Giải cứu Huế Tết Mậu Thân

Triệu Phong chuyển ngữ

POSTED BY SEASHELLOC ⋅ THÁNG HAI 9, 2020

Post by Sơn râu 25 Dec 2023

Bài 16  

Chương 11

Khơi mào (Phần 2) 

Mike Morrow, một người bạn của tôi ghé vào chơi sau khi đi theo cuộc hành quân của một tiểu đoàn quân đội Miền Nam từ hôm trước Tết về. Hôm mở màn trận Tết Mậu Thân anh cùng với Tiểu Đoàn 4 Trung Đoàn 3 bị địch vây khốn và suýt bị tiêu diệt. Kinh nghiệm xương máu ấy đến giờ thỉnh thoảng làm anh giật mình. Suốt đêm chúng tôi ngồi trao đổi kinh nghiệm chiến đấu và cảm tưởng về chiến tranh. Bên ngoài địch đang pháo kích bằng súng cối, tiếng mảnh đạn rơi nghe leng keng trên mái tôn.

Cũng như nhiều đồng nghiệp trong ngành báo chí, Morrow hoàn toàn chống lại cuộc chiến tranh Việt Nam. Không phải anh chống lại quân đội hay đất nước mình nhưng anh không tin rằng quyền lợi của nước Mỹ ở Việt Nam đang bị đe dọa. Anh tin rằng đất nước mình đã lãng phí thế hệ thanh niên bằng cách đẩy họ vào một cuộc phiêu lưu không những điên rồ mà còn không thể chiến thắng được. Cái giá phải trả bằng mạng sống mà anh đã nhiều lần chứng kiến tận mắt làm anh cũng như bất kỳ ai khác phải bực tức. Anh lý luận rằng quân đội đã bị bọn hoạt đầu chính trị bịt mắt, họ đang lừa dối cả công chúng.

Chúng tôi tranh cãi nhiều đề tài có tính cách xây dựng, càng nêu ra chúng tôi càng thấy dễ chịu hơn.

“Morrow à, vấn đề rắc rối nơi anh là anh chưa bao giờ khoác áo chiến binh nên anh không có cái suy nghĩ như người quân nhân được,” Tôi phân bua. “Bộ anh tưởng bây giờ quân đội Hoa Kỳ thu lượm vũ khí rồi cuốn gói về nước thì chém giết chấm dứt chăng? Rất nhiều người quan niệm nếu chúng ta ra đi thì tình trạng sẽ rất bi đát. Một khi Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản rồi, thì ai sẽ đến lượt?”

Trình bày của tôi làm anh ta trở nên nóng tiết thêm. “Việc đó có mắc mớ gì đến chúng ta đâu?” Morrow cáu tiết quạt lại.

Hai chúng tôi lục lọi trong mấy thùng lương khô ration C kiếm gì lót lòng. Khổ nổi là không có gì để uống. Máy nước toàn thành phố không còn hoạt động, ngoài ra nước kiếm được đâu đó thì lại không dám uống nếu không có viên thuốc khử trùng.

Nhà vệ sinh thì hôi nồng nặc vì không ai có thì giờ để chùi dọn. Người nào cũng chỉ biết lo làm cách nào để đừng chết.

“Nếu chúng ta không đứng ra quyết liệt một phen thì vô tình khuyến khích Cộng Sản nổi lên ở nơi khác. Vậy chứ phải chận sự bành trướng này ở đâu bây giờ?” Tôi múc đào, vừa ngồm ngoàm ăn vừa nói.

Morrow lấy tay phủi vụn bánh mì dính trên râu phản pháo lại. “Thuyết Domino là đồ sọt rác. Nó có đáng để đánh đổi lấy những tàn phá và chết chóc như thế này không? Tôi nghĩ là không.”

Tháng 11 năm 1970 Morrow bị mất tín nhiệm đối với chính quyền Nam Việt Nam vì đã lên diễn đàn nói chuyện trong một buổi mít-tinh chống Nguyễn Văn Thiệu.

Ngày hôm sau chúng tôi đi ra ngoài để xem quân Đồng Minh tiến được tới đâu trong cuộc giao tranh ở Thành Nội, thật ra không cần phải đi xa tôi cũng đã tới ngay tuyến đầu rồi.

*

Đối với Tướng Westmoreland, tiến triển của cuộc giải tỏa Thành Nội có vẻ quá chậm trong khi những cuộc tấn công của địch ở các nơi khác đã được dẹp yên. Ông đang bị áp lực nặng nề từ Hoa Thịnh Đốn, làm sao phải sớm cho Huế không còn là tin hàng đầu trên các tờ báo nữa, hầu quân Đồng Minh có thể tiến tới giành lấy chiến thắng cuộc chiến tranh Việt Nam. Tướng Westmoreland đã đưa phụ tá của mình là Tướng Creighton Abrams ra nằm túc trực tại BCH MACV Tiền Phương ở Phú Bài hôm 13 tháng Hai để có thể báo cáo trực tiếp cho ông mọi tiến triển ở Huế.

*

Sang ngày 14, ai cũng thấy rõ là phải lấy cho được dãy tường thành ngay cửa Đông Ba thì mới có tiến triển khả quan được. Nơi đây bề dày của thành thay đổi từ 7 đến 14 mét, cửa Đông Ba đứng sừng sững nhìn bao quát được cả một vùng rộng lớn. Quân TQLC Mỹ tiến lên đánh chiếm thành nhiều lần nhưng phải dội lui vì hỏa lực quá gắt và địch từ vị trí cao ném lựu đạn xuống tới tấp. Nếu biết phối trí súng ở những vị trí kiên cố trên thành, chỉ vài tay súng có thể cầm chân cả một đại đội, vậy mà ở đây họ chôn chân được đến cả một tiểu đoàn.

Chiến xa không bắn hữu hiệu được vì nhà lầu san sát ở mọi hướng, đường xá chật chội khiến loại xe này chỉ vừa chen vào chứ không có chỗ để xoay trở. Các xe Onto có gắn đại bác không giật 106 mm cũng bị trở ngại tương tự. Đường chật còn tạo nên tiếng dội gây khó khăn trong việc phân biệt hướng đạn địch từ đâu bắng tới. Nguy hiểm khác nữa là đạn lạc, những đạn sau khi bắn ra đụng vật cứng dội ra ngoài đan chéo đi đủ các hướng. Nhiều binh sĩ còn bị thương vì mảnh vôi vửa hoặc bị chấn động não.

Địch bắn sẻ rất gắt khiến quân Mỹ không tài nào chạy băng qua đường Mai Thúc Loan được. Ngày nào địch còn án ngữ các cao điểm, có thể quan sát được mọi chuyển động của quân Mỹ thì việc tiến quân băng qua các nơi trống trải chỉ là tự sát. Lệnh hạn chế sử dụng hỏa lực hạng nặng làm việc giải tỏa Thành Nội càng khó khăn hơn so với khu Hữu Ngạn nơi mà nhà cửa trống trải hơn. Vật liệu xây cất các cao ốc ở đây có vẻ cứng cát; chung quanh khu nhà ở thường được bao bọc bằng tường cao phía trên có gắn miểng chai hoặc hàng dậu có rào thêm dây kẽm gai. Đường xá chật hẹp thuận tiện cho địch lật xe cộ hoặc dùng bàn tủ để làm vật chướng ngại. Dọc đường tiến quân toàn là gạch vụn, vôi vữa, và ngay cả mìn bẩy nữa khiến TQLC phải luôn để ý dưới chân, khó nhìn thấy vị trí ẩn núp của những tay bắn lén.

Quân BV có hai tuần lễ để thong thả bố trí hệ thống phòng thủ chống lại một cuộc phản công của quân Đồng Minh; họ ngụy trang khôn khéo các vị trí đặt súng trong các cao ốc, trên nóc nhà và cả trong các hầm hố bố trí ngang mặt đường. Nhờ những hàng dậu rậm rạp làm ranh giới giữa các nhà nên rất khó nhìn thấy chỗ ẩn nấp. Nhà cửa đủ kích cỡ chen chúc càng làm quân Mỹ thêm rối trí. Hơn nữa nhiều nhà có đào sẵn hầm trú ẩn vô tình biến chúng thành những công sự phòng thủ riêng biệt. Quân Mỹ chỉ còn cách là tiến quân chậm và thận trọng không để sót chỗ nào vì nếu không thì sau khi họ đi qua rồi địch sẽ từ chỗ nấp nhảy lên và tấn công từ phía sau.

“Khó mà thấy rõ cả bốn phía, ở đâu có được một khoảng trống là coi như hên lắm,” Th/tá Thompson nói. “Đánh nhau ở Thành Nội hoàn toàn khác lạ, tôi chưa hề thấy nơi nào như thế. Mình luôn luôn phải tiếp cận thật gần địch quân, nhiều khi không có đủ khoảng cách để bắn hoặc xoay trở. Giao chiến ở đây chủ yếu là tiêu diệt các ổ kháng cự mà thôi.”

*

Quân Nam Việt ở mặt Tây Thành Nội cũng gặp khó khăn tương tự nhưng còn tệ hơn nữa vì họ thiếu trang bị chiến xa và súng không giật 106mm. Còn về ưu tiên để được hỏa lực yểm trợ và tiếp tế thì quân Nam Việt bị xếp vào hàng ưu tiên chót. Hai tiểu đoàn TQLC NV đáng ra sẽ mở một cuộc tấn công phối hợp vào hướng Đông Nam còn khống chế mặt sau lưng họ. Thực ra thì một số đơn vị thuộc Trung Đoàn 3 của Tướng Trưởng đã bị địch cắt đứt từ hôm 13 tháng Hai, và bị bao vây. Họ phải kháng cự suốt hai ngày trời đồng thời nhờ nỗ lực anh dũng của ĐĐ Hắc Báo mới phá vỡ được vòng vây. Trong khi cuộc giải vây đang diễn tiến, quân TQLC chỉ biết ngồi chờ không mở cuộc tấn công như đã định trước.

*

Về phía Mỹ, quân của Th/tá Thompson sau hai ngày dậm chân tại chỗ ở Lằn Tuyến Xanh và chịu tổn thất ngày mỗi cao, cuối cùng được chấp thuận cho sử dụng vũ khí nặng. Quân Mỹ  không còn phải đánh nhau kiểu lưng chừng đồi như trước nữa mà là tối đa hỏa lực, từ đại bác 105 mm và nòng lớn 8 in từ Phú Bài bắn lên cho đến phi cơ dội bom, hỏa pháo từ chiến hạm.

Vào xế chiều 14 tháng Hai, sau khi Tiểu Đoàn 1/5 rút lui bớt 200 m thì cuộc oanh tạc ồ ạt bắt đầu và kéo dài suốt đêm. Bản tấu khúc của âm thanh và cuồng nộ thật hết sức ngoạn mục, đặc biệt là các tấu khúc kinh hồn của đại bác từ tàu chiến bắn vào. Đậu cách bờ chừng 2 dặm ngoài khơi biển Nam Hải, chiếc khu trục hạm USS Manley nã 50 trái loại nòng 5-in và 150 quả loại nòng 6-in từ tuần dương hạm USS Providence vào khu vực quanh cửa Đông Ba. Hầu hết là loại đạn nổ chậm với mục đích công phá sâu hơn vào lòng đất. Nơi đứng thưởng ngoạn lý tưởng nhất là trên nóc các cao ốc ở Mang Cá vì nơi đây tương đối ít nguy hiểm. Tôi thấy rõ những chiếc Skyraider từ từ đâm bổ xuống bỏ bom từ hướng Đông rồi cất cao lên về phía Tây, nhưng có điều đứng coi như vậy dễ bị địch bắn sẻ; tuy nhiên lo vậy cũng hơi xa vì địch đều lo chui thật sâu để tránh bom hết rồi. Địa đìểm tôi đứng cũng là nơi quan sát lý tưởng của các tiền sát viên pháo binh để hướng dẫn mục tiêu và điều chỉnh tọa độ; ngoài ra còn có cả các sĩ quan tham mưu lẫn báo chí.

Một chiếc F-8 Crusader bay dọc theo thượng thành về hướng cửa Đông Ba. Nhìn từ phía Hữu Ngạn sang phía đường Trần Hưng Đạo. (USMC Archives)

Mục kích cuộc dội bom không khác gì xem trời giông tố. Tôi thấy ánh chớp lóe đi trước tiếng nổ rì rầm của bom trong một khoảnh khắc nhỏ. Vôi vửa tung cao hằng chục thước sau khi ngòi nổ chậm kích hỏa quả bom và kế đó là mặt đất rung chuyển khắp mọi hướng. Hướng ống nhòm ra phía biển Đông tôi thấy những ánh chớp liên hồi từ trọng pháo của các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội. Tiếng trọng pháo này nghe như âm thanh của đoàn tàu hàng chạy qua bình nguyên miền Trung Tây Hoa Kỳ. Lần đầu tôi được nghe âm thanh này là lúc ở bên khu Hữu Ngạn hôm 3 tháng Hai. Trong thời gian trận chiến thành phố Huế, Hải Quân Mỹ đã bắn khoảng 4700 quả đạn vào Huế và vùng phụ cận; nghe thì nhiều nhưng phần lớn là bắn yểm trợ cho các đơn vị chiến đấu ở phía Tây Huế và trái đạn phải bay qua trên thành phố trước khi rớt xuống mục tiêu. Khi thời tiết cho phép phi tuần oanh tạc bắt đầu với các phản lực cơ Siêu Lưỡi Kiếm F-100 (Super Sabre), Dragonfly A-37, và chiến đấu cơ hai chỗ ngồi Con Ma F-4 (Phantom). Những phi cơ này cất cánh từ Đà Nẵng, Tuy Hòa, và Pleiku. Tuy nhiên chủ lực phần lớn vẫn là loại oanh tạc cơ cánh quạt Skyraider do phi công Việt Nam và Hoa Kỳ lái.

Skyraider, loại máy bay chong chóng có thể xà xuống cao độ thấp trong thời tiết xấu để thả bom. Ở cửa Đông Ba, phi cơ do phi công NV hoặc Mỹ điều khiển. (cgaviationhistory.org)

Khi Hải Quân ngưng bắn, Skyraider và các phản lực cơ lại bổ nhào xuống trút bom công phá, bom xăng đặc napalm và bom hơi cay. Thật không thể tưởng tượng nổi làm sao ai có thể sống sót được qua cơn bão lửa liên tục như vậy, thế mà địch quân vẫn không chết. Thực vậy một số đã thách thức đứng lên bắn theo máy bay sau khi vừa trút bom xong. Đây là bằng chứng hùng hồn không những về sức chịu đựng kiên cường của địch mà còn cả tài năng xây dựng tường thành thật kiên cố của tiền nhân thế kỷ thứ mười chín.

Trận oanh tạc bằng pháo binh từ Phú Bài vào Thành Nội kể ra cũng khá nguy hiểm cho quân Đồng Minh đang chiến đấu ở đây vì họ phải chịu pháo ngay trên đầu mình; vì lí do đó việc sử dụng trọng pháo bắn vào Thành Nội phải chịu phần nào sự hạn chế. Để bù lại TQLC Mỹ lệ thuộc nhiều hơn vào pháo yểm trợ bằn súng cối 4.2 in từ công viên Dốc Lão ở Nam sông Hương bắn qua. Việc điều động phối hợp hỏa lực yểm trợ một cách nhịp nhàng quả là một công tác phức tạp do công lao của Đ/tá Adkisson. Một trong những điều đầu tiên ông đã thực hiện ngay khi vừa mới vào Thành Nội mười ngày trước đây là thiết lập một trạm trung ương đặt ở Mang Cá để chuyên lo phối hợp và kiểm soát tác xạ của pháo binh, phi cơ và tàu chiến. Điều hành bởi các cố vấn quân sự, hôm 14 và 15 tháng Hai đôi khi hỏa lực của phi cơ và pháo binh cùng tác xạ một lúc.

Trung tâm điều khiển hỏa lực ở Mang Cá thật bận rộn với các nhân viên vào ra tấp nập; mỗi cuộc tác xạ yểm trợ đều được xác định tọa độ càng chính xác càng tốt. Công việc điều chỉnh tác xạ, xác định tọa độ, và yêu cầu yểm trợ hỏa lực khiến ban điều hành phải lăng xăng như cóc ngồi phải lửa. Lấy tọa độ cho máy bay oanh kích vào những khu vực hạn hẹp là một việc đòi hỏi sự khéo léo toàn hão. Thông thường một cuộc oanh tạc phải cách đơn vị bạn một khoảng cách an toàn cho phép là 2000 mét, nhưng tại Thành Nội khoảng cách ấy bị thu hẹp lại chỉ còn 500 mét, và có nơi lại còn ít hơn nữa. Góc độ đường bay của các cuộc không tập vào dãy tường thành được dự liệu với một góc độ thấp (30 độ hoặc ít hơn) và tránh không bay ngang trên đầu quân bạn. Phi cơ đâm bổ vào để trút bom lên dãy tường thành theo hướng từ bên trong rồi bay vọt lên ra phía ngoài Thành Nội để tránh sức tàn phá lan đi theo chiều dài; nguy hiểm hơn nữa là chỉ có bom 750 cân anh được đem ra thả thay vì 250 cân như yêu cầu. Bom xăng đặc Napalm được sử dụng nhiều hơn cả.

“Bom thường chỉ gây nhiều vôi vữa gạch đá đổ nát rồi sau đó địch lại đào hầm trở lại,” Một sĩ quan tiền sát của không quân chuyên chấm tọa độ cho phi cơ oanh kích cho biết. “Nhưng bom Napalm thì lại khác, nếu không thiêu sống địch quân thì cũng hút hết dưỡng khí khiến địch ở dưới hầm sâu bị chết ngạt. Bom Napalm dùng để chống các công sự kiên cố lý tưởng nhất.”

*

ĐĐ Delta được trả về cho Tr/tá Thompson từ khu Hữu Ngạn đang tìm phương tiện để vào Thành Nội trong khi cuộc oanh tạc ở đây vẫn đang tiếp diễn. Đ/úy Đại Đội Trưởng Myron Harrington thuộc nhóm chỉ huy, cùng tiểu đội súng dài hôm 14 tháng Hai tìm cách xin quá giang tàu tiếp tế LCU để vào Thành Nội nhưng vị chỉ huy giang đoàn từ chối vì lí do địch ở hai bên bờ sông bắn quá gắt. Con đường sông từ bến đổ hàng bờ Nam sông Hương đến cửa Hậu ở Thành Nội vẫn còn hoàn toàn nằm trong khu vực địch kiểm soát.

Đ/úy Harrington phải mất hằng giờ mở máy vô tuyến liên lạc để xin phương tiện cho thành phần còn lại của đại đội mình được vào Thành Nội. Sau cùng thì Hải Quân Việt Nam đáp lời giúp đỡ bằng cách đưa đến ba tàu tuần có gắn máy. Họ đến bến tàu gần Mang Cá lúc hoàng hôn vừa lúc một phản lực cơ Con Ma F-4B thuộc TQLC HK thả nhiều trái bom cay lên dãy tường thành; gặp lúc gió đổi chiều làm tạt hơi cay xuống đoàn tàu khiến 100 TQLC vì không trang bị mặt nạ phải nhảy đại xuống nước, may mắn, không có ai bị thương vong. Gần trưa sáng hôm sau, khi cuộc oanh kích đã ngưng, Th/tá Thompson chỉ định cho ĐĐ Alpha của Đ/úy Harrington đến điểm nóng của Thành Nội là khu vực bên mé trái dọc theo dãy tường thành gần cửa Đông Ba. Khi vào Thành Nội đại đội này đã để lại một trung đội bên khu Hữu Ngạn để làm nhiệm vụ giữ an ninh cho các đoàn xe công-voa trên QL1. Một lần nữa TQLC lại phải chiến đấu theo lối bị cắt thành từng mảng nhỏ.

Trong cuộc đánh chiếm tháp cửa Đông Ba, TQLC Mỹ vất vả tiến từng tất dưới hỏa lực hùng mạnh của địch. (newseumed.org) 

Đại Đội ‘trừ’ của Harrington lập tức đụng phải sức đề kháng ác liệt của địch ở khu vực cửa Đông Ba. Cách tháp Đông Ba 150 mét một tiểu đội thuộc Trung Đội 1 bò lên thành, rồi chầm chậm tiến chiếm thành dưới hỏa lực yểm trợ. Đến gần tháp một tiểu đội khác lại xông lên tiếp sức. Trước hoàng hôn đêm 15 tháng Hai mục tiêu được dứt điểm. Kết quả là ĐĐ Delta bị tổn thất 6 chết và 50 bị thương. Đến đêm do bị áp lực địch, quân Mỹ tạm lui quân nhưng lập tức phản công và tái chiếm. Ngày hôm sau đơn vị quân Mỹ củng cố lại các vị trí vừa chiếm được ngày hôm trước và tiến thêm được một chút. Đến trước nửa đêm, sau hai ngày vào hành quân ở Thành Nội, tổn thất của ĐĐ Delta đã lên đến 13 tử trận và 80 bị thương, ngoại trừ 15 binh sĩ khác trở lại chiến đấu sau khi được băng bó.

Trợ y băng bó cho một TQLC bị thương ở chân khi đang tấn công lên cửa Đông Ba. (newseumed.org)

 Tướng Ngô Quang Trưởng lợi dụng lúc tình thế hơi lắng dịu để bay xuống Phú Bài hôm 16 tháng Hai để hội kiến với Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ. Tướng Trưởng báo cáo với ông Kỳ rằng quân đội Đồng Minh đã làm giảm bớt được áp lực địch và địch quân đang dần dần bị đánh tan. PTT Kỳ hứa sẽ yểm trợ thêm và tỏ vẻ tin tưởng vào sự chiến thắng; ông ta còn nói thêm rằng ông sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về những hư hại và tàn phá đối với các trường học, bệnh viện cũng như các cơ sở tôn giáo nếu thấy cần thiết phải dùng thêm sức mạnh để đẩy địch ra khỏi thành phố. Cũng như một số chức quyền khác, PTT Kỳ cũng bị áp lực phải giải quyết cho xong cuộc giải vây ở Huế.

Vào cuối ngày, tiểu đoàn TQLC thứ ba của quân đội Miền Nam đến Thành Nội. Qua ngày hôm sau đơn vị 700 quân này được đưa ngay vào hoạt động cùng các đơn vị chị em gần góc phía Tây Thành Nội.

TQLC Mỹ đóng chốt trên cửa Đông Ba, nhìn xuống đường Mai Thúc Loan phía trong Thành Nội. (wiki2.org/AP)

Người đứng ra thuyết trình về tình hình Thành Nội cho các đơn vị mới đến là Tr/úy Huế. Đại đội của ông lo việc hướng dẫn các đơn vị này đến địa điểm trách nhiệm, đồng thời cùng góp sức đẩy địch ra khỏi khu vực dọc theo khu tường thành ở hướng Tây Bắc. Họ cũng giúp giảm bớt áp lực cho Tiểu Đoàn 1/3 vừa mới chiến đấu để thoát được vòng vây của địch vào ngày hôm trước.

Quân số của ĐĐ Hắc Báo bây giờ lên đến 150 người; một số binh sĩ trước đây đang công tác ở khu Hữu Ngạn trước Tết hoặc mắc kẹt ở Thành Nội nay đã trở về với đại đội mình. Một người kể lại rằng anh bị bắt ở vùng Hữu Ngạn cùng với 50 người khác, họ bị sai đào rãnh và được cho biết đào như vậy để tránh bom; về sau mới hay là để chôn chính mình. Quân CS bắt 50 người đứng quây mặt trước hố rồi bắt đầu bắn vào sau ót từng người. Khi tên đao phủ đến bên người lính Hắc Báo thì anh quay phắt lại và đâm một dao vào bụng y rồi chạy thoát.

Tr/úy Huế có bắt được một số tù binh, họ khai rằng tinh thần cán binh đang xuống thấp và phần đông bị chấn động vì bom. Một đơn vị TQLC NV báo cáo rằng khi đánh chiếm một cao ốc họ bắt gặp ba quân địch chân xiềng vào khẩu súng đại liên. Những tù binh khác cho biết họ được lệnh phải tử thủ trong khi nhiều sĩ quan đã rút ra khỏi Thành Nội. Một lính bộ đội bị quân Hắc Báo giết có xâm trên cánh tay phải hàng chữ ‘Sinh Bắc Tử Nam’. 

Đường tiến quân đánh bật quân CS ra khỏi Thành Nội từ ngày 16 đến 25 tháng 2, 1968. (DoD/MarineCorps) 

Đêm 16 tháng Hai địch quân bị lãnh một đòn nặng sau khi một lực lượng cấp tiểu đoàn của họ cố xâm nhập vào Thành Nội ở mặt Tây Nam bị hỏa pháo của quân Đồng Minh tiêu diệt gần sạch. Theo lời của Tr/úy Alexander Wells, TQLC Mỹ làm tiền sát viên pháo binh cho TQLC NV, quân Nam Việt đã bắt được cuộc điện đàm của địch đang chỉ thị gởi thêm viện binh vào Thành Nội vào một giờ giấc được định trước. Tr/úy Wells lập tức sắp đặt một cuộc tác xạ bằng trọng pháo vào nơi địch sẽ xâm nhập vào đúng ngay giờ đã được định đó.

“Trên liên lạc vô tuyến chúng tôi nghe họ la ơi ới. Họ bị ăn trọng pháo ngay chóc và trong số thương vong có một viên tướng bị tử trận.” Wells sau đó báo cáo lại như vậy và viên tướng tử trận chính là trung đoàn trưởng địch chỉ huy mặt trận ở Thành Nội. Lúc nửa đêm người sĩ quan CS thay thế đã gọi điện báo cáo với cấp trên về cái chết của viên tướng đồng thời xin phép được rút quân. Bộ chỉ huy của địch không những không chấp thuận lời thỉnh cầu ấy mà còn ra lệnh phải tiếp tục cố thủ.

*

Lục Quân Mỹ được tăng cường nhiều hơn để chận đường thoát của địch về hướng Tây. Sư Đoàn 1 Kỵ Binh từ hôm 2 tháng Hai đã đề cử Tiểu Đoàn 2/12 thi hành sứ mạng, ba ngày sau lại tăng cường thêm Tiểu Đoàn 5/7, và đến trước ngày 18 lại gởi thêm Tiểu Đoàn 1/7. Cùng tham gia chiến dịch này còn có Tiểu Đoàn 2 và 501 thuộc SĐ 101 Dù Hoa Kỳ, các đơn vị Dù này đã có mặt ở khu vực từ cuối tháng Giêng.

Mục tiêu chính của quân Mỹ là khu rừng có đặt bản doanh trung đoàn địch gần La Chữ ở cách Huế 5 cây số về hướng Tây Bắc, phía Tây quốc lộ 1. Khu vực này là nơi xuất phát của cuộc đánh chiếm Huế và cũng là nơi tiếp tế cho đạo quân đang cố thủ. Vừa từ vùng II dọn về, đây là trận thử lửa đầu tiên của các đơn vị Kỵ Binh Hoa Kỳ. Hôm 4 và 5 tháng Hai, đơn vị đầu tiên của Sư Đoàn Kỵ Binh đụng độ với lực lượng bảo vệ bản doanh trung đoàn địch ở La Chữ là Tiểu Đoàn 2/12 của Tr/tá Dick Sweet, vì thua kém về quân số nên bị địch giáng cho một trận tơi bời. Để khỏi bị tổn thất nặng nề họ phải thực hiện một cuộc rút quân trong đêm tối lên một vùng đồi núi rồi trấn giữ tại đây gần một tuần lễ. (Đã đề cập phần này chi tiết hơn ở các kỳ trước).

Đơn vị Kỵ Binh khác được phái tới đây là Tiểu Đoàn 5/7 của Tr/tá Jim Vaught, ông này vừa mới về nhận chức vụ chỉ huy từ vài ngày trước. Cùng ngày mà đơn vị của Tr/tá Sweet triệt thoái thành công, thì Tr/tá Vaught lại dẫn tiểu đoàn của ông vào mật khu này. Cũng như Sweet, Vaught phải cho đơn vị hành quân bằng bộ vì thiếu phương tiện chuyển vận bằng trực thăng. Thời tiết thì lạnh lẽo, mưa gió và âm u. Hai hôm đầu tiên họ chỉ gặp kháng cự lẻ tẻ cho đến khi họ tiến vào khu rừng gần La Chữ hôm 8 tháng Hai. Trung đội tiền đạo bị phục kích từ ba mặt khiến tất cả binh sĩ của tiểu đội dẫn đầu đều bị tổn thất, hoặc chết hoặc bị thương. Vì ở những khoảng đất trống có thể dùng làm bãi đáp để tải thương bị địch bố trí đại liên chung quanh nên trực thăng phải chờ đến đêm mới xuống được. Khi trực thăng đến, thời tiết xấu đến nỗi phi công không nhìn thấy đèn đánh dấu địa điểm bãi đáp khiến họ phải mở đèn đáp trên phi cơ với hy vọng các nhân viên ở dưới đất có thể thấy mà hướng dẫn.

Những ngày giao tranh sau đó, mật khu địch được lính Mỹ ban cho biệt danh là ‘T-T Woods’ (Rừng T-T). T-T viết tắt từ chữ tough titty (vú săn cứng).

Vào ngày 9 tháng Hai, Tiểu Đoàn 2/12 của Tr/tá Sweet rời vị trí đóng quân ở vùng đồi núi cách Huế 5 cây số về phía Tây để nhập chiến trở lại; họ tiến vào một ngôi làng nằm cách La Chữ 2 cây số về phía Nam. Ngày 12, hai tiểu đoàn dự tính sẽ hợp lực tấn công vào làng La Chữ nhưng Tiểu Đoàn 2/12 bị địch cầm chân không tiến được, còn tiểu đoàn của Tr/tá Vaught thì phải hoãn cuộc tiến quân đến chiều vì chờ pháo binh yểm trợ. Không bao lâu, quân của Vaught bị chôn chân không tiến hơn được vì hỏa lực địch quá mạnh. Mặc dù thời tiết xấu, bốn phi vụ oanh tạc được thực hiện vào cứ điểm địch nhưng tiếc rằng kết quả không có là bao.

Cũng như hơn một tuần trước đây, Cộng quân nhử cho quân Mỹ đi sâu vào khoảng đất có viền hàng cây mới bắt đầu nổ súng từ hai phía. Bị lọt bất ngờ vào ổ phục kích, ba đại đội phải bị chôn chân và 15 phút sau họ tháo lui được với tổn thất 9 chết và 35 bị thương. Thất vọng nhưng không thất chí, Th/tướng Jack Tolson Sư Đoàn Trưởng SĐ Kỵ Binh đích thân bay đến mặt trận để gặp Tr/tá Vaught hôm 13 tháng Hai. Tolson cho Vaught biết rằng ông hy vọng sẽ mở cuộc tấn công vào cứ điểm của địch với lực lượng ba tiểu đoàn một khi ông gộp đủ xong quân số. Ông cũng hy vọng sẽ sử dụng Tiểu Đoàn 1/7 hiện làm lính gác hoàng gia (palace guard) ở căn cứ Evans vì sự di chuyển chậm trễ của Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh từ Quân Đoàn II. Cùng tham dự cuộc hành quân có  thành phần của SĐ 101 Dù Hoa Kỳ đang trấn giữ một căn cứ quân NV ở Cây Số 17. Tolson còn lạc quan là sẽ có chiến xa yểm trợ cho cuộc hành quân nữa.

Ngày 15 tháng Hai Tiểu Đoàn Kỵ binh 2/12 của Tr/tá Sweet cùng Đại Đội D thuộc Tiểu Đoàn 2/501 Dù phối hợp để mở một cuộc tấn công khác vào La Chữ. ĐĐ D được kết hợp với Tiểu Đoàn Kỵ Binh 5/7 của Tr/tá Vaught cho tiện việc chỉ huy hành quân.

Sang ngày 16, toàn khu vực La Chữ bị cày nát vì hỏa lực nặng nề của quân Mỹ, mở màn cho cuộc tấn công vào BCH trung đoàn địch. Trận pháo khốc liệt gồm 1000 trái đạn pháo binh có sức công phá cực mạnh và 4000 đạn cực mạnh khác do đại bác của tàu chiến bắn vào từ biển. Ngoài ra còn thêm một loạt 35 tấn bom cực mạnh và bom lửa Napalm do các phi cơ Mỹ và Nam Việt dội xuống.

Ngày 17 tháng Hai Th/tá Charles R. Baker sĩ quan hành quân của Tr/tá Vaught bay trinh sát bằng phi cơ O-1 trên khu vực T-T Woods nhưng không xác định được các vị trí phòng thủ của địch. Đến gần để quan sát rõ hơn phi công xà xuống ở cao độ 100 bộ. Qua vòng thứ tư phi cơ mới bị địch xả súng bắn.

Trong những ngày kế tiếp bốn tiểu đoàn bộ binh Mỹ xông xáo càn quét theo hướng Đông Nam ở phía tây QL1 về phía khu rừng cạnh làng La Chữ. Khu vực hành quân trải rộng thêm về phía nam cho tới giáp ranh sông Hương, theo kế hoạch của một cuộc hành quân phối hợp của bốn tiểu đoàn sẽ diễn ra vào ngày 21 tháng Hai, hòng cắt đứt đường tiếp liệu chính cũng như đầu não của địch. Bên phía địch quân họ cũng không kém phần hoạt động, để thử sức bền chí và tinh thần quân Mỹ ban đêm họ thổi kèn và tu huýt để cho quân Mỹ luôn bị căng thẳng và mất ngủ.

Ngày tấn công được chọn là ngày 21 tháng Hai; quân Mỹ sẽ tấn công từ nhiều phía. Bắc có Tiểu Đoàn 5/7 Kỵ Binh, còn 2/12 Kỵ Binh từ phía Nam, và Tây có 2/501 Dù; trong khi 1/7 sẽ yểm trợ 5/7 từ hướng Bắc. Riêng hai đại đội của 2/12 sẽ được giữ làm trừ bị. Chiến xa yểm trợ không có nhưng Tướng Tolson cũng xoay sở được một xe thiết giáp M-42 Duster có gắn đại bác 40 mm hai nòng. 

Tiểu Đoàn 5/7 Kỵ Binh Hoa Kỳ lúc đang tấn công vào BCH trung đoàn CS ở La Chữ, cách Huế 5 cây số về hướng Tây Bắc. (Wiki2.org) 

Kế hoạch tấn công xem ra khá phức tạp mà một số quân Mỹ của 5/7 vẫn chưa nắm vững. Một số khác rõ ràng đã bị địch làm nao núng tinh thần bắng cách gây đủ thứ âm thanh từ những đêm trước, nay dọa sẽ không tham dự hành quân. Kế hoạch đề ra là hai đại đội sẽ xông lên chiếm lấy vài mục tiêu lúc trời tối, rồi lúc rạng đông sau một loạt đại bác ngắn ngủi nhưng không kém phần khốc liệt bắn từ đất liền lẫn ngoài khơi, họ sẽ phối hợp với thành phần còn lại của tiểu đoàn để tấn công về phía Nam xuyên qua khu rừng T-T Woods; với hy vọng sẽ thẳng luôn qua La Chữ đến tận công sự chỉ huy của quân BV. Công sự này trước đây do Mỹ thiết kế và chi ra để xây; nó là một kiến trúc đồ sộ bằng bê tông cốt sắt cao 3 tầng, sâu 2 tầng.

Thoạt đầu mọi sự đều diễn ra song suốt với các mục tiêu dự trù đánh chiếm trong đêm đều lấy được dễ dàng mà không gặp kháng cự, tinh thần kỷ luật của binh sĩ đều cao. Thế rồi sau khi Đại đội B thuộc Tiểu Đoàn 5/7 đi tiền đạo qua khu rừng tre thì Đại Đội Trưởng của đơn vị này là Đ/úy Howard Prince bị thương nặng vì trúng một trái đạn cối khiến ĐĐ B chỉ còn một sĩ quan duy nhất. Nghe tin này Tr/tá Vaught tức tốc cử Th/tá Baker là sĩ quan hành quân của ông nhận lãnh trách nhiệm chỉ huy ĐĐ B. Khi đến nơi thì Đ/úy Prince đang trong tình trạng hôn mê trong khi các binh sĩ đều sửng sờ kiếm nơi an toàn để nằm chờ lệnh mới. Ở phía sau, ĐĐ D cũng đang nằm yên chờ ĐĐ B cùng mở cuộc tấn công hiệp đồng. Tình huống lúc bấy giờ thật hỗn độn.

Sau này mới biết ĐĐ B đã đi lọt vào khu phòng thủ địch với công sự kiên cố mới xây để bảo vệ vòng đai; tại đây họ bị tấn công bởi hỏa lực nặng nề. Nhận thấy những chướng ngại kể trên cần phải san bằng thì cuộc hành quân mới có cơ may tiến xa hơn được nên Th/tá Baker liền kêu gọi người tình nguyện lãnh nhiệm vụ thanh toán công sự này. Với hỏa lực yểm trợ của đại bác 40 mm hai nòng gắn trên chiếc xe thiết giáp độc nhất, Binh Nhất Albert Rocha bò lên mục tiêu mang theo ống chất nổ. Từ trong lô cốt địch bắn ra bằng súng trường, đạn trúng báng súng M16 của Rocha nhưng anh vẫn tiếp tục tiến. Xông ra tiếp sức có Tr/úy Frederick Krupa người của ĐĐ D. Thế rồi trong khi Rocha bắn yểm trợ, Krupa cố chuồi cây thuốc nổ vào lổ châu mai và giữ chặt, bên trong quân địch tìm cách đẩy trở ra. Trước khi lô cốt bị nổ tung một binh sĩ địch tháo chạy ra bằng cửa sau liền bị Rocha bắn hạ.

Sự phá hủy thành công pháo đài của địch gây phấn chấn cho quân Kỵ Binh Mỹ và cũng mở đầu cho ngày tàn của địch quân ở khu rừng T-T Woods. Sau cùng, khi quân Đồng Minh tiến được đến tòa công sự cao 3 tầng lầu dùng làm BCH trung đoàn của địch thì mới hay địch đã rút đi hết rồi. Quân của 2/12 kết hợp với đơn vị 5/7 Kỵ Binh hướng dẫn toán hậu sự đến vị trí có hố chôn tạm thời của 11 xác lính Mỹ mà đơn vị Kỵ Binh đêm 4 tháng Hai đã tạm vùi lại đó để triệt thoái khỏi vòng vây của địch.

*

Cùng ngày, quân Dù Mỹ 2/501 cũng có một cuộc giao tranh đẫm máu. Hai tiểu đội trưởng của ĐĐ Alpha tiền đạo là Th/sĩ Joe R. Hooper và Tr/sĩ Clifford C. Sims được ân thưởng Huy Chương Danh Dự của Quốc Hội Hoa Kỳ (Congressional Medal of Honor). Tr/sĩ Sims đã tử trận trong khi chiến đấu ở khu rừng La Chữ.

Th/sĩ Hooper có công trạng dẫn một tiểu đội 8 người vượt qua cùng dòng suối mà hai tuần trước đây Tiểu Đoàn 2/12 Kỵ Binh đã vượt qua trong cuộc triệt thoái đêm, ở đây họ bố trí một dàn đại liên ngay trong khu rừng kế cận. Vừa lúc đó Th/sĩ Hooper bị vướng bẩy gài bằng hai quả lựu đạn và bị thương ở bụng và chân. Dù bị thương Th/sĩ Hooper vẫn dẫn quân vượt suối tiến vào rừng và giúp phá hủy được 5 vị trí phòng thủ của địch lúc giao chiến xáp lá cà; kể cả giết được một sĩ quan địch bằng lưỡi lê. Tuy bị thương nặng Hooper vẫn tiếp tục chỉ huy đánh vào rừng. Mặc dù quy luật bất thành văn không cho phép người được thưởng Huy Chương Danh Dự của Quốc Hội được trở lại phục vụ trong đơn vị tác chiến nhưng hai năm sau một lần nữa Hooper trở lại phục vụ cho Sư Đoàn 101 Dù. Ngày 6 tháng Năm năm 1979 Hooper chết trong một cơn bịnh bất ngờ.

Tr/sĩ Sims là người đã dẫn một tiểu đội đánh lại lực lượng địch đang cầm chân một trung đội Mỹ thuộc ĐĐ Alpha. Trong khi đang tiến quân họ vô tình bước vào một hầm đạn đang cháy; sức nổ khiến hai binh sĩ bị thương, Sims phải cho quân rút lui. Sau đó họ trở lại cánh rừng, trong khi đang tiến quân họ chợt nghe một tiếng tách, tiếng của ngòi nổ khởi động một mìn bẩy. Sims lập tức la lên báo động rồi lao mình lên khối chất nổ lấy thân che cho đồng đội; sức nổ làm anh chết ngay lập tức. Nhờ tiểu đội trưởng mình cứu thoát đơn vị tiếp tục tiến sâu hơn vào khu rừng.

Lúc cuối ngày, sau khi cuộc giao tranh chấm dứt, tất cả ngoại trừ 8 binh sĩ của ĐĐ Delta, 190 người đều bị thương vong.

Chiều tối ngày 21 tháng Hai, bốn tiểu đoàn tiến chiếm được các mục tiêu dự liệu và chỉ còn cách Thành Nội 5 cây số. Ngày hôm sau khoảng cách thu ngắn còn lại phân nửa khiến địch phải gấp rút thực hiện kế hoạch rút lui khỏi Thành Nội.

Trước hỏa lực hùng hậu và tấn công phối hợp nhịp nhàng của quân đội Đồng Minh, địch quân chọn con đường tẩu thoát khỏi La Chữ hơn là để bị bắt hoặc bị tiêu diệt. Khi quân BV bị buộc phải bỏ bộ chỉ huy trung đoàn ở La Chữ mà chạy, họ đã bỏ mặc số mệnh cho bộ đội CS còn lại ở Thành Nội.

Một khi sự kiện trên xảy ra, trận đánh ở thành phố Huế về mặt chiến lược kể như chấm dứt.

Lè phè như ÚC?!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 24 Dec 2023

Người Việt chúng ta, trước 75, chắc ít có người biết nhiều về nước Úc. Ở đâu? Bao lớn? Dân tình sống ra sao? Rồi bà con mình ồ ạt trốn ra đi, vượt biên, vượt biển, may mắn tấp được vô Bidong, Mã Lai, Galang, Nam Dương, chờ đợi mấy phái đoàn (tùm lum nước) đến để phỏng vấn cho đi định cư ở một nước thứ ba, thì trong đầu thuyền nhân, ai cũng nghĩ trước hết là nước đồng minh đã bỏ ta đi, là Hoa Kỳ?!

Thế nên có chuyện vui là trong giờ học địa lý, Thầy hỏi: “Mặt trăng và Úc Châu; nơi nào xa hơn?” Trò lại trả lời là: “Úc Châu, vì mặt trăng mình còn thấy được đêm đêm!”

Kiến thức về địa lý được một nút (được 1 điểm vì ít nhứt mình còn biết trên quả địa cầu nầy có một nước tên là Úc Châu, một nước mà chiếm trọn một Châu trong năm Châu). Về lịch sử nước Úc, mình cũng bù trất luôn! “Tí! Em tìm cho tôi nước Úc trên bản đồ đi” “Dạ thưa thầy! Nó đây! Quay sang Tèo, thầy hỏi: “Ai tìm ra Úc Châu? Dạ thưa thầy! Trò Tí ạ!”

***

Mãi vài năm sau 75, những người tình cờ tiên phuông đến Úc sống! Chu choa sao mà quá đã, lè phè hết biết… nên báo tin vui quá vui cho những người còn ở đảo biết về nước Úc… một đất nước, bia đổ tràn như suối là có thiệt trăm phần trăm chớ không cần phải đến thiên đàng mới có… thì số người Việt của mình đến Úc định cư tăng vùn vụt!

Ngày đầu tiên đặt chân tới Melbourne cách đây hai mươi lăm năm… Từ phi trường Tullamarine, mấy đứa em chở u về nhà ở Coburg, vùng phía bắc Melbourne. Thay đồ, tắm rửa xong xuôi… là nhảy tót ngay lên bàn nhậu ăn mừng ‘tù nhân’ đã vượt ngục. Quá đã! ‘Welcome to Melbourne!’ Lon bia đầu tiên uống là Victoria Bitter (còn nhớ tới giờ); sao mà nó mát lạnh gì đâu… chạy khỏi cổ họng, bia xuống tới đâu là mình biết tới đó!

(Sau nầy, thì thấy cũng hơi lạ mỗi tiểu bang Úc đều uống loại bia khác nhau. Lý do là: Trước khi thành lập liên bang, Úc châu có những tiểu bang riêng lẻ thuộc địa của Anh. Với luật lệ rất khác nhau về sản xuất và tiêu thụ rượu bia.

Mãi đến cuối thập niên 1880, hệ thống hỏa xa mới được thiết lập nối liền thủ phủ các tiểu bang Úc; chớ trước đó phải chuyên chở rượu bia bằng tàu. Vận chuyển khó khăn, cước phí cao như vậy nên mấy hãng bia địa phương khó lòng bành trướng nhãn hiệu của mình đến các tiểu bang khác. Dân tiểu bang nào thì uống bia của tiểu bang đó… Riết rồi thói quen tạo thành một truyền thống… từ đời ông, tới cha, tới con, rồi tới cháu! Nhậu hết ráo! Thế nên nếu là dân NSW thì uống Tooheys, Reschs, Hahn. Dân Victoria thì Carlton Draught, Victoria Bitter, Melbourne Bitter! Uống bia loại nào cũng là một hình thức giới thiệu rất dễ thương với dân thổ địa là ‘tại hạ’ từ tiểu bang nào mà tiếu ngạo giang hồ, hạ cố tới chơi đây!)

Rồi sau đó, mười năm liền nước Úc hạn hán, những rừng bạch đàn khô nẻ, cháy rừng liên tu bất tận. Hồ chứa Thomson lớn nhứt cho thành phố Melbourne xài, mực nước tụt xuống chỉ còn 19% dung tích. Chánh phủ cấm dùng nước bừa bãi. Người Úc, vốn cực kỳ yêu nước, nghe chánh phủ bảo cái gì đúng cho đất nước là răm rắp tuân theo. ‘Để tiết kiệm nước! Chúng ta hãy uống bia! (Save water! Drink beer!’)

Nhưng theo dã sử, trước khi khoái uống bia, những người Úc đến từ Anh khoái uống rượu mạnh hơn! Sir John Robertson, năm lần làm Thủ hiến New South Wales, suốt 35 năm, sáng nào ông cũng ‘quất’ một pint (hơn nửa lít) rượu rum. Giống như xe cần xăng, ông có ‘rum’ mới chạy! Nhậu đã rồi còn nói “đâu phải mình tui! Không có ai đặt chân lên cái xứ nầy mà lại uống nước lã cả!”

Theo thống kê, những người từ Châu Âu đến Úc định cư, tính theo đầu người, uống nhiều, đứng nhứt nhì hơn bất cứ cộng đồng nào khác của nhân loại. So với mẫu quốc Anh, sáng xỉn chiều say; tối ôm chai mà ngủ chắc chắn là Úc ăn đứt nước mẹ quê mình; nếu có thua là thua Boris Yeltsin một Tổng thống xỉn có tiếng của nước Nga mà thôi! Vẻ vang dân Úc nhá!

(Ai cũng biết Yeltsin là người uống rượu nhiều. Hơn nữa, chứng nghiện rượu của ông làm vận mệnh thế giới đổi thay!? Xưa thì vận mệnh thế giới trong tay mấy đứa khùng như Hitler, Stalin, Mao… Sau thì trong tay mấy ‘ông thần ve chai’ Sao tui thương, tui tội nghiệp thế giới của mình quá bà con ơi!)

Năm 1989, Yeltsin tới Hoa Kỳ để phát biểu về đời sống xã hội và chính trị tại Liên bang Xô viết. Chuyến đi ấy được một bài báo trong tờ La Repubblica, Italia mô tả là thảm họa. Yeltsin thường xuất hiện trong tình trạng say sưa trước công chúng.

Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã biết được về chứng nghiện rượu của Yeltsin trong cuộc nói chuyện điện thoại đầu tiên của họ khi Yeltsin gọi tới chúc mừng nhân lễ nhậm chức của Clinton năm 1993, Yeltsin khi ấy đang ‘xỉn’.

Ông cũng say rượu trong cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên với Clinton tại Vancouver. Yeltsin đã rất xỉn quắc cần câu khi ông tới sân bay vào tháng 9, 1994 tới mức ông có thể ngã khỏi máy bay. Trong đêm ấy Yeltsin loạng choạng đi quanh với độc chiếc quần lót và kêu gào đòi bánh pizza. Trong vụ ném bom Kosovo, Yeltsin, rõ ràng đang say rượu, đã đề nghị rằng ông và Clinton nên gặp nhau trên một chiếc tàu ngầm!

Người viết hoàn toàn thông cảm với ông bạn già Boris Yeltsin.Vì khi xỉn rồi Boris Yeltsin đã tới thế giới đại đồng, không còn áp bức bất công. (Vợ tui tui cũng không còn sợ nữa…thì ngu sao mà không nhậu chớ?!)

Bây giờ người viết may mắn đang sống trong xã hội tư bản giẫy chết, mà mình không muốn chết, chỉ muốn vui thôi! Và cũng theo kinh nghiệm cá nhân của người viết, uống rượu mà xỉn, nó vật mình vặn vẹo, quậy quạng… lôi thôi rắc rối với vợ nhà quá… nên người viết cũng như người Úc từ từ chuyển ‘ton’ rượu đế, rượu bọt đường… ra uống bia lon! Nhứt là vào mùa hè trời oi bức, gió từ sa mạc trong đại lục thổi ra, ào ào nóng rát. Uống bia làm cho mình đã khát! Còn không khát, uống trước khi bị khát cho chắc ăn! Để phòng ngừa! Còn về sức khỏe: “Tui không bao giờ uống nước; vì nước rất độc, chứa rất nhiều vi khuẩn… nó làm cho ống dẫn nước dù làm bằng sắt, bằng gang đi chăng nữa cũng trở nên rỉ sét!”

***

Người viết cũng xin thành thật tự thú trước bình minh rằng mình đang có vấn đề về bia rượu rồi chăng?! Bằng cớ là: Chưa hề đặt chân vô quán rượu đó… mà tại sao người em xứ Úc dễ thương hết biết, em đi áo mỏng buông hờn tủi, thường hay ló ló ra hai trái bưởi Biên Hòa không vàng khè… mà trăng trắng trong nắng chiều xứ Úc, phục vụ bia bọt lại biết tỏng tên tui?! Danh trấn giang hồ ‘Đông phương bất bại!’ Nhậu chưa ai nhậu lại hết trơn he?!

Người viết sở dĩ uống bia vì bia rẻ hơn nước vậy thôi chớ đâu có ghiền nè! Nhưng có người bạn dang dở đường tình, than thở: ‘Uống để tìm quên!” Thì nghe cũng được đi; nhưng khi dắt người viết đi nhậu để tìm quên… xin nhớ trả tiền trước nghe hông huynh!

Nhập gia tùy tục! Đến xứ Úc mình làm như Úc thôi! Bài bạc, Cá cược và Bia! Gần mực thì đen gần đèn thì sáng! Nên xin phép quý độc giả thân mến kể một câu chuyện vui như vầy: “Ba đứa đang làm việc trên một tòa cao ốc. Macca, Chook và Simmo. Chook bị trợt chân, té chết ngắc. Khi xe cứu thương chở xác Chook đi khỏi thì Simmo nói: ‘Phải có ai đi báo tin nầy cho vợ nó chớ!’ Macca giơ tay xin đi. Hai tiếng đồng hồ sau, Macca quay trở lại vác một thùng bia VB trên vai. ‘Ê bồ! Bia ở đâu ra vậy?’ ‘À! Vợ thằng Chook cho tui đó!’ ‘Thật không thể nào tin được! Bồ tới nói cho người vợ một tin buồn chồng bà ấy té chết ngắc… vậy mà bà ấy lại cho ông một thùng bia hả?’ Macca trả lời: ‘Đúng ra là vợ nó không có cho tui. Chẳng qua là khi gõ cửa, bà ấy ra mở, tui bèn hỏi: “Bà đây có phải là Bà góa phụ của ông Chook hay không?” Vợ Chook trả lời: “Tôi đâu phải là góa phụ!” Vậy là tui nói: “Bà có dám bắt cá với tui một thùng bia không?”’

Dân dã uống bia, quan quyền dù có nhiều tiền hơn cũng uống cùng loại bia như vậy! (Còn ‘chảnh’ không chịu; đòi uống cỡ chai rượu chát 700ml Grange Hermitage hơn ba ngàn đô như Thủ hiến NSW Barry O’Farrel là về nhà đuổi gà cho vợ!) Thiệt là một nước Úc bình đẳng; đã san bằng mọi giai cấp trong việc ăn nhậu mà không cần phải ngu để đi làm cách mạng đổ máu; đấu tranh giai cấp làm chi cho chúng nó khi! Bất chiến tự nhiên thành!

Còn quan quyền và dân ngu khu đen làm ăn ra sao thì từ từ tính tới! Mà đất nước Úc nầy thực ra đâu cần mần ăn chi cho nó mệt! Mới đây Úc khám phá ra mỏ dầu trong đá ở Nam Úc, rồi ngoài khơi Tây Úc nữa… Khi nhậu hết tiền, hút dầu lên bán cho Tàu… thì Úc sẽ qua mặt nước Saudi Arabia một cái rột! Giàu tài nguyên đến nỗi chủ chợ, Thủ Tướng Singapore, đất nhỏ thó, con chó nằm còn ló đuôi, cà nanh: “Úc đâu cần làm… Hết tiền, cứ đào mỏ, hút dầu lên bán… là phẻ re như con bò kéo xe!” Hi hi!

Do đó: dân nhậu Úc khi phải đi cày, bị bắt buộc chẳng đặng đừng; thì khóc lóc, thở than là mình bị một lời nguyền từ chính mấy con vợ của mình là: “Úc! Đàn ông không được ở không! Phải kiếm việc làm đi chớ!” “Không! Không bao giờ! Cứ mặc kệ cho em nguyền rủa! Thiệt là lè phè như Úc!”

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne

Hiệp sĩ mù!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 24 Dec 2023

Ở đâu cũng có bọn sống ngoài vòng pháp luật, nổi điên lên là bắn giết người như ngóe!

Christopher Wayne Hudson, 31 tuổi, thuộc băng đảng xe mô tô Hells Angels, ăn nhậu và chơi ma túy suốt đêm tại Spearmint Rhino Gentlemen’s Club ở King Street, thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, Úc châu.

(Cái Club nầy quảng cáo là phục vụ cho gentlemen (quý ông lịch lãm) đủ món ăn chơi; nhưng hắn ta chánh cống lại là một tên vô lại!)

Rạng sáng 18, tháng Sáu, năm 2007, hắn đập cho em vũ nữ khỏa thân Autumn Daly-Holt một trận. Sau đó hắn gọi Kara Douglas 24, là bạn gái, đến đón hắn khoảng 7 giờ 30.

Hai bên cãi nhau, tên đầu gấu nầy nắm tóc cô bạn, lôi từ trong chiếc taxi ra ngoài.

Luật sư Brendan Keilar, 42 tuổi và một du khách ba lô người Hòa Lan, Paul de Waard 25 tuổi, tình cờ đi ngang qua, ra tay can thiệp. “Có chuyện gì vậy?”

Hudson lạnh lùng rút súng ra bắn cả ba. Brendan bị bắn vào đầu, gục chết trên đường. Còn Waard và Douglas bị bắn vào ngực.

Tháng Năm, năm 2008, quan Tòa phán rằng: “Ông Brendan bị bắn chết là hậu quả trực tiếp của hành động phát xuất từ lòng nhân ái, chỉ vì muốn giúp một người phụ nữ thế cô tay yếu chân mềm đang bị hành hung mà không kể đến sự an nguy của chính bản thân mình!”

(Đó chính là hành động anh hùng của một người nghĩa sĩ. Ra đường thấy chuyện bất bình chẳng tha)!

Christopher Wayne Hudson nhận tội, bị xử tù chung thân (Úc bãi bỏ án tử hình khá lâu rồi) chỉ được quyền xin ân xá sau 35 năm, tức vào năm 2042, lúc tên sát thủ máu lạnh nầy được 64 tuổi.

***

Chuyện giết người ở Melbourne nầy, sát thủ là một tay chuyên nghiệp, ‘born to kill’! Còn ở cái thành phố HCM rực rỡ tên vàng (hi hi) bây giờ ngoài đường phố toàn là bọn lũ kiến chòm ong.

Báo đưa tin: “Hai băng giang hồ, gần 40 tên, dùng súng tự chế, mã tấu, dao, rựa chém nhau loạn xạ trên đường phố Sài Gòn!

(Như phim kiếp hiệp của Tàu Hong Kong, Địch Long, Trần Tinh, Vương Vũ, Khương Đại Vệ hồi xưa vậy đó.)

Sau 20 phút “hỗn chiến”, nhiều người bị thương, hai nhóm tự đưa “đồng đội” vào bệnh viện.

Nhưng có một chuyện ngộ hết sức là: một tên lâu la cần một cái dao để chém đối thủ, bèn chạy vào một cái quán mượn đỡ một con dao. Tàn trận đâm chém tơi bời, (CA cũng chẳng thấy tăm hơi), bèn rất lịch sự như người Hà Nội, mang dao vào trả lại cho chủ quán. Hỏng biết có ‘thank you very much’ hay không?

Điều tức cười là: báo chí quốc doanh cẩn thận, một cách láu cá, chạy cái tin là băng đảng Sài Gòn chém nhau loạn xạ chớ không phải băng đảng TP HCM đâu nhe!

Còn TP HCM phải được tô son trét phấn như: “Lãnh đạo thành phố HCM đi dân tiếc ở dân thương! (?!) Phụ nữ thành phố HCM thanh lịch đảm đang! Thanh niên thành phố HCM đạo đức sáng ngời! (?!)”

Như cái vụ Bí thư TP HCM Đinh La Thăng tham nhũng, vừa được cất vô hộp thì bị phong cho cái chức mà ‘giả’ không có là ‘Bí Thư TP Sài Gòn’ hè.

 Nghĩ cho cùng cũng tội nghiệp cho đám phóng viên báo chí quốc doanh. Lúc nào cũng nơm nớp sợ bể nồi cơm, bút sa gà (không) chết mà tao chết; thì làm sao dám viết băng đảng xã hội đen, đòi nợ thuê, cướp giựt TP HCM?!

***

Tuy vậy lập lờ đánh lận con đen (không cần rọi đèn) bà con mình cũng thấy là: TP HCM giờ ‘bệ hệ’ quá hè, băng đảng chém lộn giành địa bàn mần ăn, rồi trộm cướp như rươi vậy đó.

Cách đây chừng hơn tuần lễ, tối ngày 13, tháng Năm, khoảng 19 giờ, có hai tên ‘đá xế cắc ké’ (xét về đẳng cấp giang hồ dưới ăn cướp nhiều bậc) chạy xe Exciter 150 trên đường Út Tịch, quận Tân Bình.

(Nếu bà con mình muốn biết Út Tịch là ai? Thì phải hỏi Nguyễn Thi mới được. Vì nhân vật nầy là do ‘giả’ ngồi kéo sòng sọc thuốc lào, chế ra rồi đánh cho nó bóng để nhồi sọ học trò. Theo thiển ý của tui thì nên thay tựa ‘Người mẹ cầm súng’ bằng ‘Con ma nhà Úc Tịch’ vì nhân vật trong truyện không có thiệt; là ma không hà.)

Thấy một xe SH dựng trên lề trái, lập tức tên ngồi sau lập tức bước xuống xe, rút bộ đoản trong người ra bẻ khóa và dắt chiếc SH xuống lề! Thì ông trưởng toán hiệp sĩ theo dõi nãy giờ tông xe thẳng vào và la: “Cướp, cướp!”

“Lúc đó tôi thấy hai tên nầy không có gì trong tay nên mới ỷ y, ai ngờ nó làm quá nhanh. Còn hôm qua trời tối quá tôi không kịp trở tay! Nó làm cái “rẹt” là ruột tôi ào ra!”

(Nghe tay phóng viên tả chân vụ dùng dao bấm đâm người nầy thiệt là rùng rợn!)

Ông trưởng toán hiệp sĩ đứt gãy sụn sườn 6 – 10, thủng cơ hoành, rách phổi, thủng màng ngoài tim, gan; dạ dày ruột thoát vị qua lỗ thủng cơ hoành lòi ra ngoài thành ngực.

Nhưng bi thảm hơn, Nguyễn Hoàng Nam (29 tuổi, quê Đồng Nai) và Nguyễn Văn Thôi (42 tuổi, Bình Định) đã bị đâm chết ngay tại chỗ.

“Nhìn anh nằm đó lạnh lẽo, giữa dòng người, máu chảy thành dòng mà bà con Sài Gòn mình nghẹn ngào, xót xa quá!”

Chỉ hai thằng ăn trộm vặt xe gắn máy SH mà cả toán 5 người đều bị chúng đâm. Hai người chết, ba người bị thương nặng.

Lúc đó CA ở đâu? Chỉ cách có 50m hè. Nhưng cái án mạng giết người nầy xảy ra ở địa bàn của phường khác; để tụi nó lo. Chủ nghĩa ‘Mac Lenin’ thành chủ nghĩa ‘Mackeno’ (Mặc kệ nó) rồi đó!

Tên chủ xế bị ‘đá’, lại là tay CA quay phim cho đài truyền hình CAND đưa hình khoanh tay để lên Facebook, phụ đề Việt ngữ là “May quá hỏng mất xe, phải hú chiến hữu chiều nay đi nhậu giải hạn (xả xui) mới được!”

Bà con mình xúm vào chửi quá xá làm người sống không cần ‘tim’ nầy đóng Facebook, trốn mất tiêu luôn.

***

Dư luận quần chúng chia hai! Một cho là: Hành động của mấy hiệp sĩ nầy là: vì nghĩa quên thân. Rồi nỉ non ‘hót’ rằng: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai?” (Câu hát nầy là của Trần Long Ẩn! Nhớ hồi Tết Mậu Thân, dân đang nằm né pháo kích thì ‘giả’ xúi bậy: ‘dậy mà đi hỡi đồng bào ơi’ đó mà!)

Hai là bà con mình rất tức tối, bức bối cho rằng (mà tui nghĩ rất hợp lý) là: Chuyện săn bắt cướp là chuyện của CA. Làm CA không lo bắt trộm bắt cướp mà bắt dân làm?

Ờ bà con hỏng biết đó thôi! CA bận dữ lắm hè! Cảnh sát Giao thông thì tối ngày cứ làm ‘Anh Hùng Núp’, núp đầy đường lo trấn lột, ăn tiền mãi lộ.

(Nếu bà con mình muốn biết ‘Anh hùng Núp’ là ai? Thì phải hỏi Nguyên Ngọc mới được. Vì nhân vật nầy là do ‘giả’ ngồi kéo sòng sọc thuốc lào, chế ra rồi đánh cho nó bóng để nhồi sọ học trò.

Nguyên Ngọc viết truyện “Đất nước đứng lên” mà y như truyện viễn tưởng của thầy bói, tiên tri ngay phóc và ngay chóc chuyện ‘Anh hùng Núp’ sẽ xảy ra cả mấy chục năm sau!

Anh hùng Núp bây giờ mang hia đội mão, lon lá đàng hoàng; khác với Anh hùng Núp hồi xưa mình trần vận cái khố chỉ vừa đủ che thằng ‘cu’ tí!).

Mấy ‘Anh hùng Núp’ nầy sáng ra đường núp; bao giờ cũng có lúp xúp theo sau một đám lâu la đầu gấu.

Ai bị bắt xe vì vi phạm luật giao thông mà không chịu làm luật; lại la lối quay phim đưa lên Facebook tính chơi khó ‘Anh hùng Núp’ thì bọn lâu la nầy sẽ quánh chết cha… cho nó hết có la!

***

Bây giờ nhờ Facebook, nên bịt miệng dân đâu có được như hồi xưa nữa.

Bèn chơi cái chiêu ‘câu giờ’… chờ trời yên bể lặng, bà con bớt chửi rồi mấy đồng chí mình thủng thẳng tính sau.

Như nhà ảo thuật David Copperfield, có sẵn trong túi chỉ cần móc ra là: trong vòng chưa tới 24 tiếng đồng hồ, (giỏi quá hé), CA nắm đầu được hai thằng ăn trộm xe rồi giết người là Nguyễn Tấn Tài và Nguyễn Hoàng Châu Phú.

Nhưng có phải đúng là ‘Tài Mụn’ đâm chết người hay không? Hay là nắm đại đầu thằng nào đang nằm trong hộp ra để đóng vai Lê Lai cứu chúa?!

Bà con mình ở Úc, Mỹ, Canada và Pháp nói: “Cái mô hình hiệp sĩ bắt cướp nầy lạ quá hè! Trên thế giới không nước nào có hết ráo!”

Dân bị cướp, thì gọi Cảnh sát… Không thể làm thay cho nhân viên an ninh để chết thảm!

Nói nào ngay bên Úc nầy đây, hồi chân ướt chân ráo mới tới bà con mình mua lại cái tiệm hàng xén, gọi là ‘milk bar’ ở góc đường để kiếm bạc cắc… Nhưng lai rai cũng bị cướp cạn hoài hè.

Nóng của, thủ sẵn cây khúc côn cầu, bà con cũng tính ăn thua đủ, đập đầu thằng ăn cướp; nhưng Cảnh sát Úc nói: “I can you!”

Chuyện nầy là của Cảnh sát, có súng, có huấn luyện bài bản đàng hoàng mà đôi khi còn phải hi sinh tánh mạng. Tay ngang làm sao chơi cho lại hả?

Cho dù chơi có lại mà hơi lỡ tay nó bể sọ chết nhăn răng thì mình lại lôi thôi cò bót! Phải ra Tòa về tội phòng vệ vượt quá mức chánh đáng làm chết… thằng ăn cướp.

Kết luận ‘job’ của ai, thằng đó làm. Chớ hỏng có cái vụ nhào vô, nhào vô trước đi. Lỡ có bề gì là bỏ con thơ vợ dại, ôm cái bằng liệt sĩ về dưới huyệt sâu!

***

Câu hỏi đặt ra là nhiều thằng ăn cướp quá, thì ưu tiên đánh thằng ăn cướp nào trước? Để trả lời một câu hỏi hơi bị khó… Tui thấy nên học sách của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.

Trên đường lai kinh ứng thí, Lục Vân Tiên thấy “dân than khóc tưng bừng, chạy trốn đảng cướp Phong lai!”
“Nhóm nhau ở chốn sơn đài/ Người đều sợ nó có tài khôn đương/ Bây giờ xuống cướp thôn hương/ Thấy con gái tốt qua đường bắt đi”

Lục Vân Tiên bèn: “Tôi xin ra sức anh hào/ Cứu người cho khỏi lao đao buổi này

Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô”/ Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ/ Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”.

“Vân Tiên tả đột hữu xông/ Khác nào Triệu Tử phá vòng Tương Dương/ Lâu La bốn phía vỡ tan / Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay/ Phong Lai chẳng kịp trở tay/ Bị Tiên một gậy thác rày thân vong”

Đó đó đa! Bà con mình đừng làm ‘hiệp sĩ mù’, mà phải làm người nghĩa sĩ, là phải đánh ngay chóc tên đầu lĩnh Phong Lai… đang nằm lai rai trong biệt phủ.

đoàn xuân thu.

melbourne

Ăn cháo

phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 30 My 2017

Post by Sơn râu 24 Dec 2023

Độ rày anh chăm thức khuya, đúng ra vào giường cố dỗ giấc ngủ cũng không ăn thua. Dần dà quen thói cứ vùi giấc mộng ban trưa, thức dậy bần thần với nắng nhạt hiên nhà. Họ làm ngày không đủ, riêng anh cũng chẳng tranh thủ làm đêm, nhàn nhã suốt. Anh xem phim kinh dị chiếu lúc 0 giờ, mê cảnh thằng bá tước xiêm y chỉnh tề chui vào áo quan ngơi giấc điệp ban ngày để hoàng hôn mới lục đục tỉnh thức bay xuống thị trấn tìm cách sinh nhai giữa bóng tối vây phủ. Lạ, đối tượng là những cô gái thể hình ngồn ngộn xuân tình căng mọng trù phú vùng miền chẳng đá động, ảnh chỉ ưa để mắt tới cần cổ trắng muốt nuột nà của em. Em nhắm mắt xiêu lạc thần hồn giao trứng cho ác và ác chưa bao giờ phải chịu sống cảnh đêm dài lắm mộng. Khi bị hiếp đáp, cơ thể em thất thoát máu ở chỗ lạ thường bởi cửa miệng cửa mình em là thứ ảnh hổng thèm xơi. Ma cà rồng khác người, kẻ thủ ác chỉ đè những nơi nhạy cảm hòng soán đoạt, gửi gấm niềm khoái lạc, cần cổ chỉ dùng để bóp nếu nạn nhân chống cự vùng vằng. Suy ra đêm hôm gặp người mới sợ chứ ma quỷ thì nhằm nhò gì, nhỉ?

Phòng anh luôn có ngọn đèn vàng sáng tỏ năm canh, nó chẳng lẻ loi vì ngoài nó ra còn vuông màn hình cái MacBook Air thường trực xanh tái mặt mày với con trỏ cursor là trái tim bình thản đập của máy. Mùa đông đóng kín cửa, mùa hè rộng mở để đón nhận những tiếng động lạ tai chợt khuấy lên, đâu đó từ thế giới bên ngoài. Một con ma trắng toát có vui chân ghé lại, vắt vẻo trên cành rung cây sát cửa? Anh sống trong mơ như thế, chẳng biết tháng ngày. Viết vẩn vơ, gõ mê muội cho đến hồi tượng hình ra một cuốn sách. Giống đàn bà ở thời gian hậu sản, anh tập cho mình cách nghỉ ngơi. Khác người mẹ mừng vui ôm con thơ trong vòng tay, anh nhìn xuống tập truyện còn thơm mùi giấy mà lòng chẳng mấy vồn vập tự mãn. Anh không đọc lại, anh để chúng nằm yên trong thùng giấy vừa vượt ngàn dặm đường về tay khổ chủ. Chứng mất ngủ vẫn chưa buông tha, như phạm một lời nguyền mãi thức lẻ bóng với canh thâu, với hoài nghi có phải mình vừa làm xong việc rồ dại?

Máy báo có một email vừa tới. “Thưa anh, tình cờ đọc phải mẩu quảng cáo về cuốn sách của anh. Xin anh ghi cho địa chỉ để tôi gửi ngân phiếu mua sách, nếu tiện nhờ anh ký và viết tên Nguyễn Thị Mộng Lành ở trang đầu. Cảm ơn anh”. Ôi Mộng Lành! Giữa cuộc đời lắm hư hao mông quạnh này sao còn có người mang một mỹ từ thuần khiết đáng ngờ đến vậy? Và cái nên tôn vinh là Mộng Lành đã mua mở hàng giúp anh. Anh quen ngủ ngày để đêm hôm trằn trọc, vậy thì Mộng Lành sẽ thao thức nếu đọc những hàng chữ chẳng êm đẹp chút nào của anh. Hãy va chạm với bất ưng cho khỏi rơi vào trạng thái tẻ nhạt, chứ lành mạnh quá thì đời bớt đẹp đi. Anh vui thú hồi âm, chẳng dông dài, chỉ ghi cái địa chỉ thể theo yêu cầu và rồi thắc thỏm chờ đợi. Một tuần mươi ngày cuối cùng lá thư mỏng lét cũng rơi vào thùng. Trên góc bì thư ghi hàng chữ cứng cáp chẳng phải tên Mộng Lành. Nguyễn Văn Đoàn viết: “Trước đây, chị tôi muốn mua một cuốn sách của anh, vì bà ở bên Mỹ xa xôi và bất tiện, biết anh ở cùng thành phố với tôi nên nhờ tôi lấy sách giùm. Làm phiền xin anh một cái hẹn để chúng ta gặp nhau, trao đổi. Sau đây là số điện thoại của tôi. Cám ơn anh. Kính. NVĐ”.

Đoàn nhỏ tuổi thua anh, khác biệt chừng mươi niên. Trẻ không trẻ già không già, cứ cho là trung niên. Đa phần những kẻ ở trong nước, đường tiến thân của họ vạch sẵn hai giai đoạn, phải đoàn mới tới đảng, chưa tính khi còn nhóc con cổ đã luôn quàng khăn đỏ. Đoàn mà anh hẹn gặp trong quán cà phê thì bỏ nước sang đây đã mút mùa lệ thuỷ, nói tiếng Việt lơ lớ khổ sở như đàn bà sắp đẻ. Nếu có vào đảng thì đảng ấy chỉ tinh tường việc sử dụng tiếng Pháp cọng tiếng Anh, ma-dzê in Canada. Ở nhà sợ bố mẹ buồn nên trao đổi kiệm lời chữ quốc ngữ, lớn khôn lao vào trường đời, đời làm trầy vi tróc vảy nên tiếng Việt đành phải cáo chung, phải a bê xê dắt dê đi ỉa, chỉ giữ lại một bộ phận rất nhỏ để phòng khi tối lửa tắt đèn. Gặp kẻ biết nói ngoại ngữ thì ô kê chứ kẻ ấy trên răng dưới dái thì bù trất, tha hồ ông nói gà bà nói vịt. May cho anh và cũng may cho Đoàn, anh hiểu hết những gì Đoàn trình bày vấn đề bằng thứ ngôn ngữ nửa nạc nửa mỡ kia.

Trời đang rộn màu nắng ấm nên cả hai mua cà phê mang ra ngoài hàng hiên, nơi có bàn ghế được cái dù lớn bung ra che chở tạo một vũng râm. Đoàn rất ngán anh ở điểm “giờ này mà còn hút thuốc”. Hắn không nói, anh chỉ dòm vào ánh mắt của hắn thì tự biết. Anh thở khói: Ông bà mình từng ngôn, miếng trầu làm đầu câu chuyện, chốn này hổng có trầu, họ chỉ bán thuốc lá, kệ đi mà, nó hại chỗ nào chưa thấy, chỉ thấy vin nhờ nó mới làm ấm áp buổi chuyện trò này. You know? Đoàn thăm dò: Hình như nhà văn nhà thơ ai cũng hút thuốc? Anh gật đầu: Nói chí phải, Albert Camus viết đâu khoảng hai trăm con chữ thì cái gạt tàn đặt trên bàn đã cao như núi. Đoàn la: Thời đó khác thời buổi này chứ bộ! Anh xác nhận: ừ, thời đó quả là lạc hậu! James Dean các thứ, thảy chết sớm, chết lãng nhách!

Anh trao cho Đoàn cuốn sách. Hắn lật trang đầu để kiểm tra xem chữ Mộng Lành đã nằm đó chưa. Cám ơn anh. Đoàn nói, sách bán được chứ ạ? Anh cất cái phong bì nhỏ nhắn đựng hai chục bạc vào trong túi. Ế chảy, anh trả lời. E chỉ có chị ấy mới mua sách tôi thôi. Đoàn suy nghĩ một hồi mới nói được vài chữ: Bất tiện quá nhỉ! Anh rất có cảm tình với chữ bất tiện, hoá ra không giỏi tiếng Việt cũng có khi “đạt đạo”. Thời bây giờ, thật bất tiện nếu ai kia ưa làm nhà văn! Lối đoạn trường dành cho Thuý Kiều cũng bất tiện chẳng kém. Chẳng biết muốn qua kênh rạch, người đi trên cầu tre lắc lẻo có cảm thấy bất tiện? Kệ đi mà, ví phỏng đường đời bằng phẳng mãi… Bất quá thì “rớt xuống sông ướt cái quần ny-lông”. Rớt, loi ngoi, rong cuốn, uống đôi ngụm nước, chới với, cho cá thia lia rỉa mấy sợi lông mày mới ngộ được giá trị mắc rẻ của bèo. Hãy tự an ủi, mình hơn chúng sinh ở chỗ mình giàu mơ mộng trong khi chúng sinh mãi mê muội lóp ngóp với các giá trị hiện vật tầm thường, chỉ biết trọng của, tham phú phụ bần.

Như thế cái ngó lơ ấy đã giết sự can đảm của mình? Anh nhìn Đoàn, cậu chưa thể lên đảng này nói ra nhiều chữ hay quá! Thay vì dùng cụt hứng, thay vì bảo dội một thau nước lạnh vào mặt, thay vì nói nhạt như nước ốc… Can đảm đồng nghĩa với mất nhuệ khí? Nếu Đoàn giỏi tiếng nước nhà hẳn hắn đã đọc thơ Kiều cho anh nghe:

“Trong khi chắp cánh liền cành,

Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.

Mái tây để lạnh hương nguyền,

Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng”.

Anh thành thật với kẻ không thể đọc văn anh: Đoàn à, tôi lỡ điếc không sợ súng mất rồi và tôi từng ăn đạn lắm khi, trong tôi vẫn còn nguyên lòng can đảm. Cho tôi gửi lời cám ơn chị Mộng Lành nhé. Đoàn bắt tay anh rồi xin kiếu. Anh ngồi bên vỉa hè, một mình cùng cốc cà phê đã nguội. Cũng may đại diện một độc giả phương xa là đứa hơi bị cà lăm cà cặp, chứ nếu miệng hắn có thoa mỡ không chừng khi đối thoại lại bày lắm ngoa ngôn. Không biết thì dựa cột mà nghe, đó là một lời khuyên hữu ích. Anh ngồi dựa lưng ghế nghe gió đi trên đầu nhắn thầm mùa hè đang tới, với nắng nôi, với đổ mồ hôi sôi nước mắt. Với ngày dài uể oải giấc ngủ nướng và đêm thu ngắn những cơn mộng là đà về một cảnh quang không có thật.

Đêm nay có vầng trăng hiện ra lưng chừng giữa khoảng trời xanh màu lam ngọc, thắp lên bạc nhược vì mây dày giăng bủa, rõ là trăng chẳng tròn như trăng Trung quốc được. Đừng cãi, vì chốn đó đẻ ra nhân vật Hằng Nga, phát minh giữ bản quyền bánh Trung Thu và người Việt luôn tâm đắc về chú Cuội. Hứa lèo hứa cuội cũng là bà con với con ma nhà họ Hứa. Anh nhớ có lắm nhà văn từng bảo, khi viết xong một tác phẩm, thảy nó ra ngoài đời thì hãy để nó có số phận riêng mà tác giả không thể can dự xía phần, toàn quyền quyết định nằm ở phía độc giả. Tập truyện của anh hẳn là con trăng chưa ra khỏi trần mây xám và không chắc độc giả đều đáng yêu như Mộng Lành. Người Do Thái có câu nói: “Khi ta mang hoa đến tặng một ai thì chính ta là người đầu tiên đón nhận hương hoa”. Điều này hẳn không dành cho kẻ làm thơ viết văn, anh vừa ngắt đi một chùm hoa và chưa chắc Mộng Lành đã phát hiện chút hương mùi khi đón nhận. Người gửi cũng thế, lòng anh luôn hồ nghi về thứ đặc sản cây nhà lá vườn. Sầu riêng, đã có lắm người nhăn mặt không ngửi được…

Trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh tầm hai ba giờ sáng có kẻ dạ hành bất ngờ hiện ra. Cửa vẫn mở, trăng lặn sao mờ. Đèn vẫn thắp nhưng luồng sáng của nó chẳng đủ sức lấn tới ngoài ban-công, lung linh ở đó ma mị một bóng dáng nữ nhân. Câm tiếng trong chờ đợi, cô ngồi trên thanh gỗ, vắt vẻo. Không có gió nhưng tà áo cô luôn máy động. Đêm hè nóng nhưng từ thân cô mãi xô về anh thứ hơi lạnh tựa máy điều hoà 9.000 BTU đang mở hết công suất. Tôi đã đọc xong tập truyện của anh, tôi thích sáu trên cái mục lục ghi tới mười hai truyện. Cô gái nói, anh có cảm giác như mình đang áp cái iPhone sát tai, bởi đó là âm thanh được ký gửi qua sóng điện thoại, môi cô hình như chẳng mấp máy. Trước, tôi đọc anh khá nhiều nhưng tôi đã quên tuốt, chuyện dễ hiểu vì qua sông tôi đã húp sạch chén cháo lú. Vì thế cứ xem như tôi lần đầu tới làm quen với chữ nghĩa của anh. Sáu trên mười hai, như vậy là mức điểm trung bình. Anh đừng trách, chắc do bởi hồn tôi mãi xiêu lạc tận đâu.

Để định thần, anh với tay tìm lấy bao thuốc đặt trên bàn viết, châm lửa một điếu. Ghế anh ngồi có bốn bánh xe và anh muốn dùng chân thúc đẩy nó di chuyển lại gần cửa. Khuôn mặt người con gái chẳng rõ nét dù khoảng cách đã có thu ngắn. Cúng 49 ngày, đứa em tôi đã đốt cuốn sách mua mở hàng từ anh. Dương thế chưa chắc đã có người đọc xong, nhưng tôi khác, trong vòng nửa giờ tôi xem không bỏ sót, từ đốm lửa đầu tiên thắp lên cho tới hồi tàn lụi trong thau nhôm. Tôi yêu những cuộc tình trắc trở đầy thương tật do anh dựng nên, tôi mến những hoài nghi anh luôn đặt ra, rằng đời sống luôn bày những ngược ngạo trái khuấy. Tên tôi còn đó là mơ ước không thể nào thành tựu, tôi luôn không gặp mộng lành. Anh chưa qua khỏi bến mê, chưa đón nhận chén cháo lú nhưng tôi biết giờ đây anh cũng đang ăn cháo. Làm sao anh ăn cơm được khi chẳng có con ma nào thèm mua sách của anh. Hãy cầm cự để sống thở, hãy vui vì thứ đặc ân kia.

Anh chẳng hút hơi nào, điếu thuốc tự nó cháy cụt bề dài, tàn rơi xuống đồng thời Mộng Lành thôi còn ngồi ở đó nữa. Một con ma? Anh ngờ vực và anh không tin. Trần gian này sẽ chẳng hiện được bóng ma nào đáng yêu đến thế. Không khiến mình sợ hãi đã đành, nó còn biết trấn an anh, nhắn nhủ tới anh đôi lời mà ngay cả bằng hữu cũng chẳng thành tâm để thốt ra. Dù sao thì anh cũng kéo hết những ngăn tủ để tìm cho ra bó nhang, anh thắp ba cây rồi đứng ngoài bao lơn mà chắp tay vái tứ phương. Tôi cũng giống Mộng Lành ở chỗ, một kẻ bị mất ngủ kẻ ấy làm sao đón nhận mộng lành. Tôi ngủ bù ban ngày và thường gặp cảnh ma đè, thân trì nặng mà trí óc mụ mị nhớ trước quên sau. Nếu Mộng Lành linh thiêng, xin hằng đêm hãy ghé ngang tôi trò chuyện. Ngày mai tôi dùng hai chục bạc tiền người em mua sách để đi sắm sửa ít trái cây, tôi sẽ nấu nước pha trà cho Mộng Lành uống. Tôi sẽ đặt một cuốn sách của tôi ngay chỗ Mộng Lành ngồi, để lỡ như “bất tiện” không thể ghé được, xin làm dấu cho tôi biết bằng cách gạt cuốn sách ấy xuống đất. Anh mất ngủ. Anh đốt thuốc, anh uống cà phê đen đậm đặc. Anh bắt ghế ngồi với trăng lu nhưng Mộng Lành đã không ghé ngang. Nói cho đúng, cô chẳng thích trò chuyện nữa, bởi vì nhiều lần cô đã làm cho tập truyện rơi xuống đất. Anh cũng chẳng buồn khom lưng nhặt lên. Sách anh nằm ngoài đó hằng đêm, với gió nhẹ với sương sa và nó bắt đầu đổi màu vàng úa. Anh biết, gió sẽ từ tốn lật giở từng trang ẩm lạnh trong khi chẳng một ai gửi email về cho anh, trống trải một hòm thư. Phải giết thời gian thôi, thay vì vùi mặt vào gối chăn. Anh gõ chữ vào vuông hình trắng toát nhan truyện mới: Hư Không.

Hồ Đình Nghiêm

Montréal, 29.5.2017

Âm độ

phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 24 Jan 2016

Post by Sơn râu 24 Dec 2023

Montréal (Canada) – Nguồn: Wikipedia

Không biết đã mấy giờ. Trời buốt giá, ban đầu gió là ám khí với ngàn mũi kim tẩm độc vung vãi bắn tới để không mấy lâu da thịt phơi trần hứng đỡ co quắp mất dần đi cảm giác. Cả một khuôn mặt sượng sùng tái tê bắt đầu chết trân xúc cảm. Buồng đợi xe buýt với ba mặt gương che chắn mờ đục tối dần. Tuyết chẳng rơi, nếu nó xuống, lân la với tốc độ chậm rãi, hẳn bầu trời sẽ vơi đi thứ hàn khí khắc nghiệt. Bảo rằng lạnh thì quả là chẳng chuyên chở, tải hết nỗi lập cập này. Hơn cả lạnh thì phải dùng tới chữ gì? Run như thằn lằn đứt đuôi chỉ vẽ ra một hình ảnh buồn cười.

Để nhằm chống cự, trong vô vàn phương cách, tợp rượu có lẽ là giải pháp vẹn toàn? Hai mét vuông trong trạm đợi bus có lữ hành đứng cắn răng ở một góc khuất gió, từ cơ thể còm cõi bất động ấy xông lên mùi nồng của một loại cồn nhiều độ. Rất nhiều áo xống khăn nón mũ mão bằng nỉ bằng dạ bằng laine bằng lông thú sùm sụp đậy điệm nhưng tất thảy vẫn không khiến ông ta phải phình to ra. Da bọc xương thì y phục năm bủa bảy vây bên ngoài cũng chẳng đánh lừa nhận định của mắt nhìn kẻ lạ. Ngày đầu đặt chân tới định cư chốn này tôi là một hình nhân tám lạng nửa cân so với ông ta. Ngoài khác biệt địa hình giữa vùng miền đông tây, bấy giờ tôi là một gã trai trẻ đầy năng động, luôn hăm hở với những thứ mới mẻ và rượu, đó là thứ chất lỏng chẳng hợp tạng tôi. Một ông già ốm nhách phải vin vào rượu mới đứng vững trong ngày đông, điều ấy nào có gì trở ngại. Cảnh sát cũng phải chạnh lòng, cái họ không đồng ý chừng nào ông ấy ngồi trước tay lái. Đường vốn trơn trợt, xe sẽ lảo đảo chạy quàng xiên tới cỡ nào nếu giao xe cho ông ta điều khiển. Từ một hòn đảo xa xôi được gọi tên cho nợ tiền vé máy bay sang đây, dạo đó có người biểu tôi: Mày thật thà khai báo với Liên Hiệp Quốc là ở quê nhà mày đại diện cho công ty trách nhiệm hữu hạn chuyên sản xuất tăm tre. Dĩ nhiên là tôi câm như hến, có ngoa ngôn để nói tôi là Phù Đổng thiên vương mà thu trong ngực hai lá phổi có vấn đề thì dẫu là thánh cũng không được leo lên cỡi chim sắt bay một lèo nửa vòng trái đất. Tôi là Trần Quốc Toản mà bóp chẳng nát trái cam nhưng giờ đây thì tình hình đã khác xưa, đã phương phi có chút thịt da đeo bám, chí ít thì bề thế hơn gã đàn ông cô độc đang liêu xiêu đứng với men nồng. Ở đây, tôi chưa thấy một kẻ đói ăn. Khi người ta ốm dơ xương hẳn người ta phải chịu câm lặng thu dấu một nỗi buồn lòng. Và rượu, dụng tửu giải sầu, thành ngữ kia muôn năm chẳng lạc hậu.

May phước, chuyến buýt số 50 đã trờ tới. Tôi đang đợi số 40 mới đúng tuyến, nhưng không hề gì, kể cả số 100. Miễn mang bộ hành thoát khỏi trạm đợi gồng mình cắm lẻ loi giữa một ngã tư quạnh vắng. Tôi nhường cho người lớn tuổi bước lên trước. Chúng tôi cần nghe tiếng động cơ gầm rú át tiếng gió, cần một kín bưng, cần một luồng nhiệt điện từ máy sưởi bắt dọc chiều dài chiếc buýt lấm lem bùn tuyết. Chúng tôi đang cần một sự tan chảy, khi đó máu trong thân mới đi đúng lộ tuần hoàn. Phải tiếp cận hơi ấm môi chúng tôi mới phát âm tròn lời thôi ngọng nghịu. Tôi khó khăn hỏi ông tài xế mặc đồng phục xanh nước biển về nơi tôi sẽ bước xuống. Ông nhìn những đồng xu rơi loảng xoảng vào hộp thu tiền mãi lộ. Chuyến này chạy tới trạm cuối, dừng ở đó thì nhắm số 60 mà leo lên. Thông tin chỉ ngần ấy, chẳng mấy sốt sắng nhưng đã vẹn toàn một đáp trả. Không biết mất bao lâu, trễ nải một cuộc hẹn là điều chẳng ai muốn, trong muôn ngàn lý do, thứ thời tiết chết tiệt này đã bảo chứng cho lời biện hộ. Anh phải ra đường trong hôm nay, đi dưới cảnh sắc ngập tràn băng tuyết trắng rợn như thành phố đang phải chịu tang và anh lơ ngơ tìm tới một địa chỉ được biết qua điện thoại: Cậu có sẵn bút không? Ghi nó xuống giấy kẻo quên, cũng chả xa đâu, nằm ngoại vi thành phố.

Kẻ nồng mùi rượu dường như không hề say, ông ta biết đâu là trạm cuối để bước xuống mà chẳng đợi gã tài xế loan báo bằng chất giọng như xua đuổi hành khách. Gã sẽ tắt máy xe, gã sẽ đi ngó từng mặt ghế trống để xem có ai đánh rơi vật gì không. Những trang báo Métro nhàu nát hoặc đôi găng tay xơ cũ vẫn là hình ảnh quen thuộc còn lưu lại sau lộ trình dật dờ tới đích cuối. Nếu cẩn tắc rà soát quanh thân trước khi rời ra người ta vẫn bỏ quên ở mặt ghế chút hơi ấm, nôm na là ngồi vừa nóng đít thì xe đã thắng đứng.

Tiếp cận vành đai nên chốn này coi bộ lạnh hơn trong thành phố, nơi có nhà cửa chen chúc thắp sáng dãy đèn vàng thường ít nhiều trấn áp được nỗi tái tê. Ở đây thưa nhà để gió tha hồ đi với bụi tuyết mịt mù. Tôi bước sau lưng cái bao tải di động, một tiệm tạp hoá sáng đèn cách khoảng năm chục mét phía trước hẳn là nơi ông ta tìm tới. Đi chưa xong nửa đường thì ông ta ngã lăn quay ra mặt lộ đóng băng. Rất trơn trợt, tôi cố tìm một tư thế thuận tiện, giữ thăng bằng để bặm môi thò hai tay xuống xốc nách ông ta đứng lên. Ông có sao không? Du ô-kê? Một khuôn mặt chẳng biểu lộ cảm xúc gượng rời chỗ nằm đớn đau. Fuck. Ông nói, đám khói mỏng chóng biến với hơi thở nồng mùi rượu. Quanh mồm là những cọng râu khô cứng sắp biến thành thép nguội và chúng đang bao che cho thứ vũ khí vừa bắn ra. Ông la to, tiếng khàn đục: Cứu, cứu, có ai giúp tôi không? Ban đầu là gã tài xế xe buýt bước xuống, kế đó là đứa thanh niên đứng hút thuốc cạnh tiệm tạp hoá chạy lại. Và một vị nữ lưu ở đâu hiện ra với tay cầm chiếc iPhone. Họ hiện diện nhưng họ mặc xác tôi đứng nâng nỡ cái thân xác ốm o của người nghiện rượu. Không lâu thì ánh sáng xanh đỏ vằn vện quét vào hiện trường. Nạn nhân khai với cảnh sát: Thằng người Tàu chó đẻ này đã xô tôi từ sau lưng. Cánh tay tôi rất đau, có thể là bị trật xương.

Khó khăn lắm tôi mới moi được bót đựng giấy tờ nằm sau túi quần, tôi cắn chiếc găng để dễ dàng lôi ra mấy tấm thẻ bọc nhựa theo yêu cầu của người cảnh sát trang bị vũ khí đến tận răng. Người tôi run rẩy. Tôi nghĩ tới một cốc cà phê nóng. Một điếu thuốc. Hoặc tốt hơn cả: Một ly Vodka nguyên chất. Ông có ngửi ra mùi rượu từ cơ thể ông ta không? Tôi nói với tên nhân viên công lực bặm trợn mặc áo chống đạn trương phình. Thứ hai, chỗ ông đứng có trơn không? Và việc quái gì tôi phải xô ngã ông ấy. Mà cứ cho là tôi xô, thì hà cớ gì tôi phải khom người nâng đỡ hỏi han ông ta cơ chứ! Tốt. Vị cảnh sát nói, trong lúc này cái tôi cần là một nhân chứng.  Để chấm câu ông ta đi quanh quẩn dòm chừng. Tôi ngó lão già đang được thằng thanh niên dìu đỡ, hắn trao thuốc lá theo đòi hỏi rồi cả hai cùng thở khói mù mịt. Thằng giàu lòng hảo tâm trấn an, xe cứu thương đang tới, có thể hút chưa xong điếu thuốc thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp.

Trong túi tôi thường eo hẹp chứa đựng không mấy tiền. Tôi có thể thành tâm khai với bạn rằng là tôi nghèo. Thuộc dạng tay làm hàm nhai, đắp cái này đổi cái nọ. Tôi dùng xe buýt để đi lại thì bạn cũng hiểu. Bạn có quyền khi dễ tôi đã qua đây mà sắm không nổi chiếc xe, tôi hiểu được thứ quyền tự do phát ngôn ấy và sẽ chẳng giận hờn bạn, mặc cho bạn khinh khi tôi. Hôm nay, trong túi tôi có xấp bạc gồm mấy tờ năm đồng, mấy tờ mười đồng, mấy tờ hai chục. Tôi moi ra hết, đặt trên quầy ở tiệm tạp hoá. Tôi hỏi người đàn bà đứng sau máy tính tiền: Chừng này có mua được một chai rượu chát và một bao thuốc lá không? Dĩ nhiên rồi, thừa ra là đằng khác. Bà trả lời mà không thèm đếm tiền, con mắt lá răm quen nhìn mặt nữ hoàng in trên giấy bạc chỉ liếc qua là biết ngay một con toán đơn giản cọng trừ. Có thể bà là người di dân, đến từ miền Trung đông chẳng hạn, mập mạp, khá phúc hậu và lý ra tôi nên đề cao nhan sắc của bà lên thập phần. Bà đã nói với ông cảnh sát: Lạy Chúa tôi, tôi thấy ngay từ đầu, rằng gã say rượu kia đã đặt điều, hoàn toàn chẳng có ai hãm hại ông ta cả. Bán buôn ở đây, tôi chẳng lạ gì cái trò đùa tai quái kia. Tôi trông đến mòn con mắt. Tôi cám ơn bà, kẻ nhân chứng. Nếu tôi giàu có chút đỉnh, tôi sẽ mua thêm những nhu yếu phẩm bà sắp xếp ngăn nắp trên kệ, lấy mỗi thứ một ít, hoặc lấy hai cây thuốc và năm chai rượu. Hút và uống, chết bỏ bể bỏ để tạ từ hàn khí, lạnh đến chai người, lì lợm nén tiếng chửi thề.

Trạm cuối, bãi đỗ của xe buýt yên vắng trở lại, khoảng sân xi măng bị tuyết phủ vẫn mốc thếch như một tảng thịt không tài nào phân huỷ rã rời. Mặt trời có mọc thì chung quy chỉ là vầng dương soi tỏ thứ ánh sáng sắt se của âm độ, rét hơn cả ẩn mình trong tủ lạnh. Tôi tìm ra cái buồng điện thoại công cộng chứa đầy rác với những hình vẽ thô tục. Nó trở thành một thứ gần như sắp trú thân vào viện bảo tàng, nó còn tồn tại là cốt cho những hạng người lạc hậu như tôi sử dụng. Tôi nào có điện thoại cầm tay, di động siêu mỏng hoặc cực choáng như chữ dùng trong nước. Tôi bỏ hai cái 25 xu vào khe dọc, cầm cục nhựa đen đúa lạnh ngắt áp bên tai. U u u… Tôi xin lỗi đã trễ hẹn… Chuyện dài lắm, sẽ kể sau… A-lô… Tốt hơn bạn đừng cất công tới nữa, ông ấy nói sẽ dành việc làm đó cho người khác mất rồi. Phút đầu bạn đã cho người ta thấy sự bất tín nhiệm. Vậy đi nhé… U u u…

Hồ Đình Nghiêm 

Ai cũng để lại kỷ niệm chốn đó

phamcaohoang.blogspot.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 14 Feb 2013

Post by Sơn râu 24 Dec 2023

Đà Lạt nostalgia – Tranh Đinh Cường

tặng hai người làm nên khu vườn thi sĩ.

Anh tôi tốt nghiệp Sư phạm Quy Nhơn để rồi lên Đà Lạt làm giáo viên dạy trường Tiểu học Đa Nghĩa. Anh thuê nhà ở cuối đường Hai Bà Trưng, đi bộ đâu chừng năm bảy phút là đến trường, rất tiện lợi. Anh có chiếc xe gắn máy Suzuki dùng để chở vợ đi chợ hoặc chở tôi mỗi cuối tuần trời đẹp đi câu cá ở hồ Xuân Hương, phía bên kia cầu Ông Đạo. Xem câu cá như một thú tiêu khiển chứ không nhằm muốn làm xôm tụ bữa cơm chiều vẫn thường sơ sài đạm bạc. Những con cá chép to hơn bàn tay không mấy khi cắn câu dù anh vẫn khổ công ran cám thơm làm hương hoa chiêu dụ. Mặt hồ luôn dợn sóng, chẳng hiểu vì sao, trong khi sông Hương ở Huế mãi phẳng lặng dù bề mặt nó thoáng rộng hơn.

Tôi vừa từ chốn Thần Kinh vào ở trọ cùng anh như sự bàn tính và chỉ định của các anh chị ngay sau khi Mạ tôi qua đời. Tôi câm lặng ra đi, mắt còn mọng đỏ, dấu kín nỗi buồn trong lòng và xem sự hoán đổi ấy là một giải pháp chẳng mấy vẹn toàn. Tôi sững sờ khi xuống tới phi trường Liên Khương, Đà Lạt mang vẻ đẹp lạ lùng nằm ngoài những dự tưởng chôn chặt trong trí tôi. Đó là thứ nhan sắc nửa thơ mộng nửa quý phái. Chỉ một nửa thôi, nếu nó tròn đầy quá nó sẽ làm hỏng cái kiều diễm nó mang. Lắm lúc beauté phải tiềm ẩn chút bất toàn, bởi mong manh cũng là thứ chen vai, dự phần và tôn tạo nên cái đẹp. Một đứa con vừa mất mẹ, nó sẽ sầu thảm biết dường nào nếu đến một thành phố tiêu điều khác. Đà Lạt đón tôi, choáng ngộp như thằng con trai lần đầu bị “coup de foudre” bởi một bóng hình nữ nhân. Lạc đà là con vật giỏi chịu khát vẫn thường thồ người và đồ đoàn băng qua sa mạc. Đà Lạt là một địa danh có thể chữa lành vết thương trong tôi, dung thứ tôi, dìu tôi qua chặng đời niên thiếu lắm mộng mị.

Anh tôi đứng ra lo mọi thứ giấy tờ thủ tục và tôi là cậu học trò chân ướt chân ráo chính thức vào mài đũng quần ghế nhà trường Trung học Tư thục Việt Anh, lớp 11 ban A. Đà Lạt có khi được gọi là Hoàng triều cương thổ, đất vua chúa cỡ Bảo Đại. Vậy mà tôi nói giọng Huế có nhiều bạn học mặt nghệch ra. Kinh nghiệm ấy làm tôi phải cực lòng giả giọng, thứ pha tạp nửa Sài Gòn nửa Hà Nội, cứ lơ lớ vậy mà kẻ thù tiếp mình thôi nhíu lại đôi lông mày, thần sắc giãn nở thấy rõ. Một ông nhà thơ nào đó viết: “Em ơi giọng Huế có chi, mà trong hoa nắng thềm thì cơn mưa”. Ca ngợi? Chê bai? Tôi chẳng rõ. Nhưng cá nhân, tôi yêu vô cùng giọng Hà Nội và tôi thương vô đối giọng Sài Gòn. Một người dẫn chương trình, một ca sĩ xin đừng là người mền. Vợ anh tôi là người đàn bà Bắc kỳ di cư, mai sau không thành danh cũng thành nhân tôi xin được lấy vợ người Nam kỳ lục tỉnh. Trong lớp tôi, H. ngồi bàn đầu và Hát nói giọng Nam. Hát là người duy nhất rộng lòng cởi mở chuyện trò cùng tôi vào những giờ ra chơi. Hát học giỏi, gương cận thị và là một thành viên sẵn sàng bảo vệ cho thành ngữ: “Cái nết đánh chết cái đẹp”. Nhan sắc Hát không làm xiêu đổ một ai, nhưng một thằng con trai “ngoài nớ” xớ rớ lên xứ anh đào trời xui đất khiến gặp phải Hát, hắn buộc phải cà lăm cà cặp, đứng quê một cục ra đó. Thời anh tôi, học tới lớp đệ Nhị là đã hoang dàng trời. Trình độ học vấn tương đương, tôi đang là học sinh 11 mà xem chừng bù trất một tỏ tình, ấp a ấp úng một câu văn chẳng bao giờ trôi chảy. Hát không để tâm tới lý lịch quê quán vùng miền nơi tôi chào đời, nhưng Hát có thể nhìn nhận ra vẻ cô đơn ám vào thân tôi khiến tôi phải co quắp gần như rụt rè. Và có thể do vấn nạn kia đã làm Hát vui chân tới bên bắt chuyện. Ba mẹ Hát có căn nhà lớn bên đường Phan Đình Phùng và tôi nói cho Hát nghe tôi yêu đi trên cái lộ trình như vầy: Một vòng quanh khu Hoà Bình, đổ người xuống đường Minh Mạng, ghé mua một gói thuốc lá trước rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp rồi mài dép trên vỉa hè Phan Đình Phùng. Đứng thắp lửa điếu thuốc trước căn nhà có trải sỏi ở sân, kéo cao cổ áo ấm lên và nhìn vào ô cửa thắp sáng ngọn đèn vàng, thầm gọi tên người Hát ơi Hát ơi trong đêm đổ đầy sương.

Hàng tháng Ba tôi ra bưu điện gửi mandat lên dùng chi trả cho tiền học phí cũng như những nhu yếu phẩm mà bao giờ tôi cũng nhìn nhận ra sự thiếu hụt. Thay vì ưa chơi bảnh xô cửa vào tiệm Văn Gừng may cái quần tây, tôi quyết định thôi chưng diện để dùng số bạc nọ mời Hát đi xem phim, ghé ăn chè trôi nước. Đêm ấy gần tới Giáng sinh nhưng thời tiết ấm một cách đột ngột, tuy học ban A nhưng tôi rất dốt môn Lý hoá, về những thứ vớ vẩn cỡ như cái gọi là định luật khúc xạ ánh sáng. Cả đại số và toán học cũng vậy, tôi chẳng có cảm tình với câu: Từ một điểm ở ngoài đường thẳng ta chỉ có thể vẽ một đường, một và chỉ một mà thôi. Rất ấm ớ, rất khô khan, dễ lãnh cảm. Nhưng nhân danh một thằng ưa lơ là với sách vở, tôi khẳng định là cái lạnh của Đà Lạt trước đêm Chúa sinh ra đời chẳng thể can dự tới, gây tái tê, quấy rầy một sánh đôi giữa tôi và Hát. Khi bạn đi bên người yêu đầu đời, cả một bầu trời sụp đổ bạn cũng chẳng màng chứ nói gì tới gió máy với lại sương ẩm. Hát có một chữ rất hay mà tôi muốn học hỏi: Chuyện nhỏ! Nếu bị xô đẩy tới cuối đường với bao tình huống căng thẳng vây bọc mà ta thốt được tiếng “chuyện nhỏ” thì cuộc đời này e sẽ giản dị biết bao!

Đầu óc sẽ đánh lừa xác thân được bao lâu? Tôi rất ấm khi đi sát người Hát là câu nói thiếu tính khoa học. Dẫu sao anh mặc áo laine, anh chơi khăn quàng cổ, anh mặc áo bành tô, anh đội mũ nỉ che tai và anh rất mực cô đơn đi lạc hồn trước rạp chiếu bóng Ngọc Lan thì thân nhiệt cá nhân anh sẽ nóng hơn tôi gấp bội. Anh đưa ra lời đề nghị, xin được hoán đổi hoàn cảnh nhưng tôi sẽ cắn chặt bờ môi cương quyết chối từ, tôi sẽ án che Hát và dõng dạc nói với anh: Đừng có nằm mộng. Ưa gây chuyện lớn sao?

Hát bấu vào cánh tay tôi và tựa đầu một bên vai. Hình như Hát giàu kinh nghiệm về thời tiết khắc nghiệt cao nguyên, biết cái mong manh của cơ thể và cả hai đều có chung một cách giải phương trình: Muốn san sẻ cái lạnh, muốn ấm người, không gì khác hơn là một nụ hôn. Chuyện nhỏ không được Hát dùng vào trường hợp này, có thể Hát viết nên một mệnh đề khác; Từ một điểm ở ngoài tình bạn, ta chỉ có thể đi bên nhau, cùng lắm là nắm tay nhau, tựa vai nhau và ta chỉ hình dung ra có ngần ấy thôi. Nhiệm vụ của phái nam là gì nếu không muốn nói tới chữ nhẫn nhục chịu đựng và theo như kinh nghiệm của quý vị phụ huynh học sinh: Mới quá mà, cho con người ta có thời gian tìm hiểu đã chứ. Muốn ăn chè trôi nước anh phải nhào bột, anh phải hầm đậu xanh cho nhừ sau khi đãi vỏ, anh vo viên làm nhưn nhuỵ bên trong, anh phải chuẩn vị rang mè, thái gừng lát mỏng, anh phải để lửa nhỏ khi thắng đường cho sệt lại. Nói chung, phàm làm việc gì cho ra đầu ra đũa anh phải đầu tư công sức cũng như thời gian. Và như vậy, một nụ hôn nhằm trao gửi tới người mình yêu, anh không thể nóng lòng mang hia bảy dặm hùng dũng sãi bước chiếm ngự phủ đè. Đà Lạt rất lạnh khi đêm về, chuyện ấy trẻ lên ba cũng tường nhưng anh đang học lớp 11 anh không thể để cho nước mắt nước mũi hiện hình làm ô uế, làm mất mặt bầu cua. Anh phải giữ thể diện. Trong những lá thư Ba tôi viết vừa răn đe vừa uỷ lạo tinh thần cho đứa con út xa nhà luôn có một hàng “nhãn tự”, ấy là đói cho sạch rách cho thơm, giấy rách phải giữ lấy lề. Có lẽ tôi mang tội bất hiếu bởi tôi chưa thấy có ai đói rách mà thơm tho cả. Mũi ta phải nhăn nhíu lại khi đứng gần kề một hành khất đại hiệp, đơn giản như một cộng một bằng hai. Tình yêu là gì? Tôi rất muốn chứng minh cho Hát thấy về phương trình hình học không gian: 1+1=1.

Anh tôi vì là giáo viên, do méo mó nghề nghiệp, phần khác vì nhận lãnh trách nhiệm uốn nắn tôi thành kẻ hữu dụng nên vẫn có tiếng chì tiếng bất khi lên án việc học sa sút của tôi. Tôi cúi đầu làm ra vẻ thành tâm hối cải nhưng rõ là lời giáo huấn kia đã là thứ nước đổ đầu vịt. Tôi chong đèn thức khuya như thể siêng năng gạo bài nhưng kỳ thực tôi đang dàn trải mộng mị say sưa vào cuốn nhật ký có bề dày 200 trang với hình bìa là chiếc cyclo in mực xanh. Lý ra tôi phải học ban C vì khi viết về Hát tôi đã dựng nên một cảnh quang kỳ khu diễm tuyệt với thứ danh từ tĩnh từ động từ bán trời không văn tự. Tôi đảo lộn văn phạm chẳng màng tới thì quá khứ tương lai hiện tại. Tôi yêu Hát và tôi đang gần té giếng. Toán Lý Hoá Vạn Vật làm sao so bì được với thơ Đinh Hùng:

“em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ

nắng trong hoa với gió bên hồ

dành riêng em đấy khi tình tự

ta sẽ đi về những cảnh xưa”.

Vợ anh tôi lâm bồn, anh tôi là con gà mắc đẻ, lúng túng vụng về nhớ cái này quên cái kia. Một kẻ tự dưng lên chức cha, dù đã chuẩn bị tinh thần, kẻ ấy bỗng chốc đâm quờ quạng thấy rõ. Anh vào nhà thương suốt và tôi lợi dụng vác chiếc Suzuki của anh chở Hát đi tới bỏng khét. Ở Đà Lạt không hiểu sao anh lại mua hiệu xe này thay vì Honda? Xăng pha nhớt thở khói rên la khi vượt khỏi con dốc Duy Tân. Qua đồi Cù, Hát nói tụi mình thử đi hết con đường này xem tới đâu. Nắng mênh mông, nắng vàng chan ngập lối. Màu thông xanh, xanh thẳm sâu dẫn tuốt về Thái Phiên. Đà Lạt vẫn có những ngày mang vẻ đẹp độ lượng như thế, cảnh sắc thanh bình yên hàn vô sự và tôi như đang thồ một chậu kỳ hoa dị thảo thơm ngát biết nói cười ở sau lưng. Hát vòng tay ra ôm vào bụng tôi để chứng thực rằng da thịt này là của một người nữ mà con tim của đương sự vẫn mãi miết đập vào lưng tôi những sát na hạnh phúc. Hạnh phúc thay cho những kẻ mãi hồn nhiên. Câu này chắc tôi sẽ viết vào cuốn vở nhật ký. Và rồi tôi sẽ bôi bẩn nó. Một mệnh đề khác hoán đổi. Khi hôn nhau, sự hồn nhiên còn đó hay nó sẽ biến mất? Khi đôi tình nhân hôn nhau, họ có hạnh phúc không? Tôi thắng xe lại, tôi nói đây không phải là hồ Than Thở nhưng tôi mãi thở than nếu chúng ta không thử hôn nhau. Hát nói, cái đẹp trong giao tình của lứa đôi chỉ nằm vào chữ tự nguyện. Khi người ta ra điều kiện hoặc dùng tới giải pháp trấn lột, tự họ đã bôi đen vào mối quan hệ kia. Mình sẵn lòng cho bạn lựa chọn, chỉ nói cho bạn hay một điều, mình chưa có sẵn sự tự nguyện.

Đà Lạt 1969 – Nguồn: panoramio.com

Mây che trên đầu một vầng im ắng và con đường trở lại thành phố nghe hao mòn tiếng cười niềm vui. Lý ra Hát phải học ban B mới hợp tạng, ở Hát đầy rẫy những công thức, những lề luật cứng ngắt, những tiểu tiết làm nên một tổng thể kiên định của lý trí có sức nặng đè bẹp một mưu toan của con tim dại khờ. Tôi mãi khờ dại khi yêu thơ Đinh Hùng:

“ta ra đi tìm lớp học thiên đường

và khi đó thì mẹ yêu ngồi khóc”

….

“thương nhau gói trọn hồn trong áo

mất nhau từ trong tà lụa bay”.

Viết tới đây tôi thử làm một con toán nhẩm. Như vậy tôi xa Đà Lạt đã 44 năm. Anh tôi đã về sống ở Sài-gòn sau khi ra miền Trung di dời mộ phần Mạ tôi (nằm trong khu vực bị giải toả) lên cải táng ở Đà Lạt. Anh gửi hình cho tôi xem mộ phần người tôi yêu quý suốt đời. Công sức của anh, thành quả anh tạo dựng được thật chẳng có bút mực nào tả xiết. Tôi mang ơn anh, thật nhiều, về những ngày sống cơ hàn ở bên nhau giữa một Đà Lạt thường hằng lạnh giá. Tôi cũng cám ơn Hát vô vàn, người đã rộng lòng dắt tay tôi đi qua những nỗi khổ đau dịu dàng khi “tình chỉ đẹp khi còn dang dở”.

Tôi mong mỏi có ngày được trở về thăm lại Đà Lạt dù biết rằng “không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Tôi về chỉ để cúi đầu ăn năn trước mộ Mạ, nhắc lại chữ Mạ hay mắng: Đồ mạt máu! Tôi về để đi ngang qua đường Phan Đình Phùng mãi song song cùng đường Hai Bà Trưng. Hát cùng chồng, là một thương gia thành đạt hiện có cơ ngơi đồ sộ ở Nha Trang. Hát ngạc nhiên khi biết tôi có viết văn và đứa viết văn thường chung đụng với những cảnh bất ưng. Thành tâm để thưa rằng Hát biết không, chính Hát và Đà Lạt đã khiến trái tim tôi mãi mềm yếu. Thiếu cái độ mỏng dễ hư hao kia, bất luận là ai, kẻ đó suốt đời chẳng viết tròn một câu văn. Có điều này nói ra chẳng biết Hát tin không: Tôi vẫn còn yêu Hát, sâu đậm, một mối tình… mạt máu!

Hồ Đình Nghiêm

lễ tình yêu 2016

Giải cứu Huế Tết Mậu Thân

Triệu Phong chuyển ngữ

POSTED BY SEASHELLOC ⋅ THÁNG HAI 8, 2020 

Post by Sơn râu 24 Dec 2023

Bài 15

Chương 11

Khơi mào (Phần 1) 

Từ sớm ngày 12, Th/tá Thompson và Tiểu Đoàn 1/5 vẫn còn dậm chân tại chỗ ở vùng Hữu Ngạn mà lẽ ra họ phải đang trên đường vào Mang Cá; đến nơi trước họ có ĐĐ Alpha và hai trung đội của ĐĐ Bravo. Riêng ĐĐ Delta không còn thuộc quyền chỉ huy của ông nữa mà tạm thời kết hợp với Tiểu Đoàn 2/5 để hành quân ở vùng Nam sông Hương.

Một lần nữa hoạt động của TQLC chỉ có tính cách lẻ lẻ từng phần.

Th/tá TQLC Mỹ Bob Thompson. (DOD/USMC)

Kiên nhẫn vốn không phải là đức tính của Thompson, nay lại là dịp để thử thách ông thêm vì ông cùng đại đội chỉ huy Charlie và trung đội còn lại của ĐĐ Bravo vẫn còn đợi ở bến tàu bên Nam sông Hương chưa thể khởi hành vào Mang Cá được vì hỏa lực rất nặng của địch bắn ra từ Thành Nội. Th/tá Thompson và Th/tá Len Wunderlich, sĩ quan hành quân kiêm sĩ quan điều hành của ông, lợi dụng thời gian trễ nải để huấn luyện thêm cho binh sĩ, những chiến binh đã từng tác chiến trong thành phố suốt hai tuần qua. Những thông tin và lời nhắn nhủ tỏ ra rất hữu ích cho những ngày sắp đến. Đến xế chiều họ mới khởi hành được, tuy nhiên Thompson lại gặp thử thách  khác. Số là sau khi đổ bộ xuống bến tàu bên ngoài Mang Cá, Thompson và nhóm chỉ huy dẫn đạo đi lố qua khỏi ngã rẽ vào Mang Cá và suýt lọt vào vùng địch kiểm soát. Sau khi đi quành trở lại đúng chỗ rồi thì vì bất đồng ngôn ngữ, lính canh không cho vào thành. Cuối cùng khi Th/tá Thompson dọa sẽ dùng đến võ lực thì mọi sự mới êm xuôi.

*

Chiều tối, thêm hai tiểu đoàn TQLC NV đến, mang theo 5 khẩu đại bác 105mm; họ từ Sài Gòn ra sau khi vừa giao tranh với địch vào những ngày đầu Tết xong. Bốn ngày sau một tiểu đoàn khác sẽ cùng đến nhập cuộc.

12 tháng Hai cũng là ngày chuyển quân của 3 tiểu đoàn Dù VN rời Thành Nội để về căn cứ gốc ở Sài Gòn. BCH Lực Lượng Đặc Nhiệm Dù (The Airborne Task Force HQ) cùng TĐ9 được không vận về Phú Bài trước 4g50 chiều, hai tiểu đoàn khác di chuyển bằng LCU qua bến sông ở Nam sông Hương, sau đó được đưa về Phú Bài bằng quân xa. Thời tiết vẫn tiếp tục lạnh và mây thấp khiến cuộc đổi quân càng thêm chậm chạp.

Sang ngày hôm sau toàn bộ quân Dù hoàn tất cuộc di chuyển vào Sài Gòn bằng máy bay .

Theo báo cáo của Th/tá Milton Bertrand cố vấn trưởng của Lực Lượng Đặc Nhiệm Dù trong cuộc hành quân tại Huế, đơn vị này đã thiệt mất 119 chết và 396 bị thương, địch có 910 chết. Riêng Tiểu Đoàn 9 Dù có 55 chết, 125 bị thương, hầu hết trong cuộc giao tranh ở Quảng Trị trong hai ngày 31 tháng Giêng và 1 tháng Hai. Tiểu Đoàn 7 Dù có 47 chết, 156 bị thương đa số từ cuộc tấn công vào khu nghĩa địa bên ngoài khu thành Tây Bắc Huế hôm 31 tháng Giêng. Còn lại Tiểu Đoàn 2 Dù thì số chết là 17 và 115 bị thương. Nói 2chung quân Dù sau những trận giao tranh đẫm máu bây giờ đã mệt mỏi và què quặt, họ dồn chút tàn sức còn lại để hoàn tất cuộc triệt thoái.

“Khi lên máy bay để về Sài Gòn chúng tôi chỉ còn 169 người kể cả những thương binh còn đi đứng được.” Đ/úy Blair cố vấn của Dù 7 nói.

Lược đồ các đường tấn công của quân Mỹ và Nam Việt từ ngày 1 đến 12 tháng Hai, 1968. (DoD/MarineCorps) 

Kế hoạch đề ra là tiểu đoàn của Th/tá Thompson sẽ từ BCH SĐ1 tức thành Mang Cá, với ba đại đội tiến về hướng Đông Nam để chiếm vị trí trước đây do Lực Lượng Đặc Nhiệm Dù NV trấn giữ ở mạn Bắc đường Mai Thúc Loan, nơi đây được gọi tên là ‘Lằn Tuyến Xanh’ (Phase Line Green). Lực Lượng TQLC NV mới đến được giao nhiệm vụ yểm trợ các đơn vị Nam Việt khác đang trấn giữ ở khu vực Tây của Thành Nội. Sau khi mới vào Thành Nội đêm 12, Th/tá Thompson liền được Tướng Trưởng và Đ/tá Adkisson tóm lược tình hình tại chỗ. Tướng Trưởng biệt phái cho Thompson Tiểu Đoàn 2/3 đi theo giữ an ninh mạn sườn phải và phía sau, đơn vị này kiêm thêm việc giải quyết vấn đề dân tị nạn và lấy cung tù binh.

*

Sáng 13 tháng Hai là ngày hiếm hoi có nắng nhưng tiếc thay đây không phải là dấu hiệu của một ngày tốt.

Đạo binh của Thompson xuất quân lúc 8 giờ sáng tiến về phía ‘Lằn Tuyến Xanh’ là tuyến đầu mà Thompson lầm tưởng vẫn còn do 3 tiểu đoàn Dù NV trấn giữ. Lúc gần đến mục tiêu đại đội tiên phong Alpha lọt ngay vào hàng rào lửa của địch khiến họ bị tổn thất nặng nề, đồng thời nguyên tiểu đoàn phải dừng lại.

TQLC Mỹ không biết quân Dù NV đã rút khỏi khu ‘Lằn Tuyến Xanh’ là chuyện thật khó tin bởi vì ngày hôm trước quân Dù rầm rộ cuốn gói ra khỏi Mang Cá ngay trước mặt tiểu đoàn TQLC mới đến này, thế mà Thompson vẫn cứ thề là không ai nói gì cho ông ta hay cả.

“Tướng Trưởng hay một sĩ quan nào đó của ông, tên gì tôi không nhớ, có nói với tôi rằng tiểu đoàn Dù NV đang án ngự ở đó,” Vài năm sau Thompson nhắc lại. “Tôi dự tính cho quân vượt lên trước họ rồi thế chỗ luôn. Ai ngờ có ma nào đâu và thế là ĐĐ A của tôi dẫm phải lửa.” Sự mập mờ về chuyện các đơn vị Dù có đó hay không, nguyên nhân có thể vì tiểu đoàn của Th/tá Thompson chuyển quân vào Mang Cá trễ gần một ngày; lúc họ đến nơi thì trời đã tối mịt. Lại nữa Thompson vào thành mà không có một ý niệm tình báo nào cả, một phần, đơn vị khá lộn xộn trong khi vận chuyển, không còn thì giờ để thăm dò trận địa trước. Tiểu đoàn của Thompson như vậy đã học được bài học về tác chiến trong thành phố với một giá khá đắc. Lúc 8g15 ngày 12 Th/tá Thompson gọi cho Đ/tá Hughes ở MACV thông báo về kế hoạch hành quân của mình cho ngày hôm sau, ông có đề cập đến việc hai tiểu đoàn TQLC NV đáng ra sẽ yểm trợ bên mạn sườn phải nhưng đã không đến, mặc dù họ có đến nhưng Thompson không biết. Trong cuộc điện đàm Thompson không đá động gì đến quân Dù NV mặc dầu họ rút quân khỏi Mang Cá trong cùng ngày.

“Chuyện nhầm lẫn nếu có là do vấn đề thông tin liên lạc,” Tướng Trưởng về sau nói. “Tôi thường xuyên liên lạc với chỉ huy trưởng của Lực Lượng Đặc Nhiệm Dù. Ông ấy là bạn thân của tôi. Còn TQLC Hoa Kỳ tôi đã thông báo với họ đầy đủ tất cả tin tức.”

Bản đồ hành quân tái chiếm Huế sau này do Th/tá Thompson vẽ lại cho cuốn sách “The Battle for Hue” của Nolan. Những chú thích cho thấy mặc dù đã trên 15 năm sau Thompson vẫn còn hằn học vì tổn thất trong ngày đầu tiên của con cái mình. Ông ta vẫn đổ thừa cho quân Dù NV đã rút ra khỏi vị trí mà không thông báo trước,, ngoài ra ông ta vẫn giữ lập trường ác cảm đối với TQLC quân đội Nam Việt. (DOD/USMC) 

Căn cứ theo một bài tường trình về trận đánh Huế, TQLC Mỹ đã không ngớt chỉ trích quân đội Miền Nam về biến cố này, họ mạnh mẽ ngụ ý rằng do thiếu thông tin về sự triệt thoái ra khỏi vị trí của quân Dù NV đã đưa đến sự thương vong không cần thiết cho TQLC Hoa Kỳ.

Ba mươi năm sau Thompson còn nói: “Hồi đó nếu tôi biết quân Dù NV không còn đó thì tôi đã có kế hoạch hành quân khác rồi.”

Các cố vấn Mỹ của các đơn vị Dù NV thì cho rằng TQLC đáng ra phải biết về việc rút quân của quân Dù vì việc đó diễn ra trước mặt họ.

“Bình thường phải có một cuộc bàn giao tại chỗ nhưng đằng này chúng tôi được lệnh phải rút lui và xuống tàu đổ bộ ngay,” Đ/úy Cobb cố vấn cho Tiểu Đoàn 2 Dù NV nói. “Tôi thật bực mình vì TQLC HK cho rằng chúng tôi bỏ đi trước khi họ đến khiến họ bị ăn quả tạ. Chúng tôi vì được lệnh rút nên phải thi hành chứ các binh sĩ đơn vị tôi không bao giờ trốn tránh ai hay tránh né chuyện gì cả.”

Đ/úy Blair cố vấn của TĐ9 Dù nhớ đã có gặp một trong những đại đội trưởng TQLC Mỹ để thông tin về việc triệt thoái của tiểu đoàn này.

“Theo dự liệu trực thăng sẽ đến đón đi nên sáng đó chúng tôi tập trung đầy đủ ở Mang Cá nhưng cuối cùng thì không chiếc nào đến cả,” Blair kể. “Tôi có nói chuyện với viên đại úy này rồi trở về vị trí. Mãi lâu sau đó chúng tôi trở lại bãi đáp để lên trực thăng về Phú Bài.”

Hình do nữ phóng viên Pháp Catherine Leroy chụp cảnh trợ y đang băng bó vết thương cho một binh sĩ TQLC. (icp.org)

Dầu sao thì sao, TQLC Mỹ cũng đã bị một phen bất ngờ khi họ vừa xuất quân sáng ngày 13 tháng Hai. Trong giờ đầu của trận đánh, ĐĐ Alpha dẫn đầu bị tổn thất 2 chết, 33 bị thương. Trong số bị thương có Đ/úy Đại Đội Trưởng J. J. Bowe, và viên sĩ quan điều hành. Vốn đã hao hụt quân số từ trước, sau lần thương vong này ĐĐ Alpha phải rút về để tái tổ chức và về sau không còn tác chiến ở Huế nữa. Đến trưa, Th/tá Thompson phải xin lại ĐĐ Delta đang tạm bị trưng dụng để càn quyét ở vùng Nam sông Hương. ĐĐ Charlie được điều động lên tiền đạo thay thế cho ĐĐ Alpha, không mấy chốc đơn vị này liền rơi vào hỏa lực ác liệt của địch từ thượng thành, nóc nhà và cửa sổ ở các tầng lầu bắn xuống. Quân TQLC vốn không quen tác chiến trong thành phố đâm ra bối rối và ngập ngừng không biết phải tiến thối ra làm sao hệt như những đơn vị chị em Tiểu Đoàn 1/1 và 2/5 đã vừa vấp phải khi giao tranh ở khu Hữu Ngạn. Phải mất một hai ngày sau họ mới học được cách chiến đấu trong thành phố hữu hiệu hơn. Trong thời gian đầu, quân TQLC bị dẫm chân lên một số đơn vị lính Miền Nam mà họ cho là toán quân Dù hậu vệ của NV; sự thật họ có thể là binh sĩ của Trung Đoàn 3 SĐ 1 BB được tạm thời phái đi giữ các vị trí quân Dù bỏ lại.

Phóng viên đài CBS quây cảnh TQLC Mỹ xúm lại cứu một đồng đội bị trúng đạn. (GlobalResearch.CA) 

Nhiều năm sau, Th/úy Nicholas Warr, trung đội trưởng của một trung đội thuộc ĐĐ Charlie đã cay đắng viết lại rằng, TQLC là nạn nhân của trò chính trị thấp hèn trong thảm kịch ở Thành Nội ngày 13 tháng Hai năm Mậu thân. Trong cuốn sách do anh viết nhan đề ‘Phase Line Green, the Battle for Hue, 1968’ (Lằn Tuyến Xanh, Trận Đánh Huế năm 1968), Warr kể rằng không ai cho đơn vị anh biết họ đến để thay thế cho đơn vị Dù Nam Việt nào cả. Đại đội trưởng của anh là Tr/úy Scott Nelson bảo anh tiến quân lên mặt Bắc đường Mai Thúc Loan (Lằn Tuyến Xanh) nằm chờ để phối hợp làm cuộc tấn công vượt qua ngã tư. Anh cũng được biết sẽ không có tiền pháo mở đường cho cuộc xung phong vì sợ thiệt hại cho các thắng tích lịch sử của Việt Nam. Đây là một quyết định hoàn toàn có tính cách chính trị, điều mà Th/tá Thompson không thể có ý kiến gì được. Đúng là một cuộc đổi chát giữa sinh mạng của TQLC và đền đài.

Toán lính Mỹ khiêng bàn ra đường làm chỗ kê cho cây đại liên M-60. (DoD/MarineCorps)

Tác xạ bằng cối 60mm trên một con đường ở nội thành. (newseumed.org)

Đội pháo thủ cối 81 ly hoạt động trong sân một tư gia. (HistoricaFirearms.Info / Catherine Leroy) 

Warr viết một cách chua chát:

‘Sự điên rồ này, những qui ước về giao chiến khốn nạn này đã trói tay trói chân người chiến binh Hoa Kỳ, không cho phép họ được sử dụng những vũ khí chiến thuật cần thiết hầu giúp họ đạt được ưu thế trong chiến đấu — cả một hỏa lực hùng hậu như tác xạ bằng pháo binh, phi pháo, hải pháo để yểm trợ cho bộ binh trước khi tấn công đều không được sử dụng — lệnh cấm sử dụng vô lí này vẫn duy trì cho đến ngày thứ tư của trận giao chiến ở Thành Nội khiến cho biết bao chiến binh của 1/5 bị thương vong.

‘Thực ra sau khi lệnh này được hủy bỏ và sự thống thiết yêu cầu của 1/5 xin được yểm trợ bằng hỏa lực nặng được chấp thuận rồi thì cũng phải mất thêm ba ngày ác chiến đẫm máu nữa mới giành được khu phố đầu tiên ở ngay phía bên kia Lằn Tuyến Xanh. Hỏa lực nặng giúp giành lại phần đất ấy gồm tác xạ của pháo binh, đại bác 90mm của chiến xa, luôn cả của 106mm không giật gắn trên các xe Onto, nhiều phi tuần dội bom lửa napalm, bom 250 cân và bom 500 cân có sức công phá cực mạnh thả từ các chiến đấu cơ F-4, kể cả hải pháo từ các chiến hạm cộng với hỏa lực súng nhỏ và súng phóng lựu M-79 của hai Đại Đội Alpha và Bravo. Trong tiến trình cuộc giao tranh này, tất cả nhà lầu hai tầng nằm viền theo mặt Nam của Lằn Tuyến Xanh do địch kiểm soát đều bị san bằng thành bình địa. Chẳng còn chi để mà bảo vệ di sản quí giá nữa.’ 

(USMC.Archives)

Cuộc tiến quân dọc theo thượng thành về hướng cửa Đông Ba, có chiến xa M-48 dẫn đầu. (history.army.mil)

Warr, cậu thanh niên nhà nông ở miệt Tây Nam Tiểu Bang Oregon, có đủ lí lẽ để mà cay đắng như thế. Trung Đội 1 thuộc ĐĐ Charlie của anh trong ngày đầu tiên đã chịu tổn thất 7 chết 20 bị thương trong tổng số 51 người. Kể từ đó trung đội của anh bị giải tán và những kẻ sống sót bị phân đều qua các trung đội khác. Khi chiến dịch tái chiếm Thành Nội chấm dứt, những thành viên trong trung đội nguyên thủy của Warr chỉ còn vỏn vẹn 13 người.

Cha tuyên úy Th/tá Aloysius S McGonigal theo Tiểu Đoàn 1/5 vào Thành Nội  một ngày trước ngày tấn công chiếm lại cửa Đông Ba. Ông làm lễ rửa tội cho một binh sĩ đang hấp hối. Một lát sau ông cũng bị giết. (Newseumed.org)

Trở lại cuộc tiến quân đến Lằn Tuyến Xanh, hôm ấy quân TQLC 1/5 phải mất 7 tiếng mới đến được mục tiêu; lúc 3 giờ chiều họ được lệnh dừng quân, củng cố vị trí và chuẩn bị cho cuộc tiến quân ngày hôm sau.

Một xạ thủ đại liên có con bài xì bích gắn trên nón, có nghĩa mang lại điềm xui xẻo cho phe địch. Một hình thức chiến tranh tâm lý, lá bài xì bích thường được đặt cạnh xác địch, hoặc được máy bay rãi xuống bãi chiến địa. (Newseumed.org)

Ngày đầu của cuộc giao tranh đối với Tiểu Đoàn 1/5 cũng là ngày bề bộn ở thành Mang Cá. Thương binh TQLC Hoa Kỳ liên tục được đưa về để chờ di tản bằng trực thăng. Vì thời tiết xấu và hỏa lực địch bắn lên từ ba phía, các máy bay phải lên xuống Thành Nội thật nhanh theo một hành lang nhất định được định trước, phi cơ nào đi trật ra ngoài dễ có nguy cơ bị bắn rơi. Sau chiến dịch giải vây Thành Nội có tất cả 60 trực thăng hoặc bị bắn hạ hoặc bị hư hại vì trúng đạn.

Trước giờ phút lâm chung trong một căn nhà rường ở Thành Nội. (Newseumed.org)

Cứu đồng đội bị trọng thương lúc đang giao tranh gần Chợ Xép, cửa Đông Ba. (Neweumed.org)

Những thương binh được đưa về trong đợt đầu tiên trông rất bàng hoàng, họ quen chiến đấu nơi các đồng ruộng trống trải, tác chiến trong thành phố với họ là điều hoàn toàn xa lạ. Xe Jeep và xe không mui, còn gọi là ‘xe lừa’ (mules) liên tục chạy ra vào Mang Cá chở theo lính tử trận hoặc bị thương. Có người vết thương thật ghê rợn, có người đang trong cơn hấp hối.

Ngày 17 tháng 2, nhiếp ảnh gia John Olson chụp cảnh lúc các binh sĩ Mỹ bị thương được chất trên một chiến xa. Về sau bức ảnh trở thành hình biểu tượng của chiến tranh VN, được đăng trên tạp chí Life số 8.3.1968. (Newseumed.org) 

Tất cả chúng tôi đều chạy ra để săn sóc thuốc men, hoặc ngồi bên băng ca để vỗ về an ủi, mời họ hút thuốc hoặc lắng nghe họ tâm sự. Người chết được trùm bằng poncho xếp thành hàng gần bãi đáp; dĩ nhiên người bị thương vẫn ưu tiên hơn.

Những gì đang chứng kiến tôi đã chứng kiến rồi ở bên khu Hữu Ngạn. Các binh sĩ TQLC này cũng rất trẻ như những người tôi đã gặp bên kia sông; họ cũng tỏ ra tự kỷ không kêu la rên rỉ mà chỉ nghiến răng chịu đựng đau đớn. Máu cũng đỏ. Cái chết bên nào cũng như bên nào.

Ngay trong ngày đầu tiên, hết thảy 5 chiến xa của Tr/úy Morrison đều bị trúng đạn, một chiếc tạm bị loại ra khỏi vòng chiến. Đường xá ở nội thành chật hẹp và mỗi nhà đều có tường bao bọc chung quanh khiến các chiến xa khó bề xoay trở dễ làm bia cho địch bắn, trong khi đại bác 90mm gắn trên pháo tháp không được khai hỏa chỉ thêm kềnh càng vô ích. Nhiều thành viên xa đoàn than phiền bị long đầu khi địch bắn B-40 trúng thành xe, có người bị chấn động não (concussion) phải đưa đi cấp cứu. Sau ngày đầu tiên, cả 5 chiến xa phải đưa về Mang Cá sửa chữa và những ngày giao tranh sau đó cũng tương tự.

Đường xá ở nội thành chật hẹp, khó bề cho chiến xa xoay trở, dễ làm bia cho địch bắn. (Newseumed.org)

Morrison bước quanh một chiếc, anh nhìn những chỗ lõm vào và cháy nám trên thành xe mà lắc đầu.

“Trung Úy ơi lại đây coi nè,” Một binh sĩ của Morrison lên tiếng. Một vết nám lớn vừa ngay mé trái lỗ khoét cho tài xế nhìn, sờ vào vẫn còn thấy nóng. “Chỉ cần nhích qua phải một tí là tôi đi đong. Chiến tranh chó má thật.”

Anh chàng châm điếu thuốc hút nhưng tay vẫn còn run, và nói chuyện thật lớn giọng như người bị lảng tai. Đêm đến anh phải nhờ bạn bè mở dùm đồ hộp vì tay run quá không tự mở được và rồi anh ta cũng không thể đưa đồ ăn vào miệng.

Có mấy người nhà báo đi lại chỗ xa đoàn thiết giáp hỏi chuyện với họ; vốn là thanh niên trai trẻ nên trước ống kính mấy anh chàng tha hồ nổ.

“Chúng tôi bắn bay tầng trên một nhà lầu, thế là có thằng địch văng xuống và rơi bịch như cứt rớt từ đít con bò cao cẳng xuống đất.” Một người bắt đầu ba hoa trong khi mấy người khác ôm miệng cười ở phía sau.

Giải cứu Huế Tết Mậu Thân

 Triệu Phong chuyển ngữ

Posted by seashelloc tháng hai 7, 2020  

Post by Sơn râu 24 Dec 2023

Bài 14

Chương 10

Thành Nội 

Ngày 7 tháng Hai bắt đầu bằng một tiếng nổ lớn. Đêm hôm trước đặc công và người nhái địch đã đặt một khối lượng lớn chất nổ để giật sập cầu Trường Tiền. Một đoạn cầu dài 100 mét bị đứt lìa, chìm xuống nước, khiến giao thông bằng xe cộ hoàn toàn bị gián đoạn; về sau chỗ này được tạm sửa chỉ để có thể đi bộ. 

Sau khi quân Đồng Minh tái chiếm xong khu Hữu Ngạn, CS giật sập hai vài của cầu Tràng Tiền đêm 7 tháng Hai hòng làm gián đoạn đà tiến đánh của quân Mỹ qua Tả Ngạn sau đó. (DoD.MarineCorps) 

Sức nổ làm chọc thủng màn sương và cơn mưa bụi của buổi tinh mơ lúc 5 giờ sáng. Tiếng nổ cũng tạo cơn chấn động như đợt hỏa tiễn mở màn trận đánh 8 ngày trước đây. Tôi bị giật bắn người trong khi đang trực gác ở MACV.Quyết định giật sập cầu là thái độ dứt khoát của địch đối với khu Hữu Ngạn. Thành Nội mới là trọng điểm họ cần bám giữ. Quân CS đã gởi một tín hiệu cho thấy bây giờ họ đang dồn hết nỗ lực cho khu Tả Ngạn. Sứ mệnh của họ là cố thủ Thành Nội càng lâu càng hay, càng giữ lâu họ càng có lợi thế về mặt chính trị, cái giá mà họ phải đạt được trước dư luận quốc tế. Trong khi phe Đồng Minh muốn đẩy họ ra cần phải sử dụng nhiều sức mạnh, hành động này đưa đến sự tàn phá một thắng tích lịch sử tôn nghiêm mà hậu quả sẽ coi như trút lên đầu quân đội Hoa Kỳ. 

Không ảnh một phần sông Hương và khu Tả Ngạn, sau khi cầu Trường Tiền bị giật sập. (DoD.MarineCorps) 

Việc đánh sập cây cầu chính bắc qua hai khu vực, người CS đã tỏ rõ cho thấy sức mạnh và quyết tâm của mình. Họ muốn bắn tiếng rằng trận đánh này còn lâu mới xong; mà sự thật sau này diễn tiến sẽ đưa dần đến như vậy. Phe Đồng Minh cũng vậy, cùng hôm ấy họ biểu dương sức mạnh bằng cuộc dội bom của Không Quân Nam Việt. Một oanh tạc cơ A1 Skyraider thả 20 trái bom 500 cân anh xuống dãy tường thành; cuộc oanh tạc được xem như lớn nhất kể từ khi trận đánh bắt đầu. Thoạt đầu một phi cơ quan sát nhỏ bay vào để đánh dấu mục tiêu, sau đó oanh tạc cơ cánh quạt từ từ đâm bổ xuống để trút bom, chiếc này vần vũ lên xuống từ Tây sang Đông và Đông sang Tây ở cao độ chỉ có 100 mét. Tiếng nổ vang dội dưới tầng trời mây thấp trong khi vôi gạch bắn xa lên không trung hằng chục mét.

Một máy bay trinh sát lấy tọa độ cho Skyraider thả bom ở cửa Đông Ba, vừa trong Thành Nội bay ra phía sông Hương. (USMC Archives) 

Hai phía coi như đã nhe nanh múa vuốt chuẩn bị cho màn ngoạn mục sẽ diễn ra. Vì tình trạng mây thấp kéo dài suốt hai tuần lễ đầu, phi cơ cánh quạt một động cơ trở nên thích hợp hơn phi cơ phản lực cao tốc. Mỗi chiếc có thể mang được 12 trái bom 500 cân, tương đương với trọng tải tổng cọng 6000 cân.

*

Vào đầu tháng Hai lực lượng địch ở Thành Nội hầu như đã ngang ngửa hoặc hơn hẳn quân đội Miền Nam. Nhưng kể từ đó quân Miền Nam chỉ nhận được tiếp tế nhỏ giọt và nay đang cạn kiệt dần, họ chỉ đủ khả năng từ Bộ Tư Lệnh SĐ 1 đánh thọc ra được 1000 mét để tái chiếm phi trường Tây Lộc rồi dậm chân tại chỗ. Trong khi đó địch quân vẫn chiếm giữ được 60% diện tích Thành Nội và tiếp tục được chi viện đều đặn từ quân cho đến vũ khí đạn dược, lương thực. Quân CS đang đóng chốt vững vàng và có vẻ quyết bám tới cùng.

“Trên cương vị cá nhân tôi rất lấy làm phẫn uất và thất vọng vì người Mỹ trong suốt 10 ngày đã không cung cấp được cho chúng tôi thực phẩm cũng như đồ tiếp liệu,” Đ/úy Jack Chase cố vấn cho Đại Đội 3 Tiểu Đoàn 7 Kỵ Binh Nam Việt nói. “Việc này người Việt không lo mấy vì nguồn tiếp tế của họ cũng khá dồi dào; dân chúng ở Huế rất vui vẻ san sẻ thực phẩm với chúng tôi đó là nhờ nhà nào cũng dự trữ nhiều đồ ăn để vui chơi dịp Tết. Nhưng có lúc thiếu thốn phải ném lựu đạn xuống hồ để kiếm cá ăn; bởi vậy hậu quả là tôi bị viêm gan là thế.”

Tuy nhiên việc tiếp tế đạn dược là vấn đề khác. Đơn vị của Đ/úy Chase thì hoàn toàn thoải mái vì họ trang bị toàn súng Carbine mà đạn dược thì có sẵn trong luồng tiếp tế của quân đội Miền Nam. Riêng quân Dù vì họ được trang bị bằng M-16 nên họ phải trông vào Mỹ tiếp tế đạn dược. Tuy nhiên các thiết vận xa trong đơn vị của Đ/úy Chase phải chịu sự thiếu thốn đạn đại liên 30 và 50. Giải pháp của nhiều đơn vị VN là sử dụng lại vũ khí đạn dược tịch thu được của địch. Trong đa số trường hợp, đó chỉ là cách chọn lựa duy nhất của họ.

“Carbine là loại súng bắn chậm nhất, gần như tôi có thể thấy được đạn bay ra khỏi nòng,” Chase nói. “Nó trở nên vô dụng khi đem ra dùng tác chiến trong thành phố.”

Yếu tố khác khiến quân Miền Nam tiến quân chậm chạp là thiếu vũ khí nặng và phi pháo yểm trợ. Đ/úy Chase tiếp, “tôi biết thời tiết xấu thật nhưng sự thật là hoàn toàn không hề có một yểm trợ nào.”

Rồi ra thì đơn vị của Đ/úy Chase cũng được một tác nhân bất ngờ làm nức lòng chiến sĩ, đó là khi Đ/úy Thi đơn vị trưởng cũ bỗng nhiên tìm đến rồi tái nhập cùng đơn vị hôm 3 tháng Hai. Số là nhiều tuần trước đó Đ/úy Thi được điều về làm việc ở BCH Tiểu Đoàn 7 Kỵ Binh tại An Cựu; hôm Tết ông bị kẹt trong khi đang nghỉ phép với gia đình ở Thành Nội. Ông phải trốn trên gác lửng dưới mái nhà, nằm chờ cơ hội trong nhiều ngày mới trốn về được với đơn vị cũ. Ba tuần lễ tiếp sau này chính sự trở lại của Đ/úy Thi đã mang lại tinh thần chiến đấu cho binh sĩ biết chừng nào.

Ba Tiểu Đoàn Dù báo cáo diệt được 200 quân CS trong hai ngày 2 và 3 tháng Hai ở khu vực chung quanh phi trường Tây Lộc. Qua ngày 4, Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 3 tái chiếm được một cổng thành ở hướng Tây Bắc. Về hướng Đông Nam, Tiểu Đoàn 4 Trung Đoàn 2 lập được một phòng tuyến nằm cách BTL SĐ1 chừng 6 khu phố và họ đã giữ vững được hơn một tuần lễ.

Tuy nhiên trong tuần đầu mọi tin tức liên quan đến Thành Nội chỉ toàn là tin xấu. Th/tá Lê Văn Ngọc Tiểu Đoàn Trưởng Dù 7 và Đ/úy Chuck Jackson cố vấn của đơn vị này bị thương nặng phải tải đi cấp cứu hôm 2 tháng Hai. “Thật là trúng độc đắc,” Đ/úy Jackson kể lại về quả đạn cối đã làm hai người bị thương và gây tử vong cho người chuyên viên truyền tin. “Chúng tôi vừa thiết lập xong trạm chỉ huy tiểu đoàn và đang đứng coi bản đồ thì bỗng nhiên trái cối từ đâu rơi tòm vào giữa 3 chúng tôi. Đúng là trúng số độc đắc.”

*

Sang đến ngày 4 tháng Hai, tiềm năng chiến đấu của đơn vị 3/7 Kỵ Binh khi quân số giảm xuống còn 40 và chỉ 3 thiết vận xa là còn sử dụng được. Ba đơn vị Dù cũng suy yếu trầm trọng. Tiểu Đoàn 7 và 9 cũng như 1/3, mỗi đơn vị bị thiệt mất một đại đội trong trận giao tranh ác liệt ngày 31 tháng Mười Hai trước khi về đến Thành Nội. Riêng Tiểu Đoàn 2 Dù mới về đến Thành Nội trong cùng ngày, lực lượng tương đối còn nguyên vẹn, họ dự liệu sẽ mở một cuộc tấn công bất ngờ ngay đêm ấy vào dãy tường thành Tây Nam phía bên kia phi trường Tây Lộc, một phần để khai thông cuộc tiến quân của quân lực Nam Việt nói chung.

“Người chiến hữu VN tìm gặp tôi và dặn dò tôi hãy gắng giữ kín miệng về kế hoạch tấn công đêm. Ngay cả Tướng Trưởng, anh ta cũng chưa tiết lộ ý định của mình, sợ rằng truyền miệng cuối cùng sẽ đến tai địch quân,” Đ/úy Cobb cố vấn quân sự của Dù 2 nói. “Cuộc hành quân dự liệu sẽ khởi diễn lúc nửa đêm. Lúc bấy giờ tôi nghĩ rằng kế hoạch kín đáo và bất ngờ như thế ắt phải thành công và cảm thấy hãnh diện về họ vô cùng. Thế rồi lúc 11 giờ chúng tôi được lệnh phải rút về BCH SĐ. Tôi đoán bên đó có thể họ đang có gì bất an cần được tăng cường bảo vệ.”

Hóa ra Tướng Trưởng muốn ba tiểu đoàn Dù qua giữ an ninh mặt Đông Nam thay thế cho Tiểu Đoàn 4 Trung Đoàn 2 về giữ trách nhiệm khu vực phi trường. Nhiều cuộc chuyển quân khác đồng thời cũng đang diễn ra. Tướng Trưởng ra lệnh cho Phân Đội 2 Tiểu Đoàn 7 Kỵ Binh di chuyển từ Quảng Trị vào Huế hôm 3 tháng Hai nhưng phải ba ngày sau họ mới chuyển quân được vì đang đụng độ với địch. Đến ngày 6 họ rời Quảng Trị với lực lượng bổ sung gồm 15 thiết vận xa. Cùng tháp tùng đoàn xe có Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 1 Bộ binh. Sau khi dừng quân nghỉ đêm ở căn cứ Evans họ thận trọng tiến xuôi về Nam theo QL 1. Khi cách Huế chừng 12 cây số, đoàn xe rời QL1, chạy băng đồng để về Huế. Họ đến Thành Nội lúc 5 giờ chiều mà không gặp mấy đụng độ.

“Trong khi đang di chuyển mọi người đều mang tâm trạng hoang mang lo lắng,” Đ/úy cố vấn Jim Zimmerman nói. “Lí do là nhiều binh sĩ, kể cả Tr/úy Đại Đội Trưởng Nguyễn Hòa đều có thân nhân đang ở Huế.”

Phân Đội 2/7 Kỵ Binh lập tức thay thế cho 3/7 ở khu vực gần phi trường. Như đã đề cập ở trên, Phân Đội 3/7 quân số chỉ còn 40 người cùng 3 thiết vận xa được coi như bất khiển dụng nên cần rút về để tái tổ chức, bổ sung quân số, sửa chữa quân cụ đồng thời lo giữ an ninh cho BCH SĐ1.

Thành phần còn lại của Trung Đoàn 3 của Tướng Trưởng là ba Tiểu Đoàn 2, 3, và 4 cũng về đến Thành Nội bằng thuyền máy hôm 7 tháng Hai. Mỗi Tiểu Đoàn đã từng đánh vào Thành Nội từ hướng Nam sau khi đánh tan được áp lực của địch vào thời gian đầu cuộc chiến. Hai Tiểu Đoàn 2 và 3 tiến chậm dọc theo khu Tả Ngạn về hướng Đông nhưng thất bại không vào Thành Nội được. Còn Tiểu Đoàn 4/3 hôm 31 tháng Giêng vì đang hành quân cách MACV vài cây số về hướng Đông Nam nên cuộc hành trình vào Thành Nội của họ gay go hơn cả. Cũng như đơn vị chị em 1/3, 4/3 phải chiến đấu để thoát vòng vây của địch. Cuộc đụng độ ác liệt đến nỗi sĩ quan cố vấn Mỹ bị thương trầm trọng phải tải thương bằng trực thăng. Đến khi phá được vòng vây và về đến MACV vào ngày 4 tháng Hai thì lực lượng chỉ còn vỏn vẹn 170 binh sĩ. Ngày 8 tháng Hai, cả 4 tiểu đoàn của Trung Đoàn 3 được chỉ định đóng chốt gần phi trường Tây Lộc thay thế cho Tiểu Đoàn 4 Trung Đoàn 2, trong khi tiểu đoàn này nhận nhiệm vụ mới là giữ an ninh bãi đậu giang đĩnh ở ven sông góc phía Bắc của bộ tư lệnh.

Tôi tái ngộ với các cố vấn quân sự khác ở Thành Nội hôm 8 tháng Hai sau khi theo chuyến tàu đổ bộ LCU đi dọc theo sông Hương, một lộ trình đầy bất trắc. Loại tàu đáy bằng mà TQLC gọi tên là ‘whiskey boat’ này chất đầy đạn dược, đồ tiếp tế, binh lính Miền Nam về tái nhập với đơn vị và cả đám nhà báo. Xạ thủ địch quân ở khoảng cách 600 mét từ trên dãy tường thành phía bên kia sông có thể quan sát bãi đổ bộ thật rõ ràng, chúng tôi có thể bị bắn ngay cả trước khi tàu rời bến.

Nhiều hầm trú ẩn được làm sẵn ở bãi đáp để khi bị pháo kích có chỗ để tránh, nhưng một khi đã lên boong tàu rồi hoặc lúc ở ngoài sông thì chỉ biết phó mạng cho trời.

Chúng tôi chen chúc lên tàu, ngồi khum mình nép sát thành khi tàu bắt đầu rời bến. Khoảng cách theo đường chim bay đến nơi đổ quân ở góc phía bắc của BTL SĐ1 là 3 cây số nhưng vì con sông lượn khúc nên đoạn đường trở thành dài gấp đôi. Lộ trình con tàu đi xuôi dòng về hướng Bắc qua một kênh nước sâu vòng theo cồn đất ở giữa sông (Cồn Hến), cuối cùng thì quẹo thật gắt về hướng Tây để đến bến tàu. Toàn bộ cuộc hành trình là đi xuyên qua vùng địch kiểm soát.

TQLC Mỹ ngồi trên tàu đổ bộ chĩa súng vào bờ sông, nơi hoàn toàn do địch kiểm soát, khi đang được chuyển vận vào BTL SĐ1 NV. (DoD.MarineCorps) 

Địch từ hai bên bờ bắn ra, đạn trúng thành tàu kêu leng keng, hoặc bay rít ngang qua đầu nghe thật ghê rợn. Nhất là khi nghe tiếng đạn cối rời khỏi nòng, bạn chỉ còn biết nín thở chờ chết vì chỉ trúng một quả thôi là con tàu chở đầy đạn sẽ nổ tung. Ai nấy đều thở phào khi trái đạn rơi xuống nước ở ngay phía trước hoặc sau thân tàu. Chúng tôi chỉ biết cúi gập đầu xuống trong khi các xạ thủ đại liên xả tới tấp hàng loạt đạn 50 vào bờ, một vài người bắn cả M-16. Tôi nhìn lại thì thấy mình đang chen vào giữa hai dãy thùng đựng lựu đạn, tôi không dám nghĩ chuyện gì xảy ra nếu địch pháo trúng vào đây.

Kim giờ trên đồng hồ chỉ cho thấy chúng tôi đi chỉ mất chưa đầy nửa tiếng nhưng rõ ràng không ai nghĩ như vậy cả. Cuối cùng thì tôi sung sướng được trở lại bờ an toàn, bến đậu chỉ cách cửa Hậu có 100 mét. Cửa này là cửa duy nhất trong mười cửa vào Thành Nội an toàn nhất.

*

Tôi xúc động mạnh thấy lại được BCH SĐ1. Vào một buổi mai nắng đẹp chỉ mới mười ngày trước đây tôi đã đứng trong đội ngũ ở sân diễn hành này để chào cờ; ngước nhìn lá cờ VNCH được từ từ kéo lên trong khi ban quân nhạc trỗi bài quốc ca Miền Nam (tôi nghe có âm hưởng giống bài quốc ca Pháp La Marseillaise). Tướng Trưởng cùng ban tham mưu và các cố vấn quân sự trong bộ binh phục ủi hồ thẳng nếp đứng chào nghiêm trong khi lá cờ vàng với những sọc đỏ được kéo lên.

Trở lại lần này tôi thấy có nhiều thay đổi. Tướng Trưởng trông hốc hác hẳn đi. Áo quần mọi người không còn ủi hồ nữa. Ngoài sân cờ bây giờ có nhiều hố đạn và công sự bằng bao cát thì hiện diện khắp nơi. Hai tòa nhà lớn bây giờ lỗ chỗ đầy vết đạn và có nơi hư hại vì đạn cối. Các cửa sổ thì hoặc mất hoặc còn dính lủng lẳng, xe cộ bị trúng đạn hư nằm trơ ra đó, vỏ đạn đủ loại nằm vung vãi khắp nơi. Chỉ nhìn ngần đó cũng dư hiểu được chuyện gì đã xảy ra ở đây và quân của Tướng Trưởng đã suýt bị tràn ngập như thế nào.

Trên mặt giấy tờ thì có vẻ như Tướng Trưởng có nhiều quân hơn địch đang hiện diện ở Thành Nội, phỏng chừng ông có khoảng từ ba đến bốn tiểu đoàn. Sự thật thì vì thoải mái vấn đề phép tắc dành cho thuộc cấp trong dịp Tết nên trước khi địch tấn công, phần lớn đang ở nhà với gia đình; lại thêm lực lượng bị tiêu hao qua những trận giao tranh lớn trong tuần lễ đầu tiên. Ba tiểu đoàn của Lực Lượng Đặc Nhiệm Dù số 1 (các tiểu đoàn 2, 7, và 9) thực lực chỉ còn phân nửa. Bốn tiểu đoàn của Trung Đoàn 3 thuộc SĐ1, Tiểu Đoàn 4 thuộc Trung Đoàn 2, và hai Phân Đội của Tiểu Đoàn 7 Kỵ Binh trực thuộc Sư Đoàn 1 cũng đang lâm vào tình trạng tiêu hào quân số tương tự. Hai đại đội Hắc Báo và Thám Báo cũng yếu hẳn đi. Những tổn thất do tử trận hoặc bị thương làm hao hụt mất những chiến sĩ giàu kinh nghiệm và ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu không ít. Nhiều người đi phép đã tìm về được với đơn vị nhưng một số khác hoặc đã bị giết hoặc bị địch bắt làm tù binh.

Binh sĩ quân đội Miền Nam lại đang lâm vào tình trạng đói khát, mệt mỏi và mất nhuệ khí. Họ đang bị thiếu hụt trầm trọng về đạn dược, thuốc men, áo quần và lương thực. Tinh thần chiến đấu xuống thấp. Họ không còn khả năng tấn công mà chỉ rút về thế phòng thủ bị động. Tướng Trưởng nhờ tài lãnh đạo khéo léo mới giữ được binh sĩ chiến đấu trong khi ông không ngớt kêu gọi xin bổ sung quân số và gia tăng tiếp liệu. Ngay chính ông cũng đang ở mức gần kiệt lực.

Ba tiểu đoàn Dù mà quân số bây giờ gom lại chưa bằng một vậy mà bây giờ lại lâm vào ngỏ bí nữa, đó là họ đang bị thiếu hụt tất cả mọi thứ.

“Vấn đề tiếp liệu nay trở nên trầm kha,” Th/tá Milton Bertrand cố vấn cho Lực Lượng Đặc Nhiệm Dù viết trong biên bản hành quân. “Tất cả đồ quân cụ trong kho vũ khí của BTL SĐ1 đã được đem phân phát hết trong khi chưa hề nhận thêm bổ sung từ bên ngoài.”

*

Lực Lượng Đặc Nhiệm nhanh chóng nhận thức được rằng họ không đủ quân và vũ khí nặng hòng có thể bứng được địch ra khỏi các trọng điểm kiên cố. Đang hành quân gần mé Bắc đường Mai Thúc Loan ở phía nam BTL, Tiểu Đoàn 9 Dù tiến theo mạn trái còn TĐ 2 bên mạn phải trong khi TĐ7 yếu hơn chỉ đi theo làm trừ bị, tiểu đoàn này có tân cố vấn là Đ/úy James K. Redding về thay thế cho Đ/úy Chuck Jackson bị thương nặng. Các đơn vị tiên phong thường xuyên chịu hỏa lực nặng từ cả chính diện lẫn hai mạn sườn, đặc biệt là từ thượng thành gần cửa Đông Ba và khu vực Đại Nội.

“Rõ ràng là nếu cứ tiến sâu thêm nữa thì Dù sẽ bị bao vây,” Bertrand tiếp. “Địch chốt rất kỹ trong khu vực, cần có phi pháo trước để dọn sạch bớt chướng ngại mới lấy mục tiêu được. Do vậy ở đây các đơn vị có vẻ tương đối thụ động hơn; họ chỉ mở những cuộc tuần tra, phục kích lẻ tẻ và giữ an ninh cho đơn vị.”

Dù sao thì sao tinh thần chiến đấu của binh chủng Dù vẫn cao.

“Chúng tôi ai nấy đều bẩn thỉu, tả tơi như xơ mướp, ống quần rách thấy luôn cả đầu gối,” Tr/sĩ Mike Smith cố vấn của TĐ 9 nói. “Khi bàn giao vị trí chiến đấu với Trung Đoàn 3, lính Dù nhái tiếng gà kêu để nhạo lính bộ binh, chuyện không khác chi chuyện SĐ 101 Dù Hoa Kỳ khi họ đỡ gánh nặng cho một đơn vị bộ binh ở Bastogne thời Đệ Nhị Thế Chiến.”

Smith còn nhớ lại đợt dội bom của phi cơ Skyraider lên thượng thành gần cửa Đông Ba hôm 7 tháng Hai.

“Lúc ấy chúng tôi ở cách nơi dội bom chỉ khoảng 100 mét, mặt đất rung chuyển mạnh dưới chân,” Smith kể. “Phi cơ trút bom xong vừa bay lên thì quân BV lại đứng dậy bắn theo phía sau. Họ không chết mới lạ chứ; vậy thì họ độn thổ đi đâu? Thành phố này kinh khủng thật.”

Tiếng súng dịu bớt không gian trở lại yên lặng đến chết người.

“Có lúc không nghe cả tiếng mèo kêu lẫn tiếng chó sủa. Suốt thời gian ở đây tôi chưa hề thấy bóng dáng của người dân nào.´ Đ/úy Ty Cobb, cố vấn của TĐ2 Dù, nói. “Cả người và vật chắc quá sợ nên trốn biệt hết.”

Đối với Đ/uý Donald Erbes phụ tá của Cobb thì người thường dân anh thấy có chăng chỉ toàn là người chết. Erbes nói:

“Ở một số nhà, khi đi vào chúng tôi thấy xác chết của đàn ông, đàn bà và trẻ con. Tôi cam đoan họ đã bị xử tử, không thể lầm vào đâu được.”

Quân Dù thuộc Lực Lượng Trừ Bị Quốc Gia, căn cứ gốc ở Sài Gòn nên việc tiếp tế đến với họ phải theo một dây chuyền dài nhất so với các binh chủng khác; bởi vậy khi họ bị thiếu hụt về đạn dược và thực phẩm thì họ là đơn vị cuối cùng sẽ được nhận tiếp tế.

“Nhiều lúc chúng tôi sống nhờ thức ăn kiếm được ở nhà dân,” Erbes tiếp. “Có hôm tôi nhớ là đã ăn toàn chuối và bánh lạt. Dầu sao chúng tôi cũng không sợ chết đói vì người Việt thường trữ nhiều thức ăn ở nhà.”

Tướng Trưởng vốn từng ở binh chủng Dù thời gian 12 năm đầu tiên lúc mới vào quân ngũ đã cố gắng hết sức mình san sẻ hết kho thực phẩm khiêm nhường với các đơn vị thuộc quyền nhưng cũng không có bao nhiêu để mà phân phối.

Hằng ngày tôi lo việc giám sát đám nhà báo đang ngày càng đổ vào Thành Nội đông thêm, ngoài ra còn lo ghi chép dữ kiện để báo cáo và luôn luôn trong tư thế sẵn sàng, nơi nào cần thì tôi có ngay để giải quyết; mà thường thì người ta tìm tôi không ngớt.

Giường ngủ của tôi là nền xi măng trong phòng có mái tôn. Cạnh bên là công sự chiến đấu và nhà vệ sinh. Đạn dược chất đầy hai bên công sự. BCH SĐ1 thường xuyên bị pháo kích bằng súng cối cả ngày lẫn đêm, phần lớn do địch pháo từ Đại Nội ở cách đó 1500 mét. Tuy bị pháo nhưng phe Đồng Minh không được phép phản pháo vào khu vực Đại Nội ngoại trừ bắn trả bằng vũ khí nhẹ vì sợ gây thiệt hại cho di tích lịch sử.

Thời tiết vẫn tiếp tục xấu: mưa và mây mù làm giới hạn công cuộc tiếp tế bằng trực thăng cũng như hoạt động của các chiến đấu cơ chiến thuật. Mặc dù có sự hiện diện của một tiểu đoàn đã suy yếu thuộc Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ ở cách Huế 5 cây số về phía Tây, lực lượng địch ở Thành Nội vẫn được tiếp tế đều đặn và bổ sung thêm quân mà không hề bị cản trở. Ngày nào đường tiếp tế của địch còn hoạt động êm xuôi ngày ấy việc tái chiếm Thành Nội vẫn còn bị trở ngại.

Đang bị khó khăn, nay Tướng Trưởng gặp thêm khó khăn khác vì thượng cấp ở Sài Gòn muốn ba tiểu đoàn Dù trở về thủ đô vì họ thuộc lực lượng trừ bị quốc gia. Tướng Trưởng được biết 3 tiểu đoàn TQLC Nam Việt sẽ lấp vào khoảng trống này vì họ thuộc lực lượng trừ bị của Quân Khu 1. Tướng Trưởng đáp lại rằng ông cần thi hành ngay lập tức, khó có thể chờ lâu hơn được.

Ngày 9 tháng Hai Tướng Trưởng có một quyết định quan trọng khác đó là cần có vũ khí nặng để tái chiếm Thành Nội mà nhu cầu này thì ông thỉnh cầu ở đồng minh Hoa Kỳ.

Theo kế hoạch, phe Đồng Minh đã thỏa thuận rằng Mỹ sẽ chịu trách nhiệm lấy lại khu Hữu Ngạn còn khu Thành Nội giao cho quân đội Miền Nam. Chính quyền Sài Gòn và Tướng Trưởng vẫn muốn thi hành đúng như đã thỏa thuận nhưng vì tình thế lúc bấy giờ đòi hỏi một vài thay đổi. Đó là hôm 10 tháng Hai, chính quyền Sài Gòn miễn cưỡng yêu cầu TQLC Hoa Kỳ giúp khai mào cuộc tái chiếm Thành Nội.

*

Thoạt đầu Tr/tướng Robert E. Cushman Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Thủy Bộ TQLC Đệ Tam Hoa Kỳ không muốn phải rây máu của TQLC Mỹ thêm thay cho binh sĩ Miền Nam ở Thành Nội. Tướng Westmoreland phải đích thân thuyết phục Cushman suy nghĩ lại.

Tướng Westmoreland luôn tuôn có vẻ khó chịu về tư thế ‘độc lập’ của binh chủng TQLC ở Vùng 1, và đặc biệt thất vọng về cách hành xử của Tướng Cushman. Để có thể kiểm soát hữu hiệu hơn về các hoạt động ở Vùng 1, đặc biệt là hai tỉnh cực bắc Quảng Trị và Thừa Thiên, Tướng Westmoreland đã công bố hôm 27 tháng Giêng về sự thành lập một BCH MACV Tiền  Phương tạm thời ở Phú Bài gồm một ban tham mưu hỗn hợp của cả TQLC lẫn Lục Quân. Tân BCH này còn đòi hỏi được giám sát luôn hai sư đoàn Lục Quân mới dọn đến là SĐ1 Kỵ Binh và SĐ 101 Dù. Quyết định này thoạt đầu đã gây thắc mắc cho binh chủng TQLC vì họ vẫn thường xem Vùng 1 là khu vực hoạt động của mình.

Tướng Westmoreland do bị áp lực nặng từ Washington phải giải quyết cho xong vụ binh biến ở Huế càng sớm càng hay, riêng ông thì lại rất bực mình cách thức Tướng Cushman giải quyết vụ Tết Mậu Thân nên ngày 7 tháng Hai ông phải bay ra Đà Nẵng để gặp vị tư lệnh TQLC này. Về sau ông viết rằng ông nhận thấy Cushman và ban tham mưu ‘có vẻ quá tự mãn mới miễn cưởng nhận trách nhiệm thêm các lực lượng Lục Quân do tôi cài vào.’

Cả giới quân sự lẫn báo chí đều có nhận định, rằng TQLC có khuynh hướng thích thống trị hơn là hợp tác.

Sau cuộc gặp gỡ, Tướng Westmoreland càng quyết tâm muốn biến MACV Tiền Phương trở nên Trung Tâm Chỉ Huy, vững vàng và hữu hiệu, bất chấp sự phản kháng của phía TQLC. Để thực thi ý định, ông giao trọng trách cho phụ tá của ông là Tướng Creighton W. Abrams. Mặc dù quyết định này tạo nên phần nào khó chịu trong mối tương giao ở cấp chỉ huy, nhưng rốt cục nó cũng không đến nỗi làm lung lay đường lối lãnh đạo ở khu vực miền Bắc Trung Phần mà phía TQLC vẫn hằng quan ngại.

Tướng Cushman là người to lớn đẩy đà mang kiếng cận, ông thường giải quyết những cơn rắc rối phong ba theo lối nhà nghề. Về sau ông kiếm thêm được ngôi sao thứ tư và được phong làm Tư Lệnh Binh Chủng TQLC.

Khi lời thỉnh cầu Hoa Kỳ giúp khai mào cuộc tái chiếm Thành Nội bay đến hôm 10 tháng Hai, TQLC do sự thúc giục của Tướng Westmoreland đồng ý đưa Tiểu Đoàn 1/5 đi chiến đấu, tiểu đoàn này vừa mới hành quân tác chiến gần Phú Bài trở về. Westmoreland điện cho Washington báo cáo quyết định về việc đưa quân Mỹ đi tham chiến, điện văn nói rằng ‘địch quân có chừng ba đại đội ở khu Thành Nội’ nên chỉ một tiểu đoàn cũng đủ để đối phó.

9 giờ 30 sáng hôm sau hai trung đội của Đại Đội Bravo vào đến BTL SĐ1 bằng trực thăng. Trung đội thứ ba phải quay về Phú Bài vì phi cơ bị phát hỏa làm viên phi công bị thương. Hai giờ sau khi đến Thành Nội địch dàn chào TQLC Mỹ bằng khoảng 10 trái hỏa tiễn 122mm.

*

Vài giờ sau Th/tá Tiểu Đoàn Trưởng 1/5 TQLC Robert Thompson cùng trung đội còn lại của Bravo và ba đại đội khác đi theo đoàn quân xa lên Huế. Th/tá Thompson trú quán ở Corinth, Mississipi là Sĩ Quan Tiếp Liệu của Sư Đoàn. Ông nhận trách nhiệm Tiểu Đoàn 1/5 hôm 2 tháng Hai sau khi tiểu đoàn trưởng bị thương trầm trọng phải đưa đi điều trị. Dù chỉ là sĩ quan cấp nhỏ nhưng ông được thượng cấp trong binh chủng đặc biệt quan tâm. Sau khi trình diện và báo cáo với Đại Tá Hughes ở cơ quan MACV, ông được cho biết tin tình báo về địch tình ở Thành Nội rằng hiện có rất ít, tuy nhiên vấn đề ở Thành Nội chỉ cần ‘vài ngày’ là giải quyết xong.

Tiểu đoàn của Thompson nằm dưới quyền chỉ huy hành quân trực tiếp của Đ/tá Hughes, ông này thẳng thừng bảo với Th/tá Thompson rằng chỉ nhận lệnh trực tiếp từ ông mà thôi chứ không được nghe theo lệnh của Tướng Trưởng. ĐĐ Delta tạm thời thuộc quyền Đ/tá Hughes ở khu vực Hữu Ngạn.

Sáng hôm sau (12 tháng Hai) Th/tá Thompson dẫn hai đại đội Alpha và Charlie cùng trung đội còn lại của ĐĐ Bravo theo tàu LCU vào Thành Nội.

Cùng vào Thành Nội còn có một người trẻ tuổi tên là Alexander Wells mà trong hai tuần sắp tới sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc phác họa kế hoạch hành quân ở Thành Nội. Tr/úy TQLC Wells chỉ còn ở VN một tuần lễ nữa trước khi về nước nhưng theo sự tình nguyện của thượng cấp anh phải vào Thành Nội để thiết lập một trạm tiền sát pháo binh. Người ta bảo công tác này chỉ đòi hỏi 24 tiếng là cùng. Wells bay vào Thành Nội hôm 11 tháng Hai ngay lúc địch đang pháo kích; anh tạm ở chung trong nhà lều được đặt tên là ‘Quonset hut’, ở đây anh báo  cáo là ‘đầy nhóc cả lính Úc và rằng họ đánh bài và uống rượu scotch suốt ngày.’

Rồi ra Tr/úy Wells phải ở lại hai tuần lễ làm tiền sát viên gọi hỏa lực yểm trợ của pháo binh và chiến hạm cho cả TQLC Mỹ lẫn quân đội Nam Việt.

*

Cùng đến Huế hôm 11 tháng Hai có một trung đội TQLC với 5 chiến xa hạng nặng M48 do Tr/úy Ron Morrison chỉ huy. Họ từ Đà Nẳng đến Huế bằng tàu đổ bộ đi dọc theo biển Đông, sau đó ngược dòng sông Hương để vào Huế. Đến bãi đổ bộ gần BCH SĐ1 thì trời vừa tối. Bấy giờ người ta cần có người ra gặp họ để dẫn đường vào. Đ/tá Lục Quân Adkisson đảo mắt quanh phòng một vòng rồi mới chỉ tôi.

Được giao một xe Jeep tôi kiểm soát lại đạn trong hai cây M16 và Colt 45 rồi bảo người tài xế Việt Nam lái ra bãi đổ tàu. Thấy còn ngần ngừ tôi liền tháo cây Colt ra khỏi bao rồi nhét vào ngực anh ta. Làm thế, ngôn ngữ dù bất đồng cỡ nào cũng có thể hiểu nhau ngay, chúng tôi ra khỏi cổng rồi phóng tới nơi trong thời gian kỷ lục.

Khu vực bến tàu do thành phần còn lại của Tiểu Đoàn 4/2 NV giữ an ninh, họ đến Huế từ đầu tháng Hai. Mới đầu họ hành quân ở khu vực Đông Nam trước khi quân Dù đến thay thế, kế đó họ qua đánh địch ở khu vực quanh phi trường Tây Lộc. Bây giờ đang bị thiếu hụt quân số trầm trọng không còn sử dụng để chiến đấu nữa nên nhận nhiệm vụ mới này từ ngày 8 tháng Hai.

Trong khi chờ đoàn tàu đến, tôi đứng nói chuyện với viên cố vấn của TĐ 4/2 là Đ/úy David Shepard. David quê ở Cincinnati, anh ta người to lớn, đã từng tham dự chiến tranh Triều Tiên. Hỏi về hoạt động của đơn vị anh trong suốt 10 ngày qua thì anh cho biết trước khi được đưa đến Huế anh hoàn toàn không biết chuyện gì đang xảy ra ở đây.

“Đang đóng quân ở Đông Hà thì có lệnh phải di chuyển vào Huế, chúng tôi được biết thời gian cuộc hành quân ở đây sẽ lâu chừng 4 ngày,” Shepard nói. “Một nửa tiểu đoàn chúng tôi vào trước bằng trực thăng hôm 1 tháng Hai, ngày sau thì đến lượt số còn lại trong đó một ít đi vào bằng thuyền. Lúc mới đến, quân số chỉ có phân nửa vì nửa kia bị kẹt vì đang lấy phép nghỉ Tết.”

Sau 7 ngày giao tranh ở Huế mà không có tiếp tế và viện binh, Tiểu Đoàn bị tổn thất hết phân nửa của tổng số 250 người.

Đêm nay ở khu bến tàu trời tối đen không có ánh trăng và mát lạnh, cảnh vật yên lặng, vẻ chết chóc thê lương nhưng rồi thì chúng tôi nghe tiếng đoàn tàu LCU đến, từng chiếc cập vào bến, các chiến xa nhanh chóng chạy lên bờ. Đ/úy Shepard báo cho BCH SĐ1 biết tàu đã đến, rồi trao cho Tr/úy trưởng đoàn Morrison tấm bản đồ chỉ nơi có cổng để vào doanh trại, đồng thời bảo anh ta chạy theo tôi. Morrison hỏi tôi:

“Anh có chắc cổng đủ lớn để xe tôi vào lọt không?” Tôi chỉ biết đáp là cứ tới đó rồi hay.

Các chiến xa nối đuôi theo xe tôi thẳng đến cổng thành Mang Cá, tất cả đều qua lọt vừa sít sao. Morrison được tiếp đón như một người hùng đi chinh phục miền đất mới; sau đó những chiến xa được bố trí ở các nơi quanh doanh trại.

Không đầy một giờ sau ĐĐ Alpha lại khởi hành để vào Mang Cá bằng LCU, nhờ đêm đen họ di hành đến nơi an toàn.

Tất cả chỉ có 5 chiến xa và một đại đội TQLC nhưng đối với Tướng Trưởng như vậy cũng như quăng cho người sắp chết đuối một cái phao. Tôi nhận thấy ông ta thở ra nhẹ nhỏm và hình như nơi ông có thoáng một nụ cười.

Nhìn vào bản đồ, Tướng Trưởng có đủ lí lẽ để tin tưởng rằng điều ông đang lo ngại nay đã qua. Gần hai đại đội TQLC Mỹ (Alpha 1/5 và 2 trung đội của ĐĐ Bravo 1/5) đã đến để thay thế cho 3 tiểu đoàn Dù NV ở mặt Nam, và 3 đơn vị TQLC NV đang trên đường đến để giải tỏa bớt gánh nặng ở hướng Tây cho Trung Đoàn 3 của ông đã quá mệt mỏi. Phân Đội 2/7 Kỵ Binh NV đến Thành Nội từ hôm 7 tháng Hai với 15 xe thiết giáp và 87 binh sĩ nay đang hoạt động ở khu vực quanh phi trường Tây Lộc, thay thế cho đơn vị chị em Phân Đội 3/7 mà tiềm năng suy giảm xuống chỉ còn 34 quân nhân và 3 thiết vận xa.

*

Mặc dầu hầu hết hoạt động ở vùng nam sông Hương đã giảm thiểu, hai tiểu đoàn TQLC Hoa Kỳ (1/1 và 2/5) vẫn còn bận rộn công tác tảo thanh và tuần tra khu vực. Hai đại đội của 1/1 (Alpha và Bravo) đã tái lập an ninh chung quanh MACV và bãi đổ hàng, họ còn giữ an ninh cho đoạn QL1 thẳng đến cầu An Cựu; cầu này bị địch phá sập hôm 4 tháng Hai nay đang được một đại đội công binh Mỹ sửa chữa. Địch ở vùng phụ cận thỉnh thoảng bắn qua quấy rối.

Đồng thời ba đại đội của Tiểu Đoàn 2/5 (Fox, Golf and Hotel) tiến quân về hướng Tây dọc theo hữu ngạn sông Hương lên sông đào An Cựu. Ngày 10 tháng Hai, tiểu đoàn được lệnh quay xuống hướng Nam và phá hủy hết bốn cây cầu bắc qua sông An Cựu để chận không cho địch đưa thêm viện binh vào thành phố từ mặt Tây Nam.

Công việc tuần tra và sửa chữa hai cây cầu còn lại ở sông An Cựu vẫn tiếp tục nhưng vùng Hữu Ngạn nói chung được chính thức tuyên bố là hoàn toàn an ninh.

Giải cứu Huế Tết Mậu Thân

Triệu Phong chuyển ngữ

POSTED BY SEASHELLOC ⋅ THÁNG HAI 6, 2020 

Post by Sơn râu 24 Dec 2023

Bình luận gia Walter Cronkite trong studio đài truyền hình CBS. (academics.wellesley.edu)

 Bài 13

Chương 9

Tường Trình Trực Tiếp Từ Huế 

Tránh né rắc rối là cách hành xử hay nhất trong quan hệ giữa giới quân sự ở Việt Nam với báo chí. Mặc dầu không có luật lệ rõ ràng qui định về mối tương giao với nhà báo nhưng phe nhà binh ngầm chủ trương một câu trả lời nhất loạt khi bị phỏng vấn là ‘không có ý kiến’ (no comment). Cũng dễ hiểu thôi, phe nhà binh càng ngày càng thấy khó chịu về ngòi bút vặn vẹo của báo chí một khi họ đang phải đương đầu với cuộc chiến ngày càng khốc liệt hơn; những đoán già đoán non của nhà báo về các ý định của giới quân sự làm họ phải bị chùn bước. Các vị đơn vị trưởng chỉ vui lòng cho báo chí đi theo cuộc hành quân hay tham dự họp báo khi nào tình hình thuận tiện.

Với những cuộc chiến tranh trước đây, nhà báo và giới quân sự hay chính trị gia gần như là một. Sự chung sống hòa bình ấy không còn nữa trong cuộc chiến tranh Việt Nam vì hồi này giới báo chí đến xứ sở này quá nhiều, cả thành phần uy tín lẫn thành phần nói láo ăn tiền. Giữ bí mật quân sự về một kế hoạch hành quân nào đó là điều khó thực hiện nếu không muốn nói là không thể làm được.

Không biết nhà báo trong những cuộc chiến tranh khác ra sao chứ ở Việt Nam, đặc phái viên, chuyên viên thu hình hay nhiếp ảnh gia đều rất trẻ. Tôi từng thấy một sĩ quan tuổi ngoài bốn mươi, cấp bậc đại tá mè nheo một phóng viên tóc dài, râu để bờm xờm tuổi chỉ mới hai mươi, rằng chừng nào anh ta mới chịu hớt cái ‘ổ quạ ấy đi’. Cái hố ngăn cách về cảm thông ấy quả là lớn nơi các sĩ quan cao cấp, nhưng ở các chiến binh trẻ thì không có.

Tuy còn trẻ nhưng các phái viên tuờng thuật trận đánh tại Huế rất xuất sắc. Mỗi ngày tin cập nhật đến với công chúng Hoa Kỳ nóng sốt không che giấu điều gì, khiến dư luận càng vững tin rằng quân Mỹ đang tham chiến không đúng nơi không đúng lúc. Giới làm báo len lỏi vào ra các nơi giao tranh đôi khi phe nhà binh cũng không ngờ có sự hiện diện của họ, đến độ các quân nhân phải ngạc nhiên rằng có những nơi họ chưa đến được mà nhà báo đã đến rồi.

Đến ngày 4 tháng Hai đã có ít nhất 50 nhà báo hiện diện khắp khu vực Hữu Ngạn cùng với TQLC Hoa Kỳ. Trước khi chiến dịch giải cứu Huế chấm dứt ba tuần sau đó, con số này đã lên đến 150; có nhiều người bay đến rồi đi trong ngày mang theo nhiều chuyện để viết, trong đó có Walter Cronkite bình luận gia đài truyền hình CBS. Nhiều người liều thân ở lại đến giờ phút cuối cùng để săn tin nóng sốt. Có nhiều trường hợp sự gan dạ của họ không thua gì ngưới lính. Làm báo cũng có hai hạng, hạng xông pha ra trận địa, có hạng nằm ở hậu tuyến nghe ngóng lấy tin (front-line and rear-echelon types). Hạng đi theo các cuộc hành quân cho đến khi chấm dứt trận đánh được hân hạnh mang danh thông tín viên tiền tuyến (combat correspondent); họ khinh nhờn hạng phóng viên chỉ biết ngồi trong phòng có máy lạnh tại thủ đô Sài Gòn để viết tin.

*

Thông tín viên kỳ cựu George McArthur vào nghề nhà báo từ cuộc chiến Triều Tiên, sau đó chuyển qua tường thuật về cuộc chiến tranh Việt Nam suốt mười năm mãi cho đến ngày cuối cùng của Sài Gòn năm 1975. Ông bay đến Huế ngày 3 tháng Hai với tư cách là Trưởng Phòng Báo Chí cho Thông Tấn Xã AP và ở lại cho đến khi trận đánh Huế chấm dứt. McArthur người thẳng tính và nóng nảy, ông dễ nổi sùng với đám viết báo ngồi tại văn phòng, kể cả những nhà truyền thông nổi danh. Ông không nể nang một ai kể cả Cronkite là người tạo được sự tín nhiệm của khán thính giả Hoa Kỳ như là người tường thuật tin trung thực nhất. Trong một cuộc phỏng vấn nhiều năm sau khi chiến tranh kết thúc, McArthur phát biểu như sau:

‘Tôi không coi Cronkite là người hùng. Khi thu hình tường thuật cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, ông đứng trên sân thượng cơ quan MACV đội nón sắt mặc áo giáp trong khi tôi đang đứng đó phơi áo quần đầu trần thân trụi.’

Cronkite từ Sài Gòn bay ra Huế hôm 10 tháng Hai, lúc ấy tôi đã vào Thành Nội rồi nên không có dịp thấy ông ta làm việc. Ông ta cho thu hình kỹ lưỡng rồi bay về Mỹ. Một tháng sau, Cronkite bước ra khỏi vị thế vô tư của nhà truyền thông để buông lời bình phẩm cho Hoa Kỳ là điên rồ khi dính líu đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông phát biểu trước một lượng khán giả truyền hình khoảng 9 triệu người, rằng Hoa Kỳ đã ‘sa vào ngỏ bí’ (mired in stalemate) ở Việt Nam, một cuộc chiến mà họ không thể nào chiến thắng được.

Lối dùng chữ trau chuốt điêu luyện của Cronkite làm công luận Mỹ vốn đã vỡ mộng và ngày càng chán ngán cuộc chiến, nay càng thêm xúc động. “Chúng ta đã thất vọng quá nhiều về sự lạc quan của giới lãnh đạo Hoa Kỳ đến nỗi không thể còn tin vào chuyện trên mây của họ nữa,” Cronkite phát biểu như thế trước khán giả toàn quốc Hoa Kỳ trong đó có cả Tổng Thống Lyndon B. Johnson. “Bây giờ cách rút ra hợp lý nhất là thương thuyết, không phải với tư cách của kẻ chiến thắng mà với tư cách của con người danh dự đã từng sống chết với lời cam kết bảo vệ nền dân chủ, và đã làm hết sức mình rồi.”

Buổi truyền thanh ấy rồi ra cũng đạt được điểm son là đã thuyết phục được công luận Hoa Kỳ và nhất là TT Johnson chấp nhận từ bỏ cuộc chiến. 

Trong khi đó sự đánh giá của McArthur về lần xuất hiện của Cronkite ở Huế được giới truyền thông chia sẻ, coi nhẹ về sự trung thực của con người này. Cronkite từng là phái viên lừng danh của UPI hồi Đệ Nhị Thế Chiến khi cùng đổ bộ lên Bắc Phi và Normandy với quân đội Đồng Minh. Ông cũng từng nhảy vào Hòa Lan với quân Dù của SĐ 101. Ông tự cho mình là phóng viên nhà báo chỉ biết xông pha để lượm tin chứ không ngồi một chỗ để làm tin. Trong chiến tranh Việt Nam mặc dù Cronkite không hiện diện ở đó thường xuyên bằng các đồng nghiệp khác nhưng ông cũng xoay sở để có bài tường thuật đều đặn.

Walter Cronkite phỏng vấn Tr/tá Mark Gravel qua chương trình tường trình trực tiếp trận Mậu Thân tại Huế. (USNA&RA) 

Ở Huế giới truyền thông được tự do tuyệt đối muốn đi đâu thì đi, muốn viết gì thì viết. Và vì họ quá đông nên không thể nào có thể giám sát họ được. Họ như ma cà bông hết quá giang quân xa lại xin đi nhờ trực thăng để đi đó đi đây. Thường xuyên xuất hiện nơi gió cát sa trường, họ ăn đồ lính ăn, ngủ chỗ lính ngủ và cũng chịu đựng gian khổ như người lính. Nhiều lúc ở Huế sự hiện diện của họ chỉ gây thêm phiền toái.

*

“Trời đất ơi tụi dân sự này là ai thế?” Cố Vấn Trưởng Đ/tá Adkisson gầm gừ lúc mới thấy họ ngày đầu tiên.

“Họ là nhà báo đó Đại Tá.” Tôi đáp.

“Được rồi bảo với họ tránh đi nơi khác. Anh lấy tên của họ cho tôi,” Adkisson ra lệnh. “Tôi muốn biết tất cả bọn họ là ai với ai và để xem họ có nên ở nán lại đây không.”

Tôi mang sổ tay ra đưa cho họ ghi tên vào. Nào là nhà văn, nhiếp ảnh gia, người làm truyền thanh truyền hình ôi thôi thì đủ loại, dĩ nhiên là tôi vẫn để sót rất nhiều.

Cạnh tranh nghề nghiệp trong giới săn tin săn hình cũng rất mãnh liệt và nhiều người tỏ ra thật can đảm. Có lúc họ lăn xả ra làm công việc khiêng tải thương binh hoặc làm cả sứ giả đưa tin nữa. Có người phụ khiêng đạn tiếp tế ra nơi chiến địa, có người cũng cầm súng bắn bừa vào địch quân.

Một trong những thông tín viên tôi ngưỡng mộ nhất là Mike Morrow. Anh là nhà báo độc lập (freelancer) vì tò mò đã bỏ ngang lớp ở Đại Học Dartmouth để sang Việt Nam xem cuộc chiến nó ra làm sao. Anh có bộ râu quai màu đỏ, di chuyển không ngừng khắp đất nước, nhảy từ đơn vị này sang đơn vị khác. Anh đến Huế từ sớm và ở lại đến khi tàn trận đánh. Một con người trẻ tuổi với cảm quan lạ thường. Không bao giờ anh công khai tỏ thái độ bất kính với quân đội, ngược lại nữa là khác. Cũng như đa số đồng nghiệp khác, anh không thể không kinh ngạc trước sự quả cảm của các binh sĩ Hoa Kỳ và Miền Nam trong cuộc chiến dã man này. Anh ta và tôi từng thảo luận hằng đêm về những lập luận chống đối hay tán đồng về sự tham chiến của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh phức tạp và gây nhiều tranh cãi nhất này.

Nhiều cây viết ví von chiến tranh VN là ‘chiến tranh phòng khách’ (living room war) mà đúng vậy. Ba hệ thống truyền hình Mỹ đều có mặt ở Huế từ ngày 2 tháng Hai, những hình ảnh thu được lập tức được phát hình ngay tại Hoa Kỳ trong cùng ngày đó; ngồi tại phòng khách nhà mình dân chúng Mỹ có thể nhìn thấy được những gì đang xảy ra ở bên kia trái đất mà phần lớn nội dung đều có tính cách bất lợi cho cuộc chiến.

Một số đơn vị chiến đấu đôi khi bị chậm trễ về tiếp liệu và viện binh, nhưng bên báo chí họ không bị trở ngại trong việc chuyển tin và đưa phim ảnh ra khỏi vùng chiến địa. Tiềm lực năng động của họ thực đáng phục.

Trong mới vài hôm đầu tiên, CBS đã có 3 toán thu hình đến Huế, trong khi NBC và ABC mỗi đài có một toán. Cuộc chiến càng khốc liệt họ càng đến nhiều hơn; cuối cùng tin chiến sự ở Huế chiếm địa vị độc tôn, lấn át các bản tin chiến sự khác về chiến tranh VN. Về báo chí có Charles Mohr của nhật báo the New York Times, Peter Braestrup của the Washington Post, Don Sider của tuần báo Time, Don Kirk của the Washington Star, và John Carroll của the Baltimore Sun.Ngoài ra còn có hai nữ đặc phái viên xuất hiện ở MACV hôm 2 tháng Hai là Isabelle von Green, cây bút của một tạp chí Đức ngữ, và Cathy Leroy một phóng viên kiêm nhiếp ảnh gia có tiếng tăm của Pháp.

Catherine Leroy, 20 tuổi, cao 1m52, phóng viên độc lập Pháp, luôn đi theo các toán quân Mỹ để săn hình. (HistoricalFirearms.Info)

Leroy đã trở nên một nhân vật truyền kỳ ở Việt Nam mặc dù đồng nghiệp của cô có ít nhiều hoài nghi. Cô cao chỉ 5 feet, nặng 85 cân anh và tóc bím đuôi sam. Sinh trưởng ở Paris, nơi đây cô theo học khóa huấn luyện nhào lộn trên không trung; một vài năm trước đây Leroy từng nhảy với quân dù Mỹ xuống chiến trường và có lần bị thương ở mặt trận Khe Sanh. Có lúc cô bị cấm lai vãng ra Vùng Một Chiến Thuật 6 tháng về tội nhạo báng một sĩ quan cao cấp của TQLC Mỹ, nhưng vụ này lại được đồng nghiệp của cô ca tụng.

Từ ngày đầu vụ Tết Mậu Thân Leroy và một đồng nghiệp người Pháp khác tên Francois Mazure đã có mặt ở Phú Bài. Hai người quá giang theo một đoàn công-voa TQLC lên Huế, nhưng thay vì đi thẳng đến MACV họ nhảy xuống xe ở gần Huế để đi hướng khác. Bỏ lại đồ nhà binh và thay bằng áo quần dân sự rồi nhảy lên xe đạp loại hai người cỡi mà họ đã thuê sẵn. Bài tường thuật về chuyến đi này sau đó được đăng trên tạp chí Life số ngày 16 tháng Hai năm 1968; trên trang bìa là hình màu của hai binh sĩ CSBV, bên trong là bảy trang phóng sự cùng các hình ảnh khác.

“Lúc này thì ngoài đường hoàn toàn vắng hoe, dân chúng trốn chui trong nhà cả,” Leroy mô tả trong bài báo cảnh vật họ nhìn thấy sau khi từ giả đoàn xe nhà binh. “Dần dần chúng tôi cảm thấy lo sợ hơn; hễ thấy ai đó hé cửa nhìn ra ngoài là chúng tôi cất tiếng chào thân mật thật lớn ‘bon jour, bon jour’ để tỏ cho họ biết chúng tôi là người Pháp chứ không phải Mỹ.”

Đến gần một khu chợ có lẽ không xa MACV lắm thì họ nghe tiếng súng; lập tức họ xuống xe. Có mấy người mặc thường phục xuất hiện rồi dẫn họ đến một ngôi nhà thờ gần đó.

“Francois luôn mồm nói ‘báo chí Pháp, báo chí Pháp’ nhưng họ vẫn thờ ơ tỏ vẻ không ưa sự hiện diện của chúng tôi,” Leroy viết.

Một linh mục người Việt nói với hai người rằng họ có thể ngủ lại qua đêm. Leroy ước lượng ở cả trong lẫn ngoài nhà thờ lúc ấy có khoảng 4000 dân tị nạn.

Ngày hôm sau vị linh mục nói với hai ký giả rằng sự hiện diện của họ làm nhiều người tị nạn sợ quân CS biết sẽ trả thù về tội dung dưỡng người ngoại quốc. Một em nhỏ tình nguyện dẫn hai người ra khỏi khu vực CS kiểm soát để tới một cơ quan của Mỹ; ông linh mục còn đưa họ một bức thư giới thiệu hy vọng sẽ được an toàn hơn. Vừa đi ra được vài phút thì họ bị quân lính BV bắt, cả hai bị trói tay ra sau lưng bằng giây dù, máy ảnh bị lấy mất. Mấy người CS chẳng thèm quan tâm đến bức thư giới thiệu.

“Để tỏ vẻ mình không sợ hay mặc cảm có tội, Francois vùng vằng như thể đang bị xúc phạm và giận dữ vì bị sỉ nhục,” Leroy viết tiếp trong bài báo. “Trên trời xuất hiện một máy bay định vị mục tiêu của Mỹ và một oanh tạc cơ của quân lực Miền Nam đang bay đảo vòng quanh. Mỗi lần phi cơ trở lại là tôi và Francois bổ nhào xuống hố tìm chổ núp trong khi mấy người lính bộ đội không màng đến, họ không hề nhúc nhích.”

Trong lúc bị cầm giữ, hai ký giả có gặp một người Pháp làm quản lý Nhà Đèn thành phố. Ông này trạc độ 50, người to lớn; họ được nghe kể một chuyện lạ lùng.

Một năm về trước trong khi lái xe ban đêm ở ngoại thành ông ta bị VC phục kích, một viên đạn làm mất đi hai ngón tay. Khi VC chạy ập tới tính kết liễu đời ông thì ông la lên ‘tôi là người Pháp.’ Người trưởng toán nghe vậy liền băng bó vết thương cho ông rồi giúp ông đề máy xe đi về.

Một năm sau quân BV tấn công vào Huế dịp Tết, một đoàn quân xung phong vượt qua cánh đồng vào chiếm nhà của người Pháp này. Sau đó có nhiều chính trị viên đến và nói chuyện với mấy người bộ đội; lạ lùng thay người trưởng toán cũng là người phục kích ông năm trước. Quân CS đối xử với ông thân thiện đặc biệt; từ đó ông Tây, người vợ Việt và hai đứa con gái tuy là tù nhân ngay trong nhà mình nhưng được đối xử tử tế.

Trong khi Leroy chuyện trò với người Pháp thì cửa phòng chợt mở và một sĩ quan bộ đội bước vào. “Người này trạc độ 25, có mang cây súng ngắn nòng .38, dáng vẻ thật bảnh bao như một số sinh viên VN thường thấy ở Paris,” Leroy viết. “Sau khi vợ người Pháp cho anh ta biết chúng tôi là ai anh liền ra lệnh cởi trói và hỏi chúng tôi có mang theo máy ảnh hay không.”

Nhận lại đồ nghề rồi, Leroy và Francois quyết định phải nương theo chiều gió mới, phải hành động như nhà báo thường làm.

Bài tường thuật của Leroy đăng trên tạp chí Life số ngày 16 tháng Hai năm 1968; trang bìa là hình màu của hai binh sĩ CSBV. (DigitalJournalist.org)

“Khi chúng tôi xin phép được chụp hình thì người sĩ quan BV đồng ý ngay, anh dẫn chúng tôi ra ngoài,” Leroy viết tiếp. “Mấy người bộ đội nghe được chụp hình đều có vẻ khoái chí. Rắc rối một điều là họ chỉ muốn sửa điệu bộ như thường thấy ở các hình ảnh trong tài liệu tuyên truyền của CS Miền Bắc. Đến khi trở lại vào bên trong Francois hứng chí nói,

“Xong rồi chúng tôi cần trở lại Paris để viết bài tường thuật.

“Rõ ràng người sĩ quan CS không hề cản ngăn chúng tôi, không những thế anh ta còn giúp đỡ chúng tôi những gì anh ta có thể làm được.

“Ông Tây đem xì gà ra mời Francois và người sĩ quan, mọi người cùng đốt thuốc. Sau đó chúng tôi bắt tay một vòng, ngỏ lời từ giả và cầu chúc may mắn,” Leroy viết.

Vài giờ sau hai phái viên này đến cơ quan MACV với câu chuyện vừa mới bị quân CS bắt rồi lại được thả ra, tất cả đều có thâu hình. Một số người biết rõ Leroy từ trước tỏ ra hoài nghi về tính trung thực của câu chuyện; họ cho rằng Leroy chỉ nói thế cho thỏa mãn tự ngã kiêu kỳ của mình chứ thực ra cô ta và Francois đã bị người CS tống khứ đi cho khuất mắt họ.

Francois Mazure làm việc cho hãng thông tấn AFP (Agence France-Presse) cũng thu hút sự chú ý về bài viết của riêng mình khi tường thuật lại việc bị cầm giữ. Trong bản văn gởi đến cho cơ quan này hôm 2 tháng Hai, anh viết:

‘Lúc rạng đông những ông chủ mới của thành phố đi từng nhóm mười người. Mỗi trưởng nhóm dùng loa cầm tay để nhắn nhủ với dân chúng…trong khi những người khác thì phân phát truyền đơn. Bộ đội đi ngoài đường đùa giởn với nhau, họ không tỏ vẻ gì là sợ hãi cả…Họ tạo cho kẻ bàng quan cảm thấy nơi họ là những kẻ có tinh thần kỷ luật và được huấn luyện tốt…Rất đông dân chúng mang thật nhiều thức ăn ra mời; không có dấu hiệu gì cho thấy hành động này là do bị cưỡng ép.’

Vài ngày sau Sài Gòn tống khứ Mazure ra khỏi xứ về hành động ‘phổ biến tuyên truyền có lợi cho Cộng Sản’

*

Ở Huế nơi những cuộc phỏng vấn thường diễn ra là ở bãi đáp trực thăng cạnh bờ sông. Nơi đây ngoài những xác chết bọc sẵn trong bao xếp thành từng dãy ra, các ký giả được thoải mái và an toàn đi tới đi lui phỏng vấn các thương binh đang nằm chờ được di tản về Phú Bài.

Tôi từng tháp tùng thông tín viên hãng thông tấn UPI Dana Stone ra đó đôi ba lần. Anh thường hỏi thương binh tên gì, quê nhà ở đâu, bị thương trong trường hợp nào. Đa số mấy anh chàng TQLC đều ưa được phỏng vấn, họ sẵn sàng cung cấp đầy đủ dữ kiện; nhiều khi thêm mắm thêm muối chút chút và trau chuốt lời văn cho bóng bẩy. Stone thích phỏng vấn TQLC vì họ năng lực sung mãn và có óc hiếu kỳ. Sinh quán ở Vermont, Stone có mái tóc màu hơi đỏ, anh mang kính gọng sắt, tuổi đời chỉ mới 26 nên dễ hòa đồng nhanh với lính. Anh ưa bông đùa và hoàn toàn bất phục thành phần sĩ quan cao cấp trong quân đội, đặc điểm này làm hàng binh sĩ ngưởng mộ anh thêm . Ở khắp Quân Khu 1 anh được biết đến qua biệt danh ‘gã ngông cuồng’ (crazy dude). Năm 1970 anh cùng bạn là Sean Flynn con trai của tài tử Errol Flynn đi săn tin ở Căm Bốt; Stone bị mất tích từ đó, về sau không ai còn nghe nhắc đến anh nữa.

Các mũi tên chỉ đường tiến phản công của quân Mỹ (xanh) ở Hữu Ngạn và Nam Việt (lục) bên Tả Ngạn, từ ngày 1 đến 6 tháng Hai, 1968. Các đường gạch ngắn đứt quãng là đường tiếp tế của Cộng quân. (DoD.MarineCorps) 

Ngày 5 và 6 tháng Hai, TQLC đánh mạnh về hướng Tây, đi theo họ có Don Webster và toán thu hình đài CBS. Ba đại đội thuộc Tiểu Đoàn 2/5 tiến qua được một khu phố mà không gặp sức kháng cự nào, đến khu vực Bệnh Viện Trung Ương Huế địch bắt đầu chống trả dữ dội khiến họ phải dừng quân; vì trời tối nên họ quyết định nghỉ đêm tại chỗ, hôm sau sẽ tiếp tục.

Đêm ấy một xà-lan Hải Quân cập bến ở bãi đổ hàng để tiếp tế thêm những quân bị cần thiết lẫn viện binh. Được bổ xung đầy đủ, 7 giờ sáng hôm sau họ hành quân tiếp tục và lần này có tiến triển tốt đẹp. Chiếm được Bệnh Viện T.Ư. xong đến nhà lao Thừa Phủ, và sau cùng là Tòa Hành Chánh Tỉnh; đặc biệt ở đây CBS thu hình TQLC hạ cờ của địch xuống và kéo cờ sao sọc lên, lá cờ Mỹ này do một anh chàng TQLC chôm ở cơ quan MACV, anh này tên gì vẫn còn là một bí ẩn.

Lính Mỹ phụ khiêng một bà mẹ quê chân còn bó bột, tìm thấy đang bơ vơ trong bệnh viện vừa mới tái chiếm. (Archives.MarineCorps) 

“Không có đội kèn đồng và nhiều TQLC khác vì quá bận nên không chào cờ đủ hết được. Ít có dịp cờ được kéo lên một cách đáng tự hào như vậy.” Webster tường thuật giọng đầy xúc động trong khi đang thu hình. (DoD.MarinesCorps)

Tr/tá Cheatham, mà binh sĩ của ông đã đổ máu để lấy được Toà Tỉnh này, hiểu rằng kéo cờ Mỹ lên trong một cơ sở của Việt Nam là vi phạm nguyên tắc nghi lễ nhưng vẫn ra hiệu cho binh sĩ cứ tiếp tục.

“Chúng ta không được phép kéo cờ của chúng ta lên ở đây,” Cheatham nói với người Trung Sĩ Xạ Thủ Frank A. Thomas, “nhưng thây kệ cứ kéo lên đi đến bao giờ có người yêu cầu hạ xuống rồi hẳn hay. Chúng ta đang chiến đấu, cờ chúng ta phải được tưởng thưởng công trạng chứ. Tôi muốn tụi Cộng ở bên kia cầu nhìn thấy.”

Khi toán thu hình đài CBS và một vài nhiếp ảnh gia với dụng cụ sẵn sàng rồi thì xạ thủ Thomas chạy bổ ra phía cột cờ; với sự phụ giúp của hai người nữa họ kéo lá cờ của địch xuống rồi bắt đầu thượng cờ của tổ quốc mình lên. Binh sĩ TQLC reo hò tán thưởng, một số đã ví von hành động này với cuộc dựng cờ ở Iwo Jima thời Thế Chiến Thứ Hai. Tr/tá Cheatham gọi về báo cáo với thượng cấp là Đ/tá Hughes lúc này đang ở trạm chỉ huy (command post):

“Xin cho chỉ thị, chúng tôi vừa chiếm được Tòa Hành Chánh Tỉnh Thừa Thiên, và hiện tại vừa kéo cờ Mỹ lên ở đây.”

Việc tái chiếm được Tòa Hành Chánh Tỉnh, nơi mà địch dùng làm bộ chỉ huy và việc treo lá cờ Hoa Kỳ lên được xem như là một biểu tượng của sự chiến thắng. Hai hành động này là một dấu hiệu cho thấy khởi đầu của một sự chấm dứt những kháng cự mãnh liệt của quân CS ở bờ Nam sông Hương. Tr/tá Cheatham thích đối đầu với báo chí, ông phát biểu với đám phóng viên và truyền hình một câu ngắn ngủi, “Chiếm được trung tâm đầu não của tỉnh rồi thì xem như chúng ta đã đập gãy lưng chúng.”

Xe nhà báo kéo theo quân TQLC sau khi họ khai quang vừa xong đoạn đường Lê Lợi, qua khỏi trường Quốc Học. (USMC Archives)

Phải mất thêm bốn ngày càn quyét nữa TQLC mới chính thức tuyên bố là vùng Hữu Ngạn đã hoàn toàn an ninh. Vào lúc ấy các đơn vị TQLC khác đang chuẩn bị để vượt sông sang thử thời vận ở Thành Nội.

Dân tị nạn ở Huế. (USMC Archives)

Mặc dù giao tranh đã giảm cường độ ở khu Hữu Ngạn nhưng điều quan ngại khác lại bùng lên. Vấn đề dân tị nạn nay càng trở nên khá trầm trọng. Mỗi vùng vừa tái chiếm mang đến một làn sóng tị nạn mới. Những gia đình này sống sót nhờ ẩn trốn trong các hầm hố làm ngay trong nhà. Nơi nào quân đội tiến qua nơi ấy xuất hiện từ trong đống đổ nát ông già bà lão tay phe phẩy cây gậy có buộc miếng vải trắng, theo sau họ là trẻ con và thanh thiếu niên. Nhiều gia đình mang theo cả hành lý đủ loại đủ cỡ như thể họ đã cụ bị sẵn sàng cho giây phút này từ trước.

Công việc thanh lọc được giao phó cho các viên chức chính quyền Nam Việt. Nơi tạm cư là một cao ốc gần bên MACV và khuôn viên trường đại học mà dân tị nạn ở đây lên tới con số 22.000 người. Đa số họ là dân lành vô tội nhưng len lỏi trong đó có binh đội CS hoặc cảm tình viên, và nhiều người là quân lính Miền Nam bị kẹt lúc đang nghỉ phép, thành phần này được sử dụng giúp TQLC và các cố vấn trong vấn đề người tị nạn; sau đó họ tái nhập với đơn vị hiện đang chiến đấu ở Thành Nội.

Công việc vất vả nhất là thu dọn các xác chết ở ngoài đường hay trong những khu đổ nát. Tìm kiếm là điều dễ dàng nhờ mùi hôi của xác đã thối rửa; những tử thi đã trương sình thu hút chuột bọ và những bầy chó hoang. Vì vấn đề vệ sinh công cộng người ta phải cố gắng tìm để đem chôn càng sớm càng tốt.

Một vấn nạn khác nữa là hôi của mà cả hai phe đều phạm phải. Trong những ngày đầu, binh sĩ TQLC phạm tội lấy tiền bạc và rượu ở bất kỳ đâu họ thấy nhưng chỉ giới hạn ở mức họ mang theo được thôi. Lính Miền Nam thì ở mức độ trầm trọng hơn; nhờ được giao nhiệm vụ càn quyét tàn dư sau khi TQLC đánh xong rút đi, một số đã dã tâm bòn rút ngay cả của dân mình. Họ lấy từ TV, tủ lạnh đến xe hơi đem thu giấu ở nơi an toàn rồi sau này sẽ trở lại lấy về nhà hoặc đem bán. Hành động hôi của của chính dân mình bởi một số binh sĩ Miền Nam khiến TQLC Mỹ nhìn đó để khinh nhờn đồng minh của mình.

Người Mỹ nắm chủ động việc thanh lọc và tái lập an ninh ở khu vực Hữu Ngạn vì người Việt hoặc không thiết tha đến hoặc không đủ sức cán đáng trách nhiệm. Kết quả là các cố vấn quân sự bị buộc phải làm công việc cảnh sát để ngăn ngừa các vụ hôi của, đồng thời thanh tra việc thu dọn xác chết. Tôi từng được cắt cử làm việc này ở một số địa điểm bắt đầu từ ngày 6 tháng Hai. Các TQLC cũng phụ giúp việc đào bới tìm xác ở nơi đổ nát cũng do chính tay họ gây ra. Có lần họ lôi ra được một xác lính BV, một TQLC không kềm được lòng, nói: “Này đồng chí đi chơi Huế có vui không?”

Đất lành

Pearl S. Buck

Dịch giả: Hoàng Quân

Post by Sơn râu 23 Dec 2023

Chương 9
Lotus đến ở nhà Wang Lung

Nước vẫn lênh láng trên cánh đồng nên Wang Lung quả là rảnh rỗi. Nếu có công việc để làm, anh đã chẳng bao giờ đến trà lâu nữa, và anh sẽ quên đi bức tranh cô gái có khuôn mặt đánh phấn với thân hình mảnh mai như măng tre. Nhưng anh lại chẳng có việc làm nên đâm rảnh rỗi. Anh không biết phải làm gì cả.

Anh hết đi lên rồi lại đi xuống trong nhà. Cuối cùng, anh quyết định tới trà lâu và thấy Cuckoo đang đứng ở cửa ra vào.

“Wang Lung đấy à” Cuckoo lên tiếng, giọng sắc như dao. “Anh muốn gì đây?”

“Nếu tôi có bạc, tôi không thể làm như những người đàn ông khác sao?” Wang Lung nói và xòe tay ra cho Cuckoo thấy những đồng bạc.

Cuckoo nhìn chỗ bạc rồi nói: “Lên lầu đi. Chọn lấy cô nào mà anh thích”.

“Cô gái nhỏ nhắn ấy” Wang Lung nói. “Cái cô cầm hoa sen trong tay ấy”.

Cuckoo mỉm cười dắt anh lên lầu. Một cánh cửa mở ra và một người đàn bà ngắm nhìn Wang Lung.

“Người đàn ông đầu tiên trong đêm nay” ả nói.

“Anh ta không phải của cô đầu”, giọng Cuckoo đanh đá và dữ tợn. “Anh ta tới gặp Lotus”.

“Tốt,” một ả khác nói, “anh ta có mùi nông dân đấy”.

Sau đó Cuckoo mỏ một cánh cửa và đẩy Wang Lung vào phòng, nơi một cô gái mảnh mai đang ngồi trên giường.

° ° °

Cả một mùa hạ dài, trong lúc những cánh đồng nểập nước, thì Wang Lung lui tới trà lâu hằng đêm. Số bạc mà anh kiếm được lần lượt ra đi.

Mỗi lần anh gặp Lotus là ả lại thở dài và nói: “Chán thật… chán thật…”

Và anh hỏi: “Gì vậy, bông hoa bé nhỏ của ta? Tại sao nàng buồn vậy?”

Lotus liền nũng nịu trả lời: “Hôm nay thiếp chẳng vui tí nào vì bạn thiếp nhận được một món quà. Người tình của ả cho ả một cái trâm bằng vàng, mà tất cả những gì thiếp có chỉ là cái trâm bằng bạc cũ rích này”.

Thế là Wang Lung mua cho Lotus nhiều món quà, và tất cả bạc của anh lọt qua những kẽ tay của anh như nước.

Cuối cùng anh tới chỗ O-Lan, và nói: “Đưa cho tôi hai viên đá quý mà bà giữ đi. Bà chẳng dùng gì tới chúng cả”.

O-Lan buồn rầu đáp: “Tôi nghĩ một ngày nào đó tôi sẽ đánh chúng thành bông tai, tôi sẽ đưa chúng cho con gái út của chúng ta vào ngày cưới của nó”.

“Đưa chúng đây!” Wang Lung đòi.

Thế là O-Lan đưa cho anh hai viên đá, tài sản duy nhất của cô ngoại trừ mấy bộ quần áo cô mặc. Cô không lên tiếng, nhưng nước mắt cứ tràn ra và cô lặng lẽ khóc.

° ° °

Rồi vợ chồng người chú của Wang Lung tới sống với họ. Người chú này là em trai út của cha Wang Lung.

“Cháu trai, cháu phát đạt thật” ông chú nói. “Chúng ta tới sống với cháu đây bởi chúng ta nghèo lắm”.

Wang Lung không trả lời. Anh biết chú của anh là một người lười nhác và vợ ông ta là một người đàn bà miệng lưỡi. Bà ta cũng biết Cuckoo, và bà ta biết tất cả những chuyện ngồi lê đôi mách ở thị trấn.

“Cuckoo là một ả đàn bà lanh lợi” vợ người chú nói. “Sau khi lão chủ chết trên giường của ả, ả tới trà lâu mới. Và ta có nghe nói cháu hay tới chỗ đó”.

“Vậy thì sao?” Wang Lung nói.

“Ở thị trấn họ nói cháu sẽ mang một cô tình nhân về nhà”.

Wang Lung chưa từng nghĩ đến điều này, nhưng anh thích cái ý kiến Lotus trở thành tình nhân của anh. Mắt anh sáng rực lên và người đàn bà thấy được sự mong muốn của anh. Và anh sẽ cần một người trung gian để sắp xếp.

“Việc này có thể sắp xếp được chứ?” anh hỏi.

“Được, ta có thể dàn xếp được mà” vợ người chú đon đả.

“Rồi, thím đi lo việc đi”.

Sau đó Wang Lung sai người làm của anh xây thêm mấy phòng. Thấy vậy O-Lan liền hỏi: “Tại sao ông xây thêm phòng vậy?”

“Một người đàn bà khác sẽ đến nhà này” Wang Lung đáp.

O-Lan liền khóc: “Tôi đã sinh con trai cho ông rồi mà! Tôi đã sinh con trai cho ông rồi mà!”

Vợ người chú nhanh chóng quay lại báo với Wang Lung: “Chủ trà lâu sẽ trả tự do cho Lotus nếu trả một trăm đồng bạc. Còn Lotus sẽ đến ở nhà cháu nếu cháu cho cô ta đôi bông tai bằng ngọc bích, một nhân vàng và hai bộ quần áo. Và cô ta sẽ mang theo Cuckoo như người hầu của cô ta”.

Wang Lung không cần đợi nghe hết đã nói: “Sắp xếp đi. Sắp xếp đi”.

Anh đưa bạc cho vợ người chú và bảo: “Giữ lấy cho thím mười đồng bạc”.

“Không, không” người đàn bà nói. “Chúng ta là người một nhà cả mà, ta làm điều này cho cháu chứ nào phải vì tiền bạc”.

Nhưng miệng nói như thế mà tay bà ta vẫn đưa ra, và Wang Lung đổ bạc đầy tay bà ta.

Rồi mọi thứ cũng được sắp xếp ổn thỏa. Vào một ngày nắng cuối hạ, Lotus tới ở nhà Wang Lung.

° ° °

Từ lúc anh mang Lotus về chung sống, nhà Wang Lung không còn sự yên bình như trước. Anh nghĩ O-Lan sẽ ghét Lotus vì anh đã từng nghe nói điều này luôn xảy ra khi một người phụ nữ thứ hai tới ở trong nhà. Nhưng không, O-Lan không ghét Lotus, người mà cô ghét thậm tệ lại chính là Cuckoo.

“Tôi biết ả đó khi tôi còn ở nhà họ Hwang” O-Lan nói. “Hai mươi lần một ngày ả xuống bếp lớn tiếng hạch sách. “Trà cho ông chủ! Đồ ăn cho ông chủ!” Và luôn luôn là quá nóng hay quá lạnh, hoặc là chuẩn bị không tốt”.

Vì vậy Wang Lung bảo nhân công của anh xây nhà bếp và một nội viên khác. Thế là có hai gia đình dưới một mái nhà của Wang Lung.

http://vietmessenger.com/books/truyendich/datlanh-11.jpgTiếp đó, người cha già của anh lại phá vỡ sự yên bình của gia đình. Ông cụ giờ đây đã già lắm rồi. Ông hết ngủ rồi lại thức, thức rồi lại ngủ và chẳng để ý đến điều gì ngoại trừ đồ ăn của mình. Ông cụ không thể hiểu được tại sao lại phải xây thêm nhà bếp khác.

Một ngày nọ, khi thấy lối vào sân trong và nghĩ rằng có thể lấy thêm đồ ăn ở đó, ông cụ kéo màn cửa lên và thấy Lotus đang đứng bên cạnh hồ cá trong sân. Mặt ả ta bôi phấn đỏ chót, còn lông mày thì kẻ đen thui.

“Kỹ nữ!” ông cụ la lên, giọng run rẩy. “Có một con kỹ nữ trong nhà!”

Thế là Wang Lung vội vàng dẫn ông lão trở về phòng. Anh lo lắng, sợ rằng Lotus sẽ giận dữ. Vì, nếu Lotus trở nên tức giận, ả sẽ gầm hét, nện hai tay vào nhau và sẽ không dịu đi trừ khi Wang Lung cho ả một món quà đắt tiền.

Vào một ngày khác, anh nghe thấy tiếng Lotus gầm thét nên chạy vào sân trong. Ở đấy, anh thấy hai đứa con song sinh đã đưa chị cả của chúng – đứa con gái ngu ngốc khốn khổ của anh – tới thăm Lotus.

“Ta không thể chịu được những đứa ngu ngốc!” Lotus thét lên. “Đưa nó đi ngay! Đưa đi ngay! Một đứa ngu ngốc sẽ mang lại điềm xấu”.

Wang Lung nổi giận. Trong tất cả mấy đứa con, anh yêu quý cô con gái khốn khổ này nhất. Tiếng thét của Lotus đã làm nó hoảng sợ, nên anh nói rất nhẹ nhàng với hai đứa song sinh: “Con trai và con gái của ta, đưa người chị khốn khổ của các con ra ngoài nắng chơi đi”.

Rồi anh quay qua Lotus và giận dữ nói: “Tôi không muốn nghe thấy con tôi bị chửi rủa. Nhất là cô, không sinh được đứa con trai nào cả, và sẽ không bao giờ sinh được con trai, biết chưa!”

Lotus lo sợ, vì ả biết giờ đây anh không còn yêu ả như trước nữa. “Em sẽ vâng lời ông chủ của em,” ả nói. Rồi ả đứng đó, đầu cúi gằm xuống. Wang Lung tức giận rời khỏi Lotus và không trở lại nội viên của ả trong nhiều ngày.