Mặt chuột

Nguồn: Internet

Post by Sơn râu 4 Jan 2024

Minh Văn và hành trình giải thoát gương mặt “chuột chũi”

Tiểu sử

Sinh ra và lớn lên tại vùng quê yên bình Vị Thủy – Hậu Giang, cuộc sống Minh Văn gắn liền với cánh đồng. Mẹ bị ung thư, kinh tế gia đình khó khăn một mình cha gồng gánh nuôi 2 anh em ăn học. Minh Văn luôn nỗ lực đạt danh hiệu học sinh giỏi suốt 12 năm liền. 

Khó khăn

Dù bản thân có nỗ lực, cố gắng thế nào đi nữa Minh Văn cũng phải chạnh lòng vì khiếm khuyết hàm hô trên gương mặt. Đi đến đâu cũng bị mọi người châm chọc hàm răng hô, mặt như “chuột chũi”.

Jw Tư vấn

TS. BS Nguyễn Phan Tú Dung – Giám đốc Bệnh viện Thẩm mỹ JW Hàn Quốc cho biết: “Minh Văn bị hô hàm nặng, hàm trên chìa về phía trước khiến cho gương mặt bị mất cân xứng. Nếu muốn cải thiện bắt buộc phải phẫu thuật cắt chỉnh cả xương hàm trên và hàm dưới”. 

Thực hiện

Ca phẫu thuật diễn  ra trong 3 giờ đồng hồ. Bác sĩ thực hiện cắt hàm trên đẩy lùi về sau, đồng thời cắt một tầng xương tiền đình hàm trên đẩy lên cho hàm ngắn lại. Tổng hai đoạn xương cắt gần 1,7 cm. Với kỹ thuật hiện đại tại JW, ca mổ của Minh Văn đã thành công ngoài mong đợi.

Kết quả

Chia sẻ  niềm hạnh phúc của mình, Minh Văn cười hiền: “Em vẫn còn thói quen mỗi ngày lại đưa tay lên miệng sờ vào môi để chắc rằng hai môi đã chạm vào nhau. Đến giờ, khi gương mặt đã dần ổn định, em mới dám tin mình đã thực sự thay đổi”.

Cuộc sống hiện tại

Với một diện mạo thanh tú như hiện tại, chàng sinh viên trẻ đã thoát xác hoàn toàn, xa rời cái bóng của biệt danh “chuột chũi” ngày nào. Chắc chắn trong tương lai gần, Minh Văn sẽ tiếp tục tạo dựng cho mình một khởi đầu mới đúng như mong ước và tâm nguyện của cả gia đình.

Mặt chuột

vanchuongviet.org

Hồ Đình Nghiêm

Post on 24 Jan 2020

Post by Sơn râu 4 Jan 2024

  Nếu bị sờ gáy, dẫn về đồn, Võ Nguyễn Khát không biết viết lời khai như nào tới mối liên hệ với Phạm Tam Bạc. Người ta sẽ nghi Khát đặt điều, thêu dệt. Đành rằng chuyện cổ tích thì bao giờ cũng hoang đường, nhưng thời buổi này… Đừng nóng, thằng Khát xin thề nói láo hộc máu. Khát này là người bà con thực thụ với Bạc mà! Lật gia phả ra, đốt đuốt nă m canh truy tầm lý lịch ba đời mà làm gì khi quê hương liền lạc đã lâu. Nam Bắc một nhà, đừng vu oan Khát thấy nhà sang bắt quàng làm họ.   Hồ Văn Mơ, còn được gọi là cậu Mơ Hồ trách Khát quá lo xa, đại ca đã liệu đường đi nước bước rồi, cứ vô tư thư giãn đi nhá, đời có bao lăm mà trông trước ngó sau. Văn Mơ là tài xế riêng của thủ trưởng Tam Bạc, người Khát chẳng khoan nhượng gọi bằng chú. Và ổng bận chút công chuyện ở cơ quan, đại ca sai tớ đi đón đằng ấy. Trước đó hai chục phút, HồVăn Mơ gọi vào di động của Khát: Ra tới rồi à? Hiện ở đâu? Khát giả nhời: Đang đứng ở trường chuyên Trần Phú ấy. Oai, làm thế quái nào mà lạc trôi tới chốn đó, hở ông tướng? Ơ, có người đẹp dắt đi tham quan thôi. Có xa xôi cách trở trái đường không? Ở yên đấy, tớ tới ngay. Hai mươi hai phút, ô tô con mang biển số đầu 15 A sờ tới. Nhanh nhỉ? Đường sá chẳng bị ùn tắc nhỉ? Phố phường cũng bé nhỏ thông thoáng nhẩy?   Mơ bảo Khát ngồi ở băng ghế sau, nơi có chở sẵn một cô bé nhiều thịt như cây nem nướng vừa chín tới. Đại ca rào đầu đó chỉ là món khai vị thôi, nhớ? Khuya hẵng sang Lê Hồng Phong nhập tiệc chính. Cô bé hỏi Mơ: Chú tính chở đi đâu? Khát nhìn chiếc váy ngắn, khi ngồi váy tự động co lên gần tận bẹn lấp ló nội y đỏ loét. Đoạn vải thiếu thước tấc nọ bày ra hai khoanh giò lụa nõn nà đã bóc hết lá gói. Xe dằn xóc chạy một đỗi tìm về nơi thanh vắng mà không là nhà nghỉ. Quanh co một chốc thì dừng bên đoạn sông mang tên Lạch Tray trôi hững hờ. Mơ nói khi rời xe: Tớ ba K. Khát chẳng hiểu, kiệm lời đến thế thì thôi. Là sao nhỉ? Ba K thì mua được những gì? Rách việc thật, ấy là không nghe không thấy không biết. Tớ ra bờ sông đứng đái, thắp thuốc hút và moi phone ra báo cáo cho đại ca an tâm. Chúc cả nhà vui vẻ.   Trong xe chỉ còn đúng hai mạng, nam nữ thọ thọ rất tương thân. Nữ tự cởi hết áo xống. Nữ biết bổn phận vì nữ từng nghe uy danh của ông sếp quận Hải An. Nữ chừng 17 tuổi, quê Hải Dương và người thơm như bánh đậu xanh đặc sản nức tiếng quê mình. Em tên chi ? Em tên Cát Bi. Bi nói thêm, kiểu không đánh đã vội khai: Em mới mất trinh tháng trước thôi, cũng bị lôi đầu đi như bữa nay. Khát nhớ báo đăng trước đây có bà ở Hải Dương đi đâu cũng gọi taxi, vào trong xe xong cái hiếp dâm mấy gã tài xế, nghe rất chi là hoang đường tựa người ngoài hành tinh vậy đó. Khát giả bộ làm tài xế xúi Cát Bi hiếp. Ô tô con lắc lư nhún nhảy điệu nhạc Rap. Sao anh mau ra thế? Ờ, vì vừa từ thành phố Hồ Chí Minh ra, người còn dật dờ say sóng máy bay.  Văn Mơ đến hẹn nại nên. Ba không mà giỏi chuyện lượng định thời gian. Ghé mắt vào hỏi Cát Bi: Xong rồi hở? Khoảng mười giờ nhớ gọi cho mấy em ở Thành Tô nhé. Cứ sửa soạn sẵn tớ đến rước đi karaoke. Này, cầm tạm ba trăm K, khuya trả nốt. Xe nổ máy, vùng vằn trườn ra ngoài lộ. Sau khi trả Cát Bi về lại hang ổ, Mơ mua cho Khát lon bia lạnh: Xui thật đấy, ra chơi không đúng vụ mùa, đại ca đang bị người dân tố lợi dụng quyền hạn và chức năng để tham ô bán đất công. Ông vừa nhắn tin, có thể xả láng đêm nay là lần chót, chỉ ngại mất mặt với người bà con từ phương xa lại mà chào đón chẳng đúng quy trình. Thôi, chuyện gì cũng còn có đó, giờ tớ chở đi nhìn mặt thành phố giàu mạnh một lần cho thoả.  Xe qua quận Ngô Quyền thì Mơ phát hoảng gần lạc tay lái. Ba xe mang biển số 15 B kè bên ép đứng tiến thoái lưỡng nan. Chúng gồm ba đứa tay nắm hung khí lăm le ập vào. Khát nghe rõ tiếng Cát Bi. Đừng đụng tới đứa kia, đè cổ tên tài xế ấy mà hỏi, thế nào hắn cũng mang theo bên người cả trăm triệu, chí ít. Mẹ kiếp quân hại người, chết với tay bà.  Khát co rúm người lại, rõ là cháy nhà ra mặt chuột. Cây phượng ở góc đường đứng lu câm, hoa thôi là lửa cháy khát khao.    20 Jan, 2020.  
Hồ Đình Nghiêm

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 4 Jan 2024

Bài 30

Phần 29

Hơn một trăm tù mới được bổ sung cho trại 1, được gài vào năm đội. Đội 5 có lẽ được gài nhiều nhất, vì từ B1 đến B5, B nào cũng thấy có người mới. Những dãy A, C, D và E ít hơn. Và như thế, xét theo tâm lý thông thường, những anh chàng bị gài một cách lẻ loi vào các đội khác chắc phải buồn và cô độc lắm! Nhưng dù ở đội nào, 8 giờ sáng tất cả lại được gặp nhau trên hội trường. Hội trường ở đây quả không “hùng vĩ” như hội trường bên Trảng Lớn, vì nó không do mồ hôi nước mắt của bọn tù dựng lên; nó là một dãy nhà tiền chế – có thể là dãy nhà kho trước kia – của Mỹ kiến tạo để lại.

Bọn quản giáo ở đây trông văn minh hơn bọn quản giáo ở Trảng Lớn. Thằng nào quân phục cũng thẳng nếp và có quân hàm trên cổ đàng hoàng. Tuy nhiên chúng có vẻ quan liêu và ác độc hơn. Cái cảm giác ấy khiến người mới đến thấy rằng, sở dĩ chúng quan liêu hơn chính vì thái độ quá khúm núm của các trại viên nơi đây; và ác độc hơn có lẽ vì trại này là trại nhốt toàn công an cảnh sát của chế độ cũ, một đối tượng mà chúng đã phải đặt thành vè:

Quân nhân công chức thì tha, Công an cảnh sát lóc da bêu đầu!

Tất cả lại được gặp nhau trên hội trường. Những người cũ trước khi đi lao động có xầm xì rằng số mới tới còn được biên chế nữa chứ chưa ổn định tại trại này. Tin đồn dù sao cũng làm anh em rêm mình. Nó mà phân tán mỏng thêm nữa chắc buồn lắm!

Khi mọi người lên tới hội trường đã có sẵn một lô quản giáo trên đó. Các đội trưởng, trong đó có đội trưởng Chúc, đều tỏ ra rất bận rộn với lũ tù mới. Chúc luôn miệng hét: Anh ngồi đây. Anh kia, ngồi yên chỗ đó.

Trên hệ thống loa của hội trường giọng một tên cai tù đã nổi lên: Thôi nhé, ổn định đi nhé! Các anh ổn định chỗ ngồi xong chưa?

Bên dưới chỉ có những tiếng “thưa rồi” của các đội trưởng. Nghe đáp, tên cán bộ cũng với cái giọng thì thì mà mà như trăm ngàn thằng cán bộ khác của tân chế độ, bắt đầu lên lớp.

-… Thế thì nà hôm nay tôi nhân ranh quản ráo đại riện khung trại 1, hân hoan chào mừng các anh mới từ Trảng Nớn biên chế về đây để tiếp tục học tập cải tạo.

Bên dưới nhìn lên giờ Vĩnh mới nhận ra hắn bị liệt mất một tay, tay trái. Vì liệt một tay nên người hắn đứng không thẳng, lúc nào cũng như có khuynh hướng sắp đổ sang một bên.

Bên trên sân khấu, ba hoa một hồi tên quản giáo thụt lùi vài bước tới trước một tấm bảng đen được dựng trên giá đàng hoàng. Hắn giơ tay kéo tấm vải xanh sang một bên, để lộ tấm carbon trắng viết chữ đỏ thật đẹp. Bên dưới bọn tù mới đến đều nghĩ bụng: Chà! Ở đây “văn minh văn hóa” thật! Công này cũng do mấy ông cải tạo viên đẻ ra đây thôi.

Tên quản giáo sau khi mở tấm vải ra, hắn kéo máy vi âm lại gần, rồi chỉ từng chữ trên tấm carbon và nói lớn.

– Bản nội quy của trại ta, hắn nói, gồm 4 mục chính: Ăn ở, học tập, lao động và đấu tranh sai trái. Tôi sẽ lần lượt đi vào các điểm của từng mục.

Hơn một tiếng đồng hồ ê a, tên quản giáo liệt một tay đi hết 38 điểm trong bản nội quy. Nội dung của nó cũng chẳng khác gì bản nội quy ở Trảng Lớn. Ăn ở thì phải vệ sinh có văn minh văn hóa. Học tập phải thành khẩn nghiêm túc. Lao động phải tích cực, đảm bảo đạt chỉ tiêu, đạt chất lượng, đúng kỹ thuật và kỷ luật, luôn phấn đấu nâng cao năng suất. Đấu tranh sai trái phải thẳng thắn, không bao che, không kiêng nể…Kết thúc buổi lên lớp luôn luôn là một bài hát. Một tên đội trưởng nhảy lên sân khấu bắt nhịp một bài hát. Không may cho hắn, bài hát này bọn tù từ Trảng Lớn lên chưa ai được nghe bao giờ. Hắn hoảng hốt bắt bài khác. Cũng lạ tai nốt! Mãi đến bài thứ ba bên dưới mới chấm dứt tình trạng ngậm tăm. Mọi người lục đục hát theo. Đó là bài Giải Phóng Miền Nam, một bài hát của Huỳnh Minh Siêng mà nhiều người nói rằng đó là tên thứ hai của Lưu Hữu Phước.

Lúc theo các bạn bước ra sân Vĩnh mới có dịp quan sát tất cả sự vật chung quanh trại 1. Đúng như nhận xét lúc khuya của anh, nơi đây tổ chức doanh trại có vẻ quy mô hơn Trảng Lớn nhiều. Những đống gỗ thông, những cột điện gỗ ngâm dầu đen xì, những tấm tôn xếp thành từng chồng… cho thấy trại đang nằm trong một kế hoạch kiến thiết mới. Qua một lớp rào đơn chạy suốt từ đầu sân này tới đầu sân tận cùng của trại, bị cắt đứt bởi một cái hào lớn, Vĩnh thấy có nhiều người đứng lơ mơ bên vùng đất bên kia hàng rào. Bên đó cũng có những dãy nhà như bên này, cũng có những miệng giếng rộng bên trên treo hàng loạt ròng rọc.

Bính chợt đập vào vai Vĩnh.

– Thằng Sanh kìa!

Vĩnh nhìn qua hàng rào thấy Sanh đang đứng một mình nhìn trời nhìn đất có vẻ buồn lắm. Vĩnh phát kêu hơi lớn tiếng.

– Sanh.

Sanh quay phắt lại. Nó ngó chung quanh rồi tiến tới gần hàng rào, hỏi Vĩnh.

– Tụi mày được ở bên đó hết hả?

– Ừ. Mày trại mấy?

– Trại 2. Có mình tao với thằng Vinh thôi. Thằng Vinh tổ 10 ấy. Buồn đéo chịu được Vĩnh ơi!

– Chứ bên này vui à? Cho biết tình hình sinh hoạt bên đó được không?

– Hắc ám lắm.

– Học nội quy chưa?

– Chưa. Giờ nó cho đi tắm rửa. Chiều lên lớp. Bên mày sao?

– Vừa ở hội trường ra. Bên đó mày có nghe tin đồn là sẽ có biên chế nữa không?

– Cái gì?

– Mày có nghe nói sẽ có chuyển trại nữa không?

– À, có. Mà không. Tao chỉ nghe nói còn nhiều đợt Trảng Lớn đưa về đây nữa.

Thấy có nhiều tay cũ cứ đứng trố mắt nhìn những kẻ mới đến tự do “liên hệ linh tinh”, Bính vội kéo tay Vĩnh và nói lớn với Sanh.

– Giữ liên lạc với tụi tao nghe mày. Cũng chỗ này, chiều chiều…

Nói đoạn cả hai bước theo những người khác trở về phòng.

Đội trưởng Chúc đã đợi mọi người trước vuông sân của B1. Vĩnh đứng nhìn quanh. Ở đây tranh thủ trồng cây nhớ Bác ghê thật! Trước mỗi dãy nhà đều có những giàn bầu giàn mướp leo xanh rờn. Đứng nơi đây, Vĩnh có thể quan sát khá rõ ràng con lộ chạy bên hông B1. Đúng con lộ ấy, đêm hôm qua đám Vĩnh được xe Molotova thả xuống. Như vậy cổng trại 1 sẽ nằm phía sau những dãy nhà kế tiếp của đội 5 này. Lề phía bên kia của con lộ là một dãy hào sâu. Bên ngoài dãy hào sâu đó là những cuộn concertina thả chằng chịt chạy mút lên tới các trại kế tiếp mà Vĩnh nghĩ đó là các trại 2, 3, 4… Nhìn những luống rau muống trồng gần hàng rào mới ghê hồn. Đất ở đây xấu quá, tệ hơn cả đất ở căn cứ Trảng Lớn. Đất trồng rau mà lởm chởm toàn đá ong đỏ au được đập vụn. Tuy nhiên những cọng rau muống vẫn mập ú. Nó mập chẳng nhờ đất mà nhờ tù ở đây áp dụng đúng bài học: Nhất nước nhì phân tam cần tứ giống! Phân được chơi tối đa. Trên những luống rau Vĩnh thấy phân rác trộn phân người được rải lền khên. Ruồi bâu trên những luống rau như rải đậu đen… Nhớ tới cái mùa kiết lỵ năm trước ở Trảng Lớn Vĩnh không khỏi rùng mình. Đội trưởng Chúc cho mọi người tập họp. Vì trong bụng đã hơi gờm cái đám tù mới đến, thành thử hắn chỉ vắn tắt.

– Theo Trên, sáng nay cho các anh nghỉ ngơi tắm rửa và làm vệ sinh cá nhân. Tôi chỉ yêu cầu các anh triệt để chấp hành nội quy. Anh nào liên hệ linh tinh bị ghi nhận hay bị quản giáo bắt gặp hoàn toàn tự chịu trách nhiệm. Riêng các anh tổ trưởng các tổ mới lập theo tôi xuống bếp. Tôi sẽ hướng dẫn cách thức lãnh cơm nước cho anh em…Chúc chỉ nói vài điều như vậy rồi cho tan hàng. Vĩnh trở về phòng. Dù thật buồn ngủ nhưng hôm nay vẫn là một ngày thoải mái trong đời cải tạo, ấy là không phải đi lao động và được thong dong tắm rửa ngay buổi sáng. Một lúc sau cả bọn kéo nhau ra giếng tắm. Tổ mới người mới, gầu và dây đều chưa có nhưng biết mượn ai bây giờ? Vĩnh lại chạy trở về phòng. Mỗi phòng đều có một người trực nhà. Người trực ở phòng Vĩnh là một ông già. Tên ông ta là Tấn. Ông già lắm, tuổi cũng phải xấp xỉ sáu mươi. Từ sáng sớm Vĩnh đã thấy ông có nhiều thiện cảm với đám mới đến. Chưa có dịp để nghe ông nói, nhưng nhìn ánh mắt và sự dặn dò thân mật của ông với đám Vĩnh, Vĩnh nghĩ rằng ông ta sẽ rất sẵn sàng giúp đỡ những chuyện lặt vặt cần thiết lúc này.

– Bác Tấn!

– Gì đấy ông?

– Bác có gầu múc nước không?

Ông Tấn hơi ngẫm nghĩ.

– Tôi chỉ có một cái gầu nhỏ xíu múc nước lau nhà. Gầu lớn… Ông hơi lưỡng lự. Thôi được, ông tiếp. Để tôi mượn tạm của mấy tổ đi lao động. Các ông dùng xong để lại chỗ cũ. Ở đây họ khó chịu lắm. Mượn mà không hỏi sinh chuyện tức thì!

Nói đoạn ông Tấn bước ra sau nhà. Vĩnh lẽo đẽo bước theo. Ông dẫn Vĩnh đến cái bếp nhỏ của phòng dựng sát hàng rào phía sau. Vĩnh kinh ngạc. A! Ở đây đỡ quá, có chế độ “bếp mẹ bếp con” 1 nữa chứ! Nghĩ thế Vĩnh lên tiếng hỏi ngay.

– Ở đây họ cho mình nấu nướng linh tinh hả bác?

Ông Tấn lúi húi tìm một cái gầu gò bằng tôn xếp ngăn nắp bên hông bếp.

– Bếp cơm của cả trại là dãy nhà tôn dưới kia các ông biết rồi. Gần đây trại họ cho mỗi nhà được dựng một cái bếp nhỏ để cải tạo hâm đồ ăn thức uống hoặc nấu những món gia đình gửi vào. Tuy nhiên cũng nhiêu khê lắm. Đe dẹp hoài. Trực nhà phải lo vệ sinh cái bếp con này còn hơn lo chỗ nằm của mình. Họ đi kiểm tra thấy dơ một tí là đe dẹp. Mà dẹp bếp là lỗi của trực nhà. Anh em nó lôi ra trước tập thể đấu tố có mà… bỏ xác! Vĩnh không chú ý lắm đến lời ta thán của ông Tấn. Anh tò mò.

– Nhà gửi vào đồ khô thì cần gì nấu nướng?

– Nhưng nếu không có bếp con lấy gì luộc khoai!? Ở đây bộ chỉ huy họ bán khoai cho cải tạo.

– À ra thế!…

Vĩnh tính nói thêm một cái gì nhưng lại thôi. Dù sao có bếp cũng lợi rồi.

Ông Tấn lựa một cái gầu và một sợi dây tốt nhất đưa cho Vĩnh, dặn dò.

– Dùng xong ông nhớ móc vào chỗ cũ, dây tháo ra, cuộn lại và móc trên đinh cho khô. Đừng quăng bừa ra đó họ về họ chửi tôi chết! Vĩnh cám ơn và cầm cái gầu bước đi. Anh nhìn cái gầu mà hết hồn. Nó không phải là một cái gầu, mà là một cái thùng gò bằng tôn có dung tích ít ra cũng gấp đôi cái thùng dầu hỏa hiệu con gà. Thứ này có đại lực sỹ cũng không kéo nổi. Vĩnh ngoái lại hỏi.

– Gầu lớn quá làm sao múc bác?

– À, cũng dặn ông. Ở đây cái gì cũng chơi tập thể, kể cả kéo nước. Gầu này phải tối thiểu ba tay xúm lại mới kéo nổi. Ông cứ móc dây vào ròng rọc mà kéo. Trai trẻ như các ông hai người cũng thừa sức…

Nghe nói “trai trẻ như các ông” mà Vĩnh buồn cười. Tuổi anh mới ba mươi nhưng những trận đau thập tử nhất sinh của năm qua đã biến anh thành một cái xác biết đi, trông còn thê thảm hơn ông Tấn, một ông lão lục tuần. Nghĩ thế nhưng Vĩnh chẳng nói gì. Anh cầm cái gầu và thong thả bước về phía giếng nước. Tiếng bác Tấn bỗng hỏi với theo. Trông ông quen lắm. Hồi xưa ở đâu?

Vĩnh đứng lại.

– Ở đâu là sao bác?

– À, nhà cửa ấy. Gia đình ở đâu?

– Tôi ở khu Ông Tạ. Còn bác?

– Tôi à? Tôi cũng ở gần đấy đấy. Ở cư xá sỹ quan Chí Hòa.

Vĩnh hơi ngẫm nghĩ.

– Bác già quá rồi, sao vào đây?

Ông Tấn nhìn quanh một vòng. Khi biết rõ không có ai khác, ông thều thào.

– Cả họ nhà tôi đi cải tạo ông ạ! Tôi là cựu thiếu úy Bảo An Đoàn, giải ngũ gần hai chục năm rồi. Hai thằng con lớn của tôi một thằng trung tá một thằng thiếu tá. Trong đám cháu nội ngoại của tôi cũng có ba thằng cấp úy. Bị gom trọn ổ!

Vĩnh không biết nói sao, chỉ cười buồn.

– Bác già mà kiểu cách và giọng nói còn nhiều nhà binh tính lắm. Thôi thì cũng ráng cải tạo cho vui. Thế nào bác cũng về sớm hơn tụi này. Đừng lo gì bác ạ.

Ông Tấn gật gù rồi quay vào trong nhà, quay trở lại với nhiệm vụ cây chổi của ông ta. Vĩnh xách gầu ra giếng. Đám ngoài đó đã có kẻ mượn được gầu múc nước rồi. Nhiều tay đang bu lấy một sợi dây kéo một gầu nước to tướng. Vĩnh đứng nhìn. Cái hoạt cảnh này khiến anh nhớ đến những phim La Mã, có những kẻ nô lệ xếp từng hàng dài, mệt mỏi bấu lấy một sợi dây thừng to để kéo những vật nặng lên một đỉnh cao nào đó…

Bính chạy lại cầm sợi dây tiếp Vĩnh. Nó nắm một đầu dây buộc vào khúc cây đóng ngang chiếc thùng. Loay hoay mãi nó buộc không xong. Vĩnh ngứa mắt.

– Đưa đây!

– Dây to quá tao buộc còn sợ sút, tay mày như cái se điếu thế kia…

Vĩnh cười.

– Nút dây là một kỹ thuật của Hướng Đạo và Hải Quân. Tao gồm đủ hai cái đó. Đâu cứ phải người chiếm giải nhì kéo tay như mày mới buộc chặt được nút dây.

Bính cười cười rồi trao đầu dây cho Vĩnh, nói vu vơ.

– Công nhận thằng Đính nó khỏe thật. Roi roi mà sao gân tay nó cứng quá! Giờ này chắc tụi nó đinh minh bọn mình đang nằm đảo hay một chỗ nào đó trong dãy Trường Sơn…

Vĩnh vừa buộc dây, vừa hỏi.

– Mày có biết tại sao tụi nó đưa bọn mình về ngay Biên Hòa này không?

– Con nít nó cũng biết. Cỡ tao nó đem vào Trường Sơn khác nào thả cọp về rừng về rú. Tao sợ rồi đây chúng còn cất kỹ mình vào khám Chí Hòa nữa không chừng! Mẹ kiếp, nằm trong đó coi như gặm một mối căm hờn trong cũi sắt!

Vĩnh đã buộc xong một đầu dây vào thùng. Anh đứng lên cầm đầu dây kia xỏ vào một trong những chiếc ròng rọc treo bên trên miệng giếng. Giữa những tiếng kéo nước và xối nước ầm ầm, anh nói khẽ như để cho chính mình nghe.

– Nơi đây tháp cánh cũng khó bay thoát! Và nếu như Mỹ có giở lại cái trò Sơn Tây thì một sư đoàn không quân chưa chắc vào nổi!…

Cái gầu vừa được thả xuống thì một đám khác ùa vào ké. Những thùng nước cứ thế thay nhau kéo lên và lũ tù cứ ào ào tắm gội. Vĩnh vừa tắm vừa ngó quanh. Anh không thấy Tiến và Hóa đâu cả, chỉ có ông xã xệ Phạm Kim đang lúi húi như tìm một cái gì ngoài bờ mương. Bỗng nhiên Bính chỉ tay ra ngoài hàng rào.

– Tụi nó lao động về kìa!

Vĩnh dõi mắt nhìn theo. Từ xa, lẩn khuất sau những bụi cỏ lau, cỏ cứt lợn cao quá đầu người, sau những gò mối đã hóa đá ong, Vĩnh thấy từng đoàn người xếp hàng ngay ngắn đang tiến về phía trại. Theo sau những đoàn người ấy dĩ nhiên có vệ binh vác súng hộ tống và quản giáo đi kèm. Vĩnh thấy lòng mình chẳng buồn cũng chẳng vui. Anh chỉ thắc mắc không hiểu sau những bụi rậm khuất mắt kia là đâu. Những nông trường bát ngát? Hay những nền nhà Mỹ? Hay những bãi mìn đầy cỏ hoang và sình lầy chạy dọc theo vòng đai phi trường Biên Hòa?

Nắng giờ này đã thấy gắt. Nắng Biên Hòa chẳng thua gì Trảng Lớn. Đứng xối nước ào ào mà còn thấy nóng. Bỗng dưng Vĩnh lại nhớ đến thân phận của những người cùng chuyển trại về đây, nhưng họ đã không được bước lên xe thoải mái như anh và nhiều người khác, mà là bước lên những chiếc xe đặc biệt có xích sắt nơi chân và còng nơi tay. Những người ấy là Tỷ và Non, xa hơn tí nữa là Nguyễn Ngọc Trụ của trại L4T1. Còn bao nhiêu người như thế nữa? Vĩnh không thể biết rõ vì anh cũng chỉ là một thằng tù dưới chế độ Cộng sản, có nghĩa là nhiều chuyện xảy ra ngay khối đội bên cạnh mà vẫn không hề có dịp hay biết! Tin tức về những người khác trại, ngay cả khác khối khác đội cũng chỉ có thể biết được nhờ ở một sự may mắn tình cờ. Dù sao trước khi rời Trảng Lớn Vĩnh cũng đã được nhìn thấy nhiều người, trong đó có Tỷ và Non, bị cùm chân tay dẫn lên những chuyến xe đặc biệt; những người bạn ấy bây giờ ở đâu? Đang nằm trong một connex? Hay đang bị tra khảo nơi một phòng an ninh nào đó của những khu trại mới?

Ông Tấn bỗng xuất hiện với cây chổi còn cầm trên tay. Ông nhìn Vĩnh nói lớn.

– Họ lao động về rồi. Ông trả cái thùng về chỗ cũ giùm đi không sinh chuyện kẹt cho tôi lắm!

Vĩnh vội vã kéo thùng tháo dây và xách thùng trả về chỗ cũ. Mười phút sau những đoàn tù đi lao động đã trở về tới con lộ. Đám Vĩnh bước ra đầu hồi của nhà B1 đứng nhìn. Ai cũng mong mình nhận diện ra một người quen. Đám tù lao động về trông bê bết và mệt mỏi. Có lẽ họ đã trải qua một buổi sáng “vinh quang” cật lực! Thùng, cuốc, leng, xẻng, dây, gậy… Tất cả tạo thành một đoàn quân hỗn độn, rã rời. Tiếp theo là những tiếng hô hoán điểm danh, tiếng báo cáo nhân số, tiếng hăm dọa, tiếng chửi rủa… Rồi thì các đội hình tù xếp hàng dài tít cũng lần lượt tan ra, không khác nào những kẻ nô lệ thốt nhiên được buông khỏi một chuỗi xiềng xích vô hình. Họ lầm lũi, xiêu vẹo tìm lối trở về phòng!

Vĩnh quay trở lại B2. Đứng nghĩ ngợi vu vơ dưới giàn mướp xanh rờn, có những quả mướp đã già quắt queo chen lẫn những quả mướp căng dài đương độ nhưng không ai hái – đúng hơn không ai dám hái dù cho chính tay họ vun xới trồng lên – Vĩnh nhìn xuống căn nhà tôn tiền chế dùng làm nhà bếp và nơi phát cơm. Lạ nhỉ! Tụi quản giáo ở đây hời hợt thật. Bọn tù mới đến giờ này cũng chưa biết quản giáo đội mình là ai. Chả nhẽ chúng nó trao quyền cho đội trưởng lớn đến độ hoàn toàn thay mặt chúng khống chế bọn tù hay sao?

Đang nghỉ ngợi thì Kim từ cửa sau vòng ra đập vào vai Vĩnh.

– Moa vừa gặp một tay lao động về. Lũy trông giống hệt tay trung úy hay tường thuật đá banh trên vô tuyến truyền hình trước đây.

Vĩnh ngao ngán.

– Tưởng gì lạ chứ hắn hiện diện nơi đây là một cần thiết hiển nhiên. Thân mình đây chẳng đang là một trái banh hay sao? Đời đá lên đá xuống cũng cần có sự hiện diện của một tay tường thuật nhà nghề lắm chứ!

Những tiếng khua bát khua đũa ầm ĩ chợt vang lên đây đó làm Vĩnh thấy đói cồn cào. Vĩnh chợt thấy vui vui. Anh hồi tưởng lại những cảm giác phải chịu sự điều độ thời thơ ấu học trong một trường nội trú. Giờ cơm nào cũng thấy vui khi người ta đói. Từ trong phòng B2 nổi lên những tiếng thúc hối người trực phòng xuống bếp nhận cơm.

Đây là giờ bận bịu của bác Tấn. Phần cơm của trên 50 người thực tế không phải là nhẹ. Bác chỉ là người trực chính. Những người trực phụ trong ngày, có nhiệm vụ theo bác xuống bếp nhận và khuân phần cơm rau về cho cả phòng, thường ít khi hiện diện đủ để theo bác xuống bếp nhận phần ăn. Họ là những người mới đi lao động về, do đó cũng cần tắm rửa như ai trước bữa ăn. Thường thường bác lại phải đứng giữa phòng kêu gọi sự tình nguyện thêm của một vài anh đã tắm rửa xong.

Vĩnh mới đến, chẳng nề hà gì mà không tình nguyện theo bác xuống bếp tham quan một chuyến. Dù sao việc chia cơm chia rau ở đây khác xa Trảng Lớn. Ở đây tập thể hóa mọi việc, kể cả việc kéo nước tắm; nhưng ăn thì… cá thể! Điều ấy có nghĩa là tổ trực nhận cơm về phân phối lại cho các tổ, các tổ sẽ phân đều cho các tổ viên và sau đó mạnh ai nấy kiếm một chỗ ngồi ăn. Có anh cầm ca cơm ra một gốc cây ngồi nhai, có anh về chỗ ngủ nằm nhai, cũng có từng nhóm hai ba người ngồi ăn với nhau nơi một góc hè… Khi xuống tới bếp, Vĩnh đứng quan sát tổ chức của bếp. Ở đây cũng khác Trảng Lớn. Tổ nấu bếp là một tổ thường trực do chính đội trưởng bổ nhậm. Một khi đội trưởng quyền uy như ở đây, tổ anh nuôi nghiễm nhiên biến thành những ông vua con. Họ chia gì lấy đó. Kêu ca bị chụp mũ… phản động như chơi.

Đội B2 gồm năm mươi hai người nhận một máng cơm gồm mười thau và hai phần lẻ. Thau cơm ở đây chỉ bằng hai phần ba thau ở Trảng Lớn. Nhìn qua “chất lượng” đã đói trông thấy. Mỗi B còn được phát một thau rau muống già cỗi và một đĩa nước muối pha nước màu giả làm nước mắm. Phần cơm rau sau khi được khênh về đội, được cân đo chia chác tỉ mĩ, mỗi người được hơn một bát cơm độn khoai (Trại An Dưỡng khởi sự việc ăn độn), ít cọng rau muống và hai thìa nước muối.

Vĩnh cầm phần cơm rau đựng trong một cái lon guigoz ra ngồi dưới giàn mướp. Vừa nhẩn nha nhai, Vĩnh vừa ngó sang phía tòa nhà xây cao và rộng như một cái hăng-ga. Phía sau tòa nhà ấy là những cánh đồng khoai mì bát ngát.

Một giọng nói chợt cất lên bên cạnh Vĩnh.

– Ở đây mọi thứ trông đều có vẻ khoa học hiện đại tiên tiến, chỉ trừ việc ăn là lạc hậu!

Vĩnh ngoái lại. Hóa đang ngồi xuống cạnh anh với một nụ cười thật tươi trên môi, tuy nhiên tươi hơn phải nói là cái lạp xưởng đỏ au nướng cháy cạnh đang nằm trên một cái nắp guigoz của Hóa.

– Đâu vậy?

– Anh bạn cò cho.

– Tốt nhỉ!

Hóa ngồi xuống, cầm cái lạp xưởng lên xé đôi. Hắn bỏ một nửa vào lon cơm độn của Vĩnh.

– Tao vừa nghe đồn đợt quà thứ tư gửi lên Trảng Lớn cho mình đã tới. Tụi nó có lẽ sẽ chuyển tiếp nay mai. Vĩnh ậm ừ với chút băn khoăn. Đến thẳng trại còn thất lạc, chuyển tiếp kiểu này lấy gì làm bảo đảm! Kỳ quà tới đây nếu có, Vĩnh biết chắc anh sẽ có khá nhiều thuốc tây vì đã nói rõ với gia đình trong một lá thư trước khi rời Trảng Lớn.

Đang chậm rãi tận hưởng tí cơm độn khoai với nửa cái lạp xưởng Hóa cho, Vĩnh giật bắn mình vi một bàn tay thô bạo chụp mất miếng lạp xưởng của anh. Tiến đang đứng lù lù trước mặt, tay cầm lon cơm, tay cầm miếng lạp xưởng giơ lên miệng như dọa sẽ nuốt hết và cười hềnh hệch.

——————————–

1          Bếp mẹ bếp con: Dưới chế độ quân quản chiều về tù cải tạo chưa bị nhốt vào phòng, do đó đa số đều chế những cái bếp nho nhỏ đặt ngoài sân dùng nấu nướng mấy thứ rau cỏ kiếm được khi đi lao động trong ngày để ăn cho no thêm. Bọn cai tù dùng từ ngữ bếp mẹ bếp con để phân biệt bếp nấu cơm cho cả trại và những cái bếp “cá thể” như vừa nói.

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 4 Jan 2024

Bài 29

Phần 28

Trại An Dưỡng – 7/76 – 8/77

Cả lũ luống cuống như gái về nhà chồng. Không, đúng hơn như lũ tân binh quân dịch đang thất kinh dưới sự hò hét của một cán bộ quân trường: Đi thẳng vào phòng. Cấm nhìn ngang liếc dọc. Chập chờn gần hàng rào các anh vệ binh bắn bỏ. Liên hệ linh tinh bắn bỏ… 
Vĩnh vừa bước theo anh em vào phòng vừa cố ngoái nhìn kẻ đang hò hét. Hơn một năm xa cách ánh điện, bỗng dưng rơi vào một môi trường có đầy những ngọn điện 200 watts, đôi mắt người ta không vì thế mà được sáng hơn, ngược lại tối hơn, tối sầm là đàng khác. Ánh đèn sáng quá làm Vĩnh chỉ nhìn ra được kẻ hò hét như một quả dưa hấu. Vâng, chỉ nhìn thấy cái trán hói bóng nhẵn của hắn. 
Vào tới trong nhà, Vĩnh và đám tù từ Trảng Lớn lên đều hơi ngỡ ngàng và e dè. Sạch và ngăn nắp quá! Quả thế, nếu so với cảnh phòng ngủ cũ trên Trảng Lớn, đây 10 Trảng Lớn chỉ 3 cao lắm là 4. Nền nhà được lau bóng lộng. Kệ để đồ đạc đầu chỗ nằm cũng gọn ghẽ và được đóng chặt vào vách theo một khuôn khổ nhất định. Đặc biệt hơn, trên vách đầu mỗi chỗ nằm đều có dán trên tuổi từng người. Bên dưới bảng tên còn một mảnh giấy kê khai một danh sách gì đó. Vĩnh đứng lại ở một góc phòng, cố nhíu mắt đọc mảnh giấy. Dù sao anh cũng chỉ đọc được một hàng chữ lớn nhất: Hạ Quyết Tâm… 
Dọc theo lối đi giữa nhà có những khẩu hiệu được lồng trong khung gỗ hẳn hòi, được treo dưới những đà ngang bằng hai sợi xích sắt nhỏ trông rất trang trọng. Khẩu hiệu buồn nôn nhất mà Vĩnh vừa đọc phải vẫn là khẩu hiệu: Chủ Nghĩa Mác-Lênin Bách Chiến Bách Thắng! 
Bốn giờ sáng nhảy xuống khỏi xe, bọn tù Trảng Lớn xếp hàng nháo nhào theo sự thúc hối của bọn cai tù cũ và mới. Trời tối, thêm mệt mỏi, chẳng còn ai nhìn ra ai, mạnh hàng nào đứng hàng đó. Thế rồi sau khi được đếm đủ số trong cuộc bàn giao giữa bọn cai tù cũ mới, những đội hình tù bị cắt tùm lum và được dẫn vào các dãy nhà sáng đèn gần khu tập họp. Vĩnh nhìn quanh 12 đứa vừa bị dồn vào phòng B2. Anh mừng thầm vì nhận thấy có đến mấy khuôn mặt quen thuộc. Ngoài Bính cùng tổ cùng khối cũ còn có cả Hóa và Kim ở khối 3 nữa. 
Chưa kịp lên tiếng gọi nhau, quả dưa hấu ban nãy đã lại xuất hiện nơi ngưỡng cửa. Bây giờ Vĩnh đã quen với ánh điện. Anh nhìn kỹ quả dưa hấu ấy. Hắn to con, ăn mặc rất lành lặn, đầu hói láng, mặt chữ điền, đôi mày hơi xếch tạo một nét phi ma cô cũng là ma cạo. Hai tay áo hắn xắn cao, để lộ hai cánh tay rắn chắc có lông đen mướt như tay của một thằng Ấn Độ. Quả dưa hấu cất giọng miền Nam, vừa ồm ồm vừa hung tợn. Vĩnh nghĩ thầm trong bụng: Mẹ kiếp sao Việt cộng lại có thằng to con, trông hung hăng y chang mấy thằng công an chìm thế này? 
Nơi ngưỡng cửa quả dưa hấu bắt đầu nói. 
– Tôi tự giới thiệu, tôi là Chúc, đội trưởng đội 5. Đội 5 là một trong năm đội của trại 1. Đội 5 xử dụng và trách nhiệm bảo quản năm gian nhà, đánh số từ B1 đến B5. Trước hết, tôi thay mặt Cách mạng lên lớp quán triệt cơ sở với các anh, ở đâu không biết, nhưng đã đến đây các anh phải tuyệt đối chấp hành nội quy quy định của trại và đội này. Mọi sai trái sẽ bị nghiêm trị. Sơ bộ như thế để các anh nắm vững vấn đề. Ngày mai các anh được học nội quy sẽ rõ hơn chi tiết. Trước khi tôi xếp chỗ cho các anh, tôi… 
Hắn chưa dứt câu thì một cánh tay mới đến đã vội vã lên tiếng hỏi. 
Thưa anh quản giáo… 
Tên Chúc trợn mắt ra oai. Hắn gằn giọng. 

– Tôi bảo trước để anh đó và các anh khác cùng rõ. Khi tôi chưa nói dứt, cấm ngặt các anh ngắt ngang. Đó là phép lịch sự tối thiểu và cũng là nguyên tắc tôn trọng sự phát biểu của người khác. Lần này tôi bỏ qua, lần sau sẽ nâng cao quan điểm. Hắn ngẫm nghĩ tí chút rồi thấp giọng hơn, hắn nói. Cũng nói trước để các anh rõ luôn thể, tôi không phải là quản giáo, tôi cũng là cải tạo viên, chỉ thay mặt quản giáo. 
Nói đoạn tên Chúc đảo mắt một vòng tuồng như đo lường phản ứng của lũ tù mới đến. Vĩnh nhìn Bính, nói khẽ. 
– Tiên sư cha nhà nó, suốt lúc đến giờ tao cứ tưởng nó là cháu bác Hồ! 
Đôi mắt Đại Hàn của Bính như muốn rách toạc ra. Nó giơ tay gãi hàm râu nham nhở dưới cằm, hừm khẽ một tiếng. 
– Cứ để nó huênh hoang. Quen nước quen cái tao thề sẽ quại thằng này một trận vỡ mặt. 
Tưởng Bính chỉ nói thế thôi, ai dè nó vội vã giơ tay: Tôi có ý kiến! 
Tên đội trưởng Chúc nhăn mặt như uống phải dấm. 
– Tôi chưa giải quyết vấn đề của anh kia, anh chưa được hỏi! 
Bính nổi cáu, nó bổ luôn. 
– Tụi tôi là người mới đến, xin nhắc anh Chúc, dù anh là cái gì đi nữa cũng yêu cầu anh bớt cái bệnh hách xì xằng giùm cho. 
Trong lúc Chúc ngỡ ngàng không ngờ bị mấy thằng tù mới đến dám phản pháo thẳng mặt như vậy, thì Bính càng có vẻ lớn giọng hơn. Tôi xin nhắc nhở anh đội trưởng, chúng ta đều là cải tạo. Anh 13, 14 tháng rồi phải không? Tụi này cũng trên năm cả! Giúp nhau thì giúp, yêu cầu đừng có thái độ tù cha tù con trong này… 
Câu nói báng bổ của Bính đã thật sự làm cho tên đội trưởng xanh máu mặt. Đám tù cũ ngồi trong phòng từ đầu đến giờ cũng nín khe. Vĩnh đọc được trên vài nét mặt gà mái những nét rạng rỡ. 
Ngoài dự trù của tất cả, Chúc bỗng dịu giọng hỏi Bính. 
– Xin lỗi anh tên là gì nhỉ? 
– Bính. Đặng Xuân Bính. 
Tên đội trưởng hơi nháy nháy con mắt, tuồng như cái tên của Bính nhắc nhở hắn đến một cái tên nào khác coi mòi khủng khiếp lắm. Hắn càng dịu giọng hơn. 
– Xin lỗi anh Bính nhé. Anh nói thế thì oan cho tôi. Anh thấy đấy, tập thể mà không có trật tự làm sao điều động cho nhanh chóng được. Nếu tôi có gì sai trái, gây ngộ nhận xin đấu tranh sau. Tôi chỉ lập lại những huấn thị của quản giáo. Hắn giơ tay gãi mũi, tiếp. Anh có ý kiến gì xin cho biết? 
Bính thấy địch thủ đầu hàng nhanh chóng, nó cũng chẳng làm tới, chỉ nói ngắn gọn. 
– Tôi nghĩ anh bạn khi nãy muốn hỏi anh cũng chỉ vấn đề vệ sinh mà thôi, vậy đi tiêu đi tiểu phải đi chỗ nào? 
Chúc thấy Bính đã dịu nên hắn có vẻ yên tâm, dù trong đôi mắt hắn, Vĩnh vẫn đọc ra được một cái nét gì thật tiểu nhân nguy hiểm. Hắn đáp. 
– Vấn đề này là quan trọng tôi chưa kịp nói thì các anh đã vội hỏi đấy thôi. Tôi không rõ ở trại cũ các anh ra sao, riêng trại này từ lúc kẻng báo 8 giờ tối, tức kẻng tắt đèn, các anh muốn đi tiêu đi tiểu, vừa khi bước ra khỏi cửa phải la lớn câu nói như thế này: Báo cáo anh vệ binh tôi xin phép đi ỉa! Hoặc: Báo cáo anh vệ binh tôi xin phép đi đái! Từ phòng ra tới cầu tiêu cầu tiểu, cứ mỗi năm bước lại phải lập lại câu báo cáo một lần. Để bảo đảm sinh mạng và để vệ binh không lầm lẫn với những kẻ xấu âm mưu trộm cắp hoặc trốn trại, lệnh này phải được mọi người tuyệt đối chấp hành nghiêm chỉnh cho đến khi kẻng báo thức 5 giờ rưỡi sáng. Ổn định chỗ ngủ xong, tôi sẽ chỉ thị người hướng dẫn các anh ra cầu tiêu cầu tiểu. 

Thấy cà kê nhiều cả hai bên – đội trưởng và lũ tù mới nhập trại – đều chẳng có lợi lộc gì, tên đội trưởng Chúc ngoắc ngoắc hai ba tay tù cứ tọa thị trong phòng từ đầu đến giờ bước lại gần hắn. Vĩnh để ý thấy mấy tay này có vẻ rất kính sợ Chúc. Thằng nào mặt mày cũng lấm la lấm lét lúc tiếp chuyện với đội trưởng. 
Bính quay nói với Vĩnh. 
– Tụi ở đây thú nhận có vẻ hiền quá. Còn thằng hói kia đúng là thằng già dái non hột. 
Vĩnh chưa kịp trả lời bạn thì đội trưởng Chúc đã lên tiếng. 
– Giới thiệu với các anh đây là 4 tổ trưởng của nhà này. Mỗi tổ có 10 người. Tiêu chuẩn mỗi B phải có 5 tổ, vị chi mỗi nhà chứa 50 người. Trên bổ sung thêm 12 người, như vậy nhà ta hơi chật. Tuy nhiên trước mắt yêu cầu các anh tránh mọi ta thán. Ăn nhiều nằm chẳng bao nhiêu. Ta khắc phục sắp xếp rồi mọi việc cũng tốt thôi. Từ trước tôi là đội trưởng nhưng vẫn ngủ ở nhà này. Bây giờ thêm 12 anh, tôi sẽ đi chỗ khác ngủ. Tôi sẽ chia… 
Chúc chưa nói hết câu thì Hóa đã lên tiếng. 
– Đề nghị anh Chúc chúng tôi mới đến có 12 người, anh cứ chia cho chúng tôi một phần năm diện tích nền nhà. Chúng tôi sẽ là một tổ mới và cùng chịu chật một chút với nhau. 
Không nói ra nhưng cả đám mới đến đều hiểu thâm ý của Hóa. Không khí trại này nghe ghê quá. Bài học Bó Đũa phải được ứng dụng tối đa. Thằng Chúc là thằng gian ác thấy rõ, không đoàn kết để nó áp dụng chính sách “chia để trị” là chết cả đám. Về phần Chúc, hắn thấy bọn mới đến coi mòi cứng đầu nên cũng ngại. Hắn ngẫm nghĩ đề nghị của Hóa một chút rồi như thấy rằng đụng bọn này chẳng lợi lộc gì, tốt nhất là nhịn một bước để rà đường xem sao sẽ tính sau. Nghĩ thế, Chúc ra bộ vui vẻ ngay. 
– Xin lỗi anh vừa đề nghị tên gì nhỉ? 
– Hóa. 
– Cám ơn anh Hóa. Tôi thấy đề nghị của anh đáp ứng tốt yêu cầu trước mắt của chúng ta. Vậy bây giờ tranh thủ thời gian, tôi tạm đề nghị anh Bính làm tổ trưởng và anh Hóa làm tổ phó tổ mới, giúp chúng tôi giải quyết nhanh chỗ ngủ cho các anh em, vậy các anh em mới đến có nhất trí không? 
Sợ hai thằng phải gió lại giở trò em chả em chả, phiền chung cho cả đám, Vĩnh vội lên tiếng thúc giục: Chịu đại đi còn chờ gì nữa!? Sau cùng Bính và Hóa đành chấp nhận vì những lời thúc giục kế tiếp của anh em mới đến cất lên sau lưng họ. Mười lăm phút sau đó tất cả đã có chỗ ngả lưng. Chỗ nằm của mỗi người trên nền xi măng được chùi bóng lộng đo vừa đúng hai gang tay rưỡi. 
Tên đội trưởng Chúc hình như còn phải quan tâm đến 4 gian nhà khác nữa, hắn ngoắc Bính đi theo để chỉ chỗ tiêu tiểu cho anh em. Lúc Bính trở về, Vĩnh đã thoải mái ngả lưng trên chỗ nằm của mình, bên phải có Hóa bên trái có Kim. Có hai thằng bạn nằm hai bên, đời tù như thế là vững như bàn thạch. 
Bọn mới đến quen thói Trảng Lớn, ăn tục nói phét ầm ầm. Bính nghe anh em hơi ồn, vội nhắc nhở: Mới năm giờ sáng, mấy ông khe khẽ cho anh em cũ họ ngủ. Sáng mai họ còn đi lao động. 
Chung quanh Vĩnh nhiều người mệt mỏi đã nằm vật xuống ngủ. Cùng lúc ấy bên ngoài sân những câu hô hoán cứ lần lượt vang lên. 
– Báo cáo anh vệ binh tôi xin phép đi ỉa. – Báo cáo anh vệ binh tôi xin phép đi đái. 
– Báo cáo anh vệ binh tôi xin phép đi ỉa. 
Cứ thế, những câu báo cáo của bọn mới đến từ các đội các nhà khác cứ thay nhau rền vang ngoài sân trại, cho đến lúc bên trong mọi người đều giật mình vì một tiếng lên đạn đâu đó ngoài hàng rào, kèm theo là một câu chửi độc địa: ĐM. chúng mày ỉa thì ăn đi, báo cáo báo chồn gì lắm thế? 
Những tiếng báo cáo sau đó im bặt. Hóa thở dài. 
– Chắc thằng vệ binh ngồi gác bị phá giấc ngủ! 

Vĩnh chẳng trả lời bạn. Anh ngó qua kẽ hở đầu chỗ nằm. Ngoài sân ánh điện sáng trưng. Anh biết rõ anh đang ở đâu. Đây là trại An Dưỡng cũ, nơi dành cho các quân nhân QLVNCH về nghỉ ngơi một thời gian sau những đợt trao trả tù binh. Nơi đây họ được hưởng những quy chế bồi bổ đặc biệt, được điều chỉnh lại giấy tờ trước khi trở về đơn vị tiếp tục cuộc đời chiến binh. Xưa đã có lần Vĩnh vào thăm trại này.Trại rộng lắm, thế nên dù biết hiện tại anh và các bạn đang nằm tại trại An Dưỡng, tọa lạc gần phi trường Biên Hòa, nhưng anh không thể cả quyết mình đang nằm tại vị trí nào của trại; nhất là sau hơn một năm, trại An Dưỡng đã bị bao nhiêu ngàn tù, do những cái lệnh bất nhất của lũ cai tù ngu dốt, cứ phá đi làm lại, làm lại phá đi… thì trại An Dưỡng hiện nay, nhất định không còn mang được bộ mặt của trại An Dưỡng ngày xưa nữa! 
Dưới ánh điện, Vĩnh còn nhìn thấy nhiều luống rau nằm dọc hàng rào trại. Sát với trại này hình như còn nhiều trại khác nữa. Cảnh lạ lại nhìn dưới ánh điện đêm khiến Vĩnh khó có thể phân biệt được cảnh trí thật nơi đây. Lúc trỗi dậy bước ra sân đi tiểu, điều nổi bật nhất mà Vĩnh ghi nhận được là mọi thứ trong ngoài đều có vẻ ngăn nắp trật tự hơn trại Trảng Lớn. Những luống rau thẳng tắp. Những miệng giếng thật lớn, có bờ giếng đắp bằng bao cát đàng hoàng. Hai bên thành giếng trồng hai cậy cột lớn, bắc ngang hai cây cột ấy là một đà ngang và trên đà ngang đó gắn thật nhiều ròng rọc… Nhìn phớt qua những cái có thể nhìn, cộng với vẻ thuần phục của hầu hết các trại viên nơi đây, dù chỉ với thằng đội trưởng, Vĩnh đã có thể tạm khẳng định rằng anh em ở đây vất vả hơn ở trại Trảng Lớn về nhiều phương diện. 
Khi trở về chỗ nằm thì Hóa lại đi đâu mất. Một lúc sau nó quay về và lôi Vĩnh dậy. 
– Có thuốc lào ngon. Ngồi dậy làm một hơi đi. Điếu đâu? 
Nghe thấy thuốc lào Vĩnh ngồi dậy ngay. Một lúc sau, hai thằng đều bật ngửa ngoài hàng ba vì say thuốc. Vĩnh ngồi dựa lưng vào vách nhìn ra phía những luống rau, hỏi thều thào. 
– Bạn mày là thằng nào mà điệu quá vậy? 
Hóa say quá trả lời không nổi, chỉ lắc đầu. Mãi lúc sau nó mới thều thào. 
– À… à… tụi ở đây mới được nhận quà tuần rồi. Coi mòi còn no. Thằng ấy xưa kia là cảnh sát ở Mỹ Tho. Nó là ủy viên an ninh ở xã tao. Thời ấy tao làm phân chi khu trưởng. 
– Khai thác được gì không? 
– Nó bảo ở đây ít quân đội và hầu hết là đồng nghiệp của nó. Từ trước đến nay kỷ luật rùng rợn lắm. Chức sắc là vua… 
Hóa chưa nói dứt câu thì những tiếng kẻng báo thức đã đua nhau rền vang khắp mọi nơi. Một ngày mới nơi một trại tù mới của đám Vĩnh đã bắt đầu!…






Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 4 Jan 2024

Bài 28

Phần 27

Tất cả hố to kỳ này. Mọi suy diễn chủ quan của mọi người về việc các trại đồng loạt thả người ra khỏi các connex là vì áp lực của thế giới Tự Do, vì Mỹ đã chịu chi tiền tái thiết, vì 17 tấn vàng Thiệu đem theo đã bị CIA lừa lấy lại trao cho ngân khố Hà Nội… đều sai bét bè be! 
Tất cả chỉ vì… chuyển trại. 
Lệnh chuyển trại ban ra quá gấp rút và thình lình. Một cuộc khám đồ quy mô tại các trại được thực hiện trong cùng một buổi sáng đầu tháng Bảy. Bọn quản giáo vệ binh thẳng tay vứt bỏ cái gia sản góp nhặt của bọn tù. Lon cóng, dao kéo, búa kìm… những thứ mà mười thằng tù thì hết chín thằng đều thu nhập để đầy trong những sắc cá nhân hầu có chút phương tiện xử dụng trong đời sống hàng ngày. Vĩnh chẳng có gì để phải lo âu hay bực dọc. Gia sản của anh, nếu có, chỉ là những pô ảnh tuyệt vời mà anh đã chụp được, nhưng chụp được bằng óc và tích trữ nó trong tim. Chỉ có thần chết mới tịch thu được những món đó. Nhưng ông thầy xuất Nguyễn Thành Đính thì khác. Ông ta vẫn bận rộn với những món đồ quốc cấm của ông như những lần kiểm tra khám đồ trước đó. Một lần nữa, Đính lại hốt hoảng tìm cách dấu đi quyển Kinh Thánh, cỗ tràng hạt và tượng Thánh Giá nhỏ xíu. 
Vừa thu đồ đem bày ngoài sân Vĩnh vừa quan sát chung quanh. Anh thừa biết cũng có lắm tay đang bối rối tìm cách thủ tiêu những trang nhật ký, những bài văn bài thơ của họ viết trong những lúc không lấy gì làm “kính yêu” Bác và Đảng cho lắm. Sau màn khám đồ là màn tập trung tất cả các dụng cụ sản xuất lại để kiểm kê. Nói chung mọi “tài sản” của nhà nước đều phải đúc kết lại phẩm lượng và báo cáo đầy đủ cho quản giáo khối. Riêng bếp núc nồi niêu xoong chảo được lệnh để nguyên như cũ. 
Ngày 13 tháng 7 năm 1976, hầu như tất cả các tù cải tạo ở Trảng Lớn đều được lệnh “cơ động” tại trại, có nghĩa là nghỉ lao động, hành trang sắp sẵn và ngồi chờ lệnh tối hậu của khung xem mình sẽ phải làm gì. Vào quãng 10 giờ sáng thì quản giáo Cư đem danh sách những người được chuyển trại xuống khối. Ai cũng hồi hộp chờ đợi. Sau khi khối trưởng Trai đọc danh sách Vĩnh thấy mình có tên. Gần hai mươi phần trăm người của khối hai ra đi và dĩ nhiên chẳng ai biết sẽ đi về đâu! Thả ư? Không thể được. Vì danh sách ra đi toàn những thứ Nhảy Dù, Biệt Động, Thủy Quân Lục Chiến, 101, Lôi Hổ, Biệt Cách Dù, An Ninh Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị… Toàn những thứ dữ! 
Thế mình có dữ không nhỉ? Vĩnh lẩn thẩn tự hỏi rồi tự trả lời. Không, mình hiền khô đấy chứ! Nhưng hiền khô tại sao lại được vinh dự nằm chung với danh sách những người hùng của chế độ cũ? Rồi đây chúng sẽ đưa mình đi đâu? Rừng thiêng nước độc? Phú Quốc hay Côn Sơn? Lào Kay hay Việt Bắc? Có thánh thần biết được! 
Vĩnh ngồi dựa lưng vào túi hành trang trong một góc nhà. Anh chẳng buồn nhìn những xao động chung quanh. Lòng Vĩnh hiện đang mang tâm trạng y hệt của một cậu học sinh đệ thất, bãi trường với nguyên sự xúc động phải xa bạn xa bè. Vĩnh ngồi nhớ lại thằng Điểu người Quảng Nam ngang tàng ương ngạnh (và có lẽ cũng là người Quảng duy nhất thù ghét sự… cãi nhau). Thằng Tiến thông minh dí dỏm. Thằng Hóa lù đù nhưng thâm ra phết. Thằng Kim bị thịt lúc nào cũng toa toa moa moa và trông lếch tha lếch thếch. Thằng Ứng ít nói nhưng rất tha thiết một ngày về. Bác sỹ Tuyên với câu than bất tử trên môi “điên cha nó cả người!”. Bác sỹ Đỉnh với vóc dáng nhanh nhẹn của một anh thầu khoán hơn là của một y sỹ. Thằng Bính đái xuống giếng ăn của quản giáo… Rồi ông già Chuân nghiến răng và keo kiệt từng điếu thuốc. “Chị Hào” thút thít khóc như con gái. Ông Thiệu mù chữ. Thằng Dự người thì lùn mà trình độ nói dóc thì cao, dám nhận trách nhiệm trước tập thể để làm những việc mà nó không bao giờ biết làm… Trong trí hồi tưởng của Vĩnh cũng nổi lên những hình ảnh cái chết quằn quại của Đặng Đình Tùng vì 16 viên Chloroquine để phản đối sự nhục mạ của tên quản giáo khối, cái chết tan nát của Nguyễn Xuân Dung, cái chết thê thảm của Phương, của nhiều người khác nữa mà Vĩnh chẳng thể nhớ tên. Xa hơn là hình ảnh Ngô Nghĩa bên L2, người tử tội nhưng mãi cho đến lúc bị lôi ra bãi bắn và bị bịt mắt mới biết mình bị xử bắn!… 

Trong cuộn phim quay ngược qua trí nhớ Vĩnh, lạ một điều là những hình ảnh ác độc, bẩn thỉu, đê tiện của bọn cai tù lẫn bọn chó săn tự nguyện cứ dính vào nhau như những tấm phim hư và anh không còn nhìn thấy nó quá rõ rệt. Dù sao, mỗi đời người vẫn có hai nơi để nhớ nhất: Nơi người ta sinh ra và nơi người ta chịu đựng khổ nhục. Trong những con người của hoàn cảnh khổ nhục kéo dài 13 tháng nơi đây, Nguyễn Thành Đính là người ghi đậm nét nhất trong lòng Vĩnh… 
… Đính ơi, đêm ấy tao ngủ ngon lắm. Bao giờ tao quên được giấc ngủ khi mày đưa xà bông Dial cho tao tắm, đưa thuốc muỗi cho tao bôi trị ghẻ? Và làm sao tao quên được cái tình bạn kỳ lạ ở mày? Quả thực chỉ có thần chết mới làm tao quên được những săn sóc của mày. Cái đùi gà còn dính lông. Miếng lòng heo bùi béo. Những miếng vỏ cây Đại già.. Tao còn nhớ rõ lắm Đính ạ. Tao còn nhớ rõ hình ảnh mày lúc mày bước vào nộp mạng nơi sân trường Lê Quang Định với dáng người tầm thước, khỏe mạnh, trầm tĩnh và tay xách valise. Ôi, có lẽ một triệu tù nhân Việt Nam vào giai đoạn ấy chỉ có mày là người duy nhất xách valise vào tù. Tao là người đầu tiên phát chửi xéo mày khi mày nhập vào tổ ăn 10 người trong đó có tao: Mẹ kiếp! Đi tù mà như đi du lịch. 
Nhưng ngay đêm đó tao đã là bạn của mày và mày đã là bạn của tao. Chúng ta nằm trên hai cái ghế băng kê gần lan can nhìn sang phía lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt đang chìm trong mưa. Ta đã nói với nhau những gì đêm đó? Lúc ấy bên chúng ta không còn vợ, còn con, còn đàn em dại nữa. Cái mặt nạ lạnh tanh, chịu đựng một cách bình tĩnh mà gần hai tháng qua chúng ta phải đóng kịch trong địa vị làm chồng, làm cha, làm anh để trấn an những người thân trong gia đình bây giờ đã rơi xuống. Còn đợi gì nữa mà không để cho hai giòng lệ vong quốc rơi rụng cho nhẹ nhỏm tâm hồn? 
Đính ơi, mày có công nhận là tao đánh hơi tài không? Nghe cái giọng Bùi Chu mộc mạc chân chất của mày, nhìn sự ngăn nắp khi mày mở valise lấy ra cái điếu cày nhỏ xíu, sửa lại cho ngay ngắn cây thánh giá tí ti gắn nơi một góc nắp valise, tao dọ dẫm phán ngay. 
– Xưa tu ở đâu? 
Mày thật như đếm. 
– Dòng Đồng Công Thủ Đức. 

– Ồ! Tao có học nội trú ở đó gần hai niên khóa hồi mới vào Nam. Nhưng sao mày xuất? 
– Vì lòng tao không đủ rộng để làm cha tất cả. Tao chỉ có thể làm cha một vợ ba con thôi! 
– Ra thế. 
Đính ơi, tao chúa ghét những tay tu xuất. Tao không dám vơ đũa cả nắm, nhưng tao có thể cả quyết chín mươi chín phần trăm những tay tu xuất đếch thế nào là bạn tao được. Cái gàn dở ấm ớ nửa đời nửa đạo của họ tao chịu không nổi! Không ngờ một phần trăm còn sót lại lại chính là mày. 
Mười ba tháng đồng cam cộng khổ. 
Rồi giòng đời lại sắp chia rẽ chúng ta. 
Mày là trung úy truyền tin, dù gì cũng là thứ “nhẹ tội” với chúng nó, nên có lẽ vì vậy mày được (?) ở lại. Tao thứ dữ, dù chính tao đang tự hỏi chả hiểu sao tao có dữ thật không, chỉ biết mình sắp bị (?) lôi đi cùng đợt với đủ mặt anh hùng hảo hán, với cả những bác tài xế, chú thợ sơn, anh lơ xe hiền khô nhưng chỉ kẹt vì cái tội rất ư là mập mờ: CIA. 
Một cái đập mạnh vào vai làm Vĩnh choàng tỉnh. Bác sỹ Đỉnh xà xuống bên cạnh Vĩnh. Anh ta nhếch mép khoe hàm răng hơi mất trật tự, cười vui vẻ. 
– Gì mà ngồi buồn thế ông? Biên chế loanh quanh đây thôi. 
Vĩnh gãi cằm. 
– Nội phải xa các ông cũng đủ làm tôi buồn rồi. 
Đỉnh nhấc cái điếu cày lên miệng kéo chơi. 
– Mới ngày nào ông tập cho tôi hút thuốc lào dưới bếp, say tí nữa đâm cha nó đầu vào bếp. Tụi nó chụp tôi không kịp giờ này chắc đã thành Cẩm Nhung rồi. Bây giờ hút rành như một anh nông dân chính hiệu lại không có nổi bi thuốc đãi nhau khi chia tay. 
Vĩnh không trả lời được gì. Bác sỹ Đỉnh ngẫm nghĩ một thoáng, sau cùng anh ta nói nhỏ: Tại sao lại không hy vọng chúng nó thả các ông trong đợt này nhỉ? 
– Thả cái con khỉ! Nó đã nói chuyển trại ông không nghe sao? 
– Thì ông cứ giả thử như vậy đi. Đỉnh nói đoạn thò tay vào túi quần lôi ra một mẩu giấy nhỏ, anh tiếp. Này Vĩnh, nói thực tôi quý ông nhất khối. Sau này mà gặp lại ông chắc thú lắm. Cứ giả thử trời thương, chúng đem các ông về thả ở căn cứ Sóng Thần lấy tiếng chơi với quốc tế, ông chịu khó mò sang quận 8 bảo cho vợ tôi biết tôi đang ở đây. Vợ tôi tên là Trang, cũng dân trường nhạc đấy. Ông cất cái địa chỉ của tôi vào đáy sắc nhá! 
Mặc dù thấy sự lạc quan của Đỉnh hơi tếu, nhưng để vui lòng bạn, Vĩnh cũng cầm lấy mảnh địa chỉ nhét vào túi áo. 

Đỉnh vừa lui gót thì một lô anh em cùng tổ kéo đến. Tổ A.3 có ba người ra đi kỳ này: Vĩnh, Sanh và Bính. Nhớ ngày nào Vĩnh còn là người bị anh em ghét nhất trong tổ do cái tật hay chửi xéo của anh. Ở giai đoạn đầu không bực sao được khi ban ngày đi lao động quần quật, chỉ vì một hạt muối, một lưng cơm, chỉ vì hơn kém nhau một thước đất cuốc, một gốc cây trồng; đêm về anh em đưa nhau ra mổ xẻ, đấu tranh, phê bình, kiểm thảo như thù hận nhau từ mấy kiếp. Lắm lúc họ còn đốt đèn lên để đấu tố nhau, để vạch áo cho kẻ thù xem lưng nhau! Những chuyện như thế đã khiến Bính đập lộn với Trợ và suýt tí nữa thằng Hải ăn của Vĩnh một xẻng bay lỗ tai vì nó đấu Vĩnh ngay giữa hiện trường lao động:… Anh chưa tiến bộ. Anh cố ý chai lười lao động. Đang lao động thì anh đi ỉa. Ỉa gì đến nửa tiếng đồng hồ? Anh chỉ kiếm cớ chui vào bụi ngồi tránh nắng thôi. Thử hỏi cả nước mỗi người đi lao động đều ăn gian của nhà nước nửa tiếng đồng hồ như anh, nhân lên thì đất nước này thiệt thòi bao nhiêu thế kỷ để phát triển?… 
Vĩnh chẳng hiểu vì đâu sau này tự dưng anh em đâm ra quý Vĩnh, quý một cách đặc biệt. Anh đoán có lẽ vì anh liên miên đau ốm, đau thật chứ không phải đau giả như anh em nghi ngờ buổi ban đầu. Thứ nữa, anh là người duy nhất trong trại bị bọn an ninh kêu lên kêu xuống vì vụ viết lách ngày xưa… 
Bây giờ thì những người cùng tổ đang vây lấy Vĩnh. Vĩnh hiểu họ đang ái ngại thật nhiều cho tương lai của anh. Qua cái danh sách của những người ra đi, không nói ra nhưng họ vẫn tin rằng Vĩnh sẽ phải đi về một nơi tối tăm hơn, đày đọa hơn, ngày về nếu có cũng xa xôi hơn và nhất là với riêng Vĩnh, một kẻ đau ốm kinh niên, ngày về coi mòi khó mà có được. Cùng với những lời khuyên, họ trấn an, họ dấm dúi cho Vĩnh một ít muối, một cục đường, tí thuốc rê. Đặc biệt hơn, Quách Tứ tặng cho Vĩnh cái áo treillis mà anh rút thăm trúng hồi Trung thu. Anh nói: Đừng lo lắng nhiều quá đau ốm thì khổ. Biết đâu nhờ yếu đuối ông lại được về trước bọn tôi. Mai sau nếu tôi gặp lại ông Quách Tấn chú tôi, tôi sẽ nói với ông ấy rằng có ông ở bên cạnh tôi hơn một năm ở Trảng Lớn này… 
Vĩnh không tránh khỏi ngậm ngùi trước tình chiến hữu của các bạn. Cả một đoạn đường dài đã đi qua, giờ ngồi nhìn lại mới cho anh thấy rằng trừ vài thằng cốt thú đội lốt người, kỳ dư chẳng ai “tiến bộ” cả, chẳng ai có thể bỏ anh em mà chạy theo Cộng sản cả. Có chăng tất cả chỉ mang thân phận của những kẻ gặp cơn đại hồng thủy, chẳng còn ai cứu nổi ai; và vì thế, họ phải mạnh ai nấy bơi để tự cứu lấy mình. Có người bơi đúng cách, có người bơi sai cách. Có người còn giữ được chút sáng suốt, cố gắng bơi mà không níu lấy ai. Cũng có người thiếu tự tin, yếu bóng vía níu quàng níu xiên lấy những người khác trong cơn hoảng hốt, mà không hề biết rằng làm như thế chỉ có bầy kên kên đang bay trên đầu là đắc chí, vì ở cuối ghềnh kia, nó chắc chắn sắp được rỉa rói thêm một xác chết nữa… 
Bốn giờ chiều những hồi kẻng đinh tai nhức óc từ các trại thuộc trung đoàn 4 dưới bí số L4 đưa nhau rền vang. Đến lúc này Vĩnh mới chợt nhớ ra những tiếng kẻng, nhớ ra để nỗi hãi hùng trong lòng lan nhanh như bóng chiều tà. Trời ơi! Anh không ngờ mình đã đi hết một đoàn đường Núi Sọ thời mới dài cả 13 tháng trời dưới sự giục giã của những tiếng kẻng. Mỗi ngày đời sống của lũ tân nô lệ thời đại Hồ Chí Minh bị chi phối bằng 13 tiếng kẻng: Kẻng báo thức, kẻng tập họp đi lao động, kẻng xuất cổng trại, kẻng dứt lao động buổi sáng, kẻng ăn trưa, kẻng nghỉ trưa, kẻng hết giờ nghỉ trưa, kẻng tập họp đi lao động buổi chiều, kẻng dứt lao động buổi chiều, kẻng cơm chiều, kẻng tắt lửa bếp, kẻng tập họp điểm danh họp khối buổi tối và kẻng ngủ. Ngoài 13 tiếng kẻng cố định ấy, đôi khi còn nhiều tiếng kẻng bất thường khác thường làm cho mọi người đứng tim hơn như kẻng báo động có người trốn trại, đặc biệt tiếng kẻng như chiều nay, tiếng kẻng như đưa tiễn những linh hồn ở tầng đầu địa ngục xuống tầng thứ hai, sâu hơn, nóng hơn và xa xôi trần gian hơn. 
Vĩnh cố gắng hăng hái đứng dậy. Quách Tứ cầm giúp cái tay nải của Vĩnh bước ra cửa với nhiều người khác. Khối trưởng Trai và các bạn đều lần lượt bắt tay Vĩnh và những người sắp ra đi. Bác sỹ Tuyên đứng một góc nhà mắt rưng rưng. Vĩnh đi thẳng ra chỗ tập họp ngoài sân. Anh nhận ra phía trước các khối bạn cũng đều diễn ra cái cảnh nhốn nháo và bùi ngùi như nhau. Bây giờ Vĩnh mới sực nhớ đến những người bạn thân thiết ở các khối khác. Chà! Mình bậy quá. Khi nãy không chạy đi một vòng xem ai đi ai ở và chia tay những thằng ở lại cho phải lẽ… Giờ đã tập họp mất rồi, có muốn cũng chẳng kịp nữa! 

Vừa tập họp xong thì một đoàn xe Molotova đã ầm ầm tiến vào cổng trại. Bọn quản giáo và bọn vệ binh súng ống tua tủa chạy về các khối. Mười phút sau những người ra đi tuần tự bước về phía những chiếc xe đã được chỉ định. Vĩnh nhìn sang phía khối 4 và anh thấy Đặng Thế Tiến cũng tay xách nách mang như mình. Không rõ Hóa và Tạc ra sao… 
Nguyễn Tất Ứng từ phía khối 1 phóng về phía Vĩnh, đi theo hắn là Bùi Công Kiện của khối 3. Ứng chỉ đứng nhìn Vĩnh bùi ngùi. Tên bạn trẻ đồng quân chủng Bùi Công Kiện nhảy tới ôm lấy Vĩnh. Nó nói. 
– Xin Chúa và Mẹ Maria phù trợ ông cách riêng. Nó nghẹn ngào. Hãy tin có ngày mình gặp lại. Nói đoạn nó bỏ Vĩnh ra và lầm lũi đi thẳng. 
Ứng tần ngần tìm lời. 
– Nếu giả như mày được thả, về hôn thằng Nguyên cho tao một cái… Mày muốn nói gì với tao không? 
Vĩnh ngó bạn cười cười. 
– Mày cứ làm tao như là Zarathustra không bằng ấy! 
Sức bình tĩnh của hai đứa có lẻ chỉ đến đó thôi. Cả hai ôm lấy nhau rồi buông nhau ra lập tức. Ứng không nói thêm một lời nào. Hắn bước đi thật nhanh như chạy trốn. 
Lúc Vĩnh trèo lên xe, một chút nữa anh ngã ngửa vì có người níu lấy cái túi đeo trên vai anh. Vĩnh vội nhảy ngược xuống khỏi tấm bửng xe. Anh ngoái lại. Đính đang đứng sát người anh. Đôi mắt nó cũng đỏ hoe. Nó không nói không rằng, dúi một bịch khá lớn vào cái túi đeo của Vĩnh. Nó nói vội trong sự ồn ào chung quanh. 
– Đi bình an! Xin Chúa quan phòng mày cách riêng. 
Nói đoạn Đính lùi vào đám đông đứng hai bên tiễn đoàn người ra đi đang lần lượt leo lên xe. 
Trên những nẻo đường đêm, ngồi trong lòng chiếc Molotova chật như nêm cối, mặc cho anh em bàn tán đủ chuyện, Vĩnh chỉ muốn làm sao ngủ được một giấc. Anh sực nhớ đến cái bịch mà Đính đã nhét vào túi của mình. Vĩnh loay hoay tìm một thế ngồi cho vững vàng và thoải mái. Anh chậm rãi moi cái bịch ra. Trong cái bịch được gói cẩn thận bằng giấy dầu, anh thấy Đính gửi theo cho anh một gói muối hột và một gói ớt khô. Vĩnh buồn buồn nghĩ bụng. Chắc lại toáy của kho hậu cần đây! Tội nghiệp, một ông thầy xuất ngoan đạo chỉ vì thương bạn đã phạm điều răm thứ 7 của Chúa! Khi xem bịch muối, Vĩnh chợt chú ý đến một cái hộp nhỏ gò bằng tôn thật xinh xắn. Anh cầm cái hộp lên ngắm nghía rồi mở ra xem. Cây Thánh Giá bé tí quen thuộc của Đính nằm yên trong hộp, chèn chung quanh cây Thánh Giá là năm đồng bạc mới… 
Hòn đá lòng Vĩnh cứ thế ứa lệ suốt một đêm dài…





Cuộc sống dưới tàu ngầm

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

Posted on August 19th, 2023

Post by Sơn râu 3 Jan 2024

Tàu ngầm, bình thường cũng hiếm khi thấy. Vì thế, cuộc sống dưới tàu ngầm vẫn là điều ít ai biết. Con tàu tròn như trái dưa leo to lớn, bằng thép, lặn tận đáy biển, âm thầm làm những chuyện… bí mật.

Tàu Ngầm ra khơi. Nguồn. US Navy.        

Hành lang rất hẹp

Vì diện tích sử dụng quá nhỏ, nên tất cả mọi chỗ trên tàu đều bị thu hẹp lại. Ðiều này cũng ảnh hưởng tới các lối đi.Thực sự, lối đi quá hẹp, chỉ đủ cho 1 người đi; nói một cách khác là 2 người không thể đi song đôi trong tàu ngầm.

Lối đi trong tàu ngầm rất chật. Nguồn US Navy.

Góc 450

Bạn có biết, khi tàu ngầm lặn xuống và nổi lên bằng cách nào không? Thực sự, khi tàu ngầm thay đổi độ sâu, lặn xuống hay nổi lên, cả con tàu sẽ theo hướng góc 45°. Ðiều này khiến cả thủy thủ đoàn phải gồng mình gánh chịu.

Nhà bếp lớn

Nhà bếp trên tàu ngầm là nơi nấu nướng, nuôi cả thủy thủ đoàn. Trong tàu ngầm chỗ nào cũng chật chội nhưng khu nhà bếp lại là nơi lớn nhất. Nó chỉ lớn hơn những nơi khác chứ không lớn như bạn thường nghĩ. Có thể nói đây là chỗ rộng rãi, thoáng khí nhất trên tàu.

Nhà bếp lớn hơn nơi khác. Nguồn. JK Press

Khả năng ngủ

Những sĩ quan và thủy thủ làm việc trong tàu ngầm tự học và tự huấn luyện cho mình có thể ngủ bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Hay nhất là bạn nói chuyện với một thủy thủ, anh ta gật đầu và ngáy cùng một lúc. Khi ai đó ngủ, bạn thử gọi tên, lần thứ nhất, rồi lần thứ 2 thật rõ và gần tai anh ta, anh thức dậy ngay tức thì. Dưới tàu ngầm, bạn sẽ thấy họ ngủ ngay sau khi làm xong việc.

Tìm kiếm chỗ rò rỉ trên tàu

Bạn có biết là thủy thủ đoàn sẽ làm gì trước, khi tàu ngầm lặn xuống nước không? Họ đi tìm những lỗ rò rỉ. Tại sao? Rất dễ hiểu, nếu tàu có lỗ rỉ nước, thì cuộc sống của mọi người coi như tiêu tùng. Nếu tìm ra có lỗ rỉ, lớn hay nhỏ, họ phải bịt lại ngay lập tức, cuộc sống của cả tàu tùy thuộc vào điều đó.

Phòng tập thể dục

Sống trong tàu ngầm, dưới biển sâu cả mấy tháng trường, thường dễ làm người ta nổi khùng. Cho nên, chỉ huy và các sĩ quan làm mọi cách cho thủy thủ đoàn được vui, giúp họ có điều kiện đỡ buồn và giải tỏa năng lượng cho cơ thể được quân bình. Dù chỗ trống bị hạn chế nhưng bạn sẽ ngạc nhiên khi các tàu ngầm đều có nơi tập thể dục. Ðiều này giúp cho thủy thủ tập trung, giữ thể lực và nghỉ ngơi.

Phòng tập thể dục. Nguồn. YouTube

Giữ vững tinh thần

Thủy thủ đoàn tàu ngầm, sống cả tuần, đôi khi cả mấy tháng sâu dưới biển, không tiếp xúc với người ngoài. Mặc dù họ đã được huấn luyện đặc biệt, kỹ càng trước khi phục vụ dưới tàu ngầm, nhưng cũng có những người không chịu nổi cuộc sống này. Khi có việc xảy ra, sĩ quan y tế được phép cấp thuốc (thường là thuốc an thần) và giữ họ trong chỗ ở, có nghĩa là họ uống thuốc và bị canh chừng tại nơi giường ngủ của mình.

Không liên lạc với thế giới bên ngoài

Khi bước vô tàu ngầm, bạn phải hiểu rằng, việc liên lạc với những người thân yêu sẽ không giống trước đây. Không có ông đưa thư nào lặn xuống biển giao thư cho bạn, hoặc lấy thư của bạn mang cho người thân. Bạn chỉ có gởi thư hoặc nhận thư khi tàu ngầm nổi lên mặt biển. Và tàu ngầm không bao giờ muốn ai biết vị trí của tàu, chỉ nổi lên khi rất cần thiết, cho nên bạn phải biết, sự liên lạc giữa bạn và thế giới bên ngoài trở nên rất hiếm hoi.

Ngủ với vũ khí nguyên tử

Sống trong tàu ngầm chật chội thật tệ hại, nhưng có nhiều người thấy rằng nơi này rất ấm cúng vì họ biết rằng phải ngủ chung với đống vũ khí tàn phá hàng loạt như hỏa tiễn đạn đạo, ngư lôi và hỏa tiễn với đầu đạn nguyên tử cả mấy tháng trời.

Khu giường ngủ treo. Nguồn. http://www.maritimeherald.com

Hỏa tiễn Trident

Chúng ta biết hỏa tiễn này nằm trên tàu. Vậy, cũng nên biết một ít về loại vũ khí kinh khủng này. Vài tàu ngầm có trang bị hỏa tiễn Trident, đây là loại hỏa tiễn đạn đạo, có thể bắn vào nhiều mục tiêu khác nhau cùng một lúc. Và bạn cảm thấy an toàn khi món đồ chơi kinh khủng này bảo vệ gia đình và đất nước mình.

Phòng chứa hỏa tiễn, vũ khí. Nguồn. Jeff J MitchellGetty Images

Giường là quan tài

Sống trong tàu ngầm, cũng giống như sống trong một cái ống lớn dưới mặt nước biển. Bạn tự thấy nó cũng khác người, cho nên mọi người trong tàu ngầm gọi giường ngủ là “quan tài”. Ðúng vậy, “tụi tôi không biết là khi nằm trong mộ ở nghĩa địa như thế nào, nhưng đây là một cái tên hay cho mấy dãy giường tầng nhỏ xíu”, một thủy thủ tàu ngầm nói.

Ống phóng hỏa tiễn. Nguồn. US Navy

Không có vụ đóng cửa mạnh tay

Những thủy thủ trong tàu ngầm ngủ rất ít, khó mà có một giấc ngủ ngon, nên có luật cấm nghiêm ngặt về chuyện đóng cửa mạnh tay. Vì chỉ cần 1 tiếng động nhỏ sẽ làm người ta thức dậy. Có một điều khác nữa, đôi khi trong tàu phải hoàn toàn giữ yên lặng, để tránh bị sóng sonar của tàu ngầm địch nghe thấy. Nên, đóng cửa mạnh hay gây bất cứ tiếng động nào, đều bị tuyệt đối cấm.

Lặn vài tuần hoặc vài tháng

Tàu ngầm hoạt động dưới mặt nước hay dưới đáy biển, ít khi nào thấy ánh sáng ban ngày và ban đêm. Cho nên rất khó nhận định thời gian khi bạn làm việc trong một chiếc tàu ngầm, nhất là trong trường hợp tàu hoạt động nhiều tuần hay vài tháng dưới đáy biển. Tuy nhiên bạn đừng lo, coi đồng hồ để biết giờ, ngày. Vấn đề là bạn không đoán được thời gian, nếu không có đồng hồ.

Phòng lái. Nguồn. Photo US Navy

Một tình bạn vĩnh cửu

Những người cùng phục vụ và chiến đấu bên nhau, thường rất gắn bó với nhau. Ðiều này rất thực đối với những người làm việc trong tàu ngầm. Khi mà bạn trải qua tháng này tới tháng kia (đôi khi cả năm dài) bị kẹt trong cái ống sắt dưới mặt nước, bạn thường có một tình cảm gắn bó với các bạn đồng sự của mình. Thủy thủ hay kể rằng: Sau khi xuất ngũ, họ vẫn tổ chức ngày đoàn tụ và cảm thấy như chưa bao giờ xa nhau. Ðây là một tình đồng đội, một tình bạn đậm đà nhất.

Tàu ngầm cập bến. Nguồn. US Navy

Huấn luyện cuộc sống dưới tàu ngầm

Mơ ước trở thành một người làm việc dưới tàu ngầm không chỉ xảy ra một sớm, một chiều. Bạn phải trải qua nhiều đợt huấn luyện nghiêm ngặt trước khi trở thành thủy thủ tàu ngầm. Theo lời của một cựu thuyền viên tàu ngầm, trong vài tháng đầu, bạn học 10 giờ trong một ngày, liên tục trước khi học cơ bản quân sự. Ðiều chủ yếu là “họ đưa ra 4, hoặc 6 năm trình độ cao đẳng và nén vô đầu bạn chỉ trong thời hạn 6 tuần”.

HĐV

Cú Nhảy Lịch Sử

Trần Trí Dũng

November 24th, 2020

Tre Magazine

Post by Sơn râu 3 Jan 2024

Hơn nửa thế kỷ qua, với đà phát triển của kỹ thuật hàng không, đã có rất nhiều người “nhảy dù” mà không “bung dù” lập tức vào thời điểm rời phi cơ. Thường là họ bay tự do một khoảng thời gian nào đó rồi bung dù.

Liều lĩnh hơn, họ không đeo dù mà nhận dù từ đồng đội, hoặc chụp bắt các “túi dù” được tính toán trước, thả bay lơ lửng giữa không trung. Cũng có khi họ rời phi cơ, vừa thả người rơi tự do, biểu diễn nhào lộn một hồi, rồi… chui vô phi cơ trở lại. Tất cả đều là những thử thách công phu ít ai làm được. Nhưng kỳ tích như của phi công Hoa Kỳ Luke Aikins thực sự trên đời chưa thấy ai làm được. Vào ngày 30/6/2016, trên không phận Simi Valley, tiểu bang California, Aikins đã nhảy từ phi cơ, ở cao độ 7,620 m (25,000 feet), không hề mang theo dù, và “hạ cánh” an toàn sau chừng 2 phút rơi tự do.

Có thể xem ở đây https://www.youtube.com/watch?v=GaANi96Z-Wg.

Lưới khổng lồ. Ảnh Mark Davis/Getty Images/Stride Gum

Lúc đó, Luke Aikins 43 tuổi, nhưng đã có trên 18,000 cú nhảy đùa giỡn tử thần từ năm 12 tuổi. Người như Aikins trong Anh Ngữ gọi là “Professional Skydiver”. Nhờ kinh nghiệm của mình, Aikins từng được mời huấn luyện lực lượng đặc nhiệm người nhái United States Navy SEALs. Năm 2012, Luke Aikins cũng làm phụ tá cho một tay đùa giỡn tử thần nổi tiếng khác, Felix Baumgartner, lập kỷ lục thế giới rơi tự do trong không khí 39 km (24 mile), đạt tốc độ 1,357.64 km/giờ (843.6 mph), nhanh hơn tốc độ âm thanh. Trong cú nhảy của mình 4 năm sau, tốc độ cao nhất Luke Aikins đạt đến là 193 km/giờ (120 mph).

Bình thường ra, một trái banh thả từ 10 tầng lầu, lúc chạm mặt đất có tốc độ nhanh hơn một trái banh khác rơi từ tầng 1. Nhưng khi lên quá cao, dù 25,000 feet hay 15,000 feet, thì không còn khác biệt. Trong cả hai trường hợp, cơ thể người ta, tùy cân nặng, thể trạng, khi tiếp đất, tốc độ dao động trong khoảng 100-150 mph. Trường hợp của Luke Aikins, con số 25,000 feet, hay 7.6 km, được chọn đơn giản vì đây là độ cao tối đa chiếc phi cơ Cessna 208 Caravan có thể bay tới. Ðể dễ mường tượng, phần lớn các phi cơ thương mại bay đường trường ở cao độ 30,000-35,000 feet. Ðỉnh Mount Everest cao nhất thế giới ở mức 29,030 feet hay 8,848 m.

Hạ cánh an toàn. Ảnh Mark Davis/Getty Images/Stride Gum

Ðể “rớt” trúng chiếc lưới khổng lồ, giảm tốc độ từ 120 mph xuống ZERO mph, Luke Aikins cần sự yểm trợ, tính toán của kỹ sư thượng thặng. Sau hơn 2 phút rơi tự do tốc độ 193 km/giờ (120 mph), tính ra cần tối thiểu 36.5m (120 feet) làm khoảng cách đệm cho Luke Aikins còn nguyên vẹn hình hài. Kết quả là tấm lưới tốn kém trên $40,000, hình vuông, mỗi cạnh dài 30m (100×100-foot). Lưới làm bằng nhựa Polyethylene, rất nhẹ, không có “thắt nút” để giảm chấn động lên cơ thể, nhưng có nhiều “mắt lưới” giúp dàn trải, chịu lực. Lưới được giăng ở độ cao khoảng 20 tầng lầu, với 4 cần cẩu cao hơn 60m giữ 4 góc. Bên dưới còn một tấm lưới khác giữ an toàn tối đa. Xung quanh lưới, các kỹ sư cũng lắp đặt dàn đèn tương tự như hệ thống đèn cho phi đạo phi trường. Tâm điểm tấm lưới cũng có đặt hệ thống định vị điện tử GPS.

Phần Luke Aikins không mang theo dù, nhưng vẫn đội nón an toàn, vì yêu cầu của TV, của hãng bảo hiểm, để bảo vệ não bộ mỏng manh (khi chui vô lưới, lúc lỡ va chạm với đồng đội trên không), và cũng là nơi gắn thiết bị định vị GPS. Trong lúc rơi tự do, Aikins nhiều lần làm các động tác nhào lộn, xoay trở, lật người qua lại, không chỉ để biểu diễn, quay phim, mà còn vì nhu cầu rất thực tế, nhằm đạt tư thế và vị trí lý tưởng. Với trợ giúp của GPS, Aikins phải “nhắm trúng” mục tiêu 30×30 m ((100×100-foot) từ khoảng cách 7,620 m (25,000 feet). Lúc bay trong không trung, theo kinh nghiệm, cơ thể nằm sấp là tối ưu, nhằm giảm thiểu áp lực gió (Anh Ngữ gọi là tư thế “Eyeballs In”). Nhưng trong cú nhảy này, vì không có dù, ở thời khắc sau cùng, Luke Aikins phải lật người lại, lưng chạm lưới trước, đơn giản vì giới hạn tự nhiên của cơ thể học. Nếu mặt/ngực chạm lưới trước, tay chân không “bẻ ngoặt” về sau được, sẽ bị gãy, thậm chí xương sống có thể gãy gập làm đôi.

Trong vòng tay bạn hữu. Ảnh Mark Davis/Getty Images/Stride Gum

Tư thế sau cùng quan trọng tới đỗi Aikins phải luyện tập riêng với các chuyên viên thể dục nghệ thuật “Gymnasts” để quen kỹ thuật xoay người đưa lưng hướng xuống đất. Công việc chuẩn bị, tập luyện, thử nghiệm kéo dài 18 tháng không chỉ nhắm đến đạt tư thế và vị trí lý tưởng lúc Luke Aikins “hạ cánh”, mà còn để giảm thiểu nhiều rủi ro khác, kể cả làm sao chắc 100% để lưới “tóm” được, mà không “tung” Aikins ngược lên trời, hay loại trừ chấn thương cột xương sống v.v.

Nhiều người khó hiểu sao lại có những kẻ thích đùa giỡn tử thần như Luke Aikins. Câu trả lời đơn giản nhất là vì họ thích như vậy. Những kẻ mang tâm hồn chinh phục luôn thích là kẻ đầu tiên. Khác Sir Edmund Percival Hillary (New Zealand) và hướng đạo Tenzing Norgay (Nepal), những người đầu tiên chinh phục đỉnh Mt Everest “nóc nhà thế giới” trong âm thầm tê tái lạnh hôm 29/5/1953, cú nhảy của Luke Aikins năm 2016 còn được TV truyền hình trực tiếp, và thế giới Internet “lên đồng” theo dõi. Gộp tất cả lại, Aikins ngày nay được săn đón thập phần nhiều hơn trước. Ngoài làm cố vấn cho binh chủng nhảy dù Hoa Kỳ và Hiệp Hội Nhảy Dù HK “United States Parachute Association”, thỉnh thoảng chụp không ảnh nhảy dù đăng trên các tờ báo và tạp chí thế giá, Luke Aikins còn được mời đi diễn thuyết khắp thế giới, quảng cáo giới thiệu sản phẩm, những cuộc ra mắt ngắn ngủi nhưng phong bì dày cộm, kể cả nhận lời làm MC trong các sự kiện đặc biệt.

Luke Aikins và đồng đội bay trên đồi Hollywood. Ảnh Andy Farrington/Red Bull/Getty Images

Cô Tư

Hồ Đắc Vũ

April 7th, 2022

Post by Sơn râu 3 Jan 2024

Tôi gặp cô trong bữa tiệc.

– Ðây là cô Tư!

– Tui là H. Xin chào!

Cô Tư thấy già mà còn quá trẻ. Hôm đó, cô Tư diện đồ tây trắng, đôi mắt to, nụ cười tươi trên khuôn mặt trang điểm kỹ.

Chủ nhà nói nhỏ:

– Bả đang có thằng chồng già gốc Ý, làm xây cất, giàu sụ.

Cô Tư dễ thân thiện:

– Em là dân Bà Rịa, vượt biên qua đây năm 85, gặp chồng cũ đã có gia đình nên em dzọt luôn.

– Cô ở trại nào?

– Nam Dương.

Chủ nhà nói nhỏ:

-Bả lẹo tẹo mấy ông cựu quân nhân trong trại.

Tuần sau.

– Hello! Anh H, tối qua nhà nhậu chơi.

Tất nhiên. Tôi không bao giờ từ chối chuyện “qua nhà nhậu chơi”

Buổi tối. Căn nhà gạch, đá tảng, sân nhiều cây, hoa, đẹp.

Ông chồng Ý đứng tận cửa, chào khách:

– Hello!

Ðêm nhậu vui vẻ với gia đình cô Tư, vài người bạn. Nai tươi nướng kiểu Ý, lẩu thập cẩm đồ biển, 4 chai rượu đỏ, 2 thùng bia.

Vợ tui thích cô Tư, thường mời ăn nhậu, ca hát.

Cô làm thông dịch cho bệnh viện, rảnh, hay rủ vợ chồng tui đi shop, đi chơi.

Tôi biết nhiều về vùng New England là nhờ cô Tư, hết núi này tới hồ nọ, tỉnh kia, mùa hè nào cũng dung dăng dung dẻ.

Một năm trước khi cô lấy ông Ý làm chồng. Cô Tư mướn căn basement phía sau nhà ông ta, 2 phòng ngủ, nên share với anh sinh viên gốc Mễ, Carlos, đang học tại MIT.

Ba tháng sau, không biết cô Tư làm tuồng gì mà nói với chàng sinh viên Mễ:

– Bye Carlos, tui dọn lên nhà trên ở với ông Ý.

Tuần tới, ông Ý phụ cô Tư dọn nhà. Tháng sau, hai người làm đám cưới.

Ðám cưới xong, cô Tư đương nhiên trở thành bà chủ nhà:

– Em muốn trăng mật!

Ông Ý cười:

– Ở đâu cưng?

– Ý!

Xong ngay. Ông Ý cũng muốn khoe vợ đẹp với đám già quê mình.

Làng nhỏ ven biển của Sturla, vùng Genoa, Tây Bắc nước Ý, nắng rực rỡ.

Ông Ý nốc quá nhiều Porto, ngủ trên ghế vải, cô Tư dạo một vòng biển.

Năm đó cô còn mướt, thân hình thon thả với 3 vòng xuất sắc làm mấy cha già ngồi câu cá đưa miệng móm huýt sáo.

– Hello!

– Hey! Su quale pianeta sei?

– English!

– À! Cô ở hành tinh nào vậy?

– Việt Nam, Boston.

– Il Vietnam ha molte belle persone come te?

Cô Tư ngừng lại, mở to đôi mắt đẹp, kéo môi, cười.

– English!

– Ở Việt Nam có nhiều người đẹp như cô?

– Nhà nào cũng có.

– Oh!

Ông Ý tỉnh giấc trưa, cô Tư kéo vô phòng.

Sau tuần trăng mật, ông Ý dập mật, về tới Boston được 2 ngày, vô cấp cứu vì hụt thở, kiệt sức. Cô Tư thì phơi phới vì nốc quá nhiều sex.

– Anh!

Cô Tư ẹo người, cạ bộ ngực to nguyên thủy vô lưng ông chồng Ý.

– Em tới quê anh rồi, bây giờ em muốn anh về quê em.

Cô Tư kéo chồng nằm xuống ghế dài.

– Anh đi hông?

Cô Tư cởi áo mình.

– Yes.

– Vậy tối em lấy vé.

Cô Tư cởi đồ chả.

– … @!%!!!***!

Xong.

Cuối tuần đó hai người bay về quê Bà Rịa của cô Tư.

Hàng xóm hiếu khách, nên thay nhau làm tiệc nhậu, mời.

Lẩu cá hú, đầu cá mú, cá lóc hấp, nướng trui, dê thui, dê nướng lá chanh, bê con nướng mẻ… bia Tiger, Sài Gòn đặc biệt hết thùng này tới thùng kia.

Ngày nào cũng nhậu, khuya nào cũng ấy. Bao nhiêu xí quách của tay Ý già đổ hết vô cái hồ lô của cô Tư…

Ðược 3 ngày.

– Kêu xe bệnh viện giùm.

Sáng sớm cô Tư la.

– Chồng tui nó ngất ngư.

– Cho ổng uống nước chanh đi!

– Trà nóng mật ong!

– Rượu gừng!

– Bột nấm Linh Chi!

Ông Ý xụi lơ, đưa cặp mắt lờ đờ nhìn cô Tư:

– Tao muốn về nhà.

Cô Tư đưa chồng đi Chợ Rẫy, bác sĩ khuyên, đưa ông về Mỹ gấp vì ông bị kiệt sức, suy tim, đường cao, mỡ trong máu, máu lên hết cỡ, bao tử nhiễm trùng, đại loại là ruột gan lộn tùng phèo…

Chuyến đi chơi VN định là 2 tuần, chỉ 3 ngày.

Về tới Boston.

Ông Ý già vô bệnh viện tân trang sức khỏe. Cô Tư nằm dài, nhớ những ngày vui chơi VN.

Ai cũng biết, nằm dài hoài thì chán.

– Hi! Carlos, khỏe không? Ði làm chưa?

Cô hỏi anh chàng kỹ sư MIT, thuê nhà, gặp trước nhà.

– Yes, đã có việc 3 tháng rồi.

– Nhưng làm ở đâu?

– Costco.

– Chúc mừng! Tối rảnh hông? Uống ly rượu?

Tối đó, cô Tư mang chai Vodka, 2 cái ly, bịch khô mực mới mua bên VN về, xuống phòng Carlos.

Mấy ly rượu, bao khô mực và cái cái áo bó sát mỏng tanh của Cô Tư, làm Carlos choáng váng, mặt đỏ như lên máu.

Cô Tư mần trò. Chổng cái mông tròn lẳn:

– Mở TV chỗ nào?

– Ngay nút đỏ.

– Làm sao tắt nhỏ tiếng?

Carlos đang ngớ người vì cái mông cô Tư, đứng dậy, bước tới.

– Ðây!

Cô Tư cũng đứng dậy, đúng lúc tay của Carlos chỉ tới. Ngón tay đụng vô mông cô Tư.

Cô Tư cười. Trên chiếc ghế bành, tại phòng của Carlos, anh Mễ đưa cô Tư bay tới trời xanh.

Nhưng tấm vải thưa của cô Tư không đủ che mắt thánh của ông chồng Ý.

– Em Tư, tới đây coi nè.

Ông chồng kêu cô Tư tới bàn làm việc, kéo hộc, lòi ra cái TV nhỏ, ổng bấm nút.

Màn ảnh hiện cảnh cô Tư vô phòng anh Mễ, cảnh cô Tư lén ra khỏi phòng…

Ông Ý già gừ gừ:

– Từ lúc vô, đến khi ra là 30 phút.

Quay qua cô Tư:

– Em làm gì trong đó?

– Em lấy tiền nhà.

– Ha!

Ông Ý cười.

– Láo! Em đưa tiền nhà cho anh trước đó 2 hôm.

– Vòi nước hư, em giúp Carlos tắt nước.

Mặt ông lạnh tanh như mafia:

– Em vô đó 3 lần! Lần đầu khi anh ở bệnh viện, hai lần sau lúc anh tái khám.

– Thì vô thăm. Quen biết mà.

– Em làm chuyện tồi bại.

Ông chồng Ý chỉ vô mặt cô Tư.

Cuối tuần, ổng tống cổ Carlos ra khỏi nhà với lời hăm dọa.

– Tôi sẽ đưa cuộn video ra luật sư, vợ tôi bị anh hiếp khi tới lấy tiền nhà.

Carlos cứng miệng, một phần cũng muốn bỏ chạy, nên:

– Bye hai người!

Vợ chồng cô Tư vui vẻ trở lại.

– Hello anh H, tối mai qua chơi!

Tối thứ 7.

Ốc vòi voi sashimi, sò lạnh, ngỗng trời hầm thuốc bắc.

Bữa tiệc ngon lành, bao nhiêu chai chát đỏ, bia, trôi tuồn tuột.

Ôi, tình thân với cô Tư bỗng thắm thiết vô cùng.

Từ đó, thứ Sáu nào, tui và các người bạn cũng canh điện thoại, nghe giọng cô Tư là mừng rơn đợi những bữa tiệc ngon.

Một tuần trôi qua, cô Tư biệt tích, tôi gọi hai lần, không ai bắt máy.

Ba tuần.

Rồi! Cô Tư có chuyện.

Phone.

– Anh biết hông?

Giọng cô Tư ngọt như đường thốt nốt.

– Chưa biết.

– Số em xui!

– Sao em?

– Anh nhớ bữa ăn sò, ốc vòi voi hông?

– Nhớ.

Tôi hớn hở:

– Tuần này ăn nữa hả?

– Hông! Người ta nói đàn ông ăn sò bổ dương đàn bà ăn sò bổ… sò! Tối đó chồng em hăng hái “thể hiện khả năng phát triển tình dục đa dạng” … Ờ!… như…

Tôi ngắt lời:

– Là ổng “ấy” em?

– Nhờ mấy đĩa sò nên “ấy” có cỡ. Thấy ngon, mấy hôm sau, em mua bịch sò 100 con, một mình chả làm hết với chai Vodka đông lạnh.

Cô Tư thở dài.

– Tối đó, chả mần một bữa super sex. 7 giờ sáng mai, đi cấp cứu, bị stroke, nằm 1 tuần rồi.

Thứ 6 tuần sau.

– Hello anh H!

– Ra sao rồi? Ổng hết sò chưa?

– Ổng tiêu!

– Chết?

– Qua đời vì 100 con sò và hyper sex… Mần quá cỡ!

Ðám tang ông Ý già xong, cô Tư trở thành bà góa, chủ căn nhà rộng lớn, đẹp đẽ của người chồng quá cố vì sò và sex.

Cô Tư gọi:

– Thứ Bảy này…

Tôi OK trước khi cô Tư hết lời.

Giò heo ngâm giấm kiểu Ý, vịt Bắc Kinh, cháo ba ba bày ra một bàn.

Cô Tư tươi như hoa hướng dương:

– Em giới thiệu, Brandy, bạn trai mới.

Brandy chừng 50 tuổi, đẹp trai, cao, gọn ghẽ kiểu quân đội, bắt tay từng người.

Cô Tư tiếp:

– Brandy là trung tá tại Ngũ Giác Ðài.

Mọi người ăn uống cụng ly.

Tôi hỏi nhỏ:

– Tóm được chả ở đâu, hay vậy?

– Trong bệnh viện.

– ?!

– Lúc ông Ý nằm bệnh viện, Brandy nằm phòng kế bên, tui đi ngang mỗi ngày, hello hoài thành quen! Sau khi ông Ý chết, chả phone mỗi ngày, hello hoài thành bồ.

Ba ngày sau, cô Tư gọi:

– Brandy mua cho em chiếc Mer sport, 2 cửa.

Bốn ngày sau, cô Tư lại gọi:

– Brandy dự định bán nhà em, mua căn biệt thự 2 triệu ngay bờ biển Marblehead.

– Xin chúc mừng! Khu đó toàn triệu phú…

Cô Tư cười một tràng:

– Brandy sẽ lên đại tá tham mưu vào tháng tới.

Tôi và bạn bè hồi hộp đợi bữa tiệc lớn, mừng Brandy lên chức và tân gia của cô Tư.

Một tuần… bốn tuần…

8 giờ sáng, cô Tư gọi:

– Tiêu!

– Thì ông Ý tiêu rồi.

– Không.

Một khoảng lặng.

– Ông Mỹ tiêu.

Tôi im.

– Brandy tử trận tại Iraq, tuần rồi, bị rắn sa mạc cắn.

– Tội!

– Ðáng kiếp!

– Chuyện gì?

– Chả tặng em chiếc xe trả góp. Coi như mất!

– Ừ.

– Chả nói em bán nhà, chả hùn thêm mua biệt thự. Cũng may chưa làm.

– May.

– Bây giờ thì em biết.

– Gì?

– Chả ly dị vợ 3 lần, có cả thảy 6 con… Và chả là…

– Là tướng hả em?

Cô Tư la lớn:

– Mẹ, là trung sĩ vệ binh quốc gia, chưa bao giờ bắn một viên đạn, khi cần thì ra trận… nấu ăn.

Tôi cười lớn, cô Tư cũng cười lớn:

– Bữa đám ma em có tới chia buồn.

– Xong.

– Chưa anh.

– Gì cô Tư?

– Thứ 7 này qua cụng ly.

Tất nhiên, tôi có từ chối bao giờ.

Tối thứ 7, nhà cô Tư.

Bàn ăn trống trơn, bia rượu vắng mặt.

Tôi và những người bạn, nhìn quanh, lạ kỳ.

Cô Tư với bộ đầm sát người, eo còn, bụng chưa phình.

– Bữa nay đặc biệt. Xin giới thiệu người yêu mới.

Cô Tư quay vô, bước ra, là chàng Ả Rập trẻ, đẹp trai, chừng 35 tuổi.

– Chào các bạn, tôi là Alabibi, bạn cô Fo (Tư).

Cô Tư thêm:

– Con trai của chủ mỏ dầu Kuwait. Hôm nay mời bữa nhậu đặc biệt…

Tôi chỉ cái bàn ăn:

– Trống trơn cô Tư.

– … Tại nhà hàng Nhật. Mọi người lên xe đi chung.

Cô Tư kéo xuống sân, chiếc Limousine đợi sẵn.

Nhà hàng Nhật Douzo, có tiếng ở Boston.

Tôi gắp miếng sashimi, khều cô Tư:

– Tóm được chả ở đâu, hay vậy?

– Ðám ma Brandy xong, em ra tới xe, mất chìa khóa, đang loay hoay, trời đổ mưa, một chiếc Limousine đậu ngay trước mặt, mở cửa:

– Mời cô lên xe, trời đang mưa!

Em nhảy lên xe.

Chàng Ả Rập ngồi khuất phía sau, cười:

– Chào cô gái xinh đẹp. Tôi là Alabibi.

– Miss Fo. Tôi bị mất chìa khóa xe.

– Không sao, tôi đưa cô về.

Phone, phone.

– Hai phút nữa, có người mang xe của cô tới nhà.

Cô Tư về tới nhà, chiếc xe câu cũng vừa để xe của cô trước sân.

Cô lịch sự mời người tốt bụng vô nhà chơi.

Vì ướt mưa, cô Tư thay đồ.

Khui chai rượu chát trắng, bày 2 cái ly, hộp kẹo sô cô la.

Hai người cụng ly, nói chuyện xã giao.

Vấn đề là…

Cô Tư chơi cái mini cực ngắn, không quần lót, ngồi trước mặt Alabibi, chân lúc mở lúc đóng, rồi đi tới đi lui, cúi xuống, đứng lên, cái mông tròn lẳn ẹo ẹo rất chiến lược.

Vừa hết chai rượu thứ 3, đúng 2 giờ sáng thì đèn nhà cô Tư tắt và dĩ nhiên là chàng Ả Rập Alabibi không ra khỏi cửa.

Sau bữa tiệc ở nhà hàng Nhật, cô Tư biến mất, không phone, không gặp cả tháng.

Bạn gọi:

– Hello anh H!

– Ừ!

– Có coi bản tin của CNN sáng nay không?

– Chưa.

– Cô Tư dính rồi!

Tôi coi lẹ bản tin CNN.

“Alabibi, con trai chủ cây xăng G tại Kuwait cùng với bạn gái bị bắt vì liên quan việc yểm trợ tài chánh cho tổ chức khủng bố IS…”.

Tôi chạy tới nhà cô Tư, vắng tanh.

Qua một tuần.

Cô Tư gọi, giọng hí hửng:

– Anh H, tới nhà chơi đi.

– Sao, cô bị tóm mà?

– Tới đây chơi, em kể nghe.

Tối thứ 7, tôi và nhóm bạn bè, tại nhà cô Tư, bia, rượu đỏ, gỏi xoài, cá bông lau Biển Hồ, gà tươi xé phay, cháo gà…

Cô Tư làm 3 ly rượu chát trắng, hừng hừng, ngồi xuống.

…

Alabibi, bồ với cô Tư chừng 2 tuần.

– Anh mời em đi Kuwait chơi.

– Ði.

Hai vé hạng đặc biệt, Emirates Airlines, khách sạn Regency, phòng Vua, một tuần ăn chơi hết cỡ, sang cả như cặp vợ chồng Alibaba thứ thiệt.

Cô Tư cho rằng đấng Ala đã độ trì lộn cho cô, vì cô đếch dính tới đạo Hồi.

Về tới Boston.

Ăn tối ở nhà hàng, trên đường về nhà.

Alibaba:

– Em Fo (Tư) yêu quý! Anh nhờ em mở một tài khoản, tên em, để ba anh chuyển tiền cho mình xài.

Cô Tư chửi thề.

– Mẹ ơi!

– Sao?

– No star! Mai em làm liền, nhưng…

– Không có nhưng. Mỗi tháng em lấy ra $5,000, xài tự nhiên. Khi nào anh cần thì em rút tiền mặt đưa anh.

– Mẹ ơi!

– Sao? Ít à?

– Thì em lấy $7,000!

– Mẹ… mẹ ơi!

Mẹ cô Tư đã qua đời. Bà nghe cô kêu hoài, chắc về phù trợ, nên từ $5,000 lên $7,000 cái vèo.

Sáng hôm sau, cô Tư vừa mở tài khoản xong, hai người ăn trưa ở nhà hàng Ý Marina, Alabibi lấy iPad bấm bấm, 10 phút sau.

– Em check tài khoản!

Cô Tư check, đã có ngay $50,000.

Hai người ra về, cô Tư vui như trúng số, vậy là cuối tháng xin nghỉ việc phiên dịch, ăn rồi chơi tới già…

Cô Tư nhắm mắt. Alabibi! Ông thần Tài của em! I love you!

Tiếng xe cảnh sát, đèn chớp nháy xanh đỏ, tiếng thắng xe … Cô Tư mở mắt.

– Yêu cầu ông bà, tắt máy, ném chìa khóa ra ngoài!

Alabibi, tắt máy, ném chìa khóa.

– Yêu cầu ông bà bò ra khỏi xe, để tay trên đầu, nằm xuống đất.

Cả hai bò ra, tay trên đầu.

Cảnh sát ùa tới.

Ðồn cảnh sát liên bang Medford.

Căn phòng nhỏ, cửa mở, anh sĩ quan cảnh sát bước vô, ngồi xuống bàn, cười với cô Tư. Cô Tư bèo nhèo vì đêm hoang mang, mất ngủ.

– Cô chỉ là bạn gái, mới quen của Alabibi?

– Ðúng.

– Cô có quan hệ gì với gia đình anh ta?

– Không.

– Cô đã mở tài khoản và nhận $50,000.

– Ðúng.

Anh cảnh sát ngả người ra ghế:

– Chúng tôi biết cô bị lừa.

– Lừa? Mẹ ơi!

– Alabibi dùng cô làm một đường dây rửa tiền từ Kuwait, Boston… Anh ta chuyển tiền bất hợp pháp vô tài khoản của cô, để lấy ra tiền sạch và tài trợ cho bọn khủng bố của IS nằm tại Mỹ.

Cô Tư mặt xanh lè, té xuống ghế.

– Mẹ ơi, cứu con!

Anh cảnh sát đỡ cô Tư dậy, nói tiếng Việt:

– Mẹ cô không cứu được đâu. Cảnh sát sẽ cứu.

Cô Tư té lần nữa, mạnh hơn, nằm chàng hảng, đưa hết hàng, anh cảnh sát liếc lẹ.

FBI truy tố Alabibi, Sở Di trú tống cổ anh chàng Ả Rập có máu IS về quê, triệt hạ đường dây kinh tài Kuwait-Boston.

Cô Tư không liên can, được tha.

Bàn tiệc vui vẻ cụng ly, cô Tư đứng dậy, cười.

Có tiếng chuông cửa, cô Tư chạy xuống.

Năm phút cô đi lên với anh Mỹ lịch sự, bảnh trai:

– Xin giới thiệu mọi người, đây là sĩ quan cảnh sát liên bang, Scott!

Cô Tư ôm Scott:

– Bạn trai mới của em.

Scott chào:

– Xin chào hết các anh chị.

Cả bàn tiệc chưng hửng vì tiếng Việt giọng Sài Gòn của Scott.

Cô Tư rót ly rượu:

– Ảnh là Mỹ lai Việt, dân Phú Nhuận.

Lao xao cười nói, cụng ly.

Tôi khều cô Tư:

– Tóm chả ở đâu, hay vậy?

– Trong đồn cảnh sát, ảnh hỏi cung và giúp em.

Tôi ngẩn người.

Chỉ một năm mà cô Tư thay tới 4 người tình.

– Giỏi! Cô FOUR (Tư).

Ngoéo giò ông Sển

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 3 Jan 2024

Sển đây là ông Vương Hồng Sển (1902-1996) Là người Sóc Trăng, Ông Sển mang 3 dòng máu: Việt, Hoa, Miên. Cha là Hoa, mẹ là Việt lai Miên. Thế nên tiếng Việt, tiếng Tàu, tiếng Miên, ông Sển đều biết. Rồi năm 1919, sau 4 năm theo học trường Chasseloup Laubat (mà ổng gọi là trường ‘Xách Lu’), ông đậu được cái bằng Thành Chung. Cái bằng Thành Chung nầy chứng tỏ tiếng Tây ông cũng rành sáu câu vọng cổ.

Ông Vương Hồng Sển sống tới 94 tuổi, gần trọn thế kỷ XX. Tất ông đã chứng kiến biết bao nhiêu là biến cố trong lịch sử Miền Nam Việt Nam.

Là nhà biên khảo, am tường văn hóa, lại khoái sưu tầm đồ cổ nên nhiều lần hai trường Ðại học Văn Khoa Sài Gòn và Huế có mời ông đến thuyết giảng.

Tóm lại ông Vương Hồng Sển là một cây đa, cây đề của cái đất Sài Gòn. Người viết thiệt trong bụng là hổng dám đôi co, cãi cọ với ông Vương Hồng Sển rồi. Nhưng không cãi thì cũng tức ‘anh ách’ trong bụng! Phần cái chuyện bàn luận về văn chương, đâu có cái vụ già trẻ, chiếu trên, chiếu dưới trong cái đình văn học, tùy theo ai nổi tiếng nhiều hay ít chen vô ở đây?

Nên tui đã không ‘kính cụ’ mà còn bạo gan, xăm mình, uống thuốc liều, đưa cái lập luận nầy ra để làm cái cù nèo ngoéo giò học giả Vương Hồng Sển một cái cho vui vậy mà!

Chẳng qua có cái chuyện vầy nè: Bà con mình ở Miền Nam và nhứt là ở cái đất Bến Nghé Sài Gòn chắc ai ai cũng đã từng biết địa danh Bến Thành là:

  1. Bến Thành là một bến sông.
  2. Bến Thành là một cái chợ.
  3. Bến Thành là một cái ga xe lửa Sài Gòn đi Mỹ Tho

Một tên Bến Thành mà đặt cho ba địa điểm có chức năng hoàn toàn khác nhau. Chính vì thế mà đến ngay cả học giả Vương Hồng Sển cũng lẫn lộn cũng là điều dễ hiểu. Ông Vương Hồng Sển lẫn lộn cái gì?

Ca dao quê mình có câu: “Bên dưới có sông; bên trên có chợ! Ta với mình chồng vợ nên chăng?”

Bà con để ý thử coi Miền Nam của tụi mình cái chợ bao giờ cũng nằm trên một bến sông.

Tại sao vậy? Chẳng qua để tiện giao thông, buôn bán hàng hóa, khi đường bộ còn chưa phát triển, thì đường thủy, đường sông là chọn lựa trước tiên?

Theo các nhà Sử Ðịa cho biết về Chợ Bến Thành như sau: “Nguyên thủy, chợ Bến Thành đã có trước khi người Pháp xâm chiếm đất Gia Ðịnh. Ban đầu, chợ nằm trên bờ sông Bến Nghé, cạnh một bến sông gần thành Gia Ðịnh (bấy giờ là thành Quy, còn gọi là thành Bát Quái). Bến này dùng để cho hành khách vãng lai và lính tráng vào thành, vì vậy mới có tên gọi là Bến Thành. Trên Bến cũng có một cái chợ cũng có tên gọi là chợ Bến Thành.”

Tuy nhiên, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835), thành Quy bị triệt hạ, phố chợ Bến Thành cũng không còn sầm uất như trước nữa.

Tháng Hai, năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Ðịnh và hai ngày sau, các binh lính người Việt đã tổ chức hỏa công thiêu rụi cả thành phố. Tất nhiên chợ Bến Thành cũng bị thiêu hủy.

Sau khi đã vững chân trên mảnh đất Nam Kỳ, năm 1860, người Pháp đã cho cho xây cất lại chợ Bến Thành ở địa điểm cũ (thời Việt Nam Cộng Hòa là Tổng Nha Ngân khố trên đường Nguyễn Huệ). Ngôi chợ được xây bằng cột gạch, sườn gỗ, và lợp lá.

Ðến tháng Bảy, năm 1870, chợ bị cháy mất một gian, phải cất lại bằng cột gạch, sườn sắt, lợp bằng ngói. Chợ có tất cả 5 gian: thực phẩm, cá, thịt, gian hàng ăn uống và gian hàng tạp hóa. Vào năm 1887, thực dân Pháp cho lấp con kinh và sát nhập hai con đường lại làm một, thành đại lộ Charner. Dân bản xứ gọi nôm na là đường Kinh Lấp (nay là Ðại lộ Nguyễn Huệ). Khu chợ càng trở nên đông đúc với các cửa hiệu phần nhiều là của người Hoa, người Ấn Ðộ và người Pháp làm chủ.

Tuy nhiên, khoảng giữa năm 1911, ngôi chợ trở nên cũ kỹ và lâm vào tình trạng có thể bị sụp đổ. Ðể tránh tai họa, người Pháp bèn lựa chọn một địa điểm khác để xây cất một khu chợ mới, lớn hơn để phục vụ nhu cầu buôn bán sầm uất ngày càng phát triển.

Ðịa điểm được lựa chọn nằm gần ga xe lửa Mỹ Tho (sau là Bến xe Sài Gòn), tức là địa điểm chợ Bến Thành ngày nay.

Năm 1955, thời Ðệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, phía trươc mặt là: Bùng binh Chợ Bến Thành. Ba con đường quanh chợ này được đổi tên thành: đường Lê Thánh Tôn, đường Phan Bội Châu và đường Phan Châu Trinh.

Rồi ông Vương Hồng Sển (1902-1996) có chép lại câu ca dao: “Mười giờ tàu lại Bến Thành. Xúp lê vội thổi, bộ hành lao xao”. Và ông cắt nghĩa là: “Mười giờ có một chuyến xe lửa từ Mỹ Tho lên, đỗ ga ‘Bến Thành’ thì kéo còi ….” (sic). (Tui chép nguyên văn của ổng)

Tui cho rằng ông Vương Hồng Sển cắt nghĩa như vậy là trật lất? Trật chỗ nào? Thưa bà con đây là lập luận của tui: Ông Vương Hồng Sển là người Sóc Trăng nhưng lại cắt nghĩa chữ tàu đây là tàu hỏa theo kiểu Bắc Kỳ?! (Tui không có phân biệt vùng miền gì ở đây hết ráo nhe bà con. Tui chỉ nói về từ địa phương mà thôi). Theo tui, tiếng miền Nam gọi là xe lửa chớ không ai gọi là tàu hỏa cả.

Mười giờ, lúc có đồng hồ, thì chắc câu ca dao này là thời Tây thuộc địa rồi. Nhưng động từ ‘lại Bến Thành’ để chỉ chiếc xe lửa vào ga thì nghe không có lý. ‘Lại’ chỉ chiếc tàu vô, cặp bến thì có lý hơn?!

Còn ‘súp lê’ theo ông nhà văn Hồ Biểu Chánh (1884-1958) cắt nghĩa rất rõ và rất chi tiết rằng: Súp lê, ông Hồ Biểu chánh viết bằng chữ ‘s’ thay vì chữ ‘x’ như ông Vương Hồng Sển.

  1. Súp lê, soufler, thổi còi tàu. Tàu được phép cho hơi nước thoát qua ống khói nên có âm thanh như tiếng thụt ống bễ của lò rèn.
  2. Síp lê, siffler, thổi còi xe lửa. Xe lửa không được phép cho hơi nước thoát xuyên hết qua ống khói vì sẽ gây ô nhiễm (bụi than) chỉ được một phần thôi nên nó có âm thanh như tiếng huýt sáo.

Như vậy theo ông Hồ Biểu Chánh cắt nghĩa thì ‘súp lê’ là của tàu, ‘síp lê’ mới là của xe lửa.

Thế nên theo ông Hồ Biểu Chánh cắt nghĩa sự khác nhau giữa hai động từ, một dành cho tàu thuyền, một dành cho xe lửa thì câu ca dao nầy có nghĩa là lúc 10 giờ, tàu (thuyền) chạy bằng máy hơi nước mới vừa cặp vô bến Bến Thành. Chưa gì đã vội thổi súp lê, chuẩn bị tách bến; nên bộ hành lao xao hỏi sao kỳ vậy cà?

Còn hiểu theo ông Vương Hồng Sển: “Mười giờ tàu lại Bến Thành. Súp lê vội thổi bộ hành lao xao” là chiếc tàu hỏa (chiếc xe lửa) vô ga Bến Thành là hiểu trật lất.

Còn cái chuyện bộ hành lao xao, theo ý tui đoán, là nó có liên quan tới cuộc binh biến đêm 14, rạng ngày 15, tháng Hai, năm 1916 tại cái đất Sài Gòn. Khuya đêm đó, có khoảng vài trăm nghĩa quân ở Sài Gòn, Gia Ðịnh, Chợ Lớn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, tất cả đều mặc áo đen, quần trắng, cổ quấn khăn trắng, bí mật từ ghe, thuyền cập bến đang neo đậu ở chân cầu Ông Lãnh tràn lên để cứu Phan Xích Long. (Phan Xích Long là một lãnh tụ hội kín đang bị nhốt trong khám lớn Sài Gòn sau cuộc khởi nghĩa bất thành vào năm 1913).

Vì những nghĩa quân nầy đã từ tàu khách đổ bộ lên bến nước gây binh biến; nên thực dân Pháp sau khi đã dìm cuộc khởi nghĩa trong biển máu hồi rạng sáng, chúng siết chặt an ninh bằng cách đuổi tàu khách không cho vào cặp bến. Chính vì chuyện bất thường như vậy mới làm hành khách lao xao vì không biết chuyện gì đã xảy ra?

Thế nên bà con ơi! Chỉ có một câu lục và một câu bát, một câu ca dao có tổng cộng chỉ 14 chữ mà ông bà mình kể lại một thiên anh hùng ca của những người dân Việt bất khuất. Những nghĩa quân đó thà chết; chớ không chịu sống đời nô lệ ngoại bang vào đầu thế kỷ thứ 20, ở Bến Thành, cái đất Sài Gòn yêu dấu của chúng ta.

Đoàn Xuân Thu

Ngày Phán Xét!

Đoàn Xuân Thu

Năm 2015, Trời Syria đang vào độ cuối Thu, mùa Ðông đã gần kề bên thềm cửa, mang theo cái lạnh cắt da, mũi phà hơi khói.

Quân của Tổ chức khủng bố IS, Nhà nước Hồi giáo, đang vây hãm thành phố Kobani, phía tây bắc Syria, gần đường biên giới Syria và Thổ Nhĩ Kỳ.

Khoảng 400 ngàn dân Kobani, đa phần là người Kurd, không có điện, không có nước và có rất ít thực phẩm.

Họ đang sống chui rúc trong tầng hầm của những cao ốc chúng cư. Với hy vọng là đạn pháo, nếu có bắn trúng thì chỉ làm đổ sụp tầng trên, chớ không thể nào xuyên phá tới tầng hầm.

(Giống như trong chiến tranh Việt Nam, bà con mình phải đào hầm trú ẩn, ‘tranchée’ để tránh pháo kích của VC).

Mái ngói bị trúng đạn pháo tan tành, những bức tường xung quanh nhà bị bom nổ làm cho đổ sập.

Người dân Kobani chỉ “xin cho đêm không có đạn bay” để sáng mai thức dậy mà không phải nhìn thấy xác vợ con mình chìm trong đổ nát.

Tuy nhiên, đêm qua, những người hàng xóm ít ỏi còn sót lại bên tầng hầm của tòa nhà kế bên, đã bị khí độc Sarin, vốn nặng hơn không khí, len lỏi vào giết họ chết hết rồi.

“Có tiếng bom nổ, tôi giục cả nhà chạy đi, còn tôi theo sau! Còn người sống sót thì phát điên! Có lần nghe sấm sét, một em gái nhỏ người Kurd ở thành phố Kobani nói: “Ðó cũng là tiếng bom đấy… rồi cười.”

Ðúng là: “Mẹ vỗ tay reo mừng xác con; chị vỗ tay hoan hô hòa bình!”

Dứt trận bom, bằng tay không, người ta đào xới đống đổ nát, bế ra một bé thơ lặt lìa, tay đòng đưa theo bước đi lảo đảo của người cứu nạn.

Thành phố Kobani

o O o

Làm gì đây khi bình minh đến?  Chỉ còn tìm cách đào sanh, hy vọng tới được một nơi nào đó an bình trên thế giới hỗn mang nầy để cho vợ con mình được sống.

Ðánh cược với số phận, xuống thuyền vượt biển ra khơi còn hơn chui rúc trong cái tầng hầm nầy cho tới ngày tận tuyệt.

Ðiểm cuối trên vùng đất hứa cho bình yên để sống, không có tham vọng tranh giành quyền bính của một lũ điên, có thể là Áo, Ðức, Hòa Lan, hoặc ngay cả các nước Bắc Âu xa tít mù như Thụy Ðiển, Na Uy, hoặc Phần Lan!

Từ năm 2011 tới nay, đã có hơn 6-7 triệu người trốn chạy khỏi Syria điêu tàn trong chiến trận để đến các trại tị nạn trên phần đất dọc biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ, chờ ngày vượt biển.

o O o

Tima Kurdi, hiện định cư ở Vancouver, British Columbia, Canada, đã làm đơn xin bảo lãnh cho gia đình em mình là Abdullah Kurdi được đến Canada tỵ nạn. Nhưng đơn xin nhập cảnh đã bị khước từ vào tháng Sáu vì bị nhà chức trách Thổ Nhĩ Kỳ từ chối cấp thị thực xuất cảnh.

Sau hai lần toan tính đưa gia đình đào thoát thất bại thì sá gì thêm một chuyến ra khơi. Abdullah sắp xếp lần vượt biên thứ ba để vượt biển tới đảo Kos của Hy Lạp. Ngoài khơi nhưng nó vẫn còn trong tầm mắt, chỉ cách Bodrum, Thổ Nhĩ Kỳ khoảng 4 km, mất 30 phút bằng xuồng cao su bơm hơi.

Ðể tránh bị đội tuần tra duyên hải của Thổ Nhĩ Kỳ phát hiện, từ một bờ biển hoang vắng vào đêm khuya ngày mùng 2, tháng Chín, năm 2015, mười sáu người tỵ nạn Syria đã ở trên một cái xuồng dài có 5 mét, chở tối đa được có 8 người.

Rời bãi được 5 phút, xuồng bị sóng lớn đánh dồn dập. Hoảng sợ mọi người đứng cả dậy làm nước tràn vào. Xuồng bị lật làm 12 người chết đuối.

(Biển lớn cuốn em đi! Rồi xa, rồi xa, rồi xa mãi! Biển ơi! Trả cho ta xác em yêu!) 

Lúc 6 giờ 30 phút, sáng ngày mùng 2, tháng Chín, năm 2015, xác Alan Kurdi, 3 tuổi, và anh là Galip, 5 tuổi, cách em mình chừng 100m, xác người mẹ Rehan, 35 tuổi, của hai cháu dạt vào bờ biển cách đó tới 240 km.

Alan mặc cái áo ‘T-shirt’ màu đỏ, chiếc quần ‘short’ màu xanh thẫm, mang đôi giày đen nhỏ, nằm úp mặt lên cát, hai tay xuôi duỗi thẳng giống như mình đang ngủ một giấc bình yên. Sóng biển vỗ nhẹ vào bờ, vỗ dịu dàng quanh mặt xác của hai người tỵ nạn bé thơ.

Gia đình tan nát hết! Chỉ còn duy nhứt người cha bất hạnh Abdullah Kurdi, 40 tuổi, là còn sống sót.

Hôm mùng 3, tháng Chín, năm 2015, Abdullah Kurdi đã tới nhà xác bịnh viện, nhận dạng thi thể vợ và con.

Bằng máy bay, từ Bodrum vượt 700 cây số tới Istanbul. Từ Istanbul vượt hơn 1000 cây số nữa bay tới thành phố Sanliurfa, Ðông Nam Thổ Nhĩ Kỳ. Từ đó, ba thi thể nầy sẽ về lại Kobani, Syria, cách đó 127 cây số, bằng đường bộ.

(Theo truyền thống Hồi giáo, người chết phải được chôn trong vòng 24 giờ, nếu có thể).

Ngày thứ Sáu, mùng 4, tháng Chín, năm 2015, tại thành phố vùng biên Kobani, quê nhà chôn nhau cắt rốn, nơi hai cháu đã từng theo cha mẹ trốn ra đi, rồi cay nghiệt thay lại trở về quê cũ, chạm vào đất mẹ tang thương trong chiếc áo quan.

Abdullah Kurdi nói: “Tôi không muốn bất cứ điều gì từ thế giới này nữa.  Tôi muốn chôn cất, rồi ngồi cạnh mộ vợ và hai con tôi cho đến lúc tôi nhắm mắt.”

o O o

Chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ sau đó đã bắt giữ và đưa ra Tòa 4 nghi phạm ‘tép riu’ chuyên bắt mối tìm khách vượt biên trái phép. Mỗi bị cáo bị xử 4 năm tù về tội ‘ngộ sát’.

Nhưng những người cầm đầu một đường dây buôn người đã nhanh chân tẩu thoát.  Mãi gần 5 năm sau, lực lượng an ninh Thổ Nhĩ Kỳ mới bắt giữ được ba kẻ chủ mưu, truy tố ra Tòa ở Bodrum ở Mugla về tội ‘cố sát’. Mỗi bị cáo bị Tòa xử 125 năm tù.

o O o

Hình ảnh thành phố Kobani của đất nước Syria tan nát trong chiến tranh làm gợi nhớ cố đô Huế của đất nước Việt Nam khi CS Bắc Việt tràn vào chiếm đóng suốt 28 ngày đêm vào Tết Mậu Thân, năm 1968.

Thành phố Kobani cũng là một An Lộc, Kon Tum, Quảng Trị trong mùa Hè 72, chìm trong khói lửa khi Cộng quân nã vào những nơi đấy cả chục ngàn viên đạn pháo.

Tàn chiến trận, người dân chạy trốn chiến tranh vẫn lầm lũi quay về dựng lại mái nhà xưa trong đổ nát, điêu tàn. Nhưng cách đây đúng 45 năm, năm 1975, tiếng súng đã ngừng thì bà con mình lại lũ lượt trốn ra đi vì không thể cam tâm sống một đời nô lệ.

o O o

Hình ảnh bi thảm của Alan Kurdi, chết nằm úp mặt xuống cát như đang ngủ làm cay đắng, chua xót, gây đau đớn cho thuyền nhân người Việt tỵ nạn Cộng sản của chúng ta.

Chỉ cần thay tên Alan Kurdi bằng một cái tên của một đứa bé Việt Nam đã bỏ mình trong biển cả trên bước đường lưu lạc cùng cha mẹ anh em mình đào thoát.

Chỉ cần thay cái địa danh, thành phố Kobani của Syria, rồi Bodrum của Thổ Nhĩ Kỳ bằng Sài Gòn, Bến Tre, Sóc Trăng, Cà Mau, Rạch Giá… những cái tên Việt Nam, nơi xuất phát thuyền vượt biên ra biển thì thân phận của những người tỵ nạn đã mất mạng trên đường đào thoát nầy giống hệt như nhau.

Chỉ cần thay tên tổ chức khủng bố Nhà nước IS bằng tên CS Bắc Việt thì hai biến cố bi thảm, trong hai thời điểm khác nhau lại giống hệt như nhau.

“Này biển chiều sóng xô ào lớp lớp. Những tiếng đời tan nát khóc thương nhau!”

Cộng đồng người Việt tỵ nạn của chúng ta, 45 năm nay tản lạc trên toàn thế giới từ Âu sang Mỹ, không phải than khóc cho ngày tháng cũ mà nhìn về tương lai, không chỉ cho riêng người Việt mình mà cho toàn nhân loại.

Chúng ta phản đối chiến tranh, phản đối độc tài, khước từ một cuộc đời nô lệ dù phải đánh cược cả cuộc sống của gia đình mình!

Vì chúng ta đã từng chứng kiến: “Bên khu vườn, một người mẹ ôm xác đứa con!”

Vì chúng ta đã từng chứng kiến: “Trên con đường, người ta bồng bế nhau chạy trốn!”

Vì chúng ta đã từng chứng kiến: “Chiều ra biển đứng ê chề. Tìm trong ngọn sóng có về xác em?”

Thảm kịch đó phải chấm dứt ở bất cứ nơi đâu trên hành tinh nầy, trong vũ trụ nầy.

Những tay thủ ác, bè lũ đã lợi dụng lòng khao khát tự do của đồng bào ta để cướp vàng, rồi đẩy họ ra biển khơi đầy giông tố trên những con thuyền ọp ẹp, dù đã già lụm cụm, vẫn còn nhởn nhơ trên xương máu của người dân đất quê mình.

Chắc chắn một ngày phán xét đó sẽ tới, chúng phải trả lời trước lịch sử, là quan tòa công minh nhứt, về tội ác mà chúng đã gây ra.

Đoàn Xuân Thu

Melbourne