Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Bài 34

Phần 33

Rõ ràng tin thăm nuôi đã có đến 80 phần trăm đúng, khi bọn quản giáo ráo riết động viên tù lao động tốt, chấp hành nội quy tốt để được chấm công cao và dĩ nhiên sẽ được thăm nuôi sớm hơn người khác. Song song với những đợt động viên, kêu gọi, khích lệ một cách… bắt buộc ấy, những chiếc loa lớn cũng được toán thợ điện Lê Văn Tần lần lượt treo trên những điểm cao nhất của các trại. Ngoài ra, những toán thợ mộc của các trại cũng đã được lệnh thiết lập một dãy nhà thăm nuôi nằm gần khu cổng chính.

Để sửa soạn cho lần thăm nuôi đầu tiên, bọn cán bộ cai tù Cộng sản phát động một chiến dịch đào ao cá. Ao cá này nằm về phía Bắc trại An Dưỡng. Chiến dịch huy động này cả 4 trại tham gia với tổng số lao động cả ngàn người.

Nơi đây là một vùng đất hoang, cửa ngõ dẫn đến một vùng đồi cỏ cây rậm rạp và có nhiều suối nước lớn nhỏ. Thực ra vùng đất này đã được khai quang khá nhiều và anh em cảnh sát trước đây cũng đã khởi sự nhiều bước đầu trong công cuộc thực hiện ao cá. Hiện nay cả ngàn người lại được huy động làm tiếp công tác bỏ dở đó.

Vì là quy mô lớn nên dĩ nhiên ao cá phải rất lớn. Ao có chiều dài sáu mươi thước, ngang bốn mươi thước, đào sâu xuống lòng đất bốn thước, chung quanh đắp bờ cao ba thước, chân bờ rộng năm thước và đê bờ rộng hai thước rưỡi.

Hai trăm tù thường trực đứng dưới lòng ao để đào. Ba trăm khiêng ki. Ba trăm đắp bờ và non ba trăm khác lo đủ thứ việc linh tinh như tiếp tục khai quang, đắp một con đường mới chạy vòng lên tới con đường gần bệnh xá, sửa chữa bảo trì các dụng cụ đào ao…

Trong thời gian thực hiện công tác đào ao cá – một cái ao lớn đến độ bọn tù đâm thắc mắc không hiểu là sẽ dùng nuôi cá mập hay làm mồ chôn tập thể cho chính mình khi cần thiết – bọn tù đã phải lao động 10 tiếng một ngày.

Nếu từ trên cao nhìn xuống, người ta có thể hình dung ra một quang cảnh của thời nô lệ xa xưa, nơi ấy những kiếp người khốn khổ đang khổ dịch xây dựng một công trình kiến trúc cho các bậc vua chúa ở La Mã hay Ai Cập gì đó. Và nếu người ta nhìn xa hơn một tí nữa về phía phi trường Biên Hòa, người ta sẽ vô cùng ngạc nhiên khi thấy hàng đống máy cày, máy ủi, máy xúc đất; hàng đống cơ giới tối tân của “Mỹ ngụy” để lại đã bị bỏ phế một cách vô cùng phí phạm, mặc cho nắng mưa dập vùi để một ngày kia biến thành đống sắt vụn. Tại sao chúng không xử dụng đến những máy móc đó? Trong lũ tù đang lao động quần quật kia, đâu có thiếu những kỹ sư tài ba, những chuyên viên cơ giới lỗi lạc? Nơi đây, một lần nữa xác nhận câu nói của một chính khách Tây phương đúng tuyệt đối: Thời chuyên chính vô sản nắm quyền chính là thời mà nhân và vật lực bị phung phí một cách kinh khủng nhất!

Vĩnh khênh ki cùng với Đặng Ngọc Sinh, họa sỹ và là tổ viên của tổ 3. Sinh hiền lành và nhẫn nhục, vẽ thật đẹp và cũng vô cùng khéo tay trong những công việc thủ công như biến những miếng Inox thành những quân cờ, biến những miếng nhôm dày thành những cái lược có xủi hình long ly quy phượng thật tinh xảo… Một người ít nói vì bệnh tật, một người ít nói vì bản tính, khiêng đất chung với nhau nên một ngày lao động mà coi như dài bằng ba. Dẫu sao Vĩnh thấy như vậy thoải mái hơn. Mỗi ngày, cứ đi lên đi xuống để khênh đất, anh tính nhẩm mình phải bước tới hơn tám trăm nấc thang, những nấc thang đục khoét lài lài theo thế đất cho những người khiêng ki xuống lấy đất và đem đất lên đắp bờ ao… Trong khi đi lên đi xuống, Vĩnh cố gắng tập trung tư tưởng để suy nghĩ những điều anh hằng theo đuổi, hai mắt cố chụp cho hết những hình ảnh, những góc cạnh của chốn địa ngục này.

Với non một ngàn tù thực hiện công tác, dưới sự đốc công trực tiếp của bọn cán bộ trung đoàn, ao cá đã thành hình nhanh chóng. Giờ đây, mỗi khi từ dưới lòng ao khênh đất lên tới bờ thành, Vĩnh đã có thể đứng quan sát suốt một vùng rộng lớn. Anh có thể nhìn thấy những nóc nhà hăng-ga của phi trường Biên Hòa, nhìn thấy những dãy trại nằm san sát nhau, nhìn thấy cả cái tháp nước mà anh nghĩ rằng nó là cái tháp nước phía trước quân đoàn 3 xưa kia… Nhìn lên hướng Bắc, Vĩnh chỉ thấy chập chùng một vùng đồi cây. Có anh em nào của ta trấn đóng trong những vùng đồi cây hoang dã ấy không? Hết ngó vời hướng Bắc, Vĩnh lại ngó về hướng Nam… Nơi đây xa Gia Định chẳng là bao nhiêu đường chim bay, nơi ấy có gia đình họ hàng anh sinh sống… Chao ôi! Thân nhân anh, hàng xóm anh và mấy chục triệu người dân ngày nay sinh sống ra sao? Họ có đói như trong này không? Có nhòm nhỏ tố giác nhau không? Ai giữ được liêm sỹ, ai bị cuốn hút vào cái giòng đời dơ bẩn hiện nay?

Một cán xẻng đập nhẹ vào hông Vĩnh lúc anh vừa đổ xong mớ đất trên cái ki xuống bờ đê và đứng nghĩ ngợi vu vơ. Tiếp theo là một tiếng nói nho nhỏ.

– Tôi vừa gặp một thằng bạn bên trại 4. Nó trong khâu đào đất dưới kia. Nó hỏi tôi có phải có ông bên này không? Nếu có thì nhắn hộ rằng có một người quen ông bên trại 2 gửi lời hỏi thăm ông. Tên hắn là Nguyễn Chí Kham…

Kim thuộc khâu san đất trên bờ ao, vừa thuật lại lời nhắn với Vĩnh. Vĩnh nghĩ mãi đến cái tên mà không nhớ ra. Nguyễn Chí Kham? Nguyễn Chí Kham nào kìa?

– Hắn có nói gì thêm không?

– Có, nó bảo tay Kham nhắn ông là có cả Dzoãn Bình trong này…

Nghe đến cái tên Dzoãn Bình thì Vĩnh mới trực nhớ ra cái tên Nguyễn Chí Kham. Kham là một tay viết truyện ngắn xuất hiện khá thường xuyên trên các báo Văn, Vấn Đề và Bách Khoa trước đây.

– À, tôi nhớ ra rồi. Vậy tay Kham có lao động ở đây không?

Kim lắc đầu mệt mỏi.

– Tôi đâu có biết. Ông hỏi tay ngồi dưới kia kìa.

Theo Kim chỉ, Vĩnh nhìn xuống lòng ao sâu thẳm. Đâu có dễ để nhận ra một người rách rưới, gầy còm, xanh xao trong cả một rừng người đồng dạng như thế! Cuối cùng qua sự mô tả của Kim, Vĩnh định điểm được anh chàng nhắn tin đó. Điểm để nhớ chỉ có cái mũ của anh ta hơi khác mọi người, ấy là anh chùm luôn lên đầu một cái bao cát thay vì khâu vá biến chế thành một cái mũ như mọi người.

Chuyến lấy đất kế tiếp Vĩnh cố lái Đặng Ngọc Sinh về phía anh chàng đội cái bao cát trên đầu. Vĩnh đặt cái ki xuống trước mặt anh để anh xúc đất đổ vào. Vĩnh quan sát một vòng. Bọn cán bộ giờ đã rút vào một góc có bóng mát của ao cá. An toàn! Vĩnh cất tiếng hỏi.

– Xin lỗi anh, có phải anh là bạn của Kim không? Anh chàng đang xúc đất vội ngừng tay, ngước lên nhìn Vĩnh. Qua một thoáng dò xét anh ta gật đầu.

– Vâng.

Vĩnh thấy anh ta hơi kỹ trong cách trả lời, anh cố cười thật tươi.

– Phe ta cả. Xin anh đừng nghi ngại. Khi nãy Kim có nói với tôi anh có lòng tốt nhắn hộ…

Người đối diện như đã nắm vững vấn đề, anh ta vui vẻ trở lại.

– À, đúng rồi. Thằng Kham cùng tổ tôi nó được biết có anh bên trại 1, nó cũng biết trại anh lao động ở đây nên nhờ tôi tìm cách nhắn hộ. Không dè gặp Kim. Không dè cũng có anh ở đây nữa…

Vĩnh hy vọng có tin gì mới lạ, anh vội vã.

– Thế Kham hắn có nói gì không anh?

Người đối diện lắc đầu.

– Không, không nói gì cả, chỉ nói vậy thôi. Anh bạn nói đoạn nhìn Vĩnh hỏi tiếp. Anh là bạn nó ngoài đời hả? Thằng ấy nguy hiểm quá. Nó cứ viết lách lung tung. Tôi ăn cơm chung với nó từ hồi Katum 1, lên tới đây nó còn ráng đem theo đống tập vở của nó. Tôi teo quá! Anh bạn lại tặc lưỡi. Dù sao nó chỉ viết truyện tình. Truyện nó hay lắm…

Vĩnh chẳng biết nói sao. Thực tế anh chưa hề có dịp gặp Nguyễn Chí Kham bao giờ. Anh chỉ biết Kham qua tên xuất hiện trên một số tờ văn học nghệ thuật của Sài Gòn trước đây. Khi ki đất đã được xúc đầy, Đặng Ngọc Sinh thúc Vĩnh tiếp tục lao động, Vĩnh vội nói với người nhắn tin.

– Cám ơn anh nhắn tin hộ bạn tôi. Khi về trại, xin anh nói hộ với Kham rằng tôi cũng gửi lời thăm anh ta và cả anh Dzoãn Bình nữa. À, anh Dzoãn Bình có ở cùng nhà với anh và Kham không?

Anh bạn lắc đầu.

– Không. Anh ấy ở nhà bên cạnh tôi. Vui vẻ lắm.

Vĩnh xốc một đầu ki đất lên. Đầu kia Đặng Ngọc Sinh đã sẵn sàng cất bước. Một vài cục đất khá to rơi ngược về phía chân Vĩnh. Trước khi đi Vĩnh hỏi thêm một câu.

– Anh có tin gì vui không?

Anh bạn khẽ cười.

– Chúng ta cùng ở trong hộp như nhau!

Anh ta chỉ nói thế rồi quay lại với công việc. Vĩnh cất bước đi theo Đặng Ngọc Sinh. Anh vừa đi vừa cúi nhìn từng bước chân, mặc Sinh muốn dẫn lối nào thì dẫn. Mặt đất giờ đã sình lầy không giống như những ngày trước. Độ sâu của ao đã khơi dậy nhiều mạch nước chạy ngang dọc. Khiêng nặng, bụng đói, miệng khát và lết đôi chân run rẩy trong đôi guốc tự chế, trái đất lắm khi như chòng chành muốn đổ trước mặt. Cũng có những lúc Vĩnh thấy ê ẩm trong đầu vì những tiếng hò là, những tiếng thúc giục, những tiếng báo động trước một nguy hiểm nào đó của anh em đang lao động chung quanh. Cõi trần gian như chết rồi mọi tiếng chim, chết rồi mọi mầm xanh hy vọng. Tất cả còn lại là một màu đen bất tận với những tiếng reo hò giả tạo phát ra từ những con người đã khánh kiệt nỗi yêu đời.

Đôi guốc làm bằng hai khúc gỗ thông cưa ngắn với quai là hai miếng dây dù to bản của Vĩnh bỗng gẫy đôi một chiếc. Vĩnh lúng túng hất chiếc guốc sang một bên lối đi, tuy nhiên anh phải dừng ngay lại và làm Sinh đi trước suýt ngã ngửa.

– Gì thế ông?

– Tôi đứt guốc. Ngừng lại tí.

Hai người đặt ki đất xuống. Vĩnh thấy sau lưng anh em khiêng đất nối thành một hàng dài. Anh không muốn mình bị chửi làm cản trở lưu thông, vội vàng lượm hai chiếc guốc bỏ lên ki đất. Chiếc guốc gãy lòi những mũi đinh lởm chởm, vứt bậy bạ có thể giết chết một người bạn như chơi trong hoàn cảnh thiếu thuốc men như ở đây!

Hai người đi tiếp để những người phía sau không bị cản trở.

Khi tiến lên đến bờ đất, Vĩnh nghe thấy anh em bàn tán nhiều về vụ thăm nuôi. Họ cũng bàn tán nhiều đến việc các trại đã được lệnh mở “căng tin”, chữ của Việt cộng dùng thay cho chữ câu lạc bộ. Riêng vụ căng tin được tranh cãi thật nhiều. Qua bao nhiêu giả thuyết được đặt ra để tranh luận, cuối cùng mọi người hầu như đều đồng ý với kết luận việc cho mở căng tin trong các trại cải tạo tại An Dưỡng nhất định xuất phát từ sự tính toán của bọn cán bộ với những nguyên do như sau:

– Tạo một dịch vụ sinh lợi cho các cán bộ có tí tiền bỏ túi.

– Việc dấm dúi tiền bạc của thân nhân cho tù cải tạo vượt ngoài số quy định 20 đồng của nhà nước sẽ là chuyện tất yếu, có cản cũng khó được. Do đó, chúng phải tạo điều kiện cho những đồng tiền ấy không nằm chết một chỗ và cũng không biến thành một phương tiện trốn trại cho những tên tù mà chúng thừa biết rất xanh vỏ đỏ lòng.

Căng tin sẽ ra đời trong trại cải tạo vì lẽ đó chăng? Chưa ai dám chắc chắn. Có chăng mọi người đều mừng, và trong những lúc dầm mưa dãi nắng, bụng đói cồn đói cào như thế này, họ hình dung mỗi chiều trở về trại, thay vì dành giật chia chác những phần cơm chó chê dê lạy, họ có thể thong thả đôi ba thằng kéo nhau vào căng tin… kêu một chai bia, có thể có cả khô mực nướng thơm phức nhưng cái này có lẽ không cần. Tốt nhất nên kêu thêm một đĩa cơm trắng phau với thịt kho nước dừa trứng đậu hũ béo ngậy vừa no vừa khoái khẩu. Ngày tháng nhờ thế sẽ đỡ nặng nề hơn. Ba năm, năm năm… coi như gặp vận không may cơm nhà vác ngà voi một thời gian vậy. Vĩnh cũng không tránh khỏi được sự mơ mộng bên cạnh những lời bàn tán của các bạn. Thốt nhiên trong sự tưởng tượng của anh lại hiện lên những hình ảnh đối nghịch ghê rợn… Anh thấy mình đang ăn một cách ngon lành một cặp bánh dầy giò mua trong căng tin, tự dưng miếng giò lụa trắng phau biến thành hình một con sâu củi nhễ nhại to tướng! Anh nhìn kỹ, đúng là con sâu củi mới chiều nào đây, lúc tổ trực bổ củi dưới bếp và nhà vô địch đẩy cây VNCH Vương Đắc Vọng – Tác giả của câu nói bất hủ: Mọi sinh vật cựa quậy được trên mặt đất đều ăn được cả – chụp ngay lấy cho vào miệng nuốt chửng; nuốt xong còn reo hò: Protéin! Đầy chất Protéin!…

Vĩnh hoảng hốt ném miếng giò giờ đã biến thành con sâu củi đầy protéin của Vương Đắc Vọng xuống đất. Anh tiếc rẻ cố cắn thêm miếng bánh dầy nhưng rồi cũng hoảng hốt ném đi vì miếng bánh dầy bỗng trở mùi hôi thối và đỏ lòm như miếng thịt chuột cuống nướng vội của những người tù khổ sai dưới thời đại Hồ Chí Minh…

Vĩnh ngã chúi vì vấp phải một cán xẻng để ngang lối. Sinh đi phía trước cũng suýt bước nhằm lưng một người ngồi san đất. Một người bạn nào đó la lên.

– Vĩnh, chân ông chảy máu kìa!

Bây giờ Vĩnh mới thấy đau nơi bàn chân trái. Anh buông ki đất đổ tùm lum giữa lối đi và ngồi xuống. Một móng chân muốn lật khỏi ngón đang từ từ ứa máu ra. Cái đau không làm Vĩnh ngại mà ý nghĩ đầu tiên là anh ngại ngày mai lại phải đi khai bệnh. Cứ tưởng tượng ra bộ mặt của thằng chuẩn úy quân y tiểu đoàn mà lại phát sốt rét. Giỏi lắm nó cho một tí thuốc đỏ kèm với lời chửi bới này nọ… rồi lại tiếp tục lao động như thường. Nhưng nếu không khai bệnh thì cũng không ổn. Bị gì chứ bị lật móng chân mà tiếp tục lội sình như ở đây cưa cẳng không mấy chốc!

Đúng lúc Vĩnh đang ngồi suýt xoa thì nơi góc ao bên trái phát lên những tràng tiếng động như đất lở, kế đó là những tiếng thét thất thanh của vô số người. Mọi người bên này bờ ao hốt hoảng đứng phắt lên. Vĩnh cũng cố đứng lên để nhìn cho biết chuyện gì…

Anh chỉ nhìn thấy bên bờ ao đối diện bọn tù ngã lăn quay và có kẻ rơi từ mấy thước cao xuống lòng ao. Tiếng la hét vang trời, cảnh tượng hỗn loạn trong một lớp bụi bốc cao… Trong đám Vĩnh có tiếng la lớn.

– Trời ơi! Bờ ao bên kia bị lở tụi mày ơi.

– Sập! Sập! Chắc chết người rồi.

Thốt nhiên Vĩnh không còn cảm thấy một tí đau đớn nào nơi bàn chân nữa. Theo mọi người, anh phóng ra khỏi bờ đê cao và chạy vòng phía ngoài sang phía ao đối diện. Mọi người đã bu đến một góc ao. Thấp thoáng vài thằng quản giáo tỏ dấu lúng túng chưa biết xử trí ra sao với hoàn cảnh hiện tại. Vài thằng vệ binh từ xa không biết chuyện gì xách súng phóng tới và hăm hở như sắp được dịp bắn hạ quân thù.

Đến lúc này Vĩnh mới nhìn thấy hết mọi chuyện. Một chuyện thật tang thương. Và hiện tại chưa ai biết nổi trong cái tang thương này có mấy xác người!

Một góc bờ ao đã sập xuống và đè bẹp những người có công tác thiết lập một hệ thống dẫn nước để cân bằng mực nước trong ao với mặt đất bên ngoài.

Đứng nhìn một số người chạy tới để đào, bới… với những tốc độ nhanh nhất hầu lôi được những xác người đang bị cả tấn đất đè lên trên ra ngoài, Vĩnh nhớ lại mấy ngày qua. Thay vì trước khi đắp đê quanh ao, bọn cán bộ kế hoạch của trung đoàn phải cho làm trước hệ thống thoát thủy và cân bằng mực nước trong ao. Đàng này, chúng bắt tù đắp bờ cho đã đời, đến khi bờ gần xong chúng mới ra lệnh cho một đội phải xẻ một khoảng trống hai thước, cắt bờ ao ra lấy chỗ thiết lập ống thoát thủy bằng những đoạn tôn cong của Mỹ xử dụng làm đường mương trước kia. Khi xẻ xong khoảng trống trên bờ ao, một số người phải chui vào đó để đặt các ống tôn cong. Đất mới đắp, chân vừa vững lại bị đục khoét, bờ ao từ hai bên bị lở và đất sụp xuống chôn sống luôn mấy người có nhiệm vụ làm công tác đặt ống thoát thủy.

– Các anh lao động thiếu kỹ thuật gây phiền hà và trở ngại cho tổ chức.

Một giọng nói cất lên khiến ai cũng uất ức và ngó lại. Đó là giọng nói của một thằng cán bộ trung đoàn trong ban chỉ đạo đào ao. Tên cán bộ hình như cũng đọc được những nét uất ức trong bao đôi mắt của bọn tù, nó yên lặng và đi tránh chỗ khác. Bọn tù chẳng ai nói với ai, cứ hùng hục đào và bới.

Gần mười lăm phút sau, hai nạn nhân được lôi ra ngoài. Dĩ nhiên họ chỉ còn là hai cái xác mềm nhũn dù vẫn còn đầy đủ hơi nóng trong người. Bọn quản giáo đã phóng tới đông đủ. Một tên hét.

– Anh nào tự thấy mình khỏe mạnh, tiếp nhau khênh hai anh này lên bệnh xá.

Có một hai tay có lẽ rành chuyện sống chết, sau khi phủi đất trên xác nạn nhân, xem mạch, xem mắt, đều nói rằng nạn nhân đã chết và vô phương cứu chữa. Tên quản giáo có vẻ giận dữ trước những lời bàn tán vô phương cứu chữa của bọn tù, hắn nạt.

– Ai? Ai dám khẳng định hai anh này đã chết nói tôi nghe? Tôi bảo khênh là khênh, cấm không được chống đối lệnh. Chỉ có quân y mới có quyền… cho phép sống hoặc chết.

Bọn tù nín thinh. Mọi người đều biết tên quản giáo muốn nói chỉ có quân y mới có quyền xác nhận nạn nhân còn sống hay đã chết, nhưng vì hắn dùng chữ không chỉnh, thành thử tự nhiên hắn biến quân y của nhà hắn thành một thứ có quyền uy tối cao, khác nào cơ quan công an mật vụ trung ương.

Dù sao thì sau đó nạn nhân cũng đã được đặt nằm trên hai cái ki với bốn người khênh đi thẳng lên bệnh xá nằm ở một góc trại 4. Vĩnh muốn tìm cách đi theo nhưng nghĩ mãi không ra lý do. Khi đám người khênh hai nạn nhân có vệ binh hộ tống vượt qua một con suối nhỏ và khuất sau những lùm cây rậm rạp Vĩnh mới chấm dứt ý nghĩ tìm cách đi theo.

Mọi người trở lại với hiện trường lao động trước sự thúc hối của bọn cai tù. Tuy nhiên biến cố vừa qua rõ ràng có ảnh hưởng đến năng xuất của bọn tù. Ai cũng mong cho mặt trời sớm lặn để chấm dứt một ngày đọa đày buồn thảm. Vĩnh vừa khênh đất vừa lắng nghe những lời bàn tán chung quanh. Hình như chỉ có một người nói rằng: Đất đè như thế có đến sức khổng tượng cũng chết! Và sau đó anh không còn thấy ai đề cập đến tai nạn vừa qua nữa.

Cái đói, cái mệt có sức mạnh khủng khiếp để lái tất cả mọi chuyện về với cái ăn, cái ngơi nghỉ! Vĩnh băn khoăn tự hỏi, sẽ còn bao lâu nữa bản thân ta còn nhớ tới, còn xót xa cho những người thân yêu? Liệu sẽ có một ngày nào tất cả đều mờ nhạt đi và trong mọi xúc cảm, miếng ăn sẽ chiếm một ưu thế tuyệt tối?

Chao ôi, có hai người bạn vừa nằm xuống bằng một tai nạn bi thảm, tại sao có quá nhiều người đã quên ngay và những lời bàn tán chỉ còn quy về những miếng ăn ở một căng tin chưa hề nhìn thấy, ở những cuộc thăm viếng với thức ngon vật lạ nhưng chưa ai biết sẽ có hay không!? Vĩnh nhớ lại anh có đọc một câu văn của nhà văn nữ Trùng Dương, đại ý rằng những cay đắng trên đời tạo thành cá tính. Nếu câu ấy đúng, bọn tù như anh hòng gì còn giữ lại được nhân tính cũ trong những chuỗi đau khổ kéo dài không biết đến ngày nào mới chấm dứt như nơi đây!?

Tiếng kẻng chiều phát ra từ một cái nhà lô – danh từ chỉ một túp lều tranh dựng trên một thế đất cao làm nơi trú nắng cho bọn quản giáo vệ binh – đã lan nhanh và tạo một sự dây chuyền cho những tiếng kẻng xa xa khác. Bọn tù như bừng tỉnh và thoát nhanh ra khỏi nét mệt mỏi cố hữu. Tất cả nhanh chóng thu góp, kiểm soát lại các dụng cụ lao động. Các tổ trực của các đội lo thu những chiếc ki xếp thành từng đống theo nơi quy định cho đội mình trên một phía bờ ao. Cuốc xẻng của ai nấy giữ… Rồi thì tất cả lại so hàng, lại điểm danh, lại báo cáo nhân số và hăng hái lầm lũi tiến ra con đường mòn lởm chởm đá ong hướng về phía các cổng trại.

——————————–

1          Katum: Rừng biên giới Việt Miên thuộc tỉnh Tây Ninh. Sau 30 tháng Tư Katum cũng có một hệ thống trại giam các quân nhân QLVNCH.

Người bay

By Belinda Grant Geary for Daily Mail Australia

Posted on 11 May 2015 

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Cặp đôi người Úc làm nên lịch sử khi lướt qua Grand Canyon chỉ mặc bộ đồ có cánh … và ông bà đã lên kế hoạch cho kỳ tích táo bạo tiếp theo của họ.  Một cặp vợ chồng người Úc đã làm nên lịch sử sau khi họ bay qua Grand Canyon mà không cần trợ giúp chỉ với bộ đồ có cánh.  Heather Swan và Glenn Singleman nắm giữ ba kỷ lục thế giới và hai kỷ lục Úc trong môn thể thao mạo hiểm  Cô Swan tiết lộ cô đã vượt qua nỗi sợ hãi bằng cách thiền định và thực hành các kỹ thuật thở nhịp nhàng.  Cô và bốn thành viên khác trong nhóm đã hoàn thành chuyến bay huấn luyện qua Brisbane vào tháng 1 năm nay. Trong khi nhiều người Úc có thể tuyên bố rằng họ đã nhìn thấy quang cảnh từ trên không của Grand Canyon, thì rất ít người có thể tự hào rằng họ đã nhìn thấy nó theo cách các loài chim, lướt đi trong không trung mà không cần sự trợ giúp với làn gió rung rinh dưới đôi cánh của chúng. Heather Swan, 48 tuổi và Glenn Singleman là những vận động viên lặn mặc trang phục có cánh vô địch, những người gần đây đã làm nên lịch sử khi nhảy ra khỏi máy bay ở độ cao 28.000 ft để lướt 11 km qua Grand Canyon với tốc độ lên tới 200 km một giờ. Bị đẩy đi bởi lực hấp dẫn, ông bà yêu thích phiêu lưu đã dành tám phút để bay qua cột mốc của nước Mỹ.

Heather Swan và chồng cô Glenn Singleman gần đây đã làm nên lịch sử khi nhảy ra khỏi máy bay ở độ cao 28.000 ft để lướt 11 km qua Grand Canyon với tốc độ lên tới 200 km một giờ. Mặc dù nhảy từ độ cao 28.000 feet từ máy bay và lao thẳng xuống đất sẽ khiến hầu hết mọi người khiếp sợ, nhưng cô Swan nói với Daily Mail Australia rằng cô đã vượt qua nỗi sợ hãi của mình chỉ bằng cách thở qua nó. Cô ấy nói rằng bạn có thể dễ dàng đánh lừa cơ thể mình rằng mọi thứ đều ổn bằng cách hít một vài hơi thở sâu, chậm và sâu.

‘Tôi chỉ biết cách kiểm soát nỗi sợ hãi và tách biệt những gì tôi biết mình có thể làm với nỗi sợ hãi.’ Bà Swan cho biết phụ nữ thường cảm thấy sợ hãi mãnh liệt hơn so với nam giới và nỗi sợ hãi càng trở nên tồi tệ hơn theo tuổi tác. ‘Phụ nữ thường nhạy cảm với nỗi sợ hãi hơn nam giới và điều này thật thú vị vì phụ nữ càng già càng sợ hãi nhưng bạn chỉ cần biết đâu là nỗi sợ hãi phi lý và đâu là nỗi sợ hãi thực sự, rồi từ đó bạn có thể quyết định phải làm gì về nó.’

Cặp đôi đến từ Sydney này có ba kỷ lục thế giới và hai kỷ lục Úc trong môn thể thao mạo hiểm, bao gồm cả kỷ lục nhảy cao nhất thế giới trong bộ đồ có cánh khi họ nhảy từ độ cao 6604 mét khỏi Núi Meru ở dãy Himalaya thuộc Ấn Độ.

‘Chúng tôi chỉ là một nhóm người Úc đã thực hiện một dự án rất tham vọng và đã làm được nó’

Cặp đôi người Úc táo bạo bay lên trời trong bộ cánh

Cô Swan và chồng, Tiến sĩ Singleman, đã thực hiện chuyến bay phá kỷ lục cùng với những người đam mê bộ cánh Roger Hugelshofer, Vicente Cajiga và nhà quay phim Paul Tozer.Cặp đôi thành đạt này đã dành 14 tháng để lên kế hoạch và gây quỹ để biến nỗ lực lập kỷ lục điên rồ của họ thành hiện thực. Cô nói: “Chúng tôi chỉ là một nhóm người Úc đã thực hiện một dự án rất tham vọng và đã thực hiện được nó”. Bộ cánh giúp họ thực hiện được chuyến bay phá kỷ lục là những tàu lượn chạy bằng trọng lực, đẩy phi công về phía trước với tốc độ gấp ba lần tốc độ họ đang hạ xuống. Về cơ bản, chúng đang bay và rơi cùng một lúc. Cô Swan và nhóm của cô đã hoàn thành một cuộc chạy thực hành ở Brisbane vào tháng 1, nơi họ đã thử nghiệm những bình oxy ‘tiến hóa cao’ mà họ cần để sống sót sau kỳ tích ‘ngoạn mục’

‘Bạn có thể nhìn thấy mãi mãi. Tôi luôn biết nó lớn nhưng nó cứ tiếp tục diễn ra ‘

Vợ chồng cô Swan là những người đầu tiên nhảy khỏi máy bay, đối mặt với gió lớn và cú rơi cực dài

‘Chúng tôi đã thực hiện cú nhảy ở độ cao 30.000 feet nên chúng tôi biết rằng tất cả đều hoạt động hoàn hảo.’ Đội được yêu cầu đi theo một đường bay cụ thể, bắt đầu từ máy bay và kết thúc ở phía bên kia của hẻm núi rộng lớn. ‘Không có chỗ cho sai sót trong lần nhảy đó, bạn phải vượt qua được.’

Mặc dù ban đầu chuyến bay dự kiến ​​sẽ dài khoảng 8 km nhưng cô Swan cho biết họ đã bay trên không khoảng 8 phút và cuối cùng đã di chuyển xa hơn 3 km so với dự đoán.

Cặp đôi đã hoàn thành cú nhảy từ độ cao 30.000 feet trước nỗ lực kỷ lục của họ để đảm bảo tất cả thiết bị của họ có thể giải quyết được cú rơi.

Khi đang bay đến đỉnh cao của cú nhảy, cặp đôi phải đối mặt với nhiệt độ lạnh giá

Sửng sốt: ‘Chúng tôi đang ở độ cao 28.000 feet và tôi nhìn ra ngoài và nghĩ “ồ, điều đó thật không thể tin được”‘ ‘GPS của chúng tôi cho chúng tôi biết rằng chúng tôi đã đi được tổng cộng 11 km tính từ điểm xuất cảnh, sau khi quay trở lại khu vực hạ cánh.’ Cô Swan cho biết cô hoàn toàn choáng váng sau khi nhìn ra ngoài cửa sổ máy bay. ‘Chúng tôi ở độ cao 28.000 feet và tôi nhìn ra ngoài và nghĩ “ồ, điều đó thật không thể tin được”.’ ‘Bạn có thể nhìn thấy mãi mãi. Tôi luôn biết nó rất lớn nhưng nó cứ tiếp tục diễn ra.”

Trước nỗ lực lập kỷ lục ở Mỹ, đội đã hoàn thành chuyến bay mặc bộ đồ có cánh đầu tiên trên thế giới qua Brisbane và có thể được nhìn thấy đang bay vòng quanh The Gabba

Cô Swan là một trong hai nữ giảng viên Wingsuit duy nhất ở Úc. Việc trở thành người đầu tiên vượt qua Grand Canyon không thể làm dịu đi cơn khát phiêu lưu của cô Swan. Cô cho biết cô và chồng đã có một kế hoạch bất chấp cái chết khác đang được thực hiện. ‘Chúng tôi dự định bắt đầu lên kế hoạch bay tới bảy đỉnh núi, bắt đầu từ Kilimanjaro.’ ‘Rất nhiều người đã leo lên chúng nhưng chưa có ai từng bay qua chúng.’ Cặp đôi đến từ Sydney này có ba kỷ lục thế giới và hai kỷ lục Úc trong môn thể thao mạo hiểm, bao gồm cả kỷ lục nhảy cao nhất thế giới trong bộ đồ có cánh khi họ nhảy từ độ cao 6604 mét khỏi Núi Meru ở dãy Himalaya thuộc Ấn Độ.

Việc trở thành người đầu tiên vượt qua Grand Canyon không thể làm dịu đi cơn khát phiêu lưu của cô Swan. Cô tiết lộ rằng cô và chồng đã bắt đầu lên kế hoạch bay 7 đỉnh núi, bắt đầu từ Kilimanjaro.

Chuyện Mùa Giáng Sinh

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on December 24th, 2021

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Nghe kể là những năm 1920s, ở tiểu bang ‘Lone Star’ (Vì sao cô đơn) Texas mỗi ngày có tới 3 hoặc 4 ngân hàng bị cướp. Hiệp hội các chủ ngân hàng Texas đã treo thưởng tới 5,000 đô (một số tiền rất lớn vào thời đó) cho ai bắn què giò hay bắn ngỏm củ tỏi một tên cướp ngân hàng.

Rồi ‘radio’ đưa tin ngân hàng bị cướp tới 200 ngàn đô. Mấy tên cướp nghe tin, ngồi đếm tới đếm lui cả chục lần tới trật cái cần cổ mà chỉ có 100 ngàn đô. Chúng chửi toáng lên: “Tổ cha cái thằng Giám đốc Ngân hàng!”

Chuyện cướp ngân hàng xưa rồi. Giờ chỉ còn trong phim cao bồi miền Viễn Tây do tài tử John Wayne thủ vai sheriff mà thôi. Tại sao vậy? Vì bây giờ với kỹ thuật báo động tối tân, cướp ngân hàng thì chỉ có vô hộp hoặc ra nghĩa địa. Cướp tiệm bán rượu, bán thuốc lá dễ ăn hơn.

Bên Cali, mới đầu tháng Chạp, muốn có tiền ăn Lễ Giáng Sinh cho xôm tụ trong mùa đại dịch COVID-19, sống nay chết mai, một đám du thủ, du thực đông như quân Nguyên vác búa tài xồi đi ăn cướp.

Chuyện gì xảy ra ở Hoa Kỳ bữa trước là bữa sau nó xảy ra ở Úc hè. Vì chánh phủ Úc coi chánh phủ Mỹ là đại ca. Bọn hắc đạo giang hồ Úc cũng coi hắc đạo giang hồ Mỹ là đại ca nên luôn bắt chước làm theo.

Ngay chỗ tui ở nè, ngay sáng ngày mùng Một, tháng Chạp Tây, lúc 19:39am, 3 tên cướp, dáng Phi Châu, cầm búa xông vào một tiệm vàng của người Việt ở đường Paisley vùng Footscray, Melbourne.

Chúng mặc quần áo sẫm màu và đeo khẩu trang, đập phá tủ kiếng chưng đồ trang sức bằng vàng bên trong tiệm. Vụ cướp xảy ra chớp nhoáng chỉ trong 3 phút. Chúng hốt một mớ rồi dông trên một chiếc BMW SUV màu đen với biển số bị đánh cắp, do tên thứ tư cầm lái.

Chủ tiệm vàng 35 năm lần đầu bị cướp, chỉ biết chạy ra cửa la ‘ơi ới’ là chúng đã mất dạng ở cuối đường.

Dính vào ma tuý rồi lầm đường, những thanh niên nầy không hiểu một điều rất đơn giản là cha mẹ đã mang mình chạy khỏi một Phi Châu nghèo đói, bất công. Ðến Úc họ chỉ mong con mình có một tương lai tốt đẹp hơn. Chớ không muốn con mình thành ăn cướp.

Nói nào ngay đa số dân Úc đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm tiền một cách lương thiện. Giáng sinh mà không có cây Noel là không phải Giáng Sinh. Nên có trang trại cần mẫn trồng và chăm sóc 6 đến 8 ngàn cây thông suốt 3 năm trời ròng rã để bán vào dịp lễ Noel. Nó giống quê mình trồng mai, trồng đào bán Tết vậy.

Một nửa niềm vui mùa Noel của em yêu là tự tay em chọn cây thông Giáng Sinh. Giống như hồi xưa, em chọn thằng nào để lấy làm chồng vậy mà.

Một số em thích cây thông sanh sao để vậy. Càng hoang dã càng thích. Giống như hồi xưa em khoái cái thằng chọc trời khuấy nước mà em nói nó có nam tính. Chớ em đâu biết rằng tối nó phải đi trộm gà hàng xóm để có tiền dắt em đi uống cái nồi ngồi trên cái cốc.

Nhưng cũng có một số em khoái về điểm phấn tô son lại; ngạo với nhân gian một nụ cười; nên muốn cây thông Giáng Sinh phải giống hịt em mới được. Nghĩa là bẹo hình, bẹo dạng cho thiên hạ ngắm thì phải son môi còn thắm, tóc ‘demi garçon’. Cây Giáng sinh phải được cắt tỉa đàng hoàng chớ không được bù xù tổ quạ như tóc của em mới vừa thức dậy.

Tiền bán mỗi cây thông Giáng Sinh sẽ được chủ ‘farm’ trích ra 10 đô la làm từ thiện, giúp người ‘homeless’. Người Úc ngoài mấy thằng xì ke, lên cơn ghiền đi ăn cướp, cũng có người tốt đấy chớ. Bên Mỹ cũng vậy, mùa Giáng Sinh lại về cũng có những câu chuyện cảm động làm ấm lòng người trong trời Ðông buốt giá.

Chuyện rằng: một chiếc máy bay của Southwest Airlines đang từ Chicago chuẩn bị cất cánh đi Columbus. Tất cả mọi việc diễn ra rất bình thường! Hành khách lên tàu, làm thủ tục đầy đủ, tắt hết các thiết bị điện tử, thắt dây an toàn. Máy bay ra phi đạo chuẩn bị cất cánh bay lên. Nhưng đột nhiên máy bay lại lăn bánh về ga hành khách. Rồi một tiếp viên nhẹ nhàng đến mời Peggy xuống máy bay. Lúc đến quầy ‘check in’, Peggy được bảo hãy gọi ngay cho chồng mình. Lúc này, chồng Peggy nói, con trai 24 tuổi của họ ở tiểu bang Colorado, Denver bị chấn thương não, rơi vào hôn mê và đang được cấp cứu trong bệnh viện.

Tin sét đánh ngang tai làm Peggy không thể kìm được nước mắt. Thì ra chồng của Peggy đã gọi điện cho hãng hàng không, hy vọng họ sẽ thông báo để vợ mình có thể bay về với con càng sớm càng tốt. Hãng hàng không hay tin này đã lập tức sắp xếp một chuyến bay sớm nhất cho Peggy bay đến Denver chỉ trong vòng 2 giờ.

Khi Peggy được đưa đến khu vực hành khách chờ lên máy bay, nhân viên của hãng đã an ủi để cô bớt căng thẳng và lo lắng. Khi đến giờ, hãng hàng không yêu cầu tất cả hành khách xếp hàng chờ nhường quyền ưu tiên cho Peggy. Họ sắp xếp cho cô ngồi ngay đầu cửa cabin. Như vậy khi đến Denver cô có thể ngay lập tức xuống máy bay. Khi Peggy đến Denver cái đầu tiên nhận được không phải là hành lý mà là hộp cơm trưa của hãng hàng không Southwest Airlines. Hơn nữa hãng Southwest Airlines còn chi trả toàn bộ chi phí cho chuyến bay của Peggy.

May mắn thay, 3 tuần sau tình trạng con của Peggy tốt dần lên và cháu đang hồi phục một cách nhanh chóng.

Hãng hàng không kinh doanh vì lợi nhuận; nhưng không phải vì tiền mà họ quên lãng tình người. Chủ nghĩa tư bản đang giẫy chết cư xử như vậy đó!

o O o

Chuyện ấm lòng thứ hai trong Mùa Giáng Sinh rất lạnh bắt đầu từ Ga Tàu điện ngầm thành phố New York cách đây 21 năm.

Danny Stewart thấy một cái bọc nhỏ được quấn trong một chiếc áo len trong một sân ga vắng vẻ. Ban đầu, Danny nghĩ đó là một con búp bê, có lẽ do một đứa trẻ nào bỏ lại; cho đến khi Danny nhìn thấy một cái chân nhỏ bé ngọ nguậy. Danny nhận ra ngay đó là một đứa bé sơ sinh, dây rốn vẫn còn nguyên, chỉ mới vài giờ tuổi.

Ðược báo tin, giới chức của tiểu bang đưa cháu vào bịnh viện. Ðồng thời tìm kiếm khắp thành phố để biết cha mẹ của cháu là ai?

Vào tháng Chạp, năm 2000, cũng vào Mùa Giáng Sinh gieo lên niềm hy vọng cho toàn nhân loại, Danny Stewart ra Toà khai chứng việc đứa bé được tìm thấy như thế nào? Bà thẩm phán hỏi Danny: ‘Ông có muốn nhận con nuôi không?’ Danny trả lời là có. Ðó là một ngày định mệnh đầy xúc động để bắt đầu một câu chuyện diệu kỳ. Danny Stewart và người chồng đồng tính Pete Mercurio trở thành cha mẹ nuôi của đứa bé và đặt tên con là Kevin.

Ðối với cha mẹ ruột của Kevin, Mercurio nói rằng vợ chồng mình chỉ thấy cảm thương. Vì bỏ con là một hành động trong cơn tuyệt vọng. Và tôi có thể tưởng tượng ra nỗi thống khổ của họ đến dường nào khi phải rời bỏ một đứa con mà mình rứt ruột đẻ ra”

“Chúng tôi đã luôn nói với Kevin khi cháu còn rất nhỏ rằng: Con không phải bị ghét bỏ! Mà vì tình yêu, mẹ ruột của con đã rời đi ở ngay chỗ mà ba mẹ đã tìm thấy được con.”

Danny nói: “Vợ chồng tôi yêu đứa trẻ này hơn bất cứ thứ gì trên đời. Tôi thực sự không biết thứ tình yêu này tồn tại trên đời này cho đến khi con trai tôi đột nhiên bước vào cuộc đời của chúng tôi.”

Mercurio đã viết một cuốn sách và đọc cho Kevin nghe hàng đêm. Khi lên năm, Kevin nhận ra đó là câu chuyện về mình.

Năm ngoái, câu chuyện rất riêng tư đó đã được xuất bản với tựa đề: “Our Subway Baby” (Em bé tàu điện ngầm của chúng tôi), mà Mercurio gọi là “bức thư tình gửi cho con trai của chúng tôi.”

Hai mươi năm sau, Kevin, năm nay 21 tuổi, là sinh viên năm cuối của trường Cao đẳng Swarthmore. Kevin sẽ tốt nghiệp đại học vào mùa Xuân này”.

Thật là một câu chuyện ấm lòng trong Mùa Giáng Sinh trời rất lạnh.

DXT

Cà khịa với Toan Ánh

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on February 18th, 2022

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Toan Ánh, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, tên thật là Nguyễn Văn Toán sinh tại Thị Cầu, Bắc Ninh năm 1916 và mất năm 2009 tại Sài Gòn, thọ 93 tuổi.

Toan Ánh bắt đầu viết văn từ năm 1934. Kể từ đó, ông gắn bó mật thiết với đề tài văn hóa truyền thống của Việt Nam từ nông thôn đến thành thị, từ Bắc vào Nam. Ông để lại cho đời khoảng 124 tác phẩm có giá trị học thuật.

Tóm lại ông Toan Ánh là một cây đa, cây đề trong giới biên khảo của người Bắc di cư vào Nam. Sau nầy cả hai, ba chục năm sau 75, ông Toan Ánh được giới văn nghệ CS Miền Bắc tâng bốc, ca tụng ông lên tới tận mây xanh.

Riêng tui thì tuân theo lời dạy ông bà mình: “Ðọc sách mà tin hoàn toàn vào sách thì đừng đọc!” Ðọc mà mù quáng, cứ tin những câu chữ của các nhà văn nổi tiếng viết ra như thánh phán, lúc nào cũng đúng 100% thì xét cho cùng có hại hơn là có lợi! Thế nên thái độ đọc sách đúng nhứt là bao giờ cũng mang theo câu hỏi tại sao, tại sao và tại sao? Cứ lý giải sự kiện theo sự suy nghĩ của riêng mình. Ðừng cho mình lúc nào cũng đúng; hoặc sợ nói ra sai thiên hạ sẽ cười mình.

Chính vì dám uống thuốc liều (mạng) như vậy nên tui làm gan cà khịa với ông Toan Ánh về một chuyện vầy nè:  Chẳng qua ca dao quê mình có câu:

“Tàu súp lê một! Còn trông còn đợi! Tàu súp lê hai! Còn đợi còn chờ!

Tàu súp lê ba! Tàu ra biển Bắc…Tay anh vịn song sắt, nước mắt chảy ròng ròng. Anh lấy khăn mu soa ra chặm. Cái điệu vợ chồng ngàn dặm không quên!”

Ông Toan Ánh cắt nghĩa như vầy: “Thực dân Pháp chiếm Việt Nam, một mặt dân Việt Nam căm hờn, một mặt một số cô gái Việt Nam kém ý thức, vì hoàn cảnh đã sánh duyên với Pháp trở thành me Tây. Lính Pháp lấy me trong thời gian ở đất Việt, rồi anh lính trở về Pháp, cô me Tây ở lại nước Việt lại lấy chồng, một anh lính khác.

Cuộc tiễn đưa ắt phải xảy ra tại bến tàu Saigon, và có anh chàng Tây đã thút thít vì phải xa vợ, anh bảo rằng ngàn dặm không quên, có thật hay chăng anh ra cửa bể như rồng lên mây?

Sao có sự mâu thuẫn giữa hai câu thơ trên, hay ý tại ngôn ngoại, chỉ có sự mâu thuẫn trên hình thức, còn thực ra thì ngàn dặm có đời nào mà không quên đối với những lứa đôi dị chủng, nhất là trong cuộc chắp nối giang hồ.” (Trích tác phẩm “Hương Nước Hồn Quê”, tác giả Toan Ánh, NXB. Thanh Niên).

Cuốn sách nầy của ông là do CS in lại. Và trước khi in, họ kiểm duyệt từng chữ, từng câu để loại ra những gì không theo đúng những điều đảng muốn. Rồi đôi khi cả gan thêm vào những câu nịnh bợ đảng (ta), chửi bới kẻ thù để kiên định lập trường theo ‘Ðề cương Văn hóa Việt Nam’ của Trùm CS Trường Chinh. Thế nên mấy bố phụ trách biên tập sợ nếu sơ suất làm xổng chuồng một câu nói dù chỉ ‘xỏ ngọt’ đảng ta, sẽ đưa đến một hậu quả đắng nghét là bể nồi cơm của bu nó!

Thú thiệt tui không biết chính xác 72 phần dầu là ông Toan Ánh có viết như vậy hay không? Tuy nhiên sách đề tên tác giả là Toan Ánh thì tui cứ tạm tin là ông Toan Ánh đã viết như vậy đi để có cái mà cãi cho vui cửa, vui nhà trong tháng Giêng ăn chơi rồi nói dóc.

Ông Toan Ánh viết như thế, tui không đồng ý! Tui cho rằng: Ðây ắt là lời của một anh chàng nông dân nghèo khổ, đang có con vợ mà lại bị bắt đi lính cho Tây trong Ðệ nhứt Thế chiến (1914-1918).

Ðể ủng hộ cho cái phản bác của mình, tui xin đọc cho bà con nghe một đoạn trong ‘Tuấn, Chàng Trai Nước Việt, chương 12, của ông Nguyễn Vỹ (1912-1971)

“Tờ ‘Trung Kỳ Bảo Hộ công báo’ là một tờ báo của Toà Khâm Sứ ở Huế gởi đi các tỉnh, tỉnh gởi về huyện, huyện gởi về các làng. Tuấn đọc to lên cho cả làng nghe tin Nhà nước Bảo hộ Phú-lang-sa đang đánh giặc với Ðức, tức là nước Phổ-lô-si (phiên âm chữ Prusse, Ðức phiên âm chữ Deutsch). Ðức là một nước ‘dã man, tàn bạo’, bị Phú-lang-sa đánh cho liểng-xiểng, binh lính Ðức chết vô số, có cả hàng ngàn, hàng vạn v.v.

Nhưng trận giặc còn lâu dài, cho nên “dân An Nam nhờ nước Phú-lang-sa bảo hộ, phải quyên tiền và đem binh lính sang Pháp để đánh lũ giặc Ðức mọi rợ v.v. Dân làng, bất luận giàu, nghèo, đều phải góp tiền để mua Phiếu Quốc Trái. Hơn nữa, làng phải mộ dân tình nguyện đi lính sang Pháp để ‘đánh đuổi giặc Ðức’.

Sự thật, không có dân nào tình nguyện cả. Sau cùng làng xã phải bắt ép thanh niên khoẻ mạnh, gọi là tráng đinh đi lính. Hầu hết lớp “lính tình nguyện” nầy ở khắp xứ Trung Kỳ , Bắc Kỳ cũng như ở Nam Kỳ đều là thanh niên nho học từ 21, 22 đến 24, 25 tuổi.

Phong trào mộ thanh niên đi tùng chinh sang ‘Mẫu Quốc’ là một dịp cho các quan An Nam từ quan tỉnh xuống quan huyện, cho đến các ông hương, ông xã trong làng đòi ăn hối lộ. Một số đông các ông này chơi ác, cứ nhè bắt bọn thanh niên trai tráng con nhà giàu, đi tùng chinh. Thế là các bậc cha mẹ phú hộ phải đem của tiền lo lót, cho con khỏi đi. Phải lo lót xã một phần, lên lo lót huyện một phần, rồi lo lót các cụ lớn trên tỉnh nữa. Hối lộ gần như công khai. Nhà giàu đua nhau nhờ cậy chỗ này chỗ nọ, chạy chọt ông này ông kia, bán cả ruộng đất, nhất là con trai trưởng trong gia đình, khỏi bị bắt “tình nguyện” đi lính sang Pháp.

…Vì lớp thanh niên nhà giàu, hoặc nhà khá giả, hoặc con trai các vị hương chức đều nhờ hối lộ, và nhờ có quyền thế, đã được miễn tùng chinh. Sót lại chỉ có con nhà nghèo không có miếng đất cắm dùi, cho nên phải đi lính ‘tình nguyện’ qua ‘mẫu quốc’ đánh giặc ‘Phổ-Lô-Si’.

Nói là qua ‘mẫu quốc’ đánh giặc, nhưng sự thật thì qua bên đó nhập vào một đơn vị gọi là ‘đoàn quân thuộc địa’ chỉ dùng riêng vào việc vận tải lương thực ở hậu tuyến mà thôi. Một số bị bắt ra mặt trận, nhưng cũng chỉ là khiêng vác các khẩu súng lớn, đẩy các cổ đại bác và đào hầm trú ẩn. Chẳng có một người ‘lính thuộc địa’ nào, nhất là lính ‘Tirailleurs Annamites’ (Lính khố đỏ Nam Kỳ) được cầm súng bắn giặc cả.

Tất cả thanh niên tùng chinh đều được lịnh đến trình diện tại đồn lính Khố xanh ở các tỉnh, rồi từ tỉnh họ được chở đi tập trung lại, đợi tầu sang Pháp.”

Chính vì bị bắt đi lính do mình nghèo, phải xa vợ, xa con, xuống tàu đứng sau song sắt như bị ở tù, hổng khóc sao được? Xúc cảm như vậy mới làm được bài thơ não lòng, bi thiết! Rồi bài thơ đó trải qua biết bao thử thách của thời gian mới được trở thành ca dao, thành tiếng hát ru cho thân phận những người cùng khốn. Chứ không phải là lời của thằng Tây nào với em Me Tây nào ráo trọi như ông Toan Ánh nói đâu?

o O o

Thưa quý độc giả thân mến! Ðối với những nhà văn tiền bối như: Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Vỹ, Toan Ánh thì người viết đều kính phục cả, xin ngả nón cúi đầu; nhưng ca dao, hát ru là tiếng quê hương, là của chung của tụi mình. Xa quê, viễn xứ, vẫn nhớ về quê cũ, lại nhớ tới ca dao. Em yêu sai: ‘Ru con ngủ cho em đi chợ, mà thằng nhỏ cứ khóc hoài? Ru tới ru lui chỉ có hai bài làm thằng nhỏ chắc sẽ thuộc lòng như cháo. Rồi lớn lên, lỡ cắc cớ nó hỏi: “Tía ơi! Nghĩa nó là gì vậy?” Làm tía mà hổng biết trả lời sao thì mất mặt ‘bầu cua’ lắm lắm! Cho nên mới có bài viết nầy thưa quý độc giả thân mến!

ĐXT

“Thôi rồi Lượm ơi”!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on May 27th, 2022

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Qua Úc nầy gần 30 năm rồi, tối ngày tui cứ “bầu” hoài hè. Hết đi bầu chánh quyền thành phố (council), tiểu bang rồi tới liên bang.

Nhiệm kỳ 4 năm nhưng hết năm thứ ba, chánh phủ đã công bố ngân sách hàng năm, ấn định ngày bầu cử. Chánh phủ cho tiền để dụ khị, mua phiếu của dân. Tiền nầy không phải là tiền túi của mấy ổng đâu! Tiền nầy từ công nho do người dân cày ngày không đủ, tranh thủ cày đêm để đóng thuế.

Lỡ công quỹ cạn kiệt không còn cắc nào thì sao? Thì chánh phủ bị gậy đi mượn; rồi con cháu chúng ta sẽ đi cày chết cha để trả.

Nghĩa là chúng ta được chánh phủ đương nhiệm xúi ăn cái đuôi của chính mình. Và chúng ta rất vui mừng ăn thịt của mình và con cái mình.

Cách đây 5 tuần, Thủ tướng Scott Morrison ấn định: Thứ Bảy, 21 tháng Năm, năm 2022 là ngày bầu cử chánh phủ Liên bang Úc. Bộ máy tranh cử các bên bắt đầu xả ga chạy rầm rộ.

Cuộc giành giựt quyết liệt làm đầy tớ nhân dân giữa Liên đảng (Tự Do và Quốc Gia) đang cầm quyền và đảng Lao Ðộng đối lập.

Lao động, giai cấp công nhân, tức cu li, lên xài cho đã. Rồi Tự Do của chủ hãng và Quốc Gia của điền chủ ngồi lì gần 10 năm nay rồi. Mấy ổng bóp cổ mình thè lưỡi ra để kiếm tiền trả nợ. Lưỡi mình dài ngoằng, ngáp ngáp gần chết thì lần nầy chắc Lao Ðộng lại leo lên.

Biết vậy nhưng hổng đi bầu, nó phạt mình cả trăm đô, mua được hai thùng beer chớ bộ. Hao quá!

Thiệt thua đế quốc Mỹ xa lơ, xa lắc về cái sự tự do bầu bán hè. Bên Mỹ hổng thèm đi bầu, ở nhà nhậu chả có ai dám làm gì sất! Bên Úc đi bầu là bắt buộc, cấm nói: “No”. Bên Mỹ, dân biểu chánh phủ làm. Bên Úc, chánh phủ biểu dân làm (cái nầy nghe quen quen nhe!).

Tui làm cu li nên bầu cho phe ta Lao Ðộng.

Tình nguyện viên đảng Lao Ðộng, mặc áo T-shirt màu đỏ, phát truyền đơn trước cửa. Phòng phiếu không có treo màn kín đáo gì ráo. Mạnh ai cứ chổng khu đứng đó mà điền số 1, 2, 3 (chúng ta đi lính Cộng Hoà).

Em yêu của tui là “bà chủ” của đời tui. Em chỉ ngồi nhà thâu tiền góp. Nên em nên bầu cho Liên đảng giai cấp của mấy tay chủ cả, chủ hãng, chủ điền. Bầu cử Liên bang Úc năm 2019, tui là cu li bỏ cho Lao Ðộng. Báo chí nói thăm dò dân ý chắc ăn như bắp (nấu). Ai dè thua! Tức như bị bò đá. Tức thiếu điều hộc gạch. Bỏ cho Liên đảng thắng, “em yêu” cười he he thấy mà ghét!

o O o

Hạ viện Liên bang Úc có tổng cộng 150 ghế dân biểu. Giống như chơi tài xỉu. Bên nào chiếm được ít nhứt 76 ghế là được quyền thành lập chánh phủ. Những con số diệu kỳ từ 76 trở lên là vô mánh. Tiền công nho như trời cho, ăn nhậu mệt nghỉ. Nghe phát thèm hè!

Trong gần 30 năm tui ở Úc chỉ có hai Thủ tướng làm trọn hết nhiệm kỳ 3 năm. Cả hai đều thuộc Ðảng Tự Do. Một là John Howard (1996-2007). Hai là Scott Morrison (2019-2022).

Thế mới biết cái job làm Thủ tướng Úc nó chinh, nó không bền vững, nó ngắn ngủi lắm. Ngắn đến nỗi, khi lần đầu gặp Scott Morrison, Tổng thống Hoa Kỳ lúc đó là Donald Trump ngạc nhiên hỏi: “Ủa! Cái thằng cha (Malcolm Turnbull, Thủ tướng trước đó) đâu rồi? Mới điện thoại cự nự vụ nhận thuyền nhân nhốt ở đảo Manus với ổng hôm qua mà”.

Thế nên ngồi ghế Thủ Tướng Úc được 3 năm đã là hay, một bụng cũng đầy thủ đoạn chánh trị; chớ hổng phải chuyện giỡn chơi.

Dẫu vậy, mấy ông nầy chỉ đáng xách dép cho Vladimir Putin, Tổng thống của Nga. Y trèo lên, tuột xuống, rồi lại trèo lên trên đầu, trên cổ dân Nga suốt 20 năm trời đằng đẵng. Ngồi miết làm dân Nga thiếu điều gãy cổ.

o O o

Năm 2018, Scott Morison (tên thân mật là ScoMo), nhờ tròng tréo sau hậu trường chính trị đảng phái sao đó, lật đổ được đương kim Thủ tướng Malcolm Turnbull.

Rồi chỉ 9 tháng sau, ổng kêu tổng tuyển cử. Buồn ngủ gặp chiếu manh, chó ngáp phải ruồi, liên đảng lại thắng. ScoMo gọi đó là phép lạ. “Ông Trời đã ban cho vợ của ta một giấc mộng đẹp làm bà Thủ tướng Úc”.

Lần nầy, trong 5 tuần lễ tranh cử, đương kim Thủ tướng Úc ScoMo và lãnh tụ đối lập Albo (tên thân mật của Anthony Albanese), thuộc đảng Lao Ðộng) bay khắp các tiểu bang nước Úc như mắc cửi để vận động tranh cử.

Ông Albanese khoe con nhà nghèo, má đơn thân (single mum), làm công nhân vệ sinh.  Morrison xỏ ngọt, nói tuy ngưỡng mộ ông Albanese, một người lớn lên trong khu “nhà chánh phủ”, đã không bao giờ quên cái gốc gác của mình. Nhưng với một xuất thân như thế, ông Albanese thì rất khó có thể điều hành nền kinh tế quốc gia với vai trò Thủ tướng Úc. Thiệt là khen đểu!

Rồi theo kế hoạch do ban Vận động tranh cử vẽ ra, hai ông bay đến mấy cái vùng mà ghế dân biểu bấp bênh. Nơi phiếu chênh lệch nhau chưa tới 1, 2 phần trăm để vận động cho gà nhà.

Hai ông xắn tay áo, đeo tạp dề, nướng xúc xích (sausages) cho cử tri ăn và nhậu với beer. Xong mới chém gió (cái nầy nghe quen quen nhe) văng nước miếng tùm lum. Làm bà con phải né vì sợ lỗ đầu! Chẳng qua do ăn xúc xích xong, mấy ổng quên xỉa răng.

Rồi hai ông thi nhau bồng con nít (có đạo diễn sắp xếp đàng hoàng đó nhe).

Một trong những cái vở tuồng đó như vầy nè: “Thằng nhóc chừng 5 tuổi, đứng ngay trước mặt ông Anthony Albanese coi tranh cử.  Ông Albo hỏi: “Má mầy đâu?”.  Nó chỉ một em đứng sau lưng là má nó. Dân Úc cười ồ.

Thấy tuồng ăn khách, Ðảng Tự Do bèn bắt chước cho ScoMo chơi rugby (ôm bóng bầu dục chạy) với con nít. Ai dè sau 3 năm làm Thủ tướng Úc, ổng mập ú ù hè. Ổng giành trái banh cà na, té đè thằng nhỏ chừng 9, 10 tuổi ná thở. Làm thằng cu thiếu điều ọc ra hết Happy Meal của McDonald’s.

o O o

Sáng Thứ Bảy, ngày 21, tháng Năm ngay ngày bỏ phiếu, hai bên xuất tướng, bò về Melbourne. Hành động đó chứng tỏ chỗ tui ở sẽ là một chiến trường ác liệt quyết định một mất một còn. Mà làm đầy tớ của nhân dân (public servants) sướng ích gì mà hai cha xúm vô giành nhau dữ vậy chớ?

Thăm dò dân ý, đôi bên như hai con ngựa so kè rượt nhau. Mức đến phải cần photo finish (tức máy chụp hình) đua ngựa mới phân biệt thắng thua. Ðêm kiểm phiếu chắc sẽ dài vô tận.

Nhưng té ra mấy cha nhà báo nói láo không hè. Chưa đầy 5 tiếng đồng hồ sau khi phòng phiếu đóng cửa, ngựa Lao Ðộng đã bứt phá quá xa, ăn chắc gần 20 ghế!

Ðương kim Thủ tướng Úc, Scott Morrison lên truyền hình mặt như đưa đám. Ðến nỗi em yêu của ổng phải vỗ về: “Nín đi cưng, đừng khóc!”.

Ðương kim Thủ tướng Scott Morrison chúc mừng đối thủ, chấp nhận thua cuộc. Ông chịu trách nhiệm đã dẫn dắt liên đảng đến thất bại thảm thương. Ông tự xử bằng cách từ chức lãnh tụ đảng. Nhưng trước khi thở hơi ra, ông còn ráng lên gân, hẹn tái đấu trong vòng 3 năm nữa. Tuột xuống, nhưng ông chưa chịu về vườn.

Giới truyền thông đồng loạt đưa tin liên đảng bị tắm máu. Bầu cử mà nói chuyện máu me ghê quá hè!

Mấy nhà báo chuyên về chánh trị phân tích Ông Scott Morrison bị nghiện than đá, rề rà chống biến đổi khí hậu. Nên Úc cháy rừng, lũ lụt xảy ra liên miên làm dân tình khốn khổ. Mấy vùng bị thiên tai đó, cử tri kêu ông hãy “về quê cắm câu, bắt con nhái bầu” cho khuất mắt. Ngay cả ông xòe tay ra bắt, họ cũng không thèm!

Rồi ông Malcohm Turnbull vẫn còn cay cú, đồng chí thương nhau tay nắm lấy bàn tay đâm sau lưng. Ông xúi người theo đảng Tự Do hãy bầu cho ứng viên độc lập.

Năm 2019 bất ngờ thắng cử, Scott Morrison cười he he thiếu điều té ghế. Tối nào ScoMo cũng đốt nhang trước bàn thiên, hứa ăn chay trường một tháng nếu phép lạ xảy ra lần nữa. Nhưng chữ rằng: “Phước bất trùng lai quạ vô ăn chuối”. Lần nầy thì: “Thôi rồi Lượm ơi”!

ĐXT

Mưa tháng mười một

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Dưới bài viết của em hiển thị sáu bình luận, ba khen ba chê, ba chấp nhận ba không thuận lòng. Sao anh không gióng tiếng? Nếu có, bình luận của anh? Em buôn chuyến đầu và em may phước huề vốn. Vậy là bình tài, cứ phóng theo lao biết đâu thắng đậm. Nếu vẫn ba chê ba khen như đã, anh nguyện nhập cuộc làm thay đổi cán cân. Ca ngợi ai xa lạ thì thầm thà thầm thụt đưa tay ra sờ vào ót, nhưng tán dương em chuyện ấy nào khó gì.

Em dự tính viết cái chi ở bận tới? Ôi, gieo cho anh nỗi bất ngờ chẳng phải là điều thậm sướng sao. Hãy nán chờ như anh từng mỏi mòn ngoài cõi viết. Hợp bụng là một chuyện mà đi tới tâm đầu ý hiệp lại phải bàn luận lung tung. Bây giờ em siêng bạch hoá nhưng giấc mơ trên màn hình, sao một cuộc tình chẳng thấy em gõ luôn tay trên bàn phím. Em giú trái cây xanh vào nơi khuất tất, lỡ khuấy quên cái chín rục kia không khéo phải dụt đi. Sống sít chát ngầm chẳng xơi được mà rụng cùi thúi cuống hẳn phí một lần dấu thu.

Hôm nay mưa nhưng em cuồng chân chi lạ. Lá vàng rụng em ưa đi dưới lòng đường. Anh thích uống cà phê không, nếu muốn đội mưa ra bờ thành cũ. Quán gì em quên tên, nằm sát sông Laurent luôn cau có, ở trên bờ trồng cột điện mãi toả một vũng vàng. Gạch đá ngỗn ngang người ta ưa bày biện, nhưng bước qua cửa sự ngăn nắp vén khéo vẫn chực chờ. Hình như đôi ta chưa hề ngồi với nhau trong đó. Ủa, vậy lần nọ em đi với ai cà, nhớ hổng ra! Nếu em nhiều bổi anh biết em ưa làm gì không? In thành tập toàn bộ những sáng tác của em. Việc ấy nào tốn kém gì, chỉ hai ba ngàn bạc chứ mấy. Giả dụ giàu có em kinh doanh mở quán cà phê thật đặc thù. Lấy màu nâu làm chủ, ton sur ton ngã dần về màu trắng ngà, vách tường viết đầy những câu của 108 nhà thơ Việt. Trang hoàng chỉ ngần ấy thôi, ấn tượng, bởi theo như Leonardo da Vinci nói “ Sự đơn giản là cái rất mực cầu kỳ”. Anh nhắm xem đụt mưa vào nơi ấy tay ôm cốc cà phê thơm dịu người anh có bần thần mê thiếp không? Kiếm đâu ra những một trăm linh tám vị? Chớ bỏ sót di chúc của Nguyễn Khuyến:

“Việc tống táng lăng nhăng qua quýt
Cúng cho thầy một ít rượu hoa
Đề vào mấy chữ trên bia
Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”.

Sao cung đàn lạc điệu ra thế. Khẩu ngôn người xưa nằm trong kinh sách chứ ai nỡ lòng treo vào chốn giang hồ ông đi qua bà đi lại. Em nhắm chỉ tinh tuyển ròng thơ tình, thế mới đắt địa. Giáng Sinh tới anh sẽ quà cáp cho em xấp vé số Lotto Québec. Em sẽ dò sáu số biết đâu la toáng lên giấc mơ thành hiện thực một sớm chiều. Bà chủ tiệm, sao nghe cứ không đã cái lỗ tai. Nàng thi sĩ thì cầu chứng sự oai phong lẫm liệt hơn hẳn. Xưa nay người ta lỡ sắp hạng lao động đầu óc thì ăn đứt đứa tay chân loay hoay. Em mà làm cô hàng cà phê thì chán khối thằng phải bỏ quên cây đàn tại quán tình si mất. Hát hỏng gì buổi ấy! Nói chuyện với anh thường gây cho em một liên tưởng, em là con Lạc Long mà anh là con bà Âu Cơ, lạc hướng đi và địa hình khác biệt giữa núi biển đã tác động sâu vào nếp suy nghĩ, người xưa gọi là đầu Ngô mình Sở, chả đúng băng tần phát sóng giao thoa.

Tháng mười một gió luôn đi ngang để than van trên hàng cây bị vặt gần trụi lá. Lá không than van, chấp nhận rơi trong chao đảo đến buồn lòng. Có người không ưa nói tới số tuổi mình mang, chỉ cạn lòng bảo tôi đã trải qua ngần ấy mùa lá rụng. Rồi một mùa thu nào sừng sững hiện về, gió của nó cuốn người ấy rụng đi xa. Người ấy có kịp nói đôi câu giã từ cõi thế: Việc tống táng diễn trong hai bữa, đưa thây ta vào lửa nung thân, rãi tro cốt vào nơi thuận tiện, cười cho ta một trận hả hê.

Gió làm gãy cọng chiếc dù em che. Tiếng em cằn nhằn nghe hư thực. Làm thơ trong hoàn cảnh nào xét thấy thôi thúc? Êm ả hay bực mình với những bất ưng tình cờ? Anh ưa phỏng vấn lôi thôi thế? Một bài đi dưới mưa có anh che dù e bất khả? Vai anh ướt cho tóc em khô, chẳng hạn? Dạng như thế em có bỏ trên facebook rồi, hình ảnh nghèo nàn quá anh chẳng ngộ ra? Trên hành tinh này mỗi sát na có cả triệu đôi nam nữ che dù đi dưới mưa, cái khó là làm sao người ta nhìn nhận ra anh trong đám đông ấy. Một bài thơ hay phải chăng là nơi hội tụ những ánh mắt, anh đi trong mưa mà dường như anh không ướt, điều huyền nhiệm nào đã vực anh lên, lôi anh ra sự chộn rộn của đám đông, khô thân để xem thường thời tiết. Anh mong mỏi có ngày em được như vậy, hãy ném cây dù vô dụng kia và trong nhất thời hãy chịu khó đi sát vào người anh, cho anh quàng vai em đi dưới vũ lượng mỗi lúc thêm ràn rụa nặng hạt. Hãy ôm nhau. Albert Camus nói: “Đừng chờ đợi sự phán xét cuối cùng. Nó xẩy ra hàng ngày”.

Sau cơn mưa trời lại sáng, người ta ưa nói thế, như đó là định luật tự nhiên của đất trời, như ký gửi một hy vọng. Kẻ thất vọng như anh thì đổi lời: Sau cơn mưa trời lại tối. Mưa buổi chiều, khi ngưng rơi thì trời chẳng quang mây chẳng tạnh được. Trời tối hù vì đêm đang tới, muốn sáng người ta phải phát minh ra bóng đèn điện và như thế, sau cơn mưa anh lầm lũi đi dưới hai hàng đèn vàng ệch. Sự phát quang của nó chẳng sánh được với màu lá rơi ngập đường, lầy lội. Anh vừa từ hội trường ra về, bỏ ngang phần phụ diễn văn nghệ hát hò ngâm vịnh, chỗ người ta tổ chức buổi ra mắt sách thi tập đầu tiên của “nàng”. Anh ngồi thu người trong lòng một chiếc ghế tự dưng quá đỗi lớn so với cơ thể anh. Anh đã cố gắng, cố gắng viết cho xong một cái tựa. Sự cố gắng không vượt qua lằn mức cuối, “nàng” sớm mang thơ đi in và dĩ nhiên lẳng lặng từ chối sự hợp tác của anh. “Nàng” nói tới hai chữ xin lỗi và anh linh cảm xấp vé số dự trù mua tặng trong dịp Chúa giáng sinh sẽ chẳng còn cơ hội trao tay “nàng”.

Chiếc áo dài tím có vẽ những bông hoa li ti nở rung động trên ngực làm “nàng” khác lạ, không như “em” của hôm qua. Khi bước ra ánh sáng, hoa nở bung và điều đó tôn tạo một vẻ đẹp xa cách. “Nàng” bị vây bọc bởi lắm kẻ yêu thơ và anh, vị trí thuận lợi nhất là thu mình trong lòng ghế lưng chừng giữa hội trường. Tuy gần mà xa. “Nàng” có tặng anh tập thơ dày đúng trăm trang, nếu in thêm cái tựa anh viết, không khéo làm lệch vai, làm mỏi tay ai đó cầm lên thêm nặng nhọc. Một trăm, thế mà hay. “Nàng” từng nói với anh về một trăm cái trứng huyền thoại thuộc dạng khoa học giả tưởng. “Nàng” nói đại khái tụi mình là con cùng cha cùng mẹ nhưng phạm tới lời nguyền hiểm hóc nên đành phải quay lưng gạt lệ thua buồn số phận, ăn ở với nhau đầu bạc răng long có mà chạm tới luân thường đạo lý đẻ con không có lỗ đít các thứ linh tinh, lê thê và chì chiết hậu sanh khả ố.

“Nàng” viết ở trang đầu: “Tặng anh, để nhớ…” Chữ nhà thơ vẫn thế, đẹp không đẹp xấu không xấu nhưng bay bướm, kiểu tạo dáng. Anh thưa thốt, lí nhí: Chúc mừng. Rồi vặn giây thiều nghe cót két: Chiếc áo đẹp quá, tiếc là màu sắc nó buồn thâm trầm. “Nàng” có lối ứng xử nhạy bén: Anh tính trả thù à? Anh xuống giọng: Nếu trả thù ai dại đi trong mưa gió lặn lội tới chốn đây, làm đứa tiểu nhân ắt hẳn nó đang trùm chăn say ngủ hoặc gọi cốc cà phê đen ngồi rung đùi trong cái quán hôm nào hai đứa cụng đầu. Tiểu nhân có làm được thơ? Giọng thơ say lã một căm giận? Anh ngậm miệng đúng lúc khi sánh vai người mặc áo màu thâm trầm là gã đàn ông đạo mạo cứng thây trong bộ đồ lớn cắt may vụng, không vừa kích. Ông ta ngó anh như ngó cánh hoa tàn rơi trên khăn trải bàn, có nghiã là sẵn lòng nhặt nó ném đi sau khi thoả dạ săm soi. Và anh quay lưng cố giữ sự an nhiên có ở một đoá sen. Không mấy khó, anh biết người đàn ông đó đã bỏ tiền ra in thi phẩm nọ, lo từ a tới z để hoàn thành buổi ra mắt giới thiệu đứa con tinh thần của “nàng”. Không mấy khó để anh biết tên ông ta, in ở trang 17 dưới tựa bài thơ “Một cọng một bằng ba”. Nguyễn văn Không Trỗi còn nằm rải rác ở đôi ba trang khác. Ân nhân. Người xúi giục tôi làm thơ. Người cho tôi thi hứng. Người đồng minh không hề tháo chạy đang đi bên tôi. Người quyết tâm can ngăn không cho tôi nhọc thân làm bà chủ hàng cà phê…

Sau cơn mưa trời lại tối. Vào nhà anh mở sáng tất cả những bóng đèn, bật lò nấu nước trụng lai rai gói mì hiệu con tôm ăn qua loa theo di huấn của tiền nhân quân tử: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn”. Lục soạn trí nhớ xem, có vị chính nhân quân tử nào ngôn: Nhưng mà sống để làm gì nhỉ? Chỉ nghe thi nhân Mai Thảo bảo:

“Sách một dãy nằm trơ trên giá
Cạnh người thân thế cũng trơ trơ
Sách, người hai cõi cùng hư hoại
Nơi một ngàn chương thiếu một tờ”.

Tờ giấy rời ấy đã bay, nhẹ tợ lông hồng mang vẻ dưng dưng của kẻ bạc lòng với thơ văn. Ngàn chương luôn thiếu bởi cơm áo nặng tợ ngàn cân làm mê muội cuộc sinh tồn nhìn ngó đành hanh một hơn thua vật chất. Nghèo một tâm hồn, tiếng thở dài mãi bị bụi bám trên kệ sách chẳng còn ai lạc hồn đâm trắc ẩn. Không thiết thực khi thắp đuốc cố tìm cho ra một kẻ tâm giao, thứ bằng hữu đúng nghĩa nguyện chia sớt đớn đau với lạc thú đề huề? Đi dưới mưa, chẳng còn ai sánh đôi che chung ô dưới gió chướng làm vướng chân.

Trời lạnh, bật sưởi vẫn còn run, nghe cảm hàn tự đáy lòng. Tắt đèn đi ngủ anh mang theo cái nồi lớn mà dạo trước “nàng” cao hứng đến xắn tay áo để ninh hầm món phở hoành tráng thơm điếc lỗ mũi. Anh đặt chiếc nồi vô dụng bên giường, xé từ tốn tập thơ dày đúng 100 trang, mồi lửa từ một tới chín chín. Lửa không reo, chỉ vặn mình cháy ngúm. Cạn lực rồi hồi sinh. Riu riu tàn tro rồi bừng sáng lửa ngọn. Em ơi, quả nhiên thơ em đã làm ấm giấc ngủ anh lẻ loi. Xin cho anh sớm đụng đầu cơn mộng, tụi mình hôn nhau tàn bạo ở quán cà phê không nhớ tên em từng hẹn hò. Sông Laurent trôi hững hờ bên ngoài và bóng điện vàng gục đầu đứng hổ ngươi chỉ sáng tỏ một vũng tròn thắp mù mờ công án: Làm thế nào để giết nguyên một tập thơ?

Hồ Đình Nghiêm

Mưa khúc giang đầu

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post 1 May 2022

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Một.
Trước một chia lìa, một chia tay, đa phần người ta bị đối mặt với những rối trí. Tâm trạng biểu hiện bằng nhiều cách, tuỳ vào mức độ rời xa ấy nghiêm trọng tới tầm cỡ nào. Năm hết Tết đến, vùi sâu năm cũ để dọn lòng đón đợi năm mới, cái cột mốc nọ tuy có chứa niềm vui nỗi buồn nhưng tuyệt không nên bảo sự giao thoa kia là nghiêm trọng. Cuối năm, trời đất buồn, đi vào lòng, thẩm thấu để A bày tỏ:

em vẽ một trái tim trên cửa kính
nhìn tuyết rơi cùng hình vẽ nhạt nhoà
nhớ toa tàu trôi ngày từ giã
khuôn mặt mờ ai chôn lặng sân ga
đường sắt song song như một định nghĩa
xuôi tới vô cùng cái bến đỗ vắng thưa
giờ đứng đây với ngày tháng lạ
mừng tuổi em ngược lối anh quay về.

B đọc đủ đầy tên A ghi dưới bài thơ. Thủ pháp của A không trùng lẫn, e chỉ có một, để mang B ngó trực diện tới thứ cảnh sắc ngỡ đã hư hao. Anh nhớ hôm đó trời mưa nhỏ, mưa bụi nhưng gió lạnh sân ga trống. Anh đứng, không nón mũ không áo che mưa và tiếng còi tàu gửi lui anh tựa một loạt ám khí vừa ném trả. Khăn quàng màu xanh da trời nơi cổ A bị quang cảnh màu xám nuốt mất, nhấn chìm. Thành phố ấy, thời điểm đó buộc người ta phải tuân thủ một luật chơi khắc nghiệt, thậm chí người ta không có cho nhau một môi hôn. Cầm tay nhau trong khoảnh khắc, đứng ngó nhau vô duyên như hai tượng đài. Một biến mất và một còn lại tưởng chừng bị đúc xi-măng.

Tống cựu nghinh tân. Đón cái mới làm gì trong lúc không ai dẹp yên được những ngỗn ngang luôn tồn đọng của tháng ngày cũ. Hoài cổ luôn có đất sống bởi nó mãi cất giữ giùm anh bao kỷ niệm. B không biết làm thơ hoặc một dạng bày tỏ cảm xúc tương tự nhằm ngợi ca về một vòng tròn liền lạc. Mỏi chân đi giáp vòng thì run rủi được gặp lại A, được đọc thơ A, được thấy tiềm ẩn đâu đó một niềm hy vọng ắt được sẻ chia. Rồi sẽ tới một đoạn nào đó, hai đường sắt có khi gặp điểm hội tụ trùng nhập. Toán học có phương trình riêng, tình yêu có lối chứng minh khác. Toán học giải quyết gọn nhẹ tựa lấy đồ trong túi ra, tình yêu thì nhiêu khê vượt qua bao rào cản với lá bùa trấn giữ trước sạn đạo mang hai chữ định mệnh. Nôm na là mưu sự tại nhân thành sự tại thiên. A viết: Thành phố vắng những đời chim trốn lạnh, tay bao che đốm lửa chừng lụn tàn, cuộc lữ này chân đi về triền vực, rơi tiếc thương một hối muộn, sao đành? Email gửi đi lời hò hẹn, bảy giờ tối ở quán Thềm Xưa. Biết địa điểm không? B trả lời: Biết, tiền thân nó là tiệm ăn Mèo Đen của người Pháp. Ngày đầu tha phương B đã xin vào làm với công việc rửa chén, từ 4 giờ chiều tới 1 giờ sáng, lương mạt hạng và người hôi hơn một con mèo bị nhúng nước. Đời vô thường, B bổ túc. Quán đông khách nhưng chủ bị tai nạn, lây lất cho tới khi sang tay vào kẻ khác. Một kẻ Việt-nam bỏ xứ lãng mạn ngồi đây mà tơ tưởng tới thềm xưa.

B vẫn giữ cái gợn lòng kia khi đi cùng A tới quán ăn đêm cuối năm. Cuộc đời mãi trôi như sự ví von của người ta: Nước chảy qua cầu. Nó không dừng, luân lưu qua đi qua đi. A nói, đâu có gì lạ, bản chất của nó là sự đổi thay. B đi sát vào người A khi qua cầu lẻ loi một vũng sáng cháy đỏ trên cây thông trang trí Giáng sinh chưa ai nỡ dẹp bỏ. Dưới chân họ là con sông nhỏ đã đóng băng, có phải nó tượng trưng cho sự ngưng nghỉ của dòng đời? Cái buốt lạnh trên bề mặt không giết trọn vẹn đời sông, phía dưới kia cá vẫn lội rong vẫn lay và nước vẫn chảy về một chỗ trủng thấp. Luôn luôn cái bộ mặt dửng dưng bên ngoài chẳng nói hết những khúc mắc có ở đằng sau. Anh nghe đối tượng tâm sự nhưng khuất tự đáy lòng kia vẫn còn những thứ không tiện thổ lộ. Bí mật của mỗi cá nhân kỳ lạ ở chỗ, đã có người câm lặng mang bao nỗi lòng thu xuống mộ huyệt, tuyệt không hé môi. Yêu nhau, hiểu một cách ngắn gọn là anh dùng đủ mọi cách để lân la soán đoạt cái mặt trái khuất tất của người bạn lòng. Ngần ấy thôi đã thấy đầu bạc răng long, đã thoáng ngó ra cảnh gần đất xa trời. “Ôi đất thì rộng sao chỗ nằm quá chật” như lời than của một thi sĩ năm xưa.

Đất quanh đây rộng, trống trải nhưng quán ăn chẳng lớn, chật khách. A có gọi điện thoại đặt chỗ trước nên không cần phải đợi chờ và A phân bua: Có lẽ ở đâu cũng vậy, người ta thụ hưởng hết mình cho mùa lễ lạc kết thúc lộ trình một năm lao động hao tâm tổn trí. Có tờ báo thống kê, bước qua năm mới trung bình mỗi người tăng thêm 2 kí bởi họ vô tư chìm đắm vào tứ khoái mà cái mục ăn nhậu suốt năm canh là chính danh thủ phạm.

Cái bàn hai chỗ nằm trong góc. Xa cửa vô ra nên nhìn rõ cái ấm áp được ngọn đèn vàng toả xuống vây bọc, giữ riêng một địa phận. Họ cởi áo khoác, máng trên lưng ghế rồi lần lượt ngồi xuống. B nhìn A. A ngó vào tấm thực đơn. Chẳng rõ A lựa chọn ra món gì, phần B, anh phát hiện ra bao tàn phai ghi dấu trên gương mặt mất hết nét xuân thì. Anh không thích những kẻ dối già, nhưng nhìn vào vẻ trung thực chẳng lấp liếm ấy khiến anh thấy mềm lòng. Mềm lòng đi cùng nghi ngại, tại sao A phô bày một dung mạo không trang điểm khi hẹn gặp B? Gặp lại nhau phút đầu, A đã không đưa ra một lời bình phẩm nào về những đổi thay mà chính B tự nhìn rõ cái héo mòn của tuổi già vừa ập tới với riêng mình. Trước sau, bức tượng được dựng ở sân ga ngày cũ vẫn nguyên dạng cái cứng thây đi kèm với bao cục mịch vây khổn. Và A vẫn chẳng hỏi han về cảnh sống mà B đang hứng chịu. B thích được vậy, những kể lể thường mang hậu quả, nó sẽ dìm người ta xuống trong thứ cảnh sắc bày biện những u ẩn để khi đó than van có cớ hiện hình, chẳng cưỡng được. Cầu xin sự thương hại là thứ chẳng ai trông mong, nên lãng tránh.

A lựa xong món ăn và B cũng chọn thứ trùng lẫn. Đó là thức ăn mà hai đứa cùng nhẫn nha ăn nhác nhớm hôm nào trước nhà ga. Chúng buông đũa khi nhìn lên cái đồng hồ trầy trụa bao sương gió va vấp gắn trên cao và khuất đàng sau gióng lên hồi còi tàu nghẹn ứ. Kỷ niệm buồn như tiếng thở dài. Có đúng vậy không? Hầu như trong thơ văn chưa một ai bảo tiếng còi tàu nghe vui thú cả, dẫu nó sẽ mang về người mà mình đang háo hức ngóng đợi. Hệt như tiếng ve sầu kêu râm ran suốt mùa hè nực nội. Tiếng ve trôi qua cành lá của cây cao, rót xuống một trưa im sững, nghe bần thần. Một buổi trưa nào A đã trao vụng dại cho B bao điều huyền nhiệm, mồ hôi đổ cùng nước mắt, thứ quà đớn đau trước cuộc phân lìa mà A chẳng có gì khác để trao gửi, để đánh dấu thứ tình yêu thiệt thòi. Ve kêu chẳng phải là điềm báo, súng đạn mới có khả năng làm chia cắt đành đoạn, làm phân tán bao gia đình. A xuôi nam như giải pháp buộc phải thế. B ở lại bồn chồn lòng chưa quyết thì thành phố đổi chủ. Nó chết đúng theo cách giải thích của sách vở và B trôi tuột đời mình thoi thóp sống với thời kỳ hang động cổ sơ, trù dập mất nhân tính. Người ta lì lợm không sợ ma quỷ nhưng người ta thót tim khi nghe tiếng chó sủa. Người ta ngủ không xuống khi lá rơi ngoài vườn khuya mà ngỡ như chân ai sẽ bước vào đập cửa với súng ống. Người ta ăn dè xẻn cơm độn để sống và muốn sống người ta phải lật lọng dối gian.

Ăn được không? A hỏi. Quán ồn ào quá sức tưởng tượng. B nói: Nuốt cũng trôi. Ừ quá đỗi bát nháo, không sợ làm phiền lòng hàng xóm. Người Việt mà, luôn tự tung tự tác, họ tự nhiên như đang ở trong nhà. Ưa khoe bày niềm vui một cách quá lố. Giờ này ở bên nhà ngó vậy mà êm. A ngạc nhiên, nhíu mày chờ đợi một giải thích. B lau miệng: Bởi vì chúng biết cách giữ mình, nếu không thì bàn ăn bên cạnh sẽ có đứa mang đao tới cà khịa xin tí huyết. Chuyện ấy xảy ra như cơm bữa, trước mỗi một vung đao kiếm, thằng bặm trợn bảo, để cho mày biết lễ độ. Ròng rã bao nhiêu năm trôi đi, người bên ấy vẫn chẳng hiểu ra chữ lễ độ. Chém, vì thằng kia nhìn đểu. Giết, vì con nọ xin đểu. Chặt, vì lão ấy nói đểu. Hình như trong thức ăn có tẩm xăng hay sao ấy mà con người xứ nọ chóng bốc hoả phát khiếp.

Hai.
Có thể B bị ung thư dạ dày. Có thể B bị ung thư gan. A không bận tâm đào sâu nguyên cớ dọ hỏi chi li, chẳng ích gì. Hãy coi như B ngộ độc thực phẩm, vào nhà thương đã hai hôm và nay đang nằm phòng hồi sức. Nằm lơ mơ dật dờ tựa tấm ván mỏng trôi sông. Khi A đến thăm, dọ đúng nơi tấp của bèo dạt thì bầu trời ngoài ô cửa phòng buông màn xám xịt. A không lay B, nghe theo lời cô y tá bảo. Chỉ ngó xuống và cố giữ lòng chẳng manh động một nỗi niềm vì khách đến thăm ngoài A còn có C. C tự nguyện làm tài xế khi nghe A nói mẹ vào bệnh viện thăm một người bạn cũ. C là bản sao hoàn chỉnh của A ba mươi năm trước. Đó là nói riêng tới nhan sắc, dáng vẻ, vóc vạc, mặt mày, tóc tai. Khác biệt với mẹ, đã ngần ấy tuổi, tam thập nhi lập C vẫn ở không, kén cá chọn canh, ung dung tự tại, đi về lẻ bóng trên con đường vốn chẳng mấy dài của phận người. Do sống ở xứ người đã lâu, C không quên mua một bó hoa nhỏ cầm tay, mang theo. Hiện tại C đặt những nụ hoa còn ngậm ướt nước trên cái bàn bằng mi-ca gắn liền giường bệnh. C quan sát cái thiêm thiếp của người đàn ông để phát hiện ra đó là một khuôn mặt dễ nhìn. A đến sát cửa kính nhìn xuống bên dưới, những chiếc xe trông bé nhỏ khiến A choáng với độ cao. A thử vẽ hình một trái tim, chùng vụng. Tấm kính chia hai bầu khí quyển giữa lạnh và ấm làm hình vẽ bám trụ chẳng được lâu. Con bận gì không? A hỏi khi trở lại đứng bên C. C lắc đầu, đợi ông ấy thức, nhận biết sự có mặt của mẹ rồi hẳn về. C nói nhỏ tiếng như cố tránh tối đa những dấy động khi đặt chân vào căn phòng ngột ngạt này. Ý tứ của C là điều mà bệnh viện luôn nhắc nhở nhưng C đã không biết một nội quy: Chớ xức nước hoa, dầu thơm các thứ, có thể gây dị ứng cho con bệnh. Không một ai hay, chính hương thơm ủ kín trong người C đã truyền vào khứu giác B, vực B ra khỏi sự tăm tối của giấc ngủ bị đe doạ bởi thuốc an thần. B mở mắt, đầu tiên là cái khăn quàng màu xanh nơi cổ C đập vào nhãn quang. Chính nó, lắt lay trong mắt B một đốm sáng và cơ hồ nó tựa một thứ thuốc điểm mắt làm nhãn tuyến B trở nên linh hoạt. B rướn thân ngồi lên, kê gối sau lưng với sự trợ giúp của A. Mắt B không rời mục tiêu, anh ngó xuống một khuôn mặt khả ái, một A ngày nào nguyên dạng nét hồn nhiên trùng nhập.

Ăn được ngủ được không? Có thấy đau đớn choáng váng gì không? Đã khoẻ, đã hết đau. Yếu người chút xíu nhưng sẽ chóng hồi phục. B nói, như lập lại lời của vị bác sĩ nào đó, chứa đủ niềm lạc quan. Rồi y khoa tân tiến sẽ đánh thắng dẹp yên toàn bộ các mặt trận. Đây là C, biết mẹ sợ vào nhà thương một mình nên đi theo cho có bạn. A giới thiệu để B đưa tay lên thế một lời chào.

Họ nói chuyện không lâu, một phần vì khung cảnh gây ra sự gượng gạo, phần khác người y tá xuất hiện bảo đã tới giờ uống thuốc. A nói mai lại vào thăm. Trước khi ra về A để lại một tờ giấy gấp làm tư, nhét nó dưới bó hoa chưa tìm được chỗ cắm. Không có hồi còi tàu nào thúc giục cả, nhưng còn đó chiếc khăn quàng màu xanh. Người vừa cột thắt chiếc khăn ấy gửi lại sau dáng đi mềm mại một nụ cười đằm thắm. B nhắm mắt lại. B tin là khi muốn giữ hình ảnh cho lâu dài trong đồng tử, mình chỉ cần đóng lại võng mô, nhốt chặt nó. Y như khi bạn ngó lâu vào một bóng đèn, nhắm nghiền mắt lại vẫn còn đó cái đốm sáng chói chang mãi thắp lung linh.

Uống, nuốt trôi ba viên thuốc khác màu. Đợi y tá kiểm tra từng công đoạn xong, B mở vuông giấy A gửi: Nếu đến muộn, B chết, mọi thứ chìm quên, đơn giản, và dĩ nhiên A sẽ mang niềm bí mật này về, côi cút. Nếu sống, chưa đành đoạn bỏ đi, ngày tháng eo hẹp còn lại này A nghĩ, nên cho B biết một sự thật. C, 30 tuổi là con gái của chúng ta. C là Chanh là Cam là kết cuộc mối tình Chua Chát của hai đứa quá đỗi vụng dại vào thời điểm tan tác nọ. A buộc lòng phải nói ra mà không mong muốn một đổi thay nào khác. Để biết, để chẳng dối lòng. Kỳ dư xin hãy để sự vật y nguyên như nó đã. Xê dịch, đổi dời làm gì khi chúng ta đã sức cùn lực cạn. Gắng tĩnh tâm để vui sống những ngày còn lại. Nếu tin vào đời sống còn đó một nối kết huyền nhiệm thì tự thân, C sẽ đề nghị đến thăm, không cứ là khi nằm viện. Hình như lâu rồi, có nghe B nói là thích loài hoa Cẩm Chướng?

Ba.
Tuyết rơi, rơi mỗi lúc một dầy. B bình phục, dáng vẻ nhanh nhẹn khi xuất viện gửi lại cho bác sĩ và các cô y tá niềm kinh ngạc gần trùng với hoang mang. Theo hồ sơ bệnh lý họ nắm giữ, con bệnh ấy lẽ thường phải nằm điều trị không dưới hai tháng. Chính bản thân họ cũng không mấy tin tưởng tới sự tiến bộ của y khoa mang lại những “bonus” cho chúng sinh. Cuộc đời luôn trường tồn với sức mạnh tinh thần của mỗi cá nhân đi cùng với điều nhiệm mầu khuất tất. Bệnh nhân B đã vừa thủ đắc riêng cho hắn ta một lá bùa linh nghiệm, ông ấy chủ động đi bắt tay cám ơn từng người, không quên chúc mừng năm mới. Ông gọi taxi và không ngại ra thềm lạnh đứng chờ với một bầu trời vần vũ bông tuyết. Mặt ông nhiều thần sắc, hồng hào như thể vừa giã từ một lò sưởi có lửa reo quây quần tí tách. Có nghĩa là ông ấy tuyệt không thấy lạnh khi đứng đơn lẻ giữa cái hàn khí sâu dưới 10 âm độ. Khi một kẻ vừa tìm ra lẽ sống đích thực, e rằng kẻ đó cũng mang đủ thứ bộ tịch coi trời bằng vung tựa thế. Ông bác sĩ nói với cô trợ tá: Tôi cá cược với cô, nếu bất đắc dĩ phải vào nhìn lại mặt chúng ta, ông ấy phải tiêu vung tay suốt năm dài không ngần ngại rồi hẵn tính. Tôi ngờ rằng ông ta đang hồi xuân.

Hồ Đình Nghiêm

Mùa hè không trở lại

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

– Mày có muốn chơi super xếch không?

M hỏi tôi. Bức tường vôi trước mặt đang đổi màu. Mưa tí tách, sợi nhỏ và chúng tỏ ra kiên trì dệt kín tấm màn xám. Đầu óc tôi như có gió lùa, mọi ý nghĩ không bám được. Chỉ một dấu hỏi trơn trợt: Bao giờ trời ngưng mưa? Chữ “xếch” mà M nói khiến tôi hoang mang. Chúng tôi đang ở Q. Thành phố này nói tiếng Pháp và họ buộc di dân phải học hỏi thứ ngôn ngữ ấy. M nói ngoại ngữ trật vuột như con két lột lưỡi và tôi là con nhồng bị bắt ăn ớt cay. Bọn tôi như có thần giao cách cảm. Muốn hiểu, người nghe phải sử dụng nhiều giác quan. Có khi, M làm cho những giác quan ấy mất đi sự bén nhạy để thế vào một nỗi thèm muốn không thốt nên lời. Tôi từng ray rức.

– Đưa hai đồng nếu mày muốn chơi.

Sau cùng thì tôi hiểu. Xếch là số bảy theo miệng lưỡi của M. Super Sept là một thứ lotto mà lô độc đắc có khi lên tới 45 triệu đồng. Lãnh cú một, nguyên con. Và khi ấy, chẳng biết điều gì sẽ xảy tới. Đứng tim? Tai biến mạch máu não? Hoặc bình tĩnh ngồi viết chúc thư, chia gia tài cho ai đó? Tôi moi túi quần. Luôn luôn, có trong đó là những đồng xu lẻ, hoặc tiếng kêu của chùm chìa khóa khiến mình lầm tưởng ta là kẻ rủng rỉnh tiền bạc.

– Mày ưa những số nào? Lựa đi.

– Hãy để cho máy định đoạt số phận.

– Được.

M cất tiền vào túi quần. Chúng tôi đều mặc jeans xanh. Thụng thịnh, dơ bẩn. Đầu gối dính đất, lai rách toe. Nó chứng minh cho người mặc nó: Thành phần lao động lam lũ. Và hạng người đó thì chẳng bao giờ dìm chết sự ước mơ. Mơ ước là cái phao, bấu chặt nó để trôi qua bể khổ. Liệu người ta có thể sống được không, nếu thiếu nó?

– Tin khí tượng đã đoán sai. Đêm qua, trước khi ngủ tao có xem TV.

M nói. Cô khởi sự thắp điếu thuốc thứ hai. Tôi mở túi vải, lôi ra cái Thermos lớn óc ách lít cà phê pha sữa đậm đặc. Cà phê nóng và nỗi lạnh ẩm đang lùa qua hàng hiên hà tiện mái che đầu. M nhăn mặt khi uống. “Cà phê này luôn mang đến nguồn sáng tạo”. Họ in hàng chữ ấy ngoài bao và đó là hình thức của sự lừa bịp. Cà phê đến từ Việt-nam, hàng chữ viết tiếng mẹ đẻ và sau hết, tôi là một đứa nhẹ dạ. M nhăn mặt, chứng tỏ vị giác tôi chưa hư hỏng. Dở, không ngon, đã có thêm người cầu chứng.

Chiếc xe bus màu vàng không ghé ngang. Chúng tôi tự hiểu, cánh đồng dâu chín đỏ những trái mọng sẽ được an thân dầm mình trong mưa, thôi bị những bàn tay tàn bạo bức hái. Muốn hái bức bạn phải bò lê bò càng. Lưng, đầu gối là hai nơi “phát biểu cảm tưởng” sớm sủa nhất cho cái ê ẩm đến cuối ngày. Nắng đổ xuống, hoa cả mắt. Và khi ấy tự dưng trong đầu nhớ lại chữ strawberry sea mà ai đó dùng để dịch câu thơ Kiều: “Trải qua một cuộc bể dâu”. Một thứ khôi hài đen làm mình phải đau đớn lòng.

Nông trại có một thông cáo ngầm, bất thành văn tự: “Mưa, đóng cửa”. Chúng tôi đứng đợi xe đón đã hơn nửa giờ bởi tưởng mưa đám mây, như mèo đái. Nắng sẽ lên, những hình nhân đen đúa như lính tác chiến sẽ dàn đội hình hàng ngang, mũ mão chỉnh tề đi chinh phục và thu hoạch mùa màng. Hoặc không thì hình ảnh ấy tựa như đám lao công đào binh bị lùa ra gỡ những trái mìn giăng đầy trên cánh đồng choáng váng nắng và gió.

– Làm gì bây giờ?

M hỏi. Tôi tạt chút cà phê còn sót nơi nắp nhựa, vặn úp nó lại vào vị trí cũ. Bỏ vào xách và đeo quai vải lên vai. Trong ấy có chứa hộp cơm, một trái chuối, hai mẩu bánh ngọt, kẹo cao su, chai nước suối và cả tăm xỉa răng. Một người chồng đi tới bảo sanh viện thăm nuôi vợ cũng không thể trang bị đủ đầy, chu đáo được thế.

– Có đẻ ra sáng kiến gì không?

– Trước tiên, chúng ta tìm nơi để chơi vé số. Còn quá sớm để nghĩ tới những địa điểm khác.

– Đi trong mưa?

– Hề gì. Nô-brồ-lem-mồ.

M nhún vai sau câu nói. Cô dạn dĩ đi mở đường. Da đỏ au, bóng láng. Cơ thể nẩy nở ngang lằn mức cuối, sang một bước nữa là trở thành xồ xề. Có thể dùng chữ rắn chắc, hoặc dáng dấp ấy trời sinh ra cốt để lao động chân tay, chẳng ke việc khó và có mệt mỏi thì biết dấu nhẹm, không kêu ca. Đi bên M tôi cảm thấy an tâm. Một nỗi an tâm rất đáng hổ thẹn. Cô tựa một con gà mái quyết sống chết với chim ưng để bảo vệ những gì có dưới đôi cánh xoè ra che chở. Nếu M sinh nở, có thể cô đẻ cả chục đứa cũng không ngán. Lưng ong, mình dây, hồng diện… Gì nữa? Những chữ mà ông bà mình tự đặt ra để rồi coi đó là tiêu chuẩn nhằm phê bình hoặc tán dương đứa con dâu. Tóc M dầy, rậm rạp, sợi to, quắn, rối, bện lại từng lọn một cách tự nhiên. Có lẽ đó là một mái đầu tự tấm bé đến lớn khôn đã chẳng hề biết mặt ngang mặt dọc một cái lược với răng dày răng thưa. Vợ tôi khác hẳn, da trắng xanh, gầy người, tóc mượt mà đổ xuống ngang eo. Eo nhỏ, da mỏng, thấy được những đường gân máu mờ chìm chạy khuất xuống mông. Hình ảnh luôn hiện ra ở mỗi một hồi ức là khuôn mặt nhăn nhó không có máu. Máu thoát giữa đôi chân run rẩy bước. Hành lang đen, bóng điện vàng đục treo trên cao như con mắt của một hung thần độc nhãn ngó xuống đám đàn bà đi quờ quạng tựa những oan hồn. Y tá bắt đi lui tới để dễ dàng cho việc sinh nở. Cắn răng mà đi. Đồng ý. Nhưng người làm vệ sinh, họ nín thở lau chùi đoạn xi măng trơn láng đó với cái ý nghĩ máu lầy lội này giống như có ở tầng đầu địa ngục. Hãy húp chén cháo lú đi em, anh nguyện sẽ đi biển cùng em tới cuối cơn đau vợ chồng. Đứa con so ra đời. Đem lên bàn cân, rỏ nước, kim chỉ hai kí lô tám. Đóng cho nhà thương ba kí gạo, một nạm tiền và sản phụ được ăn cơm trắng với canh rau muống. Nước lợn cợn nồng mùi ruốc. Những cọng rau như tóc của một kẻ chết trôi. Khi xuất viện chẳng tìm được xích lô, họ sợ điều xui xẻo gì đó ám vào xe nên thẳng thừng từ chối. Mẹ bồng con ba ngày tuổi ngồi không vững phía sau và chiếc xe đạp lạng quạng đi qua những con phố mất điện lúc nhúc người ngợm mộng du tuá ra đường. Chúng tôi như diễn viên trong đoàn xiệc biểu diễn trò ú tim. Ý chí của mỗi người đã giúp cho lần vượt cạn ấy không xảy ra tai nạn. Thời điểm đó chỉ có vú của mấy con mẹ Liên-xô mới chứa nhiều sữa, như ai đó chua chát nhận xét. Tôi bán chiếc nhẫn vàng, mua lon sữa bò đầu tiên mang về nhà khui ra để thấy cát mịn long lanh đùa cợt chảy. Có lẽ dã tràng sẽ chết nếu nó ẩn trốn trong đó. Phố trưa hầm hập nín thở dưới nắng. Loa phát thanh treo ở góc phố rỉ rả chảy ra bài hát lạ lùng: “Cuộc đời vẫn đẹp sao…” Vợ con tôi vẫn còn cặm cụi với cuộc đời đẹp đẽ chốn ấy. Đứa bé đã bỏ học, sáng suốt tự quyết định thôi đến trường. Nó viết thư gửi sang, có những chữ làm tôi ngờ nghệch: “…Nhất cự ly nhì cường độ… Xin Ba một cái váy siêu ngắn, đồ xịn để khỏi đụng hàng, bạn gái con cũng đủ đầy điện nước như ai…” Tôi thực sự không hiểu, và muốn chận đứng nỗi đau tôi chỉ biết la lên một chữ: Fuck! Tôi đi hái dâu, hai ngày cuối tuần, lãnh tiền mặt. Tôi dành dụm cho viễn ảnh đoàn viên. Mai này, nếu gặp điều bất ưng, con tôi cũng sẽ chửi: Merde! Nhưng được như vậy nghe sướng tai hơn thứ ngôn ngữ đương đại ở quê nhà. Đương đại? Nó có bà con xa gần với chữ hiện nay không? Ông Trung quốc như Thái sơn, bóng dáng bề trên phủ chụp xuống hình hài eo xèo của một vùng đất nhược tiểu. Muốn phản kháng, người ta phải biết tự đặt điều, và như thế, sử sách đẻ ra nhân vật Thánh Gióng đầy hoang tưởng. Nhiều đêm tôi nằm mơ, thấy Tôn sĩ Nghị cùng Thoát Hoan thay phiên xé nát áo quần, hiếp dâm tơi tả Trưng Trắc Trưng Nhị. Nhân sâm, xam xập dị, lẩu dái dê làm những thằng người ấy sung như mưa dầm lâu tạnh. Con rồng cháu tiên đành phải dạng chân ra hứng chịu ơn mưa móc trút xuống. Khóc than trong tủi hờn và rên rỉ trong nỗi thống khoái đầy thỏa hiệp.

Cánh cửa có gắn chùm kim loại ở trên kêu rộn ràng khi cửa mở. Nó giúp người bán hàng phải chú ý kẻ vô người ra. Có tấm gương tròn gắn ở góc, nhìn vào tôi thấy M và tôi dị dạng như hai đứa đến từ một hành tinh xa lạ. Cơ thể lùn tịt, anatomie gãy đổ, trong khi cái đầu thì bề thế một cách quá lố. Tai mắt mũi họng đều dị hợm như kết quả ắt có và đủ do một vị bác sĩ nóng tay ở thẩm mỹ viện tạo nên. Nếu tôi dí súng vào người đàn ông Đại-hàn đứng sau quầy trong khi M nhanh tay vét hết những ô đựng tiền. Cảnh sát đến lập biên bản và nếu họ căn cứ tấm hình chụp trung thực từ tấm gương chiếu yêu này, họ không tài nào bắt giữ được bọn tôi. Không. Nó đã phản bội chủ, nó phản ảnh một dung nhan sai sự thật, chẳng hiện hữu ở cuộc đời này.

– Siêu xếch. Bốn đồng.

M dóng tiếng. Người Đại-hàn dòm chúng tôi. Đôi mắt nhỏ, mí sưng húp nhưng tia nhìn tựa mũi phi tiêu bén nhọn, lạnh lẽo. Soi mói như tự đặt dấu hỏi: Chúng người gì? Hàn quốc ta quyết không có màu da cháy nắng như bọn khốn đốn ấy. Chúng biết thưởng thức thịt chó không? Mai này bọn tớ có xuất khẩu thịt chó đóng hộp đấy. Ngon, thơm, thượng hảo hạng. Made in Korea. Tôi từng kể cho M nghe dân tộc hùng mạnh nước tôi siêu đẳng trong vấn đề ẩm thực. Bò cạp châu chấu dế giun cóc nhái chuột rắn thảy đều xơi ráo. Và lần đó M phun cả đống mì sợi xuống vạt đất tương đối có bóng mát nơi cánh đồng dâu hoang dã. M là một người nhạy cảm. Cô sẽ mửa mật nếu tôi đưa tiếp bảng thực đơn dài lê thê trên từng cây số. Tôi biết thẹn thùng dấu nhẹm không lôi thịt chó vào. Con vật tượng trưng cho lòng trung thành đối với loài người. Người ta đã bạc tình phụ rẫy nó. Ánh đao loang loáng tàn nhẫn chặt xuống. Nó chảy những giọt lệ trước khi nhắm mắt. Cầy ơi, nhân tính là gì? Là một vật mơ hồ đã bị trôi sông!

Đồng hồ ở tiệm tạp hoá chỉ số tám. Nó eo hẹp cho kẻ này và rộng rãi đối với kẻ khác. Sự khó hiểu về chuyện sớm muộn vẫn ẩn chứa ở trong vòng quay từ tốn ấy. Thời giờ là vàng bạc, một thứ định nghĩa rất hàm hồ. Hãy đốt cháy ngọn nến khi bình minh và thổi tắt đốm lửa đó khi chiều tàn. Tôi mua một gói thuốc, cọng với hai vé đi xe bus. Tiếng lanh canh của cái phong linh reo trên đầu. Mưa nặng hạt hơn trước, tôi che gió để tìm chút hơi ấm nơi khói thuốc. Có thể nó xua tan nổi buồn ẩm ướt đang giăng đầy ngoại vật, đang đọng vũng trong người tôi. Tờ hai mươi đồng đưa ra. Bàn tay trăn trở dưới ánh mắt đặc thù Đại-hàn, sau cùng ông ta đưa vào máy để kiểm tra thật, giả. Tờ bạc đó có giá trị ngang với một thùng dâu lớn mà bạn phải nhanh tay hái trong ba bốn tiếng liên tục. Nỡ lòng nào người ta trả công sức ấy bằng một tờ bạc giả? M dành điếu thuốc từ tay tôi.

– Từ đây về nhà moa mất nửa giờ. Tám giờ rưỡi, có lẽ nó đã ra khỏi cái tổ ấm ấy.

Đề nghị thoát cùng khói thuốc, nghe có vẻ hợp lý. Bởi muốn đến chỗ tôi trú ngụ phải sang xe đổi métro hai ba bận. M ở chung với cô bạn gái và họ có giao ước với nhau, tuyệt đối không dẫn kẻ lạ vào nhà. Điều ấy cũng dể hiểu. Tổ của đôi chim sẻ thì quạ hay diều hâu lai vãng tới là chuyện nguy hiểm, nếu trong mắt bọn họ đàn ông là loài chim khó thương kia. Trong mắt M tôi là con cu cườm hiền lành, rụt rè. Chim xa cành thương cây nhớ cội. Chúng mình đều là hạng người đắp chung một tấm chăn và trong ấy có rất nhiều rận. Đúng không? Có lần M đã nói thế. M không đẹp. Và tôi hiểu, đôi khi nhan sắc của một người đàn bà chẳng là gì cả. Có những giá trị tiềm ẩn, rạng ngời nằm đàng sau nét thô kệch nặng nề kia. M đi may ở hãng Wonderbra chuyên sản xuất đồ lót phụ nữ. Bị sa thải và chúng tôi đã gặp nhau trên cánh đồng dâu ở cao điểm những vụ muà sai trái.

Xe buýt mang chúng tôi đi qua những con đường dằn xóc. Cửa kính mờ mịt, nước mưa vẽ run rẩy trên đó, khuất lấp chân dung sầu muộn của khu phố dở dang công trình xây cất, ngỗn ngang gạch đá như nỗi lòng của một đứa vô gia cư.

– Nếu trúng số tao sẽ mua một cái condo ở đây. Tao thích những con số chẵn, đại loại như 2, 4, 6, 8… Khi ấy mày sẽ ở căn đối diện 3, 5, 7, 9. Ô kê?

M có cặp mắt to, long lanh khi nói câu đó. Giống như trẻ con, tôi hưởng ứng nhiệt tình trò chơi mộng mị kia. Mình sẽ mua đứt cánh đồng dâu và trả cho nhân công một số lương hợp lý hơn. M cầm tay tôi, đan ngón. Tôi nhìn xuống để không nhận ra đâu là ngón của tôi đâu là ngón tay M. Chúng hoà đồng trong màu da, kích thước và kể cả vết trầy trụa hằn dấu. Nhám nhưng ẩm, nóng; và sự bồi hồi bị chộp bắt, nhốt kín trong đôi bàn tay.

Xe vòng qua một ngã rẽ chật chội, độ nghiêng gắt gao của nó khiến M rơi vào lòng tôi và M lười biếng để mặc cho tôi ôm giữ bờ vai tròn đầy của cô. Hương từ thân thể M hắt vào mũi, nửa nồng cay nửa dịu ngọt. Hai thứ đó đánh thức ở tôi một nỗi khát khao, như bạn xa quê đã lâu, miệng thèm nhai lại một món ăn mà tuổi trẻ vẫn ao ước. Nước bọt ứa ra trong miệng. Tôi nuốt nước miếng, nhìn đôi mắt M nhắm kín. Một bờ môi dầy, một đường khe chia lià đôi vú đầy đặn và đều đặn nhịp thở. Xuống khỏi nhấp nhô là lỗ rốn sâu, cái nút đồng nơi lưng quần jeans sáng chấp chới, những sứa vải bạc màu hằn thành nếp hình chữ V. Một mẫu tự bất biến từ ngàn đời có khả năng gieo cho con người tất cả những bất hạnh cũng như vô vàn những sướng sung. Nó là cửa mình mà bạn và tôi lòi đầu ra chào cuộc đời bằng khởi thủy là tiếng khóc định mệnh.

– Đến rồi.

M nói khi mở mắt. Tựa kẻ mù loà nhận biết nơi mình an dưỡng bằng những tín hiệu riêng. Tôi là đứa sáng mắt, phút giây đó tôi nhận ra ở cử chỉ M biểu lộ những vụng về đáng yêu. Cô tìm chià khoá có hơi lâu. Cô ngó ngược trông xuôi và nét mặt thì dường như che phủ điều gì đó. Gượng gạo, mất tự nhiên, đánh rơi tự chủ.

– Vào đi.

M nói trong hơi thở đứt đoạn. Tiếng nói yếu, mường tượng như một kẻ vừa bơi qua khúc sông rộng. Hơi thở M làm tim tôi đập vội. Mình có thể chết đuối không? Vọp bẻ, buông xuôi mọi kháng cự, mặc cho cơn lũ cuốn đi? Cánh cửa đóng lại gây một tiếng động không nhỏ. Nó lớn, đủ để đánh thức ai đó đang say giấc nồng. Không còn ai trong nhà, đúng như dự đoán của M. Mưa dính ướt áo quần làm cơ thể chúng tôi bốc mùi. Mỗi đứa có riêng một thứ. Mùi cái và mùi đực. Cái mở TV. Đực đứng ngó quanh căn phòng ủ đầy bóng tối. Giọng tường thuật của xướng ngôn viên trên màn hình như một nhân vật thứ ba chợt hiện ra giữa hai đứa. M đã tìm được sự quân bình, cô tỏ ra nhanh nhẹn trong việc thu nhặt những đồ vật bày biện không đúng chỗ.

– Ngồi xuống đi.

Tôi không thích coi TV. Tôi lựa một chỗ quây lưng với màn hình nhỏ. Có vài tấm ảnh đóng khung treo trên tường, mù mờ những nhân dáng. Tôi đặt cái túi vải vào góc phòng, bên chậu cây khá rậm lá. Cây xứ nhiệt đới, trông quen thuộc nhưng tôi không nhớ tên gọi.

– Uống gì không?

– Thôi, mất công. Moa còn cả bình cà phê. Ăn bánh ngọt không?

– Ngồi đợi một lát moa đi thay đồ. Cần khăn lông không?

M đi lui sau. Hành lang nhỏ, ngắn. Cái điện thoại bắt ở đó, máng trên vách, sợi giây xoắn xít của nó rung động khi M đi ngang. Có con số dễ nhớ nhất cho tất cả mọi người: 911. M sẽ bấm số ấy trong hốt hoảng nếu tôi vật cô ta xuống… Ý nghĩ kia chạy vội trong đầu tôi, dẫn theo hình ảnh một M lõa lồ nằm lăn lộn chòi đạp dưới nền thảm màu xám bẩn. Hằng đêm tôi vẫn mơ thấy vợ tôi, những ý tưởng không mấy đẹp về người đàn bà một con đang sống lao lung ở chốn xa. Ám tối của cô đơn, khát khao bình thường của một cơ thể thiếu vắng sự mơn trớn… mọi thứ đâm chồi nẩy lộc vào đầu tôi tạo thành nỗi ngờ vực về lòng thủy chung. Tôi không có kinh nghiệm gì nhiều về thứ biến đổi tâm sinh lý kiểu ấy, nhưng gần M, cái thân thiện cởi mở của cô làm tôi có khi phải bần thần trong hoang mang. Mê muội nghĩ suy, sật sừ một cảnh sắc luôn bị sự hoen ố chắn lối.

– Lau đầu đi.

Chiếc khăn tắm khổ lớn phủ chụp xuống đầu tôi. Trắng tinh, thơm tho. Tôi vo chậm rãi những sợi tóc ướt với cái ý nghĩ mình đang phải chịu tang cho một nỗi mất mát nào đó. Tựu trung thì những đứa tị nạn, có đứa nào lòng được thảnh thơi? Chúng luôn chạm mặt với những hư hao, không hình thức này thì hình thức khác. Khi thôi trùm khăn, tôi thấy M trước mặt đã là một M khác. Áo thun sạch sẽ, quần cụt mát mẻ, da dẻ chẳng có ghẻ.

– Cười chuyện gì?

– Chưa bao giờ moa hình dung ra cái dáng dấp đích thực của toa như giờ này. Áo quần lao động làm giết đi vẻ trẻ đẹp của toa.

– Đừng xạo. Nếu mày mặc trên người bộ áo quần như tao đây, trước sau mày vẫn là thằng người hiền lành mà tao muốn làm bạn.

– Không thay đổi?

– Tại sao lại đổi thay?

– Có người rất đẹp khi trần truồng và ngược lại có kẻ thật xấu xa khi thoát y.

– Đừng làm sai lệch vấn đề.

– Đó là một cái nhìn đúng đắn. Nghiêm chỉnh để nói như vậy.

M giật lấy cái khăn tôi đang nắm chặt. Sự giằng co làm tôi phát hiện đằng sau áo thun của M phơi bày tỏ mờ thứ mà trẻ con vẫn khóc thét đòi được ngậm mút khi đói lòng. Đầu vú nâu, bầu sữa trắng phau vun đầy. Tôi không thấy nó khác biệt mấy so với những thiếu nữ có trong họa phẩm của Gauguin. Nói tóm, đường nét đó gây cho mình sự cảm nhận: Biểu tượng một cơ thể khỏe mạnh, sung mãn. Văm cũng cùng một nghĩa như nhau. Tôi đứng lên ôm lấy cơ thể nọ trong vòng tay siết cứng. Tôi hôn ở cổ M, ở cằm, ở má và ở bờ môi đang hé mở. Tôi nếm được vị ngọt, nhấm nháp chẳng được lâu.

– Đừng làm thế.

– Tại sao đến lúc này toa không nói nô-brồ-lem-mồ?

– Hãy đến đây.

M kéo tay tôi tới đối mặt với những tấm ảnh. Đa phần chúng đều đóng khung một khuôn mặt đàn ông. Tóc ngắn, cằm bạnh, râu ria, mắt linh hoạt, thân thể cường tráng, ở bắp tay trần có xâm một mẫu tự: M. Hoa lá cành quấn quýt.

– Chồng tao đó. Giấy tờ đã hoàn tất năm ngoái, sự đoàn tụ sẽ tới vào cuối hè này. Sẽ chọn một cái nhà thờ nào đó. Và nhất định mày sẽ nắm một cốc rượu sủi tăm trong tay. Ô kê? Nô-brồ-lem-mồ?

– Cuối hè…

– Ừ, mùa thu. Heo may tới cùng lá vàng, a-mi-gồ ạ!

Tôi ngó sâu vào đôi mắt M. Tôi muốn M nhìn rõ nỗi thất vọng của tôi.

– Chuyện gì vậy?

– Chúc mừng.

– Đừng dối lòng nhé. Chúng ta vẫn là bạn tốt với nhau.

M lấy từ đâu ra cây đàn guitar. Cô ngồi xuống sofa, những nốt nhạc từ tốn lan chảy ra, loãng tan. Cô cất giọng hát, hồn nhiên. Ngôn ngữ quê nhà vùng nam Mỹ xa xôi. Bài hát buồn, tôi cảm nhận vậy. Nó tượng trưng cho chia lià hơn là đoàn viên. Mất mát hơn là đón nhận. Âm nhạc không hề là liều thuốc làm dịu thần kinh. “Cuộc đời vẫn đẹp sao” là một thứ khí cụ dùng để tra tấn con người, như một mùa hè nào đã chìm khuất mà tôi muốn vùi quên, chôn sâu.

– Anh ấy cất công dạy moa đàn hát. Bài ca nói về sự gặp gỡ của từng nhánh sông.

– Sông nào cuối cùng cũng trôi thân ra biển rộng. Sự gặp gỡ của tụi mình đã mang sẵn mầm phân ly. Đúng không?

– Đừng dỗi hờn. Mang toa về đây, chừng đó không đủ nói lên cảm tình của moa sao?

– Moa cứ ngỡ chúng mình đánh dấu mối quan hệ này bằng một hình thức khác.

M buông đàn xuống, giã từ đô rê mi fa sol.

– Muốn gì? Lại đây đi. Nằm đè xuống người moa. Hì hục, toát mồ hôi rồi sau đó toa được những gì? Cái mà toa được là mặc cảm phạm tội. Đúng hay sai?

– Thôi, chớ nói nhiều. Trời ngưng mưa chưa? Mấy giờ rồi?

– Tính ra về đó à?

– Hãy tìm một quán ăn, chúng mình đốt nến ngồi thưởng thức món ăn nồng cay lần sau cùng.

– Là sao? Tao không đi. Khi thất vọng tao chỉ muốn ca hát một mình.

Tôi đeo túi vải nặng nề lên vai, bước lại phiá cửa. Cánh cửa đóng kín, lý ra nó nhốt được những cảm xúc tuyệt hảo khi người ta muốn dâng hiến cho nhau. Cuộc đời bên ngoài chẳng là gì cả khi họ đồng thuận nhắm mắt ăn liều một trái cấm.

– Ngày mai? Chỗ cũ? Nếu nắng ráo?

Giọng M đuổi theo sau lưng, khô khan. Tôi chẳng ngoái đầu, hình dung từng luống dâu tơi tả sau ngày mưa. Những trái dâu bầm dập, rơi rụng bầy nhầy như có ai thổ huyết xuống đất đen.

– Tao bỏ việc. Vô bổ. Thà đau lưng mỏi gối cho thứ lao động khác, đích đáng hơn.

– Bao lâu thì vợ toa sang?

Tôi khựng đứng trước cửa. Tai nghe những bước chân M tiến lại gần. Sau đó là cánh tay choàng ra trước ngực tôi, vỗ về.

– Moa hiểu được cái mà toa đang thiếu. Hãy chiến đấu dũng cảm lên, như moa thường tìm cách để trấn áp nó. Tại sao lại phải làm tình với nhau trong khi bọn mình còn cách giải quyết khác.

– Tình bạn. Đúng không? Trong sạch và cao đẹp?

– Mày thật cố chấp! Và chưa trả lời câu tao hỏi. Bao giờ thì hai nhánh sông sẽ hội tụ?

– Làm sao tao biết rõ điều đó? Mày không thấy sao, mọi chuyện được tác thành đều lệ thuộc vô cả ngàn lẻ một yếu tố?

– Khoan đi đã. Tao có món quà mọn… Cứ xem như đánh dấu mấy tháng quen nhau, nếu mày muốn tìm một lối định nghĩa.

M lôi một ngăn kéo ở cái tủ gỗ có đặt máy truyền hình bên trên. TV đang chiếu cảnh tai nạn giao thông. Xa lộ trơn láng đen mun, xe cứu thương màu vàng và những ánh chớp xanh đỏ của xe cảnh sát.

– Tao không biết kích cỡ to nhỏ của vợ mày. Lấy tạm bốn thứ khác size khác kiểu. Tao mua chúng với giá rẻ hồi còn làm ở hãng đó.

M đưa cho tôi xem bốn hộp giấy. Tất cả đều in hình cô thiếu nữ mặc nịt vú khiêu gợi, phiá dưới có hàng chữ Wonderbra. M thảy chúng vào một túi ny lông.

– Rất tiếc không có gì cho mày cả.

Tôi nhìn vào ngực M. Tôi cố nhớ đến vú vợ mình. Làm sao bạn có thể biết chính xác tầm cỡ quan trọng kia qua những bí số A32 B34 C36 D38?

– Cám ơn.

Tôi nói không thật lòng.

– Lúc nào cũng vậy, hãy nhớ lấy, địa chỉ này sẽ rộng cửa đón mày tới báo tin vui.

M ôm tôi, hôn nhẹ vào một bên má. Ở ngực tôi một vật thể mềm mại đang áp chặt vào. Rung động và cuối cùng là nỗi trống lạnh uà tới. Như thủy triều dâng sóng, xoá tan đụn cát ẩm.

Trời mưa lai rai. Tôi che đầu bằng những thứ dùng che vú đàn bà. Bụng đói, tôi tấp vào một công viên vắng lặng rã rượi từng lùm cây bụi cỏ. Tôi ngồi xuống chiếc bàn gỗ bày cơm ra ăn. Nhìn lui phiá M ở, tầm mắt giới hạn bởi bụi nước, nhạt nhoà cảnh sắc hư hao. Cơm cũng thế, hạt ngọc của trời chan đầy nước mưa. Em ơi!

Hồ Đình Nghiêm

Mưa bay ngày Tết

phamcaohoang

Hồ Đình Nghiêm

Post 17 Feb 2018

Post by Sơn râu 5 Jan 2024

Hoa mai – Ảnh: Google image

O tròn như quả trứng gà. Không, o không tròn, o mỏng người ốm nhom. Ô thời đội mũ ơ thì thêm râu. O không có râu, dĩ nhiên. O không có mũ, o chỉ đội chiếc nón lá cũ chẳng đọc rõ bài thơ dấu che. O cắp cái bị lát lỏng lẻo, thứ hành trang nhẹ hẫng dù trước đó o run tay nhét vội vào hai bộ áo quần Mạ may cho.

O đi ba bước ra vuông sân ngập nắng, nghĩ sao o quay lui, lạc hồn như để quên bên hiên nhà một vật hệ trọng. O quì gối cho ngang tầm đứng nghệch mặt của thằng người gỗ. Chị đi hí, em ở nhà mạnh giỏi. Mắt o đỏ, lấy tay áo lau vội bên ngoài con ngươi sầu muộn. O có chiếc khăn tay thêu chỉ hồng một cánh én đang bay ở góc, nhưng nó lỡ thế cái bóp để cuốn chặt những tờ giấy bạc Việt Nam Cộng Hoà in hình Lê Văn Duyệt, Quang Trung. O nhét đồng tiền liền khúc ruột ở lưng quần, sợi giây thun luồn vào làm thắt lưng có hơi chặt chịa khiến da quanh bụng o phải chịu hằn dấu, y như có con rết nhiều chân ửng đỏ bám chặt, không rời. O ôm lấy thân tôi phỗng đá dại khờ. Ngực o rung động, chễnh mảng để lộ phần da thịt làm tôn tạo vẻ đẹp nơi sợi giây chuyền bằng vàng có luồn vào miếng ngọc Phật bà Quan Âm mà Mạ tôi dùng làm món quà trao trước phút tiễn biệt. Em đừng buồn nghe. Miếng ngọc xanh lên nước, giọng o cũng úng nước khiến mắt tôi ướt át. Một khúc củi mục vướng mắc bên con nước chảy xiết, xuôi đổ về hạ lưu.

Mạ tôi từng nói: Hắn còn dại ngỗ lắm, tiếng là 16 rồi nhưng thậm thụt có biết chi mô, rứa chơ cũng bày đặt đi lấy chồng như thiên hạ. Ở ngoài làng tình hình loạn lạc bom đạn tơi bời, nói dại miệng điệu ni chẳng chừng hết còn ngó ra nhau. Làng quê o ở xa, o thủ thỉ bên tai tôi: Chị đi đò nửa ngày quá giang rồi lên bờ bắt xe đi tới chạng vạng mới đụng đầu luỹ tre xanh. Tâm tình nhỏ xíu rứa mà Mạ tôi nghe được: Cái con ăn nói mới lạ, ưa nhảy lò cò bỏ băng, mi phải đội nắng đi qua một cánh đồng cát trắng nổ con ngươi, băng ngang một đồi sim, hết một bãi tha ma còi cọc mới đặt chân vô làng. Luỹ tre xanh mọc ở chỗ mô? Được trớn, Mạ tôi vây khốn: Rứa mi đã thấy mặt hắn chưa? Vẫn nắm lấy đôi bàn tay tôi, o ấp úng: Dạ chưa, mặt ngang mặt dọc ra răng con chưa từng chộ qua. Nghe ba con nói anh là địa phương quân, củ mỉ cù mì thiệt thà như đếm, ít ăn ít nói sáng tối chỉ biết súng là vợ đạn là con. Mạ tôi phán: Cả gan! O thưa: Dạ nhờ trời.

O sẽ lấy chồng, o sắp bỏ tôi đi mất biệt. Tôi ghét những chữ như người ở đợ, đầy tớ, con sen, vú nuôi… Trước sau o vẫn là người chị thân thuộc sớm tối kề cận tôi, van lơn tôi ăn cơm lạy lục tôi đi tắm. O biết dấu những món ngon dưới đáy chén cơm để tôi oà vỡ tiếng cười hiếm muộn. O thức canh khuya để kể chuyện đời xưa, o sẵn sàng dẹp hết mọi công chuyện để lấy kim chỉ may vá áo quần tôi lỡ gây tai nạn toạc rách. Và o độ lượng chẳng la hét khi tôi bất chợt ngó ra cảnh o thay đổi xiêm y lụa là da thịt ngời sáng. Sao người o luôn biết thu cất một bí mật để biến nó thành một hấp lực khôn nguôi. Căn bản, đó là những khác biệt rạng rỡ mà con trai tuyệt không sở hữu được. Và tôi đang hụt hẫng ngó dáng o mờ xa. Tôi khóc mà o không nhìn nhận. Tôi buồn chạnh lòng mà chẳng ai hay.

Có dạo anh tôi, người đóng vai gia sư quyền huynh thế phụ đã khiển trách khi nhìn ra bài luận văn “đầy sai lạc” của tôi với bút mực đỏ mà cô giáo khó tính phê: Lạc đề. “Hãy tả một người em thương yêu và trình bày những cảm nhận của em về người đó”. Có buồn cười không khi tôi đã sa đà đem hình bóng o ra để thêu dệt mộng mơ? Dạ thưa cô, dạ thưa anh, rứa em bị lạc đề ở chỗ mô? Một người từng kề cận mình, ăn cùng mâm ngủ cùng chiếu, bất kể người đó đóng vai vế gì, không khiến lòng dạ mình đâm quyến luyến sao? Thương yêu có năm bảy đường và đường nào cũng đáng trân trọng nếu người ta còn biết mang tâm tưởng để nói ra đôi lời ngợi ca chân tình.

Dần dà theo năm tháng lớn khôn tôi đã bội bạc quên bẵng o. Trí nhớ như một bến nước cứ mãi bị phù sa lấp đầy, biến dạng. Sự phủ lấp chẳng cưỡng lại được khiến mỗi hồi ức tựa công dã tràng khi muốn gợn đục khơi trong. Mù mờ một nhân ảnh, một bờ vai gầy, một đầu tóc rối, một đôi vú nhỏ, một tượng ngọc xanh biết nhảy múa, một giọng nói thiết tha, một vỗ về đêm hôm trái gió trở trời, một… cơn gió thoảng. Lau sậy ven sông xao động, xác xơ, ngớ ngẫng trông theo dòng nước đục trôi băng, nhấn chìm một khoảng trời xanh đầy an lành thuở niên thiếu.

Bạn học cùng tôi dạo ấy đa số đều chóng trưởng thành, chúng chai mặt lì lợm đi ve gái, chúng biết nhín tiền quà sáng để mua thuốc hút sành điệu thổi khói vòng tròn xuống mặt bàn thành hình tim vỡ, chúng ưa ngồi ở quán cà phê mặt đăm chiêu suốt buổi. Chúng hát theo bản nhạc phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên vừa trổi lên:..”thi hỏng tú tài ta đợi ngày đi…”. Chúng lập ngôn một câu nghe chẳng mấy thuyết phục: Học tài thi phận. Và đứa nào cũng rất tin chuyện dị đoan, chúng nhất quyết ngó lơ quán bún bò mụ Rớt để đổ xuôi tìm tới quán mụ Đỏ chuyên trị bánh bèo bánh bột lọc bánh nậm. Chúng không ăn chè nhãn bọc hạt sen, chè bắp mà lựa toàn chè có dính tới chữ đậu. Đậu xanh đậu đỏ đậu ván đậu ngự. Mười thằng như chục sợ thi hỏng tú tài, sợ vào quân trường sợ xa kiếp sách đèn và sợ xa người yêu “đau lòng ta muốn khóc”. Trong mười thằng, có thằng mết tôi nhất để rồi hắn không ngớt nhồi nhét vào đầu tôi một thứ lập luận rất đỗi phản động: Hai đứa mình phải để dành tiền để làm cuộc cách mạng bản thân. Mi biết không, đi chơi đĩ là một cách xả xui linh nghiệm nhất. Sắp tới ngày thi rồi, gạo bài hoài cũng phờ râu, đợi một đêm trăng thanh gió mát tau dắt mi chui vô động hoa, chuẩn bị tinh thần là vừa đó mi. Đôi ba bữa sau, cóp nhặt nguồn tin thất thiệt nào về, hắn to nhỏ: Mi phải mở con mắt ra dòm chừng, con gái mà chỗ chết người kia không có mọc tóc thì liệu kiếm cớ bai bãi khước từ, dính vô là xui tận mạng đó nghe mi. Bao nhiêu kinh sách bài vở mãi tụng tự nhiên mất sạch sành sanh, đã thuộc nhừ như cháo bỗng trở chứng biến thành miếng cơm cháy cạy hoài không ra, thi hỏng là cái chắc, không lôi thôi trời ơi đất hỡi than thân trách phận gì ráo trọi. Hắn không cảnh báo an toàn bệnh tật chấn thương giang mai hoa liễu mà một hai cứ vẽ vời chuyện râu ria trắng da dài tóc.

Đêm nọ, trời chẳng trăng thanh gió mát, nực nội và đen tối là đằng khác, hắn tới trước cổng chỏ mỏ vào hú lên tiếng ám hiệu nghe như mèo gào khẩn thiết. Cơm nước chi chưa, thời cơ đã tới, leo lên yên tau đèo đi. Hắn nói, tau vừa giải một phương trình toán học và kết quả cho ra, đúng ngày tháng này sẽ rất thuận lợi nếu muốn hoán chuyển dạng thức từ con trai ra đàn ông. Đừng lo, chắc chắn tụi mình sẽ thi đậu, cho dù chỉ vừa đủ điểm để đậu vớt. Tuy là xe đạp nhưng vận tốc có thể sánh ngang với xe gắn máy, điều này xác quyết chuyện hệ trọng: hắn phấn chấn đặt để niềm tin vào việc xả xui, sớm mong thoát xác. Hắn quên chuyện hệ trọng khác: dồn hết năng lượng vào cặp giò để đạp toé khói, liệu kẻ đó có bủn rủn tay chân? Trong khi tìm tới động hoa, “sụm bà chè” là chữ tuyệt đố kỵ, chưa đánh đã vội nghe mỏi gối chồn chân e đành kíp cởi giáp quy hàng. Hắn thở hổn hển, giờ ni có hơi sớm, nhưng phàm làm việc vụng trộm chớ nên đợi giờ cao điểm. Đông đúc chộn rộn vốn không thích hợp cho bọn mình.

Xe chui vô động hoa, hắn run tay khoá chiếc xe đạp đang muốn trật cóc sút dây sên bên giàn hoa thiên lý. Khung cửa hắt ra sân đất một hình khối xanh lét ánh điện néon. Tuy được đèo chở chẳng nhọc sức nhưng tôi nghe rõ vía mình đang yếu, hoang mang lo ngại. Mùi hoa thiên lý nồng nàn quá chừng, sao xông hương mùi ma quái liêu trai? Rụt rè bước qua khỏi ngạch cửa thì đụng đầu một người đàn bà, chắc đúng là bà Tám chủ động như lời thằng bạn sớm thông tin. Đứa vẽ đường cho hươu chạy thì thầm trình bày lý do sự hiện diện và tôi hoàn toàn xuội lơ giao trứng cho ác. Đã trót leo lên lưng cọp thì việc duy nhất cần tuân thủ là ngồi im re chớ vọng động. Hãy nhủ thầm, qua khỏi cánh rừng hoang dại cọp sẽ vất ta xuống, chẳng đoái hoài xơi mạng con cáy đang niệm thầm tội lỗi tội lỗi.

Sau cùng thì nghe giọng bà Tám trầm bổng: Có hai em ni dáng người thanh cảnh tuổi đời chưa trải e hợp tạng với hai cậu nho sinh. Bước vô mà chẳng hùng hổ bặm trợn thì tui cũng biết lựa ra đối tượng nhu mì đặng vui vầy cho êm thắm canh khuya. Phàm việc đời bất luận nói tới việc mua sắm thì nên đặt tiêu chí tiền trao cháo múc để sau đó được thuận buồm xuôi gió. Học trò học bè tiền bạc không có mấy hột, tui quyết công bằng chẳng đành tâm chặt chém. Con Mộng con Tiên mô rồi, đi ra cho hai cậu coi mặt. Tấm màn vải được vén lên, giống như trên sân khấu từ cánh gà bất thần vụt hiện hai nhân vật chính chuẩn bị diễn tuồng. Thằng bạn dạn dĩ nắm tay lôi đi cô gái vóc vạc đẫy đà, kẻ còn lại mình hạc xương mai ít thịt thà đưa mắt ngó chăm tôi. Đôi mắt buồn, đôi mắt của kẻ luôn chịu thiệt thòi, đôi mắt của kẻ đầu hàng số phận. Đôi mắt biết nói thầm: Cha mẹ sanh em trời bắt xấu. Đôi mắt không biết nhắm trong phút giây, cô mãi nhìn tôi như thể kiếm xem trên dung mạo kia ẩn chứa chút gì quen thuộc. Cô cười với tôi, không cứ là môi, hai mắt cũng biết cười. Đã tới đây sao còn làm bộ làm tịch, vô trong này đi, có ai ăn thịt anh đâu mà phải điếng hồn. Coi cái mặt kìa. Lần đầu tiên hả? Không biết là Mộng hay Tiên? Tiên hay Mộng đã nắm tay dìu tôi vào một địa phận của trần gian tù mù, và chật hẹp. Chỉ có chiếc giường nhỏ nằm cô quạnh, duy mình nó bị vây khốn giữa bốn bức vách gỗ, ngạt thở.

Như một người luôn thực thi đúng với châm ngôn “thời giờ là vàng bạc”, chẳng nói chẳng rằng cô trút bỏ toàn bộ áo quần chỉ trong một sát na. Sát na sau là Tiên là Mộng nằm xuống giường với một chân duỗi một chân co. Không cứ là môi là mắt, toàn thân trần của cô dường cũng biết cười vào sự lúng túng vây bọc lấy tôi. Thôi được rồi, để em giúp cho một tay, anh cởi áo em phụ cởi quần. Vạn sự khởi đầu nan, nếu đã ăn quen bén mùi thì vận sự lại đổi khác, chẳng chừng chính tay anh lột truồng em ra bất kể van lơn. Nói rứa nghe có lọt lỗ tai không? Người chi mà hiền lành, thương hết biết! Đêm hè nhưng tôi nghe lạnh, mát mẻ thì đúng hơn. Như mang vào người thứ võ công cái thế, thoắt cái, cô ảo thuật gia đã thổi biến y phục tôi bay đi. Cô dìu tôi nằm xuống. Thuỷ chung tôi vẫn là hiệp sĩ mù, nhớ lời thằng bạn từng ra thông cáo quan trọng: Hãy tập trung nhãn tuyến vào chỗ ấy, nếu nó không có tóc thì nghỉ chơi. Tôi mở lớn đồng tử, như quang khẩu có trên máy chụp hình, tự điều chỉnh khoảng cách trông sao cho rõ mười mươi vật thể được nhắm tới. Tôi thấy rõ nét vật chẳng muốn thấy: Sợi dây chuyền vàng có móc tượng Phật ngọc đong đưa tòn ten giữa trũng ngực. Quen thuộc quá. Lạ lùng quá. Đúng rồi, là của o. O, giờ này o ở đâu? Tôi nói: Tui hỏi chuyện ni chút? Người bán hoa đáp: Nếu anh ngại, em sẽ cho anh cái áo mưa. Tôi thưa: Tui muốn biết vì răng mà cô có được sợi dây chuyền ni? Cô gái áng chừng nhỏ thua tôi năm bảy tuổi nói giọng đàn chị: Cắc cớ, lộn xộn, nhiều chuyện, không lo nhúc nhích cho sướng thân mà đè chuyện tào lao ra hỏi. Nếu tui muốn mua thì cô tính răng? Tầm bậy, nó vô giá, không đủ tiền mua đâu. Vật gia bảo à? Ừ, của mạ tui cho, đã thoả mãn chưa?

Tôi ngó sâu vào mặt đứa con o để mong thấy lại o ngày cũ. Tôi dùng tay vuốt lại những sợi tóc rối vướng che và với tất cả những động thái nhằm biểu lộ lòng thương yêu, tôi kể cho cô ấy nghe chuyện ngày cũ, về xuất xứ sợi dây chuyền, về nguyên cớ o bỏ căn nhà tôi ở để về làng lập thân. Mạ em chết như rứa là đã bốn năm rồi, nhà cửa sa sút lắm… Tôi ngó giọt nước mắt chẳng tượng hình nằm lấp ló bên khoé, chẳng cầm lòng tôi ôm siết lấy thân cô.

Năm đó, cả hai đứa chúng tôi đều thi đậu, dò thấy tên họ in trên tờ giấy niêm yết trước cổng trường có lắm đứa chen chân. Phải đi ăn mừng, hắn nói. Đã qua truông lọt thì thôi kiêng cử, tà tà tấp vô quán mụ Rớt quất hai tô bún bò danh trấn giang hồ, nhớ bỏ ớt cho nhiều vào, cay thấu trời cho nước mắt trào đi bao dòng lệ cảm xúc. Tôi nói cho hắn nghe, chỉ với một hậu ý, những gì người ta thêu dệt đều xằng bậy cả: Nguyễn thị Tiên, chỗ ấy không mọc tóc. Sau khi nghe hết ngọn ngành, hắn đi tới kết luận: Do đâu mà mi thi đậu? Ấy là do bởi linh hồn O nớ đã về gần, phù hộ độ trì cho mi đó thôi. Ở cuộc đời khó hiểu này, mi nên tin tới một thứ gì siêu nhiên xa ngái chẳng thể giải thích được để an lòng khi gặp vấn nạn. Nhưng mà hiện tại, thi đậu rồi chừ mi tính đơm mộng ước ngày mai ra sao? Tôi nói, tôi chỉ có duy một cơn mộng rồ dại, là làm thế nào có thật nhiều tiền để làm thay đổi cuộc sống của Tiên, mang Tiên ra khỏi vòng vây của chiếu giường. Chỉ ngần ấy thôi. Nói tôi yêu Tiên thì nghe có điên không?

Thằng bạn nhìn tôi trân tráo, có phải là hắn đang đối mặt với kẻ sống ngoài hành tinh? Cận kề, thân thiết mà cũng quá đỗi xa ngái khó hiểu. Hắn hỏi: Ăn xong mi làm chi?  Tôi nhai một trái ớt hiểm, rau ráu: Tau tới động mụ Tám, tau có trình bày lý do và được mụ ấy đồng ý cho phép Tiên dắt tau đi thăm mộ O. Chỉ nhổ cỏ chỉ thắp nhang chỉ khấn vái sơ sài vậy thôi, mai hậu mới tính chuyện cúng kiến hậu tạ tri ân tưởng nhớ. Ừ, nói cũng đúng, sẵn, thưa với mụ ấy: Học trò học bè tiền bạc mô có mấy hột mà sớm tối nướng thân vào động hoa. Cái chi cũng rứa cả, tập đều đặn thì luôn tốt cho sức khoẻ: Cơm ba bát thuốc ba thang, ngày làm đêm nghỉ thầy lang khỏi mời.

Tôi vẫn nuôi mộng cuồng cho tới mùa xuân năm ấy, Tiên đổ bệnh, mời thầy lang nhưng ổng lắc đầu. Phút giây bàn giao cho tử thần, Tiên trao vào tay tôi sợi dây chuyền, Phật bà Quan Âm xanh mét màu ngọc. Ngọc mát, chừng như đá quý biết rịn nước. Tiên muốn được tôi hôn cô lần cuối, được tôi vuốt mắt cô, được chính tay tôi lấy khăn đắp mặt. Tôi ngoan dại nghe lời, mừng thầm là Tiên ra đi nhẹ nhàng, thoát khỏi cái thế giới ám chướng trì nặng. Tôi cũng nhẹ người, thoát khỏi ám ảnh đội đá vá trời quyết giúp Tiên hoàn lương.

Tết run sụt sùi, mưa suốt trên thành phố xám đục. Hai hàng cây dẫn về nghĩa trang câm lặng gục đầu rơi rụng những cánh hoa tím, nhỏ li ti. Mưa rải đều hạt xuống ngày tháng chẳng còn vẹn toàn, ngày ngắn lại đêm dài hơn hoặc đêm ngày đồng loã hoá thân thành mũi tên, cắm sâu từ O, xuyên thâu lút cán tới Tiên, đứa con gái bị đày ải xuống trần gian vắn số. Trời buồn, trời khóc? Tôi ướt nghe ngói, rùng mình.

HỒ ĐÌNH NGHIÊM

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 5 Jan 2024

Bài 33

Phần 32 Tin thăm nuôi đợt đầu vào tháng Mười lan truyền khắp các trại. Cùng với tin thăm nuôi ấy, trại 1 chuyển công tác. Những phần đất mà trại 1 phụ trách lên luống giờ đây đã biến thành một cánh đồng trồng toàn khoai mì dài hút chân trời. Hàng ngày, những đội phụ trách cắm mì vẫn liên tục nhận từng chuyến Molotova đổ xuống sân những thân cây mì già. Anh em ngồi chặt thành từng khúc, cứ ba đốt một. Những khúc mì này sẽ được chuyển sang cho các đội phụ trách cắm mì. 
Bọn Vĩnh ngồi tính quẩn với nhau. Với số mì một ngày kia thu hoạch được nuôi tù hai năm không hết! Và nếu năm nào An Dưỡng cũng chơi một vụ khoai mì như thế, đời bọn cải tạo coi như Amen. 
Dù sao mì đã cắm, khoai đã trồng và công tác mới đã đến; bọn Vĩnh dù muốn dù không lại phải lao vào “Mặt trận cải tạo doanh trại mới”, hoặc đểu cáng hơn “Các anh làm các anh hưởng” nói theo ngôn ngữ của bọn cai tù. 
Công tác hiện tại của B2 là kéo cột đèn. B2 cũng như nhiều B khác, kéo cột đèn dưới sự điều động của hai quản giáo mới. Quản giáo chính mang cấp bậc trung úy, dân miền Nam tập kết tên Hồng. Quản giáo phụ mang cấp bậc thiếu úy, loại răng đen mã tấu nhưng tính tình cũng tương đối hiền hòa hơn bọn răng đen mã tấu trước đây. 
Tay Hồng có thân nhân ngoài Biên Hòa. Hắn có lẽ là người duy nhất làm chủ cả một cái Suzuki. Hồng chiều nào cũng lái xe gắn máy Suzuki ra Biên Hòa khi giờ lao động hết trước những đôi mắt thèm thuồng của bọn quản giáo và vệ binh cùng trại. Khuya lắm hắn mới trở về trại. Người ta đồn rằng Hồng khoái nhậu nhẹt. Nếu lời đồn ấy đúng thì Vĩnh cũng không lấy làm lạ. Sống trong thế giới Cộng sản Việt Nam, chỉ cần quan sát một chút, người ta sẽ rất dễ dàng nhận ra một điều: Dù cũng là Cộng sản, cũng chịu chung một giáo điều do Hà Nội chỉ đạo và giáo dục; bản chất của một thằng Cộng sản miền Nam vẫn khác xa bản chất của một thằng Cộng sản miền Bắc. Nói một cách khác, chúng vẫn không thể thoát khỏi ảnh hưởng của đất lề quê thói, của địa dư, của mức sống… là những cái có tham dự tích cực trong việc cấu thành bản chất của con người. Đặc tính của người miền Bắc thế nào? Phổi bò nhưng thích… lòe! Anh miền Trung tấm ngẩm tầm ngầm đấm chết voi. Còn anh miền Nam? Có lẽ khó tìm được chữ nào chính cho bằng chữ… phè văn nghệ! 
Thế nên, ta sẽ không ngạc nhiên thấy rằng thằng Cộng sản miền Bắc chúng cũng mê rượu như ai, cũng uống rượu như ai; nhưng khi uống xong rồi, nó xúc miệng thật sạch, hà cho hết hơi rượu rồi ra đứng trước quần chúng giảng đạo đức Cách mạng và hiên ngang khẳng định rằng: Ai uống rượu là uống máu nhân dân! Còn thằng Cộng sản miền Nam thì ngược hẳn lại. Hắn sẵn sàng giảng đạo đức Cách mạng ở bất cứ đâu, kể cả trên bàn nhậu và trong ổ điếm. 
Hai quản giáo của đội 5, Hồng thuộc loại sẵn sàng giảng đạo đức Cách mạng trên bàn nhậu vì hắn gốc miền Nam. Còn tay kia, dù gốc miền Bắc nhưng hắn không gian ngoa lắm. Có thể hắn đã thấm mệt chăng? Không thể cả quyết được, dù đã có lần Vĩnh và bạn bè từng nghe hắn tâm sự: Các anh ráng cải tạo tốt mà về với vợ con. Tôi thua các anh là chẳng có vợ cũng như chẳng có con! 
Một tay tù khẽ nói. 

– Anh lấy vợ mấy hồi. 

Hắn thở dài. 

– Tôi chán không muốn lấy vợ nữa. 

– Sao vậy? 

– Tôi có vợ rồi, nói thế mới đúng. Nhưng nó đã bỏ tôi và tôi quyết không bao giờ lấy vợ nữa. 

Cuối cùng hắn kể câu chuyện của đời hắn. 

Trong một trận B.52 trải thảm Dakto, đơn vị của hắn dù may mắn không rơi vào trung tâm địa bàn trải thảm, nhưng chiếc đuôi của cái thảm ác ôn ấy cũng khiến cả đơn vị hắn tan nát quá nửa. Hai ngày hai đêm chạy trối chết về hậu cứ vùng tam biên, từ quan tới quân chỉ còn một mảnh quần đùi trên người. Sau đó, chả hiểu bọn Tâm Lý Chiến ngụy chúng tìm được ở đâu ra, chúng đem tất cả giấy tờ lý lịch của hắn và của nhiều tay khác nữa lên cái đài Mẹ Việt Nam hay Mẹ Mìn gì đó, phát ra Bắc tất cả tên tuổi của những cán binh Cộng sản tử trận trong giờ Sinh Bắc Tử Nam! Thế có hại nhau không chứ!? 

Khi giải phóng xong được về phép, hắn mới biết vợ hắn đã lấy chồng khác từ hơn 6 năm qua chỉ vì mụ ta không thể có can đảm ngồi chờ mãi một người chồng… đã chết! 

Đội 5 đi kéo cột đèn dưới sự điều động của hai quản giáo có những cá tính và tâm tình như vậy. 

Trong khi vừa bắt tay vào công tác thì một biến cố nhỏ xảy ra. Huỳnh Công Cẩn bay chức nhà phó B2 biên chế sang đội khác cùng với ba tay nữa. Chuyện thực tế không có gì, chỉ vì đội 5 có quản giáo dễ tính với tiếng đồn lan rộng cả trại, các quản giáo của đội khác chú ý và có ý trù ẻo cái đội mà theo chúng “rất chậm tiến” này. Sự trù ẻo theo dõi đội 5, từ B1 đến B5 không ai cẩn thận lưu ý, nên đã có nhiều tay bị vồ nhốt connex toàn những chuyện không đáng. Riêng Huỳnh Công Cẩn bị vồ vì một chuyện tương đối nặng, nếu xét trên lập luận của Việt Cộng. 

Cẩn vốn giỏi nhu đạo. Tùy viên của ông số 2 An Ninh Quân Đội dĩ nhiên đâu có xoàng chuyện võ nghệ. Một đêm trăng thanh vắng khó ngủ, chả hiểu ngứa nghề ra sao, Cẩn rủ hai ba thằng bạn đồng điệu ra phía sau một đống củi cao ngất phía bếp đội để… múa võ tiêu sầu. Kẻ thiếu lâm, người nhu đạo, kẻ quyền Hồng Mao, người cước Đại Hàn. Bốn tay quyền cước vù vù qua lại mà không ngờ rằng họ đang có những khán giả rình xem một cách say sưa. Bọn khán giả ấy là mấy thằng quản giáo của các đội khác, trong đó có thằng quản giáo Dương, mặt rỗ chằng rỗ chịt và ác có lông bụng của đội 6. Thẳng quản giáo này dù trùng tên và trùng bệnh rỗ với Vũ Duy Dương, nhưng thân hình thì xanh mét của một kẻ đã phải uống Ký ninh nhiều năm. Dương quản giáo người gốc Bạc Liêu, tuy cũng miền Nam như Hồng quản giáo nhưng hắn ta thù “ngụy” khủng khiếp lắm. Theo như anh em bên đội 6 điều tra cho biết, Dương trước đây mất vợ vào tay một anh trung sỹ Địa Phương Quân ở Bạc Liêu lúc hắn vào bưng theo Việt cộng. Khi về thành, biết mình mất vợ vào tay “ngụy”, mối thù hằn của hắn có cớ để dâng lên gấp mười lần mối thù hằn chính trị. Đầu tiên hắn ra tay bên đội C của hắn, chẳng hạn vụ Lê Văn Quy, trung úy không quân bên nhà C3. Quy đi lao động, chui vào một giàn bầu đứng đái. Quản giáo Dương đi qua trông thấy và lôi Quy ra chửi rủa. 

– Anh có hai tội, anh có biết không? 

Dĩ nhiên Quy chỉ có thể kêu ca. 

– Thưa anh tôi chỉ đi tiểu. 

Quản giáo Dương trợn mắt méo mồm. 

– Anh đừng ngoan cố. Nhân danh Cách mạng tôi cùm anh vì hai tội.Thứ nhất, thấy quản giáo đi tới, anh lôi c… ra đái. Hành động hỗn xược ấy không thể tha thứ. Thứ hai, một gốc bầu đang xanh tươi thế này, anh đái vào gốc, dây bầu sống sao nổi với cái nước đái nồng nặc ấy? Điều ấy chứng tỏ anh có ý đồ phá hoại sản xuất. 

Quản giáo Dương tính nói thêm thì bỗng dưng hắn há hốc miệng, mắt trợn trắng như nhìn thấy quỷ xuất hiện giữa ban ngày. Hắn vừa đọc ra một hàng chữ viết trên một quả bầu lủng lẳng trước mặt: Đả đảo Hồ Chí Minh! Hắn vừa ngạc nhiên vừa giận sùi bọt mép. Hắn rống lên. Ý thiên địa ơi! Mày phản động đến thế kia à? 

Tội nghiệp cho Lê Văn Quy, tình ngay mà lý gian! chỉ vì chui vào một gốc bầu xả cho nhẹ bụng, đã bị nâng cao quan điểm khinh Cách mạng, phá hoại sản xuất, lại lãnh luôn cái trách nhiệm vì một câu văn không mấy tử tế viết trên một quả bầu mà chẳng rõ tác giả là ai. Quy nằm connex hai tháng trời chỉ vì một vụ đứng đái. 

Thế nhưng những vụ như thế trong đội 6 không đủ thỏa mãn quản giáo Dương. Nói theo kiểu Cộng sản, quản giáo Dương đang nỗ lực “vói cái vòi” sang đội khác để quấy nhiễu các đấng quan quyền của chế độ cũ! Huỳnh Công Cẩn và vài anh bạn nữa lãnh búa kỳ này. 

Trong lúc bốn tay đang say sưa múa võ thì một tiếng thét chợt vang lên, tiếp theo là tiếng súng lên đạn. 

– Bốn thằng gian nhân hiệp đảng kia đứng yên, giơ tay lên đầu! 

Bốn võ sư nghe thấy tiếng lên đạn, đành giơ tay lên đầu cho xong chuyện. 

Quản giáo Dương đã xuất hiện. Hắn hùng hổ, chỉ Cẩn hỏi lớn. Thằng kia, mày tên gì, đội nào? 

Cẩn trả lời. 

– Tôi tên Cẩn, đội 5 nhà B2. 

Quản giáo Dương chỉ tiếp ba tay còn lại. 

– Ba thằng kia đội nào? 

Sau khi biết rõ toàn dân đội 5, Dương nổi giận hầm hầm. Hắn vẩy vẩy khẩu K.54 về phía Cẩn. Mày đứng cách tao 5 thước, hai tay vẫn để trên đầu. Quay sang ba người kia, hắn ra lệnh tiếp. Còn ba thằng kia đứng cách tao ba bước, ngồi xuống đất và hai tay vẫn để trên đầu! 

Trong các dãy nhà của đội 5 đã nghe thấy tiếng lên đạn và tiếng quát tháo, có kẻ lẻn bước vào những vùng bóng tối bên hiên nhà rình xem. Rõ ràng quản giáo Dương dù có súng trên tay nhưng có vẻ rất sợ hãi và thủ thế đối với 4 tên “ngụy” mà theo hắn, chúng có khả năng tung mình đá hắn dập mặt nếu không bắt đứng cách xa hắn một khoảng cách cần thiết! 

Đêm hôm ấy, không may cho Cẩn và ba anh bạn khác, quản giáo Hồng đi nhậu chưa về. Còn quản giáo Kình – tay quản giáo mất vợ vì đài Mẹ Việt Nam – lại quá hiền không can thiệp được gì. Cuối cùng cả bốn thằng tù của đội 5 bị lũ quản giáo của đội 6 giam hết vào connex! Sau này quản giáo Hồng biết chuyện nổi giận đùng đùng, và bọn tù nghe đồn Hồng suýt quại mấy thằng quản giáo của đội 6 để trừng trị cái tội dẫm chân nhau. Nhưng vì áp lực của ban chỉ huy trại, bọn Cẩn vẫn bị tống vào connex và biên chế sang đội khác với lý do: Tụ tập học võ với ý đồ phản động đen tối! 

Có lẽ vì uất ức với cái chuyển cỏn con ấy, Hồng bất mãn ra mặt với ban chỉ huy trại. Bọn tù, đặc biệt B2, đâu thiếu những tay có đòn tâm lý chiến đầy mình; thế nên khi đi kéo cột đèn, nhiều tay khích tướng Hồng, Hồng càng điên tiết và tự động cho B2 bớt chỉ tiêu. 

Từ cổng trại An Dưỡng dẫn vào bên trong trại là một con đường nhựa dài khoảng trên 2 cây số. Con đường này chạy dọc theo phi trường Biên Hòa nhưng cách vùng phi trường một cánh rừng và đầm lầy đầy mìn bẫy, rắn rít và những cây cỏ mọc hỗn loạn dầy đặc. Trên con đường nhựa ấy, bọn tù của đội 5 mỗi ngày phải đào xới và hạ nhiều chục cây cột đèn chạy dọc hai bên đường, đồng thời kéo vào những vị trí quy định nằm sâu trong trại. 

Việc ha cột đèn tuy có nguy hiểm nhưng dù sao không quá cực nhọc. Dĩ nhiên tất cả đều dùng cuốc xẻng để vật ngã những cây cột đèn nặng nề do Mỹ thiết lập trước đây. Đầu tiên đào chung quanh chân cột đèn sâu tới đáy cột. Khi cột lung lay, đào tiếp bên hông đáy cột một độ vát chừng 60 độ. Khi cho cột đèn đổ xuống là cả một sự gay go. Một sợi dây buộc từ ngọn cột do mười người ghì một bên, bên đối diện chêm dần những khúc gỗ từ dài đến ngắn cho đến lúc cây cột nằm dài an toàn trên lề đường. Khi cột đèn hạ xuống, toán kéo cột đèn nhào đến làm việc. Nếu là cột đèn gỗ ngâm dầu thì 12 người một cây. Nếu là cột đèn đúc loại tròn có lỗ thì phải 18 người mới có thể kéo nổi một cây. 

Trời trưa nắng, 18 người luồn những sợi dây thừng qua các lỗ trên thân cột đèn, hai bên cột mỗi bên 9 người lấy hết sức lực kéo lê cây cột đèn đi. Nặng lắm, nặng lè lưỡi! Và khi cây cột đèn đã có trớn, phải cố mà kéo thẳng một hơi về đến nơi quy định cách đó cũng trên một cây số. Nếu tự dưng có vài tay quá mệt buông lỏng tay kéo, những người còn lại không đủ lực kéo cây cột đèn chạy tới nữa, cây cột sẽ nằm chình ình trên đường nhựa. Đây là một điều rất tai hại vì cây cột quá nặng, sẽ lún xuống đường trải nhựa dưới trời nắng. Muốn cho cây cột nhúc nhích để có đà kéo trở lại, 18 thằng tù không hòng gì làm nổi. Và như thế, lại phải nhờ đến sự tiếp tay của ít nhất 10 người khác nữa mới có thể kéo cây cột đèn nặng nề khỏi chỗ lún, và tạo một cái trớn mới cho việc di chuyển cây cột đèn trên đường. 

Mặc dù hai quản giáo đội dễ dãi tí chút, nhưng quản giáo không đi theo những toán kéo cột đèn. Chúng chỉ đứng chỉ huy những toán hạ cột. Đi theo các toán kéo là những thằng vệ binh oắt con nhưng mất dạy vô kể. Vì một cớ gì đấy, cây cột đèn lại nằm chình ình trên đường khiến thằng vệ binh phải đứng một chỗ dưới trời nắng, hoặc phải tìm cách tuyển mộ vài tay lao động gần đó chạy đến tiếp sức, thì thế nào bọn tù kéo cột đèn cũng bị chửi bới đến mức. 

Tổ 1, tổ 2 của nhà B2 đa số yếu sức và bệnh hoạn. Và như thế có nghĩa là bị chửi dài dài. 

Dẫu sao công tác cực khổ và bị chửi không làm giảm đi sự thích thú của bọn tù, vì công tác này đã đem bọn tù ngày mỗi xa hơn cổng trại, nơi đây, tù được nhìn thấy con người, được nhìn thấy nhà cửa, được nhìn thấy tí quang cảnh của thế giới bên ngoài. 

Một hôm quản giáo Hồng động lòng trắc ẩn cho lũ tù “ngụy” quá cực khổ, lên tiếng hỏi. 

– Các anh có thèm rượu không? 

Lũ tù hơi ngẩn ngơ nhưng rồi cũng có một tay cười cười trả lời. 

– Thèm quá anh! 

– Vậy có anh nào đem theo tiền không? 

Vài ba tay mừng rỡ đáp. 

– Có, có thưa anh. 

Quản giáo Hồng cười cười, nhưng nụ cười quả thật không có nét nham hiểm như nhiều tên quản giáo khác. Hắn nói. 

– Đấy, các anh thấy không. Ban chỉ huy trại luôn luôn đánh giá các anh chậm tiến bộ là phải quá. Nội quy đã cấm ngặt không cho đem tiền theo khi đi lao động, phòng những kẻ xấu có phương tiện âm mưu trốn trại. Anh nào cũng hạ quyết tâm học tập tốt, lao động tốt, cải tạo tốt, chấp hành nội quy tốt. Hỏi ra thì chả tốt tí nào. Nửa đùa nửa thật lên lớp một lúc, quản giáo Hồng trở lại giọng thân mật. Tôi bảo thật các anh. Ai không biết chứ cá nhân tôi, tôi thừa biết chẳng cách gì cải tạo các anh được. Ngay bà con tôi sống ngoài Biên Hòa cũng vậy. Cách mạng giải phóng đã năm rưỡi trời, ấy thế mà vẫn phát ngôn linh tinh rất là phản động. Tôi nhắc nhở mãi cũng đâm chán, giờ ra chơi ngoài ấy mạnh ai nấy nói, tôi không thèm lưu tâm nữa. Nhưng riêng với các anh, vì tôi có trách nhiệm với Đảng cải tạo các anh, tôi khuyên các anh một điều, đừng làm gì sai trái để bị tập thể phát hiện và lên án là đủ. Còn trong đầu các anh muốn nghĩ gì thì nghĩ. Nhưng hãy nhớ trong đầu thôi, đừng bao giờ biến những ý nghĩ phản động trong đầu thành hành động cụ thể trong xã hội này. Không lợi lộc gì mà chỉ mang đại họa chẳng những cho mình mà còn cho cả họ hàng nhà mình nữa. Nói xong quản giáo Hồng ngó trời ngó đất, rồi ngó về một chỗ mà đám tù kéo cột đèn mấy ngày nay ai cũng thèm thuồng… 

Cách chỗ đứng không bao xa là một quán cóc bên đường. Mấy ngày nay kéo cột đèn, bọn Vĩnh đã chú ý rất nhiều đến cái quán ấy. Kẻ thì bàn rằng cái quán ấy dứt khoát là của vợ con một thằng bộ đội nào đó. Kẻ thì cho rằng có thể là của dân địa phương. Dù sao cái quán cóc trông thê thảm không thể tưởng tượng được. Nó là tổng hợp của mọi nghèo nàn trong xã hội này. Vá víu, rách rưới, dơ bẩn… Nếu không có những cây chanh, cây na, cây bưởi um tùm vây phủ chung quanh, cái quán ấy khó mà đứng vững được trước một cơn gió lớn. Sườn là những cây tre khô khẳng khiu, bên trên lợp vài miếng ván ép mục nát vì mưa nắng. Bên trong để một cái bàn bẩn thỉu sứt sẹo và đôi ba cái ghế đẩu cao thấp không đều. Trên một cái bàn thứ hai nhỏ hơn, đặt trước quán cóc, để vài cái lọ bên trong vàng ạch mấy quả cóc quả me. Một lít rượu đế đứng bơ vơ bên cạnh mấy cái chung đã sứt mẻ lởm chởm. Cũng có ngày bọn Vĩnh nhìn thấy trên mặt bàn ấy một hai ổ bánh mì khô queo, vài ba cái bánh ú mà ruồi bu như rải đậu đen… Nhưng thế nào thì những thứ ấy vẫn là những thứ có hấp lực kinh khủng với bọn tù đói hiện nay. Nhất là bên trong quán, ngồi ngay thềm trước có một cụ bà tuổi độ 60 vừa vuốt nan đan giỏ, vừa thỉnh thoảng nhìn ra bọn Vĩnh với hai ánh mắt thật khó cắt nghĩa… Nó nửa trách móc nửa mến thương. 

Quản giáo Hồng chợt nhìn vào đám tù. Hình như hắn đếm. Hiện tại chỉ có hai toán. Một toán đào gốc cột đèn của nhà B4 và toán kéo cột đèn của nhà B2 trong đó có Vĩnh đang đợi cây cột đèn sau cùng cho lần kéo cuối cùng của một ngày. Tất cả chừng hai mươi người. Quản giáo Hồng nhìn đồng hồ. Giờ này có thể cũng đã gần năm giờ chiều, nắng đã bớt gắt. Bọn tù đã có anh liều lĩnh kiếm một gốc cây ngồi phe phẩy vạt áo cho mát mặt. Quản giáo Hồng bỗng lên tiếng trở lại. 

– Sao, bây giờ cho nghỉ lao động vào thăm cái quán kia một lúc có kêu ca gì không? 

Bọn tù sướng như lên thiên đàng, chỉ gật gù và không ai nói được lời nào. Quản giáo Hồng nói tiếp. Ai có tiền thì cho các bạn chia chác với, miễn sao đừng náo động và êm đẹp. Về nhà rồi tính toán lại với nhau. Nhất trí chứ? Để các anh thoải mái, tôi ghé lại các đồng chí vệ binh ngoài kia tí. Cũng dặn các anh, hai mươi người chỉ nhấp chơi một lít thôi đấy nhé. Các anh mà say sưa, tôi là người đầu tiên cùm các anh đấy. 

Nói rồi quản giáo Hồng bỏ đi. Bọn Vĩnh lầm lũi kéo vào quán. Bà cụ mấy hôm nay chỉ ngồi nhìn bọn tù kéo cột đèn qua lại, bỗng ngạc nhiên thấy cả đám kéo vào. 

Đám tù chưa biết ngỏ lời ra sao, bà cụ đã đon đả với giọng Bắc rành rẽ. 

– Anh quản giáo cho mấy cháu vào xin nước uống phải không? 

Hóa mau miệng. 

– Dạ kính chào bác, tụi cháu được phép vào mua tí gì uống. 

Hóa vừa dứt lời thì bà cụ đã quay phắt vào bên trong gọi lớn. 

– Bố thằng cu ơi! 

Bây giờ Vĩnh mới được dịp quan sát sâu bên trong khu vườn. Bên trong ấy còn có một căn nhà xây đàng hoàng, tuy nhiên vôi đã tróc lở và một phần mái tôn đã bị tháo gỡ khiến căn nhà trông như một căn nhà bỏ hoang. Tiếng gọi của bà cụ đã kéo được một người đàn ông trong căn nhà đó ra. Anh ta tuổi chừng 35, chột một mắt và hình như có thương tật một bên chân. Anh khập khễnh bước ra khỏi căn nhà và e dè cất tiếng chào đám Vĩnh. 

– Các anh ngồi chơi. Các anh cần nước uống hả? 

Vì chưa nắm vững tình hình, bọn Vĩnh cũng phải thủ từng lời nói. Lỡ ra, họ đều là thân nhân của một thằng quản giáo trong trại, nói hoảng nói tiều có mà vỡ mặt! Thế nên đám Vĩnh cũng chỉ nhỏ nhẹ. 

– Chúng tôi lao động bên ngoài, quản giáo cho phép vào mua tí… rượu uống tại chỗ. 

Bà cụ nghe thấy lộ rõ nét ngạc nhiên. 

– Cho mấy cháu mua rượu à? Cho uống rượu à? 

Một tay trong bọn lên tiếng. 

– Dạ anh quản giáo này tương đối dễ tính. Anh ấy cho mua uống chút đỉnh… 

Bà cụ không đợi ai nói gì thêm, bà vơ ngay chai rượu trên chiếc bàn, đưa đại cho một người. 

– Đây, mời… mời các cháu. Các cháu cứ uống đi. Để tôi bảo con tôi nó lấy ra thêm vài lít nữa. 

Nói rồi bà cụ quầy quả đi vào nhà trong, miệng lẩm bẩm. Lạ nhỉ, lạ nhỉ? Lần đầu tiên… 

Bọn Vĩnh thực sự đâu phải ai cũng thèm rượu. Thèm là thèm quả cóc quả ổi, thèm ổ bánh mì và mấy đòn bánh tét. Tuy nhiên có rượu nhấp chơi tí đỉnh cũng không nên từ chối. Vĩnh là một trong những người đầu tiên cầm chai rượu rót ra một chung và uống cái ực. Trời nóng, lâu không uống, chơi một chung muốn khạc ra lửa! 

Vừa lúc ấy bà cụ đi ra, trên tay cầm thêm một chai đế và mấy con khô mực sống. Một người vội nói. 

– Thôi cụ ơi, tụi cháu không uống rượu đâu. Chút xíu cho đỡ nhớ thôi. Cụ có cái gì ăn được bán cho chúng cháu một ít thì quý hóa lắm. Bánh tét chẳng hạn… 

Bà cụ ngó nhanh ra phía ngoài đường, đoạn trả lời. 

– Mấy cháu đừng ngại. Đã vào tới đây thì đừng nghi kỵ cái gì. Bác dân Hố Nai mà. Anh con của bác đây trước cũng là trung sỹ sư đoàn 5. Nó bị thương giải ngũ từ hồi 70. Nói đoạn bà cụ quay sang anh con trai bị chột một mắt còn đứng xớ rớ gần đấy. Này Tịnh, con chạy vào nhà xem còn bao nhiêu bánh mì bánh ú lấy hết ra đây. Mấy bịch bánh men lấy ra luôn. Lấy ra cho mấy anh đây ăn một bữa. 

Một thoáng sau bọn Vĩnh được chén một chầu bánh ú. Rượu chẳng mấy người uống. Bà cụ lại chạy vào nhà trong, một lúc trở ra than thở nho nhỏ một điều gì đó với anh con trai. Anh con trai chỉ đáp khẽ. 

– Giờ này lội ra tới ngoài đó cũng mất cả nửa tiếng. Về nửa tiếng nữa làm sao kịp. 

Một người trong đám đoán biết ý bà cụ vội ngăn lại. 

– Thôi bác ơi! Bác cho chúng cháu ăn thế này là quá rồi. Bác đừng bận tâm gì nữa… 

Bà cụ vội ngắt lời. Bà chìa ra một gói lớn bọc giấy dầu trên tay, nói như phân trần. 

– Nghìn năm một thủa họ mới cho các cháu vào đây. Quả thực tôi còn nhà ngoài Biên Hòa nữa. Cũng còn khấm khá. Cái nhà và khu vườn này chỉ là một phần. Phải vào đây ở vá ở víu cho có hộ không nhà nước tịch thu mất. Tính sai em nó ra Biên Hòa… 

Một người khác lại lên tiếng can ngăn. 

– Thôi bác, tụi cháu được bác cho ăn thế này là quý lắm rồi. Bác cho bất cứ thứ gì đem vào trại chúng cháu cũng không dám nhận đâu. Nội quy đâu cho phép. Có gì phiền phức ghê lắm! Bà cụ nghe đến chữ nội quy cũng có vẻ hơi sợ. Tuy nhiên, bà vẫn dúi cái gói giấy dầu lớn tướng vào tay một người. 

– Hôm nay mời các cháu, nói trước không tính một đồng nào. Còn cái bịch này là bịch đường thẻ và trà. Vào trong ấy nhớ chia nhau mà dùng. 

Anh chàng cải tạo ôm bịch trà đường trong tay với đầy nét băn khoăn. Cuối cùng anh nói như phân trần với tất cả mọi người. 

– Bác cho thế này thật quý vô cùng, nhưng thú thật một mình tôi không cách gì đem cái này vào lọt trong trại được. Bị bắt giữ ngay cổng là cái chắc. Bà cụ tình ngay cũng không biết giải quyết ra sao. Mà đám tù cũng không tiện nêu ý kiến. Cuối cùng anh con trai nhỏ nhẹ lên tiếng. 

– Tôi đề nghị các anh chia ra từng phần nhỏ. Mỗi người cầm một ít chắc chắn êm xuôi. 

Câu đề nghị như mở cờ cho bọn tù. Thế là rất nhanh và rất lịch sự, bọn tù chia đều mỗi người một nắm trà và dăm cục đường thẻ. 

Bà cụ trông vui vẻ vô cùng. Anh con trai đã rút vào nhà trong ngồi đan giỏ. Bà cụ ngó trời ngó đất rồi nói nho nhỏ. 

– Các cháu chắc khổ lắm!? Nói đoạn bà cụ sắp xếp lại mấy chai rượu trên bàn, nói như an ủi. Mấy ông lớn bậy quá, làm cả nước khổ! Một anh tù cảm khái, đáp. 

– Thôi bác ạ, nếu nói bậy thì chính cháu cũng bậy, cũng có lỗi với dân chúng và đất nước rất nhiều… 

Câu nói bỗng bị bỏ lửng khi mọi người nhác thấy quản giáo Hồng đã xuất hiện phía ngoài đường. Cả bọn đứng lên. Vài người cám ơn bà cụ. Riêng Hóa từ lúc nãy đã quyên góp được gần hai chục bạc, anh bước lại lễ phép đưa cho bà cụ số tiền. Bà cụ giẫy nẩy không nhận. Bà nói. 

– Không, bác đã bảo rồi. Đây là lần đầu tiên từ ngày trại này biến thành trại cải tạo, các anh cải tạo được ghé vào đây ăn uống. Tiếc là bác chẳng có gì đãi. Bác không nhận tiền của các cháu đâu. 

Hóa cố nhét vào túi bà cụ nhưng bà cụ không lấy. Vừa lúc ấy quản giáo Hồng bước vào. Hắn hỏi khơi khơi. 

– Sao, má đã cho các anh uống nước rồi chứ? Cám ơn rồi về! 

Bà cụ bước tới nói vài câu xã giao với tên quản giáo. 

Ít phút sau cả đám đã bước ra đường xếp hàng. Những tay vệ binh áp tải tù cũng vừa tới. Đoàn tù lại cuốc xẻng hăng hái trở về trại. Trong lòng ai cũng thấy vui. Quản giáo Hồng cứ tủm tỉm cười và ngó vào mặt từng người. Có lẽ hắn muốn hỏi một câu gì đó, nhưng ngại tụi vệ binh nên không nói gì. Vĩnh đoán được niềm vui trong lòng hắn. Hắn đã làm được một việc dồn nén từ lâu trong lòng, phát xuất từ bản chất lè phè và ương ngạnh của một người gốc miền Nam – đã dám làm những điều mình thích mà không ai dám làm. 

Trên đường về, đám Vĩnh thấy toán mắc dây điện của Lê Văn Tần vẫn làm việc trên những cột điện mới trồng. Đây đó những đội hình xếp hàng hai cũng đang mệt mỏi lê gót về phía các trại tù. Đi qua một dãy nhà thuộc ban chỉ huy trại ba, mọi người nhìn thấy một toán vệ binh đang đánh bóng chuyền trên một vuông sân. Lúa gạo miền Nam gần hai năm qua đã biến những xác chết biết đi thành những thân xác vạm vỡ. Dù sao không ai muốn nhìn lâu hơn, vì trên những thân xác ấy là những biểu lộ sự sỉ nhục lớn lao với đám tù: Mỗi thằng đều mặc một cái quần đùi may bằng cờ quốc gia, cờ vàng ba sọc đỏ; một ngọn cờ đã lồng lộng giữa trời tự do, giữa trái tim mọi người yêu tự đo, và đã được tô thắm bằng bao máu xương của bao thế hệ trai trẻ! 

Chẳng ai buồn nói với ai. Đi qua một vài dãy nhà khác của bọn bộ đội, Vĩnh và các bạn thoáng nghe một vài câu vọng cổ quen thuộc vang ra từ một chiếc radio của bọn vệ binh. Rõ ràng là giọng Lệ Thủy. Dù yêu nhạc, nhưng xưa kia Vĩnh không thích cải lương. Bây giờ thì khác. Gần hai năm bặt tiếng người của thế giới bên ngoài, tự dưng được nghe lại một câu vọng cổ, lại được hát bằng giọng của một cô đào nổi tiếng Sài Gòn năm xưa, lòng ai cũng nghẹn ngào thổn thức. Vĩnh chạnh nghĩ tới Trúc, chồng Lệ Thủy từng sống với anh ở Trảng Lớn trước đây… Chả hiểu giờ này nó ở đâu? Anh nhớ đến mấy quả ô mai Trúc cho anh khi anh đau lê lết vì bệnh sạn thận…