽ có, ả liền nhanh nhảu đồng ý làm người trung gian. Sau đó, Wang Lung cho gọi Nung En lại để nói cho cậu biết về chuyện đám cưới, nhưng không thấy cậu con lớn đâu cả.

“Nó, đâu rồi?” Wang Lung tra hỏi tất cả mọi người trong nhà, nhưng không ai biết cậu thanh niên đã đi đâu.

Wang Lung bảo một người làm chờ ở cổng nhà, khi nào con trai anh về thì báo cho anh biết. Nhưng cho đến rạng sáng hôm sau Nung En mới về nhà, cậu bước lảo đảo và nôn ọe ra đầy sân, rồi cậu ngã nằm đè luôn lên bãi nôn đó.

O-Lan chạy ra giúp con trai. Cô lau chùi sạch sẽ và đưa cậu về giường. Wang Lung thấy cậu con đã say khướt, và điều chắc chắn là chẳng thể hỏi được gì ở cậu ta. Vì vậy anh tới chỗ Nung Wen, đứa con thứ hai của mình, để tra hỏi: “Anh mày đã đi đâu suốt đêm vậy?” Nhưng cậu bé im lặng. “Nói đi chứ!” Wang Lung nóng nảy quát.

Cậu bé cúi gằm đầu và nói: “Anh cả sẽ đánh con nếu con nói cho cha biết”.

“Nói cho tao biết chuyện gì mau?”, Wang Lung hét và anh túm lấy họng đứa con mà lắc liên hồi.

“Nung En đi với con trai của ông chú ạ”, cậu sợ hãi thổ lộ. Wang Lung hất cậu ra ngoài sân và đi tới phòng của người chú. Anh tìm thấy con trai ông ta ở đó và nhận ra hắn cũng say tí bỉ.

“Mày đã bảo con tao làm chuyện gì vậy?” Wang Lung gằn giọng.

“Tôi chẳng bảo nó làm gì cả”, hắn trả lời một cách láo xược.

Wang Lung liền túm lấy hắn ra và dọa: “Nói cho tao nghe, không thì mày chết với tao”.

“Nó ở chỗ nhà họ Hwang xưa kia, có một ả kỹ nữ sống ở đó” thằng em họ trả lời.

Wang Lung biết ả này, vì cả thị trấn đều biết ả. Ả là một trong những hầu thiếp của lão chủ, và cũng là một nô tì trong nhà họ Hwang.

Thế là Wang Lung quyết định gửi Nung En đi xa, đồng thời anh yêu cầu người chú và con trai ông ta rời khỏi nhà anh.

“Ra khỏi nhà tôi ngay”, anh nói với người chú. “Tôi thà đốt nhà còn hơn là cho các người nương náu”.

“Mày không dám đuổi tao đi đâu”, người chú nói, rồi lão ta phanh áo ngoài ra và chỉ vào một miếng vải đỏ bên trong.

Lúc bấy giờ, mảnh vải đỏ này là dấu hiệu của một băng cướp có tên là Đảng Râu Đỏ. Bọn chúng rất đáng sợ. Chúng trói người ta lại, đốt nhà của họ và bắt phụ nữ trong làng. Đột nhiên Wang Lung nhận ra nguyên nhân tại sao mà bọn cướp này lại không bao giờ tới nhà anh. Chính chú của anh là một tên cướp Râu Đỏ!

Wang Lung biết mình phải làm gì.

“Cứ ăn những gì mà ông muốn trong nhà”, anh nói, dù rằng trong thâm tâm anh hết sức tức giận. “Và tôi sẽ đưa cho ông tiền tiêu xài”.

Vậy là anh đành để người chú được tự do sinh sống trong nhà và không bao giờ nhắc đến chuyện này nữa.

Sau đó, Cuckoo từ chỗ nhà buôn trở về và nói: “Ông ta đồng ý cho thằng con lớn Nung En của anh cưới con gái ông ta. Nhưng con bé mới có mười bốn tuổi à. Phải đợi thêm ba năm nữa chúng mới có thể cưới nhau được”.

Nung En giờ đây đã lên mười tám và không còn đi học ở thị trấn nữa. Cậu nói với cha mẹ: “Hãy để con đi đến thành phố miền bắc. Con sẽ không ở nhà để bị xem là một đứa trẻ nữa đâu. Mà thị trấn ở đây thì chẳng lớn hơn một cái làng”.

Nghe vậy Wang Lung liền cho con trai một số tiền và bảo cậu cứ đến thành phố miền bắc, cậu ta sẽ học với những thầy giáo mới, được đọc nhiều sách, và Wang Lung sẽ có thể tự hào rằng con trai của anh là một người có học thức.

° ° °

Khi đứa con trai cả đã ra đi, Wang Lung tiếp tục chăm sóc gia đình anh. O-Lan hàng ngày bận bịu với việc may vá, còn cô con gái ngu ngốc đáng thương của anh vẫn chơi đùa với mảnh vải như xưa. Cậu con trai thứ, Nung Wen, thì đi học, hai đứa con song sinh giờ đã lên mười. Riêng Lotus thì trở nên xinh đẹp hơn cả lúc còn trẻ.

Anh hài lòng với cuộc sống của mình. Anh quyết định đã đến lúc sắp xếp công việc và chuyện cưới hỏi cho đứa con thứ hai.

Nung En, con trai cả của anh, là một thanh niên to lớn, khỏe mạnh và trông giống O-Lan. Còn đứa thứ hai, Nung Wen, thì nhỏ con và có đôi mắt sắc sảo, thông minh, cậu trông giống ông nội hơn. “Nó sẽ là một nhà buôn giỏi”, Wang Lung nghĩ.

Vì vậy anh tới chỗ nhà buôn, cha vợ của cậu con trai cả, và đề nghị: “Tôi muốn cho thằng con thứ hai Nung Wen của tôi được học nghề ở đây”.

Nhà buôn liền đáp: “Tôi thì đang cần một thanh niên tháo vát”.

“Thế thì tốt quá”, Wang Lung thốt lên.

“Tôi cũng có một thằng con lên mười”, nhà buôn nói tiếp. “Còn anh thì có cô con gái mười tuổi. Chúng ta sẽ có hai đám cưới chứ?”

Wang Lung đồng ý ngay và trở về báo cho cậu con thứ hai biết: “Con sẽ được học nghề với ông nhà buôn trong thị trấn”. Ngay lập tức, cậu con tỏ vẻ vui mừng vì sẽ được nghỉ học ở trường.

Sau đó Wang Lung lại đi báo cho cô con gái thứ hai biết: “Con sẽ kết hôn với con trai ông nhà buôn khi con đủ tuổi đấy”.

Wang Lung nhìn con gái chăm chú và thấy những giọt nước mắt rơi lã chã trên má nó. “Đừng buồn thế”, anh nói. “Tại sao con khóc vậy?”

“Bởi vì đêm nào mẹ cũng bó chân của con”, cô gái trả lời, “để con có thể lấy được một người chồng tốt, và để chồng con yêu con. Do hồi xưa mẹ không được bó chân nên mẹ nói là mẹ xấu xí và cha không yêu mẹ”.

Wang Lung xấu hổ khi nghe cô con gái nói thế. Chẳng lẽ anh không từng là một người chồng tốt sao? Và anh đã không đối xử tử tế với O-Lan sao? Anh liền ngắm nhìn O-Lan, trông cô có vẻ mệt mỏi, mái tóc đã ngả màu xám mặc dù cô chưa già. Đồng thời anh cũng nhìn thấy cô bước đi chậm chạp như thế nào và liên tục đặt tay lên bụng ra sao.

“Giúp mẹ con làm việc đi”, anh bảo đứa con gái út.

Nhiều tháng trôi qua, nhưng Wang Lung vẫn không thể nào quên được những lời của con gái anh: “Mẹ nói là cha không yêu mẹ”.

Một ngày nọ, lúc O-Lan bắt đầu thu dọn bữa ăn thì mặt cô tái nhợt đi và toát đầy mồ hôi vì đau đớn.

“Chuyện gì vậy bà?” Wang Lung gấp gáp hỏi.

“Giống như có một ngọn lửa đang bốc cháy trong bụng tôi”, O-Lan rên rỉ đáp. “Có cái gì đó sưng lên trong bụng, nó nặng như viên đá ấy”.

Wang Lung liền bảo vợ nằm xuống và không được làm gì nữa. Còn anh thì chạy vào thị trấn tìm một đại phu.

Đại phu có bộ râu dài trắng như cước và đeo cặp kính có gọng bằng kim loại, tay áo dài phủ cả lên hai bàn tay. Wang Lung mô tả bệnh tình của vợ cho ông ta nghe.

“Tôi sẽ đi liền”, đại phu nói.

Khi họ đến bên giường của O-Lan thì cô đã ngủ thiếp đi và khuôn mặt đẫm mồ hôi. Đại phu liền khám và nói: “Có một chỗ sưng rất lớn trong bụng vợ anh, cứng như một viên đá ấy”.

“Ông có thể chữa khỏi không?”, Wang Lung liền hỏi.

“Bệnh này khó lắm”, ông ta trả lời. “Tôi chỉ có thể giảm đau cho cô ta bằng dược thảo mà thôi”.

Wang Lung hiểu ngay rằng O-Lan sẽ chết. Anh cảm ơn đại phu và trả cho ông ta mười đồng bạc. Sau đó anh đứng một mình trong bếp, nơi mà O-Lan đã ở đó hầu như cả cuộc đời của cô. Rồi đột nhiên anh bật khóc.

Luận về vài cái Địa Danh!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 25 Dec 2023

Tranh Bảo Huân.

Anh bạn văn của tui đùa cợt, định nghĩa ‘địa danh’ là tên đất do ông Ðịa đặt ra. Cũng không sai mấy. Vì Ðịa là ông Ðịa; danh là tên.
Dĩ nhiên tên đất là do con người cố cựu của vùng đất đó đặt trước tiên, mà đã là người cố cựu ắt biết rành rẽ mọi ngóc ngách của đất quê mình, kể cả cái ‘Hóc Bà Tó’, nhà nào có đàn bà ‘giá’ (góa) thì thằng chả cũng quen thuộc đường đi lối về, phong ‘thổ địa’ là phải quá rồi!
Chính vì rành sáu câu vọng cổ tên đất quê mình, nên đứa nào lỡ ngu dốt nói trật, viết trật là bà con giận lắm. Tới nhà chơi, một giọt nước mưa trong lu ngoài hàng hiên cũng hổng cho chú mầy uống; nói chi đến mơ tưởng khách đến nhà hổng gà thời vịt đâu nhe!

***

Chính vì thế, một thổ địa của Hóc Môn, 18 thôn vườn trầu, nổi quạu viết lên cật vấn mấy nhà báo hai nút, từ ngoài Bắc vào là: Sau năm 1975, huyện Hóc Môn viết chữ “Hóc” tới năm 1992. Ðến năm 1997, lại viết thành “Hốc Môn’. Rồi từ năm 1998 đến nay lại viết “Hóc Môn’.

Viết loạn xị lên, hồi O hồi Ô; có lẽ vì ông nhà báo thấy Trời mưa thì cho chữ O đội mũ che mưa thành Ô; Trời nắng khỏi cần đội mũ cho chữ O thì để nó đi đầu trần hả?
Bị xỏ ngọt, bị chê ấm đầu, viết lách lung tung tùy theo trời mưa hay nắng; nên ông nhà báo chuyên sống bằng chữ nghĩa, chạy quắn ‘đít’ lên, chạy sút đầu tóc mượn, xẹt vô thư viện, bò lên trên net, lui cui soi kính lúp trong tự điển thì thấy vầy nè: “Thưa độc giả có gởi bìa tờ báo Xuân Nhâm Thân năm 1992 viết tên ‘Hốc Môn’. Bổn báo xin kính cẩn nghiêng mình trước hương linh của tòa soạn mà kính báo rằng: “Thằng cha ký giả nầy ngoài Bắc chân ướt chân ráo mới vô, sở học chưa bằng cái lá mít, nên viết bố láo bố lếu.
Phải viết là ‘Hóc Môn’ mới đúng y bong vì năm 1956, khi thành lập “quận Hóc Môn”, chính quyền VNCH cũng viết Hóc (chữ O).
Rồi ‘Tự vị tiếng nói miền Nam’, học giả Vương Hồng Sển: “Hóc Môn: tên xứ, trước thuộc huyện Bình Long, nay thuộc tỉnh Gia Ðịnh”.
Và ‘Từ điển địa danh hành chính Nam bộ’ bây giờ: “Hóc Môn là quận thuộc tỉnh Gia Ðịnh từ 1-1-1918, quận lỵ tại chợ Hóc Môn”.
Tại sao vậy? Vì ‘Hóc’ có nghĩa là “dòng nước nhỏ”. “Môn” là cây môn nước. Như vậy Hóc Môn chỉ vùng đất xa xôi, vắng vẻ, nơi mọc nhiều cây môn nước.
Như Thủ Ðức có Rạch Môn. Rạch Bàu Môn và xứ Củ Chi có xóm ‘Bưng Môn’ đó!

***

À như vậy Hóc Bà Tó hay Hốc Bà Tó vậy ông? À viết đúng thì cũng như Hóc Môn vậy mà. Phải viết là Hóc Bà Tó vì theo nhà văn Sơn Nam, Hóc Bà Tó chỉ một vùng đất thuộc tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Hóc là một từ cổ chỉ dòng nước nhỏ, đồng nghĩa với xẻo. Hóc trong Hóc Môn, Hóc Hươu, Hóc Ớt (giữa Sài Gòn và Tây Ninh).
Ban đầu hóc Bà Tó chỉ dòng nước nhỏ mang tên Bà Tó. Còn Bà Tó là ai hổng ai biết vì bả chết mấy mươi đời vương rồi mà không có để lại chứng minh nhân dân để chánh quyền cách mạng ghi tên vào hộ khẩu.
Cũng có ông cho rằng Bà Tó là hóc (rạch nhỏ) ở xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Bà Tó có lẽ là một người Khmer. Vì ngày xưa hóc ở giữa rừng hoang vắng, xa xôi nên từ ‘Hóc Bà Tó’ chỉ một nơi xa xôi, vắng vẻ.

Nhớ hồi năm 1979, tui đã từng từ Cần Thơ ngược Bắc về hướng Sài Gòn, chờ đêm vừa buông lưới, là trèo lên ‘taxi’ (ghe nhỏ) từ Chợ Bà ra sông lớn để lên cá lớn vọt nhưng hụt. Thất thểu bồng con, dắt vợ trở về căn nhà dột nát mà lòng đau như muối xát kim châm; như chuồn chuồn cắn rún.
Cái địa danh Chợ Bà, Bắc Cái Vồn, (sau nầy) mới gọi Bắc Bình Minh, cứ vấn vương trong đầu mà hổng biết cái nghĩa thâm sâu của nó.
Tên gọi Cái Vồn có nghĩa gì? Lục trên web thì có một tác giả viết lăng quằn lít quỵt, cuối cùng cũng hổng biết luôn. He he!
Ổng cho rằng: Ðịa danh ‘Cái’ miền Lục tỉnh Nam Kỳ, như: “Cái Bè, Cái Cá, Cái Cam, Cái Cui, Cái Da, Cái Dầu, Cái Hóp, Cái Khế, Cái Mơn, Cái Nhum, Cái Nước, Cái Quao, Cái Quýt, Cái Răng, Cái Sao, Cái Sắn, Cái Sâu, Cái Sơn, Cái Tàu, Cái Vồn, Cái Vừng…” có đến khoảng 200 địa danh, không thể nêu hết.
Ngay cả Trịnh Hoài Ðức, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của cũng đều bất lực khi giải thích cái địa danh nầy.
Cũng xin lưu ý, khi con người gọi tên, định danh sự vật, thì chắc phải có lý do; mà lý do của người xưa, người nay không thể giải thích được.
Cấu trúc địa danh “Cái…” là một địa danh thuần Việt, mặc dù trước đây nơi này đã có người Khmer đến định cư sớm; nhưng vai trò của người Việt đến định cư khai phá như một chủ thể đã trên 200 năm. Và nơi này, đã có một cái tên do chính những bậc tiền hiền người Việt đặt ra.

***

Ông tác giả nầy cho rằng chữ ‘Cái’ là thuần Việt, tui xin không đồng ý. Nếu vậy tại sao ‘Cái Răng’ là cái ‘cà ràng’ từ tiếng Khmer?
“Chợ Cái Răng xứ hào hoa/Phố lầu hai dãy xinh đà quá xinh/Có trường hát cất rộng thinh/Ðể khi hứng cảnh thích tình xướng ca”.
Thời khẩn hoang miền Nam, “ông Táo” chỉ là 3 cục đất, hoặc đá kê chụm lại, bắc nồi, trách lên, nấu bằng củi đòn, củi chẻ.
Phải cả trăm năm sau, chiếc cà ràng mới xuất hiện, thay thế cho ông Táo thô sơ trước đó.
Cà ràng làm bằng loại đất đặc biệt ở miền núi, tốt nhất là đất miệt Xà Tón (Tri Tôn, An Giang), xài bền, có khi vài năm cũng chưa bể.
Từ Xà Tón, ghe thương hồ chở cà ràng về các đại lý ở chợ Cái Răng. Rồi từ Cái Răng, bạn hàng mới bổ về bán tại các chợ lớn, chợ nhỏ, hoặc bán lẻ tận những vùng hẻo lánh khắp Ðồng bằng sông Cửu Long.
Cuốn ‘Tự vị tiếng Việt miền Nam’, ông Vương Hồng Sển có ghi: “Cà ràng hình thù như con số 8 để nằm, một đầu là ba ông Táo lú đầu lên cao để đội nồi, ơ, siêu, trách, còn một đầu kia nắn cái bụng chang bang dài dài vừa vặn với cây củi chụm, bụng này chứa được tro nhiều không rơi rớt ra ngoài, lại ấm cúng che kín gió, mau chín, mau sôi”.

***

Theo thiển ý của tui, muốn biết ‘Cái Vồn’ nghĩa là gì phải đi hỏi mấy ông bô lão ‘Khmer Krom’ mới được.
Ý tui là vùng đất Thủy Chân Lạp ngày xưa, đa phần địa danh là của người cố cựu, người Khmer đặt đấy thôi! Từ địa danh Sài Gòn (Rừng Gòn), Mỹ Tho (Con gái đẹp), Sóc Trăng (Hầm bạc), Bạc Liêu (Cây Da lớn) rồi Cà Mau (Vùng nước đen) v.v…
Ðây là cái kim chỉ nam để mình đi tìm ý nghĩa của địa danh miền Lục tỉnh Nam Kỳ.
Nhà biên khảo Sơn Nam đi theo cái hướng nầy; nên không bị lạc như các ông Trịnh Hoài Ðức, Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của.

Bên Úc nầy, địa danh do thổ dân (có mặt ở đây cả trăm ngàn năm trước) đặt thì Úc, nó cũng còn xài. Chỉ trừ mấy thành phố tân lập khi dân Anh, Irish bị đi đày qua thì mới có tên do họ đặt như Melbourne, Sydney, Adelaide, Perth hoặc Darwin chẳng hạn.
Ngay cả vùng quê, sông ngòi, núi non hay biển đảo chưa có tên, là Úc mới tới giành đặt (rất bị ám ảnh về dục tính). Chẳng hạn như ‘Mount Breast’ (Nhũ hoa Sơn) tiểu bang Queensland; chắc na ná ‘Núi Ðôi’ của miền Bắc Việt Nam.
So với Úc thì đầu óc tiếu lâm của dân ‘Mít’ mình cũng không có kém cạnh gì. Bà con mình có ‘Cầu Cu’ trên quốc lộ 32A đi qua 4 tỉnh và thành phố: Hà Nội, Phú Thọ, Yên Bái, Lai Châu.
Rồi ‘Cầu Xẻo Bướm’, xã Ðông Thái, tỉnh Kiên Giang, đường đi Cà Mau.
Úc có vùng đất tên ‘Lovely Bottom’ (Mông đáng yêu) của tiểu bang Tasmania. Nhưng tui thích nhứt cái tên ‘Ðèo Cù Mông’, ranh giới của 2 tỉnh Bình Ðịnh và Phú Yên của miền Trung, xứ Nẩu quê mình!
Chu cha ‘Cù Mông’, cái mông bị cù, cái mông bị chọc lét, làm em yêu cười hăng hắc cho đến Tết ‘I Rắc’! Cửa nhà đôi ta chắc êm ấm lắm đó đa!

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne

Lều chõng ngày nay!

Đoàn Xuân Thu.

Post by Sơn râu 25 Dec 2023

Thú thiệt với bà con dù là người Việt 72 phần dầu, nhưng tui chưa hề được diễm phúc đặt chân lên cố đô Huế. Nhưng nghe các nhạc sĩ nhà ta ca tụng là: “Vẻ đẹp Huế chẳng nơi nào có được. Nét dịu dàng pha lẫn trầm tư. Tình yêu… từ chiếc nón bài thơ. Từ giọng nói thâm trầm sâu lắng lạ…”
Hỡi ơi, mấy ông nhạc sĩ ra Huế, rồi yêu chiếc nón bài thơ, rồi yêu giọng nói thâm trầm sâu lắng lạ! Con vợ nhà nó nghe nó đơm cho một cái chổi chà thì xin ông nhạc sĩ đừng có lạ nha?

***

Nhưng tui thì khác, tình yêu của tui trước khi đến trái tim thì qua cái bao tử! Tui yêu Huế qua món Bún bò giò heo cay xé lưỡi mà tui đã từng ăn nhiều lần ở cái đất Sài Gòn. Chính vì vậy, sau nầy xa quê lòng tui bao giờ cũng thổn thức và bứt rứt khi có cái tin về Huế!
Cái bứt rứt của tui về Huế lần nầy là một đoạn phim ngắn, bây giờ thiên hạ gọi là cái ‘clip’, mà tình cờ tui coi được trên Youtube.
Cái ‘clip’ nầy dài chỉ 3 phút 27 giây về kỳ thi tốt nghiệp phổ thông mà hồi xưa bà con mình ai cũng biết là thi Tú tài hai cuối năm học đệ nhứt. Ai đậu thì bước chân vào đại học, còn ai rớt thì về nhà… chăn trâu!

Một chú em đóng vai phóng viên, phỏng vấn mấy em nữ sinh và nam sinh.
Gái Huế, 17 bẻ gãy sừng trâu, đẹp hơ hớ, má phấn môi son (Cha, học trò bây giờ đi thi Tú tài mà diện sặc sỡ và rực rỡ làm tui tưởng mấy em đi thi hoa hậu chớ!).
Nói nào ngay, con gái lâu lâu điệu đà lên phim cho toàn thế giới xem thì diện chút đỉnh, đẹp cũng cỡ ca sĩ Bảo Yến lúc 16 tuổi (chớ hổng phải 61 tuổi) nên cũng hổng trăng sao gì ráo trọi!
Nam sinh đẹp trai như ca sĩ Quang Lê, nhưng ốm hơn một chút! Chỉ có cái tật hay chửi thề ra vẻ ngầu, vẻ anh chị, đầu gấu xã hội đen!
Phóng viên đặt ra ba câu hỏi là: Ðề thi năm nay như thế nào? Dễ hay khó?
Các em làm bài ra sao? Ðược hay không?
Thi xong cảm xúc như thế nào? Buồn, vui hay lo lắng?
“Ðề thi rõ nét, sạch sẽ, phòng thi thoáng mát và đặc biệt có cô giáo rất ‘sexy’, khiến em không thể nào tập trung được”.
(Thiên hạ xúm lại rầy học trò mà dám trầm trồ cô giáo rất ‘sexy’… là học trò quỷ! Bà con mình hay nói: Nhứt quỷ. nhì ma, thứ ba học trò. Em nam sinh nầy từ hạng ba nhảy tót một cái lên ngay hạng nhứt thì trong tương lại theo tui bói toán em chắc như bắp là em sẽ được cơ cấu vào Thành (q) ủy Huế!
(Nhưng so với học trò Tây bên nầy thì đỡ hơn nhiều. Tụi nó hổng có trầm trồ khen mà bĩu môi chê mới báo.
“Cô giáo nói: Nếu con gà cho chúng ta thịt. Con heo cho chúng ta thịt xông khói (tức bacon), còn ‘con bò cái mập’ cho chúng ta cái gì?”
“Cho chúng em bài tập về nhà làm!”
Giễu như vậy theo thiển ý của tui mới là hỗn ẩu đó!)

***

“Ðề thi năm nay vừa sức với giáo viên, có những thí sinh ra về sớm vì cho rằng đề thi năm nay quá dễ, sỉ nhục lòng ham học của thí sinh ?!”
Như vậy em nầy cho rằng đề quá dễ với học trò mà lại vừa sức với giáo viên!
Ðiều đó có nghĩa là thầy cô giáo trong trường học xã hội chủ nghĩa ngày nay hổng lẽ lại dở hơn học trò?

***

Tuyên bố như đinh đóng cột vầy tui e em nầy hơi quá đổi ta có Huế tự hào đó nhe!
Giống như đứa học trò Tây nầy, nó dám chê cô giáo dạy Toán:
“Cô giáo của con bị điên rồi! Hôm qua cô dạy 5 là 4 cộng với 1. Còn bữa nay lại dạy là 5 bằng 3 cộng với 2.”

***

Rồi một em khác chắc trong lớp chuyên môn đội sổ nên nói: “Ðề thi năm nay là tương đối khó hiểu, nếu đọc một lần thì chắc chắn không hiểu được đề bài, nhưng nếu đọc nhiều lần thì cũng ‘đ…’ hiểu được luôn”.
Em nầy không những rớt về trí dục mà đức dục cũng rớt luôn vì khoái xài giấy năm trăm. Tui e rằng em vốn là học sinh ‘cá biệt’ (tức là đến trường không thèm học mà chỉ để quậy cho vui chăng?).

***

Còn em khác chắc có máu mê bóng đá mà xui xẻo thay kỳ thi năm nay lại trùng với Việt Nam đá với Thái Lan, nên em ưu tiên cho đá banh trước vì chắc Tía má nhà em làm thầu cá độ bóng đá, phán rằng: “Ðiểm số thi với em không quan trọng, quan trọng là vì giờ em phải bỏ thi về sơm sớm để ghi tỉ số trận Việt Nam và Thái Lan đây”.

***

Và một em nữ sinh khác chắc thuộc ‘con cháu các cụ cả’ nên điểm số kỳ thi của em không quan trọng luôn, nên “Em vào phòng thi cho có lệ thôi, vì điểm thi đã có ông già em ‘cơ cấu’ hết rồi”.
(Cái vụ nầy sao na ná cái vụ rùm beng ở tỉnh Hòa Bình ngoài Bắc vậy quá ta? Có cha cho rằng cũng vì cái vụ nầy mà ông Thứ trưởng Bộ Giáo dục buồn tình té lầu 8 chết ngắt (?!) Thiệt hổng biết đâu mà lần hè?)

***

Ðể kết đoạn phim ngắn nầy, chú phóng viên vai chánh, xổ toẹt cái học ngày nay đã hỏng rồi bằng cách kết luận một câu rất xanh dờn là:“Có những người thành công không thông qua trường lớp đại học ví dụ như mua bán chất cấm, cướp giật, viết tỉ số.”
Theo chú em nầy thành công là có nhiều tiền dù bằng bất cứ cách nào. Cứu cánh biện minh cho phương tiện! Bằng bán chất cấm, nghĩa là bán xì ke ma túy, đi ăn cướp hoặc dàn xếp tỉ số thầu cá cược đá banh.
Ôi cái xã hội Việt Nam bao năm xã hội chủ nghĩa bước một chân qua tư bản rừng rú như vậy là loạn to rồi!

***

Khi đoạn phim ngắn nầy xuất hiện trên mạng thì thiên hạ bình luận cực kỳ sôi nổi. Kẻ chống người binh. Ồn ào như cái chợ Ðông Ba họp vào sáng sớm!
Kẻ chống thì: “Thật là quá quắt! Bắt hết bọn này vào tù, cho tụi nó ra đảo Khỉ ở một mình đi! Mang tiếng là dân Huế, nơi được mệnh danh là đất hiếu học, lại là trẻ “trâu”, ngày càng hư hỏng! Chỉ biết ăn no ngồi chỉ trích đảng nhà nước, nếu các bạn ở Trung quốc thì đã bị chặt đầu từ lâu rồi?!”
Chu choa đụng tới mấy quan có chút thôi mà đòi nhốt, đòi đày ra đảo Khỉ, rồi còn đòi cho hết ráo lên đoạn đầu đài nữa. Eo ơi! Sợ!

***

Cùng hòa ca với đám dư luận viên nầy, ông Giám đốc Sở GD-ÐT Thừa Thiên- Huế ‘lịnh’ hiệu trưởng các trường THPT làm việc với các giáo viên chủ nhiệm, coi mấy đứa này có phải là học trò của các trường hay không để có cơ sở xử lý.
(Cũng xin phụ để Việt ngữ thêm là cái quái gì cũng ‘xử lý’ hết ráo hè?
Ngay cả bạn bè rủ đi ăn nhậu, rồi nó móc xỉa, trả tiền thì nói nó chơi ngon bao tụi tao một chầu cho bà con dễ hiểu thì lại nói: “Bữa ăn nhậu do đại gia X, Y tài trợ”.
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt mà sao lại khoái xài chữ ‘Hán’ (may mà chữ Hán không g) vậy quá mấy cha?)
“Ðây là clip được tổ chức quay, dàn dựng và tung lên mạng nhằm một mục đích nào đó, rõ ràng người làm ra sản phẩm này có ý đồ (?!)
(Lại chữ Hán không ‘g’! Hu hu!”.

Chụp cho đám đạo diễn và diễn viên nghiệp dư nầy cái mũ phản động to tổ bố rồi Thầy đi thưa lính bắt mấy em. Và Công an tỉnh Thừa Thiên – Huế đã vào cuộc…(?!)
Nghe tới Công An là mấy em rét quá, nên có em nữ mếu máo: “Những ngày qua, khi bị cộng đồng chỉ trích, đặc biệt là lúc biết tin các cơ quan chức năng sẽ vào cuộc xử lý, nhóm chúng em đã lo sợ vô cùng”.
Sợ là phải! Bị nó bắt vô nhưng ra đôi khi phải ra bằng chiếc băng ca! Ai mà không rét chớ?
“Chúng em là nhóm bạn trong clip ngày 3.7 vừa qua. Sau khi được đăng tải clip trên mạng xã hội, chúng em nhận được sự quan tâm cùng nhiều ý kiến trái chiều. Chúng em cảm thấy rất có lỗi về hành động bồng bột của mình. Làm clip này chúng em muốn xin lỗi tất cả mọi người và mong mọi người chấp nhận lời xin lỗi của chúng em. Chúng em xin cảm ơn rất nhiều”.
“Xin mọi người đừng gây áp lực lên mấy em. Clip do mình dàn dựng, quay phim, đạo diễn với mục đích thư giãn, giải trí. Mấy em ấy không hề liên quan đến phần nội dung. Xin nhắc lại, video mang tính chất giải trí, không nhắm tới bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào”.

***

Nhưng cũng có người can đảm nhảy ra: “Hay quá là hay xin cho một tràng pháo tay!” Bằng cách bình luận như vầy:
“Chỉ qua một clip ngắn nhưng rất khâm phục khả năng “phản biện xã hội” rất cô đọng, sâu sắc của các em.
Khả năng châm biếm cũng không thua Tú Mỡ, Tú Xương. Và quyết tâm nhổ toẹt vào nền giáo dục của chế độ cũng không kém Ba Giai, Tú Xuất hay Trạng Quỳnh.
Thay vì “sốc” chúng ta nên lấy làm mừng vì các em đã lớn lên nhiều so với tuổi. Tương lai đất nước sẽ bắt đầu từ những con người như thế này đây.
Hy vọng thế hệ các em sẽ không cam chịu bị nhồi sọ như thế hệ cha anh đi trước!”
Ha ha! Cứ nằm mơ đi cha Nội!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Bố cục một bức tranh

www.phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 4 Nov 2016

Post by Sơn râu 25 Dec 2023

Hồ Đình Nghiêm – Montréal, thánng 11.2016

Tôi sẽ đi thuê xe, bất kể hiệu gì, miễn là loại 4×4 thích hợp cho dốc đồi, sạn đạo hoặc suối khe bùn lầy. Nếu có gắn máy định vị hướng dẫn đường xá thì càng tốt. Laura nói: Phần tôi sẽ đi chợ mua các nhu yếu phẩm, những thứ mà người ta vẫn sắm sửa cho chuyến đi dã ngoại.

Ở phố mùa thu đến rụt rè, cây thưa nên chưa đủ lực để thắp nên màu vàng sẫm tựa chốn xa điệp trùng. Laura thích vẽ một bức tranh thu, cô có điện thoại hỏi thăm ông bố và đón nhận từ ngoại ô đầy gió một đáp trả chẳng mấy nồng ấm: Tuỳ mày. Bố Laura chưa nghỉ hưu, ông làm thứ công việc gần như một kẻ kiểm lâm và sau khi ly dị vợ ông mua được căn nhà nhỏ nằm kề cận bên bìa rừng. Laura cho hay, cảnh vật ở đó rất tuyệt, kể cả mùa đông; thiên nhiên luôn chung tình chứ không như những hình khối bê tông mãi đổi thay dị dạng ở phố phường. Sự khoáng đãng của nó khiến mình nhẹ người ra, phiêu hốt. Khi nói về người cha, Laura chỉ vắn tắc: Thì người già ấy mà, họ chướng theo cách của họ. Đừng ngại, chỉ tạm trú một hai hôm, bất quá thì chúng ta đi bụi. Nghe chữ bụi, một nửa tôi hơi ngán và nửa kia là cả một sự quyến rũ. Điều này cũng tựa như khi nghe Laura xúi tôi ngồi trước khung bố trắng. Để giải quyết, căn bản là mình chớ nên miễn cưỡng, bất kể việc gì, tôi đã nói với Laura như thế. Đi về miền hoang dã trong mùa thu, rõ là tôi chẳng miễn cưỡng chút nào khi nghe lời đề nghị. Một cánh rừng ngập lá vàng, nó luôn lưu giữ cái bí mật đáng yêu. Giữa tôi và Laura hiện lên thứ gì lớn hơn cả tình bạn và cô ấy chưa tiện cho tôi chiếc chìa khoá để chạm tay vén mở cánh cửa sau cùng. Cô đọc lên câu thành ngữ của Pháp: Hãy làm bạn với láng giềng nhưng đừng phá vỡ hàng rào. Đó là sự ví von đầy sai lạc, bởi muốn chứng minh về sức mạnh của tình yêu đã có lắm kẻ sẵn lòng đạp đổ bao chướng ngại. Tôi đã giải thích câu tiếng Việt ra cho Laura nghe: Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua. Tôi thuê xe để chở cô đi về chốn đèo heo hút gió là một bằng chứng.

Dò theo bản đồ, vùng quê hoang lạnh ấy cách phố chúng tôi ngụ dài hơn 100 cây số, ở hướng bắc. Vì đường xấu có thể sẽ mất hai tiếng, do vậy chúng tôi quyết định khởi hành vào ban trưa. Ra khỏi cây cầu luôn kẹt xe, xuống tới được xa lộ, một bên hông màu trời đã đổi sắc. Cụm rừng thưa ở đó như có mãnh lực để gom thu mọi nguồn sáng, trưa mà diết da thứ màu của bảng lãng bóng hoàng hôn. Thứ cu-lơ làm khó cho Laura khi nhúng cọ pha phách trên bảng màu. Laura không học mỹ thuật, vì đam mê nghệ thuật tạo hình cô tự mày mò lấy và những bước đi chập chững ban đầu tuồng như đã định hình ra những sãi bước thành tựu. Cô tạo được một thủ pháp riêng và cá nhân tôi, tôi thành thật khuyến khích cô. Đi vẽ phong cảnh hôm nay hoàn toàn không phải là một sự bốc đồng. Tôi đã mua tặng Laura hai tuýp sơn dầu, thứ do Hoà Lan sản xuất, một ống trắng và một ống màu vàng. Tôi nghĩ nó sẽ chóng hao hụt trước các ống màu khác.

Bố Laura gầy ốm nhưng đó là hình thể của kẻ chăm lao động, rắn chắc. Ông hôn trên trán Laura thay cho lời chào mừng và bắt tay tôi, hơi hờ hững. Ông nhắc lại một cột mốc quá khứ để tự ngờ vực là hai cha con đã xa nhau đến ngần ấy năm. Để dễ nhớ, dường như trong đầu ông vừa chợt hiện bóng hình người vợ cũ. Ông hỏi: Mẹ mày ra sao rồi? Laura nói, má vẫn vậy, mỗi cuối tuần con đều ghé thăm, trên vách vẫn treo đủ những tấm ảnh ngày cũ, bà tuồng như chẳng ghét bỏ những kỷ niệm. Khi về già chẳng biết con có được giống mẹ không, bởi ai khiến lòng ta đau thì ta nên loại bỏ ảnh hình người ấy, treo nó lên, nhìn thấy mỗi ngày thì chóng lão hoá mất. Cả Laura và ông bố đều hướng mắt tới tôi khi Laura nói xong. Và tôi thử quan sát bốn mặt vách vây quanh căn phòng này, tuyệt chẳng máng lên một khung ảnh, một bức tranh, một vật dùng để trang trí. Người đàn ông này chừng như ưa bầu bạn với cô đơn, tận cùng chữ trơ trọi. Đứa con gái cách biệt, ở xa về thăm cũng không khiến ông niềm nở vui thú.

Chúng tôi được dẫn xuống một cái demi sous-sol, nơi chất đầy củi và những thứ phế phẩm, tuy thế vẫn còn khoảng trống để kê chiếc giường nệm đầy bụi bám, một chiếc bàn, hai cái ghế và cái tủ gỗ lớn thuộc hàng cổ vật. Một đồng hồ quả lắc lên giây thiều đường bệ treo trên vách nhưng nó từ khước việc đếm thời gian, quả lắc to hơn cái bát đồng đứng yên trong tịch lặng. Mày mang hết đồ vào chất dưới đây, giường đó dành cho cậu này. Ông bố nói. Tao ngủ trên cái futon ở phòng khách, còn mày thì vào phòng tao mà ngã lưng. Tạm trú bao lâu? Hai ngày? Laura không trả lời. Cô bước lại phía có treo chiếc đồng hồ cổ điển đã chết với sự lạc hậu của nó, cô nhìn thấy bốn chai rượu chát nằm yên trên giá gỗ. Bố thích ăn món gì nào? Chiều này con sẽ đứng bếp làm bữa cơm đoàn tụ. Người đàn ông đặt chân lên những bậc cấp: Bày vẽ, một mình, tao đã quen với sự giản tiện, muốn nấu nướng mày phải cất công chạy ra siêu thị Métro mà mua sắm thịt thà rau quả.

Laura nhìn tôi, hỏi: Cùng đi chợ nhé? Lần này để tôi lái xe, tôi biết cái siêu thị đó nằm ở đâu. Laura từng mang tôi tới thăm người mẹ cô, bà thuê một căn hộ nhỏ sống trong chung cư toàn cả người đứng tuổi. Ở đó tôi đã nấu phở và làm chả giò cho vị thực khách dễ mến, bà nói một câu khiến tôi nhói lòng: Bạn tin không? Bạn là đứa đàn ông đáng yêu nhất mà tôi từng gặp phải trong đời sống. Nói nhỏ thôi, nên Laura không nghe thấy. Và tôi cũng nói thầm, nếu như ai cũng phát ngôn kiểu đó tôi nguyện sẽ vui thú xắn tay phục vụ thức ăn mỗi bữa. Tôi bất hiếu với song thân, chưa một lần tự mình nấu nướng cho ông bà ăn, bởi vì bố mẹ tôi mất khi tôi chưa kịp trưởng thành. Mẹ của Laura có thu giữ điều gì rất giống với mẹ tôi mặc dù chuyện gia đạo, song thân tôi luôn biết cách làm cho nó ấm êm. Khi đứng gần một người đàn bà bất hạnh, dĩ nhiên tôi bị bà ấy làm cho mình mềm lòng. Khi nhìn cái đồng hồ quả lắc bị bỏ quên dưới basement tự dưng tôi nhớ tới mẹ Laura, nhớ và gợn lên chút thương cảm làm chỗ đứng vốn lạnh càng tái tê hơn.

Tôi trao chìa khoá xe cho Laura, cô đeo đôi bông tai của mẹ tặng và tự dưng tôi muốn hôn cô. Mẹ tôi có đôi bông tai bằng vàng 24k nhận hạt ngọc trai, mẹ nói sẽ cho cô con dâu tương lai của mẹ nhưng đau buồn cho tôi khi đến tuổi nhi lập thì mẹ tôi chẳng còn tại thế. Tôi nghèo xác xơ ở tất cả mọi định nghĩa, một tấm lòng thành thì muốn biểu tỏ chừng như anh phải lệ thuộc vào một khởi động nào đó, ban đầu là một tặng phẩm, tôi đồ thế. Laura đứng yên cho tôi tìm ra chút hơi ấm, chẳng mấy lâu vì cô không muốn ông bố phát hiện. Ông đang đứng ở cánh cửa mở rộng, giữa vây bọc màu vàng của xác lá đôi mắt ông là hai hòn than âm ỉ cháy đỏ.

Vì trông ra những chai rượu vang còn nguyên vẹn, Laura quyết định làm món bíp-tếch dùng với khoai tây đút lò nướng. Mỗi người sẽ ăn cả ký thịt bò hạng A sản xuất tại bình nguyên đầy cỏ mượt phía cực tây Canada. Căn nhà sẽ ấm lên bởi những ngọn lửa gaz và người sẽ nóng lên do nồng độ từ chai rượu quyết khô giọt cuối. Không mấy khi, ông bố Laura nói thế, bữa ăn này có cần nêu một lý do không? Mày và cậu này quan hệ ra sao? Vào rừng để vẽ tranh à? Không chắc sẽ được êm xuôi vì hôm Halloween vừa qua đã xẩy ra một án mạng trong đó. Cảnh sát vẫn còn giăng ngang dọc những biển báo tránh đặt chân qua phạm vi gây án. Họ sẽ chận hỏi khi biết chúng mày là kẻ lạ mặt. Và gió, làm sao mày có thể dựng tấm bố rộng lên giá vẽ? Có quá nhiều bất tiện mày thấy không? Phụng sự cho nghệ thuật? Tao không nghĩ vậy khi mà oan hồn cô thiếu nữ bất hạnh kia vẫn còn lãng vãng trong cánh rừng hoang lạnh. Tao và đội kiểm lâm vẫn chưa yên thân với cánh điều tra tội phạm. Thấy gì? Biết gì? Nghi ngờ điều gì? Có ai xa lạ đi vào rừng? Cả trăm câu hỏi. Thôi, ăn uống no say đi, ngủ một giấc biết đâu ngày mai đã đổi khác. Nhớ chưa? Mày ngủ phòng tao và cậu này chui xuống dưới đó mà ngáy. Tha hồ ngáy.

Tôi nhớ là tôi chẳng ngáy. Tôi không ngủ tròn giấc vì hơi lạnh luôn chờn vờn. Mặc thêm áo ấm, phủ kín cái mền dùng cho bọn đi cắm trại vẫn cứ rét run. Có khi tai nghe tiếng vặn mình kẻo kẹt của những thanh gỗ lót nền tầng trên, có khi mơ hồ thấy có bóng trắng thoát ra từ cái tủ gỗ trông như một cổ mộ của Ai Cập. Tôi co thân, thu cả hai tay vào trong bắp đùi, nhắm nghiền đôi mắt rồi tự vẽ ra trong đầu tấm thân nuột nà của Laura. Cô giống mẹ nhiều hơn bố, giống ở cách ứng xử thật điềm đạm, dễ tủi thân và thích tự mình tìm lời giải ở mỗi vấn nạn; nghĩa là cô mang đủ tính chất đầy nữ tính và khi kề cận nó luôn khiến tôi han hỏi, quan tâm, ưa tìm hiểu. Cô giống mẹ cô cả ở thể hình, ngực Laura không lớn, chẳng mấy cao và mái tóc dài mượt mà như những thiếu nữ phương đông. Tôi mơ thấy những bước chân rón rén của Laura bước nhẹ xuống từng bậc cấp, cô lật mền ra và nằm ủ tôi trong cái máy sưởi thật diệu kỳ luôn phát nhiệt giữa tứ chi. Tôi thiếp đi.

Không biết đã mấy giờ, mặt trời chưa lên. Tăm tối vây bọc bốn phía, sáng nhờ nhợ là khuôn mặt cận kề của Laura. Cô lay tôi, đánh thức tôi dậy. Khuôn mặt Laura đẫm ướt như một kẻ vội vàng rửa mặt mà chưa dùng khăn lau. Đi, dậy đi nào, mau lên. Chút rượu nồng còn vướng trong hơi thở cấp bách của Laura. Tôi xỏ chân vào đôi giày, không kịp cột dây để một bàn tay chẳng cưỡng chống theo sức lôi quyết liệt của Laura. Như một cuộc liều thân vượt thoát chốn ngục tù, tôi chưa hoàn hồn khi ngồi vào trong xe. Sương xuống lạnh làm kính xe mù mịt. Chuyện gì đã xẩy ra? Hai kính gạt nước làm cảnh vật sáng tỏ dần nhưng hồ nghi trong lòng vẫn bưng bít. Chạy xe đi. Laura hối thúc. Một cuộc vượt ngục ra đi mạng không, tất thảy đồ đoàn phải chịu để lại. Sao kỳ cục thế? Xe dằn xóc trên con đường dần xa vũng tối, quận lỵ nhỏ bé nằm phía dưới kia nhấp nháy từng vụn sáng. Sẽ xuống tới, sẽ tấp vào, sẽ kiếm một cốc cà phê và sẽ hỏi cho ra lẽ.

Laura rấm rức, rồi tiếng khóc chẳng kềm giữ bật lên. Chẳng lớn, nhưng đủ chứng thực tâm trạng của một kẻ đang bấn lòng đớn đau. Tôi dừng xe, tôi tìm sợi dây an toàn để cài thân cô lại trên ghế, loay hoay tôi phát hiện cô quên không mặc áo nịt ngực. Ngực mềm đang thổn thức. Tôi vuốt tóc rối cho cô, da Laura lạnh. Tôi cởi chiếc áo ấm của mình ra để phủ đắp cho thân kia mãi run. Tôi hỏi nhưng đáp trả vẫn là những giọt nước nóng mãi đổ xuống. Tôi ngó chiếc quần dùng để mặc khi ngủ của Laura nhăn, có chỗ bị xé rách và tôi đã hiểu ra.

Tôi cho xe về lại thành phố trong bình minh nhọ mặt người. Một đôi khi người ta bị du vào cái thế chẳng muốn nhìn mặt nhau, bởi cả trăm lý do. Tôi chẳng còn lòng dạ nào ghé mua cà phê vì tiên quyết là Laura chẳng muốn gì cả, muốn bó thân chẳng cục cựa và về nhà sớm chừng nào hay chừng đó. Sẽ nhào vào phòng tắm, đứng kỳ cọ dưới vòi sen mà hơi nóng dâng đầy làm mờ tấm gương soi bắt đối diện.

Bảy giờ sáng, xe đỗ trước apt. Laura mướn. Cô nói trong cúi mặt, sẽ điện thoại lại sau. Và rồi lách người qua khung cửa ngập lá. Chưa bao giờ tôi đưa cô về nhà với thứ y phục cô mặc trên người tựa thế. Cũng chưa khi nào tôi thấy tôi vụng về như hôm nay. Một tấm kiếng đã rạn, tôi sợ thốt nên lời gì thì tự khắc tấm kiếng ấy sẽ vỡ vụn xuống, manh múm. Còn quá sớm, tôi chẳng biết cách để phung phá thời gian. Tôi đốt thắp một điếu thuốc rồi nhớ ngay ra đôi mắt thu giữ đốm lửa kỳ dị của ông bố Laura. Ở sát rừng, neo thân. Đã bao năm vắng bóng đàn bà. Tu gần hết chai rượu và đứa con gái nằm ngủ ngay trên chiếc giường quen thuộc của mình giữa khuya vắng tẻ…

Tôi lái xe tới căn hộ của người mẹ Laura. Không riêng bà, có khi tôi cũng nhìn ra chiếc bóng cô đơn mãi in vào vách của mình. Bà không biết điều hệ trọng, là cô con gái bà đã đánh rơi đôi bông tai bà tặng trên chiếc giường người chồng đã ly dị cả chục năm. Ông ta sẽ cất nó làm vật kỷ niệm và khi uống rượu say, có thể ông sẽ ngồi rung đùi thoáng nhớ về hai người đàn bà đã đi qua đời tôi.

Cửa mở không mấy lâu sau tiếng chuông. Mẹ Laura mặt tươi tỉnh: Người già thường ngủ ít, đâu có hề gì, bao giờ cậu tới thăm tôi đều hoan hỉ cả. Đứng vác mặt ra ô cửa sổ tôi đã trông thấy cậu xuống xe. Đi đâu sớm thế? Tôi cởi gày để đi vào ngồi trong căn bếp, bao giờ cũng vậy dù củi lửa nguội lạnh, chỗ ngồi kia, theo tôi, nó ấm áp nhất nhà. Hơn bao giờ hết tôi muốn được mẹ Laura pha mời tôi một cốc cà phê, dù đó là thứ bột hoà tan chẳng mấy hợp khẩu vị của tôi. Như vậy nè, con tính mượn chỗ bác để nấu một món gì đó và chúng ta cùng chung đũa. Bác sẽ gọi giúp con mời Laura tới dùng bữa thì vui thú hơn. Bác nghĩ sao? Khuôn mặt mẹ Laura giãn nở trông thấy: Tôi là người hạnh phúc, bởi con bé ấy đã quen được cậu. Tấm lòng cậu dành cho chúng tôi thật đáng quý. Uống cà phê xong cậu chở tôi đi chợ luôn thể, nhé. Tôi sẽ học cách tự mình nấu lấy những món đặc sản của xứ cậu.

Tôi bưng cốc cà phê cho ấm đôi bàn tay và đi nhìn vào từng khung ảnh treo đầy vách. Có một tấm đen trắng chụp người đàn ông đang bế trên tay một cô bé chừng tám, chín tuổi. Mặt người đàn ông tiềm ẩn nét gì ngó chẳng mấy thiện cảm trong khi cô gái mặc đầm trắng thì trông như một thiên thần. Người đàn ông kia chừng không muốn trao thiên thần cho tôi, hoặc trước khi sớt chia ông muốn tự mình làm hoen ố, cướp mất sự thánh thiện có ở thiên thần lạc loài ấy.

Như vậy, bức tranh thu như Laura dự tính thực hiện đã không thành. Đợi ngày lành tháng tốt tôi sẽ đề nghi Laura thay vì vẽ phong cảnh hãy đổi ra vẽ chân dung. Đề nghị mẹ Laura ngồi ở giữa mà tả hữu có đôi vợ chồng vụng dại đứng thiết thân. Cái đẹp có trong bức tranh sẽ phát quang, làm lu mờ và đánh đắm những bức ảnh kỷ niệm ngày xưa mãi treo chật chỗ này. Tôi mường tượng là mình nghe rõ những tiếng cười reo vui, tán đồng, hân hoan trôi trên tháng ngày buốt giá sắp về, phủ chụp.

Hồ Đình Nghiêm

1 tháng 11. 2016

Bên kia là bóng đêm

www.phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 30 Oct 2016

Post by Sơn râu 25 Dec 2023

Trời mưa rầm rộ, nước đổ xuống mang cùng với xối xả là lượng âm thanh đầy ứ, nuốt trôi mọi tiếng động. Con đường chìm đắm từng vụn đốm sáng, nhòe đi, chóng lẫn vào bóng tối. Đâu khoảng mười giờ, chắc vậy, vì xuất phim cuối ngày vừa chấm dứt.

Từ rạp chiếu bóng, anh đi bộ men theo dãy phố lạnh gió, nép thân dưới những mái hiên nhà đóng kín cửa. May mà hồi chiều anh có mang theo áo mưa, nhưng mặc nó vào chỉ mong cho người khô ráo được phần nào hay phần đó. Sẽ chẳng có một loại áo che mưa nào trên mặt đất này chịu đựng được thứ vũ lượng khủng khiếp của chốn đây.

Lộ trình về nhà mỗi khi một vắng tẻ và anh bắt đầu cảm nhận rõ sự lạnh lẽo đang tìm cách xâm chiếm người anh. Mon men ban đầu nhưng chẳng mấy lâu nỗi buốt giá kỳ cục đã vây khổn toàn bộ khiến anh phải run lên. Do gió mưa tác động, đồng ý; nhưng phải nên tin là có khi người ta phải la lên: Lạnh từ trong lạnh ra! Lá cây luôn rùng mình trên đầu và con đường đen đúa chẳng trồng cột điện này thì mọc thật lắm cây. San sát và song song hai hàng đồng dạng, vòm lá giao nhau nhưng chúng chỉ  đủ sức để ngăn cho bong bóng khỏi vỡ ra giữa mặt nhựa hắc ín hư hao nhiều ổ gà đọng vũng. Ếch nhái ễnh ương từ cái hồ cạn sau vạt cỏ tranh luôn kêu gào thứ tiếng có vẻ trách móc. Nghe buồn, dù nó hài hòa khi đệm theo bản giao hưởng mà mưa gió chẳng mỏi mệt oán than.

Anh sải bước đi nhanh với ý nghĩ là cơ thể vất vả ấy sẽ làm cho người anh ấm lên. Anh hình dung ra một chỗ nằm, buông mùng xuống kéo chăn lên kê gối cao và giấc ngủ êm ả từ tốn đến. Hình như người ta chỉ trằn trọc mất ngủ vào đêm hè nóng bức chứ không một ai trắng con mắt thao thức giữa cơn mưa nghe thì thào ngoài chấn song. Mưa ngoài trời luôn có khả năng vỗ về cho những đứa nằm yên trong chăn nệm và hắn sẽ chóng ngủ, ngủ như một đứa con nít.

Anh đi nhanh, anh chẳng lẻ loi, anh qua mặt một bóng bộ hành và tự dưng bước chân anh bị trì kéo lại. Một người con gái, cô run rẩy bởi vì cô tuyệt không có mặc áo đi mưa. Lạ, cô đi đâu giờ này và rất mực đơn thân? Giận lẫy người tình? Cha mẹ rầy la? Bài thi bị đánh rớt? Người ta có cả vạn lý do để dầm mưa trong đêm vắng. Hay cô là thi sĩ? Về nhà trùm chăn chong đèn để làm thơ sau khi chết chìm trong việc đi nhặt cảm xúc quá chừng lãng mạn?   Anh chậm bước để chờ một sánh đôi. Kỳ cục, người ta là con gái, người ta sẽ dậm chân tại chỗ lòng hoang mang chẳng rõ ý đồ thằng dở hơi kia. Sau rốt thì anh quay người lại, anh ước ao có chiếc xe gắn máy nào chạy ngang để cho ngọn đèn sáng liếm vội vào người con gái. Quét một nhát thôi, đủ để anh nhìn thấy khuôn mặt cô. Hiện tại vũng tối đang chôn cô, hoặc mái tóc dài của cô đã một phần bưng bít sắc diện. Cô gầy ốm, bộ áo quần cô mặc sáng nhờ nhợ qua màn mưa và mưa đang bắt đầu thưa hạt. Tôi có thể đưa cô về nhà không? Anh cất tiếng. Để rõ ràng hơn, anh nói: Bởi vì tôi có áo mưa và cô sẽ an toàn hơn khi có bạn đường. Cô cúi đầu, tần ngần, có vẻ toan tính. Được, nếu anh muốn, nhưng không chắc là anh sẽ đưa tôi về đến nhà. Anh cảm thấy vui thú vì điều cô nói. Giọng cô mềm yếu, khi xa khi gần, có vẻ không thực. Anh cười thành tiếng. Cô khởi sự bước đi: Vì nhà tôi ở một chỗ xa xăm. Vậy sao? Xa tới độ tôi chẳng thể đi theo? Đúng như vậy. Cô khẳng định. Anh nghĩ đó chỉ là lời từ chối khéo. Ở đuôi mắt anh đọng một vệt sáng. Qua khỏi công viên kia là chỗ ở của tôi, nhà tôi còn chong đèn hình như mẹ tôi đang chờ cửa và sức tôi thì e chỉ bước được tới giới hạn đó thôi. Tôi biết. Giọng cô gái nhẹ thoảng. Anh ngó ra cái hình hài thấm nước luôn run của cô gái mà không đành lòng, anh đề nghị: Cô nên mặc chiếc áo mưa này kẻo cảm lạnh. Để hiệu quả, anh cởi áo ngay sau câu nói. Cám ơn anh, nhưng như vậy thì anh nghĩ sao về việc hoàn trả. Giản dị thôi, cứ cho tôi địa chỉ một nơi thật xa của cô rổi mai mốt tôi sẽ tới gõ cửa đòi nợ. Chiếc áo mưa hơi lớn nên cô trùm từ đầu xuống, lết phết, lụng thụng, quái lạ như hình nhân của bù nhìn cắm giữa đồng không mông quạnh. Cô dúi vào tay một vuông giấy nhỏ. Tên và chỗ ở của tôi đã ghi cả vào đấy. Da thịt cô lạnh và anh thu cất mẩu giấy tái tê vào túi quần. Tạm biệt, anh nói, hẹn gặp lại.

Anh bước về nhà, ướt hơn con chuột lột, anh ngó lui, chỉ có bóng tối, không còn cái nhân dạng vừa đứng cận kề.

Hôm sau, trời quang mây tạnh. Ấm áp hơn ngày trước dù mặt trời vẫn dấu mặt. Anh thay bộ áo quần mới, sạch và quyết tâm đi đòi nợ. Chiếc áo mưa chỉ là cái cớ, anh thật sự muốn nhìn rõ mặt người con gái cả gan dầm mưa một mình trong đêm thâu. Anh đã thử mường tượng ra nhiều dung mạo và điều kỳ lạ là anh ngờ cô gái kia sẽ có một bộ mặt dễ nhìn, trên trung bình, anh hồ đồ tin thế. Theo địa chỉ ghi trên tờ giấy nhàu nát, anh tìm ra nhà cô không mấy khó. Thực sự thì cô khéo hù dọa, xa xôi gì đâu, mất có nửa giờ đạp xe chứ mấy. Hơi khuất lấp, nằm cuối xóm vắng lặng. Nhà xây lối cổ, có bình phong án ở mặt tiền, nhiều cây cối. Anh dắt xe vào sân, cỏ mọc giữa những vuông xi-măng lót dài lối đi. Nhà chẳng đóng cửa, cửa mở và dựng đứng một khung đen ngó âm u. Một người đàn ông từ vũng tối bước ra, râu tóc thảy bạc trắng. Ông nhìn anh với hai hàng lông mày nhíu lại. Cậu tìm ai? Dạ chào bác, tôi muốn hỏi có cô M. ở nhà không? Ông ngó anh từ đầu tới chân, sau cùng thì dừng đôi mắt nhìn sâu vào mặt anh. Hắn chẳng phải đầu trộm đuôi cướp, bộ vó ấy không phải đứa cù bơ cù bất du côn mất dạy. Điệu bộ thành khẩn e có mang ít nhiều thiện tâm. Anh tìm con tôi? Chuyện lạ! Dạ thưa bác, hôm qua mưa to, tôi có cho M. mượn tạm chiếc áo che mưa… Thôi được, đừng dông dài, cậu đi theo tôi.

Sâu sau vườn rộng có khoảng đất phủ đầy cỏ, hun hút sâu. Chủ nhà quay mặt nói lui, tiếng nhỏ, vừa đủ cho anh nghe: M. nó vắn số, con tôi mất như vậy đã gần ba năm. Anh đứng khựng lại khi nhìn thấy chiếc áo mưa của anh phủ kín một gò đất cao, tròn vin hình thể một nấm mồ. Người đàn ông cũng cắm chân, không cục cựa. Có lẽ tôi nên vào nhà lấy ra một bó hương, anh đợi tôi. Chúng ta cùng thắp cho M. ít cây nhang để an lòng xin lại chiếc áo. Anh cảm nhận một đường lạnh đang xuyên thấu người, tựa hồ đang hứng chịu một lưỡi kiếm bén vừa lút đâm. Anh run rẩy cúi đầu đọc hàng chữ khắc trên bia, tên họ ngày tháng năm, sinh và tử. Anh nhẫm phép tính trừ và kết quả cho ra: M. sống trên đời đúng 18 năm. Vắn số! Và thật hiền lành.

Anh không có lắm bạn gái. Anh nhút nhác, chẳng biết cách tán tỉnh và thường thì con gái chả bao giờ chủ động một lân la. Họ đợi chờ, sau đó họ phân loại để khi ứng xử họ sẽ mang bộ mặt thân thiện hay lãnh cảm. Anh luôn đối đầu với nhiều lãnh cảm và anh ngán, chẳng hiểu tâm tính của “chị em phụ nữ”. Ngồi trong quán cà phê, những thằng bạn anh thảy đều có bồ, chúng tự tin và bộ dạng chúng có vẻ như sành đời. Thảng hoặc anh bắt gặp sự ủ dột của một vài đứa, anh hiểu do đâu nó đổ bệnh như vậy. Nó bảo, đó là niềm đau khổ thật dịu dàng. Tựu trung, anh ước ao có ngày anh sẽ tìm ra được một người tình, đó là người nữ gom đủ đặc tính vừa là em vừa là chị vừa là mẹ. Nghèo thì lúc nào cũng ham, cho nên mấy cô ưa mắng: nghèo mà ham thì xằng bậy, thật khó nghe!

Anh cô đơn, cùng đi trên một con đường, nhưng có lẽ mình anh hứng chịu nhiều gió mưa hơn bạn đồng hành. Anh vẫn tin, khi kề cận sánh đôi cùng bạn gái hẳn lòng mình sẽ rất ấm. Ở tuổi 18, người anh nóng lên khi quen H. Cô là người chứng nghiệm rõ bao vụng dại mà anh đã mù quáng lỡ gây ra. Anh là tấm gương để khi soi mặt cô hiểu về nhan sắc mình mang, anh là cuốn vở để cô tha hồ ghi vào đó những vệt mực nhòe, cày xới đường ngang nét dọc. Anh là cuốn truyện cười để cô ngặt nghẽo, là chiếc xe chở cô đi qua những muộn phiền. Có thể cô cũng quan niệm. một người bạn trai là người ấy gom chung hình ảnh một đứa em một người anh và… một thằng đàn ông. Hãy chìu chuộng tôi vì bạn là giống đực, bài học vỡ lòng là bạn phải “ga-lăng”.

Anh thường chở H. đi xa ngoạn cảnh. Đi xem phim, đi uống nước… Những sứ mạng bình thường như bất cứ đôi tình nhân nào hẳn phải làm. Cái chẳng được bình thường là cả hai hầu như chưa một lần hôn nhau. Thánh thiện tới độ Chúa đóng đinh trên thập tự cũng phải quay đầu chẳng muốn nhìn đứa “phàm phu tục tử”. H. có bỏ công đan cho anh chiếc áo ấm. Chỉ tám búp len nên thành quả chiếc áo ngự hàn trông như áo giáp bó chặt lấy thân anh. Mặc nó, anh cử động không mấy thoải mái, hơi khó thở; nhưng tất cả đều là nguyên do của sự xúc động luôn bủa vây. Anh mường tượng ra hai bàn tay H. luôn thao tác, chiếc áo chưa tượng hình nằm chẳng yên trên đùi H. Cô thử ướm trước ngực, cô mỏi mắt vất nó bên chăn chiếu để trùm mền ngủ, và tóm lại nó thu cất tất cả những hương mùi H. mang. Chưa có chiếc áo nào thơm tho tựa thế. Anh u mê khi tròng nó vào và anh hài lòng với cái trạng thái lú lẩn ấy.

Chiến tranh lan tỏa, thành phố kinh hoàng khi phải cưu mang bộ mặt hung dữ ấy. Mọi người đồng loạt bỏ chạy. H. chạy, anh chạy và hai đứa lạc nhau. Lạc như cánh diều đứt dây để gió cuốn hút nó vào cái thinh không rộng lớn. Anh làm thân con diều tả tơi rơi về miền đất lạ, đoạn chỉ ngắn, lần không ra dấu vết tăm tích H. Hình ảnh cô dằn vặt trên những đoản văn anh viết như một nguôi ngoai trên vùng đất mới. Không gì buồn đau hơn khi anh đánh mất cùng lần cô em gái, người yêu, người chị và người mẹ. Anh sống với những mộng mị, cơn sóng thần luôn xô vào giữa đêm đen và H. là ngọn hải đăng đã bị nhấn chìm.

“Chào ông, tôi đánh tên ông vào Google và hay biết ông có viết truyện. Tôi đã cực lòng dọ hỏi email của ông để sau cùng thư này được gửi đi, mong không lạc vào mắt người dưng. Tôi là chị của H., đau buồn tin cho ông hay là em tôi đã mất tại Sài-gòn vì bạo bệnh. Sau đám tang tôi có dọn dẹp tư trang sách vở áo quần em tôi và vô tình đọc trong nhật ký những trải lòng, những kỉ niệm có giữa H. và ông. Tuy xưa cũ, mặc dù hai người chỉ là tình nhân một thời, tôi mạo muội loan tin này tới ông với hy vọng em tôi sẽ không trách cứ, cũng như ở phương xa ông không lấy đó làm điều. Tôi đắn đo và tôi nghĩ mình chẳng phải đứa nhiều chuyện. Tôi sẽ cất giữ những kỉ vật ngày nào ông trao cho em gái tôi, sẽ bàn giao lại nếu một mai ông thu xếp ổn thỏa mọi thứ để về thăm quê hương, viếng mộ phần em gái tôi bất hạnh. Mong ông sức khỏe.”

Anh ngồi trước màn hình, đâu mặt với một ảo ảnh. Chữ nhòe đi. Đó là con sóng vừa đánh vào, rút vội ra, mang theo những linh hồn, hoán đổi mọi xấu xa bày biện đầy bờ bãi. Đầu óc anh lợn cợn, mê muội như qua sông đón nhận chén cháo lú từ bóng đen trùm kín mặt. Người ta sẽ quên tất nếu húp xong thứ chất lỏng dị thường kia, nhưng anh thì không tựa hồ như anh có phép phân thân. Anh biết ký gửi một phần đời của mình vào rương kỉ niệm mà chìa khóa là thứ vật bất ly thân. Anh sẽ mở nó ra vào những lúc quạnh quẽ, những hao hụt do bởi vấn nạn của trí nhớ cũng không thể tác động làm cướp mất hình ảnh H. Tuy vàng vọt, tuy nhăn nhàu, tuy ẩm mục, tuy sờn rách nhưng nó còn đọc ra một chứng tích. Nó hiện hữu tựa như chiếc áo len sờn cũ ngày nào anh còn cất giữ trong hộc tủ.

Anh đi phố Tàu như một kẻ mộng du, anh mua giấy vàng bạc hương đèn hoa quả như nghe một thầm thì của kẻ khuất mặt vừa nhắn nhủ. Anh tắm táp sạch sẽ trước khi bày đồ ra cúng như học lóm cách mà người ta làm đêm trừ tịch. Anh đổ mồ hôi sau khi xốc xáo tìm được tấm ảnh H. nhét trong một cuốn album vàng ố. Với khả năng hạn hẹp về cách sử dụng máy điện toán sau cùng anh cũng in ra được một dung nhan buồn câm có táy máy tới photoshop. Anh ngó H. Lòng anh nổi gió nhưng miệng lưỡi lặng lờ chẳng máy môi được. Đành rằng cách nửa địa cầu đã là một âm dương nhưng cái chết là bản án quá sức cay nghiệt. Anh vẫn tằn tiện và nuôi dưỡng một ước muốn sẽ có ngày về thăm lại H. Anh cương quyết tắm được hai lần trên cùng một dòng sông. Anh sẽ và anh sẽ…

Trời mưa, nhỏ hạt. Như nước mắt của ăn năn chứ không rầm rộ do muốn biểu tỏ một đớn đau bất hạnh. Anh bước xuống khỏi bậc thềm úng thủy của rạp Châu Tinh, cuốn phim hay và nó chưa tiêu hóa trong anh, làm nặng những bước chân khi rảo về nhà. Nhà trong thành nội nhiều cây lá thâm u đứng gội mưa xao xác. Nắng thì đom đóm bay chập chờn vụt sáng vụt tối. Mưa như thế này thì cóc nhái ễnh ương tha hồ hợp ca trong hân hoan. Hân hoan bởi chúng an lòng vì bóng tối ngự đầy, vây bọc. Đen như một lọ mực xạ đậm màu gần quánh đặc, tựa hồ có tấm màn dày từ trời cao vừa giăng bủa xuống. Đứng gần cũng nhìn không ra, nhọ mặt người. Anh cắm cúi bước, để trấn tỉnh anh chu môi huýt gió từng khúc nhạc ngắn, tùy tiện. Có bóng trắng di động đằng trước, đốm sáng nhẹ lay giữa mịt mùng luôn làm mình ái ngại. Anh thôi huýt sáo, miệng khóa cứng. Màu trắng vụt hiện. A, anh la lên. Đi đâu về khuya bắt H. đợi. Bóng trắng nói, giọng pha chút nũng nịu. Nhà H. ở tận dưới Gia-hội sao cô một mình giữa đêm hôm lạc bước chốn này? Không dù, chẳng tơi chẳng nón. Anh muốn lợi dụng sự vắng tẻ để ôm hôn H. nhưng cô lãng tránh rất nhanh. Cởi chiếc áo len ra, H. có cách làm cho nó rộng chứ chật thế ngó như mặc nính của ai đó. Người ta sẽ chê H. không biết cách đan áo và tội tình chi mà anh phải chịu bó thân. Anh nghe lời, không mấy khi anh làm phật lòng H. Những thằng bạn qủi quái bao giờ cũng bình phẩm anh: Đồ dại gái, hô đâu chạy đó!

Hôm sau, bãi học, tan trường, anh xuống nhà H. Nhà vắng ngắt, người chị gái mắng mỏ đồ vô tâm rồi loan tin H. chết rồi. Chị đừng ăn mắm ăn muối, mới hôm qua H. đến lấy lại chiếc áo để sửa cho vừa kích… Đi theo tui. Sau vườn rộng có ngôi mộ chưa xanh cỏ, có ai vắt chiếc áo len của anh lên mộ bia…

Anh giật mình tỉnh giấc, anh vừa thiếp đi trên ghế. Hương đã tắt trên ly đựng gạo, khung ảnh H. như có xê dịch vị trí. Cái thau nhôm hứng tro giấy vàng bạc đốt có nhiều tờ còn lành lặn. Mồ hôi chảy dọc sống lưng, anh đi vào phòng ngủ lôi kéo tất cả những ngăn hộc đựng áo quần, bới móc, giũ trải, xốc xáo vẫn không tìm thấy chiếc áo ấm cổ tích.

Anh mở máy vi tính, gửi email: “Thưa chị, ngày mai tôi đi mua vé Air Canada. Sẽ thông báo chi tiết ngày giờ chuyến bay, mong được chị đón ở Tân sơn nhất. Hẹn gặp một ngày rất gần. Chị làm ơn thắp giùm tôi một cây hương cho H. Cám ơn chị”. 

Hồ Đình Nghiêm

October 2016

Bắc Nam hai nhà

www.phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 18 Jun 2021

Post by Sơn râu 25 Dec 2023

Tôi ở phương bắc giá lạnh hai mùa, anh ở phía nam quanh năm nắng ấm. Một cục thịt dấu trong ngăn đá hoặc thi thể con người đút trong hộc lạnh thì bảo quản được dài lâu, không thối vữa; nhưng để “nó” trần như nhộng, ơ hờ chả ngó ngàng tới, giao mạng cho thiên nhiên hành xử thì sẽ chóng bốc mùi. Trật một li sai một dặm cho lối so sánh vụng về kia bởi chúng ta nào phải tử thi! Năng động với nắng nôi, với biển cả, so ra anh “tươi nhuận” hơn tôi vạn lần, đứa mãi co ro với khí hậu khắc nghiệt. Bốn mươi năm tôi xa vùng nhiệt đới, cũng chừng ấy năm tôi chưa thấy lại biển và ngó ra anh.

Cuộc hội ngộ nào cũng mang tới ít nhiều cảm động, sóng gào ngoài xa để vồ vập từng đợt vào bờ chào đón tôi không mỏi mệt. Anh thì không, tính khí trời sinh vốn vậy, ít biểu tỏ, ít để lộ ra ngoài cảm xúc, cô lại một sự dửng dưng. Tôi đã dự cảm ra “tình hình” đó nên không lấy thế làm điều. Cứ nghĩ hôm nay còn nhìn thấy nhau, chuyện mai này thì khác gì sóng xô cát lún rong rêu tấp đầy. “Vui là vui gượng đấy mà”, tôi chẳng buồn nhớ câu sau in trong truyện Kiều.

Biển không ngừng rì rào như dẫn bắt trí nhớ tôi lục lạo về những hồi tưởng. Cao uỷ đặc trách vấn đề những người tỵ nạn của Liên hiệp quốc cho hay, có gần triệu thuyền nhân, những linh hồn lạc lối phải chịu “định cư vĩnh viễn” dưới lòng thuỷ mộ hoặc thất tung trên các hoang đảo nào đó. Biển mang tôi tới phương bắc, Hương Cảng trong khi sóng bạc đầu xô anh tấp vào Mã Lai, hướng nam. Rồi tôi đổi đời trú thân ở Canada, phương bắc và anh lại thiên di về đậu Mỹ quốc, phương nam. Da dẻ anh rám nắng có thể ngay từ khi khoác áo chiến binh chứ không mới thay hình đổi dạng nhờ sóng nước vùng Tampa hiền hoà này. Các ông quan xưa khi về già thường vui thú điền viên, ở đây sáng tối anh mang tơi đội nón ra biển ngồi trì chí buông cần câu cá. Thú vui lành mạnh chưa kể công việc làm ngư ông ấy là niềm hãnh diện cần tỏ bày, tự mãn: Đời nào tao tốn tiền chợ, sẵn “cây nhà lá vườn” tội gì không săn bắt thụ hưởng! Anh giỏi chế biến thực đơn, với đôi ba con cá tươi rói, với dao thớt với củi lửa anh có thể nghĩ ra tới sáu bảy món khác biệt. Anh mời tôi đánh chén nhưng tôi chẳng mặn thứ “sơn hào hải vị” kia. Cơm hàng cháo chợ e tiện cho đứa đi bụi như tôi, chính hiệu Tây ba-lô đầu đường xó chợ. Liên tưởng ra thành phần “Tây ba-lô” bởi vì chốn tôi ở người ta sử dụng tiếng Pháp, Anh ngữ tôi gà mờ, chất lỏng lẻo trong ba lô bèo nhèo khi xâm mình sang đây. Ngán chi chuyện ú ớ, bốn phương vô sản đều là anh em! Lo bò trắng răng? 

Do một phần biết thắt lưng buộc bụng, anh để dành được hơn trăm ngàn. Anh cho hay và tôi phải vận dụng chất xám để giải trình một bài toán đố. Tôi không tin đâu, tôi nhủ thầm. Bên xứ lạnh tôi làm công nhân đầu tắt mặt tối cũng chỉ tay làm hàm nhai. Chưa rơi vào cảnh “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi, van nợ lắm khi tràn nước mắt” như cụ Tú Xương là đã sướng trong bụng rồi. Một trăm ngàn tiền “In God We Trust”? Nằm mộng cũng chẳng ngờ. Không dám đâu! Mạ tôi dùng chữ rất hay để bình phẩm tôi: Đồ mạt máu! Cảm rằng hay nhưng hiểu cho thông thì bù trất. Không hiểu rõ nhưng nói nào ngay, tôi mạt máu thật.

Anh nào là thầy bói, giỏi chấm số tử vi, biết xem mặt mà bắt hình dong; tuy vậy anh khẳng định là anh sẽ chết trước tôi. Chứ gì nữa? Đứa nào sinh trước một năm thì về gặp ôn mệ sớm một năm, cứ theo thứ tự như vậy mà xuôi tay. Tôi không nói gì, giá mà gần đây có một nghĩa trang tôi sẽ xúi anh cùng vào để nhìn mặt từng tấm bia. Bọn hưởng dương vắn số chết trẻ nằm hà rầm ra đó. Có đọc báo không? Nhiều sản phụ sinh con gặp ca khó, bác sĩ cùng y tá quyết định có sự đồng ý của ông chồng, vì muốn cứu sinh mệnh của người mẹ buộc lòng phải để hài nhi tắt thở. Anh mà làm bác sĩ trưởng khoa, với thứ quan niệm “lá rụng về cội” kiểu phản khoa học đó chắc anh sẽ hạ đao không khoan nhượng, giết phăng người đàn bà đi biển mồ côi? Hài nhi lớn lên ai nuôi? Thọ được bao lăm khi vắng tình và thiếu tiền?

Anh không rượu bia, chẳng thuốc lá, chỉ hơi bị ham mùi đàn bà. Anh có khiếu viết văn, hồi ký tự thuật chuyện đời đã lên tới con số 600 trang nhưng muốn dùng kính lúp để soi, có là tài thánh mới phát hiện ra chuyện  “mèo biết dấu cứt”. Theo thông tin chùng vụng của bạn bè anh đưa tin: Chừng một tá bóng hồng từng đi qua đời ổng. Chao ôi! Giá mà tôi được phân nửa chất hào hoa, sát gái của anh nhỉ? Chí ít thì con người anh cũng khiến tôi ba phần tâm phục bảy phần khẩu phục. Một gã đàn ông thân nầy ví xẻ làm đôi sống với hai vợ, chừng đó cũng khiến tôi nhất bộ nhất bái rồi. Gã có hao tâm tổn trí không? Gã làm sao đơn thân đương cự và dẹp yên cùng lúc hai mặt trận lúc nào cũng dầu sôi lửa bỏng? Ba đầu sáu tay chăng? Mưu thần chước quỷ chăng? Giỏi dương đông kích tây chăng?

Có lúc buồn miệng anh bộc lộ quan điểm: Miền Nam mất nào lạ gì, bởi đó là guồng máy của tham nhũng, vận hành từ trung ương xuống địa phương… Tôi ngồi nhấp nhổm trên ghế khi nghe thứ bán trời không văn tự kiểu đó, hoặc khi nói anh quên đưa tay rờ lui sau ót. Không phải anh từng là quan tham nhũng một thời đó sao? Tiền khi đó vào nhiều như quân Nguyên. Bạn đếm lá trên rừng được không? Tôi cũng lắc đầu giống bạn vậy. Tôi làm thinh, vác mặt ngó những cánh cò cùng đôi ba loài chim biển bay dật dờ bên bãi vắng. Vì nghĩ mình “ra đi” trước tôi nên anh có ý định xuất bản một cuốn hồi ký cho con cháu nó tường cảnh sinh hoạt thời đó đầy bom rơi đạn lạc mà cha ông từng cầm cự đối kháng. Vì nghe người ta đồn đãi rằng tôi từng in ra đôi ba cuốn sách nên anh tỏ vẻ tín nhiệm khi trao thứ niềm riêng, vật bất ly thân ấy cho tôi nhuận sắc trước khi trình làng. Mày tuyệt đối không được sửa, được cắt bỏ, nhớ chưa? Chỉ thay đổi chấm phết sao cho văn cảnh được trơn tru thôi, ô-kê? Viết cho tao lời dẫn nhập sao cho lôi cuốn để dụ người đọc. Tao đưa trước cho mày 250, một nửa tiền thù lao, số còn lại tao sẽ thanh toán sau. Hãy luôn nhớ câu “huynh đệ chi binh”, ngày xưa mày đứng nghiêm kính cẩn chào tao đến gãy tay, mấy khi mà được, bởi gặp mặt “phượng hoàng” đâu phải dễ. Tôi gật đầu, dạ đại bàng nói vậy thì em xin nghe. Hô xung phong phải xung phong, bảo cố thủ thì quyết không chạy làng. Bắn tới viên đạn cuối cùng rồi buông súng, an tâm đi cải tạo như lời chúng nói.

Nhận hai trăm rưỡi tiền ông thầy lè lưỡi đếm từng tờ, tôi mạnh bạo đi thử các quán ăn ở vùng này. Thật mấy khi. Đời có bao lăm mà hững hờ! Nên thụ hưởng số tiền vừa từ trên trời rớt xuống. Nằm thư giãn dưới gốc sung thế nào cũng có lúc sung rơi vào mồm khi đang hả miệng ngáp vặt. Quán phở hôm ấy đông thực khách, nhiều người ăn thì ắt ngầm thông báo là đầu bếp cao tay nghề. Vào quán vắng ngắt như chùa bà Đanh thì ngay cả nước trà mang ra cũng lạnh nhạt mất hương mùi. Ế ẩm thì thực phẩm phải tồn đọng, hai ba ngày cứ xào đi nấu lại chừng ấy thứ, ngán lắm. Tiệm vắng thì vui chân muốn ngồi ở đâu xin tuỳ hỉ, nhưng đông như này phải đứng ở cửa chờ nhân viên trong quán dẫn lỗi. Tôi được dắt vào trong góc, sát cái mũi tên đỏ chỉ vào nhà vệ sinh nữ. Cạnh bàn tôi có hai mẹ con đang nắm tấm thực đơn chúi mũi vào săm soi. Người mẹ kiên nhẫn trả lời những dọ hỏi mà cậu con trai cỡ sáu bảy tuổi luôn thắc mắc. Mẹ nghĩ là con nên thử cái số 4 ấy, bởi con thích ăn gà. Thế mẹ chọn số mấy? Số 3. Khi người phục vụ cầm giấy viết đến gần han hỏi, tôi nói gọn: Số 3. Tôi chẳng biết đó là thức gì, tôi chờ một bất ngờ và tôi tin người đàn bà ngồi sát tôi đã bỏ công cân nhắc, quyết định. Bà khởi sự lau muỗng đũa cho đứa con, ý tứ liếc xéo về đứa vừa cất cao giọng chọn món giống y như mình. Tôi rất dốt việc định tuổi đàn bà, nhưng biết chắc bà này chưa qua ngũ thập tri thiên mệnh. Vì sao ư? Vì nhan sắc bà còn tươi, lại nữa đứa con bà đâu đã lớn khôn. Mặt thằng nhỏ có thứ gì khiến mắt tôi phải đậu lại khá lâu, hơi soi mói, hơi sỗ sàng, hơi bị bất lịch sự. Trước khi biết cái số 3 là bát phở tái chín gân thì tôi đã phát hiện kịp: Thằng nhỏ ngồi gần có khuôn mặt giống anh quá, tựa một bản sao mà độ chính xác lên tới 90%. Không biết cách đưa ra một giải pháp khả dĩ làm ổn thoả nỗi tò mò, tôi bèn mở túi ny-lông đựng xấp bản thảo của anh, cố ý gây tiếng động và giả bộ vụng về đánh rơi trang đầu xuống đất. Người đàn bà cúi xuống nhìn, tôi cũng cúi xuống, tờ giấy không che hết những ngón chân có bôi sơn hồng ở móng. Tờ giấy có ghi đủ đầy tên họ tác giả và cái tựa rõ to: “Bắc Nam Hai Nhà”.

Bát phở chẳng ngon, tôi đồ vậy vì người đàn bà chỉ ăn phân nửa rồi gát đũa. Chừng như có thứ gì đã làm bà no ngang. Tôi biết bà muốn bắt chuyện với tôi nhưng mãi ngại ngần, sau cùng bà quyết định dắt con rời khỏi quán trong khi tôi làm như bị chữ nghĩa của anh ấy quyến rũ, xem say sưa. Không quá năm phút tôi cũng đứng dậy, tiến tới quầy trả tiền. Dự cảm tôi có là mình sẽ gặp lại hai mẹ con, đâu đó bên ngoài tiệm phở đầy bát nháo và thọc mạch của vô số thực khách vào ra.

Chiếc xe Nissan hai cửa sơn xám để máy nổ nhưng chưa rời chỗ đậu. Tôi bước lại gần cửa, phía người lái, nơi có cánh tay vừa đưa ra. Chào chị. Tôi nói trong lúc cố nhìn rõ khuôn mặt của thằng con trai. Ba tôi lỡ dại gây hậu hoạn để có một người con ngoài giá thú và lạ lùng thay “đứa em xấu số” ấy nó giống ba tôi hơn hẳn những thằng con ruột của ông. Mạ tôi lập luận, ông trời có mắt, rằng chạy trời không khỏi nắng, rằng đó là thứ “lạy bà tôi ở bụi này”. Bụi nào mà che được với thứ hình dong quá sức lộ liễu kia? Anh là chi với ông ấy? Người mẹ khởi sự lên tiếng. Đó là chất giọng pha tạp vùng miền, không rõ Nam Trung Bắc. Cần gì gốc gác chánh quán, miễn người Việt là đã đủ, đủ cho hơn một lần phải chịu lưu lạc. Dạ, ngày trước tôi là đệ tử của ông ấy, là lính thuộc hạ, dưới trướng. Tôi ở chốn khác sang đây đi thăm các bạn cùng đơn vị cũ và xui khiến bắt được liên lạc với thẩm quyền. Chị có gì thắc mắc thêm? Do đâu anh có được xấp giấy coi bộ dầy nặng kia? Ồ, thưa thật với chị là tôi có viết lách lăng nhăng nên ông ấy nhờ tôi ôm về chỉnh sửa lỗi chính tả và nhuận sắc đôi chỗ. Có nghĩa là ông ta dự định in thành sách? Vâng ạ. Anh đã đọc xong? Chưa ạ, gấp gì, ngày dài tháng rộng, bởi tác giả cho biết đợi Giáng sinh năm nay mới phát hành, nhằm kỷ niệm một mối tình vụt mất.

Người đàn bà nói: Mình không thể đứng ở parking của quán phở trò chuyện dông dài như thế này được. Anh chạy xe gì? Có rành đường không? Mình tìm tới Starbucks tôi mời cà phê. Tôi làm bộ ho hen: Sang đây tôi không thuê xe, bạn bè lo việc đưa đón cả. Thế à! Người mẹ quay sang nói nửa tiếng Mỹ nửa tiếng Việt với cậu con trai: You lui ngồi phía sau cho mom chở mít-tơ này đi nhờ tới quán cà phê, ok? Tôi ngồi vào ghế thằng nhỏ, con ai mà dễ ghét, nói biết nghe! Cách người đàn bà chạy xe ra, cách đổi đường, cách quay chữ U ngược hướng khiến tôi lé mắt, bọn Mỹ chưa chắc điệu nghệ có tay lái lụa cho bằng. Lái với tâm thức đời nhẹ như mây và cõi đời đó tuồng không có mặt bọn cảnh sát siêng ẩn nấp rình phạt. Nãy giờ sao chưa nghe anh hỏi tôi một câu nào cả? Trông anh chẳng lộ ngờ vực khi ngồi chung xe với hai mẹ con tôi? Tôi thắt dây an toàn. Thực ra thì tôi có rất nhiều câu hỏi dành cho chị nhưng vẫn ngại ngùng sợ chị phật lòng. Người mẹ trẻ, nhỏ tuổi thua cả tôi cười gằn. Ông ấy nghĩ tôi làm tiền khi nghe tôi bảo đang cấn thai. Có tin được không, khi mà người đàn ông thứ hai của tôi thương thằng Micheal này hơn cả con ruột. Tôi không có ý bảo rằng “ông thầy” của anh là hạng tiểu nhân, chỉ nhằm tô son vào người đại trượng phu mà tôi đang sống với. Những ngày nhằm xoa dịu bớt nỗi đau, tôi ra biển vắng và bình tâm ghi lại đủ đầy những diễn tiến vụ việc, những thứ khiến tôi nhúng chàm. Tôi không dấu người chồng mới, anh ấy đã đọc hai trăm trang giấy vở học trò và tôi mang ơn lòng độ lượng khoan dung của anh ta.

Chúng tôi ghé vào Starbucks, tôi ngồi với thằng bé cho mẹ nó rảnh tay đi mua thức uống. Tôi ước tôi có được sự hồn nhiên giống nó khi chẳng nề hà trước mình mang họ này, nay mang họ khác. Kêu một thằng đàn ông xa lạ bằng dad với chất giọng thương yêu tin cậy. Tôi tự giới thiệu tên với Micheal, tôi bảo tôi ở Canada thường hằng lạnh giá vừa đi giang hồ sang đây. Tôi nói mẹ của chú mày là một người đàn bà mà thằng tôi luôn nể nang, ưa được làm bạn, thứ tình bạn đúng nghĩa, chẳng vẩn đục. Vẻ mặt thằng con rơi của đại bàng chẳng lộ buồn vui. Theo sách vở nghiên cứu của các nhà khoa học, phải đợi tới 10 tuổi, chúng nó mới nghiệm được sự trống lạnh đáng sợ của cái chết. Mới ý thức rõ niềm đau cũng như hạnh phúc mà con người vật vã muốn chống chọi hoặc thụ hưởng. Nói quanh co gần xa một hồi, Micheal mới cho hay mẹ nó tên Hồng. Nó phát âm không chuẩn nhưng tôi thừa trí khôn để hiểu ra. Like Pink? Yeah.

Hồng trở lại, ly kem cho cục cưng và cà phê đá cho thằng người xa lạ. Anh có muốn làm một cuộc thương lượng với tôi không? Hồng hỏi tôi. Tôi khuấy đường đến sủi bọt. Tôi chẳng biết văn tài của anh đến đâu nhưng khi lọt vào mắt xanh của ổng thì cũng nên tin cậy. Anh có thích đọc cuốn nhật ký của tôi không? Tôi chẳng tin tính trung thực của cuốn hồi ký mà tác giả là người nhiều thủ đoạn kia viết ra, nhưng cần khẳng định những gì tôi trải lòng hoàn toàn là cả một sự thật. Nghe một nguồn tin, quan trọng là ta nên nắm bắt càng nhiều thông tin càng tốt, để gạn lọc lấy cốt lõi hư thực. Tôi muốn anh dùng nó, có quyền chỉnh sửa để in vào cuối tập như một thứ phụ bản hiếm quý của loài uyên ương đã gãy cánh. Anh nghĩ sao? Tôi lắc đầu quầy quậy. Tôi nghĩ e không xong, tác giả sẽ điên loạn kiện tôi ra toà vì vấp quá nhiều lỗi lầm sơ đẳng.  Ông ta đã uỷ thác cho tôi, thậm chí bắt tôi không được tuỳ tiện mang cảm tính vào để vẽ chuyện. Vị tình tôi đã nhận lời, cũng như đồng ý với hợp đồng là 500 đô la trả công.  

OK. Hồng nhún vai. Từ đây tới Giáng sinh anh có bận rộn việc gì không? Có lên kế hoạch nào không? Cuốn vở học trò tôi để sau cốp xe, tôi trao cho anh để nếu có hứng thú, dựa vào những tình tiết ghi sẵn, anh có thể biến nó thành một cái truyện đầy toan tính, đầy hàm oan, đầy tráo trở, đầy nước mắt. Tôi sẽ ký ngân phiếu 2000 cho anh và mong nó chào đời ngay sau cuốn hồi ký của ổng xuất hiện. Mùa Giáng sinh cũng gợi nhắc về một kỷ niệm đớn đau của tôi. Tôi từng làm con dã tràng hăm hở xe cát… Tôi đưa tay chống đỡ lấy đầu mình, tôi ngó vào khuôn mặt dễ nhìn của Hồng: Không phải tôi hám tiền nhưng tôi xin bằng lòng được góp tay vào để vực dậy một sự thật bị lãng quên đã 6,7 năm. Tôi hứa sẽ trình bày câu chuyện mang đầy tính văn chương  nghệ thuật nhất, nếu có thể. Và như thế, công tâm mà nói tôi sẽ viện lý do để từ chối, không buồn đọc hết bản thảo tập hồi ký kia, và trả lại số tiền ông ấy vừa ứng trước.

Tôi phải về, phút chia tay đã gần kề, Hồng ghi số điện thoại, địa chỉ email vào cuốn vở học trò dầy nặng chất đống những hàng chữ mực xanh có đoạn hoen mờ vì nước mắt.  Chưa gì tôi đã vẽ ra được một cái sườn và cả tin đó là một tiểu thuyết đáng đọc. Hồng mở ví, nhặt ra một tấm ảnh chụp hồi còn son trẻ. Thời hai kẻ mù quáng yêu nhau. Hồng phụ chú khi đưa cho tôi, để in vào bìa sau cuốn sách, Hồng nói. Bà ta ý tứ kín đáo nhét hai tấm ngân phiếu 1000 đô vào cuốn vở: Cho anh dễ đổi, chứ hai ngàn một lần lắm lúc lại lôi thôi.

Tôi bắt tay người mẹ, cám ơn về lòng tín nhiệm vô điều kiện. Bắt tay thằng con trai chắc không còn nhớ mặt bố đẻ là ai. Ông thầy của tôi mang nhiều lỗi lầm quá, từ độ làm quân nhân cho tới hồi gãy súng rã ngũ vẫn sân si tạo nghiệp chướng. Tôi gọi điện thoại cho người bạn, loan báo là tôi hiện đang ngồi trong quán cà phê góc đường 39 đụng 40. Cứ thong thả, tôi chưa tính ra là mình sẽ tấp về đâu. Tôi mở cuốn vở học trò, bắt đầu đọc những con chữ mềm mại đầy nữ tính. Chữ như run lên bởi người viết đang cố đè nén bao phẫn hận trong lòng. Tôi nhớ dáng Hồng vén tóc khi ngồi vào tay lái, nói vọng ra: Trao cho anh quyền được đặt tên một câu chuyện buồn. Tôi dong cao bàn tay vẫy, đứng nhìn chiếc Nissan nhỏ bé khuất dần trước một con đường mở rộng, quá đỗi thênh thang.

tháng 6 ở Tampa Bay.

Hồ Đình Nghiêm

Giải cứu Huế Tết Mậu Thân – Kỳ cuối

Triệu Phong chuyển ngữ

POSTED BY SEASHELLOC ⋅ THÁNG HAI 12, 2020 

Post by Sơn râu 25 Dec 2023

Bài 19

Chương 14

Kết quả của trận chiến 

Mặt trời chiếu sáng rực rỡ khi chiếc trực thăng chở Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của Miền Nam VN đáp xuống bãi đáp ở Mang Cá lúc xế trưa ngày 25 tháng Hai. TT Thiệu trong bộ đồ trận mới ủi hồ chào tay đáp lại Tướng Trưởng rồi đưa tay ra bắt thật niềm nở. Kế đó ông duyệt qua hàng quân danh dự trong đó có ĐĐ Hắc Báo trong khi ban quân nhạc sư đoàn trỗi khúc quân hành, rồi bắt đầu gắn huy chương cho khoảng vài chục quân nhân Việt và cố vấn Mỹ. TT Thiệu người từng làm tư lệnh SĐ1 (?) hồi đầu thập niên 60 đã không ngớt tươi cười và cũng ban cho Tướng Trưởng cái nụ cười hiếm xảy ra giữa họ. Cảm giác nhẹ nhỏm cả hai đều cảm thấy lướt qua sân diễn hành như cơn gió thoảng mát mẻ. Sau bữa ăn trưa ngắn ngủi ông Thiệu lên trực thăng bay trở về trong Nam. Từ trên không TT Thiệu nhìn xuống, thấy cảnh chiến tranh tàn khốc đã biến một thành phố đẹp nhất nước trở nên tan hoang điêu tàn như thế nào. Cầu Trường Tiền bắc qua sông Hương giờ đây là một vết sẹo quăng queo xấu xí. Những vài cầu rỉ sét lộ ra trên mặt sông trông như khúc xương của loài rắn biển. Dãy tường thành của Thành Nội sau ba tuần lễ liên tục bị cày nát bởi bom, đại bác và hải pháo, nay lỗ chỗ những hố to tướng, nhiều nơi đổ sụm xuống chỉ còn là một đống gạch vụn. Ngoại trừ một vài nơi trên đường Lê Lợi, Khu Hữu Ngạn kể ra cũng còn ít hư hại hơn. 

Đường Trần Hưng Đạo chỗ chân cầu Gia Hội, góc Phan Bội Châu, nhìn từ đồn cảnh sát Đông Ba. (MarineCorpsArchives)

Đường Mai Thúc Loan bên trong Thành Nội, mệnh danh là Lằn Tuyến Xanh, nhìn từ cửa Đông Ba. Nơi đây diễn ra những trận ác chiến kéo dài suốt nhiều ngày. (newseumed.org)

Cảnh hoang tàn của một con đường trong nội thành lúc đang còn giao tranh. (Catherine Leroy/Mạnh Hải) 

Tình trạng của dân tị nạn thật cấp bách. Có phỏng chừng 116.000 trong tổng số 140.000 dân đã không có nơi ăn chốn ở. Nhu cầu khẩn cấp chính là thực phẩm, áo quần và thuốc men. Điều đáng lo ngại nhất là bệnh dịch có thể xảy ra nếu không giải quyết vấn đề vệ sinh kịp thời. Hệ thống điện và nước đều hư hỏng cả. Các xác chết tràn lan trên các đường phố, cống rãnh và trong các ngôi nhà đổ nát. Ưu tiên hàng đầu là phải đem chôn ngay lập tức.

Nhiều nơi ở Đại Nội đến nay vẫn còn giữ nét hư hại do trận Mậu Thân. (dandlwandering10.blogspot.com) 

TQLC Mỹ thu dọn chiến trường, bước gần xác một người lính BV nằm chết trên một đường nhỏ của Thành Nội. (Catherine Leroy/Mạnh Hải)

Cứu một mệ già tìm thấy còn sống sót trong mấy căn nhà đổ nát. (Tarih Turdu/Twitter)

… một bé gái gầy ốm và bơ vơ giữa hoang tàn. (LowellMilkenCenter.org)

Một người mẹ đau lòng với vết thương trên đầu của đứa con nhỏ, sau khi em vừa được lính Mỹ băng bó tạm. (CatherineLeroy/MạnhHải)

Khiêng giúp một người dân bị thương ra khỏi vùng chiến sự. (CatherineLeroy/MạnhHải) 

Nhiều người trong số dân tị nạn là những quân nhân đi phép Tết và bị kẹt không trở lại với đơn vị được. Thay vì bỏ hàng ngũ theo địch như CSBV vẫn hằng mong đợi thì họ đã tìm mọi cách để ẩn trốn, họ núp dưới hầm sâu đào dưới đất hay ép mình nằm trên gác lững dưới mái nhà chờ dịp được giải cứu để chạy về với đơn vị. Ba ngày sau khi trận đánh kết thúc tôi tìm gặp anh tài xế riêng bị nhốt trong lao Thừa Phủ cùng một số dân tị nạn. Khi thấy tôi anh ta cười mừng rồi chạy ào về phía tôi, quì xuống hôn tới tấp lên tay tôi. Anh và những người bị địch nhốt ở đây cứ tưởng là địch đã giết hết người Mỹ rồi.

Mấy bé gái nô đùa cạnh người lính Mỹ đứng gác trước Ty Kiến Thiết Thừa Thiên Huế. Nơi đây nay trở thành ngã sáu sầm uất nhất ở khu Hữu Ngạn với nhiều nhà cao tầng như VinPearl Hotel …(MarineCorpsArchives)

Một trong những ưu tiên cấp thời là sửa chữa cây cầu hỏa xa (cầu Bạch Hổ) nằm ở phía Tây của sông Hương để xe cộ hai bờ có thể lưu thông qua lại. Cầu Trường Tiền thì đã được chắp nối nhanh chóng khiến bây giờ có thể tạm đi bộ; nhưng phải mất thêm sáu tháng nữa may ra mới tạm sửa xong cho xe cộ qua lại.

Công Binh Mỹ làm cầu phao qua đoạn cầu Trường Tiền bị sập, để dân chúng có thể tạm qua lại bằng bộ, kể cả dẫn theo xe đạp. (vietnamnet.vn)

Một cây cầu nổi khác, xe gắn máy và xe hơi nhỏ có thể qua được, do Đại Đội Cầu Nổi Công Binh Mỹ bắt gần cầu Trường Tiền. (forums.bohemia.net) 

Bay trên cao nhìn xuống thấy cảnh tượng thật thê lương nhưng đi trên mặt đất mới thấy ghê rợn hơn vì dưới này người ta có thể nghe và ngửi được nữa.

Quá nhiều nhà cửa bị tàn phá, không còn nơi cho dân tị nạn trú ngụ và ăn ngủ. Trại tạm cư bằng tôn được mang đến Huế bằng máy bay hoặc quân xa. Chỉ trong vài ngày gạo trồng ở Tiểu Bang Louisiana đựng trong những bao 45 kg được không vận đến Huế.

Từng gia đình quây quần bên đống lửa để đun nước nấu cơm. Rau quả rất hiếm còn thịt thì hoàn toàn không có. Những vườn rau trong khắp thành phố nay hoặc đã bị hư hại hoặc đã trở thành nghĩa địa, còn gà vịt và heo thì đã làm mồi cho binh sĩ quân đội của cả hai bên trong suốt cuộc chiến rồi.

Quân nhân NV được giảm quân vụ để giúp tái thiết lại thành phố. Nhiều người còn phải tự lo sửa chữa nhà cửa của mình nữa. Bác sĩ quân y được biệt phái làm việc ở các trại tị nạn để lo vấn đề chủng ngừa cho dân chúng phòng dịch tả, dịch hạch và thử độ an toàn vệ sinh nước uống. Thuốc chủng ngừa do Hoa kỳ cung cấp.

Mùi xác chết vẫn phảng phất trong không khí suốt mấy tuần lễ vì nhiều xác ở các hào nước, sông hồ, ruộng vườn vẫn chưa thu gom hết được.

*

Chừng một tuần lễ sau khi cuộc giao tranh xem như đã chính thức chấm dứt, tôi nhận được một cú điện thoại từ một bạn đồng sự cho hay người ta vừa phát giác một mồ chôn tập thể ở Bãi Dâu thuộc khu Gia Hội. Tôi lái xe đến nơi và kinh hoàng đứng nhìn bạn bè, thân nhân của nạn nhân đang vừa đào lên được hằng trăm xác chết. Nhiều xác tay bị trói quặt ra phía sau bằng dây kẽm. Những người khác bị chôn khi đang còn sống.

Một năm rưỡi sau, bộ đội hồi chánh dẫn quân Mỹ đến địa điểm một con suối nằm sâu trong rừng cách Huế chừng mười dặm về phía Tây. Rải đều suốt một chiều dài chừng 100 mét dọc theo khe núi là xương cốt của chừng bốn trăm xác đã được dòng suối rửa sạch trắng hếu. Quan sát xương đầu cho thấy họ đã bị bắn hoặc bị đập vỡ sọ. Chính quyền địa phương sau đó công bố danh sách 428 nạn nhân này gồm các binh sĩ quân đội Miền Nam, sinh viên học sinh, công chức hành chánh, viên chức xã ấp, và luôn cả thường dân. Tính chung các nơi thì số nạn nhân bị hành quyết có khoảng 3000 người.

Năm 1970, Tổng Thống Mỹ Richard M. Nixon trưng ra ý kiến rằng cuộc tàn sát ở Huế như là một chứng cớ sẽ xảy đến cho người dân Nam Việt Nam nếu Hoa Kỳ bất thần rút quân ra khỏi nơi này. Nixon cho rằng thời gian chiếm đóng ngắn ngủi ở Huế của quân CS là ‘một thời kỳ khủng bố đẫm máu khiến 3000 thường dân đã bị bắn hoặc bị đập vỡ sọ chết.’

Giới lãnh đạo BV thẳng thừng từ chối về vụ tàn sát. Một trong những lãnh đạo cao cấp BV trực tiếp tham gia vào cuộc tấn công Tết Mậu Thân tại Huế là Tướng Trần Độ tuyên bố rằng những khúc phim và hình ảnh về cuộc thảm sát do quân đội Đồng Minh trưng ra là hoàn toàn ‘ngụy tạo’. Tuy nhiên vài năm sau giới lãnh đạo BV lại xác nhận vụ này có xảy ra thật nhưng đổ thừa cho chiến tranh.

Trương Như Tảng, người sáng lập Mặt Trận Giải Phóng kiêm Bộ Trưởng Tư Pháp Chính Quyền Cách Mạng Lâm Thời viết: ‘Nhiều người bị xử tử vì họ đã hợp tác với chính quyền Ngụy hoặc có tinh thần phản cách mạng.’

‘Một số đông khác cũng bị giết gồm lính Mỹ bị bắt, kiều dân nước ngoài. Tôi có hỏi riêng vụ này với Chủ Tịch MTGP Huỳnh Tấn Phát. Chủ Tịch có tỏ vẻ hối tiếc và thất vọng về vụ việc đã xảy ra như thế và giải thích do bộ đội ở Huế đã không giữ kỷ luật nghiêm chỉnh. Bộ đội vì quá nhiệt tình với cách mạng nên đã bắn người bừa bãi, còn bà con ở địa phương theo với Cách Mạng vì do lòng quá căm thù Mỹ Ngụy nên đã tự mình cầm cán cân công lý.’ Theo ông Phát thì MTGP không hề có chính sách hay lệnh tàn sát kể trên. Trong chiến tranh việc như thế không thể tránh khỏi được.

Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc tàn sát này là hoàn toàn do chủ ý với động thái để lại niềm sỉ nhục đối với gia đình nạn nhân. Truyền thống người Việt Nam vốn nặng với gia đình kể cả tổ tiên đã khuất bóng. Nghi thức tống táng và chăm sóc mộ phần đều rất tôn nghiêm. Người nông dân khi còn sống thường lo dành dụm tiền sắm hòm trước để lúc chết được chôn cất tử tế. Ngay chính người CS họ cũng quan niện tương tự. Người Mỹ cho rằng địch thường cố gắng thu hồi xác đồng đội trong khi lâm trận để che giấu tổn thất, nhưng lí do sâu xa không hẳn như thế. Họ cố cứu lấy xác vì họ hiểu tầm quan trọng đồng  đội của mình cần được chôn cất tử tế.

*

Thành phố Huế tuy đã được chính thức tuyên bố là hoàn toàn an ninh nhưng vẫn còn giao tranh, vẫn còn người chết. TQLC Mỹ tuy đã đạt được một chiến thắng đẫm máu nhưng họ vẫn tiếp tục truy lùng và tiêu diệt càng nhiều càng tốt tàn dư địch đang trốn chạy. Kể ra thì không còn bao nhiêu.

Sau khi đã lấy lại Kỳ Đài và Đại Nội, Tiểu Đoàn 1/5 của Th/tá Thompson nhập lại với các đơn vị chị em 1/1 và 2/5 ở khu Hữu Ngạn; trong khi quân đội Miền Nam tiếp tục càn quét tiêu diệt những ổ kháng cự lẻ tẻ còn lại trong Thành Nội. Phải mất thêm nhiều ngày và thêm một ít thương vong nữa Huế mới thực sự an ninh.

Ở vùng Hữu Ngạn TQLC Mỹ tiếp tục săn đuổi những con nhạn lạc đàn của địch. Vào ngày đầu tiên của chiến dịch truy kích, ngày 28 tháng Hai, quân Mỹ giẫm phải mìn do quân Nam Việt chôn gây cho cả tá thương vong, trong đó có 3 chết. Cuối ngày thêm 4 thiệt mạng nữa vì phi cơ phản lực thả bom Napalm ra ngoài mục tiêu. Nói chung là vẫn tiếp tục có người nằm xuống.

Quân Mỹ tiếp tục càn quét về phía Nam tràn qua những cây cầu bắc qua sông đào An Cựu để diệt hết đám quân thủ hậu của địch, trong một số trường hợp địch vẫn đánh trả hòng gây thương vong thêm cho quân Mỹ càng nhiều càng tốt. Ngày 2 tháng Ba, Lực Lượng Đặc Nhiệm X-Ray tuyên bố Cuộc Hành Quân Thành Phố Huế đã chính thức chấm dứt. Hai ngày sau Tiểu Đoàn TQLC 1/5 Hoa Kỳ trở về Phú Bài để dưỡng quân và bổ sung quân số. Ngày hôm sau 5 tháng Ba, Đ/tá Hughes và bộ tham mưu trung đoàn rời cơ quan MACV về lại Phú Bài.

*

Vào đầu tháng Ba 1968, hầu hết các cố vấn đều lần lượt tề tựu về MACV. Vài hôm sau đồ giặt tôi đã giao cách đây một tháng lại trở về, sạch sẽ và được ủi xếp đàng hoàng. Một tuần sau, trong một buổi lễ được tổ chức long trọng do Đ/tá Adkisson chủ tọa, cơ quan MACV được đặt tên là Frank Doezema để vinh danh cho người xạ thủ trẻ tuổi đã xả thân đánh trả cuộc tấn công của địch vào cơ quan này trong buổi sáng đầu tiên của cuộc giao tranh.

Lúc mới trở lại, điều tôi chú ý đầu tiên là những lỗ đạn ở mặt tiền của cơ quan. Đặc biệt nhất là chỗ cháy nám đen ở ô cửa sổ trên tầng hai nơi trước đây tôi đã đặt vị trí trực gát trong thời gian 8 ngày đầu. Tôi được biết có lần một trái đạn đại bác từ chiến xa hoặc 106 ly không giật đã bay lạc từ bên kia sông vào đây và phát nổ. Lúc ấy phòng không có người ở nên không có thương vong nào.

Đ/úy Chase cố vấn trưởng của Tiểu Đoàn 3/7 Kỵ Binh Nam Việt khi cùng đơn vị mình trở về căn cứ ở Cây Số 17 đã nghe kể lại chuyện kinh hoàng hơn nữa. Trong thời gian lên tăng phái ở Huế, một trung úy trẻ vừa mới sang VN đến thay thế và tạm ngủ trong hầm của Chase. Một trái rocket đang đêm bay xuyên vào cửa sổ và cướp mất đời anh trong khi anh đang say mê giấc điệp.

Một số đơn vị TQLC Mỹ khác còn kẹt lại ở Huế thêm một thời gian vài tuần nữa để tiếp tục tảo thanh khu vực Nam sông Hương trước khi rút đi nhận công tác khác. Ngoại trừ một số được giao nhiệm vụ giữ gìn an ninh trong thành phố, bốn tiểu đoàn của Trung Đoàn 3 thuộc SĐ1 BB bắt đầu công việc tuần tra để luôn luôn quen với tình trạng ứng chiến. Ban tham mưu cố vấn quân sự thường xuyên đi về giữa cơ quan MACV và Mang Cá với quân lính có vũ trang hộ tống phòng khi bị tấn công bất ngờ.

Bài học Tết Mậu Thân dạy cho mọi người phải luôn đề cao cảnh giác. Chẳng còn ai nhìn cuộc chiến hay công tác thường nhật dưới nhãn quan như ngày trước nữa.

*

Nhìn lại ta thấy rằng quân CS đã không đạt được mục tiêu chính trong cuộc tấn công vừa qua đó là làm cho chính quyền Nam Việt Nam sụp đổ. Người Cộng Sản phương Bắc đã quá chủ quan về tiềm năng sức mạnh chính trị của họ áp đặt lên tâm tư người dân Miền Nam cũng như đã quá tin tưởng dân chúng nơi đây sẽ tổng nổi dậy. Tuy nhiên dù họ đã bị đánh bật ra khỏi Huế họ đã gây được một tiếng vang lớn. Họ đã lôi kéo được sự chú ý của cả thế giới và giữ được sự chú ý đó suốt một tháng trời bằng cách biểu dương sức mạnh và quyết tâm của mình làm phe Đồng Minh phải hoàn toàn sửng sốt.

Từ bỏ chiến thuật du kích thông thường, quân BV và VC vào Huế chọn một sự đối đầu trực tiếp với quân Mỹ bất kể cái giá phải trả nào. Quân Đồng Minh công bố đã tiêu diệt được 5113 địch quân chỉ riêng trong cuộc giao tranh ở Huế, bất kể con số thực sự là bao nhiêu, rõ ràng phe địch đã bị một đòn chí tử. Một tài liệu tịch thu được của địch cho thấy họ xác nhận đã thiệt mất một tư lệnh trung đoàn, tám tiểu đoàn trưởng, 24 đại đội trưởng và 72 trung đội trưởng.

Tổn thất về phía Đồng Minh cũng cao không kém. Quân đội Nam Việt báo cáo có 384 tử trận, 1830 bị thương. Lục Quân Hoa Kỳ có 74 chết, 507 bị thương trong khi TQLC của họ thì thiệt mất 142 và 850 thương tích. Thiệt hại nhân mạng về phía thường dân thì cao hơn nhiều.

Có bốn người được trao tặng huy chương vì chiến công anh dũng là Hạ Sĩ Quan Lục Quân Ferguson, hoa tiêu trực thăng của SĐ1 Kỵ Binh; Thượng Sĩ Joe Hooper và Clifford Sims thuộc SĐ 101 Dù; và Trung Sĩ TQLC Alfredo Gonzalez. Các binh sĩ TQLC còn được tặng 10 Huân Chương Chữ Thập của Hải Quân vì đã chiến đấu anh dũng phi thường.

“Với tư cách là một TQLC tôi lấy làm cảm phục về sự can đảm và tinh thần kỷ luật của quân CSBV và VC nhưng vẫn không bằng sự nễ phục tôi dành cho binh sĩ của tôi,” Đ/úy Myron C. Harrington nói. Ông là ĐĐ Trưởng ĐĐ Delta thuộc Tiểu Đoàn 1/5, đã chiến đấu ở Thành Nội. “Chúng tôi từng mặt đối mặt có khi chỉ cách nhau 20 đến 30 mét, ngay cả có lần chúng tôi hạ được một tay bắn sẻ địch chỉ cách 10 mét. Dù biết tại Huế họ bị bao vây và có thể bị đói nhưng tôi không tin họ sẽ bỏ cuộc. Chúng tôi phải xông vào để tống họ ra, không còn cách nào khác.”

Hoàn tất sứ mạng ấy đã tốn biết bao xương máu vậy mà cuối cùng chẳng đi đến đâu. Bảy năm sau đó và hai năm sau khi quân chiến đấu Mỹ rút khỏi VN, Huế và toàn Miền Nam đã rơi vào tay CS một cách ô nhục.

*

Khi tôi giả từ Huế vào mùa Hè năm 1968, Huế đã trở nên một thành phố hoàn toàn khác lạ với thành phố mà tôi mới lần đầu tiên biết đến hồi tháng Giêng. Cuộc chiến đã hút hết sinh khí và linh hồn của một thành phố vốn rất tự hào và  vô tư. Nơi nơi người ta đều thấy những nấm mồ, từ sân trước của ngôi nhà cho đến công viên và sân trường. Người dân bây giờ bước chân lê dài một cách nặng nhọc, không còn tung tăng như ngày nào. Nỗi ưu tư trên nếp gấp trên trán bây giờ thay cho nụ cười. Thật chua chát và buồn thay cho một thành phố đẹp nhất Việt Nam như vậy mà nay  lại phải chịu nỗi đau đớn và bom đạn dày xéo suốt một thời gian dài như vậy.

Trước khi mãn vòng công tác ở VN để về nước, tôi nhận được một giấy cảm tạ từ cố vấn trưởng của cơ quan MACV do tôi đã chịu đựng nhọc nhằn ở nơi chốn này suốt sáu tháng trời.

Đọc xong, tôi chợt nghĩ: chà, té ra thời gian qua cũng có nhiều chuyện thích thú thật mà mình không để ý đến. Thích thú? Phải, tôi không đùa đâu. Suốt bốn tuần kinh khủng như vậy mà tôi không sứt mẻ một tí nào, cả về thể xác lẫn tinh thần, quả là phép lạ.

Phần bổ túc

Để tưởng niệm trận đánh Huế Tết Mậu Thân, ngày 14.9.1991, chính phủ Hoa Kỳ đặt tên cho chiếc chiến hạm thuộc lớp Ticonderoga mới hạ thủy là USS – Hue City CG-66. (Wikipedia)

Sau trận Mậu Thân 1968, cờ đuôi nheo có hàng chữ “Tet Counteroffensive 1968” (Cuộc Phản Công Tết 68) được gắn thêm trên cờ đơn vị của các lực lượng Mỹ có tham chiến trực tiếp.

Bài báo do cha của một lính Mỹ tham chiến ở VN cắt ra từ tờ báo địa phương nơi ông ở. Sau khi đọc thấy bản tin này ông liền cắt ra và gởi qua VN cho con trai ông. Nội dung tờ báo như sau :

416 lính Mỹ tử trận lập kỷ lục số thương vong cao nhất trong một tuần lễ giao tranh ở VN.

(Tin từ Sài Gòn của hãng thông tấn UPI). Hôm thứ năm giới chức quân sự cho biết tuần vừa qua số lính Mỹ chết trong một tuần lập con số kỷ lục là 416, hậu quả cuộc tấn công của quân du kích CS vào các đô thị ở Miền Nam, đồng thời con số lính Mỹ tham chiến tại VN vượt mức nửa triệu.

Trong tuần lễ đó, quân CS cũng bị thiệt với con số kỷ lục là 15.515, nhiều hơn 1/5 số tổn thất họ bị thiệt suốt cả năm qua.

Đồ cá nhân của một binh sĩ CS hy sinh trong trận đánh. (DonMacCullin/tate.org.uk)

Tổng số quân Đồng Minh bị giết trong một tuần là 1200 cũng là con số kỷ lục. Có tất cả 4987 bị thương trong đó quân Mỹ chiếm 2757.

Như vậy tính từ ngày 1 tháng Giêng năm 1961 con số lính Mỹ chết trong chiến tranh VN vượt quá 17.000.

Các viên chức đưa ra một con số chính thức là 17.296.

Họ còn cho biết thêm 5000 lính bộ binh và 1000 của hải quân vừa mới đến, nâng tổng số quân Mỹ ở VN lên vượt mức nửa triệu, chưa kể đến 35.000 thủy thủ ở ngoài khơi trên các tàu của Đệ Thất Hạm Đội. Quân CS có tổng cộng 248.000 quân.

Họ cũng cho hay rằng trong tổng số quân Đồng Minh bị chết thì phía Nam Việt đã thiệt mất 748 binh sĩ và có thêm 2230 bị thương.

Tổng số người Mỹ bị thương trong cuộc chiến tính đến lúc bấy giờ là 108.428, trong đó 57.647 đủ nặng để phải nhập viện.

Giải cứu Huế Tết Mậu Thân

Triệu Phong chuyển ngữ

POSTED BY SEASHELLOC ⋅ THÁNG HAI 11, 2020 

Post by Sơn râu 25 Dec 2023

Bài 18 

Chương 13

Điểm son cho quân đội Miền Nam 

Hầu hết các sử gia đương thời đều muốn dành trọn công lao tái chiếm Huế cho TQLC Hoa Kỳ, trong khi chỉ ghi nhận thành tích nhỏ nhoi cho các đơn vị Mỹ khác như SĐ1 Kỵ Binh, SĐ101 Dù, và đặc biệt hơn nữa là quân đội Miền Nam. Sự thật cho thấy nhận định như thế không những quá sơ sài mà còn hoàn toàn sai lạc nữa.

Hình ảnh một quân nhân Nam Việt chết trong hố cá nhân. Số vỏ đạn vung vãi trên miệng hố và dưới đất cao đến đầu gốI là một minh chứng hùng hồn cho thấy người lính này đã liên tục chiến đấu cho đến khi bị bắn gục. FOUGHT TILL THE END – A Vietnamese machine gunner lies dead in his foxhole with hundreds of shells surrounding him. The knee-deep spent shells are silent proof that he fought to his death when Viet Cong overran his position at the Michelin Rubber Plantation, 45 miles northwest of Saigon. The battleground was retaken today and over a hundred corpses recovered. (AP Wire Photo Nov 1965)

Hiển nhiên là hai Tiểu Đoàn 1 và 5 TQLC Hoa Kỳ với đầy đủ trang bị vũ khí nặng đã có khả năng khởi động một cuộc tấn công vốn đã bị trì trệ kể từ khi họ bắt đầu đặt chân vào Thành Nội hôm 11 tháng Hai. Tuy thế trong một bối cảnh chung của cuộc giao tranh kéo dài 26 ngày đó, sự thành công của TQLC Mỹ sẽ không thể thực hiện được nếu không có công sức đóng góp của lực lượng Kỵ Binh và Dù 101 Hoa Kỳ cũng như quân đội Nam Việt Nam. Hai đơn vị Mỹ này đã giúp làm vơi áp lực đè nặng lên quân TQLC tuy rằng không là bao, trong khi quân Nam Việt có công diệt địch nhiều nhất và cũng phải chịu tổn thất nặng nề nhất ở một số khu vực gay go nhất trong Thành Nội.

Theo lời Đ/úy TQLC Jim Coolican cố vấn quân sự cho Đại Đội Hắc Báo tinh nhuệ thì sự đóng góp của quân đội Miền Nam đã hoàn toàn không được nhắc đến trong khi đa số chỉ nhắm vào hoạt động của TQLC Mỹ mà thôi.

“Tường thuật và sách vở viết về trận chiến này đã phóng đại quá đáng về vai trò của quân TQLC Mỹ trong khi đã đánh giá thấp công lao của quân đội Nam Việt,” Coolican phát biểu, anh là người đã được trao tặng huân chương Chữ Thập của Hải Quân Hoa Kỳ do đã góp công cho công cuộc tái chiếm Huế.

Trước khi TQLC Mỹ vào Thành Nội hôm 11 tháng Hai, có rất ít nhà báo bỏ công vào đây để chứng kiến những gì đã và đang xảy ra. Một số ít ỏi đã từng mạo hiểm vào đó chỉ chụp qua loa vài tấm hình rồi rút về ngay. Rõ ràng là báo chí không hề theo chân một đơn vị quân đội Miền Nam đang hành quân nào cả và cũng không hề phỏng vấn một cố vấn quân sự Mỹ nào đi theo cùng những đơn vị ấy. Các tác giả viết sách hoặc bài ký sự sau cuộc hành quân (follow-up stories) đều dựa theo các bản báo cáo tường trình hành quân do binh chủng TQLC Hoa Kỳ biên soạn.

“Vào tuần đầu tiên ở Thành Nội, lần đầu tiên tôi thấy sự hiện diện của một nhà báo là khi chúng tôi vừa tái chiếm xong phi trường Tây Lộc,” Đ/úy Jack Chase cố vấn cho Tiểu Đoàn 3/7 Kỵ Binh quân đội Miền Nam kể. “Một xe quân sự tới để thu dọn xác các quân nhân phe bạn thì tôi thấy một phóng viên Thông Tấn Xã AP ngồi ở phía sau. Anh ta ngồi trên xe và chỉ vội vàng chụp vài tấm chứ chưa hề nhảy xuống đất. Không lạ gì người Mỹ cứ tưởng TQLC Hoa Kỳ chiến đấu một mình.”

*

Thành thật mà nói binh sĩ Miền Nam VN khi được lãnh đạo đúng mức họ có thể hơn cả TQLC Mỹ về tác chiến trong thành phố, ở Thành Nội là một thí dụ cụ thể. Nhờ nhỏ con họ ít dễ làm mục tiêu cho địch hơn và dễ chui rúc kiếm chổ ẩn nấp từ các đống đổ nát. Lính NV di chuyển nhanh hơn vì họ trang bị ít. Tinh thần chiến đấu họ cao vì đối với đa số binh sĩ, Huế là nhà của họ. Quân Nam Việt hiểu rành địa thế và tâm lý địch quân hơn lính Mỹ. Một khi được lãnh đạo tốt họ sẵn sàng đương đầu và chết cho những gì họ rất trân quí. Họ được thêm điểm tốt là dày dạn kinh nghiệm vì họ đã từng chiến đấu lâu năm. Trong khi quân Mỹ đếm từng ngày chờ lúc mãn công vụ để về nước thì quân NV ngầm hiểu rằng họ sẽ còn ở lại quân ngũ suốt đời.

“Người đại đội trưởng của đơn vị tôi đang cố vấn có thừa khả năng để nắm chỉ huy một đại đội Mỹ không kém gì chúng ta. Anh ta và các binh sĩ trong đơn vị đều là những quân nhân cừ khôi,” phát biểu của Đ/úy Ty Cobb cố vấn cho Tiểu Đoàn 2 Dù quân đội VN.

Đ/úy James Zimmerman cố vấn cho Tiểu Đoàn 2/7 Kỵ Binh NV cho rằng đơn vị anh cừ đến nổi họ có thể đối đầu với bất cứ đơn vị của bất cứ quốc gia nào. Được thành lập từ tháng Giêng 1965, Tiểu Đoàn 2/7 trong ba năm đã sáu lần được trao tặng huy chương Anh Dũng Bội Tinh dành cho toàn đơn vị khiến họ trở thành đơn vị có nhiều chiến công nhất nước.

“Trước Tết đơn vị chúng tôi không hề có lệnh báo động mà thực sự chúng tôi cần gì có lệnh đó,” Zimmerman nói. “Chỉ cần thông báo lần thứ hai là chúng tôi đã lăn bánh rồi.”

Vậy mà quân nhân NV đặc biệt là hàng sĩ quan cao cấp vẫn thường xuyên bị quân Mỹ cũng như báo chí bôi nhọ. Đ/tá Lục Quân David Hackworth một trong những quân nhân Mỹ được trao tặng huy chương cao quí nhất, cũng là tác giả của cuốn sách được hoan nghênh About Face, thay mặt cho đồng đội, đã phát biểu trong một bức thư gởi cho người bạn vào năm 1970. Hackworth, người từng tham chiến ở Việt Nam trong hai đợt công vụ, cho rằng quân lực Miền Nam không thể nào tự mình bảo vệ xứ sở được.

“Từng cá nhân mà nói thì binh sĩ Miền Nam có năng suất chiến đấu cao tuyệt. Nhưng để có được đức tính đó họ cần người lãnh đạo tốt, đó mới là điều khó kiếm,” Hackworth viết. “Người Việt Nam không chịu sản xuất ra người lãnh đạo. Đó là bản chất xã hội (sociological makeup) của họ nó như vậy. Khi còn là cấp sĩ quan trẻ, họ rụt rè không dám quyết định; đến khi già hơn, phẩm trật cao hơn, bắt đầu đòi hỏi lạc thú trong thụ hưởng như nhà cao cửa rộng, đồng hồ Rolex, nhiều bà, kiếm xe gắn máy Honda cho các quí tử con, xe hơi Toyota cho quí tử lớn hơn. Để có những thứ xa hoa này họ phải chạy cho có. Bằng cách nào? Ăn cắp. Đầu óc chỉ lo nghĩ đến chuyện ăn cắp làm sao mà có thì giờ lo chiến tranh. Một người sau khi đã tích lũy tương đối đầy đủ những nhu cầu vật chất mong cầu rồi thì hỏi thử xem còn ai thật sự muốn chiến đấu?”

Trong trận đánh Tết Mậu Thân Đ/tá Hackworth không hề đến Huế mà cũng chưa bao giờ có kinh nghiệm nào đối với SĐ1 Bộ Binh. Mặc dù lời bình phẩm của ông có thể đúng với các đơn vị khác của quân đội Miền Nam nhưng chưa hẳn là thích hợp với những lực lượng chiến đấu Nam Việt ở Huế.

Bất hạnh thay TQLC Mỹ chiến đấu ở Huế vẫn mang ý nghĩ rập khuôn đó dành cho tất cả lực lượng quân đội Miền Nam, đã vơ đũa cả nắm khi coi SĐ1 BB với các đơn vị khác như cá mè một lứa. Một trong những lời kết tội sơ đẳng nhất phát ra từ cửa miệng của Th/tá Thompson, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 1/5 TQLC Hoa Kỳ, có lẽ do quá mệt mỏi vì chiến đấu nên sau cuộc giao tranh đã có lời bình phẩm như sau với báo chí.

“Các báo cáo của Cơ Quan Cố Vấn Quân Sự MACV sẽ ghi nhận rằng quân đội Miền Nam nhờ sự giúp sức của TĐ 1/5 TQLC Hoa Kỳ mới tái chiếm được Thành Nội,” Thompson phát biểu trong buổi họp báo đầu tiên và duy nhất sau khi chiến dịch Huế chấm dứt. “Chính Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 5 TQLC là đơn vị duy nhất đã lấy lại được Thành Nội, quân đội Miền Nam chỉ là kẻ bàng quang không hơn không kém.”

Nhiều cố vấn Mỹ của các đơn vị VN ở Huế đã mạnh mẽ phản đối Th/tá Thompson thái độ ôm trọn gói một mình và công khai chỉ trích sự thiếu công bằng khi phủ nhận công lao của quân đội Miền Nam ở nhiều nơi trong nước. Ví dụ như người Mỹ ưa mỉa mai rằng nếu anh đi đâu mà thấy có lính Miền Nam thì anh cứ yên tâm là ở đó an ninh không có Việt Cộng vì ai cũng biết là lính Miền Nam thấy VC đâu là chạy đó.

“Tôi không nói thay cho những đơn vị khác nhưng chính tôi, tôi chưa hề thấy một người lính nào hay một đơn vị nào bỏ hàng ngũ mà chạy trừ khi cố vấn của họ chạy trước,” Đ/úy Chase nói. “Tôi nói cho các anh biết là tôi đã học nhiều nơi họ cách thức chiến đấu hơn là họ đã học được từ tôi.”

Lời đánh giá kể trên của Đ/úy Chase về tinh thần chiến đấu của quân đội Miền Nam cũng phản ảnh y hệt như các cố vấn Mỹ khác mà tôi từng được tiếp xúc. Hầu hết các cố vấn quân sự làm việc với các đơn vị thuộc SĐ1 NV, thật ra họ chỉ hiện diện cho có danh mà thôi.

“Chúng tôi chỉ hiện diện như là những sĩ quan chuyên lo định vị tọa độ cho hỏa lực tác xạ yểm trợ và phụ trách liên lạc giữa các ngành,” Đ/úy Chuck Jackson cố vấn trưởng cho Tiểu Đoàn 7 Dù VN nói. Các cố vấn chỉ lo nhiệm vụ xin tiếp liệu một cách ‘không chính thức’ vì quân đội NV gặp khó khăn trong hệ thống phân phối của họ. Trong nhiều trường hợp chứ không hẳn là mọi khi, người cố vấn chỉ cùng hợp tác thảo luận vấn đề chiến thuật chứ không phải là người quyết định.

“Nếu anh gây được ấn tượng tốt với kẻ đồng sự thì anh sẽ thành cộng sự viên tin cẩn của họ,” Jackson nói. “Khi đã đánh mất niềm tin hay không biết tạo nên niềm tin ấy anh sẽ trở nên thụ động, không hơn không kém anh chỉ còn là một chuyên viên liên lạc vô tuyến hay chỉ là một trung tâm để người ta đến nhờ gọi xin yểm trợ tác xạ.”

Đã từng chứng kiến những cuộc giao tranh ở hai bên bờ sông Hương, theo tôi địch ở Thành Nội kháng cự ác liệt hơn cả, đặc biệt là ở khu vực Tây và Tây Nam của Thành Nội nơi quân đội NV được giao phó trách nhiệm. Khu vực hành quân đó gần với đường tiếp tế và tổng hành dinh của địch. Các đơn vị quân đội Miền Nam khác với TQLC Mỹ, không có những trang bị vũ khí nặng đặc biệt là chiến xa và đại bác không giật 106 ly, lại phải luôn đương đầu với viện quân của địch đều đặn trong suốt 3 tuần lễ. Tất cả bốn tiểu đoàn tăng viện của địch từ Khe Sanh và Vùng Phi Quân Sự thâm nhập vào Huế đều qua khu vực phía Tây Thành Nội để thay thế cho những đơn vị đã bị đánh tơi tả, hoặc hiện diện với tính cách trừ bị. Một tiểu đoàn trừ bị thứ năm được dùng để bổ sung cho các lực lượng hoạt động trong Đại Nội.

Trong khi có thể có vài đơn vị quân Miền Nam, đặc biệt là TQLC không thể so sánh được với tiêu chuẩn của quân đội Hoa Kỳ nhưng không thể đánh giá họ thấp như lời của Th/tá Thompson đã phát biểu bừa bãi, rằng trong trận đánh Huế quân đội NV chỉ là kẻ bàng quang. Sự thật ngược lại là khác.

Trong một cuộc phỏng vấn 29 năm sau Thompson vẫn khư khư giữ lời tuyên bố cho rằng quân đội NV chỉ là ‘kẻ bàng quang’ trong cuộc tái chiếm Thành Nội, trừ một vài ngoại lệ.

 Trần Ngọc Huế và đồng đội thuộc Đại Đội Hắc Báo. (LowellMilkenCenter.org)

4“Đầu tiên tôi muốn nói Tướng Trưởng là một cấp chỉ huy tuyệt vời. Ông thỏa mãn mọi yêu cầu của tôi,” Thompson nói. “Ông là người giỏi và tôi rất khâm phục ông ta. Nhưng ông ta không thuyết phục được các tiểu đoàn trưởng của ông phải chiến đấu.”

Thompson chưa hề thấy quân Dù của quân đội Miền Nam chiến đấu như thế nào bởi vì khi TQLC Mỹ đến thì họ đã rút đi rồi.

Về những đơn vị quân Nam Việt ông ta từng liên hệ trực tiếp thì ông ngợi khen Đại Đội Hắc Báo của Đ/úy Huế và Đại Đội Thám Báo của Tr/úy Tân nhưng không có lời khen về các đơn vị nào khác.

“Đại Úy Huế là một quân nhân tuyệt diệu kể cả cố vấn của anh ta là Đ/úy Coolican. Cả hai đều hết sẩy,” Thompson nói. Nhưng về các đơn vị NV khác như TQLC, Tiểu Đoàn 2 Dù thuộc Trung Đoàn 3 là những đơn vị được giao nhiệm vụ giữ an ninh mạn sườn và hậu vệ cho đơn vị của ông thì ông ta bình phẩm thật lỗ mãng và cay độc.

“TQLC NV chả đánh đấm gì ráo, còn Dù 2/3 thì hoàn toàn vô dụng. Tiểu Đoàn Trưởng Dù là một tên vô tích sự,” Thompson tiếp.

*

Thật ra nhiều đơn vị NV đã chiến đấu rất ngoạn mục nhưng nổi bật nhất vẫn là lực lượng xung kích của SĐ1: Đại Đội Hắc Báo, quân trú phòng bảo vệ Thành Nội. Cấp chỉ huy của nó là Đ/úy Huế, một nhân vật truyền kỳ, đã trở thành quân nhân được trao tặng nhiều huy chương nhất trong lịch sử Việt Nam. Nếu cần tìm một người đáng được khen thưởng công lao đã ngăn cản địch quân khỏi tràn ngập toàn bộ Thành Nội thì phải nói đó là Huế, người thanh niên 26 tuổi năng động và quả cảm.

Huế được cha mẹ ban cho cái tên của thành phố nơi anh chào đời. (Theo truyền thống của người Việt Nam, họ đi trước, tên theo sau).  Anh được gắn cấp bậc thiếu úy sau khi tốt nghiệp trường Võ Bị Đà Lạt năm 1963 và về phục vụ đơn vị Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 3 thuộc SĐ 1 Bộ Binh. Năm 1967 anh nắm quyền chỉ huy đại đội lừng danh Hắc Báo 250 người.  Cao to hơn mọi người Việt khác, anh có một khuôn mặt tròn trịa khiến nụ cười của anh càng nổi bật thêm. Đằng sau nụ cười của khuôn mặt nhi đồng ấy lại bẩm sinh là một nhà chỉ huy quân sự. Được các cố vấn gọi tên là ‘Harry’, Huế là khuôn mặt quen thuộc đối với TQLC Mỹ ở cả vùng Phi Quân Sự lẫn Phú Bài. Với tính tình cởi mở và óc khôi hài nên anh dễ dàng chinh phục được cảm tình của quân nhân binh chủng TQLC Hoa Kỳ.

Chỉ vài hôm trước Tết, trong bộ đồ beo và nón bê-rê, Huế lái xe Jeep xuống Phú Bài để thu góp quân dụng như súng M-72, áo giáp, mìn chống biển người Claymore. Vũ khí ưng ý của anh là súng trường SKS 7,62 mm thu được của địch. Huế nói. “TQLC Mỹ không cần đến AK-47 vì họ mang theo về nước không được.”

Chỉ đôi ba tháng trước Tết, đại đội anh vừa được cấp phát M-16, nhưng anh thực sự cần thứ vũ khí có thể chống lại súng bắn hỏa tiển B-40 mà quân CSBV được trang bị. Khẩu LAAWs tức M-72 chính là thứ vũ khí mà anh đang cần, anh cũng biết TQLC Mỹ cũng săn lùng vũ khí và đồ linh tinh thu được của CS.

 Trần Ngọc Huế và đồng đội thuộc Đại Đội Hắc Báo. (LowellMilkenCenter.org)

Quân Hắc Báo có phù hiệu riêng là hình một con báo đang nhe nanh mà họ mang trên túi trái của bộ đồ beo và cả trên nón bê-rê. Họ là chuyên viên về hành quân lưu động bằng không vận và được huấn luyện để có thể xuất quân cấp thời. Đơn vị trưởng họ chính là Huế, một thanh niên nhanh nhẹn và đầy nhiệt huyết. Anh không có lòng trắc ẩn đối với quân thù và nếu có lầm lỡ anh cũng không hề nao núng. Đối với anh các thuộc cấp không bao giờ từ nan mà không làm theo lời anh yêu cầu.

James Coolican lúc nghỉ hưu ở cấp bậc đại tá. Ông từng là cố vấn cho Huế ở Đại Đội Hắc Báo năm Mậu Thân. (LowellMilkenCenter.org)

“Vừa mới tiếp xúc với họ lập tức tôi muốn là một thành viên của họ ngay,” Coolican nói. Ông về sau giải ngũ khỏi TQLC với cấp bậc Đại Tá. “Tôi phải vận động hết sức để được về với đơn vị này vì tôi muốn phục vụ nơi nào người ta thực sự chiến đấu. Trong thời gian làm cố vấn bên cạnh họ tôi vẫn luôn nghĩ mình được ở bên cạnh những con người cừ khôi bậc nhất. Harry và tôi cùng sát cánh làm việc chung với nhau mọi thứ. Nhìn lại đời binh nghiệp, tôi chưa thấy nơi đâu tôi mới thực sự là một phần gắn bó với đơn vị như hồi tôi sống với Hắc Báo.

Có những khi năng lực vô biên của Huế khiến anh có trục trặc với các cố vấn khác là những người không có phẩm chất như anh.

“Khi tôi đến cơ quan MACV ở Huế, mọi người đều cảnh cáo với tôi hãy coi chừng anh chàng Harry nhiều rắc rối cuộc đời. Nào là tên to đầu khó bảo, nào là tên tổ sư ghét các cố vấn Mỹ nếu không muốn nói là ghét Mỹ, nào là hắn ưa đòi hỏi các cố vấn phải theo với hắn bất kỳ nơi đâu hắn đi,” Th/tá TQLC David L. Wiseman nói, ông về sau làm cố vấn cho Huế vào năm 1970. “Kẻ nào trong chúng ta tỏ ra giúp đỡ cho Harry sẽ nhận thấy nơi anh ta một con người cực kỳ biết lo lắng bảo vệ cho chúng ta. Harry quả là một chiến binh vừa là một con người hết lòng tận tụy lo cho gia đình, ai có quan niện tương tự sẽ ăn rơ dễ dàng với anh ta.”

Tiếng tăm của Huế trên chiến trường thì không ai bì kịp. “Trên chiến địa anh có vẻ lớn hơn con người thật của mình,” Đ/úy Coolican nói. Các cố vấn khác thấy anh là một con người ‘tuyệt đối không biết sợ hãi’ khi chiến đấu. Anh ta có thể vẫn bước đi bình thường khi đột nhiên bị pháo kích mà không hề nao núng hay nhảy xuống hố tìm chỗ núp. Hình như anh ta là kẻ say mê hương vị của chiến trường. Chưa có ai đã từng trông thấy anh tỏ ra hốt hoảng trước súng đạn.

Đại Đội Hắc Báo vì phải phân tán lực lượng đi khắp thành phố vào ngày đầu năm, nên chỉ còn 50 người để đương đầu với cuộc tấn công của hai tiểu đoàn địch đánh vào phi trường Tây Lộc lúc sáng sớm ngày 31 tháng Giêng. Tuy quân số ít ỏi nhưng Huế đã biết điều động để làm lệch đường tiến của Cộng quân khiến họ mất cơ hội chiếm trọn Thành Nội trong ngày đầu tiên. Trong khi phản công lại đợt xung phong đầu tiên của địch vào phi trường, Hắc Báo đã tiêu diệt được hơn 50 quân BV đồng thời cứu được hai TQLC Mỹ. Vài tháng sau Huế được đích thân Tướng Creighton Abrams gắn lên áo huy chương Ngôi Sao Bạc (Silver Star) và Ngôi Sao Đồng (Bronze Star). Silver Star là huy chương anh dũng cao quí nhất của Hoa Kỳ dành để tặng cho một chiến sĩ Đồng Minh. Về sau Huế lại được tặng một Silver Star khác nữa về chiến công bên cạnh 6quân 101 Dù Hoa Kỳ nhưng chưa có dịp để nhận.

Trần Ngọc Huế được Tướng Creighton Abrams tặng huy chương Silver Star và Bronze Star khi còn ở cấp bậc đại úy. Th/tá Phạm Văn Đính đứng bên phải, người về sau đem cả trung đoàn bảo vệ căn cứ Carroll đầu hàng CS năm 1972. (LowellMilkenCenter.org)

“Về huy chương thì tôi giàu lắm,” Huế đáp khi có người hỏi anh có được bao nhiêu cái. Anh được một Bảo Quốc Huân Chương (the National Order) là huy chương cao quí nhất của Nam Việt Nam, cùng khoảng 50 Anh Dũng Bội Tinh (Cross of Gallantry).

Huế và ĐĐ Hắc Báo trở thành lực lượng bảo vệ cho Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh của Tướng Trưởng từ ngày đầu cuộc giao tranh, một công tác anh phải miễn cưỡng chấp nhận. Bấy giờ mặc dầu chỉ mới là một trung úy nhưng Huế nắm chỉ huy toàn bộ nhiệm vụ phòng vệ Mang Cá và đã đánh bật nhiều đợt tấn công của địch nhằm tràn ngập căn cứ chỉ huy này.

Sau đó Tướng Trưởng cử Hắc Báo đến những nơi nào cam go nhất trong Thành Nội để gây phấn khởi thêm cho tinh thần binh sĩ các nơi ấy. Sự hiện diện của Huế và quân Hắc Báo, tuy cấp số chỉ một đại đội nhưng có giá trị tương đương một tiểu đoàn quân sự. Tuy đôi lúc phải kềm hãm con người của Huế đầy năng lực nhưng Tướng Trưởng và Tr/úy Huế quả là một cặp bài trùng.

“Tôi vẫn luôn luôn nói với Tướng Trưởng tôi muốn ra chiến đấu. Tôi không muốn ngồi yên một chỗ. Tôi muốn chạy,” Huế nói. “Tôi luôn kính trọng ông ta và ông ta cũng nể tôi không kém. Nhiều sĩ quan sợ ông đến té đái nhưng Harry này thì không.”

Hôm 1 tháng Hai, một trung đội của Hắc Báo đã dẫn đường cho những lực lượng tăng phái đầu tiên vào đến Thành Nội rồi sau đó giúp họ đặt vị trí canh phòng cho Mang Cá. Ngày hôm sau toán quân đầy kinh nghiệm của Huế đã đưa quân tăng viện đi lấy lại phi trường Tây Lộc. Trong vài ngày sau đó họ lại được gọi đi phản công cuộc tiến công của địch và trám vào chỗ trống nơi chu vi phòng thủ. Điều quan trọng là Huế đã trở thành cố vấn sáng giá của Tướng Trưởng và cũng là người chỉ huy hành quân nhờ am hiểu địa hình thành phố nhất.

Sự am tường từ các con phố đến các ngõ hẻm nơi thành phố sinh trưởng của mình, Huế tỏ ra hữu hiệu gấp bội khi anh có thể gom về được những quân nhân Nam Việt đang ẩn nấp sau cuộc tấn công bất thần của địch. Anh hình dung ra được đâu có thể là nơi ẩn nấp của họ để rồi giúp hằng trăm binh sĩ về lại được với đơn vị mình để cùng chung sức đẩy địch ra khỏi thành phố.

Hôm 14 tháng Hai, Hắc Báo kéo đến khu tường thành phía Tây Bắc để giải cứu Tiểu Đoàn 1/3 đang bị bao vây. Sau đó trong một sứ mạng tương tự Huế giành lại được căn nhà của mình vốn đã bị quân BV chiếm đóng từ ngày đầu của cuộc giao tranh, cứu được cha, mẹ, vợ và đứa con gái sơ sinh.

Bốn ngày sau Hắc Báo đã hà hơi tiếp sức cho TQLC Mỹ 1/5 của Th/tá Thompson đã quá mệt mỏi bằng cách giữ an ninh mạn phải cho họ, dọc theo khu Đại Nội.

Hôm 22 tháng Hai họ lại được gởi trở lại khu tường thành Tây Bắc vừa đúng lúc để đẩy lui một cuộc tấn công của một lực lượng địch vừa mới từ Khe Sanh tăng phái vào cho chiến trường Huế. Hắc Báo tiêu diệt một đại đội mới được tung thêm vào để đánh một cú thốc cuối cùng với hy vọng chiếm lại thành phố.

“Họ mặc quân phục còn mới ken với đầy đủ lon lá là những ngôi sao trên cổ áo. Họ khai với tôi rằng họ vào Huế để diễn hành chiến thắng,” Huế nói. “Chúng tôi giết được cả trăm địch quân và tịch thu được rất nhiều súng lục K-54 và K-58. Về sau những chiến lợi phẩm này trở nên món hàng giá trị để trao đổi vũ khí với quân TQLC Hoa Kỳ.”

Cuối ngày hôm đó Tướng Trưởng ra tận mặt trận và thăng cấp đại úy cho Huế. Tuy nhiên, trước khi Huế nhận lon mới từ tay Tướng Trưởng thì anh đã mang trên áo giáp lon cầu vai lấy từ một sĩ quan địch mới bị giết, kèm với lon đại úy khác của TQLC Mỹ hình sọc khối do viên cố vấn là Đ/úy Coolican tặng.

Ngày hôm sau Huế cùng đơn vị được báo trước chuẩn bị một cuộc tấn công vào Đại Nội. Quân của Tiểu Đoàn 2/3 được chỉ định hạ cờ MTGP trên Kỳ Đài xuống, còn ĐĐ Hắc Báo thì được vinh hạnh đánh chiếm lại Đại Nội.

“Thật quả là một giây phút xúc động,” Huế hồi tưởng lại. “Có nhiều xác địch khắp đó đây và cũng có nhiều hoang tàn do đại bác gây nên. Nhưng bộ đội còn sống thì không thấy ai cả.”

Khoảng một tuần sau khi trận đánh kết thúc, tôi có dịp gặp Huế. Lần đó tôi dẫn theo một đặc phái viên Mỹ đến gặp anh ở văn phòng chỉ huy gần phi trường Tây Lộc. Lúc ấy Huế đang nằm nghỉ xả hơi trên võng căng trước cổng.

“Đại Úy Smith à,” anh ta la ầm lên rồi kéo tôi qua một bên và tỉ tê. “Anh phải gọi báo cho tôi biết trước rằng anh sẽ đến. Coi không được tí nào thấy không. Ít ra phải cho tôi chút thì giờ để ăn bận binh phục cho nó chỉnh tề chứ.”

Đ/úy Huế ở bộ chỉ huy Đại Đội Hắc Báo. (Hình chụp lại từ video của LowellMilkenCenter.org) 

Anh ta nói đúng và tôi đã thành thật xin lỗi. Sau đó khi đã mặc xong bộ đồ trận kẽn nhất, Huế mới dẫn nhà báo trẻ tuổi đi xem một vòng doanh trại và dành cho anh chàng một cuộc phỏng vấn đặc biệt mà sau đó bài phóng sự này đã được đăng trên tờ nhật báo Sao và Sọc (Stars and Stripes) của quân đội Mỹ. Nhan đề câu chuyện là ‘Hue’s Panthers Fight Like Tigers.’ (Bầy Báo của Huế Chiến Đấu Như Hổ). Vài tháng sau, anh chàng Huế nay tiếng tăm lẫy lừng được mời ra tham dự một buổi lễ trên một con tàu của Đệ Thất Hạm Đội đậu ngoài khơi biển Đông.

“Họ đưa một trực thăng vào đón tôi ra tàu. Chưa bao giờ tôi được bước chân lên một chiến hạm,” Huế cười toe kể lại câu chuyện. “Rắc rối một điều là tôi quên chưa báo cáo với Tướng Trưởng. Khi ông ta đến tìm tôi tại đơn vị, người của tôi mới cho ông hay rằng tôi đã bay ra ngoài tàu Mỹ chiều mới trở về. Về sau cả hai chúng tôi đều bật cười mỗi khi nhắc đến kỷ niệm đó.”

Huế với cấp bậc thiếu tá. (LowellMilkenCenter.org)

Năm 1969, Huế được thăng cấp Thiếu Tá và nắm chức Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 2 thuộc SĐ1 BB. Trung Đoàn 2 mệnh danh là Trung Đoàn Sói Đen (Black Wolf Regiment), cùng một đơn vị mà cha anh đã chỉ huy hồi thập niên 50. Hai năm sau lúc vừa mới được thăng cấp trung tá, Huế bị địch bắt sống trong một cuộc Hành Quân 719 ở trên đất Lào. Trong sứ mạng cuối cùng của Huế vào đất Lào vào tháng Ba năm 1971, các cố vấn Mỹ không được phép tháp tùng theo. Cuộc hành quân được coi như hoàn toàn do quân đội Miền Nam chủ động và cố vấn Mỹ được cảnh cáo trước sẽ bị truy tố ra tòa án binh nếu ai đi theo họ. Sau khi hoàn tất công tác, tiểu đoàn của Huế sẽ bảo vệ cho cuộc triệt thoái của quân đội Nam Việt bằng phi cơ trực thăng. Đơn vị của anh bị phục kích và sau nhiều giờ cận chiến với địch quân Huế bị thương và bị bắt. Trong cuộc giao chiến này anh mất hết bốn ngón bên tay trái. Đây là lần thứ năm Huế bị thương trong khi đánh nhau.

Sau khi bị bắt, quân BV cho phép tất cả sĩ quan được phép nói đôi lời nhắn nhủ về gia đình trên làn sóng phát thanh của quân địch đặt ở ngay phía Bắc vùng Phi Quân Sự. Huế nhắn với Cam, vợ anh, rằng anh được bình yên và nhắc nhở nàng hãy lo nuôi nấng ba đứa con gái nhỏ.

Anh phải sống hết 13 năm trong lao tù CS, luôn luôn từ chối mọi lời dụ dỗ anh đứng về với phía họ. Bốn năm đầu tiên anh bị biệt giam trong nhà tù Hỏa Lò (Hanoi Hilton) nổi tiếng, hơn tám năm sau đó anh bị cầm giữ trong các trại cải tạo; trong thời gian này anh cải đạo thành một tín đồ đạo Cơ Đốc. Những lúc gian khổ anh hướng về ơn trên và nghĩ tới vợ và các con.

Người CS biết rõ anh là một chiến sĩ xuất sắc và một nhà chỉ huy lỗi lạc. Đây là đức tính quí báu mà họ cần cho quân đội họ vì họ đã hao hụt mất nhiều sĩ quan giỏi sau nhiều năm dài chiến tranh. Họ lý luận rằng nếu anh quay về với họ tức là anh theo với phe chiến thắng.

“Họ hứa hẹn sẽ phong cho tôi làm tướng nếu tôi ưng thuận nhưng tôi vẫn nhất mực từ chối,” Huế kể lại.

Chua chát thay kẻ thẩm vấn anh lại là Phạm Văn Đính người trước đây từng là một đồng đội ở Sư Đoàn 1 BB. Đại đội của Đính từng được vinh dự hạ chiếc cờ của CS xuống khỏi Kỳ Đài vào những ngày cuối cùng của trận đánh Huế Tết 68.

Tháng Tư 1972 Đính trong cấp bậc trung tá của quân đội Miền Nam đã làm sững sốt các cố vấn Mỹ khi giao nạp đơn vị là cả một trung đoàn và bộ chỉ huy ở căn cứ Carroll cho địch bằng hành động đầu hàng. Ngày hôm sau Đính xuất hiện trên đài phát thanh Hà Nội tuyên bố rằng anh được đối xử tử tế và kêu gọi binh sĩ Miền Nam hãy buông súng và đừng chiến đấu chống lại BV. Ngày nay Đính nắm chức vụ cao trong chính quyền CS ở Huế.

Trong thời gian có cái gọi là hòa bình giả tạo năm 1973, vợ của Huế đã tìm đến nơi mà người ta đồn sẽ có một cuộc trao trả tù binh, sau đó mới hay chỉ là tin đồn nhảm.

Sau cùng Huế được thả về vào năm 1984 rồi sống chui rúc ở Sài Gòn không dám ra Huế vì sợ bị trả thù. Một năm sau vợ con anh mới tìm đến được với anh, kể từ đó anh coi như bị quản thúc tại gia. Anh được giao cho công việc săn nhặt vàng và quí kim từ những máy thu thanh cũ của Mỹ và được trả đủ để nuôi sống gia đình. Dẫu sao thì cũng còn hơn là chết rục xương ở trong tù.

Tấm hình cựu Tr/tá David Wiseman chụp cho Huế hồi làm cố vấn năm 1970, dùng  để dọ hỏi tin tức về Huế. (LowellMilkenCenter.org)

Cùng lúc ấy một trong những cựu cố vấn của Huế là Th/tá TQLC David Wiseman bắt đầu truy tìm người đồng đội cũ của mình.  “Năm 76 tôi được một cựu tướng quân đội Miền Nam cho biết Harry đã chết ở trong tù nhưng tôi đâu có dễ tin như vậy được,” Wiseman nói. “Anh ta không bao giờ chết được ngoại trừ bị họ giết.”

Ông bắt đầu đem tấm hình ông đã chụp cho Huế trước đây đi khắp cộng đồng đông đảo người Việt ở Virginia để dọ hỏi, hi vọng có ai đó nhận ra anh và cho biết anh còn sống hay đã chết. Sau cùng, đến năm 1990, sau khi Wiseman đã thăng lên trung tá, ông gặp một di dân ở Nam Việt Nam mới sang, cô ta nhận ra anh trong hình và cho biết cô có thấy anh ở Sài Gòn. Wiseman lập tức viết thư cho Huế và bắt đầu gởi về cho Huế mỗi tháng 100 đô la để giúp anh nuôi sống gia đình. Đồng thời ông nộp đơn với Bộ Ngoại Giao xin được phép giúp bạn ông cùng gia đình sang Mỹ.

Bây giờ đang sống ở Bắc Virginia, Huế cùng vợ là Cam và ba con gái đã tuyên thệ nhập tịch Hoa Kỳ hôm tháng Mười Một 1996.

Với sự giúp đỡ của nhiều bạn bè, Huế đã lo được cho ba con theo học đại học. Để có đủ tài chánh cho một đời sống sung túc hơn anh phải làm hai việc ở hai nơi và rất tích cực hoạt động với cộng đồng người Việt vùng thủ đô Washington DC. Mỗi tuần anh mua một vé số hy vọng ngày nào đó cơ may đến anh sẽ bảo lãnh cho hai người chị em đang sống túng thiếu ở Huế được qua Mỹ để cùng anh chia xẻ sự may mắn.

Có hôm Huế ước ao được về lại nơi thành phố nơi anh sinh trưởng.

“Bây giờ chưa phải lúc,” Huế nói. “Chế độ CS đang suy tàn ở VN, và vấn đề chỉ còn là thời gian mà thôi. Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng sứ mạng của tôi trên trần gian này vẫn chưa hoàn tất, tôi sẽ làm những gì có thể làm được để cứu dân tôi.”

*

Người anh hùng khác của quân đội Miền Nam dĩ nhiên phải nói đến Tướng Ngô Quang Trưởng. Ông ta bây giờ trên 70 và đã về hưu sống ở Bắc Virginia chỉ cách chỗ ở của Huế có vài dặm. Ông chọn cuộc sống ẩn dật xa hẳn ánh đèn sân khấu của chính trường mà ông đã từng một thời nắm lấy trong suốt 21 năm binh nghiệp huy hoàng. Ông sống trong một căn nhà gạch khiêm tốn trên một con phố yên tĩnh ở vùng ngoại ô Washington. Trên tường căn phòng khách ông treo bức ảnh ghi lại giây phút thượng cờ ở Kỳ Đài sau khi tái chiếm hôm 24 tháng Hai năm 1968. Ngoài ra có một khung kiếng khác với phù hiệu của bốn đơn vị ông đã từng phục vụ: Sư Đoàn Dù, Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Quân Đoàn IV, và Quân Đoàn I. Đó là hai món quà do bạn bè và đồng đội trao tặng ông trong một buổi lễ ở trại Fort Leavenworth, Kansas, năm 1975, không lâu sau khi ông vừa đến Mỹ.

Ông hết sức tự hào thời gian làm tư lệnh SĐ1 BB, đặc biệt là trong thời gian Tết Mậu Thân. Một trong những tấm hình ưng ý nhất của ông là hình chụp lúc cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird gắn thêm lá cờ đuôi nheo xanh lên trên cờ hiệu Sư Đoàn 1 Bộ Binh khi đơn vị này được Hoa Kỳ tặng huy chương Khen Thưởng Đơn Vị Xuất Sắc của Tổng Thống Hoa Kỳ (the U.S. Presidential Unit Citation). Sư Đoàn 1 Bộ Binh là sư đoàn quân đội Nam Việt duy nhất nhận được vinh dự đó.

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng hồi nắm tư lệnh Quân Khu 1, thời gian có trận “Mùa Hè đỏ lửa 1972”. (RVNHS)

Tướng Trưởng nhận thêm ngôi sao thứ nhì vào thời gian tháng Sáu 1968 để rồi lại được thăng lên cấp trung tướng hai năm sau đó khi ông được trao quyền Tư Lệnh Quân Khu IV. Hai năm sau, do sự thúc bách của các cố vấn Mỹ ông được TT Thiệu đề cử ra nắm chức Tư Lệnh Quân Khu 1 thay thế cựu xếp lớn của ông là Tướng Hoàng Xuân Lãm. Với sự giúp sức của Hoa Kỳ bằng hỏa lực hùng hậu Tướng Trưởng đã chận đứng được cuộc tổng tấn công ‘Mùa Hè Đỏ Lửa’ (Người Mỹ gọi trận này là ‘the Easter Offensive’: Cuộc Tấn Công Lễ Phục Sinh vì nó xảy ra trong thời gian có lễ này của họ), theo đó quân CSBV suýt chiếm trọn Vùng 1 trong âm mưu cắt Miền Nam thành hai phần.

Sự chiến thắng này đã nâng Tướng Trưởng lên đầu danh sách của vài ứng viên tuyển chọn tương lai sẽ thay thế Tổng Thống Thiệu. Dưới nhãn quan của người Mỹ thì Tướng Trưởng có nhiều khả năng được chọn hơn cả. TT Thiệu nhận thấy điều này nên liên hệ giữa hai người có vẻ trở nên không mấy tốt đẹp.

Ba năm sau, khi Cộng Quân xua quân để chiếm trọn Miền Nam, do ngờ vực Tướng Trưởng là đối thủ được Mỹ tích cực ủng hộ, TT Thiệu cho rằng quân CS chiến thắng quá nhanh phần lớn do lỗi Tướng Trưởng. TT Thiệu vì e sợ thế lực Tướng Trưởng quá mạnh đã ra lệnh Sư Đoàn Dù bỏ Vùng 1 rút về Sài Gòn, một nước cờ mà Tướng Trưởng cho là của kẻ điên. Con người của Tướng Trưởng vốn điềm đạm mà cũng phải trở nên mất tự chế, theo một báo cáo cho biết ông đã từng nghĩ đến chuyện từ chức hoặc có thể gây nên một cuộc đảo chánh. Cuối cùng thì ông đã không chọn một quyết định nào, thay vào đó ông quyết định vẫn giữ vai trò của một quân nhân chuyên nghiệp chỉ biết thi hành nhiệm vụ, không phải là một kẻ có mưu đồ chính trị.

Khi Đà Nẳng bị thất thủ vào cuối tháng Ba năm 1975 chính Tướng Trưởng phải bơi ra biển để mà tìm cái sống. Vốn là một tay bơi lội thuộc hạng tồi nhưng nhờ sự trợ giúp của một người phụ tá ông đã từ một căn cứ cũ của TQLC Mỹ chèo ra được đến một tàu tuần của NV đang chờ sẵn. Lúc sớm hơn ngày hôm ấy, Tướng Trưởng trong tinh thần suy nhược và mất định hướng, nhận được điện thoại của TT Thiệu ra lệnh ông phải lập một đầu cầu trên một hòn đảo nhỏ ở ngoài khơi để khơi mào cho một cuộc tái chiếm lại Vùng I. Nghe vậy Trưởng phải rán nín hết sức để khỏi phì cười.

Vài ngày sau về đến Sài Gòn, ông xin vào nằm ở một bịnh viện dã chiến. Ông bị chứng suy nhược tinh thần và viêm màng kết (conjunctivitis). Sau vài ngày nghỉ dưỡng, Tướng Trưởng được giao làm phụ tá Tổng Tham Mưu Trưởng chỉ huy việc phác họa kế hoạch phòng thủ Sài Gòn. Ông dự tính sẽ ở lại đến phút cuối nên lo đưa cho vợ con bay ra khỏi nước trước.

Ngày 30 tháng Tư, PTT Nguyễn Cao Kỳ chạy vào Bộ Tổng Tham Mưu tìm gặp Tướng Trưởng. Tướng Trưởng lúc ấy đang trong tâm trạng đau đớn xót xa, ông như kẻ mê muội đang bước lang thang qua các hành lang trong Bộ Tổng Tham Mưu. Gặp Tướng Trưởng, ông Kỳ hỏi ông đang làm gì thì Tướng Trưởng cho biết đang chờ lệnh của cấp trên. Nghe vậy ông Kỳ liền ra lệnh cho ông đi theo lên một chiếc trực thăng cùng với 10 người khác bay ra hàng không mẫu hạm USS Midway đang thả neo ngoài khơi biển Đông.

Hình chụp bài viết mới nhất về Tướng Trưởng đăng trên HistoryNet năm 2017. Bài của Tướng James H Willbanks, trưởng Trung Tâm Quân Sử Lục Quân George C Marshall, kiêm giám đốc phòng quân sử tại Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ ở Fort Leavenworth, Kansas.

Tháng Ba 1997, tôi đến thăm ông Trưởng, dẫn theo Huế người Đại Đội Trưởng Hắc Báo ngày nào. Chúng tôi uống trà và chuyện trò thân mật. Trưởng và Huế mỗi người ngậm một điếu thuốc.

“Anh bỏ thuốc rồi sao?” ông tướng hỏi tôi, nhớ lại những ngày ở Huế khi hai chúng tôi còn hút với nhau.

“Phải, tôi bỏ lâu lắm rồi,” tôi đáp.

“Vậy thì tốt cho anh,” ông Trưởng cười và nói.

Huế vẫn còn gọi Trưởng là ‘sếp’. Khi còn ở ngoài xe Huế đã cho tôi biết trước là ông tướng không thích được phỏng vấn vì ông không ưa nhắc đến dĩ vãng. Tuy nhiên ông rất muốn gặp lại tôi.

Ông Trưởng nhận ra tôi ngay và chúng tôi nói chuyện về trận đánh Tết Mậu Thân ở Huế một cách vui vẻ. Được hỏi khi đọc lại những sách hoặc chuyện kể, nói về trận đánh, ông có thấy chỗ nào thiếu chính xác không thì ông cho biết là tất cả khá chính xác.

Tôi nói với ông tôi vẫn thấy kỳ diệu khi quân số của ông nhỏ nhoi như thế mà có thể ngăn địch không chiếm trọn được Thành Nội.

“Đây là người đã cứu Thành Nội và cũng là người đã cứu mạng tôi,” ông Trưởng nói, chỉ tay về phía Huế. Cả hai cùng trao nhau nụ cười. Ông Trưởng hãnh diện chỉ tấm hình thượng cờ ở Thành Nội và đứng dậy để hạ khung hình có phù hiệu bốn đơn vị xuống.

“Trong đời binh nghiệp tôi đã chỉ huy bốn đơn vị này, đơn vị nào cũng xuất sắc cả,” ông nói với vẻ kiêu hãnh ra mặt.

Chúng tôi lại nói về ngày thượng kỳ ở Kỳ Đài Phu Văn Lâu. Tôi nói với ông đúng ra tôi có thể đi theo để tham dự cuộc tái chiếm đó mà tôi đã không đi, một quyết định mà tôi cứ ân hận mãi. Ông đứng dậy để đi tìm thêm những tấm ảnh khác cho tôi xem.

Trong khi ông tướng đi qua căn phòng khác, Huế cho tôi biết ông ta nghèo lắm. Ông và gia đình rời khỏi Việt Nam chỉ với bộ đồ mặc trên người. Sau một thời gian viết một số binh thư nghiên cứu giá trị cho Lục Quân Mỹ ở Fort Leavenworth, ông Trưởng bắt đầu làm nghề viết lập trình cho máy điện toán và phân tích dữ kiện cho the American Railroad Association (Hiệp Hội Hỏa Xa Hoa Kỳ). Năm 1995 ông về hưu và sống bằng số tiền hưu nhỏ nhoi.

Sau vài phút, ông Trưởng trở lại với một xấp hình khổ 3X5, không hình nào có ông trong đó cả nhưng có một bức thư Tướng Norman Schwarzkopf đã viết gởi ông vào tháng Hai năm 1991, tức chỉ vài tuần sau cuộc Chiến Tranh Vùng Vịnh (Gulf War). Nghĩ là thư riêng tư nên tôi không đọc ngay. Thấy vậy Trưởng nói với Huế bằng tiếng Việt rồi anh liền quay qua dịch lại cho tôi.

“Ông Tướng muốn anh hãy đọc bức thư này”

Thư chỉ có 3 đoạn, được đánh máy trên giấy có in chìm 4 ngôi sao của vị Tổng Tư Lệnh cuộc Hành Quân Bão Sa Mạc (Operation Desert Storm). Trong thư, Tướng Schwarzkopf đã cám ơn Tướng Trưởng vì ông Trưởng đã tỏ niềm hãnh diện khi từng được ông ta làm cố vấn quân sự một thời. Schwarzkopf đáp lại bằng cách nói rằng Tướng Trưởng là một trong những vị thầy lỗi lạc nhất của ông ta, ông còn nói rằng nhiều chiến lược ông dùng trong Cuộc Chiến Vùng Vịnh (Gulf War) đều áp dụng từ những gì ông học được qua Tướng Trưởng. Ông Trưởng mĩm cười trong khi tôi đang đọc bức thư.

“Ông Tướng, tôi có thể copy lại bức thư này để in trong cuốn sách sắp xuất bản của tôi được không?” Tôi hỏi.

“Không, đừng nên thì hơn. Cái này rất là riêng tư,” ông ta trả lời.

Tôi đổi đề tài trở lại câu hỏi làm sao một lực lượng nhỏ của ông mà có thể cầm chân được hai tiểu đoàn quân BV ở Thành Nội năm 68.

Ông nhìn sang phía Huế đang ngồi cạnh tôi.

“Nhờ anh này,” ông nói. “Anh ta sinh trưởng ở đó nên anh ta thuộc hết từng căn nhà, từng con phố.”

Huế cười rồi đáp với một câu mà mọi người đều cười òa.

“Tôi nói với những người bạn Việt của tôi ở đây rằng nếu quân BV mà đến đây tôi sẽ cho họ đi xe mướn chạy vòng mãi trên vòng đai xa lộ quanh thủ đô Washington, D.C.” Huế nói.

Trước khi chia tay tôi hỏi ông Tướng có điều gì trong đời binh nghiệp của ông mà người ta đã bỏ sót không nhắc đến chăng. Ông trả lời rằng không có và nhân cơ hội này để tự chế diễu chính mình.

“Nghĩ thật nực cười, đời binh nghiệp tôi đã chấm dứt bằng một màn bơi trên biển Đông.” Ông vừa nói vừa nhoẻn miệng cười toe.

Giải cứu Huế Tết Mậu Thân

Triệu Phong chuyển ngữ

POSTED BY SEASHELLOC ⋅ THÁNG HAI 10, 2020 

Post by Sơn râu 25 Dec 2023

Một chiến binh BV bị bắt làm tù binh. (tate.org.uk)

Bài 17

Chương 12

Khởi đầu của sự kết thúc 

Hành động gây áp lực thường xuyên của địch bắt đầu cho thấy có hiệu quả. Lực lượng của quân bạn mà tiêu biểu nhất là tiểu đoàn TQLC của Th/tá Thompson đang lâm vào tình trạng thiếu thốn nhiên liệu, chưa nói đến quân số, đạn dược và lương thực.

Thời tiết âm u và khả năng địch bắn sẻ thật chính xác làm giới hạn mọi sự tiếp tế và tải thương bằng trực thăng. Bãi đáp ở trong sân BTL SĐ1 BB NV đầy những thương binh và tù binh chờ được chở ra khỏi Thành Nội. Xe cộ xếp hàng chờ nhận đồ chuyển ra trận tiền. Ưu tiên dành cho những người bị thương nặng, còn những người ở cấp độ nhẹ hơn và những xác chết tạm để dọc theo bãi đáp. Hình ảnh ghê rợn nhất là mỗi khi trực thăng lên hoặc xuống, sức gió làm bật tung các tấm poncho lộ ra khuôn mặt của những xác chết.

Một chiến binh BV bị bắt làm tù binh. (tate.org.uk)

Trong sân BTL cũng đông đảo dân tị nạn và tù binh địch, cả hai đều phải trải qua một quá trình thẩm vấn thanh lọc. Sau đó người tị nạn được dồn vào hai trường học gần Mang Cá và họ tự túc lo dựng lều tạm trú mà sống trong khi tù binh thì bị bịt mắt, trói gô vào nhau và ngồi chồm hổm gần bãi đáp chờ được bốc đi đến nơi thẩm quyền cao hơn. Thỉnh thoảng binh sĩ quân đội Miền Nam đi ngang qua hoặc nhổ nước bọt hoặc chĩa súng hăm dọa hoặc gõ vào đầu các tù binh địch. Đám tù binh chỉ nín thinh không kêu ca, cam chịu những nhục hình và lời nguyền rủa, không than khóc, mà chỉ biểu tỏ một sự chai lì khiến binh sĩ Nam Việt lẫn Hoa Kỳ phải nguôi ngoai.

Một số tù binh che đầu bằng miếng vải bố. Họ mặc những chiếc áo thun rách bươm với quần cộc, chân thì hoặc mang dép râu hoặc đi chân đất. Tôi không thấy ai mặc binh phục, giầy trận hoặc nón cối. Họ như đám ma-cà-bông dơ dáy không có vẻ gì là một chiến binh thực thụ.

Nơi thẩm vấn là một tòa nhà nằm bên ngoài cao ốc chính; tôi có nghe kể ít nhiều câu chuyện về những gì xảy ra trong đó, thỉnh thoảng tôi có nghe tiếng la hét từ bên trong vọng ra nhưng tận mắt thì tôi chưa hề chứng kiến gì cả.

*

Mãi cho đến ngày 17 tháng Hai Tướng Westmoreland cảm thấy mình đã từng mục kích và nghe quá đủ về Huế rồi. Ông đáp phi cơ đến Phú Bài để dự một phiên họp hội đồng chiến tranh với Tướng Cushman, tư lệnh TQLC. Vị tướng này hồi Đệ Nhị Thế Chiến từng được thưởng Huy Chương Chữ Thập của Hải Quân (Navy Cross) nhờ công trạng ở đảo Guam; nay đang nắm trong tay 100.000 quân gồm TQLC, lính bộ binh và hải quân ở Quân Khu I (I Corps), vậy mà cuộc giao tranh ở Huế vẫn chưa ngã ngũ. Tướng Westmoreland không ngớt chất vấn ông tướng Cushman mập phì với đôi kính dày cộm, rằng tại sao không tung ra một lực lượng đáng kể nào đó để dứt cho xong cái nợ Huế đi để bây giờ mới ra nông nổi.

Westmoreland, một lý thuyết gia của ngành Bộ Binh từ thời còn ở Trường Võ Bị Westpoint cho đến nay, không hề tỏ ra thông cảm hay hiểu tâm trạng của TQLC. Binh chủng này được tôi luyện với truyền thống tự hào hầu như tuyệt đối, đã phấn đấu thật vất vả để giữ được tính chất độc lập của mình so với các binh chủng khác. Cái gì kẻ khác làm được họ làm được khá hơn mà không cần một trợ lực nào từ bên ngoài. Đó là lí do tại sao một vài TQLC nòng cốt đã chống lại việc hai sư đoàn bộ binh di chuyển đến khu vực trách nhiệm của họ, kể cả sự thiết lập một MACV Tiền Phương.

TQLC tin tưởng sâu xa rằng điều gì do chính họ khởi sự thì sẽ do chính họ kết thúc. Chưa bao giờ có ai dám chỉ trích rằng một lực lượng TQLC nào đó đã không hoàn tất được hoặc sẽ không kết thúc được một công tác do chính họ khởi động. Làm khác đi tức là chấp nhận mình thất bại, mà từ ngữ này thì không có trong bộ từ vựng của binh chủng TQLC. Chính trạng thái tâm lý này đã khiến cho Tướng Westmoreland và các sĩ quan cao cấp khác của Lục Quân phải lắc đầu chán ngán.

Tướng Westmoreland lập tức chỉ định một tiểu đoàn thứ ba (1/7) thuộc SĐ1 Kỵ Binh và một tiểu đoàn (2/501) thuộc SĐ 101 Dù giúp sức để đóng ‘cánh cửa sau’ của Huế lại. Phải mất thêm bốn ngày nữa TQLC mới gom đủ quân để tăng viện cho lực lượng tơi tả của Th/tá Thompson ở Thành Nội.

*

Tướng Abrams thì không ngần ngại gì mà không đưa ra ý kiến của mình. Hôm 20 tháng Hai ông gọi điện cho Tướng Cushman cho hay rằng ông nhận thấy cái ‘giải pháp mà Cushman đang áp dụng ở Thành Nội là không thích hợp’. Ông cũng tỏ ra bất mãn về thành tích hoạt động của TQLC NV ở Thành Nội; lực lượng 2000 quân này không thực hiện được việc gì khả quan khiến Tướng Abrams phải đề nghị với Tổng Tham Mưu của quân đội Nam Việt phải thay thế họ bằng lực lượng nào chịu chiến đấu chứ không ù lì như vậy. Đồng thời quân TQLC Mỹ của Th/tá Thompson ở Thành Nội vẫn chậm chạp tiến quân với ĐĐ Delta bên tả, Bravo đi giữa và Charlie bên hữu, còn 1/5 thì đang tiến xuống dãy tường thành Đông Nam của Đại Nội, còn cách mục tiêu 3 khu phố. Oái oăm cho 1/5 là càng tiến gần đến nơi khu vực để càn quét địch quân họ lại càng không dám kêu tác xạ yểm trợ vì sợ trúng quân bạn. Rõ ràng là địch quân đang rút dần nhưng không có dấu hiệu cho thấy họ có ý định muốn đầu hàng mà chỉ dùng chiến thuật đánh cầm chừng và thủ hậu. Đơn vị của Th/tá Thompson có vẻ muốn kiệt quệ vì cho đến ngày 17, TQLC đã cạn hết đạn cho xe tăng và đại bác không giật 106 mm; trong khi khẩu phần lương khô ration C chỉ còn đủ dùng cho một ngày nữa.

Qua ngày 18, Tướng Trưởng nhận thấy tình trạng khốn đốn của TQLC Mỹ 1/5 nên liền cử Tr/úy Huế cùng Đại Đội Hắc Báo giúp Th/tá Thompson giữ an ninh cánh phải dọc theo bờ tường Đại Nội. Tr/úy Huế còn được Tướng Trưởng bật đèn xanh cho phép đánh ập vào Đại Nội mỗi khi tình hình cho phép.

“Tôi yêu cầu Th/tá Thompson giúp phá một lỗ nơi bức tường để binh sĩ của tôi có thể xông vào tiêu diệt địch,” Tr/úy Huế nói. Sau đó Th/tá Thompson hội ý với Đ/tá Hughes nhưng ông này không chấp thuận lời thỉnh cầu của Tr/úy Huế.

“Tôi cho Th/tá Thompson biết là quân của tôi đã sẵn sàng hết rồi, chúng tôi sẽ lo hết mọi sự miễn sao ông ta giúp phá một lỗ tường để chúng tôi xông vào,” Tr/úy Huế nhiều năm sau kể lại. “Ông ta trả lời không thể làm được. Nhìn thấy lính của ông ta quá mệt mỏi nên tôi đề nghị tạm để chúng tôi đảm nhận trách nhiệm đánh tiên phong, điều này thì Th/tá Thompson đồng ý.”

Th/tá Thompson được lệnh phải nắm hết mọi cuộc hành quân trong khu vực trách nhiệm; có nghĩa là không cho phép một đơn vị nào khác dù là Mỹ hay Nam Việt cướp mất niềm vinh quang của binh chủng TQLC, đặc biệt là hiện có rất nhiều nhà báo đi theo tiểu đoàn để tường thuật về cuộc hành quân này.

TQLC Mỹ giao cho Tr/úy Huế thẩm vấn một tù binh họ bắt được, tuổi chỉ mới 16. Cậu nhóc tù binh cho Tr/úy Huế biết cậu bị quân CS bắt và giao cho một cây AK-47 từ ngày họ mới vào Huế. Đến ngày 13 tháng Hai cậu bị sai đi kiếm thực phẩm, nhưng thay vì làm theo lời, cậu lại đến trình diện thẳng với TQLC Mỹ để xin đầu hàng. Khi ĐĐ Hắc Báo chuyển hướng qua mặt thành Tây Bắc để phụ lực cho quân của Trung Đoàn 3 VN, Huế mang theo người tù binh trẻ. Cậu nhóc tì nói với một trung sĩ trung đội trưởng giao cho cậu hai quả lựu đạn cậu sẽ một mình tấn công địch để chứng minh cậu ta không phải là quân CS. Trước khi thực hiện ý định cậu bé nói với người trung sĩ rằng nếu không may mà cậu bị giết thì xin Tr/úy Huế cho mang xác cậu về với gia đình để chứng tỏ cậu không phải là quân địch. Cuối cùng thì ngược lại, cậu ta sống sót trở về không trầy da tróc vảy chút nào. Dẫu sao thì sao Tr/úy Huế vẫn không giao súng cho cậu ta mà chỉ giữ đó để sai vặt; tuy vậy vài ngày sau rồi ra Tr/úy Huế cũng trao cho cậu một cây súng trường M-16 và cậu tỏ ra là một tay súng cừ khôi.

*

Tr/sĩ Steve Berntson đúng ra là một văn sĩ hơn là một chiến sĩ mới phải. Trong chức vụ đặc phái viên cho TQLC anh đã có mặt tại Huế từ ngày đầu của cuộc giao tranh. Anh cùng bạn đồng sự là Tr/sĩ Dale Dye theo chân TQLC Mỹ 1/1 và 2/5 suốt một tuần rưỡi đi khắp các ngõ đường tang thương của vùng Hữu Ngạn sông Hương trước khi vào Thành Nội.

Nhờ được thụ huấn đào tạo thành quân nhân binh chủng TQLC nên khi hữu sự cả Dye lẫn Berntson đều sẵn sàng xếp bút nghiên để lo việc binh đao. Họ cũng như những nhà báo dân sự khác đã giúp tải thương các thương binh, chạy tới chạy lui trận tiền để tiếp tế đạn dược và thực phẩm. Nhiều lần họ chạy vào ngay cả vùng đang giao tranh ác liệt tên đạn tơi bời. Hôm 19 tháng Hai Berntson thoát lưỡi hái tử thần trong đường tơ kẻ tóc. Số là sau khi phụ giúp kéo được một binh sĩ TQLC bị thương trầm trọng ra khỏi nơi lửa đạn nguy hiểm anh bị trúng ngay một quả B40 và ngã lăn ra bất tỉnh. Đến khi tỉnh lại anh nếm thấy mùi máu đang ọc từ trên trán xuống; tứ chi bại liệt, anh cố sức cử động nhưng vẫn không nhúc nhích được; tuy bất khả động đậy nhưng anh vẫn nhìn thấy chung quanh. Anh nhận ra được những phóng viên nhà báo hiện diện lúc đó như Al Webb của hãng thông tấn UPI, David Greenway của tờ báo Time, và Charles Mohr của nhật báo New York Times. Cả ba đều đang xông xáo phụ giúp tải thương thì cũng bị nạn luôn; Webb bị mảnh đạn ghim vào cẳng và mắt cá chân; còn Berntson thì bị ở ngực và cả hai chân. Berntson vẫn tỉnh táo trong suốt thời gian được tải về trạm xá ở Mang Cá nhưng sau đó anh lại hôn mê. Anh hồi tỉnh khi các trợ y đang chuyển anh ra bãi đáp. Khi phi cơ trực thăng Sea Knight đáp xuống, gió mạnh của cánh quạt hất tấm poncho phủ lên che lấy mặt Berntson làm anh kinh hoảng vì sợ người ta sẽ lầm anh với những xác chết nằm chung quanh; khổ nỗi là anh không thể nhúc nhích được. Sau khi ngất đi lần thứ ba anh tỉnh dậy thấy mình đang nằm ở Phú Bài.

Mười hai năm sau Webb, Greenway, và Mohr được binh chủng TQLC trao tặng huy chương Ngôi Sao Đồng (Bronze Star), trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam họ là những người dân sự duy nhất nhận được vinh dự này của binh chủng TQLC. Berntson và Dye cũng được vinh dự tương tự.

*

Tính đến cuối ngày 20, sau sáu ngày kịch chiến, đơn vị 1/5 chịu tổn thất 47 chết và 240 bị thương, cộng thêm 60 nữa chỉ được băng bó rồi trở lại chiến đấu. Bốn đại đội mà quân số chỉ còn chưa đến 100 người trong mỗi đại đội. Chỉ riêng Đại Đội Alpha là đại đội duy nhất còn sĩ quan đó là Đ/úy đại đội trưởng Harrington. Ba trung đội của đại đội Bravo có cấp chỉ huy là hạ sĩ. Quân Mỹ phải ăn uống thiếu thốn trong suốt bốn ngày và tinh thần rất sa sút. Họ không có ai để trút bầu tâm sự. Thiếu tá Lục Quân Aloysius P. McGonigal vốn là cha tuyên úy Công Giáo của MACV đã tình nguyện đi theo tiểu đoàn của Th/tá Thompson khi đơn vị này được vận chuyển bằng đường sông vào Thành Nội hôm 12 tháng Hai. Ông bị mất tích hôm 17 và xác được tìm thấy ngày hôm sau trong một cao ốc gần trận tiền. Ông bị tử thương vì một mảnh đạn trúng sau gáy. Trong thời gian ngắn ngủi với TQLC ông đã kết bạn với nhiều người nên sự ra đi của ông để lại không ít niềm thương xót.

Có hơn hai chục nhà báo theo gót đơn vị 1/5 trong suốt thời kỳ này, cùng căng chiếu giữa trời, ngủ cạnh TQLC Mỹ ở trận tiền và được nghe kể lại nhiều chuyện hãi hùng. Vì nhiều nỗi niềm chồng chất nên lính Mỹ có dịp là tuôn ra hết làm mấy anh nhà báo tha hồ hí hoáy ghi chép và máy thu hình bấm lia lịa. Thật đáng kinh ngạc, cảnh đổ nát tang thương và hình ảnh chết chóc chung quanh không phải là nỗi niềm để than thở của họ. Lum khum sau đám nhà báo để lượm lặt những câu chuyện kể, tôi đã gom góp đầy được hơn hai cuốn tập. Một người lính phong trần tâm tình với một nhà báo như sau:

‘Bị bắn sẻ hay bị pháo kích tôi đều không ngán, nhưng đôi khi tôi cần một đôi phút yên tĩnh để đại tiện một cách thoải mái. Làm gì tôi có được một bữa ăn ngon lành. Khẩu phần sáng trưa chiều tối vẫn là lương khô ration C, ration C nguội lạnh. Thì giờ đâu mà hâm; mà có đốt lửa lên hâm là bị phê bình liền. Anh thích đậu lima lạnh hả, đây tôi đổi cho. Tôi mà được ra khỏi cái chỗ hắc ám này tôi sẽ tắm nước nóng, rước về một em thật hấp dẫn và ăn một miếng bít-tết dày cộm cho đã cơn thèm.’

Có người triết lý hơn:

‘Khác với lúc được huấn luyện, thực tế có bao giờ chúng tôi có cơ hội để tiêu diệt một mục tiêu. Địch đánh giặc theo kiểu vừa đánh vừa chạy trốn. Dĩ nhiên pháo binh yểm trợ có giết được một số nhưng vẫn còn bỏ sót nhiều. Có lúc chúng tôi dụ địch ra rồi bắn nhưng hầu hết chỉ bắn trúng nhà cửa hoặc các ô cửa sổ mà thôi, không thể nào biết được mình có giết được tên nào không. Chắc anh hiểu chúng tôi đang nghĩ thế nào trong trường hợp như vậy chứ? Chúng tôi được dạy để giết nhưng nào có dịp thấy họ sờ sờ trước mắt đâu. Quả tình tôi ganh tị với mấy người lính chuyên bắn sẻ. Có người tôi biết thuộc một đơn vị khác đã đạt thành tích hạ được năm mạng, phát nào phát nấy đều trúng ngay đầu cả. Trời ơi chắc hắn hả dạ lắm.’

Một người khác lại góp ý:

‘Anh có thể tưởng tượng địa ngục có khác hơn như vầy không? Không bao giờ có thể có một giấc ngủ ngon lành. Ban đêm chúng tôi tụ lại với nhau rồi tuần tự từng hai tên gát để cho đám còn lại ngủ; nhưng giấc ngủ đó chỉ là phù du thôi. Anh không thể không quên rằng anh đang nằm ở đâu mà có thể yên lòng để ngủ cho ngon lành được và anh dư biết bất cứ giờ phút nào địch cũng có thể tặng anh một trái cối vào bụng.’

Đúng như lời nhắc nhở, chúng tôi nghe tiếng súng cối ‘đề-pa’ từ  hướng Đại Nội; lập tức mọi người giạt ra kiếm chổ núp. Chỉ một trái duy nhất rồi thôi. Chúng tôi đoán rằng địch chắc cũng đang đói đạn như mình.

*

Cổng thành và dãy tường gạch của Thành Nội sừng sững lạnh lùng in trên nền trời xám xịt và mù sương, gợi lại trong tâm trí người chiến binh hình ảnh ngôi pháo đài thời Trung Cổ. Một số người lính mắt đã quầng sâu trông như những bóng ma. Râu tóc họ đã lâu không xén tỉa, mặt mày bê bết bụi bặm, vôi vữa. Áo quần loang lổ mồ hôi lẫn vệt máu khô. Cũng với một bộ đồ đã mặc từ hai tuần lễ, đầu gối và cùi chỏ nay đều lộ ra ngoài.

Đây không phải chuyện kể về ma quái mà là chuyện của người thật.

Người lính TQLC Mỹ ngồi nép đạn ở một bờ tường trong cuộc hành quân hôm 18 tháng 2 ở nội thành. (USMarineCorps)

Quân TQLC được huấn luyện thành một lực lượng lưu động, lưỡng cư vừa ở trên cạn vừa ở nước; vậy mà nay thành con chuột chũi trốn chui trốn rúc. Họ trở nên thụ động, bất động như bầy chuột chui rúc trong đống đổ nát, vây quanh là những bức tường lỗ chỗ những lỗ đạn to oằm, những xe cộ cháy đen, những cây gãy cùng những cột đèn ngã nghiêng. Thần chết đến vỗ vào vai họ bất cứ lúc nào và không ai biết từ đâu đến mà đề phòng. Sự căng thẳng đến mức độ chẳng ai còn thèm màng tới nữa.

Các nhà báo và phóng viên truyền hình từng nhóm hai hoặc ba người lăng xăng di chuyển từ vị trí chiến đấu này qua vị trí khác để ghi nhận những câu chuyện kể và họ thu thập được vô vàn. Theo một cách nào đó sự hiện diện của báo chí là một điều tốt cho các chiến binh TQLC Hoa Kỳ vì đã giúp cho tâm trí họ trút đi được cơn ác mộng kinh hoàng đến mức không còn chịu đựng nỗi nữa. Nhà báo còn giúp làm cho nỗi căng thẳng thành những câu chuyện khôi hài khiến họ thấy nhẹ nhỏm hẳn đi. Để trả lời câu hỏi của một ký giả, một người lính đáp,

“Anh hỏi tôi đã từng thấy cái gì ghê rợn nhất hả? À, tôi thấy một tên địch bị đạn chém ngọt mất chiếc đầu. Chúng tôi đi tìm mãi mà vẫn không thấy cái đầu đâu cả. Làm sao mà anh lại để cho mất đầu của mình được chứ? Còn nữa tôi thấy một gã bị trúng đạn cối văng cao đến 6 thước. Khi trợ y đến khiêng anh đi tải thương thì chân anh đong đưa chỉ còn dính với thân mình bằng một tí thịt. Người trợ y móc ra cây kéo cắt rời miếng thịt đi rồi đặt bàn chân lên bụng của anh chàng. Anh ta không nói năng gì cả, chắc đã ngất đi rồi.”

Sắp tới ngày mãn hạn tham chiến ở VN nên phải bộc lộ nỗi niềm ra trên nón sắt: ‘Khoan đừng bắn, tôi sắp được về rồi.’ (USMC Archives)

Mùi hơi người là vấn đề điên đầu nhất đối với các chiến binh TQLC. Từ hôm vào Thành Nội họ chưa hề được tắm gội và cạo râu, cũng không ai có thừa một đôi vớ sạch để thay. Áo giáp bên ngoài làm áo trận dính sát vào người khiến mùi mồ hôi càng bí thêm.

“Thà chịu hôi chứ ở đây chúng tôi không thể rời áo giáp được,” một người lính tỉ tê với một nhà báo. “Thằng bạn của tôi bị trúng một mảnh pháo ngay ngực làm hắn bắn xa hơn 2 mét, kết quả hắn chỉ bị xây xát thôi, nếu không có áo giáp thì bộ ngực hắn chắc không còn.”

Nhiều binh sĩ viết tên hoặc khẩu hiệu lên nón sắt. Có người đeo dấu hiệu hòa bình hoặc những thứ trang sức linh tinh khác trên áo trận hoặc áo giáp. Bên trong nón sắt là nơi ưng ý nhất để giữ đồ riêng tư như thư từ, lịch ngày tháng kèm với mẩu bút chì để đánh dấu những ngày còn lại trước khi được về nước. Họ không quên đánh dấu mỗi ngày, có khi đến cả hai ba lần.

Những khẩu hiệu viết trên nón thịnh hành nhất như ‘Cầu nguyện cho Chiến Tranh’ (Pray for War), ‘Sinh ra để Giết’ (Born to Kill), ‘Say Cuộc Chiến’ (High on War), và ‘Cu tòn ten’ (Swinging Dick). Có câu có vẻ triết lý như ‘Sinh ra để mà Chết’ (Born to Die), ‘Sao lại Tôi?’ (Why Me?), hoặc là ‘Tôi tới Số rồi’ (Time Is on My Side). Có người diễn đạt ý tưởng theo lối chữ viết thường thấy kẽ trên tường như ‘Địa ngục Khốn Nạn’ (Hell Sucks). Một số tiêu cực với ‘Tầm nhìn chỉ 1000 mét’ (1000-yard stare), thấy việc ra khỏi Huế mà sống sót là điều vô vọng.

Mới qua VN chưa nóng đít đã ngồi đếm ngày về. Bây giờ tháng Hai, cuối tháng chín mới hy vọng được về nước. (Photo courtesy of USMC) 

“Mày biết không, muốn ra khỏi đây chỉ có hai cách: một là trên băng ca hai là trong lớp poncho,” một người lính tâm sự với đồng đội. “bằng băng ca có lý hơn phải không mày.”

Một số quá mệt mỏi và chán ngấy mới ngồi nghĩ đến chỗ nào trên người thích hợp nhất để hủy hoại thân thể. Một vết thương không cần nặng lắm cũng đủ là giấy thông hành tốt để ra khỏi nơi hắc ám này, nhưng phải đủ trầm trọng một chút mới được tải thương bằng trực thăng. Nếu hơi nhẹ thì chỉ có băng bó qua loa rồi vẫn phải trở lại trận tiền.

“Cái giò coi bộ có lí nhất, không phải ở bàn chân mà có thể là bắp chân thì hơn.” Một gã đưa ý kiến. Bấy giờ có người ký giả nghe lóm được bèn lên tiếng:

“Tôi biết ở Khe Sanh có một anh chàng TQLC cũng từng làm như thế. Hắn tự bắn vào bàn chân; sau khi nghe người trợ y báo cáo về việc xảy ra lão già đại đội trưởng nổi giận bảo anh trợ y chỉ cho hắn một viên aspirin thôi. Bấy giờ vết thương mới bắt đầu hành hắn ta biến sang chứng thối hoại (gangrene), ăn lang dần đến đầu gối. Cuối cùng thì chân hắn bị cắt tới tận háng. Bây giờ hắn được về nước trên chiếc xe lăn, không ngớt chửi thề đã lỡ dại gia nhập binh chủng.”

Các anh chàng TQLC phần đông đều tuổi mới lớn nên há hốc ngồi nghe kể mà không biết chuyện có đáng tin hay không. Họ chưa kịp hỏi một lời thì mấy người ký giả đã dọt đi nơi khác.

Tuy nhiên hiếm mà có lời nào về các TQLC để có thể làm ngã lòng họ cả.

“Anh có biết tại sao tôi không sợ bị trúng đạn không? Tại vì trợ y của chúng tôi thuộc loại chiến nhất,” một người lính cho biết. “Họ làm đủ mọi cách để bạn không chết; TQLC cũng không bao giờ buông xuôi. Ngay hồi ở quân trường huấn luyện viên có nói TQLC mà chết là coi như vi phạm nội qui.”

Một số còn có cảm tưởng tích cực về sự tác chiến trong thành phố.

“Đánh ở thành phố được cái khô ráo hơn ở đồng ruộng,” một trung sĩ nói. “Mấy cao ốc che đạn được nhiều hơn, khi nào cần ngủ thì cứ kiếm nhà nào đó rồi vô ngủ đâu cần phải đào hố như  ngoài ruộng.”

*

Thiếu tá Thompson suốt tuần lễ không chợp mắt được bao nhiêu, đang tới thời điểm suy sụp cả thể xác lẫn tinh thần. Ông ta và cả tiểu đoàn kiệt quệ lắm rồi và có tin đồn ông sắp bị thuyên chuyển nhưng ông ta không mấy bận tâm.

Thật sự Tướng Cushman hôm 20 tháng Hai đã chính thức công bố tin bãi nhiệm này với báo chí. Tướng Cushman đã ra lệnh cho Đ/tá Hughes phải thải hồi Th/tá Thompson nhưng Đ/tá Hughes đáp lại rằng nếu làm vậy thì ông sẽ từ chức trước. Trước sự quyết liệt đó Tướng Cushman đành phải ôm hận nuốt lại lời. Thoạt đầu Thompson biết tin về sự  sắp ra đi của mình qua bức thư của vợ, bà biết được qua báo chí địa phương.

Đ/tá Hughes từng nói với Th/tá Thompson ông sẽ can thiệp nếu có trở ngại gì với thượng cấp, và ông đã giữ lời.

“Điều đáng khâm phục về Đ/tá Hughes là ông đã làm vơi được áp lực đè lên tôi. Ông luôn luôn quan tâm đến từng chiến binh một, điều này không thấy nơi những sĩ quan khác trong binh chủng TQLC,” Th/tá Thompson nói.

Cuối cùng thì Thompson lại có thêm viện binh, đó là ĐĐ Lima thuộc Tiểu Đoàn 3 Trung Đoàn 5. TQLC quả quyết rằng lịch sử sẽ cho thấy Thành Nội được giải phóng khỏi tay địch là do công lao của thành phần thuộc Trung Đoàn 5 chứ không ai khác. Sau khi Lima đến, ĐĐ Bravo 1/5 bây giờ chỉ còn 61 mạng, được rút ra khỏi Thành Nội để dưỡng quân.

Được khích lệ về sự thay thế này, Th/tá Thompson ra lệnh mở một cuộc đột kích đêm vào ngày 20 tháng Hai; kết quả là lấy được nhiều tòa nhà cao tầng nằm hai bên lối ra vào cửa Thượng Tứ. Họ chỉ còn cách Kỳ Đài vỏn vẹn có 100 mét. Qua ngày hôm sau Th/tá Thompson bắt đầu đẩy mạnh cuộc tấn công cho quân tiến qua mặt hữu về hướng Đại Nội. Cùng lúc đó ở phía Tây thành phố ba tiểu đoàn Mỹ thuộc Trung Đoàn 1 Kỵ Binh và 1 tiểu đoàn khác thuộc SĐ 101 Dù quét sạch qua vùng BCH trung đoàn và tiếp tế của CSBV, từ từ bóp nghẽn đường thoát của địch. Hai ngày sau, tư lệnh quân CS ở Thành Nội nhận được lệnh cho phép lui quân khỏi thành phố. Cùng tham gia vào cuộc hành quân ngày 21 còn có 2 tiểu đoàn BĐQ quân đội Miền Nam, họ được giao công tác quét sạch địch quân ở vùng Gia Hội nơi mà lâu nay vẫn được để yên. Hành động này giúp chấm dứt được sự quấy nhiễu của địch vào các chuyến vận chuyển bằng đường sông từ bãi đổ hàng ở khu Hữu Ngạn vào đến cửa sau thành Mang Cá. Địch quân đang trên đà tháo chạy. 

Hôm 21 tháng 2, các đơn vị Công Binh Chiến Đấu bắt đầu làm cầu phao đi bộ để tạm nối liền hai bờ, trong khi giao tranh vẫn diễn ra ác liệt ở Thành Nội. (USMC Archives) 

Về mặt chiến lược cuộc giao tranh ở Huế coi như đã kết thúc nhưng địch vẫn chưa muốn rút vội nếu không lưu lại những đổ nát, đau thương và chết chóc. Bộ phận an ninh của CS tăng cường nỗ lực lùa ra ngoài những công cán chính và quân nhân của chính quyền Miền Nam vẫn còn ẩn mình trong thành phố suốt cuộc giao tranh. Hằng trăm dân chúng đủ mọi lứa tuổi bị đưa đi học tập và không bao giờ trở về. Nhiều người khác bị hành quyết tại chỗ.

Sự kháng cự của địch hôm 22 vẫn ác liệt khi những thành phần còn lại đang dần dần rút ra khỏi khu vực bên trong và chung quanh Đại Nội, chuẩn bị cho một cuộc sống mái cuối cùng. Quân Đồng Minh đã có lương tâm tránh sử dụng vũ khí nặng bắn vào vùng Đại Nội, thế nhưng sau khi 3 xe tăng bị nốc-ao bởi B-40 từ trong Đại Nội bắn ra, luật chơi phải thay đổi.

Đối với chiến xa đại khí Ed Scott, ngày 22 tháng Hai là ngày dài nhất của cuộc chiến. Scott, con dân của New Milford, Connecticut, bắt đầu vòng công vụ thứ nhì ở Việt Nam tại Đà Nẵng từ hôm 31 tháng Giêng. Hôm 11 tháng Hai anh theo đoàn công voa 5 chiến xa được vận chuyển đến Thành Nội bằng tàu đổ bộ LCU. Cả 5 chiếc đã hoạt động liên tục trong suốt 2 tuần lễ. Cũng như mọi binh sĩ TQLC khác, anh quan tâm đến tiện ích cá nhân hơn kẻ thù.

“Họ chỉ lo cung cấp đầy đủ đạn dược mà quên nghĩ đến thực phẩm. Nhiều ngày chiến đấu tôi không có gì để lót lòng,” Sau này Scott kể lại. Rồi đến hôm 22 tháng Hai, chiến xa của anh bị trúng đạn trong khi đang hoạt động gần Đại Nội và anh được đưa đi bệnh viện. “Bất ngờ chúng tôi bị bắn trúng. Mãi tới bây giờ tôi cũng không biết địch bắn xe chúng tôi bằng vũ khí gì,” Scott tiếp.

“Tôi cam đoan đây không phải là loại vũ khí cầm tay. Loại đạn này đi xuyên qua hơn một tấc thép. Phát đạn trúng vào pháo tháp rồi xuyên vào xe ở chỗ trợ thủ nạp đạn; người này và xa trưởng bị thiệt mạng, còn tôi thì bị thương. Mảnh đạn bắn ra tứ tung gây hư hại toàn thể bộ phận liên lạc vô tuyến và phát hỏa. Khói dày đặc không thể nhìn thấy được gì cả. Tôi bị mấy xác chết đè lên không thoát ra khỏi vị trí được vì trong khoang xe rất chật hẹp. Tài xế xe không hề hấn gì vì anh ta ngồi trong phòng lái riêng biệt. Anh ta liền đưa chúng tôi ra khỏi vùng nguy hiểm thẳng đến trạm cấp cứu.”

Thế rồi lần đầu tiên trong trận giao tranh giành lại Huế phi cơ được gọi đến oanh kích vùng Đại Nội. Trong lần thả bom này một phi cơ Skyraider bị bắn rơi nhưng viên phi công được cứu thoát.

ĐĐ Lima mới đến sau một ngày làm quen với tác chiến trong thành phố nay bắt đầu mở mũi tiến công, họ chỉ còn cách Hoàng Cung một khu nhà. Ở phần phía tây Thành Nội, TQLC NV thọc mạnh đến gần cửa Hữu một con phố, đây là cửa ngỏ quan trọng địch dùng để ra vào Thành Nội kể từ ngày đầu cuộc chiến.

Ngày 23 tháng Hai với chiến thắng đã gần kề thì Th/tá Thompson và sĩ quan điều hành của ông suýt mất mạng để không được nhìn thấy niềm kiêu hãnh đó. Một chiến xa M-48 trong khi mất định hướng đã vô tình bắn một trái tạc đạn vào bộ chỉ huy tiểu đoàn. May mắn thay cả hai đều thoát hiểm nhưng phải ăn một trận mưa vôi vữa no nê.

Đó không phải là lần đầu tiên mà quân TQLC bị ăn đạn của phe mình bắn nhầm phe ta. Vào thời gian đầu của trận đánh ở Thành Nội một chiếc Ontos đã bắn một loạt 106 mm vào một tòa nhà hai tầng do quân Mỹ chiếm giữ, căn nhà sụp đổ hoàn toàn nhưng may là không ai bị mất mạng. 

Một đơn vị Dù NV vừa được trực thăng Chinook CH-46 của TQLC Mỹ thả xuống BTL SĐ 1 hôm 23 tháng 2. (wiki2.org) 

Cuộc kháng cự cuối cùng của địch xảy ra hôm 23 tháng Hai khi quân BV tấn công bằng hỏa tiễn và súng cối vào Trung Đoàn 3 quân đội Miền Nam gần khu thành Tây Bắc. BCH trung đoàn bị trúng ngay một quả đạn cối nhưng không bị thương vong nào. Cuộc tấn công tỏ ra là một cử chỉ chia tay đồng thời để che chở cho một cuộc triệt thoái của địch quân.

*

Lời truyền miệng lan nhanh về kế hoạch một cuộc tấn công vào Kỳ Đài và Đại Nội dự trù diễn ra trong ngày hôm sau. Như đã dự tính trước, quân NV sẽ đảm nhiệm công tác chiếm lại hai di tích lịch sử này. Tướng Trưởng mời tôi đi theo cuộc tấn công đánh chiếm Kỳ Đài nhưng vì một lí do nào đó tôi đã từ chối để rồi sau này tôi cứ ân hận mãi.

Hai đơn vị NV trong suốt hai tuần lễ vốn chịu sự phàn nàn của Th/tá Thompson là Tiểu Đoàn 2 Dù và Trung Đoàn 3 Bộ Binh nay được cho cơ hội đánh chiếm địa điểm Kỳ Đài ít phòng thủ vào lúc 5 giờ sáng ngày 24 tháng Hai. Lá cờ khổng lồ của MTGP từng bay phất phới trong suốt 25 ngày cuối cùng bị hạ xuống, cờ vàng với những sọc đỏ được kéo lên thay thế. Binh sĩ Miền Nam tụ tập dưới chân cột reo hò chiến thắng.

Binh sĩ thuộc Đại Đội 212 Trung Đoàn 3 Miền Nam đang chuẩn bị kéo lá cờ Nam Việt lên kỳ đài Phu Văn Lâu sau khi mới tái chiếm lại lúc rạng sáng ngày 24 tháng Hai. (Photo courtesy of Col. Talman C Binlcl II, USMC (Ret))

Việc tái chiếm Đại Nội được giao cho viên sĩ quan mới được thăng chức Đ/úy Huế và Đại Đội Hắc Báo của anh. Sau một loạt trọng pháo ngắn ngủi, quân Hắc Báo tràn vào Đại Nội và chỉ gặp một vài kháng cự lẻ tẻ. Họ tìm thấy 64 xác địch quân có thể bị thiệt mạng do trọng pháo. Địch để lại một két súng trường cùng đạn dược, ngoài ra còn thấy một phần xác ngựa và chó có lẽ bị giết để lấy thịt. Đến 6 giờ chiều mọi cuộc kháng cự của địch ở Thành Nội kể như chấm dứt.

Quân NV thượng cờ trên tháp cửa Thượng Tứ sau ngày mới tái chiếm. (ArchivesBranch.MarineCorps)

Cửa Thượng Tứ vào giờ phút tuyên bố chiến dịch giải vây Huế chính thức hoàn tất. (Photo by Pfc John Walker, US Army)

Xạ thủ Roger Yagle vác cây đại liên M-60 từ cửa Thượng Tứ đi ra trên đường Trần Hưng Đạo, về hướng cầu Tràng Tiền hôm đầu tháng 3.68. (MarineCorps.Archives)

Dân chúng đi trên cầu Gia Hội về hướng chợ Đông Ba, né qua một xác chết nằm giữa đường. (ArchivesBranch.MarineCorps)

Đường Trần Hưng Đạo đoạn gần chân cầu Gia Hội. (ArchivesBranch.MarineCorps)

Đường Phan Bội Châu gạch ngói ngổn ngang, chỉ có thể tạm đi bằng bộ. (USMC) 

Bên ngoài Thành Nội về hướng Tây, thành phần của Lữ Đoàn 3 thuộc Sư Đoàn 1 Kỵ Binh Hoa Kỳ tiếp tục phá hủy các bộ chỉ huy thuộc trung đoàn địch ở La Chữ. Trong khi đơn vị 1/7 Kỵ Binh ở lại để thu lượm xác chết và tiêu diệt các ổ kháng cự nhỏ thì ba tiểu đoàn 5/7 và 2/12 Kỵ Binh cùng 2/501 Dù tiếp tục tiến quân về phía Đông hướng thành phố Huế và phía Nam của sông Hương. Họ gặp sự đụng độ ác liệt với địch quân đang trên đường tháo lui.

Trong khi quân của SĐ1 Kỵ Binh tiến quân về hướng Huế từ phía Tây và giao tranh vẫn đang tiếp diễn ở Thành Nội, việc định vị chính xác cho pháo binh trở nên đáng lưu tâm đặc biệt.

Ngày 21 tháng Hai, Chuẩn Tướng Oscar E. Davis một trong hai phụ tá cao cấp cho Sư Đoàn Trưởng SĐ1 Kỵ Binh đã bay vào Thành Nội để trở thành điều hợp viên hỏa lực tác xạ cho chiến trường ở khu vực này. Ông còn kiêm nhiệm quyền chỉ huy hành quân tổng quát, quả là một quyết định được đưa ra quá ư muộn màng. Trước khi Chuẩn Tướng Davis đến nhận quyền chỉ huy, các lực lượng Đồng Minh đều hành động riêng lẽ. TQLC Mỹ nhận lệnh từ Lực Lượng Đặc Nhiệm X-Ray (X-Ray Task Force), quân đội Miền Nam nhận lệnh của Tướng Trưởng, trong khi Lục Quân Mỹ hành quân ở phía Tây Huế tự hoạt động theo ý mình.

Sự thiếu vắng một vị tướng chỉ huy tổng quát có nghĩa là không có một kế hoạch chung để tái chiếm Huế, không có ai để định đoạt quyền ưu tiên cho một đơn vị nào, và không ai nhận trách nhiệm lỡ khi bị một thất bại nào đó. Cũng không có một hệ thống tổng quát để bảo đảm việc phân phối tiếp liệu được hợp tình hợp lý. TQLC lẫn Lục Quân phải tự lo cho chính đơn vị mình, kế đến là quân đội Miền Nam thì không được gì cả.

Oái oăm thay, đến lúc Tướng Davis vào Huế để nắm quyền chỉ huy thì chẳng còn gì cần để mà điều phối.

*

Ngày 22 tháng Hai, hai Tiểu Đoàn 21 và 39 Biệt Động Quân VN trong tổng số 2/3 lực lượng phản công của Quân Đoàn I đến Huế và được điều đến vùng Gia Hội thuộc mặt Đông thành phố. BĐQ mở cuộc hành quân càn quyét trong ba ngày và chỉ gặp kháng cự lẻ tẻ.

Ở phía Tây ngoài thành phố Huế, giao tranh vẫn còn ác liệt, ĐĐ B thuộc Tiểu Đoàn 5/7 Kỵ Binh được tăng cường bởi một trung đội Thiết Kỵ hôm 23 tháng Hai đã mở một cuộc càn quét ở khu vực ngay phía bắc Huế và ngày hôm sau họ tiếp cận với Thành Nội. Các đơn vị Kỵ Binh khác cùng đơn vị 2/501 Dù đẩy mạnh về phía Nam rồi xoay qua hướng Đông. Riêng 2/501 Dù đã chiếm được một cây cầu quan trọng bắc qua sông Sau (?) cách thành phố Huế 3 cây số về hướng Tây; còn 2/12 thì khám phá được một cơ sở bệnh viện quan trọng nằm gần cây cầu.

Lữ Đoàn 1 thuộc SĐ 101 Dù Hoa Kỳ được tung ra để mở cuộc hành quân vào những ngày cuối cùng hầu chặn đường thoát của địch từ thành phố về phía Nam. Trong hai tuần kế tiếp quân Dù phối hợp với thành phần còn lại của TQLC để càn quét địch vùng phía Nam thành phố. Đến bấy giờ ngoại trừ một số ít lẻ tẻ thì hầu hết quân CS đã cao chạy xa bay từ lâu.

Cuộc hành quân Operation Hue City được chính thức chấm dứt lúc nửa đêm ngày 2 tháng Ba.

Bản đồ tham khảo về những trận đánh tái chiếm cố đô. (1) Quốc Lộ số 1, Phú Bài cách điểm này chừng 12 km. (2) & (3) Hai đầu cầu An Cựu nơi một trung đội TQLC phải đi vòng sau khi cầu này bị giật sập. (4) Đoạn đường 600 m băng qua đồng Ông Cộ. (5) Cơ quan MACV. (6) Sân Vận Động Tự Do. (7) Bãi trực thăng và bãi tàu đổ bộ. (8) Eo Bãi Dâu nơi tìm thấy mồ chôn tập thể và nơi tàu LCU thường hay bị tấn công. (9) Nơi tàu LCU ghé để vào Mang Cá tức BTL SĐ1. (10) Cửa Hậu. (11) Mang Cá Lớn hay BTL SĐ 1 BB. (12) Nơi ĐĐ Alpha lần đầu tiên đụng độ địch tại Thành Nội. (13) Lằn Tuyến Xanh (Phase Line Green) tức đường Mai Thúc Loan nơi giao tranh bắt đầu diễn ra vào ngày 13 tháng 2. (14) Cửa Đông Ba. (15) Đại Nội. (16) Cửa Thượng Tứ, sau khi chiếm được Tiểu Đoàn 1/5 TQLC Mỹ rút ra khỏi Thành Nội ở cửa này. (17) Ngày 27 tháng 2, đây là nơi quân Mỹ rút về bên kia sông bằng tàu LCU. (Cầu Trường Tiền lúc ấy đã sập rồi.) (Map copied from the book)