This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Mùa hè tới, có tin vui. Nguyễn cùng Trần đi hai tiểu lộ riêng biệt đã chính thức nhập vào một đại lộ sáng đèn. Không ai đi đường mà chẳng bắt gặp trạm nghỉ chân. Không dong buồm nào mãi dật dờ, thuyền phải có khi tấp vào một bến đậu, thả neo. Bậc trưởng thượng đã mang hai lá số tử vi nhờ thầy sáng mắt xem giùm. Đã an tâm khi biết ra thiên thượng hoả chẳng ngán trường lưu thuỷ dập tắt và thằng tuổi Mùi coi bộ hợp tạng, chẳng xung khắc với con Hợi. Thậm chí người lớn tuổi của hai họ đã định vị được cái nhà hàng có lối trang hoàng rất tốt về mặt phong thuỷ. Rường cột phông màn quanh năm đều phủ tuyền một sắc đỏ. Ôi, nếu gắn thêm một miếng gỗ chạm trổ hai chữ song hỷ thì chốn ấy rõ là nơi thích hợp để cho đôi trẻ tới sum vầy, sắc cầm hoà hợp long phụng giao duyên ghẹo nguyệt giỡn mây. Mắt phượng mày ngài rạng rỡ nụ cười ra mắt quan viên hai họ và thân thích bà con bằng hữu.
Mọi thứ đâu ra đó, y như kịch bản vở hài kịch luôn chấm dứt bằng một hôn lễ. Phức tạp đi dần về giản đơn, lu bu riết rồi phải có khi khoanh tay ngồi thở dốc. Chú rể tương lai giao việc cho thằng em út bị nó có năng khiếu về lãnh vực còm-píu-tờ, nhờ trình bày rồi lay out ra một cái thiệp cưới quyết không đụng hàng. Em của cô dâu tương lai vì quen sinh hoạt đình đám ca-ra-ô-kê đã thỉnh được ông Ngọc chuyên trị làm MC có biệt tài kể chuyện tục và giả được giọng nói ba miền, đi theo ông là một bộ phận không nhỏ ca sĩ nghiệp dư ăn vận thông thoáng mặn những tình khúc bô-lê-rô có khả năng làm người ta khóc trong tiệc cưới. Nhất nhất thảy đều ra đầu ra đũa, tường lửa nào cũng vượt qua, họ quyết không để “bó tay chấm com” can dự tới.
Thiệp in trước cả tháng để khách mời từ phương xa dễ thu xếp lịch trình, mua vé máy bay về dự tránh cảnh nước tới chân mới nhảy. Các tiểu bang trên toàn lãnh thổ Hoa kỳ nếu có thân bằng quyến thuộc ngụ rải rác đều đồng thuận gật đầu “see you soon”, ngay cả ở Việt Nam, xa hơn tràng giang cách trở sóng lớn, cuống rốn ngàn dặm cũng kêu: Chiện nhỏ, cho người ra phi trường rước tui thì ô-kê ngay. Kiểm lui dò lại khách mời lên tới hai trăm, nhà hàng chứa tới ba trăm chỗ ngồi phòng hờ có trường hợp khách kéo rốc toàn gia phô trương lực lượng đình đám đổ bộ. Những cụ hom hem thường bảo “nghĩa tử nghĩa tận” thì đã là ngày vui cũng nên xí xoá những chuyện bất ưng, chộn rộn chỉ một lần chơ mấy! Bồ hòn có lúc phải ngọt, mặt mày cô dâu chú rể cứ nhăn nhó ngó sao đặng, vô tư đi bà con cô bác!
Người ta cũng thường ngôn: Ba người Việt chụm đầu lại đã thành một cái chợ. Trẻ lên năm cũng tường hai trăm người tụ họp thì hổng chừng biến ra thứ siêu thị đang nhập hàng tươi giá on sale chen chúc nhặng xị. Ai cũng có thể nhập vai trưởng ty thông tin văn hoá, chí ít cũng từng tác nghiệp qua chức phóng viên chuyên đưa tin nóng. Nhập tiệc đúng như giờ in trong giấy mời thì chẳng nói gì, chờ lâu quá ắt đâm buồn miệng, lý lịch ba đời của Nguyễn và Trần bị mang ra luận bàn. Nhiều tình tiết hấp dẫn vây quanh người làm bố cô dâu, rằng sở dĩ cô ấy có dung nhan kiều diễm là bởi cô giống bà hai chứ hai đứa con của bà chính thì trông quê mùa lắm. Ủa, hoá ra anh Năm có hai bà vợ luôn sao cà? Ừa, bà một làm giấy bảo lãnh cho cô em ở bên nhà qua, chốn lạ chưa quen với phong thổ thì sa chân vào cạm bẫy ông này bày ra, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, làm vượt mức quy định để phải cháy hợp đồng mà thành quả là quy hoạch được bụng mang dạ chửa. Bà vợ, cũng là người chị vò đầu bức tóc cảnh nhân tình thế thái, đâm tâm đắc câu ngạn ngữ của người Li Băng: “Sẽ dễ chịu nếu có một ngàn kẻ thù đứng ngoài vây khốn còn hơn là chỉ một đứa ẩn náu trong nhà ta”. Đó là lý do hôm nay đằng nhà gái thiếu mặt bà lớn cùng hai đứa con. Ngoảnh mặt làm ngơ, ném lui một cục lơ. Vui gì chốn ấy hý lộng cùng ai? Chửi thề thì hoá ra ta là người kém văn hoá! Muốn giữ nếp sống lành mạnh thì phải biết tôn trọng tập thể. Tính ưu việt nằm ở chỗ ấy, im lặng đồng nghĩa với khinh khi.
Vậy thì phía đàng nhà trai? Ừa thì họ cũng từng kinh qua nỗi đau của sự bội phản. Bà ngoại chú rể trước đây từng đào hầm trong nhà dấu nuôi mấy chú du kích đặc công, ngày thắng lợi đến được cách mạng cấp cho tờ giấy chứng thực má đây là “mẹ anh hùng” rồi ngày một ngày hai đuổi “mẹ” đi chỗ khác chơi, soán đoạt căn nhà biểu là thuộc diện quy hoạch biến đổi thành viện bảo tàng khắc dấu nơi đây chiến sĩ ta từng trường kỳ nằm gai nếm mật sinh mệnh như ngàn cân treo sợi tóc. Giờ đây “ngoại” có thể sửa đổi câu ngạn ngữ nọ thành: Sẽ dễ chịu khi cả đại đội nguỵ đứng ngoài còn hơn dấu che một thằng vi-xi ở ngay trong nhà.
Câu chuyện sẽ miên man chẳng dẫn tới hồi kết nhưng những cái bao tử mốc meo đã đến lúc trễ hẹn lại lên. Dĩ thực vi tiên, đóng hai trăm bạc tiền lì xì nên ăn hối ăn hả được thức gì tốt thức đó, dộng vào cho đỡ xót ruột cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Mùa này lobster đang sale mà sao chúng dọn hai đĩa ngó eo xèo quá, mình mẩy thì ít mà chân cẳng thì phì nhiêu, thật khó nhá. Quây tròn một vòng không hiểu chân cẳng ấy biết âm thầm bò đi đâu? Thực khách ngoài việc ăn còn sung việc quậy, cứ ngứa tay cầm đũa gõ chén gõ ly liên hồi kỳ trận. Hai nhân vật chính cứ thế mà siêng bú mồm nhau. Trước khi cắt may đóng bộ, y phục của hai trẻ ắt phải mặc thử qua lắm bận trông cho sít sao. Vậy thì đôi uyên ương kia có từng làm nháp khi giờ này diễn tuồng hôn hít rất đạt, vượt quá mức quy định. Siêu sao màn ảnh rộng hôn kiểu gì họ hôn kiểu đó, coi mòi ướt át gợi cảm hơn. Đê mê, chú tâm, dán chặt, nhắm mắt; bỏ ngoài tai lời rì rào của bọn dư luận viên, chẳng màng ánh mắt của ông già bà cả lúc nào cũng đề cao mấy chữ thuần phong mỹ tục. Dại dột cho bọn trẻ người non dạ khi chúng chẳng biết giữ gìn sức khoẻ, còn nước còn tát kiểu đó đến khi cần kíp điệu võ dương oai thì xí quách đâu nữa mà nhá, mà ăn tươi nuốt sống, mà thề nguyền chuyện đầu bạc răng long. Bắt đền anh đó. Em sẽ hờn dỗi phụng phịu vì anh chỉ dắt em đi có nửa đường rồi vật mình xuội lơ cẳng cò. Chẳng ra ngô ra khoai, không ra đầu ra đuôi. Thiên thượng hoả đang phừng phừng lửa ngọn mà trường lưu thuỷ… chơi kiểu gì kỳ dậy cha!
Mưa không ướt đất!
Không chắc là cô dâu chú rể sẽ đi đúng kịch bản động phòng sau buổi liên hoan tiệc tùng. Thường thì họ suốt ngày đã mệt phờ râu, đã bở hơi tai, đã mặt cắt không còn giọt máu cho bao thủ tục buộc phải tuân theo, đến tối chỉ có nước leo lên giường ngồi đếm tiền hối hả moi ra từ thùng phước sương. Lời ăn lỗ chịu và kinh doanh kiểu thành hôn thì đa phần đều gạt lệ thua buồn. Thằng Út trước khi rời khỏi nhà hàng, vì trọng trách được uỷ thác, tuy say chếnh choáng cũng đủ dũng lược để trao vào tay anh cái máy tính bảng đã sắp lập trình chi ly, rất ư khoa học minh bạch bao mục phí tổn từ a tới z, rõ ràng như 2 + 2 = 4. Chị dâu của Út chỉ việc ngồi làm phép cộng, sau đó thì lấy số lớn mà trừ cho số nhỏ thì… rõ như ban ngày, không có gì ẩn nấp dưới ánh mặt trời.
Nhưng ban trưa, cái váy cưới cầu kỳ của cô dâu vô tình là nơi ẩn nấp của một chú sâu đi lạc. Bóng dâm mát mẻ hay do một mùi hương lạ rù quến để chú vui chân đi khám phá? Hơi bị nhột, lát sau hơi bị ngứa. Cô vừa ngồi xuống ở một triền cỏ mượt tạo dáng cho gã chụp hình luôn tay bấm máy. Thử dậm cẳng, thử khép chặt hai bắp đùi, thử nấp sau vai chồng đưa tay mang găng trắng muốt gãi nhẹ qua bao lần vải dày nhiều nếp gấp. Ui, sướng quá, nàng ngậm miệng chẳng biểu tỏ. Nếu công viên không bóng người, nàng sẽ lật tốc cái váy lên để bắt anh chồng son trẻ thò năm ngón vụng dại vào thăm dò cào cấu cho hả giận. Hình như chỗ ấy đã tấy sưng nụ nhỏ. Con mèo con chó có lông, con sâu cái kiến vẫn đông bụi bờ. Giá mà vắng ngắt như tờ, bà đây đờ đẫn tay rờ đùi sâu.
Trước khi nai nịt ra ôm chú rể chào đón khách để chụp hình lưu niệm, cô dâu trấn thủ trong nhà vệ sinh rõ lâu, chốt cửa lại, gát chân lên, vén áo và săm soi tì vết. Ơn trời, con sâu cái kiến này thuộc loại hiền, cắn mà chẳng nhiễm độc tấy sưng. Không phơi xác cũng chẳng rõ nó lưu lạc ẩn trốn ở vùng miền nào. Y phục vướng víu chứ không thì đã dội qua miếng nước cho mát mẻ, vệ sinh mụt nhọt nổi mận bất ngờ. Chàng có vẻ nóng ruột, phóng tia mắt mang nhiều tra vấn, chùm bông gắn bên ve áo vest coi mòi cũng buồn nhiều hơn vui tuỳ người đối diện. Nàng ghé tai thầm thì, em bị sâu cắn anh ạ! Hồi nào? Ở đâu? Khi trưa hết nằm đến ngồi tạo dáng ngoài công viên cỏ mượt ấy, bi chừ mới thấy nhức nhối gần chỗ nhạy cảm ấy. Anh có bị kiến cắn không? Bị em ngọt như cục đường vậy vẻ chi! Anh đâu đủ tư cách để chúng nặng lòng đến thăm. Nàng ôm bó hoa tươi áp vào trũng ngực, sau khi để mắt dòm chừng có loài ký sinh trùng nào ẩn thân. Chiếc áo khoét rộng cổ, thợ may khéo ở chỗ nó ôm chật chội vòng một làm tôn tạo những thứ cần phơi bày. Chàng từng tuyên bố hùng hồn, anh là thằng giặc Trung quốc bành trướng luôn muốn giữ chủ quyền hai hòn đảo bồng bềnh kia. Mai này con chúng ta mặc sức mà măm không lo thiếu hụt lương thực. Đồ quỷ nà! Nàng mắng chàng. Ba phần nũng nịu bảy phần khoan khoái. Ảnh nói vậy thôi chứ tui nào lạ gì miệng mồm ảnh, hư lắm, ham hố lắm, đa sự lắm lắm.
Nhà gái cử một người cực tín nhiệm trông coi cái thùng cạc-tông đựng lễ vật của bá tánh mừng ngày thành hôn đôi trẻ. Cái thùng ấy được bảo mật đem dấu thu sau khi biết chắc chẳng còn thực khách đến viếng và 1 giờ sáng nó được mang vào thang máy, lên tầng ba, vào phòng 301 nằm ngay trên đại sảnh của nhà hàng. 1.30 AM, cô dâu lột bỏ chiếc áo dạ vũ xuống, leo lên giường nệm dầy ngồi xé băng keo dán quanh thùng giấy. Cô hít hơi sâu, nghiêm túc như một nhân viên ngồi kiểm phiếu trong cuộc bầu cử tìm người tài giỏi cho liên bang nước nhà. Trong mỗi phong bao đa phần là tiền mặt, phần còn lại thì ký tấm ngân phiếu. Chú rể từ phòng tắm bước ra, phong phanh cái khăn lông quấn quanh bụng tợ mặc xà-rông thiếu vải. Cần anh phụ không? Chú nói rồi ngồi bên mép giường, chú lựa cái bì thư xem chừng hơi cộm phồng. Một tờ giấy học trò gấp làm tư nhét thêm ba tấm ảnh màu. Tay chú có hơi run: “Em yêu dấu, như thề nguyền, anh giữ lời bỏ đi xa để thế một lời chúc không thực lòng: Cầu mong em hạnh phúc. Đi xa có nghĩa là chết, chẳng biết anh có là bóng ma kỷ niệm mà em muốn quên. Anh thì mãi thương nhớ em, những tấm ảnh này là một bằng chứng. Hình bóng em đã ăn sâu vào trí não, vào con tim anh. Đi xa cũng không có nghĩa là chết, chỉ thoi thóp hụt hơi để trông đợi một bình minh biết đâu sẽ tới với đôi ta. Hôm nay ngày cưới em, năm sau đúng vào ngày này anh sẽ trở lại thành phố này, sẽ âm thầm dọ tìm ra tung tích em chẳng thể nào là bóng chim tăm cá. Dù em có trải qua hai ba đời chồng, anh tự hào mình là người đầu tiên, và hắn nguyện yêu em đến mãn đời. Người không thể gọi em bằng hai tiếng: Mình ơi!”
Ba tấm ảnh chụp cảnh nóng, cảnh bức xúc, cảnh đồi truỵ giữa cô dâu trần như nhộng (nằm dưới) đang giao hoan với một phản lưng bóng nhẫy mồ hôi mồ kê (nằm trên, không thấy mặt). Người nằm dưới chừng bỏ hết tinh thần, mọi giác quan vào cuộc truy hoan nên chẳng hay biết có một ống kính bí mật đang chạy ngấc tự động rec. Ba tấm này được cắt ra từ thước phim ám muội đó. Thành tâm mà nói, đứa gửi thư chẳng phải mang hậu ý tống tiền, nhưng rõ là chơi trò black mail vì tự cổ chí kim chưa ai đi mừng tiệc cưới bằng cái phong bì trời sầu đất thảm kiểu nọ. Chú rể xô cô dâu nằm ngửa ra nệm, hung hãn mạnh tay tuột nội y cô ấy ra. Anh làm gì thế? Say rồi à? Tôi muốn nhìn rõ chỗ ấy? Cô dâu vùng vẫy: Đã êm rồi, hết ngứa rồi, đã thoa kem rồi… Nếu nó không chảy máu thì có nghĩa… Thì đã bảo là con sâu này thuộc dạng hiền, không làm tấy sưng, khỏi nhờ anh gãi… Vậy ư? Tôi không gãi được vì đã có thằng khác hơn một lần làm sâu cắn đê mê, có đúng thế không?
Những tờ giấy bạc tung lên, vung vãi đầy tapis. Ba tấm ảnh cùng trang thư vẫn nằm chết lặng. Nước mắt cô dâu ướt đẫm và người chồng mới cưới say cơn phẫn hận, trút bao thù hằn xuống thân thể mãi co quắp, mãi đối kháng. Lạ lùng thay, khi chồng không xem đối tượng là vợ mình, trò cụp lạc chừng như diễn tới thiên thu. Chưa bao giờ, chữ động phòng lại mang đủ nội hàm đến vậy. Chăn chiếu tơi bời, tiếng rên la thế đồng hồ gõ nhịp: Đã ba giờ sáng. Thanh minh, kể rõ ngọn ngành, thú tội… ích gì cho buổi ấy! Lời hoặc lỗ cũng chưa tính xong sổ sách. Mai này anh đường anh tôi đường tôi, tình nghĩa đôi ta có thế thôi? Biết đâu đấy! Chuyện đại sự mà.
Sáng hôm ấy sương bủa mù trời. Đứng rất gần, khoảng một tay với, đôi mắt mới trông rõ sự vật và mọi thứ như biết lẩn trốn thoạt gần thoạt xa. Những ngày tết ta, diện mạo Huế thường khoác lên tấm khăn choàng mờ đục, như chiếc bánh tráng làm bằng bột gạo đã vừa thấm nước để mềm mại gói lại tựa chiếc gỏi cuốn, no căng bí ẩn, háo hức thèm muốn.
Những gì trông không thật, đầy hư ảo thường mang đến chút yếu lòng, chân đi bước nhẹ và dưới vòm lá cây bóng màu diệp lục người ta đón lấy một thổn thức vừa cựa mình, rung động niềm hạnh phúc chẳng thể giải bày. Xa hơn tầm tay với chỉ có tiếng cười trong vắt xẻ toạc màu sương, dồn sóng gửi lui sau một quyến dụ khó cưỡng. Tiếng cười con gái vọng giữa đất trời đang giao thoa bằng sương giăng chẳng khác thứ âm nhạc từng chắt lọc qua những phụ âm pha tạp, phát ra cung bậc nhiều décibel làm rạn vỡ thuỷ tinh. Đứa con trai lần theo tiếng cười dẫn lối, hứng đủ bao dịu dàng của kẻ hướng đạo thích đánh rơi ám hiệu gây bất ngờ. Người ta mặc áo mới còn thơm mùi vải, vừa cắt chỉ; chiếc áo dài mồng một trinh nguyên vàng như rừng mai rung động những đài hoa, run thân với hai tà cuống quít, e ấp chừng e thẹn một sánh đôi. Đôi môi đỏ hồng vì mãi cắn vỡ hạt dưa, con mắt đen ướt ưa ngoái nhìn. Hàng lông mi cong, nốt ruồi nhỏ đọng bên cằm. Tóc mượt thơm mùi bồ kết đêm giao thừa gội sạch những vướng mắc năm cũ, chiếc kẹp tóc có đính một bông hoa tím, hoa mang tên dễ nhớ: Forget-me-not.
Xin đừng quên tôi. Tôi đang lùng sục một giấc hoàng điệp. Tôi trọ học trên cao nguyên, được gia đình mua cho chiếc vé Air Vietnam và tôi bay trên đôi cánh mang tên DC-3 luôn chao đảo vần vụ về Huế ăn tết với phi trình sồi trụt lắm mây. Cô tiếp viên hàng không mặc áo dài xanh cầm khay đựng bông gòn biểu nhét vào lỗ tai nhưng tiếng rầm rộ của động cơ hai cánh quạt như biết đi vào người qua những xúc giác khác. Choáng váng, lạnh, chóng mặt, sốt ruột, nôn nóng. Liên Khương nối Phú Bài dài như chân đi 12 tháng, một tròn năm.
Người bạn láng giềng đã đón chào buổi trở về của thằng con trai đi học xa, đi một ngày đàng học một sàng khôn. Có uổng công không khi nhìn ra hắn vẫn dại khờ như thuở nọ? Đã qua bao lần lá đổ, hắn ngu ngơ chưa nắm cổ tay ai. Người bạn diện áo dài biểu hắn chở xe lên đồi Thiên An “đạp đất”, đi hái lộc ở những khu vườn quạnh quẽ. Không gian Huế có khi vây vuông tròn một cảnh sắc Đà Lạt, tựa một cặp song sinh. Khác biệt chỉ riêng một điểm, nếu xuống khỏi khu Hoà Bình để bước chân lên đồi Cù tà áo lụa là kia sẽ phải bao bọc thêm một chiếc áo ấm, màu len xanh của nữ sinh Bùi Thị Xuân chẳng hạn. Huế không có được thứ se lạnh dịu dàng ấy cũng như Đà Lạt chẳng tạo ra vẻ e ấp mà cố đô luôn sở hữu. Song sinh? Bởi Bảo Đại từng lên “đạp đất” chốn đó để thậm xưng là Hoàng Triều Cương Thổ. Đá cứng chân mềm, đôi chân tôi vừa xuống núi, vừa đi vào đền đài miếu mạo của vua chúa tiền nhiệm, truyền ngôi cho hoàng đế cuối cùng. Người bạn mặc áo dài vàng mang đủ họ tên dài thậm thượt như bất kỳ một Công Huyền Tôn Nữ nào khác, mai này bạn sẽ làm hoàng hậu không ngai cho một đấng trượng phu nào đấy. Bạn hỏi, chúng ta có nên tin vào câu “xa mặt cách lòng” không? Nhiều kẻ lo xa đã thu vén mọi chuyện nhằm mang gạo đến gửi. Hãy ăn đi, ăn cho chóng lớn để hắn thành đạt một mai quy cố hương sẽ sum vầy nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa. Sách tử vi luận: Cái nốt ruồi ấy là đứa hám ăn, cái lưng ong kia thuộc dạng mắn đẻ, mái tóc dài miên man nọ sẽ biết cuốn siết lấy chồng con. Thuật bói toán chẳng cho hay về rèm mi cong ấy có giúp cho mắt sáng suốt một ngóng đợi? Một hướng nhìn xa xăm. Sự vụng dại hắn mang có nhằm xác quyết sự chung tình?
Ba ngày tết, người ta không biết làm gì ngoài việc tiêu pha vào phim ảnh, chở nhau vào quán ăn, về nhà gây sòng cờ bạc (chẳng phải bác thằng bần) và rồi lại đèo nhau đi loanh quanh không mục đích. Chiếc xe gắn máy Honda 49 phân khối chưa bao giờ đầu tắt mặt tối tựa thế, máy nóng hực có thể nướng chín mực khô cùng râu ria, có thể đun vào sát giường nằm ngăn heo may gió lạnh. Nó sẽ hỏng xú-báp, lột dên, cháy bu-gi, bể hộp số nếu thằng tôi còn nấn ná bên người. Người đã chủ động một môi hôn trước buổi chia tay, đã lì xì cho hắn một vuông trời bị đánh cắp dưỡng khí. Hắn chết ngộp, đê mê và bằng lòng được qua đời dưới môi hôn ngọt ngào không tẩm độc dược ấy. Người thức trong đêm sâu để cúp sẵn hạt dưa, phun vỏ nhuộm phẩm đỏ đi, bỏ đầy vào túi ny-lông những hạt trắng ngà trao tay hắn. Hắn dè xẻn nhai để nhận rõ do đâu hạt dưa sản sinh ra chất béo, ngọt bùi và thơm thảo.
Và rồi phi trường Phú Bài thu bé trong nắng nhạt, sông Hương bên dưới sáng lạnh tựa một thanh kiếm sắc. Nó suốt đời yên ả chẳng gợn sóng, là vòng tay dịu dàng ôm lấy một địa phận mọc ra lắm cổ tích. Đối chọi với sông, hồ Xuân Hương Đà Lạt tuy nhỏ nhưng bề mặt mãi xao xác sóng. Nó luôn gợn lên một điều gì làm kẻ xa nhà phải băn khoăn: Nhan sắc Đà Lạt sẽ xấu đi khi thiếu mặt con nước đa đoan kia. Phú Bài hay Liên Khương đều nằm xa thành phố, không sát sao chật chội như Đà Nẵng hoặc Sài Gòn, nên chi đã bình phi, đã hạ cánh, đã xuống tới, kẻ lữ thứ phải chịu thêm một đoạn đường trèo đèo lội suối trên chuyến xe chạy trong nôn nả bóng tà dương. Lối vào thành phố ở Huế xấu, nhưng Đà Lạt, lãnh địa ấy đã rộng lòng lót trải một cảnh quang rạng ngời nét đẹp cheo leo bên đàng. Ngoài tâm cảm của đứa xa nhà, thành phố sương mù kia vô tình trao cho hắn sự rung động, tồn đọng vào tấm lòng để chực ngợi ca vu vơ qua chữ viết. Hắn kể những thứ đầu ngô mình sở cho người bạn gái Công Huyền dưới cố quận, chuyên cần ra bưu điện gửi thư đi. Đem cân nặng nhẹ tuỳ buồn vui hắn tàng trữ. Hắn thành thật, trong lớp có nhiều cô, tựu trung khi nhìn ngắm chỉ cốt đè nén một vọng tưởng, dìm được chút nhớ thương, chỉ là uống thuốc cầm chừng nhưng bệnh tình coi moi chẳng thuyên giảm.
Thư có khi không đến địa chỉ, hoặc tới mà chẳng còn người nhận. Những trang nhật báo mãi in lên trang đầu tình hình chiến sự ở tuyến đầu, vùng Một chiến thuật đang dầu sôi lửa bỏng. Huế đã không còn là Huế nữa qua biết bao đổ vỡ như một số phần nghiệt ngã buộc phải hứng chịu. Hoàng hậu không ngai đã di tản, đã xuôi nam. Ái khanh đi mô để lạc dấu? Hoàng y trôi giạt phương nào lu bu để chẳng rảnh tay gửi về một cánh nhạn báo tin? Hắn đi qua cầu ông Đạo, đi về rạp Ngọc Lan, lạc hồn đổ dốc Minh Mạng, xuống rạp Ngọc Hiệp mua bao thuốc lá Philip Morris, hút khô cần cổ thì nhìn thấy Thuỷ. Nhà Thuỷ ở đường Phan Đình Phùng, tròn người, thấp thua hắn chút đỉnh, tóc ngắn, mang kính cận, học giỏi, ngồi trên hắn hai dãy bàn. Con nhà khá giả, hào sảng, rộng lòng, biết thằng bạn học ở quê xa nên Thuỷ vẫn thường để lộ những san sẻ ý tứ, tan học thì kéo đi uống cà phê, ăn bắp nướng… Bằng tuổi nhau nhưng Thuỷ xem chừng đủ tư cách để có thể làm chị. Chỉ có tình chị em mới diễn đạt bằng sự quan hoài “vượt quá mức quy định”. Thuỷ dạn dĩ, bộc trực kiểu người Nam. Hắn lắm đắn đo, nghi ngại, rụt rè đậm chất Huế. Hắn là con hươu được Thuỷ vén mở bày ra con lộ mới. Hãy mạnh dạn bước vào rồi sẽ tìm gặp chút nguôi ngoai. Mình từng xa nhà, mình hiểu những thiệt thòi bạn đang hứng chịu. Đà Lạt lạnh, hơi ẩm làm mờ kính cận Thuỷ mang nhưng dù gì, qua bao ngăn che hắn vẫn nhìn ra vẻ đẹp chẳng tì vết lắng vào tâm hồn Thuỷ. Tình bạn nẩy mầm, che được giá rét, ngăn được nỗi nhớ nhà, trấn an yếm thế, dỗ dành bi luỵ. Đà Lạt lạnh, muốn giữ nhiệt phải nắm lấy tay nhau, ấp ủ. Có khi hai đứa đã quấn cổ nhau bằng chiếc khăn len dài như con đường đổ dốc Duy Tân.
Hắn hỏi: Buổi tối, khi đi ngủ, Thuỷ vẫn mang kính cận hay đặt nó bên gối nằm? Phải tháo ra chứ, vướng víu khi trăn trở. Vậy lỡ nằm mơ giấc mộng đẹp, Thuỷ làm sao nhìn thấy mình đang nằm chỗ thật gần? Một tràng cười cất lên như thể bị ai chọc nhột. Chẳng những thấy mặt mà còn nhìn ra những âm mưu nữa cơ. Ở ngoài đời cần đeo kính để dễ phân biệt nhưng dùng nó khi nằm mộng thì mọi thứ lại đâm mù mờ, tin không? Có nghĩa là khi ngủ bạn vẫn ngó thấy mình. Tại sao không? Thấy đôi ta sẽ bỏ trường bỏ lớp trong tương lai gần, sẽ tháo chạy mà chẳng để lại lời hứa hẹn, đánh rơi một dự cảm đoàn tụ… Thấy bấp bênh. Vì thế, có lẽ là nằm gần bên nhau sẽ là giấc mơ chẳng vẹn toàn.
Tất cả, qua bề dày tháng năm, tôi có thể ví mình mãi là cậu học trò xa nhà đọc không xong một cuốn trường thiên tiểu thuyết xộc xệch đứt lìa những chương hồi, nơi trang đời rơi rụng lắm số trang. Một cuốn bí kíp khó hiểu mà muốn luyện thành ắt hẳn phải tẩu hoả nhập ma. Bầu trời chốn đây thoáng rộng, rộng tới phát hoảng khi nhận ra thân đời lưu lạc quá nhỏ bé, lạc lõng tới mức buồn tủi. May mà trời xanh không đổi màu, vĩnh cửu là sắc xanh của Huế cổ kính, của Đà Lạt điệp trùng đồi thông. Mặt đất dưới chân luôn thay đổi từng địa tầng, nhưng trên đầu, thênh thang trời quang mây tạnh vẫn ngần ấy thuỷ chung một sắc son. Con chim sẻ, con bồ câu chốn này cũng không giở trò phụ bạc, như tuồng loài giống ấy, trước sau vẫn thế dù đôi cánh không chịu mỏi mòn kia bay qua suốt những địa lục sông ngòi biển cả lạ mặt. Quen mắt đến nỗi chúng đánh lừa nhãn quang kẻ nhìn ngắm, dạn dĩ lại gần bắt trí tưởng quay về lại chốn xưa. Và trong muôn một, để tìm nhớ kỷ niệm, cộng đồng người Huế cùng thân hữu xa xứ đã tổ chức ra ngày Quốc Học- Đồng Khánh.
Trước đây tôi không đủ hoả hầu để vào trường Quốc Học, và ngôi trường quét vôi hồng sánh đôi nằm bên, dĩ nhiên phải đổi thân phận mới hòng chui vào thế giới tinh tuyển toàn các loài hoa tựa Đồng Khánh. Tôi đến đứng trước địa điểm, một hội trường lớn rộng phô trương nhiều cờ xí. Đến vòng tay ngó quanh ngó quất. Đến có hơi sớm để dài cổ cho kỳ vọng, rằng cơ duyên sẽ bổ nhào tới tôi, sẽ nhìn thấy một tà áo vàng rung động trên thân người Công Huyền Tôn Nữ năm xưa, người mà niên khoá nào đã từng được chọn vai làm một trong hai bà Trưng, cỡi voi có quân hầu diễn hành thật trang trọng trên đường Lê Lợi im sững gió máy. Người có rèm mi cong, có lưng ong, có hạt nốt ruồi, có đôi môi mọng đỏ, có suối tóc huyền, có chiếc kẹp đính nụ hoa “xin đừng quên tôi”. Tôi luôn nhớ, như nhớ thơ của Nhã Ca: “kỷ niệm buồn như tiếng thở dài…” Đã có một ai, suốt đời chưa hề biết thở dài? Hạnh phúc hay đau khổ thay cho kẻ đó!
Không một ai quen, toàn những khuôn mặt lạ chất chồng nhiều vết nhăn. Cũng phải, tôi xa người ấy đã quá lâu, tôi lên Đà Lạt cũng đã bộn trăm mùa. Tôi đứng lơ ngơ như đội lốt Mã Viện, láo liên như giặc Tầu ô bành trướng thì ba hồn bảy vía lộn lui khi nghe lãnh lót tiếng rầy la đầy uy lực phát ra: Ngoại mệt con lắm rồi, cứ không chịu ngồi yên một chỗ. Điệu ni ngoại giao con cho người ta để được an thân. Đứa bé gái nhỏ nhít, năng động và hớn hở khi được mặc áo dài dừng chân gần bên tôi. Nó nhìn bà ngoại thu hẹp khoảng cách và bà ngoại nó ngó tôi như ngó một mẹ mìn. Không có sương mù vây bủa, nếu có thì màu thời gian đã can dự chắn lối. “Chuông gọi hồn ai” hay “Đi tìm thời gian đã đánh mất”? Hay “Trăm năm cô đơn”? Hay “Kẻ xa lạ”? Hay “Cuốn theo chiều gió”? Một người mình lỡ thương thì suốt đời người ấy sẽ chạy trời không khỏi nắng, cho dù người ấy có hoá trang làm bà Đoàn Thị Điểm bà Huyện Thanh Quan bà Hồ Xuân Hương hoặc bà Đanh. Đôi mắt ấy, khuôn mặt ấy, nốt ruồi ấy… tổng thể gom lại bằng hai tiếng “Trời ơi!”. Ở xứ này có một chữ rất đắc: Wow! Cô đọng tất cả những nỗi niềm, trong khi trời ơi chỉ là tán thán từ biểu tỏ một ngạc nhiên. Trời ơi mà thiếu đất hỡi. Trời sinh ra Công Huyền sao lại còn đẻ ra ngươi! Chứ xa nhau dài bằng thế kỷ ngươi đi mất đất đã làm nên công trạng gì? Nhà ngươi tá túc phương nao, nếu loanh quanh đây hẳn đã châu về hiệp phố, nhỉ?
Ngoại. Chỉ một chữ đã nghe ra tàn phai vây khốn, nghe thót tim. Ví phỏng đường đời bằng phẳng mãi, chắc gì ta đứng với chân run, với hệ luỵ chất đầy làm lưng thôi còn thẳng. Người bạn có tên trong ban tổ chức đi tới, chen giữa Từ Hải và Thuý Kiều: Ủa, hai người có quen biết nhau hay răng? Hắn ta làm MC tự nguyện: Ông này ở nước láng giềng vượt biên sang đây những mong hưởng ké ngày vui chúng ta gầy dựng. Hắn thiết tha tìm được người xưa, nếu đúng là bà thì ắt hắn đang mãn nguyện. Ngoại thôi đăm đăm chú mục tới mục tiêu, quay sang đứa bé: Con vòng tay thưa ôn đi, nói biết nghe, ạ ôn đi. Giỏi! Người bạn hô: Thôi, tới giờ rồi. Vô đi, vô đi. Để tui sắp xếp cho hai ôn mụ được ngồi gần nhau, tha hồ nhắc lại thời oanh liệt nay còn đâu. Nì, lát nữa chạy lên ngâm một bài thơ hỉ, để cho bà con thấy dân học trường Hàm Nghi dũng khí đâu có kém ai. Nếu không thì tặng bà Tôn Nữ này một khúc Nam Ai thê thiết.
Xúc giác, vị giác, thính giác, khứu giác chừng đã dỗi hờn bỏ đi. Trên năm chục tuổi chẳng có cớ gì để níu giữ chúng lại. Phản ứng cũng thế, mất hẳn sự nhanh nhạy. Và thị lực, muốn xem sách, muốn dòm hoá đơn, muốn coi rõ tờ giấy phạt vi phạm lưu thông cũng phải mò tay vào túi lấy ra cái kiếng lão. Mắt đục bụi trần để mắt có khi trông chim hoá bướm. Nhưng người đã leo lên chức ngoại, dẫu mòn hao tới cỡ nào thì tôi vẫn còn đủ tinh tường để nhìn nhận, để cứng thân dọn lòng bao hồi ức. Tôi treo mỏng đời lên mạng , ngoại ơi ngoại hỡi ngoại sầu tơ giăng? Tôi ít nói, tôi ăn thỏ thẻ. Chén bao giờ cũng đầy thức ăn do ngoại luôn tay bồi đắp, gắp xới. Đứa cháu gái nhỏ bé ngoại bàn giao lại cho ai để rảnh tay nâng khăn sửa túi đứa cháu trai dại khờ. Có lẽ đêm nay tôi sẽ mang kính lão khi đi ngủ, để giả như cuốn vào giấc mơ tôi sẽ thấy lại Thuỷ ngồi kề bên tôi trong đêm hội ngộ cựu học sinh liên trường Đà Lạt. Tám mắt nhìn nhau, sương mờ vây ảo ảnh. Huế buồn lắm, còn Đà Lạt thì sao? Hãy chép ra một tờ kinh sai lạc, kể đầu đuôi ngọn ngành, tự dạo xa nhau Thuỷ làm những gì? Mơ hồ trỗi lên giọng đứa bé con nũng nịu: Nội, nội đút cơm cho con ăn. Tỉnh giấc, cặp kính rời đi.
Đêm Quốc Học Đồng Khánh chấm dứt tới gần lằn vạch bước sang ngày mới. Lạ lùng thay, khi bước ra khoảng sân rộng, bầu trời xứ cờ hoa đã độ lượng buông màn bằng cơ man những sương mù sữa đục. Bồi hồi, yếu lòng, chập choạng, mò mẫm nhớ thương. Cách một bề dài của cánh tay dang rộng, mù mờ vạt áo dài vàng máy động, tiếng cười gửi lui nghe luống những ngậm ngùi, giữa canh thâu mông muội.
Lạ chỗ, tôi ngủ không tròn giấc. Đêm cũng như ngày, chốn này đều chìm trong tĩnh lặng. Yên ả tới độ cố dóng đôi tai đợi chờ một tiếng động chợt khuấy lên, để biết mình đang tỉnh thức, không mê muội. Độ mười giờ sáng, tôi gặp chút mừng vui khi nghe có tiếng còi tàu xe lửa gọi về từ chốn xa, trốn tìm trong cánh rừng chen chúc rậm lá thu nhỏ tiếng thì thào. Chừng khoảng trưa thiêm thiếp nắng vàng nặng trĩu cành tôi nghe đôi ba tiếng chim hót giọng thanh cao. Tiếng lãnh lót ngọt ngào kia muôn đời làm lòng người chùng xuống, tái tê. Nó bay đi, điền thế một khoảng lặng dây dưa chút bàng hoàng, biền biệt.
Dạ Thường thức giấc hồi nào tôi chẳng hay. Cô luôn làm sẵn bình cà phê và thông thường mỗi ngày tôi uống tới ba bình. Tôi xem thời sự trên TV thấy có ông bác sĩ bảo uống cà phê rất tốt, nhưng dẫu chất nước đen kia chứa lắm thứ độc hại thì thứ dung dịch tôi mãi dung nạp vào người không vì thế mà thuyên giảm đi. Sự vắng lặng, ly cà phê đen, cây viết xanh, vuông giấy trắng; hình như gom chúng lại một cách hài hoà để tôi an lòng cúi mặt tiêu pha khoảng thời gian chờ Dạ Thường xuất hiện.
Có lẽ là một thói quen, pha cà phê cho tôi xong thì Dạ Thường mang đôi giày Nike vào chân và cô chạy bộ gần cả giờ quanh những con đường tuyệt chẳng có bóng người, lòn lách dưới thâm u bóng cây độ lượng phủ che. Sau đó, êm thắm mở nhẹ cánh cửa sau nhà rồi tiếng mưa rào rơi xuống, từ phòng tắm, vắng xa. Thay đổi áo xống, trang điểm nhẹ lên khuôn mặt chẳng buồn vui, Dạ Thường chu toàn công việc một hướng dẫn viên chở khách đi thăm những nơi cần ghé xem ở thành phố này. Hơn một tuần thời khoá biểu ấy bị ngưng lại vì thôi tìm ra đích tới. Bảo tàng, hoa rộ công viên, tranh ảnh trưng bày, tượng danh nhân, sông dài biển rộng cũng như suối khe róc rách đều thưởng lãm xong. Thậm chí cả hai đã chui vào khu thương xá lớn rộng vui tay xáo tung từng đống áo quần đang giảm giá mất tới hơn nửa ngày. Hàng quán thì ăn gần hết những nhà hàng ngon nức tiếng. Và xong mười ngày giờ đây tôi ngồi yên cùng trang giấy trắng, cùng cái nặng ngàn cân của nỗi vắng lặng bủa vây. Mỗi ngày tôi cố viết xuống được hai trang giấy. Vẩn vơ để khỏi ngứa năm ngón. Ngưng lại khi có tiếng phong linh reo, gió không đủ mạnh để đánh thức nó. Nó phát tiếng mừng vui khi Dạ Thường tập xong bài “Suối nguồn tươi trẻ” và vung tay đánh hết bài quyền căn bản của Dịch chân kinh.
Đợi chủ nhà đi lo những điều lặt vặt nhưng riêng tư cần thiết của một người đàn bà, tôi lẻn ra ngoài khoảng sân trồng lắm hoa tìm chỗ thích hợp để hút thuốc. Nếu bảo Dạ Thường là người đại diện mẫu mực của bộ y tế thì tôi, đích thực là kẻ tội đồ phá hoại bao cản ngăn, lân la với độc dược. Người xem sức khoẻ là báu vật kia sẽ tha thứ tôi và Dạ Thường tôn trọng cách tôi quan niệm về đời sống. Bằng chứng là cô đã trao vào tay tôi cái lọ thuỷ tinh để làm gạt tàn thuốc. Tôi nhìn nhãn hiệu mắm ruốc Huế thượng hảo hạng made in Hong Kong mà chẳng dấu một nụ cười. Người Huế đi đâu cũng cố truy lùng ra ruốc, ớt. Và tôi, những ngày đến thăm người bạn cũ, ăn đậu ở nhờ đã được bạn cho cái gạt tàn chẳng đụng hàng, giú bên bờ cây bụi cỏ để nhìn “khói huyền bay lên cao”. Cái lọ thuỷ tinh đã được rửa sạch và mai này Dạ Thường có nhăn mặt không khi ngó ra một kỷ niệm chẳng mấy thơm tho? Tôi đã ăn bún bò do Dạ Thường nấu cũng như những thức cao lương mỹ vị khác. Cô bảo, để mình rửa chén bát cho, ra ngoài mà hút thuốc cho khỏi tanh miệng. Tôi ngó vành môi phai nhạt màu son và ra vườn tìm tới lọ ruốc chôn cạnh cây hoa thạch thảo.
Hôm nay mình nên ăn chay một bữa. Thịt thà hoài cũng ngán, đổi qua xơi toàn rau cho có chất xanh. Dạ Thường nói có bà người Việt trồng đủ loại rau trong khu vườn rộng, mình sẽ tới cái địa chỉ đầy sức thu hút ấy. Giá rẻ đã đành, nó tươi rói khi vừa bức hái lìa cành mơn mởn. Và thích ở điểm khác, mình được dầm thân dưới bóng dâm ngập sắc xanh màu diệp lục tới mát lạnh, đôi ba cánh bướm bay chập chờn quanh quất và rồi nghe được tiếng sốt sắng chuyện trò của người đồng hương kia.
Dạ Thường phải dùng máy định vị chỉ bày đường tới. Tuy cùng thành phố nhưng nó nằm ở quận hạt khác, khá xa. Cô nói khi cho xe chạy ra con đường lớn. Kinh nghiệm hơn ba mươi năm, bằng lái sạch chưa phạm một lỗi lầm nhưng Dạ Thường điều khiển xe như một kẻ ngày đầu vật lộn với chiếc Lexus. Ở con người cô, chẳng biểu lộ thứ gì nôn nả, sôi nổi, bồn chồn, dục tốc. Cô từ tốn, chậm rãi, đằm thắm tới mức khó hiểu. Cô biết cách chôn chặt những muộn phiền tận đáy lòng và khi cô nói thật vui khi gặp mặt tôi, đón về nhà cô ở mà chẳng lộ ra sự vồn vã. Tôi dấu cái ý nghĩ là bạn tôi nên đổi tên thành Lạ Thường. Căn nhà nhỏ, trống trải, quạnh vắng mà bạn ở là một điều khó hiểu khác.
2.
Trong các bộ truyện võ hiệp kỳ tình giả tưởng của văn chương Hong Kong, Đài Loan thỉnh thoảng gặp phải đôi ba hình ảnh của Tuyệt Tình Cốc, U Hồn Cốc, Cực Lạc Cốc…
Ngoài đời, ở chốn này, bỗng dưng hiện lên tấm bạt phập phồng lấn chiếm bờ lề che chắn lưu giữ được một bóng dâm nhỏ có tên gọi Cà Phê Cốc. Khai sinh ra nó là người sớm xa lánh chẳng mặn mà với sách truyện, chị Sim tầm 35 tuổi nói về nguồn cơn: Ban đầu thì cà phê bụi, chữ bụi cũng hay, nhưng sau đổi thành cốc vì em nghe ra lời quyến dụ của khách ngồi quán nói trong điện thoại: Hãy tới Cà Phê Cốc làm một cốc cà phê. Em mết chữ cốc từ buổi ấy, nghe phê. Lúc nhỏ học dốt cũng bị thầy đưa tay cốc vào đầu, u một cục. Chữ cốc còn đi vào bài hát đồng dao của bọn trẻ con: Lốc cốc leng keng con gà mô béo để riêng cho thầy!
Nói tới cốc, nghĩ ra một nơi chốn vắng tẻ, cô quạnh, sơn lâm cùng cốc. Nhưng, như một định luật tự nhiên, ở đâu có cà phê ở đó đâm chộn rộn lắm kẻ vào người ra. Đi lại trên giang hồ thời buổi này đa phần là phường bàng môn tả đạo, hắc bạch khó phân minh, tất thảy đều từng một lần tạt vào Cà Phê Cốc; lại có hạng người tuồng không màng thế sự ngồi so vai thu mình trong góc mãi lặng câm nhìn đời hiu quạnh trôi bên ngoài con đường thảng hoặc dấy lên đám bụi mờ. Khách dừng chân ghé thưởng thức chất nước đắng ngó tạp nhạp là thế nhưng toàn bộ ở chúng lộ hình sự đồng thuận: Cô Sim chủ quán khoác lên người một vẻ gì thật đáng yêu. Ba nhăm tuổi đầu mà nói chuyện cứ tự nguyện xưng em, ngọt hơn ba muỗng đường tộng cố xá vào cốc cà phê đen mà khuấy liên hồi kỳ trận, chừng hồ nghi bốn chữ mật ngọt chết ruồi.
Chủ quán có giữ ý tứ cách mấy, dần dà bọn phàm phu tục tử kia cũng lần khân hay biết điều hệ trọng: Chị ấy chửa chồng. Sim có đứa em bà con không màng gian khó loay hoay kề cận giúp việc. Hắn mang tật cà lăm và có lẽ bọn khách háo sắc sẽ khai thác tin tức qua môi miệng ấp úng trầm trầy trầm trật của đứa con trai đang độ tuổi có thể đầu quân vào đội ngũ thanh niên xung phong. Đâu cần thanh niên có đâu khó có thanh niên. Một đứa có cái lưỡi chưa được uốn cong như nó có muốn làm vẹt cũng khó. Khó tồn tại trong một tập thể của loài sáo từng được lột lưỡi. Thanh niên nọ biết chạy đôn chạy đáo phục vụ cà phê cà pháo là đã giỏi rồi. Khéo ăn khéo nói lanh miệng lanh mồm thì hẳn đã có chị Sim bao thầu, làm phát ngôn viên chính thức trong Cà Phê Cốc.
Địa điểm nằm không xa với dòng sông mùa này đang hạn nước, sông hư hao thấp xuống như nhan sắc một người đàn bà mãi vô duyên chốn tình trường, Sim chẳng hạn, 35 tuổi chưa chồng nào khác gì khúc sông đang cực lòng chuẩn bị lao vào biển cả mặn muối. Con nước dùng dằng lưu lượng với bề mặt lăn tăn sóng nhăn. Sông cạn kiệt đổ xuôi nhưng người có thể ngoi đầu để đắm đuối mộng tới một sự đắp bồi. Không hôm nay thì mai hậu thế nào cũng tìm gặp cái cụng đầu để cùng trôi về một hướng. Trai khôn tìm vợ chợ đông mà Cà Phê Cốc ắt hẳn là cái chợ thu nhỏ chẳng hề vắng khách.
Chen giữa dòng sông và quán cà phê của Sim có cái công viên khá rộng diện tích. Qua bao dâu bể bãi cỏ xanh um vuông vắn ấy vẫn chưa hề có được một danh xưng. Thời trước người ta dựng nên bức tượng người chiến sĩ với nón đồng với ba lô với băng đạn với súng ống đặt ở giữa công viên không tên. Thời nay bức tượng đó đã bị bứng nhổ, xoá sổ và cỏ ở đấy vàng vọt một chu vi như tưởng tiếc cái vắng bóng oan uổng nọ. Chứng bệnh cà lăm nói vấp có thể chữa lành, nhưng một khi nó ám vào miệng lưỡi thằng em họ cô Sim thì vô phương. Nó vẫn lắp bắp diễn đạt một tình huống chỉ có xẩy ra trong những trang sách Liêu Trai Chí Dị: Đêm khuya thanh vắng có khi tai nghe tiếng quân trang quân dụng phát động khi bức tượng người chiến sĩ kia cắm cúi đi lùng sục quanh quẩn như kẻ mãi tìm thời gian đánh mất ở bờ cây bụi cỏ. Một ngày kia… một ngày kia… chị sẽ… chị sẽ… Hắn nói chẳng tròn câu và Sim bỏ ngoài tai tất thảy những thứ dính dáng tới chuyện dị đoan hồn ma bóng quế. Cực miếng ăn đã tối mặt tắt mày đâu thể cực lòng tưởng tới thứ hoang đường ngoài choáng váng đời thường.
Một tháng hai lần, hai tuần một bận, Sim phải moi ruột tượng ra đếm, vuốt thẳng những tờ giấy bạc cóp nhặt từ bá tánh cho vô phong bì để trao tay anh Tám. Luật bất thành văn, anh Tám là người đứng mũi chịu sào về sự tồn vong của Cà Phê Cốc. Anh Tám bỏ đi hay “bỏ đi Tám” thì mưu sinh của Sim cũng tợ như đời tàn trong ngõ hẹp. Kẻ sính thơ văn có thể cà khịa tới vấn nạn kia: “Tháp Mười đẹp nhất hoa sen, lòng Sim đẹp nhất có tên Tám tàng”. Câu thơ rắn mắt nọ vấp nhiều sai lạc: Sen mọc ở Đồng tháp mười chưa hẳn đẹp nhất. Lòng Sim nào có ưa gì gã có thế lực ấy. Và Tám, hắn đâu có điên mảy may để gán ghép chữ tàng cho hắn. Một con cáo, người ta không nên ví với đứa tàng điên. Một con gà thì hoạ may bởi người đời từng vô cớ gọi là “tốc kê”: Gà điên!
Tám đi xe gắn máy có phân khối lớn, tiếng máy nổ rậm rật thị uy khó đụng hàng. Tám bước chân vô bóng im mát và quán dẫu đang chộn rộn hẳn phải ngưng bặt tiếng chuyện trò trong một khoảnh khắc. Sim biết thứ cà phê đặc biệt mà Tám thường uống và Sim ưu tiên giải quyết ngay cho ảnh khỏi phải ngồi đợi lâu. Nhưng tật của ảnh thì ưa cà kê, ảnh là người có vẻ không biết cách tiêu thời gian. Mỗi khi tới ảnh hút cả nửa gói thuốc có cán mới chịu rời đít. Ảnh chẳng buông lời trêu chọc tiếng ong ve tới Sim, ảnh ngồi lâu để lượng định số khách vào ra hòng qua đó ảnh đề xuất một con số thu nhập mới.
Kỳ kèo lời qua tiếng lại một đôi lần. Sim từng hụt hơi: Ép dầu ép mỡ sao anh nỡ ép em. Tay làm hàm nhai là việc đủ sống hôm nay, hôm sau theo quy định của anh thì con Sim này e phải tuyệt tích giang hồ, gỡ bảng hiệu xuống mà chí thú về quê cày sâu cuốc bẫm. Xa quê hương nhớ mẹ hiền đã lâu, anh chơi kiểu này chắc là tạo cho em một cái cớ để đoàn viên chăng? Tám có hơi nhíu mày trước sự đối kháng bất ngờ của Sim, ngồi rít khói thuốc ra chiều trầm ngâm nghĩ ngợi: Em liệu hét giá có được không? Từ 11 K một cốc cà phê nay ta hô là 15 K nhắm có ổn không? Sim cao giọng: Không, trăm lần không vạn lần không. 11 K mà đã có đứa cạy mặt hổng tới huống hồ 15 K. Con Sim này tuy vô học nhưng cũng biết chút đạo nghĩa giang hồ nghe anh Tám. Bán buôn mà rắp tâm đi mài con dao cho bén ngót thì đó không phải là nghề của nàng. Tám ngó vô dung mạo Sim: Sao đằng quán chị em cô chủ mồ côi ly cà phê đá có chút xíu nó tính tới 16 K? Í, mèn đét ơi, bị cả chị cả em nó khi bưng cà phê ra chúng thảy ở trần mát mẻ. Khi lộ hàng, chúng núp cái ô dù nào mà coi trời bằng vung?
3.
Tôi để trên bàn, gần bình pha cà phê, cái truyện ngắn viết dang dở trên cho Dạ Thường như lời cô đề nghị. Bà bán rau có khu vườn đầy trái ngọt đã kể cho tôi nghe chút chuyện đời đã trải và tôi viết lại có thay đổi chút ít. Dạ Thường hứa cô sẽ là người chung tay viết nốt phần sau. Cô sẽ bắt nhân vật Tám bị đày ải theo cách nhìn của cô. Bạn tôi sẽ thêm thắt về hoàn cảnh cô chủ quán Sim, lý do nào Sim sang đây, sống với một người nào đó và xắn tay làm chủ khoảng vườn đầy hoa màu, sống an nhàn với lợi nhuận thu nhập. Hôm ấy, khi gặp mặt nhân vật Sim tôi đã đùa cô bằng hai câu thơ của Bùi Giáng: “Yêu cầu cô bán cho tôi, một bó rau muống chịu chơi quê nhà”. Đùa mà không ngờ cô đã vui miệng kể về khoảng đời mưu sinh cũ. Và bó rau xanh kia giá chỉ bằng phân nửa so với giá mà mấy cái chợ sầm uất ngoài phố phường đề ra. Sim cũng chịu chơi rót nước trà mời uống, mắt long lanh ngó Dạ Thường lẫn khuất dưới giàn bầu, bí, mướp đắng, mướp ngọt, mồng tơi…
Dạ Thường chở tôi ra phi trường. Đổi vé lên máy bay xong hai đứa đứng ôm nhau trong khoảnh khắc. Mười ngày sống chung đụng gần nhau dưới một mái nhà yên hàn vô sự đây là lần đầu tiên chúng tôi để cho trái tim này nghe được nhịp đập của trái tim kia cách ngăn chỉ qua hai lớp vải mong manh che đậy. Tôi không ngợi ca Dạ Thường hẳn còn trẻ đẹp bởi cô từng cho hay khi chuyên cần tập luyện những bài thể dục kia nó sẽ trao cho mình những điều mầu nhiệm. Tôi chẳng khen tài bếp núc củi lửa của bạn mình bởi tôi sợ những lời nói kia sẽ xúi dục tôi đưa ra mệnh đề cuối: Tại sao bạn kén cá chọn canh để thui thủi đi về lẻ bóng mình ên?
Dạ Thường nói nhỏ bên tai tôi: Sẽ cố lắng lòng để viết xong đoạn cuối. Sẽ gửi cho đọc để xem mạch văn có được ăn ý và trôi chảy. Tôi tính nhờ một lữ hành đơn lẻ kéo hành lý ngang qua chụp giúp hai đứa một tấm hình nhưng đã trễ. Dạ Thường dùng tay đẩy vào lưng và tôi đi về cánh cửa mở hé dùng cách ly kẻ ở người đi. Tình bạn của chúng tôi trước sau vẫn có một đường ranh ngăn chia, không một bàn tay đan ngón, dùng dằng lôi kéo nấn ná. Và rồi thì máy bay nhấc mình lên cao đâm bổ vào đám mây mù, quánh đặc. Yêu cầu quý vị cài dây an toàn như quy định. Người tôi chao đi.
4.
Mất hơn hai tuần Dạ Thường gửi kèm email cái truyện chung đôi, sự hợp tác của hai đứa như ý tưởng Dạ Thường đề ra. Tôi đọc, sửng sốt bởi tài dụng văn của bạn và không khí cô dàn dựng hư thực khó lần ra. Tôi xin tóm gọn lại: Dạ Thường là tình nhân của cô Sim, ma đưa lối quỉ dẫn đường họ tình cờ gặp gỡ, cuốn hút nhau chẳng nghi ngại. Sim đã ghen tuông khi Dạ Thường chở tôi đến bữa đó. Để giải quyết bao vấn nạn, Dạ Thường sẽ treo bảng bán nhà rồi ôm đồ đoàn về khu vườn “kỳ hoa dị thảo” sống chung. Đoạn cuối cô cho hay gã đàn ông tên Tám bị dân giang hồ xử, bị thương tật nặng đành nghỉ hưu sớm. Đứa em họ Sim, mang tật cà lăm thì bị xe điên tông đến trào máu họng, chẳng ấp úng nói lời vĩnh biệt thế gian. Tất cả mọi người, ai trong chúng ta cũng đều giữ riêng cho mình một vở bi kịch. Dạ Thường chấm câu. Chúng tôi (Dạ Thường và Sim) sẽ bỏ công sang sửa để nới rộng chốn này làm nơi cung cấp rau quả xanh tươi an toàn thực phẩm cho toàn thành phố. Và chúng tôi quyết định dựng bảng hiệu: Âm Thịnh Cốc.
Tôi ngồi nhớ lại toàn bộ khung cảnh chốn ấy. Nhớ thể hình nuột nà cân đối của Dạ Thường, nhớ vẻ dửng dưng và chẳng quan ngại khi bạn cho tôi ăn ở trong căn nhà quạnh vắng dễ phát sanh bao tạp niệm ám tối. Tôi buồn bởi từ nay tôi mất đi cái địa chỉ êm đềm kia. Tôi buồn vì nghĩ e hai đứa tôi sẽ chẳng còn cơ hội gặp lại nhau. Tôi chẳng trả lời bức điện thư nọ và cũng chẳng đưa ý kiến về cái kết thúc lạ thường trong câu chuyện kia. Một lời chúc “hai người mãi hạnh phúc” cũng không tiện viết ra. Dạ Thường làm vợ hay cô ấy đóng vai chồng? Một người chồng công dung ngôn hạnh và sắc nước hương trời. Tôi đóng sập máy lại, đầu hè chẳng gợn chút gió heo may. Không tiếng mưa rào. Vắng tiếng phong linh reo ngoài hàng hiên. Không vọng tiếng còi tàu. Và tuyệt chẳng một con chim nào hót.
Những ngày đàu Xuân tôi đọc được một bài của Văn Quang. Bài viết làm tôi xúc động, tôi mời quí vị chia xẻ với tôi niềm xúc động này.
VĂN QUANG:
Tôi không nhớ rõ năm đó là năm thứ mấy chúng tôi “học tập cải tạo”, chỉ biết rằng khi ấy trong chúng tôi đã có những người “quen” với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam được “xây dựng” bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u miền Bắc. Ở Sơn La thì “trại” được làm trên những nhà tù từ thời xa xưa, trên những cái nền nhà lỗ chỗ, người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời.
Nơi này xưa kia, Pháp dùng để giam giữ tù chính trị, rồi một thời gian sau, VN giam những người tù Thái Lan và trong chiến tranh đã có khi người ta dùng làm “công binh xưởng” chế tạo lựu đạn. Vì thế nên thỉnh thoảng chúng tôi nhặt được vài cái vỏ lựu đạn ở đâu đó quanh khu vực này. Ở Vĩnh Phú thì nhà tranh vách đất, ngoại trừ một khu người ta gọi là khu “biệt kích” gồm vài căn nhà “xây dựng kiên cố” bằng gạch lợp tôn xi măng. Chúng tôi “được học tập cải tạo” trong dãy nhà này. Cũng nghe người ta nói lại là khu này trước kia dùng để giam giữ những người lính biệt kích đã từng nhảy dù ra Bắc rồi bị bắt giam ở những khu đặc biệt đó. Muốn vào khu này phải qua hai lần cổng có tường gạch bao quanh. Nhưng có lẽ khi giam giữ biệt kích thì khác, còn khi chúng tôi “được giam” ở đây có vẻ như “cởi mở” hơn vì những cánh cổng thường không đóng bao giờ. Họ để cho chúng tôi đi lao động hàng ngày cho khỏi phải mở ra đóng vào.
Cuộc sống dù cực khổ đến đâu, sống mãi rồi người ta cũng phải quen. Nhịp sống hàng ngày cứ thế trôi đi dù là trong đói rét, thiếu thốn và trong những cấm đoán vô cùng khe khắt. Nhà tù nào chẳng thế, nó có những quy luật và quy định riêng. Những ngày đầu người ta cấm luôn cả trà, cà phê, thậm chí cấm cả người tù đeo kính cận. Nhưng sau này nới dần, những thứ như thế không bị cấm nữa. Chỉ còn những thứ đã thành “luật” thì luôn bị cấm và cấm ở bất cứ đâu. Cấm “mua bán đổi chác linh tinh”, cấm dùng thức ăn lâu ngày bằng bột, cấm tỏi và cấm tất cả những dụng cụ sinh hoạt bằng sắt như dao, kéo, muỗng nĩa… Tuy vậy có anh tù nào lại ngây thơ ngoan ngoãn đến nỗi tuân theo hoàn toàn những quy định ấy. Mua bán đổi chác linh tinh vẫn cứ diễn ra, dao kéo vẫn cứ được lén lút xử dụng hàng ngày nhưng đó là những thứ đã được “cải biên” thành dao kéo mini nhỏ síu cho dễ cất giấu. Nó là những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày, dù có bị bắt thì cũng chỉ bị tịch thu chứ không đến nỗi bị cùm một hoặc hai chân –tùy theo tội– hay bị đưa vào “thiên lao” tức là thứ phòng giam đặc biệt trong trại tù.
Ngày qua ngày, cái “không khí êm ả” của trại giam trở nên phẳng lặng nhưng dĩ nhiên là không thể nào nói rằng đó là thứ “an tâm, hồ hởi phấn khởi” mà bất kỳ anh “trại viên” nào cũng cứ phải viết khi phải làm những “bản kiểm điểm”, mặc dù kể cả người viết và người đọc đều chẳng ai tin.
Nhưng cái không khí ấy đôi khi bỗng nhiên bị xáo trộn. Vào một buổi sáng tinh mơ, khi chúng tôi đang ngồi ở cái sân đất giữa trại, chờ gọi tên từng đội đi lao động để “một ngày lại vinh quang như mọi ngày” thì bỗng đâu toán lính gác trại tù sồng sộc chạy vào. Họ chạy rầm rập như ra trận, súng ống chĩa về phía “quân thù”, mặt mũi “khẩn trương” rõ rệt. Họ sộc thẳng vào những phòng giam trống hốc cứ làm như có địch ẩn nấp đâu trong đó.
Chúng tôi ngẩn ngơ đứng nhìn, không hiểu họ giở trò gì. Có những khuôn mặt lo lắng, một nỗi lo bâng quơ. Chuyển trại hay có ai đó trốn trại? Chưa biết. Toán lính lục tung hết mọi thứ đồ đạc ít ỏi mà mỗi người tù có được trong gói hành trang của riêng mình. Sau đó chừng nửa giờ, một vài gói đồ bị tịch thu được vác lên “phòng thi đua”. Lúc đó thì chúng tôi mới hiểu rằng đó chỉ là một kiểu khám phòng để tìm ra những thứ đồ “quốc cấm” mà trại đã quy định tù không được dùng.
Thật ra, đó cũng là cái cung cách mà ở những “trại cải tạo” thường dùng để khuấy động cái không khí trầm lặng dễ phát sinh ra những “tiêu cực”. Bởi trong cái sự yên bình của một trại giam, người tù có thể liên kết với nhau làm một chuyện gì đó như tổ chức trốn trại hoặc có thể có những vụ xúi giục “tuyệt thực”, bàn bạc chống đối… Và nếu nói đến sự chống đối thì có hàng trăm thứ để có thể chống đối được. Thí dụ sự ăn đói, sự đối xử bất công, sự oan ức vô lý, sự trù dập của một vài anh “quản giáo”, sự thô bạo của mấy anh lính võ trang. Chuyện gì cũng có thể chống đối được. Vì thế thỉnh thoảng họ phải làm cho cái không khí đó mất hẳn cái vẻ trầm lặng để chứng tỏ lúc nào họ cũng đề phòng, lúc nào họ cũng “đề cao cảnh giác”, lúc nào họ cũng sẵn sàng đối phó với mọi “mưu đồ”.
Các anh tù đừng có tưởng bở, chẳng bao giờ yên đâu. Cứ sau mỗi lần như thế, chắc chắn thế nào họ chẳng vớ được vài anh tù nào đó giấu những thứ vớ vẩn như dao kéo, thư từ, sách vở tiếng nước ngoài, tiền bạc, đồ dùng ngoài quy định. Tất nhiên sẽ có những cuộc “kiểm điểm, phê bình” mà chúng tôi gọi là những “buổi tối ngồi đồng” để từ đó lòi ra một vài cái “tội”. Ðội nào khôn ngoan thì cứ ngồi im, ai “phê” thì cứ mặc, còn cãi là còn “ngồi đồng”. Ði làm suốt ngày mệt mỏi đến thở không ra, tối về còn ngồi đồng, còn “phê bình” còn “kiểm thảo” thì chịu sao nổi. Nay “làm chưa xong” thì mai lại ngồi tiếp, ngồi cho đến khi nào tìm ra tội mới thôi. Tội nặng, tội nhẹ tùy theo tình hình của từng thời điểm.
Thời điểm “căng” thì vào tù phạm tội vào nhà kỷ luật đặc biệt nằm “treo một chân”, thời điểm nhẹ nhàng thì cảnh cáo, ghi tội vào biên bản. Và họ sẽ có những biện pháp an toàn như chuyển đổi năm bẩy anh từ đội này sang đội khác để phòng tránh những vụ tù kết hợp thành tổ chức, những phe nhóm có thể gây nguy hại đến an ninh của trại tù.
Chung quy đó chỉ là một cách đào xới tung cái tinh thần “tưởng rằng yên ổn” của mấy anh “trại viên” còn tỏ ra cứng đầu, còn có mưu toan lôi kéo người này người kia vào trong phe mình để từ đó có những yêu sách hoặc toan tính bất lợi cho trại tù. Quả là mỗi lần như thế trại tù cũng rối tung lên và làm cho những anh yếu bóng vía thường phải sống dựa vào tinh thần bè bạn càng thêm rụt rè, chẳng biết tin vào ai được nữa. Nhưng riết rồi trò gì cũng thành quen và đối với một số người tù “chẳng còn có gì để mất” thì họ trơ như đá, muốn làm gì thì làm, chỉ có cái thân tù đói này thôi, sống cũng được mà chết cũng chẳng sao.
Có lẽ tôi cũng đã học tập được cái tinh thần ấy của những anh bạn trẻ, bởi tôi cũng chẳng còn có gì để mất. Vợ con nhà cửa đều đã mất tất cả rồi, chẳng có gì phải lo. Ðôi khi tôi sống tưng tưng, ông anh rể ở Sàigòn gửi cho cái gì thì nhận cái nấy. Và một sự thật không thể quên là nếu không có ông anh rể tốt bụng đó thì tôi cũng đã trở thành một thứ “Tù Caritas” như một số anh em ở trong trại tù rồi. Tức là những người tù chẳng có ai thăm nuôi.
Những bà vợ đau khổ với những gia đình đói rách lầm than, họ lo cho chính họ còn không xong thì lấy gì đi “thăm nuôi” người ở trong tù mà lại tù ở tuốt tận miền Bắc xa tít mù tắp. Thậm chí có người tù còn vui mừng khi thấy vợ mình bước đi bước nữa với một anh nào đó và đưa các con ra được nước ngoài. Tôi nói thế để chứng minh rằng không nên trách cứ bất kỳ một ai trong hoàn cảnh cay nghiệt này. Theo tôi thì những anh “mồ côi” không ai thăm nuôi trong trại tù mới chính là những anh hưởng trọn vẹn được cái “thú đau thương”.
Ảnh VĂN QUANG tại Sài Gòn năm 2011.
Trở lại chuyện buổi sáng tinh mơ, khi toán lính chạy sồng sộc vào trại. Ðó là một buổi sáng cuối mùa đông, trước Tết âm lịch chừng vài ngày. Ðây cũng là biện pháp an ninh thông thường của các trại tù trước những ngày lễ Tết lớn. Tôi thảnh thơi theo đội đi làm ở ngoài đồng. Tôi vẫn cứ yên trí rằng tôi chẳng có gì để mất, hay cái vật tôi mất chẳng có gì quan trọng.
Vào mùa đông cái thứ quan trọng nhất với người tù chỉ là rau. Mùa này thiếu rau đến… khô quắt cả dạ dày, rau muống bầu bí không trồng được, chỉ còn rau cải và trồng cải thì lâu mới được ăn và năng suất không cao, cho nên có được tí rau là hạnh phúc nhất. Tôi ngồi lê la trước mấy luống su hào, đó là thứ “thực phẩm cao cấp” nhất trong khu vườn rau của toàn đội. Những củ su hào bắt đầu to hơn nắm tay nằm tròn trĩnh dưới những tàu lá xanh mượt mà, tôi trông coi chúng vì cái công sức tôi bỏ ra hơn một tháng trời. Tôi coi chúng cũng như một tác phẩm nào đó mà tôi đã từng viết ra, ở đây không có gì để coi như tác phẩm thì coi nó là tác phẩm vậy, để có cái mà thú vị và để có cái mà quên đi những thứ quanh mình.
Cứ như thế tôi tha hồ đặt tên từng luống su hào, có khi là một cái tên nghe có vẻ “lả lướt” như tên người tôi đã gặp ở tiệm khiêu vũ, có khi là một cái tên rất dung tục. Âu cũng là một trò “nghịch ngầm” giữa vùng rừng núi âm u, hầu như không có mặt trời mùa đông này. Nhưng tôi biết rằng trò chơi của tôi sẽ phải chấm dứt trong một hai ngày nữa. Bởi Tết đã đến, dù 12 luống su hào còn non chưa đến ngày “thu hoạch” nhưng cần thức ăn trong ba ngày Tết nên họ sẽ nhổ. Nếu tù không ăn thì cai tù ăn, chứ không đời nào họ chịu để đến mùa xuân. Nhưng vui chơi được giờ nào hay giờ ấy trong cuộc sống phù du này.
Buổi trưa về đến trại, trong khi bạn bè xung quanh đang xôn xao, kẻ bị tịch thu cái này, người bị mất cái kia thì tôi vẫn nhởn nhơ vì tôi chẳng có gì để mất. Tôi xách tô đi lấy cơm, gọi là phần cơm, nhưng thật ra chỉ có đúng một bát bo bo tương đối khá đầy đặn. Tôi ăn thì tạm lưng lửng, nhưng những người bạn tôi thì không bao giờ đủ. Họ thường nói “Vừa ăn xong mà vẫn cứ tưởng như mình chưa ăn”. Cái đói cứ lửng lơ mãi ngày này qua ngày khác, thế mới là khó chịu. Có những ông bạn tôi ăn theo cái kiểu câu dầm, tức là lấy cái muỗng tre nhỏ xíu, hoặc một cái gì đó lớn hơn cái đầu đũa, múc từng muỗng bo bo ăn rả rích suốt ngày để có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn, nó làm lu mờ cái cảm giác đói, đó là cách tự đánh lừa mình.
Tôi cũng “ăn dè hà tiện” nhưng tôi ăn bằng muỗng. Cái muỗng rất đặc biệt bằng inox hẳn hoi, có chạm trổ tinh vi và luôn được chùi rửa sáng bóng. Nhưng sáng nay, được chia hai củ khoai lang ăn sáng nên tôi để cái muỗng ở nhà. Tôi thường cất nó vào trong chiếc lon Guigoz – một loại vỏ hộp sữa được chế biến thành đồ dùng rất thông dụng và nhiều lợi ích của hầu hết những anh tù, nó có thể dùng “trăm công ngàn việc” từ đựng các loại thức ăn, thức uống đến đun nấu, câu móc, đựng mắm muối, chứa đồ để dành, múc nước tắm rửa đánh răng, rửa mặt. Nhưng hôm nay thì cái muỗng biến mất, tất nhiên là nó đã bị tịch thu trong buổi khám xét trại sáng nay.
Ðây là thứ “gia bảo” tôi đã cất giấu nó suốt mấy năm nay chưa hề lơi lỏng. Nó luôn nằm sát bên tôi, lúc đi lao động cũng như khi nằm ngủ. Có thể ví như cái nạng của một anh què, cái gậy của ông lão chín mươi, một thứ đã thành thói quen bám vào cuộc sống.
Sau một buổi trưa mưu toan tính kế, chiều hôm đó tôi quyết định đến gặp Dực, anh chàng trưởng ban thi đua của trại. Dực cũng chỉ là một “trại viên”, nhưng trước đây anh ta là cán bộ, anh “thoái hóa tiêu cực” sao đó nên bị đi tù. Những anh cán bộ và quân nhân trong trại tù thường được gọi là “phạm binh, phạm cán” tức là tội phạm thuộc binh sĩ hoặc cán bộ cũ. Họ có một chế độ đãi ngộ riêng và thường được dùng vào trong các công việc cần đến sự tin cậy của giám thị.
Bữa khai lý lịch, thấy tôi khai là dân huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, Dực liền hỏi quê quán và nhận là người cùng quê. Một lần Dực dẫn chúng tôi đi lấy quần áo ngoài trại chính, qua khoảng đồi núi quanh co, anh ta chỉ tay lên mảng cây cối thưa thớt, nói với tôi rằng “Cậu Huyện Nhụ nằm ở đó”.
Tôi hỏi anh có họ hàng thế nào với ông Huyện Nhụ, anh ta nói anh là cháu gọi ông Nhụ bằng cậu, nhưng gia đình cụ Nhụ vào Nam còn gia đình anh vốn là nông dân nên ở lại miền Bắc.
Cụ Nguyễn Mạnh Nhụ trước năm 75 làm chánh án ở Tòa án Sài Gòn và tôi nghe nói là cũng có họ hàng với gia đình tôi, nhưng là họ xa. Cụ làm tri huyện từ khi còn rất trẻ. Sau này tôi có gặp cụ vài lần. Tôi kể cho Dực nghe đôi ba chuyện về cuộc sống của cụ Huyện Nhụ khi còn ở Sài Gòn. Sau này đi “cải tạo” cụ Huyện Nhụ mất ở trại này. Dực nói là trước khi cụ chết, cụ chỉ thèm được ăn một cái bánh dò. Dực nhắn người nhà ở Thái Bình khi đi thăm nuôi thì ghé qua Hà Nội mua lên vài cái, nhưng khi bánh dò mang lên thì cụ mất rồi.
Từ đó, đối với tôi, Dực có phần dễ dãi hơn. Nhưng dĩ nhiên cái khoảng cách giữa một bên là “ngụy” một bên là “cán” thì khó mà san lấp được…
Nhưng hôm nay thì tôi cần đến hắn. Suốt buổi trưa tôi không gặp được Dực. Cho đến hai hôm sau, khi trại đã xôn xao chuẩn bị cho những ngày Tết tôi mới gặp được Dực. Trong khi đó tôi dò hỏi mấy tay làm văn hóa xem những thứ bị tịch thu còn để trong phòng thi đua không. Họ nói còn để trong kho lẫn lộn với những thứ đồ dùng khác. Tôi mang cho Dực một ít thuốc đau dạ dày của ông anh tôi mới gửi vào. Rất may cho tôi là hắn cũng bị đau dạ dày. Mà cái thứ thuốc trị bệnh dạ dày ở miền Bắc hồi đó chỉ là tí mật ong trộn với nghệ nên không công hiệu. Tôi có thứ thuốc “cao cấp” hơn là Maalox, uống vào là cơn đau dịu xuống ngay. Thuốc Mỹ đàng hoàng, người ta ghét Mỹ nhưng thuốc của nó tốt thì cứ thích, có sao đâu.
Tôi gạ chuyện để xin lại cái muỗng. Dực trợn mắt:
“Anh làm cái gì mà cần cái muỗng đến thế? Bây giờ để trong kho, chui vào đấy mà trực trại nó biết thì tôi vào nhà đá.”
Tôi nằn nì:
“Ðấy là đồ gia bảo của tôi đấy. Anh biết không, tôi mất nhiều thứ lắm, một cái bằng lái xe ba dấu, một cuốn tự điển. Nhưng tôi không cần, tôi chỉ cần cái muỗng thôi.”
Dực nhìn tôi nghi ngại:
“Mày giấu cái gì trong đó?”
Dực hơn tôi hai tuổi nên hắn có gọi tôi bằng mày tôi cũng không tự ái, mà dù hắn có kém tôi vài ba tuổi mà lúc đó hắn gọi tôi bằng mày tôi cũng cho qua luôn.
“Cái muỗng đặc và nhỏ như thế làm sao giấu cái gì trong nó được?”
Dực nửa đùa nửa thật:
“Bọn mày thì lắm trò lắm, cái gì chúng mày chẳng làm được. Chưa biết chừng mày giấu cả cái máy quay phim trong đó cũng nên. Tao nghe nói mày có sách làm phim phải không?”
“Ðúng, nhưng là tôi viết truyện rồi người ta lấy làm phim chứ tôi biết cái cóc khô gì.”
“Vậy sao mày chỉ đòi lấy lại cái muỗng, mày mua chuộc tao bằng hai vỉ thuốc đau dạ dầy, không bõ. Khéo không chết cả đám. Tao không chơi.”
Tôi thất bại, nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc. Chiều hôm đó, Dực lại được lệnh phải làm một cái phòng đọc sách vào dịp Tết. Tôi đang loay hoay dán mấy cành hoa đào lên tấm phông trên hội trường thì Dực kéo tôi xuống. Nó bảo tôi đi khuân sách trên thư viện về hội trường, kê bàn ghế, trang trí thành khu đọc sách báo trong ba ngày Tết cho ra vẻ “có văn hóa”. Nhưng nếu coi thư viện thì không được ăn Tết ở phòng mà phải ngồi trực ở hội trường. Tôi nhận lời ngay dù biết rằng tôi sẽ mất cái thú dự những ngày Tết với anh em trong phòng giam và mất cái thú ngồi đánh mạt chược bằng những con bài gỗ do chúng tôi tự làm lấy.
Thế là tôi lại có dịp lân la nói chuyện với Dực về cái muỗng của tôi. Dực vẫn nghi ngờ rằng tôi có cái gì giấu trong đó, hay tôi cần cái muỗng để làm việc gì đóù. Tôi đành kể cho Dực nghe:
“Buổi sáng hôm tôi phải đi “học tập cải tạo”, vợ tôi chuẩn bị một số đồ dùng cho vào túi xách để tôi mang đi. Ðứa con gái của tôi, khi đó mới hơn ba tuổi, thấy mẹ nó bỏ vào túi xách nào là quần áo, khăn mặt, thuốc… nó đang ăn sáng, cũng bỏ vào xách tay của tôi cái muỗng nó đang ăn và dặn: “Con cho bố mượn, khi nào bố về, phải trả lại cho con đấy”.
Tôi ôm con gái gật đầu hứa khi về bố sẽ trả con. Nhưng quả thật tôi vẫn nghĩ chẳng bao giờ tôi trả lại được cho nó. Lần chia tay này có thể là vĩnh viễn… Chúng tôi ngậm ngùi chia tay, không thể hẹn được ngày về vì có biết ngày nào về đâu mà hẹn!
Thế là từ đó, cái muỗng theo tôi suốt trong những bữa ăn, suốt trong những giấc ngủ. Hình ảnh con gái và gia đình tôi hiện lên qua cái muỗng đó. Tôi vẫn đánh lừa tôi rằng tôi đang được ăn bên con gái tôi, bên những người thân yêu của tôi. Dù tôi biết rất rõ sự lừa dối ấy là một niềm ước vọng không bao giờ thành hiện thực, nhưng vậy mà đôi lúc tôi cũng thấy ấm lòng.
Nghe câu chuyện ấy, Dực tỏ ra chần chừ, nhưng hắn vỗ vai tôi:
“Thôi được, nếu là như thế thì tôi giúp cậu. Tối nay, khi cậu ngồi coi phòng đọc sách, tôi sẽ giữ phần bánh chưng lại cho cậu, tôi sẽ gọi cậu xuống phòng thi đua cho cậu ngồi ăn ở đó, trong khi tôi gọi ban thi đua lên phòng hội thì tôi giả vờ để quên chìa khóa kho. Cậu mở cửa kho vào mà tìm, nhưng có gì thì cậu chịu trách nhiệm. Nó mà vớ được thì ‘kỷ luật’ suốt cái Tết này đấy, chưa biết chừng suốt mùa xuân.”
Chẳng còn cách nào khác, tôi đành làm theo cách “ăn trộm” này. Tối đó tôi mở khóa mò vào gian nhà kho. Ánh điện từ nhà ngoài hắt vào, vừa đủ soi sáng cái đống hầm bà làng đủ thứ đồ dùng lặt vặt vừa bị thu mấy hôm trước. Tôi sục ngay vào cái đống linh tinh đó, quả là những anh bạn tù của tôi có lắm trò chơi thật.
Thôi thì đủ thứ, cái điếu cày được làm bằng những ống hỏa châu hoặc những cáng băng ca được cắt ngắn, chạm trổ rồng phượng, khắc gọt rất tinh vi. Những cái trâm cài đầu, những cái lược cho con gái hay cho người yêu, làm bằng nhôm được khắc những cái tên “Hồng Hoa, Bích Phượng, Thúy Hường…” nghe nao cả lòng. Những con dao nhỏ xíu, những cái muỗng gò bằng tôn cũng có hoa lá cành . Tất cả những cái gì bằng sắt đều nằm gọn ở đó.
Sách vở tiếng Anh tiếng Pháp và đủ thứ giấy tờ lộn xộn. Cái mà tôi kiếm được trước tiên lại là cái bằng lái xe của tôi. Tôi không dại gì mà không đút vào túi, dù chẳng biết để làm gì. Tôi lại hì hục lục tiếp, vừa hồi hộp vừa phải làm thật nhanh tay, tôi đâm ra lính quýnh. Dù chỉ một tiếng động nhỏ cũng khiến tôi giật mình. Cái muỗng của tôi vẫn chưa tìm thấy. Ruột nóng như lửa đốt, tôi bới tung hết cả cái đống ấy và đâm hốt hoảng nếu cái muỗng không còn ở đó nữa. Nhưng may quá, cái muỗng kia rồi, nó nằm dưới cuốn sách dày cộm của “thằng chết tiệt” nào đó. Nó chỉ thò ra có mỗi cái đuôi, tôi cũng nhận ra nó ngay. Lúc đó tôi có cảm tưởng như “Con có ở xa bố hàng cây số thì bố cũng cứ nhận ra con như thường”.
Tôi vồ lấy nó như sợ bị người ta giật mất. Tôi nhìn cái hoa văn chạy dọc theo cán muỗng mà tôi đã quá thân thuộc như chính cái nét mặt con gái tôi khi nó “nhí nhảnh” đưa cái muỗng vào trong túi xách. Nó vẫn cứ tưởng là một chuyện vui, bố đi chơi vài ngày rồi bố về. Ừ thì vui. Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó và trong nụ cười hồn nhiên của nó. Không hiểu sao trong lúc gay cấn như thế mà hình ảnh xưa lại hiện lên rất nhanh như một ánh chớp. Tôi vọt ra khỏi phòng, khóa cửa lại, biến nhanh vào bóng tối trên con đường về “khu biệt kích”. Thoát nạn!
Cái Tết ấy tôi lại được vui chơi với cái muỗng của tôi, dù tôi đã phải hy sinh suốt ba ngày, trong khi mọi người được nghỉ ngơi thì tôi cứ phải quanh quẩn trong cái “phòng đọc sách” chẳng có ma nào thèm ngó đến ấy.
Những dịp nghỉ ngơi như thế cũng hiếm hoi như chuyện được ăn một bữa cơm đúng là cơm chứ không phải khoai sắn hay bo bo. Nhưng quả là tôi thấy hạnh phúc dù ngồi thui thủi một mình. Tôi có cái muỗng rồi, còn cần gì vui chơi nữa. Ðó chính là mùa xuân của tôi.
Nhưng không phải đó là một lần duy nhất tôi phải “cứu lấy” cái vật gia bảo của mình. Hai lần sau cũng tương tự, cũng bị tịch thu rồi cứu lại được cứ như sắp ra pháp trường rồi lại được cứu. Chỉ tiếc rằng người cứu tôi không phải là người bạn đồng minh đã từng chiến đấu với các đồng ngũ của tôi trong những năm qua, người đồng minh đó đã “gan dạ” cuốn cờ chạy nhanh và chạy xa quá rồi. Thôi thì tôi tự cứu lấy cái muỗng của tôi vậy.
Một lần khác, tôi lội qua con suối sau cơn mưa lớn. Chỗ chúng tôi làm phải đi qua một con suối, gọi là suối lạnh. Bình thường nó cạn, dòng nước trong vắt dịu dàng trôi lờ lững trên những tảng đá xanh. Chúng tôi thường dùng nơi này làm bến tắm. Nhưng cứ có một cơn mưa lớn là nước từ những triền đồi vây quanh bốn hướng ào ạt đổ xuống, chỉ cần nửa giờ sau là con suối trở nên hung hãn, nước chảy cuồn cuộn và mang theo những cành cây, những khúc gỗ lao băng băng. Chúng tôi phải gấp rút lội qua con suối trở về trước khi con suối trở thành hung dữ. Sang gần tới bờ bên kia, tôi loạng chọang làm đổ cái túi đồ đựng những thứ lặt vặt trong đó có cái muỗng. Ở đây tôi thuộc từng khe đá nên tôi không ngần ngại nhoài người xuống mò.
Anh bạn nhảy dù, la lên:
“Bộ ông điên sao?”
Tôi điên thật, tôi muốn mò tìm cái muỗng của tôi. Nhưng nước chảy xiết quá tôi lại thua. Anh bạn nhảy dù trẻ, què một tay vì bị thương ngoài chiến trường, rất hiểu tôi nên anh đi xa hơn một chút, anh khom người xuống, thò một tay vào cái khe hòn đá là tìm được lại cho tôi cái muỗng. Ðôi mắt anh rất tinh, anh mỉm cười:
“Tôi biết ông mất cái gì rồi. Tôi tìm được nó cho ông nè.”
Chuyện trớ trêu là hơn 12 năm sau, tôi trở về, nhưng tôi chưa trả lại cái muỗng cho con gái tôi được vì mẹ con nó đã vượt biên, đã định cư ở nước ngoài. Hơn hai mươi năm, tôi chưa một lần được gặp lại con gái tôi. Tính đến năm nay là 27 năm, con gái tôi đã 30 tuổi. Ngày 29 tháng 9-2002 vừa qua, cháu lập gia đình ở Miami, Florida.
Nhận được thiệp báo tin, tôi không biết mình vui hay buồn. Hình như không phải là vui hay buồn mà là một thứ cảm giác kỳ lạ cứ lơ lơ lửng lửng lẫn lộn. Chú thím nó và các anh chị nó ở Mỹ đều hẹn nhau đi dự đám cưới nó. Tôi thì không, chẳng hẹn hò được gì cả và chẳng làm được cái gì cả. Tôi có cảm giác như mình thừa. Rất may là trước ngày đám cưới, cô chú nó về Sài Gòn, chính tay tôi gửi được tấm thiệp mừng con gái tôi. Tôi gửi theo cái muỗng trả lại cho con gái tôi như lời hứa 27 năm về trước. Vật đó có thể thay cho sự có mặt của tôi không? Tôi không biết. Nhưng tôi chỉ nghĩ rằng gửi cho cháu để cháu hiểu rằng lúc nào tôi cũng coi như cháu còn nhỏ lắm, như mới hôm qua hai bố con còn ở bên nhau. Tôi đi chơi đâu đó và hôm nay trở về. Nhưng cháu đã đi xa và tôi còn ở lại Sài Gòn, nơi nó đã sinh ra. Cháu sẽ nghĩ gì, tôi không biết.
Nhưng vài hôm sau thì có một điều tôi biết rất rõ là từ khi cái muỗng được gửi đi, tôi cảm thấy trống trải như mất mát một cái gì, xa vắng một cái gì thân thiết hàng ngày ở bên mình. Tôi cho rằng nó cũng giống như cái cảm giác của những ông bố bà mẹ khi cho con gái mình đi lấy chồng xa. Nỗi buồn lâng lâng bay chập chờn khắp nơi. Nhưng đó chính là sợi dây vô hình nối liền mãi mãi tình thương yêu dù ở bất kỳ nơi nào trên hành tinh này. Cuối cùng người ta chỉ còn lại cái Tình. Cái Tình ấy dù gửi đi tới đâu cũng vẫn còn lại, đôi khi mạnh và sâu hơn, chỉ khi nào người ta tự đánh mất nó thì nó mới mất mãi mãi. Tôi chắc chẳng ai dại gì làm mất cái thứ báu vật trên đời không gì có thể so sánh được.
Lẽ ra chuyện này tôi đã viết ngay từ tháng 9/2002 khi tôi được tin cháu lập gia đình. Nhưng nhiều lần muốn viết tôi cứ ngồi mãi trước computer, không gõ được chữ nào, đầu óc lung tung. Dường như khi cảm xúc quá đầy, người ta không thể làm gì được ngoài việc cứ để cho nó tuôn trào lênh láng như ngồi dưới cơn mưa. Không nghĩ ngợi gì cả, không làm gì cả, cứ ngửa mặt lên cho mưa đầy mặt, thế thôi! Ðúng là chuyện của người thì làm xong nhanh mà chuyện của mình thì nghẹn. Mãi đến hôm nay tôi mới ghi lại được những dòng chữ này, nhưng tôi cho rằng chẳng bao giờ muộn vì nó là thứ chuyện của cả một đời hay là của muôn đời.
Khối trưởng Trai dẫn khối 10 đi theo 4 hàng dọc rời cổng trại 1. Đoàn người lúc này tương đối còn sức khỏe, trông chưa đến nỗi bệ rạc cho lắm. Theo lệnh, khối 10 phải lên phi trường gỡ xí phần một số vỉ sắt lót phi đạo, gỡ và chất thành đống trong khu vực lưu trữ của trại 1 phòng có việc dùng về sau. Vĩnh nghe phong thanh rằng khu phi trường đầy đất đá nén ấy rồi đây sẽ được biến thành những thửa vườn trồng toàn bí ngô.
Những tấm vỉ sắt do Mỹ ráp bằng máy để làm sân bay, giờ đây lũ tù phải cùng nhau dùng sức của hai tay không để tháo gỡ nó ra. Tháo làm sao đây? Trong lúc bọn tù vã mồ hôi với những tấm vĩ sắt nặng nề thì tên quản giáo vẫn luôn miệng đay nghiến. Các anh gắn đựoc thì các anh phải tháo được! Thiết lập phi trường cho máy bay bắn phá nhân dân thì tài lắm, đến khi phải tháo nó ra thì viện dẫn đủ thứ khó khăn. Liệu nó có khó hơn việc Cách mạng đánh tan thực dân Pháp, đánh tan quân phiệt Nhật, đánh tan đế quốc Mỹ và ngụy quân ngụy quyền hay không?
Tên quản giáo đang miên man đay nghiến bỗng dưng hắn ngừng lại, rồi thốt hét lớn.
– Thằng kia, mày làm cái gì vậy?
– Dạ tôi đái.
– Mày đứng đái giữa trời giữa đất thế à?
– Thưa tôi mót quá. Ở đây đâu thấy cây cối gì!
Mặc dù cũng biết giữa phi trường bát ngát những lớp vỉ sắt làm sao tìm ra được bụi rậm, nhưng sự đái không đúng lúc của một thằng tù khiến tên quản giáo vẫn thấy mình bị xúc phạm. Hắn hằn học hỏi.
– Mày tên gì?
– Phạm Điểu.
Tên quản giáo như nổi điên lên vì lối trả lời cộc lốc của một tên “ngụy”.
– Phạm Điểu hay Phạm Đểu? Hắn thét. Mày có biết lễ phép quân cách là gì không?
Ngoài dự đoán của tất cả mọi người kể cả tên quản giáo, trung úy Phạm Điểu, anh chàng người Quảng Nam cao không quá thước rưỡi, người từng ngang ngạnh nói câu “đến bây giờ còn chỗ nào trên đất nước này mà không đáng đái lên”, đã trả lời một câu đáng ghi vào quân sử.
– Tôi là quân nhân của quân đội Sài Gòn, làm sao tôi biết được quân cách của “quân đội nhân dân anh hùng”!
Câu trả lời ấy đã biến Phạm Điểu thành người nằm connex đầu tiên của trại L4T1.
Người bị đánh đập và trói dẫn đi thì mặc người. Bánh xe lịch sử vẫn lăn và khối 10 vẫn phải tháo, gỡ, lay, xeo, bưng, khuân những tấm vĩ sắt nặng nề bằng hai bàn tay rướm máu để dọn đường cho bánh xe lịch sử ấy còn lăn tới, và không biết đến ngày nào nó mới lăn tòm xuống sông?!
Tổ A.3, nhân số cũng 10 người như tất cả các tổ khác, bỗng nhiên được lệnh ngừng tay.
– Chuyện gì nữa đây? Tổ trưởng Quách Tứ với giọng Bình Định khe khẽ than thở:
– Tăng cường đào giếng trên tiểu đoàn cho các quan quản giáo có nước tắm chắc! Đặng Xuân Bính thở dài.
– ĐM nó! Làm chuyện gì làm luôn một chuyện. Kéo tới kéo lui mệt quá trời!
Lệ Văn Trợ, với cái tính bộc trực của một người miền Nam, cáu quá cất tiếng chửi thề. Vì anh chửi thề nhiều quá, nên thoạt đầu anh em gọi anh là Ba Trợ, dần dần đổi thành Ba Trợn.
Nguyễn Văn, người vẫn thường khoe với cả tổ rằng mình là một cây bút của báo… Tuổi Ngọc, lại có bố thoát ly đi làm Cách mạng từ khi anh ta còn trong bụng mẹ, “người” hiện đã về thành và thế nào cũng bảo lãnh cho anh ra sớm, vội cất tiếng chen vào.
– Ông Ba Trợn, ông giữ mồm giữ mép chút đi!
Lê Văn Trợ nghe Nguyễn Văn nhắc nhở đâm nổi cáu.
– ĐM mày ỷ con Cách mạng hả? Đi báo cáo đi.
Việc chỉ có thế mà hai người đâm ra to tiếng. Anh em phải can ngay ra. Vừa lúc đó tên quản giáo trờ tới.
– Này, tổ A.3 hả?
– Dạ.
– Tổ trưởng đâu?
– Có tôi.
– Đủ 10 người không?
– Dạ đủ.
Tên quản giáo lấy giấy bút ghi gì đó rồi lại nhét giấy bút vào túi. Hắn ngoắc một tay vệ binh đứng gần lại.
– Đồng chí dẫn 10 anh này về ban chỉ huy, bàn giao hậu cần trách nhiệm và xử dụng, đúng 5 giờ trả về trại.
Tên vệ binh lườm lườm bọn tù một cái rồi hách dịch hất hàm.
– Đi!
Ra lệnh xong hắn trí mũi súng vào tổ A.3, hất hất mũi súng về phía trước có ý bảo mọi người đi tới. Hắn lầm lũi đi theo sau khi đám Vĩnh đã bắt đầu cất bước..
Tổ A.3 đi trở lại con đường cái trong căn cứ. Hai bên lề đường đâu cũng có tù lao động. Chỗ thì cuốc đất, chỗ thì phát quang, chỗ thì lượm lặt và gom lại những súng đạn sét rỉ vứt khắp cùng, chỗ thì đang dùng sức người phá các nền nhà Mỹ…
– Vĩnh! Vĩnh!
Một tiếng la lớn cất lên trong đám tù đang khuân đạn từ một căn nhà đổ nát chất ra lề đường. Tiếng la bỗng im bặt khi có tiếng lên đạn và tiếng chửi thề độc địa của một thằng vệ binh nào đó. Vĩnh vừa bước đi vừa ngoái nhìn đám người bên vệ đường. Anh nhận ra trong đám người ấy có một người hao hao giống người anh họ của vợ mình. Anh Giong. Có lẽ anh ấy đã nhận ra Vĩnh và mừng quá lên tiếng gọi. Tổ A.3 quẹo phải ở một ngã tư. Vĩnh vừa đi vừa lo không rõ tiếp theo tiếng chửi thề của thằng vệ binh, anh Giong có mềm xương không vì sự vi phạm nội quy, tìm cách liên hệ linh tinh với các cải tạo viên của các trại khác?
Tổ A.3 được dẫn về ban chỉ huy tiểu đoàn 1. Sau khi tổ trưởng tập họp điểm danh, tên vệ binh bàn giao lại cho một tên khác.
Đây là lần đầu tiên tổ A.3 được bước vào ban chỉ huy tiểu đoàn. Nó gồm 5 dãy nhà lợp lá nền đất nằm song song với nhau. Dĩ nhiên những dãy nhà này cũng mới được bọn tù đổ công sức dựng lên theo đúng mode thời đại Hồ Chí Minh. Dãy nằm trong cùng thuộc khu vực hậu cần trại. Đàng sau nhà hậu cần là bếp tập thể. Một cái giếng cũng do tù mới đào nằm ngay sau bếp. Hiện tại tổ A.3 đang đứng trước dãy nhà hậu cần. Tên hậu cần ra tiếp nhận tổ A.3 có vóc dáng mập mạp khác thường. Thật đúng là giàu nhà kho no nhà bếp! Hắn mặc áo trận màu cứt ngựa mang quân hàm chuẩn úy tử tế nhưng bên dưới lại chơi một cái quần đùi may bằng cờ… của chúng ta!
Đặng Xuân Bính bỗng rít khẽ qua hai hàm răng.
– Tao mà có dịp vồ lại được mày thì tao sẽ đổ chì vào lỗ đít mày.
– Cứ kiên nhẫn, còn hưởng nhiều trò nhục hơn nữa ông ơi! Lê Văn Sanh, con cóc của tổ chợt nghiến răng.
Tiếng xầm xì trong hàng chấm dứt khi tên chuẩn úy hậu cần bỗng cất tiếng hô “nghiêm!”. Tuy nhiên chưa ai kịp nghiêm thì hắn đã xổ vội một tiếng “nghỉ!”.
– Thế lày nhá. Hắn bắt đầu nói. Chiều nay thì nà trên cắt công tác các đồng chí đến phục vụ hậu cần tiểu đoàn. Tôi đại diện hậu cần trại lồng nhiệt chào mừng các đồng chí. Trước nạ sau quen, phải không? Bác rậy công tác nào cũng vinh quang như nhau, vậy thì nà chiều nay các đồng chí công tác với tôi, tôi sẽ chỉ đạo các đồng chí những khu vực cần phải rải phóng.
Đây rõ ràng là một trong những tên cán binh đang còn trong tình trạng… mất dậy, hoặc chưa thuộc bài về cách xưng hô với lũ tù “ngụy”, hoặc cái lưỡi của hắn đã cứng lại không còn thuốc gì chữa nổi nữa; cho nên hắn cứ thơ thới hân hoan xưng hô đồng chí đồng rận với lũ tù một cách tự nhiên như người… Hà Lội 1. Hắn chợt quay sang hỏi Quách Tứ. Đồng chí nà tổ trưởng hả?
Quách Tứ khó chịu như bị kiến cắn nhưng anh cũng gật đầu. Tên hậu cần lại tiếp. Chào mừng đồng chí được Đảng tín nhiệm giao công tác tổ trưởng. Không cần để ý đến nét mặt của người được chào mừng xanh đỏ vàng đen như thế nào, tên cán bộ hậu cần diễn giảng luôn một lèo về những vinh quang và quyền lợi của chức vụ tổ trưởng. Hắn nói. Tôi bảo thật các đồng chí. Đồng chí… Hắn chợt quay sang hỏi Quách Tứ. À mà đồng chí tên gì nhỉ?
– Tôi là Tứ.
– À đồng chí Tứ. Đồng chí phải biết rằng đồng chí rõ nà may mắn nắm đấy. Tôi í à!? Tôi phục vụ Đảng tính đến nay nà 15 năm, noanh quanh đi gần hết các D của F 2 này cấm đươc cái chức tổ trưởng. Mười lăm năm tự thủ nấy hai vai trò vừa thầy vừa thợ, chỉ huy toàn những tạ muối, tạ ngô, tạ khoai, tạ gạo. Bạn bè với nũ nợn, nũ gà. Đồng chí mới bước vào học tập đã nắm ngay tổ trưởng, may nắm đấy. Đồng chí cố mà nàm cho tốt công tác Trên giao phó. Đừng nàm rì sai trái. Mất không bao giờ nấy nại được.
Đột nhiên hắn ngưng nói vì hắn vừa phát hiện ra mấy cái áo bộ đội khác đang áp sau cánh cửa của nhà hậu cần. Ngẫm nghĩ một chút hắn tiếp. Lói thế đủ rồi. Các đồng chí bộ đội đang chờ ta. Bây giờ tôi triển khai công tác nhá. Vậy thì nà ta có 10 người phải không? À, mà đồng chí tổ phó đâu?
– Có tôi.
Anh chàng Khoa cũng người xứ Quảng, trung úy quân nhu nhưng lại từng có dịp sang Mã Lai tu nghiệp nghề… săn bắt “Cách mạng” trong rừng, nhanh nhẩu lên tiếng. Trong tổ Khoa không được anh em ưa cho lắm vì tính tình bộc lộ sự keo kiệt quá đáng ngay từ thủa ban đầu. Do vậy, vừa lên tiếng là Khoa đã bị ông Ba Trợn kê nhẹ một câu: Thích nhá, sửa soạn được chào mừng đấy!
Khoa nghe thấy nhưng anh cứ lờ đi. Tên cán bộ hậu cần kêu anh bước ra khỏi hàng.
– Có tổ trưởng nại có cả tổ phó, vậy ta chia tổ nàm 2 bán tổ, các anh nhất trí không? Một bán tổ sẽ do tổ trưởng đảm trách, bán tổ còn nại sẽ do tổ phó kiểm tra.
Sau khi tổ A.3 được chia làm 2 bán tổ, tên cán bộ có vẻ hài lòng ra mặt. Hắn nói. Tốt thôi! Giờ tôi chia công tác cho các đồng chí, nhá. Nói tới đây hắn chợt quay vào trong nhà gọi lớn. Đồng chí Toản! Đồng chí Toản đâu? Sau tiếng gọi, từ trong nhà một tên bộ đội khác vai đeo AK.47 bước ra. Nó mặc áo thung và bên dưới cũng chơi một cái quần đùi may bằng cờ quốc gia.
Đám Vĩnh cùng ngó tên bộ đội mới bước ra. Trông thấy nó rồi không thể nào gọi nó là một tên lính được. Bộ mặt non choẹt nhất định chỉ vừa thoát khỏi cái tuổi thò lò mũi xanh đôi ba năm. Trên đầu nó đội lệch một cái mũ lưỡi trai bẩn và nhầu như một cái giẻ lau xe. Mặc dù cũng giòng họ vẩu nhưng nhờ bộ mặt còn non sữa nên trông đỡ quỷ quái. Bù lại, nó có đôi mắt nhìn tù thật ác; đôi mắt như kết tụ sự thành công của một đường lối tuyên truyền nhồi sọ ác độc của Cộng sản về một đối phương “uống máu nhân dân không biết tanh!”
Nó bước ra sân lên tiếng một cách mất dạy không ngờ.
– Giao thằng nào thì giao nẹ nẹ nên. Dẫn mấy thằng tù đi hốt cứt chứ đi đâu mà nên nớp rông rài quá!
Tên cán bộ hậu cần vẫn bình thản nói với đám tù.
– Đồng chí Toản sẽ phụ trách chỉ đạo bán tổ A do anh Tứ nàm bán tổ trưởng. Anh tổ phó dẫn 4 người còn nại theo tôi.
Vĩnh lẽo đẽo đi theo bán tổ A. Tên bộ đội vừa dẫn đường vừa chửi trời chửi đất, sau cùng nó dẫn 5 người đến dãy cầu tiêu phía sau tiểu đoàn, lên lớp một lúc rồi kết luận.
– Chúng mày nhớ dọn cho sạch không ông bắt chúng mày ăn!
Nói đoạn, thằng bộ đội vác súng kiếm bóng mát ngồi.
Quách Tứ vì trách nhiệm vội vã lên tiếng giục anh em, còn anh em thì thằng nào cũng đứng nghệt mặt ra, không biết làm sao với hai tay không múc cho hết hai cái hầm phân đầy dòi và giấy lộn.
– Ông hỏi nó xem có xẻng có thùng gì không? Ba Trợ lên tiếng thúc Quách Tứ. Quách Tứ cũng đang tính như vậy, nhưng vì thấy bộ mặt thằng nhóc hắc ám quá anh còn ngần ngại. Sau cùng Tứ đánh bạo đi về phía tên bộ đội.
– Báo cáo anh, xin anh cho chúng tôi mượn đồ nghề. Tên bộ đội đã thủ thế từ lúc thấy Quách Tứ bước đến. Nghe Tứ hỏi, nó đổ quạu.
– Đồ nghề nà cái rì?
– Dạ xẻng hay cái thùng gì cũng được.
Tên bộ đội vùng vằng đứng lên.
– ĐM xẻng thùng thì nói xẻng thùng, nói đồ nghề! Cứ như là đồ nghề súng đạn để cho chúng mày đi bắn phá nhân rân không bằng! Quách Tứ đứng nuốt hận. Mọi người cũng nuốt hận. Vĩnh bỗng bắt giọng ngâm khe khẽ.
– Ông ghi câu đó cho tôi nhé. Đặng Xuân Bính chợt lên tiếng bên tai Vĩnh.
– Ghi cho ai chứ ghi cho ông thì không dám.
– Sao thế?
– Nghe thấy tên ông tôi đã rét rồi.
– Sao lại rét? À, hay sợ tôi bà con với Đặng Xuân Khu?
– Đúng thế!
Bính bỗng ngó trời ngó đất rồi cười.
– Ông nghi cũng có lý. Chẳng dấu gì ông, ông nội của Đặng Xuân Khu ngày xưa là tá điền trung thành của ông cố nội tôi. Lão họ gì đó tôi cũng không nhớ nữa. Tôi chỉ nghe kể rằng ông cố nội tôi thương ông nội của Đặng Xuân Khu lắm lắm, thương đến độ cho cải họ nhập vào họ tôi ở làng Hành Thiện. Và ông cố nội tôi đặt cho ông nội Đặng Xuân Khu một cái tên mới là Đặng Xuân Đít…
Vĩnh không nhịn được cười trước khuôn mặt diễu lạnh tanh của bạn mình.
Quách Tứ đã kéo từ trong kho hậu cần ra một cái thùng đại liên trống và hai cái xẻng. Anh nói lớn.
– Có đồ nghề rồi đây mấy cha. Các cha thay phiên nhau múc đổ ra ao rau ngoài xa kia. Tôi, anh Bính và anh Vĩnh múc. Anh Hải anh Trợ ra ao ngồi lượm giấy bỏ riêng ra một đống tìm cách đốt cho sạch.
Thế là một màn múc cứt và chuyển cứt ra ao. Đây là màn mở tay nên ai cũng vụng về. Cái gì vụng về không sao, chứ hốt cứt mà vụng về thì chỉ 15 phút sau mấy thằng tù đã biến thành mấy đống cứt biết đi; thêm 15 phút kế thì không còn ai thấy thằng bộ đội ngồi trong bóng mát đâu nữa. Không hiểu nó không chịu nổi cái mùi vinh quang đích thực của xã hội xã hội chủ nghĩa, hay là đã rúc vào nhà kho kiếm chác vài hạt lạc sống hoặc ít miếng khoai khô!?
Lịch sử là một chuỗi những biến cố không ngừng, ai cũng biết điều đó; và người ta còn biết rõ hơn nữa là lịch sử không bao giờ dành riêng cho ai cái khả năng tiên đoán chuẩn xác. Cách đây vài tháng thôi, ai đoán nổi hàng triệu người miền Nam đang bị Cộng sản dí súng vào lưng bắt hốt cứt cho chúng như thế này? Có thể có một số người đoán biết được miền Nam sẽ hoàn toàn sụp đổ, nhưng chắc chắn không ai đoán ra cái hiện trạng này. Có thể họ sẽ đoán ra cái hậu quả của sự sụp đổ ấy là Cộng sản phải khôn ngoan hơn, ứng dụng khéo léo cái chính sách hòa hợp hòa giải của chúng để từng bước xích hóa êm thắm cả một miền Nam thù hận. Cũng có thể bi quan hơn, họ đoán rằng miền Nam nhất định sẽ trở thành biển máu. Không ai đoán đúng được cái chiêu thức của Cộng sản, rằng chúng chẳng có hòa hợp hòa giải, cũng chẳng cần có biển máu; nhưng để triệt hạ những thành phần chống lại chúng, chúng có một biện pháp siêu quần hơn: Gom tất cả lại, dùng sự khổ sai trên thể xác, tủi nhục trong tâm hồn giết dần những đối tượng của chúng!
Sự tiên đoán chuẩn xác, do đó, rõ ràng đã không có cho những người của thế giới Tự Do, kể cả những máy tính điện tử tinh vi nhất của Ngũ Giác Đài…
– ĐM lại rơi cái đầu Bác nó xuống mất rồi!
Tiếng chửi thề bực bội của Bính lúc hắn làm rơi cái thùng múc phân xuống hầm cầu khiến Vĩnh giật mình.
– Thì tìm cách lấy nó lên. Ông chửi tôi nghe ghê quá! Tổ trưởng Tứ khẽ cự.
Vĩnh cảm thấy mệt mỏi. Cuộc chiến tới đây rất cần những người như Bính, nhưng nếu cứ cái tính khí ấy, hắn sẽ tiêu trước khi có dịp cầm súng trở lại. Lúc Quách Tứ chạy tìm một cọng kẽm làm móc, Vĩnh thủ thỉ với bạn.
– Bính à, dù thế nào mày cũng không nên quá tin những người chung quanh. Mày chửi hoảng kiểu đó có ngày mang đại họa.
Bính như hồi tâm, hắn nhún vai.
– Tao cũng ngại bọn chức sắc này kia kia nọ lắm, nhưng có lẽ chỉ khi chết rồi tao mới bỏ được cái máu húc Biệt Động của tao!
Vĩnh lặng thinh trước câu than thở của Bính. Anh nhìn người bạn khóa 25 võ bị rồi ngó lên mây nói vu vơ.
– Sống nhục khổ hơn chết! Nhưng khốn nạn thay, lịch sử chỉ thuộc về những kẻ còn sống, không thuộc về những người đã chết…
——————————–
1 Sau 30/4/75, đồng bào Nam Bắc một số được gặp lại nhau. Đa số là người ngoài Bắc kéo vào thăm người trong Nam, từ đó xảy ra cảnh người trong Nam nhận họ còn người ngoài Bắc thì nhận… hàng. Vì hoàn cảnh đói khổ thiếu thốn mấy chục năm, người ngoài Bắc vào thăm người trong Nam gặp gì cũng lấy. Lấy trước xin sau! Do vậy, văn chương dân gian miền Nam đã sáng tác ra câu tự nhiên cứ như người Hà Nội để diễn ta tình huống thê thảm này!
2 Quân đội CSVN quen dùng các mẫu tự từ A đến F để gọi thay cho các cấp từ tiểu đội lên tới sư đoàn. Thí dụ D: tiểu đoàn. F: sư đoàn.
Đính được bầu làm trưởng ban trang trí của khối 10. Hắn được dành cho một chỗ nằm tương đối đặc biệt ở ngoài mái hiên. Đính khuân những thùng gỗ thông đựng đạn pháo vây lên thành vách và bên trên căn tấm poncho làm mái. Quả người ta không thể gọi nơi ngủ và làm việc của Đính là hầm hay là nhà! Hàng ngày Đính chui vào đó để kẻ những khẩu hiệu cho khối do quản giáo đưa xuống.
Non một tuần lễ đã qua, một trong những sự rầu rĩ nhất của mọi người là lượng thuốc lá dự trữ đã thực sự cạn. Riêng Vĩnh, Vĩnh đã hết sạch từ hai hôm nay. Ngoài những giờ lao động tạp dịch, buổi trưa Vĩnh hay mò vào giang sơn của Đính; một phần vì hắn dễ thương, một phần vì hắn có thuốc lào. Có thể nói Vĩnh là một người trẻ tuổi nhập tịch làng thuốc lào trong tù nhanh và dễ dàng nhất trong non một triệu tù nhân ngày nay!
Thật là khổ sở khi ăn cơm xong, lại là thứ cơm hẩm Việt cộng mà không có một tí khói cho đỡ tanh miệng! Lần đầu tiên tập tễnh hút thuốc lá Vĩnh say đến độ mửa nguyên một phần cơm rau ra ngoài. Dần dần quen đi, anh đã biết ếm khói, biết làm thế nào để được lên thiên đàng sau khi hạ cái điếu cầy xuống. Chơi với Nguyễn Thành Đính, chả bao lâu Vĩnh còn được học hàm thụ phương pháp trồng thuốc lào, biết sử dụng phân diêm phân lợn ra sao để thuốc lào say, êm, không khói ngang mà tăng khói dọc. Nói chung chỉ ở tù non một tuần lễ, các quan thuộc chế độ cũ hầu như ai cũng phải gia nhập làng thuốc lào. Riêng Vĩnh, đến bây giờ chỉ cần nhìn qua màu thuốc, nhìn qua sợi thuốc anh đã có thể biết ngay đó là loại thuốc rin hay rổm 1.
Trưa nay, sau khi kéo một hơi thuốc lào, Vĩnh đặt điếu vào chỗ cũ và mơ màng nhìn Đính đang ngồi trước một giải băng dài được khâu dính vào nhau bằng nhiều bao cát. Đính đang pha sơn để kẻ chữ.
– Kẻ chữ màu đỏ hả?
– Họ đưa sơn gì mình kẻ sơn đó.
– Liệu sơn có ăn trên bao cát không?
– Ăn chứ!
Vĩnh cúi xuống cầm lên mảnh giấy ghi các câu khẩu hiệu. Anh đọc qua một lượt và thấy câu nào cũng muốn phát ói!
1. Chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến bách thắng! 2. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. 3. Đảng Lao Động Việt Nam quang vinh muôn năm! 4. Đảng Lao Động Việt Nam là người tổ chức và lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ cứu nước! 5. Học tập lao động là thước đo lòng yêu nước của mọi người!
Vĩnh bỏ tờ giấy xuống, hỏi.
– Năm khẩu hiệu này ông tính kẻ trong bao lâu?
– Khẩu hiệu mẹ gì mà dài quá! Nhanh lắm cũng phải hai ngày mới xong. Vĩnh đứng lên, giỡn.
– Ông Đính ơi ông làm không công mà ông cũng không biết nữa sao, hả… trời?
Đính giật mình.
– Cái gì mà giữa trưa la lớn vậy? Tụi nó đang ngủ.
– Kệ cha tụi nó. Ông tính làm hai ngày thật hả?
– Chứ sao bây giờ?
Vĩnh tính nói me-sừ Kim bên khối 12 hay 13 gì đó cũng từng ấy khẩu hiệu nhưng anh ta dự trù tới nửa tháng. Tuy nhiên, nghĩ sao Vĩnh lại không nói. Anh đứng lên khom người chui ra ngoài sân, vừa lúc đó khối trưởng Trai từ ngoài chui vào. Vĩnh ngồi luôn xuống đống gạch rợp bóng râm của một cây trứng cá cạnh hiên nhà. Anh lắng nghe những lời đối thoại vẳng ra từ chỗ Đính.
– Ông Đính ơi!
– Gì nữa đây?
– Thêm mấy khẩu hiệu nữa này.
– Sao lắm thế?
– Tôi làm sao được! Ở trên họ đưa xuống các khối bắt thực hiện gấp.
Giọng Đính càu nhàu.
– Đúng là chế độ khẩu hiệu.
Giọng Trai hoảng hốt.
– Ông nói sao nghe ghê quá ông ơi! Bớt bớt lại giùm không kẹt cả đám.
Vĩnh không nghe thấy Đính nói gì thêm. Một thoáng Trai chui ra. Ngồi nhìn nắng một lúc Vĩnh lại chui vào với Đính.
– Thêm nữa hả?
Giọng Đính ngao ngán.
– Thêm ba khẩu hiệu đại ý dạy dỗ chúng mình phải yêu thương nhau!
– Chẳng buồn cười đâu. Tính tôi hay suy diễn. Để tôi suy diễn cái khẩu hiệu mới đưa xuống cho ông nghe. Khẩu hiệu nói rằng: Các cải tạo viên phải thương yêu nhau, tích cực giúp đỡ nhau cùng tiến bộ trong học tập! Rõ là lũ chó đểu.
Quả Vĩnh chưa kịp hiểu câu khẩu hiệu ấy đểu ở chỗ nào. Vĩnh chỉ ngạc nhiên thấy Đính nổi nóng hơi khác ngày thường. Vĩnh biết tính Đính rất điềm đạm. Vĩnh hỏi.
– Đểu chỗ nào!
– Câu này phải chia ra hai vế. Vế thứ nhất là câu “các cải tạo viên phải thương yêu nhau!”. A, đừng tưởng nó thương gì mình đấy nhé. Nó chỉ muốn nói xa xôi cho mình biết rằng mình sẽ ở đây mịt mù, sẽ đếm lịch dài dài.
– Sao vậy?
– Ô hay, chứ bộ ông không biết câu “thú vật ở với nhau lâu ngày thì quyến luyến nhau, còn con người ở với nhau lâu ngày nhất định sẽ cắn xé nhau” hay sao? Đấy, vế này tiềm ẩn cái ý nghĩa ấy đấy.
Vĩnh tính hỏi còn vế thứ hai ra sao thì Đính đã tiếp ngay. Vế thứ hai mới độc. Nó bảo “tích cực giúp đỡ nhau cùng tiến bộ trong học tập!” ông có hiểu ra sao không?
-…. ?
– Là phải theo dõi nhau, phải tích cực đấu tranh sai trái, một cái rắm lớn rắm nhỏ của nhau cũng không được phép bỏ qua, phải đem nhau lên bàn mổ, tố giác nhau tận tình để được… về sớm!
Đính làm một hồi với vẻ bực tức. Hắn kéo một hơi thuốc lào và trước khi chui ra khỏi cái nhà hầm, hắn nói. Chúng mình sẽ phải đi một Đoạn-Đường Thương Khó dài hơn của Chúa, vác nặng hơn Chúa và thê thảm hơn nữa ở chỗ không được vác tà tà, không có người nâng hộ, mà vừa vác vừa phải chạy đua với nhau, bon chen kèn cựa cho đến lúc chết!
Rồi thì cả hai chui ra khỏi căn nhà hầm. Buổi trưa nắng gắt. Trong các phòng mọi người ngủ mê mệt. Vĩnh không biết đi đâu, không biết làm gì trong khoảng thời gian trống vắng này. Anh mò ra ngồi dưới bóng mát của một cây điệp lớn – nơi đây, mỗi chiều đi lao động về, một số đông tụ lại và biến gốc cây điệp thành trung tâm họp báo. Tất cả các tin tức, tất cả mọi bình luận suy diễn đều xuất phát từ gốc cây điệp này. Nhưng giờ đây gốc điệp vắng tanh vì mọi người đang ngủ. Họ ngủ lấy sức cho những giờ lao động ban chiều.
Vĩnh ngồi xuống gốc cây và ngó lên tàn cây rợp bóng mát. Một con rắn lục bụng to như có chửa quằn quại bò trên một nhánh cây. Lẫn trong tiếng chíu chít của bầy sẻ có con chim lạ vừa cất lên một tiếng gáy cô đơn. Sự hồi tưởng bất chợt trở về làm lòng Vĩnh tái tê. Chao ôi, đây là mộng hay thực? Ta đang ở đâu đây? Vì đâu nên nông nỗi này?
Cuộc đời trước mắt Vĩnh thốt nhiên biên thành một mớ bòng bong và anh thấy mình đang sa vào không phương thoát khỏi. Vĩnh bỗng thương nhớ lũ con của anh vô cùng. Vĩnh chợt hiểu một trong những đau đớn quằn quại nhất của anh khởi từ điểm này. Cứ tưởng tượng một ngày nào đó bầy con anh sẽ lớn lên, chẳng cần chúng phải căm thù, mà chỉ cần chúng nhìn anh bằng những cặp mắt hờ hững tuồng như nhìn một kẻ đã một lần đi lạc ra ngoài con đường của lịch sử, đã phạm những tội ác mà chúng cho là không thể tưởng tượng nổi – kết quả của một đường lối tuyên truyền nhồi sọ dựng đứng và ác độc của Cộng Sản – thì anh không rõ tâm hồn anh lúc ấy sẽ ra sao?!
Vĩnh đập mạnh vào trán đôi ba lần. Ôi thôi, ta mắc kẹt thật rồi! Ý nghĩ tự sát một lần nữa lại lởn vởn qua óc Vĩnh. Chưa bao giờ anh thấy anh bị xâu xé như lúc này. Ý chí thì muốn biến anh thành một chứng nhân của lịch sử; trong lúc trái tim anh lại thúc giục anh ra đi, thúc giục anh rời bỏ cõi này càng sớm càng tốt để chữ Tự Do mãi mãi còn được đậm màu. Một cái đinh hay một cái lưỡi lam… Vĩnh lại lắc đầu thật mạnh. Thốt nhiên Vĩnh nổi giận đùng đùng, nổi giận mà không biết vì sao mình nổi giận. Anh chộp một hòn đá ném mạnh lên cành cây có bầy chim đậu.
– Thằng kia, mày ném ai thế?
Vĩnh giật mình nhớ ra thực tế, nhớ ra rằng bên ngoài hàng rào gần đó có một vọng gác. Hòn đá anh ném đã rơi trúng vọng gác đó. Vĩnh giả vờ như không nghe thấy và chậm rãi đứng lên khỏi gốc điệp. Anh rảo bước về phía các dãy trại.
– Thằng kia, đứng lại!
Tiếng thét lần này lớn hơn và có kèm theo tiếng đạn lên nòng. Chẳng dại gì ngoái mặt lại để bị nhận diện, Vĩnh nhủ lòng và vùng chạy thật nhanh về phía nhà bếp khối 12, đâm sang bếp khối 11, đi vòng khối 11 và bọc về cửa sau khối 10. Vĩnh về chỗ nằm, cởi chiếc áo xanh nhét vào sắc và lôi chiếc áo nâu ra mặc. Vĩnh tính trỗi dậy mò ra ngoài nhưng hai thằng vệ binh có súng trên tay đã xuất hiện phía trước vuông sân khối 10. Dáng dấp của chúng cho thấy chúng đang lùng bắt một người.
Nằm yên tại chỗ, Vĩnh dặn lòng tự hậu phải kiểm soát kỹ các hành động của mình. Lỡ lọt tay kẻ thù không nên để thiệt mạng vì những lý do lãng nhách; nhất là kẻ thù của anh, một thứ kẻ thù mà giáo chủ của chúng, Lênin, từng dạy rằng: Chỉ cần một ý nghĩ thương xót bọn phản động thôi, thì người vô sản coi như đã phạm một trọng tội khó tha thứ!
Vĩnh ngó quanh phòng, hóa ra đâu phải tất cả đều ngủ. Nằm chen chúc đây đó vẫn có nhiều người vắt tay trên trán, đôi mắt họ gắn chặt ở một điểm nào đó trên trần nhà đầy mạng nhện.
Nằm bên trái Vĩnh là anh chàng bác sỹ Ngô Văn Tuyên, bên phải là trung úy Biệt Động khóa 25 võ bị Đặng Xuân Bính. Nằm sát nhau trong khu vực tổ A.3 với Vĩnh còn có trung úy Hải quân Lê Văn Trợ, trung úy Hải quân Nguyễn Văn, trung úy phi công Lê Văn Sanh, trung úy phi công Quách Tứ, thiếu úy phân chi khu trưởng Nguyễn Văn Hải, trung úy ban trận liệt / P.2 / TTM Nguyễn Văn Lộc, trung úy quân nhu Lê Văn Khoa, trung úy giảng viên Anh ngữ trường SNQĐ/TTM Trần Văn Nguyên…
Xa xa chút nữa về phía trái thuộc tổ A.4 có ông già Chuân thiếu úy trợ y, người có bệnh nghiến răng vô tiền khoáng hậu trong lịch sử của những người mang bệnh nghiến răng. Xa hơn tí nữa là ông Thiệu, tài xế biệt phái của cục Trung Ương Tình Báo – một Moritz kiểu mới trong giờ thứ 25 của Việt Nam…
Thốt nhiên Vĩnh nghĩ, những khuôn mặt này rồi sẽ gắn chặt với ta trong bao lâu nữa? Cho dù có cùng hoàn cảnh nhưng liệu họ có cùng một nỗi day dứt đớn đau?
Ông già Chuân sau những giờ lao động về lôi mấy bánh thuốc lào đem theo, viên từng bi bán cho anh em bằng những giá cắt cổ 10 đồng 5 bi, mỗi bi nhét không đầy cái nõ điếu. Ông Thiệu, dù là tài xế biệt phái cho cục Trung Ương Tình Báo nhưng lại là người mù chữ. Ông chỉ biết đọc mà không biết viết… Thế thì cái đau đớn mất nước của ông Chuân liệu có thống buốt bằng cái đau đớn của cựu đại đội trưởng Biệt Động Đặng Xuân Bính hay không? Và của ông Thiệu có giống của Ngô Văn Tuyên – một người chắc hẳn đã quá rõ thân phận của một Zivago như thế nào trong xã hội Cộng Sản?
Tiếng kẻng làm sự suy nghĩ của Vĩnh bị gián đoạn. Trong phòng sự im vắng bị phá vỡ tức thì. Mọi người đều vội vã trỗi dậy, kẻ lục đục tìm mũ, người lấy bình nước… rồi nối đuôi nhau ra sân nắng tập họp.
Nắng Tây Ninh chang chang. Các khối đứng tập họp điểm danh ngay trước phòng của mình. Khối trưởng Trai sau khi hô hoán và báo cáo nhân số đi lao động cho quản giáo Cư đâu vào đấy, anh rút từ túi quần sau ra một quyển vở. Anh mở quyển vở, hướng về mọi người, đọc.
– Theo lệnh anh quản giáo, các anh sau đây ở lại nhà nhận công tác đột xuất. Nguyễn Văn Năm, Trần Văn Ích, Lê Thanh Nhàn, Bùi Lành, Trịnh…
– Sao anh phức tạp thế? Tên quản giáo Cư chợt nói chen vào bằng giọng bực bội. Sau không cắt nguyên một tổ cho nó dứt điểm mau lẹ?
– Dạ anh đã chỉ thị chỉ lấy 6 người có sức khỏe.
– Phức tạp! Hôm qua tổ nào trực?
– Dạ tổ A.5.
– Vậy hôm nay lấy tổ A.6. Tên quản giáo đảo đôi mắt cú vọ vào những người tập họp, hỏi khơi khơi. Nhân số còn bao nhiêu đi lao động?
– Thưa anh Đính ở nhà vẽ khẩu hiệu, anh Thuần anh Hiệp tiếp tục đào giếng, anh Cang anh Tâm và anh Ba Tô đắp bếp.
– Ba Tô là cái gì?
– Dạ thưa tên anh ấy là Tô, anh em quen gọi là Ba Tô.
– Ba Tô với bốn bát! Tên tuổi phải gọi cho đúng. Mai đây các anh đều có số cá nhân, không thể tùy tiện thêm đầu thêm đuôi như thế được. Nhớ chưa?
– Dạ.
– Còn những ai ở nhà nữa?
– Bác Chuân ở nhà đóng thùng thuốc tập thể cho khối.
Tên quản giáo chợt trợn trừng mắt ngó khối trưởng Trai.
– Đây là lần đầu và cũng là lần cuối, tôi quán triệt để các anh rõ và nắm cho vững cách xưng hô trong trại cải tạo. Nơi đây, cấm chỉ gọi nhau bằng chú chú bác bác. Các anh cùng có tội như nhau, cùng vào đây học tập cải tạo như nhau do đó bình đẳng, không ai là bác là chú của ai cả. Tất cả gọi nhau bằng anh, xưng tôi. Nghe rõ?
Không ai trả lời ngoài khối trưởng Trai nuốt hận dạ khẽ một tiếng. Tên quản giáo lườm nhanh mọi người một cái, mỉa mai. Vẫn chưa giải phóng được cái tác phong ngụy! Bác bác với chú chú. Công tác phục vụ hỗ tương cũng cám ơn cám iếc 2. Thốt nhiên hắn hỏi lớn. Còn ai ở nhà nữa không?
– Dạ còn tổ A.6 ở nhà nữa, vị chi tổng cộng 17 người.
Tên quản giáo khẽ lắc đầu.
– Khối có 120 người, 17 người ở nhà vị chi suýt soát mất đi 14% công trực tiếp lao động. Hơi nhiều!
Bọn tù đứng trong hàng đều giật mình như nhau. Một thằng cán binh Việt cộng rõ ràng i tờ rít mà sao khi tính toán công lao động nó lại tính nhẩm nhanh đến thế? Thảo nào dân miền Bắc 20 năm xưa hát câu áo anh rách vai quần tôi có hai miếng vá, 20 năm sau vẫn phải hát câu quần tôi có hai miếng vá áo anh rách vai…
Tên quản giáo hơi lẩm bẩm gì đó trong miệng, và trước khi ra lệnh cho khối trưởng Trai dẫn anh em tiến về phía phi trường trong căn cứ Trảng Lớn, hắn hỏi lớn. Anh Đính đâu?
– Có tôi.
– Lát nữa anh lên tiểu đoàn gặp chính trị viên!
——————————–
1 Rin: Thứ gốc, không pha chế tầm bậy. Rổm, thứ giả.
2 Trong việc giúp đỡ lẫn nhau hàng ngày Cộng Sản không chấp nhận sự cám ơn. Chúng quan niệm những công ích ta làm cho người khác hay ngược lại đều là nghĩa vụ của từng người trong sinh hoạt xã hội, mà đã là nghĩa vụ thì không ai phải cám ơn ai.
Như chương trình đã được thông báo vào chiều hôm trước, sáng hôm sau, ngay khi hồi kẻng 5 giờ điểm, các khối trưởng đã tích cực lôi mọi người dậy. Khối trưởng Trai hơi cuống khi nhìn thấy cảnh anh em khối 10 vẫn lè phè nằm nướng. Anh lên tiếng cự. – Tôi lạy các ông dậy giùm cho. Tại sao cứ để người ta chửi lên đầu mình mới chịu? Thế nhưng khối trưởng Trai không cự nự được nhiều hơn, và mọi người cũng không ai ngủ nướng được nữa. Tên quản giáo Cư thình lình xuất hiện ngay giữa cửa phòng. – Nghiêm! Một tiếng hô vội vã từ một chỗ nào đó xướng lên. Khối trưởng Trai giật mình quay lại. Ngược với dự đoán của mọi người là sẽ phải bành tai nghe những lời chửi rủa hôi hám không thua gì cái mồm cả đời không biết đánh răng của hắn ta, tên quản giáo Cư chỉ đùng đùng nổi giận với riêng khối trưởng Trai. Hắn hét. – Anh Trai, anh gọi ai là “người ta”? -…..? – Cách mạng tin anh, đặt để vào chức năng khối trưởng để giúp Cách mạng giáo dục thắng lợi với tất cả những kẻ có tội với Đảng, với Tổ Quốc, với Nhân Dân là đồng bọn các anh. Trong những lần giao ban, Cách mạng đã giáo dục riêng anh bao nhiêu lần về cách xưng hô? -…..! Bộ mặt lạnh tanh của khối trưởng Trai như làm cóng lạnh tên quản giáo. Hắn run lên. – Tại sao anh không trả lời tôi? Tại sao? – Thưa… tôi quên! Như nhớ ra điều gì, tên quản giáo hạ cơn nóng thật nhanh và mỉm cười một cách nham hiểm. – Thôi được, lần này tôi chấp nhận cho anh quên. Nói đoạn hắn nhìn vào đám đông, tiếp. Nhân đây, tôi nhắc nhở chung cho toàn khối, nghe rồi phải nhớ trong óc và chấp hành cho tốt, không phải tôi nói như nước đổ đầu vịt, nghe lỗ tai này để nó chạy ra lỗ tai kia. Hắn tằng hắng lấy hơi và đảo mắt một vòng như để uy hiếp tinh thần bọn tù. Tôi nhắc lại một lần cuối cùng, các anh phải nhớ các anh là kẻ có tội. Các anh vào đây là để học tập cải tạo, để phấn đấu trở thành người công dân lương thiện. Không phải Cách mạng đem các anh vào đây nuôi cơm để các anh ăn không ngồi rồi, để đàn đúm thêu dệt những chuyện phản động, để tùy tiện muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm. Yêu cầu đầu tiên của Cách mạng đòi hỏi nơi các anh không nằm ngoài tính dân tộc của cha ông để lại: tiên học lễ hậu học văn.
Nói tới đây bất chợt tên quản giáo quay sang khối trưởng Trai, hỏi. Tiên học lễ hậu học văn là gì? anh Trai. Nỗi căm hờn như rần rần chạy trong từng gân máu của anh chàng phi công to con, từng được bầu làm chiến sỹ xuất sắc và có ảnh đăng trên báo Chiến Sỹ Cộng Hòa. Lấy hết bình tĩnh, khối trưởng Trai trả lời. – Thưa anh tôi dốt chữ! Cái ngu của chính tên quản giáo làm cho hắn mỉm cười. Bỗng dưng hắn hạ giọng từ bi vô lượng. – Đấy, các anh thấy không! Mấy đời nhà các anh chỉ đi làm tay sai, hết Tây sang Nhật, hết Nhật sang Mỹ. Các anh nói tiếng Tây, tiếng Nhật và tiếng Mỹ như gió; còn tiếng của cha ông để lại thì cứ mù mờ như người nước ngoài. Yêu cầu của Cách mạng đòi hỏi các anh phải tập trung học tập cải tạo là triệt để đúng đắn, triệt để “lô rích móc xích”. Nói tới đây hắn lại tằng hắng. Đã tự biết mình dốt ấy cũng là điều đáng quý, hắn nói tiếp. Nhưng dốt thì phải học tập. Tôi là người thay mặt Cách mạng giáo dục các anh, thì tôi là gì của các anh? Tên quản giáo bất chợt chỉ vào một người đứng gần khối trưởng Trai, hỏi đại. Là gì hả anh kia? Anh chàng bị hỏi vừa bực vừa lúng túng, nhưng chỉ một tích tắc anh ta trả lời được ngay. – Dạ là… Cách mạng! Tên quản giáo Cư hơi nhăn mặt: – Thì hẳn nhiên là Cách mạng rồi. Nhưng là gì chứ? – Dạ là… Giải phóng! Tên quản giáo có vẻ hơi cáu vì cái đần của thằng tù “ngụy”. Hắn giơ quả đấm lên cao nói một cách cương quyết. – Là thầy, nghe rõ chưa? Tôi thay mặt Cách mạng giáo dục các anh tức là thầy các anh, nhớ cả chưa? -…..! – Mà đã là thầy thì bản thân tôi sẽ phấn đấu hoàn thành tốt công tác làm thầy. Các anh phải xa cha mẹ vợ con thì tôi cũng xa cha mẹ vợ con. Các anh đi học tập lao động dầm mưa dãi nắng thì tôi cũng dãi nắng dầm mưa với các anh. Các anh ra nông trường thì tôi cũng có mặt ở nông trường. Các anh đến lâm trường thì tôi cũng phải đến lâm trường. Các anh ăn năm lạng thì tôi cũng bảy lạng là cùng… Bọn tù bỗng im như tờ lắng nghe tên quản giáo lên lớp. Chẳng phải họ chú tâm chi đến những lời lẽ huênh hoang của tên quản giáo ngu dốt ấy, mà vì trong những câu hắn nói đã vô tình tiết lộ nhiều chi tiết quan trọng hầu như mấy ngày qua ai cũng muốn biết. Tại sao hắn lại nói các anh ra nông trường tôi cũng phải ra nông trường? Các anh đến lâm trường tôi cũng phải đến lâm trường? Thôi thế này thì bỏ mẹ cả đám rồi! Riêng tên quản giáo lấy làm hài lòng về sự ngoan ngoãn lắng nghe của bọn tù. Hắn mê man lên lớp. Còn về phần các anh, các anh phải có thái độ, có nghĩa vụ gì trong học tập, nhất là đối với người thầy dạy của mình? Các anh phải ý thức cho đúng đắn vị trí mới của mình, ấy là vị trí của một học viên cải tạo, nói nôm na là vị trí của một anh học sinh. Mà đã là học sinh thì phải có nhiệm vụ tôn kính thầy. Qua quan sát chẳng riêng khối này mà là tất cả các khối, khung nhận xét thấy các anh còn rất lơ là trong tác phong, thái độ học tập rất thiếu nghiêm túc, ăn nói rất thiếu khiêm tốn và lễ phép. Nói chung chung sự tác động qua lại trong tình người giữa các anh và các cán bộ quản giáo cũng như các chiến sỹ Cách mạng chưa đạt được tiêu chuẩn tốt. Điển hình là anh Trai khi nãy. Tại sao anh lại dùng chữ “người ta” để chỉ những người làm Cách mạng? Mổ xẻ cho sát, phân tích cho sâu, thì ta có thể khẳng định đây là kết quả của một quá trình đấu tranh tư tưởng chưa tốt. Vì đấu tranh tư tưởng chưa tốt nên anh Trai đã chưa củng cố được lập trường đứng hẳn về phía Cách mạng. Anh vẫn còn lơ vơ lờ vờ như người say thuốc lào. Bạn thù rất là chưa phân minh. Anh vẫn đặt những người Cách mạng sang hẳn một phía đối nghịch, do đó mới dùng những chữ lập lờ đánh lận con đen là chữ “người ta”! Nói công khai mà còn nói như thế, sau lưng chắc thế nào mà chả gọi những người Cách mạng là thằng nọ thằng kia. Nói tới đây hắn bỗng giơ cao tay, vén tay áo một cách rất chậm rãi, tuồng như để ngầm khoe với mọi người hiện hắn đã được làm chủ cả một cái đồng hồ. Hắn xem giờ hơi lâu! Sau cùng hắn bỏ tay xuống và vòng cả hai tay ra sau đít. Sáng nay, hắn nói. Tôi tranh thủ lên lớp với các anh vài điều cần thiết như vậy thôi, có dịp tôi sẽ lên lớp tiếp. Cách mạng chỉ yêu cầu các anh từ nay về sau rút kinh nghiệm nơi khuyết điểm của anh Trai trong lời ăn tiếng nói. Lời nói không mất tiền mua, phải vậy không? Vậy thì các anh nói sao cho đúng vị trí của mình. Phải nhớ rằng đối với Cách mạng, tất cả mọi hành động, mọi lời ăn tiếng nói đều được đánh giá là kết quả của một quá trình ý thức. Do đó, đừng để vì những lời ăn tiếng nói mà gây ra hậu quả phải học tập cải tạo lâu dài. Sau khi kết thúc câu nhát ma sau cùng, hắn quay lại nói nhỏ với khối trưởng Trai. Khối trưởng Trai gật đầu lia lịa. Lúc tên Cư đã khuất khỏi cửa, Trai quay lại phía anh em. Trai nhìn anh em một cách rất đau khổ, tuồng như cái mũ mà tên Cư đã âu yếm đội lên đầu anh vừa quá nặng lẫn quá chật khiến anh đau đớn chịu không thấu. Anh buồn rầu nói. – Chúng ta đều vừa học được một bài học quý giá mà tôi là một điển hình. Yêu cầu anh em rút kinh nghiệm. Giờ cũng sắp tập họp đến nơi rồi, tôi đề nghị anh em tranh thủ làm công tác vệ sinh cá nhân thật nhanh. Cũng nhân đây, tôi nhắc lại lời quản giáo vừa nói với tôi khi nãy. Từ nay Trên cấm tuyệt đối việc nhúm lửa nấu nướng lẻ tẻ. Yêu cầu anh em tổ trực cho dọn sạch các viên gạch kê làm bếp chung quanh nhà. Ai còn vi phạm, bị bắt ráng chịu trách nhiệm. Trai tính nói thêm nhưng hình như chẳng còn gì để nói, do đó anh ra một thủ hiệu tan hàng. Mọi người đứng đã mỏi chân, được lệnh ai nấy gấp gáp cuốn chăn màn và phóng ra ngoài tìm nước đánh răng xúc miệng. Đúng 7 giờ rưỡi, những tiếng kẻng thi nhau rền vang qua tất cả các trại thuộc L4. Riêng ở L4T1, khi nghe kẻng báo, mọi người đều từ trong phòng ùa ra sân như kiến vỡ tổ. Tất cả đều quy về khoảng đất rộng phía trước khối 10 và khối 14, chạy dọc theo con đường nhựa dẫn tới phía phi trường của căn cứ. Đã một thời gian căn cứ bị bỏ hoang, cỏ lau mọc thành những cánh đồng bát ngát. Nơi những bãi đất trống trước đây giờ người ta chẳng nhìn thấy gì khác hơn là cỏ. Thỉnh thoảng có vài vũng nước mưa thật lớn và trong vắt còn hằn vết bánh xe Molotova. Những connex nằm rải rác bên đường lỗ chỗ vết đạn và nhất là súng ống, lựu đạn, giấy tờ, quân phục đủ loại đã dãi dầu mưa nắng: chứng tích của một cuộc tháo chạy ê chề tủi nhục vừa qua…
Hơn 1.000 tù của L4T1 được bố trí thành từng khối đứng dọc theo con đường nhựa. Vĩnh quan sát thấy sau mỗi ụ đất, mỗi connex đều có bố trí vệ binh. Chúng được trang bị AK.47 với nét mặt đầy cảnh giác hướng về bọn tù. Chắc đã được lệnh từ trước nên các khối trưởng tự động so hàng và điểm danh khối mình. Mười phút sau khi hàng ngũ đã đâu vào đó, bọn cán bộ tiểu đoàn và bọn quản giáo mới từ những dẫy nhà phía bên kia đường tràn sang. Quả thực nếu như chúng không có những khẩu K.54 kè kè bên hông và những cái túi dết bằng da bò đeo trên vai thì không ai có thể tin được rằng đó là những sỹ quan cán bộ của tân chế độ. Thằng nào thằng nấy ngơ ngơ ngáo ngáo, áo quần xốc xếch dơ bẩn, lon lá không đeo; thực tình trông chúng không có tí tác phong nào của người quân nhân, chứ đừng nói chi tác phong của sỹ quan hoặc hạ sỹ quan cán bộ. Chúng tràn sang bên này đường để tiến tới trước các hàng quân của những kẻ bại binh. Quản giáo khối nào tiến về khối đó. Riêng tên thủ trưởng, thủ phó và chính trị viên tiểu đoàn dừng chân ngay trên mặt lộ. Thật đúng là ba cái bia bắn trong quân trường! Như tất cả mọi khối, tù khối 10 đã đứng vào vị trí của mình. – Hôm nay ngày khai trường, này ông nhà văn nhà thơ, ông có thể mô tả quang cảnh này bằng một câu nào cho thật khéo không? Một cái vỗ vai tiếp theo là một câu nói cất lên sau lưng Vĩnh. Vĩnh giật mình quay lại. Anh nhận ra Nguyễn Văn Ý, trung úy đại đội trưởng Biệt Động, thuộc tổ 5 và nằm cách Vĩnh hai người. Tự dưng Vĩnh hơi lo khi thấy có người biết được cái nghề tay trái trước đây của mình. Trong trại cải tạo của Cộng sản, cái tóc là cái tội. Kinh nghiệm này ai cũng có thể tìm thấy qua hàng đống sách vở nói về thế giới lao tù của Cộng sản xuất bản trước kia. Mà đã được biết như vậy thì ai cũng muốn tìm mọi cách chứng minh mình… trọc đầu khi đã lọt vào đây. Là một sỹ quan “ngụy”, chứng minh mình ít tóc đã là một điều khó tin, lại còn đần độn chơi thêm tí nước hoa lên cái đầu rậm tóc của mình thì thật có ngày… chết ăn năn tội không kịp! Nghĩ thế Vĩnh cười nhạt. – Văn với thơ cái khỉ gì ông! Ý vẫn đùa. – Làm gì như Phê Rô chối Chúa vậy? Đồng bọn cả mà. Rồi như đoán được sự e dè của Vĩnh, Ý trấn an và tiếp. Ức lắm ông ơi. Không biết ông sao chứ tôi 7 năm cầm quân săn chúng trong rừng trong rú, chúng lẩn như ma. Bây giờ chúng rờ rờ trước mặt mà mình đếch làm gì được. – Không lấy làm buồn! Một giọng nói có vẻ lạc quan cũng từ phía sau Vĩnh chen vào. Cháy nhà ra mặt chuột. Cứ để cho tông ti họ hàng nhà chúng nó ló mặt ra hết đi. Một ngày nào đẹp trời ta sẽ làm cỏ tận gốc. – Lúc ấy sướng nhỉ! Một tay khác mơ mộng. Ai xử sao mặc xác, chứ riêng tao… Sự mơ mộng của anh bạn thứ ba đứng sau Vĩnh chưa kịp thành hình thì phải đứt đoạn vì một tiếng hô. – Nghiêm! Tiếng hô của khối trưởng Trai thật to làm mọi người trong khối 10 rầm rập tuân lệnh. – Thao diễn, nghỉ! – Ngh… – Làm cái trò gì đó? Một tiếng thét thứ hai cũng chợt nổi lên và cắt ngang tiếng hô của khối trưởng Trai. Khối trưởng Trai hoảng hốt quay lại. Một lần nữa anh muốn ỉ…ra quần. Trước mắt anh quang cảnh đang diễn ra không êm ả tí nào. Tên quản giáo Cư đã không còn đứng ở vị trí của hắn nữa mà đã chạy ngược lên mặt lộ, hợp với ba bộ mặt hớt hải của ba thằng chóp bu trại tù đang đứng trên mặt đường. Nhiều khẩu K.54 đã được rút ra khỏi bao da, cùng lúc ấy sau các connex, sau các gốc cây, bọn vệ binh súng đã lăm lăm trong tư thế sẵn sàng. Bên dưới, hơn 1.000 tù đều giật mình dây chuyền. Tên chính trị viên tay lăm lăm khẩu K.54 và chậm tiến về phía Trai. – Này thằng kia, mày hô hoán cái gì thế? Hắn vừa hỏi vừa run, nhưng chẳng ai rõ hắn run vì giận hay vì sợ. Hắn lập lại. Mày vừa hô hoán mật lệnh đồng khởi hay gì đấy? Khối trưởng Trai thừa thông minh để hiểu căn nguyên của vấn đề. Anh có vẻ mất bình tĩnh, càng mất bình tĩnh hơn khi thấy họng súng cứ ve vẩy về phía mình một cách rất nguy hiểm. – Dạ thưa… Có lẽ sau khi hoàn hồn, tên thủ phó tiểu đoàn đã nhận ra cái hố của cả bọn nên hắn vội tiến lên, ra dấu cho tên chính trị viên ngừng nói và cất giọng thật lớn như muốn át đi một phần cái ngượng của chính bản thân mình. – Anh kia, lần này tha, lần sau Cách mạng sẽ có biện pháp xử lý. Nói với Trai xong hắn thụt vài bước lên mặt lộ, nói lớn với tất cả. Đây là lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng tôi nhắc nhở chung mọi người. Khi tập họp điểm danh báo cáo nhân số, mọi người phải có thái độ nghiêm túc và tác phong khiêm tốn. Các anh có quyền hô nghiêm, nhưng tuyệt đối cấm cái tác phong ngụy như ban nãy. Muốn dàn trận hay sao mà hô thao diễn? Thế rồi cả tiểu đoàn lại mất thêm mười phút để lắng nghe bài học về sự tập họp điểm danh của tên thủ phó, lúc hắn đã cầm lên cái loa tay chạy pin để trên chiếc bàn kê ngay mặt lộ. Thôi thì đủ thứ chuyện hầm bà lằng. Rốt cuộc khi tập họp chỉ được dùng khẩu lệnh nghiêm và nghỉ một cách có tác phong… khiêm tốn theo đúng vị trí của một cải tạo viên. Mọi thứ khẩu lệnh khác của “Mỹ ngụy” đều phải dẹp bỏ vào đống rác của dĩ vãng. Để kết thúc bài học tập họp điểm danh, trên thủ phó không quên nhát ma thêm một điều nữa: Bất cứ ai lợi dụng chức năng đại diện tập thể để phát ngôn những lời lẽ gây phấn chấn tinh thần chống đối học tập cải tạo sẽ bị xử bắn! Sau khi bài học chấm dứt, khối trưởng Trai quay lại với anh em. Bây giờ thì anh lúng túng như một tân khóa sinh lần đầu tiên phải làm tuần sự đại đội trong trường sỹ quan năm xưa. Anh không biết hô hoán thế nào để không bị ngộ nhận và có thể bị lôi ra bắn bỏ. Sau cùng, nối đuôi theo những tiếng hô Nghỉ của các khối khác, khối trưởng Trai cũng buồn bã buông một tiếng Nghỉ rồi đứng buồn như một anh Nhật vừa bị anh Tàu giải giới. Sau khi tất cả các khối đã tập họp điểm danh và báo cáo nhân số, “Trên” bắt đầu làm việc. Tên chính trị viên, cái loa chính thức của bất cứ tiểu đoàn Cộng sản nào, tiến lên và cầm lấy cái loa từ tay tên thủ phó. Sau khi hội ý vài điều với tên thủ trưởng, hắn quay lại đám đông và bắt đầu đi vào bài học chính thức của ngày khai trường (!). Gõ vài cái vào loa, hắn tằng hắng lấy giọng.
– Hôm nay, vì hội trường chưa có, ban chỉ huy trại phải tập trung các anh ngoài trời để tranh thủ lên lớp với các anh những nội quy cơ bản cho sinh hoạt ăn ở và học tập lao động tập thể ở trại này. Yêu cầu trước mắt của Cách mạng là các anh phải chú ý nghe cho tốt, sau đó về đào sâu suy nghĩ, thảo luận hăng say và chấp hành cho đúng những nội quy quy định trong học tập cải tạo. Hắn thoáng nhìn đồng hồ tay, tiếp. Đáng lý ta phải lên lớp sớm hơn nhưng vì đa số các anh tác phong tập họp chưa đúng đắn, còn rất luộm thuộm gây mất thì giờ. Mùa này nóng nực, phải vậy không? Vậy bây giờ đã 8 rưỡi, ta sẽ tranh thủ lên lớp nhanh, giải phóng lớp sớm để các anh còn kịp về cơm nước và sửa soạn bước vào thảo luận chiều nay. Cái loa tay bỗng nhiên câm. Người đứng xa chỉ thấy đôi môi của tên chính trị viên mấp máy tuồng như hắn đang ăn vụng một cái gì. Mãi đến khi tên thủ trưởng đập vào vai hắn báo động hắn mới hạ cái loa xuống khỏi miệng. Một tên cán bộ khác nhảy tới mò mò mẫm mẫm gì đó trên cái loa. Một lúc sau cái loa người lẫn cái loa máy lại bắt dầu làm việc trở lại. Tiếp tục gõ thử vào cái loa vài cái, tên chính trị viên cất giọng trở lại. Đấy, các anh thấy không! Sự phồn vinh giả tạo của bọn đế quốc tư bản là như thế đấy. Cái loa này do bọn quân phiệt Nhật bổn chế tạo, trông thì đẹp mã lắm, mà dùng thì không tốt chút nào, toàn những lỗi lầm sự cố kỹ thuật! Sau khi đả đế quốc tư bản một hơi về câu chuyện máy móc hắn mới quay về chủ đề chính. Trở lại vấn đề lên lớp hôm nay, hắn nói. Trước hết ban chỉ huy trại trả lời những thắc mắc tâm tư nguyện vọng của hầu hết các anh, dù chưa được chính thức đề bạt lên mà chỉ mới ngấm ngầm từ ngày nhập trại đến nay, ấy là vấn đề bao giờ thì về. Nhân danh Cách mạng, tôi xác quyết với các anh có đi thì phải có về. Tuy nhiên, đi thì đi một lượt nhưng về thì dứt khoát không thể cùng một lượt. Lý do các anh cũng tự hiểu. Chủ nghĩa Cộng sản không có nhà tù (!). Đó là điều ta phải khẳng định một cách dứt khoát. Chủ nghĩa Cộng sản chỉ có những trại tập trung cải tạo nhằm giúp đỡ những kẻ lầm lạc, mất phương hướng, có điều kiện tự rèn luyện để nhận biết được tội lỗi của mình, để phấn đấu lìa bỏ dĩ vãng xấu xa, trở về với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân. Trên thực tế, trại cải tạo ở xã hội ta phải nói là lý tưởng nhất so với các trại cải tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Có thể ví trại cải tạo ở đất nước ta có giá trị cao như những trường đại học tổng hợp (!). Và trong trường đại học tổng hợp này, các anh sẽ được Cách mạng tạo điều kiện để tự phấn đấu trở nên người công dân lương thiện. Được vào trại cải tạo của ta tức là đã may mắn như người được nhận vào học tại một trường đại học tổng hợp. Mà đã vào trường đại học tổng hợp thì không phải vào để mà chơi. Ta vào để ta học. Nhưng học thì phải có thi, có thu hoạch kết quả. Có thi, có thu hoạch kết quả thì phải có người đỗ người trượt. Đỗ thì vinh quy bái tổ, mà trượt thì dứt khoát phải tự nguyện đăng ký xin học lại cho bằng đỗ, dù học thêm 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa… Bên dưới đám tù có nhiều tiếng xầm xì. Tên chính trị viên vẫn phớt tỉnh và tiếp tục. Các anh phải biết rằng Cách mạng chưa bao giờ gọi các anh là tù. Cách mạng đã trang trọng gọi các anh là những học viên cải tạo. Giờ đây có thể tuyệt đại đa số các anh chưa hiểu thấu lòng trân quý của Cách mạng dành cho các anh, nhưng nếu các anh được dịp đi tham quan các nông trường tập thể của các cựu tù binh Pháp sau trận Điện Biên Phủ thần thánh, các anh mới thấy rằng họ đang được sống như thế nào. Thật là rõ ràng họ đang được sống một kiếp mới hoàn toàn sung sướng, và hạnh phúc. Nói ra các anh không tin, chứ thực tế, sau một thời gian cải tạo, có nhiều tù binh được Đảng cho trở về Pháp đoàn tụ gia đình nhưng họ đã quyết liệt xin được ở lại sống trong đời tập thể mới của họ và thỉnh cầu Đảng và chính phủ cho được nhập tịch làm người công dân mới của một nước Việt Nam mới. Đối với tù binh thực dân Đảng còn xử cao thượng như vậy, nói gì đối với các anh, những đứa con Việt Nam máu đỏ da vàng đi lạc đường một thủa! Tôi khẳng định với các anh Cách mạng sẽ thương yêu các anh nhiều hơn thương yêu những tù binh thực dân Pháp hoặc Mỹ sau này. Ngay từ ban đầu, Cách mạng đã giấy trắng mực đen giáo dục các cán bộ chúng tôi phải giáo dục các anh như giáo dục các học viên cải tạo. Thế thì, trong tư thế của các cải tạo viên, các anh chẳng việc gì phải lo lắng và nôn nóng. Đúng nhất, các anh phải tự thấy mình có nghĩa vụ đền đáp cái ơn tri ngộ của Đảng, bằng cách đặt niềm tin tuyệt đối vào chính sách cải tạo của Đảng, của Cách mạng luôn luôn trước sau như một. Cách mạng nói 10 ngày là mười ngày, nói một tháng là một tháng. Nhưng 10 ngày hay một tháng với những người đỗ kìa! Trượt thì làm sao có chuyện 10 ngày hay một tháng được. Thế thì về sớm hay về muộn chủ yếu vẫn là ở chính các anh. Các anh học tập tiến bộ? Tốt, các anh cấp úy sẽ trở về đoàn tụ gia đình sau 10 ngày và các anh cấp tá cấp tướng sẽ về sau 30 ngày. Nhưng nếu các anh ngoan cố không chịu phấn đấu học tập cải tạo, ngoan cố không muốn từ khước con đường chống lại Đảng, chống lại Cách mạng, chống lại Tổ quốc, chống lại Nhân dân mà các anh đã một lần lầm lẫn đi qua, thì dứt khoát kẻ đó sẽ không bao giờ có ngày về! Đó là một vấn đề rất lô-rích móc xích. Tên chính trị viên ngừng lại một lúc như để ôn bài và cũng để cho lũ “tù ngụy” ngấm những lời lẽ đểu cáng của hắn vào tận xương tủy, kế hắn tiếp. Tôi nói thật với các anh, qua quá trình gần 60 năm ra đời và trưởng thành của chủ nghĩa Cộng sản, chưa một đảng Cộng sản anh em nào lại có đường lối cực kỳ khoan hồng nhân đạo như của Đảng ta. Đừng nói đâu xa xôi, các anh cứ mở to mắt mà ngó đảng Cộng sản Kampuchea anh em của ta thì rõ. Sau ngày giải phóng Nam Vang, mọi sinh vật, kể cả chó mèo, nếu đã từng nếm mùi bơ thừa sữa cặn của bọn đế quốc tư bản phản động đều bị giết, giết hết, giết sạch. Nếu Đảng ta cũng ra tay theo đúng đường lối ấy thì liệu giờ này các anh còn được đứng nơi đây không? Tôi bảo thật, nếu cứ lấy câu châm ngôn mắt trả mắt răng trả răng ra mà xử với các anh, thì tội của các anh không chỉ xử bắn bằng một viên đạn, mà mỗi người phải chịu xử bắn bằng 10 thùng đạn đại liên. Nhớ chưa? Bằng 10 thùng đạn. Lúc này nắng đã có vẻ hơi gắt, tên thủ trưởng tiến tới và nói nhỏ gì đó với tên chính trị viên; tên chính trị viên gật gù và quay lại phía bọn tù, tiếp. Để tranh thủ thời gian vì nắng đã lên cao, tôi tạm gác những chuyện khác cho những kỳ lên lớp kế tiếp. Giờ nhân danh chính trị viên tiểu đoàn, đại diện ban chỉ huy trại, tôi thông báo các anh những điểm chính buổi lên lớp hôm nay. Một là, kể từ hôm nay, mọi sinh hoạt ăn ở học tập và lao động sẽ bắt đầu đi vào nền nếp tập thể. Cá nhân chủ nghĩa dưới mọi hình thức đều bị thủ tiêu. Sau buổi lên lớp này, các trưởng khối phó khối về lập danh sách thu tiền ăn 10 ngày đúng theo tinh thần thông cáo của chính phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đã đăng tải trên các mặt báo. Ai đem theo gạo cá nhân đều phải nộp về kho hậu cần tiểu đoàn để phân phối cho tập thể sử dụng. Mọi thứ nồi niêu lon cóng dùng để nấu nướng linh tinh đều phải hủy bỏ. Dứt khoát từ đây không có chế độ bếp mẹ bếp con. Hai là, kể từ nay, ngoài chế độ ăn uống được nhà nước cung cấp theo đúng tiêu chuẩn dành cho các cải tạo viên, Cách mạng còn quan tâm cung cấp thêm cho các anh tiếp phẩm hàng tháng theo tiêu chuẩn sau: 1. Mỗi tháng 1 kem răng. 2. Mỗi 3 tháng 1 bàn chải răng. 3. Mỗi tháng 1 gói thuốc lá và nửa lạng thuốc rê hoặc thuốc lào. 4. Mỗi tháng 1 lạng đường hoặc bánh kẹo nếu không có đường. 5. Mỗi năm 2 bộ quần áo. Tên chính trị viên vừa dứt câu thì cả một rừng người đã nhao nhao lên. Yêu cầu các anh tuyệt đối giữ yên lặng và trật tự. Tên chính trị viên hét lớn trên loa. Ai muốn chống đối bước ra khỏi hàng. Cùng với lời răn đe của hắn là những tiếng đạn lên nòng của nhiều khẩu AK.47 bố trí quanh địa điểm tập họp. Tiếng ồn lắng xuống dần. Tên chính trị viên lại tiếp. Chúng tôi đã nói với các anh rồi, về sớm hay về muộn là tùy ở nơi các anh. Riêng về phía chúng tôi, chúng tôi không hề muốn các anh ai cũng phải học tập lâu dài để mỗi năm lĩnh hai bộ quần áo của nhà nước. Riêng ở điểm này, các anh lại càng phải lưu ý hơn về lượng khoan hồng và lòng thương yêu của Cách mạng dành cho các anh. Các anh cứ nghĩ mà xem, nếu Cách mạng không có tấm lòng bể rộng sông dài thì việc gì phải tốn kém lo mãi cho những kẻ chậm tiến, không chịu phấn đấu tốt trong học tập cải tạo? Đàng này Cách mạng vẫn kiên trì tạo điều kiện vật chất cho những kẻ chưa tốt, ngoài cơm ăn còn có áo mặc để mà tiếp tục phấn đấu trở thành người công dân lương thiện phục vụ xã hội, phục vụ đất nước sau này. Đó chính là nét ưu việt nổi bật của Đảng ta, của chế độ ta. Các anh phải suy nghĩ cho kỹ trước khi kết luận. Bọn “Rau Răm Ở Lại” như đã hiểu rõ thân phận mình nên hoàn toàn im lặng trở lại. Tên chính trị viên có vẻ hài lòng trước thái độ… biết điều ấy, hắn tiếp. 6. Mỗi ba tháng các anh sẽ được viết thư về thăm gia đình và ngược lại, chính quyền địa phương cũng tạo điều kiện để gia đình các anh hồi âm. Nội dung viết thư như thế nào, động viên lẫn nhau ra sao vân vân và vân vân sẽ được học tập sau. 7. Từ nay, bằng mọi giá, ta sẽ biến trại này thành một xã hội xã hội chủ nghĩa nho nhỏ, ta sẽ cùng nhau chứng minh câu thơ của đồng chí Tố Hữu là đúng triệt để: Bàn tay ta làm nên tất cả, với sức người sỏi đá cũng thành cơm. Tên chính trị viên ngừng nói. Hắn cầm lấy ly nước có màu xá xị để trên chiếc bàn cạnh đấy nhấp một chút. Tuồng như không muốn để cho lỗ tai bọn “ngụy” được… kịp thở, hắn đặt ly nước xuống và trở lại vấn đề ngay. Mai đây qua các khẩu hiệu, các anh sẽ có những tiêu chuẩn chắc chắn để phấn đấu trong học tập cải tạo, đạt chỉ tiêu các mặt theo đúng nguyện vọng của Đảng, của nhà nước, của nhân dân, của gia đình và của cả bản thân. Hắn liếc nhìn đồng hồ tay. Bây giờ đã gần 11 giờ, để tranh thủ thời gian cho các anh về sinh hoạt cơm nước, tôi xin nhường lời lại cho đồng chí thủ trưởng lên lớp tiếp với các anh. Tên thủ trưởng tiểu đoàn hăm hở tiến lên nhận lấy máy. Qua giọng nói, mọi người có thể đoán được hắn gốc người Quảng Nam nhưng đã sống giữa tập thể người miền Bắc lâu ngày. Dù hàm răng không vẩu nhưng chân dung hắn cũng không khác cái bia bắn là bao. Vừa cầm lấy cái loa là hắn lên giọng nói ngay. – Đồng chí chính trị viên vừa lên lớp với các anh vài khâu then chốt trong bước đầu học tập cải tạo. Chắc chắn trong các anh còn rất nhiều tâm tư nguyện vọng mà chưa có dịp bày tỏ. Tuy nhiên, rồi đây ban chỉ huy trại sẽ tạo nhiều điều kiện để các anh bày tỏ nó ra. Hiện tại nói thế đã đủ, nhân danh thủ trưởng, tôi cũng có vài lời nhắn nhủ với các anh em học viên cải tạo như thế này. Các anh đừng bao giờ quên các anh là những kẻ có tội, có tội với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; đồng lúc, các anh cũng đừng bao giờ quên Đảng là người sống có tình có lý. Có tình vì luôn luôn khoan hồng cho những kẻ có tội nhưng biết thành tâm ăn năn hối cải. Có lý vì họng súng Cách mạng cũng luôn luôn sẵn sàng bốc khói trước những kẻ ngoan cố không chịu học tập cải tạo, vẫn tiếp tục tìm đường chống phá Cách mạng, chống phá nhân dân. Hôm nay Cách mạng quy các anh về đây để cùng sống dưới một “mái trường”, tạo điều kiện tốt để các anh học tập lao động hầu trở nên người hữu ích, lương thiện; góp phần phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân xây dựng một xã hội mới độc lập, tự do, hạnh phúc, ấm no và giàu mạnh cho muôn đời con cháu mai sau. Trong tương lai gần đây, tuần tự từng bước các anh sẽ được hướng dẫn đi vào nhiều khâu khác nhau của một quá trình học tập cải tạo. Hôm nay là ngày mở đầu cho bước đường dài phấn đấu đó, nhiệm vụ và yêu cầu trước mắt là các anh phải chấp hành tốt những nội quy của trại đã đề ra. Các anh cũng cần phải nhớ tất cả những kết quả tốt sẽ nhất định giúp các anh sớm được về đoàn tụ với gia đình; ngược lại, những kẻ gây kết quả xấu không những cá nhân mình bị thiệt thòi mà gia đình của những kẻ đó cũng phải chia xẻ nhiều trách nhiệm trước chính quyền địa phương. Bây giờ mặt trời cũng đã đứng bóng, ban chỉ huy trại cho các anh về nghỉ để sửa soạn cơm trưa. Chiều nay các anh khối trưởng sẽ cho khối tập họp tại phòng vào lúc hai giờ. Các cán bộ quản giáo sẽ xuống hướng dẫn các anh sinh hoạt thảo luận những huấn thị mà tôi và đồng chí chính trị viên đã truyền đạt sáng nay. Đứng mấy tiếng đồng hồ bọn tù vừa khát vừa mệt. Và sau khi trải qua vài câu hô hoán, mọi người được lần lượt quay trở lại phòng. Trong bữa cơm trưa hôm ấy, câu nói được anh em xử dụng nhiều nhất là câu: Cầu chúc bạn được hưởng ơn mưa móc 5 bộ quần áo của nhà nước!
Nơi người ta sinh ra là sinh quán, còn gọi là nơi chôn nhau cắt rốn. Cái nhau nối từ người mẹ qua bào thai, để người mẹ nuôi bào thai trước khi em bé sinh ra. Khi bé sinh ra rồi, người ta phải cắt nhau cho em. Sau 5 ngày, cái nhau rụng đi, thường gọi là rụng rốn, trên mình em bé còn lại cái lỗ rốn. Phải 18 hay 21 năm sau, đứa bé mới được coi là người lớn.
Nơi ta sinh đó, thường là quê mẹ. Có khi người ta cũng coi nơi chôn nhau cắt rốn là quê mẹ, mặc dù có khi chưa hẳn chúng ta sinh ra ở ngay quê của mẹ mình.
Không chỉ ở loài vật, như heo ngựa, chó mèo… mới có cái rốn. Thực vật cũng có cái rốn. Cái hoa sau khi đậu trái, hoa teo lại thành cái rốn. Khi trái lớn dần, hoa rụng đi, cũng gọi là rụng rốn.
Bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến có câu
Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thì đi vắng, chợ thời xa. Ao sâu, nước cả, khôn chài cá; Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà chửa nụ; Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa. Đầu trò tiếp khách, trầu không có, Bác đến chơi đây, ta với ta.
Bầu vừa rụng rốn là bầu còn non, chưa nấu canh được.
Rốn là cái trung tâm của con người mà cũng là trung tâm của vũ trụ. Người nào tự thấy mình to lắm thì bị người khác, nói đùa hay nói mỉa là “cái rốn của vũ trụ”.
Rốn có nhiều loại: cạn sâu, và lồi; có khi lồi to bằng hột mít. Thật đấy, ca dao có câu:
Con gái Sơn Tây yếm thủng bằng dần
Rốn lồi quả mít, má hồng trôn niêu.
Cô tưởng cô ái ố mỹ miều
. . . . . . . . . .
Con gái như thế là không đẹp: Rốn to như hột mít, má đen như cái đít nồi. “Con gái Sơn Tây” là nói chung hay chỉ là một vài cô nào đó. Sơn Tây là quê hương của ông Kỳ, ông Viên và ông Quang Dũng nữa đấy. Vậy, người có đôi mắt đẹp trong thơ Quang Dũng “Đôi mắt người Sơn Tây, U uẩn chiều lưu lạc” có cái rốn như thế nào?
Theo Xuân Diệu, trong bài “Việt Nam Độc Lập”, con gái Bắc Ninh mới đẹp; “Cô gái Việt gánh gồng xin xinh, Đâu cũng là những cô gái Bắc Ninh.” Không những họ đẹp mà còn tài giỏi nữa đấy. Hình như “Ỷ Lan phu nhân” cũng là người Bắc Ninh.
Các sinh vật như người, trâu bò, heo chó đều có rốn. Con vật sinh trưởng từ trong cái trứng như gà vịt thì không có rốn.
Địa cầu cũng có rốn nữa đấy. Ông Tề, sau khi rời núi Hoa Quả, cần có vũ khí để theo thầy Tam Tạng tây du, ông liền lặn xuống đáy biển, bẻ cái rốn biển để làm cái thiết bảng.
Không phải chỉ có người có cái “rốn lồi quả mít” không bình thường, mắc cở mới muốn dấu cái rốn của mình đi. Đàn ông, con trai nước ta, làm việc đồng áng, lại ở xứ nóng, trên nắng dưới nước, nên thường “đánh trần trùng trục” cho mát mẻ, lại còn tiết kiệm vải vóc nữa. Vậy họ có để lộ cái rốn ra cũng là chuyện thường.
Đàn bà, con gái thì không được làm vậy, bao giờ họ cũng mặc áo để che ngực, che rốn, ngay cả khi “xuống tắm dưới khe” cũng vậy.
Đàn bà, con gái khi ra đường phải mặc áo dài. Trong Nam thì mặc áo bà ba. Ở nhà, người ta mặc áo cụt. Từ thập niên 1950, các cô đào ciné xuất hiện nhiều, với “3 vòng lý tưởng” thì cũng có cô, muốn khoe cái vòng số 2 của mình, nên cho cái vạt áo cụt ngắn lên chút đỉnh. Bình thường người ta không thấy gì, nhưng khi bỗng có cơn gió thổi lật cái vạt áo bay ngược lên, thì cái rốn cũng bày ra vậy. Nhưng đó chỉ là họa hoằn.
Thời đại bây giờ thì khác rồi. Cái rốn cần phải được bày ra. Cái áo, tự nhiên bị khoét ở giữa, ngay bụng, để cho thiên hạ “thấy cái rốn”. Khoe đùi, khoe rốn là cái “mốt” của nữ ca sĩ ngày nay. Cô nào còn trẻ, không chịu khoe đùi, khoe rốn, không biết có được ông bầu (dê) cho lên sân khấu không nhỉ?
Thật ra, khoe rốn là điều không cần thiết. Có người nói rốn sâu mới giàu, rốn bằng ngang là người nghèo. Sách tướng nào nói như thế là đoán mò. Người giàu, ăn no, bụng đầy mỡ, dĩ nhiên rốn phải sâu. Người nghèo khổ, bụng đói triền miên, lép kẹp, da bọc xương thì rốn sâu làm sao được?
Bởi vì ngày xưa đàn ông không cần phải che rốn cho nên không ít người ở trần, khi ở nhà. Còn như khi ra làng, không được để bày cái rốn ra, như thế là vô lễ, ngoại trừ những người “mục hạ vô nhân”.
“Mục hạ vô nhân” là chữ tướng Đôn phê phán anh em ông Ngô Đình Diệm. Rõ nhứt là “Cậu Cẩn”.
“Cậu Cẩn”, “Cậu Cố” (cố vấn chỉ đạo) “Cậu Út Trầu” (người ta tưởng ông là con út, ông hay ăn trầu), “Ông Cố vấn chỉ đạo” hay “lãnh chúa miền Trung” (như báo chí gọi), là người rất ưa ở trần, khi trời nóng. “Cậu” mặc quần lụa, ở trần, tay phe phẩy cái quạt, thỉnh thoảng xếp quạt lại, lấy quạt gải lưng.
Dù tiếp ông đại biểu chính phủ, ông tỉnh trưởng, ông bộ trưởng, thứ trưởng, ông tướng quân khu hay ông tướng từ Saigon ra, “Cậu” cũng cứ ở trần, đứng nói chuyện, không cần phải mời ngồi. Dĩ nhiên, ông nào cũng thấy cái rốn của “cậu” vì không ai mặc quần mà cái lưng quá rốn bao giờ.
Theo hai ông Lương Khải Minh (Trần Kim Tuyến) và Cao Vị Hoàng (Cao Thế Dung), trong cuốn “Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống”, chỉ khi nào tiếp ông Trí Quang, “cậu” mới mặc áo!
Tại sao?
Nhà ông Ngô Đình Khả, tuy theo đạo Gia tô, nhưng lại rất “Nho phong” theo kiểu Tống Nho, nghĩa là giữ chữ Trung, chữ Hiếu.
Chữ Trung thì phế bỏ ông Bảo Đại, chữ Hiếu thì trong nhà không có bàn thờ để thờ gia tiên. Thờ ông bà là thờ Ma. Trong nhà, đã thờ Chúa thì không được thờ Ma. Chúa không ở với Ma được, dù là “Ma Ông Bà”. Vậy nên anh em nhà họ Ngô, để giữ chữ Hiếu, bèn gởi thờ ông bà trên chùa Từ Đàm. Mỗi khi có kỵ giỗ, “cậu” nhờ Chùa lo cúng quảy giùm. Ông Trí Quang bấy giờ là Tổng Trị Sự trưởng Giáo hội Phât giáo, trú trì ở chùa Từ Đàm, lại cùng quê Quảng Bình với “cậu” nên những việc gì có liên hệ đến cúng quảy hay liên hệ đến Phật giáo, ông Trí Quang xin gặp “cậu” hay “cậu” gọi ông Trí Quang đến. Dù sao, “cậu” cũng là người biết lễ nghĩa, tôn trọng kẻ tu hành, nên “cậu” mặc áo đón ông Trí Quang là vì vậy. (1)
Ông Lê Xuân Nhuận, trong cuốn “Biến Loạn Miền Trung” có kể câu chuyện khá vui.
Một hôm, nhân dịp lễ lạt gì đó, vài ông tướng, vài ông bộ trưởng, từ Saigon ra “hầu cậu”. Cách nịnh của họ cũng bài bản lắm. Vào nhà “cậu”, họ sắp hàng ngang trước bức hình “Ngô Tổng Thống” và cùng cất tiếng đồng ca bài “suy tôn”, một tác phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Hiền: “Ai bao năm từng tranh đấu…” Mới hát chừng đó, bỗng “cậu” ló mặt ra khỏi cửa, nạt lớn: “Im! để mụ nghỉ” – Xưa, ở Huế, nhà quan, nhà giàu, gọi mẹ bằng mụ. –
Thế là tướng tá, tổng bộ trưởng IM RE!
Thật ra, những ông bộ trưởng thường phải gặp “cậu” là các ông Bộ Trưởng Nội Vụ, bởi chọn ai làm tỉnh trưởng, quận trưởng, nhất là ở miền Trung, Cao nguyên, phải “thỉnh ý” cậu. Trung ương bổ nhậm mà không “thỉnh ý cậu” thì có mà lảnh thẹo”.
Vì vậy các ông Bộ Trưởng Nội Vụ như ông Lâm Lễ Trinh, ông Bùi Văn Lương thường từ Saigon ra Huế “thỉnh ý cậu” hay “chầu cậu” thì cũng thế mà thôi.
Ông Lâm Lễ Trinh là người “cố cựu” của nhà Ngô. Khi ông Ngô Đình Thục làm hiệu trưởng trường Providence, sau nầy đổi tên Việt là Thiên Hựu, cho nhẹ bớt hình ảnh mấy ông cố đạo, đích thực như sách báo đã từng viết là “những tên thực dân mặc áo thầy tu” râu ria đen ngòm. Bấy giờ ông Lâm Lễ Trinh là học sinh trường nầy. Cái “cố cựu” chính là ở chỗ đó vậy.
Có phải cũng nhờ sự quen biết đó mà ông luật sư Lâm Lễ Trinh mặc áo Ủy viên Chính phủ ngồi xử “tội phản loạn” ông Ba Cụt. Sau đó thì tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, cũng như người miền Nam VN, không ai biết mộ chôn ông Ba Cụt ở đâu! Coi như mất xác luôn. Đó là cái “ác” của nhà Ngô. Còn như ông Lâm Lễ Trinh, tuy ngồi ghế xử tội ông Ba, nhưng có lẽ chẳng biết mô tê gì về việc ông Ba mất xác cũng không có gì “lạ” cả, giống như bây giờ Việt Cộng gọi là “tàu lạ” đó thôi!
Tuy nhiên, sau vụ án xử ông Ba, ông Lâm Lễ Trinh ngồi vào cái ghế Bộ trưởng Bộ Nội Vụ. Có phải đó là nhờ cái công khuyển mã như người ta đồn.
Dĩ nhiên, khi làm Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ, ông Lâm Lễ Trinh có ra Huế “chầu cậu” hay “thỉnh ý cậu” và cũng dĩ nhiên, ông ta cũng thấy cái lỗ rốn của “cậu”. Ông Lâm Lễ Trinh, đâu có phải là ông Trí Quang để cậu phải mặc áo mà tiếp ông ta.
Cần gì ba cái chuyện nhỏ đó. Thấy hay không thấy lỗ rốn “cậu”. Cái ghế Bộ Trưởng bộ Nội Vụ, không phải là cái danh lợi của ông Lâm Lễ Trinh hay sao? Miễn sao có danh có lợi là được rồi!
Không ít người cũng nghĩ rằng, có danh lợi là được rồi, quan trọng gì tới cái lỗ rốn.
Tôi thì nghĩ khác. Bây giờ, ông Lâm Lễ Trinh đang ở Thủy Gia Trang, có lẽ cơ ngơi nầy cũng đẹp, có phải từ danh lợi trước kia mà ra hay không? Tôi hỏi chừng như thế.
Nhưng đêm đêm, ông Lâm Lễ Trinh có nghe tiếng kêu, tiếng thét giận dữ của ông Ba Cụt, hay mơ thấy cái lỗ rốn của “Cậu Út Trầu” không nhỉ?
Hoanglonghai
Ghi chú:
Quan hệ của ông Trí Quang với “cậu” như thế, nhưng như người ta đồn, khi ông Cẩn làm đơn xin xóa án tử hình, đại tướng Nguyễn Khánh hỏi ý kiến ông Trí Quang, ông Trí Quang lắc đầu!
Tại sao thế?
Những ai dựa vào “thế lực ngoại bang”, Pháp, Mỹ, Nga, Tầu hay giáo hội chống lại dân tộc, thì phải nhớ tới cái chết của ông Ngô Đình Cẩn mà “giật mình” một chút!!!!
Tạc hữu trần sa hữu, Vi không nhất thiết không. Hữu, không như thuỷ nguyệt, Vật trước hữu không không?
Có thì có tự mảy may Không thì cả thế gian này cũng không Kìa xem bóng nguyệt lòng sông Ai hay không có, có không là gì?
Hữu Không Đạo Hạnh Thiền Sư (Đời Lý)
Ở Huế có một “danh từ” người Huế rất thường dùng mà các nơi khác không có. Đó là hai tiếng “Cậu Tôn”. Cậu Tôn, có người hiểu là các cậu “Tôn Thất”, tức là người thuộc dòng dõi vua nhà Nguyễn, mà cũng có nghĩa là “Vương Tôn Công Tử” hay gọi một cách kính cẩn là “bậc vương tôn công tử”.
Chinh Phụ Ngâm có câu:
Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ Chàng há từng học lũ vương tôn
Hai câu nầy là của chinh phụ, cứ tưởng có chồng rồi thì được một đời sum họp, yên lành, sung sướng. Ai ngờ bây giờ phải buồn rầu vì “cách trở nước non.”
Với Huế, tướng Nam, khi ông còn trẻ, chính hiệu là một “cậu tôn”.
Nguyễn Khoa là một họ lớn ở Huế, giống như họ Thân (Trọng), họ Hà (Thúc)… Có lần vua Tự Đức nói: “Thân, Thân, Hà, Hà thiên hạ vô gia; Hà, Hà, Thân, Thân, thiên hạ vô dân.” Có nghĩa thiên hạ mà cứ họ Thân, họ Hà hết thì làm quan hết, không còn ai là dân; ở nhà quan hết, không còn ở nhà dân.
Họ Thân, họ Hà, họ Nguyễn Khoa, họ Hoàng Trọng, Trương Như… là những họ lớn của Huế, “đông con cháu, làm quan to”. Tướng Nguyễn Khoa Nam thuộc họ Nguyễn Khoa là họ lớn. Mẹ ông là Công Tôn Nữ Mộc Cần, thuộc dòng Tuy Lý Vương, “nguyên súy Mạc Vân thi xã”, tức Miên Trinh, “Ông Hoàng Mười Một” (con trai thứ 11 của vua Minh Mạng, vua thứ hai nhà Nguyễn). Công Tôn Nữ Mộc Cần là chắt nội vua Minh Mạng – như vậy, tướng Nam là “chắt ngoại” của Ông Hoàng 11 (con gái vua là Công Chúa, cháu gái vua Công Nữ, xuống một “hệ” nữa là Công Tôn Nữ, Công Tằng Tôn Nữ, Công Huyền Tôn Nữ. Hàng dưới nữa và cuối cùng là Tôn Nữ.
Do đó, theo “Đế Hệ”, phía nữ, bà mẹ Tướng Nam là cháu (nội) Tuy Lý Vương. Ông là chắt (ngoại). Trong nhiều tài liệu, nói Tướng Nam “thuộc dòng Tuy Lý Vương” là vậy. Trong dòng nầy, còn có Giáo Sư Bửu Hội, Thủ Tướng Bửu Lộc cũng là chắt (nội) Tuy Lý Vương.
Cậu Tôn ở Huế, là nói về Tướng Nam khi còn trẻ. Ông là cựu học sinh trường Khải Định Huế, khi trường nầy có tên Tây là Lycée Khải Định. Ông đậu bằng Tú Tài 1 vào khoảng năm 1944 hay 45.
Khi Tây tái chiếm thành phố Huế, mỗi ngày lính Tây hành quân, lùng sục Huế và các làng chung quanh, đốt nhà dân, hãm hiếp phụ nữ, một số người không theo kháng chiến được, phải ra làm việc với Tây nhằm mục đích ngăn chận sự tàn ác, phá phách của lính Tây, trong đó ông Trần Văn Lý, quê ở làng Hưng Nhơn, Quảng Trị, nguyên là “tổng đốc Lâm/Đồng/Bình/ Ninh” (Lâm Viên/ Đồng Nai/ Bình Thuận/ Ninh Thuận) thời chính phủ Trần Trọng Kim, ra “hợp tác” với Tây, làm “Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Chánh Lâm Thời Trung Kỳ” (sau nầy là Thủ Hiến). Năm 1949, cựu hoàng Hoàng Bảo Đại trở về nước, lãnh đạo “Chính phủ Quốc Gia”. Một số cơ quan ở Huế và các tỉnh được Tây trao lại cho chính quyền Quốc Gia, v.v… Chính quyền Quốc Gia và Quân Đội Quốc Gia hình thành.
Nói lại hoàn cảnh lịch sử như thế để quí độc giả biết thêm một chút tại sao ông Nguyễn Khoa Nam “ra làm công chức” và nhập ngũ Khóa 3/ Thủ Đức.
Bấy giờ, ông Nguyễn Khoa Nam theo học một khóa “Hành Chánh Cao Cấp” (cùng khóa nầy có ông Bửu Viên, sau nầy là thứ trưởng Bộ Nội Vụ thời Đệ Nhị Cộng Hòa), được bổ nhiệm làm việc tại sở “Kho Bạc Huế”.
Phong cách của ông Nguyễn Khoa Nam bấy giờ (trước khi ông nhập ngũ năm 1953), đúng là một bậc “vương tôn công tử”. Kho Bạc Huế tọa lạc gần Nhà Hàng Morin, nhà hàng sang nhất và đắt nhất ở Huế thời bấy giờ. Buổi trưa, “cậu Tôn” Nguyễn Khoa Nam ăn trưa ở nhà hàng nầy, khi nào cũng có “bồi bàn” đứng hầu. Dáng bộ, tác phong “cậu tôn” lúc nào cũng chửng chạc, nghiêm nghị.
Thế rồi, ông có lệnh nhập ngũ. (Ông không tình nguyện) khóa 3 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khóa Đống Đa, khai giảng tháng 4/ 1953. Tốt nghiệp cùng năm đó, ông chọn (binh chủng) Nhảy Dù, tiếp tục con đường binh nghiệp với nhiều khóa học ở trong nước, ở Pháp rồi ở Hoa Kỳ, cùng nhiều chiến công, nhiều huy chương, thăng cấp tại mặt trận, v.v….
Tại sao ông nhập ngũ? Tại sao ông “đi nhảy dù”?
Đó là vài câu hỏi người ta suy nghĩ về ông! Khi ông nhập ngũ thì “các mệ” ở Huế cũng đã có người nhập ngũ rồi, nhập ngũ vì tinh thần, vì thất phu hữu trách, vì thù nhà, nợ nước, theo hoàn cảnh cũng từng người, cũng có kẻ coi việc “đi lính” như một nghề, một kế sinh nhai.
Cậu Tôn Nguyễn Khoa Nam không ở trong những trường hợp như thế. Cậu đang là một “công chức” trung cấp – chức trưởng phòng – có thể có “tương lai” – như ông Bửu Viên, nói ở trên. Ông theo lệnh gọi là vì gì? “Lệnh vua, hành quân, trống kêu dồn” như mọi người. Thất phu còn hữu trách nữa là.
Thuộc gia đình “hoàng phái”, vua chúa. Vua chúa, hoàng tộc cũng chống Pháp, như Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân hay những người từng “theo phò” các ông vua nầy khi họ bị lưu đày. Nhưng họ không thể theo Cộng Sản. Con đường không thể theo Cộng Sản ấy, hàng quan lại, hoàng tộc nhà Nguyễn, cả người Huế nữa, và nhiều người khác nữa, từng biết, từng có kinh nghiệm từ trước 1945.
Bấy giờ, những người không theo kháng chiến, không thể theo kháng chiến, những “người Quốc Gia” đã có chính nghĩa: Vua Bao Đại đã “hồi loan”, đã làm Quốc Trưởng, lãnh đạo chính quyền Quốc Gia, vừa chống Cộng Sản độc tài, vừa đấu tranh với Pháp để giành độc lập. Con đường đấu tranh với Pháp nầy, không dùng vũ lực như Việt Cọng, là không sai, bởi vì đó là con đường nối dài “Pháp Việt đề huề” của Phan Chu Trinh ngày trước. Đó cũng là con đường chống Pháp bất bạo động – “bạo động là chết” – như cụ Phan nói – của Phan Bội Châu. Không phải cụ Phan sợ chết, nhưng cụ thấy không cần phải tốn hao xương máu. Người Pháp, dù ngoan cố, cũng phải trả lại độc lập cho Việt Nam, trong một tình hình “giải thực” hiện nay trên toàn thế giới.
Cậu Tôn Nguyễn Khoa Nam trong tình trạng đất nước như thế, “cậu” nhập ngũ! Đâu có phải cậu đi lính Tây như thầy Đội Khố Đỏ Nguyễn Ngọc Lễ (sau nầy là trung tướng) hay thầy Đội Khố Xanh Đỗ Mậu (sau nầy là thiếu tướng kiêm phó thủ tướng đặc trách văn hóa) hay Đội Thông Ngôn Nguyễn Chánh Thi (sau nầy là trung tướng tư lệnh quân đoàn I/ quân khu I).
Ngoài “lệnh vua”, ông là người noi gương Trần Quốc Toản. Hoài Vân Hầu Trần Quốc Toản là cháu nội vua Trần Thái Tông. Tháng 10/ 1282, vua Trần Nhân Tông họp “hội nghị Bình Than” cùng các tôn thích và các quan bàn việc chống quân Mông Cổ xâm lược nước ta. Sách “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” chép:
“Vua thấy Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Hoài Nhân Vương Kiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn. Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẫn khích, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết.
Sau đó Quốc Toản lui về, huy động hơn nghìn gia nô và người nhà thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ: “Phá cường địch, báo hoàng ân”. (phá giặc mạnh, báo ơn vua). Sau này, khi đối trận với giặc, tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám chống lại.
Nếu giống như những người khác, thuộc dòng dõi vua quan, nhiều thế lực, ông Nguyễn Khoa Nam tuy vào lính nhưng cũng có thể kiếm được một “chỗ ngồi ấm thân”, “văn phòng”, khỏi xông pha trận mạc gian khổ, “đánh giặc mồm hơn xiết cò súng”, “có chữ thọ to tướng” thì ông lại xin “đi lính nhảy dù” – ông đi dù suốt một thời gian rất dài, từ thiếu úy – khi tốt nghiệp, – lên tới đại tá – bao giờ cũng là một người lính chiến đấu. Có phải ông mang trong lòng cái ý chí “phá cường địch” như Trần Quốc Toản ngày xưa? Cũng trong ý nghĩa đó, vì muốn “báo hoàng ân” mà ông nhập ngũ với một thái độ bình thản, không ngại ngùng vì ông là một “hoàng tôn”??
Quả thật Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là hình ảnh của Hoài Văn Hầu của thời đại chúng ta.
Việc ông Diệm không lấy vợ làm cho người bàn tán không ít, nhất là với người Huế. Cụ Võ Úy, xưa làm tri phủ Điện Bàn, bạn đồng liêu với ông Ngô Đình Khôi, thường nói đùa với các con: “Chú Diệm bây không cu.” Ông Văn Bia, một người từng hầu cận ông Ngô Đình Diệm khi ông Diệm ở Saigon, khoảng trước năm 1954, từng tò mò “coi lén” ông Diệm khi đi tiểu tiện thì nói rằng ông Diệm cũng “bình thường” như mọi người. Việc ông Diệm không lấy vợ là vì ông muốn để toàn tâm toàn ý cho việc giành độc lập, xây dựng đất nước, làm cho “dân giàu nước mạnh”. Ngoài Bắc, Cộng Sản cũng tuyên truyền như thế với “bác” Hồ của họ, nhưng tới bây giờ, bí mật bị bật mí thì Hồ Chí Minh vợ con tùm lum; thậm chí ông còn ngủ cả với “Cháu Ngoan Bác Hồ” Nông Thị Xuân nên Xuân đẻ ra Hồ Chí Trung. Tính thử coi, khoảng năm 1945, 46 khi “cụ” Hồ cầm quyền chính phủ, “cụ” khoảng 55, 56 tuổi thì Thị Xuân mới 10 tuổi, là “cháu của cụ” chớ gì!
Tướng Nam cũng là người không có vợ nhưng không nghe ai nói ông “không cu” như cụ Diệm. Ở lính, đời sống tập thể, người “không cu” mà giấu ai được. Người ta nói khi làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 đóng ở Mỹ Tho, tướng Nam cũng có một “cô nường” nào đó ở Saigon thường xuống thăm ông. Bà nầy là dược sĩ, có người nói là giáo sư trường Dược. Sao họ không lấy nhau? Không làm đám cưới “cho vui”.
Tướng Nam nghĩ gì? “Chinh chiến kỷ nhân hồi” như xưa nay trong lịch sử nước ta cũng như lịch sử nhân loại. Nếu Tướng Nam biết mình “học lũ vương tôn” thì ông cũng sợ cho người ông kết hôn thành “ra người chinh phụ”. Chương trình tiếng Việt thời Pháp thuộc học rất ít về văn chương Việt Nam, nhưng có lẽ thuộc dòng dõi Tuy Lý Vương, người từng làm “nguyên súy” Mạc Vân Thi Xã nên Tướng Nam có đọc hay có học Chinh Phụ Ngâm từ khi ông còn trẻ hay chăng? Một người như thế, lòng thương người như thế, lòng cao thượng như thế, sự hy sinh của ông là lớn lắm.
Nói về chuyện tôn giáo, làm tướng như ông cũng có nhiều điều đặc biệt. Không rõ những nơi làm việc khác của ông như thế nào, nhưng ngay tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV có bàn thờ Phật.
Đêm 30 tháng Tư/ 1975, (trong câu chuyện do) trung úy Trần Ngọc Danh, tùy viên của Tướng Nam thuật lại, nếu lưu ý, người ta thấy Tướng Nam thắp hương và đánh 3 tiếng chuông trên bàn thờ Phật hai lần: Một lần đầu hôm khi ông đi thăm thương/ bệnh binh ở bệnh viện Phan Thanh Giản về, và một lần nữa khi gần sáng ngày 1 tháng 5, trước khi ông tự tử. Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Hai, nguyên bạn học cũ với Tướng Nam khi họ học chung với nhau ở trường Khải Định, nguyên Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Huế, em rể Tướng Nam (rể cụ Ưng Thiều), Tướng Nam là người “trì chú” kinh Thủ Lăng Nghiêm.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, theo tôi hiểu một cách sơ lược – tôi không phải là một Phật tử thuần thành – tôi “theo Phật” như một truyền thống của dân tộc – là kinh chuyên về chữ “tâm”, tâm là lòng, là tình thương, nói theo nhà Phật là “Từ Bi”. Từ chữ “tâm” mà nhìn vào cuộc đời Tướng Nam, người ta phải nhận rằng, ông là một người lính, một sĩ quan, một ông Tướng có chữ “tâm” rất lớn. Vì vậy, tuy phải mang súng hằng ngày, ra lệnh hành quân hằng ngày, hô quân tiến lên, tấn công vào vị trí địch, vào mục tiêu mà không ưa sự chém giết, không muốn giết người.
Đây là một tấm lòng rất hiếm trong hàng tướng lãnh, bởi một lẽ rất dễ hiểu, họ không có “hận thù” – không như trong hàng ngũ Cộng Sản – “Nhắm vào kẻ thù mà bắn – Lê Mã Lương – “Giết! Giết nữa, bàn tay không ngừng nghỉ” như Tố Hữu và khát máu “Nhất tướng công thành vạn cốt khô!”
Kutuzov, một tướng lãnh của Nga Hoàng, cũng là người làm tướng có cái tâm như thế nên không ưa sự chém giết. Năm 1812, thất bại trước “Đại Tướng Mùa Đông”, Napoleon rút chạy khỏi lãnh thổ nước Nga. Kutuzov chỉ cho quân Nga đuổi theo “cầm chừng”. Ông thấy quân Pháp bại trận hốt hoảng rút chạy nhanh ra khỏi lãnh thổ nước ông: Thế là được rồi. Nếu truy đuổi, quân Pháp chết chóc nhiều hơn, thì quân Nga cũng hao mà thành công cũng chỉ thế. Tạo thêm cảnh chết chóc để làm gì. Đoạn sau đây, tôi trích lại trong “Chiến Tranh và Hòa Bình” của Leo Tolstoy:
Tất cả các hành động của ông – không hề có một trường hợp ngoại lệ nào dù nhỏ nhặt đến đâu – đều nhằm vào một mục đích duy nhất gồm ba điểm:
1. Huy động hết lực lượng để đường đầu với quân Pháp. 2. Chiến thắng quân Pháp. 3. Đuổi chúng ra khỏi nước Nga, đồng thời, trong chừng mực có thể, giảm nhẹ những nỗi điêu đứng của nhân dân và quân đội.
Với tâm niệm như thế, ông Tướng Kutuzov nói với lính của ông:
“Anh em ạ. Tôi biết các anh em khổ lắm, nhưng biết làm thế nào được? Cố kiên nhẫn một chút: chẳng còn lâu nữa đâu. Khi nào tiễn hết các ông khách ta sẽ nghỉ ngơi cho bõ. Sa Hoàng sẽ không quên công lao của anh em. Anh em khổ thật, nhưng dù sao anh em cũng đang ở trên đất nhà, chứ như bọn chúng – anh em xem nông nỗi chúng nó đến thế nào, – ông chỉ đám tù binh nói – Còn tệ hơn lũ ăn mày cùng khốn nhất. Khi chúng còn mạnh, chúng ta không thương xót gì chúng hết, còn bây giờ thì có thể thương hại chúng. Chúng cũng là người. Có phải thế không anh em? Nhưng nói cho phải, ai khiến chúng đến đất chúng ta? Đáng đời quân chó đẻ, đ. mẹ chúng nó! – ông bỗng ngẩng đầu lên sau khi nói xong.”
Tôi từng phục vụ trong Quân Đội VNCH, từng đánh nhau với Việt Cộng, từng bị “tù cải tạo”, từng đọc “Chủ Nghĩa Mác” và “học 10 bài” khi ở trong tù, tôi biết chắc người Cộng Sản không có cái “tâm” như thế!
Ngược lại, các ông tướng VNCH, dù theo tôn giáo nào, cũng có một tấm lòng thương lính, thương dân rất lớn.
Lời người xưa còn vẳng bên tai. Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng. Tướng lãnh thua trận, không thể nói mạnh. Bây giờ là tháng tư, 30 năm sau ngồi đây mà đổ tội cho ai. Nhất tướng công thành, vạn cốt khô. Mà công thành, có thành công cho cam. Tôi không hỏi và ông cũng chẳng nói. Tôi đưa cả hai tay cho ông nắm thật chặt. Hình như có một lời ca từ 50 năm trước trong bài Tình Lính: Thương nhau, tay nắm lấy bàn tay; Ông nắm thật chặt và Ông bắt đầu giảng cho tôi về Thiền Tông và Phật Pháp. Chẳng có thu thanh, thu hình phỏng vấn gì cả.
Hai mươi năm chinh chiến điêu linh và ba mươi năm lưu lạc tù đầy của cả đạo quân nay bỏ qua một bên để ngồi bàn về đường đi của Phật. Trước khi chia tay, tôi ngỏ lời xin đại tướng một di vật cho viện Bảo tàng. Ông nói: Tôi có còn gì đâu. Bèn hỏi rằng hôm niên trưởng ra đi đem theo cái gì. Ông cho biết có cầm cái cặp. Bên trong có cuốn sách viết về đạo Phật. Tôi xin ông cuốn sách đó, có bút tự ghi dấu của đại tướng.
Người làm tướng Cộng Sản không có được cái tâm như thế! Tại sao? Tại tôi định kiến hay chủ quan? Không phải vậy! Tại chủ nghĩa đấy, tại văn hóa đấy. Nó khác với chủ nghĩa và văn hóa của chúng ta. Chúng ta không có chủ nghĩa Cộng Sản nên không có thù hận: thù hận giai cấp, thù hận giàu nghèo, thù hận “trí phú địa hào…” Bởi vì có thù hận nên Stalin đã giết hàng triệu người Nga. Mao cũng thế thôi. Ở nước ta, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẫn có khác chi không?! Không khác được. Các ông tướng Việt Cộng ở chiến trường Miền Nam, trong việc “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” cũng không làm khác đi được. Nếu họ làm khác đi thì làm sao có vụ “tàn sát Tết Mậu Thân ở Huế”. Đó là cảnh trước mắt. Còn những cảnh khuất mắt xảy ra trong các buôn trên rừng, trong các xóm nhà tranh vách lá ở những miền đất xa xôi thì ai thấy. Chỉ có những người lính từng tham gia những trận đánh đó, mới tận mắt chứng kiến thảm cảnh của người dân vô tội, mới thấy, mới hiểu rõ hơn rằng “Việt Cộng tàn ác như thế nào!”
Tại sao người Cộng Sản tàn ác như thế? Bởi vì văn hóa của họ là “văn hóa vô sản”. Văn hóa vô sản ở nước ta là văn hóa của người cùng đinh, của người “ngoài xã hội” dù thành thị hay thôn quê, “ngoài sinh hoạt của làng”, ngoài phong tục tập quán của làng, ngoài văn hóa làng xã. Văn hóa của họ là văn hóa Chí Phèo, Thị Nở. Họ không theo “phép vua”, cũng không theo “lệ làng”, họ theo Cộng Sản, theo đấu tranh giai cấp và theo “Cải cách ruộng đất”. Như thế, họ mới có… quyền lợi.
Họ theo chủ nghĩa Cộng Sản! Chủ nghĩa Mác là Chủ nghĩa Cách mạng triệt để. Thế nào gọi là “triệt để”? Trong việc chiến đấu giữa hai bên, “ta và địch” thì khi chiến thắng phải là“chiến thắng triệt để, đạt tới mức cao nhất”, có nghĩa là ta phải thắng lợi hoàn toàn, tối đa, đạt tới đỉnh cao nhất. Còn phía địch? Địch cũng phải thất bại tối đa, thất bại hoàn toàn, sức mạnh của địch bị tiêu diệt hoàn toàn, địch phải quì xuống, van lạy, cầu khẩn mới được “cách mạng tha tội chết”. (3)Vì vậy, trong sự chiến thắng của Cộng Sản, ta, phía bại trận thì còn lại được gì, còn cái mạng sống là may mắn lắm rồi.
Theo hồi ký của trung úy Trần Ngọc Danh, tùy viên của Tướng Nam, ông Danh thấy ông Tướng “rơi nước mắt” hai lần:
Lần thứ nhất, chiều ngày 30 tháng Tư, sau khi có lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh, Tướng Năm đi thăm thương, bệnh binh ở Quân Y viện Phan Thanh Giản (Cần Thơ):
“Tư Lệnh đi từ đầu phòng đến cuối phòng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi ông đi qua dãy kế bên và tiếp tục. Hơn một giờ nặng nề và buồn bã chầm chậm trôi qua. Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu còn rịn ra lóm đỏ cuối phần chân đã mất. Tư Lệnh đứng sát bên và hỏi:
Vết thương của em đã lành chưa? Thưa Thiếu tướng, vết thương mới mấy ngày còn ra máu, chưa lành.
Với nét mặt buồn rầu, Tư Lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Ông chưa kịp nói, anh thương binh này bất chợt chụp tay ông mếu máo:
Thiếu tường đừng bỏ tụi em nghe Thiếu Tướng!
Qua không bỏ các em đâu. Qua ở lại với các em.
Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư Lệnh đưa tay sửa cặp mắt kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy dài trên khuôn mặt đau thương của ông. Tư lệnh cố nén xúc động nhưng người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư Lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:
Em cố gắng điều trị… có qua ở đây…”
Lần thứ hai, khi ông đứng trên sân thượng Bộ Tư Lệnh, nhìn cảnh quê hương, đất nước một lần cuối cùng:
“Tôi linh tính có điều gì sẽ xảy ra. Tư lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư lệnh ra sân thượng đứng sát bên lan can, mắt nhìn ra lộ Hòa Bình trước cửa dinh, tôi đứng phía tay phải Tư Lệnh, anh Việt đứng bên trái.
Vài xe qua lại trên lộ, người đi lại thưa thớt vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt Thiếu Tướng bật khóc. Dù cố nén để tiếng khóc không bật thành tiếng, nhưng những giọt nước mắt cứ cuộn tròn chảy dài trên khuôn mặt đau buồn của Tư Lệnh trước cảnh nước mất nhà tan.
Tôi và anh Việt cũng khóc theo, không còn kềm hãm nữa cứ để cho những dòng lệ tự do chảy…”
&
Cuối tháng Tư/ 1975, tôi đang phục vụ ở Quân Khu IV, khu 42 Chiến thuật. Ngày 29 tháng Tư, qua hệ thống truyền tin của Quân Đội, lệnh Tướng Nam là phải giữ vững vị trí, không được “tự ý di tản”, nôm na là không được bỏ chạy. Quân Khu IV còn đủ “sức chơi” với Việt Cộng ít nhứt là 3 tháng nữa, sẵn sàng đón “chính phủ” từ Saigon về. Sông Bến Lức sẽ là phòng tuyến chặn địch. (4)
Thế mà sáng ngày 1 tháng 5 khi tôi về tới Cần Thơ thì binh sĩ và dân chúng ở đây xôn xao vì tin Tướng Nam mới tự tử sáng hôm đó. Tại sao ông Tướng tự tử. “Mình còn đủ sức chơi lại tụi nó mà!” Người ta hỏi nhau như thế.
Mãi lâu về sau, tôi dần dà tìm hiểu: À! Ông Tướng nhìn vấn đề theo lăng kính của ông, đâu có “hăng máu” như tôi nghĩ cạn! Quyền hạn càng to thì trách nhiệm càng lớn. Hành động của ông có hậu quả lớn nhỏ là do ở quyền hạn ấy: Nếu tiếp tục đánh nhau ba tháng nữa, đánh trong tuyệt vọng vì súng còn ít đạn, xe tăng, máy bay không còn xăng, không thắng được chúng, binh lính sẽ chết thêm, dân chúng thêm điêu linh. Vùng IV có ba sư đoàn chính qui, hai liên đoàn Biệt Động Quân, 16 tiểu khu với các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ… và dân chúng. Hậu quả hành động của ông lớn lắm, bởi vì ông đâu chỉ là tư lệnh một sư đoàn, một khu chiến thuật. Ông chỉ huy một quân khu, 16 tỉnh, dân đông, trù phú. Một mệnh lệnh ông đưa ra, hậu quả lớn như thế nào… đối với tất cả binh lính, dân chúng trong vùng trách nhiệm của ông. Bao nhiêu sinh mạng binh lính, bao nhiêu sinh linh trong tay Tướng Nam. Ông chọn con đường nào! Con đường nào ngoài con đường ông tự sát để cứu lính của ông, cứu đồng bào của ông. Một mình ông nằm xuống, bao nhiêu người được sống!
&
Trưa ngày 30 tháng Tư, Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng. Tổng ThốngVNCH là “Tổng Tư Lệnh Tối Cao” Quân Đội. Tổng Thốngra lênh đầu hàng. Là một người lính nghiêm chỉnh thi hành “Quân Phong Quân Kỷ”, Tướng Nam biết ông phải làm gì.
Tác giả Lê Chu thuật lại trong hồi ký của ông:
“Tướng Nam trở lại phòng họp, nét mặt ông lộ vẻ buồn, rất buồn. Giọng nói còn xúc động, ông nói với chúng tôi: “Chúng ta là quân nhân. Quân nhân phải thi hành lệnh thượng cấp. Nay Tổng Thốngra lệnh ngưng chiến đấu, ở vị trí tại chỗ, chờ bàn giao. Thôi chào anh em và anh em trở về đơn vị.” Ông lại nói tiếp: “Tôi không chủ trương ra đi. Với cương vị của tôi, ra đi lúc nào cũng được, nhưng nghĩ đến anh em chiến sĩ ngoài mặt trận, gia đình vợ con binh sĩ và đồng bào nên tôi không ra đi.”
Vậy mà ông vẫn bình tĩnh, vẫn hòa nhã, như bản tính của ông vậy. Chiều 30 tháng Tư, hai tên Việt Cộng không mang súng, xin gặp ông. Tướng Nam đón ở phòng khách Bộ Tư Lệnh. Ông nói gì mà hai tên Việt Cộng lặng lẽ ra về. Nửa khuya hôm đó, bốn tên Việt Cộng khác lại xin gặp ông. Chúng có mang theo vũ khí. Một tên súng lên đạn sẵn, có thể bắt ông, bắn ông bất cứ lúc nào. Ông cũng tiếp chúng ại phòng khách như tiếp hai tên trước. Ông nói gì với chúng, khiến chúng cũng lặng lẽ ra về.
Trước tình thế tuyệt vọng như thế, ông vẫn “đàng hoàng”. Kẻ chiến thắng đứng trước mặt ông, không dám nói một lời dữ dằn, kiêu ngạo, không dám có thái độ hung hãn. Nói theo sách tướng, ông có cái gì mà kẻ thù đang ở trong cái thế chiến thắng mà phải kiêng dè.
Ông qua đời rồi, bác sĩ Hoàng Như Tùng lo việc an táng ông ở “Nghĩa Trang Quân Đội” ở Cần Thơ.
Tôi chưa từng “trình diện” Tướng Nam bao giờ. Chỉ nhớ một lần, đầu năm 1975, khi tôi lái xe từ Hà Tiên về Rạch Giá thì gặp xe ông đi ngược chiều ở xã Mỹ Lâm, xã nổi tiếng Việt Cộng, là “xã quê hương” của Nguyễn Tấn Dũng. Tôi cầm “vô-lăng”, tà lọt ngồi bên cạnh, băng sau còn thêm hai “ngoe” nữa. Xe ông qua rồi, tôi mới thấy một ông “mang hai sao” ngồi ghế trưởng xa. “Băng” sau chỉ có một “tà-lọt” hay hiệu thính viên truyền tin. Thấy ông tướng, tôi hơi giựt e, hỏi trung sĩ Thành bên cạnh:
– “Ông Tướng nào mà gan cùng mình, đi lang thang vậy mày?” Thành nói: “Chắc là ông Tướng Quân Khu!” Tôi nói đùa: “Gặp ông Tướng Quân Khu mà không chào, coi như hai bên… ngang nhau.”
Các sĩ quan phục vụ quân đội gần ông, biết rõ ông Tướng nhiều hơn. Tôi xin trích một đoạn sau đây của Lê Chu:
“Shakespeare, qua các nhân vật của một vở kịch, có viết rằng, mỗi người xuất hiện trên sân khấu một lần, diễn xuất một cách vụng về rồi biến mất. Điều này có thể đúng với tôi, với nhiều người khác nhưng không đúng với Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam. Ông không diễn xuất vụng về, trái lại, ông diễn xuất rất đạt, rất thành công. Ông không biến mất – Ông vẫn trường tồn. Ông được nhiều người ca tụng là anh hùng. Theo tôi, ông có những cái gì khác hơn anh hùng. Anh hùng dựa vào dân tộc, dựa vào lịch sử mà trường tồn, được xem như người chiến thắng, được bỏ qua những lổi lầm. Còn ở ông còn toát ra những gì thanh cao, khí tiết. Ông là kết tụ của tinh thần bất khuất Trần Bình Trọng, Nguyễn Biểu – ninh thọ tử bất ninh thọ nhục – thà chết chứ không chịu nhục. Ông là tiếp nối của truyền thống hào hùng tiết tháo của Võ Tánh, Hoàng Diệu – tướng chết theo thành. Cái chết của ông thật lặng lẽ, âm thầm và cô đơn nhưng lại chuyển vào mạch sống của dân tộc. Ông đã để lại cho lịch sử khúc ca chính khí.
Hôm tôi về VN, nói chuyện với người bạn còn ở Saigon, người bạn nói, bà Chị của Tướng Nam đã bốc mộ cho ông và đem về thờ ở chùa Quảng Hương Già Lam ở đường Lê Quang Định (cũ) gia Định. Trong nước, cũng có người đến thăm nhưng không nhiều, còn ở hải ngoại về mà ghé thăm thì rất ít.
Tôi nói: “Hoàn cảnh nầy, dù ba bốn mươi năm rồi, Cộng Sản còn xoen xoét cái mồm: “Thống nhất đất nước”, “chiến thắng vẻ vang”, “đảng vinh quang” thì việc thăm mộ những người chế độ cũ không dễ đâu. Công An còn theo dõi dữ lắm. Nhưng tinh thần thì còn đó, chưa chết đâu. Hôm đám ma Đại Tá Nguyễn Văn Đông, khi xe tang đi ngang, bỗng một số cựu quân nhân đua tay chào theo kiểu nhà binh, khiến người xem xúc động dữ! Tui cũng vậy.
Đó là những tình cảm chân thật, thương yêu kính trọng chân thật. Những người “chế độ cũ”, có ai vào chùa Quảng Hương để viếng tro cốt của Tướng Nam, đứng nghiêm và đưa tay chào ôngTướng, mắt nhìn vào hình ông, đó cũng là tình cảm chân thật.
Những người đến Lái Thiêu ngày 1- tháng 11 mỗi năm để tưởng niệm anh em Cố Tổng ThốngNgô Đình Diệm, cũng có không ít người có long thương kính chân thật. Bên cạnh đó, không biết có ai vì những tham vọng riêng tư, mượn cái những cái chết đó để mưu đồ cho mình, cho đạo của mình, giành lại những cái vô nghĩa mà tưởng nó có nghĩa thật. Đời bao giờ cũng có những kẻ lòng dạ không ngay làm xấu đi những cái hay của cuộc đời.
&
– “Mấy ngôi chùa mà Việt Cộng cho là phản động” – người bạn tôi nói – “Công An thiếu chi. Chúng còn giả dạng thầy chùa nữa. Ông có muốn đi thăm Tướng Nam thì phải dè dặt đấy.”
Tôi nói: – “Sống với Việt Cộng thì phải chọn một trong hai con đường: “Phải biết “hèn” như Nguyễn Tuân để sống còn. Hai là phải chê Khổng Tử như Hữu Loan từng chê“Cả đời đục ta trong làm sao được!” Khuất Nguyên lại bảo:
Sông Tương nước chảy trong veo, Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta! Sông Tương nước đục chảy ra Thì ta xuống đó để mà rửa chân!
– “Ông” nói kỳ.” Người bạn trách tôi: “Ở một cái xã hội không có công lý thì người ta mới phải chọn Khổng Tử hay Khuất Nguyên để mà sống. Ở Mỹ có cần phải vậy không? “Ông” liều mạng sống đi tìm công lý, dù có chết cũng tìm cái chết trong công lý. Còn nếu như xã hội Mỹ cũng như xã hội Việt Nam thì người ta đi đâu để làm gì?
hoanglonghai
TIẾC THƯƠNG TƯỚNG QUÂN NGUYỄN KHOA NAM
Vận nước nổi trôi đến bước cùng Tướng Quân thà chết với non sông Tang bồng xếp lại hoa dù đỏ Khí tiết vang theo tiếng súng đồng Núi Ngự xót thương cây rủ lá Sông Hương tiếc nhớ nước khô dòng Nghiêng mình kính cẩn trang trung liệt Gương sáng muôn đời sóng Cửu Long..!!
Bãi đậu xe khu công nghiệp Waterglade ở Grays phía Đông thủ đô London nước Anh, lúc 1giờ 40 phút sáng, ngày 23, tháng Mười, năm 2019, các nhân viên cấp cứu đã tìm thấy thi thể của 31 người đàn ông và 8 phụ nữ trong một ‘container’ dùng để chở hàng đông lạnh. Khi mở cửa ‘container’, nhiệt độ xuống đến trừ 25 độ C, nhân viên cấp cứu thấy ‘hàng chục xác người nằm chồng chất lên nhau’. Những người bị nhốt trong container, có thể đã đập tay dữ dội vào cánh cửa muốn được thoát ra đã để lại những dấu tay đẫm máu. Cảnh sát Anh được gọi tới để mở cuộc điều tra. Thi thể 39 người xấu số nầy được chuyển tới Broomfield Hospital ở Chelmsford để khám nghiệm hậu tử, xác định nhân thân và tìm ra nguyên nhân chết trong cái thảm kịch đã làm cả thế giới rúng động suốt cả tuần nay. Cảnh sát Anh cho biết tiến trình nầy phải mất khá nhiều thời gian nhưng rất quan trọng. Nhằm bảo vệ danh dự của các nạn nhân và tôn trọng nỗi buồn đau của thân nhân những người đã khuất. Viên tài xế đầu xe kéo, chỉ mới 25 tuổi, và 3 người nữa ở Bắc Ái Nhĩ Lan, đã bị Cảnh sát thẩm vấn, sau đó được tại ngoại hầu tra, chờ ra Tòa về 39 tội ngộ sát và tội buôn người.
***
Thủ tướng Anh, Boris Johnson, gọi đây là “thảm kịch kinh hoàng”. Và Amos Kyahurwa, 40 tuổi, người đã bị bức hại về giới tính thứ ba, đã trốn khỏi đất nước Uganda của mình, vượt bao khó khăn bằng cách trốn trong thùng xe đông lạnh may mắn vào được nước Anh để xin tị nạn. “Khi nghe tin, tôi đã khóc khi nghĩ về những người đã thiệt mạng!” Ngay ngày hôm sau, người dân Anh chắp tay cầu nguyện dưới ánh nến lung linh để tưởng niệm. Họ mang những bó hoa, những tấm thiệp ghi lời chia buồn gửi tới gia đình những người xấu số. Và kêu gọi đừng đổ lỗi cho những người tầm trú. Trước những cái chết thương tâm nầy, họ không có lỗi gì cả. Vì ai cũng trân quý một đời để sống, có quyền được chọn cách sống thế nào, và sống ở đâu; nên đừng phán xét, ngưng trách móc hoặc dạy bảo những người đã khuất tại sao không như làm thế này hoặc làm như thế kia!
***
Câu hỏi đặt ra là: “Tại sao nước Anh lại là miền đất hứa của những mảmh đời phiêu bạt?” Có lẽ vì dân Anh tôn trọng sự riêng tư, ít chỏ mũi vào đời tư của người khác, cư xử bao dung với người nhập cư, ít khi mật báo với Cảnh sát để bắt họ. Dân Anh (cũng như dân Úc) không có căn cước, chỉ cần có bằng lái xe xài trong nước; ra nước ngoài mới cần đến sổ thông hành! Và luật pháp nước Anh không buộc người dân phải mang bất kỳ giấy tờ tùy thân nào khi ra đường; nên sống bất hợp pháp cũng không phập phồng lo lắng như những nước khác thuộc khối Liên Âu. Thường thường thì người tị nạn, người nhập cư, từ khắp nơi trên thế giới bằng nhiều cách khác nhau, đến những bãi xe hàng ở thành phố cảng Calais, nước Pháp, đầu bên này của đường hầm xuyên qua eo biển Manche, nối liền Anh với đại lục Châu Âu. Nơi đó, họ sống lay lắt, tạm bợ trong những lều lán trong rừng để chờ cơ hội vượt biên vào Anh. Đêm xuống, từng tốp người lẻn vào, tìm các chuyến xe sẽ sang Anh, rạch bạt chui vào nằm im lẫn giữa hàng hoá; hoặc cắt kẹp chì chui vào những thùng ‘container’. Nếu có tiền trả cho tài xế và may mắn vượt qua trạm kiểm soát biên giới, sang đến đất Anh, tài xế sẽ dừng ở một cây xăng hay một trạm nghỉ chân nào đó cho hành khách xuống. Mỗi ngày có hàng trăm ngàn ‘container’, nước Anh không thể đủ nguồn lực để kiểm tra tất cả. Cho dù dùng công nghệ tiên tiến để phát hiện khí CO2 do con người thở ra hay dùng cảnh khuyển để đánh hơi người.
***
Khi mở chiếc ‘container’ tử thần, cái quan tài di động kia ra, Cảnh sát và giới truyền thông Anh quốc căn vào tóc đen, da vàng mà tạm thời nhận định các nạn nhân (không có một mẫu giấy tùy thân) là người Trung quốc! Vì hình ảnh kinh hoàng đó gợi nhớ cái thảm kịch tương tự đã xảy ra vào ngày 18, tháng Sáu, năm 2000 tại hải cảng Dover làm chết 54 người đàn ông và 4 phụ nữ! Phóng viên của CNN hỏi: “Tại sao Trung quốc, một đất nước có nền kinh tế hung mạnh đứng hạng nhì, chỉ sau nước Mỹ, mà người dân lại tiếp tục bỏ nước trốn ra đi?” Thì thay vì phân tích câu hỏi để trả lời một cách thuyết phục công luận thế giới, phát ngôn viên Hoa Xuân Oánh của Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại nói: phóng viên của hãng truyền thông CNN kiếm chuyện. Tờ Hoàn Cầu Thời Báo của nhà nước CS Trung Quốc nhảy vô, đổ lỗi: nước Anh phải chịu phần nào trách nhiệm về những cái chết này! Tàu cộng, theo truyền thống xưa giờ, là chối bỏ ngay cái trách nhiệm của chính mình!
***
Việc xác định nhân thân của 39 người xấu số nầy vẫn phải chờ Cảnh sát nước Anh chánh thức công bố. Tuy nhiên một số làng quê ở Nghệ An và Hà Tỉnh đang chìm trong tang tóc! Những bàn thờ vọng; những chân dung của người trẻ tuổi có đính ngang một dãi băng tang; những buổi cầu nguyện trong giáo đường vì có nghi vấn rằng trong số 39 người đã chết đó có rất nhiều người Việt Nam. Nỗi đau thương ngập tràn, ràn rụa nước mắt trên những khuôn mặt héo khô, trong phập phồng lo lắng đợi hung tin; vậy mà nỡ lòng nào trên những tờ báo quốc doanh trong nước lại đăng nhưng lời phê phán rất tàn nhẫn là: “Ở Việt Nam thiếu gì cơ hội học tập và làm việc để kiếm sống thì việc gì phải khổ cực và chui lủi vậy? “Vì cơm áo gạo tiền mà phải đánh đổi cả mạng sống như vậy có đáng không? Rồi có người nói: “Đau xót quá! Mong có sự nhầm lẫn nào, hy vọng không phải người Việt ?” (Người nước nào cũng là con người; cũng là nạn nhân mà đã là nạn nhân thì không có lỗi, ai cũng đáng thương xót như nhau cả mà thôi!). Có người còn nhẫn tâm hơn, phê phán rằng: “Đi bất hợp pháp, trả giá bằng tính mạng, rồi làm ảnh hưởng tới uy tín của người Việt (?). (Trời ạ! Uy tín của người Việt nào ở đây?)
***
Theo ông Gareth Ward, Đại sứ Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland, cho biết người Việt là nạn nhân của tội ác mua bán người và nô lệ hiện đại cao nhất tại Anh, chỉ xếp sau nước Albania. “Những người nước khác do bị dụ dỗ, chèn ép, áp bức để tới nước Anh làm nộ lệ thì người Việt Nam lại tự nguyện ra đi bất hợp pháp; giao phó số phận của mình vào tay bọn tội phạm quốc tế với giấc mơ về một miền đất hứa, kì vọng về cơ hội đổi đời về kinh tế cho bản thân và gia đình mình!” Đã làm tới chức Đại sứ một nước lớn, dĩ nhiên ông biết nhiều hơn thiên hạ. Lý giải của ông cũng đúng chớ hổng phải sai. Nhưng chỉ đúng có phân nửa. Nhưng nửa ổ bánh mì là bánh mì; còn phân nửa sự thực, còn hơn là dóc tổ, vì định hướng sai công luận”. Hay là vì làm nghề ngoại giao, dẫu có những điều ông biết mà không thể nói thẳng ra chăng? Những người đang độ tuổi thanh xuân đó, vốn là rường cột của gia đình, của xã hội, là tương lai của một đất nước tự do. Một đất nước mà người dân làm việc chăm chỉ rồi mong thành quả đạt được, đem phân phối lại cho mình một cách công bằng, (dù chỉ là tương đối), thì chắc là không một ai nỡ lòng, cam tâm bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ làng quê, xứ sở, nơi có cha mẹ, anh em, vợ con, người yêu hoặc bè bạn để dấn thân vào còn đường gian nan ít may nhiều rủi. Hành trình ác mộng từ Việt Nam qua Trung Quốc, rồi cả hằng tháng trời lang thang trong cái lạnh giá ở Nga, Ba Lan, Đức, Pháp và cuối cùng là trốn trong thùng xe tải vượt biên giới từ Pháp sang Anh để rồi chết vì quá lạnh, vì thiếu không khí trong thùng xe. Nếu may mắn đến được nước Anh, thì bị giới chủ nhân, các băng đảng, dựa nỗi lo sợ bị chính quyền bắt bớ, để bốc lột tàn tệ sức lao động, trả cho họ những đồng lương rẻ mạt và ép họ làm việc quần quật, vì biết không ai dám kêu ca hay tố giác! Những di dân bất hợp pháp nầy trở thành nô lệ thời hiện đại (theo cách nói của phương Tây)!
***
Những người bỏ nước đã ra đi nầy có biết không? Biết nhiều và biết rõ hơn các chánh trị gia phương Tây nhiều. Vì họ là người trong cuộc. Thời buổi của ‘internet’, của thông tin toàn cầu nầy, và dựa vào kinh nghiệm của những người đi trước thì những điều mình cần biết đâu có khó khăn chi? Nhưng tại sao họ lại chọn cách ra đi? Trong chín từng địa ngục, ông Đại sứ đang ở tầng cuối cùng, nếu có thể đi đến một tầng địa ngục khác đở hơn thì ông Đại sứ có đi không? Họ ra đi; vì không còn mảy may còn sót lại chút lòng tin nào về chế độ đang cầm quyền. Họ ra đi vì tuyệt vọng ở tương lai! Xin đừng lập lờ đánh lận con đen giữa chế độ và đất nước. Cứ ra rả là: “Đừng hỏi đất nước đã làm gì cho bạn mà hãy hỏi bạn đã làm gì cho đất nước?” Câu hỏi nầy nên dành giới cầm quyền cai trị dân mới phải.
Khuya đêm thứ Ba, ngày 23, tháng Mười, năm 2019 định mệnh đó, có một người còn rất trẻ, mới 26 tuổi, tên Phạm Thị Trà My ở thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam, qua ‘facebook’, gởi những lời trăn trối bi thương trong giờ phút cuối cùng là: “Con xin lỗi Bố Mẹ nhiều Mẹ ơi. Con đường đi nước ngoài đã không thành. Con thương Bố Mẹ nhiều. Con chết vì không thở được!” Lời trăn trối bi thương của một người con gái Việt Nam, một trong những mảnh đời phiêu bạt, làm rúng động thế giới, mà có người cứ hỏi nhưng cái chết tức tưởi nầy là do lỗi tại ai? Tại nhà cầm quyền CS chớ còn tại ai vô đây nữa?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.