Đường Âm Hồn

thantrinhomhue.com

Hồ Đình Nghiêm

Posted by seashelloc on 21 Dec 2022 

Post by Sơn râu 31 Dec 2023

Bóng tối chạy dài từ hồ Mưng, nương theo bờ tường, đeo đuổi qua nhiều ngã ba có dáng cây hình thù kỳ dị đứng rung lá. Nó sẽ khựng lại ở cổng thành, ánh điện vàng bắt trên cánh cửa hình vòm cung dọi xuống đã chận đứng nó lại, làm thành một đường biên mù mờ, xám mốc.

Ánh đèn đẩy lui bóng tối và đồng thời, tự nó soi chiếu rõ lên gạch đá bao dấu tích đổ vỡ hôm xưa đạn pháo thay phiên cày xới suốt những ngày Tết. Họ bảo có ba tử thi bị khóa cứng vào một khẩu đại liên, và họ vỡ lẽ vì sao cái chốt ấy thật khó khăn, đổ nhiều xương máu khi muốn “dứt điểm”.

Trong chiến tranh, sẽ khôi hài nếu có ai nuôi giữ tinh thần bảo tồn di tích văn hóa của tiền nhân. Từ hai phía, người ta chẳng ngần ngại để phá đi, không bằng cách này thì bằng cách khác. Và họ đã phá, bằng mọi cách. Trên vết thương sẽ không bao giờ lành lặn ấy, nhiều người cửa nát nhà tan đã tụ bầy, họ dựng nhà, trồng rau quả. Lập thành liên gia, sống như lính thú đời xưa canh gát hoàng thành. Họ sống cao hơn người thường, nếu lấy mặt đất để làm chuẩn mức. Buổi chiều ngửa cổ nhìn lên, bắt gặp những cánh diều chao trong gió, những đứa bé mình trần chạy thấp thoáng trên bờ tường lở lói. Họ ra công, tùy tiện làm những bậc cấp bằng đất để bước xuống sinh hoạt với nhân gian.

Hòa ở trên ấy, đã lâu. Hắn bước xuống, luôn thay đổi lộ trình, không quen sử dụng một lối đi cũ. Tựa kẻ nghèo khó chẳng muốn người ta nhìn thấy mình bước ra từ chốn náu thân xiêu đổ. Hắn vác chiếc xe đạp trên vai và lao vào bóng tối ngay khi chân dẫm lên mặt đường. Thời gian này hắn siêng đi, chó cũng không biết đường nào mà sủa. Hắn ốm, gầy rạc, xanh xao mấy độ rày. Vài ba mụ bán rau trong chợ Xép đã từng quở như thế. Ðó là những mụ đàn bà ở cùng một tổ một phường với hắn.

“Học chi dữ thần rứa không biết? Học đến da bọc xương!” “Mô có. Tại hắn bị dính vô chữ tình đó thôi. Tình hành!” “Nói đã hay! Thời buổi ni ai mập mạnh cái nớ mới đáng bàn cãi”.

Hòa không hề hay biết những lời bình phẩm kia. Nhân dân thì bao giờ cũng sáng mắt sáng lòng, khó tìm cách che đăy những gì gọi là riêng tư. Có điều, trong ba câu nói ấy chỉ đúng có hai. Chuyện đâu hoàn toàn sai, bởi Hòa chủ trương: “Sách vở ích gì cho buổi ấy”. Ðèn dầu có thức sáng lẻ loi trong đêm, cũng chỉ soi rõ mặt giấy tái sinh cho hắn viết thư tình đó thôi. Khi mường tượng ra một người nữ xinh đẹp trong đầu, Hòa như bị ma nhập, hắn có thể viết một hơi lá thư tình dài tới bảy tám trang giấy. Hồn xiêu phách lạc. Lời lẽ thấm vào tâm cang nếu đọc phải. Ai oán, sướt mướt. Cầm lòng không đậu.

Ðêm nay, Hòa hẹn người con gái tên Hoa để chở đi uống cà-phê. Bởi trong lá thư trước Hòa có cho hay là chúng ta sẽ khó còn cơ hội gặp mặt nhau. Chính quyền cách mạng sẽ bứng nhổ những căn hộ mọc bừa bãi trên tường thành, viện cớ chúng làm mất vẻ mỹ quan của thành phố. Kinh tế mới sẽ là nơi đến để an cư lạc nghiệp, tái lập một cuộc sống khác. Với Hòa, chữ kinh tế là một cái gì rất đỗi trừu tượng. Và mới, dường như bao giờ nó cũng mang đủ đày sự khó khăn, lạ nước lạ cái trong đó, đầy dọa dẫm. Chính quyền mới là một ví dụ cụ thể. Mới cũng có thể hiểu là trắng biến đổi thành đen.

Hoa đợi trước cổng đúng giờ. Hoa mặc bộ đồ lụa màu mỡ gà. Thấp thỏm, nhờ nhợ, nhập nhòa vào đám hoa mẫu đơn. Cả người lẫn hoa đều phát quang và mang gửi vào đêm chút hương mùi rạo rực. Lúc nào Hòa tìm cách tán dương người tình, Hoa cũng đều rùn vai: “Ðừng nói thế. Hoa không dám đâu. Ngay cả anh, Hoa cũng còn thua kém”. “Thua kém?” “Ừ, thua một dấu huyền”. “Nếu hai đứa mình học chung một lớp, dĩ nhiên anh sẽ thua Hoa. Trong sổ điểm danh Hòa phải đội chữ Hoa lên trên. Ðội suốt năm”.

Hai đứa cùng cười. Giọng cười nhỏ, cố nén.

Mùa hè sẽ nóng vô hạn nếu Hòa đạp xe trong lẻ loi. Chở Hoa phiá sau, thời tiết như hết can dự vào, hoặc giả Hoa đã mang đến sự diệu kỳ, hoá giải hết những gì là nguyên nhân mang tới niềm bực dọc. Hồ nước đen thẫm hôm nay cũng chẳng còn bốc mùi tanh của rong bùn. Gió tháng bảy khô khốc không còn mang hơi nóng nhựa đường phả vào thân. Dễ chịu quá!

Nhân dáng Hoa khá đẫy đà, nhưng điều đó không có nghĩa là Hòa sẽ nhọc mệt khi đèo chở Hoa đi. Xe chạy suốt những con đường lưu giữ bóng tối. Ở một thời điểm nào đó, con người dường như không mấy ưa ánh sáng. Lộ liễu quá, minh bạch quá. Chường mặt ra thấy chẳng yên tâm. Lại nữa bóng tối luôn là đồng minh cho những đôi nhân tình, muôn đời không đổi. Hoa không ghét bóng tối, nhưng Hoa muốn Hòa đạp xe ra những con đường có trồng cột điện. Ánh sáng của nó sẽ cắt mặt nhựa đen ra từng đoạn đều đặn và sự ngắt quãng ấy làm Hoa an tâm hơn. Thành phố này có quá nhiều người chết oan. Và chúng ta sẽ thấy u uất nặng nề nếu đi mãi trong lòng bóng tối.

Cuối cùng quán cà-phê đã hiện ra. Một ngọn đèn vàng treo đong đưa trước lối vào. Bụi chè tàu cắt tỉa thẳng thớm dẫn tới vuông sân bày cách khoảng những bộ bàn ghế không đồng dạng. Góc sân chôn một cái am, ba đầu hương cháy lụn tàn chẳng soi rõ bóng người được thờ phượng. Và cành lá cây vú sữa luôn cào quét trên mái am, đệm sai nhịp vào giòng nhạc hòa tấu đang dấy lên từ cái loa dấu sau quầy. Thời gian đó, chính quyền không cho dân nghe nhạc vàng, nhạc đồi trụy của bọn đế quốc tư bản. Hoa hơi chao người khi vấp vào tiếng dương cầm vừa loang chảy tới, và khó khăn lắm Hoa mới hát thầm được vài câu vừa chợt nhớ. Hoa rùng mình, âm nhạc cũ có khi làm da thịt phải rợn lên, nổi hột tái tê. Cho hay khi bị vây chặt, bị phong kín, bất ngờ được đón nhận, dẫu là một điều tầm thường, người ta thường sửng sốt và phóng lớn niềm sung sướng ấy biến nó thành một cái gì thật vĩ đại. Vầng trăng sẽ to ghê gớm nếu suốt đời anh bị chôn sống dưới mặt đất một hôm được cho trồi đầu lên. Choáng ngộp, sợ hãi. Và khi kịp phát hiện, ánh trăng nọ sẽ mất đi sự thơ mộng nó luôn mang.

“Chủ quán này là ai mà to gan? những bản nhạc kia sẽ khiến người nghe thêm phẫn uất”.

Hoa nói nhỏ khi ngồi xuống ghế. Hòa cũng ngồi. Ghế chông chênh bởi nền đất có hơi mấp mô. Nó không khác những chiếc ghế tàn tật xiêu vẹo đứng bốn chân trên một mặt phẳng chẳng lượn sóng. Trí óc Hòa luôn cắc cớ tạo ra những so sánh, những liên tưởng. Hắn gãi đầu:

“Là một người có công với cách mạng. Và không chừng ông ta quen biết với ba của Hoa. Ông ta cũng có lộng kiếng một tờ giấy ban khen treo trang trọng hệt như ở phòng khách đàng nhà Hoa”.

Hoa nhìn Hòa. Khuôn mặt anh như hứng đủ ánh sáng từ ngọn đèn dầu đặt giữa bàn tỏa ra. Ðỏ vì nhọc mệt hay đỏ giả tạo bởi luồng sáng? Dẫu sao lời anh nói có vẻ như không mang một hậu ý nào đi theo.

“Có nghĩa là nếu Hoa muốn bán nước, Hoa cũng được quyền mở nhạc như vậy?”

“Tại sao không? Ai dám có ý kiến? Vấn đề là sợ ông già của Hoa không dễ gì đánh mất lập trường”. “Hoa hỏi thành thật. Anh nghĩ sao về ba của Hoa?” “Ba Hoa? Trung với đảng, hiếu với dân… Không, anh chẳng nghĩ gì cả. Nếu có nghĩ suy, mọi thứ đều hướng dồn tới một mình Hoa. Và anh vui lòng với sự mất ăn mất ngủ đó”. “Thật không?” “Thật”.

Hoa có đôi mắt đẹp, to tròn, hồn nhiên. Và đôi mắt ấy dường như lúc nào cũng long lanh, cũng sáng ướt. Một đôi mắt chực khóc. Tâm hồn Hoa chắc cũng tựa thế, yếu đuối và mơ mộng. Nếu không đúng, chắc gì những trang thư đằm thắm của Hòa chuyên cần rải xuống tấm lòng ấy đều được ươm mầm, kết trái và sau rốt hắn gặt hái biết bao điều dịu dàng về một lòng tin yêu, ngọt sắc.

Họ uống cà-phê đá. Hoa không sợ mất ngủ, táo bón, nổi mụn. Hoa nghe lời Hòa, bởi Hòa bảo cà-phê hôm nay đã mất trinh rồi, đã sống chung hòa bình với các thứ hột khác. Ðậu ván, gạo nướng cháy, vỏ cau… linh tinh pha trộn xay nhuyễn.

“Thay vì mở quán cà-phê, Hoa mượn sức mạnh cái bằng ban khen kia để lôi kéo anh ở lại thành phố, có được không?”

Hoa hỏi, sau một hồi chống cằm ngồi yên. Ly cà-phê đá vơi phân nửa và sự bồn chồn ở người Hòa dâng cao lên.

“Ðừng, anh không muốn nhờ cậy thế lực một ai. Hoa biết đó, anh là kẻ sợ phải ngồi viết ba đời lý lịch mình ra. Làm sao anh nhớ hết, làm sao người ta có đủ sự trung thực khi phải thành thật khai báo? Nặn óc thì bao giờ cũng có kèm theo ít nhiều dối trá. Hãy để anh theo số phận mà đi xa, và khi nhớ về thành phố, Hoa là hình ảnh làm anh trân quý nhất”.

“Viết thư cho Hoa anh có phải nặn óc đặt lời dối gạt không? Thư dài thế kia, như một cái truyện ngắn nhiều hư cấu”.

Hòa nắm bàn tay Hoa ấp ủ, cúi mặt vuốt ve. Tay Hoa mát lạnh, mịn màng và mặt bàn ẩm rít những hạt đường chảy nước trên thớ gỗ nhám. Một lát, Hoa thu tay về. Hoa đổi sắc, như thể thân nhiệt từ người Hòa đã lan truyền qua cánh tay Hoa nổi khó chịu ngầm.

“Hãy uống cho hết ly cà-phê rồi chúng ta về”. Hòa nói. “Uống để thế một lời tiễn đưa”.

Hòa nâng ly, vành thủy tinh án tầm nhìn làm biến dạng khuôn mặt Hoa. “Hoa uống không nổi. Cà-phê quán này có vẻ khác thường”. “Anh nói rồi, chất nước đen kia không phải là cà-phê”.

Hoa nhăn mặt. Ở vầng trán cau lại lấm tấm ứa ra những giọt mồ hôi.

“Hoa muốn đi về”.

Hoa nói khó khăn. Hòa đứng dậy, tiến tới quầy trả tiền nước. Lộ trình không đổi, mười tám bước chân, như khi Hòa vào bưng cà-phê ra hắn đã cúi mặt nhẫm đếm. Mười tám bước, không gần không xa, đủ để bóng đêm can dự vào giữa khoảng cách. Cô gái tóc dài ngồi sau quầy sẽ quáng gà đôi mắt nếu muốn trông nhìn ngọn ngành về phiá hai đứa.

Hòa đạp xe đi, vút nhanh như gã hành nghề xe ôm bắt được mối lớn. Giờ này Hoa đã hết giữ ý tứ, cô vòng tay ra níu chặt lấy bụng hắn.

“Hoa sao rồi?” Hắn hỏi. “Không biết nữa. Miệng đắng, người nhẹ, cơ hồ như bị trúng gió”. “Có một điều Hoa nên biết…” “Ðiều gì?” “Anh đã tốn nhiều công sức, đã chiêm nghiệm thật lâu cho lần chia tay này”. “Làm gì phải hệ trọng tới mức đó? Buổi gặp mặt diễn ra hôm nay xem chừng tẻ nhạt và quá sức vô duyên!” “Từ khi biết Hoa, anh đã thề nguyền, sẽ chiếm đoạt lấy Hoa bằng mọi cách. Vô duyên? Anh không nghĩ vậy” “Anh chở Hoa đi đâu đây? Sao lối đi đen đúa kín bưng chẳng một luồng sáng? Hoa lạnh..” “Con đường không phải tự nó hiện hữu, mà do bàn chân người tạo nên. Hoa biết câu đó không? Con đường, do đó đã mang sẵn một định mệnh, vậy thì ái ngại làm gì tới chuyện sáng tối hở Hoa?” “Yêu thương có nghĩa là chiù chuộng nhau, phải vậy không?” Hoa gióng hỏi, giọng yếu đuối. “Không chắc. Ðôi khi nó phải đày đọa nhau”. “Hoa sẽ dùng đủ mọi cách để giữ anh ở lại gần Hoa, anh tin không?” “Anh tin. Cũng như anh muốn Hoa tin là những gì anh làm, nó sẽ mang lại cái kết quả hệt thế. Không ai có thể bứt rời chúng ta ra được, kể cả ba của Hoa”.

Lối đi nhỏ, càng lúc càng thu hẹp. Ðất vạch một đường cắt lờ mờ chia đều bóng đêm ra hai phiá. Một phiá của đồi nương trồng bắp trồng sắn và phiá khác, dường như đang dở dang kế hoạch phát cỏ khai quang vỡđất. Rác rưới dồn thành từng đống, đắp ụ cao thấp tựa những nấm mồ hoang. Tận cùng lối đi là bãi cỏ rậm, là rừng thông, là hàng rào dây kẽm gai rỉ sét. những con đom đóm bay chập chờn, đâm vào màn đêm từng nụ ánh sáng chóng tàn, tựa những cái pháo bông được bắn lên từ một hành tinh khác, rất đỗi xa xăm.

Xe vừa thắng đứng, Hoa đã vội ngồi bệt xuống cỏ gục mặt khạc nhổ. Hoa giống một cô gái ngây thơ, hốt hoảng về sự chuyển biến trong cơ thể mình để rồi co người nôn mửa vì bị cấn thai. Hòa thả chiếc xe đạp buông rơi chẳng tiếc thương. Hắn lấy thuốc, hút từng hơi sâu, thở khói với cái đầu quay đảo trông ngược ngó xuôi. Dế kêu vang rân từng chặp, chen kẻ vào đó là cái thinh lặng mênh mông đến rợn cảm. Rợn cảm tới độ Hoa phải phát khóc.

“Chuyện gì thế? Hoa làm anh liên tưởng đến những giọt nước mắt đầy ăn năn của thiếu nữ vừa thất thân để trở thành đàn bà. Hoa tiếc thương về điều chi?” “Hoa đau bụng… Hoa không tiếc thương, Hoa chỉ hối hận”. Hòa quỳ gối. Hắn đưa tay chùi đi hàng nước mắt loang trên mặt Hoa. Hắn vén lại tóc rối, thơm mùi bồ kết và ôm giữ lấy khuôn mặt người tình. Nước giải ứa ra một bên mép Hoa, chảy vướng viú xuống cằm như tơ nhện. Mặt Hoa vẫn dịu dàng, dù trong đớn đau. “Hãy nói với anh một lời yêu thương”. “Hãy chở Hoa về nhà, sau đó anh mới thấy hết những thương yêu Hoa dành cho anh”. “Chẳng hạn?” “Chẳng hạn như Hoa sẽ dâng hiến, Hoa sẽ mang thai và đó là lý do vững chãi nhất để không ai có quyền mang anh tới vùng kinh tế mới”. “Ðã muộn rồi. Và giờ này chẳng ai cấm anh làm tròn cái công việc đó”.

Hoa vẫy vùng kháng cự trong yếu đuối. Hai cơ thể vật ngã xuống. Hắn nằm đè lên trên, cùng với hơi thở gấp:

“Hái hoa, dập liễu vùi hoa. Hừ, tại sao người ta lại ưa dùng những thứ chữ lạ lùng đó?”

Tứ chi rã rời, nhưng Hoa không ngớt quơ cào, chòi đạp, tựa một phản xạ. Một kẻ sắp chết đuối dưới sông cũng chỉ làm ngần ấy động tác.

Bóng tối lùi xa khi chiếc quần lụa của Hoa bị bức rời khỏi đôi chân. Da Hoa trắng lạ lùng, thọc đâm vào hai con mắt ngầu đỏ của Hòa, xốn xang. Nuột nà làm nổ đom đóm. Làm ngây dại, mù lòa. Hắn run tay lần mở những hạt nút áo. Mở dễ dàng, xuôi chèo mát mái; bởi khó hiểu thay Hoa đã thôi chống đối. Hai tay Hoa dong cao lùa sâu vào đám cỏ dại, yên ả nằm như đồng tình chờ đợi chuyện lạ đến.

Hắn chôn mặt xuống trũng ngực Hoa, hài lòng liếm cái đường khe mặn rít mồ hôi phập phồng lên xuống. Hắn nhắm mắt, giờ phút ấy đối với hắn là cái gì rất mực thiêng liêng, mọi thứ khác trên đời sống này thảy đều phù du, chẳng đáng quan tâm. Hoa vòng đôi chân gác lên lưng hắn, khép chặt, siết cứng. Một đoạn giây kẽm gai nhặt được trong cỏ đưa lên cao từ năm ngón tay bấu chặt tươm đầy máu. Tay này tìm tay kia, Hoa nhớ tới hình ảnh cái trái cấm mắc nghẹn trong cần cổ gầy của Hòa di động mỗi khi hắn động não thốt nên lời văn hoa. Hoa nằm chờ đợi, chờ đầu tóc húi cua ngẩng lên.

***

Bầu trời có gắn một vì sao sáng, nó tựa viên kim cương dưới mắt nhìn mờ lệ của Hoa. Hãy soi rọi, hãy chứng giám rồi hẳn vụt tắt. Ruột gan Hoa quặn sôi, mọi thứ dường như đã nát tan. Báo chí không loan tin. Hãy thử vào chợ Xép, lân la dọc lối đi tanh tưởi lầy lội. Hãy thử dừng chân bên hàng bán rau. những mụ đàn bà vén cao ống quần ngồi trông thiên ngó địa với khuôn mặt chất chồng nếp nhăn, lãnh cảm với ruồi bu kiến đậu, với nắng nóng, với những ông đầy tớ của nhân dân.

“Chao ôi! Nói năng chi lôi thôi. Lỗi phải làm chi cho rắc rối. Thằng nớ thiệt gớm đời, có điều chết trên bụng đàn bà là chuyện không nên”.

“Hắn cho con kia uống cái quỷ chi mà miệng sùi bọt mép, mắt trợn môi trề dòm phát khiếp!”

“Thời buổi chi lạ! Chưa khi mô tui chộ ra hai cái chết kỳ cục kiểu nớ!” “Mấy bà không biết đó thôi, có chuyện ni mới thiệt sự quái đản”. “Chuyện chi?” “Cách hiện trường không xa có một đường mương. Tết Mậu thân mấy ôn ở trên rừng tràn về, nửa đêm trói giải một xâu người bắt quỳ trên mương và họ kê súng sau ót lần lượt xử từng tên một. Ba thằng Hòa chết co quắp trong mương, bùn chôn nửa người. Ba hắn là giáo viên, con gà cũng không biết đường mà cắt cổ. Rứa mới ác nghiệt!”

“Mô Phật! Lẽ mô ba con Hoa là người ở toán hành quyết có máu lạnh năm xưa?” “Ai mà biết. Mấy ôn nớ hai ba bí danh, anh Tư anh Năm. Cả tên cha sinh mẹ đẻ họ còn không nhớ!” “Ôn mệ ơi, thằng Hòa ngó rứa mà thiệt đoản hậu! Chơi làm chi con nhỏ tội nghiệp, hắn có ngon cơm thì nhắm ông già mà trả thù thì có phải oanh oanh liệt liệt hơn không?” “Ui dào. Mấy thằng thuế vụ đến nơi a tề. Dọn dẹp quang gánh mà chạy cho yên cái thân!”

Hai ba người đàn ông đeo xắc-cốt mặt lầm lì ngó quanh quất. Chợ búa có vẻ vắng thưa. Làm nghề này nếu được hoá trang lẫn lộn trong dân thì chắc trúng mánh, túi khẩm nặng. Mang hia đội mão đi đường bệ thì chẳng khác gì lạy bà tui ở bụi này. Và chân bước tới đâu, chốn ấy đang đông đúc tụ bầy bỗng chốc hoá ra đồng không mông quạnh. Mà cũng không chắc, có thay đổi xiêm y đồng phục thì con buôn nó dòm vào bản mặt e sẽ phát hiện ra ngay. Làm mặt nạ mà đeo thì họa may chúng lầm to. Chúng không cuốn gói, chúng bình chân như vại, và cự ly giữa hai đàng khi ấy chẳng hề đổi thay. Tha hồ nhé. Mệt nghỉ.

Cuối chợ, có căn nhà cài then kín cổng. Hương khói từng cọng xanh ẻo lã bay thoát ra khe. Một đứa trong đám thuế vụ cau mày nhón chân dòm vô sân. Chẳng có gì, chỉ có tiếng người khuất lấp vẳng tới, đọc chậm như con trẻ tụng bài học thuộc lòng:

“Ðệ tử vốn tạo các vọng nghiệp
đều do vô thỉ, tham, sân, si
Từ thân, miệng, ý phát sinh ra
đệ tử thảy đều xin sám hốI
Nam mô A di đà Phật
Nam mô Quán thế âm Bồ tát
Nguyện ngày an lành, đêm an lành
đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành..”

Rẽ trái, đi chừng trăm thước, bọn đàn ông gặp phải một cây đa già tuổi. Cành lá phồn thịnh của nó xoè ra, như lọng che, âm u làm mát một vũng, đến lạnh. Không treo bảng chỉ đường, nhưng am miếu cảnh vật quanh đó như biết nhắn gửi một điều gì thầm lặng.

Một đứa nói, giọng Huế trôi lặng lờ giữa trưa hè thiêm thiếp:

“Ngã tư Âm hồn”. “Hừ, âm hồn. Mẹ kiếp, vậy thì đứng đây làm chó gì, chỉ có giấy vàng bạc của bọn hàng mã thôi… Mà tại sao lại đặt tên Âm hồn?”

Chẳng ai trả lời câu nói giọng Nghệ an kia. Nắng đổ ập, câm nín sắc lửa. Thành phố chừng như co quắp, còng lưng gánh những dấu hỏi ngàn đời không lời giải đáp.

Đất thần kinh

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 12 May 2022

Post by Sơn râu 31 Dec 2023

“Thưa Em xứ Huế bây giờ,
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương
”
(Bùi Giáng)

Tôi bỏ Nha Trang mà đi sau chuyến vượt biển không thành. Ý trời. Cả bọn mười mấy mạng bị sa lưới. Tôi và Vân vận hên lọt sổ, thất thần gặp nhau ở bến xe đò nửa mừng nửa lo và chẳng đứa nào nói được nên lời. Tôi dắt Vân về nhà ông cậu ngủ tạm một đêm. Đêm hầm hập nóng, mái tôn chuyển mình giãn nở kêu ca và bóng tối ngoài sân cát như biết dồn ép tới căn nhà nỗi bất an khiến đứng ngồi không yên.

Vân moi trong lưng quần ra một “cây” cuối cùng dành để “hộ thân hộ thổ”: Nhờ cậu tìm cách mua giúp con cái giấy đi đường… Tao vào Sài Gòn. Còn mày? Tôi ngó chăm vào cây đèn dầu. Ngọn lửa của nó thấp thỏm cháy, khiến sau lưng chúng tôi là mảng bóng đen, dính vào vách liên kết những hình thù quái dị, tựa hồ ai đó đang lặng lẽ dán sát mình để lén nghe. Tôi thử quan sát phản ứng ở người cậu râu tóc bạc trắng. Đèn thì đỏ quạch, câm nín vũng sáng. Mặt ông cậu thì đen đúa một nỗi chịu đựng quen thuộc, gần như lãnh cảm. Có vẻ ông ngầm ưng thuận lời yêu cầu của Vân. Quay sang tôi: Mi cũng nên trốn đi cho yên thân. Ông ho khan: Về Huế chẳng hạn.

Tôi nghe lời, chẳng gợn lòng tính toan. Hai hôm sau chính thức vượt biên dật dờ vào địa phận tỉnh Bình Trị Thiên. Vân rất tình nghĩa, giấy đi đường giả làm công nhân viên cung ứng vật tư tỉnh Phú Khánh, vé xe đò mua giá chợ đen và chút tiền dắt túi của tôi có được đều do bởi lượng vàng ròng chia hai hiếm qúy kia. Hôm chia tay, Vân ôm tôi, siết chặt như thứ hành động dành riêng cho tình nhân bạc phước. Hắn nói trong cúi mặt: Chúc mày tai qua nạn khỏi khi về chốn chó ăn đá gà ăn muối. Tôi không thấy bịn rịn. Tôi chẳng nghe ra chút bồi hồi thổn thức. Tôi đứng cứng đờ. Cảm xúc trong người tôi đã trút đi đâu? Là những thùng dầu chôn sâu dưới cát. Chôn mất dấu và bới tìm nhọc công. Tôi xô nhẹ Vân ra nhưng mấy ngón tay Vân vẫn cố bấu vào hai vai, mắt thì nhìn sâu vào mặt tôi. Hắn muốn thu giữ vào trí nhớ lần cuối? Hắn sẽ hôn vào môi nếu tôi là… con gái. Tôi nghĩ vậy. Và tôi xua đuổi: Thôi, mày đi lẹ kẻo trễ tàu. Không một lời chúc lành. Chẳng một tiếng cám ơn. Rồi Vân sẽ tự tìm lấy lý do: Chắc tại nó bị hứng cái “sốc” quá nặng? Chắc là khi cảm động, người ta thường để lộ sự vụng về? Vân gầm đầu đi, tôi ngó theo. Thằng bạn sót lại của tôi, cuối cùng đã biến mất theo kiểu ấy. Tựa những bàn chân người hằn xuống hỗn độn trên bãi bốc đã được sóng tràn vào liếm cho sạch dấu tích, trơ lại là bờ cát ẩm nằm trân tráo. Tôi chôn chân trên mặt đất Nha Trang rạn nứt những kỷ niệm, cô đơn vô bờ. Ông cậu nói như trấn an: Mi về ngoài nớ có gì thì con Cúc nó bao che cho một thời gian…

Xe đò rệu rã chạy dần vào thành phố. Huế có cơn mưa giông rãi xuống trắng xóa đón lấy tôi, mù mịt. Tứ bề là mưa, chẳng nhìn ra phương hướng. Tôi lẩm bẩm cái tên xa lạ của người chị. Cúc, Cúc, Cúc…

Đó là người đàn bà chẳng có gì để khiến người khác phải chú ý. Lần hồi, sau khi hai miền đã thông thương, hình như ai cũng tập làm cho con mắt quen dần với thứ hình ảnh gần như đồng dạng rập khuôn ấy. Cái áo cụt may có hơi chật làm khổ đôi vú, quần đen bèo nhèo hà tiện vải ngắn lên mắt cá và chân mang đôi dép có gót mà quai nhựa không ôm giữ nổi những ngón, làm chúng có vẻ luôn muốn “giải phóng” ra khỏi bàn chân đi bước nặng nề cục mịch. Tình máu mủ là cái gì thật trừu tượng, buổi gặp mặt lần đầu tôi ngồi lặng thinh đốt khói. Quà của chị Cúc mang vào cho là mấy gói thuốc Tam Đảo và ít phong lương khô sản xuất từ Trung Quốc. Chúng nó gợi lên sự háo hức tò mò nhiều hơn là đón nhận sự xuất hiện bất ngờ của chị ở cảnh đoàn tụ rất đỗi ngỡ ngàng mà thực tâm người ta không ai đủ tỉnh trí dọn lòng đón tiếp. Chị hỏi han tôi đủ chuyện, những dấu hỏi mang chở sự ngây ngô như một người lỡ ngủ quên ở giấc mộng dài mười năm không ngờ dòng đời vẫn thúc bước đi xa. Ban đầu chị gọi tôi bằng cậu, một lát thì kêu tên và sau cùng, như “tiếp thu” được cởi mở, chị mới dùng chữ em.

– Em đừng lo sợ và đừng che đậy. Trường hợp mấy người anh đó nếu họ thành tâm thì cách mạng sẽ khoan hồng thôi. Chị sẽ tìm gặp họ để động viên tinh thần…

Chị nói ra ở cửa miệng những chữ lạ, nghe rổn rảng. Tôi chẳng có gì để lo sợ, để gạn lọc tìm cách che đậy. Nếu có cảm nhận nỗi bất an nào, thì chị phải hiểu đó là do bởi ngôn ngữ chị dùng, chị nói thứ phương ngữ lạ lẫm khiến tôi lo âu. Tôi kể tên mấy ông anh cùng chức vụ họ có được sau bảy tám năm phục vụ mệt mề trong quân ngũ. Người anh hơn chị hai tuổi quân hàm đã là Đại úy và giờ này thì chẳng rõ anh ra sao? Tự tử? Dắt một ít tàn quân đóng chốt đâu đó và đánh hết rác ở ván bài cuối? Thoát ra được tàu Mỹ neo ngoài vịnh Cam Ranh? Hoặc như số đông, vượt vĩ tuyến 17 trong đêm bít bùng, ra ở tù tận ngoài Hoàng Liên Sơn?

Chị Cúc luôn thay đổi sắc diện, ngồi thu một chân trên ghế, mặt lộ ngao ngán, khi thì đăm chiêu lạc hồn. Miệng chị rộng, hai hàng lông mày thưa nhưng tóc thì quá rậm quá dày quá nhiều quá rối. Chẳng biết chị giống ai trong nhà, chị khác thường đủ mọi phương diện. Tôi hỏi chị làm gì ở ngoài đó? Chị không nói. Tôi rụt rè hỏi chị lập gia đình chưa? Chị thở dài. Tôi nghĩ, chị là một trong số đông những người chiến thắng. Ngày hôm nay, chị thong dong ngồi đây với thứ diện mạo ủ dột, váng vất niềm thất vọng thì kể cũng lỗ lã cho chị quá. Chị hy sinh nhiều thứ để cuối cùng cá nhân chị được bù đắp điều gì? Gia đình chẳng còn ai ngoài tôi, thằng em út chưa bị chiến tranh lôi kéo nhập cuộc, lí lịch sạch như một cuốn vở trắng. Nó không có tiền của vật chất, nó chỉ giàu sụ nỗi ngờ vực hoang mang. Nhen nhóm trong lòng tôi niềm trắc ẩn, gần như thương hại chị. Nỗi niềm đó đánh giạt phần nào sự ác cảm luôn mọc trong tiềm thức mỗi khi tôi nghĩ tới kẻ đến từ phương Bắc. Có đêm ngủ sâu giấc mộng mị tôi thấy Hà Nội được giải phóng, nhìn rõ cuộc đời chị Cúc đang rẽ sang bước ngoặt mới. Chị thơ thẩn bên hồ Hoàn Kiếm, dừng chân ở cầu Thê Húc mà mùa thu đang vờn gió nhẹ trên vạt áo dài may tay raglan thêu thùa hoa lá công phu. Chị uốn tóc, tô son kẻ mày và lấy được ông chồng… tư sản mại bản.

Tôi đứng lạnh run trước cánh cửa đóng chặt. Tôi đã thử gõ lên đó, từ tốn, cấp bách, dồn dập nhưng chẳng có kết quả. Tần ngần, tôi thu hai tay vào túi quần, đi nép sát mái hiên tránh mưa để tới bên một cái tủ bán thuốc lá có che bao ny-lông nằm nhô ra cách đó hai căn.

– Lấy cho anh mấy điếu thuốc.

Đứa nhỏ bán hàng ngó tôi như ngó thằng chuyên môn đi cướp giật. Nó ngồi thu lu, hai đầu gối cao tới mang tai.

– Đưa tiền đây. Thuốc gì? Bao nhiêu mới đủ mấy điếu?

Tôi nói tên một loại thuốc đen và trao vào tay nó tờ bạc nhàu nát.

– Em biết chủ nhà bên đó không?

– Con mẹ Cúc bộ đội hả? Ai mà không biết?

– Ừ. Con mẹ bộ đội tên Cúc. Tôi lập lại chậm rãi từng chữ. Miệng tôi đắng và Huế chưa hề cho tôi niềm vui nhỏ từ hôm tôi xuống tới bến xe. Thành phố ghẻ lạnh, dù tôi xa nó chưa bao lâu. Tôi thực sự là đứa con hoang, với tất cả những thành phố, không cứ là Huế thiết thân. Đứa nhỏ trao thuốc và vui vẻ loan tin:

– Giờ ni thì mụ ta có mặt dưới rạp chiếu bóng Khải Hoàn chứ mô có ở nhà. Bộ muốn tìm mụ Cúc hả? Dưới đó đang chiếu phim thần thoại của Liên-xô, tha hồ mà nghe mụ ấy thuyết minh kể lể chuyện hoang đường.

Tôi thắp một điếu thuốc. Buồn miệng chỉ biết hút, bởi chẳng thể kiếm được thứ gì để đút vào mồm. Lạ một điều là khói thuốc có thể giúp người ta cưỡng chống cơn đói, hoặc khi ngậm điếu thuốc, môi bận bịu, người ta sẽ bớt phát ngôn linh tinh. Con bé này có ngày tai ương sẽ đón đầu nó bởi nó có vẻ luôn ngứa miệng, ăn quàng nói xiên. Tôi thu cất những điếu thuốc vào chỗ khô ráo nhất trong người rồi cắm đầu chạy dưới mưa. Rạp Khải Hoàn kia rồi. Nó không thay đổi gì ngoài bề mặt ngoại trừ bất ngờ dung nạp thêm chị Cúc vào làm việc bên trong. Chuyện gì đã xẩy tới với chị để khiến giờ này chị phải thuyên chuyển công tác về làm cho cái rạp chiếu bóng cũ kỹ này. Tôi không tin là nhà nước thanh lọc lại cán bộ để phát hiện ra cái lý lịch “đen tối” do gia đình ở trong Nam ảnh hưởng đè nặng tới chị. Hai chị em đã có lần bất đồng ý kiến khi tôi điền bản tự khai trong tờ đơn đi xin việc với sự hướng dẫn của chị. Lần đó, chị hỏi:

– Kể chị nghe, vì sao mẹ chết?

– Bị bệnh ngặt nghèo. Năm 72 tụi này đưa mẹ đi nằm hai ba bệnh viện điều trị, xoay xở mãi vẫn không qua khỏi.

– Chắc không?

– Việc gì phải dấu chị điều đó?

– Thôi, như thế này nhé, ngang đây em cứ ghi bị chết vì bom đạn của Mỹ Ngụy trên đường sơ tán từ Quảng Trị vào Huế.

– Sự thật thì bao giờ cũng hơn. Vả lại có những điều không đáng để mình ngụy tạo.

– Sao là không đáng? Nghe lời chị đi. Em sẽ phải tìm ra một công việc thích hợp. Chế độ này ai cũng lao động cần cù…

Sau đó câu chuyện dẫn dắt tới một cuộc cãi vã nặng nề mà tôi là kẻ thua cuộc. Tôi dong hai tay đầu hàng cho chị khỏi mắng tôi bị “chúng nó” tiêm nhiễm tư tưởng phản động. Tôi buồn chán cuộc sống mới, tôi vơ một đống đồ kỷ niệm trong gia đình mang vào chợ trời bán đổ bán tháo. Tôi bỏ Huế, tôi đi bụi đời và tôi đi một mạch vào tuốt Nha Trang.

Lòng thù hận của con người thật khó hiểu, đã đành, sợi giây nối kết tình ruột thịt của chúng tôi thì sao? Gặp lại nhau lần thứ hai này, chị Cúc sẽ có thái độ nào? Tôi không biết. Xui cho tôi quá, lý ra giờ này tôi ngồi trên ghe và xa xăm ngoài trùng khơi là vùng đất của tự do, con người ở đó sẽ nhân đạo đưa tay cứu vớt chúng tôi, họ chẳng mấy thiện cảm nhưng họ ái ngại, thương hại cho lũ người bị chủ nghĩa cộng sản bức hại tận đường cùng.

Tôi đứng xếp hàng và mua một cái vé với giá rẻ nhất. Bán vé là gã đàn ông có vẻ kháu ó. Nhìn quanh, công nhân viên toàn là phái nam, họ làm việc chẳng mấy hứng thú, tuồng như bị bắt buộc, miễn cưỡng. Không riêng tôi, trông họ cũng đang đói rét. Cái ưu việt của giai cấp vô sản là chúng tôi không có hố sâu cách biệt: Xanh mét. Thèm ăn. Thèm ngủ. Tự mình đánh thắng những thèm muốn viễn vông khác. Thúc thủ!

Hơi ấm trong rạp mơn trớn vào da thịt khiến dễ chịu. Ngược lại, nhiều ngọn đèn không chịu “cần kiệm” đồng loạt thi đua mức độ ánh sáng chiếu vào những khẩu hiệu giăng đầy tường làm tôi choáng váng. Mọi thứ dùng để trang hoàng trong rạp chiếu bóng khiến nó biến đổi gần thành một tòa án, chỉ thiếu quan tòa, chỉ thiếu vành móng ngựa. Con người ngồi không yên chỗ kia thảy đều là tội đồ. Không phải sao? Đã là người thì ai mà chẳng tạo nên lỗi lầm!

Chỗ ngồi có ghi số trên tấm vé nằm sát lối đi vào phòng vệ sinh. Mùi hôi khai luôn xô đẩy ra từ sau tấm màn vải lem luốc treo thế cánh cửa, và ở vị trí này người ta thường giễu bằng cụm từ: Bắt tay với tài tử. Con bé bán thuốc lá quảng cáo có thể đúng, phim hấp dẫn không mà người đi xem cũng khá đông. Và khán giả thích thú với loại thần thoại hoang đường thì xem chừng cũng hơi khác thường. Họ dễ tính và cởi mở ra mặt, hơi bị vô tư. Một tên thanh niên cỡ tuổi tôi ngồi ghế bên lân la gợi chuyện:

– Phim ngộ lắm nghe. Tui coi lần này là lần thứ hai… Thiệt tức cười…

Giọng nói khan. Thứ giọng của người thường đến cửa quan kêu gào nỗi oan ức, hoặc của tên chuyên bán thuốc xổ sán mãi-võ-Sơn-đông mà ta thường bắt gặp ở những bến xe. Khản tiếng giống ông mù biết xuống sáu câu quanh quẩn những tụ điểm ăn nhậu. Khàn đục tựa tiếng rao của thằng bé bán bánh mì nóng mới ra lò. Có thể ca sĩ chuyên nghiệp cũng có thứ giọng đó, bởi người ta bảo: Tiếng hát át tiếng bom.

– Tui để ý rồi đó, trong phim của Tiệp, Hung, Ba Lan, Liên-xô không bao giờ mình trông ra bóng dáng một thằng “Tây đen”. Họ kỳ thị dữ lắm chứ không giỡn chơi đâu nghe.

Tôi ngó hắn bằng nửa con mắt, có nghĩa là nhìn mà không cần phải quay đầu. Tóc hắn lởm chởm, ướt nước mưa. Đã có tên thợ hớt tóc nào cố tình chơi khăm vọc dao vọc kéo lên đó để tiả thành lông lá một con nhím đang tới hồi bệnh hoạn. Ở khuôn mặt coi rất tếu đó luôn nở sẵn nụ cười ngây dại. Nụ cười của một người già trước tuổi, bao dung với những nghịch cảnh luôn tìm đến.

– Bỏ ra về nửa chừng là mang tội đó nghe. Tức cười thiệt. Phim hay ai lại dại dột chẳng muốn coi?

Như ngồi trên lửa, hắn ta luôn loay hoay trong phạm vi cái ghế gỗ chật hẹp. Khi ngả đầu vòng tay trước ngực, khi chồm người tới lấy móng tay khảy lên đường nứt trên lưng ghế trước.

– Tụi nó phá cho hư hỏng ra cả. Ba tui mà thấy được chắc ổng buồn lắm…

Tôi ngoái đầu lui dáo dác nhìn lên lầu, may ra bắt gặp bóng dáng chị Cúc đứng đâu đó gần buồng chiếu phim.

– Sốt ruột hả?

Tôi mỏi mệt tới độ không gióng lên được một tiếng: Ừ. Phải chi hắn ngồi yên, hắn bớt phát thanh, và rồi tôi có thể chợp mắt một khoảnh khắc.

– Thời đó ba tui luôn tôn trọng giờ giấc. Nói năm giờ là năm giờ chiếu, nói bảy giờ là đúng bảy giờ, không chơi trò linh động co giãn kiểu giây thun. Ba tui mà còn làm chủ, ổng chửi mấy thằng ni cho nát nước… Anh biết ba tui không?

Tôi buồn miệng muốn hút một điếu thuốc nhưng bảng nội quy “làm chủ tập thể” đã ngăn cấm. Thằng cha cà chớn này nhiều chuyện tới độ mình phải ngứa miệng:

– Ba của tôi thì làm tới giám đốc hãng xuất nhập cảng phim ảnh mà giờ này tôi thèm hút thuốc cũng phải ngồi bó tay ngáp ruồi thôi. Ở đó mà nói hoài!

Hắn sững mặt nhìn tôi giây lát, xong lại gầm đầu xuống như suy nghĩ việc gì đang rối bung. Tôi muốn bỏ hắn mà đi vào nhà vệ sinh hút chùng lén một điếu thuốc nhưng đèn trong rạp đã tắt ngúm. Giọng ai đó nói trong máy phóng thanh nhắc nhở bà con thể hiện nếp sống văn minh, giảng giải một hồi công lao thần thánh của Đảng và nhà nước đã mang lại sự quang vinh ngày hôm nay, người thôi bóc lột người, quê hương sạch bóng quân xâm lược…

Tôi rất sợ hãi, mà cái thằng ưa nói “tức cười thiệt” ngồi bên cũng đang thu nhỏ người lại, co quắp như bị trúng gió. Tôi cố tập trung đầu óc nghĩ tới một chuyện thật “đồi trụy”.

Tôi nhớ lại căn nhà dùng làm chốn ẩn náu trước khi ra “taxi”. Khi vượt biển, người ta phải dòm lịch để biết chắc đó là một đêm không trăng sao. Càng tăm tối càng tốt, càng ra đi trong khuya khoắt càng an toàn. Khuya khoắt, “taxi” chưa tới, tôi dóng tai nghe có tiếng động sau vườn cây đặc quánh mực xạ. Cửa sổ mở hé và một đôi nhân tình đang cho tôi xem xuất phim “hiện thực hoang đường” mà họ diễn rất đạt. Cặp ấy là hành khách đi chung chuyến ghe với tôi, họ từng bày tỏ cử chỉ âu yếm với nhau khi trời sáng và tối tăm thì họ làm chuyện đáng làm. Da thịt cô gái là điều gì đáng phàn nàn, bởi lẽ nó trắng quá, trắng tới độ phát quang. Đôi vú cô ta là cái đáng lên án bởi nó tròn trịa quá, nó phồn thịnh và căng cứng là chuyện hiển nhiên. Khi ngắm nhìn, kẻ ngoại cuộc buộc phải ganh tức với thằng con trai đang ra sức làm “taxi” mang cô gái tới bến bờ hoang lạc. Hắn hôn cô gái cùng khắp, gục đầu tóc rối xuống cụm lông mọc giữa hai chân người tình. Họ sướng, tôi biết chắc về điều đó, nhưng họ cố nén tiếng rên la. Và kiến, và muỗi trong vườn khuya sẽ có một buổi liên hoan phủ phê bữa tiệc máu. Tôi cũng có người yêu, nhưng cô ta đã vất tôi lại giữa đời sống cô quanh này để đi tìm ánh sáng cuối đường hầm. Giới hạn cuối mà người yêu dành cho là tôi chỉ được phép cầm tay và hôn vào môi thôi. Cấm “lấn đất dành dân” đi hoang tới vùng cấm địa. Tuy vậy tôi cũng biết tới mùi vị đàn bà, Vân đã dắt tôi đi chơi đĩ gọi là xả xui trước khi vượt biển. Người đàn bà đáng tuổi chị đã không thẹn thùng cho tôi ngắm “đầu mình và tứ chi”, cho tôi sờ mó và sau cùng dắt tôi đi lâng lâng tới tuốt vườn địa đàng. Thằng nhỏ khóc, tôi khóc. Người đàn bà mặc lại áo quần: Chớ nói là tôi phá nát đời trai của cậu nhé!

Tên có đội con nhím trên đầu thúc tay vào một bên hông làm tôi hoàn hồn:

– Thằng phi ngựa kia sẽ mang tên Du-ri-lốp-cốp. Để xem có đúng không?

Màn ảnh đang trình bày một bầu trời đỏ quạch như màu gạch nung, bóng một kỵ sĩ cưỡi ngựa trắng chạy vụt qua, vó câu rầm rộ cuốn theo cát bụi mù mịt. Giọng chi Cúc trỗi lên, trôi mơ hồ như từ rừng sâu vọng ra. Tôi không nhầm lẫn. Nó đặc biệt vì nó pha trộn ô hợp khi thì Huế, khi thì Hà Nội, lúc khác lại Nghệ An. Ông thủ trưởng nào cũng sáng suốt khi thu nhận chị về làm người thuyết minh phim. Một con vẹt tài giỏi ở trong gánh xiếc chắc phải bay tới chị để… ”đi thực tế”. Tôi mường tượng chị đang ngồi trên cái ghế đẩu thô cứng, ly nước lạnh đặt cạnh, một ngọn đèn mờ chiếu xuống đỉnh đầu; tay chị nắm chặt xấp giấy có ai viết sẵn và mở miệng ê a: “Ở vào cái thuở mà bầu trời thấp xuống và con người có thể đưa tay lên sờ mó được, mọi sinh vật tranh sống dưới ánh sáng khắc nghiệt của mặt trời, văn minh của loài người chỉ sản sinh ra chế độ sống bộ lạc… Chàng Yu ri Sê cốp luôn hoàn thiện những sứ mạng bằng chính sức mạnh…”

Thằng cha cà chớn ngồi cạnh há miệng cười hô hố. Hắn hay nói chữ “tức cười thiệt” và hắn sẵn lòng thực hiện cụ thể bằng hành động. Tôi chẳng thấy có gì đáng cười cả. Tủi hổ và thương hại thì có. Theo quy luật tự nhiên, thời đại đồ đá sẽ dẫn tới thời kỳ đồ đồng. Cớ sao những người chiến thắng lôi kéo chúng tôi từ thế kỳ này trở về sống lại thế kỷ trước. Từ bỏ phố phường sáng điện về thắp đuốc trong hang động để rồi lại mơ mộng phấn đấu cho bằng được: Không phải chỉ ăn no mà còn mặc đẹp. Mọi nhà tất yếu phải có Ti-vi, tủ lạnh…

Thằng “tức cười thiệt” bị xô đẩy vào góc tường. Mặt hắn tái mét, hai bờ môi run run. Có tiếng người nạt nộ:

– Mày muốn chạy trốn đấy phỏng?

– Chạy chớ. Độc lập tự do muôn năm mà…

Hắn nói không hết câu. Má hắn hằn đỏ năm ngón tay, miệng rỉ máu. Tôi thấy mắt hắn ứa ra những giọt nước.

– Đéo mẹ cái phường phản động này. Ngoan cố cứng đầu hả?

Hắn ôm mặt khóc hu hu:

– Ba ơi ba, cứu con với!

Một ông mặc sắc phục công an đến phụ hai người ăn vận đồ thường dân.

– Trói dẫn thằng này về đồn cho tôi. Thành phần phá rối nguy hiểm.

Kẻ mặc thường phục nói, quai hàm bạnh ra, vẻ đanh đá. Nạn nhân trì kéo, vùng vẫy cố thoát sáu cánh tay vươn dài như vòi bạch tuộc. Những sợi tóc hắn gần như mọc lên thẳng đứng. Con nhím cũng còn biết giận dữ tự bảo vệ, huống chi…

– Cái gì là nguy hiểm với phá rối. Oan cho tui quá… Ê, ê, anh kia. Cứu em với. Anh làm chứng giùm em có ăn nói chi bậy bạ không… Trời ơi là trời! Đừng là đồng minh tháo chạy chớ, xin hãy làm phước giúp em. Ba của anh làm tới chức giám đốc lận mà, sợ chi chớ!

Tôi đi như chạy xuống khỏi những bậc thềm trơn ướt. Người tôi nhẹ hẫng và nóng râm ran. Chỉ có sau ót tụ lại một điểm ớn lạnh. Nếu bị vây bủa tôi sẽ không bao giờ được như thằng Yu-ri sê-cốp, bởi giản dị tôi chẳng có một thanh kiếm nắm chặt ở tay. Và bầu trời, lạy Chúa, nó muôn đời là cao xanh, làm sao tay người có thể đưa tay ra sờ mó được.

– Đứng lại.

Bờ vai bên phải đau điếng. Tôi từng đi gánh nước, mỗi đầu là cái thùng nhôm chứa đựng bốn mươi lít, cái đòn gánh bằng tre cứng đờ không làm đau vai bằng năm ngón tay của ông bạn dân đang bấu víu kềm kẹp. Tôi co rúm người lại không hẳn vì trời mưa chăm chỉ nhỏ nước, tôi nghĩ tới tờ giấy đi đường mỏng manh gấp làm tư ẩn trong túi quần với con mộc đóng dấu hình ngôi sao le lói: “Yêu cầu các cơ quan liên hệ dành dễ dàng cho đương sự sớm hoàn thành công tác”.

Tôi không có tay để vuốt mặt. Mưa ràn rụa rơi, xuống tóc, trên hàng mi. Cảnh vật nhòe đi dưới mắt tôi, nó mông lung thoạt gần thoạt xa như hình ảnh cuối cùng được thu vô đồng tử của một kẻ bị sẩy chân chết đuối. Tôi thử vùng vẫy “bơi” loạng quạng.

– Mưa như thế này mà bỏ đi xăm xăm, kêu chả hề đứng lại. Mày là đồng bọn với nó chứ còn gì nữa?

Tay tôi bị khóa cứng lui sau. Phải chi đêm đó mình bị tóm ở Nha Trang. Không gì dễ chịu bằng khi bạn bị mang bản án “Phản bội tổ quốc”. Nó nhẹ nhất so với những tội danh khác của nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật sư sẽ biện hộ: Tha cho nó đi, thưa qúy tòa, thân chủ tôi bị chứng liệt dương, tìm đường trốn qua Mỹ chỉ mong chạy đúng thuốc để sớm được phổng phao.

Mưa bôi xóa hết. Tự cổ chí kim, mưa Huế vẫn vô địch cái khoản làm thúi đất. Nhưng trong phút giây, mưa đã nhượng bộ, giữa xóa nhòa mọi hình tướng của vật thể, nó không bôi được dáng đứng một người: Chị Cúc. Chị đứng ở bực thềm, biên giới giữa ướt át và ráo khô. Chị đứng với lẻ loi ngọn đèn vàng treo từ tấm panneau rọi hắt xuống một vũng màu. Chưa bao giờ chị Cúc mang được cái nhan sắc đẹp lạ lùng đến vậy. Sự khả ái dường như biết phát hào quang.

Tôi bắt chước thằng “phá rối trật tự” kia:

– Chị Cúc, cứu em với. Chị Cúc… là em đây… Chị Cúc… em bị bắt oan.

Nước mưa có khi rất mặn, người ta có biết điều đó không?

– Nó là em tôi. Đã có chuyện gì xẩy ra vậy?

– Cô là ai?

– Công nhân viên của liên doanh chiếu bóng tỉnh Bình Trị Thiên. Đảng viên… Có bằng nghiệp vụ từ Liên-xô… Biên chế năm…

Có thể do thói quen nghề nghiệp, chị Cúc thuyết minh một hơi dài. Chữ chị dùng thì lúc nào cũng gồ ghề, gây ấn tượng, nhưng chị “dọa” lộn người rồi. Thằng công an nếu biết được ba chữ “tức cười thiệt” thì hẳn nó đã nói.

– Rảnh thì về đồn công an làm tờ khai. Hãy để cho tôi thi hành công tác bảo vệ trị an.

Tôi bị lôi đi cùng thằng con ông chủ rạp chiếu bóng bị nhà nước tước đoạt. Chúng xâu hai đứa tôi lại bằng một đoạn dây thừng. Nếu là trâu, có lẽ người ta đang dắt hai đứa ra đồng, mặc dù đang chiều, cho kịp vụ mùa. Liên tưởng là trâu, bởi lẽ tôi đang có rất ít chất xám, tôi ngu si, đần độn và tôi chẳng thắc mắc về điều thiệt thòi đó. Trong tôi mọc lên chỉ một ý nghĩ: Chị Cúc có thông minh không? Nếu thông minh, chị sẽ bảo: Anh xem tôi là thành phần nào mà đi liên hệ với phường phản động kia?

– Em yên tâm. Hãy bình tĩnh đi theo họ. Chị sẽ nghỉ việc ở xuất chiếu tới để đến với em. Chị không tin là bao nhiêu năm phục vụ Đảng và nhà nước như chị đây lại không giải được tội oan cho em. Hãy tin chị, cũng như chị đã tin em.

Chị nói, qua màn mưa nghe như tấm tức, như nhão mềm úng thủy. Tôi ngó lui, chị đã bước ra tới lề đường, đội mưa dõi trông theo. Tay chị không bị ai trói nhưng trông chị bứt rứt vụng về như chỉ chực vứt bỏ nó đi. Đầu tóc chị xổ tung ra mặc mưa gội tắm. Phút giây đó, mặt chị có nét giống mẹ tôi. Xanh xao, hoảng hốt, muôn đời chân yếu tay mềm. Bột màu vẽ trên khung vải quảng cáo phim “Thiên đường hạ giới” bị trôi, hoen ố, rồi chảy xuống nhuộm đỏ khoảng xi-măng đang chôn chân chị Cúc.

Sau tất cả những đổ vỡ, tôi rất tin vào cái còn lại: Tình người. Nhất là thứ tình ruột thịt. Tôi hy vọng, một ngày rất gần, chị Cúc sẽ đọc dịu dàng giọng Huế đoạn thuyết minh cảm động: “Ở vào thế kỷ hôm nay, thời điểm này, tình cảm con người bộc lộ cho nhau nó tràn ra quanh mình và ta có thề đưa tay sờ mó cất dấu làm của riêng được”.

Tôi bước vào đồn công an. Cánh cửa đóng lại. Mưa tự do rơi bên ngoài, ướt nghe ngói một Huế điêu linh.

Hồ Đình Nghiêm

Có một ngày gọi là St – Valentin

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 31 Dec 2023

Anh thường ra ngồi ngoài quán, hầu như mỗi ngày, chẳng thay đổi địa điểm. Cà phê ở đó ngon, sự tĩnh lặng, ánh sáng vừa phải, trang trí đẹp, thoáng; và sau hết, ít có những cặp mắt tọc mạch ngầm dọ hỏi mấy đứa lỡ nấn ná câu giờ như anh. Cái mà anh không thích là lắm khi anh chợt nhìn ra, sợ hãi về nỗi cô đơn luôn vây khổn anh. Anh tính bỏ thói quen chẳng lành mạnh ấy đi thì một hôm bất chợt anh phát hiện có người con gái. Cô ngồi góc khuất, cũng lẻ loi một mình. Cô là khách quen, anh đoán thế, qua điệu bộ có vẻ thân thiện của đứa pha cà phê.

Chẳng hiểu do đâu anh tự đánh cuộc, cô ấy là người Việt. Nào có gì đặc thù để võ đoán đó là một người đồng hương? Có thể hồ đồ để nương nhờ vô hai chữ: Linh tính. Anh là người nhạy cảm. Và thông thường, nhạy cảm nó làm mình liêu xiêu ít nhiều nếu giác quan bù trất, trông chim hóa bướm. Để kiểm chứng anh làm mặt dày mày dạn tới gần làm quen. Có người bày: Đẹp trai không bằng chai mặt. Ừ, thì đôi khi cũng nên ca cải lương cho vấn đề được tới. Hiệu nghiệm, cô vui vẻ cho anh ngồi ghế đối diện. Chẳng sai, cô người Việt, in tuồng sinh ở Đà-nẵng, giọng khó nghe ra lúc ban sơ nhưng thánh thót rót vào tai khi đã có trớn, nhăng cuội toàn chuyện nắng mưa, nhưng vui thú. Cô có đôi mắt to, chút phiền muộn đọng chiếu. Trên vách treo bức tranh in lại chân dung thiếu nữ của Modigliani. Đôi mắt đó, nhãn quang này e thập phần chẳng sai biệt mảy may. Anh kiếm ra cớ để gợi chuyện và cô xì một tiếng. Chữ “xì” chẳng nói rõ điều gì. Chê bai? Phủ nhận? Hay ngụ ý: Xưa rồi Diễm, trăm người đều nói với ta có ngần ấy điều, chả mới lạ. Ngoài cửa sổ linh hồn ấy ra ta chẳng còn gì nổi bật ư?

Anh đi mua thêm một tách cà phê sau khi hỏi thứ mà cô đang uống. Mời. Anh nói. Cô bảo: Eo ôi, nhiều quá, dung nạp gắt, sợ táo bón. Một nửa thôi. OK? Cô sớt chia, đổ vào cái tách men có in vệt son môi còn ướt. Màu đỏ lấm lem nọ làm cho men sứ trắng trở nên nhạt nhòa. Anh thích sự vấy bẩn kia, tưởng tượng ra cái rít rát của nó dán chặt vào mồm miệng luôn khô khát của mình…

Chưa bao giờ anh thấy thời gian trôi mau như vậy mỗi khi được chuyện trò cùng cô. Binh pháp có câu: Dục tốc bất đạt. Mà ngay cả cẩm nang dành cho đầu bếp cũng thế. Lửa riu riu, vớt bọt cho tới hồi nước trong, đậy nắp lại. Đi đâu mà vội? Anh biết, nên anh dằn lòng chẳng nói ra cảm xúc đang réo sôi, chực trào. Khi xét thấy thời cơ đã đến, hoàn cảnh thuận lợi, có nghĩa là sau khi đã “cúng” cho quán nước đó trên dưới 500 đô, mòn nhẵn chỗ ngồi, anh bắt đầu nhập đề. Thằng cha đầu bếp đang chuẩn bị mở nắp, xem xương thịt đã nhừ chưa, cần gia giảm bột ngọt mì chính? Anh bóng gió một câu, cô như không nghe rõ. Cô ngó ra đường: Hình như ông chẳng có một người bạn nào cả? Có chứ, có chứ. Nó bận bịu vợ con, lại thêm Tết đến nó lu bu chuyện cúng kiếng. Hồi hôm tao tắm táp sạch sẽ, cả mụ vợ cũng thế, đợi giao thừa tao liền đốt cho mụ cái pháo tống, la bai bải. Cái gì? Ồ, nó trêu ngươi, nó dem thèm tôi vậy mà. Có biết đốt pháo tống là gì không? Cô có vẻ nản, mặt cúi xuống, như thể đang ngó cái đầu gối. Cô không thích ỡm ờ, cô chẳng ưa đoán già đoán non, cô ghét nói xiên nói xẹo. Ưa gì thì nói rõ cho bà con nhờ, cha nội!

Cô gọi anh bằng ông, xưng tui. Cô trên ba mươi, đã từng làm vợ thằng đàn ông may mắn nào đó. Cô ra ngồi ngoài quán vì đang độc thân tại chỗ, có thể cô mượn khung cảnh ấy để làm vơi chút sật sừ hư hao sau đổ vỡ. Đường tình cô đi hơi ngắn, chẳng êm ả từng cây số, như thể leo lên tới đỉnh đèo Hải-vân thì chết máy, vì nguyên cớ gì thì anh không tiện hỏi. Anh rất mong là cô vất bỏ mọi thứ trên đèo heo hút lạnh để đón xe lui lại nơi xuất phát và anh là đứa lái xe ôm định mệnh kia. Cô hỏi tuổi anh. Năm mươi, anh man khai, cố giảm thiểu đôi ba năm cho đỡ già nua. Anh tin là cô chẳng phát hiện điều gian dối, và nếu biết sự thật thì có gì để phiền hà ở sự chênh lệch tuổi tác kia? Phải mà vợ chồng thì họa may “gôm”, cho nói lại, bởi như vậy trông chẳng xứng đôi vừa lứa, ngó lệch lạc, mất sướng. Già chết trước, dĩ nhiên, già xanh cỏ vất trẻ hồng nhan làm góa phụ mình ên, kể cũng nản. Ngay tình, hơn hai mươi năm là hố sâu cách biệt ấy, không chắc đứa tra có hột như anh lại khôn nẻ vỏ bằng cô. Cô thông minh, nhiều giác quan, nhiều linh tính, cô có thể đọc ra những âm mưu vừa chớm nẩy mầm trong trí anh, điều đó khiến anh đâm ngu ngơ vụng dại như thằng con trai mặt đang nổi mụn giọng đang bể tiếng. Lúng túng là trạng thái quen thuộc luôn đứng án giữa anh và cô. Như xăng pha nước làm máy nổ thậm thụt chạy cà rịch cà tang qua bao đèo cao núi lớn mãi bày biện.

Đầu năm, cô nói: Ông chưa lì xì cho tui! Chết chửa, anh than thầm. Hơn ba mươi năm lưu lạc, chưa ai lì xì cho anh cái gì cả, chính điều này làm anh quên thứ tục lệ oái ăm kia. Anh cố nhớ lại những ngày tết xưa rich và anh đồ rằng e lớn tuổi thì phải luôn lì xì cho đám hậu bối. Sao cô không làm một cuộc cách mạng nhỉ? Cô hào phóng đảo ngược lề thói hủ lậu kia để đường bệ lì xì anh bất kể một thứ bé tẻo teo làm bằng cớ mấy tháng quen nhau. Anh khổ sở tìm kế hoãn binh, cực lòng đánh trống lãng; và anh hứa có ngay có ngay, tới liền tới liền. Ngay và liền, có liền ngay được quy ra bằng đơn vị tuần. Mất bảy ngày đêm kiên cường bám trụ chiến đấu cùng laptop anh hoàn thành một truyện ngắn gửi đăng báo mạng nóng sốt làm quà mừng tuổi cô.

Hồi âm, trong email cô viết: “Tui hổng ưa món lì xì đó. Chữ nghĩa ông hoang dàn trời thiệt không hợp tạng tui. Sẵn, tui cũng bộc lộ, tui ngán X, PG-13 thì OK.” Tắt máy, buồn câm, giận lẫy cuộc đời anh chui vào giường nằm trùm chăn phủ đầu ngộp thở. Cảm giác như bị chìm xuống đáy, đắm đuối và trên mặt sông rộng mọi thứ vẫn tuần tự diễn trôi, lãnh cảm. Anh là đứa lái xe ôm và thắng xe đang hỏng, xe đổ đèo rợn cảm, muốn cảnh vật ngừng trôi chỉ có nước đâm đầu vào núi hoặc lòn lách nhắm hướng suối khe. Anh ngủ với ác mộng trong ba bữa tết căm lạnh. Anh câm lặng, tự đánh cuộc: Cô sẽ viết một cái email khác?

Khi buổi chiều giũ áo, bóng tối được đẩy lui bằng hai dãy đèn vàng đồng loạt mở bừng những con mắt. Con đường rộng ra, nhợt nhạt một chắn lối chẳng rõ mặt. Vẫn là nỗi bất an quen thuộc, rình rập khi anh dẫm bước trên lối đi nhiều giá băng. Gió táp vào mặt, rát bỏng và sau đó là cái tái tê chai lì, cộm cứng, mất phản ứng. Từng căn chung cư vuông vắn nhạt nhòe màu gạch không phủ sơn, trồi ra thụt vào để giữ lấy sự ghẻ lạnh cố hữu. Đồng dạng ở bề mặt, nhưng hoạt cảnh sẽ thay đổi trong từng căn hộ. Có thể nó nhốt sinh khí đầm ấm của một gia đình đang quây quần bên mâm cơm, có thể kẻ độc thân đang trụng mì ăn liền ở căn đối diện đầy quạnh quẽ, có thể hai đứa trẻ đang ngồi chơi game trước TV ở tầng dưới. Và có thể, trên tầng ba, người đàn bà ngồi trước computer gửi đi những tin nhắn: Làm sao tui có thể nói hết? Ông tới tui khoảng 7 giờ, dị đi hén.

Bảy giờ, cửa mở, anh ngó thấy một bán diện. Chỉ nửa khuôn mặt, chẳng biểu lộ toàn phần sự cảm xúc. Có thể nửa kia đang vui, cũng có thể phần khuất che đang mang chút phiền muộn. Cửa không rộng mở như rụt rè luôn chiến thắng một hân hoan, như hàng xóm rình rập và gặp gỡ này là hành động của kẻ phạm pháp. Anh từng có khi hành nghề đi giao Pizza, thường thì người đặt hàng vui vẻ mở rộng cánh cửa, mở toang hoác, thậm chí họ cả tin để quay lưng vào lấy tiền mặc tình anh có thể đứng quan sát những đồ vật bày biện tùy thích. Anh có thể cầm dao đâm ai đó, nếu muốn. Anh có thể lấy đi bất cứ thứ gì, nếu ưng. Bất cẩn hoặc đề phòng cảnh tỉnh đều vô nghĩa đối với phường bạc ác bởi cánh cửa đã mở ra. Anh lách người vào và anh phát hiện cái phong phanh có trên y phục của gia chủ. Áo xống ấy tựa một cánh cửa chỉ khép hờ hững, quên khóa. Anh đóng cửa bằng lưng, lẳng lặng khom mình cởi giày. Trên tấm thảm nhỏ kề cận có đôi dép để sẵn, dép đàn ông, anh mang nó với câu nói từ cuốn phim nào chợt hiện: Tôi không ngại mang giày cũ đâu! Là sao? Là cũ người nhưng mới ta? Sao tình yêu lại mang giày dép vào trong? Dẫm lui dẫm tới. Có chà đạp không? Thật bậy bạ!

Gia chủ đi vào bếp pha cho anh cốc cà phê chẳng màng hỏi han. Giam giữa bốn bức tường là nỗi lặng yên đang dấy lên một bồi hồi. Bồi hồi ngay cả tiếng ly tách va chạm, tiếng muỗng khuấy động và tiếng dép lê. Cà phê này tui mua ở quán ấy, thứ mà ông vẫn uống. Khói tỏa trên dung dịch đen, sóng sánh khi tách cà phê đặt xuống bàn. Cô kéo ghế, ngồi đi. Mặt bàn nhỏ, hai ghế đứng chầu hai bên, trên bàn cái laptop vẫn hoạt động. Như thể khi anh tới cô vẫn đang cắm cúi vào màn hình. Có gì lạ không? Anh hỏi rồi ngồi vào chỗ cô vừa định sẵn. Chị tui tên Đoan Trang, năm mươi hai tuổi, đang sống ở Quảng-ngãi, có cửa hàng thời trang. Bây giờ bên đó là bảy giờ sáng, tui có nói trước rồi, thích nói chuyện trực tiếp không, tui mở skype. Ông muốn tui đổi cách xưng hô? Tui sẽ gọi ông là anh, ông anh rể, ô-kê? Xem như năm mới tui lì xì ông một tin vui.

Cà phê đắng, muôn đời là thế. Anh uống không hết bởi nghẹn cứng một vật cản, thêm đường thêm mật thêm sữa cũng hoài công. Anh nuốt nước bọt, anh không ngờ cô là nhà soạn kịch và cô viết ra một kịch bản đậm chất khôi hài đen. Chị tui thích đọc truyện ông, nhất là những đoạn ông ưa dặm muối thêm mắm cho giường chiếu chăn gối lệch lạc nát nhàu. Cũng tội, bả vắng đàn ông đã lâu. Ông biết không? Tui hẹn ông tới hôm nay vì đây là ngày lễ tình yêu. Rất ấn tượng cho hai người.

Vậy sao? Anh ngạc nhiên. Chúng ta có nên đi tìm một quán ăn không? Ừ, ngày cho tình yêu, ấn tượng thật. Năm hai tuổi, ông chê già? Phải dòm mặt trước rồi hẳn quyết định. Chị tui để dành được mười ngàn đô, sẽ trao vào tay người mang chị ấy sang đây.

Anh bước lại cửa, mang giày. Tròng vào thân mũ mão khăn quàng áo ngự hàn. Cô vẫn ngồi yên trên ghế, mặt chẳng biểu lộ điều gì. Có khi cô từng là ngọn lửa giúp anh ấm người, có khi cô hiện thân là tảng băng sừng sững làm ngay cả chim chóc cũng biết vội bay lánh xa sự khắc nghiệt của lạnh lẽo, dễ đổ bệnh. Hơn ba mươi năm anh chưa được ai lì xì, hơn ba mươi năm anh khuấy quên một tờ lịch in đỏ ngày St- Valentine.

Anh tự mở cửa, tự đóng lại. Bước ra đường, gió tạt vào mặt anh buốt đau vết cắt lạnh thường hằng. Đường không ai, trống vắng. Đèn vẫn thắp đỏ và đèn chiếu dưới chân anh một bóng đen kẻ đồng hành, thoạt gầy thoạt béo thoạt ngắn thoạt dài, và cả hai đi trong câm nín, co ro.

Hồ Đình Nghiêm

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 31 Dec 2023

Bài 18

Phần 17

Thoạt mới quan sát hệ thống xã hội Cộng sản, người quốc gia không khỏi không kinh ngạc và tự hỏi: Tại sao bọn lãnh tụ chúng nó tài thế, đã tạo được cả một thế hệ đồng dạng với nhau từ lời ăn tiếng nói, từ nếp suy nghĩ dẫn đến hành động? Một lời nói của lãnh tụ ban ra là một chân lý và được tất cả mọi người bên dưới lập lại những lời lẽ ấy với tất cả sự kính cẩn. Thí dụ Hồ Chí Minh nói rằng “tình hữu nghị Việt Trung đời đời bền vững”, thì cả nước đều dùng đúng từng chữ như thế trong một dịp thích hợp với câu nói ấy. Hoặc giả Hồ Chí Minh ca ngợi “mái tranh nền đất là truyền thống dân tộc”, thế là từ trên xuống dưới biến câu nói ấy thành một… hành động cụ thể; có nghĩa là bất cứ dịp nào có thể, đều tìm cách biến đất nước trở về thời đại… nền đất mái tranh! Đây cũng là lý do bọn tù cải tạo phải đổ mồ hôi nước mắt phá cho bằng sạch những khu tiền chế tối tân của Mỹ, đào xới tất cả những nền nhà xi măng do Mỹ thiết lập để đào ao lấy đất đắp nền, cắt cỏ tranh đan mái…

Bằng phương pháp nào Cộng sản biến con người thành một cái máy nhận lệnh ngoan ngoãn như vậy? Câu trả lời chính xác không vượt ra ngoài câu: Tuyên truyền nhồi sọ!

Kỹ thuật nhồi sọ của Cộng sản không phải không có những cái độc đáo của nó. Họ áp dụng nguyên tắc nước chảy đá mòn, có nghĩa là nói nhiều, nói mãi, nói một đề tài và buộc con người bị trị phải cùng nhau nhai đi nhai lại những đề tài ấy. Quân dân cán chính, nam phụ lão ấu, tất cả đều không thoát khỏi sự nhồi sọ này dưới chế độ Cộng sản.

Nằm trong trại, đêm đêm nghe tiếng loa vọng từ họ đạo Cao Xá về tới khu nhà ngủ trong trại tù, Vĩnh và các bạn đều biết rằng dân bên ngoài cũng đang bị nhồi sọ với những bài bản y hệt bên trong! Và từ đó, Vĩnh biết thêm rằng ở ngoài đời, ngoài việc chúng cũng bắt dân hội họp học tập từng đêm, nơi mỗi khu phố, chúng còn bắc thêm một cái loa. Cái loa lải nhải suốt ngày bài học của nhà nước. Người dân ngày hôm nay nghe chối tai, ngày mai nghe chối tai, tháng này nghe chối tai, tháng tới vẫn nghe chối tai… nhưng một ngày nào đó, trong một hoàn cảnh nào đó, tự dưng người dân thấy mình phát ra một câu nói giống hệt cái loa của nhà nước đã nói. Thế là nhà nước Cộng sản đã âm thầm ghi được một điểm son. Nhưng giả dụ anh người dân kia cho đến ngày xuôi tay nhắm mắt vẫn chưa thể giúp cho nhà nước cái điểm son đó, nhà nước vẫn không lấy gì làm âu lo và vội vã. Nhà nước sẽ nhận định rằng: Nó im lặng, nó rút vào cái vỏ, không hề có một lời nói hoặc hành động nào chống phá mình là được rồi. Còn lỗ tai nó coi như điếc, khối óc nó coi như đã đặc lại, không đáng kể. Cứ để thời gian quăng nó vào cái thùng rác của lịch sử, nằm chung với bọn ngụy quân ngụy quyền, bọn tư sản mại bản, bọn địa chủ phú hào… Lời tuyên truyền của nhà nước nếu không nhập được vào đầu của thằng bố thì sẽ nhập vào đầu thằng con. Và nếu thằng con vì một lý do gì cũng không “cải tạo” được nữa thì sẽ còn thằng cháu. Thế nào rồi nhà nước cũng có một thằng “tiến bộ” nghe theo và làm theo những lời tuyên truyền qua phương tiện cái loa. Đường lối ấy không vượt ra ngoài một câu nói của Hồ Chí Minh: Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người.

Trên một căn bản nào đó, từ 54 đến 75, Cộng sản đã thành công trong việc tuyên truyền nhồi sọ. Ít nhất qua hình thức, người ta cũng thấy Cộng sản tạo được một xã hội đồng dạng để biểu dương sức mạnh trong cuộc tấn công vào phòng tuyến của người quốc gia; dù rằng trên thực tế, bên trong của sự đồng dạng ấy là một cái hũ nhốt muôn nghìn sự mâu thuẫn. Thế nhưng nếu một nhà báo Tây Phương có dịp hỏi một người dân miền Nam rằng anh thấy Thiệu như thế nào? Nhà báo ấy sẽ rất dễ dàng nhận được câu trả lời: Thiệu bị Mỹ chi phối hoàn toàn! Tôi ghét Thiệu! (dù trên thực tế không phải không có những lần Thiệu chửi Mỹ ra mặt!). Nhưng nếu cũng nhà báo ấy hỏi một người dân miền Bắc xã hội chủ nghĩa rằng Bác Đảng thế nào? Thì chắc chắn nhà báo ấy sẽ được trả lời: Bác và Đảng đã xây dựng được một nước Việt Nam mới hoàn toàn độc lập, tự do, ấm no và hạnh phúc. Công ấy không thua gì công của các vua Hùng; dù rằng trong đáy thâm tâm, người trả lời câu hỏi biết rõ một trăm phần trăm rằng Bác và Đảng nô lệ Nga Tàu ra mặt, và là tác giả chính của câu “áo anh rách vai quần tôi có hai miếng vá”.

Ngày hôm nay, trong trại tù Cộng sản, Vĩnh và các bạn đang khởi sự nếm mùi nhồi sọ của Cộng sản!

Sự nhồi sọ trong tù cải tạo được diễn tiến qua năm giai đoạn:

1. Lên lớp tiếp thu bài học từ giáo viên.

2. Trở về phòng nghiên cứu bài học, đào sâu suy nghĩ về bài học, soạn đề cương cho bài học để sửa soạn bước vào thảo luận dựa trên bài học. 3. Thảo luận bài học theo cấp tổ 10 người. 4. Làm bài thu hoạch để nộp cho quản giáo. 5. Lên hội trường để được giải đáp các sai trái trong bài thu hoạch nếu có và bị quản giáo ghi nhận. Rút ưu khuyết điểm về tất cả các bước trong bài học vừa qua.

Năm bước nhồi sọ trên, cái bước ghê gớm nhất là bước thảo luận phát biểu.

Một tổ 10 người, có một thằng vệ binh ngồi giám sát, dưới sự điều động của tổ trưởng (Việt cộng gọi là trụ trì). Mười người ấy sẽ thay phiên nhau phát biểu những câu hỏi mà giáo viên đã cho sẵn ngay sau khi kết thúc bài học ở bước 1.

Bài học về tội ác của Đế quốc Mỹ chỉ có hai câu hỏi để mọi người dựa vào đó mà phát biểu.

1. Tại sao nói Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới? 2. Tại sao nói Đế quốc Mỹ là con đỉa hai vòi?

Tổ A.3 dĩ nhiên do tổ trưởng Quách Tứ trụ trì. Cả tổ ngồi thành một vòng tròn nơi một góc nhà được chỉ định. Khi tên vệ binh có nhiệm vụ ngồi giám sát ra lệnh bắt đầu làm việc, thì tổ trưởng sẽ là người tiên phong phát biểu làm gương. Tổ trưởng Quách Tứ bắt đầu:

– Thưa các anh em, tôi xin phát biểu về hai câu hỏi trong bài học. Câu thứ nhất tại sao nói Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới? Các anh em thấy đấy, Việt nam ta đất không rộng, người không đông, không hề ân oán gì với Đế quốc Mỹ, thế mà chỉ vì lợi nhuận, Đế quốc Mỹ đã áp dụng chính sách thực dân mới, đổ của dựng ra một chính quyền tay sai và một quân đội đánh thuê để thực hiện đường lối xâm lược của Mỹ, nhằm mục đích biến nước ta thành một bang chư hầu của Mỹ, phục vụ cho quyền lợi Mỹ. Mỹ đã trút xuống đất nước ta một số lượng bom đạn nhiều gấp hai lần được cả hai phe Đồng Minh và Trục xử dụng trong lần thế chiến thứ hai. Mỹ đã xử dụng tay sai phạm muôn nghìn tội ác với nhân dân ta bằng những hành động cướp của, giết người, đốt nhà, hãm hiếp phụ nữ, tàn sát những chiến Sỹ Cách mạng là con em nhân dân. Mỹ đã trút bom đạn 9 ngày đêm xuống thủ đô Hà Nội ta, và huênh hoang tuyên bố sẽ đưa miền Bắc chủ nghĩa xã hội trở về thời kỳ đồ đá. Nhưng Mỹ giàu mà không mạnh. Và cái quốc sách “vũ khí luận” của Mỹ đã tự chứng tỏ sự sai lầm của nó khi Mỹ đã bị nhân dân ta, quân đội ta nhất trí cùng Đảng, theo lời Bác gọi, đoàn kết đánh trả và đã chiến thắng Đế quốc Mỹ cùng bọn tay sai ngụy quân ngụy quyền một cách hoàn toàn và triệt để. Cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ cứu nước của ta đã hoàn toàn thắng lợi. Từ đây, đất nước ta đã sạch bóng quân thù, và sẽ không một thằng thực dân đế quốc nào còn dám nhòm nhỏ xâm lược nữa.

Quách Tứ phát biểu một hơi y chang bài học. Sau đó, để kết luận câu 1, anh nói: Liên hệ bản thân, tôi xấu hổ vì sự lầm lẫn của mình giữa bạn và thù. Tôi đã phạm muôn nghìn tội ác với nhân dân, đã bắn giết Cách mạng không gớm tay, dù rằng… nói tới đây Quách Tứ hơi nghĩ ngợi. Một thoáng anh tiếp. Dù rằng từ ngày ra trường tôi chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là sỹ quan huấn luyện lái trực thăng ở Nha Trang…

Anh em đều cười thầm trong bụng. Thế nhưng thằng vệ binh oắt con cũng chẳng vừa. Nó điểm mặt Quách Tứ sửa sai tại chỗ.

– Anh nói hay lắm nhưng kết luận như cứt! Chạy tội phỏng? Anh phát biểu lại phần liên hệ về bản thân với tội ác đã phạm tôi xem nào. Không đạt yêu cầu là tôi cùm anh.

Quách Tứ hơi hoảng. Anh ngó các bạn rồi phát biểu lại.

– Dù rằng là một sỹ quan huấn luyện, nhưng tôi bị Mỹ ngụy nhồi sọ tư tưởng chống Cộng đến cùng. Do đó, tôi đã tích cực huấn luyện các phi công làm sao triệt hạ mục tiêu cho chính xác, xử dụng bom như thế nào để tận dụng được mọi ưu điểm của loại bom đó, có nghĩa là giết được càng nhiều càng tốt. Như thế, tôi là người chịu nhiều trách nhiệm hơn cả những người do tôi huấn luyện đi dội bom tàn sát Cách mạng.

Quách Tứ tính nói thêm nhưng tên vệ binh đã len vào.

– Phải như thế chứ! Giờ này mà còn giọng điệu ngoan cố chạy tội là không tốt. Câu một đủ rồi. Anh phát biểu tiếp câu hai.

Và Quách Tứ phát biểu tiếp câu hai.

– Thưa các anh tôi xin phát biểu tiếp câu hai. Tại sao nói Đế quốc Mỹ là con đỉa hai vòi? Như các anh thấy đấy. Nước Mỹ là một nước do những tập đoàn tư bản phản động thay nhau lãnh đạo. Tổng thống Mỹ cũng chỉ là con đẻ của những tập đoàn ấy. Ta có thể nói thẳng rằng những tập đoàn tư bản ở Mỹ chỉ là một bọn cướp ngày. Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan mà lại! Thế cho nên chúng ra tay vơ vét sức lao động của người dân trong nước, vẫn chưa đủ cho lòng tham, chúng còn tìm mọi cách với cái vòi thứ hai của chúng sang những nước khác để vơ vét bằng đường lối thực dân mới. Đế quốc Mỹ là nguồn gốc của mọi cuộc chiến tranh. Đế quốc Mỹ là nguồn gốc của mọi sự bóc lột trên thế giới. Do vậy, thật là chính đáng khi Đảng nói rằng nó là con đỉa hai vòi và mọi nhân dân tiến bộ trên thế giới đều coi nó là kẻ thù số một.

Theo đúng như khuôn mẫu, sau mỗi câu phát biểu phải có một phần liên hệ bản thân. Quách Tứ sau một lúc nhìn vào giấy để ôn bài, tiếp. Tôi đã du học tại Mỹ. Tôi đã nhìn thấy xã hội và người dân Mỹ như thế nào. Quả là Đảng đã nói đúng. Nước Mỹ có những khu nhà chọc trời cho bọn tư bản sống và ăn chơi phè phỡn, đồng lúc bên cạnh những khu nhà chọc trời đó là những “chòi tranh rách nát”, nơi sinh sống của giai cấp công nhân thợ thuyền Mỹ, suốt đời kéo lê kiếp nô lệ trong các xí nghiệp, các hầm mỏ và chỉ mơ mộng có đủ bánh mì nuôi thân và nuôi gia đình. Tôi rất xấu hổ đã phục Mỹ nể Mỹ và đã sống bằng bơ sữa của Mỹ, chịu sự huấn luyện của Mỹ để chống phá Cách mạng, chống phá nhân dân ta với cả nhân dân tiến bộ trên thế giới nữa.

Câu phát biểu thứ hai không bị chê trách. Tổ trưởng Quách Tứ đã vác thánh giá đi qua một đoạn đường. Theo đúng thứ tự, anh chỉ định tổ phó Khoa phát biểu. Tổ phó Khoa trang trọng sửa lại dáng ngồi cho ngay ngắn. Anh khẽ liếc mắt qua bản đề cương đặt trên đùi rồi cất tiếng.

– Thưa anh em, nối tiếp anh tổ trưởng, tôi xin phát biểu câu thứ nhất. Tại sao nói Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta và nhân dân tiến bộ trên thế giới? Các anh em thấy đấy. Việt Nam ta đất không rộng, người không đông, không hề ân oán gì với Đế quốc Mỹ…

Cây thánh giá mà tổ phó Khoa vác tiếp theo tổ trưởng Tứ cũng từng đó chặng đường, cũng từng đó vấp ngã, cũng từng đó tủi nhục, cũng từng đó được nâng lên và được xỉ vả!

Hai ngày trời mới chấm dứt việc thảo luận phát biểu. Vĩnh nhẩm tính chỉ qua việc phát biểu ở cấp tổ thôi, hai câu trên đã lọt vào tai mỗi người trong tổ 10 lần. Mười lần phải để nó lọt vào tai, với những khối óc kém trí nhớ nhất cũng phải thuộc lòng. Thế nhưng chao ôi, còn sống dưới chế độ nhồi sọ này nào phải chỉ có lọt vào lỗ tai 10 lần!

Sau khi tất cả các khối chấm dứt phần thảo luận bài học 1, cả trại được nghỉ xả hơi một ngày để sửa soạn cho việc lên lớp hướng dẫn thu hoạch.

Sau một ngày lao động người ta dễ tìm lại được một sự thoải mái đầu óc. Thế nhưng sau một ngày thảo luận những đề tài chính trị nhồi sọ một chiều, dù đã nghỉ một ngày xả hơi, đầu óc vẫn thấy đau nhức như búa bổ. Vĩnh đã nằm lơ mơ cả buổi chiều. Khi màn đêm nhá nhem Vĩnh mò sang khối 1 gặp Ứng chuyện trò một lúc. Sau nhớ đến vụ thuốc lào Vĩnh vội quay về khối tìm gặp Dung.

Nguyễn Xuân Dung, thiếu úy thiết giáp, vợ bầu sắp đẻ thì đi tù. Nhà Dung ở miệt Phạm Thế Hiển. Anh cũng là một trong những tay săn thuốc lào tài tình của khối. Khi trưa Vĩnh lấy của Ứng 5 đồng tiền mới đưa cho Dung nhờ Dung mua cho ít thuốc lào ngon từ một nguồn gốc mà không ai biết được. Tối nay Vĩnh hy vọng tràn trề sẽ có tí thuốc ngon hút với mấy thằng bạn thân thiết. Tìm quẩn quanh một lúc không thấy Nguyễn Xuân Dung đâu cả, Vĩnh xà xuống chỗ ông già Đang, người chơi thân với Dung, hỏi thăm.

– Bác Đang, bác thấy thằng Dung đâu không?

Ông già Đang là một cựu thiếu úy già ngành hành chánh tài chánh. Ông gầy và cao nhồng như một con sếu. Ông góa vợ và có một bầy con để nuôi. Hiện tại ông đang nằm nơi chỗ của ông, vắt tay trên trán mắt ngó kèo ngó cột! Nghe Vĩnh hỏi, ông chỉ chậm rãi bỏ cánh tay trên trán xuống, ngó Vĩnh trả lời như người hết hơi.

– Tôi có giữ ông ấy trong túi đâu nào!

Vĩnh không vui lắm với câu trả lời hơi kém thân mật hơn ngày thường của ông già Đang, nhưng anh không giận. Anh nhìn ông, đánh nhẹ một đòn tâm lý.

– Sao hôm nay có vẻ buồn thế bác?

-…..

– Sửa soạn làm một bi xiện 1 chăng?

Đúng như sự dự trù của Vĩnh. Dù không tỏ lộ sự thèm muốn quá lộ liễu, nhưng Vĩnh đã đọc được sự trìu mến khác thường trong đôi mắt của ông Đang vừa chiếu vào anh. Ông bỏ hẳn tay khỏi trán, dọ dẫm.

– Giờ này được hút một điếu thuốc ngon chết cũng thỏa…

– Thằng Dung nó có thuốc xiện không cho bác hút à?

– Nó chỉ hứa cho một ít nhưng đã có đâu!

– Đấy, tôi đang tìm nó đấy. Nó đưa tôi tôi sẽ mời bác hút thả cửa.

Như người trúng số hụt, ông già Đang lại buông một tiếng thở dài. Ông nằm yên không buồn nói thêm gì nữa.

Vĩnh lại tiếp: Bác Đang à!

– Gì nữa ông?

– Hỏi thật bác nhá. Hơn nửa năm qua có bao giờ bác thấy thèm một tí hĩm không?

Ông già Đang nghe Vĩnh hỏi vội xua tay như đuổi ruồi.

– Thôi thôi ông cố nội! Một điếu thuốc còn mơ ước không ra. Ông lại còn gieo vào giấc ngủ thằng già này cái mùi mắm kho mắm chưng huyền hoặc ấy làm gì cho khổ!?

Vĩnh thấy khoái trá với lối ví von thú vị bất ngờ của ông già Đang. Ví mùi đàn bà với mùi mắm kho mắm chưng lúc này thì thật là… số một!

Vĩnh cười.

– Ngồi lên đi. Chút nữa sẽ có thuốc cho bác hút. Ngồi lên nói chuyện cho quên đời.

Ông Đang vẫn như chưa có hứng nói chuyện. Ông gãi lông mày.

– Thôi khi nào có thuốc ông kêu tôi dậy cho tôi ăn mày một hơi thì tôi cám ơn ghê lắm. Bây giờ tôi chỉ muốn dim dim tí thôi. Tôi muốn quên đi mấy cái bài thảo luận đau đầu đau óc. Ngày mai lại phải lên hội trường nghe bài học mới rồi. Chán lắm thôi!

Vĩnh biết ông già Đang đang đau đầu thật. Anh hỏi vớt vát.

– Thế bác biết thằng Dung chạy đâu không?

– Khi chiều tôi thấy nó cứ lẩn quẩn sau dãy cầu tiêu. Hình như nó tìm cách liên lạc với một thằng bạn nào đó bên T4.

Vĩnh nhìn ra bầu trời đầy sao, lòng buồn buồn nghĩ đến ngày mai. Lại lên hội trường. Lại phát biểu. Lại nhắm mắt nhắm mũi tự đem mình ra mà chửi rủa trước mặt quân thù. Thốt nhiên một tràng súng nổ vang. Thêm một tràng súng nữa. Hai tràng AK.47 nổ dòn trong đêm tối, làm dựng đứng cả những kẻ đi ngủ sớm trong phòng lẫn những kẻ đang ngồi tán gẫu với nhau ngoài sân. Chỉ vài phút sau đó vệ binh và quản giáo đã súng đạn tràn vào đầy sân trại. Tất cả mọi người bị lùa về phòng. Màn tập họp điểm danh bất thường tiếp theo đó diễn ra trước mọi khối.

Khối 2 thiếu một người!

Khối trưởng Trai chỉ sau vài phút tập họp điểm danh đã báo ngay người vắng mặt là Nguyễn Xuân Dung. Tất cả mọi người phải vào phòng và trở về chỗ nằm. Biện pháp tiêu tiểu ngay trước cửa phòng lại được ban hành. Sự kiện này diễn ra không còn lạ với mọi người. Lâu lâu các trại thuộc L4 lại có một màn vượt ngục. Mới cách đây hơn tháng bên L4T4 bắn chết một tay vượt ngục ngay cổng trại. Người vượt ngục là một trung úy xuất thân võ bị Đà Lạt. Anh vượt ngục bằng cách đêm xuống xông chạy thẳng ra ngoài bằng lối cổng chính. Vệ binh bắn anh chết dính vào con ngựa chận cổng…

Như mọi người Vĩnh về chỗ nằm. Anh có bao điều lo âu muốn nói mà không biết nói với ai. Theo Vĩnh nhận xét, Dung là một tay rất lành và rất kỹ; chưa bao giờ để lộ một tí tư tưởng chống đối nào. Nhưng giả dụ hắn có mưu vượt ngục đi nữa, thì với kinh nghiệm của một sỹ quan tác chiến ngành thiết giáp, không bao giờ Dung lại dại dột nhè cái đêm sao vằng vặc và trăng đã bán tuần như thế này để mà vượt ngục. Nhớ đến 5 đồng đưa Dung ban trưa nhờ mua thuốc lào Vĩnh lại đâm lo. Ai có thể bảo đảm được rằng qua những trận đòn thù, 5 đồng ấy lại không biến thành một số tiền của một tên phản động yểm trợ cho một tên phản động khác vượt ngục tìm đường “móc ngoặc với bọn thảo khấu đang ngoan cường tiếp tục chống phá cách mạng bên ngoài”!

Giọng Bính bỗng khẽ cất lên bên tai Vĩnh.

– Không biết nó sống chết lẽ nào!? Vĩnh không trả lời. Anh nhìn qua kẽ vách về phía cầu tiêu. Bọn an ninh, bọn vệ binh phối hợp với bọn quản giáo đang nhá đèn pin lục lạo. Từ chỗ Vĩnh nằm nhìn ra phía dãy cầu tiêu sát hàng rào cách một vuông sân lớn trồng ớt và rau dền. Sự quan sát do đó bị cản trở rất nhiều. Tuy vậy, Vĩnh và mọi người vẫn có thể loáng thoáng nhận ra bóng bọn cai tù đang lục soát và nghe rõ tiếng chửi thề của chúng.

Bính vẫn thều thào: Nó lục lạo mà chửi thề như vậy là chắc thằng Dung thoát rồi.

Vĩnh lo âu.

– Tao vẫn chưa hiểu tại sao nó lại chọn con đường ấy!?

Sở dĩ Vĩnh nói như thế là vì con đường nằm phía sau dãy cầu tiêu là đường dẫn vào khu giao điểm của các trại 1, 2, 3, 4 và 5. Đoạn đường này có rất nhiều trạm gác. Muốn vượt ngục không ai đâm vào con đường tử lộ ấy. Tại sao nó không vượt hàng rào phía Nam, băng qua cánh đồng lau dẫn đến họ đạo Cao Xá? Nó là dân Bắc Kỳ Công Giáo Di Cư thứ thiệt, Việt cộng gọi là thành phần Thánh Giá Há Mồm 2 đã đem Chúa chạy vào Nam (!), rất dễ trà trộn xin sự giúp đỡ bao che của họ đạo này… Đúng là thằng này muốn tự sát! Vĩnh ngậm ngùi nghĩ bụng.

Thời gian làm giảm đi mức độ căng thẳng của cả khối. Một số đã bò lại gần nhau bàn tán. Mọi loại giả thuyết đã được đặt ra. Ông Đang thì nói với Vĩnh rằng. – Tôi không nghĩ thằng Dung nó trốn trại. Chắc nó chỉ liên hệ trao đổi thuốc lào đấy thôi.

– Trao đổi với ai?

– Thằng ấy nó tài lắm. Nó từng đổi đồ thủ công lấy thuốc lào Vĩnh Bảo của vệ binh nhiều lần đấy.

– Bác nghĩ tình trạng hiện tại của nó ra sao?

– Tôi cũng như anh, nằm đây biết thế quái nào được. Chỉ cầu xin Chúa cho nó tai qua nạn khỏi.

-…..

– Có thể bể chuyện trao đổi, nó dzọt luôn.

– Nhưng dzọt lối ấy làm sao thoát!?

– Thằng Dung nó dân tác chiến, mưu sinh thoát hiểm cũng tài lắm. Tôi tin nó thoát rồi.

Vĩnh không nói gì nữa. Anh nằm nhớ đến những xác bạn bè nơi các trại bên cạnh từng bị vệ binh bắn chết vắt trên hàng rào kẽm gai trên đường đào tẩu. Hơn nữa năm qua trại Trảng Lớn không thiếu người vượt ngục, nhưng con số thành công đếm chưa hết đầu ngón tay. Đa số đều bị bắn chết ngoài hàng rào hoặc bị chận bắt phía ngoài quốc lộ hoặc tại các làng xã kế cận. Sống trong xã hội này, một con kiến cũng khó thoát khỏi sự canh phòng cẩn mật của bọn công an địa phương. Hơn thế, chúng đã biến cả những đứa bé chăn trâu chăn bò thành chân tay chỉ điểm cho chúng. “Tai mắt nhân dân” phần nhiều là những thứ đó! Chuyện đại sự vỡ chỉ vì một đứa bé chăn trâu là chuyện rất thường xảy ra trong xã hội Cộng sản.

Tiếng bàn cãi mỗi lúc mỗi lớn. Khối trưởng Trai rất e ngại và đã năm lần bảy lượt lên tiếng yêu cầu anh em trở về chỗ ngủ. Thốt nhiên có tiếng lên đạn ngoài cửa phòng, tiếp theo là tiếng chửi thề thật lớn của một thằng vệ binh.

– ĐM chúng mày có ổn định chỗ ngủ hay muốn tan xác như thằng phản động trốn trại ngoài kia?

Câu nói của thằng vệ binh không chỉ làm cho riêng Vĩnh mà làm cho tất cả mọi người đều rụng rời. Như thế là thế nào? Thằng Dung thoát rồi hay đã bỏ xác ngoài hàng rào?

Rồi thì Vĩnh rơi vào giấc ngủ với đầy ác mộng. Anh thấy thằng Dung xuất hiện trên hội trường. Nó đứng trước máy vi âm với một thân xác bị bắn thủng như một tổ ong. Nhưng lạ thay, nó đang phát biểu về những bài học khoan hồng nhân đạo của Đảng, của nhà nước xã hội xã hội chủ nghĩa. Vĩnh đầy kinh ngạc tự hỏi. Lạ nhỉ? Bằng phương pháp nào mà Cộng sản khiến được một xác chết vẫn chưa quên bài học? Vẫn phát biểu y như cái loa của nhà nước vậy kìa? Giọng Nguyễn Xuân Dung vẫn đều đều vang lên trong giấc mơ của Vĩnh: Các anh thấy đấy. Việt Nam ta đất không rộng, người không đông, không hề ân oán gì với Đế quốc Mỹ…

——————————–

1          Bi Xiện: tiếng lóng trong tù có nghĩa là một bi thuốc lào thứ thiệt, ngon.

2          Chỉ thành phần Công Giáo đi tàu Há Mồm (LSM) ra cửa biển Hải Phòng và lên tàu Mỹ di cư vào Nam.

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 31 Dec 2023

Bài 17

Phần 16

Trong khi bệnh ghẻ vô phương cứu chữa thì đợt học tập chính trị đã đến. Cả trại bùng lên một khí thế khác thường. Hy vọng được thả lại thắp lên trong những trái tim u ám mệt mỏi. 
Để đón tiếp đợt học chính trị, ban chỉ huy trại bắt tù thực hiện thêm rất nhiều khẩu hiệu mới để treo từ phòng ngủ lên đến hội trường: Chính Sách Khoan Hồng Của Đảng Trước Sau Như Một. Học Tập Cải Tạo Là Con Đường Duy Nhất Để Trở Thành Người Công Dân Lương Thiện. Học Tập Nghiêm Túc, Đi Sát Đi Sâu, Đào Sâu Suy Nghĩ, Thảo Luận Đúng Ý… 
Sửa soạn cho phần tinh thần để bước vào học tập là món ăn khẩu hiệu. Sửa soạn cho phần thể chất để bước vào học tập là tù phải… thể dục mỗi sáng. Chiến dịch phải dậy tập thể dục đồng loạt áp dụng cho tất cả các trại thuộc Trảng Lớn bắt đầu từ dịp này. Thể dục là tốt. Nhưng nó chẳng tốt chút nào cho những tên tù đói ăn, người ngợm chân tay đâu cũng có ghẻ mủ… Thế nhưng súng vệ binh và mồn quản giáo không cho phép bất cứ tên tù nào vi phạm lời Bác dạy: Muốn có một thể lực tốt để phục vụ tốt thì phải thể dục mỗi ngày… 
Một buổi chiều đầu tháng 12 bỗng dưng hậu cần các khối được lệnh lên hậu cần trại lãnh đồ bồi dưỡng đột xuất. Cả trại reo mừng như được giải phóng! Đây là lần thứ hai sau 6 tháng chui đầu vào trại cải tạo, tù được phát tiếp phẩm. Cũng như lần trước, tí đường; đặc biệt lần này được thêm tí bột giặt Viso. 
Theo khối trưởng cho biết trại phát tiếp phẩm lần này để cải tạo viên thêm hồ hởi phấn khởi bước vào học tập chính trị. 
Và đợt học tập chính trị thực sự bắt đầu 2 ngày sau đó. 
Vào chiều trước ngày khởi sự học tập tù được nghỉ lao động để sắp sẵn giấy bút và lên tinh thần. Các tổ trực được lệnh phải nấu cơm từ 3 giờ sáng. Mọi công tác vệ sinh trại, vệ sinh cá nhân phải thực hiện xong trước 6 giờ sáng. Tất cả các cải tạo viên phải mặc lên người bộ quần áo nào tương đối còn sạch sẽ và lành lặn nhất của mình. Đúng 7 giờ phải tập họp trước khối để khối trưởng hướng dẫn lên vị trí đã được quy định trước ở hội trường. 
Vĩnh đi theo khối 2 và vào hội trường ngồi đúng vị trí của tổ A.3. Anh ngồi nhìn ra khung cửa chính của hội trường. Một đoàn người xếp hàng dài tít vẫn tiếp tục nối đuôi nhau bước vào cửa hội trường như một đoàn tế thần lặng lẽ bước vào miệng một con quái vật. Và ta đã nằm trong lòng con quái vật! Thốt nhiên Vĩnh chua chát tự nghĩ. 
Phải cả nửa tiếng sau đó hội trường mới ổn định. Rồi thì bọn đười ươi từ ngoài cũng kéo nhau vào và lũ lượt bò lên sân khấu. Một tên cán bộ trực điều khiển buổi học tập hôm nay đã đứng trước máy vi âm, một hệ thống máy mới được thiết lập bằng một đường dây điện đặc biệt kéo từ trung đoàn xuống. Với bộ quân phục xốc xếch và nhầu nát trông thiếu tề chỉnh hơn cả một anh phu khuân vác, tên điều khiển mang bộ mặt xương xẩu xanh mét của một kẻ có bệnh thủ dâm nhiều năm. Bộ răng cáu bẩn vì bựa cơm và vàng đen lẫn lộn bởi khói thuốc lào, nhô ra khỏi cặp môi thâm dầy lúc nào cũng mím lại một cách căm hờn, trông như những cái tay chèo thò ra bên hông của một chiến thuyền La Mã cổ thời… 
Phía sau lưng hắn là hai dãy ghế băng dài kê đều đặn như những hàng ghế trong nhà thờ. Nơi đó dành cho thủ trưởng, thủ phó, chính trị viên, các sỹ quan và quản giáo các khối ngồi. Trông kiểu cách lũ cán bộ Cộng sản ngồi trước “quần chúng” mới đẹp đẽ làm sao! Nhìn chúng đứng, chúng ngồi đã đánh giá ngay được trình độ của cả chế độ. Thôi thì kẻ ngồi xổm trên ghế trông như một con chó đá tiền rưỡi, kể thì thiếu điều bổ nhoài trên mặt bàn, kẻ thì ngồi xoay hẳn mặt sang phía cánh gà trò chuyện riêng tư. Trông chúng đúng là một lũ khỉ vô giáo dục, đang cùng nhau chơi một tấu khúc mà sự hòa âm lỗ chỗ, lợn cợn như một bát khoai ngô độn. 

Tên cán bộ điều khiển chương trình đã cất tiếng. Giọng đã ngọng lại được phát qua một hệ thống loa chế tạo tại nước anh em Trung quốc vĩ đại mới là khó nghe. 
– Hôm nay Cách mạng tạo điều kiện cho các anh bước vào học tập 6 bài. Học chính trị là biểu hiện trái đã chín tới thời kỳ hái. Nó đánh dấu một khâu cực kỳ quan trọng trong việc các anh sẽ được xét cho về đoàn tụ gia đình. Nhưng tôi báo trước, tiến bộ trong lao động dễ, tiến bộ trong học tập chính trị không dễ. Thế nên, quán triệt sơ bộ với các anh để các anh sửa soạn tinh thần bước vào học tập với khí thế bão nổi. Tôi cũng thay mặt trên cho các anh biết đợt học tập này sẽ có thể kéo dài cả nửa tháng tới 3 tuần. Chi tiết chút nữa giáo viên lên lớp sẽ thông báo. Tranh thủ thời gian chờ đợi này tôi truyền đạt các anh vài vấn đề. 
Nói tới đây tên cán bộ chỉ đại vào một góc hội trường. Này, các anh thuộc bộ phận anh nuôi đã dứt điểm công tác cơm nước cho tập thể chưa đấy? Tay đại diện liên khối đứng ngay chân sân khấu ngước mắt lên báo cáo gì đó với tên cán bộ. Hắn gật gù rồi nói khơi khơi. Cũng tốt! Nhưng lần sau lên lớp các bộ phận anh nuôi nhớ thức sớm hơn để phục vụ tập thể cho tốt, giải phóng bếp núc cho nhanh cho kịp giờ quy định nghe chửa? Nói đoạn hắn lục lạo trên mặt bục thuyết trình một lúc. Sau cùng hắn cầm lên một tờ báo đã nhầu nát, nói. Thế này nhá, trong những lần lên lớp trước đây để hướng dẫn các anh trong tự khai, trong sinh hoạt, trong lao động, trong đấu tranh sai trái để khắc phục những khuyết điểm tồn tại vân vân và vân vân, ban chỉ huy trại ghi nhận tuyệt đại đa số các anh đã chấp hành rất tốt. Tuy nhiên còn một số ít, hắn ngẫm nghĩ một chút. Nhưng cũng không phải là ít lắm đâu đấy nhé, rằng thì là chưa chấp hành được tốt. Lần lên lớp hôm nay rõ là quan trọng. Vậy tờ báo đây, có đăng đủ 11 điều pháp lệnh của chính phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam quy định về nghĩa vụ và quyền lợi cho những sỹ quan và viên chức chính quyền ngụy có ý thức tốt, đã đi đăng ký trình diện học tập cải tạo. Hôm nay tôi cho đọc lại để các anh quán triệt hơn nữa chính sách khoan hồng nhân đạo của Đảng ta, của Cách mạng ta, của chính phủ ta. 
Nói xong hắn giơ tờ báo lên khoảng không trước mặt, rồi chỉ đại xuống đám người ngồi gần nhất, hỏi. Này, anh nào đọc được chữ in? 
Không hiểu lúc ấy máy vi âm bị trục trặc hay vì chưa ai hiểu rõ câu hỏi của tên cán bộ mà không có ai trả lời. Tên cán bộ thấy vậy chỉ một toán khác. Này, mấy anh đó, anh nào đọc được chữ in? 
Bây giờ thì mọi người đã hiểu ra câu hỏi. Không ai trả lời mà chỉ có những tiếng xì xầm đầy kinh ngạc. Thấy hiện tượng xì xầm trước câu hỏi của mình, tên Việt cộng nói như trách móc. Đọc bản tự khai của các anh, từ anh già đến anh trẻ, anh nào cũng khai văn hóa tú tài cử nhân, thậm chí có cả những anh tiến sỹ nữa; thế mà không ai đọc được chữ in hay sao? Chả lẽ miền Nam chúng nó chỉ dạy các anh đọc và viết chữ thường? 
-…..! 
– Anh đại diện đâu? 
Tên cán bộ thốt nhiên quay sang chiếu cố Nguyễn Văn Lượm, tay liên khối trưởng có phong thái nhiều khi nô lệ và hèn hạ ra mặt. 
– Dạ tôi đây! 
– Anh có đọc được chữ in không? 
Tay Lượm ngẩn ngơ cả người vì thấy tên Việt cộng đánh giá mình quá tệ. Sau cùng, để phù hợp với thái độ chung của anh em, hắn trả lời một câu rất nôm na kiểu Việt cộng nghe cũng tạm. 
– Báo cáo anh tôi đọc cũng được, nhưng lâu lắm không đọc cũng có quên đi ít nhiều, sợ không đạt yêu cầu. 

Tên cán bộ không hiểu thâm ý của câu trả lời, hắn vui ra mặt. 
– Có gì mà sợ không đạt yêu cầu. Cái đó là tình trạng chung. Chúng tôi cũng vậy thôi. Nói tới đây hắn chìa tờ báo cho tay đại diện liên khối. Đây, anh cố khắc phục đọc 11 điều pháp lệnh của chính phủ Lâm Thời cho anh em cùng nghe. Đọc sao cho lớn, cho rõ; đọc sao cho chữ không để sót, nghĩa là không để lọt. Anh nghe rõ chưa? 
Tay Lượm chẳng dạ mà cũng chẳng vâng. Hắn cầm lấy tờ báo, tìm qua tìm lại rồi dõi mắt vào một cột báo bắt đầu đọc… 
Vĩnh không ngồi nghe tay liên khối trưởng đọc báo. Anh ngó lũ đười ươi ngồi trên sân khấu và nghĩ ngợi. 
Sáu tháng qua bọn cán binh Cộng sản đã đối xử với bạn anh bằng thái độ nào? Rõ ràng một thái độ đầy tự tôn mặc cảm. Chúng xuất hiện trước bọn anh nhiều lúc vượt quá bộ mặt của một cai tù, mà với bộ mặt, với thái độ, với cách cư xử gần như của những người khai sáng. Lắm khi Vĩnh có cảm giác bên canh sự căm thù, còn một cái gì khác hơn thế. Hay là trong bộ óc cuồng tín của chúng, chúng đang thật sự tin rằng được nhận lãnh một vinh dự mà Đảng và chính phủ trao phó cho, ấy là làm thầy, làm kẻ phục sinh những đối tượng ngu dốt, những con quỷ không tim, những kẻ đại gian đại ác, những kẻ bán nước hại dân…? 
Với sự quan sát của Vĩnh, Vĩnh có thể khẳng định rằng chúng đã mang cái mặc cảm tự tôn ấy. Từ thằng lính lên đến thằng tướng, do kết quả của một quá trình tuyên truyền xuyên tạc, dựng đứng và nhồi sọ, chúng tin rằng chúng có đủ trình độ, đủ tư cách, đủ bản lãnh để làm thầy lũ “ngụy”. Thật là mỉa mai cho những con ếch ngồi đáy giếng! Chúng đã và đang phình bụng lấy hơi để rao giảng cho con người sống trên mặt đất về hình dạng của bầu trời. Trong khi ấy chúng biết được gì về bầu trời? Có chăng bầu trời của chúng là cái chủ nghĩa vay mượn, được chỉ đạo (một cách lệch lạc!) bằng kinh thánh Mác-Lê với giáo chủ là lãnh tụ và kinh đô giáo hội là Mát-Cơ-Va. Bầu trời ấy không có tinh tú. Bầu trời ấy chỉ có bóng đêm với những săn đuổi mơ hồ… Bầu trời của bọn cán binh đang ngồi trước mặt Vĩnh là bầu trời ấy. Tất cả những kiến thức về sự tiến hóa của con người, ngoài súng đạn, bên ngoài bầu trời nhỏ hẹp của chúng, chúng hoàn toàn không biết một mảy may. Thắng bại là lẽ thường tình. Nhưng sống một kiếp người và trải một thời chiến binh, khi biết mình bại về tay một thứ kẻ thù không xứng đáng, người ta chết chắc khó nhắm mắt! 
Sau 30 tháng Tư, lấy con người làm căn bản, người miền Nam có đầy đủ yếu tố để khẳng định rằng họ đã thua về tay một đối phương hoàn toàn không xứng đáng. Người Mỹ bỏ miền Nam, để mặc miền Nam một thân một mình chống lại toàn bộ hệ thống Cộng sản quốc tế, đã không phải chỉ giết người quốc gia một lần, mà họ đã giết người Việt Nam quốc gia một ngàn lần vì cái tủi nhục chua xót này. Vĩnh chợt thấy đau nhói nơi tim. Chao ôi, ta đã lọt vào tay chúng, biết làm sao đây!? 

Một tiếng hô thật to đồng loạt vang ra từ các loa gắn trong hội trường. Bọn tù bật dậy. Một vài giây ngỡ ngàng qua đi. Mọi người bắt đầu dồn ánh mắt nhìn ra cửa chính của hội trường. Một cán bộ Cộng sản mang quân hàm đại úy đang được hai tên thủ trưởng và chính trị viên tiểu đoàn hộ tống bước vào. Vĩnh ngó tên đại úy để đánh giá. Cũng một ruộc như nhau! Tóc hớt cao, mặt mày hốc hác, quần áo lùng thùng, đầu lúc nào cũng xùm xụp cái nón cối, đôi dép râu càng làm tăng thêm vẻ lè phè vốn đã rất lè phè nơi tác phong quân nhân của bọn cán binh Cộng sản. 
Vừa tiến dọc theo con đường giữa của hội trường để đi dần về phía sân khấu, tên giáo viên vừa giơ bàn tay vẫy vẫy chào đám tù như một lãnh tụ to đi kinh lý. Sau cùng cả ba thằng đồng bò lên sân khấu. Tên thủ trưởng về chỗ ngồi. Tên đại úy giáo viên và tên thượng úy chính trị viên bước tới bục thuyết trình. Tên chính trị viên nhìn quanh một vòng rồi tằng hắng lấy giọng. 
– Hôm nay thay mặt tiểu đoàn, hắn nói. Tôi chào mừng các anh đã khắc phục khó khăn, tham gia đông đủ buổi khai mạc đợt học tập chính trị lần này. Tôi cũng thay mặt khung, thay mặt các cải tạo viên trại L4T3 nhiệt liệt chào mừng đồng chí giáo viên từ Sư xuống lên lớp cho trại ta trong lần học tập kỳ này. Tôi trân trọng giới thiệu với toàn hội trường. Nói tới đây tên chính trị viên quay sang người đứng bên cạnh, tiếp. Đây là đồng chí đại úy Lê Thành Ứng. Đồng chí Ứng mới từ Sư xuống để đảm trách 6 bài trong đợt học tập sơ bộ kỳ này. Trước khi đi vào học tập, tôi nhắc sơ qua mục đích yêu cầu của Cách mạng để các anh quán triệt hơn. Một là, các anh phải chấp hành tốt, nghiêm chỉnh và thành khẩn các nội quy quy định về việc học tập. Hai là, các anh phải cảnh giác cao độ và báo cáo kịp thời bọn CIA do Mỹ ngụy gài lại nhằm phá hoại công cuộc cải tạo của Đảng ta. Ba là, các anh phải chấp hành đúng mọi chỉ thị và giáo dục của đồng chí giáo viên. 
Như để đỡ mất thì giờ, tên chính trị viên chỉ vắn tắt chừng nấy rồi quay sang hội ý gì đó với tên giáo viên rồi mới quay trở về chỗ. Tên giáo viên bước tới trước máy vi âm. Khẽ xắn hai tay áo. Hắn bắt đầu nói với cái giọng ồ ề miền biển của hắn. 
– Nhân ranh ráo viên Trên chỉ thị xuống ráo rục các anh 6 bài trong đợt học tập sơ bộ… Sau những lời phi lộ xa gần, tên giáo viên đã bước tới trước tấm bảng đen kê xeo xéo ngay bên cánh trái bục thuyết trình. Hắn cầm lên cục phấn và viết trên bảng chương trình các bài bản mà tù sẽ phải học liên tiếp trong nửa tháng. Với nét chữ vừa nguệch ngoạc vừa to như con gà mái mệ của một trình độ học vấn có chấm rộng rãi lắm cũng chỉ tới lớp Năm, hắn vẽ rắn vẽ rít trên bảng: 
Mục đích: Quán triệt các anh về hai kẻ thù gian ác của nhân dân ta và nhân dân thế giới là Đế Quốc Mỹ và bọn tay sai ngụy quân ngụy quyền. 
Yêu cầu: Các học viên tập trung tư tưởng theo dõi sát đề tài, ghi chép đầy đủ để về đào sâu suy nghĩ và thảo luận hăng say. 
Dưới phần mục đích và yêu cầu là cái tít của bài đầu tiên: Đế Quốc Mỹ Là Kẻ Thù Của Nhân Dân Ta Và Nhân Dân Tiến Bộ Trên Toàn Thế Giới. 
Viết xong mấy hàng chữ trên tên giảng viên trở lại bục thuyết trình. Hắn sửa lại máy vi âm cho ngay ngắn, nhấp một tí nước để sẵn rồi khàn khàn cất giọng. Để tranh thủ thì giờ buổi lên lớp, tôi sẽ dẫn các anh đi từng bước vào đề tài chính sáng nay: Đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. 
Tất cả các anh ngồi đây, dù ngụy quân hay ngụy quyền, điều trước mắt phải khẳng định là các anh đều có một dĩ vãng cực kỳ gian ác, có tội với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Tuy nhiên, với tính ưu việt, tính khoa học của Đảng ta, Cách mạng đã phân tích sâu sắc vấn đề để khẳng định thêm rằng, dù các anh tội nhiều hay tội ít, trực tiếp hay gián tiếp, thì các anh cũng chỉ là một thứ nạn nhân của thời đại. Nói thẳng ra là nạn nhân của một tập đoàn tư bản khát máu, nạn nhân của Đế quốc Mỹ, tên sen đầm quốc tế, kẻ luôn luôn gây ra và nuôi dưỡng mọi cuộc chiến tranh lớn nhỏ trên toàn thế giới ngày nay. 

Thao thao bất tuyệt một hồi, tên giảng viên quay lại bảng đen, đập đập một ngón tay vào ba chữ Đế quốc Mỹ, tiếp. Tại sao gọi là Đế quốc Mỹ? Bản chất Đế quốc Mỹ là gì? Nhân dân ta, nhân dân tiến bộ trên thế giới căm thù Đế quốc Mỹ đến độ nào? Đây là một vấn đề to lớn của loài người tiến bộ trên thế giới. Để hiểu được tường tận bộ mặt tàn bạo của Đế quốc Mỹ, ta phải đào sâu vào hai cái khâu bản chất và hiện tượng. Ta không được lầm lẫn bản chất và hiện tượng. Sự lầm lẫn sẽ đưa ta đến những hành động vô cùng tai hại, như chính các anh đã một lần lầm lẫn để đưa đến những hành động bán nước, hại dân, đi ngược lại truyền thống đấu tranh bất khuất anh hùng của dân tộc, cam tâm đi làm tay sai cho giặc, tự biến mình thành một cái máy giết người, hiếp dâm, cướp của, và tối hậu là thực hiện đường lối của Mỹ xâm lược nước ta, biến nước ta thành một bang chư hầu cho Đế quốc Mỹ. 
Vậy bản chất của Đế quốc Mỹ là gì? Đó là bản chất của một con đỉa hai vòi. Một vòi nó hút máu mủ của nhân dân trong nước, còn vòi kia nó vươn sang các nước khác để tìm cách hút máu của nhân dân các nước này bằng phương tiện bán súng đạn tạo những cuộc chiến tranh diệt chủng. Các anh ngồi đây dù muốn dù không, Cách mạng cũng phải đánh giá rằng các anh đã nhiễm độc trầm trọng tư tưởng nể Mỹ phục Mỹ. Để rửa sạch được tư tưởng này, Đảng đã sáng tạo ra chính sách cải tạo tư tưởng, một chính sách cực kỳ khoan hồng nhân đạo, đúng với truyền thống anh hùng và sáng suốt của cha ông, chỉ đánh người chạy đi không bao giờ đánh người chạy lại. Chính sách cải tạo của Đảng ta cấp thiết là một chính sách cải tạo toàn diện và lâu dài trên toàn miền Nam. Nó không thể thực hiện một sớm một chiều mà thay đổi được bầu không khí nhiễm độc nơi đây. Thế nên, bước đầu cải tạo Đảng đã sáng suốt đưa ta tới bài học đầu tiên phơi bầy bản chất tàn bạo của Đế quốc Mỹ. Bài học này sẽ lô-rích móc xích với những bài học kế tiếp, giúp các anh hiểu rõ đâu là bạn, đâu là thù; từ đó, các anh sẽ phấn chấn trong học tập, trong xét mình về cái dĩ vãng tội lỗi đã phạm mà tích cực phấn đấu trở nên người công dân lương thiện của một nước Việt Nam anh hùng, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc và nhất là đã lập được chiến thắng vẻ vang vô tiền khoáng hậu trong lịch sử: đánh tan hai thế lực xâm lược mạnh nhất hoàn cầu của thời đại là chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp và chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ!
Tự dưng trên sân khấu vang lên những tiếng lộp độp vỗ tay. Bên dưới tù chưa hiểu ra chuyện gì thì tên chính trị viên đã vội đứng lên, ra dấu bảo mọi người bên dưới vỗ tay hùa theo hắn. 
Thật là trơ trẽn, Vĩnh nghĩ bụng. Bố đánh rắm con khen thơm! 
Tuy nhiên bên dưới, để đáp ứng cho nhu cầu thời đại mới, thời đại Hồ Chí Minh, cũng có nghĩa là thời đại vỗ tay; một vài tiếng vỗ lộp độp cũng nổi lên phụ họa một cách buồn thảm với tiếng vỗ tay cò mồi của tên chính trị viên. Qua cơn vỗ tay lộp độp, người ngồi gần sân khấu có thể nghe thấy tiếng lẩm bẩm chửi thề của thằng chính trị viên: Mả cha mấy thằng ngụy này! Còn phải giáo dục nhiều về công tác vỗ tay. Chúng vỗ tay gì mà bôi bác, thiếu khí thế cứ như là… chó đánh rắm! 
Dù sao vài tiếng vỗ tay gượng gạo cũng làm cho tên giáo viên lên tinh thần. Hắn bắt đầu chửi Mỹ thậm tệ… Là một tên sen đầm quốc tế, Mỹ đã can thiệp vào hầu hết nội bộ các quốc gia tiến bộ trên thế giới. Nó đã gầy dựng và nuôi dưỡng không biết bao nhiêu chế độ chư hầu tay sai bán nước, mà các anh là một điển hình. Nhưng, các anh thấy đấy. Cuối cùng chính nghĩa luôn luôn đại thắng. Đất nước ta như thế nào? Đất không rộng, người không đông, không hề ân oán gì với Đế quốc Mỹ; thế tại sao nó lại đi xâm lược và ra tay tàn sát nhân dân ta? Đã trút xuống hai miền Nam Bắc một số lượng bom đạn nhiều gấp hai lần từng được xử dụng trong trận thế giới chiến tranh lần thứ hai? Đặt câu hỏi ấy để ta tìm cho ra nguyên nhân. Và một khi đã tìm ra nguyên nhân rồi, ta sẽ giải quyết được vấn đề nhanh chóng. Đảng đã tìm ra nguyên nhân tại sao Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta nên Đảng đã chiến thắng… 
Cò mồi lại vỗ tay, lại lác đác vài tiếng vỗ góp! 

Và giáo viên lại tiếp: Đế quốc Mỹ đặt căn bản trên lợi nhuận. Chúng, đồng lúc, dám tung ra những số tiền khổng lồ để gầy dựng và nuôi dưỡng những chế độ tay sai với những tên đầu sỏ có nợ máu với nhân dân, hưởng độc quyền đặc lợi Mỹ ban cho để tích cực thi hành đường lối thực dân mới của Mỹ. Thằng Tưởng Giới Thạch, thằng Ngô Đình Diệm, thằng Lý Thừa Văn, thằng Nguyễn Văn Thiệu, thằng Lon Nol, thằng Phác Chung Hy, thằng Trần Văn Hương, thằng Dương Văn Minh vân vân và vân vân đều thuộc cái hạng này! Các anh tự hỏi coi, với số lượng trên dưới năm vạn tiền ngụy trước đây mà một tổng thống ngụy được lĩnh hàng tháng, nếu không hưởng đặc quyền đặc lợi của Mỹ, nếu không được chủ Mỹ cho phép ra tay bóc lột nhân dân, bóc lột giai cấp lao động thì lấy tiền đâu mà chúng nó có dinh thự hàng chục, có vợ hàng trăm và con cái hàng ngàn!? 

Nói tới đây tên giáo viên đảo đôi mắt trắng dã qua suốt hội trường. Hai bên mép nước bọt sủi trắng như ngựa chạy đường dài há to, để lộ hai hàm răng cải mả trông phát sốt rét. Hắn trở lại vấn đề. Rồi đây trong những bài học tới, các anh phải thảo luận, phải phát biểu, phải vân vân và vân vân để đào sâu hơn nữa vào bản chất của bọn tay sai đầu sỏ bán nước Diệm Thiệu Kỳ Khiêm Viên Huyền Minh Mẫu… Bây giờ tôi trở lại đề tài chính với các anh là Đế quốc Mỹ. Vậy chính sách của Đế quốc Mỹ được dùng để xâm lược đất nước ta là chính sách nào? Ở đây các anh phải ghi nhận một điều: Đế quốc Mỹ sinh sau đẻ muộn, do đó, chúng đã rút tỉa được nhiều kinh nghiệm của bọn thực dân đế quốc đàn anh. Chính sách xâm lược của chúng đối với đất nước ta, mà Đảng ta gọi là chính sách thực dân mới, đã hiểm độc gấp trăm lần chính sách thực dân cũ của bọn Pháp trước kia. Không như thực dân Pháp nhảy vào đất nước ta công khai ra mặt thống trị để gây căm phẫn cho toàn loài người tiến bộ và sau cùng bị nhân dân ta do sự lãnh đạo của Đảng đánh đuổi khỏi đất nước một cách nhục nhã ê chề; đế quốc Mỹ với chính sách thực dân thâm độc hơn nhiều. Chúng đã đổ công đổ của tạo ra một chính quyền tay sai bù nhìn, nhìn thì cũng thấy có bầu cử, có dân chủ, có tự do, có độc lập, có chủ quyền đấy, nhưng thực tế trái ngược hoàn toàn. Lại nữa, Đế quốc Mỹ đã quỷ quyệt trong việc tìm ra những tên tay sai có nhiều điều kiện rất thích hợp để phục vụ cho chính sách thực dân mới của chúng. Thằng Diệm là gì? – Một thằng hoạt đầu! Từ đầu chí cuối đều do Mỹ huấn luyện và đạo diễn. Nó được Mỹ nuôi dưỡng, giáo dục và được đưa về nước với một lưỡi cưa điên cuồng trong tay cưa đôi đất nước. 
Nói đến đây tên giáo viên bỗng như hét lên. Tại sao thằng Diệm dám nói rằng biên giới Mỹ kéo dài đến vĩ tuyến 17? Các anh thấy không, nội một câu nói ấy thôi đã lộ rõ cái đuôi buôn dân bán nước. Rồi tới thằng Thiệu, thằng “ca-bồi” Kỳ. Cam Ranh là của chúng nó à? Chúng lấy quyền gì mà trên thực tế đã bán đứng cho Mỹ toàn quyền xử dụng? Bán nước bán nước, một bọn bán nước dơ bẩn… Đang la hét ầm ầm để tỏ một thái độ căm phẫn, tên giáo viên chợt hạ giọng buồn thảm. Hỡi ôi! Thế mà các anh lại đi phò chúng, phạm những tội tầy đình với Đảng, với Cách mạng, với nhân dân. Các anh cứ nghĩ xem, cung cúc tận tụy, các anh được nhận lãnh cái gì? Chỉ được nhận lãnh từ nhân dân 4 chữ bán nước hại dân! Và muôn đời con cháu mai sau không bao giờ quên được. Hắn thở dài. Riêng phần Đế quốc Mỹ đã trả thù lao cho các anh như thế nào? Bơ thừa sữa cặn! Một đời sống vật chất thua cả một con chó bên nước Mỹ. Tôi nói thật đấy. Chính báo Mỹ nó thống kê, nó bảo một quân nhân ngụy cấp thiếu úy chỉ lãnh mỗi tháng tương đương 25 Mỹ kim. Số lương như thế thì rõ ràng thua một con chó được nuôi bên mẫu quốc của các anh! 
Tới lúc này thì bọn rau răm ở lại coi mòi đã thừa thải nỗi đắng cay! Nhưng đắng cay đến đâu cũng phải ngồi yên mà nghe. 
Đến 12 giờ trưa bài học về tội ác của Mỹ mới đi vào kết thúc. Tên giáo viên có vẻ cũng thấm mệt. Hắn nhấp thêm chút nước rồi mới lên lớp tiếp. Ngày 30 tháng Tư là ngày lịch sử của nhân dân ta. Ngày 30 tháng Tư của những năm trước cả thế giới ăn mừng ngày Hồng quân nước Liên Sô vĩ đại tiến quân giải phóng Bá Linh, giải phóng nhân dân Đức khỏi tay Quốc Xã độc tài Hitler. Từ đây, cả thế giới lại có thêm ngày 30 tháng Tư của nhân dân anh hùng ta để ăn mừng, để cảm phục sức phấn đấu vô địch của Đảng ta, của đất nước ta, của nhân dân ta, của quân đội ta. Đồng lúc, nó cũng là ngày nhắc nhở cho những kẻ có tư tưởng phục Mỹ, nể Mỹ biết rằng Mỹ giàu mà không mạnh. Và chính Mỹ đã đóng góp thêm vào những trang sử anh hùng của ta bằng cái thua toàn diện của chúng. Đế quốc Mông Cổ bị ta đánh bại. Thực dân Pháp bị ta đánh bại. Quân phiệt Nhật bị ta đánh bại. Ngày nay cả thế giới phải một lần nữa nghiêng mình kính phục sự vô địch của ta trước bất cứ một thế lực phản động nào. Ta đã đánh bại hoàn toàn và triệt để đế quốc Mỹ cùng bọn tay sai ngụy quân ngụy quyền, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu và quy đất nước về một mối. 
Đế chấm dứt bài học, tên giảng viên nói như tâm sự. Nhân đây tôi cũng tiết lộ cho các anh biết một bí mật. Đúng ra đã là bí mật thì không được công bố, nhưng giờ ta đã đại thắng, bí mật không còn giá trị, thành thử có nói ra cho các anh biết cũng chẳng hại gì, ấy là Đảng ta từng có kế hoạch táo bạo đánh thẳng sang Oa-Sinh-Tơn, giải phóng luôn nhân dân Mỹ nếu như hồi đó thằng Mỹ chỉ ngoan cố không chịu cuốn cờ cút khỏi miền Nam trong 24 giờ nữa thôi. Cũng may cho chúng… 
Câu nói sau cùng của tên giáo viên cấp đại úy Việt cộng đã vô tình làm sụp đổ tất cả những thái độ nghiêm túc mà bọn “ngụy” cố gắng chấp hành từ đầu đến giờ. Những tiếng cười đầu tiên vang lên ở một góc phòng, rồi như một bệnh truyền nhiễm cấp tính, tiếng cười lan khắp hội trường và không còn cách gì dập tắt được nữa…









Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 31 Dec 2023

Bài 16

Phần mười lăm

Lệnh chuyển trại lần thứ hai ban ra khi tù cải tạo vừa bước sang ngày thứ hai của cuộc học tập thảo luận về nội dung Cách mạng của hai cuốn phim mới được thưởng thức. Lần chuyển trại này khác hơn lần trước ở chỗ trước khi chuyển trại, bọn quản giáo chơi một màn xét đồ tập thể.

Buổi sáng trước khi tập họp để bước vào thảo luận như ngày hôm trước, các khối trưởng tự dưng được lệnh lên hội ý với khung. Mười lăm phút sau, theo sau các khối trưởng là bọn quản giáo và vệ binh có súng ống đầy đủ ập vào các khối.

Tên quản giáo Cư của khối 2 với khuôn mặt lạnh lùng cố hữu đứng ngay cửa ra vào. Hắn nói lớn.

– Theo Trên quy định hôm nay cho khối ngưng thảo luận. Mọi người khẩn trương thu thập tất cả đồ đạc cá nhân đem ra trước sân khối. Anh khối trưởng và các anh tổ trưởng sẽ chia vùng để các tổ viên có chỗ bày biện cho cuộc kiểm tra đột xuất.

Nói xong tên Cư bước ra ngoài. Hai đầu phòng có hai thằng vệ binh đứng canh gác và dò xét bọn tù thật cẩn thận. Mọi người đều muốn bàn chuyện với nhau nhưng kẹt bốn con mắt của hai thằng vệ binh, thành thử họ chỉ lặng lẽ thu xếp đồ đạc cá nhân và đưa đôi mắt nhìn nhau. Trong 119 người không thiếu những người mất bình tĩnh trông thấy. Có anh hoảng hốt không biết dấu quyển nhật ký bé tí của mình vào đâu. Có anh không biết đấu mũi bayonet đi lao động lượm được vào chỗ nào… Toàn là đồ “quốc cấm” cả! Mà nếu không dấu hoặc thủ tiêu kịp thời, bị chúng tìm ra hậu quả không sao lường được.

Đính bỗng thầm thì bên tai Vĩnh.

– Kẹt quá, quyển Kinh Thánh của tao giờ dấu đâu đây?

Vĩnh cũng đang băn khoăn về cỗ Tràng Hạt của mình. Đây là một cỗ Tràng Hạt bằng bạc, đựng trong một cái hộp lục lăng nhỏ xíu cũng bằng bạc, ngoài nắp hộp có khắc nổi hình tòa thánh Vatican. Cỗ Tràng Hạt này là vật lưu niệm của người anh cả trước ngày anh đi nộp mình theo dạng cấp tá. Câu nói của tên thủ trưởng lần lên lớp vừa rồi vẫn còn văng vẳng bên tai Vĩnh: Xã hội ta tự do, trong đó có cả tự do tôn giáo. Nhưng sự tự do ấy chỉ dành cho những công dân lương thiện bên ngoài xã hội. Các anh hiện tại chưa có quyền công dân, đang học tập cải tạo, các anh chưa được hưởng quyền tự do ấy. Trước nhất, các anh chỉ có một quyền duy nhất là quyền sống để học tập tốt, lao động tốt. Trong trại cải tạo không chấp nhận mọi hình thức duy tâm, có nghĩa là cấm chỉ việc đọc kinh đọc hạt. Mọi sự tụ tập có tính chất tôn giáo tuyệt đối bị ngăn cấm. Ai vi phạm sẽ bị nghiêm trị. Anh nào lỡ đem theo mình sách kinh hoặc những hình tượng mê tín dị đoan phải đem nộp cho trại cùng với những vàng bạc quý kim. Cũng nói thêm, xã hội ta trừ hai nghề làm đĩ và ăn cướp, mọi nghề khác đều được cho phép hành nghề nếu có đăng ký và đóng thuế cho nhà nước, kể cả việc hành nghề tôn giáo. Tuy nhiên như đã nói, trong trại cải tạo không chấp nhận bất cứ một sự hành nghề nào, kể cả hành nghề tôn giáo, do đó Cách mạng cũng yêu cầu các anh Cha các anh Sư phải chấm dứt hành nghề tôn giáo bất hợp pháp trong trại tức thì. Ai vi phạm coi như ngoan cường chống lại Cách mạng, mà đến bây giờ còn chống lại Cách mạng thì…

Vĩnh vừa xếp quần áo chăn mền vào cái bao cát lớn của mình, vừa thầm thì đủ cho Đính nghe.

– Mày còn cái bao cát nhỏ nào không?

– Còn.

– Đưa tao.

Đính đưa cho Vĩnh một bao cát. Vĩnh cầm lấy. Anh kín đáo để ý hai tên vệ binh và để ý cả thằng Ba Tô nữa. Khi biết chắc an toàn, Vĩnh nói với Đính. Đưa quyển Thánh Kinh đây.

– Làm gì vậy?

– Thì cứ đưa đây.

Đính kín đáo trao quyển Thánh Kinh cho Vĩnh. Vĩnh nhắc. Tao nhớ mày còn cây Thánh Giá nữa?

Đính gật đầu.

– Mày không nhắc tao quên mất.

Một lúc sau trong cái bao cát đã đựng đủ những món quốc cấm mà Vĩnh và Đính tàng trữ bấy lâu nay. Sau thêm một lần quan sát chung quanh, Vĩnh đẩy cái bao qua kẽ hở nơi đầu chỗ nằm. Nó đã rớt vào và nằm yên ổn giữa đống thùng tưới nước đặt dưới mái hiên bên ngoài sân. Xong công tác, Vĩnh nói khẽ.

– Thế là tạm yên.

Đính thều thào.

– Thế cũng hay, nhưng…

Đính chưa nói dứt câu thì khối trưởng Trai đã lên tiếng.

– Trước khi đem đồ ra bày ngoài sân, tôi lập lại lời quản giáo lần chót: Bất cứ ai còn lưu giữ những món gì thuộc về vũ khí, chất nổ, thuốc độc, đồ bén nhọn hoặc những hình tượng mê tín dị đoan như tượng bụt, tượng phật, hình thập giá… phải đem nộp cho các anh vệ binh ngay lúc này. Ai ngoan cố giữ trong tư trang hoặc trong mình, nếu bị phát hiện sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm với Trên.

Khối trưởng Trai chợt lớn giọng hơn một chút: Sao? Còn ai trong khối ta giữ những thứ đó trong người không?

Chẳng ai trả lời. Và hình như khối trưởng Trai cũng thừa biết chẳng có ma nào trả lời cho câu hỏi bắt đắc dĩ của mình, thành thử anh tiếp luôn. Bây giờ các tổ trưởng hướng dẫn anh em đem đồ ra trước sân của khối. Các anh trải chiếu và bày tất cả mọi thứ ra để quản giáo kiểm tra trong phạm vi được chỉ định cho mình.

Mọi người bắt đầu lục đục vác đồ ra sân.

Buổi sáng nắng đẹp. Căn cứ Trảng Lớn giờ đây đã thật sự có mùi đồng áng. Đây là một tổng hợp của mùi phân người, mùi nước tiểu, mùi bùn từ các ao rau quanh trại, mùi gà qué của bọn hậu cần trại nuôi thả chạy từng bầy, mùi củi mục, mùi hôi hám từ những căn bếp tỏa ra… Bây giờ đây tù các khối đang trải đồ cá nhân ra sân cho Cách mạng kiểm tra, không khí lại có thêm những mùi chua chua, mùi ẩm mốc của những bộ quần áo rách như tổ đỉa, mùi sét rỉ của lon cóng, mùi nước điếu đổ dính trên một cái màn…

Vĩnh thầm nghĩ không biết bao giờ thì sẽ có mùi của những xác chết vì bệnh dịch nơi đây!

Nửa tiếng đồng hồ sau thì tất cả mọi người đã trải chiếu và bày mọi thứ của mình có trên mặt đất. Tiền hậu tả hữu mỗi người cách nhau 4 sải tay. Vĩnh cũng trải tấm mền rách của mình trước mặt. Anh lôi ra khỏi cái bao vải lớn đầu tiên là cái màn, thứ đến hai cái quần đùi, rồi một cái áo thung, một quần dài, một sơ mi, một cái bát, một đôi đũa. Chiếc điếu cầy đã để sẵn dưới chân từ đầu. Đó là tất cả tài sản hiện tại của Vĩnh.

Tên Cư cùng với hai tên vệ binh có khối trưởng khối phó đi theo, xét kỹ càng tư trang của từng người.

Tới lượt Vĩnh, tên quản giáo hỏi.

– Có thế này thôi à?

– Vâng, tôi không có gì thêm nữa!

Hắn ngó vào người Vĩnh, hất hàm bảo khối trưởng Trai.

– Khám người anh này coi.

Khối trưởng Trai miễn cưỡng khom xuống vuốt từ chân vuốt lên đến nách. Thấy không phát hiện được gì, tên quản giáo đích thân cầm cái màn của Vĩnh lên rũ rũ vài cái. Cũng không có gì. Hắn chợt nhìn xuống cái điếu, hỏi khơi khơi. Có nhét chất nổ trong điếu không đấy?

– Dạ tôi đâu giữ chất nổ làm gì!

Tên quản giáo cười cười và cầm cái điếu lên ngắm nghía.

– Cũng khéo tay đấy nhỉ!

Vĩnh tính nói đây không phải là sản phẩm thủ công do anh sản xuất mà do một người khác làm cho, nhưng nghĩ sao anh lại thôi. Anh chỉ đứng yên ngó xuống mớ tài sản của mình. Quyền tư hữu ngày nay dưới chế độ Cộng sản chỉ có thế: Một vài manh quần áo rách rưới thua cả một thằng ăn mày dưới chế độ “tư sản phản động”! Thốt nhiên Vĩnh chua chát nghĩ. Không biết ta còn giữ được mảnh quần đùi này trên thân thể mấy ngày nữa!?

Cuộc kiểm tra tư trang diễn ra gần hết buổi sáng. Đến buổi chiều thì lệnh chuyển trại thật sự được ban ra. Bạn bè lại có dịp chạy tìm nhau náo loạn. Họ bàn tán, nhắn gửi, hỏi han, dặn dò nhau đủ thứ chuyện.

Có một điểm phải khi sống với Cộng sản mới biết được, ấy là trong vấn đề bảo mật, chúng ăn đứt người quốc gia. Chúng tích cực bảo mật từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ nhất. Khi tên quản giáo được lệnh trên thông báo cho tù là sửa soạn để chuyển trại thì chính bản thân thằng quản giáo cũng chỉ biết tới đó thôi, ngoài ra hắn cũng chẳng biết tù sẽ đi đâu và bao giờ đi. Đã kinh nghiệm về sự bảo mật của hệ thống bọn cai tù, đám cải tạo chẳng còn mấy ai thắc mắc sẽ đi đâu và bao giờ đi nữa! Thay vào đó là một sự mệt mỏi nặng nề tinh thần, kể cả những tay từng hân hoan khai báo trong bản tự khai mình là… con em liệt sỹ Cách mạng. Sống dưới đời tù tội của chế độ Cộng sản mới thấy rằng quả thân phận con người chẳng hơn gì một nhánh rong. Lâu lâu xảy ra một lần chuyển trại chẳng khác nào một đợt sóng lớn bất ngờ, kéo thân phận những nhánh rong trôi xa bờ hơn, biền biệt hơn về một góc bể chân trời nào đó mà ngày quy hồi cố hương càng thêm vô vọng…

Khi chiều xuống Vĩnh đi vòng ra sau nhà lượm lại cái bao cát trong đựng những món quốc cấm. Kế Vĩnh đi một vòng tìm gặp bạn bè. Trời chập choạng anh trở về phòng. Ngày mai đi? Ngày mốt đi? Đi đâu? Những câu hỏi không muốn hỏi nhưng nó vẫn quay mòng mòng trong đầu mọi người. Vĩnh cố nằm yên không suy nghĩ. Anh nhìn quanh, bạn bè cùng phòng nằm ngổn ngang như những đống củi khô. Không khí hôi hám và chật chội như một cái chuồng heo. Thế nhưng chẳng mấy ai tỏ ra suy tư. Họ vẫn mê mệt bên những câu chuyện Tam Quốc, chuyện chưởng. Vĩnh nhìn vào một góc nhà. Hình như chỗ hấp dẫn và có đông người nghe nhất hiện nay là chỗ nằm của ông già Hòa. Ngoài nghề hỏa đầu vụ trong quân đội, trước kia ông còn là chủ một quán nhậu. Bò lúc lắc, cua rang muối, lẩu lươn, canh chua cá bông lau, bào ngư xào cải bẹ xanh cho đến rắn xào hành, chuột khìa nước dừa, chim Ốc Cao chiên dòn, đuông tẩm bột chiên bơ, ốc len xào dừa… không tối nào ông không cho anh em cả phòng nằm nhậu hàm thụ.

Đêm đã về khuya. Bọn vệ binh đã bắt đầu lầm lũi đi tới đi lui ngoài sân. Thỉnh thoảng những tiếng thét bắt tắt đèn tắt nến, bắt đi ngủ của chúng lại vang lên đâu đó. Khối 2 vẫn còn người rầm rì kể chuyện. Vĩnh nằm ngó ra ngoài hiên. Trời như đang chuyển mưa. Gió về đêm lành lạnh. Trong cơn mơ màng tự dưng Vĩnh thấy mình vừa lạc về một cõi nào xa xưa lắm. Cái cảnh chập chờn tranh tối tranh sáng ngoài kia, ẩn hiện trong tiếng ì ộp của cóc nhái khiến thêm một lần trong đời Vĩnh nhìn lại toàn bộ quang cảnh tản cư của thời thơ ấu.. Trên con đường từ Thanh Hóa ra Điền Hộ, có đoạn anh được đi Ca-nô với người anh cả. Trên những cánh đồng đêm mênh mông dưới cơn mưa chuyển. Những thằng bù nhìn chập chờn như ma trơi. Cậu bé tám chín tuổi sợ tê dại mà không biết than thở cùng ai… Bây giờ, trong một phút mơ màng, Vĩnh cũng đang mang cái sợ y hệt nhiều chục năm về trước. Một thằng bù nhìn phất phơ dưới trời chuyển mưa tại sao lại đứng ngay đầu giường anh thế này? Vĩnh kéo cái chăn trùn kín lên đầu. Tiếng người vẫn thầm thì cho Vĩnh dần dần tỉnh lại. Anh lại ngước lên kẽ hở đầu giường nhìn ra hàng hiên chuyển mưa đen tối. Bóng người chập chờn bên ngoài đã biến đâu mất. Thốt nhiên chẳng riêng Vĩnh mà cả phòng bừng tỉnh dậy.

– Tắt đèn! Tắt đèn đi ngủ!

Một thằng vệ binh xuất hiện ngay cửa phòng. Nó chiếu ánh mắt rực lửa về phía ông già Hòa. Anh già kia! Nó nói. Tôi cấm anh tuyên truyền những món ăn phản động. Tôi khẳng định với tất cả các anh những món ăn ấy là những món ăn hoang đường và không bao giờ có thật trên thế gian này!

Tất cả những lời giã từ, chúc tụng đâm ra vô nghĩa trong lần chuyển trại kỳ này. Không ai phải chia tay ai vì toàn bộ trại L4T3 được đưa sang một địa điểm mới, và địa điểm ấy không quá xa xôi. Nó nằm ngay bên kia đường đối diện với khu trại cũ và đối lưng với trại L4T2.

Trại mới cũng như những trại khác, gồm những căn nhà gỗ cũ kỹ sắp xụm xuống vì mối mọt. Sang tới nơi tù cải tạo phải đổ công sức ra tu chỉnh tức thì mới có thể dùng làm nơi che mưa trú nắng được. Cũng như những lần trước, những công tác sửa nhà, sửa cửa, đắp bếp, đào giếng, làm cầu tiêu, dựng thêm sườn nhà, đắp nền, đan tranh, tu sửa khu gia cư của ban chỉ huy… lại được khung lập thành kế hoạch cho tù thực hiện.

Đầu tắt mặt tối nửa tháng trời cho đến khi những cái giếng sau cùng được hoàn tất, một công tác mới nặng nhọc hơn, quy mô hơn nhưng gây nhiều phấn khởi cho bọn tù hơn bắt đầu được thực hiện, ấy là công tác dựng hội trường. Theo lời bọn quản giáo lên lớp cho biết, không riêng L4T3 mà tất cả các trại cải tạo trên toàn quốc đều được lệnh Trên đồng loạt dựng hội trường. Hội trường này sẽ là hội trường chính thức của từng trại. Nó sẽ được dùng làm nơi học tập chính trị trong một tương lai sắp đến. Yêu cầu của Trên là hội trường phải thật to, thật bề thế để xứng đáng cho chiến dịch học tập chính trị phát động trên cả nước, một khâu then chốt trước khi cho những cải tạo tiến bộ trở về đoàn tụ gia đình.

Mô hình hội trường cho các trại gần như là một mô hình chung từ F đưa xuống. Nó sẽ là một tòa nhà 3 gian, có chính điện và hai chái hai bên. Sức chứa của hội trường phải đủ cho 800 đến 1000 chỗ ngồi. Các cột điện gỗ của Mỹ sẽ được trưng dụng làm cột và kèo. Mái lộp tôn. Vách lợp vỉ sắt PSP…

Công tác dựng hội trường khởi sự vào quãng cuối tháng 9 năm 75. Hơn một tháng sau hội trường đi vào giai đoạn kết thúc. Trong lúc các khối khác phải lên phi trường tháo gỡ thêm một số vỉ sắt về đóng vách, cắt và đập dẹp các vỏ đạn đồng 105 ly dùng trang trí vách hội trường… thì khối 2 chịu trách nhiệm trang trí sân khấu và đào ao lấy đất đắp nền hội trường. Riêng tổ A.3 đảm trách công tác thu nhặt các bao cát quanh căn cứ về tháo chỉ, giặt sạch và khâu lại với nhau để trang trí trần hội trường cũng như làm cánh gà cho sân khấu. Tháng 11 hội trường hoàn tất một cách mỹ mãn. Những lời hứa thả của bọn quản giáo sau đợt học tập chính trị tới đây bắt đầu được tung ra. Thế nhưng sự lạc quan trong anh em chưa được nồng nhiệt cho lắm khi mối lo âu đã trùm phủ trên mọi người: Bệnh ghẻ bắt đầu hoành hành!

Gần nửa năm đói ăn và lao động nặng, mùa lạnh lại kéo tới sớm hơn và khủng khiếp chưa từng thấy ở miền Nam khiến tù cải tạo cực kỳ khốn khổ. Người ta rỉ tai rằng chính bọn cán ngố đã đem theo cái đói lẫn cái lạnh từ miền Bắc vào! Đói lạnh đã lột hết những màu da bóng bẩy trên các khuôn mặt, bóc dần đi những thớ thịt ở vai ở ngực ở mông ở chân. Miệng người lúc này hầu như mọc thêm răng khiến người ta thưa thốt chậm chạp và có người đã bắt đầu không muốn nói gì nữa cả. Thay vào đó, suốt ngày suốt đêm người ta chỉ muốn có gì để nhai. Khi đi lao động khổ sai, những đôi mắt như hai tên lính mệt mỏi mai phục trong hai hố mắt sâu, thường khi sáng lên lúc chúng phát hiện được một con cóc, một con nhái, một con thằn lằn, một con cào cào, một con ốc sên hoặc ngay cả một con sâu củi… Thành ngữ “bất cứ sinh vật nào ngọ nguậy được trên mặt đất đều ăn được cả!” ra đời từ lúc này.

Trong tình trạng như thế tù cải tạo đã trở thành một bầy cừu trước sự hoành hành của con sư tử ghẻ!

Sinh ra và lớn lên trong thế giới tự do, hầu như mọi người chỉ biết bệnh ghẻ qua lý thuyết. Ngoài những ông tu bíp thì chắc chắn đa số đã quên phứt mất cái bài học từng được học trong môn khoa học thường thức từ buổi ấu thời về bệnh ghẻ. Nhiều lắm thì người ta cũng chỉ nhớ đại khái rằng: bệnh ghẻ là bệnh chúa lây, do con cái ghẻ truyền bệnh từ người này sang người khác. Con cái ghẻ là một con rất ư nghịch ngợm. Nó độc tìm những chỗ để hành nghề mà khi con người giơ tay gãi nó, sẽ tạo nên những động tác có khả năng công xúc tu sỉ. Ngày hôm nay nhờ Bác nhờ Đảng, người miền Nam tự do được nếm mùi ghẻ. Thật là oan nếu người ta nghĩ rằng lũ tù cải tạo sỡ dĩ bị ghẻ chỉ vì xa vợ lười tắm rửa mà phát ghẻ. Không, không phải như thế. Dịch ghẻ năm 75 đã không tha cả ông bà, cha mẹ, vợ con và cả lũ… em vợ vốn đẹp như tiên nga đang sống ngoài vòng rào trại cải tạo nữa.

Nói tóm là ghẻ cả miền Nam!

Tỷ như Samson, Hercules, Joshua hay Hạng Võ có sống lại để làm quần quật như trâu, rồi tiếp thu vào thân xác một thứ thực phẩm chó chê dê lạy của chế độ ẩm thực lao tù nơi đây, là mỗi bữa hai bát cơm gạo mục, lâu lâu được phát bồi dưỡng hai con khô cá chuồn – thứ cá xưa kia người miền Nam chỉ dùng xay ra làm thực phẩm gia súc và chính nó cũng là một trong những tác giả của sự ngứa! – Thì lấy đâu ra kháng tố cho cơ thể mà không ghẻ!?

Khi mùa lạnh thực sự ập đến Trảng Lớn, cùng một lượt với cái tin nay mai sẽ học tập 6 bài chính trị, và cả cái tin anh chàng thiếu úy Mạnh – người tự tử bằng lựu đạn lân tinh 5 tháng về trước – đã chết trên bệnh xá trung đoàn; thì con cái ghẻ bắt đầu hoành hành dữ dội. Bọn tù thuốc men không có. Hàng đống bác sỹ quân y ở tù cũng bó tay và ghẻ như ai. Ghẻ ở tay, ghẻ ở chân, ghẻ ở mồm, ghẻ ở mắt, ghẻ ở lưng, ghẻ ở bụng, ghẻ ở nách, ghẻ ở háng… Biết bao anh hùng hảo hán xông pha hòn tên mũi đạn không sao, một ngày sa cơ thất thế bị con cái ghẻ hạ sát thê thảm!

Lâm thế đường cùng, bọn tù bắt đầu tìm cách chế thuốc. Vỉệt Nam vào giai đoạn này bỗng dưng biến thành một xứ sở có nhiều dược sư nhất thế giới. Đi lao động vớ được bất cứ loại củ cành lá hoa gì họ cũng tha về nấu tắm, nấu thành cao để bôi. Đã có rất nhiều đấng dược sư bất đắc dĩ chết vì chính thuốc của mình sáng chế. Nhiều người lớn tuổi cho biết vỏ tràm đem nấu tắm cũng hết ghẻ, nhưng rừng Trảng Lớn không có tràm! Dần dần người ta bước sang lãnh vực hóa chất. Một số đi lao động tìm được chất nổ TNT và thuốc đạn đem về bôi, tuy nhiên kết quả thật kinh khủng khi những vết ghẻ lở đã không chỉ lở hơn mà còn sưng phồng lên như bị phỏng nước. Chỉ có một thứ sau cùng khả dĩ trị được bệnh ghẻ một khi còn nhẹ, ấy là thuốc bôi muỗi. Đây là một khám phá bất ngờ mà không rõ ai là tác giả. Thuốc bôi muỗi trong các căn cứ Mỹ xưa kia còn sót lại nơi các bụi rậm, nơi những nền nhà xi măng đã bị rêu phong tuế nguyệt phủ trùm, bỗng nhiên biến thành một phương thuốc trị ghẻ quý giá mà không tên tù nào không muốn có trong tay.

Vĩnh cũng ghẻ thê thảm như ai. Hơn một tháng anh mất ăn mất ngủ vì bị ghẻ hành. Một buổi chiều Nguyễn Thành Đính đi lao động về và đưa cho Vĩnh một chai thuốc bôi muỗi. Hắn nói.

– Bôi đi, bảo đảm đêm nay ngủ ngon.

Vĩnh cầm lấy cái ve nylon có màu cứt ngựa bên trong đựng thuốc bôi muỗi từ tay Đính, đùa giỡn.

– Nhỡ bôi xong nó sưng to như cái điếu cầy lủng lẳng hai quả bưởi như thằng em cột chèo của mày thì sao?

Đính cũng chẳng vừa.

– Thì tao sẽ thương vợ mày như thương vợ tao, thương con mày như con lối xóm…

Nói đùa xong chẳng đợi cho Vĩnh đáp lễ, Đính thò tay vào cái valise đặt trên đầu chỗ nằm moi ra một cục xà bông mới toanh trao cho Vĩnh. Hắn nói. Dial thứ thiệt đấy. Tao thủ từ hồi nhập trại, tính hôm về tắm tẩy trần một bữa; nhưng bây giờ ngày về xa quá người ơi… Mày ra tắm một lần cho đã ngứa đi, xong gói cục xà bông lại trả tao. Phải lau mình thật khô trước khi bôi thuốc muỗi nó mới “phê”…

Đêm hôm ấy quả nhiên Vĩnh được ngủ một giấc li bì.

Tuy nhiên thuốc muỗi chỉ có công hiệu làm giảm ngứa nhất thời cho những người mới bị hoặc bị nhẹ. Cũng có người khỏi hẳn như trường hợp của Vĩnh nhưng chẳng phải ai cũng may mắn như thế.

Trong khi bị ghẻ, hầu như ai cũng thèm ngọt. Cái thèm da diết không diễn tả nổi. Nhiều lúc Vĩnh nghĩ đến chuyện hết ghẻ của mình chẳng do thuốc muỗi mà do một đêm kia được ăn một miếng kẹo. Đêm ấy, Ngô Văn Tuyên lén lút và trịnh trọng gọi Vĩnh rời khỏi chỗ nằm. Vĩnh bước theo anh tới căn bếp tối đen. Tuyên chợt đứng sát vào Vĩnh và dúi cho Vĩnh một gói giấy nhỏ đủ lọt trong lòng bàn tay.

– Dấu đi, kẹo đậu phọng đấy!

Tuyên thì thầm. Quả thực lúc ấy Vĩnh choáng váng khi nghe thấy chữ kẹo. Trước khi bỏ đi, Tuyên còn dặn khẽ. Đừng cho ai biết cả nhé. Lỡ ra chúng cùm tôi đấy…

Vĩnh muốn nuốt ngay miếng kẹo nhưng cũng thầm thì hỏi một câu.

– Đào đâu ra thế?

– Tụi vệ binh nó bán lén sau dãy cầu tiêu, nhưng đừng mò ra nữa, bể rồi.

– Sao vậy?

– Anh em không kỹ ùa ra ào ào. Bây giờ tụi quản giáo nó đang ôm súng nằm phục ngoài đó…

Đúng ra chuyện này Vĩnh cũng đã biết từ lâu. Giáo giang Trương Thanh Long buôn qua bán lại cũng bằng ngả này. Tuy nhiên chuyện bán buôn qua lại đã chấm dứt từ lâu lắm từ dạo còn bên trại cũ. Không dè hôm nay lại tái diễn… Vĩnh cầm miếng kẹo của Tuyên cho trở về chỗ Đính nằm. Không có Đính ở đó. Vĩnh chui vào chỗ mình, dấu miếng kẹo dưới đống mền và lại chui ra ngoài ngồi nơi hàng ba đợi Đính. Anh lan man nhớ đến chuyện Đính đi mua kẹo của vệ binh hồi bên trại cũ…

Thỉnh thoảng vào ban đêm, bên ngoài hàng rào nơi những chỗ tối tăm như sau các dãy cầu tiêu, sau những đống cuốc xẻng, sau những lớp gỗ hoặc tôn phế thải xếp từng đống… cũng có một vài chú vệ binh tập tễnh học chuyện bán buôn để hy vọng có tí mùi tư sản. Một hai lần đầu việc bán buôn đã diễn ra giữa tù và vệ binh rất nghiêm túc. Dần dà, dựa vào tình trạng khẩn trương trong cái thế mua lén bán lậu, bọn vệ binh bắt đầu áp dụng thủ đoạn ma bùn đểu cáng.

Nửa đêm Đính trỗi dậy (sau khi đã có sự sắp xếp và làm một vòng quyên tiền anh em). Đính bước ra khỏi phòng, miệng hô lớn với quỷ thần mông lung một câu theo nội quy quy định: Báo cáo anh vệ binh tôi xin phép đi ỉa. Hô hoán xong, Đính tà tà đi xuống phía dãy nhà ỉa 1.

Thực tế Đính chẳng đi cầu tiêu mà là đi cầu âu xem có tay vệ binh nào lơ vơ lờ vờ bán hàng bên ngoài hàng rào hay không.

Một tiếng hỏi chợt khe khẽ cất lên dưới đường mương bên ngoài hàng rào, lẫn lộn với tiếng lau lách xào xạc. Đính làm bộ sợ hãi khựng lại thả lời dọ dẫm.

– Ai đấy?

– Vệ binh đây. Có mua gì thì nẹ nẹ nên không thằng quản ráo nó ra thì nôi thôi nắm!

– Nhiêu?

– Đường hả?

– Ừ.

– 400 một cân 2

– Có kẹo không?

– Có. Kẹo nạc. Một phong 10 miếng giá 200.

Có tiếng sột soạt đếm tiền.

– Cho 1 ký đường và 3 miếng kẹo nạc.

– Cái gì? Ký là cái gì?

– À, một cân ấy mà.

– Được, nhưng kẹo nạc không bán nẻ. Một gói 10 miếng 200 mua không?

– Không đủ tiền. Vậy mua đường thôi.

Kẻ nhận tiền người nhận đường nhanh như chớp rồi mạnh ai nấy biến.

Đính trở về phòng dấu ký đường thật kỹ rồi lần lượt đi báo tin mừng cho anh em. Tốt, cứ từ tù để ngày mai tính…

Đêm hôm ấy dĩ nhiên cơn xúc động rất khó lắng xuống vì sự may mắn đã cho mấy thằng tù nghiễm nhiên làm chủ cả một ký đường. Đính nhón ra một cục để thay mặt các ban, ngồi trong mùng vái bốn phương tám hướng tạ ơn quỷ thần. Rồi anh thay quỷ thần mà… thượng hưởng.

Cuộc đời của Đính hẳn đã có thừa ấm ức. Nhưng giữa cái ấm ức lúc thấy rõ thầy Mẫu cắn gấu áo nâu của mấy anh sư Cộng đến nỗi bị lừa vào thế rước voi dầy mồ, so với cái đau khổ ấm ức mình bị Cộng sản lừa đêm nay, thì cái cường độ ấm ức ấy chắc cũng chẳng kém nhau bao nhiêu.

Đính đã thay mặt bạn bè nhai nát trong miệng một cục đất sét…!

Đêm hôm ấy anh và Đính nhâm nhi miếng kẹo lạc của Tuyên cho đến sáng với một lon guigoz nước lạnh. Và khi hồi kẻng 5 giờ báo thức, Vĩnh đã liếm trắng bóc cả năm đầu ngón tay sau khi Nguyễn Thành Đính đã điểm tâm luôn… miếng giấy gói kẹo.

Dù sao Vĩnh vẫn tin rằng chính nhờ miếng kẹo đêm ấy mà anh khỏi hẳn bệnh ghẻ. Vĩnh khỏi bệnh ghẻ trong lúc bạn bè đã và đang tìm đường sang bên kia thế giới vì con cái ghẻ – một sản phẩm độc quyền của nhà nước CSVN.

Buổi trưa khi đi lao động về, giờ cơm xong, nếu trên máy bay nhìn xuống, người ta lại có thể tưởng lầm bên dưới là một bãi biển toàn dân Playboy đang nằm khỏa thân phơi nắng. Nhưng nếu vì một lý do gì máy bay được hạ cánh thấp xuống, người ta mới thấy được tất cả cái thê thảm của bọn tù cải tạo phơi nắng giết cái ghẻ. Ôi một rừng người mà thân thể họ đã biến thái vì đói vì khổ nhục, giờ đây còn được trang điểm thêm những vết lở lói khắp cùng thì còn gì thê thảm bầm dập hơn nữa!?

Người của thế giới Tự Do làm sao mà tưởng tượng ra được cái cảnh một cựu sỹ quan Dù hào hùng giờ đây đã nhão ra vì bị ghẻ hành!? Anh ta nằm đó, bàn tay ghẻ đã làm cứng lại các gân tay đến độ không còn bưng nổi chén cơm lên miệng. Mặt mũi, mồm mép đầy những lớp ghẻ mủ xanh lè. Anh ta đang cố gắng chổng mông lên cho anh Thủy Quân Lục Chiến bạn – cũng ghẻ đầy mặt mũi, chân cẳng, bụng bịu – cầm một miếng giể chấm mấy cái thứ thuốc tự chế quái quỷ để bôi lên mông người bạn của mình.

Thấy người bạn Dù vẫn nằm yên, anh Thủy Quân Lục Chiến lên tiếng hỏi.

– Có thấy phê không?

– Chẳng thấy gì!

– Lạ nhỉ? Tao bôi tao và bôi mấy thằng khác nữa, thằng nào cũng giẫy nẩy vì xót.

-…..

– Lạ nhỉ?

– Có chó gì mà lạ. Thịt tao coi như vữa rồi.

Anh sỹ quan Dù buồn buồn trả lời. Anh TQLC thương bạn tìm cách trấn an.

– Không, chắc nhiều khi xót quá nó tê đi…

– Tê quái gì! Tao biết tao chứ.

Buổi trưa Trảng Lớn tháng này nắng thật yếu ớt ngược hẳn với mặt trời tháng Tư tháng Sáu. Dù nắng yếu ớt nhưng phơi một lúc da thịt người vẫn như choắt lại vì sự co thắt của lớp ghẻ mủ trên da thịt. Thỉnh thoảng một bầy chim lạ từ phía núi Bà Đen bay ngang kêu những tiếng dạc dài trong trưa nắng. Chẳng bao giờ chúng đáp xuống đây, tuồng như chúng biết rằng nếu không lây bệnh ghẻ thì cũng khó thoát tay những kẻ bị ghẻ – cái đói, cái thèm có thể chớp mắt dựng những xác người sắp chết kia dậy để vồ chúng bằng những động tác nhanh đến độ đôi cánh chúng cũng không kịp bốc bay lên.

Người lính Dù lại hỏi vu vơ. Mày còn bi thuốc nào không?

Anh TQLC khẽ lắc đầu.

– Mấy ngày nay tao hút lá Tầu Ô nóng muốn ho ra máu…

Anh Dù chắt lưỡi.

– Thèm quá! Nói rồi anh nhìn ra phía những cánh đồng lau bát ngát bên ngoài dãy ụ đất phòng thủ, than khẽ. Đời chúng ta chẳng lẽ đều kết thúc với một cái thèm hèn hạ thế này thôi sao!?

Anh TQLC vẫn tiếp tục bôi thuốc cho bạn. Anh Dù chợt ra hiệu cho bạn đừng bôi nữa. Anh chống tay quỳ lên và tìm thế ngồi xổm trên tấm bao cát trải dưới đất. Anh TQLC ngồi xuống với bạn. Anh nhìn cặp giò lở lói của mình và chẳng nói gì…

——————————–

1         Việt cộng dùng chữ nôm na đôi khi rất khó nghe. Tỷ dụ ở mỗi cầu tiêu của trại L4T1 sang tới L4T3, chúng bắt tù kẻ các hàng chữ NHÀ ỈA gắn trên mỗi cửa. Bên cạnh những dãy nhà ỉa có một cầu kẻ chữ CÁCH LY dành cho những người bị kiết lỵ, tiêu chảy… Cũng trong cái thói dùng chữ khó nghe ấy, dân Sài gòn sau 75 đã có lần chấn động vì bọn y tế thành đề nghị hạ bảng Viện Bảo Sanh Từ Dũ để thay bằng nhãn hiệu Xưởng Đẻ. Nghe phong thanh bị các bà các cô họp hành tố quá thành thử dự án Xưởng Đẻ đã không thành.

2         Giá bên ngoài mới độ 100 đồng một ký.

Gió Bấc

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 22 Jan 2016 

Post by Sơn râu 30 Dec 2023

“Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam” (tục ngữ)

            Chẳng ai lấy vợ đàn… ông. Cũng có nghĩa rằng chẳng ai làm nhà quay về hướng khác, nhất là hướng bắc, mà nhà thì phải quay về hướng nam.

            Hướng bắc là hướng gió Bấc thổi, lạnh lắm, nên muốn tránh cái lạnh của gió Bấc người ta phải quay mặt nhà về hướng nam.

            Câu tục ngữ nói trên là của đồng bào miền Bắc Việt Nam.

Đó cũng là kinh nghiệm sống, kinh nghiệm dựng nhà của người ngoài đó. Nhà đã quay về hướng nam, cửa chính cũng không làm rộng, cửa sổ đã nhỏ lại nằm trên cao. Dĩ nhiên, đó là những nhà tranh thuộc các gia đình trung lưu hay nghèo khó, là những nét đặc biệt của lối kiến trúc người Bắc, vừa ngăn cái lạnh của gió Bấc, vừa giữ trộm cắp, nhà lại kín đáo. Người ta thường dấu cái nghèo của mình, cháo thay cơm, hay ăn sắn khoai trừ bữa cũng không ai hay.

            “Mái nhà xuống thấp, trùm kín phần trên vách để che mưa. Hơn nữa, cửa chính nhỏ và hẹp, cửa sổ nhỏ và cao để việc sinh hoạt trong nhà được kín đáo nên trong nhà thiếu ánh sáng tự nhiên.

Làm nhà hướng về phía nam có thể đón gió nồm thổi mát vào mùa hè. Hai chái phụ ở hai đầu, một hướng đông, một hướng tây chống hơi nóng mặt trời sáng và chiều.

Trước nhà trồng cau (để đón gió nam mát) sau nhà trồng chuối (lá chuối ngăn bớt gió bấc lạnh mùa đông).

Người đàn bà vắng chồng, đêm đêm ôm con, nghe tàu lá chuối bị gió đập phía sau hè, lòng buồn lắm. Đó là nguồn hứng khởi của câu ca dao:

“Gió đưa bụi chuối sau hè

                   Anh nghe vợ bé, bỏ bè con thơ.”

Người giàu làm nhà ngói, nhà cao cửa rộng, tác giả không bàn ở đây.

            Ỏ Mỹ, vùng phía Bắc, hôm nào có tuyết thì không ngại lắm. Có tuyết, trời hơi ấm, mặc dù hàn thử biểu chỉ dưới 32 độ F. (32 độ F bằng 0 độ C).

Nhưng người vùng Đông Bắc Hoa Kỳ rất ngại Wind Chill (North wind chill). North wind chill (Wind Chill) là gió từ Bắc Cực, từ Canada, từ Alaska xuống nên trời rất lạnh, lạnh tái tê. Mặc quần áo đã dày, đồ nỉ, đồ bông nhưng người ta có cảm tưởng cái lạnh như kim chích. Cái lạnh chui qua vải, qua nỉ mà chích vào da thịt người.

&

            Cái lạnh của gió Bấc ở nước ta không thua gì!

Cho nên người Việt đang định cư ở miền Bắc hoặc Đông Bắc Hoa Kỳ, – như vùng tôi chẳng hạn -, những ngày có “North wind chill” lại nhớ da diết gió Bấc ở quê nhà.

“Cái gì không nhớ, lại nhớ cái gió lạnh tê tái bên bờ sông Thạch Hãn”? Có người sẽ trách tôi như vậy. Nhưng quê hương đâu phải chỉ toàn là khế ngọt để trèo hái mà ăn, “Cho tôi trèo hái mỗi ngày.”

Yêu quê hương như yêu mẹ. Yêu cả cái “không đẹp” của mẹ, như tóc bạc, da mồi, ốm o, lụm khụm?

            Nhớ quê hương và nhớ mẹ, mấy ai không nhớ tới “Nhà Mẹ Lê” trong “Gió Đầu Mùa” của Thạch Lam.

“Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ, dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói, mấy đứa nhỏ nhất: con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó. Thằng con lớn thì từ sáng đã cùng thằng Ba ra cánh đồng kiếm con cua, con ốc, hay sau mùa gặt, đi mót những bông lúa còn sót lại trong khe ruộng. Thật là sung sướng, nếu chúng mang về được một lượm, trong những ngày may mắn. Vội vàng bác Lê đẩy con ra, vơ lấy bó lúa, đem để xuống dưới chân vò nát, vét hột thóc giã lấy gạo. Rồi làm một bữa cơm nóng lúc buổi tối giá rét, mẹ con ngồi chung quanh nồi cơm bốc hơi, trong khi bên ngoài gió lạnh rít qua mái tranh.”

            Đó là cái “khổ muôn đời” của nông dân Việt Nam.

Cái lạnh và cái đói hình như có “bà con”, hay hai người yêu quấn quít lấy nhau. Đã lạnh thì dễ đói. Đã đói thì lại càng thêm lạnh. Đó cũng là kinh nghiệm cay đắng của những người miền Nam bị tù ở vùng núi non Bắc Việt như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn… sau năm 1975.

            Nhà nào không đói thì cũng nghèo.

Đó là hoàn cảnh Cô Tâm trong “Cô Hàng Xén”, tôi cũng trích trong tập truyện ngắn trên, cùng tác giả:

“Cái đòn gánh cong xuống vì hàng nặng, kĩu kịt trên mảnh vai nhỏ bé theo nhịp điệu của bước đi. Chịu khó, chịu khó từng tí một, hết bước nọ sang bước kia, cứ thế mà đi không nghĩ ngợi. Tâm thấy ngày nay cũng như mọi ngày, ngày mai cũng thế nữa; tất cả cuộc đời nàng lúc nào cũng chịu khó và hết sức, như tấm vải thô dệt đều nhau. Có phải đâu chỉ một mình cô; trong những lũy tre xanh kia, bao nhiêu người cũng như cô, cũng phải chịu khó và nhọc nhằn, để kiếm tiền nuôi chồng, nuôi con, nuôi các em. Tâm không chán nản cũng không tự kiêu, chỉ thấy yên tâm chắc chắn, như nhiều người khác cũng làm việc, cũng sống như nàng.”

….

“Lúc Tâm ra về, trời đã tối. Nàng vội vã bước mau để về cho con bú. Sương mù xuống phủ cả cánh đồng, và gió lạnh nổi lên: Tâm thu vạt áo lại cho đỡ rét, lần theo bờ cỏ đi.”

&

Cơn gió Bấc thường đến bất chợt bởi vì nó phát xuất từ Tây Bá Lợi Á. Cơn gió từ đó thổi đi, thường mang theo cái lạnh của vùng trung tâm lục địa Châu Á. Nó ập vào miền Bắc nước ta như một tên xâm lược, tiến nhanh như gió bão:

“Buổi sáng hôm nay, mùa đông đột nhiên đến, không báo trước. Vừa mới ngày hôm qua giời hãy còn nắng ấm và hanh, cái nắng về cuối tháng mười làm nứt nẻ đất ruộng, và làm ròn khô những chiếc lá rơi. Sơn và chị chơi cỏ gà ở ngoài cánh đồng còn thấy nóng bức, chảy mồ hôi.

“Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi ra gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt.

“Sơn tung chăn tỉnh dậy, nhưng không bước xuống giường ngay như mọi khi, còn ngồi thu tay vào trong bọc, bên cạnh đứa em bé vẫn nắm tay ngủ kỹ. Chị Sơn và mẹ Sơn đã trở dậy, đang ngồi quạt hỏa lò để pha nước chè uống. Sơn nhìn thấy mọi người đã mặc áo rét cả rồi.”

 …

“Sáng sớm hôm sau, trong gió bấc lạnh, Tâm đã mở cổng gánh hàng lên chợ. Sương trắng còn đầy ở các ngõ trong làng; mùi rơm rác và cỏ ướt thoang thoảng bốc lên, mùi quen của quê hương và của đất mầu khiến Tâm thấy dễ chịu và thêm can đảm. Nàng rảo bước cho mau chóng đến chợ.”

Gió Bấc làm cho đời sống dân chúng khổ sở. Chiến tranh làm cho họ khổ hơn, như gió Bấc đã từng đóng một vai trò nào đó trong lịch sử.

Sử chép:

“Tháng 3 năm Giáp Dần (1794) nhà Tây Sơn tổ chức phản công, tướng Nguyễn Văn Hưng đem bộ binh đánh vào Phú Yên, và tướng Trần Quang Diệu vào vây thành Diên Khánh. Đông cung Cảnh cho người về Gia Định cầu viện. Tống Phúc Đạm liền theo chúa Nguyễn đem đại binh đến đánh giải vây, buộc Trần Quang Diệu phải rút quân về.

Chúa Nguyễn thấy thế Tây Sơn còn mạnh, vã lại đã đến mùa gió bấc lạnh lẽo, nên chúa đem Đông cung Cảnh (Hoàng tử Cảnh tg) về Gia Định, để lại Võ Tánh giữ thành Diên Khánh.”

&

Trong các tháng 1 tháng 2 dương lịch, tức là trước và sau tết âm lịch, vùng trung tâm đại lục Châu Á nhiệt độ xuống thấp lắm, từ 10 độ âm tới 40 độ dưới không độ, có khi xuống tới 50 độ âm. Verkhoïansk, một thành phố nhỏ ở miền đông-bắc Tây Bá Lợi Á được coi là thành phố lạnh nhứt địa cầu, về mùa đông có khi nhiệt độ xuống tới âm 70 độ C.

Gió từ Tây Bá Lợi Á, ở phía Bắc biển Thái Bình thổi về phía nam nên người ta mới gọi là gió Bắc, người Bắc gọi trại thành Bấc. Tuy nhiên vì vòng quay của địa cầu, gió Bấc từ biển thổi vào đồng bằng Bắc Việt theo hướng Đông – Bắc chứ không phải hướng Bắc.

Khi vào châu thổ sông Hồng Hà, gió Bấc rẽ theo thung lũng của các dãy núi hình nan quạt mà lên Tây Bắc, nên vùng Tây Bắc về mùa đông lạnh tái tê. Nhiều người đi tù ở Việt Bắc, có đi mà không có về cũng vì những cơn “gió Bấc lạnh lùng thổi vào mái rạ” nầy.

Toàn bộ phần Nam lục địa, kể cả Tây Nam Á, về mùa đông có gió mùa Đông Bắc từ lục địa thổi xuống. Tuy nhiên do ảnh hưởng của các dãy núi cao theo hướng Đông-Tây, gió Đông Bắc từ áp cao Tây Bá Lợi Á không thể tiến tới phía Nam bán đảo Đông Dương được. Vì thế, chỉ có vùng từ đèo Cả trở ra phía bắc mới chịu ảnh hưởng gió Bấc. Từ Phú Yên xuống phía nam, ở phía nam đèo Cả, không phải chịu cảnh “mưa phùn gió bấc” triền miên như các vùng phía ngoài. Cái lạnh cũng bớt đi. Tuy nhiên, vùng phía bắc đèo Cả, cho tới đèo Hải Vân, ảnh hưởng “gió Bấc lạnh” cũng bớt đi phần nào.

Khi từ lục địa thổi ra, gió lạnh nhưng khô. Tuy nhiên, khi ngọn gió đi qua vùng phía bắc Thái Bình Dương, nó đem theo hơi nước của biển, cộng thêm những tầng mây dày và nặng trên vùng trời nầy, gió mang theo cơn mưa của biển.

Mưa không nặng hạt, có khi rất nhẹ như lúc mới vào mùa, còn gọi là gió heo may, thường thích hợp cho các bà các cô Hà Thành mặc áo nhung đi dạo phố. Vào cửa hàng, họ chỉ cần cầm vạt áo rủ nhẹ là hạt mưa phùn rơi xuống.

Vào giữa mùa, hạt mưa nặng hơn, mưa dai dẳng kéo từ ngày nầy sang ngày khác, có khi dài hằng tháng.

Mưa chen trong gió hay gió mang theo mưa?

Trong  mùa gió Bấc, mưa rỉ rả, và lạnh, và buồn, và kéo lê nhiều ngày khiến có lần Nguyễn Bính phải than:

“Trời mưa ở Huế sao buồn thế!
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói
Trời mờ ngao ngán một làn mây.

“Trường Tiền vắng ngắt người qua lại
Đập Đá mênh mang bến nước đầỵ
Đò vắng khách chơi nằm bát úp
Thu về lại giở gió heo may…”

            Nguyễn Bính hỏi “sao buồn thế?” Đỗ Tấn nói rõ hơn:

                        “Đêm Huế mưa buồn như em không nói,

                        Những cây mù u gục đầu. (1)

                        Lạnh về cắn xé đêm thâu”

            Nhạc sĩ Ưng Lang thì nhìn lá rụng theo mưa:

                        “Mưa rơi!

Chiều nay vắng người,

Bên thềm nhớ ai!

Mưa gió đầy vơi…

            Vì mùa “Mưa phùn giáo bấc” nên cái lạnh của xứ Huế ẩm ướt và khó chịu. Không có cái áo mưa nào ngăn nổi những giọt nước của cơn mưa phùn. Mưa thấm qua mũ, thấm qua áo quần và thấm vào đôi bít tất. Những giọt nước ở lại đó, – trong hai chiếc giày, cùng với hơi lạnh, kiên trì dai dẳng làm tê cóng mấy ngón chân.

            Mây phủ kín đầy trời, rất thấp, tưởng như vói tay có thể “đụng” tới mây; có khi cả tháng, người ta không thấy mặt trời. Mưa rỉ rả suốt ngày đêm, mưa kéo dài hàng tuần. Đi học, có lần tôi than vản:

                        “Qua cầu Trường Tiền

                        Mưa gió lê thê

                        Tôi đặt một bàn tay lên che trước ngực

                        Tôi thấy buồn tấm tức

                        Kể làm chi những đứa học trò nghèo

                        Mẹ tôi già vất vả gieo neo.

            Có một lần về phép, may quá, tôi lên chiếc máy bay quân sự C-47. Máy bay ra tới phi trường Phú Bài mà không đáp xuống được vì mây rất dày, lại phải quay về Saigon. Thế là bỏ phí một ngày. Ông Trời không biết rằng, đối với người lính, một ngày về phép là quí lắm hay không?

&

            Những người trẻ ngày nay có thể không biết “cái lồng ấp” là cái gì?

Nó đã chết theo thời gian rồi! Người miền Nam cũng không biết nó.

Nó là cái trách nhỏ, bằng cái tô, đất nung, trong đựng những cục than đỏ tỏa ra hơi nóng ấm áp. Và một vật trông như cái giỏ tre đan giữ cái trách đất trong lòng nó. Ôm chặt cái trách đất, làm như cái giỏ tre cũng sợ lạnh!

Các mẹ, các bà cụ già, mùa đông lạnh, thường giữ kèm cái lồng ấp bên cạnh, hay đặt trước bụng, hơ hai bàn tay trên cái trách đất cho đỡ cóng.

            Cái lồng ấp và ngọn gió Bấc thổi về có “họ hàng” gì với nhau không mà mỗi khi cơn gió Bấc vi vút thổi trên mấy hàng dương liễu bên bờ sông Thạch Hãn thì cái lồng ấp xuất hiện. Người ta mới mua ở chợ hay mới lôi từ trên giàn bếp xuống?

Không! Cái lồng ấp cũng chống lại cái lạnh của ngọn gió Bấc đấy. Trong khi cái lạnh của cơn gió làm tê cóng hai bàn tay, thì ngọn lửa trong cái lồng ấp làm cho hai bàn tay hồng trở lại, máu lại chạy đều trong mấy ngón tay.

            Cái lồng ấp của mẹ tôi đã cũ, có lẽ nó được mua ở chợ hồi năm ngoái, có nghĩa rằng nó thâm niên được một năm, một năm giúp mẹ tôi bớt cóng mấy ngón tay. Những nan tre màu trắng của cái lồng ấp nay đã sậm mầu. Miệng cái giỏ tre lồng ấp bị cháy xém đen. Ngọn lửa trong cái trách đất quá nóng hay lửa bùng lên làm cháy những nan tre?

            Nhiều khi, đi học về, tôi “xề” tới bên mẹ, đưa tay hơ trên lồng ấp, kiếm một chút hơi nóng.

            Mấy chục năm sau, kể từ khi khôn lớn rồi lưu lạc tới tận miền Nam xa xôi, sông Tiền, sông Hậu, tôi không còn thấy cái lồng ấp nữa. Miền Nam không có cái lạnh của ngọn gió Bấc để những người già phải cần tới nó.

Và thế rồi tôi quên nó, tôi quên cái lồng ấp đã làm cho hai bàn tay mẹ tôi bớt tê cóng. Gần chục năm trong trại cải tạo, nhiều đêm đông gió lạnh cũng làm tê tái hai bàn tay, tôi bỗng nhớ đến cái lồng ấp của mẹ tôi.

Và sáng hôm nay, trời ở Mass bỗng chuyển “North wind chill”.

Nhìn gió lắc lư trên những ngọn thông màu xanh sẫm sau nhà, tôi bỗng nhớ đến cơn gió Bấc nơi cố quận, nhớ mẹ tôi và bất chợt, qua hình ảnh của mẹ mà tôi đã sống gần gủi bên mẹ khi tôi còn niên thiếu, tôi chợt nhớ tới cái lồng ấp của mẹ. Cái lồng ấp như một “hồn ma cũ” thức dây từ trong tiềm thức của tôi.

            Mẹ tôi chạy giặc khỏi quê nhà năm 1972. Tôi không biết những năm trước đó mẹ tôi còn dùng cái lồng ấp nữa hay không, những cái lồng ấp cũ mẹ tôi đã dùng có lẽ đã tiêu tan vào những thùng rác sau nhà. Nhưng trong tâm hồn tôi, từ thơ ấu đến giờ, hình ảnh cái lồng ấp vẫn còn ở lại đó, chẳng qua, vì tôi cũng như mọi người: Tôi thương mẹ!

            Năm ngoái đây, chị Như, một bà chị bà con bên ngoại, con gái cụ Đốc Hy, từ Canada gọi điện thoại hỏi thăm tôi. Chị bảo rằng ở Canada đang lạnh và mưa, làm chị nhớ “cái áo tơi lá” hồi còn học tiểu học ở Quảng Trị..

            Cái “áo tơi lá”” Lại thêm “một hồn ma cũ” cố hương!

            Tôi cứ tưởng những đứa bé con nhà nghèo như tôi mới phải mang cái “tơi lá” đi học chứ. Con gái một ông bác sĩ, sao lại phải “áo tơi lá” như tôi?

            Té ra không phải!

            Cuối thập niên 1940, kỹ nghệ chưa phát triển, nên thời kỳ ấy chưa có “nylon” để làm “áo mưa nylon”. Vậy thì, dù giàu hay nghèo, bọn học trò tiểu học như chúng tôi hồi đó, ai ai cũng phải mang “áo tơi lá” đi học. Binh lính Tây có áo mưa, là một thứ vải tráng cao su, chưa có loại vải tráng nylon như sau nầy.

            Đến lớp, cái “áo tơi lá” cồng kềnh được treo hay móc ngoài hành lang, không được đem vô lớp.

            Xem vậy mà cái tơi lá tiện lợi cho chúng tôi khi chúng tôi đi học dọc theo bờ sông Thạch Hãn. Khi đi tới trường hoặc khi về, chúng tôi quay cái tơi lá về phía Tây, hướng gió thổi tới, để che cơn gió lạnh. Cái tơi lá không che tới chân, nên phần dưới hai ống quần ướt đẫm, làm cho hai cái chân lạnh cóng, dù đã vào ngồi trong lớp học.

Khi gió mạnh, cái mép cuối của cái tơi lá đập vào hai ống chân khá đau, có khi làm cho chỗ da ở đó đỏ lên vậy.

            Cái tơi lá, như một tấm bạt, phía trên bẻ ngang, có sợ giây rút lại. Cái đầu của bọn tôi ló ra khỏi cái tơi lá ở chỗ sợi giây ấy. Những người kéo xe, gánh gồng, dùng cái tơi lá có hai lỗ hai bên để có chỗ cho hai cái tay thò ra.

            Không hẳn cái tơi lá ngày nay đã mất dấu ở quê hương. Xứ tôi gần rừng, có nhiều lá cọ, để cho người ta dùng những cánh lá non để “chằm” nón lá, và những cái lá già để “chằm” tơi lá. Người dân quê tôi đâu đủ giàu để không còn dùng tới cái tơi lá nữa.

&

            Một số người thành phố, những người không phải là ngư dân, sau 1975,  biết thêm một danh từ mới của những người đi ghe biển Việt Nam, sinh hoạt trong vùng Châu Á Gió Mùa.

Mùa đông, gió Bấc thổi nhiều ngày, từ tuần nầy qua tháng nọ. Khi gió đang mùa, “thuyền vượt biên” hay ghe đánh cá không ra biển xa được. Sóng lớn, thuyền vượt biên dễ gặp nguy.

Nhưng rồi bỗng mấy hôm, gió Bấc ngừng thổi. Biển lặng. Thời điểm đó, người làm nghề đánh cá biển ở miền Nam VN gọi là “Đồng Chung”, là lúc biển êm, gió lặng. Những ngư phủ có nhiều kinh nghiệm, đoán được những ngày “đồng chung” nầy.

Cũng chỉ ở Miền Nam mới có Gió chướng.

Gió thổi từ Đông đến Đông Nam, ngược chiều sông Tiền, sông Hậu, nên nước mặn lấn vào sông. Gió  thường thổi mạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.

Gió Bấc thổi vào mùa Đông, nhất là những ngày trọng đông.

&

            Đùng lầm gió Bấc với gío heo may!

Cơn gió lạnh thổi vào mùa thu, nó có một cái tên khác: Gió heo may.

Gió heo may thổi khi trời còn ít mây, có khi còn những cơn nắng chiều mầu tím, và cũng có khi trời nhiều mây nhưng không sũng nước như những tầng mây đen dày mùa đông.

Kinh nghiệm thời tiết của tổ tiên cho chúng ta biết:

Tháng Bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão.

            Trịng Công Sơn có cái nhận xét tinh tế đó khi ông viết “Nhìn những mùa thu đi”:

“Nhìn những lần thu đi
Tay trơn buồn ôm nuối tiếc
Nghe gió lạnh về đêm
Hai mươi sầu dâng mắt biếc
Thương cho người rồi lạnh lùng riêng

Gió heo may đã về
Chiều tím loang vĩa hè
Và gió hôn tóc thề
Rồi mùa thu bay đi

Trong nắng vàng chiều nay
Anh nghe buồn mình trên ấy
Chiều cuối trời nhiều mây
Đơn côi bàn tay quên lối
Đưa em về nắng vương nhè nhẹ

Đã mấy lần thu sang
Công viên chiều qua rất ngắn

            Độc giả để ý những chữ tôi in nghiêng là những câu  tả cảnh mùa thu ở Huế, có gió heo may: “Gió lạnh về đêm”. Có nghĩa rằng ngày chưa đến nỗi lạnh lắm. Gió cũng thổi không mạnh lắm. Gió thổi mạnh sao có thể “Gió hôn tóc thề”. Nắng thì vàng (nắng vương nhè nhẹ) nhưng chiều thì đã ngã sang mầu tím (chiều tím loang vĩa hè). “Công viên chiều qua rất ngắn”, có nghĩa rằng đã đến “Thu phân”, ngày ngắn lại, đêm dài hơn, trời nhiều mây nên mau tối.

            Nước ta thuộc “Châu Á Gió Mùa”. Nói một cách đơn giản thì mùa đông có gió Bấc, thường được gọi là “Gió Mùa Đông Bắc”. Đến mùa hè, gió thổi ngược lại, từ hướng nam đi lên, là gió Nam, tên thường được gọi là gió Nồm, mang theo cái mát mẻ của biển.

Mùa Đông, người ta sợ gió Bấc, mùa hè, người ta mong được cơn gió Nồm. Đọc bài thơ sau đây của Nguyễn Khuyến, độc giả biết ngay:

“Ai xui con cuốc gọi  mùa hè
Cái  nóng nung người nóng nóng ghê
Ngõ trước vườn  sau um những cỏ
Vàng phai  thắm nhạt ngán cho huê
Đầu cành kiếm bạn oanh xao- xác
Trong tối đua bay đóm lập-loè
Mong được nồm nam cơn gió thổi
Đàn ta, ta gãy khúc Nam nghe.”

            Cũng như ngọn gió Bấc đã nói ở phần trên, nó ngăn giặc! (Chúa Nguyễn thấy thế Tây Sơn còn mạnh, vã lại đã đến mùa gió bấc lạnh lẽo, nên chúa đem Đông cung Cảnh về Gia Định…) thì gió Nồm làm cho giặc “dậy” lên. Nguời dân miền Nam Trung Bộ, khi đã “ngán” nhà Tây Sơn rồi thì họ cầu:

                        “Lạy trời cho nổi gió Nồm

                 Để cho Chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra.”

            Trong cuộc chiến tranh giữa Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn, thường chuyển quân bằng thuyền. Khi gió Bấc lạnh lẽo, quân Nguyễn Ánh rút về Nam. Khi gió Nam (Nồm) thổi, thuận gió cho Chúa Nguyễn kéo quân ra miền Trung thì Chúa Nguyễn Ánh bèn ra đánh nhà Tây Sơn.

            Lịch sử gọi những lần đánh nhau như thế là “giặc mùa”, được ghi trong lịch sử và ca dao.

            Có đi xa bao nhiêu ngàn dặm, vì thời gian có trôi dài vài ba mươi năm hay lâu hơn nữa, tôi không quên những năm niên thiếu bên bờ sông Thạch Hãn.

Mùa hè, nằm trên bãi cỏ bên bờ sông để nghe Gió Lào thôi vi vu trên những hàng cây dương liễu bên bờ sông. Mùa đông, nằm trong chăn ấm, trí vẫn không quên được hình ảnh gió lạnh thổi qua sông. Phía đông, phía hạ lưu sông Thạch Hãn là một mầu mây âm u ảm đạm, mưa lạnh theo gió Bấc về tê buốt từng cơn.

            Cái lạnh, bên sông, tưởng như trong lòng người tuôn ra cùng với cái lạnh từ miền trung tâm lục địa Châu Á thổi về. Hình ảnh hàng dương liễu, ướt lướt thướt, đứng trầm ngâm trong cơn gió Bấc lạnh lùng, hứng lấy cơn gió mà thổi vi vu với một điệu nhạc trầm buồn muôn thuở như nỗi buồn của người cô phụ, của người mẹ mong con, của một người ở cuối sông mong ngóng một người ở đầu sông mà không hy vọng gì có ngày gặp gỡ. Muôn đời, có phải đó là “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang…” như trong thơ Xuân Diệu?

Khi mùa đông tới rồi, không ít lần cô (hay bà) xướng ngôn viên của đài phát thanh Saigon ngày trước đọc câu sau đây trên làn sóng điện, trước khi kết thúc một bản tin: “Hôm nay, gió mùa Đông Bắc thổi mạnh trên biển Nam Hải.”

            Nghe mãi thành quen, nó hằn sâu vào tâm hồn tôi lúc nào tôi chẳng hay.

Đối với những người làm chính trị, khi đọc diễn văn, họ vẽ ra một quê hương là cái gì đó vĩ đại, lớn lao, cao quí. Nhưng với tôi, đôi khi thấy Wind Chill ở miền Đông-Bắc Mỹ nầy thổi vi vút qua những tàng cây cao, tôi bỗng nhớ câu dự đoán thời tiết ngày trước “Gió mùa Đông-Bắc thổi mạnh trên biển Nam-Hải” qua giọng nói trên đài phát thanh Saigon.

Chỉ có mấy tiếng thôi mà sao tôi nhớ lâu quá vậy?

Ôi quê hương! Quái lạ không? Đơn giản chỉ là một câu nói của một người nào đó mà tôi chưa từng biết tên, gặp mặt bao giờ./

            hoànglonghải

            (1) Văn Thánh trồng thông

                   Võ Thánh trồng bàng

                  Ngó lên xã tắc hai hàng mù u. (Ca dao Huế. Xem thêm “Mùa Hè ở Huế” cùng tác giả.

Ghét Mỹ

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted 2 Jul 2018 

Post by Sơn râu 30 Dec 2023

Ghét Mỹ là một hiện tượng thường thấy ở nhiều nước, nhiều người. Ở những quốc gia thiên tả, những lãnh tụ thiên tả, – dĩ nhiên là bao gồm cả những nước cộng sản như Việt Nam ngày nay, và dân tộc trong cac nước ấy, vì bị tuyên truyền nên đâm ra ghét Mỹ. “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta là kẻ thù của nhân dân ta” là bài học đầu tiên trong tất cả các trại cải tạo. Đây không phải là bài học mới dành cho người miền Nam đi tù cải tạo sau 1975 mà là một đề tài giáo dục chính trị căn bản ở miền Bắc đã có từ trước 1975. Tại những quốc gia, những nước tư bản phát triển, những nước đang phát triển hoặc nghèo đói, không phải là không ghét Mỹ. Mỗi nơi, mỗi nước có những lý do khác nhau nhưng lý do thường thấy nhứt là cạnh tranh quyền lợi, là Mỹ hay “chơi cha, chơi ép” người ta, có khi bị Mỹ hăm dọa bằng vũ lực. Người ta ghét Mỹ vì Mỹ là “Tên sen-đầm quốc tế”, nhưng có môt lý do thông thường nhất là Mỹ giàu. Nước nghèo ghét nước giàu tuy vẫn ngữa tay nhận viện trợ. Người nghèo ghét người giàu là tâm lý thông thường. Tuy ghét Mỹ nhưng bị “Mỹ hóa” khá nhanh, khoái mặc quần jean và khoái làm bộ nghênh ngang như mấy chàng Cowboy, nhưng trí óc những người bị Mỹ hóa nầy thì rỗng tuếch. Vì rỗng tuếch nên dễ bị Mỹ hóa.

Điều đáng ghét là người ta ghét Mỹ là vì theo “mốt”. Cái “mốt” thường thấy, rất đáng ghét là người ta phải ghét Mỹ để chứng tỏ ta đây là người “trí thức tiến bộ”.

Ở miền Nam trước đây, tâm lý ghét Mỹ cũng là điều thường thấy, ngay cả trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Không ít người đăng lính, đi sĩ quan từ khi Quân Đội Quốc Gia mới thành lập, nghĩa là trước 1955, khi Tây đang còn, thì không ưa Mỹ. Khi Hùng móm, em út tôi tử trận năm 1972, một đại tá Sư Đoàn Dù đến làm lễ và gắn Bảo Quốc Huân Chương, tôi thấy ông đưa tay lên chào trước bàn thờ, lòng bàn tay ngữa ra phía trước, giống như cách chào của lính Pháp. Lòng bàn tay không úp xuống như của Quân Đội Cộng Hòa, giống cách chào của lính Mỹ. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng sau đó tôi hiểu. Tôi đoán chừng ông nầy xuất thân từ văn hóa Pháp, từ lò của Pháp, không ưa Mỹ cũng là một tâm lý thông thường. Tôi không nói sai, bởi vì ảnh hưởng văn hóa là điều khá quan trọng. Một người bạn của tôi, nguyên là bác sĩ trước 1975 ở Saigon, đã đi du lịch Trung Hoa và Pháp. Khi du lịch Trung Hoa, vì đi theo tour nên không ghé lại Cô Tô để xem Hàn Sơn Tự như anh ta mong muốn. Khi qua Paris, nhìn sông Seine và đi thăm vườn Lục Xâm Bảo, anh thấy có một cái gì đó rất gần gủi, thân quen, không cảm thấy xa lạ. Tôi nghĩ anh ấy không đến xem Cô Tô và Hàn Sơn Tự là hơn, bởi khi thấy ngôi chùa nhỏ, rêu phong, không có gì tráng lệ, hùng vĩ hay có được một khung cảnh đẹp và êm đềm như anh từng tưởng tượng, anh sẽ thất vọng. Đọc “Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”, anh tưởng là một cái gì đẹp lắm, hùng vĩ lắm, mênh mông lắm, xa vắng như tiếng chuông chùa vang vọng trong đêm khuya. Khi thấy thực tế, anh sẽ thất vọng. Ngược lại, đến vườn Lục Xâm Bảo, anh sẽ thấy lại hình ảnh chú bé hai tay đút túi, vừa đi vừa nhảy nhót như con chim sẻ như Anatole France đã mô tả, hay anh thấy sông Seine giống như trong “Mùa Thu Không Trở Lại” thì dĩ nhiên anh thấy linh hồn mình trong đó, vì anh học Pháp văn từ Cour Enfantin.

Chịu ảnh hưởng một văn hóa, yêu nó, điều đó không có gì lạ, không có gì xấu. Thế không hơn những người không có một chút văn hóa, văn học nào cả thì sao?! Nhưng cách chào ngữa lòng bàn tay ra phía trước như ông đại tá nói trên thì tôi cho là sai. Chúng ta không trôi theo giòng thì thôi, lên bờ mà đi xe hay đi bộ, còn đã trôi theo giòng thì “nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục”. Cuộc sống nhiều khi khá phức tạp và rất khó xử. Không tử nói: “Đời đục cả, ta trong làm sao được?” Nhưng nhà thơ Hữu Loan thì lại không chịu. Ông ta không thể bẻ cong ngòi bút để phục vụ “Chúng nó” được. Vì vậy cho nên ông phải đi đánh dậm, phải chạy xe đạp ôm. Cũng được đi, ông chấp nhận! Nhưng điều đau khổ với ông là “Chúng nó” không cho con ông đi học. Con cái những tên phản động không được học cao, biết đọc, biết viết là được rồi. Chính sách của “Chúng nó” là vậy! Con ông không có cơ hội đi học, chúng thất học. Đó là điều đau khổ cho ông. Gặp lại bạn bè cũ và những người hâm mộ thơ ông ở Saigon sau 1975, ông than thở: “Khổng tử đúng mới chết chứ!” Nhìn chung, theo hay không theo hoàn cảnh sống là điều khó xử.

Đọc “Mùa Hè Đỏ Lửa” của Phan Nhật Nam, đoạn tác giả gặp Robert Lửa, người ta cũng thấy những sĩ quan trẻ hơn, trưởng thành sau khi miền Nam đã có nền Cộng Hòa, cũng ghét Mỹ, ghét cố vấn Mỹ. Khi ghét thì cúp phần ăn của nó, “Cho nó đói”, cúp luôn cả “tà-lọt”. Trong khi cố vấn Mỹ có gì đáng ghét chăng? Hễ khi đụng trận rồi, cấp chỉ huy của ta yêu cầu gì thì cố vấn Mỹ “Yes, Sir” lia lịa. Ngay cả đoạn tác giả “chưởi lộn” với một tên cán bộ Cộng Sản qua máy truyền tin là một đoạn rất hay, khiến cho tên cán bộ Cộng Sản im re, không dám lên máy nữa, ta cũng thấy cái tâm lý ghét Mỹ ở một số người. Tác giả kêu “Đ. M. Đế quốc Mỹ” và thách anh cán bộ Cộng Sản có dám kêu Nga, Tàu ra mà chưởi hay không. Tên cán bộ chịu thua.

Khi còn ở Huế, tôi thấy một số được gọi là “trí thức tiến bộ Huế” ghét Mỹ là vì đó cái “mốt” để chứng tỏ ta đây “hơn người” chứ không có lý do gì chánh đáng gì hết. Họ cho rằng thiên tả là tiến bộ; thiên hữu là chịu làm tay sai cho đế quốc Mỹ. Không ghét Mỹ là chịu làm tay sai cho đế quốc Mỹ. Việc nầy rất thiên lệch, không vô tư chút nào! Trịnh Công Sơn viết “Đàn bò vào thành phố” là muốn ám chỉ lính Mỹ đến Huế. Còn Việt Cộng vào thành phố (Huế) năm Mậu thân và chôn sống năm ngàn người thì là gì đây? Hoàng Phủ Ngọc Tường, cũng là một “trí thức tiến bộ Huế”, thì gọi năm ngàn người ấy là “những con rắn độc”.

Ghét, thương, v.v… là tình cảm, nhưng khi ta ghét thương ai thì sự ghét thương đó phải được dẫn dắt bằng lý trí. Nếu chúng ta để cho tâm hồn mình dẫn dắt bằng cảm tính mà không bằng lý tính thì không thể gọi là người hiểu biết được, chưa nói là tự xưng mình là “trí thức tiến bộ” như mấy ông Huế tôi nói ở trên. Cổ nhân dạy: “Nhân bất học bất tri lý” Học là để biết, để suy xét, suy nghĩ về những việc xảy ra quanh ta và ứng xử làm sao cho đúng, không để tình cảm lôi kéo nhiều khi làm cho chúng ta có những hành động thiếu hợp lý, sai trái.

Thật ra, nhiều khi người Mỹ cũng có những thái độ đáng ghét. Đáng ghét cho người nầy và người khác thì thích thú khâm phục, tùy vị trí khác nhau.

Khi tôi ở trại tỵ nạn Sungei Beshi bên Mã Lai, một hôm có “Phái đoàn Mỹ” tới. Thông báo là “Phái đoàn Mỹ” nhưng thật ra chỉ có một mình anh chàng Arlington. Người ta đồn anh nầy nguyên là trung tá Thủy quân Lục Chiến Mỹ, nay giải ngủ, làm việc cho INS, đến trại để xét hồ sơ cho đi định cư ở Hoa Kỳ. Có người đoán anh ta là nhân viên CIA. Buồn cười là khi anh ta xuống xe vào trại, thấy một đoàn người ăn mặc chỉnh tề, sắp hàng trước sân Task Force (Văn phòng chỉ huy trại), mỗi người cầm một tờ giấy. Anh ta hỏi thì được biết rằng những người ấy bị tội “ăn thịt heo” nên bị phạt phải trình diện Task Force, mỗi ngày ba lần. Arlington thu hết các giấy trình diện, xé rách, vụt xuống đất rồi đuổi mọi người về, khỏi trình diện gì cả. Đám người vui mừng, cười nói ra về. Ai ra vào trại đều ký tên vào một cuốn sổ để sẵn ở cửa chính. Không những không ký tên vào sổ, anh ta còn bước tới lật bìa úp cuốn sổ lại, đi thẳng vào văn phòng Cao Ủy, chỗ anh ta sẽ làm việc. Vào tới nới, anh ngồi “vách đốc củ tỏi”, lấy thuốc ra hút. Bà Cao Ủy Delle, người Thái Lan, đem tới cho anh ta cái gạt tàn thuốc, anh gạt qua một bên, tiếp tục gạt tàn thuốc xuống nền nhà. Dĩ nhiên, theo tâm lý “bị trị”, những người trong trại tỵ nạn thì thích anh ta lắm, còn đám Mã Lai thì coi anh ta như cái gai nhưng không làm gì được. Qua câu chuyện như thế, ghét Mỹ hay thích Mỹ, thương Mỹ cũng tùy mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau, và người ta có những lý do, nhận định chủ quan theo lăng kính của mình.

Cũng chưa hết chuyện anh chàng Arlington nầy. Anh ta phỏng vấn một người đàn bà có chồng ở Mỹ, qua loa vài câu, anh ta cho bà ra khỏi phòng, người con gái vào để anh ra phỏng vấn tiếp. Khi cô gái ra khỏi phòng, bà mẹ lo lắng chờ sẵn ngoài cửa, bà hỏi: “Thằng Mỹ hỏi mày sao? Nó hỏi mầy sao?” Arlington gọi bà ta vào, nói tiếng Việt với bà, không qua thông dịch viên nữa: “Tôi gọi bà bằng bà, gọi con gái bà bằng cô. Tại sao bà gọi tôi bằng nó, bằng thằng?” Bà mẹ hoảng hồn, sụp lạy Arlington: “Tui lạy ông. Tui lạy ông. Tui lỡ lời.”

Ai bảo bà mẹ nói trên không có tâm lý ghét Mỹ? Bà ghét Mỹ mà không biết mình ghét Mỹ. Bà nói theo thói quen của người Việt Nam. Người ta nói người Việt hiếu khách, nhưng quả thật họ có tâm lý ghét người ngoại quốc. Sau lưng, họ ít khi gọi tới người ngoại quốc một cách lịch sự. Người Tàu thì gọi là chú Ba. Người Ấn thì gọi là Anh Bảy Chà. Người Pháp, Mỹ mắt xanh mũi lõ thì đều gọi bằng thằng hết. Chú Ba, Anh Bảy hay Thằng Pháp, thằng Mỹ đều là những tiếng bày tỏ sự ghét, hoặc không ghét thì ít ra cũng không mấy ưa. Tâm lý đó do đâu? Vì tổ tiên chú Ba đô hộ ta một ngàn năm? Vì thực dân Pháp cai trị ta một trăm năm? Còn Anh Bảy, Anh, Mỹ thì sao? Anh Bảy ở Saigon ngày xưa thì cho vay nặng lãi và kêu police Tây đuổi nhà lấy đất ở mấy xóm lao dộng. Mỹ thì cũng mắt xanh, mũi lõ, nên khi người ta ghét Tây thì cũng không ưa những kẻ ngoại hình giống Tây.

Có những người ghét Mỹ mà người ta cũng khó hiểu được lý do! Ông bạn tôi kể lại người hàng xóm của anh ghét Mỹ số một. Hễ mở miệng ra là “Tui ghét Mỹ lắm!”, nhưng không biết lý do tại sao anh ta ghét Mỹ dữ vậy. Hỏi quê quán thì quê anh ta ở một trong những cái hòn trong vịnh Rạch Giá: Hòn Lại Sơn, Hòn Tre, Hòn Nghệ, Hòn Ngang, Hòm Đầm, v.v… Tôi nói với người bạn: “Dân ở hòn thì tôi cũng có biết sơ qua. Hồi chế độ cũ, ít người cầm súng đánh nhau với Việt Cộng. Quân đội, Cảnh Sát có lùng bắt những người trốn quân dịch thì họ leo tuốt lên núi, khó “nắm cổ” chúng nó được. Dĩ nhiên, họ ghét những người đi lùng bắt họ đi lính. Họ ghét quân đội, cảnh sát thì cũng dễ sinh ra ghét chính quyền miền Nam. Cũng từ đó, đâm ra ghét Mỹ. Đến khi vượt biên thì họ ở biển, dễ vượt biên hơn người khác và khi đến trại tỵ nạn thì chỉ xin đi định cư ở… Mỹ. Người hàng xóm của anh bạn tôi, “ăn eo-phe” từ ngày qua Mỹ (Khai là bị cúp xương sống. Kéo lưới từ khi 5, 10 tuổi thì khai cúp xương sống rất dễ… ăn) về công việc thì chỉ làm… “tiền mặt”. Vài năm một lần về quê mua đất xây nhà, v.v… Anh bạn Nam Bộ của tôi dễ nóng tính. Kể xong những “thành tích” của người hàng xóm, thay vì chưởi người hàng xóm thì anh bạn bỗng chưởi Mỹ: “Cái nước Mỹ nầy nó ngu không chịu được. Mấy thằng phản phúc như vậy mà nó đem về nuôi như nuôi ông nội, ông ngoại nó.” Tôi cười: “Thằng nầy chỉ mới có cái tội không chịu làm “lính đánh thuê” cho Mỹ. Còn những thằng trước kia ở Bắc vĩ tuyến 17 bắn rơi cả chục chiếc “Con Ma”, “Thần Sấm” cũng được Mỹ đem về nuôi rất kỹ thì sao?”

Có thể đó là những kẻ ít học. Những người có học khá hơn chăng?

Sau vụ 11 tháng 9, tôi đến thăm một người quen, trước kia ở Việt Nam là bác sĩ, qua Mỹ chuyển nghề dạy học song ngữ (Tôi sợ không dám nhận ông nầy là bạn. Ông nầy vượt biên). Khi tôi tới, ông đang ngồi nói chuyện với một người bạn của ông ta, ông thứ hai nầy là giáo sư đại học, một “trí thức tiến bộ” Huế qua Mỹ theo chương trình H.O. Hai ông nói với tôi rằng vụ 11 tháng 9 là “Đáng đời thằng Mỹ hay hiếp đáp người ta!” Tôi hỏi khắc: “Mấy ông nói vậy thì vụ Mỹ Lai có đáng đời cho người Việt không? Đất Mỹ Lai là đất Chiêm Thành. Tổ tiên người Việt cướp đất người Chiêm. Vậy người Việt chết ở đó có đáng đời họ chớ gì?” Hai người kia biết tôi không phải là “trí thức tiến bộ” nên làm thinh.

Chiến tranh vốn dĩ đã tàn bạo. Thay vì người ta phải làm cho nó bớt tàn bạo đi thì lại giết người dân vô tội nên làm cho chiến tranh tàn bạo hơn. Khi kẻ địch bỏ súng xuống đầu hàng là không được giết họ. Đó không những là luật pháp quốc tế mà còn là lương tâm. Nhân loại sở dĩ tồn tại là nhờ có lương tâm. Không có lương tâm thì ngày nay nhân loại còn sống trong hang động chớ không thể có xe hơi, nhà cửa đầy đủ tiện nghi như “các ông ấy” đang ở. Thú thiệt, từ đó, tôi không muốn gặp các ông “trí thức tiến bộ” đó nữa.

Không ai có thể bắt chúng ta phải ghét người nầy, thương người kia, ngoại trừ… Việt Cộng. Ghét thương là chuyện thường. Ông nào đạt tới “thiền” thì bỏ ra ngoài tâm mình chữ ghét, chữ thương.

Điều nầy không quan trọng bằng “tri lý”. Ghét cũng có cái lý của nó mà thương cũng có cái lý của nó. Lý tính là dùng trí óc suy xét. Còn nếu như để cho cái cảm tính làm chủ, để nó lôi kéo mình mà không dùng trí óc suy nghĩ cho ra lẽ phải, trái, đúng, sai thì kẻ vô học sinh ra và lớn lên ở hòn, trường học có khi không có cả lớp 1, lớp 2 thì kẻ vô học đó và ông bác sĩ cũng như ông giáo sư đại học tôi nói ở trên đều giống nhau.

hoàng long hải

Mít yêu!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Dec 2023

Nghe tui gọi con vợ là Mít yêu, nhà văn Ba Xạo đang ngồi nhậu lên giọng thầy đời. “Kêu Mít nầy Mít nọ là coi thường phụ nữ Việt Nam!”.

Có chút đỉnh rượu, tui cự lại. Gọi Mít yêu là vì em thơm như múi mít. Mít yêu vì em là ‘Annamite’. Như anh biết: giữa thế kỷ 19, chiếm được Việt, Miên, Lào, Pháp thành lập Liên bang Ðông Dương. Pháp lại chia Việt Nam ra: Bắc Kỳ là Tonkin (Ðông Kinh). Nam Kỳ, là Cochinchine bắt nguồn từ “Gia Ðịnh”. Còn Trung Kỳ An nam lấy từ tên Ðại Nam An Nam. An Nam viết dính lại rồi thêm tiếp vĩ ngữ ‘ite’ thành ‘Annamite’. Cũng như Pháp gọi thủ đô Moscou. Thêm tiếp vĩ ngữ “ite” thành ‘Moscovite’ là người Nga. Nên ‘Annamite’ là người Việt Nam thì có gì là miệt thị? Cái gì đúng, mình nói đúng. Anh đừng có nghe CS cắt nghĩa tầm bậy, tầm bạ kiểu Lê Văn Tám.

Thấy tui cãi hăng tiết vịt, cãi sùi bọt mép, sợ bữa nhậu mất vui, John cắt ngang để kể một câu chuyện nó vừa đọc được trên một tờ báo mạng.

Chuyện rằng: Lawrence John Ripple ở Kansas Hoa Kỳ vô cướp ngân hàng. Ripple lấy được 2,924 đô la rồi ngồi đợi lính tới bắt. Ra tòa, Ripple tâm sự loài chim biển: “Ðời em khổ lắm Tòa ơi!”.  Em cãi nhau và đã viết trước mặt vợ em rằng: “Thà tui ở tù còn hơn ở nhà”. Và quân tử nhứt ngôn, em đã giữ lời. Nghe nhưng không cảm động chút nào, ông Tòa tuyên án 6 tháng quản thúc tại gia Ripple phải ở nhà với vợ.  Bản án thiệt là tàn nhẫn!

Thông cảm với đồng chí Sam; vì John cũng từng bị con vợ nó hành hạ y như vậy. Một chiều đi làm về bụng đói, con vợ nó nói: “Má không dạy em nấu ăn”. John đốp lại: “Má em có dạy em ‘tù ti tú tí’ không mà sao em rành quá xá vậy?”

Nghe John xỏ xiên như vậy mắt con vợ John long lên sòng sọc coi ghê lắm. Rồi Valentine’s Day, John dắt em đi ăn nhà hàng lề đường ngàn sao ngoài ‘city’ để hâm nóng lại tình ta. Ðồ ăn dọn ra, John hối: “Ăn đi em! Kẻo nguội hết ngon!” Vợ John nhắc: “Anh luôn nói lời cầu nguyện ở nhà trước khi ăn bữa tối mà!” John trả lời: “Chuyện đó anh chỉ làm ở nhà! Ở đây con nhỏ đầu bếp nó biết nấu ăn mà em!”

“Sau bữa ăn tối đó, con vợ tao nổi lên một bồ tự ái nên nó đã bỏ tao đi lấy chồng khác rồi” Jonh than thở thấy thương nghe rớt đầy một tô nước mắt.

John có vẻ ngưỡng mộ tài nấu ăn của mấy em Mít lắm. Nào: phở, mì, hủ tiếu, bún thịt nướng, bánh xèo, gỏi cuốn, chả giò. Việt Nam, nhiệt đới mưa nhiều, rau củ mọc như cỏ dại trong vườn. Nên canh biết bao nhiêu là loại canh! Rồi thịt kho, cá chiên. Chỉ cần ăn được nước mắm, tất chấm mấy em Mít là ‘chef cook’ ngon nhất thế giới!

Mít yêu của tui chụp ngay cơ hội nầy kêu tui dụ thằng John về Việt Nam cưới con chị của nó. Chồng chỉ vừa mới chết hồi năm ngoái. (Cưới mướn, lãnh qua, nếu ở luôn thì trả tiền lại. Vừa có đồ chơi, vừa lấy tiền, chơi kiểu cha ai mà chịu?). Có chỉ, hai chị em hủ hỉ có nhau lúc Mít yêu giận chồng, tức giận tui.

Ðời mà muốn bán một món hàng quá ‘đát’ tui phải quảng cáo: “Phụ nữ Việt Nam yêu chồng, thương con, có hiếu với cha mẹ, thuận thảo với chị em.

Tui kể cho John nghe: Sau tháng Tư năm 1975 bọn CSBV cai trị một cách tàn bạo. Ðàn ông tụi tao đa phần là lính bị CS bắt đi cải tạo nơi rừng sâu núi thẳm. Gánh nặng gia đình với bầy con thơ, rồi phải thăm nuôi chồng, vợ tao nai lưng ra gánh hết. Không có má bầy trẻ, chắc tao đã tiêu tùng. Mãi đến năm 1995, nước VNCS vẫn còn bị “đóng cửa” với phương Tây. Ai cũng nghèo, cùng mạt. Con nít không được sinh ra ở bệnh viện. Phải nhờ mụ vườn. Không đủ sữa cho con bú? Thì bú nước cơm. Người phụ nữ Việt Nam chòi đạp, bươn chải, luồn lách để gia đình được sống còn. Phụ nữ Việt Nam là kim cương, là đá quý, được hình thành dưới áp lực cực lớn.“Dẫu không sanh đẻ ra ta. Nhưng công nuôi dưỡng thiệt là lớn lao.”

Ngay hồi còn nhỏ, phụ nữ Việt Nam đã biết phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt nếu muốn sống còn (họ không mong đợi chồng làm tất cả). Phụ nữ Việt Nam sẵn lòng làm những công việc nặng nhọc. Ở quê thì làm ruộng, nuôi gà, nuôi vịt, nuôi heo. Ở thành thì làm cu li gánh gạch, trộn hồ.

Tranh Bảo Huân

Làm vợ, là bạn đời kể cả lúc hiểm nguy, người phụ nữ Việt Nam là những người lính không số quân cầm súng bên cạnh chồng mình trong thời buổi chiến tranh.

Họ mạnh mẽ nhưng không thiếu phần nữ tính. Họ kết hợp sự quyến rũ của một con mèo ‘gừ gừ’ với sức mạnh của một con hổ.

Cách đây hai ngàn năm, Thái thú Tô Ðịnh của Tàu đã phạm phải một lỗi tày đình là giết Thi Sách. Nên Hai Bà Trưng không tha thứ. Năm 1975, CSBV, Lê Duẩn cũng phạm phải lỗi lầm như Tô Ðịnh. Nên người phụ nữ Việt Nam không tha thứ.

Văn hóa Việt Nam, như các nước phương Tây, con lấy họ cha nhưng gia đình Việt Nam lại xoay quanh người mẹ. Người phụ nữ cầm tiền. Người vợ đó, người mẹ đó luôn cho gia đình no đủ cho hôm nay và cho những ngày mưa. Khi có ăn, họ nghĩ ngay tới ở, tới mua nhà. Nhà là cái tổ ấm theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Nghe tui đàn ‘í e’, John khoái quá. Nó quyết cưới bà chị vợ của tui, làm Mít yêu rất lấy làm đẹp dạ. Em làm gỏi nướng khô, châm mồi ra tới tấp. Riêng tui thầm nghĩ thằng John chưa gì đã theo đạo ‘Bà Hai’. Tui bèn mở một khóa cấp tốc chỉ cách cho nó đội con vợ Mít lên đầu. Chú mầy phải biết nói ‘sorry’ dù không có lỗi gì hết ráo”. Nghe vậy John vỗ đùi nghe cái đét: “Té ra vợ Mít cũng giống hịt như con vợ Úc của tao!”. Tui cãi: “Không giống! Vợ Úc khoái đốp chát, ăn thua đủ với chồng. Vợ Mít cai trị chồng bằng bàn tay sắt bọc nhung. Sờ thì êm ái. Táng một cái, chú mầy chỉ còn nước đi đái!”

Đoàn Xuân Thu

Mị dân!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Dec 2023

Tranh Bảo Huân

Ôi nhớ xưa, thằng Tèo chiều Chúa Nhựt nào cũng bỏ nhà đi mất biệt. Tối về, miệng nặc nồng mùi rượu.

Má hỏi:

– Tèo à! Sao Chúa Nhựt nào mầy cũng đi nhậu, bỏ con vợ mới cưới của mầy một mình thui thủi ở nhà? Nó giận, nó đòi ôm đồ về nhà má nó đó!

– Con đi coi đá banh!

– Coi đá banh ở đâu? Sao miệng mầy hôi rượu?

– Con coi đá banh trong Chợ Lớn, sân vận động Cộng Hòa. Miệng con hôi rượu tại vì con ăn cá độ.

– Ðâu Chúa Nhựt tới, mầy dắt má đi coi. Ðá banh là cái giống gì mà sao mầy mê nó hơn mê cả con vợ của mầy?

Dẫu không muốn, Tèo cũng đành phải dắt má và “em yêu” đi coi đá banh. Trọng tài đặt trái banh trong vòng tròn giữa sân. Tiếng tu huýt hoét hoét. Cầu thủ hai đội nhào vô giành trái banh quyết liệt. Em yêu hỏi: “Sao mấy thằng đó giành trái banh của ông áo đen? Ông chạy theo xì khói, hụt hơi mà tụi nó cũng không thèm trả lại cho ổng vậy anh?”

Thế mới biết bà con mình ở Sài Gòn, ngay cả toàn miền Nam ai cũng mê đá banh hết ráo. Miệt Cái Vồn, Vĩnh Long, đàn bà, con gái còn đá banh nữa đó. Lừa trái banh chạy miết làm hai trái dưa hấu nây nẩy lên làm mấy anh coi khoái quá trời hè.

Lại nhớ hồi mới vào Ðệ Thất Petrus Ký, tui nghe ông Phạm Huỳnh Tam Lang mê đá banh đến nỗi thi Tú tài một cũng rớt. Học dở nhưng đá banh giỏi, trung vệ Tam Lang được đeo băng đội trưởng đội tuyển quốc gia! Năm 1966, Việt Nam Cộng Hòa đoạt cúp Merdeka ở Malaysia, khải hoàn ca về lại phi trường quốc tế Tân Sơn Nhứt. Ðào Bạch Tuyết, thanh sắc vẹn toàn, của Ðoàn Cải lương Dạ Lý Hương ra đón!

Ðầu chải bảy ba, xức “bi-ăng-tin” láng coóng, ruồi đậu còn chống gậy, Tam Lang giơ cái cúp lên cao. Nhưng không thể tặng cúp cho giai nhân Bạch Tuyết được vì nó là công sức của toàn đội. Tam Lang muốn tặng một trái banh cho Bạch Tuyết ôm vô bụng. Bạch Tuyết đồng ý làm thủ môn. Hai người bèn nên duyên chồng vợ.

o O o

Rồi khi CS Bắc Việt cưỡng chiếm được miền Nam tự do, thấy bà con Sài Gòn mình khoái coi đá banh quá xá. “Chúng ông” bèn giở trò dụ khị con nít bằng cách phái đội Tổng Cục Ðường Sắt từ Hà Nội vào Sài Gòn đá giao hữu. Sài Gòn lục tứ tung cũng không có đội Tổng cục Ðường Cát, Ðường Thẻ, Ðường Tán, Ðường Thùng, nên tính đưa đội Tổng Cục Ðường Chảy ra mà nghênh tiếp! Nhưng các đồng chí bên Bộ Giao thông Vận tải nói: “Làm vậy là chơi xỏ lá ngành Hỏa Xa, anh hùng thời chống Mỹ”.

Cuối cùng, đội Cảng Sài Gòn do Tam Lang làm huấn luyện viên lãnh ấn tiên phuông. Dù trên khán đài anh em la lối ầm ĩ: “Ðá cho chết mẹ chúng đi!”. Nhưng dù đá hay hơn, nhưng trận nào Tam Lang cũng mang theo cái rổ. Có hai anh em Cù Sinh, Cù Hè hay hết biết mà sao vẫn thua! Tại mình còn thiếu trung phong Cù Lũ. Ông nội của Cù Lũ vô đá cũng thua; vì chúng sắp xếp tỉ số hết rồi. Miền Bắc xã hội chủ nghĩa không thể nào thua cho được!

o O o

Ðó là chuyện hồi xưa! Còn tối ngày 11, tháng Sáu, đội tuyển túc cầu CS Việt Nam đã thắng đội tuyển túc cầu Malaysia với tỉ số 2-1 ở vòng gởi xe, hy vọng được đi dự World Cup năm 2022 tại Qatar.

Với trình độ làng nhàng chỉ đá ăn được mấy đội ao làng vùng Ðông Nam Á thì đi Qatar nằm mơ rồi mớ cũng chưa có thấy!

Vậy mà, ngoài tin tức về COVID-19 đang bùng phát dữ dội làm bà con trong nước rầu hết sức, báo chí quốc doanh cứ nhai đi, nhai lại tin đá banh. Bọn bồi bút cứ đánh phèng la, tùng cắc xèng, tùng cắc chẻn rùm beng như một đám Sơn Ðông mãi võ. Ðám dư luận viên lên Facebook kích động ì xèo tinh thần ái quốc cực đoan để đồng bào quên cha cái vụ chủ tịch Khánh Hòa, bí thơ Bình Dương đang bị thanh trừng vì ăn đất! Chúng đánh trống lảng để che giấu cái chuyện bè phái đang móc họng lẫn nhau.

Chúng bảo rằng: “Thầy Park cấm cầu thủ nếu thua Malaysia, không được khóc! Chỉ được khóc khi chiến thắng hổ Malay”.

Tin ruồi bu nầy, tui tính lờ đi vì không có huỡn. Nhưng nếu không vạch mặt, chỉ tên nó ra thì đâu phải là Lục Vân Tiên, ra đường thấy chuyện bất bình chẳng tha, nên tui hỏi thằng cha tự xưng là dân có học, gởi cái tin nầy cho tui, là: “Chỉ là một huấn luyện viên đá banh mà dám tuyên bố lếu láo như nhà độc tài CS Bắc Hàn Kim Chính Ân khát máu. Tui không tin ông Park này ngu đến như thế? Tui hồ nghi đây là lời của một tay nhà báo quốc doanh núp lùm nào đó nhét lời nầy vô miệng ông ta đấy thôi”. “Lợi dụng một trận đá banh để kích động tinh thần dân tộc cực đoan là một hành vi mà thế giới văn minh ngày nay không ai làm. Hành vi bẩn thỉu đó thuộc thời phát xít Hitler hoặc CS Stalin”.

Thì thằng cha dư luận viên nầy pháo lại, trả lời tui: “Lời bình cực đoan đấy. Là cuộc chơi nhưng tinh thần dân tộc vẫn phải được phát huy hoàn toàn có thể”.

Vậy là tui nổi sùng lên, pháo cấp tập vào luận điểm tào lao bí đao nầy của thằng chả:

“Tui chẳng cực đoan gì hết ráo. Nếu ông có nghiên cứu chút đỉnh về thủ đoạn chánh trị bẩn thỉu trong thể thao thì hành vi đốn mạt nầy nó rõ như ban ngày: Vòng đua xe đạp Ðông Dương của thực dân Pháp nhằm ru ngủ thế hệ thanh niên Việt Nam lơ là với vận nước. Hitler, Stalin, Putin và Tập Cận Bình của Tàu cộng vẫn cho vận động viên Olympic “doping” để chiến thắng bằng mọi giá. Mang thành tích chơi ăn gian này về để kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, lừa gạt, chuốc thuốc mê người dân nước họ. Người Việt trong thế giới liên lập ngày nay nhờ Internet không còn ngây thơ như xưa nữa”.

Nghe tui nói vậy, thằng chả hổng biết trả lời sao nên ngậm ống đu đủ, chém vè mất tiêu dưới giề rau muống. Thì một đồng chí mén khác trong bụi nhào ra, la: “Có gì mà đao to búa lớn vậy? Chỉ là câu nói bình thường với ý nghĩa cụ thể: Không được khóc nếu thua, chỉ được khóc khi chiến thắng. Nước mắt của người chiến thắng là hạnh phúc của họ, sao mà kích động tinh thần dân tộc?”

Thì tui quật nó luôn bằng những câu hỏi móc họng: “Ông cho rằng một huấn luyện viên bóng đá thì được quyền cấm cầu thủ của mình không được bày tỏ cảm xúc của riêng mình. Phải bày tỏ cảm xúc theo chỉ đạo. Lúc nào tao cho khóc là khóc. Tao không cho khóc là nín. Không được khóc linh tinh.” Thiệt là tức cười, he he!

Tui chỉ: “Một cầu thủ khóc khi thua thì huấn luyện viên của mình và ngay cả đối thủ trước đó cũng đến ôm để an ủi. Người ta trân trọng và chia sẻ nỗi buồn (qua nước mắt) của một người thua cuộc. Ðó là “fair play”! Ðó là tinh thần thượng võ! Không ai dám cấm mày thua không được khóc bao giờ! Hai hành động đối cực với nhau như nước với lửa, như thiện với ác, thì theo ý ông, cái nào là hành động văn minh đây?”.

Nghe tui hỏi ngặt như vậy thì chiến trường trên Facebook hoàn toàn im lặng vô tuyến. Tụi nó rút chạy hết ráo rồi bà con ơi!

Chơi cái sách mị dân, dùng đá banh để kích động tinh thần dân tộc cực đoan, hầu che giấu sự thối tha của một guồng máy cai trị mạnh ai nấy hốt. Thủ đoạn đó xưa rồi Diễm!

Xưa nhưng một số dân ngu khu đen, ngay cả người mệnh danh là có học nhưng tính tình chơn chất vẫn bị chúng gạt như thường.

Ngây thơ và ngớ ngẩn đến thế thì dân tộc của chúng ta tới lúc nào mới thấy được ánh bình minh?