Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 7 Jan 2024

Bài 37

Phần 36

Vĩnh bị đuổi về trại ngay ngày hôm sau. Anh bị đuổi về trại đi lao động lúc chưa đi hết được một vòng trại bệnh, nhất là cơn đau trong người chỉ mới lắng xuống chưa có một hy vọng nào khỏi hẳn.

Buổi sáng, sau lúc điểm danh và khám bệnh, tên y sỹ Việt cộng rờ rờ mó mó vài cái vào lưng Vĩnh rồi ra lệnh phát cho anh 5 viên Vitamin C, đồng lúc nhỏ nhẹ bảo anh.

– Thôi nhé, hôm nay xuất viện về trại sinh hoạt chung với anh em nhé. Sỏi thận anh nếu có cũng nhỏ thôi, từ từ rồi nó trôi xuống bàng quang tiểu ra ngoài là hết. Nói rồi hắn lật lật mấy tờ giấy trước mặt, ơ hờ dặn Vĩnh thêm vài câu. Khi đi lao động, nếu gặp cỏ Sam hoặc dây Nhãn Lồng nhớ thu hoạch về nấu uống nhé. Uống mấy thứ ấy lợi tiểu tốt lắm.

Biết mình vẫn còn có thể đau vật vã trở lại, nhưng tên y sỹ đã nói thế nên Vĩnh đành đem theo mấy lời khuyên của hắn trở về trại.

Mới xa cảnh cũ có hai ngày hai đêm, trở về đã có một số thay đổi.

B2 hiện tại đã biến thành nhà 2 đội 17. Các nhà viên cũng thay đổi gần hết. Vĩnh trở về trại đúng giờ cơm chiều nên đụng độ ngay với những nhân vật mới. Lúc này guitarist Nhan Quang Minh đã lên làm nhà trưởng. Bính, Hóa, Kim… đã chuyển hết sang các nhà khác đội khác. Vĩnh được bổ sung vào tổ 5. Tổ trưởng là Hoàng Văn Ân tự Ân xệ. Tổ 5 người ngoại trừ Ý là người cũ còn thì toàn là những người mới. Những người mới này cũng có thể là những người Vĩnh từng quen mặt trên Trảng Lớn như: Võ Hữu Hiệp, trung úy khóa 27 Thủ Đức sỹ quan quân nhu; Vũ Duy Dương, trung úy khóa 2/68 Thủ Đức một đại đội trưởng của SĐ9BB; Bùi Duy Hạ, trung úy khóa 4/69 Thủ Đức (có vợ là một vũ nữ sexy nổi tiếng Sài Gòn một dạo); Trương Hồng (gốc Tàu), Hải quân thiếu úy (Trước 75 từng trốn sang Hồng Kông nhưng sau đó bị dẫn độ về trao trả cho VNCH, hiện đang trong tình trạng nửa điên nửa tỉnh)… Những người hoàn toàn mới hiện ở cùng tổ như: Phạm Xuân Huy, trung úy khóa 2/68 Thủ Đức sỹ quan P2/TTM; Đặng Minh Tuấn, trung úy khóa 2/68 Thủ Đức sỹ quan nhảy toán (Anh chàng này trông hao hao một anh Tây thực dân nên râu ria có chiều rậm rạp nhất trong anh em)…

Tổ 5 của Vĩnh hiện có những nhân vật như thế. Nhưng dù mới hay cũ cuối cùng cũng đều là bạn nhau cả. Hiện tại Vĩnh chỉ gặp tí phiền hà là đang phải nằm giữa hai nhân vật nổi tiếng của nhà 2 đội 17. Thiếu úy Trương Hồng, kẻ tịnh khẩu từ ngày nhập trại tù và tính tình rất khó chịu. Dẫu rằng chỗ nằm của mỗi người chỉ có hai gang tay rộng, nhưng nhất định anh ta không bao giờ cho phép người nằm cạnh được kê cái mép chiếu đè lên trên cái mép chiếu của anh ta. Người thứ hai là ông Đáp tự Inoxidable, người ở bẩn và làm biếng về tất cả mọi mặt vào hạng vô địch! Tuy nhiên cái cảm giác khó chịu ấy dần dần cũng tan đi! Vĩnh đã tìm được cái thú thưởng thức lén những bức danh họa của Hải quân thiếu úy Trương Hồng. Mỗi khi đi lao động về, ngoài giờ cơm nước, Hồng lặng lẽ ngồi vẽ những chiếc Boeing hoặc những chiếc thương thuyền với đầy đủ chi tiết và giống không tưởng tượng được. Đã có lần Vĩnh nghĩ nếu tay này được theo học những lớp đào tạo kỹ sư design các kiểu máy bay và tàu bè thì nhất định hắn phải đậu thủ khoa. Có lần Vĩnh phát hỏi Hồng: Ông vẽ những kiểu tàu bè máy bay ấy làm gì vậy? Nghe hỏi, Trương Hồng giật bắn mình và vội gấp quyển vở lại. Hắn nhìn Vĩnh với tất cả sự bực bội, tuồng như một người đã bị một người khác thô bạo lôi anh ta ra khỏi giấc mơ tuyệt vời của mình. Dĩ nhiên Vĩnh chỉ nhận được một thái độ yên lặng đầy khinh bỉ của Hồng. Nhưng rồi một lần, Vĩnh đã khám phá ra giấc mơ của người tù nằm bên cạnh. Vào một buổi sáng, vì sơ hở nào đó, Hồng đã để rơi quyển vở gia bảo của anh ta nơi đầu chỗ nằm. Vĩnh lượm được và vội mở ra xem. Ngay đầu quyển vở, một hàng chữ được kẻ sắc và đẹp như co chữ in Vendom 16. Hàng chữ viết rằng: Hỡi Boeing! Hỡi những du thuyền! Bao giờ chúng mày chở tao ra khỏi thế giới này!?

Vĩnh vội vàng gấp quyển vở lại và nhét vào đống đồ đạc đặt trên kệ đầu chỗ nằm của Hồng. Vĩnh thoáng chút ngậm ngùi. Anh đã tìm ra được một phần nỗi ẩn ức sâu kín của người bạn tù nổi tiếng vì tịnh khẩu. Từ đó, anh cố gắng hết sức không làm phiền gì đến Hồng nữa, dù là chỉ để mép chiếu của mình chạm vào mép chiếu của bạn.

Vài ngày sau đó, theo cái đà cải tổ của trại về các mặt, các đội được lệnh tuyển một người đau yếu và biết qua nghề y tá. Người này được lao động tại trại với nhiệm vụ phụ giúp ban quân y trại lo sức khỏe cho các đội viên khai bệnh. Trong vụ này, Vĩnh may mắn hội đủ cả hai điều kiện và được đội 17 biểu quyết cho làm công tác y tá đội.

Đời tù khổ sai kể từ đây coi như được chút nhàn nhã.

Mỗi ngày, khi tiếng kẻng báo thức nổi lên, trong lúc anh em đánh răng súc miệng, Vĩnh cầm quyển sổ đi qua các nhà ghi tên những người khai bệnh trong ngày. Danh sách khai bệnh sẽ được làm thành hai bản, một nộp cho quân y trước giờ khám bệnh, một nộp cho đội anh nuôi. Chưa cần biết quân y chuẩn mạch định bệnh ra sao, đội anh nuôi cứ việc cắt khẩu phần cơm độn khoai trong ngày của người bệnh cái đã. Thay vào đó sẽ cấp phát cho người khai bệnh mỗi bữa một bát cháo!

Đó là chuyện của nhà bếp, riêng nhiệm vụ của Vĩnh còn phải làm tiếp tục là nổi lửa nấu một ấm nước sôi luộc kim và ống chích. Việc này Vĩnh có quyền làm ngay tại phòng ngủ của anh. Những người khai bệnh có thuốc chích, hoặc giả được quân y phát cho một mũi Atropine nếu đau bụng, một mũi émitine nếu còn kiết lỵ lai rai, hoặc mội mũi B1 nếu chứng phù thũng vẫn còn làm đôi chân mập ú và nặng chình chịch; thì cứ việc đem thuốc đến cho Vĩnh. Vĩnh sẽ làm tròn nhiệm vụ của một anh y tá chích thuốc không thù lao.

Thường thường công tác chích choác cho những bệnh nhân trong đội cũng lai rai hết cả buổi sáng. Khi không còn con bệnh nào đến nhờ chích nữa, Vĩnh lo rửa sạch hai cái ống chích bằng nước sôi và mài lại hai cái kim được Trên giao phó quản lý và xử dụng. Mỗi lần lôi đồ nghề ra xử dụng hay cất nó đi, Vĩnh không tránh khỏi một cảm giác sợ hãi. Hai cái ống chích thuộc loại “Mỹ ngụy” dùng một lần rồi bỏ, tuy nhiên, nhờ Cách mạng vào, hai cái ống chích ấy đã và đang được kéo dài tuổi thọ không biết đến bao giờ nữa. Ngày nay, vì luộc đi luộc lại, cái ống nylon đã ngả màu vàng cạch trông như hai điếu thuốc cẩm lệ vấn hơi to. Lớp cao su bọc đầu bơm của ống chích bên trong cũng đã lão hóa, do đó, mỗi lần bơm thuốc cho bệnh nhân, Vĩnh phải rất cẩn thận thuốc mới không vọt ngược về phía sau. Riêng hai cây kim, vì bị mài đi mài lại trên một miếng đá hoa, giờ nó chỉ còn phân nửa chiều dài so với chiều dài cũ của nó. Đã lắm lần đang chích kim bị tắc, Vĩnh lại phải lấy kim ra, dùng một mẩu dây thép lõi lấy từ một đoạn dây điện thoại dã chiến để thông kim. Thê thảm hơn, ấy là khi chích cho bệnh nhân! Vì không có rượu cồn cũng không có bông, Vĩnh phải lấy một miếng áo thung dùng làm compress, chấm tí thuốc đỏ chùi kim và lau sạch chỗ da thịt của bệnh nhân trước khi đâm mũi kim vào; ấy thế nhưng có lẽ nhờ mát tay, không ai bị áp-xe cả. Dù nhiệm vụ hiện tại so với anh em lao động bên ngoài hơi kém vinh quang, nhưng Vĩnh đã cố gắng hết sức để không bị một nhân vật tiến bộ nào ganh tị hay chê trách. Với nhiệm vụ chích cho anh em, dĩ nhiên Vĩnh có thể biết rất rõ ai trong đội là người có nhiều thuốc men nhất. Quả không khó gì trong việc gây cảm tình với một anh bệnh nhân có nhiều thuốc. Và khi cảm tình đã có, việc xin xỏ họ một viên thuốc, một tí dầu nóng cho người đang cần mà không có, đã trở nên rất dễ dàng. Vĩnh lặng lẽ chơi chiến thuật bới anh nhà giàu đắp cho anh nhà nghèo trên mặt thuốc men, một thứ luôn luôn hiếm và quý trong tù cải tạo.

Tuy nhiên với Nguyễn Văn Bông 1 một anh chàng đồng bệnh sạn thận với Vĩnh bên nhà 3 coi như rất khó áp dụng chiến thuật này. Hắn có cả nửa bao cát thuốc đủ loại. Mỗi loại một ít. Từ dầu nóng Con Hổ đến hủ Bi (tuy đã quá hạn!) hắn đều có trong tay. Nhưng xin cho anh em thì không bao giờ thành công cả. Nếu nhìn qua hiện tượng, người ta có thể chê trách Bông thiếu tình đồng đội; nhưng nếu đi sâu vào một khía cạnh tâm lý nào đó của Bông, người ta sẽ thông cảm ngay. Phải nói rằng hắn mang bệnh sưu tập thuốc Tây trong tù. Vĩnh không rõ xưa kia Bông có bị cái bệnh này không? Anh đoán có lẽ là không. Căn bệnh này chỉ có thể đã xuất hiện khi Bông phải chứng kiến quá nhiều cái chết rùng rợn trong tù do không có thuốc men chữa trị mà ra. Từ đó, mỗi đợt quà gia đình gửi vào. Bông nhịn ăn tất cả mọi thứ. Hắn lân la gạ gẫm với mọi người để đổi đồ ăn lấy thuốc Tây. Giá cả trao đổi với anh em cũng rất phải chăng. Hắn có thể vui vẻ đổi 3 điếu Vàm Cỏ lấy một viên Aspirine, hoặc 5 thìa súp đường cát lấy 10 viên B1 loại 200mgs. Trụ sinh hắn có thể trả cao hơn, chẳng hạn hắn có thể đổi một lọ mắm ruốc xào xả riềng ớt lấy 5 viên Néomycine. Cứ thế, sau vài lần quà cáp được gia đình gửi vào, Bông đã sở hữu được một số thuốc Tây đáng kể…

Mỗi sáng sớm trước khi đi lao động, hoặc mỗi buổi trưa trở về trại nằm vật ra thở chờ tổ trực lãnh cơm về phát, Vĩnh quan sát và thường tìm ra nhiều hiện tượng khá vui trong anh em. Tỉ dụ trước kia khi còn nằm cạnh anh chàng trung úy hải quân Phạm Kim, trưa nào Vĩnh cũng thấy Kim nằm tại chỗ mà không ngủ. Kim luôn luôn cầm một quyển vở kê sát mặt. Vĩnh để ý thấy có lúc Kim nháy mắt với trang giấy cười khúc khích, có lúc bỉu môi như giận hờn, có lúc thầm thì như tỏ tình với trang giấy. Vĩnh thắc mắc quá sức. Thằng này điên rồi sao? Hay là hắn đã quán chán chê con người và cảnh lao tù nơi đây, quay ra say đắm và trò chuyện với quyển vở của hắn? Sự tò mò một hôm đã buộc Vĩnh moi quyển vở của Kim ra xem. Sau cùng, anh phát hiện ra trong quyển vở ấy một chuyện lạ lùng vào hàng đệ nhất kim cổ. Kim đã cắt một ô vuông trên một trang giấy. Hắn vẽ rồng vẽ phượng quanh ô vuông đó. Đàng sau ô vuông cắt thủng trên trang giấy Kim đặt cái gì? Hắn đã đặt tấm ảnh bà xã hắn vào đó. Thế là hắn đã có một khung ảnh lồng chân dung vợ trong quyển vở. Vĩnh cười phá lên khi biết bạn mình hằng bao tháng ngày qua, trưa nào cũng thủ thỉ với người… trong tranh. Chao ôi, lãng mạn đến thế là cùng!

Hoặc giả trường hợp ông Inoxidable! Mỗi phần cơm ông lãnh, ông luôn luôn để ra vài thìa và đem phơi khô. Chiều về, ông lấy mấy thìa cơm phơi khô đó đổ vào một cái bao cát và nhét dấu trong túi quần áo. Chẳng ai hiểu ông ta để dành cơm độn khoai phơi khô làm gì. Nếu một tay khỏe mạnh như Đặng Xuân Bính, Nguyễn Văn Ý… thì người ta còn có thể nghi ngờ là tích trữ lương thực cho một âm mưu vượt ngục. Nhưng ông Đáp nhất định không thể nào là một người có âm mưu trốn trại được. Ông ta đau xương sống đi hết muốn nổi, nói gì đến chuyện trốn trại vượt ngục. Vậy ông ta tích trữ lương thực phơi khô làm gì, khi mà khẩu phần hàng ngày có ăn nhiều gấp ba lần cũng chưa no? Chuyện này chỉ có Trời biết… Riêng anh chàng Bông cũng tạo ra những hoạt cảnh thật vui mà không sáng tối nào Vĩnh không được thưởng thức. Ngày hai lần, khi mở mắt và trước khi đi ngủ, anh ta lôi đống thuốc Tây ra đếm từng viên, từng loại. Vĩnh có cảm tưởng như Bông sợ có ma quỷ nào đó đã lén nhập vào bị của anh để uống mất những viên thuốc đó. Nhưng điều quan trọng với Vĩnh hiện tại là làm sao khiến Bông chia xẻ tí thuốc đó cho nhiều anh em đang cần thiết.

Một hôm Bông lên cơn đau sạn thận. Hắn cũng lăn lộn, cũng rên xiết y như Vĩnh trước đây. Đồng bệnh tương lân, Vĩnh tìm mọi cách để giúp hắn đi viện, vì anh đã biết rằng ít nhất trên bệnh xá hắn cũng được lụi đại vào thận một mũi thuốc quái quỷ gì đó làm cho cơn đau qua nhanh. Vĩnh đến thăm Bông tại chỗ nằm của hắn vào một buổi sáng. Hắn đang gào la tự do vì các bạn đã đi lao động, không còn ai ở nhà để sợ phải phiền hà. Dặn dò và giúp đỡ Bông vài việc, nhất là việc phải tiếp tục la hét cho thật dữ dội khi thấy tên cán bộ quân y xuất hiện. Sau đó, Vĩnh chạy đi báo quân y. Một lúc quân y theo Vĩnh xuống chẩn bệnh tại chỗ.

Bước vào phòng, Vĩnh hơi hoảng vì Bông đã nằm nín khe. Mặc dù mồ hôi mồ kê vã ra như tắm nhưng rõ ràng cơn đau đã qua đi; và như thế, hy vọng đi viện sẽ rất ít. Vĩnh chồm tới bên cạnh Bông, nhắc khẽ: Rên đi! Bắt đầu rên và sửa soạn la hét lên chứ!

Khổ nỗi Bông quá thật thà và không biết cách đóng kịch cho đúng lúc. Tuy nhiên đã nhất quyết giúp Bông đi viện, Vĩnh phải tìm ra một phương cách. Trong lúc tên quân y lấy ra một mũi Atropine sửa soạn chích thì Vĩnh thò tay vào lưng Bông tìm vị trí hai quả thận. Anh dùng sức mạnh ấn một ngón tay vào quả thận bên trái của Bông. Một tiếng thét vang lên: Ối trời ơi! Đau quá trời ơi! Vĩnh ấn thêm mấy cái nữa. Bông dẫy như một con tôm tươi và tiếp tục la hét. Ối trời ơi! Chết tao mất, Vĩnh ơi! Ối trời ơi đau quá Vĩnh ơi! Vĩnh cúi xuống nhỏ nhẹ an ủi.

– Hét nữa đi, hét cho to vào. Đi viện có thuốc chích lại được nghỉ lao động. Mày không hét tao sẽ bóp nát quả thận mày.

Nói rồi Vĩnh nhấn thêm vào lưng cu cậu vài ba đòn nhất dương chỉ nữa. Bông cứ thế mà la hét và dẫy lên như đĩa phải vôi. Kết quả tên quân y cho kêu tổ trực khênh Bông lên bệnh xá gấp.

Ba ngày sau Bông trở về trại, hý hửng nói với Vĩnh.

– Trên viện ăn sướng quá mày nhỉ. Có cơm trắng và cá kho.

– Và có một mũi thuốc đâm vào thận.

– Ừ, tao ghê quá. Nhưng đúng dịp chúng nó được mua đồ, tao mua được một bịch mắm ruốc, một ký đậu phộng và nửa ký đường. Tao sẽ biếu ông ký chích một ít lấy thảo.

Từ đó, túi thuốc của Bông vơi dần. Vĩnh nghiễm nhiên biến thành một cái cầu bắc giữa người có thuốc và người cần thuốc trong anh em. Nhưng nếu có người xấu miệng, Vĩnh vẫn hân hoan mang cái tiếng “mượn đầu heo nấu cháo”, hoặc “của người phước ta”.

Sau lần đầu tiên đi viện về, Vĩnh được giữ cái “phông xông” thoải mái như thế. Thoải mái hơn nữa là mỗi buổi chiều bên những người bạn mới nhưng giờ đã biến thành cũ, Vĩnh ngồi uống với họ một bát nước “nhãn lồng” hoặc một bát nước Hà Thủ Ô bàn những chuyện thăm nuôi sắp đến.

Bạn cũ, mới lúc này hay ngồi với nhau gồm Tiến, Kim, Ấn xệ, Huy, Ý, Dương và Tuấn râu.

Tiến vẫn cái tật ba hoa hài hước, nhưng hiện nay nó đã được anh em đặt cho cái tên mới gọi là Tiến Dế. Sở dĩ Tiến có cái tên này vì gần đây cu cậu phát minh ra một nghề mới để chữa bệnh nghiện thuốc của anh em. Nếu vô địch đô vật VNCH Vương Đắc Vọng hoặc trung úy dù tử thủ Đỗ Duy Tích đề ra châm ngôn “bất cứ sinh vật nào ngọ nguậy được trên mặt đất đều ăn được cả”, thì Tiến cũng sáng tác ra một câu châm ngôn mới: Thuốc mua, thuốc xin hay thuốc lượm đều hút sướng như nhau! Do đó, mỗi khi được đi lao động trên trung đoàn, nó thường lén lút mở một cuộc hành quân khắp mọi xó xỉnh để lượm những mẩu thuốc lá thừa của bọn cán bộ trung đoàn vứt bừa bãi trên mặt đất. Tiến thu thập và bỏ những mẩu thuốc đó vào một cái bao nylon. Khi trở về trại, nó ngồi tách những mẩu thuốc thừa đó thành một nắm thuốc vụn. Kế đó, Tiến đi xin nước điếu của anh em, ngâm thuốc vào nước điếu rồi cầu kỳ đem thuốc ra phơi sương… Những trò góp nhặt hơi bẩn thiểu ấy dù sao đều được anh em đánh cho chữ đại xá, vì chính nhờ đó, đêm đêm cả bọn có tí khói phì phà với nhau bên những bát nước dây nhãn lồng thơm thơm để bàn chuyện… vượt ngục.

Và câu chuyện vượt ngục từ đó bắt đầu nhen nhúm mạnh mẽ trong tâm hồn anh em. Nhất là khi ông già lờ vờ Phạm Xuân Huy gốc tu xuất và lành như cục đất, phát ngôn rằng: Vượt ngục là một bài toán dễ ợt, nhưng nếu không quyết tâm, lạng quạng đến lúc xuống lỗ cũng chưa giải ra!

Khi câu chuyện vượt ngục được đưa ra bàn thì nhóm của Vĩnh chỉ thu lại còn có 6 người. Vĩnh, Huy, Ý, Dương, Tuấn râu và Phạm Điểu.

Nhiệm vụ của Vĩnh lúc này là ở nhà, ngoài những giờ chích thuốc cho anh em, phải uốn hai trăm cái móc làm bằng sợi thép gai có chiều dài chừng một gang tay. Những móc sắt này sẽ dùng để nâng những lớp concertina dầy đặc thả chung quanh trại, dọn đường cho những người vượt ngục chui ra. Bên cạnh nhiệm vụ ấy Vĩnh còn nhiều nhiệm vụ khác. Từ việc trao đổi và tích trữ thuốc Tây, muối, nhất là mì chính (bột ngọt) để dùng làm thuốc cầm máu đến việc se dây thừng, thuổng một con dao phay của nhà bếp để cất dấu vào một nơi an toàn. Nói chung về mặt “tiếp vận” Vĩnh phải lo từ A đến Z.

Sau nhiều lần bàn thảo, mọi người đồng ý đợi qua đợt thăm nuôi sẽ trốn. Ai cũng hy vọng sẽ biết thêm được tin tức của xã hội bên ngoài để chuyến vượt ngục sẽ có một nơi đến chắc chắn hơn, và nhất là có được thuốc men cũng như những món ăn bồi dưỡng của gia đình đem vào. Riêng Vĩnh, Vĩnh nghĩ đến cái địa bàn bỏ túi mà anh nhớ anh còn để trong một ngăn kéo bàn giấy ở nhà…

Khi những cơn mưa tầm tã tháng Mười kéo đến, thì Vĩnh cũng bị chấm dứt công tác y tá đội. Anh bị chấm dứt công tác vì tên quân y không đồng ý cái kiểu làm việc của Vĩnh: Cho khai bệnh quá nhiều.

Vĩnh trở ra ngoài đi lao động với mọi người đúng dịp trại vừa mở một chiến dịch thi công mới, chiến dịch đào hào chung quanh trại cải tạo An Dưỡng. Với lập luận của bọn cán binh trại, Cách mạng phải thực hiện công tác càng sớm càng tốt nhằm bảo vệ các cải tạo viên chặt chẽ hơn, an toàn hơn; tránh những việc đáng tiếc có thể xảy ra nếu một ngày nào đó, nhân dân bên ngoài trại không kềm chế được sự căm phẫn “Mỹ ngụy”, sẽ tràn vào trại để đòi nợ máu…

Công tác đào hào được thực hiện quy mô hơn cả công tác đào ao trước kia. Hầu như đến 90 phần trăm nhân số của các trại được đổ vào công tác này. Đường hào có chiều rộng 4 mét, chiều sâu 3 mét và bao bọc cả 4 trại vào giữa.

Suốt ngày cùng với anh em đào xới những lớp đá ong khô cứng, Vĩnh và các bạn không buồn vì cực nhọc mà buồn vì thấy rằng đường hào rộng như vậy làm sao có thể vượt qua cho những kẻ trốn trại? Dưới sự đốc thúc ngày đêm của bọn cai tù, đường hào mỗi ngày mỗi sâu. Nhưng trước khi đường hào bao quanh các trại tù của An Dưỡng thực sự hoàn tất, thì những cuộc trốn trại liên tiếp xảy ra. Trong thời gian này trại 3 trốn nhiều nhất vì vị trí nằm gần vòng đai phi trường Biên Hòa. Tuy nhiên đa số đều thất bại, bị bắt trở lại và chịu đủ mọi cực hình tra khảo. Để dằn mặt tất cả những kẻ âm mưu trốn trại, bọn cai tù đã trói những người trốn trại bằng dây thép gai trên đường dẫn họ trở về trại thụ hình. Thường khi về tới trại, tội nhân chẳng mấy ai còn trông ra dáng con người nữa. Bầm dập, máu me và lê lết như những con vật bị một đàn hổ đói săn bắt và sắp tới giờ bị chúng xé thịt.

Dù tình trạng như thế, ông già Huy vẫn một mực thúc hối đám Vĩnh phải quyết định ra đi sớm. Anh lý luận: Nếu để cho đường hào thành hình thì có tháp cánh cũng không bay ra được… Tuy nhiên lời thúc hối của Huy không được anh em đồng ý. Tỷ lệ thất bại đã quá cao trong tổng số những người trốn trại, đã khiến cả toán rất cần thì giờ nghiên cứu lại vấn đề. Tại sao họ thất bại? Có thực bên ngoài dân bắt họ trao lại cho công an địa phương trên đường đáo thoát như bọn cán bộ trại tuyên bố hay không? Hay họ bị bắt bởi những toán vệ binh đóng chốt bên ngoài? Không thể được! Chuyện trốn trại không thể làm bừa bãi mà xong được, vì thất bại là chết. Những cuộc xử tử người trốn trại từ Trảng Lớn về tới đây đã xảy ra quá nhiều lần. Làm ẩu không nghiên cứu ăn đạn kiểu đó đau lắm!

Người trầm tỉnh và nhiều kinh nghiệm mưu sinh thoát hiểm nhất trong đám là Nguyễn Văn Ý cũng không đồng ý với Huy. Ý nói: Ráng nhẫn nhục ăn cơm tù một thời gian nữa rồi tính. Tôi chưa muốn làm liệt sỹ lúc này.

Trong đám, mọi người đều tin tưởng vào sự dẫn đường của Ý. Vùng đồi núi Biên Hòa là vùng hoạt động của anh trước kia. Và trục lộ dẫn về miền Phú Cường Bình Dương cũng chỉ mình anh có thể đi tới. Do đó, không ai bàn tính gì thêm nữa.

Phải thú thực khi thấy Huy đã nghe lời Ý, Vĩnh rất mừng. Anh không thể nói được anh là một người quá can đảm, khi nhìn thấy những cực hình các bạn trốn trại đã và đang chịu đựng. Dẫu biết rằng ở tù Cộng sản mà không tự cứu mình thì không ai có thể cứu mình được cả, nhưng cứ nhớ lại hình ảnh Ngô Nghĩa bị xử bắn mà anh được chứng kiến, hình ảnh của Nguyễn Xuân Dung bị bắn thủng như tổ ong và còn nhiều người khác nữa nằm vắt xác trên hàng rào trại, hình ảnh những con vật người bị trói bằng dây thép gai, bị báng súng đánh vỡ xương sọ, gẫy xương sống ngay trước mắt bao nhiêu người, bị bắn trọng thương ngoài đồng trống và cứ để mặc cho ruồi bu kiến đậu… Những hình ảnh ấy đã ăn sâu vào óc Vĩnh và không khỏi không làm anh rùng mình, rùng mình rồi sợ, sợ rồi muốn buông xuôi cho xong một kiếp người tù tội. Đồng lúc ấy, cái máu lính trong người Vĩnh lại nổi lên dày vò anh. Nó chửi anh, chửi cái thằng năng tri bất năng hành trong anh là thằng hèn hạ; chửi cái thằng văn nghệ trong anh là thằng đốn mạt, chỉ biết rên la mà không bao giờ đám làm một cái gì để thoát khỏi cái cảnh đày đọa này.

Người lính trong anh đã bao đêm lên tiếng chửi anh thậm tệ, và để phản ứng lại, Vĩnh không biết làm cách nào hơn là lại viết. Anh viết trong óc anh và anh hát khe khẽ cho người lính trong anh nghe tâm trạng thực của mình.

Về đây tôi nằm lắng nghe tôi Hồ như linh hồn cũng nghe vơi Về đây nhen nhúm trong lòng tôi Lửa diêm sâu chín tầng bóng tối.

Về đây nghe vật vã cơn mơ Làm xanh tôi tiềm thức năm xưa Về đây đôi vó câu nằm chơi Buồn thay cho cánh hồng im lời

Người về đây gối đất Đêm hoang vu trong đầu Nằm lắng tai nghe cuộc đời Lắng nghe sa mạc dần lan trong cơn mơ thôi

Về đây nghe buồn quá thân trai Bại binh sao chẳng chết theo ai Về đây đêm tối như trùng vây Nằm nghe non nước gọi u hoài… Những dằn vặt trong lòng cộng với bệnh tật tiếp tục âm ỉ trong người. Vĩnh gầy như một xác lá. Ngày lao động quần quật, đêm về không biết làm sao hơn là lại quây quần với anh em, hút những hơi thuốc lượm lặt của Tiến, uống tí nước cỏ dại dưới cái tên đẹp đẽ “nhãn lồng” mà Kim hoặc Hóa lượm lặt ngoài rừng đem về, nghe Phạm Xuân Huy mỉa mai chế độ, nhìn Tuấn râu lầm lũi thổi lửa trong cái lò nho nhỏ để luôn luôn bảo đảm anh em có nước sôi nấu Hà Thủ Ô nhấm nháp thay cà phê với nhau, lắng nghe Vũ Duy Dương nói về cái lò võ quyền Anh của võ sư Kid Humsey mà nó từng theo học, và nghe Kim châm chọc Dương. Hồi còn bé ở Ông Tạ moa sợ nhất thằng Dương. Sao vậy? Nó dân du đãng nổi tiếng không biết à? Không! Trời ơi, hồi đó moa hãi nó không thua gì moa hãi chó dữ. Đi học gặp nó mà kên kên không cúi đầu xuống, nó đi ngang nhà vác đá ném vỡ cửa kính như chơi…

Khi dãy nhà thăm nuôi đã dựng xong nơi khu đất nằm ở góc trại 4, thì ở các trại, các căng tin cũng thành hình. Những căng tin thành hình để cho người ta một lần nữa thấy rằng từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, Cộng sản luôn luôn làm rùm beng y như những gánh sơn đông mãi võ, quảng cáo cho những món thuốc… giả của mình. Dù trước khi các căng tin được mở, Vĩnh không được nghe tên cán bộ quản giáo lên lớp, vì lúc đó anh nằm bệnh xá, nhưng qua các bạn còn ở lại trại, Vĩnh biết rằng bọn cán bộ các trại đã gom tù lên hội trường nói về sự quan tâm của Cách mạng đối với các cải tạo viên, rằng thì là việc thực hiện các căng tin là một chiếu cố đặc biệt của Cách mạng nhằm giúp các cải tạo viên có thêm phương tiện bồi dưỡng trong học tập. Ai cũng đinh minh chữ bồi dưỡng được dùng ở đây là bồi dưỡng thể xác, có nghĩa là chúng sẽ mở câu lạc bộ, dù sẽ bán giá cắt cổ, nhưng bọn tù vẫn còn có thể mua sắm thêm tí thực phẩm, bất cứ loại thực phẩm nào, miễn ăn cho no sau những tháng ngày lê lết đói. Thế nhưng khi căng tin thành hình thì mọi người đều ngã ngửa. Căng tin không phải là câu lạc bộ bán đồ ăn như mọi người tưởng. Căng tin của Việt cộng là một cái lều tranh nhỏ, bên trên là một mái tranh tròn che mưa nắng, dựng trên một cây cột lớn. Trên cột ấy, bọn tù đóng một cái khung gỗ để đính hai tờ báo, một tờ Nhân Dân và một tờ Sài Gòn Giải Phóng!

Dù là tâm trạng chung ai cũng muốn biết tin tức bên ngoài, thế nhưng sau khi đọc báo, thứ báo chí toàn những thứ tin tức kiểu “anh hùng công an tay không bắt cướp” hoặc “lần thu hoạch vụ mùa vừa qua xã A đã vượt chỉ tiêu”… Những cái tin như thế, cuối cùng chỉ mua được thêm một số câu chửi thề của người đọc, nhất là người đọc lại là những tên tù có đủ lý do nhất để không bao giờ tin được những mẩu tin của một bọn bồi bút đã và đang hùa theo bọn độc tài đảng trị, liên tiếp đưa ra những luận điệu tuyên truyền lừa bịp dân chúng, cũng như lừa bịp thế giới. Đọc xong hai tờ báo rồi, tên nào cũng thở dài và phát ngôn linh tinh như nhau: Mẹ kiếp, tưởng bồi dưỡng cái gì, hóa ra lại được bồi dưỡng thêm một số khẩu hiệu nữa!

Do đó, ai cũng thất vọng về cái gọi là căng tin trong tù. Và người thất vọng nhất ấy là ông già Thanh. Ông Thanh là trung úy đại đội trưởng thiết giáp diễn tập trường Thiết Giáp QLVNCH. Ông người miền Nam, già nhưng giỡn và diễu cũng thuộc hạng cao thủ. Vì gẫy mất hai cái răng cửa, nên khuôn mặt ông lúc nào cũng mang một vẻ hơi hề. Tuy nhiên, sau ngày đầu tiên căng tin được khai mạc bằng một cái lều tranh treo hai tờ báo, ông già Thanh trở về phòng và nằm vật xuống như một cái mền rách. Ông vừa nhận ra ảnh con gái ông được đăng nơi trang nhất của báo Sài Gòn Giải Phóng với hàng chữ thật to: Em Nguyễn Thị Cẩm, 15 tuổi, thanh niên xung phong thuộc huyện Thủ Đức được bình bầu cá nhân xuất sắc nhất trong cuộc thi công thủy lợi do Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng huyện tổ chức đợt vừa qua…

Trong lúc ai cũng có trong lòng một mối buồn và một nỗi ưu tư không cách gì giải nổi, ông Thanh buồn vì chả hiểu con gái ông tình nguyện hay bị bắt buộc trở thành một thứ anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa, ông Huy buồn vì anh em chưa một lòng cùng ông giải bài toán vượt ngục trong giai đoạn khó khăn hiện tại, Vĩnh buồn vì những dằn vặt trốn trại hay xuôi tay chịu kiếp tù đày!? Bông buồn vì thấy bịch thuốc Tây của mình giờ đây đã vơi mất quá nửa, và hầu như ai cũng buồn khi hiểu ra ý nghĩa của chữ căng tin mà Cách mạng xử dụng…thì tự dưng có người mừng vui phát điên lên vì được thả!

Bùi Duy Hạ, bạn cùng khóa của Vĩnh được thả trong đợt này. Hắn đi một vòng chào tất cả các bạn vào một buổi sáng trước giờ xuất quân đi lao động. Hạ lôi tất cả mọi thứ hắn có, từ cái mũ làm bằng giấy bồi, từ những manh quần đùi may bằng bao cát cho đến mùng mền chăn chiếu; nghĩa là tất cả những gì hắn có trong cái tài sản thuộc loại cái bang trong tù, hắn đều tặng lại cho bạn bè mỗi người một thứ. Riêng Vĩnh được hắn tặng cho 10 viên Vitamin C loại 50mgs với lời dặn dò: Mày hãy uống mỗi viên với hai lon gô nước. Lợi tiểu vô cùng. Hy vọng mày uống hết 10 viên này sạn trong thận mày sẽ trôi ra ngoài hết. Cứ yên tâm, tao sẽ ghé nhà mày, mô trả tình trạng và nhu cầu hiện tại của mày với vợ con và ông bà già mày. Trong những lần thăm nuôi tới, chắc chắn mày sẽ có nhiều thuốc men để chữa trị…

——————————–

1          Bông bị bắn chết trên hàng rào thép gai trại K.5 Suối Máu vào năm 1978 trong một chuyến vượt ngục bất thành.

Người bay-2

dailymail.co.uk

By Nick Enoch

Posted on 20 Oct 2012 

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Vậy ai rơi nhanh nhất? Những kẻ liều mạng nhảy khỏi gờ núi cao 4.600ft trong giải vô địch bộ đồ có cánh đầu tiên trên thế giới

Tám người lọt vào vòng chung kết đã lao mình xuống núi Thiên Môn Sơn ở Trung Quốc

Trên bầu trời cao trên Núi Thiên Môn ở Trung Quốc, một loạt những kẻ liều lĩnh đã ném mình vào gió… bằng cách ném mình xuống một mỏm đá cao 4.600ft (1.400m). Đây là quang cảnh tại Giải vô địch Wingsuit thế giới lần đầu tiên diễn ra hôm thứ Năm ở tỉnh Hồ Nam. Lần lượt, tám người lọt vào vòng chung kết nhảy ra khỏi vách đá và vượt qua chặng vượt chướng ngại vật dài 1,2 km bao gồm lao qua thung lũng, lặn bên dưới cáp treo và các màn nhào lộn khắc nghiệt khác, trước khi nhảy dù và hạ cánh xuống một ngọn núi trải thảm đỏ. Luật chơi rất đơn giản: người bay nhanh nhất sẽ thắng.

Đây là quang cảnh tại Giải vô địch Wingsuit thế giới đầu tiên ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, vào thứ Năm

Lần lượt tám người vào chung kết nhảy từ núi Thiên Môn

Các phi công phải vượt qua chướng ngại vật dài 1,2 km

Những kẻ liều lĩnh phải băng qua một thung lũng, lặn xuống bên dưới cáp treo và thực hiện nhiều màn nhào lộn cực đỉnh khác

Thể lệ của cuộc thi rất đơn giản: người bay nhanh nhất sẽ chiến thắng

Một người bay bên dưới một số cáp treo

Julian Boulle người Nam Phi đã giành vị trí đầu tiên – lập kỷ lục bay trong bộ đồ có cánh – với thời gian 23,41 giây. Ông Boulle đã thực hiện hơn 11.000 lần nhảy dù và 1.600 chuyến bay mặc áo cánh.

Vị trí thứ hai thuộc về tay đua người Na Uy Espen Fadnes, người đã hoàn thành đường chạy trong 23,55 giây. à James Boole, đến từ Anh, đứng thứ ba với 23,84 giây. VIDEO: Diễn viên đóng thế bất chấp tử thần! Giải vô địch Wingsuit thế giới!

Đó là một thành tích đáng chú ý đối với anh Boole, một vận động viên nhảy dù chuyên nghiệp – như vào tháng 4 năm 2009, anh đã rơi từ độ cao 2.000 ft và rơi xuống tuyết với tốc độ 100 dặm/giờ sau khi chiếc dù của anh không mở được trong chuyến bay với bộ cánh trên Kamchatka, Nga. Anh ta bị gãy lưng, gãy xương sườn, sứt vài chiếc răng và bầm tím phổi nhưng thật đáng kinh ngạc, anh ta vẫn sống sót để kể lại câu chuyện. Bị buộc phải đeo nẹp trong ba tháng, anh không bao giờ nghĩ mình sẽ có thể nhảy trở lại.

Mỗi bộ cánh bao gồm vải căng giữa tay và chân của người nhảy dù – tăng thêm diện tích bề mặt cho cơ thể con người

Cuộc thi ban đầu dự kiến ​​bắt đầu vào ngày 12/10 nhưng thời tiết xấu khiến điều kiện bay trở nên quá nguy hiểm. Ở trên, một tờ rơi chuẩn bị cất cánh. Mỗi bộ cánh bao gồm vải căng giữa tay và chân của người nhảy dù – tăng thêm diện tích bề mặt cho cơ thể con người. Điều này cho phép chúng di chuyển theo chiều ngang và giảm tốc độ di chuyển xuống mặt đất. Chỉ có 20 người trên thế giới đủ điều kiện tham gia cuộc thi như vậy. Cuộc thi ban đầu dự kiến ​​bắt đầu vào ngày 12/10 nhưng thời tiết xấu khiến điều kiện bay trở nên quá nguy hiểm. Núi Thiên Môn nằm ở Trương Gia Giới và từ Thiên Môn được dịch là ‘cổng trời’ – ám chỉ cái hố tự nhiên khổng lồ trên núi.

Julian Boulle người Nam Phi (ở trên) chiếm vị trí đầu tiên – lập kỷ lục bay trong bộ đồ có cánh với thời gian 23,41 giây

Đãi cát tìm vàng

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on December 9th, 2021

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Trong tác phẩm “Bông hồng vàng”, Paustovsky nói ra suy nghĩ của những người mần văn: “Tôi sống, tôi yêu, tôi đau khổ, tôi hy vọng, tôi ước mơ. Rồi sớm hay muộn, đến một lúc nào đó, tôi sẽ phải viết nó ra. Vì tâm hồn, trái tim, khối óc tôi đòi hỏi tôi phải làm như vậy”.

Ðúng thế! Những kinh nghiệm sống của chính mình hoặc của ai kia, tất cả đều là những hạt bụi vàng nhỏ li ti trong đời. Nhà văn cần mẫn bòn đãi, thu gom những hạt bụi vàng ấy. Xong, khè chúng trong lửa đỏ, tan chảy ra rồi đặc quánh lại thành một bông hồng vàng, một tác phẩm, để dâng hiến cái đẹp ấy cho độc giả, cho đời.

Vì vậy viết là phải đọc. Ðọc mà không hiểu thì làm sao? Không hiểu, không rành thì đi hỏi người khác. Hỏi cho trúng khía. Nghĩa là hỏi cho trúng người, trúng cái chuyên môn của họ thì cái họ trả lời là khả tín, ít trật hơn.

Thời buổi thông tin bùng nổ trên toàn cầu bây giờ cũng có cái hay và cái dở. Hay là mình học được rất nhiều điều bổ ích mà hổng phải móc xỉa, hổng phải tốn tiền. Dở là thông tin rác, thông tin “cát” trên web nó nhiều vô thiên lủng. Mình phải dùng cái đầu của mình để đãi cát tìm vàng mới đặng. Chắc ăn nhứt là tìm lời cố vấn, dạy bảo ngay trong nhà mình. Không biết thì cứ hỏi em yêu (tức con vợ của mình). Em nói A; mình làm B! Cứ làm ngược lại lời em dạy; chắc chắn mình sẽ thành công 100%.

Tóm lại: mần văn là đụng tới chữ nghĩa. Ðụng riết rồi quen. Quen mà thấy chữ gì là lạ, theo ý mình, cho là thiên hạ xài không trúng (nghĩa là trật) thì trong lòng ấm ức, bứt rứt lắm. Không nói ra, để đó sẽ bị sình bụng. Mà nói ra, chỉ ra thì mích lòng. Nhưng ở đời mà sợ mích lòng thì kiếm chuyện khác mà mần đi; đừng có mần văn. Không sửa lưng người khác hoặc bị người khác sửa lưng thì đâu có học được thêm cái gì. Viết lâu tới đâu cũng không tiến bộ chút nào. Như con rùa chậm tiến bò quanh trong cõi văn chương. Chán lắm!

Phần ông bà mình nói, đời hổng có ai cái gì cũng biết. Ông bà Tàu thì nói “Nhân vô thập toàn”. Còn ông bà Úc thì nói: “No one is perfect”. Chính vì vậy, mình biết tới đâu mình nói tới đó. Cứ nói, cứ cãi sùi bọt mép. Cãi tới cái trúng nó văng ra cái đụi, mình lượm về xài. Người được lượm dĩnh mặt, vênh râu ra vẻ: thế gian có ba bồ chữ về tao hết ráo. Trên thông thiên văn dưới tường địa lý. Còn chính giữa, tức cái bụng, để đựng mồi và rượu. Còn người cãi nhớ đừng hung hăng quá mà lên cơn nhồi máu cơ tim, rồi bỏ mạng giữa sa trường “cãi” nhe mấy cha!

Trong thế giới văn chương, theo ý tui, nên cư xử như hòn đá lăn (rolling stones) có nhiều góc cạnh. Hay hơn là cư xử như hòn sỏi tròn vo. Một chuyện mà ông nầy nói ngược; bà kia nói xuôi. Hai người chỏi nhau như nước với lửa mà mình đứng chính giữa chàng hảng: ông đúng, bà cũng đúng thì chán lắm. Viết ba phải như vậy là người thừa trong cõi văn chương.

Cãi để học. Cãi trong văn chương là cái cãi tao nhã của tao nhân mặc khách ở chỗ “tao đàn, mầy đàn”. Chỉ cần nhớ nhà văn không phải dân chơi Cầu Ba Cẳng, cãi không phải là cãi lộn.

o O o

Vậy là tui cứ lui cui đọc để đãi cát tìm vàng. Thì thấy bên đất Hoa Kỳ, có một bản tin là: “Tổng thống Biden vào bệnh viện xoi ruột, bà Harris tạm thời lãnh đạo đất nước”.

Cái tít nầy kỳ kỳ sao đâu! Xoi ruột hay soi ruột? Thì lục lạo trên từ điển thì thấy vầy nè: “Xoi, động từ là dùng vật hình que nhỏ chọc vào cho thông, cho hết tắc. Như: xoi cống, xoi thông ống điếu. Hoặc xoi là làm cho thủng, cho có lỗ bằng cách dùng vật nhọn chọc vào.

Như vậy ruột đâu có tắc mà đòi đè ông Biden, Tổng thống Hoa Kỳ, Trùm Ðế quốc Mỹ ra xoi rồi làm lủng ruột của ổng hay sao?

Viết xoi ruột là viết ẩu, viết cẩu thả. Phải viết là soi ruột mới đúng. Tại sao vậy? Vì soi, động từ nghĩa là: rọi ánh sáng vào để nhìn cho rõ hơn bằng dụng cụ quang học. Soi ruột bây giờ bác sĩ còn gọi là làm nội soi.

o O o

Rồi tui lại đọc trên VOA, cái đài nầy xưa giờ cũng khá là uy tín thì lại thấy chạy cái tít là: “Hay là Tô Lâm bị cài bẫy?”.

Chuyện rằng: Ðại tướng, Bộ trưởng Công An CS, Tô Lâm đi đớp thịt bò bít tết dát vàng tại nhà hàng Thánh Rắc Muối ở thủ đô Luân Ðôn nước Anh. Rồi, trong khi bà con trong nước đang đói nhăn răng vì COVID-19 hoành hành; nên bà con quạu, chửi bới thằng chả um sùm.

Chữ “cài bẫy” nầy lạ quá! Lục tùm lum thì thấy thiên hạ cắt nghĩa như vầy: “Cài bẫy là cài người vào hàng ngũ địch”.

Hồi xưa mình gọi là nội tuyến. An ninh Quân đội bắt được mấy tay ăn cơm quốc gia thờ ma CS nầy là đưa nó ra Tòa án Quân sự Mặt trận.

Thế thì nên viết là: “Hay là Tô Lâm bị gài bẫy?” thì đúng hơn chớ? Vì “gài bẫy” là giương bẫy gài chốt để bắt thú. Là lập mưu gạt bắt kẻ gian. Do đó chỉ cần đổi chữ “cài” qua chữ “gài”, khác nhau chỉ một mẫu tự “c” và “g” mà cái tựa đề của bài báo thâm thúy (chửi xỏ) hay hơn nhiều!

o O o

Rồi trong một bài báo, tui cũng có viết là: “Ngày này năm xưa. Vào ngày 24 tháng 11 năm 1971, một người đàn ông mua vé dưới tên “Dan Cooper” đã cướp một chiếc máy bay phản lực của Hãng hàng không Northwest giữa Portland và Seattle. Hắn ta đã tống tiền được 200,000 đô la Mỹ tiền chuộc. Rồi hắn ta tẩu thoát bằng cách nhảy dù khỏi máy bay. FBI từ đó tới giờ chưa bắt được và không xác định chánh xác nhân thân của tên không tặc nầy”. Thì có một độc giả (tình thương mến thương) xỏ ngọt tui như vầy: “Nhà báo bây giờ tiến bộ xài “nhân thân” thay cho lý lịch?”.

Câu xỏ ngọt như vậy làm cả một thời Miền Nam bị CS đày đọa bởi cái chữ lý lịch 3 đời nó hiện về như cơn ác mộng. Tui bèn trả lời ổng như vầy: “Câu nầy có hai mệnh đề phủ định (negative clause) nối với nhau bằng chữ “và”, liên từ đồng đẳng (cordinate conjunction). Có thể tách ra làm hai câu là:

  1. “FBI từ đó tới giờ chưa bắt được (tên không tặc); nên chưa biết y là ai”?
  2. FBI không xác định chánh xác nhân thân của tên không tặc nầy. Nhân thân tức gốc gác, vợ con, cha mẹ, anh em họ hàng, FBI cũng không biết luôn.

Như vậy “nhân thân” không phải là “lý lịch” mà CS xài sau năm 75. Mà xài chữ lý lịch là sai. Trong từ điển Hán Việt, không có chữ lý lịch (lý viết y dài). Chỉ có chữ lí lịch (lí viết “I” ngắn). Lí lịch là chỉ chung công việc đã làm và hoàn cảnh đã qua. Mà CS biết lí lịch tới ba đời kể cả bên vợ của mình để làm gì? Ðể trả thù chớ để làm gì! Chế độ CS là một chế độ bị bịnh “Bách hại cuồng”. “Bách hại cuồng” là nhìn đâu cũng thấy kẻ thù muốn hãm hại mình. Vì bị bịnh nặng như thế, nên CS mới trả thù quân cán chánh VNCH một cách tàn ác không giống ai.

Nhớ hồi xưa, 16 tuổi trở lên, mình làm thẻ căn cước bọc nhựa. Ðể cho biết: họ tên, ngày, nơi sanh, tên cha mẹ, địa chỉ. CS vô thì bắt làm chứng minh nhân dân. Thiệt là chuyện ruồi bu. Người dân da vàng mũi tẹt, húp nước mắm mà lại phải chứng minh mình là nhân dân!

Sau 46 năm dài, chắc nhận thấy dùng chữ “chứng minh nhân dân” như vậy là ngu lâu, ngu bền vững nên CS lẳng lặng lấy chữ căn cước của VNCH ra xài. Nhưng vẫn còn ngoan cố thòng thêm chữ công dân.

Kết luận là, hồi xưa mình không xài chữ lý lịch mà xài chữ “lai lịch” để chỉ nguồn gốc, gốc gác của một người. Vì thế cho nên thay chữ “nhân thân” của mình hay xài bằng chữ “lý lịch” CS hay xài là trật lất. Ông xúi bậy tui không hè. Chữ của ông bà mình để lại, xin ông đừng có mà giỡn mặt chớ!

ĐXT

Con đường kỷ niệm

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on November 11th, 2021

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Những năm đầu thập niên 1860s, khi người Pháp đặt chân lên đất Sài Gòn chỉ có 26 con đường bắt đầu từ số 1. Ngày 1-2-1865, Phó Ðô đốc Pierre Paul Marie de la Grandière (1807 – 1876) đặt tên cho 26 con đường nầy. Như ở quận Ba, đường Legrand de la Liraye thời Tây, thời VNCH của mình là Phan Thanh Giản và thời CS là Ðiện Biên Phủ.

Trải qua hơn 300 năm, thương hải tang điền, biển xanh hóa thành nương dâu, Sài Gòn hiện có hơn 1,500 con đường lớn, nhỏ. Tên đường trùng lắp nhau, làm thiên hạ không biết đâu mà rờ. Giao thông Sài Gòn rối như canh hẹ. Vì đứa nào cướp được chánh quyền là đòi làm cha, muốn làm gì thì làm. Tên đường muốn giữ hay loại bỏ là tuỳ hỉ, vui buồn mưa nắng.

Sau 1975, hầu hết những con đường mang tên các nhân vật lịch sử có liên quan đến triều đình nhà Nguyễn (Chúa Nguyễn Ánh), từ các vị vua như: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức… đến các quan văn võ như: Phan Thanh Giản, Lê Văn Duyệt, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Trương Tấn Bửu, Trương Minh Giảng, Ðỗ Thành Nhân, Petrus Ký, thậm chí cả Phan Ðình Phùng, Trần Quý Cáp đều bị gỡ xuống. Thay vào đó là những cha căng chú kiết, công trạng với nước Việt Nam như thế nào thì không ai biết.

Hồi VNCH, vùng Tân Ðịnh, có đường Hiền Vương (thời Tây là Mayer) sau CS đổi tên thành Võ Thị Sáu. Hiền Vương là Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền, 1648-1687); là người có công rất lớn trong việc cho người Minh Hương nhập cư, chung sức khai khẩn miền Nam. Nhưng chúa Hiền vẫn bị CS kêu đi chỗ khác chơi. So với công trạng của Hiền Vương, Võ Thị Sáu chỉ là một thiếu nữ khủng bố giết người.

Nhưng đường Paul Blanchy, thời VNCH là đường Hai Bà Trưng chạy ngang qua mặt tiền chợ Tân Ðịnh và đường Mã Lộ phía sau chợ, CS không dám đụng tới. Vì chúng sợ Hai Bà hiện về vặn cổ từ trước ra sau, và chúng sợ ngựa đá cái bụp, không còn cái răng mà ăn cháo bào ngư hay chăng?

Mà nhắc tới đường Mã Lộ là buộc tui phải đề cập tới chợ Tân Ðịnh trước. Vì hai cái đó, nó xà nẹo với nhau. Chợ Tân Ðịnh là một trong 5 ngôi chợ xưa nhất tại Sài Gòn: Bến Thành, Tân Ðịnh, Bình Tây, An Ðông và Bà Chiểu.

Khởi công năm 1926, năm Bính Dần. ‘Khai thị’ năm 1927, năm Ðinh Mão. Năm sau, Mậu Thìn 1928, là năm chào đời của tía tui. Như vậy tui phải kêu chợ Tân Ðịnh bằng bác.

Chợ Tân Ðịnh xây sau chợ mới Bến Thành 13 năm, Thống đốc Nam Kỳ Blanchard de la Brosse đã đến dự lễ ‘khai thị’.

Tờ Công Luận Báo ngày 25.7.1927 đưa tin: “Sớm mai ngày 26 Juillet vừa rồi, lối 9 giờ Sở Ðốc lý thành phố Saigon có bày cuộc lễ khai thị ở Tân-dinh. Thiên hạ đến coi đông như kiến, lính tráng khó bề dẹp được. Giữa chợ treo cờ xí đủ màu coi đẹp lắm. Các quan và Sở Ðốc lý phải đến bày cuộc lễ này, đứng nơi trong, đợi quan Nguyên soái Nam kỳ, chính giữa để một cái bàn có để rượu sâm-banh, mấy người nấu ăn đứng xung quanh coi ngộ lắm. Bước vô bên tay mặt một tấm vải giăng ra và một dàn (sic) máy chớp bóng. Tám giờ đúng, một cái xe hơi đưa quan Nguyên-soái Nam kỳ đến, đậu trước chợ, gần hàng rào. Quan Nguyên soái Nam kỳ bước xuống bắt tay quan Ðốc lý (thị trưởng) thành phố Saigon, Lefebvre và ông Héraud Hội trưởng Hội đồng quản hạt, rồi bước thẳng vô chợ. Kế, quan Ðốc lý đọc một bài diễn văn tỏ ý cho trước là quan Nguyên soái Nam kỳ, sau các chức việc biết rằng cái chợ nầy mà cất thành đây là nhờ Sở Ðốc lý ham muốn mở mang hầu cho thành phố Saigon nầy có nhiều nơi tốt đẹp. Bởi vậy Sở Ðốc lý không dụ dự chút (sic) nào mà xuất tiền cất chợ và cũng là nhờ quan Nguyên soái Nam kỳ dự vào nữa. Ông Hội trưởng Hội đồng quản hạt đã ở Saigon lâu rồi có thể biết những điều cần ích, nên muốn Saigon này đứng hàng ngũ cho xứng đáng ở cõi Viễn Ðông nầy vậy. Rốt hết quan Ðốc lý mời quan Nguyên soái Nam kỳ dùng rượu và chúc cho thành Saigon nầy sung thạnh…”.

Bản tin nầy, xin chép lại nguyên văn, cách đây gần một thế kỷ, mà ông phóng viên tường thuật một cách gọn gàng nhưng đầy đủ và dễ hiểu.

o O o

Từ đó, chợ Tân Ðịnh bán đồ tươi ngon, giá có cao hơn các chợ khác một chút, nên gọi là  chợ nhà giàu. Trong chợ Tân Ðịnh, sạp thịt, chỗ bán cá ở giữa. Xung quanh là sạp bán rau cải, sạp bán giày dép. Sạp bán trái cây thì nằm ngay mặt tiền, số 336 đường Hai Bà Trưng. Ai có sạp cố định trong chợ thì đóng tiền mỗi tháng. Ai ngồi quanh chợ phía ngoài thì đóng hoa chi, ngày mua một vé, y như vé xe buýt.

Mỗi sạp rộng chừng 1.5 mét. Người bán vải tệ lắm phải mướn tới 2 sạp mới đủ chỗ. Thời CS, Ban Quản lý chợ Tân Ðịnh chơi láu cá, rút chiều ngang mỗi sạp chỉ còn 1.2 mét. Diện tích chợ vẫn thế nhưng số sạp tăng lên để bọn chúng hốt thêm tiền.

Bên tay trái chợ là đường Bà Lê Chân, thời Tây là đường Alexandre Frostin. Bà Lê Chân (20-43) là nữ tướng của Hai Bà Trưng thì đặt tên đường có dính với đường Hai Bà Trưng thì cũng có lý.

Bên tay phải chợ thời VNCH là đường Trần Văn Thạch (1905-1945), thời Pháp là Vassoigne. Thời CS đổi tên là đường Nguyễn Hữu Cầu (1712 – 1751), thủ lĩnh một cuộc khởi nghĩa nông dân Ðàng Ngoài vào giữa thế kỷ 18.

Ông Trần Văn Thạch là ai? Tội gì mà bị CS đuổi nhà? Té ra ông Trần Văn Thạch chỉ có cái tội là yêu nước. nhưng ông không phải là Việt Minh. Ðậu tú tài Pháp hạng ưu ở Sài Gòn năm 1925, ông Trần Văn Thạch qua Pháp du học năm 1926. Tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa Văn chương Ðại học Sorbone (Paris) ngày 2-11-1929. Về nước đầu năm 1930, ông Trần Văn Thạch không làm quan cho Pháp, mà chỉ đi dạy tư thục, xuất bản và viết cho tờ “La Lutte” (Tranh đấu) bằng Tiếng Pháp.

Sau khi cướp được chánh quyền vào tháng 8, năm 1945, Việt Minh bắt giết hết các nhà hoạt động chính trị khác tổ chức. Và ông Trần Văn Thạch bị giết ngày 23-10-1945 tại Bến Súc, Thủ Dầu Một.

Ðường Trần Văn Thạch ngày xưa (đường Nguyễn Hữu Cầu ngày nay), có xe đẩy bán sâm bổ lượng và hủ tiếu, có rạp chiếu bóng Mô-đẹc. Sau 75, chợ trời bán thuốc Tây ì xèo trên đường Nguyễn Hữu Cầu, kéo dài tới đường Trần Quang Khải. Sáng mang ra sạp bán, chiều lại dọn vô. Sau, CS cho xây sạp có mái tôn rộng chừng 1 mét. Ðược một thời gian, thằng khác lên dẹp. Những sạp này bị đập đi để trả lại đường cho xe cộ.

Mặt sau chợ Tân Ðịnh là đường Mã Lộ ngang chừng 14m, dài chừng 120m, bắt đầu từ đường Nguyễn Hữu Cầu đến đường Bà Lê Chân. Thời Pháp thuộc, đường này tên Lê Văn Duyệt. Từ ngày 16-10-1955, chánh quyền Ðệ Nhứt Cộng Hoà đổi là đường Mã Lộ cho đến ngày nay.

Tại sao gọi là Mã Lộ? Vì hồi xưa lúc chưa có xe lam, xe xích lô máy, xe ba gác (gắn máy Sachs), bà con mình chở hàng hóa toàn bằng xe ngựa. Sáng sớm từ vùng ngoại ô: Hóc Môn, Gò Vấp, Tân Bình… lóc cóc, “xe nhịp đằm khơi” ngừng sau chợ để xuống hàng bông. Nhiều xe ngựa đi nên được gọi là Mã Lộ (đường của ngựa).

Nghe không nên thơ chút nào, nhưng Mã Lộ là con đường tình sử của một người sa cơ thất thế như tui. Tù cải tạo ở Suối Máu được thả về, tui đi làm khu khuân vác. Rồi tui “chớp chớp” được em bán hàng bông quê ở Hóc Môn cám cảnh người lỡ vận. Tình yêu thời mất nước. Duyên tình cháo đậu nước cốt dừa, tép rang, hột vịt muối mỗi ngày. Vô mánh thì đôi ta rượu đế, rau răm hột vịt lộn có nhau. Ðời dẫu thiếu điều muốn mạt nhưng nên thơ hết biết.

Nhưng rồi “gió đưa cây cải về trời; rau răm ở lại chịu lời đắng cay”, tui nỡ lòng ngựa phi, ngựa phi đường xa, dông thuyền ra biển, dông luôn; bỏ em lại bên kia trời lận đận tới tận bây giờ?

Ôi em Hai ơi, chỉ vì CS ác tâm, chớ lòng “qua” nào có muốn phụ em đâu!

ĐXT

Năm canh

phamcaohoang.blogspot.com

Hồ Đình Nghiêm

Post on 11 Dec 2016

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Anh chưa có dịp nhìn thấy hoa quỳnh nở. Giống hoa kia luôn khai mở giữa canh khuya? Vợ chồng người bạn vẫn thường gọi điện, hẹn hò đến nhà họ ngắm hoa thưởng trà và khi nghe anh than, họ đùa kiếp trước bạn làm một đoá quỳnh hương. Sự ví von kia hẳn là sai lạc, bởi nói về hoa chẳng ai liên tưởng và áp đặt vào phận một đứa con trai, một thằng đàn ông, một thứ giống đực. Ma cà rồng cũng sinh hoạt về đêm vậy, sát thủ hoặc bọn tội phạm cũng mặn bóng tối để lấy đêm làm ngày mà thi triển bao thủ đoạn ám muội. Và mèo, giữa thanh thiên bạch nhật đời nào nó chịu nhảy lên máng xối khản giọng rù quến bạn tình.

Người ta đưa ra hai cách, chọn một trong hai: Công ty mở thêm chi nhánh ở thành phố khác, sẽ bao phí tổn khi di dời. Nhược bằng muốn trụ ở đây bạn phải làm ca đêm. Tiền kiếp của loài hoa quỳnh khởi sự là thế. Không có phương cách thứ ba? Có chứ, từ chối cả hai để vô công rỗi nghề. Hoặc làm bảy nghề theo cách hiểu chữ nôm: Thất nghiệp! Như thế thì buộc phải héo người, những cách rụng và tàn úa một đời hoa, một hạn người.

Ra đi cũng lắm người, Tây Mễ Phi Tầu Việt nhưng nán ở, may cho anh còn có Nancy. Chỉ là danh xưng thôi, cho khỏi trẹo mồm, với anh muôn đời vẫn là Nguyệt. Từ khi trăng là nguyệt mà cũng lắm bận nguyệt là nancy. Trăng tròn hoặc khuyết và nhiều đêm chị hằng chẳng rõ trốn đi đâu. Anh từng ngó lên một bầu trời không trăng sao. Đêm nay là một bằng chứng, đêm thắp sáng màu tuyết trắng, không biết Nguyệt đã chui ra khỏi chăn mền?

Cả anh và Nguyệt rất không ưa mó tay vào điện thoại, theo thoả thuận ngầm anh sẽ âm thầm đậu xe ngay trước cửa nhà Nguyệt vào 9 PM. Mười giờ tối người và máy cùng khởi động, xập xình ru đời nhau nhé tới năm giờ sáng mới chịu tắt thở. Nguyệt nói, cám ơn anh, không có anh thấy rõ sự u ám. Anh ca cải lương, còn ra thể thống gì khi anh phải để cho ai kia làm thân gái dặm trường; một mình nàng giữa canh thâu là điều cần tránh. Nguyệt giấu cảm xúc bằng cách mua một bình thuỷ lớn, cô pha cà phê thơm dàng trời để đổ vào giữ nhiệt rồi biết xuống sáu câu: Tránh đêm dài lắm mộng, anh có táo bón, mặt nổi mụn hoặc nhồi máu cơ tim thì đừng vu oan cho Nguyệt. Anh ca thầm, ra ngoài lời thoại trong kịch bản: Đôi lúc người ta sẵn lòng chết cho những ân cần dù bé mọn. Juliet uống độc dược hàng nhái, chỉ vài canh giờ sẽ hồi sinh và vấn nạn nằm ở chỗ Romeo đã không nhận được thông tin. Lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó thoát là vì vậy. Nếu cả hai đều sống sót? Chuyện chẳng còn gì đáng nói. Hoa nở ra mà hoa không mùi.

Tuy biết Nguyệt chuyên cần làm sẵn bình cà phê luôn mang theo nhưng anh, trên đường đến chỗ Nguyệt, vẫn thường ghé mua một ly cà phê đậm đặc, ở ngoài họ chú thích “Coi chừng nóng phỏng tay”. Cái sự nóng bỏng kia sẽ trở thành nguội ngắt khi Nguyệt xuất hiện và bao giờ cô cũng hỏi khi mở cửa: Anh đến lâu chưa?

Anh đậu xe ở chỗ thuận tiện, dễ cho ai đứng sau vuông cửa đèn vàng ở lầu một trông xuống dòm chừng. Một ngày nào địa điểm này thôi còn bóng dáng chiếc xe quen mắt lắm bùn lầy, chẳng rõ Nguyệt có gọi taxi? Anh ngước mắt lên, cửa có hai tấm kính trông như một cuốn sách đang mở. Mùa hè, tấm màn phía sau được vén, ẩn hiện trang sách viết về cách thay đổi xiêm y của một nữ nhân đầy vui thú; các mùa còn lại thường màn che trướng rũ, trăng lặn mà Vân Tiên dài cổ hổng thấy Nguyệt Nga đâu.

Nguyệt sang bên này đã lâu, trước anh những năm mùa lá rụng. Nguyệt kể ban đầu cô ở Đan Mạch, một đêm xấu trời lái xe bị lạc chẳng nhìn ra phương hướng, thời gian đó chưa có máy định vị, chưa ai phát minh ra điện thoại thông minh, Nguyệt tấp xe vào một quán ăn đang tới giờ đóng cửa, cô tìm tới buồng điện thoại công cộng lật giở cuốn niên giám tìm mẫu tự N. Anh biết sao không? Nguyệt hỏi rồi tự trả lời, vì theo thống kê Nguyệt được biết người Việt đa số đều mang họ Nguyễn. Đêm ấy, trong cuốn niên giám ở xứ Đan Mạch xa ngái ấy, hiện ra bốn người bắt đầu bằng chữ Nguyen. Hai trong bốn không có ai bắt phone, người thứ ba nhấc máy, phụ nữ giọng Bắc: Cô gọi nhầm số. Moi tiền xu nhét vào khe để cá cược lần cuối. Chuông reo, chuông reo… 

Đoạn đường tới chỗ làm không đủ dài cho chuyện kể tròn đầy, nhưng anh, trong lúc lao động anh thừa sức để viết tiếp, hoàn thiện một chương nói tới định mệnh, rằng cái nhân vật thứ tư, một ông Nguyễn nào đó đã đêm hôm cởi áo làm Lê Lai liều mình cứu chúa, mang Nguyệt thoát ra khỏi trùng vây và họ đã gây nên một tiếng sét, một phút đầu tinh tú quay cuồng. Anh đã từng bắt tay người đó, người sợ ngôn ngữ Đan Mạch nhưng không ngại ngần để anh thồ Nguyệt hằng đêm đến sở. Anh vui vẻ chở người bạn đồng nghiệp, kín miệng chẳng buồn hỏi vì sao khi ta chửi thề, có người trách đừng nên xổ ra tiếng Đan Mạch. Xem mặt mà bắt hình dong. Câu ấy rõ là hàm hồ. Nếu anh đóng vai chồng, anh sẽ hoài nghi tất thảy những thằng đàn ông khác, bởi đêm hôm quạnh vắng thứ không gian đó sẽ thích hợp cho hoa quỳnh uốn thân khai hoa nở nhuỵ. Và tại sao lại hiện ra thành ngữ “Đêm hôm nhà ngói cũng như nhà tranh”? Ngói hay tranh cũng không sống qua được với thần hoả. Cháy nhà ra mặt chuột. Nhiệm vụ cơ bản mà con người luôn tự đấu tranh, ấy là cố giữ mình khác hẳn các loài vật. Chuột là từ mà người bản xứ dùng nhằm nói đến những kẻ phản bội, đứa tráo trở, tên nằm vùng, hạng sẵn lòng bán đứng người gia ơn.

Hôm nay ngoài thức uống là cà phê cho anh tỉnh táo, Nguyệt còn mang cho anh sáu cuốn chả giò tôm cua vừa chiên lúc bẩy giờ chiều. Con gái Nguyệt trách: Mẹ bủn xỉn quá, có ai đáng yêu như chú ấy đâu. Nó đã lén gói thêm một cái bánh muffin cho chú ấy ăn tráng miệng. Nguyệt mở máy điện thoại, đưa cho anh xem hình cái nhân vật thông minh hơn cả cái iPhone Nguyệt nắm. Cô bé áng chừng 12 tuổi mang một vẻ đẹp khó cắt nghĩa. Anh vẫn bất bình khi người ta ra công ca ngợi hoa hồng mà ít kẻ tán tụng một đoá tường vi. Cái e ấp nó giữ thích hơn là sự chín muồi mãn khai. Nhưng sa đà vào nơi thuần khiết thánh thiện ắt sẽ bị lên án là lạm dụng vào nỗi hồn nhiên nó mang. Và dĩ nhiên anh sẽ không bình phẩm: Nó đẹp hơn mẹ nhiều, về nhan sắc chứ không nói tới sự tế nhị. Cháu tên Suzy, hình thứ hai cháu buông lơi mười ngón trên phím đàn piano, lưng thẳng, tóc mượt đổ, đôi mắt nhắm, môi hồng và cháu đang rụt rè bước tới ngưỡng cửa thiếu nữ. Một loạt ảnh lướt qua theo ngón tay Nguyệt kéo trên màn ảnh nhậy cảm, ngón tay dừng và hiện hình một khuôn mặt hư hao. Nguyệt chụp lén anh đứng bên máy, Suzy nói mẹ thật bất lịch sự, sao không mời chú ấy vào nhà. Nguyệt trả lời, nếu người ta chẳng thích vào thì người đó có bất lịch sự không? 

Không mấy lịch sự hoặc rất đỗi lịch sự thì cuối cùng phải tới lúc anh lách người qua khung cửa hẹp đó một chiều cuối tuần. Anh vừa ghé chợ Đại Hàn để lựa mua một thùng trái cây nhập từ Tây Ban Nha. Lạ không? Đất chốn đó mầu mỡ kiểu gì mà quýt, trái hồng, trái mãng cầu khi chín tới thảy đều ngọt ngào và to một cách “cực đoan”. Ngoài thùng có dán nhãn “Par Avion” tươi rói và bởi thế cái giá cần phải thanh toán nó cao hơn so với cách chúng nhập vào đất này bằng đường thuỷ. Anh mua bởi anh ngán cô bé Suzy sẽ bình phẩm: Người bất lịch sự, được mời tới chung đũa với người ta mà đi mạng không, cứ ưa thỏng tay vào chợ.

Anh đậu xe vào chỗ quen thuộc mỗi đêm, hai tay lu bu ôm món tráng miệng ngọt ngào an toàn thực phẩm chẳng bị phun hoá chất như hàng China đang phát sóng cảnh báo trên TV. Người dân nơi đây vừa đồng thanh đưa ra lời đề nghị “Một tuần không mua đồ Trung Quốc” nhưng anh lựa mua đồ Spain chẳng phải hưởng ứng lời hiệu triệu kia. Nếu hoa quỳnh quá đẹp được bứng về từ vườn nhà ai trồng ở bên Tầu hẳn ta cũng xiêu lòng khi ngồi lặng ngắm nó oằn oại thân cành khi bung nở. Một ngày kia, anh tin, với tài nghệ làm hàng nhái đạt mức thượng thừa như họ, hẳn con cháu của Mao chủ tịch sẽ cho ra đời thứ hoa quỳnh chuyên nở rộ dưới ánh dương quang. Đêm hôm thì bất tiện quá, gây điều tiếng, gây trở ngại lắm thứ chưa bàn tới chuyện mất ăn mất ngủ. Ngón tay bấm chuông cửa khi màn đêm chưa buông để anh mơ hồ nhận ra tầm mức quan trọng của bữa ăn hôm nay.

Suzy là người mở cửa, cô bé mặc chiếc áo màu đỏ đón anh bằng tất cả sự sáng lạng mà cháu có. Nếu anh là phù thuỷ lòng lang dạ sói, hẳn anh sẽ đánh mất một âm mưu từng lên kế hoạch dụ dỗ bé ăn trái táo độc. Vẻ đẹp có ở cô bé sẽ giúp kẻ đối diện tìm thấy niềm ăn năn. Chào chú ạ. Mẹ cháu đang bận tay ở nhà bếp. Mời chú vào ạ. Giỏi! Anh khen thầm, cháu sinh ở đây mà cháu nói tiếng mẹ đẻ coi bộ trôi chảy hơn cả chú, bởi có nhiều lúc bất ưng ở sở làm, chú đã vung vít xổ tiếng Đan Mạch. Mẹ cháu đã nghe và lòng mẹ cháu rộng như biển Thái bình đã độ lượng thứ tha cho đứa phàm phu tục tử. Chú nhớ hôm đó mẹ cháu đã ôm chú vỗ về ở parking lộng gió và có những thứ chú không dám kể cho cháu nghe đâu.

Theo sau Suzi, anh bước vào gian bếp ấm. Tuy đang động dao động thớt Nguyệt cũng ăn vận xiêm y lụa là và khác với đi làm, ở nhà Nguyệt có trang điểm phấn son, anh thấy lạ, thấy xa cách, thấy… chưa quen. Thay vì chào anh, Nguyệt nhìn đứa con: Suzy mời khách uống nước giùm mẹ. Anh đặt thùng quà lên bàn, trong phòng dật dờ một mùi thơm chẳng tài nào phân chất. Suzy mang tới cho anh cốc nước cam tươi, cô bé chỉ tay biểu anh ngồi xuống một chiếc ghế. Mẹ có đưa hình chú cho cháu xem… Ừm… Ở ngoài chú không giống như ảnh. Anh ngó vào đôi mắt đen láy của cô bé: Vậy là chú ăn gian hay máy ăn gian? Suzy cười to tiếng khi ngồi vào ghế kê gần bên. Anh hỏi, cháu có ăn gian không? Là sao ạ? Là tới khi nào chú nghe được tiếng đàn dương cầm? Uh. Vậy thì cho cháu ăn gian ạ, ngày ấy hẳn còn xa. Anh nhìn vào đôi tay đang đan ngón xoắn xít rồi nhớ lại câu nói của một danh thủ piano: Tôi nào sợ chết, cái đáng sợ là mười ngón tay này bị mang thương tích thôi! Cám ơn cháu. Về điều gì ạ? Về những cuốn chả giò, cháu gói rất đều tay và chiên nó thật đẹp mắt.

Bữa ăn chính thức khai mở khi gia chủ xô cửa bước vào mang theo cơn gió lạnh. Người đàn ông từ tốn treo áo khoác, chậm rãi cởi nón, tháo khăn quàng, tuột giày ra rồi bước lại bắt tay anh. Xin lỗi nhé, giờ cuối mới phát hiện là thiếu món rượu bia và bà xã tôi đã bắt tôi chạy ù đi mua. Tay người đàn ông lạnh, khô, cứng. Nghĩ sao anh lại nhìn xuống bàn tay mà anh nghĩ sẽ rất êm ả nuột nà của Suzy. Một đôi bàn tay chưa từng bị lao động nặng để mưu sinh. Măng mềm mà tre cứng, điều ấy trẻ hồn nhiên như Suzy hẳn cũng biết. Tre ngoái trông măng để bồi hồi nhớ lại một quá vãng đã đoạn lìa. Hoa đẹp vì hoa sẽ tàn úa nhưng một bài thơ hay, đó là thứ vẫn còn nằm trong bóng tối.

Bàn có bốn chỗ. Chồng ngồi đối diện vợ, anh ngồi đối mặt với người con của đôi vợ chồng. Đàn bà con gái uống nước ngọt, đối cực họ là gia chủ và khách mời nhâm ghi chất nước dễ khiến lòng say. Nâng ly mừng sức khoẻ cho nhau, đặt cốc xuống bàn gia chủ đằng hắng sửa giọng: Chúng tôi hội ý, mời anh đến ăn xem như thế một lời cám ơn sâu đậm về những gì anh đã giúp vợ chồng tôi bấy lâu nay. Thứ nữa, bữa ăn này nhằm đánh dấu là ngày tôi đã mãn hợp đồng trong công việc, có nghĩa là từ nay tôi trở lại với nề nếp, tôi sẽ đưa đón vợ mình đi làm mà thôi làm phiền tới anh nữa… Em, bà xã có cần nói đôi lời không? Thôi, bấy nhiêu đã rõ ràng, chớ dông dài gây rắc rối. Điều duy nhất mà Nguyệt muốn thưa là chúng ta nên cám ơn sự tín nhiệm của mỗi người, cách xử sự tròn đầy và Nguyệt xin lập lại lời nhận xét của Suzy: Chú ấy tốt quá! Buổi ăn nầy thành tựu cũng do công lớn của Suzy. Mẹ cám ơn con.

Anh lén nhìn Nguyệt. Đã đến lúc anh gọi Nguyệt là Nancy rồi sao? Chúng ta sẽ hết còn thời gian để chuyện trò vớ vẩn mỗi tối. Câm lặng ở vị trí mỗi người, thức lẻ loi với thành quả làm ra chớ bị phạm lỗi. Ngày lại ngày trôi trong tẻ nhạt. Qua với sự cam chịu chẳng còn lựa chọn nào khác? Có đấy, chọn một trong hai: Sẽ dọn tới thành phố kia làm ca ngày hoặc thất nghiệp.

Chú ăn được không? Ngon lắm, chưa khi nào chú thấy sướng miệng như tối nay. Mẹ nấu hết, cháu chỉ phụ những thứ lặt vặt. Cháu thích nghe chuyện khôi hài không? Thích, chú kể đi. Có hai vợ chồng kia đi xem buổi trình diễn nhạc cổ điển, cháu biết đó, đàn bà họ mất thì giờ cho việc trang điểm, vì thế khi vào phòng thì bị muộn chút đỉnh. Ông chồng quay sang hỏi nhỏ người ngồi gần: Họ đang chơi bài gì thế? Người kia đáp: Ờ, đó là bản giao hưởng số 5. Chồng nhăn mặt với vợ: Đó, có nghe không? Cứ ưa làm đẹp vào, chúng ta trễ những bốn bài rồi đấy! Suzy cười, vẫn là giọng cười trong vắt, không vẩn đục khi biểu lộ. Không rõ là Nguyệt có nghe ra để phải đánh rơi một chiếc đũa xuống khỏi bàn. Gia chủ mặt vẫn vô cảm, có chút rượu phủ làm nhân diện ông đỏ lừ, hơi ngây dại. Anh nói như để bào chữa, chẳng biết sao tự dưng chú nhớ tới chuyện này, có lẽ vì được ngồi trước mặt một người yêu thích âm nhạc? Chú có biết là ngày nay phụ nữ họ rất chuộng những người có máu diễu không? Xem TV thì biết, chương trình hài hước mỗi lúc một nhiều. Gia chủ đổi thế ngồi, ông nhìn xuống bàn ăn đã gần cạn kiệt, xiêu đổ những đầy vơi. Suzy à, con phải hiểu điều này, khi Charlie Chaplin làm người ta cười với những thước phim câm, đó là lúc ông vua hề đang khóc trong lòng. Bố muốn nói tới một sự trả giá.

Nguyệt đứng lên khởi sự thu dọn bàn ăn. Anh cũng muốn phụ Nguyệt một tay, hoặc anh tìm cớ để đứng gần một vầng trăng bị mây che khuất. Là chủ nhà, chồng Nguyệt đã can ngăn khách mặc dù trước đó ông xoa tay: Xin anh cứ tự nhiên, xem như người trong nhà. Và người trong nhà phải ngồi khoanh tay ngó hai vợ chồng loay hoay mang chén dĩa tới bồn nước. Anh nghĩ đã đến lúc uống cạn ly rượu, nồng độ của nó mang lại nhiều thứ mà tiên khởi là sự trấn an, hoặc một lì lợm chai đá. Suzy chồng chén bát của anh lên chén bát của cô bé rồi dồn về phía cuối bàn cho mẹ khỏi mất sức đi xa thu nhặt. Chú lao động ban đêm vậy ban ngày chú làm những gì? Chú vùi mặt vào chăn gối ngủ nướng. Để lấy sức à? Ừ, cứ coi như vậy đi. Người ta khuyên phải ngủ đủ tám tiếng mỗi ngày nhưng chú thì chia hai, bốn tiếng mê man và bốn tiếng nằm với tơ lơ mơ, với đầu óc trắng xoá. Giả như cháu có việc cần, gọi phone nhờ chú giúp, có được không ạ? Anh vụng về để cho một hai giọt rượu rơi xuống áo. Chiếc áo trắng và màu rượu đỏ đang loang ra tựa ở bụng có vết thương chưa kịp băng bó. Cháu tan học lúc ba giờ chiều, thường thì thích đi thơ thẩn chứ chưa muốn về nhà ngay. Giờ đó là lúc chú ngủ say nhất và để an toàn, chú đã khoá tắt hết hai cái điện thoại, những thứ ưa phát tiếng kêu. Vậy là chú từ chối? Chú không thích gặp cháu, kể cả việc nghe cháu tập đánh khúc giao hưởng số 5?

Anh ngó đôi bàn tay của Suzy, anh ao ước mình có can đảm để nắm lấy và luôn luôn anh là một thằng hèn nhát. Chú nói thật điều này cho cháu nghe nhé, chú rất ngán mẹ cháu, mẹ bảo hãy đến đây ăn cơm thì chú nghe lời ngay chẳng dám cãi. Cháu giỏi tiếng Việt đến thế chắc biết câu này: “Gió mùa thu mẹ ru con ngủ, năm canh chầy thức đủ vừa năm”. Xa xưa, mẹ cháu đã hò ru em như vậy; rồi đến tận giờ này mẹ vẫn năm canh thức trắng để lao vào trường đời. Cháu và chú, cả hai đều thương mẹ cháu, mỗi người một cách. Và điều thiết thực nhất, hai ta không nên gây cho mẹ một niềm tuyệt vọng. Cháu hiểu ý chú không?

Nguyệt đưa anh ra tận cửa. Nếu mở nó, một bầu trời đầy tuyết giá lạnh sẽ vây phủ lấy anh. Có thể Nguyệt nhìn ra viễn ảnh ấy nên Nguyệt đã ôm anh, dùng tay xoa sau lưng anh. Chỉ thoáng chốc nhưng anh đón nhận bao nồng nàn gửi trao trong thầm lặng. Tựa một sợi dây điện vừa cắm vào bình ắc-quy, dĩ nhiên chiếc xe sẽ không tài nào chết máy. Lái xe cẩn thận. Nguyệt nói và rồi cánh cửa đóng sập lại.

Anh mở máy, ngồi trong xe khá lâu với hơi lạnh mù mờ vây bọc. Con đường trắng, bắt đầu làm mặt lạnh với anh. Từ nay nó từ chối mỗi tối xe anh chạy vào nằm lặng trước ngõ. Anh lôi điện thoại ra, dò tìm một dãy số đã lưu trữ: A lô. Là tôi đây. Sao, đêm nay hoa quỳnh đằng nhà ông có chịu nở hoa không?

Hồ Đình Nghiêm

Mtl, dec.11, 2016 

Mưa, giọt trăm năm

phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 8 Dec 2016

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

St. Laurent River (Canada) – Source: fromafriend7491.com

Dưới bài viết của em hiển thị sáu bình luận, ba khen ba chê, ba chấp nhận ba không thuận lòng. Sao anh không gióng tiếng? Nếu có, bình luận của anh? Em buôn chuyến đầu và em may phước huề vốn. Vậy là bình tài, cứ phóng theo lao biết đâu thắng đậm. Nếu vẫn ba chê ba khen như đã, anh nguyện nhập cuộc làm thay đổi cán cân. Ca ngợi ai xa lạ thì thầm thà thầm thụt đưa tay ra sờ vào ót, nhưng tán dương em chuyện ấy nào khó gì.

Em dự tính viết cái chi ở bận tới? Ôi, gieo cho anh nỗi bất ngờ chẳng phải là điều thậm sướng sao. Hãy nán chờ như anh từng mỏi mòn ngoài cõi viết. Hợp bụng là một chuyện mà đi tới tâm đầu ý hiệp lại phải bàn luận lung tung. Bây giờ em siêng bạch hoá nhưng giấc mơ trên màn hình, sao một cuộc tình chẳng thấy em gõ luôn tay trên bàn phím. Em giú trái cây xanh vào nơi khuất tất, lỡ khuấy quên cái chín rục kia không khéo phải dụt đi. Sống sít chát ngầm chẳng xơi được mà rụng cùi thúi cuống hẳn phí một lần dấu thu.

Hôm nay mưa nhưng em cuồng chân chi lạ. Lá vàng rụng em ưa đi dưới lòng đường. Anh thích uống cà phê không, nếu muốn đội mưa ra bờ thành cũ. Quán gì em quên tên, nằm sát sông Laurent luôn cau có, ở trên bờ trồng cột điện mãi toả một vũng vàng. Gạch đá ngỗn ngang người ta ưa bày biện, nhưng bước qua cửa sự ngăn nắp vén khéo vẫn chực chờ. Hình như đôi ta chưa hề ngồi với nhau trong đó. Ủa, vậy lần nọ em đi với ai cà, nhớ hổng ra! Nếu em nhiều tiền anh biết em ưa bày trò gì không? In thành tập toàn bộ những sáng tác của em. Việc ấy nào tốn kém gì, chỉ hai ba ngàn bạc chứ mấy. Giả dụ giàu có em kinh doanh mở quán cà phê thật đặc thù. Lấy màu nâu làm chủ, ton sur ton ngã dần về màu trắng ngà, vách tường viết đầy những câu của 108 nhà thơ Việt. Trang hoàng chỉ ngần ấy thôi, ấn tượng, bởi theo như Leonardo da Vinci nói “ Sự đơn giản là cái rất mực cầu kỳ”. Anh nhắm xem đụt mưa vào nơi ấy tay ôm cốc cà phê thơm dịu người anh có bần thần mê thiếp không? Kiếm đâu ra những một trăm linh tám vị? Chớ bỏ sót di chúc của Nguyễn Khuyến:

“Việc tống táng lăng nhăng qua quýt

Cúng cho thầy một ít rượu hoa

Đề vào mấy chữ trên bia

Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”.

Sao cung đàn lạc điệu ra thế. Khẩu ngôn người xưa nằm trong kinh sách chứ ai nỡ lòng treo vào chốn giang hồ ông đi qua bà đi lại. Em nhắm chỉ tinh tuyển ròng thơ tình, thế mới đắt địa. Giáng Sinh tới anh sẽ quà cáp cho em xấp vé số Lotto Québec. Em sẽ dò sáu số biết đâu la toáng lên giấc mơ thành hiện thực một sớm chiều. Bà chủ tiệm, sao nghe cứ không đã cái lỗ tai. Nàng thi sĩ thì cầu chứng sự oai phong lẫm liệt hơn hẳn. Xưa nay người ta lỡ sắp hạng lao động đầu óc thì ăn đứt đứa tay chân loay hoay. Em mà làm cô hàng cà phê thì chán khối thằng phải bỏ quên cây đàn tại quán tình si mất. Hát hỏng gì buổi ấy! Nói chuyện với anh thường gây cho em một liên tưởng, em là con Lạc Long mà anh là con bà Âu Cơ, lạc hướng đi và địa hình khác biệt giữa núi biển đã tác động sâu vào nếp suy nghĩ của mỗi người, cổ nhân gọi là đầu Ngô mình Sở, chả đúng băng tần phát sóng giao thoa.

Ngày tháng này gió luôn đi ngang để than van trên hàng cây bị vặt gần trụi lá. Lá không than van, chấp nhận rơi trong chao đảo đến buồn lòng. Có người không ưa nói tới số tuổi mình mang, chỉ cạn lòng bảo tôi đã trải qua ngần ấy mùa lá rụng. Rồi một mùa thu nào sừng sững hiện về, gió của nó cuốn người ấy rụng đi xa. Người ấy có kịp nói đôi câu giã từ cõi thế: Việc tống táng diễn trong hai bữa, đưa thây ta vào lửa nung thân, rãi tro cốt vào nơi thuận tiện, cười cho ta một trận hả hê.

Gió làm gãy cọng chiếc dù em che. Tiếng em cằn nhằn nghe hư thực. Làm thơ trong hoàn cảnh nào xét thấy thôi thúc? Êm ả hay bực mình với những bất ưng tình cờ? Anh ưa phỏng vấn lôi thôi thế? Một bài đi dưới mưa có anh che dù e bất khả? Vai anh ướt cho tóc em khô, chẳng hạn? Dạng như thế em có bỏ trên facebook rồi, hình ảnh nghèo nàn quá anh chẳng ngộ ra? Trên hành tinh này mỗi sát na có cả triệu đôi nam nữ che dù đi dưới mưa, cái khó là làm sao người ta nhìn nhận ra anh trong đám đông ấy. Một bài thơ hay phải chăng là nơi hội tụ những ánh mắt, anh đi trong mưa mà dường như anh không ướt, điều huyền nhiệm nào đã vực anh lên, lôi anh ra sự chộn rộn của đám đông, khô thân để xem thường thời tiết. Anh mong mỏi có ngày em được như vậy, hãy ném cây dù vô dụng kia và trong nhất thời hãy chịu khó đi sát vào người anh, cho anh quàng vai em đi dưới vũ lượng mỗi lúc thêm ràn rụa nặng hạt. Hãy ôm nhau. Albert Camus nói: “Đừng chờ đợi sự phán xét cuối cùng. Nó xẩy ra hàng ngày”.

Sau cơn mưa trời lại sáng, người ta ưa nói thế, như đó là định luật tự nhiên của đất trời, như ký gửi một hy vọng. Kẻ thất vọng như anh thì đổi lời: Sau cơn mưa trời lại tối. Mưa buổi chiều, khi ngưng rơi thì trời chẳng quang mây chẳng tạnh được. Trời tối hù vì đêm đang tới, muốn sáng người ta phải phát minh ra bóng đèn điện và như thế, sau cơn mưa anh lầm lũi đi dưới hai hàng đèn vàng ệch. Sự phát quang của nó chẳng sánh được với màu lá rơi ngập đường, lầy lội. Anh vừa từ hội trường ra về, bỏ ngang phần phụ diễn văn nghệ hát hò ngâm vịnh, chỗ người ta tổ chức buổi ra mắt sách thi tập đầu tiên của “nàng”. Anh ngồi thu người trong lòng một chiếc ghế tự dưng quá đỗi lớn so với cơ thể anh. Anh đã cố gắng, cố gắng viết cho xong một cái tựa. Sự cố gắng không vượt qua lằn mức cuối, “nàng” sớm mang thơ đi in và dĩ nhiên lẳng lặng từ chối sự hợp tác của anh. “Nàng” nói tới hai chữ xin lỗi và anh linh cảm xấp vé số dự trù mua tặng trong dịp Chúa giáng sinh sẽ chẳng còn cơ hội trao tay “nàng”.

Chiếc áo dài tím có vẽ những bông hoa li ti nở rung động trên ngực làm “nàng” khác lạ, không như “em” của hôm qua. Khi bước ra ánh sáng, hoa nở bung và điều đó tôn tạo một vẻ đẹp xa cách. “Nàng” bị vây bọc bởi lắm kẻ yêu thơ và anh, vị trí thuận lợi nhất là thu mình trong lòng ghế lưng chừng giữa hội trường. Tuy gần mà xa. “Nàng” có tặng anh tập thơ dày đúng trăm trang, nếu in thêm cái tựa anh viết, không khéo làm lệch vai, làm mỏi tay ai đó cầm lên thêm nặng nhọc. Một trăm, thế mà hay. “Nàng” từng nói với anh về  một trăm cái trứng huyền thoại thuộc dạng khoa học giả tưởng. “Nàng” nói đại khái tụi mình là con cùng cha cùng mẹ nhưng phạm tới lời nguyền hiểm hóc nên đành phải quay lưng gạt lệ thua buồn số phận, ăn ở với nhau đầu bạc răng long có mà chạm tới luân thường đạo lý đẻ con không có lỗ đít các thứ linh tinh, lê thê và chì chiết hậu sanh khả ố.

“Nàng” viết ở trang đầu: “Tặng anh, để nhớ…” Chữ nhà thơ vẫn thế, đẹp không đẹp xấu không xấu nhưng bay bướm, kiểu tạo dáng. Anh thưa thốt, lí nhí: Chúc mừng. Rồi vặn giây thiều nghe cót két: Chiếc áo đẹp quá, tiếc là màu sắc nó buồn thâm trầm. “Nàng” có lối ứng xử nhạy bén: Anh tính trả thù à? Anh xuống giọng: Nếu trả thù ai dại đi trong mưa gió lặn lội tới chốn đây, làm đứa tiểu nhân ắt hẳn nó đang trùm chăn say ngủ hoặc gọi cốc cà phê đen ngồi rung đùi trong cái quán hôm nào hai đứa cụng đầu. Tiểu nhân có làm được thơ? Giọng thơ say lã một căm giận? Anh ngậm miệng đúng lúc khi sánh vai người mặc áo màu thâm trầm là gã đàn ông đạo mạo cứng thây trong bộ đồ lớn cắt may vụng, không vừa kích. Ông ta ngó anh như ngó cánh hoa tàn rơi trên khăn trải bàn, có nghiã là sẵn lòng nhặt nó ném đi sau khi thoả dạ săm soi. Và anh quay lưng cố giữ sự an nhiên có ở một đoá sen. Không mấy khó, anh biết người đàn ông đó đã bỏ tiền ra in thi phẩm nọ, lo từ a tới z để hoàn thành buổi ra mắt giới thiệu đứa con tinh thần của “nàng”. Không mấy khó để anh biết tên ông ta, in ở trang 17 dưới tựa bài thơ “Một cọng một bằng ba”. Nguyễn văn Không Trỗi còn nằm rải rác ở đôi ba trang khác. Ân nhân. Người xúi giục tôi làm thơ. Người cho tôi thi hứng. Người đồng minh không hề tháo chạy đang đi bên tôi. Người quyết tâm can ngăn không cho tôi nhọc thân làm bà chủ hàng cà phê…

Sau cơn mưa trời lại tối. Vào nhà anh mở sáng tất cả những bóng đèn, bật lò nấu nước trụng lai rai gói mì hiệu con tôm ăn qua loa theo di huấn của tiền nhân quân tử: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn”. Lục soạn trí nhớ xem, có vị chính nhân quân tử nào ngôn: Nhưng mà sống để làm gì nhỉ? Chỉ nghe thi nhân Mai Thảo bảo:

“Sách một dãy nằm trơ trên giá

Cạnh người thân thế cũng trơ trơ

Sách, người hai cõi cùng hư hoại

Nơi một ngàn chương thiếu một tờ”.

Tờ giấy rời ấy đã bay, nhẹ tợ lông hồng mang vẻ dưng dưng của kẻ bạc lòng với thơ văn. Ngàn chương luôn thiếu bởi cơm áo nặng tợ ngàn cân làm mê muội cuộc sinh tồn nhìn ngó đành hanh một hơn thua vật chất. Nghèo một tâm hồn, tiếng thở dài mãi bị bụi bám trên kệ sách chẳng còn ai lạc hồn đâm trắc ẩn. Không thiết thực khi thắp đuốc cố tìm cho ra một kẻ tâm giao, thứ bằng hữu đúng nghĩa nguyện chia sớt đớn đau với lạc thú đề huề? Đi dưới mưa, chẳng còn ai sánh đôi che chung ô dưới gió chướng làm vướng chân.

Trời lạnh, bật sưởi vẫn còn run, nghe cảm hàn tự đáy lòng. Tắt đèn đi ngủ anh mang theo cái nồi lớn mà dạo trước “nàng” cao hứng đến xắn tay áo để ninh hầm món phở hoành tráng thơm điếc lỗ mũi. Anh đặt chiếc nồi vô dụng bên giường, xé từ tốn tập thơ dày đúng 100 trang, mồi lửa từ một tới chín chín. Lửa không reo, chỉ vặn mình cháy ngúm. Cạn lực rồi hồi sinh. Riu riu tàn tro rồi bừng sáng lửa ngọn. Em ơi, quả nhiên thơ em đã làm ấm giấc ngủ anh lẻ loi. Xin cho anh sớm đụng đầu cơn mộng, tụi mình hôn nhau tàn bạo ở quán cà phê không nhớ tên em từng hẹn hò. Sông Laurent trôi hững hờ bên ngoài và bóng điện vàng gục đầu đứng hổ ngươi chỉ sáng tỏ một vũng tròn thắp mù mờ công án: Làm thế nào để giết nguyên một tập thơ?

Hồ Đình Nghiêm

Mùa hoa tuyết

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Sương đứng bên cửa cúi đầu nhìn xuống. Nước mưa làm con đường đen bóng như trãi một đoạn vải sa tanh. Và cũng chính mưa, nó làm cho cái đoạn vải ấy trơn tru, chẳng có gì thêu dệt trên bề mặt. Không một bóng người đi qua. Lâu lắm mới có chiếc xe vụt ngang, lung linh một vệt màu vàng đỏ thấm ướt, rồi rũ sạch nó chóng vánh chảy xuôi về cuối tầm mắt. Sương kéo tấm màn cửa lại. Tấm màn vải dầy nặng, cũng màu đen, nhưng là cái đen đúa của khô mốc.

– Màn của chị may hay của chủ nhà?

– Mình không may mà đi lựa mua. Khi dọn đến ở chỉ nhìn ra một sự trống rốc. Lạnh lùng và chẳng có gì đáng lưu giữ.

– Chị cũng khác thường.

– Ngạc nhiên về điều gì hả?

– Chị không thích màu hồng màu xanh sao?

Sương mĩm cười, nhớ lại lần ấy nàng đâm hà tiện từng lời nói. Có nỗi chán chường kỳ lạ hiện tới. Bỗng làm thinh để hết nhìn đứa con xong tới nhìn bà mẹ trẻ đẹp. Đứa con nằm trong chiếc xe đẩy, mắt nhắm nghiền vô tư hồn nhiên ở giấc ngủ. Mẹ nó thì lanh mắt nhìn thấy một cái ảnh nhỏ đã ố vàng dựng đứng trên bàn ngủ. Khuôn mặt người đàn ông đóng khung ở trong.

– Ai vậy chị?

Sương lạnh lùng:

– Một người quen. Đã lâu. Và một người…có thể đã chết.

Nàng đi tới lật úp tấm ảnh lại, nghe có tiếng xin lỗi thoảng nhẹ qua tai.

Bây giờ thì chính Sương đang mọc chút ngờ vực. Cái chuông cửa phía dưới lầu có bị hư không? Tiếng chuông đã chẳng vang lên đúng giờ như có hẹn trước. Em và Bồ Câu sẽ đến làm phiền chị lúc tám giờ…

Tám giờ rưởi, Sương mở tivi cho trong nhà ồn ào đôi chút. Tôi ghét chờ đợi. Sương nói một mình khi màn ảnh chưa hiện hình lên. Nàng thở dài, có lẽ mình đang dần dà làm quen với nỗi khó chịu ấy. Như đã làm quen với những bước chân vô hình của ai đó đi rón rén lên sân nhà. Mới đầu thấy sợ hãi, nằm co ro trong bóng tối tưởng tượng ra chuyện chẳng lành và ao ước đủ điều, kể cả việc ước chi có một tên đàn ông nằm bên cạnh mỗi đêm. Tự làm khổ một thời gian rồi sau phải bạo gan chịu đựng được, đánh đổi bằng sự mất ngủ với đèn đuốc chong sáng năm canh. Giờ đây, những thanh gỗ dài lót nền bóng màu vẹc ni không còn nghe ra tiếng vặn mình giãn nở.

Một đoạn phim ở đài số 3 đang lấn át hết mọi chuyện.

– Em không thể bỏ đi được. Anh hiểu không? 

– Những chướng ngại sẽ không còn quấy rầy chúng ta khi tụi mình đến một thành phố khác. Tình yêu là một con đường mà cả hai cùng nhìn về cùng cất bước. 

– Anh đừng giải thích kiểu đó có được không. Bỏ đi là đồng nghĩa với trốn chạy. Và em đã bỏ chạy nhiều lần rồi. Hừ, tình yêu…Lý ra nó phải thả neo, phải dùng hấp khẩu để bám chặc lấy cái vùng đất mà nó được nẩy mầm.

Người đàn bà quay mặt đi đưa tấm lưng lại. Cổ áo phía sau khoét sâu xuống một hình chữ V. Một chữ V sắc sảo của người thợ may khéo tay và một vùng thịt trắng dâng đầy gợi cảm của bà Đầm thủ vai chính, tuổi không quá ba mươi. Gã đàn ông tay ôm lấy đầu, làm như động não quá nên choáng váng. Ống kính thu lấy hình ảnh một ngọn nến đặt trên bàn ăn. Phóng lớn cái đóm lửa đang nhảy múa để rồi cho nhoè đi từ từ.

Màn ảnh truyền hình chuyển qua đoạn quảng cáo một loại băng vệ sinh hiệu Always có nhạc cổ điển đệm theo…

– Em bị trễ kinh hơn mười ngày nay rồi…Làm sao hả chị?

Những giọt nước mắt chảy vội. Nó vô duyên như lời tâm sự đầy lo âu kia. Mình có khó tính không? Sương nghĩ thầm. Người ta đang cần một ý kiến sáng suốt để lắng nghe. Sương ngồi ngó đầu tóc rối mãi cuối xuống. Ngó bờ vai tròn lẳng luôn rung động. Chẳng biết nói gì? Sương khó chịu vì hiểu mình là đứa ăn nói vụng về. Hai bàn tay bức rức mãi cũng không xong, Sương dùng nó để xoa nhẹ lưng đứa con gái vừa vượt biên sang thế giới đàn bà. Tấm lưng mềm mại có trong xúc giác và bờ thịt êm mát đó cứ xuôi đổ không bắt gặp một chướng ngại nào. Sương nghĩ thầm: Chẳng mặc nịt vú.  Hấp dẫn thiệt. Cô chảy nước mắt để trả nợ cho sự hấp dẫn đó, phải  không ? Người ta khóc vì đau khổ, cũng có thể vì hạnh phúc. Sương thèm được khóc một đôi khi. Nhưng sợ không có ai dỗ dành…Mình cô đơn. Mình sẽ tới cuối lằn mức lãnh cảm.

– Em sợ quá, sợ đủ điều. Sợ luôn cả sự sống.

– Nói tới đâu rồi? Đừng có tầm bậy.

– Em mất ngủ mấy hôm nay. Nằm thao thức nhìn chai thuốc ngủ suốt đêm như bị thôi miên. Mỗi bận đi tiểu thấy nó ở đuôi mắt, cứ ưa nhào tới ngữa cổ mà tợp hết một hơi cho nhẹ người.

– Đừng có nghĩ quẩn. Đánh đổi mạng sống để sang tới đây, cái giá nó đắt đỏ ra sao thì dân tỵ nạn mình ai cũng biết rồi. Đừng có hành hạ tấm thân mình một lần nữa. Chết trong trường hợp như vậy nghĩ cũng tiếc uổng quá!

– Em khờ dại quá! Em cả tin quá! Mà cũng may em còn có chị ở đây…Chị nhớ không? Gặp nhau ở trại tỵ nạn. Làm một chỗ ở xưởng sản xuất máy sấy tóc nơi Kow-Loon. Đi khám sức khỏe bên Hồng Kông bằng xà lan và sau này thì chị em mình dành chỗ ngồi gần nhau trên chuyến bay vượt ngàn trùng sang đây. Đã có cái duyên gì đó chứ không đùa đâu.

Sương mệt mỏi khi nghe kể lại một chặng đời đầy sóng gió. Sương ghét  sự kể lể. Tại sao trong lúc nẫu ruột này cô ấy nhớ làm chi những cái cần phải quên đi. Nhớ vanh vách từng chi tiết nhỏ nhặt.

– Em khó mà quên được hình ảnh mỗi tối hai đứa ngồi giữa sân cát ngữa mặt ra coi phim chưởng. Em mua sữa đậu nành, vừa đi vừa thắc mắc tại sao chị không thích được mối tình của Dương Quá và Tiểu Long Nữ…

Sương dấu tiếng thở dài. Đã thực sự chấm câu chưa? Sao cô không kể tiếp, chính cô đã dạy cho tôi những bài học vỡ lòng ở cái chốn lạ lẫm đó.

Lí tù xẻn ùm xẻn dành? Ở đây có nhận người làm không?

Dách dật xám xập mánh dậu phàn. Một ngày ba mươi đồng có cơm ăn trưa.

Kẻ tố xịn? Bao nhiêu đồng? Tố chề. Cám ơn. Ô niu là đi đái. Phành cào đi ngủ. Mà tiểu lị là …là…Fuck you. Sương chửi trong đầu.

Nếu đặt trường hợp ngược lại, Sương sẽ hà tiện lời nói hơn. Em ơi, tụi mình coi như đã có khi ngồi chung trên một chiếc thuyền. Giờ thì thuyền chị bị hải tặc làm chìm, em quẳng cho chị một sợi dây họa may chị bò được lên bờ run rẩy nghe ngóng.  Tụi mình như sống vào đời Minh đời Thanh bên Tàu. Hấy ùm hầy à? Có phải không? Có phúc cùng hưởng có họa cùng chịu.

Sau đó buồn tình Sương hứa giúp những gì hữu hạn nằm trong đôi bàn tay không có móng nhọn của mình. Nghĩa là đừng có bắt nàng đi gặp tên đàn ông trở mặt kia mà lô cồ thịnh nộ rống lên câu cải lương, lá phải rụng về cội nếu không thì chẳng Lan thì Điệp thế nào cũng có người đồi thông một mộ. Sương giúp mặt tinh thần, giúp luôn cái thể xác đang rãnh rỗi của nàng. Có gì thì mình trông giữ cháu, phụ cho một tay đỡ đần.

Sau đó thì Bồ Câu ra đời, đẻ bọc điều.

Sương giữ tròn lời hứa. Đứa nhỏ cũng dễ thương. Chưa chi mà thần sắc như có tiềm ẩn chút hoang đàng chút bướng bỉnh. Nghĩ cũng lạ. Chỉ là một lời hứa nói trong miễn cưởng. Thi hành nó với cả sự bực mình ban đầu. Khóc lóc dỗ dành hết mẹ tới con. Bị phân chia và tước đoạt những thì giờ nhàn hạ vốn eo hẹp…nhiều thứ xáo trộn, vậy mà lần hồi cũng nảy sinh được thứ tình cảm bất ngờ, tới rón rén khi nào chẳng hay.

Đôi khi đi làm về, mở cửa vào nhà vắng lặng, Sương nhớ tiếng cười trong vắt của Bồ Câu, nhớ mùi da thịt mịn màng đẫm ngọt mùi sữa của đứa bé. Đôi môi mọng đỏ luôn trơn ướt. Hôn vào đó thơm một hơi thở tinh khiết và Sương đón nhận một xúc cảm khó giải thích.

Có đêm, mẹ Bồ Cậu bận việc gì thật đột ngột, như gió cuốn, chạy băng băng lên những bậc cấp vang dội nhịp giày cao gót rầm rộ trong khu chung cư ngủ sớm mọi tiếng động. Cô đưa trước tiền công giữ Bồ Câu ở tuần sau, trao đứa bé vào tay Sương với dồn dập một mùi nước hoa thơm ngát. Môi son loáng ướt màu hồng hôn nhẹ một bên má: Ngoan nhé, mẹ về liền. Rồi tất bật như khi đến, cô biến mau bằng cách gieo lại những âm thanh thật bất thường, thật bất an.

Sương ôm Bồ Câu vào giường giỗ lại giấc ngủ cho nó. Những con số biến đổi thật mau trên mặt đồng hồ. Đứa nhỏ nằm mở mắt trong bóng tối. Mẹ con xạo quá há. Giờ này mà cũng chưa chịu về. Sương nhìn ra chút tội nghiệp phủ chụp quanh người Bồ Câu. Nàng quàng tay vỗ về, xua đuổi nỗi cô đơn vừa tới nằm kề bên người mỗi đứa. Sương kể chuyện cổ tích có cô công chúa ngủ trong rừng. Như thầm nói cho nàng nghe, giỗ dùm nàng giấc ngủ khó. Tuổi của Bồ Câu chưa cần phải dùng tới phương pháp đó. Một chuyện tình lâm ly bi đát hơn tưởng cũng không có ma lực hấp dẫn gì để lọt vô đôi tai mới xuất hiện chín mười tháng trên cõi đời chật chội những tiếng động. Rồi con sẽ lớn. Cô không tin tưởng mấy vào mẹ con. Vết thương chưa liền da đã vội chạy đi nắm một con dao khác.

Con là đàn ông phải cứng rắn. Luôn suy nghĩ trước khi bắt tay vào một việc làm, dẫu công chuyện ấy không làm phương hại tới ai. Phải có trách nhiệm và biết phục thiện… Sương ngáp đến chảy nước mắt. Chừng đó đủ để gây cho người đàn bà nỗi hạnh phúc lớn lao.

Khi mẹ Bồ Câu đến đón, hương hoa trên người đã nhạt phai. Đứa bé ngủ say trong vòng tay ôm giá lạnh trời đêm của mẹ nó. Sương cười buồn. Không hiểu sao tối nay mình khô hơi rát cổ với nó dữ.

Thái độ cô ấy bỗng dưng trông ngượng ngập, có vẻ mất đi nhiều tự nhiên. Lúng túng và hiểu lầm câu nói của Sương. Đừng có chướng nghe, lần sau mẹ cho ăn đòn đấy… Cô quay lưng. Những bước chân nghe được sự rã rời, nhẹ và không đều tiếng vang. Sương biết sẽ có ngày, chân đi lóc cóc của cô ấy sẽ bước mỗi lúc một xa, xa hẳn nàng.

– Em xin lỗi chị. Hồi hôm thằng Bồ Câu bị sốt nên em không dám mang tới quấy rầy chị. Nó chướng và khóc suốt đêm.

– Mình cũng đoán thế. Sao không điện thoại báo cho mình biết một lời?

– Em không hở tay được với nó. Thật khổ! Con nít như một cái hàn thử biểu, rất nhạy và dễ đau ốm.

– Mưa gió thất thường. Tuyết đã rơi lác đác. Người lớn như tụi mình cũng phải đổ bệnh thôi !

Trong ống nghe, có tiếng gió chạy đi u u. Không, chẳng phải vậy. Tấm màn đen đang vén lên và Sương thấy được ngoài trời lồng lộng những ngã đường xoáy gió. Sự yên lặng chìm sâu có giữa khoảng cách hai nơi của một đường giây điện thoại đang nối kết. Cô ấy như bận việc gì ở bên kia? Tiếng thì thầm rất nhỏ, hình như vậy. Bàn tay ai đó đang dùng muổng để khuấy những vòng tròn lanh canh trong  ly thủy tinh.

– Bồ Câu còn thức hay sao?

– Đâu có. Nó mới ngủ…chị Sương.

– Hả? …có ẳm nó đi bác sĩ không?

– Chị biết không, hồi trưa em gặp lại ba của thằng Bồ Câu. Thằng chả giả lờ, từ chợ Việt cắm cúi đi một lèo ra xe hơi.

Sương nhìn những hạt tuyết nhỏ bay loạn xạ bên ngọn đèn đường. Tuyết sẽ trắng nếu đừng lọt vô vùng sáng bệnh hoạn ấy. Cái màu gì mà vàng xỉn, không thấy ấm thêm chút nào, chỉ khiến Sương nhận ra một nỗi buồn lan man. Sắp thêm một tuổi nữa rồi. Thấy hoa mai hoa đào thì may ra, bông tuyết vốn là biểu tượng của sự đe dọa, của tàn úa.

– Trên xe có chở một con tóc vàng. Mắt xanh ngó chăm em, miệng nhai kẹo cao su mà tưởng như đang chửi mình đồ ngu. Thiệt ứa gan.

– Đừng nói vậy. Đừng suy diễn những chuyện xét ra chẳng đáng gì.

– Nếu chị là em thì chị nghĩ sao?

– Nghĩ sao là sao? Thì chỉ biết ngó chứ biết làm gì. Mà bị mù hai con mắt thì tốt hơn.

– Tâm lý con người phức tạp hơn. Em nghĩ vậy…giả dụ thay cái con tóc vàng lạ hoắc ngồi một bên đó bằng đứa bạn mình từng quen biết thì chị có khó chịu không?

Trong đầu Sương tự nhiên hiện ra hình ảnh một cuốn sách. Người ấy đã tặng cho Sương, chính yếu không phải để nàng đọc giải khuây mười mẫu truyện ngắn có ở trong mà với hậu ý khoe cùng Sương hai ba cái phụ bản vẽ bằng mực xạ của người ấy đã góp công đóng sức với tác giả tập truyện.  Ở trang đầu có hàng chữ viết nghiêng đổ ởm ờ: Khi người ta muốn dừng lại, người ta phải biết đạp thắng. Với tôi, tôi không biết điều đó.

Sương nhắm mắt, nàng thở trong điện thoại.

– Mình không biết. Thật tình không biết… Và có lẽ, mình chỉ đáng là đứa cần phải học hỏi thêm ở người khác nhiều điều.

– Chị nói có quá đáng không?

– Thật đó. Như mai này mình sẽ hỏi bạn cảm giác khi mang bầu nó tròn méo ra sao, sinh con nó đau đớn như thế nào. Có lôi tên cha đứa bé ra mà chửi rủa trong khi xoạc chân rặn tới đỏ mặt tía tai.

Sương nghe tiếng cười ở bên kia dội vào tai. Tiếng cười nửa thích thú mỉa mai, nửa ê chề gượng gạo. Nàng nhìn đồng hồ, công việc mệt mề sáng mai ở sở làm như biết hiện lên đôi mắt cau có ở những con số để giờ này trợn tới nàng, răn đe bắt nạt dọa dẫm.

Sương chào tạm biệt, chúc người ở xa một giấc ngủ ngon rồi gát máy. Ai sao mình vậy, buồn vui là lẽ thường của đời sống. Mấy ngày xuân mà phải lội tuyết đi làm thì cũng chẳng còn thứ nỗi niềm nào để mà than thở. Âu đó cũng là lẽ thường của trời đất Tây phương cực lạc này thôi.

Như thông lệ. Đi làm về, tất bật từ ngoài đường xô cửa bước vào, cái hộp thư nằm ở một chỗ ấm cúng luôn là thứ rào cản cuối cùng trong ngày của Sương. Nàng lấy chìa khoá cầm ở tay, thầm đánh cuộc với chính mình. Có khi nhắm mắt lại như xin một điều mong muốn luôn khát khao. Và nắp hộp thư được mở ra. Điều ước vốn là cái gì thật quý giá, không thể cho khơi khơi được. Phải ăn ở hiền lành, phải dầy công tu tâm, phải có thần tiên linh tinh đủ thứ, và tiên quyết phải sống lùi lại ở quá khứ. Càng lạc hậu càng tốt, đi gần tới thời kỳ ăn lông ở lổ lại càng linh nghiệm hơn.Hôm nay chỉ vỏn vẹn có một cái bì thư vuông vắn. Trắng lốp nằm lẻ lỏi không hứa hẹn được gì nhiều. Sương đi lên những bậc cấp quen thuộc, chẳng sợ té khi dán mắt vào phong thư. Nàng mở cửa phòng trọ, đóng nó lại bằng lưng. Dùng chìa khoá để rọc bao giấy. Thẩy cái túi đeo vai nặng nhọc xuống nền nhà.

Chị Sương,

Em quả đắc tội với chị. Em biết chị thương và coi em  như một đứa em chịu nhiều bất hạnh. Em biết chị mến Bồ Câu, cưng chiều không khác một đứa con “đỏ mặt tía tai ” đẻ nó ra… Nhưng em không biết làm sao hơn là cắn răng bỏ trốn chị. Còn chút lòng nào, thì xin chị lấy đó mà tha thứ hỉ xả cho em. Em vừa đến thành phố này một tuần. Anh ấy là người độ lượng, có tất cả mọi thứ em cần. Em vẫn nhớ chị từng khuyên em, đã lâu rồi: Trong đời sống, người ta không thể mỗi bước mỗi đi thụt lùi được. Chị Sương ơi, em đã trút bỏ được mặc cảm để bước lần tới sự vững chải. Bước đi đó có thể làm em đánh mất chị vĩnh viễn. Em vừa là người sung sướng vừa là đứa đau khổ.
Năm mới đã tới, nguyện cầu cho chị ở lại thành phố đó được vạn điều lành và sớm gặp người bầu bạn trung thành.

Em của chị

Một chữ ký ngoằn ngoèo không đọc ra tên. Gấp nó lại, phía trước là một bức tranh màu nước vung vãi những đóm màu nhoè nhoẹt. Vẽ tuỳ tiện, cẩu thả nhưng còn nhận đoán ra những nụ hoa bị tuyết vùi dập làm cho tan tác, nhàu nát ra. Phía dưới có bốn chữ Cung Chúc Tân Xuân. Sương nhắm mắt giây lâu. Chỉ có mù loà Sương mới vĩnh viễn không còn nhìn ra nét chữ của người ấy. Vả lại, bức thư lạ thường được viết trong tấm thiệp chúc Tết đó như ngầm xác tín một chuyện khó tin.

Sương bước ra ngoài hành lang. Những ngọn đèn nê ông có cái mờ đục cố nháy sáng một cách tuyệt vọng tàn hơi. Nàng mở ngăn kéo, chỗ mà người ta vẫn dùng để thẩy những bao rác nhỏ xuống bên dưới. Ở tay cầm trơn nhờn và ô cửa sắt kia lạnh toát một nỗi khó chịu. Một con sư tử nhồi bông tính “lì xì” cho thằng Bồ Câu. Tấm thiệp hoa hòe hoa sói vừa nhận. Cuối cùng là cái khung ảnh đen trắng của người đàn ông “đã chết thực sự”. Đồ vật rơi xuống nghe rõ đường di chuyển trắc trở để giây lâu sau là cả một nỗi bàng bạc không động tĩnh, như phía dưới chân đứng là hụt hẫng cái hố sâu không đáy. Sương rùng mình. Tiếng rỉ sét kêu đến kiêng răng khi nấp đậy được đóng lại như cũ.

Có ai ở bên dưới lòng đất vội ném ngược vào lòng nàng một tảng đá băng? Sương ôm ngực thì thầm Chúc mừng năm mới.

Hồ Đình Nghiêm

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Bài 36

Phần 35 Phải mười giờ sáng hôm sau Vĩnh mới thức dậy. Anh nhìn quanh căn phòng mình nằm. Có chừng sáu bảy người nữa. Tất cả đều được nằm trên hai hàng giường gỗ trong phòng. Vĩnh nằm yên lặng nghe động tĩnh chung quanh. Im vắng quá, Vĩnh có cảm giác mình được đặt nằm trong một khu câm điếc! Vĩnh ngó sang người nằm gần anh nhất. Bệnh nhân là một ông già đầu trọc lóc. Ông ta nằm co quắp với tấm chăn bao cát bẩn thỉu phủ ngang hông. Vĩnh nhìn kỹ mặt ông ta. Anh giật mình. Ông ta chết rồi chăng? Rõ ràng khuôn mặt của ông đã sạm lại và sần sùi như một tờ giấy bản. Đôi mắt vàng như nghệ mở thao láo như không đang nhìn vào bất cứ một cái gì. Miệng ông hơi hé mở, để lộ đôi ba cái răng lởm chởm vàng cạch. Khuôn mặt ông gợi cho Vĩnh nhớ lại tấm ảnh chụp nhà văn Vũ Trọng Phụng lúc chết vì bệnh lao trong cảnh cơ hàn mà có lần anh nhìn thấy trên bìa một tờ báo văn học nghệ thuật nào đó trước đây… Vĩnh thấy ớn lạnh hơn lúc phát hiện hàng chục con ruồi đang bu đen một bên mép nhớt rãi của ông ta. 
– Ư… ư… 
Thì ra ông già chưa chết. Ông ta vừa xoay mình rên lên một tiếng thật khẽ. Vĩnh thấy mừng mừng. Anh ngó sang mấy giường kế nữa. Cũng chỉ toàn những xác người nằm bất động. Tất cả đều đồng dạng ở điểm bơ phờ, xanh xao và câm nín. 
Một cơn gió buổi sáng thổi lồng qua kẽ hở đầu giường. Vĩnh ngước mắt nhìn qua những kẽ hở trên vách đó. Một vuông sân đất đỏ với vài ba luống rau muống nằm sát chân hàng rào. Những luống rau cũng rải đầy phân và ruồi bu đen như bất cứ luống rau nào trong trại cải tạo. Chả nhẽ ở đây chúng nó cũng bắt những thằng tù bệnh gần chết phải canh tác nữa sao? Những cơn gió kế tiếp vẫn đều đều thổi mùi phân, mùi nước tiểu và mùi đất ngai ngái vào phòng. Thật là mỉa mai cho Hồ Chí Minh, khi lão luôn luôn há miệng ca ngợi xã hội xã hội chủ nghĩa của lão: Đất nước ta lúc nào cũng đẹp như công viên, sạch như bệnh viện! Nhưng trên thực tế, xã hội miền Nam Việt Nam ngày nay đã trở lại cái hình dạng của một xã hội Ấn Độ phức tạp và lạc hậu trong nếp sống. Sự phức tạp và lạc hậu mà chính Gandhi đã phải than thở: Dạy cho dân nước tôi biết chùi cầu tiêu sạch sẽ còn khó hơn ngồi làm một bộ luật! Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai xã hội Ấn Độ thời Gandhi và Việt Nam thời nay ở chỗ, Gandhi thì cất tiếng than thở về trình độ thấp kém của người dân, còn Việt Nam ngày nay chính người dân phải than thở về trình độ ăn ở lạc hậu của giai cấp thống trị. Quả ta có thể dùng câu than thở trên bằng cách nói ngược như sau: Dạy cho cán bộ cộng sản ở nước tôi biết tổ chức ăn ở cho đúng phép vệ sinh còn khó hơn ngồi viết một bộ luật công bằng và tự do trong cái gọi là xã hội xã hội chủ nghĩa. 
Thốt nhiên Vĩnh thấy khát nước. Mồm mép anh khô đắng. Có lẽ ảnh hưởng mũi thuốc đêm qua. Vĩnh nằm nhớ lại… rồi thấy sờ sợ và đưa tay rờ rẫm trên lưng. Đêm qua, trong cơn đau đớn, tay y sỹ của bệnh xá đã ra tay “trừng trị” vào quả thận bên trái của Vĩnh một mũi thuốc. Không biết thuốc gì, anh chỉ biết cái lúc anh sắp ngất đi lần thứ hai thì tên y sỹ xuất hiện bên cạnh một người nữa có tên là Tính, và qua cách xưng hô, Vĩnh đoán người tên Tính cũng là một anh chàng cải tạo. Hai người chỉ hỏi anh vắn tắt vài câu: Đau chỗ nào? Lâu chưa? Tại sao biết là sạn thận? Đái ra máu mấy lần? Hiện giờ đau nhất chỗ nào?… Sau khi được Vĩnh trả lời, hai người bàn tán một lúc rồi ra lệnh cho Vĩnh cởi bỏ hết quần áo. Không cặp mạch, không đo máu, nói chung mọi thủ tục nhiêu khê của bọn tư sản phản động đều được thủ tiêu nơi đây. Vĩnh hơi khó chịu. 

– Tôi đau lưng, đâu có đau gì khác mà phải cởi cả quần? 

Anh chàng tên Tính có vẻ không vui trước lối khiếu nại của Vĩnh. 

– Bác sỹ đã bảo cởi thì cứ cởi đi. Anh nhiều chuyện quá. 

Vĩnh nghĩ bụng. Mẹ bố mày! Muốn xem củ của bố thì bố cho chúng mày xem. Nghĩ thế Vĩnh cởi béng cái quần đùi đang mặc. Anh nằm tô hô và thản nhiên nhìn hai con thằn lằn đang mặn nồng ân ái trên cái đà ngang. 

Tên y sỹ Việt cộng đang bận rút thuốc vào ống chích không để ý, riêng anh chàng Tính thấy vậy phát phì cười. Anh ta nói. 

– Tính khoe của đấy à? 

Thấy hắn có vẻ đã vui vui trở lại, Vĩnh cũng đáp lễ. 

– Lẫm liệt thế này mà không khoe cũng hoài. 

– Trước đây anh ở cùng tổ với tay Toàn hả? 

– Toàn nào? 

Cái đau bất chợt lại nhói lên làm Vĩnh im bặt. Anh cố nín thở thật lâu. Tính vẫn nói. 

– Phạm An Toàn ấy mà! 

-…..! 

– Tôi đề nghị bác sỹ chích thẳng vào thận anh một mũi trấn thống. 

Vĩnh thở một cái phào vì không thể nhịn hơi lâu hơn được nữa. Anh cố gắng thều thào. 

– Trời đất ơi! Đâm kim vào thận tôi hả? 

– Anh đừng lo. Tôi không phải bác sỹ nhưng là cựu trung úy trợ y. Tôi biết cách calmer cấp thời cái vụ sạn thận này… 

– Có di hại gì không ông? 

– Di hại cái gì? 

– Liệu sau này còn ịn được không? 

Trung úy trợ y Tính không nhịn được cười. Trước khi quay đi, hắn nói. 

– Toàn nó được biên chế lên làm việc ở đây. Nó có nói về anh. Nó bảo anh là vua đùa giỡn… 
Một lúc sau đó Vĩnh phải cố gắng xoay người nằm sấp xuống. Tên y sỹ Việt cộng và trợ y Tính đo đạc gì đó trên lưng Vĩnh một lúc, sau cùng anh thấy đau nhói trên lưng. Một mũi kim dài cỡ mười phân đang từ từ được ấn sâu vào thân anh. Dù đau vô cùng, Vĩnh vẫn có thể cảm thấy được mũi kim đang xuyên vào những tầng lớp da thịt. Thốt nhiên Vĩnh có cảm giác như nghe thấy âm thanh của một lưỡi lê đâm vào một bao cát đầy. Anh hét lên một tiếng. 

– Trời ơi đau quá! 

Giọng tên quân y Việt cộng nói như rỉ tai với trợ y Tính. 

– Chắc vào thận rồi. 

Giọng Tính. 

– Chắc vậy. Phải nhích mũi kim sang trái một tí bác sỹ ạ. 

Mũi kim lại được nhổ lên rồi lại đâm xuống. Vĩnh đau muốn chết ngất. Khi mũi kim đã đâm lút cán, Tính hỏi khẽ. 

– Bây giờ có thấy đau như khi nãy không? 

Vĩnh gắng gượng trả lời. 

– Không. 

Tiếng của tên y sỹ. 

– Tốt rồi. Bơm thuốc đi. 

Vĩnh cảm thấy một trạng thái nhột nhạt trong người. Rồi thì mũi kim được nhổ ra, nhưng chỉ sau một tích tắc, Vĩnh thấy như có một ngọn lửa dội vào người anh. Thoạt đầu từ hai chân, ngọn lửa dần dần dâng lên tới ngực. Trước khi ngất đi, anh chỉ còn nhớ mình đã nghẹt thở, cố giơ tay lên đấm mạnh vào ngực và còn nghe văng vẳng tiếng nói không còn phân biệt được là của ai. 
– Caféin! Một mũi caféin!… 

Vĩnh ngồi lên ngó quanh. Anh không biết nói với ai để xin một miếng nước uống. Bỗng nhiên Vĩnh mừng hú vì nhìn thấy một người nằm nơi cái giường kê trong góc phòng. Rõ ràng nó là Cường, trung úy không quân ở cùng khối với anh ở Trảng Lớn. Cường đi lao động bị một cọc sắt đâm nhẹ vào đùi. Nó được khênh lên bệnh xá trung đoàn ở Trảng Lớn từ tháng 11 năm ngoái. Không ngờ Vĩnh lại gặp Cường nơi đây. Vĩnh bước xuống khỏi giường. Anh lạng quạng tiến về phía Cường. Lưng còn đau ê ẩm, Vĩnh phải khom người xuống mà đi. Lúc tiến đến gần giường Cường, Vĩnh thấy nó đang ngủ. Cái màn vẫn mắc nhưng chỉ mắc một nửa để che phủ nửa phần dưới thân thể. Vĩnh bước tới ngồi xuống cái giường trống bên cạnh. Anh đạp nhằm một cái thau nhôm nhỏ để ngay dưới gầm giường. Cường bỗng choàng dậy. 
Vĩnh chưa kịp nói gì thì Cường đã nhận ngay ra anh, vừa mỉm cười vừa nói. 
– Mày đấy à? Từ sáng tao đã biết mày vào nằm phòng này nhưng lúc ấy mày ngủ như chết, giờ điểm danh mày cũng chẳng biết gì. 

– Nằm đây cũng có điểm danh nữa hả? 

– Có chứ. Sáng tối hai lần thôi. Sạn thận ở Trảng Lớn tái phát? 

– Ừ. Kinh khủng quá! 

– Tao biết. Xưa bố tao cũng bị. Tụi Đại Hàn nó mổ một lần lấy trong thận ra mấy viên, viên nào viên đó to như đốt ngón tay cái. Lần ấy không mổ chắc chắn ông cụ tao tiêu. 

– Mày nằm đây lâu chưa? Mày ở trại nào? Tao cứ tưởng mày còn trên bệnh xá Trảng Lớn. 

– Đâu có. Tao biên chế về đây cùng lượt với tụi mày. Chúng đem thẳng từ bệnh xá Trảng Lớn về bệnh xá này. Nghe nói tao thuộc nhân số trại 1 nhưng tao chưa biết trại 1 nằm đâu cả. Mày trại mấy? 

– Trại 1. Vết thương mày ra sao? 
Chẳng một chút muộn phiền dù chỉ trong giọng nói, Cường bình thản vừa kéo tấm đắp ra khỏi chân cho Vĩnh nhìn thấy nguyên chân trái của nó, vừa nói. 

– Coi như tao vĩnh biệt trời mây mãi mãi. Mai sau nếu có, tao cũng chẳng bao giờ lái máy bay được nữa. Chân thế này đạp pédal sao được! 
Vĩnh không tránh khỏi cảm giác hãi hùng khi nhìn thấy cẳng chân của bạn. Chỉ vì một tí trầy trụa nho nhỏ, đời sống lao tù Cộng sản đã khiến cho một thanh niên mạnh khỏe như Cường thành một phế nhân. Cẳng chân nó bây giờ như đã ung thối hoàn toàn. Ung thối từ bàn chân lên đến gần háng. Thịt đã bở bục và lốm đốm máu mủ. Mùi hôi hám dù không nồng nực lắm nhưng cũng khiến khứu giác của Vĩnh khó chịu. 

– Trời ơi! Chúng nó không chữa cho mày à? 

– Xuân thu nhị kỳ nó mới chích cho tao một hũ bi. Thấm tháp gì! 

– Nhưng mày có thấy đau không? 

– Tao chỉ còn thấy đau phía gần háng đây thôi. Phía dưới không còn cảm giác gì nữa. 

– Sao lốm đốm chỗ thâm chỗ không thâm vậy? 

– Chỗ không thâm là mủ. Chỗ thâm là thuốc tím. Thằng Tính mỗi ngày chỉ nặn bớt mủ ra và dùng thuốc tím pha rượu cồn bôi hết chân tao để tránh bị dòi đục thôi. 

Lòng Vĩnh chùng xuống vì thương xót bạn. Ôi thôi, thế là xong một cuộc đời! Anh nhìn thật nhanh qua nét mặt Cường. Anh vẫn không tìm ra một nét muộn phiền nào. Sao thế nhỉ? Sao nó lại có thể bình thản trước cái tai biến kinh khủng của đời nó đến thế nhỉ? Hay là Cường đã đạt tới cái mức thân ngoại vật? Tới cái mức vô vi? 
Vĩnh nhớ lại những sỹ quan không quân hào hoa cấp úy mà anh đã gặp trong trại tù. Trương Thành Trai thì nhẫn nhục, hiền hòa. Trần Trọng Minh thì bốc đồng, khoái đập lộn. Bùi Vịnh thì chậm rãi, lè phè. Lê Văn Quy thì chỉ có ăn và lúc nào cũng bàn đến những chuyện “trong bách khoa tự điển họ bảo thời trung cổ giai cấp quý tộc đẻ ra nhiều trò giao hợp kỳ lạ để mua vui, tỷ như giao hợp với ngỗng. Tại sao trong này không giao hợp với gà?”… Trong những người ấy chỉ có Cường làm cho Vĩnh ngưỡng phục với cái tính an nhiên tự tại của nó. Quả thực sướng khổ tại tâm, các cụ nói đúng quá. Và rồi nghĩ lại mình, Vĩnh tự hiểu đời anh từ đây sẽ chẳng thể sướng được lúc nào. Sướng làm sao được khi lửa thù trong tâm lúc nào cũng hừng hực… 

Cường đã kéo tấm đắp lên phủ lấy chân. Vĩnh vội can. 

– Mày đắp suốt ngày như thế hầm chịu sao nổi. 

Cường cười. 

– Còn hơn để cho bầy ruồi kia nó kamikaze vào ỉa bậy ỉa bạ sinh dòi ra! 

Vĩnh nhìn quanh một vòng. 

– Mấy người kia bị gì vậy? 

– Cũng toàn bọn sắp chết. Tao cũng chẳng muốn nói chuyện. Suốt ngày tao nằm luyện thiền thôi. Hiện tại tao đang suy gẫm cái công án Đại Lãng. Tuyệt vô cùng Vĩnh ạ. 

– Tính trở thành một võ sỹ vô địch à? Đánh với ai đây? 

– Đánh với nỗi buồn của chính mình! 

Nói đoạn Cường vói tay lên cái kệ đóng ở đầu giường. Nó lôi xuống một cái ca nhôm móp méo. Quên, nó nói. Quên không mời mày tí cà phê… 

Vĩnh hơi bàng hoàng khi nghe thấy chữ cà phê. 

– Cà phê hay nước gạo rang cháy? 

– Cà phê chứ. Mày nhấp thử coi. 

Vĩnh cầm lấy cái ca nhấp một chút. Đúng cà phê. Dù cà phê đã nguội nhưng hương thơm của nó vẫn ngọt ngào trong miệng. 

– Ở đâu ra vậy? 

– Ở bệnh xá đỡ lắm. Tụi nó lâu lâu cho bệnh nhân mua đồ. Cứ góp tiền và lập một danh sách kê khai những món muốn mua trao cho thằng Tính, nó sẽ trình hậu cần bệnh xá và chúng nó mua về cho mình. Tuy nhiên cũng chỉ giới hạn trong vài món. Thuốc lào, thuốc lá, cà phê, kẹo bánh. Lâu lâu có thể mua thêm tí thịt heo. Hồi đó tụi tao còn mua được cả giấy Kiss-me nữa. 

– Ở đây đời sống văn minh nhỉ. 

Cường cười. 

– Nhưng bây giờ chúng đã biết và không cho mua giấy vệ sinh nữa. 

– Sao vậy? 

Cường lại thò tay xuống kéo lệch cái chăn đắp sang một bên cho cái chân đỡ hầm. Nó kể. 

– Hồi mới về đây chúng thông báo cho bệnh nhân góp tiền mua đồ. Mày thấy chân tao thế này mà đi cầu lại phải đem theo lon nước để rửa thì phiền ghê lắm. Tao nảy ra ý xin mua giấy Kiss-me. Tụi bệnh khác bắt chước thằng nào cũng xin mua hàng chục cuộn… Hôm ấy ngoài các món khác, bọn quân y còn phải gánh về cho bệnh nhân hơn trăm cuộn mua từ Biên Hòa. 

Thằng y sỹ chính của bệnh xá đứng xem hậu cần phát lại các món đồ cho tù bệnh, hắn lắc đầu ngao ngán: Gớm, các anh nằm bệnh mà sao hút thuốc gì nhiều thế. Anh nào cũng xin mua hàng chục cuốn giấy quyến thế kia hút mấy đời mới hết? Tụi tao cố nín cười vì biết thằng bác sỹ Cách mạng nó lầm giấy chùi đít ra giấy quyến vấn thuốc. Mấy hôm sau, chúng nó phát hiện ngoài cầu tiêu toàn những thứ giấy chúng nó mua cho tù mà chúng tưởng lầm là chỉ để vấn thuốc rê. Thằng bác sỹ đùng đùng nổi giận. Nó kêu văn Tính nhà ta ra cật vấn. Trợ y Tính cứ tình thật khai rằng giấy ấy không phải là giấy quyến vấn thuốc, mà chỉ là loại giấy trước đây miền Nam sản xuất cho “công tác vệ sinh cá nhân”. Tên bác sỹ há hốc mồm giận tái mặt. Hắn xuống bệnh xá tập họp bọn tù bệnh lại, lên lớp một trận. Hắn nói: Cách mạng quan tâm đến sức khỏe của các anh, cho các anh góp tiền để mua những nhu yếu phẩm về bồi dưỡng. Các anh lợi dụng lòng tốt của Cách mạng, đã bắt các chiến sỹ phải lặn lội tìm mua và gánh gồng về cho các anh cả những loại giấy chùi đít của bọn tư sản trước đây… Các anh quá lắm rồi. Từ đây, tôi chấm dứt mọi công tác tạo điều kiện bồi dưỡng đặc biệt cho các anh. 

– Và chúng mày không được mua đồ nữa? 

– Nói thì nói vậy, hàng tháng bọn hậu cần vẫn hiên ngang cho thiết lập danh sách mua đồ bồi dưỡng. Làm mật ai chả mút tay. Chúng có làm công không bao giờ… Duy giấy vệ sinh thì từ đó không còn được mua nữa. 

Vĩnh vẫn thấy khát nước dù anh đã uống hết miếng cà phê Cường cho. 

– Ở đây cơm nước ra sao? 

– Thoải mái nhiều. Không ăn độn. Được ăn cơm và đôi khi ăn không hết. Khai mệt không ăn cơm thì được phát cháo với hai thìa đường mỗi ngày. Buồn buồn muốn có tí đường nấu chè cứ khai ăn cháo năm ngày là đã có trong tay nửa bát đường cát trắng ngà. 

– Đỡ nhỉ. 

– Ừ, đỡ lắm. Nhất là vụ cơm. Mày thấy đấy, đưa lên đây toàn thứ sắp tịch, mấy người mà ăn uống được! Tao chỉ bị cái chân này thôi, nhưng bao tử còn tốt lắm, thành thử những phần cơm không ai lãnh tao lãnh hết. Ăn mệt nghỉ. 

– Đồ ăn ở đây có khá hơn không? 

– Dĩ nhiên. Hầu như ngày nào cũng có tí chất tanh. Tuy nhiên toàn loại cá Ngừ ươn thối, hoặc cá Đuối tanh muốn lợm mửa. 

– Dọng tối đa muối vào hết tanh hết thối chứ gì. 

– Dĩ nhiên phải vậy. Bếp núc ở đây hiện tại do thằng Toàn lo. Thằng ấy cũng dân Trảng Lớn. Mày biết nó không? 

Vĩnh tính kể chuyện thằng Toàn ăn cắp cho Cường nghe, nhưng nghĩ sao lại thôi. Tuy thế, anh vẫn nghĩ bụng, thằng Toàn mà lọt vào công tác hậu cần có khác nào chuột sa hũ gạo. 

Vĩnh nhìn quanh quất. Anh muốn trò chuyện thêm với Cường nhưng không còn gì để nói. Cường có vẻ mệt. Vĩnh đứng lên. 

– Tao về chỗ nằm chút. 

Cường không phản đối. 

– Ừ, về chỗ đi. Cũng sắp tới giờ phát cơm rồi đấy. 

Vĩnh đứng lên. Thay vì bước về chỗ nằm, anh bước ra ngoài phía cửa. Đứng nơi cửa sau của dãy nhà, Vĩnh vẫn có thể nhìn thấy bên cánh trái là khu nhà bếp của bệnh xá. Xa khỏi khu nhà bếp là mấy dãy nhà nữa. Nơi ấy cũng có ít người yếu đuối xanh xao đi ra đi vào. Đối diện với dãy trại bệnh là những dãy nhà lụp xụp dơ bẩn hơn, được ngăn cách bởi một hàng rào đơn. Theo vị trí mà đoán, Vĩnh có thể biết được nó là trại 4. Hiện tại đang là giờ lao động, trại 4 chỉ còn thưa thớt ít người ở nhà. Họ lầm lũi làm những công việc tạp dịch trong trại, hoặc nấu cơm, hoặc ngồi may những bao cát, gỡ các mắt dây thép gai… Vĩnh cố nhìn xem có ai quen không. Tuyệt nhiên không một người nào trong những bóng hình lam lũ và câm lặng ấy Vĩnh thấy quen mặt cả. Mà dù có quen đi nữa, chưa chắc gì người ta đã dễ dàng nhận ra nhau sau một thời gian khá dài theo học cái “Đại Học Tổng Hợp”, nói theo ngôn ngữ đểu cáng của bọn cai tù nơi đây. 

Một cái đập vào vai khá mạnh khiến Vĩnh giật mình. Anh quay lại. Phạm An Toàn, tên thiếu úy trợ y người Mỹ Tho có giọng nói nửa đực nửa cái, chuyên gia ăn cắp của trại cải tạo, đứng nhìn Vĩnh cười cười. Nó lên tiếng. 

– Gặp bồ đây mừng quá. 

-…..! 

– Tui biên chế về đây làm hậu cần. Có thể sau đợt thăm tới đây tui được Cách mạng thả. Bồ cần gì cứ nói nhé. Tui giúp hết mình. 

– Cám ơn bạn. Tôi chưa thấy mình cần gì cả. 

– Ừa. Khi nào thấy cần thì nói. Mua gì cũng được. Đường, sữa, thuốc lá, thuốc lào, thịt heo, mắm ruốc, ớt, muối, tiêu… Bồ cần cứ nói. 

Vĩnh cố gắng đè nén xuống cái bực một khi phải bồ bồ bạn bạn với một thằng mà anh vốn khinh bỉ. Vĩnh cố gắng lên tiếng lần nữa. 

– Cám ơn bạn. Khi nào cần tôi sẽ nhờ. Nhưng mà có lẽ tôi cũng không mua gì đâu. 

Hình như tới giờ chia cơm, Toàn phải quầy quả trở lại khu bếp. Trước khi đi nó nói thêm. 

– Sạn thận trên này lền khên. Qua cơn đau là bị xuất viện liền. Chắc bồ không được nằm lâu đâu. Ho lao thổ huyết là số 1. Nhưng tôi sẽ nói văn Tính cho bồ nằm đây kha khá… 
Nói đoạn Toàn bỏ đi một nước. Vĩnh không buồn chú ý tới lời hứa hẹn của thằng ăn cắp. Anh thủng thẳng quay về chỗ nằm. 
Ít phút sau phía nhà bếp vang lên một tiếng kẻng. Giờ cơm đã bắt đầu. Đồng lúc ấy, những con đường từ đủ các hướng đông tây nam bắc, tù lao động lần lượt xuất hiện trong những đội hình quay trở về trại của họ. Vĩnh lục cái túi đầu giường, lấy ra một cái lon gò bằng tôn, một đôi đũa, một lon guigoz. Đó là những vật dụng dùng đựng thức ăn hàng ngày của Vĩnh. Vĩnh bước theo anh em xuống xếp hàng dưới bếp. 
Bữa cơm đầu ở bệnh xá có cơm không độn, có cá kho và rau muống luộc sạch sẽ gấp trăm lần ở trại, thế nhưng Vĩnh ăn không thấy ngon. Một phần miệng anh còn đắng do hậu quả những mũi thuốc chích đêm qua, một phần quang cảnh những người nằm chung quanh. Họ đều là những người có nội bệnh hoặc những bệnh ngoài da đã tới thời kỳ lở loét trầm trọng… 
Vĩnh vừa ăn vừa đuổi ruồi. Và khi một con ruồi mà anh tin rằng nó vừa đậu trên cái mồm nhớt rãi của ông già “bất tri thiên hạ sự” nằm bên cạnh, đậu vào bát cơm của Vĩnh, anh bỗng dưng thấy mình no lên đến cổ và không cách gì nuốt nổi nữa! 
Phạm An Toàn lại xuất hiện bên Vĩnh. Hắn đứng nhìn anh ăn với vẻ ngao ngán, lên tiếng hỏi. 
– Chắc bồ còn mệt không muốn ăn cơm hả? Nếu cần chiều nay tui cho bồ khẩu phần ăn với đường. Chịu hông? 
Vĩnh không muốn trò chuyện nhiều, gật đại một cái cho xong. 
Trợ y Tính từ ngoài bước vào nói nhỏ với Toàn vài câu rồi xoay sang Vĩnh. 
– Đỡ chưa cha? 
Vĩnh chỉ nhún vai. Văn Tính tiếp. Bác sỹ bảo tôi hỏi anh thấy trong người thế nào? Sáng nay khám bệnh anh ngủ như chết. Sáng mai đừng ngủ như vậy nửa nghe, ông nội. Điểm danh đàng hoàng không mấy ổng cho xuất viện đa! 

Vính nhíu mày. 

– Chứ bộ ông tưởng tôi muốn nằm đây lắm à? 

Tính chưa kịp trả lời vội quay sang ông già đang nằm bên cạnh giường Vĩnh. Ông ta lại bắt đầu lên cơn đau và rên la với cái giọng khàn khàn trong cổ. 

– Trứng! Cho tôi xin một quả trứng. Tôi thèm trứng lắm. Cho tôi xin một quả trứng Cách mạng ôi… 

Hình như Tính và Toàn đã nghe quá nhiều lần câu nói ấy, họ lắc đầu và rủ nhau bỏ đi. Ông già vẫn tiếp tục kêu la một cách vô thức. Vĩnh nhìn kỹ ông ta hơn. Rõ ràng ông ta đang chết từ từ. Vĩnh quay sang gạ chuyện với một người khác nằm bên tay phải anh. Anh chàng này trông có vẻ không quá bệnh hoạn như nhiều người khác, bằng chứng anh ta đang ăn khẩu phần cơm của mình một cách rất thành khẩn và kính cẩn. 

– Anh bệnh gì vậy? 

Anh bạn ngừng nhai và ngó Vĩnh dò xét. Một thoáng anh ta trả lời. 

– Sạn thận. 

– Ủa, vậy mình đồng bệnh. Anh nằm lâu chưa? 

– Trước anh một ngày. Anh ta nhai tiếp miếng cơm rồi ngồm ngoàm nói. Nhưng chiều nay tôi xuất viện rồi. Anh lẩm bẩm chửi thề. ĐM. tụi nó! Tôi đau gần chết. Nó khênh lên đây lụi đại vào thận tôi một mũi thuốc quái quỷ gì đó rồi đã vội đuổi tôi về trại đi lao động. 

Vĩnh không chú tâm lắm đến lời kêu ca của anh ta. Anh chỉ muốn hỏi về ông già nằm bên cạnh. 

– Ông già đau bệnh gì vậy? 

– Nghe nói đau gan, nằm đây cả nửa năm rồi. 

– Nghe ông ấy đòi ăn trứng. 

– Ừ, cái điệp khúc ấy tôi nghe hai ngày nay rồi. Nhưng những người nằm ở đây lâu thì cho biết họ đã nghe cái điệp khúc ấy cả nửa năm nay. 

– Sao không cho ông ấy quả trứng? 

– Ai biết! Nhưng trứng đâu mà cho? 

– Ban chỉ huy trại bệnh không có nổi quả trứng sao? 

Người bạn có vẻ hơi bực mình. 

– A, cái đó thì tôi không biết ạ. Muốn rõ hơn anh cứ hỏi tụi nó. 

Vĩnh thấy anh bạn không có vẻ thân thiện lắm nên cũng không hỏi gì thêm. Vĩnh ngậm ngùi ngồi yên nghe ông già thều thào van xin một quả trứng. Và khi ông mệt quá không rên được nữa, Vĩnh mới đứng lên mang ca cóng của mình ra sau nhà tìm nước rửa. 

Ngồi ngoài bờ giếng rửa bát, Vĩnh bỗng thấy bên trại 4 nháo nhào như người ta gặp cảnh cháy nhà. Một lúc sau Vĩnh biết được rằng ở các trại, một cuộc biên chế mới đã và đang xảy ra. Dù đau, Vĩnh vẫn nôn nóng trước chuyện biên chế. Thăm nuôi đã đến nơi, đùng đùng bị đưa đi các trại khác quả là chuyện đại bất hạnh lúc này. 

Đêm hôm đó Vĩnh còn được biết thêm một chuyện khác nữa. Ngoài việc chuyển trại lòng vòng giữa 4 trại với nhau (có nghĩa là chưa ai bị đem đi xa lúc này), Vĩnh còn được biết sẽ có một số người được thả…


















Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Bài 35

Phần 34

Không hiểu vì lý do nào, sau khi bờ ao sập giết chết hai mạng người, hai ngày sau đó tù được lệnh hoãn công trình đào ao và đổi công tác mới. Riêng đội 5 trại 1 lại trở về với công tác đào và kéo cột đèn. Đồng lúc ấy, đa số những tổ thợ mộc bên đội 6 và 7 đều được đem tăng phái cho trại 4 để dựng một khu đặc biệt mà theo tin đồn, nơi đó sẽ là khu tiếp tân cho những lần thăm nuôi sắp đến. 
Vì là trong tình trạng thấp thỏm đợi thăm nuôi, không khí trại cũng có nhiều thay đổi. Bên cạnh những sự bàn tán vui nhộn, những dự trù sẽ hỏi gì, nói gì, xin gì nếu được biên thư về nhà; tù cũng bắt đầu tranh thủ những thời gian rảnh rỗi buổi trưa và buổi chiều lúc đi lao động về, sáng chế đủ mọi thứ lưu niệm để mong có tí quà tặng người thân. Khi đi lao động, ngoài sự rình rập để thuổng được một quả ớt, một quả đậu bắp, vài cái ngồng cải… toàn những thứ mình làm ra mà không được hưởng để giấu vào người, hoặc vồ ít con cào cào mập mạp, ít con rắn mối, ít con kỳ nhông… để có thêm tí protéin cho bữa trưa hoặc bữa chiều; bọn tù còn cố công thu lượm bất cứ vật gì mà họ nghĩ rằng có thể chế được một cái lược, một cái vòng đeo tay, một cái nhẫn xinh xinh hoặc một cây đàn, một cái điếu bát điếu cầy… 
Dù sao thì những vật dụng quý giá để biến chế thành những kỷ vật cho tù lúc này vẫn là những miếng Inoxidable, những ống nhôm M.72, những miếng Mica dày… Riêng những người chế đàn guitare họ cần nhiều thứ tỉ mỉ hơn, chẳng hạn phải kiếm những sợi dây điện có lõi đồng để làm phím, phải kiếm cho ra những cuộn dây đồng sợi nhỏ đủ cỡ lấy từ các cơ phận của các máy truyền tin hư, hoặc trong các ống dynamo thật nhỏ thường tìm thấy nơi các hàng rào, dưới những nền nhà cũ của Mỹ… Những sợi dây đồng nhỏ đủ cỡ đủ màu này hợp với lõi dây điện thoại, một khi lọt vào tay bọn tù, nó sẽ biến thành những sợi dây đàn guitare có độ cộng hưởng không thua dây đàn guitare d’Argentine. Riêng Hóa và Vĩnh hợp tác chế tạo một bộ đàn Célophone. Bộ đàn được làm bằng những khúc kẽm to bản, cắt từ những sợi kẽm dẹp dùng chằng các kiện hàng trước đây. 
Cứ mỗi buổi trưa, trong lúc các bạn ngồi dũa, mài, xủi từng quân cờ, từng cái lược nhuộm, từng cái vòng đeo tay bằng Mica… thì Hóa và Vĩnh cũng bò lê trên một nền nhà giữa sân nắng, nơi cách xa các phòng để không bị anh em chửi bới làm mất giấc trưa của họ, để gò những miếng kẽm có độ cong nhất định của nó, hầu phát ra được đúng tông cho một nốt. Bộ đàn làm liên tiếp trong mười ngày mới xong. Khi Vĩnh treo những miếng kẽm gò cong ấy trên hai sợi dây mọc trên một cái giá gỗ nho nhỏ, Hóa cầm hai cái búa gỗ nhỏ xíu đập trên mặt đàn để chơi một bài hát vui vui. Trong lúc đó bên C3 Tiến cũng đã làm xong một cây guitare, một cây guitare không giống bất cứ một cây guitare nào trên thế giới này. Thùng đàn là một cái hộp hình tam giác, đầu cần đàn là một bộ khóa được làm bằng những chốt gỗ dài trông như đầu cần của một cây đàn tì bà. Thế nhưng đúng tông ra phết. Mỗi khi đi lao động về, Tiến mắc cái võng nơi chỗ nằm và búng classique nghe thật đã lỗ tai. Tuy nhiên, chỉ vài ngày sau Tiến dẹp luôn cây đàn vì bị một thằng ăng ten hót với quản giáo rằng nó chơi nhạc vàng. Tiến bị kiểm thảo nghiêm trọng, phải thú tội trước đội và làm tự kiểm lẫn cam kết rằng từ giờ đến chết nó không được đàn địch gì nữa. Cái vụ Tiến bị làm tự kiểm khiến những tay chế đàn phải khựng hẳn lại. Riêng Hóa và Vĩnh, với bộ Célophone làm gần mười ngày trời, mỗi người chỉ được gõ vài phút đồng hồ một bản nhạc quen thuộc rồi cũng xếp xó luôn. 

Những tay làm đàn từ đó cũng xoay ra làm lược làm gương, làm những món mà không ai có thể chụp mũ vàng xanh đen đỏ được. Giai đoạn này có lẽ nước Việt Nam lại sản sinh ra nhiều thợ kim hoàn nhất thế giới. Và người có ngón nghề xủi tinh xảo nhất trong bọn tù ở An Dưỡng phải nói tới Đặng Ngọc Sinh. Bất cứ một miếng nhôm hay một miếng Inox nào lọt vào tay Sinh, chỉ một ngày sau nó đã có thể biến thành một cái lược hoặc một cái khung gương đẹp tuyệt vời. Đồ nghề của những nhà thủ công nghệ này không nhiều lắm. Chỉ một cái dũa sét rỉ, một lưỡi cưa sắt gãy, một cọng thép mài thật nhọn, một tí giấy nhám lượm lặt được trên kho hậu cần…bọn tù đã có thể tẩn mẩn ngồi làm đủ mọi chuyện thủ công mà không quá hai năm trước đây chẳng ai có thể nghĩ mình làm được. Tuy nhiên những người khéo tay hoàn thành một tác phẩm thủ công tinh xảo trong tù với những vật dụng thô sơ nhất cũng không lấy làm lạ. Nhưng công tử con nhà giàu như anh chàng Bùi Vịnh chẳng hạn, cũng mỗi trưa ngồi gò lưng dũa và xủi mới thật buồn cười. Vịnh vốn đã vụng về, vụng về đủ mọi chuyện, thế nên dù nó đổ bao công khó cái lược cũng không bao giờ trông ra cái lược, cái vòng không bao giờ có được hình tròn của một cái vòng. Có lần Vĩnh hỏi nó. 

– Ê Vịnh, người ta có vợ có con, người ta làm nhẫn làm vòng xủi lược để tặng. Vợ con mày tếch đi Tây hết rồi, mày làm mấy thứ đó tặng ai vậy? 

Vịnh nghe hỏi vẫn dúi mũi vào cái lược để cưa những răng lược, miệng ậm ừ trả lời. 

– Tặng em vợ không được sao? 

– Chà, tính hoa thơm đánh cả cụm chăng? 

Nghe vậy Bùi Vịnh cười vui vẻ. 

– Cũng sạch nước cản lắm. Nhưng kẹt cái ông già vợ tao có bằng thiện xạ. Phiền bỏ mẹ! 

Công việc cưa mài dũa xủi đang phát triển đều khắp các trại của An Dưỡng thì lệnh cấm lại ban ra. Lệnh cấm cũng có lý của nó, vì bên trại 2 đã xảy ra một tai nạn làm chết và bị thương mấy người. Hai sỹ quan cảnh sát bên đó đi lao động và lôi về trại một ống phóng M.72 chưa hề dùng. Hai ông loay hoay cưa ống phóng để chia nhau mỗi người một phần ống nhôm. Ống phóng phát nổ gây thiệt mạng cho hai người cưa và làm què cụt thêm một số người khác nữa. 
Sau vụ đó, để chắc chắn không còn màn cưa mài dũa xủi nữa, các trại đồng loạt mở cuộc xét đồ. Trong đợt xét đồ lần này, thêm một lần nữa tù trắng tay. Ngoài kìm kéo búa cưa và những đồ nghề cho công tác thủ công của những nhà kim hoàn bất đắc dĩ dưới thời đại Hồ Chí Minh bị tịch thu, tất cả những vật bén nhọn, những lon cóng ngoài số quy định của trại cũng đều bị tịch thu hết. 
Nhiều tay không giấu kịp những gương lược… của mình, bị tịch thu hàng đống. Vĩnh không mất gì ngoài một cái pipe làm bằng gỗ Cẩm Lai mà anh đã tẩn mẩn gọt dũa cả hai tháng trời. Tuy nhiên sau vụ xét đồ, Vĩnh không còn sức đâu mà lưu ý tới những việc chung quanh nữa. 

Những ngày đầu tháng 10 năm 76, chứng sạn thận trở lại hành hạ anh ác liệt hơn hồi ở Trảng Lớn nhiều lần. Đúng ra, gần một tháng nay Vĩnh đã biết mình có triệu chứng tái phát bệnh sạn thận, khi mỗi đêm đêm anh phải thức dậy đi tiểu nhiều lần với những cơn thống buốt vô cùng khó chịu nơi bộ phận sinh dục. Qua sự cắt nghĩa của bác sỹ Tuyên trước kia, anh biết một phần nguyên do của bệnh sạn thận. Người bị sạn thận là người có nhiều chất Acid Urique trong máu. Chất này là chất xúc tác tốt cho việc kết tủa nơi thận những chất vôi, mangésium… qua thực phẩm tiếp nhận vào thân thể hàng ngày mà không tiêu hóa hết được. Lời khuyên của Tuyên còn văng vẳng bên tai Vĩnh: Ông cố gắng đừng ăn một món gì quá nhiều lần trong thực đơn hàng tuần! Lời khuyên của bác sỹ Tuyên thật… vui nhộn cho những người bị bệnh sạn thận như Vĩnh trong thế giới lao tù Cộng sản, nơi mà con người bị khai thác sức lao động bằng một con voi và được trả thù lao bằng miếng ăn thua một con chó. Làm sao có thể làm theo lời khuyên của bác sỹ được, khi mà quanh năm chỉ khoai và sắn, rau muống và rau dền? Đông y đã nói rau dền là một loại rau tối kỵ cho những người bị bệnh sạn thận. Nhưng khổ thay, rau dền cũng là một trong những thức ăn mà tù phải ăn chêm với sắn khoai mỗi ngày cho đầy bụng! Nó là một loại rau dễ trồng nhất, mùa nào cũng có thể tốt tươi; khác hẳn với nhà chị cải, nắng không ưa mưa không chịu, và nhà anh muống chỉ thích xanh tươi vào mùa hè… 
Một buổi tối, sau khi cả nhà họp kiểm thảo xong Vĩnh quay về chỗ nằm. Thoạt đầu anh thấy khó chịu và muốn ói, cái kiểu ói khan như đàn bà ốm nghén. Sau một lúc trăn trở khó chịu như vậy, nơi lưng Vĩnh bỗng giật nhói một cái. Thế rồi chỉ một tích tắc sau đó, cơn đau tàn bạo kéo đến. Nơi lưng Vĩnh giờ đây như bị bắn trúng một phát đạn. Không! Không phải cái đau đớn êm dịu như trúng một phát đạn đâu, mà là một cái đau đớn vô cùng khủng khiếp; thứ đau đớn không khác nào anh đang bị một con đại bàng dùng móng vuốt xé toạc những thớ thịt trên lưng ra nhiều mảnh vụn. Đến lúc này thân xác Vĩnh đã vượt ra ngoài sự kiểm soát của lý trí. Anh lăn lộn trên nền nhà, quằn quại và đau đớn như một con sâu cái kiến đang bị một bàn chân vô hình chà đạp. Thế nhưng trong sâu thẳm của ý thức, Vĩnh vẫn ngậm miệng, cố gắng hết sức để ngậm miệng không kêu gào. Đã có lúc Vĩnh đâm đầu vào một góc vách với hy vọng những cái đau khác sẽ làm giảm đi phần nào cái đau tàn bạo nơi lưng. Nhưng mọi nỗ lực đều vô ích, kể cả khi một bên trán Vĩnh đã chan hòa máu vì tông vào một góc kệ gỗ đầu chỗ nằm. 
Đến lúc này thì bạn bè không thể ngồi nhìn được nữa. Nằm đối diện với Vĩnh là Nguyễn Đình Tạc. Tạc to con và khỏe như gấu. Khi thấy Vĩnh quá đau đớn, lăn lộn đến chảy máu đầu, nó cầm lòng không được nhảy chồm sang chỗ Vĩnh. Dù đau đớn cực kỳ nhưng đầu óc Vĩnh vẫn sáng suốt ghi nhận những diễn biến chung quanh. Anh thấy rõ bạn bè đang cuống cuồng như những con kiến trên chảo nóng. Vĩnh muốn kêu cứu nhưng biết kêu cứu gì đây!? Trong lúc Vĩnh đang dự trù tông thêm một cái nữa vào góc kệ thì Tạc đã nhào sang đè phủ trên người anh. Nó ôm ghì lấy anh. 

– Vĩnh ơi, ráng chịu qua cơn đau. Đừng lăn lộn nữa. 

Sự ôm cứng của Tạc càng làm cho Vĩnh đau đớn hơn. Đau sạn thận cũng như đau sạn mật hoặc đau bao tử, người ta chỉ cảm thấy tương đối dễ chịu khi tìm được một vị thế ngồi hoặc nằm thích hợp. Bị ôm cứng, cơn đau còn hành hạ dữ dội gấp trăm lần. Khi bị Tạc ôm, Vĩnh đau đớn chịu không thấu. Anh cố gắng hết sức vùng ra khỏi vòng tay của Tạc nhưng bất lực. Tạc khỏe quá. Cơn đau chuyển sang cơn giận. Lần đầu tiên Vĩnh gầm lên. 

– Bỏ tao ra. Bỏ ngay tao ra! 

Dễ gì mà Tạc chịu bỏ Vĩnh ra lúc này. Thế nên anh càng la, càng vùng vẫy thì Tạc càng ghì chặt hơn. Lưng Vĩnh đau xé, mồ hôi đổ dầm dề như người trúng mưa. Tạc không biết làm sao, nó chỉ thầm thì. 

– Ráng đi, ráng chút đi Vĩnh. Lăn lộn quá chẳng có lợi gì… 

Vĩnh đâu còn hồn vía nào mà nghe lời bạn. Anh chỉ điên lên khi thấy bạn chết sống ôm ghì lấy mình, và như vậy anh không thể tìm ra được một thế ngồi, nằm hay quỳ nào cho viên sạn trôi một cách êm ả hơn trong cái ống uretaire trên lưng xuống bàng quang. Vĩnh bắt đầu chửi. 

-Thằng khốn nạn, tao bảo mày buông tao ra. 

– Không, cho mày chửi thả giàn, tao không buông. 

Vĩnh điên tiết. 

– Trời ơi, mày muốn giết tao phải không Tạc? Tao bảo mày buông tao ra. Mày không buông tao ra, tao thề sẽ giết mày. 

Tạc vẫn cười hì hì bên tai Vĩnh. 

– Cho mày giết. Mày muốn giết cả nhà tao cũng được, hơn là để cho mày lăn lộn đổ máu đầu máu cổ. 

Tạc cứ ôm cứng lấy Vĩnh. Và lúc này bạn bè trong phòng đã có người chạy ra cổng trại kêu quân y. Vĩnh đã nhận ra sự bất lực hoàn toàn của mình trong việc tìm cách vùng khỏi đôi tay rắn khỏe của Tạc. Anh xoay sang Hóa và Kim đang cuống cuồng đứng bên cạnh cầu cứu. 

– Hóa ơi, mày đấm vỡ mặt thằng Tạc giùm tao một cái. 

Hóa biết Vĩnh đau lắm, nó nói khe khẽ. 

– Tạc, ông bỏ nó ra một chút cho nó thở. 

Ngoài dự trù của Vĩnh, Tạc biến mất cái vẻ hiền hòa cố hữu. Nó nổi sùng với Hóa tức thì. 

– Đù mẹ mày không thấy cái đầu nó à? Máu me tùm lùm. Bỏ nó ra cho nó đập đầu chết luôn à? 

Vừa lúc ấy thì nhà trưởng Bính đi cùng thằng quân y vào tới trong phòng. Đến lúc này cảnh vật chung quanh cũng không còn rõ ràng nữa. Tất cả đã quay cuồng, đảo lộn và mờ nhạt dần. Trước khi ngất đi, Vĩnh chỉ còn nhìn thấy cái bóng điện sáng trưng treo nơi xà ngang ngay trên đầu như vỡ ra và đỗ vung vãi xuống mắt anh muôn nghìn cái bóng điện sáng trưng khác. Kế đó Vĩnh không còn biết gì nữa… 
Tuy nhiên chỉ ít phút sau Vĩnh tỉnh dậy. Anh đang được nằm trên một đống chăn mền hỗn độn. Vĩnh từ từ mở mắt. Anh thấy nhiều người đang nhìn xuống mình, và trong những khuôn mặt quen thuộc có một khuôn mặt lạ, khuôn mặt của thằng quân y. Cảm giác sung sướng thấy cơn đau chưa kịp hình thành thì cơn đau mới lại ập đến, cơn đau coi mòi còn tàn bạo hơn trước đó. 
Cơn đau làm Vĩnh lại phải chồm lên. Anh cúi rạp người trên đất như một người Hồi giáo đang rạp người cầu đấng Messiah. Dù đau lắm nhưng Vĩnh cố gắng ngậm miệng không cất một lời rên la. Tên quân y nhìn Vĩnh một lúc, rồi nghĩ sao hắn lôi cái túi dết đang đeo trên vai xuống. Hắn nói. 

– Sỏi bọng đái cũng đau đấy… Anh nào giúp tôi một tay, tôi sẽ tiêm cho anh này một mũi Atrophine là đỡ ngay. 

Vĩnh đau nhưng cũng nghe rõ lời của tên quân y. Trời ơi, đau bụng đau bão thông thường Atrophine mới công hiệu. Sạn thận mà chích Atrophine thì ăn thua gì!? Chỉ tổ làm cho mồm miệng thêm khô đắng. Tuy nhiên mấy người bạn không ai để cho Vĩnh suy nghĩ vẩn vơ nữa. Họ đè Vĩnh nằm sấp xuống. Tiếng thều thào của nhà trưởng Bính cất lên. 

– Thôi ráng nằm thẳng ra để anh quân y chích cho một mũi đỡ đau. Đừng nằm cái thế luyện Hàm Mô Công nữa Vĩnh ơi, Tây Độc nó buồn. 

Vĩnh cố gắng nằm bẹp xuống. Anh thấy một người kéo quần anh. Giọng tên quân y lại cất lên. 

– Không không. Tôi tiêm bắp tay. Cởi một bên vai áo anh ấy ra. 

Một thoáng sau trong người Vĩnh đã có một mũi thuốc Atrophine. Đây là lần đầu tiên anh lâm cái thế phải để cho giặc tiêm vào người một mũi thuốc. Vì từ ngày vào tù, ít nhất đã có ba lần Cộng sản tổ chức chích ngừa cho tù cải tạo để đề phòng những bệnh truyền nhiễm. Lần nào Vĩnh cũng tìm mọi cách tránh né. Đối với anh, Cộng sản là thứ không thể bảo đảm được rằng trong những mũi thuốc chích ngừa kia lại không có những độc dược công hiệu chậm, và năm năm, mười năm, người bị chích chẳng trở thành những phế nhân hoàn toàn? Bọn thực dân Tây xưa kia há đã chẳng tiêu diệt biết bao nhà trí thức ái quốc bằng những mũi thuốc kiểu chích ngừa như ngày nay hay sao? Hình ảnh một ông già nói tiếng Pháp như gió, miệng méo xẹo, một tay liệt, một tay luôn luôn cầm một miếng lá chuối, lê la xin ăn và liếm láp những đĩa thức ăn thừa nơi mấy cái quán dọc đường Nguyễn Công Trứ, Cần Thơ hồi 65, 66… Vĩnh còn nhớ như in trong đầu. Theo nhiều người cho biết ông già này từng là một trong những nạn nhân của thời Pháp thuộc… 

Dù sao bây giờ mũi thuốc đã được chích vào người. Chưa biết năm năm mười năm nữa ra sao, Vĩnh chỉ biết hiện tại nó như muối bỏ biển. Cơn đau vẫn tiếp tục hành hạ anh dài dài. Anh ráng nín thở, dồn hơi xuống huyệt đan điền và gồng cứng các bắp thịt bụng hy vọng khống chế được một phần nào cơn đau. Chẳng ích lợi gì. Anh lại phải chồm người lên “luyện Hàm Mô Công” tiếp tục. Điều mong nhất của Vĩnh lúc này là làm sao cho thằng quân y cút chỗ khác để anh được rên lên vài tiếng. Tên quân y sau khi dặn dò nhà trưởng một vài điều gì đó, hắn quay lại nói với Vĩnh. 
– Từ từ nhá. Thuốc ngấm rồi đỡ đau nhá. Tình trạng rồi sẽ tốt thôi. Có gì khắc phục, bằng đau bụng quá anh nhà trưởng lên khung báo cáo, Trên sẽ giải quyết. 

Thằng quân y vừa nói dứt câu thì cơn đau lại bộc phát trở lại. Vĩnh vòng tay ôm lấy lưng. Cái đau như một mũi dùi đâm vào lưng làm Vĩnh không thể không thốt lên một tiếng kêu. 

– Chao ôi! 

Tên quân y đã dợm bước đi, nghe thấy Vĩnh lên tiếng hắn vội quay lại. 

– Anh muốn nói gì? 

Vĩnh lắc đầu thở dốc nói như đuổi. 

– Không, tôi không nói gì cả. Đang khắc phục đây. Anh đi đi. 

Sự sẵng giọng của Vĩnh khiến tên quân y hơi ngẩn ngơ. Vĩnh nằm cong như con tôm. Mắt mờ nhạt. Đầu óc tan loãng. Tên quân y đã bước ra cửa. Vĩnh không nghe thấy anh em hô hoán nghiêm nghỉ gì cả. Và cũng chính vì thế, anh có thể nghe thấy tên quân y nói với vài người đứng ngoài cửa. 

– Anh ấy đau quá, điên rồi! 

Tiếng Bính. 

– Báo cáo anh có cách gì cho anh ấy đi viện. Sợ kích xúc chết mất. 

– Kích xúc là gì? 

– Đau quá sức chịu đựng… 

– Để tôi nghiên cứu xem sao… 

Lỗ tai Vĩnh bỗng nhiên lùng bùng và rồi anh không nghe thấy thêm gì nữa cả. Giờ này anh em đã nhiều người mắc màn ngủ. Riêng những tay nằm sát và gần Vĩnh không ai mắc màn. Họ có vẻ khó nghĩ trong hoàn cảnh có một thằng bạn đau lê lết đang quằn quại ngay bên cạnh mà không biết làm sao để giúp. Vĩnh cũng thấy khổ sở trong lòng. Anh biết ngày mai các bạn còn phải đi lao động quần quật cả ngày. Đêm mất ngủ, ngày hôm sau sẽ bơ phờ cả đám. Nhưng làm sao được, Vĩnh đâu có muốn đau, muốn lăn lộn như thế này. Thốt nhiên một nỗi uất hận, giống hệt một ngọn hỏa diệm sơn bỗng xuyên qua bao lớp địa tầng, phá vỡ mặt đất già nua meo mốc và bay thẳng lên không trung – thứ uất hận không thể kềm chế được và trào ra khỏi đáy lòng dồn nén bấy lâu của Vĩnh. Vĩnh xoay ngửa người ra, bất chấp cơn đau hét lớn một tiếng. 

– Khắc phục cái con củ c… Đồ đảng cướp… 

Tiếng hét của Vĩnh khiến cả phòng choàng dậy và ai cũng thất kinh. Vĩnh đã cảm thấy chẳng còn gì để sợ. Anh nằm ngửa thở dốc, rồi lại co người lên và tiếp đó lăn lộn với cơn đau giục giã, không ngừng. Nguyễn Đình Tạc lại phóng sang. Nó lại ôm chầm lấy Vĩnh. Nhưng lần này nó không ôm được lâu. Chỉ trong một thoáng mắt, Tạc phải buông ngay Vĩnh ra, mặc cho anh té nhào xuống đất với cơn đau. Tạc ông lấy háng, la làng. 

– Ôi giời đất ơi! Thằng này nó bóp d… tôi. 

Mặc cho Nguyễn Đình Tạc nhảy cỡn, Vĩnh gục xuống sàn nhà và bắt đầu ói mửa. Đợt ói đầu tiên chỉ có tí khoai mì lợn cợn với ít hột cơm chưa tiêu trào ra khỏi miệng. Đợt ói kế tiếp chẳng còn gì ngoài nước. Nhiều người đã choàng dậy trỗi ra khỏi màn. Có tiếng người hối thúc nhà trưởng đi báo quân y. Hóa đã nhảy tới đỡ đầu Vĩnh dậy, cũng may, cái ói như làm cho cơn đau giảm đi một phần. Vĩnh gối đầu trên một cánh tay Hóa, thì thào. 

– Cho tao miếng nước. 

Hóa vội quay lại nói lớn với một người đứng sau lưng. 

– Lấy hộ tao lon guigoz nước trên kệ. 

Vĩnh uống một miếng nước lạnh, xong lại tiếp tục ói. Một tiếng nói chợt khẽ vang lên an ủi. 

– Ráng tí Vĩnh ơi, quân y xuống đến nơi rồi, thế nào cũng được đi viện… 

Tiếng Kim len vào. 

– Toa mệt lắm không? 

– Còn hơn bị bề hội đồng. 

Có tiếng cười của Tạc. 

– Đến nước này mà nó còn giữ cái tật đùa giỡn. 

Con đau bỗng lắng xuống thật nhanh. Hiện tại Vĩnh chỉ còn cảm giác ê ẩm như vừa được khênh ra khỏi một cơ quan công an mật vụ nào đó… Anh ngước nhìn Tạc. 

– Xin lỗi mày nghe Tạc. Khi viên sạn đang hùng hổ tìm cách trôi xuống thì đừng bao giờ ôm cứng lấy tao như vậy. Như thế chẳng khác nào mày cản lại bánh xe lịch sử của Cách mạng đang lăn tới… 

Tạc đứng ưỡn người nhìn ra phía cửa, nói vu vơ. 

– Già rồi còn chơi đòn bóp d… 

Một cái nhói khẽ trên lưng làm Vĩnh hoảng hốt. Anh nhắm mắt lại như chờ đợi cơn đau một lần nữa ghé đến. Có nhiều tiếng động ngoài cửa phòng. Vĩnh mở mắt nhìn ra. Tên quân y đã trở lại. Hắn đang nói gì với nhà trưởng. Một thoáng Bính chạy vào trong, nói lớn. 

– Đi viện! Yêu cầu tổ trưởng tổ 1 cắt ngay hai người khênh võng. Một người khác khênh theo tất cả đồ đạc của anh Vĩnh… 

Mười lăm phút sau đó Vĩnh đã được đặt nằm trên một cái võng mượn của Đỗ Duy Tích. Một khúc tre già lồng xuyên qua hai cổ võng do Hỷ và Hóa khênh. Kim đi theo xách đồ. 
Tên quân y đã đứng chờ sẵn ngoài cổng trại. Lúc mọi người tiến ra, hắn báo cáo nhân số rời trại với an ninh trực ngoài cổng và dẫn cả đám đi theo con đường phía sau trại 1. Giờ này có thể đã 1 giờ sáng. Gần hai năm qua, có lẽ đây là lần đầu tiên Vĩnh được “lang thang” dưới trời khuya bên ngoài trại. Cơn đau như đã hoàn toàn lắng xuống. Vĩnh cảm thấy một tí thoải mái trong nhịp đong đưa của chiếc võng. Những cơn gió khuya khiến anh thấy gai gai lạnh. Người nằm và người khênh không ai nói với ai một lời. Vĩnh ngó lên bầu trời đầy sao, rồi ngó vời chung quanh. Bên trái đường là những cánh đồng khoai mì bát ngát. Mì đã cao quá đầu người. Bóng tối phủ trùm tạo cho cánh đồng khoai mì một sự hấp dẫn lạ thường. Thốt nhiên Vĩnh nghĩ bụng, tại sao Hóa Hỷ Kim không lợi dụng lúc này, quăng mình xuống đây và lủi vào vườn khoai mì kia nhỉ. Thằng quân y không có súng, và nếu như nó có hộc tốc chạy về cổng trại báo cáo thì ba người cũng đã có thể cao bay xa chạy. Cánh đồng mì bao la bát ngát thế kia dưới trời khuya làm sao mà truy tìm ra dấu tích của những kẻ vượt ngục? Nghĩ đoạn Vĩnh lại thấy hoảng. Nếu ba thằng bạn anh cũng có ý nghĩ ấy và biến nó thành sự thật, số phận anh sẽ ra sao? Và nếu chúng ngỏ lời với anh để tìm cách vượt ngục ngay lúc này anh sẽ tính sao? Vĩnh suy nghĩ thật lung và sau cùng anh tự trả lời cho câu đề nghị tự đặt ra ấy: Đi. Đi ngay đi. Để mặc kệ tao! 
Vĩnh hơi ngước mắt lên. Anh nhìn thấy khuôn mặt Hỷ đen thui dưới bóng đêm. Khuôn mặt như một biểu tượng của nhẫn nhịn và gian khổ. Anh lại nhìn về phía trước. Anh chỉ thấy cái lưng to và hơi gù của Hóa, cái đầu hơi nhọn với mái tóc cắt cao. Những nét ấy cũng chỉ biểu lộ một cái gì chịu đựng và mai phục… Kim thì lếch thếch đi bên cạnh võng. Trông nó thật hiền lành. Riêng thằng quân y đi trước khá xa, bóng đêm khiến Vĩnh chỉ nhìn thấy nó như một bóng mờ thấp thoáng. 
Đoàn người đã đi tới chỗ quẹo nơi góc trái của trại 1. Trên một vọng gác nơi góc trại ấy, Vĩnh nghe thấy một tiếng hô lớn: Ai? Đứng lại! Có tiếng báo cáo gì đó của thằng quân y dẫn đường. Đoàn người lại tiếp tục vượt qua vọng gác, tiến vào con đường bên cánh trái phía ngoài rào trại 1. Vĩnh nhìn vào phía trong trại. Cũng từng đó nóc nhà, cũng từng đó vuông sân quen thuộc nhưng trong đêm khuya tất cả đã trở thành lạ lẫm. Lòng Vĩnh bỗng dâng lên biết bao bùi ngùi. Bên trong hàng rào này, bóng đêm không chỉ phủ trùm trên cảnh vật và thân xác con người, mà bóng đêm cũng đang làm mờ nhạt đi không biết bao nhiêu mầm hy vọng nơi những người lính trẻ bị phản bội và bị bỏ rơi. Rồi đây, năm năm, mười năm, hai mươi năm, những người lính trẻ sa cơ thất thế ấy sẽ già đi và sẽ chết. Họ sẽ chết ở đâu, chết như thế nào, chết trong tuyệt vọng nhục nhã hay sẽ may mắn chết như những anh hùng đã được phục hồi danh dự? 

Đoàn người đã vượt qua ranh giới của trại 2, rồi 3 và 4. Bây giờ đã tới khúc quẹo nơi góc trại 4. Quẹo phải sẽ đi về khu bệnh xá. Quẹo trái sẽ ra cổng chính của trại An Dưỡng. Vĩnh nhận thấy ngay khu đất bên ngoài góc trại 4 đã được dựng lên nhiều căn nhà sườn gỗ. Theo anh biết đó là khu thăm nuôi trong tương lai. Cơn đau lại có mòi dấy lên trong lưng Vĩnh. Anh cố nín thở thật nhiều. Chưa bao giờ Vĩnh sợ thở như lúc này, vì mỗi hơi thở đem không khí vào trong lồng ngực, anh có cảm giác phổi sẽ nở ra và ép sâu xuống hai quả thận bên dưới. 
Dãy hàng rào trước bệnh xá đã hiện ra. Vĩnh nhìn thấy một tháp canh cao ngất nơi con lộ phía cuối khu bệnh xá, nơi ấy dẫn ra phía Bắc của trại và nếu quẹo trái người ta sẽ gặp những lớp hàng rào ngoại biên của phi trường Biên Hòa. 
Đoàn người ngừng lại nơi cổng bệnh xá. Tên quân y đợi lúc mọi người vừa đến gần, hắn lặng lẽ bước lại phía võng và cố gắng nhìn vào Vĩnh trong bóng tối. Hắn hỏi. 

– Hết đau rồi à? 

Vĩnh thành thật. 

– Thấy êm êm nhiều rồi anh. 

Tên quân y bỗng nghiêm giọng. 

– Này, tôi dặn kỹ. Khi nào tới ban nhận bệnh, đau hay không đau cũng phải la hét cho tợn vào. Bằng không bị đuổi về trại ráng chịu. 

Vĩnh ngậm cười khi nghe câu dặn dò khá “chí tình” của thằng quân y. Anh nhủ lòng: Xã hội này cần gian trá cả những khi khai bệnh với bác sỹ! Nghĩ rồi Vĩnh ậm ừ với tên quân y cho xong chuyện. 
Ít phút sau đó, Vĩnh đã nằm lại một mình trong phòng nhận bệnh. Phòng nhận bệnh không có giường, chỉ có một băng ghế dài. Anh em đặt Vĩnh nằm trên đó, an ủi vài câu rồi vội vã bước ra khỏi phòng theo sự thúc hối của tên y sỹ nhận bệnh. Ngọn đèn điện treo lơ lửng ngay trên cái xà ngang gần sát đầu Vĩnh lại bắt đầu vỡ ra, rơi xuống mắt Vĩnh hàng trăm nghìn tia điện sáng lóa lúc cơn đau bắt đầu trở lại.












Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Bài 34

Phần 33

Rõ ràng tin thăm nuôi đã có đến 80 phần trăm đúng, khi bọn quản giáo ráo riết động viên tù lao động tốt, chấp hành nội quy tốt để được chấm công cao và dĩ nhiên sẽ được thăm nuôi sớm hơn người khác. Song song với những đợt động viên, kêu gọi, khích lệ một cách… bắt buộc ấy, những chiếc loa lớn cũng được toán thợ điện Lê Văn Tần lần lượt treo trên những điểm cao nhất của các trại. Ngoài ra, những toán thợ mộc của các trại cũng đã được lệnh thiết lập một dãy nhà thăm nuôi nằm gần khu cổng chính.

Để sửa soạn cho lần thăm nuôi đầu tiên, bọn cán bộ cai tù Cộng sản phát động một chiến dịch đào ao cá. Ao cá này nằm về phía Bắc trại An Dưỡng. Chiến dịch huy động này cả 4 trại tham gia với tổng số lao động cả ngàn người.

Nơi đây là một vùng đất hoang, cửa ngõ dẫn đến một vùng đồi cỏ cây rậm rạp và có nhiều suối nước lớn nhỏ. Thực ra vùng đất này đã được khai quang khá nhiều và anh em cảnh sát trước đây cũng đã khởi sự nhiều bước đầu trong công cuộc thực hiện ao cá. Hiện nay cả ngàn người lại được huy động làm tiếp công tác bỏ dở đó.

Vì là quy mô lớn nên dĩ nhiên ao cá phải rất lớn. Ao có chiều dài sáu mươi thước, ngang bốn mươi thước, đào sâu xuống lòng đất bốn thước, chung quanh đắp bờ cao ba thước, chân bờ rộng năm thước và đê bờ rộng hai thước rưỡi.

Hai trăm tù thường trực đứng dưới lòng ao để đào. Ba trăm khiêng ki. Ba trăm đắp bờ và non ba trăm khác lo đủ thứ việc linh tinh như tiếp tục khai quang, đắp một con đường mới chạy vòng lên tới con đường gần bệnh xá, sửa chữa bảo trì các dụng cụ đào ao…

Trong thời gian thực hiện công tác đào ao cá – một cái ao lớn đến độ bọn tù đâm thắc mắc không hiểu là sẽ dùng nuôi cá mập hay làm mồ chôn tập thể cho chính mình khi cần thiết – bọn tù đã phải lao động 10 tiếng một ngày.

Nếu từ trên cao nhìn xuống, người ta có thể hình dung ra một quang cảnh của thời nô lệ xa xưa, nơi ấy những kiếp người khốn khổ đang khổ dịch xây dựng một công trình kiến trúc cho các bậc vua chúa ở La Mã hay Ai Cập gì đó. Và nếu người ta nhìn xa hơn một tí nữa về phía phi trường Biên Hòa, người ta sẽ vô cùng ngạc nhiên khi thấy hàng đống máy cày, máy ủi, máy xúc đất; hàng đống cơ giới tối tân của “Mỹ ngụy” để lại đã bị bỏ phế một cách vô cùng phí phạm, mặc cho nắng mưa dập vùi để một ngày kia biến thành đống sắt vụn. Tại sao chúng không xử dụng đến những máy móc đó? Trong lũ tù đang lao động quần quật kia, đâu có thiếu những kỹ sư tài ba, những chuyên viên cơ giới lỗi lạc? Nơi đây, một lần nữa xác nhận câu nói của một chính khách Tây phương đúng tuyệt đối: Thời chuyên chính vô sản nắm quyền chính là thời mà nhân và vật lực bị phung phí một cách kinh khủng nhất!

Vĩnh khênh ki cùng với Đặng Ngọc Sinh, họa sỹ và là tổ viên của tổ 3. Sinh hiền lành và nhẫn nhục, vẽ thật đẹp và cũng vô cùng khéo tay trong những công việc thủ công như biến những miếng Inox thành những quân cờ, biến những miếng nhôm dày thành những cái lược có xủi hình long ly quy phượng thật tinh xảo… Một người ít nói vì bệnh tật, một người ít nói vì bản tính, khiêng đất chung với nhau nên một ngày lao động mà coi như dài bằng ba. Dẫu sao Vĩnh thấy như vậy thoải mái hơn. Mỗi ngày, cứ đi lên đi xuống để khênh đất, anh tính nhẩm mình phải bước tới hơn tám trăm nấc thang, những nấc thang đục khoét lài lài theo thế đất cho những người khiêng ki xuống lấy đất và đem đất lên đắp bờ ao… Trong khi đi lên đi xuống, Vĩnh cố gắng tập trung tư tưởng để suy nghĩ những điều anh hằng theo đuổi, hai mắt cố chụp cho hết những hình ảnh, những góc cạnh của chốn địa ngục này.

Với non một ngàn tù thực hiện công tác, dưới sự đốc công trực tiếp của bọn cán bộ trung đoàn, ao cá đã thành hình nhanh chóng. Giờ đây, mỗi khi từ dưới lòng ao khênh đất lên tới bờ thành, Vĩnh đã có thể đứng quan sát suốt một vùng rộng lớn. Anh có thể nhìn thấy những nóc nhà hăng-ga của phi trường Biên Hòa, nhìn thấy những dãy trại nằm san sát nhau, nhìn thấy cả cái tháp nước mà anh nghĩ rằng nó là cái tháp nước phía trước quân đoàn 3 xưa kia… Nhìn lên hướng Bắc, Vĩnh chỉ thấy chập chùng một vùng đồi cây. Có anh em nào của ta trấn đóng trong những vùng đồi cây hoang dã ấy không? Hết ngó vời hướng Bắc, Vĩnh lại ngó về hướng Nam… Nơi đây xa Gia Định chẳng là bao nhiêu đường chim bay, nơi ấy có gia đình họ hàng anh sinh sống… Chao ôi! Thân nhân anh, hàng xóm anh và mấy chục triệu người dân ngày nay sinh sống ra sao? Họ có đói như trong này không? Có nhòm nhỏ tố giác nhau không? Ai giữ được liêm sỹ, ai bị cuốn hút vào cái giòng đời dơ bẩn hiện nay?

Một cán xẻng đập nhẹ vào hông Vĩnh lúc anh vừa đổ xong mớ đất trên cái ki xuống bờ đê và đứng nghĩ ngợi vu vơ. Tiếp theo là một tiếng nói nho nhỏ.

– Tôi vừa gặp một thằng bạn bên trại 4. Nó trong khâu đào đất dưới kia. Nó hỏi tôi có phải có ông bên này không? Nếu có thì nhắn hộ rằng có một người quen ông bên trại 2 gửi lời hỏi thăm ông. Tên hắn là Nguyễn Chí Kham…

Kim thuộc khâu san đất trên bờ ao, vừa thuật lại lời nhắn với Vĩnh. Vĩnh nghĩ mãi đến cái tên mà không nhớ ra. Nguyễn Chí Kham? Nguyễn Chí Kham nào kìa?

– Hắn có nói gì thêm không?

– Có, nó bảo tay Kham nhắn ông là có cả Dzoãn Bình trong này…

Nghe đến cái tên Dzoãn Bình thì Vĩnh mới trực nhớ ra cái tên Nguyễn Chí Kham. Kham là một tay viết truyện ngắn xuất hiện khá thường xuyên trên các báo Văn, Vấn Đề và Bách Khoa trước đây.

– À, tôi nhớ ra rồi. Vậy tay Kham có lao động ở đây không?

Kim lắc đầu mệt mỏi.

– Tôi đâu có biết. Ông hỏi tay ngồi dưới kia kìa.

Theo Kim chỉ, Vĩnh nhìn xuống lòng ao sâu thẳm. Đâu có dễ để nhận ra một người rách rưới, gầy còm, xanh xao trong cả một rừng người đồng dạng như thế! Cuối cùng qua sự mô tả của Kim, Vĩnh định điểm được anh chàng nhắn tin đó. Điểm để nhớ chỉ có cái mũ của anh ta hơi khác mọi người, ấy là anh chùm luôn lên đầu một cái bao cát thay vì khâu vá biến chế thành một cái mũ như mọi người.

Chuyến lấy đất kế tiếp Vĩnh cố lái Đặng Ngọc Sinh về phía anh chàng đội cái bao cát trên đầu. Vĩnh đặt cái ki xuống trước mặt anh để anh xúc đất đổ vào. Vĩnh quan sát một vòng. Bọn cán bộ giờ đã rút vào một góc có bóng mát của ao cá. An toàn! Vĩnh cất tiếng hỏi.

– Xin lỗi anh, có phải anh là bạn của Kim không? Anh chàng đang xúc đất vội ngừng tay, ngước lên nhìn Vĩnh. Qua một thoáng dò xét anh ta gật đầu.

– Vâng.

Vĩnh thấy anh ta hơi kỹ trong cách trả lời, anh cố cười thật tươi.

– Phe ta cả. Xin anh đừng nghi ngại. Khi nãy Kim có nói với tôi anh có lòng tốt nhắn hộ…

Người đối diện như đã nắm vững vấn đề, anh ta vui vẻ trở lại.

– À, đúng rồi. Thằng Kham cùng tổ tôi nó được biết có anh bên trại 1, nó cũng biết trại anh lao động ở đây nên nhờ tôi tìm cách nhắn hộ. Không dè gặp Kim. Không dè cũng có anh ở đây nữa…

Vĩnh hy vọng có tin gì mới lạ, anh vội vã.

– Thế Kham hắn có nói gì không anh?

Người đối diện lắc đầu.

– Không, không nói gì cả, chỉ nói vậy thôi. Anh bạn nói đoạn nhìn Vĩnh hỏi tiếp. Anh là bạn nó ngoài đời hả? Thằng ấy nguy hiểm quá. Nó cứ viết lách lung tung. Tôi ăn cơm chung với nó từ hồi Katum 1, lên tới đây nó còn ráng đem theo đống tập vở của nó. Tôi teo quá! Anh bạn lại tặc lưỡi. Dù sao nó chỉ viết truyện tình. Truyện nó hay lắm…

Vĩnh chẳng biết nói sao. Thực tế anh chưa hề có dịp gặp Nguyễn Chí Kham bao giờ. Anh chỉ biết Kham qua tên xuất hiện trên một số tờ văn học nghệ thuật của Sài Gòn trước đây. Khi ki đất đã được xúc đầy, Đặng Ngọc Sinh thúc Vĩnh tiếp tục lao động, Vĩnh vội nói với người nhắn tin.

– Cám ơn anh nhắn tin hộ bạn tôi. Khi về trại, xin anh nói hộ với Kham rằng tôi cũng gửi lời thăm anh ta và cả anh Dzoãn Bình nữa. À, anh Dzoãn Bình có ở cùng nhà với anh và Kham không?

Anh bạn lắc đầu.

– Không. Anh ấy ở nhà bên cạnh tôi. Vui vẻ lắm.

Vĩnh xốc một đầu ki đất lên. Đầu kia Đặng Ngọc Sinh đã sẵn sàng cất bước. Một vài cục đất khá to rơi ngược về phía chân Vĩnh. Trước khi đi Vĩnh hỏi thêm một câu.

– Anh có tin gì vui không?

Anh bạn khẽ cười.

– Chúng ta cùng ở trong hộp như nhau!

Anh ta chỉ nói thế rồi quay lại với công việc. Vĩnh cất bước đi theo Đặng Ngọc Sinh. Anh vừa đi vừa cúi nhìn từng bước chân, mặc Sinh muốn dẫn lối nào thì dẫn. Mặt đất giờ đã sình lầy không giống như những ngày trước. Độ sâu của ao đã khơi dậy nhiều mạch nước chạy ngang dọc. Khiêng nặng, bụng đói, miệng khát và lết đôi chân run rẩy trong đôi guốc tự chế, trái đất lắm khi như chòng chành muốn đổ trước mặt. Cũng có những lúc Vĩnh thấy ê ẩm trong đầu vì những tiếng hò là, những tiếng thúc giục, những tiếng báo động trước một nguy hiểm nào đó của anh em đang lao động chung quanh. Cõi trần gian như chết rồi mọi tiếng chim, chết rồi mọi mầm xanh hy vọng. Tất cả còn lại là một màu đen bất tận với những tiếng reo hò giả tạo phát ra từ những con người đã khánh kiệt nỗi yêu đời.

Đôi guốc làm bằng hai khúc gỗ thông cưa ngắn với quai là hai miếng dây dù to bản của Vĩnh bỗng gẫy đôi một chiếc. Vĩnh lúng túng hất chiếc guốc sang một bên lối đi, tuy nhiên anh phải dừng ngay lại và làm Sinh đi trước suýt ngã ngửa.

– Gì thế ông?

– Tôi đứt guốc. Ngừng lại tí.

Hai người đặt ki đất xuống. Vĩnh thấy sau lưng anh em khiêng đất nối thành một hàng dài. Anh không muốn mình bị chửi làm cản trở lưu thông, vội vàng lượm hai chiếc guốc bỏ lên ki đất. Chiếc guốc gãy lòi những mũi đinh lởm chởm, vứt bậy bạ có thể giết chết một người bạn như chơi trong hoàn cảnh thiếu thuốc men như ở đây!

Hai người đi tiếp để những người phía sau không bị cản trở.

Khi tiến lên đến bờ đất, Vĩnh nghe thấy anh em bàn tán nhiều về vụ thăm nuôi. Họ cũng bàn tán nhiều đến việc các trại đã được lệnh mở “căng tin”, chữ của Việt cộng dùng thay cho chữ câu lạc bộ. Riêng vụ căng tin được tranh cãi thật nhiều. Qua bao nhiêu giả thuyết được đặt ra để tranh luận, cuối cùng mọi người hầu như đều đồng ý với kết luận việc cho mở căng tin trong các trại cải tạo tại An Dưỡng nhất định xuất phát từ sự tính toán của bọn cán bộ với những nguyên do như sau:

– Tạo một dịch vụ sinh lợi cho các cán bộ có tí tiền bỏ túi.

– Việc dấm dúi tiền bạc của thân nhân cho tù cải tạo vượt ngoài số quy định 20 đồng của nhà nước sẽ là chuyện tất yếu, có cản cũng khó được. Do đó, chúng phải tạo điều kiện cho những đồng tiền ấy không nằm chết một chỗ và cũng không biến thành một phương tiện trốn trại cho những tên tù mà chúng thừa biết rất xanh vỏ đỏ lòng.

Căng tin sẽ ra đời trong trại cải tạo vì lẽ đó chăng? Chưa ai dám chắc chắn. Có chăng mọi người đều mừng, và trong những lúc dầm mưa dãi nắng, bụng đói cồn đói cào như thế này, họ hình dung mỗi chiều trở về trại, thay vì dành giật chia chác những phần cơm chó chê dê lạy, họ có thể thong thả đôi ba thằng kéo nhau vào căng tin… kêu một chai bia, có thể có cả khô mực nướng thơm phức nhưng cái này có lẽ không cần. Tốt nhất nên kêu thêm một đĩa cơm trắng phau với thịt kho nước dừa trứng đậu hũ béo ngậy vừa no vừa khoái khẩu. Ngày tháng nhờ thế sẽ đỡ nặng nề hơn. Ba năm, năm năm… coi như gặp vận không may cơm nhà vác ngà voi một thời gian vậy. Vĩnh cũng không tránh khỏi được sự mơ mộng bên cạnh những lời bàn tán của các bạn. Thốt nhiên trong sự tưởng tượng của anh lại hiện lên những hình ảnh đối nghịch ghê rợn… Anh thấy mình đang ăn một cách ngon lành một cặp bánh dầy giò mua trong căng tin, tự dưng miếng giò lụa trắng phau biến thành hình một con sâu củi nhễ nhại to tướng! Anh nhìn kỹ, đúng là con sâu củi mới chiều nào đây, lúc tổ trực bổ củi dưới bếp và nhà vô địch đẩy cây VNCH Vương Đắc Vọng – Tác giả của câu nói bất hủ: Mọi sinh vật cựa quậy được trên mặt đất đều ăn được cả – chụp ngay lấy cho vào miệng nuốt chửng; nuốt xong còn reo hò: Protéin! Đầy chất Protéin!…

Vĩnh hoảng hốt ném miếng giò giờ đã biến thành con sâu củi đầy protéin của Vương Đắc Vọng xuống đất. Anh tiếc rẻ cố cắn thêm miếng bánh dầy nhưng rồi cũng hoảng hốt ném đi vì miếng bánh dầy bỗng trở mùi hôi thối và đỏ lòm như miếng thịt chuột cuống nướng vội của những người tù khổ sai dưới thời đại Hồ Chí Minh…

Vĩnh ngã chúi vì vấp phải một cán xẻng để ngang lối. Sinh đi phía trước cũng suýt bước nhằm lưng một người ngồi san đất. Một người bạn nào đó la lên.

– Vĩnh, chân ông chảy máu kìa!

Bây giờ Vĩnh mới thấy đau nơi bàn chân trái. Anh buông ki đất đổ tùm lum giữa lối đi và ngồi xuống. Một móng chân muốn lật khỏi ngón đang từ từ ứa máu ra. Cái đau không làm Vĩnh ngại mà ý nghĩ đầu tiên là anh ngại ngày mai lại phải đi khai bệnh. Cứ tưởng tượng ra bộ mặt của thằng chuẩn úy quân y tiểu đoàn mà lại phát sốt rét. Giỏi lắm nó cho một tí thuốc đỏ kèm với lời chửi bới này nọ… rồi lại tiếp tục lao động như thường. Nhưng nếu không khai bệnh thì cũng không ổn. Bị gì chứ bị lật móng chân mà tiếp tục lội sình như ở đây cưa cẳng không mấy chốc!

Đúng lúc Vĩnh đang ngồi suýt xoa thì nơi góc ao bên trái phát lên những tràng tiếng động như đất lở, kế đó là những tiếng thét thất thanh của vô số người. Mọi người bên này bờ ao hốt hoảng đứng phắt lên. Vĩnh cũng cố đứng lên để nhìn cho biết chuyện gì…

Anh chỉ nhìn thấy bên bờ ao đối diện bọn tù ngã lăn quay và có kẻ rơi từ mấy thước cao xuống lòng ao. Tiếng la hét vang trời, cảnh tượng hỗn loạn trong một lớp bụi bốc cao… Trong đám Vĩnh có tiếng la lớn.

– Trời ơi! Bờ ao bên kia bị lở tụi mày ơi.

– Sập! Sập! Chắc chết người rồi.

Thốt nhiên Vĩnh không còn cảm thấy một tí đau đớn nào nơi bàn chân nữa. Theo mọi người, anh phóng ra khỏi bờ đê cao và chạy vòng phía ngoài sang phía ao đối diện. Mọi người đã bu đến một góc ao. Thấp thoáng vài thằng quản giáo tỏ dấu lúng túng chưa biết xử trí ra sao với hoàn cảnh hiện tại. Vài thằng vệ binh từ xa không biết chuyện gì xách súng phóng tới và hăm hở như sắp được dịp bắn hạ quân thù.

Đến lúc này Vĩnh mới nhìn thấy hết mọi chuyện. Một chuyện thật tang thương. Và hiện tại chưa ai biết nổi trong cái tang thương này có mấy xác người!

Một góc bờ ao đã sập xuống và đè bẹp những người có công tác thiết lập một hệ thống dẫn nước để cân bằng mực nước trong ao với mặt đất bên ngoài.

Đứng nhìn một số người chạy tới để đào, bới… với những tốc độ nhanh nhất hầu lôi được những xác người đang bị cả tấn đất đè lên trên ra ngoài, Vĩnh nhớ lại mấy ngày qua. Thay vì trước khi đắp đê quanh ao, bọn cán bộ kế hoạch của trung đoàn phải cho làm trước hệ thống thoát thủy và cân bằng mực nước trong ao. Đàng này, chúng bắt tù đắp bờ cho đã đời, đến khi bờ gần xong chúng mới ra lệnh cho một đội phải xẻ một khoảng trống hai thước, cắt bờ ao ra lấy chỗ thiết lập ống thoát thủy bằng những đoạn tôn cong của Mỹ xử dụng làm đường mương trước kia. Khi xẻ xong khoảng trống trên bờ ao, một số người phải chui vào đó để đặt các ống tôn cong. Đất mới đắp, chân vừa vững lại bị đục khoét, bờ ao từ hai bên bị lở và đất sụp xuống chôn sống luôn mấy người có nhiệm vụ làm công tác đặt ống thoát thủy.

– Các anh lao động thiếu kỹ thuật gây phiền hà và trở ngại cho tổ chức.

Một giọng nói cất lên khiến ai cũng uất ức và ngó lại. Đó là giọng nói của một thằng cán bộ trung đoàn trong ban chỉ đạo đào ao. Tên cán bộ hình như cũng đọc được những nét uất ức trong bao đôi mắt của bọn tù, nó yên lặng và đi tránh chỗ khác. Bọn tù chẳng ai nói với ai, cứ hùng hục đào và bới.

Gần mười lăm phút sau, hai nạn nhân được lôi ra ngoài. Dĩ nhiên họ chỉ còn là hai cái xác mềm nhũn dù vẫn còn đầy đủ hơi nóng trong người. Bọn quản giáo đã phóng tới đông đủ. Một tên hét.

– Anh nào tự thấy mình khỏe mạnh, tiếp nhau khênh hai anh này lên bệnh xá.

Có một hai tay có lẽ rành chuyện sống chết, sau khi phủi đất trên xác nạn nhân, xem mạch, xem mắt, đều nói rằng nạn nhân đã chết và vô phương cứu chữa. Tên quản giáo có vẻ giận dữ trước những lời bàn tán vô phương cứu chữa của bọn tù, hắn nạt.

– Ai? Ai dám khẳng định hai anh này đã chết nói tôi nghe? Tôi bảo khênh là khênh, cấm không được chống đối lệnh. Chỉ có quân y mới có quyền… cho phép sống hoặc chết.

Bọn tù nín thinh. Mọi người đều biết tên quản giáo muốn nói chỉ có quân y mới có quyền xác nhận nạn nhân còn sống hay đã chết, nhưng vì hắn dùng chữ không chỉnh, thành thử tự nhiên hắn biến quân y của nhà hắn thành một thứ có quyền uy tối cao, khác nào cơ quan công an mật vụ trung ương.

Dù sao thì sau đó nạn nhân cũng đã được đặt nằm trên hai cái ki với bốn người khênh đi thẳng lên bệnh xá nằm ở một góc trại 4. Vĩnh muốn tìm cách đi theo nhưng nghĩ mãi không ra lý do. Khi đám người khênh hai nạn nhân có vệ binh hộ tống vượt qua một con suối nhỏ và khuất sau những lùm cây rậm rạp Vĩnh mới chấm dứt ý nghĩ tìm cách đi theo.

Mọi người trở lại với hiện trường lao động trước sự thúc hối của bọn cai tù. Tuy nhiên biến cố vừa qua rõ ràng có ảnh hưởng đến năng xuất của bọn tù. Ai cũng mong cho mặt trời sớm lặn để chấm dứt một ngày đọa đày buồn thảm. Vĩnh vừa khênh đất vừa lắng nghe những lời bàn tán chung quanh. Hình như chỉ có một người nói rằng: Đất đè như thế có đến sức khổng tượng cũng chết! Và sau đó anh không còn thấy ai đề cập đến tai nạn vừa qua nữa.

Cái đói, cái mệt có sức mạnh khủng khiếp để lái tất cả mọi chuyện về với cái ăn, cái ngơi nghỉ! Vĩnh băn khoăn tự hỏi, sẽ còn bao lâu nữa bản thân ta còn nhớ tới, còn xót xa cho những người thân yêu? Liệu sẽ có một ngày nào tất cả đều mờ nhạt đi và trong mọi xúc cảm, miếng ăn sẽ chiếm một ưu thế tuyệt tối?

Chao ôi, có hai người bạn vừa nằm xuống bằng một tai nạn bi thảm, tại sao có quá nhiều người đã quên ngay và những lời bàn tán chỉ còn quy về những miếng ăn ở một căng tin chưa hề nhìn thấy, ở những cuộc thăm viếng với thức ngon vật lạ nhưng chưa ai biết sẽ có hay không!? Vĩnh nhớ lại anh có đọc một câu văn của nhà văn nữ Trùng Dương, đại ý rằng những cay đắng trên đời tạo thành cá tính. Nếu câu ấy đúng, bọn tù như anh hòng gì còn giữ lại được nhân tính cũ trong những chuỗi đau khổ kéo dài không biết đến ngày nào mới chấm dứt như nơi đây!?

Tiếng kẻng chiều phát ra từ một cái nhà lô – danh từ chỉ một túp lều tranh dựng trên một thế đất cao làm nơi trú nắng cho bọn quản giáo vệ binh – đã lan nhanh và tạo một sự dây chuyền cho những tiếng kẻng xa xa khác. Bọn tù như bừng tỉnh và thoát nhanh ra khỏi nét mệt mỏi cố hữu. Tất cả nhanh chóng thu góp, kiểm soát lại các dụng cụ lao động. Các tổ trực của các đội lo thu những chiếc ki xếp thành từng đống theo nơi quy định cho đội mình trên một phía bờ ao. Cuốc xẻng của ai nấy giữ… Rồi thì tất cả lại so hàng, lại điểm danh, lại báo cáo nhân số và hăng hái lầm lũi tiến ra con đường mòn lởm chởm đá ong hướng về phía các cổng trại.

——————————–

1          Katum: Rừng biên giới Việt Miên thuộc tỉnh Tây Ninh. Sau 30 tháng Tư Katum cũng có một hệ thống trại giam các quân nhân QLVNCH.