This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Có đám cháy lớn ở góc đường 13. Không nhìn ra lửa nhưng nóng bức lùa thổi vào đêm nực gió. Đường 13 nhỏ, có căn nhà ba tầng tôi từng mướn ở tầng trệt cách đây hai năm. Tôi nói với bạn đang cau mày ngó quanh, ông khỏi cất công đưa tôi về tận cửa, có lối đi gần, tôi cuốc bộ và chỉ mất khoảng mười phút thôi. Những đốm đèn luôn quay mòng trên xe cứu hoả màu đỏ, xe cứu thương màu vàng, xe cảnh sát màu xanh sọc trắng và tất cả chúng đã khiến những chiếc xe khác biệt phải thúc thủ dồn cục. Chúng không ngớt quét màu vằn vện lên khuôn mặt bạn. Tôi nói lời từ giã bằng hai chữ ngủ ngon.
Tôi chống gậy bước lên lề đường 12, lý ra đường này phải nên mang tên Cây Xanh bởi nó được sự biệt đãi đến lộ liễu qua cái thâm u do bóng lá rậm đan cài như lọng táng. Những bóng đèn vàng trồng cách khoảng không đủ sáng, như để nhìn nhận thêm ra sự phồn thịnh của lá che trên đầu. Đi bộ giờ này dưới lòng đường là một quyết định sáng suốt dẫu bộ hành khi cất bước phải nương nhờ vào một cây gậy. Nhà nằm trên đường này cho thuê với giá cao nhất trong khu vực vì vậy tuy thích, tôi cũng phải đành lòng mướn căn hộ bên đường 10. Vì việc chữa lửa khiến xe cộ phải dồn cục và tôi đã dối gạt người bạn, thực ra khoảng cách xa hơn mười phút dành cho một kẻ bình thường chân đi, nhẫn nha kiểu tôi e phải mất nửa tiếng. Nửa tiếng trong bóng tối, ba mươi phút lẻ bóng dưới cả triệu chiếc lá đang ra sức hát hò trên cao, đó không phải là cách thư giãn lành mạnh cuối ngày sao? Lá cây, con đường giam giữ bóng tối, ánh điện vàng, gió mát lân la, gửi thân vào đó để chẳng mấy lâu khung cảnh ấy sẽ dẫn dắt trí tưởng đi về một vùng trời cũ. Đi ở đây mà thấy hệt như đi ở kia. Địa cầu to lớn nhưng nó luôn độ lượng để bày ra những lối đi tựa hồ trùng lẫn, giống gần bằng hai giọt nước đặt cạnh nhau. Tôi bước bấp bênh, váng vất nhớ câu thơ cũ, có thể hư hao sai lạc: “Áo nào phai không sót chút màu xưa?”
Màu xưa cũng ám bên đường 13, căn nhà cũ tôi thuê có cái xich đu đặt ngoài vườn cỏ, về khuya nó tự động đong đưa dẫu không có gió lùa. Những móc sắt trở mình oán than bằng tiếng kẽo kẹt, mường tượng như thanh gỗ hình chữ nhật kia đang có ai ngồi thò chân làm lực đẩy. Một người khuất mặt đã thức tôi dậy vào hai giờ sáng, tôi đứng sau cánh cửa gương nhìn ra sân cỏ và lần hồi tôi đã nghiện cà phê thuốc lá. Tôi mất ngủ, tôi quyết định tự mình chữa bệnh bằng cách đốt nguyên một bó nhang cắm bên cái xích đu vào cuối tháng 6 để đầu tháng 7 tôi dọn sang đường 10. Thời gian sống ở đó tôi viết nhiều, liên tục. Tôi đinh ninh chủ nhân chiếc xích đu kia là một cô thiếu nữ da trắng mà mụ mị chẳng tìm ra lời giải thích. Sang nhà mới vào mùa hè, mùa đông tôi gặp nạn gãy chân. Có thể nằm liệt giường cả tháng không đi đứng được nhưng đặt tôi vào ngồi trên miếng gỗ ấy, hai tay nắm sợi giây xích, tôi có thể đu như ai kia. Qua về, kẽo kẹt, oán than không thành lời.
Một tiệm tạp hoá còn mở cửa bán buôn hắt ra bóng tối ô vuông sáng xanh ánh điện néon, tín hiệu đó ngầm cho hay tôi sắp về tới chỗ ở. Cả tôi lẫn chủ nhân cùng đôi ba người bán hàng trong đó đều quen mặt nhau, đều từng trao đổi vu vơ mỗi bận tôi tìm đến mua bánh mì nước uống thuốc lá nhật báo, và vé số nếu có lô độc đắc quảng cáo rằng kỳ này lên tới cả mấy chục triệu. Lạ một điều là họ tỏ ra thân thiện với tôi khi biết tới gốc gác và theo như cách tôi hiểu, gia đình họ từng chịu qua bao thiệt thòi do chiến tranh mang lại. Họ cũng là di dân không phải dân bản xứ, cách phát âm tiếng Pháp trắc trở nhọc mệt. Muốn có một cửa hàng bán buôn linh tinh như này bạn phải xoay đâu ra được hai chục ngàn, người ta sẽ đến liền khi để sắp đặt cho bạn từ a tới z và bạn sẽ nghe lời khuyên nhủ vàng ngọc, nếu có bọn cướp đột nhập, tuyệt đối bạn hãy nghe theo lời chúng, một mực ngoan ngoãn chớ có phản biện. Họ từng tâm sự như vậy. Và tôi cũng từng đùa, một ngày nào đó tôi sẽ chơi vé số theo cách của tôi: Một là tới đây với tờ đơn xin việc, hai là tới với cái mặt nạ trên mặt và tay thì nắm chặt một khẩu súng. Tôi nghe giọng họ cười rất thống khoái, kiểu mát dạ mát gan. Tuồng như họ hiểu, thường thì những đứa vạch rõ ý định, chúng chẳng tài nào làm đúng những dự tưởng ban đầu. Hãy để cho đời sống cuốn đi e là cách thức dễ chịu nhất. Tôi không muốn chống nạng mà bây giờ tôi làm đứa có ba chân là cách giải vẹn toàn cho bài toán đầy hóc hiểm đó.
Về tới nhà lúc mười một giờ rưỡi. Đám cháy có thể đã được dập tắt, mùi khét còn toả lan giữa một khu phố bắt đầu thưa dần mọi âm thanh. Tôi vừa đi ăn ở nhà hàng cùng vài người bạn, họ lên chương trình sẽ có một cuộc gặp gỡ khác nhằm đón tiếp đôi vợ chồng từ phương xa ghé thăm. Mùa hè đang về khởi đầu bằng cơn hoả hoạn cùng những cuộc đi xa, mùa chẳng còn nghe ra tiếng ve râm ran cất lên cùng lần những hàng phượng bất ngờ thức giấc khoe sắc đỏ bung trên cành trĩu nặng và những trang lưu bút luôn mang thứ giá trị về những hoài niệm đã lỡ vụt mất. Một vị tướng trong truyện Tam Quốc diễn nghĩa bị mũi tên của đối phương cắm vào một mắt đã khí khái nói giữa trận tiền: Mắt này là do khí huyết của cha mẹ ta tác thành, nay đành lòng nào phải dụt bỏ! Ngôn xong liền cầm con mắt ròng ròng máu đổ mà bỏ vào miệng, nuốt sống, vẹn toàn, chẳng thất thoát. Ôi, cha mẹ ơi!
Ở nhà hàng tôi đã ăn cá, ham hố ăn như thế phần cho những người thân bên kia đại dương đang bị kiêng cử. Ăn như viết tiếp trang lưu bút mãi dở dang vì một bất toàn vừa bày biện, chẳng rõ người bạn học cũ giờ này đã xuất viện chưa? Bạn làm công nhân trong một xí nghiệp và ngộ độc thực phẩm cùng mười ba người khác ở xuất ăn trưa tập thể. Bệnh viện quá tải, bạn phải nằm trên tấm chiếu lát xơ xác trải dưới nền xi măng mà màu tường vôi trên đầu bạn phai nhạt bao tháng ngày chất chồng vi khuẩn. Vợ bạn vào thăm và tôi chạnh lòng nhìn thấy tấm ảnh gửi qua email cùng lời người vợ: Nhờ trời vì ngộ độc, bệnh viện họ xét nghiệm trong máu và nước tiểu anh ấy có vấn đề. Sẽ thông báo sau. Trong tấm ảnh chụp, ngoài xác thân bèo nhèo của một hình nhân quá tuổi tri thiên mệnh còn nhìn ra những thứ quen mắt tưởng đã mất dạng tăm tích: Cái bình thuỷ loè loẹt xanh đỏ, cái giỏ bằng ny lông, cái quạt xếp bằng nan tre được bồi dán hai mặt giấy màu nâu, cái gà-mên bới thức ăn có bốn tầng cao được chặn giữ bằng thanh nhôm kẹp ở hai bên lên tận quai làm tay cầm. Những vật ấy ló dạng, chẳng sai biệt khi ngày xưa mẹ tôi đã sử dụng mỗi lần vào thăm chị tôi ở nhà hộ sinh, thăm anh tôi oan uổng bị trúng pháo kích từ núi cao gửi nòng về đì đùng giữa canh khuya lật tung những mái tồn nhà cửa ven đô.
Vì giá tiền thuê thấp nên sàn lót gỗ luôn vặn mình than thở khi chân dẫm vào giữa khuya, tôi tôn trọng nó đến nỗi tôi thuộc vị trí ở những nơi nhạy cảm. Tôi biết môn khinh công “Lăng ba vi bộ” để tránh gây tiếng động “làm phiền giấc ngủ của hàng xóm”. Ở đây thôi còn nghe tiếng xích đu vật mình ngoài cửa kính nhưng bù lại có tàng lá cây phong luôn cựa mình cào vào mái nhà sau bếp. Tay chủ nhà bảo: Muốn cưa nó bạn phải xin giấy phép của thành phố, giả như họ đồng ý bạn phải trả khoảng nghìn đồng vào mục cắt tỉa và đốn hạ. Nghĩ xem, nó chỉ quấy rầy chút đỉnh vào đêm hôm nhưng ban ngày, bạn phải cám ơn nó bởi sự che chắn tạo nên bóng im mát làm ôn hoà chuyện môi sinh. Nó vẫn hiện hữu và nó làm người bạn siêng năng trò chuyện cùng tôi kể cả lúc tôi thiếp sâu vào những cơn ác mộng.
Đêm nay nó đánh thức tôi ra giấc mơ lành vừa tìm gặp chẳng lâu. Càng ngày nó càng tăng trưởng nên cách nó lân la han hỏi có hơi mạnh bạo. Nó từng rộng lòng cho một hai gia đình sóc có lắm thành viên di chuyển nhanh nhẹn vụt thoáng vụt hiện làm tổ định cư và đêm về nó biến dạng thành một hung thần đen đúa có ba đầu sáu tay. Tôi bắt thêm một cái ổ khoá có sợi xích cài qua khe và tôi tự dặn lòng đừng đặt mắt về hướng đó. Tôi vào nhà vệ sinh, mở sáng đèn và phát hiện cái vòi nước nóng phía tay phải đã bị lờn, khoá chặt vẫn rỉ xuống từng giọt, cách khoảng. Tôi từng xem qua một tài liệu bàn linh tinh về sự tác hại của một giọt nước. Trong tĩnh lặng, giọt nước rơi xuống, khi chạm vỡ mức độ gây nhiễu sóng lên tới 38 decibel. Một tù nhân bị trói cứng, để đỉnh đầu hứng chịu ngay vòi nước khoá không chặt, từng giọt từng giọt rơi xuống, chừng một tiếng sau, giọt nước nhỏ nhoi kia sẽ mang thứ trọng lượng nặng tựa ngàn cân. Nếu cuộc tra khảo bất thành tù nhân kia sẽ bị chứng đau màng óc, chạy trời không khỏi nắng.
Hai giờ sáng, tôi biết khó tìm lại giấc ngủ, tôi lò dò ra ngồi mở sáng máy vi tính. Trong hòm thư email hiện lên con số 1 màu đỏ. Thư của người vợ bạn tôi: Như có nói với anh ở thư trước là anh Q. bị ngộ độc thực phẩm, sáng nay bệnh viện trả anh ấy về nhà và tới đúng ngọ anh Q. đã mất. Anh chẳng nói gì được với em một lời cuối, nhưng em buộc phải thông báo cho anh hay cùng thân bằng quyến thuộc…
Giọt nước rơi không còn vang tiếng. Cành cây phong thôi cào lá sột soạt trên mái. Nếu ngoài sân cỏ có gắn cái xích đu, liệu nó đứng yên hay có ai ngồi đong đưa giữa đêm trường? Tôi cố nhớ lại khuôn mặt người bạn cũ, tới những đêm thức khuya cùng nhau học bài cho kỳ thi bán phần mồ hôi mồ kê mình trần oi bức. Bạn thi hỏng và bạn đổi đời làm kiếp lính. Bạn hỏng nhiều cuộc chơi khác và đời bạn trôi dạt về làm một thằng công nhân. Tôi chẳng nhớ được gì rõ nét, hơn bốn mươi năm cách biệt và tôi giờ này cũng là một hình nhân bị hỏng. Không hỏng cái này thì hỏng cái khác. Tiền nhân từng ước ao là kiếp sau được làm cây thông reo cùng gió giữa trời. Đợi sáng mai, tôi ra sau nhà làm sạch đám cỏ dưới gốc cây phong rồi thắp vào đó ba cây nhang. Thôi, bạn cố ngủ giấc sâu trôi bao mộng mị, bạn nhé!
Má Céline mang ra hai tách cà phê. Tôi ngồi bên cái bàn gỗ có trải tấm khăn bằng chất liệu ny-lông kẽ ô vuông đỏ trắng quen thuộc. Không thay đổi, chẳng sờn rách. Cả chục năm vẫn vậy, chung tình. Không riêng nó, những đồ vật bày biện trong gian phòng nhỏ này vẫn giữ nguyên diện mạo. Chừng như chúng biết tạo ra dưỡng khí và sự hô hấp của con người thì luôn nương nhờ vào đó. Phần khác, người ta sống cũng cần những hình ảnh vây quanh. Nó gây vào cảm giác nỗi an toàn, sự ấm cúng quen mặt. Bạn sẽ xúc động khi vắng xa lâu ngày để khi có cớ trở về nhìn nhận sự câm tiếng của nó, cách chịu đựng như chờ đợi ở bạn một niềm cảm thông, bất di bất dịch.
Đêm qua ngủ có yên giấc không? Tôi dối gạt người đàn bà 68 tuổi: Dạ, ngủ như một đứa baby. Xin đừng hỏi cà phê uống có vừa miệng không? Tôi chẳng thích nói sự thật, tôi không quen uống loại bột hoà tan này. Nó là thứ cà phê bị chế biến tới mức cuối, nó luân hồi qua bao kiếp gian nan để đầu thai vào lu hủ, bên ngoài ghi hàng chữ “không có chất caffeine”. Chẳng có gì kỳ cục bằng bạn vào một quán ăn treo đầy cá thịt để lựa một món giả đồ chay. Xin nghỉ được bao lâu? Nếu trả lời thì có lẽ đây là lần thứ tư. Tôi không nghĩ là khi người ta 68 tuổi, bộ nhớ trong đầu đã hỏng hóc. Có thể câu hỏi kia luôn gióng lên vì kẻ đó đang cô đơn, đang muốn ôm giữ một khoảng thời gian sum họp cần xác tín. Dạ, họ cho phép nghỉ có một tuần thôi. Bảy ngày à? Mất hai ngày đi đường rồi. Céline lộ vẻ không vui, hơi khó khăn khi làm bài tính trừ đơn giản.
Tôi tự cho phép mình gọi Céline bằng má vì bà là người đứng ra bảo lãnh tôi khi ở trại tị nạn tôi chẳng có thân bằng quyến thuộc nào bên ngoài quê hương cả. Một đứa vừa lập gia đình, hắn sẽ có tứ thân phụ mẫu. Tôi tứ cố vô thân cũng có bốn người cha mẹ, nhưng giờ này chỉ còn sót duy một mình Céline. Ba má tôi lần lượt qua đời ở quê nhà đau thương chẳng cách gì về chịu tang. Hai ngày trước thì tôi nhận email của Suzy: Ba em mất rồi. Anh có thu xếp về bên chúng em không? Dách cô nhạn. Chỉ còn đó người má lạc loài ngoài chủng tộc tôi từng chịu ơn bảo bọc. Chữ má nghe sao quá đỗi buồn lòng, khó phát âm cho tròn trịa.
Sáu năm trước, nghĩ mình lưng dài vai rộng, tôi bỏ chốn đồng không mông quạnh này để lên thị trấn sầm uất đi xin việc. Trong tờ khai lý lịch, sáu năm kinh nghiệm chả có gì ghê gớm cả dưới mắt người phỏng vấn đầy quyền uy; nhưng khi trở về mái nhà xưa, Céline đã ôm tôi trong đôi vòng tay, giọng thổn thức: Trời ơi, đã phong trần ghê chưa? Đã biến thành một tên đàn ông đáng nể. Suzy có đồng ý với mẹ không? Sáu năm, cây táo nhỏ nhít tôi trồng bên cửa sổ đã bề thế thân cành rậm lá reo vui và chừng đó tháng ngày đã quật ngã một người đang phong độ nằm xuống chắp tay thủ thường trong bốn thanh gỗ đóng sít sao một cơ thể vô phương chống cự. Ông Robert im tiếng và tôi đã đứng trong gian nhà lạnh ngắt vĩnh viễn từ nay thiếu mặt đàn ông. Tôi ái ngại hỏi thăm về Suzy, một cô gái 23 tuổi đứng bán hàng trong siêu thị vẫn chưa tìm ra bạn đời, em có quá khó khăn khi chọn lựa? Với gương mặt ủ dột như tấm màn treo cửa vàng úa, Céline cho hay nó không thích đàn ông… bạn nó toàn con gái… không chừng nó lesbian.
Chiếc xe Ford đời 86 chạy vào sân. Robert rành về máy móc, là người giỏi việc bảo quản nên xe tuy cũ nhưng khi khởi động nó vẫn chưa từng biểu lộ run thân và trở chứng ho hen. Rồi nó sẽ bị phủ tấm bạt lên, hay Suzy tiếp tục làm người thừa kế để khối sắt màu đỏ bầm ấy đừng chìm vào quên lãng, vào ra khuấy động một kỷ niệm. Suzy xô cửa đi vô với hai bao giấy ôm đầy tay, cô bảo sẽ làm đồ ăn sáng cho ba người. Tiện tay con mua cho mẹ tờ báo, cô chấm câu. Tôi phụ bày ra bàn những trứng gà những jambon những bacon những sữa tươi những bánh mì. Bà Céline đón lấy tờ nhật báo, chẳng buồn xem tin tức máu đổ thịt rơi in bốn màu ngoài trang chính. Bà giở lật rồi cúi mặt ở trang 8. Tôi nhìn xuống, qua đầu tóc rối nhàu của bà thấy rõ màu đen chưa ráo mực in, chừng mười khuôn mặt nghiêm nghị, đa số già cỗi và có mặt ông Robert nằm lẫn vào đó. Tôi nhớ không lầm tấm ảnh ấy do tôi làm phó nhòm hôm Giáng sinh năm ngoái, có lẽ trông ăn ảnh hay sao đó mà Céline lẫn Suzy đồng lòng lựa nhặt để đăng lên, thông báo về cách chạm tới đích cuối của một phận người. Ngó cho tử tế. Có lẽ họ đã nói thế. Ba mày vốn chẳng mấy khi được ai chụp ảnh cho cả.
Bàn có ba ghế, có lẽ chiếc ghế tôi ngồi vốn dành cho Robert. Tôi nghe nao lòng khi nghĩ tới mai này nó sẽ vô dụng bởi chẳng còn ai đặt đít vào chỗ trống. Mắt tôi cay, đêm qua cả tôi lẫn Suzy đều không ngủ xuống. Hai đứa nói đủ thứ chuyện, không đầu không đuôi, như kiểu nói cho hả dạ sau sáu năm chẳng cận kề. Lúc đó tôi nghĩ là tôi nên tìm cách để Suzy tạm quên nỗi buồn của đứa con vừa mất cha. Tôi cầm tay em, giả bộ như người giỏi xem chỉ tay, mân mê. Này gò vệ nữ, này tâm đạo trí đạo, cái dấu nhân kia sẽ ngầm loan là bạn có số may mắn. Em để yên, không phản ứng, rồi bất ngờ em dụi mặt vào ngực tôi, rung động. Tóc em thơm mùi táo chín, những sợi vàng mềm mại đổ đầy bên lòng tôi và em khóc thầm. Tôi ôm em, siết nhẹ vào bờ vai tròn. Em bảo chúng ta sẽ ngồi như thế này xem thử được bao lâu. Em thích nghe tiếng tim anh đập và khi không nhìn vào mặt anh, em sẽ có bao tâm sự cần được nói ra.
Ở trên gác, bước chân của Céline dù nhẹ cách mấy cũng khiến những thanh gỗ lót nền trở mình kêu than. Gió đi bên ngoài rít tiếng nhỏ ở khe cửa. Suzy biểu tôi kể lại những ngày tuổi thơ héo hắt cho em nghe. Thả diều, bắt ve sầu, tắm sông, đá banh và cờ bạc. Bốn năm đứa ngồi vây quanh cái nồi được úp mặt xuống, đít nồi bám đầy khói củi, đứa nào thắng được quyền dùng ngón tay quét bồ hóng lọ nồi ở đó rồi bôi vào mặt đứa thua. Tuổi thơ tràn ngập tiếng cười, suốt ngày chạy rông ngoài đường. Anh nghĩ là khung cảnh ấy ở đây chẳng tài nào có được. Suzy kéo tấm chăn lên phủ quanh thân hai đứa. Anh nói đúng, bọn trẻ chúng em chán lắm, chỉ biết cỡi xe đạp, mua kem mút, hoặc ra nằm ngoài cánh đồng cỏ kể chuyện hoang cho nhau nghe, bố tao vào nhà tắm thường mang theo báo Playboy, mẹ tao từng đứng yên cho anh đi giao sữa tươi hôn vào ngực trần…Có con nhỏ 12 tuổi đã nghe thằng bạn học dụ: kéo áo lên thì trả 50 xu, tụt quần xuống thì 1 đô la… Như thế, nếu có bày trò bài bạc thì mặt mày chẳng bị bôi đen, thua thì chỉ từ tốn lột vải ra cho tới hồi chẳng còn gì che dấu. Anh thấy chúng có ranh mương không?
Má Céline đi lục soạn một chốc rồi khi về ngồi lại trên ghế, tay đặt cuốn album xuống bàn. Bà dùng kéo cắt chậm rãi vuông hình người chồng từ trang nhật báo ra, ngày tháng năm sinh và tử. Trang cuối cuốn album trống trải và có thể ảnh ông Robert vừa nhét vào đó đã là một dấu chấm sau cùng. Bà lật giở cho tôi xem từng trang đời, từ đen trắng tới màu sắc, từ hoa niên năng động cho đến lom khom trồng hoa sân trước đuổi gà vườn sau. Có tấm ảnh Suzy mặc váy đầm vải in nhiều hoa, em nằm gối đầu vào chân tôi và Céline thì quàng tay qua vai một đứa “con” lạc loài đang cười gượng. Đó là lần chúng tôi cùng nhau đi picnic, ông Robert đã bấm máy trước khi ra bờ sông câu cá. Cái dòng sông mà tôi cùng em từng bơi lội gửi tiếng cười vang vọng tới chân cầu xa, thỉnh thoảng có đoàn tàu chạy ngang làm mặt sông phải dợn sóng. Thời điểm đó cơ thể em đã phát triển thành một thiếu nữ và đôi lúc tôi chẳng dám nhìn vào chiếc áo em mặc bó thân, sũng nước.
Ăn đi chứ. Mười giờ chúng ta phải có mặt ở nhà thờ rồi. Suzy lên tiếng. Hối thúc nhưng trong lúc này hầu như chẳng ai thiết ăn, nỗi buồn làm ngang miệng. Chỉ có cái dĩa đặt trước mặt Suzy là sạch trơn, như kiểu tiếc công sức đã đứng bếp, như kiểu sợ mang tội với trời. Anh thì sao? Cô hỏi tôi. Nuốt không trôi à? Đang thèm mì gói hay món phở à? Tôi giả bộ sợ hãi, cốt làm cho em vui, ăn liền bây giờ đây, anh biết là em trổ tài thì hẳn phải ngon. Tôi kéo tờ nhật báo lại gần cùng lúc với tay cầm nĩa lên, tôi quen đọc một thứ gì đó trong lúc ăn sáng. Ở trang ba, người ta dùng tới bốn cột chữ để lật lại một vụ án tưởng chìm khuất từ hai năm trước. Cảnh sát vừa bắt được thủ phạm. Cô N. 30 tuổi, đã pha trộn thuốc trong thức ăn mỗi ngày, kéo dài ba năm thì cha cô tắt thở. Trong buổi lấy cung, người đàn bà ốm yếu xanh xao chưa chồng ấy cho hay: Tôi bị ông ấy cưỡng dâm khi mới 15 tuổi và cấm không được tiết lộ bí mật đó ra. Cô N. nói thêm: Tôi rất yêu mến mẹ tôi.
Tôi dành phần việc rửa chén dĩa trong khi Céline cùng Suzy đi thay áo quần. Họ sẽ mặc một bộ đồ đen đúa, tôi nghĩ vậy. Thứ màu mà các goá bụa luôn dùng khi đứng sát huyệt vừa đào thành hố chữ nhật ngoài bãi tha ma. Hoặc sắc màu dùng vẽ các mụ phù thuỷ trong truyện hoạt hình. Tuy làm việc ở siêu thị với bộ đồng phục màu xanh không đổi, nhưng tủ áo quần của Suzy đa số vải vóc tuyền màu đen. Đã đôi lần em cũng thay đổi màu tóc, từ vàng chuyển sang đen mun với thứ thuốc nhuộm rất mạnh. Khi đó khuôn mặt em đổi khác rõ rệt, không còn là Suzy đáng yêu của tôi.
Céline chọn ngồi ghế sau. Suzy lái chiếc xe Ford của người bạc phước và ghế bên cạnh dành cho tôi. Nhà thờ khá xa dù xe ra giao lộ đã trông thấy cái kiến trúc đỉnh nhọn với thánh giá như cây kiếm đâm lên mây xanh. Đêm qua tôi không chợp được mắt, người ta có cả ngàn lý do để thù ghét đàn ông, để thích gần gũi với người đồng tính. Suzy dụi mặt vào ngực tôi khi thổ lộ đứt đoạn rằng, năm em 14, đêm giáng sinh tuyết rơi đầy, ba em, ông Robert, nửa khuya trong trang phục màu đỏ đặc thù của ông già Nô-en, không từ ống thông khói ở lò sưởi vào trao quà, đã thô bạo cưỡng dâm em. Cho dù có giỏi hoá trang tới mức nào đi chăng nữa, thì một đứa con sẽ thức tỉnh để nhận ra ngay cái mùi quen thuộc ám vào thân cha nó, hơi thở hào hển của ông ta, mùi rượu uống cạn lúc 12 giờ đêm còn thu giữ nồng độ trong miệng… Ông chết đi, thú thật em chẳng buồn một mảy may. Cười thì lộ liễu quá…
Lâu ngày tôi vắng xa, tôi không nhớ chính xác khuôn mặt của Robert, để hôm nay, chính ông là nguyên nhân buộc tôi trở về để nhìn lại. Mặt ông đã bị, hay được người ta bôi son trét phấn, trông thảm hại. Ông nào có quyền gì để chống đối. Tôi đứng thật gần, chỉ để cho má Céline bấu víu vào cánh tay. Bà nói nhỏ: Ông à, thằng Ngu-dueng có về thăm ông đây. Cái đứa mà mỗi năm vẫn không quên gửi thiệp cùng quà mừng sinh nhật cho đôi ta… Tay Céline lạnh như một tử thi. Suzy đứng sau lưng tôi, mặt em tựa đúc bằng thạch cao. Nếu tôi làm cảnh sát? Tôi đưa tay làm dấu thánh. Có lẽ mình bị phim ảnh đầu độc mất rồi.
Suzy kéo tôi ra ngoài sân đứng hút thuốc. Em bảo, làm ở siêu thị em mua được giảm giá, vả lại khói thuốc nó giúp em chống lại những phút yếu lòng, bị căng thẳng đầu óc, nghĩ quẩn nghĩ quanh. Tôi nói, tối nay anh ngủ với em, có được không? Vì sao? Vì anh sợ ma. Đừng giỡn, việc gì anh phải sợ trong khi đứa sợ ma phải là em mới đúng. Tuy ở xa, nhưng anh nghe người ta đồn là em lesbian, anh chỉ muốn chứng thực rằng đó chỉ là lời đồn nhảm nhí. Em có muốn chứng minh không? Suzy nắm tay tôi, y như đêm qua tôi đã mân mê những ngón mềm mại của em. Anh yêu em không? Suzy nói trong cúi mặt. Anh có thể về ở luôn trong căn nhà ấy không? Muốn em chứng minh thì ít ra anh phải biểu tỏ sự thành ý. Thêm nữa, lúc này cả mẹ và em đều cần tới anh. Biết đâu mai sau chúng ta cùng bước lên cái bậc thềm kia, thay vì mặc áo đen như giờ đây em sẽ diện đầm trắng dài thậm thượt. Thề có Chúa.
Em nhón chân lên hôn tôi. Bên kia tấm cửa dầy nặng có một tử thi mặc đồ lớn và người đàn bà gầy nhom đen đúa lặng lẽ khóc thầm.
Định cư ở Montréal năm 1981 tôi quen được nhà thơ Hoàng Xuân Sơn. Nhớ hôm ấy, sau han hỏi đôi câu trên điện thoại để biết chính xác địa chỉ, anh lái chiếc Toyota xám đến chở tôi đi, đãi ăn bún bò ở cái quán nhỏ của người đồng hương nằm không xa nơi tôi ngụ. Dĩ nhiên buổi gặp gỡ ban đầu kia xẩy ra trong ấm áp, rất nồng hương, rất mặn mà do khung cảnh và thức ăn mang lại một phần. Qua thơ văn, hai kẻ người Huế lưu lạc nhìn ra nhau để chẳng có gì thích hợp hơn là kéo nhau vào ngồi trong quán cố đô, hay thần kinh, hay sông Hương núi Ngự, hay Huế đang bừng sống trong hoài niệm, chan lùa với ruốc mặn ớt cay.
Theo dõi chân đi của nhà thơ qua năm tháng, tôi luôn bắt gặp chút ảnh hình, chút phong vị của Huế lẫn trốn đâu đó. Nói nặng tình cho chốn xưa thì chẳng hàm oan. Hoàng Xuân Sơn có những câu thơ quá đỗi mượt, mà tôi tin cái thổ ngơi Huế kia đã tác thành ra người, làm nên bầu khí quyển rất mực riêng tư:
Nhớ Huế êm đềm mưa nghiêng sợi
Thương màu áo dạ phố đông sang
Buổi sáng em cười mắt ngái ngủ
Đêm qua lạnh quá giữa mưa phùn
….
Bước chân phiêu lãng còn trên phố
Buổi chiều tà có mắt ai trong
Bàn tay năm tháng mềm như lụa
Ngồi đây thương nhớ cũng tang bồng.
Ai chưa đi ngang Huế một lần thì xin mường tượng, tôi sống lâu dài với Huế nên nhìn ra ngay thứ màu sắc, thứ khí hậu, thứ lãnh thổ nửa hư ảo nửa khói sương rất đặc thù nọ. Thủ pháp của Hoàng Xuân Sơn luôn ngang dọc những nét sắc mạnh, nhưng mỗi bận nghĩ về Huế, ta nhìn thấy một bức tranh mềm mại của màu nước vừa hiện thành qua tay anh. Cũng thế, tôi luôn đồng ý khi có người cho rằng: Nếu không phải người Huế, Trịnh Công Sơn sẽ chẳng viết được những ca từ thơ mộng và nhiều ẩn dụ đến vậy.
Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn sớm rời xa Huế để xuôi nam, neo thân tại Sài Gòn. Trong cuốn phóng bút “Cũng Cần Có Nhau” xuất bản năm 2013, người đọc sẽ thấy “bước chân phiêu lãng” của anh. Nói đến Huế thì đa phần ai cũng nhắc về một vết thương khó thành sẹo. Chương Mười trong cuốn phóng bút ấy mang tiểu tựa “Mậu Thân Trong Lòng Cuộc Chiến”, nhà thơ trải lòng:
“Năm Mậu Thân 68, tôi quyết định về Huế ăn Tết với mạ và gia đình… Không hẹn mà gặp, Trịnh Công Sơn, Phạm Nhuận cũng về Huế năm này… Huế vẫn muôn đời trầm lặng. Không có gì thay đổi lớn ngoài bầu không khí vẫn rất thiêng liêng gần gủi của những ngày cận Tết ở Huế, có thể thấy được, đọc được trên dáng đi, trong mắt trên môi người…”
Nhà thơ có nhắc tên Trịnh Công Sơn và tôi nhớ người nhạc sĩ này cũng từng viết về biến cố đau thương ấy trong đoản văn, dưới tựa “Huế Hôm Nay” đăng trên báo Văn Học số chủ đề “Huế Trong Trí Nhớ” phát hành ngày 15/4/1974. Tôi xin vay mượn nguồn của nhà văn Trần Hoài Thư để chép lại ra đây một tiếng nói, một nhân chứng ngày cũ. Trịnh Công Sơn viết:
“…Bản chất của Huế nằm trong kích thước nhỏ bé của nó. Nó không ồn ào và bận rộn. Những lề đường của Huế thân mật. Trên con đường của thành phố, bạn có thể giơ tay vẫy bạn bè suốt ngày. Khách lạ mới tới Huế có cảm tưởng rằng tất cả mọi người ở Huế đều có họ hàng với nhau…
Một sự sợ hãi lớn lao đã đến với Huế. Thật là điều khó khăn đối với tôi để quên, mùi xác thịt thối rữa trên đường Lê Lợi khi tôi cùng gia đình tản cư ngang qua đó… Tôi nghe giọng buồn nhất ở khắp nơi trong địa ngục kéo dài suốt tháng này. Họ là những người sống sót trong những cuộc chém giết, dường như họ chỉ còn thân xác mà không còn hồn. Nỗi buồn trốn mất khi nỗi đau khổ quá lớn. Tất cả dân Huế sống cùng với nhau trong suốt khoảng thời gian nguy hiểm nhất, đều đã thở bầu không khí bẩn thỉu nhất của trại tỵ nạn. Tất cả đều đã được biết sự tận cùng của khổ đau. Tôi nhìn những căn nhà bên kia sông bị nổ tung vì đạn đại bác, tạc đạn rơi trên dòng sông Hương làm mặt tung bọt trắng xoá. Trong những ngày đầu của trận chiến, gia đình và tôi ngồi yên lặng trong nhà. Buổi sáng đi qua trên những khuôn mặt khổ não. Các anh em tôi ngồi nhấp nháp rượu trong khi đạn pháo réo ngang đầu. Qua khung cửa, chúng tôi nhìn thấy những người lính Bắc việt di chuyển, nấu ăn, đào hố trong vườn trước mặt nhà. Đó là những ngày đẹp trời của mùa xuân, những giọt mưa nhẹ như sợi chỉ đan vào nhau. Tôi muốn tản bộ dọc theo những con đường đầy bóng mát trước của nhà. Tôi muốn có cốc cà phê ở một tiệm bên kia sông, trong nội thành, đằng trước trường Âm Nhạc và Mỹ Thuật. Nhưng tôi đã ngồi bất động hơn 15 ngày. Anh em tôi ví những ngày của chúng tôi với những ngày của Anne Frank… Một bản quảng cáo của rạp chiếu bóng Châu Tinh vẫn còn treo ở trước cửa chợ Đông Ba, phim này dường như cũng là một điềm gở: “Le Temps Du Massacre”…
Huế đã sống qua những ngày tàn nhẫn. Bao đoàn người đã đào lỗ để tìm xác cha, mẹ hay chị. Những tiếng khóc của đám ma có thể làm rung chuyển cả núi rừng… Tôi không thể nói được gì cả khi đời sống chỉ là một trò đùa… Tôi không biết phải làm cái gì với cảnh tàn phá này. Căn bản luân lý của chiến tranh đã ra khỏi giới hạn của năng lực loài người để chịu đựng. Huế ơi! Tôi hy vọng có một ngày thanh bình nào đó, tôi có thể trở về để ăn bánh bèo ở cây Phượng, bánh ướt thịt nướng ở Kim Long, bún bò tiệm bà Rớt. Tôi muốn quay trở lại để ngủ đêm trên dòng Hương và gọi ông Bê mang cho tôi một bát bún rất cay, cay đến nỗi chảy nước mắt. Tôi sẽ gọi cô gái trên thuyền mang cho tôi một con mực nướng khô, một cốc rượu nhỏ, thật nhỏ để làm cho đêm trở nên ấm hơn, những bài hát nửa đêm trở nên hay hơn và giấc ngủ hiền hoà hơn trong lúc sông lặng lờ trôi…”
Hai người Huế cùng mang tên Sơn, cùng dân Huế, cùng sinh hoạt với nhau một thời văn nghệ ở Sài Gòn mà thơ nhạc họ không ngớt xưng tụng vẻ đẹp e ấp, trầm lắng của một Huế nhiều biến động, nhiều đau thương.
Mới đây, bão lụt lại trở về. Miền Trung, nhìn vào bản đồ đất nước, nó tựa như cái đòn gánh chịu lực nặng nề của hai đầu Bắc Nam khiến phải oằn cong. Tôi có email, điện thoại về hỏi thăm những người thân mãi loay hoay ăn dầm ở dề với những bất hạnh. Và lạ lùng thay, tôi lại đón nhận những uỷ lạo ngược từ chốn xa tôi không về được.
Bên nớ đông sắp tới, băng tuyết trơn trợt nhớ đề phòng chuyện đi đứng hỉ.
Bão số 7 đi ngang nhà cửa có bị chi không?
Ẻ ba bại. Khung ăn thua. Chao, nghe mi gãy xương khiến tao giựt chắc. Quá vô hậu! Quá ba lơn!
Lụt lội thì răng?
Thì rứa cha răng. Noái chi, tao dư kiềng ba chưn. Khung can chi mô.
Mậu Thân 68, Hoàng Xuân Sơn lánh nạn trong trường trung học Kiểu Mẫu, Trịnh Công Sơn tản cư qua Thư Viện Đại Học, tôi và họa sĩ Đinh Cường ẩn náu ở Hồ Mưng trong Nội Thành. Và tháng sau, giữa đổ nát, ngập mùi tử khí, Dương Nghiễm Mậu từ Sài Gòn ra Huế viết xong bút ký “Địa Ngục Có Thật”.
Huế, không nhắc thì thôi. Nhắc, mộng ảo nhập nhằng, trôi la đà trên từng giấc thở dài, nặng nhọc. Đã sống qua, đã bơi sang bên bể trầm luân, đậu lại chốn đây, phải tự an ủi: Khung ăn thua. Có răng mô nà. Khung can chi. Hoặc dỗi hờn: Kệ cha mệ nội, hết xôi thì rồi việc. Rứa đó. Rứa đó.
Thấm thoát đã hai tháng trôi qua. Hai tháng tưởng dài như hai thế kỷ. Đêm từng đêm những giấc mộng có màu xanh hy vọng úa héo dần với sức khỏe ngày một suy thoái. Thế giới bên ngoài ra sao? Sài Gòn như thế nào? Vợ con ta, cha mẹ ta bây giờ ở đâu? Những người ra đi, đặc biệt là các chiến hữu thoát được vào bưng biền có bắt lại được liên lạc với nhau không? Và mặt trận mới đã hay sẽ bùng nổ ra ở đâu? Nếu có, nguồn yểm trợ sẽ từ đâu tới? Những nguồn tin Thủy quân lục chiến Mỹ đã chiếm một cái đảo thuộc lãnh thổ Campuchea, Phú Quốc có giao tranh… gần đây được mọi người rỉ tai nhau. Nhưng, đó cũng chỉ là những tin đồn. Thực tế, những tù nhân của chế độ mới hoàn toàn không biết một mảy may gì đến thế giới bên ngoài. Nói một cách thơ mộng, họ là những kiếp người đã thực sự bị cắt khỏi mạch đời. Kiếp sống nơi đây khác nào bị nhốt trong một cái hộp sắt tối đen. Hai tháng với những món quà tráng miệng mà Cách mạng cho tù ăn là lao động vừa phải, nhồi sọ phớt phơ, chửi rủa nhẹ nhàng đã qua đi. Cùng với những chuyển động bên ngoài (?), tù “ngụy” bắt đầu bị đối xử nặng tay hơn. Dọc theo những mảnh đất trống giữa hàng rào trại giam và bộ chỉ huy tiểu đoàn L4T3 đã bắt đầu mọc lên những túp lều nho nhỏ lợp tranh do tù được lệnh thực hiện. Buổi chiều lao động về, gặp nhau ngoài sân, bọn tù nhìn những túp lều nho nhỏ đó và bàn tán. – Tao nghe nói những túp lều ấy sẽ là nơi cho tù tiếp đón thân nhân vào thăm. – Thằng nào tiến bộ sẽ được ngủ với vợ ngoài đó một đêm. – Tao không tin nó lại cho phép tù “hủ hóa” công khai như thế. – Lại xét theo nguyên tắc cũ rồi! Phải nhớ Cách mạng rất thực tế. Muốn cầm chân tù lâu ngày, Cách mạng cũng phải giúp tù có phương tiện giải phóng bớt cái chất ngô khoai trong người ra chứ. Xã hội duy vật chứ có duy tâm như mình đâu!? – Cứ để xem. Dù sao tin thăm nuôi, tin được ngủ với vợ một đêm cũng làm lắm anh hồ hởi phấn khởi. Bọn quản giáo đánh hơi được chuyện này đã tương kế tựu kế, gọi nhiều anh loại mặt tái lên khung ỡm ờ hứa hẹn, rằng nếu tích cực báo cáo, tích cự lập thành tích dâng lên Cách mạng thì thế nào cũng được thăm nuôi trước mọi người và được hưởng nhiều hạnh phúc bất ngờ… Khối 2 do vậy đã vô cùng vất vả với thằng Ba Tô. Chao ôi, chuyện lớn chuyện nhỏ gì xảy ra trong khối tên Cư đều biết rõ ràng… Thế nhưng một thời gian sau đó vẫn chẳng có ai được thân nhân vào thăm kể cả những thằng chó săn tự nguyện làm việc chỉ điểm cho giặc. Mà ngược lại, những cái lều ấy biến thành ác mộng cho mọi người. Người đầu tiên của khối 2 được mời ra ngồi tại một trong những cái lều lý tưởng ấy là Nguyễn Văn Lộc, trung úy P.2/TTM và cũng là tổ viên tổ A.3. Lộc dính búa đầu tiên vì cái tiểu sử tự khai của anh ta: Nhân viên ban trận liệt. Sự thành khẩn khai báo của Lộc không giúp anh tránh được một trận đòn no nê. Đi 6 giờ chiều trở về 2 giờ sáng. Và còn được hứa hẹn “Cách mạng sẽ phải làm việc nhiều nữa với anh”! Người thứ hai là anh chàng Thắng trẻ tuổi thiếu úy Biệt Cách, người thứ ba, rồi người thứ tư… Mỗi người một đêm. Rồi một buổi chiều vừa ăn cơm xong, khối trưởng Trai đến nói nhỏ vào tai Vĩnh. – Quản giáo cho gọi ông lên tiểu đoàn… Lúc ấy Vĩnh đang đau. Đau nhiều thứ. Tấm thân không bao giờ vượt quá 45 kg của Vĩnh với đủ thứ căn bệnh trong người hiện nay đang bị bệnh tật hoành hành trở lại. Liệu ta chịu nổi một trận đòn không? Anh tự lượng sức mình. Nổi! Nhất định phải nổi. Mà không nổi cũng không được. Thôi đành phó thác cho định mệnh. Tùy cơ ứng biến. Vĩnh bước ra khỏi phòng. Một tên vệ binh súng ống đầy đủ đã đứng chờ sẵn. Thấy Vĩnh, hắn lên tiếng. – Phải anh là Vĩnh không? – Vâng, chính tôi. – Đi! Tên vệ binh ra lệnh ngắn gọn và bước đi trước. Vĩnh lẽo đẽo theo sau. Dù không ngoái nhìn nhưng Vĩnh cũng biết rõ hàng trăm con mắt của anh em khác đang ngồi chơi ngoài sân ngó theo với tất cả ái ngại. Tên vệ binh dẫn Vĩnh qua cổng trại, tiến về những túp lều nằm bên ngoài hàng rào. Tới trước một túp lều, hắn dừng chân và quay lại nói với Vĩnh. – Vào đó ngồi đi. Vĩnh bước vào trong lều một mình. Cửa ngỏ dẫn vào âm ty địa ngục? Vĩnh thầm nghĩ và hít mạnh một hơi cho tỉnh táo hơn. Trong lều có một cái bàn ọp ẹp đóng bằng gỗ thông thùng đạn. Có một cái băng đủ cho ba người ngồi. Một góc khác có một ghế đẩu nằm lẻ loi. Mùi khói của ngọn đèn dầu ma-dút hòa với mùi bùn tanh của nền nhà mới đắp chưa khô hẳn khiến Vĩnh ngầy ngật khó chịu. Nơi bụng anh bỗng nhiên lại quặn đau. Cứ hễ có gì căng thẳng hay cần suy nghĩ một chút là y như rằng cái bệnh bao tử của Vĩnh lại nổi lên hành hạ. Chắc cái ghế đẩu kia dành cho mình. Vĩnh nghĩ bụng rồi tự động ngồi xuống đó. Đầu óc anh tan loãng. Phải gần 10 phút sau Cách mạng mới xuất hiện! Thằng thủ phó tiểu đoàn tên Môn, thẳng quản giáo khối tên Cư và sau cùng là một thằng mang quân hàm chuẩn úy trông còn rất trẻ. Ba tên cùng bước vào và ngồi nơi cái băng sau bàn. Mỗi thằng đều tặng cho Vĩnh một cái nhìn trắng dã. Thấy Vĩnh lặng thinh, tên thủ phó phủ đầu ngay. – Hai tháng học tập rồi, thấy Cách mạng chỉ trố mắt nhìn!
Vĩnh hơi nhổm dậy nhích cái ghế tới một chút và vờ như không nghe thấy tên Môn nói. Tên quản giáo Cư như sợ xếp giận vội lên giọng dạy dỗ. – Có biết chào kính cán bộ quản giáo không? – Chào các anh! Như để khỏi mất thì giờ, tên chuẩn úy Cộng Sản vào đề liền. – Hôm nay tôi từ F xuống làm việc với anh. Yêu cầu trước mắt là anh ý thức cho đúng vị trí của một cải tạo viên, trả lời thành thật tất cả những câu hỏi của Cách mạng. Tôi nhấn mạnh đây là một khâu vô cùng quan trọng cho tiền đồ của anh. Về sớm hay về muộn là do chính lần khai này. Khung đã nghiên cứu kỹ bản tự khai của anh và nhận thấy còn nhiều chỗ ỡm ờ lắm. Nói chung chung là chưa đạt yêu cầu. Tên thủ phó chợt len vào. – Cách mạng đã biết hết, liệu mà trả lời. – Tôi… – Khoan! Anh chưa được nói. Tên thủ phó cướp lời và nhìn chòng chọc vào Vĩnh. Anh đừng tỏ ra ngoan cố. Hồ sơ của anh đây, bản tự khai của anh đây, chúng tôi đã nghiên cứu kỹ. Có phải anh đã khai trình độ văn hóa lớp 10 không? Rõ bố láo bố lếu! Anh tưởng Cách mạng không biết gì phỏng? Anh là sỹ quan Hải Quân, tuổi mới 30, như thế thuộc lớp sỹ quan trẻ. Nếu anh là thằng tướng già gốc khố xanh khố đỏ, lời khai ấy có thể chấp nhận. Còn lớp tuổi của anh, thế hệ anh, làm sao trở thành sỹ quan Hải quân ngụy mà trình độ văn hóa chỉ có lớp 10? Còn nhiều cái man khai quan trọng nữa, Cách mạng sẽ lần lượt cho anh thấy… Một con tính chạy thật nhanh qua đầu Vĩnh. Mình nhảm quá, lỗ nhỏ đắm thuyền! Thế nhưng để đối phó với thực tế, Vĩnh cho xuất hiện ngay một bộ mặt thật ngây thơ. Anh làm bộ sửng sốt. – Dạ không, tôi khai lớp 12 đấy chứ. Có thể là tôi viết nhầm… Tên quản giáo nhếch mép cười nham hiểm. – Anh có khai lớp 13 thì cũng chưa đúng đâu. Ngoan cố lắm! Phản động lắm! Dù thế nào Vĩnh cũng lạnh người trước câu nói gằn của tên quản giáo. Anh im lặng tính toán. Tiếng tên chuẩn úy an ninh sư đoàn chen vào. – Để tranh thủ thời gian, tôi lập lại mục đích yêu cầu buổi “mạn đàm” với anh chiều nay, ấy là, Cách mạng muốn một lần cuối xác nhận lời khai trong bản tự khai của anh đã đúng hay chưa? Đã đầy đủ hay chưa? Tất cả chỉ có thế thôi! Hắn chợt quay sang nói nhỏ gì đó với tên thủ phó tiểu đoàn, rồi lại quay sang Vĩnh, tiếp. Bây giờ ta làm việc. Trước nhất, tôi hỏi anh ngoài hai chức vụ, một, phụ tá trưởng khối bổ nhậm P.TQT/BTL/HQ, hai, chỉ huy phó Trung Tâm Tiếp Vụ Hải Quân Sài Gòn, trước và sau đó anh còn nắm chức vụ nào khác nữa không? Không thể lừng khừng được. Ta phải dứt khoát ngay. Vĩnh nghĩ bụng và cất tiếng. – Như đã khai trong bản tự khai, tôi chỉ có hai chức vụ duy nhất từ ngày ra quân trường. Thứ nhất là sỹ quan quản trị nhân viên phòng Tổng quản trị Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Thứ hai là chức vụ chỉ huy phó Trung Tâm Tiếp Vụ Hải Quân. – Tốt, thế anh có theo học khóa chiến tranh chính trị nào không?
Vĩnh giật mình. Trong dĩ vãng anh có theo học 3 tháng CTCT ở trại Lê Văn Duyệt, nhưng Vĩnh đã cố ếm nó từ lúc làm bản tự khai, giờ phải ếm luôn. – Tôi chưa bao giờ! – Tốt, thế anh có công tác hải hành ở Cửa Việt bao giờ không? – Thưa không. Tôi chỉ làm công tác giấy tờ hành chính, sau đó lo việc sổ sách kế toán hành quân tiếp vụ cho Hải Quân thôi. Tên quản giáo Cư lườm Vĩnh một cái và cất giọng mỉa mai. – Công tác nuôi lính ngụy cho béo tốt để càn quét chống phá Cách mạng đấy! Tên sỹ quan an ninh như không lý tới lời mỉa mai của tên quản giáo, hắn hỏi tiếp. – Này nhá, ngoài cái tên cúng cơm Phạm Vĩnh của anh ra, anh còn cái tên nào khác nữa không? Câu hỏi thình lình của hắn làm Vĩnh chột dạ. Nhưng Vĩnh vẫn cứng. – Thưa không. Cha sinh mẹ đẻ tôi chỉ có cái tên ấy dùng trên tất cả mọi loại giấy tờ hộ tịch. Tên an ninh mỉm cười. Chao ôi, nụ cười mới ghê gớm làm sao, lạnh tanh và ác độc. – Này, bảo thật nha. Đây chưa đánh đấy cái nào, mà đánh thì… Nói tới đây hắn đứng dậy. Bây giờ Vĩnh mới nhận ra trên mặt bàn để sẵn một khúc cây cỡ 3X3 dài chừng một thước. Đây là loại cây đúc bằng nhôm dùng căng đầu giường bố của Mỹ trước kia. Tên an ninh cầm lấy khúc cây nhôm và lù lù tiến về phía Vĩnh, đổi giọng tức thì. Mày ngoan cố nữa tao đánh mày chết. Tao hỏi lại, ngoài cái tên Phạm Vĩnh mày còn dùng cái tên nào khác nữa không? – Thưa không? Cây đầu tiên phang vào bả vai phải làm Vĩnh tê liệt cả nửa người. Tên thủ phó ngồi nơi bàn bình thản cất tiếng. – Bác dạy khoan hồng với những người thành khẩn ăn năn, nặng tay trừng trị những kẻ ngoan cường, ngoan cố. Cách mạng rất muốn anh thuộc loại thứ nhất, vậy anh nghĩ sao? Vĩnh cố nén đau trả lời. – Tôi có gì đã khai hết rồi. Như nhịn không nổi, tên an ninh gầm lên. – Địt mẹ thằng chó con này ngoan cố thật. Tiếp theo câu chửi thề hắn thẳng tay nện Vĩnh. Nhưng hắn không nện vào đầu vào cổ. Hắn cứ nhè những khớp xương vai xương chân để ghè! Tiếng thằng thủ phó Môn lại cất lên. – Đồng chí an ninh! Để từ từ nào. Tên an ninh ngừng tay đánh nhưng chộp lấy tóc Vĩnh. Hắn hét. – Thế còn cái tên Hà Thúc Sinh là tên của thằng phản động nào? Vĩnh bàng hoàng như không tin ở lỗ tai mình. – Anh nói sao tôi nghe không rõ! – Tiên nhân cha mày lại còn giả vờ giả vịt. Ngoài việc cầm súng chống phá Cách mạng huy chương có đến 5 cái trên ngực, mày còn viết lách phản động bôi nhọ Cách mạng, xuyên tạc chính nghĩa của Cách mạng. Tao đã bảo Cách mạng biết hết, mày nghĩ là tao nói đùa đấy phỏng? Thế là tiêu rồi! Vĩnh than thầm trong bụng. Tại sao nó biết bút hiệu của anh? Như thế này chắc chắn có thằng chỉ điểm, mà thằng này nhất định phải là thằng thuộc loại văn nghệ văn gừng. Nhưng nó là ai? Hiện tại Vĩnh biết mình không có thì giờ để nghĩ xem kẻ chỉ điểm là ai. Vả lại điều ấy chưa cần thiết. Điều cần thiết hiện tại là anh phải cực kỳ tỉnh táo và phải xử dụng tối đa ba tấc lưỡi mới hy vọng thoát hiểm được. Ú ớ nó đánh kiểu này chắc tiêu. Nghĩ thế Vĩnh lấy giọng từ tốn nói. – Thưa anh nếu nói ngoại hiệu thì tôi không chỉ có thêm một tên Hà Thúc Sinh, mà còn có nhiều tên khác nữa…
– Thế tại sao mày không khai trong bản tự khai? – Thưa anh có vài điểm tôi cần thưa thực với anh như thế này. Thứ nhất, trong mẩu tự khai không có mục nào bảo khai về việc viết lách. Chỉ có những phần bảo khai về quân đội và những hoạt động đảng phái mà thôi. Thứ hai, trước kia tôi viết lách không phải là một nghề chính. Tôi chỉ tập tành viết văn làm thơ lẩm cẩm vậy thôi. Tên an ninh chận họng Vĩnh tức thì. – Lại bố láo bố lếu! Mày không phải tập viết và cũng không lẩm cẩm chút nào cả. Mày là một thằng cầm bút phản động chuyên nghiệp. Mày đã có ít nhất 10 quyển sách đủ loại xuất bản ở miền Nam. Mày tưởng trong chúng mày không có người hoạt động cho Cách mạng à? Vĩnh không ngần ngại gì nữa vì đã biết chắc mình bị chỉ điểm. – Thưa đúng, nhưng không phải loại sách chống Cách mạng. Những sách ấy chỉ thuần văn học nghệ thuật mà thôi. Tên Môn chợt nói xía vào. – Này, bảo cho mà biết. Văn học nghệ thuật tư sản đồi trụy nô dịch đều là thứ phản Cách mạng cả đấy! Vĩnh không còn biết nói sao trước câu khẳng định dứt khoát của thằng Việt cộng nữa. Anh ngồi im, hít thật sâu để đè những cơn đau nhói lên từ các khớp xương. Tên an ninh nhổ một bãi nước bọt vào góc nhà. – Mày là nòi nhà lừa, nhẹ không muốn muốn nặng. Bây giờ mày khai cho tao biết mày đã viết cái gì, tên các sách báo, nhà xuất bản, năm nào… Vĩnh lấy hết khôn ngoan trả lời. – Có một điều tôi mong các anh tin, ấy là trước đây ở miền Nam ai in sách cũng được. In sách là vấn đề tự do của dân chúng… Tên quản giáo Cư chợt hét lên. – Thằng kia! Giờ này mà mày còn dám gọi nhân dân là chúng nó nữa à? Trời ơi! Biết làm sao tính toán được trước cái lũ ngu ngốc này!? Chữ dân chúng thì nó diễn dịch thành… gọi dân bằng chúng nó! Vĩnh cố giả vờ như không nghe thấy lời sửa sai của thằng quản giáo Cư. Anh tiếp. – Trước đây, nhân dân miền Nam in sách một cách rất dễ dàng. Tên thủ phó chận lại. – Này, đừng phản tuyên truyền đấy nhá. Tôi khẳng định với anh sách báo miền Nam trước đây đều do ngụy quyền chi phối cả. Nó gật mới được in, nó lắc là xếp xó. Tuổi anh mới 30 đã có hàng chục quyển sách xuất bản. Nhất định anh phải nằm trong guồng máy tuyên truyền của CIA. Vĩnh buồn trong bụng quá. Giải thích chưa xong vụ in sách giờ lại được đội thêm cái mũ CIA! Ta cứ bình tĩnh giải quyết từ từ, Vĩnh dặn lòng. Cứ nói chuyện sách cái đã. Vĩnh vừa dợm lên tiếng thì thằng quản giáo Cư đã chen vào. – Miền Bắc xã hội chủ nghĩa ngay những nhà văn có Đảng tịch mà mỗi ba năm mới được in một quyển sách, mà phải là sách đạt tiêu chuẩn và được hội nhà văn nhất trí thông qua đấy nhé. Mày là gì mà mới 30 tuổi ngụy nó cho mày in nhiều sách thế? – Thưa tôi chỉ là quân nhân. Việc in sách thì tôi đã nói rồi. Rất dễ. Nó được chính quyền cho in… Tên an ninh gằn giọng nhắc nhở. – Ngụy quyền! – Vâng, nó được ngụy quyền cho in là chỉ trên vấn đề kiểm duyệt mà thôi. Còn mọi khía cạnh khác đều thuộc vấn đề thương mại. Các nhà xuất bản họ đọc bản thảo thấy có thể ăn khách là họ mua bản quyền và xuất bản. Các nhà xuất bản này cũng đều là những dịch vụ tư nhân. Với lại sách tôi đều là những dịch phẩm, dịch từ các tác giả cổ điển… Không có gì chống phá Cách mạng trong đó cả. – Thế bây giờ số sách đó ở đâu? – Sách ở nhà tôi Cách mạng đã cho người đến tịch thu đem về phường từ hồi tôi còn ở nhà. Nhưng nếu các anh cần kiểm chứng vẫn có thư viện quốc gia. Tôi có nộp bản, và nếu Cách mạng chưa đem ra đốt hết thì nó còn nằm trong đó. Như tạm thỏa mãn về lời khai của Vĩnh trong vấn đề sách báo, tên an ninh nói. – Thôi được, đồng chí Cư sẽ bắt tên này khai chi tiết về vụ sách báo của nó trên giấy trắng mực đen. Bây giờ hỏi tiếp: Thủ trưởng CIA của mày là ai và hiện ở đâu? – Tôi là một quân nhân phụ trách phân phối hàng quân tiếp vụ cho Hải quân. Tôi không dính líu gì đến CIA cả. Tên an ninh giơ khúc cây lên tính phang, nghĩ sao lại bỏ xuống. Hắn nạt. – Mày là thằng ngoan cố ngoan cường, hỏi cái gì cũng chối đây đẩy, đến khi gọi tận tên bắt tận tội mới chịu khai ra. Tao bảo thật, bọn vừa là sỹ quan vừa cầm bút viết lách phản động như chúng mày nếu không là CIA cũng là CIB! Mày có biết thằng Phan Nhật Nam không? -…..! – Lỳ như nó, chống Cộng điên cuồng như nó mà rốt cuộc cũng phải khai hết. Nó đã thú nhận nó là một thằng CIA loại gộc đấy! – Cái đó tôi không rõ. Riêng tôi, thú thật với anh tôi chưa hề biết mặt mũi CIA nó ra làm sao cả?
Tên an ninh hét. – Vậy mày nhận chỉ thị của ai để viết lách? Ai trực tiếp chỉ đạo? Tự dưng đầu Vĩnh nẩy ra một kế. Nếu cứ dông dài mãi chưa biết đến bao giờ mới kết thúc vụ hỏi cung. Và còn mềm xương là đàng khác. Tính kế một chút, Vĩnh nuốt nước bọt, nói. – Thú thật với anh tôi viết sách chỉ nhằm mục đích kiếm thêm tiền nuôi vợ con. Không có ai chỉ đạo cho tôi cả. Tuy nhiên, trước đây chúng tôi có chơi từng nhóm với nhau. Không vì chính trị mà vì quyền lợi. Trong nhóm của tôi có một anh lớn tuổi nhất tên là Bột. Anh ta ở nhà số… đường Trương Minh Ký. Tên an ninh vội giơ tay chận Vĩnh lại. Hắn bước tới bàn cầm lấy tờ giấy và cây bút Bic. Hắn quay lại Vĩnh: – Mày đọc lại tên tuổi tao nghe. Đọc từ từ thôi… Vĩnh mừng thầm trong bụng. Anh rất hy vọng thằng khốn nạn sẽ mắc lỡm anh. Và rồi với bộ mặt quan trọng, anh bắt đầu khai. – Vâng tôi xin đọc lại. Tên anh là Bột. Nguyễn Văn Bột. Nhà số… đường Trương Minh Ký… Cheo chéo nhà thờ Ba Chuông chừng mươi căn… Tôi không biết rõ anh ta là gì. Tôi chỉ biết trên danh nghĩa anh là thầu khoán nhưng trên thực tế anh là người thường lui tới và đặt sách cho tôi dịch. Có lần có một quyển tôi không thích lắm, nhưng anh nói xa xôi rằng: Nếu cậu không dịch cuốn này tôi e mai mốt cậu khó in thêm sách… Tên an ninh đổi giọng. – Thế anh nghĩ nó là gì? Vĩnh ỡm ờ. – Thì tôi đã thưa với anh rồi. Bề nổi anh ta là thầu khoán, nhưng bề chìm thì tôi không rõ. Tôi chỉ biết anh ta đặt sách cho tôi dịch và trực tiếp chi tiền cho tôi. Sách cổ điển có nội dung hay, tôi lại có thêm tí tiền nuôi vợ con, thế là tôi thích và tôi làm. Sự thật chỉ giản dị thế thôi! Tên thủ phó Môn xoay sang nói khẽ với tên quản giáo Cư: Bằng mọi giá phải thông báo địa phương chộp cổ thằng Bột này… Vĩnh vờ như không nghe thấy. Anh tiếp. Các anh cứ nghĩ ở cấp bậc chúng tôi quyền hành giàu có lắm. Thực ra chúng tôi có là gì đâu trong miền Nam! Lương ba cọc ba đồng đâu có đủ sống. Ai có nghề phụ đều phải cố gắng làm thêm kiếm sống. Tên an ninh như đã thu nhận được một số tin tức quan trọng, hắn đỡ bực và xoay sang vấn đề khác. – Thôi được, lời khai của anh rồi sẽ được kiểm tra sau. Anh hoàn toàn trách nhiệm về lời khai này. Còn một vấn đề nữa. Tại sao các anh thua nhanh như thế? Tại sao không đánh mà chạy? Mỹ ngụy có ý đồ gì trong tương lai? Nghe hỏi, Vĩnh trả lời ngay. Anh lớn giọng hơn bình thường một chút, ra điều ta đây thẳng thắn và vô can trong vụ này. – Tôi không rõ ngoài Bắc, trong quân đội nhân dân với cấp bậc như cấp bậc thượng úy của thủ phó đây, có được biết nhiều những bí mật quân sự quan trọng hay không, chứ riêng trong quân đội miền Nam, cỡ cấp bậc tôi hoàn toàn không được phép biết một cái gì ngoài những phần vụ chính của mình. Vả lại với riêng tôi, suốt ngày bù đầu với con số, với máy tính, với bao gạo bao đường; tôi làm sao biết được những chuyện lớn ấy! Lời giải thích của Vĩnh nghe lọt tai. Tên thủ phó chợt nhìn đồng hồ tay. Qua kẽ hở trên cánh liếp, Vĩnh liếc nhìn ra ngoài sân. Trời tối đen như mực. Thốt nhiên Vĩnh nghe người mình nhẹ hẳn đi lúc tiếng nói của thằng an ninh cất lên bên tai anh.
– Bây giờ khung cho anh trở về lán. Chúng tôi sẽ còn phải làm việc với anh nhiều lần nữa. Điều cuối anh phải nhớ: Tuyệt đối không được tiết lộ với bất cứ ai nội dung và sự kiện buổi làm việc chiều nay. Tiết lộ sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm! Một lúc sau Vĩnh khập khễnh bước ra khỏi lều. Vừa đi được vài bước bỗng nhiên Vĩnh khụy xuống y hệt một chân vừa bị lọt xuống một cái hố. Bây giờ anh mới thấy những khớp xương đau ê chề. Vĩnh chống tay vào đầu gối đứng dậy. Anh vươn vai cố hít một hơi dài. Một cơn gió đêm thổi qua làm Vĩnh tỉnh táo lại. Tên vệ binh chẳng biết đứng sẵn từ góc tối nào đã xuất hiện bên cạnh Vĩnh. Nó không nói gì nhiều hơn một cái lệnh ngắn ngủi. – Đi! Vĩnh lầm lũi đi theo tên vệ binh. Anh vừa đi vừa ngước nhìn những vì sao thưa thớt trên bầu trời, lòng thầm nghĩ: Cậu Bột ơi, giờ này chắc cậu đang ở Mỹ, đang hưởng tự do; cậu đừng trách cháu nếu cháu bỗng dưng đè cậu ra và đổ hết “tội lỗi” lên người cậu… Tới cổng tên vệ binh bỗng cất tiếng hỏi khẽ: Anh hải quân hả? – Vâng. – Sao anh không di tản theo Mỹ ngụy? Vĩnh liếc nhìn bộ mặt non choẹt của thằng vệ binh nhòe nhoẹt dưới ánh sao đêm. Bộ mặt nó ngây thơ quá! Nhưng ngây thơ thế nào thì mình cũng phải thủ. Nghĩ thế Vĩnh khẽ trả lời. – Trước đây tôi có nghe nhiều về chính sách hòa hợp hòa giải của các anh. Tên vệ binh bỗng cười khẽ, một nụ cười thật thần bí trong bóng đêm. – Lạ nhỉ? Nó nói. Thật lạ nhỉ! Sao các anh trả lời cứ như cùng một sách vở! Cái nhà anh Trần Trọng Minh gì đấy, hôm nọ cũng trả lời quản giáo giống hệt như anh…
Tổ A.3 nhận phần nhiệm vụ đào ao rau muống nơi những thửa đất nằm bên cánh trái của trại. Đất căn cứ được Mỹ dùng xe hủ lô hạng nặng nén những lớp đá ong xuống mặt đất, thời gian đã biến mặt đất thành một lớp bê tông. Với những cuốc xẻng tự chế, tù vô cùng cực khổ khi phải khai quật cho hết những lớp đá ong nén cứng đó lên.
Tên quản giáo Cư lồng lộn khắp chốn. Không ai được ngồi nghỉ lấy một phút. Buổi sáng tổ A.3 đã bị hắn bắt quỳ cả tổ giữa trời giữa đất hơn một tiếng đồng hồ vì cái tội phè! Nói phè thì quá đáng, mà nói không phè thì cũng không phải. Thực ra thì tổ A.3 đã sáng tạo ra một lối lao động mới, ấy là làm việc gối đầu. Cứ bán tổ này làm thì bán tổ kia ngừng tay nghỉ. Lề lối lao động này bọn quản giáo rất ghét, tuy nhiên nếu tổ đoàn kết với nhau thì vẫn bao che cho nhau được. Thoạt đầu tổ trưởng Quách Tứ rất ái ngại với sáng kiến lao động này của anh em. Dần dần thấy có thúc hối mấy anh em cũng phè ra, anh đành phải chấp nhận một thực tế và lên tiếng chính thức đề nghị: Cả tổ, trừ khi nào thấy tên quản giáo xuất hiện, có thể thay phiên nhau cuốc cho đỡ mệt. Nhưng điều quan trọng là lúc nào cũng phải có người cuốc cầm chừng. Miễn sao khi hết giờ lao động chỉ tiêu phải đạt được hoặc cũng phải đạt một tám một mười.Sáng nay tổ trác, tên quản giáo nấp trong bụi rậm và thấy tất cả mọi sinh hoạt lao động của tổ A.3.
Hắn đột ngột xuất hiện sau một gò mối lớn và hét.- Mấy thằng phản động kia! Chúng mày lao động như thế à? Thằng hút thuốc, thằng đứng tán nhảm, thằng chui vào bụi ngồi tránh nắng… Tập họp lại! Quách Tứ rầu rĩ hô anh em tập họp trình diện quản giáo. Mười thằng tù, theo lệnh quản giáo, xếp hàng ngang như một đội banh sầu thảm. Thằng quản giáo mặt đằng đằng sát khí. Hắn khởi sự chửi rủa. Toàn một bọn gian trá, xanh vỏ đỏ lòng, nín thở qua sông! Tao đã nấp trong bụi nhìn thấy chúng mày múa rối như thế nào rồi. Chúng mày nhấc cái cuốc lên thì con cò đậu, hạ cái cuốc xuống thì con mối xông. Tao bảo thật với chúng mày, ngoài việc lao động như thế có mà ăn cứt, ngày về của chúng mày còn có thể bị kéo dài đến vô tận. Tao đã lên lớp chúng mày nhiều lần rồi. Cách mạng không có tình trạng lơ lửng con củ c… Một, chúng mày học tập lao động cho tốt để có ngày mà trở về. Hai, bánh xe lịch sử sẽ nghiền nát chúng mày trong này mất thôi!
Nói đến sùi bọt mép mà thấy nét mặt của mười thằng “ngụy” vẫn trơ thổ địa ra, thằng quản giáo cáu quá, hét. Tao phạt chúng mày quỳ 2 tiếng. Quỳ xuống!
Bọn tù chỉ liếc nhìn nhau. Chẳng ai chịu quỳ. Thằng quản giáo đâu có chịu thua. Hắn móc súng bắn đến đùng một phát. Để hắn giận chơi tới súng rồi cũng hơi phiền, nghĩ thế tổ trưởng Quách Tứ bèn quỳ ngay xuống để… làm gương! Tránh voi chẳng xấu mặt nào. Cả đám lần lượt êm ái quỳ theo. Thằng quản giáo Cư đứng chửi rủa thêm một lúc nữa mới chịu bỏ đi. Đợi hắn đi khuất khỏi những dàn mướp rậm rạp nơi khu canh tác gần đó, tổ A.3. mới đồng lòng ngồi bệt xuống đất với nhau.
– ĐM nó! Kể từ cái thời để chỏm đi học đến nay, hơn 30 năm rồi tao mới bị quỳ trở lại. Lê Văn Trợ lên tiếng chửi đổng.
Với máu võ biền trong người, Đặng Xuân Bính như chịu cái nhục không thấu, mắt hắn cứ long lên sòng sọc. Vĩnh an ủi bạn.- Đừng buồn mày ơi. Nếu mày muốn có một ngày nào vồ lại được chúng nó thì mày ráng chịu nhục. Trừ khi mày muốn làm anh hùng của một giây, một phút hoặc dài lắm là một tuần ở trong cái trại này…
Bính không nói lời nào. Tự dưng anh đứng lên và cuốc hùng hục, cuốc hăng say như bất cứ một tay lao động tiên tiến nào của cái xã hội khốn khổ này.
Vĩnh không tìm ra cái chân lý cuốc cho vơi hận thù như của Bính. Anh ngồi nghĩ ngợi lan man. Cuộc đời thật quả là một giấc mộng. Mới ngày nào mà giờ đây ra thân tù tội! Vĩnh nhìn quanh một vùng đất bao la vây quanh chỗ mình. Xã hội xã hội chủ nghĩa đang xuất hiện dưới mắt anh là một hiện trường lao động, trong đó con người phải quần quật với đủ mọi thứ khổ dịch. Những tiếng động, những lời tranh cãi của bọn tù, những lời chửi bới của cai tù… vang lên chung quanh tạo thành một thế giới xa lạ mà anh biết sẽ chẳng bao giờ anh hòa nhập được với nó. Thốt nhiên một tiếng hát khe khẽ vẳng lại. Vĩnh lắng tai nghe. Tay nào hát hay quá. Giọng hát thật khẽ, thật êm như chỉ đủ để rủ Vĩnh trở về với dĩ vãng… Mẹ già ở đất phù sa, đói no (là no) ai biết, rách lành ai có hay?… Đó là bài hát của phù thủy Phạm Duy từng có thời làm anh rơi lệ. Ôi những bà mẹ phù sa, ngày nay các con của mẹ – những người mà mẹ gọi là đã học xong chiến lược giữ xóm làng – đã đi tù hết bởi những người mà mẹ gọi là giải phóng, nhưng với tấm lòng hiền như cam quýt của mẹ, một thời mẹ cũng thương cũng che chở như con của mẹ, giờ đây đã lộ hình ngạ quỷ, đang bắt giam cả dân tộc của mẹ, chả hiểu mẹ có còn thấy thương chúng nữa không!? Mẹ phù sa ơi, bây giờ mẹ ở đâu? Những anh giải phóng mẹ thương dấu dưới gầm giường năm xưa có trở mặt bắt giam cả mẹ hay không? Có chụp lên đầu mẹ cái tội danh không phân biệt bạn và thù hay không? Có xỉ vả mẹ vì cái lòng không hận thù, chỉ có tình thương yêu vô bờ bến của mẹ hay không?
Sự hồi tưởng đưa Vĩnh đi tới nhiều nơi của dĩ vãng.
Có thực mình thua Cộng sản không? Tại sao lại xảy ra một cuộc tháo chạy lạ thường dường ấy? Đã bao lần Vĩnh nghĩ tới hai chữ gia đình. Vĩnh khẽ lắc đầu như không muốn nghĩ tiếp, không muốn sự lý luận của mình dẫn tới việc kết tội hai chữ thiêng liêng này. Thế nhưng cũng như bao lần trước, Vĩnh không tránh khỏi một kết luận rằng: Ngoài những nguyên nhân xa là sự tương nhượng của các cường quốc có dính líu đến cuộc chiến tranh Việt Nam, nguyên nhân gần đem đến sự sụp đổ nhanh như một tòa nhà trên vùng động đất của miền Nam chính là vì hai chữ gia đình!
Nếu năm 1954 cũng vì hai chữ gia đình, bảo vệ cho gia đình được toàn vẹn, người miền Bắc đã di cư xuống miền Nam, lập thành một chiến tuyến chống lại chủ nghĩa tam vô của Cộng sản một cách hữu hiệu; thì cũng vì hai chữ gia đình, 21 năm sau người quốc gia đã thua về tay Cộng sản. Đánh làm sao được khi mà thê tróc tử phược!? Đánh làm sao được khi mà người quốc gia hoàn toàn khác Cộng sản ở chỗ Cộng sản chỉ có mục đích duy nhất phục vụ Đảng và coi Đảng như là một cứu cánh tối hậu cho ý nghĩa của cuộc nhân sinh. Đảng còn, còn tất cả. Đảng mất, mất tất cả. Còn người quốc gia thì từ anh binh nhì lên đến ông đại tướng, từ anh xích lô lên đến ông tổng thống, ai cũng có khuynh hướng đầu tư tất cả vốn liếng đời mình vào gia đình, vào bầy con… Với cái ý niệm huyết tộc trên hết, lâu ngày chầy tháng ý niệm này đã tiêu thực mất cả ý niệm về tổ quốc và tôn giáo (mà ít ai ngờ tới!). Nói tóm, gia đình đối với người quốc gia Việt Nam trước năm 1975 đã thực sự trở thành một cứu cánh sau cùng. Cứu cánh ấy mất là mất tất cả. Thế nên trong lúc biến, hầu hết chỉ lo làm sao bảo vệ được toàn vẹn gia đình, dù bảo vệ một cách tiêu cực nhất ấy là đem gia đình bỏ chạy!…
Phạm Công xưa nhận lệnh vua ra trận, nách đeo hai con thơ, theo sau lại có quan tài vợ. Tướng giặc động lòng thương cảm tự cắt đầu mình trao tặng cho Phạm Công về nộp triều đình chứng tỏ một chiến thắng. Tướng giặc ngày nay, bọn CSVN làm gì có trái tim ấy! Thế là tan nát tất cả…
Chao ôi tình cảm gia đình thiêng liêng lắm, nhưng đớn đau thay, chẳng ai ngờ được rằng có lúc chính cái tình cảm ấy đã hủy diệt đi sự sống của cả một dân tộc!
– Nó đến, quỳ lên!
Tiếng báo động hốt hoảng của tổ trưởng Quách Tứ làm mọi người quỳ phắt lên.
Vĩnh nghe trong người đau nhói. Nhưng anh biết nó không còn là cái đau của tủi nhục nữa mà là cái đau của sinh lý. Mấy ngày nay Vĩnh biết bệnh sạn thận bắt đầu trở lại hành hạ anh. Triệu chứng thốn buốt nơi bộ phận sinh dục về đêm làm anh mất ngủ bơ phờ. Ta sẽ không quỳ mà ta sẽ nằm xem nó đến đâu. Nghĩ xong Vĩnh lăn cù ra nằm trên mặt đất. Anh co rút người lại như một con tôm. Cơn đau bỗng nhiên dồn dập kéo đến, nhanh và táo bạo không ngờ. Vĩnh cắn răng không rên la. Rên la trước mặt quân thù là điều tối kỵ. Đau quá! Nơi lưng Vĩnh giờ đây như đang bị một con ác quỷ dùng những chiếc móng sắc xé toạc ra.
Anh em trong tổ bất kể thằng Cư vừa bước tới, họ nhào đến nâng Vĩnh dậy.
– Thằng Vĩnh nó làm sao thế này?
Cơn đau làm ù tai nhưng Vĩnh vẫn nhận ra giọng của Lê Văn Sanh hốt hoảng cất lên. Tiếp tiếng la của Sanh là giọng thằng quản giáo Cư.
– Chúng mày đóng kịch gì đấy?
Giọng Quách Tứ.
– Báo cáo anh anh Vĩnh bị ốm nặng mấy ngày nay.
– Ốm gì? Đừng giả vờ giả vịt!
Bọn tù chả biết nói sao đành trố mắt đứng nhìn. Thằng quản giáo bước tới gần Vĩnh. Hắn vẫn đứng thẳng lưng, hỏi. Anh kia, đau cái gì?
-….. !
– Anh nghe tôi không? Đau cái gì?
– Tôi bị sạn thận.
– Sạn thận là cái gì?
-…..! Thấy Vĩnh làm biếng trả lời, Quách Tứ lên tiếng cắt nghĩa.
– Thưa anh ấy bị đái ra những vật cứng như viên sạn. Đau lắm…
Thằng quản giáo như hiểu ra. Hắn lên giọng.
– Cái ấy người ta gọi là sỏi bọng đái. Hiểu chưa? Gọi là sỏi bọng đái. Sỏi bọng đái mà nói là sạn thận thì ai mà hiểu được. Hắn lại ngó xuống Vĩnh, hỏi. Bị lâu chưa?
– Tôi đau từ mấy năm về trước.
– Thế ngụy nó không chữa cho anh à?
– Có chữa nhưng không dứt. Lâu lâu nó lại tái phát.
Như được dịp, quản giáo Cư làm luôn một bài tố khổ nền y khoa lạc hậu của Mỹ ngụy. Bọn tù lại bành lỗ tai tiếp thu bài học mới. Lên lớp đã đời, hắn lại quay hỏi Vĩnh.
– Thấy đỡ chưa?
– Chưa!
– Thôi được, tôi cho phép anh nằm đây nghỉ. Các anh kia tiếp tục lao động. Tôi nói lại, các anh mà lao động lếu láo nữa là tôi sẽ cất hết vào connex. Tổ trưởng đâu?
– Dạ tôi đây.
– Anh đi theo tôi.
Tổ phó Khoa thay tổ trưởng điều động cả tổ làm tiếp công tác khai quật những lớp đá ong được nén trên mặt đất căn cứ Trảng Lớn có độ dày đến 40 phân. Vĩnh cố ngồi dậy. Anh tìm một bụi rậm trên một gò mối chui vào ngồi tránh nắng. Nơi đây, Vĩnh có thể thả mắt quan sát một vùng rộng rãi.
Những tiếng đục đẽo, những tiếng lăn rầm rầm của các thùng phuy, tiếng hò hét chỉ huy, tiếng rên la của những người chẳng may bị kẹp tay, bị đạp đinh, đạp gai vang rền khắp nơi. Cảnh tượng nô lệ của thời La Mã xa xưa đang tái diễn nơi đây. Những tên nô lệ thời mới – Vĩnh và các chiến hữu của Vĩnh – nếu không có một cuộc tự cứu vĩ đại xảy ra thì chắc chắn sẽ rục xương trong kiếp nô lệ này. Nhưng tự cứu bằng cách nào bây giờ? Hình ảnh Spartacus và những chiến hữu nô lệ của ông xanh mét trên thập giá lại hiện lên rõ mồn một trong trí tưởng của Vĩnh…
Một tiếng la thật lớn bỗng cất lên phía sau lưng Vĩnh.
– Có ai trong bụi đi ra nghe. Cuốc vô đầu ráng chịu!
Vĩnh hô to.
– Ê, có bệnh nhân ngồi tránh nắng trong này nghe mấy cha!
– Bệnh thật hay bệnh giả? Tôi là bác sỹ đây.
Vĩnh nhận ra giọng Ngô Văn Tuyên. Anh bỏ ra khỏi bụi rậm. Phía bên kia bụi rậm tổ A.4 đã dàn hàng ngang, người nào người nấy cuốc trên tay đang sửa soạn “hạ sát” cái gò mối đầy những cây cỏ hôi để làm tròn chỉ tiêu của buổi sáng.
Thấy Vĩnh, Tuyên hỏi. Sao vậy?
– Sạn thận ông ơi.
– Rồng thiêng mới có ngọc. Ông cũng có ngọc trong người, lên bàn thờ đến nơi rồi đấy!
Vĩnh không cười trước câu pha trò của bác sỹ Tuyên. Anh ngồi nhìn những nhát cuốc của anh em tổ A.4. Khi những nhát cuốc hạ dần những bụi cỏ hôi, để lộ ra bên cạnh một gò mối lớn là một cái nền nhà Mỹ loại nhỏ (có thể xưa kia nó là một cái nền nhà tắm?) thì Vĩnh lại phải đứng lên lùi sâu hơn vào những bụi rậm sau lưng. Một con cút đất vụt chạy trốn qua mặt Vĩnh. Những con cắc ké đủ màu chạy loạn để tránh nạn. Đôi ba con chim sâu hốt hoảng rời tổ vụt bay về phía ruộng khoai mì xa xa. Vĩnh buồn bã ngồi nhìn cái nền nhà Mỹ, hồn chìm sâu trong một hồi tưởng thương đau. Họ đến đây làm gì nhỉ? Vĩnh thầm nghĩ. Họ đến đùng đùng như một cơn bão rồi lại ra đi nhanh như một cơn lốc, để lại cho miền Nam một di sản đầy những thương đau…
Tổ trưởng tổ A.4 có dáng đi lạch bạch như con vịt bầu chợt cất giọng la lớn.
– Mình trúng mối rồi!
Trúng mối ở đây là trúng phải một cái nền nhà đúc bằng xi măng đá xanh. Điều ấy có nghĩa là tổ A.4 ngày mai đây phải bằng mọi cách phá cho xong cái nền nhà ấy để biến nơi đây thành những ao rau muống theo đúng quy hoạch của trại.
Tổ A.4 giờ đây gần như đã nhập chung với tổ A.3. Thêm người thêm chuyện. Vĩnh thấy trong người đã khá hơn. Anh cũng cầm một cái cuốc đứng lên, chống cuốc nói chuyện với các bạn.
Bác sỹ Tuyên khẽ cằn nhằn.
– Cái me-xừ Tuấn hôm qua nhảm quá.
– Thẳng nhỏ điên khùng ấy chấp mà làm gì.
– Nhưng nó lập luận đâu có điên chút nào. Tự dưng nó lôi me-xừ Đỉnh vào cuộc, rồi lôi cả tôi nữa! Khi sáng thằng quản giáo nói hỏi tôi.
– Hỏi sao?
– Nó hỏi chắc hồi xưa tù binh Cách mạng lọt vào tay các anh, các anh đem vào trường y khoa làm vật thử nghiệm phải không? Nghe nó hỏi mà mình muốn điên cha nó cả người!
– Việc quái gì phải điên!
– Ông coi, nó nghi ngờ, nó ngâm tôm hồ sơ mình không cứu xét có mà rũ tù!
Vĩnh yên lặng, vì thấy mình không được hào hứng với lời than thở của Tuyên. Tiếng ông già Chuân ở mút đầu tổ A.4 đang nói chuyện với Ba Trợ.
– Ông coi, nó là thằng chó đểu. Tôi có ân oán gì với nó đâu. Chỉ vì mấy điếu thuốc lào mà nó thù tôi. Tôi mang bệnh nghiến răng từ cha sinh mẹ đẻ, thế mà nó cũng đem tôi ra chụp mũ…
Vĩnh chợt nhớ lại ngày hôm qua mà buồn cười. Ông già Chuân cũng là một nạn nhân của Tuấn chuột. Nó dzũa Ba Tô đã đời, đến lượt ông Chuân đọc bản tự khai nó cũng không tha. Nó bổ túc cho phần tự khai của ông Chuân bằng ý kiến: Anh Chuân khai như thế là chưa thành khẩn và chưa hết. Tôi nhận thấy anh đã dấu diếm và không khai về sự nghiến răng hàng đêm của anh. Cả phòng gần 120 người, chỉ có mỗi mình anh là nghiến răng trèo trẹo ban đêm. Tôi không cho đó là bệnh, mà là hậu quả của một quá trình ý thức. Ban ngày chắc anh căm thù Cách mạng ghê lắm dồn nén nói không được, nên ban đêm anh nằm nghiến răng đến độ cả phòng ngủ không nổi!
Lời phát biểu của Tuấn khiến cả khối phải nén cười. Tên Thịnh hình như hiểu biết, hắn đã phải chận lại lời phát biểu quái quỷ của Tuấn và nói.
– Không, cái này thì anh Tuấn có thể phát biểu sai đấy. Tôi biết có bệnh nghiến răng…
Tên quản giáo và Quách Tứ đã trở lại. Sau khi đứng hò hét một lúc hắn lại bỏ đi. Quách Tứ không đợi anh em hỏi vội lên tiếng.
– Không hiểu lý do gì quản giáo lại lôi tôi lên khung hỏi về Trần Trọng Minh.
Giọng Ba Trợ. – Nó hỏi gì?
– Thì đại khái nhận xét thế nào về Minh? Hồi xưa ở không quân có chơi với nhau không? Minh lái loại máy bay gì? Trước đây chiến đấu ra sao? Cấp bậc có phải là trung úy hay là trung tá? Có bao nhiêu Anh Dũng Bội Tinh?…
– Rồi ông trả lời sao?
– Dĩ nhiên tôi đâu biết gì mà trả lời. Nó lái khu trục, tôi lái trực thăng; nội sự khác biệt này cũng đã không có dịp mà quen biết nhau rồi.
– Thế sao làm việc lâu thế?
Quách Tứ có vẻ giận trước câu hỏi hơi thiếu tế nhị của Đặng Xuân Bính. Anh không nói thêm gì nữa, chỉ kêu gọi anh em cầm cuốc làm việc trở lại.
Chỉ một ngày sau các khối đã ổn định đâu vào đó. Khối 2, hậu thân của khối 10 vẫn do Trương Thành Trai làm khối trưởng với Nguyễn Ngọc Đỉnh làm khối phó. Tổ A.3 vẫn do Quách Tứ làm tổ trưởng. Quản giáo vẫn là tên quản giáo Cư từ trại cũ theo sang. Nền nếp sinh hoạt nơi đây cũng không khác gì bên L4T1. Các tổ thay phiên nhau ứng trực nấu bếp một ngày. Mỗi ngày nhân số trực tiếp lao động phải bảo đảm 90 phần trăm. Hàng ngày sau những giờ lao động, vào lúc 6 giờ chiều, phải tiến hành những cuộc họp khối rồi họp tổ để phân tích, mổ xẻ, phê bình, kiểm thảo, đấu tranh sai trái và đề ra phương hướng khắc phục mọi điểm yếu, phát huy các điểm mạnh của từng cá nhân trong ngày. Căn bản lý luận trong đấu tranh sai trái về mặt lao động sẽ là: Mỗi người gian lận 5 phút lao động, 5 phút ấy đem nhân với 50 triệu người trong cả nước sẽ biến thành một số lượng thời gian khổng lồ. Và Tổ quốc xã hội xã hội chủ nghĩa sẽ bị chậm lại trên con đường phát triển so với các nước văn minh tiên tiến khác là 476 năm. Nếu mọi người chỉ gian lận nửa tháng thì nước ta sẽ chắc chắn thụt lùi về tới thời đại đồ đá! Khẩu hiệu: Lao động là thước đo lòng yêu nước của mỗi người! Khẩu hiệu này phải được dán khắp nơi. Nhưng chỗ được kẻ và dán nhiều nhất phải là trong trái tim và trong khối óc của mỗi cải tạo viên. Mọi người phải nhắc nhở đến khẩu hiệu ấy như một kinh nhật tụng. Tất cả các cải tạo viên phải tự thực hiện một lời hứa nho nhỏ có tên chung là bản “Hạ quyết tâm” gắn trên đầu chỗ nằm. Bản hạ quyết tâm tiêu biểu có thể như sau. Tôi không bao giờ quên rằng tôi là kẻ có tội với Đảng, với Tổ Quốc, với nhân dân. Tôi cũng không quên rằng Đảng đã khoan hồng tha tội chết cho tôi, lại tập trung tôi lại, tạo điều kiện cho tôi học tập cải tạo để trở nên người công dân lương thiện. Để đền ơn Đảng, tôi, Trần Văn X, tổ viên tổ A.3, khối 2, trại L4T3, nhất trí
HẠ QUYẾT TÂM: 1. Tích cực học tập cải tạo lao động tốt. 2. Giải phóng mọi tình cảm gia đình yếu đuối và tình nguyện ở lại trại học tập lao động cho đến khi nào được Cách mạng công nhận tiến bộ cho về phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân. 3. Trong thời gian học tập tại trại, tôi phải chấp hành nghiêm chỉnh mọi nội quy quy định. Khắc phục mọi khuyết điểm tồn tại. Đấu tranh sai trái để thủ tiêu mọi mặt yếu của các bạn cải tạo khác, hầu biến trại ta trở thành trại cải tạo tiên tiến về mọi mặt. 4. Tố giác kịp thời với Cách mạng bọn xấu trong và ngoài trại (nếu biết) đang còn tiếp tục ý đồ chống phá Cách mạng. 5. Tuyệt đối tin tưởng vào đường lối khoan hồng trước sau như một của Cách mạng. Trại mới với những huấn thị mới của khung đem xuống là như thế. Tuy nhiên, trước khi bắt tay vào lao động, một khâu quan trọng bậc nhất không được phép bỏ qua: Màn khai lý lịch được tái diễn. Hai ngày, một thời gian tương đối rộng rãi, Cách mạng ưu ái dành cho những kẻ có tội với Đảng, với nhân dân được nghỉ lao động nằm nhà làm bản tự khai thêm một lần nữa. Nhờ kinh nghiệm của lần trước, lần này tương đối đa số đều thoát qua vòng đầu của việc làm bản tự khai một cách êm ả, ngoại trừ vài trường hợp cá biệt gặp chút trở ngại như ông Thiệu của khối 2 không biết viết, anh chàng Thân của khối 4 điên điên khùng khùng nhất định không làm tự khai vì theo anh nói: Anh chẳng có tội với thằng đếch nào cả! Khi bản tự khai đã được thu nộp lên ban chỉ huy, bọn tù lại quay trở lại với công tác chính dọn nơi ăn chốn ở, sửa lại các hầm cầu tiêu, đắp lại bếp, phát quang những cỏ lau chung quanh trại, dọn sạch các connex chứa súng đạn của chế độ cũ, vét giếng, đào mương, sửa hội trường và phải thực hiện một tấm bảng thật lớn treo ngay trước hội trường với một câu nói của Hồ Chí Minh: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi!…
Vừa lao động được hai ngày chưa kịp dãn xương cốt thì mọi người lại được lệnh ngừng mọi lao động để thông qua các bản tự khai của mình trước khối. Từ 5 giờ sáng các khối trưởng đã dựng mọi người dậy bắt gấp chăn mùng mền xếp cho ngay ngắn. Tổ trực phải quét nhà quét sân thật sạch. Tổ trực bếp lên lửa nấu cơm liền. Nói chung mọi công tác vệ sinh ăn ở cá nhân và tập thể phải xong trước 8 giờ. Quãng 8 giờ thiếu 10, khối trưởng Trai đã cho tập họp mọi người trước khối. Theo đúng chương trình và sự sắp xếp của quản giáo, Trai cho chia khối thành hai bán khối. Bán khối 1 sẽ ngồi đọc bản tự khai và thảo luận trong nhà. Bán khối 2 sẽ làm việc với nhau bên hông phải của căn nhà dưới những tấm bao cát lớn được giăng ngang từ mái hiên xuống tới bếp. Chỗ này cũng là “phòng ăn” của cả khối, có những dãy bàn dài được kê bằng những tấm PSP trên các cọc sắt ấp chiến lược. Đúng 8 giờ quản giáo Cư xuống tới khối, đi theo hắn còn có một tên khác nữa. Sau những màn hô hoán nghiêm nghỉ để chào đón ông quan Cách mạng mọi người được an vị. Tên quản giáo Cư sau khi nhìn ngang liếc dọc để lượng định sự tiến bộ của bọn tù trong nền nếp ăn ở, hắn dõng dạc tuyên bố. – Theo Trên quy định, hôm nay tôi và đồng chí Thịnh sẽ xuống làm việc với các anh về bản tự khai. Nói tới đây hắn quay sang đồng chí Thịnh của hắn, vỗ tay làm cò mồi. Bọn tù chậm hiểu nên cứ trố mắt ngồi nhìn. Thấy không ai vỗ tay hưởng ứng, tên Cư vừa vỗ dồn dập vừa nói. Khối 2 chúng ta vỗ tay chào mừng đồng chí Thịnh đi chứ! Thế là vài tiếng vỗ tay lẹt đẹt, nghe chán như những cái rắm của bọn nhà nghèo đói bụng từ đám tù nổi lên để góp phần chào mừng đồng chí Thịnh của đồng chí Cư. Như để đáp ứng sự chào mừng mình của đám tù, tên quản giáo mới tằng hắng lấy giọng và cất tiếng. – Xin tự giới thiệu với các anh tôi là quản giáo Thịnh. Chấp hành lệnh thủ trưởng, tôi với đồng chí Cư sẽ hướng dẫn và kiểm tra buổi sinh hoạt của khối 2 hôm nay. Qua bản tự khai các anh đã nộp và Trên đã nghiên cứu, ban quản giáo thấy rằng tuyệt đại đa số đã đấu tranh tư tưởng tốt, lời khai phù hợp với thực tế. Có nhiều anh thành thực một cách xuất sắc, đã kê khai chi li những tội ác mình đã phạm với Cách mạng, với nhân dân. Có cả những anh đã thú nhận mình giết đến trên 500 chiến sỹ Cách mạng… Rồi đây những cái gương sáng của sự thành khẩn khai báo ấy sẽ được công bố trước trại để biểu dương trước tập thể. Hôm nay, thay mặt khung, tôi biểu dương chung cả khối về thành quả rất đáng ghi nhận trong lần làm bản tự khai vừa qua. Tuy nhiên nói đi thì phải nói lại. Tôi cũng cần cho các anh biết trong khối ta vẫn có một thiểu số chưa thành thật lắm trong lời tự khai. Những kẻ ấy chắc chắn sẽ còn phải làm việc với Trên nhiều nữa. Nói tới đây tên quản giáo Thịnh nhìn Cư như dò hỏi một điều gì. Khi thấy Cư gật nhẹ đầu, hắn tiếp. Sáng nay thì là Trên cho các anh nghỉ lao động để tự đọc bản tự khai của mình trước tập thể. Đây là một thủ tục quen thuộc trong xã hội ta. Tập thể quyết định mọi việc. Do đó, các anh phải làm quen với lề lối này và không nên có những ý nghĩ sai trái này kia kia nọ. Các anh cứ biết rằng bất cứ cái gì chưa có quyết định tối hậu của tập thể đều vô giá trị trong xã hội ta, kể cả những bản tự khai. Vậy thì theo đúng lề lối ấy, bản tự khai của các anh sẽ có giá trị hay không là ở chiều nay, sau khi nó đã được chính các anh đọc lên, kế đó được tập thể cùng nghiên cứu, bổ khuyết và thông qua nếu bản tự khai thực sự đã đạt yêu cầu. Tên quản giáo Thịnh nói tới đây thì ngừng lại như để lấy hơi và cũng để nhớ lại bài bản. Một lúc hắn tiếp. Hẳn ở đây thế nào cũng có những anh dây mơ rễ má với nhau từ thời Mỹ ngụy. Có thể là bạn học của nhau. Có thể gia đình từng quen biết nhau. Có thể là láng giềng của nhau. Có thể đi lính cùng khóa hoặc ở cùng đơn vị trong thời gian thi hành tội ác lùng diệt Cách mạng, bắn giết nhân dân. Thế nên, nếu như nhận biết được bạn mình có gì lấn cấn trong bản tự khai thì phải thẳng thắn lên tiếng sửa sai liền. Các anh đừng nghĩ rằng đó là những hành động không tốt. Bây giờ đổi đời rồi, các anh phải học theo các nguyên tắc sống của Cách mạng. Phải nhớ rằng đối với Cách mạng, mọi nguyên tắc về đạo đức, về lòng thương yêu, về những mối quan hệ giữa người với người… hoàn toàn đã ly khai với những nguyên tắc lạc hậu lỗi thời của chế độ cũ. Phải nhớ rằng chủ nghĩa Cộng Sản đem con người tới mức tiến bộ như ngày nay chính nhờ bởi những nguyên tắc mới, những ý niệm mới cấu thành tư tưởng mới hiện thực và ưu việt. Bây giờ tôi chưa có thì giờ lên lớp với các anh nhiều về vấn đề này. Mai đây, khi sống lâu ngày dưới xã hội mới tốt đẹp này các anh dần dần rồi sẽ nhận ra. Tôi chỉ tóm tắt, để đạt yêu cầu trong lần thông qua bản tự khai hôm nay, tôi nhắc nhở các anh hết sức phấn đấu tránh nhận định bản chất và hiện tượng dựa trên những nguyên tắc cũ. Sẽ sai bét bè be cả. Đấu tranh sai trái, thú nhận cái lỗi của mình, vạch ra cái lỗi của người trước tập thể là nghĩa vụ cao quý của mọi người. Nó chẳng những giúp cải thiện chính ta, cải thiện thêm một người bạn, mà còn góp phần tích cực xây dựng những con người mới của xã hội xã hội chủ nghĩa cho ngày mai như Bác hồ đã dạy. Thật bất ngờ, vừa nói tới đây tên Thịnh chỉ ngay vào một người ngồi gần hắn, hỏi. Anh, anh tên gì? Người vừa được hỏi là khối phó Nguyễn Ngọc Đỉnh. Đỉnh vội trả lời. – Dạ tôi là Đỉnh. – À, anh Đỉnh! Thế anh có nắm vững những lời tôi vừa nói hay không? Anh có biết nguyên tắc là gì không? Đỉnh cố nén bực mình. – Thưa tôi chỉ hiểu sơ sơ! Tên quản giáo bỗng giơ hai tay ôm lấy đầu. – Hiểu sơ sơ là chưa đạt yêu cầu. Trong xã hội ta, một khi đã nói hiểu là phải hiểu thật vững vàng, không thể hiểu một cách lơ vơ lờ vờ như người say thuốc lào được. Tôi nói thêm để các anh nắm vững vấn đề. Trong xã hội ta, khai báo sự sai trái của một cá thể hay của cả một tập thể nếu ta biết được là một nghĩa vụ của mọi người. Ngày xưa các anh cho đó là hành động xấu xa, là đi guốc vào đời tư người khác vân vân và vân vân. Đấy chẳng qua là các anh bị nhiễm độc bởi một một nền giáo dục ngu dân, ích kỷ, coi cá nhân chủ nghĩa như là một cứu cánh tối hậu cho đời sống. Ngày nay nền giáo dục ấy đã cáo chung. Ta tiến bộ chưa đủ, ta còn có nghĩa vụ giúp cả cha mẹ, vợ con, anh em, bạn bè, láng giềng của ta cùng tiến bộ nữa mới được. Muốn như thế ta phải can đảm, phải thẳng thắn, phải sẵn sàng đấu tranh sai trái và phải thấm nhuần ý nghĩa câu nói mình vì mọi người, mọi người vì mình.
Thốt nhiên mọi người đều kinh ngạc vì trong đám tù bật lên một câu hỏi khá lớn. – Thưa anh, nếu như tôi phát hiện được sự sai trái của quản giáo hay bất cứ một cán bộ chiến sỹ Cách mạng nào, tôi có được phép đem ra đấu tranh sai trái trước tập thể không? Mọi người điếng hồn vì câu hỏi. Cả hai tên quản giáo cùng tê tái trước câu hỏi quá bất ngờ của một tên tù. Tên Thịnh vội hỏi. – Anh tên gì nhỉ? Người vừa hỏi thản nhiên trả lời. – Dạ tôi tên là Nguyễn Văn Hảo. Mọi người đều lo cho cái nhà chị Hảo này. Hảo là một sỹ quan cấp thiếu úy, người miền Nam, tính tình thật thà và nhu mì như con gái. Ở với nhau một thời gian anh em đặt vấn đề Hảo có lẽ bệnh lại cái. Từ dáng đi, cách ăn nói… nữ tính nhiều hơn nam tính. Nhất là sống trong tập thể tù, mọi cái đều phải chạy đua theo tiếng kẻng, riêng Hảo vẫn luôn luôn thong thả, khoan thai như một cô gái thứ thiệt. Đặc biệt những lúc “chị” đi tắm! Buổi chiều lao động về, mọi người đều nhào ra giếng trần truồng đứng tắm với nhau. Riêng chị Hảo thì khác. Chị len lén tìm đến một cái giếng ít nước không ai thèm tắm, múc lên và gạn từng miếng nước trong đổ vào một cái thùng đạn đại liên trống. Chị xách thùng đại liên nước cất dấu vào đầu chỗ nằm. Khi màn đêm đã buông xuống, chị mới xách thùng nước ra cái connex gần hàng rào tắm thật kín đáo. Bọn tù khối 2 đã nhiều đứa từng rình nàng tắm. Một ngày kia, một tên đã nhìn thấy được trọn vẹn tấm thân nàng. Hắn công bố với mọi người: Nó có đầy đủ tất cả và coi mòi còn… kiện tướng hơn cả của tao! Thằng này không phải lại cái, chắc nó đồng tính luyến ái… Khi lời công bố ấy được lan truyền ra, Hảo bỏ luôn cơm chiều, rúc vào một góc tối ngoài chái nhà khóc thút thít như một cô gái bị hạ nhục. Chả hiểu hôm nay chị cao hứng thế nào mà lại nhét ngay một cái… xú cheng vào họng tên cán bộ quản giáo như thế! Dù sao thì câu hỏi của Hảo đã như một mũi tên cắm sâu vào lỗ tai của hai thằng quản giáo không cách gì nhổ ra được nữa. Trong khi hai tên quản giáo ngỡ ngàng thì vẻ hiền hòa, chân chất của một người miền Nam thuần túy vẫn được giữ nguyên vẹn trên nét mặt của thiếu úy Nguyễn Văn Hảo. Tên Thịnh liếc nhìn tên Cư như ngầm hỏi ý. Tên Cư hơi nhíu mày, bẻ bão tay rồi ậm ừ cất tiếng. – Anh Hảo hỏi như thế cũng có lý của anh ấy. Tuy nhiên nhân đây tôi cũng nhắc nhở các anh thêm một điều. Các anh cần phải ý thức cho đúng vị trí của mình. Hiện tại các anh chỉ mới là những cải tạo viên, có nghĩa là chỉ mới có nhiệm vụ phấn đấu học tập lao động cải tạo tốt, giúp đỡ bạn bè chung quanh cùng học tập lao động cải tạo tốt. Kỳ dư, những cái khác các anh sẽ đương nhiên có quyền khi đã hoàn toàn tốt, được Cách mạng công nhận, được phục hồi quyền công dân, được cho về phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội. Lúc ấy, các anh mới được hưởng quyền làm chủ tập thể, có nghĩa là được hưởng quyền phê phán các thành phần quản lý, tức là các thành phần cán bộ viên chức nhà nước.
Tên Cư chợt ngừng nói, hắn nhìn đám đông mỉm một nụ cười khó hiểu rồi nhìn về phía Hảo, hỏi. Anh Hảo, anh đã nhất trí chưa? -…..! – Thôi được, rồi chúng tôi sẽ làm việc riêng với anh sau, bây giờ chúng ta bắt đầu đi vào công tác chính của ngày hôm nay. À, thế tổ trực hôm nay đã lo cơm nước sẵn sàng chưa đấy, anh khối trưởng? – Dạ đã xong cả. Tên Thịnh chợt quay sang bàn nhỏ gì đó với tên Cư, một lát sau hắn quay lại nói với bọn tù. – Như quản giáo Cư đã gợi ý cho khối trưởng, chúng ta sẽ chia khối làm hai bán khối. Bán khối 1 từ tổ 1 đến tổ 6. Bán khối 2 từ tổ 7 đến tổ 12. Bán khối 1 sẽ đọc bản tự khai trong nhà. Bán khối hai sẽ làm việc ngoài sân. Trước khi bắt tay vào việc, tôi nhắc lại mục đích yêu cầu của buổi thảo luận sáng nay để các anh nắm cho vững. Vậy thì mục đích sáng nay là thông qua các bản tự khai của các anh trước mặt tập thể. Yêu cầu là các anh phải có thái độ nghiêm túc, thành thật, thẳng thắn và tích cực trong thảo luận. Các anh phải ý thức cho đúng tầm mức tối quan trọng của công việc làm sắp tới đây. Nó ảnh hưởng cụ thể đến sự ở sự về của các anh trong những ngày tới. Các anh có nghe rõ cả không? – Rõ! – Thế thì tốt. Bây giờ như tôi vừa quy định, các anh hãy tự động chia đôi khối và ổn định theo bán khối của mình. Khẩn trương và im lặng. Bọn tù đứng hết lên. Kẻ chạy ra người chạy vào. Kẻ lấy giấy người lấy bút. Năm phút sau đâu đã vào đó. Khối phó Đỉnh trụ trì bán khối bên trong nhà. Khối trưởng Trai trụ trì bán khối bên ngoài nhà. Hai tên quản giáo đi tới đi lui kiểm soát cuộc bới móc đấu tố nhau được ngụy trang dưới mỹ từ của Cộng sản: thông qua bản tự khai trước tập thể! Giọng bác sỹ Đỉnh. – Bây giờ ta theo thứ tự từng tổ. Yêu cầu anh tổ trưởng tổ 1 đọc bản tự khai trước. Tổ trưởng tổ 1 tên Khải. Anh này cao và gầy như một cây sào. Sự khôn ngoan của một người có cấp bằng cử nhân khoa học, sỹ quan biệt phái về bộ giáo dục, đã giúp cho bản tự khai của anh có thứ tự lớp lang từ đầu chí cuối, không có gì đáng mổ xẻ khi anh khẳng định rằng. – Tôi sinh trưởng ở miền Bắc nhưng lớn lên ở miền Nam. Từ bé chí lớn tôi chỉ lo học hành. Vừa học xong thì bị lệnh tổng động viên chi phối sau lần Cách mạng tiến công vào Sài Gòn dịp tết Mậu Thân như hầu hết các bạn hiện diện ở đây. Tôi rời quân trường một thời gian ngắn thì được biệt phái về dạy học. Tôi chỉ dạy toán, ngoài ra tôi không dính dáng gì đến các môn văn sử địa. Bố tôi là công nhân hãng bia. Mẹ tôi may vá. Ông bà tôi chết từ hồi tản cư vì Tây dội bom… Tiểu sử của một anh nhà giáo thực tế không có gì quá hấp dẫn đối với hai tên quản giáo, do đó Khải được thông qua tương đối dễ dàng.
Giọng khối phó Đỉnh lại cất lên. – Mời anh kế tiếp. – Tôi tên là Trúc, sinh ngày tháng năm tại,…, cấp bậc thiếu úy, làm việc tại Cục mãi dịch. Như cốt cho hai tên quản giáo hiểu được cục mãi dịch là gì để tránh sự thắc mắc tuyệt nhiên không có tí lợi nào, Trúc vội đi một đường dông dài diễn giảng. Cục mãi dịch là nơi lo tổ chức sắp xếp những cuộc đấu thầu, mua bán linh tinh cho quân đội ngụy những hiện vật ngoài thị trường tự do. Riêng tôi, dù làm ở cục mãi dịch nhưng tôi không giữ chức vụ nào liên quan tới những chuyện đó. Tôi chỉ phụ trách mỗi việc lo mời ca sỹ hát hò mỗi khi có lễ lạc ở đơn vị. Tên quản giáo chợt len vào. – Thế ra anh là sỹ quan chiến tranh chính trị? Trúc giẫy nẩy. – Ấy thưa không. Tôi xuất thân trường chính… Trong lúc hơi hoảng, Trúc tính phun ra câu tôi xuất thân trường chính trị kinh doanh, nhưng vì sực nhớ ra có chữ chính trị trong đó nên anh ngưng ngay lại. Anh vội chữa. Tôi vốn xuất thân trường kinh doanh, có nghĩa là dạy về cách tính toán tiền bạc, buôn bán… đại khái như kế toán ấy mà. Vợ tôi là Lệ Thủy đào hát cải lương, nhờ đó tôi quen biết nhiều trong giới hò hát ở Sài Gòn. Tên cục trưởng của tôi thấy vậy cho tôi cái chân chạy liên lạc ca sỹ. Cô A hát hai bài mình phải trả bao nhiêu? Anh B hát một bài mình phải trả bao nhiêu?… Miễn sao cuộc lễ lạc được tổ chức tốt và sự tiêu pha của đơn vị được hợp lý và không quá tốn kém. Với lối lý luận con cà con kê, thêm vào đó bản tính Trúc hiền lành, không ân oán với ai, thành thử Trúc qua mặt được hai tên quản giáo ngu dốt và được tập thể tù thông qua mau lẹ. – Mời anh kế tiếp đọc bản tự khai. – Tôi tên là Tứ, Quách Tứ. Sinh ngày tháng năm tại Bình Định. Cấp bậc trung úy. Chức vụ hoa tiêu trực thăng huấn luyện… Vĩnh đếm thầm và thấy còn vài người nữa tới phiên mình. Thốt nhiên anh em trong phòng, trừ người đang phát biểu, đều im phăng phắc lắng nghe bên ngoài. Chúng nó đang giết nhau! Mọi người đều đang nghe thấy giọng Trương Thanh Long. Long từng nói anh là giáo sự biệt phái, dù rằng sống một thời gian với nhau, chẳng mấy người còn tin anh có gốc mô phạm. Dĩ nhiên không phải ông thầy nào cũng có tư cách, nhưng ít ra sống trong tập thể, thường những nhà giáo vẫn giữ được một phong thái riêng như ôn hòa, lặng lẽ và thủ kín hơn bọn lính tráng thuần túy. Long hoàn toàn thiếu những cái đặc tính ấy. Anh ồn ào kể chuyện tục tĩu, biển lận vì lợi dụng bà con với khối trưởng Trai ăn cắp gạo của bếp, áp phe vặt vì sớm móc nối được bọn vệ binh, mua bánh kẹo về bán lại cho anh em với giá cắt cổ… Đặc biệt hơn, Long cũng là tay duy nhất của khối 10 thường xuyên léng phéng mò sang khối nữ tù, khi trở về phòng phóng đại nhiều chuyện nhảm nhí. Do những cái tính xấu ấy, anh em trong khối đều đồng loạt gọi anh bằng một cái tên mới: Long giáo gian! Hiện tại Long giáo gian đang bắn phá Trần Trọng Minh.
Trần Trọng Minh, trung úy phi công A.37. Anh ruột của Minh cũng là một trung tá phi đoàn trưởng của không quân Việt Nam. Theo Minh nói, Vĩnh được biết anh là vai chú của Trần Trọng Thức, chồng cô kịch sỹ bánh nhè Kim Cương. Minh tính nóng nảy, phổi bò, thích giải quyết những xung đột với anh em bằng quả đấm. Thế nên Minh, trong giai đoạn đầu, ít được anh em thương mến. Cái tên Tí Quạu mà anh em đặt cho Minh đã diễn tả được một phần nào cái nóng tính của anh ta. Cũng vì cái tính nóng ấy, tránh sao khỏi có lần Minh đụng chạm với Long! Ân oán chẳng qua vài chuyện nhỏ nhặt… Ở bên ngoài, không hiểu Trần Trọng Minh đọc bản tự khai của anh ra sao, mọi người bên trong hiện chỉ nghe thấy giọng sửa sai của giáo gian Long mà thôi. – Tôi nằm gần anh Minh. Anh Minh đã có lần nói với tôi như thế này: Mỗi chiều tao đứng nhìn núi Bà Đen tao cứ sôi gan lên. Mới ngày nào tao đánh A.37 ở đó tụi nó banh xà rông xấp lượt. Từ trên cockpit nhìn xuống, tao thấy tụi nó thằng phơi xác, thằng chạy như vịt. Phi vụ cuối tao đánh sáng 28 tháng 4, ít lắm tao cũng thịt tụi nó hơn trăm… Sau khi kể lại một cách đầy đủ những câu tâm sự của Minh trước mọi người, Long tiếp tục tố giác. Thế mà bây giờ trong bản tự khai vừa đọc lên, tôi không hề thấy anh Minh đả động gì đến điều này. Anh em ngồi trong lẫn ngồi ngoài đều thầm oán hận sự độc ác của Long. Giọng Đính bỗng thầm thì bên tai Vĩnh. – Anh em có giận chém nhau đằng sống, ai nỡ chém nhau đằng lưỡi như thế?! Vĩnh cũng thấy sùng trong bụng. – Thằng giáo gian ấy mà anh em với ai! Bên ngoài giọng tố khổ của Long vẫn đều đều. – Anh Minh còn phát ngôn linh tinh nhiều điều phản động hơn thế. Anh ấy từng nói rằng anh ấy không sợ thằng nào trên đời này cả. Thằng Trần Văn Trà mà gặp anh ấy, anh ấy thoi vỡ mặt… Cả hai tên quản giáo thấy câu chuyện coi mòi nghiêm trọng đều chạy ra ngoài bán khối 2 đứng coi. Bên trong không có quản giáo, anh em bán khối 1 tranh thủ một dịp bằng vàng, chỉ không hơn 5 phút đã thông qua được 3 người. Bên ngoài tên quản giáo Cư chợt lên tiếng. – Sinh hoạt như thế này mới là sinh hoạt! Đầy khí thế đấu tranh! Cách mạng rất biểu dương những người trung thực và can đảm như anh Long. Riêng anh Minh, nếu anh có khuyết điểm, anh cũng cứ yên tâm. Nói cho cùng các anh ngồi đây ai mà chả có tội. Nếu có xử bắn thì tội nhẹ như anh Long cũng phải một viên, còn tội nặng như anh Minh thì năm bảy viên, mười viên… Nhưng Cách mạng đã quyết không xử tội chết các anh mà chỉ tập trung các anh lại để cải tạo, vậy các anh cứ yên tâm và làm đúng theo yêu cầu của Cách mạng là tốt. Nói tới đây hắn quay sang Trần Trọng Minh. Bây giờ anh Minh cầm bản tự khai của anh lên tiểu đoàn và làm việc riêng với tôi. Chúng ta sẽ bàn đến những thiếu sót trong bản tự khai đó. Còn các anh khác cứ tiếp tục sinh hoạt đọc bản tự khai dưới sự kiểm tra chung của đồng chí quản giáo Thịnh. Trước khi quay lại nói nhỏ với tên Thịnh vài điều và bỏ đi về phía cổng trại, tên Cư ráng dặn dò bọn tù một câu cuối: Các anh nhớ tiếp tục phát huy cái trung thực và can đảm trong đấu tranh sai trái như của anh Long mới là đạt yêu cầu của Cách mạng! Minh cũng đứng dậy. Anh không biện bác một lời. Tay cầm tờ tự khai, Minh lẽo đẽo đi theo thằng quản giáo Cư về phía tiểu đoàn. Không khí của cả khối bỗng dưng chìm xuống như cùng chịu tang một điều gì! Rồi thì công tác đọc bản tự khai cũng phải tiếp tục tiến hành. Lúc tên Thịnh trở vào quan sát bán khối 1 thì đến lượt khối phó Đỉnh đọc bản tự khai của anh ta. Vừa dợm giọng đọc, Đỉnh đã bị Nguyễn Văn Tô tự Ba Tô giơ tay xin có ý kiến, lúc hắn thấy tên quản giáo vừa ngồi xuống gần bệ cửa. – Tôi có ý kiến. Để noi gương tích cực đấu tranh sai trái của anh Long, tôi đề nghị chúng ta đọc lại bản tự khai từ anh Bính. Khi nãy tôi nhận thấy chúng ta đã thông qua vài người một cách rất tiêu cực, lấy lệ. Cả đám đều chửi thầm trong bụng vì sự lấy điểm cực kỳ trắng trợn và mất dạy của thằng Ba Tô. Riêng tên quản giáo lấy làm lạ vội quay hỏi Đỉnh. – Anh trụ trì bán khối này, khi nãy vắng mặt tôi, anh làm việc ra sao để anh em phải kêu ca như thế? Khối phó Đỉnh bình tĩnh trả lời. – Thưa anh tôi không rõ anh Tô muốn đọc lại bản tự khai của một số người vì lý do gì!? Từ đầu đến giờ anh em trong này đều làm việc có thứ tự và rất nghiêm túc. Mỗi người đọc bản tự khai của mình xong, tôi đều hỏi trước tập thể có ai phát hiện được gì sai trái thiếu sót không? Và rồi tất cả đều đồng ý cho thông qua…
Vì Thịnh là quản giáo mới chưa biết Ba Tô là gà của Cư, nên hắn quay sang Ba Tô hỏi với giọng bực mình. – Anh đã biết là không tốt, tại sao từ nãy anh không phản đối? Đợi qua đến ba bốn người rồi mới kêu ca là làm sao? Nguyễn Văn Tô ú ớ không biết trả lời thế nào. Tên quản giáo thấy bộ mặt thằng Ba Tô vừa trơ vừa bóng có lẽ cũng không có cảm tình cho lắm, thành thử hắn chiếu tướng Ba Tô luôn. Thôi được, bây giờ anh đọc bản tự khai của anh cho tôi nghe xem nào! Nguyễn Văn Tô như mèo bị cắt tai. Hắn cầm bản tự khai lên, thoáng liếc quanh một vòng xem có ánh mắt nào hận thù mình không, rồi mới bắt đầu đọc. – Tôi là Nguyễn Văn Tô, sinh ngày tháng năm tại Quảng Ngải. Cấp bậc trung ý trợ y. Đơn vị… Cha tôi chết vì đi làm Cách mạng chống Tây. Ông tôi chết vì đi làm Cách mạng chống Tây… Vợ tôi và gia đình vợ tôi đều thuộc thành phần nông dân… Nguyễn Văn Tô làm một hơi dài. Không một chi tiết nào trong tiểu sử đời hắn mà hắn không cố nhét vào tí hơi hám Cách mạng, tí giai cấp bần cố. Đọc xong một quá trình được kê khai một cách chi li dài gần 10 phút, Nguyễn Văn Tô liếc nhìn tên quản giáo, đoạn ngó mọi người rồi hạ giọng khiêm nhường. Thưa các anh, đó là tiểu sử đầy tội ác với Đảng, với Tổ Quốc, với nhân dân của tôi. Tôi biết tôi là kẻ có tội. Tôi đã phản bội lại con đường oanh liệt của cha ông, đi làm tay sai cho Mỹ ngụy. Một tiểu sử đầy tội ác như thế, dù tôi có cung khai thành khẩn nhưng hẳn thế nào, cũng có những sai sót. Tôi thành thật xin được tập thể nghiên cứu và bổ khuyết cho bản tự khai của tôi được hoàn chỉnh theo đúng yêu cầu của Cách mạng. Bộ mặt hèn hạ của Nguyễn Văn Tô chẳng ai muốn đếm xỉa đến làm gì. Nó muốn nói hưu nói vượn gì thì cũng mặc kệ cha nó. Thế nhưng trong tập thể không thể tránh được một vài người tiểu tâm, không nghĩ đến chuyện vạch áo cho người xem lưng là chuyện chẳng tốt đẹp gì, mà chỉ nghĩ rằng: mày đã chơi ông thì có dịp ông chơi lại cho mày biết tay… Một trong thiểu số ấy đã lên tiếng: Trần Văn Tuấn tự Tuấn chuột. Tuấn là một sỹ quan trẻ, rất trẻ, tuổi độ 21 hoặc 22. Trông cu cậu không ai có thể tin được cu cậu từng là một sỹ quan! Từ vóc dáng cho đến tính tình đều nhỏ mọn và loắt choắt như một con chuột. Bản tính Tuấn dù sao, không phải là một bản tính ác độc. Nó có vẻ hơi điên điên thì đúng hơn. Nhưng chính cái hơi điên điên ấy mới là khổ cho anh em. Hễ cứ thấy chướng tai gai mắt là nó đem anh em ra bổ tận tình trong những buổi họp khối mỗi chiều. Tai hại hơn nó bổ luôn Cách mạng khi cao hứng. Khối trưởng Trai và khối phó Đỉnh rất là phiền hà về nó. Nhớ dạo bọn chỉ huy trại bắt mỗi khối phải cử một người cầm càn tập hát những bài Cách mạng cho anh em, Tuấn đã ngang nhiên phát biểu: Ở đây có ai làm Cách mạng đâu mà biết bài hát Cách mạng!? Hôm nay cột ăng ten Ba Tô vô phúc bị Tuấn chuột hỏi thăm sức khỏe. Tuấn giơ cao tay ngay khi Ba Tô vừa dứt tiếng. – Căn cứ trên bản tự khai của anh Tô, tôi có ba vấn đề đặt ra để xét lại sự thành khẩn tự khai báo của anh ấy. Thứ nhất, anh Tô khai rằng anh là một sỹ quan trợ y thì điều này đã sai với lời anh nói với anh em hồi còn ở bên trại L4T1. Hồi ấy, như mọi người ở đây đều biết, trong một lần tự giới thiệu làm quen trước khối, anh Tô đã tuyên bố rằng anh là một bác sỹ quân y. Tại sao hôm nay anh lại tự hạ mình xuống chỉ còn là một sỹ quan trợ y? Nhìn qua sự kiện, tôi xin đào sâu vào vấn đề để phân tích cái nguyên do khai man của anh Tô như sau: Anh Tô muốn chạy tội! Anh thừa biết một ông bác sỹ quân y tội ác nặng hơn một sỹ quan trợ y. Cụ thể là anh Đỉnh khối phó của khối ta, tôi tin chắc trong quá khứ anh Đỉnh đã phạm muôn nghìn tội ác với Cách mạng nhờ vào cái thẩm quyền bác sỹ của anh ấy. Khối phó Đỉnh bỗng giẫy nẩy khi bị Tuấn chuột tự nhiên lôi vào trận với lời buộc tội cực kỳ nặng nề. Mặt anh tái xanh vì giận nhưng cố kiên nhẫn chịu đựng. Tuấn quay ngay sang bác sỹ Đỉnh hỏi luôn: Tôi nhận định như thế đúng hay sai anh Đỉnh? Đỉnh cáu điên người, tuồng như nếu không kẹt có tên quản giáo ngồi lù lù bên cạnh, chắc là anh đã nhảy xổ đến thoi vào mặt thằng oắt con mấy đấm rồi. Sau cùng, lấy hết bình tĩnh và khôn ngoan, Đỉnh trả lời. – Tôi không có đủ thẩm quyền khẳng định tội ác giữa một bác sỹ quân y và một sỹ quan trợ y ai nặng hơn ai. Cái đó tùy ở sự xét xử của Cách mạng. Tên quản giáo không góp ý mà chỉ gật gù. Tuấn bỉu môi với giọng điệu thật ngang ngạnh. – Thôi được, anh chưa tiến bộ nhiều nên chưa dám công khai nhận tội ác của mình. Tôi xin trở lại với vấn đề của anh Nguyễn Văn Tô vậy. Tại sao mới đầu anh Tô xưng là bác sỹ, bây giờ chỉ còn là trợ y? Đây là một điều gian dối có ý đồ, có tổ chức… Thứ hai, anh Tô khai rằng cha ông anh đều chết vì chống thực dân Tây. Điều này lấy gì làm chứng? Trong bản tự khai không thấy nói cha ông anh chết trong trận nào, ngày tháng năm nào, cũng chẳng nói rõ mồ mả chôn ở đâu vân vân. Mập mờ như thế tôi thắc mắc lắm. Tôi vẫn có thể nghĩ rằng biết đâu cha ông anh lại chính là những người đã theo Tây chống phá Cách mạng và bị Cách mạng trừng trị!? Thứ ba, anh khai vợ anh là một nông dân. Không bao giờ có chuyện này xảy ra ở miền Nam. Một bác sỹ như anh, hay như anh Đỉnh, anh Tuyên của khối này hoặc bất cứ một anh tu bíp nào của miền Nam trước đây mà lại có can đảm yêu đương và cưới làm vợ một cô nông dân chân lấm tay bùn cả. Man trá hoàn toàn. Anh khai như thế chẳng qua anh muốn thấy sang bắt quàng làm họ, muốn dây tí vô sản cao quý vào tiểu sử đầy tội ác của anh mà thôi. Nói tới đây, Tuấn chuột nhìn tập thể và trang trọng đề nghị. Tôi yêu cầu tập thể khối nghiên cứu và buộc anh Tô phải làm lại bản tự khai từ đầu. Nguyễn Văn Tô chết lặng người. Nhưng hắn làm gì được trước cái lập luận vững chắc ấy, dù hắn thừa biết thằng khốn nạn Tuấn chuột là thằng có tí máu điên trong người!? Con gà của tên quản giáo Cư càng tê tái hơn nữa khi cả một nửa khối chưa ai lên tiếng, thì chính tên quản giáo Thịnh đã lên tiếng giùm. – Tôi thay mặt khung biểu dương anh Tuấn và tôi xác nhận anh Tô đã man khai. Chúng tôi sẽ xét lại trường hợp của anh Tô. Bây giờ anh Đỉnh tiếp tục cho các anh khác lần lượt đọc bản tự khai. Buổi trưa khi giờ phát cơm đến, mọi người chỉ có 15 phút để ăn. Ai cũng trợn trạo cố nuốt cho xong hai bát cơm hẩm với vài cọng rau muống già chấm nước muối. Một giờ trưa mọi người đã phải trở lại vị trí cũ để đi cho hết cái đoạn đường Núi Sọ của thời đại mới.
“Khôn nơi cờ bạc là khôn dại, Dại chốn văn chương, ấy dại khôn.” Tú Xương
Trong văn học Việt Nam, có hai nhà thơ thường nói tới sự khôn dại ở đời, với giọng thơ mai mỉa: Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và Tú tài Trần Tế Xương, thường gọi là Tú Xương. Cụ Trạng thì nghiêm trang, Tú Xương thì nói chơi mà thiệt. Trước 1968, khi còn cầm cục phấn đứng trước bảng đen, dạy cho học sinh hai tác giả nầy, tôi thường nhấn mạnh những điểm nầy. Người ta thường thích thơ Tú Xương hơn. Thơ Tú Xương gần gũi hơn, vui hơn, đại chúng hơn, và không đau đớn vì “tình đời” như thơ Cụ Trạng.
Khi làm một việc gì, người ta thường “tính khôn, tính dại”. Có cáitưởng mình là khôn, nhưng thật ra là dại, có cái cho mình là dại mà hóa ra khôn. Nói chi cho dông dài, cứ xét câu thơ trên của Tú Xương, người ta hiểu ngay. Giới “cờ bạc” thường dùng mánh khóe, mưu mô, xảo quyệt, mánh lới để lừa gạt đối thủ… là người khôn. Nhưng họ được cái gì: Ăn bạc, được tiền. Họ mất cái gì? Tư cách, đạo đức, sự chân thật… Cái mất “nặng” hơn cái được, v.v…
Còn văn chương, sao gọi là dại?
Người làm văn, làm thơ thường đem cái tâm sự của mình mà dàn trải ra trên giấy mực, cho mọi người cùng biết thì khôn thế nào được. Nói chi xa, Nguyễn Du với Truyện Kiều chẳng hạn. Trước 1975, không ít người đọc truyện Kiều, đều “thấy” rõ Nguyễn Du là người như thế nào. Mấy ông giáo sư Việt Văn ở Saigòn hồi ấy, không ít người viết sách nghiên cứu, phê bình, sách giáo khoa… Có người viết cả “Tâm sự Nguyễn Du trong truyện Kiều” để dạy cho học trò. Vậy thì Nguyễn Du khôn hay dại?
Hồi trẻ, đọc “Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng tôi xúc động lắm. Về sau, đọc “Nhà Văn Hiện Đại”, biết người trong truyện là chuyện thật của đời tác giả, tôi lại thương ông hơn. Sau vụ “Nhân Văn iai Phẩm”, tôi lại thấy tội nghiệp cho ông một lần nữa: Ông bị rơi vào cái bẫy của Cộng Sản.
Số là Cộng ản Việt Nam biết nhiều nhà văn thơ tiền chiến theo kháng chiến mà không ưa Cộng Sản – giống như bài thơ Hoa Hồng của Phan Khôi vậy (1)-. Trước khi nước ta bị chia cắt, nhiều người đã bỏ kháng chiến mà về, như Phạm Duy chẳng hạn. Về Hà Nội chưa được bao lâu, ông lại đem gia đình chạy vô Saigon. Ông sợ Cộng Sản sẽ “thịt” ông.
Số đông người khác, mon men về mà không về được, như Thế Lữ chẳng hạn. Phải sau khi “tiếp thu” họ mới về Hà Nội. Để biết rõ ai theo thiệt, ai theo giả, Hồ Chí Minh bèn bắt chước Tàu Cộng, giăng cái bẫy “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” (Bách gia tranh minh, bách hoa tề phóng). Thế là đám văn chương, nghệ thuật nhào vô. Tố Hữu cho vô tù cải tạo tuốt. Nguyên Hồng bỏ ngòi bút, rút về quê “lao động là vinh quang, cuốc là số một”, không thèm làm văn vẽ gì cả.
Đó chính là “Dại chốn văn chương” là dại thiệt.
Hồi trẻ, khi tôi làm điều gì sai, yêu một cô nàng có tính lăng nhăng chẳng hạn, lại cứ đem chuyện yêu ấy mà nói đi nói lại, bị mẹ tôi mắng: “Đã ngu thì im đi. Người ta cười cho.” Nghe lời mẹ dạy, hễ khi nào làm gì sai, dù khôn hay dại. tôi “im luôn”. Đó là “kinh nghiệm sống”. “Chôn vùi” nó đi, moi cái đống rác thúi lên làm gì, để khỏi bị thiên hạ cười cho. Nay muốn nhắc lại cho con cháu, biết chơi… ví như những chuyện như sau….
Chuyện Tô Lâm…
Qua Luân Đôn, ăn bò nướng dát vàng, báo chí Việt Nam nói gì? Báo chí quốc tế với báo chí Việt Nam hải ngoại phê phán, thậm chí chưởi bới tùm lum, ồn ào một dạo. Về mặt luật pháp thì không sai, – Có luật nào cấm Tô Lâm ăn thịt bò dát vàng đâu -. Nó có tiền thì nó ăn, như mọi khách hàng của tiệm nầy, ai bắt bớ gì được. Nhưng về mặt đạo đức thì người ta phê phán Tô Lâm dữ dội lắm: Bao nhiêu người Việt Nam còn nghèo, thậm chí hằng ngày không có ăn. Chế độ Cộng Sản tệ lậu, tham nhũng khủng khiếp, vô lương tâm, mới có những người hoang phí như Tô Lâm. Nói chung, chuyện đó là chuyện xấu, không nên làm.
Theo như lời mẹ tôi dạy thì chuyện xấu ấy nên ém nhẹm đi, nói đi nói lại khiến thiên hạ chê cười. Ấy là khôn.
Tô Lâm không khôn. “Đứa nào chê ông chuyện ăn bò dát vàng, ông trị cho biết tay.” Vì vậy “Thánh Rắc Hành” bán phở ở Đà Nẵng, bị án tù 5 năm rưởi, vì cái tội dám “nhại” ông đại tướng, kiêm bộ trưởng.
Sau khi tin bản án được đưa ra, Tô Lâm được cái gì?
“Ta là đại tướng, lại là tướng Công An. Ta là Bộ trưởng, chuyên đi bắt người bỏ tù. Vậy mà nó dám nhạo ta. Cho vào tù cho bỏ ghét.” Trước hành động trả thù của Tô Lâm, thiên hạ lại dậy lên chưởi Tô Lâm. Nếu mẹ tôi còn sống, mẹ tôi lại dạy tôi: “Không biết câm cái mồm đi, lại chọc cho thiên hạ chưởi cho. Ngu vừa thôi.”
Người Việt Nam có cái thói quen, phê phán chê bai ai thì kéo luôn ông bà cha mẹ vào: “Ông bà cha mẹ không biết dạy con”. Vậy là “Ông bà nằm dưới mộ cũng không yên.”
Xưa nay, khắp mặt địa cầu, thiên hạ thiếu gì kẻ dại, khôn.
Ông Trump vừa làm bậy, vừa nói bậy. Thế mới bị ra tòa. Nghe tin ông ra tòa, người Mỹ lại đua nhau góp tiền cho ông. Kẻ khen người chưởi ông Trump lung tung. Mới có mấy hôm mà ông Trump hốt hơn 7 triệu đô tiền ủng hộ. Thế thì ông Trump khôn hay dại?
Nói trắng ra, đây cũng chỉ là một cuộc cờ. “Khôn nơi cờ bạc là khôn dại”. Nói như thế có nghĩa là Trump dại hay sao?
Thật ra, khôn là nên sống một cuộc đời trong sạch, bình yên.
Bây giờ là thời kỳ bình yên, – nói chung – trên thế giới -, Thế giới rồi sẽ không bình yên! Con cháu chúng ta sẽ ra sao?
Hễ có tham vọng là sẽ không bình yên.
Một người nhiều tham vọng, người đó làm sao có một đời an lành? Một quốc gia nhiều tham vọng, quốc gia đó sẽ gây ra nhiều cụộc chiến tranh. Một đế quốc sẽ đem quân ra khỏi cương giới của mình. Bọn tư bản bao giờ cũng tính toán buôn bán – buôn súng đạn hay buôn dầu – để tiền trong nhà băng nhiều hơn. Trong viễn tượng đó, Tàu Cộng muốn khắp thế giới nầy đâu cũng có người Tàu – Ở đâu có người là có người Tầu, ở đâu có người Tàu là có buôn bán, ở đâu có buôn bán là có buôn gian bán lận, có chợ đen, chợ đỏ, có xuân thu nhị kỳ.” Mục đích của Giáo hội La Mã là ai cũng phải là con của Chúa, nên Giáo Hội có không ít những “tên thực dân mặc áo thầy tu”, xưa đã vậy, nay cũng thế. Cộng Sản chỉ là thoái trào, mục đích của Cộng Sản là nhuộm đỏ thế giới.
Trong hoàn cảnh như thế, liệu mai đây sẽ có một “thế giới nào bình an” cho con cháu chúng ta?!
Người ta, kể cả kinh thánh, từng cầu nguyện: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm.” Cha Mẹ Thầy Cô thường dạy dỗ chúng ta “Dĩ hòa vi quí,” Người Nam Bộ thì: “Sinh sự thì sự sinh.”
Người miền Nam chỉ giản dị như thế. Tôi mong các con tôi nhớ mãi lời dạ: “Sinh sự thì sự sinh.”
Tôi cũng hy vọng các bạn tôi dạy con cháu họ như thế.
hoànglonghải.
chú thích
(1)- Hồng nào hồng chẳng có gai Miễn đừng là thứ hồng dà không hoa Là hồng thì phải có hoa Không hoa chỉ có gai mà ai chơi? Ta yêu hồng lắm hồng ơi! Có gai mà cũng có mùi hương thơm. 1951
In trong Giai phẩm mùa thu, tập III.
Phan Khôi ví “kháng chiến chống Pháp” giành độc lập như cái hoa, mà Cộng Sản là cái gai. Vì yêu hoa nên bị gai đâm./
Ông già té ngang xuống đường, đầu va vào bậc cấp nhà ông nghè Văn kêu đánh rắc một tiếng gãy gọn. Tôi nghĩ thầm: “Thôi rồi, ông già vỡ sọ, chắc chết ngay”.
Tôi bị ám ảnh bởi cái chết của một anh “ét” (1) xe đò mấy tháng trước mà tôi đã chứng kiến tận mắt. Người tài xế “de” xe lui, đụng nhằm anh ta làm anh té xuống đất, đầu ngang bánh xe sau và bánh xe cán lên đầu kêu đánh rắc một tiếng, cái đầu anh “ét” xe dẹp lép. Tôi nghĩ chắc ông già bị vỡ sọ rồi vì cái tiếng rắc gãy gọn chính là bởi đầu ông va vào bậc thềm xi măng cứng.
Hai, ba người cùng xóm chạy lại và khiêng ông già vào nhà ổng kế bên nhà ông nghè Văn. Tôi còn sợ cái đầu dẹp lép của anh “ét” xe nên thấy người ta khiêng ông già đi rồi thì cũng bỏ lơ đi luôn.
Vậy mà ông già chưa chết.
Ông không hề hấn gì cả vì cái té đó. Tiếng rắc gãy gọn mà tôi nghe và tưởng là tiếng sọ vỡ thì tôi đã lầm. Đó là tiếng gậy trúc của ông khi rơi khỏi tay, gõ lên thềm xi măng cứng. Ông già đã 72 tuổi, sức yếu lắm rồi, đi đâu cũng phải có cái gậy làm trợ lực cho hai cái chân thịt đã teo lại, da nhăn nhúm như mớ giẻ rách và cái đít thì không còn thịt bao nhiêu, làm cho cái quần cháo lòng rộng thùng thình của ông lại càng rộng hơn khi che cái xương chậu có gắn hai cái xương đùi y như trong bộ xương cách trí, còn mình ông thì xương sống xương sườn lộ ra rõ ràng lắm, khiến người ta có thể đếm đủ 36 cái, không sót một cái nào, kể cả những cái xương sườn cụt, rất khó thấy.
Thế rồi chỉ một tháng sau, cả xóm Chợ Xép của tôi người ta xôn xao hẳn lên, đi đâu cũng nghe bàn tán, – đàm tiếu thì đúng hơn – việc cụ Hường cưới vợ bé. Cụ Hường là ông già tôi nói ở trên.
Ông làm quan Nam triều – Triều đình “Nước An-Nam” – từ cuối thế kỷ trước, trải mấy đời vua, từ Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, và cả ông vua cuối cùng nhà Nguyễn: Bảo Đại. Ông về hưu trước khi Việt Minh cướp chính quyền năm 1945.
Người ta gọi ông là cụ Hường là gọi theo phẩm trật trong triều, mà lại kỵ húy nên gọi trại tên. Phẩm trật của ông là “Hồng Lô Tự Khanh”, so với đời bây giờ thì cũng tương đương như chức Tổng Giám Đốc. Nhưng người ta không gọi là Cụ Hồng (Hồng Lô Tự Khanh) mà lại gọi cụ Hường bởi “trọng húy” vì tên vua Tự Đức là Hồng Nhậm. Phạm huý là bị truất, bị cách, có khi bị tù dễ như không.
Từ khi ông có vợ bé rồi – Bà này mới 19 tuổi, nhỏ hơn tuổi cháu nội ông – thì ông già không còn chống gậy nữa, mặc dù, như người trong xóm vẫn nói đùa, mấy cái “bù loong” nơi đầu gối ông lại càng “rơ” hơn trước, tức là bị lỏng lẻo lắm vì quá “đát”, quá cái độ không còn bảo trì được nữa. Mỗi lần ông đi xuống nhà cầu ở cuối vườn nhà ông – Phải đi ngang cửa sổ nơi phòng tôi ở, ông làm bộ dáng đi mạnh bạo – Không chống gậy, dĩ nhiên – như một thanh niên còn tuổi trẻ, yêu đời. Có lần, anh Toàn, trung sĩ quân cụ, nhà ở sát vách tôi, thường qua nhà tôi chơi, nói:
– “Mấy đứa bây lắng tai mà nghe, hễ cụ Hường có “bổ” (tiếng Huế, có nghĩa là té -tg-) thì bây ra khiêng cụ Hường vô. Cụ “chịu không nỗi” con vợ “nớ mô”! (ấy đâu -tg).
Bọn chúng tôi, kể cả tôi, đã 16 tuổi chẳng biết gì, cũng cười theo anh Toàn. Sau đó bọn trẻ con làm ầm ĩ nhiều chuyện. Chẳng hạn như bỗng nhiên tụi nó la ầm lên câu đồng giao: “Cà lơ đôộng, ca lơ đèo, trèo lên trụt xuống”.
“Cà lơ” là tiếng Huế, chỉ các sắc dân ở trong rặng Trường Sơn như người Hmông, Rhadé, Bhanà… Còn “độộng”, tiếng nhà quê, có nghĩa là động. Chẳng hiểu chuyện gì mà bọn trẻ la ầm lên rồi cười đùa như thế nên một hôm tôi hỏi anh Toàn.
Anh ta cười, nói:
– “Bộ chưa biết chi cả? Trèo lên trụt xuống là ông già làm như gà.” – Sợ tôi chưa hiểu, anh ta nói tiếp – “Chú thấy gà trống đạp gà mái thì biết. Ông già làm lẹ như gà. Gặp tay tau thì phải biết, con “dỏ” (nhỏ) đó đeo riết tau.”
Sau này tôi mới biết anh Toàn rình nơi cửa sổ phòng ngủ cụ Hường, thấy sao đó, nói ra cho người ta nghe mà tới tai bọn trẻ rắn mắt trong xóm tôi.
Lại có hôm, chúng nó reo đùa “Lúa vàng, Lúa vàng” rồi.
“Lúa vàng” là tên bản nhạc dân ca của Mặc Hy mà cặp Ngọc Cẩm, Nguyễn Hữu Thiết hồi đó thường ca trên đài phát thanh Huế. Với bọn trẻ chúng tôi, đó là tiếng lóng, ám chỉ con gái mới lấy chồng hay vì bồ bịch mà không còn đời con gái nữa.
Trong đám trẻ ồn ào đó, có Huỳnh, con trai của chú tôi.
Huỳnh có cái miệng cười rất tức cười. Khi cười, môi trên anh ta téc lên, lộ rõ cả răng, lợi hàm trên và mắt anh ta như cười theo, đượm nét vui thỏa mãn. Toàn bộ khuôn mặt Huỳnh biểu lộ sự vui tươi, thoải mái, về một chuyện gì đó, hình như làm cho anh ta thích thú lắm.
Đang reo hò cùng bọn trẻ, anh ta ra về, trên mặt còn nguyên nét rạng rỡ, hồn nhiên vì câu chuyện vui anh vừa tham dự. Nhìn Huỳnh cười, nếu lòng tôi không có gì buồn bực, thế nào tôi cũng cười theo vì cái vui tươi nơi khuôn mặt anh truyền qua cho tôi.
Bà thím tôi, mẹ Huỳnh, là một người rất “Hoàng phái”, biết con bà tham gia vào đám trẻ ồn ào này mà lại “động chạm” đến cụ Hường, chắc chắn bà không để yên. Trong bữa cơm, bà nói với chồng:
– “Ba mày coi. Thằng Huỳnh mấy bữa nay tụ tập với mấy đứa “mất dạy”. Ăn nói, chọc ghẹo người lớn là vô phép. Nói không nghe là quất cho mấy roi “đứt cái đầu”.
Ông chú tôi bỏ chén cơm xuống. Chỉ chừng đó thôi là tôi thấy tình hình nghiêm trọng rồi.
Tuy nhiên, sau một hồi cật vấn thằng nhỏ, ông chú tôi la rầy nó cũng chỉ ở mức vừa phải. Có phải ông thông cảm nó vì việc làm trái trăng của cụ Hường mà ai ai cũng đàm tiếu nhiều quá đó chăng? Huỳnh đỏ mặt, cúi gầm xuống và từ đó, dù không bị la rầy gì nhiều, anh ta cũng không chơi với bọn trẻ nữa.
Một hôm, tôi đang ngồi sát cửa sổ, học bài, thỉnh thoảng nhìn ra ngoài trời thì cụ Hường đi xuống nhà cầu, ngang qua cửa sổ tôi, tay vẫn không chống gậy.
Khi trở vào, cụ Hường dừng lại bên ngoài, hỏi tôi:
– “Anh học trường Quốc Học?”
Tôi đứng dậy, lễ phép:
– “Thưa cụ, vâng.”
– “Hai đứa cháu nội tôi cũng học ở Quốc Học. Ba nó cũng trường Quốc Học mà ngay chính tôi, cũng là “Cựu Học Sanh” trường Quốc Học.
Tôi nói:
– “Dạ, cháu biết cụ có học Quốc Học. Năm ngoái, lễ kỷ niệm 60 năm trường Quốc Học Ngô Đình Diệm (khoảng thời gian từ 1956 đến 1963, trường có tên như vậy -tg-), các cựu học sinh về dự đông lắm. Cháu thấy cụ có đi dự, mặc quốc phục, đi đầu, chung với mấy cụ già, cụ nào cũng chống gậy.”
Tôi nói các cụ già chống gậy là nói một cách tình cờ, thấy sao nói vậy. Cụ Hường, có lẽ nghĩ khác, nên cụ nói:
– “Bữa đó tôi hơi váng đầu, phải chống gậy. Bữa nay thì khỏe rồi.”
Rồi cụ nói tiếp:
– “Tôi học khóa đầu tiên.”
– “Thưa cụ, vậy hả? Chắc hồi đó trường ốc chưa có gì?” -Tôi tò mò hỏi.
– “Hồi xưa, đó là trại lính thủy của Nam Triều.” – Ông cụ giải thích – “Sau khi Pháp đô hộ rồi thì lính thủy Nam Triều bị giải tán, còn lại mấy cái lán không. Cụ Ngô Đình Khả, thân sinh của cụ Ngô bây giờ, nhà ở Phú Cam, mỗi ngày đi làm việc ở Tòa Khâm Sứ hay trong Đại Nội, tôi không nhớ, ngang qua nơi này, thấy trại bỏ không, mới nảy ra ý kiến dùng làm trường Quốc Học, dạy cho sĩ tử học chữ Quốc Ngữ và chữ Tây. Khóa đầu tiên khai giảng năm 1896. Tôi học khóa đó.”
Tôi nghĩ ông cụ nói sai. Theo dư luận, mở trường Quốc Học là do ý định của vua Thành Thái. Thời nhà Ngô, những người ủng hộ ông Ngô Đình Diệm muốn đem cái công ấy mà gán cho cụ Ngô Đình Khả.
Tuy nhiên, tôi vẫn hỏi, vì tò mò:
– “Hồi đó cụ thi vô có khó không?”
– “Có thi đâu!” – Cụ Hường trả lời – thi đậu xong thì bắt học thêm ở trường Quốc Học. Vở với bút chì phải lận dấu trong bụng. May mà mặc áo dài ta nên dấu cũng dễ.”
Tôi ngạc nhiên hỏi:
– “Sao lại phải dấu?”
– “Ai cũng sợ mang tiếng là theo Tây. Học chữ Quốc Ngữ, chữ Tây là theo Tây, chống lại Triều Đình, chống lại dân mình. Dân người ta thấy, người ta chê cười mình nên phải dấu.”
– “Vậy cụ Ngô Đình Khả đứng ra chủ trương mở trường Quốc học, không sợ mang tiếng theo Tây sao?” -Tôi lại hỏi.
– “Gốc ông ta làm thông ngôn cho Tây thì sợ mang tiếng gì nữa. Với lại nhiều khi tôi cũng nghĩ, cụ ấy hơn người, nhìn xa thấy rộng, không thể bo bo với mớ chữ Nho xưa mà cứu nước được. Thời thế đã đổi thay. Anh không học thơ của cụ Trần kế Xương sao?” -Rồi ông cụ đọc tiếp:
Cái học nhà Nho đã hỏng rồi,
Mười người theo học, chín người thôi
“Thơ văn của ta mà không học là dốt lắm đó. Biết chưa?”
Nói câu đó, cụ Hường gằn giọng, tỏ ý khó chịu về cái dốt của học trò ngày nay.
Tôi vội vàng nói:
– “Thưa cụ, cháu có học. Trong chương trình lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ -tg-) đã có rồi. Bài thơ đó cháu cũng thuộc.”
– “Vậy là tốt. Trường ni là nơi đào tạo nhiều nhân tài, nhiều người nổi tiếng. Học ở đó là để sau làm việc “ích quốc lợi dân”. Biết chưa?”
Nói xong, cụ Hường bỏ đi vào nhà, chẳng thèm chào tôi. Đó là lần đầu tiên mà cũng là lần chót cụ nói chuyện với tôi trong khoảng thời gian tôi ở đây hơn ba năm.
Tôi nhớ tôi thuộc nhiều thơ Trần Tế Xương và trong tiểu sử, người ta nói tên ông là Trần Tế Xương, có lúc đổi ra Cao Xương. Gọi Kế Xương như cụ Hường là không đúng. Có thời người ta đã lầm Tế là Kế. Cụ Hường bỏ đi rồi. Giả như cụ còn đứng đây, tôi cũng chẳng dám nói ra điều này, sợ làm mất lòng cụ.
Còn cô vợ trẻ của cụ Hường, tôi nghĩ là vì mắc cở việc cô ta còn trẻ mà lấy một cụ già gần đất xa trời nên ít khi ló mặt ra đường.
Hằng ngày, cô vẫn phải đi ngang cửa sổ nhà tôi để làm cái việc vệ sinh như cụ Hường, nhưng đi về thì cô ta đi một mạch, đầu cúi gầm xuống đất, không nhìn ngang, nhìn ngữa, không nhìn ai.
Một hôm, anh Toàn ngồi chơi với tôi nơi cửa sổ, nhằm lúc cô ta đi ngang qua. Thấy cô ấy, anh Toàn nói:
– “Trời cho “vốn liếng” rứa mà không xài cũng uổng. Tau không để sẩy khỏi tay tau.”
Tôi chỉ để ý chữ “vốn liếng” mà không hiểu là gì. Hỏi anh ta, anh ta cười:
– “Trời, chú không thấy chi hết? Thiệt không? Bộ ngực không thua chi đào ciné, còn cái “khu đại chang” (tiếng Huế có nghĩa là đít bự -tg-). “Sách tướng nói đàn bà có 72 tướng dâm, con ni (này-tg-) có tới 73 tướng.”
Rồi anh ta cười khoái chí, vểnh bộ râu mà bọn trẻ thường gọi lầm là râu dê!
Sau đó, nhiều đêm học bài khuya, tôi nghe tiếng chân người nhảy qua hàng rào giữa nhà tôi và nhà cụ Hường rồi đi về phía nhà bên cạnh. Có hôm tò mò, tôi hé cửa sổ ra xem. Nhờ ánh đèn đường, tôi thấy anh Toàn.
Lại một đêm, thay vì tiếng chân người đi bình thường thì lại là tiếng chân thình thịch chạy nhanh. Cửa sau nhà cụ Hường mở rộng ra, đèn nhà chiếu hắt ra ngoài. Bóng cụ Hường thấp thoáng ở cửa. Tiếng cụ la to nhưng tôi không nghe rõ cụ nói gì. Sau đó là tiếng khóc của người con gái, có lẽ là tiếng vợ bé cụ Hường.
Sau những tiếng náo động ban đầu, không khí yên tĩnh trở lại. Bây giờ tôi nghe được tiếng cụ Hường la rầy: “Mi phản tau thì tau chém đầu mi”.
Tôi thấy buồn cười. Cụ Hường thôi làm quan rồi mà cụ nói kiểu y như cụ còn chức tước ngày xưa. Vả lại, dù có làm quan đời bây giờ, cụ cũng chẳng chém được ai. Vậy mà cụ vẫn quen kiểu nói của vua quan, hễ động một chút là đòi “chém đầu”. Tôi đoán mò là giữa anh Toàn và cô vợ bé cụ Hường chắc có gì đây.
Ở cái xóm nhỏ của tôi, việc gì trong nhà rồi người ngoài đường cũng biết hết, y như câu tục ngữ: “Trong nhà chưa rõ, ngồi ngõ đã hay”. Sáng hôm sau, người ta đồn ầm lên chuyện cô vợ bé cụ Hường ngoại tình với trung sĩ Toàn.
Nửa đêm, cụ dậy đi tiểu, bắt gặp hai người đang ngủ say như chết. Cụ yếu quá, chưa kịp đưa cái gậy lên đánh thì anh Toàn đã kịp mặc quần xà lỏn chạy mất tăm rồi. Biết cụ yếu nên hai người mới lộng như thế.
Từ đó về sau, cửa sau nhà cụ Hường đóng kỹ lắm. Mỗi lần cô vợ bé của cụ đi nhà cầu ở vườn sau, dù ban ngày, cụ Hường cũng đi theo. Mặt cụ bao giờ cũng hằm hằm. Thấy tôi ngồi học bài nơi cửa sổ, cụ chẳng thèm hỏi han như trước.
Việc người ta mà tôi bị ghét oan!
Chỉ một tháng sau thôi, xóm tôi lại ồn ào việc cô vợ bé cụ Hường “Trốn nhà theo trai”. Trai là trung sĩ Toàn đấy. Thật ra, người ta “ác khẩu” đấy. Cô ta chỉ vì buồn tình mà bỏ nhà đi thôi.
Rồi anh Toàn cưới vợ. Dĩ nhiên, cô dâu không phải là cô ấy. Ai lại “trai tơ cưới gái nạ dòng”, nhất là nhà giàu như nhà anh Toàn, bố anh ấy là chủ xe đò. Nhưng chuyện cưới vợ của anh Toàn cũng buồn cười. Trong khi hai họ trai gái đang làm lễ thì cô dâu mặc áo cưới tự động một mình ra khỏi nhà, chú rể lái xe đến chờ sẵn ngoài đường, đón cô dâu về nhà mình.
Thầy bói nói là hai người này có số “chồng đường vợ sá”, không cưới hỏi và rước dâu đàng hoàng được. Đón dâu ngoài đường như thế thì hai người ở với nhau mới bền. Còn cô vợ bé cụ Hường sau khi trốn khỏi nhà, sau khi trung sĩ Toàn cưới vợ, không ai trông thấy và bàn tán gì đến cô ta nữa.
Tuyệt tăm!
Cũng chỉ ít tháng sau những chuyện đó mà thôi, cụ Hường bệnh đột ngột rồi qua đời. Ở cái xóm lắm chuyện này, chuyện cụ Hường cưới vợ bé, “chịu không nỗi” cô vợ trẻ hay nhớ thương cô ấy quá mà chết như người ta đồn khắp xóm, rồi cũng qua đi như bao nhiêu chuyện khác.
Chuyện cụ Hường chỉ là những dư âm cuối cùng của “chế độ phong kiến”, cũng như việc ra đi lẵng lặng của ông vua cuối cùng nhà Nguyễn vậy.
Những dư âm đó vội tắt bởi vì thời thế đã đổi thay, quan niệm về hôn nhân, hưởng lạc đã khác xưa nhiều lắm. Nó cùng với những hoạt cảnh, bích chương, truyền đơn bôi lọ ông Bảo Đại trong cuộc “Trưng Cầu Dân Ý” ngày 23.10.1955 làm cho người ta thấy đó chỉ là những hưởng thụ bê tha, trụy lạc của một thời vua quan, chẳng ai nhắc đến làm chi nữa, chỉ là một đống tro tàn, ai buồn khơi ra để tìm một chút lửa mọn?
Người ta biết chắc là lửa đã tắt rồi, thời kỳ “áo mão cân đai” đó qua hẳn rồi. Ông vua cũ Bảo Đại, dù có trở về mặc áo long bào, ngồi lại trên ngai vàng, chưa chắc có nhiều người đến bái lạy và tung hô “Vạn tuế Đức Kim Thượng” như ngày xưa, để mong cầu một chút ơn vua lộc nước.
Chỉ mới mười năm kể từ ngày vua Bảo Đại thoái vị, câu chuyện cũ đã quá cũ, không ai còn mơ tưởng đến triều đình làm chi nữa. Người ta có vô Đại Nội thăm điện Thái Hòa, lầu Kiến Trung, cung Diên Thọ, nhìn sân chầu với hai hàng tượng đá, ắt hẳn cũng vì tò mò chớ không chắc họ muốn tìm lại một “hồn thu thảo” như Bà Huyện Thanh Quan ngày trước.
Khúc quanh lịch sử về những sự kiện xảy ra năm 1945 làm thay đổi triệt để quan điểm chính trị của người dân Huế vốn chịu ảnh hưởng nặng nề nếp sống vua quan.
Tấm màn sân khấu đã khép lại. Anh kép nghèo đóng vai vua đã cởi bỏ áo mão, mặc áo may-ô, quần xà lỏn, đang ngồi ăn chịu tô cháo gà khuya sau sân khấu.
Chấm dứt một tấn tuồng!
Còn tôi?
Chỉ một năm sau tôi cũng rời cái xóm nhỏ thân yêu thời niên thiếu ấy. Và cuộc đời phiêu bạt của một người chiến binh đưa tôi rời cố đô, lê gót khắp miền Nam lửa khói, lên tận vùng cao nguyên nắng bụi mưa bùn, tới Saigon hoa lệ và băng rừng lội suối tận Cà Mâu, Hà Tiên, điểm tận cùng đất nước. Có bến bờ nào mà tôi chưa đặt gót chân phiêu bạt? Và bến bờ cuối cùng ở mũi ông Trang, trong một đêm mưa gió đã âm thầm đưa tôi rời xa đất nước, bắt đầu một kiếp người khác, trôi giạt nơi xứ người.
&
Tết năm rồi, Cộng đồng người Việt ở thành phố tôi đang cư ngụ có tổ chức “Họp Mặt Tất Niên” mời đồng bào đến dự. Trưởng Ban Tổ Chức là một ông bạn tôi quen từ trước 1975 ở Việt Nam, vì chút tình riêng, gọi tôi đến chơi. Lâu lâu, gặp được đông đảo người Việt, gợi nhớ quê hương, an ủi tâm tình vọng quốc, nên tôi hăng hái tham gia mặc dù biết chắc bữa họp mặt đó, như ông bạn nói, chỉ có chút kẹo bánh, nước ngọt, không có “Thịt mỡ dưa hành, câu đối đỏ…” và…bia Budweiser như cái “gu” của dân nhậu ở đây.
Đang vui nửa chừng, bỗng có người quen yêu cầu tôi bày tỏ ý kiến.
Chết! Ý kiến gì bây giờ? Đang vui ngày Tết, nói bậy bạ, lớ ngớ không chừng bị người ta chưởi cho. Cuối cùng, tôi nảy ra một ý: Thôi đành kể một chuyện vui, chuyện của “Xứ Huế tui” chó cắn “không răng mô” làm ai cũng cười.
Vừa về chỗ ngồi, bỗng có đứa bé gái Mỹ rất là Mỹ, tóc tai mũi mắt gì đều Mỹ hết mà lại nói tiếng Việt rất là Việt, không sai một âm, đến bên tôi, vòng tay lễ phép:
– “Bà ngoại cháu ngồi đằng kia xin mời ông lại chơi.”
Tôi nhìn theo hướng đứa bé chỉ. Một bà già tóc đã bạc lắm, mặt mày béo tốt, phúc hậu nhìn lại hướng tôi, cúi đầu chào rất lịch sự. Miệng bà hơi mĩm cười. Tôi chào lại rồi giã từ mấy người ngồi cùng bàn, đi theo đứa bé gái. Bà già chỉ ghế mời tôi ngồi, mời tôi uống nước rồi hỏi thăm:
– “Tôi nghĩ chắc cậu – xin lỗi – ông, người Huế.”
Cậu là tiếng để gọi người ngang tuổi mẹ mình hay nhỏ tuổi thua mình. Bà ta tính gọi tôi bằng cậu là theo cái ý thứ hai. Tôi cười, nói đùa:
– “Thưa bà, vâng. “Quê hương tui ngoài… nớ!”
Nghe tôi nói đùa tiếng nhà quê Miền Trung, bà ta cười. Tôi lại hỏi:
– “Rứa” (thế -tg) chắc bà với tui cùng xứ với… “dau”!
Bà ta đột ngột hỏi:
– “Ông ở chợ Xép? Tôi nhớ mang máng như vậy!”
– “Hay thiệt! Bà nói hay thiệt! Nhưng tôi ở đó hồi còn đi học thôi. Sau này có gia đình, tôi ở lung tung nhiều nơi cho tới khi đi lính, lưu lạc vào trong Nam.” – Tôi nói.
– “Tôi nghĩ ông không nhận ra tôi, nhưng nếu như hồi đó ông có ở Chợ Xép thì ông biết chuyện tôi.”
– “Thưa bà, tôi ở Chợ Xép khá lâu nhưng bà không nói rõ chuyện gì thì tôi không nhớ được. Xóm nhỏ mà, chuyện gì chẳng hay.”
Bà ta nói, giọng buồn buồn:
– “Thôi, chuyện cũ mà! Chuyện buồn, nhắc lại làm gì. Nhiều khi tôi muốn quên Việt Nam, quên hẳn đi, nhưng rồi như có một cái gì đó thôi thúc, như ngày hôm nay chẳng hạn, không muốn đi rồi cũng phải đi. Giống như khế chua vậy. Biết chua mà vẫn muốn ăn.”
Tôi cải:
– “Quê hương là chùm khế ngọt chớ! Bà không nghe người ta hát đó sao?”
Bà già cười, chua chát:
– “Ngọt là với những ai được ưu đãi thôi. Quan to, chức lớn, bỗng lộc nhiều, luôn luôn có kẻ hầu người hạ, vợ lớn, vợ bé, bảy tám chục tuổi cũng còn cưới vợ bé như cụ Hường nhà tôi ngày xưa, vàng bạc để từng rương thì quê hương là chùm khế chua thế nào được. Còn như tôi, trước khi về với cụ Hường, cuộc đời đã chua xót lắm rồi mà bỏ nhà cụ Hường ra đi lại càng đau đớn hơn nữa. Cái chuyện tôi ra đi hồi đó nhiều khi muốn tâm sự mà chẳng biết thố lộ cùng ai… ”
Tôi ngồi trầm ngâm không biết nói gì trước những lời oán trách số phận của người đàn bà đã già này mà tôi đoán chắc bà là cô vợ bé của cụ Hường ngày xưa.
Một lúc lâu, tôi nói:
– “Việc làm cụ Hường tôi thấy chẳng có gì sai. Ông Nguyễn Công Trứ bảy chục tuổi cũng còn cưới vợ bé. Cụ nói đùa là “Ngủ thập niên tiền, nhị thập tam”. (Năm mươi năm trước, tôi 23 tuổi). Vấn đề là do ở chế độ vậy. Vua có hàng ngàn cung phi thì quan có năm bảy vợ. Họ nghĩ là họ có quyền hưởng thụ… ”
– “Vậy ông nói đàn bà là phương tiện của đàn ông sao? Không có bình đẳng, không có nhân phẩm… ” Bà ta gay gắt ngắt lời tôi.
– “Chỉ là ngày xưa thôi, thời “phong kiến”. – Tôi cười, nói chữa lời. Còn bây giờ thì “Lệnh ông thua cồng bà”. Nói chung thì vậy, còn nói riêng từng người thì mỗi người một số phận. Giày dép còn có số. Suy cho cùng thì Tạo Hóa… bất công. Người thì được phận may, người toàn xui xẻo, chẳng ai giống ai.”
– “Nói số phận thì cũng để an ủi mình mà thôi.” -Bà già nói- “Ông nội tôi ngày xưa giỏi chữ Nho lắm, không ra làm quan được vì khi ông có đủ chữ để đi thi thì vua đã bỏ thi theo cái lệ xưa. Ông nói theo sách tử vi thì tôi có số đào hoa. Đàn bà có cái số này thì đường tình duyên coi như hỏng, giống như ngọn lá trên cây trong câu thơ gì đó mà tôi không nhớ.”
– “Vâng, vâng. “Chi nghinh nam bắc điểu, diệp tống vãng lai phong”. “Dập dìu lá gió cành chim, sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh”. Truyện Kiều nói vậy mà. Cô Kiều có cái số đào hoa nên phải mười lăm năm lưu lạc!” -Tôi giải thích.
– “Nhằm nhò gì. Tôi gấp đôi cái mười lăm năm đó. Mười chín tuổi tôi đã phải bán mình để mẹ có tiền chuộc cha ghẻ tôi ra khỏi tù. Tới bây giờ già như thế này gi mới yên thân.” -Bà ta nói.
Tôi tò mò hỏi:
– “Tôi vẫn còn cái thắc mắc của cả xóm hồi đó. Tại sao bà chịu lấy cụ Hường?”
Giọng buồn bã, bà ta trả lời:
– “Tôi đã nói rồi đó. Con gái nhà quê mà lại nghèo thì vậy thôi. Vậy mà tôi còn đi học được chút đỉnh đó. Hy sinh cho gia đình là điều lương tâm bắt buộc. Nhưng tôi thường oán ông già tôi, ông bỏ đi kháng chiến thành ra mẹ tôi mất nơi nương tựa, con cái không ai chăm sóc, nuôi nấng… ”
Tôi góp ý:
– “Làm sao vẹn toàn được cả nợ nước, tình nhà. Đi kháng chiến chống Pháp là hy sinh cho đất nước.”
Bà già cười cười nói:
– “Nhìn bên ngoài thì vậy nhưng hoàn cảnh mỗi người mỗi khác. Ông nội tôi có mặc cảm nhà Nho thất chí, có học mà bị bọn lý trưởng trong làng chèn ép. Hồi Việt Minh lên, cho con theo Việt Minh là để trả thù đời vì lúc đó ông nội đã già, không làm gì được ai. Đến khi Tây tới thì ông già tôi lỡ theo Việt Minh rồi, muốn về cũng không về được. Với lại cha ghẻ tôi hồi đó làm lý trưởng, mê mẹ tôi dữ lắm, sợ cha tôi về thì ông mất mẹ tôi nên ổng hăm, nếu cha tôi về ổng sẽ cho ở tù rục xương. Ông già tôi nhát gan, sợ không dám về, đành chịu mất vợ. Vậy rồi 54 ông tập kết ra Bắc luôn, lấy vợ khác ngoài đó, nay trở thành người cách mạng.”
Tôi nói, giọng oán trách:
– “Chiến tranh làm cho nhiều gia đình ly tán, mất mát… ”
– “Khổ nhất là đời con gái, lại là con gái nhà nghèo như tôi.” -Bà già nói tiếp, giọng buồn bã.- “Không nói ông cũng biết, biết bao nhiêu người con gái trong Nam này có số phận như tôi. Có con đường nào khác cho tôi đi?! Làm sao có được một tấm chồng Việt Nam cho đàng hoàng?! Ông thấy cháu ngoại tôi thì ông biết phận tôi rồi đó… ”
Tôi lại tò mò:
– “Rồi bà rời Việt Nam trước 1975?”
– “Đâu có ông! Ông ấy về Mỹ, biểu tôi theo, tôi không về. Quê hương mình, mình ở. Vả lại, lúc ấy tôi có tiền. Tôi khá giả lắm. Tôi làm cho mẹ tôi một cái nhà ngói lớn ở dưới làng, tính về ở với mẹ, với em, nuôi con, ước mong một đời sống yên lành nơi chôn nhau cắt rún. Không ngờ sau 75, mẹ tôi qua đời, chị em tôi lại ly tán. Ngoài quê đói khổ quá, tụi nó tìm vô Nam. Ông già tôi ngoài bắc về chưởi mắng tôi đủ điều, nào là “Ôm chân đế quốc”, nào là “Bơ thừa sữa cặn”, nào là làm xấu hổ phụ nữ Việt Nam, không biết “Kiên cường, bất khuất, trung hậu, đảm đang…. ” Cuối cùng tôi phải đem con vượt biên, quê mẹ không dung thì nó đành về quê cha… ”
– “Bây giờ chắc ông cụ vẫn khỏe?” Tôi lịch sự hỏi.
– “Khỏe làm sao được ông! Theo “Cách mạng” mấy chục năm bây giờ tháng nào cũng kêu đói. Bên nầy tôi phải gởi tiền về chu cấp, “Mỹ quốc viện trợ”. Hồi trước tôi lấy chồng Mỹ có tiền làm nhà cho mẹ mà ông ta chưởi tôi thiếu đường tắt bếp thì bây giờ nhà ấy ông ở cùng với bà vợ Bắc kỳ. Buồn cười nhất là bà này. Hồi ở ngoài Bắc mới vô, bả hách lắm, chụp hình nón cối dép râu sang thật to treo trong nhà, hù thiên hạ chơi, coi mẹ tôi với tôi như rác rưởi. Bây giờ gởi thư cho tôi, tự nhún mình, xưng là dì – dì ghẻ đó – chẳng qua cũng để xin tiền. Nói ra thì tội trời, không gởi tiền cho thì không được mà gởi tiền cho thì suy cho cùng, họ có cái tình gì với mình đâu!”
Tôi đánh lãng qua chuyện khác:
– “Bà có thấy bên Mỹ này khác với mình nhiều lắm không. Người ta coi trọng đàn bà.”
Bà già cười:
– “Chắc không? Tôi thì tôi cho rằng đàn ông hay đàn bà, ai có quyền, có tiền thì hơn, nô lệ người khác được. Trời thì lại bất công, không cho đàn bà có được sức lực và trí óc như đàn ông nên ở đâu họ cũng bị đàn áp, bị biến thành trò chơi. Hồi trước Mỹ đi đánh giặc bên Việt Nam cũng vậy, mà bây giờ ở đây cũng vậy, nhiều thằng dê cụ, hay coi thường đàn bà, đàn bà Mỹ cũng như đàn bà Việt Nam, tụi nó xổ dê hoài.”
– Ý bà muốn nói các vụ sexual harrassement chớ gì. Nhưng mà ở Mỹ, đàn bà đứng hàng thứ hai, sau trẻ con” – Tôi nói.
– “Tôi hỏi ông một câu.” – Bà già trả lời – “Xứ Mỹ là xứ luật pháp. Đàn ông Mỹ họ không xúc phạm đàn bà là vì họ tôn trọng phẩm giá của người đàn bà hay vì họ sợ luật pháp? Hai cái này khác nhau. Ông trả lời được câu đó mới trúng vấn đề.”
hoànglonghải
(1) Người Huế gọi là “ét” xe, theo tiếng Pháp là aide. Phụ tài xế. Người miền Nam gọi là “lơ” xe đò.
Miệt Thứ là nơi chôn nhau cắt rún của ông Phạm Minh Tày (lục bộ viết trật chánh tả) tức nhà biên khảo Sơn Nam.
Ðại Nam Nhứt Thống Chí chép: Ðó là vùng Lâm Sác, vùng Thập Câu. Thập là mười. Câu là cái ngòi nước từ rừng U Minh Thượng chảy ra biển Rạch Giá.
Theo ông Huỳnh Tịnh Của trong Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị: “Miệt: xứ, miền, một dãy đất”. Miệt trên: vùng Biên Hòa, Gia Ðịnh, Bà Rịa. Miệt Cao Lãnh. Miệt Ðồng Tháp Mười. Miệt Xà Tón, Tri Tôn Thất Sơn, Châu Ðốc. Miệt Dưới: vùng Rạch Giá, Cà Mau.
Như Miệt ruộng, Miệt vườn là vùng đất gò, đất giồng, đất phù sa rất tốt cho cây cam, quýt… Làm vườn đỡ vất vả, dễ kiếm sống hơn làm ruộng.
Miệt vườn chúng ta có mấy chữ như: “Về vườn, bắp vườn, nhà vườn, gái vườn, công tử vườn, điếm vườn, dân chơi miệt vườn…”
Ông Sơn Nam có viết cuốn “Văn Minh Miệt Vườn, vùng đất ven sông Tiền, sông Hậu, thuộc Sa Ðéc, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Cần Thơ.
Miệt Thứ là tên một vùng đất đẻ ra những đứa con như Miệt Thứ Hai, đứa con thứ hai trong nhà tới Miệt thứ Mười Một.
Nhà Miệt Thứ lợp lá dừa nước. Nếu lựa lá tốt, lợp kỹ, tới 5 năm mới thay mái lá. Ðất kinh rạch, lung, bàu phải chống xuồng ba lá. Xuồng ba lá ghép bằng hai tấm ván be và một tấm ván đáy. Xuồng dùng để đi thăm câu, giăng lưới, đi tiệm, đi ăn đám giỗ quảy, đám cưới, thôi nôi đầy tháng! Không đi ăn đám thì đi nhậu chơi.
Miệt Thứ, có chợ Thứ Ba, Thứ Sáu, Thứ Bảy, Thứ Tám, Thứ Chín, Thứ Mười Một…ở ngã ba, ngã tư kinh, rạch. Như chợ nổi nhiều nơi khác, chợ nổi vùng Miệt Thứ, một cây sào ngắn, gọi là cây bẹo cắm trên mũi ghe, xuồng cho biết mình bán thứ gì?
Miệt Thứ là miệt rừng xa xôi, hiểm trở, đất thấp than bùn, nhiều muỗi mòng. Xa xôi cách trở quá, cho nên cô gái Miệt Vườn theo chồng về Miệt Thứ: “Ðêm đêm ra đứng hàng ba. Trông về quê mẹ lệ sa buồn buồn.”. Chớ thói thường thì: “Mẹ mong gả thiếp về vườn. Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh” Nhưng cái này lại tréo cẳng ngỗng, tréo ngoe. Em gái Miệt Vườn lại bị Tía ép lấy chồng về Miệt Thứ. “Sương khuya ướt đẫm giàn bầu. Em về Miệt Thứ bỏ sầu cho qua?” Ngày mai bậu vu quy, bữa nay nhà nhóm họ. Bà con nhậu như điên; rượu rót tràn như suối! Qua gánh bao đôi nước; phồng rộp một bên vai, Củi chẻ bao nhiêu thước! Dằm sướt, rướm máu tay. Bậu như chim vào lồng; qua, bùa nghèo, dán trán? Vùng vẫy cũng vô phương! Bậu hót tiếng buồn thương; qua đành trơ mắt ngó. Rót ly rượu đắng cay; uống tràn đêm nỗi nhớ. Tình bậu, qua một thuở.Thôi hẹn bậu kiếp sau!
Rồi bậu đi: “Tới đây xứ, sở lạ lùng. Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê. Chèo ghe sợ sấu cắn chưn. Xuống sông sợ đỉa lên rừng sợ ma. Cà Mau khỉ khọt trên bưng. Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um.”
o O o
Miền Nam có nhiều người viết văn nổi tiếng như: Hồ Biểu Chánh (1885-1958); Vương Hồng Sển. (1902-1996); Nguyễn Hiến Lê (1912-1984); Bình Nguyên Lộc (1914-1987). Sơn Nam (1926-2008) là một trong số đó.
Từ: “Chiều chiều quạ nói với diều. Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm, ông nội của ông Sơn Nam đã đến lập nghiệp ở Miệt Thứ ven rừng U Minh Thượng, với người Việt, người Khmer và người Tiều.
Sau khi Hiệp định Geneve, ông Sơn Nam lên Sài Gòn kiếm sống. Nhà văn Bình Nguyên Lộc (1914-1987) khuyên ông Sơn Nam là: “Nên viết về đất và người vùng châu thổ sông Cửu Long” mới có đề tài để viết dài dài; viết dài hơi mới sống chết được với nghề.
Nên sau tuyển tập truyện ngắn Hương Rừng Cà Mau nổi tiếng do nhà xuất bản Phú Sa của bạn ông là nhà văn Ngọc Linh in ấn, Sơn Nam thiên về biên khảo. Như vậy đời sáng tác của ông có thể chia ra làm hai: nhà văn Sơn Nam rồi nhà biên khảo Sơn Nam.
Sơn Nam có: “Văn minh miệt vườn, Tìm hiểu đất Hậu Giang, Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Vạch một chân trời v.v.” Với gần 60 tác phẩm của ông đã xuất bản. Quả là một gia tài khá là đồ sộ.
Sơn Nam vẽ trước con đường mình sẽ đi, qua mấy câu thơ: “Phong sương mấy độ qua đường phố. Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê.” Phong sương nên Sơn Nam ăn mặc xuề xòa. Qua đường phố, ông thích đi bộ cho dễ la cà, hút thuốc, uống cà phê, có tiền nhuận bút kha khá thì ông nhâm nhi vài chai ‘la ve’ với bạn hữu. Gặp bè bạn, ông chỉ nói chuyện văn chương. Nghe ai đâm xuồng bể, nói chuyện gì khác ‘nhột nhột’, ông chỉ nói “Ôi! Hơi đâu?”
Nhà văn Sơn Nam – nguồn internet
Văn tức là người. Ông chơi bạn giống như thầy phái viên báo Chim Trời và ông nông dân Tư Có trong Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư trong tập truyện ngắn Hương Rừng Cà Mau. Chuyện một phái viên nhà báo từ Sài Gòn xuống thu tiền một độc giả ở tận miền quê heo hút tuốt dưới Rạch Giá.
Vì xứ muỗi nhiều, sau khi ăn cơm chiều, chủ nhà vội giăng mùng, mời thầy phái viên chun vào trò chuyện cho vui. Thầy phái viên ngượng nghịu nhưng rồi cũng rón rén giở mí mùng chun lẹ vô vì sợ bị muỗi cắn. Muỗi cắn thì sanh bịnh sốt rét ai mà biết được?
Hai người cùng thuộc làu làu nhiều đoạn trong sách Quốc văn giáo khoa thư. Người này đọc: “Chốn quê hương đẹp hơn cả”, người kia đọc tiếp “Ai bảo chăn trâu là khổ”. Cả hai người xa lạ lại tâm đồng ý hợp như bạn chí thân tự thuở nào.
Sơn Nam sống giản dị, chẳng màng danh vọng cao sang không thích được xưng tụng. Ông sống thích ứng với hoàn cảnh để theo đuổi nghề văn: “Tới đâu thấy vịt cũng lùa. Thấy duyên cũng kết; thấy chùa cũng tu”. Ông chọn cái nghề văn dẫu nó nghèo như cái Miệt Thứ của ông: “Xứ mình nghèo quá, mình được đi học và mình phải làm cho người ta biết đến xứ mình như thế nào”.
Nhờ nhà biên khảo Sơn Nam mà bà con mình biết kha khá về Miền Tây thời khẩn hoang. Dẫu biết chưa đủ nhưng người tiếp nối công trình của Sơn Nam, hổng biết chừng nào mới xuất hiện. Giờ trong nước nghe đánh trống tưng bừng ỏm tỏi nhưng chỉ là đồ giả kim.
Chuyện rằng: Năm Thiệu Trị thứ hai (1842), tháng Sáu, ông Phan Thanh Giản được vua ban cho vàng, bạc để từ kinh đô Huế về quê làng Bảo Thạnh, Ba Tri, lo tang lễ cho phụ thân vừa mới qua đời.
Lúc đi đường, cụ Phan giữ phận người đang có đại tang. Cụ không cho quân lính trống kèn ỏm tỏi, rùm beng; không cho ai biết mình là quan lớn.
Ðêm ngang đồn Ba Lai, Bến Tre, Cai đồn tên Vân, ‘triệt’ ghe Ngài lại đặng tra xét. Mấy người chèo ghe nói rằng: “Ghe của quan lớn”. Tên cai đồn thấy chiếc ghe tầm thường quá cỡ mới quở mấy thằng chèo ghe rằng: “Sao dám nhè tôi mà nói gạt, quan lớn gì mà đi ghe như vậy”?
Rồi hơn 100 năm sau, năm 1955, ông Trần Văn Hương (1902-1982) cỡi xe đạp đi làm. Người gác cổng Tòa Ðô Chánh không cho vào. Ông từ tốn lấy giấy bổ nhiệm chứng minh mình là Ðô Trưởng. Nhân viên gác cổng xin lỗi. Ông Trần Văn Hương nói: “Chú em làm vậy là đúng! ‘Qua’ không phiền đâu”.
Nói nào ngay, chuyện ông Trần Văn Hương sống thanh liêm tui tin là có thiệt. Nhưng chuyện người gác cổng không cho ông vào chỗ làm vì ổng cỡi xe đạp, tui lại hồ nghi là chuyện thêu dệt. Vì cái giai thoại nầy nó na ná, nó ‘photocopy’ chuyện về ông Phan Thanh Giản.
Chuyện nước mình là vậy; chuyện bên Ðức, bên New Zealand, bên Úc thì cũng ‘sêm sêm’.
Bên Ðức, ông Cem Ozdemir (gốc Thổ Nhĩ Kỳ), đảng Xanh, đã đi xe đạp từ Quốc hội tới phủ Tổng thống để tuyên thệ nhậm chức Bộ trưởng Nông nghiệp.
“Ðảng Xanh chủ trương bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm, chống biến đổi khí hậu, nên tui không ngồi ‘limousine’ mà tui chạy xe đạp để tập thể dục. Tui ăn nhiều nhưng bụng không bự như bụng của Ðổng Trác, bự như cái trống chầu. Bụng nhỏ cho nó phẻ hai cái chưn!”
Tui biết ông nầy diễn. Nhưng thôi cũng được; vì ổng diễn không sâu lắm. Chắc ổng bắt chước Boris Johnson lúc làm Ðô trưởng cỡi con ngựa sắt phi vù vù trên đường phố chật hẹp của thủ đô London vì sợ kẹt xe. Nhưng lúc leo lên làm Thủ tướng Anh rồi thì không thấy Boris Johnson cỡi ngựa sắt nữa mà toàn cỡi ‘limousine’ có xe ‘phú lít’ tiền hô hậu ủng cho nó phẻ cái bụng bự?
Bên New Zealand cũng tuồng hát đạp xe của đảng Xanh (Green Party), bà dân biểu Anne Genter, 41 tuổi, đạp xe đến bệnh viện để sinh con.
Bà dân biểu song tịch nầy vốn là dân ‘Mẽo’ nên cái tuồng quảng cáo nầy đậm chất Mỹ. Chuyển dạ, thằng nhóc sắp tọt ra, chạy sút đầu tóc mượn còn chưa kịp, còn dám hát tuồng đạp xe đi đẻ, vừa hát: “Nhớ khi xưa em chở anh trên chiếc xe đạp cũ. Áo ướt đẫm mồ hôi những trưa hè. Nhớ khi xưa bao mộng mơ trên chiếc xe đạp cũ. Dưới cơn mưa cùng nhau dắt qua cầu…” Tui cho những chuyện nầy chỉ là thủ đoạn chánh trị để mị dân. Mị dân là mê hoặc dân chúng để xin phiếu.
Báo chí xúm lại thổi ống đu dủ, khen nức nở: “New Zealand luôn nổi tiếng với các chính trị gia thực tế và không khoa trương”. Ký giả, sạn trong đầu, còn mắc lỡm các chánh trị gia (láu cá) nầy thì nói chi đến dân ngu khu đen, vốn chất phác đến mức ngây ngô! Chuyện đạp xe đi sanh em bé là chuyện riêng tư. Chuyện làm dân biểu là chuyện công. Cái nào phải ra cái đó! Lập lờ đâu có được nè! Lo phục vụ dân đi! Lo chén cơm, manh áo, sức khỏe cho dân đi! Ðừng đi đẻ bằng xe đạp hoặc đi ăn bò dát vàng. Ðừng gia nhập phường tuồng nữa được hông? Bộ huỡn lắm hả?
Tranh Bảo Huân
Qua mấy cái chuyện ruồi bu nói trên, tui mới ngộ ra là: “Ở các nước Phương Tây, muốn làm chánh trị là phải đi học diễn xuất. Còn ở các nước CS độc tài CS thì khỏi. Chỉ cần học cách nói dóc không biết ngượng là được!”
Bà con mình ai già cỡ tui chắc đều có coi phim ‘Chúng tôi muốn sống’ vào cuối thập niên 1950s. Trong phim có cảnh CS đấu tố địa chủ. Tên Chủ tọa phiên tòa án nhân dân hài tội địa chủ vừa dứt câu, hắn ‘chém gió’ xuống một cái, như bắt nhịp dàn đồng ca. Thì tên CS, cò mồi trà trộn trong đám dân ngu khu đen, giơ một nắm tay lên hô: “Ðả đảo! Ðả đảo!”. Ðám dân ngu khu đen đang ngủ gà, ngủ gật, bỗng giựt mình tỉnh giấc, còn say ke, cũng giơ tay lên: “Ðả đảo! Ðả đảo!” rầm trời. Quang cảnh rất ư là khí thế!
Như vậy khác với chánh quyền Phương Tây phải chịu khó diễn xuất để mị dân thì CS không cần. CS kêu gì là dân phải làm nấy. Không làm là từ chết tới bị thương. Nên bọn chúng không cần dàn dựng, diễn xuất chi cho nó mệt.
Các nước dân chủ tự do, các chánh trị gia không dám coi dân là một đàn bò mà là một đàn cừu. Cừu cũng ngu như bò đấy thôi!
Chỉ khác ở chỗ là: Ðộc tài CS thì bạt tai, đá đít. Dân chủ thì phải dụ nó; phải mị dân nên phải dàn dựng công phu.
Theo dõi các ứng cử viên tranh cử chức Thống đốc hoặc Tổng thống bên Mỹ, nếu nhạy bén một chút, bà con mình ai nấy đều nhận thấy kịch bản được sắp xếp chi li đến từng chi tiết một.
Trang trí như thế nào? Chơi bản nhạc nào? (Nhiều lần ban vận động tranh cử cứ tự tiện lấy xài. Hổng cần xin phép hay trả tiền bản quyền gì ráo trọi. Ca sĩ nó cự quá xá kêu đừng chôm của nó nữa).
Rồi đứa nào cầm tấm bảng, ‘logo’, khẩu hiệu tranh cử? Chớ không phải ai cũng được làm hậu cảnh, đứng sau cái ‘micro’ của ứng cử viên Tổng thống, đang đóng vai chánh đâu nhe. Dĩ nhiên những người nầy khoái chí tử vì cái ‘mặt mẹt’ của mình sẽ được xuất hiện trên truyền hình phát đi toàn thế giới. Chỉ cần đứng đó hờm sẵn. Lúc vai chánh dứt một câu ‘cà lăm’, giơ tay chém gió xuống một cái là mấy cái ‘mặt mẹt’ (Mỹ trắng, Mỹ đen hoặc Mễ) đồng loạt vẫy vẫy miếng ‘plastic’. Rất ư là khí thế!
Tiền đâu mà dàn dựng với nhiều diễn viên phụ đến thế? Dạ tiền quyên góp của cử tri đấy ạ. Thế nên bầu cử bên Mỹ ai không có tài dụ khị được cử tri móc xỉa cho mình chưa bầu thiên hạ cũng biết (ổng hay bả) thua là cái chắc! Là thôi rồi Lượm ơi!
Còn quyên tiền của cử tri hổng được bao nhiêu làm sao mà quảng cáo? Thì nên bắt chước trang chót cái sách của dân biểu Bob Katter bên Úc nè. Thằng chả quảng cáo miễn phí trên truyền hình, so với Mỹ thì bá đạo hơn nhiều. Ai dám nói chánh trị gia Úc nó khù khờ hơn Mỹ đâu nè?
Chiều Chủ Nhật, Katter đi nhậu. Nhân viên phục vụ quán rượu kêu ông dân biểu đưa coi cái giấy chứng nhận đã chích ngừa. Katter cà khịa biểu chủ quán Tamworth gọi điện đến Quốc hội Liên bang ở thủ đô Canberra để xác minh tình trạng chích ngừa của ông. Chắc Katter muốn khoe: “Tớ là dân biểu Liên bang Úc đó nhe! Ðừng có mà giỡn mặt!”
Ai dè chủ quán rượu kêu bảo vệ đuổi cổ ông dân biểu Liên bang Úc: ‘Ra ngoài!’ Cho dù Katter đã được chích ngừa hai lần trực tiếp trên truyền hình nữa. Nhưng luật là luật. Không xét giấy nó. Chánh phủ nó xét mình. Nó phạt tới 20 ngàn đô Úc thì tiền đâu mà đóng?
Quán rượu bị đóng cửa ròng rã mấy tháng nay cũng do mấy tay dân biểu nầy nó làm luật. Có kiếm được cắc nào đâu? Con vợ nó chửi chánh phủ, rồi nó chửi mình tối tăm mặt mũi luôn. Giờ mới được cho mở cửa, chưa ai mở hàng mà thằng chả lại cà khịa. Hỏi có tức hông chớ?!
Dân Úc ai coi cái tuồng nầy mà tin thì về nhà bán lúa giống mà ăn. Tuồng nầy, dân biểu Liên bang Úc Bob Katter là soạn giả kiêm tài tử chánh. Thằng cha chủ quán (cũng phe ta) vai phản diện. Quảng cáo cho thằng cha dân biểu mà cũng quảng cáo cho quán nhậu của mình.
Bà con nói tui đưa ra cái thuyết âm mưu để xí gạt bà con ư? Hổng dám đâu! Tui rành tụi nó sáu câu mà! He he!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.