This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Sau một tuần ngất ngư lao động Thứ sáu anh thường thức trắng đêm Vì đêm anh, Sài Gòn đang sáng Đêm thao thức anh là ngày khốn khổ em
Ngày khốn khổ, thân em tơi tả Gói nhọc nhằn trong biểu ngữ vinh quang Ta từng giầu lắm em nào biết Anh chỉ cho em đôi chỗ giấu kho tàng
Trong công viên xưa có chiếc ghế đá Giờ đẫm mưa chiều hay tươi nắng mai? Ghế như ngà, bên hàng thông, em nhớ? Ta bên nhau trên đó những ngày vui
Chiếc ghế từng nghe lá úa thở dài Nghe đồi cỏ mùa xuân cười rực rỡ Chia sẻ những buồn vui Của thời em rất nhỏ
Em hãy đến tìm ở nhà thờ đỏ Ngôi thánh đường gạch hồng như son Nơi ta thường quanh quẩn những hoàng hôn Tìm kỹ nhé: ngay sau cây thánh giá
Em hãy tìm về sau căn nhà cũ Đứng bên rào mà ngó lại vườn xưa Em nhớ nhé: dưới tàn cây trứng cá Những trái mọng hồng trong ánh nắng sau mưa Ở góc vườn còn một viên gạch vỡ Nơi nảy mầm hy vọng một giàn dưa Kín đáo nghe em, giờ nhà đổi chủ Nhưng kho tàng ta chắc còn nguyên đó
Đứng trước vườn xưa em hãy mỉm cười Dù môi buồn đã héo xanh thương nhớ Nuốt lệ thầm và cười cho tươi Như chiều xưa đón anh về hớn hở
(Kho tàng ta có một ông thần Nụ cười em là câu thần chú Thần chú đọc xong kho tàng sẽ mở)
Kho tàng ta em yêu nhìn xem Dưới ghế công viên anh giấu thời thơ dại Trên tháp nhà thờ anh giấu niềm tin Trong vườn cũ anh giấu thời hạnh phúc Nơi nụ cười em anh giấu trái tim.
Hãy chia anh một nửa kho tàng Để cùng tiêu trong chuỗi ngày khốn khó
Thêm một lần thứ sáu trắng đêm Để hồn về một Sài Gòn đang sống Gõ tuyệt vọng cửa thiên đường đã đóng Xin chia nhau ngày khốn khổ cùng em
Sau vụ nổ khiến một người cụt chân và hai người bị thương nặng, Vĩnh không đi rà mìn thêm một lần nào nữa nên không rõ công tác ấy ra sao? Bỏ dở hay vẫn được tiếp tục? Và K nào được tiếp tục phần vụ vinh quang ấy? Riêng ở K.5, sau vụ nổ, bỗng nhiên có một hiện tượng rất đáng phấn khởi xảy ra. Khẩu phần bột bỗng dưng được tăng tí chút và đặc biệt hơn nữa, hậu cần trại còn cho kêu tổ trực bếp lên khung nhận heo về thọc tiết.
Dĩ nhiên một con heo nặng quãng tám mươi ký được xẻ thịt và chia đều cho hơn bảy trăm khẩu phần thì mỗi khẩu phần giỏi lắm được hai đốt ngón tay thịt với ít nước luộc lều bều mỡ, nhưng bọn tù vẫn thấy hạnh phúc như thường. Cả trại đều bừng lên một khí thế khác thường khi có tin được ăn thịt heo. Bên cạnh cái hạnh phúc và cái khí thế ấy luôn luôn vẫn là những tin đồn…
– Calmer cái bất mãn vụ tay không rà mìn đấy!
– Quân khu 7 nghe đâu đã khám phá ra vụ gian lận tiền ăn của tù. Bọn khung phải bồi hoàn thực phẩm. Để rồi xem, tiếp theo vụ vật heo này thế nào cũng có vài thằng bị hạ tầng công tác.
– Không đâu! Tôi nghe nói sẽ có một phái đoàn thanh tra từ trung ương Đảng xuống thăm…
– Trung ương đảng chúng nó xuống cái trại phải gió này làm gì? Rõ là tin đồn của một lũ khùng!
– Dân ở ngoài làm dữ lắm. Thế nên chúng phải xét lại chế độ ăn uống cho tù…
Ngày đầu ăn thịt heo tin đồn chỉ quanh đi quẩn lại từng đó. Thêm hai ba ngày kế tiếp vẫn được ăn thịt heo, tin đồn bắt đầu… lên độ.
– Một phái đoàn quốc tế do Mỹ cầm đầu sẽ ghé thăm Suối Máu.
– Không, không đúng hẳn như vậy. Tao nghe nói là một phái đoàn Hồng Thập Tự.
– Sai hoàn toàn! Sẽ có một phái đoàn giám sát gồm bốn nước hai quốc hai cộng, sẽ lần lượt đi thăm tất cả các trại cải tạo ở Việt Nam do một phán quyết của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc…
Những tin đồn đại loại được truyền đi và tạo một không khí tranh luận ngầm nhưng thật sôi nổi trong nội bộ tù cải tạo K.5. Dù những nguồn tin đưa ra để tranh luân đúng sai vẫn có nhiều dị biệt, nhưng rốt cuộc nó vẫn có cùng một mẫu số: Trại cải tạo sẽ được thế giới ghé thăm!
Việc được tăng khẩu phần tinh bột, được vật heo đều đều mấy ngày nay rõ ràng là một minh chứng cụ thể nhất (!?). Qua sự kiện này, người thì cho rằng bọn cán bộ trại đã được lệnh cho tù bồi dưỡng tí chất thịt để thế giới khỏi phải nhìn thấy màu xanh lá cây trên mặt tù cải tạo; người lại cho rằng cho ăn thịt heo là để trình diễn trước phái đoàn và sở dĩ mấy ngày nay được vật heo liên tiếp chỉ vì cứ đến phút cuối phái đoàn vì một lý do nào đó, lịch trình thăm viếng Suối Máu phải tạm thay đổi và hoãn lại. Đã có không ít người cầu Trời khấn Phật sao cho phái đoàn cứ kẹt vào phút cuối như thế chừng mươi ngày nửa tháng thì tốt biết mấy. Tù vừa được ăn thịt đều đều, lại vừa có thì giờ thảo những kháng thư bằng Anh và Pháp ngữ để nếu có dịp, sẽ dấm dúi cho một anh nhà báo Tây phương nào đó tháp tùng phái đoàn…
Mặc dù chưa được đọc một bản kháng thư nào, nhưng Vĩnh đã nghe phong thanh có một vài “anh già” đã lén lút thảo một kháng thư bằng Pháp ngữ tố giác với quốc tế về đời sống cùng cực trong các trại cải tạo của CSVN ngày nay. Bản Anh ngữ nghe đâu cũng đang được một nhóm anh em trẻ thực hiện với nội dung tương tự…
Trong lúc “chờ đợi phái đoàn”, tù cải tạo K.5 đã được ăn thịt heo sang tới ngày thứ tư. Thực ra trong cái vụ ăn thịt heo này, nếu nói theo từ ngữ cách mạng thì quả thật “không đạt chất lượng cũng như không đạt yêu cầu!”. Nói cách khác, người được ăn thịt heo – một trong những món ăn vĩ đại nhất thời nay ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – đều cảm thấy không thoải mái thế nào ấy! Không thoải mái chẳng phải là ăn không ngon, mà chỉ vì ngay từ con heo thứ nhất được vật thịt, anh em đã khám phá ra con heo bị bệnh Than. Nhìn những thớ thịt thâm bầm, nhiều khi đen như than ai cũng biết đó là những con heo bệnh mà dưới chế độ tư bản bóc lột người ta phải đem đốt ngay. Nhưng nơi đây, nơi mà thằn lằn cắc ké và cào cào châu chấu còn ăn được thì nói chi đến chuyện heo bệnh! Tuy nhiên, khi con heo thứ năm được vật thịt thì lần đầu tiên bọn tù phải công nhận cán bộ cai tù cộng sản cũng biết phép vệ sinh như ai: Con heo được lệnh phải đem đi chôn! Sở dĩ con heo bị đem chôn vì nó là một con heo chết bệnh. Khi bọn tù anh nuôi khênh nó từ chuồng heo trên hậu cần trại về thì nó đã chết từ hồi nào. Con heo được mổ thịt tức thì. Vừa mổ ra, một mùi xú uế từ những thớ thịt đen thui bốc lên và lan tràn khắp bờ giếng. Tên cán bộ hậu cần trại lúc ấy mới nghiêm trang lên giọng.
– Con này chắc chắn không ăn được rồi! Coi thì phí của thật đấy nhưng đành phải chôn bỏ thôi. Tôi cấm các anh tùy tiện sử dụng đấy nhé.
Thế rồi con heo chết bệnh đầy mùi hôi thối được khuân đi chôn nơi góc vườn thuốc dân tộc của ông bác sỹ Triển. Đứng nhìn theo, dù chẳng khóc nhưng cũng không thiếu người ngậm ngùi đến độ!
Buổi trưa, khi giờ phát cơm đến, cả trại đều chùng xuống với chung một nỗi buồn. Con heo bệnh được đem đi chôn kia đã không được thay thế. Buồn hơn, khẩu phần tinh bột bỗng dưng lại bị cắt giảm một cách thê thảm. Mỗi người nhận về cho mình một miếng bột luộc chỉ bằng nửa bàn tay, có nghĩa là chỉ bằng phân nửa mấy ngày qua.
Những tiếng thầm thì nổi lên. Rồi thì sự thầm thì ấy chẳng mấy chốc, qua sự tiết lộ của đội anh nuôi, rằng thì là kể từ đây trại K.5 sẽ chay tịnh nhiều hơn để bồi hoàn vào số tiền mà tuần lễ qua ban chỉ huy trại đã mượn của… nhân dân mua heo cho mọi người ăn bồi dưỡng, đã trở thành những khúc… Đoạn Trường Tân Thanh thời mới.
Ăn trưa xong, kệ cho anh em nằm bàn tán với nhau, Vĩnh lên hội trường ngồi nhìn… Bác! Nhìn bác chán Vĩnh mò ra khu rèn ngồi nói chuyện với Mai Mạnh Liêu. Khu lò rèn nằm ngay góc phải của cổng trại, gần với mấy cái connex sét rỉ nơi dùng để nhốt những người vi phạm nội quy. Nơi đây, Liêu hành nghề rèn và chuyên rèn cuốc xẻng, dao mác cho hậu cần của ban chỉ huy trại. Cũng như mọi trưa, Liêu không ngủ mà ra ngồi lò rèn, bên cạnh luôn luôn có ông bạn khéo tay hay làm từng ở với Vĩnh một thời gian bên An Dưỡng, đó là ông bạn Minh chuột. Liêu và Minh vừa làm việc vừa thầm thì to nhỏ gì đó với nhau, thấy Vĩnh mò ra, họ chấm dứt ngay câu chuyện đang thì thầm.
Liêu trở lại với mấy cái cán dao đang gọt dang dở, còn Minh cũng trở lại với mấy cái bẫy chuột “văn minh hiện đại nhất thế giới” của anh ta. Nói như thế đối với mấy cái bẫy chuột mới được Minh sáng chế gần đây có lẽ không ngoa, vì những bẫy chuột này vừa nhạy, vừa gọn, vừa sản xuất hàng loạt lại vừa có cả âm nhạc! Ít nhất hiện nay Minh đã đặt được hơn mười cái trên những đà ngang của dãy nhà Vĩnh đang ở. Thoạt đầu những cái bẫy này làm anh em vui tai và rất khâm phục người sáng chế ra nó. Nhưng gần đây thì tình hình đã đổi khác. Minh bắt đầu được nghe những tiếng chửi rủa hoặc những lời cằn nhằn cự nự của mấy ông già khó ngủ và khó tính nằm cùng phòng. Quả thực những người có tuổi không thể vui được khi đêm đến đã khó ngủ, nằm vật vã với mối lo mình sẽ chết rũ tù, lại thỉnh thoảng phải nghe vài nốt nhạc kính keng koòng phát ra từ mấy cái bẫy chuột loại văn minh hiện đại của Minh! Nhưng mặc thiên hạ chửi, Minh vẫn hăng hái và kiên nhẫn chế thêm một mớ bẫy nữa. Minh đang sắp đặt kế hoạch “xâm lược” vào những dãy nhà kế cận để đặt bẫy.
Có lần Vĩnh hỏi.
– Mình ông hai bẫy đủ ăn rồi. Đặt chi lắm thế?
Minh cười.
– Ông tưởng thế à? Nói thật ông nghe, làm bẫy và đặt bẫy thì lười, chứ một ngày tôi bẫy được hai mươi con sẽ có hai mươi mốt thằng đến xin, bẫy được ba mươi con sẽ có ba mươi mốt thằng đến xin. Trong này “protéin” đâu có thừa thãi bao giờ!
Ngồi xem hai ông bạn làm việc một lúc, hỏi nhau dăm ba câu chuyện, Vĩnh bỗng chú ý đến mấy tiếng động phát ra từ cái connex gần đó. Anh vội hỏi Liêu.
– Có thằng nào trong đó hả?
Liêu quăng một mẩu sắt nhỏ vào một góc lò rèn, tay cầm cái điếu cầy dựng bên cạnh lên.
– Ừ, một thằng trước ở chung nhà với tao.
Nói đoạn Liêu nâng điếu lên miệng xục khô vài hơi, thình lình hắn bỏ điếu xuống, ngó đăm Vĩnh. Ủa, mà hình như mày cũng quen nó mà. Nó là thằng Đạo mỗi lần mày ghé chỗ tao mày hay nói chuyện với nó đó!
– Đạo hả?
Liêu gật đầu.
– Ừ thằng Đạo.
– Ủa, thế ra nó vẫn còn bị nhốt ở đây à? Tao nghe nói bị chuyển sang dãy connex trước K.2 lâu rồi mà?
Liêu đã kéo xong bi thuốc. Hắn giơ cái điếu về phía Vĩnh, thều thào.
– Kéo một bi đi.
Vĩnh lắc đầu, hỏi thêm.
– Nó khỏe không?
– Khỏe! Mày có thể nói chuyện với nó, nhưng coi chừng thằng vệ binh đang ngồi trên vọng gác kia.
Vĩnh ngước nhìn lên vọng gác nằm ngay trên đầu dãy connex. Một thằng vệ binh đang ngồi lim dim sau khẩu súng. Anh thấy rằng việc nói chuyện với người trong connex vào lúc này là không nên, nên chỉ tiếp tục nói chuyện với Liêu.
– Làm rèn ở đây mày có tiếp hơi được gì cho nó không?
Liêu thẳng thắn.
– Không! Mỗi tuần nó chỉ được mở connex hai lần để đổ phân và rửa ráy. Mấy thằng vệ binh ngó lăm lăm nên tao không thể cho nó được cái gì dù là một bi thuốc lào.
Vĩnh ngồi ngó ra cái connex nằm cách chỗ anh ngồi không quá mười bước chân. Trời nắng như thiếu đốt. Những tiếng lục đục trong connex thỉnh thoảng khẽ vang lên nhưng tuyệt nhiên Vĩnh không nghe thấy một lời nói hay một câu rên la nào. Anh bỗng nhớ đến Đạo…
Trong một dịp ghé nhà 7 nằm gần dãy nhà bếp thăm thằng cháu bị suyễn nặng. Vĩnh quen Đạo. Đạo nằm cạnh Huy, cháu gọi Vĩnh bằng cậu. Khi vô tình nhìn thấy trên cánh tay phải của Vĩnh có hình xâm một bông hoa Bích Hợp nho nhỏ, Đạo bỗng ngồi dậy hỏi Vĩnh.
– Anh Hướng Đạo hả?
Thấy người bạn trẻ hỏi han Vĩnh cũng vui vẻ trả lời.
– Vâng, anh cần gì không?
Nghe thế Đạo hỏi tiếp liền.
– Anh đạo nào vậy?
– Sau cùng trước khi động viên là liên đoàn Lam Sơn, tráng đoàn Sông Hậu. Còn anh?
Đạo bỗng chồn tới giơ tay trái ra.
– Đệ là Đạo. Trần Hướng Đạo. Cựu thiếu sinh của đạo Xuân Hòa.
Hai người mới gặp nhưng trong tình anh em Hướng Đạo tay bắt mặt mừng và tin tưởng nhau ngay. Rồi những ngày kế tiếp Vĩnh hay gặp Đạo lúc xuống bếp khều tí than nấu ké tí rau rác lượm lặt được.
Trong lần lên lớp học tập chính trị đợt mười ngày hồi đầu tháng 10, lúc ấy Vĩnh còn nằm bên bệnh xá thì ở nhà Đạo bị bắt nhốt connex. Dĩ nhiên Vĩnh không biết hết sự việc, nhưng qua lời kể lại của bạn bè, anh hiểu lý do Đạo nằm connex không “oan” tí nào.
Trên hội trường, trong một bài học, giáo viên giảng rằng: Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa nước ta, để tỏ lòng căm thù bọn Mỹ ngụy, có rất nhiều nhân dân ta đã đặt tên cho chó trong nhà là Kennedy, là Johnson, là Nixon, là Thiệu, là Kỳ…
Về phòng, chẳng ai cấm được một thiếu úy ở tuổi 22 trong cơn bực mình đã phát ngôn linh tinh rằng: Hồi tôi sang tu nghiệp bên Mỹ, tôi cũng thấy bọn xâm lược Mỹ đã tỏ ra cực kỳ phản động, bằng cách chúng dám lấy các tên lãnh tụ vĩ đại như Marx, Lenin, Stalin, Brejnev, Mao, thậm chí cả tên bác Hồ kính yêu của ta mà đặt cho lũ đười ươi ngay trong sở thú Hoa Thịnh Đốn!
Câu phát ngôn linh tinh của Đạo được một đấng ăng ten đem mách với khung và thiếu úy Trần Hướng Đạo vào nằm connex mịt mù cho tới nay. Khi Vĩnh rời bệnh xá về trại hồi cuối tháng Mười thì nghe tin Đạo bị đánh đập dữ lắm, sau đó bị đem sang giam bên K.2; không ngờ hôm nay Liêu tiết lộ Đạo đã được đem trở lại connex của K.5.
Thốt nhiên Liêu hỏi.
– Mày nghĩ liệu có phái đoàn quốc tế nào sẽ ghế thăm đây như tin đồn không?
-…..!
– Ở đội tao thiên hạ bàn tán dữ lắm. Chỉ có mấy anh tá già là giữ yên lặng tối đa.
– Nhưng ông bác sỹ Phát cũng nói bạo đấy chứ! Tối qua tao nói chuyện với ông ấy, ông ấy nói lung tung hết. Tao có cảm tưởng như sáng nay trại này đã phải tràn ngập bọn mũi lõ mắt xanh rồi!
Liêu bỗng cười khẽ.
– Ông bác sỹ Nguyễn Tuấn Phát ấy hả?
– Ừ.
– Mày cũng quen ông già hồi xuân ấy hả?
– Ừ.
Liêu chẳng hỏi thêm và Vĩnh cũng chẳng muốn chuyện trò thêm. Anh ngồi ngó nắng đầu óc nghĩ ngợi lan man. Có lúc Vĩnh lại nghe thấy Minh và Liêu bàn đến con heo đem chôn khi sáng. Một lúc sau họ lại bàn đến trận đá bóng sẽ diễn ra trên màn ảnh nhỏ đêm nay giữa đội Thiên Tân của nước Trung Quốc anh em vĩ đại và đội Hải Quan của thành Hồ (toàn cây nhà lá vườn như Cù Hè, Cù Sinh, Tam Lang…) Trận đấu sẽ được trực tiếp truyền hình từ sân Thống Nhất tức sân Cộng Hòa cũ.
Vĩnh ngồi như thế ngoài khu rèn cả một buổi trưa cho đến khi anh Huy xuất hiện trước cửa hội trường tay cầm cái chổi để Vĩnh biết rằng giờ lao động sắp sửa tới.
Hội trường K.5 gồm hai dãy nhà tôn được gắn dính vào nhau. Nó có chiều dài mười lăm mét như tất cả các dãy nhà khác và chiều rộng chừng mười hai mét. Nền hội trường đắp đất. Bên trong phía trên có một sân khấu cố định. Bàn thờ thủ cấp Hồ Chí Minh không đặt trên sân khấu nhưng đặt trên một cái tủ tam cấp kê sát một bên vách hông hội trường. Hình như bọn chỉ huy K.5 muốn rằng mỗi chiều đến phải có nhiều trăm con mắt của lũ tù đồng hướng về và hướng lên ảnh tượng “bác kính yêu”, nên chúng cho đặt cái TV 19″ ngay dưới nấc kệ thứ hai của tam cấp.
Những ngày thường giờ xem TV thực tế không lôi cuốn được lũ tù. Chập choạng tối kiếm một cái lò nho nhỏ, đốt tí củi nấu tí nước sôi ngồi quây quần tán gẫu với nhau vẫn thú vị hơn là phải xem đi xem lại mãi mấy cái trò “rối nước”, mấy cái tin lao động toàn là “vượt chỉ tiêu” của nhà nước! Tuy nhiên chiều tối thứ Bảy thì khác. Lên muộn một tí nhất định không thể tìm ra được một chỗ đứng trong hội trường. Màn cải lương chiều thứ Bảy dù gì vẫn còn nhiều ma lực đối với bọn tù. Đặc biệt bữa nào có những gánh hát gồm toàn những đào kép cũ thủ diễn. Có thể chẳng mấy ai còn thích gì những giọt nước mắt của các cô đào tăm tiếng một thời như Thanh Nga, Lệ Thủy, Bạch Tuyết… Nhưng những tiếng cười, câu diễu, lời cương của những anh hề Văn Chung, Thanh Việt, Phi Thoàn, Hoàng Giang… vẫn có khả năng làm cho những tâm hồn tù tội nguôi ngoai được một chút muộn phiền. Ấy là chưa kể có lắm anh hề cương một cách “phản động” trông thấy! Bọn tù nhiều lúc không khỏi giật mình lo âu (nhưng khoái!) cho một vài anh hề cải lương, chẳng hiểu cố tình hay vô ý, đã cương những câu còn nặng hơn cả tội chửi cha chế độ.
Đêm nay hội trường K.5 còn đông hơn cả những chiều thứ Bảy. Từ bốn giờ chiều, khi những toán lao động bên ngoài trại đã lai rai trở về thì hội trường đã hầu như không còn một chỗ trống. Những người lao động tại trại, bọn anh nuôi, bọn ốm bệnh, các tổ đan tre… đã mỗi người một cái ghế gỗ đâm bổ lên hội trường cắm dùi một chỗ ngồi. Có những anh sợ mất chỗ, đem luôn phần bột mì luộc của mình lên ngồi nhai trên hội trường ngay từ lúc phát đồ ăn vào lúc năm rưỡi. Hầu như ai cũng náo nức mơ sớm tới giờ khai mạc trận đấu bóng giữa hai nước Việt và Tàu cộng.
Cũng như hầu hết người Việt Nam, Vĩnh mê bóng tròn. Nhưng mê gì thì mê, anh không thể nào chui vào ngồi giữa một rừng người chen chúc trong cái nhà tôn nóng như hỏa lò thế kia được! Lúc bóng chiều đã đổ xuống khắp nơi, những tiếng reo hò nhắc nhở anh bạn tù có nhiệm vụ trực máy mở tủ để bắt TV thì Vĩnh và Toàn mới bắt đầu rời phòng ngủ ra đứng ngoài vuông sân trước hội trường. Đứng nơi đây, trong lúc chờ xem TV, hai người có thể nghe thấy nhiều câu chuyện thời sự được anh em tụm năm tụm ba bàn tán với nhau. Những câu chuyện họ nói tới, dù sao cũng không thể vượt xa hơn chuyện đã được ăn thịt heo, chuyện phái đoàn quốc tế có thể ghé thăm, chuyện nay mai sẽ được phát quần áo sọc để chính thức tù hóa những cải tạo viên của chế độ… Trong những lời bàn tán ấy, Vĩnh còn nghe thấy một tin đồn, theo đó nay mai sẽ có một số đông tù binh VNCH từng bị bắt trước 30 tháng Tư năm 75 được chuyển từ Bắc vào… Rồi thì những câu chuyện như vậy bắt đầu chấm dứt khi TV được bật lên. Cái hoạt cảnh Con Rối Nước vừa rẻ tiền vừa quê mùa kệch cỡm do bọn văn nô Hà Nội biến chế, gần đây được phổ thông hóa trên TV bằng cách dùng làm mục chuyển tiếp giữa các chương trình, đã cho mọi người biết giờ trực tiếp trận đấu bóng tròn sắp tới. Những trận đấu giữa các hội tuyển Nam Bắc trước đây, do vậy, lại có dịp để mọi người đề cập đến với đủ thứ phen lê. Dĩ nhiên sự phê phán mạnh mẽ nhất vẫn nhằm vào việc bọn cán bộ chỉ đạo nền bóng tròn hiện nay, luôn luôn làm áp lực với các cầu thủ gốc “ngụy” phải bán độ mỗi khi có dịp thi đấu với các đội tuyển miền Bắc như đội tuyển Quân Đội Nhân Dân, đội tuyển Công An Nhân Dân Thành Phố Hà Nội…; việc anh em Cù Hè bị treo giày chỉ vì quyết liệt trả đũa bọn cầu thủ Công An chơi xấu lấy thịt đè người; việc mỉa mai bọn dìu dắt các đội banh của Hà Nội lúc nào cũng khoe khoang trên mặt báo rằng thì là “các vận động viên của đội có ưu điểm nổi bật là… ai cũng có một thể lực thật tốt!”…
Rồi thì trận đấu cũng đến giờ. Non một ngàn cặp mắt thụt sâu vì đói ăn đều hướng về phía cái màn ảnh nhỏ trắng đen bé tí để theo dõi một trận đấu vĩ đại giữa hai nước anh em vĩ đại. Qua lời giới thiệu của tay xướng ngôn viên trực tiếp truyền đi từ vận động trường, bọn tù được biết đội Thiên Tân là một trong bốn đội bóng xuất sắc nhất của Tàu cộng. Kể từ trận đấu giao hữu đầu tiên ngoài Bắc, đội cầu này đã thua đội tuyển Công An Nhân Dân Thành Phố Hà Nội trong một trận đấu không lấy gì làm gay go với tỷ số 3-1. Trong quá khứ, đội tuyển CATPHN lại từng thua đội Hải Quan Sài Gòn nhiều lần rất đậm đà, thành thử bọn tù cầm bằng kỳ này đội Thiên Tân có lấy cần xé mà đựng banh đem về Tàu!
Lúc trận đấu thực sự mở màn thì cổng trại bỗng bật mở. Chẳng hiểu vì lý do gì, bọn vệ binh từ trên khung lũ lượt kéo vào. Vĩnh thầm đếm và thấy chúng đông trên một tiểu đội. Trời đã tối nhưng Vĩnh vẫn có thể nhận ra trong số đó có vài thằng quản giáo. Bọn chúng vượt qua cổng rồi kéo thẳng vào hội trường đã đầy nghẹt người. Một tên trong bọn chợt nói lớn với mọi người.
– Máy của khung bị cố kỹ thuật! Yêu cầu các anh ngồi phía trên kia nhường một khoảng trống cho cán bộ và các anh vệ binh ngồi xem đấu bóng!…
Vĩnh và Toàn thực tế không theo dõi trận đấu một cách tích cực. Cả hai đứng ngoài sân nói chuyện, lâu lâu nghến chân nhìn vào trong hội trường. Dù ơ hờ nhưng cũng có lúc lòng Vĩnh sôi lên cùng với tiếng reo hò tở mở của anh em.
– Đốn! Đốn! ĐM. đốn chết mẹ nó đi!
– Ba Tàu chơi xấu! Đốn giò! Đánh bỏ mẹ nó đi!
Trong cơn hăng máu yểm trợ gà nhà, lũ tù “ngụy” còn đấm ào ào vào vách để tỏ lộ niềm xúc cảm. Anh chàng xướng ngôn viên nhiều lúc như sợ người anh em Trung quốc vĩ đại buồn, tường thuật có hơi thiên lệch, bị lũ “ngụy” hò hét chửi rủa um sùm. Những từ ngữ chuyên môn và rất lạ tai của làng bóng tròn miền Bắc được sử dụng qua giọng tường thuật, đều biến thành những thứ gia vị cho những lời chửi bới thật đậm đà của lũ tù.
– Thọc khe? Thọc cái con mẹ nó à!? 1
– Lật cánh? Lật cánh con vợ nó à!? 2
Những tiếng reo hò đang vang lên hòa với những tiếng đập ầm ầm vào vách tôn bỗng lắng hẳn xuống vì một tiếng súng nổ trong một góc hội trường. Tiếp theo đó là một tiếng thét lớn.
– Các đồng chí vệ binh rút ngay ra khỏi hội trường! Cảnh giác bọn phản động làm loạn!
Vĩnh đứng ngoài và nghe rất rõ câu ra lệnh trên. Toàn bản tính cẩn thận, muốn tránh vạ vịt, kéo ngay tay Vĩnh trở về phòng. Nằm trong phòng, Vĩnh và Toàn vẫn có thể nghe rất rõ sự náo động trên hội trường. Tuy nhiên, sự náo động ấy chỉ kéo dài chừng năm bảy phút rồi tắt ngấm. Kế nữa, giọng một tên cán bộ quản giáo vang lên.
-… cải tạo mà như thế hả? Đá chết ai? Đánh bỏ mẹ ai? Anh nào giỏi bước ra đây đá bỏ mẹ thử xem nào?…
Mươi phút sau hội trường tan hàng và trận đấu bỗng bị cắt ngang không cho tù coi nữa. Đây là hậu quả của sự phát ngôn linh tinh mà bọn tù đã vi phạm trong lúc được hưởng ân huệ xem truyền hình dưới chế độ mới, trong tù.
Toàn và Vĩnh vừa nằm nói chuyện lan man, vừa lắng nghe tiếng muỗi vo ve, tiếng động, tiếng nói móc nói méo, tiếng bàn luận về đủ mọi thứ chuyện của anh em tù đang lũ lượt rời hội trường tìm về những dãy phòng ngủ nóng bức chật hẹp. Hơi đất ẩm bốc lên quyện với mồ hôi, mùi chua mốc của quần áo cũ làm Vĩnh thấy khó chịu…
Một vài anh em cùng tổ với Vĩnh đã về tới. Ai cũng có vẻ luyến tiếc và mệt nhọc. Họ xà xuống chỗ nằm. Anh Huy chợt lết tới gần Vĩnh. Anh nói.
– Vĩnh ạ. Khi nãy tôi thấy tụi nó lôi một thằng ra khỏi connex và đem thẳng lên một chiếc jeep đậu sẵn ngoài cổng.
Vĩnh giật mình nghĩ ngay tới Đạo. Toàn chen vào.
– Hình như chuyện sẽ có một phái đoàn quốc tế ghé thăm là chuyện thật đấy! Tôi có nghe họ nói trong hai ngày nữa, khung họ sẽ cho lệnh dẹp hết những connex đặt phía trước các K của trại Suối Máu này.
Anh Huy nói như tự hỏi.
– Và do đó những người bị giam connex phải được lôi đi trước khi chuyện dẹp bỏ các connex được thực hiện?
Không ai trả lời câu hỏi của anh Huy.
Thực lòng Vĩnh muốn góp chuyện cho vui nhưng biết gì chắc chắn mà góp!? Chỉ một ngày mà đã có quá nhiều sự kiện xảy ra nơi đây. Nào là chuyện ăn thịt heo, chuyện phái đoàn quốc tế đến thăm, chuyện người bạn trẻ Trần Hướng Đạo được đem về rồi lại bị đem đi, chuyện thảo kháng thư, chuyện đấu bóng tròn và chuyện nổ súng giải tán lũ “ngụy” xem TV trên hội trường… Nhiều chuyện quá! Cứ chạy theo sự kiện mà luận hẳn có ngày điên!
Vĩnh ngồi dậy tính rủ Toàn bước ra ngoài sân cho mát thì thốt nhiên cả đám lại giật mình vì một loạt súng khác nổ ngoài phía cổng trại. Tiếp theo là tiếng chân chạy rầm rập nơi phía vườn thuốc Nam. Có nhiều tiếng la “đứng lại! Đứng lại!”.
Anh em nằm trong dãy nhà 1 đều tìm cách nhìn ra ngoài, nhưng vì trời tối, lại bị dãy hội trường chắn mất tầm nhìn nên chẳng mấy ai biết rõ chuyện gì đã xảy ra. Mãi một lúc lâu sau đó, chuyện nổ súng và chuyện rượt đuổi mới được loan truyền khắp nơi, khi có mấy anh bạn tù bị trói đưa lên ban chỉ huy trại với tang vật còn nồng mùi hôi thối. Lúc Vĩnh bước ra tới bờ giếng, anh thấy nơi vườn thuốc Nam của ông bác sỹ Triển có nhiều ánh đèn pin, và nơi cổng, chỗ những người bị bắt giữ còn đứng đợi lệnh, Vĩnh thấy có cả Minh chuột, Mai Mạnh Liêu và một người rất quen mặt làm trong đội anh nuôi.
Một giọng nói chợt cất lên từ đám đông nơi bờ giếng. Vĩnh có thể nhận ra giọng ấy thật dễ dàng. Đó là giọng Phạm Xuân Đồng.
– Quân phản động! Heo chôn để làm mắm cúng bạn học của tao mà chúng nó dám đào lên chia chác với nhau!
——————————–
1 Thọc khe: Đưa banh thật sâu vào vùng cấm địa của đối phương.
2 Lật cánh: Banh chuyền thẳng từ tả biên sang hữu biên hoặc ngược lại.
K.5 cũng như các K khác chợt thưa hẳn đi vì những đợt người được tuyển đem lên Trảng Bom lao động sản xuất sau đợt học tập chính trị mười ngày. Vĩnh trở lại K.5 bạn bè vắng nhiều. Nhưng những người như Ý, Huy, Dương và Điều thì vẫn còn nguyên. Vì có thành tích bệnh lao, Vĩnh có thể xin bác sỹ Triển cho nghỉ lao động tĩnh dưỡng một thời gian. Đã quen biết nhau, ông Triển cũng chẳng tiếc gì một lời đề nghị; do vậy, Vĩnh hiên ngang nằm phè và không hề phải làm một công tác gì dù là quét hội trường hay rửa cầu tiêu. Ở không mãi cũng buồn, Vĩnh bắt đầu trở lại suy nghiệm và tiếp tục viết nhạc. Đêm đêm đàn đúm với đám anh Huy để nghe ông trung tá Sâm, cựu liên đoàn phó liên đoàn 5 BĐQ nói về kinh nghiệm và quá trình làm bản tự khai của ông. Thực ra ông Sâm là xếp cũ của Ý. Trước khi động viên, ông là giáo sư Pháp Văn của trường Taberd. Gặp ông nơi đây, Ý cố tình tránh né vì theo Ý “tay này dám có liên hệ chi đây với cộng sản, bằng không giờ này ông ta nhất định phải nằm ngoài Bắc rồi”. Ông Sâm dần dần nhận biết được sự nghi kỵ của Ý, một buổi chiều bọn Vĩnh đang ngồi với nhau nhấm nháp tí nước gạo rang cháy giả cà phê thì ông Sâm chống gậy xà đến (ông hiện bị xụi một bên chân!). Ông lên tiếng hỏi Ý. – Sao thấy tao là mày trốn biệt vậy Ý? Ý cười cười, nửa đùa nửa thật. – Sao giờ ông thầy còn nằm đây, ông thầy? Ông Sâm đã biết rõ Ý nghi ngờ ông. Ông ngồi xuống cạnh mọi người, nhăn mặt. – Bộ mày muốn tụi nó lôi tao đày ra Bắc lắm hả? Nói rồi ông nhìn vào mặt Ý. Nói mày nghe. Tụi mày dở lắm. Mấy thằng bạn già bò ngũ bò lục của tao cũng ngu xấp lượt. Tao hỏi mày, thằng nào dân Biệt Động mà không giết hằng hà tụi nó? Và những thằng bị giết, thiếu gì thằng mình từng đọc qua tiểu sử trong bản trận liệt. Bộ mày không nhớ nổi tên năm ba thằng đã chết dưới tay mà khai báo với cách mạng rằng chúng nó là thân nhân của mày hay sao? ĐM. những thằng chết rồi đâu có ngồi dậy để mà tố giác mày man khai. Trời ơi! Thời buổi này làm bà con của liệt sỹ cách mạng dễ thấy mẹ, sao tụi mày ngu quá vậy? Ngồi nghe ông Sâm nói với cái giọng bộc trực của một người miền Nam, Vĩnh tin là ông không phịa chuyện. Ở điểm này quả ông đã khôn ngoan vượt lên trên rất nhiều người đồng cảnh ngộ. Giờ đây, tỉ như bọn chúng có khám phá ra thì những đợt đem đi Bắc hầu như đã chấm dứt; và chả phải mỗi lúc mỗi đem từng cá nhân ra đày ngoài Bắc mà được. Ông Sâm, do đó, rất có thể đã thoát được việc bị đem ra Bắc chính nhờ xử trí khôn ngoan của ông. Những đêm không đàn đúm với đám Ý và Huy thì Vĩnh lại nằm chuyện trò văn nghệ với Nguyễn Đình Tạc. Có lần Tạc bàn với Vĩnh rằng nếu sau này còn sống và đổi đời lần nữa, chắc anh sẽ viết một cái nghi án văn chương cho cả làng điên đầu chơi. Anh sẽ ngụy tao văn kiện để chứng minh rằng tác giả Lục Vân Tiên không phải là cụ Nguyễn Đình Chiểu, mà là của người em ruột tên Nguyễn Đình Chiếu… Nhưng những chuyện văn học nghệ thuật Vĩnh được bàn với một người bạn mới tên Trần Mạnh Toàn có lẽ thú vị hơn. Toàn điềm đạm và hiền lành. Hầu như chả có đêm nào mà Toàn không tìm đến gặp Vĩnh. Hai người rất ít khi lên hội trường coi TV mà hay ra bờ giếng ngồi nói chuyện thi phú với nhau. Trong những tác phẩm chống cộng, Toàn hay nhắc nhở đến một tác giả người Anh George Orwell với tác phẩm chính trị giả tưởng lạnh mình của ông có nhan đề là Nineteen Eighty-four. Thêm một tác giả nữa mà Toàn tỏ ra yêu thích đặc biệt là Lâm Ngữ Đường. Anh hay nhắc đến tác phẩm Bí Danh của vị học giả uyên bác người Trung Hoa này. Đổi lại, Vĩnh nói cho Toàn nghe miền Nam không phải không có những tác phẩm quan trọng về việc báo động hiểm họa cộng sản. Nhiều tác giả có ý thức đã không thiếu bổn phận trong nhiệm vụ báo động này. Chỉ có quần chúng thiếu ý thức là không chịu tìm đọc, hoặc đọc mà không chịu tin mà thôi! Ngay thành phần sỹ quan cán bộ của quân đội, đã mấy người đọc Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc? Đã mấy người biết đến cái bìa Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử của Nguyễn Mạnh Côn màu gì? Chao ôi, nếu bình tâm mà nói hẳn những ông như Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ phải là những nhà văn can đảm ghê lắm. Họ cứ viết cứ in để sách họ cứ ế chảy ra năm này tới năm khác, vì nó là sách… chống cộng!
Trong giai đoạn này, phải nói rằng đời tù cải tạo của Vĩnh và các bạn ở Suối Máu tương đối nhàn nhã. Càng nhàn hơn khi bọn quản giáo bắt đầu biết hưởng thụ và biết lợi dụng bọn tù vào những công tác sinh lợi cho chúng. Dĩ nhiên trong điều kiện hiện tại, bon tù chưa thể ra biển Đông lặn mò ngọc trai, chưa thể lên núi khai thác mỏ vàng mỏ bạc; nhưng bọn tù còn ở lại Suối Máu có thể sáng chế ra những món đồ đeo tay bằng nhôm xủi rồng bay phượng múa không phải là những thứ không bán ra tiền trong thời buổi này. Ở miền Nam nó có thể chỉ là những món hàng mã cho con nít chơi, nhưng nếu nó được đem ra miền Bắc nghèo khó mấy chục năm dưới chế độ cộng sản, nó sẽ trở thành những nữ trang quý giá và cô gái nào cũng khát khao được làm chủ! Riêng đối với bọn tù lao động ở Trảng Bom, bọn quản giáo khai thác họ trong việc săn đuôi kỳ nhông… Riêng về mặt thủ công, bọn quản giáo đã cung cấp đều đặn những miếng nhôm tốt, những tờ giấy nhám mịn cho một số tù cải tạo khéo tay hay làm. Không khí trại nhộn nhịp hẳn lên. Những chuyên viên vẽ và xủi những món đồ nữ trang bằng nhôm nổi tiếng như Đặng Ngọc Sinh, Lê Tuấn Khanh, Mai Mạnh Liêu… hầu như bận rộn suốt ngày. Vui hơn nữa là chính bọn quản giáo cũng lăng xăng chia xẻ sự bận rộn ấy với bọn tù làm thủ công và một phần nào quên đi sự cay nghiệt cần có cho một chức vụ cai tù của chế độ mới. Cũng nhờ sự lơi là này, nhiều anh đã dám mạo hiểm chờ đêm xuống, chui luôn những lớp thép gai dày đặc phía sau bếp sang K khác thăm bạn bè. Vĩnh cũng mạo hiểm một chuyến và chui được sang K.1. Lần mò cả tiếng Vĩnh mới tìm gặp được Hóa. Đứng nói chuyện với bạn một lúc, Vĩnh biết đại khái sinh hoạt bên K.1 dễ dàng hơn bên K.5. Ban đêm anh em tổ chức hát nhạc vàng công khai. Cũng qua Hóa, Vĩnh được thêm ít tin tức về những người bạn cũ hồi bên An Dưỡng. Và nhất là gần đây K.1 đang nhen nhúm một phong trào đánh hội chợ bọn ăng ten chỉ điểm. Lê Bá Lý, cựu hùm xám của trại 4 An Dưỡng đã lãnh một trận đòn gần chết đến độ bọn khung phải chuyển hắn sang K.4 để tránh bị tiếp tục ăn đòn… Riêng số anh em lao động ở Trảng Bom nghe nói cũng rất thoải mái. Họ tương đối được ăn uống đầy đủ hơn những người còn ở lại Suối Máu. Sự thoải mái này phải chăng là một hình thức trả công của bọn cán bộ Suối Máu dành cho những người đã giúp chúng giải quyết được một vấn đề to lớn?
Hàng tuần, chở theo những chuyến Molotova đi thanh tra hoặc tiếp tế cho nông trường Trảng Bom về, riêng ở K.5, Vĩnh và các bạn nhiều lần thấy bọn vệ binh mỗi tên xách theo tay năm bảy xâu không rõ vật gì, chỉ thấy nó dài quãng gang tay, to bằng ngón út và quắt queo như đã bị phơi nắng nhiều ngày. Một thời gian sau, Vĩnh mới biết ra đó là những cái đuôi kỳ nhông phơi khô. Và khi sự biết đi xa hơn một tí thì nó không khỏi không làm Vĩnh ớn sợ. Vì lặn lội trong rừng già Trường Sơn, chịu đựng một đời sống chiến đấu quá gian khổ về vật chất và căng thẳng về tinh thần kéo dài nhiều năm tháng, trừ những hạng cán bộ cấp cao, còn các thế hệ cán binh cộng sản cấp trung và cấp thấp đều dần dần bị chứng bệnh bất lực tình dục. Khi chiếm được miền Nam, vấn đề to lớn này vẫn chỉ được âm thầm tự giải quyết trên căn bản cá nhân. Không có Đảng, không có nhà nước nào quan tâm, nghiên cứu và đặt thành vấn đề chữa trị cho các “đấng anh hùng cách mạng cấp thấp” này cả. Một trong những phương thuốc “dân tộc” chữa bệnh bất lực (!?) là dùng đuôi kỳ nhông phơi khô ngâm rượu uống, hầu như đã và đang được nhiều thế hệ cán binh CSVN đồng lượt săn tìm và chữa trị lấy. Khi phương thuốc này được loan truyền rộng rãi và Vĩnh được biết tới nó, thì cũng là lúc đi tới đâu có bọn vệ binh ở, Vĩnh đều thấy có treo những xâu đuôi kỳ nhông phơi ngoài sân sau nhà. Trong tầm quan sát bị giới hạn của một tên tù, Vĩnh không có điều kiện để thu thập đủ dữ kiện, để có thể khẳng định căn bệnh bất lực tập thể của bọn cán binh cộng sản trầm trọng đến độ nào, và tỉ lệ cao đến đâu; nhưng ít nhất có hai nơi Vĩnh đã đi qua, ban chỉ huy K.5 và ban chỉ huy khu bệnh xá, nơi đâu Vĩnh cũng thấy chung một hiện tượng là bọn cán binh đều xử dụng và tỏ ra rất quý món thuốc dân tộc đuôi kỳ nhông ngâm rượu đế. Sự thoải mái dành cho anh em săn đuôi kỳ nhông trên miệt Trảng Bom không rõ ngày có mỗi tăng thêm không, chứ riêng ở Suối Máu, đặc biệt ở K.5, sự thoải mái bắt đầu đi xuống khi một chiều kia, bọn cai tù kêu người phụ trách hậu cần của K, cũng là một cựu trung tá, tuyển một số tay khỏe mạnh lên hậu cần ban chỉ huy công tác đột xuất. Chừng nửa giờ sau, đoàn người trở về trại với những bao đậu nành nặng cả tạ trên vai. Những bao đậu được đem giấu khắp nơi trong K.5. Bọn quản giáo và vệ binh đi theo tù khuân đậu vào K trông thằng nào cũng có vẻ hớt hải. Sau này, tù K.5 mới biết ra nguyên do của việc phân tán mỏng nhiều tấn đậu nành tích trữ trên kho hậu cần trại là vì chúng bị thanh tra thình lình. Số đậu nành ấy là số đậu đầu cơ tích trữ của bọn chỉ huy K.5! Khi cuộc thanh tra chấm dứt, khốn nạn thay, bọn chỉ huy trại đã chỉ có thể thu về kho của chúng không quá nửa số đậu chúng từng cho khuân vào giấu nơi những dãy nhà ngủ của bọn tù. Chúng lồng lộn lên để tìm thu về những tạ đậu đã mất. Nhưng lồng lộn thế nào thì cũng không thể đòi lại được những hạt đậu đã chui vào bụng của bọn tù ốm đói quanh năm. Sự thoải mái thật sự chấm dứt từ tháng 12 năm 1977. Ngoài biện pháp kềm kẹp, chửi rủa, nhục mạ và hành xác bọn tù; chúng còn tính thành tiền số đậu nành đã mất và khấu trừ vào khẩu phần tinh bột mỗi ngày của tù. Chao ôi! Đòn gì chứ đòn đánh vào bao tử là đòn kinh khủng nhất trong tù cải tạo. Bình thường còn đói rã họng, đói đến độ chuột cống chuột chù, thằn lằn cắc ké, cào cào châu chấu đều biến mất hết nơi đây; giờ chúng lại còn khấu trừ vào số lượng bột hàng ngày nữa thì chịu sao cho thấu? Miếng bột luộc buổi trưa và ổ bánh mì buổi chiều bỗng nhiên teo lại một cách thê thảm. Trước khi ăn, người ta không cảm thấy đau đớn gì trong người; nhưng sau khi ăn miếng bột luộc vào, thốt nhiên ai cũng cảm thấy trong người mình như đang có một bãi sa trường. Ăn vào miếng bánh quả không khác nào là một trò chơi dại dột, đã đánh thức dậy hàng trăm con sán con lãi đang thiêm thiếp ngủ và xúi bẩy chúng vào một cuộc tranh giành không xứng đáng. Ngoài việc bớt khẩu phần cho “chết cha tụi ăn cắp đậu”, bọn vệ binh quản giáo còn ra tay nhục mạ bọn tù đến mức! Một lỗi nhẹ cũng đủ bị chửi sói đầu. Ông trung tá Tiến, cựu tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 SVSQ Thủ Đức, người có cả chục xe đò chạy đường miền Tây, có lẽ là nạn nhân đầu tiên của chiến dịch nhục mạ tù tại K.5. Chỉ vì gặp một thằng vệ binh giữa đường chưa kịp ngả nón chào, nó bắt ông trình diện, rồi chửi bới ông và sau cùng bắt ông quỳ ôm cột đèn giữa trời trưa nắng. Trò chơi khốn nạn này được bọn chúng ngày càng phát huy và không biết bao nhiêu người ở K.5 đã bị nhục vì trò chơi đó!
Khi thời tiết Biên Hòa bắt đầu gai gai lạnh để người dân miền Nam sửa soạn được đón cái lễ Giáng Sinh lần thứ ba dưới chế độ cộng sản, thì trại Suối Máu thực sự biến thành một loại trại trừng giới đạt tiêu chuẩn quốc tế về sự bạo tàn. Trước lễ Giáng Sinh ít ngày, cũng như ở các K khác, K.5 được bọn cai tù tổ chức lên lớp một bữa. Khởi sự, tên trại trưởng khoe chuyện làng chuyện nước của hắn sau lần hắn đi phép về. – Sau mười năm đi chiến đấu chống Mỹ cứu nước, trở về làng cũ tôi sung sướng và tự hào vô cùng. Hiện tại làng tôi đã có đến quá nửa số nhân dân biết đi guốc hoặc đi dép. (Bên dưới bắt đầu có những tiếng cười). Tên thủ trưởng vẫn tiếp. Lúc tôi ra đi theo lời bác gọi, làng tôi còn nghèo lắm. Bây giờ trở về thấy có nhiều gia đình đã có xe đạp, thậm chí có những gia đình đã có tới hai chiếc xe đạp! Bọn tù bên dưới vừa nghe vừa nhìn cái dáng điệu diễn tả sự sung túc nơi quê cha đất tổ của thằng Việt cộng, nhất là khi hắn trịnh trọng khoe về vụ xe đạp, thì đã không còn nhịn được nữa. Tất cả đều phá lên cười. Tên trưởng trại dĩ nhiên làm sao hiểu nổi cái ý nghĩa của nụ cười… ngụy! Do đó, hắn lại tưởng lầm là bọn tù ngồi dưới không tin làng hắn giờ đây giàu có đến thế. Tên trưởng trại nhăn mặt nói như hét để tái xác nhận về sự giàu có ấy. Tại sao các anh cười? Các anh không tin lời tôi à? Tôi nói thật đấy, làng tôi ngày nay thậm chí có những gia đình đã có tới hai cái xe đạp! Tin quá đi chứ! Có thằng tù nào ngồi dưới mà lại không tin chuyện này! Nhưng chính vì tin mà họ không thể nhịn cười được. Sự giàu sang… ha ha ha!… Giấc mộng… ha ha ha!… trong xã hội mới là cái xe đ…a…p ha ha ha! Bọn tù thay nhau cười rống lên. Tên trại trưởng nhìn thấy sự “thiếu nghiêm túc trong học tập cải tạo” ấy đâm cáu. Hắn bắt đầu xoay sang vấn đề đạo đức cách mạng, để lấy đà chửi bới bọn tù trong vụ đánh cắp tập thể đậu nành vừa qua. Và rồi để kết thúc câu chuyện trước thềm năm mớ Tây lịch, hắn răn đe và công khai cấm chỉ mọi hành vi có tính cách tôn giáo trong ngày Giáng Sinh sắp tới. Sau cùng, hắn thông báo cho tù K.5 một kế hoạch mới của trại, theo đó tất cả những người không đi lao động sản xuất ở Trảng Bom đều được tạo dịp sản xuất ngay ở Suối Máu này, nhằm phù hợp với kế hoạch 5 năm của nhà nước đã đề ra từ năm ngoái. Đối với tù K.5, kế hoạch mới này không gì khác hơn là biến vòng đai trại Suối Máu, tức một phần thửa rừng nằm giữa trại và con đường sắt thành đất canh tác hoa màu sau này. Giờ đây, những người ở lại Suối Máu để được phè một thời gian mới thấy rằng bọn đi Trảng Bom ấy thế mà thọ! Lâu lâu có những người bị đau ốm, được đưa về “hậu cứ” Suối Máu nghỉ ngơi đều cho biết rằng lao động trên Trảng Bom rất thoải mái. Trên ấy lao động theo chế độ thông tầm. Mỗi ngày chúng phát dao, phát rựa và khẩu phần đem theo đường cho tù; tù cứ đi từng toán với nhau vào rừng đốn gỗ hoặc lồ ô theo một chỉ tiêu nhất định. Sáng đi, tối về; miễn sao chỉ tiêu phải hoàn tất. Đời sống không quá bị gò bó và bị hạ nhục tàn tệ như ở đây. Sự mô tả đời sống trên Trảng Bom dĩ nhiên đã được thêm mắm thêm muối rất nhiều.
Nhưng dù gì, đời sống lao động trên ấy đỡ chán và đỡ nguy hiểm hơn nơi đây, lúc này; lúc mà mọi người khởi sự chấp hành kế hoạch mới của trại đưa ra, kế hoạch biến vòng đai phía sau trại Suối Máu, tức khoảng rừng thưa nằm giữa trại và đường sắt, thành vùng canh tác hoa màu trong tương lai. Một buổi sáng sau Tết dương lịch 1978, mỗi nhà mười hai người, vị chi mỗi tổ một người, phải lên trình diện khung để nhận công tác đặc biệt. Mặc dù chưa được bọn cai tù thông báo chính thức, nhưng qua sự rỉ tai nhau, hầu như ai cũng biết đây là một công tác loại… Hitchcock! Tin đồn này đã làm các tổ trưởng không còn dễ dàng trong việc cắt công tác như mọi ngày. Riêng tổ 1 đội 17, tổ trưởng Sơn cũng muốn cắt đại một người cho xong, nhưng anh lưỡng lự không biết cắt ai và nếu cắt liệu người ấy có đồng ý hay không? Cái phép nghỉ lao động một tháng của Vĩnh nhờ ông Triển xin ban y tế trại giúp cho đã hết hạn từ lâu, do đó, chắc chắn công tác sáng nay Vĩnh không thể tránh được nếu có quyết định của tập thể. Trong lúc mọi người còn nhùng nhằng, thì bỗng nhiên anh chàng thiếu úy hải quân nửa tỉnh nửa điên Trương Hồng, một con cóc của tổ, bỗng nhiên nghiến răng. Trong nhiều tháng chung sống với nhau, có lẽ đây là lần đầu tiên Vĩnh và mọi người thấy Hồng tỏ ra hăng hái trong sinh hoạt tập thể. Anh giơ cao tay tình nguyện. Cả tổ ai cũng ngẩn ngơ trước sự tình nguyện bất ngờ của Hồng. Nhưng một thoáng sau đó anh Huy lên tiếng phản đối ngay. Có lẽ sự phản đối xuất phát từ tấm lòng thương người của anh. Cũng như mọi người, anh Huy nghi ngờ công tác hôm nay không chỉ là công tác phát quang như mọi bữa, mà chắc phải là một công tác loại mới hứa hẹn nhiều nguy hiểm dù mới qua tin đồn. Để cho một người bạn trong tình trạng bất thường bỗng nhiên nổi hứng tình nguyện anh thấy bất nhẫn quá; do đó anh lên tiếng phản đối và đề nghị. – Tôi thấy công tác sáng nay không nên buộc ai phải đi và cũng không nên chấp nhận một lời tình nguyện của bất cứ ai. Cứ để trời gọi ai nấy dạ. Vậy tôi đề nghị mình nên bắt chước các tổ chung quanh rút thăm luôn cho tiện và cho công bằng! Lời đề nghị của anh sau cùng được mọi người đồng ý. Mười phút sau, một trong mười hai người của nhà 1 được lên khung nhận công tác vinh quang đột xuất là Vĩnh! Khi lên tới sân ban chỉ huy K.5, mọi người tập họp lại thành một khối bảy mươi người trong đội hình bốn hàng dọc. Tất cả đứng chờ quản giáo phụ trách quán triệt sơ bộ công tác. Trong lúc đứng đợi, Vĩnh xoay sang nói chuyện với mấy người bạn như Đặng Xuân Bính, Trần Mạnh Toàn và Võ Tấn Bảo Hùng. Mấy người bạn này sáng nay cũng có những bàn tay may mắn bắt trúng thăm như Vĩnh. Khi mọi người đang vui vẻ chuyện trò với nhau thì một thằng vệ binh chợt xách súng đi tới. Nó ngoắc đại hai người to con đứng gần Vĩnh ra khỏi hàng. Hai người bị lôi ra là Đặng Xuân Bính và Võ Tấn Bảo Hùng. Tên vệ binh chỉ chỉ tới trước gian hậu cần, ra lệnh. – Này, hai anh này theo tôi! Hai anh khênh mấy cái “ri-xe” đàng kia xếp thành đống trước bếp rồi lấy mấy cái “tôn-ne” đậy lại xem được không nào? Chẳng riêng Bính và Hùng mà hầu như mọi người đều ngẩn ra trước cái lệnh của thằng vệ binh. Ri-xe là cái gì? Và tôn-ne là cái chi chi? Thấy Hùng và Bính ngẩn người ra và chưa chịu bước đi, tên vệ binh có vẻ bực. Nó hét. Đã bảo ra khênh mấy cái bao ri-xe kia chất lại một đống rồi lấy mấy cái tôn-ne đậy nại, sao cứ đứng trơ thổ địa ra thế kia? Cũng như mọi người, Bính và Hùng vẫn chưa hiểu, nhưng vì thằng vệ binh đã chỉ về phía nhà hậu cần trại, tay lại ve vẩy mũi súng chẳng lẽ không đi? Hai người vừa bước tới trước nhà hậu cần, vừa ngơ ngơ ngác ngác nhìn quanh. Thằng vệ binh đi theo thấy vậy bèn chỉ luốn vào mấy cái bao gạo Mỹ quăng dưới đất, gắt. Thế chứ cái gì đây? Không gọi là “ri-xe” thì gọi là cái gì đây?
Đến bây giờ thì mọi người đã hiểu ra ri-xe là cái gì. Thì ra ông vệ binh nhìn thấy chữ “Rice” to tướng in trên bao gạo, nên ông ấy gọi luôn cái bao ấy là bao “ri-xe”! Vài tiếng cười tội nghiệp cất lên trong đám tù. Riêng Bính và Hùng đã khuân xong mấy bao gạo xếp ngay ngắn trước bếp rồi, hai anh vẫn không dám cười vì họ chưa biết cái “tôn-ne” là cái gì. May thay thằng vệ binh đã hiểu ra sự dốt nát của bọn “ngụy”, nó chỉ luôn về phía mấy tấm tôle dựng bên vách nhà hậu cần. Thì ra thế! Bây giờ thì tiếng cười của bọn “ngụy” chỉ có trời mới giữ lại được! Đang lúc vui nhộn không phanh không chuông thì thằng quản giáo phụ trách đội công tác đột xuất xuất hiện. Hắn bắt một người trong hàng ra đại diện để hô hoán làm thủ tục trình diện chào kính. Khi thủ tục chào kính báo cáo nhân số hoàn tất, tên quản giáo bắt đầu lên lớp. – Giờ này cũng hơi muộn rồi đấy! Các anh dưới trại làm việc luộm thuộm, cắt cử thiếu khoa học, thiếu tổ chức nên mới muộn như thế này. Bây giờ đã gần chín giờ, tôi thay mặt khung quán triệt sơ bộ về một loạt công tác đặc biệt kể từ hôm nay. Như các anh biết, trong chiến dịch trồng cây nhớ bác do nhà nước phát động gần đây, trại ta hầu như chưa làm được một cái gì cụ thể. Các anh học tập tiến bộ đã được đưa lên Trảng Bom lao động thực tế, tạo được của cải vật chất dâng lên Đảng; riêng các anh còn lại đây rõ ràng chỉ làm tốn cơm gạo sắn khoai nhà nước. Hôm nay, qua nghiên cứu, khung quyết định tạo điều kiện cho các anh còn ở lại trại làm được một cái gì để lập công ăn mừng Tết truyền thống dân tộc sắp tới. Do vậy, sáng nay tôi sẽ hướng dẫn các anh đi khai quang vòng đai trại để tạo cơ sở đất đai cho những đội canh tác làm việc kế tiếp. Sau nay khung sẽ có quy hoạch trồng loại cây gì. Trước mắt tôi quán triệt các anh như vậy thôi. Khi ra tới hiện trường, tôi sẽ nói thêm về phương pháp làm việc với các yêu cầu cần thiết để đảm bảo công tác được tiến hành tốt và đạt chỉ tiêu như trên quy định. Mười phút sau nữa thì đám Vĩnh đã có mặt ngoài hiện trường. Nơi đây là một vùng đất bỏ hoang và rất gần với cánh rừng thưa nằm ngay sát hàng rào từ K.5 chạy dài xuống tới bệnh xá. Vùng đất này có lẽ đã bỏ hoang từ lâu lắm, cỏ lau chen lẫn cỏ hôi mọc rậm rì. Từ chỗ này có thể nhìn thấy con đường sắt nằm trên một vị trí cao không quá xa. Vĩnh đi theo đội hình cho đến khi được lệnh ngừng chân tập họp trên một bãi đất trống. Nơi dãy rừng bên cánh phải, không ai nói ra nhưng tất cả đều biết có rất nhiều mìn cóc. Ban đêm nằm trong trại, thỉnh thoảng tù lại nghe thấy một tiếng nổ gây ra bởi loại mìn này. Một con cáo, một con chồn hoặc một con thỏ đều có thể làm cho nó phát nổ. Riêng đối với con người, loại mìn này nhiều khi không giết chết nhưng chắc chắn đụng vào nó, nó sẽ nhảy lên ngang đầu gối mới nổ và việc đi phép vĩnh viễn một cái chân là điều cầm bằng không thể tránh khỏi. Đứng ngó vu vơ và nghĩ ngợi lan man, Vĩnh bỗng buồn buồn nhớ tới những người bạn năm xưa đã chết, đã què cụt trong thời chiến tranh. Huỳnh Hồng Long, thằng bạn hướng đạo hiền như đất đã chết khi mới chuẩn úy. Đoàn Minh Dũng cũng vậy! Ôi cái thằng củ mĩ cù mì vừa ra trường được tuần lễ đã lên cố thiếu úy. Còn bao nhiêu đứa như vậy nữa? Và giờ linh hồn chúng nơi đâu? Có lẩn khuất quanh đây để phù trợ cho những thằng bạn không chết nhưng còn khổ hơn chết của chúng không? Vì cái chuyện què chuyện cụt lại làm Vĩnh nhớ tới một nhà thơ miền Nam cùng thời với Vĩnh, nhà thơ Luân Hoán. Chiến tranh đã làm anh mất đi một bàn chân trái. Anh đã làm những câu thơ than thở mà theo Vĩnh, có lẽ là những câu thơ yếm thế và thê lương nhất trong thời chiến tranh.
Hoán đã viết. Tôi là một sỹ quan mù, Chỉ huy một đoàn quân điếc! Câu thơ ấy ngày xưa Vĩnh đọc chả thấy gì tai hại. Nhưng ngày nay nhớ lại, Vĩnh không khỏi bàng hoàng. Thế hệ của anh, của Luân Hoán, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Trần Tuấn Kiệt, Lâm Hảo Dũng… những người không vướng vào cái tai hại làm thơ huê tình ve gái ngay giữa thời chiến, nhưng lại dính vào một lỗi lầm có lẽ trầm trọng hơn: Đã tìm cách bi thảm hóa cái thân phận mình một cách hơi lố bịch. Buồn cười hơn là lại bi thảm hóa nó ngay lúc đối đầu với kẻ thù! Có ích lợi gì không? Hay chỉ là làm cho chính mình bị thui chột dần đi cái ý chí tranh đấu cần thiết trong một cuộc chiến sinh tử, nói thẳng ra, tự làm thui chột đi cái bản năng tự vệ mà đến một con thú nó cũng cần phải có một cách nguyên vẹn và đầy đủ. Trong cuộc chiến tranh vừa qua, phải nói hơn một lần Vĩnh và các bạn đồng thế hệ đã can tội tự sát trong tư tưởng… Tiếng hô hoán điểm danh từng người đã vang lên. Rồi thì việc điểm danh chấm dứt. Tên quản giáo lại khởi sự lên lớp. Hắn chỉ sang thửa đất rậm cỏ lau bên trái và nói. – Theo ghi nhận của trên đưa xuống thì mìn chỉ có nhiều trong cánh rừng thưa phía bên phải, còn bên trái dẫn ra tới đường sắt, dù cũng có mìn nhưng chỉ ít thôi. Hiện tại trại ta không có phương tiện rà mìn, vậy theo đúng chỉ thị của trên, tôi sẽ hướng dẫn các anh phương pháp rà mìn sao cho an toàn và đạt yêu cầu. Nghe tới đây quả bọn tù đều tái mặt. Tên quản giáo hình như cũng đoán biết. Hắn vội trấn an. Các anh chẳng có gì phải lo! Cách mạng sẽ chỉ dạy cặn kẽ các anh phương thức làm việc trước khi thực hiện công tác. Yêu cầu trước mắt là các anh phải tuyệt đối bình tĩnh, lắng nghe cho tốt những gì tôi truyền đạt. Các anh phải gác bỏ ngay những ý nghĩ sai trái, rằng cách mạng đem các anh ra đây để quăng các anh vào bãi mìn. Trên điều các anh ra đây là điều một cách có phương pháp, để các anh có điều kiện lao động tốt và đạt được thành tích tốt. Cái gì cũng thế. Ta tuyệt đối tin tưởng vào Trên, ta hồ hởi phấn khởi ở công tác, thì khó khăn nào cũng vượt qua, công tác nào cũng hoàn thành được cả. Hiện tại ta thiếu những dụng cụ rà mìn và tiêu diệt mìn, ta khắc phục thôi! Tôi nói để các anh biết, hồi còn lặn lội đường Trường Sơn, đã có nhiều lúc chúng tôi ngủ trên bãi mìn. Sáng ra mới biết mình đã ngủ trên mìn. Các anh biết không? Mỹ ngụy nó thả mìn cóc, mìn râu, mìn chống người xuống đường Trường Sơn và những tuyến đường tiến quân của ta nhiều khi như bươm bướm. Thế mà chúng tôi tay không vẩn tháo gỡ và thủ tiêu được hết mìn trên đường tiến quân cơ đấy! Sau cùng các anh thấy không? Chúng tôi đã đánh thắng hoàn toàn và triệt để đế quốc Mỹ cùng bọn tay sai ngụy quân ngụy quyền. Nói thế để các anh tin tưởng mà làm theo đúng phương pháp cách mạng đã làm… Cà kê dê ngỗng đến mười phút tên quản giáo mới bắt đầu đi vào bài học rà và gỡ mìn bằng hai tay không! Quả thực ai cũng đoán biết trên bãi có mìn, nhưng không ai biết nó là loại mìn gì. Đến khi tên quản giáo lên lớp mọi người mới vỡ lẽ ra mìn nơi đây thuộc loại mìn chống cá nhân, được chôn ngầm dưới đất. Theo đúng bài bản mọi người dàn hàng ngang, mỗi người cách nhau đúng một sải tay. Trên tay mỗi người cầm một cái que tre dài bằng hai chiếc đũa. Khi được lệnh, hàng ngang sẽ đồng loạt tiến lên phía trước và bắt đầu xâm trên đất với chiều ngang trách nhiệm. Chiều dài của buổi sáng hôm nay, do bởi ra quân hơi muộn, quản giáo quyết định một cách ân huệ là năm mươi thước cho mỗi người.
Trong lúc vừa tiến vừa xâm trên đất, nếu xâm nhằm một vật cứng phải đứng ngay lại và báo cáo thật lớn: Có mìn! Báo cáo xong cứ việc cắm que tre vào chỗ nghi ngờ và bước lui trở lại. Phần vụ kế tiếp sẽ do những chuyên viên gỡ mìn thực hiện. Tuy nhiên để tránh tình trạng báo cáo láo, tên quản giáo đã nhắc nhở trước. – Bất cứ anh nào cố tình báo cáo láo hoặc báo cáo không chính xác quá ba lần, anh ấy sẽ chịu biện pháp kỷ luật của khung và trước mắt là sẽ bị cấm thăm viếng vào đợt thăm viếng trước Tết… Nghe câu răn đe của thằng Việt cộng ai cũng rủa thầm trong bụng. Nó biết mình không tam vô và coi trọng gia đình nên đưa chuyện gặp gỡ gia đình ra bắt chẹt đây! Tuy rủa thì rủa, trong lòng mọi người đều dấy lên một niềm vui bất thường. Tin sẽ được thăm nuôi ít nhất cũng đã được chính miệng tên quản giáo này tiết lộ. Lúc hàng ngang bắt đầu tiến, Vĩnh cũng cẩn thận và chậm chạp tiến lên theo anh em. Trong cái dáng lom khom như người cấy lúa, hầu như trong đầu mọi người không có chỗ trống cho sự sợ hãi xuất hiện, mà chỉ có chỗ cho một nỗi kinh ngạc mênh mông ngự trị. Chao ôi! Ai có thể ngờ được cuộc đời mình lại có ngày đánh đu với tử thần một cách… vô duyên như thế này!? Đã nửa tiếng trôi qua, bọn tù hồ như chỉ tiến được dăm thước. Tên quản giáo dù nhận lệnh trên, nhưng cá nhân hắn có lẽ cũng có tí ái ngại hộ bọn tù nên hắn lờ đi và không cất một lời thúc hối nào. Hắn ngồi tựa vào một gốc cây gòn đã chết khô nằm cách hiện trường độ hai chục thước tán dóc với một thằng vệ binh. Thấp thoáng nơi phía đường sắt có đôi ba thằng vệ binh khác ôm súng ngồi cạnh bọn tù lao động. Mùa này trời Biên Hòa hay có những cơn mưa rất bất chợt. Bọn cai tù lại rất kỵ mưa. Cứ hễ trời vừa chuyển là chúng vội vàng gom tù đưa về trại tức thì. Chẳng phải chúng thương gì bọn tù mà chỉ vì trời mưa sẽ gây cho chúng nhiều trở ngại trong việc canh giữ. Vĩnh chậm rãi tiến lên xâm cây que vào khoảng đất trước mặt. Có lúc Vĩnh dừng chân quan sát chung quanh. Anh thầm nhủ trong lòng nếu dưới chân anh đừng nổ bậy bạ một quả mìn thì thế nào anh cũng viết lại câu chuyện này. Bên cánh trái Vĩnh là Trần Mạnh Toàn. Trời sáng nay thực mát mẻ, ấy thế mà Vĩnh vẫn nhận ra trên trán Toàn từng giọt mồ hôi to tướng cứ thay phiên nhau nhỏ xuống đất. Anh chàng thiếu úy Nha Quân Pháp này trắng trẻo và hiền lành như con gái, đụng cái ca này chắc hẳn cường độ teo ruột phải cao hơn nhiều thằng thuộc loại bóp cò chuyên nghiệp khác. Cuộc rà mìn trong thời đại Hồ Chí Minh tiến hành đã được trên hai tiếng đồng hồ. Nắng bỗng nhiên nhạt hẳn đi. Ngọn gió Đông Nam thổi qua cánh rừng thưa như muốn đem tất cả những hơi mát mẻ của cây cỏ tặng cho bọn sa cơ thất thế. Vĩnh bỗng ngước lên nhìn trời. Xa lắm về hướng Đông, những chùm mây xanh xám chỉ đem đến những hứa hẹn có mưa về buổi chiều. Thế nhưng gió vẫn từng cơn thổi mạnh. Mặt trời mờ thật nhanh đến độ chả mấy chốc người ta mất dần cảm giác rằng trưa đã sắp đứng bóng. Tên quản giáo cũng ngó trời ngó đất. Bọn Vĩnh mừng thầm. Dám có thể nó thấy trời chuyển mưa nhanh sẽ cho về sớm. Một lần nữa Vĩnh đứng thẳng lưng ngó những chùm mây xám ở hướng Đông. A! Nó đã tụ lại với nhau thành nhiều tầng mây đen tự bao giờ. Những tầng mây ấy đang lồng lộn bay về phía này.
Vĩnh lại ngó mình rồi ngó quanh các bạn. Hầu như chưa ai đạt nổi một nửa chỉ tiêu của sáng nay. Thế nhưng tạ ơn trời, chưa một tai biến nào xảy ra và cũng chưa thấy ai báo cáo rằng họ đã tìm thấy một quả mìn. Tên quản giáo chợt đứng lên nhìn đồng hồ tay. Hắn tiến lại phía tù và bất chợt ra lệnh. – Thôi trưa rồi, các anh tập trung lại chỗ cũ tôi nhận xét vài điểm rồi cho về nghỉ trưa. Những gánh nặng ngàn cân như được trút khỏi vai. Sau khi cắm cái que tre thật sâu xuống trước mặt, đánh dấu chỗ mình đã rà tới, bọn tù đều hớn hở quay lui. Vĩnh không tự thấy được nét mặt của mình, nhưng anh có thể nhìn thấy được nét mặt của các bạn chung quanh. Đó là nét mặt của những xác chết! Những nét mặt tái xanh chen lẫn xám xịt. Những nét mặt như muốn biến vào cái màu sắc u ám của đất trời lúc nó đang quặn mình chuyển vào cơn mưa. Thế rồi những nét mặt ấy rã ra như sáp chảy, đổ ngang dọc trên mặt đất và chồng đè lên nhau. Tất cả mù mịt và thụ động hoàn toàn, kể cả nét mặt của tên quản giáo và mấy thằng vệ binh: Một tiếng nổ kinh hồn đã vang lên cách Vĩnh không quá mười sải tay! Chao ôi! Sao lại có cái tiếng nổ lạ thường vậy? Nhưng tiếng nổ quả thực đã xảy ra, đã đánh vạt hẳn đi một phía có nhiều người. Một tiếng nổ kỳ cục. Một tiếng nổ vô duyên. Một tiếng nổ thánh thần cũng chẳng ngờ được: Tiếng nổ trên đoạn đường quay lui của bọn tù rà mìn… Cơn mưa thốt nhiên ào ạt đổ xuống. Tên quản giáo la hét. Bọn vệ binh túa ra bố trí giữ an ninh. – Bình tĩnh! Các anh bình tĩnh đâu ngồi yên đó. Tên quản giáo la lớn. Người bị nạn sẽ được tiếp cứu. Tất cả các anh phải ngồi yên tại chỗ chờ lệnh của tôi. Yêu cầu trước mắt đừng làm một hành động nào khả nghi không tốt để các đồng chí vệ binh phải buộc lòng nổ súng. Bọn tù tuân lệnh ngồi xuống. Mưa bắt đầu nặng hột. Hơi đất ẩm bốc lên rất khó chịu. Những kiếp người cơ cực bắt đầu lấm lem. Tất cả đều dồn những ánh mắt lo âu về phía những người bị nạn. Phải mấy phút sau khi tiếng nổ xảy ra, bọn Vĩnh mới nghe thấy những tiếng rên. Dù mưa tầm tã nhưng Vĩnh vẫn nhìn thấy thật rõ ba người nằm trên mặt đất. Máu của họ theo nước mưa chảy loang lổ một khoảng lớn. Vĩnh đã nhận ra trong ba người có cả Võ Tấn Bảo Hùng, anh chàng trung úy pháo binh mập tròn như ông Nhị Thiên Đường, trong trại rãnh giờ nào là đem sách châm cứu ra nghiên cứu và thực tập ngay trên các huyệt mạch của anh. Vĩnh và các bạn chỉ nghe thấy hai người khác rên la, còn Hùng nằm bất động và im lìm dưới mưa. Vì máu me nhiều quá, Vĩnh không thể biết được ai bị thương nặng hơn ai, nhưng anh vẫn đinh ninh người không rên la nhất định phải là người nặng nhất vì anh ta đã ngất đi… Tên quản giáo sau khi rút súng lục bắn mấy phát chỉ thiên, có lẽ là ám hiệu cho bên trong trại biết ngoài này có tai nạn, hắn chạy lại phía bọn Vĩnh, nói. – Tôi cần ba anh tình nguyện theo tôi. Vĩnh nhanh chân chạy theo tên quản giáo và hai người bạn khác về phía những người lâm nạn. Mười phút sau đó, với những cái cáng làm bằng áo và mấy cây gậy kiếm tại chỗ, ba người lâm nạn mình mẩy đầy máu me được đám bạn tù thay phiên nhau cáng vòng về trại. Không nói ra nhưng Vĩnh biết chắc một điều trong ba người ít nhất cũng sẽ có một người cụt chân; và người cụt chân, nếu có, sẽ là ông thầy châm cứu Võ Tấn Bảo Hùng! Tự dưng hình ảnh Long Nhí ở An Dưỡng lại hiện ra trong trí nhớ Vĩnh. Vĩnh không rõ giờ này Long ở K nào? Chân nó ra sao? Và tại sao lần đi viện vừa rồi anh không gặp nó cũng không gặp Cường phi công trên đó? Chẳng lẽ chân cẳng như thế mà không được đem lên bệnh xá chữa trị như bên An Dưỡng? Vĩnh vừa đi theo anh em vừa vuốt nước mưa trên mặt. Mối buồn làm hồn anh tan loãng. Nó trôi dạt lang thang và sau cùng tấp vào một bài thơ một thời Vĩnh yêu thích, bài Barbara của Jacques Prévert. Vĩnh khẽ đọc đủ cho riêng mình nghe. Nhớ lại đi em, Barbara! Mưa rơi tầm tã trên thành Brest ngày hôm ấy… Toàn bỗng nói khẽ bên tai Vĩnh. – Đừng đọc nữa ông Vĩnh ơi! Đừng đọc nữa ông Vĩnh ơi! Khi về tới cổng trại, Vĩnh nghe thấy một người than thở với một người khác. – Biết thế hồi đó tao tình nguyện đi Trảng Bom quách. Trổ ngón xủi nghề quá, thằng quản giáo nó giữ lại luôn!
Trại Suối Máu nằm theo hình chữ nhật. Nếu tính từ cổng chính (cổng mới, còn cổng cũ quay mặt ra con đường nhựa đã bị rào lại) thì bệnh xá chiếm một góc trong cùng. Để đi tới bệnh xá, người bệnh (dù lao vờ để trốn học chính trị như Vĩnh!) phải đi dọc theo con đường chính của trại vào sâu phía trong. Trên con đường này người bệnh sẽ lần lượt đi qua K.1, K.2 rồi K.3. Đối diện với ba K, phía bên này đường là ban chỉ huy của các K ấy. Phía trước mặt các ban chỉ huy có rất nhiều vọng gác, và từ các vọng gác súng đại liên đều chĩa sang phía các K. Đặc biệt, một lô-cốt coi mòi vững nhất và nhiều ổ súng nhất lại chính là ngôi thánh đường nho nhỏ ngày xưa. Chưa hết, trên con đường này, ngay phía trước hàng rào các K, người bệnh còn được hưởng một cảm giác ghê hồn khi nhìn thấy những dãy connex đen xì nằm dài dài bên lề đường dưới trời trưa nắng. Bên trong những connex ấy, ngoại trừ một cái có những tiếng hò hét không mệt mỏi thường xuyên phát ra, thứ hò hét của một con người đã xa vời lý trí, còn thì chỉ có những tiếng thở mệt nhọc, những tiếng cục cựa rã rời, chật chội giống như đời sống khốn cùng của những loài bò sát, những sinh vật cấp thấp dưới hang ổ chìm sâu trong lòng đất!… Đi hết con đường chính sẽ quẹo trái, và đi thêm chừng hai trăm thước nữa là gặp góc trong cùng của trại Suối Máu. Nơi góc này tọa lạc bệnh xá và K.30 về phía trái, và phía phải là ban chỉ huy của K.4, K.30 và bệnh xá. Nếu tới góc bệnh xá và khối mộc, quẹo trái sẽ gặp một con đường chạy bên hông K.4 lên tới K.5; tuy nhiên con đường này bị concertina cắt làm nhiều đoạn, để ngăn cách ranh giới của hai K.4 và K.5. Dọc đường bên cánh phải là hàng rào thép gai cao ngất. Phía ngoài hàng rào thép gai ấy là rừng hoang cỏ rậm có đầy mìn. Vượt được bãi rừng đầy mìn này sẽ gặp đường sắt xe hỏa… Thủ vai trò của một tù bệnh lao phổi trầm trọng. Vĩnh xách túi quần áo trên tay và lẽo đẽo đi theo tên quân y K.5 dẫn đường. Thỉnh thoảng Vĩnh không quên ngồi bệt xuống bên đường, mặc cho vẻ bực bội thường xuyên xuất hiện trên khuôn mặt rỗ chằng rỗ chịt của thằng Việt cộng. Một người bị ho lao ra máu và gầy như con mắm khô thế này không có quyền tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc tới… bệnh xá! Người ấy phải đi như Chúa đi trên đường chịu nạn, phải ngã lên ngã xuống mặc cho quân dữ ra tay roi vọt (tỉ như tên quân dữ thời mới rỗ chằng rỗ chịt này có ra tay roi vọt!). Và khi đã lê tới cổng bệnh xá, người ho lao không nên lấy làm đắc chí mà xồng xộc đi ngay vào phòng nhận bệnh. Người ho lao phải ngồi xuống bên cổng; ho cho đến khi nào thằng quân y phải sốt ruột và chạy vào phòng nhận bệnh kêu người ra giúp… Vĩnh đã đóng thật khéo vai trò của một tù bệnh lao. Quả như anh dự đoán, chỉ sau vài cơn ho rũ rượi, ho bò trên đất, tên quân y đã đi thật nhanh về phía phòng nhận bệnh. Ít phút sau, Vĩnh thoáng thấy ngoài tên quân y còn có ba người khác đi theo, hai trong ba người ấy cầm theo cái cáng. Ít phút sau nữa thì Vĩnh đã được cáng vào nằm trong một dãy nhà tôn, trên một tấm phản gỗ đã cong queo vì sức nóng của đất trời. Khi bốn người đã bỏ đi về phía dãy nhà tôn chéo góc với dãy nhà Vĩnh đang nằm, Vĩnh mới để ý quan sát chung quanh. Phòng cũng đồng dạng với kiểu phòng 5mX15m bên K.5, cũng tứ bề là tôn nhưng có nền xi măng và đặc biệt có kê chừng mười lăm cái phản gỗ loại dài thước tám rộng tám tấc. Cả phòng hiện có sáu người nằm kể cả Vĩnh, ngoại trừ một người trung niên trông khỏe mạnh đang ngồi lúi húi nấu đồ ăn trong góc nhà, còn mấy người nằm trên giường coi mòi đều già cả hoặc ốm đau nặng. Vĩnh nằm trên tấm phản sát lối ra vào giữa dãy nhà. Từ chỗ này anh có thể nhìn ra vuông sân rộng, nhìn thấy giếng nước gần cuối sân, nhìn thấy cái bếp của trại bệnh đang nhả khói lên trời nằm ngay cánh trái sát cổng trại, chỗ khi nãy Vĩnh đã biểu diễn một màn ho lao ngoạn mục. Trong phòng, cũng từ chỗ này, nhìn sang trái gần chỗ kê mấy cái bếp con và có người đang nấu nướng, Vĩnh thấy một người bệnh còn trẻ tuổi đang nằm đọc báo. Dù cách nhau đến mấy tấm phản nhưng Vĩnh vẫn nhìn thấy rất rõ anh ta. Anh gầy bằng… nửa Vĩnh. Nếu đem cân có giác lắm thì cũng 30 ký là cao. Nước da anh xanh không khác nào mới bị nhúng vào một thùng nước lơ Ông Tạo. Quả là một bộ xương khô đang nằm trên tấm phản đúng hơn là một con người. Lâu lâu anh lại húng hắng ho. Nằm đối ngay với Vĩnh là hai ông già. Một ông mập và một ông gầy. Cả hai nằm bất động như hai xác chết. Họ đều lim dim ngủ. Cách giường của hai ông già về phía tay phải chừng bốn tấm phản còn một thanh niên khác nữa. Anh này trông trắng trẻo bảnh trai. Nửa thân dưới anh đắp kín một tấm chăn cừu loại đắt tiền trước kia dù hiện tại đã ngả màu và trông rất bẩn. Nhìn kỹ chút nữa, Vĩnh thấy phía trên vách ở mỗi đầu chỗ nằm đều có dán một mảnh giấy ghi cấp bậc tên tuổi. Nhiều bảng tên đã mất nhiều chữ vì bị xé hoặc bị gián nhấm. Đại tá… Giám. Trung tá… Văn Quỳ. Đại… Phạn… Ân. Thiếu tá Trần Hoàng Quán… Những bảng tên khiến Vĩnh nghĩ rằng có lẽ dãy nhà này trước đây cũng là một trong những dãy nhà mà các đàn anh trong quân đội đã từng tạm trú một thời gian trước khi bị lôi ra Bắc.
Đang nghĩ ngợi vẩn vơ bỗng một người xuất hiện bên cạnh. – Sao, đỡ ho chưa? Một giọng nói thân mật cất lên, Vĩnh ngước nhìn người đứng bên cạnh và mỉm cười ngoại giao. Anh chưa kịp nói gì thì người ấy đã ngồi xuống mép phản, thò tay bắt ngay mạch cổ tay của Vĩnh. Tôi là Thiết, Hoàng Đình Thiết, bác sỹ “ngụy”. Thấy anh chàng bác sỹ mập mạp này vui vẻ, Vĩnh cũng yên tâm. – Trước bác sỹ ở đâu? – Tổng y viện Cộng Hòa… Nằm yên nhé! Nằm yên tôi chích cho một mũi thuốc khỏe. Sau khi bắt mạch, nghe tim nghe phổi, bác sỹ Thiết chích cho Vĩnh một mũi B.12 nội hóa. Vĩnh lên tiếng. – Bác sỹ ở đây lâu chưa? Có mình bác sỹ thôi hả? – Tụi tôi ở đây đông lắm. Giải giao từ Thành Ông Năm về đây từ cuối năm 75… Mà thôi! Từ từ rồi anh biết hết. Hiện tại nằm nghỉ cho khỏe. Ở đây coi vậy chứ dễ thở hơn ở trại nhiều. Vả lại phổi anh chẳng có gì nguy hại đâu. Ở đây không có quang tuyến nhưng nghe cũng biết. Chỉ là một cái sẹo cũ trên đỉnh phổi phải thôi. Tôi sẽ nhờ ông thầy Châu nghe lại một lần nữa cho chắc. Nói đoạn bác sỹ Thiết cầm vài món đồ nghề bước ra ngoài sân. Vĩnh đâm lo. Quả mấy tay bác sỹ “ngụy” thứ thiệt này tài thật. Vĩnh lòe là lòe mấy thằng bác sỹ Việt cộng. Lòe mấy tay này coi bộ không nổi. Hôm được ông Triển cho lên đây nằm cũng vì cảm tình thôi. Nghe phổi ông ấy cũng thừa hiểu tình trạng của Vĩnh chỉ suy yếu vì những căn bệnh khác như sạn thận, bao tử, ruột… Những căn bệnh không truyền nhiễm và chỉ khi sắp chết may ra mới được đưa lên bệnh xá để có y chứng cho hồ sơ.. chết bệnh! Còn phổi chẳng có gì! Hai ngày sau thì Vĩnh đã được ông đại tá bác sỹ Nguyễn Văn Châu, cựu cục phó quân y QLVNCH, một bác sỹ chuyên khoa về phổi xác nhận riêng với Vĩnh. – Đừng lo! Phổi anh chẳng có quái gì đâu. Nhưng tôi sẽ cho anh nằm đây một tháng nghỉ ngơi. Anh biết me xừ Đào, già Đang và thằng Thắng phải không? Vĩnh quên sao được bạn cũ. Đào là người từng bị Phạm An Toàn ăn cắp tiền và ném hết hình ảnh lẫn kính cận xuống hầm cầu tiêu đầy dòi bọ. Thắng là tay thiếu úy Biệt Kích trẻ tuổi ở chung khối với Vĩnh từ dạo Trảng Lớn. Còn ông già Đang thì mới không gặp vài tháng đây thôi, kể từ ngày di chuyển khỏi trại An Dưỡng. Hiện tại đám này đều may mắn lọt sang khối mộc của trại Suối Máu. Nhiệm vụ duy nhất của họ là kéo cưa lừa xẻ và được hưởng một chế độ ăn uống nghỉ ngơi tương đối thoải mái hơn các K khác rất nhiều. Khối mộc (K.30) nằm sát bệnh xá và dùng chung hội trường với lũ tù bệnh, và khi có việc nặng nề, mấy ông bác sỹ đều chạy sang khối mộc nhờ anh em bên đó giúp đỡ. Nghe ông bác sỹ Châu nhắc đến tên ba người, Vĩnh gật đầu.
– Dạ biết. Tôi gặp họ hôm qua rồi. Bác sỹ Châu thu đồ nghề và đứng lên. – Họ nói anh văn nghệ lắm. Thôi ở đây ca hát đàn địch với anh em một thời gian cho vui. Thế là coi như vận may lại đến với Vĩnh. Trước hết là anh thấy mình thoát khỏi đợt học tập chính trị mười ngày sắp đến. Vĩnh bắt đầu hòa mình vào sinh hoạt của bệnh xá Suối Máu và bắt đầu chụp những pô ảnh đang xảy diễn chung quanh anh. Bệnh xá này gồm ba dãy nhà. Một dãy sát cổng dùng làm hội trường và nơi khám bệnh cũng như ngủ nghê cho sáu ông bác sỹ tù: Đại tá Nguyễn Văn Châu, cựu cục phó cục quân y; đại tá y sỹ Nguyễn Khái, cựu chỉ huy trưởng tổng y viện Cộng Hòa; trung tá y sỹ Trần Văn Nam, cựu chỉ huy trưởng quân y viện Trần Ngọc Minh, thiếu tá y sỹ Trần Đình Thiết, bác sỹ giải phẫu tổng y viện Cộng Hòa; thiếu tá y sỹ Cường, cựu tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn quân y sư đoàn TQLC; thiếu tá y sỹ Các, bác sỹ giải phẫu. Đó là về phía bác sỹ. Về phía bệnh nhân có hai dãy nhà. Một dãy cách ly là dãy Vĩnh hiện đang nằm gồm Vĩnh và năm người khác. Dãy kia nằm cắt góc với dãy cách ly và đối diện với dãy của các ông bác sỹ, gồm chừng mười người bệnh. Ba dãy nhà này hợp với dãy nhà bếp tạo thành một hình chữ nhật ôm lấy một vuông sân chính giữa. Nằm ngay góc dãy nhà cách ly và dãy nhà của các bác sỹ có một dãy nhà 5mX10m. Đây chính là dãy nhà ở của anh em khối mộc. Trong dãy cách ly ngoài Vĩnh có ông Nguyễn Thụy Hòa, cựu thiếu tá không quân hồi hưu. Ông cũng là cư sỹ Khánh Vân, từng làm chủ bút tờ Đại Từ Bi của nha tuyên úy Phật Giáo QLVNCH. Nằm cạnh ông Hòa là ông Danh, cựu thiếu tá quân nhu. Anh chàng thanh niên gầy như bộ xương khô là Chung Văn Nhỏ, cựu thiếu úy địa phương quân. Người khỏe mạnh nhất và cũng là xếp dãy cách ly là Nguyễn Văn Tài, cựu thiếu tá quân nhu. Riêng anh chàng đẹp trai trắng trẻo không bị lao mà bị tê liệt hai chân. Chẳng hiểu vì lý do nào anh lại được đưa sang nằm bên dãy cách ly. Anh tên là Cao Anh Tuấn, cựu đại úy. Theo như anh nói, anh là em ruột của nhà thơ nữ Cao Thị Vạn Giả. Tác giả này xưa kia Vĩnh có đọc thấy một lần trong một quyển bình thơ. Vĩnh chỉ còn nhớ được một câu duy nhất của bà là câu: Mù sương phi cảng não nề, Thôi anh ở lại buồn về em mang… Riêng dãy thường bệnh có cựu đại tá kiêm nhạc sỹ Nguyễn Văn Đông. Tác giả của Chiều Mưa Biên Giới hiện đang bị bệnh sưng khớp hành hạ. Tất cả các khớp xương trong người anh đều sưng lên, đau nhức và không đi lại bình thường được. Do căn bệnh của anh, anh biến thành một cái máy báo thời tiết thật chính xác. Anh nói chiều mưa là chiều mưa, nói trưa nắng là trưa nắng. Thời tiết đã ảnh hưởng rất nhanh và tạo sự đau nhức trong thân thể anh. Người thứ hai là Chiêu, cựu đại úy quân cảnh. Chiêu vốn là một tay to con khỏe mạnh, chỉ vì bổ củi cho nhà bếp, bị một mảnh củi văng trúng dương vật làm độc; do không thuốc men chữa trị, vết độc lan dần và khi được đem lên bệnh xá, dương vật của Chiêu đã hoàn toàn bị mục rửa hết phần đầu và cực kỳ hôi thối! Căn phòng thường bệnh dài mười lăm thước, non chục người khác đều dồn về một góc, mình Chiêu mắc võng nằm một góc. Chiêu nằm chịu trận tháng này qua tháng khác với sự chăm sóc của non chục bác sỹ “ngụy” chỉ bằng thuốc đỏ, thuốc tím và lâu lâu được một hũ Bi quá hạn cách mạng bố thí cho! Không ai có thể đoán được rồi trong tương lai số phận của Chiêu sẽ ra sao. Người thứ ba là Nguyễn Bảo Tụng, cựu đại úy quân cảnh tư pháp và là nhà sưu tập tem nổi tiếng của Việt Nam. Anh Tụng bị bệnh gì Vĩnh không rõ, chỉ biết anh tương đối khỏe mạnh hơn hầu hết các anh em khác. Vì anh là người Công Giáo, thành thử có ai hấp hối, anh luôn luôn tỏ ra là một người hăng hái nhất trong công tác tông đồ. Anh phóng đến đầu giường của người hấp hối, chẳng cần biết người đó là Công Giáo, Phật Giáo, Cao Đài Giáo, Hòa Hảo Giáo hay Bà Hai Giáo; anh nhanh chóng làm phép rửa tội.
– Giu-Se! Tao rửa mày nhân danh Cha và Con và Thánh Thần! Làm xong phép rửa tội, anh đứng đọc kinh Cầu Hồn oang oang trong phòng bệnh ngay đầu giường người hấp hối, sau khi đã quan sát kỹ càng trước sau để bảo đảm rằng không có thằng vệ binh nào đứng gần đấy. Bên khu bệnh thường còn vài tay khác nữa, nhưng họ chỉ là những người bị tai nạn lao động, xẹt đến rồi xẹt đi trong vài ba ngày. Để hội nhập vào khu cách ly không phải dễ dàng. Trước tiên, Vĩnh tự biết rõ mình hiện không lao; mà không lao thì dĩ nhiên phải sợ người lao và từ sự sợ hãi này, người ta rất khó quàng vai cụng chén với một người như Chung Văn Nhỏ hoặc ông cụ Hòa. Thế nhưng chỉ một tuần đầu qua đi, Vĩnh đã thắng được sự sợ hãi này một cách rất thiếu vệ sinh. Anh ăn cơm chung với Chung Văn Nhỏ và hầu như suốt ngày quây quần với những người lao thứ thiệt bên bàn cờ tướng hoặc bên cái điếu cầy. Phải chăng tình bạn thật có khả năng xóa mọi biên giới? Để đốt thì giờ, Vĩnh ngồi hầu cờ tướng ông Hòa và kể chuyện văn nghệ cho nhau nghe. Ông có đưa cho Vĩnh xem một bộ sách dạy cách học chữ Hán ông soạn trong tù. Ông còn cho Vĩnh xem những bài bản dịch Hán Việt hoặc Việt Hán của ông, chẳng hạn bài Chức Cẩm Hồi Văn, ông dịch từ Hán sang Việt. Ông tỏ ra rất thích bài này và cứ ngâm đi ngâm lại mãi câu cuối: Cúi xin thiên tử trả ngay chàng về!… Hoặc giả bài Ông Đồ Già của Vũ Đình Liên, được ông dịch sang Hán Văn với tựa đề là Lão Nho Giả. Dù sao, điều mà Vĩnh quý nhất ở ông cụ Hòa là cái khí phách và sự tự trọng. Theo lời kể lại của một số anh em, ông Hòa đã từng lợi dụng sự phát biểu đợt học tập chính trị cuối năm 75 ở Suối Máu, để chửi xéo Văn Tiến Dũng trước mặt mọi người, kể cả bọn cán bộ khung, rằng “thằng Dũng làng Noi cả nòi hốt cứt”. Sau bốn ngày Vĩnh nhập viện, bọn chỉ huy trại tù Suối Máu phát động một chiến dịch thi công ăn mừng 60 năm Cách Mạng Tháng Mười. Bọn tù bệnh không phải thi công lao động mà còn được ban chỉ huy trại bệnh cho đăng ký mua mỗi người nửa ký thịt heo (với giá cắt cổ) để “ăn mừng lễ” nếu như ai có tiền. Hầu như mọi người, từ bác sỹ tù đến bệnh nhân tù đều tỏ ra phấn khởi trước tin vui, ngoại trừ ông cụ Hòa. Khi bác sỹ Cường, kẻ phụ trách hậu cần trại bệnh, đến hỏi ông Hòa có mua thịt heo không, ông đã vùng vằng nằm quay mặt vào vách, nói như mắng. – Người như tôi mà lại phải bỏ tiền ra mua thịt heo ăn mừng lễ của chúng nó à? Rồi ngay đêm đó, bọn tù khối mộc lẫn bọn tù bệnh kéo nhau lên hội trường xem chương trình văn nghệ đặc biệt mừng lễ sinh nhật 60 năm Cách Mạng Tháng Mười của người anh em vĩ đại Liên Sô. Trong lúc màn ảnh nhỏ đang chiếu lại một số tài liệu và hình ảnh về cuộc đời Lenin, một giọng nói ngoài cửa chợt khàn khàn cất lên khiến mọi người tái mặt. – Thằng sói đầu trên TV là cái thằng chó chết nào vậy mấy ông?
Sự thù hận cộng sản khiến không còn ai tìm ra được một dấu tích nào để chứng tỏ ông từng là một cư sỹ Phật Giáo, từng ăn chay niệm Phật để quên đời từ ngày giũ áo từ quan. Ở ông, ngày nay bọn tù bạn chỉ có thể nhìn thấy một nỗi chua chát tận cùng của một người đã quá hiểu cộng sản nhưng tuổi già, thân bệnh lại thất thế thất thời, không còn một hy vọng nào đánh trả được kẻ thù dù chỉ bằng một hành động khiêm tốn nhất. Thế nhưng một người bạn khác, dù rất trẻ tuổi, tính tình lại hoàn toàn ngược lại với ông cụ Hòa. Người ấy là Chung Văn Nhỏ. Nhỏ lao rất nặng. Do hậu quả hư một bên phổi, dáng đi của Nhỏ luôn luôn lệch sang một bên. Suốt ngày Nhỏ nói không quá mười câu. Ngoài giờ ăn uống ngủ nghê, Nhỏ ngồi viên viên từng tí ruột bánh mì thảy nuôi cặp gà mua được của thằng bộ đội, từ hai tháng nay. Nhỏ ăn cơm chung với Vĩnh. Trong thời gian nằm bệnh xá, Vĩnh còn quen được một người bạn mới thật đặc biệt. Anh tên là Nông Hải Sơn, cựu đại úy trưởng phòng kế hoạch của trường Bộ Binh Thủ Đức. Theo như Sơn cho biết, anh là cháu gọi ông Nông Quốc Long (thuộc cánh cụ Nguyễn Hải Thần?) bằng chú ruột. Sơn tính tình điềm đạm, xuất sắc đặc biệt về môn tử vi và chiêm tinh. Ở con người Sơn luôn luôn toát ra một cái gì thật thần bí. Anh giỏi tử vi đến độ chỉ cần nói giờ và ngày sinh tháng đẻ, bấm tay một lúc, anh có thể khẳng định ngày sinh tháng đẻ ấy đúng hay sai so với nhân dáng hiện tại. Nếu đúng, cũng chỉ cần bấm tay một lúc anh đọc vanh vách tất cả các sao và giải luôn tại chỗ lá số cho người được bấm. Có lần anh em cho Sơn một yếu tố tử vi, sau một lúc tính toán, Sơn than thở. – Tên này không thể sống quá tuổi đôi mươi! Anh em ai cũng thất kinh vì yếu tố tử vi bạn bè vừa cho anh chính là ngày giờ khai sinh của bọn phiến cộng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ngoài tài tử vi, mỗi sáng tinh sương vào quãng bốn giờ, lúc thức giấc đi tiểu, Vĩnh luôn luôn thấy Sơn ngồi trên một cái ghế đẩu kê ngoài sân trại bệnh. Anh ngồi bất động, mắt ngước nhìn trời. Vĩnh không bao giờ quấy rầy bạn nhưng anh biết những lúc ấy Sơn đang nghiên cứu khoa chiêm tinh. Sơn hay nói với Vĩnh. – Ông yên tâm! Thế nào ông cũng được thả trước tôi và tử vi ông cho thấy rõ ông không được hưởng tuổi già ở quê hương. Nói đoạn Sơn lại buồn buồn, rồi tiếp. Mỗi sáng tôi soi gương, tôi biết số tôi lao tù còn dài lắm. Tài Khổng Minh cũng không giải nổi cái nghiệp oan khiên này cho tôi… Vì Sơn ở trại Suối Máu trước bọn Vĩnh khá lâu, thủa còn tướng tá, nên anh biết rất nhiều chuyện nơi đây, kể cả những chuyện ở khám Chí Hòa, nơi anh bị giam giữ những tháng đầu tiên. Anh hay nói. – Khám Chí Hòa không ngờ có ngày cùng một lúc được tiếp rước đến ba ông thủ tướng. Thủ tướng Phan Huy Quát, thủ tướng Nguyễn Văn Lộc và cả cựu thủ tướng Miên là Sơn Ngọc Thành. Cũng qua Sơn, Vĩnh còn được biết ông Ngô Khắc Tỉnh đau ốm ra sao; em ông là Ngô Khắc Tịnh bị biệt giam như thế nào; ông Hồ Văn Châm mê đọc sách Cách mạng ra sao… Hết nói tới những nhân vật của chế độ cũ, Sơn lại kể tới những thằng Tàu tài phiệt ăn xài và mua chuộc bọn công an cai tù như thế nào. Riêng những chuyện đã xảy ra ở Suối Máu này, Sơn hay nhắc tới một câu chuyện mà anh cho là vui nhất. Đây là câu chuyện về một anh trung sỹ TQLC. Chả hiểu vì lý do nào, ông trung sỹ cũng bị tóm nhốt vào đây. Trong những đợt tự khai ban đầu, ông trung sỹ nhà ta đã khai rằng ông là trung tướng Nguyễn Huệ, tư lệnh sư đoàn 23B. Thời gian này ông “trung tướng Nguyễn Huệ” ở chung đội với hai tướng Giai và Thân. Mỗi khi xếp hàng, anh em thường nhường cho hai ông tướng đứng đầu hàng để ngầm giữ lễ nghi quân cách. Những lúc như thế, ông trung sỹ lại xồng xộc chạy lên mắng hai ông chuẩn tướng thứ thiệt. – Tôi trung tướng, các anh chuẩn tướng phải đứng sau lưng tôi.
Biết rõ ông bạn tù không phải người bình thường, hai ông Giai và Thân đành tụt xuống dưới nhường chỗ tiên chỉ cho ông trung sỹ. Sau đó một thời gian, bỗng nhiên có một phái đoàn từ bộ tư lệnh quân khu 7 của Trần Văn Trà xuống tận trại Suối Máu kêu hai tướng Giai và Thân lên thẩm cung. Chúng yêu cầu hai ông cho biết trong quân đội “ngụy” có ai tên là Nguyễn Huệ cấp bậc và chức vụ là trung tướng tư lệnh sư đoàn 23B hay không. Ông Giai và Thân phải khẳng định rằng hơn hai mươi năm ở quân đội miền Nam, các ông ấy chưa từng nghe có tướng lãnh nào tên là Nguyễn Huệ, và cũng chưa từng nghe QLVNCH có sư đoàn nào gọi là sư đoàn 23B. Sau đó một thời gian, tướng Giai và tướng Thân bị bịt mắt đem lên xe jeep đưa đi mất. Đợt đi Bắc kế tiếp ông “trung tướng Nguyễn Huệ” cũng bị lôi đi luôn. Những câu chuyện thương tâm nhất mà Sơn kể lại cho Vĩnh nghe ấy là câu chuyện xử bắn hai sỹ quan cấp thiếu tá trốn trại nơi đây. Họ trốn không thoát, bị bắt lại, bị tra khảo và sau cùng bị xử bắn. Khi tiếng súng hành quyết vang lên, trời hôm ấy đang quang bỗng nhiên tối sầm lại và mây đen kéo đầy trời. Sơn nói từ ngày được biên chế sang khối mộc, anh có làm một bàn thờ nhỏ giấu sau hàng rào K.30 để thờ hai vị thiếu tá đó mà không ai hay biết. Sơn còn nhắc đến nhiều người đã chết nơi bệnh xá này. Anh chỉ lên cái bảng tên dán trên vách của dãy nhà cách ly và nói. – Ông thấy cái bảng tên đại tá Giám kia không? Tội nghiệp ông ấy. Ông ấy chết ở đây cũng vì bệnh phổi. Ông ấy giỏi tử vi lắm và cũng là người từng bấm tử vi cho Nguyễn Văn Thiệu. Rồi thì Sơn nhắc đến đại tá sử gia Phạm Văn Sơn. Sử gia Sơn cũng từng nằm bệnh xá này vì bệnh ghẻ. Ông ghẻ cùng mình, ghẻ cả mắt cả mũi. Chính Sơn là người hay sang trại bệnh đút giùm cơm cho đại tá Sơn ăn. Đợt lôi đi Bắc đầu tiên, dù bị ghẻ không lết nổi, đại tá Sơn vẫn bị quăng lên xe Molotova đem đi. Một câu chuyện thương tâm khác nữa mà Sơn kể là câu chuyện về thiếu tá Linh, một tiểu đoàn trưởng của lực lượng Biệt Cách Dù. Ông Linh bị nhốt khám Chí Hòa cùng thời với Sơn. Ông bị nhốt biệt giam dài dài cho đến ngày được đem về Suối Máu. Ở Suối Máu sau khi khỏi bệnh bại xụi ông lại bị lao nặng. Ông được đưa sang bệnh xá và gặp lại Sơn bên khối mộc. Dù bệnh nặng, tinh thần ông Linh vẫn rất cao. Mỗi chiều, ông khập khễnh đi vòng vòng quanh vuông sân trại bệnh, cây gậy thay vì chống xuống đất ông lại chống lên trời. – Sao anh không chống gậy xuống đất mà lại chống lên trời khó coi thế kia? Có lần Sơn cất tiếng hỏi và ông Linh lạnh tanh trả lời. – Tao đang tìm cách chống trời đây! Những ngày sau cùng, theo Sơn kể, ông Linh hay nóng nảy. Ông nói oang oang trên giường bệnh như người mê sảng. – Giữa tư bản và cộng sản mày chọn ai? Tự hỏi xong ông lại hét lên để tự trả lời. – Tao chọn cái khoảng trống giữa hai thứ đó! Ông thiếu tá Linh sau cùng đã chết vì bệnh lao ở trại Suối Máu…
Vì thực phẩm hiện tại ở trại Suối Máu là tinh bột, thứ bột mì mà theo tin đồn, tù cải tạo biết rằng nó là tặng phẩm của thế giới Tự Do dành cho nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sắp chết đói, nên các K đều phải tìm cách đắp lò nướng bánh. Bệnh xá không có người phục dịch chuyện cơm nước. Mấy ông bác sỹ toàn những thứ ăn trắng mặc trơn có truyền thống, ngoài chuyện chữa bệnh nấu nồi cơm không nên chuyên; do đó ban chỉ huy trại bệnh kiêm khối mộc quyết định để cho bếp khối mộc quản lý luôn chuyện nấu ăn cho tù bệnh. Các ông bác sỹ, ngoài việc chẩn bệnh chữa bệnh cho anh em, chỉ phải làm thêm vài công tác nhỏ như trồng vài luống rau để tự túc, kéo nước đổ vào mấy cái chảo gang sứt quai đặt ngoài bờ giếng cho tù bệnh có nước tắm… Vì lý do trên, thốt nhiên lũ tù bệnh đồng loạt biến thành lũ con ghẻ của khối mộc. Hôm nào rảnh rang thì họ nướng hộ bánh cho ăn trong lò nướng của họ. Hôm nào bận, họ chỉ nhồi bột sơ sài, nắn thành từng miếng to và dẹp cỡ bàn tay, thảy vào chảo nước sôi luộc chín và đem phát cho bệnh nhân mỗi người một miếng. Sơn vẫn luôn luôn là một người bạn tốt bụng. Mỗi chiều đi lao động về, Sơn thường khuân sang bệnh xá tiếp tế cho đám Vĩnh những bó củi thật nỏ. Vĩnh và Nhỏ ngồi xắt mấy miếng bột luộc thành những lát thật mỏng, bỏ vào nồi, thêm tí mắm ruốc, tí ớt, tí rau lang, đổ nước vào và dùng củi Sơn cho nấu ăn với nhau. Ngày tháng trôi qua, Sơn và Vĩnh còn phối hợp công sức để làm đàn guitar. Ván ép, cưa, bào, đục… đều do Sơn cung cấp. Rồi thì những cây đàn guitar lần lượt thành hình. Từ đó, mỗi chiều ngoài Sơn và một hai ông bạn bên khối mộc, Vĩnh còn có thêm ông bác sỹ Nam, một ông bác sỹ già và hóm hém đến chỗ Vĩnh nằm để học nhập môn nhạc lý và những bài đầu của tập Carulli. Những khi trời chập choạng, Vĩnh, Sơn và Nhỏ hay ra hàng hiên phía ngoài cửa dãy cách ly ngồi ngắm mấy con gà và những cây rau dền xanh tươi của Chung Văn Nhỏ. Bên ngoài hàng rào là con đường dẫn vào cổng K.4. Ngồi nơi đây, Vĩnh thường thấy thoáng qua vài người bạn học cũ đi lao động về trong hàng ngũ của các tù nhân K.4. Thấy nhau ơi ới vài tiếng thôi. Chẳng ai dám nói chuyện với ai vì tụi quản giáo cũng như vệ binh K.4 rất ác, phạm nội quy liên hệ linh tinh là chúng bắt quỳ cả đội giữa đường. Cũng trong những lúc ngồi với nhau, Vĩnh lại được nghe Sơn kể thêm cho biết ngay từ phòng cách ly này, một cuộc trốn trại ngoạn mục đã xảy ra gần sáu tháng về trước. Người trốn trại, và trốn thoát bằng cách vượt bãi mìn trước mặt, là một bệnh nhân. Đúng ra, anh ta không phải là một bệnh nhân. Anh là người can tội tự tử và được đem qua đây chữa trị. Anh đã tự tử bằng cách dùng một cây căm xe đạp đâm lút vào giữa ngực. Chả hiểu anh ta có tài xiên lĩnh hay không mà anh không chết. Trong thời gian được nằm bệnh xá, anh đã đánh lừa sự kiểm soát sớm tối của mấy ông bác sỹ “ngụy”, bằng cách lôi một cái chân giường để lên giường của anh rồi bỏ màn phủ chăn lên. Ban đêm đi kiểm soát, ông bác sỹ Khái nhìn phớt qua thấy rõ anh đang ngủ và bản báo cáo nhân số đêm đó coi như đầy đủ trăm phần trăm. Mười giờ sáng hôm sau, cái chân giường vẫn ngủ say trong cái chăn. Mấy ông bác sỹ nhà ta sợ anh bạn chán đời tự tử lần nữa, vội vàng vén mùng tốc chăn thì hỡi ơi, họ chỉ còn nước chạy đi báo cáo!
Cuối tháng Mười Vĩnh bị cái răng gãy hành một cơn đau tưởng méo mặt suốt đời! Đời tù cộng sản không thể nói đau răng thua đau sạn thận hoặc đau ruột thừa sẽ kinh khủng hơn đau sưng khớp. Phải nói rằng cái đau nào cũng đáng đồng tiền bát gạo cả, vì nó là cái đau không thuốc men, cái đau cắn răng mà chịu. Nói tóm, cái đau nào cũng có đủ khả năng đem người ta ra nghĩa địa nếu như mạng người ấy không được ông bà độ trì cho một cách đặc biệt. Sống đời tù, Vĩnh đã chịu đựng nhiều thứ đau, nhưng có lẽ đau răng là cái Vĩnh sợ nhất, cảm thấy tuyệt vọng nhất! Nơi đây, nơi trại tù, các bệnh xá tuyệt đối không bao giờ có thuốc đau răng, và cũng chẳng bao giờ có phương tiện tối thiểu để khả dĩ nhổ ra được cái răng đang đau. Những cơn đau giật khiến Vĩnh lăn lộn như kẻ bị đập dập đầu. Cái đau méo mặt. Đau bủn rủn toàn thân. Đau phát sốt, rồi phát điên và sau cùng chỉ muốn nổi lửa đốt nhà. Chung quanh Vĩnh một lô bác sỹ cũng chỉ biết trố mắt mà nhìn vì họ không có thuốc. Vĩnh yêu cầu được nhổ nhưng mấy ông bác sỹ không dám với lý do răng đau là răng tiền hàm, rất sâu, không kìm không thuốc tê không thể nhổ được. Vĩnh đau quá, anh lần mò tìm một sợi dây đàn buộc vào chân răng, một đầu buộc vào cánh cửa và đá mạnh. Cái răng không ra và Vĩnh chết ngất vì ra máu quá nhiều. Do bạn bè khuyên, Vĩnh đã dùng đủ mọi thứ nhét vào chỗ răng đau. Nào là nhét bột ngọt, ngậm nước điếu, nhét Vitamin C, nhét mủ xương rồng… nhưng chẳng thứ nào giúp Vĩnh giảm được cơn đau như có lửa đốt trong đầu, như có điện giật nơi thái dương… Cơn đau răng hành hạ ba ngày rồi. Ngày thứ tư Vĩnh mới hoàn hồn và cảm thấy như mình mất thêm đến mấy ký lô. Một buổi chiều bác sỹ Hoàng Đình Thiết xuống khám bệnh chỗ khu cách ly. Thiết hỏi Vĩnh về cơn đau răng. Vĩnh khẽ cười và nói đùa. – Nó mà hành hạ tôi thêm một ngày nữa thì dù một bãi mìn chứ mười bãi mìn tôi cũng trốn ra ngoài tìm nha sỹ… Ngay sáng hôm sau, đích thân bác sỹ Hoàng Đình Thiết xuống tận chỗ nằm trao cho Vĩnh một cái giấy xuất viện. Tấm giấy ghi: Ban y tế bệnh xá trại cải tạo Suối Máu chứng nhận anh Phạm Vĩnh thuộc K.5 sức khỏe hiện nay đã hoàn toàn bình phục. Anh Vĩnh được hoàn trả về trại để tiếp tục học tập lao động cải tạo. Bên dưới tấm giấy còn ghi rõ ngày 28 tháng 10 năm 1977. Dưới nữa không thấy ký tên mà chỉ thấy đề ba chữ y sỹ trực.
Từ Tòa Đại Biểu về, ông Tôn Thất Huân quẳng chiếc xe đạp vào góc hè, bước vào nhà với những bước đi giận dữ,và ông đã thoáng thấy con gái ông, Quỳnh Diên đang ngồi trước chiếc bàn học nhỏ ở gian nhà dưới. Ông lên nhà, ngồi vào chiếc ghế tràng kỷ đặt ở gian giữa, trước bàn thờ tổ tiên. Lòng ông đã dịu lại được phần nào trong khung cảnh yên tĩnh, trang nghiêm của gian nhà dùng làm nơi thờ phượng, tuy vậy ông cũng còn quát:
-Quỳnh Diên đâu, lên cha biểu!
Nghe giọng nói hơi nặng nề của cha, Quỳnh Diên lật đật lên nhà, đến đứng bên cha, và sau khi thấy vẻ mặt nghiêm trọng của ông Huân, nàng thoáng thấy chút lo lắng trong lòng.
-Con có biết thằng Thời làm cho Ba xấu hổ biết bao nhiêu không, mà không phải làm xấu hổ cho ba, mà con làm xấu hổ cho giòng họ này nữa- ông gằn giọng- nếu Ba có một thằng rễ như thằng Thời.
-Anh Thời làm chi rứa Ba? Quỳnh Diên hỏi lại cha với giọng hoảng hốt.
-Làm chi à! Con ra phố mà coi, thằng Thời đã bôi tro trát trấu lên cái mặt của Ba, bây giờ Ba dám ra đường mà nhìn ai nữa. Nếu thằng Thời là con nhà cha căng chú kiết nào thì Ba cũng cóc cần, mà khổ thay nó lại là một thằng rễ tương lai của nhà này – ông bất giác nhìn về phía bàn thờ ông bà – nghĩa là chồng của con.
Quỳnh Diên bắt dần thấy run rẩy toàn thân, mặc dầu cho đến phút này nàng cũng chưa hiểu câu chuyện gì đã xảy ra giữa cha và Thời. Ông đập mạnh bàn tay phải xuống chiếc bàn rồi đi đến kết luận:
-Từ rày về sau tao không muốn thấy mặt thằng Thời lui tới cái nhà này nữa!
Nghe tiếng ồn ào ở nhà trên, bà Huân vội vã từ dưới bếp chạy lên:
-Việc chi mà ông quát tháo ầm ĩ như thế, việc gì thì cũng từ từ nói cho tôi nghe đã.
Trong khi Quỳnh Diên đứng tựa vào thành ghế khóc rấm rứt, thì ông Huân bắt đầu kể lại câu chuyện. Thời, người chồng sắp cưới của Diên là người họa sĩ làm ở Ty Thông Tin thị xã, anh là người rất có hoa tay nên được Ty giao cho nhiệm vụ vẽ các bức chân dung lãnh tụ cùng những bức hí họa qua các chiến dịch do chính phủ đề ra. Thời được xem như con người tài hoa lại là một công chức đứng đắn, hiền lành đã chiếm được trái tim của Quỳnh Diên và đã được gia đình ông Huân chấp nhận một lễ sơ vấn, trên căn bản, đã xem Thời như một người con trong gia đình.
Đột nhiên, chiến dịch truất phế Bảo Đại được tung ra vào thời điểm ấy và Ty Thông Tin huy động nhân lực để vẽ cho kịp những bích chương cổ động, phần lớn là mô tả cảnh ăn chơi trụy lạc của vua Bảo Đại ở Pháp. Thời là họa sĩ chính và tác giả của nhiều tác phẩm dựng ở chân cầu, góc vườn hoa, trước chợ là những nơi có đông người qua lại. Nét vẽ tài hoa của Thời đã làm cho những tranh hí họa trở nên sống động khiến cho đàn bà, con gái đi ngang nhìn những bức tranh “truất phế”đều phải đỏ mặt. Cái tài của Thời không ngờ lại là lưỡi dao cắt đứt mối tình của Thời và Quỳnh Diên.
Ông Huân là một người bảo hoàng hơn hết trong giòng họ Tôn Thất. Tổ tiên nhà ông mấy đời đều hưởng ơn vua lộc nước, đến đời ông nội là ông Tôn Thất Khoan còn giữ tới chức Tổng Đốc Nam Ngãi, cha ông Huân là nhánh sau, tức là con bà thứ, công danh không rạng rỡ bằng các anh của ông nhưng cũng đã từng giữ chức tri huyện Duy Xuyên.
Đến đời ông Huân, ông là con của bà thứ ba, văn dốt vũ dát, công danh thụt lùi, ra đời ông chỉ được lãnh cái ngạch thư ký tòa sứ, rồi cuối cùng là một trưởng phòng của Tòa Đại Biểu Chính Phủ. Tuy không giữ được quyền cao chức trọng gì, nhưng ông cũng đã từng lui tới các gia đình tôn vương quí phái, ông cũng đã có lần tháp tùng với vị tỉnh trưởng sở tại vào Cung An Định hầu tứ sắc với đấng Từ Cung. Thời tản cư về, sau khi toàn bộ cơ ngơi dã bị thiêu rụi vì chiến tranh, cảnh nhà sa sút, gia đình ông đã được về trú ngụ tạm trong Tôn Nhơn Phủ. Ông Huân luôn luôn hãnh diện về gia thế, và trong lòng luôn luôn canh cánh nỗi niềm khi nghĩ đến nhà vua.
Thế mà giờ đây, một thằng bần dân, đã có được cái diễm phúc sắp làm chồng cô gái xinh đẹp, nết na của ông, sắp được gia nhập vào gia đình quí phái của ông, lại giở trò bôi bác, dám động chạm tới nhà Vua. Với ai khác, ông có thể vì thời thế mà tha thứ, chứ với thằng rể đã từng lui tới trong nhà ông, ông không thể nào tha thứ được, nghĩa là cuộc hôn nhân này phải được hủy bỏ.
Sau khi kể tội Thời, ông bình tĩnh, buồn bã đứng lên. Ông cắm nén hương trước bàn thờ tổ tiên, – nơi có để hình ảnh của ông nội ông, ngồi trên chiếc ghế cẩn xa cừ, trong phẩm phục triều đình với mũ cánh chuồn, tay cầm hốt – suýt soa khấn khứa làm như bao nhiêu tội lỗi bây giờ là do đứa con gái bất hiếu của ông gây nên.
Trong buổi cơm tối, bà Huân và Quỳnh Diên chỉ ngồi nhìn nhau thở dài còn ông Huân bỏ ra trước hiên nhà, nơi nhìn ra bờ sông. Sau đó khi trăng bắt đầu lên, ông trầm ngâm ngồi uống rượu một mình, trong khi Quỳnh Diên khóc mùi mẫn trên tay mẹ.
Trong gia đình , ông Huân quyết định mọi chuyện và vợ ông chỉ là cái bóng mờ đi bên cạnh ông. Bà thương con cháy cả ruột gan nhưng kinh nghiệm trong suốt cả cuộc đời làm vợ, bà biết bà không hy vọng gì xoay chuyển được những quyết định đôi khi quá đáng của ông.
Thời, người họa sĩ kém may mắn ấy là con út của ông nội tôi, chú ra đời muộn khi ông tôi đã hơn sáu mươi. Góa vợ năm ông năm mươi tuổi, ông già sống đơn độc được gần mười năm, sau đó lại giở chứng kiếm một cô gái già mới bốn mươi, lấy cớ là để trông nom nhà cửa ruộng vườn, đi thâu tiền nợ và lo sổ sách lúa gạo cho ông. Lão bạng sinh châu, ở ngoài tuổi sáu mươi ông còn làm cha được một chú nhóc khôi ngô, láu lỉnh.
Đúng là cảnh cha già con muộn, khi chú Thời lên mười thì ông nội tôi qua đời, và chú cũng đã dến tuổi vào trung học nên bà nội kế tôi phải đem chú lên thành phố ở với cha tôi.
Chú Thời nhỏ hơn tôi vài tháng tuổi, và học chung một lớp với tôi. Về mặt học hành chú không khá lắm, nhưng chú vẽ rất đẹp, làm văn hay và viết thư tình cũng bay bướm. Chú chạy nhảy, leo trèo nhanh như một con sóc, ăn nói khôn ngoan, lanh lợi lúc nào cũng được lòng thầy, bạn. Chính vì điểm sau này, tôi thấy ngay cha tôi cũng dành nhiều tình cảm cho chú hơn là tôi, khiến cho tôi đôi khi phải đem lòng ganh tị.
Cha tôi là một người gia trưởng nghiêm khắc, lại luôn luôn cho mình là người anh có bổn phận nuôi nấng, dạy dỗ cho đứa em nhỏ khác mẹ sau khi cha đã mất. Tuy vẫn cho mình mang trọng trách như vậy, nhưng mỗi buổi trưa thứ bảy, sau một tuần làm việc cha tôi lại đến nhà bạn bè trong những canh tổ tôm hoặc tài bàn, để mặc hai đứa chúng tôi lang thang rong chơi cho hết hai ngày cuối tuần.
Chưa bao giờ cha tôi cho tôi được xếp ngang hàng với chú Thời. Trong bữa cơm Thời ngồi kế cha tôi, rồi đến anh tôi, còn tôi ngồi trên một chiếc ghế đẩu thấp hơn chiếc phản ngựa, nghĩa là ở thứ hạng chót. Lúc ấy là thời gian mới hồi cư, vật giá đắt đỏ, gia đình cha tôi là gia đình công chức, đông con, đã bắt đầu khó khăn, nhiều bữa ăn không được no. Chú Thời là người ăn chậm, còn tôi là đứa háu đói; lúc Thời chưa ăn xong chén cơm đầu tiên thì tôi đã xong chén thứ hai…Cha tôi vẫn thường lo cho chú Thời, và khi thấy tôi đưa chén về phía nồi cơm để tiếp tục chén thứ ba thì ông đưa đôi mắt nghiêm nghị nhìn tôi, thế là tôi rụt tay lại. Lúc ấy , chỉ là một đứa trẻ mới lớn, tôi cảm thấy rất buồn lòng, nhưng sau này tôi khi lớn lên tôi thấy thương xót cha tôi biết là chừng nào. Vã lại, hồi ấy tôi không để ý cho lắm, nhưng tháng nào, khoảng ngày rằm, bà nội kế tôi vẫn thường mang gạo, nếp, sắn khoai, đôi khi một cặp gà và dúi vào tay mẹ tôi mấy chục bạc gọi là tiền ăn cho chú.
Vì là con nhà nghèo, tôi luôn luôn đến trường với cái túi rỗng, nhưng chú Thời luôn luôn có tiền ăn quà vặt ở nhà bác cai trường và chú không quên chia xẻ với tôi. Ngoài tình máu mũ ruột thịt, tôi và chú Thời còn là bạn thân chung lớp. Ở nhà, trước mặt mọi người trong gia đình thì chúng tôi gọi nhau là chú cháu, nhưng khi ra đường thì chúng tôi vẫn gọi nhau là mầy tao như đôi bạn thân tình.
Khi bà nội kế của tôi qua đời, chú không còn thiết tha gì đến việc học, khi tòa hành chánh tuyển người, chú đã thi vào làm thư ký và sau đó nhờ tài vẽ tranh chú được chuyển qua ty thông tin. Trong thời gian này, chú vẫn còn ở với gia đình tôi, còn tôi thì đã xa Huế. Những ngày hè, khi về lại gặp chúù tôi đã gặp luôn Quỳnh Diên, người yêu của chú. Sau khi hai người quen nhau, chú đã không mấy khó khăn để được vào với gia đình Ông Huân, vì ông và cha tôi thỉnh thoảng cũng có gặp nhau tại nhà một người bạn chung trong canh “tài bàn”, “tổ tôm”.
Sau khi câu chuyện ngang trái giữa Thời và Quỳnh Diên xảy ra, ông Huân đã tìm cách lánh mặt cha tôi và về phần chú Thời và người yêu của chú, cảû hai đều đã thúc thủ không phấn đấu nỗi với quyết định cay nghiệt của ông Huân. Dù yêu Thời đến mức nào, Quỳnh Diên cũng không thể bỏ nhà ra đi và Thời cũng không thể nào chống trả được với định mệnh đã an bài.
Ít lâu sau, tôi được cha tôi báo tin là chú đã bỏ việc đi Saigòn, nhưng tôi đã nghĩ cha tôi đang che dấu một điều gì, vì nếu vào Saigòn, chú Thời không thể nào không báo tin cho tôi biết. Đúng như điều tôi nghĩ, sau đó, qua một người bạn, tôi được biết chú được người đưa về miệt Vân Dương và sau đó ra Bắc.
Năm sau, tôi không biết thực lòng Quỳnh Diên đã quên được Thời chưa, nhưng tin bà thím hụt của tôi đi lấy chồng cũng đã làm tôi buồn suốt mấy ngày Saigòn bão rớt. Sau đó, chạy theo cuộc sống, tôi gần như quên cả chú Thời và nàng tôn nữ của chú.
Trong những ngày đầu tháng năm, một nghìn chín trăm bảy mươi lăm ở Saigòn, trong lúc tôi đang hoang mang cùng cực vì thời cuộc diễn ra một cách quá mau lẹ, không ngờ, thì một buổi sáng, một người đứng tuổi, áo chàm, dép râu, nón cối, xắc cột bên hông, gõ cửa nhà tôi. Sau một vài giây ngỡ ngàng, và dù đã bao năm xa cách, tôi cũng nhận ra người đó là chú Thời của tôi. Tôi đã vội vã ôm chầm lấy chú, và hỏi đi hỏi lại một câu hỏi:
-Chú Thời phải không? Chú Thời phải không? Vào đây, vào đây!
Thời ngần ngại, rụt rè bước vào nhà và việc đầu tiên của chú là đưa mắt quan sát gian phòng khách trống trải của tôi, sau đó mới ngồi xuống chiếc ghế gỗ kê sát tường.Tất cả đồ đạc trang bị ở phòng khách của tôi đã được người ta đến dạm mua, dọn đi từ mấy hôm trước. Vợ con tôi, sau khi được tôi giới thiệu về chú Thời đã tự động rút ra nhà sau.
Những năm tháng dài quá nhiều thay đổi có lẽ đã gây ra nhiều khoảng trống cách xa giữa Thời và tôi, nên sau những lời chào hỏi, nhìn lại hiện tại, tôi không biết phải mở lời nói chuyện với Thời như thế nào. Chú Thời của tôi, so với những ngày trước có gầy đi nhiều, khuôn mặt Thời xanh xao và có vẻ trầm ngâm chứ không còn vẻ lanh lợi, tươi tắn như hồi nào.
Sau khi tôi từ chối điếu thuốc từ tay Thời, chú chậm rãi bật lửa, từ từ nhả khói. Gặp tôi, hình như chú muốn nói hết những điều chú ấp ủ bấy lâu nay mà chú không biết nói với ai. Thời cho biết, trên đường vào nam, Thời đã ghé Huế thăm lại bà con và nhất là cha mẹ tôi, và theo chú, mọi sự đều thay đổi, không còn gì như trong trí tưởng tượng mà bao nhiêu năm qua chú vẫn thường nghe qua tin tức.
Bỗng tôi buột miệng hỏi Thời:
-Chú còn nhớ Quỳnh Diên, cố nhân không?
-Quỳnh Diên! Thời lặp lại tên người con gái, có vẻ trầm ngâm một vài giây..Mười bảy năm, từ lúc tôi ra đi, trong lòng tôi vẫn ôm một mối hận, hận người thì ít mà hận đời thì nhiều và trong suốt thời gian ấy tôi chưa lúc nào quên được Diên. Nàng có sung sướng không, cuộc đời trôi giạt về đâu. Những ngày công tác gian khổ, bom đạn, sơ tán…tôi luôn luôn mang hình ảnh Diên theo bên mình và tôi vẫn nghĩ rằng Diên cũng còn yêu tôi như thế. Có lúc tôi nghĩ quẩn việc mình ra đi là một điều thất sách, vì bất mãn chứ không phải vì lý tưởng, do đó với trong những quan hệ và va chạm hàng ngày lòng tôi không bao giờ cảm thấy yên ổn. Trước ngày ra đi, có đêm tôi đã đến đứng thơ thẩn trước ngõ nhà ông Huân,dưới cây đào mà tôi và Diên vẫn thường hay leo lên đó, trước cái hàng rào bông cẩn dài dằng dặc để nhìn vào nhà mong nhìn nàng một lần cuối qua khung cửa sổ có ánh đèn vàng như một thằng con trai lần đầu biết yêu. Nhưng đối với tôi, sau khi mẹ qua đời và sau khi mất Quỳnh Diên, tôi thấy không còn tha thiết gì trên cõi đời này nữa, tôi muốn đi thật xa, muốn chết rấp ở một chốn rừng thiêng nước độc nào cho xong.Thế mà qua bao nhiêu bom đạn, ốm đau tôi vẫn còn sống mà bò về đây, kể cũng lạ.
-Chú đã lập gia đình?
-Một lần. Tôi nghĩ, lấy vợ, có con, sống một cuộc đời tầm thường ở một cái xó xỉnh nào đó, rồi mình cũng sẽ quên tất.Nhưng vợ thì do cơ quan xếp đặët, vì thương hại hơn là yêu, con thì không có. Tôi làm nghề phóng viên chiến trường, đi từ Lào Cai tới Gio Linh, nhưng tuyệt đối không ai cho vào B, vì có lẽ họ cũng phong thanh biết động lực tham gia cách mạng của tôi cũng không có lý do gì xác đáng. Thôi mà như thế cũng xong!
Trở về nam, tôi không ngờ cuộc đời lại có nhiều oái oăm, oan nghiệt như thế.Trong lòng tôi vẫn nghĩ lại chút tình cũ nghĩa xưa và dù thế nào đi nữa, tôi cũng phải ghé lại thăm gia đình Diên, không phải trong tư cách một người chiến thắng, mà là một kẻ chiến bại – Thời mỉa mai -Bà Huân tiếp tôi lạnh nhạt, một thưa hai bẩm như với một cán bộ cấp cao với giọng đầy oán hận, vì như anh đã biết ông Huân đã chết trong trận tổng công kích Mậu Thân, xác còn chôn trong vườn mà bà không muốn cải táng đi nơi khác, chồng của Quỳnh Diên thì tử trận tại Nam Lào, để lại cho nàng hai đứa con dại.Thơ thẩn trên thềm nhà cũ, tôi vô tình buột miệng hỏi đến cây đào trước ngõ nay chỉ còn lại cái gốc phủ đầy cỏ dại thì bà Huân cay đắng “ người cũng chẳng còn nữa, hỏi chi tới cây!”. Cơ sự như vậy mà tôi lại muốn tìm về cảnh cũ người xưa thì anh nghĩ có điên không ?.
Về Huế, như kẻ hành hương về nguồn cội của mình, tôi điên cuồng mất trí muốn đi tìm cho được người xưa. Tôi vẫn biết rằng bây giờ mọi sự đã thay đổi nhưng sao trong lòng tôi có một điều gì thôi thúc, tôi hành động như kẻ mù quáng thiếu suy nghĩ. Sau khi gặp lại bà Huân và biết được hoàn cảnh của gia đình Diên, lòng tôi không khỏi ngậm ngùi chua xót, và hơn nữa đây là một sự phũ phàng của định mệnh khiến cái vị thế của tôi lúc bấy giờ trở nên lố bịch.
Vào Saigòn, tôi bươn bả đi tìm Quỳnh Diên theo cái địa chỉ trên mảnh giấy mà em gái Diên đã ái ngại trao cho tôi. Manh giấy ấy tôi đã cất kỹ trong túi áo như một thứ giấy tùy thân. Tôi cũng không biết rằng tôi đi tìm nàng để làm gì, và ví như gặp Diên thì tôi sẽ nói những gì, than thở khóc lóc như một đứa trẻ thơ cho bõ những ngày nhung nhớ với hình ảnh nàng luôn luôn ở trong tôi, hay ngậm ngùi nhìn nhau mà ứa lệ cho một mối tình xa xưa khi hai người qua một thời gian dài mới gặp lạ trong một hoàn cảnh quá éo le.
Tôi đã đứng ở xa xa bên kia đường để ước tính chừng một số nhà và cố hình dung ra những người có mặt trong ngôi nhà đó, nhưng khi tôi bước qua bên kia đường và đi thẳng đến ngôi nhà mang biển số tôi đã thuộc lòng thì đó lại là một ngôi nhà khác mà cánh cửa ra vào đã được khóa lại bằng một ổ khóa lớn..
Tôi bỗng dưng nhổm người dậy và nói:
– A! Thế là Quỳnh Diên đi Mỹ rồi!
-Phải, tôi đã tìm đến ban quân quản Quận thì họ cho tôi biết chủ ngôi nhà ấy đã bỏ trốn đi nước ngoài, căn nhà đã được tiếp quản, nhưng chủ nhà đi nước nào thì họ không rõ. Để khỏi bị hỏi han lôi thôi, tôi chỉ nói cho họ biết đó là nhà một bà cô họ xa.
Tôi đã đi qua lại ngôi nhà ấy nhiều lần, đôi lúc muốn dừng chân hỏi thăm một người hàng xóm đôi điều về người thiếu phụ chủ căn nhà khóa kín nhưng cuối cùng tôi đành bỏ cuộc.Đôi lúc tôi cũng không hiểu tôi đang làm gì nữa, và tôi hành dộng theo một bản năng rất khó hiểu.
-Không, điều đó cũng dễ hiểu thôi ! Tôi chen vào đểû an ủi Thời.
Hút hết gần năm sáu điếu thuốc và cạn bình trà, tôi chưa kịp mời chú ở lại dùng cơm trưa thì Thời đã đứng dậy cáo từ.
-Thế bây giờ chú đi đâu?
-Họ đã sắp xếp chỗ ăn ở cho tôi ở Hội Nhà Văn ở đường Nguyễn Du. Tuần sau, tôi xuống Cần Thơ, rồi chú cháu mình thế nào cũng gặp nhau lại.
Bắt tay tôi lần cuối khi còn đứng ở ngoài cổng nhà, lần nay Thời thực sự xúc động. Chú nhìn tôi khá lâu và đột nhiên chú nói, giọng có vẻ bùi ngùi:
-Có lẽ phải lâu lắm chú cháu mình mới gặp nhau lại.
Nhìn dáng đi của Thời có vẻ hấp tấp như trốn chạy một điều gì. Chú tránh tôi, một thằng cháu, một đứa bạn thân tình mà bây giờ số phận của kẻ thất trận như cá nằm trên thớt, hay chú tránh một đoạn đời đã để lại nhiều kỷ niệm khó quên.
Sau này khi tôi bị tập trung ra bắc, có lần mẹ tôi ra thăm tôi tận Bắc Thái, bà cho biết tin Thời được điều động đi Kampuchia, bị mất một chân vì mìn cá nhân. Cuối cùng Thời an phận trở lại Thanh Hóa sống với người vợ chú đã kết hôn trong thời gian ở Bắc.Từ đó tôi không còn nghe gì về tin tức của Thời nữa.
Kể lại chuyện này, tôi chỉ lo ngại có một điều là câu chuyện này có một lúc nào đó sẽ xuất hiện dưới mắt của Quỳnh Diên. Bốn mươi năm rồi, hai người đã có hai cuộc sống riêng quá cách biệt, công bình mà nói, nếu có, nỗi đau của cô Diên ngày xưa chắc đã qua, nhưng vết thương của Thời, tôi nghĩ hãy còn đau đớn lắm mỗi khi trời trở nắng, chuyển mưa…
Cách đây chừng 20 năm, buổi tối ở Little Saigon đi kiếm một chỗ ăn thật khó khăn, vì theo thói quen, sinh hoạt phố xá, hàng quán thường đóng cửa vào khoảng 8 giờ tối. Theo đà phát triển của các lớp người Việt đến đây càng ngày càng đông, Orange County (NamCalifornia) hiện có 183,766 người Việt cư ngụ, so với Santa Clara (Bắc Cali) chỉ có 125,695 người (kiểm kê dân số 2011).
Ngoài số người đến Nam Cali theo diện di dân, người Việt ở các tiểu bang Hoa Kỳ và ở khắp nơi trên thế giới, dân du lịch và du học từ Việt Nam, không ai không mong đến Little Saigon một lần cho biết cái gọi là “thủ đô” tị nạn, với nếp sống gần gũi quen thuộc, một Sài Gòn nhỏ ở ngoài quê hương. Do đó, lượng xe lưu thông tại vùng Little Saigon càng ngày càng đông, những ngày lễ cuối tuần, Giáng Sinh hay Tết Âm lịch, khách lạ mới đến, không rõ những ngóc ngách của vùng đất này, rất khó kiếm được một chỗ đậu xe để đi dạo phố, mua sắm hay ăn uống tại Bolsa.
Chợ mở trễ, quán ăn mở khuya
Nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm của cư dân, mấy năm gần đây, phần lớn những ngôi chợ thực phẩm trong vùng Bolsa đã mở cửa cho đến 11 giờ đêm, dành cho những bà nội trợ bận bịu công việc, hay săn sóc con cháu, tránh đi lại đông đúc hay kiếm chỗ đậu xe khó khăn lúc ban ngày, có thể dành thời gian buổi tối cho việc chợ búa.
Những quán ăn bắt đầu mở cửa khuya hơn, tạo cho Little Saigon có những buổi tối nhộn nhịp, và số thương vụ tăng gấp bội so với hoạt động bình thường ban ngày. Khách phương xa đến đây, vào những buổi tối cuối tuần phải xếp hàng để chờ một chỗ ngồi trong hàng quán không lấy gì làm rộng rãi. Mặt khác, không ai đi ăn khuya một mình mà không kéo theo bạn bè, có khi con số lên đến hàng chục người.
Khu ăn khuya ở Little Saigon bao gồm các hàng quán trên đường Bolsa giới hạn từ đường Bushard đến Brookhurst, đồng loạt mỗi đêm đều mở cửa đến 12:00AM, riêng hai đêm Thứ Sáu và Thứ Bảy đến 2:00AM, gồm có Corner View, Phở Thăng Long, Noodle & Grill, Lộc Ðỉnh Ký, Phở Thanh, Thành Mỹ. Riêng Phở Thanh cho biết, nửa khuya về sáng, còn khách là quán còn mở cửa. Mùa Hè, từ tháng 6 đến tháng 9 lại còn có Chợ Ðêm Phước Lộc Thọ, điểm hẹn của các bạn trẻ và khách phương xa về Little Saigon.
Món ăn khuya
Lẽ cố nhiên vào lúc một hai giờ khuya, khách vào quán ăn không ai ăn cơm hay những món “nặng bụng” mà chỉ dùng các thức ăn nhẹ, để sau đó còn về ngủ ngon giấc. Ngoài các tiệm phở quen thuộc khách vào ăn một tô phở khuya, còn lại các tiệm ăn khác nhằm đáp ứng nhu cầu ăn nhẹ vào ban khuya để chiêu khách. Corner View cho biết họ “sở trường” món cháo: Cháo gạo đỏ, cháo trắng, cháo giải cảm, cháo cá, cháo gà, cháo nghêu và “mì gõ”. Quán Noodle & Grill có cháo gỏi vịt, cháo gỏi gà, bún vịt xáo măng, bún mắm. Thành Mỹ thì hủ tiếu khô, nước, hay các thứ cháo. Lộc Ðỉnh Ký cũng với các món cháo, mì trong khi khách thèm phở thì đến Thăng Long hoặc Thanh. Nói chung là khách ăn khuya thường thích các món nước.
Đi ăn khuya ở quán Ốc và Lẩu (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)
Ông Trần Minh, một người khá đứng tuổi đang ăn phở khuya trong quán Thanh, đã nói với chúng tôi: “Cũng mừng là bọn trẻ ở hải ngoại rất thích ăn phở! Còn thích phở là chưa quên Việt Nam, ở vùng này thiếu gì quán ‘fast food’ nhưng bọn trẻ lại cứ bu vào các quán phở!”
Khách ăn khuya
Cô Quỳnh Nguyễn, chủ quán Kasey’s, cho biết 90%, đôi khi 100%, khách ăn khuya là các em trẻ, đi với nhau từ năm ba người đến cả toán hơn mười người, rất ồn ào và vui nhộn; thỉnh thoảng đem theo các bạn trẻ người Mỹ hay người Mễ để hãnh diện giới thiệu các món ăn Việt Nam.
Tại Phở Thăng Long, chúng tôi đã gặp một nhóm trẻ hơn 15 người, trong này có em là du học sinh, đang chờ nhà hàng sắp xếp chỗ ngồi. Một em cho biết họ vừa ở một party gia đình cuối tuần ra, “Vui nhưng đói bụng, bây giờ có một tô phở nóng là hấp dẫn nhất”. Hoàng Trần, manager của nhà hàng nói thêm: “Nhà hàng tuy rộng, nhưng những ngày lễ lớn, khách ăn khuya lại đông hơn khách ngày. Những người trẻ thường vui nhộn, ‘tip’ rộng rãi!”
Cũng có vài người, đàn bà áo dài, đàn ông còn áo vest cà vạt, họ vừa ở chỗ ca nhạc hay gặp gỡ hội đoàn ra, muốn ăn chút gì thêm, trước khi về ngủ.
Cũng không thiếu những người không nhà, lang thang lợi dụng không khí nhộn nhịp của những quán ăn Bolsa về đêm, chặn đường những người đi ăn khuya để xin tiền!
Hồi xưa bà con mình thường nói: “Nắng mưa là bệnh của Trời”. Nói như vậy là trật lất! Phải nói là: “Nắng mưa là chuyện của người thế gian”. Trong tình hình đại dịch COVID-19 vẫn hoành hành một cách ác liệt trên toàn thế giới; hổng lẽ các nhà lãnh đạo lại quá huỡn qua Glasgow, nước Anh chỉ để nhậu chơi?
Cứ để vầy, chẳng chịu làm gì ráo trọi thì chẳng bao lâu nữa con cháu chúng ta bị nướng “barbeque” hết ráo. Chuyên gia về môi trường nói thiệt chớ không hù, không nhát con nít đâu nhe!
Cả ba, bốn chục năm nay, ở Úc, ở Mỹ và các nước trên toàn thế giới mỗi năm, mùa cháy rừng mỗi dài thêm, càng khốc liệt thêm. Thế hệ chúng ta đã sống ích kỷ, đã tham lam, đã tàn phá môi trường. Chúng ta đã “hâm nóng” hành tinh xanh nầy. Chúng ta đang gây ra biến đổi khí hậu. Hậu quả là mùa Hạ cháy khủng khiếp hơn. Mùa giông tố tàn phá dữ dội hơn.
Mùa cháy rừng hàng năm ở Úc, kéo dài từ tháng Chín đến tháng Ba. Trời không mưa, không có nước. Dân bị cấm tưới vườn, cây cỏ héo khô. Hậu quả là cháy rừng khủng khiếp. Cháy từ Bắc sang Ðông. Chảy từ Tây sang Nam. Cháy vòng vòng khắp tiểu bang. Cháy từ tiểu bang nầy sang tiểu bang khác. Nghĩa là cháy hết ráo. Nghĩa là có rừng cây bạch đàn (chứa nhiều dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín) khô nẻ là nó cháy. Khói bao phủ khắp không gian. Tưởng như ngày tận thế!
Trận cháy rừng kinh hoàng nhất trong lịch sử Australia xảy ra tại thị trấn Marysville, nằm về phía Tây Bắc Melbourne, chỉ cần một giờ rưỡi lái xe, chưa đầy 100 km. Thị trấn vùng quê yên bình rợp bóng cây, ngập tràn màu sắc, Marysville, vang tiếng hót của bầy chim, những thảm cỏ xanh mướt, vườn hoa rực rỡ trước những ngôi nhà xinh xắn. Marysville đẹp như tranh vẽ của Levitan.
Nhưng thiên đường đó đã biến thành hỏa ngục do trận cháy rừng ngày thứ Bảy đen tối (Black Saturday), mùng 7, tháng Hai, năm 2009. Ngày thứ Bảy tang tóc đó, Marysville đã hoàn toàn bị thiêu hủy, hơn 173 người chết.
“Khi điện tắt, tôi, (một người dân Marysville), vội vã chộp lấy vài món đồ cần thiết cho vào túi. “Bế lấy con! Ra khỏi nhà ngay!”. Người cha đặt hai đứa con thơ vào xe rồi quay vào nhà lấy thêm một thứ gì đó. Chỉ một lát sau, chiếc xe chìm trong biển lửa, lũ trẻ vẫn còn kẹt trong xe. Nước mắt!
Những ngọn lửa vàng rực. Lớp khói bụi đen ngòm, che cả ánh mặt trời. Trận bão lửa như từ địa ngục đuổi theo. Không còn căn nhà nào đứng vững. Chẳng khác gì một vụ nổ bom nguyên tử, một thảm họa Hiroshima mới.
Rồi chỉ 10 năm sau đó, năm 2019, thảm kịch lại tái diễn. Mùa Xuân lại ít mưa, gây khô hạn. Giông gây ra sấm sét. Sét làm những cánh rừng khô khốc bùng lửa lên. Như ta đút con cúi vào đám rơm khô. Hơn 18 triệu mẫu tây và hơn 5,900 căn nhà đã cháy rụi. Khói từ các đám cháy rừng bay qua Thái Bình Dương tới Nam Cực, đến New Zealand và tuốt cả Argentina và Chile bên Nam Mỹ. Người chết, hàng tỷ động vật, kangaroo, koala, dơi và côn trùng bị mất môi trường sống và nguồn thức ăn. Mùa màng bị đốt rụi. Năm 2020, thiếu gạo ăn, Úc phải nhập cảng.
Vậy mà Thủ tướng Úc Scott Morrison lại công khai hạ thấp ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với những vụ cháy rừng. Ông tỉnh bơ dắt vợ con đi “holiday” vào dịp cuối năm. Hai ông bà phè cánh nhạn trên bờ biển Hawaii, Hoa Kỳ. Dân Úc ở nhà hoảng loạn, cha con chồng vợ dắt díu nhau chạy tuốt ra bờ biển. Không phải để tắm như vợ chồng ông Thủ tướng. Mà để chờ tàu Hải quân của Úc vào sát bờ giải cứu.
Ông Thủ tướng nghe dân chửi quá, rét, vội bay trở về, đi ủy lạo những vùng quê bị cháy rụi. Ðón tiếp ông là những khuôn mặt thất thần, những ánh mắt đầy phẫn nộ. Ông thò tay ra định bắt tay, ông lính cứu hỏa tình nguyện làm ngơ. Ði vòng vòng thị sát coi dân thiệt hại bao nhiêu để chánh phủ cấp tiền cứu trợ thiên tai thì bị dân kêu là đồ “idiot” (đồ ngu). Cả đám dân Kangaroo xúm lại, rượt phái đoàn của Thủ tướng Úc chạy có cờ.
Cuối mùa Ðông, tháng Chín mùa Xuân tới. Nước Úc rộn rịp chuẩn bị cho mùa cháy rừng mới. Nhưng năm nay tới giờ phút nầy, cả nước Úc không phập phồng chờ cháy rừng đặng chạy trốn như năm ngoái. Nước Úc đang lo bão từ Ấn Ðộ Dương ở bờ Tây, từ Thái Bình Dương ở bờ Ðông đổ bộ vào mang theo nhiều mưa to, gió lớn gây ra lũ quét,
Perth, thủ phủ tiểu bang Tây Úc (Western Australia), Úc Châu nước mưa trung bình hàng tháng là 24mm. Chỉ một ngày trong tháng 11, Perth đã hứng một lượng mưa hơn 40mm, gấp đôi. Một ngày mưa bằng hai tháng. Trận đại hồng thủy là kỷ lục lớn nhất kể từ năm 1880.
Mưa kỷ lục là do thời tiết khắc nghiệt đang đổ bộ vào các khu vực phía Tây và Bắc của nước Úc. Ðêm qua, phía Tây Nam tiểu bang Tây Úc đã có hơn 100,000 trận sét đánh. Bị trời đánh, Sở Khí tượng Úc la làng chói lói: Gió mạnh, mưa lớn, có cả mưa đá, có thể làm lũ quét. Các tài xế ở Perth được khuyến cáo nên cẩn thận trên đường trơn trợt. Không lái xe qua vùng nước lũ.
Ðọc bản tin dự báo thời tiết đầy ẩm ướt nầy làm tui nhớ chuyện xưa (hổng xưa lắm) và tích cũ (cũng không cũ lắm) của những ngày tiểu bang Victoria bị cấm nước.
Hồi những năm đầu thế kỷ 21, Melbourne, tiểu bang Victoria bị hạn hán gần suốt 10 năm. Hồ chứa Thompson lớn nhứt tiểu bang Victoria, mực nước trong hồ xuống thấp nhất từ xưa tới giờ. Chỉ còn khoảng 19% dung tích. Dân phải hạn chế xài nước. Vậy là để tiết kiệm nước, dân Úc chỉ uống beer. (Hồi hồ ít nước, ai xài nhiều, quá định mức, phải trả tiền mắc hơn. Còn bây giờ tới 87.7% dung tích mà giá nước vẫn y chang như vậy, hổng bớt cắc nào. Công ty Thủy cục chơi đểu thiệt! Mà dân Úc nín khe không la lối chống đối, chỉ lo đi làm chuyện tào lao, như biểu tình chống việc chánh phủ buộc dân phải chích ngừa COVID-19?)
Không phải chỉ Úc mà bên California, USA, Spain, bên Tàu thời tiết cũng bất thường. Năm cháy rừng; năm lũ quét. Người dân sống cảnh lầm than.
Bà con mình ai cũng biết: khi mình bị sốt. Sốt đến một nhiệt độ nào đó, mình bị kinh giựt. Hành tinh xanh thân yêu, trái đất của chúng ta đang bị bịnh. Mà bịnh nặng nữa. Các nước vì quyền lợi kinh tế trước mắt mà chổng khu đốt nóng bầu khí quyển. Trái đất lên cơn sốt bấy nay. Giờ bịnh nặng quá, lên cơn kinh giựt. Năm rồi cháy rừng tưng bừng. Năm nay lũ lụt tá lả.
Không muốn chết vì ngu, các nhà lãnh đạo trên thế giới bay đi Glasgow, Anh Quốc thề thốt lung tung! Sẽ cắt giảm khí thải nhà kính để thời tiết không còn lên cơn kinh giựt nữa.
Nhưng buồn thay, các nước ở dơ nhứt hạng trên thế giới nầy, chuyên xịt khói đen lên bầu khí quyển như: chú Ba Tàu, anh Bảy Cà Ri và em “Mocuradov” (xin đọc tiếng Nga theo kiểu Nguyễn Xuân Phúc) lại trốn mất. Chỉ có tay cắc ké là CS VN cũng lò dò đi phó hội bàn đào. Lạ một cái là: đi dự Hội nghị Biến đổi khí hậu mà lại dắt theo Bộ trưởng CA (?). Trùm CA vác dùi cui vô biến đổi khí hậu để làm gì vậy mấy cha?
Té ra ông kẹ nầy không qua nước Anh để bắt mấy thằng tham ô bỏ trốn như Trịnh Xuân Thanh để đem về nước bỏ vô lò mà đốt. Trùm CA VN chỉ đi ké chuyên cơ thôi. Mục đích chính là để giúp người dân Anh, thủ đô Luân Ðôn, xóa đói giảm nghèo. Thiệt là công đức vô lượng (vô lượng có dấu nặng chớ không phải vô lương), bằng cách đi ăn thịt bò bít tết có dát vàng. Thì ra chuyện nắng mưa là chuyện của Trời. Chuyện biến đổi khí hậu, ai “ke” (care) thì cứ “ke”. Riêng các quan CS chóp bu, tớ không “ke”!
Nghe tin tài tử Ryan O’Neal qua đời tối 8 tháng 12 năm 2023 tại một bệnh viện ở Santa Monica, tiểu bang California, Hoa Kỳ, tui buồn biết bao trong tấc dạ. Tui nhớ năm 1970 lúc đang đi học ở Sài Gòn, em yêu dắt tui tới rạp Rex trên đường Nguyễn Huệ để xem phim Love Story.
Dựa trên cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất của Erich Segal kể lại một chuyện tình lãng mạn đầy kịch tính, Love Story (Chuyện tình) do Arthur Hiller đạo diễn, Ryan O’Neal trong vai Oliver Barrett IV, một sinh viên luật Harvard con nhà quyền thế. Anh yêu Jennifer Cavalieri (tài tử Ali MacGraw), một sinh viên âm nhạc thuộc tầng lớp lao động. Họ kết hôn trái với ý muốn của người cha giàu có. Kết cuộc Jennifer Cavalieri qua đời vì bệnh ung thư.
Trong ‘Love Story’ có một lời thoại nổi tiếng: “Love means never having to say you’re sorry” (Yêu có nghĩa là không bao giờ phải nói lời xin lỗi). Câu thoại được nói 2 lần trong phim: một lần ở giữa phim, khi Oliver Barrett xin lỗi
Jennifer Cavalieri vì sự tức giận của mình; và như dòng cuối cùng của bộ phim, khi cha anh nói: “I’m sorry” sau khi biết về cái chết của Jennifer. Thì câu nói nầy có tới 2 nghĩa khác nhau tùy theo tình huống: Lúc yêu nhau hãy cư xử chân thật theo cảm xúc thì mình chấp nhận lỗi lầm của người mình yêu mà không cần anh phải xin lỗi! Hai là tình yêu đích thực có làm mình đau đớn mình cũng không hối tiếc.
Hồi thời thanh niên, mấy anh mình ai cũng biết ngoài ‘Love Story’ của Mỹ ra, bên Anh có ‘Roméo và Juliette’. Tàu có Lương Sơn Bá; Chúc Anh Đài. Việt Nam có chuyện tình Lan và Điệp.
Lan và Điệp dựa theo tiểu thuyết ‘Tắt Lửa Lòng’ của Nguyễn Công Hoan (1903-1997). Đây là một mối tình tay 3, hai trái bầu một con cua, giữa Điệp, Lan và Thúy Liễu. Điệp học trò nghèo. Lan, con ông Tú. Điệp và Lan yêu nhau; được gia đình hai bên tác hợp. Tuy nhiên, Thúy Liễu con quan Phủ ham vui sớm nên có bầu, người trồng bầu đã quất ngựa truy phong. Điệp khoái nhậu nên mắc mưu quan Phủ, phải phụ tình Lan để cưới Thúy Liễu. Lan ôm mối tình tuyệt vọng, vào chùa cắt tóc đi tu … Không hạnh phúc, tình tay 3 tan vỡ. Điệp đã nhiều lần đến chùa nhưng Lan cắt đứt dây chuông không cho gặp. Mãi đến mười mấy năm sau, khi Lan lâm bạo bệnh do quá sầu não, Điệp mới được phép đưa nàng về nhà chữa trị, nhưng đó cũng là những giây phút cuối cùng của Lan. Nàng lìa đời bỏ lại một mối tình đầy ray rứt.
Đây là một chuyện tình sướt mướt rất hợp khẩu vị của đôi lứa lãng mạn yêu nhau. Nên nhiều người làm văn nghệ từ soạn giả cải lương, thoại kịch, phim ảnh dựa theo đó viết tuồng, viết kịch, làm phim kiếm bộn bạc. Như năm 1936, Tư Trang, tức Trần Hữu Trang soạn tuồng cải lương với Năm Phỉ vai Lan, Thanh Tao vai Điệp. Năm 1945, hãng dĩa Asia phát hành Hoa Rơi Cửa Phật (tức Chuyện tình Lan và Điệp) Tư Sạng vai Lan, Năm Nghĩa vai Điệp. Năm 1959, trên sân khấu Thanh Minh với Thanh Nga vai Lan, Thành Được vai Điệp. Năm 1970, ban kịch Kim Cương với Kim Cương thủ vai Lan. Hãng phim Dạ Lý Hương, Lê Dân đạo diễn, với Thanh Nga (vai Lan), Thanh Tú (vai Điệp). Còn bài vọng cổ lẻ của Loan Thảo thâu dĩa với Chí Tâm (vai Điệp), Thanh Kim Huệ (vai Lan) nổi tiếng. Năm 1970, Viễn Châu sáng tác bản tân cổ giao duyên: “Điệp ơi cánh bướm năm xưa hãy bay đi đừng trở lại, vì em hiện nay chỉ là một đoá Lan tàn… Em biết anh chẳng dạ phũ phàng…Nhưng kiếp nầy đã lỡ xin Điệp đừng lưu luyến chi Lan… Con dao kia với xác bướm khô nầy. Lan chôn lấp dưới cội cây ngoài cửa Phật! Con tên là Nguyễn Thị Lan, Xác thân còn đó mà hồn tan lâu rồi!”
Thấy ăn khách quá xá quà xa bên tân nhạc Mạc Phong Linh và Mai Thiết Lĩnh cũng nhào vô với “Chuyện tình Lan và Điệp” 1, 2, 3. Với Trang Mỹ Dung: “Lần cuối gặp nhau Lan khẽ nói: Thương mãi nghe anh, em yêu anh chân tình, nếu duyên không thành? Điệp ơi, Lan cắt tóc quên đời vì anh …”
Nhưng anh bạn văn của tui chỉ trích nhà văn Nguyễn Công Hoan, sau nầy làm bồi bút cho CS, không hiểu gì về triết lý thâm sâu của Phật giáo. Đi tu là giúp đời. Đi tu không phải là vì thất tình.
Chuyện tình Lan và Diệp – nguồn youtube
Để phê phán Lan của Nguyễn Công Hoan ảnh kể tui nghe một truyện nhuốm mùi trần tục như vầy nè:
Một hôm xuống phố và cần sử dụng nhà vệ sinh, Lan bước vào một quán rượu đang rộn ràng tiếng nhạc, lời ca ồn ào, rôm rả. Thỉnh thoảng đèn trong quán lại tắt. Mỗi khi đèn tắt, cả quán rượu lại bùng lên những tiếng reo hò. Nhưng khi nhìn thấy Lan, một nữ tu, cả quán rượu im lặng như tờ, mọi người dường như đã chết. Lan hỏi người phục vụ:
– Bần đạo có thể sử dụng phòng vệ sinh không?
Người phục vụ trả lời:
– Được, nhưng tôi nên cảnh báo trước với ‘ni cô’ rằng trong phòng vệ sinh có một bức tượng đàn ông khỏa thân chỉ dính trên mình một “chiếc lá.”
– Chà, nếu như thế thì tôi sẽ nhìn theo hướng khác. Lan nói.
Người phục vụ đã chỉ lối cho Lan. Sau một vài phút, Lan quay lại, và tất cả những người đang chè chén ngừng đưa ly lên miệng để cho Lan một tràng pháo tay ròn rã! Lan hỏi:
– Thưa ông, tôi không hiểu. Tại sao họ vỗ tay hoan hô tôi chỉ vì tôi vào phòng vệ sinh? – Chà, bây giờ mấy thằng nhậu nhẹt hư đốn, tửu sắc say sưa nầy, biết ni cô cũng nhuốm mùi tục lụy như họ vậy. Ni cô có muốn làm một ly không?
– Không, cảm ơn, nhưng tôi vẫn chưa hiểu. Lan bối rối nói.
– Ni cô thấy đấy. Người phục vụ cười:
– Mỗi khi ai đó, đang ở trong phòng vệ sinh mà giở chiếc lá che phần nhạy cảm của bức tượng khỏa thân đó ra, thì đèn trong quán nầy sẽ tắt! Bây giờ thì ‘ni cô’ làm một ly nhé?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.