Hạnh phúc

Hồ Đình Nghiêm

quanvan.net

Post on 9 May 2022

Post by Sơn râu 1 Jan 2024

Tôi dắt xe ra sân.
Vợ hỏi: Anh đi đâu?
Đội mũ bảo hiểm vào đầu, tôi nói ngắn gọn: Cà-phê.
Hạnh ngó quần cụt tôi mặc, áo thun bèo nhèo tôi diện, cô không hỏi han thêm. Hạnh đóng cửa, rồi vợ tôi sẽ ngồi đâu mặt với cái TV xịn và xem cho hết bộ phim tình cảm của Hàn quốc. Cô sẽ lộn hồn lộn vía theo từng số phận của mỗi một nhân vật thiếu vắng nụ cười trong khi đợi tôi về. Tôi đồ thế.

Máy xe nổ tiếng dòn dã mang tôi đến nhà thằng Hậu. Hắn để sẵn cho tôi bộ áo quần tử tế, có nghĩa là đã qua khâu giặt ủi tươm tất. Thay đổi xiêm y trong khi nghe Hậu càm ràm: Đù má, xem thử mày diễn tuồng được bao lâu. Tôi cười: Như phim bộ nhiều tập vậy, còn khuya mới vãn tuồng. Mày mở mắt nhưng nhớ là ngậm miệng lại. Tôi đợi tiếng chửi quen miệng nhưng nó đã thuộc bài: ngậm câm. Vợ tôi sẽ chẳng được xơ múi gì khi muốn thu lượm tin tức vì Hậu dễ thương ở chỗ: Không thấy không nghe không biết. Nếu có mở miệng hắn sẽ nói ra sáu chữ khuôn vàng thước ngọc ấy. Rất được việc, rất đáng tin cẩn. Nếu có thứ tòa án lương tâm mang ra luận tội thì tôi thuộc diện tù chung thân, còn hắn chí ít cũng mười năm vì tòng phạm, che dấu giúp đỡ kẻ tội đồ. Hắn luôn miệng đù má và tôi thương giọng điệu ấy hết sức.

Hậu sống mình ên, là con chim từng bị thương nên giờ này sợ thấy cung tên, không ưa dính tới chữ phu thê. Hắn bị ngoại tình, vợ bỏ theo giai. Giai làm trưởng phòng, cùng cơ quan với thị. Hai đứa hiện sống nghêng ngang bên quận 5. Hậu từng nhậu say, gói dao vào báo Thanh Niên định bụng thù này phải trả nhưng tôi can ngăn. Mẹ mày, ấy là hạ sách! Nông nổi, thiếu lí trí. Quân tử mười năm trả thù chưa muộn. Hắn nghe lời, cất dao vào lại sau bếp, và ca cẩm: Tao không biết dao đằng nhà mày sắc bén cỡ nào, coi chừng có ngày mày ôm đầu máu. Tao nói trước, gõ, cửa không mở đâu. Tôi giả bộ nhăn nhó: Bạn bè, chơi kiểu gì kì khôi vậy cha nội?

Cửa mở. Tôi ngó quanh trước khi dắt xe vào. Tôi ôm Phúc và hai đứa khóa môi nhau bên chiếc xe máy tỏa nhiệt. Ngực Phúc lớn, thông thoáng chẳng có nội y dồn sóng vào người tôi nỗi thèm khát. Phúc xô tôi ra. Yêu đương phải nên theo trình tự của mỗi công đoạn. Như xem phim chính, anh phải đi qua những khúc dạo đầu. Cô dắt tôi vào giường và bộ đồ ăn nói của thằng Hậu bị chà đạp dưới chân Phúc. Bao giờ cũng thế, chúng tôi như tù nhân chết đói chết khát đã bộn tháng ngày, gặp mặt là gặm ngốn ngay. Chủ trương: Thời giờ là vàng bạc. Chậm lụt có khi xôi hỏng bỏng không. Bà chị Phúc dọn hàng ngoài chợ xi-đa về “đúng hẹn nại nên” thì bù trất. Quần áo cứ thế cắp nách, tẩu vi thượng sách.

Phúc nói, anh phải đưa em chút tiền. Bao cao su này là cái cuối cùng. Phúc thích tự tay cô mặc áo mưa cho thằng nhỏ tôi. Có thể là sự cẩn tắc vô ưu. Lo ngại một cách quá đáng. Hoặc cô ưa sờ soạn cái vật mà chốc nữa sẽ đi thăm thú vào người cô, lui tới cho bỏ những ngày cơ cực. Nói tóm, tôi thích tất thảy những cái lẻ tẻ ở Phúc. Thích sự nhiệt tình hưởng ứng, thích động thái mà cô biểu lộ, kể cả tiếng rên la chẳng nên khuếch đại “thưa bà tui ở bụi này”. Vợ tôi khác, Hạnh đè nén tất tần tật và trong đời chưa hề một lần xúi tôi làm chuyện ấy. Hạnh làm biếng ngay cả chuyện lột áo cởi quần. Nhắm mắt quay mặt mặc giông bão đang tới bên lưng, thịnh nộ giáng xuống phủ chụp lấy người.

Tôi đưa hai trăm ngàn cho Phúc để cô mua hộp condom dự trữ và cái quần lót màu đỏ mà tôi lỡ làm đứt giây thun. Một ngày nào đó tụi mình sẽ công khai làm chuyện này dẫu phòng bên có sự hiện diện của bà chị. Nghĩa là sao? Nghĩa là khi chúng ta hợp thức hóa bằng tờ giấy đăng ký kết hôn. Ừ, sẽ có một ngày. Tôi làm bộ mơ mộng trong khi tôi hình dung ra khuôn mặt bà Tâm, chị của Phúc. Chưa già nhưng thường trực nhăn nhó lãnh cảm. Ở góa, chẳng chồng con nên mắc chứng kháu ó tựa như đất hạn hán thiếu mưa trút thấm vào mơn man tươi nhuận. Khô đét, mỏng người tợ mấy ni cô sân si ưa động thủ trong phim bộ võ hiệp Trung quốc. Thí chủ không quay lưng kíp di dời hiện trường thì đừng trách. Đao kiếm vô tình, mỗi khi thoát khỏi vỏ bọc buộc phải nhìn thấy huyết lệ rơi, thí chủ đã nghe qua?

Tôi mặc lại áo quần. Phúc lộ vẻ tiếc nuối nhưng phải chịu tuân theo bước đi của hai kim đồng hồ chuyển động trên đầu giường. Tạm thời chưa tới thời cơ, nên để hắn rời khỏi trước khi bà chị phát hiện hô hoán. Lương lậu công nhân viên nhà nước thiệt không đủ sở hụi để dựng xây một mái ấm gia đình. Ra thuê nhà, sinh con đẻ cái chợ búa cơm nước tự lực cánh sinh đắp đầu này đổi đầu nọ tối lửa tắt đèn chóng mặt chóng mày e phải bốc cứt mà ăn! Eo ôi! Ai đã nói câu này nghe thậm chí lý: “Khi cứt bán được tiền, những người nghèo sẽ không có lỗ đít!” Chí lý và đắng cay. Chua xót và minh bạch. Sự thật và trơ tráo.

Tôi trở về nhà, nguyên vẹn, áo thun quần cụt. Những hao hụt trong tôi thì Hạnh sẽ không tài nào nhìn thấy. Phim đã hết, Hạnh đã tắm táp chuẩn bị đi ngơi. Về trễ thế? Cà phê, một ngày uống cả chục bận cũng chưa đủ sao! Vợ phán, chỉ phê bình mà không kiểm điểm. Tôi kiểm tra cửa nẻo đóng khóa trước sau, lui góc bếp đứng bên lu nước dội qua dăm gáo cho sạch sẽ mát mẻ. Những con loăng quăng trong lu sẽ biến thành muỗi, bay vo ve chuyên trị hút máu; những con tinh trùng tôi ra sức bắn vào cửa mình Hạnh mãi chết tiệt chẳng tượng hình một thai nhi. Anh tôi bảo, chúng mày dắt nhau đi khám xem thử lỗi phải ra sao. Vợ tôi lớn tiếng, chuyện nhỏ chớ quan hoài, có con thêm gây thảm họa, cứ vô tư thoải mái như vầy, vui được ngày nào hay ngày đó, tới bệnh viện xét nghiệm không chừng lòi ra một đống bịnh ác hiểm lại phải rước thêm sầu não. Tiền đâu trang trải chuyện thuốc men! Trả lời khơi khơi như vậy mà ông anh phương xa của tôi động lòng trắc ẩn qua đường truyền dây viễn liên. Bỏ điện thoại xuống hôm nay, hai ba hôm sau có giấy báo lĩnh tiền gửi về từ Mỹ quốc. Sương sương được hai triệu bạc. Cưa nóng hổi chồng triệu mốt vợ chín trăm ngàn tân trang TV màn hình phẳng đầu DVD cao cấp của Nhật bổn chính hiệu con nai vàng.

Chui vào giường, dằn mùng cẩn thận. Bóng tối mù lòa, nhờ nhợ trắng đục cái quần lụa Hạnh mặc đang lòi bắp vế, chẳng biết thứ nào phát quang. Để chứng minh mình không đi ăn vụng, mới uống cà phê hẳn hoi trở về, tôi thò tay âu yếm xoa nắn người Hạnh. Nóng thấy mồ, ôm ấp chi cho đổ mồ hôi! Nè, có nên xin anh Đại chút bổi để tậu một cái máy lạnh cho đỡ vã? Tôi nhích người ra, vắt tay lên trán. Vọng cổ chỉ có sáu câu, xàng xê lui tới một điệp khúc cũng ái ngại, người nghe sẽ ớn thấu cổ. Anh tôi từng báo cáo: Mi tưởng đô la là lá rụng mùa thu sao? Mẹ kiếp, lao động thấy mồ tổ chứ giỡn chơi a. Tao không phải hạng người luôn xem đồng tiền liền khúc ruột, nhưng hãy cho tao chút thời gian, tháng nào cũng chi viện hai ba trăm thì ngay cả bơ sữa cặn bã của đế quốc cũng không có mà xơi. Nhà mình thiệt bất hạnh, phải mà mi có thêm được bốn năm ông anh bà chị ở ta bà thế giới thì tao cũng nhẹ gánh phần nào. Khổ thế! Nghe người ta đồn thổi anh làm trong hãng điện tử lớn ở thung lũng hoa đỏ hoa vàng gì đó, lương lậu khủng, tiền cả ổ nhưng cứu trợ nhân đạo thì cứ xìu xìu ển ển gãi chẳng đã ngứa. Mặt dày mày dạn réo miết e không khéo gây căng thẳng làm đứt mất sợi giây máu mủ huynh đệ. Thằng mù phải nên sợ thằng chột!

Rút kinh nghiệm, lần này réo xin anh Đại tôi đọc thầm vụng địa chỉ nhà thằng Tân cho anh gửi tiền về. Thứ nhất, tôi chẳng muốn vợ tôi đòi “sang cơm xẻ áo”. Thứ hai, tôi đánh đòn quyết liệt, buộc anh Đại phải tin là nhà tôi ở đã bị thần hỏa thiêu rụi một đêm không trăng sao, chừ bơ ngơ báo ngáo dắt díu tới tạm trú nhà người bạn trong khu ổ chuột Bình Thạnh. Tiền tới hai lần, gộp lại đúng ngàn đô cùng hàng chữ viết tháo nơi ô vuông nhắn tin: “Mỗi người có riêng một phần số, mi phải cứng cỏi chống cự. Như vậy, lần sau, nếu có giúp mi chút đỉnh, thì phải đợi thêm bốn tháng, nhớ chưa? Có mang được tư trang áo quần khi cháy nhà không? Gửi lời thăm mụ vợ. Khám nghiệm chưa? Mi tắt ngòi hay vợ khô buồng trứng? Mẹ rượt. Sao khổ thế không biết! Anh mi. John Dai”.

Nghe lời quân sư Tân phán, tôi đưa hắn hai triệu. Hắn đi cà phê net truy cập tin tức, ngồi cà phê bụi hóng chuyện, đọc báo thể thao chuyên mục Euro rồi đi tới một kết luận đinh đóng cột: Pháp thắng Thụy Điển 1-0. Hai triệu tiền cá độ có thể hoạnh tài thu về tám triệu nếu đúng theo dự đoán. Ăn chơi không sợ mưa rơi. Hắn nói. Và mưa rơi, biết đâu chừng làm giải hạn. Đù má, sống ở đời phải đơm ước mơ. Thử tưởng tượng thần tài gõ cửa, nè cầm tám triệu trời ơi đất hỡi mà đốt cho đời chút le lói. Tưởng tượng thôi đã chảy nước miếng! Mày bảy tao ba hay sao?

Trắng đêm, khô cổ họng xót con mắt. Mười một con gà nuốt giây thun ăn nguyên hai hột vịt lộn và tài sản tôi bị mẻ mất hai trăm đô. Thà ngồi trong bóng tối luôn miệng chửi thề còn hơn đốt thắp đốm lửa chóng tàn oan ức tựa thế. Bảo đảm tôi đau đớn hơn toàn thể bọn thực dân Pháp, dứt khoát tôi ủ rủ hơn lá cờ tam tài chết đứng trên tay những cổ động viên. Quân sư Tân bình loạn: binh pháp có câu thắng bại lẽ thường chớ buông lời tuyệt vọng. Mẹ nó, trận tới nhất định phần thắng ắt về ta. Tôi nhổ bãi đờm đắng miệng: dạ thưa không có em lần sau, cho em được nguôi ngoai đào ngũ.

Bình minh, tôi dắt xe êm thắm dựng chân chống trước cửa. Miệng vợ đầy bọt kem đánh răng: Cà phê kiểu gì suốt năm canh vậy tía? Có mèo mỡ gà đồng thì kíp khai mau kẻo cháy nhà. Tôi moi bọc quần đưa Hạnh một triệu: Nè, nhét một cục cho ấm đít. Tiền thắng cá độ bóng đá đấy nhớ. Mẹ cái bọn Thụy Điển xung trận rất hăng và đội tuyển Pháp toe tua cứ y như đánh trận Điện biên phủ ấy. Con bà nó, mèo mỡ gà đồng thì làm chó gì thu về được cả ngần ấy tiền!

Đầu ngày, vợ tôi chưa kịp trang điểm nhưng bất ngờ có tiền lận lưng thì mặt nàng sáng tỏ. Hoa phải nhường và đương nhiên nguyệt sẽ thẹn. Trăng hoa vô tri còn vậy mà bản thân tôi đâu phải dính khuyết tật mù lòa. Tôi lên giọng, chúng nó bảo lần sau cá độ muốn chắc ăn phải nên xả xui, như trước khi đi hành quân lính phải ôm vợ ngủ. Hạnh bảo: Xem, giờ này mặt trời chưa lên, mát mẻ, đi vô đây em cởi quần cho anh xả xui.

Cà phê Trường Túc không mấy đông vì mặt bằng kinh doanh chả có được địa lợi. Theo hẹn, tôi tìm tới chẳng khó, đúng giờ. Phúc ngồi sẵn ở ghế tự hồi nào, khi quay ngó mặt đã úng thủy lệ nhòa. Anh ăn cái giải gì mà học thói lừa gạt gái thơ ngây? Anh có vợ đàng hoàng mà đi man khai độc thân vui tính. Anh rắp tâm phá đời người ta mà bộ tịch kịch cỡm sẽ làm giấy đăng ký vợ chồng… Một tràng tiểu liên AK-47 lia xong phải nạp thêm đạn. Phúc thì không, để ngấc tự động tuôn như sanh như sứa, miệng chẳng liền da có thể phát ngôn từ hoàng hôn nhuộm mực cho tới canh khuya chong đèn. Tôi phải đi mua ly nước mía cho Phúc tạm thời nghỉ mệt, uống khỏi khô hơi thấm giọng hạ hồi phân giải. Tình thế cực kỳ khẩn trương, tôi bị dồn vào vùng cấm địa chẳng dám đưa tay đụng người Phúc sợ tiếng còi ré đòi thổi phạt đền. Nói cho đã, ly nước mía lạnh vơi hơn phân nửa, chủ nhân lại gầm mặt xuống bàn mà thổn thức. Chi tôi nói đúng quá mà, dại khờ như em không khéo mà lủng túi đánh rơi cái ngàn vàng hồi nào chẳng hay. Sao anh ác với tui vậy cà, chúng mình lỡ gây thù hận gì nhau sao?

Tôi chẳng để ý bàn kề cận có hai thằng mặt mày gớm ghiếc vừa xô ghế đứng lên: Cưng có điều gì oan trái mà ca cẩm nghe chạnh lòng. Bọn anh đi lại trên giang hồ thấy cảnh bất bình buộc phải rút đao tương trợ. Ông anh này là kẻ gây nhiễu sự khiến mặt hoa phải nhăn nhàu. Đúng thế chăng? Dạ, ảnh là con ma nhà họ Hứa. Hứa cho cố xác rồi quỵt nợ chạy làng. Ảnh là hạng sở khanh, ảnh qua đường ngắt trộm hoa rồi vày vò trong đôi tay. Ảnh… Thôi được, phàm buộc tội ai ta phải chưng ra tang chứng vật chứng. Cưng chớ dựng chuyện nói chẳng có cơ sở ngọn ngành đầu mình tứ chi. Cái ấy là bài học vỡ lòng của Bao Công.

Phúc moi từ túi quần bò chật chội ra được cái điện thoại di động. Mấy anh xem cho tường, chị em trốn trong tủ lén quây đó. Tuy non tay nghề, chưa đẳng cấp nhưng hình ảnh cũng khá minh bạch, dòm là biết trắng đen.

Tôi đứng chết trân, xuất hạn đầm đìa, nực nội dồn tự muôn phía. Tôi ngó xuống Phúc, thất vọng và tuyệt vọng. Có thể sau vở kịch này cô sẽ tham gia vào đoàn kịch nói Trung ương để làm nghệ sĩ nhân dân có gắn huy chương sao vàng lên ngực khủng. Cô đi bóng siêu việt hơn cả đội tuyển Thụy Điển và suốt đời tôi chẳng tài cán được ngồi ghế dự bị trong đội bóng đá quốc gia Pháp. Tôi thua tả tơi, thua tới độ chẳng có quần để được rách lai cho oai.

Có gì để nói? Một gã mặt sẹo hỏi. Tôi ngậm bồ hòn trong miệng ú ớ. Tạm thời bọn này thay mặt người đẹp thu giữ chiếc xe máy của anh. Gia hạn đúng một tuần, ngay tại địa điểm này, anh phải mang tới mười triệu để đổi cái mô bai phôn thâu đoạn phim đồi trụy.

Anh hiểu luật giang hồ rồi chứ gì? Mọi thứ sẽ giải quyết một cách êm thắm trong thầm lặng. Đừng để vợ anh biết, chớ mở miệng ì xèo với công an. Anh có gì thắc mắc?

Thấy tôi đực mặt. Một đứa ngứa miệng: Ngay cả lời cuối dành cho người đẹp cũng không nốt? Nó há miệng, răng lởm chởm, tay quàng qua vai Phúc. Nếu là tớ, tớ sẽ phát ngôn: Đéo mẹ em!

Phúc cười. Đồng bọn cười. Tiếng cười như ngọn lửa bốc cao. Tôi thực sự là đứa vừa bị cháy nhà, trái tim nám đen, ám khói. Tôi đứng như cột nhà đợi một thời khắc nữa thôi sẽ thành than đổ ập xuống.

Hồ Đình Nghiêm
24 tháng 6. Fête nationale du Québec.

Chấu cắn

phamcaohoang.blogspot.com

Hồ Đình Nghiêm

Post on 31 Jul 2017

Post by Sơn râu 1 Jan 2024

Hình như Rilke, một nhà thơ người Tiệp, từng nói lời cực đoan: “Tôi van bạn chớ làm thơ, ngoại trừ trường hợp thiếu nó, bạn sẽ chết”. Cũng chính ông người “lạc hậu” kia viết ra câu: “Ở đâu có nguy hiểm, ở đó có cứu rỗi”.

Trước, tôi có làm dăm ba bài thơ. Nay, tôi bị đẩy lên sống ở vùng kinh tế mới. Tôi van bạn đừng dại lên đây, ngoại trừ ở thành phố người ta sắp giết bạn. Kinh tế mới là gì? Đó là cụm chữ tôi không tài nào hiểu được! Một sườn đồi tiếp giáp với Trường Sơn, bên dưới là bình nguyên lắm cây cỏ hoang dại mọc dài theo con suối thỉnh thoảng có bóng người Thượng chẳng biết từ đâu tới gánh nước, gùi con sau lưng xuống tắm hoặc giặt giũ chăn màn. Với phương tiện thô sơ, hơn hai trăm mạng người sẽ “cải tạo” cái gai góc kia, biến nó thành bình địa để bắt đầu xây nhà dựng cửa khai hoang lập ấp. Tôi là một trong sĩ số hai trăm đứa cần cù lao động, đặt dấu chân người đầu tiên ở chốn đèo heo hút gió, cách thành phố cũ 40 cây số đường chim bay. Mệt chết bỏ, thở không ra hơi. Thơ thẩn cũng bỏ tôi, đi mất biệt. Thật là chim kêu vượn hú biết nhà má đâu!

Một người có kinh nghiệm đi rừng truyền đạt “lời hay lẽ phải”: Bạn bị rắn cắn nơi nào, gần nơi đó luôn có thứ lá cây để sơ cứu chận độc. Ông ta kết luận: Trời hay ở chỗ ấy! Sinh cái này phải đẻ thêm thứ kia. Tôi nhìn ông ta, lời ông nào khác gì lời “ấm ớ” của Rilke. Và một ngày, ông trời đã không có mắt, tôi sơ ý bị rắn cắn ở dưới bắp chân, cây cỏ um tùm biết tìm đâu ra thảo dược. Buộc chặt một sợi dây vào đùi, ngăn máu chảy về tim, mặt xanh lè được hai người tốt bụng khiêng ra khỏi hiện trường, báo cáo mấy vị có thẩm quyền xin được chở xuống trạm xá nằm ngoài quốc lộ. Ở đó có hai người y tá, một bác sĩ chuyên chữa những bệnh kiết lỵ sốt rét hoặc gãy tay cụt giò. Tôi được một cô gái đích thân nặn máu độc ra, bôi thuốc khử trùng và cho uống hai viên thuốc, hy vọng không phải là Xuyên Tâm Liên. Cô dìu tôi nằm xuống cái giường tre ọp ẹp: Chừng nào thấy chóng mặt, hoa mắt hoặc nghe tim đau thì nhớ gọi tôi. Cô đắp cho trán tôi một vuông vải ướt, mát; rồi quay lưng đi mài một con dao nhỏ, xoèn xoẹt chẳng biết để làm gì. Tôi van cô chớ giải phẫu chân tôi, ngoại trừ thiếu vết dao cắt, tôi sẽ chết vì rắn.

Tôi không đau tim, may phước chẳng ấm đầu chóng mặt nhưng “bồi dưỡng” thức gì vào cũng nhợn nôn. Nhác ăn nhác chơi. Chỗ rắn cắn tím bầm, sưng tấy. Cô y tá nhìn, xem chừng muốn buồn tay động dao động kéo. Ngày mai mới có bác sĩ chuyên khoa từ bệnh viện đến thăm, không ấy tôi cho anh thử dùng phương thuốc Nam. Lần này thay vì mài dao cô ra sau nhà chổng mông ngồi thổi lửa. Một cái nồi đất bắt lên, lởm chởm những cọng lá sắc đâm tua tủa ngâm thân chờ héo úa. Hẳn là nó rất đắng, tôi đồ vậy. Thuốc đắng đả tật. Tôi thử nhẫm tính xem đã mấy hôm rồi tôi thiếu vắng cà phê. Lòng tương tư vô hạn hình ảnh cái nồi ngồi trên cái cốc. Lý lịch tôi mang thân phận tiểu tư sản, một đứa như thế vẫn thèm khát vu vơ những thứ xa rời hiện thực. Những bài thơ viết chùng vụng cũng chở đầy thứ tâm cảm được voi đòi tiên, đứng núi nầy trông núi nọ để chung cuộc là tiếng thở dài đánh sượt, dài miên man. Nếu vắng nỗi buồn, tôi van bạn chớ làm thơ!

Dẫu sao tôi nên cảm ơn con rắn vằn vện đã cho tôi “biết thế nào là lễ độ” khi vô cớ tới làm động hang ổ nó. Từ nơi hoang vu giờ đây được dưỡng thương bên quốc lộ nghe tiếng xe đò quen thuộc gầm rú lừ đừ đi ngang qua cùng khói xanh vương vấn nơi khung cửa. Nói dị đoan rằng vì tôi tuổi Tỵ nên đồng loại không nở ra tay ác độc. Tao cắn mày để cho mày có cơ hội được chây lười lao động, và nghĩ mà xem cô y tá ấy chẳng phải thuộc loại mát tay. Tha hồ cho mày câu giờ kiếm cớ gạ chuyện với cô. Bệnh nhân đa phần đều ông già bà lão, đa số đều không ngớt rên la. Tiếp xúc với họ thêm oải, đời mất vui. Mấy khi bệnh xá mới có con bệnh lạ kỳ như mày “nhập viện”. Thanh niên trai tráng đã đành, hắn còn biết pha trò nữa cơ. Có duyên tệ! Hay han hỏi, hay động viên tinh thần và thi thoảng hắn biết giả bộ nắm tay, xem chừng tình trong như đã mặt ngoài còn e. Mong bác sĩ chưa vội tới, ngày mai trời vẫn tối, chiếc giường vừa buông mùng ngăn muỗi rừng và không biết ca trực của mình có nên kéo dài vượt khỏi mức quy định. Tờ giấy hồ sơ bệnh lý của hắn ghi tên Tâm, mình cũng đã hé lộ tôi tên Đoan. Trao đổi thêm mới hay hắn từng làm thợ nề, thợ mộc, chạy xe ôm và một thứ nghề không chính đáng: Biết làm thơ. Eo ôi, giời ạ! Chảnh đến thế thì thôi! Tâm bảo: Thế nào cũng có lúc mang tặng Đoan một bài thơ, người đã ra tay tế độ vực tôi kinh qua cánh cổng của thần chết. Háo hức lắm cơ, nghe thế bảo sao không làm ngày chẳng đủ tranh thủ làm đêm. Ngẫm kỹ đi mà xem, tất cả những vần thơ đăng báo đều xưng tụng anh hùng, ca ngợi thủ trưởng, đề cao những bà mẹ liệt sĩ chớ nào có ai để tâm “phải lòng” tới hạng người y tá đâu nhỉ? Mà y tá vô danh ở chốn sơn cùng thuỷ tận!

Hạnh phúc thường mong manh. Không ai bị rắn độc cắn mà phải nằm viện ba ngày cả, ngoại trừ bị chằn ăn trăn quấn. Bác sĩ vừa lộ hình vừa tuyên bố. Ông rảy một ít bột trắng lên vết thương mưng mủ, viết một tờ giấy trao tay tôi, ký nhận rằng nạn nhân được phép nghỉ lao động nặng ít hôm, gói hai viên thuốc vào ô giấy báo vừa xé nhỏ: Chừng nào sốt hẳn uống. Ông xua tay như đuổi ruồi, yên tâm đi nhé, hồi nào có xe vào lấy củi thì quá giang họ cho đỡ nhọc thân. Đoan kiếm đâu ra một thân cây tre gầy guộc: Này, nắm lấy nó mà vượt suối băng ngàn. Tôi cầm tay Đoan: Để tôi vào lại chỗ cũ chọc cho rắn cắn và như thế đôi ta lại gặp nhau. Sưng tấy cả hai chân cũng cố lết ra đường lộ. Đoan la: Đồ quỉ nà, bộ hết cách chơi rồi sao? Giả bộ ngộ độc thực phẩm để ra xin thuốc không được sao?

Hút vừa xong điếu thuốc thì xe củi trờ tới. Đoan không mặn mà săn chắc như kiểu sơn nữ, hơi thô thiển hơi quê mùa nhưng trong tôi thấp thoáng ló ra một đôi câu thơ. Kinh tế mới và lung lay thứ tình cảm đầy gió chướng giữa đồng không mông quạnh. Đời này vốn thiếu hụt lắm thứ, hãy thử kiếm ra một chút vui vầy đặng kinh qua. Tôi được gã tài xế ra dấu cho lên ngồi ghế cạnh ông ta. Người ông có dáng vẻ một cây xương rồng không bao giờ được tưới nước. Gai góc, đen đúa, khô đét, nhiều góc cạnh. Trời sinh ông ra để bầu bạn với đường trường, với nắng nôi, với gió bụi, với chiếc xe mãi gầm rú ho hen. Chú em đã từng thấy qua cây quế chưa? Đi quàng xiên trong ấy thế nào cũng có khi bắt gặp trầm. Hai thứ đó chú em nhớ để dành, thu ém riêng một chỗ khuất, có bao nhiêu tôi thầu bấy nhiêu và rồi đời chú em sẽ đổi khác. Một đứa vô sản không có quyền ăn nói, nhưng khi chú em chất đầy túi…hề hề rời khỏi núi để đi mua tiên mấy hồi! Tôi thưa thật là vừa bị rắn cắn, không biết mặt ngang mặt dọc hình thù chiếc lá trị nọc rắn để đắp vào dấu răng. Một tay ngang dưới phố lên, lạc vào rừng bạt ngàn cổ thụ làm sao biết ngậm ngãi tìm trầm! Bác tài nhấn chân ga vượt qua con dốc đầy sỏi đá: Khỏi lo, tôi có sẵn cuốn bí kíp võ công đây. Ông moi túi áo ra tờ giấy gấp làm bốn có vẽ hình thù và những đặc điểm để nhận diện. Thứ bí kíp ấy như được xé rời từ một cuốn sách dạy cách tồn vong khi bạn lạc vào rừng sâu, thứ này ngon chứa nhiều chất kháng sinh, thứ kia độc ăn vào sẽ mắt trợn môi trề. Tôi đón nhận, cất trong ví đựng giấy tờ tuỳ thân và gửi tới ông nụ cười thật tươi để thế một thoả thuận ngầm. Tôi van bạn nên mạo hiểm, ngoại trừ trường hợp bạn muốn chết không chiếu bó thây.

Cạp nong hay hổ mang gì đó quả có vị tình, vết cắn thôi sưng kiểu dị hình dị tướng, da thịt chỉ còn lưu lại một khoanh màu vàng bọc lấy hai vết đỏ cầu chứng. Điều này có nghĩa là tôi chuẩn bị đeo đồ nghề đi phạt cỏ đốn cây. Chưa gì đã có bọn người lập ra đội xây dựng kiến trúc đòi vẽ hoạ đồ. Họ đào móng đóng cọc khu A khu B khu C các thứ. Khu D nằm sát bờ suối tạm thời dùng làm nhà bếp tập thể. Vì ham nghe lời xúi giục của bác tài nên tôi chăm lao động giấn liều đi xa mà quên bài giả bộ ngộ độc để chính đáng ra bệnh xá mân mê tay Đoan nói trăng nói cuội. Trăng bên bờ suối đẹp kiểu hư ảo, giá mà có Đoan đứng tắm thì tôi sẽ làm được bài thơ vẽ cảnh đào nguyên. Thiên thai có hai ông cọp ngồi nhai thịt người lai rai. Chừa lỗ tai để ngày mai khoan thai nhử con nai. Này gái chiếc này trai đơn hãy mau khai. Chớ lạc sai. Nhớ dòm chừng ông cai.

Sau hơn tháng vật lộn bắt sỏi đá phải thành cơm, khu kinh tế mới bắt đầu khởi sắc. Mái tranh vách đất, nhà gỗ nhà sàn tuỳ tiện chen vai, đồi sắn nương khoai cứ thế mà đào bới tự túc tự cường. Chỉ thị ở trên ban xuống: Bắt trời làm mưa, biểu đất làm lúa. Xin bà con hãy vô tư. Tôi van bạn đừng hiểu, ngoại trừ bạn muốn tắt thở vì sự nhạy cảm. Cứ trơ như đá và hồn nhiên như hòn cuội nằm dưới suối mặc cho nước chảy đá mòn. Những từ ngữ mà lãnh đạo thốt ra đều chung một bài bản sáo mòn, thấp kém hơn chữ dùng của thường dân và trong cuốn từ điển dồi dào mang đầy tính sáng tạo ấy tôi yêu hai chữ: Trúng mánh. Cuộc hành quân đầu tiên đã mang tới thắng lợi vẻ vang thần thánh. Tôi “giao lưu” với bác tài xế xe củi, môi hở răng lạnh và bác ấy thanh thoả hợp đồng theo phong cách đậm đà của tình đồng chí. Ở đâu có đói khát, ở đó có lòng tham. Ở đâu có rừng vàng ở đó có lâm tặc.

Không thể kiếm cớ chạy về thành phố mua tiên, tôi tìm cơ hội để đổ thân ra quốc lộ tìm gặp Đoan. Tôi trao tay món quà thủ công “tự biên tự diễn”, chiếc kẹp tóc làm bằng loại gỗ thơm, và cũng chính tay tôi đính nó vào đầu tóc chẳng mượt mà của người y tá chây lười việc điểm trang. Đoan cảm động khi nghe tôi bảo, thay vì ngồi nhớ Đoan để dệt vần điệu thơ ca tôi ra công trong tuần lễ để hoàn tất tác phẩm này. Hèn gì lâu nay ra tựa cửa chẳng trông thấy một người bị ngộ độc thực phẩm quờ quạng bước vào. Người Đoan run lên khi tôi ôm cô vào lòng, mắt Đoan nhắm lại để hé môi chờ đợi một nụ hôn. Ngộ độc thực phẩm là chuyện nhỏ, sao sánh được ngộ độc vì nhớ thương. Phía sau bệnh xá, chỗ khuất lấp có trồng hai bụi môn. Trong bệnh xá có người nằm rên vì chứng đau bao tử vì vậy y tá bỏ mặc mọi thứ, nắm tay tôi dại khờ tìm nơi vắng vẻ. Nếu Đoan là Nguyệt Nga thì tôi hơn Vân Tiên vạn lần. Cỏ ngứa, muỗi cắn hoặc ruồi bu kiến đậu, hoặc những âm mưu thâm độc khác đều không gây trở ngại cho hai kẻ đang thích chơi trò lấn đất dành dân, ưa mở rộng địa đạo hối chú du kích vào phục sẵn chờ phút khai hoả. Những nước theo xã hội chủ nghĩa thường có đông dân số, giản dị vì họ không có thứ gì để giải trí cả. Niềm vui duy nhất là nam nữ cứ bu như sam, nhưng nói cho ngay vì Đoan là y tá nên cô có sẵn cả tủ thuốc ngừa thai. Đoan không dại nằm thắp sáng cái sướng trong phút giây để rồi ngồi nguyền rủa nỗi đau theo tháng ngày. Em nói thật đấy, cơ quan mà biết được thì họ khai trừ em, họ bêu rếu em, họ bắt em làm bảng kiểm điểm, đày đoạ em, mắng nhiếc em nào là có chuyên mà không có hồng, nhân thân xấu, chẳng xứng đáng làm con người mới để thích nghi với chế độ ưu việt. Tôi nhìn giọt nước mắt ứa ra trên khuôn mặt mờ tối của Đoan. Sao Đoan khóc? Vì em đang hạnh phúc, chưa bao giờ em hưởng được thứ bồi dưỡng lạ lùng như phút giây qua. Em ghi cho anh một cái lịch nhé, những giờ giấc thuận tiện để chúng ta cùng ăn nằm bên nhau. Tâm có thương em không? Còn phải hỏi, Đoan là con rắn đáng yêu nhất mà anh gặp phải, anh tự nguyện giao mạng cho Đoan cắn, như vừa cắn vết dịu dàng. Thôi đi ông tướng, vừa làm rắn bò đi lung tung còn đổ thừa cho người ta.

Trước khi chia tay, tôi vụng trộm ngó Đoan ngồi bên lu nước múc từng gáo tự sơ cứu làm hạ nhiệt. Tôi trao cho Đoan một xấp tiền. Cái gì đây? Bồi thường thiệt hại, hồi nãy lỡ làm hỏng cái quần lót của Đoan. Có thích em làm vệ sinh cho anh không? Không, anh vào tắm suối. Đoan hôn tôi đắm đuối, hụt hơi. Và tôi chẳng ngờ được, đó là trang cuối cùng của chuyện tình vắn số của chúng tôi. Vĩnh viễn tôi không còn nhìn thấy Đoan. Cũng như chiếc xe chở củi chở gỗ về thành phố người ta đã thay ông tài xế khác.

Tôi bị bắt vì tội phá hại tài sản của nhà nước. Cán bộ đã vào lán tôi ở, moi được bọc tiền làm tang chứng vật chứng chuyện móc ngoặc với thành phần bất hảo, bán và tiêu thụ trầm, quế. Họ cũng tìm đọc những bài thơ tôi giấu dưới chiếu, quy chụp rằng lời lẽ quá sức phản động, dựng chuyện lầm than đói khổ để nói xấu chế độ. “Đau khổ chi bằng mất tự do, đến buồn đi ỉa cũng không cho”. Đấy, mày nàm thơ kiểu đấy thì phải chóng nhập kho thôi con ạ! Thưa các cán bộ, tài sức tôi đâu đủ để viết được lời bi thảm đó. Thơ ấy là của Hồ chủ tịch đấy ạ! Một đứa hùng hổ đến sát bên tôi. Láo lếu! Tay hắn nắm dùi cui, nháng một cái tôi chẳng còn trông thấy gì cả. Đất trời đều sập tối. Tôi van bạn đừng làm thơ vẽ cảnh hiện thực, và tránh xa việc trích dẫn những “lời hay ý đẹp” của lãnh tụ. Bạn sẽ chết chắc ngoại trừ bạn là đàn em của Phù Đổng Thiên Vương thanh thản cỡi ngựa sắt về trời vui thú điền viên.

Hồ Đình Nghiêm

Montréal, 31.7.2017

Bạch Quỷ

vietbao.com

Hồ Đình Nghiêm

24/01/2020

Post by Sơn râu 1 Jan 2024

Nếu một ngày có hai mươi bốn giờ thì trong cơ thể em cũng nhốt đủ hai mươi bốn cái xương sườn. Một ngày kia, có thể gọi là giờ thứ hai mươi lăm, em gặp phải tai nạn làm gãy mất một cái xương sườn. Vào bệnh viện, chụp quang tuyến X và người ta ra tay giải phẫu, thò tay vào chỗ hóc hiểm để bắt tạm cho em một con vít bằng kim loại, hy vọng đôi ba tháng sau em thôi ca cẩm hát hò bản nhạc “chuyện một chiếc cầu đã gãy”. 

Gọi giờ thứ 25 là vì nó đi ra ngoài dự kiến, nó đột ngột hiện tới gây ra bao thảm cảnh nằm mộng cũng chẳng ngờ. Cái iPhone của em văng ra khỏi hiện trường đến bốn thước, va vào lề đường trầy trụa, mặt kính rạn nứt, tuy vậy cảm ứng bén nhạy có ở màn hình chưa mất đi. Một người tốt bụng đã nhặt lên, có thể bà dùng nó để thử bấm số 911 trước tiên. Đang trong sở làm, anh buộc phải ngừng tay để trả lời một cuộc gọi thất thường xuất phát từ phía em nhưng vang bên tai là một giọng nói lạ, ngập ngừng, bối rối. Anh nhìn đồng hồ, còn hơn tiếng nữa mới khép một ngày cày bừa, tuy nhiên anh đã đến gặp thằng cai: Việc bất khả kháng, tao đành phải dông thôi. Ừ, có ở lại cũng đâu còn lòng dạ mà tập trung với công việc, hy vọng bạn ấy không đến nỗi nào, chúc may mắn.

Bà Lucie, người loan tin thất thường có nhắn gửi lời cuối: Tôi bấm số cầu may trong một loạt số vừa hiện lên, sẽ hoàn trả lại chiếc điện thoại này vào tay khổ chủ. Ambulance đang tới, có thể họ chở cô ấy vào bệnh viện Jean Talon. Anh nghe nhói đau một bên hông, anh nhớ câu chuyện thần thoại từng đặt điều “đàn bà được cấu thành từ một cái xương sườn của đàn ông”. Em bị nạn và anh chịu chung một nỗi đau lây lan.

Vì gần hiện trường xẩy ra tai nạn, xe cấp cứu tiện đường mang em vào nhà thương, nơi mà anh phải nương nhờ Google hiện lên bản đồ chỉ lối. Nói cho đúng thì khoảng sáu năm trước anh từng ngại ngùng đặt chân vào lãnh địa đó một lần, nơi treo cái dấu cộng màu đỏ thật to. Anh vào thăm một người bạn mang bệnh hiểm nghèo mà bác sĩ đã không dối lòng: Ông Nguyen còn ở chơi với trần thế này thêm đôi ba tuần nữa. Hôm đó anh mọc lên một ý nghĩ rồ dại, lý ra nhà thương nên dùng dấu trừ làm “logo”. Cộng là gộp thêm niềm đau? Trừ là soán đoạt lấy bớt niềm vui. Không ai đi vào chốn này mà mặt tươi mày tỉnh cả, kể luôn tới thằng đàn ông vừa nghe tin vợ tròn con vuông. Trước mắt hắn hiện đầy bao toan tính, rồi một hôm trái gió trở trời hắn sẽ nghe vợ hiền than: Ông trời bất công, sao chẳng cho đàn ông mang trước ngực một cặp vú đầy sữa!

Mất chừng mười phút, anh tìm ra nơi em nằm. Vạn bất đắc dĩ, sự bất khả kháng mới vậy chứ bình thường đó là thế giới riêng tư mà một người con gái luôn tìm cách che đậy, có thể dán tấm giấy trước cửa phòng: “Vô phận sự, miễn vào”. Chỉ duy nhất một đứa có phận sự: Thằng chồng. Anh muôn đời chẳng phải là chồng em. Và ông trời có công bằng khi tạo ra hai đứa thương yêu nhau mà chả đoái hoài gì tới sợi dây trói thân: Vợ chồng? Đó chỉ là danh xưng ở mặt pháp lý, chưa chắc những gì được hợp thức hoá, ghi vào sổ sách làm bằng chứng đều thơ mộng đáng quý cả. Giấy trắng mực đen, bút sa gà chết vẫn luôn kéo theo bao điều phiền toái nằm ngoài dự tưởng.

Em nằm trên giường, phòng có hai giường và hai tấm màn che chắn thế bình phong. Hiện tại “dậu mồng tơi” kia không định ra biên giới bảo bọc, cửa sổ cũng thế, mở toang cho nắng gió vào hoán đổi môi sinh. Hai cô y tá có phận sự chăm nom, anh nhìn qua gã hàng xóm của em, một chân bó bột và khúc thạch cao trắng được treo lên như con mực ống bị phơi khô, một ngày kia hắn ta sẽ biểu những đứa vào thăm mang bút ra để ghi lên đó ít nhiều cảm nhận về sự què quặt hắn phải hứng chịu. Đèn bắt trên trần rất sáng, mặt em xanh và anh rất muốn chải gỡ giúp em những cụm tóc rối. Hình như y tá vừa cho em uống thuốc giảm đau. Chăn mỏng đắp ngang bụng, chiếc áo rộng kỳ cục của bệnh viện khiến em rất gầy, anh đồ rằng người ta biểu em chớ nên mặc áo nịt vú hoặc chính họ đã cởi ra giúp em, vú thoi thóp chẳng tượng hình dưới tấm chăn có in tên nhà thương. Anh ngồi xuống chiếc ghế đặt bên giường, mắt em nhắm và anh ngại lay em ra khỏi cái hiệu ứng do thuốc thang vừa tác động. Trên đầu giường có ghim miếng giấy bọc nhựa: “Mỗi cái bàn phím đều thu giữ nhiều vi trùng, yêu cầu bạn rửa sạch tay trước khi tiếp xúc với bệnh nhân”. Lời nhắc nhở kia chắc chỉ dành riêng cho y tá, bác sĩ. Anh nhớ tới đoản văn vẫn còn dở dang đã ba hôm chưa tìm được thông lộ, anh ngó xuống bàn phím bày từng hàng mẫu tự q w e r t y u i o p… nó có là nơi cho vi trùng ẩn náu? Chưa khi nào anh rửa tay sau khi đóng gập cái laptop lại. Tay anh đút túi quần khi đi tới chỗ hẹn hò em vừa cho hay địa chỉ, thường là một hàng quán cà phê. Anh vẫn tin rằng, ngồi cả giờ bên em, chia tay xong, khi trở về sẽ tìm ra lối thoát cho những con chữ đang bị dồn vào cul de sac.

Anh tôn trọng em nhưng bà y tá thì không, bà sẵn lòng đánh thức cũng như độ lượng trao cho bệnh nhân vài viên thuốc ngủ. Không ai có quyền hờn oán đến “mẹ hiền” cả, đơn giản vì họ tận tuỵ và quan ngại đến sự an nguy của bạn. Phải cảm ơn họ mới đúng. Em không cảm ơn thì anh sẽ nói merci. Em mở mắt ra. Bà y tá nói khi lôi một cánh tay em ra khỏi tấm chăn: Tôi đo huyết áp, chừng mười phút nữa cô sẽ có buổi ăn tối. Thấy bớt đau chưa? Tốt lắm. Bà ghi những con số vào tờ giấy kẹp dưới chân giường. Và em nhìn thấy anh. Tròng mắt em loáng ướt như trong mơ em vừa đi băng qua một độc đạo ngập mưa lũ. Một đôi mắt anh chưa từng thấy nó rơi lệ, gần em là đón nhận toàn những điều vui thú. Em có vẻ cứng rắn kể cả lúc người ta buộc phải mềm lòng. Em xa nhà từ nhỏ, từ vùng cô quạnh đi xe đò băng đồng vượt suối tới thành phố này kiếm việc làm, tự lực cánh sinh. Một kẻ như vậy, thứ hành trang cần trang bị trước tiên là sự can đảm. Can đảm đánh rơi những uỷ mị. Anh giống em chỉ một nửa, ở cái khoảng làm đứa xa nhà, ở đậu. Nửa khác biệt với em là anh chưa học được chút cứng rắn nào cả. Nếu chai lỳ anh đã không tìm tới với chữ nghĩa, với văn chương, với những trang viết đa phần xiêu đổ nhiều than thân trách phận. Anh phân bua cùng em mà em nào tin: Chúng ta giống nhau để hiểu nhau và khác nhau để bù đắp cho nhau. Câu nói đó của một văn sĩ anh quên tên mà khi đón nghe em hiểu duy một điều: Khác giống giữa đực, cái, nam, nữ. Một tháng, em dành ra hai bữa để làm tình cùng anh.

Em thấy sao? Thấy người nhẹ như mặt đất thôi còn sức hút. Thuốc tê vẫn chưa tan và morphin vẫn còn ngăn chận cơn đau. Khi anh về, hãy tạt qua chỗ em lấy giúp ít áo quần lót để thay, vài đôi vớ, bàn chải đánh răng… sớm mai mang vào cho em, có được không? Chìa khoá nằm trong xách tay, hình như họ cất vào cái tủ sắt ấy. Mấy giờ rồi anh? Sáu giờ rưỡi. Anh mở cánh cửa tủ có đánh số, dành cho chủ nhân nằm giường 725A. Áo quần và vật dụng cá nhân đều dồn vào một cái túi ny-lông có ghi tên Debbie bên ngoài. Anh mó tay vào lục lọi, anh ngửi mùi hương quen thuộc từ đó xông lên.

Một người mặc trang phục của bệnh viện, đầu tóc tóm gọn trong cái nón ny-lông xanh đẩy chiếc xe chứa từng khay thức ăn dừng lại trước cửa. Khuôn mặt không phấn son cố làm bộ tươi tỉnh khi mang buổi cơm chiều vào. Bà dùng một tay điều chỉnh cái bàn ăn sao cho thật đúng vị trí rồi đặt khay nhựa xuống đó, xong thì dùng chân để điều khiển chiếc giường thay đổi vị trí, nâng người em lên, gập lưng cho vừa tầm. Bà ngó anh như thông báo, chỉ có vậy, phần còn lại mày hãy giúp cô ấy tìm được sự thoải mái khi nuốt trôi thực phẩm nhiều sinh tố, chóng tiêu hoá.

Anh mở nắp nhựa úp trên dĩa: Khoai tây nghiền đứng kề một hòn thịt băm chen cài với bốn năm cọng đậu đũa luộc nhừ. Trên khay có chén súp còn bốc khói, bánh croissant nhỏ và một cốc nước trái táo. Chưa bao giờ, đây là lần đầu tiên trong đời anh đút thức ăn cho một kẻ khác. Ơn đền oán trả? Dù chẳng tiết ra sữa, Debbie từng cho anh ngậm lấy vú. Khi đó anh nhớ tới mẹ mình, anh bất hiếu ở chỗ là đã khuấy quên hình dáng cái bầu sữa mẹ già. Có no tròn? Có hồng hào? Có thơm mát? Có sự khác biệt nào giữa cấu trúc ta và tây?

Rất khéo tay, anh chu toàn công việc êm ru bà rù. Tên hàng xóm bị treo giò bên kia giường nhìn anh với tia mắt đong đầy sự ganh tị, hờn ghen các thứ, hoặc tủi thân do đang cô quạnh mình ên. Cô y tá mang thuốc vào cho em, một cốc nước, một ly giấy đựng bốn viên xanh đỏ trắng vàng. Cô giải thích, cái này chống nhiễm trùng, cái này giảm đau, cái này chống táo bón, cái này giúp bạn ngủ yên. Có thấy buồn tiểu không? Cô khom lưng lấy từ dưới giường ra cái thau hình dáng lạ thường rồi vén chăn đút nó dưới mông em. Anh nhìn thấy một vùng da thịt trắng muốt, ở đâu đó phía bên kia hẳn là nơi đang bưng bít vết mổ dài 15 phân được đậy đệm bằng bông băng. Em nói, thôi anh về đi.

Anh nghe lời. Anh về “con đường xưa anh đi vàng lên mái tóc Debbie ngõ hồn không tái tê”. Trước, anh nhấn chuông, anh gõ cửa. Nay, anh ung dung với chiếc chìa khoá, tuỳ nghi mở đóng. Sylvie, cô bạn chia tiền phòng góp gạo nấu ăn chung đang lui cui cùng bếp núc lấy làm ngạc nhiên khi thấy anh bước vô. Sylvie chỉ mặc quần lót với lại xú-chiên, cô hơi hoảng nhưng kịp trấn tĩnh vì cái nồi đang bị lửa táp gần bỏng khét. Mùi thơm quá. Anh phát biểu cảm tưởng, tính nấu spaghetti hả? Ừa, con Deb đâu? Deb bất cẩn bị xe đụng hiện nằm nhà thương, giao chìa khoá cho tôi về tìm vài món bới xách cho bạn ấy. Tôi thế Deb có được không? Mon Dieu, nó bị nặng lắm không? Ờ, ở lại ăn cùng tôi cho đỡ buồn. Gãy xương, bệnh viện đã tìm cách chắp nối lại, dự tính phải nằm trong đó cả tuần lễ. Tội nghiệp. Nằm bệnh viện nào? Dắt tôi vào thăm với nhé. Phải luôn xáo tay kẻo nó cháy dưới đít, coi giúp để tôi mặc lại áo quần ngó cho tử tế. Vậy là tử tế rồi, có đâu như Debbie giờ này chỉ có chiếc áo choàng kỳ cục che không kín người. Sylvie cười, không dám đâu, hổ ngươi lắm, thà mà bạn gái với nhau.

Không cất công mở youtube ra học hỏi gia chánh, chỉ mua nguyên vật liệu có sẵn bán đầy chợ, tôi chỉ thêm chút thịt xay, thêm chút hành tỏi, chút muối đường, sợi thì vừa trụng xong. Thích ăn cùng lát mì có trét bơ không? Tương đối thôi, chẳng có lắm thời giờ. Hồi nào quởn bày tôi cách nấu phở đi. Ngày mai chứ hồi nào nữa, vào thăm Debbie xong chúng ta cùng đi chợ Á đông, bạn phải đứng sát tôi, nhất nhất cử động đều phải nhìn ngó, nhập tâm. Thực sự thì chẳng có gì nhiêu khê đâu, Debbie từng đùa là nếu có tiền chúng tôi sẽ mở một quán bán phở.

Hai đứa ngồi vào bàn, thưởng thức món ăn Ý, truyền thống hay không thì chẳng rõ. Ăn cho có, ăn để sống chứ không phải sống để mà ăn. Đã sống thở thì đời bày ra chán khối việc để lo toan, để đối đầu, để giải quyết dù bụng đang đói meo. Có thực mới vực được đạo lại là chuyện khác. Ăn no bò cỡi cũng vậy. Nói cho cùng tận thì ăn là động từ khẩn thiết, chiến tranh xẩy ra cũng vì miếng ăn. Ăn cũng là một thứ triết lý chẳng bao giờ già cỗi, lạc hậu. Miếng ăn là miếng tồi tàn. Ô kê, đừng tranh cãi thêm cho nhọc sức. Anh ngồi vào chiếc ghế lệ thường có Debbie đặt đít, cách vuông bàn hẹp anh thấy rõ những nhịp tim rung động trên ngực mát mẻ của Sylvie. Vòng một của cô ấy lớn hơn Debbie, điều này khẳng định được là nếu sinh con đẻ cái, mấy baby nọ hẳn phải bụ bẫm lắm. Kinh nghiệm cá nhân? Mẹ anh gầy nhom nên anh khẳng khiu cả xương chẳng mấy có thịt, đi đến trường học bạn bè đặt cho danh hiệu: Thằng ni đại diện cho hãng sản xuất tăm tre xỉa răng. Anh bú sữa bình nhãn hiệu Hột Xoàn, xong đổi qua măm sữa Con Chim. Rồi chơi sữa Ông Thọ, cứ cầu âu vậy mà thân thể chẳng tráng kiện một mảy may. Mẹ anh nói “bị cái tạng nó vậy” chứ sức nó ăn thì khiếp lắm, mỗi bữa ba bốn chén cơm vung cũng chưa nhằm nhò. Nói tội trời, mấy đứa mập mạp dễ sinh bệnh hơn là mấy thằng rọm rơ như hắn. Đặt lưng xuống là ngủ quên trời quên đất.

Thời còn bé cơ, dạo còn ngây thơ cơ. Chứ giờ này nương nhờ vào “bơ thừa sữa cặn” phương này thì trông cũng có da có thịt như người ta. Người ta thông thoáng thì hắn cũng biết nghía, biết thèm thuồng, biết háu ăn, biết săm soi một cách kín đáo, biết đè nén và trấn nước nỗi dục vọng thầm kín, chết chìm. Hắn từng đọc ở đâu đó một lề luật chẳng in thành văn bản: Chơi với bạn mà tơ tưởng đến bạn của bạn là một tội trạng khó tha thứ. Vắng chủ nhà gà mọc niêu tôm? Con cá từng bắt đang nằm ngáp, vậy có nên bắt thêm con cá đang bẹo hình bẹo dạng bơi lội thoải mái kia?

Là người tử tế, ăn xong anh dành phần rửa chén dĩa. Anh mở những ngăn tủ, chỉ thấy lọ cà phê hoà tan, chỉ thấy trà đóng gói, những thứ mà với anh có chết khát cũng không uống. Đã vậy còn chú thích hàng chữ bên ngoài “caffeine free”. Chẳng có gì kỳ cục bằng đi nhậu, đi phá mồi mà lựa toàn mấy món giả chay. Đã thò chân xuống sông để lội qua bờ kia mà vẫn ngại bùn vấy bẩn?

Anh vào phòng Debbie. Rõ là người ta chẳng thể nào biết trước những gì đang chờ chực ở thì tương lai để hiện tại nên bỏ công tập vén khéo. Bừa bộn, bầy hầy, vung vãi, xộc xệch mọi thứ. Một người con gái sống đơn thân thì không việc gì phải tập ngăn nắp, thứ lớp? Vậy chứ người con gái đó trước khi đi ngủ vẫn tiêu tốn chút thời gian để rửa mặt rửa mày, thoa kem, chải tóc. Chi vậy? Để nhỡ có gặp ai trong mơ, họ nhìn ra dung mạo mình không đến nỗi tệ! Trong mơ, anh từng bắt gặp Debbie nhưng cô chỉ phát quang từ ngực trở xuống, anh thức giấc trên giường với bao hối tiếc về giấc mộng đã chẳng đi hết đường. Không phải ác mộng, nhưng luôn luôn nó y như một câu chuyện chẳng có hậu.

Anh máng những gì vương vãi dưới sàn lên thành ghế, mớ áo xống hỗn độn trên giường thì dồn chúng vào trong cái rá nhựa; xong thì vật mình xuống tấm nệm. Đã hai năm, chừng như nệm vẫn chung tình ở sự đàn hồi đáp trả khi hứng chịu sức nặng của người nằm đè. Anh và Debbie đã đi vào cửa hàng Ikea của Thuỵ Điển để lựa mua, họ quảng cáo tuổi thọ của nệm là mười năm, bạn sẽ hài lòng vì kẻ nằm bên có vặn vẹo trăn trở cách gì thì nó chẳng lây lan độ rung sang chỗ bạn đặt lưng, êm ru bà rù, mộng đẹp là cái chắc!

Ngọn đèn nhỏ trên đầu nằm đủ soi tỏ những tấm ảnh Debbie dán tuỳ tiện ở vách, đa số đều chụp lấy thứ quang cảnh ở quê cũ, một thành phố biển chẳng lấy gì làm sầm uất nhiệt náo dẫu là vào hè, mùa đông nó biến thành những cánh đồng tuyết ngập giá băng. Tám tuổi đứng bên mẹ. Mười hai tuổi quàng vai bá cổ với người bạn trung học. Mười sáu tuổi mặc đồ tắm nghịch nước với cậu bạn trai đầu đời… Những tấm ảnh đã ố vàng, những chặng đời lớn lên được ghi nhận đi kèm với tàn phai. Đã xẩy ra điều gì không vui khiến Debbie quyết định từ bỏ nó, cô lên phố rậm rật này tìm cách sống và cô từng hỏi về quá khứ anh: Làm sao bạn sống qua với những ngày đầy khói lửa của chiến tranh? Rồi hoà bình, sự bạc ác nào buộc bạn phải làm đứa vô tổ quốc? Anh thua thiệt, so với Debbie, ngay cả thứ nhỏ nhặt nhất là anh chẳng có lấy một tấm ảnh ghi nhận về thời bể dâu. Anh trắng tay, trắng tận cùng của chữ trắng. Sạch bong, lạnh giá như màu tuyết.

Buồng phổi anh đang điều hoà với không gian nhốt ngập hương mùi riêng biệt của Debbie. Hình như Sylvie đang chiếm ngự phòng tắm, tiếng nước chảy như cơn mưa rơi ở tận phương xa len lỏi đổ xuống giấc ngủ khó cưỡng chống, anh ngó tới cái MacBook Air của Debbie đặt trên bàn nhưng anh chẳng biết password để vọc tay vào lục soạn. Anh nhìn cái nịt vú móc ngang thành ghế và rồi mắt anh từ tốn đóng lại.

Nhà có ma. Anh nghe tiếng Sylvie thoảng nhẹ bên tai. Đồ đạc bọn tôi thỉnh thoảng bị xáo trộn dời đổi. Và rồi hôm nay thì Debbie bị xe đụng. Hồi nãy đứng tắm, sống lưng tôi nghe lạnh như kiểu có ai nhìn trộm. Có thấy người tôi đang run lên không? Tôi vừa khoá cửa lại, đêm nay tôi sẽ ngủ chung với anh trong phòng này, anh tin chuyện ma không? Sylvie choàng tay qua ôm siết lấy thân anh, da thịt cô có thể đang nổi ốc, mát lạnh như một cây kem đang tan vữa. Anh nhớ khúc phim về người Eskimo sống trong hầm nước đá, để chống lạnh họ cởi trần để ôm cứng lấy nhau, bu như sam. Có thể anh chưa bị lôi ra khỏi cơn mê, anh tự cởi áo quần mình trong vô thức. Anh ôm lấy Sylvie, nín thở để phát hiện thân nhiệt hai đứa vừa giao hoà nhau, vây bọc lấy nhau, ấm dần ấm dần cho tới nóng lên. Nóng đến độ cơ thể phải chảy nước. Sylvie nói: Em la lên nghe, biểu tỏ cái sướng để xua đuổi tà ma. May mà tối nay có anh, em không quen sống cu ki một mình trong căn nhà lạnh.

Anh thức dậy, mặt trời thập thò sau màn cửa sổ. Ngọn đèn trên đầu nằm chẳng có ai mó tay, chừng như nó thức suốt đêm. Cơ thể và tứ chi nghe rã rời cơ hồ năm canh đã bơi qua mặt sông rộng. Chăn nệm nhăn nhàu, con ma trong nhà đã bỏ đi, hết ôm hết bấu víu hết mè nheo lấy anh. Thường thì ma không dại để hiện hình giữa thiên thanh bạch nhật? Anh vào phòng tắm làm vệ sinh qua loa, chùi rửa thật kỹ một cái bàn chải đánh răng để đút vào mồm cọ xát cho bọt kem đầy tràn, suýt nhợn ói. Hôm nay thứ mấy? Có thể Sylvie đã đi làm. Sự lặng yên trong căn nhà khiến anh hồi hộp, gây thứ cảm giác khó chịu. Anh dồn những vật dụng cá nhân mà Debbie căn dặn vào trong cái túi xách có in thương hiệu một siêu thị chuyên bán sản phẩm Organic. Bạn hãy chọn ăn lấy những thứ không bị ngâm tẩm hoá chất độc hại, bạn sẽ trường thọ ngoại trừ bạn ra đường không may bị xe đụng, ngoài ý muốn. Những đứa thập tử nhất sinh, nằm lặt lìa trên giường bệnh, hắn có mọc lên sự hối tiếc: Biết vậy tao đã ăn chơi không sợ mưa rơi, tao trả thù đời cho bõ kiếp người mãi cơ cực ép mình nghe theo bao điều răn vô bổ.

Chỉ qua một đêm, khuôn mặt Debbie xuống sắc thấy rõ. Em không ngủ được, một phần vì đèn sáng loà, vì nhiều tiếng động vang dội suốt hành lang. Em nghĩ tới chỗ nằm này, đã có biết bao cơ thể rời đi để biến thành hồn ma? Ngôi giáo đường ở phố cổ cũng có ma huống hồ là bệnh viện, phải không? Anh thò tay vào chăn để nắm lấy năm ngón lạnh, anh bóp nhẹ: Chỗ em thuê có ma thành ra em cứ ám ảnh tới thế giới vô hình nọ. Debbie nhăn mặt: Ai nói cái apt. ấy có ma? Bệnh nhân nằm giường kề cận ngóc đầu lên, hắn ngó anh với khuôn mặt thiếu máu. Cho dù là rơi vào tình huống tồi tệ nào chăng nữa, chuyện ma vẫn luôn thu cất sự hấp dẫn, lôi cuốn, muốn được đón nghe; và theo bình bầu chung thì ma quỷ phương Đông rùng rợn khốc liệt dữ dằn hơn quỷ ma phương Tây.

Debbie vọc tay vào cái túi xách kiểm soát xem những vật cần thiết nhờ anh mang tới có sơ sót hoặc thừa thãi. Cái gì đây? Anh lấy từ đâu ra? Nội y này là của con Sylvie mà. Đêm qua hai người đã làm gì nhau? Đầu gã “hàng xóm” càng lúc càng ngóc lên cao. Một đôi lúc chuyện ma cũng tầm thường thôi, không sánh được bằng chuyện ghen tuông mờ ám tình tiền tù tội. Đêm qua anh bị ma đè, anh nói đằng chỗ em thuê có ma là vì vậy. Con ma kia chỉ muốn trêu chọc hai ta, và cách duy nhất để chống chọi lại nó là khẩu quyết “đoàn kết thì sống, chia rẽ là chết”. Chưa gì mà anh đã thế, mai này tôi chống gậy tật nguyền cà nhắc thì anh tha hồ lộng hành tác yêu tác quái!

Y tá đi vào trong lúc bệnh nhân bà chăm sóc đang trùm chăn lên tận đầu. Bệnh nhân run rẩy tuồng như đổ lệ tủi hờn mãi ấm ức. Y tá nói nhỏ với riêng anh: Ông nên đi về thì hay hơn, khi người ta bị chấn thương ở thể xác, tinh thần theo đó cũng yếu đuối đi. Trong thời gian tĩnh dưỡng này, khóc lóc là điều cần tránh, đêm qua anh John nằm giường bên có kể chuyện và cô Deb đã hưởng ứng bằng những nụ cười, theo tôi đó là phương thuốc chớ nên gián đoạn. Hiểu ở mặt nào đó, Deb và cá nhân tôi vô tình đã mang ơn anh John.

Anh bước ra khỏi bệnh viện, nhớ là đã hơn hai mươi bốn giờ qua miệng lưỡi chưa được thưởng thức một cốc cà phê. Anh tìm tới Starbucks, kêu một cốc đen đậm, nặng nhất mà cửa hiệu có bán. Nhấp môi hai bận thì chuông điện thoại đổ dồn trong túi áo. Tôi đây, đang ở đâu? Có nhớ không, là bọn mình  cùng đi chợ Á đông mua nguyên vật liệu xong thì về nhà chung tay ninh hầm món phở? Ô kê, tôi đang ngồi ở Starbucks, chỗ gần bệnh viện đấy. Ô kê, mười phút nữa tôi lại, see you. Nhớ đấy, quán chẳng có ai, sợ ma chết khiếp!

Trong điện thoại thông minh, sóng dồn đẩy âm lượng tiếng cười trong vắt của Sylvie, nghe sướng lỗ tai. Chỉ có ma nữ mới tạo được giọng cười áp đảo thần hồn như vậy. Anh từng ngồi xếp bằng dưới gốc cây bồ đề, mắt mở thao láo canh me bóng dáng ma nữ đầy phép thuật diễu hành qua. Giữa cuộc đời điên đảo này đây, chỉ có ma nữ mới cứu chuộc ta ra khỏi cảnh địa ngục. Debbie, e rằng em cũng tin điều anh trải lòng là cả một sự thật!

Hồ Đình Nghiêm

11 tháng 9, 2019

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 1 Jan 2024

Bài 21

Phần 20 Hội trường vẫn đông đủ mọi người như những kỳ trước. Hôm nay là buổi phát biểu kết thúc sơ bộ đợt học tập 6 bài. Giáo viên không hiện diện. Tên thủ phó Môn phụ trách điều động buổi phát biểu với sự quan sát của hầu hết cán bộ tiểu đoàn. 
Đúng như sự dự đoán của mọi người, để mở đầu cho cuộc phát biểu, tên Môn phun châu nhả ngọc về cái chết của “tên phản động Nguyễn Xuân Dung”. Chỉ có một việc đặc biệt là hắn hoàn toàn lờ đi cái tin đồn theo đó Dung chết vì cái đồng hồ Seiko của anh ta. Bù vào đó, tên quản giáo nói thêm ít câu về đạo đức của những người đã dấn thân đi làm Cách mạng Vô sản. Hắn nói. 

– Không có biến cố nào lại không có những lời đồn đãi đi theo sau đó, và đôi khi lời đồn đãi ấy hoàn toàn mang bản chất xuyên tạc Cách mạng của bọn xấu. Trước mắt, Cách mạng yêu cầu các anh phải tuyệt đối tin tưởng vào chính nghĩa sáng ngời của Cách mạng, và tự thấy có nghĩa vụ tố giác kịp thời kẻ tung ra những tin đồn sai trái có hại cho uy tín của những chiến sỹ Cách mạng và gây hoang mang trong thành phần các cải tạo viên tiến bộ. 

Để kết thúc vấn đề Nguyễn Xuân Dung, hắn phỉnh phờ. Mặc dù hiện nay cũng có lẻ tẻ dăm ba nhóm tàn dư ngụy quân ngoan cố rút vào rừng núi, sống bằng nghề thảo khấu để tiếp tục con đường chống phá Cách mạng, chống phá nhân dân; nhưng các anh cứ nghĩ mà xem, xưa kia các anh có cả triệu quân, cộng với nửa triệu quân Đế quốc Mỹ, chưa kể các đạo quân chư hầu đánh thuê khác của Mỹ đến tham chiến ở miền Nam mà còn bị quân đội nhân dân anh hùng ta đánh cho tan rã. Một đám tàn quân ấy có nghĩa lý gì? Hành động trốn trại của tên Dung không thể biện minh cho bất cứ lý do nào khác, ngoài lý do tìm đường gia nhập các đám tàn quân ngụy để mưu đồ phạm thêm tội ác với Cách mạng với nhân dân. Nói tới đây tên Môn xuống giọng. Nghĩ cho cùng, hắn nói. Hành động điên rồ ấy chẳng có ích lợi gì mà chỉ thiệt thân. Sống vui vẻ giữa tập thể anh em, có người có ta, cơm ăn áo mặc Cách mạng lo, chỉ việc học tập cho nên người lương thiện lại không muốn; muốn vào rừng làm thảo khấu, lẩn trốn như cáo như chồn nghĩa là làm sao? Thay mặt ban chỉ huy trại, một lần nữa tôi nhắc nhở chung các anh, từ nay, kể từ 5 giờ chiều cho đến sáng, bất cứ ai tiến đến cách hàng rào 3 thước sẽ bị vệ binh nổ súng. Ban chỉ huy trại cũng kêu gọi các anh phải tích cực đấu tranh sai trái, khai báo kịp thời những kẻ âm mưu trốn trại để trại ta sẽ là trại cải tạo tiên tiến mọi mặt, sẽ không còn những gì đáng tiếc xảy ra như trường hợp Nguyễn Xuân Dung nữa. 

Chấm dứt phần tố khổ Nguyễn Xuân Dung, tên tổng quản giáo Quỳnh bước ra trước máy vi âm thay thế cho tên thủ phó Môn. Hắn nói qua về nội quy quy định trong việc phát biểu. 

– Để kết thúc sơ bộ đợt học tập 6 bài, Cách mạng sẽ yêu cầu một số anh lên phát biểu cảm tưởng trước tập thể trại. Việc phát biểu này dĩ nhiên không cho phép tùy tiện mà phải đặt trên cơ sở lý luận của 6 bài vừa qua. Thời gian phát biểu quy định cho mỗi người là 5 tới 10 phút. Cơ cấu của bài phát biểu phải có hai vế rõ rệt. Vế một nói rõ lý do tại sao anh chống Cộng. Vế hai nói rõ qua học tập, hiện nay tư tưởng anh chuyển biến ra sao, nghĩ thế nào về Cách mạng. 

Nói tới đây tên Quỳnh bước lui hội ý vài điều với tên Môn. Khi quay lại máy vi âm hắn đã có sẵn một tờ giấy trên tay. Hắn tiếp. Bây giờ tôi gọi anh nào anh ấy sẽ lên ngay sân khấu, đứng tại chỗ này để làm công tác phát biểu. Tất cả các anh đã nghe rõ chưa? 

– Rõ! 

Dưới này Vĩnh ngồi nghĩ bụng nếu mình bị gọi tên thì sao? Chả nhẽ lại bước lên để tự chửi cha mình? Một sáng kiến nảy ra trong đầu Vĩnh. Nó giới hạn từ 5 đến 10 phút. Rất tốt. Nó lại chia làm hai vế rõ ràng. Càng tốt hơn nữa. Mình sẽ dùng một tuyệt chiêu để câu dầm vế thứ nhất. Chắc chắn bọn chúng sẽ chẳng có thì giờ ngồi nghe mình con cà con kê. Và việc bị đuổi xuống nhường chỗ cho người khác phát biểu sẽ là chuyện rất có thể xảy ra. Nghĩ xong, Vĩnh sắp xếp câu chuyện để nếu bị kêu lên anh sẽ làm đúng như dự tính. 

Vài người bạn quanh quẩn ngồi nhìn Vĩnh với dáng lo âu. Vĩnh hiểu những ánh mắt ấy. Bị chửi dẫu sao cũng đỡ cực lòng hơn bị buộc đứng lên để tự chửi. Cộng sản có muôn nghìn cái đểu, nhưng có ba cái siêu đểu mà ai đã sống với chúng đều ghi nhận được. Siêu đểu thứ nhất là chụp lên đầu người dân cái chức làm chủ. Siêu đểu thứ hai là Cộng sản không có nhà tù, chỉ có các trại cải tạo nhằm giáo dục những người dân, cách này hay cách khác, đã không làm tròn cái nhiệm vụ làm chủ của mình. Siêu đểu thứ ba là chúng dùng bạo lực bắt người ta đứng lên tự buộc tội mình trước mặt mọi người, tự giác tuyên cho mình một cái án 3 năm, 5 năm, 7 năm hay lâu hơn nữa. Ba cái siêu đểu ấy trong nhiều chục năm qua đã nghiễm nhiên biến thành những nguyên tắc chính để sản sinh và duy trì không biết bao nhiêu trại tù khổ sai không xét xử và vô hạn định trên miền Bắc và giờ đây trên cả miền Nam. 

Hôm nay một ngày cuối năm năm 1975, Vĩnh và bạn bè bắt đầu được hưởng những cái siêu đểu ấy. 

Khác với ước tính của mọi người, người đầu tiên được Cách mạng chiếu cố chọn lên sân khấu để phát biểu huy quyền làm chủ bản thân và tập thể, để tự chửi mình và tự giác tuyên cho mình một bản án cụ thể không phải là một tay sừng sỏ trong trại. Người phát biểu đầu tiên lại là ông Thiệu, người mù chữ duy nhất còn sót lại ở miền Nam, hiện đang là cải tạo viên tổ A.10 khối 2 trại L4T3. 

Ông Thiệu được tên tổng quản giáo Quỳnh xướng tên. Hắn phải xướng đến ba lần ông ta mới biết mình được Cách mạng chiếu cố. Khi nghe đến tên ông vẩn ngại ngần chưa dám đứng lên vì đứng lên sẽ biết phát biểu gì đây? Nhưng rồi những người ngồi chung quanh ông thúc ông đứng dậy và dẹp lối cho ông bước ra con đường chính nằm giữa hội trường. Ông Thiệu vừa bước đi vừa đưa đôi mắt hoảng hốt ngó dọc theo anh em ngồi hai bên như cầu cứu. Sau cùng ông cũng bước lên tới sân khấu. Tên Quỳnh có vẻ hơi bực mình vì sự chậm trễ của ông. Hắn nói lớn trên máy vi âm. 

– Gớm! Xưa lùng diệt Cách mạng thì nhanh như cút, học tập phát biểu thì cứ ngập ngà ngập ngừng như gái bị ép duyên. 

Chỉ những người ngồi bên dưới nghe thấy câu nói ấy, còn ông Thiệu đã vượt qua cái máy phóng thanh treo trên cột bên hông hội trường nên ông chẳng nghe thấy gì rõ rệt. Ông bước tới mấy bậc tam cấp dẫn lên sân khấu, hơi lưỡng lự. Tên Quỳnh gọi ông và chỉ chỉ xuống chỗ hắn hiện đang đứng. Ông Thiệu bước lên sân khấu và tiến về phía hắn. Tên tổng quản giáo Quỳnh dặn dò ông vài điều gì đó và bây giờ ông đang đứng trước máy vi âm. Thốt nhiên những tràng vỗ tay trên sân khấu vang lên. Bọn cai tù đang cố gắng tặng cho ông những tràng pháo tay khuyến khích thật đểu cáng. Bên dưới nhìn lên, cái bóng dáng gù gù bé nhỏ của ông Thiệu trông lạc lõng thê thảm như một con sẻ lọt giữa bầy diều hâu. 

Bỗng nhiên tiếng ông Thiệu run run phát qua hệ thống loa. 

– Thưa tôi là Thiệu… 

Ông ngập ngừng một chút. Anh em khối 2 biết rõ tại sao ông ta ngập ngừng. Ông ngập ngừng vì tên ông cũng là Nguyễn Văn Thiệu. Ông rất sợ trước mọi người phải lập lại cái tên ấy, tuồng như nó có vi trùng cùi và nếu ông dây vào ông sẽ bị lây. Giọng ông lại trỗi lên. Tôi là tổ viên tổ A.10, khối 2. Khối trưởng của tôi là anh Trai, khối phó là anh bác sỹ Đỉnh. Tổ trưởng của tôi là… 

Ông Thiệu phải ngừng nói vì tên Quỳnh đã chồm tới nói gì đó vào tai ông. 

Một lát sau giọng ông lại tiếp tục cất lên. Kính thưa các anh quản giáo, kính thưa toàn thể anh em cải tạo viên, kính thưa… Ông lại ngập ngừng giơ một ngón tay gãi trán. Có lẽ ông chưa tìm ra kịp một đối tượng nào khác để tặng chữ kính thưa vừa phát ra. Sau cùng ông tiếp. Kính thưa Cách mạng. Hồi xưa, hồi 49, 50 tôi còn ở Điền Hộ. Tôi sinh ra ở đó và cũng lớn lên ở đó. Tôi chăn trâu cho phú hộ. Đến năm 50 tôi đã lớn quá người ta không cho tôi chăn trâu nữa. Tôi đã sống bằng đủ thứ nghề trên cái sông Phát Diệm đỏ ngầu ấy. Thế rồi tôi đi theo một người chú ruột ra Hà Nội. Chú tôi làm nghề nấu rượu lậu. Chú tính cho tôi học nghề tài xế rồi mánh mung xin cho tôi vào lái xe ở phủ Thủ Hiến trước ấm thân sau nuôi được mẹ được em còn ở lại Phát Diệm. Rồi chả hiểu số phận run rủi ra sao, tôi đi lính. Rồi tôi được đưa ra chiến trường Điện Biên. Sau đó tôi bị Cách mạng bắt đem giam ở liên khu tư. Tôi cũng được cải tạo như bây giờ. Tôi cải tạo tốt và đã được hứa cho về làm nghề lương thiện nuôi Mẹ và các em tôi. Bỗng một sáng Cách mạng đem tôi trả cho Tây. Tây đem tôi lên máy bay của hãng Air d’Azur chở thẳng vào Nam, không kịp thì giờ cho tôi tìm cách từ giã mẹ và các em tôi… 

Ông Thiệu nói một hơi, giọng kể mỗi lúc mỗi thêm ngậm ngùi. Ở dưới một số anh em khác khối thầm thì với nhau: Thằng cha này quả thực là siêu kịch sỹ! Riêng Vĩnh và các bạn khối 2 biết rõ ông Thiệu không kịch. Ông đang ê a kể lại một cách vô cùng thành thật cuộc đời của ông, cuộc đời của một Moritz Giờ Thứ 25 Việt Nam! 

Trên sân khấu ông Thiệu vẫn tiếp tục. Vào tới Nam một thời gian ở căm chỉ ăn và chơi. Nhưng tôi không ăn chơi được. Tôi rất nhớ quê hương, nhớ Mẹ và các em tôi. Làm sao về Bắc bây giờ? Tôi tự hỏi nhiều lần nhưng không tìm ra câu trả lời. Rồi 54 và hiệp định Giơ-Ne-Vơ ra đời. Lúc ấy qua bạn bè, tôi biết rằng nhanh lắm cũng 2 năm nữa tôi mới về được khi tổng tuyển cử đã xong… Một thời gian ngắn sau đó tôi được đưa sang phục vụ ngành thông vận binh. Chỉ huy trưởng của tôi là đại tá Xồi. Tôi được đi học làm tài xế, đúng với cái nghề mà tôi mơ ước từ ngày còn ngồi trên lưng trâu ở Điền Hộ… Hơn hai mươi năm qua tôi đã hành nghề lái quân xa qua nhiều đơn vị, và đơn vị sau cùng là cục Trung Ương Tình Báo. Tôi lái xe thư… 

Ông Thiệu lại phải ngưng vì tên Quỳnh lại chồm tới sau lưng ông: Vào đề đi! Vào đề đi! Tại sao tôi chống Cộng… 

Nghe nhắc, ông Thiệu ngẫm nghĩ một chút rồi tiếp. Tôi chống cộng vì Cộng sản pháo kích các thành phố, giật mìn đường rày xe lửa, chận đường đắp mô và thu thuế dân lành… Ông tằng hắng. Bây giờ Cách mạng vào tạo điều kiện cho tôi về đây học tập tôi mới biết tôi đã sai trái thật nhiều. Cách mạng không hề pháo kích thành thị, không hề đắp mô, không hề thâu thuế trái phép của dân. Đó chỉ là hành động cá biệt của bọn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mà thôi. 

Câu phát biểu của ông Thiệu làm mọi người điếng hồn. Đám quản giáo thầm thì với nhau. Tên Quỳnh sau khi hội ý chớp nhoáng với quản giáo Cư của khối 2, quầy quả tiến lại gần ông Thiệu. Hắn kéo máy vi âm lệch về phía mình và nói. 

– Anh Thiệu trình độ văn hóa có thấp nên phát biểu không đạt yêu cầu lắm. Anh có nhiều lầm lỗi kỹ thuật trong phát biểu, nhất là chưa nhận ra được thượng tầng kiến trúc hạ tầng cơ sở của Cách mạng trong cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ cứu nước vừa qua… Theo đề nghị của đồng chí quản giáo khối, anh Thiệu có thể chấm dứt phần phát biểu nơi đây và đề nghị tối nay tổ anh Thiệu sẽ họp để giúp đỡ anh điều chỉnh lại những nhận thức còn lệch lạc không phù hợp với thực tế. 

Có lẽ thấy rằng còn để cho ông Thiệu phát biểu còn có thể lâm vào tình trạng lợi bất cập hại thêm nữa, do đó tên tổng quản giáo cắt ngang và không buộc ông phải tự đưa ra cho mình một con số thời gian cải tạo cụ thể. Hắn xua tay ngầm ý bảo ông Thiệu trở về chỗ cũ, rồi như để khỏi mất thì giờ, hắn xướng tên người phát biểu thứ hai. 

– Anh Đặng Thế Tiến, cải tạo viên khối 4. 

Vĩnh nhìn sang vị trí ngồi của khối 4. Tiến đã nhanh nhẹn đứng lên. Anh nhún vai cười nhẹ với các bạn đang ngước nhìn mình như thầm bảo: Đừng có lo!… 

Tiến bước lên sân khấu và đến trước máy vi âm. Tên Quỳnh chưa chịu nhường ngay máy vi âm cho Tiến. Hắn nhìn Tiến cười cười và nói. Riêng anh Đặng Thế Tiến tôi cũng có đôi lời giới thiệu đặc biệt với các anh. Tôi biết anh Tiến từ trước ngày Cách mạng thành công. Anh Tiến lúc ấy đang là một thành viên của phái đoàn ngụy quyền trực tiếp ngồi cãi tay vo với Cách mạng trên bàn hội nghị. Cũng ngoan cường ra phết. Nhưng hiện nay qua học tập, qua các bản tự khai, Cách mạng ghi nhận anh Tiến đã có nhiều biến chuyển tốt, đặc biệt đã thành tâm khai báo tất cả tội ác mình đã phạm với Cách mạng với nhân dân. Hắn ngưng một chút như để tìm ý. Tôi có vài lời đặc biệt thế này, hắn tiếp, không có mục đích nào khác ngoài sự biểu dương anh Tiến trước tập thể và nhắc nhở anh Tiến phải ý thức cho đúng vị trí cải tạo viên của mình trong phát biểu hôm nay. 

Sau khi tố Tiến một lá bài, hắn xoay ngang nhìn Tiến như để dằn mặt, rồi cười cười, tiếp. Bây giờ yêu cầu anh Tiến phát biểu. 

Vốn đã quen ăn nói. Tiến không hề lúng túng chút nào trước đám đông bạn bè trước mặt và kẻ thù sau lưng. Anh bình tĩnh sửa lại máy vi âm cho ngay ngắn và lên tiếng phát biểu: 

– Thưa tất cả các anh em, hôm nay được sự chiếu cố đặc biệt của ban quản giáo, tôi có dịp được phát biểu trước anh em đề tài: Tại sao tôi chống Cộng và qua học tập, tôi đã chuyển biến tư tưởng như thế nào? Tôi cũng xin thưa trước với anh em, đây là một đề tài vô cùng trọng đại; nó có nhiều dây mơ rễ má đến tận cùng ý thức và để nói cho hết, tôi nghĩ rằng tôi cần nhiều buổi hoặc nhiều ngày để thưa chuyện với các anh em. Nhưng Trên đã quy định mỗi người chỉ giới hạn phát biểu trong 5 đến 10 phút, nên tôi xin đi ngay vào vế một để không mất thì giờ… 

Tiến nói đoạn đan hai bàn tay vào nhau khẽ bẻ bão. Anh tiếp. Thưa các anh em, tôi sinh năm 1947 ở Hà Nội. Trí nhớ của tôi về dĩ vãng Hà Nội không nhiều hơn cái trường tiểu học đặng Thái Sơn nơi tôi học vỡ lòng ở đó. Có nhớ xa hơn tí nữa thì là cái Ấu Trĩ Viên gần bờ hồ Hoa-Le, nơi tôi hay được bố mẹ đem ra chơi đùa… Một tí bánh tôm, một tí kem, những tiếng xịch tắc vang vọng trên những nẻo đường chiều vắng đầy lá thu vàng. Có cố gắng hết sức thì tôi cũng chỉ nhớ được đến chừng ấy. Rồi biến cố 54 xảy ra, trong đầu óc của một đứa bé lên tám, tôi không nhớ được gì hơn cái cảnh bố mẹ tôi, ông bà tôi, hàng xóm tôi khênh hết đồ đạc ra trước nhà bán đổ bán tháo. Tôi còn nhớ mẹ tôi bán cả cái bàn thờ bằng lim hay gụ gì đó. Cái bàn thờ đen bóng có cẩn những vỏ trai lóng lánh óng ả đã in đậm nét trong tôi suốt một thời thơ ấu… Rồi một sớm, bố mẹ tôi đem tôi lên xe chạy qua cầu Long Biên dài như bất tận. Tôi nhìn ra ngoài. Trời đầy sương mù. Tôi không thấy gì khác hơn những khung cầu đen ngòm đan vào nhau… Rồi phi trường Gia Lâm, rồi máy bay cất cánh. Tôi thấy mẹ tôi khóc và bố tôi đôi mắt cũng đỏ hoe. Đứa bé tám tuổi luôn luôn có quyền khóc theo mẹ nó chứ phải không các bạn? Thế là mẹ tôi khóc năm thì tôi khóc mười. Mẹ tôi khóc mười thì tôi khóc hai mươi… 

Tiến ngưng nói một thoáng, lại đan hai bàn tay vào nhau bẻ bão, rồi tiếp tục. Thời gian trôi qua tôi lớn dần lên ở miền Nam. Cũng như tất cả các bạn tôi được hấp thụ nền văn hóa của miền Nam, một nền văn hóa “rất nhiêu khê”, thật là “độc tài phát xít”; nó buộc người ta phải đau đầu đau óc biết tất cả những gì đã xảy ra từ thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu, từ thời Homère còn tập tễnh làm thơ. Nó còn bắt người ta biết đến cả những chuyện sỏi đá trên mặt trăng cơ cấu ra sao. Nhảm hơn lại còn phải học cả những lời Roméo tán tỉnh nàng Juliette vân vân và vân vân. Chao ôi! Thật là phí cả một thời son trẻ. Thay vì đi làm Cách mạng như các anh quản giáo đây thì tôi cứ dùi mũi vào sách vở. Tệ hơn thế, vừa mười tám tuổi, cái tuổi mà các anh quản giáo, các anh vệ binh còn trong trắng như các thiên thần, chỉ một lòng nghe theo lời Bác gọi; thì tôi, một thằng sinh viên miền Nam, đã vừa học, lại vừa tập tành xem báo Pờ-Lây-Boi, xem hình 36 kiểu… một cách rất là hồ hởi phấn khởi! 

Anh em ngồi dưới bắt đầu ngứa ngáy lỗ tai. Vĩnh cũng thấy ngại thay cho Tiến. Thoạt đầu Vĩnh khoái trá vì thấy Tiến không hẹn mà gặp, đã dùng đúng chiến thuật câu dầm như anh dự liệu. Nhưng thấy Tiến lái câu chuyện ghê quá làm Vĩnh đâm lo. Vĩnh quan sát bọn quản giáo. Anh khá yên tâm vì có nhiều dấu hiệu cho thấy Tiến đang lôi cả lũ đười ươi ấy vào mê hồn trận. Dù sao không ai chê được lối kể chuyện của Tiến. 

Bên trên sân khấu Tiến cũng đủ khôn ngoan để không đưa câu chuyện của mình biến thành một câu chuyện tiếu lâm. Tiến lái. Phải thú nhận rằng đến năm tôi ra đại học là năm tôi 22 tuổi, tôi chưa hề có một khuynh hướng chính trị rõ rệt nào. Tôi vẫn nghĩ quốc gia hay cộng sản thì cũng chỉ là những danh từ. Bố tôi lôi tôi vào Nam có lẽ cũng chỉ vì sợ bóng sợ gió. Quốc gia thì cũng là người Việt cai trị người Việt. Cộng sản thì cũng là người Việt lãnh đạo người Việt. Ở đâu thì cũng phải lao động, mà lao động thì phải được trả công tương xứng. Tôi không tin rằng lại có một tập đoàn chính trị nào cai trị người bản xứ bằng những đường lối của thời Trung Cổ dã man, hoặc đem danh dự quyền lợi của Tổ quốc và nhân dân đặt dưới chân một thế lực ngoại bang vì lý do này hay lý do khác… Đùng một cái, trong cái biển báo chí ngoại quốc phản động bày bán ở các lề đường miền Nam, tôi đã vô tình đọc được vài số báo của phương Tây. Trong những số báo ấy có đăng ảnh một cuộc biểu tình dâng kiến nghị lên chính phủ đòi giải phóng miền Nam của nhân dân Hà Nội. Tôi đọc phớt qua bài báo và thấy rằng: A! Thế ra ngoài Bắc cũng tự do dân chủ ra phết đấy chứ. Nhân dân cũng được tụ tập biểu tình dù là biểu tình dâng kiến nghị. Sinh hoạt chính trị như thế có khác gì miền Nam đâu. Tuy nhiên khi nhìn kỹ vào những tấm ảnh tôi mới ngã ngửa người. Trong những bức ảnh ấy tôi đã thấy gì? Tôi đã thấy nhân dân Hà Nội biểu lộ sự dân chủ của họ qua cuộc biểu tình, nhưng tại sao, vâng, tại sao trong cuộc biểu tình dâng kiến nghị đòi giải phóng miền Nam ấy, bên cạnh những bức ảnh của Hồ chủ tịch được nâng cao lại có cả ảnh của ông Lenin, ông Stalin và ông Mao Trạch Đông nữa? Trong đầu óc non nớt của một cậu sinh viên thời đó tôi đã xúc động và bất mãn vô cùng. Tôi tự nhủ: Người ta có quyền suy tôn lãnh tụ. Miền Nam cũng suy tôn lãnh tụ. Nhưng, sự khác biệt của hai miền Nam Bắc ở chỗ chưa bao giờ tôi thấy trong những cuộc biểu tình của nhân dân miền Nam người ta lại nâng cao cả ảnh của Kennedy, của Johnson hay của Nixon cả! Thế tại sao miền Bắc lại phải lôi cả quý ông Lenin, ông Stalin và ông Mao Trạch Đông vào cuộc biểu tình nội bộ của đất nước mình! 

Tiến ngừng nói. Anh giơ hay tay trước mặt ra chiều luyến tiếc một cái gì. Anh nói tiếp. Thú thật đến ngày hôm nay tôi vẫn lấn cấn điều này. Vì chính điều này đã biến một cậu sinh viên là tôi thành một sỹ quan quân đội miền Nam để cầm súng chống lại miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Tôi đã nghĩ rằng một nước mà người dân đã phải suy tôn cả những lãnh tụ của các nước bạn đến giúp mình thì nước ấy không thể nào có tự do, có dân chủ và có độc lập được. 

Cả hội trường im phắc với câu nói đanh thép của Tiến. Để tránh sự nguy hiểm và cũng để chiến thuật câu dầm thành công, Tiến lái thật khéo. Thưa các anh quản giáo, thưa các bạn, đã có lúc tôi nghi ngờ đến xảo thuật ghép phim của bọn báo chí phản động phương Tây. Nhân đây, tôi thành khẩn xin các anh quản giáo, những người đại diện cho Cách mạng, vui lòng khai sáng cho cá nhân tôi được biết đâu là sự thật, để tôi khỏi bị những lấn cấn ray rứt mãi. Tôi xin quả quyết ý nguyện duy nhất của tôi là chỉ mong được làm một người công dân của một nước Việt Nam thật sự độc lập, dân chủ, hạnh phúc và ấm no… 

Tiến đã khéo léo đẩy bọn quản giáo vào cái thế khó xử. Nhưng chúng đã không thể bắt lỗi anh được vì anh đã dùng một lối diễn đạt đầy thành khẩn và nhỏ nhẹ. Tên tổng quản giáo Quỳnh đã sập bẫy khi hắn đứng lên, tiến lại gần Tiến. Chẳng những hắn không nhắc nhở gì đến việc Tiến đã nói hơn nửa tiếng đồng hồ, chưa đi được tí gì vào vế thứ hai, mà lại còn giơ tay vỗ như biểu dương Tiến. Hắn nói. 

– Anh Tiến đã có thể về chỗ ngồi. 

Đợi cho Tiến xuống khỏi sân khấu, hắn tiếp. Vấn đề của anh Tiến đưa ra rất hay, rất thành khẩn và rất đáng được trên quan tâm giải quyết. Cách mạng đã có câu: Tư tưởng không thông vác gối bông cũng nặng! Tư tưởng mà thông vác cà nông cũng nhẹ! Cũng vì tư tưởng không thông, anh Tiến đã nhảy vào hàng ngũ ngụy quân chống lại Cách mạng. Và cũng vì tư tưởng đã thông, chúng tôi đã hò kéo pháo đánh tan quân thực dân Pháp trong trận Điện Biên Phủ dành độc lập tự do lại cho đất nước, đã thực hiện cuộc kháng chiến thần thánh đánh tan Đế quốc Mỹ giải phóng hoàn toàn miền Nam. Từ thực tế ấy, Cách mạng đã đặt tư tưởng lên khâu then chốt: Tư tưởng chỉ đạo hành động! Và cũng từ thực tế ấy, Cách mạng đã đề ra chính sách cải tạo tư tưởng cho những người lầm đường lạc lối, một chính sách sáng tạo nhất, khoan hồng nhất, nhân đạo nhất, cấp thiết nhất, có tình có lý nhất và cũng toát lên tính ưu việt của Đảng ta nhất. 

Sau khi lôi ra một thúng đầy những cái nhất tên Quỳnh trở lại vấn đề chính. Cái thắc mắc khi nãy của anh Tiến đã thành khẩn nêu ra, xét chung, cũng là cái thắc mắc của tuyệt đại đa số anh em ngồi đây. Thế thì là tôi cũng thay mặt khung giải đáp để các anh quán triệt thế này. Để hiểu được chủ nghĩa Cộng sản là gì, phải nói rằng với trình độ của các anh hiện nay chưa thể hiểu được! Các anh cần phải có một thời gian học tập tối thiểu 3 năm, 5 năm, 7 năm hoạt lâu hơn nữa, tùy khả năng nhận thức và tiếp thu của từng người; mới có đủ điều kiện để giác ngộ và thông suốt chủ nghĩa Cộng sản. Nói khác hơn, hiện các anh vẫn bị lợn cợn ở cái khâu bản chất và hiện tượng. Các anh thấy cuộc biểu tình của nhân dân ta ngoài thủ đô Hà Nội phô hình các chủ tịch vĩ đại Lenin, Stalin, và Mao Trạch Đông bên cạnh chân dung Bác kính yêu đã vội bất mãn, vội vã khẳng định rằng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không có tự do, không có độc lập. Đây là một lầm lẫn ở bước đầu cơ bản, phát xuất từ hậu quả của một đường lối giáo dục tư sản ích kỷ và tuyên truyền xuyên tạc của các ngụy quyền phản động. Hiện nay, tôi chưa thể nói nhiều hơn về vấn đề này, chỉ tóm tắt vài điểm then chốt để các anh tạm thời đả thông những khúc mắc; sau này, từ từ các anh sẽ được giáo dục nhiều hơn và yêu hơn chủ nghĩa cộng sản. Vậy chủ nghĩa Cộng sản là gì? Là một chủ nghĩa mới nhất và sau cùng nhất. Nó hội đủ tính sáng tạo, tính nhân đạo, tính khoa học. Nó nhằm mục đích thủ tiêu mọi biên giới các biệt giữa các quốc gia đồng lúc vẫn tạo điều kiện phát huy triệt để đặc tính và truyền thống của các dân tộc. Nó là một chiến tuyến tổng hợp mọi giai cấp bị bóc lột, đoàn kết lại để tạo sức mạnh đánh tan mọi thế lực bóc lột và phản động, đưa loài người đến một tương lai đại đồng sống hòa bình, hạnh phúc, ấm no chung. Để tiến tới một tương lai đại đồng tốt đẹp như thế, chủ nghĩa Cộng sản phải có một sự đoàn kết hợp nhất từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở. Và các lãnh tụ của chúng ta, những lãnh tụ thiên tài như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, bác Hồ kính yêu… mà tài ba và đức độ của các Ngài đã không còn thu hẹp lại ở một quốc gia; nhưng đã trở thành mặt trời chói sáng trên loài người tiến bộ khắp năm châu. Các ngài là biểu tượng của sự đoàn kết lý tưởng. Do đó, nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân ta, đều tỏ lòng kính yêu vô bờ bến. Mà đã tỏ lòng kính yêu vô bờ bến thì ở đâu, các Ngài đều được ngự trị chung trong trái tim của mọi người. Phô hình, phô ảnh chẳng qua chỉ là một hành động tỏ lòng kính yêu ấy mà thôi. Tôi bảo thật với các anh, các anh tưởng rằng nhân dân Liên Sô không kính yêu Bác Hồ của ta à? Tên Bác Hồ đã được nhân dân Liên Sô lấy đặt cho một con đường ngay tại thủ đô Mát-Cơ-Va đấy! 

Tên tổng quản giáo nói một hơi về chủ nghĩa Cộng sản đáng yêu đáng kính của hắn. Hắn chợt nhớ ra điều gì vội liếc nhìn đồng hồ tay và vội vã kết luận. Bọn phản động đã lấy mức nước biển mà đo đỉnh núi cao! Tôi hy vọng rằng trong tương lai, qua cải tạo, các anh đều được giải phóng mọi tư tưởng sai trái cũ để được lòng dân tộc nói riêng và chủ nghĩa Cộng sản nói chung đón nhận vào lòng. 

Một tràng vỗ tay từ sân khấu vang lên. Bên dưới bọn tù cũng vỗ tay đáp lễ. 

Vĩnh ngồi suy nghĩ chuyện xưa chuyện nay. Chẳng hiểu bọn “cán bộ nhà nước” của thành Sparta hơn 500 năm trước Tây lịch có được đào tạo để nói như vẹt giống bọn cán bộ nhà nước CSVN ngày nay không nhỉ? Chẳng lẽ lịch sử lại có những chuyện tái diễn rập khuôn nhau dù đã cách nhau đến mấy ngàn năm? Một bọn lãnh tụ điên mê với quyền bính, điên mê với cái trật tự xã hội cuồng bạo của chúng, đã “… biến mỗi người dân thành một người lính. Con trai sinh ra yếu đuối bỏ chết trên đồi. Những đứa khỏe mạnh nhà nước thu nuôi dưới một kỷ luật lính từ lúc lên 7. Con gái thì được huấn luyện để trở thành mẹ chiến sỹ. Tất cả đều phải phấn đấu cho đến chết để trở thành… anh hùng như các lãnh tụ luôn luôn nghĩ mình là anh hùng! Khẩu hiệu mọi người dân phải thuộc nằm lòng là: Tất cả phải hy sinh quyền lợi cá nhân cho Tổ quốc! Để thực hiện được “lý tưởng” này, bọn lãnh tụ đã cấm dân thành Sparta giao thương với xứ ngoài (để tránh tiêm nhiễm tư tưởng tiến bộ xã hội), cấm du lịch (để không có ý niệm về sự so sánh giữa thiên đường và hỏa ngục), cấm sống xa hoa (để thắt lưng buộc bụng cung phụng các lãnh tụ dưới bình phong phục vụ đất nước)…” 

Chẳng thể xác quyết sự tăm tối của dân thành Sparta xa xưa và của dân Việt Nam ngày nay cái nào ghê rợn hơn cái nào, nhưng Vĩnh vẫn có cảm giác chúng giống nhau ở nhiều điểm lắm, giống đến độ hãi hùng… 

Bên trên sân khấu, tên cán bộ thành Sparta thời mới, loại cũng được huấn luyện từ lúc… lên 7, một lần nữa vang lên trên sân khấu. Bây giờ đã đến giờ nghỉ trưa. Qua nhận xét, cũng báo cáo các anh rằng thì là xét theo lượng ta có thể nói lần phát biểu hôm nay chưa đạt chỉ tiêu; nhưng xét theo phẩm thì đã rất đạt yêu cầu. Chiều nay và nguyên ngày mai nữa, ban chỉ huy trại sẽ tiếp tục chỉ định một số anh nữa lên phát biểu. Yêu cầu trước mắt là các anh phải phát huy cái khí thế sáng nay, phát biểu thành khẩn và nghiêm túc đề tài đã được Trên đề ra. 

Tên tổng quản giáo Quỳnh ngưng một giây lát. Hắn tính nói thêm gì đó nhưng chả hiểu sao lại thôi. Sau cùng, hắn kêu tay liên khối trưởng bước lên sân khấu dặn dò vài câu. Liên khối trưởng Lượm gật gù vâng dạ rồi tiến lại trước máy vi âm do tên Quỳnh nhường cho. Lượm ngó xuống mọi người, nói. 

– Ban quản giáo đề nghị các anh em cùng hát to một bài trước khi về ăn trưa. Tôi nhấn mạnh theo ý trên, các anh phải hát cho thật khí thế bão nổi và vỗ tay cho thật đều. Bây giờ tôi bắt nhịp bài Bão Nổi Lên Rồi. Nói tới đây Lượm rống lên bắt nhịp: Bão nổi lên rồi hai ba… 

Bên dưới cái đói và cái mệt khiến lũ tù hát theo một cách thật rời rạc, trái ngược hoàn toàn với nội dung bài hát: Bão nổi lên rồi từ miền Nam quê hương thân yêu, từ Trị Thiên băng qua Tây nguyên lan tới bưng biền rồi vào Sài Thành… 

Vĩnh che tay ngáp vặt. Anh nghĩ tới cái cảnh chia cơm chia canh trưa nay, nghĩ tới những con ruồi bu đen vô phương xua đuổi, nghĩ tới thời gian không có một cái mốc nào trước mặt…










Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 1 Jan 2024

Bài 20

Phần 19 Cả trại ai cũng nói từ ba mươi năm qua miền Nam chưa bao giờ lại lạnh như tháng 12 năm nay. Cái lạnh khởi sự từ tháng 11 và sắp bước vào Noel nó đã lên tới cao điểm. Vĩnh chưa sống ở miền Nam tới ba mươi năm nên anh không biết, anh chỉ biết từ ngày di cư vào Nam, đây là lần đầu tiên anh được ôn lại bài học mùa đông cóng buốt ngoài Bắc. Hai mươi năm anh lại mới biết thế nào là giá trị của áo ấm, của chăn bông! Kiếp tù Cộng sản làm gì có áo ấm chăn bông! Thế nên suốt ngày hai hàm răng lập cập đánh vào nhau. Những bao cát quanh trại được bọn tù cật lực khai thác đem về giặt sạch may áo trấn thủ, áo bông và làm chăn đắp. Mỗi đêm Vĩnh lôi ra tất cả những gì có thể mặc được để mặc lên người. Nguyễn Thành Đính thương thằng bạn còm cõi, tặng thêm cho Vĩnh một cái chăn bao cát dày cộm. Chập choạng tối Vĩnh đã quấn cái chăn phủ hết đầu cổ như đàn bà đẻ. Lạnh thì lạnh, tụ tập vẫn tụ tập. Từng đám đêm đêm vẫn tụ lại với nhau bên cạnh một cái lon than hồng và những cái điếu cầy. Những cái điếu cầy giờ đây đã có một tên gọi mới là những khẩu Bazookas. Dĩ nhiên những khẩu Bazookas này không được bắn bằng đạn thật mà bắn bằng đạn giả. Đạn giả đây có nghĩa là thuốc rê được cấp phát, hoặc hết thuốc rê thì bắn bằng trà, bằng lá cà chua hoặc lá tầu ô xắt mỏng nước điếu phơi khô… 

Hơn nửa tháng học chính trị đã sắp chấm dứt. Bài thứ 6 với nhan đề Chính Sách Cải Tạo Toát Lên Tính Ưu Việt Của Đảng Ta đã bước vào giai đoạn thu hoạch. Theo tin đồn, tất cả những tay “sừng sỏ” trong trại sẽ được chỉ định lên phát biểu lần cuối trên hội trường trong chương trình gọi là Sơ Kết Thành Quả 6 Bài với chủ đề Tại Sao Anh Chống Cộng, Qua Học Tập Tư Tưởng Anh Biến Chuyển Ra Sao?… Ai sẽ bị lôi lên phát biểu? Chưa ai biết được! Và cũng chẳng ai buồn nghĩ tới. Mùa Noel sắp đến đầu óc mọi người không có chỗ trống cho những chuyện như vậy. 

Chao ôi cuộc đời có nhiều cái nhảm, nhưng mất nước là điều nhảm nhất. Từng cọng cỏ lá rau, từng lâu đài dinh thự, từng ánh mắt bé thơ đến tiếng cười bô lão, từng thói quen cá biệt đến cổ tục lâu đời thốt nhiên tất cả trở thành một giấc mộng xa xôi! Nếu mọi việc vẫn bình thường, Vĩnh nghĩ, thì giờ đây hẳn anh cũng như mọi người ngoài chuyện nước chuyện non còn phải lăng xăng nhiều chuyện khác nữa để lo cho gia đình hưởng thêm một lễ Noel. Nào gửi thư gửi thiếp, biếu quà biếu cáp; từ họ nội sang họ ngoại, từ bạn xa đến bạn gần. Bây giờ và biết đến bao giờ còn được hưởng cái không khí đầm ấm ấy nữa!? 

Đêm nay bọn Vĩnh chiếm một góc hội trường ngồi tán gẫu. Đặng Thế Tiến đem tới một lon than lớn hơn mọi bữa để khai thác tí hơi ấm của lửa. Hắn dùng một que củi nhỏ vừa khều vừa thổi cho than hồng lên. Cả bọn thay nhau hút mớ lá cà chua do Nguyễn Thành Đính đặc chế thành thuốc lào, được trộn chung với nhúm thuốc rê do Tiến đem lại. Mọi người ngồi kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn của những mùa Noel về trước. Dĩ nhiên câu chuyện của Tiến có nhiều vị Noel hơn vì hắn sinh sống học hành ở Đà Lạt. Kể xong một câu chuyện ma Tiến ngước nhìn qua cửa sổ hội trường lên bầu trời thưa thớt sao. Hắn than thở. 

– Mẹ Tự Do ơi sao mẹ lại ác nghiệt thế? Mẹ chẳng khác nào bà mẹ ghẻ chia đôi bầy con của mẹ thành những con Tấm con Cám… 

Giọng Hóa chợt chen vào. 

– Thôi đừng cải lương nữa mày ơi. Mày hãy kể chuyện “đánh rắm không thối không là lính” và “đái không mạnh không là lính” nghe sướng hơn. Triết lý vụn nghe mệt quá! 

Đính không chịu. 

– Nó than thở cũng có lý đấy chứ. Mẹ kiếp đều là một kiếp người mà nửa trái đất bên kia, nơi những xứ Anh Pháp Đức Mỹ con người đang chán chê cảnh phanh ngưu tể dương trên trái đất, và hè nhau đi chinh phục các hành tinh xa xôi. Nửa trái đất bên này có những người Ấn Độ suốt đời chỉ mong một tuần được tắm một lần vì hạn hán quanh năm, có những người Tàu suốt ngày làm trong xưởng len nhưng đến khi chết cũng chưa đạt được ý nguyện là có được một cái áo len. Và chúng ta nữa, Đính ngừng lại một thoáng như để suy nghĩ. Phải ví von như thế nào đây nhỉ? 

Vĩnh cười. 

– Tao giúp mày: Một loại chó không có đến cả… cứt chó mà ăn! 

Mọi người phá lên cười khoái trá với câu ví von của Vĩnh. 

Giọng Kim nhừa nhựa đề nghị. 

– Lâu quá không nghe nhạc vàng, đề nghị ông Vĩnh hát chơi vài bài. 

Tiến nói. 

– Mẹ bố chúng nó, thế nào là nhạc vàng thế nào là nhạc đỏ nhỉ? 

Hóa cười. 

– Thì Cách mạng đã định nghĩa rồi. Nhạc vàng là sản phẩm của bọn nhạc sỹ nô lệ, sáng tác nhằm mục đích phục vụ cho giai cấp tư sản phản động mua vui đồng thời làm suy yếu đi ý chí tranh đấu của quần chúng. Nhạc vàng có từ thời Hán Sở tranh hùng hay Tam Quốc Chí gì đó… 

Tiếng Đính. 

– Lại phịa rồi! 

– Thế chứ làm sao bây giờ? Đùng đùng chúng nó tràn vào phân ra nào là nhạc vàng nào là nhạc Cách mạng, nào là nhạc tiến bộ nào là nhạc phản động… 

Kim có vẻ cáu. 

– Các ông hay cãi nhau toàn chuyện gì đâu đâu. Tôi đề nghị mình hát với nhau khe khẽ vài bài cu cũ nghe chơi. 

– Thì mày hát trước đi! 

– Hát gì bây giờ? 

– Vậy mà còn đề nghị hát với hò! 

Vĩnh không muốn những câu nói ngang làm mất vui nhau. Anh lên tiếng. 

– Thôi được, mấy ông vừa nghe vừa canh chừng chung quanh giùm tôi. Tôi sẽ hát cho mấy ông nghe một hai bài do tôi sáng tác. Nó không phải là nhạc vàng. Cũng không phải nhạc đỏ. Nó sẽ là nhạc… 

– Màu tím hoa sim? 

– Hơi nhạt! Nhưng sẽ là màu tím bầm. Chịu? 

Giọng Tiến không tin tưởng lắm. 

– Mày làm thơ ngâm thơ còn có lý, chứ nói thật tao nhợn Boléro và Tango Habanera lắm rồi! 

Vĩnh không lý tới giọng châm chọc của Tiến. Lâu nay anh đã ngấm ngầm soạn nhạc. Anh nhỏ nhẹ nói với các bạn. 

– Tôi chưa thể nói nhạc tôi thế nào. Cả nước đã có ai nghe bao giờ đâu. Nhưng các ông phải nhớ các ông là những người đầu tiên được nghe nhạc thằng này. Mai kia mốt nọ giả dụ tôi có chết rũ tù mà các ông thoát được, xin hãy cố nhớ lấy mà rao truyền giùm tôi. Linh hồn tôi chắc cũng ấm áp lắm… 

Anh em thấy Vĩnh nói với giọng nghiêm trọng, im hết. VĨnh tiếp. Tôi quan niệm rằng ở tù không có nghĩa là tiêu phí đi một khoảng thời gian cuộc đời mà không thu lợi về cho mình được cái gì. 

Tiến lại khẽ diễu. 

– Có nghĩa là thằng Vĩnh đang tính chuyện “giấy bút tôi ai cướp đem đi, tôi sẽ dùng dao khắc thơ trên đá” đấy. 

Hóa nổi cáu. 

– Mẹ bố mày sao cứ phá ngang! 

Vĩnh chen vào. 

– Kệ nó. Bây giờ tôi hát. Ai muốn nghe thì nghe. Điều quan trọng là vừa nghe vừa để ý giùm tôi xem có thằng chó săn nào rình rập hay không. 

Kim sôi nổi. 

– Đồng ý. Này mấy ông vừa nghe vừa để ý giùm. Nằm connex cả đám thì buồn lắm. 

Vĩnh không nói thêm lời nào nữa. Anh dậm chân xuống đất giữ nhịp và bắt đầu hát khẽ. 

Đêm thế giới đang dồn một lần, Trên đất nước tôi gọi Việt Nam… 

Đính vội cắt ngang. 

– Mày phải giới thiệu trước đi chứ. Mày hát nhạc gì. Noel? Hay Tết? Tựa đề là gì? Mày hát khơi khơi hơi thiếu nghiêm túc! 

Vĩnh lại phải chiều bạn. 

– Thôi được, tao giới thiệu vậy. Tao không soạn nhạc Noel. Nhạc ấy đã có nhiều anh tu xuất làm rồi. Tao cũng không soạn nhạc Tết vì Xuân Ca của Phạm Duy và Ly Rượu Mừng của Phạm Đình Chương đã đi vào nhạc sử. Tao soạn Tù Ca được không? 

Cả đám yên lặng. Tiếng Hóa thì thầm. 

– Hay đấy mày. Thực tế lắm… 

Kim lên giọng nóng nảy. 

– Chúng mày ý kiến nhiều quá. Để yên cho thằng chả hát đã. Phen lê tính sau. 

Nhiều giọng chen vào. 

– Đồng ý đồng ý… 

Vĩnh lại bắt đầu phải có đôi lời phi lộ. 

– Đây là bài Đêm Việt Nam. Bài này trích trong tập Rau Răm Ở Lại… 

Giọng Tiến chen vào, nửa kinh ngạc, nửa nghi ngờ. 

– Mày tính làm hàng loạt kia à? Rau Răm Ở Lại là cái gì? 

Giọng Hóa đã thật sự cáu. 

– Mẹ bố cái thằng Tiến này, sao mày ngu thế? Gió đưa bông cải về trời, rau răm ở lại chịu lời đắng cay mà mày cũng không biết nữa sao? 

Vĩnh gạt đi. 

– Đã hát cho nghe lại còn gây gỗ. Ông đi đái đi ngủ bây giờ. 

Kim xuề xòa. 

– Thôi thôi làm tiếp đi. 

Vĩnh gật đầu. 

– Vậy tôi hát các ông nghe bài mở màn chơi Bác và Đảng của tôi. Đồng ý? 

Nói đoạn Vĩnh cất tiếng hát. 

Đêm thế giới đang dồn một lần Trên đất nước tôi gọi Việt Nam Đêm bát ngát những khu trại giam Đời thênh thang thu hẹp dần dần 

Đêm em bé lên mười cùm gần Anh chiến sỹ gốc Biệt Động Quân Đêm thiếu nữ áo đơn tạm thu Ngồi kề vai gái giang hồ lo 

Đêm đấu tố và thủ tiêu Đêm săn bắt cho đầy chỉ tiêu Người chết nhanh Người phát điên Đêm cáo chung Tự Do Nhân Quyền 

Đêm nhức buốt phang bằng chày vồ Vang tiếng thét sau cùng: Tự Do! Đêm có tiếng súng sau trại giam Người tù binh chết bên bìa rừng 

Đêm thế giới đang dồn một lần Trên miếng đất đã thừa lầm than Đêm trút xuống hố sâu diệt vong Là Việt Nam nước tôi buồn tênh… 

Mãi một lúc sau Vĩnh mới nhận được một lời tán thưởng thật khẽ của Tiến. 

– Trời ơi sướng quá! 

Tiến vừa nói xong anh em mới nhao nhao lên. 

– Làm lại, làm lại đi! 

– Trời ơi, quái chiêu! 

– Thằng này không ngờ có quái chiêu! 

Vĩnh vội khoa tay nói như đe dọa. 

– Tụi mày không im mồm tao sẽ đi đái đi ngủ tức khắc. 

Tất cả vội im lặng. Đính thì thào. 

– Tao nghe sướng lắm Vĩnh ạ. Nhưng mày phải cẩn thận. Mẹ kiếp lạng quạng không bao giờ có ngày về đấy con ơi! 

Nghe bạn dặn dò quả thực Vĩnh cũng rét. Anh nói vu vơ. 

– Ở đây chỉ có trời, có đất và có tụi mày. Nếu ngày mai tao vào connex thì dĩ nhiên chỉ có một trong ba thứ tao vừa kể hại tao. 

Giọng Hóa nóng nảy. 

– Mẹ kiếp, thà mày gọi tụi tao là chó ăn cứt cho xong! 

Vĩnh cười như để thay lời tạ lỗi. Anh nói nhanh. 

– Thôi để tao hát cho tụi mày nghe thêm một bài nữa, chịu không? 

Anh em đều nhao nhao. 

– Hát lại bài Đêm Việt Nam cái đã! Tao muốn nghe đôi ba lần. Đêm nay chui vào mùng tao học cho nhớ luôn. 

Vĩnh cười. 

– À, cái đó mới nguy hiểm đấy cha nội. Cha nằm mơ cha hát rống lên thì có mà bỏ mẹ cả đám. Nói vậy chứ tụi mình còn ở với nhau dài dài. Sẽ thuộc hết. Bây giờ tao hát một bài nửa. Bài này nhan đề là Trại Biến Hình. 

Nói đoạn Vĩnh tằng hắng lấy giọng. Sẵn sàng nghe phát đạn thứ hai bắn vào đầu Bác chưa? Vĩnh lên tiếng hỏi. Anh em hình như vẫn muốn nghe lại bài thứ nhất. Vĩnh lờ đi. Anh bắt đầu hát. 

Đêm hôm qua Có một người tuổi 30 Chợt thức giấc ngó quanh bạn bè Nằm xếp lớp như đống củi khô Chàng nằm nghe đất réo gọi Thịt xương máu đã có mùi hôi Chàng nằm nghe kiếp con người Tựa hoa trái ung thối mà thôi Một quyền uy điên cuồng Một tội danh hoang đường Thành vực sâu giữa hồn Lồng lộng gió cuốn… 

Đêm hôm qua Có một người tuổi 30 Chợt thức giấc ngó quanh bạn bè Nằm xếp lớp như đống củi khô Chàng nằm nghe những nhân tài Chợt thu bé trong những hạt cơm Chàng nằm nghe giấc mộng người Thèm miếng sắn hơn những mùa Xuân Thời bình minh lay động Thời hoàng hôn lan dần Người hùng xưa khoanh tròn Ngủ giấc rêu rong… 

Ở nơi đây thế giới hẹp dần Cho mây ngập ngừng chim cũng cùng đường Nền văn minh đang đi vào hoàng hôn quên lãng Ở nơi đây Chúa cũng ngậm ngùi Khi xưa đặt người lên trên mọi loài Lửa Sodome đã nghe chừng vừa bén đâu đây 

Đêm hôm qua Có một người tuổi 30 Chợt thức giấc ngó quanh bạn bè Bật tiếng khóc không giống một ai Chàng nằm nghe trên môi người Vừa nhen nhúm tiếng nói lạ tai Chàng nằm nghe trên thân người Làn da mới ai đó vừa thay Một vầng trăng chiếu vào Một bầy hoang thú nằm Chẳng còn ai thấy chàng Ngoài mớ lông xanh… 

Vĩnh hát xong câu hát cuối cùng là khoa tay nói ngay. 

– No comment nghe chưa! Thằng nào có thuốc cho tao một điếu là đủ rồi. 

Không một ai lưu tâm đến lời yêu cầu của Vĩnh. Trời bên ngoài càng về khuya càng lạnh. Nhưng không ai ta thán. Vĩnh ngước mắt nhìn bầu trời bên ngoài khung cửa rồi nhìn về phía cổng trại tối đen. Bỗng một tên vệ binh đeo súng đi tới đi lui. Vĩnh cảm thấy mình khó nói trong cái không khí im lặng của bạn bè. Anh lập lại. Cho tao một điếu thuốc bằng không tao về ngủ! 

Giọng Hóa nổi lên. 

– Đạp qua xác tao rồi mày mới được về ngủ. 

Câu nói ấy như khơi mào cho một chuỗi lời bàn… Lý Phật Sơn sau đó. Thực lòng Vĩnh không muốn có cái cảnh này. Đây là một điều cực kỳ nguy hiểm. Ý anh chỉ muốn làm bạn bè đỡ căng thẳng với nửa tháng bị nhồi sọ vừa qua, đồng thời cũng tự làm cho cái nồi súp-de của mình được xả ra chút ít. Anh nói như năn nỉ. 

– Tụi mày còn muốn tao hát cho nghe thì đừng phen lê nhiều quá. Tụi mày sẽ phạm tội vùi dập một… mầm non mới nhú. 

Tiếng Đính lại thì thào. 

– ĐM tao nghe sướng quá Vĩnh ơi! 

Vĩnh cười giả lả. 

– Thì đứa nào còn cho tao bi thuốc đi! 

Lúc ấy Tiến mới sực nhớ ra. Nó nhìn quanh quất. 

– Tao bỏ cả gói thuốc rê ra cho chúng mày hút mà, đâu rồi? 

Sau cùng Vĩnh cũng hút được một hơi thuốc rê. Hút xong anh nói. 

– Nếu tụi mày thấy việc tao làm hợp lý và đáng yểm trợ xin tụi mày cho tao ý kiến, nhưng sau này, chưa phải bây giờ. 

Đính nhìn lên phía sân khấu tối đen, giọng mơ mộng. 

– Ước gì cái sân khấu kia thuộc về mình, mày sẽ lên đó đứng hát cho mọi người nghe… 

Vĩnh cười cắt giọng bạn, đùa. 

– Xá gì cái chỗ này! Mày cứ tin đi, một ngày nào đó tao sẽ đứng trong nhà hát lớn Hà Nội hát cho chúng mày nghe. Như vậy mới hách chứ! 

Tiến lúc này không châm chọc nữa. Nó cũng mơ mộng nhưng thực tế hơn. 

– Vì một phép màu nào tụi mình thoát được đây chạy sang Mỹ, mày làm vài chương trình trên VOA hoặc BBC nhỉ. Cách mạng vất vả lắm chứ không chơi. 

Vĩnh lại cười. – Thì tao cũng mơ như vậy. Tuy nhiên nói rằng chúng nó vất vả cần phải xét lại. Tao cũng nghĩ mặt trận văn hóa quan trọng, nhưng với Cộng sản còn phải có cả súng bắn vỡ mặt nó ra mới xong chuyện. 

Đính không chịu, nó phân tích. 

– Mày nói vậy chứ tụi nó mới là bọn khiếp sợ những mũi tên văn hóa vào hạng bậc nhất. Bom trút lên đầu chưa chắc tụi nó đã sợ bằng một câu vè diễu cợt truyền khẩu trong dân gian. Tao chịu mày dùng nhạc chơi nó. Nhạc dễ lan truyền và thẩm thấu nhanh. Sách cũng quý nhưng không phải ở đâu cũng phổ biến được sách, và nó còn bị giới hạn nhiều mặt ở trình độ và môi trường độc giả, ấy là chưa nói ta đang phải sống dưới cái chế độ chó đẻ này. 

Một ánh đèn pim chiếu phớt qua. Đính im bặt. Đôi ba tiếng chân chạy. Thêm đôi ba ánh đèn pin nữa. Cả đám thất kinh. Một giọng nói xa lạ cất lên ở phía hàng rào cuối hội trường: Đồng chí bọc cửa kia. Chúng nó ngồi trong đó từ 7 giờ tối… 

Hóa cất giọng hốt hoảng báo động. 

– Bỏ mẹ chạy đi! Chắc tụi nó theo dõi thấy mình ngồi đây bàn tán mấy tiếng đồng hồ nên lùng bắt mình đó! Cả đám điếng hồn. Không ai bảo ai, mọi người đều phóng ra khỏi cửa chính hội trường và chạy tán loạn về phía các khối. Điếu đóm bỏ cả lại. Đính và Vĩnh cũng chạy về một hướng. Lẩn nhanh vào bóng tối dưới một hiên nhà, Đính thì thầm. 

– Tao mất dép rồi. 

Lúc ấy Vĩnh mới biết mình đã bỏ quên lại hội trường tấm chăn bao cát Đính cho. Cả hai rút về chỗ nằm. Vĩnh không còn thấy lạnh nhưng cũng nói. 

– Tấm chăn mày cho tao bỏ quên lại rồi. Đêm nay chắc teo bu-di! 

– Vậy qua nằm với tao, chịu chật một chút. 

– Không được. Lão Chuân nghiến răng trèo trẹo bên tai có mà thức trắng đêm! 

– Nếu vậy lấy thêm cái áo trấn thủ của tao mặc cho ấm. 

Đính chui vào màn lục đưa cho Vĩnh cái áo trấn thủ may bằng bao cát của nó. Anh mặc vào người và chui vào chỗ nằm. Tiếng một người nào đó nói mớ vang lên: Miếng cháy ấy của tao! Miếng cháy ấy của tao!..








Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 1 Jan 2024

Bài 19

Phần 18 Một ngày nghỉ xả hơi qua đi bằng một biến cố trọng đại, một cái tang chung cho toàn trại L4T3. Sáng ngày hôm sau, một buổi sáng như mọi buổi sáng đói khổ, buồn bã, nhục nhằn, ghẻ lở, bệnh tật, những manh áo rách rưới vá chằng vá đụp, những bước chân nặng nề kéo lê trên mặt đất đày ải vô vọng, những dĩ vãng mờ phai, những hiện tại não nề bầm dập cũng với ánh bình minh nhợt nhạt lại trở về với lũ tù không bao giờ được đưa ra xét xử và càng không biết bao giờ được phóng thích. Một buổi sáng như thế còn được trang điểm thêm bằng một xác chết nơi hàng rào phía sau dãy cầu tiêu khiến lũ tù cảm thấy như mình đã thực sự xa khỏi cái trần gian muôn màu này. 
Buổi lên lớp theo như chương trình đã phải tạm hoãn lại hai tiếng. Lúc mọi người được lệnh cho ra khỏi phòng làm vệ sinh cá nhân thì khu đất sau dãy cầu tiêu đã bị kéo thép gai cô lập. Chưa ai được nhìn thấy xác Nguyễn Xuân Dung. Ông già Đang có vẻ buồn lắm. Vĩnh biết ông là người đồng hương với Dung lại ở gần nhà nhau.Tuy nhiên ông chỉ đưa mắt nhìn Vĩnh lúc gặp nhau ngoài bờ giếng, một cái nhìn như thầm dặn dò rằng: Đừng bao giờ nói tôi quen biết và ở gần nhà nó ông Vĩnh nhá! 
Bảy rưỡi thì kẻng và lệnh tập họp tại phòng được ban ra. Khối trưởng Trai nét mặt đầy lo lắng. Anh rất ngại tình trạng trăm dâu đổ đầu tằm. Chúa tù trong xã hội tự do còn được tay em cung phụng. Chúa tù trong xã hội Cộng sản hiện tại quyền lợi chưa thấy gì, chỉ thấy phải chịu trách nhiệm đủ thứ chuyện! Thế nhưng khối trưởng Trai không phải lo lắng lâu. Tên quản giáo Cư đã xuống khối. Sau thủ tục nghiêm nghỉ chào kính, vẫn như mọi lần, tên Cư đưa mắt nhìn quanh phòng một lượt rồi mới quay sang khỏi khối trưởng Trai. 

– Anh em tập họp đầy đủ chưa? 

– Dạ đủ. 

– Anh tuyển cho tôi 4 người ra kéo xác thằng phản động về trước sân hội trường. Cho anh Tuyên làm trưởng toán. 

Khối trưởng Trai lúng túng chưa biết làm cách nào chọn bốn người thì khối phó Đỉnh đã nhanh nhẹn lên tiếng. 

– Hôm nay tổ 3 trực. Yêu cầu anh Quách Tú cắt cho bốn người. 

Quách Tứ nhanh chóng rút sổ tay và đọc khẽ: Vĩnh Văn Bính Trợ! Yêu cầu bốn anh… 

Tên quản giáo vội cắt lời Tứ. 

– Thôi được rồi, bốn anh đi theo anh Tuyên ra ngoài gặp vệ binh! 

Vĩnh bước theo các bạn ra khỏi phòng. Giọng Ba Trợ thầm thì: Mình đỡ phải nghe nó chửi! Chẳng ai đáp ứng cho câu nói của Trợ. Năm người bước tới bờ giếng trình diện thằng vệ binh. Mặt thằng vệ binh đang hầm hầm như giận dữ một cái gì. Tuyên lên tiếng. 

– Báo cáo anh chúng tôi được lệnh ra khênh xác anh Dung. 

Tên vệ binh trợn mắt. 

– Giờ này mà còn anh với chị cái gì? Gọi nó là thằng, nghe chưa!? 

-…..! 

Tên vệ binh hất mũi súng nói như đe dọa vu vơ: Mẹ tiên nhân! Thằng nào muốn tan xác nữa thì cứ việc trốn trại. 

Dằn mặt năm thằng tù xong nó lại hất mũi súng về phía sau dãy cầu tiêu ra lệnh đi. Tuyên đi trước, đám Vĩnh theo sau và đi sau cùng là thằng vệ binh. 

Vĩnh vừa đi vừa suy nghĩ. Anh vẫn không tin Dung trốn trại. Linh tính cho anh thấy rằng Dung mang họa vì một chuyện khác. 

Vượt qua khu đất trồng rau dền và ớt là tới dãy cầu tiêu. Đi vòng khu đất trống bên hông khối 1 là tới khoảng đất nằm phía sau dãy cầu tiêu chạy dọc theo hàng rào. Từ hàng rào này người ta có thể nhìn thấy L4T2 trước mặt và L4T4 bên cánh phải. Tiến ra giải đất trống nhìn vào sau dãy cầu tiêu chưa ai thấy xác Dung đâu cả. Chỉ thấy những cuộn concertina thả dọc theo hàng rào thẳng tắp. Những ụ đất cỏ mọc xác xơ. Những con gà đang bới mấy hố phân tìm ăn những con dòi mập trắng… Vĩnh xúc động vô cùng. Anh có cảm giác mình đang đi vào một thứ bãi tha ma không giống bất cứ một loại bãi tha ma nào trên cõi đời này. 

Thốt nhiên tên vệ binh nói lớn. 

– Thẳng phản động nằm góc rào kia kìa. Tôi đứng ngoài này, các anh vào khênh nó ra. 

Bác sỹ Tuyên tiến lên trước. Vĩnh ngước mắt nhìn trời. Trời buổi sáng trong xanh. Nắng chưa đủ nóng để làm tan đi những giọt sương trên cỏ. Bạn ta nằm đây suốt đêm dưới trời sương lạnh thế này! Ý nghĩ sầu đau ấy thốt nhiên làm Vĩnh nghẹn ngào. Anh theo các bạn cẩn thận len qua đám concertina sét rỉ. Giọng Ba Trợ chợt khẽ cất lên, đau đớn chen lẫn chút hốt hoảng. 

– Kia kìa! 

Sau một ụ mối, Nguyễn Xuân Dung đã xuất hiện trước mắt mọi người. Lòng ai cũng thổn thức. Đặng Xuân Bính kín đáo làm dấu thánh giá. Ba Trợ miệng lẩm bẩm những câu kinh Phật. Tiếng bác sỹ Tuyên thầm thì như tự nói với chính anh ta. 

– Mình lại xem nó ra sao… 

Cả năm cùng tiến lại phía Dung. Nó đang nằm tựa người trên gò mối, một tay để trên bụng, một tay vươn dài trên mặt đất như muốn với lấy một bông cúc dại mọc gần đấy. Hai chân nó một co một duỗi. Mắt vẫn mở bình thường… Trông nó thoải mái như một người đang nằm phơi nắng. Tuyên và Vĩnh cùng ngồi xuống. Bây giờ anh mới nhìn thấy một khoảng thịt trên cổ Dung đã mất đi. Cuống họng được nhìn thấy một cách rõ ràng. Trên ngực nó có bốn lỗ đạn xuyên thủng ngọt sớt. Bác sỹ Tuyên nhẹ đẩy xác Dung tới phía trước để quan sát sau lưng. Không có vết phá. 

Tiếng Bính rít lên. 

– Như thế là bọn chó đẻ từ ngoài hàng rào dí súng sát người nó mà bắn. 

Tiếng bác sĩ Tuyên. 

– Bị một phát ở đùi phải nữa này! 

Vĩnh chỉ ngồi nhìn. Sự kiện cho Vĩnh tin rằng mình đoán đúng. Dung bị nạn vì một nguyên do khác chứ không phải vì trốn trại. Không ai trốn trại với đôi guốc dưới chân, với một cái quần đùi thủng đít và một cái áo thung mỏng manh như thế này! 

Có một điều Vĩnh thấy lạ là dù máu trong thân thể đã chảy ra hết, nhưng chung quanh hiện trường máu không vương vãi như thông thường. Máu chảy đi đâu? Lúc bác sỹ Tuyên kêu mọi người tiếp tay khênh xác Dung khỏi ụ đất đặt nằm trên bãi cỏ gần đó, thì mọi người mới nhìn thấy cả một đống máu lớn tụ trên ụ mối nơi lưng Dung đã tựa vào. Mãi gần một phút sau, như không còn vật che phủ kềm giữ, đống máu chưa đông hết bắt đầu chảy loang, trông không khác nào một đóa hồng máu khổng lồ đang bước vào giây phút khai hoa… 

Tiếng Văn khẽ hỏi. 

– Giờ làm sao? 

Chưa ai kịp có ý kiến thì giọng thằng vệ binh từ bên ngoài đã nổi lên: Này, muốn chia thịt với nhau đấy à? Không khênh thằng phản động ấy ra đến nơi quy định còn chần chừ gì trong đó? 

Câu nói thú vật của thằng Cộng sản oắt con không làm cho ai buồn thêm nữa. Tủi hận trong tim đã đầy ắp không còn chỗ trống. Bác sỹ Tuyên cố nắn chân nắn tay Dung cho thẳng lại nhưng vô hiệu. Xác Dung đã quá cứng sau một đêm nằm chết ngoài trời sương lạnh. Làm sao bây giờ? 

Tiếng Bính thì thào. – Mình không có rượu để bóp! 

Trợ nói. 

– Bóp người mới chết vài tiếng và còn máu trong người kìa. Nó chẳng còn tí máu nào lại chết cả đêm ngoài trời sương thế này có rượu cũng vô phương! 

– Thì làm sao? 

Đang bàn tính thì mọi người giật mình vì một tiếng nói lạ cất lên. Tên Môn, thủ phó tiểu đoàn, đã xuất hiện sau lưng mọi người từ lúc nào. Hắn bực dọc gắt bác sỹ Tuyên. 

– Anh là bác sỹ sao anh dốt thế? Anh mần mò như thế đến bao giờ cái xác mới thẳng ra được? Anh này… Nói tới đây hắn chỉ vào Bính. Anh chạy về phòng xem ai có lưỡi dao cạo xin một cái. 

Bính chạy về phòng một lúc lại chạy ra. 

– Báo cáo anh không ai có lưỡi lam cả! Tên thủ phó nổi cáu. 

– Lưỡi lam là cái gì? Tôi sai anh đi xin một lưỡi dao cạo, anh chạy đi xin cái lưỡi lam là cái lưỡi gì? 

Bính bực lắm nhưng cũng phải trả lời. 

– Báo cáo anh lưỡi lam có nghĩa là lưỡi dao cạo. 

Tên thủ phó liếc Bính một cái. 

– Vẫn cái tật dùng chữ nghĩa phức tạp. Lưỡi dao cạo thì bảo là lưỡi dao cạo. Lưỡi lam với lưỡi liếc. Cằn nhằn xong một câu, hắn tiếp. Thôi được, anh chạy vào mượn bếp một con dao ra đây, con nào sắc sắc một chút. 

Bính lại chạy về khối tìm gặp bác sỹ Đỉnh. Một lúc sau anh trở lại, tay cầm một con dao thái rau. Tên thủ phó chẳng nói chẳng rằng, nhận lấy con dao trao cho bác sỹ Tuyên và ra lệnh. 

– Anh cắt gân chân gân tay nắn cho nó thẳng lại. Tranh thủ lẹ lẹ lên. 

Cả đám hết hồn. Thoạt đầu ai cũng thắc mắc không hiểu tên thủ phó đòi lấy dao làm gì, đến khi nghe hắn ra lệnh mọi người đều tái mặt. 

Tên thủ phó thấy Tuyên lừng khừng, hắn trừng đôi mắt cú vọ nạt. Anh khai là bác sỹ mà sao anh lại sợ xác chết đến vậy? Hay lại nổi lên mặt duy tâm? 

Bác sỹ Tuyên ngại bị chửi bới, anh lặng lẽ nhận lấy con dao và ngồi xuống trước xác Nguyễn Xuân Dung. Anh rờ rẫm nơi lẵng lè của cẳng chân cong, lưỡng lự. Tên thủ phó gay gắt nói: Năm phút nữa tôi trở lại. Công tác cắt gân thằng phản động này phải được thực hoàn tất. Nói đoạn hắn quay lưng bỏ đi. 

Bác sỹ Tuyên đôi ba lần ngoái nhìn bạn bè. Anh không nỡ cầm dao cắt gân người quá vãng. Tiếng Văn Trợ vang lên. 

– Thôi ráng cắt đi ông ơi. Xã hội này đến Hồ già khi chết còn bị khoét mắt moi óc phanh thây moi ruột nhồi trấu làm hình nộm cho thiên hạ coi chơi kia mà. Thằng Dung sống khôn thác thiêng nó chẳng oán ông đâu. 

Tuyên chẳng nói câu nào. Mắt anh đỏ hoe. Anh nắm chặt con dao và bắt đầu hành nghề bác sỹ trong tù cải tạo. Vĩnh đau đớn đứng ngó từng đường dao của Tuyên cưa vào thân xác Dung. Dù thế nào, lưỡi dao không bén như lưỡi dao mổ. Tiếng lưỡi dao cứa vào gân nghe xừn xựt thống buốt. Vài phút sau xác Dung đã trở lại hình dạng ngay ngắn. Đến lúc này Vĩnh mới hết bàng hoàng và nhìn ra toàn bộ cái chết đau đớn của bạn mình. 

Tên thủ phó đã trở lại. Bác sỹ Tuyên một tay cầm dao, một tay vuốt trán. Anh nói. 

– Báo cáo anh công tác đã hoàn tất. 

Tên thủ phó khoa tay. 

– Còn báo cáo báo kiếc gì nữa, xong rồi thì tranh thủ khênh nó ra trước hội trường đi! 

Thằng vệ binh đã tiến lại gần năm người. Nó lên giọng. 

– Nào, lên đòn đi! 

Cả đám lúng túng. Có đòn đâu mà lên!? Tên thủ phó lại một lần nữa nổi cáu. Hắn cằn nhằn. 

– Các anh làm công tác hoàn toàn luộm thuộm và thiếu tổ chức. Anh này. Thốt nhiên hắn chỉ Ba Trợ. Anh cõng thằng phản động ra nơi quy định cho nhanh gọn! 

Văn Trợ thương bạn nhưng cõng một xác chết dĩ nhiên không phải là một việc làm thoải mái. Nhưng tên cai tù đã ra lệnh và Trợ không thể làm gì khác hơn. Anh chỉ nói khẽ với các bạn: Giúp tôi một tay với chứ!… 

Cuối cùng Trợ nắm lấy hai tay Dung xốc lên vai. Bính và Vĩnh bợ tiếp hai bên sườn xác chết của Dung. Tuyên, Văn, tên thủ phó và thằng vệ binh lẽo đẽo theo sau. Vĩnh vừa đi vừa nhìn một cái cẳng bị cắt gân của Dung lủng lẳng bên cạnh, đầu trống rỗng mọi ý nghĩ. Ra tới sân, Vĩnh biết có hàng ngàn con mắt từ bên trong các dãy nhà đang nhìn ra và theo dõi từng bước chân của mọi người. Khi đi ngang nhà bếp khối 1, anh thấy Nguyễn Đình Tạc, một thằng bạn to con của anh từng một thời làm tổng thư ký tờ Quần Chúng của nhà văn Cao Thế Dung, hỏi với theo: Chết thật rồi hả Vĩnh? 

Vĩnh không trả lời câu hỏi thừa thải ấy. Anh chỉ khẽ lắc đầu và bước đều theo mọi người. Ít phút sau, theo lệnh của tên thủ phó, xác Dung được đặt nằm trước hội trường giữa trời giữa đất. Năm người được lệnh trở về khối. Trợ xin đi tắm. Tuyên, Vĩnh, Bính và Văn ra giếng rửa tay. Bính nói khẽ với Tuyên và Vĩnh. 

– Không biết chúng nó tính bày trò gì đây? 

Tuyên rửa tay xong xốc lại cặp kính trắng trên mắt. Anh chậm rãi. 

– Trò gì thì nó cũng chết rồi. Tôi nói các ông nghe, lúc khám xác thằng Dung tôi thấy nơi cổ tay trái nó có mấy đường sướt như bị cào. 

Bính nói. 

– Nó bị bắn sát hàng rào ngã sấp ngã ngửa. Thép gai không xé rách nó ra thì thôi, nói chi đến chuyện bị sướt! 

Tuyên lắc đầu. 

– Không phải giản dị như vậy… 

Tuyên tính nói tiếp nhưng có lẽ anh thấy giữa anh và Bính không quá thân thiết nên ngừng lại giữa chừng. Vĩnh nghĩ bụng có lẽ Tuyên đã khám phá ra một chi tiết mới trong cái chết của Dung nhưng ngại chưa muốn nói. Điều này rất có thể vì Tuyên là người nằm sát Dung nhiều tháng qua. 

Vĩnh hỏi. 

– Vậy ông nghĩ sao? 

Tuyên đưa mắt nhìn Vĩnh một thoáng, rồi anh nói vu vơ. 

– Cái chết hơi bất ngờ và là lạ. Tôi chỉ nghĩ vậy thôi. 

Lúc trở về khối, Tuyên đi chậm lại bên cạnh Vĩnh, hỏi: Ông có thấy thằng Dung mỗi ngày vẫn đeo cái đồng hồ không? 

Vĩnh gật đầu. 

– Có, lúc nào nó cũng đeo cái Seiko trên tay. 

– Nhưng ban nãy trên tay nó đâu có cái đồng hồ. 

– Một là nó còn cất trong ba lô, hai là chiếc đồng hồ đã biến thành chiến lợi phẩm cho bầy kên kên! 

Tuyên ngẫm nghĩ. 

– Hai giả thuyết ấy đều có thể đúng, nhưng nếu như cái đồng hồ không có trong ba lô của nó, tại sao ông lại không nghĩ rằng nó đã thiệt mạng chính vì cái đồng hồ? Khi nãy tôi quan sát thấy rõ ràng trên cổ tay trái của nó có vết cào, bằng chứng của một sự chụp giật… 

Tuyên ngừng nói lúc hai người đã bước tới cửa phòng. Trong phòng mọi người đã lên hết trên hội trường, chỉ còn khối phó Đỉnh và tên quản giáo đang kiểm kê mớ quần áo tư trang của Dung. Tên quản giáo đang ra lệnh. 

– Anh Đỉnh đọc lại danh sách kê khai những vật dụng vừa kiểm tra tôi nghe xem. 

Giọng Đỉnh trầm trầm đọc. 

– Một túi quân trang, một chăn, một màn, một quần cứt ngựa, một sơ mi trắng, một sơ mi đen, hai quần đùi, một bàn chải răng, tám viên át-pi-rin-nờ, một mũ may bằng bao cát, một quyển vở mới, một bút nguyên tử, một đôi đũa, hai lon gô không… 

Đỉnh đọc thêm một lô những vật dụng lỉnh kỉnh khác. Tuyên và Vĩnh đứng lắng nghe. Tuyệt nhiên không nghe nói đến cái đồng hồ… 

Tên quản giáo chợt thấy Tuyên và Vĩnh đứng xớ rớ nơi cửa ra vào, nạt. 

– Tại sao chưa lên hội trường? 

Đỉnh vội lên tiếng đỡ hộ. 

– Báo cáo anh hai anh ấy đi khênh xác anh Dung mới tắm về. 

Tên quản giáo xua tay. 

– Tắm rồi lên hội trường ngay! 

Vĩnh và Tuyên bỏ đi thẳng lên hội trường. Hai người nhập vào đội hình khối 2 đã xếp hàng ngay ngắn bên cạnh những khối khác trước hội trường. Xác Dung nằm gầy guộc xanh xao trước mặt mọi người. Anh em đứng trong hàng đều to nhỏ thầm thì với nhau. Giọng một người cay đắng: Tiên sư cha chúng nó! Chả nhẽ chúng nó bắt mình lần lượt lên đấu tố một cái xác chết sao đây!? 

Một tiếng hô nghiêm cất lên. Mọi người im phắc. Tên chính trị viên Thảo đã xuất hiện trước mắt mọi người. Hắn đứng trên thềm đất cao trước cửa hội trường. Xác Dung nằm ở khoảng đất trống giữa chỗ tên Thảo đứng và tập thể tù đang tập họp. Như không để mất thì giờ, tên chính trị viên cất giọng thật đều cáng. 

– Sao, bây giờ đã thấy quan tài, các anh đã nhỏ lệ chưa? Tôi đã bảo mà! Các anh toàn là nòi nhà lừa, nhẹ không muốn muốn nặng! Cứ thấy quan tài mới nhỏ lệ thì làm sao kịp nữa!? Đấy, chiêm ngắm cái xác của thằng phản động đi rồi lấy đó làm gương. 

Nói tới đây hắn chỉ vào xác Dung, lớn giọng hơn. Tên Nguyễn Xuân Dung, cấp bậc thiếu úy thiết giáp ngụy quân. Qua quá trình 3 năm phục vụ Mỹ ngụy, đã phạm muôn nghìn tội ác với Cách mạng, với nhân dân. Trong bản tự khai của nó, nó đã thú nhận giết gần một nghìn chiến sỹ con em nhân dân, đã tham gia hơn một trăm chiến dịch lùng diệt của giặc, đã đốt gần năm trăm mái nhà của nhân dân, đã hãm hiếp không dưới hai trăm phụ nữ. Ngoài ra, tên Dung còn tích cực chống phá Cách mạng về cả hai mặt tình báo và chiến tranh chính trị nữa. Mới hăm sáu tuổi nó đã được phong hàm thiếu úy và được Mỹ ngụy gắn trên 20 huy chương đủ loại. Khi Đế quốc Mỹ thua chạy, khi ngụy quân ngụy quyền tan rã, nó đã trà trộn vào hàng ngũ những người thành tâm hối cải ra trình diện đăng ký học tập cải tạo với ý đồ tiếp tục hoạt động chống phá Cách mạng dưới danh nghĩa cải tạo viên. 

Tên chính trị viên ngừng một thoáng như để lấy hơi. Những lời lẽ đấu tố hằn học của hắn vừa khạc ra hồ như cũng có một sức mạnh giúp cho chính hắn say máu. Hắn tiếp. Tên Dung đã làm những gì trong quá trình học tập hơn 6 tháng qua? Học tập thì lấy lệ, lao động thì lười, khai báo thì lếu láo. Nói chung mọi hành động tên Dung đã làm chỉ nhằm mục đích qua mặt Cách mạng, ngụy trang cho một ý đồ chống phá đen tối. Nhưng Cách mạng biết hết. Biết nhưng cứ để yên xem sao. Cách mạng vẫn hy vọng với thời gian tên Dung sẽ nhìn ra chính sách khoan hồng của Cách mạng, sẽ thấy rõ học tập cải tạo là một nghĩa vụ của những kẻ có tội phản quốc; để từ đó sẽ cải tà quy chánh, sẽ phấn đấu trở nên người công dân lương thiện sau này. Nhưng sự chờ đợi kiên nhẫn của Cách mạng đã được tên Dung đền ơn bằng hành động trốn trại đêm qua. 

Tên chính trị viên nói tới đây lại trợn đôi mắt cú vọ nhìn lũ tù thất thế. Đã bảo họng súng Cách mạng sẵn sàng bốc khói, hắn khinh khỉnh nói tiếp. Các anh đã tin chưa nào? 

Dĩ nhiên câu nói vu vơ đầy tính chất hăm dọa ấy không được ai trả lời. Phần tên chính trị viên, hắn nhanh gọn tuyên án: Nhân danh chính trị viên tiểu đoàn, chiếu quyết nghị của ban chỉ huy trại L4T3, nay lên án tên phản động Nguyễn Xuân Dung chôn không hòm. Ngoài ra, ban chỉ huy trại sẽ thông báo địa phương, yêu cầu chính quyền địa phương tiếp tục theo sâu theo sát để giáo dục gia đình kẻ phản động. 

Mươi phút sau tan hàng. Ngoại trừ tổ A.3 khối 2 trực phải khênh xác Dung đi theo hai tên vệ binh dẫn đường ra ngoài bìa rừng cỏ lau để dập vùi xác nó ngoài đó, còn tất cả trở về phòng sửa soạn giấy bút lên hội trường. 

Một cái chết giản dị, một bản án ngắn gọn, nhưng để lại bao nhiêu chua xót cho mọi người. Nguyễn Xuân Dung nằm xuống chẳng bao lâu câu chuyện nó chết vì cái đồng hồ được lan truyền khắp trại. Hơn ai hết, Vĩnh đã biết rõ tất cả sự thật qua những tiết lộ của vài người bạn thân thiết của Dung, theo đó nó đã móc nối được mấy thằng vệ binh ngoài trạm gác để mua thuốc lào. Đêm ấy, đúng giờ hẹn nó mò ra hàng rào. Thằng vệ binh đeo súng xách đèn pin và thuốc lào đến. Tội nghiệp cho thằng Dung. Nó chưa biết được rằng cái đồng hồ Seiko của nó là giấc mơ vĩ đại của bao thế hệ cán binh miền Bắc. Nó chìa tay ra ngoài hàng rào nhận thuốc. Thằng cháu ngoan của Bác, tức thằng vệ binh, thấy cái đồng hồ cầm lòng không được. Cháu ngoan của Bác bèn giật luôn lấy cái đồng hồ. Thế là hai bên giằng co. Ta hãy tưởng tượng một đoạn phim đầy Mác-Xít tính theo kiểu Hà Nội như sau: 

Tên vệ binh giật cái đồng hồ. Tên tù cải tạo cố giằng lại. Tên vệ binh hằn học hỏi. 

– Mày học tập mấy tháng rồi hở thằng ngụy bóc lột kia!? 

– Thưa anh vệ binh đầy công bằng ấm no hạnh phúc, tôi đã học tập được 6 tháng. 

– Thế sao mày còn ngoan cố bảo vệ… tư sản? 

– Thưa không. Tôi giữ lại cái đồng hồ của tôi là để bảo vệ cho tiếng thơm của người làm Cách mạng vô sản đấy chứ. 

– Mày đừng bố láo bố lếu. Mày hiểu Cộng sản là gì không? 

-…..? 

Tên vệ binh hét lớn. 

– Là, cái gì của tao là của tao, cái gì của mày là của chúng ta. 

Dĩ nhiên cải tạo viên Nguyễn Xuân Dung làm gì đủ thông minh để cảm nhận ngay được cái chân lý sáng ngời ấy! Thế nên, thay mặt Bác và Đảng, thằng vệ binh đã dí súng sát vào người thằng cải tạo, không để hăm dọa, mà để bắn tan xác thằng phản động ngoan cố bảo vệ tư sản, không chịu tiếp thu vào đầu óc những nguyên lý của Đạo Đức Cách Mạng Vô Sản.

Đôi lời của người Post bài:

Tất cả hình ảnh trong loạt bài này đều lấy từ trong kho hình của Sơn râu tôi lưu giữ, không phải hình từ quyển sách Đại học máu của tác giả Hà Thúc Sinh. Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa cho bài viết để nhớ lại một thưở hào hùng của các bậc đàn anh, huynh trưởng, đã sống, đã đổ bao xương máu, hy sinh tuổi trẻ, hạnh phúc cá nhân, gia đình để bảo vệ quê hương, đất nước và điều quan trọng: để cho các thế hệ tiếp nối có được ngày hôm nay.





AI vũ khí thông minh

baotreonline.com

Posted on 7th Oct 2021

Hồ Đắc Vũ

Post by Sơn râu 31 Dec 2023

Xe cơ giới với đại liên tự hành. Popular Mechanics

AI (Artificial Intelligence: Trí thông minh nhân tạo). Với sự tiến bộ của kỹ thuật, người ta đã chế ra robot với trí tuệ nhân tạo để phục vụ con người như bồi bàn, người giúp việc, người giao hàng… Đồng thời, trí tuệ nhân tạo cũng được dùng cho vũ khí hủy diệt con người. Tướng Mỹ John “Mike” Murray tham gia cuộc tranh luận về tính đạo đức của các loại vũ khí này cho các cuộc chiến trong tương lai. Trong khi Nga và Trung cộng thì không.

Tướng John “Mike” Murray nói, đó là sự thật, chúng ta sẽ tin tưởng vào những khí cụ trí tuệ nhân tạo ở ngoài trận chiến. Ðiều đó có nghĩa rằng các quy tắc quản lý của con người với các phương tiện trí tuệ thông minh phải được nới lỏng.

Phát biểu tại Austin, Texas, trong hội thảo trực tuyến về “Nhân vật Chiến tranh của Tương lai và Luật Tác chiến Vũ trang”, tướng Murray đã đưa ra một viễn tượng về tương lai liên quan tới sự phát triển nhanh chóng của vũ khí thông minh nhân tạo trong quân đội Mỹ và tính đạo đức khi sử dụng:

“Nếu bạn nghĩ hàng trăm máy bay không người lái, tự động hoặc bán tự động, có loại giết người, có loại gây cảm ứng, một số quan sát, một số gây nhiễu, số ít chỉ huy và kiểm soát. Liệu con người có khả năng lựa ra cái nào phải tiêu diệt và ra quyết định tấn công toàn bộ hay từng nhóm trong đoàn máy bay không người lái đó? Cho dù con người tham gia vào việc này, nhưng chúng ta sẽ chống lại loại “không người lái” hay chống lại một cái máy? Một khi bạn bị một đám máy bay không người lái đổ ập tới, khoảng cách chừng 3km, bạn sẽ không có được 30 giây coi bản đồ hành quân để quyết định”.

Con người quyết định trong cuộc chiến vũ khí thông minh nhân tạo. Nguồn. Analytics Insight

Cũng theo Tướng Murray, người có 39 năm tùng sự trong quân đội Mỹ, thì cuộc tham luận về đạo đức này không có ở Nga, Trung Quốc, hoặc bất cứ nơi nào trên thế giới.

Ðây là vấn đề gia tăng nhanh chóng của quân đội Mỹ, một lực lượng quân sự, tự hào đã tuân thủ luật Liên bang, những quy định của Ngũ Giác Ðài và đạo đức quân sự chuyên nghiệp ngay cả trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

Khi phương tiện thông minh nhân tạo tham gia chiến trận, nó hoạt động rất nhanh vì AI hoạt động với tốc độ thời gian nhanh hơn bộ não con người có thể làm được, chưa kể tới tốc độ di chuyển.

Xe viễn thám tự hành. Nguồn. Quora

Ông Murray nhớ lại lúc làm tư lệnh lữ đoàn ở Afghanistan: “Quyết định sống chết được thực hiện mỗi ngày, thường thì ở bản đồ hành quân hoặc các màn hình máy tính. Một trong những người đứng quanh bản đồ hành quân là luật sư của tư lệnh, người luôn có “tiếng nói nặng ký” và nhân chứng của tất cả quyết định mà lữ đoàn thực hiện trong chiến tranh. Ðiều này có ý nghĩa gì cho các ông lớn ở Ngũ Giác Ðài trong tương lai kể cả các chiến lược gia quân sự hoạch định các trận chiến sắp tới? Tôi muốn nói với mọi người, đây là lúc phải có những tranh luận như thế này, bởi vì, cuối cùng quân đội Mỹ chiến đấu theo chính sách và bị ràng buộc bởi các quy định do các nhà lập pháp đưa ra. Không hề dễ dàng có câu trả lời khi con người điều hành máy bay không người lái, gián tiếp hoặc trực tiếp”.

Đại liên tự hành. Nguồn. Tesla News

Cũng theo Murray, thì: “Khí cụ thông minh nhân tạo thật sự có khả năng quyết định tốt hơn về mục tiêu nào có giá trị, máy sẽ nhận dạng, phân loại và gọi điện, giống như kỹ thuật nhận dạng mặt người hiện đang sử dụng. Tôi nghĩ, sức mạnh của vũ khí trí tuệ nhân tạo là cho phép con người đưa ra quyết định cuối cùng, và điều ấy rất đúng trong thời gian ngắn hoặc tương lai, khi quyết định cướp đi mạng sống của một con người. Nếu bạn từng ở Iraq và Afghanistan, bạn sẽ không lạ gì với C-RAM (hỏa tiễn phản công). C-RAM nhận sóng trực tiếp của ra đa, bắn hạ hỏa tiễn, phòng không và đạn cối từ trên không. Hệ thống hỏa tiễn Patriots, phòng không của chúng tôi có hệ thống bắn máy bay tự động, nhưng chính con người phải quyết định bắn hay không. Có những trường hợp, những tình trạng đặc biệt mà con người sẽ không phản ứng kịp với mối đe dọa hiện hữu. Tôi xin tóm lại, các chính sách về tác chiến của chúng ta hiện rất tốt, nếu bạn sử dụng những vũ khí tác hại tới sinh mạng một con người, bạn phải có một “con người” quyết định hành động đó”.

Máy bay tự hành tác chiến. Nguồn. cnas.org

Trong lần tập trận mùa Thu năm ngoái, Murray đã lưu ý, lực lượng bộ binh sử dụng AI (thông minh nhân tạo) để tìm ra các mục tiêu ngon lành trong hình ảnh từ vệ tinh, sau đó họ chuyển ngay tới đơn vị pháo binh của vùng hành quân trong vòng “vài chục giây” trái ngược với “hàng chục phút” theo kiểu báo tọa độ cho pháo binh trước đây. Nhưng lúc nào cũng có con người trong việc này, ông luôn nhấn mạnh, con người phải thông qua lệnh từ máy tính trước khi máy chuyển qua đơn vị tác xạ.

Tướng Murray cũng phát biểu: “Chắc chắn là khí cụ thông minh nhân tạo phản ứng nhanh hơn, có khả năng làm nhiều nhiệm vụ cùng một lúc, không bao giờ mệt mỏi hay sợ sệt khi đưa ra những quyết định sai trong tác chiến, có khả năng tránh được những sóng cảm biến phát giác vị trí trong chiến trường từ ngoại tầng không gian, trên trời và ngay cả mặt đất, tất cả hầu như có thể xảy ra. Vậy, khái niệm trong tương lai của quân đội Mỹ với các đồng minh và lực lượng thân cận của mình là gì? Bạn hãy tưởng tượng về một chiến trường vũ khí cảm biến, với tốc độ và phản ứng nhanh hơn con người và bạn là nhân vật then chốt phải đưa ra quyết định cuối cùng. Trong khi đó, tướng McConville, đưa ra 5 mệnh lệnh chính: “Tốc độ, phạm vi, sự hội tụ, (đây là hội tụ của tất cả hiệu ứng trên khu vực tác chiến), quyết định tối hậu và đánh phủ đầu. Ðó là những điều chúng ta cần phải thắng thế, luôn thắng thế trong trận chiến của tương lai”.

Máy bay tự hành bắn tia Laser. Nguồn. Military

“Tốc độ là phần then chốt trong chiến tranh. Ðây là điều mà chúng ta rất cần thiết phải thực hiện trong sự hợp pháp với phạm vi đạo đức và các tương trợ của vũ khí thông minh nhân tạo. Tất nhiên sẽ có những sai trái. Trong hỗn loạn của chiến tranh, lúc nào cũng mắc phải sai lầm và không phải các đồng minh của Mỹ lúc nào cũng cùng một quan điểm khi đề cập tới các vũ khí tự hành”.

Trong khi đó, khối quân sự của Châu Âu lại đi theo một con đường rất khác.

Hiện nay, Nghị viện của châu Âu đã có quy định: “Quyết định chọn một mục tiêu và hủy diệt bằng hệ vũ khí tự hành AI phải do con người đã được huấn luyện, có khả năng kiểm soát, và phán đoán đúng, phù hợp với các nguyên tắc thích hợp và cần thiết”.

Rô bô viễn thám. Nguồn. newsclick.in

Nói khác đi, để cho các vũ khí tự hành AI tự quyết định là phạm pháp.

Trong khi cuộc tranh luận vẫn tiếp tục xoay quanh vấn đề này, thì cả một số lượng lớn vũ khí lớn sát thương hàng loạt có thể đã được sử dụng đâu đó, trước khi cuộc tranh luận kết thúc.

Câu hỏi lớn “Nhưng quốc gia nào sẽ chơi vụ này trước tiên?

Máy bay tấn công không người lái, AI. Nguồn. Ray Kurzweil

HĐV

(Nguồn: Asia Times. Dave Makichuk, 2021)

Chú heo con

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

Posted by seashelloc 6 May 2021 

Post by Sơn râu 31 Dec 2023

Ngày 29 tháng 4 năm 75, 10 giờ sáng, hai xe tải đầy lính cộng sản chạy từ hướng Dinh Ðộc Lập tới chùa Vĩnh Nghiêm, một trung đội lính Dù VNCH trang bị đầy đủ, từ phi trường TSN đi xuống, hai bên gặp nhau tại cầu Công Lý. Bên xe lính cộng sản có người mặc áo xanh da trời, quần lính, nón tai bèo, leo xuống, qua cầu gặp anh lính dù, nói gì đó, lính Dù hạ vũ khí, nép sát đường, xe cộng sản chạy về phi trường TSN, lính Dù cởi áo quần, bỏ vũ khí, chạy vô chợ Phú Nhuận, bà con ôm lấy, sụt sùi khóc. Tôi đứng đó, xúc động, nổi nóng ném chiếc máy quay phim Bolex 16 vô thùng Vespa, cuộn phim trắng đen bung ra, coi như mất hết cảnh lịch sử vừa quay…

Bây giờ thì mọi người biết chắc, miền Nam thua trận, đầu hàng. Cộng sản tới Sài Gòn.

Tối đó, con heo vô nhà tôi.

Bữa nay, ngồi trước bàn làm việc, không biết phải làm gì.

Nơi đây, tôi thường viết truyện ngắn, vẽ bìa sách, truyện tranh cho nhà xuất bản, lay out những cảnh cho bộ phim đang làm.

– Ét! Ét… Ét!

Vợ tới bên, hai con chạy theo, mặt xanh lè.

– Con gì kêu?

– Không biết! Anh chạy xuống coi.

Tôi mở đèn, ra cổng, vợ tôi, tay cầm cây kiếm Nhật, lưỡi dài, bén ngót.

– Em làm gì vậy?

– Ðề phòng! Có chuyện gì thì sao?

Tôi cười:

– Giống hiệp sĩ mù quá.

(Chị là đai đen Akido, Judo, từng hạ đo ván tôi tại Viện Nhu đạo Quang Trung năm 1965)

Vợ chống thanh kiếm xuống đất, tôi mở cổng sắt, bước ra ngoài, chung quanh tối thui.

Chừng 5 phút.

– Có gì không anh?

– Không…

Chưa hết câu, một bóng đen như chuột cống chạy vô nhà.

Tôi đóng nhanh cổng, chị vợ chụp cây kiếm, chĩa xuống sân.

– Chắc là mèo!

– Ét! Ét!…

Bóng đen lại chạy ra, đụng vô cánh cổng, lăn quay. Một con heo nhỏ như chuột, trắng, đốm đen, nằm ngay cổng, ngước mắt nhìn chúng tôi.

Hai vợ chồng cùng nói:

– Con heo!

Tôi bồng con heo vô phòng khách.

Vợ:

– Chắc của ai gần đây nuôi.

Tôi:

– Nhà mấy ông sĩ quan Mỹ phía trước nuôi làm cảnh, hôm qua họ di tản, bỏ lại, nó đeo vòng cổ nè, có miếng nhựa tròn, tên “OOT”.

– Heo vô nhà hên anh.

– Sài Gòn mất mà hên gì?

Sau khi tắm con heo sạch sẽ, tôi mang vô phòng ngủ, cho nó ăn tô sữa với trái chuối cắt lát.

– Heo đực! Ðây là heo cảnh, không lớn.

Con heo nằm im trên gối, mũi hinh hỉnh, đôi mắt mở to, những sợi mi dài, nhìn tôi.

Hai đứa con gái đẩy cửa:

– Ủa, thỏ hả ba?

– Sao chưa ngủ? À, con heo.

Con gái lớn:

– Con tuổi chó! Sao ba không mua chó?

Con gái út:

– Vậy là của con, tuổi heo!

Sáng sau, gia đình tôi gồm: hai vợ chồng thất nghiệp, hai con nghỉ học, nhà thêm nhân vật heo, tên “Ụt”

Tôi phủ bạt chiếc xe hơi, lấy Vespa chạy một vòng tìm bạn bè, coi ai còn, ai mất, ai đi.

Nhà ông anh họ, từ Ðà Lạt về, đi hết, bỏ nhà cho bà mợ, Alfa films còn, Lidac phim đi, Cosunam đi, anh Châu, Giám đốc nhà xuất bản ABC còn, gặp nhau ngồi im lặng bên ly cà phê đường Bà Lê Chân, thằng bạn, cháu ông tướng ở Chi Lăng, Phú Nhuận, biến mất, chạy qua Thị Nghè, gặp anh NV.

– Em mới ghé qua Trung tâm Ðiện ảnh. Lính cộng sản ngồi nằm ngổn ngang.

Tôi về, thăm thằng bạn Không quân, nhà bán phở gà Hiền Vương:

Lấy mấy tô về ăn, chờ coi sao.

– Trăng sao gì? Tiêu rồi!

Tôi lấy 4 tô phở, về nhà.

Con gái út:

– Ba! Con Ụt dễ thương lắm ba, biết ra ngoài đi cầu, đi tiểu, tụi con chưa dạy gì hết.

Con gái lớn:

– Nhưng nó tè vô giày con, ba.

Vợ:

– Cả ngày nó ngủ ngoài sân thượng, đi lòng vòng hồ cá, rồi theo em, em vô phòng là đứng đợi ngay cửa.

Cả nhà ăn phở, tôi làm cho Ụt một tô nhỏ, vừa để xuống, Ụt ngửa cổ kêu ét ét như lời cảm ơn.

Hôm sau tôi lấy xe hơi, chạy ra Hàng Xanh mua đồ Mỹ (dân hôi của từ căn cứ Mỹ ở xa lộ) những tảng thịt Ham còn đóng gói, thùng dưa leo muối, sữa bột, cacao, bơ, mứt nho, cánh gà, táo đỏ, nước trái cây, hai thùng bia Ham, 5 cây Salami, thêm 5 chai Seven Crown. Hai vợ chồng mừng quá vì mua với giá như cho, đem về chất đầy nhà.

Con gái lớn:

– Ba, con Ụt không ăn.

Con gái út khoe:

– Hồi trưa con tắm nó.

Tôi khen:

– Giỏi!

– Con chà bàn chải, nó kêu hoài

Con gái lớn, tiếp:

– Nằm rên tới giờ.

– Vậy là nó bịnh rồi.

Con gái lớn chỉ con gái út:

– Tại nó đó ba. Chà con Ụt như chà dép.

Con gái út:

– Ai biết!

Vợ tôi cắt xúc xích, Ham, lấy dưa leo, chuẩn bị ăn trưa, tôi vô phòng hai đứa con. Ụt nằm trên giường, da đỏ hồng như bị luộc, tôi bồng lên, Ụt mở mắt nhìn, la ét ét.

– Lần sau con tắm nó, đừng chà mạnh.

Nhà tôi thêm một mạng, bữa ăn thêm một phần.

Ụt đã làm cho hai vợ chồng quên bớt phần nào lo lắng, buồn bã của những ngày Sài Gòn đổi thay.

Hai con bắt đầu đi học lại, ngôi trường Pháp thân thuộc với gia đình vợ, bắt đầu mở cửa dạy tiếng Việt.

– Em, anh thấy mọi người mở tiệm, buôn bán trở lại bình thường.

– Mình sẽ làm gì? Bán đồ nhà hoài, chắc tiêu quá.

– Anh tìm chỗ mở tiệm cà phê.

Tuần sau, tôi hùn với bạn, mở tiệm cà phê, ăn sáng bên Tân Ðịnh.

Bây giờ thì mỗi ngày, vợ tôi lấy chiếc PC chở 2 con đi học tại ngôi trường Pháp cũ, cũng là nơi cô phụ việc văn phòng cho mấy Sơ. Tôi dậy sớm làm chén bột sữa, trộn bánh mì bẻ vụn, để ngay góc sân thượng cho Ụt, rồi ra quán cà phê.

Con Ụt bắt đầu ở nhà một mình, trưa vợ tôi rước hai con về.

Con gái lớn:

– Ụt khôn lắm ba! Tụi con về tới nhà là nó chạy từ sân thượng xuống ngay cổng, nhảy tưng tưng.

Con gái út:

– Nó chạy theo giỡn, cắn ống quần má. Giống ba hồi đó.

Vợ:

– Lúc nào nó cũng cố lên trước, nhiều khi cầu thang trơn vấp chân lăn đùng xuống, rồi lại chạy lên.

– Vô phòng lấy dép đem cho má!

– Ăn xong biết cắn cái chén để vô thau.

Tôi ngạc nhiên, không ngờ Ụt khôn như vậy.

Nhờ nhạc ngoại quốc không lời, quán cà phê đông khách, Ðêm nào cũng 12 giờ khuya tôi mới về tới nhà, thường thì vợ con đã ngủ, chỉ mình Ụt chạy xuống cổng đón tôi.

– Nghe tiếng Vespa từ xa là Ụt đã lăng xăng chạy xuống cổng. Té tới té lui vẫn chạy! Nó muốn tới trước khi anh tới.

Tôi thường ăn khuya với vợ, khi thì bánh giò, chả lụa Phú Hương, lúc thì đĩa gỏi gà, cháo, mua bên chợ Tân Ðịnh, hai vợ chồng ngồi uống vài chai bia, Ụt nằm dưới chân tôi, khoái chí với lon trứng gà chiên, phần thừa của khách ở tiệm, tôi để dành, mang về mỗi ngày.

Sài Gòn ngoi ngóp sống dậy. Vợ tôi để cái tủ kiếng trước nhà người bạn, bán mỹ phẩm, áo quần, giày dép, tôi đóng cửa tiệm cà phê, trở lại làm việc cho xưởng phim.

Con Ụt khôn hơn, ăn nhiều và lớn rất lẹ.

Vợ tôi:

– Ủa hồi đó anh nói đây là heo kiểng không lớn mà.

– Thì anh nghĩ vậy, đâu biết.

Con Ụt từ trong phòng chạy ra với đôi dép da của vợ, nó ngồi xuống, chống hai chân, mở mắt nhìn tôi như đợi sai bảo, tôi chỉ tay.

– Ụt! đem đôi giày vô phòng giùm!

Ụt cắn từng chiếc giày, để ngay ngắn trước cửa phòng.

Tôi khen:

– Giỏi. Ụt, Cất cái nón luôn!

Ụt chồm lên, cắn cái nón vải, mang vô phòng, tôi đi theo, nó để cái nón ngay giường ngủ.

Tôi nói với vợ:

– Ụt khôn như một đứa trẻ.

Chuông cửa reng, bà dì dưới lầu 2 gọi.

– Có công an kiểm tra hộ khẩu, con.

Hai công an lên nhà:

– Chào anh chị, chúng tôi là Công an Phường, kiểm tra nhân khẩu thường kỳ.

Hai anh coi một vòng, ra tới sân thượng. Một công an nói giọng Bắc:

– Sân đẹp quá! Cây cảnh, hoa hồng, thế hồ có “luôi” cá không anh?

– Có! Gia đình nuôi từ xưa, trong hồ còn 2 con tai tượng lớn lắm!

Bỗng Ụt từ trong nhà chạy ra.

Cũng anh công an nói giọng Bắc:

– Anh chị “luôi” heo?

Vợ tôi nói như máy:

– Kinh tế gia đình mà.

Ụt tới nằm bên vợ.

– Con heo cũng “nớn” rồi! “Lày”, sao không trồng rau quả mà trồng toàn hoa hồng thế?

Tôi không biết phải nói gì, vợ lên tiếng:

– Hết đợt hoa này tôi trồng rau cho heo ăn.

Vẫn anh công an nói giọng Bắc:

– Khi nào thịt con heo, cho tụi “lày” cái đùi nhá!

Tôi giựt mình, con Ụt đang nằm gần đó bỗng đứng dậy la một tiếng ét, chạy vô phòng.

Công an ra khỏi nhà, vợ tôi nhìn tôi cười.

– Ba, Ụt bịnh!

Con gái lớn kéo tôi vào. Ụt nằm trên giường, trốn đầu trong gối, nó run rẩy khóc, tôi hiểu ra, quay qua hai đứa con.

– Hồi nãy ông công an nói khi nào làm thịt nó thì cho ổng cái đùi!

Tôi vuốt đầu Ụt.

– Nên nó sợ, khóc. Không ai làm gì đâu Ụt ơi!

Ụt leo xuống giường vui mừng, chạy ra ngoài.

Nhà tôi bắt đầu có tiền qua cái tiệm bán đủ thứ của vợ, lương tôi làm xưởng phim thuộc loại cao, nhưng chỉ đủ trả tiền xăng, điện nước, vài tô phở và tiền xe cho hai đứa con đi học.

Bây giờ thì có người xích lô quen, sáng đưa, trưa rước hai con tôi, nhà có người giúp việc, trưa tôi về ăn, 2 giờ trở lại làm việc, chiều đón vợ về.

Hôm đó, hai vợ chồng về tới nhà, không thấy Ụt đứng ở cổng, nghi có chuyện, tôi nhảy ngay lên lầu. Con gái lớn méc:

– Ba, con Ụt té cầu thang!

Con gái út khóc:

– Con chạy trước, nó xuống sau té lộn từ trên xuống dưới. Chắc đau lắm Ba.

Ụt nằm trên giường, rên i ỉ, người nhiều vết bầm, thấy tôi về Ụt ráng sức leo xuống giường, lết tới ôm chân tôi. Vợ tôi thút thít:

– Tội nghiệp!

Từ hôm đó, Ụt không chạy xuống cổng đón vợ chồng tôi, nó chạy ra sân thượng nhìn xuống cho đến khi tôi vô nhà, tắt máy xe, lên lầu, Ụt đứng ngay cầu thang nhún nhảy mừng, chạy đi lấy dép.

Vết thương của Sài Gòn vẫn còn đau, nụ cười vẫn hắt hiu trên mắt môi mọi người.

Nhiều đêm, về khuya, tôi uống ly rượu, ngà ngà, nói với vợ:

– Chắc anh sẽ không ở đây.

Ðúng như vậy, tháng sau tôi theo bạn vượt biên ở Sông Ðốc, Cà Mau.

3 giờ sáng, bạn tới chở đi.

– Nói với tụi con anh đi công tác như mọi khi.

Vợ tôi buồn thiu.

– Em cố gắng tự lo.

– Anh yên tâm, xin trời đất phù hộ.

Tôi quay qua, không dám nhìn mặt vợ thì thấy Ụt đã đứng đó tự hồi nào.

Ụt lặng yên nhìn tôi, đôi mắt lo lắng, tôi vuốt đầu con heo, mở cửa leo lên xe.

Tôi vượt biên!

Chuyến đi thất bại do ăn chia không đều, bộ đội bắn cháy ghe, chết mấy người, tụi tôi nhảy bãi sình, trốn trong rừng, sáng mai tìm đường về, hầu hết bị bắt, tôi thoát, nhờ bà già bán cháo lòng.

– Chân trắng nõn là dân thành phố “gồi”! Tối qua bộ đội bắn quá. Cháu thoát hả?

Tôi giựt mình:

– Dạ đúng. Bán cho cháu đôi dép. Chân đau, không đi được.

Bà già nhìn tôi cười hiền hậu, chỉ sau lưng:

– Vô nhà! Lấy bộ áo quần bộ đội treo trên vách của thằng con.

Tôi chạy vô nhà, bà còn nhắc:

– Nhớ mang đôi giày vải luôn.

Tôi thành anh bộ đội ăn cháo sáng.

– Bà cho cháu tính tiền.

Bà cười.

– Khỏi, ăn cháo “gồi ga” bến đò, chỗ cột điện.

Bà chỉ.

Lên ghe về Cà Mau. Coi chừng công an đang lùng. Ði đi!

– Xin cám ơn. Con lạy bà!

Tôi ra bến đò.

Tối đó về tới nhà.

– Anh đi là con Ụt không lên lầu, nó bò xuống nằm ngay cổng, bỏ ăn, chỉ uống chút nước. Chiều nay vui vẻ chạy tới chạy lui, em tưởng là anh đi được, mừng trong bụng, không ngờ anh về.

Tôi bước tới, Ụt ngước nhìn, mắt long lanh, nó khóc.

Tôi làm việc trở lại, vợ tôi vẫn buôn bán, hai con ăn học, con Ụt có thêm trò mới.

Khi vợ tôi làm bếp, bao nhiêu đồ thừa, bỏ vô bao nylon, để trong góc bếp, Ụt lôi ra ngoài thùng rác, hai con học về, thay giày, Ụt cắn hai đôi giày để ngay ngắn trước cửa phòng.

– Nó khôn hơn anh hồi nhỏ. Có bao giờ anh cất giày, lấy dép cho bà già đâu!

Ụt khôn. Nhưng cũng thật lớn, đã hơn 30 ký. Nó không còn là con heo nhỏ, ôm gọn trong tay ngày nào.

Biết mình lớn, Ụt không vô phòng nữa, tôi đóng mái nhà gỗ, có sàn cao, tấm nệm mỏng ngoài sân thượng, sát bên cây hoa ngọc lan cho Ụt, nó thích lắm.

Tháng đó, dân Sài Gòn tụ tập trước tòa Lãnh Sự Pháp với tin: cho nộp hồ sơ bảo lãnh đi Pháp.

Sáu tháng sau, tụi tôi nhận giấy bảo lãnh đi Pháp, người bạn nộp đơn giùm, nói phải nghỉ việc khi nộp đơn xin xuất cảnh.

Vậy là tôi nghỉ việc, từ một người làm phim, tôi thành thợ sửa TV, máy hát ở gần nhà.

Công việc mới lại đẻ ra tiền, tôi bận bịu mua TV, máy thu băng, cát-sét cũ, tân trang bán lại cho khách, bán đồ tốt, giá rẻ, nên đông khách, cái tiệm nhỏ ngay đường Trương Tấn Bửu, Phú Nhuận trở thành điểm bán đồ điện tử uy tín cho mọi người, nhất là bộ đội miền Bắc.

– “Lày”! Có dàn Akai “lào” không?

– Có Akai 280 D, tự động hát 2 chiều. Ðầu từ 85%.

– Nhiêu? Cho giá tốt, mình “nấy”.

– 3 chỉ.

– Ừ, xem “nại”.

Tôi mang cái Akai 280, mở nghe.

– Mẹ, hay nhể! Còn hát tới “nui”, mai trở “nại”.

Ngày mai anh trở lại.

– “Lày”, không đủ tiền. Ðưa 2 chỉ, còn lại đưa xăng.

– Cũng được! Ðợi một chút!

Tôi chạy qua người quen bán xăng ngoài đường, 5 phút trở lại.

– Bao nhiêu xăng?

– 2 thùng phuy.

Tôi ú ớ:

– 2 phuy?

Anh bộ đội tỉnh bơ:

– 400 “nít”.

Biết là lời lớn, nhưng chỗ đâu giấu 2 phuy xăng, trong lúc công an đang bắt xăng lậu?

– Ðược thì tối mai chở tới.

Tôi liều.

8 giờ tối mai, chiếc xe tải thả 2 thùng phuy xuống trước tiệm, tôi giao máy Akai, hai người bạn chia xăng ra can 20 lít tẩu tán, tới 12 giờ đêm xong việc, tôi lời cả máy và xăng, bạn tôi cũng trúng vố lớn, ai cũng vui. Tối hôm sau, tôi và hai người bạn ngồi sân thượng ngắm trăng, nhậu lẩu canh chua cá bông lau, bia 50. Chừng 9 giờ tối, con Ụt kêu, chạy tới bên tôi, vợ tôi trong phòng bước ra:

– Anh, có công an khu vực tới thăm.

– Thăm?

– Hỏi anh điều gì đó.

Tôi xuống cổng.

– Chào anh. Em hỏi anh tí chuyện.

– Lên lầu hay ở đây?

– Còn sớm, “nên nầu” đi!

Tôi ngại trong lòng, nhưng cũng đành.

– À, có bạn ăn tối à?

Công an hỏi.

Vợ tôi:

– Dà. Anh ăn chưa? Ăn luôn.

– Ăn “núc” chiều rồi! Ậy gặp bữa dùng “nuôn” cho vui.

Anh ta ngồi vô bàn, tôi rót bia:

– Ðây là hai người bạn cùng xóm.

– Quen biết cả. Anh bán cà phê “nề” đường ngay chợ nhỏ. Anh bán xăng “nẻ” chứ gì.

Bữa nhậu mất ngon, tôi và hai bạn nuốt không trôi tô canh chua. Anh công an làm sạch.

Chừng 3 chai bia, hai bạn tôi đứng lên, định về. Anh công an:

– Ậy, gượm chút. Vô hết “ni” bia, cạn nhá!

4 ly bia cạn.

Công an:

– Tôi có tí chuyện! Nghe xong rồi về!

Vợ tôi khui thêm 4 chai.

Anh công an xuống giọng.

– Tối qua…

Nhắp ly bia.

– Mấy anh trúng quả…

Tôi lạnh người.

– Cả 2 phuy xăng đâu phải ít…

Hai thằng bạn tái mặt.

– Thôi thì chia nhau chút…

Tôi thở nhẹ.

– Có qua có “nại” cho vui nhá!

Tôi cười.

– Biết, tụi này biết, sẽ gặp anh mà.

Công an cũng cười…

– Thế tốt!

Ðứng dậy.

– … Sắp Tết nhất…

Anh công an nói nhỏ với tôi.

– Thịt con heo đi… Tôi “nấy” phân nửa.

Công an ra về, hai bạn tôi ra về, tôi ngồi chết cứng.

Vợ tới bên, khui chai bia.

– Gì vậy anh?

– Công an biết anh bán 2 phuy xăng tối qua… Sắp Tết, đòi thịt con heo, nó lấy phân nửa!

Hai vợ chồng ngồi im, uống hết két bia, tôi say, ngả nghiêng vô phòng, vợ dọn dẹp, cô không để ý con Ụt tới nằm bên chân tôi tự lúc nào.

Tuần sau, tôi mang Ụt ra Tân Cảng, kể hết chuyện cho người bạn thân, ba anh thương tình, cho Ụt ở nhờ.

Nhà anh là biệt thự lớn, có vườn rộng, hồ sen, anh thả rông cho Ụt sống ngoài vườn.

Tết đó tôi đi mua nửa con heo trả cho tay công an phường.

Tháng 5, gia đình tôi có giấy xuất cảnh, đi Pháp vào tháng 7.

Trước khi đi, tôi bán hết mọi thứ, đổ đầy xăng chiếc Toyota, chở vợ và hai con xuống Tân Cảng thăm Ụt.

Tới nơi, Ụt đã đứng trước cổng, tôi chạy xe vô, vợ tôi bày biện mọi thứ cho bữa tiệc với gia đình bạn sau vườn, bên hồ sen và những cây dừa.

Bây giờ Ụt lớn lắm, hai đứa con gái thay phiên leo lên người, Ụt chở đi lòng vòng ngoài vườn.

9 giờ tối, tiệc tan, bạn tôi nói:

– Mày và gia đình yên tâm ra đi, tao nuôi Ụt. Chưa có con heo nào khôn như nó. Bây giờ nó biết đứng lên, mở cổng khi người nhà về.

Tụi tôi ra xe, Ụt chạy theo, nó nằm yên.

Vợ tôi khóc, hai con tôi khóc, tôi quỳ xuống:

– Ụt ơi, gia đình thương Ụt lắm nhưng phải ra đi, Ụt ở lại…

Tháng 7, lúc 2 giờ trưa, gia đình tôi lên phi trường, đi Pháp.

Một giờ, bạn tôi ở Tân Cảng chạy xe tới nhà, mặt mày xanh lè:

– Con Ụt nhảy xuống hồ sen tối qua…

Anh cúi mặt.

– Không ai biết… Chết rồi!

Gia đình tôi không còn thì giờ để nhìn Ụt lần cuối.

Máy bay cất cánh, con sông uốn khúc quanh những vườn cây xanh, mái ngói đỏ nghiêng nghiêng. Sài Gòn thân yêu xa dần.

Vợ sụt sùi, hai con khóc.

Mất Sài Gòn đã buồn, mất Ụt buồn thêm chồng chất.

Tôi cũng khóc!

Mùa Xuân sao lại lạnh?!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 31 Dec 2023

Bà con mình, dù lương hay giáo, cứ mỗi độ mùa Giáng Sinh về, đều nghe lời hát: “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời. Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa…”

Nghĩa là Giáng Sinh mùa phải lạnh, tuyết rơi lã chã trắng trời; xe tuần lộc, tiếng lục lạc reo vui chở ông già Noel đi phát quà cho trẻ con, chạy băng băng trên những con đường, mặt lộ là băng giá.

Nước Mỹ, thuộc bắc bán cầu, mùa đông, mùa Giáng Sinh về lạnh quéo, thở khói quanh mồm; Úc, thuộc nam bán cầu, mùa hè, mùa Giáng Sinh về nực muốn khùng, thở ra toàn hơi beer. Phải làm vài chai cho đã khát…

Hồi xưa trước khi ai bao năm từng lê gót nơi quê người, tui cứ tưởng tượng là Giáng Sinh về mùa phải lạnh.

Lạnh mới nên thơ chớ. Để tìm chút ấm, mình ngồi xáp lại gần em yêu, tay cầm ly vang đỏ, tiếng lò sưởi chạy bằng ga kêu tí tách mà trời bên ngoài tuyết vẫn rơi rơi.

Đó chỉ là tình mộng chớ mùa Giáng Sinh ở Úc nầy mới xáp lại gần em, để tình thương mến thương là em nạt: “Xê chút ra! Nực nội quá hè!” Nghe mà tan nát cái lòng… thòng!

Tui có cái tật xấu là đêm nào lai rai vài ba sợi là lên facebook, gọi mấy thằng bạn cũ đang trên bước đường lưu lạc tận Hoa Kỳ để phá nó chơi.

Cái lạ là cái tật xấu nầy mấy thằng bạn học, bạn lính của tui lại khoái mới chết. Tui gọi là nó trả lời ngay vì tụi nó cũng cô đơn, bị em yêu ‘cấm vận’ y chang tui vậy đó. Mùa đông Hoa Kỳ lạnh thấu xương mà em lại không cho run run tìm hơi ấm… để đợi xuân về.

Tui có thằng bạn lính, đi HO, được một gia đình người Mỹ bảo trợ về gần Ngũ đại hồ, tiểu bang Minnesota, mà nó dịch ra tiếng Việt là ‘Mỹ nó sợ ta’.

Mỹ nó sợ ta hay không thì tao không biết nhưng tao sợ mùa đông nước Mỹ! Chu choa nó lạnh ác ôn luôn! Trên một vùng đất hoang vu đẹp tuyệt vời,  thác Minnehaha đóng băng nhưng tao không dám đến thưởng ngoạn vì ra ngoài trời, chỉ hơn nửa giờ, dù có áo ấm mấy lớp đi chăng nữa cũng có thể chết nghe em!

Hồi năm 2017, Minnesota nhiệt độ xuống tới trừ 37 độ C, phá kỷ lục cũ là trừ 32 độ vào năm 1924.

Lạnh đến nỗi nước đang sôi trong chảo biến thành tuyết ngay khi được hất ra ngoài trời. Khi mình vắt sữa bò thì mình được cà rem. Khi mình vắt sữa trâu thì mình lại được chocolate. Rồi tạp chí khiêu dâm Playboy phải đình bản vì trời lạnh quá hổng em nào chịu cởi truồng hết trơn cho tụi mình coi hè!

Nghe nó than như vậy, tui hỏi: “Sao mầy không chuyển về Little Saigon, tiểu bang California, một trời nắng ấm?”

“Cũng muốn lắm chớ! Vì ngoài thời tiết Little Saigon quá đã mà mấy em Mít của mình bên ấy mặc ‘bikini’ bán cà phê sữa, trông còn đã hơn nữa.

Nhưng lực bất tòng tâm! tiền tao không có. Căn nhà 3 phòng ở Minnesota, trả hết nợ ngân hàng, sau nhiều năm vợ chồng cày bừa cật lực, chỉ giá có 250 ngàn đô Mỹ. Với số tiền đó vác về Cali, tao chỉ có thể mua được túp lều của chú Tom.

Tui lại hỏi: “Lạnh quá rồi làm sao sống cho được chớ? Nên nhớ mình là dân nhiệt đới, đến Mỹ từ miền Nam mưa nắng hai mùa. Mưa ở trần chạy nhong nhong ra đường tắm mưa cho mát; mùa nắng cũng ở trần mặc cái quần ‘xà lỏn’ đeo tòng ten cái đồng hồ quả lắc, chỉ có cây kim giờ, đi khắp xóm. Em nào nhìn thấy cũng buột miệng xuýt xoa khen là ‘của quý’!

Chân ướt chân ráo tới đây mình cũng học dân bản xứ cách mưu sinh thoát hiểm, chống lạnh để sống sót tới mùa xuân?
Một là vợ nói gì thì mình nghe đó; sai gì thì mình làm ngay; đừng cù cưa, cù nhằn hẹn mai, hẹn mốt. Bị vợ đì sói trán cũng rán mà chịu vì em độc quyền cái lò sưởi 37 độ rưởi. chạy bằng cơm.

Em giận lẫy là tối mình phải nằm chèo queo, buốt giá là nó héo queo hết ráo.

Hai là coi người bản xứ chống lạnh như thế nào để mình bắt chước.

Hồi mới được gia đình người Mỹ bảo trợ tuốt lên cái xứ lạnh nầy đây, vợ chồng cứ nhủ lòng rán tồn tại một vài năm đầu rồi tính tới.

Tao mua căn nhà của vợ chồng ông Mỹ già để có chỗ che bão tuyết mùa đông. Thì em yêu cản: “Đừng mua, mắc kẹt ở đây, lạnh chết!”

Hai vợ chồng ông Mỹ già trấn an rằng: “Vợ chồng tao ở đây cả mấy chục năm, mấy chục mùa tuyết đổ cũng đâu có chết chóc thằng tây nào. Mua đi rồi vợ chồng ‘qua’ sẽ truyền bí kiếp chống lạnh lại cho hai em mà! Đừng có lo!”

Trả tiền xong xuôi, dọn vô nhà, mùa đông Minnesota đang tới bên thềm cửa. Bão tuyết ngoài trời; trong phòng lò sưởi bật tối đa mà tường vẫn thở ra hơi khói lạnh. Đun một chảo nước sôi tạt ra ngoài cửa để đi không trơn trợt; nước sôi trong chảo biến thành bông tuyết phất phới bay.

Vậy là bốc ‘phôn’ lên hỏi vợ chồng ông chủ nhà cũ, bí quyết chống lạnh là gì?  Lão cười he he nghe rất đểu: “Ờ mỗi mùa lạnh về, khi đàn ngỗng trời kêu quang quác xuôi nam thì vợ chồng ‘qua’, giống như ngỗng, bay về Florida đó chú em!”

Bị Mỹ gài thế đành chịu trận; nhưng lâu rồi đời mình sẽ quen. Ông Trời rất công bằng. Thiệt cái nầy thì Trời bù lại cái kia.

Xứ lạnh mình ăn nhiều, da có lớp mở kha khá dầy; chớ hối còn kẹt trong nước, ốm o gầy mòn như con khỉ mắc phong; qua đây ai cũng thêm ít nhứt là chục ký. Lên cân, tốn tiền mua quần áo mới; nhưng an ủi một cái là da mặt mỡ màng, căng mộng! Em yêu gần 61 mà nhìn tưởng chừng 16; còn mình 64 nhìn tưởng chừng mới 46 thôi.

“Năm rồi, tao về Sài Gòn, thăm bà già bị bệnh nặng Trời nóng ẩm quá, cỡi trần ngồi hóng gió trước hiên nhà, em bán vé số ngang qua mời anh Việt kiều mua dùm em một tấm vé số xổ liền.

Ngạc nhiên hỏi: “Sao em gái biết anh là Việt kiều mà không phải là Việt cộng?”  Em cười lỏn lẻn trả lời: “Việt cộng nó đen thùi lùi hè; còn Việt kiều nó trắng nỏn đó anh hai!”.

Thằng bạn lính nhân cơ hội nầy giảng cho tui thêm một bài về địa lý.  Nó nói hồi xưa mình đọc nhản thuốc lá Pall Mall của Mỹ là: “Phải anh là lính mời anh lên lầu!”. Chí lớn gặp nhau, bên ni. Mỹ đọc tên Ngũ Đại Hồ “HOMES” (nhiều nhà”), tức là Huron, Ontario, Michigan, Erie và Superior.

(Ngũ là năm, đại là bự, hồ là cái hồ) là năm hồ nước ngọt lớn nhất thế giới, từ Hoa Kỳ ăn tuốt qua Canada.

Hoặc “She Made Harry Eat Onions (“Bà ấy bắt Harry phải ăn hành”) tên 5 cái hồ, xếp từ tây sang đông.

Các hồ, mùa hè giữ nhiệt, mùa đông sẽ làm bớt cái giá băng nhưng Ngũ Đại Hồ năm nào cũng băng giá.

***

Bà con mình thường nói: Bên Mỹ chuyện gì cũng có thể xảy ra được hết ráo!” Quả có vậy!

Nhân mùa Giáng Sinh lạnh bà con mình cũng nên đọc qua chơi mấy câu chuyện có thật nầy để ‘rút sợi dây kinh nghiệm’.

Mùa đông đường dẩn nước trong nhà thường bị đóng băng. Để có nước pha cà phê, uống cho ấm, chú em Mỹ bèn de xe lại gần cửa sổ đang mở để ống bô xịt khói vào nhà giúp tan băng.

Kết quả tan băng đâu không thấy, chú em, vợ và ba đứa con được xe hồng thập tự chở vô nhà thương cứu cấp vì ngộ độc khí ‘carbon monoxide’.

Rồi một buổi sáng mùa đông lạnh giá, không thể khởi động xe, George chẩn đoán xăng bị trong bình bị thành đá cục hết rồi. Nên chú em đem cái bình xăng chục lít dự trử trong nhà xe cũng bị đóng băng, đặt lên cái bếp ga để sưởi cho nó ấm, rồi đổ vô bình xăng xe.

Hậu quả cái bình nổ cái ‘bùm’, văng tùm lum làm phỏng luôn cái mặt điển trai như diễn viên hài hải ngoại Hoài Linh (đang về kiếm ăn trong nước).

Mùa đông cũng là mùa Giáng Sinh, mùa vui… nhưng có chuyện vui muốn khóc.

Vốn là một đứa con cá biệt, chú em không muốn đánh thức bố mẹ mình; vì sợ bị dũa te tua vì vi phạm lệnh giới nghiêm, cấm sau 9 giờ tối không được trốn đi chơi lễ Giáng Sinh cùng chúng bạn.

Về nhà muộn, chú em lên ống khói tuột xuống để vào nhà; nhưng thân thể phì nộn, mập như con heo nên chú em mắc kẹt trong ống khói. Leo lên không được; tuột xuống không xong; chỉ còn cách chổng mông là bố ơi cứu con với.

Lính cứu hỏa và cảnh sát từ thành phố Oak, tiểu bang Michigan, Hoa Kỳ, đến để giải cứu chú em ra khỏi ống khói; rồi xe hồng thập tự chở chú em thẳng vô nhà thương xức thuốc đỏ cho những vết xước, xức dầu cù là lên những vết tím bầm.

Cái kinh nghiệm hơi hoảng hốt và đau đớn nầy đã dạy cho chú em một bài học là: Bao giờ cũng nên dùng cửa để vào nhà hơn là qua cái ống khói của lò sưởi.

Chú em nầy phần số cũng còn may mắn lắm. Có tay chuyên nhập nha ăn trộm cũng làm y như thế, mắc kẹt trong ống khói, hổng ai hay. Mười năm sau, khi còn là một xác quắt queo vì bị xông khói người ta mới biết tại sao chú em hành nghề đạo chích nầy đột nhiên mất tích.

Rồi hai ngày trước Giáng Sinh, Jimmy lái môt chiếc xe buýt nhỏ để chở 12 tù nhân đi điều trị bức xạ tại một bệnh viện gần đó.

Giáng Sinh là ngày vui, nên tù nhân mời Jimmy một ly. Vì vậy, họ dừng lại ở quán rượu Rose và Crown, Ai cũng có một ly chúc mừng nhau Merry Christmas.

Uống xong Jimmy đi ‘xì trum’. Xong ra, tất cả các tù nhân đã biến mất. Jimmy lái xe vòng vòng hơn nửa tiếng đồng hồ để kiếm mấy ngài bạn quý của mình. Nhưng bóng chim tăm cá.

Làm gì bây giờ? Cái khó là nó ló cái khôn hè. Xưa giờ cũng vậy. Jimmy bèn dừng lại một trạm buýt nơi khách đang chờ xe để về nhà ăn mừng lễ Giáng Sinh.

“Mại dô! Mại vô! Xe buýt miễn phí cho ai muốn về nhè nè. Nhưng chỉ đúng 12 chỗ thôi. Ai lẹ chân thì còn; chậm chân thì rán đợi!”

Nghe vậy, 12 ông vội leo lên ngồi và Jimmy chở họ thẳng vô nhà tù. Xong đánh xe chuồn mất.

Thật đáng ngạc nhiên, cái trò láu cá của tên tài xế nầy chỉ được phát hiện vào năm mới. 12 ông khi khổng khi không bị ở tù một cách lãng nhách hè.

đoàn xuân thu.

melbourne

Một đời nặng nợ áo cơm!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 31 Dec 2023

Tranh Bảo Huân.

Sau 75, bà con mình đói khổ quá. Ðể có cái bỏ vào mồm mà sống sót thì ‘chà đồ nhôm’ tức ‘chôm đồ nhà’; kể cả những kỷ vật gia đình thường trân quý như chiếc áo dài ngày Ba cưới Má cũng đem ra mà ‘mãi’.
Vậy là bất cứ thành phố thị xã nào của miền Nam, chợ Trời tự phát mọc lên. Bà con mình ra đó mua mua, bán bán. Ðồ nhà cũng mua và đồ ăn cắp cũng mua. Bán gì cũng mua và mua gì cũng bán.
Khách hàng là những người dép râu nón cối, răng hô đi đâu cũng kè kè cái ‘bazooka’ để bắn thuốc lào nghe ro ro, thuộc phe thắng trận. Những người hồi đó tới giờ mới biết cái đồng hồ không người lái! Mới biết người Sài Gòn sáng nào cũng ra lề đường ngồi, nhìn đăm đăm cái nồi ngồi trên cái cốc mà suy nghĩ chuyện đời.
Giá mà những ngày cuối cùng của cuộc chiến, nhạy bén như đồng bào miền Bắc di cư vào năm 54, chạy ra bến Bạch Ðằng, bỏ cả chiếc xe gắn máy Honda cho đứa nào ở lại muốn chạy thì chạy, leo đại xuống chiếc tàu nào sắp rời bến là giờ mình đã ở đảo Guam; cuộc đời đâu áo vũ cơ hàn cho đến nông nỗi nầy!

***

Bà con lao động mình còn giỏi chòi đạp để tìm đủ mọi cách mà sanh tồn. Giới cầm bút làm báo thì dở ẹc trong chuyện mua bán nầy; vì suốt cả một đời chỉ biết bán chữ. Mà giờ cơm không đủ ăn thì bà con mình có ‘quởn’ đâu mà đi mua chữ chớ?
Nhà văn, nhà biên khảo Sơn Nam đành phải đem chữ của mình ra bán chợ Trời sáng sáng.
Sơn Nam xưa giờ đánh máy chữ xách tay hiệu Olivetti. Gõ chữ là có tiền xu, tiền cắc hè. Cái máy chữ này như người vợ nhỏ, cưới hồi nhỏ, bỏ hổng đành, hổng nỡ phụ bạc người xưa!.
Còn bây giờ ‘internet’ cũng hay! Gõ cộp cộp, xong, bắn cái rẹt là tới tòa soạn nhanh như chớp. Chỉ có cái vụ trả tiền nhuận bút là vẫn rùa bò, ì ạch như xưa.

***

Sơn Nam ngồi trầm tư bên ly cà phê đen trong căng-tin của tuần báo Văn Nghệ, chờ thiên hạ tới đặt bài. Vậy mà có một thằng nhà thơ còn con nít ke, dám giỡn hỗn, rằng: “Sơn Nam đang đứng bến như những cô gái giang hồ”
Hổng lẽ mới sáng nó đã ‘xỉn’ hay nó ‘cà nanh’, hổng ai đặt thơ nó viết? Mần văn kiếm ăn. Mà kiếm ăn là cạnh tranh, tranh danh, tranh tiếng; nhưng đừng chơi trò ‘phun độc’ nhe bạn! Mình là dân văn nghệ mà?!
Nhưng nghĩ cho kỹ, tay nhà thơ nầy không phải phun ‘nọc độc’ gì đâu mà ‘tự thán’ cho cái kiếp làm văn nghệ trong thời buổi hỗn mang bây giờ như một cô gái giang hồ bán thân; còn nhà văn bán chữ để nuôi thân. Viết phải làm vừa lòng kẻ trả tiền, dù hổng bao nhiêu, kể cả nói dóc để tuyên truyền; chớ không viết bằng trái tim của mình như ngày xưa nữa!

***

Ngồi một lát, có thằng đạo diễn (từ ngoài Bắc mới bò vô đất phương Nam một thời trù phú để kiếm ăn) lại, chở đi ăn phở Tàu Thủy trên đường Nguyễn Thiện Thuật. Sơn Nam bèn tháo hàm răng giả ra, bỏ lên bàn nghe cái cộp, để húp nước lèo cho nó đã.
Tưởng nó thơm thảo mời đi ăn phở nhưng đời mà có ai cho ai không cái gì bao giờ? Nó bỏ tiền ra bao tô phở để nhờ sửa giùm vài chữ. Nó viết: “Ði hái bông súng nấu canh chua” Sơn Nam gạch chữ hái, thay vào chữ ‘nhổ’. “Người ta ăn cọng bông súng. Cọng thì nhổ, hái khỉ mốc gì. Sửa một chữ, một tô phở, hổng mắc đâu!”
Xong xuôi, thằng đạo diễn nầy lại lái xe Honda trả Sơn Nam về chỗ cũ. Xưa giờ nhà văn Sơn Nam được mệnh danh là Vua đi bộ mà. Hổng có ai chở đi xa xa chừng 5, 10 cây số là chịu thua thôi. Hồi còn trẻ khỏe, ngày lội 5, 10 cây số ăn nhằm gì. Giờ già rồi nó phải khác chớ!
Cũng có lần tụi truyền hình bí đề tài, bèn lôi đại nhà văn ra mà phỏng vấn (dĩ nhiên có trả chút tiền còm) rằng “Sao viết văn?”
Sơn Nam, một cõi rất U Minh ‘sang sáng tôi tối’, trả lời rằng: “Tôi sức yếu quá, nếu khỏe như Huỳnh Ðức thì đã đi đá banh rồi. Lại xấu trai nữa, nếu không đã đi đóng phim như Chánh Tín hồi còn trẻ. Vừa ốm yếu, vừa xấu trai đành đi viết văn vậy!”.

*** Bán chữ ở chợ Trời, chợ đời cũng có bữa kha khá, bữa đủ ăn; bữa đói nhăn răng. Xui quá! “Có mấy cô ký giả trẻ đến hạch hỏi mấy tiếng đồng hồ, trả lời muốn khan cổ họng mà chẳng có đồng xu. Nhưng kể ra cũng tội nghiệp tụi nó, sinh viên từ miền Tây mới ra trường, đang thử việc, không có bài hay thì chủ báo không ký hợp đồng nên ráng giúp tụi nó”.
Dẫu vậy, so với nhà văn Lê Xuyên cùng thời, đang sống trong cùng khổ, phải bán thuốc lá lẻ ngoài đường phố thì nhà văn Sơn Nam họa hoằn đôi khi cũng có vô mánh.

Như thằng Tây Jean-Jacques Annaud, đạo diễn phim Người tình (L’Amant) quay tại Việt Nam (Sa Ðéc và Sài Gòn) vào năm 1986 cũng trả được một mớ kha khá nhưng cửu hạn phùng cam vũ, chịu nắng hạn lâu ngày được gặp mưa cũng đỡ đỡ chừng một tháng rồi lại tiếp tục hạn hán.

***

Thời buổi bây giờ viết là phải lách thế mới gọi là viết lách. Lách không khéo đụng vô điều cấm kỵ của mấy ‘quan anh’ về văn hóa là nó tước mất cây viết của mình, mất cha nó cái cần câu kiếm cơm là đói lắm!
“Ông muốn yên thân thì nghe lời tui: ngắt véo nó chút đỉnh. Bài ông viết, tui mới cho đăng, đặng ông kiếm chút cháo”…
Ðộc giả thân mến, có người thông cảm; có người không. Người không thì nói tui a dua: “Thiệt là oan Thị Mầu! Thôi kệ hàm oan thì chịu, biết nói làm sao bây giờ ?!

Bán chữ cũng bán từng bài nhưng cũng có đứa thấy kiếm ăn được bèn mua mão. Thằng nhà xuất bản Trẻ mua hết tác phẩm của Sơn Nam. “Bây giờ nhà xuất bản Trẻ làm ăn khấm khá, anh chị có cơm ăn, tui cũng có chút cháo” . Nghe vậy, nó trả hổng có bao nhiêu mà còn dặn đừng nói ai nghe; nên cứ tưởng tiền trao cháo múc như Tây. Nhưng ‘Mít’ lại trả tiền không ngọt, lắt nhắt, hổng làm gì được như gió vào nhà trống!
Kẹt cái là ngoài nó, hổng có ai mua. Toàn là đọc chùa trên ‘internet’ như hồi xưa đi coi hát cọp. Xưa nghèo, mê hát bội, hổng tiền, coi hát cọp là phải rồi. Giờ tụi nó giàu nứt vách mà cũng coi cọp nữa. Thiệt là bó tay?!
Rồi bữa phát hành sách lại mời thỉnh ‘giao lưu, giao liếc’ đánh trống thổi kèn quảng cáo xong, nó mời đi ăn. Nó ăn cơm Dương Châu, tưởng mình được ăn cháo Bào Ngư, dè đâu ăn cháo hột vịt muối. Mặn thấy bà! Mà nước mất rồi còn đâu mà uống?! Ðành kiếm nước phông tên uống đỡ.

*** Thưở sanh tiền, Khu du lịch Bình Quới, Thanh Ða có nặn tượng nhà văn Sơn Nam để câu khách. Ông đói nhăn răng, mà tụi nó bắt ông phải đứng đó để nhìn thiên hạ ăn nhậu ì xèo! Thiệt là oái oăm cho cuộc đời cho một người suốt cả đời cầm viết!
Nhà văn Sơn Nam mất năm 2008, năm nay đã được hơn 10 năm lẻ. Nhưng theo tui, chết đâu phải là hết, chỉ là ‘tiếu ngạo giang hồ’ từ hành tinh này sang hành tinh khác mà thôi!
Mười năm như bóng câu qua cửa sổ, trong chớp mắt. Sơn Nam được an táng ở Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương do công ty Chánh Phú Hòa (Cphaco) xây dựng năm 2006, rộng tới 200 hecta, tại phường Chánh Phú Hoà, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, cách Sài Gòn 50 cây số

Nghe nó quảng cáo là tặng cái mộ phần cho nhà văn Sơn Nam tốn của tụi nó tới 1 tỉ đồng. Có người vô tâm cho rằng nhà văn Sơn Nam hên, khi chết được mồ yên mả đẹp, nằm gần toàn đại gia, có máu mặt trên chốn giang hồ gió tanh mưa máu.
Tui thì lại nghĩ khác khi nhớ tới mấy câu thơ của ông: “Phong sương mấy độ qua đường phố. Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”.
Khi chết, theo tui đoán, chắc ông muốn về lại đất quê hơn, như trong ‘Tình nghĩa giáo khoa thư’, tuyển tập ‘Hương rừng Cà Mau’ để tiện thể ghé xóm Cà Bây Ngộp, thăm bạn hiền Tư Có, ăn cá lóc nướng trui, uống rượu ‘Ông Cọp’ chơi cho vui.

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.