Mạc Cần Dưng!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 26 Dec 2023

Ðâu tháng rồi, bên Huê Kỳ có một độc giả, hơi lí lắc, viết thư vào Tòa soạn cắc cớ đưa ra một đề nghị rất dễ thương: “Tờ báo tên ‘Trẻ’ nhưng sao em thấy toàn mấy ông già? Thôi đổi thành báo ‘Già’ đi mấy chị, mấy anh! Hi hi?”

Hổng biết ông hoặc bà bạn văn nào trong Tòa soạn trả lời nghe cũng có lý: “Những người hoạt động trong giới văn nghệ sĩ không có tuổi bạn ạ!”

Ðúng vậy! Mần văn đâu sá gì tuổi tác. Tuổi tác là để ăn thôi nôi, ăn sinh nhựt, ăn đáo tuế. Hoặc lúc đi cưới vợ hay đi lấy chồng. Lúc đó, dù muốn dù không, mình cũng phải sùy cái thông tin riêng tư tuổi con gì của mình ra. Nhờ cái mu rùa, ông thầy bói mới biết thằng nam với con nữ nầy có ăn đời ở kiếp với nhau hay nửa đường đứt gánh hay không?

o O o

Mà đã mần văn ắt phải có bạn văn. Như mình đi học là phải có bạn học vậy. Chỉ có cái khác, bạn học thường cùng tuổi; bạn văn già cũng có; trẻ cũng có luôn. Tuổi tác không thành vấn đề. Chơi được là mình chơi mút chỉ cà tha, chìm xuồng tại bến hè!

Nói nào ngay, dù sanh đẻ ở Miền Tây đất điền, cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi nhưng nhà tui lại không có được một cục đất chọi chim. Chẳng qua vì có được dăm ba chữ dằn túi, đậu cái bằng Thành chung,‘đít lôm’, tức bằng ‘Ðút rơm trâu ăn mê’, Tía tui làm công chức. Mà mấy ông nội làm sếp của Tía tui cũng ác nhơn lắm. Mấy chả lạm quyền muốn làm gì thì làm. Không thèm cạn suy, tường nghĩ, rốt ráo trước sau. Coi sự vụ lệnh thuyên chuyển có làm ảnh hưởng đến cuộc sống của vợ con thuộc cấp hay không?

Cứ hai năm, Tía tui lên một trật là phải đổi đi chỗ khác. Má tui phải tha đám con đông cỡ một tiểu đội lính làng, lang thang thất thểu chạy theo. Cuộc sống cứ rày đây mai đó, gạo chợ nước sông; nên nhỏ lớn tui làm dân chợ.  Chính vì vậy, nói tới vùng quê xôi đậu trong chiến tranh, ngày quốc gia; đêm Việt cộng là tui bù trất.

May mắn thay, tui quen được anh Mạc Cần Dưng, dân chốn bưng biền. Tên Cần Dưng là do ảnh sanh đẻ tại Mặc Cần Dưng (giờ xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, cách Long Xuyên gần 17 cây số trên quốc lộ số 91 đường đi Châu Ðốc.)

Tui nói: “Tên anh nghe ngộ quá!” Thì ảnh nói:  “Thiếu gì đứa cọp dê kiểu Tía Má tui đặt tên con. Ông nhạc sĩ họ Trần, sanh quán Quảng Nam, thì ổng lấy tên Trần Quảng Nam.  Ông nhà thơ cha sanh mẹ đẻ trên sông Thu Bồn thì lấy tên Thu Bồn. Vì thế mới có câu: “Thu Ba khen ngợi Thu Bồn. Thu Bồn khoái quá sờ… vai Thu Ba”. Tui chưa gặp ông Bùi Giáng lần nào để hỏi phải ông làm hai câu thơ tiếu lâm nầy không? Nếu gặp, chắc ông Bùi Giáng sẽ trả lời là: “Vì bực bội, tức tối, bức bối Ba mươi tháng Tư, nữ sĩ Thu Ba bợ đít nhà thơ CS Thu Bồn, nên làm thơ chửi cho đã tức. Chửi nhưng cũng rét, sợ lôi thôi cò bót với Việt cộng, vô đi, ra ‘băng ca’; nên nói do tao làm là huề trất! He he!

Mạc Cần Dưng. Họ Mạc chớ không phải Mặc. Chỉ thiên nổ rân trời, ảnh kêu Tổng binh Ðại đô đốc Mạc Thiên Tích trấn nhậm đất Hà Tiên là ông cố tổ. Ông cố tổ của ảnh bị nhà Tây Sơn của Nguyễn Huệ truy nã ráo riết phải chạy tuốt qua Bangkok, Thái Lan trốn. Bà cố tổ của ảnh chạy sút đầu tóc mượn mà rượt theo không kịp. Bả đành trôi dạt về đất Mặc Cần Dưng, vùng Long Xuyên, khai hoang, khẩn đất làm ruộng rồi thành người cố cựu ở đây luôn

Trải qua 5, 6 đời chung đụng với người Việt và người Khmer nên máu Triều Châu trong dòng họ của ảnh dần dần cũng nhạt phai đi. Tuy vậy, máu mua bán mần ăn của dòng họ Tàu Triều Châu lưu lạc tha hương cũng còn luân lưu trong huyết quản; nên ông Nội ảnh lập ra lò nung gạch bằng trấu.

Anh hỏi: “Chú mầy có nghe câu thành ngữ: Chắc Cà Ðao, Mặc Cần Dưng, Cùm tay bự hơn cùm chưn!’ không? Thậm xưng cũng có một phần thôi. Chớ cùm tay (cườm tay) của dân Chắc Cà Ðao và Mặc Cần Dưng bự thiệt. Bự là vì mấy em chuyển đất sét làm gạch mộc. Xếp gạch mộc vào lò nung. Dỡ gạch chín từ lò chuyển ra bãi chứa. Chuyển gạch từ bãi chứa ra bờ kinh, gánh xuống ghe chở đi bán. Tất cả đều phải dùng hai tay bưng bê. Chạy tới chạy lui bằng động cơ một ‘bloc’, chạy hộc gạch, chạy xịt ống khói, chạy bằng… cơm!

Chính vì cùm tay của em bự như cùm chưn nên mình phải cẩn thận. Dê, ve vãn mà em hứ cái cốc thì mình phải xê ra, đi dê em khác. Mấy thằng ‘cu’ khác tính nhào vô mà bị mình xà quần ngáng chân làm em ế, hổng ai dê thì em sẽ quạu. Với cùm tay của lực sĩ cử tạ thế vận hội Tokyo đó, em nựng nhè nhẹ vô gò má mình một cái thì thôi rồi Lượm ơi! Nghe cái bốp thấy ba bốn ông Trời. Thấy bà nội cũng đội chuối khô.

Mặc Cần Dưng – nguồn Youtube

o O o

Mặc Cần Dưng, Chắc Cà Ðao! Nghĩa gì? Chưa ai biết. Vì mấy ông biên khảo địa phương chí còn mắc bận ỏm tỏi cãi nhau. Ông rành chữ Pháp thì lục sách Tây. Ông rành chữ Hán thì lục sách Tàu. Trong khi địa danh do người Miên đặt thì mấy ông không chịu đi hỏi mấy ông ‘Lục cả’?

Con gái xứ nầy lai Miên một chút, lai Tàu một chút, nên em nào em nấy đẹp não nùng. Em có tâm hồn ăn uống đầy dầu mỡ. Sáng bánh bao, chiều há cảo của người Tàu. Em có tâm hồn ca vũ nhạc. Múa lâm thôn, hát dù kê của người Miên. Và tâm hồn em ướt đẫm ca dao của xứ sở quê mình. “Em là gái Chắc Cà Ðao. Xa anh nhớ quá như dao cắt lòng”.

Cái xứ đa chủng tộc, đa văn hóa, đa văn minh như vậy mà nghe nói tui sanh quán Mặc Cần Dưng là tụi nó trề môi khi dễ. Chê Mặc Cần Dưng, Chắc Cà Ðao là cái xứ quê mùa!

Thế kỷ hai mươi mốt rồi mà còn phân biệt vùng miền. Ðâu phải cứ ở Hà Nội, đất Tràng An, ở Huế, đất Thần kinh, ở Sài Gòn, Hòn ngọc Viễn Ðông mới là văn minh. Còn ở nơi khỉ ho cò gáy, chó ăn đá, gà ăn muối, hoặc trong rừng rú bưng biền là thô kệch, ngu dốt hết ráo hay sao?

Văn minh không phải là những tòa nhà chọc trời cao ngất. Văn minh là điệu đời; sống điệu nghĩa với nhau.

Anh Mạc Cần Dưng không thích tờ Phong Hóa của Tự lực Văn đoàn ngoài Bắc, vẽ biếm họa Lý Toét và Xã Xệ.

Lý Toét, gầy đét và cao lênh khênh ham ăn, hóc uống, nghiện rượu. Xã Xệ béo phệ, lùn tịt, đầu trọc lốc, còn duy một cọng tóc quăn xoắn tít trên đỉnh đầu.

Mấy ông ỷ mình có ăn học chút đỉnh; rồi vin vào việc dùng văn chương, báo chí vận động cải tạo xã hội bằng cách ngạo những thói hư tật xấu của người nhà quê. Người nhà quê cũng có biết bao nhiêu là tánh tốt!

Trong Nam thì ông Bảy Bá tức soạn giả Viễn Châu sáng tác bài vọng cổ ‘Tư Ếch đi Sài Gòn’ để ngạo cái ngờ nghệch của dân ruộng vườn rẫy bái lần đầu lên chốn thị thành.

Anh Mạc Cần Dưng nói: “Ỷ mình có chữ (chưa đầy lá mít) mà ngạo người không được may mắn học hành như mình (vì chánh sách ngu dân của thực dân Pháp) là mình hỗn ẩu!”

“Tui hãnh diện xưng mình là người nhà quê. Nếu ai đem người nhà quê ra mà ngạo là tui giận lắm nhe. Có mời tui uống Mao Ðài, ăn khô lân, chả phụng tui cũng không thèm.

Xa xứ đã quá lâu; tui chỉ mong ngày nào không còn Cộng sản. Tui sẽ về lại Chắc Cà Ðao, về lại Mặc Cần Dưng. Về quê cắm câu, bắt con nhái bầu. Về nơi cuống nhau ba vùi trong quê đất. Con sống tha hương có lúc phải trở về.

Về sau 50 năm xa xứ. Vật đã đổi; sao đã dời. Thương hải biến vi tang điền. Quê cũ là đâu? “Hướng lên Châu Ðốc nửa chừng cầu cao. Dưới kia là Chắc Cà Ðao; cách tám cây số không sao lạc đường”.

Đoàn Xuân Thu

Lục lâm thảo khấu!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 26 Dec 2023

Tranh Bảo Huân

Giữa dân Úc và bà con Nam kỳ Lục tỉnh của mình có nhiều điểm tương đồng – cùng bị áp bức, phải bỏ xứ ra đi đến vùng đất xa xăm. Ðất cũ đãi người mới, vừa làm vừa chơi cũng có ăn nên phè cánh nhạn.

Lạch bạch như con vịt trên đường, thất tha thất thểu. Nếu da trắng là Úc chánh tông; còn da vàng chắc chắn là bà con miền Lục tỉnh quê mình. Tánh giống nhau nên suy nghĩ cũng không khác mấy. Cả Úc lẫn Việt đều đồng ý là cần cảnh sát để giữ gìn an ninh cho mình.  Tuy nhiên dân Úc rặt nó đâu có ngán cảnh sát. Bị ăn hiếp, nó đi thưa.

Trái lại, bà con mình thì tránh voi chẳng xấu mặt nào. Trong sở làm bị thằng ‘boss’ ăn hiếp một cách vô lý cũng nín khe; vì đấu tranh thì sợ bị trâu đánh.  Cứ tự an ủi: nó ăn hiếp mình như nó ăn hiếp thằng cha của nó vậy.Thế hệ thứ hai, con cháu mình là hổng chịu cái vụ nhịn là nhục nầy. Hổng làm trật là hổng sợ ai hết ráo! Cảnh sát Úc cũng không được quyền ngồi xổm lên luật pháp bao giờ. Cái quyền công dân chánh đáng dân Úc cũng đấu tranh dữ lắm, chớ hổng có cái vụ trên trời rớt xuống, dưới đất chui lên.

Phản kháng nhè nhẹ là dùng lời nói như câu chuyện dưới đây: “Vào sáng ngày Giáng Sinh, một tay ‘cớm’ Úc đang ngồi trên lưng ngựa cạnh một cột đèn giao thông, để chờ mấy đứa nào suốt tối hôm qua nhậu quá xá, say xỉn, liều mạng chạy qua là ghi giấy phạt, tước bằng lái cho nó tởn tới già, đừng đi nước mặn mà hà ăn chưn. Chờ hoài mà hổng có xe nào chạy qua mà phạm luật cả! Chẳng qua mấy thằng tài xế láu cá khác thấy cảnh sát đón đường đã nhá đèn báo động cho những tài xế đang ngược chiều né trước, dù hổng có bà con thân thích ruột thịt gì ráo.

Ngồi trên lưng ngựa huỡn quá, mà gió thổi hiu hiu buồn ngủ, nên thầy đội bắt chuyện với một thằng nhóc tì Úc đang chờ đèn chớp xanh để băng qua lộ.“Ê nhóc! Chú mầy có chiếc xe đạp đẹp quá he! Có phải Santa Claus cho chú mầy hông vậy?” Thằng nhóc gật đầu: “Phải” “Nè! Năm tới, chú mầy nhớ nhắc Santa gắn đèn sau cho chiếc xe đạp nhé!”Xong thầy đội biên một giấy phạt 20 đô về lỗi vi phạm luật an toàn giao thông.

Thằng nhóc nhận giấy phạt xong, nói: “Con lừa nầy cà chớn quá!”. Thầy đội vội ra vẻ ta đây “Ðây là con ngựa chớ hổng phải con lừa!”. Thằng nhóc nói: “Cháu đang nói chuyện với con ngựa mà!”

o O o

Chắc thằng nhóc tì nầy là Úc gốc Irish nên trong dòng máu của nó đã thừa hưởng từ Ned Kelly, tay anh chị lục lâm thảo khấu. Chuyện rằng: Năm 1861, dân số tiểu bang Victoria chỉ trong 10 năm đã tăng lên gấp 10, tới 540 ngàn; vì mỏ vàng được phát hiện ở Ballarat và Bendigo. Thiên hạ đổ xô tới đi tìm vàng. ‘Gold Rush!’

Sáng lui cui đi đào vàng, chiều về nhậu xỉn, giành gái, đánh lộn ì xèo. Số cảnh sát không đủ để giữ gìn an ninh trật tự. Tuyển thêm cảnh sát ngay tại chỗ hơi khó vì toàn là ‘convict’, (tội phạm) đi đày không hè. Vậy là phải về mẫu quốc, nhưng mấy tay cảnh sát tân tuyển từ bên Anh đa số theo đạo Tin Lành (Protestant) phân biệt đối xử với di dân Irish vốn theo đạo Thiên Chúa (Catholic).

Do chạy trốn nạn đói vì suy trầm kinh tế ở Ireland, nên qua đây đa số dân Irish nghèo. Ðất canh tác màu mỡ đã bị đám địa chủ hối lộ, cấu kết với bọn chánh trị gia và bọn cảnh sát bất lương chiếm hết. Bất công như vậy thì ắt có người đứng lên chống lại: đó là băng đảng của Ned Kelly.

Ned Kelly sanh năm 1854 tại Beveridge, một thị trấn nhỏ về hướng Bắc của Melbourne. Cha của Ned là John ‘Red’ Kelly bị đi đày qua Úc vì tội ăn trộm heo. Qua Úc, John ăn trộm ngựa. Ned Kelly mới 16 tuổi cũng bị ở tù 3 năm khổ sai về tội trộm ngựa. (Ðúng là con ơi nghe lấy lời cha. Một đêm trộm ngựa bằng ba năm làm).

Ra tù, Ned và em là Dan Kelly cùng hai bạn tù là Joseph Byrne and Steve Hart lập ra băng đảng Kelly. Ngày 15 tháng Tư, năm 1878, cảnh sát viên Fitzpatrick đến nhà Kelly để bắt Dan cũng về tội trộm ngựa. Ned chống lại, bắn Fitzpatrick trúng cổ tay rồi cả bốn trốn vào rừng. Cảnh sát bèn bắt mẹ của Ned là Ellen Kelly nhốt ba năm về tội giúp đỡ con mình. Thấy mẹ mình bị cảnh sát đối xử tàn tệ nên anh em nhà Kelly rất lấy làm căm hận.

Ngày 26 tháng Mười, 1878, thượng sĩ Kennedy và ba cảnh sát viên là McIntyre, Lonigan and Scanlon được phái đi truy lùng Ned và đồng bọn. Kết quả địch chẳng sướt một miếng da; phe ta ba đứa chầu tiên tổ. Chỉ còn tay cớm McIntyre sống sót.

Cảnh sát Victoria ra lịnh cho băng Kelly nộp mình. (Giết ba cảnh sát thì ngu sao mà đầu thú).

Thế là băng Kelly bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, gặp là ‘phơ’ ngay tại chỗ. Bắt sống xử tử ngay; khỏi đưa ra Tòa chi cho nó lâu lắc. Còn ai bắt được (dù sống hay chết) giao nạp cho cảnh sát sẽ được trọng thưởng.

Ðêm 26 tháng Sáu, năm 1880, Joe Byrne and Dan Kelly bắn chết Aaron Sherritt, một đồng đảng cũ giờ là mật báo viên cho cảnh sát. Cảnh sát từ Melbourne lên vây chặt lấy lữ quán Glenrowan, nơi băng đảng Kelly đang ẩn náu.

Joe Byrne bị bắn chết. Lữ quán bị cảnh sát đốt, Dan Kelly và Steve Hart bị chết cháy. Ned Kelly mang giáp chống đạn chống trả quyết liệt nhưng bị bắn vào chân và bị bắt. Ngày 11 tháng Mười Một, năm 1880, lúc 10 giờ sáng, Ned Kelly bị treo cổ tại khám lớn Melbourne.

Tên đầu lĩnh lục lâm thảo khấu cầm đầu băng đảng chuyên ăn trộm ngựa, cướp nhà băng, giết cảnh sát lại được dân Úc xưa giờ ca tụng là một anh hùng trong cõi nhân gian — vì dám chống lại sự áp bức, bất công của bọn cầm quyền.

o O o

Còn ở Lục tỉnh Nam kỳ nước ta, cũng có một băng đảng lục lâm thảo khấu, chuyên ăn cướp của người giàu chia cho người nghèo vào đầu thế kỷ 20. Ðầu lĩnh là Lê Văn Tín, quê gốc Cao Lãnh. Nhỏ ham luyện võ nghệ, lớn lên làm ăn cướp. Biệt danh là Ðơn Hùng Tín (sống cuối nhà Tùy bên Tàu hay giao du cùng bọn thảo khấu như Tần Thúc Bảo cũng chuyên đi ăn trộm ngựa).

Giới giàu có sợ Tín, giới giang hồ đều nể mặt, vì tin là Tín có bùa. Nhà văn Sơn Nam giải nghĩa: Bùa ‘Thiên Thư bí quyết’ là sách dạy ảo thuật của một đồng bọn với Ðơn Hùng Tín, là Giáo Phép. Ðầu đạn bắn ra làm bằng sáp, còn đầu đạn trong miệng Ðơn Hùng Tín nhả ra đã được ngậm từ trước. Thì làm sao mà chết? (Té ra Ðơn Hùng Tín vừa có tài ăn cướp vừa có ảo thuật.) Một giai thoại Ðơn Hùng Tín đi ăn cướp như vầy: Hôm ấy thầy Cai (tổng) làm lễ vu quy cho con. Quan chức hội tề, điền chủ các làng tới chung vui. “Con ơi, tháng Chạp tới đây là ngày con được ghi vào sổ nhân duyên, trên cung đàn nhấn phím tơ loan đàn bản cầm sắt cho duyên hai con bền chắc… ”

Một chiếc ghe hầu cập bến. “Xin thầy Cai nhận cặp rượu sâm banh với hai gói trà Ô Long Kỳ Chưởng gọi là chút quà mọn”.

Chàng rể và cô dâu ra chào bà con hai họ và thân bằng quyến thuộc, để khách tặng bao thơ giúp vốn cho cặp vợ chồng trẻ ra riêng. Ðúng vào lúc đó, Ðơn Hùng Tín móc súng ra, tất cả các bà đều riu ríu nộp hết cà rá, dây chuyền đang đeo đỏ tay và tiền đi đám cưới. Ung dung từ biệt hai họ, Tín sai đàn em nhổ sào chống ghe hầu đi mất!

Cuối cùng bị đàn em phản bội, chỉ điểm, Ðơn Hùng Tín bị Tây bắn chết trên sông Tiền, đoạn giữa Mỹ Tho và cù lao Rồng (cồn Tân Long bây giờ). Học giả Vương Hồng Sển, theo lịnh Tây thuở đó, bán đấu giá chiếc ghe lườn của Ðơn Hùng Tín. Nhưng bán hớ! Vì người trúng thầu biết Ðơn Hùng Tín đã giấu vàng lá trong ghe. Thiệt là cốc mò cò xơi!

Nguyên nhân Miệt Dưới – Miệt Vườn đều có bọn lục lâm thảo khấu là vì luật pháp không công bằng, xã hội loạn lạc, trộm cướp ắt nổi lên như rươi. Xưa giờ cũng vậy!

đoàn xuân thu.

melbourne

Cỏ trên đất lạnh

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 26 Dec 2023

Jean thích ăn chả giò, tôi tính bữa nào mời ông tô bún bò. Tôi không biết dịch sang tiếng Pháp chữ tâm hồn ăn uống, thức ăn Việt hình như thứ gì ông cũng muốn thử qua, có vẻ hợp khẩu vị, khen rối rít.

Tạng người Jean nhỏ thó, ngó không ra Tây. Đứng thấp thua tôi, nhưng hơn ở chỗ ông sở hữu một cơ thể ngó rắn rỏi. Tôi chẳng mặn bơ sữa vậy mà “phát tướng”. Hợp phong thổ, cây trồng đúng đất mầu mỡ, cứ nghĩ vậy. Jean phát biểu, rồi thêm: Tại toa ít vận động chăng?

Jean độ sáu chục, là hạng tuổi chưa được nghỉ hưu, cứ như con gà sớm tối vòng vo sân trước vườn sau. Làm concierge cho chung cư kề cận nơi tôi mướn, khoảng cách là vuông sân mà cỏ ở đó rất chóng mọc cao. Hoặc nó chưa mấy phồn thịnh thì đã nghe tiếng máy cắt cỏ dày xéo gầm thét tới lui. Jean ưa vận động mà hình như ông rất chuộng việc cày bừa trên khoảng sân nọ. Xét ra, đó là thứ công việc ồn ào bắt mọi người phải chú ý. Những ai muốn tu tâm dưỡng tánh ngồi diện bích với thế kiết già hẳn sẽ lầm bầm nguyền rủa thằng cha chuyên viên âm thanh say sưa gây nhiễu loạn kia. Tôi đồ rằng ông muốn kêu gọi tôi bằng cách thức ấy, chứ đứng quét lá rụng hoặc cầm vòi phun nước lai láng hai hàng hoa thì có vẻ tịch lặng, chả ai hay biết.

Jean ngụ trong căn apt. nhỏ nhất của chung cư, có gắn số 1 nơi cánh cửa gỗ sơn xám. Ông nói, moa không việc gì phải trả tiền mướn thuê, lão chủ bảo cứ ở vậy mà quán xuyến trông nom, làm ổn những vấn nạn khi chúng sinh trong toà nhà cũ kỹ này gặp phải. Moa không có nhu cầu gì để ép buộc thức khuya dậy sớm ra ngoài tranh sống, đời mình va chạm đã nhiều đến độ trầy trụa xác thân, thôi thì cứ an phận thủ thường ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Tôi có cảm tình với thứ triết lý sống nọ, kinh qua sáu mươi mùa lá rụng ta cũng nên thu vén bớt sân si mà liệu cơm gắp mắm, chắp tay sau đít nhàn cư vi có việc. Cả đống việc chứ chẳng đùa, giết chuột trừ gián trét lại vôi thay ổ khoá, siết cứng vòi nước nơi bồn rửa chén mãi nhỏ giọt tỉnh táo suốt canh trường. Tôi lại chẳng tường khi dịch chữ lu bu thượng vàng hạ cám ra tiếng tây tiếng u.

Jean luôn bận quần jeans bạc phơ nơi hai đầu gối, nếu cần ông thắt nịt có cái túi da chứa cơ man nào là kềm búa tuốt-nơ-vít thước cuộn băng keo dao kéo lủng củng lảng cảng như lính mang quân trang quân dụng. Dáng đi thong thả gần như lãng đãng kiểu thi nhân, thoạt trông là vậy nhưng thoắt cái ông có thể biết môn khinh công, chợt biến chợt hiện. Một đứa có da thịt đường bệ như tôi không dễ học ma thuật phân thân cách đó.

Tôi chẳng tò mò để riết róng dóng hỏi vợ toa đâu? Mãi quen mắt nhìn ông cu ki một mình, và ngạc nhiên thay, dường như cái lẻ bóng kia không mảy may gây phương hại gì sất để khiến Jean phải lộ diện vẻ sầu thảm. Có vợ một bên lưng, không chắc điều đó khiến người ta “thản nhiên” như Jean được. Đôi khi, qua Jean, tôi thoáng nhớ tới cha mình, cái cách ông sống thầm lặng sau khi mẹ tôi vắn số bỏ cuộc chơi. Jean có con trai không? Nó ở đâu giờ này? Có những dấu hỏi vụt đến vụt đi trong đầu, tôi chẳng ưa làm đứa mỗi khi nói ra đều khiến người nghe phải bận lòng sanh căng thẳng. Tôi là thằng người tị nạn, hơn ai hết, thằng người đó không ưa bị ai dồn hỏi linh tinh. Tôi là căn hộ trống trải nên chuột và gián chả mấy ưa ghé vào sục sạo. Một kẻ bình thường, hầu như kẻ ấy phải ghét những vị khách không mời cứ siêng vào ra.

Trưa hôm ấy, cắt cỏ xong, Jean bắt ghế ngồi ở bao lơn hẹp té mơ màng cùng khói thuốc. Máy và dây nhợ lòng thòng còn nằm giữa vuông cỏ trọc. Mắt ông không nhìn xuống thành quả lao động mà ngó mông ra đường, đôi mắt vô hồn và lần đầu, tôi nhìn ra dung mạo ông váng vất phủ một nỗi buồn lặng. Tôi mang bia và mấy cuốn chả giò gói trong giấy nhôm băng qua biên giới. Trời đẹp, đúng không? Tôi hỏi. Jean sửa lại dáng ngồi. Thì cũng vậy. Moa đã không nghĩ ra một việc làm gì khác. Như thông lệ, ngồi thu nhỏ người ở đây, một cách thầm lặng, vô tội vạ. Tranquillement, chữ Jean ưa dùng.

Ông mở ra chiếc ghế xếp dựng trong góc và tôi nghĩ chỉ có tôi là đứa duy nhất đặt đít vào đó, nói cách khác, ông sắm nó để dành riêng cho tôi. Có mang cả bia nữa à? Rất rất tốt. Ông dùng hai lần chữ rất. Ba tôi không hút thuốc không rượu bia, sống khắc khổ và qua đời trong đạm bạc. Ba tôi cũng giỏi tiếng Pháp vì có thời ông làm việc với Tây, ở Kho Bạc. Hình như dạo đó chữ ngân hàng chưa được phổ thông, đôi khi họ nói: Ra ngân khố lĩnh tiền. Hai ngày trước , thứ năm lãnh lương, tôi đã tới nhà băng đổi ngân phiếu, tôi ghé chợ mua bia và tôm thịt để về làm chả giò. Tôi không quen ai ở thành phố này, tôi giống Ba tôi, giống Jean, tranquillement. Cái yên ả kia có vẻ như đi ngược với quan điểm sống của dân tị nạn. Đa phần họ quần quật chí thú kiếm tiền, họ kèn cựa, đành hanh và xét đoán kẻ khác qua bề ngoài, qua xe cộ và nhà cửa. Lạy Chúa, nhờ trời tôi chẳng liên hệ, dính dáng tới bọn người đó.

Jean khởi sự ăn, có vẻ để tâm khi nhai nuốt cuốn chả giò. Ngon, có thể do bởi chính tay toa làm, hàng quán thì họ trộn lắm thứ vào đó nên không thơm bằng. Jean nhìn tôi, đôi môi thôi khô. Moa có thể hỏi một câu? Cớ sao toa có được cái tử tế đến nhường ấy? Có thể gần ông tôi muốn học hỏi một đôi điều, giao tiếp giúp tôi giỏi tiếng Pháp chẳng hạn. Chỉ vậy thôi sao? Qua đó tôi còn học cách đối phó với đời sống khi quanh mình chẳng có ai. Jean chà hai bàn tay vào chiếc quần sờn bạc. Nắng bắt đầu lấn chiếm vào chỗ ngồi nhưng cái vết cắt sắc sảo đó tuyệt không làm hai chân phải nóng rát bắt chúng tôi xê dịch. Người ta khuyến cáo rằng trong nắng có tia hồng ngoại cực tím dễ gây ung thư da và người ta vẫn mình trần nằm phơi la liệt trên những vùng cỏ chan hoà sắc lửa mặt trời. Bất động như xác những con cá bị biển cả xô giạt vào nằm phơi bụng trên bờ bãi.

Khi một người đàn bà tìm ra được lý do để phụ rẫy mình, toa sẽ chống đối kháng cự bằng phương thức gì? Moa nói với vợ rằng, hy vọng anh chẳng gây lầm lỗi, mong cho em có được cuộc sống tốt đẹp ở chỗ mới. Đã hơn ba năm. Hôm qua đứa con gái moa có gọi điện thoại, mẹ đang nằm trong bệnh viện, thăm hay không là quyền của bố, nếu quyết định xong thì con lại chở đi. Dứt câu, Jean ngửa cổ tu hết chai bia. Gương mặt chưa tìm bắt chút tươi tỉnh. Jean nhón mông để moi từ túi quần ra cái ví da. Marie, vợ moa. Đây là Juliette, con gái. Nếu đó là ảnh mới nhất mà Jean thu cất, thì cũng đã hơn ba năm trôi qua rồi, không chắc họ còn giữ được nụ cười tươi như trong hình chụp. Sát phòng tôi có tên người Ý mướn, nó mua chiếc xe đúng ba năm và nó than phiền băng tuyết chốn này đã khiến cho chiếc xe biến dạng tới độ đáng ngờ. Con người chẳng thể hơn sắt thép được nhất là con người có một gia cảnh chẳng mấy vui. Vào nằm viện là một minh chứng xác thực cho lối so sánh kia.

Qua một đêm, hẳn ông đã có quyết định? Tôi hỏi Jean. Moa vẫn chưa gọi phone cho con Juliette. Nán đôi ba hôm thì thấm gì trong khi moa chờ đợi trong câm lặng gần bốn mùa tuyết đổ. Ừ, thì chung cuộc cũng phải đi thăm hỏi nhau thôi. Phải kiểu cách mua một bó hoa cầm tay, phải thay đổi một bộ áo quần cho ra vẻ tươm tất và có thể sẽ nói ra những điều không thật lòng. Xét cho cùng thì đâu có vui thú gì? Ông phải nên hiểu tâm lý của người nằm trên giường bệnh, họ luôn mong cầu một sự vấn an. Jean vung tay như thể xua đuổi một con ruồi mãi chờn vờn trước mặt. Hôm nào moa đổ bệnh toa có vào thăm không? Nếu có xin đừng mua hoa mà tốn tiền, một chục cuốn chả giò ăn chùng vụng thì hạnh phúc biết chừng nào mà kể! Tôi nói tôi hứa mặc dù bệnh viện là khung cảnh quy tụ toàn cả sắc xám và không hẳn ông già sáu chục tuổi thì phải vào đó trước một đứa trung niên. Gió hiu hiu lùa nhẹ, mùi cỏ ẩm vừa bị xén gây nhột trong mũi. Tôi hắt hơi: Mai chủ nhật, thay vì tới nhà thờ ông nên vào thăm bả đi Jean ạ. Đã là đàn ông, tôi nghĩ ai cũng có lối sử sự như vậy cả. Sự có mặt của ông phút giây đó nặng ký hơn ngàn lời nói ra. Hiểu ý tôi không? Jean chẳng ư hử, ông đang ngốn cuộn chả giò cuối cùng.

Juliette có đứa con ngoài giá thú với một thằng thợ mỏ khai quật dầu hoả ở tận Calgary. Thằng nhóc năm tuổi ấy không nhớ mặt bố đẻ, từ miền tây tạt về cố thổ của mẹ và gọi Jean bằng ông ngoại. Tôi hiểu loáng thoáng vậy, qua những thăm hỏi họ dành cho nhau. Jean hỏi cha mày đâu? Dĩ nhiên đứa nhóc tì bỏ ngoài tai. Năm tuổi thôi mà, nếu 15 thì hoạ may tìm được câu trả lời: Tui đéo biết! Juliette ngó tôi, ảnh có chút công chuyện lát mới quay lại đón. Rắc rối ở chỗ là Juliette neo thuyền sang bến mới và tên đàn ông mà thằng nhóc năm tuổi mặt khờ câm kia âu yếm gọi bằng papa lại là người da màu. Không như cột nhà cháy, nâu chứ đen thui thì tui đã hổng ham. Juliette trần tình với bố. Jean có vẻ là người thủ cựu, mặt lộ trầm tư, một lát ông thả giọng trầm, đôi khi e vàng hơn hẳn đen nâu các thứ. Là sao? Tôi không hiểu. Là rắc rối cuộc đời đã khiến moa chẳng có cơ duyên gặp mặt toa sớm.

Tôi ngó chùng vụng Juliette, cô không thay đổi mấy so với tấm ảnh nằm trong ví Jean, có nghĩa là hiển hiện ở đấy một dung mạo hơi ngổ ngáo, hơi khuôn trăng đầy đặn, hơi chịu nhiều nếp nhăn. Sum họp này đã chịu đánh đổi với ba năm lừng lững trôi qua. Mất ngoẻn chừng đó tháng ngày hẳn nó sẽ tàn phá không chừa một ai. Nó làm cho con nít biết lật sấp ngửa, biết ê a rồi thoắt cái biết đi biết chạy, biết theo mẹ về nhìn nhận ông bà. Thằng nhỏ coi mòi sống cô đơn đã quen nên chẳng ưa chộn rộn, nó cứ bấu chặt chân cẳng mẹ rồi trương mắt ra ngó Jean xong thì đảo qua dòm chừng thằng da vàng mũi tẹt. Tôi cũng hổng mặn cảnh tùng tam tụ ngũ, đứng xớ rớ ở hiện trường vì Jean gọi qua, ông loan báo tin vui “bả” đã bình phục, đã xuất viện và cái giang sơn bé nhỏ này mai hậu sẽ chứa năm bảy người tới quây quần làm bữa tiệc đoàn viên lá rụng về cội. Như thế này nhé, moa nói điều không phải thì toa bỏ qua cho, làm giúp moa khoảng trăm cuốn chả giò, bao nhiêu tiền moa gửi lại sau, có ô kê không nè? Đâu có sao đâu, nói trước bốn tám tiếng để tôi sắm sửa các thứ. Có cần moa gọi con Juliette sang phụ một tay không? Cho nó mở rộng tầm nhìn, học cách làm món ăn khoái khẩu kia. Tôi làm thinh, kịp lúc tiếng chuông điện thoại hối thúc dóng tiếng inh ỏi vang rân cả căn phòng khiến mọi người cùng ngoái cổ, “chuông gọi hồn ai” đã cứu chuộc tôi, kéo tôi ra khỏi những tính toan, đẩy tôi xuống vuông cỏ, đi nhanh về chỗ trọ.

Bữa tiệc gia đình dự trù đầm ấm đã không diễn ra. Cha ruột của đứa nhỏ 5 tuổi từ chốn xa tìm về đúng chỗ tỏ ăn năn lầm lạc một hai đòi nối lại sợi dây phu thê đứt đoạn. Vụng dại, nóng nảy khiến hắn xô xát với người tình da nâu của vợ cũ, cả hai chửi thề cùng thương tích trầy trụa dẫn đến sự can thiệp của cảnh sát. Jean cho hay, chưa khi nào moa thấy lòng ghen tuông của con người nó kỳ cục và khôi hài đến mức đó. Còn con Juliette, lý ra phải tỏ có chút bản lãnh thay vì ngậm hột thị ôm đứa bé mặt xanh như búp xà-lách. Cứng người như phổng đá, tựa hồ đang tự tìm lấy quyết định, đứa nào mạnh đứa ấy sẽ đi trọn đường tình với tui, chẳng lý lẽ phải trái chi cho ốm người.

Nắng lung linh trên tàn lá thưa, nắng vẫn chưa vào liếm chân. Gió có mang theo chút gai lạnh như thể Bắc cực đang vào mùa tan vỡ băng sơn. Nó thổi về để ai kia nghiệm ra cái hữu hạn của mùa hè và chỉ đôi ba tháng hâm nóng thôi, người ta lại co quắp chịu đựng bao cơ hàn đổ ập xuống. Tôi nhìn con đường khuất bóng xe, đôi ba bộ hành đội nắng mờ nhân dáng ở xa như họ đang cút bắt những ảo ảnh. Vợ ông thì sao? Tôi hỏi. Bả vẫn dật dờ, chưa lại sức và từ khi xuất viện đến giờ bả chẳng nói với moa lời nào cả. Trong muôn một, đàn bà vẫn tượng trưng cho một thứ gì thật khó hiểu. Ở apt. số 7 có vấn đề gọi moa lên chỉnh sửa nhưng moa bảo: Dẹp, đi đâu mà vội, hãy cho tao tìm lại chút quân bình cái đã. Ông đã lấy lại quân bình được chưa? Thức ăn cay ông xơi có đặng không? Jean ngó chăm tôi, hồ nghi đọng chật trong hai tròng. Tròng mắt bắt đầu mất vẻ tinh anh, như ba tôi ngày ấy, như bất kỳ một người đàn ông từng đi qua cuộc đời này với cái bóng tối luôn đeo cứng bên hông, song hành cùng vạn điều chẳng giải thích được. Niềm vui hiếm muộn, điều đó dần dà làm chất xúc tác để phủ bọc đồng tử một lớp màn đục. Có người đã gọi, ấy là bụi trần. Qua bụi trần, năm xưa mắt ba tôi mãi dõi tìm đứa cháu nội ở bến tàu với loạn thị sự hỗn mang. Tàu xô sóng trôi giạt khỏi bờ vất ba tôi ở lại trong cô thân cùng cực, ông không tài nào ngờ được đứa cháu đã có một chỗ ngồi bó thân trên tàu, cũng như gia đình nó chẳng tưởng được ông nội vẫn lạc hồn bước xiêu giữa thành phố sắp thay đổi chủ. Lòng ông là bãi bờ khi nước rút đi, khô kiệt một tuổi già hoang lạnh. Một cách thầm lặng, chữ Jean ưa dùng, có thể áp đặt toàn bộ lên người ba tôi. Thời điểm kia tôi hẳn còn non dại, tôi khờ khạo không biết ngoài ba tôi ra đã có ức triệu những bức rời đớn đau khác. So ra gia cảnh của Jean không nên gọi đó là niềm bất hạnh, ông dư sức qua cầu để dọn lòng tìm gặp lại cái trầm ngâm cố hữu. Tranquillement, tĩnh lặng đến yên hàn vô sự.

Nếu không ngán nồng cay tôi sẽ mời ông tô bún bò. Soup buộc phải cay vì đã là truyền thống thì chẳng thể gia giảm pha chế hoán đổi cho mất linh, mất tính cách, mất hương mùi, mất địa phương. Nó tuy xa nhà nhưng nó vẫn ủ nồng phong thuỷ chốn xưa. Jean rùn vai, cay cỡ nào moa cũng nên thử qua, bất quá chỉ toát mồ hôi chảy nước mắt thôi chứ thấm béo gì. Đã lâu moa chưa biết khóc, toa có tài cán thì cứ làm cho moa đổ lệ một phen. Rất rất tốt.

Tôi vẽ ra một giới hạn và tôi nói không lâu đâu, cuối tuần mình sẽ ăn chung nếu điện thoại nhà ông chẳng rộn ràng lên tiếng. Chỉ rỗi hai ngày thứ bảy chủ nhật và tương lai thì luôn rình rập những cái không ngờ. Nếu chuông điện thoại ré thì chỉ có con Juliette nghịch tay, nếu nó giải quyết ổn thoả mọi thứ đâu ra đó thì toa có sẵn lòng cho nó ghé mông để khóc theo? Tôi làm thinh, tôi chẳng biết hoán chuyển cụm chữ “nói trước bước không rời” ra tiếng Pháp. Jean phải nên hiểu là thời gian vận hành luôn không êm, chúng ta đã tuân theo luật chơi của nó, ít nhất một lần, nhớ không? Bữa tiệc có trăm cuốn chả giò chiên dòn đã “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”, đã chẳng vẹn toàn ra cơm ra cháo.

Chúng tôi ngồi yên, như thể mặc niệm hối tiếc một cái gì vừa vụt qua, không nắm bắt được. Nắng vẫn vàng, cỏ vẫn xanh. Bao lâu rồi Jean đã nhác chơi? Không phát hiện ra sao? Cỏ mọc cao có thể chôn vùi mắt cá chân. Cỏ thì ở đâu cũng hệt nhau, tôi từng nằm ngủ mê trên đồi cỏ phương ấy, đất mát lạnh và tấm bia khắc tên ba tôi đã ngăn che tia lửa mặt trời đâm thẳng mặt. Lâu lắm rồi, lâu như thể tuần trước hoặc tháng kia. Đâu, mới có ba chục năm chứ mấy! Rồi tháng nọ năm nào Jean cũng thực sự xuôi tay, tôi đoan quyết một chuyện sẽ diễn ra trước phân lìa, là Jean sẽ ăn được món cơm Âm phủ do chính tay tôi nấu. Không rủ rê Juliette nhập mâm. Ăn đi Jean, ăn một cách thầm lặng. Cơm thương chứ chả có ai thương!

Hồ Đình Nghiêm

Bóng mây ngày cũ

phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 15 Apr 2017

Post by Sơn râu 26 Dec 2023

Chân dung Hồ Đình Nghiêm – dinhcuong

Tôi gặp nhà văn Mai Thảo 4 lần. Gặp thi sĩ Tô Thuỳ Yên 5 lần. Đó là chưa tính tới những lần thấp thoáng nhìn thấy họ qua chữ viết, qua thơ văn họ giàn trải. So ra, tôi may mắn hơn kẻ khác, kẻ ưa viện dẫn Hán Nôm: Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình.

Bút hiệu của hai vị này, đã có một thời, tôi từng bị họ mê hoặc qua thứ khí hậu họ dựng nên. Họ quả tài ba khi hô phong hoán vũ bằng một thứ bí kíp phải có duyên phận mới sở hữu được. Nhà thơ Tô Thuỳ Yên dung dị, xuề xoà, chừng mực trong khi nói chuyện, kề cận anh không ngỡ đó là một cựu sĩ quan có quân hàm khá lớn, lại càng không tưởng được người ấy là tác giả của vô vàn bài thơ thượng thừa rất mực. Trong hai thi tập anh ký tặng; “Thơ Tuyển” (1995) và “Thắp Tạ” (2004), đọc suốt, tôi chẳng ngó ra một hạt sạn nào cả. Toàn bộ thảy hay tuyệt, hay từ a tới z. Hay tới bến. Thành thực để nói, những tập thơ của các thi sĩ khác dường như vấp phải một vấn nạn: Có đôi ba bài chẳng mấy hay nằm chung đụng lẫn lộn ở bên trong.

Chân dung Tô Thùy Yên – dinhcuong

Tôi nói nhà thơ Tô Thuỳ Yên là người giản dị, tính tình cởi mở, dễ tiếp cận bởi nhớ có lần họp mặt, vợ tôi tuy “ngoại đạo” nhưng do ngưỡng mộ người làm ra bài thơ “Chiều Trên Phá Tam Giang” nên nức lòng dẹp bỏ tính rụt rè cố hữu để tới diện kiến. Khi nghe giới thiệu, nhà thơ đã rộng mở miệng cười: Ủa, hoá ra đây là Bích nhỏ, để anh chỉ Bích lớn cho xem. Vô tình cả hai ma-đàm đều mang trùng tên và Bích chị Bích em đã ngồi bên nhau an tâm suốt đêm dài.

Chân dung Mai Thảo – dinhcuong

Không như Tô Thuỳ Yên, bao quanh con người nhà văn Mai Thảo có thứ vỏ bọc mơ hồ làm rào chắn, khó lân cận. Nhưng một khi đã được kề gần, vẻ xa lạ và ít nhiều khinh mạn kia biến đổi thành một hấp lực, bởi nhà văn Mai Thảo có lối nói chuyện rất cuốn hút. Nghe anh kể chuyện về Bùi Giáng, cả một hội trường đông người ở viện đại học George Mason vùng Fairfax bên Virginia thính giả như bị hớp hồn đồng loạt im sửng lắng nghe. Người thuyết giảng đứng nghiêng vai trên bục, vẫn cái dáng cô đơn lừng lững cố hữu, như một vị tì khưu, như một con tê giác, tay không cầm giấy và chữ mê hoặc luân lưu thoát ra từ miệng, từ tấm lòng biết nâng niu cái đẹp có ở một nhân tài dị kỳ đang khuất bóng chốn xa. Khi ngồi đâu vai bên bàn tiệc, anh nói: Tôi có một điều không may, một sự hối tiếc thì đúng hơn, đấy là tôi chẳng được diện kiến nhà thơ Tú Xương. Điều Mai Thảo nói khiến tôi tự vấn lòng, tự tìm ra một khuôn mặt tài danh khuất lấp, để giả như nghe anh hỏi: Cậu thì sao? Tôi hẳn có ngay câu trả lời: Tôi vẫn ước được đối diện với Thanh Tâm Tuyền, được ngó tận mắt “một đoá trăng tàn lẩn lút bay”.

Chân dung Thanh Tâm Tuyền – dinhcuong

Anh Thanh Tâm Tuyền nói giọng Bắc, tiếng nhỏ, trầm ấm. Rất hoang đường, chuông điện thoại reo một sáng trời lạnh và từ vùng Minnesota truyền qua sóng một ngữ điệu nhấp nhô làm say lòng. “Tôi tính sang bên ấy chơi ít hôm, nhưng hãy nhớ giữ kín thông tin này, nhé. Tạm thời tôi chưa muốn một cuộc gặp chộn rộn đông người”. Tôi vui vẻ hứa, tôi phấn chấn tự vẽ ra một viễn tượng và tôi nôn nóng chờ đợi. Tê Tam Thừa bảo anh sẽ gọi lại trước khi đã định ngày lên đường. Ngày lại ngày, tuần qua tháng, tôi vẫn không hiểu vì sao đã chẳng còn một cuộc điện đàm lần thứ hai. Rồi năm sau, đột nhiên nghe hung tin anh vừa “lên đường”. Đã lâu, anh có viết ở đâu đó, có vẻ tâm đắc lời của Keats: “Hạnh phúc thay ở trần gian này lại còn có nấm mồ”. Như vậy, vĩnh viễn tiếng chuông điện thoại sẽ bằng bặt thôi gióng tiếng. Tôi ngồi thừ ra, buồn quá đỗi. “Mùa hiu hắt thổi hoang vu quyện, lòng ta quạnh vắng như cỏ cây”. Chút hình ảnh mông lung có trong thơ Bùi Giáng hiện về:

“Xin chào nhau giữa con đường

mùa Xuân phía trước miên trường phía sau”.

Chân dung Bùi Giáng – dinhcuong

Rõ là một lời chào. Chỉ chào nhau một tiếng, thế thôi. Không xuân hạ thu đông gì nữa cả. Tuyệt đối tàn tạ. Miên trường vĩnh cửu. Nhà văn Mai Thảo trước khi mất có làm bốn câu thơ:

“Có thể ta không còn ở nữa

mà đã xa rồi, xa rất xa

với giải mây kia và nắng ấy

thôi ở thôi còn với chính ta”.

Và cũng giống Mai Thảo, tôi buồn bã để thú nhận: Tôi có một điều không may, một sự hối tiếc thì đúng hơn, đấy là tôi chẳng được diện kiến nhà văn nhà thơ Thanh Tâm Tuyền. Chung quy, ba khuôn mặt nổi trội của nhóm Sáng Tạo ngày nào, tôi chỉ có cơ duyên được hàn huyên cùng hai vị. “Bếp Lửa” thứ ba tựu trung vẫn là một thắp sáng đầy hối muộn giữa hiu quạnh chẳng được ngồi kề sưởi ấm.

“Vẫn em dáng cây nghiêng nẻo khuất

Sương muộn ham mê thức lá buồn

………..

Vẫn em đoá quỳnh run hoảng nở

Hương thầm choàng riết cõi đêm ta”.

Thơ ấy làm năm 1973, tới 1979 khi đi tù ở Yên Báy, nhà thơ tỏ bày:

“Đầm mình trong hạnh của ẩn mật

Mắt hoen nhoà hứng giọt thiên thâu

Dò dẫm lối về đêm tối mịt

Sông xa núi thẳm quê nhà đâu?”

Hai cảnh giới khác biệt, hai hoàn cảnh đối nghịch nhưng vẫn nhất quán một hơi thở, một địa phận riêng tây. Nhà thơ từng giải bày: “Thi ca tới với bạn không hẹn trước, không định ngày, định giờ. Người ta không thể tìm vì không biết nó ở đâu. Chỉ còn là một công việc đơn giản: Đón nhận và trao đổi với nó. Thơ đòi hỏi ở bạn một điều duy nhất: Giữ cho được tiếng nói thuần khiết và sau đó tiếng nói ấy sẽ quyết định đời sống chính nó”. (Làm thơ trong tù cải tạo).

Lùi lại năm 1970, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền phụ trách phần mục “Âm Bản”, những ghi nhận hàng tuần trong báo Khởi Hành, tôi đọc thấy một đoạn thú vị, xin được chép lại, (vay mượn từ nguồn của huyvespa.blogspot.com):

“Anh có thấy không? Không ai nói viết thơ cả, viết thư thì có. Khi người ta nói làm văn đó là có ý dè bỉu. Một nhà văn làm văn, thật không có gì miệt thị hơn lời ấy. Nhưng một người làm thơ làm thơ lại là lẽ tự nhiên. Chỉ ngô nghê khi anh nói người làm thơ viết thơ.

Như thế anh thấy gì?

Giản dị hết sức, làm không phải viết. Làm thơ không cần viết. Không cần viết nghĩa là không cần tờ giấy, không cần cây bút, hơn thế không cần cả chữ. Phụ tùng hết thẩy. Một anh chàng làm thơ đã hùng hồn tuyên xướng: “Nếu ai cướp mất bút tôi, tôi sẽ dùng dao khắc thơ lên đá…” Nghe cũng rung đấy, nhưng cần gì phải thế. Anh chỉ cần đọc lên cho người khác nghe. Thế là xong. Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ. Thơ gốc như thế. Nó chỉ cần có tiếng nói, không cần chữ. Có chữ ghi chép lại càng hay”.

Đoạn khác:

“Thụ động hay chủ động, mê mẩn hay sáng suốt, trước tiên viết chỉ là sự ghi chép. Anh ngồi lại một chỗ, tạm gác đời sống, ghi chép lại những gì đã sống qua. Không bao giờ anh viết được những gì đang ngọ nguậy sinh thành nơi anh. Không bao giờ. Thơ có thể”.

……………….

“Thơ nẩy ra làm ra những nhịp thở, những phút sống ngay chính lúc đó. Văn chương không “làm” ra cái gì hết. Văn chương chỉ là sự ghi chép. Có chăng chỉ là những tín hiệu của một đời sống ở đâu ngoài những câu kệ tan nát”.

………………..

“Có lẽ văn chương là sự quy chiếu. Trong văn chương có thể có một chút hơi thơ nào đó nhưng không bao giờ văn chương trở thành thơ như người ta mơ ước. Văn chương phát sinh để sống cuộc đời của riêng nó, nó có nghĩa của nó. Cái nghĩa của tấm gương vỡ, cái nghĩa của một tham vọng, cái nghĩa của niềm bất hạnh, cái nghĩa của một chứng bệnh… Nói chung, mắc văn chương là mắc chứng bệnh lèm bèm”.

Có lẽ tôi mắc chứng bệnh lèm bèm. Nhưng tôi sẽ lèm bèm bởi cho tới giờ phút này, đọc lại những trích đoạn của Thanh Tâm Tuyền viết từ năm 1970, tôi vẫn thấy nó mới, nó sướng. Nó có thể dùng cho những ai tập tành viết văn thế một lời khuyên nhủ: Bạn có thể lèm bèm nếu bạn có khả năng. Trong “Âm Bản”, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền có khi chỉ viết một dòng ngắn: “Tôi vừa đọc được một câu khá thú vị: “Mỗi người suốt đời chỉ nói mỗi một câu và chỉ dứt khi chết”.

Anh Thanh Tâm Tuyền đã thôi nói, nhưng chỉ mỗi một câu của anh thôi, với tôi, nó có đời sống riêng. Nó tạo dựng ra một con đường và tôi nghĩ, con đường ấy đã có lắm kẻ đặt chân vào. Tựa như Trịnh Công Sơn, khi nằm xuống, phía sau hun hút là một khoảng trống. Đôi vì sao rơi rụng và bầu trời chừng như hoang lạnh đen sâu.

Nhà thơ Bùi Giáng, mà Mai Thảo cũng như Thanh Tâm Tuyền đều yêu mến, đã từng “giả bộ” viết lại Nam Hoa Kinh rằng: “Không biết làm thơ mà cứ ưa lôi chuyện thơ ra bàn, ấy là đạo vậy!” Tôi nào bàn chuyện thơ, chẳng qua vì tưởng tiếc một người mà đâm dài lời vậy thôi:

“Bây giờ tôi đối diện tôi

Còn hai con mắt khóc người một con”.

Xin nhà văn nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà văn nhà thơ Mai Thảo và “Đại ca” Bùi Giáng mãi ngậm cười nơi chín suối.

Hồ Đình Nghiêm

April 15, 2017

Bóng ma

phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 28 Aug 2017

Post by Sơn râu 26 Dec 2023

Hẹn 9 AM ở lầu 1 khu vực K. Đừng quên thẻ bệnh viện và căn cước của sở y tế cấp. Bọn tôi hướng dẫn cách tắm xà phòng đặc biệt, sau đó không được mặc thứ gì vào người ngoại trừ chiếc áo đặc thù của bệnh viện, trùm nón lưới và mang đôi vớ bằng giấy mỏng. Leo lên giường nằm thư giãn, đeo vào cổ tay một cái vòng plastic tóm gọn bệnh lý cùng những con số riêng tư khắc ghi ở trên đấy. Đo áp huyết lần sau cùng, nhiệt kế ngậm dưới lưỡi, gắn 6 nụ có dây nhợ lòng thòng vào ngực để đo điện tâm đồ. Lấy 3 ống máu rồi dán chặt mũi kim nằm nguyên vị trí ở cánh tay. Chúng tôi sẽ tuyền xê-rum vào đó hoặc morphine hoặc những dược liệu cần kíp khác. Mười phút nữa bạn sẽ được chuyển qua khu phẫu thuật.

Kim đồng hồ di chuyển chậm hơn vận tốc trái tim đang gõ. 1 PM, giường con bệnh được đẩy vào thang máy riêng, xuống tầng trệt. Ở đây nhiều ánh sáng, đèn đuốc một phần, phần khác người ta lợp kính trong suốt, thấy mây bay thấy nắng chiếu thấy cành lá những loài cây già tuổi đứng rung động bên ngoài sân bệnh viện. Đây là khu vực cách ly với ngoại giới, bạn muốn đi qua những cánh cửa đóng mở tự động bạn phải có một tấm thẻ nhựa đặc biệt. Người y tá lực lưỡng đặt xấp hồ sơ dày cỡ 200 trang trên bụng “thân chủ”. Không lâu đâu, chừng nửa giờ, thông thường là vậy. Anh ta ém được chiếc giường tân kỳ giá khoảng 5.000 đô-la vào chỗ thích hợp. Sát hành lang có dán tấm poster: “Thông thường, cái bàn phím có nơi máy điện toán bạn đang dùng chứa lắm vi trùng hơn một cái bồn cầu. Xin bạn vui lòng rửa tay thật sạch trước khi tiếp xúc với bệnh nhân”.

Bệnh nhân nằm lim dim, dát thân mỏng dính xuống mặt nệm bắt đầu nghe lạnh. Trong đầu óc trống hoác tự dưng lộ ra câu của Bukowski: “Tôi mang cái chết trong túi áo trái. Đôi khi tôi lấy nó ra và hỏi han: Chào cưng, dạo này cưng sao rồi? Hồi nào thì cưng đến với ta? Ta sẽ sẵn sàng”. Một bóng người toàn thân màu xanh lục lướt êm tới đứng cạnh giường. Xin chào. Bạn muốn tôi dùng tiếng Anh hay Pháp ngữ? Tôi là bác sĩ Hulk, phụ bác sĩ Zukor chịu trách nhiệm ca phẫu thuật này. Bạn thấy sao rồi? Nón trùm đầu, khẩu trang đã móc sợi dây vào một bên tai, đôi mắt linh hoạt sau cặp kính cận nhìn xuống. Mức độ gây hiểm nguy chỉ lên tới 9% thôi. Chúng tôi sẽ chích một liều thuốc tê vào sau lưng bạn và dự trù thời gian sẽ kéo dài trong 2 giờ. Với năm ngón to khoẻ của một người quen sử dụng dao kéo, bác sĩ Hulk bắt tay “thân chủ”. Chiếc găng cao su mỏng chẳng ngăn được nhiệt lượng từ bàn tay ấy lan toả ra. Trấn an, vỗ về và tự hứa sẽ làm tốt với khả năng mình có. Họ có tủi thân không, khi được đi thực tế ở Việt Nam để nhìn thấy thứ văn hoá phong bì. Tiền trao cháo múc. Đừng rên la làm gì cho chóng đuối sức. Hai trăm đô la thôi mờ, bộ kiếm không ra hở. Đừng có vu oan rằng thì nà bọn tớ thấy chết không kíu nhé!

Một, hai, ba. Họ cùng đếm số để động tác có được sự ăn ý. Bốn người ở bốn góc đã nhấc hỏng tấm chăn lên và đặt nhẹ nhàng con bệnh qua một chiếc giường khác. Trước đó họ đã tháo những dây nhợ cột cứng cái thây bất động để tiện cho việc mổ xẻ. Họ liền tay đắp lên ba tấm chăn vừa hấp nóng vào cơ thể lạnh như một tảng băng, khói bốc mờ cùng lần với ý thức vụt hiện tới: Mình vừa trôi qua dòng nước đen, được tấp vào bờ sinh tồn. Một ống nhựa đun vào mũi: Bạn cần thở oxygen. Chuyền xê-rum cùng với một liều morphine làm chận cơn đau. Bọn tôi sẽ chuyển bạn ra nằm phòng hồi sức, chừng nào bạn ngo ngoe được những ngón chân, bạn cảm được tay tôi đang sờ nắn da thịt bạn, khi ấy chúng tôi hẳn mang bạn lên phòng cho y tá chăm nom. Khoảng nửa giờ sau chúng tôi sẽ đặt một tấm bảng dưới lưng bạn để chụp x-ray. Hiện tại bạn cần phải uống thật nhiều nước lạnh vào, đi kèm với viên Xarelto, viên oxycodone và 2 viên novo-gesic. Mọi chuyện tiến triển tốt đẹp, gắng tỉnh dưỡng nhé, chóng hồi phục thôi. Bác sĩ Zukor nói. Tay dong cao rồi quay lưng đi. Ông ấy là một người Do Thái tài ba, trưởng khoa điều trị chữa lành mọi cấp độ chấn thương về gãy xương.

Đợi sắp xếp đâu ra đó, chiếc giường được đằng vân giá vũ lên tận lầu 8. Phòng 820 giường C. Phòng trọ trong ba ngày, hoàn toàn miễn phí; chừng nào bạn muốn một không gian yên tĩnh, riêng lẻ, có điện thoại bàn có truyền hình đã gắn cable thì bạn phải chi trả một khoảng tiền nhất định. Đi máy bay bạn ngồi ghế ở hạng tiết kiệm thì hẳn chớ so đo với hạng nhất, hạng thương gia các thứ. Giường C đặt nằm trong cùng, kéo tấm màn cửa sang bên sẽ bắt gặp một vầng trăng nhạt hiện lẻ loi trên khu phố lắm đốm đèn màu nhấp nháy. Thoảng có mùi thơm đẩy đưa: Gắng ăn đôi ba múi cho ngọt cần cổ. Quýt này của Tây Ban Nha chứ không phải của Maroc đâu. Người đàn bà ngồi bên giường B đang lột vỏ và từ tốn đút cho gã đàn ông sắc mặt tiều tuỵ nhác chơi thấy rõ. Thấy sao? Thích thì ngày mai em sẽ mua thêm.

Đứa nằm giường C trông sang, lẩm bẩm bốn câu thơ của Thiền sư Viên Thành:

“Ngọt ngào không rõ đặng trong lòng

Rõ đặng trong lòng biết đục trong

Biết đục trong hãy xin nếm thử

Hãy xin nếm thử ngọt ngào không?”

Đôi khi chẳng cần được ăn quýt, chỉ ngó ra cử chỉ đầy quan hoài của tha nhân cũng đủ khiến mình nếm được chất ngọt ngào sóng sánh trong tình người chia sẻ. Ở chỗ trồng nhiều khế ngọt con bệnh dễ thác vì mãi nghe bác sĩ lẫn y tá thay phiên đay nghiến, tủi thân lắm, đớn đau lắm; chưa kể có nhiều trường hợp gãy chân phải chữa chân trái hoặc buồn tay đem cưa cụt cho khoẻ trí. Suốt đời không cách gì gạn đục khơi trong được. Cái nước mình nó vốn thế! Một người đứng tuổi có học vị cao đã “phát ngôn linh tinh” như vậy.

Chào buổi tối. Thấy đỡ chưa? Tôi mang tới cho bạn bốn viên thuốc. Một thứ chống nhiễm trùng, một viên chống táo bón, một liều morphine nhẹ và một viên giúp bạn chóng ngủ. Ở đầu giường có cái nút đỏ, bạn bấm nút hồi nào bạn muốn được sự giúp đỡ, y tá trực sẽ chạy vào giúp bạn. Những cái nút màu xanh còn lại là điều khiển chiếc giường thay đổi vị trí sao cho bạn thấy thoải mái khi đặt lưng. Cái bình nhựa kia là để bạn tiểu tiện vào mà không cần phải ngồi dậy. Điểm tâm ngày mai bắt đầu vào 7.30, ngày ba bữa và thực đơn luôn thay đổi, bạn có quyền lựa chọn nếu bạn chẳng ăn được một vài thứ. Cái nút nhựa này để thay đổi độ sáng tối của ngọn đèn, bấm ba lần thì đèn nhắm mắt. Chúc ngủ ngon. Bà y tá đi ra rồi kéo tấm màn vải che bít giang sơn 820 C.

Bềnh bồng, có thể do phản ứng của lắm loại thuốc gây ra. Chẳng thấy đau, cũng không mang cảm giác chóng mặt hoặc kiệt sức. Thứ trạng thái nửa mê nửa tỉnh, không thèm khát một thứ gì, xuôi tay, buông trôi. Ba ngọn đèn sáng xanh trên trần vẫn ngó xuống và rồi mí mắt đóng màn, chòng chành:

“Con đò dịch đít sang ngang

Bên kia có một cái làng thò ra”.

Hình như thơ của Bút Tre, vẽ ra một cảnh sắc quen thuộc, và dễ thương mà chẳng ai nhìn thấy. Muốn tới cái sự thò ra kia tiên khởi ta phải dịch đít. Sang sông phải luỵ đò là vì vậy. Trước đây, muốn về thăm làng ta phải bỏ công theo dõi tin chiến sự, dò la để biết chốn quê xa có chút an toàn nào không? Một thuật ngữ dùng ám chỉ: Vùng xôi đậu. Người làm chủ ban ngày, ma quỷ hiện hình lộng hành ban đêm. Vì vậy ngủ lại đêm thì chẳng đặng nên muốn đi phải khởi hành giấc sớm để chừng hai ba giờ chiều phải chóng khăn gói trở lại phố phường. Về làng để nhận tiền chia lúa, để thăm lại mồ mả ông bà và được bà con trao quà: Cái lồng tre nhốt một hai con sáo, hoặc chào mào, hoặc con chim cu có giọng hót lạ thường. Nhưng đáng nhớ hơn cả là hình ảnh một người đàn bà bao giờ cũng tự nguyện làm kẻ tiễn đưa. Một khuôn mặt buồn, ẩn dấu nhiều thua thiệt và chịu đựng dài lâu, tuồng như suốt kiếp. Áo màu nâu, phai nhạt ở trên vai, ở tấm lưng chẳng mấy khi khô. Tóc rối, mắt ướt, làn da ăn nắng gần tiệp với màu vải áo và luôn nói với chất giọng gần như hụt hơi: Dạo đó chị lớn chừng 12 tuổi, mạ em bắn tiếng về làng mong có người lên giúp đỡ. Chị là người được chọn, công việc là phụ nấu ăn giặt giũ và chăm sóc em. Không hiểu sao, giữa chị em mình đã có với nhau một sự gắn bó, đã thương yêu nhau. Chị bảo vệ em bằng tất cả sức mạnh mà chị có, em tượng trưng cho mọi niềm vui mà chị được thu giữ trong suốt những ngày xa quê. Mấy hôm mưa to gió lớn, chị đã ôm em, ru em ngủ bằng các câu chuyện cổ tích đầy chắp vá. Và chị đã nhìn ra lòng quý mến mà em muốn dành riêng cho chị. Muốn ăn cơm, em chỉ đồng ý cho riêng chị đút. Em sẽ ở dơ cho tới chừng nào chỉ rảnh tay mang em ra giếng tắm rửa. Có nghĩa là em rất chướng, chỉ có chị mới “đụng” được người em. Mọi người trong nhà đều thống nhất một cách gọi: O Hường. Chỉ mình em, cá biệt kêu: Chị Hường ơi! Có thể chi tên Hồng, nhưng người ngoài làng đa phần đều sợ thần linh quở phạt nên phải đọc trại ra. Hoa đổi thành Huê. Màu đổi thành Mùi. Hôn đổi thành Hun… Và khuôn mặt dại khờ của em đã được chị hun tới cả vạn lần. Không chắc đến lúc thành hôn, người nữ phải hôn chồng kiểu đó. Ốt dột hoặc mắc cỡ hoặc ngó không thực lòng. Chẳng phải chị mượn em để làm nháp đâu, chị thương em hơn cả thương người chồng mai sau của chị. Và một ngày xấu trời, như một trang sau cùng cuốn tiểu thuyết siêu hình thật khó đọc thông, chị Hường phải chịu về làng làm vợ một anh chàng nào đó chưa hề biết tới, nghe qua. Trên đường đứt ruột phải băng qua, có người từng đánh rơi lông ngỗng để làm dấu. Chị Hường chẳng có gì ngoài suối lệ mãi trút xuống không kịp lau khô.

“Đừng buông giọt mắt xuống sông

Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm”.

Phải sau này, thực trạng đó mới có người như Đồng Đức Bốn chứng thực được. Chị Hường dịch đít sang ngang và cái làng kia đã thôi còn thò ra nữa. Chiến tranh đã nuốt trọn lấy nó, thu cất riêng một nơi huý kỵ có tên gọi “đã giải phóng”. Con đò đã thực sự chìm, mực sông cao hơn vì nó hứng lấy bao nước mắt của bá tánh trút xuống. Nó thôi “nắng đục mưa trong” bởi bốn mùa triều cường duy mỗi màu đỏ lờ. Uể oải xê dịch và từng có thời điểm là cửa ngõ giúp người ta trốn chạy ra bốn phương ta bà, chết bỏ bể bỏ. Sông chẳng phải mang tên Bến Hải, cầu không dann xưng Hiền Lương nhưng mọi chốn trên địa hình chữ S mãi còn đó một sự phân lìa, đố kỵ và thù hằn có giữa hai phía con rồng, cháu tiên. Bắc Nam hai nhà.

Em đừng sợ. Mỗi đêm chị cố gắng về ngồi bên em. Ác quỷ sẽ không thì thầm bên tai được, cùng lắm chúng nó chỉ trốn dưới giường. Chị biết em chỉ nằm đây có ba đêm, chừng đó cũng đủ để chị kể em nghe mọi thứ từ hôm chúng ta bị phân lìa. Hãy xem như đây là chuyện cổ tích như ngày xưa chị thường mang ra kể, ru em ngủ. Chị về làng lấy chồng, anh ấy là lính địa phương đóng quân ở quận lỵ bên kia sông. Một hôm súng nổ vang trời, nghe nói cả trung đội anh không còn một người sống sót. Quận lỵ bị xoá sổ chừng một tuần sau đó, “bọn ác ôn” bị giết sạch và chị làm bà quả phụ từ dạo oan khiên nọ. Chị rất muốn vào thăm em nhưng không tài nào cất chân ra khỏi địa bàn khắc nghiệt kia. Loay hoay, đói khổ, tù túng. Cái bi kịch mà chúng ta phải nhận lấy, đó là một bọn người ngu dốt đã thắng được, đè đầu cỡi cổ bọn có học thức. Hoặc vô luân đã đánh thắng sự tử tế. Người chị đã tàn tạ, hiểu ở mọi nghĩa vậy mà vô phúc cũng lọt được vào mắt kẻ quyền lực. Một tên xã trưởng đã công khai mang chị về dinh. Nơi treo đầy bằng ban khen và là chốn từng làm hại bảy người đàn bà khác nhau. Người trầm mình dưới sông, người tự nhiên vắng mặt chẳng rõ đi đâu, và chị thì bị xe ô tô con húc từ đàng sau, rớt xuống ruộng để hai hôm sau mới có kẻ phát hiện một tử thi đang bị trương phình, biến dạng và sắp phân huỷ.

Chào buổi sáng. Một khay đựng thức ăn đặt xuống bàn. Người phục vụ nâng chiếc bàn lên cao cho tới hồi mâm thức ăn nằm ngay ngắn trước bụng con bệnh. Cô ta bấm nút cho chiếc giường bẻ gấp lại, từ nằm biến đổi tư thế sang ngồi với gối chống lưng. OK, chúc ngon miệng. Bữa điểm tâm như một canh bạc lắc bầu cua. Tất cả được dấu mặt trong ba cái tô lớn nhỏ khác biệt. Cất tay nè. Một lát bánh mì nướng dùng với mức dâu hoặc margarine, một hộp thức ăn sấy khô d’avoine au miel dùng với 200ml sữa tươi 2% chất béo. Một quả trứng gà luộc. Một hộp nước trái táo. Một cốc cà phê, một gói đường cát. Dao, muỗng, nĩa được bọc trong tờ giấy thấm dùng để lau miệng. Một thực đơn “hơi bị lạ”, chẳng mấy khi được ăn, dù sao thì ở khu nhà bếp người ta đã có sẵn một công thức, và thứ nọ đi với thứ kia sẽ cấu tạo thành 850 calories nếu bạn xơi hết. Chấm mút, ăn thỏ thẻ như con mèo ốm, như thuở còn thơ vòi vĩnh bắt chị đút, dỗ dành tới khô hơi rát cổ em mới ăn. Thức gì cũng thử qua, riêng quả trứng luộc thì dấu cất bên gối nằm, nguyên vẹn. Đêm nay em sẽ thầm lặng bóc vỏ nó, một hai giờ sáng mang ra làm quà dâng chị. Cả một đời lớn khôn trong cách trở, em sợ về làng em ngán ông kẹ em hãi vi-xi vì thế chưa hề tạo cớ bày tỏ tới chị một chút tâm thành. Ngày đó Mạ nói: O Hường hắn thương mi nhứt hạng! Và em đã cám ơn trời Phật đã tạo ra được một nữ nhân “trời làm xa cách mấy con sông”, tuy ít ăn học, tuy quê mùa, tuy mang phận ở đợ, nhưng con người chị là tổng hợp những gì tốt đẹp nhất mà sau này em mới chứng nghiệm ra.

Bác sĩ Zukor trở lại: Tôi theo dõi và vui với sự tiến triển khả quan về sức khoẻ của bạn. Xem hình chụp, những gì được thay thế đều nằm đúng vị trí và mất chừng sáu tuần bạn có thể đi lại bình thường. Trước khi xuất viện bạn sẽ qua một cuộc thăm dò với các vị phụ trách vật lý trị liệu cũng như nhận lấy một cái toa liệt kê những thứ thuốc phải mua. Nhà thương sẽ gửi y tá đến nhà bạn để thay bông băng, chùi rửa vết mổ cũng như sẽ lấy sạch những cái mấu sắt ra nếu vết thương đã khép miệng. Bạn sẽ có cái hẹn với tôi vào tháng sau. Bạn có câu hỏi nào không? Tốt. Bắt tay nào: Chúc may mắn.

Một thằng đàn ông quyền lực chỉ ngang tầm xã trưởng cũng đủ làm mưa làm gió một khung trời nhỏ. Hắn hãm hiếp người đàn bà từng lấy chồng nguỵ quân. Chán chê, muốn chùi sạch miệng sau khi ăn vụng, hắn lái xe ô tô con ủi thẳng vào bóng người bất hạnh lẻ loi đi trên đường đê vắng. “Nếu được xét nghiệm, chắc chị cũng bị gãy xương chậu giống em vậy. Chị đứng dậy không được và ruộng nước, và bùn lầy, và giá rét, và cuộc đời ghẻ lạnh đang vây chặt lấy chị. Đầu óc chị sáng suốt: Được chết như thế này có khi lại hơn, thôi đoạ đày giữa bể trầm luân. Nhưng em, em đang sống ở cái thế giới đối nghịch hoàn toàn với chị, ý nghĩa về sự sống luôn cao đẹp khi chung đụng cùng bao người tử tế. Khi yếu lòng em hãy nghĩ về chị. Hãy gọi thầm: Chị Hường ơi! Và rồi bóng ma của quá khứ sẽ hiện sát bên em, che chắn và bảo vệ em, vực em qua được bao khốn khó.

Trời sang mùa, Thu ló dạng ở xa nhưng sớm đưa tay xua đuổi những hạn nực của nắng hè. Bệnh viện có lắm kẻ đi thơ thẩn ngoài hành lang gió nhẹ, khí trời như góp phần lấy đi từ cơ thể họ chút nặng nề khi di chuyển. Mặt họ bớt cau có, mà nghĩ có ích gì nếu cứ mãi hậm hực về cảnh sống bất ưng? Vui hay buồn, chán ghét phẫn hận hay vị tha mở lòng thụ hưởng thì đời sống vẫn một mực dửng dưng trôi qua. Không gì khiến nó đổi thay được. Những cái chết lần lượt điểm danh đằng sau những căn phòng với màn che trướng rũ. Và khu hộ sinh mỗi ngày có biết bao đứa bé dong tay khóc ngấc khi chào đời. Nước ối và máu chảy lênh láng. Xin chúc mừng, là con gái, bạn đã có sẵn tên cho cháu chưa? Coi kìa, cái mặt dễ ghét quá!

Tên Hường. Nguyễn Thị Hường. Nghe đặng không? Hường là Hồng. Hồng là Rose. La Vie en Rose.

Kiếp này đang mở Hường ơi

Đầu nhang cháy tỏ em khơi đốm tàn

Chống gậy đi ngược ngày vàng

Về nơi cố xứ lộn hàng mộ bia

Đò băng sông rộng làng kia

Gươm đao quẳng xuống đành chia ngậm ngùi.

Sao, khoẻ không? Xuất viện hồi nào? Khoẻ, đã hai hôm. Tôi trở lại vì đãng trí để quên chiếc áo ấm trong tủ. Bạn nằm phòng nào nhỉ? 820C. Ô, chỗ ấy đã có người điền thế. Hy vọng giờ này mọi người đều thức. Cô giúp tôi được không, bởi đi lại hơi khó khăn. Dễ thôi mà, ngồi xuống ghế nghỉ đi, chiếc áo màu gì? Màu xanh nước biển, xanh đậm. Người y tá quay lưng, khoảng cách chừng 10 thước nhưng cô mất hơn 15 phút mới trở lại. Mang bộ mặt không mấy vui: Tủ trống, chẳng có chiếc áo nào cả và lạ kỳ một điều, có ai đã dấu thu một quả trứng gà luộc ở trong. Bệnh nhân nằm giường 820C là một bà trung niên, bả than phiền là bệnh viện này sao có lắm ma. Ở những nơi khác người ta treo đầy thánh giá trên vách, như ở nhà thương trung ương chẳng hạn, như nhà thương “Con của Chúa” chẳng hạn… Mất một chiếc áo. Bạn có cần khai báo không? Thôi khỏi, cám ơn sự sốt sắng của Nathalie. Kỳ thật! Tôi nằm ở đó đúng ba đêm sao tôi chẳng được thấy ma nhỉ? Suỵt! Đừng nói chuyện tầm phào. Lạy Chúa! Ca làm việc của tôi hôm nay kéo dài tới nửa đêm. Thôi bye, chúc lành nhé.

Hồ Đình Nghiêm

Montréal, 28.8.17 

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 26 Dec 2023

Phần hai

Bài 3

Những ngày kế tiếp thoải mái theo kiểu tên cán bộ Đảng nói, là mọi người đều được tham dự vào những công tác tạp dịch, sửa sang lại nơi ăn chốn ở, đào hầm cầu, đắp bếp… Nói chung là công tác lao động chưa có gì đáng gọi là cực nhọc. Riêng khối 10 hơi kém vui vì tên quản giáo Cư hầu như suốt ngày chạy lồng lộn dưới khối! Hắn nhất định không để cho ai đứng yên được một phút. 

Với tinh thần giật gấu vá vai, chả mấy chốc bằng những miếng ván thông tháo từ các thùng đạn pháo 105 ly, bằng những thùng phuy đập dẹp, bằng những cái đinh chế bằng cọng kẽm gai, bằng những sợi thừng bện bằng những sợi bao cát, bằng những dụng cụ kềm kéo búa cưa hoàn toàn tự chế, bọn tù đã tạm lo xong nơi ăn chốn ở cho mình. Có gay go chăng chỉ riêng vấn đề nước. Những cơn mưa bất chợt của tháng Sáu chỉ có thể giải quyết được nước ăn nước uống cho nhà bếp, còn nước tắm rửa quả là một vấn đề. 

Thủa ban đầu cứ chừng ba ngày một, tiểu đoàn 1 trung đoàn 4 dưới bí số L4T1 được một chuyến tiếp tế nước bằng xe lôi bồn. Thật là kinh khủng cho cảnh dành giật. Chuyến xe vừa đậu ngoài hàng rào là tù từ bên trong, kể cả các người đẹp của biệt đội Thiên Nga và các nữ sỹ quan QLVNCH bên khối 14, đã mỗi người một thùng đại liên phóng ra. Trong chớp mắt cái xe lôi bồn đã bị phủ kín, y như một con bọ hung sa cơ thất thế bị một bầy kiến đói làm thịt không thương xót. 

Phần Vĩnh, sau những giờ lao động và lo miếng ăn miếng uống xong, anh chạy khắp nơi tìm gặp bạn bè và cùng với một hy vọng mong manh gặp được các anh và em ruột của anh, những người mà anh biết chắc giờ này đã đều nằm trong các trại cải tạo. Thế nhưng ngoài Hiến, sỹ quan phụ tá cũ của anh và Ứng, Kim, bạn đồng binh chủng được gặp lại nhau từ lúc đi trình diện ở Lê Quang Định, Vĩnh không được gặp thêm một ai. Cũng may, ít ngày kế tiếp Vĩnh quen thêm được một lô bạn mới, chẳng hạn Nguyễn Ngọc Trụ (nghe nói là cháu của nhà báo Dzoãn Bình), Đặng Thế Tiến, Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Thành Đính, Ngô Văn Tuyên… Thường những lúc nghỉ ngơi hay khi chiều xuống, cả bọn xúm lại đánh cờ hoặc tìm cách nấu nướng linh tinh những thứ đem theo để ăn uống với nhau. 

Những tay thuộc quân chủng Hải quân như Vĩnh, Ứng và Kim thường bị anh em cật vấn nhiều nhất bằng câu hỏi: Tại sao các ông có tàu mà không chạy? Họ cứ nghĩ rằng tất cả các sỹ quan Hải quân đều là những người lúc nào cũng ngồi trên tàu để có phương tiện đào ngũ sớm hơn ai hết! 

Mỗi lần bị hỏi, Kim thường chỉ cười lạt. 

– Chứ bộ chỉ có Dù với Thủy quân lục chiến mới có những đơn vị tử thủ hay sao? 

– Giờ thứ 25 rồi còn thủ cái gì nữa!? 

Vĩnh hiểu bạn bè hỏi để mà hỏi. Họ thừa biết không thiếu gì những đơn vị tiền đồn mà cấp chỉ huy của những đơn vị ấy đã mất liên lạc với thượng cấp ngay những ngày 27, 28. Họ loay hoay không biết xử trí ra sao với đơn vị và thuộc cấp. Mọi tin tức ở Sài Gòn họ đều mù tịt. Thậm chí có nhiều cấp chỉ huy đóng sâu trong sông lạch không biết đến cả tin tổng thống Hương đã bàn giao quyền lực cho đại tướng Minh từ chiều 28 tháng Tư; và hình ảnh dân Sài Gòn, trong đó có nhiều vị tướng lãnh, đã nháo nhào lên tìm mọi cách bỏ của chạy lấy người. 

Tuy nhiên vấn đề chạy thoát đối với những người ở lại, hầu như không mấy ai đặt thành vấn đề, ngoại trừ những người thật sự có trách nhiệm trước quân đội. 

Làm sao mà trách được một anh thợ mộc làm cho hãng RMK, khi mà anh ta thấy rằng thiên hạ ùn ùn bỏ chạy, trong lúc anh có thừa giấy tờ đi làm cho Mỹ để trình tòa đại sứ Hoa Kỳ xin cho cả vợ con di tản? Làm sao trách được chị đàn bà làm cho căn cứ Long Bình, khi mà chị nghe thấy đủ thứ tin đồn, rằng nếu chị ở lại, chị sẽ là một đối tượng chính cho Cộng sản ra tay nhúng chị vào biển máu? Cũng chẳng thể trách được một thằng ma cạo hèn nhát trốn lính, bỗng một sớm trở thành một phóng viên tăm tiếng nhờ những bài phóng sự bới móc đời tư nhằm tống tiền và lường gạt thiên hạ; kể cả những nhà văn chân chính chống Cộng đầy mình, nhưng lúc cần bảo vệ đất nước, ông ta tự biết mình chẳng còn một mũi nhọn nào khác ngoài cây bút – một thứ đã hoàn toàn biến thành vô dụng khi giặc đã mấp mé ngoại thành! Có rất nhiều thành phần đã không nên trách, mà còn nên mừng cho họ đã chạy thoát, kể cả những thứ gọi là ông tướng này ông tá kia, thứ tướng tá đã về vườn nhưng vẫn giữ nguyên cái cố tật phách lối tuyên bố huyênh hoang, đại khái rằng thì là đồng bào cứ yên tâm, nếu có phải di tản thì nhất định tôi sẽ là người di tản sau cùng, nhưng thực tế vừa nói xong ông ta đã cút mất! Những thứ ấy trách mà làm gì. Người ở lại luôn luôn thương họ như thương lũ ca nhi. Thế nhưng, lịch sử và những người ở lại khó có thể không trách những kẻ còn đủ trí nhớ để nhớ ra rằng mình từng có một đơn vị dưới tay, và mình đã bỏ nó mà chạy không một lời từ giã, dù lúc mình đến với nó, nó đã lên kèn lên trống đón mình như một người cha, người anh. 

Lắm lúc Vĩnh tự hỏi không hiểu những người đã ra đi có bao giờ nghĩ tới những người còn ở lại hay không? Và tỉ như họ biết rằng những người ở lại đã khóc khi buông súng trước lệnh đầu hàng của vị tổng thống đại tướng Dương Văn Minh, thì họ sẽ nghĩ sao về những giọt nước mắt ấy? Chắc họ sẽ nghĩ đó là những giọt nước mắt thường tình của những người mấp mé bờ tử sinh! Không, không phải như vậy đâu. Phải là người ở lại mới biết được cường độ của lòng yêu Tự Do như thế nào, và sự tủi nhục khi thấy kẻ thù lê gót trước mắt ngay giữa thủ đô của mình ra sao. Lúc ấy, người ở lại mới thấy nước mắt của người đàn ông không hiếm như người ta tưởng. Nó đã ràn rụa chảy trước những hình ảnh thân quen vô cùng. Đi ngang nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nhìn bức tượng Tiếc-Thương bị kéo xập xuống, họ khóc mùi như một đứa trẻ. Đi ngang dinh Độc Lập nhìn những vết xích sắt T.54 cầy trên cỏ họ rơi lệ như mưa. Nhìn bầy trẻ nhỏ vô tư đùa chơi trong nắng, họ khóc như người bị cháy nhà. Không, hơn như thế! Phải là cháy cả thành phố, cháy cả đất nước thân yêu và tuồng như chỉ còn mỗi mình họ sống sót. Những trẻ nhỏ kia, trong đó có con em họ, sẽ đi về đâu? Chao ôi ai mà biết được!… Cái đau đớn của người ở lại là cái đau đớn của một chứng nhân, đã nhìn thấy trong một khoảng khắc sự sụp đổ của tất cả dĩ vãng, hiện tại và tương lai mà không còn một lý do nào để hiến thân xây dựng nó trở lại! 

Nhưng những người ở lại nào chỉ có riêng những người cầm súng chiến đấu. Còn bao nhiêu thành phần khác nữa. Không thể nói được rằng những thành phần buôn thúng bán bưng, những bác phu xe, những anh thợ sắp chữ, những em bé bán báo… là nhũng người không biết tới hiểm họa Cộng sản. Họ biết và họ đau đớn không kém ai khi đất nước rơi vào tay Cộng sản. Nhiều khi họ còn đau đớn hơn nữa vì họ không biết cách mô tả, không thể nói ra. Vĩnh không bao giờ quên được hình ảnh của người đàn bà bán chè đậu hũ nơi phố anh ở. Ngày nào cũng thế, cứ đúng một giờ trưa là bà đi qua nhà anh, trên vai nặng trĩu quang gánh, một bên là thùng đậu hũ, bên kia thùng nước đường gừng với bát với thìa. Trên tay bà còn sóng sánh một sô nước có thả vài miếng lá chuối… Bà đã bán đậu hũ như thế từ ngày Vĩnh mới di cư vào Nam, tuổi mới lên mười, cho đến khi Cộng sản tràn vào Sài Gòn. Khi Vĩnh đỗ tiểu học, bà đã mừng anh một bát đậu hũ lớn không tính tiền. Khi anh học đại học bà cứ đùa đòi làm mối. Khi anh đi lính, rồi lấy vợ, rồi đẻ con; bà nhiều lúc nghỉ mát dưới mái hiên nhà anh, nói đùa dăm ba câu rồi cao hứng cho thằng con lớn của anh ăn miễn phí như từng cho bố nó hai mươi năm về trước. Khi Cộng sản tràn vào, đơn vị tan rã, Vĩnh trở về nhà vào một buổi trưa tháng 5. Người đầu tiên anh nhìn thấy ngồi trước hiên nhà anh vẫn là bà bán đậu hũ với quang với gánh với thùng với sô. Thấy bà, Vĩnh ngậm ngùi nói đùa. 

– Bác không chạy à? 

– Chạy đi đâu hả cậu? 

Vĩnh vào nhà lấy mời bà một ly nước đá lạnh. Anh dọ dẫm. 

– Giải phóng vào chắc bác cũng đỡ cực nhiều… 

Ngoài dự tưởng của Vĩnh, phản ứng của bà bán chè đậu hũ đã làm anh ngượng ngùng. 

– Cậu Vĩnh à, thú thật tôi ít học, sống đầu tắt mặt tối thật đấy, nhưng khi cùng di cư vào đây, tôi nghĩ tôi hiểu Cộng sản trước cậu nhiều đấy chứ! 

Nói rồi bà ta có vẻ giận. Vĩnh phải giả lả xin lỗi. 

– Tôi đùa đấy bác ạ. Nói đoạn Vĩnh chắt lưỡi. Khổ quá, không biết rồi ra sao nữa đây!? 

Bà bán chè đậu hũ bỗng gay gắt. 

– Đến giờ này mà cậu còn chưa biết rồi sẽ ra sao nữa à? Quan quyền như cậu thì tôi chưa biết ra sao thật đấy, chứ còn ngay cái hạng tôi, chúng nó cũng sẽ ghép tội buôn bán linh tinh, chai lười sản xuất, đường ra nông trường cũng chẳng bao xa! 

Câu nói của bà bán đậu hũ theo Vĩnh mãi đến sau này. Anh cứ thắc mắc những người như bà ta không biết đau khổ tới đâu, khi mà ở xã hội cũ suốt một đời khổ cực buôn thúng bán bưng; và khi Cộng sản vào, không với đường lối cắt tí ngón tay dài bù cho ngón tay ngắn để có được một bàn tay gồm những ngón bằng nhau, mà chắc chắn chúng sẽ đi gọn một đường dao, và xã hội sẽ có dạng của một bàn tay cụt đồng đều, thì những người như bà sẽ như thế nào? 

Những ngày đầu lao tù Vĩnh như người mất hồn. Đủ thứ chuyện đời luôn luôn đặt ra cho anh những vấn đề, và nỗi xúc động của trái tim buộc anh phải tìm lời giải đáp, thế nhưng chưa bao giờ anh giải đáp cho được trọn vẹn một vấn đề nào! 

Tuổi của anh chưa đủ già để có thể mỉm cười trước mọi biến cố, cho nên nỗi đau đớn ngất người vẫn ngày đêm dằn vặt anh trước sự biến thiên của lịch sử – một sự biến thiên mà lắm lúc anh thấy mình quá mỏng để chịu đựng, quá nhỏ để cưu mang. Và hiện nay, cái khó khăn nhất của Vĩnh là đang cố gắng hết sức hòa mình vào cuộc sống mới: Cuộc sống lao tù Cộng sản! Điều khó khăn hơn nữa là làm sao Vĩnh phải tìm cho được sự khát sống trở lại, một yếu tố vô cùng cần thiết để thực hiện được dự tính của anh: Anh sẽ là một phóng viên của một chiến trường mới, chiến trường hậu chiến… 

Trong giai đoạn của tuần lễ đầu, một phần bọn cai tù đang kín đáo học tập gấp rút chính sách đối xử với tù cải tạo, phải lo toan nhiều việc trong sự tổ chức và điều hành trại cải tạo của chúng, một phần anh em đa số vẫn tin việc học tập cải tạo không thể là một việc lâu dài, cho nên sự sinh hoạt chỉ mang tính cách ăn sổi ở thì, miễn sao có miếng cơm ăn, có một chỗ nằm và có dăm ba tên bạn cùng tần số để tán dóc cho qua những giờ phút tạp dịch quanh quẩn trong trại. 

Mỗi chiều trưởng khối được lệnh lên tiểu đoàn “giao ban”, một động từ Cộng sản dùng để chỉ việc lên gặp cán bộ trực nhận lệnh. Và lệnh đó chỉ quanh quẩn vài việc: 

1. Nhắc nhở các cải tạo viên yên tâm học tập, tuyệt đối tin tưởng vào chính sách cải tạo trước sau như một của Cách mạng, đừng nôn nóng ngày về và đừng bàn tán những điều không có lợi cho bản thân và gia đình. 

2. Phải tích cực cải thiện nơi ăn chốn ở vì sau đợt này sẽ còn nhiều đợt khác gồm đủ mọi thành phần xã hội được Cách mạng cho về đây học tập. Người đi trước phải có nghĩa vụ tạo điều kiện cơ sở tốt cho người đi sau. 

3. Phân phối các tổ cho những công tác tạp dịch vào ngày kế tiếp. 

Một buổi chiều trong giờ họp khối sau bữa ăn tối, sau khi thông báo lại những nhận xét của cán bộ quản giáo về những ưu khuyết điểm trong thái độ, ăn ở, lao động… khối trưởng Trại cho biết ngày mai sẽ tập họp toàn trại để nghe Trên đọc một bản thông cáo quan trọng. 

Ngay đêm hôm đó, đề tài về cái gọi là bản thông cáo quan trọng được các bình luận gia triệt để khai thác. Cũng tương tự như các nhóm khác, nhóm của Vĩnh gồm dăm người rầm rì bàn tán tới nửa khuya. 

– Về, nhất định về! Anh chàng hải quân trung úy Phạm Kim kiêm họa sỹ “nghiệp dư” khẳng định một cách hý hửng. Không có lý do gì, anh tiếp, nó lại dám giam mình lâu hơn 10 ngày. 

– Tao cũng nghĩ như thế. Ứng dè dặt đồng tình. 

– Các ông ấm ớ bỏ mẹ đi. Về là về. Nghĩ với ngợi gì nữa! 

Ngô Văn Tuyên, anh chàng trung úy bác sỹ trông phốp pháp điển trai mới ở tù chưa được tuần lễ đã nhanh chóng bỏ nghề bác sỹ theo học nghề phóng viên, suốt ngày chạy quẩn săn tin như một anh nhà báo chuyên nghiệp. Tuyên vừa kéo lại tấm bao cát lớn dùng lót chỗ nằm, vừa tiếp. Cứ lấy lẽ thường mà suy thì điều nó phải thả mình là điều hợp lý nhất. Cá nằm trốc thớt còn chạy đường nào? Đất nước đã nằm trong tay chúng nó, chả nhẽ chúng đem giam cả triệu thằng để nuôi báo cô? Các ông nên nhớ một điều, rốt cuộc chúng nó cũng phải tái thiết đất nước. Nhưng tiền tái thiết đào đâu? Đào ở Mỹ chứ ở đâu bây giờ! Giam mình lại trả thù? Xin lỗi, xia Mỹ nó cũng không cho! Mặt khác miền Nam đã được điện tử và cơ giới hóa ở hầu hết các mặt. “Mỹ cút ngụy nhào” đã để lại một núi máy móc điện tử và cơ khí. Thử hỏi một lũ cán bộ i tờ từ Bắc vào sẽ làm nên cơm cháo gì không? Rốt cuộc lại cũng chúng mình thôi. Ít nhất năm năm tới, bác sỹ Tuyên bỗng cao giọng, chủ nhân ông trên mọi khía cạnh thực tế ở miền Nam này vẫn là ta! 

– Chứ bộ nó đem giam ông lại, dí súng vào lưng ông, bắt ông lái máy cày, sửa máy điện tử, chế máy ủi đất… thì Tây kiện nó à? Ấy là chưa kể nó có thể bỏ đói ông, ông lạy nó mà xin được phục vụ! 

Một giọng nói khác tự dưng len vào cắt ngang sự lạc quan của bác sỹ Tuyên. Anh ta là Đặng Thế Tiến, một người bạn mới của Vĩnh. Tiến người loắt choắt như một con khỉ. Anh tốt nghiệp chính trị kinh doanh và là một guitarist có hạng. Tiến mang cấp bậc thiếu úy và trước khi ngồi tù Cộng sản, anh xách cặp cho ông đại tá trưởng phái đoàn quân sự hai ba bốn bên gì đó ở Vĩnh Long. 

– Tây không kiện nhưng Nga nó cười. 

Lại một giọng nói khác. Đây là giọng nói của Nguyễn Thành Đính. Anh là trung úy của cục truyền tin. Đính gốc người Bùi Chu và từng là cựu chủng sinh của Dòng Đức Mẹ Đồng Công Thủ Đức. Đính có nhiều tài vặt và được anh em sớm đặt cho tước hiệu Vua Thuốc Lào vì anh hút thuốc lào, có nghề trồng thuốc lào và làm nõ điếu cầy thật kêu. Đính cũng là một trong những người lý luận địch phải thả ta nếu như địch không muốn khiêu chiến với mấy chục triệu dân miền Nam, đó là ông bà cha mẹ vợ con em út cháu chắt của ta. 

Tiến chẳng chịu thua. Anh khều bao thuốc lá ra khỏi bụng, lấy một điếu rồi quăng cả gói xuống trước mắt mọi người. 

– Các ông có biết Marx rút được mấy kinh nghiệm trong sự thất bại của Công xã Ba Lê không? Tiến bỗng chiếu tướng vào Vĩnh và Tuyên. Vĩnh, mày có biết không? 

Vĩnh cười. 

– Tao sẽ nói với mày được dễ dàng hơn nếu mày hỏi tao làm cách nào bấm được sáu nốt mi trên mặt đàn guitar. 

Tiến ngửa mặt nhả khói cất tiếng cười thật vui. 

– Khà khà… ông Tuyên dĩ nhiên chỉ biết làm cách nào để lụi cái sơ-ranh to tướng của ông ta vào đít phụ nữ, đã chẳng những không đau mà lắm em còn sướng phát rên lên. Người thứ hai ở đây là xừ Vĩnh mà cũng không biết nữa thì tôi đành phải thưa thốt để các ông nắm cho vững vấn đề… mọt gông! 

Vài tiếng xầm xì nổi lên. Đừng phản đối khi tôi chưa phát biểu xong, Tiến phản đối. Anh tiếp. Thưa các quan đồng viện, thằng cố nội của Bác Hồ vĩ đại ta đã nói gì? Nó nói rằng Công xã Ba lê đã thất bại vì hai nguyên do chính. Một là, Cách mạng ngu bỏ mẹ, tràn vào Ba Lê mà chỉ lo chiếm giữ các xí nghiệp trong khi quên phéng đi ngân khố và các ngân hàng. Marx định nghĩa hành động này là ôm lấy một cái xác chẳng còn giọt máu nào. Hai là, Cách mạng đã đùa dai thả sỹ quan viên chức và các hàng giáo phẩm trở về Ba Lê. Hành động này là… là… 

– Buông súng nửa giờ trước khi chiến thắng! Vĩnh bỗng nổi hứng nói chen vào. 

– Đúng đúng! Tiến có vẻ khoái trá vì có người tiếp hơi cho câu chuyện của mình. Thế cho nên, Tiến tiếp. Với đỉnh cao trí tuệ loài người của Đảng ta, thưa các quan đồng viện, há Đảng ta lại tái phạm vào lỗi lầm này nữa chăng? 

Câu phát biểu đầy chất bi quan của Tiến bắt mọi người phải suy nghĩ. 

– Thôi đẹp đi mấy cha. Khuya lắm rồi. Một giọng xa lạ bỗng cất lên đầy vẻ cự nự trong đám người nằm ru giấc ngủ ngổn ngang trên nền xi măng. Mình là quân nhân, giọng của kẻ cự nự nói tiếp. Bàn chuyện chính trị làm đếch gì! 

Trước khi dợm đứng lên, Tiến lẩm bẩm chửi thề. – Mẹ kiếp thằng này cho đi theo Cao văn Vện được! Không hiểu nó định nghĩa chữ chính trị như thế nào!? 

Đám bạn bè Vĩnh cũng như bao nhiêu đám khác, đêm hôm ấy tụ tập bàn tán lung tung. Mặc cho khối trưởng nhiều lần yêu cầu giải tán ngủ, anh em vẫn ngồi lỳ. Tuy không nói ra, nhưng sau cùng ai cũng phải băn khoăn với câu nói của một anh chàng nào đó nằm trong đám người đang ru giấc ngủ. 

– Cứ cãi nhau đi rồi mai này sẽ biết rõ. Nhưng đừng quên, nợ tình tha được, nợ tiền tha được, nợ tí máu cũng tha được; chỉ sợ nợ chính trị e khó có thể tha được!

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 26 Dec 2023

Vào truyện

Bài 2 – Trại Trảng Lớn

Một trăm hai mươi “học viên” được dồn vào một “lớp học” gỗ mà trước kia người Mỹ dựng lên như một đơn vị phòng ngủ dành cho tám người. Người Việt Nam dù có nhỏ con hơn người Mỹ đi nữa, nhưng với một diện tích 15m x 5m cho một trăm hai mươi con người thì quả là tự điển Việt Nam không thể có một tĩnh từ nào mô tả cho chỉnh tình trạng này. 

– Tao lạy mày cho tao nhấc cái chân lên, tao đã tê đến bìu rồi! 

Một giọng nói khe khẽ cất lên trong đêm tối. Không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng thì thầm nói chuyện của một vài người. Giọng nói lại bắt đầu vang lên, nửa đau thương nửa hài hước. Tao lạy mày Hóa ơi, tao lạy mày cho tao nhấc cái chân lên một tí. Tiếng van nài hầu như vẫn chưa được đáp ứng. Giọng nói bỗng đổi tông, vừa lớn vừa quạu. Tiên sư nhà mày thế này mà ngủ được à? Ông tê lên đến rốn rồi. Cu dế không còn biết nó nằm ở đâu nữa này trời ơ…i… 

Tiếng trời ơi sau cùng đã lôi cả phòng thức dậy. Có tiếng cười rần rần tiếp theo là tiếng xô đẩy, âm thanh giống một đợt sóng từ xa đưa tới: Nhỏ, lớn dần và vỡ òa ra khi va vào chân núi. 

Sự lộn xộn khiến cái khối một trăm hai mươi người như nở lớn hơn ra. 

– Trời ơi bỏ cái cùi chỏ ra chỗ khác giùm đi ông cố nội! 

– Mày chân thật hay chân giả hả thằng quỷ? Sao cái đầu gối mày cứng gớm ghiếc vậy? 

– Ối mẹ ơi, nó chọc thủng mắt tôi rồi! 

– Chọc cái con củ c… Từ chiều đến giờ bộ vai tao là đùi vợ mày à? Đã tựa, đã ngủ, đã ngáy lại còn đổ nước rãi vào cổ ông nữa! 

Cái khối nở lớn ấy hình như teo lại tức khắc khi có tiếng lên đạn và tiếng quát tháo từ ngoài hắt vào. 

– Này, chúng mày nàm cái rì thế? Muốn bạo hành chống đối phỏng? Ổn định ngay không ông bắn bỏ mẹ bây giờ! 

Giọng nói của thằng bộ đội gác đêm vừa quê mùa vừa hỗn xược nhưng không đủ làm cho bọn tù bực bội. Họ yên lặng vì một ý thức bất chợt nào đó hơn là vì sợ hãi. Phải năm bảy phút sau khi tên bộ đội bỏ đi, không khí mới hoàn toàn im vắng trở lại. 

Một giọng thầm thì. 

– Mày nghĩ tụi nó dám bắn mình không? 

Một giọng khác. 

– Thằng bộ đội oắt con ấy à? 

– Không… là nói chính sách của chúng nó ấy chứ. 

– Bắn thế đếch nào được. Giọng thứ hai ra vẻ ta đây rành chuyện bàn cờ quốc tế. Hắn tiếp. Này nhé, một cái thây ma thằng Mỹ mà còn cò kè thêm một bớt hai năm này năm khác, cái thây sống này không đáng mười ngàn đô la à? Mười mấy thằng trong chính trị bộ chúng giàu thật đấy, nhưng liệu chúng có điên đến độ lâu lâu lại lôi ra một xấp đô la đốt chơi không? 

Không có tiếng trả lời. Giọng thứ hai tiếp tục, trầm và có vẻ dạy đời. Thương mại trước tất cả mọi sự, ông bạn ơi! 

– Thằng lính Mẽo và thằng lính Mít khác nhau chứ? 

Giọng một lên tiếng yếu ớt, tuồng như hắn nêu ý kiến với lòng cầu mong ý kiến mình được sai. 

– Đồng ý, nhưng mà… 

– Nhưng mà cái đếch! Một giọng thứ ba bỗng nổi lên với vẻ bực dọc. Ông cứ ngồi đó mà đợi thằng Mỹ nó chuộc! 

– Chứ sao! Giọng thứ hai chợt sôi nổi. Cờ hai bên đều kẹt thì bắt tay xóa đi làm lại, bộ xóa luôn à? 

– Ông như thế nào mà nhận định kiểu đó? 

– Đại úy, ba mươi năm quân vụ được không? 

– Thảo nào… Thôi tôi thua! 

Giọng thứ ba nói một cách cay đắng rồi im. Nhưng dường như tuổi trẻ không cho hắn im lâu. Hắn cựa quậy trong chỗ mình ngồi tựa như để buồng phổi được hít không khí nhiều hơn một chút, rồi chững chạc, hắn cất tiếng nói. Thưa ông đại úy, em chỉ là thiếu úy, em xin góp ý với ông đại úy thế này: Ông và em, ĐM chỉ là những con chốt. Những con chốt đã qua sông cả rồi. Những con chốt không còn xe, còn pháo, còn mã nào yểm trợ nữa cả! Và bọn đánh cờ chắc chắn giờ đây chúng đã mua bộ cờ mới, đánh ván cờ mới ở một chỗ mới mất rồi ông đại úy ơi! Ngừng một chút như để lấy hơi, hắn thở dài. Chỉ còn hai con đường duy nhất nếu muốn sống thoi thóp cho quãng ngày tàn là: Vượt ngục hoặc im mẹ nó cái mồm cho xong! 

– Nói khẽ chứ, họ nghe được thì khổ cả đám bây giờ! 

Một giọng thứ tư bỗng nổi lên. Giọng nói có vẻ thân mật ôn hòa của một người mà cái tuổi năm mươi của ông ta đã có thể cho phép ông ta thủ thế trong bất cứ vấn đề gì. Ông ta nói tiếp. Thế này nhé, tôi đề nghị các anh nên nghỉ cho khỏe. Mai mốt Cách mạng còn dạy mình học tập lao động cho phù hợp với đời sống mới. Mệt lắm chứ không chơi đâu. Rồi sẽ có lúc mình thèm ngủ mà sự bận rộn học hành sẽ chẳng còn được bao nhiêu thì giờ mà ngủ. Thức khuya nói nhảm chẳng lợi lộc gì. Ngừng một chút ông ta lại tiếp. Dù sao cũng mới có hai ngày. 

Giết nhau chẳng cái lưu cầu, 
Giết nhau bằng cái ưu sầu, độc chưa!
 
NGT. 

Chỉ có rừng sâu núi thẳm, 
Chỉ có trời cao đất dày, 
Nhật ký tôi viết không biết rõ tháng ngày…
 
HTS.

Trại TRẢNG LỚN
6/75 – 7/76


MỘT Căn cứ Trảng Lớn nằm về phía Tây Nam thành phố Tây Ninh. Khởi thủy nó là một căn cứ yểm trợ hỏa lực, có phi trường riêng và đầy đủ những đặc tính của một doanh trại quân đội Mỹ. Khi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam do một điều khoản được ấn định trong cái hiệp định hài hước Ba Lê, căn cứ Trảng Lớn đổi chủ và do BTL/SĐ 25 trấn đóng và xử dụng. 

Với những đức tính chuyên cần góp nhặt về nhà cho mẹ đĩ của một số tướng tá QLVNCH, căn cứ Trảng Lớn dần dần bị lột da là tôn, gỗ…; móc ruột là bàn, ghế, tủ, máy móc… Do vậy, chỉ một thời gian ngắn sau đó, một trong những căn cứ Mỹ lớn nhất miền Nam chỉ còn trơ bộ xương sườn là kèo và cột. 

Tuy nhiên, khi căn cứ đổi chủ lần thứ ba, dù chỉ còn trơ kèo và cột, nhưng với “đỉnh cao trí tuệ của loài người”, Đảng ta vẫn thừa điều kiện để biến căn cứ này thành một nhà tù vững chắc mà mây cũng ngập ngừng khi muốn bay vào và chim cũng cùng đường không thể bay ra! 

Nửa đêm ngày 28 tháng 6 năm 1975, nhiều đoàn Molotova từ các địa điểm tập trung ở Sài Gòn đồng loạt khởi hành và đưa các sỹ quan cấp úy đã liều nhắm mắt đưa chân ra nộp mình cho Cách mạng vào những ngày 24, 25, 26 về căn cứ Trảng Lớn. 

Sáng ngày 29, một sáng chủ nhật không bao giờ còn nhà thờ nhà thánh cho những con chiên ngoan đạo; không bao giờ còn những con đường đầy lá me xanh cho những người thi sỹ lính; không bao giờ còn được dịp chửi thề: ĐM nó, tuần nào cũng trăm phần trăm!… Một sáng chủ nhật buồn như thế, thê lương như thế, các đoàn xe như những con sâu róm dài bất tận cùng quy về và đổ các tên tội phạm chiến tranh (!) của chế độ Sài Gòn xuống vòng đầu địa ngục của họ. 

Tha hồ xầm xì, tha hồ quan sát, tha hồ lo âu, tha hồ dự đoán; gì gì chăng nữa thì trước mặt mọi người vẫn là căn cứ Trảng Lớn. Dây thép gai mới được thả ra vây quanh từng khu riêng biệt. Mỗi khu có chừng hai mươi dãy nhà 15m x 5m. Trên những dãy nhà ấy, rõ ràng tôn và gỗ mới được đóng thêm lên những kèo cột cũ để bọn tù nhân của tân chế độ có nơi kê đầu. 

Với lối điều động có súng dí sau lưng, Việt Cộng đã áp giải một cách thứ tự lớp lang để tù vào ngồi đúng vị trí mới của mình mà không ai bị xây sát chút nào. 

Hai ngày đầu bó giò dằn mặt đã qua, ngày thứ ba bọn tù được thả ra khỏi phòng cho giãn gân cốt và để thực sự bắt đầu đi vào nếp sống mới với muôn nghìn thống hận về sau. 

Sáu giờ sáng tên quản giáo của mỗi phòng xuống mở cửa. Hắn đứng giữa cửa dõng dạc phán. 

– Hôm nay cho ra làm công tác vệ sinh cá nhân. Bảy giờ tập họp trong nhà bầu trưởng khối. 

Lời lẽ của Cách mạng chỉ hà tiện thế thôi. Và tên quản giáo lạnh lùng bỏ đi. 

Lũ tù từ bên trong ùa ra sân. Kẻ nhốn nháo đi tìm bạn bè. Kẻ chạy ra những vũng nước mưa đọng dọc theo những dãy hàng rào kẽm gai rậm rạp cỏ lau, dùng lon guigoz gạn từng miếng nước trong dùng đánh răng súc miệng. 

– ĐM mày, chỗ người ta lấy nước sao lại đứng đái? 

– Đồ cà chớn! 

Những tiếng la hét thất thanh cùng nổi lên một lượt, khi có một anh chàng đứng phanh quần chơi luôn vào vũng nước mưa một bãi. Mặc những tiếng la hét, anh ta chỉ có một chân lý duy nhất, nói theo kiểu Bác và Đảng, là đái cho thỏa thích sự nín đái hai ngày qua. 

– Đồ lì lợm! 

– Mất nước cũng vì mấy thằng có máu lì như vậy. 

Trước con mắt ngạc nhiên của đám đông về cái đức tính lì của mình, anh bạn tù vừa gài cúc quần vừa chậm rãi quay mình lại. Anh ta nhếch mép cười như một tên hề. 

– Thưa các quan đồng viện, anh nói. Đến ngày hôm nay còn chỗ nào trên đất nước này mà không đáng đái lên!? 

Chỉ nói khơi khơi như thế rồi anh bỏ đi, kệ những lời bình phẩm văng vẳng theo sau lưng. 

Vừa nghe những âm thanh hỗn độn phát ra từ đám đông, Vĩnh vừa thong thả đứng đánh răng dưới một gốc cây. Anh thoáng thấy một người quen mặt đi qua nhưng anh không buồn gọi. 

Trời tháng Sáu Trảng Lớn đã bắt đầu có những cơn mưa về đêm. Buổi sáng giá lạnh nhưng buổi trưa sẽ lửa đốt. Nhớ lại hai ngày qua nằm bó giò trong căn phòng bé tí với một trăm mười chín người khác mà Vĩnh rùng mình. Nếu tình trạng này kéo dài, nội bệnh truyền nhiễm cũng đủ rụng như sung, ấy là chưa nói vô phúc gặp những dịch như sốt sưng màng óc, kiết lỵ… Vĩnh nhớ có một năm nào đó quân trường Quang Trung bị dịch sốt sưng màng óc. Với một hệ thống y viện đầy đủ các phương tiện thuốc men như trước đây mà số tân binh quân dịch bị tử vong còn lên đến độ báo động đỏ. Trong tình trạng thế này mà bị sốt sưng màng óc hoành hành có mà thánh chữa. 

Vĩnh đánh răng xong, nhét bàn chải vào túi. Anh kéo tấm khăn lông trên cổ xuống, nhúng một góc khăn xuống vũng nước và bắt đầu lau đầu cổ chân tay. Thốt nhiên Vĩnh thấy có người đập nhẹ vào lưng. 

– Tao tìm mày suốt lúc đến giờ! 

Người vừa nói với Vĩnh là Nguyễn Tất Ứng, trưởng ban báo chí BTL/Hải Quân. Ứng còn là bố đỡ đầu thằng con thứ hai của Vĩnh. Hai người gặp lại nhau nơi địa điểm tập trung trường Lê Quang Định trên đường Lê Văn Duyệt Gia Định. Vĩnh hỏi lại bạn. 

– Mày nhốt phòng nào? 

– Tao cũng chưa định được vị trí phòng tao nằm đâu trong trại này nữa. Tao chỉ biết đàng sau phòng tao là một núi vỏ đạn 105 ly. Mày cứ đi vòng xuống phía dưới kia, gặp đống vỏ đạn là thấy phòng tao. 

– Không hiểu chúng nó còn tiếp tục giam cứng tụi mình trong phòng nữa không? 

– Tao nghe nói được thoải mái rồi. 

– Thoải mái là sao? 

– Là ra vô tự do nhưng trong khoảng khu hàng rào này thôi. Tao muốn nói là cửa phòng từ hôm nay được mở rộng 24/24… 

– Mày có được nghe thêm gì không? 

Ứng có vẻ đắn đo. 

– Cũng toàn tin đồn thôi! 

– Đồn sao? 

– Thì nghe đồn sớm nhất mười ngày về, muộn nhất là ba tháng. 

– Mày tin không? 

– Thấy hơi vô lý nhưng cũng mong như vậy. 

Một mối lo âu chợt thoáng qua nét mặt Ứng. Ứng hỏi lại. Vậy chớ mày nghĩ sao? 

– Tao sợ mọt gông quá Ứng à! Vĩnh vừa nói vừa cố nở một nụ cười. Anh xoay sang vấn đề khác. Có gì ăn không? 

– Tao có đem theo ít nếp. Khi nãy vừa ra khỏi phòng tao nấu ngay một lon guigoz. Đi, đi với tao xuống đó. 

Khoác cái khăn lông lên vai, Vĩnh lẽo đẽo theo bạn len qua các đám đông cũng đang tụm năm tụm ba bàn tán để tiến về phòng Ứng. Quang cảnh của một hỏa ngục đang thành hình mang đầy vẻ hỗn độn và bê bết của nó. Trên những lối đi lầy lội vì cơn mưa đêm hôm trước, dưới những gốc cây, dưới những hiên nhà, tù từng đám tụ tập bên những cái bếp kê vội bằng dăm ba viên gạch, đang cong đuôi thổi lửa nấu nhanh một miếng nước sôi để pha cà phê hoặc đổ mì gói. 

Đi loanh quanh một lúc hai người về đến phòng Ứng. Căn phòng bừa bộn và dơ bẩn như tất cả các phòng khác. Nếu không có mùi cà phê thơm ngát trong không khí chung quanh, người ta không thể tránh khỏi ý nghĩ đây là hang ổ của bọn ăn mày thường tìm thấy trong những tác phẩm của Charles Dickens. 

Vĩnh theo Ứng vào phòng, tháo dép cầm tay và bò qua đống chăn chiếu của anh em để về chỗ Ứng. Vĩnh ngồi tựa vào vách đảo mắt nhìn quanh. Anh chợt nhận ra tay vô địch đẩy cây và nhu đạo của VNCH Vương Đắc Vọng. Anh chàng sỹ quan pháo binh kiêm thể thao gia nặng 80Kg cũng vừa nhận ra Vĩnh. 

– Chào ông bạn. Hắn lên tiếng trước. Ông bạn đã nói sai rồi. 

– Có thể, nhà vô địch ạ. 

– Mong rằng câu chuyện sẽ không xảy ra đúng như ông bạn nói. 

– Nhưng… 

Vĩnh tính nói tiếp nhưng nghĩ sao anh lại thôi. Nhà vô địch coi bộ cũng không muốn tiếp tục mẩu đối thoại nên chỉ mỉm cười và quay trở về với ly cà phê của hắn. Vĩnh cũng cầm lấy miếng cơm nếp của Ứng lên miệng. 

– Quen hắn hả? Lúc trên xe tao khổ vì hắn. Người đâu mà lại vô ưu đến thế! Xe vừa lăn bánh, ai cũng lo ngay ngáy không biết nó sẽ đưa mình tới đâu, thì hắn đã ngáy như pháo gầm. 

– Thì hắn dân pháo binh mà lại. 

– Quen hồi nào? 

– Hôm ở Lê Quang Định. Hắn cùng trong tổ ăn 10 người với tao. Tao đùa nắm bắp đùi hắn, nói: Chắc chắn tụi nó sẽ đem mình ra biển. Chúng ta lại sẽ được đi tàu há mồm. Nhưng không phải Việt cộng cho chúng ta đi di cư, mà đem chúng ta đi nuôi cá mập. Cái đùi như ông thì phải biết… 

– Mày hay đùa giỡn thái quá. Ứng cự nự. Thời buổi này cũng nên giữ mồm giữ mép. Con ếch nó chết vì cái mồm. 

– Đồng ý. Còn mục gì nữa không để tao về? 

– Ngồi tí nữa. Thằng nằm cạnh tao sắp đem cà phê vào. Nhấp chút rồi đi. 

Chẳng hiểu sao bỗng dưng Vĩnh muốn đứng lên ngay. Anh từ chối. 

– Thôi, no bụng là tốt rồi. Mình thua tụi nó chỉ vì mình có quá nhiều nhu cầu! 
Vĩnh rời chỗ ngủ của bạn và bước ra khỏi phòng. Anh lần đường tìm về phòng mình. Về tới chỗ nằm, anh xếp lại chăn chiếu và lần đầu tiên trong hai ngày qua, anh quan sát kỹ một trong những góc cạnh của thiên đường Cộng sản mà từ đây, dù muốn dù không, anh cùng các chiến hữu phải chấp nhận; chấp nhận một cách miễn cưỡng nhưng không biết đến bao giờ. Tuy đã lâm vào tình trạng thế phải thế, Vĩnh vẫn nhủ lòng sẽ cố sống trong một tinh thần mai phục; đúng hơn, tinh thần của một phóng viên chiến trường. Anh sẽ cố gắng chụp cho hết những hình ảnh hậu chiến tuyệt vời này. Mai đây nếu chuyện biển máu không xảy ra, biết đâu, một ngày nào… 

Lúc này mọi người đã trở về phòng. Tất cả đang lo sắp xếp lại mớ hành trang của mình. Họ xầm xì bàn tán. Họ tranh luận về một tương lai mà hầu như chưa ai biết nó sẽ như thế nào. Họ than thở về những lầm lỡ ngày qua… 

– Thật là khôi hài cho cái sợ ấm ớ của mình. Một giọng nói có vẻ lạc quan lên tiếng. Khi đi, tao ngại đến độ không dám đem theo cả áo len. Tất cả cái gì có màu nhà binh tao đều bỏ lại nhà. Vợ tao năm lần bảy lượt lận vào sắc tao một hộp bơ, mấy hộp sữa. Tao nhất định bỏ ra. Anh đem theo ăn uống cho khỏe. Tao nổi cáu. Bộ em tưởng đi Picnic à? Đem mấy thứ này vào mà trêu ngươi chúng hả? Cuối cùng bố tao biết chuyện, nạt ùm lên và kết quả bây giờ tao… cái gì cũng ăn ké tụi mày. 

Những câu chuyện như thế chấm dứt khi một tên quản giáo từ ngoài bước vào. Hắn trừng mắt lấy uy và tự động… hô lấy một mình. 

– Nghiêm! 

Như một phản ứng tự nhiên, tù đứng phắt cả dậy. 

Tên quản giáo đảo mắt nhìn chung quanh và bắt đầu “lên lớp”. Tôi không ngờ các anh nại vô nễ như thế. Quân trường ngụy có dạy các anh cách chào kính cấp trên không? Nần sau, thấy quản ráo vào, trưởng phòng phải hô nên thật nớn nghiêm! Nghe rõ không? 

– Rõ! 

Một vài tiếng lác đác trả lời. Tên quản giáo chưa hết bực. Hắn lên lớp tiếp. 

– Dù gì các anh cũng từng nà sỹ quan. Sỹ quan mà ba nô ba niếc nuộm thuộm như thế kia à? 

– Ba nô ba niếc nuộm thuộm vì nâu nắm thiếu cái n… ồ…n! 

Một câu trả lời vu vơ, khe khẽ từ một góc nào đó nổi lên nhưng cũng đủ làm tên quản giáo điên máu. 

– Anh nào ăn lói với Cách mạng mà mất rậy thiếu ráo rục như thế? 

Hắn vừa hỏi vừa trừng đôi mắt đỏ gay vào một góc phòng. Không ai trả lời. Một lần nữa hắn hỏi như hét. Thằng lào? Thằng lào anh hùng nhận coi? 

Chắc chắn là chẳng có ai lại anh hùng trong trường hợp này, và sự thiếu anh hùng tính trong đám tù mở đầu cho một cuộc trù ếm chửi rủa dài dài cho cả phòng từ đó về sau. Tên quản giáo như để bõ tức và củng cố uy tín của mình trong cương vị làm thầy ngay từ những giây phút đầu, hắn tiếp tục mạt sát và giảng đạo. Lói các anh rõ. Kể từ đây, các anh phải ý thức cho đúng vị trí mới của mình. Học tập cải tạo phải nghiêm túc, ăn lói phải khiêm tốn, lễ độ. Nịch sử đã sang trang. Kẻ chống đối như kẻ vừa nói câu khi nãy chắc chắn không sớm thì muộn sẽ bị bánh xe nịch sử nghiền nát. Các anh phải nhớ ngày hôm nay các anh chỉ còn có quyền sống để học tập cải tạo, còn tất cả các quyền khác đã hoàn toàn chấm dứt, kể cả quyền… nói tục. Vả nại, trong chế độ đặt trên cơ sở đạo đức cách mạng của ta không chấp nhận nói tục. Các anh chỉ có hai con đường, một, học tập cải tạo tiến bộ để trở về nàm người công rân nương thiện của xã hội xã hội chủ nghĩa; hai, các anh sẽ tự xử nấy mình nếu thấy rằng xã hội này không thích hợp với các anh. Xã hội này sẽ không có con đường… con c… Có nghĩa nà con đường… nưng chừng, ở giữa. 

Câu ví von đầy đạo đức Cách mạng của tên quản giáo làm đám tù buột miệng cười hô hố. 

– Cười cái rì? 

Cái cười hô hố của bọn tù chạm nọc tên quản giáo một cách nặng nề. Mắt trợn trắng miệng sùi bọt mép, cơn giận của hắn vỡ tung ra như một căn bệnh ung thư tưởng không còn thuốc chữa. Hắn xốc tới một người đứng gần nhất chộp lấy cổ áo. ĐM. cười cái gì? Mày… 

Tuy nhiên chưa nói hết câu hắn đã phải buông cổ áo người đối diện ra. Một tên quản giáo khác bất chợt bước vào. 

– Chuyện gì thế đồng chí Cư? 

– Thưa đồng chí, tôi… 

Cái nóng của tên quản giáo có tên Cư chợt nguội tức khắc như một cục than hồng bị ném vào một cái thùng đựng nước tiểu. 

– Cho anh em bầu bán gì chưa? 

– Dạ… đang tiến hành. 

– Các khối khác người ta bắt đầu cả rồi! 

Tên quản giáo mới đến mặc dù cũng không mang quân hàm, nhưng căn cứ theo sự khúm núm thủ lễ của tên quản giáo Cư, mọi người đều đoán rằng y phải có một chức vụ gì cao trong tiểu đoàn. 

Sau khi lườm người đồng chí của mình một cái thật kín đáo, y quay sang đám tù. Bằng một giọng mật ngọt chết ruồi, y nhập đề ngay. Thế này nhé, thẳng thắn với các đồng chí, à quên, thẳng thắn với các anh, đồng chí Cư làm như ban nãy là có sai đường lối. Nhân danh cán bộ đảng, tôi… dàn hòa. 

Y tằng hắng, vén cao tay áo rồi tiến lên một bước và tiếp tục. Khối này hơi đặc biệt, phải không? Vậy thì tôi sẽ đích thân làm việc với các đồng chí, à quên, với các anh, nhé! À mà hôm nay các anh đã thấy thoải mái chưa nào? 

Câu hỏi vu vơ lấy lòng của tên cán bộ Đảng không được ai trả lời. Và hình như chính y cũng chẳng cần ai trả lời. Y ào ào nói tiếp. Theo chương trình của ban chỉ huy trại, kể từ ngày hôm nay các anh sẽ được Trên chiếu cố hơn để bắt đầu bước vào học tập. Cái kiến con ong còn biết tổ chức, thượng tầng kiến trúc, hạ tầng cơ sở tạo điều kiện tốt cho sinh hoạt tập thể. Chả nhẽ ta lại không? Thế cho nên Cách mạng yêu cầu các anh phải có ý thức cao về tổ chức hệ thống điều hành và có tinh thần cao chấp hành theo mệnh lệnh của hệ thống tổ chức ấy, mà tới đây, tôi và đồng chí Cư sẽ giúp đỡ các anh phương pháp bầu bán sao cho tốt, đạt được yêu cầu của Cách mạng. Các anh có nghe rõ không? Mấy anh ở góc dưới kia kìa? 

Vài tiếng lác đác trả lời. Như chưa vừa ý, tên cán bộ Đảng hỏi lại. Các anh có nghe tôi hỏi không? Các anh ngồi dưới góc nhà kia có nghe tôi rõ không? 

– Rõ! 

– Thế thì tốt! 

Tên cán bộ Đảng nói đoạn xoay qua nói nhỏ với tên quản giáo Cư một điều gì đó. Sau khi tên Cư bỏ đi, y quay trở lại với đám tù. Đề nghị với các anh, y tiếp. Chúng ta cùng ngồi cả xuống làm việc thoải mái hơn. 

Mọi người chỉ chờ có thế. Y cũng ngừng nói và bước ra đứng gần phía cửa, thỉnh thoảng ngó lung ra ngoài như chờ đợi ai. Bây giờ Vĩnh mới chú tâm quan sát kỹ tên cán bộ Đảng. Đầu tiên là khuôn mặt của y, một khuôn mặt xương xẩu, lạnh tanh và tái như đã mất ba phần tư máu trong thân thể. Đôi mắt một to một nhỏ nằm láo liên dưới cặp lông mày thưa thớt như gái vô mao. Chiếc mũi khoằm của y lúc nào cũng như đề phòng sự quật khởi của hàm răng vẩu đầy bựa cơm nằm trơ thổ địa bên dưới. Tên quản giáo Cư đã quay trở lại. Hắn chìa cho tên cán bộ Đảng một tờ giấy. Tên cán bộ Đảng cầm lấy và xoay mặt về phía tù. Y cất tiếng. 

– Thôi bây giờ thì ta triển khai công tác bầu bán nhá, mình quân sự cả, cơ cấu tổ chức chỉ cần nói sơ qua các anh cũng nắm vững rồi. Bây giờ theo đúng thể thức dân chủ tôi hướng dẫn các anh bầu ra một trưởng khối, hai phó khối một đặc trách hậu cần và một đặc trách điều hành các công tác lao động hàng ngày. Khối ta từ nay sẽ gọi là khối 10. Y chợt ngó vào tờ giấy rồi tiếp. Khối ta có 120 người, phải không? Vậy thì ta sẽ chia làm 12 tổ, mỗi tổ 10 người gồm một tổ trưởng và một tổ phó. Nói tới đây, y lại ngừng lại, đôi mắt nhấp nháy nhìn vào lũ tù. Thế nào, các anh có ý kiến gì không? 

-…? 

Không nghe ai đáp ứng, tên cán bộ Đảng lại tiếp. 

– Nhất trí cả chứ? Thế thì tốt thôi! Nói đoạn y lại ngó vào tờ giấy. Thế thì là thế này, nhé. Để tranh thủ thời gian cho các anh nghỉ ngơi, chúng tôi đề nghị một số các anh học viên cải tạo trong anh em ra tranh cử, nhé. Các anh có nhất trí không nào? 

Không ai trả lời. Nhất trí cả phải không? Thế thì tốt thôi! Bây giờ tôi đọc tên ai người ấy đứng lên nhá. Nói xong, theo đúng thể thức dân chủ kiểu Cộng sản, y nâng tờ giấy lên tận mắt và bắt đầu ê a đọc một lô tên tuổi. Những nhân vật được chọn từ trước lục đục đứng lên. Có kẻ hăng hái, có người hơi ngỡ ngàng không hiểu tại sao y lại gọi tên mình. 

Kết quả cuộc bầu cử được thành công mỹ mãn, mà nói theo kiểu Việt cộng thì… đây là một thắng lợi lớn trong bước đầu của ta! Trương Thành Trai, trung úy phi công F5, khối trưởng. Nguyễn Ngọc Đỉnh, trung úy y sỹ, khối phó hậu cần. Quách Tứ, trung úy phi công trực thăng, khối phó điều hành kiêm tổ trưởng tổ A.3. 

Vân vân và vân vân… 

Sau cùng, cũng theo một phương thức cực kỳ dân chủ, một danh sách phân người cho các tổ được đọc lên. Và Vĩnh thuộc tổ A.3. của Quách Tứ, sỹ quan không quân và cũng là cháu gọi tác giả của câu thơ “sóng mài nghiên biển ngòi non chấm, gió trải tờ mây chữ nhạn đề” bằng chú.



Đại Học Máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 26 Dec 2023

Thay lời tựa

Tháng 6 năm 1975 – một tháng sau ngày bộ đội cộng sản tràn ngập miền Nam tự do – những quân nhân công chức của Việt Nam Cộng Hòa nghe Đài Phát thanh lần lượt loan báo các lệnh gọi trình diện “học tập cải tạo”. Đó là các thông cáo ngày 10-6, ngày 11-6, và ngày 20-6, ký tên Ủy Ban Quân Quản Thành phố Saigon – Gia Định. Ngoài sự chỉ định rõ ràng những địa điểm và ngày giờ trình diện, còn có lời yêu cầu những người đi học tập cải tạo phải “đem theo đầy đủ giấy, bút, quần áo, mùng mền, vật dụng cá nhân, đồ ăn hoặc tiền bạc để dùng trong mười ngày, kể từ ngày tập trung trình diện” (thông cáo ngày 20-6). Riêng đối với các sĩ quan cao cấp trong quân đội và cảnh sát, các Dân biểu và Thượng nghị sĩ, các lãnh tụ đảng phái “phản động” tại miền Nam, thì được lệnh “đem theo đầy đủ giấy, bút, quần áo, mùng mền, vật dụng cá nhân, đồ ăn hoặc tiền bạc để dùng trong một tháng kể từ ngày học tập đầu tiên” (thông cáo ngày 11-6). 
Bản tường trình tháng 4 năm 1983 của Ginetta Sagan và Stephen Denney (Aurora Foundation), căn cứ trên những kết quả điều tra và phỏng vấn, đã cho biết: “Rất ít, nếu có, người đi học tập cải tạo được thả về sau thời hạn mười ngày hay một tháng… Trong số hơn một triệu người đã đi vào các trại học tập cải tạo (trên 150 trại rải rác khắp nước Việt Nam) thì có khoảng 500.000 người được trả tự do trong vòng ba tháng; 200.000 người đã ở trong trại từ hai năm đến bốn năm; 240.000 người đã phải chịu đựng ít nhất năm năm trong cảnh tù đày; và cho đến nay (4-1983) vẫn còn ít nhất là 60.000 người đang bị giam giữ…”. 
Chúng ta thông cảm cho sự ngập ngừng, dè dặt của Sagan và Denney khi đưa ra những con số thống kê về tù cải tạo. Những con số ấy chỉ gợi lên được một ý niệm, chứ không thể có được giá trị dữ kiện. Làm sao đòi hỏi số thống kê chính xác về những nạn nhân của một chế độ mà sự dối trá vốn được coi là nguyên tắc chỉ đạo căn bản? 
Phần tường trình về “học tập cải tạo” chiếm 26 trang trong bản tường trình của Aurora Foundation, nhằm minh chứng một trong những hiện tượng vi phạm nhân quyền trầm trọng đang xảy ra tại Việt Nam, trong khoảng thời gian từ 30-4-1975 đến 30-4-1983. Thật ra, trước đó, miền Bắc suốt hai mươi mốt năm sống dưới chế độ Cộng Sản đã không được biết đến nhân quyền là gì. Nếu nói về văn kiện chính thức, thì chế độ “học tập cải tạo” đã được ban hành do Nghị quyết số 49 (ngày 20-6-1961) và Thông cáo số 121 (ngày 8-9-1961). Sự ban hành ấy có nghĩa là: mọi thành phần bị coi như đối nghịch, phản động, đã từng (hoặc đang) ở trong các nhà tù thì nay đều bị Đảng và Nhà nước “gom” lại trong một loại nhà tù mới, tổ chức quy mô hơn, theo đúng khuôn mẫu của các nước Cộng Sản đàn anh. Loại nhà tù này đặc sắc hơn những nhà tù bình thường khác ở chỗ nó có thể thỏa mãn cùng một lúc nhiều mục tiêu. Thí dụ mục tiêu an ninh (giam giữ vô hạn định những thành phần nguy hiểm mà khỏi phải mất công thực hiện các thủ tục pháp lý, đồng thời luôn luôn giữ được sự chủ động kiểm soát khối lượng tù nhân tùy theo tình hình an ninh nội chính); mục tiêu chính trị (có điều kiện thuận lợi để thực hiện chương trình tẩy não và nhồi sọ tư tưởng Cộng Sản, mặt khác tạo không khí thường xuyên khủng bố tinh thần nhân dân bằng hình thức đe dọa gián tiếp, nhờ đó dễ dàng tiến hành các kế hoạch chính trị); mục tiêu kinh tế (xử dụng không công một khối nhân lực đáng kể trong những công tác kiến thiết, sản xuất, và phục vụ bộ máy lãnh đạo; đồng thời tránh được trách nhiệm phối trí khối nhân lực này vào một guồng máy kinh tế vốn đang lâm vào cảnh khiếm dụng) v.v… 
Chế độ “học tập cải tạo” được mở rộng ngay sau khi miền Nam bị cưỡng chiếm, dĩ nhiên vẫn với sự áp dụng những phương pháp quản lý cũ, và vẫn nhắm vào những mục tiêu cũ, nhưng đặc biệt có phần khắc nghiệt và tàn nhẫn hơn trong cung cách quản lý. Nguyên nhân có thể là vì lòng căm thù (pha lẫn mặc cảm) đối với thành phần tù nhân mới. Nguyên nhân cũng có thể là vì sự suy đồi trầm trọng trong tình hình chính trị và kinh tế sau khi hoàn thành cuộc cưỡng chiếm đã khiến cho điều kiện ăn ở của tù nhân trong các trại học tập trở thành tồi tệ vượt ngoài sức tưởng tượng, thí dụ khẩu phần thường lệ của tù nhân cùng với những thực phẩm do thân nhân tiếp tế đã bị cắt xén hoặc tước đoạt nhằm cung ứng bù đắp cho chính những cán bộ quản giáo. Tính chất phi nhân của chế độ “học tập cải tạo”, thể hiện qua những sự thật khủng khiếp, chỉ từ sau ngày miền Nam bị nhuộm đỏ mới bắt đầu được phanh phui trước dư luận thế giới. Và được phanh phui bởi nguồn tài liệu đắt giá: tiếng nói của những người đã sống sót và đã vượt thoát, sau khi trở về từ các “trại học tập”. 
ĐẠI HỌC MÁU là một trong những tiếng nói đó. Không phải là tiếng nói đầu tiên, và chắc chắn cũng không phải là tiếng nói sau cùng. 822 trang sách, chia thành 70 chương, chỉ là lời tường trình của một chứng nhân về những điều mắt thấy tai nghe trong 4 “trại học tập”: Trảng Lớn, An Dưỡng, Suối Máu và Hàm Tân. Đó là những nơi mà Hà Thúc Sinh, một sĩ quan thuộc binh chủng Hải quân Việt Nam Cộng Hòa, đã sống từ ngày 26-6-1975 đến ngày 9-2-1980, nghĩa là trong 4 năm 7 tháng 14 ngày. 
Tháng 11-1980, Hà Thúc Sinh bắt đầu viết ĐẠI HỌC MÁU tại đảo Pulau Bidong, mảnh đất tự do đầu tiên mà anh đặt chân tới sau khi vượt thoát khỏi Việt Nam. Bản thảo được hoàn tất vào tháng 12-1984 tại San Diego (California), mảnh đất tự do thứ hai của anh. Viết ĐẠI HỌC MÁU, Hà Thúc Sinh chẳng qua chỉ làm tiếp công việc đã từng được làm bởi nhiều người khác (và hẳn còn đang được tiếp tục làm bởi nhiều người khác nữa). Đó là nói lên tiếng nói của sự thật, cái sự thật bi thảm và kinh tởm về chế độ “học tập cải tạo” của Cộng Sản, cái sự thật mà cho đến giờ phút này vẫn còn hoặc chưa được biết tới đầy đủ, hoặc bị cố tình tảng lờ, cố tình phủ nhận, bởi những con người may mắn của một thế giới tự do nhất định không chịu tỉnh ngủ. 
Nghĩ cho cùng, tiếng nói của sự thật vốn không phải là thứ tiếng nói êm tai, dễ nghe. Và người ta có lẽ thích nhìn văn chương như cánh cửa mở ra một thế giới bình an, hạnh phúc, hơn là một thế giới đày đọa, khốn cùng. Tiếc thay, trên mặt địa cầu hiện nay có những bức màn sắt được dựng lên để chận bít tất cả mọi cửa ngõ dẫn đến bình an và hạnh phúc. Ngày nào những bức màn sắt đó chưa sụp đổ, ngày đó văn chương còn phải tiếp tục đóng vai trò của những viên đạn xuyên phá, của những hồi chuông cảnh tỉnh và báo động. 
Trong một bản “nhạc tù” viết tại trại Hàm Tân năm 1980, Hà Thúc Sinh đã tự nhủ rằng, nếu còn sống mà trở về, anh sẽ chỉ xin được làm “một đời thằng mõ không công”. Anh đã sống sót, đã trở về. Và anh đang làm đúng cái công việc mà khi ở trong tù anh ước nguyện. Làm thay cho những người bạn đã không được may mắn sống sót để trở về cùng anh. Làm thay cho những người bạn mà anh chỉ biết cầu nguyện rằng đến giờ này vẫn còn sống sót để sẽ có ngày trở về. Đồng thời, cũng làm thay luôn cho những người tuy đã may mắn sống sốt trở về, nhưng khi may mắn thêm lần nữa là thoát thân được đến vùng tự do thì lại đổi tính đổi nết, trở thành nhân từ và đãng trí. 

Tám trăm trang ĐẠI HỌC MÁU được kết thúc bằng một hoạt cảnh xảy ra bên một con suối trong trại Hàm Tân, khi tác giả cùng mấy anh em bạn tù vừa được “lệnh tạm tha”, hí hửng đi tắm rửa, bị một tên an ninh vòng đai trông thấy, quát hỏi: 
” – Mấy thằng tù kia, đội nào nhà nào mà giờ này còn tắm ở đây? 
” – Báo cáo cán bộ, tụi tôi được thả rồi, được tự do rồi. 
“Tên công an thứ hai nghe vậy vội chen vào: 
” – Này, ăn nói với cán bộ mà vô phép thế đấy phỏng? Mày tưởng thế là mày tự do đấy phỏng?” 
Hà Thúc Sinh kết thúc bản tường trình ở đấy: câu hỏi chót đã không được trả lời. Nhưng đã được ghi lại nguyên văn để gửi đến chúng ta. 
Thỉnh thoảng người Cộng Sản lại buột miệng hỏi một câu, mà ít ai chịu để ý nghe. Nếu để ý nghe, thế giới tự do hẳn đã đỡ tốn rất nhiều thời giờ, bút giấy và xương máu 

NXB Nhân Văn 3-1985

QUYỂN SÁCH NÀY…

Quyển sách này không thể là một tác phẩm tiểu thuyết văn chương, cũng không thể nằm trong hình thức một hồi ký chính trị hoặc một bút ký lao tù. Quyển sách này, thực tế, chỉ có thể được coi như một đống quặng mỏ, được khai quật và còn giữ nguyên hình thái chân thực của nó. Hoặc có thể nói một cách khác, bảy mươi chương sách này có thể xem như bảy mươi tấm ảnh, được chụp liên tục và được rửa ra bởi một phó nháy may mắn và có tính tiếc của, nháy được bảy mươi hoàn cảnh buồn nhưng có ý nghĩa trong đời tù cải tạo dưới chế độ cộng sản. Hoặc có thể nói một cách khác hơn nữa, quyển sách này là bản phúc trình của một người lính VNCH bị bỏ rơi, bị ở tù cộng sản, rồi thoát được ra ngoài, ngồi viết lại để kính gửi tới những ai còn thương yêu và còn quan tâm đến nước Việt Nam và con người Việt Nam còn ở lại… 
Quặng mỏ, những tấm ảnh chụp vội và chụp tham, hay bản phúc trình được thảo bởi một anh lính quèn, bản chất của nó thực khó tránh khỏi hai yếu tố chính thô và thực! Đồng lúc, mục đích của nó cũng không có gì khác hơn là ước ao sẽ được sử dụng như một thứ nguyên liệu cho một công trình biến hóa có ích lợi. 
Tác giả có nhiều hoài vọng, phải nói thật như thế, nhưng hoài vọng lớn nhất vẫn là mong sao mớ quặng mỏ này sẽ giúp cho một guồng máy chống cộng nào đó chạy thêm một vòng xích, một sử gia nào đó có thêm một chứng từ về cơn đau ốm quê hương, hoặc một người Việt Nam lưu lạc nào đó tìm được một quyết định: Phải cứu lấy người ở nhà!… 

Hà Thúc Sinh
Hoa Kỳ 12-84.

Đất lành

Pearl S. Buck

Dịch giả: Hoàng Quân

Post by Sơn râu 25 Dec 2023

Chương 13
Ngôi nhà của Wang Lung

Thu qua rồi đông tới, cuộc sống của Wang Lung cứ thế trôi qua theo năm tháng. Sự thèm muốn của ông đối với Pear Blossom cũng thay đổi khi ông già hơn. Bây giờ cô trở thành bạn tâm giao của ông chứ không còn là người tình nữa.

Đã nhiều lần ông nghĩ đến chuyện ai sẽ là người trông nom cô con gái ngu ngốc của ông.

“Khi ta chết, sẽ chẳng ai cho nó ăn đâu”, ông thường bảo với Pear Blossom như thế. Vì vậy ông mua một gói thuốc độc nhỏ màu trắng ở hiệu thuốc và nói với Pear Blossom: “Gói thuốc độc này là cánh cửa yên bình cho đứa con gái tội nghiệp của ta. Khi ta chết, hãy trộn vào cơm của nó và nó sẽ đi theo ta”.

Nhưng Pear Blossom không cầm gói thuốc độc. “Em không thể giết con gái ông được đâu”, cô nói. “Làm sao em có thể giết cô ta được? Em sẽ chăm sóc cô ta. Em sẽ giữ cô gái ngu ngốc tội nghiệp này lại và chăm sóc cô ta được mà”.

Wang Lung liền hỏi: “Tại sao nàng làm điều này cho ta vậy?”.

Pear Blossom đáp rằng: “Ông đã đối xử tốt với em… tốt hơn bất kỳ người đàn ông nào trong cả cuộc đời của em”.

Tuổi già đến với Wang Lung ngày càng rõ rệt. Suốt ngày ông ngủ rồi lại tỉnh dậy, tỉnh dậy rồi lại ngủ thiếp đi, y hệt như cha ông ngày trước.

Ông quên cả việc mình có bao nhiêu đứa cháu. “Mười một cháu trai và tám cháu gái”, họ bảo ông. Và ông cười: “Ta có bấy nhiêu cháu nội cơ à?” Rồi ông quên mất và lại phải hỏi lại.

Ông nói với các cháu của ông bằng giọng hiền hậu: “Các cháu có đi học không?”.

“Dạ có ạ, thưa ông nội”, chúng đồng thanh trả lời.

“Các cháu học Tứ Thư à?”

Đám cháu nội của ông liền cười ngặt nghẽo: “Đã xảy ra một cuộc Cách mạng nên không còn ai học Tứ Thư từ sau Cách mạng nữa đâu nội ạ”.

“Ông đã nghe về điều này rồi”, Wang Lung nói. “Ông được con trai út của ông kể, chú của các cháu là một lãnh tụ trong cuộc Cách mạng này đấy”.

Cuối cùng Wang Lung hiểu rằng ông sẽ sớm qua đời, ông bèn nói với anh con trai cả: “Cha sẽ trở về ngôi nhà bằng đất, nơi cha đã sinh ra. Khi cha đã nhìn thấy nó, và nhìn kỹ nơi mẹ con nằm, cha sẽ chết. Nhớ chôn cha cạnh bà ấy nhé”.

“Đừng nói đến cái chết như thế cha ạ”, anh con trai cả nói. “Nhưng con sẽ làm y như lời cha dặn”.

Thế là Wang Lung trở về ngôi nhà đất nơi ông đã sinh ra. Các con trai ông đi đằng sau, còn Pear Blossom thì đỡ tay ông.

Họ đi tới ngọn đồi nhỏ nơi chôn cất cha ông và O-Lan. Ông nhìn nơi mình sẽ yên nghỉ và nói: “Cha hạnh phúc lắm”.

Rồi ông nói ông muốn nằm xuống cái giường nơi bà O-Lan vợ ông đã chết trong ngôi nhà đất.

Khi tất cả mọi người chậm rãi đi về phía ngôi nhà đất, các con trai của Wang Lung nói chuyện với nhau như thể cha họ không hiện diện ở đó.

“Chúng ta sẽ bán cánh đồng này. Chúng ta sẽ gửi gạo theo đường xe lửa mới mở tới những thành phố gần biển”.

Wang Lung dừng lại, lấy tay bốc lên một nắm đất tốt và nói: “Nếu các con bán đất, các con của ta ạ, đó sẽ là sự kết thúc”.

Họ liền tươi cười với ông và đáp: “Chúng con sẽ không bao giờ bán đất đâu, cha a”.

Rồi họ đỡ ông nằm lên chiếc giường trong căn nhà đất. Nhưng, phía trên đầu người cha già, họ nhìn nhau và mỉm cười.

Đất lành

Pearl S. Buck

Dịch giả: Hoàng Quân

Post by Sơn râu 25 Dec 2023

Chương 12
Chiến tranh lan tới miền bắc

Một vấn đề cuối cùng đến với Wang Lung. Chiến tranh đã lan tới thị trấn với một đám lính. Bọn này chẳng tốt hơn lũ cướp là bao, và người chỉ huy chính là đứa con trai người chú của Wang Lung.

Người em họ này là một gã to lớn và thô bạo. Khi bước vào nhà Wang Lung, hắn liền hỏi: “Mẹ tôi đâu, hả?”

Wang Lung đưa hắn đi gặp mẹ của hắn. Mụ ta đã hút thuốc phiện trong nhiều năm, giờ đây mụ là một bà già ốm yếu, nước da vàng vọt.

“Mày đã làm gì bà ấy vậy?”, đứa con người chú hỏi.

Wang Lung đáp: “Em họ à, bà ta già rồi. Cứ để bà ta làm cái gì mầ bà ta muốn”.

Sau đó, dám lính trú lại nhà Wang Lung. Chúng phá vỡ đồ dùng bằng gỗ, làm cho hồ nước và giường ngủ bị dơ bẩn. Suốt ngày chúng uống rượu, la hét om sòm và đòi phụ nữ.

Một lần, kẻ chỉ huy đám lính – em họ của Wang Lung – trông thấy một cô gái trẻ tên là Pear Blossom, người hầu của Lotus.

“Đem con nhỏ đến giường tao”, hắn ta ra lệnh.

Pear Blossom còn nhỏ và mảnh khảnh. Wang Lung đã mua cô về làm nô tì và đối xử với cô rất tốt. Cô gái khốn khổ khóc lóc và chạy đến chỗ Wang Lung.

Lotus tức giận quát Pear Blossom: “Đến chỗ thằng chỉ huy ngay. Hắn ta là đàn ông, mà tất cả đàn ông thì đều như nhau cả. Đến giường hắn đi. Nếu không đến thì đám lính sẽ phá tan ngôi nhà này mất”.

Nhưng Wang Lung không đành lòng. “Tìm một cô gái khác thôi”, ông nói với Lotus và Cuckoo. “Pear Blossom còn quá nhỏ mà”. Một nô tì, lớn tuổi hơn và đã trưởng thành nói: “Để con tới chỗ đám lính cho”.

Thế là tên em họ của Wang Lung lôi cô nô tì lên giường hắn. Trong lúc ấy, Pear Blossom ở lại với Wang Lung vì cô bé rất sợ cơn giận dữ của Lotus.

° ° °

Cuối cùng đám lính cũng lên đường để tham chiến. Trước khi chúng đi, tên chỉ huy hét vào mặt Wang Lung: “Này ông anh họ, tôi đã để lại một đứa con, một đứa cháu nội cho mẹ tôi đấy”. Rồi hắn ra đi và Wang Lung bắt đầu sửa chữa lại ngôi nhà.

Cô nô tì sinh một đứa con gái. Wang Lung đối xử rất tốt với cô, ông tìm một tấm chồng cho cô -một nông dân nghèo. Cô cưới người nông dân như O-Lan đã từng cưới Wang Lung. Và Wang Lung ngồi ở dại sảnh, nơi lão phu nhân nhà họ Hwang năm xưa đã ngồi, còn người nông dân và cô nô tì thì đứng trước mặt ông.

“Nhớ vâng lời chồng cô nhé”, ông nói. “Sinh cho anh ta nhiều con trai vào”. Và thế là hai người cưới nhau.

Sau một thời gian, cậu con trai út của Wang Lung đến nói với ông: “Cha à, con muốn cô hầu gái tên Pear Blossom ấy”.

Wang Lung cảm thấy đố kỵ. Ông đã giữ Pear Blossom ở chỗ này để cô chăm sóc cho đứa con gái ngu ngốc của ông. Thế là ông không trả lời cậu con và nó rất tức giận.

Pear Blossom lo ngại. Cô tới bên Wang Lung và nhìn ông. Wang Lung cảm thấy máu ông nóng lên và nhìn cô thèm khát. Pear Blossom liền ngả vào cánh tay ông.

Nhưng Wang Lung đẩy cô ra và nói: “Ta là một lão già. Một cô gái trẻ nên dành cho một người đàn ông trẻ thì tốt hơn”.

Pear Blossom liền trả lời: “Em thích người lớn tuổi. Người lớn tuổi tốt bụng, còn thanh niên thì dữ tợn lắm”.

Thế là Pear Blossom trở thành thiếp của Wang Lung, và cô là người an ủi ông trong tuổi già. Cô chăm sóc ông lẫn cô con gái ngu ngốc của ông rất chu đáo.

Lúc đầu, Lotus nổi giận vì Pear Blossom đã chiếm chỗ của mụ ta. Nhưng Wang Lung cho mụ quà, đồ ăn, thế là mụ cảm thấy vui vẻ. Lotus giờ đây đã già và mập, mụ hài lòng khi Wang Lung không còn lui tới giường của mụ nữa.

Còn cậu con út thì tức giận vì cha cậu đã lấy mất người nô tì mà cậu thèm muốn. “Tôi sẽ đi lính”, cậu ta nói và bỏ nhà ra đi. Cậu đến nơi nào, không ai biết được.