Mây trôi trời mộng

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 2 Jan 2024

Hotel California là một bản nhạc hay. Tình cờ, mình nghe lần đầu ở trại Sham-shui-po, khuất lấp từ chiếc giường nào cuối dãy hut len lỏi trườn ra sân nắng. Tiếng guitar và tiếng trống tuồng không thoát được hàng rào lưới sắt, vướng víu thứ âm thanh chật tai làm đứa tị nạn buộc phải dằn lòng ngồi đắm mình, ngồi ngây người mơ tưởng tới một địa danh đầy huyễn mộng. Trưa hôm ấy mình mới thực sự biết được ban nhạc Eagles, và trưa lạ địa hình Kowloon đầy nắng vàng đã gội xuống đầu mình một cảm nhận: Người mình thứ gì cũng nghèo, sạch túi, rỗng ruột, kể cả âm nhạc. Đơn điệu quá, sơ sài quá, thanh bần quá, lưa thưa quá…

Mình ở tận trại Kai-tak, sát hông phi trường. Đến Sham-shui-po là vì mình làm việc trong trại ấy, đi xe buýt hai tầng màu đỏ giống hệt ở London chạy lề trái và mất khoảng 45 phút cho lộ trình bương chải lúc nào cũng nêm cứng người. Mình làm cho tờ báo Hope, được một cơ quan thiện nguyện tài trợ, báo in ba thứ tiếng: Anh, Hoa, Việt, dĩ nhiên là phát không cho những kẻ vô gia cư vô tổ quốc. Người ta giao cho mình phần chăm sóc mỹ thuật, minh họa một vài bản vẽ để in kèm theo thơ truyện. Người trực tiếp trông coi mình là bà Suzane, người Anh, cởi mở, thân thiện và độ lượng. Bà bảo tên mình khó phát âm quá, hãy bằng lòng cho chúng tôi gọi bạn bằng danh xưng mới: Neil. OK? Bà thêm thắt, đó là một cái tên hay. Tôi rất chuộng những bản nhạc của Neil Young. Bạn từng nghe qua? Heart of Gold là một ví dụ. Xốn lòng. Mình gật đầu, mình đã nghe các sáng tác của ông ca, nhạc sĩ Canadian ấy trước bảy lăm. Suzane có thể liên tưởng bởi bà biết mình đã được phái đoàn Canada tiếp kiến phỏng vấn, thu nhận cho định cư.

Ngoài mình ra, tờ báo Hope có năm người khác sốt sắng xắn tay chăm lo. Ba bà và hai ông thảy đều con cháu của xứ sở sương mù, bỏ quê nhà nai lưng đi xa làm công quả. Họ cho thằng Neil ngồi riêng trong căn phòng nhỏ, gõ cửa trước khi vào giao việc, rất lịch sự. Và lương tháng của mình là 1200 tiền Hồng-kông. Để có khái niệm về mãi lực của đồng tiền chốn ấy, thời điểm 1980, mình đưa một thí dụ cho bạn dễ hình dung. Quần jeans Levi’s 501 giá 82 đồng. Một tô vằn thắn mìn, ủm mánh (5$). Một chén chè lục tào xá, lưỡng mánh (2$). Đại khái thế. Làm hãng xưởng, một ngày (dách dật) xám xập mánh dậu phàn (ba chục bạc bao luôn cơm trưa), xem như lương mạt hạng tận cùng bằng số. ma chê qủy hờn nhưng Duỵt-nàm dành không ke. Việt-nam mà! Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành khó khăn nào cũng vượt qua kẻ thù nào cũng đánh thắng. Mẹ rượt! Nhằm nhò gì ba chuyện lẻ tẻ! Dắt lưng thêm cẩm nang: tạm trú thôi, ngày mai trời lại sáng khi ngày mai đi tới một đệ tam quốc gia, đằng vân giá vũ bước ngoặc lịch sử đổi đời.

Hai trang cuối của báo Hy Vọng luôn đầy chật những dòng nhắn tin tìm người. Một khuôn mẫu: “Tìm anh Nguyễn Trần Ai, vượt biển năm 79, trước ở trại Jubilee, nay đã đi định cư chưa? Ai biết tin xin vui lòng liên lạc cho Trần thị Khoai Củ, số thuyền # LM 2345, hut A2, Kai-tak East. Thành thật cám ơn”. Trang báo có khi là chiếc chià khóa giúp mở ra những cánh cửa bằng bặt im đóng. Là nơi giúp vài kẻ tìm được một đầu mối sợi chỉ mong manh bị đời sống xô giạt mất hút. Người ta để tâm kỳ vọng hú họa vào đôi ba hàng chữ, dọn lòng đón đợi một hồi âm. Dữ hay lành tùy thuộc vào mỗi số phần. Sáng khóc, chiều cười, chuyện ấy nào lạ gì cho phận kiếp đứa thuyền nhân.

Một bữa nọ, ăn trưa xong, có người đàn bà tới ghé mông cạnh chỗ mình ngồi trên băng gỗ. Bên kia hàng rào trùng điệp mỏi mòn là màu biển xanh và gió từ hướng Hồng-kông dịu dàng thổi vào chút hương mùi ngàn khơi bể mặn ưa căng ngực thu cất. Anh làm cho tờ Hope, có phải? Mình ngó người đặt câu hỏi. Khoảng 40, thường thường bậc trung, không trang điểm chẳng nữ trang. Đồ bộ nhăn nhàu, đôi dép nhựa cũ có vẻ đã lưu lạc ngàn dặm dài tính bằng đơn vị hải lý. Giả như tôi cậy nhờ đăng tải đôi ba hàng từ con thì có làm khó cho quý báo không? Bà nói chậm rãi và bà mang cho mình chút ngạc nhiên. Bản nhạc của Eagles lại vẳng tới:…I heard the mission bell and I was thinking to myself this could be heaven or this could be hell… Nó đấy! Tôi sẽ từ nó cho hồ sơ đi định cư bị trở ngại. Mình đổi thế ngồi mong thoải mái, thực sự thì mình như không nghe rõ. Chẳng phải lỗi ở đôi tai, đầu óc mình như vẫn còn say sóng, nhiễu sự. Có khi ngồi đây sao nghe hoang đường vây kín. Giấc ngủ hằng đêm vẫn chật cảnh tù đày bắt bớ súng ống bạo lực đi diễu hành tra tấn mộng mị. Tràng tiểu liên AK-47 bắn vãi xuống bờ biển như còn mới đường đi hòn đạn đỏ cày xéo vào thân kẻ chậm chân bật rú. Mình thực sự may mắn đến được bến bờ tự do? Chị nói sao ạ? Con gái tôi đó, nó có cái máy cassette to bằng chiếc gối khóa dây xích trên đầu nằm, nó hư đốn đến độ tôi phải buộc lòng từ nó cho bỏ ghét. Mình nhớ là đã moi tất cả kiến thức về những quy định của Liên hiệp quốc soạn thảo cho người tị nạn, mang ra, mình cố thuyết phục người đàn bà kia và cơn nóng giận dường như có dịu chút nguôi ngoai. Vả lại cắt đứt quan hệ mẹ con thì nghe có ổn không khi trước đó đã cùng nhau đem mạng sống ra đùa với cái chết khi leo lên ghe trôi tới phương trời vô định. Bà bảo trưa mai tôi mời anh ghé giường bọn này ăn chung bữa cơm gia đình, tụi mình xa xứ hãy nên đùm bọc nhau, an ủi nhau, đúng không?

Mình quen chị Tâm khởi sự là vậy. Cô con gái chị hăm sẽ từ nó có dáng vẻ mà khi gặp mặt, mười bảy bẻ ãy sừng trâu ấy đã xô tới mình cái cảm nhận mâu thuẫn: nửa không mấy cảm tình, nửa kia là một háo hức đầy lôi cuốn. Cô như con mèo tinh quái bởi chị Tâm gọi tên nũng nịu Miu-miu. Cô ngó mình bằng nửa con mắt khi so đũa xới cơm. Chị Tâm từng kể, nó không lao động bình thường hãng xưởng như bà con, nó lén lút làm trò ô uế… Cầu trời đó chỉ là tin đồn. Hôm tôi gặp anh đòi từ nó là bữa nó trao tay tiền chợ, móc ra và rớt xuống đất cái bao cao su, vuông vắn, sắc cạnh… Tự dưng mình như thằng quân tử tàu thường xuất hiện trên TV hằng đêm cho người xa xứ giải trí. Mình loạn ngôn: để trò chuyện lâu dài với Miu-miu xem có thay đổi chút ít tình hình, hứa với chị sẽ cố sức bình sinh. Đi làm tay không, mình đóng góp tiền nhờ chị Tâm lo cho bữa ăn trưa nhưng chị vùng vằng. Mình kiếm ra những cơ hội rũ cô cháu cùng đi chợ để mong được chi trả. Miu-miu nói tiếng Quảng-đông giỏi hơn mình tưởng, tôm cua gà cá đều mặc cả và người chốn này nói thách đến trời sợ. Lơ ngơ như chú có mà đưa cổ cho họ chém thẳng tay. Cô nhận xét thế, cười rộng miệng. Chém ngọt chừa miếng da nối kết lủng lẳng đầu mình và tứ chi.

Mình bắt đầu có cảm tình với con mèo nhỏ, bởi chính cô bé thường mang tới nụ cười bất ngờ, gieo rắc trên đường đi, giúp mình phôi pha bớt những nặng lòng đầy chật ở cuộc sống tạm bợ này. Thường là cuối tuần, bọn mình đón xe đi khu Nathan, hoặc lắc léo hơn, đến vùng Kim sao chổi. Trước, mình chỉ biết các thương xá loanh quanh Kwun-tong. Nay có mèo con cũng tựa như thổ địa đôi chân mình được rộng cẳng bước xa xăm, lòng thảng hoặc dấy lên nhiều nghi ngại. Mình tính mua tặng cô ấy chiếc vòng ngọc nhưng Miu-miu nhún vai chê bai. Mắc mỏ, để tiền ấy làm chuyện hệ trọng hơn. Cô nói, chú có bao nhiêu nơi mà bày đặt làm le làm gió? Bốn trăm rưỡi. Mình thành thật. Chú tính vất số tiền đó trong chiều nay? Cô nắm tay dắt mình đi qua một cánh cửa âm u. Tầm màn sáo còn xao xác vọng động sau lưng và khứu giác ngửi ra mùi hương trầm váng vất trước mặt. Giời ạ! Đây là nơi chuyên trị việc xâm mình xâm mẩy. Bức tranh nghệ thuật chỉ mới hoàn thành phân nửa trên lưng trần Miu-miu, bớt xốn xang hôm nay cô trở lại mong dứt điểm trọn vẹn những hoen ố bật máu. Cô vạch áo cho một gã trọc đầu xem lưng và nằm dài thư giản trên tấm nệm gã ấy vừa thay khăn trải mới. Gã mang găng cao su và mình cố tĩnh tâm ngồi chờ sát bên màn cửa. Thỉnh thoảng mình vội lén xem chừng, khoảng da thịt trắng và trên là đôi mắt biết cười thầm gửi tới mình vô vàn ẩn số.

Ra đường lớn đón xe, mèo con nói xem như cháu nợ chú một ân tình. Sao tự hành xác như vậy? Không đâu xâm nghệ thuật bằng nơi này, sang Mỹ sẽ hối tiếc. Nó mãi khắc vào da thịt mình một dấu ấn, đứa bé Việt-nam hồn nhiên của cháu đã chết, chú hiểu không?  Nếu tắt thở, thân xác cứng đờ, cháu viết di chúc để lại cho chú bức tranh sau lưng, chú ngán không? Họ lột da cháu cẩn thận, dĩ nhiên, để tôn trọng một linh hồn.

Mình thèm khát được hôn cô thiếu nữ tuổi 17, chỉ nên hiểu môi tìm môi là cốt ngăn chận những điều không hay được thốt ra nhưng xe buýt khật khưởng đã trờ tới. Mình đi sau lưng Miu-miu, ngầm bảo vệ cho da thịt rướm máu kia khỏi bị nhức nhối thêm khi đụng chạm người ngợm đứng đầy trên xe. Xe gầm rú, lòng mình chật chội những dấu hỏi chẳng thể thốt ra.

Trong sân cát người ta có trồng cột gỗ hứng đỡ cái TV màn ảnh rộng, khoảng bảy giờ khi hoàng hôn rút lui sau dáng núi ngăn bóng chiều tà, màn hình được cháy đỏ trình chiếu những bộ phim phát trực tiếp từ đài truyền hình Hồng-kông. Khi hình sự xã hội đen, lúc tình cảm oan trái, nhưng đa phần thảy đều võ hiệp phỏng theo những bộ truyện nổi tiếng của Kim Dung. Khán giả đứng ngồi cách khoảng cười nói quên muộn phiền, a-xề cảnh sát trật tự trại chắp tay sau đít đi rảo dáng điệu thân thiện thần sắc giãn nở. Nhiều pha gay cấn cũng khiến họ đực mặt chen chân chăm chú, tỉ như đoạn Tiểu long nữ bị thằng đạo sĩ thúi phái Võ Đang cưỡng đoạt cái ngàn vàng ở sườn đồi vắng ngắt ánh trăng sao chẳng có bóng dạ hành xớ rớ. Miu-miu lơ đãng, cô mãi ngậm cái ống hút cắm trên hộp sữa đậu nành, một lát cô bình phẩm: Sao trong những pho võ hiệp kỳ tình cứ thấy toàn một bọn người mãi đi hành hiệp giang hồ, nay vào tửu lầu kêu rượu thịt ê hề, mốt tìm khách điếm giũ áo phong sương nhắm mắt an dưỡng tấm thân lấm bụi. Nói chung thảy đều hành tung bất định, rày đây mai đó, khi quất ngựa vó câu rậm rật, khi thi triển khinh công chạy tợ ma đuổi. Gặp cảnh bất bình rút đao tương trợ tự rước phiền não ân oán vũ lâm. Ly kỳ là ở chỗ này: chẳng nghe “ông nội” nào có công ăn việc làm hết ráo, lương lậu ra sao, công ty sản xuất ra hàng hóa gì? Có cày over-time chăng? Suốt ngày cứ la cà cơm hàng cháo chợ miết thôi. Y phục giày dép rách hỏng tiền đâu sắm cái mới?

Hai đứa đứng ở góc sân, nơi đặt để tấm bảng luôn niêm yết danh sách những chuyến bay, thuyền nhân nào đi Mỹ, đi Úc, đi Tân Tây Lan, đi bốn phương trời mỏi cánh. Mình nói, để tâm làm chi tới chuyện giả tưởng. Nếu Miu-miu đang là đệ tử môn phái Nga Mi thì Miu cô nương đang làm việc chi? Bản cô nương từng đi đóng phim, tin không? Sáu giờ sáng, ra đứng trước cổng trại sẽ có xe tới đón, Một ngày có khi họ trả cả trăm bạc lại được ăn sơn hào hải vị tùy thích. Ba bốn giờ họ thả về lại trại. Mình lộ ngạc nhiên: Đóng phim gì? Cô cho hay: Họ bôi mặt mình, họ cào xới tóc mình rối ren, thay đổi xiêm y rách rưới rồi nằm ngồi la liệt trên con thuyền nhỏ, chỉ định đứa nào phải gào la, đứa nào phải nôn ọe… Họ để cái máy quạt thật lớn tha hồ ngụy tạo phong ba bão táp. Say nắng say gió say sóng chứ chẳng giỡn chơi. May mà không diễn tuồng gặp hải tặc Thái. Mình thắc mắc: Phim nói về gánh nặng thuyền nhân mà chính quyền sở tại cực lòng cho ăn nhờ ở đậu? Cô rùn vai: Chả ai thắc mắc, mình là con cá đang nằm trên thớt, chú thấy không? Trầy vi tróc vảy chứ đùa sao! Mình cắt ngang: Vậy thì cớ sự nào dẫn tới câu chuyện về cái condom?

Miu-miu ngó mình, bao nhiêu bóng tối có trong trại đều dồn đẩy vào mắt cô. Gương mặt Miu cô nương lúc ấy chẳng khác mấy nhân vật vận võ phục đóng khung trên màn ảnh nhỏ. Nữ hiệp ngậm câm đang vận công lực vào bàn tay nắm kiếm nhưng Miu cô nương thì gằn giọng: Cháu kiếm tiền trả nợ chỗ ngồi trên ghe, và đã thôi ân oán, sòng phẳng. Một ông ba Tàu, làm cai hãng sản xuất đồ điện tử đã bỏ ra hai lượng vàng để đánh đổi ba lần ăn nằm cùng cháu. Ra điều kiện, đừng tới đây nữa, đường ai nấy đi, kiếm chỗ khác mà tìm việc. Phủi tay. Chú muốn biết gì thêm? Mình muốn tìm lấy bàn tay Miu-miu để ấp ủ nhưng cô đã đưa lên dụi vào mắt. Như vậy mà hơn, cháu cứ mãi chờ một cơ hội để nói cùng chú chuyện này. Và cháu muốn bắt chước lời nói của ông cai: Chú đừng gặp mặt cháu nữa, mỗi người có riêng cho mình một lối đi, được không? Miu-miu quay lưng, bước gấp gáp, bàn chân khuấy động bụi cát. Cảm giác hụt hẫng vụt đến, mình như kẻ vượt biên bị bỏ lại ở bãi bốc và sóng mãi rút xa bờ. Mình đã xử sự như một đứa tuyệt vọng bằng cách chạy theo và ôm lấy cái nhân dáng nhỏ thó ấy trong đôi tay. Không ôm siết thì mãi hoài đó là một bóng hình đầy ảo tưởng. Miu-miu đang khóc, cô dụi khuôn mặt đẫm ướt vào ngực mình và chẳng rõ ai là kẻ đang thực sự thổn thức.

Mình có tên trong danh sách lên đường đi định cư. Có nghĩa là người ta sẽ mang mình tới một trại khác, cô lập và chờ hoàn tất những thủ tục cuối. Chị Tâm và Miu-miu tự nấu nướng chiên xào ba món làm bữa tiệc tiễn đưa. Họ sẽ đi Mỹ và họ cùng mang một ý nghĩ: Rằng thế giới này mênh mông nhưng không hẳn vì điều ấy khiến vùi dập tin tức dấu vết nhau. Hãy kỳ vọng có ngày chúng ta lại bắt được liên lạc. Miu-miu đùa: Có cần nhờ báo Hope giúp không? Mắt cô long lanh, sáng ướt. Bà Suzane đã ôm hôn mình ban chiều, chúc may mắn khi tái lập cuộc sống mới ở chốn giá băng. Bà trao quà cho mình: Một cuốn sách nói về đất nước Canada và cuộn băng cassette Neil Young. Mình cho Miu-miu cuốn băng nhạc, rồi cái máy Sony khóa cứng trên đầu nằm của cô sẽ vang vọng giọng hát rã rời khi mà mình sẽ chẳng còn kề cận bên cô.

Lợi dụng lúc chị Tâm mang chén bát ra sân rửa, Miu-miu kéo màn vây kín chiếc giường lại. Cô cởi phăng hai ba lớp áo, quay lưng cho mình nhìn bức tranh sống động lạ lùng. Mình ngồi không cục cựa, chỉ có tim đi nhịp gấp bởi nó đang đối mặt một tình huống khó xử. Đẹp không? Mình nín khe chẳng thể dóng tiếng. Hình xâm một thiếu nữ khỏa thân bị con mãng xà cuốn chặt lấy, mây, mưa, nước cuộn sóng dồn đẩy xuống thắt lưng quần và sau hết là khoảng da thịt lành lặn của Miu-miu như đang tỏa nhiệt. Trắng muốt, nuột nà, hoa mắt. Muôn đời mình chẳng thể là con mãng xà, trước sau mình chỉ là con rắn học trò, có mặt để chả gây phương hại tới ai, xanh mướt một hình thù.

Rồi mình ra đi. Hồng-kông có mưa bụi sáng ấy. Biển động và chốc lát mọi hình thể bên dưới bị xóa nhòa. Máy bay lên cao, rùng mình giữa cảnh sắc bất minh. Mình đang là cụm mây xám, dầy nặng, khó tan. Mình nhớ Miu-miu, con mèo nhỏ bé. Mình nhớ hơi thở đứt đoạn của cô đêm cuối. Giọng lắp bắp: Làm sao mình tìm cho ra một nơi thật quạnh vắng? Hình như chẳng bao giờ chúng ta thực sự có cho nhau một khoảng khắc riêng tư? Chú có thương đứa con gái bất hạnh này không? Chú đi Canada và chú sẽ mất tích? Hay Miu-miu đi Mỹ và cuộc sống chốn ấy làm cuốn trôi đi?

Mình thực sự bức rức. Mình có ý nghĩ kỳ cục: Cơ thể con người thật lạ, cớ sao vừa uống đầy cả lon Coke ngọt lịm vậy mà giọt nước mắt từ tốn ứa ra của Miu-miu lại mặn chát? Mặn bằng cả bể muối. Tất cả những dấu hỏi ấy mình không tìm ra được đáp số. Tại sao chú đi Canada mà không đi Mỹ giống cháu? Tại sao? Ừ, đấy là cả một vấn nạn và cách tìm ổn thỏa duy nhất: Chớ thắc mắc đem nghi vấn chơi khó nhau. Hãy câm lặng, như mình từng đè nén những biểu lộ, dẫu cực lòng.

Mình nhắm mắt lại, cố không nhớ đến khúc phim cũ. Con chim sẽ bay tới một phương trời biền biệt xa, sẽ tự tha rác, sẽ tự kiếm mồi, sẽ tự xây tổ, sẽ tự đối phó với gió mưa, ngần ấy điều hẳn chưa đủ nói hết sự bất thường nó phải gánh chịu sao Miu-miu? Con mèo nhỏ luôn ướt sũng nước cuồng chân ở Cảng Thơm.

Hồ Đình Nghiêm

Mão và Thìn, giữa khoảng cách

Hồ Đình Nghiêm

Giống con người, trái đất đôi khi đổi thay dở chứng. Không giống như dự báo, mưa đã đổ xuống, đã cuồng nộ bủa vây. Người ta có thể khóc suốt tuần những mong trấn nước nỗi buồn, nhưng mưa thì không, dây dưa sầu thảm đã bước qua tuần lễ thứ hai, và dễ chừng ngưng rơi là chuyện bất khả. Ngập lụt một điều gì, cuốn phăng một thứ gì rất đỗi hoang tưởng. Thay vì nắng lụa cùng mây xanh cao rộng chen gió lộng, hiện diện giờ này là toàn bộ những ướt át, cau có, xám ngoét và lạnh lùng. Một cuối mùa nhão nhoét. Một trang chót long bìa tróc gáy nhả keo rời chỉ kết khâu.

M không thể uống thêm, cốc cà phê đã hết. Và màu trời chừng như đã bước qua lằn vạch của hôn hoàng. Điện thoại di động đã mó tay hai lần, chuông đã reo và người bên kia rất nhậm lẹ việc hồi âm. Luôn luôn là sự dự phần của lúng túng, luôn luôn là chữ xin lỗi được nói ra. M trả tiền rồi cô rời quán Sầu Đông, co ro đứng dưới hàng hiên căng trĩu những tấm bạt mọng nước, biên giới giữa khô ráo và úng thủy, giữa ấm cúng và gió chạy vòng vo gây lạnh nỗi trống vắng nơi khoảng sân bằng bặt lặng câm. Cô vòng đôi tay ra ôm lấy ngực như ủ ấp hơi ấm, cực lòng với mái đầu luôn ngược xuôi ngó tìm. Ngực cô nhỏ, như tuổi mười bảy chưa đâm chồi sự ám muội của bụi trần, thuần thành nỗi hồn nhiên như sông thượng nguồn vẫn hằng tinh khiết. Cô ôm ngực cũng do lẽ cô không muốn ai kia nhìn thấy cái thẩm thấu của đất trời tai quái hắt nước vào người cô. Coi kìa, chưa gì hai sợi dây quàng lên bờ vai của chiếc nịt vú đã muốn lộ diện sự óng ả của chất liệu. Xem kìa, ai như kẻ cô chờ đang tới, tới với chiếc áo mưa màu vàng thụng thịnh và cây dù hình như chẳng dành cho phái nam. Cây dù đỏ in từng chùm hoa tím, sặc sỡ một tín hiệu riêng biệt, như chủ nhân là kẻ không mong mình sẽ lạc đường. Sẽ có người ơi ới gọi về nếu lộn hồn lạc viá. M kêu và T ngước mặt. Mưa có thưa đi đôi phần, bày rõ một dung mạo ánh lên niềm vui. M tính tìm lời trách móc nhưng bộ dạng của người tên T trông buồn cười. Lúng ta lúng túng, cà giựt cà tang, thầm thà thầm thụt, cà lăm cà cặp. Khi người ta đã trải đời sao người ta vẫn còn mang cái cung cách của một đứa trai trẻ vụng dại? Mười bốn mười lăm, hoặc mười hai mười ba. Rụt rè, ái ngại, thiếu tự tin và đi gần tới điều gì giống như mắc cỡ…Chú đi ra ngỡ mưa nhỏ, tần ngần một đỗi, thấy không ổn nên chạy u đi mua áo với dù. Chú xin lỗi bắt M phải chờ. Chú không có lỗi. M xem dự báo thời tiết bảo hôm nay trời quang mây tạnh, và như vậy, chúng ta có bắt lỗi được thiên nhiên không? Cùng lắm chú nên rủa thầm: Qủi, làm ta phải tốn tiền lãng xẹt! T đưa cây dù đỏ cho M. Bậy nà, không chừng mà phải cám ơn, chú thích đi dưới mưa, nhất là được đi bên M. Cô không nói, cô sợ giọng mình lã mềm khi phát tiếng. Cô sợ đủ điều, sợ đi bên người ấy, đêm này và sợ một phân ly, ngày mai ngày mốt ba bốn hôm sau. Trong kề cận đã bày sẵn khoảng trống, như thể một kẻ lên giường nằm và ý thức mình sẽ bắt gặp mộng dữ đón đường. M đã thức nhiều đêm, luôn luôn trong đôi mắt trắng đọng chiếu hình ảnh một nhà ga, một bến xe, một phi trường. Hậu cảnh nó là phương trời xa lạ chắn lối với sự can dự của trí tưởng ưa tròng đôi hia bảy dặm. Cà phê chẳng là nguyên cớ dẫn đến đêm thâu trằn trọc, mất ngủ bởi M sẽ không còn nhìn thấy T, giản dị có thế. Một sự giản dị làm rối tung, hoán đổi biết bao điều mà tuổi mười bảy M mang không tìm ra tự chủ. Cô cứng rắn phút này và cô mệt yếu ở phút kia. T hỏi: Chú hút thuốc, được không? M đứng lại thế một thỏa thuận. Cô nghiêng cây dù về phía T, thấp sát mái đầu che chắn cho ngọn lửa được thắp sáng trong gió mưa. Hôm qua trời xám, mây bay nhanh và người ấy đã khum tay tự mình thắp cháy được bó hương, thầm thì trước một nấm mộ. M ngó khung ảnh mẹ mình rồi ngờ vực: Liệu có một tình yêu bất tử? Người ấy băng qua một đại dương, mất hơn hai ngày đường để chỉ về đứng cúi đầu trước mộ chí? Ông ta nói những gì với mẹ mình? Có phải là sự dằn vặt, tại sao người lại sinh ra cô con gái giống người như hai giọt nước. M thế thân và M mang tôi đi giật lùi về tháng ngày cũ, về những vụng dại mà chúng ta lỡ để lạc nhau. Vốc cát vơi cạn trong bàn tay nhiều khe hở và suốt đời người ta chẳng thể giữ nước trong đôi bàn tay khum. Cạn kiệt một cố giữ bắt. Ngây thơ và khờ dại. Dẫu sao tôi cũng cám ơn người đã cho tôi một gương soi, trong vắt sáng rỡ tựa dung nhan M đang có.

Nơi bao thuốc in những lời răn đe, chú không sợ tổn thọ sao? Hôm qua chú thấy quanh mộ mẹ còn nhiều khoảng đất trống. Cái mà chú sợ là M không xí phần để an bài cho chú một nơi định cư kề cận. Nói nhảm! M đưa ý kiến, khiến T cười thành tiếng. Cái chết, tự nó đã là cuộc lìa xa, đúng không nào? Vậy thì mong cầu gì ở một cận kề nơi nghĩa địa. Đừng nói tới ba cái bậy bạ ấy, được không chú? Ừ, thiệt đáng trách. Lý ra chúng ta nên trân qúy giây phút này và cố làm sao kéo dài nó càng lâu càng tốt. Đêm nay M tới đằng khách sạn với chú, có được không? M sẽ phụ giúp chú sửa soạn hành trang. Dường như bước chân của hai người thảy vấp váp, tựa đường đi bày ra những vũng nước mưa giăng bủa. Hãy vào quán ăn kia, đêm chưa tới, còn sớm để chúng ta phát thảo một chương trình. Và khi trở ra chú sẽ che dù để M mặc chiếc áo mưa, mình hoán đổi bởi tuồng như M đang run lạnh.

M hỏi thật và chú đừng dối lòng. Chú vui không? Vui. M đưa bàn tay ra, những ngón chưa đeo nhẫn, ngón út cong lại ưa móc nghéo một giao hẹn. Nhớ đấy, M không thích nhìn chú buồn. Nếu buồn chú đã không trở về chung vui trong ngày trọng đại của M. Chú vẫn ngụ cái khách sạn cũ? Ừ, và chú đòi hỏi hãy giữ cho tôi căn phòng năm xưa. Mọi thứ đã khác trước, ngay cả căn nhà vĩnh hằng của mẹ… Tươm tất không chú? Tiền chú gửi về và M cố thực thi. Chú tin vào một linh hồn không? Sao M hỏi thế? Bởi có đêm nằm mộng nghe tiếng mẹ nhắn gửi: Hãy cám ơn chú T. M rướn người qua ôm lấy cái hình nhân luôn vụng dại. Ôm thiết thân và môi kề bên tai, ngực áp sát. Cám ơn chú.

Hai người ngồi bên sông, quán cà-phê bày ghế bàn lộ thiên và gió đi trên những mái đầu rắm rối tóc lệch đường ngôi. Người ta bảo thành phố nào có con sông lòn lách chảy qua thảy đều thơ mộng. Điều ấy đúng, cái đẹp còn được nhìn nhận qua ca từ: “Tôi đưa em sang ngang bằng xe hoa thay con đò…” Một vẻ đẹp sầu muộn. Sông mòn hao, mực nước thấp, như thể biển khơi đã rút hết sinh khí của nó. Mặt sông cau lại, tựa niềm đau chẳng thể than phiền cho một dãi dầu bương chải từ thượng nguồn mệt mỏi tới ngang đây. Con người cũng vậy, đời xui khiến bước chân giang hồ để có hôm về ngồi chốn cũ với bao tỉnh ngộ về chữ phù vân. Về một hao hụt, tước đoạt dần những niềm vui. Chú nghĩ gì đó? Chú nghĩ tới ngày mai, chú nhập vai rồi không biết có lấn cấn sượng sùng. Chưa bao giờ chú dự tiệc cưới mà được ngồi ở hàng ghế chủ trì đình đám. Đừng bắt chú phải nói lời phi lộ. M hiểu, đã nhờ người bạn làm hoạt náo viên, bất quá chú chỉ đứng lên khi có ai gọi tên mình, giới thiệu. Vậy thôi, giản dị, bởi lâu rồi người ta thông hiểu đàng nhà gái chẳng còn ai đông vui. Tưởng tượng không có chú, trời, chắc thê thảm tới bến! Cám ơn chú. M siết đan những ngón vào tay người đàn ông lưu lạc. Cái nắm bắt làm bóp nghẹt ý nghĩ quàng xiên: Nếu thành hôn với người đã vắn số, liệu chúng ta có được một người con gái giống như M? Một dương bản của âm bản kia nhạt mờ nước thuốc. Khúc phim quay chậm, chợt vẹt cháy nổ những bóng hình trắng đen. M có tính dắt chú rể đi hưởng tuần trăng mật ở đâu không? Chọn một địa điểm để chú mời hai người. Chú đi cùng? Bậy nà, chú đâu vô duyên đến độ phải chen vai thích cách trong dịp vui hưởng riêng tư hệ trọng kia. Rồi chú sẽ làm gì với một tuần trống vắng M? Chú lại về chốn giá băng nương náu. Không, không được, M chẳng đi đâu cả. M ở quanh chú. Trăng mật là cái quái gì? Chớ bày vẽ, hãy thực tế, hãy liệu cơm gắp mắm. Người ấy sẽ hiểu, bởi người ấy sẽ kề cận M suốt đời; trong lúc chú thì ở một nơi quá đỗi xa xôi chẳng mấy khi sum vầy. Hãy đánh đổi tuần trăng mật kia bằng một gần gũi cạnh chú. Chú ưa đi đâu M sẽ làm hướng đạo, chỉ có một M và một T. Một và chỉ một mà thôi.

Sau khi nói lời đoan quyết như một định đề toán học, M đứng lên có vẻ muốn rời đi. Cô bước tận giới hạn cuối, nơi bờ thành dùng chỗ gửi xe. Cô lấy điện thoại di động và gửi đi một tin nhắn. Người đàn ông trả tiền cà phê, ngó về phiá M đứng, trên đầu cô là loài cây thân gầy cắm đầy những cành hoa trắng nhỏ, nó độ lượng vung vãi xuống vai cô một màn voan mỏng khi gió tình cờ đi ngang. Một thứ xác pháo tả tơi và không là pháo hồng. Sao chú cười? Bởi trong đời, chú chưa từng thấy một cô dâu nào lạ lùng như M. Ngày mai theo chồng mà hôm nay thảnh thơi đến không tin nổi. Chẳng phấn son, chẳng tóc tai, chẳng gương lược, chẳng áo xống, chẳng canh cánh bên lòng một núi lo toan. M sẽ mặc chiếc áo chú mua từ Canada mang về và điều đó chưa đủ xịn sao? Hãy giảm thiểu tối đa những lòe loẹt nếu có thề. Chật vật không thể giết được một nụ cười, chú tin không? Tin, nhưng làm đầy đủ mọi thủ tục hình thức thì nụ cười e tươi tắn hơn! Quan trọng là ở trong lòng mình thôi chú ạ, phô diễn một nụ cười đôi khi chỉ là kịch tính. Chú thấy dân Bắc Hàn khóc chưa, lạy Chúa, sao đất nước ấy lắm nghệ sĩ nhân dân đến thế, những hình nộm cắm chật đất.

Họ dắt xe đi dọc bờ sông một đỗi. Đó là chiếc xe tay ga những 125 phân khối và M là chủ nhân. Dĩ nhiên người đàn ông vụng về kia xa quê lâu nên không thể cầm lái. Đội nón bảo hiểm rồi leo lên ngồi yên sau. M bảo, chú ôm đi, kẻo té. Eo M nhỏ và chiếc áo chắn gió chẳng thể ngăn luồng hơi ấm từ cơ thể M tỏa lan ở xúc giác. Tóc M thơm, thứ mùi xa vắng, gần như hương quá vãng. Xe lướt êm với tiếng động cơ nổ đều, chuyên cần lời cảnh tỉnh. Một giới hạn nào đó mà chúng ta chẳng thể lấn sang, như con đường sẽ dừng lại nơi buộc ta phải xuống. Nếu không, sẽ lạc nhau, xa mãi trong hối tiếc, dằn vặt. Con đường này trông quen thuộc, hình như chúng ta từng qua về lắm bận? Nó không phải lộ trình huyết mạch của thành phố, nhưng tại chú cứ thích đi lên đồi cao. Ừ, chú ghét cái xô bồ của phố phường, thích sự tĩnh lặng của những lối mòn… Và thích cây lá dẫn tới chỗ an nghỉ của mẹ? M cướp lời. M chở chú tới đó lần sau cùng.

Xe leo dốc mệt tiếng máy, người ngồi nghe gió vi vu trôi ngoài vành tai. Gió gửi thêm hương mùi ngai ngái, thứ mùi của một khẩn hoang vỡ đất đốn cây khai quang rơm rạ cháy. Mùi tiếp giáp đồng không mông quạnh hay hương đồng cỏ nội tỏa vây? Bùi ngùi chẳng lâu thì xe thắng lại, lãnh địa này chật chội buộc phải xuống xe. Dựng chống lên, khóa bánh lại, thong thả bước bên triền cỏ thấp cao có danh xưng của mỗi một thân phận cắm số kiếp lên những ụn đất chẳng đồng dạng. Người hưởng dương kẻ hưởng thọ, khuất tất nỗi oan trái bị chôn chặt. M quay đầu: Từ đây, ở chỗ này, liệu chú có thể tự mình tìm tới đích không? M làm như chú là một hồn oan suốt đời đi bụi không nơi nương tựa! Chú chịu thôi, cách hơn năm, người bỏ dương thế cũng nhiều, xem ra mẹ đang có lắm bà con lối xóm quần tụ. Đừng nói là chú, nếu không chú tâm M cũng sẽ đi lạc. Đôi khi M tự hỏi, mỗi năm số trẻ con chào đời có vượt trội hơn những kẻ mất đi. Y tá hộ sinh làm việc nhiều giờ hay người đào mồ lao động luôn tay. Ai hơn ai? Thành phố sẽ đông chật hay mỗi lúc một thưa vắng dần? Sự luân hồi, nếu điều đó đúng thì không xảy ra sai biệt, bởi có người vừa nhắm mắt, lập tức có hài nhi mở mắt chào đời. Như một chuyến tàu dừng ở sân ga, người bước lên, kẻ đi xuống.

Hai người bỏ dở câu chuyện, thôi nói bởi họ nhận ra đích đến. Trong túi xách M đeo vai, cô lôi ra tấm ny-lông màu vàng xếp gấp vuông vắn. Không, đó là chiếc áo mưa năm cũ, một quá khứ còn tươi mới; như từ bấy tới giờ M chẳng hề mó tay vào, sử dụng nó. Chiếc áo mưa mang T đi giật lùi vào những cơn mưa nặng hạt, và với tất cả mọi che chắn cố chống trả, thân T không bao giờ khô ráo. Thấm đẫm một nỗi niềm mà mưa ở Canada chẳng tài nào tạo ra được thứ vũ lượng nghe bồi hồi. M trải chiếc áo mưa xuống bờ cỏ bên mộ. Bề rộng tối đa của nó vừa khít với khoảng trống đất đai. Chú ngồi xuống đi. M ra dấu rồi nhích người dọn chỗ cho T. Ngồi ở đó có thể đọc rõ hàng chữ khắc trên bia. Có ghi tên kẻ khuất mặt, có viết tên M, và váng vất chút ngờ vực ẩn nấp vào trên đấy. M có hứa với mẹ sẽ cố làm tròn những thứ mà mẹ chưa kịp trao tới chú, vả lại thời gian gần đây chú cho M nhiều thứ quá. Nhiều, chất chồng như món nợ không cách gì trả đủ. Chú hiểu M không? Chú đừng nói gì cả, hãy để M nói. Chú ôm chặt M đi, ngày mai M theo chồng, M sẽ biến mất. Khi chưa biệt tăm, M sẽ trao thân cho chú. Cô xô thằng đàn ông ngác ngơ nằm vật xuống. Mây bay hờ hững với bóng chiều, đó là khung trời T nhìn thấy trước tiên, nó bị che khuất bằng gương mặt M, gần sát, ám tối. Những sợi tóc rối buông và sau chót, đọng trên môi T cái vị mặn quen thuộc của một giọt nước mắt.

Mùa xuân nằm trên cành cây đâm chồi, dưới đám cỏ rùng mình thức giấc và xuân cũng về gai lạnh trên vùng da thịt để trần. Xuân làm nhựa sống luân lưu chảy rậm rật. Giọt nước mắt thứ hai lại gửi xuống mặt T. Khi rơi, nó mang theo sức nặng của sự khó hiểu. Của ăn năn, của hoan lạc, của bù đắp, của mất mác? Nó vỡ ra trên T một lay tỉnh, như tiếng kêu sắc nhọn của con chim nào, vừa bay qua vùng nghĩa trang vắng lạnh. T ôm cứng lấy M, siết chặt để tay M ngừng mở những hạt nút. Ôm, như sợ cái báu vật trong tay sẽ rạn nức, tan biến. Như sợ thứ gì đó sẽ tới, sẽ cướp đoạt hãm hại cô. T gọi tên người nằm dưới đất, thầm thì khấn nguyện xin thứ lỗi cho tôi. Cái chết, sự sống thảy đều vô nghĩa tựa nhau. T nâng đỡ M ngồi lên và hôn vào trán cô. Với tất cả nghị lực của một thằng đàn ông, cố hết sức, T vẫn không thể nuốt trôi, vẫn để nước trong mắt cay trào ra, thổn thức. M không nói gì, cô với tay chập lại hai vạt chiếc áo mưa, gài kín từng hạt nút, trói thân chung.

Buổi chiều trên đồi cao, gió đứng nhưng mây vẫn bay, thường hằng, mãi miết, vô phương hướng.

Hồ Đình Nghiêm

Liêu trai

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 2 Jan 2024

Thoát được bát quái trận đồ, Ðằng Võ đứng nhìn căn nhà án lối. Vật đổi sao dời, cảnh sắc biến hóa, đường sá thay tên đổi họ, thiệt khó tìm. Mà cũng không chừng thằng lái xe ôm ưa trấn lột tiền bằng cách chạy vòng vo, thong thả phun khói xăng. Chóng mặt, say nắng.

Ðằng Võ bước vào sân, hơi choáng váng. Một người đang ôm bình tưới nước ngẩng mặt lên, án chừng dọ hỏi, đón đường.

– Có đúng là nhà của Kiếm Văn?

– Thưa phải.

Những cánh hoa đầm đià ướt át, lả lơi. Năm sáu loài khác nhau, ba bốn màu dị biệt. Hương thơm nhẹ thoảng. Nước rơi xuống, giọt đọng trên cánh hoa, giọt lăn vào đất, thẩm thấu. Người đàn bà nghỉ tay khi nước đã cạn trong bình. Y phục nhàu bẩn, dáng dấp quê mùa, tựa hồ một kẻ làm công.

– Nói cho Văn biết có ta từ ngàn dặm đến thăm.

– Xin đợi ở đây, tôi vào báo cáo.

Ðằng Võ chắp tay sau lưng, nhìn ngang liếc dọc cảnh vật. Dưới mái hiên có treo dãy lồng chim. Sơn ca, chích chòe, họa mi, hoàng yến thay phiên hoà âm. Tiếng cao tiếng thanh chen vai thích cánh, ngân nga giữa chiều đang dịu nắng. Hoa và chim. Vườn tược và cách bài trí. Ô hay, xem chừng như đây là nơi quan chức an hưởng tuổi già. Một kẻ giàu tiền của muốn ẩn dật vui thú điền viên?

– Trời đất ơi!

Một tiếng la. Nửa mừng vui, nửa thảng thốt. Kiếm Văn mang tiếng reo ra khỏi bậc thềm. Áo quần bảnh bao, mặt mày tươi nhuận, thần sắc khác thường.

– Về hồi nào? Sao không đưa tin cho đệ đi đón rước?

– Về ban trưa. Ta bao giờ cũng ưa mang đến sự bất ngờ.

– Than ôi! Bao nhiêu năm rồi? E đã có hơn mười mấy mùa lá rụng. Huynh thật đổi thay.

– Bậy. Trước sau ta vẫn vậy. Kiếm Văn mới là kẻ làm ta ngờ vực. Trong đầu ta không hình dung được cảnh trí này. Ðứng đây mà ngỡ ngàng, tưởng chân đi lạc vào gia trang kẻ khác.

– Thôi, chớ chơi nhau. Chớ làm tình làm tội nhau kiểu ấy.

– Ta mừng cho hiền hữu không hết sao lại bảo là chơi nhau? Ta vẫn tưởng kẻ ở lại quê nhà đứa nào cũng lam lũ chật vật. Ai mà dè!

– Cuối cùng huynh cũng quay đầu. Phú quý không về làng khác nào áo gấm đem mặc vào ban đêm. Hãy vào nhà, uống một chút men cay gọi là đánh dấu buổi sum vầy, mừng vui vô hạn.

Ðằng Võ đi theo Kiếm Văn. Nhà ba gian hai chái đã phá bỏ để xây cất theo kiểu hiện đại. Trường kỷ, tủ khảm xà cừ, bệ thờ ông bà tổ tiên đã dẹp mất, nhường chỗ cho bàn ghế gọn nhẹ in tuồng của Ikea. Mỹ thuật, hài hoà, sang cả. Ðằng Võ dòm qua, bật lên tiếng than:

– Ta mà phú quý gì. Sống lây lất xứ người lao động quần quật cũng chỉ vừa đủ miệng ăn. So ra, nhà ta bên đó không thể sánh được chốn này. Cuộc đời thật có nhiều cái khó hiểu!

– Thật sao? Khó hiểu lắm sao? Xuân vũ vô cao hạ, hoa chi hữu đoản trường.

Kiếm Văn xổ nho. Ðằng Võ ngã ngồi xuống ghế.

– Bàn tay có ngón ngắn ngón dài, nếu thế ta là ngón cái còn Kiếm Văn là ngón giữa chăng?

– Khẩu khí ấy thật không phải là của bọn Việt kiều. Nhưng thôi, hãy quên đi. Mọi thứ đều phù du, tình bạn là vạn tuế, đúng không?

– Ðúng mà sai. Ðừng cưỡng bức định nghĩa một thứ gì ráo. Ta đọc trên báo Công an, hằng hà sa số những vụ khó hiểu, đơn cử như con đâm cha mẹ những năm nhát dao chí mạng vì muốn làm chủ hai triệu đồng. Chuyện ấy nên hiểu sao cho thông lý suốt tình?

Bia Heineken được khui. Lon nhôm ướp lạnh, logo ngôi sao đỏ in bên ngoài vả mồ hôi, chảy nước mắt.

– Uống đi. Uống mừng mấy chục ngàn dặm kinh qua mà chẳng bị không tặc khủng bố, lành lặn hình hài về tới quê hương.

Ðằng Võ nghe lời, ngữa cổ nốc bia. Thoáng đọng trong con mắt, lung linh vẻ đẹp rạng ngời của một thiếu nữ thoát y. Ðặt lon bia xuống bàn, kéo vạt áo chùi kính cận thị, đeo lên lại và ngó chăm chú vô bức tranh sơn dầu khổ lớn treo ở góc tường. Danh họa nào đã tỉa tót vẽ nên một dáng dấp sống động, ngỡ như thật. Ngày xưa, ông quan tội nghiệp nào đi sứ sang Tàu đã đưa tay chụp bắt một con chim có trong bức tranh, chuyện đó e phải nên tin. Thực và giả, việc ấy chỉ có bọn nghệ nhân nghệ sĩ mới hiểu thấu tường tận.

– Có đẹp chăng? Kiếm Văn rung đùi.

– Ðẹp. Ðẹp lắm. Ðằng Võ chớp mắt.

– Người hay tranh?

Ðằng Võ nheo nheo hai con mắt. Lông, tóc, mông, ngực, eo, đùi. Ðầu, mình và tứ chi thảy đều mượt mà, không tì vết. Thậm chí nốt ruồi cũng chẳng đậu được một hột đen.

– Sao lại hỏi thế? Sao lại treo cái báu vật đó giữa nơi này? Hội họa có được hiểu là một thứ để khiêu dâm không? Treo lên để trắc nghiệm lòng người chăng?

– Ngôn từ nọ có đúng lại có sai. Thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật mà lòng gợn tà ý thì ắt rằng kẻ đó chẳng phải là bạn của Văn này. Sao, từ thuở làm kiếp ăn nhờ ở đậu huynh có còn xắn tay áo lao vào cuộc chơi giỡn màu vọc cọ?

– Than ôi! Võ này ví như cây quýt bị bứng trồng ở nơi hiểm địa. Chua lè, đắng chát. Sinh lực tiêu hao, ta chẳng còn thiết để tâm vào một việc làm nào cả.

– Uổng thay! Phí thay! Thảng hoặc lòng có dấy lên chút nỗi niềm hối hận?

– Hối hận chuyện gì?

– Chuyện bỏ trốn đất cha làm thân lưu lạc.

– Bậy. Ta sống còn tới hôm nay là nhờ mau chân. Làm con rùa rút cổ ở lại thì e hồn du địa phủ lâu rồi. Thôi, đừng khơi chuyện cũ, mất vui. Ta về hôm nay mọi vật tuồng như đã khác trước?

– Phải.” Hãy lau khô nước mắt đi em, vết thương hôm qua sẽ thành sẹo”.

– Thơ của Kiếm Văn?

– Không dám đâu. Tuyên ngôn của một kẻ đại thần.

– Ðổi khác không có nghĩa là vết thương đã thành sẹo. Diện mạo này tuy bề ngoài hoa hoè hoa sói nhưng bên trong chừng như nhiễm độc trầm kha. Nghe đâu nuôi dưỡng vi trùng vô số kể.

– Sida là bệnh ngoài da, mười năm mới chết thì ta sợ gì.

– Lần này thì đúng là lục bát của Kiếm Văn?

– Ðấy là quan niệm sống của chị em ta. Văn này tuyệt không đủ sức để sáng tác một câu xuất thần tựa thế.

– Vậy chớ hiền hữu làm quỉ chi mà một tay gầy dựng nên cơ ngơi to tát đến dường này?

– Ðêm nay hãy nán lại tệ xá, chúng ta nằm gát chân lên nhau mà hàn huyên bao chuyện đổi dời.

– Nói cũng đúng.

– Về ở lâu mau?

– Ta không có hoạch định chương trình. Dài lâu hay ngắn hạn đều tuỳ vào lòng người, lệ thuộc cảnh vật. Thành tâm mà nói mọi thứ ở đây tuồng đã thờ ơ lạnh nhạt với ta, như không có giây mơ rễ má nào liên hệ với nhau. Ác cảm. Ngay phút ban đầu đặt chân xuống đất mẹ cũng phải bị nộp tiền mãi lộ mới được hanh thông chuyện đi đứng. Ôi, ta vẫn ngỡ bọn thảo khấu Lương sơn bạt chỉ có trong võ hiệp kỳ tình giả tưởng mà thôi!

– Cha mẹ ôi! Bơ sữa của bọn đế quốc đã đầu độc huynh mất rồi! Sao lại phát ngôn linh tinh ra thế? Nhập gia thì phải tuỳ tục.

Ðằng Võ chưa phản ứng chợt có tiếng chuông ré lên. Trong túi áo Kiếm Văn dấu gọn cái vật phát tiếng thúc bách ấy. Cầm điện thoại di động nhỏ tựa một cái tai heo, Kiếm Văn áp nó vào má và sắc diện luôn thay đổi khi đón nghe lời nhắn nhủ thì thầm.

– Thật là đường đột. Xin thứ lỗi, đệ có chuyện khẩn phải đi ngay. Huynh cứ ngồi yên vị mà nhấm nháp, thoải mái tựa đang ở nhà mình. Thu xếp công việc xong đệ sẽ giỏi chân trở về và chúng mình kéo nhau đi nhà hàng đặc sản cao cấp đánh chén.

Xe gắn máy đời mới sản xuất ở nước đàn anh Trung quốc vĩ đại từ nhà sau được dắt ra. Máy nổ dòn, Kiếm Văn leo lên yên.

– Nhớ nhé, chớ buồn chân đi thơ thẩn mà lạc mất nhau. Ði đái đi ỉa thì cứ tỉnh bơ lui nhà sau xả bầu tâm sự.

– Ðược. Ta đợi. Tám giờ tối là hạn cuối.

– Quân tử nhất ngôn.

– Ðinh mười phân đóng chặt vào gỗ.

Xe hai bánh phun khói lại ở sân mang bóng hình Kiếm Văn vụt mất như gió thoảng. Ðằng Võ khui thêm bia, mặt đỏ ké và lò dò tới đối mặt với tấm tranh. Thiếu nữ đứng trần truồng bất động ấy khoảng tuổi đôi mươi, tuy bị dát mỏng hình hài trên mặt bố phẳng nhưng Ðằng Võ cũng mường tượng ra những vùng thịt sung mãn nhô ra ngoài. Tràn đầy, căng cứng. Bắt chước tiền nhân, Ðằng Võ cũng thò tay sờ nắn thử. Nếu ta làm chủ được xác thân kia thì những đứa bạn mà ta kết giao đều phải có lý lịch là thái giám trong sạch, ba đời không nuôi chim, đảng viên đảng dị ứng đàn bà. Ý nghĩ ấy làm Ðằng Võ mắc đái, vén màn vải in hình chùa Một cột lui gian nhà sau. Chạng vạng ngoài trời và tù mù phòng vệ sinh ám tối. Bước chân thôi dọ dẫm khi ngọn đèn néon xanh tái mở bừng con mắt trên đầu Ðằng Võ. Có tiếng cười nhẹ sau lưng.

– Công tắc đèn nằm đây chứ nào phải bắt ở đó mà đưa tay sờ soạng.

Ðằng Võ quay đầu, sững sờ tới độ chẳng rút được bàn tay đang mân mê những hạt nút vừa cởi ở quần. Giống như chuyện liêu trai, người vừa gióng tiếng giễu cợt đó là một thiếu nữ mặt hoa da phấn. Cô đã sống động từ bức tranh bước ra, không quên mặc vào người bộ đồ ngủ bằng hàng lụa mỏng. Ðược ôm con ma ấy vào lòng có chết cũng cam, vì vậy Ðằng Võ chẳng chút hãi sợ, nao núng. Nói cho khoa học biện chứng, bia trong người Võ đã trao cho Võ sự can đảm. Ðồng thời nó có vẻ xúi dục Võ, khích lệ một cuc tổng tấn công. Tiền pháo hậu xung, lấy thịt đè người. Ôi, nhà thì quạnh quẽ mà nhà ấy lại chứa độc có cảnh trai đơn gái chiếc. Cái ấy là ý nghĩ sáng suốt của ta chứ không phải do bia Heineken xúi dại.

– Võ này lưu lạc đã lâu, đi đã gần cùng khắp mọi chốn nhưng thề với em ta chưa từng gặp ai mang thứ nhan sắc diễm tuyệt như em đang có. Phút đầu, khi ngó lên bức tranh, lòng ta đã thoáng giao động, nhuốm mùi tục lụy sững sờ. Nói cho ta biết em tên chi? Nhắc nhở cho ta hay đây là hiện thực mà không hề là mộng ảo.

Áo lụa mỏng di chuyển lại gần, êm ái, thướt tha.

– Sao lại mộng mị, sao lại hoang đường? Khi ngắm tranh, Kiếm Văn không giới thiệu qua cho anh rõ à? Em là Quỳnh Hoa. Và chúng ta đang ở đời thường.

Khứu giác Võ đánh hơi, cánh mũi Võ phập phồng. Quả nhiên từ người con gái không ngừng xô dạt tới một hương mùi kín đáo. Nó không hẳn là mùi Dove, Camay; lại càng không ra mùi xà phòng Chà và, Cô Ba, trầm, bồ kết do ni địa sản xuất 72 phần dầu. Ðích thị đây là mùi thanh tân của một đứa con gái vừa đi qua cánh cửa vị thành niên, mùi hoa quỳnh oằn thân khai hoa nở nhụy kín đáo giữa đêm thâu. Âm thầm, ngây ngất.

– Nãy giờ em trốn nơi mô mà ta không hề thấy qua?

– Em bận tắm. Em bận vốc nước kỳ cọ rửa ráy, em lau mình lau mẩy. Kiếm Văn thông báo: Hôm nay nhà ta có khách quý. Không có gì quý hơn… ông khách Việt kiều.

– Mà này, ta cũng hơi sơ ý. Liên hệ giữa em và bạn ta ra sao? Biết trước để khỏi mang tội sàm sỡ. Bà con xa? Láng giềng gần? Hay thê nhi, tì thiếp?

– Trật tuốt luốt. Gọi sư huynh cũng đúng mà nói Kiếm Văn từng là ân nhân của em cũng chẳng sai.

Ðằng Võ nhìn mặt mũi, ngó tay chân, quan sát thân hình Quỳnh Hoa. Rõ ràng người với tranh tuy hai mà một, như chị em sinh đôi, như hai giọt nước. Hoa nhường nguyệt thẹn.

– Thằng họa sĩ nào cũng khá mát tay!

– Xưa nay em nghe đời gọi là bác sĩ mát tay, thi sĩ mát giây, chứ chưa bao giờ nghe tới họa sĩ có đôi tay thiệt mát.

– Không mát thì nóng, không sạch thì bẩn; cái đáng nói là thành quả: Nó đã lột tả hết nét đẹp mà em có. Kiếm Văn quả là kẻ biết nhìn người, khéo chọn lựa.

– Ngó dậy mà hổng phải dậy!

– Tại sao vậy cà?

– Anh còn nhớ trò chơi tìm ra bảy điểm khác biệt thường in trên báo không?

– Nhớ, thời xưa ta rất ưa chơi trò đó. Họ đặt hai hình vẽ tựa nhau nằm kề cận để thử nghiệm cặp mắt mình. Bên này ba cành hoa bên kia chỉ có hai. Ông sói tóc này có ba sợi, hình kia thì đầu lại mọc thêm sợi thứ tư…

– Bức tranh treo ngoài kia và em cũng có vài điểm dị biệt.

– Tranh thì hoàn hảo lắm rồi, chẳng lẽ em lại trách cứ lão họa sĩ không chịu triển khai hết vẻ đẹp thầm kín trên người em?

– Với đôi mắt của một kẻ tầm thường, người nào cũng phát hiện ra sự khác biệt ấy.

Bàn tay Quỳnh Hoa đưa lên lần cởi nút áo. Bụng dưới căng cứng, Ðằng Võ như người đứng trên lửa.

– Khoan, xin em hãy đợi.

– Chuyện gì?

– Ta linh cảm như có điều bất thường đang rình rập.

– Anh có muốn đi đái thì cứ nói trắng ra. Ðái cho nhẹ người, điều bất thường đang rình rập kia sẽ trôi ra ống cống.

– Phải. Ta sẽ đái nhưng chưa chắc là ta sẽ nhẹ người. Kiếm Văn trở về bất ngờ và ta sẽ nói sao với nó đây? Giang hồ đã từng coi thường bọn Việt kiều như ta. Dỏm, hồi hộp, Việt gian… đủ các thứ gán ghép.

– Anh thì khác, dưới mắt em anh là đồ xịn. Còn Kiếm Văn? Một kẻ đi hẹn hò với nhân tình nhân ngải thì hắn ta đâu có dễ mau chân rời bỏ hiện trường. Lại nữa giờ này đang cao điểm, tất phải bị ùn tắc giao thông. E phải tới tám giờ tối chàng ta mới phờ phạc trở về, đến hẹn lại lên.

– Ùn tắc giao thông?

– Bị kẹt xe đó, không hiểu à?

– Fuck. Mẹ rượt! Ðằng Võ chửi thầm. Rắc rối hơn cả tiếng tây tiếng u.

Hạt nút cuối cùng thoát khỏi khuy, hai tà lay động như màn voan treo trước cửa phòng the run rẩy gió. Da thịt trắng ngần, phơi bày từ bán phần đến toàn phần. Nụ hồng lấp ló. Ðằng Võ nuốt nước bọt. Quỉ thật, tu bia có đến cả lít vậy mà nó đã bốc hơi đi đâu? Khô khan, bỏng rát. Thèm ăn chùng một trái dừa tươi biết mấy! Thèm uống vụng một bầu sữa ngọt vô cùng!

– Khoan…

– Nữa, lại hò rồi khoan. Sao anh cắc cớ quá chừng chừng!

– Ta không phải hạng trẻ người non dạ. Thực ra thì em đang nuôi dưỡng một âm mưu gì?

– Em sợ và em ghét chữ âm mưu vô hạn. Âm mưu vượt biên, âm mưu bôi bác chế độ, âm mưu chống đối chính quyền. Ðừng đổ oan vào lòng thơ ngây này bằng cụm từ khó nghe đó.

– Ta cũng ghét câu như chim vào lồng như cá cắn câu. Bác Hồ cũng từng làm thơ răn đe: “Ðau khổ chi bằng mất tự do, đến buồn đi ỉa cũng không cho!”

– Ỉa đái gì thì làm lẹ lên. Có ai cấm cản đâu?

– Võ này đâu phải hạng phàm phu tục tử. Ta phải biết thu dấu của quý trước mặt chị em phụ nữ.

– Thôi, để khỏi mất thời giờ vô lối em đành thưa thốt đôi điều để xua tan sự dị nghị có ở anh.

– Phải. Sáng sủa bao giờ cũng hơn mờ ám. Em cứ nói thật, nếu được không chừng ta sẽ dốc lòng vui vẻ giúp em ít nhiều.

Chiếc áo được cởi ra. Quỳnh Hoa để mặc cho nó rơi nhẹ xuống đất. Cô xoay người lại.

– Anh thấy gì không?

– Em cảm cúm hay em bị trúng gió?

– Kiếm Văn đánh em bằng roi mây đó.

– Bậy. Không phải có người đã cạo gió cho em sao? Sau lưng hằn đỏ hình xương cá.

– Ở ngực thì sao, có ai lại cạo gió nơi vú bao giờ?

– Trời đất! Kiếm Văn bạn ta sao lại nhẫn tâm đến thế.

– Ðể em cởi quần cho anh xem những thương tích bên dưới. Em và bức tranh không hề là bóng với hình. Nếu có, một bên đã là quá khứ, một bên là hiện tại thương đau. Khác, khác xa.

– Dập liễu vùi hoa! Không thương hoa tiếc ngọc. Bậy, bậy thật!

– Anh nói sao?

– Không. Ta thật ái ngại. Cho em và cho ta.

– Xin anh hãy thương em.

– Thương yêu có năm bảy đường. Em muốn ta tỏ bày bằng cách gì?

– Em sợ bị tù đày chốn này rồi. Hãy mang em cao chạy xa bay. Ơn cứu tử ấy em nguyện làm thân tôi mọi để đền đáp.

– Nhưng mà…

– Nhưng mà để tỏ thành tâm, trước tiên em xin được hiến dâng, ngay từ giờ phút này.

Ðằng Võ tần ngần, mặt khờ khạo tuồng như suy nghĩ lao lung.

– Cơ hi chỉ tới với chúng ta lần này thôi. Dùng dằng, thắc mắc, toan tính thì sẽ hỏng việc. Cho anh hai phút, em ra khoá lại cửa nẻo.

Quỳnh Hoa bước đi và Ðằng Võ tranh thủ đứng đái, bộ tịch bấn loạn, rùng mình mấy bận.

– Khi tới đây anh có trông thấy dãy lồng chim không?

– Thấy. Có chi đặc biệt?

– Những que những cành trong lồng đều có bao quanh ở ngoài bằng giấy nhám.

– Chi vậy?

– Ðể móng chim được mài sắc, để mỏ chim gạt vào dần dà sẽ bén ngọt tựa lưỡi kéo.

– Ta thực không hiểu.

– Nếu nó tấn công địch thủ vì ghen ghét tiếng hót thì nó sẽ chóng thắng trận trong vẻ vang. Dập tắt bài ca sinh tồn của giống khác.

– Ai bày ra trò hiểm đc ấy?

– Dạo này đang có cao trào mang chim đi uống cà phê, học mót từ phim ảnh Tàu. Con chim nào lỡ chết sau màn đấu nhau, khổ chủ sẽ có đó làm mồi đưa cay. Nhậu chim nướng rất bắt. Trước giải trí sau được bồi dưỡng. Kiếm Văn rất thú vị chuyện đó. Chữ hiểm độc là do anh nói, vậy thì anh đã tin những thương tích có trên người em chưa? Anh hôn hít đi, đâu có mùi khuynh diệp mùi dầu cù là mà bảo là cạo gió.

– Phải, ngó tướng em sung, đúng là kẻ không bao giờ biết cảm mạo xâm xoàng. Ta mới là đứa đang cần xức dầu nhị thiên đường.

– Chi vậy?

– Một, ta đã say bia. Hai, ta đã say em. Than ôi, người đâu gặp gỡ làm chi..!

– Ðằng này có cái futon, anh tạm ngã lưng và chúng ta ký kết một hợp đồng.

– Ký kết hợp đồng? Em ơi, ta sợ nhất là câu “bút sa gà chết”.

– Chỉ là một cách nói đã quen mồm. Như thế này nhé, anh hãy ăn tươi nuốt sống lấy em rồi sau đó mang em tới một phương trời cao rộng khác.

Quỳnh Hoa đưa tay ôm eo diù đỡ Ðằng Võ đi. Thân nhiệt giao hoà, chân cẳng va chạm, vướng víu như Lăng ba vi bộ. Một bên tỉnh táo ngửi thấy mùi bia nồng vướng trong hơi thở gấp. Một bên mù lòa ngửi ra mùi thơm của một thứ trái cây dấu chín trong hủ gạo. Ðằng Võ không gian dối, quả tình hắn đang say. Trôi nổi đã lâu, đây là lần đầu hắn đối mặt với một sự cố khẩn trương, đột xuất, hồ hởi phấn khởi, vân vân và vân vân. Phải về quê hương mới bắt gặp, mới đăng ký được cái cảm giác lạ lùng nọ. Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Quái đản thật! Ăn ở thiếu vệ sinh. Biết bùn lầy nước đục mà cũng nhắm mắt lao đầu xuống. Chuyện nấu nướng bếp núc cũng thế, ai đời mà nó bảo mình hãy ăn tươi nuốt sống lấy nó!

Gương cận thị được lấy ra bởi đôi tay lụa là của người trong tranh. Năm ngón cởi áo, mười ngón cởi quần, xuống tận cùng là cởi giày lột vớ. Trần như nhộng. Con tằm cựa quậy đòi ăn lá dâu. Ðằng Võ nhìn Quỳnh Hoa, ngó sự vật bằng nhãn quang của một kẻ lâu ngày không về thăm thôn Vỹ, để thấy “da” em trắng quá nhìn không ra, mơ hồ có vết lọ nồi bôi đen ở đâu đó, rất sương khói. Chẳng cần là pháo binh, Ðằng Võ cứ xem vệt đen kia tựa một điểm đã chấm tọa độ. “Này anh bạn đồng đội… Hãy rót cho khéo nhé kẻo nhầm nhà tôi…”. “Ôi, đường ra trận mùa này đẹp lắm…Trường sơn đông leo lên trường sơn tây”. Ðang loay hoay sửa soạn, đang chuẩn bị hô xung phong thì cánh cửa bên hông nhà mở rộng, thảng thốt, chết điếng, trăng treo đầu súng nguội lạnh.

– Mẹ kiếp. Tao mà về trễ chừng nửa giờ thì đôi gian phu dâm phụ này đã bê nguyên cặp sừng tê giác đặt trên đầu thằng Kiếm Văn này rồi. Hãy vào đây mà coi, mà chứng giám cho nỗi đau của một kẻ bị bạn thân chơi khăm. Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi!

Kiếm Văn đứng chống nạnh giữa gian nhà, mặt mày tựa rắn hổ đang phồng mang trợn mắt. Có một kẻ đi sau lưng và kẻ đó vừa đóng chặt cánh cửa lại. Kiếm Văn đằng hắng:

– Thưa anh, tôi mời anh về đây cốt là để nhậu nhẹt khuya nay, sau nữa là tôi muốn thông báo cùng anh tôi có đứa bạn phương xa về thăm nhà, xin được đăng ký tạm trú ít hôm. Vậy đó, vậy mà tưởng vui vẻ cả làng, ngờ đâu lại diễn ra thảm trạng này. Ôi bạn hiền! Ôi vợ quý! Xin anh hãy lấy công đạo mà xử lý giùm, đời Kiếm Văn này chưa bao giờ đau đớn tợ hôm nay!

Ðằng Võ vội vã tròng lại y phục vào người, lóng cóng nhặt tìm được cặp kính cận. Ô hay, sao Quỳnh Hoa vẫn thần sắc rạng ngời như thế? Nàng tuyệt không chút mảy may sợ sệt, mắc cở. Ta, thân đại trượng phu, có lý nào lại tệ hại chết đứng như Từ Hải?

– Tang chứng vật chứng rành rành. Anh kia, còn lời gì để nói? Tôi, công an khu vực, xin mời anh về đồn nghiêm chỉnh thi hành pháp luật nhà nước không khoan nhượng.

– Nghe đồn nghe bót thì bản thân tôi cũng sợ hãi huống chi bạn tôi từ nước ngoài ngày đầu về thăm thú.

Kiếm Văn phát biểu cảm tưởng. Kẻ tự nhận là công an lên giọng, gần như reo hò:

– A. Việt kiều đấy hở? Vậy thì để ông chơi theo kiểu Việt kiều. Ðánh điện thư về bển kêu họ hàng thân thích sang mà kíp lãnh ra. Nhà nước không sẵn cơm nuôi béo những hạng vô đạo đức như ngươi.

– Xin anh khoan hồng, chớ bắt giam tù ti. Chuyện nội bộ, xin phép cho chúng tôi được giàn xếp riêng tư. Hoa, em sớm mời anh Bảy đây một lon bia, uống để hạ hỏa.

Lạ. Roi mây đâu? Sao không mang ra quất con nha đầu đĩ thỏa kia một vài lằn ngang dọc? Khiếp, chúng đó đóng tuồng tự biên tự diễn hay sao? Thế còn thằng mặt xanh mày lả mặc thường phục nói sôi bọt mép kia? Công an thật ư? Chẳng thấy súng ống dây dợ nhưng cốt cách bặm trợn ấy chắc đúng là đầy tớ của nhân dân. Tiến thối lưỡng nan, tình thế khó xử, tứ bề thọ địch, miệng ngậm như hến. Ðằng Võ ngồi co rúm trên futon, mặt mày rã rượi, tỉnh rượu muộn phiền.

– Rượu mời không uống lại đi uống rượu phạt. Thôi, nói năng chi cũng bằng thừa, mày hãy cuốn gói mà trốn khỏi nhà tao. Kiếm Văn vô phúc lỡ giao du với một thứ bạn khốn nạn. Kinh nghiệm này đời sau vẫn còn khắc ghi!

Kiếm Văn nói, tự động đến mở rộng cánh cửa, mặt lạnh như tiền. Hắn cư xử rất mực đàng hoàng, chẳng có biểu lộ sự ghen tuông nóng nảy quá đáng. Thong dong độ lượng y như quân tử Tàu.

– Ta thật có lỗi, ta thật nhẹ dạ, ta những mong mang được niềm vui đến cho Quỳnh Hoa…

– Ðừng rườm lời. Mày cút ngay, hãy nhớ cái địa chỉ này để bận sau chớ xớ rớ trở lui. Anh Bảy công an đây chỉ niệm tình tha thứ duy một lần này thôi.

– Ðâu có được. Người ta rộng lòng cũng chỉ ở một chừng mực nào đó thôi. Hắn ra về mà người lành lặn không rụng một sợi lông thì e quý vị đã coi thường sự có mặt của Bảy này mất rồi.

– Vậy chớ anh hai muốn chi?

Ðằng Võ xuống giọng. Ông công an xấn tới gần.

– Bảy này một lời nói ra bốn ngựa khó kéo. Ta muốn giữ của ngươi cái đồng hồ đeo tay không người lái để làm vật kỷ niệm, có được chăng?

Nhẹ nhàng quá, tưởng gì ghê gớm hơn. Ðằng Võ cởi chiếc đồng hồ Thụy sĩ giá tám trăm đô ra khỏi cổ tay. Mẹ kiếp, kinh nghiệm lần sau về thăm nhà nên đeo đồng hồ nhựa giá bảy đồng tính luôn cả thuế. Sự hào nhoáng nào cũng là con dao hai lưỡi cả. Nó cứa vào rut, quặn thắt. Vĩnh biệt nhé, Oméga. Vật ở lại giùm, cho người đi êm thắm.

Bảy đeo vào tay, săm soi.

– Ðồ dỏm hả mày, sao kim chỉ giờ giấc lung tung bấn loạn cả lên?

– Thưa anh, giờ ấy là giờ ở một đất nước xa xôi chứ không phải giờ của tổ quốc giàu mạnh mến yêu này. Bản thân chiếc đồng hồ nọ thì lao động rất xuất sắc, trong sáu năm trời nó chỉ sai lệch có hai giây thôi.

– Ðược, trông vừa vặn bắt mắt như chính tao đi lựa mua. Tao tha mày đấy, về lại xứ vật chất cặn bã ấy nhớ cho tao gửi lời hỏi thăm đồng bào mình.

Cánh cửa đóng đùng một tiếng, như sấm nổ giữa trời giông. Hú hồn, phước đức ông bà để lại. Ðằng Võ lau mồ hôi trán, phố phường lên đèn, rậm rật mọi thứ tiếng động lan tràn luồn chảy. Ta vẫn bình yên và đời này vẫn đập hối hả nhịp tim thời buổi mở cửa kinh tế thị trường. Những bảng hiệu sáng đèn toàn tiếng Tây tiếng u nhấp nháy chào mời, dân vô học ngó qua e phải gầm đầu cắn lưỡi tự tử. Những người cỡi xe gắn máy chạy tán loạn như bị ma rượt, họ mang kính dâm, đeo khẩu trang, găng tay lên thấu nách như thể Ninja; như thể chuẩn bị đánh cướp nhà băng một vố to. Thiệt gay cấn, khó nhìn rõ mặt, vô phương nhận đoán ai là đầu đảng, ai cảm tình viên, ai tòng phạm, ai vô can, ai con nhà lành. Xêm xêm cá mè một lứa.

Người đàn bà đợi Ðằng Võ thất thểu đi ra tới đường cái mới đóng cửa sắt, bóp chặt ổ khóa. Bà trở vào nhà đưa trả Kiếm Văn máy điện thoại di động.

– Thím Ba cầm đỡ năm chục mà chi viện cho dượng dưới quê. Lần sau nhớ gọi tôi sớm sủa một chút, chậm hơn hồi nãy vài phút không khéo thằng đó đã đánh du kích em Hoa tới tả tơi.

– Xì, anh khinh thường em cũng vừa phải thôi. Hắn du kích thì em giao liên, em dẫn cho đi lòng vòng thì hắn biết đường mô mà mò.

– Ðấy, phần em hai trăm. Còn thằng Bảy, tao giữ phần mày ở đây, đưa bây giờ thì mày lại cúng hết vào mục chích choác.

– Ảnh có cái đổng xịn rồi, nghèo mà ham! Lần sau có nhập vai công an thì nhớ bỏ bộ mặt đang đói thuốc kia ra kẻo rách việc.

– Ðược, tớ không lấy tiền, nhưng đã lập ra công ty thì xin cứ thông báo sự thật cho tớ mừng lây thành quả.

Quỳnh Hoa ngó Kiếm Văn, cô nhét tiền mới được chia vô xú-chiêng chật chội.

– Trong bóp hắn có tất cả là tám trăm bảy mươi lăm đô. Tui đã cẩn thận rà soát thắt lưng, sờ nắn chiếc quần xì-líp, thậm chí còn thử xỏ chân vô giày hắn nhưng không phát hiện vật thu dấu. Thằng đó chắc thuộc thành phần vô sản bần cố nông. Ðánh trận này thiệt chưa đã.

Bảy hỏi giờ rồi vặn kim đồng hồ, điều chỉnh phút giây:

– Hắn là bạn cũ của ông thật sao?

– Sao lại có chuyện giả vào đó? Hắn vượt biển lần thứ tư mới được trót lọt. Mẹ cha nó, nhớ lại có lần hắn bắt tao ngồi chờ ở bãi bốc đến trắng con mắt, thiếu đường bị muỗi tha đi, nhức nhối tới đ thấy ông bà ông vải luôn.

– Thôi, anh lo lên chương trình đãi đằng em và anh Bảy là vừa, ở đó mà nói chuyện xưa tích cũ.

– Em ăn nói vậy là thiếu chất xám. Cái này người ta gọi là ôn cố tri tân. Nghĩ lại, ta đây thật hối hận.

– Anh hối hận điều gì?

– Phải mà hồi đó ta giao du kết bạn cho nhiều thì giờ này đã ngồi không mà ăn bát vàng.

– Thật không đó cha. Còn công sức con Hoa này thì bỏ cho chó ăn hay sao?

– Ừ nhỉ. Em là số một. Làm sao ta có thể phụ em. Cái đó thì em đã đi guốc trong bụng ta rồi, chẳng cần thề thốt. Kế mỹ nhân bao giờ cũng lợi hại. Ðêm nay ta nguyện tắm táp sạch sẽ, ra giữa trời đốt hương khấn vái cao xanh, rằng xin cho em được giữ mãi nhan sắc ấy, xin cho thân thể em mãi được phì nhiêu núi đồi căng cứng.

– Làm chi có trời đất, làm gì có thần linh. Ðừng bắt em đi khách cho Tây ba-lô thì thân xác này sẽ không sớm bị xộc xệch. Cái ấy là chân lý.

– Em nói chí phải. Và chân lý thì ngàn năm không đổi.

Nói xong Kiếm Văn ôm Quỳnh Hoa vào lòng, điệu bộ như cưng trứng hứng hoa, cực kỳ âu yếm, cẩn trọng dịu dàng. Nàng quả là con gà đẻ trứng vàng, là cánh cửa hữu nghị rộng mở chào đón mấy anh khúc ruột từ ngàn dặm đi lơ ngơ về nộp mạng. Bộ nội vụ mà thuê được nàng làm công an chìm, làm gián điệp, thì đất nước ngày mỗi phồn vinh, kẻ thù sừng sỏ nào cũng đánh thắng. Than ôi! Mấy sếp lớn không biết dụng binh, chẳng có mắt nhìn người, thua xa một mình Kiếm Văn này vậy!

Hồ Đình Nghiêm

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 2 Jan 2024

Bài 24

Phần 23

Vĩnh đã khỏi được bệnh kiết lỵ nhờ số thuốc gia đình gửi vào trong đợt quà hai tháng về trước. Những người bệnh khác đa số cũng phục hồi mau lẹ, trừ một số rất ít bệnh đã thành bất trị, được Cách mạng chiếu cố vào những giây phút cuối, cho khênh lên bệnh xá trung đoàn để Cách mạng có được một ít hồ sơ những cải tạo viên chết bệnh và đã được Cách mạng tận tình cứu chữa. Trong số những người chết trên bệnh xá trung đoàn ấy có một thằng bạn đồng binh chủng với Vĩnh. Nó là Phương, cấp bậc Hải quân trung úy và nằm chung khối 1 với Ứng. Phương được đưa lên trung đoàn trong cơn mê sảng. Hai ngày sau anh em được tin nó chết. Trước khi chết nó mê sảng đến độ cười rống lên như một con ngựa và lấy phân bôi trét khắp cùng phòng bệnh. Những người nằm gần nó hầu hết đều tê liệt không thể có phản ứng, thành thử nhiều anh bị nó ghé thăm cho xơi ít phân tại chỗ! Trước một kẻ đã điên loạn, bọn vệ binh nhảy vào dùng báng súng đánh đập đầu nó như một quả dưa hấu bị rơi xuống đất. Phương chết trong tiếng cười rống của một kẻ đã hoàn toàn mất trí vì bệnh kiết lỵ. 
Nhưng cái chết ấy là cái chết xa. Có một cái chết gần bên cạnh rất nhiều cái chết gần khác xảy ra trong trại đã làm cả trại L4T3 nhốn nháo. Đó là cái chết của Kiều Quang Trường, thiếu úy ANQĐ/SĐ18 bên khối 4. 
Trường bị kiết lỵ từ lâu. Vì quá sợ trước những cái chết thê thảm xảy ra chung quanh, nên ngoài thuốc gia đình gửi vào, Trường vẫn tiếp tục nhờ bạn bè cùng tổ đi lao động kiếm hộ ít cỏ mực để sắc uống hàng ngày. Hai người bạn cùng tổ là Tỷ và Non chính là hai người thường xuyên đi kiếm cỏ mực cho Trường. 
Vào nửa khuya một đêm kia, cả trại đều dựng ngược dậy vì những tiếng la hét vọng ra từ khối 4. Vĩnh là một trong những người đầu tiên chạy đến xem. 
Bên trong khối 4, những ánh sáng tù mù phát ra từ những ngọn nên chế bằng giấy bồi trộn mỡ bò lấy từ các hộp đầu đạn 105 mm, soi khá rõ một quang cảnh hãi hùng. Tù cải tạo khối 4 đang nháo nhào vì một kẻ vật vã la hét. Vĩnh nhìn thấy 4 người, trong đó có cả Đặng Thế Tiến, đang cố đè người la hét xuống. 
Giọng một anh bạn vang lên báo động. 

– Nhét cái gì vào miệng nó kẻo nó cắn vào lưỡi! 

– Nhanh lên nhanh lên! Đưa cái thìa Inox đó đây! 

– Nhét vào, nhét vào đi! Coi chừng nó cắn đứt ngón tay. 
Bốn người vừa vật nhau vừa tìm cách cậy mồm nạn nhân nhét cái thìa giữa hai hàm răng. Âm thanh hai hàm răng nhai cái thìa Inox phát ra rợn người. Thốt nhiên một tiếng báo động hét lên. 

– Trời ơi! Rút cái thìa ra. Nó gẫy hết răng rồi. 

Tiếng báo động hơi muộn. Người lâm nạn trong cơn vật vã, đã cắn vào cái thìa mạnh đến độ hai cái răng cửa gãy bật hẳn ra ngoài, máu văng tung tóe. Một người nhanh trí vồ lấy tấm áo thung vứt gần đó tọng ngay vào miệng nạn nhân. 

– Coi chừng nó nghẹt thở! 

– Thở bằng mũi không thở bằng mồm! 
Người bệnh dù thế nào, cuối cùng cũng nằm im dưới sức đè của bốn người khác. Người đứng ngoài chỉ còn thấy hai bàn tay và một cẳng chân của hắn giẫy tê tê. Một lúc sau hắn thiếp đi. Đến lúc này mọi người mới hoàn hồn nghĩ đến chuyện chạy đi báo cáo vệ binh gác ngoài cổng. Khi khối trưởng Kiên của khối 4 bương bả chạy đi báo cáo thì người bệnh bỗng nhiên tỉnh dậy. Cơn vật vã đã qua. Hắn ngồi lên, giật tung cái áo thung khỏi miệng, máu theo đó rỉ ra hai bên mép, đôi mắt long lên một cách dễ sợ. Mọi người chưa biết xử trí ra sao thì người bệnh bắt đầu quờ quạng hai tay như một kẻ mù. Rõ ràng hắn không còn trông thấy cảnh vật chung quanh. Quờ quạng một lúc, hắn bắt đầu nói như người mê sảng. 

– Mày chết với tao! Tao đã khám phá ra chúng mày. Chúng mày là một tổ chức CIA trá hình. Chúng mày đã âm mưu giết tao. Tao sẽ tố giác chúng mày… 

Chao ôi, câu nói của một kẻ điên loạn như gáo nước lạnh nửa đêm đội vào gáy những tù nhân khác. Vì đâu mà ra nông nỗi như vậy? – Thằng đốn mạt! thằng khốn nạn! Cho nó chết cha nó đi. Một vài tiếng rủa căm hận khe khẽ nổi lên.. Đừng nóng! Nó bị ẩn ức gì đó. Cứ để xem. Một giọng khác chen vào. Tiếng rít ghê gớm của con bệnh vẫn đều đều nổi lên giữa đêm trường, trầm bổng, ngân nga và nhiều lúc như ma khóc quỷ cười. 

– Tao sẽ tố giác chúng mày! Trời ơi, lũ CIA nằm vùng. Trời ơi, thằng Tỷ thằng Non là hai thằng CIA nằm vùng. Chúng nó âm mưu giết tôi. Chúng nó đánh thuốc độc tôi. Thủ trưởng đâu? Kêu thủ trưởng cho tôi. Tôi sẽ tố giác chúng với Cách mạng… 
Đến lúc này mọi người đều xanh máu mặt. Và có lẽ hai anh chàng có tên Tỷ và Non phải xanh máu mặt hơn ai hết. Kẻ lâm nạn đã lôi họ ra mà gào đích danh. 
Một người nói. 

– Nhét giẻ vào mồm nó, đừng cho nó nói bậy. Một người khác. 

– Tội nghiệp nó, nó điên rồi. 

– Điên cái mẹ gì! Cơn mê sảng mới phơi bày được rõ rệt cái căn gốc ăng-ten của nó. Để nó tự do gào thét còn nhiều thằng mang vạ vịt không chừng. 
Một giọng khác đồng tình. 

– Đúng đấy, nhét giẻ vào mồm nó đi. Giờ này vô phúc nó nhớ ra tên thằng nào thằng ấy có mà bỏ mẹ! 

Mọi người đang loay hoay chưa biết xử trí ra sao thì người mê sảng đã hai tay quờ quạng tìm cách đứng lên. Hắn hét. 

– Khối trưởng đâu? Anh Kiên đâu? Dẫn tôi lên gặp thủ trưởng. Tôi tố giác thằng Tỷ thằng Non. Chúng nó là hai thằng CIA đã âm mưu giết tôi, phi tang tôi… 
Một tay đứng gần Vĩnh nóng mặt sẵn tay áo sửa soạn nhảy vào bịt miệng người điên loạn. Ngay lúc ấy một tiếng hô nghiêm cất lên. Mọi người đều ngoái nhìn ra phía cửa. Đi sau khối trưởng Kiên của khối 4 là tên thủ trưởng trại, tên quản giáo khối và hai thằng vệ binh tay lăm lăm hai khẩu AK. Cả bọn mới đến hình như không có thì giờ lưu tâm đến cảnh hỗn độn trong phòng. Trong khi ấy giọng hét lanh lảnh của người bệnh vẫn tiếp tục vang lên: Chúng nó âm mưu giết tôi. Dẫn tôi đi gặp thủ trưởng. Thằng Tỷ thằng Non là hai thằng CIA… 

Tên thủ trưởng phóng tới, nói lớn. 

– Tôi đây, thủ trưởng đây, anh tên gì? 

Người bệnh như chưa nhận ra nên vẫn say sưa la hét. Tên thủ trưởng ra lệnh cho mấy tay đứng gần ghì người bệnh ngồi xuống. Bệnh nhân vùng vẫy. 

– Bỏ ra, bỏ tao ra. Chúng mày một bè âm mưu giết tao phải không? 

Tên thủ trưởng quay hỏi khối trưởng Kiên. 

– Tên là gì nhỉ, tôi quên rồi. 

– Dạ anh ấy là Trường. Kiều Quang Trường. 
Tên thủ trưởng quay lại bệnh nhân, kẻ giờ đây đã bị sức khỏe của ba người khác giữ cứng, đang ngồi trên một đống chăn mền bừa bộn. 
Tên thủ trưởng ngồi nhìn bệnh nhân một lúc, chờ cho hắn hơi dịu xuống mới cất tiếng hỏi. 

– Này, anh Trường. Bình tĩnh lại đi. 

Bệnh nhân như lắng tai nghe. Hai tay khẽ quờ quạng, miệng thở hổn hổn. 

– Ai, ai gọi tên tôi đấy? 

– Tôi là thủ trưởng đây. 

Bệnh nhân bỗng nhiên hét lên. 

– Tưởng tao không thấy gì xúm lại lừa tao nữa phải không, lũ sát nhân? Trời ơi, chúng nó là lũ sát nhân! 

Tên thủ trưởng giật bắn mình. 

– Này, anh nói ai là lũ sát nhân đấy? Có im đi không nào? 

– Chúng mày là lũ sát nhân! 

Tên thủ trưởng đứng phắt lên, cáu. 

– Anh Trường! Tôi ra lệnh anh im mồm ngay, cấm lợi dụng đau yếu phát ngôn bừa bãi! 

Một vài tay xúm lại. Ai cũng cố cắt nghĩa cho Trường biết người đang nói chuyện với hắn chính là thủ trưởng trại. 

– Có đúng là anh không? Có đúng anh thủ trưởng đấy không? 

– Ừ. Tôi đây. Sao? 

Bệnh nhân giơ tay mò mẫm về phía người vừa trả lời. Tên thủ trưởng lui vội một bước, gắt. Anh làm cái trò khỉ gì thế? 

Trường nói tỉnh. 

– Anh đưa cổ áo đây! 

– Làm gì vậy? 

– Tôi muốn rờ thấy quân hàm của anh. 

Mọi người điếng hồn với cái bình tĩnh đầy ma quái của Trường. Tên thủ trưởng cũng bối rối không biết xử trí ra sao. Cuối cùng hắn đành tiến lại gần Trường, chìa một bên cổ áo ra cho bệnh nhân rờ. Ba ngôi sao trên cổ áo đã cho bệnh nhân biết chắc đó là tay thượng úy trưởng trại L4T3. Mọi người hồi hộp chưa đoán được sự thể sẽ ra sao, thì đùng một cái, bệnh nhân trợn ngược mắt lên và ngoẹo đầu sang một bên, máu trong miệng trào cả ra ngoài. Tên thủ trưởng lúng túng trông thấy. Hắn đứng dậy nói nhỏ với một thằng vệ binh. Thằng vệ binh xách súng lui khỏi phòng. Khối trưởng khối phó xúm lại đỡ bệnh nhân nằm xuống. Bác sỹ Đỉnh, khối phó hậu cần khối 2 bỗng nhiên xuất hiện. Anh nhảy vào một tay nắm lấy tay bệnh nhân lắng mạch, một tay bật mí mắt nạn nhân lên xem. Một lúc sau Đỉnh quay lại nói với đám cán binh Việt cộng. 

– Nếu được, xin cho đi bệnh xá trung đoàn ngay. 

Tên thủ trưởng ngần ngại. 

– Anh ấy bị gì thế? 

Đỉnh hơi ngẫm nghĩ. 

– Theo tôi nhận xét thì anh này bị lạm thuốc. 

– Lạm thuốc là gì? 

– Uống quá liều thuốc. 

– Thuốc gì? 

– Tôi không có phương tiện thử nghiệm nên chưa thể khẳng định. Nói rồi Đỉnh lập lại câu đề nghị ban nãy. Nếu được, xin anh cho đi bệnh xá ngay mới hy vọng cứu kịp. 

Vừa lúc đó tên vệ binh dẫn tên quân y trên ban y tế trại xuống tới. Tên quân y Việt cộng tiến đến. Nó chống một tay trên hông và bình tĩnh đứng quan sát bệnh nhân. Một lúc nó lên tiếng. 

– Mửng này ăn sắn sống nhiều quá, say đây! 

Mọi người đứng quanh đều thấy bực mình nhưng không ai dám cãi. Khối trưởng khối 4 tiến lại. 

– Báo cáo anh, anh này bị kiết lỵ dai dẳng từ lâu. Tôi thấy anh ấy ngày nào cũng uống thuốc, uống đủ thứ, cả thuốc tây lẫn cỏ mực… 

Tên thủ trưởng quay sang tên quân y, nói. 

– Chuyện này có nhiều uẩn khúc. Đề nghị đồng chí quyết định cho đưa anh này lên bệnh xá trung đoàn đã. Tôi sẽ làm việc tiếp. 
Một lúc sau Trường đã được đặt nằm trên võng và được khênh đi bệnh xá. Sau khi bệnh nhân đã được khênh đi khỏi, mọi người được lệnh ai về chỗ nấy nghỉ ngơi. Tên thủ trưởng trở về trại, theo sau có khối trưởng Kiên và tổ trưởng của Trường. 
Vĩnh cũng trở về phòng. Khối 2 chẳng mấy người ngủ được dù đã 2 giờ sáng. Ai cũng thầm thì bàn tán về biến cố vừa qua. Quả thực nhìn qua hiện tượng chuyện này có nhiều uẩn khúc. Nhưng tại sao người bệnh trong cơn mê sảng lại thốt ra những lời lẽ giết người dường ấy? Lúc nãy nói chuyện với Tiến, Vĩnh được biết Trường là một tay đại mát giây của khối 4. Từ cái thời bị con ma kiết lỵ hoành hành, dù không quá nặng như nhiều người khác, Trường vẫn đều đặn mỗi ngày uống phòng hờ một viên Chloroquine (hay có thể nhiều viên mà không ai biết chắc!). Để chắc ăn hơn, Trường còn nhờ bạn bè, đặc biệt Tỷ và Non là hai người cùng tổ, đi lao động kiếm hộ những mớ cỏ mực đem về cho Trường sắc uống. Sự lạm thuốc, do đó, không phải là chuyện không thể xảy ra. Vĩnh nằm nghĩ ngợi đến số phận của Tỷ và Non. Kiểu này đại họa khó lường! Cả trại đã nghe rõ mồm một tiếng gào thét của Trường kết tội hai anh chàng này là bọn CIA nằm vùng và âm mưu giết người để phi tang. 

Chưa biết phải quấy thế nào nhưng hầu như ai cũng thầm oán Trường đã quá độc ác trong những lời lẽ phát ra, dù phát ra trong cơn mê sảng. Tỷ thì Vĩnh không biết, nhưng Non thì Vĩnh biết rất rõ từ thời đi trình diện ở Lê Quang Định. Chính Vĩnh là người mua thuốc lá của hắn nơi đó… 

Non là một trung úy bộ binh, bị thương nơi đầu và đã giải ngũ từ năm 70. Sau 30 tháng Tư, gia đình túng quẫn, vợ Non thu vén mua được cho hắn một sắc thuốc lá đủ loại để Non xách đi bán dạo qua các khu tập trung trình diện cải tạo. Hết bán bên trường Lê Văn Duyệt lại sang tới trường Lê Quang Định. Chẳng may cho Non, khi hắn sửa soạn rời sân trường Lê Quang Định trở về nhà ăn cơm trưa thì bị tụi vệ binh gác cổng chận lại. 

– Làm gì trong này? 

– Dạ tôi bán thuốc lá. 

Tên vệ binh gác cổng ngó Non từ đầu đến chân, hỏi xẵng. 

– Trước kia làm gì? 

Với sự thực thà, lại càng thực thà hơn ở một người bị thương nơi đầu không còn được sự tính toán chuẩn xác và thích hợp trước một biến cố, Non ngây thơ trả lời. 

– Trước đây ấy à? Trước đây tôi là trung úy. Tôi giải ngũ rồi… 

Tên vệ binh nghe thấy Non thản nhiên xưng dĩ vãng ra, nó trợn mắt ngó Non như ngó một tên gián điệp nguy hiểm. Nó chỉ tay xuống đất, gay gắt ra lệnh. 

– Bỏ cái túi xuống đây kiểm tra. Anh đứng nghiêm. 

Sau khi kiểm soát sắc thuốc lá mấy thằng vệ binh đều sáng mắt. Một thằng nói. 

– Nhân danh Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài Gòn Gia Định, tổ vệ binh canh phòng địa điểm tập trung trình diện cải tạo Lê Quang Định cấm anh rời địa điểm từ giây phút này. Số thuốc lá của Đế Quốc bị tịch thu để làm vi bằng buôn lậu! 
Thế là tự dưng chưa thuộc diện cải tạo, ít lắm là trong giai đoạn hiện tại, Non bỗng lơ mơ đi vào đường tù tội và đánh mất luôn cái vốn liếng cuối cùng của cả gia đình là sắc thuốc lá! Ngày tháng qua Non cũng lầm lũi đi lao động khổ sai, cũng gù lưng học tập và thảo luận chính trị, cũng hòa mình vào mọi chuyển động của đời sống nơi đây. Mỗi ngày đi lao động, Non vẫn còn sự tốt bụng là tìm về những mớ cỏ mực cho bạn bè bị kiết lỵ sắc uống. Giờ đây, Non vừa bị một thằng bạn phạm thuốc nổi cơn điên loạn tố giác anh trước mọi người như là một tên tình báo CIA nằm vùng. Họa vô đơn chí, Vĩnh nghĩ bụng, tương lai thằng này chắc rồi sẽ đen hơn mõm chó! 
Một giọng nói như báo động khẽ cất lên từ một góc nhà nơi có thể nhìn ra hướng cổng trại. 

– Sao chúng nó gồng gánh nhau về kìa! 
Tất cả mọi người trong phòng đều chồm dậy. Dưới ánh sao đêm, cái võng và ba bốn người nhấp nhô đang đi vào trong sân. Đoàn người dừng lại một lúc trước hội trường và có vẻ lúng túng chưa biết làm gì. Sau cùng, đám người khênh võng bước theo tên quân y vào hội trường. Mười phút sau họ rời hội trường và không có cái võng đi theo. 
Một tay nằm gần Vĩnh hỏi vu vơ. 

– Vậy là làm sao? 

Một giọng khác. 

– Chắc tịch dọc đường khênh về chứ gì! 

Trời đã như gần sáng mà chẳng mấy ai ngủ được. Vĩnh trỗi dậy đi ra cầu tiểu. Anh gặp được một tay ở khối 4, hỏi luôn. 

– Tay Trường ra sao bạn? 

– Chết rồi. Lên tới trung đoàn nó đã chết từ hồi nào. Họ bắt đem về. 

Vĩnh nghĩ ngợi. 

– Tại sao lại có chuyện quái đản vậy? 

– Quái đản là làm sao? 

– Trước khi chết sao nó nói sảng vậy? 

Người bạn vừa đứng tiểu vừa thở dài. 

– Mẹ bố nó, đáng lý nó chết ai cũng thương, hóa ra cả trại ai cũng chửi. Thứ chết còn hại bạn! 

– Giờ xác để đâu? 

– Mắc võng nằm trên hội trường. 

Anh bạn vắn tắt trả lời rồi xoay lưng bỏ đi. Trên đoạn đường trở về phòng phải vượt qua vài luống cải ngồng rồi vài gốc cây bông gòn lớn, nơi Vĩnh từng mắc võng nằm cả tháng trời vì kiết lỵ, bỗng dưng Vĩnh thấy tóc gáy dựng đứng. Gió vi vu thổi qua những cành cây nghe như lời gào thét của người vừa chết – một lời gào thét có lẽ độc ác nhất trong những lời gào thét mà anh từng nghe thấy – còn vang vọng đâu đây! Nghĩa tử là nghĩa tận. Hầu như cả trại, vì quá ái ngại cho người còn sống nên đã quên thương lấy người đã chết. Nếu xét cho cùng, cả người sống lẫn người chết đều đáng xót thương cả. Tất cả, không nhiều thì ít, đều đã và đang bị biến thái từ thể xác đến tâm hồn nơi cái thiên đường Cộng sản này. Ở bề ngoài, trên da thịt chưa ai xuất hiện dáng thú vật; nhưng ở bên trong, nơi có tâm hồn ngự trị, biết bao nhiêu kẻ đã mọc xanh một lớp lông thú xa lạ mà không hề tự biết! Thằng Ba Tô nó có biết việc nó làm là giết anh em không? Trên quan niệm sống của nó, biết đâu nó có đủ lý luận để biện minh cho hành động đê tiện làm chó săn của nó là đúng!? Nó đã hóa thú rồi. Lấy lòng con người để xét dạ con thú thì liệu hành động của con người ấy có đúng chỗ hay không? 
Vừa đi Vĩnh vừa suy nghĩ lan man. Dẫu rằng cũng như mọi người, Vĩnh quan tâm rất nhiều cho vận mạng của hai anh chàng Tỷ và Non, nhưng trong sâu thẳm của lý trí và trái tim, Vĩnh thấy rõ mình không còn mảy may oán giận người đã chết. Làm kiếp người có nhiều hoàn cảnh không cho người ta được hưởng một cái chết bình thường, mà buộc phải chọn lựa một cái chết đẹp hay một cái chết không đẹp. Hoàn cảnh phải chọn lựa này có lẽ không đâu bằng trong lao tù Cộng sản. Trước sự phán đoán của đám đông, Trường đã chết một cái chết không đẹp, âu cũng là một điều đáng chia buồn cho hắn. Nhưng thù thực sự, nếu có, là cái thù dành cho những nguồn gốc của những cái chết không đẹp như thế. Và nguồn gốc ấy là ai? Kể cả thú vật xứ này cũng biết! 
Bửng mắt hôm ấy chuyện gì phải đến đã đến. Sau khi tiếng kẻng báo thức 5 giờ điểm, trời còn mờ mờ, trong lúc mọi người đang lo đánh răng xúc miệng ngoài giếng thì cổng trại bỗng bật mở. Bốn thằng vệ binh súng ống đầy đủ bước vào, theo sau là tên thủ trưởng, chính trị viên và quản giáo khối 4. Chúng tiến đến trước vuông sân tập họp của khối 4. Khối trưởng khối phó chạy ra. Năm phút sau cả khối tập họp đầy đủ ngay trước khối. Tên chính trị viên Thảo mặt hầm hầm như một hung thần, thay mặt thủ trưởng dõng dạc lên tiếng sau khi cả khối đã làm xong thủ tục nghiêm nghỉ. Hắn nói lớn. 
– Hai tên Tỷ Non bước ra khỏi hàng! 

Tỷ và Non đồng bước ra khỏi hàng. Họ tiến đến chỗ được chỉ định đứng trước tập thể khối. Tên thủ trưởng bước tới một bước. Hắn mở rộng một tờ giấy trên tay và dõng dạc đọc. 
– Lệnh bắt giam! Nhân danh thủ trưởng trại cải huấn L4T3, chiếu nghị quyết của ban chỉ huy trại, căn cứ trên lời tố giác của người đã chết, nay ra lệnh các đồng chí vệ binh bắt giam hai tên Nguyễn Văn Tỷ và Trần Văn Non thuộc tổ 3, khối 4. Trong khi chờ cuộc điều tra kết thúc để truy tố hai tên giết người phi tang ra trước tòa án nhân dân, mọi quyền lợi dành cho các cải tạo viên của hai tên Tỷ và Non được chấm dứt kể từ giờ phút này. Thủ trưởng L4T3 ký tên. 
Tên thủ trưởng đích thân đọc xong lệnh bắt giam, hắn đưa mắt nhìn hai thằng vệ binh đứng gần nhất. Như đã có sắp xếp, hai thằng vệ binh hùng hổ bước tới chỗ đứng của Tỷ và Non. Chúng lấy dây thừng đem theo trói trật cánh khỉ Tỷ và Non lại. Xong đâu đấy, chúng kéo giật hai người lại phía sau vài bước cho thêm phần… bạo lực Cách mạng! 
Ngoài dự trù của mọi người là sẽ phải nghe một bài học dông dài sau khi chúng đã trói Tỷ và Non, tên thủ trưởng lại chỉ nói vội khối trưởng hô mọi người đứng nghiêm. Sau khẩu lệnh nghiêm của khối trưởng, cả bọn chúng đều xoay lưng hùng hổ lôi hai người bị bắt giam về phía cổng trại. 
Cả trại đều đổ dồn về khối 4. Mọi thứ lời bàn đồng loạt được tung ra. Mọi lời dự đoán về số phận Tỷ và Non đều được nói tới. Một số khác mon men đến nhìn vào hội trường. Xác của người chết vẫn nằm trên một cái võng mắc bên trong đó. 
Một thảm kịch giản dị. Một người chết vì lạm thuốc và hai người khác sửa soạn lãnh bao cực hình vì người chết đó. Tất cả đều cùng nằm trong một giai cấp mới của xã hội này: Giai cấp tù cải tạo! 
Những tiếng kẻng vang lên báo hiệu một ngày lao động khổ sai mới đã bắt đầu. Ai trở về khối nấy để sửa soạn tập họp. Mọi người lại xếp hàng, lại tay lon tay cóng, lại cuốc lại xẻng… 
Buổi trưa đi lao động về, ai cũng biết tổ trực khối 4 đã làm xong hai việc. Họ đã đem chôn xác Trường ngoài cánh đồng cỏ lau, đồng thời đã bới hố rác theo như chỗ mà Tỷ và Non đã khai đem đổ bã cỏ mực sau khi sắc cho nạn nhân uống. Tổ trực đã tìm thấy đống bã cỏ mực đúng như lời khai.









Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 2 Jan 2024

Bài 23

Phần 22

Hơn nửa năm trời Cộng sản vơ vét từ những vật dụng thượng đẳng như các loại máy điện tử, những đồ thiết bị tối tân cho các bệnh viện, trường ốc, các loại xe cộ cơ giới… cho đến chổi cùn giẻ rách nơi các công tư sở đem ra Bắc; dân miền Nam đã thực sự lâm cảnh khó khăn khi đi tìm mua những loại thuốc tây cần thiết. 
Tỷ như chúng vơ vét thuốc tây để cung cấp cho đồng bào ruột thịt miền Bắc đang cần thiết thì cũng lấy làm vui; đàng này, dân ngoài Bắc mánh mung chạy được vào trong Nam thăm người thân, câu đầu tiên vẫn là có thuốc tây không? Kế tiếp mới là những câu xin xỏ xe đạp, radio, áo len, mùng mền… 
Như vậy cả một núi thuốc tây ở miền Nam sau 30 tháng Tư chạy đi đâu? 
Thời gian này 100 người dân miền Nam thì hết 99 người, trừ một người sau cùng bị câm, đều phát chửi thề vì một bản tin đăng trên các báo lá cải của nhà nước Cộng sản, hoan hỉ loan đi một cái tin như sau: “… Chính phủ và nhân dân ta, trong tình quốc tế vô sản, tình ruột thịt với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, gần đây đã quyết định gửi giúp chính phủ và nhân dân Angola một tàu thuốc tây đủ loại. Chuyến tàu hữu nghị đã rời cảng Hải Phòng ngày…”. 
Thêm vào đó, bọn Tàu Chợ Lớn cũng ra tay bạo tàn không kém. Ngoài những số thuốc tây khổng lồ bị Việt cộng vơ vét vào kho của chúng, một số lớn còn lại cũng chui luôn vào kho của ba Tàu. Khi có dịp, chúng tung ra bán với giá cắt cổ và tiền bạc của người dân miền Nam lại có dịp chui vào túi chúng để có thuốc tây mà lo cho người thân. 
Trong hoàn cảnh như thế, người ở nhà bắt đầu nhận được thư của thân nhân từ các trại cải tạo gửi về. Dĩ nhiên những lá thư đó không tỏ lộ được chút nào địa danh thân nhân họ đang bị đày đọa và nội dung các bức thư hầu như đều tương tự nhau về… cách hành văn: Ngắn gọn và đầy những lời lẽ giả dối. Sao lại lạ thường dường này? Người đọc thư không thể không kinh ngạc. Chả nhẽ mới nửa năm xa cách mà thân nhân mình lại giở trò tiến bộ với cả cha mẹ vợ con nhanh đến thế sao? Cái gì mà nhờ ơn Đảng, nhờ ơn nhà nước? Rồi đến tên các thứ thuốc tây! Sao lạ tai lạ mắt và khó đọc như thế này? Chả nhẽ mới đó đã quên cả tên những món thuốc tây thông dụng? Nào là Át-sờ-pi-rin-nờ, Xờ-tờ-rép-tô-mi-xin-nờ, sa-côn-lờ, nào là bê-oong-đờ-xăng-mi-li-gờ-ram-mờ, ê-mi-tin-nờ… Thôi thì đủ thứ loại những chữ phiên âm dị thường. 
Người ở nhà, hỡi ơi, đâu biết rằng nội cái vụ viết thư thôi, chồng cha anh con của họ đã phải lên lớp, phải thảo luận, phải thu hoạch về bài học dạy cách viết thư trong xã hội mới. Bài học này cũng có hai phần mục đích và yêu cầu như tất cả các bài học chính trị khác. Mục đích là: Xã hội ta việc viết thư từ cho nhau không nhằm phô bày cái mặt tiêu cực của tình cảm ủy mị con người, mà biên thư là để động viên lẫn nhau, để cùng nhau củng cố niềm tin vào Đảng và Cách mạng… Yêu cầu là: Phải áp dụng nghiêm túc nội quy quy định trong việc viết thư về gia đình… 

Nội quy thì nhiều điểm lắm, nhưng một vài lá thư sau đây có thể là những lá thư tiêu biểu đã đạt yêu cầu phần nào về cả hai mặt ý thức tốt được mục đích và ứng dụng tốt được yêu cầu của Cách mạng trong việc viết thư về gia đình xin viện trợ thuốc men… 
Sau đây là nội dung lá thư của một anh bị phù thũng gửi về cho vợ. 
Em thương yêu, Anh khỏe lắm em ạ. Em và các con đừng lo gì cho anh cả nhé. Ngày hồ hởi phấn khởi lao động, đêm về không trác táng rượu chè như xưa, trong khi lại được Cách mạng lo cho vô cùng đầy đủ từ vật chất đến tinh thần nên hiện nay anh mập phì ra. 
Hôm nay Cách mạng chiếu cố cho biên thư về thăm gia đình, lại còn cho thông báo gia đình được gửi vào 3 cân quà và thuốc tây để trong này anh có thêm cái dùng. Nói thật với em thực tế anh cũng chẳng cần gì đâu, nhưng nếu được, em nhớ gửi cho anh vài món như sau: 
– 3 bánh thuốc lào. – 2 cân đường thẻ. – 1 cân đường cát vắt sẵn chanh. – Đặc biệt Bê-oong (B1) loại mạnh nhất. 
Anh, Nguyễn Văn A. 
TB. Tuyệt đối đừng gửi đồ mặn. Đặc biệt thịt thà là cái anh không thích. TB lần nữa. Nhớ trong vòng 3 cân thôi. Đừng nặng hơn kẻo vi phạm quy định. Tốt nhất em đọc kỹ thông cáo của nhà nước trên các báo! 
Biết bao đêm thức trắng dằn vặt lo âu cho nhau, chồng biên thư cho vợ ân tình buộc phải gói ghém vào từng đó chữ. Ở nhà, người vợ dù có thật thà đến đâu cũng khóc ngất vì đã quá rõ chồng mình “mập phì” có nghĩa là thế nào. Toàn xin đồ ngọt mà không dám xin lấy một tí đồ mặn, lại còn dặn phải gửi Vitamin B.1 loại mạnh nữa chứ! 
Sau đây là nội dung lá thư của một anh bị kiết lỵ gửi về cho cha mẹ. 
Bố mẹ thương yêu,

Thấm thoát con đã đi học tập cải tạo được nửa năm rồi. Dù lúc nào con cũng nhớ tới bố mẹ và các em nhưng vì ý thức được đi học tập cải tạo là nghĩa vụ nên con luôn phấn đấu biến sự thương nhớ ấy thành hành động cụ thể là học tập tiến bộ để sớm được Cách mạng cho về đoàn tụ gia đình. 
Riêng phần bố mẹ đừng quá lo cho con. Trong này con rất đầy đủ. Cách mạng không để thiếu thốn gì cả. Nhân đây con cũng báo tin để bố mẹ rõ là trại cho phép gia đình gửi vào cho con 3 cân quà và thuốc men cần dùng. Nếu được, xin bố mẹ gửi cho con vài thứ như sau. 

– 1 hộp muối vừng lạc. – 1 cân đường thẻ. – 1 cân muối trắng trộn tiêu hoặc ớt bột. – 2 hộp Nê-ô-mi-xin-nờ và 10 ống Xờ-tờ-rích-nin-nờ 
Kính thư, Con, Trần Văn B. 
TB. Tuyệt đối xin bố mẹ đừng gửi đồ tanh như mắm tôm mắm ruốc. Con không thích. À, nếu có dịp nào bố ra Bắc thăm chú Tứ, xin bố cho con gửi lời thăm chú ấy vì con giống chú ấy nhất nhà phải không bố? 
Một vài chữ vắn tắt như trên, nhưng trên thực tế đã làm cho ông cụ điên lên và bà cụ lăn đùng chết ngất. Ôi trời ơi, thế này thì chúng giết con tôi rồi! Chú Tứ là ai? Chú Tứ là em ông cụ, đã chết vì kiết lỵ trong trại Đầm Đùn hai mươi năm xưa! Còn trong cái “phiếu đặt hàng” chỉ thấy xin toàn émitine và Néomycine là những loại thuốc chữa bệnh kiết lỵ! Con tôi cầm bằng sắp chết vì kiết lỵ trong tù Cộng sản như chú nó rồi trời ơi! Bà mẹ tỉnh dậy giật tóc giật tai giật mình giật mẩy. Nó chẳng xin gì mà chỉ xin muối! Người bố than thở. Chắc nó sợ bọn quỷ nhòm nhò nên không dám xin chà bông, còn những thứ tanh như mắm ruốc người kiết lỵ làm sao ăn được! 
Thốt nhiên một buổi sáng đẹp trời, một số tù cải tạo được lệnh lên tiểu đoàn nhận vật dụng cất một nhà kho đặc biệt bên hông văn phòng thủ trưởng trại. Hai ngày sau khi nhà kho được làm xong thì một buổi trưa cả trại nhốn nháo vì có 4 chiếc Molotova có xe hộ tống từ đâu chạy đến đỗ trước văn phòng tiểu đoàn. Từ những kẻ bệnh nặng gần chết nằm nhà đến những người đi lao động quanh quất khu vực tiểu đoàn đều bất động theo dõi biến cố. Quà đến! Tin đồn lan nhanh như ánh bình minh trên những trái tim u ám mệt mỏi. 
Khi những tù trực hậu cần được lệnh gấp rút lên tiểu đoàn xuống hàng vào kho thì tin đồn đã trở thành sự thật. Chiều đi lao động về, cả trại hớn hở không khác nào người dân trong một nước Cộng sản khi biết được tin có một lãnh tụ vĩ đại vùa trúng thượng mã phong mà chết. 
Tên quản giáo Cư, cũng như hầu hết các quản giáo khác, ngay buổi chiều xuống tận các khối để nói chuyện. Phải thú nhận hôm nay quản giáo Cư có vẻ vui vẻ hơn mọi bữa, vui vẻ pha chút ngậm ngùi khó hiểu. Hắn cho anh em khỏe mạnh ra khênh Vĩnh và những người kiết lỵ nằm ngoài vườn vào ngồi trong nhà để tiện việc lên lớp. 
Lúc tất cả đã ngồi đâu vào đó, quản giáo Cư bắt đầu. 
– Tôi xa nhà đi chiến đấu đến nay đã 12 năm. Mười hai năm nhận được thư gia đình 4 lần, trong ấy có hai lần báo tin bố tôi và một người thân khác đã qua đời. Riêng chuyện quà cáp chưa bao giờ có! 

Nói tới đây Cư ngưng lại nhìn xuống mũi chiếc dép râu, ngậm ngùi tiếp. Do đó, các anh phải nhớ rằng Cách mạng thương các anh vô cùng. Một hai ngày nữa khi quà các anh được nhập sổ và ký nhận xong, trại sẽ sắp xếp cho các anh nghỉ lao động một ngày để lên lãnh quà gia đình. Thay mặt ban chỉ huy trại, tôi cũng nhắc nhở các anh vài điểm như sau. 
Thứ nhất, các anh phải tuyệt đối chấp hành nội quy quy định việc nhận quà. Thứ hai, đợt quà đầu tiên này chắc chắn có anh có có anh không. Nhưng với châm ngôn Cách mạng đã đề ra, các cải tạo viên phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, chúng tôi nhắc nhở các anh nên hữu ái với nhau. Hữu ái không có nghĩa là hạt muối chia đôi cục đường lụm cả; mà mỗi thứ mình có, mình nên nhìn lại mà chia xẻ cho những anh em không có, đặc biệt thuốc tây dùng chữa bệnh kiết lỵ và phù thũng… Thứ ba, trại cũng biết các anh gần đây thiếu thốn nhiều thứ, chẳng do chủ trương của nhà nước, mà vì đất nước ta mới giải phóng, khó khăn là điều tất yếu không thể tránh khỏi. Thế nên Cách mạng cho gia đình gửi quà vào là để gia đình được dịp tiếp tay với Cách mạng tạo thêm điều kiện thuận lợi hơn cho các anh trong học tập cải tạo… Các anh nên hiểu chuyện quà cáp trên cơ sở vừa tình vừa lý như vậy. Trại sẽ nghiêm trị bất cứ kẻ xấu nào xuyên tạc chính sách gửi quà đầy nhân đạo của Cách mạng. 
Tên Cư lên lớp đôi ba điều, răn đe đôi ba chuyện rồi rút lui. Bọn tù bò lê ra bàn tán. Vĩnh được khênh trở lại giang sơn là cái võng ngoài vườn của mình. 
Chiều chập choạng. Vườn rau chung quanh ngai ngái mùi đất và mùi nước tiểu. Những cây rau dền và những luống cải ngồng xanh tốt cao quá đầu người. Tiếng côn trùng thầm thì rên rỉ như đang tập dượt cho một bản hợp tấu lớn đêm nay… Vĩnh nằm trên võng ngó chênh chếch về hướng những dãy cầu tiêu mà nơi đó có lần một người bạn đã bị bắn chết, đầu óc không ngưng tụ về một điều gì rõ rệt. Mãi một lúc sau những ngôi sao xuất hiện sớm trên bầu trời mới làm Vĩnh nhớ đến một ý nghĩ từng đeo đuổi trước đó… Noel qua rồi! Mà Noel đã qua thì sẽ “ba Vua lễ Nến, Tết đến sau lưng con nít thì mừng người lớn thì lo”. Câu đồng dao thuộc từ buổi thiếu thời nay lại trôi về đầu Vĩnh. Vĩnh cố nằm nhớ lại bài thơ Khi Anh Về của Nguyễn Đình Toàn mà nhớ không hết… Khi anh về trời trong và gió mát. Con đường nằm thơm lá mục quê hương. Bầy cải ngồng dỗ ong bướm về sân. Anh nằm đây buổi trưa và tiếng nắng… Rồi Tết đến rồi lòng anh nhớ quá!… 
Bài thơ chẳng nhớ hết những cũng làm Vĩnh bồi hồi xúc động. Chao ôi, cái nhớ nhung trong trưa nắng của NDT giờ đang là cái tái tê của buổi chiều tàn quanh Vĩnh. Nơi đây cũng có cải ngồng, cũng vo ve tiếng ong, nhưng cái Tết thì nghe xa vời như mình chỉ từng trải qua ở một kiếp nào khác!… Rồi tết đến rồi lòng anh nhớ quá!… Chao ôi, liệu Tết sẽ còn có đến nơi đây chăng? Hay chỉ là một trời tang thương, không thơ không mộng, là thân tàn ma dại kiếp nửa thú nửa người!? 
Đôi ba người bạn chợt ghé thăm để thay nhau tặng Vĩnh ít câu chuyện vui cười. Rồi thì trước khi Vĩnh thiếp đi, anh còn nghe thấy một tay khe khẽ nói với một tay khác: thằng này chắc tiêu!… 

Sáng hôm sau cả trại ngẩn người vì lệnh cho nghỉ tại trại để sửa soạn lãnh quà ban ra sớm hơn mọi người dự tính. Cả trại bùng lên một khí thế khác thường. Các khối trưởng đều phải lên tiểu đoàn thật sớm để cùng quản giáo sắp xếp danh sách. Tù cải tạo bên trong trại thấp thỏm chờ quà như chờ mẹ về chợ! Phải tới 10 giờ sáng thì đợt người đầu tiên của khối 2 mới được khối trưởng thông báo xếp hàng lên tiểu đoàn. Đúng như Ngô Văn Tuyên nói, bọn bệnh nặng được gọi tên trước, trong đó có Vĩnh. 
Dù sao, những gói quà có một phép màu dị thường. Có những người nằm như sắp chết bỗng dưng bật dậy khi nghe thấy tên mình được gọi. Vĩnh nhập bọn ghẻ chóc, phù thũng và kiết lỵ đầu tiên đi lên tiểu đoàn. Bạn bè các khối biết tin Vĩnh đi lãnh quà đều nhào đến chia mừng. Nguyễn Đình Tạc, người thường hay bi quan cho sức khỏe của Vĩnh, chận ngay lối đi. 

– Trời cứu mày đó Vĩnh ơi! 

Đính đứng cạnh, cười. 

– Chứ chẳng lẽ Bác và Đảng!? 

Đặng Thế Tiến từ đâu chạy đến. 

– Ê Vĩnh! lả trước vài phùa đi mày! Lên tiểu đoàn bày ra đó coi không được đâu! 

Vĩnh bước đi. Cây gậy trong tay cầm không muốn nổi. Anh chỉ ngó các bạn cười khẽ. Sau cùng anh cũng trả lời. 

– Ráng đổ cứt cho tao, có bánh tao sẽ cho ăn lá, có kẹo tao sẽ cho ăn giấy. 

Tiến quay sang nói với Hóa. 

– Mẹ kiếp! Nó còn đểu như thế mà mày bảo nó tiêu sao được. Thằng ấy trời đánh không chết. Lenin, Stalin và… Amibe hạ nó sao nổi! 
Vĩnh bước đi mà còn nghe vẳng sau lưng tiếng cười vui của các bạn. 
Đoạn đường từ khối lên tới tiểu đoàn không xa, chừng trăm thước, thế mà đám tù bệnh cũng lết gần 10 phút. Lúc tới gần địa điểm phát quà, Vĩnh thấy một tổ tù khác đang khập khễnh khênh quà về trại. Gặp nhau giữa đường chẳng ai buồn hỏi ai. Nhìn vóc dáng của nhau, cả hai bên đều biết kẻ đối diện với mình đều là những thằng bệnh sắp chết. Sau cùng khối trưởng Trai dẫn đám Vĩnh tới địa điểm phát quà. Nơi ấy lũ quản giáo đều hiện diện đầy đủ. Ngay trước nhà kho, một chiếc bàn dài có ba tên bộ đội ngồi giữ sổ sách. Tên hậu cần được lệnh mở cửa kho. Cửa kho vừa mở đã có ba bốn con chuột từ trong phóng ra. 
Một thằng bạn bệnh thầm thì. 

– Chuột như thế chắc quà bên trong bị khoét tùm lum! 

Một giọng khác. 

– Giỏi lắm nó chỉ nuốt được tí mắm ruốc, tí đường, tí tôm khô. Những con chuột đứng lù lù kia kìa. Người đang nói chợt chỉ tay về phía bọn cán bộ, tiếp. Đấy, loài chuột ấy mới ghê gớm. Chúng nuốt cả giang sơn gấm vóc và sự tự do của chúng ta… 

Thấy anh bạn bốc đồng chửi hơi nặng, người lên tiếng than vụ chuột nín khe luôn. 

Tên hậu cần sau khi mở kho, tay cầm một danh sách tiến đến bên bàn và nói. 

– Theo đúng nội quy quy định việc nhận quà, giờ gọi ai người ấy lên trước bàn để được kiểm tra quà trước khi ký nhận. Các anh nghe rõ cả chưa? 
Chẳng thằng tù nào thèm trả lời. Và nhìn mấy thằng “ngụy” toàn những thứ chết dở sống dở, tên hậu cần cũng không buồn mắng mỏ làm gì. Hắn xướng tên. Vĩnh nằm vào đợt thứ hai. Khi nghe thấy tên, như mọi người trước đó, anh tiến tới trước bàn. Gói quà được chuyển từ kho đặt lên bàn. Khối trưởng Trai đích thân mở gói quà trước sự chứng giám của ba cặp mắt cú vọ: Một của tên quản giáo, một của tên cán bộ hậu cần và một của chính người nhận. 
Tên quản giáo Cư từ trước đã không ưa Vĩnh do cái vụ sách báo, dù nay anh bệnh gần chết, đôi mắt hắn do đó nhìn Vĩnh với đầy ác cảm pha chút thắc mắc tại sao giờ đây cái thằng phản động này vẫn chưa chết!? 
Gói quà đã được mở banh ra. Từ thùng đến tờ giấy gói được xem xét kỹ lưỡng như người ta nghiên cứ những tờ bạc giả. Tên Cư cầm lên tờ kê khai các món có trong thùng quà. Hắn quay sang khối trưởng Trai. 

– Tôi đọc món nào anh mở món đó kiểm tra nghe chưa? 

– Dạ. 

– Một cân nạc xưởng! 

Xướng xong hắn nhìn soi mói vào thùng quà, hỏi lớn. Nạc xưởng nà cái rì? 

– Dạ đây. Khối trưởng Trai vừa nói vừa vội vã giơ lên cân lạc xưởng mập căng và đỏ au mà giờ đây tưởng như chẳng có cặp môi tươi thắm của một giai nhân nào lại có thể quyến rũ đến như thế. 

Tên Cư hỏi gằn. 

– Món ăn hả? Làm sao ăn? 

– Dạ nướng, chiên hoặc hấp cơm cũng được. 

Tên hậu cần chợt bỉu môi ra chiều khinh bỉ. 

– Ăn với uống! Toàn những thứ phức tạp! 

Tên quản giáo lại xướng. 

– Một non muối mè! 

Khối trưởng Trai lại giơ lon guigoz đựng muối mè lên. Anh đặt nó sang một bên. Tên hậu cần giục. 

– Mở ra kiểm tra chứ để đó làm gì? 

Lon muối mè được mở ra và một que đũa được thọc vào. Que đũa bị khựng lại lưng chừng. Tên quản giáo Cư nét mặt đầy cảnh giác vội lên tiếng. 

– Có gì trong ấy nữa đây? Đổ ra xem! 

Khối trưởng Trai tuân lệnh đổ lon muối mè ra một tấm giấy dầu. Muối mè mới đổ ra chừng nửa bát thì tắc nghẽn không ra được nữa. Hai cặp mắt nghi ngờ chạm vào một cặp mắt hoảng hốt. 

– Đập mạnh xem nào! Tên hậu cần ra lệnh. 

Khối trưởng Trai đập mạnh lon muối mè xuống tờ giấy. Muối mè vẫn không chịu ra. Anh nhìn vào trong lon, cố dấu một nụ cười rồi thò tay vào lôi ra. Chà bông trong lon được nén đến độ đóng thành một khối cứng. 

Tên Cư nhăn mặt. 

– Cái quỷ gì vậy? 

– Dạ chà bông. 

– Chà bông là cái gì? Tên quản giáo vừa hỏi vừa bốc một chút lên ngửi. 

– Dạ… là thịt heo kho khô, xé nhỏ, đánh tơi và sấy thật kỹ… 

– Phải ăn chung với muối vừng à? 

Khối trưởng Trai dạ đại một tiếng cho xong chuyện. Tên hậu cần lại lắc đầu lập lại câu nói cũ. 

– Ăn với uống! Toàn những thứ phức tạp! 

Giọng tên Cư. 

– Hai che… che… che mi se là cái gì? 

Khối trưởng Trai biết ngay là hai cái chemises mà người gửi đã không phiên âm sang tiếng Việt. Anh giơ hai cái áo lên và nói vội vã. 

– Dạ hai cái che-mi-se là hai cái áo sơ-mi này đây! 

Tên Cư lắc đầu cằn nhằn. 

– Sơ-mi thì viết là sơ-mi. Che che với đậy đậy!… 

Những món kế tiếp là thuốc tây đủ loại, từ thuốc cảm, dầu nóng đến thuốc bổ và các loại trụ sinh chữa kiết lỵ phù thũng hảo hạng của… đế quốc Mỹ bị ba Tàu ếm nên mất dịp du lịch sang Angola. Chưa hết, gói quà còn nhiều món rất phản động khác nữa. Một cân đường cát trắng. Một gói cà phê. Một lon sữa bột guigoz. Vài gói 555 lại còn đèo thêm một hộp bơ Đồng Tiền và một hộp phô mai Đầu Bò nữa. 
Vĩnh liếc qua đống quà. Anh nhẩm tính thấy trọng lượng có thể đã trên 5 kgs. 
Giọng cả quýnh của tên hậu cần trại lại khẽ cất lên. 

– Gớm, xét trên cơ bản, gia đình anh này chưa tiến bộ nhiều lắm. Vẫn nổi lên cái mặt bơ thừa sữa cặn đấy nhá! 

Tên quản giáo Cư có lẽ cũng biết còn rất nhiều “thân chủ” khác chờ mình, nên hắn nhìn Vĩnh xua tay như đuổi. 

– Được rồi. Cho thu vào! 
Ngoại trừ giấy gói, hộp và lá thư phải để lại; kỳ dư Vĩnh được nhận hết. Anh vội vã thu vén mọi thứ bỏ vào một cái bao nylon lớn. Vĩnh làm thật mau tuồng như ngại tên quản giáo có thể đổi ý vào phút cuối. Xong đâu đấy, Vĩnh run tay cầm bút ký nhận đủ vào tấm phiếu gửi của gia đình có nét chữ mềm mại quen thuộc của vợ. 

Anh cố gắng khênh gói quà rời khỏi bàn và ngồi dưới đất nhập bọn với những người đã được nhận quà như anh. Phải đợi cả toán được nhận xong, khối trưởng Trai mới dẫn một lượt trở về khối. Ngồi xuống đất rồi Vĩnh mới thấy mệt. Nghĩ tới căn bệnh trong người, chưa cần biết rõ thuốc phải uống thế nào. Vĩnh moi ngay một viên Néomycine cho vào miệng nuốt chững. Vài phút sau Vĩnh thấy choáng váng vì sức mạnh của viên thuốc. Anh ngồi gục đầu xuống hai đầu gối cho đỡ mệt. Những hình ảnh hỗn tạp lại trôi qua đầu óc anh… Các bưu điện trên toàn cõi miền Nam suốt ngày ngập người. Họ phải nối đuôi nhau thành những hàng dài bất tận, dưới nắng cũng như dưới mưa, chờ đến lượt được gửi đi những món quà cho thân nhân đang hấp hối vì phù thũng và kiết lỵ trong lao tù Cộng sản… 
Một tiếng động mạnh chen với tiếng cằn nhằn lớn giọng của tên quản giáo nhận quà làm Vĩnh bừng tỉnh. Vĩnh lắng tai nghe. 

– Cái này là cái gì? Không ích lợi gì cho một cải tạo viên! Để ra kia, khung sẽ nghiên cứu… 

Giọng khối trưởng Trai nhỏ nhẹ. 

– Thưa đó chỉ là cái pipe. 

– Pipe là cái gì mới được chứ? 

– Dạ là cái ống vố, còn gọi là tẩu, để hút thuốc. 

Tên Cư lẩm bẩm. 

– Tẩu xưa kia tây đồn điền nó mới hút. Vả lại cái tẩu gì mà mất vệ sinh, mất văn hóa, cái tẩu gì mà trông như cái mông chị nữ thế kia? Lại còn nhận thêm hai con mắt vào đấy nữa! 

-…..! 

– Mở luôn cái hộp kia ra xem nào! 

Vĩnh nhìn thấy khối trưởng Trai cầm lên một cái hộp tròn nhỏ. Anh nhìn kỹ hơn và nhận ra nó là một hộp Dunhill, thuốc dùng hút pipe. Khối trưởng Trai mở ra. Vĩnh thoáng thấy mặt anh ta hơi đần lại, mắt lim dim và mũi hinh hỉnh. Có lẽ khối trưởng Trai đang tận hưởng cái hương thơm ma quái của thuốc Ăng-Lê. 
Tên Cư giơ tay cầm lấy hộp thuốc. Hắn ngửi rồi bốc lên một chút nhìn cho rõ. 

– Cũng thơm ra phết đấy chứ. Nhưng chợt nhận ra cái màu sắc của thuốc vàng đen lẫn lộn, hắn nhăn mặt. Cái này chắc chắn có trộn ma túy. Tôi giữ lại để khung nghiên cứu. 
Hộp thuốc và cái pipe của một anh bạn nào đó trên lý thuyết đã được Cách mạng chiếu cố để nghiên cứu, nhưng trên thực tế đã thật sự thay đổi chủ nhân từ giây phút ấy. 

Hơn 15 phút sau cả toán mới được khối trưởng Trai tập hợp so hàng dẫn trở về khối. Bệnh hoạn đi một mình chưa nổi, giờ mỗi người lại còn đèo bồng thêm năm sáu ký quà thành thử tay nào tay nấy lê lết trên đường. Mãi khi vào tới bên trong hàng rào trại, bọn Vĩnh mới được bạn bè nhào ra khênh tiếp sức. Đính ôm gói quà giùm Vĩnh. Về tới phòng, việc đầu tiên Vĩnh lết ra giếng thay quần đùi. Anh mệt nhọc khôn lường. Đính phải chạy theo dìu Vĩnh trở lại phòng. Vĩnh cố gắng lôi hết mớ quà cáp ra để trên sàn nhà. Đám bạn bè thân thiết của Vĩnh xúm lại. Vĩnh hiểu tụi nó thèm gì. Đầu tiên anh mở hộp đường cát trắng ra rồi bóc luôn hai gói 555. Vĩnh thều thào. 

– Xin chúng mày cứ tự nhiên như người Hà Lội… 

Giọng Tạc bất nhẫn kêu lên. 

– Không được. Tất cả đồ ăn phải để cho mày tẩm bổ. Tụi tao chỉ có quyền hút ăn mày của mày mỗi thằng một điếu 555 cho thơm mõm thôi… 

Hóa từ ngoài chợt hốt hoảng chạy vào. 

– Thằng Vĩnh về rồi hả? Có thuốc lào không? 

Đính trả lời thay Vĩnh. 

– Vợ nó chắc sợ nó hôi mồm nên không cho hút thuốc lào, chỉ có ba số 5 thôi, làm một điếu cho thơm râu thì làm. 

Tiến xà xuống ngồi. Nó cầm lấy một điếu 555, miệng lẩm bẩm. 

– Vợ mày đúng là một con mụ chậm tiến. Giờ này còn chơi cái của tư sản… thơm tho này! 
Vĩnh quá mệt. Anh không muốn tham dự tí nào vào những câu chuyện của bạn bè lúc này. Anh nhẹ ngả lưng xuống và nhìn qua kẽ hở trên vách. Trời xanh ngắt. Một vài áng mây bay nhàn nhã về một phía mà anh nghĩ đó là phía Sài Gòn. Thốt nhiên trên vầng mây ấy anh nhìn ra khuôn mặt của vợ con. Vĩnh ngậm ngùi tự hỏi lòng: Con ta rồi sẽ chết thèm chết nhạt bao lâu vì gói quà này? 
Bỗng một tiếng khóc hưng hức bên góc nhà đối diện cất lên. Mọi người ngỡ ngàng ngó sang. Lê Văn Thống, anh bạn đồng bệnh của Vĩnh ngồi với gói quà trên đùi. Anh ta đang mân mê gói quà, khóc nghẹn và mắt trừng trừng nhìn ra ngoài sân. Vĩnh cố gượng ngồi lên. Anh ngó sang Thống. Trông Thống ủ rũ như một cái hình nộm hết thời, nhưng trong đôi mắt đang hực lên của anh ta, Vĩnh có thể đọc được muôn vạn lời…











Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 2 Jan 2024

Bài 22

Phần 21

Nếu lịch sử đã biến bọn cán binh CSVN thành những tên hề vô duyên nhất trước mắt hơn 17 triệu dân miền Nam sau biến cố 30 tháng Tư năm 1975, thì lịch sử cũng tặng cho bọn Rau Răm Ở Lại, là Vĩnh và các bạn bè, một dịp may bằng vàng để cảm nhận được một cách sâu xa câu nói của một chính khách phương Tây: Lịch sử sẽ được viết lại bởi những kẻ chiến thắng. Chuyện của người chiến bại sẽ hoàn toàn bị xuyên tạc… 
Trong sự xuyên tạc ấy, tuy nhiên, có một điều đau đớn nhất đó là việc kẻ thù lại nói khá đúng về bọn lãnh tụ cá mập, bọn chính khách hoạt đầu, bọn tướng lãnh đê hèn chưa đánh đã bỏ chạy. Chúng nói thế nào về bọn lãnh tụ cá mập? – Là bọn ăn cắp, bọn lưu manh, bọn huyênh hoang, bọn lì lợm, bọn vô lương tâm. Chúng nói thế nào về bọn chính khách hoạt đầu? – Là bọn Việt gian, bọn tưởng bở lập lờ thỏa hiệp, bọn trí thức bằng cấp ngập tới răng nhưng đụng trận thực tế ngu hơn con bò. Chúng nói thế nào về bọn tướng lãnh chưa đánh đã bỏ chạy? – Là bọn cướp có môn bài, hiếp dâm có giấy phép; bọn mà tư cách và danh dự của một quân nhân còn thua cả một anh tân binh quân dịch! 
Hỡi ơi, điểm này kẻ thù đã nói gần như y chang, cãi thế nào được!? 
Nhưng điều mà kẻ thù đã nói về những người ở lại để chiến đấu, để còn nước còn tát, để không tự hổ với lòng mình rằng mình là thằng chỉ huy bỏ rơi đơn vị, bỏ rơi em út chạy lấy thân; thì kẻ thù đã xuyên tạc như thế nào? Chúng đã đề quyết rằng họ là những người liều thân giữ của, tiếc vợ năm vợ bảy, bọn ếch ngồi đáy giếng vì trình độ chưa… đọc nổi chữ in! 
Chao ôi là cay đắng! 
Cái thủa ban đầu, với sự tự tôn mặc cảm, việc trả thù coi vậy mà còn nhẹ tay. Nhưng thời gian trôi qua, ôi thời gian, tên chỉ điểm đốn mạt nhất, đã tố giác với chúng con người thật với giá trị thật của bọn sa cơ thất thế! Và khi biết rằng sự thật không phải bọn “ngụy” là bọn có trình độ không đọc nổi chữ in như lời Đảng tuyên truyền xuyên tạc nhiều chục năm, mà khác, khác xa như thế nhiều lắm, khác đến độ đời thằng cai tù có sống thêm mấy kiếp nữa cũng chẳng thể đuổi bắt kịp những giá trị sống mà bọn tù đã được sở hữu; sự tự tôn mặc cảm từ đó dần dần chuyển hóa thành sự tự ti mặc cảm. Bọn tù bắt đầu khốn nạn thật sự trước cái mặc cảm mới này của bọn cai tù!… 
Khi các trại cải tạo với tình hình đã tương đối ổn định và đi vào nề nếp nói theo ngôn ngữ của các cai tù, thì chúng cũng bắt đầu được đi phép Sài Gòn hoặc những thành phố lớn lân cận để biết ra rằng cái nón cối và đôi dép râu quả là một chướng ngại ghê gớm trong việc ăn mày tình cảm của người dân miền Nam. Đây là những lần đầu tiên trong đời, nhiều kẻ biết được mùi tủ kính của các cửa hiệu, hoặc được dịp đếm mỏi cổ những tầng nhà cao ốc, được biết mùi “cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc”, được dịp lùng mua cho bằng được một cái đồng hồ Seiko “có cửa sổ, không người lái, có đèn nháy và chạy cả năm”, được há hốc những cái mồm răng vẩu nhìn người đẹp thành thị miền Nam thướt tha yêu kiều, dù bây giờ họ có vẻ hơi lười biếng cười đùa, nhưng ô kìa! họ biết lái cả “ô-tô con” và “xe bình bịch” nữa chứ! 

Vâng, bọn cán binh Việt cộng từ rừng rú được trực tiếp đưa vào làm cai tù trong các trại giam cũng trong rừng rú, sau những lần đi phép đã bắt đầu được nhìn thấy một phần sự thật về miền Nam, về con người Tự Do ở miền Nam. Trong cái đầu dày đặc đêm tối của sự cuồng tín ấy, liệu chúng có nảy ra tí so sánh nào giữa thực thể của hai miền Nam Bắc không? Có khởi sự nghi ngờ về những lời tuyên truyền nhồi sọ xuyên tạc miền Nam kéo dài mấy chục năm trời từ bọn lãnh tụ của chúng hay không? – Có thánh mà biết được, khi cửa mồm của chúng đã biến thành một cái máy nói dối tự động dù bất cứ ở đâu với bất cứ ai về bất cứ một vấn đề gì. 

Ngoài Bắc ư? Cái gì cũng có, cũng to, cũng tốt cả! 

– Có TV không? 

– Ồ, có chứ! Chạy đầy đường 

– Có máy lạnh không? 

– Gắn đầy công viên! 

– Có cà rem không? 

– Ồ, thu hoạch ăn không hết phải đem phơi khô xuất khẩu! 

Nếu viết hết ra những câu đối thoại trong một cuộc hạnh ngộ nào đó giữa hai người thuộc hai chế độ Quốc Cộng ở Việt Nam vào giai đoạn sau 30 tháng 4 năm 1975 có thể lên tới hàng chục nghìn. Và nếu như những mẩu đối thoại ấy được cắt riêng ra, được đem dịch sang một thứ tiếng khác cho người ngoại quốc đọc hẳn họ sẽ điên lên mà kết luận rằng thằng dịch giả này là một thằng bố láo, hoặc đó là những mẩu đối thoại mà kẻ trả lời chắc chắn điếc một trăm phần trăm! 
Tự ti mặc cảm, một hậu quả tất yếu và phổ quát cho những kẻ có lồng ngực giam hãm một quả tim lạc hậu hèn kém, được che dấu bởi một bộ mặt Cách mạng tiên tiến. Cộng sản, dù là Cộng sản Tây Cộng sản ta, Cộng sản Nga Cộng sản Tàu; hãy mổ ngực chúng ra mà xem, quả tim triệu thằng như một. 
Chúng không mặc cảm sao được khi mà chúng đã biết quá rõ mình cầm bằng thua địch thủ mọi mặt dẫu nay địch thủ đã sa cơ thất thế, không do yếu kém mà do nhiều nguyên ủy sâu xa không phải là chúng không biết. 

Một trang nhật ký có lẽ bị xé vội vã và dùng lầm chỗ của tay thượng úy trại trưởng L4T3 đã bị bọn tù đi dọn cầu tiêu trên ban chỉ huy nhặt được. Trang nhật ký viết: “… Ba mươi năm theo Đảng, Đảng đã trang bị cho tôi những gì? Phải chăng chỉ có một kiến thức thua cả một thằng lính ngụy, một đời sống kinh tế không bằng một anh phu xe trong xã hội đối phương…!?” 
Chỉ hai mươi bốn tiếng sau đó nội dung và tác giả của trang nhật ký được lan truyền rộng rãi khắp trại. Bọn cán bộ trại điên đầu. Và kẻ điên đầu nhất có lẽ là tên thủ trưởng. Chúng lồng lộn truy tìm tác giả của cái tin “xuyên tạc” ấy. Tìm mãi không ra, biện pháp duy nhất là… trừng trị tập thể. Chúng ra tay quần thảo bọn tù gần chết với những công tác lao động khổ sai, với những lời mạt sát thậm tệ. Để trả đũa, bọn tù không còn vũ khí nào khác hơn là sự châm biếm. Giai đoạn này sản sinh vô số chuyện châm biếm sự ngu dốt của cai tù do tù sáng tác. Vẻ huyênh hoang của bọn cai tù Cộng sản ngày đêm bị những bầy ong vô hình châm chích túi bụi. Chúng bắt đầu rút vào thế thủ nhưng bầy ong châm biếm của bọn tù vẫn gia tăng. 
Châm biếm càng gia tăng thì sự thù hận của những kẻ tự ti mặc cảm càng dâng cao. 
Thù hận càng dâng cao thì chúng càng siết chặt hơn mọi thứ. Và sau cùng, nghệ thuật sết tuyệt vời nhất của Cộng sản vẫn là: Ông cho chúng mày đói xem chúng mày còn châm biếm được nữa hay không? 
Kể từ sau đợt học tập chính trị vào cuối năm 1975 thì tù cải tạo tại trại L4T3 thực sự bắt đầu lê lết vì đói. Theo lý thuyết mỗi người có trực tiếp tham gia lao động được hưởng mỗi ngày 500 grs gạo. Ai bệnh ăn cháo. Tuy nhiên, trên thực tế mỗi bữa mỗi người chỉ được phát trên dưới hai bát cơm nhỏ nấu bằng loại gạo đã chôn dấu nhiều năm trong các mật khu giờ đã mục mọt gần hết. Khẩu phần có thể được phát kèm thêm dăm ba cọng rau muống, hoặc miếng bí ngô luộc bằng hai đốt ngón tay, hoặc miếng củ cải luộc, thêm tí nước muối đen như nước cống. Chất béo và chất ngọt tuyệt nhiên đã bị cắt hẳn ngay từ tháng thứ hai. 
Trong khi bọn cán binh Cộng sản bắt đầu đạt được giấc mộng lớn của chúng là có thằng đã có xe đạp cỡi chơi, có đồng hồ đeo tay, có tí kính râm đeo mắt trông y như một lũ thầy bói; thì cũng là lúc lũ tù cải tạo bắt đầu phù thũng và kiết lỵ. 
Ôi thật là một hỏa ngục trần gian! Một khối 120 người kiết lỵ hết 50 người. Với 70 người còn lại thì hết 40 người phù thũng. Kiết lỵ bò trên đất. Phù thũng cõng kiết lỵ. Kiết lỵ làm bậy luôn trên lưng phù thũng. Phù lủng lây kiết lỵ. Một khối 120 người giờ đây hết 90 người vừa phù thũng vừa kiết lỵ. Hai mươi người còn lại đều thấp thỏm chờ con ma kiết lỵ hỏi thăm bất cứ lúc nào. Riêng 10 thằng chưa được kể tới chính là những thằng may mắn nhất vì đã được Cách mạng cho… chôn có hòm! 

Dù bệnh tật, nhưng nếu chưa da bọc xương, chưa đến độ ruồi bâu không thèm đuổi thì vẫn phải thi công lao động như thường. Nằm lỳ ở nhà ư? Đâu có dễ như vậy! Vả lại chưa chết thì thôi, ai lại nỡ để bạn bè suốt ngày lao động quần quật, đêm về lại phải theo lệnh quản giáo đốt đèn lên để phân tích, mổ xẻ, đấu tranh giúp đỡ mình, bắt mình phải khắc phục những khuyết điểm chai lười lao động còn tồn tại, buộc mình phải đề ra phương hướng mới, phải phấn đấu học tập lao động để sớm trở nên người công dân lương thiện… Cái đức tính “gan lì ỳ ẩu”, nói cho cùng, khó mà thi thố nổi trong trại tù cải tạo của Cộng sản. 
Nói chung chưa chết thì vẫn phải tham gia lao động. Người khỏe thì đi phát quang, đi phá nền nhà, đi đào ao đào giếng, đi xây dựng các doanh trại cho bộ đội, đi khuân đạn… Người yếu bệnh thì đấy, cả một phi trường bao la đấy, cứ việc ngồi một chỗ, tay cầm đục tay cầm búa để đục xuyên qua những lớp nhựa cứng, tạo những lỗ đủ sâu đủ rộng cho một gốc bí ngô. Chỉ tiêu cho người bệnh đào đất trồng bí ngô theo quy hoạch của trung đoàn không nhiều lắm, hai mươi lỗ mỗi ngày và ngồi dưới trời nắng Tây Ninh từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa rồi từ 1 giờ trưa đến 6 giờ chiều. Có nhiều khi ngồi luôn từ 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều nếu làm việc thông tầm… 
Trong khi đi lao động như thế, bọn tù từ mạnh đến yếu đã đi với phong thái thế nào? – Một con mắt thì rình rập xem có con cóc con nhái nào không, con mắt kia thì dáo dác lo tìm mớ cỏ mực, cỏ hôi, cỏ cứt lợn hoặc vú sữa đất đem về sắc cho nhau uống chữa bệnh kiết lỵ. 
Trong lúc ấy ở tại trại, tổ anh nuôi điên lên trước lũ chiến hữu phù thũng. Mặt đứa nào đứa nấy trông như những quả dưa bở chín rục, chân tay bụ bẫm cứ như những cái xác chết trôi 3 ngày, đang xếp hàng dài trước bếp đợi xin chút nước vo gạo về uống với hy vọng mong manh tí chất cám có thể cứu nổi căn bệnh phù trầm kha. Nhìn đám phù thũng xếp hàng xin nước vo gạo làm nhiều người lớn tuổi nhớ đến lũ ốm đói 45 xếp hàng trước các nhà chung chờ nắm cơm phát chẩn! 
Chính sách để cho phù thũng kiết lỵ đòi nợ máu giùm cho nhân dân đã được xét lại khi trực trùng Amibe bắt đầu ghé hỏi thăm luôn bọn cán binh Việt Cộng. Chúng bắt đầu buộc phải phát thuốc cho tù khi đã có vài thằng bộ đội lây bệnh của tù về bên kia thế giới đi tìm thăm Bác. Ông Tuyên, tù nhân bác sỹ, người được bọn quân y tiểu đoàn giao trọng trách bảo vệ sức khỏe cho anh em, mỗi buổi sáng lên phòng phát thuốc tiểu đoàn đem về vài chục viên Granidan và một ly cối thuốc nước B1 không biết được chế bằng chất gì mà vàng đục như nước tiểu. Tù nhân kiêm bệnh nhân từng khối, trước giờ xuất quân đi lao động, xếp hàng dài để được bác sỹ Tuyên đặt vào miệng một viên Granidan nếu kiết lỵ được nhấp chút B1 nếu phù thũng. Từ xa ngó tới, nhìn vẻ kính cẩn thành khẩn của người phát thuốc lẫn người nhận thuốc, người ta có thể tưởng lầm đó là quang cảnh một lễ Misa ngoài trời, và vị linh mục đang cho những con chiên ngoan đạo chịu Mình và Máu thánh chúa! 
Tuy nhiên một viên Granidan và vài giọt B1 làm sao trị nổi chứng bệnh kiết lỵ và phù thũng lúc nó đã trở thành trầm kha!? 

Hình như Cộng sản chỉ có một hành động công bằng duy nhất và không nặng tính giai cấp cho lắm (đương nhiên phải trừ giai cấp lãnh đạo và cán bộ ra!), đó là sự mai táng có tính cách dập vùi cho xong chuyện đối với tù và cả bọn vệ binh coi tù. Thân xác sẽ được trở về với cát bụi nơi một bìa rừng hay một cánh đồng hoang nào đó và thân nhân sẽ không bao giờ được thông báo. Vợ sẽ suốt đời chờ chồng. Mẹ sẽ suốt đời chờ con. Anh sẽ suốt đời chờ em. Khốn khổ thay cho những người còn sống ấy. Họ cứ mỏi mòn chờ mà đâu biết rằng sự chờ đợi của họ là một việc làm vô ích nhất trong những việc vô ích ở trần gian! 
Thuốc của Bác của Đảng coi như đổ sông đổ biển. Bọn đầu não Việt cộng chắc hẳn đã được báo cáo rất kỹ cái việc lợi bất cập hại khi để mặc cho trực trùng Amibe hành hạ bọn tù. Thế là một chính sách mới ra đời: Chính sách gửi quà.
Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa giàu mạnh muôn năm đã phải gián tiếp cầu cứu gia đình bọn “ngụy” gửi thuốc vào chữa cho thân nhân của họ, để tránh cho chúng khỏi bị chết lây. Chính sách gửi quà của chúng dĩ nhiên cũng được mang một chiêu bài thật đẹp đẽ như mọi chiêu bài khác: Để thể hiện sự khoan hồng nhân đạo của Cách mạng, Cách mạng cho phép gia đình các cải tạo viên gửi đến thân nhân đang học tập cải tạo mỗi người 3 kgs quà và thuốc men… 
Tuy nhiên, chính sách gửi quà ra đời cũng không giản dị vào ngon ơ cho bọn tù! Trước khi được gửi thư về gia đình để báo tin được phép gửi quà, bọn tù phải trải qua nhiều tai kiếp. Tai kiếp đầu tiên là phải trải qua một thời gian học tập thảo luận gù lưng những nội quy quy định cho việc viết thư báo tin về nhà. Sau đó còn phải làm bài thu hoạch và làm những bản cam kết… 
Bốn ngày trời học tập trôi qua, rốt cuộc cũng chỉ xoay quanh mấy điểm: 
1. Quà không được gửi quá 3 kgs. 
2. Thư viết về phải nói những gì có lợi cho Cách mạng, cho gia đình và cho bản thân. Đặc biệt phải ngắn gọn trong vòng một trang để quản giáo không mất quá nhiều thì giờ cho việc đọc kiểm duyệt. 
3. Tuyệt đối không được viết tiếng nước ngoài, không được tiết lộ địa điểm đang học tập, không được kêu ca, không được dùng các ám hiệu dưới bất cứ hình thức nào. Tên các loại thuốc tây phải phiên âm sang tiếng Việt để sự kiểm duyệt của quản giáo được dễ dàng. 
Những ngày kế tiếp, bọn tù bò lê ra để tập viết những bức thư kêu cứu gửi về gia đình bằng ngôn ngữ của Cách mạng. Ngoài bìa thư, nơi địa chỉ người gửi chỉ được ghi vỏn vẹn một bí số “Hòm thư L4T3”. 
Khi thư được thu nộp lên quản giáo rồi thì tai kiếp kế tiếp cũng bắt đầu xảy ra cho tất cả các khối! Dù thế nào, những người có kinh nghiệm về xã hội Cộng sản đều có thể đồng ý với nhau về một điểm, rằng chốn lao tù trong xã hội Cộng sản là một môi trường lý tưởng nhất cho sự phát triển cùng cực mọi bản năng thấp kém của con người. Trong điều kiện sống bị o ép tối đa về tất cả các mặt, bọn cán bộ của chế độ đã biết khai thác và xử dụng một lưng cơm, một chén cháo, cao hơn một chút nữa là một lời hứa được… nhận nhiều hơn 3 kgs quà… như một tuyệt chiêu để lũ tù tự động ra tay sát hại lẫn nhau. 

L4T3, khối 2, lại một lần nữa khốn khổ về hệ thống ăng-ten của thằng Ba Tô! Mỗi ngày đi lao động về, nó mắc cái võng nằm ngay hông phòng, nơi có thể quan sát được cả phòng ngủ lẫn nhà bếp và nhiều xó xỉnh khác nữa thuộc phạm vi khối 2. Không một lời nói, một hành động khác thường nào của người trong phòng mà quản giáo Cư không được phúc trình đầy đủ. Dĩ nhiên chưa ai nhìn thấy hậu quả của những người bị báo cáo, nhưng có một điều chắc chắn thư của họ sẽ không được đem ra ngoài bưu điện Tây Ninh, mà được dùng làm đóm hoặc giấy chùi đít cho lũ vệ binh trên tiểu đoàn! 
Với riêng Vĩnh, thế sự thăng trầm lúc này coi như bỏ ngoài tai. Chẳng còn gì làm Vĩnh phải bận tâm hay sợ hãi. Đúng hơn, Vĩnh đang biến thành một thứ mà ai cũng sợ hãi, kể cả thằng Ba Tô với mấy thằng râu ria ẩn mặt của nó. Anh đang giữ chức quán quân về bệnh tật của khối 2 nói riêng và có thể của cả L4T3 nói chung. Ngoài bệnh bao tử vốn là chỗ cố tri, bệnh ghẻ không trầm trọng như nhiều người khác nhưng phù thũng và kiết lỵ thì vô địch, chưa kể thêm bệnh sạn thận hành hạ chết ngất nhiều phen. Niềm hy vọng của Vĩnh hiện nay là mong ngóng chiều chiều bạn bè đi lao động về kiếm giùm cho mớ lá hoa cành củ bậy bạ sắc uống. Nguyễn Thành Đính đi lao động trên trung đoàn cậy được một miếng vỏ cay hoa Đại già đem về cho Vĩnh sắc uống chữa bệnh sạn thận. Nước vỏ Đại đắng không thua bồ hòn. Uống vào ruột gan tê dại. Anh em ai cũng khuyên thuốc đắng dã tật, nhưng uống năm lần bảy lượt đái ra máu vẫn hoàn đái ra máu! Sau một cơn đau thừa sống thiếu chết Vĩnh mới tiểu ra được một viên sạn to bằng nửa hạt ngô thì bắt đầu dính kiết lỵ! 
Kinh nghiệm trong tù cho thấy những người bị kiết lỵ càng về sau càng nặng. Và những anh to con lại là những anh bị con Amibe vật nhanh và thê thảm hơn ai hết. Điển hình là một tay cận vệ của tổng thống Thiệu bên khối 3. Hắn to và đẹp trai như Nguyễn Công Án, sức lao dộng bằng ba và sức ăn phải bằng năm người thường; thế nhưng chỉ hai ngày kiết lỵ, con ma Amibe vật chết tươi không cách gì cứu nổi. Hoặc giả anh chàng Phan Lâm cũng bên khối 3. Hắn có sức nặng ít lắm cũng phải 80 kgs. Hơn nửa năm tù có hao hụt thì giờ này cũng phải còn 70 kgs. Lâm bị kiết lỵ và cũng chỉ hai ngày sau hắn nhão ra như một cái mền rách. Vĩnh không thể nào quên được hình ảnh vài người bạn, trong đó có Nguyễn Đình Tạc với vóc dáng chẳng thua Phan Lâm là bao nhiêu, xúm lại xốc Lâm lên và khênh ra cầu tiêu. Xong việc lại khênh Lâm về. Cứ thế đi rồi về, về rồi đi cho đến lúc chẳng còn ai khênh nổi nữa và để mặc cho Lâm ngồi suốt ngày trên một cái thùng đạn kê ngoài hiên nhà… 

Vĩnh không to con như Phan Lâm, không cốt-xì-tô như cận vệ của ông Thiệu nhưng như thế không có nghĩa là không khốn nạn thê thảm trước con ma cà rồng kiết lỵ. Chao ôi! mỗi ngày chạy ra cầu khoảng bốn chục lần; chạy riết để sau cùng không còn chạy nổi nữa và anh em phải mắc cho Vĩnh một cái võng ngoài vườn bên cạnh vài tay kiết lỵ trầm kha khác. Nằm trên võng ngó trời ngó đất qua những nhánh cây, Vĩnh không nghĩ tới cái chết cũng không nghĩ tới gia đình, chẳng tủi thân tủi phận mà cũng chẳng thèm uất hận như thủa ban đầu; Vĩnh nằm nghĩ tới những đề tài đang viết, viết trong óc và học thuộc lòng trong tim. Mỗi ngày hai bữa Nguyễn Thành Đính nhận giùm phần cháo đem ra cho Vĩnh. Anh không muốn ăn. Một phần sự tiêu chảy khủng khiếp đã làm mọi cơ phận trong người tê dại, kể cả bao tử, cơ quan chính đẻ ra cái đói; một phần Ngô Văn Tuyên suốt ngày bắt Vĩnh uống những lon nước sắc bằng cỏ hôi vừa tanh vừa lợm, lắm khi anh còn bắt Vĩnh ăn cả bã với hy vọng món thuốc dân tộc kiểu bác Hồ này có thể cứu Vĩnh khỏi thần chết. Hai bát cháo có tí muối trắng, do đó, cao lắm chỉ đổ được vào miệng Vĩnh vài thìa để làm vốn cho sự tiêu chảy triền miên. 
Chiều chiều đôi lúc có một vài người bạn ghé thăm. Vĩnh không buồn trò chuyện. Cũng có một vài người thương Vĩnh, chạy đôn chạy đáo trao đổi đủ thứ để mong kiếm được cho Vĩnh ít viên thuốc đau bụng. Một buổi chiều Tuyên đem đến cho Vĩnh bốn viên Chloroquine – loại thuốc sốt rét cực mạnh của Mỹ – và khuyên Vĩnh uống. 
Vĩnh thều thào. 
– Thuốc sốt rét mà. Tôi có sốt rét đâu. 
Tuyên buồn rầu. 
– Tôi biết! Nhưng tôi đã quan sát thấy nhiều tay uống vài viên thôi mà kiết lỵ giảm hẳn… 
– Vô lý quá! 
– Đồng ý, nhưng làm sao được bây giờ! Có thể trong Chloroquine có một chất gì đó diệt được Amibe mà tôi không rõ. Có điều uống vừa thôi, uống quá lố nguy hiểm. 
Như để cho Vĩnh vững tin hơn, Tuyên thêm. Tôi có check với xừ Nhuận và lũy cũng nói có thể trong Chloroquine có kháng chất đối với Amibe… 
Nghe thấy Tuyên nhắc tới tên dược sỹ Nhuận, Vĩnh thấy trong lòng kém vui nhưng không nói ra. Anh không quá ghét Nhuận nhưng từ ngày nghe Nhuận đọc bản tự khai trước khối, đã gọi phụ mẫu như là một thứ chuyên nghề “bóc lột nhân dân”, khiến Vĩnh và một số anh em khác không muốn giao du với Nhuận nữa. Vĩnh lặng lẽ cầm lấy mấy viên thuốc từ tay Tuyên, ngẫm nghĩ giây lát rồi cho một viên vào miệng, chiêu với một ngụm nước cỏ hôi đựng trong cái long guigoz do Tuyên trao cho. 
Thấy Vĩnh đã uống thuốc, Tuyên đứng lên. Anh ngó Vĩnh trấn an. Ông cứ yên tâm. Từ sáng đến giờ mới có hai mươi lần, như vậy là số lần đi cầu đã giảm xuống quá nửa so với mấy ngày qua. Tôi có thể bảo đảm với ông rằng ông sẽ là một trong những người được nhận quà đầu tiên. Émitine, Néomycine tới tay là bỏ bố lũ Amibe chứ khó gì đâu… 
Vĩnh không bận tâm lắm đến câu trấn an của Tuyên. Anh kéo tấm vải đắp lên sát ngực, lắng nghe một người bạn nằm võng kế cận đang nặng nề tụt xuống khỏi võng. Ngô Văn Tuyên chạy lại tiếp hắn một tay. Tiếng mông người rơi cái phịch trên một thùng đạn dùng làm bô không còn nghe đau đớn, tiếp theo đó là tiếng của máu trong ruột sủi ra, giục giã, cồn cào, xót xa và nhanh gọn… Tiếng anh bạn khẽ cất lên. 


– Giúp tôi lên võng được rồi. 

Tiếng Tuyên ngần ngại hỏi. 

– Không chùi à? 

Giọng người bạn chán nản trả lời. 

– Sáu bảy chục lần một ngày thở không ra hơi, chùi làm gì nữa! 

Vĩnh dần dần thiếp vào giấc ngủ. Dĩ vãng lại trôi qua đầu anh, rõ ràng và minh bạch… Các anh là bọn ngu dốt không đọc nổi chữ in… Thằng kia, mày cười Cách mạng cái gì?… Anh mới 30 tuổi mà sao ngụy nó cho anh in nhiều sách thế?… Uống đi, uống đi! Cỏ hôi và vú sữa đất là thuốc dân tộc. Cách mạng bao năm sống trong rừng rú đã toàn nhờ nó mà khỏi…

Căn Phòng 503

Hồ Đắc Vũ

July 28th, 2020

Post by Sơn râu 1 Jan 2024

Ly dị đã 6 tháng, Khang vẫn còn choáng váng với khúc quanh quá gắt của đời mình, buồn bã bội thực trong lòng. Anh quyết định dọn đi thành phố khác, anh muốn đẩy những con đường, hàng cây, tiệm ăn tàu bình dân ngay ngã tư, chợ Việt Nam gần CVS, tiệm sửa xe trên đường vô shopping, quán phở khu ga xe điện, ông hớt tóc người Cần Thơ đi lính Dù, hay kể chuyện đánh nhau năm Mùa Hè đỏ lửa, và trăm thứ khác về phía sau lưng mình, điều ấy sẽ làm anh dễ chịu hơn,

Khang dọn về chung cư 5 tầng vắng vẻ này. Gồm 4 Condo, dọc bờ hồ, bao quanh là những khu rừng, xa hơn là 2 hồ lớn, công viên quốc gia. Melrose, một tỉnh phía bắc, cách Boston chừng 25 phút.

Căn của Khang, 2 phòng ngủ, bếp, phòng khách, phòng giải trí nhỏ, thiết kế theo kiểu mở rộng, không tường ngăn, trừ phòng ngủ. Mặt trước là phòng khách, phòng giải trí, bếp, nằm vòng cung  dọc theo dãy cửa kính cao từ sàn tới trần.

Khu Condo bên kia, cách bên này bằng con sông nhỏ, rộng chừng 100 m, tới công viên đầy cây xanh, cũng dãy nhà vòng cung 5 tầng, cũng 4 căn phòng, cách phòng anh chừng 300m.

Ðối diện với phòng của Khang, các căn bên kia, anh vẫn thấy đèn tắt mở, ngày đêm có người ra vào, đóng màn, kéo màn, Khang biết đó là căn 3 phòng ngủ, cho những người có gia đình.

Chiều, đi làm về, đôi khi Khang ngồi ngay ghế dài của phòng khách nhấm nháp ly rượu, nhìn về bên kia, nơi anh tự coi như hàng xóm.

Từ trái, căn số 1, của ông, bà, có thể là 2 vợ chồng, họ thường mặc bộ vét màu đậm, sáng 7 giờ ra khỏi nhà, anh đoán, có thể là nhân viên văn phòng hoặc ngân hàng, công ty, hoặc làm cho chính phủ.

Căn thứ 2, cặp vợ chồng lớn tuổi, Khang luôn thấy bà vợ đẩy xe lăn cho ông chồng, đôi khi họ cũng đứng ngay cửa kính, nhìn qua bên này.

Căn thứ 3 vắng người, cũng có lúc ban đêm đèn sáng, nhưng không một ai.

Căn thứ 4, nhiều người thường tụ tập vào buổi tối và suốt cuối tuần, có thể là nhà chia nhau thuê của sinh viên.

Thành phố mới đã giúp Khang tiêu hóa phần nào chuyện cũ.

Ở Melrose không có chợ Á Châu, chỉ chợ Mỹ, Anh bắt đầu quen những hàng quán, tiệm ở đây.

Bắt đầu là chợ Shaw có bà Nancy, Khang biết khi bà làm quản lý ở Mc Donald Malden, Whole Foods thì cô Sheng, người Tàu ở quầy sushi, Nick cây xăng Shell, Jennifer CVS, bà Norah tiệm Pet Food, Dough chủ quán thịt nguội gần bờ hồ, vợ chồng Jim hàng xóm, Jim là sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến ở Huế, Quảng Trị 1970-1972.

Khang đi làm, về nhà, bạn bè cũ bây giờ ít gặp, họ quay qua thân thiết với cô vợ vừa ly dị chỉ vì cô thường làm tiệc nhậu. Bây giờ Khang vẫn tụ tập ngoài quán bia Irish với mấy người bạn cũ.

Năm nay mùa Thu tới sớm, nắng chiều hắt ngang khu rừng dọc bên đường về nhà lốm đốm vàng như những tấm lụa bị lỗi, exit 34.

Hôm nay thứ 6, Khang ghé tiệm Ý mua ít thịt nguội cho cuối tuần.

– Hi Dough! Khỏe, làm ăn ngon?

Dough cười, cắt cho anh mấy miếng Prosciutto, đặt vô tờ giấy sáp.

– Mới về hôm qua, làm thử đi.

– Cám ơn.

Dough đưa ly rượu nhỏ.

– Tuaca Liqueur sẽ mang Prosciutto với mầy lên thiên đàng.

Khang uống ly rượu, tính tiền, bước ra trước tiệm. Mặt hồ vẫn lung linh nắng chiều, bên kia rừng.

Khang về tới nhà, coi bills, quay qua Alexa (Máy điều hành tự động trong nhà)

– Alexa! Mở đèn.

– Alexa! Nhạc Adele. “Nổi lửa trong mưa”

Khang lấy ly, 2 cục đá, chai sô đa.

“… Nhưng em nổi lửa trong mưa.

Ðưa tay vuốt mặt trong từng giọt rơi.

Lửa cháy, em khóc, buồn vơi.

Nghe trong ngọn lửa như lời gọi anh…”

Căn phòng bỗng vui lên với nhịp điệu giận dữ của Adele, cô ca sĩ người Anh tròn mũm mĩm như một trái táo quá cỡ, đôi mắt tình tứ và cặp môi đầy, đáng để hôn.

Rót 2 shot Knob Creek, ngón tay Khang xoay trên mấy cục đá lạnh, anh làm một ngụm lớn, cái buồn tưởng mất vẫn còn lảng vảng trong đầu.

“Vì em biết vậy, cuối cùng.

Chúng ta hãy để nỗi buồn cháy đi”

Khang đưa ly lên môi…

– Alexa, tắt nhạc!

Căn phòng bỗng im lặng, Khang chưa kịp uống ly rượu ngon vì anh nhìn qua chung cư bên kia, chuyện lạ xảy ra.

Trên dãy cửa kính của căn phòng thứ 3, một người mặt bộ vét trắng tay cầm một khung bìa dài, có chữ “Hello”.

Khang quá ngạc nhiên, chuyện gì?

– Alexa, tắt đèn!

Ðèn tắt, Khang nhìn qua bên kia.

Ðèn bên đó cũng tắt.

– Alexa, mở đèn!

Ðèn bên đó cũng mở.

Bây giờ thì Khang biết chắc, người ở căn số 3 muốn hello mình. Anh vô phòng ngủ lấy tấm bảng trên tường, nơi gắn vài miếng giấy màu ghi chú những điều phải làm.

Bên kia đèn chớp sáng, chiếc bảng trên cửa kính có chữ “Cám ơn”

Khang cười một mình

– Alexa, nháy đèn 3 lần.

Khang viết “Cám ơn” đưa lên.

Bên kia.

“Tên Kent.

“Tên Khang.

“Một người bạn, sẽ tiếp tục, bye”

“Cám ơn, hello bạn, tôi cũng vậy”

Bên kia tắt đèn.

Khang lấy ly rượu, ngồi xuống ghế dài.

“Căn số 3 thường vắng, hôm nay lại có người muốn làm bạn mình”.

Anh uống cạn ly rượu, đi ngủ, có điều gì đó nôn nao trong lòng.

Từ bây giờ anh quen “Bên kia”!

Hôm nay thứ Năm, từ cuối tuần trước, Khang không thấy căn số 3 mở đèn, chắc cô bận.

Khang đã bày sẵn tấm bảng và mấy cây bút ngay cửa kính, sát bên ghế ngồi, thuận tiện cho việc nói chuyện với bên kia.

Thứ Bảy, cơn mưa mùa Thu lành lạnh, Khang đứng ngay cửa kính, nhìn qua.

Bên kia vẫn là căn Condo tối đen.

Mấy hôm sau, chiều về nhà. Khang lấy lon bia, khui, ngước cổ làm một hơi dài, anh nhìn bên kia.

Cô ta cũng vừa vô nhà, đi ngang cửa sổ lớn, tay xách cặp, biến sau phòng ngủ.

– Cô cũng làm việc, chắc ở một mình! Xa quá không thấy mặt.

Hay là.

Cuối tuần, Khang mua trên Ebay một viễn kính xài rồi, còn tốt.

Khang đặt viễn kính sau quầy rượu, ống kính ngang mặt quầy, anh có thể ngồi đây, tha hồ nhìn về bên kia, không ai thấy.

Chiều thứ Bảy, vừa kéo màn cửa, Khang đã thấy cô gái bên kia cũng kéo màn.

Quá bất ngờ.

Cô cũng đặt ống viễn kính ngay cửa sổ, nhìn qua Khang.

– Tại sao có sự trùng hợp lạ kỳ? Không lẽ cô đọc được ý nghĩ mình?

Khang đưa tay chào, nhìn viễn kính.

Bây giờ thì hai bên có thể thấy nhau rõ hơn.

Cô gái bên kia, da đen, tóc vàng, chĩa tứ tung, mặt buồn và có những vết nám. Cô viết trên bảng.

– Anh khỏe không?

Khang nhìn vô kính.

– Khỏe! Hello, cô thế nào?

– Ðang muốn uống một ly rượu cho vui.

– Tôi cũng vậy.

Kent lấy chai rượu, 2 cái shots, rót đầy.

Khang cũng lấy chai Scotch đổ đầy 2 ly shot.

– Vậy thì cùng uống.

Cuộc rượu từ xa, cuộc rượu “On sign” lạ lùng nhất đời bắt đầu.

Kent đưa cao 1 ly, viết trên bảng.

– Cho tình bạn mới, cheer!

Khang lấy cây marker.

– Cheer!

Anh thấy vui như ngồi uống rượu cùng bàn với Kent.

Kent viết.

– Tôi vui cùng anh, cho dù giữa chúng ta vẫn còn một khoảng cách.

– Kent, rất vui, tôi có cảm giác như mùi rượu Brandy của cô đầy trong phòng tôi.

– Tôi đang uống Brandy, tôi đã ở trong phòng anh.

Khang quay nhanh lại, như có bóng người thoáng ra cửa, anh chạy nhanh tới mở cửa nhìn ra ngoài.

Không một ai.

Khang quay vô, anh nhìn thấy Kent vừa mở cửa bước thẳng tới viễn kính.

Kent viết.

– Trong phòng anh có một bó hoa hồng khô thật to.

Khang ngạc nhiên.

– Ha ha!

Anh vẫy tay, viết.

– Ha ha! Tôi muốn mời cô một bữa tối, ngày mai?

Kent bước sát cửa kính, cô viết trên bảng.

– Sẽ không bao giờ có ngày mai… Cám ơn.

Kent đưa tay chào.

Bên kia tắt đèn.

Khang cũng tắt đèn, vô quày rót ly Scotch, ngồi uống trong bóng tối. Anh hoang mang…

“Sẽ không bao giờ có ngày mai…” ?

Tối Chúa Nhật, vừa kéo màn cửa, Kent đã đứng sẵn từ bên kia, Khang đưa tay chào, anh lấy chai nước cà chua pha sò, rót vô ly lớn, bỏ đá, mấy giọt Tabasco, tiêu, 2 shots Vodka, quậy đều với cái ông hút, tới bên viễn kính.

– Hello!

Kent vẫn áo trắng, môi màu cam, viết.

– Hello anh K,

– Cám ơn, cô sẽ làm gì cho một ngày đẹp?

– Tôi sẽ nghe nhạc, đọc một quyển sách và vẽ tranh.

– Vẽ tranh? Về gì?

– Tình yêu.

– Tình yêu?

Cây Marker hết mực.

– Ðợi 1 phút.

Tôi lấy cây bút mới, lon bia, miếng pizza còn đêm qua.

– Hello!

– Vẽ người yêu đã qua.

– …!

– Vì không còn dịp để sống với nhau nữa…

– Sorry.

Khang e ngại, nhất là khi nghe chuyện trục trặc của 2 người yêu nhau.

– Coi như tôi đã… Không còn.

Khang ớn lạnh, lấy cây Marker viết thật chậm.

– Không còn… Là Sao?

Khang vừa đưa bảng ra thì cả khu vực cúp điện, tối đen.

Ðèn dự bị trong nhà đủ sáng để anh nhìn qua bên kia.

Khu Condo đã sáng đèn dự bị, chỉ riêng căn của Kent vẫn tối. Khang kéo viễn kính sát cửa, căn phòng bên kia chớp sáng, trong những ánh chớp anh thấy có 2 người, không rõ lắm, người bên trái có thể là Kent theo áo quần cô mặc lúc nãy, người bên phải tóc cắt ngắn, mặc toàn đen.

Họ đang có những động tác cãi vã.

3 phút sau, điện có lại.

Nhà của Kent vẫn tối, Khang linh cảm có chuyện gì.

Cả tuần qua, trời trở cơn mưa gió, đèn phòng của Kent chớp sáng mỗi đêm, nhưng không thấy cô xuất hiện.

Khang nghĩ là có vấn đề, nên Chúa Nhật, anh chạy thẳng tới khu Condo bên kia.

– Tôi muốn lên tầng 5, nhà số 3.

Ông Quản Lý già gốc Ý nhíu mày.

– Có phải là 503?

– Cũng có thể. Tôi muốn gặp người bạn tên Kent.

– Kent?

Ông đứng nhanh dậy

– Bạn của anh?

Khang nhún vai.

– Dĩ nhiên, có hại gì không?

– Không…. Nhưng quen lâu chưa?

Khang cười.

– Tại sao?

Ông Ý bấm phone, nói nhiều tiếng Ý, tắt máy, quay lại, nhìn sâu vô mắt tôi.

– Anh có thì giờ cho một ly cà phê và một câu chuyện?

– Cám ơn! Ðược! Chúa Nhật mà.

Ông ta mời Khang ngồi vô chiếc bàn nhỏ, đứng pha cà phê với cái lọc bằng tay kiểu Ý.

– … Năm 1998, Con tôi làm chủ căn phòng 503, ngày xưa chỗ này là những căn chung cư cao 5 tầng rẻ tiền.

Ông đặt 2 ly cà phê nhỏ expresso trên bàn.

– Mời anh.

– Cám ơn.

Khang nhắp ngụm cà phê đen, nóng, đặc như thuốc Bắc.

– Gia đình tôi khá giả, có nhà hàng ở Boston, và một thằng con trai. Anh ta đi học, thường tụ tập bạn bè ăn chơi vung vít.

Ông thở dài.

– Ðiều đó không hay ho gì và đưa tới thảm kịch sau này…

…

Kent chống nạnh.

– Rich! Anh không thể khống chế tôi như vậy.

Rich.

– Khống chế? Tôi chỉ giữ gìn một tình yêu.

– Nhưng với tôi bây giờ là tình bạn, là một người đồng hành!

Rich cười.

– Ha!

Anh ta chống 2 tay trên bàn, xuống giọng.

– … Ai là người mua thuốc cho bạn phê, mua rượu cho bạn uống … Mua vui cho bạn suốt bao nhiêu đêm.

– Ðiều đó không cột đời tôi vào chân anh!

– Nhưng đã cột tôi!

Kent nhún vai.

– Tôi có tiền, không cần anh phải làm vậy.

– Ðó là lòng yêu thương của tôi…

Kent cắt lời.

– Và không phải của tôi.

Rich đá cái ghế qua một bên, bước tới.

Kent quay nhanh, chụp chai rượu trên quầy, chĩa vô mặt Rich.

– Anh nên nhớ tôi và chai rượu sẽ không để yên cho anh, tốt nhất là anh về đi, cuối tuần gặp nhau như bạn bè.

Rich khựng lại, anh ta lắc đầu, ra khỏi phòng.

Tối thứ Bảy, tại nhà hàng Ý ấm cúng nằm sâu trong cổng đá xanh bên bờ biển gần khu Tân Cảng Boston, khách hàng quen thuộc, đa số là gay.

Chiếc bàn gỗ sồi phủ khăn đen riêng rẽ trong cuối nhà hàng với lọ thủy tinh cao, cành bông hồng đỏ đậm, 2 cây nến bập bùng.

Kent mời.

– Xin mời Lola dùng bữa tối.

Lola gốc Ý, mới lớn, 16 tuổi, mày đen, tóc đen, môi hồng, là người mà Kent đang hẹn hò, bắt đầu cho một cuộc tình, cũng là cái nguyên cớ làm cho Rich trở nên ghen tuông…

Khang uống hết ly cà phê đắng.

– Kent yêu Lola? Nhưng …

Ông Ý đưa tay.

– Từ từ, sẽ tới…

Ông cũng uống hết ly cà phê, mở hộc bàn lấy chai rượu nhỏ, rót 2 ly shot, đẩy 1 ly cho tôi.

– Cà phê xong, mời anh làm một ly Brandy Ý…

Ông bỏ chai rượu vô hộc bàn, kéo ra Ðiếu xì gà, cắt đầu, đốt, làm một hơi dài.

– … Thêm mấy hơi xì gà Cu Ba là lên…

– Lên máu!

Khang tiếp.

Ông Ý cười khục khặc.

– Tôi đâu còn xa Thiên Ðàng lắm! Khỏi lo.

Khang làm ngụm rượu, lâng lâng. Qua vùng sáng hắt từ cửa sổ, khói xì gà thành một vòng nhỏ lãng đãng quanh cái đầu hói của ông Ý, anh nghĩ tới Thánh Phê Rô.

Ông tiếp.

– …Xong bữa ăn tối, Kent đưa Lola về nhà mình, vì Lola dưới tuổi, không vô Bar được.

Ông Ý ngả người trên chiếc ghế, nhắm mắt.

– Hà Hà! Con giống cha, con trai tôi có máu Ý, tôi không nghĩ rằng tối đó…

Giọng ông bỗng nhỏ lại.

– … Thằng con quái quỷ của tôi đưa Lola về nhà chơi game, hoặc Poker…

Khang nhún vai.

– Thì game khác.

Nhưng ông già Ý và đứa con trai không biết rằng: Rich đã theo từ lúc Kent tới nhà hàng, ngồi xuống chiếc bàn đặc biệt có bông hồng, ăn bữa tối sang trọng, lên xe đưa Lola về nhà, khui chai Brandy Ý, cụng ly, cho tới khi Kent ve vuốt cởi áo Lola trên ghế dài, nhất là khi những tiếng rên rỉ bật khỏi đôi môi hồng của cô gái 16 tuổi, tất cả đều nằm trong đôi mắt lạnh ngắt của Rich.

Lúc ở chung với Kent, anh ta đã gắn đầy Camera bí mật.

Ðêm sau, đêm Chúa Nhật oan nghiệt của Kent, trời mưa lớn.

1 giờ sáng, căn phòng của Kent nổ tung, cháy dữ dội, vì được xây chống cháy nên không lan ra cho đến khi Lính Chữa Lửa dập tắt.

Kent là nạn nhân duy nhất, chết thiêu ngay trên giường.

Một năm sau, Rich bị tóm với tội đã giết Kent bằng trái lựu đạn lân tinh cài vô 1 gallon xăng. Sau đó có tin Rich bị Gay thanh toán trong tù.

Rich, Trung úy giải ngũ thuộc Lực Lượng Biệt Hải, Gay bẩm sinh, anh đã gặp Kent tại một Bar rượu và si mê Kent.

Ông già Ý thở dài.

– Kent lại yêu Lola sau thời gian đã chung sống và ruồng bỏ Rich… Tiếp theo là Bùm! Thằng con trai tôi thành than!

Tôi lúng túng.

– Rất tiếc! Xin chia buồn!

– Buồn qua lâu rồi.

Ông làm thêm ly Brandy nhỏ, mắt đỏ ngầu. Nói với tôi.

– Mấy năm sau gia đình tôi mua lại khu chung cư, phá hết và dựng ra khu Condo này, căn phòng 503, đã thành Condo, và để trống cho Kent đến bây giờ.

– Nhưng! Tôi có thể hỏi ông vài điều?

Ông gật đầu.

– Như vậy là Kent gay? Nên ở với Rich, sau đó lại yêu Lola?

– Ừ!

– Nhưng Lola là con gái?

– Thằng con tôi thuộc loại Stereo!

– Stereo?

– 2 channels, 2 hệ!

– À! Cô gái mặc đồ trắng ở 503 tôi thường chào hỏi từ Condo bên kia là Kent?

– Thì còn ai nữa?

Ông thân thiện vỗ vai tôi, nước mắt đọng trong mắt.

– Qua bao năm, anh là người đầu tiên tiếp xúc với Kent, có thể nó thích anh.

Ðầu óc Khang lùng bùng, câu chuyện của Kent quá bi thảm. Anh bước ra khỏi phòng, ông Ý đưa tận xe.

Khang nổ máy.

– Tôi muốn hỏi.

Ông Ý.

– Ok.

– Kent là gốc Ý, da trắng…

– Tất nhiên! Con trai tôi mà.

– Tại sao mỗi tối tôi thấy Kent da đen?

Ông Ý nhắm mắt, sụt sùi.

– Thằng Rich nướng con tao bằng lựu đạn phát hỏa với gallon xăng… Cháy kiểu đó thì sao mà không đen được!

Khang bối rối lái xe đi.

Từ đó đến giờ anh không thấy Kent nữa.

Căn Condo 503 vẫn… Mở đèn mỗi buổi tối!

Bãi rác khổng lồ ở Thái Bình Dương

Hồ Đắc Vũ

December 16th, 2021

Post by Sơn râu 1 Jan 2024

Tôi đang lái xe, hạ cửa xuống, ném mảnh giấy nhỏ bọc kẹo cao su ra ngoài. Chỉ là một mảnh giấy rác 1.5 in x 2.5 in, rất nhỏ, và nhiều người khác ở Boston, Bắc Kinh, Tokyo, Á Căn Ðình, Pháp, Ðức, Ý, Congo… cũng thường làm như vậy.

– Nè cha, sao dzụt rác ra đường? Giọng vợ như cảnh sát.

– Có mảnh giấy nhỏ mà.

– Anh quên bài học “rác phải bỏ vô thùng, em không ném rác xuống đường…” hả?

– Vậy anh vòng xe lại lấy nó nghen.

– Anh đừng nói kiểu đó.

Và cô tuôn ra bao nhiêu chữ nghĩa, không phẩy, không chấm câu, không xuống hàng.

– Nếu bao triệu người ở Boston cũng ném như vậy; bao trăm triệu của nước Mỹ cũng làm như vậy; Anh, Pháp, Nhật, Ðức, Ý, Á Căn Ðình, Ba Tây, và cả gần 2 tỉ của Tàu cũng chơi kiểu đó trên thế giới ai cũng ném như anh thì…

Cô ngừng lại, thở.

– Thì môi trường sống của chúng ta sẽ ngoi ngóp trong đống rác cao tới Hy Mã Lạp Sơn!

Tôi nín thinh, khóa miệng.

Bây giờ thì bạn cũng như tôi, ngồi cúi mặt bên ly cà phê để thấm thía về một mảnh giấy nhỏ đã mang tới tác hại quá lớn với môi trường sinh thái thiên nhiên của chúng ta như thế nào.

Vị trí 2 bãi rác ở TBD. Nguồn. strangesounds.org

oOo

Bãi rác khổng lồ ở Thái Bình Dương (TBD) là bãi chứa hàng ngàn loại rác (trong cả ngàn tấn rác kia, bảo đảm có những lon bia của tôi và mấy người bạn năm rồi đi câu cá ngoài biển) đủ loại trôi giạt ở biển, nằm ở vị trí trung tâm Bắc TBD. Ðây là vùng thu gom rác nhựa trôi nổi trên vành đai biển TBD, bao gồm các quốc gia tại Châu Á, Bắc và Nam Mỹ. Bãi rác này chia ra làm 2 vùng, “Bãi rác miền Ðông” nằm giữa Hawaii và Cali và “Bãi rác miền Tây” nằm từ Nhật tới quần đảo Hawaii.

Các nhà nghiên cứu trong dự án “Dọn sạch biển” cho biết bãi rác bao phủ 1.6 triệu cây số vuông, có những mảng plastic đã tồn tại 50 năm gồm: bật lửa, bàn chải đánh răng, vỏ chai nước, viết, bình sữa, điện thoại, bao bì, các tấm nhựa và những mảng bột giấy xuất phát từ hàng ngàn tấn giấy vệ sinh thải ra biển mỗi ngày. Họ cũng cho biết thêm, bãi rác tăng rất nhanh, vào khoảng 10 lần mỗi thập niên, kể từ năm 1945.

Một bãi rác khác cũng được tìm thấy tại Ðại Tây Dương, gọi là bãi rác Bắc Ðại Tây Dương. Bãi rác này cũng góp phần làm hư hại hệ sinh thái của đại dương và các sinh vật ở biển không kém gì bãi TBD.

Đa số là lưới đánh cá. Nguồn. Civil Beat

Năm 2009, 2 tàu của dự án  Kaisei/Viện Nghiên cứu Ðại dương bắt đầu chuyến đi nghiên cứu bãi rác để xem xét việc tái chế rác với quy mô lớn.

Vào năm 2010, Viện Thám hiểm Biển đã thực hiện cuộc thử nghiệm dụng cụ làm sạch rác biển trong 30 ngày. Tháng 7 năm 2012, Viện tiếp tục làm cuộc thám hiểm từ San Francisco tới phía Bắc Thái Bình Dương và làm một chuyến nghiên cứu về rác ở biển do sóng thần tại Nhật gây ra.

Năm 2015, một thông tin trên báo Khoa Học cho biết, đã khám phá nơi xuất phát lượng rác thải này. Theo các chuyên viên, các loại rác thải plastic và những loại rác khác hầu hết từ những nước ở Châu Á trôi giạt về phía Ðông, là: Trung Quốc, Nam Dương, Philippines, Việt Nam, Sri Lanka và Thái Lan.

Theo Hội Bảo tồn Biển thì thực tế: Trung Quốc, Nam Dương, Philippines, Thái và Việt Nam thải nhiều rác plastic xuống biển hơn các quốc gia khác cộng lại. Chỉ riêng Trung Quốc đã xả 30% rác plastic xuống biển, gây ra ô nhiễm trên toàn thế giới.

Rác thải trên biển. Nguồn. The Times of India

Theo National Geographic, vào khoảng 54% rác thải ở bãi rác khổng lồ Thái Bình Dương từ những sinh hoạt trong đất liền của các quốc gia Bắc Mỹ và Châu Á, 20% từ các tàu thuyền, giàn khoan dầu ngoài biển, các tàu chở hàng đã xả rác trực tiếp xuống biển, phần chính của rác thải này là lưới đánh cá, vào khoảng 705,000 tấn.

Năm 2014, các nhà nghiên cứu đã lấy mẫu ở 1,571 vị trí trên biển khắp thế giới và thấy rằng, đồ dùng đánh cá như phao nổi, dây kéo và lưới chiếm 60% rác ở biển. Theo báo cáo của EPA (Ủy ban Bảo vệ Môi trường Mỹ), thì: “Nguồn rác thải chính vô biển là từ việc quản lý và thải rác không đúng cách của các nơi sản xuất. Rác do đất liền thải ra bao gồm: bến du thuyền, hải cảng, sông, bến tàu, các cống thoát nước ra biển, hoặc các đoàn tàu đánh cá, giàn khoan và tàu chở hàng. Rác thải có những lưới đánh cá dài cả mile cho tới hộp mỹ phẩm, đồ cạo râu…”.

Một nghiên cứu khác đã dự đoán rằng, đống rác khổng lồ từ bờ biển phía Tây nước Mỹ sẽ trôi giạt tới Châu Á rồi trở lại Mỹ trong vòng 6 năm; rác thải từ bờ biển Ðông Châu Á sẽ tới Mỹ trong vòng 1 năm. Những mảnh nhựa nhỏ chiếm 94%, các mảnh plastic chiếm 8% trong 79 ngàn tấn rác nhựa. Hầu hết phần còn lại là rác của công nghiệp đánh cá.

Các loại rác dụng cụ đánh cá. Nguồn. edu.stemjobs.com

Khó xác định độ lớn của bãi rác, đa số là những vật thể nhỏ bằng plastic, chìm nổi trong mặt nước biển. Ðộ lớn của bãi rác ước tính khoảng từ 700,000 cây số vuông (bằng diện tích Texas) tới hơn 15,000,000 cây số vuông (bằng diện tích nước Nga). Trong khi đó, hội nghị Biển của Liên Hiệp Quốc lại đưa ra một con số đáng kinh ngạc rằng, vào năm 2050, đại dương chứa sức nặng của rác thải nhiều hơn trọng lượng của cá.

Một số plastic sẽ nằm trong bụng cá, các vụn plastic hấp dẫn chim biển và cá nhỏ. Khi những sinh vật biển ăn plastic được bán ra như thực phẩm, chuyện này sẽ đưa tới các vấn đề an toàn thực phẩm cho con người. Các sinh vật biển có thể bị kẹt trong các lưới ở bãi rác và tử vong. Sự ô nhiễm của rác thải plastic gây thiệt hại tới 700 sinh vật biển, như rùa biển, hải cẩu, hải sư, chim biển, cá, kể cả cá voi và cá heo. Các sinh vật giáp xác ở biển đã được thấy đầy ở bãi rác, gây nguy cơ cho các loại sinh vật biển chọn bãi rác làm nơi sinh sống.

Bãi rác Đại Tây Dương. Nguồn. IBTimes UKJames Tennent

Theo USA Today, thì cuối cùng thì chuyện làm sạch bãi rác khổng lồ ngoài biển Thái Bình Dương đã khởi động. “Hệ thống làm sạch biển hiện nay đang thu thập plastic”, Boyan Slat, 27 tuổi, người Hòa Lan đã tạo ra công việc này, cho biết từ tuần rồi. Tuy nhiên, hệ thống làm sạch biển của ông đã thất bại trong tháng 12 vì một máy dài 60 feet bị hư. Ông phải kéo toàn bộ dàn máy dài 2,000 feet về Hawaii để kiểm tra và sửa chữa. Ðược biết, hệ thống làm sạch biển gồm một rào chắn giữ tấm lưới 10 feet ở dưới để thu lượm plastic mà không ảnh hưởng gì tới các sinh vật biển. Hệ thống chứa dùng sức di chuyển của sóng để thu plastic trong bãi rác.

Công trình này bắt đầu năm 2013 và các thiết kế quan trọng đã được thay đổi nhiều lần. Hy vọng, các thiết kế cuối cùng sẽ có khả năng dọn sạch phân nửa bãi rác khổng lồ Thái Bình Dương.

Và bãi rác thải khổng lồ ở Thái Bình Dương sẽ không là vấn đề với môi sinh biển và của mọi người sống trong vòng Thái Bình Dương.

Một phần rác ở Thái Bình Dương. Nguồn. blogspot.com

oOo

Vợ đẩy cửa:

– Cha, bỏ lon bia vô thùng rác giùm!

Nàng Kiều

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 1 Jan 2024

Nếu cho rằng mại dâm là một cái nghề thì cái nghề nầy có tuổi thọ già hơn ông Bành Tổ. Ông Bành Tổ có thể chết nhăn răng đã lâu; nhưng nghề mại dâm vẫn sống. Nhà nước cấm hay không mại dâm đã, đang và sẽ tồn tại khi trái đất vẫn còn người nam và người nữ.

Có những nước như Hoa Kỳ, Canada… mua bán dâm sẽ bị nhốt. Tuy nhiên các nước Bangladesh, Indonesia ở Á Châu; Brazil, Colombia, Ecuador ở Nam Mỹ; Áo, Anh, Bỉ, Ðức, Hòa Lan, Hy Lạp, Pháp ở Châu Âu nghề mại dâm là hợp pháp.

Riêng Châu Ðại Dương, New Zealand và Úc mại dâm được đối xử như những ngành nghề khác. Ði làm đóng thuế và hưởng phúc lợi như nhau.

Năm 2023, những nàng Kiều Úc được tự do hoạt động trên đường phố khắp tiểu bang Victoria.

Luật chỉ cấm mấy em hoạt động mại dâm gần trường học, gần nơi thờ tự như chùa chiền, giáo đường trong khoảng thời gian từ 6 giờ sáng đến 7 giờ tối và vào các ngày lễ. Nghĩa là khi trời sụp tối, các em Kiều được tự do làm cánh bướm đêm.

Luật cũng cấm mọi người và tổ chức phân biệt đối xử hoặc từ chối một người nào đó chỉ vì họ là người bán dâm.

Thấy vậy, nhưng không phải vậy. Kinh doanh thân xác là một nghề rất nguy hiểm.

Em Kiều Rebecca bán dâm gọi là ‘Escort’ như giao ‘pizza’ đến tận nhà. Một người lái xe sẽ đưa em đến chỗ làm. Xong xuôi, quay lại rước. Em làm việc 4 ngày một tuần, phục vụ 10 Thúc Sinh cho mỗi ca. Má mì tức tú bà trả em 200 đô la một giờ.

Dù mức lương cao, Rebecca đã mất một người bạn thân vì cô ấy không thích công việc mà Rebecca đang làm. Rebecca cũng từng bị đuổi ra khỏi nhà.

Có lần một khách làng chơi đánh em đến gãy tay. Một tên khác cố bóp cổ em. Rebecca không dám nhờ má mì, hay bất cứ ai giúp đỡ. Vì má mì thường nói: chấp nhận bán thân là phải cắn răng mà chịu.

Chánh phủ tiểu bang Victoria đánh trống thổi kèn hợp thức hóa hoàn toàn nạn mại dâm là để tạo một môi trường làm việc an toàn cho các ‘sex workers’. Hợp thức hóa mà còn nguy hiểm đến thế thì bán dâm chui nhủi sẽ còn tệ hại tới mức nào.

Brenda lớn lên tại West Side, thành phố Chicago, tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ vào những năm 60.

Mẹ mất khi Brenda mới vừa 6 tháng tuổi. Brenda được bà ngoại mang về nuôi. Nhưng bà ấy lại là người nghiện rượu hay dắt bạn nhậu về nhà! Và khi bà xỉn quá, không còn biết trời trăng gì nữa thì những tên ấu dâm khốn nạn nầy đã lợi dụng cơ hội để lạm dụng tình dục bé Brenda!

Một lần, trông thấy những cô gái đứng đường, Brenda hỏi bà ngoại mình là: “Các cô gái ấy đang làm gì?”  Thì bà ngoại trả lời: “Họ tuột quần xuống và đàn ông sẽ cho họ tiền!”

Brenda nghĩ: “Ờ! Mình có thể kiếm tiền bằng cách nầy; vì mình cũng từng bị như vậy đó thôi!”

Mới 14 tuổi, Brenda đã có tới hai đứa con gái mà không rõ ba chúng nó là ai?

Bà Ngoại nói: “Con phải đi kiếm và mang tiền về để mua đồ ăn cho hai đứa nhỏ! Nhà mình không còn gì nữa cả!”

Thế rồi một tối, Brenda mặc quần áo chỉ có hai mảnh, giá 3 đô 99 xu.  Brenda tô môi màu vàng cam để trông có vẻ già dặn đi một tí. Em ra đứng đường gần một khách sạn để đón khách làng chơi.

“Tôi kiếm được 400 đô. Mang tiền về, bà tôi rất vui! Bà cầm lấy mà không hỏi tôi đã kiếm tiền bằng cách nào!” “Mỗi ngày, tôi có khoảng 5 khách. Như vậy một năm hơn 1,800 người!”

“Khách làng chơi có đứa rất bạo động, chúng thường trút nỗi hận thù lên thân thể những người phải sống kiếp bán phấn buôn hương!” “Tôi đã bị bắn 5 lần và bị đâm tới 13 lần.” “Tôi không biết tại sao họ nỡ nhẫn tâm đánh đập tôi như thế? Tôi chỉ lờ mờ hiểu rằng cái xã hội nầy đang làm ngơ, dung dưỡng chuyện đàn ông bạo hành, bức hiếp kẻ yếu thế hơn mình”.

“Làm gái suốt 25 năm; chưa bao giờ tôi có thể tìm thấy được một lối ra.

Rồi vào mùng Một, tháng Tư, năm 1997, khi tôi gần được 40 tuổi, một khách làng chơi đã nhẫn tâm xô tôi ra khỏi chiếc xe đang chạy. Tôi được đưa vào cấp cứu ở bệnh viện khu vực của Chicago.

Vết thương quá nặng nên họ gọi cho Cảnh sát. Một Cảnh sát viên đến nhìn rồi nói: “Ờ! Tôi biết con nầy. Nó chỉ là một đứa đứng đường. Có thể nó đã cướp tiền của khách làng chơi. Cũng đáng đời!”. Và tôi còn nghe tiếng một y tá bệnh viện cười theo phụ họa!

Tôi ngước nhìn lên Trời và khẩn cầu Thượng đế: “Những người nầy, không một ai quan tâm đến con, Xin Thượng đế hãy giúp con!” Thượng đế đã lắng nghe lời cầu khẩn của tôi. Một nữ bác sĩ đã tận tình chăm sóc vết thương và khuyên tôi nên đến những dịch vụ xã hội của bệnh viện để nhờ giúp đỡ.

“Tôi có một chỗ trú ẩn an toàn và những nhu cầu thiết yếu để sống sót” “Tôi ở đó suốt hai năm và đã từng tự hỏi: “Ai sẽ chịu cưới một đứa từng đứng đường suốt 25 năm làm vợ? Ai sẽ cho tôi một việc làm?” “Tôi chỉ muốn đi làm rồi trả thuế. Tôi muốn sống một cuộc đời bình thường như những người phụ nữ khác!”

Năm thứ ba, tôi may mắn gặp một người đàn ông tuyệt vời. Anh ấy không hề quan tâm đến quá khứ nhơ nhớp của tôi! Từ tình yêu của anh ấy, tôi vững chãi đứng lên!”

Năm 2008, cùng vài người khác, tôi thành lập tổ chức: “Người theo đuổi một giấc mơ! (Dreamcatcher Foundation!)

Chúng tôi gặp những em còn rất trẻ mà phải ra đường đón khách! Ðó là tôi của thời thơ trẻ. Ðó từng là nơi tôi đã từng đứng. Tôi có thể thay đổi được thì em cũng được! Chúng tôi muốn xua tan cái thành kiến tuyệt vọng, buông xuôi là: “Phần số sanh ra đã là vậy; thì đành chịu vậy mà thôi!”

Tới giờ, tổ chức ‘Dreamcatcher Foundation’ đã giúp được 13 em gái hoàn thành bậc trung học! Cấp học bổng toàn phần cho các em vào đại học!”

“Tại sao người phụ nữ phải đi bán thân trên đường phố, ngay tại nhà hay là làm cho các động mại dâm?”

“Có vài người nói với tôi rằng: giúp đỡ các người bán phấn buôn hương, những người làm biếng chỉ biết nằm ngửa mà ăn là tiếp tay với tội phạm, tiếp tay với tệ nạn xã hội?!”

“Những người phụ nữ trẻ đó, có người đã bị dụ dỗ vô con đường mại dâm, rồi bị bọn ma cô hành hạ một cách tàn nhẫn thì phải được đối xử là những nạn nhân cần được giúp đỡ; chớ không phải coi họ như là tội phạm cho được!

Một xã hội văn minh không phải là một xã hội chỉ biết có tiền! Xã hội văn minh đó con người phải sống, phải cư xử với nhau như giống người mới được!”

Năm Tuất là con chó cò!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 1 Jan 2024

Tây không có làm báo xuân. Cuối năm bất quá ra một số đặc biệt, điểm lại những biến cố trọng đại xảy ra trong năm rồi là hết chuyện.

Ta, hồi xưa trước 75 cũng như ra hải ngoại sau nầy, cái truyền thống báo xuân xưa giờ vẫn giữ.

Báo xuân là tờ báo màu mè nhứt để câu khách; dầy nhứt vì nhiều bài vở nhứt và bán mắc nhứt để bọn báo (đời) chúng tôi kiếm chút tiền còm nhuận bút mà ăn Tết, sau một năm bù đầu, bứt tóc, nhổ râu trong trường văn trận bút!

Mới đầu tháng Mười Một là mấy ông Chủ bút đã hối bài: “Ê! Nhớ viết bài cho báo xuân nhe. Năm nào viết con nấy!”

Như năm nay 2018, là năm Mậu Tuất xin quý văn hữu viết bài về con chó cò.

Một đề tài Chó; mà cả đống nhà văn nhào vô ngậm ngải tìm trầm, đãi cát tìm vàng, tìm những chuyện đặc sắc không đụng hàng để viết quả là một điều không dễ dàng.

***

Thôi thì để mở bài, tui xin nhắc tới đệ nhứt mỹ nhân nước Mỹ là Marilyn Monroe từng nói: “Dogs never bite me. Just humans.” 

Không biết ngữ cảnh của câu người đẹp nói như thế nào, nên chỉ có vài chữ mà khó dịch quá trời hè! “Chó không bao giờ cắn em! Chỉ có con người!”

Chắc Marilyn Monroe đã từng về nâng khăn sửa túi cho Arthur Miller, một nhà văn Mỹ nổi tiếng; nên chịu ảnh hưởng văn chương (tao đàn mầy đàn), một câu nói ngắn mà quá xá là đa tầng và đa nghĩa.

Hành động cắn cũng có hai nghĩa: giận hờn, ganh ghét, cắn; nghĩa là táp một cái, phập một phát cố ý làm đau kẻ khác về thể xác. Người bị tấn công dùng động từ cắn nầy cũng để chửi xéo kẻ cắn mình là con chó cho đã cơn tức vì bị nó cắn.

Nhưng cắn cũng có trong động từ kép là ‘cắn yêu’; là ngoạm vô cái chỗ nào ‘đèm đẹp’.

Marilyn Monroe sắc nước hương trời nên quý anh mình bên Mỹ thuở đó, ai cũng muốn ‘cắn yêu’ thì cũng có lý đấy chớ.

***

“Tuổi Tuất là con chó cò. Nằm khoanh trong lò cái mặt lọ lem.

Nghe kêu mà chẳng nghe ơi. Cong đuôi mà chạy một hơi tới nhà!”

Bà con mình ai cũng biết chó sói trong rừng được con người đem về thuần hóa thành chó nhà. Rồi con chó bị con người đưa vô thực đơn trên bàn nhậu, vẫn trông chết cười ngạo nghễ!

Tui không ăn thịt chó vì tui cũng thích chó như Tây vậy. Vì chó rất thính tai có thể bắt được tiếng động mà tai con người không nghe được.

Thường đi nhậu về khuya, tui rón rén chui qua cái lỗ chó vào nhà, em yêu nằm ngáy khò khó không hay! May quá!

Riêng con chó cò nhà tui khịt khịt mũi, chồm dậy quấn lấy chân tui, rên khe khẽ như hỏi: “Ê! Ông chủ đi nhậu có vui hông?”

Thính tai như vậy nên giữ nhà mới giỏi. Nhưng thính tai cũng làm khổ con chó nhiều lắm.

Năm nào giao thừa, mừng năm mới, bắn pháo bông tuốt ngoài ‘city’, cách nhà tui tới 5, 6 cây số mà con chó cò nghe tiếng pháo nổ bụp bụp là mắt láo liên hoảng loạn, mồm rít lên, điên cuồng chạy ra khỏi nhà… Có con đi lạc luôn; không biết đường về…

Từ kinh nghiệm đó, giao thừa nào tui cũng xin phép em yêu chở con chó cò đi  trốn. Tui cột nó trước cửa rồi vào quán bù khú với chiến hữu!

Giao thừa đồng hồ kêu bon bon, pháo bông đã bắn xong và  nhậu cũng xong, tui lon ton kêu Uber chở thầy trò, tui với con chó cò, về xông đất chính nhà mình mà lòng vui như Tết.

***

Có người rầy là: “Chơi với chó; chó liếm mặt”. Thì đã sao?

Vì chó tốt lắm nhe! Chó là một sinh vật duy nhất trên thế gian nầy yêu người còn hơn yêu chính bản thân mình. Càng giao tiếp với con người bấy nhiêu thì tui lại càng thương con chó bấy nhiêu!

Dưới mắt con chó cò, là ông chủ, dẫu tui có dở như hạch nhưng bao giờ chó cũng tôn kính tui như là Napoleon, một anh hùng cái thế, trăm trận trăm thắng.

Cuối năm vợ sai đi chợ, tui khệ nệ mang về nào là gà, vịt, bò, trừu chừng chục kí lô. Con vợ nghĩ tui khùng; vì vác về nhà cho cả đống?

Riêng con chó cò ban cho tui một cái nhìn đầy ngưỡng mộ vì nghĩ tui là một thợ săn tài ba nhứt trên thế giới!

Thiệt vậy! Con chó nó đối xử mình bằng tình cảm; chớ không phải như con gái chỉ đối xử với mình bằng tình cảm với điều kiện là mình phải có cả đống tiền.

Với tiền bạc, mình có thể mua một con chó cho đẹp mã nhưng chỉ với tình yêu, mình mới có thể làm nó ve vẩy cái đuôi.

Nên, nếu trên thiên đường không có chó, khi tui ngủm. tui không muốn lên thiên đường mà chi!

***

Tui không biết con chó có kỳ thị phái tính hay không? Sao những câu chuyện cảm động về tình bạn giữa chó và người; toàn là chó thương tưởng quý ông không hè?

Điều con chó lo sợ nhứt trong đời là ông chủ ra khỏi nhà không chịu dắt nó theo và không bao giờ trở về nhà nữa!

Năm 1941, thấy một con chó bị thương nằm bên vệ đường ở Luco di Mugello, một thị trấn nhỏ vùng Florence, nước Ý, Carlo Soriani thương tình đem nó về nuôi và đặt tên là Fido.

Kể từ đó, mỗi khi Soriani từ nhà máy về nhà, Fido luôn đứng sẵn tại trạm xe bus chờ ông chủ để cả hai lội bộ về nhà.

Một ngày nọ, nhà máy nơi Soriani làm việc bị trúng bom của phe Đồng minh.

Soriani không trở về nữa!

Fido lặng lẽ từ bến xe bus về nhà. Nhưng đến hôm sau, chú lại tiếp tục trở lại bến xe để chờ chủ. Suốt 15 năm trời ròng rã, ngày nào Fido cũng kiên nhẫn đứng ở bến xe chờ đợi ông chủ không bao giờ trở về nữa.

Qua đời năm 1958, Fido được chôn cất ngay cạnh mộ của ông chủ Soriani.

Trái lại, con người cư xử tệ hơn con chó nhiều. Có một em vừa từ giã cõi đời. Ngày đưa tang, đạo tì khiêng quan tài sơ ý va vô cánh cửa một cái rầm làm tim em đập lại. Em sống thêm 10 năm nữa rồi mới chết thiệt.

Lần di quan nầy, ông chồng cẩn thận chạy kè kè theo mấy tay đạo tì: “Ê! Ê! Coi chừng cái cửa!”

Hèn chi so sánh giữa chó và người, ai cũng chấm điểm người thua con chó!

***

Chó thương người nhưng người thương chó cũng có chớ hỏng phải không!

Chuyện rằng: Jason Loosmore, 32 tuổi, nuôi một con chó kiểng. Láng giềng là Casey Brown, 21 tuổi cũng nuôi một con chó; nhưng là chó Berger Đức.

Hôm 13, tháng Mười, năm 2016, trên đường Riderwood Drive, vùng Westside thành phố Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, hai con chó nầy tao ngộ chiến vì chó với chó có thương nhau bao giờ! Một trận thư hùng sống mái để phân định ai sẽ làm đại ca ‘chó’ của vùng nầy đã xảy ra quyết liệt!

Dĩ nhiên, con Berger Đức hung hăng như Hitler, rượt con chó kiểng của Jason Loosmore chạy te, kêu ẳng ẳng về nhà nằm thẳng cẳng.

Nó yên lặng bò vào một góc nhà , gặm nhắm nỗi đau thân xác đã lớn mà vết thương lòng vì thua  trận càng lớn hơn.

Mình có ông chủ làm Cảnh sát Mỹ mà đi cắn thua con chó của tay hàng xóm bá vơ;  thiệt là mất mặt bầu cua quá!

Nỗi buồn đau nó cam chịu một mình. Đến khi bớt đau, cảm thấy đời vui trở lại nó mới bò ra để nói với ông chủ mới đi làm về: “Vẫn có em bên đời!”

Loosmore thấy con chó mình bị thương tơi tả vì cắn thua chó hàng xóm, lòng đau như cắt!

Loosmore mặc thường phục, đeo huy hiệu cảnh sát bằng sợi dây quàng quanh cổ, mang theo con chó… lửa, tức cây súng lục, tức tối sang nhà Casey Brown cà khịa, gõ cửa, hỏi con Berger của chú mầy có chích ngừa theo luật định hay chưa?

Casey Brown trả lời bằng nắm đấm, tặng Thầy đội vài cục u trên đầu, Loosmore bèn móc chó lửa ra sủa ba viên và Casey Brown đi nằm nhà thương, may mà không tán mạng.

Ra hầu Tòa,  Loosmore khai: “Chó nó cắn chó tui đau quá; nó còn đánh tui đau quá; sợ nó nó đánh tui chết ngắc thì ai nuôi con chó của tui đang bị thương nằm ngắc ngoải  nên tui bắn nó ba phát để tự vệ!”

(He he! Cái lập luận biện hộ của thầy đội nầy nghe cũng quen quen!)

Ông Tòa đang cân nhắc: Nếu thầy đội nầy vì binh con cún, mà móc con chó lửa ra sủa bậy sủa bạ, cộng tội xâm nhập gia cư bất hợp pháp có thể bị bóc lịch từ 2 cuốn đến 20 cuốn thêm 10 ngàn đô tiền phạt vạ.

Thiệt! Ỷ mình làm Cảnh sát rồi muốn làm gì thì làm hay sao cà?

Chó nó là chó Berger cắn chó mình chó kiểng; chó kiểng cắn không lại thì mình đi mua con Bulldog ngầu hơn về chơi cho con Berger nầy một trận để biết thế nào là lễ độ.

Quân tử trả thù mười năm chưa muộn mà! Hốp tốp mà chi để giờ có cơ nguy vô hộp?

Trường hợp chó tui mà bị chó nhà hàng xóm ăn hiếp như vậy; tui sẽ núp sau hàng rào, xít con chó cò của tui ra khiêu chiến.

Chờ con Berger nầy ló mặt ra, tui lấy giàn ná chơi cho mầy vài viên đất sét; là từ rày về sau mầy sẽ bỏ cái thói hung hăng.

Cũng chuyện chó mà năm rồi nhém chút nữa là tui bay một nửa căn nhà, một nửa chiếc xe và một nửa tiền hưu trí rồi đó chớ.

Chẳng qua má của em yêu, tức bà già vợ tui ở Việt Nam bịnh, sắp hui nhị tì nên em tất tả bay về thăm; sợ không còn thấy mặt má mình trước phút lâm chung, xa lìa trần thế!

Nhưng nhờ kiều hối, đô Úc và thịt bò cũng của Úc bỏ bọc ny long mang về, làm bò nhúng giấm ăn, hiệu nghiệm như thuốc tiên nên má em hồi phục.

Bay trở qua, em yêu hỏi thằng cu con tui: “Lúc má vắng nhà, tía mầy có ‘mèo chó’ với con nhỏ hàng xóm hay không?”

“Má đừng lo. Dì hai hàng xóm ghét ba lắm đó. Dì ấy chửi ba là con chó!”

“Ê con chó cưng của em! Bộ vợ vắng nhà; nên mặt buồn như cha mới chết vậy?”

Nghe con nói vậy, em yêu bèn nổi tam bành lục tặc, gầm lên: “Đúng là đồ hám gái! Rậm rật như chó tháng Bảy. Đồ chó chết!”

Chó chết là hết chuyện. Giao thừa tới rồi! Xin phép bà con cho tui ngừng bút tán láo về con chó. Để tui dọn con gà ra đặt trên bàn cúng, rước ông bà về vui ba bữa Tết.

Tàn cây nhang, em yêu rinh con gà xuống, xé phay với bắp chuối hột cho tui nhậu chơi.  Con chó cò nhà tui sẽ được hưởng sái vài khúc xương! Quá đã!

Xong chừng chục lon; bảo đảm với bà con là thầy trò tui sẽ quên hết chuyện buồn năm cũ mà vui như Tết tới!

Cung Chúc Tân Xuân!

đoàn xuân thu.

melbourne