Người không biết võ

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 2 May 2022

Post by Sơn râu 9 Jan 2024

Anh luôn ngủ không tròn giấc. Căn hộ nhỏ bé, nóng bức, ngột ngạt. Và như sách vở từng chứng minh, về già người ta buộc phải ngủ ít đi. Không mấy khi anh để tâm đến những thứ lẻ tẻ tựa thế, ngay cả một cơn đau dữ dội trong tương lai gần sẽ đón đầu anh, mang anh ra đi lặng câm anh cũng chẳng quan hoài. Anh vô tâm, người thân quen thường nhận xét. Họ ngó vào dáng vẻ đầy sự cam chịu của anh để phán nốt lời bình phẩm: Biết đâu cái an nhiên ấy đã giúp anh thọ tới bảy chục tuổi đầu. Lại có kẻ nói: Về già, người ta sẽ quay lại “đường xưa lối cũ” chứa đầy vụng dại của tuổi thơ. Nếu điều đó đúng, anh là đứa con trai chưa thực sự trưởng thành. Anh cầm cự những ngày cuối đời bằng lòng thương của người chị đứa em mãi là khúc ruột ngoài ngàn dặm cách chia.

Đêm qua, mưa có rơi xuống Sài-gòn. Cơn mưa giải nhiệt gửi kèm theo tiếng nước rào rạt phủ chụp trên mái tôn và nhờ thế anh trôi vào giấc ngủ mê mệt, lâu hơn thường nhật. Anh thấy không dưng anh đang ở Huế. Rõ ràng là thế, bởi thứ cảnh sắc kia thì dẫu có đầu thai sang kiếp khác anh cũng chẳng nhầm lẫn được. Sông kia rày đã nên đồng nhưng hồ sen kia thì đích thực là Tịnh Tâm. Địa danh nọ chôn lấp thứ kỷ niệm tủi hổ do bởi thuở đầu đời anh trở chứng làm thơ và bị tất cả bà con lối xóm quen biết thân sơ mang ra trêu chọc làm tắt thở ngay “một tài năng chưa lên đã vội xuống”. Thơ như vầy: Tịnh Tâm vào lúc hai giờ, bầu trời bát ngát mây lờ đờ trôi… Chỉ là một nhập đề, chưa kịp ai oán đậm đà bản sắc mượt mà tình cảnh thì vội yểu mệnh. Sự sáng tạo chẳng giống ai sẽ không có đất sống ở chốn Thần Kinh vào thời điểm cổ xưa ấy. Nếu người ta không cười cợt trêu ngươi biết đâu chừng anh sẽ là đứa tình si dạ không đổi đối với nàng Thơ kín cổng cao tường. Chẳng đam mê, chỉ cao hứng, chút bồng bột, nên nghỉ chơi đoạn lìa với thi ca là điều dễ hiểu.

Anh lan man nửa mê muội nửa tỉnh thức cho tới khi cảnh quang đổi khác, chỗ anh đứng giờ đây là một bến sông. Sông Hương, bắt buộc rồi, sông uốn lượn rẽ hướng về Bao Vinh. Buổi chiều êm ả, mây không có để mà lờ đờ trôi ngang, một người phụ nữ khom mình giặt chiếu tạo ra những lượng sóng lấp lánh ánh chiều tà của một mặt trời lụn tàn sắc lửa. Người đàn bà mặc áo cam làm sáng rỡ một con nước thẩm màu vùng vằng muốn thoát thân ra biển. Anh ngó thấy chữ Phúc nhuộm phẩm đỏ trên chiếu và khi người ấy dụng sức vật chiếc chiếu xuống mặt sông, thứ âm thanh thảng thốt kia đã như tiếng súng nổ làm chấn thương, làm rách toe giấc mơ hiếm có của anh. Anh là chiếc chiếu chưa được giặt sạch.

Thức dậy, trì trệ và bải hoải trong cái mùng vuông góc thu cất bóng tối tựa một mộ huyệt. Tuần sau anh sẽ ra lại Huế bởi mộ phần người cha nằm trong khu đất bị nhà nước ra sắc lệnh giải toả, san bằng để biến thành tụ điểm hướng dẫn du khách đi tham quan những đền đài miếu mạo lăng tẩm triều Nguyễn rêu phong rã mục tịch liêu. Anh sẽ mang hài cốt đấng sinh thành đi tìm nơi an toàn để gửi gắm. Trong giai đoạn chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc, có nhiều người đã chết hai lần; và khi hoà bình tới, không ai hiểu phải chết bao nhiêu lần mới vẹn toàn một chung cuộc? Gửi thân vào đất lạnh, không hẳn là một định phận sau rốt. Phải di dời, phải thay đổi, phải cách mạng nhiều phen. Khi họ bảo “biến sỏi đá thành cơm” thì dân ngu khu đen phải hiểu giữa đời sống này chẳng có thứ gì gọi là bất di bất dịch. Đào mả đào mồ, hành động xâm lược chủ quyền trái khuấy đảo điên đó ông bà ta thường nuốt lệ: Chơi kiểu chi ác đức bất nhân rứa hè! Răng mà nguỵ tặc đoản hậu rứa bây?

Trời vừa sáng, anh lội bộ ra quán cà phê đầu hẻm. Tụ điểm này luôn rậm rật vì nó không chỉ phục vụ món giải khát cần kíp mỗi đầu ngày, nó còn làm ăn linh tinh các thứ dịch vụ khác. Quy tụ đủ mọi thành phần, đủ mọi cung bậc, đủ mọi giọng nói. Địa phương cũng như dân tứ xứ thảy đuề huề chen vai thích cánh bàn chuyện bán trời không văn tự. Đang vào cao điểm mùa bóng đá thế giới nên lực lượng đông đảo nhất vẫn là bọn cá độ luôn xăm mình một liều ba bảy cũng liều. Một phương châm, một triết lý được cả bọn nhất trí: Thà đốt cháy một que diêm còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối.

Nhớ lại giấc mơ có người mặc áo màu cam giặt chiếu in hình chữ phúc đỏ như một triện son nên anh vét tiền túi bắt đội Netherland. Và hôm sau, nhờ ơn trời, anh đã hả hê không ngồi nguyền rủa bóng tối. Theo tỉ lệ cá cược ăn chia anh chẳng rõ, người ta dúi vào tay anh nạm tiền tươi bề thế, nặng như một cục gạch. Một triệu đồng hoành tráng nham nhở như vàng bạc cúng thí cô hồn các đẳng. Không thốt ra lời, anh chỉ he he he phát tiếng khi về nhà. He he he, có phải là khù khờ ông trời độ đó chăng?

Mùa này mưa vẫn trái khuấy trút nước hằng đêm. Chỉ cần rơi khoảng một tiếng, với vũ lượng xối xả kia, chốn anh ở sẽ biến thành một dòng sông nhỏ ngập rác, thối tha. Ban ngày nắng nóng, chúng sinh ra đường trang bị vào người những đậy đằng kín bưng tựa một Ninja quái dị, họ sẽ làm phép giản lược khi đêm về, trút bỏ bớt áo xống để khi đi lội nước quờ quạng giữa con hẻm úng thuỷ người ta nhìn ra những sẹo sần mụt nhọt mọc đầy ở bắp chân trần. Hai đứa con gái vẫn thay phiên đến dòm chừng anh, một ông già côi cút sống tạm bợ giữa trần gian lạnh ngắt. Chúng đến, như mưa rào trút vào tai anh nhỏ giọt từng lượng thông tin đa phần không mấy vui. Con cái, tựa một gạch nối giữa anh với xã hội bát nháo điên đảo bên ngoài căn hộ niêm phong sự lạc hậu. Ngoại trừ thứ tin tức thuộc dạng xe cán chó chó cán xe anh thu thập ở các tụ điểm cà phê bụi, ngoại trừ những cuộc trò chuyện viễn liên sang Anh, sang Mỹ; hầu như anh chẳng còn thiết đón nghe những giây mơ rễ má chằng rối vướng bận nào khác. Một cái thùng rác thì cũng chứa giới hạn chất thải ra đến chừng mực nào đấy thôi, quá tải thì sẽ gây ra phiền hà. Một đứa triệu phú có cơ man nào là ức tỉ, tiền nhiều như quân Nguyên e nó cũng gặp sự cố tâm thân không cách gì an lạc!

Thằng con của cô Út lấy vợ, bố biết không?

Anh ngó đứa con gái. Diện mạo giống anh một phần, chín phần kia thì hệt mẹ nó. Vợ anh là người Bắc di cư và từ lâu rồi anh di cư ra khỏi cuộc sống luôn không được mưa thuận gió hoà của kiếp vợ chồng. Cũng đã lâu, mắt anh gần mù tai anh gần điếc và một kẻ già nua bất tài vô tướng sẽ còn hứng chịu nhiều sứt mẻ khác chưa tiện lộ diện.

Con nói sao?

Vậy là bố chẳng biết. Cô ấy không gửi hồng thiệp báo tin vui chứ gì?

Chắc chưa đâu. Thường thì người ta phải nán đợi trận cầu kết thúc world cup rồi hẳn tính. Đi đâu mà vội.

Không vội, nhưng muốn mời, phải thông báo sớm cho người ta có đủ thời gian để chuẩn bị các thứ. Thông thường là vậy, phép tắc là vậy, người dưng là vậy huống hồ bố là người anh ruột duy nhất mà hiện tại cô Út có. Bố ở sát bên lưng chứ xa xôi vạn dặm đường xa mắt lé gì cho cam!
O du kích đầu khai hoả xong đến phiên đứa gái thứ hai bắn sẻ:

Rõ là bà hổng có kinh nghiệm đau thương với cô Út mới nói kiểu ấm ớ như thế. Tui hả, có lần sang nhận tiền từ Mỹ gửi về, cô Út mặt đanh lại: Giấy trắng mực đen hẳn hoi, ghi cả số thẻ chứng minh nhân dân, viết là đã nhận đủ số tiền rồi ký tên bên dưới. Thật hết nước, tui ngậm đắng nuốt cay run tay cầm bút mà ký nhận. Chơi kiểu đó thì ngay cả công an cũng cần phải học hỏi bồi dưỡng nghiệp vụ!

Hai đứa con gái thay phiên làm bình luận viên. Chúng luôn vẽ ra một cảnh sắc trên cả muộn phiền và buộc anh phải trông rõ, nhìn nhận tới sự thật lắm đớn đau lắm kỳ thị lắm hung hiểm lắm bạc ác. Chúng kết luận: Tìm kẻ chức phận mà quan hệ, ưa lân la với người quyền thế hoặc lắm tiền của là lẽ thường của người đời. Cô Út thì dại ngỗ gì để rảnh việc đi dây dưa với thành phần mạt máu như bố con nhà mình.

Anh bật cười khi nghe con nói. Nó sanh sau đẻ muộn, nó chào đời khi bà nội đã bỏ cuộc chơi, vậy thì cớ gì nó biết dùng chữ mạt máu y như ngày xưa bà nội rầy rà con hư. Trớ trêu thay, cũng chính anh đã mang ba-lô ra Đà Nẵng ngày nào để đeo lấy xương cốt mẹ mình sau lưng xuôi Nam tìm chốn nương náu mới. Mộ phần khuất lấp cả mẹ lẫn cha đều bị nhà nước “cú dòm nhà bệnh” điểm danh số phận thì rõ là mạt máu. Luôn luôn, mỗi bận trò chuyện với hai cô con gái bạc phước, anh thường lùi về thế chống đỡ. Ngày xưa anh là giáo viên, và đã đóng vai người cha thì chí ít mình phải tỏ ra có chút trách nhiệm. Anh muốn nói đôi điều liên quan tới giáo dục, cách ứng xử lịch sự tối thiểu giữa những kẻ có ăn học, nhưng bất khả. Một đứa học xong lớp 3 không nên làm chủ tịch huyện, một cô gái ăn sương không nên bàn tới chuyện đạo đức nhân phẩm. Một tấm gương soi, anh không tìm ra điểm xứng đáng để tự mình mang tới, đặt để trước mặt con. Không ai lại dùng một tấm kiếng chợt vẹt trầy trụa lớp tráng thuỷ để bắt hình dong, bởi nó sẽ phản ảnh một hình nhân gần trùng với tật nguyền. Anh luôn là hàng binh trên mọi trận tuyến, ngực anh đeo nhiều chiến thương bội tinh và anh dũng bội tinh thì mãi là vật trang sức không nhằm trao cho kẻ muốn sống với an phận thủ thường. Anh đón nghe nhiều chê bai đến từ muôn hướng và kinh nghiệm dạy anh chớ nên rỗi hơi đi cải chính phân bua trần tình. Anh ủ nó trong tâm bởi sự hiểu, lòng thông cảm thì hẳn là thứ vấn nạn rất khan hiếm giữa đời này. Anh giống đứa Việt kiều làm bộ chảnh để mặc long bào đi thuyền rồng ăn cơm cung đình gái gú giới hạn chỉ một đêm. Bình minh thì trần thân lui về đời dân dã khố rách áo ôm ngụp lặn giữa bể trần ai nhiều tị hiềm. Bao nhiêu lần mưu toan xoay xở đối phó nhằm cải thiện cuộc sống nhưng thời cơ mãi chẳng lộ dạng, hoặc giả anh không trang bị đủ sự lươn lẹo, những thủ đoạn cần thiết khi gia nhập thương trường. Thất bại chẳng đời nào là mẹ của thành công, tay trắng anh lại hoàn trắng tay.

Thằng con cô Út đã tới, cách nó xuất hiện làm đánh thức nỗi ngờ vực, thật sự thì có phải ngày mai cháu sẽ là chú rể không? Một nhân vật chính thì hẳn phải lu bu với khối công việc chẳng thể rời ra, nhỏ nhặt như loay hoay học cách thắt cà vạt, nên mặc bộ vét-tông màu trắng hay đen, rà soát lại danh sách những kẻ được mời, có bao nhiêu kẻ từ chối… và lớn lao như đêm động phòng cả hai đứa cởi áo quần cùng lần hay ngồi trên giường cụng đầu ngồi mở những phong bao lì xì ra đếm tiền bá tánh chúc mừng đầu bạc răng long? Hoạnh tài lời lãi? Thâm thủng lỗ vốn?

Nhìn đứa đóng vai tiền đạo xông xáo ghi bàn khi không phải lui về thế hậu vệ phòng ngự anh thực không hiểu chiến thuật đá bóng của cô em, và trong nhất thời anh đã bằng lòng trò chơi cóc bỏ dĩa. Rất đường đột, không thiệp mời, chỉ nói miệng. Hẹn gặp cậu vào trưa mai ở nhà hàng. Đứa cháu từ giã, cúi mặt đi như một chân sút quờ quạng chẳng đá thành công quả phạt đền. Tuy vậy lưới nhà anh vẫn thủng, vẫn thua vì luôn bị đặt vào thế việt vị offside.

Bố đi dự tiệc cưới thật ư?

Sao lại có chuyện giả? Không đi cũng kẹt cho bố, con hiểu chăng?

Tiền đâu bố mang đi lì xì?

Tiền thắng cá độ bóng đá. Năm mươi đô la có đủ không?

Rách như cái xơ mướp mà còn bày đặt chơi trò đỏ đen, dẹp đi tía.

Thì dẹp. Giấc mơ đẹp thường chỉ đến một lần thôi. Và nói nào ngay, cuộc đời này không là một trò chơi đầy may rủi thì nó là cái gì?

Anh không muốn nói cho con nghe cái dự tính thầm kín có trong anh. Rằng tương lai gần anh sẽ ra Huế làm lễ bốc mộ. Anh sẽ trình bày chùng vụng cho người cha hiểu là dương thế này xác xơ chỉ còn có mỗi hai anh em, những người con đông đảo của ba mẹ rày đã tứ tán đứa mỗi phương trời cách biệt. Chỉ hai anh em cật ruột sao lại nỡ đâm thù oán khinh rẻ không nhìn mặt nhau, lại nữa cô ấy là người con mà trước đây ông thương yêu vô hạn. Anh sẽ kể lể dông dài tựa một bảng báo cáo để ông an vui cho anh mang ông vào chôn gần nơi an nghỉ của mẹ. Hai ông bà đã tác thành ra mười đứa con và nói tội trời đó là một đội bóng chẳng bao giờ đồng thuận. Cha mẹ sinh con trời sinh tính, tính tình của mười cầu thủ nọ thì “mỗi người mỗi vẻ mười phân hổng vẹn mười”. Không ăn rơ với nhau, tị hiềm nhau, nói xấu nhau và có thể bán độ lẫn nhau. Ba nghe vậy thôi nhé, nếu không ngậm cười nơi chín suối thì cứ đổ vấy cho cái chế độ này, cái xã hội cùng bần tao loạn này chỉ biết tới đồng tiền mà chà đạp lên đạo đức nhân phẩm. Vô học mất dạy theo kiểu vô học, trí thức bất lương theo kiểu trí thức.

Ngày anh ra lại chốn Thần Kinh mưa xoá nhoà cảnh vật. Phi trường Phú Bài đang được nâng cấp, anh mang cảm tưởng là vừa nhìn thấy một thiếu nữ e ấp đang vất bỏ nón bài thơ, cởi phăng áo dài màu tím để vội tròng vào thân một cái mini-jupe chả thèm chơi nội y. Huế làm một cuộc cách mạng quá độ và hiểu theo phương diện tâm linh truyền thống thì đó là một cuộc thảm sát không khoan nhượng. Sỡ dĩ du khách vẫn đặt để cảm tình nhiều tới Hội An bởi nó còn thuỷ chung với nét hoài cổ, trầm mặc và thư thái. Một khoảng lặng, điều ấy cần thiết vô cùng, cách chế ngự những rậm rật chốn phồn hoa đô hội đầy bát nháo dễ gây tổn thương con người. Huế đang tổn thương, anh đi và anh chẳng nhìn ra nét thơ mộng như thời gian anh lớn lên, thuở đầu đời. Anh vào Thành Nội để xin tá túc nhà người bạn cũ. Anh mủi lòng để làm tiếp bài thơ dang dở đầy vụng dại ngày xưa bị chúng bạn khinh khi:

Tịnh Tâm ngày cũ tôi về, này đây hương lửa bạc thề cuộc chơi, sen tàn cánh mỏng vừa rơi, đoạn lìa cố xứ đầy vơi phận người. Hài cốt nhẹ, núi thái sơn, lưng cong dáng mỏng này ơn sinh thành. Tôi xin người đốt cây nhang, một lần sau rốt tro than kinh kỳ, và xin nhắm mắt thầm thì, làm sao lắng đọng chút gì tĩnh tâm.

Tôi đã bảy chục tuổi. Tôi ra đây chỉ mong bốc mộ người cha sao cho vén khéo, cho suông sẻ. Nếu tôi nói điều không phải hoặc có động thái dễ gây mất lòng thì xin nhà nước thần kinh rộng lòng thứ tha cho kẻ té giếng. Mưa là nước mắt trời chảy, cho ba tôi hay cho tôi, đứa cổ lai hy làm công việc trả hiếu?

Hồ Đình Nghiêm
Ngày kết thúc World Cup 2014

Đi Biển Có Đôi

phamcaohoang.blogspot.com

Hồ Đình Nghiêm

Post on Jul 4, 2021

Post by Sơn râu 9 Jan 2024

Boat in the sea – Source: Allposters.com

Đàn bà đi biển mồ côi một mình. Có phải đi biển kiểu ấy ám chỉ việc vượt cạn sinh đẻ? Rồi ta thán, thương thân trách phận? Đau chẻ dọc người mà ai nào hay biết! Vẫn có trường hợp lúc lâm bồn, vợ đau quá cầm lòng không đậu bèn lôi tên thằng chồng ra chửi cho bớt tái xanh mặt máu. Chồng đứng ngoài xớn xác có nghe cũng chỉ biết nhăn răng cười he he. 

Đàn ông đi biển mình ên thì sao? Ngư ông hình như vẫn lẻ loi giữa biển cả. Chuyện nhỏ! Trên thế giới, Florida được ví là thủ đô dành cho dân câu cá, chưa kể đó là tiểu bang ngập tràn ánh dương quang và theo tiếng Tây Ban Nha, Florida có nghĩa là vùng đất của những loài hoa. Thủ đắc nhiều ưu điểm khiến địa danh này, từ xa xưa đã thu hút, quyến dụ các nhà văn Ernest Hemingway, Tennessee Williams…dừng chân, ghé bến. Nhà văn xứ mít, ôm bụng sầu riêng cũng thử giang hồ xem biển có động? Hoa có tươi đẹp? Cá có dễ cắn câu? Không Miami, chẳng Orlando, cứ đè Tampa trực chỉ. Tampa về St- Petersburg, nơi có viện bảo tàng Salvador Dalí. Nơi có sóng hiền hoà từ vịnh Mễ Tây Cơ vỗ về bờ cát trắng lắm chim cò đi khoan thai nhàn du cùng du khách. Hoa trên đất liền chưa thấy qua, nhưng hoa hai chân nghịch đùa cùng biển xanh thì thể hình đẹp vượt ngoài mức qui định. Bị ông ở xứ tuyết tối ngày áo xống đậy đệm chống lạnh nên chưa quen mắt khi ngó ra, chứ quanh năm tui thấy riết mỹ nhân ngư thành… cũng vậy thôi. 

Địa phương quân nói thế. Gần bốn mươi năm ông chưa thấy lại biển nên tui thông cảm, chứ tui thì chẳng mặn nồng gì. Địa phương quân trước đây ở Đà Nẵng, cuối tuần vẫn chất cả đám lên chiếc Jeep lùn từ cư xá Đoàn Kết chạy qua biển Mỹ Khê nghịch đùa cho da ăn nắng. Dạo ấy Trung sĩ, lương tháng là 17.500, Trung tá tiểu đoàn trưởng thì 45.000 ăn dè ăn xẻn. Bây giờ nước chảy đá mòn hoa trôi tàn úa, vị Trung tá ngày cũ đã về với đất và ông cựu Trung sĩ ngụ ở Xen Bí (St- Petersburg) thì tiền đô tuy chẳng nhiều như quân Nguyên nhưng tình cảm thì chộn rộn như quân của Quang Trung. Nếu có Lê Lợi thì ổng không ngại mần Lê Lai cởi áo đổi vai. Mùa đông ưa trốn tuyết thì bay qua đây, tui lo cho ấm được chút nào hay chút đó, đóng chặt cửa nẻo mà sáng tác bất biết chuyện khác, nghe đặng không? Bây chừ mùa hè, lời ấy rót vào tai thấy toát mồ hôi, tình nghĩa quá mạng khiến phải xuất hạn dầm dề. Cho hay đi biển mồ côi có khi êm hơn là đi biển có đôi, vượt biên mà xuôi chèo mát mái đậu vào bến trong, học tập cải tạo thì an tâm bởi mọi thứ đều đã có đảng và nhà nước lo. Đang tính tìm lời ca ngợi thì bị ổng chận bằng ba chữ: Không dám đâu! Ổng kể, tuy mang cái cánh gà bên tay áo trận nhưng cũng bị đi học tập như ai, ra trại thì lên ở vùng kinh tế mới sinh nhai bằng nghề bán củi bán than tứ thời lem luốt, tạm xem như đã đặt chân xuống ba tầng địa ngục, rồi vượt biển sang Mã Lai, rồi qua Mỹ ở Xen Bí từ đó tới giờ. Bốn mươi năm cách biệt biết bao điều để kể và đã là người Việt thì tuồng như bất tận những khổ đau, trường thiên hơn cả chuyện dài nhân dân tự vệ. Có kẻ vì từng trầy da tróc vảy nên khi đổi đời cứ mê muội chúi đầu vào vật chất tiền bạc nhà to xe khủng, nhưng ông cựu Trung sĩ chừng đã thấm lẽ phù du nên ăn chơi không sợ mưa rơi, cái chi rồi cũng trôi sông đổ biển chỉ có cái tình là biết lắng sâu vào hồn. Cốt cách quân nhân vẫn ám thân, giờ này đeo thêm lối suy nghĩ của một nhà hiền triết. Xen Bí mà thiếu ông thì xem như địa linh mà thiếu nhân kiệt. Khổng Minh mà thiếu Chu Du thì hẳn cuộc đời Gia Cát tiên sinh ắt phải hiu hắt lắm vậy! Xem ra lính thú hoặc hạ sĩ quan thường chơi bảnh hơn các đấng cổ đeo những mai vàng mai bạc, họ từng đánh hết rác cho tới giờ thứ 25 mới buông súng trong khi “đàn anh” sớm vắt giò lên cổ tam thập lục kế tẩu vi thượng sách. Nôm na, kể về ngày tháng cũ họ chẳng có gì để phải hổ thẹn.

Của ngon vật lạ đặc sản vùng miền đều thưởng thức qua, mặn cũng như ngọt, sang ngày thứ ba địa phương quân dắt khách xứ tuyết tới Orlando cỡi ngựa thưởng hoa. Hai giờ lái xe, chốn đó có hội quán Hương Giang nghe đồn nức tiếng món bún bò giò heo, bảng hiệu to đùng treo ở căn nhà nằm ngay ngả ba chứng thực là cộng đồng người Huế hơi bị nhiều. Đến không đúng hạn kỳ nên Hương Giang tiêu điều nước cạn vắng bóng đò, tuy vậy Trung sĩ có máu tình báo đã truy tầm ra một tin mật. Tác nghiệp một hồi trên cái iPhone lanh lợi, xong nhếch môi sửa giọng: Ông hãy chuẩn bị tinh thần vì có tin vui giữa giờ tuyệt vọng. Cựu Trung sĩ 60 mùa lá rụng sang sảng tuyên bố. Vô duyên với đồng hương Huế thì hữu duyên cùng đồng hương Đà Nẵng, người mà thuở ta còn thơ ngây “nàng” vẫn thường cù ta đi kéo ghế ở phở Cấp Tiến, bánh khoái ở Lê Đình Dương, nước dừa tươi ở Bạch Đằng, cà phê ở Độc Lập, cơm tấm bì ở Hùng Vương, chè cháo ở chợ Cồn… rất OK Salem! 

Người đâu gặp gỡ làm chi, cơm khê ngày cũ giờ ni cháo còn? Ở chốn xưa nàng mình hạc xương mai, di tản sang Mỹ chừng hợp phong thổ với Sunshine State nên thân thể coi mòi trù phú ba vùng lãnh thổ. Trước, ôm hơi lỏng lẻo vòng tay học trò; nay áng chừng nối vòng tay lớn ôm cũng hổng xuể. Trước trắng trẻo, nay ngăm đen. Trước con nhà lành, nay lu bu qua ba đời chồng. Nàng thăm dò đứa Cà-na-điên chân ướt chân ráo: Ngọn gió nào thổi ông tới đây? Bất ngờ quá thể. Dù cho sớm nắng chiều mưa, thiên hình vạn trạng vẫn chưa quên người. Nàng đưa tay bắt, mặt mừng thành thật khi ngó ra cố nhân. Đồ chừng nếu chẳng có mặt đệ tam nhân ắt nàng sẽ ôm hôn thắm thiết nhớ tình hữu nghị dạo nào. Cựu Trung sĩ chen vô: Cảm động chưa tề! Quý hoá cho giây phút tha phương ngộ cố tri, chớ quăng cục lơ là đã mãn nguyện lắm rồi. Bà nhắm có quán nào ăn được thì chúng ta tới đó mà ôn cố tri tân. Tự sướng với nhau một tấm ảnh, nói thiệt nghe hình bóng bà nằm đầy trong truyện ngắn của ông này. Ủa, biết viết văn nữa à? Sao hồi đó mặt mày cứ khờ câm chẳng biết chơi trò bịt mắt bắt dê, bỏ ngoài tai những lời rù quến vẽ đường cho hươu chạy? Trung sĩ háy: Bây chừ mà bà thi triển hấp tinh đại pháp thì xem như ổng tiêu đời trai, xin nhận Xen-Bí làm quê hương thứ hai. Có vị tình chừa một con đường sống cho ổng không? Lộn xộn quá! Nàng mắng cựu Trung sĩ. Saint Petersburg của người ta lại đổi ra xen bí sen bầu ngon ơ! 

Bí có thương bầu không? Người ơi giờ phút này đâu còn sức nghỉn mà nói chuyện thương yêu. Vậy thì ô-kê, tui giao ổng cho bà chăm sóc vài canh giờ để rảnh tay đi gặp một chiến hữu. Ông này không thích bia rượu mà chỉ ham chè cháo, coi mòi hạp tạng với bà. Tối trời thì tui đòi ổng lại mà tha về Xen-Bí. Quàng vai bá cổ nhau đi đặng tui chớp cái ảnh. Chi vậy? Để khi nhận lại người xem có bị xác xơ chợt vẹt chi không. Đồ quỷ sứ gì đâu á!  Trung sĩ nhăn răng cười: Bà đừng tha ông này vào bụi vào bờ, ngồi chỗ thị tứ sầm uất cho tui dễ tìm, chừng tám giờ tui tạt ngang. Đã lưu số di động của tui vào máy chưa? 

Nàng chạy chiếc Lexus mới cáu chỉ. Dường như nhiễm phải một căn bệnh nan y, chốn đây quý vị người Việt thảy đều mặn hiệu xe này. Nói đẳng cấp e rằng sai trật, bảo ưa chảnh ắt cũng hồ đồ. Ưa phô trương thanh thế thì rõ là nông cạn. Phàm đã là con rồng cháu tiên cơ bản đều khác với thiên hạ. Khác đến bất khả tư nghì! Trong xe ủ một hương mùi, khoanh thịt muốn ngon cần ướp ngũ vị hương, khi lớn tuổi da thịt đàn bà chí ít nên tẩm qua một dung dịch dầu thơm, nồng đậm. Kẻ thích căng ngực hít đầy mùi gió biển hoang dại khi chui vào xe buộc phải choáng váng khó lại thần hồn. Y như buổi đầu hăm hở nhào xuống biển tự khắc thấy say sóng chóng mặt. Con nước vồ vập nhắc thầm, tại ngươi xa ta đã bốn mươi năm, tại đầu óc ngươi vẫn chưa quên bi kịch ngày cũ làm thuyền nhân. Rằng biển cả mênh mông từng vùi dập cả triệu linh hồn quyết bỏ xứ đành đoạn một sớm hai chiều gửi thân đất lạ.

Orlando đang bỏng nắng tự dưng có mây đen kéo tới, sa sầm ủ dột. Qua chơi bao lâu, sao nhằm lúc dự báo thời tiết cho hay là mưa rào giăng lưới xuống đầu suốt tuần? Hay tại ông mang thứ thời tiết sầu não chốn ấy theo? Ừ, cứ đổ thừa như vậy. Dầm mưa dưới bầu trời lạ không phải là điều khoan khoái lắm ru? Mưa rơi ở vùng biển giọt nước có mặn chút nào? Xe giảm tốc độ trước cảnh quang hư thực, mưa đám mây có đoạn thưa hạt có đoạn rầm rộ trút mù trời. Như đầu tóc đang xanh đen bỗng sớm mai nào nhìn ra có lắm sợi bạc chen chân lấn đất dành dân. Tóc bạc kiểu Đặng Dung vì bất lực việc thù nhà nợ nước chưa trả được thì ngoại lệ, xưa nay hiếm; kỳ dư hậu bối ông chịu chán khối nguyên do: Máu xấu, bệnh hoạn, suy tính lao lung, đêm nằm lắm mộng, mất việc, nợ ngập đầu, nhà băng siết nhà lấy xe, tình phụ. Không cứ là tóc, đời vẫn diễn tuồng đổi đen thay trắng. Đang êm ấm cơ ngơi nhà cửa bỗng hốt hoảng vác mạng không cắm đầu bỏ của chạy lấy người. Chạy đi đâu, cao xanh nào hay! Chạy mất đất quờ quạng rồi khi không ở chặng cuối đường lại đụng mặt nhau. Đụng tàn phai, đụng nhăn nhàu để thu nhặt lại những đổ vỡ rơi rớt, nhớ quên. 

Nàng chở vào quán ăn bề thế có treo con lobster đỏ au dị hình như một chiếc ghe úp ngược lên tường. Tha hồ ăn, con tui hả, mỗi lần đến đây nó xơi chục mười hai con là chuyện thường. Có sức thì nhá thêm phụ tùng nghêu sò ốc hến tôm cua cá, nói chung là hải sản. Sang tới miệt biển mà bỏ sót thực đơn này thì thiệt uổng công. Kèm với dao muỗng nĩa là cái kềm sáng loáng bắt mắt hơn thứ mà nha sĩ dùng để nhổ răng. Vì giàu kinh nghiệm nàng làm việc thiện nguyện ráy lấy thịt vỗ béo cho khách ốm o. Ăn đi, không sao đâu, cứ xem như cả tháng mới có được cái rằm, xin hãy vô tư. Nhác ăn thì tui đút cho, ráng chịu. Ưa đút bằng môi hay bằng năm ngón tay? Nàng cười thích thú vì doạ dẫm có hiệu lực. Nào hề gì, bọn mình vốn là người tình cảm. Và nói thiệt nghe, tôm cua thương chứ không ai thương đâu! Mắt nàng có kẻ đường viền đen, lông mi uốn cong làm hai cửa sổ tâm hồn trông long lanh, chất đầy sóng. Thỉnh thoảng nàng đưa tay lên môi mút lấy những ngón ướt át, xong lại bóc thịt lobster bỏ vào chén kẻ hữu duyên  thiên lý năng tương ngộ. Đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất ngồi đó ắt sẽ mơ mòng tưởng là mình rồng quên mặc long bào được hoàng thái hậu phục vụ tới bến. Ngốn được hai con là đã no ngang, no không do thực phẩm mà no vì sự quan hoài cơm dâng nước rót. Nếu cầm lòng không đậu để yếu hơi thì thầm mong làm chim về đậu đất lành e rằng người đẹp sẽ cự tuyệt. Năm khi mười hoạ mới gặp gỡ thì ô kê chứ ở riết một bên lưng thì… chán bỏ mẹ. Lâu lâu ăn tô bún bò mới thấy ngon, ngày nào cũng bắt nuốt duy món đó có mà giảm thọ! Ấy là chân lý vậy!

Chưa tới cái hẹn tám giờ, phút này thằng chả còn phừng phừng bia rượu với chiến hữu, ông có muốn đi đâu không? Nàng nói. Tụi mình còn đúng một giờ riêng tư. Cơm no bò cỡi thì hổng đặng, muốn đốt thực phẩm nhiều chất đạm óc ách trong bụng thì chỉ có việc đi dạo trên bờ biển. Mưa đã ngưng nhưng bóng chiều tà đang buông màn, giờ này những con dã tràng vẫn trì chí xe cát chẳng xem là việc làm vô bổ. Chúng ta nắm tay nhau đi có đôi ven bãi vắng chắc không hoài công. Sóng biển muôn năm hoài huỷ mơn trớn vào bờ từng đợt sóng bất tận, lời tình tự ấy chừng giải thích cho chúng ta về sự thuỷ chung, thứ đam mê chẳng sờn lòng giữa nước và đất. Chuyện cổ kể về trận chiến thù hằn giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh của người Việt chừng vấp sai lạc, bởi họ không biết đến một thứ uy vũ khủng khiếp: Tsunami. 

Tuổi hai mươi khác tuổi ba mươi. Bốn mươi phai nhạt để năm mươi nghe tàn úa. Nàng sáu mươi và nàng chẳng cưỡng được quy luật. Hiểu ở nghĩa hẹp, ai trong chúng ta cũng từng bị sóng thần phủ xuống, cuốn trôi. Mùi hương nước hoa trên người nàng mất đi khả năng của sự cám dỗ, tuy vậy hãy nhắm mắt, hãy ôm lấy nhau, hãy tìm môi nhau để trao lời cám ơn không tiện nói ra. Hãy dối lòng tất thảy đều tạm bợ, hãy hát thầm đoản khúc của bọn hướng đạo sinh ngày còn thơ ngây: Gặp nhau đây rồi chia tay… Tay nàng mặn nồng mùi vị lobster chưa buông tha, môi nàng như một cửa biển nhốt chật muôn loài hải sản. Ngư ông đứng xiêu lạc nghe sóng gào ngoài vùng vịnh thẳm đen. Nghe nhịp đập từ tốn của trái tim thôi hồi xuân của nàng vọng lại qua bao ngăn chia của vải vóc. Gió làm rối tóc, gió làm hụt hơi: Tui chẳng biết lấy gì làm quà cho ông. Nàng đút bàn tay vào túi quần “ông”, nghịch năm ngón một đỗi rồi rút về. Đừng thốt lời hò hẹn, nếu số phận xui khiến, mai này chúng ta sẽ gặp lại nhau. Đi về bình an. 

Cựu Trung sĩ lái xe đưa ra phi trường Tampa. Lý ra người ông phải rám nắng biển, lý ra ông phải trần thân dưới ánh mặt trời để tích tụ nhiệt lượng nhằm chống trả hàn khí khi về lại chốn đó. Sao? Chuyến đi có thu hoạch được niềm vui nào không? Tui tự hỏi, nếu không mất nước thì giờ này ông đeo lon Thượng sĩ hay đã lên cấp sĩ quan. Dù sao thì tui cũng đứng gập chân lại và nghiêm chỉnh chào ông như tân binh trình diện lính già. Cám ơn tấm lòng rộng rãi ông dành cho, hơn hẳn thứ tình huynh đệ chi binh. Trung sĩ nói: Chuyện nhỏ. Vậy còn bả, người xưa có biểu tỏ ra điều chi đáng khắc ghi? Ờ, hai đứa nổi hứng đi ra biển, hôn hít bậy bạ vậy thôi. Có nghĩa là chỉ biết xào khô mà không mần chi khác? Ờ, khô, muốn ướt cũng đã qua hạn kỳ. Từng này tuổi thì cam phận ngồi trên giếng mà khát nước, đòi chi hơn. Nhưng chuyện không chấm dứt ở đó, bả nổi hứng đút tay vào túi quần như kiểu thăm dò vũ khí mình mang. Oan cho bả, tối về nhà mới biết bả lẳng lặng chêm năm trăm đô vào đó cho ấm túi, cho gió biển khỏi thổi bay thân nhẹ như mây. 

Tui cũng tính tặng ông chừng đó tiền, có vui lòng thâu nhận không? Mẹ, đế quốc Mỹ thật đáng giận, chừng như đứa nào cũng ê hề bơ thừa sữa cặn. Thôi, cất lại đi, mùa đông tui sẽ nai nịt làm cuộc hành quân đổ bộ sang Xen Bí. Leningrad bên Nga không biết mặt mũi sao chứ Saint Petersburg chốn đây trên cả tuyệt vời. Có ưa nghe tui hát lời cải biên không: May mà có ông, có bả, đời còn dễ thương. Tạm biệt nhé, lần khân chỉ thêm rơi lệ. Chân trì nặng bước vào phòng cách ly. Không lâu sẽ ngồi ghế 18A sát ô cửa nhìn Tampa sóng xanh ôm bờ cát trắng mờ dần. Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển với tôi nhớ gì?

Hồ Đình Nghiêm

Florida, June 10, 2017

Bảy ngàn chữ

phamcaohoang.blogspot.com

Hồ Đình Nghiêm

Post on Jan 21, 2018

ĐẠI NỘI, HUẾ – Photo by Raynald Savard (Quebec, Canada)

Tôi từng có dịp thất thần lên núi, từng có khi về đứng choáng ngộp trước biển. Bầu trời ở hai chốn đó mang vẻ lạ lẫm khác nhau, nhưng tựu trung chúng váng vất chút hoang dã, mênh mang chút hăm doạ.

Vuông trời trong Đại nội thì khác hẳn, mây bay ngang tự dưng vấn vương sắc tím; trời đang lững lờ xanh trong không dưng phải chịu phủ dụ, tráng lên đó một tí vàng vua chúa một tí lục của rong rêu. Thứ sắc màu trông cũ kỹ, nửa ấm áp nửa kia là thoáng rợn da. Khái niệm sáng trưa chiều luôn bị đánh lừa, thời gian nhích qua đây làm người ta ngờ vực về một vó câu luôn hăm hở trôi bên ngoài cảnh giới. Trôi đi trôi đi, để lại sự hoài cổ lay động trên cây ngô đồng đứng trầm mặc giữa cổng Hiển Nhơn nối tới điện Thái Hoà.

Tôi chở o đi và vô trong nội là mệnh lệnh o ưa truyền đạt. Huế nhỏ, đồng ý, nhưng không vì thế mà người ta bức đầu vò tóc nghĩ chẳng ra một đích tới. Bộ hết chỗ chơi hay răng? Tôi có cảm tình với o và làm mất lòng kẻ khác là điều chẳng ai muốn. O mang tên một loài hoa và tôi hơi choáng khi nó trùng tên với mạ tôi. Chỉ khác họ, kỳ dư chữ lót cùng hương sắc của hoa thì y trang. Và nói có trời chứng giám, tôi là đứa con rất mực hiếu thảo chưa từng làm mạ phật lòng. Đồ con quỉ! Mạ tôi có khi ngầy ngà, nhưng tôi tin đó là lời mắng yêu. Quỉ sứ! Đôi khi o rủa xả và tôi nhăn răng cười nghe hạnh phúc lẫn khuất sát bên lưng. Thú thật, tôi đành làm đứa bất hiếu để giữ vững lập trường, ấy là nhan sắc của mạ tôi chẳng thể sánh cùng o được. Tôi mang cái ý nghĩ, chả biết đúng không, là càng sinh sau đẻ muộn chừng nào thì con người càng sáng lạng đẹp đẽ hơn tiền bối. Xem ảnh xưa, đọ ảnh mới thì phát hiện người trong ảnh hiện đại ngó mát con mắt hơn. Văn minh đã tác động, đã biến đổi thân phận chúng sinh. Nhưng ngược lại văn minh cũng tước đoạt đi phần nào đức hạnh có đầy trong lòng phụ nữ thế hệ mạ tôi. Nhiều khi thấy o làm đày làm láo, nói cạnh nói khoé thì e rằng o mà gặp phải mạ tôi thì sẽ bị bà cụ sửa lưng cho. Tôi mà sửa lưng thì o la lên: Quỉ sứ, làm người ta nhột bắt chết! Thiệt dị òm!

Đại nội buổi chiều luôn êm ả. Chim chóc hiếm quý về ẩn mặt trên cây cao hót vang rân lời tình ca thanh cao mát như chè đậu ngự thơm như chè hột sen. O sẽ làm chúng thôi hát hò khi dùng một vật nhọn để khắc tên vào thân cây mưng mủ. O ra đề và tôi không cách gì giải được bài toán đố dễ ợt ấy: Bao nhiêu cây khắc tên hai đứa và bao nhiêu cây có trái tim thành sẹo? Có khi vì muốn chôn dấu niềm bí mật, o đã cả gan leo lên một thân cây nhiều nhánh hí hoáy ghi tháng ngày lưu niệm. Tôi đứng bên dưới đám cỏ rạp mình với tư thế và nhiệm vụ của Thường Sơn Triệu Tử Long liều mình cứu ấu chúa. Tôi ngó mông đít của o và cầu trời cho o làm trái sầu riêng rụng sau hè để tôi ôm lấy, để tôi làm sáng tỏ vấn nạn rất mực hồi hộp: giữa hai đứa ai là kẻ bể đầu u trán, rách áo sút quần.

O mặc đồ bộ, áo quần tự cắt may không cần chuẩn không cần chỉnh. Vải chim cò mua ngoài chợ chẳng cần hỏi ý thằng quân sư theo hầu. Thứ y phục kia rõ là dùng để diện trong nhà, để mặc ngủ. Để ngầm thanh minh thanh nga: Bậy nà, mô có, đi chơi với bồ răng lại cẩu thả tới mức nớ. Đừng vu oan giá hoạ! Bộ đồ đó có khi o mặc để đi ra thị tại môn tiền náo cấp bách mua đường sữa diêm quẹt thuốc lá. Khôn, đến chốn lao xao; dại, tìm nơi vắng vẻ. Khôn hay dại đều phục sức tuềnh toàn nhất y độc quỡn, ngó quen con mắt. O ở với anh chị, nhà họ khá rộng, ngăn phân nửa mặt tiền dùng bán cà phê. Tiệm họ có khách, đông đảo buổi sáng, thưa thớt ban trưa, chộn rộn giấc tối. Khách đủ hạng bậc, đa phần là công chức, sinh viên học sinh, lèo tèo đôi ba ông lính xa nhà, vì công vụ phải mang thân ra trấn nhậm tuyến đầu, áo phong sương va vấp gió Lào bụi bặm Cổ thành bùn lầy sông Thạch Hãn. O và người chị đã có một con vô tình là đích nhắm của bọn khách lai tạp vui chân lân la kéo ghế. Quán có treo bức tranh xấu vụng thuở đầu đời của tôi, nhưng cái bảng hiệu tôi kẽ sơn sắc lẻm thì chín người hết chục đều trầm trồ tán dương. Mạnh miệng nhất là o: Suốt cả cuộc đời, tui dám cá, không có ai viết tên tui đẹp ác ôn như ri cả! Bắt buộc rồi, tôi nói thầm, bởi mấy khi mà được viết tên mạ mình ra, trịnh trọng với màu sắc từng qua bao đắn đo, to đùng, dĩ nhiên tôi phải le lưỡi ra mà nắn nót. Làm môn bài dựng bảng hiệu cho người dưng hạ hồi phân giải, trước mắt thấy công việc có nhuốm mùi linh thiêng. “Mạ ơi chớ đánh con đau, để con bắt ốc hái rau mạ nhờ”, nghĩ lại quả là chuyện nhỏ, bì chi lại với chuyện phục vụ thẩm mỹ, treo lên, ngó sáng rỡ cả khúc đường luôn ủ ê bóng tối.

Tôi thường ngồi đồng ở quán ấy, ngồi thế thôi, tựa một kẻ nhác chơi chứ không mang tà ý được thủ vai vế một cây si đang hồn lìa khỏi xác. Người đàn ông chủ quán ngờ vực tôi mê mệt vợ anh ta, có lẽ. Ông ta đánh ra một hư chiêu bằng cách biểu cô em tới cà khịa. Hai bà Trưng, chị ngồi rung đùi xem em hí lộng dương oai điệu võ. Mi phải thắng vì chiến trường này thuộc đất ta, lại nữa sau lưng mi có cả một hậu phương hùng mạnh vững chắc. Ta sẽ đích thân mang đao ra trận tiền hồi nào mi thân bại danh liệt. Lộng ngôn cho oai phong lẫm liệt chứ bản mặt cái thằng uống ly cà phê đá nhỏ chút xíu mà phải mất ba giờ đồng hồ mới xong kia coi bộ cũng sáng láng, trầm ngâm như táo bón chứ đâu lộ vẻ nham hiểm thủ đoạn gì cho cam. Mình bán buôn, họ là khách quen, mi nhớ lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. O là gái Huế trời bắt đẹp, o không phải gái Bình Định cầm thương cỡi ngựa múa roi vung quyền nên phút đầu ra quân o xuội lơ ngồi xuống ghế bàn giao vũ khí tự nguyện ký kết hiệp ước hoà bình.

Sau này kể lại sự tình, o ta thán: Răng tui hiền khô rứa không biết! Rồi hoành đao: Nhưng tuyệt đối hắn không dễ bị ăn hiếp. Rất cứng rắn để phân định đâu là lý đâu là tình. O tâm sự, ba mạ tui vẽ đường cho hươu chạy: Thứ nhất bác sĩ thứ nhì kỹ sư thứ ba chuyên gia kinh tế. Tui định hướng về đường một chiều: Thứ nhất văn sĩ thứ nhì nhạc sĩ thứ ba hoạ sĩ. Nghe bồ học Mỹ thuật tướng tá nghệ sĩ nên… có nói năng chi cũng thừa. Tôi la lên trong lòng, hoan hô đồ bất hiếu, nhờ em mà thế giới này bớt chật chội bớt ngột ngạt bớt nhung nhúc những bác sĩ kỹ sư.

Chúng tôi đi trong không gian vua chúa cận thần ngày cũ lùng sục một chỗ ngồi xét thấy bình yên, thoáng đãng. Giữa những dãy tường thành kiên cố vây bọc luôn lai vãng một hương mùi có vẻ không thực, thoạt biến thoạt hiện. Không chính xác là mùi long não, nó gần với thứ mùi luôn ngự dưới đáy rương. Nó cất giữ những cổ vật để khi nhìn thấy nét tàn phai, điều khiến bạn mềm lòng chính là thứ mùi ẩm mốc, nó đi qua bao thời gian trong câm nín và nó đang tan rã vào hư không. Nó lưu trong khứu giác bạn lời hờn trách nhẹ, xa vắng về cái vô tâm mà bạn lỡ phải lựa chọn khi tiến bấp bênh tới trước.

Tôi ngắt cho o một cành hoa dại run lên giữa đám cỏ mọc đầy hoa mắc cỡ trong khi o trải khăn và bày thức ăn ra. Căn cước bọc nhựa, thẻ sinh viên trong túi quần là thứ vật bất ly thân, hầu như tôi luôn moi ra để trình cho nhân viên công lực khi họ làm nút chặn rà soát an ninh thành phố. Vậy mà tôi không nhìn thuộc ngày tháng năm sinh. O nói, hôm nay o dậy lúc năm giờ sáng để thong thả tự làm bánh nậm, rửa lá chuối, khuấy bột, làm nhân tôm thịt, gói rồi hấp trong nồi nước chưng cách thuỷ. Hơi phá lệ, hơi cầu kỳ bởi giản dị hôm nay là ngày sinh nhật của tôi. Tôi đứng yên một khoảnh khắc vì bất ngờ, vì cảm động rồi như do ma quỉ xúi dục tôi dang rộng vòng tay để ôm chặt lấy o. Tôi gọi thầm tên o cũng là tên mạ tôi nhiều lần trong tâm. Nếu là hoàng thượng tôi sẽ cởi long bào, ném xuống đất cho được thong dong, rồi bồng o mang đặt lên ngai vàng. O anh minh như thế thì những oan trái khuất lấp của dân sẽ được mắt xanh ngó ngàng tới, hỏi han, ân cần để gia ơn.

O mang theo đủ đầy bộ sậu để chu toàn buổi picnic đầy bất ngờ. Bánh o làm muôn năm sẽ không dở bởi ngoài những nhu liệu căn bản để làm nên bánh còn được o pha trộn lòng thương yêu vào, kín đáo, ý tứ, dịu dàng. Tôi hỏi, tại sao Huế có thành ngữ “con yêu bánh nậm”? Yêu tinh hay yêu thương? O nói o không biết, ngay cả đó là lời tuyên án hay mỹ từ dùng để tán dương. Khi nghe ai quở “đồ con yêu bánh nậm” thì chắc là ẩn chứa sự chê bai, ác ý. Tôi nói, trong các thứ bánh, tôi yêu bánh nậm nhất. Mỏng lét, ít nhân nhuỵ, rác ngập đầu mà bụng vẫn chưa no, có thể buồn miệng ăn luôn cả người dậy sớm để làm ra nó. Thay vì mắng quỉ sứ như thường nhật, o hát nhỏ bài Happy birthday. Đôi khi chim không về, chim thôi hót bởi vì dưới mặt đất kia vừa có ai ngân nga một cung bậc trong vắt, sóng sánh làm chao lòng người. “Chim xa rừng thương cây nhớ cội, người xa người tội lắm người ơi”. Chim thôi hót cũng do lẽ chim biết dự báo một hoạn nạn sắp đổ về qua tiếng vọng của bom đạn tự rừng sâu. Chim lặng lẽ bay, người lặng lẽ dấu kín những nỗi niềm.

Chiến tranh lan rộng làm thu hẹp vùng đất đặt chân, và ứng xử duy nhất buộc phải xảy đến là người ta mang mạng sống mỗi cá nhân vắt giò lên cổ làm cuộc Nam tiến. Ba chân bốn cẳng mà vượt đèo cao núi lớn. Tiệm cà phê chưa thực sự cửa khoá then cài nhưng tên quán, tên o, tên mạ tôi tuồng như có suy suyển chợt vẹt hư hao móp méo thôi phát hào quang. O giữ tôi lại, biến tôi làm một thành viên tham dự phiên họp kín. Anh chị o quyết định bồng con dại vào Đà Nẵng, trở ngại họ gặp phải là o không chịu đi. Lý do vững chải o đưa ra, đi cũng đồng nghĩa là chịu mất cái quán này. Cam tâm không? Đi, đành lòng qua cầu rút ván, hay đi còn mong ngóng một trở về? Không ai trả lời được câu hỏi sáng suốt kia. Và tôi, vô tình làm đứa để cho anh chị o đặt để niềm tin. Họ trao cho tôi một bao vải, thứ dùng đựng cát để che chắn đạn pháo, họ bảo số tiền chứa trong này không nhỏ, có thể cầm cự sống thở nguyên tháng, hãy chăm sóc bảo vệ lấy o, sống chết có nhau đồng kham cọng khổ. Người chị o nhìn tôi như muốn xác tín lại lần chót một hy vọng không trông nhầm người. Giao trứng cho ác là điều bất khả. Vào thắp nhang bàn thờ ôn mệ mà khấn cầu. Anh rể bắt tay tôi, người chị ôm siết o, đứa bé ngủ mê mệt trên tay bà giúp việc. Và tối đó một chiếc xe nhà binh ghé lại, mang họ xuôi Nam. Mái tóc rối bung của người chị bay ra ngoài ô cửa ngoái nhìn, đêm nội thành sương xuống pha màu sữa đục. Tất cả lặng câm, kể cả động cơ gắn ở chiếc xe màu cứt ngựa đang vụt biến kia.

O khoá chặt cửa nẻo, trước sau. O không tắt đèn, để minh định nhà vẫn còn người sống thở bên trong. O sợ bóng tối, trong muôn một, nó là đồng minh của cô đơn và ở một mặt nào đó, nó xúi dục người ta làm chuyện rồ dại, trao vào lòng ta sự can đảm đến mù quáng. Trai đơn thân gái lẻ bóng, khi có dịp kề cận trong gang tấc, muôn đời họ ưa lẫn vào bóng tối, ước ao bóng tối phủ chụp lên xác thân, nhưng bây giờ chưa phải là thời khắc đó. O biểu tôi giả làm người khách cuối cùng ngồi yên trên ghế để o đóng vai cô hàng nước pha cà phê mang ra. Chúng tôi là hai diễn viên tồi tệ chẳng biết cách nhập vai. Sau cùng, hết hoang mang o mang ra một gói thuốc, ngồi ghế đối diện và chúng tôi cùng thở khói chung một điếu chuyền tay. Mắt o đen láy, khói thuốc như biết làm cho nhãn tuyến kia ướt át, sâu thẳm. Đang chuột sa hũ nếp, đang rơi vào kho thực phẩm phồn thịnh nhưng chúng tôi thích san sẻ, uống chung tách cà phê đen, làm ngắn cụt mau bề dài điếu thuốc. Thảng hoặc o ho lên, tiếng khô, thảng hoặc o vén tóc nhét bên tai, thảng hoặc o ngắm lên bức tranh tôi vẽ, thảng hoặc o lắng nghe một tiếng động vụt qua bên ngoài cánh cửa ngăn chia. Nhưng trong ngần ấy thời khắc của canh khuya o tuyệt không nhìn vào mặt tôi. Xúc giác chúng tôi nhìn nhận ra chỉ là khoảnh ngắn khi chuyền tay điếu thuốc. Khói la đà váng vất trên vuông bàn như ý nghĩ tôi dật dờ sẽ làm gì đêm nay.

Tôi nói đến phiên tôi làm chủ o làm khách và tôi sẽ thực thi châm ngôn của người nước ngoài: Khách là thượng đế. O oải, hết hứng thú, nhác chơi. O bảo, đi theo o để chỉ bày một vài nơi chốn. Đây là chỗ tắm rửa, đằng sau tấm màn là chỗ tiêu tiểu. Đây là bếp. Đây là chỗ tui ngủ ngáy. Giường này của anh chị tui. Bồ sẽ ngủ ở đây.

Trên vách có treo tấm ảnh chụp lấy hai vợ chồng, có lẽ trước ngày cưới. Cạnh đó máng cái đồng hồ mặt tròn và kim chỉ giờ đang rơi tới số 4. Có thể nó đã chết, đã rối giây tóc. Hai cây kim thôi xê dịch, thời khắc sững yên. Nếu nó sống thì bốn giờ sáng không phải là lúc hối thúc người ta đi ngủ. Bình thường, đó là khoảnh khắc mà người ta đang chìm trong mộng đẹp, người ta hưởng thụ điều không thực đó, nướng thân trên chăn ấm nệm êm cho đến khi gà trống rướn cổ lên gáy sau vườn nhá nhem. Mặt trời lên, người ta bần thần ngồi dậy, ngác ngơ trong mùng tối để hiểu vỏn vẹn một điều, mình còn sống, mình chưa thầm lặng ra đi trong đêm. Một kiếp người, có được bao nhiêu đêm người ta an lòng sống trong giấc mộng? Tôi không ngủ, tôi đang tỉnh thức, có nghĩa là tôi biết tôi đang thực sự chìm vào một cơn mơ. Tôi ở gần o quá, dưới một mái nhà và chỉ có o và tôi. Tôi chưa bao giờ có điều kiện để tâm sự cùng o, ít ra là nói cho o nghe niềm bí bật: Tên o mang trùng hợp với tên mạ tôi, người tôi yêu quí suốt đời, thuỷ chung, bất biến. Hơn cả đường mía lau, hơn cả nước trong nguồn chảy ra, hơn cả trời biển.

O bảo, o đi tắm khi đến bên tủ lục soạn áo quần. Này quần lót, này áo nịt ngực lần lượt ló dạng trên tay. Tôi ngó thấy, cắc cớ nghĩ, sao con gái họ khổ thân đến thế? Ngay cả khi ngủ họ cũng phải trang bị bao nhiêu khê là vật cản trở, máu huyết làm sao lưu thông vận hành êm đẹp? Họ trần như nhộng có phải là da dẻ được mượt mà thông thoáng hơn không? Chưa kể là lỗ chân lông có điều kiện xả bớt những bức bối suốt ngày bị giam giữ. Cơ thể họ thơm tho hơn và họ có thể phát hiện những đổi thay trên da thịt mình. Và… và…

O đóng kín cửa phòng tắm. Nghe được cái móc sắt vừa gạt qua ngấc an toàn. Một khẩu súng e cũng tựa thế, bóp cò không được khi bị khoá chốt. Đạn sẽ vãi ra khỏi nòng hồi nào anh mở khoá, buồn tay anh gạt nó qua ngấc tự động, 15 viên bay ra trong tích tắc để hậu quả ghi nhận có biết bao kẻ từ chết tới bị thương… Tôi ngồi xuống chiếc giường được chỉ định, suốt đời tôi chưa bao giờ được ngả lưng xuống cái mênh mông tựa thế. Tôi quen ngủ giường cá nhân chật chội mình ên không thể xâm phạm. Giường này dành cho hai người, một đôi vợ chồng. Con nít thì ngủ nôi nên chắc chiếu chẳng ngấm mùi nước tiểu. Hai chiếc gối căng phồng và tôi lựa chiếc gối sát vách để kê đầu. Thường, nam nhi đại trượng phu vẫn nằm ngoài để che chắn bảo vệ. So ra tôi thích chỗ nằm của người nữ hơn, chưa kể người nữ ấy là chị ruột của o. Nếu o thơm như múi mít thì người chị phải sở hữu mùi sầu riêng. Nếu o là lê thì chí ít chị o phải là lựu bởi giản dị chị o từng là đèn mà o từng là trăng. Tôi úp mặt xuống gối ngửi lấy thứ hương mùi bồ kết vương vấn. Mái tóc dài kia đã bay tới ngang đâu? Đá Bạc? Đèo Phước Tượng? Cầu Hai? Xe leo lên Hải Vân với biển gào dưới núi?

Lơ mơ tôi nghe bước chân o rón rén vào chỗ nằm. Cách lắm vật cản trở nhưng với khoảng cách đó người nằm bên kia sẽ nghe rõ mồm một những gì thằng người nằm bên này ú ớ mê sảng. Tôi hỏi vọng qua, chương trình ngày mai của tụi mình sẽ như thế nào? Có vào Đại nội đè mấy cây trinh nguyên mà khắc ghi? Quỉ sứ. O pháo kích qua. Mình đâu có thể nhận biết tin tức của họ, hỉ? Chẳng rõ họ vào Đà Nẵng có bình an không?

Tôi đổi thế nằm, đâu mặt qua bên kia biên giới. Bây giờ giống như thể đường một chiều, tin nhắn chỉ phát ra từ đây thôi. Ai cũng tìm cách đi vào chứ có ai mà đi lộn lui. Khoảng yên lặng phủ chụp xuống, ngay cả ngọn đèn vàng sáng loá giữa phòng cũng đang thao thức. Ngủ nghê gì được, vấn đề là tôi không biết o đang nằm với tư thế nào? O nhắm mắt hay mở rộng hai hàng mi? Tôi chép miệng, không hiểu sao đâm nhớ và thèm ăn bánh nậm kinh khủng! Bên kia có tiếng vật mình, trăn trở. Có nhớ câu hỏi “con yêu bánh nậm” là gì không? Nói bá vơ, nói tầm bậy tầm bạ chứ có thể bánh nậm nhằm ám chỉ cái vật ấy đó. Cái vật gì? Quỉ sứ, đừng giả bộ ngây thơ cụ. Không biết thì tự tra khảo lấy một mình đi.

Và rồi Huế chết. Chúng tôi thoi thóp trong nhà nên nhà không bị hôi của phá cho tan hoang. Cảnh vật thay đổi hoàn toàn như thể chúng tôi bạc tình ngoảnh mặt húp xong chén cháo lú. Huế lạ mặt và Huế thù hận, điều ấy kéo chúng tôi lại gần hơn, ôm ấp nhau để vơi bớt tuyệt vọng. Phượng ra hoa nhưng hoa nhường sắc đỏ cho cờ xí giăng mắc, phủ ngộp. Màu đỏ tượng trưng cho sức mạnh của cách mạng và màu đỏ là màu có khả năng đốt cháy hết dưỡng khí. Người ta đâm kiệt quệ, người ta đâm nghi ngờ lẫn nhau và người ta bán đi những vật thiết thân quý giá kể cả đạo đức. Chúng tôi sống mỏi mòn từng ngày ngóng đợi tin tức vợ chồng anh chị của o gửi về nhưng bặt tăm.

Một đêm rằm, sau khi tắm gội xong, o bày trái cây hoa quả lên bàn thờ, pha trà rót nước lọc rồi đứng thành khẩn cúi đầu với tay khum ôm giữ ba cây nhang. O thì thầm o lâm râm o khấn nguyện rồi o vẫy tay biểu tôi đứng sát bên o. Tôi sẽ tái lập những động tác o đi tiên phuông, bắt chước đừng sai trật.

Biết hôm nay là ngày chi không? Ngày rằm. Ừ, chỉ đúng có phân nửa. Nửa kia là ngày sinh nhật tui. Tôi nuốt nước miếng, không có bánh nậm để ăn mừng hè? Thắp đuốc tìm không ra! O ngó sâu vào mắt tôi, mí mắt không máy động, như thể một kẻ đang theo học thuật thôi miên. Trước bàn thờ ông bà ấm áp hương đèn o nhón chân quàng tay vào cổ tôi để ghì giữ uỷ thác một nụ hôn. Mùi hoa sen thơm ngọt, thanh khiết thực ra phát xuất từ nụ hôn vĩnh cửu nọ. O ở gần đống bùn là tôi mà người o vẫn thanh cao, vẫn vẹn toàn một hương sắc.

Ưa ăn bánh nậm không? Một câu hỏi, chỉ vỏn vẹn năm chữ mà nó làm thay đổi được hai số phận. Chúng tôi làm tình trên chiếc giường có sẵn hai gối, dưới lưng trần chúng tôi là chiếc chiếu có nhuộm phẩm hình long phụng quấn quýt vây bọc chữ song hỷ. Chiếu cũ, đã nhạt màu nhưng chính o vừa bôi đỏ lại cái chữ trừu tượng đó. Đỏ, là màu cách mạng. Đỏ, cũng là màu máu trinh nguyên thoát ra từ một cửa mình chưa từng bị xâm phạm. Một đàng là dùng bạo lực để san bằng mọi rào cản hòng chiếm đoạt mục tiêu trong mù quáng. Một đàng là tự nguyện dâng hiến, sắt son một lòng tin yêu của tình nghĩa vợ chồng. Tôi dùng lưỡi liếm cạn những giọt nước mắt của o. Tôi không đủ tỉnh táo để truy nguyên nước mắt ứa ra do hoan lạc hay do một đớn đau chẳng thể bày tỏ. Vị mặn của giọt lệ kia gần tượng hình là hạt muối. Và chẳng phải vô cớ mà ông bà mình rêu rao: Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau.

Tôi ôm o, hạnh phúc như đứa trắng tay ôm được rương bảo vật. Và cái ý nghĩ sẽ mọc lên trong đầu thằng người ấy là gì? Nếu không phải là nó sẽ dùng mọi biện pháp để bảo vệ thứ tài sản hiếm hoi kia. Chữ “tôi yêu em” sẽ chẳng có giá trị, bởi rơi vào trường hợp của tôi, bạn sẽ bất lực không biết dùng từ gì để diễn đạt. Ngày cũ, tôi có đọc báo Phổ Thông, trong mục tìm tòi thú vị, họ đăng tải: Theo sự bỏ công tra cứu của những nhà khoa học, cái kết quả đưa ra có thể gây mất lòng một số quý bà, đó là trung bình đàn ông họ sử dụng 7000 chữ trong một ngày, trong khi đàn bà thì lên tới 20.000 chữ.

Tôi thương o ở thêm cái khoản o rất mực ít nói. Hai đứa chúng tôi cọng lại, bình quân mỗi ngày nói khoảng 5000 chữ. Bạn phải nên chúc mừng chúng tôi, vô can không ưa ngồi lê đôi mách. Hay bạn lại mắng mỏ chúng tôi: Chế độ này chỉ có đảng viên hoặc bọn dư luận viên mới mang tật già mồm. Mẹ nó chứ, hai đứa bây biết đéo gì mà nói. Tập câm họng là hơn, con ạ! Cẩn tắc vô ưu.

Chúng tôi cẩn tắc. Chúng tôi rón rén. Chúng tôi dọ dẫm. Chúng tôi biết lễ độ. Chúng tôi tập ứng xử, tập thích nghi. Nhưng mà ưu phiền như mạng nhện bủa vây, không tha cho, không bỏ sót. Vợ chồng anh chị o do hồng phúc được định cư tại Mỹ. Họ có chụp ảnh gửi về nhưng tiếc là o bạc phận chẳng được ngắm lấy để xuýt xoa. Tôi viết thư hồi âm, dự định xả oá dùng hơn 7000 chữ để tả tình tả cảnh, để minh hoạ một tình huống, một cảnh sống, một trường hợp éo le. Tôi le lưỡi phong kín phong thư. Keo ngọt lơ lớ mà nhớ vị mặn giọt nước mắt ai. Thư mỏng tang đem ký gửi cho con rùa bưu điện. Tôi chỉ đủ sức mạnh để viết được 7 chữ ngay ngắn: Vợ tôi đã chết. Bị xe đụng.

Tôi lập trang thờ cho o, tươm tất. Phía sau, để trám bức vách rạn vỡ gạch vôi, tôi treo tấm bảng hiệu quán cà phê ngày cũ án che. Ngày ba bữa thắp nhang tôi đều thấy mạ mình đứng đó han hỏi chuyện trò tâm đắc cùng o. Hai người đàn bà tôi yêu thương nhất trần đời. Nhưng, họ sống ở cảnh giới khác, xa cách tôi. Đó là bi kịch. Dẫu càm ràm tới bảy triệu chữ, cũng còn thiếu khi khô hơi bể phổi đi than van, trần tình.

Hồ Đình Nghiêm 

Tháng 1.2018

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 9 Jan 2024

Bài 45

Phần 44

Một đợt biên chế nữa trong nội bộ các trại lại diễn ra. Một số bạn nằm cùng nhà 2 đội 17 với Vĩnh như Ý, Huy, Dương… lại bị phân tán sang các nhà khác. Bù lại, một số bạn khác như Tạc, Tiến, Hóa… lại trở về nhà 2 nằm chung với Vĩnh. Khi đợt biên chế đã hoàn tất thì trời đất cũng xoay vần trở lại mùa tang chế của quê hương!… 
Cuối tháng Tư năm 77, trong lúc lòng mọi người đang cư tang cho ngày mất nước hai năm về trước, thì bọn cai tù trại An Dưỡng được lệnh tổ chức một đêm chiếu phim cho tù cải tạo xem. Bộ phim này có tên là Sao Tháng Tám. Những cảnh đói trong phim đã gây bàn tán thật nhiều. Bọn tù, người thì cả quyết đó là tài liệu thật, người thì cam đoan đó chỉ là những phim được dựng cảnh sau này nhằm Mác-xít hóa nội dung một thảm cảnh có thật của người Việt Nam. 
– Dựng thế chó nào được. Một người trong nhà 2 lên tiếng. Lấy tài tử đâu ra mà đóng những vai ốm đói!? 
Có tiếng cười của người khác. 
– Tiên sư anh, sao anh ngu thế? Anh cứ nhìn lại thân anh coi, anh có giống y chang những người ốm đói năm 45 không? Hiện giờ cả nước có hàng triệu người đang rất thừa khả năng thủ những vai ốm đói như vậy mà không cần một chút ngụy trang nào. Nhà nước dựng một phim như thế, chứ dựng hàng trăm phim như thế vẫn có thừa tài tử đóng chùa… 
Chiều cuối tháng Tư trời oi ả như muốn ngột bất cứ lúc nào. Nằm trong phòng lúc nhúc người, mỗi người hai gang tay rộng cho chiều ngang chỗ nằm, Vĩnh chỉ muốn chui ra ngoài sân ngồi cho thoải mái nhưng lại làm biếng. Ra sân ngồi thế nào cũng khổ vì cái đói thức dậy hoành hành. Thà nằm trong nhà, lỗ tai lùng bùng đủ thứ chuyện bàn tán của bạn bè mà đâm hay; cái đói chẳng có thì giờ len vào quấy nhiễu, không những trong bụng mà còn trong tim trong óc. 
Đàng góc kia, Nguyễn Đình Tạc đang ra sức hành một nghề mới kiếm tí thuốc lào của anh em cúng dường. Hắn nằm trên một chiếc võng, bạn bè bu quanh để nghe hắn “lên phim” – một từ ngữ mới dùng cho việc kể chuyện Tam Quốc hoặc chuyện chưởng – Vĩnh phải công nhận Tạc có một trí nhớ tuyệt vời. Hắn có khả năng kể lại bộ tam quốc ròng rã ba tháng trời với không một chi tiết hay một lời bình nào bị bỏ sót. Tạc còn sở hữu một lối kể chuyện duyên dáng không thu gì Đặng Thế Tiến, thành thử rạp hát của hắn cũng chẳng thua Tiến bao nhiêu. Ở góc khác, trong tinh thần cạnh tranh thương nghiệp tư sản, Tiến cũng nằm trên võng và lên phim cho một số thích phim chưởng nghe. Trong mấy tháng nay, đêm nào cũng một tiếng, hắn lần lượt chiếu hết các bộ Cô Gái Đồ Long, lại sang bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ. Tiếng kể chuyện râm ran, tiếng thì thầm bàn tán những chiến thuật tuyệt vời của Khổng Minh, sự nhẫn nhục để thành đại sự của cha con Tư Mã, những đường đao bất hủ của Lãnh Diện Nhân hoặc cái đàn ông tính đầy quyết thắng của Lâm Bình Chi trong Tiếu Ngạo Giang Hồ… Vĩnh nằm giữa nhà, bên nào hấp dẫn anh xử dụng lỗ tai bên đó. 
Thỉnh thoảng lại có tiếng chửi thề đồng nổi lên một lượt để phê phán thái độ phá đám bầu không khí yên lặng của Bùi Vịnh. Từ ngày được xem phim Sao Tháng Tám, bọn tù chỉ rút ra được một câu duy nhất trong phim, ấy là lời rên xiết của một người sắp chết đói nằm bên vệ đường, bị người ta hốt ném lên xe đem đi chôn. Người sắp chết ấy dù chỉ còn là một bộ xương, vẫn cố ngốc đầu lên thều thào than một câu: Bẩm lạy quan, con chưa chết xin đừng chôn con!… 
Câu nói ấy được bọn tù lập đi lập lại như một hàm ý chọc ghẹo bọn quản giáo, xa hơn, mỉa mai cả chế độ rằng họ đang chôn sống những người cải tạo trong các trại tập trung. 
– Con chưa chết xin đừng chôn con! 
Mọi người đang mải mê lắng nghe Tiến và Tạc kể chuyện, bỗng nhiên Bùi Vịnh lại rú lên cái câu nói nhiều chất thảm chen lẫn chất tếu ấy khiến ai cũng bực. Bực thì bực, lâu lâu buồn miệng nó vẫn rú lên. 
– Ối giời ơi con chưa chết xin đừng chôn con! 
Đêm nay cũng như mọi đêm, sau một ngày lao động cật lực; sau bữa chiều với hai sét cơm độn khoai sắn chan tí nước muối với tí rau dền luộc; sau giờ họp tổ và họp nhà với đủ thứ đấu tranh, phê bình, mổ xẻ… ; sau khi biết rõ ngày mai mình sẽ làm công tác gì; Vĩnh và các bạn lại chui vào phòng nằm thở ra. Thình lình ông già Đang chui vào chỗ Vĩnh nói. 
– Ông có quen ai là Nguyễn Chí Kham phải không? 

Vĩnh gật đầu. 
– Vâng, sao? 
– Có người xưng tên là Nguyễn Chí Kham muốn gặp ông ngoài cửa kìa. 
Nghe ông già Đang nói Vĩnh vội ngồi bật dậy và phóng nhanh ra cửa. Một anh tù với dáng lè phè đang đứng ngay bên trái cửa, tuy nhiên Vĩnh thấy đôi mắt anh ta nhìn ngang liếc dọc như phải dè chừng một cái gì. Vì chưa từng gặp nhau trước đó, Vĩnh vội hỏi khẽ. 
– Ông là Nguyễn Chí Kham? 
Người đối diện chợt cười vui vẻ. 
– Dĩ nhiên không thể là Nguyễn Chí Thanh! Nói đoạn anh tiếp. Gớm, tôi với ông Dzoãn Bình nhắn tin mấy tháng nay mà không cách nào gặp được ông. Tôi có gặp Nguyễn Hữu Nhật đi lao động cách đây cả tháng. Hắn làm ở khối mộc, nói rằng gặp ông trên bệnh xá. Ông đau gì vậy? 
– Đủ thứ ông ơi, nhưng đau đầu là bệnh nặng nhất. 
Nói rồi Vĩnh nắm tay Kham lôi vào nhà. Vào đây ông, vào đây nằm nói chuyện thú hơn. Nhà này chịu chơi lắm. 
Kham có vẻ e ngại khi nghe lời đề nghị của Vĩnh. Anh ta nói. 
– Tôi đội thằng Lê Bá Lý. Nó đã cấm ngặt liên hệ linh tinh và cấm ngặt người của đội nó dẫn người đội khác vào nhà mình hoặc ngược lại. Nó vồ được cũng phiền lắm. 
Vĩnh cười. 
– Ông cứ yên tâm. Nhà tôi toàn là những thằng từng ở với nhau từ Trảng Lớn lên đây. Biên chế qua lại rồi cũng gặp nhau cả. Chịu chơi chứ không tệ như mấy đội khác đâu. 
Thế rồi Kham theo Vĩnh vào nhà và hai đứa trò chuyện với nhau đủ thứ. Kham cho biết đơn vị sau cùng của anh là đài phát thanh Huế. Anh được biệt phái và đi tù với cấp bậc thiếu úy. Anh cũng khoe về một số truyện ngắn anh viết trong tù và phải dấu diếm thật kỹ càng. Vĩnh hỏi. 
– Thế ông trước ở trại nào? 
– Tôi từ trại 2 biên chế sang trại 4 tuần rồi. Có cả anh Dzoãn Bình nữa. Anh ấy ở cùng đội tôi hiện giờ. Ông nội ấy tôi teo quá. 
Vĩnh ngạc nhiên. 
– Sao vậy? 
– Ở tù mà vẫn giữ nguyên cái tật ăn to nói lớn. 
– Tốt chứ sao! 
– Tốt gì. Hồi bên trại cũ ông ấy bị chúng nó nhốt connex hết mấy ngày. 
– Lý do? 
– Hôm ấy đi lao động lên luống. Tôi với ông ấy cuốc gần nhau. Thằng chính trị viên trại 2 nó ra tham quan hiện trường, nó hứng thế nào kể cho lũ tù nghe một hai mẩu Tam Quốc. Ông Dzoãn Bình nhà ta coi mòi cảm khái, tự dưng hỏi lớn: Ủa! anh cũng biết cả chuyện Tam Quốc nữa à? Thằng chính trị viên nó sùng, nó kết án ông ấy khinh người Cách mạng là ngu dốt, đem cất ông ấy vào connex hết mấy ngày. 
– Vậy lúc này ông ấy ra sao? 
– Ông ấy muốn gặp ông lắm, bảo tôi sang đây rà đường xem có ông không. Nếu có ông ấy sẽ mò sang sau. 
Mười phút sau đó Vĩnh, Nguyễn Chí Kham và anh Dzoãn Bình đã gặp nhau nơi chiếc bàn ọp ẹp ngoài sân nhà 2. Ba người gặp nhau thầm thì to nhỏ. Anh Bình than thở về gia cảnh anh, rằng vợ anh mất, anh đi tù để lại ba cô con gái tuổi còn vị thành niên. Thế nhưng lần thăm vừa qua anh không ngờ ba cô bé cũng lo cho bố thật đầy đủ. Rồi thì câu chuyện lan man qua vấn đề sinh hoạt. Kham than thở anh xui xẻo rơi vào cái đội quá hắc ám, cầm đầu là ông Lê Bá Lý. Anh Dzoãn Bình sau lúc đầu thủ thỉ, dần dần trở lại thói quen cũ, anh cười nói oang oang ngoài sân khiến Vĩnh cũng phát ngại. 
– Cậu cứ yên tâm. Cứ khai bệnh cho tôi. Cậu đau thật cậu sợ đếch gì. Nhưng mà tôi bảo thật cậu còn lãng mạn lắm, tóc tai vẫn nghệ sỹ bồng bềnh thế kia… 

Vĩnh cười. 
– Thôi lạy anh. Bồng bềnh nghệ sỹ cái con khỉ. Chẳng có dao kéo mà hớt đấy thôi. 
Qua câu chuyện tiếp nối, Vĩnh cũng được biết đáng lẽ Dzoãn Bình chưa bị bắt, nhưng vì nghe theo lời kêu gọi của Ủy Ban Quân Quản, anh vào trình diện Việt Nam Thông Tấn Xã và chúng khui ra tiểu sử anh từng là cựu thiếu úy tham gia chống Pháp xưa kia, thế là anh mắc kẹt luôn… 
Anh Bình lại nói. 
– Tôi nghe phong thanh sẽ có đợt đi Bắc hoặc tổng chuyển trại lớn sẽ được thực hiện vào tháng Sáu hay tháng Bảy này. Cũng có thể một số rất lớn được thả. Tuy nhiên cậu và Kham còn có hy vọng được thả, chứ nếu có đi Bắc phải hẳn là tôi bỏ mẹ trước nhất! Bỗng nhiên anh reo lên. Quên! Chuyện qua chuyện lại, tôi có thằng bạn nhỏ nằm bên cạnh nó bảo nó là học trò cũ của cậu. Thằng ấy nó lai Tàu, nhà giàu lắm. Chuẩn úy hay thiếu úy gì đó. Quà thăm cả hai tạ, nó ăn ròng rã từ đó đến giờ vẫn chưa hết… 
Nghe nói thì biết vậy. Người ta chỉ có thể nhớ được ai từng là thầy mình, làm sao nhớ nổi ai từng là học trò mình. 
Đêm xuống, anh Bình và Kham trở về đội của họ. Vĩnh vào nhà nằm nghĩ mà buồn vì đã chẳng có gì để đãi hai người bạn văn mới gặp trong tù. Vĩnh đành nằm yên lắng nghe tiếp chuyện Tam Quốc đang được Tạc say sưa kể. Anh chợt chồm tới đánh cắp một bi thuốc của Tạc được cúng dường nhét trên vành lỗ tai. Tạc vừa kể vừa đong đưa võng, không biết mình mất thuốc. Vĩnh bò ra kiếm cái điếu. Anh ngửi bi thuốc và biết rằng đây cũng chỉ là một bi thuốc rổm, thứ quái quỷ này rít vào rát cổ như bị Lý Tiểu Long đá trúng một ngọn thất cước liên hoàn. 
Giọng Tạc vẫn đều đều. 
– Ấy là: Thành quách Hớn gia đã đổi chủ  Giang sơn Ngô quốc lại hầu nghiêng… 
… Tấn chúa biếu chơi Tôn Hạo chức Quỷ Mạng Hầu, con cháu đều phủ phê cảnh cơm no bò cỡi. Bọn nâng bi cho Tôn Hạo cung bắt tạm cái tước Liệt Hầu thừa sức tham ô lãng phí; đè đầu đè cổ nhân dân. Chỉ có Thừa Tướng Trương Để là đau. Lịch sử với mâm trên mâm dưới chỉ thuộc về những thằng còn sống nhăn. Trương Để sớm ra đi để làm người thiên cổ, thành thử chuyện quyền cao chức trọng, áo mão xênh xang đành để cho lũ con cháu hưởng hàm xài tạm… 
Ấy ta mới thấy rằng rốt cuộc ba nước đều quy về tay một thằng trời ơi đất hỡi… Nhưng nói thế cũng chẳng đúng lắm, vì người ta có tài mới quy được đất nước về một mối. Ít nhất cũng phải có tài lỳ lợm, chịu khổ chịu nhục như cha con Tư Mã, phải không các đồng chí? Để ứng dụng vào thực tế cải tạo, đề nghị các đồng chí tối nay nằm vắt chân chữ ngũ, đào sâu suy nghĩ xem làm cách nào hạ nổi những kẻ lỳ lợm đến vô sỉ cở cha con Tư Mã. Anh nào tìm ra giải pháp, kẻ hèn này sẽ tình nguyện chiếu hết bộ phim Hán Sở Tranh Hùng cho riêng người ấy người nghe. 

Những tiếng xầm xì nổi lên. Tạc ngồi bật dậy khỏi võng, đọc như một bài học thuộc lòng. 
Bộ Tam Quốc đến đây là dứt. 
Ai muốn biết nhà Tấn ra sao? 
Mau mau quyên góp thuốc lào, 
Nộp cho hàn sỹ (thì) chuyện nào cũng cân. 
Những cái điếu cầy lại rú lên trong đêm. Bên kia Đặng Thế Tiến cũng có vẻ mệt mỏi và máy chiếu cũng coi mòi hết pin. Hắn kết thúc thật mau đoạn kết câu chuyện kể và nhào về phía Vĩnh. 
Mấy thằng thân thiết với nhau lại kéo ra sân ngồi quây quần tán dóc. Vĩnh luôn luôn là kẻ vô tài trong việc kiếm chác thuốc lào. Nhưng Tạc và Tiến đã biến thành hai nhà cung cấp thuốc lào chính yếu cho cả bọn. Tiến moi trong túi ra năm bảy bi thuốc gói cẩn thận trong miếng giấy nhỏ, trình làng như khoe một thành tích. Tạc cũng chẳng kém gì. Hắn cũng moi ra mấy bi thuốc lào thật “xiện” trình làng. Tạc cười. 
– Khi nãy tao nhét một bi thuốc “lá cà chua” trộn vài sợi lông nách trên vành tai, chẳng biết thằng khốn nạn nào thuổng mất. Tao cứ cười trong bụng mãi. Mẹ kiếp, thằng nào hút nhằm bi đó hết đầu thai. 
Vĩnh biết Tạc đùa xỏ anh nhưng anh chỉ cười. Vĩnh hiện có một cái khổ tâm là có đến hai nhóm bạn đều thân thiết nhưng lại không hợp nhau. Một bên là Phạm Xuân Huy, Nguyễn Văn Ý, Vũ Duy Dương, Đặng Minh Tuấn tự Tuấn Râu và Phạm Điểu. Một bên là Nguyễn Đình Tạc, Đặng Thế Tiến và Nguyễn Văn Hóa. Ngồi với đám Phạm Xuân Huy chỉ bàn tới chuyện trốn trại. Còn ngồi với đám này chỉ bàn chuyện tiếu lâm chửi xiên chửi xéo chế độ. Đêm nay Vĩnh ngồi với đám Tạc nói chuyện văn nghệ văn gừng. Đôi khi qua những câu chuyện ôn lại những chuỗi ngày ở Trảng Lớn, Vĩnh lại chùng lòng xuống khi nhớ tới Nguyễn Thành Đính và Nguyễn Tất Ứng. Chả hiểu giờ này chúng nó trôi dạt tới đâu!? Bàn hết chuyện này đến chuyện khác, cuối cùng thế nào cũng tới chuyện ăn chuyện uống. Lúc này cả trại đều đói thê thảm. Quà cáp và thăm nuôi chưa thấy trại nhắc nhở gì. Trong cái hoàn cảnh thiếu thốn này cái thèm như có lý do tăng nhanh tăng mạnh gấp trăm lần trong lòng mọi người mỗi khi có ai lỡ dại nhắc đến những món ăn này kia kia nọ. 
Đặng Thế Tiến bàn chuyện món ăn, Tạc bỗng nói len vào với giọng báo động. 
– Này tụi mày, tao thấy thằng Võ Hữu Hiệp lúc này nó có vẻ trở chứng rồi đấy. Từ dạo nó lên làm nhà phó, lại bị vồ vụ lượm cam dọc đường, tao thấy nó đổi tính hẳn. Lầm lì ra mặt trông ngại lắm. Vĩnh gạt đi. 
– Kệ cha nó. Mình làm chó gì mà sợ! 
Tiến chen vào. 
– Rầu mấy đấng ăng ten quá. Sống đã khổ quá rồi, còn hành hạ nhau làm gì nữa!? Lắm khi tao không hiểu nổi vì đâu lại có tệ nạn ăng ten trong tù! Chả lẽ giờ lại còn kẻ tin rằng đi làm chó săn sẽ được về sớm hơn chăng? Thà lên năm lên mười, đây thằng nào cũng có sạn trong đầu cả, ấy thế mà vẫn làm những chuyện tào lao gì đâu! 
Tạc nói. 
– Chuyện này không phải là chuyện lên năm lên mười. Chuyện này là chuyện của bản chất con người. Gần hai năm qua, ai cũng có thể biết rõ một điều chưa có thằng nào bị thúc súng vào lưng bắt làm ăng ten cả. Dầu cũng có một vài trường hợp bị khung chiếu cố và bắt chẹt chuyện nhà, nhưng mình tiếp tục cứng nó cũng chẳng làm đếch gì được mình. Nói cho cùng nó cũng chẳng có quyền gì. Chỉ là một đám cai tù thuần túy. Nhiệm vụ duy nhất là giữ sao cho tù không thoát chạy. Có thế thôi. Nịnh bợ, van xin, tâng công, chỉ điểm… người có óc phải hiểu rõ đó là những hành động cực kỳ vô ích chứ? 

Tí than hồng tù mù để trên chiếc bàn xiêu vẹo bỗng rực lên vì một cơn gió bất chợt thổi qua. Vài con mối dại dột lao vào bốc lên một mùi khét chen lẫn mùi thơm thơm. Cái đói tự dưng như cồn lên trong lòng mọi người. Giờ này và nơi đây biết đào cái gì ra mà ăn!? Cả bọn chợt rủ nhau ra giếng tắm để hy vọng quên đi được cái đói đang hành hạ mình. 
Vừa dợm chân đứng dậy thì Vĩnh vội đứng lại vì có một người lạ tiến đến trước mặt. Trong bóng tối mờ mờ ánh trăng, người lạ hỏi khẽ Vĩnh như sợ có người đi sau theo dõi. 
– Xin lỗi, anh có phải là Vĩnh không? 
Vĩnh ngạc nhiên. 
– Tôi đây. 
Người đối diện bỗng nhìn kỹ Vĩnh hơn và reo khẽ. 
– Ồ thầy! Thầy nhớ em không? 
Vĩnh thành thật. 
– Xin lỗi quả tình tôi không nhớ ra anh. 
Vĩnh lại phải kéo anh bạn trẻ ngồi xuống bàn, để mặc đám Tiến dẫn nhau đi tắm. 
– Em là học trò lớp Anh văn của thầy ở trường Quốc Việt. Em là Lâm Thanh. 
Dù chẳng thể nhớ ra người đối diện, nhưng Vĩnh vẫn tin đây là người học trò cũ của mình. Vĩnh tươi cười. 
– Anh em mình không ngờ lại gặp đây. 
Người bạn trẻ bỗng khoa tay như từ chối một điều gì. 
– Ý thầy, sao thầy nói vậy? Em vẫn là học trò của thầy mà. Đâu có dám ngang hàng anh em. 
Quả tình Vĩnh thấy khó xử trong trường hợp này. Nhưng thôi kệ, anh ta muốn gọi Vĩnh là sao cũng được. Phần mình, trong tù giữ lấy cái thế bình đẳng bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Vĩnh xoay sang chuyện khác. 
– Vì sao cũng đi cải tạo vậy? 
– Thầy ơi đáng lẽ em đâu có kẹt vậy. Hồi 70 em đỗ tú tài Việt. Ông già em lo cho em đi Hồng Kông nhưng em thích đi lính hơn. Em nhất định ở lại và tình nguyện đi khóa 2/71. Hồi 75 gia đình em kẹt hết trọi vì em mắc kẹt dưới Cần Thơ lên không đặng. Em bị đi cải tạo với cấp bậc thiếu úy thầy à. Vậy chớ thầy sao? 
– Thì tôi cũng đang ngồi đây với anh chứ có khác gì đâu! 
Người đối diện như muốn nói một cái gì khác, nhưng có lẽ sự ứng phó tiếng Việt của anh ta không nhạy bén, thành thử anh ta chỉ ậm ừ rồi hỏi han tiếp. 
– Thầy có được gia đình thăm không? 
Trong này ai cũng học được một kinh nghiệm xương máu, ấy là sơ giao không bao giờ nên móc ruột ra cho bất cứ một người nào khác xem. Tránh nói bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Con ếch nó chết vì cái mồm! Bài học ấy Vĩnh rất thuộc nên anh tìm cách hỏi trở lại. 
– Sao anh Thanh biết tôi đi cải tạo vậy? 
Thanh thành thật. 
– Dạ em nằm bên cạnh anh Kham từ hồi bên trại 2. Cả cái ông già Bình nữa. Em nghe họ nhắc đến bút hiệu của thầy. Em nhớ thầy. 
– Ủa, sao anh biết bút hiệu tôi? 

Thanh trả lời với giọng hơi kinh ngạc. 
– Ý thầy, lớp em hồi đó ai mà không biết bút hiệu thầy. Hồi thầy in quyển truyện dịch gì đó em quên tên rồi, thầy có đem vào trong lớp cho tụi em coi mà. Em có ra ngoài tiệm sách mua mấy cuốn tặng bạn bè tùm lum. 
Bây giờ Vĩnh đã hoàn toàn tin Thanh là học trò anh. Câu chuyện từ đó trở thành thân mật hơn. 
Đêm đã khuya, bọn Tạc đã từ giếng kéo về. Các nhà trưởng đã ra trước sân yêu cầu giải tán tập họp, tắt những bếp than nhỏ và vào nhà ngủ. Thanh vội vã đứng lên, lễ phép nói với anh. 
– Chiều mai lao động về em sẽ gặp thầy. Em còn nhiều đồ lắm. Em sẽ tiếp hơi cho thầy bất cứ thứ gì thầy cần. Thuốc tây em cũng không xài gì hết trọi. 
Vĩnh ậm ừ cám ơn và quay vào nhà khi Thanh đã rảo bước vào bên hông nhà đầy bóng tối tìm đường trở về dãy trại của anh ta nằm đâu phía cuối trại 4 sát khu thăm nuôi. 
Một ngày qua đi với đủ muộn phiền. Ít khi Vĩnh nhớ đến gia đình nhưng đêm nay tự nhiên anh trằn trọc nhớ đến các con quá sức. Anh nhớ thằng Khoa, thằng Nguyên, thằng Trung… 
Vài phút sau nóng quá ngủ không được, Vĩnh quyết định trở ra giếng tắm một mình. Vừa bước ra cửa, một tiếng gọi thật khẽ cất lên ngoài cái bàn ban nãy. 
– Thầy! 
Ánh đèn trong nhà chiếu ra nhưng không chiếu tới chỗ mấy cái bàn. Dù vậy, dưới ánh trăng mới nhú mỏng như một cái lưỡi liềm mòn, Vĩnh vẫn nhận ra Thanh. Anh tiến lại gần. 
– Ủa, anh quên cái gì chăng? 
Thanh nói. 
– Không, thầy! Em trở lại ngay để biếu thầy ít trà với đường nhưng thầy vô mất rồi! Em đang lo không biết làm sao kêu thầy… 
Nói rồi Thanh đứng lên, cẩn thận trao tận tay Vĩnh một cái gói được bọc kỹ bằng một miếng giấy dầu. Vĩnh khó nghĩ vô cùng. Tuy nhiên, anh không thể không nhận trước chân tình của một người học trò cũ Việt gốc Hoa. Anh cám ơn và giục Thanh trở về nhà ngủ với lời hẹn sẽ còn gặp nhau trò chuyện nhiều nữa. Trước khi Thanh quay đi, anh ta hỏi. 

– Thầy có chơi thân với anh Kham không thầy? 
– Không, chỉ biết nhau thôi. Nhưng anh cần gì? 
– Không, em không cần gì cả. Em tưởng thầy thân anh ấy, thầy nói giùm anh ấy đừng gây gỗ tùm lum nữa. Sao anh ấy nóng tính quá hà… 
Nói rồi Thanh chào Vĩnh và lẳng lặng rút đi cũng bằng cái lối đi đầy bóng tối bên hiên nhà 2 đội 17…







Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 9 Jan 2024

Bài 44

Phần 43

Cái Tết thứ hai trong tù đã qua đi và không còn để lại một tăm tích gì. Những bữa ăn ngon, những món quà gia đình đem vào gửi tại trại và được các tổ trực chuyển tiếp vào bên trong phát lại cho người được nhận hưởng cũng không còn lại chút dư hương nào. Cảnh no dồn đói góp đã khiến mọi người có gì là lôi ra ăn thục mạng với nhau trong mấy ngày Tết. Từ đó, ngày tháng lầm lì trôi qua và đói vẫn hoàn đói… 
Tin tức bên ngoài không ai nắm vững. Tù cải tạo luôn luôn sống sôi nổi trên những nguồn tin đồn. Tuy nhiên chỉ một thời gian sau, những tin đồn không thấy xảy ra một cách cụ thể, thì nó lại tan biến đi, để lại đôi chút muộn phiền xủi tăm trong giấc mộng đêm đêm và sáng ra sẽ nhường cho những đợt tin đồn kế tiếp… 
Nhưng đó là tin đồn, còn những tin có thật đăng rành rành trên mặt báo mà chiều về anh em xúm lại đọc nơi căng tin, dĩ nhiên sinh ra nhiều lời bình hơn và nhất là nhiều… hy vọng hơn. Chẳng hạn vụ Vinh Sơn xảy ra trong tháng 2 vừa qua. 
Với truyền thống bôi nhọ đểu cáng của bọn Cộng sản, dĩ nhiên vụ Vinh Sơn được đưa lên mặt báo bằng những hình ảnh và ngôn ngữ bẩn thỉu nhất…”tên phản động Nguyễn Quang Minh, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, đã cấu kết với bọn côn đồ để biến nhà thờ thành nhà thổ với máy in bạc giả… Cách mạng đã khám phá kịp thời, đã tịch thu được một số bạc giả cùng nhiều tư liệu chống phá chính quyền nhân dân dấu sau cung thánh… Trong cuộc lục soát, công an nhân dân đã tìm thấy cả những đồ lót của đàn bà trong phòng ngủ tên đầu sỏ Nguyễn Quang Minh… Nguyễn Quang Minh là tên cực kỳ phản động, đã từng làm việc cho CIA và có quá trình chống phá Cách mạng trong nhiều thập niên qua… Trong phòng hắn treo những câu thơ có tính chất ru ngủ và đầy yếm thế như: Trăm năm nào có gì đâu. Chẳng qua một mớ cỏ khâu xanh rì…”. 
Bản tin đầy tính chất bôi nhọ được đăng tải trên tờ Sài Gòn giải phóng, thực tế đã làm cho mọi người lên tinh thần không ít. Nơi đây, nơi chốn lao tù cải tạo này khác nào một cái hộp sắt kín bưng! Vấn đề Vinh Sơn công khai bùng nổ trên mặt báo, nghiễm nhiên đã biến thành một cái mốc cho mọi suy diễn và hoài vọng: Như thế là việc chống đối có tổ chức của nhân miền Nam nhằm vào bạo quyền Cộng sản là một điều có thực! Và phải chăng Vinh Sơn chỉ là một? Còn bao nhiêu cái tương tự như vụ Vinh Sơn mà vì lý do chính trị, báo chí Cộng sản đã phải hoàn toàn bưng bít? 
Gia đình anh Phạm Xuân Huy sống ở Xóm Mới, nơi có nhiều cuộc ám sát bọn bộ đội và công an quăng xác vào nghĩa trang. Mấy tháng về trước chị Huy vào thăm và cho anh Huy biết rằng Sài Gòn bây giờ ví như một con rồng có nhiều đầu. Cộng sản đã dại dột nhảy lên lưng con rồng ấy với một thanh mã tấu gẫy trên tay. Chúng chém đầu này thì đầu kia nổi lên, quơ mã tấu đầu kia thì đầu khác lại ngóc dậy nhả khói phun lửa. Con rồng Sài Gòn dù hiện nay chưa hất thằng Cộng sản khỏi lưng được, nhưng chắc chắn thằng Cộng sản sẽ tự hủy vì phải dương đông kích tây quá nhiều mà kiệt sức… 
Vĩnh đã nghe kể lại câu chuyện ấy, và dù nằm trong một hộp sắt không thể phối kiểm được với thực tế bên ngoài, nhưng chuyện Vinh Sơn đã khiến không riêng Vĩnh mà hầu hết các bạn đều tin rằng quả thực Sài Gòn đang là một con rồng nhiều đầu! 
Bọn cai tù cũng biết bọn tù đang hướng về con rồng nhiều đầu đó, do vậy, chúng làm mọi cách để những bộ óc phản động ưa suy diễn phải mờ mịt đi. Một trong những phương thức xuất sắc là “cho chúng mày nếm đủ mùi khổ nhục thì ắt chúng mày sẽ chẳng còn hơi đâu mà suy diễn nữa”. Và sự khổ nhục hiện tại là tù cải tạo đã có dịp hát lại một câu hát bất hủ của Phạm Duy viết nhiều chục năm về trước… “Có người cày thay trâu cày!”. 

Cánh rừng nằm giữa trại An Dưỡng và phi trường Biên Hòa giờ đã thật sự biến thành ruộng trồng lúa. Trại 4, nơi mà Vĩnh và các bạn hiện đang sống kể từ sau lần tổng biên chế tháng Mười Một, được xử dụng như thành phần chính trong công tác cải tạo đất, dẫn thủy nhập điền và cấy lúa. Khâu này có nhiệm vụ phân lô đất, lên bờ, thu góp và san xẻ đều lớp đất màu mỡ cho những chỗ ruộng có quá nhiều chất phèn. Khâu dẫn thủy nhập điền phải thi công gánh nước từ con suối chạy dọc khu canh tác của trại 1 về đổ trên ruộng. Khi ruộng đã có một độ lầy đủ, tù bắt đầu kéo cày xới đất. Những cái cày do khối mộc chế tạo cũng tương tự như cái cày đã xuất hiện trên mặt trái đất từ đời ông A-Dong. Tuy nhiên, nếu xét trên phương diện “văn minh văn hóa” thì thời đại Hồ Chí Minh nhất định phải thua thời đại A-Dong, do bởi thời đại A-Dong và bà E-Và đã biết xử dụng con trâu để ông A-Dong đỡ phải nai lưng ra kéo. Ngày nay, dưới chế độ giàu mạnh và khoa học tiên tiến của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dù con trâu con bò không được thờ phụng như ở Ấn Độ, nhưng mạng nó quý gấp trăm nghìn lần mạng con người cải tạo; do đó, con người cải tạo được nhà nước xử dụng vào vị trí con trâu con bò! 
Toán kéo cày của Vĩnh gồm Phạm Xuân Huy, Nguyễn Văn Ý và nhà trưởng Nhan Quang Minh. Vì đây là một công tác cực kỳ vinh quang trong xã hội mới là được trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, sản xuất ra lúa gạo nuôi sống con người, cho nên không ai có quyền đứng mãi ở vị trí của anh nông dân trên lưỡi cày để điều khiển bạn bè kéo cày, cho dù người ấy có đủ thứ bệnh tật trong người và sức nặng có thể còn thua ngay cả sức nặng cái lưỡi cày sắt… như Vĩnh. Nguyên tắc về kéo cày thực ra đã được mổ xẻ rất nhiều đêm tại các tổ các đội. Sau đó, hầu như tập thể nào cũng đưa ra quyết định như nhau: Thay phiên nhau kéo! 
Suốt ngày bì bõm với cái bụng đói meo, Vĩnh và các bạn thay phiên nhau đứng vào vị trí của con trâu kéo. Kéo tới, kéo lui, kéo ngang, kéo dọc! Kéo ngày này sang ngày khác mà vẫn chưa đạt chỉ tiêu và yêu cầu cải tạo đất của Cách mạng. Nếu giả như chúng để yên cho tù làm tròn cái kiếp trâu kéo cày thì cũng đành lấy làm sung sướng. Nhưng chuyện đâu giản dị như thế! Bọn vệ binh của trại 4 ác có lông bụng. Chúng không dễ chịu như bọn vệ binh trại 1 – có lẽ chúng ảnh hưởng nhiều phong thái của bọn an ninh trung đoàn, vốn đặt căn cứ tại ban chỉ huy trại 4 – Chúng hò, chúng hét, chúng chửi bới và báng súng sẵn sàng đập lên đầu bất cứ “con trâu” nào để cho sợi thừng trên vai mình chùng hơn những sợi thừng của hai “con trâu” đi cạnh. Dù sao thì việc qua mặt bọn vệ binh không phải là việc quá khó khăn. Nhưng qua mặt được anh cai nông trường hiện nay là chuyện không thể. Anh cai nông trường ấy, khốn khổ thay, lại cũng là một thằng tù. Một thằng tù từng là sỹ quan cấp thiếu úy “ngụy quân”, thì dĩ nhiên mánh mung của lũ tù ra sao anh cai đều thuộc nằm lòng! Anh cai này cả trại 4 biết danh có tên là Lê Bá Lý. Chao ôi! Nói đến anh Lê Bá Lý ai cũng hồn phi phách tán. 
Anh cai được Cách mạng nhiều lần đưa lên hội trường biểu dương như là một cải tạo viên ngoại hạng, cực kỳ tiến bộ, cực kỳ học tập tốt, cực kỳ lao động tốt và cực kỳ đấu tranh sai trái tốt. Thành quả đạt chỉ tiêu trong lao động của anh ta đã đánh tan mọi nghi vấn của Cách mạng (?) bởi những lời than vãn của nhiều chục triệu dân, rằng khẩu phần trong xã hội mới không thể cung cấp đủ ca-lo cho một người để hoàn tất một phần mười cái chỉ tiêu lao động trong ngày mà họ được nhà nước mời tham gia một cách… “tự nguyện có bắt buộc”. 
Do thành quả đó, Lê Bá Lý được đưa ra làm cai chính trong nông trường An Dưỡng. 

Vốn đã thừa thắng xông lên, anh ta còn xông hăng hơn nữa do những lời biểu dương và hứa hẹn công khai trên hội trường của quản giáo trại 4, theo đó, nếu có đợt thả trong những ngày tới đây (!?) thì anh Lê Bá Lý sẽ là người đầu tiên rời cổng trại An Dưỡng. Lý, do đó, ra tay quần thảo anh em. Hắn hò, hắn hét, hắn chạy đầu ruộng này tới cuối bìa rừng kia với một cái cây trên tay. Hắn chửi bới, hắn hăm he, hắn nạt nộ, hắn bắt đứng nghiêm, bắt ra trình diện vệ binh, ghi tên, lôi cả đội trưởng tổ trưởng của người chai lười lao động lên bờ ruộng chửi bới và bắt họp đội đấu tranh sai trái trong giờ kiểm thảo ban chiều. Chấm dứt kiểm thảo, đội trưởng phải đích thân nộp cho hắn biên bản giờ kiểm thảo cùng bản tự kiểm với lời thú nhận tội lỗi và lời cam kết nặng nề nhất của “tội phạm”. 
Bọn trâu-người bỗng thê thảm hơn sau lần Lê Bá Lý, một đêm kia được anh em trùm chăn khênh ra dãy cầu tiêu trại 4 với một sợi dây thừng. Không hiểu sao mạng hắn lớn quá. Hắn thoát chết treo lần ấy và thay vì tỉnh ngộ, hắn càng ra tay triệt hạ anh em tàn bạo hơn. 
Bì bõm kéo cày dưới nắng mưa, mắt lo canh chừng bọn vệ binh, mắt lo canh chừng Lê Bá Lý, mắt lo cảnh giác những con đỉa đói to bằng ngón tay cái bơi lền khên dưới ruộng phèn; hầu như tất cả mọi người đều ngậm miệng để giữ sức. Nhưng anh Huy ít khi ngậm miệng. Anh than thở. 
– Chao ôi! Mình thua chúng nó rốt cuộc chỉ vì hai nguyên do. Nguyên do thứ nhất là chúng ta đã bất hạnh có một thế hệ đàn anh cầm quyền lèo lái quốc gia, khi mà chính bản thân họ chưa được trang bị kiến thức và đạo đức tối thiểu của những người lãnh đạo; chưa có khả năng để phân biệt nổi đâu là ranh giới của nhà bếp và nhà nước. Nguyên do thứ hai là chúng ta đã bất hạnh có một thằng bạn đồng minh ích kỷ và lọc lừa… 
Anh Huy bỏ dở câu nói. Anh lại lẩm bẩm trong miệng như người đọc kinh và ra sức kéo lưỡi cày vừa bị lún quá sâu dưới lớp đất sình. 
Ý nói. 
– Bây giờ chẳng thể ngồi trách ai được. Mình lo thân mình thôi. 
Huy lại cất tiếng vu vơ. 
– Giai đoạn này trốn được chưa nhỉ? 
Cả Vĩnh và Ý đều giận cái kiểu nói vu vơ của anh Huy. Dù sao cũng có nhà trưởng cày chung trong toán. Nhan Quang Minh không phải là người xấu, nhưng kín đáo hơn vẫn là giải pháp hay nhất. 
Nhà trưởng Minh bỗng len ào và nói về một câu chuyện không ăn nhậu gì đến câu chuyện Ý và Huy nói khi nãy. 
– Tôi nghe hậu cần trại bảo trong tuần thế nào cũng có tiếp phẩm. 
Huy trả lời ngay. 
– Chao ôi! Từ tháng 10 đến giờ cho ba lần tiếp phẩm rồi. Lần nào cũng xà bông bột với xà bông ghẻ. Không có thì cần thật, mà có kiểu này không biết lấy chỗ đâu mà chứa. 
Vĩnh cười. 
– Có còn hơn không. 
Huy cãi. 
– Đồng ý, nhưng có kiểu này thì kẹt lắm. Tiếp phẩm được quy định rõ ràng mỗi hai tháng được một lạng thuốc lào, hai lạng đường, một kem răng. Xà bông đâu phải dành cho cải tạo. Xà bông là của cán bộ và vệ binh. Họ dư dùng, họ gạt phéng cho cải tạo tính trên trị giá tiếp phẩm cải tạo được quyền hưởng và hiên ngang xử dụng số tiền đó cho việc bồi dưỡng riêng họ. Chơi gì chơi cha vậy! 
Nhà trưởng Minh có vẻ rất khổ sở khi phải nghe những lời lẽ “phản động” của ông già Huy. Nhưng anh ta cứ lờ đi và có chút ân hận rằng chính anh đã nêu ra cái tiền đề cho việc tranh cãi không đúng lúc đúng chỗ này. 

Huy vẫn chưa muốn thôi, anh tiếp. Mẹ kiếp cướp cơm chim! 
Trong lúc đó bỗng nhiên những tràng súng nổ ròn rã vang lên chấn động cả một vùng. Những tên vệ binh ngồi trong những túp lều tranh tránh nắng được dựng trên bờ ruộng khắp đó đây đồng loạt lao ra khỏi lều và hét bọn tù. 
– Tất cả ngồi xuống tại chỗ! Tất cả ngồi xuống tại chỗ! Ai bất tuân bị bắn hạ ngay! 
Mặc dù biết rõ có một biến cố quan trọng đã xảy ra trong bọn tù, trốn trại chẳng hạn, nhưng vì kéo cày mệt quá, được lệnh ngồi xuống thì hầu như tất cả mọi người đều lợi dụng thời cơ nghìn năm có một ngả luôn người cái phịch xuống ruộng bùn. Nằm thở một cái đã rồi tính. 
Quả nhiên một phút sau đó tin trốn trại của một vài anh em làm gần chỗ ruộng giáp ranh rừng thuộc phạm vi trại 2 đã loan truyền khắp nơi. Bọn quản giáo và vệ binh chạy như bầy vịt về phía ven rừng. Những tràng súng thay phiên nhau nổ ran trời. Vĩnh và các bạn đều hồi hộp lo âu cho người đào thoát. Một lúc sau, bọn quản giáo và vệ binh trong toán truy lùng cạnh rừng bước ra. Thằng nào thằng nấy sình lầy lên tới cổ. Nhưng thảm thương nhất là một anh cải tạo bị bốn thằng vệ binh dùng dây trói kéo lê phía sau. Vì cách quá xa, Vĩnh và các bạn chỉ có thể nhìn thấy người bị kéo trồi lên tụt xuống trên một địa thế sình lầy và cao thấp không đều. Kẻ trốn trại sau cùng được lôi lên mặt đường nhựa. 
Sự cựa quậy và rên xiết của anh khiến mọi người biết anh còn sống. Lên tới mặt đường nhựa, anh còn bị kéo một khoảng nữa. Giờ đây, kẻ trốn trại đã nằm trong tầm nhìn rõ rệt của Vĩnh. Thốt nhiên, người Vĩnh như bốc lên một cơn sốt. Lần đầu tiên trong đời, anh thấy một con người bị trói bằng dây thép gai và bị kéo lết gần một cây số đường ruộng ra tới đường nhựa. 
Xưa kia Chúa đầu đội mão gai, vác Thánh Giá ngã lên ngã xuống nhưng liệu có đau đớn bằng người tù hiện nay không? Anh ta nằm trên đường, hiện thân chỉ còn là một đống bùn lầy pha trộn với máu đỏ đang ứa ra từ trên bụng, trên tay, trên lưng và trên cả cần cổ. Trời ơi, rõ ràng ngày nay một con chó bị què, hoặc bị thương, thậm chí đã chết nằm trên đường chắc chắn có hàng trăm người nhảy tới dành giật để kiếm chác tí thịt; nhưng một con người nằm quằn quại trên đường không ai muốn; hoặc nếu muốn cũng không có quyền nhào tới dù chỉ để quan sát cho tận tường… 
Thằng vệ binh đang canh chừng đội 17 trên thửa ruộng nằm cạnh đường, hích hích mũi súng về phía Vĩnh, lên giọng: Đấy, ngoan cố trốn trại tìm cách chống phá Cách mạng kết quả là như thế đấy! Chúng mày thằng nào anh hùng cứ bỏ chạy tao coi. 
Nói xong câu hăm he vu vơ, hắn xách súng bò lên đường nhựa tiến đến gần người lâm nạn và tiện chân đá đại vào người “tên phản động” một cái. Đá xong, hắn chà chà mũi dép râu xuống đám cỏ ven đường và lẩm bẩm chửi thề, tuồng như cái thân xác kia đã làm dơ bẩn mũi dép của hắn. 

Lúc này mọi người ngồi dưới ruộng đều âu lo cho số phận người nằm trên đường. Không ai nhận được lệnh bước lên tìm cách cầm máu cho nạn nhân. Vĩnh vẫn đăm đăm ngó vào những sợi thép gai giờ đã cắm sâu vào thân thể đầy bùn của người nằm trên đường. Máu vẫn rỉ ra và đã nhuộm đỏ một khoảng đường nhựa. Bọn vệ binh và quản giáo đứng dạt ra vì sợ dính máu dính bùn của người trốn trại. Trong lúc bọn tù chưa biết số phận người trốn trại sẽ bị xử lý ra sao, thì tiếng reo hò tở mở nơi góc rừng lại vang lên. Tiếp theo đó là những tràng súng thị uy bắn khắp cùng. Nơi các bộ chỉ huy trại hình như đã được báo động. Một số vệ binh từ các ngả chạy túa ra dàn đội hình tăng cường. Một số chạy thẳng ra cổng trại An Dưỡng. Vĩnh cố gắng nhìn cho rõ những việc đang diễn ra nơi bìa rừng. Ý bỗng thều thào. 
– Chết mẹ, chúng nó lôi ra một thằng nữa kìa! 
Vĩnh đã nhìn thấy rõ một người cũng đang bị bốn thằng vệ binh khác lôi xềnh xệch trên ruộng nước. Người đó hình như còn khỏe vì anh ta dẫy dụa coi mòi còn hăng. Bọn vệ binh đi theo cầm súng phang chí tử vào thân xác người đang bị kéo đi. Khi kéo tới mặt đường nhựa. Vĩnh thấy người trốn trại không còn dẫy dụa được nữa. Ít phút sau, anh ta cũng được lôi đến nằm cạnh người thứ nhất. Có lẽ anh này bị đánh quá nhiều nên máu ở đầu chảy chan hòa trên mặt đường. Dù sao anh vẫn còn rên được. Nghe rên, bọn vệ binh vừa tức tối nguyền rủa vừa dùng báng súng đánh vào xương sống anh cho đến lúc anh quằn quại rồi nằm yên như một xác chết. Máu, bùn, những con đỉa bám theo xác người giờ trộn với nhau trên mặt đường dưới ánh nắng chói chang của mặt trời tháng Tư. 
Giọng Huy. 
– Hai con rồi, chả hiểu còn con nào nữa không? 
Bây giờ bọn quản giáo và vệ binh đã cho hầu hết các đội trở lên mặt đường nhựa tập họp để sửa soạn ra về. 
Bọn quản giáo sau khi bàn thảo, bỗng ra lệnh cho Lê Bá Lý di chuyển các đội hình sang một khu đất rộng gần lề đường bên kia con lộ. Non một nghìn tù, sau năm bảy phút đã thiết lập xong đội hình tề chỉnh bên những đống cột đèn còn để ngổn ngang bên bờ đường. Hai người trốn trại vẫn để mặc nằm trên đường. Những bầy ruồi từ trong các trại, từ phía cầu tiêu của ban chỉ huy trại 4 đã ngửi thấy mùi máu bay ra và bu đen trên những vũng máu, cả trên xác hai người giờ không ai biết chắc sống chết ra sao! 
Một trong những tên quản giáo tiến ra trước hàng quân. Sau khi Lê Bá Lý hô nghiêm nghỉ, hắn bắt đầu lấy giọng và lên lớp. 

– Các anh thấy gì chưa? 
-…… ! 
– Đấy, hậu quả tất yếu của những kẻ ngoan cố không chịu học tập cải tạo đấy! Hôm nay, tôi tranh thủ quán triệt sơ bộ các anh vài điều. Hắn khẽ lắc đầu. Không, đúng ra là nhắc nhở lại với các anh vài điều. Xã hội ta, Cách mạng đã nói rất nhiều lần, là một xã hội có tình cho những người tốt và có biện pháp xử lý đích đáng cho những kẻ xấu. Hai tên phản động kia đã lợi dụng trong lúc lao động bỏ trốn vào rừng, và còn có hành động chống trả lại các đồng chí vệ binh khi bị bắt lại. Bản án tử hình đã treo sẵn trên cổ chúng nó. Nói tới đây, tên quản giáo giơ hai tay lên trời, nói lớn. Tôi không hiểu các anh nghĩ thế nào!? Cách mạng đã quy các anh về đây, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các anh học tập cải tạo, tại sao trong các anh vẫn còn nhiều kẻ không nhận ra lòng bao dung của Cách mạng? Học tập trong xã hội ta là một nghĩa vụ, các anh hiểu chưa? Một nghĩa vụ đòi hỏi mọi người phải có một thái độ tự giác một cách… bắt buộc. Tại sao các anh không nhận ra được rằng bánh xe lịch sử đang quay? Mà bánh xe lịch sử đâu có phải là một cuộn chỉ! Hai thằng phản động kia, các anh đã thấy rõ. Hành động trốn trại, khước từ học tập của chúng rõ ràng là một sự chận lại bánh xe lịch sử và đã bị bánh xe ấy nghiền nát. Tôi cũng cho các anh biết, một thằng tên Trần Thiện Lân, cựu đại úy ngụy hoạt động cho CIA nhiều năm. Thằng thứ hai là Lê Thành Nhân, cựu hạ sỹ tình báo của chế độ Sài Gòn. Cả hai thằng đều đã biết rõ tội ác chúng phạm với Đảng, với nhà nước và với nhân dân sẽ khó được tha thứ. Do đấy, đã quyết định từ khước học tập và tìm cách trốn vào rừng theo bọn tàn quân chống phá đánh trả lại Cách mạng. Nhưng…
Tên quản giáo không nói tiếp nữa. Hắn quay lại nhìn một thằng quản giáo khác, hỏi. Đồng chí Thùy, đồng chí có muốn lên lớp gì không? 
Thằng được gọi là Thùy chỉ lắc đầu. Tên quản giáo quay lại bọn tù, tiếp. Thôi được, bây giờ các anh đội trưởng lần lượt điểm danh báo cáo nhân số lần cuối và tuần tự cho anh em trở về trại. 
Một chuỗi đội hình như một con rắn khổng lồ mệt mỏi bỗng cựa mình dưới nắng. Con rắn từ từ bị cắt ra từng đoạn nhỏ, tiến lên đường nhựa và tủa ra các hướng trong trại An Dưỡng. Chẳng còn mấy ai ngoái nhìn lại hai người bạn đang nằm trên mặt đường với thép gai quấn chặt trên người, với từng bầy ruồi bu đen, với những tiếng rên thật khẽ như lời thì thầm với một thần chết nào đó, với máu lệ, với nỗi tuyệt vọng sau cùng trước định mệnh quá khắt khe đang từ từ khép lại hai mảnh đời muốn bỏ trại tù ra đi tìm lại các chiến hữu cũ… 
Đội 17 trên đường về trại 4 không quá xa, nhưng bước chân của mọi người dường như không còn muốn cất nổi. Nắng đã làm khô những lớp sình trên đầu cổ chân tay, trên những bộ quần áo rách như tổ đỉa. Có người vừa đi vừa cố gắng gỡ từng tảng bùn khô trên mặt xuống. Có người than đói, có người thầm thì ước ao sao giờ này có được một ly nước đá lạnh…
Trên đường, một người đàn bà từ phía bộ chỉ huy trại 4 bỗng xuất hiện và đi ngược chiều với đội 17. Vóc dáng mụ vừa lùn vừa mập. Đôi hông nỡ quá độ khiến mụ có chiều ngang gần như suýt soát bằng chiều cao. Bộ tóc dài tới đít quấn đuôi Sam trông dị hợm khác thường. Thê thảm nhất là bộ mặt. Dù có tí phấn hồng quệt vụng về trên đôi má có nọng, nhưng cặp mắt ti hí và hàm răng vẩu đã tạo cho mụ một cái vẻ thật kỳ hình dị tướng. Mụ đi một đôi dép Nhật, diện một cái quần sa tanh đen và một mảnh áo phin nõn. Bọn tù xì xầm trong hàng. 
– Chắc vợ thằng thủ trưởng. 
– Tao sợ là nữ cán bộ hộ lý. 
Bọn vệ binh đi xa xa không nghe thấy lũ tù bàn tán. Nhưng mụ ta thì nghe thấy rất rõ. Có thằng cất lên một tiếng thở dài lúc mụ tiếng ngang qua đội hình. 
– Chao ôi! Đúng là người đẹp năm tấn bảy tấn. Thèm quá! 
Thật là tai biến chung cho cả đội vì câu nói ấy. Mụ ta chợt đứng phắt lại. Câu nói của một thằng tù đã như một chiếc đũa đóng thấu vào tai mụ. Mụ trợn mắt méo mồm la to mà không một ai ngờ nổi. 
– Các đồng chí vệ binh đâu, các đồng chí để cho mấy thằng tù vô giáo dục nó tự do thị phi tôi phải không? 
Hình như mụ rất có uy lực trong tiểu đoàn, do đó, khi nghe thấy mụ hét, bọn vệ binh áp tải đang đi thụt phía sau bỗng giẫy nẩy và vác súng chạy lên chận đội 17 lại. Nhiều đội khác vội vàng lách sang một bên để vượt qua đội 17 với những ánh mắt e ngại ngoái nhìn. Tên vệ binh chận đội 17 xong, lên đạn và hét lớn. 
– Gì đấy chị cả? Có chuyện gì thế? 
Bên kia đường mụ đàn bà đã xoay hẳn người lại trực diện với tên vệ binh và đội 17. Bây giờ mọi người mới nhận ra bên tay phải của mụ cầm hai ổ bánh mì vàng au vô cùng hấp dẫn, được bọc ơ hờ trong một mảnh báo. Hai ổ bánh mì vàng căng trong tích tắc đã thu hút được tất cả những ánh nhìn chiếu tướng của bọn tù đội 17. Chẳng mấy ai còn lưu tâm tới cái tai biến đang xắp xảy diễn ra cho cả đội vì sự la làng của mụ đàn bà. 

Mụ đàn bà hình như cũng ngượng khi thấy hàng trăm đôi mắt ngó vào mình một cách quá trìu mến! Nhưng đã lỡ làng, mụ đành nói với tên vệ binh. 
– Đồng chí áp tải cải tạo đi lao động sao ơ hờ thế? Mụ nghĩ ngợi một chút. Khi nãy đi qua đội này, tôi nghe tiếng người chọc ghẹo tôi. 
Tên vệ binh hình như sợ uy người đàn bà, hắn quay sang bọn tù. Thốt nhiên hắn cũng nhận ra bọn tù hiền quá, thằng nào thằng nấy đều chiếu những ánh mắt thật kính cẩn vào người đàn bà đứng đối diện. Hắn có vẻ không tin bọn tù lại dám chọc nữ cán bộ giữa ban ngày. Thế nhưng hắn cũng phải lên tiếng. 
– Này, các anh đội này ấm ớ gì đấy? Muốn về ăn trưa hay muốn bị quỳ cả đội tại đây? Ai? Ai đã có lời xúc phạm chị cả của trại? 
Mụ đàn bà sau khi thấy bọn tù có vẻ hiền lành thật, vả lại như còn gấp chuyện gì, mụ ta chỉ lên tiếng. 
– Thèm quá, thèm quá là cái ý gì? Khi nãy tôi nghe rõ ràng trong hàng có người thấy tôi đi qua cất tiếng chọc ghẹo bảo là thèm quá! Cải tạo thế bao giờ tiến bộ mà về. 
Nói xong mụ ta có vẻ hơi ngượng cho lời lẽ của chính mình. Tên vệ binh cũng hơi buồn cười nhưng đã có vấn đề thì phải giải quyết. Hắn quay lại một người đứng gần nhất, hỏi càn. 
– Thèm? Anh có thèm không? 
Tên tù ngây thơ. 
– Dạ thèm chứ! 
Cả mụ đàn bà lẫn tên vệ binh đều ngẩn người. Mụ ta bỗng gắt. 
– Đồ đàn ông gì mà lỗ mãng. Thèm, thèm cái gì? 
Tên tù đầy “ngụy tính” bỗng mỉm cười nói khơi khơi. 
– Dạ thưa thèm ổ bánh mì!





Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 9 Jan 2024

Bài 43

Phần 42

Thấm thoát cái Tết thứ hai trong tù lại sắp đến. Công tác phá rừng đã gần như hoàn tất. Cả một cánh rừng biến thành những thửa đất trống có cao độ không đều. Nhân số dồn cho việc thanh toán phần rừng cây còn lại đã giảm sút hẳn, thay vào đó, bộ chỉ huy trại dồn tối đa công tù vào việc san đất cho bằng để biến thành những thửa ruộng sau này. Những anh tù có bằng kỹ sư canh nông được trưng dụng trong công tác đạc điền và làm việc ngày đêm với những dụng cụ chuyên môn cũng đều tự chế. 
Trên con lộ chính của trại An Dưỡng, cảnh kéo cây đã thưa thớt. Từ hướng trại 4, nơi Vĩnh và các bạn đang ở sau lần tổng biên chế tháng 11, đã có thể nhìn thấy phi trường Biên Hòa thật rõ rệt qua một giải đất trống mênh mông. Trên giải đất ấy, ngày nay tù đang phải ra công san đất theo sự hướng dẫn của toán đạc điền. Những thửa ruộng vuông vức liền nhau theo hình nấc thang đã nhen nhúm thành hình. Dù sao sự thành hình của nó cũng đã tốn khá nhiều xương máu của bọn tù cải tạo. Mấy tháng qua đã không biết có bao nhiêu vụ mìn nổ, rắn cắn, cây đè… làm thiệt mạng và gây què cụt cho nhiều người. Người đã chết dù sao cũng không còn gì để đau khổ. Nhưng người còn sống như thằng Long nhí thì khốn khổ quá chừng. Hai mươi hai tuổi đầu bỗng nhiên thành phế nhân. Cẳng chân đạp mìn của nó đã bị Cách mạng với phương tiện y khoa rùng rợn nơi đây, đã đem ra cưa tới ba lần. Lần đầu cắt khớp đầu gối, vết thương vẫn làm độc và ăn vào xương. Lần thứ nhì cưa thêm một đoạn xương đùi, vẫn làm độc thêm một đoạn tủy xương. Lần thứ ba cái đùi thằng Long chỉ còn một khúc ngắn mà vẫn ra nước vàng chưa biết rồi trong tương lai sẽ còn cưa tới đâu nữa! 
Mỗi chiều lao động về thấy thằng Long ngồi lê trước thềm nhà, nhìn anh em đi lại với sự thèm khát, Vĩnh nhiều lần không dấu được nước mắt. Khốn khổ hơn cho nó là gia đình nó đã di tản hết hồi 30 tháng Tư. Lần thăm vừa rồi nó chỉ được một người cô vào thăm cho ít đồ ăn, tuyệt nhiên chẳng có thuốc men gì. Anh em có hũ Bi nào đều cho nó cả, nhưng với phương tiện y khoa của trại cải tạo, cưa chân bằng một cái cưa sắt, khử trùng bằng thuốc đỏ, chữa trị hoàn toàn bằng kiểu… chó liền da gà liền xương thì làm sao cho khỏi! 
Và cả trại An Dưỡng hiện nay có bao nhiêu Long? Chẳng ai có thể biết hết được! 
Người lành lặn thì trầm luân dưới sự đầy ải, người què cụt thì không thuốc men chữa trị; mỗi người đều có một cái khổ riêng, riêng Nguyễn Ngọc Trụ có lẽ sướng! 
Trước Tết chừng một tháng, một buổi sáng toàn trại An Dưỡng được lệnh ngưng lao động. Ngưng lao động, thường ngày, vẫn là một niềm vui lớn của tù cải tạo. Thế nhưng sau khi đã biết lý do của việc được nghỉ lao động ngày hôm nay, chẳng còn ai thấy vui được nữa. Thay vào đó, một không khí chờ đợi ngột ngạt lan nhanh như một bóng chiều tà trong tâm hồn mọi người: Nghỉ lao động để tham dự phiên xử đại hình tên phản động Nguyễn Ngọc Trụ! 
Phiên xử được tổ chức tại tòa nhà xây đồ sộ nằm trên ngọn đồi phía sau trại 1. Theo một số người cho biết, tòa nhà này xưa kia Mỹ dựng lên để dùng làm nơi mổ và ướp xác các lính Mỹ tử trận trước khi đem về nước. Dù tòa nhà to lớn nhưng cũng chỉ có thể chứa chừng một ngàn người, do đó, ban chỉ huy cả 4 trại lựa lọc một danh sách “đại diện” các nhà, các đội lên tòa nhà ấy để được chứng kiến phiên xử. Vĩnh là một trong những người có tên được lên tòa nhà ấy để có dịp nhìn tận mắt nền công lý của cái gọi là xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

Mười giờ sáng thì tù cải tạo có tên đã tề tựa đông đủ trên tòa nhà với những đội hình ngay ngắn. Đứng dưới nhìn lên cái sân khấu còn để lại sau lần liên hoan ngày quốc khánh của nhà nước Cộng sản 2-9 vừa qua, người ta thấy trên ấy có kê sẵn một dãy bàn dài. Đàng sau dãy bàn có non chục cái ghế. 
Ngồi trong một cái nhà xác ẩm mốc chờ giờ xử một người hùng và cũng là một người bạn, chẳng riêng Vĩnh mà tất cả mọi người đều có chung một cảm giác uất hờn tái tê. Những cơn gió gai gai lạnh của một sớm cuối năm, thổi từ những cánh đồng khoai mì bao la bát ngát chung quanh vào tòa nhà nằm trơ vơ trên đồi cao khiên ai cũng muốn bỏ đội hình để được ngồi sát vào nhau hơn… 
Quãng mười giờ mười lăm, từ khung cửa cánh trái của tòa nhà xuất hiện những cái áo bộ đội màu xanh cứt ngựa. Tiếng hô nghiêm của tay cán bộ điều khiển hội trường chợt cất lên vang vọng khắp tòa nhà. Tất cả đều đứng thẳng để đón chào phái đoàn đao phủ thủ của tân chế độ. 
Dẫn đầu phái đoàn là một thằng mang cấp bậc trung tá. Đi theo hắn lố nhố đôi ba thằng khác mang quân hàm cấp úy. Chúng được thằng cán bộ đại diện trại An Dưỡng ra tận cửa đón chào và rồi cùng nhau bò lên sân khấu. Sau khi phái đoàn đã ngồi vào những chiếc ghế trống đặt phía sau dãy bàn, tên cán bộ đại diện trại An Dưỡng tiến ra trước máy vi âm. Hắn nhìn xuống lũ tù, vỗ vài cái vào máy rồi cất cái giọng cũng đặc quánh nhựa thuốc lào, ra lệnh: Tất cả ngồi xuống! 
Tù bên dưới ngồi xuống. Hắn tiếp. Nhân danh chính ủy trung đoàn, thay mặt toàn thể cán bộ và các chiến sĩ trại cải tạo An Dưỡng, chúng tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí đại diện quân khu 7 đến trụ trì phiên xử đại hình hôm nay. Riêng đối với các cải tạo viên, ban chỉ huy trại nhắc lại mục đích và yêu cầu để quán triệt thêm nữa về phiên xử này. 
Trước nhất, mục đích phiên xử hôm nay để nhắc nhở chung với các anh rằng xã hội ta là một xã hội đặt cơ sở trên tình và lý. Tình sẽ được trao cho những người có công, lý sẽ được đem ra hành xử với kẻ có tội. Công và tội phải được phân minh. Kết quả phiên xử tên phản động Nguyễn Ngọc Trụ hôm nay, sẽ một lần nữa nói lên tính ưu việt của Đảng ta, sự quan tâm và bảo vệ tốt về mặt an ninh cho tập thể của chính phủ ta, sự tích cực đóng góp vào việc bảo vệ công lý của quân đội nhân dân anh hùng ta. Nói tới đây, tên chính ủy nhìn xuống đám đông như để thăm dò phản ứng. Khi thấy đám đông không có một phản ứng nào, hắn tiếp. Vậy, yêu cầu trước mắt của Cách mạng là các anh được tham dự phiên xử phải tự phấn đấu thoát khỏi mọi tình cảm riêng tư, hãy đứng vào lập trường và quan điểm bảo vệ công lý của Đảng, của chính phủ, của nhân dân để đồng thanh dâng kiến nghị trừng trị kẻ phản động đúng mức với tội trạng của nó. Các anh phải tích cực phát huy đạo đức Cách mạng đã tiếp thu được trong quá trình học tập cải tạo về mặt đấu tranh sai trái, và phải tuyệt đối tin tưởng vào kết quả phiên xử của các đồng chí đại diện quân khu 7 là một chân lý. 
Phi lộ xong những lời lẽ khai mạc cho phiên xử, tên cán bộ hướng về phía cửa chính của tòa nhà, nói lớn. Yêu cầu các đồng chí an ninh áp giải tên phản động Nguyễn Ngọc Trụ ra trước tòa án nhân dân. 
Mọi người đều ngoái cổ lại phía cửa chính. Gầy như một que tăm, xanh như một tàu lá, Trụ được áp giải vào con đường chính giữa tòa nhà. Vĩnh nhìn Trụ. Anh không tránh khỏi ý nghĩ xã hội này đã can tội phung phí về tất cả mọi phương diện, phung phí sức người, phung phí sức của; và sự phung phí coi mòi tệ hại nhất sáng nay, là cái còng nặng nề và sợi thừng trên thân thể vốn không còn cất bước nổi của người bị cáo buộc. 
Trụ được dẫn đến trước mặt các ông quan tòa của tân chế độ, những ông quan tòa đọc không thông, viết không thạo và chỉ biết xét xử theo bộ luật duy nhất của Cách mạng ấy là bộ luật rừng! 
Tên chính ủy trung đoàn đã trao máy vi âm cho tên đại diện quân khu 7 mang quân hàm trung tá. Ông chánh án (?) bắt đầu làm việc. Hắn cũng gõ vào máy vài cái, rồi nói ngắn gọn. 
– Yêu cầu đồng chí chấp pháp đọc tội trạng. 
Bên cánh trái của dãy bàn đứng lên một tên mang quân hàm chuẩn úy. Máy vi âm được chuyển sang để trước mặt hắn. Hắn mở rộng một tờ giấy để sẵn trên mặt bàn, hắng giọng và cất tiếng đọc. 
– Hôm nay, theo yêu cầu của Cách mạng, phiên xử đại hình tên phản động Nguyễn Ngọc Trụ được tổ chức tại trại cải huấn An Dưỡng nhằm hai mục đích. Thứ nhất, nói lên tính công bằng xã hội xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, để chứng tỏ bạo lực Cách mạng luôn luôn đè bẹp mọi thế lực phản động, mà trong giai đoạn hiện tại, được âm mưu thực hiện bởi những tàn dư Mỹ ngụy còn ẩn náu trên toàn cõi miền Nam với ý đồ ngoan cố ngoan cường chống phá Cách mạng tới cùng. 

Bên dưới lũ tù bắt đầu bàn tán nho nhỏ. 
– Kiểu này chắc tử hình mất! 
– Lạ nhỉ, tòa đại hình mà chỉ có thế này thôi à? Không có luật sự mà chỉ có chánh án và công tố. Liệu can phạm được tự biện hộ hay không? 
– Tòa án nhân dân mà mày! 
– Có thấy nhân dân đâu? 
– Ô hay! Chứ ông chánh án, ông công tố không là nhân dân à? 
Bên trên tên chấp pháp trong vai chưởng lý (?) bắt đầu đọc bản cáo trạng. 
– Nguyễn Ngọc Trụ sinh năm 19… tại tỉnh… miền Bắc. Năm 1954 đã cùng gia đình bám gót bọn phản động di cư vào Nam chạy trốn nợ máu của nhân dân. Trụ đẻ trong một gia đình cực kỳ gian ác, cực kỳ phản động; đã có quá trình chống phá Cách mạng từ thủa Cách mạng còn non trẻ. Bố Nguyễn Ngọc Trụ là một tên tay sai của phát xít Nhật, tay sai của thực dân Pháp và tay sai của đế quốc Mỹ sau này. Với quá trình tội ác của hắn đối với nhân dân, hắn đã được đế quốc Mỹ gắn quân hàm trung tá và hiện đang được Đảng, Cách mạng và nhân dân cải tạo. Riêng cá nhân tên Nguyễn Ngọc Trụ, vì thừa hưởng những nọc độc giáo dục của giai cấp trưởng giả, với cấp bằng cao học chính trị được đế quốc Mỹ trao cho, đã chẳng những tích cực chống phá Cách mạng chống phá nhân dân mà còn tích cực góp phần huấn luyện nhiều thế hệ phản động khác trong công cuộc thực hiện tội ác này. Trong suốt thời gian phục vụ Mỹ ngụy, với quân hàm trung úy, Trụ đã tự tay đào tạo được hai thế hệ phản động gồm cả ngàn đệ tử ở trường võ bị Đà Lạt và trường chiến tranh chính trị của Mỹ ngụy. Sau ngày nhân dân ta toàn thắng chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, đánh bại hoàn toàn và triệt để đế quốc Mỹ cùng bọn ngụy quân ngụy quyền, Cách mạng thể hiện lòng khoan hồng nhân đạo đối với tất cả các thành phần từng phục vụ chế độ cũ bằng chính sách tập trung học tập cải tạo, tên Nguyễn Ngọc Trụ đã nhận lệnh của CIA, trà trộn vào hàng ngũ các cải tạo viên để tiếp tục công cuộc tuyên truyền phản động chống phá Cách mạng. 
Trong đợt học tập chính trị cuối năm 1975, trước hàng ngàn cải tạo viên với đầy đủ cán bộ khung trại L4T1, tên Trụ đã lợi dụng phát biểu trong học tập, công khai phỉ báng chế độ, bôi nhọ những người làm Cách mạng, xúi giục các cải tạo viên khác chống đối chính sách cải tạo của Đảng, của chính phủ và nhân dân ta. 
Nói tới đây, tên chấp pháp lục lạo một hai tờ giấy khác để sẵn trước mặt. Hắn nhìn chằm chằm vào một người ngồi bên cạnh như muốn hỏi một điều gì. Tuy nhiên, hồ như không ai để ý tới hắn. Hắn lại nhìn xuống mấy tờ giấy, tằng hắng rồi vội vã từ bỏ nhiệm vụ của một chưởng lý để đóng luôn vai trò công tố. Hắn nói. 
– Căn cứ theo báo cáo của khung, L4T1 trại cải huấn Trảng Lớn, tên Trụ đã phát biểu như sau: Tôi không đến đây để học tập lối lý luận một chiều của các anh. Tôi có khả năng dạy các anh về bản chất thật của học thuyết Marx-Lenin… Các anh là những con lừa, người ta buộc trước miệng một bó cỏ và dù có chạy đuổi suốt đời cũng chẳng bao giờ ăn được bó cỏ đó. 
Bên trên những bộ mặt xác ướp của bọn cán bộ Cộng sản vẫn lạnh tanh. Ngược lại, bên dưới lũ tù có nhiều tiếng xì xầm to nhỏ. Tên công tố vẫn tiếp tục. Theo bản báo cáo của khung L4T1, Nguyễn Ngọc Trụ đã vi phạm với tội danh tương tự trong nhiều lần khác giữa tập thể cải tạo. Bản chất ngoan cố ngoan cường không thể cải tạo được, tên Trụ đã tích cực đánh phá Cách mạng từ trong trại cải tạo đánh phá ra tới khung, nhằm hai ý đồ rõ rệt. Thứ nhất, tuyên truyền xúi giục tập thể cải tạo viên chống đối chính sách khoan hồng tập trung cải tạo của Đảng ta. Thứ hai, tìm mọi cách làm chao đảo lập trường của các chiến sỹ Cách mạng tuổi còn non trẻ. 

Xét trên quá trình tội ác của gia đình và của cá nhân tên Nguyễn Ngọc Trụ đã phạm với Cách mạng, với nhà nước và nhân dân; xét trên quá trình ngoan cố không chịu học tập cải tạo của tên Nguyễn Ngọc Trụ; xét vì lợi ích của nhân dân, của xã hội xã hội chủ nghĩa và trước mắt của tập thể cải tạo viên. Căn cứ theo báo cáo và lời đề nghị đứng đắn của khung L4T1 trại Trảng Lớn. Chiếu pháp lệnh số… điều… khoản… của Chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, ban hành ngày… tháng… năm… tôi khẩn thiết mời đồng chí chánh án đại diện quân khu 7 và các đồng chí ủy viên nhân dân (?) nghị án và tuyên án tử hình tên Nguyễn Ngọc Trụ, để làm gương cho những kẻ ngoan cố không chịu học tập cải tạo! 
Vĩnh và các bạn bên dưới nóng lòng chờ xem việc nghị án sẽ như thế nào. Việc có luật sư hay không, việc được quyền tự bào chữa của can phạm hầu như đều bị mọi người quên lãng và không còn đặt thành vấn đề. 
Vĩnh nhìn Trụ đang đứng nơi khoảng trống giữa sân khấu và đám bạn bè ngồi bên dưới. Anh đứng còng lưng và rũ liệt như một người đã bị cắt đi mấy đốt xương sống. Bộ tréillis cũ rách thùng thình trên người anh làm Vĩnh có cảm giác bên trong bộ quần áo ấy không có một con người, mà chỉ có một cái giá áo gầy guộc đóng theo hình thập giá. Vì nhìn từ sau lưng, Vĩnh không thể nhận biết nét mặt của Trụ đã và đang có những thái độ nào. Anh chỉ biết Trụ đang yên lặng, sự yên lặng của một người đã biết quá rõ cái vô ích của một lời nói công chính trước những kẻ tham tàn sắt máu đang chỉ tính sát hại mình. 
Bên trên sân khấu, thực tế không có việc nghị án. Sau lời yêu cầu của công tố viên, bọn cán bộ Cộng sản chỉ đưa mắt nhìn nhau rồi gật gù như hoàn toàn nhất trí về một giải pháp đã có sẵn từ trước. 
Máy vi âm được đem đến để trước mặt tên trung tá đại diện BTL/QK7 ngồi ghế chánh án. Hắn sửa soạn bộ dạng tí chút rồi từ tốn mở ra trước mắt một tờ giấy đã để sẵn trên mặt bàn tự bao giờ. Tên chánh án ngó xuống mọi người rồi ngó Trụ. Hắn hỏi. 
– Tội phạm Nguyễn Ngọc Trụ! Mày có nhận tội không? 
Không một ai nghe thấy Trụ trả lời. Tên chánh án hình như cũng chẳng cần tội phạm trả lời. Hắn nâng tờ giấy lên gần mắt, đọc. 
– Xét trên quá trình tội ác mà tên Nguyễn Ngọc Trụ đã phạm với Đảng với nhân dân; xét qua quá trình không chịu học tập cải tạo; xét những tác hại về tinh thần mà tên Nguyễn Ngọc Trụ đã đem đến cho tập thể cải tạo viên tại trại L4T1 Trảng Lớn vào cuối năm 1975; căn cứ theo bản báo cáo và lời đề nghị của khung L4T1; căn cứ bản báo cáo theo dõi mọi chuyển biến về mặt tư tưởng của tên Trụ của ban an ninh trại cải huấn An Dưỡng; căn cứ theo lời đề nghị của đồng chí chấp pháp đại diện quân khu 7. Tôi, trung tá Nguyễn Thành Tân, đại diện quân khu 7, nhân danh chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nhân danh quân ủy trung ương, nhân danh BTL/QK7, nhất trí với lời đề nghị của đồng chí chấp pháp cũng như của các đồng chí ủy viên nhân dân trong phiên xử, tôi tuyên án tử hình tội phạm Nguyễn Ngọc Trụ… Bản án sẽ được thi hành ngay sau khi phiên xử chấm dứt. 
Bản án vừa tuyên xong, mọi người đều thấy rõ Trụ bỗng đứng thẳng người lên. Rõ ràng anh đang cố lấy tàn lực đứng thẳng lưng lần cuối để nói một câu gì đó. Nhưng cố gắng của anh hoàn toàn tuyệt vọng. Hai thằng an ninh đứng hai bên đã nhào tới nhét giẻ vào mồm anh. Chúng còn cẩn thận buộc thêm một băng vải đen quanh miệng vòng ra sau gáy. Tử tội được lôi thẳng ra cánh cửa bên trái của tòa nhà. Đồng thời, từ tất cả các cửa dẫn vào tòa nhà đều xuất hiện những thằng vệ binh lăm lăm súng AK.47 trong tay. 

Bọn xử án sau đó cũng lần lượt rời sân khấu. Tên cán bộ chính ủy trung đoàn trở lại vị trí trước máy vi âm. Mọi người ngồi dưới sửa soạn nghe bài học “rút ưu khuyết điểm”. Nhưng ngược lại dự đoán của mọi người, hắn chỉ ra lệnh cho các đại diện nhà đội hướng dẫn mọi người thứ tự hàng hai rời tòa nhà… 
Về tới trại anh em túa tới hỏi thăm những người được đi dự phiên xử. Khi được biết rằng tiếng súng hành quyết có thể sẽ nghe thấy trong một vài phút tới, hầu như cả trại đều rơi vào một sự yên lặng chờ đợi. Thế nhưng cho tới giờ cơm trưa vẫn không ai nghe thấy tiếng súng. Hay là nó đem bắn một chỗ quá xa? Câu tự hỏi của bọn tù không được trả lời. Suốt ngày hôm ấy cả trại như có đám ma. Vĩnh và các bạn tìm gặp nhau sau giờ lao động buổi chiều để bàn về cái chết của Trụ, một cái chết không ai biết được cụ thể ra sao. 
Những ngày sau này, trên con đường từ trại 1 tiến ra khu canh tác nằm về hướng Bắc cách trại An Dưỡng chừng nửa cây số, trong cuộc thi công khai quang lên luống khoai mì, Vĩnh và các bạn tìm thấy bên trong những ụ đất (Có lẽ là ụ pháo binh trước kia) một cây cột còn dính những vết máu thâm đen. Dưới chân cột có một sợi thừng đã mục vì nắng mưa. Cách đó không xa quá 3 bước chân, một khoảng đất chữ nhật bị lún sâu hơn mặt đất non nửa gang tay và có mối đang xông. Vĩnh và các bạn cuốc đất nơi đó đều tin rằng đây là phần mộ của Nguyễn Ngọc Trụ… 
Vì bọn quản giáo và bọn vệ binh bám sát khi lao động lên luống, do đó, đám tù cải tạo không thể công khai đắp mộ cho người bạn tù và cũng là một kẻ sỹ dám chết cho lời nói thật. Nhưng ngày này qua ngày khác, mỗi người một xẻng đất khi được lao động gần ụ pháo binh, phần mộ của Nguyễn Ngọc Trụ nhờ đó đã thành hình… 
Trong thế giới lao tù của Cộng sản không ai biết rõ ngày tháng. Vĩnh chỉ có thể ghi nhớ rằng trước cái Tết thứ hai trong tù, trong lúc anh và các bạn đang phải làm trâu cày, trong lúc thằng Long không hiểu Cách mạng còn đem chân nó ra cưa thêm bao nhiêu lần nữa, trong lúc mọi người đều xanh xám vì đói… thì Nguyễn Ngọc Trụ vĩnh viễn ra đi. Trụ ra đi không được như Ngô Nghĩa ở Trảng Lớn, vì ít ra Nghĩa còn được nhiều ngàn tù bạn chứng kiến lúc anh bị xử bắn. Trụ ra đi cô đơn và chẳng ai được chứng kiến cái chết của anh đã diễn ra như thế nào! Anh đã bị tùng xẻo? Bị đâm nhầu vào lưng vào bụng? Hay anh bị trói vào cột, bị một bọn năm bảy thằng hình người dạ thú dùng những cái chày vồ phang thẳng cánh lên đầu anh cho đến khi đầu anh bẹp lại như một quả dưa rơi rụng? 
Thốt nhiên Vĩnh nhớ lại câu nói của Đặng Xuân Bính trong lúc hắn xúc xẻng đất đắp lên phần mộ của Trụ: Người chết đã sạch nợ. Nhưng người còn sống mà không nhớ, không cách này cách khác thanh toán sòng phẳng món nợ này thì còn thua cả một con chó!



Felix Baumgartner completes space dive from 24 miles up – in pictures

http://www.theguardian.com

Mon 15 Oct 2012 

Post by Sơn râu 8 Jan 2024

Former Austrian military parachutist Felix Baumgartner jumps from a balloon-lifted capsule 24 miles up. Felix Baumgartner makes final preparations before the flight.

Baumgartner readies himself before take-off

Photograph: Reuters

Baumgartner steps into the capsule before the manned flight in Roswell, New Mexico. Photograph: Balazs Gardi/AFP/Getty Images

The capsule and attached helium balloon carrying Baumgartner lift off. Photograph: Ross Franklin/AP

A television crew films the capsule and attached helium balloon carrying Baumgartner as he lifts off. Photograph: Ross Franklin/AP

The helium balloon carrying Felix Baumgartner ascends. Photograph: Predrag Vuckovic/AP Photo/Red Bull Strato.

Baumgartner jumps out of the capsule. Photograph: Jay Nemeth/Red Bull Stratos via Getty Images.

A view from the capsule as Felix Baumgartner jumps out. Photograph: Jay Nemeth/Red Bull Stratos via Getty Images.

Felix Baumgartner jumps out of the capsule. Photograph: Red Bull Stratos/AP

Initially, he appears to tumble out of control, but then he creates a delta shape and freefalls for just over four minutes. Photograph: Vedat Xhymshiti/ZUMA Press/Corbis

Crew members at the mission control watch the jump. Photograph: Reuters

Baumgartner comes into land in the desert in Roswell, New Mexico. Photograph: KeystoneUSA-ZUMA/Rex Features

Baumgartner celebrates after landing successfully. Photograph: Reuters

Family members and friends celebrate the successful jump. Photograph: Reuters

Baumgartner celebrates after completing the jump. Photograph: Balazs Gardi/AFP/redbullcontentpool.com/Getty Images

Felix Baumgartner and the project’s technical project director, Art Thompson. Photograph: Joerg Mitter/AFP/Getty Images

Baumgartner, right, shakes hands with Colonel Joe Kittinger, after beating Kittinger’s old record of 102,799 feet. Photograph: Ross Franklin/AP

Thuở thiếu thời cô Bảy Phùng Há

baotreonline.com

Trang Nguyên

Post on February 9th, 2023

Post by Sơn râu 8 Jan 2024

Đã có nhiều bài báo viết về cuộc đời và sự nghiệp của nghệ sĩ Phùng Há. Nhưng hiếm có câu chuyện nào về thuở thiếu thời của cô Trương Phụng Hảo (Phùng Há) nổi tiếng nhất trong ngành cổ nhạc Việt Nam. Lần theo tài liệu xưa, qua những câu chuyện nho nhỏ của chính nhân vật kể lại cho giới ký giả kịch trường, mới thấy cuộc đời của người nghệ sĩ đã lắm phong trần từ tuổi thanh xuân.

Từ hai thập niên cuối thế kỷ 19, nhờ làm ăn mua bán giỏi, dòng họ Trương, một gia đình người Hoa đến từ Quảng Ðông trở nên giàu có nức tiếng tại Mỹ Tho. Và khi ông Trương Nhân Trưởng sánh duyên cùng Lê Thị Mai, một người đàn bà Việt Nam chất phác tại làng Ðiều Hoà, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho càng làm cho người ta thèm khát cái địa vị phú quý đó. Song hành với cái gia tài càng ngày càng phát triển, lần lượt bảy đứa bé mang hai dòng máu Hoa – Việt chào đời đem lại niềm hạnh phúc cho cả nhà với những cái tên ghi vào sổ bộ như: Trương Tích Kỳ, Trương Tích Quy, Trương Tích Trung, Trương Ngân Hảo, Trương Liên Hảo, Trương Phụng Hảo, Trương Nguyệt Hảo.

Ðó là những cái tên anh chị em bà nhớ rõ khi tuổi đã ngoài năm mươi, trong quãng đời đẹp đẽ nhất, hào quang nhất của bà dưới ánh đèn sân khấu. Và bà cũng giải thích tại sao người ta gọi là cô Bảy Phùng Há vì bà là người con thứ sáu trong nhà (gọi theo thứ tự của người miền Nam), còn Phùng Há là do tiếng Quảng Ðông phát âm từ tên Phụng Hảo mà thành. Ðây là giai đoạn sự nghiệp sân khấu của bà phát triển rực rỡ và để lại dấu ấn với nhiều vai diễn khác nhau cũng như đào tạo ra nhiều môn sinh xuất sắc trong làng nghệ thuật cải lương Việt Nam.

Nghệ sĩ Phùng Há hồi còn trẻ (Ảnh: Internet)

Nhưng để có được Phùng Há vào thời điểm đó, bà đã trả giá cuộc đời qua bao phong trần từ thiếu thời đến tuổi thanh xuân. Có lẽ do cá tính cương nghị của bà xuất hiện quá sớm. Trong khi bên nội, sắp xếp quyết định cuộc đời của các anh chị bà theo cách “Tàu hoá” một trăm phần trăm, từ cách ăn mặc đến ngôn ngữ, từ nếp sống hằng ngày đến vấn đề học vấn. Tuy cô bé Trương Phụng Hảo cũng bị đặt vào khuôn khổ sống và suy nghĩ theo người Tàu nhưng lại có một tâm hồn khác hẳn với các anh chị của mình. Cô bé ấy lại thương mẹ hơn cha, yêu tiếng nước Nam, yêu quê ngoại, yêu nơi chôn nhau cắt rún hơn quê cha của mình, một nơi xa xăm muôn trùng chưa từng trông thấy.  Cô bé lại được cái may mắn mặc đồ Việt, cắp sách đến trường người Việt.

Không may, cha qua đời năm bà lên chín tuổi. Gia đình bên nội quyết định hồi hương và đưa cha về Hạc Sơn, tỉnh Quảng Ðông chôn cất. Bà kể: “Con tàu đưa gia đình bên nội, mẹ và các con nhỏ rời xa nước Việt về xứ lạ Trung Hoa. Tôi cảm thấy như đứt lìa từng đoạn ruột khi phải giã từ Mỹ Tho, chia tay bà ngoại già lụm cụm phe phẩy cánh tay tiễn biệt. Tàu lìa bến Sài Gòn, cảnh vật quê hương mờ dần sau hàng lệ ràn rụa tuôn rơi ở đôi mắt mẹ tôi”. Cô bé Trương Phụng Hảo đã khóc nhiều với mẹ. Không phải cô không thương cha, yêu mến anh chị em ruột thịt nhưng cô không thích về Tàu.

“Có lẽ do tính khí của tôi như vậy, nên bị anh chị em ruột, bà con bên nội ghét bỏ. Trong thời gian mang tang cha, tôi đã mếm mùi đắng cay kỷ luật khắt khe của phong tục tập quán người Tàu xưa cũ. Mẹ tôi là nạn nhân đáng thương hơn hết của tập quán cổ hủ ấy. Làng Hạc Sơn tỉnh Quảng Ðông buồn không sao tả xiết. Những trưa hè, tiếng sáo diều kêu rả rích trên khung trời xanh biếc, những buổi hoàng hôn nắng tắt sau đồi núi chập chùng là những lúc cõi lòng mẹ con tôi tơi bời đổ nát. Tình hoài hương như đốt cháy tâm can. Ở đây thiếu tất cả những hình ảnh thân yêu, thiếu bà ngoại già nua lúc nào cũng yêu thương con cháu, thiếu tình quê hương dân tộc. Hạc Sơn ơi, ta phải rời bỏ mi một ngày nào đây!”.

Lòng ấp ủ một chuyến trở về đất Việt. Thế rồi vào một sáng sớm, làng Hạc Sơn còn chìm trong giấc ngủ, hai mẹ con Phùng Há lặng lẽ ra đi. Bao nỗi đắng cay vây chặt bước đi của người đàn bà và đứa bé gái yếu đuối ấy, nhưng tiếng gọi quê hương cứ giục mãi trong lòng không cho họ dừng bước, cứ đi và đi mãi. Ðã gian truân mà hai mẹ con còn vướng bệnh tật liên miên. Cô bé Phùng Há ngồi gục bên đường, cơn sốt hành hạ dữ dội và những hột đậu nho nhỏ trổ ra trên khắp mình mẩy cô bé. Thật kinh khủng, bi thảm vô cùng. Người mẹ gầy yếu cõng đứa con bệnh hoạn trên lưng bước chân xuống tàu. Quan Tàu thấy có người bệnh trái rạ liền tống cổ mẹ con bà lên bến.

Nghệ sĩ Phùng Há (người đeo kính) của thập niên 1960 (Ảnh: LIFE)

Người mẹ đau khổ ấy đã khóc hết nước mắt, cúi đầu van lạy quan Tàu nhỏ lòng thương mẹ goá con côi, tha thiết trở lại cố hương. Cuối cùng, quan Tàu xiêu lòng. Con tàu từ từ rời bến mang theo hai mẹ con vượt trùng dương. Mẹ con Phùng Há khóc mùi mẫn vì quá xúc động, vì quá vui sướng. “Giã biệt Hạc Sơn, xin chào vĩnh viễn nước Trung Hoa của nhà bên nội, của người cha quá cố”.

Ðặt chân trở lại Mỹ Tho thân yêu, người đàn bà goá và cô bé Phùng Há không cầm được nước mắt! Họ đi tìm bà ngoại. Bà già lắm, bà chết ngất khi vòng tay ôm choàng hai mái đầu đứa con gái và đứa cháu quý nhất của đời bà. Người anh trai lớn của Phùng Há, không theo gia đình bên nội hồi hương lúc cha mất mà ở lại tiếp tục cai quản một lò gạch và một trại cưa của cha để lại do phần công việc làm ăn đang trong thời kỳ phát đạt. Phùng Há nhớ lại: “Anh Hai không giúp đỡ thật tình hai mẹ con tôi vì chúng tôi không theo nếp sống người Tàu, trở thành người Tàu và sống như người Tàu. Mẹ tôi tức giận bỏ đi tự lực cánh sinh bằng nghề buôn thúng bán bưng vô cùng vất vả. Còn tôi thì trở thành công nhân tí hon của lò gạch như bao người xa lạ khác”.

Lúc bấy giờ, Phùng Há đã được 13 tuổi nhưng hình vóc cao lớn như cô gái đến tuổi dậy thì. Cô mặc đồ xẩm, nghe được tiếng Tàu nhưng bao giờ cũng nói tiếng mẹ. Sẵn mê thích cổ nhạc và có giọng trầm ấm, Phùng Há được người anh bà con bên ngoại, một nhạc sĩ, dạy cô ca nhiều bài bản. Mỗi lần đi xem hát về, cô nhái theo bộ điệu giọng ca, lời hát của các cô đào hát. Anh chị em công nhân trong lò gạch thích nghe cô ca hát, họ làm việc thay cô để được nghe cô ca hát. Trong những lúc rảnh rỗi, đi dạo chơi trong vườn, leo trèo chuyền cây này qua cây nọ, Phùng Há không để dứt tiếng ca, cô nghêu ngao suốt ngày như con chim hoạ mi. Tiếng đồn “ở lò gạch có con xẩm lai hát hay”. lan rộng khắp làng Vòng Nhỏ (Mỹ Tho).

Phùng Há chuẩn bị cho một vai diễn (Ảnh: Internet)

Rồi một hôm nọ có người tìm đến ngỏ ý mời Phùng Há đi hát cho một gánh mới thành lập. Người ấy là ông Hai Cu, thân sinh của kép Hai Giỏi, chồng của cô Năm Phỉ ngày xưa. Lúc bấy giờ tuy có thích ca hát nhưng Phùng Há không thích bỏ nghề lò gạch làm đào hát. Cô đã có ý từ chối lời mời của ông Hai Cu nhưng mẹ cô đang trong cơn bệnh trầm kha mà lại không có tiền chạy thuốc men. Bà mẹ cương quyết không nhờ vả đứa con trai Tàu lai sắt đá. Ông Hai Cu đưa cho cô 300 đồng lo chạy thuốc thang cho mẹ. Ngày trước đồng tiền còn mắc mỏ, 300 đồng bạc là cả số tiền khá lớn, một số tiền đủ xoay sở trong ngoài và có thể chạy chữa bệnh tình của mẹ chóng lành. Phùng Há bằng lòng và bỏ lò gạch theo gánh Tái Ðồng Ban.

Một việc là dù còn chân ướt chân ráo, Phùng Há lại được giao trọng trách của một cô đào chánh ngay ở buổi hát đầu tiên. Tuồng Kiều, một loại tuồng Tàu. Trong những buổi đầu tập dượt, Phùng Há được mọi người hoan nghinh và nhiệt thành mến mộ. Tiếng đồn lan ra nhanh chóng trong giới nhạc sĩ của xứ Mỹ Tho. Những người có tên tuổi trong làng cổ nhạc tìm đến gánh Tái Ðồng Ban để xem mặt cô Phùng Há, cô đào chánh tí hon – trong số đó có Năm Châu, nguyên là một “cây” lục huyền cầm có hạng. Năm Châu đờn cho Phùng Há hát chơi trong lúc tập tuồng. Năm Châu không nghịch lại với số người ái mộ tài năng của Phùng Há. Ông cũng không phản đối đề nghị của Hai Cu yêu cầu ông đi hát cho Tái Ðồng Ban. Năm Châu lúc xuân thời là một nghệ sĩ đẹp trai nhứt, lại có căn bản học vấn khá cao và tỏ ra có khiếu về kịch nghệ. Sẵn cảm tài nghệ của Phùng Há, Năm Châu bỏ ngón đàn để trở thành kép chánh bên cạnh cô đào chánh vừa đẹp vừa ca hay hát giỏi.

Cặp Năm Châu – Phùng Há xuất hiện như hai vì sao sáng chói của vòm trời ca kịch từ thuở ấy. Mối tình bất hủ của Thuý Kiều – Kim Trọng đã hơn một lần sống lại làm say mê khán giả qua tài ca diễn của Năm Châu – Phùng Há. Tái Ðồng Ban sớm gây được tên tuổi qua đôi đào, kép tài hoa trẻ ấy. Tiềng lương mỗi đêm 8 cắc và mỗi tháng là 24 đồng. Không bao lâu, ông bầu tăng lương lên 40 đồng một tháng, một số lương cao nhất lúc bấy giờ của nghệ sĩ trong ngành cải lương Việt Nam.

Phùng Há và Năm Châu trên sân khấu, ngoài đời cả hai từng là đôi tri kỷ (Ảnh: Internet)

TN

Bò vò viên

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

November 25th, 2022

Post by Sơn râu 8 Jan 2024

Cầu quay Mỹ Tho

Ðất Mỹ Tho hồi xưa là đất Miên. Thế kỷ 17, Chúa Nguyễn cho người Minh Hương, phản Thanh phục Minh vượt biên từ bên Tàu qua định cư và lập nên Mỹ Tho đại phố.

Mỹ Tho tiếng Miên là “Mi Sâr’ nghĩa là xứ có giai nhân da trắng. Sau nầy, chung đụng với người Quảng (Ðông) người Tiều (Châu), nên con gái Mỹ Tho sanh ra, không cần trắng da vì bởi phấn dồi, em đẹp một cách não nùng!

Mùa gió chướng, từ Cửa Ðại, nước mặn tràn vô đâu có lên tới Vàm Kinh Bảo Ðịnh. Tắm nước ngọt quanh năm, suốt tháng con gái Mỹ Tho trắng như bông bưởi là phải rồi!

Rồi năm 1862, Tây mũi lõ chiếm Mỹ Tho. Nó đắp lộ, xẻ đường vuông vức như bàn cờ. Tây cất cái cầu Quay. “Chừng nào cầu quay nọ thôi quay. Thì qua với bậu mới đứt dây cang thường.” “Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành. Tàu Tây kia liệt máy anh mới đành xa em”. Tháng Tư, 1975, CSBV tràn vô. VC trong bưng biền tràn ra. Anh bỏ em chạy sút dép qua tới Melbourne nầy. Chiều cuối năm, từ quê nhà, em yêu ngày cũ đã xa, một á xẩm Quảng Ðông, gọi qua trách móc: “Nghe anh hò; con gái Mỹ Tho lầm chết!”

Con đường Trưng Trắc từ Vườn Hoa Lạc Hồng chạy cho tới Cầu Quay. Dọc bờ kinh, dãy nhà sàn gie ra mặt nước biết bao nhiêu tiệm ăn và quán nhậu. Chốn phồn hoa đô hội, VC vô, nó đập tanh bành hết ráo.

Sở dĩ rành 6 câu vọng cổ là vì những năm 1960, Má tui bán cơm tấm bên hông rạp Ðịnh Tường, đường Trưng Trắc Mỹ Tho. Ngoài Má tui ra, còn có Chú Phu người Quảng, xe bán hủ tiếu. Chú Tiều xe bán bò vò viên.

Chú Tiều có thằng đệ tử, nhỏ hơn tui ba tuổi, tên Mẹt. Những ngày bão rớt, hai đứa ngồi chong ngóc dưới hàng hiên nhìn mưa mà tán dóc. “Lớn lên nị làm gì?” Nó nói: “Thì bán bò vò viên. Cưới vợ đẻ con rồi cũng bán bò vò viên.”

Thằng Mẹt kể rằng: “Trời chưa sáng bửng, chú Tiều dắt nó ra tiệm nước trước rạp hát Vĩnh Lợi ăn hủ tiếu, bánh bao, xíu mại và uống cà phê. Xong sư phụ xỉa răng, hút thuốc Bastos đỏ trên đường về.”

“Mười ký thịt bò mối giao tận nhà hồi sáng sớm. Ngày mưu sinh của hai thầy trò bắt đầu. Thịt bò mới, không cần rửa. Cắt miếng nhỏ chừng hai ngón tay. Hốt từng nắm bỏ lên tấm thớt dầy khổng lồ để dưới đất.

Rạp Vĩnh Lợi, Mỹ Tho.

Ngồi trên chiếc ghế thấp, dùng hai thanh thép dẹp và dài đập cho thịt bè ra, tém thịt lại rồi lại đập. Xong ướp đường, bột ngọt, muối, tiêu, tỏi và hành tím. Bỏ thịt vô cối quết. Cuối cùng vò viên bỏ vô nồi nước đang sôi. Hàng trăm viên thịt bò bằng nhau luộc chín sẽ nổi lên thì lấy vợt trụng mì vớt nó ra ngoài. Nồi nước luộc bò vò viên làm nước lèo.

Tương đen trộn với tỏi xay nhuyễn, chút nước cốt dừa bắc lên bếp, xào xong bỏ vô hũ. Sa tế là ớt tươi, ớt khô, ớt bột với dầu ăn, hăng hăng nồng lỗ mũi, vô một hũ. Xắt sẵn ngò gai bỏ vô một cái thố.”

Xong xả, tắm, mặc cái quần tiều dài quá gối, áo ba túi may bằng vải ka ki. Ăn cơm trưa rồi đẩy xe đi bán.

Xe có nồi nước lèo rất lớn. Có hộc kiếng đựng bò vò viên. Có tô vừa, chén nhỏ, nĩa nhỏ có hai chia.

So với ba chục đồng, giá tiền một tô hủ tiếu thời đó, 4 cục bò vò viên lớn bằng đầu ngón tay cái mà giá tới 20 đồng thì hơi mắc.

Muốn ăn bò vò viên, đàn bà thì sai chồng; con gái thì sai em xách gà mên mua về. Yểu điệu thục nữ mà ăn dọc đường, dọc sá sợ chết cái duyên em.

Nên khách toàn là đàn ông. Gần đó, căn nhà xưa thời Pháp thuộc, là hậu trạm của một phi đội L-19, máy bay đầm già thám sát cho Sư đoàn 7. Những phi công mặc áo liền quần màu đen, thêu con rồng trên ngực áo, vai lon trung úy.  Ði bay về, cả bọn hay ra xe bò vò viên của chú Tiều đổ xí ngầu lắc.

Xí, ngầu, lắc là bốn, năm, sáu. Tiếng Tiều: xập xí; xập ngầu, mười bốn, mười lăm nghĩa là không rõ ràng, không chắc chắn. Hột xí ngầu có sáu mặt. 1 chấm với 4 chấm màu đỏ.  2, 3, 5, 6 chấm màu đen.

Xe hủ tiếu bò viên

Khách nắm tay ba hột xí ngầu đổ xuống một cái tô. Ba hột có mặt giống nhau gọi là bão. Khách ăn ván đó ngay lập tức. Hai hột có chấm giống nhau, tính điểm hột thứ ba. Từ 4 viên giá 20 đồng, thắng được 8 viên. Thắng nữa được 16 viên, lúc đó mới được ngưng chơi. Ăn no cành hông mà chỉ tốn có 20 đồng.

Còn tiếp tục đổ nữa gọi là nhồi. Từ 16 gấp đôi thành 64, 128, 256 viên. Lỡ thua một cái là mất hết.

Mỗi lần khách đổ ăn, chú Tiều chung một đồng xu. Xong cuộc, đếm đồng xu là biết ăn được bao nhiêu viên. Ăn không hết, gởi lại, mai ăn nữa.

Khách chơi xí ngầu lắc cũng có đứa xấu tánh. Ăn thì la rùm. Thua mặt dài như mặt ngựa, chửi thề ỏm tỏi.

Chú Tiều ăn thua gì mặt cứ tỉnh rụi. Không cười xỏ, không nhăn nhó. Sợ chọc quê, nó thua, nó quánh cho thấy bà.

Cũng có bữa xui, bị tổ trác. Mới đẩy xe ra, chưa bán được cắc nào, đổ thua một tay phi công hết 256 viên. Chú năn nỉ ăn bi nhiêu thì bi! Mai lại ăn tiếp! Nó không chịu. Nó chạy về nhà, rinh ra một cái nồi ế kinh, bắt chú Tiều chung đủ. Vừa múc bò vò viên cho nó, chú lầm bầm chửi thề bằng tiếng Tiều trong miệng.

Có lần hai thằng công an chìm thua quá, tức, nó lấy 3 hột xí ngầu bỏ vô túi. Chú Tiều năn nỉ gần gãy lưỡi nó mới cho chuộc lại. Năn nỉ tốn tiền chuộc? Mua 3 hột khác. Chú Tiều nói với tui là trong ruột hột xí ngầu nó có chứa thuỷ ngân. Ðổ quen tay, muốn ra mấy nút thì ra.

Chiều cuối năm, lục bọc bò vò viên em yêu bỏ trong tủ đá. Nước súp có ngò gai, có tương ớt, sa tế đủ cả. Ăn bò vò viên; uống với bia lon! Sao tui không thấy sừn sựt ngon như ngày xưa ấy. Hình như nó thiếu mất cái hồn cố thổ khi còn phải xa quê!

ĐXT

Bò bía

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 3rd, 2023

Post by Sơn râu 8 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Bà con mình ai cũng biết: cuộc sống lứa đôi không bao giờ toàn bích. Mít hay bắt chước Mỹ, bắt chước Úc ăn mừng 30, 40, 50 năm dìu nhau chống gậy đi hết cuộc đời ô trọc (lóc) nầy chẳng qua là hai vợ chồng ăn mừng sự tha thứ, độ lượng cho nhau. Vợ tha thứ cho sự ngu ngốc của chồng. Chồng bỏ qua thái độ quá đáng của vợ! Tiền bạc không làm cuộc hôn nhân tốt đẹp hơn; chỉ tánh tình và sự chung thủy mới đóng vai trò quyết định. Tại sao hôn nhân cần sự chung thủy? Nếu không có sự thủy chung, em yêu sẽ ‘thuốc’ mình chết!

Như chuyện của thiên hạ trong thời buổi hỗn mang chiến tranh, chuyện tình của tui cũng ghềnh thác lắm. Chiếc thuyền tình của tui cuối cùng rồi cũng lật chìm theo vận nước nổi trôi.

Chẳng qua em yêu của tui có má Việt, ba Tiều. Là xẩm lai, nên em đẹp não nùng. Hồi còn con gái, có một tay bác sĩ và tui cùng đeo đuổi theo em. Tay bác sĩ ve vãn em bằng một đóa hoa hồng! Tui cho em một trái táo. Em không hiểu nên hỏi: “Tại sao lại là trái táo?” Tui trả lời: “Vì chữ có câu rằng: “An apple a day keeps the doctor away”. Mỗi ngày em có một trái táo thì bác sĩ đi chỗ khác chơi!”.

Em thấy tui miệng lưỡi nên em kết tui để học thêm tiếng Việt. Còn tui kết em để tìm hiểu thêm về người Hoa. Chớ tui thấy ông Vương Hồng Sển, ông Sơn Nam dạy tui về quê tui chưa đủ. Kinh nghiệm cho tui biết là học trên giường là lẹ nhứt.

Em yêu dạy tui: Chợ Lớn nơi em yêu khóc oe oe chào đời có: ngũ bang: người Quảng Ðông, người Triều Châu, người Hải Nam, người Phúc Kiến, người Hẹ. Và em nói quê của anh yêu Lục tỉnh Nam Kỳ gồm: Người Quảng ở nhiều nhất là tại ba tỉnh Miền Ðông: Biên Hoà, Gia Ðịnh, Ðịnh Tường. Người Tiều ở ba tỉnh Miền Tây: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

Mới quen sơ sơ chưa hun em được cái nào thì mùa Hè đỏ lửa CSBV tấn công. Ðang cà nhỏng tại giảng đường năm thứ hai, ngày 10 tháng 8 năm 1972, tui vô tiểu đoàn 2, khóa 4/72/SQTB. Tới ngày 19, tháng Năm, năm 1973 gắn trên vai chiếc lon chuẩn úy trước khi giã biệt kinh kỳ trên đường ra mặt trận tui về Chợ Lớn tìm em.

Em yêu mặc xường xám yểu điệu thục nữ quân tử hảo cầu, em dắt tui đi ăn bò bía.

Bò bía là món ăn chơi của Triều Châu gọi là bạc bỉnh, bánh mỏng, đọc kiểu mình là bò bía.

Em yêu dắt tui đến góc đường Lê Lợi và Pasteur. Có lúc em ăn gỏi bò cay thấu trời. Có lúc em ăn phá lấu lòng gà, lòng heo hay lòng vịt, lưỡi heo, dồi, mề, gan…

Tui nghĩ thầm trong bụng mình lấy á xẩm nầy ăn hàng nhiều quá mạt là cái chắc. Hình như em đọc được cái đầu của tui hay sao nên em trấn an tui là em biết cách làm bò bía cho anh nhậu với beer 33.

Ăn xong, em cứ hít hà hoài nên tui đưa em xề qua Viễn Ðông xe nước mía ép với trái tắc gần xịt kế bên.

Ðó chỉ là kỷ niệm. Sau tháng Tư 75, sập tiệm, CS bắt tui đi tù cải tạo. Ðược thả về, tui tự ái không tìm em. Nhưng em lại tìm tui. Em vẫn đợi anh về; dù có mưa tràn trề ngập hết nhà em. Ngày hội ngộ tương phùng Ngưu Lang và Chức Nữ cũng vào tháng Bảy mưa ngâu. Em yêu trổ tài làm bò bía đãi chàng thiếu úy sa cơ thất thế ở tù CS về.

Tui chui vô bếp với em. Bò bía ngon bá chấy bù chét hay không là do tương để chấm. Em làm tương ớt trộn đậu phộng giã nhỏ, phi cho thơm bằng dầu ăn cùng hành khô băm nhỏ.

Em kêu tui chiên hột vịt kiểu ‘Omelette’ thật mỏng. Em luộc lạp xưởng, tôm khô ngâm nước ấm cho mềm. Rau xà lách, rau thơm, cà rốt, củ sắn, su hào rửa sạch, gọt vỏ xắt sợi, tỏi bằm, đậu phộng rang bóc vỏ đâm giã nhuyễn, tương đen cuộn lại với bánh tráng.

Tranh Bảo Huân

Em nói bà cố em bên Triều Châu, cuốn với bánh tráng làm bằng bột mì. Còn bên mình cuộn với bánh tráng làm bằng bột gạo.Thế nên nhờ em dạy tui rành món bò bía sáu câu.

Nhưng chuyện vợ con là phần số mấy ông ơi. Nhà em bị Ðỗ Mười hoạn lợn từ ngoài Bắc vào đánh tư sản mại bản dài dài từ năm 1976. Bề của em tức ba em thấy không thế nào sống nổi nữa nên quyết định bỏ hết nhà cửa, xuống thuyền vượt biên, vượt biển. Ngày gần đi, em tìm gặp tui để vĩnh biệt. Em khóc bụp hai con mắt. Tui không khóc được. Ðôi môi chỉ giựt giựt. Cả tháng em yêu đi, tui như phát điên. Chỉ mong đêm về, ôm cái radio transistor bắt đài BBC để hy vọng coi có tin tàu buôn nào vớt được thuyền vượt biển. Cả trăm ngàn thuyền nhân chết trên Biển Ðông. Những đồng bào xấu số đó có em yêu của tui hay không? Tui không biết. Tui chỉ biết là tui mất dấu em từ độ ấy.

Sau nầy lang bạt qua Úc, tui không còn yêu ai được nữa, tui ở vậy. Mỗi lần nhớ tình em năm cũ, tui đi chợ mua đồ về làm bò bía, nhậu với beer để nhớ tới cái thời yêu dấu đó.

Ba chục năm, vết thương rỉ máu xưa đã liền sẹo. Tui đang đi vào buổi chiều bóng xế của đời mình thì tình cờ qua Facebook, tui quen được một em xuất sắc trong vai tì nữ. Tui mời em từ Sydney bay xuống Melbourne để mật đàm. Ðêm em tới, trên bàn ăn, tui đốt đèn cầy cho thêm phần lãng mạn giữa chàng và nàng trong tuổi đời bóng xế hoàng hôn trời sắp tắt.

Tui đãi em món bò bía. Em vừa ăn vừa uống beer. Em khen nức nở: “Bò bía cuốn chắc, nhưn không rớt ra ngoài. Cuốn nào như cuốn nấy giống hịt như hai điếu thuốc Pall Mall, như hai em sanh đôi.”

Xong em hỏi tui mua ở đâu mà ngon quá vậy? Tui hểnh mũi nói: “Anh làm đó”. Nghe nói vậy, đang ngồi nhậu, em chợt đứng dậy chạy mất dép tuôn luôn ra cửa.

Sau nầy nghe em nói: “Chạy là phải!” Thằng chả nấu ăn ngon như vậy ngu sao mà nhào vô làm vợ thằng chả ai mà hầu thằng chả cho nổi?

ĐXT