Một mặt không mang về

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 30 Dec 2023

Tôi về thăm lại cố đô. Gạch đá, rêu phong, đền đài, miếu mạo… câm tiếng thế cô. Đọng im giữa thành quách trồi lên từ tốn câu thơ truyện Kiều: tưởng bây giờ là bao giờ, rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao.

Đi qua cổng Hiển Nhơn hơn trăm thước, phía bên tay phải là ngôi trường tôi theo học hồi đó. Hồi có cây bàng bông sứ gió rụng hương bay, lẩn trốn tà áo dài thiên thanh nhạt dấu khuất vào trường Âm nhạc láng giềng váng vất tiếng đàn piano nghẹn phím.

Có người trao thông tin, trường nớ đã đổi tên, đã di dời về nằm sau hồ Tịnh Tâm cô quạnh. Tôi cũng tự nhủ lòng chắc số mạng cây ngô đồng e không khỏi bị hạ đốn. Như vị quan lớn của triều đình đương đại đã sai thuộc hạ bứng cây sứ hơn trăm tuổi mang về trồng sau vườn nhà. Cây quýt đi xa, lạ đất nên hết ngọt, ắt bông sứ nọ nở hoa làm người hít phải bần thần, mơ mòng mùi thơm cổ xưa héo tàn.

Kín cổng cao tường, người ta bán vé vào tham quan. Chúng sinh bản địa họ thu lệ phí 120.000. Tôi Việt kiều thì 150.000. Con đường xưa tôi đi không đắp mô chêm cục gạch, bây chừ ưu việt bạn phải moi hầu bao nộp tiền mãi lộ, có thế thôi. Đừng nhiều lời, đây không ưa nghe bọn nói xấu chế độ. Chẳng thích vô thì làm ơn đi lộn ra. Chiêm bao rõ ràng, còn ngờ mở mắt? Bây giờ là hiện thực, tưởng tiếc mà làm chi! Không chỉ một gáo nước lạnh, tôi bị dội bị hắt bị tạt cả chục gáo. Vậy mà chưa chịu tỉnh thức, vậy mà học thói chảnh “ăn chơi hổng sợ mưa rơi”. Không có áo tơi, cứ đi khơi khơi, từ túi đến sớm mơi, dạ sầu ai khơi? Điếng hồn phải xơi, giỡn chơi chi nơi!

Tôi lộn ra. Từ khi về chốn xưa tôi lộn ra đã bao lần? Lộn hồn lộn vía và luôn lộn ra vì ngỡ chân bước nhầm nhà người ta. Đến thăm người bạn học cũ, chó chồm ra sủa khoe răng nhọn hai hàm, mạ hắn trấn an: Không có răng mô mà sợ! Dòm người lạ, biết lý do, mạ hắn nói: Rứa a! Người chi vô tâm quá, hắn phủi chân lên bàn thờ ngồi đã hai năm. Tôi hỏi: Hắn đau răng mà chết? Mạ hắn buồn, mạ hắn xác xơ: Răng rứa chi, hắn vô phước bị xe điên tông, thây bị kéo lê cả cây số đường dài, bầm dập hơn cả búa kềm đập, vắn số ở tuổi ngũ thập.

Tôi đi vô bàn thờ ám tối thắp một cây nhang, đốt cho hắn điếu thuốc sản xuất ở Canada coi thử hắn có được thơm râu chốn âm ti khuất mặt. Mọi thứ chết trân, chỉ có cọng khói ẻo lả, chỉ có con chó chăm vẫy đuôi siêng để mắt trông chừng kẻ lạ. Tôi lộn ra, trời ui ui, trời đứng gió. Con đường Hồ Xuân Hương ngày trước giờ ngó lộn tùng phèo chẳng ra đầu ra đuôi. Chớ tại vì răng cứ mãi ngược xuôi? Bao hối muộn dâng trào khôn nguôi!

Ở khách sạn cứ tựa cửa mà ngó xuống giòng Hương, cầu Trường Tiên không dưng mà hẹp té trên con nước mất mùi thơm thảo. Thượng nguồn trong xanh ngang chợ Đông Ba đã đổi màu trần lục đục, sông hao hụt dật dờ ở Bao Vinh rồi đổ thân ra biển mặn ngày nhọ mặt người chùng vụng mang tôi tả tơi lạc trôi sang xứ nhân đạo có thừa. Ờ, cuộc đời cứ thế mà ba chìm bảy nổi, chân cầu có mòn đi phân ly? Tình em có bèo dạt một đôi khi? Tôi chưa biết tính cách chi thì đứa con gái tới tìm chú rủ đi. Cháu tên Thuỷ, tôi nói cháu mang giữ tới tám mươi phần trăm diện mạo mẹ cháu ngày nọ. Thuỷ cười, chú quá khen! Cháu dữ chứ chẳng được hiền như mẹ. Thuỷ làm hướng dẫn viên du lịch thiện nguyện cho chú, mình đi lên đồi Thiên An chơi. Vì sao á? Vì cháu từng nhìn thấy bức ảnh chụp chú cùng mẹ đứng ở đồi thông chốn ấy. Tấm ảnh đen trắng ố vàng và trầy trụa. Tấm ảnh bỏ nhà ra đi chìm trôi trong trận lụt năm nào. Mưa liên miên trời khóc cho thúi đất, Huế mà chú, trời hành cơn lụt mỗi năm, mọi điều phải bị úng thuỷ.

Thuỷ đi xe máy, y như một người hành nghề xe ôm, Thuỷ mang theo một cái nón bảo vệ đầu, chú đội đi. Tôi từng bắt xe thồ lắm bận nhưng chưa đời nào ôm eo một o con gái. Hơn ba chục năm giã từ xe hai bánh, giờ ngồi lại cứ lóng cóng tựa leo lên con tuấn mã chuẩn bị quất ngựa truy phong. Choáng ngợp và thích thú, ngại ngần và đê mê. Vụng về và ngây dại. Trưa đổ nắng vàng, mồ hôi người Thuỷ như thứ nước hoa đặc thù vùng nhiệt đới. Coco Chanel mà thấm gì, tinh dầu ngàn hoa sao sánh được. Thuỷ là nước, nước trong người Thuỷ làm tôi ướt một nỗi niềm. Thứ lợn cợn khó phân chất. Sang số vặn tay ga, xe ngóc đầu tôi khó bình thân. Đừng sợ, Thuỷ nói chú cứ ôm ở nơi nào xét thuận tiện, ừ thì bất tiện chỉ khoanh vùng một hai. Ôm thì ôm, ôm để biết mọi vật không là ảo ảnh. Ôm trân trọng nhẹ nhàng như ôm một lọ gốm quý còn sót lại từ hồi vua Minh Mạng, cổ vật mong manh hình như chưa từng rạn nứt còn nguyên vẹn từng đường hoa văn.

Xe thong dong vì người điều khiển xe có tay lái “rất lụa”. Chữ này tôi mới thu hoạch được mà chưa thông tình đạt lí. Người Thuỷ mọi thứ mềm mại chứ đâu riêng gì đôi tay lụa là. Ngày xưa cuối tuần đèo chở nhau lên Thiên An đi picnic thấy đường dài, bây giờ bồi hồi chưa lặng sóng đã đến chốn có lắm cây thông đứng giữa trời mà reo. Tiền nhân mơ ước quá khiêm nhường nhưng muốn reo đôi lúc thường gặp trắc trở khó lường. Thông đứng trên đồi héo hon im tiếng mặc cho gió đùa, hỏi thăm em bé đi mót củi đi lượm rác mới hay có bọn người đi đục lỗ vào cây rồi nhẫn tâm đổ nhựa hoá chất vô. Cây sẽ chết và tới lúc đó có đốn hạ nó sẽ không làm bá tánh động lòng than van. Theo trình tự một ngọn đồi trọc đang lần hồi ló dạng. Mai sau xin chớ làm người, làm lâm tặc cất tiếng cười ngàn thu. Thuỷ lựa một cây thông xét còn sinh khí kéo tay tôi đứng gần nhờ đứa nhặt củi chụp cho cô chú một tấm hình. Đó, cái nút ấy, đè ngón trỏ xuống là xong. Phải bày vẽ, phải chỉ lối cho đứa ngu ngơ vụng dại. Chẳng biết tấm ảnh có đẹp không nhưng có nhiều lúc mang âm mưu đè xuống mà bất thành. Tình chỉ đẹp khi còn dang dở. Thơ kiểu gì lạ quá, tôi và mẹ của Thuỷ từng đi trên đường tình xấu mấp mô. Chỉ cầm tay nắm chân thì khó vẹn câu thề, yêu thì tự nguyện dâng hiến chớ chẳng phải trấn lột bằng vũ lực. Nâng như nâng trứng khác vô cùng với dập liễu vùi hoa. Đè mạnh tay xuống cái nút mà quang khẩu không chịu mở đóng. Thanh thiên bạch nhật răng cả gan bày trò bậy bạ cho chúng bạn cười. Ngày đó thông mọc nhiều, phồn thịnh trên đồi cỏ mượt và thông ngó xuống thằng người ngồi buồn xo mà reo tiếng chê bai.

Tôi biểu Thuỷ đèo chở đi ăn những nhà hàng đặc sản nức tiếng chốn thần kinh. Ăn để trả thù hơn tam thập niên nhịn đói nhịn khát, ăn cho bõ những ngày cơ cực chốn bơ thừa sữa cặn phồn vinh giả tạo phương kia giẫy chết. Thuỷ cười, chú nói quá đáng, cháu đâu thích đèo một ông chính trị viên sau lưng, liệu hồn mà ăn nói cho vừa lòng nhau. Tôi ra sức hối lộ Thuỷ, tôi tìm cách bôi trơn Thuỷ, sau cùng Thuỷ mới xiêu lòng: Việc chẳng đặng đừng bởi cháu sợ trực tiếp phá tan một hình ảnh đẹp, cháu sẽ có lỗi với mẹ cháu. Như thế này nhé, cháu sẽ sắp xếp hồi nào thấy ổn sẽ tới chở chú đi thăm.

Ngày ổn thoả như Thuỷ dự liệu cuối cùng cũng tới. “Kim Long có gái mỹ miều, Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi”. Địa danh có mỹ nữ khiến vua chết mê chết mệt ấy còn nổi tiếng món bánh ướt thịt nướng, hàng quán mọc dài với mùi thơm của từng vỉ kẹp thịt đặt trên lò than bốc khói làm mê muội chùm cây bụi cỏ xanh um sánh đôi. Quẹo trái bẻ phải một hồi thì nhìn ra tấm bảng lạnh lùng: Bệnh Viện Tâm Thần Kim Long. Heo hút, tịch lặng, thời gian đi ngang đây chừng như bị ngưng đọng, rơi xuống sân nỗi buồn tủi.

Thuỷ trình bày lý do với một ông bác sĩ cùng bà y tá có dáng dấp bề thế rồi quay sang tôi: Cháu đợi ở nhà khách, chú vào đi, có mặt cháu e không tiện. Tôi đi theo hai người mặc áo choàng trắng, họ dừng bước trước căn phòng kín cửa có chú thích hàng chữ “Khoa Điều Trị 1”. Người đàn ông nhìn tôi: Anh đã ổn định tinh thần chưa? Ở khoa tâm lý lâm sàng này chúng tôi phải tập huấn nâng cao kỹ năng giao tiếp vì thường gặp sự phản ứng của bệnh nhân. Họ nhiễm phải chất Amphetamine gây rối loạn tâm thần. Họ luôn ở giữa lằn ranh của tỉnh và mê, của tĩnh và động. Đôi lúc họ hiền lành dễ bảo, khi khác họ hung tợn chửi bới hoặc tấn công. Trường hợp chị Ngân chưa thấy có biểu hiện khả quan, tuy nhiên chị ấy là bệnh nhân mà chúng tôi để tâm, vì chị thích trầm tư trong thế giới riêng lẻ của chị ấy.

Ngân là mẹ Thuỷ, Ngân là người cùng tôi ngồi trên đồi Thiên An ngày xưa chỉ để nhìn mây bay gió thổi, cầm tay nhau mà chẳng biết nói năng chi, vụng dại như cây thông chưa biết reo cùng gió. Và hiện tại Ngân ngồi thu lu ở một góc giường, giường cá nhân bằng sắt có trải chiếc chiếu cũ, tiệp màu vôi ghi nhiều vết xước như từng bị cào bởi năm móng tay. Trên giường có chiếc gối, khi phát hiện ba người chúng tôi đến gần, Ngân vội ôm giữ lấy nó như sợ bị cướp đoạt hoặc Ngân đang tự trấn an. Chiếc gối như một hài chi đang được mẹ ra sức bảo vệ. Bà y tá nói: Bữa ni có người ở xa về thăm Ngân nè! Bất động, vô can, như lời thông báo đường đột đó không dành cho Ngân. Gương mặt xanh xao, lạc hồn nhưng Ngân chẳng già nua như tôi tưởng tượng. Khuôn mặt của một đứa bé dại khờ bị thời gian gội xoá lên số tuổi 50.

Ngân không nhận ra tôi, như vậy mà lại hơn. Tôi mong Ngân lên cơn để chẳng kềm chế lao vào người tôi cào xé chửi bới, giật tóc véo tai bức rời những hạt nút áo cho hả giận nhưng trước sau Ngân vẫn thu người, ngồi kiểu sợ nước lụt đang mấp mé dâng lên. Tôi cũng chẳng biết nói ra một lời nào xét cần thiết. Tôi sợ khi nó lọt vào thính giác sẽ gây cho Ngân sự xáo trộn, và chuyện ấy luôn không tốt cho một bệnh nhân mắc chứng bệnh tâm thần chẳng ổn định. Tôi chỉ biết nói với hai người phụ trách theo dõi bệnh lý Ngân khi ra khỏi phòng: Tôi xin gửi một ít hiện kim, mong quý vị vui lòng nhận lấy để thế một lời cám ơn. Công việc của quý vị quả có cam go và nặng nề. Họ siết bắt tay tôi thật lâu. Họ nói một câu “vô duyên”: Hình như anh là Việt kiều Canada, chỗ nớ lạnh chết người phải không anh? Tôi gật đầu: Dạ, chết người! Không tha một ai!

Thuỷ chở tôi về lại phố phường chộn rộn, chúng tôi làm thinh suốt. Từ xa tôi nhìn ra một đốm màu đỏ của chùm hoa phượng sớm ra hoa, nở lẻ loi giữa chập chùng sắc xanh của cây lá vườn tược. Hình như nó đơm bông để quảng cáo thầm lặng cho một quán cà phê. Tôi dụ Thuỷ vào, bộ Thuỷ không khát nước sao? Cả hai đều gọi cà phê sữa đá. Nước đá và rau sống là hai thứ luôn làm khó dễ bụng dạ Việt kiều nhưng gan ruột thằng tôi vẫn lì lợm trơ như đá vững như đồng. Pha tạp tiếng Anh thì kêu bằng tui đâu có ke, chớ nói Ai can du!

Cà phê cứt chồn hay sao mà thơm quá mạng. Liếm cho môi khỏi khô, cho ngọt xớt đường lưỡi tôi mới thưa cùng Thuỷ: Mẹ bị đã lâu mau? Khi Thuỷ đúng 17, khi ba bị lật xe rơi xuống khỏi đèo Hải Vân. Vốn yếu đuối sẵn nên suy sụp rất mau. Thảm lắm! Chú có tin tới số mạng không? Tôi chẳng trả lời, tôi ngó vạt nắng đâm xiên lên mái tóc Thuỷ, có những sợi nâu vàng nhạt phai. Sao người ta gọi những kẻ chưa trưởng thành là đầu xanh trong khi nó mãi đen mun? Sao khi không tóc tôi đâm phồn thịnh những sợi bạc lạc loài? Trong đầu tôi tự dưng vụt hiện câu của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Gượng đến mừng nhau một mặt không”. Một mặt không. Một mặt không! Tôi nhai trệu trạo cục nước đá, ê răng. Vậy là xong, tôi nói cùng Thuỷ, chú chẳng còn gì vui thú để nán ở dài lâu. Mai chú vào Sài Gòn và mốt chú lại đi xa, biền biệt. Thuỷ có đơm một mộng ước nào không? Chú nguyện san sẻ trong khả năng.

Thuỷ cúi đầu, hứng đỡ trọn vẹn màu nắng nhuộm rối sắc. Tóc mai sợi vắn sợi dài… Tối nay Thuỷ tới ngủ đằng khách sạn với chú đêm cuối… chú từng bảo Thuỷ giống mẹ tới những tám mươi phần trăm. Tôi đưa cả hai tay với lấy bàn tay trái của Thuỷ, ấp ủ, vuốt ve: Đừng giết chú không gươm dao, Thuỷ đừng khiến chú phải mang bệnh điên, bởi sự hiện diện của Thuỷ vào đêm hôm sẽ xúi chú giết Thuỷ. Chú sợ Thuỷ phải chết sớm và lòng chú thì mãi cầu xin, ở đời sống này mong Thuỷ chỉ chết duy chỉ một lần.

Chúng tôi chia tay, rời ra trước cổng khách sạn. Tôi đứng như phổng đá, chẳng ôm lấy vóc dáng đáng yêu ấy trong đôi tay nặng trĩu, không luôn một môi hôn, một lời hứa hẹn, một câu chúc lành. Chiều về sẫm tối, nhoè mờ. Tôi vuốt mặt, tôi dụi mắt. Một mặt không…

Hồ Đình Nghiêm

Một giấc chiêm bao

phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 6 Feb 2018

Post by Sơn râu 30 Dec 2023

Thị trấn 1 cư dân Monowi – Ảnh: Google image

Trong câu chuyện bà Elsie Eiler sống một mình ở thị trấn Monowi, Nebraska, có một chi tiết rất đáng chú ý: thị trấn này đã mất đi nhiều thứ và bà Elsie Eiler cũng mất đi nhiều thứ nhưng thư viện của thị trấn với hơn 5000 cuốn sách thì vẫn còn đó. Năm nay bà Elsie Eiler khoảng 80 tuổi. Có lẽ bà không còn sống bao lâu nữa nhưng có một điều chắc chắn là thư viện đó sẽ còn tồn tại ít nhất là cho đến ngày thị trấn này không còn cư dân nào. 
Tôi rất xúc động về câu chuyện thị trấn chỉ có một cư dân này và mơ ước một ngày nào đó sẽ tìm đến Monowi, ghé vào quán rượu của bà Elsie Eiler uống mấy ly, ghé thăm thư viện của thị trấn do bà quản lý, nghe bà kể chuyện về thị trấn Monowi. Nhà văn Hồ Đình Nghiêm ở Canada cũng rất xúc động về câu chuyện này và anh phóng bút viết ngay bài MỘT GIẤC CHIÊM BAO – một bài viết hay. Xin trân trọng giới thiệu cùng quí thân hữu và bạn đọc. (PCH)

Đất nước rộng lớn Gia-nã-đại nằm dài phía bắc, như tấm bình phong mang thân che choáng lãnh thổ hợp chủng quốc Hoa-kỳ phía dưới. Người ở Canada không rành xem bản đồ của USA thì nên xem là chuyện nhỏ. Chẳng thèm đoái hoài tới đường ngang nét dọc kia cũng là việc bình thường. Thậm chí anh bạn láng giềng phương nam ấy có người lãnh tụ ưa đăng đàn nói nhăng cuội gây sóng gió võ lâm, kẻ ở bắc phương cũng bình chân như vại giả điếc giả câm. Nhưng… nhưng…

Nhưng sáng hôm nay, công dân Gia-nã-đại là tôi đã nhờ Google khai nhãn một bận. Hiện lên trên màn hình máy điện toán một điểm hồng tâm nằm giữa bản đồ nước Mỹ có tên gọi tiểu bang Nebraska. Bắc giáp ranh South Dakota, hướng đông gặp Iowa, đông nam thì đụng với Missouri. Kansas nằm phía nam, Colorado ở tây nam và phương tây có Wyoming. Đường dẫn tới chốn ấy có sáu lối, 6 con số của xa lộ liên bang: số 76, 80, 129, 180, 480 và 680.

Những con số khá đẹp, xào xáo lại, giản lược nó để theo đó mà đánh vé số thì không chừng, biết đâu thần tài sẽ đến gõ cửa mình một ngày tuyết rơi mù trời, lạnh quẹo chấu, mãi cứ chịu ôm giấc cơ hàn. Không ham trúng lớn đâu vì làm triệu phú thì quá cực. Chỉ “cầu dừa đủ xoài”, mua chiếc xe mới nhiều mã lực giỏi ngốn đường trường, sắm cái ruột tượng cất đủ ngân lượng ăn xài trong ba tháng, mua tấm bản đồ và trước khi “hành phương nam”, đứng ở biên giới hai nước hý hoáy đôi hàng cảm ơn anh Phạm Cao Hoàng trên tấm bưu thiếp, dán tem cò bỏ vào thùng Canada Post. Dong tay chào trả nhân viên kiểm tra xuất nhập cảnh vừa thốt lời thượng lộ bình an.

Vì sao lại cảm ơn anh Phạm Cao Hoàng? Đơn giản vì hôm qua đọc phải bài anh giới thiệu, kiểu như Nebraska có gì lạ không em? Có anh ạ, rất lạ là đàng khác bởi trong lòng nó ôm giữ một thị trấn mang tên Monowi với chỉ đơn độc một cư dân. Hôm qua tôi xúc động tới độ cả ngày chỉ loay hoay với những giấc mơ, để thầm hứa mình phải cố dùng mọi cách tìm tới Monowi. Nói theo kiểu những văn phòng tổ chức du lịch nhắm tới những đích đến kỳ vỹ trên thế giới: “Bạn phải biết qua, chí ít một lần trong đời, trước khi chết”.

Tôi rất thích John Lennon, duy chỉ một bài: Imagine. Tôi đang nghe lại anh ta hát với tiếng đàn piano đệm hài hoà: “Imagine there’s no heaven… Imagine all the people living life in peace. You may say i’m a dreamer, but i’m not the only one, i hope some day…” Tôi hy vọng, tôi mơ mộng, không thiên đàng, chẳng hoà bình gì cả… và tôi lên giường, đắp chăn, đụng giấc chiêm bao.

Elsie Eiler già nua, hơi gầy. Bà giống mẹ tôi, những ngày cuối cùng của quãng đời làm mẹ hiền. Giọng nói bà hơi khó nghe, tôi phải chú tâm mới thông hiểu. Và tôi ngạc nhiên, do đâu mà bà nghe tường tận lời trình bày của một đứa chẳng mấy giỏi tiếng Anh? Hắn luôn ấp a ấp úng. Chỗ tôi ngồi rất ấm cúng mặc dù chỉ có bà chủ quán đứng sau quầy và tôi là khách lẻ loi. Tôi khen bà có khiếu thẩm mỹ, biết cách trình bày. Nó thực lộn xộn nhưng quan trọng là đồ vật đứng bên nhau đã biết toả lan ra hơi ấm. Cốt lõi vấn đề chỉ nằm ở đó. Bà nhìn tôi, ánh mắt nhiều dung thứ. Thay vì tôi ngợi ca tên bà: Elsie Eiler, có thể làm tựa một bài thơ dịu dàng. Tôi nói khác đi: Tôi yêu tên gọi thị trấn Monowi. Mono trái nghĩa với stéreo. Và Wi mà thiếu fi. Có nghĩa là trầm lắng không thích vang dội, chẳng ưa “bắt sóng” với thế giới bên ngoài. Tôi ngừng nói, quan sát khuôn mặt nhiều chịu đựng của bà, thở vội. Tôi luôn bị ám ảnh với niềm cô đơn… tôi chẳng nói ra lời “and i love you”. Một thứ tình cảm khó bề diễn giải phân bày. Và đã là tình yêu, đôi khi ta không cần phải lớn tiếng thổ lộ. Cũng John Lennon: “Hãy mở lòng ra và đóng khép miệng lại”.

Không riêng tôi, all the people sống trên trái đất này sẽ ngạc nhiên lẫn thích thú khi biết công việc của Elsie Eiler: Một mình làm thị trưởng, một mình làm quản thủ thư viện, một mình mở quán rượu và sống một mình giữa chốn đồng không mông quạnh. Thú thật là tôi rất quan ngại cho sự một mình kia của bà. Đêm khuya một kẻ lữ thứ lạc đường ghé qua, hắn say rượu, hắn biến thành con đại bàng và Elsie Eiler muôn đời vẫn là con gà lúc thúc xó bếp. Điều kỳ diệu nào đã xẩy ra? Phép mầu nào che chở cho người đàn bà chân yếu tay mềm yêu quê nhà , một đời gắn bó với thứ tình mãnh liệt tựa thế?

Từ lúc nhấp môi vào hớp bia đầu cho tới khi uống cạn giọt cuối, câu chuyện theo đó đẩy đưa để sau cùng bà nắm bắt được ý định của tôi. Elsie Eiler nói: Có lẽ tôi cần thuật lại điều này cho chồng tôi nghe. Bao giờ cũng vậy, tôi yên lòng khi kể lể mọi thứ cho ổng nghe. Bà dắt tôi đi lên một ngọn đồi thấp, một vuông đất, một tấm bia mộ, những hòn cuội trắng sắp đặt có toan tính, nơi an nghỉ thầm lặng của một con chim uyên ương lỡ bị gãy cánh từ năm 2004. Không có gì mang theo khi viếng thăm người nằm dưới ba tấc đất, thân nhẹ cơ hồ như nghiêng đi vì hối tiếc. Gió nhiều, tự do chạy quanh bãi quạnh trồng chơ vơ một vài loài cây thân mốc trắng ít lá cành mọc thấp cao. Tuy ở xứ lạnh quen băng giá tôi vẫn khó chịu khi hứng đỡ luồng gió kỳ lạ ở đây, phải hình dung tới thứ khí hậu của Huế và Đà Lạt, tưởng nhớ để xoa dịu lòng hoài nghi: Ờ, thì mỗi nơi mang mỗi cái lạnh khác nhau, sự ẩm thấp, về độ cao hoặc bình nguyên trống trải mây xám bay tận chân trời như ở Monowi. Cũng tựa như một người Nga khi sang Canada có lúc kẻ ấy phải run như con thằn lằn đứt đuôi. Hai hàm va lộp cộp không tiện hé môi: Răng ri hè. Biết rứa thủ theo cái áo lông chồn cho ấm áp cuộc đời. Mà cũng hổng chắc đâu nghen, lạnh này như thể trong lòng lạnh ra.

Elsie Eiler đứng cúi đầu độc thoại. Nhiều khi chất xám chẳng hoạt động để trí óc vững tin “ảnh” đã lắng tai nghe tôi tâm sự. Những người phải xa quê hương dài lâu, bạn tin không, họ đã từng sống thở với những phong thư úa mầu nhàu nát họ mãi mang theo bên người. Dòng chữ kỷ niệm thế tấm áo ngự hàn, là liều thuốc tăng lực giúp họ cầm cự “ở một nơi không thể hiểu”. Elsie Eiler quay mặt qua tôi: Cậu nói lại đi, những mong muốn mà cậu vừa trình bày ở quán rượu. Ồ, thưa bà, nếu bà rộng lòng và tin tôi là một đứa lương thiện, tôi ước được về đây trốn tuyết trong ba tháng. Bà cho tôi tạm trú trong một căn nhà hoang nào đó, tôi xin phụ giúp bà phần việc vệ sinh hằng đêm trong cái quán ấy, rửa chén bát ly tách. Lao động không hưởng lương. Giúp bà sắp xếp sách theo từng hạng mục và tên tác giả theo thứ tự a b c, dựng đặt chúng ngăn nắp trên kệ. Hoặc tôi có thể cắt cỏ những nơi bà chỉ định trông cho không gian bớt hoang dã. Dĩ nhiên là tôi dấu mặt, tôi không muốn sự hiện diện của tôi làm thay đổi, ảnh hưởng tới sự độc tôn mà bà đang sở hữu. Không có gì kỳ cục bằng tấm bảng xanh của Monowi lại ghi bên dưới số 2. Trong thư viện kia, tôi chỉ xin bà một góc nhỏ, hằng đêm thắp sáng ngọn đèn lẻ loi… Tôi chưa tiện giới thiệu với bà tôi là đứa viết văn bằng tiếng mẹ đẻ. Tôi nghĩ thị trấn này sẽ là nơi quá thích hợp, làm lực đẩy cho một cuốn truyện dài tôi mê muội viết. Hơn 5000 cuốn sách mà bà đang có toàn Anh ngữ, sao chẳng thể cho một đầu sách tiếng Việt chen chân? Tôi mang hy vọng một hôm nào đó có vị đồng hương của tôi bị thị trấn này quyến rũ, đi giang hồ, ghé vào thư viện và bất chợt nhìn thấy nhan “Chiêm Bao” đơn độc, mới tinh, lẫn vào những gáy sách già nua khác mãi chèn ép. Tôi nghĩ người khách lạ ấy sẽ reo lên, đầy ngạc nhiên pha trộn chút hứng thú.

Ông nghe rõ không? Cái anh bạn trẻ châu Á và cơn mộng nghe có vẻ crazy của cậu ta. Người đời cũng thường dùng chữ điên để áp đặt vào mụ đàn bà cô quạnh này. Tôi đang xiêu lòng đây, bởi ông biết đó, tính tôi vẫn yêu những thứ lạ đời. Có lẽ tôi nên phá lệ một lần chăng? Này young man, sao cậu không thử viết bằng Anh ngữ? Hơn ai hết, tôi có quyền được nhìn thấy tấm lòng cậu dàn trải trên giấy. Đã thấy lạnh chưa? Về quán nấu một món gì ăn thôi…

Chiếc xe đi dọn tuyết ngoài đường chạy ngang lừ đừ y như một cỗ xe tăng chỉ thiếu pháo tháp. Móc xích của nó, tiếng động cơ chạy bằng dầu cặn gầm rú đã mang tôi từ Monowi về lại Montréal. Tôi mở mắt trên giường, thấy rõ dáng Elsie Eiler vừa bước ra khỏi phòng. Tôi vùng dậy mở sáng ngọn đèn vàng sau căn bếp chật, tôi pha một cốc cà phê đen, ngồi xuống ghế đối mặt với cái màn hình trắng loà vừa táp vào mặt. Và tôi viết bài này, tôi gửi về nguồn, nơi tôi đọc phải câu chuyện gần như thần thoại mà chủ nhân Phạm Cao Hoàng đã lựa nhặt, đăng lên.

Tuyết chuyên cần rơi ngoài cửa. Đêm về sáng, có khi ngỡ tuyết là màu trăng. Tôi nhớ câu của J.M. Wonderland: “The sun watches what I do, but the moon knows all my secrets”.

HỒ ĐÌNH NGHIÊM

Feb 6. 2018

Một chút Duyên

phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 27 May 2016

Post by Sơn râu 2023

Phác thảo chân dung Duyên – Chì than – dinhcuong 2011

Có khi gặp ai đó một lần rồi bỗng nhớ

Nhiều khi trốn trong bóng tối

thơm dậy mùi hoa không tên

Mỗi chuyến đi tình cờ hái được vài kỷ niệm

Chuyện giàu nghèo rơi nhặt theo chân qua.

Người làm thơ dấu trái tim độ lượng

như Mai Thảo bảo:

“họ tiêu xài bằng thứ tiền tệ riêng“

tôi quen biết bao nhà tỉ phú

dầm thân lòng mở hội với cơ duyên.

Duyên là nhân vật chính nằm xuôi ngược

giọng tình si chất ngất Nguyễn Tất Nhiên

ở Biên Hoà có cô em Bắc kỳ nho nhỏ

“tuổi học trò em làm khổ ai chưa?”

Tôi rất khổ một tuổi thơ vụng dại

để lớn khôn nghiệm ra lắm buồn đau

hôm sang chịu tang người anh rể

có đâu ngờ gặp mặt cô tên Duyên.

Đọc dòng thơ cũ anh Đinh Cường

kể lại bức tranh “Thà Như Giọt Mưa…”:

Tùng đã mua tặng Duyên để nhớ

thời học sinh áo trắng Ngô Quyền

“em chẳng bao giờ rung động cũ

ta trăm năm nghiệt ngã với tình đầu”.

Cùng đứng bên nhau chụp bức ảnh

Anh Tùng chị Duyên về từ Michigan chung nỗi buồn

sau lưng họ thu cất chuyện tình đẹp

tôi loay hoay không biết nói:

thà như giọt nắng trải mái ngói rêu phong.

Kỷ niệm nào cũng nên trân trọng

Cám ơn người-luôn-đội-mũ Phạm Cao Hoàng

đã ghi hình những kẻ mặc tuyền sắc đen

nước mắt chan nụ cười như định phận

mai tôi về chốn cũ còn giữ cơn say

Về và được đọc thơ Duyên

ngắt nhịp điệu rời bằng lời han hỏi

tôi nói anh Đinh Cường từng khen

táo Michigan chị gửi tặng qua bưu điện ngọt

một thùng quà quá lạ quá thơm ngon.

thơ chị viết cũng là quà phương ấy

nhớ cho rằng chúng ta đã là bạn của nhau

mấy mươi năm rồi, ai nỡ đếm?

cho tôi mường tượng đứng dưới mưa

phương trời nhàu nát Biên Hoà cũ

Úa vàng như trang giấy vở học trò.

Cuốn lưu bút giờ này vụng viết:

Thăm chị Duyên anh Tùng mãi an vui.

Hồ Đình Nghiêm

May 27, 2016

Thà như giọt mưa vỡ trên tượng dá

Oil on canvas – dinhcuong 1992

Nguyễn Mạnh Hùng/ Tùng/ Nguyệt Mai/ Hồ Đình Nghiêm/ Thanh Bình/ Duyên/ Trương Vũ

Photo by PCH – Vienna (VA) – 13.1.2016

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 30 Dec 2023

Bài 15

Phần 14

Xem phim ảnh cũng là một hình thức giáo dục của xã hội xã hội chủ nghĩa, Cách mạng đã xác quyết như vậy; thế nên, tất cả đều buộc phải tham dự. Mỗi khối chỉ được phép lưu lại nhà một người trực để canh phòng chuyện củi lửa… Nguyễn Thành Đính được may mắn nằm trực nhà. 
Giờ giáo dục bằng phim ảnh đã tới! 
Khối 1 tiến ra cổng theo đội hình hàng hai đầu tiên. Tiếp tới khối 2, khối 3, khối 4 và sau cùng là khối đui mù què chột. Hơn 500 người đều nối đuôi nhau theo đội hình hàng hai dài như một con rắn khổng lồ đang trườn mình ra ngoài con đường tráng nhựa trước mặt bộ chỉ huy trại tù. Con rắn đang dần dần bò về địa điểm chiếu phim tọa lạc gần khu nhà tiền chế, nằm giữa L4T1 và L4T2. 
Mặt trời chưa lặn hẳn. Ánh nắng chiều loáng thoáng trên các khẩu AK.47 của bọn vệ binh giữ an ninh trục lộ. Ra tới ngã ba đầu tiên trong căn cứ Trảng Lớn, Vĩnh mới nhìn thấy bốn phương tám hướng còn nhiều con rắn khác đang đồng loạt bò về cùng một địa điểm. Vĩnh cất bước lên mà nghe mệt mỏi trong người. Anh đã khai bệnh xin được ở nhà nhưng phút cuối tên quản giáo không cho. Vĩnh cố gắng tự tìm ra một lý lẽ để vui, rằng biết đâu trong lần đi xem phim này, anh lại được tình cờ gặp lại một người thân yêu nào đó… 
Địa điểm chiếu phim là một bãi đất rộng thênh thang và cỏ lau đã được tương đối dọn sạch. Theo sự sắp xếp, khối 2 đã vào ngồi đúng vị trí của khối. Đây là một vị trí tương đối tốt vì được ngồi ngay cánh phải chiếc molotova của đội chiếu phim. Bên cạnh khối 2 là đoàn nữ tù của L4T1. 
Tiếng giáo gian Trương Thanh Long gặp cô bạn cố tri nào đó từ hồi còn ở trại cũ cất lên. 

– Em khỏe không? 

Một cô gái xanh xao lên tiếng trả lời. 

– Sao anh không tự hỏi anh? 

– Bên này ăn uống “xà bát” lắm em ạ! 

– Chứ bộ bên em thừa mứa chắc!? 

Tên vệ binh nghe lọt tiếng chuyện trò vội vác súng tới. Hai người im ngay và mỗi người tảng lờ nhìn đi một nơi. 

– Tụi mày niên hệ gái trai gì đấy? 

Không ai trả lời. Tên vệ binh quay nhìn đám nữ tù. Này, mấy o kia! Ngồi dang ra… 

Bên nữ tù một vài người lết xa khỏi đội hình khối 2 một chút. Tên vệ binh hăm he qua loa rồi cũng bỏ đi. Một giọng nói trọ trẹ cất lên ngay sau lưng Vĩnh. Giọng thằng Ba Tô. 

– Yêu cầu anh Long giữ đúng nội quy! 

Long có vẻ ngại Ba Tô. Nghe Ba Tô nhắc khéo nên hắn im luôn. 
Trên xe Molotova bọn chuyên viên chiếu phim đang sửa soạn máy móc. Tù cải tạo của các trại mỗi lúc kéo đến mỗi đông. Nửa tiếng sau thì cả một vuông sân rộng rãi đã đen nghịt người. Một anh chàng cải tạo ngồi phía trên được trưng dụng giúp một tay dựng cột và giăng tấm màn trắng lên. 
Vĩnh nhìn quanh để ước lượng. Ít nhất cũng phải 3.000 người. Thốt nhiên Vĩnh nghĩ bụng nếu như một quả CBU được ném xuống đây thì sẽ ra sao nhỉ? Thật là nhẹ gánh! Thế nhưng ngược lại, nếu tự dưng có hàng trăm chiếc trực thăng mang huy hiệu không lực… Mỹ chẳng biết từ đâu ào ào đáp xuống đây thì mình sẽ xử trí ra sao? Liệu cả 3.000 tù có cùng một lượt dám nhảy hết lên máy bay hay không? Óc tưởng tượng của Vĩnh dẫn anh đi xa hơn. Cứ giả dụ anh nhảy lên đi, nhưng vừa đặt đít ngồi xuống sàn máy bay với hy vọng tràn trề được đồng minh giải cứu, thì từ cockpit vang lên giọng nói của viên phi công, một giọng nói đặc quánh nhựa thuốc lào của một thằng cháu bác Hồ thứ thiệt: Này đồng chí nái phụ. Đồng chí đếm xem có bao nhiêu thằng xanh vỏ đỏ nòng đã nhảy nên máy bay ta?… Chao ôi, lúc ấy biết phản ứng làm sao!? 
Sự tưởng tượng của Vĩnh bị ngắt đoạn khi tiếng thử máy vi âm của tên chuyên viên chiếu phim vang lên. Một hai ba bốn… một hai ba bốn… 
Máy tốt. Tên chủ nhiệm buổi trình chiếu xuất hiện trên tấm bửng sau của chiếc Molotova. Hắn cầm lấy máy vi âm từ tay tên chuyên viên và nói. 
– Bây giờ còn sáng. Lợi dụng lúc các đồng chí chuyên viên thử máy, tôi giới thiệu qua quá trình hoạt động của đội chiếu phim Trần Quốc Tuấn để các đồng chí quán triệt. Đội đã có quá trình phục vụ Đảng, nhân dân và quân đội trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để dành lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Đã trình chiếu lưu động phục vụ các đơn vị trên mọi chiến trường từ Bắc vào Nam. Đội đã thực hiện chiếu gần 200 bộ phim các loại, đã phục vụ gần một vạn lượt người xem. Thành tích này đã được biểu dương trước quân đội nhân dân và thắng huy chương Sao Vàng hạng hai. Hôm nay đội nhận chỉ thị về phục vụ các đồng chí cải tạo viên tại E này. Đội sẽ lần lượt chiếu hai bộ phim vĩ đại do hai xưởng phim nhân dân và quân đội nhân dân phối hợp đạo diễn và sản xuất. Bộ thứ nhất là phim Đường 9 Nam Lào. Bộ thứ hai là phim tình cảm xã hội chủ nghĩa Đến Hẹn Nại Nên. 
Mục đích yêu cầu là mọi người tuyệt đối giữ trật tự, có thái độ thưởng thức thành khẩn và nghiêm túc. Tránh gây mọi trở ngại cho đội trong khi đội chấp hành công tác trình chiếu. Yêu cầu các đồng chí thủ trưởng hướng dẫn, đôn đốc các đồng chí cải tạo viên thu hẹp đội hình để dành chỗ trống cho các đơn vị khác đến sau. Nói tới đây hắn đảo mắt một vòng. Nhận thấy còn một số người mới đến đứng ngay trước mũi xe Molotova và chưa có chỗ ngồi, hắn vội ngó xuống khoảng trống giữa khối 2 và khối nữ tù nói lớn. Đây này! Chỗ này còn trống này. các đồng chí đứng trước mũi xe có nghe thấy không? Yêu cầu các chị gái ngồi ngay bên hông phải của xe lắng nghe. Yêu cầu đồng chí quản giáo nào phụ trách bộ phận các chị gái hãy cho bộ phận các chị ấy “dãn” ra một chút cho bộ phận các anh đứng trước mũi xe chen vào! 
Câu nói của tên chủ nhiệm buổi trình chiếu vừa dứt thì cả một rừng người phá lên cười. Ngôn ngữ nôm na của Vẹm thật hay hết chỗ nói! Yêu cầu bộ phận các chị gái dãn ra cho bộ phận các anh trai chen vào… Tiếng Việt Nam trong thế kỷ 20 mà còn nôm na đến thế thì thật là… tuyệt cú mèo! Thấy cả một rừng người bỗng dưng phá lên cười, tên chủ nhiệm đội chiếu phim không hiểu nguyên do, hắn ngạc nhiên hỏi. Có chuyện gì làm các đồng chí cười ghê thế? Nói rồi hắn đổi giọng nghiêm khắc. Lúc này không phải lúc trửng giỡn. Tôi yêu cầu các đồng chí nghiêm túc và khẩn trương nghe theo sự hướng dẫn để sớm bước vào ổn định vì giờ chiếu sắp đến… Tôi nói lại. Bộ phận các chị gái đang ngồi bên hông xe đây này, hãy dãn ra cho bộ phận các anh trai còn đứng… 

Tiếng cười lần này nổ như một quả nguyên tử hạng nặng. Phóng xạ tếu của bọn “ngụy” lan tràn khắp nơi. Tên chủ nhiệm cáu tiết không thèm nói nữa. Hắn nhảy xuống khỏi bửng xe và hùng hổ tiến lại phía đám nữ tù của trại L4T1. Hắn giận dữ la lên. Mấy đồng chí gái này! Mấy đồng chí có điếc không? Tôi đã bảo mấy đồng chí dãn ra cho mấy người sau kia họ đi vào ổn định, tại sao cứ lần khân mãi vậy? 
Các người đẹp Sài Gòn xưa bà nào cô nấy đều đỏ mặt tía tai. Giữa trời giữa đất thế này mà nó cứ oang oang bắt mình dãn bộ phận ra cho bộ phận mấy… thằng ó đâm kia vào thì còn trời còn đất nào nữa không!? Bực thì bực, rốt cuộc một chỗ trống giữa khối 2 và khối nữ tù đã thành hình, nó đủ rộng cho một khối khác còn đứng phía sau di chuyển vào ngồi. 
Mặt trời đã lặn hẳn. Màn đêm bắt đầu buông. Tiếng người thì thầm, tiếng ếch nhái, tiếng côn trùng rầm rì cả một góc trời… Rồi thì buổi chiếu phim cũng bắt đầu. Những hình ảnh đầu tiên xuất hiện trên màn ảnh. Những con số ngoằn ngoèo chạy thật nhanh 654321… Thốt nhiên những tiếng nổ vang trời kèm theo những hình ảnh đen trắng đầu tiên xuất hiện là các lằn đạn bắn ngang dọc bừng soi sáng trên màn ảnh. Lẫn trong tiếng nổ ầm ầm là bài quốc thiều máu me của Hà Nội vang vang với lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trên một nóc hầm nào đó ở một trận tuyến nào đó. Hàng chữ kế tiếp cho người xem biết đây là phim Chiến Thắng Đường 9 Nam Lào. Dĩ nhiên từ đầu chí cuối cuốn phim toàn là thứ tuyên truyền kiểu “năm qua thắng lợi vẻ vang, năm nay tiền tuyến lại càng thắng to…”. Tuy nhiên có một vài hình ảnh cũng làm anh em bùi ngùi, đó là cảnh một vị đại tá lữ đoàn trưởng Dù thất trận, bị bắt dẫn đi cùng với ban tham mưu của ông ta. Vị đại tá tay chống ba toong và bước đi với dáng điệu mệt mỏi. 
Giọng Đỗ Duy Tích cất lên bên tai Vĩnh. 

– Ông thầy tao đó! Ông thầy tao đó! ĐM tao chạy trối chết mới thoát bị vồ trận này vì mấy thằng Mỹ chó đẻ nó bỏ nửa chừng không yểm trợ nữa! 

Một giọng khác vui đùa. 

– Nhưng lần này mình chạy không thoát! 

– Thoát thế nào được. Một trận đánh không công bằng. Một bên súng đạn ê hề. Một bên một đổi một. ĐM nó ác ở chỗ phút cuối thằng Mỹ nó toàn đòi đổi… đạn súng Colt và quân trang quân phục mới chết cha mình chứ! ĐM cái hiệp định. Càng nghĩ càng bực. 

– Thôi đừng bực nữa ông ơi. Cái thân nhược tiểu nó là thế đấy. Thằng thắng thằng thua đồng kiếp khuyển mã như nhau. Cứ để rồi xem, khi nó chết, nó sẽ chết còn thê thảm hơn mình. 

– Đợi tới lượt nó chết thì mình đã trắng xương! 

– Nhưng cháu con mình sẽ sống. 

– Thằng này ảnh hưởng lối ăn nói Cộng sản mất rồi! Há miệng là đời đời con cháu mai sau. Thế kiếp mình là kiếp chó à? Cũng phải được sống chứ. 

– Nhưng lỡ kẹt không được sống thì sao? 

-……! 

Màn ảnh bỗng nhiên trắng phau. Có lẽ đã hết một cuộn. Ngọn đèn 100 Watts nơi chiếc Molotova chợt sáng lên. Giọng tên chuyên viên phát qua máy phóng thanh. 

– Các đồng chí vừa xem xong phim tư liệu Chiến Thắng Đường 9 Nam Lào của xưởng phim Quân Đội Nhân Dân. Trong vài phút nữa, đội chiếu phim sẽ mời các đồng chí xem tiếp phim thứ hai Đến Hẹn Nại Nên… 

Bên dưới lại nổi lên những lời bàn tán. Đến Hẹn Nại Nên? Đến Hẹn Nại Nên là cái con khỉ gì? Tiếng Việt hết chữ rồi sao mà đặt cái tựa phim nghe quái đản đến độ không ai hiểu nổi? 
Rồi thì cuốn phim đã được chiếu. Đây là một cuốn phim chiếu lại những cảnh hát Quan Họ Bắc Ninh. Tới mùa hát, trai gái hẹn hò kéo về một địa điểm để hát đôi. Khi tan mùa, họ chia tay và hẹn hò gặp lại nhau trong mùa hát Quan Họ năm sau. Như vậy nhan đề cuốn phim là… Đến Hẹn Lại Lên! Có nghĩa là đến kỳ hẹn lần sau, mình lại kéo nhau lên đúng cái chỗ này… 
Đã năm lần bảy lượt Vĩnh xin đi tiểu để cầu may có gặp ai quen nơi bãi đất có kê sẵn mấy cái thùng phuy cắt đôi làm chỗ đi tiểu hay không. Thế nhưng anh chẳng gặp được ai quen. Lần sau cùng đi tiểu, vừa bước ra khỏi cầu tiểu nằm cách chiếc Molotova không quá 10 thước, Vĩnh bị chận lại nơi một gốc cây tối vì ánh điện từ xe không rọi tới được. Tiếng một phụ nữ thều thào cất lên. 

– Anh ơi! 

Nghe tiếng gọi khẽ, Vĩnh tính đi luôn. Anh cũng ngại bị bọn khung gài bẫy. Thằng tù nào lạng quạng móc ngoặc trốn trại hoặc trao thư nhờ chuyển về gia đình là thác sớm. Nhưng tiếng gọi lại một lần nữa cất lên, rõ ràng với giọng rành mạch và ngọt ngào của một phụ nữ người miền Nam. Anh ơi! Tôi ở khối 14 L4T1 đây. Anh dừng chân cho tôi nhờ tí được không? 
Vĩnh chậm rãi đứng khuất vào bóng tối trước khi đã quan sát chung quanh thật cẩn thận. Anh không nhìn cô gái mà nhìn vào một bụi rậm trước mắt, hỏi khẽ. 
– Cô cần gì? 

– Anh ở L4T3 hả? 

– Vâng, cô cần gì? 

– Anh ở khối mấy? 

Vĩnh ái ngại quá. Nói chuyện thế này chúng vồ được quả tang có mềm xương! Sau cùng Vĩnh cũng đáp. 

– Khối 2. 

– Anh có quen ai tên Trần Văn Tỉnh, trung úy Biệt Động Quân ở khối 4 không? 

– Không. 

Cô gái khẽ thở dài. 

– Tôi nói nhanh, nếu được xin anh giúp cho. Tôi là Linh, thiếu úy nữ quân nhân. Nhà tôi là Tỉnh mà tôi vừa nói với anh. Chúng tôi cùng bị đi cải tạo. Cô gái nghĩ ngợi một chút rồi hạ giọng nói như thầm thì. Tôi muốn nhờ anh chuyển hộ cho nhà tôi lá thư này. Nếu anh nhận lời, xin đứng xích lại đây. 

Vĩnh băn khoăn không biết có nên nhận giúp hay là từ chối. Mấy chuyện liên hệ linh tinh này đã khiến nhiều anh bị vạ vịt nằm connex cả tuần. Dù sao Vĩnh cảm thấy không thể từ chối được. Anh nói khẽ. 

– Được, đưa thư đây! 

Cô gái lại nói. 

– Ý đâu được! Anh đi gần lại gốc cây kia đi. Cứ giả bộ đi tiểu nơi gốc cây đi. 

Vĩnh liếc thật nhanh về phía đám đông, nơi đó có cả mấy thằng vệ binh, tất cả đều đang chăm chú xem những hoạt cảnh sau cùng của phim Đến Hẹn Lại Lên. Anh lủi nhanh về phía gốc cây tối đen. 

– Chị đưa thư nhanh đi. Tôi là đàn ông mà đút đầu vào khu vực tiêu tiểu của đàn bà dễ lãnh búa lắm! 
Cô gái không nói gì nữa. Nàng dúi vào tay Vĩnh một cuộn giấy chỉ nhỏ bằng một ngón tay cái. Vĩnh cầm lấy cuộn giấy, nhìn trước ngó sau và biết chắc không ai để ý, anh xoay lưng bước nhanh trở lại vị trí khối 2. Tiếng cám ơn của cô gái thoảng theo phía sau lưng. 
Về tới chỗ ngồi thở phào nhẹ nhỏm, Vĩnh nắn nắn cuộn giấy trên tay. Chỉ từng này thôi nhưng anh biết nó gói ghém bao nhiêu nhớ nhung ân tình. Vĩnh nhét cái thư thật kỹ vào trong túi quần đùi. Anh khoan khoái nghĩ mình tự dưng biến thành một thứ nhịp cầu Ô Thước… 

– Khi nãy ông làm cái chi rứa? 

Một giọng trọ trẹ cất lên bên tai khiến Vĩnh thất kinh hồn vía. Một tích tắc qua đi, dù không ngoái đầu lại. Vĩnh đã biết ngay đó là giọng thằng Ba Tô. Vĩnh cứ nhìn lên màn ảnh và giả vờ như không biết có người hỏi mình. Thằng Ba Tô vẫn không buông tha. Nó hỏi nữa. Ông Vĩnh, khi nãy ông làm cái chi ngoài gốc cây rứa? 

Vĩnh quay phắt lại. Anh gằn giọng. 

– Ba Tô hả? Gì đó? 

Ba Tô chợt cười gằn một cách ác độc không thua gì nụ cười của thằng an ninh trại. 

– Tôi hỏi ông ông vừa làm gì ngoài gốc cây đó? 

– Đái chứ làm mẹ gì! Vĩnh giả cáu để phủ đầu. 

Ba Tô thấy Vĩnh cáu hơi sớm, hắn hể hả. 

– Ông may đó. Khi nãy tôi đi tiểu gặp phải một nữ cán bộ trung đoàn đứng dàn cảnh nhờ vả liên hệ linh tinh giùm bả? Hảo ngọt là mang họa rồi… 

Nghe thằng Tô nói dứt câu Vĩnh đã hiểu hết câu chuyện. Thì ra hắn cũng đã bị người nữ quân nhân tên Linh nhờ vả, nhưng máu ăng ten của nó đã làm cho nó nhìn đâu cũng thấy thù trong giặc ngoài, đâm rét. Vĩnh cười gằn. 

– Mẹ kiếp tôi đang thèm đường đây. Có chất ngọt mà lại chê à!? 

Ba Tô thấy sự báo động của mình đã không được mang ơn mà còn bị mắc oán, hắn im luôn. 

Trên màn ảnh đã hiện lên chữ Hết to tướng, rồi đến những hàng chữ giới thiệu xưởng phim, đạo diễn, tài tử… và sau cùng là một khung sáng trắng bóc. Giọng tên chủ nhiệm buổi chiếu phim cất lên tức thì. 

– Các đồng chí vừa thưởng thức hai bộ phim do xưởng phim Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân thực hiện sản xuất. Thay mặt đội chiếu phim Trần Quốc Tuấn, chúc các đồng chí ra về ngủ ngon. Kế đó có vài tiếng lộp độp trên hệ thống loa. Rồi một giọng nói khác tiếp nối. 

– Giờ xem phim đến đây đã chấm dứt. Bây giờ các anh khối trưởng, tổ trưởng lần lượt tổ chức đội hình cho anh em tuần tự ra về. Yêu cầu tất cả phải nghiêm chỉnh chấp hành nội quy đã quy định, trật tự lớp lang để giải phóng bãi chiếu sớm. Cấm tất cả mọi liên hệ linh tinh. Cấm rời bỏ đội hình. Khối trưởng tổ trưởng hoàn toàn chịu trách nhiệm và báo cáo nhân số ngay khi về tới trại. 

Lúc khối 2 được lệnh đứng lên so hàng, Bính thầm thì vào tai Vĩnh. 

– Những lúc như thế này mà tếch chắc được. 

Vĩnh ngẫm nghĩ. 

– Tụi nó nằm bãi đóng chốt là cái chắc. 

– Tao… 

Bính chưa kịp nói gì thêm thì một tràng AK đã nổ ròn rã phía bờ đất đàng sau trại 2. Thêm vài ba tràng nữa. 

– Chắc là có thằng tếch rồi đấy, chẳng rõ thắng hay thua!? 

Đoàn người phía trước vừa bắt đầu di chuyển đã có tiếng thét của bọn quản giáo: Đứng lại! Tất cả đứng lại! Các khối trưởng phải điểm danh báo cáo nhân số khẩn trương! 

Tiếp theo những tiếng la hét là những ánh đèn pin loáng thoáng qua lại, những họng AK lấp lánh của bọn vệ binh phản chiếu đây đó. Cả nửa tiếng sau các khối mới báo cáo xong và được lệnh di chuyển tiếp tục. 

Vĩnh lập lại. 

– Chắc có thằng tếch! 

Bính ngẫm nghĩ. 

– Chưa chắc. Chúng nó cũng quỷ lắm. Có thể chỉ là những tràng súng dằn mặt tụi mình và cảnh giác bọn vệ binh. 

Những hàng người dài mút đã tiến ra con đường nhựa và tách làm nhiều nhánh. Dưới ánh sao đêm trông nó như những cái đuôi của một con bạch tuộc khổng lồ vươn dài mãi ra. Khối 2 đi theo nhánh L4T3. Đoàn tù khập khà khập khễnh nối đuôi nhau nửa tiếng sau mới về tới trại. Ai cũng thở ra nhẹ nhỏm. Những hồi kẻng báo tập họp điểm danh ở các trại khác lác đác điểm. Rồi tới lượt tiếng kẻng đinh tai nhức óc của L4T3 nối tiếp. Mọi người trở về khoảng sân trống trước khối lầm lũi đứng vào hàng. Tên quản giáo Cư xồng xộc chạy đến. 

– Anh Trai đâu? 

– Tôi đây. 

– Nhân số đủ không? 

– Báo cáo anh đủ. 

Tên quản giáo sửa lại thế đứng và lên lớp tại chỗ. 

– Giờ cũng khuya rồi. Tôi tranh thủ quán triệt các anh vài điểm. Đêm nay nói chung chung khối ta đã thực hiện công tác xem phim tốt. Tuyệt đại đa số đã chấp hành đúng nội quy quy định trong buổi chiếu. Tuy nhiên, qua theo dõi, trại cũng ghi nhận được một vài cá nhân vi phạm quy định liên hệ linh tinh với các trại viên trại khác. Trường hợp này không rơi vào khối ta. Nhân danh quản giáo tôi biểu dương các anh. Hy vọng những lần xem phim kế tiếp khối ta sẽ phát huy tối đa ưu điểm tối nay để đạt yêu cầu của trại cũng như không phụ lòng chiếu cố của Cách mạng. 

Bây giờ, trước khi anh Trai cho anh em tan hàng về phòng nghỉ ngơi, tôi nhắc lại vài điểm quan trọng mà khung vừa quyết định sau khi có tiếng súng nổ. Một là các anh phải về phòng ngủ nghỉ ngơi hết. Hai là tiêu tiểu đúng nơi quy định không được ra gần hàng rào. Hai điều này các anh phải chấp hành rất nghiêm túc tối nay. Tôi cũng nói sơ qua để các anh nắm vững tình hình hơn. Khi nãy vệ binh nổ súng vây bắt được mấy thằng phản động thừa lúc ta xem phim đã mò vào gần vòng rào tuyến trại với những ý đồ đen tối. Nói tới đây tên quản giáo ỡm ờ. Nghe nói đã bắt được 2 trong 3 thằng. Trên đang làm việc với chúng. 
Nói tới đây tên Cư nhìn lên trời khuya một thoáng rồi bảo khối trưởng Trai. Thôi bây giờ anh Trai cho anh em tan hàng vào phòng nghỉ ngơi đi. 
Nói xong tên quản giáo quay người bỏ đi trước. Khối trưởng Trai mệt mỏi khoa tay một cái. Đám đông uể oải rã ra như một miếng bánh mì ngâm trong nước… 
Vĩnh mò vào phòng. Anh đứng mân mê lá thư cuộn chặt nhét trong túi quần đùi. Một lúc Vĩnh mò đến chỗ Đính ngủ. Hắn đang mắc mùng. Vĩnh xà xuống. 

– Đính, có việc cần hỏi mày. 

– Gì đó? 

– Mày biết bên khối 4 có thằng nào tên là Tỉnh không? 

– Tao chỉ biết bên khối 3 của thằng Hóa có thằng quản giáo tên là Tỉnh thôi. Cái thằng mặt vừa đần vừa phị như một con heo nọc… 

Vĩnh ngắt ngang. 

– Tụi mình kìa. Mấy thằng chó đẻ ấy tao hỏi làm gì! Vả lại bên khối 4… 

Đính vừa thắt lại một cái dây treo mùng bị sút vừa nhún vai. 

– Vậy thì không biết. Mà gì thế? 

Vĩnh nói nhỏ. 

– Khi nãy xem phim có vợ của một thằng tên Tỉnh bên khối 4 nhờ tao chuyển một lá thư tình. 

– Vậy hả? 

– Ừ, vậy làm sao bây giờ? 

Đính cười. 

– Có thế mà cũng lúng túng. Mày cứ lần sang bên khối 4 tìm thằng Tiến mà hỏi thì biết ngay chứ gì. 
Nghe có lý, Vĩnh đứng lên quay đi. Vừa dợm bước ra tới cửa thì Đính đã chạy theo. Hắn níu Vĩnh lại, nói nhỏ bên tai. Có chuyện vui cho mày. Cứ đi hành nghề bưu tá viên đi, trở về sẽ biết… 

Vĩnh bước ra sân. Óc anh còn bận rộn với lời lẽ ỡm ờ ban nãy của thằng quản giáo Cư. Sao nó lại vội vàng công bố làm chi cái chuyện chúng nó bắt được 2 người lạ mò vào trại nhỉ? Những việc như thế, thông thường là chuyện tối mật và không có giới chức thẩm quyền nào lại cho công bố liền tay như vậy. Thốt nhiên một bài báo mà Vĩnh đã đọc lâu lắm, lâu đến độ anh chẳng còn nhớ báo nào và đọc ở đâu… Bài báo thuật lại cuộc phỏng vấn một người Nga từng bị giam cầm 15 năm sau cuộc Cách mạng 1917, đã nhờ một dịp may gì đó thoát sang được Tây Phương. Nhà báo Tây Phương đã hỏi anh ta tại sao không trốn sớm hơn? Và anh ta đã trả lời: Khi tôi còn trong trại, tôi luôn luôn nghe thấy những tin đồn, theo đó, nay một toán Bạch vệ về tấn công làng này, mai một toán Bạch vệ khác về giải cứu trại tù kia. Chúng tôi đã sung sướng lắng nghe những tin đồn ấy và ngồi chờ. Chờ đến năm thứ 15 tôi không còn đủ kiên nhẫn ngồi chờ nữa nên mới tìm cách vượt ngục. Khi ra được thế giới bên ngoài tôi mới ngã ngửa! Chả hề có một đạo tàn quân Bạch vệ nào còn tồn tại cả! Và cũng lúc ấy tôi mới trực nhận ra rằng không riêng tôi mà cả nhiều triệu tù nhân khác vẫn tiếp tục bị Cộng sản lừa trong tù bằng những tin đồn có tính cách chiến tranh tâm lý sâu độc do chính chúng dựng chuyện và tìm cách tung vào giữa bọn tù chúng tôi. Những tin đồn như thế trên thực tế đã biến thành những viên thuốc ngủ cực mạnh và cá nhân tôi đã say ngủ suốt 15 năm trời.
Vĩnh mím chặt môi như để hàm răng khỏi đánh vào nhau. Chao ôi! Cộng sản Nga lúc phôi thai đã độc như thế. Bọn Hà Nội giờ đã 50 tuổi già, không hiểu chúng còn độc tới đâu!? 
Bước vào khối 4 Vĩnh tìm gặp Tiến và nhờ trao giùm lá thư cho anh bạn tên Tỉnh. Khi trở về khối, Vĩnh ngạc nhiên trước không khí tấp nập đang diễn ra. Mọi người kẻ cầm bát người cầm lon đang xếp hàng dưới bếp. Riêng ông trực nhà Nguyễn Thành Đính thì đứng trên bếp với một cái môi lớn trên tay. Đính vừa múc trong chảo ra một thứ nước nhờ nhờ như nước vo gạo vừa đùa giỡn rao. 

– Sữa phát uống tự do! Sữa phát uống tự do! Mại vô mại vô! Nhanh tay mới còn! Chậm tay vẫn còn! Mại vô mại vô!… 
Thì ra trong lúc mọi người đi xem phim, theo lệnh của khối phó hậu cần, Nguyễn Thành Đính đã nhóm bếp nấu một chảo lớn nước sôi và đổ hai hộp sữa vào pha. Giờ đây hắn đang phân phát cho anh em thưởng thức món sữa bò xã hội xã hội chủ nghĩa. Như nhiều người khác, Vĩnh không ra nhận “phần sữa”. Anh về chỗ nằm nghĩ ngợi lan man. 
Hơn nửa tiếng sau Đính mới làm xong nhiệm vụ. Hắn đến chỗ anh nằm. 

– Có món bất ngờ cho mày… 

Vĩnh chán nản. 

– Ngờ với nghệch! Thà tao uống nước rửa bát… Đính cười cười. 

– Khoan nóng mày! Đợi chúng nó “say sữa” ngủ hết, tao sẽ cho mày thưởng thức món độc đáo của tao. 

Đêm hôm đó lúc mọi người đã ngủ hết, Đính lén kéo Vĩnh chui vào một góc bếp tối đen. Hắn kéo từ trong đống củi ngổn ngang xếp nơi góc bếp ra cái lon guigoz quen thuộc của hắn. Một lúc sau Đính lại lôi Vĩnh đi vòng ra sau bếp, chui vào một ống tôn cong và ngồi xuống bên nhau. Giọng Đính cất lên, vừa thầm thì vừa sôi nổi. 

– Nhắm mắt lại ước đi! 

– Ước gì! 

– Thì mày cứ ước mày muốn ăn gì… 

Vĩnh cuời. 

– Trong xã hội giàu mạnh này trừ cứt, còn cái gì cũng là những thức ăn béo bở và đáng ao ước của con người cả. 
Một tiếng tách vang lên, thứ tiếng động dòn và cứng của một nắp hộp sắt bị mở bật ra. Đính chưa kịp nói gì thêm thì Vĩnh đã bàng hoàng nói như reo lên dù chỉ đủ cho hai người nghe. Trời ơi! Cái gì mà thơm vậy? 

– Suỵt… gà… 

-……!? 

– Tao chơi của chúng nó một con gà. Chỉ lóc hai cái lườn sụn và cặp đùi thôi. Lông nhổ còn hơi nham nhở. Ăn cẩn thận. 

-……! 

– Có cả cái gan cho mày. 

-……! 

– Húp trước tí nước đi. Ngọt vô cùng. 

Nói mấy câu mà vẫn không nghe thấy bạn trả lời, Đính đâm lo. Sao ngồi chết trân vậy mày? 

– Xúc động quá! 

– Thật à? 

– Ừ, xúc động thật!… 
Đêm ấy, với hai cái đùi gà luộc vội với tí muối, hai thằng lần đầu tiên mới nhận ra được câu nói của cổ nhân là đúng: Chim Gà, Cá Trạch! Tuy nhiên nếu nói đúng hơn phải là: Chim Gà, Cá Trạch trong tù! Và nếu muốn đúng nhất thì phải: Chim Gà, Cá Trạch của chính bọn cai tù…


Đại học máu

Hà thúc Sinh

Post by Sơn râu 30 Dec 2023

Bài 14

Phần 13

Lần đầu tiên được phát tiếp phẩm kể từ khi đi tù, bọn tù cải tạo háo hức cứ như được quà mẹ về chợ. Mà không háo hức sao được khi người ta đã quá rách rưới có thêm một bộ đồ treillis mặc ấm lúc mưa đêm. Không háo hức sao được với những anh chàng nghiệm thuốc nặng như Vĩnh, có tí thuốc lào hút cầm hơi. Quả thực người của thế giới Tự Do khó có thể tin được rằng chỉ một vài cái kẹo phải gió đã tạo nên được một không khí lễ hội cho cả trại. Điều này lại càng không nên chê trách vì mấy tháng qua lao động quần quật, lượng đường dự trữ trong tim gan phèo phổi của lũ tù đã thực sự khô cạn! 
Nỗi vui mừng nhận tiếp phẩm của bọn tù cải tạo thực ra còn một nguyên nhân sâu xa khác nữa. Nguyên nhân này bắt nguồn từ lần đổi tiền cách đây ít ngày. Trong lần đổi vừa qua phải nói rằng bọn tù trắng tay hoàn toàn. Đùng một cái bọn quản giáo ùa xuống trại lúc ban đêm ra lệnh nội bất xuất ngoại bất nhập. Sáng hôm sau ai cũng tưởng chuyển trại hóa ra không phải. Bọn quản giáo đi theo bọn nhân viên tài chính từ trung đoàn xuống từng khối đọc bản thông cáo đổi tiền của nhà nước. 500 đồng cũ ăn 1 đồng mới. Mỗi người được đổi tối đa 10.000 đồng cũ để nhận lấy 20 đồng mới. Kỳ dư phải đăng ký và nộp tại chỗ cho nhà nước quản lý… Bọn tù cải tạo lúc đó lắm anh chới với. Những anh nghèo không nói làm gì, còn những anh giàu từng lận theo túi năm bảy chục ngàn tiền cũ cũng đành dấu luôn để sau đó vứt vào hầm cầu. Chẳng ai dại gì, đã không đổi được lại còn phải đăng ký nộp cho nhà nước; điều ấy có khác nào tự tố giác mình trước đôi mắt cú vọ của thằng quản giáo rằng tôi là người giàu có!? 
Lệnh đổi tiền quái ác khiến nhiều kẻ trắng tay, mà trắng tay thì mọi hy vọng được hưởng tí thuốc hút, tí đồ ngọt hoàn toàn đặt vào nhà nước mà thôi. Hôm nay được nhà nước chiếu cố, bọn tù trắng tay có nhiều hơn môt lý do thiếu thốn vật chất để hân hoan tới mức! 
Sau khi khối chia đều cho các tổ thì các tổ trưởng bắt đầu chia lại cho các tổ viên. Như mọi người, Vĩnh đứng nhìn tổ trưởng Tứ chia tiếp phẩm ra những phần nhỏ cho anh em. 
Những viên kẹo đầu tiên sau mấy tháng tù đang nằm trước mặt Vĩnh. Bên cạnh kẹo lại có cả đường cát trắng ngà. Có lẽ Quách Tứ run tay quá, chia không đều nên Ba Trợ cất tiếng cự. Tứ đâm sùng, cự lại. 

– Thằng cha ni sao lắm chuyện vậy? Giỏi chia đi! 

Nói đoạn Tứ quăng cái thìa xuống phần đường của tổ. Ba Trợ chỉ chờ có thế. Anh ta cầm nhanh lấy cái thìa và với một tư thái thật cẩn trọng, anh gom các phần đường đang chia dang dở và bắt đầu chia lại. Mười người mười phần, Trợ chia thật khéo nhưng cũng thật chậm. Đôi khi anh run tay làm một vài hạt đường rơi xuống miếng giấy dầu, văng dính vào ngón chân anh, anh vội vàng lấy ngón tay chấm mấy hạt đường ấy và cho lên miệng. Người ta bực mình nhưng người ta không thể giành lại những hạt đường đã dính vào những ngón chân cáu bẩn của kẻ khác. Rồi thì mười phần đường cũng chia xong. Tổng kết mỗi người được 3 thìa đường cát ngà nặng quãng 1 lạng, 18 cục kẹo vừa kẹo dừa lẫn kẹo chanh, một nắm thuốc lào cỡ nửa lạng, một nắm thuốc rê nặng quãng gấp ba lần thuốc lào và nửa tờ giấy quyến vấn thuốc rê. Riêng quần áo chỉ có hai bộ, thế nên như mọi tổ, tổ A.3 đồng ý bắt thăm. Đặng Xuân Bính dính một quần. Ba Trợ dính một áo. Tổ phó Khoa một quần và tổ trưởng Tứ một áo. 
Sau vụ phân chia đến màn đổi chác. Lê Văn Trợ và Lê Văn Sanh không hút thuốc lào mà chỉ hút thuốc rê. Tổ trưởng tổ phó đều không nghiền thuốc. Đặng Xuân Bính cũng không hút thuốc. Trao qua đổi lại, Vĩnh còn giữ được 5 cục kẹo và ôm về ba phần thuốc lào. 
Chia chác nhưng không ai quên giờ ăn. Trưa nay còn phải lên lớp để nghe về bài học “thưởng thức nghệ thuật phim ảnh xã hội xã hội chủ nghĩa” nữa. Riêng Vĩnh, sau khi kéo liên tiếp 4 bi thuốc say gần chết, anh khập khễnh theo tổ xuống bếp chia cơm chia canh. 

Chỗ ăn cơm của khối là một phần đất nằm giữa phòng ngủ 1 và nhà bếp. Bên trên giăng bao cát che nắng, bên dưới có bốn dãy bàn dài làm bằng những tấm vĩ sắt PSP kê trên các cọc sắt ấp chiến lược đóng sâu xuống đất. Mỗi dãy dài chừng 15 thước dùng cho 3 tổ. Phần ăn của mỗi tổ gồm một chậu cơm, đủ chia cho 10 người mỗi người 2 bát. Thức ăn là tí nước muối, ít cọng rau muống luộc (do tù tự trồng lấy), lâu lâu được thêm vài quả ớt quả chanh. Riêng vấn đề chất mỡ (hậu cần Việt cộng gọi là chất béo) và cá (hậu cần Việt cộng gọi là chất tanh) cả tháng tù mới được ăn một lần. Chất ngọt thì hầu như không có. Lần lãnh tiếp phẩm ban nãy là lần đầu tiên gần 3 tháng qua tù được Cách mạng cho nếm mùi… chất ngọt! Bát đũa đem theo hầu như đã vỡ hết. Giờ đây mọi cái dùng để ăn cơm đều tự chế. Đa số dụng cụ dùng chứa cơm canh của tù lúc này đều là những cái lon gò bằng tôn, những miếng tôn sét rỉ lượm được khi đi lao động. Những cái lon ấy mang đủ thứ hình thù khác nhau. Có cái thì hình chữ nhật, có cái thì hình tròn, có cái lại hình tam giác… 
Tới giờ tổ trực phát cơm, mỗi người đem đồ đựng cá nhân đặt vào chỗ của mình. Người phát khẩu phần của tổ trực sẽ khuân thau cơm đến tận từng tổ rất là văn minh văn hóa. Đây là giai đoạn gay go nhất. Nếu khi tổ trực chia cơm ra thau, hàng mấy trăm con mắt đứng ngó xem người chia cơm từ chảo ra các thau có công bình hay không, nghĩa là anh chàng chia cơm ấy có nén cơm vào cái thau của tổ anh ta cho được lợi cơm hơn các thau khác hay không; thì khi người trực chia cơm cho tổ; chia thau cơm ấy ra mười phần cho mười tổ viên cũng không kém phần gay go. Cãi nhau là chuyện thường. Giả dụ mà có cân, chắc chẳng ai ngại ngần mà không đem mười phần cơm rau ấy lên cân trước khi nhận! Lâu ngày chầy tháng, đa số các tổ đều chế ra một thứ dụng cụ mà tù đặt tên là “cánh xụp cánh xòe” (từ ngữ này trước kia Việt cộng dùng để gọi một loại oanh tạc cơ của Mỹ). Dụng cụ chia cơm có tên là cánh xụp cánh xòe hiện nay là 10 miếng tôn nhỏ, được cắt theo hình những cánh quạt, đáy mỗi miếng tôn có độ cong ăn khớp với đáy thau. Mười miếng tôn nhỏ đó đều bám lấy một trục chính. Khi chia cơm, người trực tổ chỉ việc nhận cái trục vào giữa thau cơm. Mười miếng tôn sẽ cắt chậu cơm thành 10 phần bằng nhau. 
Khi chia xong phần cơm sẽ chia đến rau và nước muối. Để quyền lợi được thỏa mãn đồng đều cũng tốn cả 15 phút đồng hồ. Những người ăn ít như Vĩnh thì việc ăn uống ít thành vấn đề, nhưng với những tay lực sỹ như Vương Đắc Vọng, hoặc to con như Phan Lâm (sỹ quan cục An Ninh Quân Đội) của khối 1, cận vệ của cựu tổng thống Thiệu ở khối 3, Đỗ Duy Tích của khối 2… thì việc ăn uống quả là gay go. Với sức vóc của họ, hai bát cơm gạo mục thêm tí rau muống nào thấm vào đâu! Do đó, họ phải đi nhặt nhanh đủ thứ rau cỏ sắn khoai đầu thừa đuôi thẹo mỗi khi được lao động gần bếp tiểu đoàn hoặc trung đoàn để đem về trại ăn thêm. Thường mỗi bữa, sau khi nhận phần cơm tiêu chuẩn, họ dồn tất cả vào một cái sô gò chung lộn với với những thứ lượm lặt được rồi đổ nước nấu lên như nấu một nồi cám heo. Phải ăn một nồi xà bần như thế họ mới tạm gọi là được chặt bụng. 

Lâu lâu trong tổ có một người đau phải ăn cháo, dù không nói ra nhưng trong bụng ai cũng mừng! Phần cơm hôm ấy 9 người còn lại mỗi người ít ra cũng được thêm một thìa. Dù sao chỉ một thời gian ngắn sau đó, do ý kiến của một vài anh tiến bộ, chuyện người bệnh không ăn cơm đã được đem ra mổ xẻ trước khối. Kết thúc việc mổ xẻ là nghị quyết chung của tập thể; theo đó những người đau ốm không đi lao động phải ăn cháo, và tổ trực chia cơm tự động cắt đi một phần cơm của tổ có người đau để chia đều cho… hơn 100 người khỏe mạnh. Vậy là công bằng và không có ai cảm thấy mình bị bóc lột! 
Cái ăn trong “đại học tổng hợp” của xã hội mới thê thảm như thế, nhưng hôm nay mọi người lại chia cơm chia canh thật nhanh. Cái vui có tí đường, tí thuốc hút làm mọi người cảm thấy thoải mái và dễ tính hơn ngày thường. Vả lại, mọi người còn phải tranh thủ ăn cơm sớm để đi lao động vào lúc 1 giờ và trở về sớm hơn mọi ngày hai tiếng, nghĩa là sẽ trở về trại lúc 3 giờ để lên lớp nghe quản giáo quán triệt sơ bộ về bộ phim sẽ được coi tối nay. 
Cả buổi trưa Vĩnh và tổ A.3 phải khuân ra khỏi 2 connex hơn 200 đạn pháo. Hai connex bị chôn chìm dưới đất gần phân nửa. Chui được vào trong để khuân từng đầu đạn ra đã đủ vã mồ hôi. Nhưng cực nhọc cách mấy thì chỉ tiêu vẫn phải hoàn tất. Lúc những đầu đạn đã được khuân ra hết, vừa đậy mấy tấm tôn lại thì một tên quản giáo trờ tới. Hắn nhìn đống đạn pháo rồi trừng mắt hỏi mọi người. 

– Ai bảo các anh để đầu đạn giữa trời giữa đất thế này? 

Tổ trưởng Quách Tứ vội trả lời. 

– Báo cáo anh khi nãy chính trị viên bảo chúng tôi khênh ra, xếp ngay ngắn rồi lấy tôn đậy lại. Ngày mai sẽ có bộ phận khác khuân lên trung đoàn. 

Tên quản giáo không chịu. Hắn ra lệnh. 

– Sai nguyên tắc và không an toàn. Tôi ra lệnh các anh khuân trở lại connex. 

Chao ôi, khuân ra đã đời bây giờ lại khuân vào. Dù sao khuân những đầu đạn đã sét rỉ xếp trở lại connex là một điều vô cùng nguy hiểm. Chỉ cần một người xẩy tay là nát thịt tan xương cả đám. Nhưng lệnh thì phải làm. Tổ A.3 lại bắt tay vào việc. 

Đặng Xuân Bính chợt lên tiếng hỏi. 

– Mày có biết tối nay chúng nó bắt mình coi phim gì không? 

– Nghe nói hai phim. Một phim tài liệu tựa là Chiến Thắng Đường 9 Nam Lào, phim kia thuộc loại tình cảm xã hội xã hội chủ nghĩa, có cái tựa kỳ cục lắm: Đến Hẹn Nại Nên! 

– Đến Hẹn Nại Nên là cái gì? 

– Tao cũng không hiểu. Chẳng rõ chúng đặt tên phim bằng tiếng Lào hay tiếng Miên nữa!? 

Bính cứ lẩm bẩm. 

– Đến Hẹn Nại Nên! Đến Hẹn Nại Nên! Đến Hẹn Nại Nên là cái củ cải gì? 

Tổ trưởng Quách Tứ coi mòi cũng rất sợ chết. Thấy anh em vừa khênh đạn vừa trò chuyện, Tứ phải luôn miệng nhắc. 

– Tôi lạy các bố! Các bố chú tâm vào chuyện khênh đạn giùm cho. Vừa khênh vừa chuyện trò ẩy tay một cái tiêu dzên cả đám! 
Nắng chiều còn gắt nhưng tiếng kẻng thu quân đã vang lên khắp mọi nơi. Vĩnh đứng thẳng lưng nhìn ra xa. Nơi những hiện trường lao động của L4T4, L4T5… mọi người cũng đang thu góp cuốc xẻng để trở về địa điểm tập họp. Riêng tổ A.3 phải mỗi người mươi chuyến nữa mới hết hàng. Tổ trưởng Quách Tứ nhìn quanh quất rồi cho lệnh nghỉ tay tập họp. Ngay lúc ấy tên quản giáo lại xuất hiện. Nhìn thấy đống đạn mới vơi phân nửa, hắn tròn mắt hét. 

– Tổ này chưa được về. Làm xong công tác mới về. 

Thế là mọi người lại quay trở lại với đống đạn pháo, và nửa tiếng sau tổ A.3 mới hoàn tất công việc để được tên vệ binh vừa cằn nhằn vừa dẫn về trại. Lúc đi qua ao rau muống, Vĩnh nhìn về phía ao rau của tổ và nghĩ ngợi bâng quơ. 
Khi Vĩnh và các bạn cùng tổ về tới phòng thì những người khác đã tắm rửa xong hết. Tổ A.4 thay tổ A.3 về muộn đang chia cơm ra các thau. Vĩnh lần ra sau bếp tìm cái gầu của mình. Chiều nay cảnh nhà bếp cũng không tấp nập như mọi buổi chiều khác. Ai cũng lo hưởng thụ tí tiếp phẩm trong nhà. Chỉ có tổ A.4 lo chia cơm. Trên bếp, người em cột chèo của Nguyễn Thành Đính là Nguyễn Văn Cấp, hải quân trung úy, đang thủ chảo cơm. Với cái xẻng trên tay, Cấp đang phụ trách chia cơm ra các thau. Cấp vốn to con tính lại háu đói, hôm nay thưa người, Vĩnh nghĩ bụng thế nào cu cậu cũng vi phạm cái lời dạy… chí công vô tư của bác Hồ. Nghĩ như thế, Vĩnh đứng khuất vào một tấm tôn sau bếp và quan sát anh bạn đồng quân chủng với mình. Quả nhiên đúng như Vĩnh nghĩ, trên bếp, vừa chia cơm ra các thau, lâu lâu Cấp lại liếc ngang liếc dọc và lủm nhanh vào miệng một miếng cơm thật lớn. Vĩnh tính lên tiếng hỏi Cấp một câu xem Cấp trả lời ra sao, nhưng nghĩ như thế quá ác anh lại thôi. Dù sao cái cảnh Nguyễn Văn Cấp ngậm một mồm cơm mà không nhai, chỉ cố nuốt từ từ như một con rắn đang nuốt một con rắn khác khiến Vĩnh phải chạy thật nhanh ra giếng để tránh việc phải phá lên cười. 
Nhập vào đám anh em đang tắm ngoài giếng, Vĩnh ngồi xuống gỡ sợi dây gầu bị rối. Giọng Quách Tứ cất lên. 

– Khối còn được 2 hộp sữa bò nữa. Khi nãy trưởng khối Trai họp các tổ trưởng lại đề nghị việc bắt thăm nhưng các tổ trưởng không đồng ý. 

Không bắt thăm thì làm sao bây giờ? Trả lại cho Cách mạng à? 

– Giỡn! Đêm nay coi phim về người trực phòng sẽ pha sữa cho cả khối uống. 

Chưa ai hiểu pha bằng cách nào thì Tứ đã cắt nghĩa. Để cho công bằng và để cho mọi người đều được hưởng tí hương vị sữa của nhân dân, người trực phòng cứ việc nấu một chảo nước lớn và đổ hai hộp sữa vào. 

– Như vậy uống nước rửa bát còn béo bổ hơn. 

– Chê thì đừng uống. Tập thể quyết định là sáng suốt. Cá nhân chỉ việc chấp hành. 

Tổ A.3 không ai bàn thêm gì nữa. Ai cũng lo tắm vội để vào ăn cơm và tập họp lên hội trường kịp với mọi người. 

Bốn giờ chiều thì kẻng tập họp của các trại nối đuôi nhau khua vang. Các khối của trại L4T3 đều lần lượt kéo nhau lên hội trường… 
Trên sân khấu của hội trường chưa thấy tên quản giáo nào xuất hiện. Dưới này gặp lại nhau, bạn bè khác khối chuyện nổ ra như bắp rang. Mãi 15 phút sau tiếng hô “đứng dậy!” của liên khối trưởng Nguyễn Văn Lượm mới cất lên. Bước vào hội trường đầu tiên là tên Thảo, chính trị viên; kế đó là những quản giáo của các khối. Chúng bò hết lên sân khấu và ngồi vào các hàng ghế kê sẵn trên đó. 
Tên Thảo tiến tới cái bàn duy nhất đặt giữa sân khấu. Hắn ngồi xuống ghế và lần mò bật cái máy vi âm loại xách tay để sẵn trên mặt bàn. Sau khi thử máy, hắn nói. 

– Các anh ngồi dưới kia nghe rõ chứ? 

– Rõ! 

Tên chính trị viên ngoắc liên khối trưởng Lượm lại gần sân khấu. Hắn nói gì đó với Lươm. Lượm chợt quay lại phía anh em, nói thật lớn. 

– Anh Hóa, anh Hóa cầm càn khối 3 đâu? 

Cả gần ba phút sau Hóa mới lên tới sân khấu. Giọng tên chính trị viên lại cất lên. 

– Trước khi lên lớp đề nghị anh Hóa bắt giọng cho anh em hát một bài. Hát cho thật to, thật khí thế nghe chưa! 

Tiếp theo câu nói của tên chính trị viên, Hóa uể oải bắt giọng bài hát Giải Phóng Miền Nam. Cả hội trường vang lên một bài hát Cách mạng có nội dung rất là chửi cha mình! Khi bài hát chấm dứt, tên chính trị viên ra lệnh cho Hóa trở về chỗ ngồi rồi cất tiếng. 

– Hôm nay thay mặt ban chỉ huy trại, tôi lên lớp các anh vài điểm then chốt trong nghệ thuật phim ảnh của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Kế đó, tôi sẽ phổ biến những nội quy quy định trong lần các anh được trên chiếu cố, cho xem phim tối nay. Yêu cầu trước mắt là các anh phải tuyệt đối im lặng, tập trung vào lắng nghe để chấp hành cho tốt. 
Nói tới đây, tên Thảo mở ra trước mắt một tờ giấy. Hắn nhìn qua mặt giấy rồi bắt đầu. Trong thế kỷ 20 này, phim ảnh không còn là chuyện lạ với bất cứ ai. Đâu đâu cũng có phim ảnh và người đi thưởng thức nghệ thuật phim ảnh để mua vui, nhất là trong xã hội tư sản phản động. Riêng đối với phe xã hội chủ nghĩa, phim ảnh không những là một phương tiện giải trí mà nó còn là một phương tiện giáo dục, tuyên truyền, phản ảnh trung thực tính đấu tranh giai cấp nữa. Các anh ngồi đây, ít nhất cũng một lần trong đời được xem trình chiếu những loại phim ảnh của bọn tư sản phản động. Nhưng loại phim ảnh đó mang đầy đủ bản chất xấu xa của chế độ tư bản bóc lột, cổ vũ cho một đường lối ngu dân, trụy lạc, sa đọa. Hôm nay trên chiếu cố, chỉ thị đội văn nghệ chiếu phim Trần Quốc Tuấn về phục vụ trung đoàn ta, các anh sẽ được coi hai bộ phim vĩ đại do xưởng phim Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân sản xuất. Bộ phim thứ nhất sẽ cho các anh thấy quân đội nhân dân thực chất anh hùng như thế nào. Nó cũng cho các anh thấy sự thật quân đội ngụy đã thua một cách triệt để tại Đường 9 Nam Lào ra sao. Phim thứ hai sẽ là một phim tình cảm xã hội xã hội chủ nghĩa. Qua phim này, các anh sẽ được thấy sự tuyên truyền của Mỹ ngụy đều là láo khoét… 
Bên dưới Vĩnh và vài người bắt đầu len lén đốt đóm kéo thuốc lào với nhau. Trong khi bên trên tên chính trị viên nói tình luyến ái trong giai cấp vô sản thì Đặng Thế Tiến dưới này cũng bắt đầu bàn về một quyển sách mà anh ta vừa được đọc. Đây là câu chuyện tình của một anh hùng quân đội nhân dân nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Quyển sách Tiến lượm được khi đi lao động tạp dịch trên trung đoàn, đã mất bìa và nhiều trang trong. Thế nhưng với những trang còn lại Tiến vẫn lượm ra được hàng trăm câu chuyện khôi hài. Tiến kể. 

– Mấy ông biết trai gái vô sản yêu nhau như thế nào không? Nghe một đoạn văn sau đây nhé. Nói đoạn Tiến lấy giọng đọc khe khẽ một đoạn văn theo trí nhớ. 
-… Mặt hồ Tây đẹp như một tấm chiếu của xí nghiệp chiếu Hà Nội. Cơn gió heo may của trời tháng 9 đem lá vàng trải khắp mặt đường. Tuấn ngồi bên người yêu, thả mắt ra mặt hồ nghĩ ngợi. Không, ta chưa thể lấy Yến. Ta là đảng viên, thành phần cốt cán, phải tiên phong thực hiện chính sách Ba Khoan của Đảng. Khi đất nước chưa thống nhất, miền Nam vẫn còn bị Mỹ ngụy tạm chiếm, ta đâu thể vui cái vui của riêng mình. 

Giọng cô gái chợt cất lên. 

– Anh Tuấn ơi, anh đang nghĩ gì thế? 

– Đang nghĩ giống những điều em nghĩ đây! 

Cô gái bẽn lẽn nhìn xuống đất, tay mân mê mấy cái rễ cổ thụ nổi gồ trên mặt đất như những con giun khổng lồ. 

– Biết em nghĩ gì mà dám nói càn vậy… 

Tuấn vội vuốt tóc người yêu, cười xuề xòa. 

– Ồ xin lỗi em anh đùa đấy. 

– Em nào dám bắt lỗi anh. Cô gái nhỏ nhẹ. Mà này anh ạ, anh có muốn biết tin mừng vĩ đại của em không? 

– Tin mừng gì thế? 

Tuấn hỏi mà trong lòng phát run lên. Anh nghĩ bụng hay là Yến chửa mất rồi!? Thế rồi một quyết định chạy thật nhanh đến óc Tuấn. Nếu có thì phải phá, nhất định phải phá. 

Bất chợt tiếng trách cứ êm đềm của Yến cất lên. 

– Chưa có người hôn phu nào lại vô tình như anh! Thôi em nói để anh mừng cho em vậy. Em đã… 

Một con kiến cắn nơi một ngón chân khiến cô gái phải cúi xuống gãi và xuýt xoa. Tuấn nóng ruột, thúc. 

– Đã sao? 

Cô gái ngước nhìn người yêu, cười tủm tỉm. 

– Em đã được xí nghiệp bông băng đề bạt đảng viên kỳ này. 

Tuấn chợt thở hắt ra một hơi nhẹ nhõm. 

– Thật đúng là một tin mừng vĩ đại. Anh rất lấy làm hãnh diện. 

– Hôm nào anh công tác C? 

– Tuần tới rồi em ạ. Em có buồn không? 

Cô gái chợt ngước đôi mày thật rậm lên. 

– Ồ cái anh này hay nhỉ! Sao lại lãng mạn tiểu tư sản đến thế? Em đang mong anh đi C sớm đây này. Anh đi rồi em sẽ sắp xếp công tác Bái Thượng kỳ này luôn. Chiến dịch trồng cây nhớ Bác đang triển khai mạnh. Xí nghiệp em đã hạ quyết tâm thực hiện một triệu gốc bông vải vùng Bái Thượng. Anh còn nấn ná ở đây là em chưa đủ điều kiện hăng hái xung phong… 

Nói tới đây cô mình liếc chàng trai một cái rất tình và rất nhanh. 

Tuấn cả cười. Anh lại vuốt tóc người yêu. 

– Anh nói đùa đấy chứ anh đâu có yếu mềm như thế. Xa nhau để công tác được thực hiện tốt đẹp, đạt chỉ tiêu nhà nước là một nghĩa vụ đấy chứ. Anh luôn mong trong tình yêu, chúng ta phải can đảm; nhất là đừng bao giờ để cho ánh sáng Bác, ánh sáng Đảng bị lu mờ một phút nào… 

Đọc xong đoạn văn, Tiến thúc vào vai Vĩnh một cái. 

– Mày thấy ái tình xã hội xã hội chủ nghĩa chưa? Rùng rợn lòng lợn tiết canh chưa? 

Nói rồi Tiến cầm lấy cái điếu, tiếp. Tiên sư chúng nó, ái tình cái đéo gì mà trai gái hẹn hò toàn nói chuyện công tác, chuyện ánh sáng Bác, ánh sáng Đảng! 

Bên trên sân khấu tên chính trị viên Thảo vẫn thao thao bất tuyệt về nghệ thuật điện ảnh vô sản. Hắn nói. 

– Rồi đây Cách mạng sẽ tạo nhiều điều kiện hơn cho các anh có dịp thưởng thức phim ảnh của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Liên Sô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Ga Ri, Bun Ga Ri và có thể có cả phim của nhân dân Mỹ tiến bộ nữa. Qua các phim ấy, các anh sẽ được nhìn thấy nhiều hơn về con người, về xã hội văn minh hiện đại của các nước sống dưới chế độ Xã Hội chủ nghĩa. Bây giờ, tôi phổ biến vài nội quy cơ bản trong lần xem phim tối nay. Yêu cầu các anh chú ý nghe để chấp hành cho tốt. 
Nói xong tên Thảo lại ngó vào một tờ giấy khác. Ngó hơi lâu. Một lúc hắn quay xuống đám đông. Vì những khó khăn trước mắt, hắn nói. Cách mạng chưa thể có đủ điều kiện trình chiếu các phim ảnh ở cấp tiểu đoàn. Do đó, đêm nay đội chiếu phim sẽ thực hiện trình chiếu ở cấp trung đoàn, có nghĩa là ngoài tiểu đoàn ta còn nhiều tiểu đoàn khác nữa cũng về một địa điểm để tham dự buổi chiếu phim. Vậy thì nội quy quy định cho các cải tạo viên trong lần đi xem phim đêm nay như sau. 
1. Tuyệt đối trật tự và yên lặng khi di chuyển ra địa điểm tập trung xem phim. 2. Tuyệt đối cấm liên hệ với cải tạo viên các trại bạn. 3. Đội hình phải được luôn luôn duy trì tốt. 4. Ngoài bãi chiếu, sự tiêu tiểu phải đi đúng nơi quy định. 5. Trong khi xem phim tuyệt đối im lặng, lắng nghe người thuyết minh, nắm vững nội dung phim để sửa soạn cho việc viết đề cương cũng như thảo luận sau này. 6. Các tổ trưởng, các khối trưởng và anh liên khối trưởng phải đôn đốc, kiểm soát các tổ viên của mình chấp hành tốt nội quy quy định. Mọi sai trái phải được báo cáo kịp thời để cán bộ quản giáo giải quyết. 7. Khi kết thúc buổi trình chiếu, các khối chỉ được đứng lên tập họp trở về trại khi có lệnh. Và trên đường về vẫn phải tuyệt đối trật tự, im lặng và giữ đúng đội hình quy định. 8. Vệ binh có quyền bắn hạ tại chỗ bất cứ ai rời vị trí mà không có phép của cán bộ quản giáo hoặc vệ binh phụ trách an ninh đêm trình chiếu. 9. Mọi sai trái với nội quy này sẽ đều bị nghiêm trị. 
Tên chính trị viên đã phổ biến xong bản nội quy đi xem phim. Hắn ngẫm nghĩ giây lát rồi nói lớn. Bây giờ trước khi các anh trở về khối sửa soạn, yêu cầu anh Hóa lên bắt nhịp cho tất cả hội trường hát thêm một bài nữa. Các anh nhớ là không hát thì thôi, mà đã hát thì phải hát cho to, cho khí thế. Hát như ban nãy chưa đạt yêu cầu. Hát nhạc Cách mạng mà cứ thỏ thẻ như cầu kinh ấy nghe nó… phản động ghê lắm! 
Hóa lại bước lên sân khấu. Mọi người lại… cầu kinh thêm một lần nữa.




Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 30 Dec 2023

Bài 13

Phần 12

Màn khủng bố đen quanh vụ cái gọi là bản tự khai đã qua đi. Không ai công khai nói ra nhưng hầu như mọi người đều bừng tỉnh và tin chắc trên mỗi hồ sơ cá nhân đã có một ám số đặc biệt nào đó. Ám số ấy có thể là những mẫu tự từ A đến Z, cũng có thể là những con số cụ thể 3 năm, 5 năm, 10 năm hoặc cũng có thể: Thôi rồi địa ngục trao thân, Châu về Hiệp phố họa hoằn kiếp sau! 

Từ sự bừng tỉnh ấy, nhiều người không còn thắc mắc tại sao một Phạm Điểu, một Trần Trọng Minh vẫn được về ở với anh em và sinh hoạt bình thường… 

Riêng Vĩnh, Vĩnh buồn như chết. Đàn đúm với anh vào mỗi chiều nơi một góc sân nào đó vẫn từng ấy khuôn mặt, nhưng những khuôn mặt có những nụ cười bắt đầu kém tươi… Vĩnh càng kém tươi hơi vì mầm mống bệnh tật khởi sự bộc phát trong cơ thể. 

Mỗi chiều đứng trong hàng rào nhìn ra cánh đồng bí ngô Vĩnh không khỏi kinh hồn. Cả một vùng sỏi đá quanh lãnh vực của L4T3 đã hoàn toàn biến thành những ao rau muống và những cánh đồng bí ngô bát ngát nhờ toàn bởi sức người với hai tay không của bọn tù. Nhiều lúc Vĩnh thấy như mộng. Làm sao Vĩnh và các chiến hữu với hai tay không lại có thể “cải tạo” được những vùng đất đá ong mà đến cỏ mọc cũng không nổi, trở thành những cánh đồng như thế? Xa hơn chút nữa là một vùng đất không cứng như đất quanh căn cứ, nó mềm hơn nhưng tù lại tốn nhiều xương máu hơn khi biến nó thành những cánh đồng trồng khoai lang và sắn. Mìn râu, mìn cóc, đầu đạn M.79 và những trái nổ M.72… 

Đã bao nhiêu người cụt chân cụt tay, nằm rên xiết cho đến chết vì không có phương tiện cấp cứu nơi những cái gọi là bệnh xá trong tù? Không ai có thể nhớ hết ở cái giai đoạn trừng giới ban đầu này. 

Ngày tháng trôi qua, câu nói người Việt Nam là một thứ cao su tốt nhất mà Vĩnh từng nói đùa với các bạn lại được chứng nghiệm ở nơi này! Cái kiếp nửa tu nửa tù, phải giữ gìn một cách khắt khe từ lời ăn tiếng nói còn hơn trong một nhà dòng tu kín, đời sống hoàn toàn bị những tiếng kẻng chi phối; đã nhanh chóng biến mọi người thành một cái máy. Tập họp, điểm danh, báo cáo nhân số, xếp hàng đi lao động; chiều về chia chác từng miếng cơm hẩm, cãi nhau từng hạt muối. Một cọng sau muống già mà nếu có cân tiểu ly, không thiếu người sẵn sàng đem nó lên cân để khẩu phần không bị thiệt thòi! Chao ôi, lần đầu tiên nếm mùi thiên đường Cộng sản, những đứa con của Thế Giới Tự Do sa cơ thất thế mới được dịp thấy rằng ranh giới con người và con heo trong xã hội này không quá xa xôi như người ta tưởng. Chỉ cần một củ khoai người ta có thể nhìn thấy ngay cái ranh giới ấy. Biết thế, nhưng trước nhu cầu tối thiểu của con người là lao động thì phải được ăn đủ, (hoặc ít nhất cũng được cảm giác no hơn người khác!), đã biến biết bao con người trở thành những con heo mà chính những con người ấy không hề hay biết! 

Chiều nay ăn cơm xong, như thường lệ, tổ A.3 họp tổ. Anh em trong tổ sẵn truyền thống “bao che”, đã nhất trí tan hàng sớm vì không có gì cần… mổ xẻ. Anh em tản ra và chờ giờ họp khối. Rồi sau khi họp khối, như mọi lần, anh cầm càn bắt giọng để mọi người gân cổ lên hát một bài hát Cách mạng trước khi tan hàng nghỉ ngơi. Đây là những bài hát mới đầu bọn tù đau xót nghe thấy nó, dần dần phải hát nó, hát riết cũng đâm quen tai. Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng… phá tan bè lũ bán nước… Hoặc, tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù, tiến về đồng bằng giải phóng thành đô… 

Xong mấy bài hát thì khối tan hàng. Vĩnh lẳng lặng vào phòng và chui vào chỗ nằm. Kéo tấm chiếu nylon đem theo từ đạo đi nộp mình, giờ đã rách bươm phủ trên sáu tấc chiều ngang hai thước chiều dài nền nhà là chỗ nằm của mình, Vĩnh nằm nghĩ vu vơ. Nơi đây không có điện. Trong phòng về đêm, chỉ lập lòe những ánh sáng nến do tù chế bằng sáp lấy trong các hộp carton đựng đạn pháo, nhào với giấy bồi đốt thay cho nến. Thế nhưng với những ánh nến le lói đó, bọn tù vẫn có thể bày cờ tướng hoặc Domino chơi với nhau, hoặc vây lấy một anh bạn có tài kể truyện chưởng, hoặc tẩm quất cho nhau, hoặc tranh luận về văn chương thi phú… 
Những sinh hoạt như thế dù sao cũng giúp nhiều người nguôi đi đôi chút về cái bóng đêm đang phủ xuống cõi tù đày vô vọng. Đêm nay Vĩnh chán mọi thứ và không muốn dây với bất cứ ai. Anh đang đau. Cái bao tử của Vĩnh đang hành hạ anh quá sức mà không có thuốc gì uống. Bác sỹ Tuyên cũng chịu thua, bác sỹ Đỉnh cũng chạy làng. Vĩnh nằm cố tránh suy nghĩ, nhưng những hình ảnh thân quen vẫn hiện về trong óc anh. Anh nhớ đến người anh cả dấu yêu và người em trai kế hiện cũng đang nằm tù đâu đó trên giải đất lầm than này. Vĩnh cố lựa một thế nằm cho cái bụng được thoải mái. Thốt nhiên anh giơ tay rờ lên ngực mình. Bộ xương sườn thật là vĩ đại! 

Đang lơ mơ nghĩ ngợi bỗng một người xà đến bên Vĩnh. 

– Vĩnh, nghĩ ngợi lăng nhăng gì thế? 

-…..!? 

– Sao chiều mày không ăn cơm? 

Vĩnh đã nhìn ra Đính, anh mệt mỏi trả lời bạn. 

– Đau bụng quá! Đói lắm mà không sao nuốt nổi! 

– Có giữ phần cơm của mày không? 

– Làm gì? 

– Tao tìm cách nấu lại thành cháo cho ăn. 

– Không, tao để cho anh em trong tổ ăn rồi. 

Đính thò tay lên đầu chỗ nằm lấy cái điếu cầy của Vĩnh ra. 

– Một con ngựa đau cả tầu ăn mệt nghỉ! Điếu còn hút được không? 

– Lâu nay có thuốc đếch đâu mà hút! 

– Giả thử tao có thuốc thì dù đau bụng mày có hút nổi không? 

Lượng thuốc lá thuốc lào trong tù đến giai đoạn này thì đã thật sự khan khiếm. Ông già Chuân – vua buôn thuốc lào – mà đã phải bỏ nghề ngồi ngáp vặt là chuyện không vừa! Anh em đã bước sang giai đoạn sáng chế. Đầu tiên một vài tay quá nghiền đã lấy trà tầu ra hút với nhau. Trà hút vào nóng cổ đến độ có anh ho ra máu. Sợ! Thế là phải tìm cách khác. Lá cà chua! Lá cà chua sẽ được xắt thành sợi, ngâm một đêm với nước điếu rồi đem phơi. Món này hút tàm tạm nhưng vẫn nóng lắm. Riêng Vĩnh vốn đã yếu phổi nên dù nghiền đến đâu cũng đành chịu, không dám hút bậy. Mấy ngày nay đau nằm tơ tưởng chỉ ước ao được hút một điếu thuốc thật say mà không sao có nổi, tự dưng ông vua thuốc lào Nguyễn Thành Đính lại ra đến hỏi có hút thuốc không. 

– Tao vừa chán đời vừa đau nặng đến nơi, có thì cúng tao một điếu để tao được lên Niết Bàn sơm sớm. 

– Ngồi ngay ngắn lên. 

Đính trang trọng ra lệnh và thò tay lên mang tai lấy ra một bi thuốc lào. 

– Đâu vậy? 

Đính vừa xé bi thuốc làm hai phần bằng nhau vừa nói. 

– Khi chiều tao dọn cầu tiêu trên tiểu đoàn. Thằng hậu cần tự dưng giở trò tử tế mời tao một bi. Tao ngắt một bi rất có trọng lượng. Mẹ kiếp thuốc Vĩnh Bảo thứ thật hút một cái lật gọng tại chỗ. Lật thì lật tao vẫn dấu được bi này về chia cho mày. Bây giờ ta cưa đôi. 

Nói đoạn Đính nhét nửa bi thuốc vào nõ và đưa cho Vĩnh. Nó xé một tí giấy gì đó nơi đầu chỗ nằm của tổ phó Khoa. Vĩnh giật mình, phát cự. 

– Mày ẩu vừa thôi. Thằng Khoa nó khó tính. Xé tầm bậy tầm bạ giấy tờ của nó chút nữa sinh chuyện! 

Đính cười. 

– Trong này chỉ có hai thứ giấy, một là giấy chùi đít hai là giấy tự khai. Thứ nào làm đóm cũng được. Lo chi chuyện đó! 

Nói rồi ông vua thuốc lào mồi đóm. Vĩnh cầm cái điếu lên, nhận lấy cái đóm nơi tay bạn và kéo một hơi thuốc dài. Coi chừng ngã ngửa! Tiếng Đính vang lên báo động. Vĩnh chưa kịp hạ cái điếu xuống đất thì trời đất đã quay cuồng trước mặt. Đính một tay chộp lấy cái điếu, một tay chộp lấy gáy Vĩnh. Dù gì thì Vĩnh cũng đã lăn quay ra đất, hai mắt trợn dọc chỉ thiếu sùi bọt mép là đủ bộ! Anh nghe lơ mơ Đính nói gì đó bên tai. Cả mấy phút sau Vĩnh mới hoàn hồn và ngồi dậy được. 

– Sướng không? 

– Tao đã báo động thuốc Vĩnh Bảo thứ thiệt mà lại! 

-….. 

– Mày chưa kéo hết điếu thuốc thì tao kéo tiếp. Điếu của tao để dành sáng mai. 

Vĩnh giơ tay xoa trán, miệng thều thào. 

– Say muốn vã mồ hôi. 

Đính lại mồi đóm kéo tiếp tí thuốc còn dính trên nõ điếu. Nó nhả khói rồi nhìn quanh phòng. Hôm nay có trăng, bọn tù hầu như giờ này đều đã kéo nhau ra ngồi ngoài sân hóng gió. Đính quay lại nhìn Vĩnh vừa nằm xuống gối đầu trên cái bao vải đựng chăn màn. Nó hỏi. 

– Sướng không? 

Vĩnh rên lên. 

– Bác Đảng ơi! Sướng hơn cả… lần đầu! 

Đột nhiên Đính đề nghị. 

– Lâu quá không nghe mày ngâm thơ. Cao hứng ngâm một bài nghe chơi. 

Vĩnh nằm nhìn qua kẽ hở trên vách ra ngoài sân. Trăng tối nay đã gần tròn. Nếu anh tính không lầm thì chẳng còn bao lâu nữa trung thu. Ánh trăng như một giòng sữa, nói theo ngôn ngữ của Phạm Duy, đang đổ vãi khắp phía bên ngoài kia. Những cặp bạn bè hợp ý nhau khoác vai đi qua đi lại bên ngoài khung cửa. Họ đang nói với nhau những gì? Ai biết được! 

Giọng Đính lại nổi lên thúc hối. Mày sợ ăng ten à? Tao thấy thằng Tô và mấy thằng râu ria của nó ra ngoài sân cả rồi. Vĩnh như không nghe thấy lời bạn. Anh hỏi vu vơ. 

– Ba mươi đã già chưa mày? 

– Mày nói sao? 

– Tao hỏi 30 đã già chưa? 

– Chi vậy? 

– Thì cứ trả lời tao đi. 

– Nhưng tuổi 30 ở đâu mới được chứ!? 

– Ở đây chứ ở đâu! 

– Vậy thì già. Già lắm! 

– Thế thì tao ngâm cho mày nghe một bài mới làm của tao. Bài này có nhan là Tuổi Già. Chẳng có gì phản động trong đó cả nên mày cũng chả phải nhắc nhở đến thằng Tô… 

Đính ngả lưng xuống nằm song song với Vĩnh. Nó nói như reo khẽ. 

– Tốt, ngâm đi. Tao đang lắng tai Chung Kỳ đây. 

Vĩnh nằm ngửa nhòm lên trần nhà. Anh tằng hắng rồi cất giọng trầm trầm, đọc. 

Một tối không như những tối nào Điếu ngà chưa hạ đã chiêm bao Hồng hoa lăng mật tàn trong nhụy Thi sỹ nghe mây đọng dưới đầu Người đẹp năm xưa thành mộng mị Anh hùng một thủa bỗng hư hao Ngoài song nguyệt bạch như đầu bạc Con quạ còn thêm ý bể dâu. 

– Mày đọc nghe buồn quá! 

Vĩnh nằm nghiêng nhìn bạn. 

– Ở đây chắc vui? 

– Tao không… 

Chẳng đợi bạn nói hết câu, Vĩnh ngồi bật dậy và nói luôn. 

– Đề nghị chơi luôn bi thuốc còn lại đi. Tao chưa đã! 

– Thế không để dành sáng mai à? 

– Nửa đêm nay có thể thình lình nó lôi tao đi, hoặc lôi mày đi. Sáng mai ra muốn chia nhau bi thuốc đó liệu có kịp không? 

Nghe Vĩnh lý sự cùn, Đính ngồi dậy. 

– Ừ hút thì hút. 

Hai người lại điếu đóm chia nhau bi thuốc. Lại say. Một lúc sau Đính rủ Vĩnh ra ngoài sân. Hai người chậm rãi đi quanh vài vòng. Đính bỗng nói. Trung thu này tao nghe đồn mình được phát tiếp phẩm. 

– Quần áo? 

– Chắc chưa đâu. Nghe nói sẽ có tí thuốc hút và tí đồ ngọt. 

Vĩnh yên lặng không bàn gì thêm với bạn. Sở dĩ Vĩnh hỏi Đính quần áo là vì quần áo bây giờ đã biến thành một nhu cầu cấp thiết. Vấn đề mỗi năm hai bộ chẳng còn làm ai sợ nữa, vì lúc ra đi, hầu như ai cũng đinh minh mười ngày nửa tháng là về, do đó chỉ đem theo đôi ba bộ tàng tàng đắp điếm qua ngày. Ai dè đâu nằm mịt mù đến nay đã quá hai tháng. Hơn hai tháng bị quần thảo trong kiếp nô lệ mới, quần áo ai cũng tả tơi; thậm chí có người đã phải đi lượm lặt các bao cát về giặt sạch may quần áo mặc đi lao động. Tuy nhiên đàn ông rách rưới không sao, đàn bà rách rưới coi thê thảm vô cùng. Có những ngày Vĩnh đi lao động, tình cờ lại gặp các nữ tù của trại 1 thấy se sắt làm sao! Những người đẹp của thành Sài Gòn xưa mỗi người một viên đạn pháo nặng nề trên vai. Họ khập khễnh bước đi dưới trời mưa nắng, mặt mày lem luốc, tóc tai rối bời, quần áo vá chằng vá đụp… 

Giọng Đính vẫn đều đều. Trung thu tao nghe đồn mình còn được coi chiếu phim. 

Vĩnh dừng chân trước một nền nhà xi măng giữa sân. 

– Ngồi xuống đây nghỉ mệt. Đi hoài tao đau bụng quá. 

Đính lột đôi đép râu tự chế trong tù ra lót đít ngồi. 

– Tao nghe nói phim chưởng của Tầu cộng coi cũng khiếp đảm lắm. 

Vĩnh cười. 

– Ăn khoai múa võ đóng phim mà không khiếp đảm sao được! Nhưng mày tin tao đi. Cuối cùng cũng chỉ là tuyên truyền thôi. Đi xem có khác nào tự dẫn xác đến nghe nó chửi cha mình. 

– Khổ nỗi không đi không được ấy chứ! 

Vĩnh chợt than. 

– Tao thèm gà quá Đính ạ. 

Đính nhìn bạn cười. 

– Mày thèm toàn những thứ chết người. 

– Mày có thấy bầy gà của tụi vệ binh nuôi không? 

– Chuyện gì đây cha? 

– Khi chiều tao thấy nó bới ao rau của tổ tao. Tao vác một cục đá quăng đại, ai dè một con què chạy mất còn một con chết gục ngay trên ao rau. Tao sợ quá, nhìn quanh rồi vùi luôn nó xuống sình. 

– Ao rau của tổ nào? 

– Tổ tao. 

Đính thở dài tiếc rẻ, một lúc nó nói. 

– Để tao tính. Sáng mai tao trực. Tao sẽ ra vườn sớm để phân chia cuốc xẻng cho các tổ… 

Vĩnh vội can ngay. 

– Mày đừng liều mạng. Gà tụi nó… 

– Thế mày hết thèm thịt gà rồi à? 

-…..! 

– Tao kể cho mày nghe. Hai hôm trước tao đi lao động trung đoàn. Tao được nghe một thằng kể lại thành tích của một tay dược sỹ và cũng là anh của nó bên L1T2, đã chơi nguyên một con heo của bọn hậu cần trại. 

Vĩnh không lấy làm tin. 

– Chắc nó đùa. Chơi thế đếch được nguyên một con heo! 

– Được mới tài chứ. 

Nói đoạn Đính bắt đầu kể: Một ngày kia hậu cần trại L1T2 la hoảng lên chúng mất một con heo sữa nặng cỡ15 cân. Chúng lồng lộn đi tìm, đi khám xét tất cả các lán của bọn tù nhưng con heo vẫn… biệt vô âm tín! Chúng đâu có biết rằng một trong đám tù ở đó có một dược sỹ kiêm diệu thủ thư sinh, đã chỉ trong vòng một tiếng biến một con heo thành một nửa bao cát đựng toàn thịt thắn kho khô với nước muối. 
Vĩnh lên tiếng. 

– Khó tin quá! 

– Thế mà thật mới tài chứ. Mày không tin chứ tao tin. Tao tin thằng đã kể cho tao nghe là nó không phịa… Nó nói người đánh cắp chính là anh ruột nó. Vào một đêm tối trời, khu trại heo của hậu cần L1T2 chập chờn trong ánh lửa hắt ra từ những gốc cây… Mày nhớ không Vĩnh, hồi đầu bên đó cũng giống bên mình, phải đốn cây và đốt gốc ấy mà… thằng anh nó đã bò ra khỏi hàng rào và lết về trại heo. Hắn đem theo một con dao bén ngót, một bịch muối ăn cắp của nhà bếp và một cái sô gò bằng tôn… Hắn chui vào chuồng heo, hạ một con heo sữa trong tích tắc. Hắn lóc lấy toàn thịt nạc, bỏ vào sô muối, ra bờ giếng chôm miếng nước rồi bò về phía những gốc cây đang đốt dở. Hắn đặt cái sô thịt lên một gốc cây đầy than hồng… Một tiếng sau hắn bò trở về lán với thành quả như tao đã nói với mày: Một nửa bao cát toàn thịt nạc kho khô. 

Vĩnh nghe câu chuyện cũng thấy hay, anh đâm tò mò. 

– Kho mặn như thế phải để dành ăn lâu. Nhưng để dành bằng cách nào? 

Đính nói ngay. 

– Thế mới thần tình chứ! Mày có đoán được hai anh em tay dược sỹ ấy dấu thịt ăn bằng cách nào không? -……? 

– Vô tiền khoáng hậu! Tụi nó đã may sẵn hai cái áo gối bằng bao cát, bên trong có rất nhiều vải vụn, bên trong nữa có thêm cả chục lớp bao nylon. Phần thịt được chia hai, mỗi đứa nhét vào gối phần thịt của mình và khâu lại. Chỉ đêm đêm mới moi ra một cục để dành cho ngày hôm sau… Thế mà chúng ăn rả rích gần một tháng trời cho đến khi thằng anh bị lôi đi đâu mất trong cái dịp biên chế vừa qua… Riêng bọn cai tù mất heo sau nhiều lần thảo luận, mổ xẻ… đưa tới nghị quyết rằng thì là mất heo chỉ vì lũ “ngụy” chứ không ai vào đấy. Nhưng tao hỏi mày dấu kiểu đó có quỷ thần tìm ra! Nghĩ mỗi bữa cơm có một cục thịt heo kho khô cũng thú vị Vĩnh hả? 
Đính kết thúc câu chuyện bằng một câu hỏi vu vơ. Nó nhìn ra dãy hàng rào gần cổng trại. Bên kia dãy hàng rào ấy cũng có hai cái chuồng heo của bọn bộ đội nuôi. Chính hai cái chuồng heo này mà bọn tù khổ! Vĩnh chẳng thể nào quên được cuộc họp khối vừa rồi. Khối trưởng Trai nhận lệnh về quán triệt lại anh em, rằng thì là khung đề nghị các khối mỗi bữa phải nộp cho hậu cần trại một ít cháy nuôi heo. Trời ơi cơm tù ăn còn không đủ, lấy cháy đâu nộp cho hậu cần! Thế rồi nhiều khối, do khẩu phần cơm không đủ, đã không có cháy thừa nộp cho hậu cần, do đó bọn quản giáo mắng mỏ các khối trưởng và bắt về họp khối tìm cách “khắc phục mọi khó khăn” để “đạt chỉ tiêu nộp cháy” cho khung. Khối 2 cũng như các khối khác, bị kiểm thảo vì tội không nộp cháy cho tiểu đoàn nuôi heo. Sau khi bàn thảo, khối 2 đã rất nhiều người thẳng thắn đề nghị khối trưởng yêu cầu hậu cần khung nên bắt lũ heo… khắc phục khó khăn hơn là bắt cải tạo khắc phục bóp bụng nộp cháy!… Bây giờ lũ heo của trại L4T3 chẳng biết đói no vì tù không thể có dư cháy mà nộp, nhưng hẳn là chúng đang ngủ ngon. Nguyễn Thành Đính sau khi kể chuyện ăn cắp heo lại nhìn về phía chuồng heo của trại khiến Vĩnh hơi hoảng. 

Vĩnh vội lên tiếng. 

– Này, đừng thí nghiệm cái Mission Impossible ấy ở đây đấy nhé. Nó bắn tan xác chứ không chơi đâu. 

Nghe Vĩnh nói Đính chỉ cười cười. Thốt nhiên Đính lại xoay sang đề tài khác. 

– Chiều nay tao lao động tiểu đoàn, thấy tụi cán bộ chúng họp liên miên cả buổi chiều. Xung quanh phòng họp có vệ binh gác và cấm tù lao động trên đó béng mảng tới gần. Không hiểu có chuyện gì không!? 
Vĩnh ơ hờ. 

– Chuyện gì thì mình cũng ở tù rồi. Tao… 

Vĩnh chưa nói hết câu thì những tiếng kẻng treo cạnh vọng gác ngoài cổng trại chợt vang lên inh ỏi. Đây là những tiếng kẻng bất thường và theo nội quy quy định, mỗi khi nghe thấy tiếng kẻng này vào ban đêm, dù đang ngồi trong nhà cầu, cải tạo đều có nhiệm vụ trở về phòng tức thì. Vĩnh đứng lên cùng với Đính và tất cả những người khác đang ngồi chơi ngoài sân để trở về phòng. 

Vài tay chạy vụt qua mặt Vĩnh. Họ nói với nhau có vẻ thật nôn nóng. 

– Báo động! Dám có anh em ta mò về làm ăn quanh đây lắm a! 

Riêng Vĩnh anh chẳng nghĩ gì và cũng chẳng nói thêm gì trên đường trở về phòng. Khối trưởng Trai đang đứng đợi điểm danh từng người bước vào phòng. Thấy Đính và Vĩnh tà tà, anh lên tiếng thúc. 

– Nhanh lên mấy cha. Báo động mà tà tà quá vậy? 

Đính thấy Trai lên tiếng hỏi. 

– Chuyện gì vậy ông Trai? 

Trai không trả lời mà chỉ lắc đầu. Anh còn bận đếm thêm mấy người đứng sau lưng Vĩnh. 
Rồi mọi người đã về đủ. Ai ngồi chỗ nấy. Anh em ngó nhau xầm xì. Một hồi kẻng thứ hai tiếp tục khua vang. Sau đó ít phút, quản giáo Cư xuất hiện trước ngưỡng cửa phòng. Hắn ra lệnh cho khối trưởng Trai chạy sang dãy thứ hai của khối, gọi tất cả mọi người cùng sang tập họp bên dãy của Vĩnh ( khối 2 có 2 dãy nhà ở). Phải non 10 phút khối mới ổn định và quản giáo Cư bắt đầu làm việc. – Giờ này cũng đã muộn, khung ra lệnh tập trung các anh đột xuất để thông báo các anh một chỉ thị quan trọng, ấy là sáng mai các anh sẽ nghỉ tại trại và không đi lao động. Tôi cũng nói trước cho các anh biết sáng mai rất có thể sẽ có một cuộc biên chế thứ hai. Do đó ngay đêm nay, trước khi đi ngủ, các anh nên sắp xếp tất cả tư trang cá nhân cho gọn ghẽ. Những gì cần thiết nên giữ lại, còn những gì cồng kềnh không cần thiết thì bỏ đi. Một điều quan trọng nữa tôi dặn các anh và các anh phải tuyệt đối chấp hành, ấy là từ giờ, khi chưa có lệnh quản giáo, không một người nào được rời khỏi phòng dù chỉ để đi tiêu đi tiểu. Tí nữa đây anh Trai sẽ cho tổ trực đem một cái thùng chứa nước tiểu để ngay trước cửa cho anh em dùng khi cần. Tôi nhấn mạnh, kể từ giờ cho đến sáng mai, tuyệt đối cấm tất cả mọi người rời phòng quá 3 thước. Mọi liên hệ với khối khác và người khối khác bị cấm chỉ hoàn toàn. Ai vi phạm sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm. Mọi thay đổi chờ đến khi có lệnh mới. Các anh đã nghe rõ cả chưa? 
Tên Cư nói ba điều bốn chuyện đại loại như thế rồi bỏ đi. Bọn tù bắt đầu bàn tán về sự nghiêm trọng của vấn đề, tuy nhiên cho đến lúc người cuối cùng thiếp vào giấc ngủ, chưa ai đoán ra nổi cái bí mật của ngày mai!

Đưa nội về quê chồng

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 21 Jul 2014 

Post by Sơn râu 29 Dec 2023

gửi các cháu trai:

   Hoàng Quốc Việt

Hoàng Thế Nam

Hoàng Thế Nhân

Hoàng Thế Đức

Nguyễn Đình Dũng

Trần Thiện Hà

Trần Thiện Phước

Trần Thiện Dũng 

Bà nội là “ngân hàng” của chúng tôi.

Hơn ba chục đứa cháu nội ngoại của bà nội tôi là khách hàng của “ngân hang” nầy. Nói rõ ra là bà nội tôi có tiền, những đứa cháu, nhất là cháu trai như chúng tôi, mỗi khi cần tiền thì tới xin nội. Để tránh khỏi bị cha mẹ rầy, chúng tôi nói khéo với nhau là ra ngân hàng rút tiền mỗi khi cần tiền đi chơi với nhau.

Tiền thì chúng tôi cần lắm, mỗi ngày, không nhiều, chỉ đủ cho mấy thằng con trai đi uống càphê, đánh bi-da, hay coi ciné, v.v…

Bọn tôi là những thằng tiêu tiền, nhất là từ sau khi bỏ học. Lớn như chị B. như anh H. thì bỏ học đại học. Bọn chúng tôi nhỏ hơn thì bỏ trung học. Học hành làm gì nữa! Bọn chúng tôi ham vui, ham chơi, ưa những cái gì nhẹ nhàng tiêu khiển.

Trước 1975, đi học cũng vui lắm và cũng không ít lần chúng tôi sợ mất mật với mấy ông sư huynh Lasan Đức Minh, – trường chúng tôi hồi ấy. Sau “giải phóng”, các sư huynh nghỉ dạy hết (hay bị đuổi khỏi trường, chúng tôi không biết!). Bây giờ chỉ còn lại một ít thầy cũ, số đông là “thầy cán bộ”. Bài vở thì ít, học chính trị, có nghĩa là hoan hô, đã đảo thì nhiều. Học làm sao được? Cứ vào lớp thì nghe cán bộ chưởi “Thằng Mỹ, thằng Diệm, thằng Thiệu.” Trước kia, cũng nghe người ta gọi là “thằng Mỹ”, nhưng chỉ gọi ở ngoài đường. Những tiếng thô bỉ đó đâu có thể đưa vào trường học được. Còn như nghe gọi “Thằng Diệm, thằng Thiệu” thì kỳ quá. Ai gọi thế bao giờ. Nghe gọi thế vừa khó chịu, vừa bực tức, mặc dù, gia đình chúng tôi chẳng ai bà con gì với mấy “thằng kính mến” đó cả.

Ban đầu chúng tôi trốn học. Một bầy cháu trai của nội tôi rủ nhau bỏ học. Nghe chuyện nầy, chắc cả nhà hoảng kinh. Biết thế, nhưng khổ lắm, chúng tôi không học được! Thế rồi, tới giờ, ôm tập ra đi. Bây giờ thì đi học bằng xe đạp. Xe Honda không có xăng. Vả lại, “giải phóng” rồi, phải gian khổ chứ. “Giải phóng” là như thế, có nghĩa là phải gian khổ. Bà chị lớn nhất, bán xe La Dalat, xe đi học của chị. Anh H. bán xe môtô, xe đi học của anh. Hồi đó, bọn tôi có năm đứa học ở Lasan Đức Minh, đi ba xe Honda thì nay đi xe đạp.

Thế là năm thằng rủ nhau bỏ học. Chúng tôi, dân Saigon, đang học cấp ba. Càphê quen uống, bi-da quen chơi, ciné quen xem. Vậy là cứ thế mà “quen”… Hơi khác một chút, phim bây giờ dở ẹt, dù là phim Liên Xô hay phim Bulgari….

Năm chúng tôi chỉ là tiêu biểu cho đám cháu trai của nội, chứ tính ra thì cháu trai của nội đông lắm. Chị của ba tôi, có 5 trai, đủ gọi là ngũ quỉ. Anh em chúng tôi: 7 trai, 1 gái đúng là bát tiên, có một Hà Tiên Cô. May mắn trong 7 anh em, không có ai có hình tướng để có thể làm đại diện cho tiên ông Lý Thiết Quài. Bảy tiên ông nầy xuống trần, đâu còn ở cõi tiên, nên phải “nhập gia tùy tục”. Em gái ba tôi có hai trai. Ấy là những đứa cháu tuổi sàn sàn nhau, việc học thì không giống nhau nhưng quậy thì chẳng đứa nào chịu thua đứa nào. Chú tôi có một trai nữa, nhưng thằng nầy còn nhóc tì, chưa nhập bọn được.

Mỗi sáng, chúng tôi vẫn đi học như thường lệ, nhưng tiền đâu để đóng “học phí” cho “cô hàng càphê”, cho bà chủ tiệm bi-da… Vậy là chúng tôi ghé lại “ngân hàng”.

Xin tiền nội tôi không dễ mà cũng không khó, chỉ cần biết, liệu cách xin. Xin mua gì cũng bị hỏi lôi thôi, nhưng xin để ăn thì bao giờ cũng dễ. Nội tôi là người rất thương trẻ con, nhất là trẻ con nghèo, thiếu ăn, thiếu mặc. Huống gì các cháu của bà, nghe nói đói bụng quá, là nội tôi xì tiền ra ngay.

Nội tôi vừa hỏi vừa cười: “Xin mần chi xin hoài?”

Tôi làm bộ thảm nảo:

– “Đói quá, sáng ni chưa ăn chi hết!”

Thế rồi hỏi sơ qua chiếu lệ, xong nội tôi moi túi lấy tiền. Nội tôi xếp từng xấp tiền khác nhau: Loại một trăm, hai trăm, năm trăm. Tất cả gói trong một tấm giấy nylon trong, cẩn thận. Tôi vốn khéo tay, hễ thấy nội loay hoay mở tấm nylong là tôi chọt ngay được tờ năm trăm, đủ vui chơi một ngày thoải mái cho cả bọn.

Không một đứa nào xin tiền hằng ngày. Năm thằng chúng tôi thay nhau mà xin. Năm đứa gồm có: Du, còn gọi là Lý Tiểu Long, con bà cô em gái ba tôi. Thằng nầy đẹp trai như Lý Tiểu Long nên chúng tôi đặt tên nó như vậy. Phước, Hà, con bà chị ba tôi, hai thằng nầy to con, tướng bộ đấm đá là giỏi mặc dù chưa đánh lộn bao giờ. Thằng Nam Mập là anh kế tôi và tôi, tên Nhân, con thứ ba, thường gọi là thằng Ba, là năm đứa thay nhau ghé “ngân hàng” mỗi ngay. Thằng Lý Tiểu Long xin tiền khá nhanh vì bà nội tôi rất cưng cháu ngoại, mà lại cháu ngoại đẹp trai, mặc dù, nội tôi vẫn thường ca cẩm câu: “Cháu ngoại không đoái tới mồ.”

Tôi xin tiền cũng nhanh và được nhiều vì hai lý do: Một, tôi giống chú Út, ông nầy đã tử trận. Con Út, dĩ nhiên được nội thương lắm. Mặt mũi, người ngợm tôi giống chú Út. Đó là một lợi thế. Hai, tôi hay nói đùa, vui tính như chú Út tôi vậy. “Câu bùa” tôi thường nói khi nội tôi chưa chịu chi tiền là: “Thôi, làm khó nhau chi vậy mà!” Tôi vừa nói, vừa cười. Nội tôi cũng vừa xì tiền ra vừa mắng: “Cha mày, nói hỗn với mệ. Tao “méc” ba mầy.” Thế nhưng tôi biết, nội chẳng bao giờ “méc”, vì nội ưa cái tính đùa của tôi.

Nội tôi không giàu nhưng có tiền chi đều đều vì đằng sau nội là ba “tập đoàn tài chính phố Uôn” (Wall Street). Một là ba má tôi. Ba má tôi có một hãng sản xuất xe đạp ở Bình Thới. Sau 1975, dân Bắc đi Nam ùn ùn mua xe đạp đem về quê cho le lói với làng. Món hàng đó cũng chưa bở. Chẳng hạn Bộ Nội vụ (văn phòng Saigon) đặt mua vài trăm xe đạp để đem ra Bắc. “Vật tư” họ cung cấp: Ống thép làm khung xe là ống Nhựt (từ chế độ cũ còn lại), giò-dĩa-xích-líp-bi-đạn đều hàng Pháp, hàng Nhựt, cũng hàng cũ còn lại. Ba tôi lãnh hàng về đem đổi cho chú Ba trong Chợ lớn, lấy hàng nội ráp vào xe. Chỉ chừng đó, ba má tôi đã hốt bạc.

Bà chị ba tôi, trước 1975, có cửa hàng bán phụ tùng xe hơi. Sau 1975, “Cách mạng” lấy hết vì đó là “Vật tư chiến lược”, Cô tôi quay ra bán giò chả, bánh mì, bánh kẹo Tây. Đất Saigon, từ thuở xưa đến giờ, ai đói cứ đói; ai ăn xài, cứ ăn xài, nên cô tôi vẫn sống thoải mái đều đều. Một bà cô em ba tôi nữa, trước 1975 có cửa hàng thuốc Tây, nay cũng bán giò chả bánh mì, kẹo bánh như bà chị, cũng sống thoải mái.

Bà nội tôi năm đó đã hơn 70 tuổi, ưa đi thăm con cháu cho vui tuổi già. Như trước 1975, chị B. con bà chị ba tôi, lái xe Fiat đưa nội đi. Sau 1975, nội đi xích lô. Các “tập đoàn tài chánh phố Uôn” cung cấp tiền cho nội tôi đều đều. Chúng tôi chỉ là kẻ “đến chia xẻ” với nội, cho nội đỡ buồn, chứ không thể là “bóc lột” nội. Thật đấy, bọn chúng tôi là những đứa cháu trai đẹp trai – đẹp như hột nổ – như nội tôi thường khoe với bà con. Chúng tôi vui tính, hay nói đùa với nội cho nội cười chơi! Quả thật, vui với nội, làm cho nội vui là điều chính, còn “chia xẻ tài chính với nội” là chuyện phụ. Chuyện phụ nhưng không có thì không được.

Và chúng tôi cứ trốn học, vui chơi cho đến năm đánh tư sản, mọi việc tan tác từ đây.

Ba má tôi thiệt hại nhiều nhất. Nhà máy, nhà ở bị tịch thu. Sản nghiệp coi như xong, “cách mạng giải phóng” sạch trơn. Cha mẹ tôi sống vất vả nghèo khổ như vậy để nuôi tám người con cho đến khi cha tôi qua đời, khi ông cũng còn rất trẻ, mới trên 50 tuổi. Bà chị và em gái ba tôi thì đỡ hơn. Tiệm bán giò chã, có chi mà đánh tư sản.

Bà nội tôi tuy chẳng có gì để mất mát, nhưng cuộc chiến tranh nầy, tước đoạt của bà nội nhiều lắm: Người con trai đầu, bác tôi, bị Tây giết năm ông mới 21 tuổi. Chú Út tôi, chết trận “Mùa Hè Đỏ Lửa”, năm ông 28 tuổi – 22 năm sau cái chết của người con trai đầu. Ba tôi bị đánh tư sản trở thành nghèo xơ xác và một ông chú, kế ba tôi hiện đang đi học: “Học tập cải tạo theo chính sách khoan hồng nhân đạo của đảng và nhà nước”, chưa biết ngày nào được tha ra khỏi trại tù.

Sau “đánh tư sản”, nội tôi đau đớn vì thương các con trai, nên qua đời sau khi bị “đứt mạch máu não.” Năm ấy nội tôi 74 tuổi. Bà cô chị ba tôi đưa ngay vào bệnh viện nhưng không cứu kịp. Gia đình an táng nội tôi tại nghĩa trang Vạn Thọ (hãng hòm Vạn Thọ) trên Gò Vấp, gần trại Quang Trung.

Thế rồi bốn đứa chúng tôi cũng có đứa ở tù vì vượt biên. Kỷ niệm nhớ nhất, khó quên là khi gia đình bà chị ba tôi được tha ra hết cả rồi thì còn sót lại thằng Hà, 16 tuổi, không biết nó bị giam ở đâu! Cô tôi lại làm đơn xin Công An cứu xét. Té ra thằng nhỏ bị bỏ quên trong một cái phòng nhỏ trong khám Chí Hòa. Người ta tìm ra nó và biểu về. Thằng Hà nói với cán bộ: “Cho tui xin chút muối. Sáu tháng nay tui không được ăn muối.” Gì chứ muối thì không đến nỗi là “vật tư chiến lược khan hiếm” nên nhà bếp cho ngay. Thằng Hà bỏ nắm muối sống ngay vào miệng. Nó kể lại: “Muối ngọt như đường. Chưa bao giờ tao ăn một nắm đường ngon ngọt như thế!” Nghe kể, chúng tôi cười: “Muối mà ngọt như đường; thằng ngu!” Nó chỉ cười, nói nhỏ nhẹ: “Tụi bây chưa biết đâu. Bị bỏ quên trong tù sáu tháng như tao mới biết đường với muối giống nhau như thế nào!”

Sau khi ba tôi qua đời thì có lệnh nhà nước giải tỏa nghĩa trang Vạn Thọ. Có nghĩa là phải dời mộ bà nội tôi đi.

Điêu nầy khá buồn lòng! Nghĩa trang Vạn Thọ tương đối gần. Lâu lâu, nhớ bà nội, chúng tôi rủ nhau đạp xe “Lên thăm bà nội chơi!” – Câu chúng tôi thường nói, thường kèm một chữ “chơi” theo sau. Dù “ngân hàng” đóng cửa đã lâu rồi, không còn nguồn “chi viện ngân khoản” cho chúng tôi nữa, nhưng mấy đứa chúng tôi, cháu nội, cháu ngoại, đứa nào cũng thương bà lắm! Bấy giờ dời bà nội đi xa, làm sao đi thăm được. Có lần lên thăm mộ, tôi thấy ông chú đi ở tù về đang ngồi dựa lưng vào bia mộ. Hai mắt ông đỏ hoe. Hình như ông khóc!

Thế rồi hai bà cô tôi bàn với mẹ tôi, bốc mộ nội đưa về làng nội tôi, làng Hiền Lương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ở đó đã có sẵn mộ ông nội tôi từ lâu lắm, khi ba tôi chưa cưới vợ, để hai ông bà nội nằm bên nhau cho “tình nồng ấm” , bớt “nỗi cô đơn”.

Trong mấy thằng cháu trai, tôi là đứa “có đủ điều kiện thuận lợi” để đem hài cốt nội về làng, có nghĩa là “Đưa nội về quê chồng”, như câu chúng tôi nói đùa với nhau.

Việc nầy đối với tôi hơi căng. Từ dạo “Mùa Hè Đỏ Lửa” tới giờ – năm đó tôi 12 tuổi – tôi chưa về Huế trở lại. Huế, với tôi cũng đã quên dần, nói chi tới một làng quê, tôi chưa từng đến đó bao giờ. Lại còn phải đem nắm xương nội về chôn cất ở đó.

Khi nội tôi qua đời, việc chôn cất có “hãng Vạn Thọ” lo. Quan tài, liệm, chuyển lên nghĩa trang, xây kim tĩnh, hạ huyệt, xây lăng, hãng Vạn Thọ đảm đương hết. Khiêng quan tài đem chôn thì có đạo tỳ. Bây giờ cạy hòm ra, đem hài cốt lên, thì người đảm trách việc ấy gọi là gì? Chúng tôi chịu, không biết gọi họ tên là gì? Tôi nói đùa: “Chôn là đem xuống, thì gọi là đạo tỳ. Bây giờ đem lên thỉ gọi ngược lại là “tỳ đạo”. Vậy cũng hỏi.” Chúng tôi lại cười khi tiếng búa đập vào mộ ximăng chan chát. Thật, bọn tôi chẳng có ý thức gì cả. Giả như còn ông via (cha tôi) thế nào ông cũng chưởi cho một trận.

Khi nắp quan tài vừa cạy lên xong, nhìn vào trong, thấy nội nằm ngủ. Một chốc, da thịt biến đi đâu mất cả, chỉ còn sọ và xương, trông ghê quá, chúng tôi đứng xa ra.

Thằng Du lấy cây dao lớn chặt một miếng ván hòm. Nam Mập hỏi:

– “Để làm chi?”

Du nói:

– “Về cầu cơ, cầu ngoại lên nói chuyện chơi!” (Thằng nầy là cháu ngoại.”

– “Mi biết cầu cơ không?”

Tôi nói:

– “Cứ làm con cơ đi. Tau biết câu kinh cầu cơ…”

Nói xong, tôi đọc: “Cơ huyền diệu lẽ trời khôn thấu! Kiếp phù sinh trông thấy nực cười. Còn chi tiếng khóc câu cười…” Tôi ngưng đọc.

Du nói:

– “Còn nữa chớ!”

– “Quên mất mẹ rồi.” Tôi nói. “Để mai một tau lên hỏi thím coi.” Thím là vợ chú tôi. “Chắc chị B. cũng nhớ.” Tôi nói thêm.

Nam Mập nói:

– “Mi đem miếng ván hòm ấy về nhà không được đâu! Nhà buôn bán, lỡ ế khách, mấy bà biết, chưởi cho.”

Thằng Du đem miếng ván hòm đi vào nhà quàn Vạn Thọ. Chốc nó ra, nói:

– “Tau dấu kỹ lắm, chờ thằng Ba về, tụi mình cầu cơ, nói chuyện với ngoại chơi!”

Ngó lại thì thằng Phước bỏ đi đâu mất tiêu. Thằng nầy chúa ham vui. Tôi nhớ hồi chôn nội, trong khi thầy chùa đọc kinh cầu siêu trước lúc hạ huyệt thì nó thấy có mấy con ngựa đang ăn cỏ gần đó, bèn chạy lại chọc mấy con ngựa chơi. Bây giờ bò, ngựa đều không còn. Nó bỏ đi đâu, không lẽ đi bắt bướm? Một chốc, nó quay lại, dấu mấy củ khoai mì sống trong cái áo mưa. Té ra thằng ăn trộm mì.

Khi “tỳ đạo” gom hết xương cốt bỏ vào trong cái va-li bằng thiếc, bọn chúng tôi sửa soạn về thì thằng Du lội xuống đám bùn, lấy bùn bôi quanh cái va-li thiếc còn mới do cô tôi mua. Tôi hỏi:

– “Làm chi vậy?”

– “Mày ngu!” Nó trả lời. “Mày xách cái vali mới, bọn “nhảy tàu” tưởng đựng cái gì trong đó ngon lành, nó chôm mất thì nguy. Mở ra, thấy toàn xương, nó vụt ra ngoài đường tầu, mầy biết ngoại đâu mà tìm?”

Thằng khôn thiệt. Tôi nghĩ vậy.

Thằng Du lại lùi xa mấy bước, nhìn chằm chằm vào tôi, dạy khôn:

– “Không xong. Mi ăn mặc ri, không đưa ngoại về tới ngoài! Giày Adidas, quần Jean, jacket, mũ lưỡi trai. Lột sạch, lột sạch. Bọn “nhảy tàu” lột sạch. Mi phải làm như chú bộ đội đi Kampuchia về, không đồng xu dính túi, áo quần bộ đội xốc xếch rách rưới. Chỉ còn giữ được ống thuốc Lào; chỉ còn ống thuốc Lào nghe không!”

Tôi nghe lời nó. Cả bọn đi kiếm đồ cho tôi thay. Mua rẻ cái nón cối sứt vành và đôi dép râu của ông “tỳ đạo”. Cởi jacket cho tụi nó cầm về. Tôi mặc cái áo bộ đội của thằng Du, v.v….

Xem lại cũng chưa được. Du nói:

– “Cái áo mưa nầy là của “Đế quốc Mỹ xâm lược”, “phồn vinh giả tạo”. Tụi nó thèm lắm. Tìm mua tấm nylon mà trùm vô.”

 Vậy là tôi giao cái áo mưa của ba tôi cho thằng Nam Mập, mua ngay tại cái quán nhỏ gần đó một tấm nylon cũ.

Trong khi chúng tôi loay hoay tìm đồ cũ, thay áo mũ thì thằng Phước đã chui vào hãng hòm Vạn Thọ từ hồi nào, luộc chín mấy củ mì nó vừa “chôm” được. Nó đem ra nồi khoai mì nóng hổi. Chúng tôi xúm vào, mỗi đứa một khúc mì.

Phước nói:

– “Tao nấu cho tụi bây ăn, chớ trước kia tao chưa từng ăn khoai mì bao giờ.”

Hà thì nói ngược lại:

– “Hồi nhỏ, tau cũng ăn thường. Trước kia, mấy năm ở Saigon, vài khi tao chợt nhớ khoai mì.”

Nam Mập cười:

– “Bộ mày hết cái nhớ sao nhớ khoai mì!” Rồi nó hát to lên, vẻ khoái chí: “Tổ quốc ơi! Ăn khoai mì mãi mãi. Từ trận thắng hôm nay, ta ăn độn dài dài…”

Nghe nó hát, cả bọn lại cười.

Tôi chợt nói:

– “Chết cha! Ăn nãy giờ mà quên mời nội.”

Du cười:

– “Mi mời nội cũng được. Nội ưa vui chớ chắc chi đã thèm khoai mì.”

Hà lại cười cười:

– “Tao nhớ nội ưa kể chuyện tiếu lâm. Có lần nội đang ăn nghe chuyện vui mà cười, nghẹn, thở không nỗi, má tao hoảng hồn.”

Du cười:

– “Chuyện đó tao nhớ rồi. Cả nhà đang ăn cơm, có con ở vô thưa với bà chủ: “Thưa bà, em ỉa.”

Ông chủ giận quá! đứng dậy chỉ mặt con ở mắng: “Đồ ngu! Đang ăn mà nói chuyện ỉa. Tao đập cho văng cứt bây giờ.”

Cả bọn tôi cười ha hả.

Du lại kể tiếp:

– “Có anh chồng đi làm về, vợ dọn cơm ra. Đang ngồi ăn, bỗng đứa con lớn nói với mẹ:

– “Má ! Em ỉa.”

Bà mẹ liền rầy con:

– “Im, để ba mầy ăn!”

Du cười nói tiếp: “Ba mầy ăn cái gì! Ai hiểu sao thì hiểu.”

Cả bọn tôi lại cười.

Thằng Phước hát đùa:

– “Em đưa nàng về dinh. Ba đưa bà về dinh! Nhân đưa… bà nội về dinh.”

Cả bọn lại cười.

Một chốc, bớt đùa, Nam Mập nói:

– “Thôi, tụi bây mất dạy quá, dám dỡn mặt với bà nội.” Rồi nó quay qua tôi: “Mày chuẩn bị mà đi cho rồi!”

Tôi ôm cái va-li, đứng lên.

Thế rồi Nam Mập chở tôi ra ga xe lửa Nguyễn Thông. Khi tới nơi, anh Khuê chồng chị B. đưa cho tôi vé xe lửa đi Huế. Chuyến xe sẽ khởi hành lúc 10giờ đêm. Ôi! lại một chuyến  “Tầu đêm năm cũ”, nhưng xem ra tôi chỉ mới đi lần đầu.

Qua một chuyến tầu dài hơn 30 giờ đồng hồ, tôi tới ga Huế. “Chuyến tầu thống nhất” chỉ thống nhất có một điểm: Ngủ ngồi. Ai cũng ngồi mà ngủ. Đâu đủ chỗ để người ta có thể đặt lưng xuống được.

Mà lạ nhỉ? Gần hai ngày ngồi trên tầu, cái va-li thiếc khi thì để bên cạnh, khi tôi ôm trong tay, có bao giờ thấy cái va-li nặng đâu. Vậy mà bây giờ, chỉ một khoảng ngắn từ cửa xe ra tới cửa soát vé, sao nó lại nặng thế. Hay tại tôi mỏi mệt suốt chặng đường dài nên thấy nặng? Hay tôi bị ảo giác? Tôi vươn tay coi thử. Tay tôi có đau đớn gì đâu! Tôi cúi xuống xách cái va-li lên. Sao lại nặng vậy hè? Không lý ai lén bỏ cục sắt hay cục đá vào va-li. Đâu có thế được! Tôi giữ va-li không rời một giây một phút, đâu có ai lén bỏ cái gì vào được? Nhưng người ta lén bỏ sắt đá vào va-li làm gì? Tôi lại thử một lần nữa. Nặng! Nặng thật, nặng gấp ba gấp bốn hôm đầu. Không lý xương cốt bà nội tôi hấp thụ nước nên thành nặng. Bậy! Hơi nước trong va-li đâu có bao nhiêu mà hấp thụ vào. Tôi rán sức xách cái va-li ra ngoài cửa ga, rồi tôi ngồi xuống gần bậc thềm, dựa lưng vào vách, để cái va-li bên cạnh.

Bất chợt! Tôi nghĩ ra: Thôi! Không muốn về quê chồng đây! Muốn ở lại với con cháu đây. Tôi khấn thầm, cũng bằng một “câu bùa” như ngày xưa tôi thường đùa với nội: “Làm khó nhau chi! Khổ quá rồi mà!” Nhưng tôi lại sực nghĩ nói với nội như thế là hỗn. Hồi còn sống, nội đã mắng tôi là hỗn, đòi “méc” với ba tôi. Tôi cười một mình, nói thầm, không phải với tôi mà như nói với nội: “Về đây rồi, nội có muốn trở về trong nớ cũng không được. Về đây có “ôông” (ông nội tôi), có ba (ba tôi), có chú Út, có o (cô) Nhớ… cũng đông vui chán. Ở trong đó nằm trong nghĩa địa một mình, chắc chi tụi nó lên thăm nội đều đều. Mai mốt, bọn cháu chắt nầy, không chừng có đứa chết, lại đưa về đây, lại “đông dzui hao” nghe nội. Đừng “làm khó nhau nữa” nghe nội.”

Nói xong, tự dưng tôi cho rằng câu nguyện của tôi có linh nghiệm. Tôi nghĩ:  “Thử coi.” Và tôi ngồi tại chỗ, thử nhấc cái va-li lên. Nó nhẹ bưng, như khi lần đầu tiên vậy. Tôi mừng quá, vẫn ngồi dựa lưng vào vách tường, đạt cái va-li lên hai đùi tôi. Rồi tôi chồm tới ôm sát cái va-li vào lòng, nói thầm và cười thầm: “Nội dễ thương quá! Con thương nội quá! Con thương nội quá!” Rồi nước mắt tôi chảy xuống hai má!

Ngay hôm đó, do sự sắp đặt trước của cô tôi, liên lạc và gởi tiền về cho bác Búa chuẩn bị sẵn, có chiếc xe Honda đưa tôi và cái va-li về làng, ngày hôm sau đưa lên “Rú”. Rú là nghĩa trang của làng tôi. Từ làng tôi, đi băng qua làng Cao Bang ở bên cạnh, lội qua một con suối, để lên nghĩa địa. Ở đó, các cô tôi đã gom một khu đất, quây quần các ngôi mộ của ông, ba tôi, chú Út, o tôi…

Trong suôt quãng đường về làng, tôi vẫn khư khư ôm cái va-li trong tay, không giao cho ai khác. Vậy nhưng, khi lội qua con suối ranh giới giữa làng Cao Bang và rú làng tôi, nước lên quá đầu gối, tôi đưa cái va-li nội tôi cao lên. Bỗng cái va-li nặng trở lại. Có kinh nghiệm sẵn, tôi lại vái thầm: “Thôi nội ơi! Về tới nơi. Nội sắp gặp “ôông” và các con rồi. Nội vui lên đi.” Thế rồi bỗng cái va-li nhẹ dần đi, như một cái xô nước đầy, bỗng càng lúc càng nhẹ vì cái xô bị thủng đáy, nước chảy ra hết.

Lên tới huyệt, các bác đã để sẵn một cái tiểu (cái hòm nhỏ) mở nắp. Họ mở va-li lấy xương trong đó ra, sắp lại theo đầu minh chân tay của một người, sau khi đã rửa sạch xương bằng rượu.

Tôi đứng nhìn, hờ hững. Rồi đưa mắt nhìn quanh. Một vùng rú hoang hiu quạnh, cây thưa thớt, cao chưa quá đầu người. Và gió bấc từ hướng Đông Bắc – hướng phá Tam Giang – thổi về lạnh buốt. Tôi kéo tấm nylon che kín người lại cho bớt gió lồng vào người, đỡ lạnh hơn.

Vậy rồi mai đây, trên vùng đất hoang đầy những nấm mồ hoang lạnh nầy, nội ở lại đây, bên chồng, bên con, nhưng chắc chi nội không buồn, không nhớ những đứa cháu của nội ở miền Nam xa xôi mù mịt. Cũng chưa chắc có đứa nào sẽ về thăm nội, nhất là trong cảnh mưa phùn gió bấc lê thê mù mịt của một miền đất rất gần mà rất lạ lẫm, trong những ngày đông tháng giá như vầy!

Hôm sau, từ Huế, tôi gọi điện thoại cho Nam Mập, anh tôi. Nó hỏi:

– “Xong chưa mầy?”

– “Xong rồi!” Tôi trả lời.

– “Mai mầy về chưa?” Nam Mập hỏi.

– “Chưa.”  Tôi lại trả lời.

– “Sao vây? Tụi tao chờ mầy về cầu cơ!” Nam nói.

– “Tao chưa về. Mai tao phải về làng thăm nội một lần nữa, tao mới về”. Tôi trả lời.

– “Tùy mày! Nhớ về sớm!” Nam Mập nói. Xong nó cúp máy. Tôi cũng bỏ điện thoại xuống.

Tôi nghĩ tới chuyện ngày mai tôi sẽ đạp xe đạp về thăm nội. Phải thăm nội một lần nữa, bỏ về ngay không đành. Thương nội quá! Trên vùng rú hoang vu đó, gió bấc lạnh lắm. Nằm lại đó, bên cạnh nội là “ôông”, và các con nội. Nhưng nội còn nuối gì ở miền Nam. Các cháu của nội. Nội thấy đó là tương lai của giòng họ. Không nhìn lại dĩ vãng, nhìn tới tương lai và mong cho con cháu mình có một đời tươi sáng, một tương lai tốt đẹp là hoài vọng của người già. Chết là về với ông bà, tổ tiên. Điều đó đã rõ. Người già không có gì phải thắc mắc. Nội biết thế, nên khi hấp hối, trước khi hoàn toàn bất tỉnh, câu nói cuối cùng của nội là “Mạ ơi! Mạ chờ con với!” Rồi nội không biết gì nữa cả. Thế là nội đã về, mà nội biết chắc là nội về với mẹ. Nhưng nội còn thương bầy cháu của nội, chính là vì vậy nên nội trì cái va-li xuống, làm cho nó nặng hơn.

Tôi sẽ đạp xe đạp từ Huế, theo đường số 1, lên phía Bắc, trong giá lạnh mùa đông, trong cơn mưa phùn da diết kéo dài từ ngày nầy qua ngày khác, trong ngọn gió bấc lạnh lùng. Sau đoạn đường quốc lộ dài dằng dặc ấy, qua khỏi cầu An Lỗ một đoạn khá xa, tôi quay về phía đông, đạp xe tiếp,  qua một vùng rú hoang, tôi sẽ tới gần làng Cao Bang, nơi các ngôi mộ gia đình tôi quây quần ở đó. Tôi sẽ ngồi bên mộ nội, vuốt lên tấm bia xi măng mới dựng, nói với nội vài lời. Rồi tôi sẽ đạp xe quay trở về lại Huế. Đường về, xuôi gió, xe sẽ chạy nhẹ hơn. Nhưng nội đừng vì thương nhớ bầy cháu của nội mà trì kéo xe đạp của thằng Ba nầy lại nội nhé. Nội hãy cho nó về miền Nam với gia đình và anh em nó.

Và tôi bỗng chợt cười. Đừng có vì mộ nội nằm bên cạnh ba mà nội “méc” với ba là “Thằng Ba nó hỗn hào”. Không! Con chỉ nói đùa thôi mà nội, nói đùa thôi, như câu thường nói với nội vậy: “Thôi mà! Làm khó chi nhau vậy hè!” Và tôi bỗng cười thầm khi nói thầm lại câu nói đùa đó.

Hoànglonghải

Đại úy khinh binh

hungviet.org

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

07 Nov 2010

Post by Sơn râu 29 Dec 2023

Tháng 6 năm 1976, tôi lại bị đưa đi, chưa biết đi đâu. Lên xe Molotova lần nầy thì vẫn đông, nhưng những bạn bè cũ từ Trảng Lớn ra đi thì rơi rụng cũng nhiều, phần đông đều được đi “thăm lăng “bác” Hồ”. “Ăn theo” tôi kỳ nầy chỉ còn Đào Sơn Bá, đại úy cảnh sát đặc biệt; Trần Phú Trắc, đại úy chỉ huy trưởng cảnh sát Nhà Bè; Huỳnh Văn Khánh, đại úy quân cảnh, biệt phái làm giáo sư trường trung học Bình Chánh. Kỳ chuyển trại nầy cũng khá kỹ, có nghĩa là mui xe đóng bít bùng, chẳng thấy được gì bên ngoài cả. Cuối xe, một anh vệ binh cầm Aka đạn đã lên nòng. Thấy anh đóng khóa an toàn nên tôi đoán chừng vậy. Người trong xe chật ních, lẫn lộn với hành trang, không nhúc nhích gì được.

Dù ở trong xe bít bùng nhưng vài anh em đoán hướng xe chạy, nói to “Về Saigon! Mấy ông ơi!” Biết là về Saigon nhưng người nào ngu lắm mới hy vọng được đem về Saigon để tha.

Xe chạy khoảng gần nửa ngày thì ngừng, mở mui và có lệnh xuống. Nhìn quanh, có người nói to: “Trại Suối Máu”. Lần đầu tiên tôi nghe hai tiếng Suối Máu. Ghê thật! Máu chảy thành suối! Trận đánh nào xảy ra ở đây mà ghê thế! Lịch sử hai tiếng Suối Máu như thế nào?! Té ra tên Suối Máu nầy có từ lâu. Trước 1975, đây là trại tù binh Cộng Sản.

Đường từ cổng đi vào phải đi qua ba khu trại giam 1, 2 và 3 bên tay trái. Một số “tù cải tạo” ra đứng sát hàng rào nhìn chúng tôi. Có người quen biết từ trước nhận ra nhau nhưng không dám gọi to cho nhau. Bên tay phải là nhà thờ, chùa. Dĩ nhiên, “tù cải tạo” không ai được đi nhà thờ, đi chùa. Còn cán bộ Cộng Sản thì đã được giáo dục rằng “tôn giáo phản động”. Có ai đi lễ bao giờ. Hồi ở trại Trảng Lớn, Phan Hải thường lên khu bộ đội chơi, cho biết có một anh trung úy bộ đội theo đạo Thiên Chúa. Anh ta có cái thánh giá nhưng phải dấu tuốt dưới đáy ba-lô. Anh ta sợ bị đồng đội phát hiện! Dĩ nhiên. Anh ta dấu đồng đội nhưng không dấu với “tù cải tạo”.

Anh em chúng tôi được đưa vào một khu mới: Khu 4. Trước 1975, chỗ nầy là khu thể thao. Bây giờ “trường cải tạo” phát triển nên khu thể thao biến thành khu nhà giam “cải tạo viên”. Gần một chục gian nhà “tôn” ở đây mới được nhà thầu dựng lên, cái nằm ngang, cái nằm dọc, trông hơi giống khu lao động Saigon cũ, tuy nhà tôn ở đây có dài hơn. Gian nhà “tôn” đầu tiên cách riêng với toàn bộ khu nhà bằng một hàng rào chăng giây kẽm khá kỹ. Bên kia là gian bệnh nhân. Một người nằm trên giường, bụng to như bụng trâu. Người ta nói là bệnh cổ trướng; có người gọi là viêm gan. Cổ trướng và viêm gan có bà con gì với nhau?! Tôi mù tịt về y khoa! Một người đứng sau tôi, có lẽ tới đây trước tôi mấy tháng, nói: “Ông nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đó.” Có người à lên một tiếng vui mừng! Người vừa nói tỏ ra rành chuyện: “Bác sĩ nói chắc không qua khỏi. Kim Cương có lên thăm ông ta!” Nguyễn Uyên, họa sĩ, đứng bên tôi nói: “Bác sĩ Việt Cộng thì biết gì. Khám tầm bậy không!” Người lúc nãy cải chính: “Bác sĩ của mình, không phải “Cách mạng”. Có anh chưởi thề: “Cách mạng cái con c…” Nói xong anh ta cười hề hề. Mấy người khác cũng cười theo… Thấy vui vui, tôi bỗng hát hơi to một chút, cũng mong ông nhạc sĩ nghe được cho vui: “Chiều mưa biên giới anh đi về đâu…” Nguyễn Thụy Hiền, đại úy giải ngũ, từ quân lao Gò Vấp được tha hai năm nay, người tôi mới quen, nói đùa: “Anh hát tầm bậy không! Sao lại “đi về đâu”. Anh phải hát “Chiều mưa biên giới anh đi về … đây!” Đang nằm chình ình ở đó mà còn hỏi “đi về đâu” nữa. Không chừng về dưới đó.” Họa sĩ Nguyễn Uyên, đại úy cục Tâm Lý Chiến, cự nự: “Người ta sắp chết mà mấy ông còn đem ra đùa. Bậy! Bậy quá.” Mọi người tản đi.

Người miền Nam có nhiều cái buồn cười. Tình nguyện đi lính, chọn những binh chủng thật dữ: Cọp Ba Đầu Rằn, Trâu Điên, Nhảy Dù, v.v… nhưng lại phản chiến hay thích phản chiến. Ngay “Hùng móm” em tôi cũng vậy. Ra trường, cố chọn cho được Nhảy Dù, sợ bị người ta chê, không cho đi Dù. Mậu thân, “loon” thiếu úy mới toanh, đánh một trận nổi tiếng gan lì ở Vạn Kiếp rồi về giữ Bộ Tổng Tham Mưu ở trại Trần Hưng Đạo. Tôi cũng mới nhập ngủ, lính mới tò te ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, cuối tuần đi phép. Hai anh em đi dạo phố Lê Lợi, Hùng ghé quán nhạc mua một tập nhạc của Trịnh Công Sơn vì trong đó có bài “Cho Một Người Nằm Xuống”, một bài hát phản chiến, Trịnh Công Sơn khóc Lưu Kim Cương. Trước khi nhập ngũ, Hùng rất thích hát những câu như “Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng…” Hà Thanh hát những bài hát nầy của Nguyễn Văn Đông thì tuyệt, trước nay chưa ai bằng. Nhưng thằng em út của tôi cũng “mâu thuẫn không ai bằng”

Nguyễn Thụy Hiền hỏi tôi:

– “Anh Hải, người ta nói Kim Cương hoạt động cho Cộng Sản có phải không?”

– “Hoạt động mẹ gì!” – Tôi nói. “Con mẹ ấy chính cống là Việt Cộng. Hồi Nguyễn Văn Đông làm chánh văn phòng hay bí thư gì đó cho tướng Là, nó bắt cặp với Nguyễn Văn Đông để vào ra Tổng Nha Cảnh Sát lấy cắp tài liệu chuyển ra bưng. Sau nầy nó cặp với Nguyễn Mâu, cũng để làm cái việc tình báo đó.”

Hiền hỏi:

– “Ông Mâu nầy làm gì?”

– “Trưởng khối Đặc Biệt ở Tổng Nha. Ông biết không, mấy thằng chả nầy ngu lắm.” Tôi nói.

– “Ngu sao?” Hiền hỏi.

– “Thằng cha Mâu khoe với nhân viên ông ta có con cu bự nên Kim Cương mê lắm. Té ra nó có cần cu đâu! Nó vào ngủ với thằng chả ngay trong Tổng Nha là để chôm tài liệu. Thằng chả cứ nghĩ vì cái củ cải mà nó mê. Mất nước là phải!” Tôi giải thích.

– “Anh làm cảnh sát ở dưới ruộng không, sao mà biết rõ trên nầy vậy?” Hiền nói.

– “Hồi đó thì ai biết gì. Sau 30 tháng Tư mọi chuyện mới tá hỏa ra. Một đám ở Trảng Lớn với mình là sĩ quan khối Đặc Biệt. Mấy ngày sắp đứt phim, tụi nó ngồi đốt tài liệu mà khóc. Coi như thế là xong! Tới đó trong Tổng Nha nhiều ông mới lộ ra nhiều điều mà trước nay câm như hến. Người ta sợ mấy ông lớn ghét, trả thù.” Tôi giải thích.

– “Vậy chớ Kim Cương tình nghĩa gì mà lên thăm Nguyễn Văn Đông!” Hiền lại hỏi.

– “Lòng con người ta phức tạp lắm, không biết hết được. Yêu nhau mà coi thường nhau, lợi dụng nhau. “Trong khi chắp cánh liền cành mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.” Đọc xong câu Kiều, tôi cười.

Tới đó, Hiền mới tin tôi. Thật ra, Hiền nhỏ hơn tôi ít ra cũng gần mười tuổi, thấy tôi hay làm thầy bàn nên tin tôi lắm. Bàn trật hay trúng nghe cũng… vui.

Ở trại “tù cải tạo” nầy có nhiều điều thật buồn cười đến đau xót. Cả chục gian nhà nằm trong vòng rào thứ nhất. Nhà cầu, nhà xí hay cầu tiêu, gọi thế nào cũng được là nằm trong vòng rào lớn, nhưng lại ngoài vòng rào nầy. Khi đi cầu, anh em ít khi dùng giấy lau đít vì kiếm không ra. Có trường hợp như anh Bùi Thành Trai được quản giáo khen là người chịu khó nghiên cứu triết học Mác-Lênin vì anh đã nhờ quản giáo mua một lượt mấy cuốn sách nói về chủ nghĩa Cộng Sản. Anh ta có nghiên cứu gì đâu! Khi quản giáo khen, cả đám đang đứng trong hàng cười rúc rích. Anh ta mua sách để lấy giấy làm cái việc vệ sinh ấy. Anh em khác không có tiền hay tiếc tiền thì mỗi lần đi cầu xách theo một cái loon sắt hay một cái chai bia lớn đựng nước. Thấy người ta xách cái chai đi ngang qua, họa sĩ Nguyễn Uyên nói đùa với tôi: “Đi nhậu! Xách bia đi nhậu đấy!” Nói xong, Nguyễn Uyên cười hề hề! Nham nhở.

Ra tới cổng hàng rào trong, người ta đứng lại, ở tư thế “nghiêm”, bỏ cái chai xuống đất, cất mũ, ngó lên cái chòi cao, có “chú bộ đội” chưa đầy 20 tuổi, ngồi canh trên đó, nói lớn:

– “Báo cáo anh! Tôi đi ngoài.”

Khi còn do bộ đội quản lý trại giam, “tù cải tạo” gọi bộ đội bằng anh, dù là sĩ quan cũng vậy. Ở trại do Công An quản lý, không được gọi bằng anh, phải gọi là cán bộ. Cấp chỉ huy thì gọi bằng ban, có nghĩa là ban tham mưu hay ban gì đó, không phải là ban cua hay ban sởi (bệnh sởi).

Gặp “chú bộ đội” dễ tính thì chờ anh ta trả lời “Đi đi” thì mới đi. Chưa có lệnh đi mà đã đi có thể bị khiển trách, bị mắng, bị đuổi vào hoặc bị dọa bắn… Chỉ dọa thôi chớ chưa bắn lần nào. Gặp “chú bộ đội Bắc kỳ” từng “đứng lên đánh đổ bọn cường hào ác bá” thì “chú bộ đội” sẽ có thái độ không khác gì với giai cấp đã từng bị đánh đổ. “Chú bộ đội” bắt bẻ:

– “Đi đâu mà gọi “nà” đi ngoài. Muốn trốn trại hả? Đi ỉa thì báo cáo “nà” đi ỉa. Nhớ không?”

Anh “tù cải tạo” nói “Báo cáo nhớ”. Thế là được nghe hai tiếng “Đi đi!”. Anh ta đội nón lên đầu, cái chai cầm tay đi ra nhà cầu. Khi đi cầu xong rồi, về gần cổng, cũng phải đứng lại, thế “nghiêm”, bỏ mũ và cái chai không xuống, quay mặt về hướng chòi, nói “Báo cáo anh! Tôi vào”. Chờ “chú bộ đội” bảo “Vào đi!” mới được vào. Gặp khi “chú bộ đội đang ngủ gà ngủ gật, không nghe “Báo cáo” thì người đi cầu đứng nghiêm chờ cũng… hơi lâu!

Gặp “chú bộ đội” nhiễu sự, nếu báo cáo là “Đi ỉa” hoặc đi cầu, “chú” lại bắt bẻ:

– “Ăn nói gì mà bất “nịch” sự thế”. Không được “lói” “nà” đi ỉa. Phải gọi “nà” đi ngoài. Nghe không?”

Thế là hơi nghịch với “chú bộ đội” kia nhưng anh “tù cải tạo” cũng cứ “Báo cáo anh! Tôi nghe!” không cần thắc mắc. Thế cho xong để được đi.

Anh bạn Cường của tôi gặp trường hợp khá buồn cười. Tại anh ta đãng trí hay hôm đó bị tào tháo đuổi gấp quá nên khi “Báo cáo anh”, anh bạn tôi quên… cất mũ. Vậy là “chú bộ đội” nổi sùng vì cái tội vô lễ. “Chú bộ đội” “giáo dục” việc vô lễ không cất mũ bằng cách:

– “Đứng đó, không đi đâu hết!”

Anh bạn tôi đành đứng đó, như trời trồng, mặt mày nhăn nhó, khó chịu, vặn vẹo thân mình. Anh ta chẳng dám đi ra mà cũng chẳng đi vào vì “chú bộ đội” bảo “đứng đó”. Hồi lâu, “bài học tập giáo dục” đứng nghiêm tại chỗ chấm dứt. “Chú bộ đội” nói:

– “Đi đi!&rdquo

Anh bạn tôi bèn nói:

– “Báo cáo anh, tôi xin vào đi… tắm.”

Nói xong, không cần “chú bộ đội” nói thêm gì nữa, anh ta ba chân bốn cẳng chạy nhanh ra giếng, mượn gầu của người ta đang múc nước ở đó mà dội ào ào lên người, không cần cỡi quần áo.

Câu chuyện anh ta xin vào đi… tắm trở thành đề tài cho anh em vui cười. Có lần, Cường bực mình nói:

– “Đ. Má nó. Tao hận cái thằng bộ đội nầy suốt đời.”

Không biết về sau, nếu khi Cộng Sản hô hào “Hòa hợp hòa giải”, anh ta có thể quên câu chuyện ỉa… trong quần để hòa hợp với họ được không!?

Nhà cầu nầy mới xây, theo kiểu Tây, nghĩa là chỗ ngồi thì trên cao, phân người rơi vào những cái thùng sắt đặt bên dưới. Hằng ngày, những cái thùng phân ấy được lôi ra, đổ xuống hố, vài ba tuần, có khi phân chưa hoai thì đã được moi lên, đem bón rau muống để làm giàu quê hương, xây dựng “xã hội xã hội chủ nghĩa”.

Chúng tôi được chia thành từng đội ở trong các nhà số 2, số 3, số 4, v.v… Nhà 1 đã có người ở trước, tại đây có hai “nhân vật” đặc biệt, một là “Hùng Con”, dân “Bắc Kỳ ri cư”, như người ta thường đùa với nó, hai là Quảng Què, dân Saigon lâu năm, nhân vật nào cũng có sự tích lạ lùng như sau:

Gọi là Hùng Con vì anh ta nhỏ tí chút, cỡ bằng đứa bé 11 hay 12 tuổi, nhưng theo anh ta thì anh đã lớn tuổi. Có lần anh ta nói:

– “Em cháu mới lấy chồng!”

– “Uở, mầy chừng đó mà có em gái lấy chồng. Sao nó lấy chồng sớm thế?” – Có người hỏi.

– “Không! Cháu lớn rồi, cháu gần 20 tuổi, bởi vì “Mỹ Ngụy” nó chích thuốc làm cho cháu không lớn để cháu dễ đi vào những chỗ đánh nhau lấy tin cho họ nên cháu mới nhỏ con vậy.” Hùng Con giải thích.

Lắm người không tin, mắng nó:

– “Mày nói tằm bậy! Mỹ Ngụy nào mà làm thế. Người ta thiếu gì phương tiện tình báo.”

Hùng Con nói:

– “Thật ra thì cháu cũng không biết đâu! Khi “cách mạng” bắt cháu điều tra, họ nói vậy nên cháu tin như vậy!”

Có người nói to, cười:

– “Chết cha rồi! Tin Việt Cộng là đời mày tiêu luôn. Mày ở tù là phải.”

Hùng Con láu cá nói:

– “Cháu thì bị bắt còn mấy chú thì đóng tiền để được đi ở tù.”

Thấy nó nói vậy, nhiều anh em bỏ đi. Có người nói: “Thằng láu cá!”

Thật ra thì Hùng Con có làm tình báo cho Sư Đoàn Dù. Hồi Mậu Thân, nó khoảng tuổi giống như tuổi người ta đoán bây giờ, được một đơn vị Dù nào đó đang hành quân ở An Phú Đông nhờ nó đi vào xóm nhà dân, giả làm người chạy nạn để dò xét binh lính Cộng Sản còn núp lén trong đó. Hùng Con hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, được thưởng tiền, được giới thiệu về sư đoàn để tiếp tục công việc do thám ở nhiều nơi khác, giúp cho Dù nhiều trận đuổi Việt Cộng chạy có cờ. Hùng Con được phong làm “Hạ Sĩ Danh Dự” và được tướng Dư Quốc Đống nhận làm con nuôi. Đấy là anh ta nói vậy, không biết trúng trật vào đâu nhưng có điều thật là sau ngày 30 tháng Tư, Hùng Con bị bọn Việt Cộng nằm vùng tố cáo. Bộ Đội tới tận nhà bắt Hùng Con đi điều tra, xong cho vô tù, trại Suối Máu.

Hùng Con có một màn biểu diễn rất hay làm mọi người để ý, thích thú. Tối tối, Hùng Con sang các nhà khác chơi, xin một điếu thuốc lào. Thằng bé 11 tuổi hút thuốc lào thành thạo như một dân ghiền điệu nghệ. Nó cầm cái điếu, thổi vào nõ cho tàn thuốc còn sót lại bay ra; xong, hai ngón tay nhỏ của nó xe xe viên thuốc lào cho thật tròn, gọn, đặt vào nõ. Nó lấy ngón tay ém viên thuốc cho chặt, một tay thì cầm đóm lửa đang cháy, một tay từ từ đưa cái điếu lên miệng, đặt ngay ngắn vào giữa hai hàng môi. Nó rít một hơi thật dài. Ngọn lửa bị sức hút kéo vào nõ, đốt cháy hết thuốc trong nõ. Tiếng nước trong điếu kêu lên sọc sọc, dòn dã. Xong, Hùng Con đặt điếu xuống, nhẹ nhàng nằm ngữa người xuống chiếu, nhắm mắt lim dim. Có người nói to: “Phê! Nó phê (1) rồi đó.” Hùng Con vẫn nhắm mắt, miệng nở nụ cười thật tươi. Nhìn nó, ai cũng vui và lần sau, Hùng Con chưa kịp xin, người ta đã gọi nó cho thuốc hút. Không chắc người ta thương nó, nhưng người ta muốn xem một hoạt cảnh ngộ nghĩnh. Một thằng bé 11 tuổi hút thuốc điệu nghệ còn hơn cả người lớn, những anh mới tập hút thuốc lào. Người lớn có thể say, có lần té vì đứng dậy khi vừa hút xong. Hùng Con thì khác. Kéo xong hơi thuốc lào, bao giờ nó cũng nằm ngã xuống chiếu, nhắm mắt để thưởng thức cái “phê” của thuốc lào.

Khỏi đi lao động, hằng ngày Hùng Con vui chơi từ nhà nầy qua nhà khác. Đôi khi Hùng Con cũng thuật lại những trận đánh ngày trước Hùng Con có tham dự, nhất là những trận đánh hồi tết Mậu Thân. Có khi, Hùng Con kể “Việt Cộng nằm chết đầy đường, máu chảy lênh láng. Không có chỗ để cháu đặt chân đi qua. Cháu sợ muốn chết, nhưng cháu vẫn đi. Đã có lệnh sai đi thì cháu đi.”

Có lần, một anh chàng tinh nghịch nói:

– “Mầy nói mầy hai mươi tuổi. Mầy nói láo. Để tao coi cu mầy có lông chưa.” Nói xong, anh ta xông tới. Mọi người cười hô hố, hưởng ứng. Hùng Con giận, bỏ đi. Không bao giờ Hùng Con trở lại nhà đó vì “mấy chú bất lịch sự.”

Một năm sau, khi tôi rời trại đi nữa thì Hùng Con vẫn còn đó. Có người nói “Không thể giam tù một thằng bé con lâu như thế!” Có người lại nói: “Việt Cộng mà lớn bé gì. “Lao động là vinh quang” tuốt, chẳng chừa thằng nào.”

Nhân vật thứ hai là Quảng Què. Gọi như thế vì anh ta tên Quảng và què một chân. Anh nầy tuy lớn tuổi nhưng không lễ phép như Hùng Con. Với ai Hùng Con cũng gọi bằng chú, bằng bác và xưng cháu. Quang Què chẳng thèm gọi ai bằng anh hoặc bằng ông. Anh ta cứ gọi trổng: “Ê! Xích ra!”, “Ê! Đưa đây!”, tùy theo trường hợp. Anh ta làm như mọi người đều có chung một cái tên “Ê”

Quảng Què thuộc thành phần thương phế binh, giải ngũ từ trước 1975, khi cái thời huy hoàng của thương phế binh được “anh râu kẽm” (2) ủng hộ, xúi dục đã qua. Tuy nhiên, cái dư âm thương phế binh biểu tình, giành đất, làm nhà, đòi hỏi nọ kia khiến người ta ngán vẫn còn. Với cái “hào quang” đó, Quảng Què trở thành cái bang ở chợ Thái Bình, ngang ngược lắm, ai cũng sợ.

Sau ba mươi tháng Tư, anh ta xoáy đâu đó được một cái ví trong chỉ có ít tiền và một cái Chứng Chỉ Tại Ngũ tên là Nguyễn Quảng, cấp bậc đại úy. Họ tên thì trùng với anh ta, nhưng cấp bậc chức vụ thì không. Trước khi bị thương và bị cưa chân, cấp bậc của Quảng Què là binh nhì, chức vụ là … khinh binh. Anh ta nhớ mang máng như vậy.

Mới đứt phim (3) được nửa tháng, anh ta đang hành hiệp ở chợ Thái Bình, giựt cái bót của một chị phụ nữ. Chị ta hô hoán lên. Mấy “chú bộ đội” cùng mấy chú “cách mạng ba mươi” (4) bắt Quảng Què đem về trụ sở phường.

Cán bộ hỏi:

– “Anh là lính ngụy, có giấy tờ gì không? Nếu thật là lính ngụy sẽ được đưa đi học tập.”

Nghe nói “học tập” Quảng Què nghĩ ngay tới quân trường, chỗ đó anh ta có đi học và học lâu hơn ở nhà trường khi anh ta còn nhỏ. Ở quân trường thì lính ăn uống cực khổ, ngày nào cũng chỉ có cơm, cá mối, rau muống luộc hoặc canh su, canh cải. Nghe nói người ta học ra sĩ quan ăn uống sướng hơn. KBC Thủ Đức sang hơn nhà hàng. “Bốn người một mâm”. Thịt gà, thịt heo, thịt bò ê hề (5). Vì vậy, Quảng Què chìa ngay ra cái Chứng Chỉ Tại Ngũ của đại úy Nguyễn Quảng.

Cầm cái Chứng Chỉ Tại Ngũ, cán bộ hỏi:

– “Anh tên là Nguyễn Quảng?”

– “Dạ! phải!”

Cán bộ lại hỏi:

– “Cấp bậc đại úy?”

Quảng Què cũng ừ luôn để được “đi học” chung với sĩ quan cho được ăn uống sung sướng, đầy đủ. Thế là anh ta bị đưa vào trại Suối Máu. Tới đây thì Quảng Què mới biết mình đi ở tù. Tù Việt Cộng thì khổ sở không thể nào kể xiết. Vậy là Quảng Què có ba bốn mối hận: Hận ông trời bắt anh ta què, hận chế độ cũ bắt anh ta đi lính, hận dân chúng hô hoán khiến bộ đội đến bắt anh ta đi tù, hận “cách mạng” đã bỏ tù anh. Anh ta kêu oan rằng anh chỉ là binh nhì, không biết tại sao người ta ghi anh là đại úy. Bộ đội ghi nhận, cho rằng anh khai dối với “cách mạng”. Tội khai gian là tội lớn nhưng cũng hứa sẽ giải quyết. Sẽ có nghĩa là việc chỉ có thể xảy ra ở thì tương lai, còn khi nào thì chưa “cụ thể”. Hai năm rồi mà thì tương lai vẫn chưa tới.

Tuy vậy, anh ta cũng được “cách mạng” chiếu cố hơn. Trước hết là kêu lên làm việc, giao công tác theo dõi những phần tử phản động, phát biểu linh tinh, âm mưu trốn trại, v.v… “Cách mạng” sẽ khoan hồng cứu xét, sớm cho về sum họp với gia đình. Không biết Quảng Què có thực hiện công tác gì không nhưng lời hứa thì coi như hứa… chùa. Hai năm rồi, chưa thấy gì

Buổi chiều, dãy nhà bếp chỉ còn lại vài ba anh em lui cui hâm nấu món ăn gì đó trên những cục than đang tàn dần trong bếp, Quảng Què, tay cầm nạng, tay cầm gầu nước, không nói một lời báo động cho ai, tạt nước vào bếp cho lửa tắt hẵn. Nước tạt vào tro than nóng kêu xè một tiếng lớn, làm bụi bay lên mù mịt. Có người bỏ đi, cũng có người cự nự. Quảng Què không những không những thấy mình sai còn chưởi thề, nói năng thô lổ. Thấy thái độ Quảng Què như vậy, người ta cũng đành thôi. Người ta biết Quảng Què chẳng biết phù thịnh phù suy gì chi rắc rối. Những người chung trại với anh bây giờ là ngang hàng với cấp chỉ huy của anh ta ngày xưa. Ngày đó, anh sợ họ khiển trách, trừng phạt, v.v… Bây giờ họ sa cơ thất thế, anh ta làm vậy cho bỏ ghét. Chỉ là bỏ ghét! Cái ghét đó được “đường lối và chính sách” của “cách mạng” “bồi dưỡng” thêm cho thật sâu sắc và triệt để..

Lần thăm nuôi đầu tiên, Quảng Què cũng gởi thư về cho vợ, bảo lên thăm và tiếp tế lương thực cho anh ta. Vợ anh ta ở Saigon, trại Suối Máu ở Biên Hòa nên đường đi thăm gần, xe đò cũng tiện.

Bộ đội đặt một cái bàn ngay cổng nhà thăm nuôi, có khối trưởng hay đại diện khối ngồi bên cạnh để dò tên “cải tạo viên” được thăm giúp. Khi vợ Quảng Què đến thăm, “chú bộ đội” hỏi:

– “Chị thăm ai?”

– “Dạ, tui thăm anh Quảng.”

“Chú bộ đội” dò tên trong danh sách, lại hỏi:

– “Chồng chị là anh Nguyễn Quảng có phải không?”

Vợ Quảng Què xác nhận:

– “Dạ phải! Chồng tui là Nguyễn Quảng.”

“Chú bộ đội” lại hỏi:

– “Anh Nguyễn Quảng là đại úy phải không?”

– “Không! Chồng tui là binh nhì.”

“Chú bộ đội” xác nhận:

– “Ở đây không có anh Nguyễn Quảng nào là binh nhì. Chỉ có anh Nguyễn Quảng đại úy.”
Vốn quê mùa, vợ Quảng Què thật thà nói:

– “Chắc là anh Quảng đi học tập lâu ngày, nay được lên đại úy!”

Dĩ nhiên, “chú bộ đội” không tin như vợ Quảng Què, hồi lâu mới tìm ra anh khai gian cấp bậc, cố “xác minh” một lần nữa:

– “Có phải chồng chị bị què phải không?”

Chị vợ nhanh nhẩu:

– “Dạ đúng! Đúng chồng tui què một chân.”

Nhờ “xác minh” cái què đó, chị vợ được vào khu thăm nuôi.

Mới thấy vợ, Quảng Què tức giận:

– “Mày ở nhà lấy thằng nào mà bụng mầy to vậy?”

Chị vợ ra dấu biểu chồng im. Quảng Què tức tối chống nạng quày quả đi vào, không cần thăm. Chị vợ chạy theo nói nhỏ: “Không phài có bầu anh ơi! Mì! Mì!”

Té ra vì “bộ đội” không cho gia đình tiếp tế mì gói, sợ trốn trại, nên khi viết thư gởi về nhà, người viết thư giúp khéo léo báo cho vợ Quảng Què biết là Quảng Què cần có mì gói nhưng phải kín không cho bộ đội thấy. Vợ Quảng Què lanh trí lận hai chục gói mì vào bụng, làm như người có bầu.
Việc “học tập lâu ngày lên đại úy” và vợ Quảng Què có bầu trở thành câu chuyện vui của nhiều người.
Quảng Què không được thăm nuôi nhiều vì vợ anh ta nghèo. Mỗi lần đi thăm, vợ Quảng Què tiếp tế cho chồng cũng ít ỏi. Vừa thiếu ăn, vừa tức tối và ganh tị vì những người khác được thăm nuôi nhiều đồ ăn, lại quen thói chôm chỉa từ trước, nên bây giờ Quảng Què hành hiệp ngay trong trại giam. Ban đầu thì người ta không biết, sau tìm ra thủ phạm. Quản giáo bắt Quảng Què làm tờ kiểm điểm nhưng cái chứng tật Quảng Què đã quen, nên anh ta cứ bị anh em bắt tội ăn cắp nhiều lần. Cuối cùng, trong một buổi lên lớp toàn trại 4, trong phần khen thưởng, vài cá nhân, vài tổ được bộ đội khen “học tập tốt, lao động tốt”, riêng Quảng Què thì bị “cảnh cáo trước toàn trại”. Anh ta bị gọi lên trình diện trước anh em, ông đại úy chính trị viên đọc lệnh như sau:
“Nay cảnh cáo có ghi hồ sơ học tập anh Nguyễn Quảng, cấp bậc: đại úy, chức vụ: khinh binh…”
Cả trại cùng cười về mục cấp bậc và chức vụ trái khoáy như vậy.

Ngày lập xuân
Hoàng Long Hải


(1) Nói tắt chữ effet, có hiệu quả, kết quả, tiếng Pháp.

(2) “Anh râu kẽm” hay “tướng râu kẽm” là tiếng báo chí hồi 1964, 65 dùng để gọi Nguyễn Cao Kỳ. Khoảng năm 1970, 71 vì mất ăn Kỳ dùng thương phế binh để phá Thiệu.

(3) Đứt phim, tiếng lóng, để gọi ngày 30 tháng Tư.

(4) Cách mạng ba mươi, tiếng lóng để gọi những người mới theo Cộng Sản sau khi đứt phim.

(5) KBC của trường Bộ Binh Thủ Đức là 4.100. Bốn ngàn một trăm, đọc trại để đùa là “Bốn người một mâm”

Mặt chuột!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 29 Dec 2023

Thượng nghị sĩ thuộc đảng Cộng hòa, ông Richard Burr, N.C. (tiểu bang North Carolina), Chủ tịch Ủy ban Tình báo Thượng viện nhận được báo cáo về tình hình lây lan của dịch bệnh coronavirus trên đất nước Hoa Kỳ
Thượng nghị sĩ Burr đã rất lo lắng về sự bùng phát của đại dịch này gây ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế của nước Mỹ.
Và vào ngày 27, tháng Hai, năm 2020, trong một bữa tiệc trưa, ông Thượng nghị sĩ Richard Burr thông báo cho phe ta, những tài phiệt ủng hộ ông, rẳng:
‘Con Coronavirus lây truyền mạnh hơn nhiều so với bất cứ điều gì chúng ta thấy trong lịch sử gần đây”.
Ngay trước khi thị trường tài chính sụt giảm vì đại dịch coronavirus, ông ‘Thượng’ đã bán 1,72 triệu đô là cổ phiếu, phần lớn đầu tư vào ngành khách sạn, trong 33 giao dịch riêng biệt, vào ngày 13, tháng Hai, năm 2020.
Hồ sơ Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch vẫn còn ghi lại.
Cùng ngày, chí lớn gặp nhau, bà Kelly Loeffler, Thượng nghị sĩ cũng thuộc đảng Cộng Hòa, tiểu bang Georgia và chồng đã bán cổ phiếu của mình 29 lần, có giá từ 1,27 triệu đến 3,1 triệu đô la.

Richard Burr and Kelly Loeffler

***

Đối với dân Mỹ thì ông ‘Thượng’ Richard Burr lại tuyên bố:
“Đất nước này được chuẩn bị tốt hơn bao giờ hết để đối mặt với các mối đe dọa đến sức khỏe của người dân Mỹ”.
Bà ‘Thượng’ Loeffler lại tweet:
“Người tiêu dùng mạnh mẽ, nền kinh tế mạnh mẽ và công việc đang phát triển, điều này đặt chúng ta vào vị trí kinh tế tốt nhất để giải quyết COVID19 và giữ an toàn cho người Mỹ.”

***

Ông Burr đã biết điều đó sẽ tệ đến mức nào. Ông ấy đã tiết lộ sự thật với các nhà tài phiệt tài trợ cho mình; nhưng cùng lúc lại bảo đảm với công chúng rằng chúng ta vẫn ổn”
Thượng nghị sĩ Burr và Thượng nghị sĩ Loeffler phải bị chính quyền và Ủy ban Đạo đức Thượng viện điều tra.
Nếu có bằng chứng cho thấy họ tham gia giao dịch nội gián, họ phải bị buộc tội và ra truy tố ra Tòa.”
(Chuyện nầy nếu không có xảy ra thì cứ để cử tri Hoa Kỳ ở tiểu bang North Carolina và Georgia tính sổ với hai ông bà Thượng nghị sĩ nầy)

***

Bình loạn:
Trong tình hình rối ren vì dịch bệnh ‘coronavirus’ lan truyền có thể vượt ra ngoài vòng kiểm soát như thế nầy thì người dân ngu khu đen như tui biết tin ai để không bị mất tiền trong quỷ hưu trí dành để dưởng già lên tới cả vài chục ngàn đô hu hu?
Xin bà con mình hãy tin vào các chuyên gia về sức khỏe hơn là tin vào các chánh trị gia. Mấy đứa nầy chuyên nói dóc không hè!

Có một chuyện chọc quê các chánh trị gia như vầy:
“Một chánh trị gia, 3 bác sĩ và 3 kỹ sư cùng leo lên đỉnh Everest cao nhất trên Trái đất.
Đó là một cuộc leo núi rất nguy hiểm, đầy vất vả và gian nan!
Họ phải dừng lại nhiều lần, phải dùng dây để kéo nhau lên dọc trên sườn núi.
Được nửa chừng, sợi dây bắt đầu tưa ra sắp đứt!
Các bác sĩ nói:
“Chúng ta nên chờ đợi toán cứu hộ đến giúp đỡ!”
Tuy nhiên không ai tin rằng họ sẽ đến kịp vào lúc nguy cấp nầy.
Các kỹ sư nhanh chóng tính toán sức nặng của mọi người, sức chịu tải của sợi dây; rồi đưa ra giải pháp:
“Một trong số chúng ta phải nhảy! Nếu không, tất cả chúng ta đều chết hết!”
Không ai muốn nhảy. Mọi người khư khư dùng cả hai tay mà bám lấy, giữ chặt sợi dây.

***

Cuối cùng ông chánh trị gia thở dài nói:
“Các đồng chí là tài nguyên vô cùng hữu dụng, tài nguyên vô cùng quý giá cho đất nước của chúng ta.
Một bác sĩ có thể cứu sống rất nhiều người.
Một kỹ sư có thể sáng tạo ra nhiều thứ để giúp ích cho đồng bào thân yêu của chúng ta!
Còn tôi? Tôi chỉ là một chánh trị gia vô dụng!
Tôi có làm bất cứ việc gì hữu dụng cho đồng bào, cho đất nước của chúng ta đâu? Không có gì cả!
Tôi chỉ biết nói, nói và nói mà thôi.”
Rồi ông lại thở dài, vẻ mặt rất chân thành.
Bài diễn văn ngắn gọn nhưng rất hay!
Thế là mọi người bắt đầu vỗ tay hoan hô!

***

Chuyện vui nầy, tui tưởng là chỉ nói đùa chơi cho vui, ai dè nó lại là sự thật xà bông 72% dầu.
Thuyền kinh tế nước Mỹ nước chỉ lé đé nước, chưa chìm mà hai cái mặt chuột đã lòi ra!
Tui tin sẽ còn có nhiều con chuột khác!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Hết dám làm Quân tử Tàu!

Đoàn Xuân Thu.

Post by Sơn râu 29 Dec 2023

Vụ dịch Coronavirus đã giết chết ít nhất 567 người và lây nhiễm gần 28.403 người (đa số ở Trung Quốc) và nó tiếp tục lan rộng ra ngoài Trung Quốc. (Cập nhật ngày mùng 7/02/2020)

***

Trung Cộng đang vật vã để kiểm soát sự bùng phát loại ‘coronavirus’ mới!
Bị con ‘Coronavirus’ ví tới đường cùn(g), bè lũ ăn hại ở Trung Nam Hải hết dám xưng hùng xưng bá như bữa duyệt binh vào ngày Mùng 1, tháng Mười, năm 2019, chỉ cách đây có 4 tháng thôi) tại Quảng trường Thiên An Môn để đánh trống thổi kèn ăn mừng 70 năm CS chiếm được chánh quyền để đè đầu cỡi cổ dân Tàu.
Pháo bông bắn lên đầy trời thủ đô Bắc Kinh và nở ra những cái hình (hình kèm theo) giống hịt như hình con ‘Coronavirus’ mới vậy!

***

Hệ thống y tế của Trung Quốc đã ‘sụm bà chè’ xuống vì hết giường dành cho bệnh nhân và vật tư y tế cần thiết.
Vậy mà cũng theo mửng cũ, cái tật không bỏ hè, Tể tướng Lý Khắc Cường vẫn còn lên gân, nổ ‘lép bép’ là:
“Chính phủ Trung Quốc luôn đặt sự an toàn và sức khỏe của người dân lên hàng đầu và đang nỗ lực để ngăn chặn và kiểm soát dịch bệnh một cách minh bạch và có trật tự. Công việc hiện tại là kiềm chế sự lây lan của dịch bệnh và điều trị cho bệnh nhân, cũng như đảm bảo trật tự cuộc sống bình thường của người dân Trung Quốc và người nước ngoài tại Trung Quốc!”
Trong khi đó thì hình ảnh một ông cụ mang khẩu trang nằm chết cô độc trên lề đường của thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc tràn ngập trên Truyền thông Phương Tây.

***

Thôi làm đi cha Nội! Cứ ở đó hô khẩu hiệu hoài hè.
Tội nghiệp người dân Tàu lắm! Rồi bà con ở các nước khác cũng đang lo sốt vó vì sợ bị lây lan!
(Nước Úc tới giờ phút nầy đã có tới 14 ca bị thử nghiệm dương tính rồi đó)

***

Té ra Lý Thừa tướng hô khẩu hiệu trước bàng dân thiên hạ cho đỡ quê thôi; chớ trong hậu trường, Lý tuân lịnh Hoàng đế Tập, nên đã gởi tên du thuyết ‘Vương Nghị’ đi Nga xin ‘hợp tác’.
(Nói ‘hợp tác’ cho đở quê vậy mà! Mà nè trườc khi vô Moscow, Vương Nghi có được kiểm dịch hông? Nếu có, thì lúc nói chuyện với thằng Nga, hai cha làm ơn nhớ mang khẩu trang cho đúng cách, kẻo khi bốc phét, văng nước tùm lum rồi ‘hợp tác’ tặng cho Tổng thống Nga Vladimir Putin (cưu trùm mật vụ KGB) vài con ‘coronavirus’ cho biết với người ta thì bỏ cha cả lũ )

***

Rồi đích thân Lý Thừa tướng nói chuyện qua điên thoại với Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen hứa trao đổi thêm thông tin (đừng có đưa tin vịt nữa được hông nè?) với hy vọng sẽ mua được các vật tư y tế cần thiết từ các nước thành viên của Liên Âu.
Liên Âu cho biết sẽ cố gắng hết sức và phối hợp tất cả các nguồn lực cần thiết để hỗ trợ cho Trung Quốc.

***

Thôi vì tình nhân loại, người Tàu đang ngụp lặn trong cơn hoạn nạn về dịch bệnh ‘Coronavirus’ thì Cộng đồng Thế giới, vì lương tâm và quyền lợi của chính mình cũng phải góp tay vào việc phòng chống dịch bệnh để cứu dân Tàu trước; sau là để tránh lây lan tới cả dân mình.

***

Khi cơn dịch bịnh ‘Coronavirus nầy bị dập tắt, thì bà con tin tui đi, Trung Cộng sẽ lại đánh trống thổi kèn, vỗ ngực xưng tên nhờ sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của đảng ta cho mà coi!
Còn cầm bằng thất bại, dân Tàu chắc chắn sẽ tính sổ cái đảng CS ‘mắc dịch’ nầy!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.