Nhẹ như lông

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 25 Apr 2022

Post by Sơn râu 11 Jan 2024

Quán “Lông Ngỗng” nằm cuối đường, thẳng góc với con sông đào. Tôi không ngờ là có khi vác mạng vào làm việc cho Lông Ngỗng, do sở thất nghiệp hối thúc, giới thiệu đến. Tôi chẳng lạ lùng gì quán này bởi tôi từng xô cửa vào gọi một cốc cà phê. Hôm ấy tôi tập đi trượt băng trên mặt sông và tháng Hai có những cơn gió cắt da dễ khiến mình mất hết nhuệ khí. Lạnh buốt, lóng cóng. Không có gì vui thú, ngỡ như mình đang bị trời hành. Tôi nghĩ vậy nên thay giày, cuốc bộ tìm một chỗ ngồi ấm cúng. Lông Ngỗng là một địa chỉ thuận tiện lúc ấy.

Sảng khoái vì uống được cốc cà phê ngon, cái radio dấu mặt đâu đó đang phát ra bản tin về thứ khi hậu khắc nghiệt chừng muốn bao phủ tỉnh bang. Chuyện thời tiết thì không có hấp lực khiến tôi phải để tâm, trong lúc này một người con gái luôn di động sau quầy là thứ đáng để chú ý hơn. Tóc vàng, chiếc áo ấm màu đỏ bó sít sao và tuồng như mọi ngọn đèn trong quán phải chịu lu mờ khi cô bước chân qua. Chẳng quá lời nếu ví von thêm, cô ấy là cái máy sưởi luôn tạo luồng nhiệt lượng, cô mãi xê dịch bởi muốn chia đều hơi ấm ra trong phạm vi chẳng mấy lớn.

Buổi nọ, hàng cây trồng dọc theo chiều dài con sông đang thay màu lá. Thu về làm khung cảnh thay đổi ít nhiều. Tôi cầm tờ giấy giới thiệu việc làm miễn cưỡng bỏ con sông sau lưng để tiến về “Lông Ngỗng”. Định cư ở đây hơn hai mươi năm tôi chưa từng thấy qua hình dáng thực thụ một con ngỗng nào cả. Lông của nó có thể trộn lẫn với các loài lông vũ chim chóc khác dùng độn vào trong áo ngự hàn. Trương phình, ngộ nghĩnh, nhưng chống được giá băng từ Bắc cực tràn về. Chọn thương hiệu lông ngỗng hẳn chủ nhân có mang ẩn ý. Ông Mark khoảng hơn năm chục tuổi chỉ han hỏi tôi đôi ba câu và chấm dứt buổi phỏng vấn bỏ túi bằng hai chữ ô-kê. Gầy, áo quần lấm lem bột mì, ưa chêm tiếng thô tục trong câu nói. Vừa chủ nhân vừa là người tự mình xắn tay làm tất cả các loại bánh, mặn cũng như ngọt. Ông nói, trước có con Julie phụ tao, nó mới sinh con, không biết ả có hứng thú đi làm trở lại hay không? Việc chẳng có gì khó khăn cả, rồi mày sẽ chóng thích nghi.

Mark rót cà phê mời tôi, gỡ từ cái khay lớn ra chiếc bánh paté chaud còn nóng. Cả hai ngồi ở cái bàn đặc biệt nằm sau quầy. Quán chưa có khách, tôi cố nhớ lại hình ảnh một người con gái tóc vàng mặc chiếc áo đỏ. Có thể nhân vật đó mang tên Julie, cô vừa đẻ con và tôi sẽ là đứa điền vào chỗ trống. Quán có chiều sâu được chia làm ba, đằng sau chỗ tôi ngồi là căn phòng có nhiều ngăn kệ đựng đủ thứ vật dụng liên qua tới việc sản xuất ra bánh, chiếc bàn mặt mi-ca trơn láng dùng để nặn kem, cái bồn to lớn có hai vòi nước nóng lạnh, kê sát thân là một tủ lạnh bằng i-nốc to khủng khiếp. Tường vôi tua tủa những cây đinh nhô ra và móc vào đó những thứ có thể treo mình lên phơi khô. Thấy tôi quan sát, Mark nói: Đó là gang sơn của mi, còn đất dụng võ của tao nằm ở phía sau. Không muốn tôi phải tưởng tượng, Mark biểu tôi đi theo để thăm thú. Hơi nóng ở đó ùa tới đón chào, có ba cái lò nướng cả thảy, đốt bằng gaz. Một cái bàn gỗ dài miên man, nơi cho Mark tập Judo bằng cách dùng đòn vai để vật từng tảng bột mì xuống, gần đó là cái máy khuấy bột, những cái xẻn, những cái bay, những con dao hình thù lạ mắt đứng nằm ngổn ngang ở những nơi Mark thuận tay với tới. Ông chỉ vào cái bàn, nói kèm với đôi ba từ thô tục, đó là nơi tao có quyền ngủ một giấc ngắn. Phải ngủ bù giấc trưa vì buổi tối tao luôn mất ngủ. Mark cho hay là bà vợ sẽ có mặt đôi ba ngày nữa, bả về thăm nhà, quê nằm ở miệt miền Nam nước Pháp. Mày biết đó, phải người xứ tao mới đủ uy tín để làm bánh ngon chứ bọn ở đây thì biết cái đếch gì. Tôi đã ăn hết cái bánh nướng nhân thịt băm và ngầm khẳng định lời Mark chẳng phải vô căn cớ.

Rồi vợ ông chủ quán thích chửi thề xuất hiện, chuyến thăm nhà hết hạn kỳ còn dây dưa ghi đậm dấu ấn lên màu da rám nắng biển. Bà bắt tay tôi, tự giới thiệu tên Marcell. Tao đã nghe Mark kể sơ qua, tao rất vui vì có mày vào làm, những đứa con gái thường dễ khiến tao nổi doá. Marcell đẫy đà, có da thịt hơn người chồng xương xẩu. Mỗi ngày bà ta chỉ có uống cà phê, chẳng chất lỏng gì khác và luôn uống nó với viên thuốc Aspirin. Tôi nghĩ đó là thứ dược liệu giúp bà bớt nói đi, bà uống nó để mong người chồng khỏi phải bị nhức đầu. Mark rất ngán vợ càm ràm, vẻ linh hoạt trước đây của ông đã biến mất. Vợ đi nghỉ hè về và bà đã đặt ông vào lại nề nếp cũ. Một sự lẫn trốn có lý do, bị đẩy lùi vào sau, loay hoay câm lặng trong vuông phòng luôn hực nóng bởi ba cái lò nướng. Nhưng tôi tin rằng những tiếng thô tục ông luôn sử dụng không hẳn do người vợ gián tiếp tác động nên.

Marcell mang tật nói nhiều, bà hỏi tôi đủ thứ chuyện để thỉnh thoảng chấm câu: Tò mò có phải là tính xấu không? Tôi thành thật: Bà là chủ, bà có quyền hỏi và tôi thấy điều đó chẳng mang tới sự lôi thôi. Phải tìm cách gây sinh khí cho cái quán luôn vắng tiếng động này. Như kiếm tìm đồng minh, bà muốn kéo tôi đứng về phía bà và càng ngày mũi tôi đã ngửi quen hương nước hoa bà xức ở má, ở cổ. Tôi chẳng phải hạng nhiều chuyện nhưng một đứa xa nhà, đứa ấy sẵn lòng tâm sự. Tôi kể cho Marcell nghe là trước đây tôi phụ nấu ăn trong một bệnh viện, đẩy xe chất đầy mâm có đậy kín nắp, vào thang máy đi trao phần ăn tới mỗi giường bệnh nhân. Một bữa, phòng 412 trên lầu 4 có người ốm o nằm trùm chăn, khuôn mặt xanh xao ló ra nhìn tôi: Anh người Việt phải không? Những thức này tôi nuốt không xuống, ngày nào cũng ngần ấy thứ nhạt nhẽo. Đậu hấp, khoai tây nghiền, trứng gà luộc… Tôi sẽ mất sức, tôi sẽ chết sớm. Tô bún bò, một bát phở luôn trốn trong những giấc mơ vụn nát của tôi… Hai hôm sau, vào một ngày chủ nhật, chẳng mấy khó tôi đã mang tới cho con bệnh đồng hương kia một bát phở nhỏ và tôi yêu cầu “xin bác hãy ăn trong chùng vụng, càng nhanh càng tốt”. Trôi được ba ngày, ngày thứ tư bệnh viện kêu đầu tôi lên mắng như tát nước, vi phạm điều lệ, buộc tội giết người không gươm đao. Tôi bị đuổi việc, tôi tới chiếc giường kia nói lời giã từ và nhìn ra những giọt nước mắt của ông ta chảy ướt mặt, sũng giọng nói: Cầu trời phù hộ anh. Tất cả thuốc thang ở cái nhà thương cà chớn này gom lại không cách gì đong đủ dung lượng thần dược bằng bát phở ân tình kia.

Quán Lông Ngỗng đóng cửa vào ngày thứ hai mỗi tuần. Một thứ hai nào đó Marcell gọi điện thoại biểu tôi dắt bà ta đi ăn Phở. Mark ngủ say, ổng là hạng người luôn chê bai thức ăn kẻ lạ. Marcell nói thế khi đi tới quán ăn. Húp hết bát phở, uống hết tách cà phê không đường kèm viên thuốc Aspirin, Marcell chùi miệng: Chồng tôi là một kẻ lạc hậu! Chừng muốn rõ nghĩa thêm, bà nói, thành kiến của Mark sẽ bị sụp đổ nếu lão ta ăn xong thứ gọi là Pho này. Tôi ngắm khuôn mặt giãn nở của Marcell, chưa bao giờ tôi có cớ được nhìn sâu bằng lúc này, những vết nhăn ở đó chỉ là một lưu dấu nhằm nhắc nhở về chân đi của hạng tuổi vượt qua và nó đang dẫm vào cột mốc của sự hồi xuân. Hương mùi phở dẫu có ngát thơm vẫn chẳng tài nào lấn át tinh dầu giọt Chanel mãi đọng ở cần cổ trắng muốt kia. Tôi hỏi về cớ sự cái tên quán. Marcell nói moa chẳng rõ, Mark tự định đoạt lấy, quê hương luỹ có món paté foie gras de canard nổi tiếng, không chừng có dính dáng tới loài ngỗng chăng? Tôi kể thời tiểu học, nhiều bữa đã bỏ học vì có đàn ngỗng đứng chận đường, chúng ưa rượt đuổi bọn con nít để thò cái cổ dài ngoằng ra trước mà dùng mỏ cắn vào đít. Dĩ nhiên đó là thứ chướng ngại đáng gờm nhất, một nỗi ám ảnh đồng thời cũng là sự căm hận. Marcell cười to tiếng, moa đâu lạ lùng gì hình ảnh đó và thú thật nó góp phần làm đẹp một bức tranh quê đầy sinh động, đầy an lành; sống trong thành phố lòng dạ con người dường như bị thu hẹp lại giữa bao điều luôn vây khốn, hiểu ý moa nói không? Tôi bắt đầu có cảm tình với Marcell, sự duyên dáng trong cách bày tỏ một câu chuyện và sau cùng, bà mãi ca ngợi những món ăn Việt, hợp khẩu tôi quá. Tôi nhìn chiếc nhẫn vàng có nơi bàn tay Marcell, không dưng nhớ mòn hao tới một cổ tích và tôi thuật lại, ở đất nước tôi có câu chuyện kể về một người con gái bị gả chồng phương xa, như muốn đánh dấu lộ trình băng qua cô ta đã thả rơi những chiếc lông ngỗng lui sau. Marcell ngó tôi bằng đôi mắt xanh chừng đã gạt hết bụi trần bên trong; Lãng mạn và quả có chút dại khờ. Lông rồi sẽ nhẹ dạt bay phiêu bồng mất dấu, tìm đâu ra đường về hư ảo, quá mênh mông.

Rồi tuyết đổ xuống thành phố, lặng lẽ, chuyên cần. Rồi con sông gần quán Lông Ngỗng đóng băng. Tôi mang patin ra sông làm con nít tập đi. Đừng gượng chống, đừng cố sức tìm kiếm sự quân bình, hãy buông thả, chớ ngại bị té. Người giỏi trượt băng đã dạy tôi những điều căn bản tựa thế. Sẽ vấp ngã rồi tự khắc sẽ có lúc thân bạn sẽ khinh khoái lướt trôi. Chưa đổ mồ hôi, chưa xong bài thể dục, chưa loạng quạng trên mặt đá trơn láng, tôi nhát thấy bóng một chiếc áo đỏ ngồi trên băng ghế sát bờ. Đỏ là thứ sắc màu sắp hàng theo cam về độ mạnh khi muốn truyền đi một tín hiệu. Tù nhân sở dĩ chịu mặc áo màu cam là bởi người cai quản dễ phát hiện khi anh ta lỡ dại khờ vượt xa cả ba bốn cây số. Chạy trời không khỏi nắng. Hôm ấy trời không nắng, xám xịt và cái đốm màu đỏ mọc cô quạnh bên tuyết băng trắng lạnh biến thành một ngọn lửa. Trên đôi chân của người say, sắc đỏ kia biết phát ra hấp lực kéo tôi về chập choạng. Những sợi tóc vàng rối rắm lòi ra dưới cái nón len cố chụp thật kín, một khuôn mặt từng thấy qua tới độ quen thuộc và tôi đã gọi đúng tên cô khi ngồi kề bên. Julie hơi ngỡ ngàng, hơi lúng túng, hoài nghi làm mắt cô đọng thành một dấu hỏi: Toa là ai, sao biết tên moa? Chúng ta đã từng gặp qua?

Tôi cố giữ sự điều hoà trong hơi thở. Trong tất cả mọi bộ môn liên quan tới thể thao, điều cần thiết nhất là làm chủ được nhịp thở, rối loạn khiến anh chóng thua. Cái bàn gỗ trải mi-ca trơn bóng, vách sơn màu cà phê sữa, một cái tủ nhỏ đựng những vật dụng dùng để nặn kem lên mặt bánh. Mặt sau cánh cửa có dán tấm ảnh một người nhìn xuống hàng chữ “mừng sinh nhật Julie” với những cây nến lung linh cháy. Tôi làm ở đó đã hơn một năm. Hơn 365 ngày đều thầm lén thấy ra một dung mạo. Julie không trở lại chỗ ấy sao?

Không đời nào. Vậy là họ đã kiếm ra người. Và lần này họ thôi tuyển đàn bà con gái. Bạn biết thêm điều gì về tôi? Họ, bà Marcell nói gì về tôi? Tôi ngó màu áo đỏ, những kẻ yêu chuộng màu đỏ thường mang sự quyết tâm, cứng rắn, hoặc chẳng mỏi mệt để đạt mục đích. Một chuyên viên về thời trang may mặc đã đưa ra nhận định: Tôi lấy làm lạ, cái thành phố quanh năm mùa đông như chốn này tại sao ra đường ít khi bắt gặp những sắc màu vui tươi. Julie có cứng rắn, có vui tươi? Tôi hoài nghi tất cả những lượng định. Cái đốm đỏ kề bên tôi đang giữ riêng cho nó sự ủ rủ, hết phô trương. Tôi nói chậm, nhỏ tiếng: Tôi chỉ biết có mỗi chuyện, ấy là bạn có thai, nghỉ làm để sinh con, chừng như họ e dè lãng tránh về cái tên Julie. Khi nói tôi nhìn ra bao quát, chẳng có người nào đẩy xe, chẳng có ai ôm con mọn giữa nơi lắm gió lạnh như chốn đây. Tuy không nhìn thấy nhưng tôi vẫn hỏi: Cháu được mấy tháng tuổi rồi? Trai hay gái? Julie moi trong túi áo ra bao thuốc lá, cô tháo găng và những ngón có tô sơn đen ở mỗi móng tay vừa kẹp lấy điếu thuốc. Hút không? Tôi cụng đầu vào để đón nhận ngọn lửa bé bỏng luôn chực tắt. Khói thuốc vẫn luôn kích hoạt, thay thế cho một sự thúc dục, sau khi ủ chín trong trí não. Một là trầm ngâm hai là nói ra với tính suy. Julie thở mù luồng khói: Moa đâu có sinh con, moa phá bỏ nó, moa chịu thêm một tổn thất khác là phải để vuột mất một cuộc tình. Moa ngồi đây vì có cái hẹn với Mark, lão đã vừa rời đi sau khi trao nốt những đền bù tổn hại mà moa phải trả. Giúp moa giữ kín chuyện này nhé và bạn làm ơn hãy xé bỏ tấm ảnh dán trong cái tủ ấy giùm.

Bạn hứa không? Bạn đang nghĩ gì? Tôi nghĩ tới những con cá đang bơi lội bình thản dưới mặt nước đóng băng kia. Dòng sông thực sự vẫn luân lưu, vẫn sống thở, vẫn dấu dưới lòng nó những nhịp đập ấm áp. Tôi từng nghĩ là mình có chịu được, có sống qua những mùa đông ở chốn này. Chúng ta hãy làm bạn với nhau, bạn nghĩ sao? Julie trao cho tôi số điện thoại: Ừ, chúng ta là những con cá. Moa thích ngồi ngoài trời, hoặc đi bộ loanh quanh trong khu phố cổ. Nó dễ chịu hơn là chúng ta dọ tìm ra địa chỉ của nhau để rồi gặp nhau giữa những vây hãm bức bối chật chội. Đồng ý không? Nam nữ thọ thọ bất tương thân? Có phải hàm ý ấy được Julie diễn dịch bằng cách khác? Tôi bắt tay người mặc áo đỏ, người chung nghề, người tiền nhiệm đã từ bỏ quán Lông Ngỗng. Rời đi mà chẳng biết có rụng
một sợi lông?

Là cựu nhân công, Julie biết rõ thời khoá biểu của chốn làm việc cũ. Điện thoại ré lên vào sáng thứ hai. A lô, có thích đi uống cà phê cùng tôi không? Nếu bận thì hôm khác. Tôi đang ngồi ngáp vặt. Tôi trả lời và nghe tiếng cười của Julie, gần như thể cô đang đứng ngoài cửa. Julie nói địa điểm, tôi nhìn đồng hồ. OK, khoảng nửa giờ thì tôi tới, vẫn mặc áo đỏ chứ? Vẫn, tại sao? Tại dễ nhìn nhận, lâu ngày quá khiến tôi bắt đầu quên dung mạo của Julie. Đùa đấy à? Ừ, chỉ giỡn chơi thôi, tôi không tài nào quên được, có khi trong giấc ngủ tôi vẫn nhìn thấy Julie. Lại nói đùa? Lát nữa gặp. Julie gát máy.

Tôi đi thay áo quần. Trong ngăn tủ, toàn bộ y phục tôi sắm thảy toàn màu xám và đen. Những bộ sậu như thế sẽ thuận tiện nếu bạn mặc đi dự đám cưới hoặc đám ma. Cười hay khóc cũng dễ hoà nhập vào mà không ai có thể bắt bẻ. Cái điện thoại thô kệch với dây nhợ lòng thòng kia cũng bóng màu nhựa đen, nhiệm vụ nó mang là truyền đi giọng thăm hỏi công ăn việc làm của sở thất nghiệp, của những kẻ lạc thần hồn gọi nhầm số và sau cùng là giọng của bà chủ Marcell đầm ấm, của Julie thanh cao. Người thích màu đen, xám hẳn nó cô đơn, thiếu vắng bạn bè? Tiếng chuông điện thoại chẳng mấy khi reo, thin thít.

Tôi trao cho Julie tấm ảnh tôi gỡ ra từ chỗ làm, tôi nói: Bạn biểu tôi thủ tiêu nó nhưng tôi chẳng đành lòng. Julie đón lấy, cô xé nhỏ, vụn vằn. Tôi không thích nhìn lại dấu vết những ngày cũ. Tôi sẽ đi xa, tôi đến một thành phố khác để tìm việc và bạn là người cuối cùng gặp mặt tôi. Giọng Julie chừng như bị hụt hơi. Gió lộng làm lá cờ xanh in bốn bông hoa huệ trắng treo trên toà nhà thị chính run phần phật.”Que né sous le lys. Je crois sous la rose”. Rồi Julie sẽ mang đoá hoa hồng chìm trôi. Tôi nói vậy là chìm dưới sâu con sông kia tôi làm con cá lẻ bạn. Julie vén những sợi tóc vàng mãi bị gió đùa: Tôi sẽ mời cà phê, uống để khuây đi. Tôi cũng cần tìm sự cứng rắn trước khi lên đường.

Chúng tôi vào ngồi trong quán cà phê thật nhỏ nhắn, thật vắng tẻ. Nhạc trôi rã rượi, blue chen cài cùng jazz khiến thời gian chừng như sững lại, thôi vận hành giữa bốn bức vách treo đầy ảnh đen trắng. Cà phê chẳng ngon có lẽ vị giác hôm nay trở chứng, y như thứ nước màu nâu đen này luôn có mặt ở những bến xe, bởi tiễn đưa ai rời đi ắt hẳn người ta nhấm phải vị đắng chát tồn đọng. Một sum vầy thì đã khác, hon hoan chẳng còn lòng dạ để thưởng thức.

Trước khi rời ra, Julie trao tay một cái phong bì nhỏ, dán kín. Cô nói, có thể xem là một món quà, tuỳ ở bạn. Chưa mang găng tay, xúc giác tôi nhận biết sau mặt giấy là cộm nổi bốn năm viên thuốc, hoặc là thứ hạt giống gì đó sẽ gieo xuống đất khi xuân về, tuyết tan. Bà Marcell vẫn còn uống Aspirin chứ? Ừ, vẫn còn. Bạn có muốn thử cho bà ấy uống loại này không?

Đây là thứ thuốc mà lão Mark đã lén cho tôi uống. Và lão đã vật tôi xuống cái bàn dài nằm gần lò nướng. Lão chở tôi về ga tàu điện ngầm, tôi đi xuống đường hầm tựa một đứa mộng du không hay biết điều gì vừa xẩy ra. Chỉ choáng váng, chỉ say một giấc tủi nhục và biết rõ mình đang nhơ nhuốc. Marcell chỉ mới bốn mươi, Marcell vẫn còn gợi cảm, sức quyến rũ ấy có thể khiến bạn dễ tìm ra sự can đảm và những viên thuốc này, biết đâu làm bà quyến luyến bạn, mang ơn bạn…

Tôi làm ở Lông Ngỗng gần hai năm. Lương có tăng chút đỉnh, vẫn thường khi nghe Marcell cằn nhằn Mark về một khoản tiền hao hụt vô cớ, vẫn đòi rũ tôi đi ăn phở và tôi vẫn đón nhận một hương mùi quen thuộc, không đổi. Tới một khoảng thời gian nào đó, tác động bởi một nguyên cớ nào đó, Mark nói cùng tôi, không quên đệm tiếng chửi thề: Mày có từng thắc mắc tại sao bọn tao chẳng có con? Lỗi hoàn toàn ở phía Marcell, bả bị mắc chứng gì đó buộc phải cắt bỏ buồng trứng. Bả luôn xốn đau và dần dà đâm lãnh cảm chuyện vợ chồng. Trước, bả đáng yêu; sau này đâm gắt gỏng. Mỗi năm phải để bả đi về xứ thay đổi không khí mà khi trở lại vẫn chứng nào tật đó, chẳng nguôi ngoai.

Marcell vẫn uống Aspirin, hoặc cái lọ kia dùng nguỵ trang để đựng loại dược liệu khác. Tôi vẫn còn giữ phong thư dán kín của Julie, có khi buồn tay tôi ưa khui mở để ngó qua mặt ngang mặt dọc những viên thuốc “thần tiên” kia. Tôi đã dằn lòng, tôi thử mường tượng ra phản ứng của Marcell, cách bà biểu tỏ khi ngấm thuốc, dật dờ như con cá nằm trên thớt…

Lợi dụng một bữa hai vợ chồng chủ quán cãi vã lớn tiếng, tôi đi rửa tay rửa mặt và tôi sửa giọng tuyên bố: Quá mỏi mệt, nghỉ việc. Cơn giận ngút ngàn chưa nguôi khiến họ chẳng thèm quan hoài tới cái quay lưng của đứa đệ tử trung thành. Tôi ra đứng ngoài đường, vác mặt trông lên cái bảng hiệu “Lông Ngỗng”. Những bông tuyết nhẹ bay, hờ hững rồi tan đi, mất dấu. Cả đoạn phố đen đủi những bóng bộ hành câm lặng sải bước. Tuyệt không có lấy một màu áo đỏ làm ấm lòng. Đơn côi.

Hồ Đình Nghiêm

Nhang tàn thắp khuya

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 11 Jan 2024

“em buồn còn chỗ thở than
anh buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya”.
(Ca dao)

Gia đình thằng Thà ngụ sát bên nhà ga, thành ra quen chân đến chơi với nó thường hằng mà chẳng cần vin vô lý do vu vơ như nhà thơ Tế Hanh: “Những ngày nghỉ học tôi hay tới, đón chuyến tàu đi đến những ga…”

Bà già thằng Thà lưng ong mông nở nên mắn đẻ, có lắm con. Bỏ đi mưu sinh phương xa tới ba bốn mạng, còn lại sáu mống chưa đủ điều kiện đành sớm tối vui vầy cùng song thân. Thà là tên cha sinh mạ đặt trên giấy tờ, ở nhà thì tất thảy đều gọi: Cu Hú. Ba phần âu yếm ba phần nựng nịu và bốn phần có hơi khó hiểu. Hỏi Thà tại răng? Có điển tích chi không? Chim cu chẳng hót thì gáy, sức mấy mà biết hú. Hắn nói: Sao hiểu được thâm ý của ba mạ, có thể lúc nhỏ tao khóc thét to tiếng hoặc khi sinh ra kịp có chiếc tàu vào sân ga cất lên hồi còi mê sảng hú gọi.

Câu trả lời của Thà vô tình làm lực đẩy cho lời bình loạn của thằng bạn rắn mắt. Tại sao đương sự đông anh chị em? Tại vì tàu hoả thường rậm rật chui đầu vào sân ga lúc nửa đêm, dựng đầu hai vị phụ huynh thoát khỏi cảnh ma đè và để tìm lại giấc mộng vàng họ phải trăn trở bày trò ra chơi, Hú nhà mình chào đời là do cái lao động toé khói vào canh khuya nọ. Thà chửi: Tổ cha mi.

Thằng ăn nói hồ đồ kia tên Hiên, mặt mày xem ra bặm trợn nhất bọn, dĩ nhiên sẽ muôn đời không lọt vào được mắt xanh của mấy chị em gái thoạt biến thoạt hiện nọ. Thường Đoan là em kế Thà, nghĩa là Đoan nhỏ thua tôi một tuổi. Diện mạo tôi không bặm trợn thêm thay lại ít ăn ít nói nên những ngày nghỉ học tôi hay tới nhà Thà luôn đón nhận ánh mắt đong nhiều thiện cảm của Đoan. Thằng hồ đồ kia lại dở thói bán trời không văn tự: Đồ cù lần, mi nghĩ mi cua được con Đoan sao? Đoan nghe, em nói nhỏ cho riêng tôi: Thiệt là Hiên đơi. Cấm anh nói lái. Cấm anh bầu ruồn.

Tôi không cua Đoan, tôi chưa thấy qua con cù lần nhưng rõ là thường trực vu vơ khi đạp xe qua những con đường, tự dưng do một lực đẩy nào chẳng rõ, nó xúi tôi chạy thẳng tới nhà Thà. Còi tàu hú và hoạt cảnh trước sân ga bao giờ cũng diễn y một cảnh sắc: Chộn rộn. Dạo đó đoàn tàu luôn quá tải, “ngàn đời không đủ sức đi mau”, người ngợm đa phần là con buôn với quang gánh đồ đoàn cồng kềnh nặng nhọc, nó xoá nhoà hình ảnh đưa tiễn buồn lòng kẻ ở người đi. Cái đớn đau của biệt ly lẻ tẻ phải chịu lép vế so với trăm phương nghìn kế mưu sinh đổ mồ hôi sôi nước mắt. Từ những người thiệt thà lui cui với nghề “nội trợ” ghi trong sổ gia đình thoắt cái họ lầm lì rời khỏi nhà để phóng đu lên tàu với danh xưng rất giang hồ rất gió bụi: Con buôn.

Nhà nghèo, đông con, Đoan lanh lợi nhất đám nên được chỉ định làm kẻ đi buôn nhằm cải thiện cuộc sống toàn gia. Thằng cu Hú làm ra vẻ quyền huynh thế phụ: Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với mạ biết ngày mô khun. Khun đồng nghĩa với khôn, giống như hun cũng một duột với hôn. Thương ai đó thì kiếm cách đè ra hun một miếng. Rồi đây Đoan sẽ sớm tối dãi dầu trên con tàu xuôi nam đưa đầu trần dong duỗi tấm thân lấm bụi, chẳng biết Đoan có hun ai hoặc ai sẽ hôn Đoan. Những nụ hôn chùng vụng giữa bóng tối vây bít toa tàu sẽ giúp Đoan sớm khôn lanh, sớm trưởng thành. Có mạ kiểm soát bên lưng thiệt là biết ngày nào khôn!

Tôi nói: Trước khi Đoan chính thức leo lên tàu lửa đi buôn e Đoan phải nên thử làm nháp một phen. Là răng? Em không hiểu. Anh nhờ Đoan đi bán giúp anh cái đồng hồ coi thử Đoan có mát tay không. Để khỏi lôi thôi tôi ra dắt xe rồi ngồi sẵn trên yên tỏ vẻ đợi chờ. Ngày mai tôi theo lớp học đi thực tế cả tháng để làm bài thi cuối năm. Đi khỏi thành phố để đến sinh hoạt ở vùng kinh tế mới mà địa danh nghe lạ như chốn sơn cùng thuỷ tận. Xa lắc xa lơ, xa ánh điện vàng vọt đọng vũng ở sân ga, tô lem luốc chút màu bẩn nơi vách nhà Đoan rường cột xiêu vẹo. Tôi đang cần tiền để mua nhu yếu phẩm mang theo trong cuộc hành hương. Và tôi cần một vuông bàn nơi quán vắng để thở chung cùng Đoan bầu dưỡng khí nhỏ hẹp. Tôi mời Đoan ăn một bữa thịnh soạn trước phút rời xa. So đũa trong khi chờ đợi và nhìn ngắm khuôn mặt em trước khi “ăn chay trường” nguyên tháng với nỗi nhớ khó tiêu hoá.

Tôi sẽ làm cán bộ thông tin văn hoá sau khi tốt nghiệp, tôi sẽ vẽ những tấm tranh cổ động với kích cỡ thật lớn và tất thảy những thứ nghệ thuật tạo hình đó so ra không mấy sướng nếu hoán đổi làm một thằng người chạy xe ôm. Tôi chở em đi, thong thả. Thường Đoan mình hạc xương mai xem chừng không hạp bột mì nên tôi chẳng nhọc khi đèo em trên chiếc xe cà tàng ưa kiếm cớ trật cóc. Khi đạp xe qua cầu em rụt rè vòng tay quàng trước bụng tôi. Tôi ngó xuống những ngón tay thon, vì có một thứ gì bất khả hiện hữu đã khiến bàn tay ấy buông bỏ giấy bút xuống. Em đã khóc cho lần vĩnh biệt trường lớp và tuồng như hoa phượng ven sông đã rơi rụng ít nhiều. Bầu ruồn, chữ của em. Buồn mà vô phương tìm ra điều để nguôi ngoai. Em đang ôm tôi và tôi cám ơn thầm thứ dây mơ rễ má nọ. Được làm một cái phao, chuyện ấy nào dễ dàng. Vấn đề là mất bao lâu người ta tự mình bơi được qua con nước hung hiểm. Tôi đang trộm yêu Đoan, em là hình ảnh thơ mộng dành cho tôi bám víu.

Tôi chở em vào chợ trời. Lựa nơi vắng người tôi dừng xe rồi cởi cái đồng hồ đeo tay ra. Seiko 5, ô tô ma lắc, không người lái, hai cửa sổ và mười hai trụ đèn. Tôi ngó nó lần sau cùng, kim giây chuyển động nhưng với tôi, nó đang chết ở thời khắc 11 giờ 45 phút. Đoan đeo nó vào cổ tay: Chờ em một tháng có được không? Em đi buôn, đợi có tiền em sẽ mua nó. Một kỷ niệm có với anh. Bán nó vào tay người khác sao em thấy tiếc quá. Tôi rất muốn hun Đoan, ở bên má cũng được, nhưng thấy khó khăn. Cũng như tôi đang nghèo túng, làm sao giữ những đồ vật có giá trị khỏi thất thoát, đừng để chúng phải đội nón ra đi? Đoan à, một tháng thì quá lâu trong khi chúng ta đang cầm cự từng ngày. Kệ nó đi mà, kỷ niệm đâu có giúp ai thôi đói. Và bán tống bán tháo một vật thể, biết đâu 11 giờ 45 phút sáng hôm nay rồi sẽ đi vào kỷ niệm giữa hai đứa. Anh sẽ cất giữ nó mỗi khi hồi ức về tháng ngày gần Đoan. Nghe anh nói em cũng muốn thanh ương. Đoan chấm câu.

Có rất nhiều tiền dằn trong túi, bây giờ gió sẽ không tài nào thổi tôi bay được, tôi đâm ra quan trọng hẳn: Đoan có toàn quyền định đoạt một quán ăn, nói lên địa chỉ anh sẽ thồ Đoan tới kéo ghế. Chúng tôi lấm lét đi lòn lách sâu trong chợ. Trai khôn tìm vợ chợ đông. Ai đó từng nói thế. Họ cũng ngôn rằng: Gái hơn hai trai hơn một. Vào chợ, người con gái thua tôi một tuổi chỉ ưa lạm dụng cái xô bồ kia đễ dễ bề trộn lẫn vào, khó có ai phát hiện. Chỉ đơn giản thế. Hơn bao giờ hết Đoan hoàn toàn chẳng muốn gieo cho ai kia một lượng định: Chúng là bồ bịch của nhau, tình tứ ra phết! Hai cái ghế nhựa nhỏ nhắn dành cho chúng tôi, ngồi kề bên nhau trước một gánh bún và hương hoa từ cơ thể Đoan đã giết đi mùi thơm từ nồi nước nhiều gạch cua mãi toả lan trước đó. Đoan trao cho tôi một tấm ảnh đen trắng, nhỏ nhít, vuông vắn như thể bóc ra từ cuốn hồ sơ học bạ. Em nói: Một tháng đi thực tế đầy thiếu thốn, liệu nó giúp anh được chút chi không. Cũng biết đâu chừng khi trở về em được quà là tấm chân dung anh vẽ tặng. Và rồi chúng tôi chia tay, đầy ắp những viễn ảnh êm đẹp.

Con buôn, đó là tầng lớp mà mọi sinh hoạt của họ tuyệt đối không lệ thuộc vào một thời khoá biểu nhất định nào cả. Chính điều này vô tình đã kéo Đoan rời xa tôi. Thưa vắng những hạnh ngộ cho tới lúc tôi ra trường, cầm tờ giấy quyết định bổ nhiệm đi làm cán bộ thông tin văn hoá ở vùng xa chó ăn đá gà ăn muối. Tôi bán chiếc xe đạp, tài sản cuối cùng để đánh dấu thời khắc đoạn tuyệt kiếp sinh viên, để chia tay phố phường. Xe đạp hầu như chỉ dùng để chở người tình đi hóng gió vớ vẩn, muốn làm gã hành nghề chạy xe ôm ít ra anh phải sắm nổi một chiếc xe gắn máy.

Tôi lên sân ga sắp hàng mua chiếc vé lẻ đi nhậm chức ở nhiệm sở mới lạ. Lại nhớ nhà thơ Tế Hanh: “Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt, lòng buồn đau xót nỗi chia xa”. Còi tàu không cất tiếng, giữa cả ngàn âm thanh manh động vây bọc trước nhà ga lắm kẻ chen lấn tôi nghe mơ hồ có tiếng ai réo gọi tên tôi. Quay đầu láo liên một hồi tôi mới ngó ra một bàn tay dong cao vung vẫy sau chiếc xe bán bánh mì đặt ở góc khuất. Không còn nhận ra em hả. Út Hương đây. Đứa con gái ốm nhom tự giới thiệu. Chiếc nón bài thơ bạc màu được tháo gỡ, một khuôn mặt rám nắng và sự cực nhọc đã hà hiếp tới tuổi tác một cách lộ liễu. Sớm già như một thân cây mọn cắm trong ly khô cạn nước. Anh có ghé nhà nhưng không một ai có mặt. Nhà đó họ sắp lấy rồi, giải toả để nâng cấp nhà ga. Anh Thà bây chừ ra răng? Nghe nói anh làm công nhân đường sắt ở Đà Nẵng, em chỉ biết chừng nớ thôi. Chị Đoan thì theo chồng sống ngoài Vinh, anh nhớ anh Hiên không? Hiên đơi, là chồng chị đó.

Tôi moi bao thuốc nhăn nhàu, rút một điếu, hút cho đỡ lạt miệng. Ai cấm một con cù lần đứng phì phà ra đám mây mỏng trôi vào hư không. Thường Đoan Thường Đoan, cù lần biết tụng chú tiếng được tiếng mất. Rứa còn em, em làm chi ở đây? Em mưu sinh, ba em làm thợ mộc chế biến cho em xe bán bánh mì. Em trụ ở chỗ ni để trông chừng tới hồi mô thì họ phá tan căn nhà cũ. Anh mua giúp em ổ mì thịt. Ừ, anh đi mần ăn xa, có ổ bánh mì em làm quà đưa tiễn cũng đỡ tủi thân. Tôi ngó cái tô nước đen lỏng bỏng trôi lững lờ đôi ba hòn thịt dính mỡ, rồi xì dầu, rồi tương ớt, rồi chan rồi dộng vào đường xẻ dọc gần rách toạc ổ bánh cứng. Chỗ quen biết với nhau, em làm cho anh ổ đặc biệt hí? Răng là đặc biệt? Thì bỏ thêm cho anh lát dưa leo với một trái ớt hiểm.

Tôi trả tiền cho Hương, em út của Thà của Đoan. Thôi, anh đi hí, nghe chi không, còi tàu như xé nát tim anh. Cái anh ni, sến vừa vừa a. Em có người yêu chưa Hương? Cái anh ni, cứ nói tầm bậy tầm bạ chi mô. Tôi đi về cánh cổng soát vé, cắn nhai khúc bánh mì mặn hơn cả một đại dương thu bé lẫn trốn bên trong. Trái ớt hiểm cay tới độ phải chảy nước mắt. Tôi thấy thương thân, ngàn đời tôi không đủ sức đi mau, đã lỡ hụt những chuyến tàu mãi lạnh lùng trôi. Thường Đoan, em thiệt là không biết thanh ương.

Hồ Đình Nghiêm

Nhân thân

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 30 Apr 2022

Post by Sơn râu 11 Jan 2024

Chính quyền cắm cọc sở hữu một khu đất rộng, tương lai sẽ hiện diện ra ở đó nhà máy thu hoạch sàng lọc cát dưới sông. Vì thế họ xua đuổi bến đò đi chỗ khác. Có tấm bìa máng ngoài hàng rào lưới chắn viết chữ cẩu thả: Địa điểm tập trung ở cây đa già tuổi. Người ta cho hay, chỉ ngần ấy. Không một tên gọi nào khác. Sẽ thừa thải bởi suốt bờ sông này hiện hữu duy chỉ mình cây đa, lẻ bóng đổ thân để thu cất dưới lòng nó bao thâm u bóng tối. Có cái miếu nhỏ hoang phế tàn lạnh trú ẩn khiêm nhượng và sóng mãi vỗ về vào làm dung mạo nó thêm tồi tàn. Không cọng khói nhang, cô tịch ba chiếc lá khô bầu bạn cùng gió lùa lao xao trên mái sồi sụt gạch ngói. Cây đa và am miếu dường như luôn là đôi bạn hài hoà. Đa mọc trước miếu hay miếu già đầu hơn đa, có thể bộ sậu kia sẽ đòi một song hành cùng thời điểm. Phong ba, chiến tranh, bão tố, lụt lội vẫn không thể cướp đi mối tình son sắc kia. Muôn đời nó chẳng lẻ bóng. Chúng an phận đứng đó, nhằm đánh đổ một hoài nghi: Cuộc đời này luôn hữu hạn?

Năm giờ sáng, khói sông vẫn thân vô trú trên con nước còn đắm đuối mộng. Sông đoạn này an nhiên, ít khi nhìn ra vẻ cau có. Nước ấm khi đông về và ngọt mát khi hè tới. Những kẻ đi câu cá trầm mặc bên triền cỏ bày vẽ một kinh nghiệm: Cá bên dưới nhác ăn, ngồi cả ngày chỉ được một đôi con, nhưng bạn chớ tiếc công, bởi thịt nó rất ngon, không tanh dù bạn gia công thay đổi chiên hấp rán canh chua ngọt các thứ. Nôm na, thịt cá rất lành, đặc biệt nó trị được chứng mất ngủ. Khi nói, kẻ ấy ngước nhìn tới cái miếu hoang và đáng trách cho kẻ ấy, sao lòng không rung động để thắp vào chốn kia ba cây nhang cho ấm áp một tri ân. Rồi mai hậu, khi nhà máy hoạt động, cá hẳn hoảng loạn bỏ thượng nguồn phiêu dạt tìm chốn lành náu thân.

Năm giờ sáng có người con gái vào miếu đốt đỏ cả bó nhang. Cô hơi ái ngại trước đó nhưng gã đàn ông như đọc được ý nghĩ cô, đã hỗ trợ bằng cách luôn đứng kề cận. Tôi cũng cần đốt cháy một điếu thuốc cho ấm râu. Gã ấy nói. Bình minh ở đây sao gai lạnh. Những cây diêm quẹt ra lửa, vách vôi tróc vỡ thu nhận bóng đen họ ám lên dị dạng hình thể. Mùi hương khói, mùi nhang đèn và một thứ gì đối chọi với tàn lạnh bùng lên. Cô gái lầm bầm trong miệng điều phân bày chỉ cốt cho người khuất mặt nghe. Cô còn trẻ nhưng hiện thân y như một người đàn bà quen việc trò chuyện cùng thần linh. Tin vào đã có một đời sống khác bên ngoài cảnh giới này, điều ấy sẽ làm người ta ưa thân thiện với cô. Đợi cô cắm nhang xong, gã đàn ông hỏi: Cô cũng qua bên kia sông? Cô gái thôi chắp tay, sửa lại cái túi vải đeo một bên vai: Dạ, cũng sang sông.

Họ cùng bước ra. Có con đò vừa ủi cái mũi dài qua sạn sỏi rồi đâm vào bờ cỏ, tiếng kêu khó chịu nghe như dao xẻ thịt, như làm rách toạt vẻ trầm tịch một sáng nhọ mặt người. Đò sẽ xuôi chèo mát mái nếu chở được tối thiểu năm nhân mạng quá giang. Ông chủ đò nói. Quen trôi nổi trên sông, cả con đò và chủ nhân ông đều phát mùi tanh như rong rêu. Mặt trời chưa ló đầu nên hương vị phồn thực của đêm chưa bị xua đuổi, chưa bị tước đoạt. Mọi vật sẽ bị lột truồng dưới ánh dương quang, vì thế nên con sông vẫn còn đắp mặt nét diễm ảo đầy hư thực. Trưa đứng bóng, lửa đổ xuống sẽ gột rửa thứ phấn son kia khiến chúng bày ra những nông sâu đậm nhạt từng phân thuỷ. Một yết thị ngầm có thể tắm gội ở đoạn này nhưng chớ bơi quờ quạng ra phía kia. Miếu nọ không khéo lập nên để hoàn tất lời chứng giám, rằng con cháu của thuỷ thần tâm tính cũng buồn vui bất thường. Rong níu cẳng, chân vọp bẻ chuyện ấy nào lạ gì cho đứa thích trửng giỡn cùng nước nôi sông hồ.

Mọi người thôi đứng trên bờ, lục tục trước sau nối gót nhau lên đò. Anh Nhân. Một tiếng gọi giật giọng, vút cao, có thể làm gợn sóng xao động. Gà gáy sáng chưa hẳn đủ nội lực để lay người thoát khỏi triền mộng tật ngủ nướng, nhưng giọng người thiếu nữ kia đường đột vất ra giữa bờ bãi này khiến tất cả những cái đầu đều không hẹn mà cùng nhìn về hướng xuất phát. Sao chưa bảnh mắt anh đã bỏ đi? Sao anh đi thầm lặng chẳng để lại một lời chào? Gã đàn ông tên Nhân đứng yên đón nhận lời trách cứ. Gã chẳng phân bua như thể hồng tâm vừa bị cắm lút hai mũi tên. Khoảng cách thu hẹp dần, Nhân gắng nở nụ cười tựa một hối muộn. Tóc người thiếu nữ rối, dung mạo còn đọng vũng nét ngái ngủ. Cô ra được tới bờ sông này mà tuyệt chẳng dư phút giây để kịp sửa soạn trang điểm. Người chạy xe ôm vẫn còn phía sau, tiếng động cơ chiếc xe thồ cứ râm ran thứ nhạc nền đầy hối thúc. Em biết là anh sẽ ra đi, nhưng ít ra chúng ta nên ngồi ở một quán cà phê nào đó để chuyện trò lần cuối. Anh không thích tiễn đưa nhưng em thích chính mắt nhìn ngó cảnh anh rời xa. Em có mua sẵn một tặng vật cho chị ấy, anh mang tiếng sang sông mà khi trở lại không sắm cho chị ấy chút quà thì có kỳ không? Em mong có ngày sẽ được gặp gỡ hàn huyên cùng chị và khi đó, kẻ sang sông là em chứ không là ai khác. Bao giờ hai người làm đám cưới thì nên nhắn với em một tiếng. Chỉ chừng đó thôi.

Gã đàn ông nhận quà. Nụ cười không còn đậu trên môi, quanh gã chờn vờn vây bọc sự lúng túng vụng về gần như khờ dại. Thuỷ chung gã chẳng thốt được lời nói nào hết. Sông luôn ngăn chia đôi bờ, lòng người đôi khi cũng úng thuỷ một con nước trào dâng. Bằng vào con mắt thôi còn tinh anh, gã cũng nhìn ra cái quây lưng đầy rung động của người thiếu nữ. Chiếc xe thồ cô đi, chìm vào khoảng cách nhợt nhạt của bình minh chưa giỏi chân về. Và Nhân, gã đàn ông là người lên đò sau rốt. Gã đi như mặt đất thôi còn sức hút. Đò chòng chành, trên băng ghế gỗ bắt giữa lòng đò còn một chỗ trống, cô gái đốt nhang trong miếu nhích mông sang thế cho sự đồng tình, hãy ngồi xuống đây. Dầu gì thì ban nãy họ đã có lời qua tiếng lại với nhau, đi đường xa dễ nhạt mồm nếu thiếu bạn đồng hành. Lại nữa khuôn mặt gã tên Nhân tiềm ẩn thứ nỗi niềm dễ xúi người nhìn ngắm khó dằn lòng một gạn hỏi. Anh qua huyện Đồng Tử? Đúng thế, đồng tử. Chúng ta cùng chết một lần, bà con trong huyện làm đơn xin lãnh đạo thay tên nhưng họ gạt phắt: Rườm lời, sao láo lếu dị đoan tới mức ấy. Đổi thành đồng khởi chưa chắc đã cải thiện được vấn đề.

Mặt trời nhú lên, và Nhân, gã đàn ông thấy rõ gương mặt xanh xao của người thiếu nữ. Màu nắng mới còn làm cho tóc cô mướt đen. Gã đàn ông đặt câu hỏi, cô hẳn không phải người địa phương? Người thiếu nữ nhìn con nước trôi: Tôi tới Đồng Tử để chu toàn một lời uỷ thác. Ba tôi mất, ông muốn tro cốt rãi trên núi Đồng Vọng. Gã đàn ông nhìn vào lòng cô, hai tay đang vòng lấy, ôm giữ gói hành trang nhỏ nhắn. Chung cuộc một kiếp người, mừng thay khi cảnh giới này còn sót đứa con hiếu thảo thuận nghe theo di chúc. Cô biết đường lên núi không? Hơi nhiêu khê. Nếu cô chẳng ngại tôi có thể làm hướng đạo. Người con gái nghiêng thân để ngó sâu vào mặt Nhân. Tôi hiểu, gã đàn ông nói, tôi trốn chạy cô gái hồi nãy và đã nguỵ tạo, vụng về dối gạt rằng mình đã có vợ cho yên thân.

Gã bắt đầu mở gói quà cô gái trao: Một xấp vải lụa, một đôi dép nhựa. Nếu chẳng phiền hà, xin cô thu giữ giùm tôi, có được không? Sao lại là tôi? Vì những thứ này đều dành cho đàn bà con gái. Nếu nói rằng tôi đã có chồng, anh tin không? Tin, và như thế có nghĩa là tôi sẽ quẳng cái gói này xuống sông? Tuỳ anh. Hay là thay vì ném đi tôi sẽ trao nó cho ông lái đò khi tới bến? Tuỳ anh. Nói chung là tôi không có lý do gì để nhận lấy nó.

Họ thôi đối đáp cho tới hồi đò hết dật dờ trên mặt sông. Đò cập bến. Trên bờ nhộn nhạo đám người đứng chờ quá giang. Trong đám đông có bốn thanh niên mặc thường phục hăm hở nhảy lên đò, chúng vây lấy gã đàn ông tên Nhân. Đứng yên, dong hai tay lên trời. Một đứa la lớn, trong khi ba đứa còn lại quật ngã Nhân xuống. Thủ pháp nhanh nhẹn thượng thừa. Người trong nghề gọi là nghiệp vụ cao. Nghề gì? Nghề an ninh, nghề công an nghề cảnh sát. Mẹ mày, chúng ông theo dõi đường đi nước bước của mày đã sáu tháng nay. Đối tượng bị bẻ quặt tay lui sau, còng số tám bằng kim loại khoá cứng hai cổ tay lại. Người quyền hành đưa mười ngón ra lùng sục sờ nắn tất cả những túi quần, rà soát ở thắt lưng, xong mới để mắt tới bao ny-lông. Đại ca, nó dấu cả nạm thuốc trong xấp vải lụa. Cái này có phải là ma tuý tổng hợp không? Hả, mày còn gì để nói? Tang chứng vật chứng lồ lộ thế kia.

Nó đi mình ên hay sao? Không, ông lái đò trình báo nó cứ nhỏ to với cô gái này suốt, tuồng là đồng bọn. Những con mắt đồng loạt đổi hướng, tập trung săm soi lên nhân dạng người con gái. Mặt cô thoáng tái tựa hồ suốt đời chưa quen ngồi đò, dật dờ say sóng. Cô co rúm thân thể khi có năm ngón tay bấu chặt vào vai. Túi vải cô mãi ôm khư khư bị cướp đoạt, giật thót như thể ai vừa bức rời ruột gan. Cái gì đây? Dạ, tro cốt của ba tôi. Tro cốt hay bạch phiến? Tôi lên núi Đồng Vọng… Chốn ấy khá xa, tạm thời đi theo chúng tôi về trụ sở trước rồi hẳn tính.

Uỷ ban nhân dân huyện Đồng Tử. Ba ơi ba, điệu này không khéo mà con chết chung cùng ba. Gông giữa đàng sao có khi biết tròng vào cổ. Oan cho tôi quá. Người con gái thút thít. Trưa đứng gió, lá cờ treo trên cột tuy không bay nhưng đủ sức để dội xuống sân đất một vạt đỏ nực nội. Trụ sở huyện đường phô trương vẻ bề thế của nó khiến cô gái chùn chân. Ba ơi ba, con sẽ quyết làm tròn lời nhắn nhủ của ba. Nhưng khi bọn họ đổ ra xét nghiệm phân chất thì coi như ba phải chịu sức mẻ ít nhiều. Như đang lành lặn không dưng bị tàn phế, như đủ tay đủ chân khi không bị tật nguyền.

***

Rất khó nhọc, sau cùng tôi cũng cắm được chân vào trụ sở công an. Tôi đã lê thân đi dọ hỏi và một đôi người thương hại đã chỉ đường bày lối. Trước tiên là màn vấn đáp: Quan hệ với cô Nguyễn Thị Ẩn Nguyệt? Thưa, đó là vợ tôi. Người đầy tớ của nhân dân nhìn vào một ống quần nhất phơ: Thương phế binh à? Bộ đội giải ngũ à? Không, tôi chạy xe ôm, vô phúc bị xe điên cán qua người. Thế cơ à? Được bồi thường tiền viện phí chứ? Không, hoàn cảnh tay lái xe rất khốn khó. Chẳng có tiền, ông ta hứa sẽ mang sức ra phụ đỡ tôi, những chuyện mà kẻ tàn tật khó bề xoay trở vén khéo. Chẳng hạn? Chẳng hạn như khi bố vợ tôi mất, ông ta bỏ việc ba ngày đến xắn tay rửa ráy tẩm liệm nhập quan chỉ bày các thứ. Tốt nhỉ? Vâng, chỉ tội cái nghèo, ông ta luôn coi trọng lời hứa. Thôi, bây giờ ta đi vào cốt lõi vấn đề, hôm nay muốn đề đạt nguyện vọng gì nào? Thưa cán bộ, vợ tôi bị bắt oan. Đã ba ngày trôi qua, tôi nghĩ cán bộ đã đọc qua những tờ khai. Bố vợ tôi mất, ông mong được hoả thiêu rồi mang tro đi rải trên núi Đồng Vọng. Vợ tôi nghe lời, vừa sang sông đã bị trói ké vu khống tàng trử mua bán hàng quốc cấm… Đừng nhiều lời, có đọc thấy khẩu hiệu treo đằng bức vách kia không. “Chí công vô tư”. Mình ngay thẳng thì chả có gì phải ngán cả. Cây ngay chẳng sợ gió. Thủng thẳng, chờ đấy, đôi ba hôm nữa rồi cô ấy cũng được tại ngoại thôi. Trước, tôi chạy xe ôm, như đã thưa, buộc phải giải nghệ sau tai nạn. Hôm trước tôi đã bán chiếc xe máy ấy đi, gộp chung vô khoản tiền ông bố vợ để lại. Và đây là phong bì, mong cán bộ đoái lòng can thiệp vào vấn nạn của vợ chồng tôi gặp phải. Tôi cũng xin nộp cho cán bộ tờ giấy chứng nhận ở địa phương, để thấy là vợ chồng tôi mưu sinh hoàn toàn lương thiện, chưa từng bị điều tiếng trong khu vực.

Tôi chống nạng ra khỏi đồn công an, tôi đổ thân vào ngồi hàng quán đối diện trụ sở, gọi cốc nước mía uống cho thông cần cổ. Chừng ba tiếng sau thì vợ tôi xuất hiện, người sa sút thoát được ra khỏi cánh cổng sắt bề thế án ở mặt tiền. Tôi run rẩy đứng lên, cố tập trung ý chí để đứng cho vững chãi hòng đón đợi tấm thân tiều tuỵ của người vợ đổ ập vào. Anh ơi, em ra mạng không. Bất hạnh thay, tro cốt của ba bị vung vãi đâu đó trong ngục tù mất rồi.

Vợ tôi khóc to tiếng. Tôi câm lặng và thầm mong, khi nước mắt đổ cạn vợ mình sẽ tìm được chút nguôi ngoai. Không riêng tôi, chúng sinh giờ nầy ai nấy thảy đều tật nguyền. Thiếu cái này, mất cái kia, cam lòng sống với sự bóc lột tới mãn kiếp.

Hồ Đình Nghiêm

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 11 Jan 2024

Bài 51

Phần 50

Quả thực cả năm khu trại nơi đây đã bị cộng sản lợi dụng sức chứa một cách quá đáng. Những dãy nhà san sát với nhau, chung quanh lại không có đất đai, thành thử khi hết giờ lao động, trại luôn luôn ở trong tình trạng chật cứng. Có thể nói trên thế giới ngày nay, nơi có mật độ cao nhất phải là trại tù cộng sản Suối Máu Biên Hòa. Đã nhiều lần hơn một nhóm người từng kín đáo bàn thảo với nhau chuyện nổi lửa đốt trại tù, nhưng rồi tính tới tính lui, ý định táo bạo ấy phải dẹp bỏ vì một lý do thật giản dị: Tù sẽ chết trước và chết thê thảm như một lũ chuột mắc kẹt trong hang lửa không lối thoát. Chính vì lý do chật chội như vậy, ngoài việc sử dụng chính thức, hội trường còn là nơi được nhiều người chiếu cố dùng làm chỗ mắc võng ngủ trưa hoặc ngồi làm những món thủ công lưu niệm…

Giữ cho hội trường và vuông sân phía trước lúc nào cũng sạch sẽ, do đó, đã khiến cả năm người đầu tắt mặt tối như ai. Mở mắt dậy, sau khi anh em đã đi lao động, bọn Vĩnh đầu tiên lo quét dọn những khoảng đất trống chung quanh hội trường. Kế đó đi rửa cầu tiêu. Kế nữa đi tưới vườn thuốc Nam cho ông bác sỹ Triển. Sau cùng, bọn Vĩnh mới cùng xúm lại quét hội trường khi ông Triển đã khám bệnh xong.

Ông bác sỹ Triển tuổi đã lục tuần nhưng còn nhanh nhẹn và trông khá đẹp lão. Ông được ban chỉ huy trại cho phụ trách y tế khám bệnh cho tù đâu từ hồi tướng tá còn ở đây. Vĩnh còn nhớ những ngày đầu mới về, thấy một ông già ăn mặc sạch sẽ, đầu luôn luôn có cái nón lá, mỗi sáng ra đứng trước vọng gác K.5 lột nón và gỡ kính 1 báo cáo tên vệ binh để xin phép lên ban y tế trại nộp danh sách tù bệnh mà thấy thương ông! Vĩnh không biết nhiều về ông, chỉ nghe anh em người nói ông từng là chỉ huy trưởng tổng y viện Cộng Hòa, người nói ông từng là thượng nghị sỹ… Riêng Vĩnh, Vĩnh chỉ biết hiện tại ông là một bác sỹ già, khám bệnh mỗi sáng cho tù K.5 trên hội trường, tác giả của hàng chục vụ áp-xe và gần đây ông đang nghiên cứu về thuốc Nam với khu vườn le ngoe vài ba cây cỏ như đã nói bên trên. Sự chẩn bệnh và cho thuốc của ông Triển đã trở thành một giai thoại ở K.5 Suối Máu. Anh em tù đã đặt cho ông một cái tên mới: Ông bác sỹ “Sống Đời” 2. Sở dĩ ông có cái tên này vì đau bụng toa thuốc sẽ là 2 lá Sống Đời 1 lá Tía Tô 3 lá Xả; nhức đầu sẽ là 2 lá Sống Đời 1 lá Tía Tô 4 lá Xả; phong thấp sẽ là 4 lá Sống Đời 3 lá Tía Tô 1 lá Xả vân vân và vân vân.

Việc không có thuốc tây trong trại tù cộng sản, mà nếu có thì chỉ vài loại kháng sinh cái giả cái quá hạn, uống vào làm dị ứng và chích vào làm áp-xe, đã biến một ông bác sỹ tây học nhiều tuổi nghề thành một ông lang băm. Và ông lang băm bất đắc dĩ của thời đại Hồ Chí Minh này cũng lắm phen điên đảo vì không bảo vệ nổi cái tài sản lang băm bất đắc dĩ của mình, ấy là bảo vệ cái vườn thuốc “dân tộc” được trên giao phó quản lý, chăm bón và sử dụng phục vụ tập thể. Nay mất một gốc Tía Tô, mai mất nguyên một cụm Xả, mốt mất hẳn đi mấy nhánh Sống Đời… Đời tù tội không thịt không cá không cả rau tươi, nên lâu lâu chôm chỉa được tí rau thơm chấm nước muối ăn với sắn độn cơm cũng tăng khẩu vị thật nhiều.

Thường thường bác sỹ Triển khám bệnh từ tám rưỡi đến chín rưỡi là xong. Bọn Vĩnh vào hội trường sắp xếp lại bàn ghế và khởi sự quét dọn. Rác trong hội trường luôn luôn nhiều hơn rác ngoài sân, đặc biệt nếu như đêm hôm trước có một phim hay, chẳng hạn phim Hoàng Tử và Người Nghèo của Ba Lan, hoặc một trận đấu bóng… thì sáng ra bọn Vĩnh hốt rác mệt nghỉ. Công tác mỗi sáng được hoàn tất nhanh nhất cũng phải vào quãng mười một giờ.

Từ sau lễ quốc khánh 2 tháng 9 của chúng nó vừa qua, rác trong hội trường đỡ hẳn vì bọn cán bộ trại đã ra lệnh cấm ngặt không ai được lên hội trường ngủ, làm thủ công dù ban trưa hay ban tối. Lệnh này ảnh hưởng đến cả các tổ đan giỏ. Các tổ này cũng phải di chuyển xuống làm việc nơi vuông sân sau bếp gần lò làm đậu hũ và lò nướng bánh mì.

Việc cấm đoán này cũng có nguyên do của nó. Số là trước ngày 2 tháng 9, bọn cán bộ khung lôi một anh tù có nghề điêu khắc ra, cung cấp vật liệu và buộc anh khắc một cái thủ cấp Hồ Chí Minh để thờ trên hội trường. Một khi hội trường suốt ngày đêm đã có sự hiện diện cái bản mặt của bác thì phải khác hơn, phải được sử dụng nghiêm túc hơn, ngoại trừ một người – người ấy là Phạm Xuân Đồng.

Phạm Xuân Đồng nằm cùng một nhà với Vĩnh. Dưới mắt nhiều người Đồng là một tên điên, điên từng cơn. Và riêng với bác sỹ Triển hoặc anh Huy thì Đồng là cái rắc rối của mọi người. Nhưng riêng với Vĩnh, Đồng là một tên tù cải tạo tuyệt vời nhất! Không tuyệt vời sao được khi bao nhiêu người khác trong thời gian ở tù, nếu không bộc lộ ra ngoài cái bản tính đê tiện, đấu tố nhau, tranh ăn nhau, tố giác nhau – và sự hèn hạ đê tiện ấy hình như có độ tăng theo cấp số nhân khi tuổi đời tăng theo cấp số cộng; hoặc diễn tả một cách thơ mộng hơn một tí thì “càng cao danh vọng càng to lớn… hèn!” – thì cũng đều là bọn nín thở qua sông, nhũn nhặn như con chi chi với bọn cai tù. Lâu lâu có vài ba người bừng tỉnh tìm cách vượt ngục thì lại đều thất bại kiểu Ý, Huy và Dương. Riêng Phạm Xuân Đồng thì khác. Vĩnh chẳng thể xác quyết Đồng điên hay không điên, chỉ biết anh là người duy nhất trong hơn hai năm tù vừa qua, dám chửi tận mặt bọn cán bộ và đã hai lần trốn thoát K.5 về nhà thăm mẹ ở Biên Hòa. Cảnh mẹ góa con côi, tội nghiệp bà cụ, vì vô phương kế bảo vệ che dấu con, và để tránh cho nó chết thảm, bà lại phải đem con giao nộp cho công an địa phương để mong nó được sống. Thế là, hai lần trốn thoát đều bị trả lại trại cải tạo cả hai. Đồng dĩ nhiên ăn no nê những trận đấm đá từ cổng vào tới connex.

Thật ra, có những lúc Đồng tỏ ra mất bình thường rõ ràng. Chẳng hạn mỗi buổi sáng vào giờ bác sỹ Triển khám bệnh, Đồng mò lên hội trường, đứng kè kè bên cạnh ông Triển và ra lệnh cứ như một bác sỹ thứ thiệt ra lệnh cho một y tá.

– Anh Triển. Mài kim đi! Kim cùn thế kia đem chích cho nhân dân tôi cùm anh đấy!

Hoặc giả.

– Anh Triển. Anh già và tay run thế kia, tôi thả anh về liệu anh còn đủ sức chích cho vợ anh không?

Những lúc như thế bác sỹ Triển chỉ điên lên và xua Đồng như xua ruồi. Đồng cũng chẳng cự nự. Anh bỏ ra đứng ngắm cái thủ cấp Hồ Chí Minh một lúc rồi oang oang.

– Tưởng ai, hóa ra lại cái thằng chết tiệt này!

Ai cũng điếng hồn vì câu nói báng bổ của Đồng. Trong lúc vài người chạy tới nhà 1 báo nhà trưởng lôi Đồng về thì Đồng vẫn tiếp tục. Xã hội ta không duy tâm, tại sao lại phải làm hình tượng thằng chết tiệt này để bắt mọi người thờ? Tôi rành nó quá. Nó là thằng bạn học cũ của tôi. Tôi, nó và đức tổng giám mục Nguyễn Văn Bình đều là bạn học…

Một người chợt khẽ hỏi Đồng.

– Biết tượng ai đấy không mà dám nói nhảm vậy?

Nghe hỏi Đồng trợn mắt.

– Thằng Hồ Chí Minh chớ ai! Tôi lạ gì nó. Nó học Taberd với tôi và cùng động viên khóa 5/70 Thủ Đức. Tôi giỏi tôi ra chuẩn úy. Nó xà bát quá nên rớt ra trung sỹ…

Nghe Đồng rống lên và công khai gọi Hồ Chí Minh bằng thằng giữa hội trường ai cũng rét và không ai dám hỏi gì nữa. Những lúc như thế nhà trưởng nhà 1 thường xuất hiện và ưu ái xách lỗ tai lôi Đồng về phòng như người anh lớn xách lỗ tai thằng em nghịch dại. Cũng may, Đồng sẵn sàng đập lộn với bất cứ ai dù anh gầy như con mắm và cận thị nặng, nhưng với riêng tay bác sỹ nhà trưởng Đồng sợ một phép. Tay nhà trưởng thường áp dụng một hình phạt duy nhất đối với Đồng là lôi Đồng về chỗ nằm, bắt nằm sấp mặt xuống đất, hai tay vòng lên sau gáy, mỗi khi Đồng gây chuyện đánh người hoặc nói nhảm nhí.

Lúc đầu, do cái tính vui vẻ hay đùa giỡn, anh Huy bỗng nhiên biến thành nạn nhân và là người sợ Phạm Xuân Đồng vào bậc nhất. Hôm ấy, Huy ngồi soạn lại mớ quần áo rách của anh. Bỗng nhiên một tấm ảnh từ trong một quyển vở rơi ra ngoài. Vừa lúc ấy Phạm Xuân Đồng đi qua. Đồng lượm tấm ảnh lên và xà xuống chỗ anh Huy một cách thân mật. Thấy Đồng tỉnh táo, Huy quàng vai Đồng và chỉ vào tấm ảnh, hỏi.

– Biết ai đây không? Đồng cười một cách rất tự nhiên.

– Tôi với anh là anh em. Anh là Phạm Xuân Huy còn tôi là Phạm Xuân Đồng, vậy làm sao mà tôi không biết người này!?

Huy thấy Đồng hôm nay không điên tí nào, lại có vẻ dễ thương nữa, liền hỏi tiếp.

– Vậy chứ ai đấy? Nóicoi!

Đồng tỉnh bơ.

– Anh không nhớ thật à? Tôi với anh ngủ với nó bao nhiêu lần rồi mà anh nỡ quên sao?

Huy hoảng hốt và chấm dứt ngay việc trò chuyện với Đồng. Anh giật lại tấm ảnh vợ anh và cất ngay vào túi. Nhưng khổ một nỗi là từ đó, trong cái óc hỗn mang của Đồng, Đồng luôn luôn nhớ tới Huy và gặp Huy ở đâu cũng cất tiếng hỏi. Phạm Xuân Huy! ảnh con mụ vợ của hai ta đâu rồi?

Từ dạo ấy, gặp Đồng là Huy trốn mất. Người ta chẳng thể đánh đập một người bạn mất bình thường nếu không muốn nói là nửa tỉnh nửa điên. Và người ta lại càng không thể đi cãi nhau với Đồng.

Nhưng bọn vệ binh không phải là ông bác sỹ Triển, là anh Phạm Xuân Huy hay đám lao động hội trường. Trong hơn hai năm tù, có lẽ Đồng là người bị bọn vệ binh đánh đập công khai nhiều nhất. Điển hình vào một đêm quãng mười giờ tối, khi mọi người đã rúc vào chỗ nằm ru giấc ngủ thì phía ngoài bờ giếng trước hội trường gần khu vườn thuốc Nam nổi lên những tiếng huỳnh huỵch. Lẫn với những tiếng huỳnh huỵch ấy là tiếng chửi của Đồng.

– ĐM. mày tao đếch sợ. Ngon bỏ súng đánh tay đôi đi!…

Nhà 1 nằm ngay sát hội trường và có một đầu hồi nhìn ra phía giếng nước nên người nằm trong nhà nghe rất rõ. Ai cũng đoán biết Đồng đang bị mấy thằng vệ binh gác cổng đánh bằng báng súng. Vài người lên tiếng yêu cầu nhà trưởng ra can thiệp nhưng nhà trưởng không dám. Chừng năm phút sau, một thằng vệ binh xuất hiện ngay cửa nhà 1 sát chỗ nằm của nhà trưởng. Nó lên giọng hách dịch.

– Nhà trưởng nhà phó đâu?

Nhà trưởng vội lên tiếng.

– Có tôi đây.

– Cho người ra khênh thằng Đồng vào. Đêm hôm lần mò ra cổng trại đánh què cẳng nằm ngoài kia. Thông thường không ai phạm những nội quy tương tự như Đồng. Và giả như có phạm thì chắc chắn đã bị tống cổ vào connex tức thì. Riêng Đồng thì cả bộ chỉ huy K.5 đều đã rõ mặt rõ tên, và mỗi thằng vệ binh ít ra cũng từng năm lần bảy lượt đánh đập Đồng. Việc nhốt Đồng vào connex đã nhàm quá. Chúng bực chúng đánh cho bõ ghét chứ tuyệt nhiên không thèm nhốt nữa. Đêm nay cũng tương tự nhiều lần trước đó, Đồng mò ra cổng chẳng biết làm gì, bị vệ binh nạt nộ, Đồng đứng chống nạnh nạt lại và lên tiếng thách vệ binh đánh tay đôi. Thằng vệ binh cáu sườn, và dù biết rõ Đồng mất bình thường, nó vẫn kêu thêm hai ba thằng nữa vác súng nện Đồng ngã sấp ngã ngửa ngoài bờ giếng. Dù bị đánh đau, Đồng cứ luôn miệng chửi và thách vệ binh đánh tay đôi. Khi nhà trưởng ra bế Đồng vào, thân thể Đồng đã nhão ra và mặt mày sưng phù. Anh em kẻ đến bôi dầu xoa bóp cho Đồng, kẻ ra ngoài tìm lại cái kính cận cho anh. Tuy nhiên, chỉ năm bảy phút sau Đồng lại sức ngay. Không ai có thể tưởng tượng được Đồng gầy còm mà lại có một sức chịu đựng dẻo dai đến thế. Vừa bầm dập vì đòn đập đó, ít phút sau đã tỉnh lại và vùng dậy đi từ đầu phòng tới cuối phòng, thái độ hầm hầm tức giận và miệng nói huyên thuyên.

– Chúng nó là một lũ hèn. Chúng nó đánh hội đồng tao. Tao thách đánh tay đôi mà không thằng nào dám nhận lời. Quân đội cách mạng như con c… Tao đâu thèm trốn trại. Tao mà trốn thằng Hồ già cũng không giữ nổi tao. Tao chỉ buồn đái. Ra tới giếng chẳng lẽ tao đái xuống giếng. Bộ điên à? Giếng để ỉa chứ đâu để đái! Tao bước thêm vài bước nữa là tới trạm gác của nó; tiện, tao đái luôn vào cột trạm gác. Tao đang đái làm sao nó cấm tao được? Thằng bố láo bố lếu. Nó không biết rằng tao là bạn học trường Taberd với bác Hồ của nó… Đồng vừa đi vừa nói lảm nhảm cho đến lúc nhà trưởng chịu không nổi, lại phải dùng uy la hét Đồng, xách lỗ tai anh, bắt anh về chỗ và dùng lại hình phạt y như những lần trước: Nằm sấp mặt xuống đất, hai tay vòng ra sau gáy…

Khi Đồng đã chịu phép rồi, cả phòng lại im vắng trở lại. Những sự kiện xảy ra quanh Đồng không thể không bắt Vĩnh ghi nhận và suy nghĩ đến thân phận Phạm Xuân Đồng. Ai có thể khẳng định Đồng điên thật hay điên giả? Nếu điên giả thì Đồng quả nhiên là thiên tài. Nhiều khi rõ ràng Đồng nửa đùa nửa thật để chửi ngay mặt quản giáo Tú, quản giáo của nhà 1, rằng hắn là một thằng ngu. Vĩnh cũng nhớ có lần tên đại úy trưởng trại vào thanh tra và đi qua nhà 1. Thấy hắn, Đồng bỗng trỗi dậy chào hỏi rất vui vẻ. Tên trưởng trại thừa biết Đồng mất bình thường, nhưng thấy Đồng chào hỏi vui vẻ cũng tỏ thái độ thân mật với anh.

– Sao, anh Đồng? Lúc này có gì hồ hởi phấn khởi không?

Đồng trả lời ngay.

– Buồn thấy cha thấy mẹ đây. Có gì mà hồ hởi với không hồ hởi!

Tên trưởng trại nhíu mày.

– Ô hay! học tập cải tạo thì phải hồ hởi phấn khởi chứ, sao lại buồn?

Nghe tên trại trưởng nói vậy, Đồng trợn mắt cãi ngay.

– Này, tôi hỏi thật anh nhá. Nếu bỗng dưng có người vô cớ lột lon anh và bắt giam anh lại chẳng biết bao giờ mới thả anh ra, thì bản thân anh liệu có hồ hởi phấn khởi nổi không?

Tên trại trưởng chẳng ngờ bị Đồng bắt bẻ. Trong lúc hắn chưa biết xử trí ra sao thì Đồng làm luôn. Vậy thì muốn tôi vui, muốn tôi hồ hởi phấn khởi thì cứ trả ngay lon lại cho tôi. Trước đây tôi thiếu úy, hơn hai năm rồi giờ này tôi phải là trung úy. Yêu cầu các anh trả lon trung úy cho tôi và cho tôi truy lãnh tất cả số lương hơn hai năm qua.

Đến đây như bị bóng nhập, Đồng bắt đầu hét. Trả đây! Trả lon tao đây! Đồ chó chết! Trả đây…

Tên trại trưởng biết Đồng lại lên cơn, hắn chuồn êm khỏi cửa.

Hiện tại Đồng không chịu nằm trong nhà nữa. Sau lần anh dùng lưỡi lam cắt rách dương vật máu ra đầm đìa vì anh lập luận “Giải phóng đã làm thất nghiệp cả đến cái này của tao thì tao cắt bỏ nó cho đỡ nặng háng”, Đồng đem võng ra mắc trên dãy hầm cầu tiêu cũ, nằm sát phía trong vườn thuốc Nam của ông bác sỹ Triển. Bên trên Đồng căng một tấm poncho che mưa nắng. Nhà trưởng đã năm bảy lần lôi cổ anh vào nhà nhưng chứng nào vẫn tật nấy. Anh bảo anh không thích nằm trong nhà vì “bọn trong nhà hôi thối hơn cả cái hầm phân anh mắc võng bên trên”.

Chính vì chuyện Phạm Xuân Đồng ra hầm cầu ngủ mà đám lao động hội trường đâm vất vả. Bọn Vĩnh nhận được lệnh phải chuyển tất cả phân nơi những hầm cầu cũ ra khu canh tác cách cổng K.5 chừng một trăm thước. Dù rằng chỉ cách một trăm thước nhưng vừa đào vừa gánh hết hai hầm phân để lại từ thời các quan tướng tá cũng khiến năm người mệt ứ hơi ba ngày trời.

Xong vụ phân, bác sỹ Triển lại có thêm tí đất để mở mang vườn thuốc dân tộc của ông. Bọn Vĩnh lại phải giúp ông lên luống, tỉa ươm, cấy trồng… Phạm Xuân Đồng vẫn không buông tha mọi người. Suốt ngày anh ra vườn chống nạnh đứng xem đám Vĩnh trồng cây, miệng luôn luôn cằn nhằn bác sỹ Triển đã chiếm miếng đất này của anh.

Hai tháng đầu tiên sống nơi K.5, chuyện vui buồn và lao động của Vĩnh hầu như chỉ gắn liền với từng đó sự kiện và nhân vật: Hội trường, vuông sân, dãy cầu tiêu, cái bàn thờ có thủ cấp bằng đất sét của Hồ Chí Minh, Phạm Xuân Huy, Nguyễn Văn Ý, Vũ Duy Dương, Phạm Văn Triển, Phạm Xuân Đồng, bệnh điên, vườn thuốc Nam, cái giếng… Những cái đó bám sát lấy Vĩnh cho đến cuối tháng Mười, vào dịp làm bản tự khai lần thứ hai ở Suối Máu, tiếp theo là một đợt học tập chính trị dự trù kéo dài mười ngày thì Vĩnh quyết định đi nằm viện. Vĩnh lại giở trò cũ. Lần này thì Vĩnh không gặp tí khó khăn nào, vì người khám và đề nghị cho anh đi viện là bác sỹ Triển.

——————————–

1          Đối với bọn cán binh CSVN, bất cứ loại kính nào, dù râm, cận hay viễn đều được đánh giá như một thứ trang sức. Và khi trình diện chúng thì dứt khoát không được đeo đồ trang sức! Do vậy, tù phải tháo kính cầm tay.

2          Cây Sống Đời là một loại thân thảo hay dùng trong thuốc Nam, chỉ được nhắc nhở đến nhiều sau năm 1975. Hình như nó trông giống một cây kiểng, lá giống lá mận như to, dày và xanh hơn. Bọn tù không rõ dược tính ra sao, chỉ biết nó có vị chua như lá me. Và chính vì vị chua này, cây Sống Đời luôn luôn bị tù bẻ trộm…

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 11 Jan 2024

Bài 50

Phần 49

Trại Suối Máu tọa lạc tại quận Tam Hiệp tỉnh Biên Hòa. Trước năm 1975, nó là trại giam phiến cộng của chính phủ VNCH. Đây là một trại tù chính trị tương đối có nhiều huyền thoại ở miền Nam. Qua sự kể lại của chính những sỹ quan quân cảnh coi tù tại đây trước kia, Vĩnh được biết nhiều chuyện khá lý thú. Chẳng hạn xưa kia, vị linh mục tuyên úy của trại tù này có lẽ đã là vị tuyên úy bận nhất nước vào mỗi buổi sáng chủ nhật của ông. Sau giờ lễ, có khi ông phải nán lại ngôi thánh đường nho nhỏ để liên tục làm lễ rửa tội cho hàng chục “đồng chí” bừng tỉnh sau cơn hôn mê, hạ quyết tâm ly khai búa liềm để quay về với Thánh Giá. Vẫn theo mấy ông quân cảnh, trại này cũng là trại cho đếm lịch khá nhiều đối với những thằng đội lốt trí thức, nhà văn nhà báo, nhưng ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản. Thế nhưng chuyện ly kỳ hơn chính là chuyện mà cả miền Nam đều biết: Một số “đồng chí” đã được các đồng chí bạn giải phóng sớm hơn mọi người cả năm sáu năm. Trong thời gian bị giam cứu, họ đã ăn đạn 122 ly của chính người anh em từ ngoại thành Sài Gòn câu vào! 
Trại Suối Máu hiện tại có năm khu trại chính đánh số thứ tự từ K.1 đến K.5 (Còn một K nữa là K.30, tức khối mộc, có chừng 40 người chuyên làm nghề mộc; K này nằm chung chỗ với khu bệnh xá). Năm khu trại này trước kia dùng để nhốt các đàn anh tướng tá. Sau một thời gian, tướng tá đều lần lượt được đưa ra Bắc thăm lăng bác không biết đến bao giờ mới có dịp trở về, thì đến lượt các quan bạn dân được đưa đến đây tạm trú. Rồi thì người anh em bạn dân cũng được cách mạng đày đi tứ tán khắp bốn phương trời, để nhường chỗ lại cho bọn tù trại An Dưỡng di chuyển sang vào một ngày trung tuần tháng Tám năm 1977. 
Trong năm K chỉ có K.1, K.2 và K.3 là những khu trại cũ, có nghĩa là có nền xi măng; và dù ngày nay cộng sản không cho tù nằm giường nằm sạp như thời chế độ Sài Gòn, bọn tù vẫn còn được đêm đêm ngả lưng trên những nền xi măng tương đối sạch sẽ. K4 và K.5 thì khác. Đây là hai khu trại mới được dựng lên sau này do chính công tù đổ ra, để lấy chỗ che nắng che mưa bằng sườn gỗ, vách tôn, mái tôn và nền đất. Do những điều kiện vật liệu như thế, hai K.4 và K.5 bỗng nhiên đạt đúng tiêu chuẩn nhà ở kiểu văn minh văn hóa của CSVN: Ẩm thấp và nóng nực! 
Từ cổng dẫn vào con đường chính đầy dẫy những trạm gác. Đặc biệt, các trạm gác này đều ngày đêm chĩa súng máy vào các K như lúc nào cũng sẵn sàng nhả đạn. Ngôi thánh đường nhỏ của trại Suối Máu ngày nay đã bị bọn cộng sản dùng làm phòng ngủ và tường được đục lỗ châu mai. Từ những lỗ châu mai này, những họng súng đại liên đen xì cũng đều được chĩa sang phía các K với tư thế sẵn sàng. Chao ôi, xưa Chúa vào thành Jerusalem nổi giận đùng đùng vì bọn thu thuế và bọn lái buôn đã biến đền thờ Chúa thành nơi buôn bán trao đổi; ngày nay không biết Chúa giận đến đâu khi bọn quân dữ thời mới đã biến đền thờ Chúa thành ổ súng máy và quần áo phơi mắc khắp cùng trong lòng nhà thờ!? 
Chưa hết! Trại Suối Máu còn là một trại rất khó trốn, dù rằng nó nằm lọt giữa trục lộ giao thông từ Biên Hòa xuống Tam Hiệp và phía sau nó là con đường sắt ngày một lần vang lên tiếng rầm rập của đoàn xe hỏa Thống Nhất. Có thể nói từ sau 30 tháng Tư năm 1975 đến nay, các viên chức sỹ quan chế độ cũ bị nhốt nơi đây chưa mấy người trốn thoát. Và đã trốn mà không thoát thì chỉ có hai cái chết: Một chết vì mìn rải đầy phía ngoài hàng rào trại. Hai chết vì đòn đập trong những dãy connex kê sát rào chạy dọc theo con lộ phía sau bệnh xá và K.4; hoặc những dãy connex nằm ngay trước hàng rào các K.1, K.2, K.3 và K.5. 
Trại Suối Máu với ưu và khuyết điểm như thế, đã mở rộng vòng tay đón gần bốn nghìn tù của trại An Dưỡng. 
Lọt vào K.5, Vĩnh mất vài bạn cũ. Tiến đã rơi vào K.3, Hóa K.1… K.5 chỉ còn lại Tạc, Kim, Huy, Ý, Dương, Ân xệ, Điểu và Tuấn râu. 

Sau lần chuyển trại từ An Dưỡng sang, Huy, Ý và Dương tiếp tục bị nhốt thêm một tháng trong connex và được thả ra dịp 2 tháng 9 năm 1977. Đây quả là một phép lạ vì không ai, kể cả Vĩnh, có thể ngờ họ được thả… Nhất là Ý, người đã can đảm tự nhận là kẻ tổ chức và đạo diễn cuộc vượt ngục vừa qua. 
Ba người vượt ngục bị bắt chịu cực hình là chuyện dĩ nhiên. Và sự cuồng chân bỏ trại đi chơi xa một chuyến để đánh đổi bằng hai cái răng cửa của Phạm Xuân Huy, bằng ghẻ chốc cùng mình của Vũ Duy Dương và bằng chứng phù thủng chữa mãi không dứt của Ý, nghĩ cho cùng không đắt lắm. Có đen chăng là đen cho Điểu và Vĩnh thôi. Cả hai đã chẳng hề có dịp biết được cách trại An Dưỡng một cây số về hướng Bắc có sông hay có biển, có núi hay có non, có bạn hay có thù… mà vẫn phải ăn đòn như ai! Thằng Điểu ăn đòn cũng phải đi, vì nó dân QuảngNam hay cãi; đàng này Vĩnh đã phải sử dụng tối đa nghệ thuật kịch mà vẫn không thoát hiểm được. Anh đã phải để lại cho thằng an ninh trại 4 An Dưỡng một cái răng nanh lảng nhách! 
Cái đen của Vĩnh chẳng vì ba thằng bạn nằm connex khai ra. Không! Ý, Huy, Dương và cả Điểu nữa, đều vô cùng thương Vĩnh. Trước sau như một, họ đã thống nhất bằng một lời khai về Vĩnh như sau: Anh Vĩnh không hề biết gì về kế hoạch trốn trại. Chơi với anh chỉ để học thêm âm nhạc của anh ấy mà thôi. Anh ấy yếu như sên, anh ấy… vân vân và vân vân. Nói chung, những lời khai của các bạn dành cho Vĩnh đều đạt yêu cầu, nếu không thế thì cầm bằng không lâu sau đó, đám mả tù của trại An Dưỡng hẳn đã có thêm một cái rồi! Vĩnh ăn đòn, khốn thay, lại chính vì anh chàng Phạm An Toàn. 
Buổi trưa hôm ấy, lúc nhìn thấy Ý, Huy và Dương bị bắt lại, Vĩnh tính toán và quyết định tìm mọi cách để chứng tỏ mình đang lao nặng. Lao nặng sẽ có hai cái lợi. Lợi thứ nhất sẽ giúp cho Vĩnh mạnh miệng lập luận rằng không bao giờ những người trốn trại lại muốn rủ rê một người lao nặng đi theo. Lợi thứ hai là tụi nó ớn, tụi nó đỡ kêu tới kêu lui. Nghĩ thế, Vĩnh lục túi đồ lôi ra cái sơ-ranh nhựa ăn cắp được của thằng quân y hồi còn làm y tá cho đội. Vĩnh tí toáy chơi lại bài bản cũ. Rút máu ở gân tay… 
Đen cho Vĩnh vì ngay lúc ấy Phạm An Toàn bước vào nhìn thấy cảnh tượng nó khẽ rú lên. 
– Chích xì-ke hả cha? 
Vĩnh tái tê cả người. Rành rành thằng Toàn đã nhìn thấy anh đang lụi kim vào gân tay. Nói thật mình rút máu ra giả lao cũng chết, mà nói dối chích xì-ke cũng chết. Nghĩ thế, Vĩnh bấm bụng nói liều. 
– Chán đời quá Toàn ơi! Tôi muốn… chết! Tôi muốn bơm oxy vào máu… Xì-ke xì-cút gì đâu!… 
Toàn trố mắt nhìn Vĩnh. Có lẽ lúc ấy Vĩnh kịch hơi tệ nên nó không tin. Nó chìa tay ra. 
– Ông đưa cái ống chích cho tôi. Ông nằm ngủ đi. 
Không hiểu sao thốt nhiên Vĩnh nổi sùng. 
– Không đưa! 
Phạm An Toàn chợt mỉm môi lại. Nó tính nói một cái gì nhưng rõ ràng nó đã ngưng lại kịp lúc. Sau cùng nó lạnh lùng bảo Vĩnh. 
– Không đưa cũng được. Không sao… 
Chỉ nói thế rồi Toàn quay đi. Vĩnh ngả người trên tấm phản nóng hầm. Đầu óc anh rối như tơ vò. Từ ngày khôn lớn, Vĩnh luôn tự tin mình tháo vát và có đủ khả năng tìm cách hóa giải nhiều khó khăn từng gặp phải; thế nhưng lần này anh cảm thấy cầm bằng cái thua. Anh bí, hoàn toàn bí, không biết cách nào giải nổi thế kẹt trước mặt. 
Chiều hôm ấy quả nhiên thằng an ninh của trại 4 sang tận khu cách ly để tìm Vĩnh, đi theo hắn còn một thằng vệ binh súng AK lăm lăm trên tay. Mọi tính toán của Vĩnh sai bét. Thằng an ninh xông luôn vào phòng. Chẳng có một dấu hiệu nào cho thấy hắn sợ bị lây bệnh lao cả. Hắn đứng trong phòng trợn đôi mắt trắng dã nhìn Vĩnh đang ngồi trên sạp. 

– Đâu, xì ke ma túy của mày dấu đâu? 
An ninh trại mò tới tận khu cách ly là biết chắc Phạm An Toàn đã báo cáo mọi chuyện, thế nhưng khi nghe hắn hỏi Vĩnh vẫn thất kinh. Chao ôi, đời oan khiên đến thế là cùng. Hơn ba mươi năm sống ở đời, Vĩnh chưa một lần được nhìn thấy xì ke để có thể biết rõ hình dáng nó ra sao! Khi thì nghe nói nó giống sợi thuốc rê, khi thì nghe nói nó giống bột ngọt… Chiều nay tự dưng bị chụp mũ chích xì ke, lại đang bị thằng an ninh trại trông hung tợn như một con chó dữ gầm gừ cật vấn; dù hoảng hốt nhưng Vĩnh vẫn cố bình tĩnh trả lời. 
– Báo cáo anh tôi đâu có xì ke… 
Tên an ninh hình như biết trước câu trả lời của Vĩnh, hắn lạnh tanh ra lệnh. 
– Thu hết đồ đạc đi theo đồng chí vệ binh trở về ban an ninh trại! 
Tối hôm ấy Vĩnh bị trả thẳng về trại 4 mà không được trả về bệnh xá. Những câu trả lời lẩm cẩm của Vĩnh đã làm cho bọn an ninh lộn tiết lên đầu. Chúng nện cho Vĩnh mấy cái báng súng vào mặt. Một nửa cái răng nanh hàm trên bên trái đã mãi mãi ở lại trại An Dưỡng. Nhưng điểm tai hại chưa hẳn ở chỗ mất cái răng nanh, điểm tai hại là chúng kết tội Vĩnh lợi dụng bệnh lao được nằm cách ly để tiếp tục sử dụng xì-ke ma túy, một căn bệnh xã hội của miền Nam… 
Những ngày sau đó, để tiện theo dõi, đội phó Võ Hữu Hiệp đã chỉ định đích danh Vĩnh ngày hai buổi sau khi đi lao động về, phụ trách bưng phần ăn nuôi Ý, Huy và Dương đang nằm trong connex. Dĩ nhiên trước khi rời cổng trại, Vĩnh bị xét rất kỹ, nhưng dù kỹ thế nào, Vĩnh vẫn có cách tiếp tế đều đều cho ba người bạn lâm nạn bữa thì cục đường, bữa thì một viên Vitamin C, bữa thì một viên Vitamin B.1… Cũng nhờ dịp này, Vĩnh càng tin hơn ở câu nói “nhất ẩm nhất trác giai do tiền định”. Nếu trước đây ba người bạn lôi anh đi theo để thất bại chỉ vì bị mấy thằng bé chăn trâu chăn bò đi báo công an địa phương, lúc chúng phát hiện ra ba người lạ mặt lởn vởn trong một vườn bưởi ở quận Tân Uyên… thì giờ này Vĩnh ra sao nhỉ? Liệu anh có đứng nổi trước những trận tra khảo liên tu bất tận mà bọn chúng đã dành cho Ý, Huy và Dương hay không? Dương to và đen như một con gấu, ấy thế mà giờ đây nó không cầm nổi một lon guigoz nước trên tay. Anh Huy còn tệ hơn. Lần đầu đưa cơm cho Huy, Vĩnh xanh máu mặt khi nhận mãi mới ra được người bạn già. Chao ôi, trông anh không còn ra dáng con người nữa. Anh xuất hiện nơi cửa connex, người gù hẳn xuống như bị rút gân lưng. Trên đầu anh quấn mấy vòng giẻ rách, máu và đất còn dính lấm tấm trên viền giải băng. Thấy Vĩnh, anh Huy cố nhếch môi cười. Vĩnh thất kinh nhận thấy sau làn môi tím bầm, mấy cái răng cửa của anh đều biến mất. Tên vệ binh có súng đi theo đứng ngay sau lưng không cho phép hai người trò chuyện. Vĩnh đặt phần cơm nước xuống trước mặt anh Huy và nháy mắt ra hiệu cho anh biết có món đặc biệt trong mấy cọng rau muống. Lúc rời nhà bếp, Vĩnh đã nhét vào một cọng rau hai viên Vit B.1. Thế rồi cửa connex đóng sập lại sau khi Vĩnh đã đọc được trong ánh mắt anh Huy một câu nói: Cứ yên tâm! Tụi này rất kín miệng. 
Tuy nhiên, người chịu cực hình nhiều nhất vẫn là Ý. Một phần Ý tự nhận là người đầu tầu, một phần Ý là dân Biệt Động thứ thiệt, thành thử chúng ghét và chúng nhốt riêng trong một connex nằm lẻ loi trên ngọn đồi trọc giữa khu thăm viếng và trại 4. Lẽo đẽo đi theo thằng vệ binh lên đưa cơm cho Ý, Vĩnh phải vuốt mồ hôi nhiều lần dưới trời nắng gắt. Khi cửa connex mở ra, Ý xuất hiện xanh như một tàu lá. Anh nằm khoanh tròn dưới sàn connex sét rỉ, hai tay bị còng ngược ra sau lưng nên thế nằm của anh coi thật khổ sở. Tên vệ binh trao chìa khóa cho Vĩnh để mở còng cho Ý. May mắn thay, vì trời nắng gắt, tên vệ binh đã đi xuống chân đồi tìm một bóng cây và cho phép Vĩnh được ngồi đợi Ý ăn uống xong sẽ thu lon cóng về luôn. 
Lúc chiếc còng được mở ra, Vĩnh không khỏi hết hồn. Đây không phải cái còng số 8 thường thấy trước kia. Đây là một loại còng đặc biệt do bọn an ninh trại vẽ kiểu và bắt ban rèn của trại thực hiện. Còng là một cặp ống sắt khuyết, có chiều dày quãng năm phân. Một cặp khoen được hàn dính vào hai mép khuyết của ống sắt. Hai chiếc còng dính vào nhau bằng một sợi xích dài chừng mười phân. Người bị còng có cổ tay to như Ý thật là khốn nạn. Khi tháo còng ra cho bạn, Vĩnh không thể ngờ được Ý tê liệt đến độ đó. Hai bắp tay sưng phù nhưng hai cổ tay thì teo lại do bởi còng xiết quá lâu. Được tháo ra, cả hai ba phút sau Ý mới cử động nổi bàn tay. Trong tình trạng như thế mà chúng cứ còng miết ngày đêm làm sao chịu thấu!? Vĩnh quan sát bạn kỹ hơn.

Mới hai ngày hai đêm bị còng nhốt connex và bị tra khảo, Ý xanh mét và tuồng như đã mất đi một nửa trọng lượng của thân thể. Thưong bạn quá, Vĩnh nói. 
– Đừng cử động! Để tôi đút cho ông ăn. 
Ý thều thào. 
– Nóng quá ông ạ. Có cách gì ông dội cho tôi miếng nước vào người không? 
Vĩnh quay vội ra ngoài. Anh có đem theo cả nửa sô nước để tiếp tế cho người bị nhốt. Vĩnh đổ nước ra cái lon guigoz để dành cho Ý uống (tiêu chuẩn nước uống cho người bị nhốt connex dứt khoát một ngày chỉ được một lon guigoz. Người đi nuôi ăn có muốn để lại cho bạn nhiều hơn cũng không được vì vệ binh chỉ cho để lại trong connex một cái lon duy nhất mà thôi!). Còn bao nhiêu nước Vĩnh chầm chậm dội từ đầu Ý dội xuống. Ý sướng như được lên thiên đàng. Nước vào người khiến Ý tỉnh hẳn lại. 
Vĩnh hỏi. 
– Nện dữ không? 
– Kinh lắm ông ơi!… Ông, Tuấn và Điểu có sao không? 
– Tuấn không sao. Chỉ có Điểu và tôi dính tí đuôi sao Chổi thôi. Nhưng tôi lại dính vì vụ khác. Vụ ông từng xúi tôi trước kia đấy! Cũng may… 
Vĩnh tính nói “cũng may không bị dính chung vào vụ vượt ngục của các ông”, nhưng nghĩ sao Vĩnh bỏ lửng câu nói. 
Ý vừa chậm rãi nhai vừa hỏi. 
– Ông tiếp xúc được với anh Huy và thằng Dương chưa? 
– Rồi. Gặp hết rồi. Còn sống cả. Ông cứ yên tâm. 
– Không khí ở trại như thế nào? 
Quả thực Vĩnh rất âu lo cho số phận của riêng Ý. Vì Ý nhận là đầu mối, do đó bọn cai tù lên án anh rất nặng trên hội trường ngày hôm qua. Chúng cho anh là kẻ đại nguy hiểm và do đó đã nhốt anh vào chỗ riêng biệt là trên ngọn đồi trọc nắng cháy này. Bọn thẩm cung Ý cũng không phải là bọn an ninh trại 4, mà là bọn an ninh từ trung đoàn xuống làm việc. Biết thế nhưng trong hoàn cảnh này, Vĩnh không muốn làm cho bạn âu lo. Anh trấn an. 
– Ông yên tâm. Rồi sẽ tai qua nạn khỏi cả… 
Thế rồi thấm thoát đã hơn một tháng qua, kể từ ngày mấy ngàn tù của trại An Dưỡng ba lô quả mướp lội bộ từ trại An Dưỡng qua trại Suối Máu, Vĩnh lại được sinh hoạt bình thường trở lại với Ý, Huy và Dương. Những khi ngày tàn, ngồi quây quần hút thuốc lào với nhau, cả bọn vẫn không hiểu nhờ sức siêu hình nào mà mọi người đều được tai qua nạn khỏi thật; đặc biệt là Ý, chuyện anh được cột xử bắn như nhiều người trước đó quả là một chuyện phi thường. 
Bây giờ đây, cả năm người, Ý, Huy, Dương, Điểu và Vĩnh đều được nhét chung vào tổ 1 đội 17 (vẫn đội 17!) nhà 1. 

Nhà 1 là dãy nhà nằm sát bên cánh phải của hội trường. Nhà 1 (cũng như bảy dãy nhà kế tiếp, mỗi dãy cách nhau chừng năm thước và kết thúc bằng dãy nhà bếp. Phía sau dãy nhà bếp là hàng rào thép gai giăng chằng chịt để chia cách K.5 với K.4) được lợp tôn, vách tôn và nền đất. Nhà có chiều dài mười lăm thước và rộng năm thước, dùng làm chỗ ngủ cho ba đội 15, 16 và 17 với tổng số 120 người. Nhà trưởng hiện nay là một tay đại úy bác sỹ. Tổ trưởng hiện nay cũng dân Hải quân, Nguyễn Thanh Sơn, hải quân trung úy, nằm bên phải Vĩnh. Một lần nữa, nằm bên trái Vĩnh là anh chàng hải quân thiếu úy nửa điên nửa tỉnh Trương Hồng. Nằm san sát tiếp theo còn có Võ Tấn Bảo Hùng, trung úy công binh, kẻ đang say mê nghiên cứu khoa châm cứu. Kế Hùng là anh Huy. Cùng tổ nhưng nằm phía đối diện còn có Ý, Dương, Nguyễn Đình Tạc, Điểu… 
Nhà 1 dù sao không khí dễ thở vì có anh chàng bác sỹ nhà trưởng tương đối dễ tính. Anh ta nằm mút phía đầu nhà, chỗ gần với vườn cây và nằm cạnh anh chàng Phạm Xuân Đồng – một người điên có lẽ nổi tiếng nhất trại tù cải tạo Suối Máu. Do bản tính lè phè, hồ như ông nhà trưởng này chẳng thèm tiếp xúc với một nhà viên nào. Cần việc gì, anh ta chỉ gặp riêng tổ trưởng hoặc đội trưởng. 
Vì trại Suối Máu không có nhiều đất đai chung quanh, do đó công tác lao động hoặc tăng gia sản xuất cũng không đòi hỏi quá nhiều công tù. Trại này từ trước đến giờ, đúng ra, chỉ là trại chuyển tiếp. Do đó, khi được đưa về đây, bọn tù cảm thấy như tự dưng được hưởng một thời gian… dưỡng sức. Tuy nhiên dưỡng sức không có nghĩa là không lao động. Lao động của nhà 1 hiện tại được hưởng chế độ cách nhật. Công tù chỉ được dùng vào việc tưới cây, hoặc lên ít luống khoai trên giải đất nằm bên trong hàng rào và chạy dọc theo con đường Biên Hòa – Tam Hiệp bên ngoài. Cũng có một số được điều động làm đủ thứ công việc linh tinh trên ban chỉ huy trại như xuống xe gạo, xuống xe khoai sắn, sửa nhà sửa cửa cho bọn vệ binh hoặc dọn dẹp vệ sinh nơi khu ăn ở của quản giáo… 
Nhưng đây là công việc của những người “tốt”, vì họ còn được vác cuốc ra gần lề đường, nhìn dòng đời trôi qua cho đỡ thèm thương nhớ; riêng đám Vĩnh không được như vậy. Do ảnh hưởng lần trốn trại vừa qua, kể cả người trốn lẫn người bị nghi ngờ đồng lõa, Ý, Huy, Dương, Điểu và Vĩnh được lệnh không đi lao động bên ngoài trại. Công tác lao động của năm người chỉ là tạp dịch bên trong trại, mà việc chính là quét hội trường, phụ ông bác sỹ già Phạm Văn Triển chăm sóc vườn thuốc Nam, tức thuốc dân tộc, nằm sát góc trại cổng K.5, gồm dăm cây húng quế, tía tô, ít bụi xả, mươi gốc cây Sống Đời… Công tác phụ là tuần hai lần phải xách nước ra rửa sạch hai dãy cầu tiêu nằm cách hội trường một khoảng sân đủ để chơi bóng chuyền.
Vì Y, Huy và Dương mới được thả khỏi connex đứng không muốn vững, do đó lúc ban đầu được chia công tác, hầu như Vĩnh và Điểu cáng đáng hết mọi việc. Phải cả nửa tháng tĩnh dưỡng, ba người bạn mới lại sức để nhảy vào nhập cuộc và tiếng cười bắt đầu hồi phục.



Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 11 Jan 2024

Bài 49

Phần 48

Điểu đã bị lôi lên ban chỉ huy trại vào buổi sáng kế tiếp. Vĩnh được lệnh nằm tại phòng, khỏi phải đi lao động và chờ khung gọi làm việc. Vĩnh nằm nhà và lần đầu tiên trong hai năm qua, lần này Vĩnh thấy mình thực sự rối trí. Hiện tại, Vĩnh hoàn toàn tin tưởng sự cứng rắn của Điểu. Nó nhỏ con nhưng là người lì bậc nhất mà Vĩnh từng thấy trong tù Cộng sản. Chắc chắn Điểu sẽ ngậm miệng không khai bậy. Lạy trời như vậy! Và riêng Vĩnh, ngay bây giờ, đặt trên căn bản Dương Ý Huy đi thoát và Điểu ngậm miệng, Vĩnh phải có ngay một kế hoạch thoát hiểm. Nhưng thoát bằng cách nào?

Vĩnh nằm trong phòng lắng nghe những người bạn già làm tạp dịch ở nhà bàn tán về những người trốn trại. Anh nôn nao cả người. Thoạt đầu Vĩnh thầm trách đám Dương Ý Huy đã quá bạc với đám anh, ra đi mà không cho nhau biết một lời; nhất là Ý, người mà Vĩnh tin tưởng nhất lại là người vô tình nhất! Đã chẳng nghĩ tới bạn bè, lại cũng không hề nghĩ tới việc thủ tiêu đi mớ giấy tờ có nét chữ của Vĩnh từng giao cho anh ta. May mà Ân lấy được, bằng không giờ này chắc chắn Vĩnh đã khốn nạn hơn thế này nhiều. Tuy nhiên hiện nay, qua cơn bối rối, cũng như mọi người, Vĩnh cầu nguyện cho đám bạn bè được đi thoát. Đồng lúc, một nỗi tự tin khác thường lại trở về với Vĩnh. Anh biết rõ anh sẽ phải đối đầu với tụi chỉ huy trại một cách vô cùng gay go nhưng anh tin anh sẽ thoát hiểm, trừ khi số đã tận.

Đầu tiên Vĩnh lục lọi tìm lại cái ống chích cũ. Ta phải giờ trò ho lao trở lại, và kỳ này phải hung hăn hơn kỳ trước. Nghĩ thế, Vĩnh làm mọi cách và ngay trưa hôm ấy, khi xuống nhà bếp tiếp tổ trực của nhà 2 chia cơm chia canh, trước mắt mọi người, Vĩnh lên một cơn ho rũ rượi. Anh ho đến độ gẫy cụp người lại như một con tôm. Thau nước muối của cả nhà bị Vĩnh đánh đổ xuống đất. Anh ho đến ngã dúi vào thau cơm nóng phỏng cả một bên tay. Bạn bè nhào lại tính chuyện đỡ đần Vĩnh qua cơn ho, nhưng rồi những búng máu trong miệng Vĩnh bắt đầu phun ra phì phì khiến không còn ai dám tiến lại gần. Cuối cùng, Vĩnh được khênh trở về phòng và được trực phòng chạy báo quân y. Ít phút sau, cả một phái đoàn trên khung xuống quan sát hiện tượng ho ra máu của Vĩnh. Phái đoàn gồm quản giáo Thừa, chính trị viên và đáng ngạc nhiên thay, tay quân y lại chính là anh chàng vệ binh mới hôm nào còn tâm sự với Vĩnh rằng anh ta bị tịch thu máy cassette…

Sau khi quân y xem xét, Vĩnh được quyết định cho đi viện với tình trạng khẩn cấp. Tên chính trị viên trợn mắt phản đối.

– Tên này chưa cho đi đâu được trong lúc này. Phải đợi khung gọi làm việc đã.

Tay quân y hình như nhớ mặt Vĩnh. Trong đôi mắt hắn rực lên một nét thông cảm lạ thường. Vĩnh đang thắc mắc tự hỏi chẳng hiểu lý do nào đang là một vệ binh bị trù gần chết, hắn bỗng nhiên trở thành quân y tiểu đoàn, thì giọng tên quân y đã nổi lên, đầy cứng rắn và quyết liệt.

– Thưa đồng chí chính trị viên, vì chức năng quân y tiểu đoàn, tôi bắt buộc phải cho anh này đi viện khẩn trương. Nếu đồng chí từ chối, khung sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về cái chết của người bệnh và tôi sẽ phải báo cáo đầy đủ chi tiết lên trên.

Tên chính trị viên có vẻ cáu tiết với tay quân y trẻ tuổi, nhưng thấy nó quyết liệt quá, đành chịu. Sau khi tên chính trị viên và quản giáo đội bỏ đi, tên quân y nhìn Vĩnh rồi nói với người trực nhà.

– Anh coi chừng anh này. Tôi về lấy thuốc cầm máu tiêm cho anh ấy rồi mới tính chuyện cho đi viện được.

Quả tình Vĩnh không lường nổi số anh may mắn đến thế. Đang nằm ho húng hắng cho đều nhịp tang thương thì Vĩnh bỗng giật mình đánh thót. Tên chính trị viên đã trở lại với hai thằng vệ binh tay lăm lăm hai khẩu AK. Vừa bước vào tới cửa, tên chính trị viên đã hỏi ngay người trực nhà.

– Đồng chí quân y đâu.

Trực nhà đáp.

– Báo cáo anh quân y bảo tôi canh chừng anh Vĩnh, anh ấy về khung lấy thuốc cầm máu.

Tên chính trị viên cằn nhằn.

– Cầm với lại chẳng cầm. Thằng này chắc lại phải hạ tầng công tác cho ra khỏi ngành một lần nữa mới được. Nói rồi hắn xoay sang Vĩnh đang nằm trên nền nhà. Hắn tiếp: Anh kia, ngồi dậy nổi không?

Vĩnh đưa đôi mắt mệt nhọc nhìn hắn và nghĩ bụng lúc này cần phải kịch hơn lúc nào hết. Nghĩ vậy, Vĩnh bắt đầu lên cơn ho trở lại. Chỉ tiếc hiện Vĩnh không còn cách nào ho ra máu được nữa. Thế nhưng dù có ho đến đâu, tên chính trị viên vẫn mặc. Hắn xoay sang hai tên vệ binh.

– Hai đồng chí xốc nách đưa lên khung cho tôi.

Thế rồi Vĩnh bị dựng đứng dậy, bị xốc nách và bị lôi một mạch về phía ban chỉ huy trại.

Vừa bước lê trên đường Vĩnh vừa cố giữ nhịp độ những cơn ho cho thêm phần thê thảm. Riêng tên chính trị viên và hai tên vệ binh không ai thèm nói một lời. Chúng chỉ lẳng lặng lôi Vĩnh băng qua con đường để bước sang phạm vi ban chỉ huy trại 4. Vừa tới cổng, tên chính trị viên vượt lên một mình và đi thật nhanh vào một dãy nhà tranh trước mặt. Vĩnh muốn quan sát một chút nên anh giả bộ lên cơn ho thật dữ dội. Hai tên vệ binh dìu anh đi dĩ nhiên không lấy gì làm thoải mái cho lắm. Thấy Vĩnh ho một phần trông thê thảm quá, một phần cũng sợ lây, chúng đồng ý cho anh ngồi tựa vào vách một căn nhà nhỏ nằm kế một dãy connex để nghỉ lấy sức.

Một tên nói.

– Ngồi yên đây nghỉ nghe chưa! Đợi lệnh vào làm việc với đồng chí an ninh nghe chưa.

Nói đoạn hai tên vệ binh cũng nhanh chân bước vào căn nhà tranh trước mặt.

– Anh Vĩnh!

Thốt nhiên Vĩnh giật mình vì một tiếng gọi rất khẽ phát ra từ trong căn nhà nhỏ mà anh ngồi dựa lưng vào vách. Vĩnh ngó qua kẽ hở những miếng ván vách và anh hoảng hồn nhận ra Phạm Điểu, người bạn nhỏ gốc Quảng Nam vô cùng cương trực mà anh đã quen biết từ những ngày đầu trình diện ở Lê Quang Định. Điểu đang ngồi chồm hổm trên mặt đất, hai tay bị trói giật cánh khỉ…

– Mày hả Điểu? Có sao không?

Điểu quay nhìn sang dãy connex, rồi quay lại nhìn Vĩnh.

– Nó đánh bạo lắm anh Vĩnh. Anh coi chừng đó nghe.

– Nói thật cho tao biết, mày nói thế nào về tao để tao biết đường tính.

Điểu cựa quậy trong chỗ ngồi một chút như để cho máu huyết chạy đều hơn. Vĩnh cố nhìn xem mặt mày nó có xây xát bầm dập lắm không. Tuy nhiên, bên trong căn nhà quá lụp xụp, sự tăm tối khiến Vĩnh khó có thể nhìn rõ nét mặt Điểu. Anh chợt tiếp. Mày ngồi xích lại đây phải dễ nói chuyện không?

– Đâu được anh! Bộ anh không thấy hai chân tôi bị nó cùm vào cây cột đóng ngay dưới chân hay sao?

Vĩnh cố quan sát dưới chân Điểu và nhận ra cái cọc được đóng sát xuống mặt đất. Hai chân Điểu có hai cái còng móc vào một khoen sắt dính liền với cây cọc. Giọng Điểu vẫn thều thào. Anh yên tâm. Tui không đả động gì tới anh hết mặc dù tụi nó hỏi về anh nhiều lắm. Tôi chỉ nói khơi khơi có liên hệ ăn uống với đám anh Huy thôi. Tui nói tui con bà Phước không ai thăm viếng, mấy anh có nhiều đồ ăn, tui chơi với mấy anh để kiếm ăn thôi.

Vĩnh chưa tin lắm vẫn hỏi gằn.

– Chắc không mày?

– Chắc!

– Tao chỉ muốn biết chắc để dựa vào đó mà đánh lạc hướng tụi nó. Hai thằng trống đánh xuôi kèn thổi ngược vỡ mặt cả đám.

Điểu vẫn nói khẽ.

– Trơi ơi bộ tui không hiểu sao! Sức tui vậy chứ nó đánh ba ngày chưa chết. Sức anh nó đá một đá có đường đi thăm Bác. Tui không hại anh đâu anh Vĩnh ơi.

Vĩnh vừa tính nói thêm thì một thằng vệ binh cầm súng từ trong dãy nhà tranh bước ra. Nó ngó Vĩnh, hỏi.

– Khỏe chưa? Làm việc với cán bộ được chưa?

Vĩnh ra dáng thểu não.

– Dạ tôi đỡ ho rồi anh.

– Vậy thì đi!

Vĩnh kín đáo thò một bàn tay vào trong kẽ vách ra dấu trấn an Điểu rồi uể oải đứng lên. Trong lúc đi theo tên vệ binh, Vĩnh vừa mừng vừa lo. Mừng là anh cảm thấy vở kịch mình đang đóng đã suông sẻ theo đúng dự trù, ít lắm là đến lúc này; nhưng lo là không hiểu chúng nó sẽ xử trí với anh ra sao? Nếu đánh, nó sẽ đánh bằng kiểu cách nào? Nhớ lại lần bị bọn an ninh trên Trảng Lớn đập một trận do cái vụ không khai báo nghề viết lách Vĩnh vẫn còn nhợn. Dù sao hồi ấy mới vào tù, 50 kgs xương da ăn đòn tương đối còn chịu nổi. Ngày nay sau hai năm tù, Vĩnh chỉ còn trơ một bộ xương khô với đủ thứ bệnh trong người, lãnh một trận đòn đường xuống tuyền đài co mòi không lấy gì làm dài cho lắm.

Tên vệ binh dẫn Vĩnh bước qua ngưỡng cửa. Căn phòng hiện ra trước mắt không có gì nhiều hơn một nền đất được nện thật cứng. Một cái bàn dài với hai hàng băng ghế kê hai bên. Sâu bên trong, gắn trên vách ván một lá cờ đỏ sao vàng và bên trên lá cờ ấy có một tấm ảnh Hồ Chí Minh được lộng kiếng đàng hoàng. Vĩnh ngước nhìn lá cờ và tấm ảnh. Lá cờ còn rất mới, duy tấm ảnh đã cũ, mọi màu sắc đều đã biến thành một màu vàng ố, tuồng như đã bị ngâm trong nước tiểu nhiều ngày.

Dừng chân nơi ngưỡng cửa, Vĩnh còn thấy nơi khung cửa phía sau thấp thoáng dăm ba thằng bộ đội. Chúng đứng bàn tán nho nhỏ với nhau. Chưa kịp lắng tai xem chúng đang làm gì, Vĩnh đã bị tên vệ binh đẩy vào một căn phòng nằm bên trái căn phòng giữa.

– Ngồi xuống góc nhà đó!

Tên vệ binh ra lệnh và Vĩnh đảo mắt thật nhanh quan sát căn phòng cùng lúc ngồi xuống đất. Căn phòng này cũng như mọi căn phòng khác: Nền đất, vách ván, mái tranh… sản phẩm của sức lao động tù cải tạo. Nơi đây không có dấu hiệu gì cho thấy là một căn phòng đặc biệt để thẩm cung của bọn an ninh. Nó chỉ có một cái bàn nhỏ, đàng sau cái bàn là một cái giường có chiếu và chăn màn gấp tương đối ngăn nắp. Trên mặt bàn để dăm ba tập hồ sơ, một cái điếu cầy và một cái cóng sữa làm gạt tàn… Tên vệ binh thấy Vĩnh đã ngồi yên nơi một góc phòng, nó tiếp. Tốt! Giờ ngồi yên đó đợi đồng chí thủ trưởng vào làm việc.

Nói đoạn nó quay ra ngoài. Giờ Vĩnh mới đoán ra được có lẽ đây là phòng ngủ kiêm phòng làm việc của tên thủ trưởng. Nghĩ xong Vĩnh lại thấy vô lý. Thằng thủ trưởng cớ gì phải lo vụ này? Nhiệm vụ của tụi an ninh chứ! Thế nhưng Vĩnh không có thì giờ để thắc mắc nhiều hơn. Anh vội vàng ôm lấy ngực húng hắng một tràng ho khi nhác thấy bóng một cái áo xanh vừa xuất hiện nơi phòng ngoài. Đúng thằng thủ trưởng rồi!

Thằng thủ trưởng bước vào phòng. Hắn nhìn Vĩnh đang húng hắng ho với một nét e ngại rồi lên tiếng hỏi.

– Sao, nghe nói ho ra máu hả?

Vĩnh vờ vịt.

– Vâng, tôi bị lao lâu rồi thưa anh. Sáng nay lại ra máu nữa.

Tên thủ trưởng bước lại giường và ngồi xuống. Hắn nhìn một mảnh giấy trên bàn rồi nhíu mày. Kế hắn ngó Vĩnh với một ánh mắt khác lạ.

– Có thực anh ho ra máu không?

Vĩnh đủ khôn ngoan để không trả lời câu hỏi. Anh ngước nhìn tên thủ trưởng và cố gắng hết sức tạo cho ánh mắt mình một cái nét vừa ngây thơ vừa kinh ngạc; một cái nét sao cho tên thủ trưởng phải hiểu rằng câu hỏi của hắn là một trong những câu hỏi ngớ ngẩn nhất trên đời! Có lẽ tên thủ trưởng đã đọc được câu trả lời trong ánh mắt Vĩnh. Hắn cúi xuống lục trong đống giấy tờ như tìm một cái gì đó, miệng đổi giọng dọa dẫm. Tội anh nặng lắm anh có biết không? Anh đã đồng lõa và giúp phương tiện cho những tên phản động trốn trại. Khung hiện đã nắm vững ai tổ chức và ai chỉ đạo vụ này. Tôi bảo thẳng cho anh biết, anh là một trong những tên đạo diễn.

Vĩnh nghi ngờ có cái gì hơi trục trặc trong vụ này, do đó chính tên thủ trưởng đã gọi anh lên làm việc mà không đẩy anh sang ban an ninh. Dù nghĩ vậy nhưng việc cấp thiết là Vĩnh phải đóng sao cho vai kịch được nhịp nhàng, chuẩn xác và không thể có một hành động hay lời nói nào dư thừa trong lúc này. Thốt nhiên trong đáy lòng Vĩnh nổi lên một cảm trạng chua xót lạ thường. Vì đâu ta lại phải trở thành một thứ kịch sỹ đê tiện như thế này? Thế nhưng nỗi niềm tự ngượng của Vĩnh không có quá nhiều thì giờ để phát triển. Bản năng tự cứu để sinh tồn lúc này mạnh hơn. Nó càng mạnh hơn khi tên thủ trưởng đập một tay lên bàn, nói lớn. Thằng Điểu khai hết cho an ninh rồi. Đây là một phương án trốn trại có thể nói quy mô nhất từ trước đến nay. Chính thằng Điểu đã cung cấp một danh sách 17 người trong đó có anh. Nói đoạn tên thủ trưởng vỗ vào một trong mấy tờ giấy trên bàn, tiếp. Đây, danh sách tôi đã có đủ cả. Anh liệu mà khai.

Vĩnh hoàn toàn không nao núng tí nào về lời dọa non dọa già của tên thủ trưởng. Anh chỉ đang nghĩ cách làm sao ho được một trận cho ra trò là có thể hóa giải nhiều chuyện trong lúc này. Thằng thủ trưởng thấy Vĩnh húng hắng ôm lấy ngực, hắn vẫn lờ đi và tiếp tục. Tôi cũng báo cho anh biết, ba thằng trốn trại Dương Ý Huy đã bị nhân dân bắt ngay ngoài rào trại và sắp bị giải về đây…

Hắn nói gì thây kệ hắn, mọi cái Vĩnh đều coi như những lời lẽ chận đầu không đáng để lưu tâm sợ hãi. Và rồi như dự tính, Vĩnh bắt đầu lên một cơn ho. Cơn ho mỗi lúc một dữ dội cho đến lúc anh cụp người xuống trên nền đất…

Tên thủ trưởng coi bộ cũng ngán kẻ ho lao. Hắn nói. Nếu muốn được Cách mạng chiếu cố chữa trị, anh cứ thành thật khai báo hết với tôi đi. Anh đóng vai trò gì trong tổ chức này? Ba thằng Dương Ý Huy trốn và dù đã bị bắt lại, Cách mạng vẫn muốn biết chúng nó tính trốn đi đâu? Ai sẽ giao liên chỉ đạo? Ai sẽ tiếp nhận? Mục đích gì? Trong trại ngoài anh ra còn ai có chân trong tổ chức này?…

Dù đang cố rống lên những cơn ho nhưng tai Vĩnh vẫn nghe rất rõ từng câu của thằng thủ trưởng. Vĩnh bỗng ngước mắt lên. Anh lấy giọng khàn đục nhưng không kém cả quyết.

– Anh nhìn tôi xem. Nếu như anh có dự mưu trốn trại, có bao giờ anh chọn một người bạn đồng hành ho lao và đau yếu như tôi không? Lôi tôi theo để cõng tôi rồi chôn tôi dọc đường à?

Tên thủ trưởng lộ vẻ ngỡ ngàng trước câu trả lời thật rõ ràng của Vĩnh. Trong lúc hắn không biết xử trí ra sao thì Vĩnh lại bắt đầu lên một cơn ho khác. Để thêm phần ghê gớm, Vĩnh nhổ cả trên nền đất… Tên thủ trưởng có vẻ ớn sợ. Hắn không buồn hỏi thêm và quay ngay ra ngoài. Một lúc sau, Vĩnh thấy tên quân y trẻ tuổi bước vào và hậm hực nhìn Vĩnh.

– Tôi đã bảo anh nằm yên tại phòng, tôi đem thuốc xuống tiêm rồi cho đi viện. Tại sao anh đi theo họ làm gì?

Vĩnh không thể hiểu được tại sao mới tuần trước tên quân y trẻ tuổi này còn hoàn toàn là một người thất thế lẻ loi và đầy uất ức vì mặc cảm bị trù trong đơn vị, tại sao hôm nay nó lại ngang bướng và tỏ ra nhiều quyền hành như thế này? Hay là chúng nó cũng đang kịch với mình?

Nghĩ thế nhưng Vĩnh vẫn trả lời.

– Báo cáo anh, chính trị viên bắt tôi đi thì tôi phải đi. Vả lại chính trị viên cũng nói chưa làm việc xong chưa được đi viện. Tôi làm sao được!

Tên quân y có vẻ rất bực mình. Nó lẩm bẩm mấy lời hăm he gì đó rồi bỗng nhiên nghiêm khắc bảo Vĩnh.

– Nằm xuống đó. Cứ nằm lăn trên đất và co quắp người lại cho tôi. Rên ho càng nhiều càng tốt. Tôi sẽ cho khênh anh sang viện ngay. Và tôi sẽ báo cáo bỏ bố chúng nó.

Vĩnh đi từ kinh ngạc này sang kinh ngạc khác. Tuy nhiên thấy chú lỏi quân y có vẻ quá tốt với mình, và đang cố buộc mình đóng thêm một tí kịch do chính chú đạo diễn, Vĩnh đành nằm lăn xuống đất cho khỏe.

Tên quân y bỏ đi và chỉ vài phút sau nó trở lại với cả thủ trưởng, chính trị viên và quản giáo đội.

Vĩnh sung sướng nằm nghe chúng đấu tranh sai trái nhau, cuối cùng anh mừng hơn nữa lúc biết chắc thằng thủ trưởng đã cho phép quân y khênh thẳng anh sang khu bệnh xá của tù.

Nằm trên cáng lại do quân y khiêng, Vĩnh vừa húng hắng ho vừa cố suy nghĩ chuyện tiến thoái sắp đến. Khi đi ngang qua căn nhà tranh đầu dãy connex, Vĩnh lén nhìn qua khung cửa sổ vào trong nhưng tuyệt nhiên không còn thấy Điểu ở đó.

Vĩnh được khênh đến trước văn phòng khu bệnh xá mới của tù, thì những đội lao động ngoài các hiện trường quanh căn cứ đã bắt đầu thứ tự hàng tư trở về các dãy trại cho giờ ăn trưa. Như hai lần trước, thủ tục nhập trại không có gì quá nhiêu khê. Trợ y Tính ghi tên, tuổi, trại, đội, tổ vào sổ; hỏi han dăm câu rồi chờ bác sỹ đến khám. Trong lúc chờ đợi, bệnh nhân cứ việc ngồi tại chỗ trong phòng nhận bệnh. Kể từ lúc trợ y Tính ghi tên vào sổ, hai tên quân y trại 4 coi như hết trách nhiệm và rút lui. Vĩnh ngồi ngó ra những dãy cột điện mới trồng chạy từ con đường nhựa vào con đường mới đắp trước mặt khu bệnh xá. Những dãy cột điện này là kết quả lao động của toán thợ điện Lê Văn Tần… Xa xa cái trạm gác cao ngất gần góc trại 4 vẫn đứng sừng sững trong trưa nắng. Những họng súng AK có gắn lưỡi lê nhọn hoắt từ trên trạm gác chỉa ra cả bốn phía. Những đoàn người từ các hiện trường lao động phía Bắc lần lượt chui qua chân trạm gác trở về trại. Vĩnh chợt nhớ hai đêm trước, ba người bạn thân thiết của anh đã đi theo đường hào nằm ngay bên chân trạm gác và vượt thoát ra ngoài. Giờ họ ở đâu? Trên đường đi của họ có gì trục trặc không? Nhớ lại lời đe dọa ban nãy của tên thủ trưởng, rằng ba người đã bị nhân dân bắt giữ, Vĩnh chỉ mỉm cười.

Đang suy nghĩ lan man, thì tên bác sỹ Việt cộng bước vào. Hắn nhìn Vĩnh bằng một ánh mắt có nhiều ác cảm rất bất thường trước khi cất tiếng hỏi han về bệnh trạng. Cái gì chứ khai về bệnh lao thì Vĩnh đã quá rành, rành đến độ một bác sỹ Việt cộng cũng sợ… không muốn đứng gần anh thêm một giây phút nào nữa. Sau cùng, hắn bước ra ngoài dặn dò trợ y Tính. Vĩnh không nghe rõ lắm, nhưng cũng hiểu được quá bán những điều tên bác sỹ nói.

– Tên này đang bị điều tra vì có dính líu với bọn trốn trại bên trại 4, thuộc thành phần không tốt và cần phải có biện pháp canh phòng ngày đêm… Cho nó sang nằm khu cách ly 1…

Vĩnh chỉ nghe có thế nhưng anh lại cảm thấy may, may ở chỗ anh biết chắc thằng chính trị viên trại 4 đã có lời gửi gấm anh đặc biệt nơi đây; và như thế, Vĩnh sẽ cẩn thận hơn để không tỏ lộ một hành động nào sơ hở hầu mối nghi ngờ của chúng có dịp tăng thêm.

Khi trại bệnh phát cơm thì Vĩnh cũng được dẫn xuống khu cách ly. Khu cách ly là một căn nhà lá nền đất rất nhỏ nằm cạnh dãy trại bệnh thường chừng 50 thước. Trong căn nhà này chỉ có ba cái phản gỗ cong queo vì sức nóng của những tháng vừa qua. Tính quăng cái túi đồ của Vĩnh lên một tấm phản rồi nói.

– Đây là khu cách ly. Anh là người thứ hai vào nằm đây. Trước có một tay bị cùi nhưng biên chế đi đợt tháng Năm vừa qua rồi. Cũng dặn anh trước, nằm khu này cấm ngặt không được bén mảng sang khu trại thường bên kia. Cấm không được xuống bếp của trại bệnh, không được dùng giếng của trại bệnh trừ cái giếng của khu cách ly ngay bên hông nhà… Mỗi bữa sẽ có người xuống lấy lon cóng của anh và lên bếp nhận phần ăn cho anh. Nhớ đừng liên hệ linh tinh với anh em trại bệnh thường nghe. Bác sỹ bắt được đuổi về ngay ráng chịu…

Vĩnh ơ hờ nghe Tính dặn dò. Khi Tính bỏ đi, lòng vừa buồn vừa lo, Vĩnh ra ngoài thềm ngồi ngó quanh. Bây giờ anh mới nhận ra nhà cách ly có rào ba phía chung quanh. Phía trước không rào vì có vuông sân dài mút sang phía trại bệnh thường đối diện. Vĩnh đi vòng ra lối sau căn nhà cách ly quan sát. Trước mặt anh là những thửa đất rộng bát ngát đang được khai quang. Phía trước mặt là hướng phi trường Biên Hòa, phía trái là khu ruộng lúa mà đám Vĩnh đã đổ bao nhiêu mồ hôi nước mắt vào đó, phía phải vẫn là rừng hoang… Vĩnh nhìn kỹ hơn và phát hiện ra có nhiều, rất nhiều trạm gác rải rác khắp đó đây. Những trạm gác này thực ra không đúng là những trạm gác, mà là những cái chòi lụp xụp như những cái chòi của phường chăn vịt thường thấy trên con đường đi miền Tây. Những cái chòi như thế hẳn là không thiếu một thằng vệ binh nằm nghêu ngao nhưng có trang bị đầy đủ súng ống.

Chừng 2 giờ trưa Phạm An Toàn mới tới lấy lon cóng của Vĩnh đi nhận hộ phần ăn trưa. Hình như Toàn đã được thông báo trước về tình trạng hiện tại của Vĩnh nên hắn có vẻ rất thủ thế và hà tiện lời nói với anh. Một cách khinh khỉnh, hắn bỏ lon guigoz cơm canh của Vĩnh ngoài thềm đất, nói vọng vào trong nhà.

– Ăn rồi rửa sạch để ngoài thềm phơi nắng cho chết vi trùng nghe cha. Đừng trốn nghe cha nội. Rầu anh em lắm đó.

Vĩnh giận sôi máu. Anh muốn nhảy ra cửa cắn rách lỗ tai thằng chó đẻ, hoặc ít lắm cũng phải chửi thề một câu thật tục tĩu cho bõ ghét. Thế nhưng Vĩnh đã dằn được cơn nóng xuống. Anh chậm rãi bước tới thềm nhà cầm lon cơn lên và cất lời từ tốn.

– Cám ơn bạn.

Vĩnh chưa kịp nói thêm một câu gì khác thì cả anh lẫn Toàn đều giật mình hướng về con đường nhựa phía góc trại 4. Nơi ấy, những tiếng súng chỉ thiên thay nhau nổ vang giữa trời trưa nắng. Thế rồi trong một chớp mắt, Vĩnh có cảm giác như tim anh mới vừa trúng một phát đạn. Không, không phải thế, đúng hơn, anh vừa bị một thằng khổng lồ vô hình tung vào giữa mặt một quả đấm nặng ngàn cân. Vĩnh muốn té dúi người xuống, và chỉ vài giây trôi qua, quả thực Vĩnh không còn đứng vững được nữa. Anh ngã bệt xuống thềm đất, lon cơm trên tay rơi vãi khắp nơi. Riêng Phạm An Toàn cũng đã hiểu ra chuyện gì. Hắn vùng chạy về phía văn phòng trại bệnh gần chỗ có những tiếng súng nổ.

Vĩnh định thần nhìn cho kỹ hơn. Thật hay mơ đây? Trên con đường nhựa từ hướng khu canh tác phía Bắc dẫn đến góc trại 4, cả chục thằng vệ binh đang đấm, đá, chửi, xô, đẩy, phang báng súng lên đầu lên cổ ba người khác. Những người này, trông dáng đi lom khom của họ. Vĩnh thừa biết họ đang bị trói bằng một thế trói tuyệt kỹ của Việt cộng: Trói hai đầu ngón tay trỏ kéo chằng ra sau gáy. Hai sợi thừng (hoặc dây dù) sẽ được từ sau lưng luồn qua háng để kéo ngược lên và buộc thật chặt trên cổ. Người bị trói lúc nào cũng ở thế gập người lại để hai sợi dây được hưởng một độ chùng tối thiểu, bằng không nó sẽ tự động xiết chặt vào hai hòn dái bên dưới.

Ba hình nhân khốn khổ hiện đang xuất hiện trước mắt Vĩnh không ai khác hơn là Dương, Ý và Huy. Vĩnh quay vào trong và vật mình xuống tấm phản. Đầu óc anh quay mòng mòng. Trước mắt Vĩnh hiện ra một cuộn chỉ thời gian thật lớn. Cuộn chỉ ấy đã được kéo ra, kéo ra… Và cho đến nay, cả miền Nam đã được hưởng hết năm thứ hai sống với thiên đường Cộng sản: Dĩ nhiên chẳng ai ngây thơ như cái cậu bé trong chuyện cổ tích Cuộn Chỉ Thần, sống cho đã một kiếp “độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc” rồi lại mưu đồ quấn lại cuộn chỉ… Với riêng đám Vĩnh, đến ngày hôm nay, dĩ nhiên cũng chẳng thể quấn lại cuộn chỉ, mà còn đang lâm vào một tình trạng quá ngặt nghèo: Mớ chỉ thời gian hai năm đã tháo ra giờ lại rối tung không mong gì gỡ nổi…

Vĩnh thiếp vào giấc ngủ mệt mỏi. Anh mơ màng thấy thằng Phạm An Toàn đứng bên cạnh thằng chính trị viên, đang lén lút theo dõi anh qua những kẽ hở trên vách ván…

——————————–

1          Sau hai năm thiết lập hệ thống cải tạo quy mô ở miền Nam, mãi đến tháng 4 năm 1977 bệnh xá của trại An Dưỡng mới có một căn nhà riêng dành cho những người bị tứ chứng nan y nằm. Căn nhà này gọi là nhà cách ly.

Nhạc sĩ Trường Sa, phận đời thứ hai và những tác phẩm mới

phusaonline.free.fr

PSN – 27.11.2010 |

Nguyễn Mạnh Trinh

Post by Sơn râu 10 Jan 2024

Có những câu hỏi, tôi tự đặt ra khi nghe xong một loạt những bản nhạc của nhạc sĩ Trường Sa. Là, hình như có một điều gì của đời sống thực tế đã được nghệ thuật làm biến đổi thành những cảm giác nửa hư nửa thực của một thế giới khác, rộng khắp hơn và cũng lãng mạn bềnh bồng hơn. Nghe nhạc Trường Sa, thấy cuộc nhân sinh như dời đổi theo những chu kỳ của định mệnh, và con người trong những hoàn cảnh đặc biệt của thời thế như bị lôi kéo vào một cơn lốc xoáy điên cuồng không cưỡng chống nổi.

Khởi đầu với một bản nhạc có lẽ cũng bình thường không xuất sắc mấy, “Mây Trên Đỉnh Núi” viết cho một người bạn tên Hoàng là xướng ngôn viên của Đài Phát thanh Đà Lạt. Và để rồi sau đó nổi tiếng với những bản nhạc thời trang viết về đời sống thực của người lính Hải Quân lãng mạn trên sông nước với những chuyến tàu ra khơi và những chuyến cập bến ở những bản nhạc kế tiếp. Chất sống động, cũng như ngôn từ giản dị cận gần cuộc sống đã làm thành những nhạc khúc đuợc phổ biến sâu rộng trong đời sống thường nhật dân gian. Những ca khúc như Một Lần Xa Bến, như Hành Trang Giã Từ, như Chuyện Tình Người Đan Áo, … mọi người nghe, mọi người hát đến quen thuộc đã làm tên tuổi Trường Sa nổi bật hơn.

Viết nhạc về chính đời lính của mình, nhạc sĩ Trường Sa có lần đã trả lời câu phỏng vấn của nhà văn Điệp Mỹ Linh hỏi sẽ chon danh xưng nào giữa một sĩ quan Hải Quân ngành chỉ huy và danh xưng của một nhạc sĩ tài danh: “Là một thiếu tá HQ tôi rất hãnh diện đã phục vụ cho lý tưởng tự do đó là hoài bão của một thanh niên đầy nhiệt huyết trước nhu cầu của đất nước đó cũng là danh dự của một đời người, tôi không thể không chọn lựa danh xưng này. Mọi người sinh ra đều có những năng khiếu khác nhau. Viết một ca khúc, trước hết mình đã phần nào là một người làm thơ và mình cũng phải có một giác quan rất bén nhạy mới có thể tạo ra được những chuỗi âm thanh hài hòa để người nghe cùng rung động với tâm tư của mình. Vì vậy trong âm nhạc tôi cũng không thể không nhìn nhận đây là nhu cầu vô cùng cần thiết cho đời sống tinh thần…

Có lần nhạc sĩ Từ Công Phụng đã tâm sự với ông :”Hơn ba mươi năm trước có một lần tôi đã nói với Trường Sa về Tình ca khi anh hỏi tôi tại sao tôi chọn con đường sáng tác ấy. Nếu tình yêu là lẽ sống đẹp đẽ nhất của loài người thì tình ca chính là những lời phủ dụ ngọt ngào được cất lên để ca ngợi tình yêu. Nếu chim muông chỉ có một thời để ca hát, cỏ cây chỉ có một thời để xanh tươi và loài người chỉ có một thời để yêu thì đó chính là cái thời đẹp nhất của chúng ta. Tôi đã không ngần ngại chọn con đường viết tình ca để bày tỏ niềm hân hoan và biến cái khoảnh khắc hạnh phúc đó trở thành vĩnh cửu và hiến dâng cho đời. Tôi vẫn nghĩ Tạo Hóa đã ban cho loài người trái tim biết rung động, tâm hồn biết thổn thức và ngôn từ để diễn tả cái đẹp của tình yêu thì tại sao chúng ta không làm cho cuộc đời thăng hoa bằng những bản tình ca?…”

Nhạc sĩ Trường Sa có lẽ cũng yêu những bản tình ca. Nên nối tiếp là dòng nhạc của tình yêu, những ca khúc buồn, những chuyện tình dở dang, những nỗi niềm trong tâm khó ngỏ. Nhạc sĩ đã sống với con tim mình và ngôn ngữ cùng âm nhạc để nói lên tâm tư của mình qua những cuộc tình buồn mà ông gọi là “đành đoạn”. Để tiễn đưa mối tình buồn thảm ông viết ”Rồi mai tôi đưa em” trong hơn hai năm dài tính từ khi khởi đầu nốt nhạc đầu tiên đến lúc chấm dứt cung bậc cuối cùng. Và với Xin Còn Gọi Tên Nhau và Mùa Thu Trong Mưa, cùng giọng hát Lệ Thu đã thành những tuyệt phẩm âm nhạc để đời. Những tình khúc này trau chuốt một cách gián tiếp và khéo léo với ca từ chuyên chở được tâm cảm của người đang yêu, đã yêu và nuối tiếc vì yêu. Những nhạc sĩ đã cùng viết tình ca như ông và cùng nổi tiếng hình như cùng thời với ông như Từ Công Phụng, như Ngô Thụy Miên đã lên tiếng tán thưởng người đi chung đường với họ.

Năm 1973 ông viết Một Mai Em Đi, … một tình khúc mà ca từ giản dị nhưng sâu lắng và sự tha thiết níu kéo dường như là chất nam châm để thu hết về những từ lực ngậm ngùi khắc khoải. Lời như bàn tay vỗ về gói tròn lại những thương yêu mong manh dường như đang trong thời tan biến: ”Một mai em đi gọi gió thả mây về ngàn / xin tạ lòng người tình ta hư không thế thôi / đời vui không mấy niềm đau đã chín kiếp người / lòng đâu phụ nhau thêm nữa khi mai không còn có nhau?”

Rồi đến năm 1975, cơn hồng thủy của đất nước Việt Nam, người nhạc sĩ và cũng là một sĩ quan cấp tá của HQVN, người đã đến đảo Guam nhưng vì nặng tình gia đình không thể bỏ vợ con nên đã trở về theo tàu VN Thương Tín và bị tù đầy hơn mười năm trong trại giam Cộng Sản. Sau đó, lại vượt biên, lại bị tù hai năm rồi trở về và sau đó lại lái tàu vượt biển thành công sang Canada định cư. Rồi sau đó đoàn tụ gia đình rồi người vợ có 4 mặt con lại ra đi vĩnh viễn trong một tai nạn…

Bao nhiêu biến cố ấy, bao nhiêu nỗi niềm ấy, đã là một khởi đầu cho chân dung một nhạc sĩ thứ hai mang tên Trường Sa. Có bản nhạc của hoài niệm, về một người thân yêu đã xa, về một đời sống hải hồ đã cũ, về một thành phố Sài Gòn thân yêu đã mất tên. Nhưng, cũng có những bản nhạc, về một cuộc sống mới, về một cuộc tình khởi đầu trong tuổi già. Có những đau đớn hân hoan và cũng có những bất hạnh tận tuyệt. Trong cơn mưa Sài Gòn có ánh nắng xứ người, trong dáng hình người tình mới có thấp thoáng vóc dáng người vợ cũ. Và trong ly tan có trùng phùng, trong niềm vui có pha lẫn nỗi buồn.

Chúng ta hãy đi theo dòng nhạc Trường Sa, một hải lưu đắm đuối chất ngất tình cảm, để trở về lãnh địa yêu thương xưa và đi vào không gian và thời gian của cuộc tình đang hiện hữu như một gọi mời của một tương lai xanh ngạt ngào mùi cỏ mật…Từ khi bắt đầu cuộc sống lưu lạc xứ người, ông đã sáng tác được trình diễn trên các sân khấu của Trung tâm Thúy Nga, Trung tâm Asia, Trung Tâm Thùy Dương, …: Xin Yêu Nhau Dù Mai Nữa, Mùa Xuân Sao Chưa về Hỡi Em, Những Mùa Thu Qua Trên Cuộc Tình Tôi, Khi Chuyện Tình Đã Cuối, Bản Tình ca Cho Kỷ Niệm, Paris Em Về, Đôi Mắt Em Tôi, Một Thoáng Mơ Phai, SaiGòn Ơi Tôi vẫn Còn Em Đó, Thu Vẫn Qua Đây Mình Ta, Hạnh Phúc Hôm Nay, …

Trường Sa sáng tác âm nhạc như sống lại với một phần đời của mình. Ở đó, có những biến cố thời thế có mặt cho những dấu tích của tình buồn, của những điều mà định mệnh đã chờ sẵn. Không phải một người lính dày dạn chiến trường, một người sĩ quan Hải Quân cấp tá không thông hiểu Cộng sản mà theo tàu Việt Nam Thương Tín để trở về và bị tù ngục hết mười năm. Nhạc sĩ cũng đành phải ngậm ngùi với tình cảm gia đình quá nặng, không thể bỏ rơi vơ con trong những đe dọa của cuộc đời.

Trong bản nhạc Một Thoáng Mơ Phai, chúng ta cảm nhận được gì? Từ những lời thủ thỉ, có khi là những câu hỏi, có khi là những vương vấn thoảng qua, nhạc và lời nhắc nhở lại những kỷ niệm. Điệp ngữ “em có hay”, mỗi một lập lại trong ca khúc như những kêu gọi tìm về của những vấn nạn hỏi mà chẳng cần trả lời. Em. Tôi. chỉ là những kẻ lạc loài trong dòng sống hôm nay và có lúc như là bóng hình của lung linh phảng phất. Em đã đi, trả lại những mùa xuân xứ người, để như một thoáng mơ phai, dù lúc nào cũng hiện hữu trong hồn nhưng vẫn chỉ là nhòa nhạt hư không. Em có hay? Có phải chỉ là câu hỏi cho một người, mà còn có thể cho hai người và cho cả nhiều người trong chúng ta nữa…

Một bản nhạc khác, Những Mùa Thu qua Trên Cuộc Tình Tôi, là nỗi niềm dàn trải của quá khứ nhọc nhằn. Khi nói về những ngày tù ngục Việt Nam coi như khoảng thời gian gián đoạn sáng tác, nhạc sĩ Trường Sa đã viết : ”Trong mười lăm năm mất đi đó, phải kể là giai đoạn hoàn hảo của một đời người vì hoàn cảnh đất nước và số phận con người không thoát ra khỏi giòng nghiệt ngã, đau buồn. Nhìn lại quá khứ khi phải sống cuộc đời viễn xứ, phải xa quê hương mến yêu cùng với những người thân, bạn bè và cả một thời yêu dấu trong chiếc nôi vô cùng êm ấm mà đau xót. Từ những niềm ưu tư đó, tôi đã viết ra một số ca khúc hướng về Sài Gòn như Những Mùa Thu Qua Trên Cuộc Tình Tôi, Sài Gòn Ơi Tôi Còn Em Đó, Giấc Mơ Nghìn Trùng. Từ Một Ước Mơ và nỗi cô đơn trong buổi chiều cuộc đời khi nhìn về phía quê nhà như ca khúc Đường Chiều Một Bóng… ”

Nhưng có khi Sài Gòn với hình bóng Em chỉ là một, là những kỷ niệm chẳng thể nào quên trong đời. Sài Gòn xưa cũ vẫn còn muôn năm của mùa thu tình yêu réo gọi. Như giọt nước mắt khóc người trăm năm. Như hình bóng Em của mặn nồng quấn quýt của những lối xưa ngõ cũ đi về theo hai mùa mưa nắng. Ơi những giấc mơ của nỗi niềm lẻ loi của những hình ảnh sầu xứ lạc loài hôm nay nhắc mãi đến không gian nào thời gian nào đã mất biệt đã mù tăm trong đời người lầm lũi nhưng vẩn còn nguyên vẹn Đến muôn đời những giấc mơ…

Tình khúc Yêu Em Anh Đã Yêu Mùa Thu với không gian thời gian lãng mạn của mùa thu. Đó có phải là thời tiết của những người yêu nhau? Ca khúc như là lời ngỏ cho những cánh cửa tim để tình yêu đơm hoa trong rộn ràng của thiên nhiên. Tình yêu mùa thu như tình yêu em của vàng phai sắc lá, của những dư âm của gió mây mở toang những khung trời đất tương lai. Có câu hỏi bật ra. Tại sao? Gió lại cuốn đi những lời âu yếm? Lá rơi để cho tình vàng thêm để phai nhòa trên áo em? Hỏi, nhưng không thể trả lời. Bởi Anh. Anh yêu Em như mãi mãi vẫn yêu mùa thu. Hỏi mà không trả lời, cái ý thầm ấy có lẽ là cái nghịch thường của những người đang yêu nhau…

Bản nhạc Xin Ơn Nhau Cuộc Đời, là lời ngỏ của thương yêu, là kết cuộc của một chuyện tình sau những gian nan cuộc đời. Dòng nhạc là vang vọng của tâm tư yêu đương, ca từ là biểu hiện của nỗi niềm tâm sự. Và ngôn ngữ của trái tim tràn đầy trong bộ nhớ của tiềm thức. Hãy nói lời yêu nhau, dường như là lời đồng vọng của hai người đang cùng đi tìm một lời giải cho bài toán cuộc đời. Hãy giang đôi tay rộng, rộng đến muôn trùng không gian của mùa xuân xanh đẹp, của mùa hạ hồng tươi, và của mùa thu vằng vặc ánh trăng như đôi mắt yêu nhau thuở nào. Xin Ơn Nhau Cuộc Đời, có phải là lời hẹn trăm năm, là lời bắt đầu sau những đổ vỡ hoang mang cuộc đời?

Nguyễn Mạnh Trinh

Cao Tần, thơ người di tản buồn

phusaonline.free.fr

Nguyễn Mạnh Trinh

Post on 18.08.2009

Post by Sơn râu 10 Jan 2024

Cao Tần Là một thi sĩ xuất hiện một cách bất ngờ trong thời điểm vô cùng đặc biệt. Lúc đó, là những năm đầu kế tiếp sau cuộc di tản của mấy trăm ngàn người Việt lưu lạc sang xứ người. Trong hoàn cảnh bắt đầu của một cuộc sống xa lạ, khởi đi từ những nỗi niềm mang theo, văn chương ở hải ngoại đã nảy mầm từ những tâm tư thương nhà nhớ nước của người Việt tị nạn sau một cuộc đổi đời. Cao Tần là một nhà thơ xuất hiện sớm nhất và cũng là một nhà thơ nổi bật nhất trong thời kỳ ấy. Vốn là một nhà văn đã thành danh ở Việt Nam và cũng là một ký giả có lối viết phiếm luận sắc bén, thơ Cao Tần đã được để ý từ những bài thơ đầu tiên.

Năm 1977, gần hai năm sau ngày 30 tháng tư năm 1975, trên tờ báo Bút Lửa có đăng mấy bài thơ của một thi sĩ danh tánh lạ hoắc ký tên Cao Tần. Những bài thơ ấy mới xuất hiện đã nổi bật ngay và gây một hiện tượng xôn xao cho độc giả. Nhiều người liên tưởng tới như những bài thơ của T.T Kh. đã tạo thành một nghi vấn cho văn học Việt Nam mà còn mù mờ chưa rõ ràng. Quả thực những bài thơ trên Bút Lửa ấy đã gây kinh ngạc cho độc giả. Mãi về sau này, mới biết Cao Tần là bút danh của nhà văn Lê Tất Điều hay nhà báo Kiều Phong, một người đã là một cây bút quen thuộc của hai mươi năm văn học miền Nam…

Ông sinh ngày 2 tháng 8 năm 1942 tại Hà Đông. Di cư vào Nam năm 1954 và di tản sang Mỹ năm 1975. Trước khi di tản ông là một nhà giáo và cũng là một ký giả ở Sài Gòn. Đã xuất bản truyện dài Đêm Dài Một Đời đã đoạt giải thưởng của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, và các tập truyện ngắn Khởi Hành, Kẻ Tình Nguyện, Quay Trong Gió Lốc, Phá Núi, Người Đi, Những Giọt Mực.

Lý do mà những bài thơ đầu tiên mang tên Cao Tần được chú ý thật là giản dị. Bởi tâm sự của Cao Tần khi làm thơ cũng là tâm trạng chung của những người Việt di tản lúc ấy. Với ngôn ngữ vừa bi hùng vừa tha thiết, diễn tả lại một tình trạng tâm lý của những người còn xa lạ với cuộc sống mới và tiếc nuối những tháng ngày của cuộc đời xưa cũ. Lúc ấy, một nền văn học lưu vong đang dần dần hình thành. Ở những ngoái nhìn quá khứ và băn khoăn từ những bước chân đi đến tương lai. Ai mà chẳng cùng chung suy tư và ở những câu thơ Cao Tần lại gợi lên từ tâm cảm yêu nước nhớ nhà và ngôn ngữ mẹ đẻ đã thành thân yêu vô cùng trong những ngày bắt đầu tạo dựng một cuộc sống mới ở xứ người…

Có lẽ hồi trước 1975, nhà văn Lê Tất Điều cũng không làm thơ và sau này khi loạt thơ Cao Tần chấm dứt ông cũng ngưng làm thơ. Tại sao ông chỉ làm thơ trong khoảng thời gian đó?

Có lẽ chỉ có một mình tác gỉa mới có thể trả lời câu hỏi khó này. Trong một cuộc phỏng vấn của đài phát thanh Á Châu Tự Do RFA do Mặc Lâm thực hiện thì ông giải thích “Tự nhiên tôi không có cảm hứng viết truyện ngắn nữa. Thế rồi thơ nó lôi cuốn bởi vì trong bài thơ công việc sáng tác nó ngắn hơn nó không đòi hỏi thời gian nhiều…”

Nhà văn Võ Phiến có viết đại ý là Cao Tần làm thơ như người kể chuyện và đó chính là một yếu tố để thơ ông gần gũi với cuộc sống hơn và tạo sự chú ý của độc giả.

Trong bài đề tựa tập thơ Cao tần do nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành, nhà văn Võ Phiến nói rằng thơ của Cao Tần kết cấu như truyện và là những truyện ly kỳ nữa nên gợi được sự tò mò muốn tìm hiểu của người đọc. Và ông nêu ra vài thí dụ bài thơ Kho tàng kể về chuyện của một anh chàng tị nạn Cù Lần…

Nội dung của bài thơ cũng chỉ là một anh chàng tị nạn lúc nào cũng kè kè bên mình một cái túi không một phút nào rời xa. Bạn bè tưởng là anh chàng biển lận nên đè anh ta xuống để mở cái túi bí mật kia ra. Và cũng chẳng có gì ngoài một lạng vàng, chiếc khăn tay và những danh thiếp cũ. Nhưng là cả một kho tàng của một người di tản và nhắc lại người và cảnh đã xa. Vàng thì nhắc đến người mẹ:

“… miệng túi mở ra kho tàng rơi tung toé

một lạng vàng trong giấy gói đơn sơ

một đứa hét “vàng này thằng em bé

không mại đi mày tính để đem thờ

“Sư chúng mày, vàng đem theo bốn cục

ông bán ba, bắt gọn mấy trăm đô

còn cục này tàn đời ông cóc bán

lúc lên đường bà cụ dúi tay cho”

Còn khăn tay thì nhắc đến người vợ bây giờ đã xa cách ngàn trùng:

“…một chiếc khăn tay cũ xì cũ xịt

mầu nâu già thêu mấy chữ xanh xanh

“giẻ rách gì đây hở thằng chết tiệt

“Khăn vợ tao trao ngày khoác áo nhà binh”

và những tấm danh thiếp, ôi những tấm giấy làm nhớ lại những tên đường những tên người đã vào xa xưa:

“đáy túi nhỏ thì đầy danh thiếp cũ

những tên người tên tỉnh đã xa xưa

những dòng vội ghi hẹn hò gặp gỡ

những đường quen không trở lại bao giờ

…Với danh thiếp những tên đường đã đổi

những số nhà chớp mắt đã tang thương

những chốn hẹn ngàn năm không trở lại

những tên đời tơi tả khắp quê hương.”

Đọc xong bài thơ này chúng ta thấy thế nào?

Phải nói là rất xúc động anh Trinh à! Nhưng có khi chỉ cảm thấy thôi chứ diễn tả ra cái hay thế nào thì khó lắm. Phải có một lúc, đợi xúc cảm lắng xuống thì dễ dàng để thất bài thơ này độc đáo ra sao…

Chúng tôi cũng như những độc giả khác, chỉ cảm thấy rung động thôi và cũng phải loay hoay suy nghĩ để may ra có thể tìm được những điều mà mình cho là tâm đắc và tuyệt diệu. Bài thơ sống động quá với những ngôn ngữ đời thường mô tả những cuộc đối thoại chuyên chở được ý tình mà tác giả muốn đề cập đến. Có một chút diễu cợt nhưng chỉ là cảm giác thoáng qua để thay vào đó là sự thương cảm. Chỉ một túi nhỏ tầm thường của người di tản vỏn vẹn có thế mà sao lại coi như một kho tàng vô gia được ? Bởi vì những vật thể này không còn đơn thuần là vật thể nữa mà nó chứa đựng cả một trời quê hương và nhắc lại những người thân đã xa và những nơi chốn đã khuất biệt. Câu chuyện kể bằng thơ chỉ giản dị như thế nhưng lại gây ra sự xúc động đến vô bờ cho người đọc. Bởi nó đánh động đến tâm sự chung nên đầy ắp những chia sẻ…

Một bài thơ khác mà nhà văn Võ Phiến nhắc đến như một bằng chứng đơn cử cho lập luận của mình. Như bài “Ta làm gì cho hết nửa đời sau”. Hình như đã có nhiều người lưu vong thốt lên lời nói đó mỗi khi bị ray rứt vì chuyện nước chuyện non…

“Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn

gánh sơn hà toan chất thử lên vai

chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn

dọn tinh thần cưa nhẹ đỡ vài chai…”

như trong một cơn đồng thiếp, một chàng hào hùng;

“một tráng sĩ vung ly cười ngạo mạn

nửa đời xưa ta trấn thủ lưu đồn

nay đất khách léo lê đời rất nản

ta tính sẽ về vượt suối trèo non

sẽ có lúc rừng sâu bừng chuyển động

những hùm thiêng cựa móng thét rung trời

và sông núi sẽ vươn mình trỗi dậy

và cờ bay trên đất nước xinh tươi…”

Và một chàng khác, thì lại muốn làm tượng thần tự do hỏa thiêu thân xác chính mình để làm đuốc soi đường cho những oan hồn bị trầm luân trong đáy nước bao la:

“Một tráng sĩ vô êm chừng sáu cối

thần tự do giờ đứng ở nơi nào?

Ta muốn đến leo lên làm đuốc mới

Tự đốt mình cho lửa sáng xem sao

Thần tự do giơ hoài cây đuốc lạnh

Ta tiếc gì năm chục ký xương da

Sẽ làm đuốc soi tìm trong đáy biển

những oan hồn ai bỏ giữa bao la”

Và kết cuộc, chỉ là một cơn say, một tỉnh dậy giữa nỗi buồn của những người thấy mình bất lực giữa thế thời, mộng ước lớn mà bàn tay thì qúa nhỏ:

“… sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi

Những hào hùng uất hận gối lên nhau

Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới

Ta làm gì cho hết nửa đời sau.”

Thật là cảm khái. Thật là cay đắng với những nỗi niềm của những kẻ sinh bất phùng thời lớn lên và trưởng thành trong những nghiệt ngã của đất nước chiến tranh. Thực trạng sao buồn quá! Câu hỏi như một tiếng than… Ta làm gì cho hết nửa đời sau?… Những thân phận lưu vong. Những nỗi niềm nhược tiểu.

Mỗi người tị nạn đều mang theo những kỷ niệm trong ký ức. Có những người vẫn còn vương vấn đến tận bây giờ. Có những buồn phiền, có những ray rứt. Nhà thơ Cao Tần có bài thơ nào diễn tả tâm trạng ấy trong nhiều bài thơ. Chúng ta thử đọc bài thơ Chốn Tạm Dung xem. Bản thân tôi đã sống ở đây ba chục năm, thế mà có lúc cũng có những nỗi niềm trống vắng như thế. Thơ nói lên tâm cảm của những người nhiều khi thấy mình bơ vơ giữa cuộc sống và kỷ niệm của nơi chốn xưa của đời sống cũ vẫn cứ bàng bạc hiện hữu:

“nhà tôi ở toòng teng đỉnh đồi

buổi mai đi làm thấy đời xuống dốc

sau lưng sương ngập cao lưng trời

trước mặt thông sầu reo đáy vực

bắt đầu ngày bằng một chút vui

hát nghêu ngao trong lòng xe rỗng tuếch

bài ca quen bỗng chợt quên lời

chút kỷ niệm còm lại mất khơi khơi

tiếng Việt trong ta ngày bỗng héo

hồn Việt trong ta ngày mỗi khô

dốc mở như đời ta trước mặt

sương kín như đời ta năm xưa…”

Một ngày qua một ngày. Ra đi khi lúc vừa mờ sáng và trở về khi phố đã lên đèn, khúc ca sầu xứ mãi mãi ám ảnh. Trải qua bao nhiêu cuộc đổi dời. Bao nhiêu là nỗi muộn phiền. bao nhiêu là ray rứt. Người tị nạn có một mẫu số chung, của khởi hành đi vào cuộc đời mới với tất cả năng lực của mình nhưng vẫn canh cánh bên lòng nhớ mong về quê hương đất nước:

“chiều về lên dốc thân tơi tả

một quả hoàng hôn phủ kín trời

mình mới ngoi lên ngày đã ngả

đêm phờ lăn lóc ngủ thay chơi

giữa đỉnh sương mù thông đáy vực

ngược xuôi ngơ ngẩn một linh hồn

còng lưng gánh nốt đời lưu lạc

nặng trĩu nghìn cân nhớ nước non.”

Cái độc đáo của thơ Cao Tần là dùng những ngôn từ thật sống động, những ngôn ngữ tạo nhiều hình ảnh như: “kỷ niệm còm”, như “quả hoàng hôn”, như “mất khơi khơi”. Xử dụng những ngôn từ ấy thành thơ chính là một dụng công để thi ca có máu huyết xương thịt của đời sống thực, của suy nghĩ thực…

Người tị nạn tuy hôi nhập vào dòng chính nhưng vẫn còn ám ảnh bởi quê hương cũ của đất nước xưa. Có một lúc nào thơ Cao Tần biểu lộ tâm cảm ấy.

Đọc bài thơ Cảm Khái chúng ta nhận ra ngay lập tức. Tấm thẻ căn cước, tờ chứng chỉ tại ngũ nhắc lại một thời xa xưa. Một cách hóm hỉnh pha lẫn đau xót, tác gỉa nhận thấy hình như những tấm hình trên căn cước đều lam nhem xấu xí, không biết có phải là số phận tiền định xui khiến như vậy:

“hình căn cước anh nào mà chẳng xấu

tên chụp hình như một lão tiên tri

triệu mặt ngây ngô bàng hoàng xớn xác

cùng đến một ngày gãy đổ phân ly

nhìn hình chim in trên tờ chứng chỉ

chợt nhớ câu thơ Gãy cánh đại bàng

ngàn lẫm liệt tan trong chiều rã ngũ

muôn anh hùng phút chốc hóa tang thương…”

và những câu cảm khái mà chúng ta trong những ngày lưu lạc thường hay thấm thía:

“Hỡi kẻ trong hình mặt xanh mày xám

người sắp thành tên mọi Mỹ rồi ư

hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm

mày lang thang đất lạ đến bao giờ

Ôi trong ví mỗi người dân mất nước

Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ

Ôi trong trí mỗi anh hùng thuở trước

Còn dậy trời lên những buổi tung cờ.”

Có người nhận xét rằng mỗi bài thơ của Cao Tần đều mang theo một thông điệp gửi gấm cho người cùng cảnh ngộ và gửi trả lại quê hương. Trong hai mươi bài của tập Thơ Cao Tần, hình như hầu hết các bài đều diễn tả được một tâm sự đặc thù của người bỏ xứ ra đi.

Thư Quê Hương là

“Gửi cho anh viên sỏi nhỏ bên đường

Anh sẽ đọc ra trăm nghìn lối cũ

Gửi cho anh vài nhánh cỏ quê hương

anh sẽ đọc đất trời ta đã thở…”

Chuyện Thần Tiên là:

“Ta muốn điều chi cuối đời lưu lạc

Này bà tiên vừa hỏi giấc mơ ta

hãy đem hết những đổi đời tan tác

gói giùm vào cơn mộng dữ đêm qua”

Chiều Bát Phố là:

”Chỉ gặp toàn Tây một chiều bát phố

Tiếc sao xưa cả nước chẳng quen nhau

Quen cả nước? Ra đường chào gẫy cổ

Và chắc gì nay nghĩ lại không sầu

Nhưng quen cả nước chắc lòng sẽ nhẹ

Khi đi có chào may bớt xót xa

Ôi xóm mưa ơi có khi nào đổi kiếp

Tôi về thành chim hót trước hiên nhà.”

Mai Mốt Anh Về là:

“nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa

Ông anh hùng ông cứu được quê hương

Ông sẽ mở ra ngàn lò cải tạo

Lùa cả nước vào học tập yêu thương

Cuộc chiến cũ sẽ coi là tiền kiếp

Phản động gì cũng chỉ sống trăm năm

Bồ bịch hết không đứa nào là ngụy

Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng”

Và còn nhiều bài thơ khác với những ý tưởng khác, thông điệp khác. Giở từng trang thơ, để thấy những ngôn ngữ linh hoạt, những chữ lóng, những ngôn từ dân giã, tất cả làm nổi bật một phong vị có lúc như diễu cợt, có lúc như ngông nghênh, mà có lúc là tình cảnh “ở ngoài cười nụ ở trong khóc thầm”. Người tị nạn đã trải qua những đoạn đời, đã qua nhiều nghịch cảnh, sẽ thấy thấm thía biết bao nhiêu với tâm cảm người thơ. Nếu nói thơ Cao Tần là biểu hiện sống động một thời kỳ của người Việt di tản đầu tiên thì cũng chưa đầy đủ mà phải nói rằng thơ Cao Tần đã làm hồi sinh lại một thời đại văn học lưu vong ở hải ngoại… 

Nguyễn Mạnh Trinh

Harry Úc!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on December 29th, 2022

Post by Sơn râu 10 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Thời bảy năm Trung học, sinh ngữ chánh của tui là Anh Văn. Nhờ mớ tiếng Anh lõm bõm đó, qua Úc tui đi học một tháng khóa đào tạo nhân viên an ninh. Tiếng Úc gọi là ‘Security officer’, sĩ quan an ninh.  Kêu cho nó cho oai. Chớ bà con Mít mình gọi là mấy chú ‘Bảo an’. Trong nước gọi là ‘Bảo vệ’. Còn tui, tui gọi tui là con chó giữ nhà cho chủ nghĩa tư bản. Giữ của cho mấy thằng Do Thái giàu sụ chủ siêu thị.

Mới qua, nên bảng chỉ dẫn đậu xe với tui rất là rối rắm. Tui bị ‘cáo sồ’ (Council) phạt hoài. Tui không biết chỗ nào dành cho công ty, chỗ nào dành cho khách.

Thấy một chỗ vừa mới trống, tui tính de đít vô. Thì có một thằng Úc từ đâu tấp vô nghe cái kịt. Tui quay kiếng xuống, ló đầu ra chửi nó: “Cút mẹ mầy đi!”. Nó tỉnh bơ với cái mặt vênh váo, nó mở cửa xe, bước xuống rồi đi tuốt. Có thể giọng tiếng Anh của tui quờ quạng sao đó nên nó không hiểu hay chăng?

Cuối cùng, sau gần nửa tiếng đồng hồ chờ mỏi cổ, tui cũng đậu được xe. Ba chân bốn cẳng vô thang máy, tui bấm lên lầu 10, nơi đặt văn phòng công ty bảo vệ. Bước vô phòng, tui thiếu điều chết giấc; vì cái thằng Úc, chỉ một tiếng đồng hồ trước đó, tui kêu nó: “Cút mẹ mầy đi!” thì trời xui đất khiến nó phỏng vấn tui đây.

Nhưng trái với sự lo lắng của tui, bằng con mắt xanh lơ lãnh đạm, nó liếc qua cái bản lý lịch của tui rồi hỏi: “Hồi xưa ông có đi lính hả?”. Tui trả lời “Yes! Sir!” Nó gật gù nói: “Me too!”. Sau đó, nó viết giấy cho tui qua kho lãnh đồng phục.

Thiệt là ở hiền gặp lành. Chắc nhờ da vàng, mũi tẹt, dưới mắt Úc, đứa nào như đứa nấy; nên nó không nhìn ra cái thằng dám kêu: “Cút mẹ mầy đi chăng?”

Nhưng không phải mấy ông ạ! Sau nầy tui mới biết, nó nhìn ra tui đó chớ! Nhưng tình chiến hữu đồng minh, nên nó bỏ qua. Nó nói đi lính thằng nào mà không quen miệng chửi thề?!

Làm được vài tháng, một chiều tan ca, nó mời tui tới cái ‘pub’ (quán nhậu) của nó. Tui trố mắt: “Boss giàu dữ vậy?”

Nó nói: “Kêu tao là Harry! Cái pub của tao là vì tao hay tới đó uống beer. Chớ tao làm được đồng nào, vợ tao xào đồng nấy; tiền đâu mà mua ‘pub’ tới cả triệu đô?!”

Thấy tui chơi thân với thằng boss Harry, mấy tay Mít ‘đặc’ làm chung nói tui là thằng khoái bợ đít Tây! Tui không ‘ke’ (care) chuyện thiên hạ nói sau lưng tui. Tui đi nhậu với Harry, tiền ai nấy trả, là vì tui muốn thực tập nghe nói tiếng Anh.

Kinh nghiệm cho tui biết: tiếng Anh tui học trong sách giáo khoa là tiếng Anh của Nữ hoàng. Ở Úc, không ai xài. Nó xài tiếng Anh của thằng Harry. Tiếng Anh đường phố: tiếng Anh của bọn đá cá lăn dưa Cầu Ông Lãnh.

Khi tui đã bỏ nước VNCS ra đi tới Úc nầy đây, sống tới già tới chết luôn thì văn hóa của nó tại sao lại cữ? Tại sao mình không tìm hiểu chơi cho biết chớ? Thế nên chó cứ sủa và đàn lạc đà cứ đi. Tui học văn hóa Úc của thằng Harry. Harry học văn hóa Việt của tui. Bánh ít đi; bánh quy lại!

Harry Úc gốc Anh; nên nó được thừa hưởng óc hài hước của Chaplin, Vua Hề Sạc Lô. Có lần, nó đố tui là: “Trong nhân loại, ai là người phụ nữ duy nhứt lúc tức giận đã không dọa chồng là em sẽ xách vali về sống với mẹ em?” Tui bí. Harry cười hí hí trả lời là: “Bà Eva!” Tui nói: “Ờ nghe có lý, Rồi tui hỏi nó: “Tui thấy vợ chồng Úc đi ‘shopping centre’ hay nắm tay nhau bộ nó sợ con vợ nó lạc mất hay sao? Harry trả lời: “Hổng phải Úc sợ con vợ nó đi lạc đâu. Lạc nó còn mừng. Không phải “romantic” (tình tứ) mà vì “economic!” (kinh tế).  Buông tay em yêu ra, em cứ mua sắm hoài tiền đâu chịu cho nó thấu?” Ờ nghe Harry cắt nghĩa lại cũng có lý”.

Tranh Bảo Huân

Rồi Harry hỏi có lần nào vợ tui làm tui sợ gần chết hay không? Tui trả lời có chớ sao không. Mới Tết năm rồi, nè: “Ðang tò tí, bỗng nghe con vợ tui nói “Anh ơi! Em về rồi nè!”. Nghe chưa hết câu, tui thiếu điều ngã lăn ra chết giấc.

Tuy thấy thông minh như vậy nhưng Harry cũng hơi tửng tửng: “Một hôm vừa đi làm về, nó kéo con vợ của nó vô phòng ngủ. Con vợ Harry mừng húm! Harry ném ‘em yêu’ lên giường. Lấy mền trùm cả hai lại. Rồi nó nói: “Em coi! Ðồng hồ mới tinh của anh nó có lân tinh. Nó phát sáng trong bóng tối nè!”

Hôm thứ Năm rồi lãnh lương, Harry dắt con vợ nó đi ăn tối tại một nhà hàng 5 sao ở ngoài ‘city’. Khi bồi bạn dọn thức ăn lên, nó hối: “Ăn đi em! Kẻo nguội hết ngon! Lâu lâu anh mới có dịp!”

Con vợ nó nhắc: “Anh yêu! Anh luôn nói lời cầu nguyện ở nhà trước khi ăn tối!” Harry trả lời: “Chuyện đó anh chỉ làm ở nhà! Ở đây con nhỏ đầu bếp nó biết nấu ăn mà em!”

Rồi hôm Chủ Nhật, tui gặp Harry ở nhà thờ. Tui thấy nó cúi đầu rất thành kính lâm râm cầu nguyện Thượng đế. Tan lễ, tui hỏi: “Sao chú mầy cầu nguyện có vẻ thành kính đến thế? Bộ chú mầy sợ Cha xứ hổng biết nấu ăn hay sao?” Nó nói: “Ðâu có! Cha xứ đâu có ‘lan can’ vô chuyện nầy! Sau bữa ăn tối đó, con vợ tao nổi lên một bồ tự ái nên nó đã bỏ tao đi lấy chồng khác rồi.” “Bữa nay tao cầu nguyện để mong con nhỏ ‘chef cook’ ở nhà hàng 5 sao chấp thuận lời cầu hôn của tao!”

Tháng rồi, nhân kỷ niệm 40 năm lấy vợ; Úc gọi là: the Ruby anniversary, tui có mời Harry tới dự. Harry mặc vest, thắt nơ rất là trang trọng. Nó nói ‘Ruby’ là ‘Hồng Ngọc’, nó cứng lắm nhe. Bí quyết nào mà vợ chồng chú mầy ăn đời ở kiếp với nhau dài lâu đến thế? Chớ vợ chồng Úc tới bốn mươi mấy tuổi, là tụi nó lôi nhau ra tòa chia của, chia con!

Tui trả lời: “Vợ chồng tui sanh ra ở thời cái gì hư, bể thì sửa, thì hàn gắn lại; chớ không vứt nó đi!”

ĐXT

Ghét Tàu?!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on August 11th, 2022

Post by Sơn râu 10 Jan 2024

Jason Loose và cụ bà ở Nam Kinh – nguồn twitter 

Dạ thưa tui không ghét người ta vì màu da, dân tộc, đất nước của họ. Tui là dân lưu lạc quê người. Cũng như bà con, tui ghét nhứt là thói kỳ thị chủng tộc!

Tui chỉ ghét tào lao. Tui không ghét người Tàu. Con vợ tui là xẩm lai. Em tui yêu ngày tui mới lớn cũng là ‘lai xẩm’. Nếu tui kỳ thị chủng tộc thì tui đâu cưới con vợ tui làm chi? Nếu tui kỳ thị chủng tộc thì tui đâu có yêu em ‘lai xẩm’?

Ðối với tui, chỉ có người tốt hoặc người xấu! Ðối với tui, ai cũng như ai. Không ai chọn được chỗ sanh ra. Má mình cũng như Má em dám mang nặng chín tháng mười ngày rồi banh da xẻ thịt đẻ đau, Má hai đứa không phải là người xấu. Mà tác phẩm của Má mình là mình. Tác phẩm của Má em là em. Ðôi ta cũng không ai là người xấu hết ráo.

Bởi chữ có câu rằng: “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Con người xấu là do cuộc đời, xã hội, chế độ chánh trị của nước đó tạo ra.

o O o

Chuyện rằng: Bắc Kinh là kinh đô phía Bắc. Nam Kinh là kinh đô phía Nam. Nam Kinh là thủ phủ của tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Nam Kinh, hạ lưu sông Dương Tử, là thành phố lớn trong lịch sử và văn hóa Trung Hoa.

Nam Kinh từng là kinh đô của 6 triều đại phong kiến Trung Hoa và là thủ đô của Trung Hoa Dân Quốc thời Thống chế Tưởng Giới Thạch.

Nam Kinh còn là trung tâm thương mại, giao thông vận tải, du lịch, giáo dục và nghiên cứu trong suốt chiều dài lịch sử Trung Hoa thời cận đại, chỉ xếp sau Thượng Hải.

Thời Tam Quốc, Khổng Minh Gia Cát Lượng viết về Nam Kinh như sau: ‘Chung Sơn long bàn, thạch đầu hổ cứ, chân nại đế vương chi trạch dã’.

Nghĩa là: ‘Núi Chung thế rồng cuộn, đá hình hổ phục, thật là chốn đế vương vậy!’.

Ngày nay thì đế vương đã về Bắc Kinh. Nam Kinh chỉ còn sót lại một bà lão ăn mày, cô độc, đói và khát trên đường phố đông người mà chẳng thấy ai lo?!

Vì Tập Cận Bình lãnh tụ đảng Cộng Sản Trung Quốc mắc bận lo chuyện tào lao bắc đế.

o O o

Thousand Oaks (Vạn Sồi), thường được gọi là “T.O.”, thành phố thuộc tiểu bang California, vùng Ðại Los Angeles, gọi là Vạn Sồi vì nó có nhiều cây Sồi.

Một chàng thanh niên Mỹ lớn lên từ thành phố Vạn Sồi (Thousand Oaks) vừa tốt nghiệp trường đại học Arizona đến Nam Kinh, thủ phủ tỉnh Giang Tô, Trung Quốc làm việc để lấy thêm kinh nghiệm.

Trên góc phố Nam Kinh, chàng thanh niên Mỹ Quốc chia sẻ cùng một bà cụ ăn xin người Trung Quốc vài miếng khoai chiên, và chút nước suối giữa mùa hè nóng bức.

Ai đó, một người dân Trung Quốc tình cờ chụp lại hình ảnh này, đưa lên mạng xã hội Sina Weibo. Và nó đã tạo nên cơn bão trong xã hội Trung Quốc thời CS!

Jason Loose nhớ lại: “Tôi thấy một bà cụ, vẻ mặt buồn bã và cô độc đang xin ăn trên phố đông người qua. Lúc đó trong cái lon xin tiền của bà, chẳng có tới một xu. Tôi chợt nghĩ chắc bà ấy đang đói và khát. Mà cần hơn cái đói và khát là một ai đó để cảm thông. Tôi hỏi mình có thể giúp gì được cho bà cụ đáng thương này hay chăng?

Tôi mua một gói khoai chiên, chai nước suối từ McDonald’s và chia sẻ với bà ấy.

Bà ấy từ một vùng quê tỉnh An Huy, phiêu dạt đến đây. Già và yếu! Làm gì bây giờ? Không ai lo! Chỉ nước ăn xin?! Trời nóng, khát quá. Tôi rót nước từ chai nước suối cho bà, hỏi han về sức khỏe. Bà nói: “Già yếu rồi. Cám ơn tôi, dù bà không thích khoai tây chiên lắm!”

Jason Loose đang theo học trường Ðại Học Nam Kinh đã được 9 tháng, không ngờ mình lại trở nên một người nổi tiếng trên giới truyền thông thế giới.

“Tôi chỉ tình cờ tặng bà ấy vài miếng khoai chiên mà theo tôi, chúng cũng không tốt cho sức khỏe lắm, đồng thời ngồi nói chuyện với bà trong vài phút. Theo tôi, hành động như thế, chẳng có gì đáng để trở thành một cái tin trên báo?!

Một hành động có thể rất bình thường của chàng sinh viên Mỹ, đến từ thành phố Vạn Sồi, nhưng trở thành phi thường trong mắt một người Trung Quốc, chụp được bức hình nầy, rồi tải lên trang mạng xã hội Sina Weibo Trung Quốc.

Một người Trung Quốc cho rằng: “Chinese people, let’s all learn from this!”  “Nhân dân Trung Quốc hãy học lấy điều này!”

Tranh Bảo Huân

o O o

Mấy hôm nay, vịn vào chuyện Chủ Tịch Hạ Viện Mỹ Nancy Pelosi (Dân Chủ- California) thăm Ðài Loan, Trung Quốc mở đợt tập trận bằng đạn thật.

Chúng bắn hàng loạt hỏa tiễn tới gần Ðài Loan và điều chiến hạm bao vây đảo quốc này.

Tại sao Trung Cộng làm rùm beng như vậy? Vì chỉ còn vài tháng nữa là Ðại hội Ðảng CS Trung Quốc khai mạc.

Bấy lâu ai leo lên được chức Chủ tịch Trung Quốc chỉ làm được 2 nhiệm kỳ 5 năm. Tổng cộng 10 năm là phải tự động bước xuống để người khác lên thay. Tập không muốn tuân theo luật chơi đó. Tập Cận Bình tham quyền cố vị, muốn ngồi thêm một nhiệm kỳ 5 năm nữa.

Nhưng thành quả cai trị nước Tàu của Tập rất nghèo nàn. Về ngoại giao, nước nào cũng dè chừng trước dã tâm bành trướng Bắc Kinh của Tập.

Về nội trị, Tập gặp muôn vàn khó khăn do hậu quả của đại dịch COVID-19 gây ra. Tình hình kinh tế xuống dốc. Ðời sống dân Tàu khốn khổ.

Trước tình hình khó khăn như thế, Tập Cận Bình nhân chuyến đi thăm Ðài Loan của Chủ Tịch Hạ Viện Hoa Kỳ Nancy Pelosi bèn làm lớn chuyện để khích động tinh thần dân tộc cực đoan Ðại Hán hầu thủ lợi về chánh trị cho cá nhân mình.

Khách quan mà nói: Trung Quốc đại lục là nơi sinh sống của 1.4 tỷ người trong khi Ðài Loan chỉ có 23 triệu người. Tuy nhiên, GDP của Trung Cộng chỉ lớn hơn Ðài Loan có 10 lần. Ðiều này có nghĩa là thu nhập của một người dân Ðài Loan gấp 6 lần người dân đại lục. Tỷ lệ thất nghiệp ở Ðài Loan chỉ khoảng 4%. Trung Quốc 15%

Cơ sở hạ tầng và chăm sóc sức khỏe Ðài Loan tốt hơn Trung Quốc. Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh ở Trung Quốc cao gấp 4 lần ở Ðài Loan. Dân Ðài Loan sống lâu hơn người Trung Quốc 5 năm.

Gần 10% người dân Trung Quốc sống dưới mức nghèo khổ, trong khi Ðài Loan chỉ có khoảng 1% người dân sống trong cảnh nghèo đói.

Nhưng tham nhũng ở Trung Quốc lại ăn đứt Ðài Loan. Dân Trung Quốc có ít quyền tự do ngôn luận hoặc tự do kinh tế.

Thành công của Ðài Loan được nhiều người coi là thành công của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa so với nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của Trung Cộng.

Nếu Tập cho rằng Ðài Loan là một đứa con đi hoang, con hư. Nhưng một đứa con bỏ nhà ra đi mà nó ăn nên làm ra thì Tập Cận Bình và bè lũ tay sai phải chạy theo nữ Tổng thống Ðài Loan Thái Anh Văn mà học mới phải.

Còn bắt nó về; nó không chịu thì đòi giết nó, đúng là bọn nhẫn tâm.

DXT