Đảng nước mắm

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on June 3rd, 2022

Post by Sơn râu 7 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Sáng thứ Hai, ngày 23, tháng Năm, năm 2022, tại Gough Whitlam Place, nơi có đài tưởng niệm cựu Thủ tướng Úc Gough Whitlam, người từng đề xuất chủ nghĩa đa văn hóa trong xã hội Úc. Ông từng sống ở Cabramatta, giờ là thủ đô của người Việt tị nạn CS ở Úc.

Ðài Tưởng niệm nằm ở phía trước của một quán cà phê. Nơi những ông già huỡn quá vì ở không, đang tụ tập quanh bàn cờ tướng.

Trên lối đi bộ, một em mặc áo khoác màu hồng, tươi cười với những em khác. Nhiều người từ trong shop chạy ra bắt tay búa xua và ôm lấy em ấy để chụp hình.

“Ðài! Ðài!”. Tiếng kêu mừng rỡ như tiếng khóc phát ra từ phía bên kia đường. Sau đó là một tràng tiếng Việt nổ giòn giã như súng liên thanh.

Người phụ nữ xinh đẹp đó là: Dai Le, Lê Thị Trang Ðài, Dân biểu Liên bang Úc gốc Việt đầu tiên, sau 47 năm.

Nói nào ngay, cũng có người Việt tham gia chánh trường Úc trước đó. Ở Nam Úc, có một ông làm Toàn quyền. Lương 315,608 đô một năm. Job rất thơm, cũng phẻ! Chỉ chuyên đi ăn đám giỗ hoặc đám ma mà thôi.

Dân biểu liên bang hạng xoàng, ngồi hàng ghế sau, lương 211,250 đô một năm. Job cũng thơm, cũng phẻ! Cứ ngồi yên, cho mướn hai cái lỗ tai. Sếp mình tuyên bố thì mình vỗ tay rồi gật.

Lương “đầy tớ nhân dân” như vậy là ba cái lẻ tẻ. Bổng mới đáng kể. Nhưng ngon nhứt là “lộc”. Quen biết toàn tai to, mặt bự nên dễ mần ăn lắm!

Rồi cũng có dân biểu, thượng nghị sĩ “gật” cấp tiểu bang. Lần đầu tiên có được một em lên tới cấp liên bang, hỏi sao mà không khoái cho được chớ?

Fowler là đơn vị bầu cử liên bang phía Tây Nam thành phố Sydney, tiểu bang NSW. Diện tích 69 km2. Số cử tri164,235. Úc gốc Việt 25 ngàn, chiếm gần 16% đủ để khuynh loát kết quả bầu cử, quyết định ai thắng ai thua.

Qua 13 cuộc bầu cử liên tiếp, đảng Lao Ðộng chưa thua một lần. Bà con mình nói đảng Lao Ðộng có đưa con lừa ra cũng thắng luôn.

Dân biểu Chris Hayes, 66 tuổi, đã làm 4 nhiệm kỳ oải quá nên nghỉ để nhậu chơi. Trước khi dứt áo ra đi, ông tiến cử Tu Le, một nữ luật sư Úc gốc Việt còn rất trẻ.

Nhưng đảng Lao Ðộng lại cho Thượng nghị sĩ Kristina Keneally, vùng thượng lưu phía Bắc của Sydney, cách Fowler tới 2 giờ xe “nhảy dù” vào cái ghế an toàn này.

Con khủng long Keneally trong đảng Lao Ðộng vốn là con cháu chú Sam bên Mỹ. Từ Mỹ em “nhảy dù” vô chính trường của Úc. Sau đó, em “nhảy dù” rất nhiều lần. Và lần nào dù cũng bọc, cũng rớt ngay chóc cái ghế em muốn ngồi. Cho dù ghế thì ít mà đít thì nhiều.

Hành động ngạo mạn này của đảng Lao Ðộng làm cử tri Úc gốc Việt, bấy lâu toàn theo Lao Ðộng, giờ rời bỏ đảng bằng lá phiếu.

Bà con cử tri tại địa phương nói: “Rừng nào cọp nấy”. Vùng khác lại đây coi “cọp” đâu có được nè!

Mỗi vùng có thuận lợi và rắc rối khác nhau. Chân ướt chân ráo tới đây biết khỉ mốc gì mà đại diện?

Vậy là thứ Bảy, 21 tháng Năm, năm 2022, ngày bầu cử, dù không bọc, em Keneally té cái “ạch” nghe cái “đụi” ngay tại Fowler.

Thế mới biết: “Em Hai ơi! Ðừng đi lính nhảy dù! Dù không bọc té lòi mông”.

Hu hu! Ðảng Lao Ðộng thắng mà em thua. Thua đau quá! Và sự nghiệp chính trị của người đẹp Keneally nói tiếng Úc giọng mũi, giọng Mỹ, có thể sẽ chấm dứt như đang chơi nhạc, chơi trống mà trống bị lủng vậy.

Cái lý thú là hai đối thủ chánh trị: Keneally và Lê Thị Trang Ðài đều sanh năm 1968, tuổi Thân, con khỉ. Keneally, là con khỉ núp lùm, chuyền qua chuyền lại rớt tùm xuống sông.

Chẳng qua phó Thị trưởng thành phố Fairfield, Dai Le, chớp thời cơ, lợi dụng được sự bất mãn của bà con mình đối với đảng Lao Ðộng nên thắng cử rất vẻ vang.

Việc một ứng cử viên độc lập bất ngờ quất sụm bà chè một con khủng long trong đảng thắng cử khiến các nhà báo Úc phải ngả nón cúi đầu, nghiêng mình kính phục, gọi đó là phép lạ.

Ðến Úc tị nạn năm 1979, lúc mới 11 tuổi, Trang Ðài không biết một chữ tiếng Anh. Tốt nghiệp Cử nhân chuyên ngành khoa học chính trị Ðại học Macquarie, bà là nhà báo và nhà bình luận chính trị.

Trả lời phỏng vấn của ABC, Ðài Truyền hình quốc gia Úc, Trang Ðài hồi ức lại thời vượt biên, vượt biển rất là cảm động: “Tôi nhớ lại lúc ở trên một chiếc thuyền giữa đại dương với mẹ và hai đứa em gái. Tôi đã sợ hãi như thế nào vì chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ chết. 43 năm sau, tôi sẽ bay lên họp Quốc hội Liên Bang Úc ở Canberra. Tôi sẽ cất lên tiếng nói cho cử tri đơn vị bầu cử Fowler, trong đó có đồng bào từng tị nạn CS như tôi. Tất cả có vẻ như là một giấc mơ hoang đường, không thể nào tin được”.

o O o

Người ta thường hay nói: Con gái đẹp sanh ra để làm tài tử xi nê. Xấu hoắc mới đi làm chánh trị. Nói như vậy là trật lất!

Những người phụ nữ Việt Nam tị nạn CS đi làm chánh trị ở Mỹ, ở Úc họ xuất sắc và đẹp một cách não nùng. Ngoài ra họ còn làm chánh trị rất thành công.

Mấy anh mình chỉ hửi khói; vì đua đâu có lại. May thiệt là may mới có được Luật sư Cao Quang Ánh, Dân biểu Liên bang Mỹ (2009-2011) thuộc đảng Cộng Hòa tại tiểu bang Louisiana.

Bên phụ nữ thì có bà Stephanie Murphy, Dân biểu Liên bang Mỹ 3 nhiệm kỳ (2017-2022) thuộc đảng Dân Chủ tại tiểu bang Florida.

Bà Ðặng Thị Ngọc Dung có chồng Mỹ nên theo họ Mỹ Stephanie Murphy.   Bà Dai Le có chồng Úc nhưng lại không theo họ của chồng.

Như vậy, cách một Thái Bình Dương bao la, Mỹ và Úc phong tục cũng khác nhau đấy chớ. Vậy mà có đứa dám nói chánh trị gia của Úc toàn là “cọp dê” sách của Mỹ.

Tuy vậy, tui thấy hai chánh trị gia xinh gái có “cái nầy” giống nè. Họ giống nhau ở chỗ cái tài. Chỗ từ một thuyền nhân tị nạn CS bay lên làm Dân biểu Liên bang Hoa Kỳ hoặc Úc.

Thiệt là quá đã! Nhứt là con đường em đi đó không trải hoa hồng trên thảm đỏ mà đầy những chông gai.

Dai Le, một người Việt tị nạn CS, gia nhập chính trường chánh mạch của Úc nhưng thân cô, thế cô (ứng cử viên độc lập) lại “nhảy dù” thành công xuống thủ đô Canberra.

Cuộc bầu cử Liên bang Úc lần này cuối cùng rồi cũng phải pha màu. Màu trắng tàn nhang của Quốc hội Úc loãng đi y như Mỹ.

Một trong những lý do là: Ða số cử tri gốc Việt tại đơn vị bầu cử Fowler không cần biết ứng cử viên có kinh nghiệm chính trường hay không? Có thế lực trong đảng cầm quyền hay không? Tất cả những cái đó chẳng là cái đinh gì hết để mất thời giờ suy xét!

Không phải là dân địa phương mà từ nơi nhung lụa sang giàu “nhảy dù” xuống chỗ dân ngu khu đen đòi làm cha là đi chỗ khác chơi.

Vùng có nhiều người Việt định cư, họ có thể khuynh đảo được kết quả bầu cử. Ai húp nước mắm là tui bầu, giỏi dở không cần biết. Vô Quốc hội ngồi ngủ gục, vì tối qua thức khuya quá để xem phim Hàn quốc, tui cũng không “ke”.

Bởi bà con mình xưa giờ có cái tập quán, huỡn là đánh nhau chí chóe. Nhưng khi có chung một kẻ thù thì chung lưng đấu cật, đoàn kết lại để chơi khô máu. Bài học lịch sử nầy chắc Tập Cận Bình rành như ăn hoành thánh. Nên: “Ðừng đánh nó. Hãy để chúng nó đánh lẫn nhau”.

Chỉ có mấy tay khù khờ lãnh đạo đảng Lao Ðộng mới không biết mà thôi!

Nói không phải trù ẻo gì bà Dai Le! Cái ghế dân biểu độc lập “chông chênh” lắm. Phải chơi cái sách “Vũ Như Cẩn” mới chắc ăn lần nữa trong ba năm tới.

Sách đó là: Hai, ba ứng viên gốc Việt cùng ra, để chẻ phiếu của đối thủ. Cùng lúc dồn phiếu ưu tiên cho “Mít” của mình. Hai đánh một không chột cũng què.

Cái sách đó gọi là bí kíp tranh cử của “Ðảng Nước Mắm”.

ĐXT

Cháo gà đi bộ!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on June 23rd, 2022

Post by Sơn râu 7 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Tháng Sáu, trời mùa Ðông Melbourne xuống tới 5 độ C. Lạnh quéo râu mà con vợ lại vắng nhà.

(‘Em yêu’ đã bay về Việt Nam sửa sắc đẹp: chẻ cằm, nâng mũi, gắn mụt ruồi duyên… rồi trồng răng giả).

Tui đang lui cui bưng con gà nấu cháo ra, đặt lên dĩa, để lên bàn, đốt nhang, rót bia vào ly, lâm râm khấn vái, để mời Ba về ăn giỗ Má cho vui thì có tiếng khỏ cửa cóc cóc. Hơi ngạc nhiên! Vì ở cái xứ Úc nầy ít khi có cái chuyện khách tới nhà mà không thèm điện thoại báo trước cho gia chủ.

Mở cửa thì thấy anh bạn thân cười hí hí, nói: “Tớ ghé nhà cậu, ăn cháo gà đi bộ đây!” “Ủa mình nín khe hổng mời ai hết ráo sao thằng chả biết mà đến vậy ta?

Tỉnh bơ như người Hà Nội 75, để thùng bia nặng trịch trên vai xuống, ảnh xăm xăm vô bếp, bỏ bia vào tủ để cho nó kịp lạnh.

Tên của anh bạn nầy hồi cha sanh mẹ đẻ là: Nguyễn văn Tép. Ảnh nói hồi tớ mới sanh ra nhằm nạn đói năm Ất Dậu 1945. Ðói là vì Phát xít Nhựt Bổn nó bắt đồng bào mình phải nhổ lúa bỏ đi, trồng cây đay cho nó sản xuất quân trang, quân phục.

Hậu quả là dân không đủ gạo mà ăn, đói chết như rạ. Thiệt là tội nghiệp!

Vì vậy trong bụng mẹ, tớ đã suy dinh dưỡng. Ðẻ ra, tớ nhỏ xíu con hè chưa tới 2 kí lô gram. Nên Thầy, U tớ mới đặt tên tớ là: Tép!

Nhưng khi vượt thoát gông cùm Cộng Sản chạy qua được tới Melbourne, nước Úc nầy đây, tớ nghĩ tên Tép coi bộ hổng có ‘oai’. Nên tớ lựa cái tên lớn hơn con Tép một chút là con Tôm.

Phần tớ đọc truyện trinh thám rất nhiều, nên tớ lấy tên là Sherlock Tôm. Tên na ná Sherlock Holmes để ‘boss’ Úc dễ kêu, dễ sai, dễ biểu.

Với cậu, người Việt Nam mình, thì cậu gọi tớ Tép hoặc Tôm gì cũng được!

Nghe ảnh từ bỏ tên Tép, cái tên cha sanh mẹ đẻ của mình cho, tui cũng hơi quạu vì nghĩ rằng thằng cha Mít nầy tham đó, bỏ đăng; thấy trăng quên đèn! Ðồ mất gốc.

Nhưng nghĩ đi nghĩ lại tui cũng thông cảm cho bạn hiền. Vì mặc cảm nhỏ con, vì tên Tép, Úc khó đọc, khó xin làm cu li cho Úc. Ăn tiền thất nghiệp không có dư cắc nào để em yêu đi ‘shop’ em giận bỏ theo thằng khác thì tối lạnh teo bu gi biết nhờ ai mà sưởi ấm đời ta?

Anh Sherlock Tôm rót bia ra ly cho người viết. “Cụng một cái cho đã!”

Uống bia bằng ly mới có vẻ quý tộc, anh nói, còn uống bằng lon sao tui hổng chịu chú mầy ơi! Trông có vẻ lè phè làm biếng sao đâu! Mình bây giờ là “Việt Kiều’ rồi mà! Hí hí!

Anh Tôm rất dễ thương là khi anh nói đố ông nào chen ngang vô được. Nên mỗi lần nhậu với ảnh là người viết lễ phép ngồi nghe; mặc dầu đôi khi cũng ngứa miệng quá trời!

Thần tượng, thầy của Sherlock Tôm là Sherlock Holmes vốn nổi tiếng nhờ trí thông minh, quan sát tinh tường, suy luận hợp lý. Sherlock Holmes gặp Bác Sĩ Watson, căn cứ vào chiếc giày bên trái của bạn mình có vết xước. Ai làm?

Sherlock Holme bèn suy luận: Rõ ràng vết xước đó do một người bất cẩn khi lau bùn chiếc giày. Làm bác sĩ không thể là người bất cẩn cho được. Vì bất cẩn sẽ làm chết bịnh nhân. Vợ lau giày cho chồng ư? Chuyện đó chờ tới Tết Công Gô. Người lau giày chỉ có thể là người hầu gái của bác sĩ Watson.

Kết luận trúng ngay chóc. Giỏi thiệt! Nhưng Sherlock Holmes giỏi chưa bằng Sherlock Tôm, ‘Made in Việt Nam’ nầy đâu!

Ðể chứng minh mình không bố láo, tớ Sherlock Tôm, sẽ truy tìm “Ngày xưa Hoàng Thị’ Em là ai? Là ai?

Cho cậu phải ngả nón cúi đầu khâm phục Sherlock Holmes. Lim dim đôi mắt hí, nghe hết bài “Ngày xưa Hoàng Thị’ của Phạm Duy phổ thơ Phạm Thiên Thư do em vợ Phạm Duy là Thái Thanh hát.

Mấy chục giây sau, Sherlock Tôm mới mở mắt ra mà bừng tỉnh nói: Ca từ thì ông thi sĩ là người Bắc. Viết trong Nam thì ổng phải là Bắc Kỳ di cư 54. Thơ tình những năm cuối 50 ắt ổng phải sanh khoảng độ năm 1940.

Là mối tình học trò, nhà thơ nhát hít, hổng dám hó hé gì hết, chỉ lẳng lặng bám đuôi em.

Nhà thơ và người thơ ít nhứt phải học lớp đệ tam. Còn đệ tứ trở xuống mà đã yêu đương nhăng nhít thì là con nít quỷ! Trộng trộng một chút mới biết thơ thẩn trông vời áo tiểu thư chớ?

Em tan trường về? Dám kêu bằng em nghĩa là ổng lớn tuổi hơn. Lớn tuổi hơn, học cùng lớp, lại học trường tư là ổng học dở!

Trường công lập thời đó phải thi tuyển rất gay go, nam nữ học riêng. Nam sinh là Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Trần Lục. Còn nữ sinh: là Gia Long, Trưng Vương, Lê Văn Duyệt.

Ðúng vậy! Ông Phạm Thiên Thư học trường Văn Lang ở Tân Ðịnh! Còn con ghệ làm chàng mê đắm là Hoàng Thị Ngọ. Tên Ngọ, sanh năm Nhâm Ngọ, năm 1942.

Chỉ dựa vào ca từ của một bài nhạc phổ thơ, Sherlock Tôm đã dùng tam đoạn luận đoán cái nào cũng trúng hết trơn! Thiệt là tâm phục và khẩu phục!

Nghe khen khoái quá, nên Thám tử Sherlock Tôm “nổ’ thêm: Nhà thơ và người thơ ‘áo tà nguyệt bạch’ nầy không lấy nhau vì thường thường mấy đứa con gái coi mấy thằng con trai học cùng chung lớp với mình là con nít. Mấy em kêu mình bằng ‘thằng’ không hà. Kêu bằng ‘thằng’ thì cách chi mà yêu cho được hả?

Thứ hai là muốn người ta mà người ta không muốn nên mới vác bộ giò đi xuống đi lên. Ði hoài mòn giày, mòn dép nên mới có bài thơ trải lòng tâm sự tình đơn phương tha thiết để ra khỏi nỗi buồn u uất! Ðường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn; lấy nhau không được thương hoài ngàn năm là vậy! Chớ còn về với nhau thì hôn nhân sẽ ‘bóp cổ’ tình yêu lè lưỡi ra mà chết ngắc!

Ðể chấm dứt bữa cháo gà đi bộ nầy, tui bèn đem cái thắc mắc giữ trong lòng chiều giờ ra hỏi: “Anh Sherlock Tôm à! Sao bữa nay anh biết nhà tui có cháo gà mà lại gà đi bộ, để anh vác càng tôm đến ăn nhậu vậy? Anh trả lời: “Tại anh nấu ngon quá, thơm bay qua tới tận nhà tui! Giỡn chơi thôi! Chớ dựa vào tam đoạn luận thì dễ ợt: Anh chánh gốc là người Việt, mà bữa nay là ngày đám giỗ bác gái thì theo truyền thống của dân mình đám giỗ là phải cúng gà đi bộ chớ không cúng vịt.

Gà công nghiệp nuôi nhốt trong chuồng của Úc bở rệp, nước không, dở òm, ai ăn?

Giống mấy ‘cha’ Việt Nam khác, chỉ biết ăn thôi chả biết gì! Chị vắng nhà, tài làm bếp của anh tới nấu cháo là hết mức rồi!”

“Còn tại sao tớ biết ngay chóc bữa nay mà tớ vác càng tôm tới nhà cậu để ăn chực?” “Chẳng qua tớ có cuốn sổ bộ đời. Ðám giỗ tớ ghi ngày âm (lịch). Còn đám Sinh nhựt tớ ghi ngày dương (lịch). Dẫu năm ngoái được mời nhưng năm nay không ai kêu tui đó, tớ cũng vác càng tôm tới nhậu.

Cháy nhà không tiếc; vì nhà có bảo hiểm. Nhưng lỡ cháy cuốn sổ nầy là tớ tự vận chết theo!

Bái Sherlock Tôm như Lưu Bị ‘bái’ Khổng Minh, để đáp lễ, cuối tuần rồi tui khệ nệ vác thùng bia đến khỏ cửa nhà Sherlock Tôm.

“Tui ghé nhà anh, ăn cháo ‘gà đi bộ’ đây!” “Ủa! Sao mà cậu biết?”

“Dễ ợt! Dù anh xưng là Tôm hay Tép gì đi chăng nữa, anh cũng là người Việt gốc Mít, từng đường trường xa con chó nó tha con mèo. Từ binh nhì, chưa tới hai năm, mà anh đã mang cánh gà chiên bơ trên tay áo trận.

Dù trả súng đạn nầy khi sạch nợ sông núi rồi, bữa nay 19 tháng Sáu ngày Quân lực VNCH với chiến tích lẫy lừng đó thì dễ gì anh quên? Rồi chị nhà bay về Việt Nam xăm môi, cắt mắt, cấy lông mày. Cu ky ở nhà, dở ẹc giống như tui, anh chỉ biết nấu cháo ‘gà đi bộ’ là hết mức phải không anh Tôm; í quên anh Tép?

ĐXT

Nghĩ không ra

Hồ Đình Nghiêm

Chị gửi cho em xem tấm ảnh này, gắn trên tường một bệnh viện hoành tráng. Em sẽ vác bụng bầu lặt lè vô tới, bặm môi tái mặt máu mà rặn cục nợ ra. Cái hình nhân dong tay đạp chân chới với oe oe khóc thét vang rân, biết không em ba ký thịt đỏ hỏn ấy giá không dưới năm triệu đồng.

Ôm chặt nó nếu em còn sức lực, thiu thiu ngủ lỏng tay xoẹt một cái nó biến mất tiêu. Một tỉ con mẹ đàn bà vô ra thăm thú, nhanh tay lẹ mắt rất giỏi đóng vai mẹ hiền. Chúng sẵn lòng vạch ngực cho con em bú, bắt xe ôm lăng ba vi bộ thăng một lèo. Em vùng dậy bàng hoàng xây xẩm, có Trời mới biết thiên thần bị đoạ đày chốn mô.
Chị từng thấy chữ nắn nót viết đẹp trên tấm bìa cứng, “nhớ khoá xe cẩn thận để khỏi gạt lệ thua buồn”. Ừ, quen mắt chẳng có gì lạ, bốn phương ta bà đâu cũng một cảnh báo tầm thường y trang. Nhưng đọc phải dòng chú ý này, phong vị ấy e chỉ người mình thủ đắc quyết không đụng hàng. Bố của chị có cái răng bịt vàng, mở cửa mả tan tành dưới tay bọn đạo chích bất nhân. Một ngày kia chị sẽ chụp tấm ảnh: “Yêu cầu người chết không được mang tư trang về miền cực lạc”. Đồng hồ đồng cháo di động di điếc thì đã có bọn hàng mã gia công làm cực giống. Ba mươi giây vừa mua vừa mồi lửa thì người cứng thây cóc biết sự đời chắc được ngậm cười nơi chín suối. “Tôi về không gặp nàng, má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối” e có lúc phải cạo sửa vi phạm bản quyền cho phù hợp hoàn cảnh đương đại, em nhỉ!

Lóng rày đi đâu cũng nghe người ta bàn loạn tới cảnh sắc Sài-gòn, người ta thương hàng cây bị đốn, người ta buồn thương xá Tax không còn, chẳng ai rỗi hơi an ủi những người mẹ mất con. Em nên cẩn thận kẻo bị chúng mắng, ai biểu cái nồn nhiều chuyện kia ham sanh con ninh tinh. Ca cẩm lói lăng mà được gì chứ, biên giới lãnh thổ người ta giữ chẳng còn được vẹn toàn nữa là. Thất bại là mẹ thành công. Thua keo này bày keo khác và keo sau biểu chồng vào viện nhớ đem còng số 8 mà khoá tay hai mẹ con bây, có mà chạy đằng trời. Tao thách đố dư luận, thách đố bọn mẹ mìn đấy. Mẹ chúng nó chứ, bó tay chấm còm là cái chắc, với điều kiện chớ có ăn gian móc ngoặc với công an.

Chị gửi cho em lá thơ này mà lòng buồn rượi, mấy hôm rày người ta hết chuyện làm người ta vui miệng dóng hỏi bình bầu trên báo mạng: Bạn có hãnh diện làm người Việt Nam? Ui, răng rứa? Hết chuyện chơi? Sao mang bức xúc ra mà tra khảo. Đằng ấy ác với tớ thế, buộc tớ ngậm bồ hòn làm ngọt. Hỏi có nghĩa là đã tự giả nhời. Mười bẩy tuổi anh chàng Hong Kong Hớn cỏn Cảng thơm có bí kíp Cửu âm chân kinh xuống núi làm lãnh tụ sinh viên nổi tiếng thế giới qua việc đấu tranh ôn hoà đòi cải cách giáo dục. 17 xuân xanh cô gái người Pakistan được giải Nobel hoà bình. Tuổi bẻ gãy sừng trâu Việt Nam đêm khuya mặc áo dạ hành phi thân đột nhập vào tiệm kim hoàn rút hung khí lạnh lùng giết toàn gia kẻ buôn vàng gây náo loạn giang hồ một thuở.

Ui, em sắp lâm bồn vượt cạn, chị không dám kể thêm. Bạo lực, bệnh vô cảm của chúng sinh có thể tác động ảnh hưởng tới thai nhi. Em đã dành dụm tiền nong để bôi trơn chưa? Chồng em có tự nguyện rút ví ra đóng góp phần nào? Là phận đàn bà, chị cực lòng phải nói cho em hay tin nóng sốt này. Chị bắt gặp thằng chồng em xớn xác chui vào động mát-xa. Chị ngồi uống nước mía bên này đường ngóng cổ dòm chừng rõ lâu, bụng dưới tức căng đòi giải thuỷ mà anh giai chưa ló đầu ra, chắc hẳn cu cậu thư giãn chưa tới bến. Em đừng nổi cơn tam bành cao huyết áp khiến con em rối loạn nhịp tim. Chị đồ rằng hắn ngồi trên giếng khát nước ròng rã mấy tháng trời buộc hắn phải đi xơi Vitamin Đàn Bà thôi. Âm dương hoà hợp con người mới linh hoạt thôi kháu ó.

Em mà kháu ó thì sanh con mặt nó nhăn nhó. Phải chịu khó, chuyện chi cũng còn có đó. Thằng chồng em còn ghiền thịt chó, thế nào có ngày nó cũng bị tó. Giờ này em nên cử gió, ông bà nói mắc phong là nguy hiểm lắm đó.

Thôi chị dừng, lần sau nói chiện gì chị cố bơm đầy lạc quan. Mà nghĩ cũng oan, quanh chị em mình mọi thứ toang hoang, sống xã hội này ta khó tính toan. Em chuyển bụng thì nhớ nhắn tin, tiếp viên nhà hàng không cứ là phải lu bu gỡ không ra, chị xin thằng chủ nghỉ khoảng nửa buổi vô uỷ lạo em. Chẳng biết đường Cách mạng tháng 8 có còn tệ nạn thiếu nữ bị rạch đùi máu đổ toe tua? Thôi chị đi xe ôm vòng qua cung đường Lê Duẩn cho chắc ăn. Nghe nói cái chợ nhóm ở đó bán hoa quả trái cây tươi giá mềm lắm. Ừ, mà thôi, em xơi đâu được, nguồn từ Trung quốc ngâm tẩm phun tưới toàn cả hoá chất chết người. Ăn vào có mà đổ ruột.

À này, chị có tải xuống từ trên mạng khúc video con chân dài đình đám ấy bán dâm. Hôm nào chị cho em xem để thấy, thực ra thì đồ của nó cũng một duột y như đồ của mình. Thấy nó nắm trong tay một nghìn đô mà tức ói máu. Chị làm tiếp viên hả, hôm nào chán đời đi tàu nhanh chúng trả có năm mươi đô chứ mấy. Bèo. Mẹ rượt.

Thương,

Hoa Lài.

Hồ Đình Nghiêm

Ngày đổi giờ

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 1 May 2022

Post by Sơn râu 7 Jan 2024

Bá tước Dracula mặc áo choàng đen, có vẻ tự hào khi chôn thân giữa bao luồng sáng. Làm cà phê luôn tay cho bọn người “ngoài hành tinh”. Hắn đâm ít nói vì sợ hai cái răng nanh bằng nhựa rời bỏ vị trí chẳng mấy thuận tiện. Hai đồng rưỡi. Chỉ có vậy rồi ngậm miệng hô. Bạch Tuyết thì khác, cô sẵn lòng chúc bất kỳ ai vào ra đều hưởng được một ngày an lành, cổ trang lùm xùm rối rắm nhiêu khê vật trang sức. Vẻ đẹp tự tại không cần phải có bảy chú lùn đứng vây quanh. Dạo này chú lùn thậm khan hiếm, kiếm ra ba bốn trự là đã giỏi và thường thì ba bốn mạng đó lỡ ký hợp đồng, giao linh hồn cho một gánh xiếc lưu động rày đây mai đó, đa phần quất ngựa về miền nắng ấm để dựng lều bạt. Đất lành chim đậu, lạnh quá thì chú lùn lại phải teo bu-gi chứ được ích gì?

Tôi đi lòn lách để khỏi đụng chạm mạng nhện, bù nhìn tơi tả đứng câm lặng giữa đống bí vàng khô quắt. Một thằng cảnh sát công lộ càm ràm, bu-sịt thiệt là cản trở lưu thông. Hắn đeo súng ngắn, màu xanh lục thật kỳ quái. Đạn nạp đầy và không chắc là bắn ướt áo ai rồ dại. Khi đến quầy lấy đường sữa hắn nói với tôi, mày có lợi thế. Sorry, tôi không hiểu. Khe khe khe. Hắn cười, mày người Tàu phải không? Mày chỉ cần kiếm đâu ra bộ võ phục, thắt đai đen cho oai phong, chỉ ngần ấy thôi, thì con Bạch Tuyết sẽ lân la thưa gửi, chào anh Bruce Lee ạ. Ồ Lý Tiểu Long, tôi la thầm. Tôi cực lực đính chính, tui hổng phải người xứ ấy. Vả lại tôi chẳng ưa trò hoá trang bôi mặt bôi mày. Giả làm Bruce Lee không khó, cái khó xử là ra đường có đứa ngứa mắt xắn tay áo đòi tỉ thí song đấu một mất một còn thì thậm nguy. Người xứ ấy luôn nói, chưa thấy quan tài chưa đổ lệ! Khe khe khe, thằng cớm dổm cười, làm bộ khệnh khạng đi ra khỏi quán. Thế nào nó cũng bị mấy anh bạn dân chăm chú nhìn đểu.

Tới công viên tôi an toạ trên chiếc ghế đá châm lửa hút thuốc. Ly cà phê giấy có ghi hàng chữ coi chừng nóng phỏng tay và bao thuốc lá in bùa chú, hút thuốc nhiều chim cò của quý ông sẽ bị thu ngắn dần. Theo cuộc bình bầu của sở y tế thì đây là lời răn đe có hiệu lực nhất, làm cánh mày râu đâm ra cai nghiện thấy rõ. Lý do: bị mấy mụ vợ càm ràm nhì nhằng điếc con ráy. Anh ung thư phổi thì mặc xác anh nhưng đã làm chồng thì súng ống anh phải đâu ra đó, liệu thần hồn. Tôi muốn bắt chước thằng cảnh sát mà cười lên ba tiếng khe khe khe! Quả là ném một hòn sỏi mà làm chết hai con chim.

Có hai chàng ngự lâm đội mũ rộng vành có gắn lông chim cầu kỳ mang kiếm dài cọ quẹt đám cỏ tiến lại gần tôi. Xin lỗi ông ngồi đây đã bao lâu? Đít tôi chưa ấm, tôi nói đại một khung thời gian, ờ khoảng mười phút. Ông có ngó ra một zombie thảm thương hồn xiêu phách lạc đi ngang qua? Một ngự lâm quân khác nối lời làm rõ nghĩa, giống cái, zombie gái. Tôi nói thầm, gà mái, nước da tái, không rõ thần thái, chắc chắn đồ hàng nhái, chẳng thể vào công viên để đái.

Tôi lắc đầu. Hai đứa ngó quanh. Một thằng đặt tay trên đốc kiếm. Hay con Stephanie đi kiếm cốc cà phê? Tụi mình đi hai lối khác, nửa giờ sau gặp lại ở đây. Hai chàng mang ủng cao tới đầu gối lội bộ mà chẳng kiếm ra được ngựa để dong duỗi vó câu. Ngựa chẳng phải là thứ cho người ta trưng dụng một cách tuỳ tiện. Ngựa già dùng kéo xe ì ạch cho khách tham quan thành cổ một cuốc ba chục bạc có thuyết minh. Ngựa trẻ thì rơi vào tay cảnh sát chễm chệ bảo vệ trị an hoặc ứng phó xua đuổi bọn biểu tình. Trời sinh voi sinh cỏ và trời bất công bày ra đời phận trâu ngựa trớ trêu. Hội bảo vệ súc vật có treo loạn xị những tấm bích chương chụp hình con chó: “Tại sao ta yêu thương” đứng kề con heo sữa: “Tại sao chúng ta xơi nó”. Dĩ nhiên tranh cổ động phát xuất từ Montréal, chứ ở Hà Nội thì đâm lạc hậu mất. Vớ vẩn bọn tư bản dẫy chết, con gì mà chúng tớ không xơi chứ. Mấy toa có bao nhiêu năm? 350? Chúng tớ có cả 4000 năm văn hiến đấy. Nói cho mà nghe, chúng tớ không rảnh để đi chém gió với đằng ấy. Chả xứng tầm. Thịt cóc thịt rắn thì ngon nhức nách, dính kẽ răng không muốn xỉa để ủ mãi hương vị ngọt lừ. Có vậy mới hoan hô đồng chí anh minh Mao chủ tiệm: “Đã là cọp thì đời nào lại đi đánh răng cơ chứ!”.

Cốc cà phê chóng nguội, tôi tợp xong hớp cuối thì Suzy xuất hiện. Công viên tàn tạ hết những loài cây ra hoa, công viên thoang thoảng mùi cứt chó và khi đoá hoa di động Suzy nở rộ mũi tôi hít đầy chất tinh dầu của kì hoa dị thảo gộp lại. Suzy luôn rộng lượng, cô sẵn lòng ban phát theo chân đi một vùng khí quyển thơm ngọt làm hoán đổi ngay thứ môi trường đang gây ô nhiễm. Hương mùi đặc thù toát ra từ da thịt Suzy khiến tôi nhận biết bởi cô chẳng còn là cô của quá vãng. Hôm nay cô đóng vai một nhân vật trong truyện hoạt hình của Nhật. Suzy hôn nhẹ vào bên má tôi vì ngại nhạt phai son phấn. Cô kể lý do cô đến muộn vì cảnh sát chìm đã vừa bắt được ba tên tội phạm hoá trang làm zombie. Hình như chúng bán ma tuý hoặc trộm cắp thứ gì đó. Mùa lễ hội ma quỉ bao giờ cũng có sự can thiệp của cảnh sát. Tôi nói cho Suzy nghe hoạt cảnh xảy ra ở tiệm bán cà phê, một tay cảnh sát cà khịa: Tôi sẽ bắn nước thánh hình chữ thập lên ngực thằng ma cà rồng bán cà phê, nếu là một ma nữ thì vấn đề sẽ khác, không chừng tôi đưa mạng cho quỉ cái muốn hiếp muốn đáp tuỳ thích, khe khe khe.

Chúng tôi đi về phố Tàu, đó là nơi Suzy hẹn gặp những người bạn. Sẽ kéo nhau đi ăn một thứ gì đó đại loại như há cảo xíu mại để dằn bụng rồi chui vào chỗ disco có dạ vũ hoá trang. Đêm dài và đêm sẽ rất ít mộng mị khi người ta điên cuồng với đèn màu, với âm nhạc, với cháy hết mình cho năm canh kiệt quệ cùng bia rượu. Nhưng tôi, đứa ngoài hành tinh không giống như người ta và người ta kiếm ra một chữ để áp đặt: Đồ con cáy!. Tôi chưa ngó ra diện mạo con cáy, chỉ biết cáy là thứ nhát gan nhất thiên hạ, sợ hãi lắm thứ, động một tí là lủi mất. Ăn chơi rất sợ mưa rơi là tâm trạng cáy nhà ta, chẳng cần đốt nhà cũng lòi mặt cáy. Rất bà con với cây hổ ngươi. Giờ giấc thì vặn kim đồng hồ lui một tiếng cho ăn với độ sáng tối của đất trời. Vặn đời lùi lại đôi ba mươi năm trước thử coi? Haizz, thời oanh liệt nay còn đâu! Police mà nắm súng nước thì đạo chích ắt sẽ lờn mặt, ba con yêu bánh nậm tha hồ trửng giỡn bẹo hình bẹo dạng mà “chàng” đành xuội lơ thở dài đánh sượt. Nhiệm vụ chàng là kiếm ra chỗ ăn ngon nhất phố Tàu, kéo mấy nường vào kéo ghế. Chỉ ngần ấy thôi và chỉ có bấy nhiêu thôi. Chàng già rồi, tóc muối tiêu, bụng phát tướng, gối mỏi chân mòn. Suzy nói, tha cho ảnh phen này vậy. Một cô bạn Suzy nheo mắt, nhận xét không chuẩn cũng không chỉnh, bố tao hả, bảy bó hai que mà đêm vẫn mộng du rình bà dì đi tắm. Bả mà không đằng hắng thì kẻ mộng du thẳng tay đi xâm phạm chủ quyền hai hòn đảo ngay. Cả bọn cười rộ. Bả mà im re thì rừng vàng biển bạc nọ sẽ bị bố tao xơi ráo. Lại cười he he he. Tây tà nó hơn người mình nhiều thứ, nhất là tính trung thực chẳng cần che đậy. Nói về bố mình mà chẳng chịu hư cấu, không khoan nhượng để lột truồng ông ra lộ hình một cha già dê ham của lạ. Ui, con hơn cha nhà có phước! Có thật không? Hơn cũng chừng mực nào đó thôi, anh hơn quá mức quy định thì đâm ra bất hiếu mất.

Chơi kiểu Mỹ mỗi đứa vất ra tờ mười đô biểu Lý Tiểu Long đập bàn gọi tửu bảo thanh toán hoá đơn mình ên đứng mũi chịu sào lời ăn lỗ chịu. Ba cân thịt bò hai lạng cao lương sáu chung Mai quế lộ vị chi là… Lý Tiểu Long phải biểu diễn bài Vịnh xuân quyền hao hụt mất tám phần hoả hầu. Mẹt xì bú cu. Những môi son đỏ thay phiên nói, một cô trì hoãn cước bộ kêu thằng tửu bảo lại: Khăn trải bàn giá bao nhiêu? Thằng người Tàu bỏ Thiên An môn đi lưu lạc há hốc miệng bó tay không nghe không hiểu không biết vị cô nương kia đang giở bí kíp gì. Suzy ho khan: Chi vậy, khi không dựng chuyện ra? Cô bạn trần tình: Moa rất muốn anh giai này đi theo, nước đến chân phải nhảy theo cách đơn giản nhất, trùm cái khăn vào đầu, lấy kéo đục hai lỗ để chộ đường và anh ta trở thành một đảng viên của KKK. Cao kiến, cao kiến. Có cô bình phẩm. Che dấu thân phận dù sao cũng hay hơn là làm đại hiệp nắm Đồ long đao đi nghênh ngang giữa thị tứ. Tôi la lên, giang hồ hiểm ác lỡ tui bị lọt vô mắt xanh của một me xừ da đen đang ngứa tay thì e tui hồn du địa phủ mất. Mấy chị cho em xin. Ô rờ voa bông xoa đi chơi cho thoả.

Mấy vị cô nương kia có cầu Chu Du Khổng Minh hiến kế cũng thua, bản thân tại hạ đã một liều ba bảy cũng liều tam thập lục kế tẩu vi thượng sách. Đã sayonara còn mong chi ngày tái ngộ người ơi! Hai người cùng thi triển hấp tinh đại pháp để trửng giỡn nhau trong căn hộ cô quạnh thì nghe lâm ly chứ bầu đoàn thê tử cùng kéo rốc vào disco rậm rật chung chạ thì cực oải. Suzy biết đi guốc trong bụng tôi nhưng cô buộc lòng đi theo “một bộ phận không nhỏ” mà vất tôi lẻ loi đứng trước trạm tàu điện ngầm nghe gió hú u u dưới độc đạo đường hầm không thấy ánh sáng.

Tôi về chỗ thường trú mùa thu mau chạng vạng nhọ mặt người. Đã bao mùa lá rụng lập lại một chu kỳ sao vẫn nguyên dạng một nỗi buồn rất mới, rất lạ mặt. Tôi nấu nước pha trà cho Mạ tôi, tôi thay dĩa trái cây mới rồi thắp ba cây nhang. Ba cây nhang ốm o gầy mòn là thế mà khi chúng được đốt lên, chúng mang sự hồi sinh cho căn phòng lạnh lẽo. Chúng toả nhiệt, ấm áp ngang với một cái máy sưởi mở hết công suất. Có người đưa ra sự liên tưởng, những nụ hoa là linh hồn của một khu vườn, những cuốn sách đứng trên kệ là linh hồn của một căn phòng. Tôi mạn phép thưa thốt, khói nhang vấn vương ẻo lã là linh hồn của một trang thờ. Và người đồng tình là Mạ tôi.

Bơ sữa quả nhiên đã làm con lạ đi, không rắn rỏi như ngày xưa. Mô có, con rất ít ăn thực đơn của dân bản xứ. Rứa con ăn những thức chi? Những thứ mà ngày xưa mạ hay nấu, con vẫn nhớ và loay hoay lập lại thất bại là mẹ thành công. Chớ nguyên vật liệu tìm mô ra? Chợ bán đủ cả mạ nờ, chỉ có điều tôm cá không nhảy đành đạch thôi, hấp hối cũng không, chúng thảy chết tiệt cứng đơ người mắt mở trân tráo. Nghe mất ngon con hè, nhưng đỡ phải mang tội sát sanh. Xa quê lâu hung chắc con thèm nhớ nhiều thứ lắm hỉ? Con cũng chẳng thèm khát vọng tưởng một điều gì, người ta đã khuấy đục bao thơ mộng cũ và tư duy người đương đại đã đổi thay cùng cực, con sẽ là thằng người lạc hậu vì con lỡ học thuộc những bài công dân giáo dục thời trước. Con không về lần nào, con không chảnh tới mức phải tắm hai lần trên cùng một dòng sông.

Cây cối trước nhà bị gió vặt lá xào xạc rơi rụng. Ba cây nhang tắt nghỉn và Mạ tôi bỏ đi. Tôi ngó tấm ảnh đen trắng đóng khung một nhân diện thiếu vắng nụ cười của Mạ. Như vậy là bà bỏ tôi đã 42 năm. Bà bị thay đổi chỗ thường trú những hai lần theo quy định thậm khó hiểu của nhà nước. Cái nhà nước mà yêu tinh hằng hà sa số đi ngang dọc, chúng bộ phong tróc ảnh ngược ngạo chẳng cần phải che đậy hoá trang. Làm sao tôi có thể về thăm Mạ, về nơi một năm có 365 đêm Halloween. Ai yêu nước thì nên nói happy halloween.

Hồ Đình Nghiêm

Nắm đất bên đàng

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 2 May 2022

Post by Sơn râu 7 Jan 2024

Hắn luôn gọi tôi là anh hai. Hắn là người phục vụ bán nước, cũng có thể là ông chủ quán. Hắn lanh lợi do công việc đòi hỏi thế, và dẻo miệng có thể do thói quen. Già trẻ lớn bé khi bước qua ngạch cửa đều được hắn chào đón bằng những lời có pha đường. Như thông lệ phải không anh hai? Hắn mang cho tôi cốc cà phê sau đó, không lâu. Hắn nói hắn biết gu của tôi nên luôn làm sẵn một cái phin đặc biệt dành riêng cho anh hai. Có cái bàn nhỏ đặt ở chỗ thiếu ánh sáng, khuất lấp. Chỗ ngồi đặc biệt mà mỗi bảy giờ sáng tôi thường trụ trì, hắn nói có chen cài tiếng tây tiếng u, rề-dẹt-vê riêng cho anh hai, nơ pa săn rê.

Có thể hắn biết tôi không phải Việt gian, nhưng do đâu hắn biết tôi là Việt kiều? Tôi đã cố gắng ăn vận lùi xùi rách rưới cẩu thả bụi bặm. Trước khi về ngụ chốn này tôi đã làm cú xuyên Việt trầy vi tróc vảy xơ xác hình hài. Có nghĩa là tôi dễ lẫn trong đám đông, khó bị phát hiện. Người trong nước giờ này chán khối đứa bảnh bao, đẹp giai từ đỉnh đầu cho chí ngón chân mang dép. Tôi là cái thá gì, Việt kiều thôi mà, thứ ấy cũng có năm bảy thành phần, có hạng đôi khi về thăm nhà phải ngửa tay xin bố mẹ tiền vé máy bay, tiền ăn quà sáng, tiền cà pháo cà phê. Hắn cười đểu: Vì sao biết a? Hắn giải thích, vì chỉ riêng có anh hai lọ mọ láo liên quan tâm tới cái thùng rác, chúng sinh ở đây vẫn quen dụt mọi thứ xuống đất, rác ngập mặt thoải mái. Anh hai à, ngẫm kỹ Việt kiều cũng có cái đáng để tuyên dương, nhỉ?

Tôi không làm hoanh cho tiền bo, tôi trả cốc cà phê đúng theo giá quy định vậy mà hắn đối xử với tôi khá đặc biệt. Tôi có cảm tình với hắn do bởi hắn chẳng lắm chuyện hỏi han tò mò về cảnh sống một thằng Việt kiều tha phương. Tôi lu mờ thấy rõ vậy mà hắn không khinh khi. Đáng tín nhiệm không khi tiếp cận với kẻ có lê vẫn nhớ lựu có trăng vẫn nhớ đèn?

Quán cà phê nằm đầu đường, một ngã tư luôn chộn rộn. Căn phòng tôi thuê thì nằm cuối đường. Không lớn quá không nhỏ quá, chẳng sạch chẳng dơ. Giá vừa phải, khá yên tĩnh. Bà chủ không khó dễ để đưa ra một điều kiện nào cả và tôi cũng chẳng phàn nàn cái mùi mốc ẩm luôn nảy sinh dật dờ từ bốn bức vách tróc vữa gạch vôi. Tôi bằng lòng vì đêm tối hàng cây già tuổi mọc quanh đó biết thở ra thứ hương mùi ngọt dịu, một giống hoa lạ thường nào khuất mặt, làm mát, lọc sạch một vuông trời vốn lắm bụi giữa trưa nặc nồng. Chui qua cửa sổ, nó thầm lặng thăm hỏi tôi một cách dịu dàng kèm theo chút gió nhẹ, tựa hồ mình vừa nốc xong ly chanh đường giữa một ngày hạn hán. Thống khoái, tôi tự nhủ phải viết xong cái truyện ngắn sau tháng trời lùng sục y như một thằng tây ba lô chuyên ăn cơm bụi thuê giường bố ngủ cạnh sân ga. Tôi hứa thầm mà không tài nào tĩnh tâm để viết cho trôi. Chữ lạnh nguội chẳng xuôi chèo mát mái. Đêm ập về, giữa mê thiếp, nghe chừng có bước chân ai đi quanh chỗ nằm. Tiếng nói cười, tiếng xô đẩy và sau cùng là tiếng khóc cố nén. Mùi rêu phong ẩm mốc cố vẫy vùng trong một diện tích nhỏ, màu vôi nhạt phai như tấm lòng ai kia bạc ác. Sương đục trắng dâng lên và tôi tỉnh thức nghe thành phố cựa mình bắt đầu bằng những vọng dội rời rạc, xa vắng. Xa như mặt trời từ hướng biển chuẩn bị trồi đầu một sớm mai tù mù hẳn còn ngái ngủ.

Một buổi sáng, tôi đến quán sớm hơn thường nhật, đợi hắn thôi lu bu chuyện này việc nọ, tôi vẫy hắn lại bàn. Cần gì anh hai? Hắn hỏi khi ngồi xuống ghế.

Ông biết chỗ tôi tạm trú không?

Biết chớ, anh hai mướn phòng của bà Sáu huê kỳ nằm cuối đường, đúng không?

Sao gọi là bà Sáu huê kỳ?

Là để phân biệt với bà Sáu chảnh. Bị tám đứa con của bả thảy đều ở Mỹ, Mỹ quốc mà không kêu là huê kỳ thì kêu bằng gì? Xâm lược với đế quốc thì người ta khai tử đã lâu rồi. Huê dạng và kỳ cục cả một đống!

Tôi không biết người thuê căn bên cạnh nhưng mỗi khuya tôi nghe phát ra nhiều tiếng động lạ.

Ồ, ông Tư bộ đội phục viên mướn căn hộ đó. Nghe người ta đồn ông Tư từng ăn nằm với bà Sáu chảnh, tiếng động kia chắc do Tư quan hệ bất chính với Sáu tạo nên. Đố anh hai nhé, Sáu huê kỳ có tám người con, Sáu chảnh thì một mình một bóng, vậy ông Tư được bao nhiêu tuổi?

Đang sáng sớm mà đã nghe nực, có láu cá thì cũng chừng mực nào đấy thôi. Toán với lại đố, bố chịu thua.

Năm mươi bốn tuổi.

Sao biết? Làm phép tính nào để ra đáp án?

Xời, thì nghe ổng nói, tớ vào bộ đội khi tuổi đúng mười bảy, đã ba bảy mùa khô hạn trôi đi mà vẫn nhớ như in kỷ niệm ngày lên đường thuở nọ. Lấy hai số đó cọng lại không ra nhăm tư thì chẳng lẽ bảy nhăm hay sao?

Thế bà Sáu chảnh?

Còn ngon cơm lắm, áng chừng nhỏ thua ông Tư đúng một giáp. Nhưng cớ sao anh hai lại sung chuyện ruồi bu? Bèo giạt hoa trôi, chỉ là khách qua đường thôi mà, biết chi nhiều cho nặng gánh hành trang. Vô tư mới dễ tới bến, đã nghe qua chân lý ấy chưa?

Tôi dấu nhẹm chuyện viết lách, chẳng ưa thật thà khai báo với hắn. Đã là một thằng người lỡ mang nghiệp ấy vào thân, ắt hẳn luôn mặn chuyện ruồi bu không cách gì vô tư được. Và thứ chân lý hắn vừa dạy đời, nếu đúng, tôi làm tài thánh gì để tới bến. Cứ quay đầu là nhìn ra sông nước mút mùa lệ thuỷ, bốn phương tám hướng chẳng ngó thấy bờ.

Còn ở đây lâu không? Hắn hỏi. Anh hai phải nên tìm cách phung phá thụ hưởng kẻo phí của giời. Đời người có hạn kỳ, mai này có hối cũng muộn mất.

Tôi gọi thêm cốc cà phê. Cả tháng trời đi bụi, giờ tôi mới phát hiện có đứa coi bộ chơi được. Tôi hỏi tên. Hắn bảo anh hai vô tâm quá, chẳng nghe khách vào ra ơi ới gióng gọi Cư ơi Cư hỡi luôn mồm đấy sao! Tôi ngó Cư, bao giờ quán cần người giúp việc nhớ gọi tôi, ngồi bần thần cả ngày cũng oải, lao động thì có thêm lợi nhuận đồng ra đồng vào. Lạy bố tha cho con ạ, con chưa nghe ông Việt kiều nào ngôn một câu xanh dờn tựa thế. Chủ trương của bọn ấy là giấy rách phải giữ lấy lề, lỡ mang tiếng là Việt kiều thì có đói cách mấy anh cũng phải hất mặt lên. Tôi lại dấu nhẹm chuyện viết văn, tôi cần trà trộn vào thế giới này để học hỏi ngôn ngữ, cách ứng xử của bọn khách tạp nhạp khi vào quán sai bảo hoặc bàn luận chuyện đời.

Cư nói, thêm điều nữa là nếu cần người tôi sẽ ưu tiên nhắm tới những em gái, anh hai hiểu không? Đôi lúc người ta không chỉ biết uống lấy cà phê mà họ còn uống thêm một nhan sắc. Đôi lúc cà phê không tạo ra chứng mất ngủ, người ta trằn trọc vì lậm một bóng hình.

Tôi nói, ông như quân sư thánh hiền, như đồng chí Mao Tôn Cương, chỉ giỏi việc đưa ra lời bàn, hiện tại có thấy nhan sắc một em gái nào đâu? Cư nói, chẳng qua do trở ngại sự cố, trước, có tới ba em thay phiên làm lụng. Lịch sử sang trang, giờ đây Cư này đành nghiêm chỉnh lao động lành mạnh vậy. Ôi, thời huy hoàng nay còn đâu!

Cư móc từ túi áo ra cái điện thoại di động, hắn bấm số và đường truyền bắt sóng rất nhanh. Trâm đấy hở?… Ừ, anh vẫn vậy… Ừ, thì thế… À này, Trâm tạt ngang chỗ anh một tẹo… Không, anh đảm bảo mà… Chả cần đâu, vậy đi nhé. Ừ, sẽ dông dài sau. Lát gặp. Cư đóng máy. Hắn ngó tôi, Trâm trước làm ở quán này, Trâm sẽ lại, sẽ làm hướng dẫn viên tự nguyện cho anh hai đi thăm thú đây đó. Cư này có nói rằng đời người có hạn kỳ, chả nhẽ mai này về lại chốn xa anh hai chả lưu giữ được một kỷ niệm nào sao? Cứ vô tư đi, nhớ?

Trâm đến, như người biết thuật đằng vân giá vũ không thì đương sự vốn ở sát nách quán, vù một cái là bước vô và thú thật khi ngó thấy cô gái tuổi đôi mươi tôi cá cược là ở trên cõi đời trần tục này không thể hiện hữu chữ vô tư. Lòng anh chộn rộn, đầu anh xoay mòng hết dấu hỏi này xong đến nỗi hoài nghi khác mọc lên. Vô tư là chừng nào anh bị dính bệnh vô cảm, tôi người trần mắt thịt thì buộc lòng tôi phải nghe tiếng thì thầm của quỉ sứ: Con nhà ai mà đẹp rứa bây, da thịt nuột nà tới độ ngứa mắt. Trâm hiện thân, đóng trọn vai trò một nhân vật nữ trong liêu trai. Bức bối, thời tiết ở đây mới bảnh mắt đã hầm hập, nhưng Trâm đã mang vào thứ khí hậu ẩm ướt thường có ở núi đồi lũng khe, rợn cảm. Mát lạnh tựa cây cà-rem, Trâm mà thò ngón tay vào khuấy cốc cà phê thì cà phê khỏi bỏ đá cục làm gì cho nhạt đi.

Không hiểu do đâu Trâm tiến lại bàn tôi rồi ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Anh uống thứ gì thế? Cô hỏi. Tôi đáp, cà phê, Cư bảo thứ đặc biệt. Trâm làm một cốc nhé. Không, em không hợp tạng với nó, uống vào thường làm tim đập nhanh, người hồi hộp làm sao ấy. Cho em ly sinh tố, xoài mít đu đủ thức gì cũng tốt cho con tim đang quờ quạng. Chẳng đợi gọi, Cư mang ngay ra cho Trâm một ly thuỷ tinh chứa dung dịch sền sệt màu vàng tươi. Hắn nói, xa lạ gì cho cam, anh biết đi guốc trong bụng em mà, đúng không cưng? Cám ơn anh, độ rày quán chẳng mấy đông như cũ, anh nhỉ? Ừ, em đi nên bao cây si cũng rơi rụng dần. Tôi nhìn môi Trâm ngậm lấy ống hút, cô ngó tôi khi làm cho mực nước chứa trong ly vơi dần. Cư quan sát, hết nữ xong quay qua nam, trai xong tới gái. Sau cùng hắn đưa đề nghị, Trâm gắng thu xếp dẫn anh này đi dã ngoại một phen, mùa này thường người ta ưa đổ về vùng bể, Đà Nẵng Nha Trang các thứ. Tôi ngó màu da mà Trâm sở hữu, nó tố cáo chủ nhân là kẻ ngại vọc sóng biển trần thân giữa nắng nôi. Sẽ rám nắng sẽ đen đúa nói chung là sẽ xấu đi. Đàn bà con gái chốn đây trái ngược hẳn với xứ tây tà tôi thường trú. Rất không quen mắt khi anh phát hiện có kẻ giương cây dù ra che khi vội đi dưới lề đường một ngày nắng đẹp. Bên kia đại dương hả, nếu được phép trần như nhộng quý bà quý cô hẳn rất mực hồ hởi mà trút bỏ xiêm y đưa da thịt lụa là giao thoa cùng thần mặt trời, đi đứng vặn vẹo nằm ngồi dang tay dạng chân thoả thích, sướng rêm.

Quá đỗi ngạc nhiên, Trâm nói không đắn đo trí óc không can dự. Xoàng, đã đi thì nên dong xa cho bỏ những ngày cơ cực. Mình đi Côn đảo, anh nghĩ có đặng hôn? Não bộ tôi tự động làm bốn phép tính cơ bản bậc tiểu học: Cộng trừ nhân chia để ra ngay một kết quả: Ba vạn cũng bỏ. Còn bạc còn tiền còn đệ tử. Hết đô la cạn euro còn master. Tôi nói, cám ơn bạn Cư đã thông hiểu tôi. Cám ơn Trâm đã tín nhiệm tôi. Dự trù chuyến đi kéo dài tuần lễ, bảy ngày sau tôi mang Trâm về mà người không rụng một cọng tóc. Cả bọn đều cười, tươi như hoa nở. Trâm bảo, anh xa quê hương lâu mau mà tiếng mẹ đẻ còn nhuyễn nhừ tựa thế? Giời ạ, ngôn rất xịn! Giả mà anh bị rụng một nạm tóc thì biết lấy ai mà bắt đền?

Khuya đó, Trâm đập cửa phòng trọ. Tôi ngó ra đoạn đường vắng, nhiều bóng tối: Tận giờ này mà em hẳn còn lang thang cơ à? Sao không, đến xem sinh hoạt của một kẻ độc thân. Sợ gì chớ? Sao án ngay cửa thế? Em vào được không? Hàn khí từ da thịt Trâm dồn đẩy qua, nửa làm tôi tỉnh táo nửa làm tôi u mê. U mê sao canh khuya ngại ngần một khách nữ? Tỉnh táo sao không lợi dụng một viếng thăm đơn thân? Hai thứ trộn lẫn khiến tôi đứng chết trân, nhưng Trâm có cách đi vào phòng của riêng cô mà tôi ngờ, nếu muốn Trâm có thể lọt người qua cửa sổ, một cách êm thắm.

Tôi đang viết dở dang, tôi lại bàn thu cất những thứ đang bày biện. Theo thói quen, tôi hoàn toàn không muốn bất kỳ một ai đọc phải khi nó đang còn ở dạng bản thảo. Trâm nói, có những sự kiện, một vài địa danh, đôi ba cột mốc thời gian anh đã ghi nhận sai trật. Tiểu thuyết, dẫu là giả tưởng, trước hết anh phải vin vào sự thật. Anh đang viết tới những tiếng động thần bí phát xuất từ căn phòng bên cạnh, có đúng không? Em sẽ giải đáp nỗi hoài nghi kia, nếu anh muốn. Ông Tư từng là bộ đội, trong chiến tranh ông từng hăng máu làm chiến sĩ anh hùng để giết lắm thường dân vô tội. Giờ này ông làm thơ, như thể mượn nó để sám hối, chuộc lỗi lầm. Những tiếng động kia là minh chứng rõ sự trở về của những hồn oan.

Đêm rất dài nhưng bình minh đã ló dạng. Mặt trời chan hoà sắc vàng ươm ngoài cửa đồng thời sáng loá dự phần là những ngọn đèn bắt dọc trên trần nhà. Một nữ y tá đang ngó xuống mặt tôi, săm soi. Cô vừa thu cất dụng cụ thôi nghe áp huyết sồi trụt từ cơ thể thằng người nằm thẳng cẳng. Chị tôi ngồi trên chiếc ghế nhựa đặt sát giường, mặt thoáng thay đổi khi ngó tôi ngồi dậy. Da dẻ chị rám nắng, đầu bù tóc rối, bụi đất bám đôi ba chỗ vào áo quần và tôi đã hiểu ra chuyện. Tôi hỏi: Em nằm đây bao lâu rồi? Chị tôi nói, em bị ngất đi ngoài đồng cỏ thì chị liền kêu xe mang em vào đây, đâu khoảng nửa giờ. Tôi giật chai nước suối từ tay chị, vỏ nhựa của nó đã thôi lạnh. Mở nắp và tôi tu hết hai phần ba dung dịch còn lại. Tôi ngó chị: Mọi việc đã xong? Chị nói, giọng mệt mỏi, yếu ớt, khan tiếng: Thì coi như sắp kết thúc. Chị đã trả tiền cho nhà ngoại cảm ấy, chị đã thanh toán các lệ phí cho mấy người chuyên khai quật.

Tôi thòng chân xuống rà tìm đôi dép nhựa. Một người đàn ông đến, chen giũa chị em tôi. Có lẽ ông là bác sĩ, giọng ông to tiếng: Chị an tâm, anh này có thể do di chuyển nhiều nên cơ thể bị suy nhược, trúng gió máy rồi ngất đi. Cần nghỉ ngơi bồi dưỡng, ăn nhiều chất đạm thì mọi chuyện đâu lại vào đó. Trước mắt tôi ghi vài loại thuốc bổ chứa nhiều vitamin C, cũng chả cần truyền nước biển làm gì cho tốn kém. Chị tôi nói cám ơn rồi trao vào tay ông một cái phong bì. Được, hai người có thể xuất viện. Ông nói. Chị tôi hỏi: Em thấy sao? Đi nổi không? Tôi ngó những con bệnh nằm phòng hồi sức, họ thảy mang một chân dung đồng nhất, lạc hồn như những kẻ bị thần chết từ chối không cho nhập cư.

Thằng Chín, đứa em bà con đón chúng tôi ngoài cổng bệnh viện. Hắn lúc nào cũng phê bình, rằng chị tôi không biết cách trang điểm. Hắn nói, có khác gì “lạy ông tui ở bụi này”. Chị nổi bật quá, sẽ là con mồi ngon cho bọn mài dao chín tháng chém ba tháng. Chị tôi từng nói, thôi kệ, xem như mình giúp cho họ chút đỉnh. Nghèo họ mới vậy chứ giàu có thì ai hơi sức đâu đi mánh mung ăn chận ăn bớt. Hắn và chị tôi đã lùng sục ra một nhà ngoại cảm nức tiếng, rước từ ngoài Bắc vào với cái phong bì chứa năm triệu đồng. Bà ta chỉ ra nơi chôn vùi thân xác má tôi để chị em chúng tôi tìm nơi di dời, xây mồ yên mả đẹp cho má. Và tôi ngờ nắm xương tàn kia là của cô gái mang tên Trâm, hoặc của gã bán nước mang tên Cư, hoặc một hồn ma vô danh vất vưởng tôi chưa có cơ may chạm mặt.

Tôi về khách sạn tắm táp. Chương trình sắp tới sẽ diễn ra là chúng tôi gọi taxi tìm tới một nhà hàng đặc sản ăn mừng thành quả sau tháng trời vất vả lùng sục. Để tôi căng bụng dung nạp chất đạm cho lại hồn lại vía. Để cho thằng Chín chút bổi theo lời đương sự nài nỉ ỉ ôi: Già đầu rồi em cần phải lấy vợ sanh con, em nguyện sẽ siêng nhang khói cho bác gái. Chị và anh mai này tạm biệt cố xứ thì em sẽ thay mặt chăm nom mộ phần.

Phòng sát bên do một cặp nhân tình người Pháp thuê mướn. Họ đói tình và họ không ngần ngại “làm phiền lòng hàng xóm” bằng thứ tiếng của sư tử cọp báo khi yêu nhau. Gầm rú, giông bão, vật vã, kêu gào, tận hưởng và thở hắt ra khi leo tới được đỉnh vu sơn.

Tôi lật giở cuốn vở ghi chép của mình, tất cả chỉ là những trang giấy trắng, như từ khi mua nó đến giờ tôi tuyệt chẳng ký gửi tâm sự mình vào. Hai trăm trang không lưu được một vệt mực nhoè, nào khác gì một vật vô tri, không linh hồn. Một cái xác lạnh lẽo. Tôi đứng như phỗng đá, mồ hôi chảy lạnh xương sống. Tôi hỏi chị tôi: Bao giờ mình trở về lại Canada?

Hồ Đình Nghiêm

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 7 Jan 2024

Bài 39

Phần 38

Khu thăm nuôi nằm ngay góc trại 4. Nó gồm mấy dãy nhà tranh vách ván được tù dựng lên gần đây. Trước mặt nó là con đường chính trải nhựa chạy từ cổng trại An Dưỡng và chấm dứt phía cuối bệnh xá.  Khi đám tù được thăm của trại 1, trong đó có Vĩnh, vừa tới gần khu vực thăm nuôi, thì thân nhân đã chờ sẵn đứng dọc theo hàng rào ngăn khu thăm nuôi với con lộ từ trại 1 dẫn ra. Như mọi người, Vĩnh vừa đi vừa nhìn những người đứng đón ấy. Anh biết chắc trong đám người ấy có thân nhân anh. Những người khác chắc chắn cũng biết như vậy. Tuy nhiên, thật lạ lùng! Khi đám tù của trại 1 đi hết dãy hàng rào, tiến tới ngã ba lộ chính, rẽ phải để bước tới trước cổng trại thăm nuôi, hầu như chẳng mấy ai nhận được ra ai. Hình như chỉ có một hai người đứng trong hàng rào nhận ra người thân của mình. Họ gọi ơi ới vài tiếng tắc nghẹn rồi rú lên khóc với nhau. 
Bước vào cổng trại, theo đúng thủ tục, người trưởng toán thăm nuôi cũng là một tên tù, phải so hàng anh em, ra lệnh bỏ nón mũ xuống trước khi hô nghiêm nghỉ, điểm danh nhân số và trình diện tên vệ binh phụ trách khu thăm nuôi. Khi cuộc điểm danh báo cáo vừa chấm dứt thì những thân nhân đã chạy ào ra vây chung quanh. Tù và người thân giờ này đã có thể nhìn ra nhau, nhìn ra nhau qua một màn sương mỏng của nước mắt và tủi hờn. Những tiếng khóc rưng rức của những người vợ trẻ, những tiếng kêu gào ối con ơi con ơi của những bà mẹ già, những thái độ ngỡ ngàng xa lạ của bầy con thơ khi nhìn thấy cha anh; tất cả hòa lại với nhau thành một quang cảnh lạ lùng mà tuồng như trước đó chưa ai trải qua bao giờ. 
– Anh ấy đây rồi! 
Vĩnh nghe thấy một giọng nói thật quen rú lên bên cạnh. Anh ngoái lại. Bà kế mẫu của anh mắt đỏ hoe, giọng nghẹn ngào, chạy tới níu lấy vai Vĩnh. Vĩnh xúc động quá, ôm chặt lấy bà. Bà vừa nói không ra tiếng, vừa đưa tay rờ rẫm vai anh, cánh tay anh, vừa cuống quýt lôi anh đi. Hà nó trong nhà. Nó giữ chỗ ngồi và canh đồ đạc. 
Một tiếng thét thốt nhiên vang lên. Tiếng thét của tên vệ binh. 
– Chưa ai được rời hàng. Tôi nhắc lại, chưa ai được rời hàng. Yêu cầu tất cả thân nhân của các cải tạo viên trở vào nhà thăm ngồi đợi. Vĩnh vội vàng đẩy nhẹ bà kế mẫu ra, nói nhỏ. 
– Mợ vào trong ngồi chờ con. Đừng khóc lóc. 
Bà kế mẫu nhất định không vào nhà. Bà chỉ đứng lùi ra sau vài bước như để xem con bà còn phải trải qua những ô nhục nào khác nữa. 
Tiếng tên vệ binh lại cất lên, cất lên giữa bao tiếng kêu gọi ơi ới, tiếng khóc của người lớn lẫn trẻ em. 
– Trước khi vào nhà thăm gặp thân nhân, tôi quán triệt sơ bộ các anh rằng thì là phải có thái độ thăm nuôi nghiêm túc. Cấm mọi luyến ái phản văn hóa dân tộc. Cấm mọi cử chỉ bú mồm bú môi. Cấm… 
Sau khi nhắc nhở một loạt những cái cấm, tên vệ binh tiếp. Theo quy định, các anh phải ngồi đúng hàng ghế dành cho các cải tạo viên. Mười lăm phút thăm chính thức được tính từ lúc các anh ngồi vào vị trí. Khi có lệnh của cán bộ thông báo hết giờ thăm, phải nhanh chóng giải phóng mọi tình cảm quyến luyến, nhanh chóng tiếp thu quà cáp và ra địa điểm tập họp khẩn trương. Mọi sai trái sẽ bị xử lý tại chỗ. 
Sau đó mọi người được tan hàng. Lúc này cảnh nháo nhào mới thực sự xảy ra. Thôi thì đủ thứ níu kéo, đủ thứ kêu gào la khóc. Vĩnh lặng lẽ chạy đến ôm lấy vai bà kế mẫu. Hai mẹ con bước vào nhà thăm. Vợ anh lúc này đang đứng nơi cửa. Không khóc nhưng thật ngậm ngùi. Cả ba kéo nhau vào chỗ ngồi. Hai người ngồi nơi hàng ghế đối diện. Vĩnh ngồi nơi hàng ghế dành cho tù. Trước khi nói chuyện, anh thả mắt quan sát một vòng. Căn phòng thăm có ba dãy bàn ghế, mỗi dãy dài chừng mười thước. Mặt bàn rộng chừng mười thước rưỡi. Nơi đầu mỗi dãy bàn có một cái ghế đẩu. Trên mỗi ghế đẩu đều có một thằng vệ binh ngồi lõ mắt quan sát mọi người. Quan sát xong, Vĩnh quay lại hai người thân. Anh nhìn vợ rồi nhìn mẹ. Ai cũng rươm rướm nước mắt. Anh tính nói nhưng một anh bạn ngồi cạnh đã nói giùm câu nói ấy với vợ con anh ta. 

– Đã bảo đừng khóc. Khóc trước mặt kẻ thù nó khinh chung cả đám! 
Vợ anh bây giờ mới lên tiếng. 
– Các con chúng đòi đi nhưng ông nội không cho đi. Thôi để lần tới… 
Bà kế mẫu của anh chen vào. Giọng đầy e ngại. 
– Nghe nói anh phù thũng và kiết lỵ. Hết chưa? 
– Hết rồi mợ ạ. 
Bà lắc đầu. 
– Gầy quá đi thôi! Gầy quá đi thôi! 
Vợ anh bỗng nói. 
– Ngoài quà, cả họ góp gửi cho anh cả tiền đây. Trong này có câu lạc bộ không? 
Vĩnh bỗng thương xót cho người ở nhà. Trời ơi, không hiểu làm cách nào để nói cho họ biết rằng nơi đây là trại tù, tù khổ sai Cộng sản. Nơi đây không phải là quân trường Quang Trung, hoặc Thủ Đức, Nha Trang hay Đà Lạt… Nghĩ thế nhưng anh cũng phải gật đầu. 
– Có, có câu lạc bộ. 
– May quá, vậy kỳ này anh có tiền, ráng dè xẻn mua thêm thức ăn tẩm bổ. Đừng rượu chè thức khuya nghe anh. 
Nghe vợ nói, Vĩnh cười cũng không xong mà mếu cũng không nổi. Anh chỉ biết gật đầu. Vì đã dự trù câu chuyện để không phí thì giờ, anh vào đề ngay. 
– Bây giờ mợ và em để anh hỏi những cái cần thiết, đừng nói lung tung nữa, phí thì giờ lắm! Cậu có khỏe không. 
– Khỏe. 
– Các con ra sao? 
– Lớn tướng. Khoa và Nguyên đều đi học cả rồi. Thằng Khoa sang ở với ông nội. Thằng Trung hơi gầy và giống con gái lắm. 
– Tốt. Ăn uống thế nào. Có độn không? 
Nghe hỏi, vợ anh liếc nhìn mẹ anh. Bà kế mẫu bỗng ngắt ngang. 
– Trong này anh cứ lo thân anh, giữ gìn sứckhỏe. Đừng lo gì cho người ở nhà cả. Thừa no, thiếu đủ. Vĩnh vẫn không an tâm, vẫn hỏi. 
– Tụi nhỏ có được ăn cơm, ăn thịt không? 

Nghe cật vấn, bà kế mẫu của anh khẳng định. 
– Người lớn thì có độn. Nhưng con nít thì dứt khoát không ai để cho nó phải ăn độn. 
Nghe trả lời, Vĩnh yên tâm. Anh lại hỏi. 
– Tụi con cái anh Túy và chú Sơn như thế nào? 
– Cũng thế. 
– Mợ à. Có tin tức gì của anh Túy và chú Sơn không? Chú Môn ra sao? Cậu Tín nữa? Còn tụi thằng Hùng thằng Thái chúng ra sao hả mợ? 
Vợ anh len vào trả lời thay cho bà cụ đang bận bóc một cái bánh dầy đậu. 
– Anh Túy bị lôi ra Bắc lâu rồi. Cả nhà không có tin. Chú Sơn thì bị giam ở Katum. Cô Nguyệt có đi thăm rồi. Còn chú Môn cậu Tín thì không biết giam ở đâu. Hùng, Thái giờ đôi mươi cả rồi. Nhà đang lo cho các chú ấy thoát nghĩa vụ… 
Bà kế mẫu đã bóc xong cái bánh. Bà đưa cho Vĩnh, thúc hối. 
– Ăn đi, con ăn cái bánh này đi. Mợ có mua cả bánh dầy giò nữa. Cứ nhẩn nha. Vĩnh liếc nhìn tên vệ binh đang kín đáo quan sát mọi người. Nó vừa ngó xuống đồng hồ tay. Vĩnh sốt ruột vì thấy mình chưa hỏi xong những câu hỏi cần thiết. Anh khoa tay. 
– Mợ cứ để đó chút nữa con ăn. Con cần nhiều cái khác hơn cần ăn lúc này. 
Bà kế mẫu nghe vậy nhưng vẫn thúc Vĩnh ăn. Vĩnh đành cầm lấy cái bánh, hỏi tiếp bằng giọng ngắn gọng. 

– Đây là những điều con muốn biết nhất. Mợ và em trả lời cho đúng sự thật nếu biết, bằng không nhớ đừng nói gì nhiều. Thứ nhất có thật ở Sài Gòn được rải truyền đơn kêu gọi đứng lên lật đổ Cộng sản và truyền đơn được ký tên thống chế Nguyễn Cao Kỳ và đại tướng Ngô Quang Trưởng hay không? 
Hai người nghe xong đều ngơ ngác. Mãi lúc sau bà kế mẫu anh mới thều thào. 
– À, trước đây cũng có nghe đồn như thế. Nhưng nghe đồn truyền đơn được rải đâu mãi vùng Tây Ninh, chứ không phải ở Sài Gòn. 
– Họ hàng nhà mình có ai được tận mắt nhìn thấy truyền đơn không? 
Vợ anh bỗng len vào. 
– Ôi Sài Gòn thì có hàng triệu thứ tin đồn, hơi đâu anh bận tâm cho mệt. 
Biết là cả hai người không nắm vững chuyện này, Vĩnh hỏi câu khác. 
– Những vùng quanh Sài Gòn có đụng độ không? 
– Đụng độ là sao? 
– Thì quân mình về phá rối. 
Mẹ anh như hiểu ra, bà vội nói. 
– Thì cũng nghe đồn thôi chứ có ai thấy gì đâu! 
– Thôi được. Bây giờ con hỏi một câu nữa. Hệ thống công an của tụi nó ở Sài Gòn hoạt động có mạnh không? Con muốn nói nếu con trốn về nhà liệu có lẩn khuất sống nổi không? 
Đến đây thì cả mẹ lẫn vợ của Vĩnh đều tái mặt. Mẹ anh trợn mắt. 
– Chết! Chết! Không được đâu. Bây giờ họ tổ chức khu phố chặt chẽ lắm. Mười nóc gia lại có một công an khu vực. Lại còn có tổ trưởng tổ phó khu phố. Họp hành, học tập, kiểm thảo, tố giác hàng đêm. Con làm bậy là chết đấy. 
Nghe mẹ trả lời, Vĩnh không thể không ngao ngán. Tuy nhiên anh cũng hỏi vớt vát câu nữa. 

– Mợ có tin rằng trong rừng như Bình Dương, Tây Ninh chẳng hạn, có quân ta đóng trong đó không? 
Ý nghĩ trốn trại của Vĩnh vừa bộc lộ khi nãy thực sự đã làm bà cụ hoảng, thành thử cụ lắc đầu nguầy nguậy. 
– Mợ không thể trả lời anh được, vì thật sự mợ không biết gì. Còn phải lo kiếm sống chứ! 
Vĩnh quay sang vợ. 
– Em có nghe đài VOA và BBC không? 
– Thỉnh thoảng thôi anh. Với lại em đâu có thì giờ. 
– Vậy em có nghe người ta đồn rằng Trần Văn Đôn đã lập chính phủ lưu vong tại Pháp, em có nghe thấy không? 
Vợ anh bỗng nói một câu không ngờ. 
– Thôi anh ơi. Hơi đâu anh tin những chuyện như vậy! Bọn giá áo túi cơm ấy đến giờ này mà anh vẫn còn tin tưởng hay sao? 
Vĩnh hơi bực. Anh tính cự vợ một câu rằng chuyện này không phải là chuyện tin tưởng hay không tin tưởng. Tuy nhiên, nghĩ sao anh lại dằn lòng xuống. 
Anh nhìn vợ một thoáng và thấy thương cảm đầy lòng. Anh nói một câu như để an ủi. 
– Thôi quên mấy chuyện đó đi. Chỉ vì anh sốt ruột thôi. Bên gia đình em thế nào? Ông Hanh ông Minh ông Thủy ra sao? 
– Anh Hanh chị Mỹ đi thoát trước 30 tháng Tư rồi. Anh Minh anh Thủy đi trình diện theo dạng y dược sỹ giờ này vẫn chưa về… 
Vĩnh đang tính hỏi thêm vài câu nữa thì tiếng kẻng vang lên. Mấy tên vệ binh ngồi trên ghế đều đồng loạt đứng phắt dậy. Một tên nói lớn: Giờ thăm viếng đã hết. Yêu cầu tất cả các cải tạo viên ra địa điểm tập họp trở về trại. Yêu cầu các thân nhân ở nguyên trong phòng… 
Vĩnh đứng lên như mọi người. Anh giúp tay hai người thân thu đồ đạc quà cáp vào hai cái giỏ lớn và trước khi chia tay, anh nói. 
– Lần sau nếu có được thăm, mợ đừng đi nữa. Mợ ở nhà cho khỏe nhưng nhớ cho thằng Hùng nó lên thăm con. Anh quay sang vợ nói nhỏ. Em bảo chú Hùng chịu khó nghe VOA và BBC, lần sau vào báo cáo cho anh biết tin tức của thế giới liên quan tới nước mình. Nhớ nhé! 
Nói thì nói thế, thực tế hai người có đang nghe anh đâu. Người nào cũng nghẹn ngào, rươm rướm nước mắt và thốt không nên lời. Anh cố mỉm cười trấn an. 
Trong lúc người ta kéo nhau ra cửa, sự lộn xộn ấy giúp Vĩnh cúi xuống rút được lá thư dấu trong chiếc guốc dưới chân và nhét thật nhanh vào túi áo vợ. Anh dặn khẽ vợ đọc kỹ và làm đúng những lời anh dặn trong thư. Coi chừng chúng nó xét. Trường hợp bị xét, thủ tiêu ngay lá thư không anh tiêu tùng. 
Rồi thì cuối cùng cũng phải chia tay. Vĩnh bước ra địa điểm tập họp. Anh thoáng thấy Kim đang đứng nấp sau một cái connex gần đó. Anh nhìn thấy đứng tựa cái connex là một phụ nữ còn rất trẻ. Vĩnh đoán đó là vợ Kim. Họ đang xoắn lấy nhau như hai cái rễ cây cổ thụ. Vĩnh tính kêu lớn một tiếng để ghẹo, nhưng rồi nghĩ làm như vậy có vẻ hơi vô ý thức, lại có thể nguy hiểm cho bạn, Vĩnh lẳng lặng xách hai cái giỏ bước đến chỗ tập họp. Ngoài vuông sân khu thăm nuôi lại vang lên cái điệp khúc của tiếng khóc và tiếng kêu gọi lẫn nhau. Cả mẹ và vợ anh lúc này đều khóc. Họ tiến tới sát người anh và dặn dò đủ thứ chuyện. Vĩnh ngó vợ lòng bồi hồi thương cảm. Bỗng nhiên anh tự trách mình sao lòng chai đá! Suốt cuộc thăm viếng, dù ngắn ngủi, anh vẫn chưa nói được với vợ một câu trìu mến. Hay là mình quá hèn nhát? Hèn nhát đến độ không dám hôn vợ mình một cái? 

Ngoài cổng trại thăm đã thấy xuất hiện nhiều đội hình tù cải tạo khác. Họ đang được hướng dẫn bước vào khu thăm nuôi. Tên vệ binh phụ trách hướng dẫn tù của trại 1 đã hò hét bắt người đại diện tập họp anh em cho khẩn trương. Rồi thì những người thân bị xua đuổi dạt ra xa. Đội hình trại 1 được thiết lập mau chóng không thiếu một ai. Tiếng hô hoán, tiếng điểm danh, tiếng báo cáo lại vang lên. Vĩnh không sao tránh khỏi cảm giác ngượng ngùng khi thấy mẹ và vợ chầm chầm ngó anh đang làm những động tác chào kính và tuân lệnh thật đốn mạt của kẻ thua trận! Bỗng dưng anh thấy trong lòng đau đớn, đau lắm; cái đau của một vết thương vô hình một lần nữa lại rách ra và hành hạ anh kịch liệt. Chao ôi, đời một chiến binh! Một chiến binh hèn hạ, thua trận và không dám tự sát như những chiến hữu khác. 
Thốt nhiên anh quay lại phía vợ, nói lớn. 
– Thôi, lần sau có đi thăm, tuyệt đối đừng cho các con vào đây nghe em. 
Đôi mắt vợ anh rực lên một nét thắc mắc, nhưng không hỏi. Khi bước ra cổng trại trong đội hình hàng tư, Vĩnh không ngoái lại thêm một lần nào nữa. Hai tay xách nặng, anh lầm lũi đi theo các bạn như một kẻ đã mất hết cảm giác. Anh chẳng nhìn rõ cảnh vật chung quanh. Khu thăm nuôi với những tiếng động của loài người đích thực đã dần dần xa hẳn. Kim đi gần anh và hình như nó cũng có cùng một tâm trạng. Nói chung ai cũng thế. Ai cũng đang rơi vào một tình trạng muốn tự hỏi rằng sao cuộc thăm viếng không vui, không thỏa mãn như giấc mộng của hơn một năm qua. Mười lăm phút đã nói được gì? Tại sao mình quên điều này, quên điều nọ? Toàn những điều tối cần thiết mà lại quên. 
Khi đoàn tù được thăm lần đầu về tới lãnh vực trại 1, thì bên trong trại, bạn bè đã đứng dọc hàng rào như để chào mừng. Những tiếng gọi, tiếng chọc ghẹo vang lên ầm ỷ. 
– Tân, làm ăn gì được không mày? 
– Coi thằng Bình kìa tụi mày. Mặt đầy son môi, vai ướt sũng nước mắt… em dzợ nó. 
– Ê, Công ngủ! Giơ cao ngón tay trỏ lên mày. Sao không lấy bao nylon bọc lại? Trời ơi để khơi khơi thế kia bay cha nó mất mùi! 
Bên trong thì vui nhộn, bên ngoài không ai trả lời. Vĩnh thốt nhiên phát cười. Rõ thật người ngoài cười nụ người trong khóc thầm! Chút nữa đây chúng mày sẽ được thăm, rồi sẽ được hiểu tại sao có những đám ma trong lòng. 
Bọn vệ binh áp tải về đến cổng trại 1 thì bàn giao lại cho ban kiểm soát. Lại chào kính, lại hô hoán, lại điểm danh báo cáo. Tuy nhiên sau màn này, mọi người còn phải trải qua một màn kiểm soát tại chỗ tất cả các phẩm vật được gia đình tiếp tế. 
Đầu tiên một tên quản giáo lên giọng nhắc nhở một cách nghiêm khắc. 
– Tất cả thư từ tiền bạc nhận được của thân nhân phải được để trước mặt. Thư sẽ được kiểm duyệt và tiền bạc quý kim sẽ phải làm thủ tục lưu ký. Ai dấu diếm coi như vi phạm luật pháp nhà nước và bị trừng trị theo đúng mức độ vi phạm. 

Mọi người tuân lệnh đặt thư và tiền bạc trước mặt, ngay trên đất. Vĩnh không có thư. Anh chỉ có 100 đồng tiền mới. Đây là một vi phạm, vì theo như nội quy đã được học tập, mọi cải tạo viên chỉ có quyền nhận của gia đình mỗi kỳ 20 đồng. Lúc này kẹt quá, Vĩnh liếc quanh tìm chỗ dấu. Dấu đâu bây giờ? Sau cùng Vĩnh nẩy ra một ý nghĩ “được ăn cả, ngả về không”. Anh cầm mớ tiền vốn đã được vợ anh cuộn lại thật nhỏ, chằng dây thung cẩn thận quăng nhanh vào một đống cỏ rác nằm ngay cửa cổng trại 1. Nếu không ai nhìn thấy và lượm được, chút nữa đây khi những màn kiểm soát thăm viếng chấm dứt, chiều đến anh có thể tản bộ đến gần cổng và thu lại trăm bạc đó không mấy khó khăn. Giải quyết được vấn đề dấu tiền rồi, Vĩnh bình thản bày tất cả mọi thứ trong hai cái giỏ lớn ra trước mặt. 
Hơn mười thằng vệ binh được lệnh ra khám xét. Hai thằng khác làm nhiệm vụ kiểm tiền và lần lượt ghé thăm từng người tịch thu những lá thư để trước mặt, sau khi hỏi tên tuổi, tổ, đội với lời hứa hẹn sẽ được các quản giáo đội hoàn trả nếu thư có nội dung đúng quy định. Riêng tiền, tất cả được bỏ ngay vào túi nếu là 20 đồng. Số còn lại trại sẽ lưu giữ và cho ký tên ký thác tại chỗ. 
Vĩnh nhìn sang Kim đứng bên cạnh. Nó ngó anh bằng ánh mắt cầu cứu. Vĩnh biết Kim chậm chạp, chắc đang điên đầu không biết làm cách nào dấu tiền. Vĩnh khỏi khẽ. 
– Nhiều tiền không? 
Kim gật đầu. Vĩnh hỏi luôn. Đâu rồi? 
Kim ngó dáo dác rồi chỉ nhanh lên miệng. Khi hiểu ra Vĩnh cố nhịn cười. Chắc hẳn cu cậu hiện đang ngậm trong mồm vài trăm bạc không chừng. Mà như thế thì vừa nguy hiểm vừa có thể… ứ hơi mà chết. Vĩnh nói khẽ. 
– Tôi dấu được rồi. Tìm cách thẩy tiền qua đây tôi dấu hộ cho. 
Sau khi nhìn ngang liếc dọc, Kim làm bộ cúi xuống đống đồ đạc và nhả vội khỏi miệng một bọc nylon. Nó quan sát chung quanh. Mấy tên vệ binh còn lo kiểm soát những người khác. Kim yên tâm đá mớ tiền sang cho Vĩnh. Vừa lúc ấy tên quản giáo Dương xuất hiện ngay cạnh Vĩnh. Vĩnh điếng hồn. Gói tiền của Kim hiện đang nằm giữa trời giữa đất. Quản giáo Dương ngó Vĩnh đăm đăm. Sau cùng hắn hỏi vu vơ. 
– Sáng nay tao nhớ hình như mày cũng tắm truồng ngoài giếng phải không? 
Vĩnh vội lắc đầu. 
– Thưa anh tôi đâu có tắm rửa gì. 
– Mày đội mấy? 
Muốn đánh tan mối nghi ngờ của thằng chó đẻ, chỉ có cách duy nhất nói dối cho xong chuyện. Nó tin thì thoát cái tai kiếp vào phút cuối này. Bằng nó biết mình bố láo thì thây kệ, muốn ra sao thì ra. Vĩnh đáp ngay. 
– Dạ tôi đội 14. 
Kim đang lo cái vụ gói tiền, lại thấy Vĩnh dám nói dối thằng quản giáo đa sự nhất của trại 1, nó hốt hoảng ra mặt. Cũng may, quản giáo Dương tin lời Vĩnh. Hắn ngó xuống nhìn qua những món ăn của Vĩnh rồi lắc đầu. 

– Ăn cho lắm vào chỉ tổ thêm phản động. Nói xong hắn quay trở lại nhà kiểm soát. Vĩnh nhìn theo, anh thấy Tuấn, Minh, Đáp và vài ba tay nữa vẫn cúi đầu trên những mảnh giấy làm bản tự kiểm. 
Nhanh như máy Vĩnh xàng xê một bước và gói tiền của Kim đã văng vào đống đồ ăn hỗn độn của Vĩnh. Vĩnh cầm gói tiền quăng nhanh vào đống rác. 
Vừa lúc ấy, tên vệ binh khám đồ đã đến cạnh Kim. 
– Sao, tiền và thư đâu? 
Kim hiên ngang. 
– Dạ tôi không có một xu teng nào. 
Tên vệ binh hơi cáu với lối trả lời hơi thiếu nghiêm túc đó. Nó giở giọng ngay. 
– Ăn nói cho nghiêm túc. Xu teng là cái gì? Tôi còng đầu anh bây giờ. 
Kim vội thấp giọng. – Thưa anh tôi không có tiền và thư. Tôi chỉ có quà. 
– Chắc không? 
– Dạ chắc. 
– Khám thấy thì sao? 
– Thưa anh cứ khám cho. Đồ đạc của tôi chỉ có từng này. 
Bắt già bắt non một lúc, sau cùng tên vệ binh cũng chỉ khám qua vài lọ mắm ruốc, ít cân lạp xưởng, dăm gói thuốc thơm, ít cân đường… rồi bỏ sang người khác. 
Mọi người được lệnh thu đồ vào bao và được phép nhập trại trở về phòng. Vĩnh xách hai giỏ quà lên đi theo anh em. Khi vượt qua cổng trại, anh kín đáo ngó hai gói tiền vẫn nằm phơi thây trên đống rác. 
Khi mọi người đã vào hẳn trong trại thì bạn bè mới túa ra. Dù có buồn chín ruột cũng phải cười nói với mọi người. Hóa, Tiến, Huy, Dương, Ý, Tạc và một lô bạn bè khác nhào tới khênh tiếp những gói quà của Vĩnh và Kim về nhà. 
Sau những màn trả lời đủ thứ loại câu hỏi của các bạn, kết thúc dĩ nhiên là một chầu ăn uống tập thể. Bao nhiêu đồ ăn tươi như gà quay, thịt quay bánh hỏi, bánh ú bánh tét, cam vân vân và vân vân của Kim và Vĩnh đều được anh em thành khẩn kính cẩn lôi ra bày một bàn bên hông nhà. Ăn, uống, cười, tán thôi thì đủ chuyện. Nhà nào cũng có người được thăm, nên nhà nào cũng có cảnh tụ tập ăn uống. Hết ăn uống tới màn hút sách. Bánh thuốc lào Vĩnh Bảo của Vĩnh được chiếu cố tận tình. Những cái điếu cầy thay phiên nhau rú lên xồng xộc. Thân cũng như không thân, ai cũng nhào vào bấu một bi để chơi một phát. Thuốc xiện mấy khi được chơi. Nhưng chơi rồi không thiếu anh bật ngửa, xùi bọt mép và mắt trắng dã vì say. 
Vĩnh để mặt cho các bạn ăn hút tiếp tục, anh mò ra cổng và lấy lại được hai gói tiền. Anh quay vào nhà thu vén lại mớ đồ khô được gia đình tiếp tế. Tiến và Hóa cũng mò theo. Rồi Kim nữa. Anh trả cho Kim gói tiền của nó. Xong đâu đấy, anh ngả lưng xuống nền nhà cho đỡ mệt. 

Tiến bỗng hỏi. 
– Vụ truyền đơn ra sao? 
Vĩnh ngao ngán. 
– Không biết gì cả! Hình như chỉ là tin đồn. 
– Còn vụ Trần Văn Đôn ra sao? 
– Cũng tin đồn nốt! 
Kim bỗng len vào. 
– Moa nghe bà xã moa nói rằng thật sự đã có những lực lượng trở về. Ông Kỳ tự phong thống chế hay thống soái gì đó. 
Hóa cầm lấy một quả chanh mân mê trên tay, giọng ngao ngán chơi luôn một câu vè. 
Sân Khấu có Hùng Cường Chính trường có Râu Kẽm 
Mẹ bố chúng mày sao chúng mày dễ tin đến thế! 
Chẳng ai lưu tâm đến câu phá ngang của Hóa. Tiến thúc Kim. 
– Kệ nó. Mày nói tiếp đi. Vợ mày nói sao nữa? 
– Thì đại để ông Kỳ nắm chính phủ. Ông Trưởng nắm quân lực. Các đảng phái cũng nổi lên đánh đấm tùm lum hết. Nhất là vùng tam biên. Nhiều vùng kinh tế mới đã bị bỏ hoang vì quân quốc gia Việt Miên phối hợp hành quân đánh phá dữ lắm. Đặc biệt những vùng thuộc hai giáo phái Hòa Hảo và Cao Đài thường xuyên có những cuộc bạo động chống đối. Áp lực quốc tế cũng chẳng vừa gì. Rất có nhiều hy vọng tụi nó sẽ phải trải chiếu hoa mời mình rời trại về đoàn tụ với gia đình cuối năm nay. 
Vĩnh không muốn nghe nữa. Thực tâm anh cũng nóng ruột ghê gớm. Nếu không nóng ruột anh đã chẳng hỏi gia đình. Tuy nhiên sau khi thăm, sau khi nhìn thấy tận mắt sự mỏi mệt của người nhà, anh vẫn linh tính thấy rằng giờ trọng đại chưa thể xảy ra. Không có gì làm căn cứ vững chắc cho linh tính của anh, tuy nhiên anh vẫn thấy bi quan thật nhiều. Thôi cứ để tối nay, sau nhiều đợt thăm nuôi, sẽ có muôn ngàn nguồn tin khác nhau, Vĩnh dặn lòng, rồi sẽ thu nhập và gạn lọc xem sao! Nghĩ rồi Vĩnh vươn vai đứng lên. Anh muốn đi tắm, muốn xả hết những băn khoăn, bực bội, nhớ thương, hồ nghi, tin tưởng trên người mình xuống các cống rãnh cho nhẹ nhỏm tâm hồn. Anh muốn được hưởng một buổi chiều thật cô độc. Nằm nhớ đến những đứa con trai, những đứa con trai khốn khổ của anh đã phải sinh ra trong thời mất nước do sự đớn hèn của cha anh. 
Ông Đáp, Minh chuột và Tuấn phi công chợt xuất hiện nơi cửa. Ba nét mặt đám ma. Họ trở về chỗ nằm, ngồi vật xuống bên cạnh sự thăm hỏi và chia buồn của anh em. Riêng Vĩnh, Vĩnh kềm lòng thật dữ mới không phát lên một câu nói chia vui. Và rồi trên đường ra giếng, anh bỗng thấy mình vẫn còn may, ấy là lũ nhỏ không đi thăm, không thấy bố nó phải giở nón, phải đứng nghiêm, phải dạ dạ vâng vâng trước mặt quân thù…












Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 7 Jan 2024

Bài 38

Phần 37

Lại thêm một lần biên chế nữa vào hạ tuần tháng 10 năm 76. Lần biên chế này nhằm hai mục đích: Thứ nhất quân bình lại nhân số giữa 4 trại với nhau. Thứ hai hóa giải một số vấn đề mà bọn chỉ huy trại hằng nơm nớp lo sợ. Đó là sự quen thuộc đường đi nước bước trong trại để móc nối với nhau tìm cách trốn trại. Bọn cán bộ trại đã thực sự hoảng hốt trước những cuộc vượt ngục liều lĩnh của bọn tù. Chúng không hiểu tại sao với hệ thống đường hào, với thép gai dầy đặc, với mìn râu thả đầy chung quanh, bọn tù vẫn có nhiều kẻ trốn thoát? Tệ hơn, bọn tù đã phá vỡ một biện pháp mới nhất được ban chỉ huy trại đưa ra gần đây, biện pháp ấy là các nhà phải cắt người canh gác hai cửa ra vào hàng đêm. Mỗi cửa ngồi một người, mỗi người gác một ca hai tiếng. Tất cả những ai rời phòng lúc ban đêm để đi tiêu đi tiểu đều phải có phép và có sự canh phòng của người gác nhà. 
Khi lệnh này được thi hành, bọn tù đã xì xào bàn tán đủ chuyện. Ngoài việc bàn tán về tính chất khôi hài bắt tù gác tù, mọi người cũng bàn tán thật nhiều về việc sức khỏe bị suy giảm trầm trọng với tình trạng ngày lao động quần quật, cơm ăn thua chó; đêm về lại còn phải chong mắt ngồi gác trước cửa phòng. Dù sao thì sự than thở của bọn tù An Dưỡng cũng không phải kéo dài quá lâu. Sự việc tù phải canh gác tù được chấm dứt ngay khi nhà 5 đội 17, hai tay gác cửa phòng thuộc ca từ 2 tới 4 giờ sáng rủ nhau trốn mất. Tệ hại hơn, hai tay này lại thuộc hàng chức sắc cấp tổ trưởng và tổ phó. Bọn tù, để ăn chắc việc canh gác phải được dẹp bỏ, đã tung ra đủ luận điệu mỉa mai. Nào là “đỉnh cao trí tuệ loài người” đôi khi cũng rất kém thông minh. Nào là giao trứng cho ác… Bọn cán bộ trại cay đắng lắm, nhưng có lẽ sau nhiều giờ chúng ngồi thảo luận gù lưng, chúng đã thấy rằng bắt tù canh gác tù là chuyện lợi bất cập hại, thượng sách vẫn là dẹp luôn chuyện này sau khi lôi bọn tù lên hội trường lên lớp một mách: Các anh thấy đấy, hành động trốn trại của đồng bọn các anh rõ ràng đã đánh đổ tất cả lòng tin yêu của Cách mạng muốn đặt để nơi các anh. Như thế này thì việc cải tạo năm năm, mười năm, hai mươi năm hay lâu hơn nữa sẽ không phải là chuyện vô lý. Rồi các anh sẽ thấy… 
Mặc cho bọn cán bộ hăm he, bọn tù rất lấy làm khoái trá khi thấy Cách mạng đã lỡ một đường binh. Và càng khoái trá hơn khi biết được việc thăm nuôi đầu tiên sẽ diễn ra vào ngày 20 tháng 10 tới đây bằng một sự kiện tuyệt vời. Sự kiện ấy là tất cả tù cải tạo được đồng loạt nghỉ lao động lên hội trường học về chính sách thăm nuôi, và ngay sau đó lại được lệnh khẩn trương viết thư về gia đình với mọi sự thông báo rõ ràng kể cả thông báo địa chỉ của mình. 

Rồi thì sáng ngày 19 tháng 10, tất cả các trại viên được lên lớp một lần cuối ôn lại chính sách và nội quy thăm nuôi. Trên căn bản, chính sách và nội quy thăm nuôi cũng không khác chính sách nội quy nhận quà là bao nhiêu. Chỉ có vài đặc điểm được chính trị viên nhắc đi nhắc lại và bọn tù buổi chiều về phòng phải họp tổ để cùng nhai lại với nhau. 
Để thể hiện lòng khoan hồng độ lượng của Cách mạng, Đảng và nhà nước đã cho phép gia đình của những cải tạo viên phấn đấu tốt, có nhiều biến chuyển tốt trong quá trình học tập cải tạo vào thăm viếng và tặng quà. 
Để đền ơn Cách mạng, và cũng để tự bảo vệ quyền lợi được thăm viếng, những lần khác nữa, các cải tạo viên phải triệt để chấp hành những quy định sau đây. 
1. Triệt để chấp hành mọi mệnh lệnh của các cán bộ hướng dẫn trong cuộc thăm viếng.

2. Triệt để động viên thân nhân và gia đình, sau thăm viếng trở về, tích cực ủng hộ chính quyền địa phương trong công cuộc thực hiện chính sách cải tạo toàn miền Nam.

3. Triệt để đề cao cảnh giác trước mọi luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của bọn tàn quân tâm lý chiến ngụy còn ngoan cố, tiếp tục chống phá Cách mạng, mượn dịp thăm viếng đem vào trại.

4. Các cải tạo viên hoàn toàn chịu trách nhiệm và sẽ bị xử lý nếu vi phạm các mặt sau đây: 
a. Tuyên truyền với thân nhân, nói xấu chính sách cải tạo đang được áp dụng tại trại.

b. Hủ hóa với phụ nữ hoặc có những hành động luyến ái phản văn minh văn hóa dân tộc.

c. Nghiêm trị tại chỗ nếu bị bắt quả tang có những hành động liên hệ gián điệp. d. Các cải tạo viên hoàn toàn trách nhiệm về thái độ bất kính của thân nhân và gia đình đối với các cán bộ và chiến sỹ điều hành khu thăm viếng. 

Những điểm chính giáo viên lên lớp chỉ có thế. Nhưng chiều hôm ấy, dưới sự trụ trì của quản giáo Hồng, nhà 2 đội 17 vẫn phải ngồi gù lưng thảo luận đi, thảo luận lại những điểm chính của bài học thăm viếng. Sau một đêm ngủ dậy, quả thực sáng ngày 20 tháng 10 năm 76, lần đầu tiên người ta ghi nhận được một niềm vui to lớn trong nội bộ lũ tù. Niềm vui ấy lớn hơn cả cái tin tên đại đồ tể Mao Trạch Đông đã về chầu Karl Marx Lenin vào tháng trước. Nó có thể tương đương với tin thằng con Hà Nội đã phản bố Trung Quốc ra mặt sau lần Lê Duẩn đi Nga về. 
Thăm nuôi! Chao ôi tuyệt vời. Sau 481 ngày tình nguyện đút đầu vào rọ để thưởng thức mùi vị của kiếp thú người, để hiểu được thiên đường Cộng sản méo tròn ra sao, để thông cảm được người dân miền Bắc đã thống khổ đến độ nào dưới sự thống trị của Cộng Sản, để chia xẻ nổi hờn căm ngất trời của những người chiến sỹ vô danh nhảy Bắc thời cố tổng thống Diệm bị bắt giữ mà không ai biết đến và không ai can thiệp cho, để thấy được cái xã hội Cộng sản là một cái hộp sắt kín bưng như thế nào, để trắc nghiệm lại độ chính xác những câu nói của các danh nhân về chế độ Cộng sản ra sao, và nhất là để biết được trọng lượng chính xác của một hạt cơm… 
Bảy giờ sáng lệnh khung đưa xuống cho tất cả nghỉ lao động. Những tiếng reo hò tở mở vang lên khắp nơi. Tiếng reo hò như một bệnh dịch lan sang tất cả các trại 1,2,3,4. Ngoài cổng trại ban kiểm soát và hướng dẫn thăm nuôi đã thiết lập xong ngay tại nhà trực ban, nơi dùng để kiểm soát nhân số lao động đi và về hàng ngày. Quản giáo Dương rỗ, tên cán bộ gốc miền Nam, ngồi ghế trực chính. 
Dù chưa biết mình sẽ có tên hay không, ai ai cũng lo tắm rửa sạch sẽ và khoác lên người bộ quần áo tương đối lành lặn nhất. Vĩnh chẳng là thánh, thế nên anh cũng hòa chung nhịp tim hồi hộp với những nhịp tim của mọi người. Anh lẩm bẩm ôn lại cái “chương trình nghị sự” mà anh đã thiết lập trong óc mấy ngày nay với người nhà nếu như anh được thăm. Mười lăm phút thăm nuôi anh biết chắc sẽ qua nhanh lắm. Cứ để cho người nhà khóc lóc, rồi cà kê dê ngỗng những chuyện không cần thiết, chắc chắn anh sẽ không thể hỏi han được gì về những chuyện mà tất cả mọi thằng tù đều muốn han hỏi ở thân nhân. Bên cạnh cái chương trình nghị sự đó, anh cũng không quên thiết lập thêm một cái “bản thực đơn”, gồm những món ăn cần thiết nhất để gia đình biết đường mà cung cấp cho anh trong lần tới sao cho “có chất lượng và đạt yêu cầu”. 

Quản giáo Hồng bước vào nhà 2, cà kê dê ngỗng với vài tay về chuyện thăm nuôi, nổi hứng góp ý với bọn tù làm cách nào để đạt yêu cầu trong việc xin xỏ này kia kia nọ, rồi lên lớp tại chỗ bài học thế nào là hữu ái với nhau, thế nào là tình nghĩa chia xẻ cơm áo khi gặp cảnh khó trên đường đời… Để kết thúc cái tâm sự ngang xương với bọn tù, quản giáo Hồng nửa đùa nửa thật: Khi làm bản thu hoạch bài học về chính sách thăm nuôi, anh nào cũng cam kết nghe xôm tựu lắm, ấy thế rồi để mà xem, tôi cá với các anh sẽ không thiếu anh vi phạm nội quy thăm nuôi đâu đấy. Đội nào không biết chứ đội này ai âm mưu gì tôi đã biết cả. Nhưng đã quán triệt thẳng thắn với các anh nhiều lần rồi, cá nhân tôi không cần biết tư tưởng các anh thế nào, tôi chỉ cần các anh đừng nói bậy, làm bậy là đủ. Anh nào vi phạm tôi sẽ thẳng tay trừng trị và đừng bao giờ còn hy vọng tôi dễ dãi… 
Quản giáo Hồng còn nói nhiều nữa nhưng là vì giờ tự do, ai muốn nghe thì nghe, bằng không vẫn có thể lẩn chỗ khác. Vĩnh thấy Bùi Vịnh và đám bạn của hắn gồm Phước tự George, Chế Chàng Sáng (anh chàng lai Tàu có bộ râu quai nón độc nhất vô nhị trên trái đất, vì… râu chỉ mọc một bên má), Đại 101 và vài tay khác nữa kéo nhau ra giếng giữa sân tắm. Tù tắm còn sợ ai! Thế nên cả đám chuổng cời đứng giữa trời giữa đất kéo nước xối ào ào. Khốn cho cả đám, chỗ giếng tắm của đội 17 lại chiếu thẳng ra cổng trại, nơi có quản giáo Dương, kẻ có mối thù thâm căn cố đế với bọn tù “ngụy” đang ngồi nơi nhà trực ban và nhìn thấy. Trong lúc cả bọn đang vừa tắm vừa tán chuyện ầm ỷ, quản giáo Dương thình lình bỏ phòng trực lao tới. Hắn chống nạnh và đứng chửi tưới hột sen: Chúng mày học tập cải tạo bao lâu rồi? Tao là cán bộ trực ban, đầu tắt mặt tối lo cho chúng mày sửa soạn thăm viếng. Chúng mày lại lấy cớ tắm rửa để dí c… vào mặt tao. Chúng mày là lũ vô giáo dục. Nhân danh cán bộ trực ban tiểu đoàn, tao sẽ lấy tên và cấm chúng mày ra gặp thân nhân kỳ này. 
Cả bọn đang vui vẻ tắm với nhau, đang hồ hởi phấn khởi bàn đến chuyện ăn chuyện uống có thể xảy ra trong chiều nay; bỗng nhiên gặp họa từ trời rơi xuống, ai cũng điếng hồn. Vì quản giáo Dương xuất hiện nhanh quá, không ai kịp mặc quần áo. Những người trong nhà đứng nhìn ra vừa tội nghiệp vừa buồn cười cho mấy ông bạn tù. Buồn cười nhất là Bùi Vịnh. Những tay khác vì nhanh chân, khi thấy quản giáo Dương hầm hầm xuất hiện, họ đã nhảy ngay đến những cái phuy đặt rải rác quanh giếng để dấu đi một phần thân thể. Bùi Vịnh vốn chậm chạp, khi ngó lại thì không còn cái phuy nào cả, anh đành đứng yên tại chỗ và giơ tay bụm lấy chim! Tuy nhiên cái cảnh buồn cười ấy lại không làm cho quản giáo Dương buồn cười, mà chỉ làm cho hắn tăng thêm cơn giận. Hắn trực tiếp hỏi Bùi Vịnh. 
– Mày tên gì? 
– Dạ Vịnh. Bùi Vịnh. 
– Nhà mấy đội mấy? 
– Dạ nhà 2 đội 17. 
Quản giáo Dương bỗng mỉm cười ác độc. Hắn thốt nói. 
– A, cái đội của đồng chí Hồng đây mà. Một bọn chậm tiến khó cải tạo! Nói đoạn hắn hét Bùi Vịnh. Mày bỏ tay ra và giơ cao lên tao coi. 
Thân tù, Bùi Vịnh không thể nào làm được cái gì khác hơn là tuân lệnh. Anh đứng giữa sân, hai tay giơ cao, tồng ngồng như một con vượn. Tên Dương lừ một ánh mắt khinh bỉ rồi chửi. Mày có thấy mày dơ dáng dạng hình không? Mày phải nhớ rằng mày thua một con vật xét trên mặt tư cách. Vì con vật nó còn có cái đuôi, nó biết dùng cái đuôi để che dấu đi những cái không đáng khoe ra. Mày nhìn lại mày coi… 

Trong khi quản giáo Dương đang chửi mắng mấy thằng tù tắm truồng thậm tệ thì quản giáo Hồng hình như nóng mặt. Hồng từ nhà 2 bước ra phía giếng, không cần để ý đến sự có mặt của Dương, hắn hét mấy thằng tù đang lâm nạn. 
– Mặc quần áo đi vào trong nhà tôi nói chuyện! 
Quản giáo Dương nhìn Hồng uất ức ra mặt, nhưng có lẽ đã quá rõ tính Hồng nóng nảy, lại mang quân hàm trung úy trong khi hắn chỉ là chuẩn úy, hắn đành hậm hực bỏ đi một nước. Khi thấy Dương bỏ đi rồi, Hồng quay lại đám tù cười cười nói một câu không ai ngờ. 
– Muốn tắm nữa thì cứ tắm đi. Nhưng đừng tắm truồng trước mặt nó. Thằng ấy nó mất vợ về tay ngụy các anh đấy. Cứ giơ b… ra trước mặt nó, nó thấy lẫm liệt, nó lại liên tưởng đến chuyện xưa và đâm uất lên. 
Nói rồi quản giáo Hồng cũng bỏ đi. Đám Bùi Vịnh thoát chết, có tiên tổ sống lại bảo tắm nữa cũng không dám tắm. Anh nào anh nấy vội vàng khoác quần áo lên người chuồn êm về nhà. 
Mười giờ sáng thì hệ thống loa trong trại 1 vang lên, loan báo đợt đầu tiên được ra khu thăm viếng tiếp thân nhân đã chờ sẵn từ sáng sớm. Vĩnh, Tiến, Hóa, Kim, Huy, Ý và cả Phạm Điểu cùng ngồi với nhau bên hiên nhà uống nước nhãn lồng, trò chuyện nhưng hầu như tâm trí đã dồn cả về cái loa. Sau khi loa xướng một hồi, phát ra nhiều cái tên xa lạ, bỗng nhiên nhà 2 vang lên những tiếng reo hò, cộng chung với những tiếng hò reo đã có sẵn và thường xuyên vang lên ở các nhà khác, khi họ nghe thấy một người trong nhà có tên được thăm nuôi, có nghĩa là còn sướng hơn được trúng vé số độc đắc. 
– Thằng Tuấn có tên rồi! 
Loa vẫn đọc. Lại có nhiều tiếng la nữa. 
– Thằng Vĩnh nữa kìa! Trời ơi, cả ông Inoxidable nữa kìa… 
Cứ thế, mỗi một tên quen thuộc lại được anh em trong cùng nhà chào mừng bằng những tiếng reo hò tở mở và đầy chân thành. 
Vĩnh đã nghe thấy tên mình. Anh cố làm ra vẻ bình tĩnh, lừng khừng tuồng như còn tiếc cái ly nhãn lồng chưa uống hết. 
Giọng Tiến cất lên sôi nổi và mừng rỡ. 
– Đứng lên mày. Vẽ trò ngượng nghịu. 
Vĩnh đứng lên và nhìn các bạn một lượt. 
– Thôi xin chia buồn với các quan anh. Đàn em xin vô phép lên thiên đàng trước. 
Giọng ông già Huy chen vào sặc mùi tiếu lâm. 
– Nhưng đừng quên rà cái hỏa ngục của bà xã xem sao nghe chưa. 
Giọng Hóa cũng đầy sung sướng. 
– Ông Huy, ông đã cho nó một cái bao nylon bọc ngón tay trỏ chưa? 

Cả bọn cười phá lên với nhau. Riêng Vĩnh, phải thú thật anh mừng kinh khủng. Anh chạy vào nhà hồi hộp kiểm lại lá thư được viết bằng một nét chữ cực nhỏ, cuộn thành một cục to chỉ bằng ngón tay trái, được nhét chặt trong một cái lỗ đục dưới đáy chiếc guốc anh đang đi. Vĩnh không thể không lo âu khi tưởng tượng nếu lá thư trái nội quy bị khám phá ngoài trại kiểm soát. Nhà trưởng Nhan Quan Minh đã lên tiếng thúc hối tập họp những người nhà 2 được thăm nuôi, khiến Vĩnh không có thì giờ nhớ ra thêm một điều gì nữa. Anh chạy ra cửa. Trên vuông sân chạy dọc theo mặt tiền các nhà thuộc đội 17, những người của các nhà khác đã xếp hàng chỉnh tề đợi nhà trưởng hướng dẫn ra cổng trại 1 chịu sự khám xét. Vĩnh nhảy ngay vào hàng. Nhà 2 hiện tại mới có 4 người có tên: Vĩnh, ông Đáp, Tuấn phi công và Minh chuột. Vĩnh và Tuấn đi tay không. Riêng ông Đáp và Minh chuột thì mỗi người trên tay đều cầm một cái bao cát tương đối nặng. Trong lúc chờ lệnh quản giáo cho ra ngoài cổng, tiếng xướng tên trên loa vẫn đều đều: Nguyễn Văn Tâm, nhà 3 đội 17. Lê Thanh Nhàn, nhà 1 đội 16. Nguyễn Tường Lan, nhà 5 đội 15… 
Trong lúc chờ đợi, Vĩnh cũng cố lắng tai nghe xem có thằng bạn nào khác được may mắn như mình không. Loa vẫn đều đều gọi tên: Trần Thanh Tú, nhà 3 đội 17. Hồ Chí Minh… Xướng tới đây bỗng nhiên tiếng loa im bặt. Bọn tù đang lắng tai nghe đều ngạc nhiên. Ủa, sao tự dưng lại có tên Hồ Chí Minh trong này? Thế rồi qua hệ thống loa, người ta nghe thấy những tiếng lịch kịch lục cục rồi đôi ba giọng nheo nhéo như cãi nhau. Sau cùng cũng nổi lên một tiếng lẩm bẩm nghe thật rõ: Bố láo bố lếu. Dám lấy tên Bác mà đặt… 
Trong các trại mọi người đều nhanh chóng hiểu ngay vấn đề. Thì ra có một anh chàng nào đó trùng tên với bác Hồ vĩ đại nhà chúng nó, khiến chúng nó cáu. Một lúc tiếng loa xướng tiếp: Trần Văn Giàu, nhà 2 đội 14… 
Tên Hồ Chí Minh bị bỏ rơi lưng chừng. Mọi người đều tặc lưỡi tội nghiệp cho anh bạn xấu số nào đó, nạn nhân của sự đặt tên “bố láo bố lếu” của đấng sinh thành ra anh. 
Nơi dãy ghế kê bên hông nhà 2 bỗng một người đứng phắt dậy la làng khi loa xướng đến tên Phạm Kim nhà 2 đội 17. Vĩnh chưa kịp quay lại tỏ một dấu hiệu chia mừng thì Kim đã phóng nhanh vào nhà. Cái dáng dấp nặng nề của một con gấu nơi Kim bỗng nhiên biến mất. Hắn nhảy, hắn reo như thể vừa bị một tay nào đó găm vào đít một cái kim. 
Tích tắc sau đó đội ngũ nhà 2 đã tăng thêm một mạng. Rồi thì quản giáo Hồng và nhiều quản giáo khác xuất hiện cùng một lượt. Danh sách ra thăm đợt đầu coi như khóa sổ, đợi đợt kế tiếp. Mọi người được hướng dẫn ra cổng để được khám xét. Vĩnh nhìn anh em. Người nào trông cũng tươm tất và hớn hở hơn mọi ngày. Có người đi tay không, có người tay xách túi vai mang bị, thậm chí có cả người đem theo quang gánh. Lần đầu thăm nuôi chưa ai có kinh nghiệm, thành thử tập thể biến mất đi cái đồng dạng cố hữu hàng ngày của nó. 
Ra tới cổng trại, tất cả đụng ngay gương mặt hầm hè của quản giáo Dương. Các quản giáo khác sau khi bàn giao số người, họ phủi tay trở về trại. Quản giáo Dương bắt đầu một màn lên lớp. 
– Để thể hiện lòng khoan hồng của Cách mạng, chính sách thăm viếng đã được thực hiện ngày hôm nay. Mọi yêu cầu của Cách mạng các anh đều đã được quán triệt qua nội quy học tập. Tranh thủ thời gian, nhân danh thủ trưởng trại, chính trị viên trại, ban chỉ huy và ban quản giáo trại, tôi quán triệt sơ bộ vài điểm trong kiểm tra như sau. 
– Thứ nhất, tuyệt đối ngăn cấm mọi cải tạo viên nhận, chuyển thư từ, tư liệu hoặc bất cứ một hiện vật gì ra ngoài hay vào trại cho những cải tạo viên khác. 
– Thứ hai, tuyệt đối chấp hành nội quy quy định trong thăm viếng. 
– Thứ ba, tuyệt đối không được liên hệ linh tinh ngoài khu thăm viếng và rời chỗ đã được quy định. 

– Thứ tư, tuyệt đối phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những hành động sai trái của thân nhân ngoài khu thăm viếng. 
– Thứ năm, khi về trại, phải tuyệt đối chấp hành nội quy khám xét các quà tặng đã được quy định cụ thể trong nội quy học tập. 
– Thứ sáu, khi về trại, cấm mọi hành động tuyên truyền hoặc bình luận những tin tức xuyên tạc, có thể được nghe thấy từ bọn xấu len lỏi vào khu thăm viếng dưới hình thức thân nhân của các cải tạo viên. 
– Thứ bảy, mọi vi phạm nội quy thăm viếng đều bị xử lý theo pháp lệnh của nhà nước. 
Lên lớp xong bảy điểm, quản giáo Dương bắt bọn tù xếp hàng tư và ngồi chờ đợi khám xét. 
Những tên vệ binh trong ban an ninh trại lần lượt kêu tên từng người. Những người được gọi tên phải đứng lên và vệ binh tiến tới khám xét tại chỗ. Có những người giản dị được thoát qua cuộc khám xét một cách tương đối nhanh chóng. Có những người lẩm cẩm cỡ như ông Đáp hoặc Minh chuột, đã làm anh em bực mình vì những món đồ họ đem theo, đã không được đem ra còn bị làm nhục. Chẳng hạn trong cái bao cát của ông Đáp, khi bị mở ra, không riêng bọn giám thị trại mà ngay cả những bạn tù cũng ngạc nhiên. Trong bao cát ấy đựng đầy những cơm phơi khô. 
Tên quản giáo Dương thấy cơm gạo nhào đến hỏi với giọng giận dữ. 
– Anh ăn cắp gạo ở đâu? 
Đáp vội vàng cải chính. 
– Thưa anh đâu phải gạo. Đó là cơm phơi khô. 
– Anh đem cơm phơi khô ra ngoài làm gì? 
Trước bao đôi mắt vừa ái ngại vừa thắc mắc của mọi người, Đáp trả lời. 
– Dạ mỗi ngày tôi để dành một hai thìa cơm, phơi khô. Tôi muốn giúp đỡ gia đình chút ít. 
Bạn bè vừa ngượng vùa thương. Nhưng quản giáo Dương không thương. Hắn trợn đôi mắt trắng dã và hét. 
– Bôi nhọ chế độ đến thế là cùng. Anh tưởng chính quyền địa phương bỏ chết đói vợ con anh à? Nói rồi hắn ra lệnh. Đem túi cơm khô vào ngồi trong nhà kiểm soát kia! Nhân danh Cách mạng tôi ra lệnh anh làm tự kiểm tại chỗ và cấm thăm nuôi kỳ này. 
Ông Đáp vừa buồn đau vừa tuyệt vọng. Ông cầm túi bao cát đựng cơm khô để dành của mình bước vào trạm gác, thất thểu như kẻ mất hồn. Chuyện ông Đáp vừa xong thì đến chuyện Minh chuột. Tuy nhiên trong cái túi bao cát của Minh chuột không có cơm phơi khôi, mà là mấy chục con dao cau, được làm bằng những cọng đai kẽm trước đây người ta dùng để chằng các kiện hàng lớn. Minh đã tranh thủ những giờ nghỉ ngơi, tìm những đai kẽm về cắt, rèn, mài và chế thành những con dao cau bén ngót. Gia đình anh trước đây buôn trầu cau. Anh muốn biếu mẹ anh một ít những con dao cau để cụ dùng hoặc bán tùy ý. Thế nhưng chính những con “dao cau hiếu nghĩa” đã làm cho anh không được gặp mặt mẹ anh trong lần thăm nuôi này. Anh cũng bị lôi vào phòng kiểm soát với đủ “tang vật” để làm bản tự kiểm. Cũng có một số những bạn khác, tuy không bị giữ lại, nhưng bị tịch thu tất cả những vòng nhẫn gương lược… Nói tóm, tất cả những đồ thủ công chế tạo trong tù với mục đích tặng người nhà đều bị quản giáo Dương ra lệnh tịch thu. 
Sau khi cuộc khám xét kết thúc, quản giáo Dương chợt quay nhìn Tuấn phi công của nhà 2 đội 17. Hắn nhíu mày một chút rồi ngoắc Tuấn lại. 
– Anh kia, phải khi nãy anh lợi dụng tắm rửa để dí b… vào mặt cán bộ trực ban phải không? 
Tuấn giật thót mình phải vội đính chính. 
– Thưa không, không phải tôi. 
Quản giáo Dương bỗng nổi giận đùng đùng. 
– Mày lại khinh tao đến thế kia à? Mày cho tao mù hẳn? 

Nói rồi quản giáo Dương chỉ tay vào nhà kiểm soát và hét. Tao cấm mày thăm kỳ này không vì tội tắm rửa, mà vì tội ngoan cố không nhận tội. Vào kia làm tự kiểm. 
Ai cũng biết Tuấn oan, và riêng Tuấn, anh uất quá hóa phát cười. Quản giáo Dương thấy anh cười càng nổi giận hơn. Hắn hét: Mày cười cái gì hả thằng ngụy kia? 
Tuấn hết cười nhưng xẵng giọng trông thấy. 
– Tôi đâu có nói anh mù. Tôi chỉ muốn nói anh lầm người rồi. Tôi chẳng hề tắm hay rửa gì sáng nay cả. 
Quản giáo Dương tức điên lên. Hắn một mặt ra lệnh cho bọn vệ binh bắt đầu hướng dẫn bọn tù ra khu thăm viếng, một mặt quầy quả bước theo Tuấn vào phòng kiểm soát. 
Khi Vĩnh đi theo các bạn trong đội hình hàng tư tiến ra con lộ chạy dọc hông trại 1 để về khu thăm nuôi, anh nghe thấy những tiếng hét của quản giáo Dương còn văng vẳng vọng theo từ nhà kiểm soát. 
– Mày là phi công hả? Mày biết mày đã bắn hạ bao nhiêu con em Cách mạng không? 
– Tôi chưa hề bắn ai. Tôi ngồi trên máy bay có thấy ai đâu mà bắn! 
– Mày ngoan cố phải không? Mày nói lại coi, mày có bắn không? 
– Không. Tôi không bắn. Ngồi trên máy bay tôi chỉ bấm nút thôi…









Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 7 Jan 2024

Bài 37

Phần 36

Vĩnh bị đuổi về trại ngay ngày hôm sau. Anh bị đuổi về trại đi lao động lúc chưa đi hết được một vòng trại bệnh, nhất là cơn đau trong người chỉ mới lắng xuống chưa có một hy vọng nào khỏi hẳn.

Buổi sáng, sau lúc điểm danh và khám bệnh, tên y sỹ Việt cộng rờ rờ mó mó vài cái vào lưng Vĩnh rồi ra lệnh phát cho anh 5 viên Vitamin C, đồng lúc nhỏ nhẹ bảo anh.

– Thôi nhé, hôm nay xuất viện về trại sinh hoạt chung với anh em nhé. Sỏi thận anh nếu có cũng nhỏ thôi, từ từ rồi nó trôi xuống bàng quang tiểu ra ngoài là hết. Nói rồi hắn lật lật mấy tờ giấy trước mặt, ơ hờ dặn Vĩnh thêm vài câu. Khi đi lao động, nếu gặp cỏ Sam hoặc dây Nhãn Lồng nhớ thu hoạch về nấu uống nhé. Uống mấy thứ ấy lợi tiểu tốt lắm.

Biết mình vẫn còn có thể đau vật vã trở lại, nhưng tên y sỹ đã nói thế nên Vĩnh đành đem theo mấy lời khuyên của hắn trở về trại.

Mới xa cảnh cũ có hai ngày hai đêm, trở về đã có một số thay đổi.

B2 hiện tại đã biến thành nhà 2 đội 17. Các nhà viên cũng thay đổi gần hết. Vĩnh trở về trại đúng giờ cơm chiều nên đụng độ ngay với những nhân vật mới. Lúc này guitarist Nhan Quang Minh đã lên làm nhà trưởng. Bính, Hóa, Kim… đã chuyển hết sang các nhà khác đội khác. Vĩnh được bổ sung vào tổ 5. Tổ trưởng là Hoàng Văn Ân tự Ân xệ. Tổ 5 người ngoại trừ Ý là người cũ còn thì toàn là những người mới. Những người mới này cũng có thể là những người Vĩnh từng quen mặt trên Trảng Lớn như: Võ Hữu Hiệp, trung úy khóa 27 Thủ Đức sỹ quan quân nhu; Vũ Duy Dương, trung úy khóa 2/68 Thủ Đức một đại đội trưởng của SĐ9BB; Bùi Duy Hạ, trung úy khóa 4/69 Thủ Đức (có vợ là một vũ nữ sexy nổi tiếng Sài Gòn một dạo); Trương Hồng (gốc Tàu), Hải quân thiếu úy (Trước 75 từng trốn sang Hồng Kông nhưng sau đó bị dẫn độ về trao trả cho VNCH, hiện đang trong tình trạng nửa điên nửa tỉnh)… Những người hoàn toàn mới hiện ở cùng tổ như: Phạm Xuân Huy, trung úy khóa 2/68 Thủ Đức sỹ quan P2/TTM; Đặng Minh Tuấn, trung úy khóa 2/68 Thủ Đức sỹ quan nhảy toán (Anh chàng này trông hao hao một anh Tây thực dân nên râu ria có chiều rậm rạp nhất trong anh em)…

Tổ 5 của Vĩnh hiện có những nhân vật như thế. Nhưng dù mới hay cũ cuối cùng cũng đều là bạn nhau cả. Hiện tại Vĩnh chỉ gặp tí phiền hà là đang phải nằm giữa hai nhân vật nổi tiếng của nhà 2 đội 17. Thiếu úy Trương Hồng, kẻ tịnh khẩu từ ngày nhập trại tù và tính tình rất khó chịu. Dẫu rằng chỗ nằm của mỗi người chỉ có hai gang tay rộng, nhưng nhất định anh ta không bao giờ cho phép người nằm cạnh được kê cái mép chiếu đè lên trên cái mép chiếu của anh ta. Người thứ hai là ông Đáp tự Inoxidable, người ở bẩn và làm biếng về tất cả mọi mặt vào hạng vô địch! Tuy nhiên cái cảm giác khó chịu ấy dần dần cũng tan đi! Vĩnh đã tìm được cái thú thưởng thức lén những bức danh họa của Hải quân thiếu úy Trương Hồng. Mỗi khi đi lao động về, ngoài giờ cơm nước, Hồng lặng lẽ ngồi vẽ những chiếc Boeing hoặc những chiếc thương thuyền với đầy đủ chi tiết và giống không tưởng tượng được. Đã có lần Vĩnh nghĩ nếu tay này được theo học những lớp đào tạo kỹ sư design các kiểu máy bay và tàu bè thì nhất định hắn phải đậu thủ khoa. Có lần Vĩnh phát hỏi Hồng: Ông vẽ những kiểu tàu bè máy bay ấy làm gì vậy? Nghe hỏi, Trương Hồng giật bắn mình và vội gấp quyển vở lại. Hắn nhìn Vĩnh với tất cả sự bực bội, tuồng như một người đã bị một người khác thô bạo lôi anh ta ra khỏi giấc mơ tuyệt vời của mình. Dĩ nhiên Vĩnh chỉ nhận được một thái độ yên lặng đầy khinh bỉ của Hồng. Nhưng rồi một lần, Vĩnh đã khám phá ra giấc mơ của người tù nằm bên cạnh. Vào một buổi sáng, vì sơ hở nào đó, Hồng đã để rơi quyển vở gia bảo của anh ta nơi đầu chỗ nằm. Vĩnh lượm được và vội mở ra xem. Ngay đầu quyển vở, một hàng chữ được kẻ sắc và đẹp như co chữ in Vendom 16. Hàng chữ viết rằng: Hỡi Boeing! Hỡi những du thuyền! Bao giờ chúng mày chở tao ra khỏi thế giới này!?

Vĩnh vội vàng gấp quyển vở lại và nhét vào đống đồ đạc đặt trên kệ đầu chỗ nằm của Hồng. Vĩnh thoáng chút ngậm ngùi. Anh đã tìm ra được một phần nỗi ẩn ức sâu kín của người bạn tù nổi tiếng vì tịnh khẩu. Từ đó, anh cố gắng hết sức không làm phiền gì đến Hồng nữa, dù là chỉ để mép chiếu của mình chạm vào mép chiếu của bạn.

Vài ngày sau đó, theo cái đà cải tổ của trại về các mặt, các đội được lệnh tuyển một người đau yếu và biết qua nghề y tá. Người này được lao động tại trại với nhiệm vụ phụ giúp ban quân y trại lo sức khỏe cho các đội viên khai bệnh. Trong vụ này, Vĩnh may mắn hội đủ cả hai điều kiện và được đội 17 biểu quyết cho làm công tác y tá đội.

Đời tù khổ sai kể từ đây coi như được chút nhàn nhã.

Mỗi ngày, khi tiếng kẻng báo thức nổi lên, trong lúc anh em đánh răng súc miệng, Vĩnh cầm quyển sổ đi qua các nhà ghi tên những người khai bệnh trong ngày. Danh sách khai bệnh sẽ được làm thành hai bản, một nộp cho quân y trước giờ khám bệnh, một nộp cho đội anh nuôi. Chưa cần biết quân y chuẩn mạch định bệnh ra sao, đội anh nuôi cứ việc cắt khẩu phần cơm độn khoai trong ngày của người bệnh cái đã. Thay vào đó sẽ cấp phát cho người khai bệnh mỗi bữa một bát cháo!

Đó là chuyện của nhà bếp, riêng nhiệm vụ của Vĩnh còn phải làm tiếp tục là nổi lửa nấu một ấm nước sôi luộc kim và ống chích. Việc này Vĩnh có quyền làm ngay tại phòng ngủ của anh. Những người khai bệnh có thuốc chích, hoặc giả được quân y phát cho một mũi Atropine nếu đau bụng, một mũi émitine nếu còn kiết lỵ lai rai, hoặc mội mũi B1 nếu chứng phù thũng vẫn còn làm đôi chân mập ú và nặng chình chịch; thì cứ việc đem thuốc đến cho Vĩnh. Vĩnh sẽ làm tròn nhiệm vụ của một anh y tá chích thuốc không thù lao.

Thường thường công tác chích choác cho những bệnh nhân trong đội cũng lai rai hết cả buổi sáng. Khi không còn con bệnh nào đến nhờ chích nữa, Vĩnh lo rửa sạch hai cái ống chích bằng nước sôi và mài lại hai cái kim được Trên giao phó quản lý và xử dụng. Mỗi lần lôi đồ nghề ra xử dụng hay cất nó đi, Vĩnh không tránh khỏi một cảm giác sợ hãi. Hai cái ống chích thuộc loại “Mỹ ngụy” dùng một lần rồi bỏ, tuy nhiên, nhờ Cách mạng vào, hai cái ống chích ấy đã và đang được kéo dài tuổi thọ không biết đến bao giờ nữa. Ngày nay, vì luộc đi luộc lại, cái ống nylon đã ngả màu vàng cạch trông như hai điếu thuốc cẩm lệ vấn hơi to. Lớp cao su bọc đầu bơm của ống chích bên trong cũng đã lão hóa, do đó, mỗi lần bơm thuốc cho bệnh nhân, Vĩnh phải rất cẩn thận thuốc mới không vọt ngược về phía sau. Riêng hai cây kim, vì bị mài đi mài lại trên một miếng đá hoa, giờ nó chỉ còn phân nửa chiều dài so với chiều dài cũ của nó. Đã lắm lần đang chích kim bị tắc, Vĩnh lại phải lấy kim ra, dùng một mẩu dây thép lõi lấy từ một đoạn dây điện thoại dã chiến để thông kim. Thê thảm hơn, ấy là khi chích cho bệnh nhân! Vì không có rượu cồn cũng không có bông, Vĩnh phải lấy một miếng áo thung dùng làm compress, chấm tí thuốc đỏ chùi kim và lau sạch chỗ da thịt của bệnh nhân trước khi đâm mũi kim vào; ấy thế nhưng có lẽ nhờ mát tay, không ai bị áp-xe cả. Dù nhiệm vụ hiện tại so với anh em lao động bên ngoài hơi kém vinh quang, nhưng Vĩnh đã cố gắng hết sức để không bị một nhân vật tiến bộ nào ganh tị hay chê trách. Với nhiệm vụ chích cho anh em, dĩ nhiên Vĩnh có thể biết rất rõ ai trong đội là người có nhiều thuốc men nhất. Quả không khó gì trong việc gây cảm tình với một anh bệnh nhân có nhiều thuốc. Và khi cảm tình đã có, việc xin xỏ họ một viên thuốc, một tí dầu nóng cho người đang cần mà không có, đã trở nên rất dễ dàng. Vĩnh lặng lẽ chơi chiến thuật bới anh nhà giàu đắp cho anh nhà nghèo trên mặt thuốc men, một thứ luôn luôn hiếm và quý trong tù cải tạo.

Tuy nhiên với Nguyễn Văn Bông 1 một anh chàng đồng bệnh sạn thận với Vĩnh bên nhà 3 coi như rất khó áp dụng chiến thuật này. Hắn có cả nửa bao cát thuốc đủ loại. Mỗi loại một ít. Từ dầu nóng Con Hổ đến hủ Bi (tuy đã quá hạn!) hắn đều có trong tay. Nhưng xin cho anh em thì không bao giờ thành công cả. Nếu nhìn qua hiện tượng, người ta có thể chê trách Bông thiếu tình đồng đội; nhưng nếu đi sâu vào một khía cạnh tâm lý nào đó của Bông, người ta sẽ thông cảm ngay. Phải nói rằng hắn mang bệnh sưu tập thuốc Tây trong tù. Vĩnh không rõ xưa kia Bông có bị cái bệnh này không? Anh đoán có lẽ là không. Căn bệnh này chỉ có thể đã xuất hiện khi Bông phải chứng kiến quá nhiều cái chết rùng rợn trong tù do không có thuốc men chữa trị mà ra. Từ đó, mỗi đợt quà gia đình gửi vào. Bông nhịn ăn tất cả mọi thứ. Hắn lân la gạ gẫm với mọi người để đổi đồ ăn lấy thuốc Tây. Giá cả trao đổi với anh em cũng rất phải chăng. Hắn có thể vui vẻ đổi 3 điếu Vàm Cỏ lấy một viên Aspirine, hoặc 5 thìa súp đường cát lấy 10 viên B1 loại 200mgs. Trụ sinh hắn có thể trả cao hơn, chẳng hạn hắn có thể đổi một lọ mắm ruốc xào xả riềng ớt lấy 5 viên Néomycine. Cứ thế, sau vài lần quà cáp được gia đình gửi vào, Bông đã sở hữu được một số thuốc Tây đáng kể…

Mỗi sáng sớm trước khi đi lao động, hoặc mỗi buổi trưa trở về trại nằm vật ra thở chờ tổ trực lãnh cơm về phát, Vĩnh quan sát và thường tìm ra nhiều hiện tượng khá vui trong anh em. Tỉ dụ trước kia khi còn nằm cạnh anh chàng trung úy hải quân Phạm Kim, trưa nào Vĩnh cũng thấy Kim nằm tại chỗ mà không ngủ. Kim luôn luôn cầm một quyển vở kê sát mặt. Vĩnh để ý thấy có lúc Kim nháy mắt với trang giấy cười khúc khích, có lúc bỉu môi như giận hờn, có lúc thầm thì như tỏ tình với trang giấy. Vĩnh thắc mắc quá sức. Thằng này điên rồi sao? Hay là hắn đã quán chán chê con người và cảnh lao tù nơi đây, quay ra say đắm và trò chuyện với quyển vở của hắn? Sự tò mò một hôm đã buộc Vĩnh moi quyển vở của Kim ra xem. Sau cùng, anh phát hiện ra trong quyển vở ấy một chuyện lạ lùng vào hàng đệ nhất kim cổ. Kim đã cắt một ô vuông trên một trang giấy. Hắn vẽ rồng vẽ phượng quanh ô vuông đó. Đàng sau ô vuông cắt thủng trên trang giấy Kim đặt cái gì? Hắn đã đặt tấm ảnh bà xã hắn vào đó. Thế là hắn đã có một khung ảnh lồng chân dung vợ trong quyển vở. Vĩnh cười phá lên khi biết bạn mình hằng bao tháng ngày qua, trưa nào cũng thủ thỉ với người… trong tranh. Chao ôi, lãng mạn đến thế là cùng!

Hoặc giả trường hợp ông Inoxidable! Mỗi phần cơm ông lãnh, ông luôn luôn để ra vài thìa và đem phơi khô. Chiều về, ông lấy mấy thìa cơm phơi khô đó đổ vào một cái bao cát và nhét dấu trong túi quần áo. Chẳng ai hiểu ông ta để dành cơm độn khoai phơi khô làm gì. Nếu một tay khỏe mạnh như Đặng Xuân Bính, Nguyễn Văn Ý… thì người ta còn có thể nghi ngờ là tích trữ lương thực cho một âm mưu vượt ngục. Nhưng ông Đáp nhất định không thể nào là một người có âm mưu trốn trại được. Ông ta đau xương sống đi hết muốn nổi, nói gì đến chuyện trốn trại vượt ngục. Vậy ông ta tích trữ lương thực phơi khô làm gì, khi mà khẩu phần hàng ngày có ăn nhiều gấp ba lần cũng chưa no? Chuyện này chỉ có Trời biết… Riêng anh chàng Bông cũng tạo ra những hoạt cảnh thật vui mà không sáng tối nào Vĩnh không được thưởng thức. Ngày hai lần, khi mở mắt và trước khi đi ngủ, anh ta lôi đống thuốc Tây ra đếm từng viên, từng loại. Vĩnh có cảm tưởng như Bông sợ có ma quỷ nào đó đã lén nhập vào bị của anh để uống mất những viên thuốc đó. Nhưng điều quan trọng với Vĩnh hiện tại là làm sao khiến Bông chia xẻ tí thuốc đó cho nhiều anh em đang cần thiết.

Một hôm Bông lên cơn đau sạn thận. Hắn cũng lăn lộn, cũng rên xiết y như Vĩnh trước đây. Đồng bệnh tương lân, Vĩnh tìm mọi cách để giúp hắn đi viện, vì anh đã biết rằng ít nhất trên bệnh xá hắn cũng được lụi đại vào thận một mũi thuốc quái quỷ gì đó làm cho cơn đau qua nhanh. Vĩnh đến thăm Bông tại chỗ nằm của hắn vào một buổi sáng. Hắn đang gào la tự do vì các bạn đã đi lao động, không còn ai ở nhà để sợ phải phiền hà. Dặn dò và giúp đỡ Bông vài việc, nhất là việc phải tiếp tục la hét cho thật dữ dội khi thấy tên cán bộ quân y xuất hiện. Sau đó, Vĩnh chạy đi báo quân y. Một lúc quân y theo Vĩnh xuống chẩn bệnh tại chỗ.

Bước vào phòng, Vĩnh hơi hoảng vì Bông đã nằm nín khe. Mặc dù mồ hôi mồ kê vã ra như tắm nhưng rõ ràng cơn đau đã qua đi; và như thế, hy vọng đi viện sẽ rất ít. Vĩnh chồm tới bên cạnh Bông, nhắc khẽ: Rên đi! Bắt đầu rên và sửa soạn la hét lên chứ!

Khổ nỗi Bông quá thật thà và không biết cách đóng kịch cho đúng lúc. Tuy nhiên đã nhất quyết giúp Bông đi viện, Vĩnh phải tìm ra một phương cách. Trong lúc tên quân y lấy ra một mũi Atropine sửa soạn chích thì Vĩnh thò tay vào lưng Bông tìm vị trí hai quả thận. Anh dùng sức mạnh ấn một ngón tay vào quả thận bên trái của Bông. Một tiếng thét vang lên: Ối trời ơi! Đau quá trời ơi! Vĩnh ấn thêm mấy cái nữa. Bông dẫy như một con tôm tươi và tiếp tục la hét. Ối trời ơi! Chết tao mất, Vĩnh ơi! Ối trời ơi đau quá Vĩnh ơi! Vĩnh cúi xuống nhỏ nhẹ an ủi.

– Hét nữa đi, hét cho to vào. Đi viện có thuốc chích lại được nghỉ lao động. Mày không hét tao sẽ bóp nát quả thận mày.

Nói rồi Vĩnh nhấn thêm vào lưng cu cậu vài ba đòn nhất dương chỉ nữa. Bông cứ thế mà la hét và dẫy lên như đĩa phải vôi. Kết quả tên quân y cho kêu tổ trực khênh Bông lên bệnh xá gấp.

Ba ngày sau Bông trở về trại, hý hửng nói với Vĩnh.

– Trên viện ăn sướng quá mày nhỉ. Có cơm trắng và cá kho.

– Và có một mũi thuốc đâm vào thận.

– Ừ, tao ghê quá. Nhưng đúng dịp chúng nó được mua đồ, tao mua được một bịch mắm ruốc, một ký đậu phộng và nửa ký đường. Tao sẽ biếu ông ký chích một ít lấy thảo.

Từ đó, túi thuốc của Bông vơi dần. Vĩnh nghiễm nhiên biến thành một cái cầu bắc giữa người có thuốc và người cần thuốc trong anh em. Nhưng nếu có người xấu miệng, Vĩnh vẫn hân hoan mang cái tiếng “mượn đầu heo nấu cháo”, hoặc “của người phước ta”.

Sau lần đầu tiên đi viện về, Vĩnh được giữ cái “phông xông” thoải mái như thế. Thoải mái hơn nữa là mỗi buổi chiều bên những người bạn mới nhưng giờ đã biến thành cũ, Vĩnh ngồi uống với họ một bát nước “nhãn lồng” hoặc một bát nước Hà Thủ Ô bàn những chuyện thăm nuôi sắp đến.

Bạn cũ, mới lúc này hay ngồi với nhau gồm Tiến, Kim, Ấn xệ, Huy, Ý, Dương và Tuấn râu.

Tiến vẫn cái tật ba hoa hài hước, nhưng hiện nay nó đã được anh em đặt cho cái tên mới gọi là Tiến Dế. Sở dĩ Tiến có cái tên này vì gần đây cu cậu phát minh ra một nghề mới để chữa bệnh nghiện thuốc của anh em. Nếu vô địch đô vật VNCH Vương Đắc Vọng hoặc trung úy dù tử thủ Đỗ Duy Tích đề ra châm ngôn “bất cứ sinh vật nào ngọ nguậy được trên mặt đất đều ăn được cả”, thì Tiến cũng sáng tác ra một câu châm ngôn mới: Thuốc mua, thuốc xin hay thuốc lượm đều hút sướng như nhau! Do đó, mỗi khi được đi lao động trên trung đoàn, nó thường lén lút mở một cuộc hành quân khắp mọi xó xỉnh để lượm những mẩu thuốc lá thừa của bọn cán bộ trung đoàn vứt bừa bãi trên mặt đất. Tiến thu thập và bỏ những mẩu thuốc đó vào một cái bao nylon. Khi trở về trại, nó ngồi tách những mẩu thuốc thừa đó thành một nắm thuốc vụn. Kế đó, Tiến đi xin nước điếu của anh em, ngâm thuốc vào nước điếu rồi cầu kỳ đem thuốc ra phơi sương… Những trò góp nhặt hơi bẩn thiểu ấy dù sao đều được anh em đánh cho chữ đại xá, vì chính nhờ đó, đêm đêm cả bọn có tí khói phì phà với nhau bên những bát nước dây nhãn lồng thơm thơm để bàn chuyện… vượt ngục.

Và câu chuyện vượt ngục từ đó bắt đầu nhen nhúm mạnh mẽ trong tâm hồn anh em. Nhất là khi ông già lờ vờ Phạm Xuân Huy gốc tu xuất và lành như cục đất, phát ngôn rằng: Vượt ngục là một bài toán dễ ợt, nhưng nếu không quyết tâm, lạng quạng đến lúc xuống lỗ cũng chưa giải ra!

Khi câu chuyện vượt ngục được đưa ra bàn thì nhóm của Vĩnh chỉ thu lại còn có 6 người. Vĩnh, Huy, Ý, Dương, Tuấn râu và Phạm Điểu.

Nhiệm vụ của Vĩnh lúc này là ở nhà, ngoài những giờ chích thuốc cho anh em, phải uốn hai trăm cái móc làm bằng sợi thép gai có chiều dài chừng một gang tay. Những móc sắt này sẽ dùng để nâng những lớp concertina dầy đặc thả chung quanh trại, dọn đường cho những người vượt ngục chui ra. Bên cạnh nhiệm vụ ấy Vĩnh còn nhiều nhiệm vụ khác. Từ việc trao đổi và tích trữ thuốc Tây, muối, nhất là mì chính (bột ngọt) để dùng làm thuốc cầm máu đến việc se dây thừng, thuổng một con dao phay của nhà bếp để cất dấu vào một nơi an toàn. Nói chung về mặt “tiếp vận” Vĩnh phải lo từ A đến Z.

Sau nhiều lần bàn thảo, mọi người đồng ý đợi qua đợt thăm nuôi sẽ trốn. Ai cũng hy vọng sẽ biết thêm được tin tức của xã hội bên ngoài để chuyến vượt ngục sẽ có một nơi đến chắc chắn hơn, và nhất là có được thuốc men cũng như những món ăn bồi dưỡng của gia đình đem vào. Riêng Vĩnh, Vĩnh nghĩ đến cái địa bàn bỏ túi mà anh nhớ anh còn để trong một ngăn kéo bàn giấy ở nhà…

Khi những cơn mưa tầm tã tháng Mười kéo đến, thì Vĩnh cũng bị chấm dứt công tác y tá đội. Anh bị chấm dứt công tác vì tên quân y không đồng ý cái kiểu làm việc của Vĩnh: Cho khai bệnh quá nhiều.

Vĩnh trở ra ngoài đi lao động với mọi người đúng dịp trại vừa mở một chiến dịch thi công mới, chiến dịch đào hào chung quanh trại cải tạo An Dưỡng. Với lập luận của bọn cán binh trại, Cách mạng phải thực hiện công tác càng sớm càng tốt nhằm bảo vệ các cải tạo viên chặt chẽ hơn, an toàn hơn; tránh những việc đáng tiếc có thể xảy ra nếu một ngày nào đó, nhân dân bên ngoài trại không kềm chế được sự căm phẫn “Mỹ ngụy”, sẽ tràn vào trại để đòi nợ máu…

Công tác đào hào được thực hiện quy mô hơn cả công tác đào ao trước kia. Hầu như đến 90 phần trăm nhân số của các trại được đổ vào công tác này. Đường hào có chiều rộng 4 mét, chiều sâu 3 mét và bao bọc cả 4 trại vào giữa.

Suốt ngày cùng với anh em đào xới những lớp đá ong khô cứng, Vĩnh và các bạn không buồn vì cực nhọc mà buồn vì thấy rằng đường hào rộng như vậy làm sao có thể vượt qua cho những kẻ trốn trại? Dưới sự đốc thúc ngày đêm của bọn cai tù, đường hào mỗi ngày mỗi sâu. Nhưng trước khi đường hào bao quanh các trại tù của An Dưỡng thực sự hoàn tất, thì những cuộc trốn trại liên tiếp xảy ra. Trong thời gian này trại 3 trốn nhiều nhất vì vị trí nằm gần vòng đai phi trường Biên Hòa. Tuy nhiên đa số đều thất bại, bị bắt trở lại và chịu đủ mọi cực hình tra khảo. Để dằn mặt tất cả những kẻ âm mưu trốn trại, bọn cai tù đã trói những người trốn trại bằng dây thép gai trên đường dẫn họ trở về trại thụ hình. Thường khi về tới trại, tội nhân chẳng mấy ai còn trông ra dáng con người nữa. Bầm dập, máu me và lê lết như những con vật bị một đàn hổ đói săn bắt và sắp tới giờ bị chúng xé thịt.

Dù tình trạng như thế, ông già Huy vẫn một mực thúc hối đám Vĩnh phải quyết định ra đi sớm. Anh lý luận: Nếu để cho đường hào thành hình thì có tháp cánh cũng không bay ra được… Tuy nhiên lời thúc hối của Huy không được anh em đồng ý. Tỷ lệ thất bại đã quá cao trong tổng số những người trốn trại, đã khiến cả toán rất cần thì giờ nghiên cứu lại vấn đề. Tại sao họ thất bại? Có thực bên ngoài dân bắt họ trao lại cho công an địa phương trên đường đáo thoát như bọn cán bộ trại tuyên bố hay không? Hay họ bị bắt bởi những toán vệ binh đóng chốt bên ngoài? Không thể được! Chuyện trốn trại không thể làm bừa bãi mà xong được, vì thất bại là chết. Những cuộc xử tử người trốn trại từ Trảng Lớn về tới đây đã xảy ra quá nhiều lần. Làm ẩu không nghiên cứu ăn đạn kiểu đó đau lắm!

Người trầm tỉnh và nhiều kinh nghiệm mưu sinh thoát hiểm nhất trong đám là Nguyễn Văn Ý cũng không đồng ý với Huy. Ý nói: Ráng nhẫn nhục ăn cơm tù một thời gian nữa rồi tính. Tôi chưa muốn làm liệt sỹ lúc này.

Trong đám, mọi người đều tin tưởng vào sự dẫn đường của Ý. Vùng đồi núi Biên Hòa là vùng hoạt động của anh trước kia. Và trục lộ dẫn về miền Phú Cường Bình Dương cũng chỉ mình anh có thể đi tới. Do đó, không ai bàn tính gì thêm nữa.

Phải thú thực khi thấy Huy đã nghe lời Ý, Vĩnh rất mừng. Anh không thể nói được anh là một người quá can đảm, khi nhìn thấy những cực hình các bạn trốn trại đã và đang chịu đựng. Dẫu biết rằng ở tù Cộng sản mà không tự cứu mình thì không ai có thể cứu mình được cả, nhưng cứ nhớ lại hình ảnh Ngô Nghĩa bị xử bắn mà anh được chứng kiến, hình ảnh của Nguyễn Xuân Dung bị bắn thủng như tổ ong và còn nhiều người khác nữa nằm vắt xác trên hàng rào trại, hình ảnh những con vật người bị trói bằng dây thép gai, bị báng súng đánh vỡ xương sọ, gẫy xương sống ngay trước mắt bao nhiêu người, bị bắn trọng thương ngoài đồng trống và cứ để mặc cho ruồi bu kiến đậu… Những hình ảnh ấy đã ăn sâu vào óc Vĩnh và không khỏi không làm anh rùng mình, rùng mình rồi sợ, sợ rồi muốn buông xuôi cho xong một kiếp người tù tội. Đồng lúc ấy, cái máu lính trong người Vĩnh lại nổi lên dày vò anh. Nó chửi anh, chửi cái thằng năng tri bất năng hành trong anh là thằng hèn hạ; chửi cái thằng văn nghệ trong anh là thằng đốn mạt, chỉ biết rên la mà không bao giờ đám làm một cái gì để thoát khỏi cái cảnh đày đọa này.

Người lính trong anh đã bao đêm lên tiếng chửi anh thậm tệ, và để phản ứng lại, Vĩnh không biết làm cách nào hơn là lại viết. Anh viết trong óc anh và anh hát khe khẽ cho người lính trong anh nghe tâm trạng thực của mình.

Về đây tôi nằm lắng nghe tôi Hồ như linh hồn cũng nghe vơi Về đây nhen nhúm trong lòng tôi Lửa diêm sâu chín tầng bóng tối.

Về đây nghe vật vã cơn mơ Làm xanh tôi tiềm thức năm xưa Về đây đôi vó câu nằm chơi Buồn thay cho cánh hồng im lời

Người về đây gối đất Đêm hoang vu trong đầu Nằm lắng tai nghe cuộc đời Lắng nghe sa mạc dần lan trong cơn mơ thôi

Về đây nghe buồn quá thân trai Bại binh sao chẳng chết theo ai Về đây đêm tối như trùng vây Nằm nghe non nước gọi u hoài… Những dằn vặt trong lòng cộng với bệnh tật tiếp tục âm ỉ trong người. Vĩnh gầy như một xác lá. Ngày lao động quần quật, đêm về không biết làm sao hơn là lại quây quần với anh em, hút những hơi thuốc lượm lặt của Tiến, uống tí nước cỏ dại dưới cái tên đẹp đẽ “nhãn lồng” mà Kim hoặc Hóa lượm lặt ngoài rừng đem về, nghe Phạm Xuân Huy mỉa mai chế độ, nhìn Tuấn râu lầm lũi thổi lửa trong cái lò nho nhỏ để luôn luôn bảo đảm anh em có nước sôi nấu Hà Thủ Ô nhấm nháp thay cà phê với nhau, lắng nghe Vũ Duy Dương nói về cái lò võ quyền Anh của võ sư Kid Humsey mà nó từng theo học, và nghe Kim châm chọc Dương. Hồi còn bé ở Ông Tạ moa sợ nhất thằng Dương. Sao vậy? Nó dân du đãng nổi tiếng không biết à? Không! Trời ơi, hồi đó moa hãi nó không thua gì moa hãi chó dữ. Đi học gặp nó mà kên kên không cúi đầu xuống, nó đi ngang nhà vác đá ném vỡ cửa kính như chơi…

Khi dãy nhà thăm nuôi đã dựng xong nơi khu đất nằm ở góc trại 4, thì ở các trại, các căng tin cũng thành hình. Những căng tin thành hình để cho người ta một lần nữa thấy rằng từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, Cộng sản luôn luôn làm rùm beng y như những gánh sơn đông mãi võ, quảng cáo cho những món thuốc… giả của mình. Dù trước khi các căng tin được mở, Vĩnh không được nghe tên cán bộ quản giáo lên lớp, vì lúc đó anh nằm bệnh xá, nhưng qua các bạn còn ở lại trại, Vĩnh biết rằng bọn cán bộ các trại đã gom tù lên hội trường nói về sự quan tâm của Cách mạng đối với các cải tạo viên, rằng thì là việc thực hiện các căng tin là một chiếu cố đặc biệt của Cách mạng nhằm giúp các cải tạo viên có thêm phương tiện bồi dưỡng trong học tập. Ai cũng đinh minh chữ bồi dưỡng được dùng ở đây là bồi dưỡng thể xác, có nghĩa là chúng sẽ mở câu lạc bộ, dù sẽ bán giá cắt cổ, nhưng bọn tù vẫn còn có thể mua sắm thêm tí thực phẩm, bất cứ loại thực phẩm nào, miễn ăn cho no sau những tháng ngày lê lết đói. Thế nhưng khi căng tin thành hình thì mọi người đều ngã ngửa. Căng tin không phải là câu lạc bộ bán đồ ăn như mọi người tưởng. Căng tin của Việt cộng là một cái lều tranh nhỏ, bên trên là một mái tranh tròn che mưa nắng, dựng trên một cây cột lớn. Trên cột ấy, bọn tù đóng một cái khung gỗ để đính hai tờ báo, một tờ Nhân Dân và một tờ Sài Gòn Giải Phóng!

Dù là tâm trạng chung ai cũng muốn biết tin tức bên ngoài, thế nhưng sau khi đọc báo, thứ báo chí toàn những thứ tin tức kiểu “anh hùng công an tay không bắt cướp” hoặc “lần thu hoạch vụ mùa vừa qua xã A đã vượt chỉ tiêu”… Những cái tin như thế, cuối cùng chỉ mua được thêm một số câu chửi thề của người đọc, nhất là người đọc lại là những tên tù có đủ lý do nhất để không bao giờ tin được những mẩu tin của một bọn bồi bút đã và đang hùa theo bọn độc tài đảng trị, liên tiếp đưa ra những luận điệu tuyên truyền lừa bịp dân chúng, cũng như lừa bịp thế giới. Đọc xong hai tờ báo rồi, tên nào cũng thở dài và phát ngôn linh tinh như nhau: Mẹ kiếp, tưởng bồi dưỡng cái gì, hóa ra lại được bồi dưỡng thêm một số khẩu hiệu nữa!

Do đó, ai cũng thất vọng về cái gọi là căng tin trong tù. Và người thất vọng nhất ấy là ông già Thanh. Ông Thanh là trung úy đại đội trưởng thiết giáp diễn tập trường Thiết Giáp QLVNCH. Ông người miền Nam, già nhưng giỡn và diễu cũng thuộc hạng cao thủ. Vì gẫy mất hai cái răng cửa, nên khuôn mặt ông lúc nào cũng mang một vẻ hơi hề. Tuy nhiên, sau ngày đầu tiên căng tin được khai mạc bằng một cái lều tranh treo hai tờ báo, ông già Thanh trở về phòng và nằm vật xuống như một cái mền rách. Ông vừa nhận ra ảnh con gái ông được đăng nơi trang nhất của báo Sài Gòn Giải Phóng với hàng chữ thật to: Em Nguyễn Thị Cẩm, 15 tuổi, thanh niên xung phong thuộc huyện Thủ Đức được bình bầu cá nhân xuất sắc nhất trong cuộc thi công thủy lợi do Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng huyện tổ chức đợt vừa qua…

Trong lúc ai cũng có trong lòng một mối buồn và một nỗi ưu tư không cách gì giải nổi, ông Thanh buồn vì chả hiểu con gái ông tình nguyện hay bị bắt buộc trở thành một thứ anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa, ông Huy buồn vì anh em chưa một lòng cùng ông giải bài toán vượt ngục trong giai đoạn khó khăn hiện tại, Vĩnh buồn vì những dằn vặt trốn trại hay xuôi tay chịu kiếp tù đày!? Bông buồn vì thấy bịch thuốc Tây của mình giờ đây đã vơi mất quá nửa, và hầu như ai cũng buồn khi hiểu ra ý nghĩa của chữ căng tin mà Cách mạng xử dụng…thì tự dưng có người mừng vui phát điên lên vì được thả!

Bùi Duy Hạ, bạn cùng khóa của Vĩnh được thả trong đợt này. Hắn đi một vòng chào tất cả các bạn vào một buổi sáng trước giờ xuất quân đi lao động. Hạ lôi tất cả mọi thứ hắn có, từ cái mũ làm bằng giấy bồi, từ những manh quần đùi may bằng bao cát cho đến mùng mền chăn chiếu; nghĩa là tất cả những gì hắn có trong cái tài sản thuộc loại cái bang trong tù, hắn đều tặng lại cho bạn bè mỗi người một thứ. Riêng Vĩnh được hắn tặng cho 10 viên Vitamin C loại 50mgs với lời dặn dò: Mày hãy uống mỗi viên với hai lon gô nước. Lợi tiểu vô cùng. Hy vọng mày uống hết 10 viên này sạn trong thận mày sẽ trôi ra ngoài hết. Cứ yên tâm, tao sẽ ghé nhà mày, mô trả tình trạng và nhu cầu hiện tại của mày với vợ con và ông bà già mày. Trong những lần thăm nuôi tới, chắc chắn mày sẽ có nhiều thuốc men để chữa trị…

——————————–

1          Bông bị bắn chết trên hàng rào thép gai trại K.5 Suối Máu vào năm 1978 trong một chuyến vượt ngục bất thành.

Người bay-2

dailymail.co.uk

By Nick Enoch

Posted on 20 Oct 2012 

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Vậy ai rơi nhanh nhất? Những kẻ liều mạng nhảy khỏi gờ núi cao 4.600ft trong giải vô địch bộ đồ có cánh đầu tiên trên thế giới

Tám người lọt vào vòng chung kết đã lao mình xuống núi Thiên Môn Sơn ở Trung Quốc

Trên bầu trời cao trên Núi Thiên Môn ở Trung Quốc, một loạt những kẻ liều lĩnh đã ném mình vào gió… bằng cách ném mình xuống một mỏm đá cao 4.600ft (1.400m). Đây là quang cảnh tại Giải vô địch Wingsuit thế giới lần đầu tiên diễn ra hôm thứ Năm ở tỉnh Hồ Nam. Lần lượt, tám người lọt vào vòng chung kết nhảy ra khỏi vách đá và vượt qua chặng vượt chướng ngại vật dài 1,2 km bao gồm lao qua thung lũng, lặn bên dưới cáp treo và các màn nhào lộn khắc nghiệt khác, trước khi nhảy dù và hạ cánh xuống một ngọn núi trải thảm đỏ. Luật chơi rất đơn giản: người bay nhanh nhất sẽ thắng.

Đây là quang cảnh tại Giải vô địch Wingsuit thế giới đầu tiên ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, vào thứ Năm

Lần lượt tám người vào chung kết nhảy từ núi Thiên Môn

Các phi công phải vượt qua chướng ngại vật dài 1,2 km

Những kẻ liều lĩnh phải băng qua một thung lũng, lặn xuống bên dưới cáp treo và thực hiện nhiều màn nhào lộn cực đỉnh khác

Thể lệ của cuộc thi rất đơn giản: người bay nhanh nhất sẽ chiến thắng

Một người bay bên dưới một số cáp treo

Julian Boulle người Nam Phi đã giành vị trí đầu tiên – lập kỷ lục bay trong bộ đồ có cánh – với thời gian 23,41 giây. Ông Boulle đã thực hiện hơn 11.000 lần nhảy dù và 1.600 chuyến bay mặc áo cánh.

Vị trí thứ hai thuộc về tay đua người Na Uy Espen Fadnes, người đã hoàn thành đường chạy trong 23,55 giây. à James Boole, đến từ Anh, đứng thứ ba với 23,84 giây. VIDEO: Diễn viên đóng thế bất chấp tử thần! Giải vô địch Wingsuit thế giới!

Đó là một thành tích đáng chú ý đối với anh Boole, một vận động viên nhảy dù chuyên nghiệp – như vào tháng 4 năm 2009, anh đã rơi từ độ cao 2.000 ft và rơi xuống tuyết với tốc độ 100 dặm/giờ sau khi chiếc dù của anh không mở được trong chuyến bay với bộ cánh trên Kamchatka, Nga. Anh ta bị gãy lưng, gãy xương sườn, sứt vài chiếc răng và bầm tím phổi nhưng thật đáng kinh ngạc, anh ta vẫn sống sót để kể lại câu chuyện. Bị buộc phải đeo nẹp trong ba tháng, anh không bao giờ nghĩ mình sẽ có thể nhảy trở lại.

Mỗi bộ cánh bao gồm vải căng giữa tay và chân của người nhảy dù – tăng thêm diện tích bề mặt cho cơ thể con người

Cuộc thi ban đầu dự kiến ​​bắt đầu vào ngày 12/10 nhưng thời tiết xấu khiến điều kiện bay trở nên quá nguy hiểm. Ở trên, một tờ rơi chuẩn bị cất cánh. Mỗi bộ cánh bao gồm vải căng giữa tay và chân của người nhảy dù – tăng thêm diện tích bề mặt cho cơ thể con người. Điều này cho phép chúng di chuyển theo chiều ngang và giảm tốc độ di chuyển xuống mặt đất. Chỉ có 20 người trên thế giới đủ điều kiện tham gia cuộc thi như vậy. Cuộc thi ban đầu dự kiến ​​bắt đầu vào ngày 12/10 nhưng thời tiết xấu khiến điều kiện bay trở nên quá nguy hiểm. Núi Thiên Môn nằm ở Trương Gia Giới và từ Thiên Môn được dịch là ‘cổng trời’ – ám chỉ cái hố tự nhiên khổng lồ trên núi.

Julian Boulle người Nam Phi (ở trên) chiếm vị trí đầu tiên – lập kỷ lục bay trong bộ đồ có cánh với thời gian 23,41 giây

Đãi cát tìm vàng

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on December 9th, 2021

Post by Sơn râu 6 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Trong tác phẩm “Bông hồng vàng”, Paustovsky nói ra suy nghĩ của những người mần văn: “Tôi sống, tôi yêu, tôi đau khổ, tôi hy vọng, tôi ước mơ. Rồi sớm hay muộn, đến một lúc nào đó, tôi sẽ phải viết nó ra. Vì tâm hồn, trái tim, khối óc tôi đòi hỏi tôi phải làm như vậy”.

Ðúng thế! Những kinh nghiệm sống của chính mình hoặc của ai kia, tất cả đều là những hạt bụi vàng nhỏ li ti trong đời. Nhà văn cần mẫn bòn đãi, thu gom những hạt bụi vàng ấy. Xong, khè chúng trong lửa đỏ, tan chảy ra rồi đặc quánh lại thành một bông hồng vàng, một tác phẩm, để dâng hiến cái đẹp ấy cho độc giả, cho đời.

Vì vậy viết là phải đọc. Ðọc mà không hiểu thì làm sao? Không hiểu, không rành thì đi hỏi người khác. Hỏi cho trúng khía. Nghĩa là hỏi cho trúng người, trúng cái chuyên môn của họ thì cái họ trả lời là khả tín, ít trật hơn.

Thời buổi thông tin bùng nổ trên toàn cầu bây giờ cũng có cái hay và cái dở. Hay là mình học được rất nhiều điều bổ ích mà hổng phải móc xỉa, hổng phải tốn tiền. Dở là thông tin rác, thông tin “cát” trên web nó nhiều vô thiên lủng. Mình phải dùng cái đầu của mình để đãi cát tìm vàng mới đặng. Chắc ăn nhứt là tìm lời cố vấn, dạy bảo ngay trong nhà mình. Không biết thì cứ hỏi em yêu (tức con vợ của mình). Em nói A; mình làm B! Cứ làm ngược lại lời em dạy; chắc chắn mình sẽ thành công 100%.

Tóm lại: mần văn là đụng tới chữ nghĩa. Ðụng riết rồi quen. Quen mà thấy chữ gì là lạ, theo ý mình, cho là thiên hạ xài không trúng (nghĩa là trật) thì trong lòng ấm ức, bứt rứt lắm. Không nói ra, để đó sẽ bị sình bụng. Mà nói ra, chỉ ra thì mích lòng. Nhưng ở đời mà sợ mích lòng thì kiếm chuyện khác mà mần đi; đừng có mần văn. Không sửa lưng người khác hoặc bị người khác sửa lưng thì đâu có học được thêm cái gì. Viết lâu tới đâu cũng không tiến bộ chút nào. Như con rùa chậm tiến bò quanh trong cõi văn chương. Chán lắm!

Phần ông bà mình nói, đời hổng có ai cái gì cũng biết. Ông bà Tàu thì nói “Nhân vô thập toàn”. Còn ông bà Úc thì nói: “No one is perfect”. Chính vì vậy, mình biết tới đâu mình nói tới đó. Cứ nói, cứ cãi sùi bọt mép. Cãi tới cái trúng nó văng ra cái đụi, mình lượm về xài. Người được lượm dĩnh mặt, vênh râu ra vẻ: thế gian có ba bồ chữ về tao hết ráo. Trên thông thiên văn dưới tường địa lý. Còn chính giữa, tức cái bụng, để đựng mồi và rượu. Còn người cãi nhớ đừng hung hăng quá mà lên cơn nhồi máu cơ tim, rồi bỏ mạng giữa sa trường “cãi” nhe mấy cha!

Trong thế giới văn chương, theo ý tui, nên cư xử như hòn đá lăn (rolling stones) có nhiều góc cạnh. Hay hơn là cư xử như hòn sỏi tròn vo. Một chuyện mà ông nầy nói ngược; bà kia nói xuôi. Hai người chỏi nhau như nước với lửa mà mình đứng chính giữa chàng hảng: ông đúng, bà cũng đúng thì chán lắm. Viết ba phải như vậy là người thừa trong cõi văn chương.

Cãi để học. Cãi trong văn chương là cái cãi tao nhã của tao nhân mặc khách ở chỗ “tao đàn, mầy đàn”. Chỉ cần nhớ nhà văn không phải dân chơi Cầu Ba Cẳng, cãi không phải là cãi lộn.

o O o

Vậy là tui cứ lui cui đọc để đãi cát tìm vàng. Thì thấy bên đất Hoa Kỳ, có một bản tin là: “Tổng thống Biden vào bệnh viện xoi ruột, bà Harris tạm thời lãnh đạo đất nước”.

Cái tít nầy kỳ kỳ sao đâu! Xoi ruột hay soi ruột? Thì lục lạo trên từ điển thì thấy vầy nè: “Xoi, động từ là dùng vật hình que nhỏ chọc vào cho thông, cho hết tắc. Như: xoi cống, xoi thông ống điếu. Hoặc xoi là làm cho thủng, cho có lỗ bằng cách dùng vật nhọn chọc vào.

Như vậy ruột đâu có tắc mà đòi đè ông Biden, Tổng thống Hoa Kỳ, Trùm Ðế quốc Mỹ ra xoi rồi làm lủng ruột của ổng hay sao?

Viết xoi ruột là viết ẩu, viết cẩu thả. Phải viết là soi ruột mới đúng. Tại sao vậy? Vì soi, động từ nghĩa là: rọi ánh sáng vào để nhìn cho rõ hơn bằng dụng cụ quang học. Soi ruột bây giờ bác sĩ còn gọi là làm nội soi.

o O o

Rồi tui lại đọc trên VOA, cái đài nầy xưa giờ cũng khá là uy tín thì lại thấy chạy cái tít là: “Hay là Tô Lâm bị cài bẫy?”.

Chuyện rằng: Ðại tướng, Bộ trưởng Công An CS, Tô Lâm đi đớp thịt bò bít tết dát vàng tại nhà hàng Thánh Rắc Muối ở thủ đô Luân Ðôn nước Anh. Rồi, trong khi bà con trong nước đang đói nhăn răng vì COVID-19 hoành hành; nên bà con quạu, chửi bới thằng chả um sùm.

Chữ “cài bẫy” nầy lạ quá! Lục tùm lum thì thấy thiên hạ cắt nghĩa như vầy: “Cài bẫy là cài người vào hàng ngũ địch”.

Hồi xưa mình gọi là nội tuyến. An ninh Quân đội bắt được mấy tay ăn cơm quốc gia thờ ma CS nầy là đưa nó ra Tòa án Quân sự Mặt trận.

Thế thì nên viết là: “Hay là Tô Lâm bị gài bẫy?” thì đúng hơn chớ? Vì “gài bẫy” là giương bẫy gài chốt để bắt thú. Là lập mưu gạt bắt kẻ gian. Do đó chỉ cần đổi chữ “cài” qua chữ “gài”, khác nhau chỉ một mẫu tự “c” và “g” mà cái tựa đề của bài báo thâm thúy (chửi xỏ) hay hơn nhiều!

o O o

Rồi trong một bài báo, tui cũng có viết là: “Ngày này năm xưa. Vào ngày 24 tháng 11 năm 1971, một người đàn ông mua vé dưới tên “Dan Cooper” đã cướp một chiếc máy bay phản lực của Hãng hàng không Northwest giữa Portland và Seattle. Hắn ta đã tống tiền được 200,000 đô la Mỹ tiền chuộc. Rồi hắn ta tẩu thoát bằng cách nhảy dù khỏi máy bay. FBI từ đó tới giờ chưa bắt được và không xác định chánh xác nhân thân của tên không tặc nầy”. Thì có một độc giả (tình thương mến thương) xỏ ngọt tui như vầy: “Nhà báo bây giờ tiến bộ xài “nhân thân” thay cho lý lịch?”.

Câu xỏ ngọt như vậy làm cả một thời Miền Nam bị CS đày đọa bởi cái chữ lý lịch 3 đời nó hiện về như cơn ác mộng. Tui bèn trả lời ổng như vầy: “Câu nầy có hai mệnh đề phủ định (negative clause) nối với nhau bằng chữ “và”, liên từ đồng đẳng (cordinate conjunction). Có thể tách ra làm hai câu là:

  1. “FBI từ đó tới giờ chưa bắt được (tên không tặc); nên chưa biết y là ai”?
  2. FBI không xác định chánh xác nhân thân của tên không tặc nầy. Nhân thân tức gốc gác, vợ con, cha mẹ, anh em họ hàng, FBI cũng không biết luôn.

Như vậy “nhân thân” không phải là “lý lịch” mà CS xài sau năm 75. Mà xài chữ lý lịch là sai. Trong từ điển Hán Việt, không có chữ lý lịch (lý viết y dài). Chỉ có chữ lí lịch (lí viết “I” ngắn). Lí lịch là chỉ chung công việc đã làm và hoàn cảnh đã qua. Mà CS biết lí lịch tới ba đời kể cả bên vợ của mình để làm gì? Ðể trả thù chớ để làm gì! Chế độ CS là một chế độ bị bịnh “Bách hại cuồng”. “Bách hại cuồng” là nhìn đâu cũng thấy kẻ thù muốn hãm hại mình. Vì bị bịnh nặng như thế, nên CS mới trả thù quân cán chánh VNCH một cách tàn ác không giống ai.

Nhớ hồi xưa, 16 tuổi trở lên, mình làm thẻ căn cước bọc nhựa. Ðể cho biết: họ tên, ngày, nơi sanh, tên cha mẹ, địa chỉ. CS vô thì bắt làm chứng minh nhân dân. Thiệt là chuyện ruồi bu. Người dân da vàng mũi tẹt, húp nước mắm mà lại phải chứng minh mình là nhân dân!

Sau 46 năm dài, chắc nhận thấy dùng chữ “chứng minh nhân dân” như vậy là ngu lâu, ngu bền vững nên CS lẳng lặng lấy chữ căn cước của VNCH ra xài. Nhưng vẫn còn ngoan cố thòng thêm chữ công dân.

Kết luận là, hồi xưa mình không xài chữ lý lịch mà xài chữ “lai lịch” để chỉ nguồn gốc, gốc gác của một người. Vì thế cho nên thay chữ “nhân thân” của mình hay xài bằng chữ “lý lịch” CS hay xài là trật lất. Ông xúi bậy tui không hè. Chữ của ông bà mình để lại, xin ông đừng có mà giỡn mặt chớ!

ĐXT