This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Bà Sáu ở sát nhà má tôi. Sống đơn thân giữa vuông đất được ngăn bằng ván bằng gỗ bằng những vật liệu chắp vá nghĩ có thể cản được gió mưa. Bà kiếm được công việc rửa chén, đổ rác ở một quán nhậu đông khách ngoài phố. Buổi trưa đi buổi tối về. Làm suốt, chỉ nghỉ việc vào ngày thứ hai trong tuần. Chợ búa cơm nước không màng tới vì ở chỗ làm được người ta bao ăn. Căn nhà nương náu vốn lạnh lại càng lạnh thêm.
Bà Sáu không họ hàng thân thích, hình như chỉ có hai nhân vật xét hợp tình hợp cảnh để “giao lưu tình cảm”: Má tôi và chú Chín. Chú Chín là người giao tiếp rộng do công việc xúi thế: Bán vé số. Chú đi hang cùng ngõ hẹp trên đôi chân một thật một giả, bị chú là thương phế binh. Nghe đồn trước chú ở Sư đoàn 18, ngày cuối trong quân ngũ đã uýnh một trận thật hoành tráng một mất một còn. Gạt lệ thua buồn vì cụt một giò và làm hàng binh không bị đi học tập cải tạo. Chú sống với thằng con trai làm thợ hồ, vợ bỏ qua Cam xa lìa đất mẹ đã lâu chưa hề quy cố hương. Bàn về người vợ lạt tình, chú Chín nói lời dễ nể: Mình thương bả không hết sao ở đó lại buông lời trách móc. Thân mình chẳng còn lành lặn, bả đi là cốt cho mình được nhẹ người, thôi trách nhiệm. Mình nuôi mình từng ngày chưa chắc đã êm!
Sống thanh bần giản tiện, có nhiêu tiền bà Sáu đều bỏ ra mua vé số, một cách giúp chú Chín bớt đi xa. Một cách kiếm cớ để cả hai nói này nói nọ, chuyện thiên địa vòng vo đất trời thì suốt đời chẳng vơi cạn nguồn cơn.
Một bữa nọ bà Sáu la lên, bả không rêm mình trúng gió để nhác chơi. Ba tư năm cứ vào ra trong nhà trở chứng chây lười lao động. Không đợi má tôi han hỏi, bà Sáu cho hay: Hoàng thiên hữu nhãn, tui vừa trúng số, mộng mị cuồng điên, tính tìm gặp chú Chín đặng biếu chú ít nhiều. Má tôi nói mà như ca cải lương: Chín nó rày đây mai đó, như bóng chim tăm cá đâu hay biết căn hộ Chín nằm ở phương nao. Nếu Chín biết hắt hơi nhảy mũi mí mắt giật lia giật lịa thì Chín sẽ tìm tới Sáu, lo gì!
Bà Sáu đi ra mấy quán cà phê, quanh quất bốn mặt chợ rậm rật cũng không nghe ra động tĩnh về chú Chín. Có đụng mặt thằng con làm thợ hồ đang thất nghiệp. Mày biết ổng đi đâu không? Tìm ông già tui hả? Chi vậy?
Ừa, muốn biếu ảnh chút tiền, chỉ có nhiêu thôi. Ổng về làng kỵ giỗ ông bà gì đó, ai biết. Đưa tiền đây, hồi nào ổng lên tui trao lại cho.
Bà Sáu ngó tướng bặm trợn thằng con chú Chín, chừng nghe như lời chú Chín thầm thì thủ thỉ trong tai: Hắn tiếng là con ruột mà nào coi tui ra kí lô gì, thời buổi này chừng chẳng còn tình phụ tử, không khéo láng cháng nó uýnh mình cho tới hồi trồi máu họng. Bà Sáu nhớ vị trí cái túi đựng đúng 100 ngàn, moi ra hết: Mày đang thất nghiệp thì cầm cái này đặng có mà xoay xở. Hồi nào cha mày lên nhắn ảnh tới tìm tao.
Mang chục cam sang biếu má tôi, hai người đàn bà nhỏ to bàn luận điều gì xem chừng tâm đầu ý hợp rì rào suốt năm canh. Và sáng hôm sau tôi được bà Sáu cậy việc: Mày có ăn học, kiếm tấm bìa cứng viết giúp tao ít chữ “Cơm phần phát không”. Bà Sáu mượn nồi niêu của má tôi loay hoay củi lửa quyết dùng số tiền trời cho mang ra làm việc từ thiện. Cơm, canh đi cùng món xào hoặc thịt kho mặn. Ban đầu nấu thử hai mươi khẩu phần, tuần sau phải nổ lực thức khuya dậy sớm nhân lên gấp đôi. Thực khách đa phần khố rách áo ôm hoặc con cái nhà ai sống lê thân đầu đường xó chợ. Có người đề nghị đổi tấm bìa mới ghi rõ chữ “Nhà Tình Nghĩa”, lại có kẻ đề bạt: “Tin mừng cho người nghèo”. Chộn rộn nhưng trật tự. Mệt mỏi nhưng đầy chật tiếng cười.
Thằng con chú Chín có ghé qua, mắt trợn môi trề chừng như luận bàn chuyện phải trái với bà Sáu. Ông già tui đi bán vé số ở địa bàn tỉnh khác, xâm phạm luật lệ và bị nhà nước bắt giam. Ổng cần hai triệu để bôi trơn. Cứu người hơn xây am, hãy đưa tui tiền hòng sớm chạy việc.
Túi bụi lùng bùng, mồ hôi mồ kê, son chảo tùng xèn, bà Sáu thở dốc: Làng nước ơi! Luật nào kỳ khôi vậy cha, tao hổng tin đâu, để tao lên chỗ cung cấp giấy số hỏi cho ra lẽ. Mày có ưa ăn cơm thì nói tao liệu. Con chú Chín sa sầm nét mặt, mắt láo liên tuy không đong đầy sát khí nhưng hiển lộ một tia nhìn hung hiểm.
Làm việc từ thiện, muốn thành tâm giúp thế nhân nghèo khổ chẳng phải là chuyện dễ. Tha nhân lưu lạc ghé ăn, mười đứa hết tám đều dính ngộ độc thực phẩm. Nôn oẹ, tiêu chảy, xâm xoàng chóng mặt, đổ mồ hôi trộm, lạnh buốt tứ chi. Cơm phần phát không bị tổ công an đặc nhiệm phong toả sờ gáy. Bà Sáu mặt cắt không ra giọt máu đứng á khẩu, ê a thua cả con nít tập nói tiếng đầu đời. Ai đã ngậm máu phun người? Ai đã vu oan giá hoạ? Ai đã mặt người mà dạ thú? Còn ai trồng khoai đất này! Thằng con chú Chín là chính danh thủ phạm. May thay trong bể khổ có người ngoi đầu lên nhớ lại một sự việc: Tui thấy hắn có ghé cửa hàng bán thuốc trừ sâu diệt chuột bữa đó. Làm tiền không xong hắn chẳng ngại xuống tay hạ thủ. Công an chốt lại vụ khám xét hiện trường: Bắt nó! Đồng thời không cho bà Sáu làm chuyện ruồi bu. Có gì nhà nước lo, ai khiến bà đành hanh xí phần giúp đỡ kẻ bất hạnh. Làm vậy hoá ra là nhà nước ta toàn một lũ khốn khó? Đứt phim hay dẹp tiệm cũng một nghĩa như nhau! Rửa tay gát kiếm. Tán gia bại sản.
Phát lệnh truy bắt thằng con chú Chín hôm trước thì hôm sau chú Chín từ đâu hiện về. Bà Sáu nói: Tui chờ tui đợi tui trông mà cứ biền biệt, nay tiền bạc như mây trôi gió cuốn đâu còn nước nôi gì để chia sẻ chút tài lộc mong manh. Tui sẽ đi xa, không ấy tui bàn giao cho chú căn nhà xiêu vẹo này đặng làm nơi tá túc tránh gió mưa được bữa nào hay bữa đó. Chú Chín không nói gì. Chú và má tôi là hai người chứng lẻ loi hay biết xóm nhỏ từ nay vắng bóng bà Sáu. Tôi giật tấm bìa chữ tôi viết nắn nót xuống. Nó chưa kịp bạc màu theo một nắng hai sương.
Khi mọi người xua đi được hình ảnh bà Sáu ra khỏi bộ nhớ, một hôm ai trông nửa lạ nửa quen ghé về bần thần trước cửa nhà má tôi. Chú Chín đã đi bán vé số, nhà đóng cửa. Chỉ có má, chỉ riêng má còn nhìn nhận ra: Mèn đét ơi, phải bà Sáu đó hôn? Một nụ cười khai mở trên gương mặt chứa đầy vẻ chịu đựng. Nụ cười chừng xác tín cho sự nhận diện kia. Đi với bà Sáu còn thêm một bạn đường, cả hai phục sức như nhau, đầu bịt khăn lại còn đội nón lá lên. Nón để che nắng và nó chừng yểu mệnh việc ngăn cản bụi đường. Nghiêng lệch, bạc màu, hình thù thôi nguyên vẹn.
Má tôi mời hai người vào nhà. Họ cởi nón và họ quả làm khó cho mắt ai muốn đoán non già một lượng định tuổi tác. Không tên không tuổi. Nếu chị còn nhớ tui là Sáu thì xin cứ kêu người này là Bảy, tiện cho việc xưng hô. Má tôi xởi lởi: Sẵn có cơm đạm bạc, cả Sáu cả Bảy chớ khách sáo mà cùng ngồi vào mâm so đũa ăn bữa lót lòng. Bà Sáu trông xuống những mắm những trứng luộc bèn chắp tay: Dạ, tụi tui trót nguyện ăn chay e chẳng nên phá hỏng buổi cơm này. Chỉ là tiện đường nên tạt qua nhìn ngó cảnh cũ người xưa lần cuối, được uống miếng nước lạnh thì không gì quý hơn. Má tôi hỏi: Bấy chầy bà Sáu đi mần ăn đâu xa? Dạ không, tui xuất gia gửi thân nương náu trong chùa. Vì vắn duyên phận nên ngôi chùa ấy vừa bị nhà nước giải toả đập phá san bằng thành bình địa.
Má tôi rót đầy hai ly nước đun sôi để nguội vì xem chừng khách đã khô hơi rát cổ, khốn khổ khi thốt nên lời. Vừa đưa tới tay vừa ném ra câu thăm dò: Vậy chớ tương lai hoạch định ra sao? Bà Sáu chỉ tay vô người kia: Tui theo chị Bảy về làng chị ấy học làm nghề nông, đi cấy lúa hoặc chăn dắt trâu bò. Má ngó chị Bảy: Chốn ấy bao xa? Người mang tên Bảy cười, bờ môi chuyển dịch trông như một vết cắt vừa xẻ trên khuôn mặt chứa đầy những nếp nhăn. Cười mà như khóc: Dạ, đi xe đò mất ngày đường. Tính chừng nào cất bước? Nhớ mang theo thức này để ăn tạm khi dong duỗi. Má tôi gói hai phần cơm trắng trong bẹ lá chuối đã hấp qua, gói tém lại ngó như hai cái bánh ú. Tiếc là chẳng có muối mè.
Họ có cái túi vải đeo chéo thân làm hành trang, cái túi lỏng lẻo kia vừa chứa đựng thứ lương thực chay hơn cả chay, ít ỏi tới mức cuối của ít ỏi. Họ chắp tay trước ngực: Dạ xin phép được kiếu từ. Họ đội nón lên đầu và họ thầm lặng ra phơi thân giữa lối đi chan ngập bỏng nắng. Họ bước, bàn chân như hỏng đất, xa dần. Má tôi không nói gì. Bà ngó theo dáng người hàng xóm cũ phai nhạt. Hồi lâu, ngồi bó gối chép miệng: Số phần! Chẳng biết họ đã có pháp danh chưa? Tại sao lại dây dưa tới những con số? Hết Sáu thì tới Bảy? Chú Chín nghe tin ắt hẳn sẽ buồn vào hồn không tên.
Mạc Cảnh Hàn sống nghề mua bán phế liệu. Kéo xe ba gác lần khân đi từ hang cùng ngõ hẹp ra tới lề đường rộng mọc lắm căn hộ khang trang. Ban đầu thì có gì mua nấy, sau tính toan chỉ nhắm tới vật thể kim loại: Dao kéo soong chảo muỗng nĩa lon hộp bàn ủi… Sắt thép gang đồng chì bạc sứt cọng gãy càng đều thu gom chất bừa lên xe, khi Hàn kéo đi chúng biết hoà âm ra bản giao hưởng làm vui bóng chiều tà cô quạnh.
An lòng, ít khi Hàn dậy lên một ước mơ. Sớm tối đổ mồ hôi lóc cóc leng keng cùng vật vô tri biến dạng hình hài nằm xô đẩy nhau. Tới chiều về lại căn nhà rách nát đổ thân bên dòng sông, Hàn sẽ nhảy xuống đó dầm mình, bơi cho cơ thể mãi lắm bụi trần trôi đi, nguôi ngoai. Chốn vắng nên sông còn biết thu cất ở lòng chút nước ngọt, sông trôi về phố thị con nước hẳn đổi màu bởi rác bẩn mà chúng sinh luôn hào phóng thải ra. Hàn bơi, quen thuộc với rong với bèo với những loài an trú chưa nỡ dứt bỏ lòng độ lượng của thuỷ thần ban phát. Nước vỗ về Hàn, nước thì thầm bằng những vuốt ve dẫu nông cạn. Và không dưng Hàn thắt ruột với thuật ngữ bèo dạt hoa trôi, trong nhờ đục chịu.
Ngày kia, Hàn không xuống sông như thường nhật. Bóng chiều nhuộm sẫm một con nước lặng lờ, tím ngắt cảnh quang. Mồ hôi toát ra ướt đẫm áo sống ràn rụa, mái tranh vách đất chừng thôi giam giữ bóng tối bởi Hàn nghe tiếng động lạ thường phát xuất trong đống phế phẩm. Một cái hộp thiếc méo mó han rỉ, cạy nắp ra để rơi vãi khỏi tay bốn lượng vàng tuồng phai nhạt màu hoàng kim. Hàn quẹt mồ hôi trán, Hàn dụi con mắt ngấn nước, Hàn nhặt một lượng đưa vào miệng thử cắn. Hàn cho nó tắm, kỳ cọ với cái thau nhựa. Thiệt vàng sợ chi lửa nhưng muốn nhìn rõ sự hoang đường bày biện trước tiên ta phải lột truồng thân phận nó bằng nước nôi. Giam giữ trong bóng tối, lâu ngày quá mặt mày nó cũng xuống sắc. Con dao bén để quên không sử dụng cũng phải chịu cảnh đùi lây ở lưỡi nhọn.
Cẩn tắc vô ưu, Hàn may cái ruột tượng chêm chặt bốn cây vàng cột chắc quanh bụng đợi bình minh quét lớp cọ hồng lên da trời ửng màu phía đầu sông liền khăn gói êm thắm nhắm bến xe đò liên tỉnh mà cất bước. Phải bỏ tất thảy ở lại đàng sau bởi biết đâu chừng khổ chủ nhớ sực lại đâm tiếc của truy lùng kỳ kèo kiện tụng rắc rối mày tao chi tớ nguy hung. Đối phó với đám rong cột chân khi bơi lội e dễ gỡ rối thoát thân hơn. Sông dài biển rộng là nhà, bốn phương vô sản đều là anh em. Bắc Trung Nam, Hàn lấy ba cây tăm tre xỉa răng bẻ bớt cho chiều dài có phần sai biệt. Ngắn nhất: Bắc. Vừa: Trung. Dài nhất: Nam. Kẹp giữa hai ngón tay từ nay giã từ phế liệu tật nguyền, Hàn nhắm mắt rút một cây ra và kết quả cuộc bốc thăm khiến Hàn thực thi quy định chạy đi mua cái vé về miền Trung quyết để cho ma đưa lối quỷ dẫn đường. Quảng Trị vào tới Nha Trang một giãi đất làm rối trí. Ta mang tên Hàn thì có nên chọn vùng đất có dòng sông Hàn chảy qua? Bảy giờ rưỡi sáng, đứa hoạnh tài bất chợt chính thức leo lên xe đò có giường nằm chạy suốt ra Đà Nẵng tự làm cuộc cách mạng bản thân đánh thắng nghèo nàn lạc hậu.
Hàn thuê nhà nghỉ giá bèo, ra chợ xi-đa sắm cho mình bộ áo quần hàng ngoại tử tế. Tay đút túi quần đi thăm thú dòm ngó mấy con phố có trương bảng “chuyên mua, bán, đổi vàng ròng chính hãng”. Mỏi chân đi thì tạt vào quán cà phê đối diện chợ Hàn kêu ly nước dừa tươi đá bào, ngậm lấy điếu thuốc ngoại có cán nhìn ra con phố chen chúc cảnh mưu sinh. Hàn từ đống bùn ngoi lên được ba bữa, bữa nay ta nên ngồi rung đùi để trả thù đời. Ta chảnh cho bỏ những ngày cơ cực. Riêng một góc trời đâu còn ai nhận biết thân phận ta. Không vô tư phút này thì thật là dại ngỗ.
Ly nước dừa tươi cạn ngang phân nửa, điếu thuốc cụt vừa ném đi thì có lão bán vé số xăm xăm bước vô ngay bàn. Đen đúa, gầy còm, có vẻ già trước tuổi, khó nhận diện: Mày hả Hàn, phải mày đó không, Hàn? Hàn chệt! Hàn thôi vác chân chữ ngũ, đổi thế ngồi nghiêm nghị. Lạ, phải là bạn chí cốt thuở hàn vi xưa cũ mới lôi được cái biệt hiệu Hàn chệt ấy ra. Cha mẹ ta ăn nhằm cái giải gì mà đặt tên Mạc Cảnh Hàn, xướng lên nghe như điểm danh một đồng chí cấp uỷ nào đó bên Trung quốc, hoặc chí ít thì có liên hệ giây mơ rễ má với một nhà văn bị thủ tiêu trong cuộc cách mạng văn hoá. Hàn không nhớ kẻ vô duyên đối diện bất tương phùng nọ. Nó là ai, sao trôi sông lạc chợ chốn này? Nó tên chi, mấy tuổi, đăng ký hộ khẩu ở đâu, sao không dưng đường đột thấy kẻ sang bắt quàng làm họ!
Đù mẹ mày cứ ưa vác mặt nhìn đời hiu quạnh, tao là thằng Vinh đây. Vinh ở viện mồ côi từng có lần một mình đánh gục ba thằng to con chuyên ăn hiếp mày. Đã nhớ ra chưa kẻ thiếu chất xám? Chắc mày đang hồ nghi, có ưa nghe hết bản tân cổ giao duyên vẽ chuyện đời thằng Vinh này không? Kẻ ấy nói khi kéo ghế ngồi gần Hàn. Mấy năm nay lê thân đã mòn vẹt hai đôi dép chẳng ngó ra bóng dáng một hiền hữu, sáng nay nhảy mũi hắt hơi quả là điềm báo tương ngộ cố nhân. Gọi thứ gì để uống mừng mới được. Thiệt cám ơn cao xanh. Mày bao tao ly cà phê đá có đặng không?
Chuyện nhỏ. Hàn nói. Cuộc đời đè thân thì ai cũng toe tua tựa nhau kể ra làm gì những điều nẫu ruột. Ngồi nhậu rượu đắng không nói gì, đằng này chỉ uống cà phê thôi mà, nên lựa chuyện vui mà san sẻ. Chuyện tầm bậy tầm bạ của bàng dân thiên hạ cũng mang lại chút giải sầu. Vinh hối hả gọi thức uống rồi cởi mũ quạt lia lịa vào đầu tóc ép sát đầu. Trong người Hàn thịt da vẫn còn lưu vết sẹo thuở ấu thời chưa phai nhạt và trí nhớ đang lần về hoạt cảnh được Vinh ra tay can thiệp vực qua cơn nguy kịch. Ơn chưa đền oán chưa trả rồi số phận ập tới bày rõ sự cắt chia.
Tao đang lâm vào đường cụt, túng quẫn cực kỳ, mày liệu có mua giúp tao xấp vé số còn lại này chăng? Chuyện nhỏ, Hàn nói. Tao ở phương xa trôi dạt tới đây lòng những muốn thử thời vận kiếm tìm một công ăn việc làm, mày bán vé số e thu thập được lắm tin tức thời cuộc, có sẵn lòng chỉ bày đường đi nước bước không? Bên quận 3 có xí nghiệp sản xuất sắt thép đang tuyển nhân công, tập đoàn lãnh đạo công ty ấy do người Trung quốc làm chủ, tên họ mày mang sặc cả mùi Tàu như thế không chừng mà chúng đâm thiên vị.
Hàn và Vinh chia tay, chẳng thề thốt ngày tái ngộ. Chia tay sau khi Vinh mặt giãn nở moi được một cục tiền và Hàn thờ ơ nhét xấp vé số vào túi quần, tiện tay thử rà soát lại cái ruột tượng nêm cứng đồng tiền liền khúc ruột. Gọi là tình bạn thắm thiết ngày cũ cũng được mà gọi đó là cuộc mua bán cũng xong. Hàn về lại nhà nghỉ thanh thoả mọi thủ tục trả lại phòng, đeo ba lô kiếm quán cơm bụi ăn cho cành hông rồi mới bắt xe ôm chạy xé gió qua quận 3.
Nghe đồn ngày trước dân ở quận 3 thảy đều bị mặc cảm khi qua sông giao lưu với dân quận 2 quận 1. Mặc cảm vì bị chúng khinh là dân miệt biển chí thú việc đánh cá bắt tôm đen đúa thiếu văn hoá. Ngày nay nhờ ơn cách mạng mọi người đều bình đẳng và không chừng dân quận 3 có khối đứa làm đại gia mà hai quận kia chả bì lại được. Việc vàng thì chán khối cửa hàng xí nghiệp công ty nhan nhãn tha hồ lựa chọn vào đầu quân, nhưng nhắm chắc ăn nên chịu khó lo lót đi qua cửa sát hạch của bọn người môi giới. Hàn cũng không ngoại lệ, môi giới nắm tờ đơn nhăn nhàu của Hàn biểu đi gặp anh trưởng phòng tổ chức, hiện ảnh đang ngồi đợi ở quán nhậu Ngũ Hành Sơn. Hàn giao mạng ngồi yên sau chiếc xe gắn máy cho kẻ ấy thồ đi.
Ngũ Hành Sơn quán mở nhạc vàng tới điếc con ráy. Đội ngũ phục vụ viên tuyển toàn gái non tuổi và chúng bị bóc lột tới độ áo quần che thân đều lỏng lẻo việc đậy đằng. Bị bóc lột mà chẳng đánh mất nụ cười, đã thế còn chịu khó xức dầu thơm ngấm rút vào thịt da xem chừng cực mát mẻ. Anh trưởng phòng nghe gọi tên là đại ca Bảnh, kẻ môi giới dắt Hàn tới diện kiến và Hàn thót tim vì ảnh không lẻ bóng mình ên, Bảnh ngồi với đám lâu la thân cận dưới trướng, tả hữu đếm được sáu thằng vai u thịt bắp. Không biết việc lao động trong công ty nhàn hạ tới đâu, nhưng lọt qua được cửa ải này chắc phải sứt mẻ trầy trụa ít nhiều.
Bảnh mặc áo chim cò, mặt mày hồng hào tươi nhuận. Năm hạt nút áo thoải mái được cởi ra không chấp nê việc phỏng vấn nhân viên mới, tác phong đúng với danh xưng đại ca. Bảnh ngôn: Nghe tên ta đã có ngay cảm tình với chú. Thú thật ta vốn là người Việt nhưng cực ấn tượng tới những gì liên hệ tới China, ta có được ngày hôm nay âu cũng nhờ nghe theo lời tâm huyết do Tào Tháo để lại: Phàm những chuyện đại sự trong thiên hạ nên về nhà hỏi ý vợ, vợ bảo sao cứ làm ngược lại ắt sẽ thành công.
Cả đám vây quanh đồng loạt cất tiếng cười rú. Thậm chí lý! Chuẩn không cần chỉnh! Sao anh Hàn không nâng cốc rượu mừng Bảnh đại ca? Hàn suốt đời đầu bù tóc rối chỉ biết uống trà đá chanh đường, nay lâm vào hoàn cảnh cậy việc đành phải cung kính không bằng phụng mạng mà tợp cốc này xong phải chiêu sang ngụm khác, người nóng bừng một cảm giác quái gỡ tiến thoái lưỡng nan. Khảo Hàn một thôi, hay ra Hàn bị vợ bỏ từ đời tám hoảnh, đơn thân sống côi cút bấy chầy nên đại ca Bảnh gọi ngay tới hiện trường một em chân dài di động những núi đồi thông thoáng triền cao lũng thấp. Ngũ Hành Sơn quán bày biện bên trong lắm hang động, Hàn yếu xìu để cho ma nữ quàng vai bá cổ dìu đỡ vào tận chốn thâm sâu. Chèn đét ơi có ai ra trận tiền mà giáp gươm tơi tả xuội lơ cẳng cò như này. Tráng sĩ nên uống cái ly nước ni để chữa cháy, để giã rượu, để phổng phao lấy lại phong độ của trang nam tử hán. Hàn nghe lời uống cạn rồi vật mình xuống giường, ba phần tỉnh bảy phần lâng lâng mê muội, súng tiểu liên AK 47 nó nổ nguyên băng bên tai chưa chắc đã vực dậy xác thân, huống hồ bàn tay mát lạnh của ma nữ đang tìm vùng nhạy cảm mà vuốt ve, nâng niu, trững giỡn, chìu chuộng.
Khi Hàn tỉnh giấc, nghe ra tiếng ai hát “một mai qua cơn mê xa cuộc đời bềnh bồng…”. Hàn ngồi dậy trên chiếc ghế bố ngác ngơ ba hồn chín vía chưa kịp trở lại hòng đuổi bắt mộng thực lẫn trốn. Đầu nặng như búa bổ mà gió hiu hiu thổi lùa vào ba bức phên tre chẳng làm giải hạn phân nao. Màu nắng sớm mai làm bãi cát trắng phát quang khiến Hàn phải nhíu mày. Đây là đâu? Sao tui lại ngủ trên cái giường xếp này? Người đàn bà thôi hát nhạc mùi, giọng Quảng Nôm lý sự: Năm giờ sáng có ông gì đó thồ chú tới đây, ổng đưa tui năm chục ngàn biểu hồi nào chú thức trụng cho chú gói mỳ tôm bị hôm qua say quá mạng cho chó ăn chè tới xẹp ruột. Nghe tới ruột, Hàn đưa tay vào sờ bụng mình, cái ruột tượng không cánh mà bay. Nó bay lặng lẽ, nó bay êm thắm mà chẳng để lại một cọng lông. Vụt đi và gây cho Hàn một cơn đau xé lòng tới choáng váng. Không đột quỵ, chẳng cao huyết áp, không tai biến mạch máu não, chẳng nhồi máu cơ tim, Hàn gượng đứng lên với hai chân run. Ăn chưa thì tui trụng gói mì cứu đói. Ăn con mẹ gì. Hàn đáp rồi bước ra sân cát ngó quanh. Đây là đâu? Làng Cẩm Lệ. Xa thành phố không? Cách Đà Nẵng khoảng bảy tám cây. Chú người miệt nào mà nói giọng khó nghe. Hàn thọc tay vào túi quần, chỉ còn xấp bạc lẻ, chỉ còn xấp vé số, chỉ còn thẻ bọc nhựa chứng minh nhân dân: Mạc Cảnh Hàn. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Gia cảnh: Độc thân…
Hàn bắt xe ôm về nhà nghỉ, dọc đường nói với gã điều khiển xe, chở tui tới Ngũ Hành Sơn quán. Dạ chưa hề nghe qua, ở đây chỉ có công ty mang tên Ngũ Hành nhưng thường dân không được bén mảng tới gần chu vi hai dặm vì đất ấy do người Trung quốc đã mua đứt. Con mẹ nó, Hàn chửi thành tiếng. Trong túi tôi còn đúng năm chục ngàn, nếu thiếu thì dụt mẹ tui xuống dọc đường cũng chẳng sao. Đừng nói rứa, mình người Việt với nhau mà, tui đâu nỡ xử ép chú. Giọng gã lái xe thồ vấn vương chút thành thật.
Xe vất Hàn xuống trước nhà nghỉ đúng với quy định. Nắng đổ ngập thân hắt cái bóng dị kỳ trên mặt nhựa đường, gãy góc dáng người dáng thú nhập nhoà xẻ nên vệt đen thẫm. Đang liêu xiêu, miệng đắng chát khát khô, chân chưa kịp cất bước thì Vinh, đứa bán vé số hôm trước chạy vụt tới. Leo lên tao chở đi, đù mẹ cất công đi tìm mày từ bảnh mắt tới giờ, tạ ơn cao xanh. Năm mươi năm mươi có chịu không, hay là bốn mươi sáu mươi? Đù mẹ bạn bè phải chơi đẹp với nhau. Hàn leo lên, mày nói gì ông ếch hiểu. Ừ thì bạn tốt, hữu hảo, chuyến này tao phải tạm trú đằng nhà mày một thời gian. Cái đó hạ hồi phân giải, trước mắt phải thanh thoả việc đại sự đã, cho yên tâm. Chiếc xe này tao mượn của người ta, xăng phải đổ đầy bình khi trả lại. Mày còn giữ xấp vé số trong người không đó? Tao thuộc nguyên cả xê-ri, thuộc hết cả những dãy số. Đù mẹ, khù khờ ông trời độ, hôm qua tụi mình được ổng điểm danh.
Lại nước dừa tươi, lại cà phê đá. Lại thuốc có cán Craven-A. Lại vắt chân chữ ngũ. Lại nhìn đời hiu quạnh. Tao bốn mươi, mày sáu mươi. Vinh chia tiền đâu ra đó. Hàn nói, chuyện nhỏ. Lần này không có ruột tượng mà nhét thu, cứ thế mà chia nhỏ ra cất vào túi quần túi áo. Mình làm cuộc liên hoan chăng? Hàn nói, tuỳ mày, bộ tính không để dành lo cho ngày mai sao? Thì ngày mai cũng lê thân đi bán vé số, có sao đâu. Còn mày? Hàn không trả lời, bưng ly nước dừa ngậm cắn vành ly. Sắm chiếc xe ba gác đi mua bán phế liệu chăng? Thiệt là chẳng có chi để phàn nàn. Nhờ đồ đồng nát mà kiếm ra vàng, vin vô nghề bán vé số mà trúng lô độc đắc. Phận người ai nào tường chuyện ngày mai. Dòng sông ấy còn trong hay giờ đây đã nhiễm độc. Quán nước có bắt cái TV, giọng người đọc tin tức không dấu vẻ tự hào: Theo cuộc thăm dò mới đây, Đà Nẵng được xếp hạng là thành phố đáng sống nhất nước.
Hàn chửi vu vơ: Chít mịa, hổng dám đâu. Thằng người luôn bị ngộ nhận là có quan hệ với bọn bành trướng này ngày mai sẽ xuôi Nam nuốt nhục nỗi đau phẫn hận, sống để dạ chết mang theo. Mạc vận. Cảnh nghèo. Hàn vi. Cứ hiểu nôm na là thế. Và thông thường kẻ lắm tiền của mới sợ hãi cái chết. Hàn này xem mọi thứ thảy đều phu du, thảy là tạm bợ, thảy là bèo dạt hoa trôi. Nước sông Hàn ngoài kia đang cuộn sóng bất an.
Đã có bao giờ bạn ngồi như thế này, mắt phóng nhìn qua bên kia sông để rồi bạn chẳng thấy gì cả. Đã có phút giây nào bạn bỗng trở nên mù loà. Đôi mắt bạn không chịu làm việc, hoặc có chăng bạn chỉ thấy những hình bóng cũ chập chùng hiện ra. Bạn ngồi sững người và đầu óc bạn mê muội lịm dần giữa những hình ảnh hoang mang đó. Coi kìa, chiếc bus voyageur đầy bùn lầy kia đang chạy qua cầu để chở khách đường xa vào thành phố. Bạn có tưởng được rằng có khi dưới mắt mình nó là một chiếc xe đò chạy suốt Huế-Nha Trang-Saigon. Bùn lầy bám nơi thân kia là dấu tích của một cơn mưa rơi dầm dề ngoài miền Trung vào hong khô bằng những trận nắng choáng váng đường lộ dẫn đến Hòn Ngọc Viễn Đông. Những mưa ướt sũng kỷ niệm. Và những nắng bồi hồi làm chín vàng tình yêu.
Tôi định hỏi bạn để có chuyện mà nói. Chúng ta ngồi im đã lâu. Nhưng bạn đã hỏi tôi với một tiếng thở dài đi trước.
– Cho Gia một điếu thuốc đi.
– Đã uống bia, bây giờ còn giở trò hút thuốc nữa?
– Thì đã sao. Ai đẻ ra lề luật để trói buộc vậy?
– Không ai cả. Vì ngày xưa có thấy Gia làm vậy đâu.
– Ngày xưa!
Đóm lửa gas cháy ngọn xanh. Bóng tối vây lấy chúng tôi bị nó đẩy đi một vũng lung linh. Qua đó, thấy mặt Gia hồng. Đôi mắt ướt đen cúi nhìn điếu thuốc miệng ngậm. Và đầu lửa đỏ. Mùi thuốc gội đầu thơm nhẹ một loài hoa rồi hoà với khói cháy nồng đậm Marlboro. Tôi tắt lửa. Gia ho khan.
– Hồi nãy anh đi đâu?
– Có đi hồi nào. Suốt một ngày ở cấm cung.
– Gia phone lần thứ ba mới có trả lời.
– Có thể hai lần trước nhằm lúc đang tắm. Hoặc giả vì cái cassette Walkman, nằm lim dim nghe nhạc nên hồn lạc vía.
– Anh nghe nhạc gì vậy?
– Băng để lung tung, bạ gì nghe đó. Anh có, Pháp có, Việt có. Có những bản mình tưởng dở không đoái hoài tới, ai dè tình cờ nghe lại thấy lạnh cả người.
Tôi định nói thêm với Gia đó là những bản nhạc mà Gia đã từng nghe qua, với tôi, trong một quán nước đâu đó ở bên nhà. Đường Nguyễn Du. Đường Gia Long. Đường Hai Bà Trưng. Hay Nguyễn Huệ, Tự Do. Một tình khúc trắc trở. Một thứ định mệnh dành cho nhân vật chính và ngôi thứ hai. Just me and you. Dạo đó tôi yêu Gia. Bây giờ tôi vẫn còn giữ, dầu tôi biết đã có thực sự thứ định mệnh trắc trở xen vào ngay từ buổi đầu như lời bài hát. Một tháng Tư năm nào. Một hận thù khởi đi. Đọa đày chất ngất. Ly tán đầy rẫy. Bần cùng đẻ sinh… Làm sao nói đủ một vòng đời lật ngữa? Có chăng chỉ là những hoài niệm để thấy rằng quá khứ vẫn luôn tiềm ẩn những cái thơ mộng mà trước đây ta không nhìn thấy, ta coi thường. Và tôi hiểu ra, những bản nhạc kia dù lời có cải lương, sến sịa, cù lần, cụ trâu… đi chăng nữa, nó vẫn thừa những xúc động bởi nó gợi nhớ đến tôi cái hình ảnh ngày nào kề bên Gia.
– Mở cho Gia một chai bia khác.
– Không có ai cấm Gia uống thêm, nhưng tửu lượng mỗi người đều có giới hạn.
– Gia đang thử cái giới hạn của mình tới ngang đâu. Cũng như hạnh phúc, Gia đã lỡ khám phá ra nó chỉ là một đường hạn hẹp.
– Đừng tưởng uống bia vô rồi là giải sầu được đâu. Vả lại, hơn lúc nào hết đây là lúc mà Gia cần tỉnh táo nhất.
– Nếu không tỉnh táo, Gia đã không tìm đến anh. Gia đã không biểu anh chở ra đây nói chuyện.
Tôi yêu Gia. Điều ấy tôi đã nói rồi. Khi bạn yêu một người bạn có ngăn cản ý muốn của người ấy không? Dầu đôi khi ý tưởng họ có hơi nông nổi. Sự nông nổi phát xuất từ một hoàn cảnh sống không như ý. Tôi mò tay trong bao giấy in ở ngoài tên một siêu thị có vẽ miệng cười lấy ra cho Gia chai bia thứ hai.
Tôi ít khi để tâm đến đời sống tôi. Tôi chẳng can đảm làm khác đi và xem như mình đã bằng lòng chấp nhận nó. Chấp nhận những thiệt thòi luôn đến làm mình trở nên chai lì trong cái nghĩa chịu đựng. Sẽ quen đi. Tôi viết thư về nhà “khoe” đã tìm được “job” tốt, ổn định với lương năm đồng một giờ, điều này có nghĩa từ nay con gởi quà về đều đặn hơn. Tôi đôn đáo tìm thuê được một phòng trọ xập xệ với giá một phần tư tháng lương. Làm chủ một chiếc xe đời 82 vừa trả nợ xong và vừa khám phá nó bị tuyết mưa sương gió ăn thủng nhiều lổ quanh thân. Tôi thản nhiên không buồn lo với ý nghĩ có gì bền được với thời gian. Chiếc xe cũng như tôi, đời 57 tới giờ dĩ nhiên có nhiều hục hặc ở bên trong. “Nó” chạy qua đến đây là đã khá rồi. Dừng chân ở trại Kai-Tak bên Hồng Kông khám tổng quát một lần để cho phép “máy” chịu được xứ gió tuyết đìu hiu này. Đưa vô “garage” Linda một lần để thử “xăng nhớt”, cô nàng chê tụi mày khó hiểu “cấu trúc cầu kỳ” nên “de” xe ra ê ẩm. Vác xe không chạy sật sừ loanh quanh. Chiều mưa biên giới anh đi về đâu? Tôi viết thư về nhà than thở.
Sinh ta ra là cha mẹ ta, mà người hiểu ta cũng chính là mẹ cha ta vậy. Ôi! Nghìn trùng xa xăm. Cớ sao đoạn nghĩa lạc loài phiêu diêu tới đây?
Tờ thư vàng úa nhận trong tay ám ảnh màu hoàng hôn quê nhà: “…Má về Huế thăm lại mộ phần anh con. Má nghe tin hình như con Gia cũng ở cùng một vùng với con, sao không tìm gặp nó mà bầu bạn…”
Tôi đã gặp Gia. Tình cờ chớ không mất công dọ hỏi. Place des Arts đông người, những “Cháu Tiên” lạc loài tụ lại đón mừng năm mới trên đất khách, một năm Con Rồng. Tôi nhớ mang máng đó là ngày chúa nhật, hai mươi tám ta. Chưa ai được tấn phong tuổi mới và hầu như ai cũng đang tươi trẻ rộn ràng.
Ngoại trừ Gia. Nàng đi vào, thật huyễn mộng. Mắt nàng cười có những đường nhăn sau đuôi, quần thâm quanh viền, mỏi mệt. Nụ cười mở lưng chừng, không tươi, như thể cười vì tiễn đưa một người sẽ lìa xa chứ chẳng phải để đón gặp người từ một cách biệt đằng đẵng bỗng hội ngộ. Còn tôi? Khói thuốc xông lên đôi mắt. “Đôi mắt ướt, tuổi vàng , khung trời hội cũ”. Và tôi thì thầm. Là Gia ? Gia, Gia ơi!
Tôi là người rất vụng về trong sự biểu lộ tình cảm, và cũng rất trẻ con để cho niềm vui vật vã trong tôi biến thành sự lúng túng lộ diện không thể đè nén, giấu che. Y như ngày còn thơ nhận được phong bì màu đỏ, lì xì mừng tuổi từ tay ông bà cha mẹ cứ vui đứng lặng người cho đến khi có tiếng giục của anh chị. Cám ơn và chúc mừng năm mới đi. Cái thằng. Nói đi, năm mới phải cho mau lẹ…
Tôi đã nói những gì, tôi quên khuấy. Hình như chỉ nói bằng mắt nhiều hơn bằng lời. Và ích kỷ chỉ thích đón nhận những gì Gia sẽ thố lộ lúc đó. Tôi nhớ đại để những câu: Anh ốm quá sức. Qua tới một mình? Hay đã lập gia đình rồi? Thấy cuốn Bell có in tên anh mà chỉ sợ gọi lầm người.
Tôi vẫn quan sát Gia, vẫn thì thầm. Phải, như thế mà hay. Chẳng có gì thất vọng bằng nỗi lòng háo hức chờ đón tiếng nói người thân để rồi trong ống nghe giọng ai xa lạ, không phải. Tiếng xin lỗi tiếp lời rồi gác máy.
Tôi nhìn bàn tay vuốt tóc của Gia, những bông tuyết trắng chưa tan trên nền đen những sợi mượt mà. Mấy ngón không mang găng, cắt trụi móng và xốn xang chiếc nhẫn màu vàng. Tôi cũng có một cái khâu tương tự nhưng không nằm trên tay đen. Má tôi giấu may trong lưng quần hôm vượt biên. Có đổ bể thì lấy ra xoay trở, còn êm xuôi thì giữ bên mình đặng qua xứ người phòng khi đau yếu. Chuyến đi trót lọt. Tôi đây có cảm mạo xâm xoàng nhưng chưa đến nỗi ngặt nghèo phải bán nó đi. Tôi luôn giữ nó, suốt đời. Một kỷ vật. Để nhớ và hiểu thế nào là tình thương của một người mẹ tất tả xuôi ngược đến bạc tóc…
Còn Gia? Có phải vì nó làm Gia cười không tròn nụ, làm Gia già đi dưới mắt tôi một Gia đã yên bề gia thất, nhẫn nhịn bên chồng? Nhân sẵn có không khí Tết cộng đồng mình tạo dựng ra, tôi dằn lòng không xong để nói Gia có cháu nào chưa? Có thì chúc mạnh giỏi. Chưa thì mong mẹ tròn con vuông ở năm Mậu Thìn này. Lần đầu tiên trong tình bạn, tôi chúc Gia một câu không ổn đó.
Tuyết còn đổ âm thầm bên ngoài và hàn khí còn dâng trong tôi. Trí nhớ tôi còn nguyên vẹn hình ảnh một cái Tết năm xưa. Rất xưa. Tôi chở Gia về từ một rạp chiếu bóng thưa người coi phim “Vũ điệu Trong Bóng Mờ”, tôi đã đọc khẽ câu thơ một thi sĩ nổi tiếng cho Gia nghe giữa con đường tối tăm và nhiều sương khói trong Thành Nội trầm mặc. “Còn đêm nào vui hơn đêm Ba Mươi. Anh nói với người phu quét đường. Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em…” Gia ôm bụng tôi. Mùi hoa phượng rũ trên đầu phả xuống lòng đường hay mùi nước bồ kết Gia gội tóc làm ngây ngất không khí, làm tôi hít thở say nồng.
– Cái nhà hình cầu bên kia sông là gì vậy anh?
– Hình như là một Câu Lạc Bộ Thể Thao. Những cuối tuần, với một hai chai bia, anh thích ra ngồi đây. Gia có nhớ sông Hương không?
Gia không trả lời. Ngậm cổ chai bia Bud Light và thu hai chân trên ghế xe. Tôi nghe tiếng nuốt ực.
– Có một dạo, tình cờ Gia đọc truyện ngắn viết về Huế tả người con trai xuống ngủ đò. Sao ngu quá, lúc đó không tưởng được là anh viết.
– Tưởng được thì đã sao?
– Chuyện ấy có thật không? Hay là bịa đặt?
Tôi nhìn ra dòng sông màu đen. Nhấp nháy những đóm sáng ở trên dải đất chiếu đọng xuống bề mặt nhăn nhó gió và nước. Những cao ốc xám. Mấy ngọn đèn màu. Lung linh. Ở trong xe nhìn qua tấm gương đóng khung trông nó như một cái tivi đã mãn giờ nửa đêm. Thức dậy sau một cơn mộng ngủ quên, màn ảnh còn sáng chưa tắt.
– Có thật.
– Khi xưa anh cũng hoang đàng như vậy đa.
Tôi tu một hơi bia. Tôi uống bia cũng dở, thường chếnh choáng sau bốn năm chai. Tôi không thích cơn say lạm dụng bởi hơi men. Nhưng nghĩ cho cùng, nó sẽ dễ chịu hơn cái bàng hoàng của một người thất chí, thất tình.
– Đó là lúc mà Gia đã sang đây. Là lúc mà Gia không thể tưởng tượng được những gì xảy ra bên đó. Gia còn nhớ Tâm không, cái thằng bạn anh mà lúc trước thiên lôi còn chạy nó, thiếu đường xé trời mà lên. Tâm sẹo đó. Sau này hắn ngờ nghệch lờ đờ như một con cá ươn. Hắn bị cưỡng bức đi lao động cho một công trường. Hôm san bằng mãnh đất để làm hệ thống dẫn thủy hắn đào đúng trên một dãy mộ bia, lưỡi cuốc bật dội ê ẩm tảng xi măng khắc tên tuổi ngày sinh tử của ông già hắn. Hắn bật khóc và đứng giữa đám bụi đỏ đả đảo bọn Việt Cộng khát máu. Cái đoạn kết hẳn Gia tưởng tượng được rồi chứ gì. Mỗi người đều có một cách thức thể hiện và anh chỉ là một đứa dật dờ xuống ngủ đò để ngã giá cho lần đưa người ra điểm hẹn gần cửa biển.
– Lâu nay anh còn viết thêm không?
– Còn.
– Anh thấy việc làm ấy có đáng theo đuổi không?
Tôi nhớ bức thư của người anh phương xa gửi tới. Bia. Có phải nó làm cho mặt tôi nóng lên không? Những dòng chữ thân yêu nhảy múa… Hãy coi đó như một sinh hoạt đi. Một sinh hoạt tốt. Để có một cái gì đó giữ cho mình một đời sống, việc theo đuổi một công việc sẽ giúp mình sống có ý nghĩa và đời sống sinh thú hơn những người khác trong mưu hồ khẩu thấp kém của họ. Nó phân biệt mình với sự tầm thường nhàm chán, em có thấy vậy không? Trong đời sống chữ KHÔNG có lẽ khó nói nhất và chẳng phải ai cũng có thể nói được.
– Gia không có máu văn nghệ. Có thể. Nhưng thấy thật vô bổ khi tưởng tượng có người thức đêm thức hôm để làm công việc như anh. Gia hỏi tụi bạn trong sở, chả có đứa nào biết qua một tờ tạp chí nào hết. Tụi nó lo đi cày, đi chợ, đi mua sắm và cuối tuần thì dọn đẹp nhà cửa, rồi có giải trí chỉ bằng video hoặc một cuốn cassette.
– Gia nói như thế nghĩa là làm sao?
– Bây giờ đã thiếu đi lượng người đọc. Mai hậu còn ai xem nữa không?
Chất nước bia thường đắng. Tôi biết vậy mà vẫn uống. Thật là vô duyên nếu giữa đêm có hai kẻ ngồi trong xe muốn san sẻ với nhau nhiều điều và rồi khui từng lon Coke ngọt lịm để giết thì giờ. Tôi uống bắt đầu qua chai thứ ba, chưa có “ép phê” gì ráo trọi. Vậy mà thấy buồn lãng vãng chờn vờn. Rượu chẳng thể hoà giải nỗi sầu. Mưa chẳng thể cầm chân khách lại. Những người xưa đã từng nói thế.
Tôi bông đùa. Giả như được sống với Gia thì khác. Hạnh phúc thường làm người ta dễ buông xuôi.
– A! Thì ra buồn chán là một nguyên nhân.
– Cứ coi như vậy đi. Ít ra đó cũng là một cái cớ để trả lời.
– Gia mong là mình đừng đọc phải một truyện ngắn có nhân vật tựa như Gia ở trong.
– Đừng nhắc tới chuyện đó nữa… Này Gia, em có hạnh phúc không?
– Anh hiểu sao cái chữ trừu tượng đó? Tiền của, vật chất, một căn nhà mới mua nằm xắn trong một triền đất ngập tuyết. Hai kẻ chào nhau buổi sáng ở bếp chuẩn bị đi làm và tối về kể cho nhau nghe những thành công của mấy người đồng hương trong sở, đâu đó quanh cái thành phố đầy máy móc này…Nhưng không sao, chẳng có gì để làm thay đổi và làm khác đi. Một con chim đã đủ lông cánh thường bay đi, không thể nằm hoài trong ổ rơm để tối ngày kêu ca.
Tôi nhìn Gia. Mắt nàng là hố đen, không nhìn được có thể là những chớp nháy trong thứ tiếng phát ra bị nghẹn trịt kia. Câu nói đi kèm với nước mắt?
– Tôi giả lả. Tôi tìm tay Gia nắm lấy, bóp nhẹ và xoay vòng chiếc nhẫn ở tay gầy xương của Gia.
– Bia nói. Hãy coi như bia nói. Ba má Gia vẫn bình thường?
– Thường cả. Anh nghĩ sao về trường hợp một người đàn ông bỗng trở nên hằn học khi vợ của ông ta cứ thường gửi quà về cho bên nhà?
– Anh không nghĩ gì cả vì anh chưa từng là một người có vợ. Đời sống phiền hà như vậy sao?
– Còn ba má anh?
– Cũng vậy. Già yếu trông thấy qua lời thư và những hàng chữ run rẩy. Má anh là người có trí nhớ thật tốt, thư nào bà cũng nhắc tới Gia. Thì chính má anh viết thư biểu anh tìm gặp Gia đặng mà hàn huyên chứ ai.
– Còn anh Thạch?
– Chết rồi. Trốn được khỏi trại học tập nhưng bị mấy tên đốn củi trong rừng điềm chỉ. Bị bắn ngoài đường lộ khi về gần thành phố. Má anh lạy lục cúng bái mới được đem xác đi chôn.
– Thật là đau khổ. Sao mấy người tiều phu nhẫn tâm độc địa cỡ đó.
– Má anh giải thích, họ mong lập công để được phép chở củi về nhiều. Đó là thời điểm gạo châu củi quế. Sinh mạng con người có khi không bằng một xe củi ẩm.
Lần này, tôi nghe lấy âm giọng sũng nước của mình. Tôi cố bình tĩnh và nhớ lại hôm cúng giao thừa vừa rồi, tôi đã đứng khấn nguyện dưới trang thờ có tấm ảnh trắng đen chụp anh mặc quân phục hôm về phép thăm nhà ngoài Huế. Tôi đã khóc lúc đó. Tôi không có kinh nghiệm, đốt ba cây hương, nên suốt đêm trừ tịch, căn phòng bí rị của mình thuê cứ váng vất khói hương cay. Khói chẳng có lối thoát và nỗi lòng cô đơn sầu thảm của tôi lúc đó cứ dâng lên, dâng lên. Vỡ bờ. Ngập lụt.
Tôi nốc hết chai bia, mở một chai khác kẹp giữa hai đùi để mò tay tìm bao thuốc nằm đâu đó trong bóng tối. Một điếu thuốc thắp lên. Gia đưa tay giựt đi từ miệng tôi ngậm. Hút hơi đầy rồi thổi tới mặt tôi, tinh nghịch. Gia dụi đầu lửa vào gạt tàn, bàn tay lạnh chợt ghì kéo đầu tôi lại gần. Hôn hơi sâu. Ngộp thở. Chai bia đổ ra lai láng ướt quần.
– Nếu còn viết truyện, đừng viết về một người đàn bà ngoại tình.
Giọng Gia đầy hối thúc, như một ý nghĩ liền biến thành lời nói sợ để lâu sẽ có những đắn đo? Hơi thở nồng mùi bia, dồn dập nóng bên tai tôi. Những sợi tóc xoã vướng nhột nhạt ở má. Nỗi kích thích nào dâng cao. Cơn say nào mới lạ. Tiếng fermeture kéo đi, nghe vọng dội sự lôi cuốn khó kềm chế. Ngực Gia cứng căng và mùi hương L’Air Du Temps mê hoặc. Tôi nhớ căn nhà ở Tân Đinh Gia trọ học, buổi trưa nồng nàn mồ hôi. Áo thun mỏng của Gia lồ lộ và một chối từ dứt khoát. Đừng mù quáng. Đừng vượt xa. Đã chín năm trong một lạc lối mù tăm giờ tìm gặp được. Chín năm nhiều đổi thay. Một Gia đã lập gia đình. Một Gia giờ uống bia hút thuốc. Một Gia chủ động kéo tôi đi phăng những ngỡ ngàng.
– Sao quần anh ướt lạnh?
– Bia vừa đổ ra…
– Ôm Gia đi và nghĩ là tụi mình vẫn còn phần số. Chỉ một đêm nay thôi.
Đêm ngập bóng tối. Đêm với con số nhảy sáng đồng hồ trong xe. 9-38. 9-40. 9-59.
Những nhịp tim và những tiếng thở. Chiếc xe đời 82 cũng kêu ca bên bờ sông vắng.
Giọng Gia đứt quãng.
– Phải chi chiếc xe trục trặc hệ thống thắng tay lao xuống sông thì không còn gì để buồn lòng. Phải không ông viết truyện hoang đàng?
Đầu tóc Gia rối. Gia như có vẻ thấm mềm hơi men. Một cái chết? Gia can đảm chấp nhận vậy sao?
Tôi ngồi lại, tay ôm vô lăng và nhìn vùng ngực trắng đục của Gia. Những diễn biến tình cờ luôn là những vọng đọng sâu thẳm. Tôi nghĩ tới những hòn đất khô ném rung động xuống lòng huyệt cạn xớt của Tâm. Buổi trưa nắng tàn nhẫn trên vùng đất cằn cỗi. Mồ hôi đổ đầy châu thân kẻ sống và manh chiếu rách gói không đủ hình hài người vào lòng đất. Tôi luôn bị đối đầu trước một hoàn cảnh làm mình bứt rứt. Tiếng thét của Tâm và hành động đứng lên của nó là một hình ảnh anh hùng, với tôi.
Tiếng rên của Gia và vòng tay cuồng nhiệt của nàng là gì?
Gia mặc lại áo. Nàng cúi đầu.
– Đã khuya. Hãy chở Gia về.
– Có điều anh muốn nói, lúc nào anh cũng yêu Gia.
Nàng hôn tôi. Đầu lưỡi mềm. Chất nước ngọt.
– Vài hôm nữa Gia không còn ở đây. Ổng đi Toronto làm việc và đã bán nhà cho một người bạn. Người bạn đó đã mở tiệc mời bạn bè coi như đưa tiễn ổng ra đi làm ăn phát tài ở chốn khác. Gia muốn về trước khi buổi tiệc đó vãn. Gia cũng yêu anh nhưng tụi mình không có cách chọn lựa nào cả. Những gì Gia có thể trao anh Gia đã làm. Thử quên Gia đi. Như quên một cái truyện viết thật dở tệ của anh. Một chấm hết.
Tôi mở máy. Chiếc xe rung chuyển bằng tất cả những rã rời của nó. Sắt thép còn vậy, da thịt con người thì sao? Cha mẹ tôi sống cô đơn bên nhà lụm khụm. Những nấm mồ bị cày xới đi. Những vùng đất yên nghỉ được” cách mạng” chỉ định chốn hoang vu khác. Tôi mong vô cùng cái ngày được về khắc cho ba má một tấm bia chính tay mình đẻo đục. Chôn theo đó cái khâu vàng trao gửi ngày nào. Thời gian thôi, nói vô phước là đấng sinh thành sẽ chết. Như bây giờ, Gia ngồi đây và mai này tan đi theo biệt dạng chồng về một tiểu bang khác. Chôn lòng tôi bằng sự rã rời của lần trao thân muộn màng và đoạn nghĩa.
Xe chạy ra đường sáng. Tuyết bỗng nhẹ đổ như mưa phùn bay trên hàng đèn lạnh toát.
– Có điều này nữa, anh ốm quá đi, sao không gắng ăn cho nhiều vào. Đời sống đôi khi phải cần nhiều đến thực tế. Anh có cảm thấy khó khăn điều gì không?
– Không. Cám ơn Gia. Ở xa có buồn bực điều chi cứ viết thư cho anh.
Xe dừng trước một căn nhà xám ngoét có hình thể cấu trúc như nhà của mấy phim quái đản. Gia mở cửa xe. Không biết nói tạm biệt hay vĩnh biệt. Chữ đầu nghẹn trong cổ, chỉ bật ra tiếng sau. Một tiếng biệt cũng nghe đầy đủ sự thất thường. Áo manteau trắng rộng thùng thình thoắt biến trong vùng tối của mấy cây tùng bách tàng đen đậm đặc.
Tôi ngồi chờ cho đến khi ngọn đèn vàng từ cửa kính sáng hắt ra mới lao xe đi. Trong hồn tôi có bóng đêm nào vừa buông xuống. Nghe như ai đó ném những hòn sỏi xuống mộ phần tôi. Rào rạt. Đớn đau.
Vĩnh cố tin những người bị lôi đi khỏi trại vào dịp cuối tháng Năm năm 1977 vừa qua là được thả về đoàn tụ gia đình. Nhưng kiểm điểm lại những người quen biết ra đi, Vĩnh thấy niềm tin của mình không có căn cứ vững chắc.
Nguyễn Hữu Nhật, sỹ quan CTCT phủ tổng thống.
Nguyễn Chí Kham, sỹ quan biệt phái đài phát thanh Huế.
Dzoãn Bình (ra đi trước hai ngày và đi lẻ loi một thân một mình) là ký giả của VNTTX.
Vương Đắc Vọng, sỹ quan CTCT BCH/PB.
Huỳnh Công Cẩn, sỹ quan tùy viên của ông số 2 Cục ANQĐ.
Nguyễn Văn Lộc, sỹ quan Ban Trận Liệt P2/TTM.
Nguyễn Văn Tâm tự Tâm Đen, sỹ quan TC/CTCT.
Trần Văn Đại, đơn vị 101…
Bên trên chỉ là những người quen biết hoặc ở chung với Vĩnh từ những ngày đầu. Còn hàng trăm người của trại 4 (chưa kể trại 1, 2, 3) ra đi và đều thuộc diện Chiến Tranh Chính Trị, An Ninh Quân Đội, Cục Trung Ương Tình Báo, Cảnh Sát Đặc Biệt, Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Quân Báo, Biệt Cách, 101); thậm chí cả những tay bị nhốt connex cũng bị lôi ra tống lên xe Molotova, trong đó có cả tay Mẫn, người từng xưng mình là Giáo Chủ Tôn Giáo Liên Hiệp Thế Giới…
Những thành phần ấy có lý gì chúng đem thả! Nhưng không đem thả thì đem đi đâu? Trong cái hộp sắt kín bưng là trại cải tạo, người ta chỉ có thể đặt câu hỏi mà không có cách gì tìm được câu trả lời chính xác.
Sau chuyến một số đông ra đi đó, trại 4 được củng cố lại. Một số nhà trống được sửa sang cấp tốc. Các công tác lớn vẫn bị đình chỉ. Bọn tù được điều đồng vào những việc đào thêm giếng, làm thêm hệ thống đường mương, trồng thêm cột đèn, đắp thêm bếp và sửa sang lại tất cả các nhà cửa…
Trong giai đoạn này, chẳng hiểu một số người tìm đâu ra một nguồn tin mới, theo đó tù cải tạo trại An Dưỡng trong một tương lai ngắn sẽ được đưa đi hết, thay vào đó, An Dưỡng sẽ biến thành một trại lính đặt dưới quyền xử dụng của sư đoàn 5 hay 7 gì đó của Cộng sản. Sư đoàn này sẽ có nhiệm vụ phòng vệ cho toàn vùng Biên Hòa và đặc biệt cho phi trường Biên Hòa. Cũng theo nguồn tin này thì hiện nay phi trường Biên Hòa đang bị đe dọa. Mỹ có thể từ Đệ Thất Hạm Đội bay vào đánh phá bất cứ lúc nào. Nguồn tin như khơi lại những biến cố từ mùa Xuân năm ngoái, khi các kho đạn trên toàn miền Nam bỗng nhiên phát nổ, lại được đưa ra bình luận một cách kịch liệt… Trong lúc cả trại đang sinh hoạt với không khí như vậy, Phạm Xuân Huy và Nguyễn Văn Ý quyết định gấp rút tiến hành việc vượt ngục.
Những thứ cần thiết tối thiểu cho cuộc vượt ngục như muối, dao găm, dây dù, thực phẩm khô… vẫn được Ý lưu giữ rất cẩn thận. Mặc dù Ý rất thông thạo vùng này, nhưng Vĩnh vẫn không yên tâm lắm khi anh chưa nhận được cái địa bàn từ gia đình đưa vào. Huy thì thúc hối ngày đêm rằng: Anh em phải quyết định khi trận mưa đầu mùa tháng Sáu bắt đầu đổ xuống. Theo ý kiến của các bạn, bằng mọi cách Vĩnh phải khai bệnh nằm nhà để hoàn tất vài vật dụng cần thiết cho cuộc vượt ngục. Ngoài ra anh còn phải nghiên cứu nhiều hơn các dãy hàng rào và đường hào chạy quanh bên phải đường biên trại 4. Nếu vượt được những dãy thép gai chằng chịt, người vượt ngục sẽ ra được tới đường hào. Vượt được đường hào vào mùa mưa có chiều sâu 4 mét ngập nước và thép gai không phải là chuyện dễ, nhất là trong đám lại có Vũ Duy Cường, cựu võ sỹ quyền Anh nhưng hoàn toàn không biết bơi.
Sau khi hưởng ứng lời cố vấn của Nguyễn Văn Ý, Vĩnh dùng ống chích lấy máu trong gân tay bơm vào một cái hũ Péniciline có bỏ muối để dành. Ngay tối hôm ấy, giữa cuộc họp nhà thường nhật, Vĩnh lên một cơn ho rũ rượi và máu trong miệng văng khắp cùng trước mặt mọi người. Nhà trưởng Nhan Quang Minh vội đứng lên và chạy lại đỡ lấy thằng bạn tù gầy còm. Những tiếng xầm xì, những lời thương xót, những giọng thúc hối đi kêu quân y vang dội cả nhà…
Sau lần ho ra máu ấy, dù không được đi viện, nhưng Vĩnh được nằm nhà nghỉ ngơi đúng như sự dự liệu của những tay âm mưu vượt ngục.
Trong vòng một tuần lễ, Vĩnh đã làm xong mọi việc được cả toán trao phó: Ăn cắp thêm muối của nhà bếp, chế 200 cái móc sắt, se được 50 thước dây làm bằng sợi bao cát và nhất là thuổng được một con dao phay của hậu cần trại. Tất cả lại được đem ra gần hàng rào đào đất chôn dấu. Dù sao đào dấu mấy thứ vật dụng đó còn dễ, đào chôn dấu thực phẩm mới khó. Ý và Huy đã giao cho Vĩnh đủ loại thực phẩm khô: gạo xấy, cơm phơi khô, bột ngọt, đường, bánh men… Vĩnh không biết làm sao chôn dấu. Những thứ ấy tổng cộng phải trên 15 kgs. Muốn chôn dấu an toàn phải chia làm nhiều túi nhỏ, và những túi nhỏ ấy phải cần có nhiều bao nylon tốt bọc thật kín, bằng không sẽ hư hỏng hết. Nhưng nếu chia làm nhiều túi nhỏ, chôn nhiều chỗ, lúc vượt rào làm sao lấy kịp, nhất là lấy trong đêm tối!?
Mỗi buổi sáng, sau khi cả trại đã đi lao động, Vĩnh ra sân tập họp với tổ bệnh để xuống bếp nhận công tác đặc biệt dành cho những người bệnh nặng hoặc mãn tính. Sau cái màn giả ho lao, Vĩnh thấy tiếc là từ trước đã không nghĩ ra việc này. Quả thực trong tù Cộng sản, nếu muốn giả bệnh không gì dễ ăn bằng giả bệnh ho lao, nhưng phải ho ra máu. Lý do bệnh xá trong tù không có quang tuyến X và bác sỹ quân y của Cộng sản toàn bọn “phấn đấu” 1 mà thành. Có thể sự giả bệnh này sẽ đem đến cho “kịch sỹ” một chút cô đơn, ấy là dù muốn dù không nhiều anh em cùng tổ cùng đội tìm cách xa lánh. Sự kiện này, “kịch sỹ” (hay người bệnh) không tìm ra lý do trách cứ. Đời sống nơi đây lúc nhúc như thú vật, một mầm bệnh cảm cúm thông thường cũng có thể gây thành một cái dịch lớn; huống hồ gì cái mầm bệnh ho lao! Hơn nửa tháng qua, thủ vai người tù ho lao ra máu, Vĩnh cũng được nếm đủ mùi thế thái nhân tình như ai. Đã không thiếu những người chơi thật thân với Vĩnh từ những ngày đầu đi tù, giờ đây gặp anh, họ tránh như tránh hủi! Trừ đám bạn dự trù vượt ngục với Vĩnh biết rõ anh giả lao, còn thì đa số đều tin rằng Vĩnh lao thật. Không tin sao được khi suốt ngày Vĩnh lom khom như một cụ già, đi nghiêng nghiêng như người chỉ còn một lá phổi; những cơn ho húng hắng, hết húng hắng đến xù xụ và nhiều khi bò ra nhà ho đến đỏ mặt tía tai. Bạn bè chung quanh càng khiếp Vĩnh trong giai đoạn này là anh chàng Bùi Vịnh. Vịnh nằm sát Vĩnh. Biết Vịnh sợ lây, anh tìm cách chọc Vịnh bằng cách đêm đêm, thỉnh thoảng lại quay sang Vịnh ho vài cái. Một đêm kia, lúc mọi người đều ngủ cả, Vĩnh quay sang Vịnh họ một tràng như pháo nổ. Bùi Vịnh có lẽ nhịn nhiều quá chịu không thấu, cu cậu ngồi choàng dậy hét ầm ỷ.
– Ối trời ơi là trời ơi! Yêu cầu nhà trưởng cho tôi đi chỗ khác ngủ, ra cầu tiêu cũng được. Thằng Vĩnh đêm nào cũng nhè mặt tôi ho năm bảy phùa thế này thì đời tôi đến tàn mất thôi…
Cả phòng đang ngủ nghe Bùi Vịnh la trời đều bật dậy và cằn nhằn. Họ không nằm cạnh Vĩnh, không hưởng những cú họ vào mặt như Bùi Vịnh nên dĩ nhiên có đầy đủ quyền lên tiếng thương xót và bênh vực Vĩnh…
Nhiệm vụ hiện nay của một người ho lao ra máu như Vĩnh là xuống bếp ngồi lựa khoai sùng. Công tác thường bắt đầu từ 8 rưỡi, nhưng đến 10 giờ dù xong hay chưa xong, những bao khoai vẫn phải đem ra giếng rửa để các anh nuôi cho độn vào những chảo cơm vừa cạn. Nói lựa cho vui, trên thực tế những bao khoai ấy đã trải qua đôi ba lần lựa rồi. Nó được lựa từ trên hậu cần trung đoàn, rồi hậu cần tiểu đoàn, đến khi giao cho bếp tù thụ hưởng thì khoai đã hoàn toàn ở vào tình trạng:
Khoai sùng lựa bảy còn ba,
Lựa hai còn một vẫn ra khoai sùng!
Vĩnh ngồi trước bếp với mấy ông bạn bệnh, tay lựa khoai nhưng mắt vẫn nhìn đăm đăm về phía cầu tiêu trại. Gần nửa tháng nay Vĩnh đã nhìn, đã suy nghĩ và đã tính toán đủ chuyện.
Sáu người cùng trốn trại một lượt. Đây có thể là một con số trốn trại kỷ lục từ trước đến nay tại trại An Dưỡng nếu như nó xảy ra và thành công. Nhưng làm sao thành công đây?
Rồi thì cuối cùng thực phẩm lẫn thuốc men cũng đã được đem chôn và đánh dấu kỹ càng. Sau những lần thảo luận, anh em đều quyết định sẽ trốn bằng đường hào khi những trận mưa vào trung tuần tháng Sáu đổ xuống. Càng gian nan càng dễ thoát! Đó là một lập luận đúng. Trong lúc chờ đợi ngày N giờ G, Ý nảy ra ý kiến bắt Vĩnh dạy Anh Văn cho mọi người trong toán. Ý lý luận rằng trên con đường vạn dặm đi tìm kháng chiến, ai biết đâu một ngày nào đó cả bọn lại chẳng lạc sang mãi tận Thái Lan!? Và việc sang tới đó rồi mà phải nói bằng tay coi không văn minh tí nào; do đó, việc Vĩnh phải làm siêng dạy Anh Văn cho anh em là chuyện rất nên làm. Từ đó từng đêm, ngoài việc “nhật tu” cho cái lệnh hành quân do Nguyễn VănÝ thảo bằng mồm, cả bọn còn phải kiếm một góc tối tương đối an toàn để Vĩnh lên lớp các bài học What is this? What is that!
Một buổi sáng tháng Sáu gai gai lạnh do hậu quả của một cơn mưa dầm đêm hôm trước, như thông lệ, khi tiếng kẻng báo thức lôi mọi người ra sân tập họp điểm danh trước khi được phép ra giếng đánh răng xúc miệng, thì nhà 3 báo cáo vắng mặt Nguyễn Văn Ý. Tiếp đó nhà 4 báo cáo vắng mặt Vũ Duy Dương và nhà 1 báo cáo vắng mặt Phạm Xuân Huy. Cả đội nháo nhào như lâm cảnh cháy nhà. Đội trưởng Uyên, đội phó Hiệp và các nhà trưởng tức tốc gặp nhau hội ý và cùng quyết định đi báo quản giáo cho kịp thời.
Vĩnh đứng trong hàng nhà 2 mà run rẩy chân tay. Trời ơi! Vĩnh không thể ngờ được sự thể diễn ra ngoài dự trù như vậy. Tất cả mọi kế hoạch trốn trại đã từng bàn thảo với nhau bỗng trở về óc Vĩnh với đầy đủ mọi chi tiết. Tại sao họ ra đi mà không báo cho Vĩnh, Điểu và Tuấn lấy một lời!?
Vĩnh không tránh khỏi sự rung động khi nghe rõ cái giọng nửa đực nửa cái của Võ Hữu Hiệp báo động nhà trưởng Nhan Quang Minh.
– Anh kiểm lại nhà anh xem còn thằng Vĩnh không? Mất nó nữa là đủ bộ đấy!
Vĩnh cố lấy lại bình tĩnh để ứng phó với biến cố ngoài dự tưởng trước mặt. Khi bọn vệ binh đi theo mấy tay quản giáo từ khung chạy xuống đội 17, Vĩnh sực nhớ ra một điều quan trọng: Tuyệt đối phải thủ tiêu mọi dấu vết mà bọn cán bộ có thể dùng làm bằng chứng quy tội Vĩnh có dính líu trong vụ này. Nhưng thủ tiêu cái gì bây giờ? Vĩnh bỗng lạnh mình nhớ tới việc bọn cán bộ sẽ lục lạo kiểm kê mớ quần áo mùng mền của những người trốn trại. Chao ôi, nếu thế thì nguy to! Vĩnh biết chắc trong đống đồ đạc của Huy không có gì, nhưng trong đống đồ đạc của Dương có quyển vở ghi nhạc lý mà Vĩnh từng chép ra để chỉ cho một số anh em. Thế nhưng quyển vở này cũng không nguy hại bằng hai quyển vở viết tay đầy ngữ vựng và văn phạm Anh Văn của Vĩnh đưa cho Ý. Hiện nó rất có thể đang nằm trong đống chăn mùng mền của Ý. Vĩnh hy vọng trước khi ra đi, Ý và Dương đủ bình tĩnh để thủ tiêu bút tự của Vĩnh, tránh lưu lại những phiền phức nguy hiểm cho anh.
Đội 17 được lệnh tan hàng và trở về nhà ngồi tại chỗ, chờ đến khi có lệnh mới. Ngoài sân, bọn quản giáo và vệ binh dẫn vài tay chức sắc đi quan sát phạm vi đội 17 như để tìm tòi một cái gì. Giọng một quản giáo cất lên.
– Anh Uyên đội trưởng đi một vòng các đội khác xem sao. Có thể ba anh ấy mới sáng sớm đã đi liên hệ linh tinh chăng?
Giọng Uyên.
– Dạ tôi đã đi hai ba lần rồi.
Một quản giáo khác.
– Thôi được. Trước khi báo cáo lên trên, tôi muốn các nhà cho người đi mò các giếng xem sao đã. Nhỡ người ta rơi xuống…
Tên quản giáo nói tới đây chợt ngừng lại vì có lẽ hắn thấy lời đề nghị của mình hơi khôi hài. Chả lẽ cùng lúc cả ba thằng tù cải tạo cùng rơi xuống và chết chìm dưới giếng?
Vĩnh ngồi trong nhà thấp thỏm lo lắng. Tuấn ở cùng nhà, ngồi một góc lâu lâu đưa mắt nhìn Vĩnh như chia xẻ mối lo lắng. Dù sao, Tuấn râu cũng có nhiều lý do để an tâm hơn trong tình trạng hiện tại. Từ buổi đầu bàn chuyện trốn trại, Tuấn vẫn luôn luôn giữ đúng bản tính lặng lẽ của anh ta. Anh hạn chế tối đa việc la cà công khai với đám Vĩnh và chỉ gặp nhau khi thật cần thiết. Hầu như hiện nay chẳng ai nghi ngờ Tuấn có dính líu với đám trốn trại. Nhưng riêng với Vĩnh ở nhà 2 và Điểu ở nhà 1 thì khác. Khi Dương, Ý và Huy vắng mặt trong lần điểm danh khi nãy và đã được báo cáo trốn trại, thì hầu như cả bạn lẫn bọn ăng ten, dù chưa nói ra, nhưng ai cũng biết “tụi nó một băng với nhau”.
Nghĩ tới những quyển vở, Vĩnh không cho phép anh ngồi yên nữa. Bằng mọi giá, Vĩnh phải tìm biết xem nó còn nằm trong đống đồ đạc của Dương và Ý hay không? Nếu còn, nó phải được thủ tiêu kịp thời. Vĩnh xin phép nhà phó đi tiêu. Anh luồn qua phía cửa sau nhà 3 với hy vọng gặp được Ân Xệ, người từng là tổ trưởng cũ của Vĩnh và hiện nay được làm trực phòng nhờ bệnh sa ruột của nó. Ân là bạn của bọn Vĩnh. Không rõ trước kia Ân có từng là học trò của anh Huy không, mà mọi người đều thấy Ân gọi anh Huy bằng thầy một cách rất kính trọng.
Vừa lách qua một dãy thùng phuy kê sau nhà 3 Vĩnh đã nghe gọi.
– Vĩnh!
Vĩnh quay phắt người lại. Anh thấy Ân đang loay hoay bên đống rác sau nhà. Vĩnh mừng quá.
– Trời ơi tao đang mong gặp mày đây.
Như hiểu ý, Ân ngoắc Vĩnh lại gần, nói khẽ.
– Tao biết mày đang lo đái ra máu. Nhưng cứ bình tĩnh. Vĩnh sốt ruột vào đề luôn.
– Nhà mày chúng nó đã xét đồ thằng Ý chưa?
Ân đáp.
– Từ khi báo cáo mất Ý, thằng nhà trưởng tao đã cho lệnh tao lôi đồ đạc nó xuống kiểm kê liền. Tao thấy nó có một quyển tự điển Anh Việt và hai quyển vở viết đầy chữ, tao dấu luôn.
Nghe Ân nói Vĩnh mừng còn hơn chết sống lại. Anh hỏi.
– Mấy quyển vở đâu rồi?
– Tao dấu trong sắc tao…
Vĩnh dặn dò ngay.
– Thôi được, chuyện dài lắm. Tao sẽ nói với mày sau. Bây giờ trước khi trở về phòng để tụi nó không nghi, tao dặn mày một điều. Hai quyển vở Anh Văn ấy toàn là chữ của tao. Mày dấu biệt nó đi. Chúng nó mà vớ được hai quyển vở ấy trong sắc thằng Ý thì giờ này chắc tao mềm mình rồi.
Nói xong không đợi Ân trả lời, Vĩnh lẳng lặng quay trở về phòng, và dù còn biết bao chuyện rắc rối chưa ngờ tới được, Vĩnh vẫn thở ra một hơi dài nhẹ nhỏm.
——————————–
1 Phấn đấu: Trong quân đội CSVN, những nhãn hiệu bác sỹ hoặc kỹ sư không bao hàm một căn bản trí thức cho người mang nhãn hiệu hay chức vụ ấy. Bác sỹ quân y là một y tá có trình độ lớp 3, phấn đấu thực tế 5 năm trở thành bác sỹ… Do đó, bác sỹ, kỹ sư của quân đội CSVN đa số đều đọc không thông và viết không thạo!
Những ngày giữa tháng 5 năm 77 bỗng dưng các công tác có quy hoạch lớn được ngưng lại. Bọn tù được lệnh ở nhà sửa sang doanh trại, vét cống vét rãnh, vét giếng hoặc chỉ luân phiên tưới rau xanh ngoài các khu canh tác. Cũng có nhiều đội bị lôi lên các ban chỉ huy trại làm tạp dịch cho cán bộ. Những công tác này đã số chỉ là vét hầm cầu, quét dọn hoặc khuân gạo vào kho hậu cần, xuống thực phẩm khỏi các xe tiếp tế của khung hoặc sửa bếp, đóng bàn ghế…
Nhà 2 đội 17 có nhiệm vụ thực hiện một đường mương dài, dẫn từ nhà bếp ban chỉ huy trại 4 ra thửa ruộng nằm phía sau. Vĩnh và các bạn tay cuốc tay xẻng hùng hục đào mương dưới sự giám sát và canh phòng rất ơ hờ của một tên vệ binh. Vĩnh vừa cuốc vừa nhìn tên vệ binh. Nó trẻ quá, tuổi chỉ độ 17 là cùng. Trong bộ quân phục bèo nhèo và hơi rộng, thân thể nó coi mòi chẳng mập mạp hơn bọn tù bao nhiêu. Tệ hơn thế, nước da nó xanh mét như người đã phải chịu đựng chứng sốt rét nhiều năm không đủ thuốc chữa. Hàm răng vẫn là một hàm răng hô. Đôi mắt kèm nhèm như một người từng có thời kỳ bị đau mắt hột. Dáng dấp thằng vệ binh rõ ràng là một bằng chứng cụ thể về một con người đã bị một sức nặng vô hình đè bẹp từ thời còn măng sữa, và đã phải khắc phục quá sớm hết gian khổ này đến gian khổ khác để tiến tới… thành công đúng như lời Bác và Đảng đã từng ép uổng chịu đựng.
Nó ngồi trên một đống gạch vỡ, súng để ngang đùi ngó trời ngó đất và không thèm ngó ngàng gì đến bọn tù đang đào đường mương.
Giọng tổ trưởng Trần Bình cất lên đốc thúc anh em.
– Ráng lên mấy ông. Đào vòng đi. Tránh mấy cái cột điện có đế xi măng bằng không sẽ gãy cuốc hết.
Vĩnh quăng cái cuốc sang một bên, tiện tay cầm lấy cái xẻng và chống dưới đường mương đứng thở. Anh nhìn Trần Bình và thấy thương hắn. Bình cũng dân Hải quân như Vĩnh. Hắn mang cấp bậc trung úy đoàn viên. Anh ruột của Bình là Trần Công Quốc, cựu Hải quân thiếu tá khóa 12 Nha Trang và cũng là dân biểu quốc hội. Quốc thành dân biểu chính nhờ anh em Hải quân vận động cho rất nhiều trong thời gian tranh cử. Nhưng không ai ngờ Trần Công Quốc đã phản bội ngay khi làm dân biểu. Những đêm nằm bên nhau tâm sự, chính Trần Bình đã tiết lộ hết sự thật cho Vĩnh nghe. Theo Bình kể, Quốc đã chứa điện đài của Việt cộng trong nhà. Đã cưu mang trong tư thất ông dân biểu một bầy gián điệp địch mà cầm đầu là một trung tá Cộng sản từ Bắc vào…
Đợt thăm tháng Mười, ông anh vào thăm ông em. Ông anh, ông em cãi nhau một trận kịch liệt. Ông em hỏi.
– Bây giờ Cách mạng chiêu đãi anh chức vụ gì?
Ông anh buồn buồn nói.
– Chức vụ gì đâu. Họ cho trở về làm nghề gõ đầu trẻ là may rồi!
Bình không nhận tí quà nào của ông anh phản bội trong lần thăm ấy!
Tên vệ binh thình lình đứng dậy nhìn mặt trời và ra lệnh.
– Thôi mấy anh nghỉ tay uống nước đi. Cũng 10 giờ rồi đấy. Tôi cho các anh nghỉ tối đa, nhưng coi chừng mấy thằng quản giáo đấy.
Vĩnh và các bạn đều kinh ngạc với thái độ và lời nói đầy thân mật của tên vệ binh trẻ tuổi. Tất cả bò lên khỏi đường mương, tụm lại với nhau dưới mái hiên một dãy cầu tiêu của bộ đội ngồi uống nước nghỉ ngơi.
Vĩnh kiếm một chỗ riêng biệt, ngồi tựa lưng vào một phuy nước lôi cái ống sáo tre trong người ra và dùng một cái đinh chặt nham nhở dũa những lỗ sáo.
Tên vệ binh bỗng xà xuống bên cạnh và Vĩnh thực sự ngẩn người khi nghe nó hỏi bằng một ngôn ngữ không ngờ.
– Anh biết làm sáo hả? Em cũng thích sáo lắm cơ!
Vĩnh ngước mắt nhìn nó dò xét. Nét mặt nó thành thật quá, ngây thơ quá nhưng Vĩnh không biết làm sao trả lời.
Tên vệ binh lại tiếp. Thế anh có biết thổi sáo không?
Vĩnh cười khẽ.
– Tôi làm sáo được thì phải biết thổi sáo chứ.
Tên vệ binh thả mắt nhìn về phía văn phòng ban chỉ huy trại.
– Em biết thổi sáo từ hồi mười tuổi lúc còn chăn trâu ở quê nhà. Nhưng em lại không biết làm sáo. Em yêu âm nhạc lắm anh ạ.
Lối nói chuyện của tên vệ binh làm Vĩnh đâm tò mò.
– Quê anh ở đâu? Sao lại chăn trâu? Chứ không đi học à?
– Quê em ở Hà Nam Ninh anh ạ. Làng em nhỏ lắm. Em mồ côi cha từ bé. Mẹ em làm việc cho hợp tác xã nông nghiệp, nhờ đó em được chăn trâu cho hợp tác xã…
Vĩnh ngạc nhiên quá, bật hỏi.
– Thế việc chăn trâu của hợp tác xã không có quy mô lớn à?
– Làm gì có quy mô anh! Cả hợp tác xã chỉ có hai mươi đôi. Con em các xã viên đạt danh hiệu lao động tiên tiến được giao trâu mà chăn và được hưởng thêm 12 cân khoai bằng nếu là gạo thì 6 cân… Em bỏ học sớm lắm để lao động giúp đỡ mẹ em. Mẹ em bị lao mà cứ phải tranh thủ làm thêm ngày nghỉ khổ lắm.
Quả thực Vĩnh không sao tránh khỏi bùi ngùi. Chao ôi, trên căn bản con người, thế hệ thanh niên ngoài Bắc nào đã được sống như một kiếp người! Vĩnh lại hỏi.
– Anh đi bộ đội lâu chưa?
Tên vệ binh ngó Vĩnh buồn thảm.
– Lâu rồi anh ạ. Em bị bắt nghĩa vụ từ hồi mười bốn. Năm nay em mười tám. Em chẳng biết mẹ em có ai đắp mộ cho không!?
– Ủa, thế mẹ anh mất rồi à?
Tên vệ binh hơi ngẩng cao cổ như đang cố nuốt vào bụng một hòn bi.
– Uất hận lắm anh ơi. Vừa giải phóng xong thì mẹ em mất. Người trong hợp tác xã có đánh giây thép cho đơn vị em lúc còn đóng ở Tây Ninh. Thế nhưng chúng nó dấu biệt. Chúng không muốn cho em về phép. Sau này người làng vào Nam tìm gặp được em. Người ấy là ông chú em. Ông chú em cho biết mẹ em đã mất và hợp tác xã có đánh hai lần giây thép báo tin. Em khóc muốn mù mắt. Chú em giao lại cho em một cái rương giờ còn để đầu giường. Trong rương chỉ có ít thước ka-ki Nam Định mẹ em để dành cộng với mấy cái quần sờn gối của bố em ngày xưa. Chú em cũng giao cho em một gói nhỏ bảo đó là tiền của mẹ em để dành. Được 204 đồng anh ạ. Em cầm tiền mà khóc mùi. Em biết đó là vốn liếng cả đời lao động của mẹ em…
Vĩnh nói khẽ.
– Thôi mẹ anh mất rồi, để yên cho mẹ anh yên nghỉ. Mẹ góa con côi, anh buồn đau nhiều quá mẹ anh không chết yên đâu.
Tên vệ binh nhìn Vĩnh đăm đăm. Mắt nó đỏ hoe.
– Quên sao được anh! Em đâu có muốn đi bộ đội. Sau hiệp định Paris nó bắt nghĩa vụ trên quy mô lớn. Làng em đâu còn thanh niên. Đi trước sốt cả rồi. Nhưng vì chỉ tiêu của trên, làng bắt cả những đứa 13, 14 tuổi như em đem nộp về tỉnh cho đủ số. Làng em giờ này chắc chỉ còn những ông già bà cả. Con gái cũng bắt nghĩa vụ luôn. Họ nói là chỉ vào Nam tiếp quản thôi, không đánh đấm gì hết. Nhưng thực tế đánh gần chết anh ạ!
Câu chuyện của tên vệ binh bỗng dưng Vĩnh được nghe một cách quá thình lình, khiến anh không biết phải đối đáp ra sao. Một lúc Vĩnh cố lái sang vấn đề khác.
– Đời sống anh thế nào?
– Thế nào là thế nào anh?
– Thì ở trại này này, sống thoải mái không?
– Thoải mái là thoải mái với mấy thằng có tuổi Đảng kìa. Tụi em nào có đặc quyền đặc lợi gì đâu. Có hơn là hơn các anh tí chút thôi. Hơn ở chỗ gần đây không phải ăn cơm độn và mỗi bữa đều có tí chất tanh, chất đường và cả chất mỡ…
Vĩnh lại ngó tên vệ binh. Đôi mắt của nó rõ ràng không ẩn một nét dối trá nào. Anh khai thác thêm.
– Tôi thấy quân đội các anh sống thương nhau lắm mà. Bình đẳng nữa. Mọi người đều gọi nhau anh anh em em.
Tên vệ binh bỗng đẩy cái súng ra khỏi đùi, trợn mắt.
– Anh lầm hiện tượng với bản chất rồi! Chúng nó quan liêu còn hơn phong kiến.
Vĩnh bỗng cười cười và nói chận.
– Thế anh có biết phong kiến quan liêu thế nào không mà dám đem so sánh?
Tên vệ binh có vẻ hơi ngượng.
– Ừ thì Đảng dạy phong kiến quan liêu thì biết phong kiến quan liêu thôi. Em đâu biết gì hơn.
– Vậy các đồng chí chỉ huy quan liêu thế nào mà anh than quá thế?
– Ối dào! Hôm nọ em mang bát cơm ra trước ban chỉ huy ngồi ăn một mình cho mát, chẳng may đánh rơi mấy hạt cơm xuống đất, thằng thủ trưởng nó chửi em như tát nước rồi nó bắt em cởi áo bộ đội ra lau sạch cái nền đất trước phòng của nó. Em ức lắm mà vẫn phải chấp hành lệnh.
– Tôi…
Vĩnh tính ngắt lời nhưng tên vệ binh không chịu. Nó vẫn ào ào kể.
– Anh để em kể hết cho anh nghe. Em yêu nhạc lắm. Em thấy anh tranh thủ giờ giải lao để làm ống sáo tức là anh cũng phải yêu nhạc ghê lắm. Từ ngày vào đây thú thật em chết mê chết mệt với nhạc vàng trong này. Chao ôi sao mà hay quá anh ạ. Dù em phải học ngày học đêm chính sách chống văn hóa đồi trụy nô dịch của Mỹ ngụy, nhưng sao em vẫn chẳng thấy nó đồi trụy nô dịch chỗ nào cả. Em chỉ thấy nó hay thôi. Mà hay thì em cứ bảo rằng hay. Em còn biết thằng thủ trưởng và thằng chính trị viên chúng nó cũng tàng trữ trong phòng cả đống băng nhạc vàng chứ bộ không sao! Phần em, sau nhiều đêm tính toán, em quyết định dùng số tiền để lại của mẹ em ra chợ trời Biên Hòa mua một cái cát-xét và bốn cuộn băng nhạc vàng. Em đưa về trại và dấu nghe một mình. Nhưng rồi có lẽ mấy thằng bạn trong Đoàn 1 nó báo cáo em, nên thằng chính trị viên nó biết, nó gọi em cảnh cáo. Kệ nó! Nó nghe nhạc vàng được, nó đọc truyện chưởng được thì em cũng cứ nghe nhạc vàng xem đã chết ai! Thấy em không chấp hành nghiêm chỉnh lời cảnh cáo, tụi nó tịch thu mất của em một băng nhạc vàng Thanh Thúy. Cho tụi nó tịch thu, em còn tới ba cuốn băng khác. Nhưng không ngờ lần sau chẳng những tụi nó tịch thu cả ba cuốn băng còn lại mà còn tịch cả máy và đuổi em ra khỏi Ban Quân Y trại nữa!
Vĩnh hết ý kiến với câu chuyện kể quá thành thật của tên vệ binh. Nhưng anh biết an ủi nó cái gì bây giờ. Bọn “tụi nó” chỉ tịch thu của một đồng chí thấp cổ bé họng một cái cassette và vài cuốn băng nhạc thôi, chứ tụi nó tịch thu cạn tầu ráo máng của cả đất nước này đến tận cùng xương máu rồi, ai an ủi cái đất nước lầm than này đây!? Nghĩ thế Vĩnh chỉ nói khẽ.
– Thôi mất cái này anh mua cái khác.
Tên vệ binh vội đứng lên vì thấy một thằng quản giáo đang trờ tới.
– Trời ơi! Lương em trừ tất cả cơm nước linh tinh mỗi tháng chỉ còn 5 đồng nhét túi. Đi một cuốc xe lam ra Biên Hòa là hết nhẵn. Đến kiếp sau họa may mới mua nổi cái khác…
Nói rồi tên vệ binh vội vã lớn tiếng với mọi người. Thôi, yêu cầu các anh trở lại lao động, giải lao xong rồi…
Vĩnh trở lại với cuốc với xẻng. Anh Huy đứng bên cạnh đùa khẽ.
– Này, tớ ghi nhận hết đấy. Cậu thủ thỉ tuyên truyền phản động cái gì với thằng vệ binh nhóc tì ấy đấy? Liệu hồn không bị “phản phúc” vỡ mặt đấy nhé!
Quản giáo Thừa bước tới phía bọn Vĩnh đang đào mương vừa lúc những tiếng kẻng bất thường từ nhà kiểm soát nơi cổng trại vang lên. Mọi người hơi ngơ ngác vì tiếng kẻng khua lên lúc chưa tới 11 giờ. Lúc này Vĩnh mới nhận thấy nhiều toán tạp dịch khác như toán kéo nước cho nhà bếp bộ đội, toán sửa mái nhà cho ban chỉ huy, toán sửa bàn ghế cho bọn hậu cần, toán chuyển phân trong cầu tiêu cán bộ ra ao rau muống gần khu chuồng bò… đều đã nghỉ tay và tập họp đội hình. Quản giáo Thừa chợt ngoắc tổ trưởng Trần Bình ra lệnh.
– Này anh Bình! Ngưng tay công tác cho anh em tập họp về trại.
Cả đám cố dấu sự vui mừng trong lòng, vội vã tập trung cuốc xẻng vào một góc rồi ra tập họp. Tổ trưởng Bình sau khi điểm danh, cất tiếng báo cáo.
– Báo cáo anh tổ đào mương 10 người tập họp đủ!
– Thôi được, bây giờ cho anh em về trại. Khẩn trương lên!
Từ ban chỉ huy trại 4 về tới trại chỉ băng qua một con đường. Bọn Vĩnh vừa đi vừa bàn tán.
– Chuyện gì mà được nghỉ đột xuất vậy nhỉ?
Một người lên tiếng.
– Chuyện gì! Chẳng lẽ thống chế Nguyễn Cao Kỳ và đại tướng Ngô Quang Trưởng đã tiến vào Sài Gòn? ĐM. được nghỉ thì cứ sướng cái đã!
Về tới phòng Vĩnh nằm vật ra thở. Chung quanh anh các tổ khác hầu như đã về trước từ hồi nào. Họ đang bu vào hút thuốc lào rổm và bàn tán việc được nghỉ lao động sớm.
– Đám thằng Thừa nó nói đúng đấy. Tao nghi được thả một mớ không chừng! Lúc này nghe đồn áp lực quốc tế dữ lắm. Nghe phong thanh có nhiều phái đoàn Hồng Thập Tự và Liên Hiệp Quốc đã ghé thăm nhiều trại cải tạo ngoài miền Trung.
– Nhiều ít không cần, miễn sao có người được thả thì mới hy vọng cánh cửa trại tù từ từ được mở rộng hơn.
Nghe anh em bàn tán mà Vĩnh đau đầu. Mấy ngày nay anh bị bệnh nhức đầu hành hạ. Nghe mấy vụ này còn khiến đau đầu hơn nữa. Cái vụ được thả… sang trại nuôi trâu bò của thằng Hạ mấy tháng trước còn rành rành trước mắt, có lãng mạn cách mấy thì Vĩnh cũng không thể tin được nữa. Chim bị bắn hụt cả trăm lần rồi sao vẫn nhiều anh cứ bị mắc hợm! Vĩnh moi mấy viên thuốc bổ mà ông học trò của anh đã tặng cho uống một viên, xong anh lại nằm xuống suy nghĩ vẩn vơ. Ngay lúc ấy Nguyễn Chí Kham từ ngoài dáo dác bước vào. Anh tiến đến chỗ Vĩnh nằm và nói khẽ.
– Vĩnh, ra ngoài này nói chuyện.
Vĩnh chồm dậy đi theo Kham ra ngoài sân. Hai người tiến tới khoảng trống gần bếp đội 18. Vĩnh hỏi.
– Chuyện gì vậy?
– Chưa biết à?
– Biết gì đâu!
– Trưa nay cả trại sẽ lên hội trường học bài gì đó, sau đấy sẽ rất nhiều người được thả.
– Chắc không?
– Lấy gì làm chắc, nhưng chính tôi nghe thấy thằng Lê Bá Lý nó nói như thế.
– Thằng Lê Bá Lý đâu có phải thằng Lê Duẩn.
Kham lắc đầu.
– Thì chỉ biết vậy thôi. Tôi báo cho ông vui. Vả lại thằng Lý nó bảo với nhà trưởng của tôi rằng ít lắm cũng thả một phần ba. Không biết mình có đẻ bọc điều không!?
– Ông Dzoãn Bình thế nào?
– Ông ấy cũng hý hửng lắm.
Vĩnh lại hỏi.
– Có liên lạc với Nguyễn Hữu Nhật không?
Kham bỗng giẫy nẩy.
– Thôi chết tôi quên mất! Hôm qua Nhật nhờ người chuyển cho ông một lá thư. Tôi để quên ở nhà mất rồi.
– Thôi được. Chút tôi theo ông sang đó lấy. Hắn còn ở trại 2 hả?
– Tôi không biết. Lá thư được chuyển từ bệnh xá. Tôi nghe phong thanh hắn làm khối mộc, bào gỗ bị trật đường bào, dằm gỗ xẻ rách cả bàn tay phải đi nằm bệnh xá.
Sau đó Vĩnh theo Kham đến đội của anh ta, tuy nhiên Vĩnh chỉ đứng xa xa vì đội của Kham có thằng Lê Bá Lý quá hắc ám, anh không muốn gây phiền hà cho bạn và cả cho mình.
Một lúc sau Kham chạy ra, mặt mày hớt hải.
– Chết rồi ông ơi. Ông Dzoãn Bình vừa có lệnh thu quần áo chăn mùng và cơ động chờ lệnh.
– Có người nào khác nữa không?
– Không, chỉ mình ông ấy thôi.
– Lạ nhỉ! Lâu lắm rồi mới có vụ biên chế lẻ tẻ như thế này. Lạ nhỉ! Ông ấy đâu?
– Ông ấy trong nhà đang sửa soạn đồ đạc.
– Tôi vào được không?
Kham ngần ngại.
– Không nên, thằng Lê Bá Lý nó khó lắm. Kẹt đấy!
– Thôi được, ông nói với Dzoãn Bình có tôi muốn gặp ông ấy. Có gì ông ấy chạy qua đội tôi.
Nói rồi Vĩnh nhận lá thư cuộn nhỏ của Nhật gửi và quay gót về nhà. Lá thư viết.
Tôi bị thương ở tay nằm viện 4 ngày rồi. Hai ngày nay trên bệnh xá thiên hạ đồn vụ thả ghê lắm. Các bác sỹ Cách mạng ở đây cũng úp mở cho biết trong số bệnh nhân có quá trình học tập lao động tốt cộng với lời đề nghị yếu kém sức khỏe của quân y trại sẽ được thả trong nay mai. Phần ông thế nào? Có khỏe không? Tôi chịu bài Mộng Về lắm. Hát đã thuộc lòng. Có cách gì chuyển cho tôi ít bài nữa. Tôi có đường dây Tây.
Thân. ĐĐH
Vĩnh xé nhỏ lá thư của Nhật nhét vào túi. Anh không quan tâm lắm đến nội dung của lá thư. Hiện tại bên trại này đang có cả núi tin đồn nghe không hết, nghe thêm làm chi tin đồn ở bệnh xá. Còn chuyện đưa thêm cho Nhật ít bài nhạc nữa để “Tây” 2 là điều không thể. Chưa phải lúc. Vả lại, nói cho cùng Vĩnh không đủ can đảm liều mạng vì mấy bản nhạc chưa đâu vào đâu.
Nghĩ thế nhưng Vĩnh cũng viết vài chữ trả lời và tính chuyện chuyển cho Nhật khi có thể.
Đang loay hoay viết thư thì ông Dzoãn Bình xuất hiện nơi cửa gọi lớn.
– Vĩnh! Vĩnh! Ra đây cái coi.
Vĩnh choàng dậy chạy ra cửa.
– Nghe nói anh có thể bị lôi đi đâu phải không?
– Ừ, tôi đang lo đái ra máu đây. Tự dưng khi nãy thằng quản giáo đội nó tìm tôi và ra lệnh thu vén đồ đạc cơ động chờ lệnh của khung. Lo quá ông ạ. Không biết nó lôi tôi đi đâu đây!
Vĩnh đành an ủi.
– Cá nằm trốc thớt, lo làm gì cho nó tổn thọ. Kệ mẹ nó anh! Đi chỗ khác thay đổi không khí không chừng lại đạt yêu cầu hơn.
Dzoãn Bình trông có vẻ buồn lắm. Nhưng có lẽ vì chưa có một cái gì xác đáng để mà than thở nên anh im lặng, móc túi lôi ra một gói giấy nhỏ xíu.
– Chả biết chút nữa đây ra sao. Thôi thì cũng đành kệ mẹ nó. Tới đâu thì tới. Tôi nghe cậu đang bị chứng đau đầu hành hạ. Tụi nhỏ kỳ thăm vừa rồi chúng nó có đem vào cho tôi 20 viên Cervotonique. Tôi để dành 10 viên, chia cho cậu 10 viên. Nói rồi Dzoãn Bình vỗ vai Vĩnh. Ráng giữ sức khỏe nghe “thi sởi”. Cái đầu là quan trọng nhất. Ráng tỉnh táo. Tôi tin cậu sẽ…
Dzoãn Bình chẳng nói hết câu. Anh bỏ tay khỏi vai Vĩnh và lầm lũi quay đi.
Cơm trưa xong thì tất cả được lệnh tập trung lên hội trường. Tin đồn đã có một phần nào đúng. Hơn một ngàn tù của trại 4 dồn hết lên một hội trường chật hẹp, được tù đắp nền đất và khênh luôn ba dãy nhà cũ có chiều dài 5m X 8m ráp dính vào nhau từ ngày Vĩnh vừa được biên chế sangđây. Diện tích không chứa nổi số tù nên bọn quản giáo đã cho phép một số đông xếp hàng ngồi ngoài hiên để lắng nghe một “thông cáo quan trọng” của chính sách cải tạo đầy khoan hồng và nhân đạo của nhà nước Cộng sản.
Một giờ trưa, sau những thủ tục ổn định chỗ ngồi, sau những bài phát hát đại loại “Như Có Bác Hồ Trong Ngay Vui Đại Thắng”, sau những nghiêm những nghỉ, bọn quản giáo và cán bộ khung đã ngồi đầy trên những hàng ghế kê trước mặt bọn tù. Trước mặt chúng có một cái bàn, trên bàn có một cái radio cải tiến thành máy vi âm với năm sáu cái loa lớn giăng khắp đó đây. Tên chính trị viên mang quân hàm thượng úy ngồi trước cái máy radio cải tiến và bắt đầu lên lớp.
– Hôm nay khung cho các anh nghỉ lao động, tập họp tại hội trường để nghe một thông cáo quan trọng. Yêu cầu trước mặt các anh phải tuyệt đối trật tự, giữ yên lặng và lắng nghe tốt thông cáo. Trời tháng này có nóng, hội trường ta có chật, yêu cầu các anh khắc phục nghe cho tốt.
Sau khi ngoái lại để hội ý sơ qua với thằng thủ trưởng ngồi ghế phía sau, tên chính trị viên trở lại với bọn tù: Vậy thì là thế này. Như các anh đã biết, sau ngày đất nước ta toàn thắng đế quốc Mỹ, toàn thắng bọn tay sai ngụy quân ngụy quyền, chính quyền Cách mạng đã phát huy truyền thống anh hùng và bao dung của người xưa, chỉ đánh kẻ chạy đi, không bao giờ đánh người chạy lại, đã tạo điều kiện quy các anh về đây học tập cải tạo, mong các anh sớm trở nên người lương thiện, phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân, phục vụ Cách mạng sau này… Tên chính trị viên khởi đầu bằng bài học mà bọn tù trong gần hai năm qua đã nghe cả 1.001 lần. Do đó, dù sốt ruột không rõ thông cáo quan trọng là thông cáo gì, bọn tù chỉ dùng thì giờ quay ngang quay dọc bàn tán nho nhỏ cho quên cái nóng đang phủ trùm trong hội trường. Mãi cho đến khi có vài tay báo động rằng: Nghe kìa! Họ đọc thông cáo… thì hầu hết mọi người mới chú ý trở lại. Bên trên, tên chính trị viên vẫn vuốt mồ hôi lên lớp.
– Có vào thì phải có ra. Cách mạng luôn luôn trước sau như một. Ngày mai đây, một số đông đảo các cải tạo viên đã học tập tốt, lao động tốt, có những chuyển biến lớn trong tư tưởng, đã tạo được nhiều thành tích xuất sắc trong quá trình học tập cải tạo vừa qua, sẽ được Cách mạng cho về đoàn tụ với gia đình. Việc xét thả này sẽ chứng minh với những kẻ xấu, những kẻ vẫn yếu lòng tin không chịu phấn đấu học tập cải tạo thấy rằng sự xuyên tạc về chính sách cải tạo của nhà nước ta là hoàn toàn sai trái…
Đối với Vĩnh, nghe thế là đủ rồi! Đến lúc này ít ra cũng đã phải 3 giờ rưỡi chiều. Vĩnh ngó qua cửa sổ hội trường ra ngoài vuông sân xi măng chan chứa nắng nằm gần dãy nhà của đội 13. Thốt nhiên Vĩnh giật mình. Rõ ràng Dzoãn Bình đang ngồi trên sân nắng với cái túi chăn mùng quần áo và đợi một điều gì đó. Anh ta ngồi thu mình dưới nắng, trên đầu đội cái nón cối rách cũ không còn vải bọc mà chỉ còn lớp bần bên trên trong trông tàn tạ quá sức tưởng tượng.
Dzoãn Bình bị lôi đi đâu? Tại sao chỉ đi có một mình? Ngồi lẻ loi ngoài sân nắng chờ một quyết định cho vận mệnh mình chẳng biết từ đâu đưa tới, anh ta đang nghĩ ngợi gì? Vĩnh rất muốn nhưng vô phương chạy ra ngồi với bạn.
Một lúc sau đó Dzoãn Bình bị hai tên vệ binh từ cổng trại bước vào và dẫn đi mất. Vĩnh còn nhớ như in cái địa chỉ của anh Dzoãn Bình, nhưng làm cách nào báo tin cho gia đình anh biết?
Dưới sức nóng của tháng Năm, ngồi trong hội trường với đủ thứ vấn đề quay cuồng trong đầu, óc Vĩnh như muốn vỡ tung. Anh tính đóng một vở kịch ngất xỉu để được về nhà nằm. Nhưng vở kịch chưa kịp thực hiện thì những tiếng hô hoán đã nổi lên. Những bài hát kế tiếp cho Vĩnh biết giờ lên lớp sắp chấm dứt…
——————————–
1 Đoàn: Cán binh miền Bắc trên thực tế rất chia rẽ, do sự chênh lệch về quyền lợi giữa người chưa được nhập Đoàn, nhập Đảng với những người đã được gia nhập. Qua một thời gian ở bộ đội, thanh niên hội đủ điều kiện mới được đề bạt nhập Đoàn. Trở thành đảng viên đòi hỏi phải có một thời gian phấn đấu tốt trong Đoàn.
2 Tây: Tiếng lóng trong tù dùng để ám chỉ đi hoặc chuyển một cái gì ra ngoại quốc. Thí dụ vợ anh Nam “Tây” rồi có nghĩa là vợ anh Nam đã vượt biên rồi. Hoặc xừ Bắc đã “Tây” được vài bài thơ có nghĩa là xừ Bắc đã chuyển ra ngoại quốc được vài bài thơ…
Nửa năm trời cả một cánh rừng đã biến thành ruộng trồng lúa. Mạ non đã cấy xong đến thửa cuối cùng. Bài học nhất nước nhì phân tam cần tứ giống được đem ra ứng dụng tối đa. Nông trường hiện chỉ còn một số đội của cả 4 trại chia vùng trách nhiệm. Đội 17 đã giã từ ruộng nương và trở lại với khu canh tác nằm ở hướng Bắc trại An Dưỡng. Việc khai quang khẩn đất đã nới rộng khu canh tác lên tới những ụ đất phòng thủ của phi trường Biên Hòa cách trại hơn hai cây số đường. Nơi đây, tù vừa khai quang vừa thu lượm những tàn tích của cuộc chiến vừa qua như súng, đạn, mìn, những quân dụng đủ loại đã hư hao sét rỉ dưới mấy mùa mưa nắng. Lao động nơi đây, không ai không mang nỗi ngậm ngùi của người xưa, của bà huyện Thanh Quan. Tạo hóa gây chi cuộc hí trường, Đến nay thấm thoát mấy tinh sương. Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương… Quy hoạch hiện nay được khung đưa ra là cả vùng này sẽ được dùng làm nơi trồng khoai lang. Khai quang dọn dẹp tới đâu phải thi công lên luống ngay chỗ đó. Đất ở đây dù sao tương đối mềm hơn đất vòng đai trại An Dưỡng, do đó việc lên luống không đến nỗi quá cực khổ. Tuy nhiên, nếu không cực khổ vì những nhát cuốc thì lại nguy hiểm vì chyện mìn bẫy và những đầu đạn M.79 nằm phục trong những bụi cỏ rậm hay dưới những lô-cốt xụp đổ… Sự cảnh giác trước những nguy biến ấy khiến công tác khai quang lên luống tương đối tiến chậm. Nhưng ban quản giáo và bọn vệ binh không bao giờ chấp nhận sự chậm chạp này. Chúng lý luận rằng các chiến sỹ Cách mạng, để giải phóng được toàn miền Nam và quy được đất nước về cùng một mối, đã được xử dụng tối đa theo đúng cái “vũ khí luận” của đế quốc Mỹ. Ngày nay, để “đền ơn Cách mạng”, các cải tạo viên chỉ lao động dưới một tình trạng hiểm nguy cỏn con thì không có lý gì được chùn bước… Sự thúc hối, sự chửi rủa lại một lần nữa làm nhiều tù cải tạo gãy chân, gãy tay hoặc bỏ mạng trong trại cải tạo mà thân nhân không bao giờ được biết. Vĩnh cũng trầm luân giữa anh em. Anh đào, xới, khuân, vác, cuốc… như một kẻ đã mất dần mọi cảm giác. Dù thế nào Vĩnh cũng không muốn bị một thằng vệ binh oắt con lôi ra xỉ vả và bắt quỳ giữa trời giữa đất. Đôi khi đứng thẳng lưng nhìn tới những lô cốt, những bụi cỏ gai, những lớp concertina sét rỉ dính chằng chịt vào nhau mà bên dưới nó ẩn nấp không biết bao nhiêu ông tử thần khiến Vĩnh không khỏi không ngao ngán. Nhưng nếu ngoái lại sau lưng nhìn những luống đất có chiều cao 7 tấc, chiều rộng 2 thước và chiều dài hơn 20 thước nằm san sát nhau đến hút chân trời; Vĩnh đã chẳng thấy hài lòng mà lại còn ngao ngán hơn vì anh hình dung nó chẳng khác nào những dãy mồ tập thể đang ngày tháng chôn vùi cả thế hệ anh… Bọn vệ binh và quản giáo bám sát từng luống đất để kiểm soát chất lượng. Chúng không để cho bất cứ tên tù nào qua mặt chúng trong việc lên luống lấy lệ được. Những luống đất này, theo đúng bài bản đã được lên lớp trên hội trường, sẽ được dùng để trồng một loại khoai lang đặc biệt do Ấn Độ chi viện, mỗi gốc có khả năng sản xuất trung bình từ 40 đến 50 cân khoai (!?).
Thỉnh thoảng, trong đám người cuốc đất lại có một anh ngừng tay, chống cuốc mắt nhìn quanh và khe khẽ cất tiếng ngâm. Người ta đi cuốc lấy công, Còn tôi đi cuốc chỉ mong ngày về… Những lần giải lao năm phút sau mỗi giờ lao động dần dần bị cắt bỏ. Lúc này bọn quản giáo chỉ chấp thuận một lần nghỉ mười phút duy nhất để uống nước cho suốt buổi lao động 5 tiếng buổi sáng và 5 tiếng buổi chiều. Mười phút rồi cũng được câu dầm thành mười lăm hai mươi phút. Mười lăm hai mươi phút nằm bật ngửa trên mặt đất để thở cho kịp nhịp đời, để lắng nghe trái tim mình hành hạ chính mình bằng những nhịp đập uất hờn, để nghe khối óc mình cật vấn mình vì đâu mà ra nông nỗi này; rồi từ đó, mình chỉ còn biết đấm ngực mình mà tự trách chứ chẳng còn trách cứ được ai! Sự tự trách ấy đã khiến bao người muốn thoát khỏi đây, muốn làm một công việc đền bồi tội lỗi với đất nước, với dân chúng bằng một hành động cụ thể cuối cùng: Chống lại bạo quyền dù có chết tan thây. Đó là lý do dễ hiểu Phạm Xuân Huy lúc nào cũng tính chuyện vượt ngục, chẳng để mò về nhà mà nhất định phải mò vào rừng. Vấn đề được đặt ra là có ai trong rừng không? Và nếu có, nhưng vì nguyên tắc bảo mật, liệu anh em có chấp nhận mình không? Vĩnh vẫn còn nhớ rõ ràng trong đầu sau đợt thăm tháng Mười, đã có rất nhiều nguồn tin đem vào trại đại ý rằng: Anh em ở ngoại quốc đã và đang kéo về. Nhưng họ cũng có một chính sách cụ thể để xử trí với những người đã nộp mạng chịu sự cải tạo của Cộng sản. Đại để tin đồn về chính sách ấy là tất cả những người đã trải qua một thời gian cải tạo của Cộng sản phải được tập trung lại để tẩy não lần nữa. Những người này sẽ chỉ là những công dân… cấp hai và không được tham dự vào những chức vụ then chốt trong chính quyền và quân đội… Nguồn tin ấy đã làm phẫn nộ không biết bao nhiêu tù cải tạo. Vĩnh không phải không tốn thì giờ để suy nghĩ về nguồn tin này. Anh không tin, không bao giờ tin chuyện này sẽ xảy ra được cả. Rồi khi bình tâm trở lại, Vĩnh tin rằng luận điệu này chỉ là luận điệu được bọn Cộng sản tung ra với mục đích ly gián giữa những chiến hữu quốc gia với nhau, giữa những tổ chức phục quốc (nếu có) từ hải ngoại kéo về và với những người hiện còn ở lại đất nước chịu cảnh tù đày… Chuyện âm mưu vượt ngục còn được bọn tù bàn tán qua nhiều kỹ thuật độc đáo khác nữa. Chẳng hạn trong những câu chuyện kể cho nhau nghe, Minh chuột đã thầm thì rằng xưa kia những người Do Thái nằm trong trại tập trung của Đức, đã không thiếu người chế khinh khí cầu bay thoát sang Pháp sang Anh… Hắn cả quyết hắn có thể chế khinh khí cầu trong này. Hắn sẽ dùng Poncho làm túi chứa khí Métal lấy từ hầm cầu. Dây sẽ được chế bằng dây dù thu lượm quanh các vòng đai trại cải tạo. Độc đáo hơn, Minh tuyên bố cái giỏ khinh khí cầu sẽ phải là một cái giỏ tiện nghi nhất thế giới. Ngồi trên đó, tù cải tạo vẫn có thể luộc khoai ăn, vẫn có thể hút thuốc lào hoặc đánh cờ tướng… Dù sao đó chỉ là những câu chuyện giả tưởng, nói cho qua những giây phút nghỉ giải lao. Nhưng Nguyễn Văn Ý thiết thực hơn. Cuốc tới đâu, hoặc dọn dẹp “chiến trường hậu chiến” tới đâu, Ý luôn luôn lưu tâm thu lượm những miếng vỏ và ruột xe còn tốt. Anh đem về chế hàng ba bốn đôi đép râu và đêm đến móc sẵn trên đầu chỗ nằm. Có lần Ý tâm sự. – Vượt ngục đôi chân là quan trọng nhất. Dép râu phải thật tốt thật bền mới chạy xa chạy nhanh được. Các ông cũng nên bắt chước tôi. Đêm đừng bỏ dép trên lối đi. Hãy thủ dép râu trên đầu chỗ nằm. Cứ tưởng tượng xem, đùng một cái, nửa đêm Chinook của anh em ta từ biển bay vào và đáp xuống đây, mình vùng ra khỏi mùng lại mất cha nó đôi dép. Chân không làm sao dẫm gai chạy ra những bãi đáp Chinook cho kịp!? Hoặc giả. – Ông Huy ơi! Ông đừng đi guốc nữa. Đi dép râu trở lại đi. Ông đi guốc riết quen chân, mai mốt dzọt bị dí là ông chết tươi đấy. Giấc mộng vừa xa vời vừa thật gần gũi. Ai cũng có giấc mộng ấy trong tù cải tạo, nhưng biến được giấc mộng thành sự thật hay không lại là chuyện khác. Vĩnh hay ngồi nghe anh em bàn chuyện nhưng không biết góp ý ra sao. Tánh Vĩnh rất ít khi làm một việc gì mà chưa sắp sẵn. Vĩnh đang mong mỏi lần thăm thứ hai thật nhiều. Trong lá thư viết đưa riêng cho vợ lần thăm vừa rồi, anh đã dặn dò thật kỹ phải đem vào cho anh cái địa bàn còn dấu trong một ngăn kéo ở nhà…
Hôm nay cũng như mọi ngày. Giờ lao động buổi chiều đã chấm dứt vào lúc 5 giờ. Tập họp, điểm danh, báo cáo nhân số xong quản giáo cho về luôn mà không lên lớp rút ưu khuyết điểm tại chỗ sau buổi lao động như mọi ngày. Đội hình lại uể oải lê bước trở về trại. Đội 17 đi vượt qua những cánh đồng khoai sắn, rồi đi qua khu rau xanh. Khu rau xanh của trại 2 mới tươi tốt làm sao. Mùi phân mùi nước tiểu ngai ngái vẫn không ảnh hưởng chút nào tới khứu giác của bọn tù trước mùi thơm hăng hăng của những ngồng cải cao ngất, mùi hành lá, mùi ngò, mùi rau răm… Những quả bầu bí căng phồng, những vườn ớt sai trái đỏ au, những quả đậu bắp, những thửa ruộng trồng bắp với những quả bắp đầy chất sữa ngọt ngào trên bẹ… Tất cả những thứ này đều là sản phẩm được tù lấy công sức tạo ra, nhưng không bao giờ được rờ tới. Quản giáo đội 17 hiện tại là một thằng oắt con có cấp bậc chuẩn úy. Thằng này gốc miền Trung tên là Thừa. Hắn không quá độc ác trong hành động, nhưng có những lối lên lớp cay đắng và độc hiểm vô cùng. Những lời nói của hắn thường làm bọn tù đau đầu như bị đóng đinh. – Các anh là người lớn không phải con nít. Có ai dí súng bắt các anh vào đây học tập đâu! Các anh tự nguyện đấy chứ… Hoặc giả. – Anh kia, bây giờ anh trả lời tôi nếu giai đoạn này anh không chịu học tập thì anh sẽ làm cái gì? Chả lẽ anh trở lại con đường thảo khấu, con đường hiếp dâm cướp của để mà sinh sống chăng? Không đâu, lối sống thú vật cũ đã được quét sạch hoàn toàn và triệt để rồi. Chưa tốt nghiệp trường cải tạo, xã hội bên ngoài sẽ không bao giờ chấp nhận các anh, kể cả vợ con ở nhà nữa… Hoặc ác độc hơn. – Các anh phải ý thức cho rõ cái cao đẹp của xã hội ta. Xã hội này không chỉ giải phóng mọi bất công mà Mỹ ngụy đã đặt để trên đầu nhân dân, mà còn giải phóng cho chính đời sống tay sai nô lệ của các anh, giải phóng vợ con các anh khỏi những ổ điếm hôi thối của Mỹ ngụy… Quản giáo Thừa chiều nay có vẻ no nê hơn mọi bữa. Khi trưa, hắn đã sai mấy tay tù của tổ 3 nhà 2 xách một cái sô ra mấy luống khoai gần phạm vi hiện trường của nhà 2 bới một sô. Bọn tù đã làm y lệnh. Thu hoạch khoai về, ai cũng hớn hở tưởng hôm nay quản giáo Thừa cao hứng, có nhã ý tặng cho cả nhà hai phần ba số khoai đem về bồi dưỡng. Ai dè hắn ra lệnh cho tù ra giếng kéo nước rửa khoai và vào nhà lô nổi lửa nấu khoai cho chúng. Nấu xong nồi khoai, mấy thằng tù bị đuổi ra ngoài. Quản giáo Thừa cũng bước ra nháy nhó mấy thằng vệ binh rồi chúng chui cả vào lều với nhau. Nửa tiếng sau đó chúng bước ra. Khi giờ lao động chấm dứt, tổ trực thu tất cả cuốc xẻng leng ki vào cất trong nhà lô thì ai cũng kinh ngạc. Sô khoai luộc đã được ăn hết nhẵn, hết cả vỏ! Một thằng quản giáo và hai thằng vệ binh ngồi buồn ăn hết hai phần ba sô khoai mà nếu đem cân ít nhất cũng phải non chục ký. Tại sao chúng lại có thể ăn nhiều khủng khiếp dường ấy? Đến ngay bọn tù, dù đói khổ rùng mình mà nếu bị bắt ngồi ăn một lượt hết 3 ký khoai thì cũng chào thua vô điều kiện. May lắm thì cỡ vô địch đô vật Vương Đắc Vọng hoặc trung úy Dù tử thủ Đỗ Duy Tích mới có thể làm nổi “công tác” này. Nhưng rõ ràng có trời có đất, 3 thằng Việt cộng đã tạo một kỷ lục mới ăn chơi chơi hết mười ký khoai. Quản giáo Thừa khi đi ngang vườn ớt, cho cả đội dừng lại. Đội trưởng Uyên cho anh em làm y lệnh. Lúc nãy tập trung ai cũng khấp khởi mừng vì hôm nay quản giáo Thừa không lên lớp. Ai dè đi ngang vườn ớt, quản giáo Thừa lại bắt dừng lại và rõ ràng có triệu chứng lên lớp ngay chỗ này.
Cả đội kế đó được lệnh ngồi xuống bên lề đường. Quản giáo Thừa trao cho đội trưởng một cái bao cát và dặn dò vài điều nhỏ nhỏ. Đội trưởng Uyên dạ dạ vâng vâng rồi cầm bao đi luôn vào vườn ớt sai trái đỏ au. Quản giáo Thừa quay lại với bọn tù và bắt đầu lên lớp. – Chiều nay tranh thủ lên lớp các anh vài điều trước khi các anh về trại nghỉ ngơi. Hôm nay tôi biểu dương đại đa số các anh đã chấp hành đúng nội quy quy định trong lao động. Mặc dù có một vài cá nhân không đạt chỉ tiêu nhưng tôi cũng ghi nhận vì sức yếu. Tuy nhiên thành quả chung của cả nhà như thế là đáng biểu dương và phải phát huy hơn nữa. Các anh thấy không? Nói tới đây tên quản giáo chỉ tay về những cánh đồng khoai mì và những thửa rau xanh tươi tốt dài như bất tận, tiếp. Người mù cũng phải thấy rằng câu thơ của đồng chí Tố Hữu là một chân lý: Bàn tay ta làm nên tất cả, Với sức người sỏi đá cũng thành cơm… Mới ít tháng trước đây, vùng đất hoang dã này còn đầy dấu tích chiến tranh của Mỹ ngụy để lại. Các anh về đây học tập, đã tích cực và nghiêm túc chấp hành sụ chỉ đạo của Cách mạng nên đã biến được cả vùng đất này thành một nơi phồn vinh hoa màu, góp một phần lớn vào kế hoạch tự túc rau xanh và thực phẩm của cả trại ta. Cứ đà phát huy này, mấy chốc trại ta sẽ không còn là gánh nặng của nhân dân phải nuôi dưỡng ăn học nữa. các anh đang bắt đầu thắng lợi vòng đầu trong cuộc đấu tranh tự lập tự cường tự túc của xã hội ta. Thế nhưng như thế chưa đủ, chưa thể đủ được. Bên cạnh những cố gắng sản xuất, ta còn phải học hỏi cả đạo đức Cách mạng nữa. Ta phải thấm nhuần ý nghĩa câu “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Bác Hồ đã dạy phải “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”. Chúng ta phải luôn lấy câu ấy làm mốc phấn đấu. Tôi ghi nhận đời sống nơi trại cải tạo chưa thể nói là đầy đủ, chẳng qua vì đất nước ta mới giải phóng, chính sách thực dân mới của đế quốc Mỹ đã để lại muôn vàn khó khăn cho công cuộc phát triển nền kinh tế hậu chiến. Ta vẫn còn gặp nhiều khó khăn trước mắt. Nhưng khó khăn chỉ là tạm thời, thuận lợi vẫn là cơ bản. Biết rõ như vậy, các anh lại càng phải phấn đấu nhiều hơn trong rèn luyện nhân cách. Chẳng vì chút khó khăn trước mắt về đời sống kinh tế mà phạm tội ăn cắp quả bầu, ăn cắp quả bí, ăn cắp mớ rau của tập thể. Tôi không tin rằng một người sống trong tập thể sẽ sung sướng vì chiều nay mình đầy bụng trong khi những người khác chỉ lưng bụng. Các anh đừng tưởng là cán bộ chiến sỹ không đói. Cũng đôi khi đói chứ. Nhất là giai đoạn vượt Trường Sơn xuôi Nam chống Mỹ cứu nước. Chúng tôi hạt muối cắn làm đôi, hạt gạo cắn làm ba. Khổ như thế mà chỉ lo cho riêng mình no thôi thì làm sao đánh thắng được Mỹ ngụy. Tên quản giáo lên lớp một hồi. Hắn ngừng nói nhìn về phía vườn ớt. Bọn tù sốt ruột vì chiều đang xuống nhanh. Ai cũng đói cũng mệt. Nhưng chẳng ai hiểu được vì đâu chiều nay tên quản giáo lại lên lớp dông dài quá. Thường ngày hắn chỉ tranh thủ dăm bảy phút nói qua loa vài ba nhận xét phê bình trong lao động, hôm nay chẳng hiểu hắn hứng gì mà giảng đến cả những vấn đề lớn như đạo đức Cách mạng giữa chốn vườn tược này. Bọn tù thả mắt nhìn về hướng trại. Chẳng ai quyến luyến gì chỗ đó nhưng còn chỗ nào khác? Khói từ những nhà bếp bốc lên trời chiều, ngồi đây mà ai cũng có thể biết được rõ rệt chuyện gì đang xảy diễn ra nơi các dãy trại tập trung đó. Chia cơm, chia canh, chia khoai, chia sắn… Giọng Phạm Xuân Huy thầm thì sau lưng Vĩnh. – Thằng Uyên nó thu hoạch nhiều ớt lắm ông ạ. Chắc chắn chiều nay tụi mình có lộc. Một bao cát ớt chia cho cả đội ăn mệt nghỉ!
Vĩnh liếc nhìn vào vườn ớt. Quả thực đội trưởng Trần Văn Uyên đang thu hoạch ớt, những quả ớt đỏ au, công khó mồ hôi nước mắt của tù trồng lên, đang lần lượt chui vào cái bao cát trên tay Uyên. Hầu như có hai món mà không thằng tù nào không nghiện kể từ sau 30 tháng 4 năm 75. Món thứ nhất là thuốc lào, món thứ hai là ớt. Thuốc lào hút say làm quên được cuộc đời trong chốc lát. Ớt làm cay miệng giúp nuốt trôi những miếng cơm độn khoai mì nhạt nhẽo và nhất là tránh được bệnh sốt rét. Thế những trừ khi được gia đình thăm nuôi, còn nếu không, quả ớt sẽ là một giấc mơ của mọi người. Quản giáo Thừa nhìn vào vườn ớt và hỏi. – Sao? Anh Uyên thu hoạch đầy bao chưa? Giọng Uyên từ trong vườn nói lớn. – Báo cáo anh sắp đầy rồi. Tên quản giáo lại nói. – Thôi, gần đầy là tốt rồi. Tranh thủ sơm sớm cho anh em về trại cơm nước nghỉ ngơi. Trần Văn Uyên nghe nói, dùng sợi dây đính sẵn trên miệng bao cát buộc chặt lại và vác bao ớt trên vai như vác một con heo nhỏ. Anh bước ra khỏi vườn ớt. Bọn tù nhìn thấy vườn ớt đã bị vạt hẳn đi một khoảng màu đỏ lớn. Uyên tiến lại gần tên quản giáo đặt nhẹ bao ớt xuống đất. – Báo cáo anh đã thu hoạch xong. Tên quản giáo nhìn Uyên cười cười. – Này hỏi thật nhá. Anh có thu hoạch riêng bỏ túi quả ớt nào không? Đội trưởng Uyên có vẻ ngượng nghịu. – Dạ đâu có thưa anh! – Thế thì tốt. Nói đoạn hắn quay lại phía mọi người, tiếp. Thế là anh Uyên đã giữ được tinh thần liêm khiết chí công vô tư đấy. Làm được điều ấy là một phấn đấu lớn chứ chẳng phải nhỏ đâu. Anh về hàng đi. Uyên bước về hàng. Quản giáo Thừa tiếp. Nhân danh quản giáo đội 17, tôi biểu dương anh Uyên. Hắn nhìn ra xa tuồng như lượng thử vầng kim ô đã chạm lớp kẽm gai nằm dày đặc trên những bờ thành đất hay chưa, rồi quay lại đám tù, hắn nói. Thôi, trước khi anh Uyên cho các anh em ra về, tôi cũng có đôi lời thế này. Hắn ngẫm nghĩ tí chút. Trong tương lai ngắn sắp tới, trại ta sẽ có một số đông được Cách mạng thả về. Chuyện này đáng lý tôi chưa được nói, nhưng lỡ nói rồi thì cũng phải nhắc nhở các anh một điều: Cách mạng luôn luôn trước sau như một. Và trại cải tạo có vào thì phải có ra. Vào cùng lượt nhưng ra thì dứt khoát không thể cùng lượt. Các anh đã học tập gần hai năm hẳn đã biết mục đích và yêu cầu của việc tập trung học tập cải tạo. Đây cũng ví như một trường học. Học thì phải có thi. Thi phải có người đỗ người trượt. Đỗ thì về còn trượt thì phải học tiếp cho đến khi nào đỗ thì thôi. Tôi mong trong đội ta, lần xét thả tới đây sẽ có một tỷ số cao nhất so với các đội khác. Hắn quay sang đội trưởng Uyên. Nhân danh khung, tôi biểu dương anh đã thu hoạch tốt lượng ớt này. Bọn tù ngồi yên suốt lúc đến giờ với hy vọng tên quản giáo cao hứng cho thu hoạch ớt phát đều cho đội. Chả ai hiểu ý hắn biểu dương đội trưởng Uyên làm gì. Tên quản giáo lại quay sang bọn tù nói tiếp. Trước khi các anh trở về trại, tôi cũng nhắc nhở lần cuối. Việc sản xuất trong trại này là nghĩa vụ của mọi người. Thế nên sản phẩm được xử dụng như thế nào là quyền của tập thể quyết định. Nhiều đội khác đã có những anh vi phạm thu hoạch linh tinh và đã bị tập thể trừng trị. Đội ta chưa có hiện tượng ấy. Tôi biểu dương! Chúng ta tiếp tục phát huy sự liêm khiết và lương thiện. Tỷ như tôi, trong cương vị quản giáo, tôi có quyền hái ớt dùng khi cần chứ. Nhưng để công khai hóa, tôi đã nhờ anh Uyên thu hoạch ớt trước tập thể các anh chứng kiến. Đây là một điều các anh nên nhớ và phải noi theo. Bọn tù ngẩn người nghe tên quản giáo vô tư hay trắng trợn (?) nói những lời lẽ giáo dục cực kỳ điểu cáng ấy. Rồi thì mọi người được lệnh đứng dậy và tuần tự hàng hai bước lê trên lối mòn trở về trại. Tên quản giáo lững thững đi theo với bao ớt vác trên vai. Nhưng khi đến gần cổng, chỗ phải bàn giao nhân số tù cho ban kiểm soát, không ai còn thấy bao ớt nằm trên vai tên quản giáo đâu nữa. Bước qua cổng trại rồi, Ý thầm thì với Vĩnh. – Bây giờ tao đã hiểu thêm Cộng sản là gì. -…..? – Dân sản xuất chưa đủ, đạt chỉ tiêu chưa đủ, còn phải tự tay thu hoạch dâng cho cán bộ hưởng mới đủ. – Chắc chúng lấy chia nhau. – Chia cứt! Đây ra Biên Hòa bao xa? Bao ớt ấy cân bán ít nhất ra cũng vài chục. Và vài chục cũng là số tiền lương hai tháng của chúng nó rồi!
Sài gòn, năm 1980. Lúc đó, cuộc “cách“ cái ”mạng” ngày 30 tháng tư đã năm năm. Nhưng xem ra không khí chiến tranh vẫn còn bao phủ. Đời sống càng ngày càng đi vào bế tắc. Hè đường đầy những người đi kinh tề mới trở về hoặc vượt biên mất nhà sinh sống. Họ trở thành những người không nhà không hộ khẩu sống lây lất trong một thành phố đầy đe dọa. Những trại giam đầy áp người tù, tù chính trị và tù hình sự. Đêm đêm là thời gian của kiểm tra hộ khẩu, của bắt người, của đe dọa chập chờn ngoài cánh cửa. Với người dân thường còn như vậy. Huống chi những người tù bị gọi là “cải tạo” trở về. Đời sống lại càng bị đe dọa hơn biết bao nhiều. Tôi cũng bị ảnh hưởng trong thời thế ấy. Sống bất hợp pháp trong nhà của mình và trong đầu óc lúc nào cũng chờ đợi một chuyến vượt biển ra đi. Cột đèn mà cũng muốn xuất ngoại, huống chi…
Lúc ấy, phương tiện giao thông đi lại hầu như chỉ có xe buýt ở trong thành phố và xe đò đi xa ngoài thành phố. Ở bến xe, sinh hoạt thật nhộn nhịp. Như ở Xa Cảng Miền Tây lúc nào cũng đầy người mà số đông là những người chờ đợi một chuyến xe. Có người phải ngủ đêm chầu chực nhiều ngày. Nhưng nếu có tiền mua vé chợ đen, thì được đi ngay. Bao nhiêu con buôn đi hàng ngày mà còn chở theo hàng hóa cồng kềnh mà đâu có chờ đợi gì đâu. Còn xe buýt, thì là chỗ hỗn tạp. Đi xe luôn phải coi chừng, ăn cắp móc túi như ranh. Chỉ một loáng thôi, dù đã giữ gìn nhưng bị mất mát ngay một cách nhãn tiền. Thời mạt pháp, ai có thân thì giữ…
Trên một chuyến xe, có hai người lính cũ, một mù một què, dắt díu nhau đi hát để kiếm miếng ăn độ nhật. Người què thì dẫn đường cho người mù không có mắt để đi lần theo từng hàng ghế. Họ mặc bộ quần áo trận đã rách te tua bạc phếch nhưng vẫn còn phảng phất đâu đó hình ảnh của người lính thời xưa. Trên tay người lính mù là chiếc dàn mandoline cũ kỹ và anh hát những bản nhạc lính của cuộc chiến ngày cũ đã tàn nhưng còn nhiều hậu quả nhức nhối. Những bản nhạc đã vinh danh những anh hùng như “Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc hoặc “Người Ở Lại Charlie”. Khi hát tôi thấy dường như trong đôi mắt đen đục của người lính mù có chút nước mắt. Đi lần qua những hàng ghế, cũng có những người cho tiền, mặc dù họ không phải là những người khá giả trong xã hội này. Và nếu có một vài chú bộ đội phê bình nào là nhạc phản động, nào là nhạc vàng bị cấm thì họ lại bào chữa bảo vệ “Người ta tàn tật đi kiếm ăn mà còn làm khó!”…
Trong không khí đe dọa, họ vẫn cất tiếng hát. Hình như, họ đang chiến đấu với tiếng hát của mình. Cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…Hay : Anh không chết đâu anh người anh hùng mũ đỏ tên Đương… Hay Anh Quốc ơi từ nay trong gió ra khơi từ nay trên cánh mây trôi có hồn anh trong cõi lòng tôi. Ơi những tiếng hát nhắc lại một thời binh lửa mà những người bây giờ đang hát đã hiến dâng cho đất nước những phần thân thể của mình. Tự nhiên, tôi cảm thấy mình xúc động quá. Những người lính thời trước chịu bao nhiêu điều thua thiệt mà bây giờ vẫn còn cất tiếng hát bất chấp đe dọa bất chấp công an để vẳng lên tâm sự của mình. Và qua từng chuyến xe này qua chuyến xe khác, họ vẫn hát dù có khi bị bò vàng bắt hoặc đánh chửi. Những lời hát vẫn cất lên, mặc kệ bạo lực mặc kệ ngục tù.
Có một bài thơ, đã được viết từ cảm xúc đó. Bài thơ “Chuyến xe bus và khúc hát người lính mù”
Trang lịch sử đã dầy thêm lớp bụi
Ngăn kéo đời vùi kín mộ phần riêng
Và lãnh đạm chẳng còn người nhắc đến
Người trở về từ cuộc chiến lãng quên
Đôi mắt đục nhìn mỏi mòn kiếp khác
Đắt dìu nhau khập khiễng chuyến xe đời
Người thua trận phần thịt xương bỏ lại
Trên ruộng đồng sầu quê mẹ rã rời
Chuyến xe vang lời ca nào năm cũ
Nhắc chặng đường binh lửa lúc xa xưa
Khói mịt mù đường chiến tranh bụi phủ
Nghe bàng hoàng giọt nắng hắt giữa trưa
Tiếng thê thiết gọi địa danh quen thuộc
Thưở dọc ngang mê mải ngọn cờ bay
Cuộc thánh chiến gió muộn phiền thổi ngược
Dấu giầy buồn còn vết giữa sình lầy
Ôi tiếng hát nhớ những người gục ngã
Ngồi chuyến xe sao vang vọng nỗi niềm
Âm thanh cao xoáy tròn tim gỗ đá
Thúc hồn người theo nhịp thở chưa quên
Ôi tiếng hát vinh danh đời lính chiến
Cho máu xương không uổng phí ngày mai
Có sương khói trong mắt đời cầu nguyện
Để lỡ làng không chĩu nặng bờ vai
Người thản nhiên những tia nhìn cú vọ
Đây tàn hơi còn sót lại một đời
Đây ngôn ngữ của Việt Nam đổ vỡ
Vẳng không gian chợt héo một nụ cười
Ta nghe rực cuối hồn trăm bó đuốc
Một đời hoài tìm kiếm ánh đèn soi…”
Bài thơ đó tôi viết ở Sài Gòn năm 1980. Bây giờ năm 2010, như vậy đã ba chục năm. Tôi đã rời thành phố thân yêu và cũng đã định cư ở Hoa Kỳ 30 năm. Hôm nay ngồi đọc tin về Đại Nhạc Hội tổ chức ở ngoài trời “Cám Ơn Anh” để gây quỹ cứu giúp thương phế binh của QLVNCH còn kẹt lại ở quê nhà bỗng dưngsinh ra nhiều hồi tưởng. Bài thơ dắt tôi trở về những ngày tháng năm năm 1975, khi Cộng sản đã chiếm được đất nước đã thẳng tay dã man đuổi tất cả thương bệnh binh trong quân y viện ra ngoài bất kể tình trạng nguy hiểm hay không. Nạn nhân nặng nề nhất ngay lập tức chịu ảnh hưởng thua trận chính là những người thương binh. Biết bao nhiêu là thảm cảnh xảy ra. Không hiểu họ đã xoay sở thế nào để sống còn trong hoàn cảnh cực kỳ bi đát ấy.
Chính Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn 4, trước khi quyết định tự sát đã đến thăm thương binh ở quân y viện Cần Thơ lần cuối vì ông biết số phận đáng thương của những người lính này. Trước khi tử tiết, ông đã đến từng giường bệnh để an ủi những người lính đang điều trị tại đây. Ông đã não lòng khi trả lời một câu nói của người lính đang nằm viện : ”Thiếu Tướng đừng bỏ chúng em !”. “Không, Thiếu Tướng không bỏ đâu”. Phải, mặc dù đã đến lúc cờ tàn, ông không còn giúp đỡ gì được những anh hùng nhưng là nạn nhân của cuộc chiến nhưng tấm lòng nhân hậu của ông đã là gương sáng cho đời sau.
Gần đây tôi có đọc một lá thư của một người lính bị tàn phế gửi cho một người bạn từ Việt Nam. Bức thư có nhiều đoạn làm tôi suy nghĩ:
“… Các anh ạ! Bây giờ thì buồn quá! Các anh – những sĩ quan QLVNCH, những người anh của chúng tôi, những Đại Bàng, những Bắc Đẩu, Hắc Báo của ngày nào một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường… các anh đã có một thời quang vinh và một thời nhục nhã, giờ đây sau 30 năm vẫn lặng lẽ, các anh cũng nhòa đi hình ảnh của ngày xưa?
Các anh đã quên rồi sao? Quên rồi những chiến sĩ thuộc quyền của các anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất mẹ thiêng liêng quên những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ. Xin cảm ơn các anh về những đồng đô la mà các anh gửi về cho chúng tôi trong chương trình giúp đỡ thương phế binh QLVNCH. Những đồng tiền đó dù có giúp cho chúng tôi trong một thời gian ngắn, dù có an ủi cho những đớn đau vật chất được đôi phần nhưng cũng không làm sao giúp chúng tôi quên nỗi nhục nhã mất nước! Chúng tôi cần ở các anh những chuyện khác, các anh có thấu hiểu cho chúng tôi hay không? Tôi đã hiểu vì sao thằng khuân vác ở xóm trên, thằng vá xe đạp ở đầu đường, thằng chống nạng đi bán vé số ở cạnh nhà lại ghét cay ghét đắng đám Việt kiều. Họ là những người lính năm xưa, họ đã từng tuân lệnh những Đại Bàng, Thần Hổ xông pha nơi trận mạc. Họ đã từng chắt chiu từng đồng bạc nghĩa tình chung thủy gửi vào tận chốn tù đày thăm các anh. Họ đã từng uống với các anh chung rượu ân tình ngày đưa các anh lên phi cơ về vùng đất mới. Họ từng nuôi nấng một hoài vọng, một kỳ vọng ngày về vinh quang của QLVNCH.
Nhưng chính các anh đã làm họ oán ghét đến độ khinh bỉ khi các anh áo gấm về làng, chễnh chệ ngồi giữa nhà hàng khách sạn năm sao tung tiền ra để tỏ rõ một Việt Kiều yêu nước. Các anh có biết không? Từ trong sâu thẳm của cuộc đời, những người lính VNCH đang lê lết ở ngoài cửa nhà hàng mà các anh đang ăn uống vui chơi, đang nhìn các anh với ánh mắt hận thù. Hận thù lớn nhất của người lính là sự bội bạc, là sự phản bội! Không biết khi tôi kết tội các anh là phản bội có quá đáng hay không, nhưng các anh hãy tự suy nghĩ một chút sẽ thấy rõ hơn chúng tôi. Tôi không tin là tất cả các anh đã biến thái thành những tên Việt gian nhưng sự trở về như các anh trong hiện tại là đồng nghĩa với sự phản bội. Các Anh đã phản bội lại Tổ Quốc và rõ ràng nhất các anh đã phản bội lại chúng tôi…”
Đọc lá thư ấy, lòng tôi như chùng xuống. Mỗi một người đếu có hoàn cảnh cũng như cách chọn lựa riêng nhưng tôi không ngờ rằng trong sâu thẳm của những người lính cũ còn có những nỗi niềm như thế. Sự phân cách quá sâu đậm, những con sông chia cách vẫn chưa thể lấp bằng được. Ngẫm suy lại, từ một khía cạnh nhìn ngắm khác nhau, đã có những khác biệt cho từng hành động…
Tới bây giờ, với những người ở hải ngoại đã không quên các anh, những thương phế binh VNCH. Dù có một số ít vô ý thức trở về nước vui chơi trên nỗi nhọc nhằn của dân tộc nhưng phần đông đều hiểu và tri ân những người lính đã mang xương máu và thân thễ hiến dâng cho đất nước. Ở đại nhạc hôi “Cám Ơn Anh”, hàng chục ngàn khán gỉa đi xem không phải chỉ là đơn thuần mua vui mà là biểu lộ tinh thần biết ơn đối với người lính VNCH. Dù số tiền thu được lên tới cả triệu đô-la nhưng cũng không đủ cho nhu cầu của hàng chục ngàn người lính tàn phế cần giúp đỡ. Nhưng của ít tình nhiều, điều đó mới là đáng quý. Cũng như, với sự tham dự của cả hơn một trăm ca nhạc nghệ sỹ, cùng với cả trăm người thiện nguyện bỏ công sức và cả tiền của cá nhân, thì đó phải hiểu là một thành quả to lớn ở hải ngoại của những người dân luôn luôn tương trợ giúp đỡ nhau. Cám ơn anh! Những thương phế binh đã hiến dâng đời mình cho đất nước…
Có một thi sĩ nổi danh viết về một người thơ nữ đã in những tập thơ có thể nói là tạo thành một hiện tượng thi ca: “Khi những người tuổi trẻ yêu, đừng bắt họ nhân danh Nghệ Thuật hay Chân Lý để làm thơ! Chính Lệ Khánh chẳng đã từng thú nhận: Lệ Khánh làm thơ, in thơ bán thơ, nhưng Lệ Khánh không “bán tim”… và hẳn Lệ Khánh không hề có tham vọng làm một nữ sĩ “chuyên nghiệp” chiếm riêng một chỗ ngồi trong Văn Học Sử ngày mai. Lệ Khánh chỉ muốn làm một người tình nhân bé nhỏ, ngày hôm nay, có riêng một chỗ ẩn náu kín đáo ở… trong trái tim người yêu cho tiếng thơ thành khẩn của mình được một tấm lòng mến thương đón nhận, cho linh hồn bé bỏng của mình được một vòng tay khăng khít bao dung. Mà như vậy thì, dù muốn dù không, Lệ Khánh cũng đã tự nhiên là một thi sĩ! Một thi sĩ của tình yêu, hòa đồng chính đời sống cùng số phận mình vào Thơ, cũng như đem tất cả hoa hương mộng ảo của thơ dâng hiến cho Tình.”
Thi sĩ nổi danh trên là Đinh Hùng viết về một nhà thơ nữ mang tên Lệ Khánh, tác giả của những tập thơ với nhan đề gây thật nhiều ấn tượng “Em là Gái Trời Bắt Xấu.” Tập thơ đã gây xôn xao dư luận một thời và sau đó là 4 thi tập khác tiếp theo do nhà xuất bản Khai Trí in mang cùng nhan đề đã có số bán kỷ lục trên toàn miền Nam thời ấy.
Đặc biệt, ở Đà lạt, thành phố sương mù, nơi sinh sống của Lệ Khánh, thì những người hâm mộ yêu thích thơ Lệ Khánh cũng rất nhiều, nhất là những người lính trẻ của các quân trường thời đó.
Tôi đã gặp một cựu sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt khóa 16 kể về tập thơ đầy kỷ niện này với ông và đã đọc hai bài thơ mà ông đã thuộc đến nằm lòng thời trước và đến nay là hơn nửa thế kỷ, qua bao nhiêu biến cố thời thế dập vùi, mà vẫn còn nhớ không sót một câu. Chính ông cũng tâm sự rằng ông không phải là người độc nhất như thế mà còn rất nhiều người cùng khóa đều mang chung ý nghĩ như vậy.
Ở Sài Gòn, năm 1962 có một sự kiện thơ văn khá lạ. Nhà văn Duy Năng kể: “Khoảng cuối năm nhâm dần, một loạt sáu bài thơ của Lệ Khánh được đăng cùng trên một trang báo Văn Nghệ Tiền Phong. Không phải từ lúc ấy thơ Lệ Khánh mói bắt đầu xuất hiện, nhưng những tác phẩm khép nép, nhỏ nhoi kia của “người con gái trời bắt xấu” đã được nhiều người đọc đến từ lâu và cũng từ đó về sau này.
Khi 6 bài thơ được chăm sóc giới thiệu cùng một lúc tôi hiểu rằng đã có một cái gì khởi đầu. Tôi không nghĩ là thiên tài cũng không dám nghĩ là một vinh quang rồi sẽ rạng ngời và hiện tượng T.T.KH. của văn học mà tác giả chỉ được chiêm ngưỡng trong ảo tưởng hay như vì sao chợt sáng rồi chợt mờ, đã xui tôi dậy lòng lo âu để nghĩ rằng đừng bắt Lệ Khánh là vừng trăng mười sáu của một địa cầu bất động tuy với những bài thơ khai nguyên từ năm 15 tuổi tôi được nhận đọc, không chỉ với tâm hồn thi sĩ mà còn với tấm lòng thương yêu cháu gái.
Nhưng tôi hiểu, đã có một cái gì bắt đầu với lời thú nhận nghẹn ngào “Em là gái trời bắt xấu” ghi trong ngoặc dưới những bài thơ thảm trạng đó”
Trong thời giam ấy, đã có người nhận xét: ”Lệ Khánh ở Đà Lạt ”Em là gái trời bắt xấu” ra đời ở vùng Cao nguyên lạnh như băng này… Rồi tiếng thơ Lệ Khánh bay xa khỏi miền Cao nguyên về vùng thành thị, tiếng nức nở ấy làm cho người thưởng ngoạn chợt bâng khuâng không biết ví von ra làm sao để diễn tả nổi cái buồn đau của Lệ Khánh… Nhưng khi ai đã đi một mình trong màn mưa phùn lâm dâm, đang thèm khát một ly cà phê hay cảnh một gia đình, lúc ấy nhạc Chopin vọng tới, buồn vô cùng.. thì đấy thơ Lệ Khánh như vậy”
Nửa thế kỷ, sau, những bài thơ dung dị, viết mà không muốn xác định vai trò của một người muốn chen chân vào ghế ngồi văn học sử, của “Em là con gái trời bắt xấu” vẫn còn hiện hữu và vẫn còn sức sống. Ghé qua các trang mạng của tuổi học trò, những Hoa Cô Đơn, những Hạt nắng, những Áo trắng, những Cổng trường xưa,… vẫn thấy những câu hỏi về Lệ Khánh, hay chép cho nhau những bài thơ của “Em là gái trời bắt xấu”. Một thời gian dài như thế, thơ vẫn còn sức sống, vẫn còn được đọc, và ngôn ngữ thi ca của một thời còn hiển hiện. Tại sao lại có hiện tượng như vậy? Nếu có ai phân biệt thơ bình dị và thơ trí tuệ thì giải thích giùm sự kiện ấy? Hay là, có phải thơ gây được cảm xúc cho lòng người sẽ còn tồn tại lâu dài cho người yêu thi ca?
Đọc trên mạng những dòng chữ để thấy tâm tình của những người thế hệ sau: Dĩ nhiên “nhan sắc” vẫn muôn đời là “nhan sắc” là cái vỏ bề ngoài do người ta tạo dựng lên bằng cái “ngôn ngữ của kẻ thống trị”. Mà kẻ “thống trị” từ xưa đến nay có phải chỉ là quí ông?
Hãy nói về Lệ Khánh và “tiếng kêu thảng thốt “từ bên kia cực của Nhan Sắc. Tiếng kêu bi thảm “Em là gái trời bắt xấu” ngày ấy đã làm tôi thắc mắc và đã trợn tròn mắt hỏi chị “em có thấy chị xấu đâu mà tại sao…” Tại sao… chị đã chẳng trả lời, chị? Cúi đầu cảm nhận để cho những “kẻ thống trị” đánh giá mình bằng cái vẻ xấu đẹp theo những quan niệm và những nhận định phiến diện của riêng họ.
Và hãy nói về Nguyễn Thị Hoàng với cực bên này của Nhan Sắc là tứ đại, ngũ đại, thập đại… giai nhân. Chưa gặp cô, hình ảnh cô trong tôi là hình ảnh của cô Tôn Nữ Kim Phuợng “với ánh nắng mai lấp lánh trên áo len lông màu hoàng yến nhảy múa theo bước chân cô từ văn phòng đến lớp “và là hình ảnh của cô Kỳ Hương ”..với nụ cười hiền hậu..” vậy mà khi gặp cô, rất gần, rất thật, chỉ cách một hàng ghế và nghe cô nói hơn một tiếng đồng hồ, những hình ảnh ấy vụt biến đi dù tôi đã cố giữ…
Tại sao tôi không hề thấy hay cảm được cái gọi là “ma lực” của cô Nguyễn Thị Hoàng mà lại bị ma lực của chị Lệ Khánh quyến rũ?
Cái gọi là Nhan Sắc vì thế có phải chăng chỉ là ảo ảnh, không hơn không kém. Cũng như “người yêu của đấng trời”, cũng như con cá đi lạc ra ngoài hồ nước của con bé lên ba… và có phải chị có niềm tin mới biến những ảo ảnh có đấy mà không có đấy để rồi niềm tin chính nó cũng chỉ là những ngụy biện không hơn không kém…”
Lệ Khánh đã in tập thơ đầu tiên “Em là gái trời bắt xấu” lúc vừa 20 tuổi. Và sau đó từ năm 1964 đến 1966 nhà xuất bản Khai Trí đã in liên tục từ tập 1 đến tập 5 và thơ của bà đã được độc giả đón nhận nồng nhiệt. Nhà văn Thế Phong đã nhận xét: có thể nói Lệ Khánh được nhiều độc giả đọc nhiều, thuộc nhiều, nhắc nhở nhiều chẳng kém gì Nguyễn Bính thời tiền chiến. Tập thơ “Em là gái trời bắt xấu” cả 5 tập có thể nói bán chạy nhất, hơn cả thi sĩ Nhất Tuấn thời ấy được coi là tác giả lục bát có thơ bán chạy”
Thơ của Lệ Khánh có nét riêng biệt ra sao và lý do gì mà thơ của bà được yêu thích nhất là đối với những chàng sinh viên sĩ quan Võ bị Đà Lạt thời gian ấy? Lệ Khánh làm thơ về những mối tình ngang trái về tâm tư đau buồn đầy nước mắt đầy bi lụy. Tình yêu của bà là những mối tình không thành tựu của những nhớ nhung luôn dằn vặt đời sống. Với tâm sự như thế, thơ của bà là những biểu hiện của nỗi đau có thực của tâm tư luôn đau khổ vì yêu. Trong cuộc đời thực, đã có lỡ làng, đã có chia phôi và kỷ niệm lúc nào cũng vẫn là những nỗi đau của vết thương tâm không liền da, liền thịt. Thơ cuả Lệ Khánh ngôn ngữ bình dị đời thường, hình ảnh biểu tượng thi ca cũng không có gì đặc biệt nhưng chính vì những nét đơn sơ bình dị của một người làm thơ nữ đã tạo ra được không gian thi ca tuy có nét hiện thực gần gũi cuộc sống nhưng lại có nét mong manh sương khói của những người có trái tim luôn đập nhịp dồn dập khôn nguôi để tạo thành một biển trời cảm giác.
Tôi đọc lại những bài thơ cũ trong “Em là gái trời bắt xấu” để cùng có chung cảm giác với những người đã một thời yêu những vần thơ của kỷ niệm, của những người có tình nhân là lính chiến, là những mơ mộng và những đớn đau trộn lẫn. Ai cũng yêu quí và trân trọng kỷ niệm của riêng mình, dù là những hằn dấu đớn đau hay có khi ngập tràn nước mắt.
Thí dụ như bài Áo Tím Ngày Xưa:
“Con đường này…kỷ niệm
ngày xưa (anh của em)
vẫn khung trời thương mến
và nhớ nhung trong tim
đó rừng xưa chơ vơ
đây hồn em cô quạnh
màu áo tím ngày xưa
sao giờ nghe buốt lạnh
bao năm rồi trở lại
Đà Lạt buồn lối quanh
Thương thương màu áo tím
Của ngày xưa… đâu anh?
Con đường Hồ Than Thở
Hoang sơ nấm mộ sâu
Người em áo tím nhỏ
Đi tìm anh… anh đâu?”
Những ai đã là sinh viên sĩ quan trường Võ Bị chắc không lạ gì với con đường Lâm Viên và mồ cô Thảo, một nơi chốn chứa đựng cả một trời tình sử. Lệ Khánh viết Đường Vòng Lâm Viên như một trao gửi đến người xưa về cảnh cũ:
“Em tìm đến con đường Lâm Viên nhỏ
nhớ ngày xưa… “đại lộ của thương anh”
vẫn quân phục với màu alpha đỏ
em vui cười sao nước mắt dâng nhanh
Đây chứng tích của ân tình đổ vỡ
Mộ hoang sầu cô Thảo ngủ thiên thu
Không nhang khói không cành hoa dại nở
Bên ven hồ hương tử khí âm u
Khi em chết cũng xin về an nghỉ
Cạnh bên nàng để rõi bước chân anh
Đường Lâm Viên …buồn như chiều phố thị
Mai anh về khi tắt lửa chiến tranh
Anh nhớ nhé về thăm thành phố cũ
Đường Lâm Viên cỏ úa mọc ven rừng
Nhiều kỷ niệm mà nói sao cho đủ
Đợi anh về em sẽ nói nhiều hơn”
Lệ Khánh sống ở Đà Lạt, có mối tình đầu với một sinh viên sĩ quan Võ Bị. Với bà, thành phố sương mù này là thành phố của tình yêu nhưng lại là nơi chốn của những mối tình đau khổ. Tràn đầy yêu thương, chất ngất cảm xúc nên đã viết được những bài thơ mang tâm trạng của mình nhưng gợi lại đến những kỷ niệm của nhiều người khác mà có người vì quá yêu thích nên đã gọi là những “bài thơ để đời”. Có thể có cả những người xuất thân từ Trường Võ Bị Quốc Gia nữa.
Có người không tin là nữ thi sĩ Lệ Khánh không có dung nhan khiêm nhường như bà đã tả trong thơ? Theo như nhà văn Hồ Nam thì: Điều làm mọi người kinh ngạc là Lệ Khánh xuất bản thơ với tựa đề “Em là gái trời bắt xấu” nhưng thật ra tác giả năm tập thơ mang nhan đề như trên lại là một cô gái Huế xinh đẹp từng làm nhiều chàng trai đất Quảng ngẩn ngơ chứ chẳng xấu một chút nào cả…”
Những mối tình của nữ thi sĩ ra sao mà có người như La Ngạc Thụy đã cho rằng vào những năm thập kỷ 60, trên diễn đàn văn nghệ xuất hiện một nhà thơ gây xôn xao dư luận có thể nói là ngang tầm với hiện tượng TTKH. là nhà thơ Lệ Khánh?
Theo nhà văn Hồ Nam thì: người ta đồn rằng người tình đầu của Lệ Khánh là nhà thơ Nhất Tuấn nhưng Nhất Tuấn không xác nhận cũng chẳng phủ nhận tin đồn chỉ im lặng. Nhưng sự thực không phải như lời đồn đại. Người tình đầu thấp thoáng những khổ đau ly biệt dở dang trong thơ Lệ Khánh chính là Phạm H.Th., sinh viên sĩ quan khóa 17 Võ bị Đà Lạt sau khi mãn khóa đã được thuyên chuyển về binh chủng Biệt Động Quân. Mối tình dang dở gây ra cho Lệ Khánh khổ đau vì TH. đã lập gia đình với một người bạn gái của cô khiến cho Lệ Khánh có rất nhiều bài thơ về mối tình sướt mướt này. Một thời gian sau khi chia tay với người tình đầu Lệ Khánh có một mối tình với nhà văn nhà thơ Mũ Đỏ Hoàng Ngọc Liên. Thời gian đó Hoàng Ngọc Liên thường hay bay đi bay lại Sài Gòn – Đà Lạt hàng tuần và khi ông viết bài thơ “Kỷ niệm sinh nhật em” thì Lệ Khánh có ngay bài ”Kỷ niệm sinh nhật Anh” để đáp lại. Hai người cặp nhau một thời gian dài nhưng thời gian này HNL rất bay bướm có nhiều bồ nhí ở Sài Gòn, một ngày kia Lệ Khánh bắt gặp tại trận nên chia tay nhau. Sau đó người ta lại thấy Lệ Khánh có quan hệ tình cảm với nhà thơ kiêm nhạc sĩ Thục Vũ (Trung tá Vũ Văn Sâm) một trong những nhà thơ quân đội khá nổi tiếng và cuộc tình này khá bền bỉ, bền tới khi Thục Vũ rời khỏi cõi hồng trần vẫn chưa dứt..
Nhạc sĩ Thục Vũ đã phổ bài thơ của Lệ Khánh, bài “Tình người hậu tuyến” rất nổi tiếng. Có lẽ vì tâm đầu ý hợp chăng? Cô công chức Tòa hành chánh Thị xã Đà Lạt sau đổi về Tòa Tỉnh Gia Định, có những câu thơ đơn sơ được chuyển thành cung bậc âm thanh đi thẳng vào tâm tư thính giả:
“Hôm nay trời vào thu
Đà Lạt lắm sương mù
Cây khô buồn trút lá
Gió ven hồ bay xa
Mây thu lờ lững trôi
Lồng lộng gió lưng đồi
Xin anh đừng giận dỗi
Viết thư về thăm em…”
Cuộc đời tình ái của Lệ Khánh nhiều truân chuyên bi lụy nên có người đã ví TTKH như Đạm Tiên và Lệ Khánh như Thúy Kiều. Lệ Khánh yêu hết mình và đã để lại trong tâm những vết thương để có một hồn thơ thích hợp với khuôn trời thơ mộng mù sương Đà Lạt. Tình yêu đã tạo thành những câu thơ mà độc giả, dù đương thời hay về sau này, cũng cảm và thấy được nỗi bi thương của một người không may có những mối tình không bao giờ trọn vẹn. Thơ tình buồn thường hay gây ấn tượng cho người yêu thơ từ thuở xa xưa đến giờ…
Vào thời kỳ giữa thập niên 60, lúc Lệ Khánh bắt đầu nổi tiếng, tôi còn là một cậu học sinh trung học. Dù đang ngồi ghế nhà trường nhưng vẫn hay thường mộng mơ vói qua ngoài cửa lớp. Những bài thơ của tuổi học trò ngây thơ, của những thời xôn xao mới lớn hay đăng trên những phụ trang văn học của các tờ nhật báo được chúng tôi cắt dán hoặc chép lại trong những cuốn sổ bìa cứng và cứ thế suốt mấy năm trung học đã thành cuốn sách gối đầu giường vô cùng trân quí. Ở những bài thơ, mường tượng những người tình, có khi chỉ là thoáng qua, có khi chỉ là ảo tưởng, nhưng cũng tạo trong tâm tư những kỷ niệm khó quên. Giở lại những trang thơ ấy, là cảm giác đi về một chốn nào đã xa nhưng lại thật gần gũi. Ở đó, có tuổi trẻ, có kỷ niệm.
Với những nữ sinh, có lẽ thơ của Lệ Khánh có sức lôi cuốn và hấp dẫn nhiều hơn. Và, 5 tập thơ “Em là gái trời bắt xấu” cùng 2 tập “Vòng tay nào cho em” và “Nói với người yêu” đã có số lượng độc giả khổng lồ là chính nhờ ở thành phần người đọc này.
Lệ Khánh có những người tình là lính nên ở trong thời buổi chiến tranh những cuộc tình ấy đầy chia ly và không có đoạn kết là chuyện dĩ nhiên.
Đề tài của tất cả 7 tập thơ đều nhất quán là chuyện lòng của người thiếu nữ thanh tân, lúc nào cũng đầy những khát vọng yêu đương. Ngôn ngữ cũng không lạ, cũng chỉ loanh quanh chữ buồn, chữ nhớ, chữ tủi, chữ sầu, nhưng dung lượng tình cảm thì nói hoài chưa đủ và nhắc hoài chưa hả. Hình như thơ Lệ Khánh là để giành riêng cho những kẻ yêu nhau bởi vì khi trái tim mở rộng theo nhịp dồn dập thì cả đất trời cũng nhỏ và trong thế gian dường như chỉ chứa đựng duy nhất khuôn mặt người tình. Thơ như bị cuốn vào trong cơn cuồng vọng của Tình Yêu và ngôn ngữ của tình yêu ấy dù là ngôn ngữ của sáo mòn, của những điều mà trước đây ngàn năm và sau này triệu năm những tình nhân đã thuộc nằm lòng. Yêu nhau, người ta mới hiểu được cái mênh mông của ý tình qua ngôn ngữ mà người chưa yêu hoặc không yêu chẳng thể nào hiểu thấu. Tôi nghĩ thơ Lệ Khánh đã vượt qua được cái cửa ải của thời gian nhờ sự thành thực bày tỏ tấm lòng đang yêu và dù đau khổ vẫn trân quí những điều mình bày tỏ. Thơ “Em là con gái trời bắt xấu” không có một kỹ thuật nào để thăng hoa thi ca, không có một mới lạ được tìm kiếm nào cho con đường nghệ thuật. Những tập thơ vẫn là những phác họa chân thành của nỗi buồn tình yêu.
Nhà thơ Đinh Hùng cách nay hơn nửa thế kỷ đã nhận xét về Lệ Khánh và tới nay đã phần nào giải thích được tại sao “Em là gái trời bắt xấu” tới giờ này vẫn còn vị trí trong lòng những người yêu thi ca:
Qua những tập thơ kế tiếp nhau như những phân đoạn của một khúc trường ca chưa dứt, trước sau, Lệ Khánh vẫn chỉ là một con người duy nhất, với một tâm trạng duy nhất, một giọng nói duy nhất. Chính đó là điều đáng quí, đối với một người thơ thuộc lứa tuổi trẻ dễ dàng giao động dễ dàng chuyển mình theo theo cái nhịp sống nhiều biến thái bất ngờ hiện thời. Giữa cái vô thường của cuộc sống và của lòng người, Lệ Khánh đã dám có một lẽ sống thường trụ, một thái độ không đổi rời. Lẽ sống của riêng mình và thái độ cũng của riêng mình mặc cho dòng đời luân lưu và lòng người chuyển biến.
Nếp sống tình cảm trước sau như một đó và thái độ chuyên nhất kia, có lẽ Lệ Khánh không dụng ý tạo nên nhưng từ trong bản chất người con gái “trời bắt xấu” không ngờ chính đó lại là cái “duyên thầm” riêng biệt của Lệ Khánh, cái phong phú khác người của kẻ làm thơ mà cũng chính là cái vẻ đẹp riêng của người thiếu nữ tự nhận mình là xấu”.
Nguyễn Mạnh Trinh
“Con đường này…kỷ niệm
ngày xưa (anh của em)
vẫn khung trời thương mến
và nhớ nhung trong tim
đó rừng xưa chơ vơ
đây hồn em cô quạnh
màu áo tím ngày xưa
sao giờ nghe buốt lạnh
bao năm rồi trở lại
Đà Lạt buồn lối quanh
Thương thương màu áo tím
Của ngày xưa… đâu anh?
Con đường Hồ Than Thở
Hoang sơ nấm mộ sâu
Người em áo tím nhỏ
Đi tìm anh… anh đâu?”
Những ai đã là sinh viên sĩ quan trường Võ Bị chắc không lạ gì với con đường Lâm Viên và mồ cô Thảo, một nơi chốn chứa đựng cả một trời tình sử. Lệ Khánh viết Đường Vòng Lâm Viên như một trao gửi đến người xưa về cảnh cũ:
“Em tìm đến con đường Lâm Viên nhỏ
nhớ ngày xưa… “đại lộ của thương anh”
vẫn quân phục với màu alpha đỏ
em vui cười sao nước mắt dâng nhanh
Đây chứng tích của ân tình đổ vỡ
Mộ hoang sầu cô Thảo ngủ thiên thu
Không nhang khói không cành hoa dại nở
Bên ven hồ hương tử khí âm u
Khi em chết cũng xin về an nghỉ
Cạnh bên nàng để rõi bước chân anh
Đường Lâm Viên …buồn như chiều phố thị
Mai anh về khi tắt lửa chiến tranh
Anh nhớ nhé về thăm thành phố cũ
Đường Lâm Viên cỏ úa mọc ven rừng
Nhiều kỷ niệm mà nói sao cho đủ
Đợi anh về em sẽ nói nhiều hơn”
Lệ Khánh sống ở Đà Lạt, có mối tình đầu với một sinh viên sĩ quan Võ Bị. Với bà, thành phố sương mù này là thành phố của tình yêu nhưng lại là nơi chốn của những mối tình đau khổ. Tràn đầy yêu thương, chất ngất cảm xúc nên đã viết được những bài thơ mang tâm trạng của mình nhưng gợi lại đến những kỷ niệm của nhiều người khác mà có người vì quá yêu thích nên đã gọi là những “bài thơ để đời”. Có thể có cả những người xuất thân từ Trường Võ Bị Quốc Gia nữa.
Có người không tin là nữ thi sĩ Lệ Khánh không có dung nhan khiêm nhường như bà đã tả trong thơ? Theo như nhà văn Hồ Nam thì: Điều làm mọi người kinh ngạc là Lệ Khánh xuất bản thơ với tựa đề “Em là gái trời bắt xấu” nhưng thật ra tác giả năm tập thơ mang nhan đề như trên lại là một cô gái Huế xinh đẹp từng làm nhiều chàng trai đất Quảng ngẩn ngơ chứ chẳng xấu một chút nào cả…”
Những mối tình của nữ thi sĩ ra sao mà có người như La Ngạc Thụy đã cho rằng vào những năm thập kỷ 60, trên diễn đàn văn nghệ xuất hiện một nhà thơ gây xôn xao dư luận có thể nói là ngang tầm với hiện tượng TTKH. là nhà thơ Lệ Khánh?
Theo nhà văn Hồ Nam thì: người ta đồn rằng người tình đầu của Lệ Khánh là nhà thơ Nhất Tuấn nhưng Nhất Tuấn không xác nhận cũng chẳng phủ nhận tin đồn chỉ im lặng. Nhưng sự thực không phải như lời đồn đại. Người tình đầu thấp thoáng những khổ đau ly biệt dở dang trong thơ Lệ Khánh chính là Phạm H.Th., sinh viên sĩ quan khóa 17 Võ bị Đà Lạt sau khi mãn khóa đã được thuyên chuyển về binh chủng Biệt Động Quân. Mối tình dang dở gây ra cho Lệ Khánh khổ đau vì TH. Đã lập gia đình với một người bạn gái của cô khiến cho Lệ Khánh có rất nhiều bài thơ về mối tình sướt mướt này. Một thời gian sau khi chia tay với người tình đầu Lệ Khánh có một mối tình với nhà văn nhà thơ Mũ Đỏ Hoàng Ngọc Liên. Thời gian đó Hoàng Ngọc Liên thường hay bay đi bay lại Sài Gòn – Đà Lạt hàng tuần và khi ông viết bài thơ “Kỷ niệm sinh nhật em” thì Lệ Khánh có ngay bài “Kỷ niệm sinh nhật Anh” để đáp lại. Hai người cặp nhau một thời gian dài nhưng thời gian này HNL rất bay bướm có nhiều bồ nhí ở Sài Gòn, một ngày kia Lệ Khánh bắt gặp tại trận nên chia tay nhau. Sau đó người ta lại thấy Lệ Khánh có quan hệ tình cảm với nhà thơ kiêm nhạc sĩ Thục Vũ (Trung tá Vũ Văn Sâm) một trong những nhà thơ quân đội khá nổi tiếng và cuộc tình này khá bền bỉ, bền tới khi Thục Vũ rời khỏi cõi hồng trần vẫn chưa dứt..
Nhạc sĩ Thục Vũ đã phổ bài thơ của Lệ Khánh, bài “Tình người hậu tuyến” rất nổi tiếng. Có lẽ vì tâm đầu ý hợp chăng? Cô công chức Tòa hành chánh Thị xã Đà Lạt sau đổi về Tòa Tỉnh Gia Định, có những câu thơ đơn sơ được chuyển thành cung bậc âm thanh đi thẳng vào tâm tư thính giả:
“Hôm nay trời vào thu
Đà Lạt lắm sương mù
Cây khô buồn trút lá
Gió ven hồ bay xa
Mây thu lờ lững trôi
Lồng lộng gió lưng đồi
Xin anh đừng giận dỗi
Viết thư về thăm em…”
Cuộc đời tình ái của Lệ Khánh nhiều truân chuyên bi lụy nên có người đã ví TTKH như Đạm Tiên và Lệ Khánh như Thúy Kiều. Lệ Khánh yêu hết mình và đã để lại trong tâm những vết thương để có một hồn thơ thích hợp với khuôn trời thơ mộng mù sương Đà Lạt. Tình yêu đã tạo thành những câu thơ mà độc giả, dù đương thời hay về sau này, cũng cảm và thấy được nỗi bi thương của một người không may có những mối tình không bao giờ trọn vẹn. Thơ tình buồn thường hay gây ấn tượng cho người yêu thơ từ thuở xa xưa đến giờ…
Vào thời kỳ giữa thập niên 60, lúc Lệ Khánh bắt đầu nổi tiếng, tôi còn là một cậu học sinh trung học. Dù đang ngồi ghế nhà trường nhưng vẫn hay thường mộng mơ vói qua ngoài cửa lớp. Những bài thơ của tuổi học trò ngây thơ, của những thời xôn xao mới lớn hay đăng trên những phụ trang văn học của các tờ nhật báo được chúng tôi cắt dán hoặc chép lại trong những cuốn sổ bìa cứng và cứ thế suốt mấy năm trung học đã thành cuốn sách gối đầu giường vô cùng trân quí. Ở những bài thơ, mường tượng những người tình, có khi chỉ là thoáng qua, có khi chỉ là ảo tưởng, nhưng cũng tạo trong tâm tư những kỷ niệm khó quên. Giở lại những trang thơ ấy, là cảm giác đi về một chốn nào đã xa nhưng lại thật gần gũi. Ở đó, có tuổi trẻ, có kỷ niệm.
Với những nữ sinh, có lẽ thơ của Lệ Khánh có sức lôi cuốn và hấp dẫn nhiều hơn. Và, 5 tập thơ “Em là gái trời bắt xấu” cùng 2 tập “Vòng tay nào cho em” và “Nói với người yêu” đã có số lượng độc giả khổng lồ là chính nhờ ở thành phần người đọc này.
Lệ Khánh có những người tình là lính nên ở trong thời buổi chiến tranh những cuộc tình ấy đầy chia ly và không có đoạn kết là chuyện dĩ nhiên.
Đề tài của tất cả 7 tập thơ đều nhất quán là chuyện lòng của người thiếu nữ thanh tân, lúc nào cũng đầy những khát vọng yêu đương. Ngôn ngữ cũng không lạ, cũng chỉ loanh quanh chữ buồn, chữ nhớ, chữ tủi, chữ sầu, nhưng dung lượng tình cảm thì nói hoài chưa đủ và nhắc hoài chưa hả. Hình như thơ Lệ Khánh là để giành riêng cho những kẻ yêu nhau bởi vì khi trái tim mở rộng theo nhịp dồn dập thì cả đất trời cũng nhỏ và trong thế gian dường như chỉ chứa đựng duy nhất khuôn mặt người tình. Thơ như bị cuốn vào trong cơn cuồng vọng của Tình Yêu và ngôn ngữ của tình yêu ấy dù là ngôn ngữ của sáo mòn, của những điều mà trước đây ngàn năm và sau này triệu năm những tình nhân đã thuộc nằm lòng. Yêu nhau, người ta mới hiểu được cái mênh mông của ý tình qua ngôn ngữ mà người chưa yêu hoặc không yêu chẳng thể nào hiểu thấu. Tôi nghĩ thơ Lệ Khánh đã vượt qua được cái cửa ải của thời gian nhờ sự thành thực bày tỏ tấm lòng đang yêu và dù đau khổ vẫn trân quí những điều mình bày tỏ. Thơ “Em là con gái trời bắt xấu” không có một kỹ thuật nào để thăng hoa thi ca, không có một mới lạ được tìm kiếm nào cho con đường nghệ thuật. Những tập thơ vẫn là những phác họa chân thành của nỗi buồn tình yêu.
Nhà thơ Đinh Hùng cách nay hơn nửa thế kỷ đã nhận xét về Lệ Khánh và tới nay đã phần nào giải thích được tại sao “Em là gái trời bắt xấu” tới giờ này vẫn còn vị trí trong lòng những người yêu thi ca:
Qua những tập thơ kế tiếp nhau như những phân đoạn của một khúc trường ca chưa dứt, trước sau, Lệ Khánh vẫn chỉ là một con người duy nhất, với một tâm trạng duy nhất, một giọng nói duy nhất. Chính đó là điều đáng quí, đối với một người thơ thuộc lứa tuổi trẻ dễ dàng giao động dễ dàng chuyển mình theo theo cái nhịp sống nhiều biến thái bất ngờ hiện thời. Giữa cái vô thường của cuộc sống và của lòng người, Lệ Khánh đã dám có một lẽ sống thường trụ, một thái độ không đổi rời. Lẽ sống của riêng mình và thái độ cũng của riêng mình mặc cho dòng đời luân lưu và lòng người chuyển biến.
Nếp sống tình cảm trước sau như một đó và thái độ chuyên nhất kia, có lẽ Lệ Khánh không dụng ý tạo nên nhưng từ trong bản chất người con gái “trời bát xấu” không ngờ chính đó lại là cái “duyên thầm” riêng biệt của Lệ Khánh, cái phong phú khác người của kẻ làm thơ mà cũng chính là cái vẻ đẹp riêng của người thiếu nữ tự nhận mình là xấu”.
Một nhạc sĩ VC nằm vùng ‘tối tác’ bài: “Mừng tuổi mẹ”. Trong đó có câu: “Mẹ già như chuối chín cây. Gió lay Mẹ rụng con phải mồ côi”
Ý ông nhạc sĩ, tự xưng là triết gia, muốn dạy đời là: Tình cảnh của mẹ rất giống quả chuối chín cây, dễ rơi rụng, hư nát bất cứ lúc nào. Mẹ già của chúng ta cũng thế. Tuổi cao sức yếu, mẹ có thể đột ngột rụng, ra đi mãi mãi. Con từ rày, dù từng tuổi nào đi chăng nữa, cũng là một đứa bé mồ côi.
Nghe không nghĩ kỹ thì rụng rún nhưng suy đi gẫm lại thì ông nội con nít nầy cắt nghĩa rất tào lao. Tại sao lại tào lao? Ai cũng biết chuối có nải, có buồng. Gió lay Mẹ rụng? Rụng chỉ một trái chuối trong một nải, trong một buồng hay sao? Nếu gió có lay là ngã luôn cây chuối. Rụng luôn một buồng. Tui chưa thấy gió nào lay chỉ làm rụng một trái trong một buồng chuối hết ráo!
o O o
Mẹ già như chuối ba hương. Như xôi nếp một như đường mía lau. Lúa nếp một là giống lúa nếp ngon nhất trong số hàng chục loại lúa nếp; nên được xếp vào loại một. Lúa nếp một là loại lúa dài ngày, tới 5 – 6 tháng mới gặt.
Thân cây lúa nếp một này cao, cứng, lá to. Hột nếp trắng tròn, dài. Xôi thổi từ loại nếp một tất phải dẻo, phải thơm, ngon rồi.
Còn đường mía lau là đường từ một loại mía, giống cây cỏ lau. Ca dao có câu: Mía lau vừa ngọt vừa mềm. Không dao mà tiện, không tiền mà mua. Mía lau thân nhỏ, cứng cho ít nước. Nhưng khi nấu đường nó ngọt nhứt hạng.
Như vậy mẫu thân còn sống là số một. Như xôi nếp một. Như đường mía lau.
Nhưng chuối ba hương là chuối gì vậy cà? Tui chỉ nghe chuối già, chuối xiêm, chuối sứ, chuối cau, chuối hột… hầm bà lằng chuối; chớ chưa nghe loại chuối nào tên ba hương hết ráo.
Tui hiểu vầy nè: Già là nói về tuổi tác của người mẹ. Ba hương, tương ứng với chữ già, là chỉ thời gian.
Chuối ba hương là nải chuối giú trong khạp da bò. Ðốt tàn ba cây hương là nó chín.
Tóm lại trong câu lục (6 chữ): “Mẹ già như chuối ba hương” là so sánh Mẹ đã già như chuối ba tuần hương chín lắm rồi.
Khúc ca dao nầy muốn nói: ai may mắn còn có Mẹ già là quý lắm đó nhe!
Câu ca dao ngắn, chữ nghĩa thâm trầm mà mấy ông Nội nhạc sĩ triết gia Vi Xi nầy, chắc huỡn quá, nên bàn chuyện tào lao. Bàn chuyện bao la đến nỗi không biết đường ra!
o O o
Rồi ca dao quê mình cũng có câu: “Gió đưa bụi chuối sau hè, Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ. Con thơ tay ẵm, tay bồng. Tay nào xách nước, tay nào vo cơm?”
Ôi hình ảnh người vợ hiền với hai đứa con thơ như một bụi chuối. Bụi chuối có nhiều cây chuối. Một cây chuối mẹ và hai cây chuối con. Cây chuối mẹ bị cơn gió đời đòng đưa qua lại vẫn không ngã. Mẹ không bỏ con mình, vẫn ẵm vẫn bồng chỉ trách chồng sao mê con vợ bé?!
Hồi xưa còn trong nước, tui vẫn hay nghe tiếng ru em buồn bi thiết của một người vợ nhớ thương chồng đang ngựa phi đường xa. Sau nầy xa quê, con đã lớn; cháu không nằm võng. Lời ru con giữa trưa hè buồn vời vợi đó tưởng chừng như đã lùi sâu, rồi chìm trong lãng quên đời. Dè đâu lâu lâu câu thơ tui vẫn nhớ. Chuối bây giờ là hình ảnh quê nhà phía bên kia biển.
Mỗi vùng đất thổ nhưỡng khác nhau như Việt Nam với Úc, khiến con người tánh tình cũng khác nhau. Úc nầy có chuối hay không? Có chớ! Cũng giống như con người có nhiều sắc dân, chuối có nhiều loại khác nhau; hương vị cũng khác nhau.
Nhớ Miền Tây, đồng bằng sông Cửu Long quê mình có nhiều loại chuối như: chuối cau, chuối già, chuối hột, chuối sứ, chuối tiêu, chuối xiêm…
Nhưng chuối quê người không phải chuối quê ta. Ở đây, đi siêu thị với em yêu, tui chỉ thấy có duy nhứt một loại chuối già xanh chưa chín tới.
Có em xuất sắc trong vai tiểu thư đài các ở Melbourne bên Úc có tâm hồn ăn uống, em lên Facebook nói: “Em nhớ chuối chiên, chuối chưng, chuối nấu, chuối nướng, chuối xào dừa…
Em cũng nhớ chuối bà con quê mình muốn để lâu thì làm chuối ép, chuối khô, chuối sấy, kẹo chuối…
Em kể ra một lô một lốc chuối làm tui cũng nhểu nước miếng tới rún, vén lên không có kịp.
“Bây giờ không biết tại sao chuối bên nhà hiện giờ không ngon như chuối ngày xa xưa ấy?”
Rồi em than nghe thấy thương luôn: Bây giờ không biết tại sao chuối Úc cũng không ngon như chuối của ngày xa xưa ấy?
Tui có cái tật xấu là huỡn quá là tui nhào vô, giơ tay lên trả lời em đẹp: “Chuối bên nhà không ngon như ngày xa xưa ấy? Ðúng thế! Chuối màu đẹp ăn lạt nhách lại có mùi hoá chất. Chuối bị chơi bùa. Ăn hoài, ăn nhiều, ăn hoá chất tất bị ung thư, phải vô nhà thương rồi ra đất cúng.
Chuối như chế độ CS. Màu mè hình thức; chớ nội dung người dân ngán tới tận cái óc o. Tại sao chuối bên Úc không ngon như chuối quê nhà của ngày xa xưa ấy? Dạ theo tui chuối của cái ngày xa xưa ấy chuối chín ‘bói’. Chín còn trên buồng. Dơi, chim nó ăn trước thì buồng chuối đó ngon số dách! Còn nước Úc là một trong năm châu. Úc rộng minh mông. Phải vận chuyển đường xa; chuối Úc lúc mới già, chưa chín tới là đã bị đốn. Chuối bên Úc nầy chín háp không ngon bằng chuối quê nhà là vậy đó!
Rồi chuối già quê mình của ngày xa xưa ấy là chuối ‘organic’. Chuối không phân hóa học gì ráo trọi, thì nó ngon hơn chuối già trong siêu thị Coles của Úc là chuyện tất nhiên phải vậy. Chuối quê mình như con gái nhà quê, em yêu ngày cũ của tui. Em không cần xức nước hoa Chanel No. 5 hay bôi son, trét phấn dùng hoá chất Lancôme.Em ‘hương đồng gió nội’ lại đẹp một cách não nùng khiến lòng tui cũng bị ‘lùng bùng’!”.
Kết luận chuối bây giờ không phải là chuối của ngày xưa ấy. Em bây giờ cũng không phải em xưa ấy. Tình em giờ cũng không ngọt ngào như tình em xưa ấy. Nó lạt nhách như là chuối Úc!
Từ cuộc chiến Việt Nam, cuối cùng thì người lính cũng trở lại được quê nhà. Từ San Francisco, anh gọi điện về cho song thân mình. ‘Má ơi! Ba ơi! Con đã về tới rồi. Nhưng con xin Ba Má một điều: “Con có một người đồng đội; con muốn đưa nó về nhà mình!’. Ba má anh trả lời: ‘Ðược! Con à!’ Người con tiếp tục: ‘Nhưng con có cái này phải nói cho Ba Má biết trước. Nó bị thương rất nặng. Lúc hành quân, nó giẫm phải mìn. Mìn nổ cắt mất của nó một cái chân và một cánh tay!’ Quay về nước, nó không biết phải đi đâu mà ở. Con muốn nó về sống với gia đình mình!’ ‘Nè con! Ba Má rất đau buồn khi biết chuyện này! Nhưng chắc con không hiểu được là yêu cầu của con có quá đáng lắm không? Chúng ta có cuộc đời của chúng ta quen sống. Bây giờ con mang về một người bạn chiến đấu thương tật nặng nề như thế là vô tình con mang cả một gánh nặng đặt lên vai cả gia đình mình. Ðừng để gánh nặng quá sức đó chen vào làm u ám cuộc sống của chúng ta! Ba Má nghĩ con nên về nhà và hãy quên người bạn đó đi. Tự cậu ấy sẽ tìm được cách sống mà! Lo lắng mà chi?!’
Nghe tới đây, người lính cắt ngang cuộc gọi và gác máy. Gia đình không nghe được thêm tin tức gì của anh nữa. Vài ngày sau, Cảnh Sát thành phố San Francisco gọi cho Ba Má anh và báo rằng anh đã nhảy lầu tự sát!
Ba Má anh hết sức đau buồn, vội vã đáp chuyến bay lên San Fancisco và được Cảnh Sát đưa đến nhà xác bệnh viện thành phố để nhận xác con mình. Ba Má anh nhận ra anh ngay. Và trong nỗi ngạc nhiên đến kinh hoàng hiện lên ánh mắt: Người con yêu quý của họ chỉ còn lại mỗi một chân và mỗi một cánh tay!
Vâng! như người lính trẻ đó như lời thơ của Linh Phương. Là tử sĩ: “Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa, Anh trở về trên chiếc băng ca. Trên trực thăng sơn màu tang trắng.” Là thương binh, đã gởi một phần thân thể ở chiến trường. “Anh trở về anh trở về trên đôi nạng gỗ. Anh trở về, anh trở về bại tướng cụt chân”.
Chỉ có tình chiến hữu vào sanh ra tử với nhau là còn ở lại. Nên có chuyện rằng: “Vừa nhô đầu lên một chút khỏi giao thông hào, để quan sát địch quân thì anh binh nhì thấy tim mình như bị ai siết vào, đau nhói. Trước mắt mình, thằng bạn thân cùng chiến đấu lâu nay, vọt khỏi giao thông hào, thét xung phong chạy tới rồi trúng đạn, ngã vật xuống. Tiếng đạn của địch quân vẫn rít qua đầu.
Người lính xin với viên Trung úy, đại đội trưởng, cho anh bò lên kéo xác bạn mình. ‘Tùy mầy! Nhưng tao nghĩ không làm được gì đâu! Chắc nó chết rồi! Tụi nó bắn rát quá mà mày bò lên thì nguy hiểm lắm! Chết như chơi!’
Người lính không quan tâm đến lời khuyên của viên Trung úy. Anh bò lên khỏi giao thông hào và trườn lên về phía trước. Súng vẫn nổ liên hồi. Kỳ diệu thay, anh đến được xác bạn, vác vội lên vai, chạy thiệt nhanh trở lại. Cả hai thân người cùng ngã nhào xuống rãnh. Tiếng đạn vẫn réo trên đầu!
Viên Trung úy cúi nhìn, xem xét lại vết thương trí mạng. Máu loang cả màu áo trận của người lính vừa ngã xuống. Ông nói với anh binh nhì: ‘Thấy chưa! Tao đã nói rồi: Không đáng liều lĩnh như vậy. Nó chết rồi! Mà mầy cũng xém đi luôn!’ Người lính trả lời: ‘Ðáng liều lĩnh lắm chứ ông thầy!’ Viên Trung úy nói: ‘Ðáng cái gì? Bề nào thì nó cũng đã chết!’ ‘Không! Khi em bò lên, nó còn đang hấp hối!’ Nó nói với em rằng: ‘Tao biết mầy không bao giờ chịu bỏ tao đâu!’
Rồi tình chiến hữu đó bàng bạc suốt chiều dài cuộc chiến khốc liệt của Miền Nam chống lại Bắc quân. Ngày 12, tháng 4, mùa Hè 1972, tại cao điểm Charlie, Kontum, hầm chỉ huy Tiểu đoàn 11 Dù bị trúng đạn. Trung tá Nguyễn Ðình Bảo tử trận. Xế chiều ngày 13, giao tranh tiếp diễn suốt đêm. Thế cùng, lực kiệt, không lương thực thuốc men, không tiếp tế, không tản thương, tiểu đoàn 11 Dù buộc phải triệt thoái vào lúc xế chiều hôm sau.
Tướng Nguyễn Khoa Nam
Chiếc trực thăng võ trang cuối cùng lao vào lửa đạn của quân thù để bốc bộ chỉ huy. Thiếu tá John J. Duffy, cố vấn cho Tiểu đoàn 11 Dù nói: “Mấy chuyến trực thăng di tản vừa rồi, phi công Mỹ muốn tôi được bốc đầu tiên. Nhưng tôi không bỏ các anh, những chiến hữu đúng nghĩa nhất mà tôi chưa hề gặp trong cả đời chinh chiến. Tôi biết rõ, nếu tôi đi đợt đầu thì chắc khó hy vọng có máy bay trở lại bốc nốt các anh!”.
Mãi tới 50 năm sau, mùng 5, tháng Bảy, năm 2022, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden mới trao tặng Medal of Honor, Huân chương cao quý nhất cho Thiếu tá John J. Duffy.
Tình chiến hữu là lính không bỏ lính, quan không bỏ quan. Tướng không bỏ lính của mình. Theo Y sĩ Trung tá Hoàng Như Tùng, Chỉ huy trưởng Quân y viện Phan Thanh Giản Cần Thơ thuật lại: 5 giờ 30 phút, chiều 30 tháng Tư, năm 1975, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, quân phục tác chiến đến bảo: “Anh đưa tôi đi thăm anh em thương binh.” “Ông thăm không sót một ai”.
Khoảng 6 giờ sáng hôm sau, Tướng Nguyễn Khoa Nam đã tuẫn tiết bằng súng lục Browning. Xe hồng thập tự rước xác Thiếu tướng về khâm liệm. Di vật của người chỉ có: Một thẻ bài, một khẩu súng lục Browning 7.2 mm, một cuốn kinh Phật nhỏ đựng trong một túi nylon.
Năm 1867, Kinh lược sứ 3 tỉnh miền Tây Phan Thanh Giản đã tự vận vì không bảo vệ được thành. Năm 1975, chiều 30, tháng Tư, 1975, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam đi thăm thương binh tại Quân y viện Phan Thanh Giản. Sáng hôm sau, 1 tháng 5, ông đã là một tử sĩ. Anh linh của ông đi thăm các chiến hữu đã nằm xuống tại Nghĩa trang Quân đội Cần Thơ.
Thi hào Victor Hugo có viết “Les morts sont des invisibles mais non des absents.” “Người chết là vô hình nhưng không vắng mặt.” Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn IV kiêm vùng IV chiến thuật không bao giờ vắng mặt!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.