Một ngày tàn năm

phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 31 Dec 2016

Post by Sơn râu 3 Jan 2024

Snow in Montreal – Source: davidgiralphoto.com

Tôi dẫm đôi ủng bám đầy tuyết, xô cửa bước vào quán vắng trương bảng hiệu Java. Tuyết xô bồ ngập lối ở góc đường và chúng, không thứ khác, đã vô tình làm ấm không gian này. Một cô gái muốn chứng thực vẻ đẹp, cách đơn giản là cô ấy nên đi cạnh đứa mang nhan sắc ma chê quỉ hờn. Tuyết, chưa bao giờ tôi nhìn ra ở đó vẻ gì khiến mình phải lạc hồn. Mưa thì khác, mà phải là mưa rơi chốn đó kia. Tuyết trắng nơi đây, một loại quỉ khóc thần sầu. Nhìn ngắm để ngao ngán với cái đe doạ nó luôn thắng thế.

Tôi chọn mua một ly lớn sau khi nghe người bán hỏi về size, rồi khỏi lôi thôi tôi thêm: Loại nặng nhất. Dark, strong. Trời tuyết, vần vũ, nát nhàu, trinh bạch; nó rơi, cào nát cảnh vật bên ngoài và đã chẳng có một thức nước uống nào sánh bằng cà phê cả. Đi với nhau, hợp hơn vạn lần bản tân cổ giao duyên mùi riệu. Nếu bác sĩ nói nó hại cho con tim bạn thì xin bạn chỉ một điều: Đừng nghe lời ông lang băm kia. Thời tiết này xăm xăm đi vào quán để gọi một cốc nước cam vắt hoặc thứ giải khát bổ dưỡng nào đó, thường lạnh tanh; nghĩ mà xem, thật khó coi. Thật khó nuốt.

Quán có gắn chữ Wifi nơi cửa kính, tôi tìm chỗ ngồi khuất, trong góc và tôi mở laptop ra, khởi động bằng ám số cá nhân. “Chúng tôi tạm đóng cửa mươi ngày, sẽ treo bài lên vào đầu năm. Thân chúc các anh chị có được một mùa lễ an lành ở cuối năm”. Trang Đồng Cỏ Hoang ra thông báo, chỉ có bấy nhiêu. Cô Nguyễn Thị Nào Đó lập ra blog này dường như mang tính khí hơi khác thường, từ khi tôi gửi bài làm quen, thăm thú thường trực tôi chưa được nhìn ra nhân diện cô. Và khi một người mang tên khởi đầu bằng chữ Nguyễn Thị cũng không hẳn chủ nhân là một quý cô. Vin vào tấm môn bài “Đồng Cỏ Hoang” treo lên trang ảo tôi đồ rằng Nguyễn Thị Bí Mật chắc ngụ ở miền viễn tây đồng khô cỏ cháy, đâu đó thuộc bang Texas hoặc là nơi dùng làm bối cảnh trong những thước phim cao bồi cởi ngựa bắn súng giữa cái xã hội không có lề luật nhất định. The Good, the Bad & the Ugly đầy bụi bặm chẳng hạn. Unforgiven đồng không mông quạnh chẳng hạn… Nhưng Đồng Cỏ Hoang của người nữ xa xăm kia đã lắm lần mọc lên biết bao kỳ hoa dị thảo, những loài hoa hăm hở nở bông suốt bốn mùa, vùng đất ấy chưa từng bị hạn hán và chủ quan, tôi xem đó là vuông trời mưa thuận gió hoà. Ý tôi muốn nói thơ văn hiển thị ở blog Đồng Cỏ Hoang luôn tươi đẹp, luôn đáng ngắm nhìn để thầm cám ơn những người miệt mài gia công đóng góp việc vun xới.

Tôi có gửi cho chủ nhân Nguyễn Thị kia bài thơ bảy chữ nói về một vùng kinh tế mới, do thời gian và hoàn cảnh sống của con người, từ chốn sơn cùng thuỷ tận kia dần dà được khai hoang lập ấp để một ngày nọ, nó trở thành một tụ điểm thu hút lắm du khách. Nhát cuốc ban đầu thật đáng tri ân. Bài thơ không hay nhưng Nguyễn Thị vẫn đăng bởi cô biết tôi đang bỏ công ca ngợi cô. Bài thơ tôi làm không hay ở chỗ, tôi chẳng lột tả hết ánh sáng ẩn hiện sau lưng cô. Sự thành thật đôi lúc cũng gây ra vụng về khi biểu tỏ. Bây giờ vào ngồi trong quán ấm với ly cà phê đang dần nguội tôi muốn viết đôi điều gửi tới Nguyễn Thị nhưng Đồng Cỏ Hoang vừa treo bảng tạm đóng cửa.

Điện thoại dấu trong túi áo chợt réo thức. Tên người gọi hiện lên màn hình. Trần Văn An Lạc… Ừ, mình đang ngồi ở quán Java, biết chỗ ấy không?… Ừ, những ngày như này thường vắng tẻ… Ô kê, mình sẽ đợi… Tôi xem qua một vài tin tức nổi bật. Khủng bố. Người chết la liệt. Đánh đập. Tù tội. Bão tố. Lụt lội. Xuống đường… Nói chung là một thế giới bất an và tôi liền đóng máy lại. Tôi thích mơ mộng, thường những đứa như vậy chớ lén phén cập nhật tin tức hàng ngày, nó sẽ dìm bạn xuống, sống thở với bao ngầy ngật không lối thoát. Bạn đi dưới hai hàng cây nở hoa trong mùa xuân, khi ấy thơ bạn viết ra hẳn khác với bạn đang chạy dưới một trời giông bão. Nước ngập tới chân, bạn lo chất đồ đoàn vào nơi cao ráo và thơ có đến tìm bạn, hẳn nó đến với bao bất toàn, nước đục dật dờ cùng xác những con chuột chết trôi.

Trần Văn An Lạc bước vào mang theo chút lạnh chờn vờn quanh chỗ ngồi. Bạn tôi làm thơ viết văn thảy đều hơn tôi, do vậy được Nguyễn Thị Xa Xăm tín cẩn và đặt bao kỳ vọng. An Lạc gần biến thành cây bút chủ lực của Đồng Cỏ Hoang. Tôi từng nói cùng bạn: Mình chẳng hiểu do đâu cô ta lại chọn đặt cái tên nghe mất sướng. An Lạc trả lời: Cái tên tôi thì sao? Tôi không quan hoài nếu bạn gọi là Trần Văn Lu Bu. Cà phê có nhiều tên khác nhau nhưng chung quy nó vẫn là chất nước đắng. Bạn chọn nhãn thường dùng, khác tôi, nhưng hai ta đều uống cà phê. Thực chất, mọi thứ đều chỉ là một cách gọi tên.

Ông uống thêm không, để tôi mua cùng lần. Khi từ quầy trở lại bàn, hai tay An Lạc mang về hai tách cà phê espresso. Trước khi ngồi xuống ghế, bạn nhìn tôi: Có hai tin, một xấu một tốt, ông thích nghe tin gì trước? Tôi nói: Sắp hết năm, nghe xấu trước để sớm xua đi. Tin xấu là thành phố sắp đón một trận bão tuyết có thể làm tê liệt hai ba hôm. Vậy còn tin tốt? Chính phủ vừa phát minh ra phương án nhằm ngăn chận nó? An Lạc cười: Nói tốt cũng không hẳn, chiều nay sẽ có chuyến bay từ Houston đáp xuống lúc 5 giờ. Email của người mang tên Nguyễn Thị Thảo Hương viết, mong được hai anh đón đợi con chim liều mình tìm tới vùng giá băng.

Vậy bạn đã hồi âm cho đương sự chưa? Bảnh mắt kia, việc làm đầu tiên trong ngày. Tôi cho hay là hai thằng mình sẽ mặc áo ngự hàn trương phình giống nhau và xin hãy để cho bọn này đoán non đoán già một nữ hành khách chưa từng được diện kiến. Hay trao cho chúng nó một thách đố rồi thưởng công cái đứa giàu thần giao cách cảm.

Hai đứa tạm chia tay bởi 4 giờ đã vội chạy ra phi trường, dành chút thời gian để chuẩn bị. Cũng có thể mang theo, ngoài tấm lòng, những thứ lặt vặt nhằm chống rét lạnh. Houston nghe đâu xứ ấy nóng quanh năm. Đất nóng tình nồng thì chuyện hiển nhiên nhưng đất lạnh tình run thì e phải bàn lại. Một ngọn lửa dẫu đốt cháy trong tưởng tượng nó hẳn phải phát ra nhiệt lượng và tôi tin, bọn chúng tôi là thành phần rất dễ nhạy cảm để nhìn nhận, đón lấy. Trong trí tôi chợt hiện mấy câu thơ của chủ nhân Nguyễn Thị vừa biết tên. Thơ làm đã lâu, như một dự cảm về chuyến “liều mình” bữa nay:

…thì ảo ảnh người thồ băng sông rộng

là xa xăm thoạt mới đó rất gần

và quay lưng mang hết hương tàn đọng

mà dáng người cái dằm cộm trong ngươi

thì chia xa không cần vin tay vẫy

là quá giang người đi chẳng luỵ đò

và tôi ngó áo bay để mường tượng

mà tình tự câm như ngọn heo may

tìm tạm dung ngay bên triền chữ viết

là người ơi tôi gieo luống nhớ thương

và đọng vũng chút ngây thơ nguyên dạng

mà bình yên giam bóng mây lạc bay…

Trời rất xấu. Sao Nguyễn Thị tìm tới trong mùa này? Dù sao tôi xin cám ơn người, ngày cuối năm đã mang lại bất ngờ một niềm vui. Cám ơn những trang nhà mở ra đó đây còn nặng lòng với thơ văn lưu lạc, bị xô đẩy tới “vùng kinh tế mới” cách một đại dương mút mắt, lạnh vô bờ. Hãy để cho tôi được nhìn rõ mặt Em, để năm mới chính Em trao cho tôi niềm hy vọng về vẻ đẹp tinh khôi, dẫu nó chưa hoàn chỉnh đi hết vòng tròn nghệ thuật. Hẹn Em vào lúc 5 giờ nếu máy bay đúng hẹn.

Em có viết được gì trên chuyến bay đột biến?

Hồ Đình Nghiêm

sắp lật trang 2017

Mô Phật

Hồ Đình Nghiêm

1. Lên năm thứ hai, lớp tôi có được một người mẫu mới. Một người con gái. Án chừng hai mươi bốn hai mươi lăm, và như thế chị ấy lớn tuổi hơn bọn tôi. Chị còn trẻ, rất trẻ, nhưng nhìn chị, không là thầy bói, tôi vẫn biết người ấy có một cuộc sống chẳng mấy vui. Điều gì đó hiển hiện quanh người chị, bao phủ lên, tác động rõ trên gương mặt làm kẻ ngắm nhìn phải bật ra một nhận xét ban đầu: Buồn.

 Tôi chưa là họa sĩ, tôi còn là sinh viên trường Mỹ thuật. Phải thêm ba năm nữa mới thi tốt nghiệp. Và từ gĩa ngôi trường cổ kính ấy, không chắc tất cả học viên đều trở thành họa sĩ. Khi ngó sâu vào đôi mắt chị, ngắm trọn vẹn khuôn mặt có hơi gầy kia, tôi biết sẽ khó mà lột tả, vẽ lên mặt giấy cái hư hao phiền muộn luôn ám trên dung nhan kia. Nhưng giờ hình họa của bọn tôi chỉ đặt nặng ở phần tổng thể.Chị sẽ ngồi trên bục, giữa căn phòng luôn đóng kín cửa. Tùy góc cạnh khi dựng giá vẽ, bạn sẽ tóm gọn cái nhân dáng kia, cân đối, hoàn chỉnh, đặt giữa khung giấy hình chữ nhật. Khi đo đạc, bạn sẽ dùng cái đầu người mẫu làm đơn vị chuẩn. Chị ấy không cao, khoảng một thước sáu hai, từ đỉnh đầu tới gót chân sẽ cho ra một kết qủa: dài 6 đầu rưỡi nếu đứng thẳng.

 Giống như một lề luật chẳng cần soạn thảo, người mẫu mới sẽ không khỏa thân toàn phần thời gian đầu. Chị ấy tần ngần cởi áo, rụt rè cởi quần, ái ngại ngồi xuống chiếc ghế đã được định vị đánh dấu bằng phấn trắng. Đồ lót chị dùng có vẻ như hàng nội địa, thô, dày, rẻ tiền; nói chung là xấu. Tựa như ta dùng kéo để cắt cụt cái quần đùi, xẻo bớt cái áo thun. Mặc nó chắc không có cảm giác thoải mái dễ chịu. Nhưng cởi nó ra, trước mười lăm cặp mắt luôn nheo luôn ngó luôn tọc mạch luôn muốn lột truồng sự vật, e sẽ mang cái cảm tưởng mình đang bị tra tấn. Yêu cầu đặt ra: Ngồi yên càng lâu càng tốt, tối thiểu thì mười lăm phút. Ngạc nhiên thay, chị ngồi không cục cựa gần cả nửa giờ. Ngồi chẳng vọng động, hơn cả thiền giả. Bởi vì ngồi im re và phơi bày ở dáng vẻ một sự cam chịu, nhẫn nại trong câm lặng.

 Mùa đông ở Huế, không nói bạn cũng mường tượng ra được cái tái tê kì lạ của nó. Không gian luôn ẩm thấp, gió luôn xao động trên hàng lá cây mù u cây nhãn cây bàng cây phượng cây sầu đông mọc suốt chiều dài con đường bên ngoài cổng trường. Tất cả chúng đều loáng ướt, sụt sùi, run rẩy. Màu trời thì âm u, ẩm đục, ám tối. Nó xuống thấp để nuốt chửng hình dáng lá cờ treo rủ trên đỉnh cột. Tôi luôn để ý đến cái xô sắt dùng đựng than. Tôi sẽ quạt, thổi, để nó cháy lên những ngọn lửa nhỏ bé hầu giúp chị ấy chống đỡ cái lạnh chút nào hay chút đó. Cái “máy sưởi” kì quái ấy đặt cạnh chỗ chị và nó có vẻ yếu đuối luôn để cho heo may hàn khí trấn áp. Da chị tái xanh, vú chị có lẽ sẽ đang thu nhỏ lại với da nổi hột.Mắt chị đặt để vào khoảng không, đâu đó ở góc phòng. Thỉnh thoảng tia nhìn quét vội ngang tôi.Chẳng lâu, nhưng tôi cũng cảm nhận được nó ngầm nhắn gửi một lời cám ơn.

Một hôm, khi lên văn phòng để ký nhận tiền học bổng, tôi thấy chị cũng đứng đợi lãnh tiền. Ngườithư ký phụ trách gọi tên và đó là lần đầu tôi biết cô người mẫu luôn rụt rè kia mang tên Hoa. Không dọ hỏi, nhưng tôi hình dung được số tiền khiêm nhường mà chị sẽ nhận cho công việc làm người mẫu. Tôi lấy xe đạp rón rén bên chị và mạnh dạn đưa ra lời đề nghị:

 – Chị đi mô, tôi sẽ chở. Về nhà hay ghé chợ?

 – Đừng… Không đi chợ. Mà nhà thì ở chỗ xa lắm.

 Trời thương, trời tạnh, trời không mưa. Nếu mưa tôi sẽ bỏ mặc chị. Trời chẳng nắng, nhưng khô ráo.Thứ thời tiết khiến người ta thèm ngồi cùng nhau bên cốc cà phê, nhất là người ta đang có rủng rỉnh chút tiền trong túi.

 – Không chợ mà chẳng nhà, như rứa là chị rảnh. Cứleo lên đi, tụi mình tìm quán cà phê. Chị Hoa tính sao?

 Hoa không biết tính làm răng. Tôi nghĩ vậy. Dùng dằng nửa muốn nửa không. Tôi đoán thế.

 – Một người đi bộ, một đứa đạp xe quờ quạng bên hông. Có phí cả một buổi chiều không?

 – Uống cà phê để làm gì?

 Từ nhỏ tới lớn, tôi chưa bao giờ đón nghe một câu hỏi kì cục như vậy. Ở lớp mẫu giáo, có thể nghe hỏi: Ăn cơm để làm gì? Dạ thưa cô, ăn cơm để sống.

 – Không cứ là cà phê, uống thứ khác cũng được.Người ta vào quán vì khung cảnh ở đó có vẻ hợp cho những tâm sự.

 – Nếu chẳng có tâm sự thì vào đó có phí không?

 – Không phí. Tuyệt đối không.

 Mái tóc làm che gương mặt. Một cái đầu luôn cúi gầm khi bước, làm như con đường nhiều chông gai, sợ chân dẫm phải. Và sau cùng cái đầu ấy gật nhẹ.Tôi để Hoa toàn quyền lựa chọn địa điểm. Hoa chẳng nặng, tôi chẳng nhọc khi thồ cái nhân dáng tôi vẽ cả mấy chục lần. Nhắm mắt, tôi có thể mường tượng ra vị trí những nốt ruồi ẩn hiện thầm kín trên da thịt Hoa. Tôi đã dời đổi giá vẽ ở đủ mọi góc cạnh. Tôi đã “ăn tươi nuốt sống” cơ thể Hoa từ trước ra sau. Tôi ngủ, vắng những mộng mơ. Thảng hoặc, chiêm bao rất đỗi ngắn ngủi sật sừ: Tôi ôm Hoa ghì môi hôn đứng trên ngọn đồi trọc, cỏ cây cằn cỗi và ở đường chân trời thì sắc sảo một nhát cọ đỏ bệt ngang, chảy máu.

2. Tựa vết dầu đang chảy loang, người ta đồng loạt bỏ chạy, tôi cũng chạy. Người ta hốt hoảng, tôi cũng mặt cắt chẳng còn giọt máu. Người ta bồng bế nhau chất chồng lên xe đò, tôi vác mạng không bám đu như thằng lơ xe chính hiệu: Tới luôn bác tài! Người ta khản tiếng ơi ới gọi nhau xa bầy lẻ bạn, tôi ngậm câm lòng rất chật những hoang mang. Người ta ngó lui, như ngó những cột mốc kỉ niệm đang gắn xuống Quốc lộ 1. Huế ơi, tạm biệt hay vĩnh biệt? Tôi cũng ngó lui, “tha hồ mây trắng bay”!

 Vào Đà-nẵng tôi ở đậu nhà bà con, đường Hùng Vương, gần chợ Cồn. Tôi hay ra ngồi quán cóc ở lề đường ngó sự hỗn loạn luôn thay đổi bộ mặt quanh chỗ ngồi thường trực những tiếng động điếc con ráy. Tôi ngồi như một kẻ bị chứng bệnh mộng du. Trầm kha, nhợt nhạt. Tôi ngồi, tôi uống cà phê bít tất, uống nước trà nguội, uống câu giờ tựa kẻ dọn lòng chờ đợi một biến cố. Tôi ngồi, như bức phù điêu đang hồi ẩn hiện rêu xanh. Ba hồn chín viá lộn lui khi tai vọng dội tiếng ai vừa gọi tên tôi, mơ hồ. Đã ba ngày vất vưởng, giờ mới có người nhận diện.Giọng vỡ ra, ôi êm ả biết dường nào!

 – Nghiêm, vô đây khi mô?

 Tôi hoàn hồn và tôi chết điếng. Đứng rất sát, rất gần, rất kề cận bên tôi là Hoa. Hoa của một áo quần lụa là có phần tươm tất. Hoa của một che đậy kín đáo giữa chốn ta bà. Gần quá, tôi rất muốn ôm Hoa, đưa tay ra là đụng phải, để hiểu, hoàn toàn nó không là ảo ảnh.

 – Vô đã ba ngày. Đã ba ngày, cứ ngồi như ri đây!

 – Nói nghe thảm. Uống thêm ly cà phê nữa hí? Hoa đãi.

 Tôi đùa: Uống cà phê để làm gì? Hoa mắng: Con khỉ. Hoa ngồi xuống ghế đẩu, sát tôi. Lưng dựa vào tường một công sở đã di tản nhân viên, cửa đóng then cài chờ người đến cạy, hôi của. Tôi ngửi được mùi một hương hoa. Có thể Hoa vừa gội đầu xong, hoặc thứ mùi đó từ cơ thể, từ nách Hoa phát tiết ra. Tôi không biết. Tôi u mê ám chướng. Tôi vẫn luôn là đứa con trai lạc loài. Hoa vuốt tóc tôi, ngó tôi lâu, rồi bình phẩm: Hốc hác quá! 

Hoa dắt tôi về chỗ Hoa ở, đâu đó gần cầu Vồng. Lối đi quanh co, con nít mình trần đứng đầy đường với bụi vàng đất cát. Nhà nhỏ, những phòng không gắn cửa, lay động ở đó là tấm vải buông rủ làm màn.Hoa vén màn, phòng kê chiếc giường, thêm cái tủ nhỏ, sít sao, vừa đủ diện tích. Muốn ngồi, chỉ có giường là nơi đặt đít. Giường trải chiếu, một chữ Phúc in lem nhem nằm chật chội trong vòng tròn.Chữ Phúc bốc mùi, không là mùi của ẩm mục thiếu nắng mốc meo. Một đứa bé chạy ào vào, hộc tốc. Môi khô, hơi thở gấp: “Chị Lệ, chị Lệ… có khách đợi”. Hoa ngó tôi, Hoa dùng tay đẩy thằng nhỏ ra khỏi phòng: “Em nói lại với họ là bữa ni chị không đi. Chị bị cảm, nhức đầu chóng mặt, buồn nôn.Hiểu không? Mai mốt hẳn tính”. Hoa trút bỏ áo quần. Tôi quen thuộc với cơ thể ấy, nhưng vùng kín đáo của Hoa là nơi chưa một thằng sinh viên mỹ thuật nào được ngắm nhìn, ngoại trừ tôi, hôm nay.

 – Để Hoa chỉ cho xem cái ni.

 Hoa kéo tấm màn. Phiá sau, dán trên ô kính cửa sổ là tấm giấy cứng vẽ hình một thiếu nữ mặc đồ lót ngồi trên ghế. Bản vẽ vụng, chẳng mấy đẹp kia có viết tên tôi bên dưới. Đó là bài làm cách đây đã hai tháng và bài tập ấy mang điểm B. Tôi ngây mặt ra.Hoa kéo tôi đi từ ngờ vực này đến ngạc nhiên khác.Khi chạy trốn, tôi chỉ mang theo cái mong manh của một phận người. Đã di tản, sao Hoa còn nhọc lòng toan tính, ôm đồm mang theo đồ đoàn những thứ vô bổ?

 – Không biết nữa. Hoa nói với người trưởng lớp, xin bức này để làm kỉ niệm. Mỗi tối, trước khi ngủ, Hoa đều ngắm nó khoảng năm phút. Hoa tự hỏi: Bao lâu nữa thì mình sẽ tàn tạ, chẳng còn được như trong tranh?

 Hoa ôm cứng lấy tôi. Hoa bảo: Hãy yêu Hoa đi. Nắng buối chiều chiếu rọi xuyên qua bản vẽ làm rách nát từng đường trên cơ thể Hoa. Tôi nằm dát người trên chiếu, nghe tiếng súng nổ và hiểu Đà-nẵng đang cơn hấp hối.

 3. Có thể, tôi chấm dứt chuyện kể ngang đây. Nhưng còn điều này tôi muốn thưa thêm: Cách đây hai tuần, người bạn cũ, một họa sĩ tự do đang sống ở Huế, có viết trong email: “… mày còn nhớ cô người mẫu 6 đầu rưỡi năm xưa không? Người đẹp đang là ni cô, mặc nâu sòng lam lũ, mùa lụt bão vừa rồi, em làm việc thiện phân phát thực phẩm giúp đỡ những kẻ bất hạnh…” Lúc đó, tôi đã ngồi nhắm mắt lại trước màn hình rất lâu. Tai tôi như nghe được giọng nói nhỏ nhẹ của Hoa hôm nào, một ngày của quá vãng: Tên hai đứa mình ghép lại sẽ tựa như tên một cuốn kinh: Hoa Nghiêm. 

Phải, tôi nhắm mắt ngồi rất lâu. Lâu gần bằng một mộng mị khi thiếp ngủ. Tôi tắt computer. Tôi đi đốt thắp một cây hương. Tôi cúi đầu: Mô Phật! 

Hồ Đình Nghiêm

Dáng lụa

Hồ Đình Nghiêm

  Không rõ trường Quốc Gia Âm Nhạc có được bao nhiêu học viên? Láng giềng nó, trường Cao Đẳng Mỹ Thuật vào thời điểm 1973-1974 đếm chẳng quá 50 chuẩn hoạ sĩ, chuẩn điêu khắc gia. Cứ cho là vậy, cứ tính đổ đồng bù qua xớt lại từ đệ nhất niên cho chí đệ ngũ niên, mỗi niên thu giữ mười nhân mạng… Và như vậy có nên dùng chữ “lèo tèo” để gọi tên về những kẻ ưa dẫm chân vào sạn đạo của nghệ thuật tạo hình? Ngôi trường rất đẹp quét vôi vàng ẩn mình sát cổng Hiển Nhơn, đối diện một bức tường đầy rêu bám và cô quạnh đằng kia mọc lên cây Ngô Đồng được những chùm hoa sứ vây bọc quanh thân. Đại Nội vẫn luôn thu giữ riêng một hương mùi, một màu sắc. Nó khiến những bước chân buộc phải trì hoãn lại trong vô thức, lòng bạn chao đi khi dầm thân trong không gian đầy rẫy bóng dáng người xưa lưu dấu đó đây. Nó chẳng khác Thăng Long nếu nhớ lại cổ thi: “Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”.  Có thể bên Quốc Gia Âm Nhạc chịu cảnh âm thịnh dương suy, nhưng cách một con đường nhỏ đầy cỏ dại mọc lan, lãnh địa phía này trầm mặc với dương thịnh âm suy. Đếm lui đếm tới vỏn vẹn “mọc” chừng năm bông hoa (đẹp xấu tuỳ người đối diện) từ búp non cho tới đã ngậm sương già nắng khai nụ bung cành. Nhưng cả năm dường như vẫn sáng chiều lẻ loi dáng lụa. Gái Huế, dù ước ao sẽ là nghệ sĩ mai này nhưng họ vẫn khép nép đi dưới bao lề luật bất thành văn, đầy kỹ cương nghiêm khắc. Là sinh viên nhưng họ chẳng khác biệt với các em học sinh, không thể vượt thoát thứ rào cản vô hình qua bao đời giáo huấn nam nữ thọ thọ bất tương thân. Họ đến trường với gương mặt tinh khôi qua giấc ngủ đầy và về nhà chẳng gợn nhăn một tì vết phiền muộn. Đường đi có nắng gió, có mưa giăng, có bao điều khác tác động bủa vây nhưng đôi chân chưa một lần nghi ngại hụt bước lần khân xao xuyến lỗi nhịp. Đó chỉ là cảm nhận của riêng tôi, một đứa vừa thi đậu vào năm thứ nhất, tập hoà mình vào thế giới nhiều huyễn mộng. Có thể sai quấy, hàm oan trong lượng định vô căn cứ. Chân ướt chân ráo thôi mà, đâu đã ăn dầm ở dề để lộng ngôn.  Như bất kỳ một thằng con trai bình thường nào khác, tôi cũng biết “nghễ” các bông hoa. Tôi muốn chứng nghiệm thế nào là nỗi sầu khổ dịu dàng, tôi sẵn lòng đi trên con lộ một chiều, dại khờ ra sân ga để đợi một con đò cập bến. Nhà không xa nhưng tôi vẫn nguỵ tạo ra cớ để ở lại trường giấc trưa, bởi có người cô độc bày thức ăn gặm nhấm trong đơn lẻ. Chị ấy học năm thứ ba, có nghĩa là phải qua những năm căn bản mới trao cho bạn quyền quyết định chọn ban. Chị ấy học lụa. Tôi chẳng ngạc nhiên vì con người chị là tổng thể những đường nét dịu mềm, mong manh, dễ thẩm thấu, dễ hoen ướt. Tà áo dài, mái tóc đổ xuống ngang lưng, da trắng, năm ngón búp măng và mãi mãi rụt rè khi nhát trông ra tôi. Khép nép, mắc cở như thể suốt đời chưa lần nào phải ngồi ăn trưa trước kẻ lạ mặt. Học ban lụa có nhiêu khê không? Tôi gạ chuyện. Ừ, rất nhiều thứ phải gia công khi bồi tranh, rất dễ bút sa gà chết. Giọng nói chị như gió thoảng. Chị ăn xôi bắp, đậu xanh cùng mè rang. Hương vị đó không thể dồn lên thứ mùi dịu ngọt mà mũi tôi đang hít lấy để phân chất. Nó phát ra từ chân tóc chị? Từ cổ chị? Từ ngực chị? Từ thể hình chị? Tự thân, chị là một bức tranh lụa mà dù là danh hoạ, bạn chẳng thể thêm thắt một nét dư thừa nào cả. Một tác phẩm hoàn chỉnh biết dâng mùi. Hình như sau sơn dầu thì là ban lụa, không mấy ai chọn sơn mài cũng như điêu khắc? Cũng chẳng rõ, lụa có vẻ thích hợp cho nữ phái.  Chị ăn không hết gói xôi, chị hỏi: Nhịn đói à? Rồi chị hy sinh trao thức ăn thừa cho tôi. Xôi chị tự nấu hay do mạ nấu mà ngon quá, thơm dẻo, bùi và ngọt lừ. Lá chuối sạch trơn, tôi chẳng thể phung phí một hạt bắp một hột nếp một hột mè. Tôi mọc ra một ao ước, giá mà mình nhuyễn tay đôi phần để lúc này ký hoạ lại chân dung chị bằng bút chì lên giấy croquis. Ngày mai chị nên đi tay không, kiểu thõng tay vào chợ… Khuôn mặt chị đã vơi bớt vẻ căng thẳng, chị nhìn tôi, đôi mắt to, hàng mi dài, có vẻ chờ đợi. Chị ăn bánh mì thịt, nghe. Đến phiên tôi lo thức ăn trưa. Không, ngày mai mình ăn chay và cũng có thể cả lớp kéo nhau đi vẽ phong cảnh ngoài trời. Sắp tới giờ rồi, về lại lớp học đi.  Chị mang cái tên rất Huế, tôi nghĩ vậy: Phạm Thị Sầu Đông. Chừng như lại vấp sai lạc, ở đây họ kêu bằng Sầu Đâu, nghe không hay, thô thiển tựa Mù U. Cây mù u và cây sầu đông có mọc trên đường về nhà tôi, những sáng sương mù có khi tôi ngỡ là sầu đông vừa đánh rơi nước mắt xuống vai áo tôi, ngấm lạnh một nỗi thổn thức không đâu. Mạ tôi do trực giác hay sao đó đã chép miệng: Dạo ni mi như hoá thân làm đứa khác, cứ lạc hồn lộn vía ba láp ba xàm. Cứ cà phê thuốc lá vô cho nhiều. Đổ hư!  Xét theo đơn khai, tôi hưởng được học bổng toàn phần. Hằng tháng lên văn phòng ký nhận một số tiền chỉ đủ mua hộp màu nước, đôi ba cây bút lông viết chì và trăm ly cà phê chục bao thuốc lá, năm cái vé xi-nê, ăn tiêu lặt vặt. Nguồn trợ cấp không mỏi mệt là cứ réo mạ mình để “hư” thêm. Tôi nghe chị Sầu Đông nói: Họ cho hay, thời gian đào tạo dài bằng nhau, nhưng một người tốt nghiệp Mỹ Thuật thì tốn kém gấp ba lần một kẻ ra trường Y. Tôi hỏi chị: Nghệ thuật có thực sự cứu nhân độ thế không? Sầu Đông nhìn ra màu mây tím đang giăng qua bầu trời: Chắc là không, thời nào hạng nghệ sĩ cũng đớn đau bởi sự phụ rẫy của lòng người, khốn cùng trong những ngộ nhận. Lần đó, tôi nhớ tôi đã nắm lấy những ngón mềm mại của chị và lần đó tôi cũng ước ao, giá mà mình học được thuật xem chỉ tay. Không lâu, chị rút tay về thu trong một vạt áo dài. Vạt áo vẽ những cánh hoa không tên do chính chị thử nghiệm bản vẽ đầu đời. Chị có thấy bức tượng Venus de Milo bằng thạch cao đặt sau trường mình không. Nó tật nguyền cụt cả hai tay nhưng kỳ lạ là nó hoàn chỉnh trong dáng đứng vượt ngoài khuôn mẫu. Không hẳn những thiếu sót đã khiến chúng ta phải chịu cam phận trong bất hạnh. Chị Sầu Đông làm thầy bói bất ngờ: Mai sau bạn sẽ thôi vẽ để viết văn.  Gần cuối niên khoá, chẳng rõ do ý tưởng của ai khởi xướng, trường quyết định in ra một tập san “Mỹ Thuật” bài vở chọn lọc, mẫu bìa màu tím than chữ đen do thầy Đinh Cường trình bày. Dày 200 trang, những trang sau cùng có tôi đóng góp với bài nặng phần nghiên cứu mang tên “Bích Chương (Poster) Và Thế Đứng Của Nó Ngày Nay”. Dĩ nhiên tôi ký tặng chị Sầu Đông, không  khô nét mực khi nhận được cuốn đầu tiên. Trường có tổ chức ra buổi liên hoan văn nghệ trước đêm Giáng Sinh. Theo trào lưu, sinh viên chơi nhạc của Lobo, Bread, Carpenters và không thể thiếu mặt nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã ôm đàn lên giúp vui. Mưa rơi ngoài trời làm bóng tối co lại, màu đêm mềm ra, đầy sũng lạnh. Với sự rụt rè của kẻ qua sông luỵ đò, chị Sầu Đông không dấu mừng vui khi nhờ tôi đưa về nhà trên chiếc Honda 50 phân khối vừa mượn được của đứa đang say sưa gửi hồn vào tiếng hát. “Gọi người yêu dấu bao lần, ngẩn ngơ không nói thành lời…” Ngoài hương hoa sứ rộ trắng lốm đốm bên tường rêu, tôi lại hít thở lấy mùi thơm dịu ngọt từ cây Sầu Đông biết di động. Tôi lại đơm ước ao, giá như được ăn phải bùa mê thuốc lú, khi ấy cả hai sẽ nhắm mắt hôn nhau dưới một vũ lượng dịu dàng vây quanh thân, chúng sẽ dìu hai đứa nhập vào bản luân vũ của mưa đêm, châm chích vào da thịt bao mũi kim hân hoan vô bờ, chết điếng, tắc thở, lìa xa hiện thực. Ếch nhái bên hồ réo gọi. Chạy đi, cứ thoát ra khỏi cổng thành rồi mình sẽ cho hay địa chỉ. Ra cổng Hiển Nhơn, chị Sầu Đông quàng một tay ra ôm thằng tài xế chạy xe lảo đảo. Mưa không lớn, đủ để đưa tay vuốt mặt. Mưa chẳng to, nhưng đủ để nhận chìm tiếng nói Sầu Đông trôi vuột ngoài vành tai. Hai đứa đều mặc áo đi mưa và đã là mưa Huế thì chẳng có vật thể gì có thể can ngăn sự xâm thực thật lì lợm của nó. Mưa ngoài trời và mưa cả trong lòng. Ướt gì thì ướt nhưng phải giữ cho cuốn sách Mỹ Thuật thật khô ráo, đúng không? Sầu Đông nói. Đêm nay chong đèn xem người nớ viết có đặng không.  Nhà Sầu Đông nằm bên dòng Bến Ngự, khuất lấp, trồng nhiều cây lưu niên và lộng gió. Mặc dù trời tối đen, tôi vẫn nhìn rõ một mặt sông đang cau có. Cám ơn hí. Sầu Đông rời khỏi yên xe. Đôi mắt nhoè nước mưa trông như vừa khóc một trận lâu nín. Đôi cửa sổ tâm hồn nhốt chặt lấy một diện mạo nhiều toan tính. Về đi. Ngủ ngon. Sầu Đông quay lưng, lối đi có trải sỏi vụn và có thể cắm lên một tấm bảng: “Coi chừng chó hiền”. Căn nhà đong đầy vũng tối, tôi tự đánh cược xem Sầu Đông có ngoái đầu nhìn lui? Không. Một chuyển động như bị ma rượt. Tôi cố gắng, khổ sở để thắp lửa được một điếu thuốc. Tôi loay hoay cố không cho mưa thấm làm chóng lụn tàn một hơi ấm duy nhất, giờ này. Tôi nhìn số nhà, khắc ghi. Tôi biết địa chỉ này rồi sẽ đón nhận những lá thư tôi chăm gửi về. Bến Ngự mê thiếp giấc sâu chẳng vọng động một âm thanh. Chỉ có tiếng máy xe nổ, ngọn đèn đơn độc quét lia trên hoang lộ dẫn về thành phố.  Rồi tên bay đạn lạc thế mưa rơi phủ chụp xuống vùng địa đầu giới tuyến. Thuật ngữ ấy luôn nằm trên trang nhất các tờ nhật báo phát hành tận Sài Gòn. Những chuyến xe lặt lìa chất đầy các khuôn mặt ám nặng tử khí từ Quảng Trị đổ dồn xuôi Nam bất kể ngày đêm. Trường học đóng cửa, chẳng buồn ghim vội một tờ giấy loan báo sự tình. Tôi chạy qua con sông nhỏ “nắng đục mưa trong”, thực sự dẫm chân vào lối đi rạo rệu những hòn sỏi trở trăn dưới giày. Rõ là coi chừng chó hiền, rõ là chẳng một rào cản, rõ là muốn làm phường đạo chích cũng dễ như trở bàn tay. Sầu Đông cùng gia đình đã di tản. Hai chữ này quá mới lạ trong vốn tự điển của chúng tôi. Vì sao là di tản mà chẳng gọi là chạy giặc? Và rất khôi hài nếu bảo “giặc đến nhà đàn bà phải đánh”. Vườn hoa vẫn trì chí nở bông, có nụ hồng lay lắc bên tầm tay với, khoe thầm một đốm màu đỏ lẻ loi. Nó nhắc tôi nhớ về giọt máu loang đi sai trình tự chu kỳ để thấm hoen vào vạt sau tà áo dài cuống quýt của Sầu Đông. Tôi đã cởi cái sơ-mi ra cho Sầu Đông cột thắt quanh bụng và cúp cua giờ anatomie thồ đi cái nhăn nhó vụng tính của người bị kinh nguyệt hành. Với mười hai ống màu đầy đủ đi từ trắng tới đen, bạn không thể nào hoà được thứ sắc hồng ngượng chín ửng lên trên gương mặt Sầu Đông lúc đó. Và tôi cũng nhớ là đòi lại tức thì chiếc áo ấy mà không đợi chờ chính tay Sầu Đông sẽ giặt giũ qua, hôm sau trả lại như lời đề nghị. Chiếc áo với đốm màu đã khô quắc, đã biến thành nâu đen để khi nhìn ngắm tôi gọi đó là đoá uất kim hương.  Tôi chưa bao giờ thấy mặt ngang mặt dọc loài hoa mang cái tên kiêu sa đến vậy. Tôi biết chữ đó khi đọc một cuốn sách dịch từ nguyên bản Pháp văn tả về một cuộc tình đầy khổ luỵ. Và tôi luôn yêu những thứ liên hệ tới nghiệt ngã, oan khuất. Uất kim hương, nghe như một lời than van không đi tới cuối đường, mãi dây dưa, chẳng siêu thoát. Hồn tôi cũng không nơi nương tựa, vật vờ cho đến một hôm, trên chuyến tàu Thống Nhất chất người như nêm, thoi thóp những con cá trầy vi tróc vảy, tình cờ tôi ngó ra một hình bóng chừng nhìn thấy ở kiếp trước. Kiếp này trí nhớ con người đã mòn hao, lao lung bởi mắt quen nhìn một hoá hai hoặc nổ đom đóm bởi bao ngược ngạo chỉ diễn ra tự thiên cổ. Quen quá, mà cũng xa lạ quá. Một con chim bồ câu thúc thủ giữa đám lông vũ hỗn tạp nhặng xị quang quác đè đầu cỡi cổ chuyện sinh tồn. Tôi để trí óc chạy đi hoang, nín thở chờ nghe cơn gió thoảng vừa reo tên mình. Tàu lắc lư như kiểu vừa ôm một đoạn cong bẳn gắt dưới chân đèo, tiếng còi vừa hú thoắt cái chìm trôi lui sau. Xao động vừa lắng thì người ấy nhận diện được tôi. Quang gánh, đồ đoàn, kiện hàng, nồi niêu, gà vịt là thứ biên giới mà tôi phải vượt qua. Bởi trong hai kẻ bị phân ly, tôi đáng là đứa biểu tỏ sự gan dạ. Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua. Có đón nhận buồn tủi ngỡ ngàng cũng phải hỏi cho ra lẽ. Vì sao và tại sao? Cớ gì và nguyên do? Răng ri rứa. Nên tin vào duyên kiếp hay hoài nghi tới định mệnh? Tên mang có vận vào người không? Chẳng phải mùa đông nhưng sầu thì vẫn hoài huỷ sầu, sầu mút mùa xuân hạ thu.  Trước mặt tôi là bức tranh lụa nhàu úa. Những gì liên hệ tới mỹ thuật đã chết chìm sau hồng thuỷ. Người ta đang học lấy vạn điều xấu xa và để cứu chuộc, người ta phải xiêu thân sống với hoài niệm. Chiếc áo bà ba sờn cũ, mái tóc dài đã cắt, đoạn lìa trên vai gầy, da thôi trắng, năm ngón thôi búp măng, đôi mắt thôi long lanh. Đôi mắt nhốt chật một vũng màu vụng pha, ngờ nghệch. Ngay cả hương mùi cũ, khứu giác chừng như đã phản bội, phôi pha. Con tàu mãi lắc lư, nó muốn xúi giục tôi phải bổ nhào vào nhân dáng tiều tuỵ ấy. Người ta đang bỏ công hô hào thể hiện nếp sống văn minh và tôi đang tìm cách để gượng giữ sự thăng bằng. Nếu làm đứa lạc hậu, tôi đã siết ôm lấy Sầu Đông? Ôm giữ tựa một cái phao luôn bị sóng nhồi giữa vùng biển động. Có ngờ được không, tôi vừa ăn hết một gói xôi bọc lá chuối giá năm hào? Tôi là phú ông tìm chẳng thấy thằng Bờm với quạt mo. Phải mà được làm phú ông với ba bò chín trâu, tôi biết dâng hiến những gì cho Sầu Đông khi nhớ về nắm xôi ngày nọ? Sầu Đông đã đoạn lìa với lối đi từng chọn, buông bút. Mình biết vẽ gì khi giờ này chỉ rặt một thứ tranh cổ động, tuyên truyền và đầy lọc lừa. Phi nghệ thuật, mình còn vẽ thì đồng nghĩa với thoả hiệp những thứ xấu xa. Chị ấy nói, mình đã tập tành đóng vai một con buôn lê la mấy năm nay. Nhưng cái phỉnh gạt của đứa chuyên mua đi bán lại e dễ thứ tha hơn việc vẽ vời đen thành trắng. Từ hoạ sĩ biến thành con buôn, vách ngăn chỉ mỏng tựa một khung lụa? Đâu có gì kiên cố? Ngay một guồng máy cũng bị sụp đổ!  Chị xuống ở một ga xép. Tôi nhảy theo. Nhảy không toan tính. Sầu Đông bối rối, chừng hoảng hốt. Làm chi rứa? Đi mô đó? Tôi đeo ba lô lên, tôi muốn kiếm một quán nước, mời chị vào để kể nhau nghe sự nổi trôi của từng cá nhân. Mình đang buôn hàng quốc cấm, không sợ bị liên luỵ à? Không. Tôi nói. Tôi muốn có một ràng buộc dài lâu cùng chị, kể cả cùng ngồi bên nhau sau chấn song. Giờ đây thì tôi đã vững tay, tôi có thể vẽ ra giấy khuôn mặt nếu chị ngồi yên. Để làm gì? Để khiến người ta ghen tuông à? Tôi phát hiện là bàn tay trái của Sầu Đông có chiếc nhẫn vàng tròng vào ngón. Đó là thứ chứng minh phiền hà về điều chị vừa thổ lộ? Phải tách ra, họ bảo vậy, tới chiều anh ấy mới đến, đi bằng xe đò. Bạn có quen ai ở đây không? Tôi nhìn quanh, trống trải. Trong gió hiếm, nó xô qua chút vị mặn thuỷ chung của trùng khơi biển rộng. Không nghe tiếng sóng, nhưng hiểu được một bờ bãi đầy lưu lượng muối xát nằm đâu đó, không xa.  Rất tiếc là chúng ta gặp nhau không đúng thời điểm cũng như nơi chốn. Mình luôn thương bạn, tin vào tình bạn, nên mình phải thú nhận, mình sẽ đánh liều vượt biển đêm nay. Mình sẽ hôn bạn, thế một trao gửi yêu thương lần cuối. Hãy nguyện cầu cho mình được bình an. Tàu hoả đã rời ga xép, hành khách đã tản mác tứ phương. Ngoài kia là hai đường sắt luôn song song và Sầu Đông vừa cho tôi nếm được vị mặn có trên môi nồng. Chị cởi chiếc nhẫn vàng đeo vào tay tôi. Hãy bán nó nếu bạn túng quẫn, bằng không thì…  Tôi chôn chân trên nền xi măng nham nhở găm nhiều vết lở. Tôi như một đầu tàu vô dụng, một khối sắt đen đúa vô tri đơn thân giữa ga lạnh. Sầu Đông bỏ chạy như ảo ảnh, như một điều không thực vừa ghé qua. Như thế, đời sống đã lấy đi hạnh phúc mong manh sau cùng của tôi. Và kỳ lạ thay, bạn nhìn kho báu của mình dật dờ trôi xa để thầm mong thứ vật bất ly thân ấy sẽ sớm gặp một bến đậu an lành, ngoài tầm tay với. Tôi ngó quanh, thực sự chẳng biết đang toan tính gì? Đang chờ đợi điều chi? Bóng chiều theo mây vừa trôi qua đỉnh núi, vẽ lên bầu trời những vệt màu bẩn, nát tan. 
Hồ Đình Nghiêm

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 3 Jan 2024

Bài 27

Phần 26

Cái Tết đầu tiên trong tù đã qua đi và dần dần xa mãi. Những lời chửi bới Phạm Văn Dự, một trung úy đại đội trưởng Địa Phương Quân của vùng 4, đã cho anh em ăn một bữa cơm nếp sống nhăn sống nhở vào trưa mùng 1 Tết cũng đã phai dần trong trí nhớ mọi người. Tiếng gào la suốt ngày đêm của Tỷ và Non, những tiếng thét rùng rợn phát ra đêm đêm từ những dãy connex kê dọc con lộ trước mặt L4T1, L4T2 dần dà cũng không còn gây nổi xúc động trong lòng mọi người nữa. 
Bên ngoài xã hội cuộc bầu cử 24 tháng 5 năm 1976 cũng hết dư âm. Những cảnh gù lưng học tập thảo luận về cuộc bầu cử thống nhất đất nước trên mọi mặt ấy cũng chẳng còn được ai nhắc nhở tới. Còn bên trong trại tù, Xuân qua rồi Hạ đến, mùa khô rồi lại mùa mưa, thêm được một hai lần nhà gửi quà vào…; lũ tù cải tạo hầu như đã mất hết những hy vọng hão huyền là học tập tốt, lao động tốt, cải tạo tốt sẽ được Cách mạng tha về. Vả lại biết thế nào là tốt? là đạt yêu cầu? Gandhi nói cuộc đời luôn luôn thỏa mãn đủ cho nhu cầu con người, nhưng sẽ không bao giờ thỏa mãn đủ cho lòng tham của con người… Lòng tham ấy là lòng tham vật chất, có nghĩa là cụ thể mà còn khó đến thế; huống chi trong trường hợp này, lòng tham của cộng sản lại đòi hỏi tới những thứ trừu tượng như cái tốt, cái tiến bộ nơi… đối phương của chúng! 
Đã không biết bao nhiêu người cứng họng trước câu hỏi bất thần và vô cùng đểu cáng của tên thủ phó Môn. Hắn hay chận tù lại giữa đường, hỏi khơi khơi. 
– Này anh kia! Anh cho tôi biết anh tiến bộ được bao nhiêu phần trăm rồi? 
Dĩ nhiên chẳng ai trả lời được dù đó là một câu hỏi giản dị. Thường sau khi hỏi câu hỏi ấy, tên Môn thừa biết bọn tù sẽ ú ớ như nhau. Thế là hắn lại có dịp lên lớp một lô tiêu chuẩn trong xã hội mới cho những ai muốn tự đánh giá mình đã tiến bộ trong lao động đến mức nào. Nào là đã dám thọc hai tay vào đống cứt chưa? Đã hết nhớ nhà chưa? Đã thật sự ý thức được việc đi học tập cải tạo là nghĩa vụ chưa? Đã nhận thức được hoàn toàn tội lỗi trong quá khứ của mình đối với Đảng, với Tổ quốc và với nhân dân chưa? Đã có can đảm đấu tranh sai trái, tố giác những hành động phản Cách mạng còn tồn tại trong tập thể cải tạo viên chưa? Đã thỏa hiệp được với tư tưởng mình vì mọi người, mọi người vì mình chưa? 
Những tiêu chuẩn ấy thực sự cũng có một số đạt được, đặc biệt tiêu chuẩn đấu tranh sai trái, mạnh dạn tố giác… 
Một ngày đẹp trời tháng Sáu, tên Môn thủ phó trại sau khi đi phép một tháng ngoài Bắc về, hắn cho tập họp cả trại lại sinh hoạt ngoài trời một buổi. Trong buổi sinh hoạt ấy hắn tuyên bố. 
– Tám năm tôi đi C 1 chiến đấu, về lại thủ đô lần này thấy khác hẳn. Cái gì cũng to, cũng rộng, cũng đẹp hơn. Thật đúng như lời Bác dạy, cả thủ đô đều “đẹp như công viên, sạch như bệnh viện”. 
Câu chuyện lan man một hồi, từ việc “thủ đô đẹp như công viên, sạch như bệnh viện” hóa thành “… thú thật thủ đô ta không giàu có bằng miền Nam. Tôi cũng đã có dịp ghé thăm căn cứ Long Bình tỉnh Biên Hòa. Cũng ghé thăm cả Đà Lạt nữa. Tôi đồng ý cái kho Long Bình của ngụy lớn thật. Nội quân phục của ngụy lấy đem phát cho quân đội ta dùng mười năm nữa chưa hết. Đà Lạt là một thành phố nhỏ mà cũng có đến bốn năm hệ thống điện toán IBM. Trong khi thủ đô ta hình như chỉ có một hệ thống do các đồng chí Liên Sô bố trí…

 

Chung quanh bọn tù đều ngẩn ngơ vì lời nói mỗi lúc mỗi thêm “phản động” của tên Môn. Riêng Môn, với tinh thần đi xa về nói phét cứ thao thao bất tuyệt đủ chuyện trên trời dưới đất. 
Kết thúc những chuyện cà kê, hắn quay sang chuyện gia đình hắn. Người ta đi phép thì vui, với giọng buồn buồn hắn kể. Tôi đi phép không buồn cũng không vui! Các anh biết không. Tôi đi phép một tháng. Số ngày đi đường vừa đi vừa về đã hết nửa tháng. Nửa tháng ở nhà chỉ để đi thăm hàng xóm láng giềng, trồng thêm cho mẹ già được mấy gốc mướp, dăm luống sắn khoai và đêm xuống thì… đi đái đi ngủ! 
Bọn tù cười rần rần. Tên thủ phó Môn cũng phấn khởi tí đỉnh cho cái khôi hài có kết quả của chính mình. Hắn nói luôn. Chứ không đi đái đi ngủ thì làm gì bây giờ? Nửa tháng trời đi phép chẳng được gặp mặt vợ ngày nào! Khổ quá, bà ấy lại đi công tác xa đúng dịp tôi về phép. Hắn ngao ngán tắc lưỡi. Cũng tốt thôi! Coi như thế là vợ chồng tôi chưa có dịp gặp mặt nhau suốt chín năm qua. chẳng biết bao giờ tôi lại mới được đi phép nữa! 
Vài ngày sau đó cả trại nhốn nháo vì tin đồn thủ phó Môn bị hạ tầng công tác. Cái lon trung úy quân đội nhân dân anh hùng của hắn hình như cũng bay luôn. Một số anh em đi lao động trên bộ chỉ huy trung đoàn đã thấy hắn làm anh nuôi 2, cũng vã mồ hôi đứng xới những chảo cơm nóng hổi như ai… Trước ngày Môn hoàn toàn rời khỏi chức vụ trại phó trại L4T3, hắn đã lồng lộn đi xuống các khối để âm thầm truy lùng một cái gì không ai rõ. Chỉ thấy nét mặt hắn đỏ gay như một con gà lôi, miệng có tí rượu và gặp ai cũng lẩm bẩm: Đồ phản phúc! Đồ phản phúc! 3
Một tuần lễ kế nữa thì câu chuyện bị hạ tầng công tác của tên Môn đã được sáng tỏ. Lệnh cho một ngày nghỉ lao động được ban ra. Tù cải tạo trại L4T3 được dồn lên hội trường để nghe chính ủy trung đoàn xuống nói chuyện. Rồi thì cả trại tập họp trên hội trường như những lần trước đó vào lúc 8 giờ sáng. Mãi 8 rưỡi tên chính ủy mới xuống tới. Chính ủy trung đoàn có khác! Hắn ăn mặc quân phục rất chỉnh tề. Cái quân hàm trung tá đỏ rực rỡ trên cổ áo trận màu cứt ngựa. Con người hắn trông cũng có khác với những cán bộ cấp thấp. Dù trông còn rất trẻ nhưng hắn bệ vệ hơi sớm, vừa béo lại vừa lùn, nét mặt bóng bẩy với dáng đi nhanh nhẹn chứng tỏ một kẻ rất no cơm ấm cật. Lúc hắn được hai tên vệ binh hộ tống bước vào gần tới cửa hội trường, tên thủ trưởng và tên chính trị viên Thảo của trại từ trong hội trường bương bả chạy ra đón tiếp và chào kính rất long trọng. 
Trông cung cách khúm núm của thuộc cấp đối với thượng cấp người ta phải hoàn toàn xét lại câu khẩu hiệu của Cộng sản: Quân đội nhân dân giản dị, liêm khiết, chống quan liêu… 
Ít phút sau tên trung tá chính ủy trung đoàn đã đứng trước máy vi âm trên sân khấu. Hắn kiêu hãnh đưa đẩy vài câu chuyện về đời sống tập thể, về quyền lợi của cải tạo viên, về “tình nghĩa” giữa cán bộ khung và cải tạo viên… Ba hoa một lúc hắn mới đi vào đề tài chính. – Gần đây bộ chỉ huy trung đoàn có ghi nhận được một hiện tượng khá đặc biệt, do đó, hôm nay tôi xuống nói chuyện với các anh em cải tạo trại ta về hiện tượng đó. Thứ nhất để giúp anh em quán triệt vấn đề, củng cố niềm tin hơn nữa, tuyệt đối hơn nữa vào đường lối khoan hồng cải tạo trước sau như một của Cách mạng. Thứ hai để nhắc nhở anh em rằng xã hội ta là xã hội công bằng nhất, thưởng phạt phân minh nhất và dứt khoát công ai làm nấy hưởng, tội ai làm nấy chịu. 

Tên chính ủy nói tới đây bỗng đổi giọng, hỏi. Trại ta ai cầm càn nhỉ? 

Tên Thảo vội nhảy ra gọi lớn xuống dưới. 

– Anh Hóa, anh Hóa đâu? 

Bên dưới một người đứng lên. 

– Anh Hóa cầm càn đấy hả? Anh lên đây, lên đây bắt nhịp cho anh em hát một bài coi nào. 

Hóa lầm lũi tiến lên sân khấu. Anh đứng ở một góc sân khấu nhìn xuống mọi người và đề nghị. 

– Hôm nay anh em cùng hát bài Cách mạng Mùa Thu. Các anh thuộc hết cả chứ? 

Hỏi xong không đợi trả lời, Hóa vung tay lên và miệng hát bắt nhịp: Một mùa Thu hai một… 

Bên dưới đồng loạt cất tiếng hát… Một mùa Thu năm xưa Cách mạng tiến ra, đất Việt bừng nguồn sống, thanh niên tung gông phá xiềng… 
Khi bài hát chấm dứt, ngay cả tên chính ủy cũng vỗ tay thật nồng nhiệt. Hắn nói. 
– Bài này hay đấy nhỉ! Các anh tự biên tự diễn đấy hả? 
Nhiều người bên dưới ngạc nhiên. Đây là một hành khúc nổi tiếng của Phạm Duy soạn hồi kháng chiến, tại sao tên chính ủy trung đoàn không hề biết? Nhưng nếu quan sát kỹ một tí vào nguyên tắc dùng cho mặt trận tuyên truyền của Cộng sản, người ta sẽ không còn phải ngạc nhiên. 
Trên mặt trận văn hóa (và đối với Cộng sản nó đồng nghĩa với mặt trận tuyên truyền), Cộng sản khác Quốc gia (ít nhất là quốc gia Việt Nam) ở chỗ chúng vô cùng cẩn trọng trong việc xử dụng tác giả và tác phẩm. Trong xã hội Cộng sản dứt khoát không thể tìm ra được hạng văn nghệ sỹ chân trong chân ngoài. Cái kiểu đứng núi này trông núi nọ, hoặc xanh vỏ đỏ lòng với chúng, hoặc viết lách lập lờ đánh lận con đen như một số thằng văn thi nhạc sỹ ở miền Nam trước kia ắt không còn chỗ đội nón tức thì. Cũng nằm trong cái chiều hướng cực kỳ cẩn trọng ấy, trên hệ thống phát thanh của Cộng sản, sau 30 tháng Tư, người miền Nam lắng nghe mãi để tìm thấy những cái tên quen thuộc như Văn Cao (trừ bài quốc ca nhưng đã có tin đồn sẽ thay đổi nay mai), Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Doãn Mẫn… nhưng hầu như rất hiếm hoi được nghe thấy nhạc của những nhạc sỹ Cách mạng gốc trí thức tiểu tư sản này; thay vào đó toàn là những cái tên lạ hoắc như Xuân Hồng, Huy Du… Không phải những lớp nhạc sỹ đàn anh kia không cúc cung tận tụy phục vụ Đảng, nhưng vì với đường lối vô sản chuyên chính của Cộng sản, những người gọi là cũ, có tí dây mơ rễ má với… thuốc phiện, với cô đầu, tim óc từng trải qua một thời văn hóa Phú Lang Sa phản động, thì giả như có quá cần, chúng cũng chỉ xử dụng tí đỉnh trong buổi giao thời. Tới lúc chúng đã đào tạo được một thế hệ mà chúng gọi là thế hệ trí thức xã hội chủ nghĩa, thì lớp cũ coi như xong, coi như một mớ rác và sẽ bị quăng vào cái thùng rác của lịch sử. Nếu như vì một lý do ngoại lệ nào đó chưa thể quăng hết vào thùng rác lịch sử được, những văn nghệ sỹ lớp cũ cũng chỉ được “đóng góp đền ơn Cách mạng” một cách vô cùng khiêm tốn, và việc các tác phẩm của họ được nhà nước phổ biến rộng rãi tuyệt nhiên không bao giờ xảy ra. 
Đó là với những người cũ vì lý do này lý do nọ ở lại miền Bắc để phục vụ chế độ Cộng sản, nói chi một người như Phạm Duy, một thiên tài của đất nước nhưng trên thực tế nền văn nghệ Cộng sản đã khai tử ông từ hai chục năm qua, kể từ khi chúng gắn cho ông bản án “phản bội kháng chiến!”. 
Trên sân khấu, tên chính ủy trung đoàn cất tiếng hỏi nhưng thực ra hắn cũng chẳng quá quan tâm đến bài hát. Khen ngợi vài câu lấy lệ, hắn chuyển sang mục chính. Hắn nói. 

– Hôm nay, mục tiêu của buổi lên lớp là vấn đề tin đồn về đồng chí Môn, người từng là phó thủ trưởng của trại ta. 
Trước hết, tôi khẳng định với các anh đồng chí Môn không hề bị hạ tầng công tác như những tin đồn đại phản động của một số kẻ xấu trong tập thể cải tạo ở đây. Đồng chí Môn ra đi là do yêu cầu công tác của Cách mạng. Xưa các anh từng là quân sự cả, các anh thừa biết đời chiến binh có đứng yên một chỗ mãi bao giờ. Thế cho nên nói rằng đồng chí Môn vì tuyên bố này nọ, mất phương hướng, sai đường lối vân vân và vân vân mà bị hạ tầng công tác là hoàn toàn không bao giờ có. Trên có ghi nhận rằng đồng chí Môn cũng có một điểm yếu nhỏ, ấy là đã nói với các anh nhiều điều chưa nên nói, vì các anh trình độ gác ngộ Cách mạng còn thấp, chưa hiểu chủ nghĩa Cộng sản bao nhiêu, nghe những điều ấy có thể dễ dàng chao đảo, dễ dàng nảy sinh nhiều ý nghĩ ngang trái về chính nghĩa của Cách mạng… Trên cũng công nhận những lời nói của đồng chí Môn trong một dịp sinh hoạt gần đây có gây vài hiểu lầm không tốt về Cách mạng cho một số cải tạo viên còn non trẻ về mặt tri thức xã hội chủ nghĩa. 
Cà kê dê ngỗng một hồi, tên chính ủy nói xa xôi rằng thì là việc đấu tranh sai trái, báo cáo những kẻ xấu trong thời gian học tập cải tạo là một nghĩa vụ và một minh chứng cho sự tiến bộ của cải tạo viên, tuy nhiên hắn yêu cầu tự hậu, đừng một cải tạo viên nào để cho sự tiến bộ của mình vượt xa hơn hàng rào trại… 
Rồi thì buổi lên lớp để nghe đồng chí chính ủy trung đoàn…đính chính vụ đồng chí Môn bị hạ tầng công tác vì tội… đi xa về nói phét cũng chấm dứt. Vĩnh về phòng nằm nghỉ và nghĩ ngợi vẩn vơ. Thấm thoát mà đã một năm xa nhà đi tù Cộng sản. Năm lần làm bản tự khai lý lịch. Ba lần chuyển trại. Bốn lần khám đồ. Hai lần suýt chết vì bệnh và ba lần nhận quà gia đình qua đường bưu điện. Thằng chết vì bệnh hoặc vì tai nạn trong lúc đi lao động khổ sai không đếm hết. Thằng cưa chân cưa tay vì bị mìn bị lựu đạn không nhớ xuể. Những vụ tự tử, vượt rào bị bắn hạ, những vụ chửi bới xỏ xiên Bác và Đảng bị bọn ăng ten báo cáo và bị đem nhốt bỏ đói bỏ khát trong connex… thì nhiều quá. Với khối óc tương đối chịu nhớ như của Vĩnh mà rồi tên tuổi họ cũng dần dần phai nhạt, y hệt như anh và bao nhiêu chiến hữu khác đang bị thế giới Tự Do quên lãng dần! 

Hiện tại điều nổi bật nhất là tất cả đang phải đối mặt với những quần thảo của kẻ thù, khi sự tự ti mặc cảm của chúng như những vết thương tới thời kỳ căng mủ. Hậu quả của một anh chàng tiến bộ vượt bực nào đó, đã lên tâu trên bộ chỉ huy trung đoàn và hạ gục được một cán bộ loại trung kiên của Đảng, nhất định sẽ gây nhiều tác hại mới trong nội tình trại L4T3. Ấy là chưa kể đến mối thù của tên thủ trưởng từ dạo hắn bị phanh phui trước “dư luận” một trang nhật ký rất phản động của hắn. 
Gần một năm qua, việc lao động chân tay thực sự đã trở thành quen nếp. Lắm anh đã hiên ngang dùng tay không hốt cứt, cũng như đã có lắm anh đi ngang chuồng lợn trung đoàn, mắt trước mắt sau hốt nhẹ một miếng cháy trong máng ăn của lợn dấu vào trong áo. Đang lao động ngoài đồng ngoài ruộng, xảy thấy một con thỏ dại dột rong chơi không đúng chỗ, hàng trăm tên tù cải tạo như những xác chết bừng sống dậy, kẻ tay cuốc người tay xẻng hò hét vang trời và cùng phóng chạy như những thằng điên để dí bắt một con thỏ to không quá nắm tay. Mặc cho lũ vệ binh nổ súng ầm ầm, mặc cho lời chửi rủa của lũ quản giáo, thịt thỏ vẫn trên hết! Đập, chộp, chém, chụp… thôi thì đủ mọi thứ động tác thô bạo được đem ra xử dụng miễn sao xác con thỏ không may kia lọt được vào tay mình. Đã không thiếu cảnh nhiều anh chẳng được ăn thịt thỏ, lại còn bị xẻng cuốc của những anh em khác xơi mất của mình một mảng da đầu hoặc một miếng thịt vai… 
Đói! Đói lắm! Thèm mỡ thèm đường ghê gớm lắm. Thiếu mỡ thiếu đường nên vóc dáng bọn tù ngày mỗi teo lại. Mắt thụt vào, hai gò má nhô ra, hàm răng như có triển vọng nở lớn hơn. Kinh khủng nhất là hai bàn chân. Chẳng những “gót son nay đã lấm bùn” mà chân người nào người nấy đều sần sùi, nứt nẻ y chang bàn chân của những người làm ruộng Việt Nam chuyên nghiệp. Lắm lúc buồn ngồi nhìn bàn chân, Vĩnh thấy xót xa lạ thường. Biết bao giờ còn được cái cảnh ngồi cởi đôi giày saut ra, ngả người trên ghế bành, nhìn thằng con 4 tuổi sớm biết nịnh bố lăng xăng chạy đến tháo bí tất cho bố… Bàn chân trắng xanh vì bị bó trong giày suốt ngày. Đưa tay xuống bẻ bão ngón chân nghe rốp rốp. Một mùi hôi hôi thoang thoảng bốc lên – cái mùi mà bà vợ nào cũng la làng nhưng hầu như chẳng có bà nào lại không muốn được độc quyền mà… ngửi! Bàn chân như thế bây giờ hết rồi, hết vĩnh viễn. Cuộc đổi đời thê thảm nhất lịch sử Việt Nam này, Vĩnh chua chát nghĩ, đã làm thay đổi tất cả kể cả cái bàn chân con người. Một ý nghĩ khác chợt len vào ý nghĩ ngậm ngùi trên khiến Vĩnh thấy thống khoái hơn: Tất cả công cuộc cải tạo gọi là vĩ đại của chủ nghĩa Cộng sản, rốt cuộc chỉ có khả năng cải tạo nổi một cái gót chân ta! 

Cơm trưa xong, mọi người lại sửa soạn đi lao động. Lúc này bọn cai tù đã khởi sự phát huy cao độ việc xử dụng tù vào những công tác phục dịch cho chúng. Phong thái của những chủ nhân ông đang có trong tay một bọn nô lệ đã hiện hình rõ rệt. Ngoài những công tác lao động có chấm công để báo cáo lên trên, chúng còn xử dụng tù vào những công tác hầu hạ chúng nữa. Chả hiểu đã có anh nào nửa đêm được gọi lên văn phòng đấm lưng cho các quan quản giáo hay chưa; chứ việc kín nước, rửa bát, lau chùi bàn ghế, dọn dẹp bếp núc, khuân gạo vào kho, thái rau nấu cám cho lợn, hốt cứt trong cầu tiêu… nói tóm tất cả những công tác của riêng hậu cần trại giờ tù ngụy cáng đáng hết. Mất dạy nhất là hai khâu: Kín nước cho chúng tắm và rửa bát cho chúng ăn cơm! 
Tổ A.3 khốn khổ về vụ kín nước. Thực ra công việc này không nặng. Mười người, mỗi ngày chỉ kéo nước từ giếng lên đổ đầy chừng 30 cái phuy đặt đàng sau bếp hậu cần của ban chỉ huy trại là coi như đạt chỉ tiêu công tác; nhưng nhục thì nhục quá! Mình lầm lũi kéo nước, gánh nước đổ vào phuy dưới trời mưa nắng, trong khi ấy chúng đứng xối nước ào ào tắm với nhau, luôn miệng chửi bới “ngụy” là bọn khinh lao động chân tay, bọn quan liêu, bóc lột và lâu lâu lại quay ra xài xể: Này thằng kia! Lại giếng đàng kia múc đi. Giếng này cạn rồi nước đục quá! Hoặc: Này thằng kia! Đổ nước rồi xách thùng ra múc tiếp. Mày nhúng tay vào phuy nước làm gì vậy? Tính bỏ mắt mèo hại bố chúng mày đấy phỏng?… 
Trưa nay tổ A.3 của Vĩnh vẫn tiếp tục công tác kín nước cho các quan quản giáo, các quan vệ binh có nước tắm và các quan anh nuôi có nước làm cơm. 
Đặng Xuân Bính vừa múc vừa nói với Vĩnh. 
– Không biết bao giờ nó bắt mình nấu cơm cho nó ăn nhỉ? 
-….. 
– ĐM. nó, tao mà được rớ vào chảo cơm của tụi nó… 
Bính không nói hết câu. Anh nhìn trời nhìn đất. Vĩnh biết hắn uất lắm. Anh cười cho bạn vui. 

– Thì làm đếch gì được nó!? 

Bính ném luôn cái gầu xuống giếng. Vĩnh giật mình hỏi hắn. Sao vậy? Sao lại ném luôn gầu xuống giếng vậy? 

Bính hậm hực. 

– Mẹ bố nó, tao không đánh thuốc độc giết được hết cả ổ nhà nó thì tao sẽ xuống giếng… 

Vĩnh không tránh khỏi sự kinh ngạc. 

– Làm gì? Tính tự tử chăng? 

Bính cáu. 
– Làm gì à? Tao sẽ có cớ xuống giếng. Tao sẽ đái dưới đó, ỉa dưới đó, tao sẽ kỳ dái kỳ nách dưới đó, tao sẽ gỡ ghẻ dưới đó rồi múc lên cho chúng nó ăn, chúng nó uống, chúng nó tắm… 
Vĩnh cố nén cười trước cái ý nghĩ trả thù thật trẻ con của bạn. Anh nhớ hình như anh cũng đã có lần có những ý nghĩ tương tự. Một đêm kia Vĩnh nằm mơ thấy một bà tiên hiện đến. Bà nhìn Vĩnh và nói. 
– Này, “ngụy” con đáng thương kia! Ta thấy con hận thù Cộng sản từ trong bụng mẹ hận thù ra. Ta cũng biết con đã phải bỏ quê cha đất tổ chạy vào Nam, hy vọng một ngày nào trở lại đất Bắc mà vồ chúng nó. Không ngờ con lại bị chúng nó theo vào tới đây mà vồ đem nhốt vào rọ. Ta thương con, sẽ cho con một điều mơ ước nhưng với điều kiện! 
Vĩnh thấy e ngại vội hỏi. 

– Thưa tiên cô… 

– Không, ta là tiên bà. Ta cũng đã có tí… cầm chơi rồi! 

– Dạ vâng, thưa tiên bà, thế tiên bà cho con điều kiện gì? Có nguy hiểm lắm không? 

Tiên bà ngẫm nghĩ. 

– Nguy hiểm thì cũng chả có gì gọi là nguy hiểm, duy có điều khi lời ước của con vừa bắt đầu được thực hiện thì kể từ giây phút ấy, con sẽ phải vĩnh viễn biến thành một… Lâm Bình Chi! 
Nghe tiên phán Vĩnh giãy nảy. 
– Ấy ấy! Sao tiên bà lại nỡ chơi ác với con đến thế? Ngặt nghèo với con đến thế!? Nói đoạn Vĩnh đành xuống nước năn nỉ. Chẳng hay tiên bà có thể đặt cho con một điều kiện nào khác được không? Kể cả điều kiện được chết tức thì sau khi con thực hiện xong lời ước. 

Tiên bà nghiêm khắc lắc đầu. 
– Không! Điều kiện của ta cũng rất… trước sau như một. Ngươi có chịu thì cho ta biết, bằng không ta biến đây! 
Mẹ bố cái mụ tiên này, Vĩnh rủa thầm trong bụng. Mụ là tiên mà còn biết bắt tí chồng… cầm chơi cho đỡ buồn. Mình là đồ phàm phu tục tử, lại gốc văn nghệ tiểu tư sản chính hiệu, mụ ấy lại buộc mình phải chịu một điều kiện… mất dế thì sống làm chó gì nữa! Tuy nhiên sợ mất dịp may bằng vàng là được gặp tiên, Vĩnh đành xuống giọng sau khi đã tính toán thật kỹ, dù sự tính toán ấy chỉ có hy vọng năm mươi phần trăm thắng năm mươi phần trăm thua. 
– Thưa tiên bà… 
– Sao? 
– Con xin chấp nhận điều kiện của tiên bà nhưng con cũng khấu đầu xin tiên bà cũng chịu cho con một điều kiện để hai bên không ai bị thiệt thòi.
Tiên bà bỗng cười thật hiền hậu. 
– Gớm, rõ mồm mép nhà văn nhà báo! Người ta đã thương đã hiện đến ban cho một lời ước, không hoan hỉ mà nhận lại còn đặt điều kiện ngược… Nhưng thôi cũng được, để phúc cho các tiên cô tiên cậu, với lại cũng nể tình con… bụ bẫm, đẹp trai, ta chấp nhận đấy. Điều kiện gì nói đi. 
Vĩnh mừng hú. Bà tiên chợt nghe thấy vài tiếng động chung quanh. Bà liếc ra ngoài chấn song thật nhanh rồi quay lại giục Vĩnh: Nói quàng quàng đi! Hình như có mấy thằng vệ binh gác đêm sắp đi qua đấy! Nghe tiên báo động, Vĩnh vội nói. 
– Trước hết con xin nói lời ước của con. Con xin được phép biến hình bay ra Hà Nội. 
– Chỉ Hà Nội thôi đấy nhé! 
– Thưa vâng, chỉ Hà Nội thôi. Con có thể xâm nhập bất cứ nhà ai con muốn. Con có khả năng bóp cổ chết hết những đứa con muốn bóp. Vì một lý do nào đó, con chưa bóp cổ được những kẻ con muốn bóp, điều kiện của tiên bà coi như… xù. Con được an toàn trở về đây và cái ấy vẫn hiên ngang lẫm liệt như thường. Chẳng hay tiên bà thấy điều kiện của con thế nào? 
Trán tiên bà hơi nhăn lại ra dáng suy nghĩ khá lung. Một lúc tiên bà nói. 
– Thôi cũng được. Trên nguyên tắc thì ta thuận cho như thế. Nhưng ta cũng muốn biết con bóp cổ những thằng nào? Và ngoài vấn đề bóp cổ, nhớ lời ta, rằng thì là trong suốt thời gian vạn lý tầm thù, con sẽ không có một khả năng tâm và sinh lý nào để mà… Tiên hơi ngẫm nghĩ như tìm lời. Để mà chẳng hạn như ăn uống, nghỉ ngơi, chơi bời, nhậu nhẹt… đồng ý? 

– Thưa vâng, con xin lãnh ý tiên bà hoàn toàn. Con chỉ muốn biến hình ra Bắc bóp cổ chết năm thằng thôi. Thằng Duẩn, thằng Chinh, thằng Đồng, thằng Giáp và thằng Thọ. 

– Thọ có đến mấy Thọ lặng. Phải nói rõ Thọ nào. 

– Thưa Lê Đức Thọ. 

Tiên ngẫm nghĩ tí chút rồi tắc lưỡi gật đầu. 

– Thôi được, ta đồng ý! 
Tiên vừa dứt lời thì Vĩnh đã thấy mình đứng giữa Ba Đình. Anh lần mò tìm đến tư dinh Lê Duẩn. Hắn đã sang Nga ăn mày. Thật phí công! Như không để mất thì giờ, Vĩnh lồng lên đi tìm nhà mấy thằng còn lại. Ba nhà kế tiếp Vĩnh được biết thằng thì đi gãi gáy bên Tây, thằng thì đi quỳ lạy bên Phi, lại có cả thằng sang du hí cuối tuần bên Hồng Kông… Nói chung bốn thằng ấy vẫn còn may, chưa chết thê thảm vì tay Vĩnh. Nhà cuối cùng Vĩnh đến là nhà thằng Phạm Văn Đồng. Mẹ kiếp, thủ tướng có khác! Tư thất nó rộng như gồm đủ tam cung lục viện. Vĩnh đi tham quan một vòng. Lũ nữ tì mặt mũi coi cũng đặng, duy chỉ vì sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, bắp cẳng bắp tay và hông đứa nào đứa đó nẩy nở khủng khiếp quá, chỉ nhìn thôi cũng muốn nhợn thịt mỡ đến ba niên!… 
Một lúc sau đó Vĩnh có mặt ở một căn phòng thơm phức. Đúng là phòng phụ nữ, hơn thế, phải là phòng của gái tơ. Vĩnh đảo mắt nhìn quanh. Anh phát hiện ra một thiếu nữ đang nằm phơi phới trên một chiếc giường Hồng Kông êm ả và ngủ say như chết. Thì ra đó là con gái út của Phạm Văn Đồng. Thật là béo bở! Rồi chuyện gì sẽ xẩy ra đêm ấy? Một mối tình bất hủ của Trọng Thủy Mỵ Châu tái diễn! Hay vì quá hận thù, Vĩnh vác… cà nông bắn tan xác đứa con gái của kẻ đại thù? 
Thưa không có chuyện gì xảy ra cả! 
Điều kiện của bà ấy đã hiệu nghiệm: Ngươi sẽ không có một khả năng tâm và sinh lý nào… 
Vĩnh đứng yên lắng nghe thân thể mình không có gì… chuyển động. Rõ ràng anh đang là một Lâm Bình Chi trước con gái của kẻ đại thù… 
– Hai thằng kia! Chúng mày bàn tán nhỏ to với ý đồ gì đấy? Tính bỏ thuốc độc xuống giếng hại Cách mạng đấy à? 
Một tiếng thét rùng rợn cất lên sau lưng làm Vĩnh choàng tỉnh. Bính lầm lì quay lại. 
– Báo cáo anh tôi đánh rơi gầu! 
Thằng vệ binh vừa xuất hiện mắng mỏ hai người, nghe thấy câu báo cáo của Bính, nó chửi thề. 

– ĐM. rơi gầu thì xuống lấy lên, đợi bố trẻ chúng mày xuống lấy cho chúng mày nữa sao? Đừng có giở trò nơ vơ nờ vờ trốn tránh lao động, đánh bỏ mẹ đấy! 
Vĩnh chưa biết tính sao thì đã nghe một cái ầm. Để tránh cơn giận, Bính nhảy luôn xuống giếng. Cũng may giếng rộng, nước nhiều nên Bính không sao cả. Vĩnh ngó xuống tai còn nghe văng vẳng tiếng nói của tên vệ binh lúc nó bỏ đi: Mẹ bố chúng mày, tù mãn đời thôi các con ạ. Toàn đồ phản phúc! 
Vĩnh nhìn xuống giếng, hỏi lớn. 
– Sao ẩu vậy cha? 
Bên dưới không có tiếng trả lời. Bên trên nhìn xuống, Vĩnh thấy Bính đang dạng chân trên hai thành giếng trèo lên. Sợi dây gầu nó buộc vào cổ. Thốt nhiên Vĩnh nghe thấy tiếng nước chảy ồ ồ, âm thanh giống như một vòi nước nhỏ đang rót vào một thùng nước lớn. 
Vĩnh lại nhìn xuống. Rõ ràng Bính đang vạch cụ Hồ đái xuống giếng… 
Buổi chiều đi lao động về, tin Tỷ và Non được thả ra, đồng lúc những trại chung quanh cũng đều thả những người “tội nhẹ” ra khỏi các connex. Tin ấy chỉ một lúc sau đã thành sự thật vì ai cũng thấy Tỷ Non được anh em dìu về phòng như dìu hai xác chết xanh mướt. Tiếp theo hiện tượng thả người trong connex ra, những lời bàn Mao Tôn Cương lại bắt đầu nổi lên ầm ỉ. Nào là áp lực của Thế Giới Tự Do, đặc biệt của Mỹ đã hiệu nghiệm. Nào là Mỹ đã đồng ý viện trợ hơn 3 tỷ Mỹ Kim tái thiết cho Hà Nội, đổi lại Hà Nội phải thả hết tù chính trị, hoặc áp dụng quy chế tù binh cho các cải tạo viên hiện nay. Nhiều người đi xa hơn nữa với những cái tin như Mỹ đã đồng ý trao trả lại cho ngân khố Việt Nam 17 tấn vàng Nguyễn Văn Thiệu từng đem theo khi hắn đào ngũ và đào tẩu khỏi Việt Nam, hoặc mới tuần qua Hà Nội đã trao cho Mỹ hơn 100 sỹ quan QLVNCH từ cấp đại tá trở lên và những sỹ quan này hiện đã được định cư tại Mỹ có thư về gia đình đàng hoàng… Thôi thì đủ thứ tin đồn lại đồng loạt nổi lên mà không ai biết từ đâu và cũng không rõ vì sao. Dù cố dặn lòng bình tĩnh, Vĩnh và các bạn vẫn bị cuốn hút vào những tin đồn ấy không cách gì cưỡng lại.

——————————–

1          Đi C: Vào Nam.

2          Anh nuôi: người phụ trách nấu ăn cho một đơn vị sống tập thể.

3          Phản phúc: Phản phúc trình, có nghĩa báo cáo ngược, người dưới báo cáo hành động sai trái của người trên lên một thượng cấp cao hơn (theo nghĩa của Việt cộng dùng)











Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 3 Jan 2024

Bài 26

Phần 25 Đêm 29 ta văn nghệ. Sáng 30 trừ những tổ trực canh tác phải đi tưới rau một buổi sáng, còn tất cả được các quản giáo xí xái cho làm công tác vệ sinh tại trại. Tất cả những gì dành cho ba ngày Tết đã được sắp sẵn. Hậu cần các khối đã lãnh về thịt heo, thịt bò, khoai tây, cà rốt, bánh kẹo… đầy đủ cho khối. Sau khi khối trưởng hội ý với các tổ trưởng, và thống nhất với nhau chương trình đón giao thừa, tất cả các phần kẹo bánh được lệnh để cho bác sỹ Đỉnh, khối phó hậu cần giữ lại để cả khối có cái liên hoan chung lúc nửa đêm.
Phạm Văn Dự, đầu bếp chính khối 2 đang điều động những chuyên viên tình nguyện đảm trách bếp suốt ba ngày Tết xắt thịt, gọt khoai và làm tất cả mọi việc bếp núc để sửa soạn cho bữa ăn ngày mùng 1. 
Huỳnh Công Cẩn cũng đã tổ chức xong những cuộc đấu cờ, kéo tay, kéo dây với kết quả chung kết nội bộ. Cờ tướng về tay Nguyễn Văn Cấp tổ A.5. Kéo dây về tay tổ A.3, một bất ngờ khó tin vì tổ A.3 ngoài Đặng Xuân Bính có dáng vai u thịt bắp, kỳ dư toàn hạng ốm yếu ho hen như Vĩnh cả mà lại thắng chung kết trước tổ 9 là tổ toàn tay to con, có khối trưởng Trai trong đó nặng ít ra cũng phải 70 kgs. Gay go và hồi hộp nhất vẫn là giải kéo tay. Qua bao nhiêu gian truân, cuối cùng Nguyễn Thành Đính của tổ A.5 đã thắng Đặng Xuân Bính của tổ A.3. Trận kéo tay chung kết giữa hai hảo thủ này đã kéo dài gần 15 phút đồng hồ mới ngã ngũ… Chỉ có giải bóng chuyền là chưa đâu vào đâu vì khối 2 gặp một tí lộn xộn trong việc tổ chức, dù rằng khối có một tay đập lừng danh trong trại là anh chàng Hóa của tổ A.10. Một cái lạ thường hơn nữa là khối 2 có Nguyễn Đình Thuần nổi tiếng như một người khéo tay nhất trại L4T3, thế nhưng cái đầu lân do anh làm coi mòi lại xệ nhất so với những đầu lân của các khối khác. Phải nói rằng ban lân của khối 2 rất là… cà chua, hiện đang được giáo gian Trương Thanh Long cầm đầu tập dợt. 
Dù sao thì ở hầu hết các bộ môn, khối 2 đã tương đối sẵn sàng có vốn cho một cuộc thi đấu toàn trại để mừng Chúa Xuân ngày mai. 
Theo chương trình, cả trại phải tập trung trên hội trường trước giao thừa nửa tiếng để sửa soạn nghe Bác chúc Tết (!). Khi tất cả đã yên vị trên hội trường, một tên cán bộ từ ngoài bước lên sân khấu để sửa soạn máy vi âm. Khi máy đã điều chỉnh xong, hắn gọi Hóa lên sân khấu bắt nhịp cho mọi người hát một bài. Không hiểu vô tình hay cố ý, Hóa bắt nhịp bài Tiếng Gọi Thanh Niên, một bài hát của một tên Cộng sản đỏ au từ trong ra ngoài là Lưu Hữu Phước nhưng lại được các ông chính quyền quốc gia tiếp nối chọn làm quốc ca! Bài hát này, dù ngày nay trong nước chẳng còn ai công nhận nó là Quốc ca nữa, kể cả bạn và thù, nhưng trong cái giây phút trừ tịch lắng đọng nhất của tâm hồn, bài hát được tập thể hát lên như khơi dậy trong lòng người một nổi niềm vô hạn hận! Ác hơn, chẳng ai chịu hát theo lời gốc của bản nhạc. Như cái máy, bọn tù đều hát theo lời được chính quyền quốc gia sửa lại và dùng làm tiếng linh hồn cho cả miền Nam Tự Do! 
… Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng. Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống… 
Hát theo mọi người, lòng Vĩnh cũng dâng lên một niềm thương hận khó tả. Yêu ai yêu cả đường đi. Ghét ai ghét cả tông ti họ hàng! Bài hát ấy là của thằng Cộng sản đẻ ra, để cho sòng phẳng oán ân dứt khoát phải quăng nó vào thùng rác của lịch sử. Trời ơi! Miền Nam Tự Do có biết bao nhiêu nhạc sỹ tài hoa và có ý thức phân minh quốc cộng, những Phạm Duy, Hùng Lân, những Phạm Đình Chương, Cung Tiến, những Anh Việt Thu, Nguyễn Đức Quang… Tại sao các chính quyền quốc gia coi họ như những kẻ đứng bên ngoài cuộc? Tại sao lại đi quảng cáo không công cho một thằng nhạc sỹ Cộng sản, bằng cách cùng một lúc đem hai ca khúc của nó biến thành hai bài hát quan trong nhất cho một đất nước, ấy là bài Quốc ca và bài Chiêu Hồn Tử Sỹ? Vô ý thức, vô trách nhiệm và bất cố liêm sỷ như thế mà đứng vào hàng lãnh đạo quốc gia thì thua Cộng sản từ gốc thua ra rồi! 

Bài hát đã chấm dứt. Tên cán bộ nhìn đồng hồ tay. Vừa lúc ấy tụi cán bộ tiểu đoàn lũ lượt kéo nhau vào hội trường. Đêm nay là lần đầu tiên Vĩnh và các bạn mới thấy chúng ăn mặc sạch sẽ và tề chỉnh, đặc biệt có mang quân hàm đầy đủ. Đêm nay cũng là lần đầu tiên, nhờ đó, mọi người mới biết được cấp bậc thật của quản giáo khối mình. Tất cả đều mang cấp bậc hạ sỹ, trừ quản giáo khối 4 – kẻ mà chính trị viên Thảo đã xác nhận học chưa qua lớp 3 – mang cấp bậc chuẩn úy và quản giáo Cư của khối 2 mang cấp bậc trung sỹ. 
Lúc chúng đã ngồi yên nơi những hàng ghế kê trên sân khấu, tên thủ trưởng mới bước ra trước máy. Hắn bắt đầu. 
– Đêm nay trại quy các anh lên hội trường để trước thềm năm mới, biểu dương chung các anh đã không nhiều thì ít, có phấn đấu trong học tập lao động cải tạo năm qua. Thành quả học tập lao động của trại ta đã được báo cáo đầy đủ lên trên và có nhiều hy vọng trại ta sẽ là trại được đánh giá cao trong quá trình cải tạo. Mặc dù trong năm cũ, trại cũng có một số điểm yếu, phát xuất từ những tư tưởng tiêu cực của một thiểu số chậm tiến, chẳng hạn trường hợp tự tử bằng 16 viên Chloroquine của anh Đặng Đình Tùng ở khối 1, trường hợp trốn trại để vệ binh buộc lòng bắn hạ như của Lê Văn Truật ở khối 3, Nguyễn Xuân Dung ở khối 2, trường hợp đánh thuốc độc giết người để phi tang như hai tên Tỷ và Non ở khối 4, và rất nhiều trường hợp vi phạm nội quy linh tinh khác xảy ra đều khắp ở các khối… Những cá nhân ấy đã ghi những điểm đen bên cạnh những điểm son trong bản thành tích của cả trại. Năm mới sắp đến, ban chỉ huy trại rất mong tất cả các anh củng cố được niềm tin tuyệt đối hơn nữa (!?) vào chính sách khoan hồng nhân đạo của Cách mạng, để từ đó phấn đấu nhiều hơn, đạt nhiều thành tích hơn trong quá trình học tập cải tạo của năm cũ. Hãy nhớ đó cũng là điều kiện duy nhất để được Cách mạng xét thả như một số các anh vừa được xét thả ít ngày trước đây. Dĩ nhiên trại cũng ghi nhận các anh chưa được tạo nhiều điều kiện vật chất để việc học tập cải tạo được dễ dàng hơn, hồ hởi phấn khởi hơn. Nhưng các anh cũng biết đất nước ta mới giải phóng, khó khăn là tình trạng chung cho cả nước. Dù sao thì ta vẫn phải luôn nhớ rằng khó khăn chỉ là tạm thời, thuận lợi vẫn là cơ bản. Vả lại các anh cũng thấy đấy, thành quả vĩ đại năm qua trại ta đạt được nhờ vào cái gì? Hoàn toàn nhờ vào hai tay không và một ý chí quyết thắng hoàn cảnh khó khăn. Điều này đã một lần nữa chứng minh đúng câu thơ của đồng chí Tố Hữu: Bàn tay ta làm nên tất cả. Với sức người sỏi đá cũng thành cơm. Thế nhưng bên cạnh những thành quả đạt được, ta hãy khoan tự mãn. Bác đã dạy chữ khiêm tốn phải để hàng đầu. Đã vậy các anh còn phải luôn nhớ rằng các anh là những kẻ có tội với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Qua quan sát, trại nhận biết trong các anh có nhiều người văn hóa rất cao, nhiều khả năng khoa học kỹ thuật hơn chúng tôi, nhiều tài hơn chúng tôi; nhưng chắc chắn lòng yêu nước các anh không hơn chúng tôi, và sức phấn đấu rõ ràng các anh đã thua chúng tôi. Đất nước có tự do, có độc lập, có giàu mạnh được không, xét cho cùng chỉ cần nhất ở người dân hai yếu tố: Lòng yêu nước và sức phấn đấu để phục vụ đất nước! Cả hai các anh đều thiếu. Vậy, một lần nữa, trước thềm năm mới, nhân danh thủ trưởng trại, thay mặt ban chỉ huy trại, thay mặt ban quản giáo trại, chúng tôi chúc các anh khỏe. Khỏe để phấn đấu trong học tập trong lao động, sớm trở thành người công dân của một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, hoàn toàn hòa bình, hoàn toàn tự do, hoàn toàn hạnh phúc. 

Những tiếng vỗ tay cò mồi trên sân khấu đồng loạt nổi lên. Bên dưới tù cũng vỗ tay lộp độp phụ họa. Tay thủ trưởng trại nhìn đồng hồ rồi vội vã ra lệnh cho tên trực máy điều chỉnh radio. Một vài tiếng rè rè nổi lên qua hệ thống loa đã mắc sẵn trong hội trường từ đêm văn nghệ hôm trước. Tên thủ trưởng có vẻ vội vã giới thiệu với mọi người. 
– Bây giờ tất cả các anh chú ý. Đây là lần đầu tiên trong đời các anh được nghe bác Hồ và bác Tôn kính yêu chúc Tết đồng bào cả nước. Yêu cầu trước mắt là các anh ngồi nghiêm chỉnh, cấm hút thuốc, giữ yên lặng tuyệt đối để nghe máy trực tiếp truyền thanh lời chúc Tết của hai Bác kính yêu phát đi từ thủ đô Hà Nội. 
Có lẽ máy bắt hơi chậm, mọi người chỉ nghe được những nốt cuối của bài quốc thiều. Sau đó là giọng một đồng chí ca sỹ gái chua như cứt mèo hát 1 bài thơ Con Cóc của Hồ Chí Minh được một thằng nhạc sỹ loại liếm giường liếm chiếu phổ thành ca khúc. 
Năm qua thắng lợi vẻ vang, Năm nay tiền tuyến lại càng thắng to. Vì độc lập, vì tự do, Đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào… 
Bài hát nheo nhéo tới ba lần mới chấm dứt. Kế đó là giọng xướng ngôn lanh lảnh cũng của một đồng chí gái đài phát thanh Hà Nội: Sau đây xin mời các đồng chí và đồng bào cả nước nghe lời chúc Tết của bác Hồ kính yêu… 
Giọng Hồ Chí Minh vừa khô vừa yếu, được phát ra từ một cuộn băng có lẽ đã được dùng quá nhiều lần, đưa tới tai người nghe những lời chúc Tết với nội dung cũng chẳng khác gì mấy câu thơ trên. 
Kế Hồ Chí Minh tới lượt Tôn Đức Thắng chúc Tết. 
Giọng Tôn Đức Thắng cũng là giọng của một lão già sắp tịch. Lời chúc Tết của lão là một chứng minh rằng lão chỉ là một thứ bù nhìn thê thảm nhất trong những loại bù nhìn. Đời thủa nhà ai, đường đường mang danh là một chủ tịch nhà nước, câu đầu tiên mở màn cho lời chúc Tết đồng bào toàn quốc lại là: Thưa đồng chí bí thư thứ nhất Lê Duẫn kính yêu, thưa đồng chí chủ tịch ủy ban thường vụ quốc hội Trường Chinh kính yêu, thưa đồng chí thủ tướng chính phủ Phạm Văn Đồng kính yêu… Sau một lô những cái kính yêu như thế Tôn Đức Thắng mới chịu nhớ đến nhân dân – những chủ nhân hàm của đất nước! Lão đọc tiếp: Thưa đồng bào cả nước… 
Bên dưới không ai thèm lắng nghe. Tù dúi đầu vào nhau bàn đến những món ăn của ngày mai. Huỳnh Công Cẩn ngồi cạnh Vĩnh nhất định không đồng ý cơm nước ngày mai sẽ ngon miệng, sẽ đạt yêu cầu một khi anh em lại bầu thằng Dự ra làm trưởng bếp. Cẩn nói. 
– Thằng ăn chó cả lông ấy tôi biết nó quá rồi! Nó là thằng tổ sư nói dóc. Trước kia nó từng khoe tôi nó là tuyển thủ bóng chuyền của Quân đoàn 4. Tôi tin vào nó, tin đến độ phút cuối khối mình không tổ chức nổi một vòng đấu loại nội bộ. Biết thế cứ giao quách cho thằng Hóa… 

Một người ngồi cạnh Cẩn xía vào. 
– Trời ơi bộ Quân đoàn 4 hết người rồi sao? Ai lại chọn một thằng cao không tới thước rưỡi vào đội tuyển bóng chuyền bao giờ!? 
Cẩn than thở. 
– Mới đầu tôi cũng nghi nghi, nhưng nó bảo nó chỉ ki banh, chỉ nâng cho thiên hạ đập… 
Người ngồi cạnh Cẩn rên lên. 
– Ý mèng ơi! Nó đía ông đến vậy mà ông cũng tin sao trời? Có ai lại chịu nâng bi cho thiên hạ đái bao giờ không? Nó cũng từng khoe tôi nó có khả năng làm xong một con chó trong vòng 10 phút và ăn hết một con gà tây trong 8 phút! 
Nghe hai người than thở với nhau, Vĩnh cười. 
– Nhưng đó không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là ngày mai nó đừng cho cả khối ăn cơm nếp bằng kiểu trên sống dưới khê tứ bề nhão nhét là được rồi. 
Rồi thì màn chúc Tết của “hai Bác kính yêu” cũng chấm dứt, tất cả được thứ tự lớp lang trở về khối để đón giao thừa có sự tham dự của quản giáo theo đúng chương trình đã sắp xếp. Trong lúc đợi quản giáo Cư xuống, cả khối cùng dọn về một phòng đã được chọn làm nơi đón Xuân ngồi tán gẫu với nhau. Vĩnh trở về chỗ của mình ngồi tựa lưng vào vách nhìn quang cảnh chung quanh. Một góc nhà đã được đám khéo tay có Nguyễn Đình Thuần làm xếp đã đặt sẵn một cái bàn, trên mặt bàn đầy những bánh và kẹo. Bên cạnh đống bánh kẹo còn có 3 chai bia con Cọp đựng đầy rượu đế dành cho hơn một trăm tù cải tạo khối 2 đón Xuân. Cách bàn bánh kẹo không xa là một cành mai già được Thuần và Đính phối hợp trang trí trông như thật. 
Giọng Bính khẽ nói bên tai Vĩnh. 
– Hơn một trăm thằng mà có không tới 3 lít máu nhân dân làm sao đủ say? 
– Coi vậy chứ lâu không chơi, một hớp lăn cù cả đám. Tao… 
Vĩnh chưa dứt câu thì quản giáo Cư đã xuất hiện nơi cửa. Khối trưởng Trai hô nghiêm thật lớn. Tên Cư chỉ bước qua ngưỡng cửa hai bước rồi đứng lại. Bộ quần áo mới khiến hắn trông bảnh hơn mọi ngày, nhất là cái quân hàm trung sỹ quân đội nhân dân gắn trên cổ áo giúp hắn có được tí đỉnh phong thái của một quân nhân. Dù sao hôm nay quản giáo Cư không hung hăng như mọi bữa. Hắn khoa tay khước từ khi khối trưởng mời hắn ngồi xuống một cái ghế đẩu độc nhất trong phòng. Hắn vẫn đứng và ra dấu cho mọi người ngồi xuống nền nhà. Hắn khởi sự nói. 

– Bây giờ đã là năm mới rồi, các anh vừa được nghe hai Bác kính yêu chúc Tết, ban chỉ huy trại chúc Tết. Những lời hay ý đẹp đã được dùng hết và tôi chẳng còn gì để nói với các anh thêm. Nhưng là quản giáo, thôi thì cũng tranh thủ nói thêm với các anh vài điểm như thế này. Năm cũ đã qua đi, năm mới lại đến. Năm mới đến thì ta phải thế nào? Phải có tinh thần mới, sức khỏe mới, khí thế mới, phấn đấu mới, quyết tâm mới trong học tập lao động cải tạo trở nên người công dân lương thiện. Ba ngày Tết là ba ngày vui chơi, nhưng trong vui chơi, các anh cũng đừng bao giờ quên rằng các anh vẫn là những kẻ có tội với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Phải nhớ nếu như các anh đừng phạm những tội phản quốc tày đình, thì mùa Xuân thống nhất, Xuân hòa bình này đã phải đến với Tổ quốc ta, với nhân dân ta nhiều chục năm về trước. Chính vì sự ngoan cố ngoan cường của các anh đã làm cho đất nước ta mất đi bao mùa Xuân. 
Nói tới đây hẳn đảo mắt một vòng, ngẫm nghĩ như tìm lời. Một lúc hắn tiếp. Trước thềm năm mới, một lần nữa, tôi nhắc nhở các anh phải ý thức đúng vị trí cải tạo của mình, phải nhớ mình là kẻ có tội, và có nghĩa vụ học tập tốt, lao động tốt, cải tạo tốt, sớm trở thành những người công dân lương thiện của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Chúc tất cả các anh khỏe! 
Tên quản giáo chúc một câu ngắn gọn rồi nhanh nhẹn lui bước. Khối trưởng Trai ngỡ ngàng nhìn ly nước và đĩa bánh cầm trên tay. Anh dự trù mời hắn một chút lấy thảo nhưng thái độ “cách ly” của hắn đối với bọn tù đã quá rõ ràng! Anh buồn buồn hô nghiêm một tiếng để tiễn hắn ra cửa rồi cầm đĩa bánh ly nước đặt lại trên bàn. 
Tiếng súng đón giao thừa của bọn vệ binh bên ngoài càng lúc càng nổ ròn rã hơn. Bên trong, bác sỹ Đỉnh với bản tính trẻ trung và lạc quan, lại có tí máu văn nghệ vội vã lên tiếng. 
– Thôi thì quản giáo đã chúc Tết, anh em ta cứ vui vẻ nhận lời chúc đi. Giờ tôi đề nghị chúng ta bắt đầu vui chơi đón Tết. Các bạn đồng ý chứ? 
Không ai trả lời bác sỹ Đỉnh. Thực ra chẳng mấy ai buồn rầu chi cái lời chúc Tết kiểu chửi cha của thằng quản giáo. Bị chửi nhiều quá nghe cũng nhàm tai rồi. Không ai trả lời bác sỹ Đỉnh vì bên ngoài tiếng trống, tiếng phèng la của đội lân khối 5 tân lập đã rền vang cả sân trại. Đội lân bên ấy do anh chàng Dũng cầm đầu. Dũng là sỹ quan xuất thân trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Hắn bảo hắn là anh hay em gì đó của nữ ca sỹ Lệ Thanh. Dũng rất trẻ tính và nhiệt tình trong những công tác thi đua, nhất là thi đua văn nghệ giữa các khối. Hiện tại Vĩnh biết hắn đã cho ban lân của khối 5 khởi sự đi múa chào các khối bạn. 
Tiếng trống múa lân đỡ ồn hẳn vì hình như ban lân khối 5 đã tiến về phía khối 3 nằm bên cánh phải của hội trường và sát phía cổng trại. Một giọng từ cuối phòng cất lên. 
– Anh Đỉnh nói có lý, nhưng điều tiên quyết tôi đề nghị là ban trực bếp coi lại nồi niêu xoong chảo. Từ lúc quản giáo nói chuyện tôi đã nghe thấy có nhiều tiếng động rất khả nghi. Không rõ chuột bốn chân hay chuột hai chân. Mà chuột nào thì cũng tai hại như nhau cả! 
Một giọng khác lên tiếng hùa vào. 
– Đúng đúng! Đề nghị ta kiểm soát bếp múc một vòng rồi tất cả đi ngủ. Tôi nghĩ anh em đã đến lúc cần nghỉ ngơi hơn là vui chơi nói theo ngôn ngữ của anh Đỉnh. 

Đỉnh bị kê cũng thấy bực. 
– Xin lỗi anh Thụ, đó là ngôn ngữ của quản giáo chứ không phải của tôi! 
Khối trưởng Trai thấy không khí kém vui vội nhảy vào can thiệp. 
– Năm mới năm me rồi. Yêu cầu anh em mỗi người nhịn nhau một tiếng cho vui vẻ cả làng. Tôi rất tán đồng ý kiến của cả ba anh Đỉnh, Bính và Thụ. Trước hết anh Dự dẫn anh em xuống xem lại đồ ăn đồ uống cho ngày mai. Dăm ba con chuột rơi vào nồi ra-gu thì mệt nhau lắm! Sau đó ai vui chơi thì theo anh khối phó, ai muốn ngủ thì theo anh Thụ… 
Vĩnh lẳng lặng bỏ ra ngồi trên cái ghế băng đặt trước hàng hiên. Đêm giao thừa trời vẫn hâm hấp nóng và không một ngọn gió. Bầu trời tối đen như mực. Thỉnh thoảng những đường đạn lửa của bọn vệ binh canh gác hoặc đóng chốt đó đây đan nhau trên trời rồi biến mất vào vô tận. Tiếng trống lân của một vài khối ham vui sớm vẫn ầm ỉ ngoài sân trại. Bỗng nhiên có giọng Đính thì thầm bên tai Vĩnh. 
– Đêm 30 buồn nhỉ! Có cao hứng làm thêm được bài nào không? 
Vĩnh chẳng buồn ngoái lại. – Mày muốn nói gì? 
– Nhạc ấy? 
Vĩnh liếc Đính một cái trong bóng tối. Khuôn mặt Đính chập chờn dưới ánh sáng của một chiếc đèn bão treo ngay đầu hồi nhà. 
– Có. Tao mới làm thêm được bài “Rắm của ta không bao giờ thối nữa!”. 
– Bài gì quái đản vậy? 
– Thì đói quá, trong bụng có gì đâu mà để cho rắm được thối một cách oanh liệt!? 
Đính vỗ mạnh vào vai Vĩnh. 
– Cứ yên tâm. Khi trưa tao làm heo, bộ ruột già dùng để thưởng cho người có công làm heo đã thuộc về tao… 
Vĩnh bất nhẫn rên lên. 

– Trời ơi tưởng thưởng cái gì, thưởng cái mớ bầy nhầy lộn cứt với đái ấy à?
Đính nhăn nhó. 
– Mày ngu bỏ mẹ đi. Tao lấy cái ruột già không mà tế ông cố nội bác Hồ à? Tao vồ thêm được ít bạc nhạc, ít thịt vụn, ít tiết. Hiện tại tao đang làm chủ một khúc dồi đủ để chúng ta đón Xuân trong tù. Chút nữa mình sẽ tính chuyện. 
Nghe tới chữ dồi Vĩnh đã muốn điên lên. Nội chữ dồi thôi đã đủ lâm ly bi thiết rồi! Rồi từ chữ dồi nó dẫn người ta đi tới đủ thứ linh tinh khác nữa. Nào hành hoa húng quế, nào tiêu nào ớt, nào mắm tôm chanh… Vĩnh thốt kêu lên. 
– Trời ơi dồi thật hả mày? 
– Tưởng đùa à? 
– Có mắm tôm không? 
– Cái ấy thì chịu! 
– Mất ngon năm mươi phần trăm! 
– Đành. 
– Ừ, đành! 
– Thế mày có tham dự không? 
Vĩnh giãy nảy. Anh nuốt nước bọt và cố lấy giọng bình tĩnh. 
– Đọc di chúc của Bác cũng khó tìm ra một câu nào đần độn đến thế! Và trong Tư Bản Luận hình như Marx cũng có mấy câu ca ngợi rất tới món… lòng lợn Việt Nam thì phải? 
Đính đập nhẹ vào mông Vĩnh. 
– Mình sẽ ăn Tết trước mọi người đêm nay với món dồi bất hủ của tao! 
– Biểu dương đồng chí! 
Đính lại ngẫm nghĩ. 
– Chương trình tối nay khối nào cũng có văn nghệ mừng Xuân. Khối mình chắc cũng thế? 
Vĩnh ngao ngán. 
– Thằng Cẩn đã sắp xếp đâu vào đó. Nhưng như mày thấy đấy, thằng quản giáo vừa phun ra một lô nọc độc “tội ác với nhân dân” làm thằng nào coi mòi cũng xìu. 

– Ngủ mẹ nó cho xong! 
– Thì thằng Thụ “bổ củi” nó đã thẳng thắn đề nghị rồi đó. 
Dưới bếp lúc này đã có một số người kéo xuống kiểm soát nồi niêu. Một người trong đám ấy lâu lâu lại lập lại một câu hát mới nghe ban nãy trên hội trường. 
Năm qua thắng lợi vẻ vang, Năm nay tiền tuyến lại càng thắng to. Vị độc… 
Lần này giọng hát chưa dứt thì bị một tiếng cự đầy cọc cằn len vào. 
– Thôi im cha nó cái “cửa mình” lại đi! Mất mẹ nó hết rồi đây này! 
Tiếng nói khá lớn làm mọi người chung quanh giật mình. Tiếng người nhao nhao lên. 
– Mất gì vậy? Nhiều không? 
– Trộm thật hả? 
Giọng ông già Chuân than thở. 
– Ban chiều tôi đã báo động rồi. Ông Dự ông ấy không nghe. Tôi đã bảo mùa này mùa củ mật mà. Ngoài Bắc ta xưa mùa này trộm đạo như rươi. Nói cứ ơ hờ. Thật đúng là khôn đâu tới trẻ, khỏe đâu tới già! 
Vĩnh ngồi ngoài xa nhưng cũng thấy bác sỹ Đỉnh đã nhảy lên bếp. Cái nắp vung thật lớn được Nguyễn Đình Thuần gò bằng tôn, bên trong có lót một lớp bao bố để giữ hơi nóng, bị lệch hẳn sang một bên. Giọng Phạm Văn Dự. 
– Ông nào lấy giùm cái đèn bão treo ngay đầu hồi nhà vào đây giùm tí. 
Một giọng khác. 
– Húp cháo cả đám! 
Trưởng bếp Dự ngoái lại nói với giọng hơi bực. 
– Cao lắm mất vài lon gô, gì mà toắng lên thế? 
Chiếc đèn bão đã được một người đem xuống bếp. Đám đông bu lại cái chảo còn đầy hơi nóng và đã bị lệch nắp. Với tư cách trưởng bếp ngày Tết, Phạm Văn Dự nhảy lên bệ bếp đứng cạnh bác sỹ Đỉnh để kiểm tra cái chảo. Chẳng hiểu một đấng Diệu Thủ Thư Sinh nào đã ghé thăm. Một chảo đầy cháo thịt đã vơi đi gần 3 đốt ngón tay, tính ra cũng phải trên chục lon guigoz cháo. 
Tiếng bàn thảo, tiếng cãi nhau, tiếng quy trách nhiệm cho nhau vang lên inh ỏi. Không rõ có ai nói gì không mà Phạm Văn Dự bỗng hét lên. 
– Tao mà húp được một thìa cháo trong vụ này, tao thề sẽ bị cải tạo đời đời và không bao giờ nhìn thấy mặt vợ năm con của tao nữa! 
Nhiều tiếng bàn cãi cứ tiếp tục vang lên trong đêm trừ tịch quanh chảo cháo thịt. Đính nói bên tai Vĩnh. 
– Mẹ kiếp xảy ra vụ này mất vui. Khuya nay tao với mày ngồi húp tí nước luộc lòng, tụi nó lại tưởng mình chỉa cháo mừng Xuân của cả khối thì bỏ mẹ! 
Vĩnh chẳng biết nói sao nên ngồi yên lặng. 
Chương trình văn nghệ giao thừa của khối thế là có đủ lý do chính đáng để thủ tiêu. Khối trưởng Trai lập tức ban hành lệnh “thiết quân luật” trong phạm vi bếp khối. Một toán trực gác được thiết lập tức thì để thỏa mãn nhu cầu của… tình thế! Lạ quen không cần biết, hễ không nhiệm vụ mà bén mảng đến cách bếp 3 thước ăn búa như chơi! 
Vĩnh thấy buồn buồn. Đêm giao thừa được đi lại thoải mái. Vĩnh rủ Đính mò sang các khối khác thăm thú một vòng cho biết sự tình. Sang khối 3 của Hóa anh được biết khối này cũng dẹp luôn phần văn nghệ giao thừa do ảnh hưởng câu chúc Tết của thằng quản giáo bên đó – câu chúc Tết cũng rập khuôn câu chúc Tết của quản giáo Cư bên khối 2: Có tội, có tội và có tội! 
Thế nhưng khối 3 không có tình trạng mất cháo như khối 2. Anh em tụ năm tụ ba ăn bánh kẹo với nhau và chờ sáng. Hóa lôi ra mấy điếu thuốc thơm chẳng rõ đớp được ở đâu mời Đính và Vĩnh mỗi người một điếu. Sau đó cả ba kéo nhau ra sân ngồi tán gẫu. 
Hóa than thở quá sức về anh chàng khối trưởng tên Khiêm của hắn. Vĩnh gạt đi. 
– Năm mới năm me rồi, nói chuyện khác cho vui. Đừng nói chuyện con người và thế thái nhân tình làm gì nữa. 
– Chuyện gì bây giờ? 
Đính len vào. 
– Tao đề nghị đi kiếm thằng Ứng và thằng Tiến. Tụi mình kiếm một chỗ ngồi thoải mái nghe thằng Vĩnh hát vài bài mới chơi. 
Vĩnh thở dài. 

– Đi thì đi. 

Bỗng nhiên một mùi thơm ngọt ngào bốc qua mũi hai người. Ở một góc tối, một đám người chừng năm sáu anh đang ngồi quây quần với nhau bên những lon guigoz mở nắp. Họ xầm xì to nhỏ nhưng không ai nghe rõ họ nói gì với nhau. 
Đính lên tiếng. 
– Chúng nó ăn gì mà thơm thế? 
Hóa tiến gần lại đám đông, một chập hắn quay lại gần Vĩnh, thở dài. 
– Khối tao có cả một tiểu đội trực và canh gác bếp, không hiểu sao cái băng thằng Phạn An Toàn chúng nó mỗi thằng lại có được một lon guigoz cháo? Tụi nó đang húp xùm xụp với nhau! 
Đính chợt khẽ rú lên. 
– Thôi bỏ mẹ khối tao rồi… 
Vĩnh đoán biết Đính nói gì. Anh vội vã giơ tay đấm khẽ vào lưng Đính, chận lại. 
– Kệ mẹ chúng nó. Mày đừng gây ra cảnh ân oán cấp liên khối làm gì. Lợi bất cập hại. 
Một lúc sau đó ba người cũng đi về khối 1 tìm Ứng, rồi khối 4 tìm Tiến. Năm người lại mò về phía hội trường và mỗi người đều có một tí bánh kẹo đem theo. Tiến đến một góc hội trường, năm người đều bày ra những thứ mình có. 
Đêm 30 rạng mùng 1 Tết, cái Tết lao tù đầu tiên trong đời, Vĩnh lại ngồi hát cho vài thằng bạn nghe một số ca khúc mới của anh. Và khi những tiếng trống múa lân của nhiều khối đồng nổi lên cùng với những tiếng reo hò tở mở của anh em, Vĩnh biết là trời đã gần sáng. Lúc mặt trời nhô tí đỉnh ở một chân trời xa tắp, trông y hệt một vết cắt đang ứa máu tươi trên một màu da xanh xám thì bọn Vĩnh bắt đầu được thưởng thức khúc dồi heo béo bở do Nguyễn Thành Đính thực hiện trong tù…









Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 3 Jan 2024

Bài 25

Phần 24

Miền Nam hai mùa mưa nắng rõ rệt, nên nó không có cái cảnh thốt nhiên những cây cỏ ủ rũ của mùa Đông hóa thành xanh tươi để báo hiệu cho một mùa Xuân. Đời tự do đã khó phân biệt như thế, nói chi những kẻ ngồi đếm lịch trong bóng tối lao tù Cộng sản. Thế nên, nếu như không có những chiến dịch thi công mừng Tết dân tộc do bọn cai tù phát động, thì đếm cả đời, lũ tù cũng chẳng thể tìm ra tờ lịch nào là tờ báo hiệu cho một ngày nguyên đán. 
Công tác thi công của tổ A.3 là phá sạch những nền nhà sau cùng nơi khu hành chánh tài chánh của BTL/SĐ25 trước kia. Suốt ngày trầm mình dưới nắng, bọn Vĩnh phải lấy sức người với tất cả những vật dụng tự chế để phá nền nhà. Lâu lâu lại có một tiếng nổ vang lên quanh quất; lại có những bóng người hớt hải xô dạt, rồi khênh nhau chạy về trại tìm cách cấp cứu. Những tiếng nổ như thế hay xảy ra ở những ụ đất phòng thủ của căn cứ. Họ đã cuốc nhằm những đầu đạn M.79 hoặc đạp nhằm mìn cóc, mìn râu trong lúc làm khổ dịch khai quang… 
Với nhiệm vụ khai quật các nền nhà, tuy có cực khổ nhưng an toàn hơn. Dầu sao công việc này đã có thể thoải mái hơn nữa nếu như mỗi ngày Vĩnh và các bạn không phải nghe thấy những tiếng gào phát ra từ một cái tủ sắt lớn đựng bạc trước kia. Cái tủ sắt giờ đây nằm trơ vơ trên một nền nhà xi măng giữa trời giữa đất. Nó chỉ có vài lỗ thủng thông hơi được đục vội vã chung quanh. Tỷ và Non bị nhốt ngồi trong đó. Tiếng gào la khàn khàn và tắc nghẹn của họ chẳng phải để kêu ca oan uổng, chẳng phải để đầu hàng cái cực hình họ đang chịu; mà tiếng gào la của họ chỉ là những tiếng phát ra từ một nhu cầu sinh lý tận cùng nhất. 

– Nước! Cho tôi nước! 

– Trời ơi! Cho tôi nước! 

– Nước! Cho tôi một giọt thôi. Trời ơi! 

Tiếng gào la đứt ruột ấy làm cho Vĩnh bao lần chết lặng. Lao động bên ngoài dưới trời nắng Tây Ninh, cứ mỗi năm phút người ta lại phải uống nước một lần để không héo người dưới cái nắng. Nhốt trong một cái hộp sắt chật chội thế kia người ta còn khát tới đâu!? Có lần Vĩnh đánh bạo xin phép tên vệ binh ngồi canh tù trong một bóng mát gần đấy. 

– Báo cáo anh tôi cho hai anh trong đó gáo nước được không? 

Tên vệ binh nhăn mặt cáu kỉnh. 

– Muốn vào đó luôn thì cứ việc! 

Vĩnh không nói gì thêm. Anh đã có ý định riêng. Khi tên vệ binh bước sang kiểm soát một khu vực khác, Vĩnh nhìn sô nước của bán tổ để dành uống và ngẫm nghĩ. Cái hộp sắt kín bưng chỉ có vài lỗ thông hơi không cách gì tiếp nước cho hai người bị nhốt trong đó được! Sau cùng Vĩnh quyết định hỏi qua ý kiến của tổ trưởng Tứ. Tứ nhìn Vĩnh với vẻ khó chịu như người thình lình bị dồn vào một chân tường. Tuy nhiên Tứ không nói gì. Anh ta chỉ thoáng nhìn trời nhìn đất rồi cúi xuống khuân tiếp những tảng xi măng lớn vứt vào một đống. Vĩnh đã quyết định. Anh xách sô nước lên, quan sát chung quanh một vòng rồi tiến sát tủ sắt gần chỗ mấy lỗ thông hơi. Vĩnh hắt nguyên sô nước vào những cái lỗ thông hơi ấy. Bên trong chỉ có những tiếng lục đục mà không nghe thấy nói một lời nào. Vĩnh thầm nghĩ: Có lẽ hai đứa đang lên thiên đàng. Chúng có thể đã quên hết ngôn ngữ của trần gian này rồi! 

Vĩnh xách cái sô không để lại chỗ cũ. Anh quay lại với công việc, vừa làm vừa nghĩ. Hai thằng bị nhốt như thế, mỗi ngày chỉ được phát tiêu chuẩn nửa lít nước uống làm sao chịu thấu!? Thế rồi Vĩnh không khỏi không uất ức nhớ lại ngày xưa… Bị ngộ độc bởi đòn tuyên truyền của Cộng sản, cả thế giới Tự do bỗng dưng trở mặt với đồng minh vì toàn những lý do không xứng đáng, và một trong những lý do không xứng đáng nhất là vụ chuồng cọp! Giả dụ như một số bọn trí thức, văn nghệ sỹ, bọn báo chí, bọn phản chiến bất lương đui mù chúng nó lên án này kia kia nọ còn có lý do khả thứ; ngay cả phái đoàn dân biểu Mỹ mà Vĩnh còn nhớ cầm đầu là dân biểu Paul Mc. Closkey, sang điều tra tình hình Đông Dương vào đầu tháng 3/75, và trước khi về nước đã họp báo ở Tân Sơn Nhất kêu gọi tổng thống Thiệu đình chỉ việc bắt giữ và tra tấn tù nhân chính trị nếu muốn VNCH còn được hưởng viện trợ Mỹ… Ngày nay tất cả những người ấy đang ở đâu nhỉ? Họ có biết rằng tỷ như xưa kia có chuồng cọp chăng nữa, thì những chuồng cọp ấy so với lối giam giữ ngày nay của CSVN chỉ đáng hàng em út xa lắc xa lơ? Thật là bất công, Vĩnh nghĩ, nếu Trời không tạo một dịp nào đó để nhúng những kẻ ngu muội ấy vào lửa Cộng sản một lần cho họ được sáng mắt ra! 

– Trời ơi! Sô nước mới đây sao hết nhẵn rồi? 

Tiếng la hốt hoảng của tổ phó Khoa chợt cất lên sau lưng Vĩnh. Vĩnh lầm lì. 

– Đổ hết vào cái két sắt kia rồi. 

Tổ phó Khoa cau mày. 

– Cha ẩu vừa thôi cha. Lãnh búa cả đám. 

– Lãnh tao chịu. 

Biết Vĩnh nóng tính, Khoa im lặng. Hắn chỉ khẽ cằn nhằn lúc quay đi. 

– Tối nay họp tổ tôi sẽ đưa vụ này ra mổ xẻ. 

Vĩnh nổi cáu phát cười gằn. 

– Thôi mổ xẻ làm đéo gì! Tao xin khắc phục khuyết điểm tại chỗ được không? Lần sau, kể cả mày có phải chui vào cái hộp này, tao xin hạ quyết tâm một giọt nước đái tao cũng không cho. 

Khoa thấy Vĩnh thật sự muốn khà khịa, hắn im luôn và bỏ đi một nước. 
Với riêng Vĩnh, mùa Xuân đầu trong tù đến với một tâm trạng và quang cảnh như thế. Tuy nhiên trước Tết hai tuần, cả trại, thú thật trong đó có cả Vĩnh, lòng bỗng nở rộ một đóa hoa Hy Vọng rực rỡ lạ thường. Đợt đầu tiên được thả! 

Cả trại L4T3 được thả 14 người. Khối 2 có tỷ số cao nhất trại 6 trên 14 và tổ A.3 chiếm kỷ lục trong khối 2 với tỷ số thả 2 trên 6: Văn, cựu hải quân trung úy có bố thoát ly từ lúc hắn mới lọt lòng mẹ. Nguyên, thiếu úy giảng viên Trường Sinh Ngữ Quân Đội, có chú mang quân hàm đại tá hiện làm việc trong văn phòng An Ninh Nội Chính của Cao Đăng Chiếm. Thằng Ba Tô của tổ 7 cũng được thả trong dịp này nhờ một nguyên nhân không ai biết rõ ngoài hai điểm để có thể dự đoán: Một, từ đầu đến giờ nó đã hành nghề chó săn một cách xuất sắc khác thường; hai, căn cứ theo bản tự khai từng đọc trước khối của nó thì cả ba đời nội ngoại nhà nó đều là dân bần cố trung kiên với Cách mạng từ thủa Cách mạng còn… đỏ hỏn! 
Với số người được thả không lấy gì làm khích lệ cho lắm, nhưng quả thực đã làm cho bao nhiêu người tối mặt tối mày. Hy vọng sống lại thật nhanh bằng một lập luận giản dị: Như thế là cánh cổng trại cải tạo đã hé mở. Nếu chưa thể mở toang một lượt thì cũng sẽ được mở rộng từ từ. Nay anh mai tôi… 
Nhân vụ thả, bọn cai tù lại có dịp lôi tù lên lớp để tha hồ khoe khoang về đường lối khoan hồng trước sau như một của nhà nước Cộng sản. Và để cho không khí trại càng thêm phần hồ hởi phấn khởi, bọn cai tù chấm dứt đợt thi công sớm hơn hai ngày với bản báo cáo tất niên đọc trước trại có nội dung rất vượt chỉ tiêu, vượt đến nỗi bọn tù ngồi bên dưới đâm ngượng với thành quả lao động tự biết… rất khiêm tốn của chính mình. Nào là trong quý 4, khối 1 đã cải tạo được 30 mẫu đất đá ong biến thành nơi canh tác tốt. Khối 2 đã giải phóng được 20 tấn đạn đủ loại khỏi các hầm chứa trong nội vi trại và đã khai quật hơn 100 nền nhà Mỹ… 
Nghe tên thủ phó Môn đọc bản báo cáo trước tập thể, có đại diện trung đoàn chủ tọa, mà bọn tù hết hồn. Ở đâu không biết chứ người khối 2 làm sao mà không rõ chuyện khối 2! Đạn đâu mà lắm thế? Rồi nền nhà Mỹ nữa! Tính rộng lắm cũng chỉ có chừng 30 cái nền nhà Mỹ trong phạm vi trách nhiệm của L4T3. Ba mưoi cái mà tay không phá trong mấy tháng đã đủ thấy ông thấy bà, một trăm cái phá sao cho hết, mà có hết đi nữa thì lấy nền nhà đâu ra mà phá!? 
Thời còn thơ ấu ở Liên Khu Tư Vĩnh đã được nghe và đã sớm hiểu ý nghĩa của ba chữ Bờ-Cờ-Lờ, chữ tắt của động từ báo cáo láo trong giới Vẹm thời bấy giờ. Hai mươi mấy năm qua Vĩnh không ngờ bệnh Bờ-Cờ-Lờ trong hàng ngũ Cộng sản vẫn không đỡ tí nào. Trầm kha hơn là đàng khác! 

Nhưng chúng muốn báo cáo với thượng cấp của chúng thế nào thì cũng kệ cha chúng, điều hân hoan chính là lũ tù được biết, qua sự thông báo trang trọng của chính tên thủ trưởng trại, theo đó vào dịp Tết tới đây, Cách mạng rất quan tâm và sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các cải tạo viên vui chơi đủ 3 ngày Tết truyền thống của dân tộc. Tiếp theo lời thông báo ấy, tay hậu cần trại đã đọc một danh sách các món ăn mà tù sẽ được hưởng trong dịp Tết như thịt lợn, nếp, bánh kẹo và có thể có cả tí… “máu nhân dân” nữa. 
Tuy nhiên Tết chưa đến, những món béo bở nằm trong bản dự trù cấp phát của hậu cần trại dĩ nhiên chưa được thực hiện; nhưng điều trước mắt mà tù phải thực hiện ngay là đêm văn nghệ cho toàn trại. Các khối phải tổ chức những trò chơi hoặc những cuộc thi đấu như múa lân, kéo dây, cờ tướng, bóng chuyền v…v… để tạo không khí vui chơi thoải mái trong ba ngày Tết. Các ban văn nghệ thể thao được thành lập tại các khối tức thì. Trưởng ban của khối 2 là Huỳnh Công Cẩn, trung úy ANQĐ từng là tùy viên của ông số 2 ngành này. Trong ban của Cẩn có Đính phụ trách vũ, Vĩnh tiếp tay Nguyễn Đình Thuần lo chế một cái contre-basse dã chiến và một bộ trống. Đàn Guitar và Mando khung sẽ cho mượn. 
Sau khi các ban văn nghệ khối phối hợp với nhau, một vài nhân vật được bầu ra để nắm giữ những chức vụ chính điều hành chung một ban văn nghệ trại. Đặng Thế Tiến của khối 4 làm phối trí viên. Nguyễn Văn Hóa của khối 3 với nghề cũ là ca trưởng một ca đoàn Công giáo lớn tại Sài Gòn phụ trách ban hợp xướng. Lê Văn Tần của khối 1 tốt nghiệp trường Âm nhạc Kịch nghệ Sài Gòn phụ trách dựng và đạo diễn kịch. Nguyễn Thành Đính của khối 2 phụ trách vũ. Trần Văn Chung của khối 3 phụ trách ảo thuật. Họa sỹ Hiếu Đệ của khối “cũ” (sau đó được bổ sung thêm tù và lập thành khối 5) có Đặng Ngọc Sinh của khối 2 trợ lực phụ trách trang trí sân khấu cũng như các vật dụng hóa trang… Riêng ban nhạc hầu hết là người của khối 2 phụ trách. Vĩnh contre-basse, Nguyễn Văn Lộc cùng tổ 3 với Vĩnh và Đặng Thế Tiến chơi Guitar, Kiều Công Long của khối 4 chơi Mando và “Ông Đạo Dừa” Nguyễn Lâm của khối 2 thủ giàn trống. 
Trong khi ở các khối các anh em khác thuộc các ban lân, ban thể thao, ban ẩm thực… đang lo xúc tiến công tác của họ thì trên hội trường ban văn nghệ cũng tập dợt ráo riết. Trên sân khấu, đạo diễn Lê Văn Tần suốt ngày la hét um sùm y chang một đạo diễn thứ thiệt để điều khiển anh em trong ban kịch. Ở một góc khác của hội trường nhạc trưởng Nguyễn Văn Hóa đang vã mồ hôi tập cho một ban hợp xướng 50 người, toàn thứ ca sỹ bất đắc dĩ trốn lao động chân tay nhập vào ban hò hát. Ai làm sao mặc, Vĩnh cứ ôm cây đại hồ cầm do chính tay anh làm bằng một can xăng thủng với ít sợi dây điện thoại gẩy từng tưng theo lệnh của nhạc trưởng Hóa. Cạnh Vĩnh là Tiến. Lâu không được đánh đàn, có cái guitar trong tay, hắn chẳng đệm theo nhu cầu ban nhạc mà xoay vào một góc ngồi búng classique cho đỡ nghiền. 
Bài hát hiện đang được Hóa tập cho mọi người hợp xướng là bài Mùa Xuân Đầu Tiên của Văn Cao được in trên báo Sài Gòn Giải Phóng. Chính tên chính trị viên đưa bài này cho Hóa. Hóa có vẻ thích bài hát này vì một phần nhạc cũng khá hay, phần khác ngôn ngữ vẫn rất ướt át lãng mạn và không có tí nào chửi bới bọn “ngụy” trong đó cả. Hóa tập thật kỹ bài hát này cho ban hợp xướng. 
Trước Tết 5 ngày thì đợt tổng dợt có sự kiểm tra của đại diện ban quản giáo được thực hiện. Tên quản giáo già khó đăm đăm của khối 4 xuống trụ trì buổi tổng dợt. Hắn lượn một vòng xem ban vũ biểu diễn, khen chê vài tiếng qua loa rồi lướt qua ban kịch. Sau cùng hắn dừng chân trước ban hợp xướng. Nhạc trưởng Hóa đợi đến lúc tên quản giáo đến gần mới ra hiệu cho tiếng contre-basse đi vài nốt dẫn nhập. Tên quản giáo già vừa nghe thấy mấy tiếng đàn trầm bỗng thốt lên kinh ngạc. 

– A! Các anh chế được cả đàn công-tờ-rờ-bạt-xờ cơ à? 

Cả bọn nghe nhằm một chữ tiếng Tây của ông quan quản giáo không hẹn đều phát phì cười. 

Hóa là đầu đàn, thấy mọi người đều bật cười trước một câu nói của tên quản giáo làm anh cũng thấy ái ngại. Anh vội quay lại nhìn hắn và nói nhỏ nhẹ. 
– Vâng, thưa anh cái công-tờ-rờ-bạt-xờ… 
Sự lập lại chữ tiếng Tây theo giọng điệu của… Cách mạng của Hóa khiến cả ban hợp xướng cùng phá lên cười, một thứ tiếng cười không cách gì cầm giữ lại được. Riêng tên quản giáo ngẩn ngơ không hiểu bọn tù cười cái gì. Hắn trố mắt hỏi mọi người. 
– Chứ tôi nói sai à? Cái đàn ấy không phát ra âm công-tờ-rờ-bạt-xơ là cái gì đấy? 
Thấy cười nữa có thể nguy hiểm, ai cũng ráng nuốt tiếng cười đánh ực một cái xuống bụng. Hóa giơ tay gãi trán, nói liếm lấp. 
– Báo cáo anh âm đàn ấy đúng là âm đàn công-tờ-rờ-bạt-xờ, nhưng hình dạng thì không phải thế… 
Tên quản giáo ra điều hiểu biết. Hắn nói. 
– Thì tôi nói âm chứ có nói hình thức đâu! Hình thức thì các anh làm sao làm được. Ngay nhà hát lớn ngoài thủ đô Hà Lội ta cũng mới có một cái. Ngẫm nghĩ tí chút, hắn tiếp. Thôi các anh tập đi không mất thì giờ. Tôi tham quan tí còn đi các ban khác… 
Nói rồi tên quản giáo bước xéo ra đứng gần chỗ cửa và nhìn ban hợp xướng khởi sự tổng dợt. Nhạc trưởng Hóa nhìn anh em một thoáng. Ngón tay anh vẩy nhè nhẹ cho tiếng đại hồ cầm nổi lên để bắt trớn cho tiếng Mando trong trẻo của Kiều Công Long nhập cuộc. Khi trống, đàn, sáo đã đi hết phần Intro; nhạc trưởng Hóa chợt vung tay như chộp một con ruồi bên trái, hai mươi giọng hát bên cánh tả đồng lượt cất lên. 

Rồi dập dìu mùa Xuân theo én về, Mùa bình thường, mùa vui nay đã về, Mùa Xuân mơ ước ấy, nay đã về đây… 
Vừa hát được ba câu cả ban hợp xướng bỗng im bặt. Ai cũng thấy tên quản giáo nhảy nhổm như bị kim châm vào đít. Hóa thấy anh em ngưng ngang xương và đều ngó về phía tên quản giáo, anh linh tính thấy điềm không lành vội quay mặt lại. Tên quản giáo già bước nhanh đến gần Hóa, trợn mắt méo mồm mắng. 
– Im hết đi, hát cái bài nhảm nhí gì vậy? 
Hóa hơi nhăn mặt nhưng vẫn cố giữ giọng phân trần. 
– Báo cáo anh… Tên quản giáo khoa tay chận Hóa lại. 
– Tôi bảo im! Ai? Ai trong các anh là kẻ soạn ra bài hát này? Hắn hùng hổ lên lớp. Một bài hát hoàn toàn phản động và đầy ngụy tính từ nội dung đến hình thức. 
Nhạc trưởng Hóa ngỡ ngàng như từ trời rơi xuống. 
– Dạ thưa… 
– Anh chưa được nói. Tên quản giáo nghiêm giọng. Tôi sẽ phân tích tính phản động của bài ca này trước, sau đó kẻ sáng tác nó sẽ phải trả lời trước ban quản giáo trại. Tôi nhắc lại, đây là một bài hát cực kỳ phản động. Thứ nhất nhạc Cách mạng không được phép ủy mị như thế. Rõ ràng đây là một bài nhạc vàng, đã dùng thể điệu Van-xờ, một thể điệu mà bọn nhạc sỹ phản động ưa dùng để diễn tả cái tâm tình ủy mị thấp kém, làm suy giảm tinh thần đấu tranh của nhân dân ta. Thể điệu Van-xờ… 
Tất cả những người đang hiện diện ở hội trường đều nửa khóc nửa cười với lời lẽ của tên quản giáo. Hóa mím môi lấy can đảm 
– Thưa anh… 
Tuy nhiên tên quản giáo nhất định không cho Hóa nói. Hắn cướp giọng. 
– Anh ngoan cố tôi cùm anh ngay. Tôi chưa nói hết. Dứt khoát tôi cấm các anh học tiếp bài Van-xờ này. Nó là một bài cực kỳ phản động. Mùa Xuân thế này mà dám nói là mùa Xuân bình thường à? Một mùa Xuân đại thắng, mùa Xuân đầu tiên độc lập, tự do và thống nhất, mùa Xuân tốn bao xương máu của các chiến sỹ Cách mạng mới quy được đất nước về một mối… mà dám bảo là mùa Xuân bình thường à? Bố láo bố lếu! Bài này ở đâu ra? Ai cho phép các anh học hát bài này? 
Nhạc trưởng Hóa thấy không phải chuyện chơi rồi, thế nên anh vội vàng trình bày. 
– Báo cáo anh bài này anh chính trị viên Thảo đã thuận cho tập. Vả lại nó là bài hát của Cách mạng… 
Tên quản giáo già chỉ mặt Hóa. – Bố láo. Đừng nói bố láo! 
Hóa vội vàng móc túi quần sau chìa ra một mảnh của tờ báo Sài Gòn Giải Phóng đã nhầu nát, có đăng bài Mùa Xuân Đầu Tiên của Văn Cao cho tên quản giáo xem. Tên quản giáo cầm lấy mảnh báo mần mò như người ta nặn nút bài cào. Một lúc sau hắn nhét tờ báo vào túi áo, nhăn mặt và lẩm bẩm. Lạ nhỉ! Lạ nhỉ! Sao báo lại cho đăng một bài hát có nội dung phản động dường này!? 

Nghĩ ngợi một thoáng, hắn tằng hắng nói với Hóa. Thôi được, tạm thời các anh học bài khác. Tôi sẽ trình đồng chí chính trị viên nghiên cứu lại bài hát này. 
Tên quản giáo nói đoạn bước thẳng ra cửa trước sự ngơ ngác của mọi người. Ra tới cửa, hắn bỗng dừng chân và quay lại dặn Hóa một câu cuối. Học bài nào thì học, nhưng cấm ngặt không được học và trình diễn những bài có thể điệu Van-xờ đấy nhé! 
Vĩnh ngao ngán ngó về phía sân khấu. Đạo diễn Tần đang nhảy như con choi choi và la hét luôn miệng. Cắt! cắt! ĐM. chỗ đó mày phải té xuống. Mày phải cố gắng kéo mép phải lên gần lỗ tai, càng gần càng tốt để tạo nét mặt cực kỳ đau đớn. Bị bắn vào bụng mà chỉ nhếch mép như cười tình coi thế đếch nào được! Thằng Hoàn nữa! Tao bảo mày mấy lần rồi. Khi tiếng súng nổ mày phải hốt hoảng chạy từ cánh gà bên trái vào phía bàn thờ tuốt trong kia để tạo chiều sâu sân khấu. Cứ chập chờn phía ngoài thế kia như cứt nổi trên ao trông chán lắm… 
Trong lúc ban hợp xướng tập lại với bài Hò Kéo Pháo thì tên chính trị viên Thảo xuất hiện nơi cửa hội trường. Hắn đảo mắt một vòng rồi bước lại phía Hóa đứng. Đợi cho câu hát cuối cùng chấm dứt bài hát đang dợt, hắn lên tiếng. 
– Này anh Hóa! 
Hóa quay lại. 
– Ồ anh… tôi đang muốn gặp… 
Tên chính trị viên khoa tay. 
– Tôi quán triệt vấn đề rồi. Cứ yên tâm tập dợt như thường. Tôi sẽ ở đây đích thân kiểm tra. Hóa muốn chơi tên quản giáo khối 4 một cái. Anh nhỏ nhẹ nói với tên Thảo. 
– Báo cáo anh ban nãy theo sự lên lớp của anh quản giáo khối 4, anh em đều ái ngại và không muốn tập tiếp bài Mùa Xuân Đầu Tiên nữa… Tên chính trị viên lại xua hai tay như đuổi ruồi. 
– Tôi đã bảo rồi. Tôi trách nhiệm và cho các anh học trình diễn bài ấy. Cái nhà anh quản giáo Thìn ấy thì biết cái gì! Anh ấy học chưa qua lớp 3 ấy mà… 
Hóa thấy tên chính trị viên còn coi đồng bọn của nó chẳng ra gì nên anh không nói thêm nữa. Anh quay lại điều khiển anh em hát bài Mùa Xuân Đầu Tiên để cho tên chính trị viên duyệt. Tên Thảo đứng coi một lúc và gật gù ra chiều chịu lắm. Hắn đi tới đi lui, góp ý cho hết toán này sang nhóm nọ. Hắn đứng lại bên cạnh họa sỹ Hiếu Đệ, ngó anh đang vẽ rồng vẽ phượng trên một miếng giấy bao xi măng lớn bên hông sân khấu. 
– Vẽ khéo đấy nhỉ! Tên chính trị viên lên tiếng khen vu vơ. 

-….. 

– Anh học vẽ lâu chưa? 

Hiếu Đệ trả lời. 

– Báo cáo anh cũng gần 30 năm rồi. 

– Thế thì vững tay nghề lắm… Mà xưa anh làm gì? 

– Dạ tôi dạy ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định. 

– Thế sao lại đi cải tạo? 

Hiếu Đệ vừa cạo ít bột từ một viên gạch chỉ ra làm màu, vừa khẽ đáp. 

– Dạ tôi là thiếu úy biệt phái. 

Tên Thảo giơ cao hai tay. 

– À, ra thế! Chắc anh là sỹ quan chiến tranh chính trị? 

Nghe hỏi Hiếu Đệ giãy nảy như đỉa phải vôi. 

– Thưa không. Tôi không dính dáng gì tới ngành chiến tranh chính trị cả! 

Trước khi tiến tới ngồi trên một cái ghế kê trước sân khấu để xem tù dợt kịch, tên chính trị viên an ủi Hiếu Đệ. 

– Tội anh thế cũng nhẹ. Cố gắng phục vụ tập thể tốt để được Cách mạng xét cho về còn đem tài ra phục vụ nhân dân. 

Hiếu Đệ vừa vẽ vừa ậm ừ cho qua chuyện. 

Phía bên này ban nhạc đã dợt xong, bọn Vĩnh xách điếu cày lại ngồi bên cánh trái sân khấu xem ban kịch tổng dợt. 
Vở kịch được Tần dựng có nội dung không xuất sắc lắm. Một công nhân dân miền Nam thoát ly theo lời Bác gọi, sau trở vào Nam chiến đấu chống Mỹ cứu nước, anh không hề được biết chuyện gì xảy ra cho mẹ và vợ ở quê nhà thuộc một vùng ngoại ô Sài Gòn. Khi miền Nam đã được giải phóng, anh vinh quy bái tổ với đôi dép râu, với cái nón tai bèo và mươi ký gạo ăn đường đeo nặng trên vai. Lúc anh bước về tới sân nhà thì trời đã tối. Khẽ đẩy cánh liếp, anh nhìn vào và chết sững vì xúc động. Người vợ vẫn ở vậy chờ anh. Vợ chồng gặp nhau hàn huyên một lúc, mãi sau anh mới chợt nhớ ra quanh anh còn thiếu một người thân yêu nữa. Anh chợt lên tiếng hỏi. Mẹ đâu? Người vợ lúc này mới òa lên khóc. Chị kể rằng trong hơn hai mươi năm anh bỏ nhà ra đi chiến đấu, gia đình đã gặp bao nhiêu biến cố. Nào là Mỹ ngụy càn quét, đã hiếp chị đến… 999 lần, lại còn xả súng bắn chết mẹ già vân vân và vân vân. Kể lể xong chị tiến tới bàn thờ mẹ chồng, đốt vài cây nhang cắm trên cái lư nhỏ. Đến lúc này anh giải phóng mới nhận ra bàn thờ mẹ. Theo đúng truyền thống Cách mạng anh không khóc lóc như những kẻ bình thường. Anh chỉ giơ cao quả đấm, lập lại một câu nói quen thuộc mà Đảng đã dạy: Ta sẽ biến những đau thương này thành hành động cụ thể… 
Màn từ từ buông. Một giọng hát từ phía sau sân khấu vang lên bài Đạp Trên Xác Thù để chấm dứt vở kịch. 
Xem xong vở kịch. Tiến cười đưa ra một phê phán nhỏ. 
– Thằng Tần chơi vợ Cách mạng ghê quá. Chỉ sống để chờ… ngụy đến hiếp thì còn gì là thân thể người ta! 

Đính cũng cười, nói chen vào. 

– Trâu hiếp chứ ai hiếp! 

Hóa đặt cái điếu cày xuống đất, mắt nhìn lên sân khấu. 

– Ngày xưa Kiều chỉ “mười lăm năm ấy biết bao vi trùng”, ngày nay vợ anh Cách mạng bị hiếp đến hơn 20 năm. Kinh quá! 

Cả đám đang tán láo bỗng im hết vì tên Thảo đã bước lên sân khấu. Hắn ra lệnh cho các “tài tử ca sỹ” phải ngồi tụ lại với nhau nơi hàng ghế giữa hội trường. Hắn cất giọng. 

– Buổi tổng dợt hôm nay coi như tạm đủ. Quan trọng nhất là vở kịch thì tôi đã được kiểm tra. Qua quan sát có vài nhận xét với các anh thế này. Xét chung chung, mọi bộ môn đều nổi lên cái mặt tự biên tự diễn rất đáng biểu dương. Múa, hát, kịch nói, trang trí vân vân và vân vân đều có nhiều ưu điểm cả. Riêng vở kịch… 
Nói tới đây tên Thảo ngó quanh như tìm kiếm ai. Hắn hỏi vu vơ. Anh nào dựng và đạo diễn nhỉ? Tôi quên mất tên rồi! 
Bên dưới Tần vội đứng lên. 
– Dạ tôi, Tần. 
Tên chính trị viên chỉ xuống Tần. 
– À, anh Tần. Tôi biết, tôi biết về anh. Nhân đây tôi cũng có lời biểu dương anh. Tuy nhiên trong vở kịch xét trên quan điểm Cách mạng còn nhiều khuyết điểm lắm đấy. Với riêng tôi, tôi thông cảm những khuyết điểm ấy. Dẫu sao với một thời gian dài sống dưới chế độ Mỹ ngụy, chúng đã đào tạo và xử dụng anh vào công tác viết kịch bôi nhọ Cách mạng, thì một sớm một chiều không thể nào tẩy sạch ngay được những khuyết điểm trong nghề dựng và đạo diễn kịch của anh, phải thế không? Vả lại, tên Thảo tằng hắng. Tôi cũng biết hầu hết những kịch sỹ như anh đều được ngụy nó cưng chiều như trứng mỏng, được đem về Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị phục vụ với nhiều đặc quyền đặc lợi. Nói tới đây hắn hơi cao giọng hơn. Mà tôi bảo thật đấy nhé, những anh chiến tranh chính trị nếu không là CIA thì cũng là CIB cả đấy! 

Bên dưới mọi người đều liếc nhanh sang Tần một cái. Mặt anh chàng đang nghệt ra như gái ngồi phải cọc. Bên trên sân khấu tên Thảo vẫn tiếp tục. Nói thì nói thế thôi. Nhiệm vụ của chúng tôi là giáo dục các anh, uốn nắn những sai trái nếu các anh vấp phải trong học tập cải tạo, đặc biệt trong khâu văn nghệ tự biên tự diễn này, một khâu còn hoàn toàn mới lạ với các anh xét trên cơ bản văn nghệ Cách mạng, phải thế không? Thế thì nhân đây, tôi cũng nêu ra vài khuyết điểm cụ thể nhất để các anh rút kinh nghiệm cho những lần tự biên tự diễn khác sau này. Hắn liếc nhanh đồng hồ tay, tiếp. Thì giờ sáng nay không có nhiều nên tôi chỉ nhặt ra vài khuyết điểm điển hình trong vở kịch thôi. Khuyết điểm thứ nhất thuộc về khuyết điểm ý thức. Tại sao khi anh giải phóng vừa đẩy cánh liếp để bước vào nhà, đạo diễn lại cho vài tiếng chó sủa vang lên đây đó? Xét hời hợt qua hiện tượng thì việc này không thấy gì nghiêm trọng cả, nhưng nếu ta nâng cao quan điểm sẽ thấy ngay tính chất phản động trong cảnh này. Người Cách mạng đâu phải lũ thổ phỉ mà bị chó sủa ran như vậy? Khuyết điểm thứ hai thuộc về hình thức, thuộc về kỹ thuật. Đấy các anh xem! Nói đoạn tên Thảo hơi quay người chỉ lên cái bàn thờ trên phông trong cùng của sân khấu. 
Bàn thờ là một bức tranh vẽ nổi gồm một cụ bà người miền Nam có khăn ca-rô quàng cổ, có lư hương ở giữa và hai bên có hai chân nến đàng hoàng. Tên chính trị viên chỉ bàn thờ xong quay lại đám tù, tiếp. Các anh cứ nhìn kỹ bức ảnh mà xem, người mù cũng nhận ra được đó là ảnh của thằng Diệm. Tôi không rõ người vẽ cố tình hay vì tài nghệ chưa tới, đã vẽ một cụ già thành hình thằng Diệm đem lên bàn thờ công khai trên sân khấu!? 
Dưới này Hiếu Đệ ngồi cạnh Vĩnh mặt mày xanh xám. Anh quay sang hỏi khẽ Vĩnh. 
– Trời đất ơi! Ông nhìn kỹ giùm tôi xem bức ảnh tôi vẽ có giống Ngô Đình Diệm tí nào không? 
Vĩnh cười. 
– Sao ông dễ tin thế? Chúng nó đâu có muốn cái chuyện đem bàn thờ bàn thánh lên sân khấu bao giờ. Duy vật chứ đâu duy tâm! 
– Không chịu thì bảo đẹp bỏ. Sao chụp mũ tui nghe ghê quá vậy? 
Đính ngồi sau nghe thấy, chen vào. 
– Công khai ra lệnh dẹp bỏ khác nào tự thú mình là đồ không cha không mẹ không thánh không thần. Cách hay nhất là tặng cho ông Hiếu Đệ một cái mũ to tướng, tập thể ai cũng rét và tự động hạ bàn thờ xuống có phải hay không? 
Hiếu Đệ như hiểu ra, anh không than thở gì thêm nhưng nét mặt vẫn tái xanh tuồng như cái mũ mà thằng chính trị viên vừa âu yếm đội cho nặng quá đến độ anh chịu không thấu! Mãi một lúc sau Hiếu Đệ mới thì thầm. 
– Tôi vẽ hơn 20 năm, dạy vẽ hơn 10 năm; đây là lần đầu tiên tôi không còn tin tưởng ở cặp mắt của tôi nữa. Chắc tôi phải giải nghệ mất! 
Vĩnh cười khẽ. 
– Ấy, đừng cho chúng nó ghi thêm một điểm son chứ, quan bác! 
Trên sân khấu tên chính trị viên còn phen lê đôi ba điều nho nhỏ nữa trước khi hắn cho mọi người giải tán về ăn cơm trưa. Vĩnh kéo một hơi thuốc lào rồi đứng lên khoác vai Đính trở về khối. 
Buổi trưa sau khi nhận phần ăn đã được chia chác bởi người trực tổ, Vĩnh chan vội tí nước muối vào ca cơm và xách ra đầu hè vừa ngồi nhìn nắng vừa ăn. Đầu anh lộn xộn nhiều hình ảnh… Một đoạn nhạc mới vừa trôi qua đầu, một đoạn nhạc Xuân thật đẹp; nhưng bỗng nhiên đoạn nhạc tắt nghẽn lúc anh vừa vội vàng bỏ ca cơm xuống lôi mảnh giấy và cây bút chì trong túi ra. Hình ảnh Tỷ và Non gào thét trong cơn khát lại đầy ắp trong trí nhớ Vĩnh…






Chó rô bô

Hồ Đắc Vũ

baotreonline.com

Posted on 7th Jul 2023

Post by Sơn râu 2 Jan 2024

Tập trận chung với Không Quân Mỹ. Nguồn.www.thedrive.com 

Ngoài việc tạo ra robot có hình dạng con người, với kỹ thuật hiện nay, những  con chó robot đi bằng 4 chân và thao tác như chó thật đã được ra đời và có khả năng giống như quân khuyển.

Các rô bô 4 chân này đã làm nhiệm vụ bảo vệ một căn cứ trong cuộc thử nghiệm mới đây của Hệ Thống Quản Lý Chiến Đấu Nâng Cao (Advanced Battle Management System, ABMS) của Không Quân Mỹ.

     Cuộc tập trận chung của Hệ Thống Quản Lý Chiến Đấu Nâng Cao (Advanced Battle Management System gọi tắt là ABMS).

Không Quân vừa tổ chức buổi trình diễn thứ 2 của Hệ Thống Quản Lý Chiến Ðấu Nâng Cao (Advanced Battle Management System) mới. Một hệ thống liên kết chiến đấu kỹ thuật số, được thiết kế để thu thập, phân tích, chia sẻ trong quân đội Mỹ và các lực lượng đồng minh. ABMS đã trải qua nhiều lần kiểm tra, thực tập, kể cả tập trận bắn đạn thật hồi đầu năm, với dữ liệu và thông tin đã được cung cấp, một phần nhờ vào các vệ tinh của SpaceX Starlink.

Các mẫu “Chó rô bô” vision-60. Nguồn.www.techtimes.com

Ðiểm nổi bật của buổi trình diễn là sử dụng nhiều bộ phận cảm biến để tìm ra và bắn hạ các hỏa tiễn hành trình (giả) của Nga. Hệ thống này bao gồm mạng 5G và 4G, hệ thống máy tính, hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) để cung cấp mức độ nhận thức tình hình và quyết định hành động. ABMS là một hệ thống ưu tiên tối ưu của Bộ Không Quân, được chi $3.3 tỉ trong 5 năm để phát triển và xây dựng các kiến trúc, hệ thống liên quan.

Buổi trình diễn vừa qua của ABMS bao gồm 65 đội nhân viên chính phủ của mọi ngành, kể cả cảnh sát biển, 35 đơn vị quân đội riêng biệt, 70 hợp tác công nghiệp khác nhau, cuộc tập trận trải dài trên 30 địa điểm và 4 quốc gia.

Chó K-9 và “Chó rô bô” cùng tập trận. Nguồn.www.airrecognition.com

Chó rô bô Vision 60 tập trận chung

Ngoài việc kiểm tra các hệ thống thu thập và chia sẻ dữ kiện, mọi người cũng chứng kiến  Không Quân sử dụng rô bô chó 4 chân để bảo vệ khu vực chung quanh phi trường Không Quân Nellis. Các con “Chó rô bô” do Ghost Robotics sản xuất. Mẫu “Chó rô bô” có tên là Vision 60. Vision 60 được thiết kế cho các nhiệm vụ kiểm tra từ xa, tình báo, giám sát, trinh sát, đánh dấu vị trí địa hình, truyền thông và bảo vệ an ninh.

“Chó rô bô” canh phòng biên giới. Nguồn.biodesign.berkely.edu

Khả năng của Vision 60

Có vài chi tiết về công nghệ đã thử nghiệm trên các “Chó rô bô” Vision 60 suốt thời gian tập trận ABMS, theo hình dáng thì có khác nhau, một số có cặp ăng ten trên lưng, vài con khác có bộ phận cảm biến hay liên lạc ở ngay đầu. Qua các hoạt động, chúng ta thấy rằng “Chó rô bô” Vision 60 tự kết nối dữ liệu và liên lạc với các hệ thống khác.

Theo trang web của Ghost Robotics, “Chó rô bô” gần như bất khả xâm phạm và thiết kế của toàn hệ thống đã cho nó khả năng thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau.

Vision 60 đã vượt trội hơn so với các thiết bị chuyển động bằng bánh đã thấy trước đây. Vision 60 nhỏ, gọn, rất linh hoạt và được thiết kế để hỗ trợ các nhiệm vụ có trọng tải nhẹ.

“Chó rô bô” canh phi trường. nguồn. USAFSgt. Cory Payne

Các rô bô 4 chân này có thể hoạt động cùng với con người. Các nhiệm vụ nhàm chán như canh gác, hoặc nguy hiểm và đòi hỏi phải có sức chịu đựng sẽ được chuyển giao cho “Chó rô bô”, Vision 60 có thể đóng vai trò quan trọng trong nhiệm vụ tuần tra biên giới, đi tiền sát trong các cuộc tuần tra, truy tìm mìn bẫy, chất nổ, và phá hủy.

“Chó rô bô”, cũng có khả năng mang hệ thống thông tin và máy tính quan trọng để kết nối với các đơn vị tác chiến ở tuyến đầu, khả năng dò tìm định vị trong khu vực tác chiến để báo động nguy hiểm cho các đơn vị. Vision 60 có thể truy tìm, đối phó và gây sát thương cho quân địch ở những nơi nguy hiểm mà các chiến sĩ không cần phải làm việc đó.

Thật thú vị để xem “Chó rô bô” Vision 60 và các khả năng hoạt động của nó sẽ đi tới đâu trong tương lai gần đây, nhưng thật rõ ràng là những cảnh các rô bô làm việc chung với người trong phim khoa học viễn tưởng cách đây vài năm đã trở thành sự thật.

“Chó rô bô” tìm và phá hủy chất nổ. nguồn. Provided by Task & Purpose

“Chó rô bô Vision 60” của chúng tôi được thiết kế để thích nghi nhanh chóng với môi trường, vì đã được tạo chương trình (Và các kỹ thuật cơ phận) bắt chước các động tác của động vật khi hoạt động trong thành phố và thiên nhiên, ngay cả khi gặp môi trường lạ hoặc hệ thống cảm biến chung quanh bị trục trặc, nó vẫn tự hoạt động. Bạn có thể yên tâm khi “Chó rô bô” Vision 60 gặp trục trặc, nếu té theo bất cứ tình trạng nào, nó cũng có thể tự đứng dậy và tiếp tục hành trình.

Mục tiêu của chúng tôi là biến “Chó rô bô Vision 60” thành một công cụ không thể thiếu và liên tục đẩy xa những giới hạn, liên tục cải tiến khả năng của nó trong việc đi bộ, chạy, bò, leo và cuối cùng là bơi trong một môi trường phức tạp mà những người lính tác chiến phải hoạt động ngày đêm. Cuối cùng thì chúng tôi tạo ra“Chó rô bô Vision 60” là để giữ an toàn cho chiến sĩ, công nhân, cảnh sát và cả chó K-9 của họ.

“Chó rô bô” có vũ khí. Nguồn.ca.news.yahoo.com

Các tính năng chính của “Chó rô bô Vision 60”

Nặng: 51kg, chống thấm nước, nhiệt độ: -45-55C, tốc độ: 3 m/1 giây, tầm hoạt động xa: 10 km, thời gian tối đa của năng lượng: 3 giờ, CPU NVIDIA Xavier, trọng tải tối đa: 10 kg, thời gian lắp ráp, tháo gỡ:15 phút.

“Chó rô bô” tuần tra tác chiến. Nguồn.Breakingdefemse.com

HĐV

Theo:  Brett Tingley and Tyler Rogaway.

Chết vì nước!

Hồ Đắc Vũ

November 17th, 2022

Post by Sơn râu 2 Jan 2024

Sau một vòng tuần tra ở khu vực tình nghi B2 thuộc dãy núi đá đầy hang động bên phải đèo Termez, nằm sát vòng đai trại tiền phương, trên đường về, cả toán đi ngang khu làng nhỏ, còn sót lại sau những trận bom đạn. Chừng 10 căn nhà xiêu vẹo, xây bằng đất bùn trộn đá, lợp rơm, quay chung quanh chiếc máy bơm nước bằng tay kiểu xưa, sát hồ chứa bằng gạch đã ngả màu đen. Trời nóng gắt, vài cơn trốt nhỏ xoay vòng tung lớp bụi mù vô toán lính rừng.

Harry Nguyen đưa tay:

– Nghỉ.

11 người người lính tỏa ra chung quanh chọn vị trí an toàn, gác súng, cởi ba lô, nghỉ.

Dù đây là khu làng có thiện cảm với lính Mỹ nhưng Harry vẫn quan sát một vòng qua ống dòm theo quy luật tuần tra. Không có gì thay đổi, không dấu hiệu khả nghi. Trước cửa nhà, trong bóng mát dưới mái rạ, vẫn những bà quấn khăn, áo choàng đen rách rưới, ngồi lim dim ngủ; mấy đứa con nít mặc quần sọt, đi chân không, chơi đá bóng với trái banh tennis trụi lông, lòi lớp cao su đen. Xa một chút, cái chuồng bằng cây quấn kẽm gai bên hông nhà, một bầy dê leng keng chuông cổ; cuối làng là tiệm bán thực phẩm, bánh mì dẹp, mấy miếng thịt dê trên quầy ruồi bu kín, bay vo ve quanh khuôn mặt hốc hác dưới chiếc khăn quấn đầu đã ngả màu nâu vàng giống như con rắn phơi khô của cha bán thịt đang há miệng ngủ trưa. Khuất sau các khung cửa đất sét đã mất từng mảng lớn, mấy bà, mấy cô đang nhồi bột, làm bếp cho bữa tối, mùi bánh mì nướng, thịt dê thoang thoảng.

– Vẫn như cũ, chưa có gì lạ.

Harry Nguyen lầm bầm, ngả người, dựa vô bức tường đá núi, đối diện ngôi làng:

– Tao ngủ một chút.

Chừng 5 phút.

– Hê! Nguyen, tới đây.

Jay chỉ vô màn hình theo dõi của chiếc máy bay không người lái đang bay tuốt trên trời, hoạt động không thám trong vùng.

– Có người lạ tới.

Trên con đường mòn vòng vèo qua núi, dáng một người cỡi lừa đi tới làng.

– Vô sát cho rõ, tao chưa nhận dạng được.

Jay cho màn ảnh lớn ra. Ðúng là có một người áo choàng đen, râu ria kiểu Taliban, cỡi con lừa ốm tong teo, đeo một máy nghe nhạc quay tay kiểu xưa, đang qua eo núi, tới thẳng đây.

Ông ta mập, mặc toàn đen, khuôn mặt bóng mỡ trên những xâu chuỗi dài ngắn, đủ màu, che hết cái cần cổ nung núc thịt. Dưới cái cái áo choàng to là con lừa ốm lòi xương mông như hai mảnh gỗ tam giác, hai bên chở hai bao cói nhỏ, lòi ra mấy cái đầu của búp bê làm bằng rơm.

Ông tới căn nhà thứ nhì trong làng, mấy người chạy ra đón, ôm nhau chào hỏi vui vẻ. Họ ngồi ngoài hiên, ông già lấy bao ny lông, bày những trái cam vàng lên chiếc bàn gỗ. Cô gái trong nhà mang ra bình nước giải khát màu xanh bạc hà. Họ ăn cam, uống nước, cười nói.

Hồ Đắc Vũ

Nguyen để ống dòm xuống:

– Tao muốn kiểm tra khách hàng mới, lấy hai em đi, còn lại yểm trợ phía sau.

Ba người lính rừng vô làng, anh đi thẳng tới căn nhà có khách, cười thân thiện:

– “Salaam Alaikum”, xin chào mọi người.

Ông già đưa tay:

– Chào!

Hai người lính rừng lui ra sau trong tư thế bảo vệ, Nguyen đến sát bên bàn, cởi nón, lấy mấy lon coke trong túi vải, bỏ ra bàn.

– Mời!

Mọi người uống coke, Nguyen nhìn ông già:

– Ông từ đâu tới?

Ông già cười lớn, hai tay chỉ lên trời.

Sợ ông không biết tiếng Mỹ, anh nói thật chậm:

– Tôi muốn hỏi ông từ làng nào tới đây?

– Anh lính ơi! Ala sai tôi tới đây, mang niềm vui cho mọi người.

Nguyen nhìn ông già mập:

– Bằng cách gì?

Ông già không trả lời, lấy máy chơi nhạc, quay mấy vòng, tiếng nhạc Ả Rập vang lên những nhịp điệu vui vẻ, leng keng như tiếng chuông lễ.

Ông lôi trong 2 túi cói, những con búp bê làm bằng rơm, mặc áo quần chắp vá, rằn ri:

– Âm nhạc chào mừng hạnh phúc và đồ chơi cho trẻ em nghèo.

– Tôi thấy ở đây các em thường chơi đá bóng.

– Tôi có hai quả bóng da, tuyệt đẹp.

Ông già mở túi cói thứ nhì, lấy ra hai quả bóng:

– Nè!

– Ông tử tế quá. Mong rằng ông mang niềm vui cho mọi người và cả chúng tôi nữa. Xin chào mọi người, hẹn gặp lần tới.

Harry Nguyen ra cửa, anh đứng lại cho mấy đứa trẻ đang đợi vài phong kẹo sô cô la rồi ra hiệu cho toán tuần tra trở về trại.

Từ hôm đó, ngày nào cũng vậy, 6 giờ sáng, từ trại tiền phương đã nghe tiếng nhạc Ả Rập leng keng đều đều từ dưới ngôi làng nhỏ.

Trinh sát cho biết, ông già mập làm túp lều ngay đầu làng, suốt ngày quay máy nghe nhạc, chỉ nghỉ khi ăn trưa và tối.

Nhờ tiếng nhạc chuông Ả Rập, dân trong làng thấy vui, những người lính rừng của trung đội A15 cũng bớt chán.

Mấy hôm sau, bên trinh sát và không thám từ Mazar-e-Sharif cho hay, nhóm khủng bố sắt máu của Taliban do Abdul Zahir đã biến mất khỏi hang ổ ở Kajai, tỉnh Helmand từ tháng trước. Phòng hành quân tình nghi tụi nó đang dồn quân, chuẩn bị làm một vố lớn, nhưng họ hoàn toàn chưa biết bao giờ, ở đâu nên các toán trinh sát, tuần tra, quần liên tục cả khu vực B1, B3, B5.

Toán lính rừng đang ngồi nghỉ ở tiệm thực phẩm nằm cuối con đường chính băng ngang ngôi làng nhỏ. Harry Nguyen bước vô căn chòi vách đất, nơi ông già ngồi quay máy nghe nhạc Ả Rập, có chiếc bảng nhỏ treo ở ô cửa tò vò “Cầu xin Ala ban phước lành”.

– “Salaam Alaikum”, xin chào ông.

– Chào anh! Ala ban phước cho anh.

– Cám ơn. Ông vẫn tiếp tục quay máy nghe nhạc mang niềm vui cho mọi người?

– Ðều đều mỗi ngày, cho đến khi xong sứ mạng.

– Sứ mạng gì?

– Thừa sai Ala, mang niềm vui nhỏ tới ngôi làng xa xôi này.

Ông chỉ tấm bảng ở cửa tò vò.

– Tôi còn coi số mạng và làm lễ cầu nguyện phước lành cho mọi người.

Như nghĩ ra điều gì, ông già, ngưng quay máy nhạc, nói:

– Anh lính, tôi có thể coi vận mạng cho anh.

Harry cười:

– Vận mạng của tôi nằm trong tay Chúa…

Anh đưa khẩu M18, tiếp:

– … Và khẩu súng này, đâu cần coi.

Ông già thuyết phục.

– Nhưng anh có thể biết trước những hên xui, hiểm nguy gì sẽ đến với mình, nên có thể đề phòng, tránh khỏi.

– Tôi là quân nhân sống với đạn bom, thường xuyên đứng giữa sự sống và cái chết. Tự tránh khỏi cái chết là chuyện nhất thiết của vận mạng, là chuyện luôn luôn phải làm trong những giây phút chiến đấu tử sinh. Vây tôi biết để làm gì?

Ông già đứng dậy, khuôn mặt bóng mỡ bỗng buồn, giọng run rẩy:

– Này anh lính! Anh không muốn biết vận mạng của mình nhưng Ala muốn cho anh biết…

Ông ngưng lại, tiếp tục quay máy nghe nhạc, nói thật chậm:

– Anh sẽ chết vì nước! Chết vì tắt thở trong nước.

Harry Nguyen cười:

– Ha ha! Quả là điều vô lý, quá vô lý, không có thể xảy ra! Tôi, Harry Nguyen, trung úy, Người Mỹ gốc Việt Nam duy nhất của đội lính rừng 91, toán trưởng 6A. Năm 2018, đóng ở trại tiền phương, đặc khu Pratt, vòng đai thành phố Mazar-e-Sharif với trách nhiệm truy lùng, tiêu diệt hang ổ của Taliban và những căn cứ mật phía biên giới Ðông Bắc, sát Pakistan. Lính rừng thì tất nhiên chuyên môn đánh đấm ở vùng rừng núi. Từ hồi tham chiến tới giờ, tôi thấy toàn núi rừng. Ở Afghanistan không có rừng, toàn núi đá đồi trọc, hang động, xa suối sông kinh rạch, biển là chuyện quá không tưởng, vậy mà ổng phán “Anh sẽ chết vì nước! Chết vì tắt thở trong nước”. Nhưng, tôi cũng cám ơn ông đã tiên đoán.

Harry đưa tay chào ông già, ra khỏi lều.

Trời ngả nắng, buổi tối kéo tới vài cơn gió ẩm thấp với những đám mây hiếm hoi trên bầu trời ửng màu cam đỏ, báo hiệu cho cơn nóng khô người kéo tới ngày mai.

Tiếng máy nghe nhạc Ả Rập vẫn leng keng. Các đèn pha sáng rực 4 mặt trại lính rừng tiền phương, hai tiểu đội đã vào vị trí tác chiến.

Ðêm thật yên.

Ðã 9 giờ tối, Harry Nguyen, nhắm mắt, đang cố tìm giấc ngủ ngắn trong phiên trực chiến của mình.

Nhưng.

– Ầm! Ầm! Ầm! Ầm!

Bốn tiếng nổ của hỏa tiễn cá nhân M72 rung rinh cả trại, H. Nguyen lăn xuống giường, chụp khẩu M18, bò ra cửa. Tiếng súng đại liên M60, tiếng AK, tiếng B40, M16 nổ khắp nơi, những ánh chớp của đạn lửa, B40 rực sáng. H. Nguyen chạy tới vị trí tác chiến. Jay nói:

– Tụi chuột chơi trò chui hầm độn thổ, nhào vô sát cổng trại. Tụi nó đông như chuột, chơi hỏa tiễn cầm tay liên tục, muốn tràn ngập trại, chắc là đám Abdul Zahir.

– Gọi ngay trực thăng tác chiến, cối, pháo binh!

H. Nguyen chụp máy trên tay người lính liên lạc:

– Phi pháo! Phi pháo! Trại tiền phương bị Abdul Zahir tràn ngập. Khẩn cấp, khẩn cấp!

Tiếng máy xè xè.

– Khó tác xạ, vì bọn rệp đã tràn vô trong trại. Trực thăng tới ngay.

H. Nguyen và 2 trung đội lính rừng nhào thẳng ra mặt trước cổng trại, tổ chức phản công, mở đường máu.

Trại tiền phương biến thành cơn địa chấn hỏa ngục. Tiếng súng, hỏa tiễn, đại liên sáng rực cả vùng. Bọn rệp la hét, rú lên từng tràng man rợ, tấn công liên tục. Hai chiếc trực thăng tác chiến không làm ăn gì được vì bọn Abdul Zahir đã chơi biển người tràn ngập, quyết tâm tàn sát trại tiền phương này.

– H. Nguyen, tụi nó tràn tới kho vũ khí và phòng chỉ huy, hỏa lực tối đa, ta phải rút thôi.

Jay la trong bộ đàm.

H. Nguyen ra mệnh lệnh cuối cùng:

– Vọt nhanh ra ngoài, cho trực thăng xơi tụi nó!

Anh hét:

– Ðại bàng, đại bàng xực tụi nó!

Từ phòng chỉ huy, H. Nguyen ôm khẩu M60 bắn từng loạt, yểm trợ cho trung đội mở đường máu, thoát ra cổng chính.

Hai chiếc trực thăng Appache làm cú thứ 2, nã rốc kết xuống ngay trại, bọn rệp liều mạng chơi 4 quả M72, chiếc Appache trúng đạn, xoay vòng, nổ tung như trái cầu lửa.

H. Nguyen chạy tới cổng thì khẩu M60 hết đạn, anh ném khẩu súng, chạy ra cổng. Cũng đúng lúc, từ nóc nhà chỉ huy, tay Taliban đưa khẩu B40, nhắm vô anh, bóp cò.

– Ầm!

Hai trái M72 khác nổ tung ngay những người lính rừng đang tháo chạy.

Ðám khủng bố Abdul Zahir tràn ngập. Hai trung đội lính rừng thoát được một số ra ngoài, chiếc trực thăng còn lại xuống thấp, chơi hết hỏa lực, mở đường máu.

Cơn địa chấn hỏa ngục lắng xuống, qua đi.

-oOo-

– Ê, H. Nguyen! Thằng chó, mở mắt ra, mầy chưa chết đâu.

Giọng tiếng Anh pha Ả Rập nhừa nhựa.

– Mở mắt để thấy Abdul Zahir, người cách đây hai năm đã bị mầy chơi một loạt M18, rớt mẹ cái chân trái, nhưng còn sống nhăn. Ha, ha, haaaaa.

Tay trùm khủng bố Taliban ngửa mặt, cười điên dại.

Cú B40 làm H. Nguyen rách như tàu lá, lịm trong cơn đau, một vết cắt sâu trên đùi, máu thấm ướt chiếc quần, anh cố trườn tới, ngẩng đầu.

Trước mặt là Abdul Zahir với hai cận vệ mặc toàn đen, và đám Taliban khát máu, những khẩu AK chĩa thẳng, chực bắn nát anh.

Abdul Zahir đưa tay, tụi nó hạ súng.

– Nhưng! Harry Nguyen, mầy không được chết một cách êm ái như vậy.

Hắn quay lại ra hiệu cho hai cận vệ, bước tới, quỳ xuống.

– Hai năm qua tao tật nguyền, một chân, mầy đâu có hiểu được những đau đớn của thể xác này. Mẹ, hai năm tao là con sư tử cà thọt chết hụt, lê lết trốn chạy như chuột núi ghẻ lở…

Abdul Zahir chụp đầu Harry Nguyen kéo lên:

– Mẹ mầy, thằng chó! Cũng hai năm trước mầy đã chơi hỏa công, đánh vô hang núi nướng cả bầy lính của tao chết như chuột thui… Harry. Nguyen ơi, máu trả máu, chân trả chân!

Zahir nhanh tay rút phắt cái dao rừng sau lưng, chặt một phát vô đùi Harry.

– Ahhhhhh!

Harry cong người, gục xuống.

– Ðau hả con? Tao đã đau hơn mầy nhiều, tao đã sống như một con chuột ghẻ hèn nhát, khổ sở suốt những hang núi của vùng Kajai, Helmand. Tao không còn là một người chỉ huy có thớ của Taliban. Bọn lính coi thường kẻ chết hụt như tao!

Ánh dao rừng lóe lên, chặt ngay cái đùi kia của Harry.

Harry rú lên, ngửa mặt.

– Bây giờ thì mầy phải trả cuộc đời mình cho tao.

Zahir ra dấu cho hai thằng cận vệ:

– Mang nó tới hồ nước kia cho nó về chầu Ala!

Cả đám khủng bố đi theo. Hai tên cận vệ đặt Harry ngồi ngay thành hồ nước của ngôi làng nhỏ. Mấy người dân và những đứa trẻ lấp ló sau các cửa; ông già quay máy nghe nhạc bước ra khỏi lều, lặng lẽ nhìn tụi man rợ hành quyết Harry.

Abdul Zahir, ra hiệu cho cận vệ nắm hai tay, vực Harry đứng dậy, quay mặt vô hồ nước.

– Harry! Mầy trả nợ máu cho tao và Taliban.

Tên thủ lĩnh Taliban, Abdul Zahir đưa cao khẩu AK, đập mạnh vô lưng Harry, anh té nhào vô hồ nước, hai cận vệ đè hai vai, trấn đầu anh trong mặt nước hồ vàng cáu, Harry chỉ vùng vẫy được vài phút rồi anh hụt hơi, lặng yên, đôi chân anh sụm xuống, chết.

Ông già quay máy nghe nhạc, cúi đầu thở dài.

– Ala! Tội nghiệp anh lính, tôi đã nói trước, anh sẽ chết vì nước. Chết vì tắt thở trong nước.

Ðúng lúc đó hai trái hỏa tiễn Hellfire AGM-114 từ chiếc máy bay không người lái tuốt trên trời rớt xuống cái rẹt, thật yên lặng, không một tiếng nổ, chỉ tiếng xẹt xẹt của 3 cánh thép, cắt nát đám Taliban và tay trùm.

Chỉ trong một phút ngắn ngủi, cả đám khủng bố khát máu, cùng nắm tay Abdul Zahir về chầu Ala trước cái chết của người lính gốc Việt can trường Harry Nguyen.

Ngã ba đường Chú Ía!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 2 Jan 2024

Xa quê cũng kha khá là lâu! Nhưng cuống rún vẫn chưa lìa. Lòng tui vẫn còn canh cánh mảnh tình quê. Nên tui thường hay lên mạng xã hội để tìm tin tức về Sài Gòn trong thời đại dịch! Coi bà con mình sống ra sao? Buồn thay, những bản tin tui đọc chỉ hiểu lờ mờ, hiểu lơ mơ, hiểu ù ù cạc cạc.

Tui phải chuyển nguyên cái bản tin cho anh Ba Thời sự, bạn nhà báo của tui, tài phiên dịch (bằng chữ) và thông dịch (lời nói) rất là siêu việt. Google translate còn phải ngả nón cúi đầu kêu ảnh là Sư Phụ.  Giỏi cỡ hạng chuyên viên Việt ngữ của Bộ Ngoại Giao Úc, vì ảnh đang soạn một cái luận án Tiến sĩ về Ngôn ngữ học. Tựa đề là: ‘Tiếng Việt thời Cộng sản!’ Tui kêu ảnh ngày gởi vài từ trong cuốn từ điển để tui học thêm cho cái đầu của tui bớt u tối và mắt của tui sáng ra.

Tui thấy chữ ‘đề nghị’ soạn giả Ba Thời sự cắt nghĩa là ‘xin’. Hỗ trợ’ là ‘giúp’. Thí dụ “đề nghị Mỹ hỗ trợ vắc-xin” nghĩa là: “xin Mỹ cho thuốc chích ngừa”.

Tuy nhiên ảnh nói cuốn từ điển nầy không đủ giúp chú mầy hiểu mấy quan chức CS nói gì đâu? Vì cách họ nói như đọc thần chú: “úm ba la đưa vô lấy ra!”.

Muốn hiểu mấy câu thần chú đó, chú mầy phải biết xài 5 chữ Ws. Who: Ai nói? What: Nói cái gì? When: Nói khi nào? Where: Nói ở đâu? Why: Tại sao?

Cái ‘Why’ nầy quan trọng nhứt; vì nó cho chú mầy biết cái tỏng, cái tim đen của mấy quan. Tại sao mấy quan nói như vậy? Nói để có vàng, có đô làm phồng thêm cái túi áo khỉ của quan bà hay không?

Trời đất ôi! Tui tài hèn sức mọn! Anh Ba Thời sự lại đặt chần vần trước mặt tui một ngọn Hy Mã Lạp Sơn. Chắc tui phải bỏ cuộc giữa chừng. Nghe tui chạy xịt như vậy, ảnh nói tui đang ở nước Úc văn minh sao để ên mình ngu toàn tập?

Nhưng giận thì giận, thương thì thương, ảnh bèn giúp tui diễn Nôm những bản tin trong nước chứa đầy những câu thần chú. Cái gì còn không hiểu thì cứ ra siêu thị mua con gà quay sẵn và một thùng bia mang tới. Ảnh sẽ cắt nghĩa tận tường, rành rọt ngô khoai. Vì nếu không làm, lòng ảnh đau đớn lắm khi thấy tui tụt hậu, đi sau đít của người ta tất chẳng thơm tho gì!

o O o

Anh Ba Thời sự nhập đề là: Từ năm 1995 đến nay, các đời Tổng thống Mỹ từ Bill Clinton, George W. Bush, Barack Obama đều có đặt chưn tới Việt Nam. Bill Clinton khoái ‘phở’ có hai cái nháy nháy, ăn ở Sài Gòn. Barack Obama khoái cho cá ăn, ăn bún chả ngoài Hà Nội. Dẫu chưa tới Việt Nam, Joe Biden được báo quốc doanh nịnh dơ là Joe đã từng ‘lẩy’ Kiều khi gặp chóp bu CSVN: “Trời còn để có hôm nay. Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời” để chấm dứt một thời cựu thù, gặp mặt nhau, là cứ ‘pằng pằng”. (Tui tin nó tán phét là tui chết liền!)

Bây giờ Kamala Haris, một nữ Tổng thống Mỹ đầu tiên, cũng đầu tiên, (nghĩa là ‘tiền đâu’?)  đến Singapore rồi Hà Nội để làm cái giống gì?

Vì Hoa Kỳ muốn Singapore và CS VN cho hàng không mẫu hạm, tàu chiến thuộc Hạm đội 7 đến thăm. Thực chất là kiếm chỗ cho lính Mỹ xả hơi, sau một khoảng thời gian chạy tới chạy lui ngoài Biển Ðông nghinh ngó, chọc quê Tập Cận Bình.

Dĩ nhiên, thời đại dịch toàn cầu, không mần ăn được gì ráo, đói meo nên Thủ tướng Lý Hiển Long của Singapore mừng húm. Lần mừng húm trước là lúc Hạm đội 7 tham chiến tại Việt Nam. Từ  một làng chài hoang vắng những năm 60s, Lý Quang Diệu làm thu nhập trung bình của người dân Singapore thuộc hạng cao trên thế giới. Dĩ nhiên giới chóp bu của đảng CSVN, mũi rất thính với hơi tiền đâu bỏ qua dịp may hiếm có nầy.

Ðiều quan trọng hơn là việc hiện diện thường trực ở Biển Ðông vì Mỹ không muốn Bắc Kinh xài luật rừng. Mỹ muốn Tập Cận Bình phải tuân thủ Công Ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS).

Bà Phó Tổng thống Mỹ thúc giục CS Việt Nam hãy cùng với Mỹ chống lại lối hành xử ‘bắt nạt’; giờ hung hăng tới mức ‘ép buộc’ và ‘hăm dọa’ nước khác nhằm đòi hỏi chủ quyền trên biển quá đáng của Trung cộng”

Nghe vậy, mấy quan lớn ‘đảng ta’ vội co đầu rụt cổ. Vì vài giờ trước, Thái thú, Ðại sứ Trung Quốc đã đến Bắc bộ phủ dằn mặt. Coi đàn em có xiêu lòng trước lời đường mật của Chú Sam rù quến hay không?

Làm mấy quan teo bugi, thề thốt tưng bừng: “VN vẫn coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc và Việt Nam không liên minh, liên kết với nước này để chống lại nước khác!”

Anh Ba Thời sự diễn Nôm là: “Thấy tiền đô, em cũng ham thiệt, nó cho thì em lấy; nhưng thề có đất trời ngộ không phụ nị đâu!”

o O o

Bài Ðịa lý hồi nhỏ Thầy cô mình có dạy: “Việt Nam là cái bao lơn nhìn ra Biển Thái Bình Dương”. Cái thế địa chánh trị đẹp tuyệt vời như vậy nên phần số Việt Nam hồng nhan đa truân. Hết thực dân Pháp cuối thế kỷ 19  Rồi CS giữa thế kỷ 20. Ðất nước triền miên chìm trong khói lửa. Giờ tới phiên ‘Ðế quốc’ Mỹ lại tới!

Bỏ Kabul, Thiên hạ nói Mỹ là thằng Sở Khanh! Nên Chú Sam phải thề thốt lung tung: “Afghanistan khác Biển Ðông. Quyền lợi của Mỹ và các đồng minh Nhựt Bổn, Nam Hàn, Ðài Loan rất lớn. Mỹ đâu có ngu mà giữa chừng chạy xịt”

Mỹ ve vãn!  CSVN hổng tin! Vì nó cũng là vua nói dóc, vẫn thường: ‘Khi khóe hạnh khi nét ngài. Khi ngâm ngơi nguyệt khi cười cợt hoa” nên buộc Chú Sam phải “Nói lời phải giữ lấy lời, đừng như con bướm đậu rồi lại bay”

Vậy là để làm tin, Chú Sam mướn đất tại Hà Nội tới 99 năm. Sùy ra tới 1.2 tỷ USD, để xây Tòa đại sứ mới.

Rồi nếu VN chịu kết tóc se tơ, trăm năm hương lửa, thì đây là quà chạm ngõ, ra mắt bên đàng gái: 11 triệu đô tiền mua thiết bị y tế. 1 triệu liều vaccine Pfizer-BioNTech trong vòng 24 giờ sẽ tới Hà Nội và Sài Gòn. Chú Sam chơi sộp, móc xỉa liền lập tức.

Thiên hạ nói bà Phó Tổng nầy tốt! Nhưng mấy bồi bút báo quốc doanh nói: “Tốt gì? Việt Nam đã hào phóng ‘hỗ trợ’ cho Mỹ hơn 250,000 đồ bảo hộ hồi năm ngoái. Nên giờ Mỹ cho lại 1 triệu liều vắc-xin Pfizer”

Anh Ba Thời sự diễn Nôm rồi thêm phần bình luận là: “Nghèo cho thằng giàu một cắc; giờ nó cho lại 100 đồng! Nhận đi!  Bố láo, bố lếu mà không biết xấu hổ ư?”

Rồi Mỹ hứa cho CS VN trước sau cả thảy 3 tàu của Tuần Duyên Hoa Kỳ. Và kêu VN cứ lấy về để tuần tra. Nếu Tàu cộng có dộng em thì sau lưng em còn có anh đây! Vì Hoa Kỳ sẽ ‘tiếp tục hiện diện mạnh mẽ trên Biển Ðông’. Nên em đừng có run! Hãy làm tình của đôi ta từ ‘Ðối tác toàn diện’ lên ‘Ðối tác chiến lược! Nghĩa là từ hẹn hò giờ đôi ta thành mèo chuột!

Em CSVN ỏn ẻn đáp lời: “Ðối tác chiến lược thì thủng thẳng đi! Giờ thì đôi ta hãy nhảy ‘lambada’ ‘làm bà đã’, đôi mình làm ‘Ðối tác toàn diện’ ngày càng sâu, vững chắc trước. Nhưng Chú Sam hứa là phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn lãnh thổ, thể chế của em nhe! (Nghĩa là đang mần ăn với nhau; đừng có lợi dụng thời cơ xuất kỳ bất ý mà lật nhào cái chế độ độc Ðảng của em bất tử nhe anh!)

o O o

Như Kiều đã ba chìm bảy nổi chốn lầu xanh, (thời mình nổi danh Ngã Ba Chú Ía), phục vụ cho nhiều khách làng chơi. Hết Nga, tới Tàu, giờ tới Chú Sam là khách sộp nhứt. CSVN tính lại chơi chiêu của Tú Bà: ‘Ðưa người cửa trước rước người cửa sau’ như trước tới giờ. Nhưng lần nầy, Chú Sam có vẻ quyết liệt quá. ‘Người ấy và ta em chọn ai?’

Không gật đầu sợ thằng Philippines nó mở lại căn cứ Vịnh Subic giựt mất mối. Còn: “Cũng liều nhắm mắt đưa chân thì sợ Chú Ba nó làm sảng, dộng sặc máu mũi bất tử.

Cũng như Kiều ở lầu Ngưng Bích trước khi theo Sở Khanh, CSVN đang ở giữa Ngã ba đường Chú Ía, lưỡng ước chẳng biết phải ngã về đâu?

Nét ăn nết nhậu quê người!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 2 Jan 2024

Hồi thời Việt Nam Cộng Hòa mình, dẫu đất nước còn đang chìm đắm trong cuộc chiến tranh vệ quốc để chống lại chủ nghĩa CS quốc tế nhưng bất cứ ai may mắn được đi du học, học xong đều muốn trở về.

Sau 30 tháng 4, năm 1975, ngày miền Nam sụp đổ, quân và dân Việt Nam Cộng Hòa mình đã bị trả thù, bị bức hại, bị hành hạ để cuối cùng phải bỏ nước ra đi.

Lần lượt đặt chân tới Mỹ, tới Úc, bà con mình chịu thương, chịu khó, chịu cực, chịu khổ để làm lại cuộc đời cho mình thì ít mà cho con cháu thì nhiều.

Cày kiếm được một mớ kha khá cộng thêm một chưn hụi mới hốt (Nếu thằng chủ hụi không đi quánh bài thua… rồi úp hụi, trốn) là mua một căn nhà để che nắng đụt mưa, để an cư lạc nghiệp. Trả hết căn nhà nầy mình kiếm khu khác giàu hơn để mua… rồi tiếp tục cày như trâu để trả.

Úc giàu, nhà sát biển, Việt nghèo, nhà sát rừng. Nhưng lục bóp Úc toàn là credit cards, xài trước trả sau. Trong bóp em yêu toàn là tiền mặt. Mấy đứa móc túi nó khoái bóp của mấy em mình lắm đó.

Mua được căn nhà trong mộng, em yêu thành ‘sư mẫu’ của Kiến trúc Sư Úc. Sửa chỗ nầy, cất thêm chỗ nọ. Thương chồng đi nhậu, mưa gió bão bùng, em tân trang cái nhà xe! Chơi cái tủ lạnh Samsung hai cửa để đựng beer, gắn máy điều hòa không khí, mùa hè nóng cho nó mát, mùa đông cho nó ấm!

Bàn ghế để ngồi nhậu, ‘sofa’ làm giường, xỉn, chìm xuồng tại bến; chớ không để đám bạn anh phải lạng quạng chạy xe về, cảnh sát thổi rượu mất bằng rồi đổ thừa em yêu là người hậu đậu!

(Nhớ hồi mới qua, ‘job’ chưa có, nên ở không. Cuối tuần gom lại nhậu chơi nên Úc cứ tưởng nhà nầy sao tuần nào cũng có đám giỗ!)

Tiếng Anh chỉ “hello’ “hi”, nên đành phải làm lơ hàng xóm Úc. Không được rủ nhậu, Úc nó méc Cảnh sát, mấy thằng ‘Vietnamese’ làm náo động cả xóm làng. Nhưng chưa tới 11 giờ khuya, đâu cần phải giữ im lặng để cho hàng xóm nghỉ ngơi… nên huề.

Cảnh sát Úc bèn chơi đểu, núp lùm ở đầu đường độc đạo, chờ tan tiệc! Vài con nhạn là đà bay ra là chặn lại. Mất bằng 1 năm rưỡi, rồi tốn thêm tiền luật sư cả một, hai ngàn bạc chớ ít đâu.

Bàn về cái nết nhậu giữa Úc và Việt mình thì hai đứa khác nhau xa.

Úc ra nhà hàng, ‘bill’ ra, ta thấy mặt người, là mỗi đứa móc ra vài chục đô, hùn trả. Tới nhà nhậu thì thằng rinh chai rượu, đứa vác thùng ‘beer’.

(Cái tui ghét cay ghét đắng là tụi nó hay lợi dụng cơ hội để ôm ‘hun’ con vợ mình! Cái đầu hói sàng qua sàng lại ba cái, thấy là nóng mặt hè.

“Ê nhập gia tùy tục! Chú mầy tới nhà tao, theo phong tục của tao, gặp vợ tao là phải chắp tay mà xá. Tao còn sợ nó huống gì chú mầy!”)

Ðối lại, tao cũng theo phong tục của chú mầy. Gặp vợ chú mầy thì tao cũng sẽ ôm, lúc lắc cái đầu, sàng qua sàng lại ba cái. Vợ chú mầy mập như cái lu, bụng tao cũng hổng muốn làm; nhưng e vợ chú mầy càm ràm là tao chê nó xấu hoắc nên hổng chịu ôm hun.

Chuyện tiền bạc cũng khác, người Việt mình, ai rủ thì thằng đó trả. Thời giờ ở đây còn quý hơn tiền. Nó phải ‘ní’ với mình lắm, kêu nhậu nó mới vác đầu tới chơi! Ðã hy sinh thời giờ (là vàng bạc), còn bắt nó móc xỉa nữa thì ai mà chơi hè?

Rồi nét ăn cũng khác quá xá là xa. Úc nó thích ăn ức gà, mình lại thích cái đùi gà. (Nghe tới đùi… ai mà không khoái chớ?)

Có lần tui nhậu hột vịt lộn với rau răm (gió đưa cây cải về trời, rau răm ở lại chịu lời đắng cay) chấm muối tiêu, ngon thấu Trời; vậy mà nó kinh hoàng, thè lưỡi hỏi: “Bộ đại ca ăn ‘baby duck’ hả?” “Vật dưỡng nhân. Con gì nhúc nhích là tao quất láng chít!”

Rồi đầu cá biển nấu canh chua, chấm với nước mắm y, đút vô miệng, nhai chầm chậm như trâu nhơi cỏ, mới cảm hết cái ngon; chiêu thêm một tớp whiskey, mồ hôi nó ra đầm đìa, đã cái lưỡi thôi hết biết. Vậy mà đầu cá, Úc nó đem vụt. Thiệt là hoang phí.

Hồi xưa, chợ Footscray nầy đây, đầu cá nó cho em yêu, sau em hà tiện đến chỉ để xin đầu cá, vậy là Úc nó bắt đầu tính tiền. Thiệt là cái thằng bần tiện.

Nhưng nói cho cùng cũng ‘fair’!  Của nó, nó có quyền cho hay bán. Cho thì lấy; bán rẻ thì mua! Vậy thôi.

Còn nết ở cũng khác. Úc hỏi: “Sao tiểu đệ thấy mấy đại ca người Việt cũng có mèo Úc. Nhưng một khoảng thời gian, bỏ con nầy chạy theo con kia; cuối cùng cũng cưới con gái Việt Nam hè. Bộ con gái Việt Nam có bùa sao đại ca?”

“Lá rụng về cội đấy thôi. Cội đây là mùi nước mắm, hương gây mùi nhớ mà!”

“Tiểu đệ có ba con vợ rồi đứa nào cũng bỏ mà đi. Còn đại ca với đại tỷ vẫn ăn đời ở kiếp… dù biết bao lần cãi nhau kinh khiếp?”
Câu trả lời là: “Tiền, tiền và tiền” “Ủa tiểu đệ từng nghe đại ca thuyết pháp là: “Tiền không mua được hạnh phúc mà” “Ðúng vậy! Có ‘shop’ nào bán hạnh phúc để chú mầy mua.”

“Tiền không mua được hạnh phúc nhưng làm con vợ ta hạnh phúc! Vợ chú mầy cần tiền chú mầy cho nó vay! Nó bỏ chú mầy là phải!”

“Còn ta, ta thấy vợ ta giận, ta đưa tiền. Thấy em buồn phiền, ta lại đưa tiền. Móc túi em, không có gì, ta lại đưa tiền. Xem bóp đầm em, không có gì. “Hết tiền sao không chịu mở mồm ra?” Và ta lại đưa tiền!”

“Ðồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Rồi sau đó muốn cái gì em cũng chiều hết ráo!”

***

Tui ở trọ quê người cũng hơn hai chục năm ròng, đủ để biết được nét ăn nết ở của người Úc. Hay tui học; dở tui ‘lơ’. Cái hay của Úc là: cái gì cũng “thank you” hết ráo.

Thằng bạn nhậu, già mất nết của tui bay về Việt Nam uống ‘beer’ ôm; nhưng sợ mấy em chặt chém nên nín khe không dám nổ ta đây.

“Anh là Việt kiều hả?” “Ðâu có nè! Nhưng sao em biết?”“Dễ ợt! Hun anh có một cái mà anh cũng nói cám ơn! He he!”

Ở Úc càng lâu, mình càng khoái phải không thưa bà con? Bởi chữ có câu rằng: “Thức khuya mới biết đêm dài. Ở lâu mới biết lòng người có nhân.”

Nhưng hôm cuối tuần, đi ăn giỗ nhà người bạn, tình cờ gặp một ông ở Việt Nam vừa được con cái chạy vạy tới lui, cày sút luôn đầu tóc mượn, mới đủ tiền lãnh được qua đây.

“Qua Úc nầy rồi tui mới hối hận, ngã ngửa ra khi đối mặt với cái thực tế phũ phàng là: đồng tiền kiếm được chua quá xá là chua. Hồi ở bển tui cứ tưởng đồng đô la nó mọc trên cây như lá, cứ ra mà ‘lặt’ chớ!”

“Cái xứ gì mà buồn thấy mẹ? Nhậu, phải đợi tới cuối tuần. Rủ mới mong có đứa tới. Còn những ngày khác hết trông mong.”

Sao bằng ở Việt Nam, sáng là kêu tô cháo lòng, đầy bao tử phèo non, 30 ngàn đồng, chưa tới hai đô, ngồi nhâm nhi. Rồi đứa nầy tạt qua, đứa kia ghé lại. Chẳng mấy chốc là xôm tụ như một sòng lắc bầu cua. Vui hết biết.

Còn bên nầy ra đường thì hổng thấy người đi bộ, chỉ thấy xe hơi chạy tới chạy lui mà mình hổng biết lái xe coi như hổng có cái chưn đi.

Tình làng nghĩa xóm gì nhạt phèo, chỉ ‘hai hai’ là hết. Mà tui đâu phải thứ hai; tui thứ ba mà!

Úc là thiên đường hạ giới, sao người thất nghiệp, không nhà không cửa, xin ‘tu đô la’ hoài hè… Còn xin thuốc hút nữa chớ. Thuốc hút gì mà mắc hơn cần sa, chỉ một điếu tới hơn một đô. Một đô ở Việt Nam, tui mua cả gói.

Rồi đàn bà con gái ở đây thiệt là hết nói.  “Không chồng mà chửa mới ngoan. Có chồng mà chửa thế gian sự thường.” Góp gạo nấu cơm chung cả năm, ba năm; nằm năm, ba lửa, con năm, ba đứa… mà vẫn chưa chịu cưới nhau?!

Vốn tôn trọng quyền tự do ngôn luận nên thây kệ, tui chỉ bỏ nhỏ rằng: “Những điều anh chê bai nước Úc, người Úc nầy thậm tệ cũng đúng; chớ hổng có sai. Tuy nhiên ở lâu lâu rồi anh sẽ yêu nước Úc cũng như tụi tui thôi.

Anh biết tại sao không? Vì nước Úc nầy không có ‘VC’. He he!”

 đoàn xuân thu.

melbourne