This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Là học trò lớn lên ở miền Nam, tôi nghĩ chắc các bạn biết đến đoạn văn ngắn của Thanh Tịnh: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường…” Thanh Tịnh sinh năm 1911 tại xóm Gia Lạc ven sông Hương, học tiểu học ở trường Đông Ba, trung học ở trường Pellerin, Huế. 1945 chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. 1957 tham gia thành lập Hội Nhà Văn VN. Trước khi nghỉ hưu mang quân hàm Đại tá QĐND. Mất năm 1988 tại Hà Nội nhưng mộ phần lại đặt tại núi Thiên Thai, phía tây thành phố Huế. Sở dĩ ghi lại vắn tắt những cột mốc trong tiểu sử của Thanh Tịnh bởi tôi đồ chừng tác giả truyện ngắn “Tôi đi học” (viết năm 1941) nổi tiếng kia đã gắn bó với Huế, không ít thì nhiều. Huế, nơi sản sinh ra những đứa con lưu lạc, từng cảm thán và từng được lắm kẻ đồng tình: Là nơi đi để mà nhớ chứ không phải ở để mà thương. Chạy giặc đầu năm 1975, vô tới Sài Gòn, tưởng êm, hoá ra giọt dầu loang bắt lửa, nuốt chửng toàn bộ. Tuy chẳng bị phỏng tới lột da tôi cũng dấu che tơi tả lộn lui Huế để hoang mang ghi danh học tiếp và 1976 tôi chính thức được đối diện với Thanh Tịnh do ông Trần Hoàn, tác giả bản nhạc “Sơn nữ ca” đang giữ chức trưởng ty Thông tin tỉnh Bình Trị Thiên dàn xếp một buổi tâm tình với sinh viên con em nguỵ quân nguỵ quyền ở Huế. Có lẽ vì là nhạc sĩ nên Trần Hoàn đã chọn địa điểm là trường Quốc gia Âm nhạc làm buổi “giao lưu”, đốc thúc bọn học Mỹ thuật láng giềng xếp hàng tề chỉnh xé rào qua tham dự. Thời điểm đó nếu bạn đi xem chiếu bóng mà bỏ về nửa chừng ắt bạn sẽ đối mặt với một kết thúc không có hậu. Nhưng tình ngay diễn giả là Thanh Tịnh thì nghe thế, anh em chúng tôi thực bụng cũng hồ hởi phấn khởi lắm. Trần Hoàn thì quê quán ở Hải Lăng ngoài Quảng Trị, không kể tới; nhưng Thanh Tịnh rõ là Huế mềnh, lắng nghe xem giọng nói “chàng” đã hao mòn phai nhạt nước sông Hương bao phân sau tháng ngày dài đầu tắt mặt tối phía bên kia vĩ tuyến 17 trời mãi bàng bạc những đám mây trì nặng trôi trên bầu trời hẹp bất kể xuân hạ thu đông. Có những khuôn mặt nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ mà khi lỡ mang cảm tình với họ, bạn chớ nên gặp mặt. Hình bóng tốt đẹp nằm trong tâm tưởng bạn chóng sụp đổ ở phút “vô duyên đối diện bất tương phùng”. Trước mặt tôi là một ông Thanh Tịnh dáng dấp thường thường bậc trung, hơi đen đúa hơi cốt cách nông dân, hơi ngần ngại… thứ tác phong chẳng phải người ở phía thắng cuộc. Kể chuyện nhạt nhẽo, ấp a ấp úng. Ông luôn ngó trước trông sau và chừng như sự thành thật của phút tâm tình đã không cách gì thể hiện được. Thanh Tịnh áo rộng thênh bỏ ngoài quần dài ngang mắt cá, mang dép Bình Trị Thiên và như tất cả các cán bộ khác, ngôn ngữ của họ đều khoác một thứ “đồng phục” y trang nhau. Cuối bài nói chuyện về “đời sống văn hoá cao ở ngoài ta” là phần hội thảo, giải đáp thắc mắc. Tôi đã rất muốn dong tay: Thưa bác, rứa thì ngoài nớ trong giờ dạy văn họ có mang một đoạn trong bài “Tôi đi học” ra giảng cho học trò như ở miền Nam không? Lại muốn thực lòng ngợi ca đó là một áng văn đẹp khó mờ phai trong lòng mấy em học trò mãi hồn nhiên chẳng biết chuyện đấu tranh giai cấp với xung phong diệt thù. Nghĩ bụng là thế nhưng cứ ngồi im re đầu óc trì nặng chứa lắm mây vân cẩu. Chuyện không có gì để ầm ĩ. Phật nói mọi khổ đau đều do miệng lưỡi phát sinh ra. Tôi cúi đầu, xin chay tịnh vá mồm để tránh phong ba. Kể lại chuyện xưa chẳng mang hậu ý gì, ngoài gợi nhớ đoản văn kia dễ làm đầu cầu cho một hình ảnh thấy sang bắt quàng làm họ: Hằng năm cứ vào tháng Tư, đầu mùa xuân mà lá ngoài đường rụng nhiều và lòng tôi lại nhức nhối những kỷ niệm hoang mang của đứa phải bỏ trốn quê hương. Huế là nơi đi để nhớ mà ở thì chẳng rõ có êm không… Tháng Tư, ôm đồm mà nói vậy chứ thực chất một đứa xứ Huế bị “lá rụng” từ hồi tháng Ba lận. Đám mây bàng bạc cứ dồn cục trên đầu đến cả tháng trời mới chịu tan đàn sẩy nghé bao phù vân. Ngày tựu trường mẹ nắm lấy tay tôi dắt đi học, hình ảnh an lành đó biết tìm đâu thấy khi cả mẹ lẫn con đã bỏ của chạy lấy người, hoang mang nhìn mưa-rơi-trên-mầu-cờ-đỏ. Trước 75, trong 12 ống của hộp màu nước, dành cho chủ đề của từng bài vẽ dường như chúng tôi biết cách dung hoà chúng. Nhưng khi “quê hương thống nhất”, màu đỏ trở thành khan hiếm do bởi chúng phục vụ cho tất cả mọi đề tài, đặc biệt là tranh cổ động. Đỏ: màu phát quang rất mạnh, đứng xa cũng thấy. Quan trọng hơn, đỏ là màu cách mạng, màu chiến thắng, đạp đổ các thứ. Hoạ sĩ Cuba, hoạ sĩ Bắc Hàn, hoạ sĩ Trung Quốc và hoạ sĩ đàn em Việt Nam thảy đều mê mệt màu đỏ. Hỏi một ông đang ngồi ngáp vặt: Sao không chịu lao động? Mặt nhăn nhó khổ sở: Chẳng có màu đỏ, lấy gì vẽ? Hằng năm cứ vào tháng Tư, lá ngoài đường rụng nhiều và lòng tôi lại hoang mang thắt ruột khi nhớ về những tháng ngày chịu sống ngộp thở trong sắc màu đỏ. Để mong nguôi ngoai ít nhiều, có đứa “nhân thân xấu” đã kể chuyện tiếu lâm: Một ông Tây ba-lô băng qua đường khi đèn xanh vừa bật sáng. Hậu quả dính thương tật tới 75%. Bác sĩ ở bệnh viện giải thích: Khổ quá, bác đến từ hành tinh nào thế? Đèn xanh tại sao không chịu đứng lại đợi đèn đỏ? Màu đỏ là màu chiến thắng, nhắc bác hãy xông pha tiến lên bất chấp nguy nan, nhớ? Tây ba-lô hoá ra cũng chán thằng lạc hậu, nhỉ! May mà chưa bị gọi là thái tử, nôm na: chết không toàn thây. Có đứa rảnh rỗi sinh nông nỗi làm tài khôn: Đố chúng mày vì sao thành hôn, vu quy, song hỷ nói chung là đám cưới người ta đều trang hoàng toàn sắc đỏ? Vì họ coi trọng giọt máu trinh tiết của cô dâu chảy ra ở đêm động phòng. Đơn giản vậy mà nghĩ không ra. Cái đứa mau miệng ấy, nghe đâu bị rụng răng vì bị ba thằng bặm trợn vây đánh hội đồng trong đồn công an. Người bạn tôi thuật chuyện khi tại ngoại sau bảy đêm (khoái lạc) ăn nằm sau chấn song. Bạn tôi vào tù vì bạn láu táu không chịu tính bề dài của bức tường làm khi viết sơn khẩu hiệu bị thiếu mất một chữ “ta” nằm cuối câu: Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng. Bảy ngày trong lao hắn ngộ chuyện: Tiếng nước ta thật quá nguy hiểm, thiếu hoặc thừa, có dấu hoặc mất dấu sắc huyền hỏi ngã nặng, chữ đang hiền lành bỗng trở nên hung ác ngay. Con dao hai lưỡi mày ạ, người ta chưa gắp lửa bỏ tay thì mày đã bị lưỡi thép cứa đứt rồi. Để minh hoạ thêm dưới câu nói hắn kể là ông anh hắn giờ này vẫn chưa học tập cải tạo xong, trước đây ông ta có viết văn. Mà văn ông ấy cũng mềm như hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều… Lá rụng? Chữ này tuồng như bà con với qua đời, với nghỉ chơi, với khuất núi, với chu du miền cực lạc? Ai sao chẳng biết, chứ riêng tôi nghĩ trước năm 1975 mặc dù đang lâm vào cảnh chiến tranh nhưng đón nghe tin người chết không nhiều như giờ đây. Ngoài thân bằng quyến thuộc đến anh em bạn bè cứ người này phủi chân xong đến người khác leo lên ngồi trên bàn thờ. Có phải hệ luỵ đến từ cơn buồn đau mất nước? Mỗi năm đến tháng Tư lá ngoài đường rụng nhiều và người tôi quen biết lần lượt vác mạng qua đèo đi vào chốn cát bụi. Tháng Tư, do vậy trăm người cười thì có vạn người khóc. Đau thương bao giờ cũng vượt mặt, đụng trần so với nụ cười. Chuyện diễn ra hằng ngày kiểu như đọc thấy ở mục tìm bạn câu khẩu quyết: Buồn nhiều hơn vui, ai đồng cảnh ngộ xin thư về… Qua ngày đoạn tháng còn vậy huống hồ là niềm đau nhức của tháng Tư, vốn vô bờ, vốn còn mới bao vết đoạn trường cũ. Tháng này, trên các diễn đàn văn chương đọc thấy bao thơ văn của “những người đồng cảnh ngộ”. Đọc lấy và xin hãy nhìn thấy mình còn may hơn những phần số bất hạnh chẳng thể bày tỏ khác. Lời Phật: Bốn chín năm truyền đạo, ta không nói câu nào. Khổng Tử ngôn: Dư dục vô ngôn. Thiên hà ngôn tai. Không muốn thuyết giảng (bởi ngay cả) Trời có nói gì đâu. Nhưng hằng năm cứ vào tháng Tư, đành vượt khuôn phép để gửi chút “tâm tư” theo chiếc lá rụng ngoài đường. Mây bay chốn này muôn năm bàng bạc và lòng tôi bất chợt hoang mang tuổi nghỉ hưu. Không thanh, chẳng tịnh.
Bọn khung bệnh xá và K.4 chào mừng lễ quốc khánh 2 tháng 9 năm 1978 của chúng bằng một cái chết thê thảm của một vệ binh. Buổi chiều trước ngày lễ, chả hiểu chúng bị thanh tra thế nào, thằng thủ trưởng sai hai thằng vệ binh dẫn mấy con heo nuôi lậu giấu nơi cái connex nằm bên ngoài hàng rào. Chẳng hiểu ma đưa lối quỷ dẫn đường ra sao, một thằng đạp trúng ngay quả lựu đạn gài của bọn an ninh vòng đai trại. Ôi thôi! Cỏ cây hoa lá bỗng một thoáng nhuộm đầy máu me Việt cộng lẫn máu heo lậu. Tiếng nổ vang lên vào lúc bọn Vĩnh đang chờ chích thuốc trên phòng khám bệnh. Tất cả bỗng ngừng tay và ùa về phía hàng rào sau K.30, nơi gần nhất chỗ phát ra tiếng nổ. Lúc ấy quả bọn tù bệnh và bọn thợ mộc chưa ai rõ là chuyện gì, chỉ khi từ hàng rào bò vào một thằng máu me cùng mình, mọi người mới biết là lũ cháu ngoan bác Hồ có thằng lâm nạn. Kẻ bị thương chỉ bò được qua hàng rào, đến trước cái connex chỗ chúng từng giam và đánh chết người tù tên Hiền của K.4 trước đây, tên Việt cộng con hết bò nổi và xỉu tại trận. Có một điều lạ, và có lẽ lạ nhất đối với bọn tù, ấy là cách chỗ nổ không quá năm mươi thước, một đám vệ binh đang dợt bóng chuyền với nhau, dù đã biết rằng hiện đang có một hai đồng chí của chúng lâm nạn, nhưng tuyệt nhiên không thằng nào nghĩ tới chuyện tiếp cứu. Chúng chỉ ngừng tay ngó về hướng tiếng nổ phát ra, rồi như đã đoán được rằng có một hai thằng bạn nữa vừa rơi vào tình trạng sinh Bắc tử Nam, chúng lại thản nhiên quay trở về với quả bóng, với vuông sân và với tiếng cười đùa ồn ào đến độ không ai có thể ngờ được! Phải một lúc sau đó mới có một thằng quản giáo từ văn phòng khung K.4 hộc tốc chạy ra quan sát chỗ nổ. Quan sát xong hắn quay lại hét mấy thằng vệ binh tiếp cứu, nhưng rõ ràng bọn chúng đã tỏ lộ thái độ cháy nhà hàng xóm bình chân như vại. Rốt cuộc tên quản giáo phải đâm bổ vào khu bệnh xá của tù. Kế đó, dưới sự hướng dẫn của tên quản giáo, bác sỹ Thiết cùng mấy anh bạn tù khỏe mạnh bên khối mộc xách băng ca chạy ra tiếp cứu. Tên bị xây xát nhẹ được khênh lên khu bệnh xá của cai tù, còn tên bị thương nặng được khênh ngay vào phòng nhận bệnh của bệnh xá tù để được các ông bác sỹ “ngụy” cấp cứu. Tên này được nhận diện ngay tức khắc. Nó là “môn đệ” của nhạc sỹ Nguyễn Văn Đông. Quả lựu đạn nổ làm bay mất một bàn tay trái, gẫy chân phải và ngực bụng bị soi thủng nhiều lỗ. Sau khi băng bó và chích đến năm bảy mũi thuốc một lúc, tên vệ binh từ từ tỉnh dậy. Bọn Vĩnh đứng quẩn quanh tò mò quan sát. Anh Đông đã được thông báo, được Nông Hải Sơn cõng lên phòng nhận bệnh và được đặt ngồi ngay đầu tấm phản cho nạn nhân nằm. Tên vệ binh từ từ mở mắt. Không một nét đau đớn hay lo sợ được nhìn thấy trong đôi mắt nó, mà lạ lùng thay, Vĩnh và các bạn đều nhìn thấy trong đôi mắt ấy một nét buồn ghê gớm. Trên khuôn mặt nhợt nhạt mất máu, vẻ quái quỷ và hung tợn thường ngày đã biến mất, nhường vào đó một nét chịu đựng lạ thường được phơi bày không che giấu một người Việt Nam không may muôn thủa! Ông Khái cúi xuống hỏi khẽ nạn nhân một điều gì đó. Vĩnh đứng gần cái TV của bệnh xá và lắng nghe lời bàn nho nhỏ của ông Nam và ông Cường. – Chịu! Vô phương! Ngay lúc ấy Vĩnh ngó thấy hai hàng nước mắt lăn trên khuôn mặt xanh yếu của anh Nguyễn Văn Đông. Anh giơ tay quẹt thật nhanh. Lòng Vĩnh tự nhiên ngổn ngang nhiều ý nghĩ… Nạn nhân chợt mở to mắt ngó mấy người đứng gần. Nó thều thào mấy câu mà suốt đời, không hẳn chỉ riêng Vĩnh nhưng nhất định với tất cả những người đã hiện diện nơi đây vào thời điểm này, đều không thể nào quên được. – Em… cám ơn các anh… Em ân hận quá… Em đã không nghe lời dặn dò của… mẹ… em… khinh suất nên em chết. Các anh là những người tốt… Em biết… Tốt lắm… Các anh biết thương em muốn cứu… em. Em biết các anh không xấu… Nói tới đây nạn nhân ngước nhìn nhạc sỹ Đông, thều thào tiếp. Thầy ơi… em chết rồi… cầu Trời phù…
Sức nạn nhân chỉ đến đó thôi. Nó quẹo đầu sang một bên để vĩnh biệt tất cả. Cái ý nghĩ ngổn ngang lúc nãy về giọt nước mắt của anh Đông chợt tan biến hoàn toàn trong lòng Vĩnh, vì ngay lúc ấy, chính Vĩnh cũng cảm thấy ngậm ngùi khôn tả; và nếu như không bước nhanh ra ngoài, ai biết đâu chính Vĩnh cũng có thể… Từ lúc ấy cho đến tối, Vĩnh không sao xua đuổi được nỗi thương xót hướng về người quá cố. Chẳng vì những lời nói tử tế sau cùng của người quá cố dành cho bọn Vĩnh, nhưng vì Vĩnh đã một lần nữa thấy rõ rằng thằng nhỏ ấy, vâng, nó chỉ là một thằng nhỏ đáng tuổi em út anh, còn có một con người nguyên vẹn trong lòng. Con người dấu kín trong nó vẫn biết điều ơn nghĩa, vẫn biết tình thầy trò, biết ham học hỏi… Nhưng nó đã bất hạnh. Nó sinh ra và chưa một lần có dịp được sống bằng con người thật của nó. Vĩnh nghẹn ngào với ý nghĩ không biết đến bao giờ anh và các bạn mới có đủ điều kiện, đủ phương tiện để cứu những thế hệ lầm than vô cùng đang thương xót ấy ra khỏi cái guồng máy cộng sản phi nhân, tăm tối và bạo tàn kia!? Một tuần kế tiếp, theo sau cái chết của tên vệ binh, một hiện tượng khác lại xảy ra làm lũ tù bệnh, đám bác sỹ “ngụy” lẫn khối mộc đều kinh ngạc, và có lẽ còn kinh ngạc hơn buổi nhìn thấy bọn vệ binh chơi bóng chuyền cứ lờ tịt đi chuyện cấp cứu một đồng chí đang lâm nạn; sự kinh ngạc ấy là, tên trung úy chính trị viên của K.4 đi cùng quản giáo của khối mộc, xuống tận khối mộc và kêu khối trưởng ra giao ban đột xuất. Sau khi giao ban, khối trưởng quay vào nhà và chọn mấy anh chàng khéo tay nhất khối hội ý. – Theo ước vọng của người quá cố được các anh vệ binh kể lại, rằng người quá cố đã nhiều lần ước ao có được một cây đàn guitar. Nay ban chỉ huy và ban quản giáo K.4 kiêm bệnh xá và K.30 chỉ thị khối mộc phải thực hiện gấp trong hai ngày một cây đàn guitar. Cây đàn ấy sẽ được đốt cúng trên phần mộ của người quá cố! Sau cái biến cố giấu heo lậu khiến một vệ binh chết, rồi đưa đến chuyện cán bộ Đảng công khai chơi trò “duy tâm” kiểu “ngụy”, bọn tù bệnh xôn xao nghe ngóng những biến chuyển xảy ra nơi các trại từ K.1 đến K.5. Đầu tiên một số lớn anh em từ Katum được chuyển về và hầu hết được dồn vào K.4; kế đó một số khác từng được đưa đi lao động ở Trảng Bom cũng được triệu hồi về lại các K. Riêng bên bệnh xá, đùng một cái ông bác sỹ Các được thả (?) cùng lượt với ông già Lợi tê liệt và anh chàng Chiêu bị thương nơi bộ phận sinh dục. Tin từ K.5 đưa qua cho Vĩnh biết Kim xã xệ, người bạn đồng quân chủng với Vĩnh cũng đã được thả với mấy người khác. Chuyện có một số người được thả lại một lần nữa được bọn quản giáo các K đồng loạt dùng làm lợi khí tuyên truyền và mở những đợt thi đua làm sạch làm đẹp nơi ăn chốn ở. Thối nhất là việc chúng dùng hệ thống loa được gắn trên tất cả các K, để tường thuật những kết quả của bọn vệ binh đang lập các thành tích (bọn tù không đoán nổi là loại thành tích gì!) để được tham dự một cuộc chạy đua tưởng tượng. Cuộc đua này có tên là Cuộc Đua Về Thủ Đô Thăm Lăng Bác. Ban đêm đã khó ngủ, lại cứ phải nằm nghe “đồng chí A tổ Quyết Thắng của T3 ngày qua đã đạt thành tích 250 điểm, tính ra cây số là 25, vị chi từ ngày khởi hành đồng chí chỉ còn cách thủ đô dấu yêu 460 cây số!”. Hoặc giả “đồng chí B tổ Tiến Nhanh ngày qua đã lập kỷ lục mới 360 điểm, tính ra cây số là 36, đồng chí B rất có thể sẽ bắt kịp đồng chí C, người đang dẫn đầu hiện nay trên đoạn đường Nghệ Tĩnh – Thanh Hóa.”…
Bọn tù rầu rĩ than thở với nhau. – Xã hội này từ ăn, mặc, yêu đương đến cả vấn đề du lịch cũng đều xảy ra trong tưởng tượng cả! Nhưng rồi những chuyện bực mình ấm ớ về đêm như vậy không có lý do để tồn tại. Bọn tù khắp nơi hầu như dồn hết thì giờ vào việc tụm năm tụm ba bàn tán những tin tức mà những anh em từ Katum đưa đến. Theo những anh em này cho biết, sở dĩ họ bị lôi đi khỏi vùng biên giới Việt-Miên vì chiến tranh giữa hai nước “anh em ruột thịt xã hội chủ nghĩa” đã bắt đầu khởi sự. Từ biến cố này, bọn tù “ngụy” tha hồ suy luận và bắt đầu mơ ước trở lại. Một buổi sáng trung tuần tháng Chín, Vĩnh thình lình được kêu lên ban chỉ huy bệnh xá và K.30. Trước khi rời cổng bệnh xá, Chung Văn Nhỏ chúc mừng vài câu và bác sỹ Châu nháy mắt nói nhỏ. – Bệnh xá đề nghị cho anh coi như hiệu quả rồi đấy. Nhớ trước khi họ khám, ráng kín đáo lén ra chỗ vắng nhảy cò cò cho tôi năm mươi cái nghe chưa? Vĩnh đi theo thằng vệ binh dẫn đường. Ít phút sau anh đã được đưa vào ngồi trong một gian nhà tranh nhỏ phía sau ban chỉ huy. Gian nhà tranh trống cả bốn phía vách. Ngồi nơi đây Vĩnh có thể nhìn xéo ra khu nghĩa địa, nơi chôn rất nhiều anh em tù của Suối Máu trong hơn ba năm qua. Anh cũng có thể nhìn thấy một đoạn đường rày xe hỏa chạy trên một thế đất cao, thấp thoáng qua một khu rừng lau lách. Những ngọn gió đưa tới gian nhà tranh mùi phân, mùi nước tiểu, mùi những luống rau ngò rau răm, mùi hôi của lợn và chó, mùi tanh tanh của những xâu đuôi kỳ nhông chưa khô hẳn móc phơi trên một hàng rào thép gai gần đó, mùi ẩm mốc của những nền nhà đắp đất… Vĩnh ngồi xuống một cái ghế đẩu, tự lắng nghe những câu hỏi đang nẩy ra trong đầu. Quang cảnh này bỗng một lần nữa nhắc Vĩnh nhớ đến hồi ở Trảng Lớn, được cách mạng ưu ái mời vào một gian nhà tranh để hỏi tội về cái hồ sơ man khai tí đỉnh. Nhưng dù sao cái gian nhà ấy kín đáo hơn, và câu chuyện lại xảy ra vào lúc tối trời. Quang cảnh này có lẽ giống hồi ở An Dưỡng. Lúc ấy Vĩnh cũng từ phòng cách ly của bệnh xá được thằng an ninh trại 4 lôi lên một căn nhà trống tương tự căn nhà này bợp tai đá đít về tội… xì ke (!), theo đúng như lời báo cáo của ông bạn đồng thân phận Phạm An Toàn. Tệ hơn hồi Trảng Lớn, thằng an ninh còn tặng vào mồm Vĩnh một báng súng và phải gửi lại nơi ấy một cái răng nanh làm kỷ niệm suốt đời. Vĩnh cố lắc đầu xua đuổi những trận đòn ấy ra khỏi đầu óc. Anh tự nhủ: Không! Mình đang được ra trình diện hội đồng y khoa của tụi nó mà! Rồi thì “hội đồng y khoa” sau cùng cũng xuất hiện. Chúng cũng gồm ba thằng. Ba thằng này đều lạ mặt với Vĩnh cả. Thực ra, từ hồi nằm bệnh xá, Vĩnh chưa hề biết mặt thằng quản giáo của bệnh xá là thằng nào. Mang máng một lần, trong lúc ngồi trên phòng khám bệnh đợi chích thuốc, một thằng mang quân hàm chuẩn úy bước vào nói chuyện với mấy ông bác sỹ “ngụy”. Không hiểu vì chuyện gì, một lúc sau hắn hồn nhiên hỏi bác sỹ Cường.
– Này anh Cường! Trong các anh ở đây đã có anh nào có cấp bằng tiểu học chưa nhỉ? Nghe hỏi, không riêng ông Cường mà các ông khác đều nghệt mặt ra. Sau cùng, ông Cường đánh trống lảng bằng cách quay lại bọn tù bệnh, hỏi khơi khơi. – Này mấy anh! Anh quản giáo hỏi mấy anh ở đây đã có ai có bằng tiểu học chưa?… Lần ấy là lần duy nhất Vĩnh thoáng nhìn thấy khuôn mặt đần độn của thằng quản giáo. Từ đó về sau, anh không có dịp nào gặp lại nên quên mất. Bây giờ ngồi nhìn ba thằng Việt cộng trước mặt, quả Vĩnh không biết chúng là cái gì. Bác sỹ? Quản giáo? Thế nhưng chỉ vài phút sau Vĩnh không thể không than thầm trong bụng. Câu nói của cổ nhân quả đúng tuyệt đối. Họa vô đơn chí! Ba thằng trước mặt Vĩnh chẳng phải là bác sỹ, cũng chẳng phải quản giáo; chúng là bọn cán bộ an ninh từ “trên” xuống làm việc! Sau khi giáo đầu phần mục đích yêu cầu, một thằng nhập đề ngay. – Mấy ngày nay anh đã thấy rõ chính sách khoan hồng trước sau như một của cách mạng thể hiện cụ thể ở trại ta, và trước mắt ở ngay bệnh xá. Anh Các, rồi mấy anh gì nữa nhỉ? À anh Chiêu này, rồi cái anh tê liệt nữa; mấy anh ấy do sự thành khẩn khai báo, thành khẩn ăn năn xám hối những tội lỗi đã phạm với đảng với nhân dân, đã tích cực phấn đấu học tập lao động cải tạo tốt, đã được cách mạng cho về đoàn tụ gia đình, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ Quốc. Riêng anh, đáng lý anh cũng được cách mạng chiếu cố lần vừa qua đấy! Nhưng vì trong hồ sơ còn vài điểm lấn cấn chưa thông suốt, nên Trên quyết định sẽ cho về đoàn tụ ngay sau khi anh khắc phục mọi khó khăn, thành khẩn khai báo lại một lần cuối bản tự khai của anh. Tên cán bộ an ninh nói tới đây ngó đăm vào Vĩnh, hỏi tiếp. Sao? Yêu cầu của cách mạng như thế anh thấy thế nào? Vĩnh cố bình tĩnh. – Vâng, có gì thì tôi đã khai hết từ lâu rồi. Nếu cách mạng muốn tôi khai lại tôi sẵn sàng ngay. Tên an ninh ngồi giữa bỗng chen vào. – Ba năm qua anh đã làm 14 bản tự khai. Chúng tôi biết đọc mà. Thế nên cách mạng biết các bản tự khai của anh có nhiều ưu điểm là khá giống nhau và cự li sai biệt không xa nhau lắm. Nói chung chung là tốt. Thế nhưng sau lần làm việc của ban an ninh trại L4T3, bản tự khai của anh vẫn khuyết một điểm quan trọng chưa được bồi dưỡng. Vậy thì là hôm nay, Cách mạng gọi anh lên đây để yêu cầu anh khai chi tiết về những cơ sở văn hóa đồi trụy và phản động của ngụy mà anh từng cộng tác hoặc được biết tới. Nói rõ nhiệm vụ, chức năng và lợi nhuận mà anh từng được hưởng khi cộng tác với các cơ sở văn hóa ấy. Anh đã viết bao nhiêu bài báo đả kích bôi nhọ cách mạng? Đã viết và in bao nhiêu sách? Loại gì? Số quyển lưu hành? Nộp lưu chiếu ở đâu? Ngày tháng nào? Nhất là… Nói tới đây hắn lại ngó đăm đăm vào mặt Vĩnh, rồi giở giọng ve vãn tiếp. Nhất là khai báo thành khẩn bọn cầm đầu các ổ tuyên truyền phản động, tay sai bọn CIA gài lại hoạt động chống phá cách mạng.
Rồi thì bọn chúng bỏ đi, để lại Vĩnh với mấy tờ giấy và bút mực. Một lần nữa, Vĩnh phải khai bổ túc vài điểm về “văn hóa đồi trụy” cho các bản tự khai trước đó. Dĩ nhiên bản bổ túc của Vĩnh chẳng có gì nhiều hơn một số sách của anh đã viết hoặc dịch từng được xuất bản dưới chế độ cũ. Bản bổ túc, sau cùng được nộp vào lúc các trại sắp phát cơm trưa. Tên an ninh tiếp nhận bản tự khai với một chút nhíu mày nhưng thật may mắn, hắn cho Vĩnh trở về bệnh xá mà không đòi hỏi thêm một cái gì nữa. Với sự buồn bực trong lòng, Vĩnh trở lại bệnh xá trước sự thăm hỏi của các bác sỹ và các bạn. Ông Châu hý hửng. – Theo đúng bài bản đấy chứ! Vĩnh ngao ngán. – Ông thầy muốn nói bài bản gì? – Thì phải nhảy cò cò chừng năm mươi cái! Vĩnh bỏ ra khỏi phòng khám bệnh, nói khẽ. – Tôi đã ra hội đồng an ninh chứ không phải hội đồng y khoa, bác sỹ ạ! Khi về phòng, Vĩnh thấy thêm một bệnh nhân vừa được khênh từ K.5 sang. Hai người khênh võng còn ngồi dựa lưng vào vách tôn của dãy cách ly nghỉ mệt. Một người chợt thấy Vĩnh chợt reo lên. – Vĩnh! Vĩnh nhận ngay ra người gọi mình là Phạm Ngọc Đông, hải quân trung úy từng ở đội 19 hay 20 bên K.5. Đông tính tình hiền lành, mặt rỗ hoa, vóc dáng cao lớn khỏe mạnh. Vĩnh không chơi thân với Đông nhưng Đông lại chơi thân với Kim. Thỉnh thoảng gặp nhau nói dăm ba câu chuyện về thời thế rồi thôi. Thình lình gặp nơi đây, Đông thuật lại vài chuyện cho Vĩnh nghe về tình hình chung bên K.5. Đông cũng xác quyết với Vĩnh là gia đình Kim đã chạy hết mười lượng vàng mới cứu được Kim ra khỏi vòng rào trại cải tạo kỳ rồi. Cũng trong lúc trò chuyện tay đôi, Đông cho Vĩnh biết một kế hoạch rất mơ hồ, theo đó có một số anh em trẻ đang ngấm ngầm liên kết với nhau làm cuộc nổi loạn lớn trong tương lai ngay tại trại Suối Máu này. Đông cũng hỏi Vĩnh có quen ai thân bên K.30 không? Nghe Đông nói những chuyện mơ hồ như vậy, quả tình Vĩnh cũng chỉ nghe để mà nghe. Anh lắc đầu và nói rằng không quen ai quá thân bên K.30 cả, trừ một người tên Nông Hải Sơn, nhưng hắn là một nhà tử vi và rất tin vào tướng số. Chắc chắn Sơn sẽ không bao giờ cãi số để bạo loạn một khi hắn đã từng khẳng định rằng số hắn còn lâm vòng lao lý lâu dài. Buồn vui, khóc cười, nhục nhằn, cơ cực nơi trại tù Suối Máu bỗng kết thúc thật bất ngờ hai ngày sau khi Vĩnh bị an ninh gọi lên bổ túc bản tự khai. Ngày 18 tháng 9 năm 1978, cả bệnh xá chỉ có một người ho lao ra máu là Phạm Vĩnh được lệnh thu đồ đạc thật nhanh vào bao bị. Tất cả những gì rườm rà như lon cóng, đàn địch… phải bỏ lại hết. – Về! – Mày được về rồi Vĩnh ơi! – Mừng cho cậu! – Ráng giữ sức khỏe. Khi nào rảnh biên thư vào thăm anh em nhé! – Tây đi! Đừng dại dột mò vào đây nữa! Mười ba tháng ở Suối Máu. Và nơi đây, nơi cái bệnh xá có ba dãy nhà tôn và một dãy nhà bếp, có cái giếng nước giữa sân, có cái cầu tiêu dòi bò trắng đất… Vĩnh đã sống đến tám tháng trời. Ra đi thình lình thế này, quả Vĩnh xúc động không cầm được nước mắt. Những người bạn tốt bụng bên khối mộc; những ông bác sỹ tuổi đời lẫn tuổi lính đều vào bậc niên trưởng tận tình chăm sóc anh em trong cơn đau yếu; những người bạn lê lết bên khu thường bệnh; những người bạn sống cũng như chết rồi bên khu cách ly…; tất cả như những vết mực tàu hảo hạng xâm đậm nét ngay trong trái tim yêu thương của Vĩnh. Về ư? Chưa biết nhưng mong như thế quá sức. Nhưng dù về hay gì gì đi nữa, những con người và cái bệnh xá Suối Máu này sẽ suốt đời không bao giờ phai nhạt trong tâm khảm Vĩnh.
Phút cuối cùng nhất, có một điều hơi phiền xảy ra cho Vĩnh. Cái túi thực phẩm khô do gia đình tiếp tế cho anh, vì bị ướt một góc, anh đem móc phơi trên hàng rào giữa khu cách ly và K.4, quay đi quay lại đã biến mất. Tiếc một điều là trong đó có cả một ít giấy tờ lẫn hình ảnh vợ con anh. Rồi thì Vĩnh được hướng dẫn trở về K.5. Khi xách đồ ra khỏi dãy cách ly, Vĩnh đi thật nhanh để thoát cặp mắt rươm rướm của Chung Văn Nhỏ. Vĩnh thoáng thấy hình như bên K.4 cũng có vài người đã sắp sẵn đồ đạc và ngồi đợi một cái gì ngay nơi cổng trại, kế hàng rào chỗ Vĩnh vừa mất túi thực phẩm khô. Họ cũng được thả như mình chăng? Vĩnh tự hỏi. K.5 lại hiện ra trước mắt Vĩnh. Ba cái Molotova đã đậu sẵn nơi vuông sân cát trước bộ chỉ huy tự bao giờ. Vĩnh mệt mỏi băng qua cổng trại rồi tiến về phía hội trường, nơi xưa kia Vĩnh từng quét dọn mỗi ngày với Huy, Ý, Dương. Khi bước vào hội trường, anh thấy trong đó đã có sẵn cả trăm người xếp hàng tư ngay ngắn. Dưới chân họ cũng có những túi quần áo gọn gàng như của Vĩnh. Vĩnh nhận ngay ra trong số người ấy có cả Huy, Ý, Dương và cả Điểu. Anh thầm nghĩ trong bụng thôi thế là đủ bộ rồi! Bạn bè cũ đưa những ánh mắt nửa thăm hỏi, nửa chào đón. Ngoài sân, một vài người đang lồng lên chưa biết giải quyết ra sao với những bầy gà không thể rượt bắt lại của họ. Đây là những con gà, họ từng nuôi những tháng ngày qua, giờ đã sinh con đẻ cái tùm lum… Vào quãng chín giờ sáng, một tên quản giáo từ khung K.5 xuống đọc nội quy quy định một số điểm mà những người sắp ra đi phải nghiêm chỉnh chấp hành. Bản nội quy cho mọi người biết chắc rằng, có một trại mới nào đó ở một nơi nào đó, đang chờ họ đến để tiếp tục phát huy niềm tin tuyệt đối vào chính sách khoan hồng cải tạo của cách mạng vẫn luôn luôn trước sau như một!
Trời tháng Tư tháng Năm là cao điểm nóng ở Biên Hòa. Cho dù trại bệnh được nằm sạp gỗ và sống trong một môi trường không đến nỗi chen chúc nhau như ở các K, hoặc hỏa ngục trần gian như trong các dãy connex, nhưng quãng mười giờ sáng, sau khi các bác sỹ khám bệnh là bọn tù bệnh đã lục đục kéo nhau ra giếng tắm. Bên ngoài bờ giếng có một cái chảo sứt quai thật lớn của nhà bếp thải ra dùng để chứa nước tắm cho tù bệnh. Theo đúng nội quy của bệnh xá, các đấng bác sỹ “ngụy” còn kiêm cả nhiệm vụ kéo nước cho tù bệnh tắm; tuy nhiên, ở bệnh xá mấy tháng, Vĩnh chỉ thấy ông bác sỹ Khái, bác sỹ Châu hoặc bác sỹ Nam chăm làm việc này để phục dịch lũ tù bệnh (có thể ba vị này đã vào tuổi năm mươi cả, cái tuổi tương đối bớt tự ái vặt và nhẫn nhịn?), còn mấy ông bác sỹ trẻ thì hiếm khi các ông ấy chấp hành đúng nội quy quy định về việc này. Riêng bọn tù bệnh, mỗi lần ra giếng tắm, chính bọn cách ly như Vĩnh lại là bọn không cần phải làm phiền tới ai cả; điều ấy có nghĩa là tự đi ra giếng, tự kéo nước lên và tự tắm rửa lấy được. Thế nhưng bên dãy thường bệnh thì khác. Đúng như ông bác sỹ Các (một ông bác sỹ làm biếng nhất trong những ông bác sỹ!) nói, họ là “cái rắc rối của cuộc đời!”. Mà quả vậy! Không rắc rối sao được một khi Chiêu muốn tắm? Chao ôi! Cả chục ông bác sỹ phải khuân anh ta ra giếng, người cởi đồ, người tháo băng, người múc nước, người kỳ lưng, người rửa đít… Đến ngay nhạc sỹ Nguyễn Văn Đông cũng đã là một cái rắc rối khá to rồi. Anh Đông đi đứng không được. Mấy ông bác sỹ lại phải chạy qua khối mộc nhờ một tay to con tốt bụng cõng hộ anh ra bờ giếng. Chỉ cần thế thôi vì khi ra tới bờ giếng rồi, anh vẫn có thể bò ngang bò dọc để múc nước từ cái chảo ra tắm gội lấy một mình. Mỗi lần theo các bạn ra giếng tắm giải nhiệt, Vĩnh hay tò mò ngồi ngắm cái hoạt cảnh bi hài đang xảy diễn ra chung quanh. Trong lúc anh Đông ngồi tê liệt một chỗ, đôi mắt nhiu nhíu dưới ánh nắng chan hòa, tay vòng ra sau lưng kỳ lớp da xám xịt vì những dấu sẹo ghẻ còn lưu lại từ một mùa “ghẻ cả nước” năm nào; thì anh chàng Mẫn của K.30, một cựu trung sỹ ANQĐ, người tự xưng là Lã Phi Khanh, dịch giả bộ kiếm hiệp Lệnh Xé Xác (chẳng biết thực hư?) thao thao bất tuyệt về ngón Di Ảnh Kỳ Hình của một nhân vật chưởng mà anh từng dịch, về những giai nhân tuyệt sắc trong truyện Tàu anh đọc (dù lúc còn sống, ông cụ Hòa đã quả quyết với Vĩnh “Lã Phi Khanh tôi chưa gặp bao giờ nên không biết xừ ấy có thực là Lã Phi Khanh không, duy có điều tôi thử va vài lần, thì tôi biết chắc va dốt đặc, không biết một chữ Tàu nào cả!). Hoặc giả cũng ngoài bờ giếng, Vĩnh có thể vừa tắm vừa ngó mấy anh nuôi bếp K.30 nhồi bột ngay cạnh dãy cầu tiêu đầy ruồi và dòi bọ trắng mặt đất. Những con gà của tù nuôi đứng mổ ăn từng con dòi mập ú ấy. Chênh chếch về phía đầu hồi dãy thường bệnh, anh chàng Mẫn (trùng tên với Mẫn “Lã Phi Khanh” K.30), một tù nhân thuộc diện tệ đoan xã hội (bị bắt vì hút thuốc phiện) được chuyển từ trại Bùi Gia Mập về, bị bệnh trĩ đến độ có thể nói không còn thuốc nào chữa nổi! Anh ta, mỗi lần rời khỏi cái cầu tiêu đầy ruồi và dòi bọ nằm cạnh bếp K.30, phải bò trên đất mới về được tới cửa phòng. Về tới đó, anh còn phải ngồi xổm cả nửa tiếng đồng hồ, chờ cho khúc trực tràng sa ra ngoài, đỏ lòm những máu mủ và phồng to như một cái bong bóng lợn, từ từ teo lại và rút vào bên trong, lúc ấy anh mới đứng lên, xanh lét và run rẩy lết về chỗ nằm! Cũng từ chỗ bờ giếng này, Vĩnh có thể nhìn qua lớp kẽm gai sét rỉ sau dãy cầu tiêu và thấy rất rõ sinh hoạt của một góc K.3. Cũng những luống cải tưới phân tươi đầy ruồi, cũng dãy cầu tiêu xây bằng gạch đỏ còn sót lại từ chế độ cũ, cũng những dãy nhà tôn nóng bức và ẩm thấp làm nơi ăn chốn ở cho tù, cũng một hai vuông sân bóng chuyền nhưng tù chẳng bao giờ có bóng mà chơi, cũng những hình nhân vất vưởng ốm đói, cũng những thằng quản giáo mặt mũi lầm lì và đần độn lâu lâu quẩn qua quẩn lại nơi khu bếp tập thể như muốn ăn trộm một cái gì…
Mấy ngày nay, ngoài những hoạt cảnh quen thuộc trên, Vĩnh và các bạn còn phát hiện ra bên K.3 có thêm một hiện tượng mới. Từ trong một dãy nhà trống (có thể là hội trường của K.3), lâu lâu lại vang lên những câu chửi rủa thật rùng rợn. Nhiều khi những câu chửi ấy “xúc phạm một cách nghiêm trọng” đến cả “bác Hồ kính yêu” nữa. – Ối trời ơi! Tao đã nói tao tên là Hồ Công Min. Tao không phải là Hồ Chí Minh. Thằng Hồ Chí Minh nó chết thúi bỏ trong cái A Tăng Tì ngoài Ba Đình ấy. Còn tao là Hồ Công Min! Hồ Công Min!… Sau những câu chửi rủa thường có tiếng vật lộn, tiếng ú ớ của một người bị nhét giẻ vào miệng. Cũng có khi vang lên những tiếng huỳnh huỵch của người bị đánh bằng báng súng vào lưng hoặc bị đá vào bụng. Một buổi trưa, sau những câu chửi rủa la hét như mọi ngày, Vĩnh và những người bên trại bệnh đều nhìn thấy một người trần truồng thoát chạy ra khỏi dãy nhà trống một đầu hồi bên K.3. Người ở truồng ấy chạy thục mạng về phía những luống rau cải xanh nằm gần hàng rào ngăn đôi trại bệnh và K.3. Đầu tóc bờm xờm, thân thể dơ dáy, mặt mày lem luốc, bụng có vẻ bị bệnh chướng; đại thể anh ta là một người đang trong tình trạng điên loạn. Anh chạy như bay đến mấy luống cải, cúi xuống nhổ luôn hai bụi cải và cho lên miệng nhai rau ráu. Vừa nhai anh vừa ngửa mặt cười và nói những điều thật vô nghĩa. Vừa lúc ấy năm bảy người khác, cũng đều là tù cải tạo K.3, ùa chạy đến bên anh và miệng la làng với nhau. – Giật mấy cây cải ra! Trời ơi đừng để nó ăn! Cứt không à! Thế rồi mấy người đó đồng hè nhau nhảy vào vật người cởi truồng xuống đất, giật phăng đi mấy cây cải dính đầy phân người khỏi tay anh. Anh vùng vẫy, chửi rủa, la hét. Nhưng rồi cuối cùng anh đành thúc thủ trước sức mạnh của năm sáu người bạn. Anh bị khênh trở lại dãy nhà… Hiện tượng Hồ Công Min chỉ đôi ba ngày sau đó bọn tù bệnh và anh em bên K.30 đã hiểu hết tự sự: Người điên Hồ Công Min được trói khênh sang bệnh xá vào đúng một buổi trưa nóng như lửa đốt. Min được trói thật chặt, trói bằng dây thừng to bằng nửa cổ tay. Hai vệ binh hướng dẫn cả chục tay tù cải tạo áp giải anh sang bệnh xá. Ông bác sỹ Châu ra nhận bệnh với dáng điệu thật e ngại. Thực ra mấy ông bác sỹ ở đây đã có nhiều kinh nghiệm về những người bị bệnh điên được chuyển qua bệnh xá. Biện pháp này quá vô ích và khôi hài không khác nào hành động đánh bùn sang ao! Một mặt bệnh xá không chữa được bệnh điên, không có cả phương tiện tối thiểu để kềm chế người điên khi cần thiết; mặt khác chỉ gây phiền hà và nguy hiểm cho những tù bệnh vừa đói thuốc lẫn đói ăn nơi đây! Nhưng lệnh nhận bệnh thì vẫn cứ phải vui vẻ mà nhận. Trời tháng Tư tháng Năm bệnh xá vốn đã nóng như một cái lò bánh mì, thêm Hồ Công Min thì lò bánh mì ấy đã muốn biến thành một lò thuốc nổ. Vĩnh đã từng gặp một số người điên trong tù kể từ thời Trảng Lớn lên tới đây. Anh chàng Thân của khối 4 L4T3, một người điên nhưng phát ngôn không điên tí nào lúc anh từ chối làm bản tự khai: “Tao không khai vì tao chẳng có tội với thằng đếch nào cả!”. Anh chàng Trương Hồng từ trại An Dưỡng, một người điên củ mỉ cù mì, luôn luôn bảo đảm ngày công lao động và đạt chỉ tiêu trong mọi công tác khổ dịch; chỉ tội mỗi khi rảnh rỗi, anh lại ngồi tỉ mỉ vẽ máy bay tàu thủy với niềm hy vọng là chính những máy bay tàu thủy ấy sẽ có ngày chở anh thoát khỏi nơi đây. Anh chàng Mẫn của trại An Dưỡng, kẻ tự xưng mình là tân giáo chủ Tôn Giáo Liên Hiệp Thế Giới, bị đánh đập cùm kẹp rồi bị tha luôn ra ngoài Bắc. Anh chàng Phạm Xuân Đồng của K.5, một người điên mà nếu xét trên một vài thành quả, anh còn tài hơn chán vạn người không điên, ấy là đã ba lần trốn trại mò về nhà thăm mẹ và lần nào cũng thành công. Bây giờ Vĩnh biết thêm một người điên mới, người điên Hồ Công Min, một cựu đại đức tuyên úy Phật Giáo của QLVNCH. Bệnh xá có ba dãy nhà. Người điên không thể được vinh dự nằm chung dãy với các bác sỹ, dù là bác sỹ có cùng gia phả “tù ngụy”. Người điên lại càng không nên đặt nằm trong dãy thường bệnh gồm toàn những người tê liệt, bại xụi không thể đi đứng dễ dàng. Giải pháp hay nhất vẫn là tống cổ anh chàng điên vào nằm chung với bọn cách ly là yên chuyện. Một phần khu cách ly rộng rãi, phần khác bọn Vĩnh dù ho lao nhưng hai chân vẫn chạy được khi cần thiết. Có lẽ mấy ông bác sỹ tù đã nghĩ như thế cho nên họ đưa Hồ Công Min vào nằm chung phòng với Vĩnh và Nhỏ.
Vĩnh không có một tí kiến thức nào về phương pháp trị liệu, ngay cả cách đối xử với người điên, nhất là khi họ lên cơn. Hiện nay Vĩnh chỉ biết ông bác sỹ Thiết đã chích chào mừng người điên một mũi thuốc, mà theo ông ta, một con trâu chỉ cần hai phần ba lượng thuốc này cũng đủ ngủ dập ngủ vùi. Ống thuốc khá to. Ngay khi mũi kim được rút ra khỏi đùi, bắp đùi người điên đã nổi ngay lên một múi thịt to tướng. Lúc chích thuốc Min đang lên cơn nên có lẽ anh ta không thấy đau. Sau khi mũi thuốc được rút ra, năm bảy anh bạn bên khối mộc xúm lại đè nghiến Min xuống và trói gô anh vào tấm sạp gỗ. Min gào la, chửi rủa, nhổ đờm nhổ bọt. – Tao là Hồ Công Min. Tao không phải là thằng Hồ Chí Minh. Nghe chửi, một trong hai thằng vệ binh đứng ngoài cửa phòng chợt nhảy vào. Nó giơ cao báng súng và đập lia lịa vào mặt vào ngực Min. Mấy ông bác sỹ và bọn tù bệnh ai cũng thấy đau nhói trong tim trong óc nhưng đành bó tay. Thằng vệ binh vừa dọng bằng súng vào mặt vào cổ người điên, vừa chửi. – ĐM. thằng bố láo! Giả điên chửi nhảm phải không? ĐM. đánh chết cha thằng hỗn láo! Bác sỹ Châu nhanh trí vội làm mặt giận, hét mấy anh em bên khối mộc. – Anh Đào, anh Sơn! Mấy anh kia nữa. Nhảy vào nhét giẻ vào mồm nó đừng cho nó nói bậy nữa! Mấy anh tù đứng ngoài như hiểu ý. Họ nhảy ngay vào và phủ lấy người Hồ Công Min. Tên vệ binh thấy vậy ngừng tay đánh. Nó nhảy ra ngoài vài bước, đứng hằn học nhìn và miệng không ngớt chửi rủa. Một lúc sau miệng Min đã được nhét giẻ. Giờ đây chỉ còn đôi mắt, đôi mắt đỏ như lửa và lạ lùng thay, nó dịu hẳn xuống khi hai thằng vệ binh đã quay gót bỏ đi. Những ngày kế tiếp, lãnh đủ với người điên Hồ Công Min dĩ nhiên là Vĩnh và Nhỏ. Khi Min tỉnh, hai người phải thay phiên nhau dỗ ngon dỗ ngọt để đút cho anh từng miếng bo bo hoặc bột luộc xắt nhỏ. Lúc anh lên cơn, cả hai chỉ có nước ù té chạy báo động. Khủng khiếp nhất là lúc Min lên cơn vào lúc nửa đêm, khi hai người ngủ say. Có lần Min nhảy qua đấm Chung Văn Nhỏ túi bụi, miệng chửi ầm ĩ. – Thằng Hồ già! Thằng Hồ già! Tao trả y bát ăn thua đủ với mày! Hoặc. – Thằng Hồ già! Thằng Hồ già! Cho mày sa A Tăng Tì… Những lúc như thế Vĩnh và Nhỏ tung chăn chiếu chạy ùa ra ngoài sân. Được cái Min không bao giờ đuổi theo. Khi thấy hai người đã bỏ chạy là anh tự động ngồi xuống một góc nhà, miệng lâm râm tụng những chuỗi Phạn ngữ thật lạ tai. Tuy nhiên, sự nổi điên của anh thường không nặng lắm và không kéo dài. Nếu có nặng chăng, theo sự quan sát và nhận định chung của hầu hết mọi người trong bệnh xá, là khi anh thoáng nhìn thấy một cái nón cối, dù cái nón cối ấy do tù hay cai tù đội, đều làm anh nổi điên đến độ hung tợn. Mắt anh đỏ lên như hai hòn máu và lao tới như chỉ để bẻ cổ kẻ đang đội cái nón cối ấy. Khi sự phá phách về đêm của Hồ Công Min chợt tăng lên, cao điểm là anh đã đánh Vĩnh, chụp lấy lon muối mè của Vĩnh để đầu giường ăn ngấu ăn nghiến; thì một biện pháp cần có cho Hồ Công Min được các bác sỹ nghiêm trọng đặt ra: Thương thì thương nhưng vẫn phải tìm cách cùm Min lại!
Khối mộc được nhờ để thực hiện một cái cùm, kiểu cùm có đế gỗ. Và chỉ một ngày sau đó, Hồ Công Min hoàn toàn bó chân ngồi một chỗ. Khi anh tỉnh táo thì hoặc Vĩnh, hoặc Nhỏ, hoặc Nông Hải Sơn dụ dỗ đút cho ăn. Khi anh ỉa đái thì lấy nước tắm gội tại chỗ. Khi anh lên cơn điên cứ mặc anh vật vã với cái cùm dưới chân. Khi anh chửi “bác kính yêu” thì đành đè anh nằm xuống, âu yếm nhét tí giẻ vào miệng anh để cái thân đau ốm ấy đỡ phải quằn quại dưới những cái đấm, cái đá vô nhân của quân thù! Khi cả trại bệnh rỉ tai nhau về những tin đồn xảy ra bên ngoài xã hội, chẳng hạn ông cha Thanh “người hùng chống Thiệu” đã bị cách mạng hỏi thăm sức khỏe tống cổ vào Chí Hòa; hoặc dân Kiến Hòa “đất thép thành đồng” của cách mạng từ Tết đến giờ đã nhiều lần nổi loạn, đặc biệt nghe đâu đã có một hai trại tù được anh em ta mò về giải thoát, lần đầu vào cuối tháng 2 và lần vừa qua vào đầu tháng 5… thì dãy cách ly lại được rước thêm một vị điên mới. Người điên thứ hai này được đem qua từ K.1. Ông này tuổi đã 50. Tên ông là Ái, người Huế, cựu giáo sư Pháp văn, và khi lên cơn ông nói tiếng Pháp thật lưu loát. Tuy nhiên ông Ái là một người điên hiền. Đúng ra ông là một người ngớ ngẩn hơn là điên. Khi lên cơn ông không gào la phá phách. Ông chỉ huyên thuyên nói tiếng Pháp, tuyệt nhiên không ăn uống và luôn miệng van xin “được xử bắn”. Đặc biệt mỗi khi ông nhác thấy một thằng bộ đội hay quản giáo nào đi qua, ông đều chạy lại níu kéo và nói thật lễ độ bằng tiếng Pháp, đại ý. – Thưa anh quản giáo, tôi van nài anh hãy xử bắn tôi ngay lúc này, tại đây. Xin đừng muộn hơn dù chỉ một giây phút, vì như thế tôi chịu không nổi, tôi sẽ… chết mất! Thoạt đầu lũ vệ binh quản giáo điên máu đánh ông trận nào trận nấy gần chết. Chúng nghi ngờ ông giả điên để chọc ghẹo chúng. Lâu dần chúng phải công nhận ông là người mất trí từng cơn, và tống ông sang bệnh xá. Hai thằng ho lao từ đây phải luân phiên phục dịch cơm nước và tắm rửa cho hai người điên. Vĩnh và Nhỏ hóm hém lại càng hóm hém hơn. Mấy ông bác sỹ nhà ta chỉ lo mỗi việc lụi thuốc ngủ vào đùi họ mỗi khi họ lên cơn điên, còn ngoài ra khoán cả cho Vĩnh, Nhỏ và đôi ba người bạn tốt bụng bên K.30. Khi ông Ái bớt điên và được lệnh xuất viện, Vĩnh đã tình nguyện đi theo mấy người bạn bên khối mộc hộ tống ông về tận K.1. Sở dĩ Vĩnh muốn có dịp đi qua K.1 là để ghé thăm một người bạn văn nằm bên đó. Lúc đưa ông về tới trại trời đã tối mịt. Vừa dẫn ông vượt qua cổng Vĩnh đã dặn dò mấy bạn đi cùng hãy đưa ông về phòng và cố đợi Vĩnh một chút nơi cái vườn hoa giữa sân trại. Nói rồi, Vĩnh chạy ngang dọc hỏi thăm anh em về người bạn văn mà anh biết rõ anh ta đang ở trại này. Đi quẩn quanh một lúc, Vĩnh bước vào một dãy trại. Bên trong bạn tù nằm ngổn ngang. Dưới ánh đèn điện tù mù, Vĩnh cúi xuống hỏi đại một người nằm ngay đầu dãy nhà. – Anh ơi, cho hỏi thăm tí. Anh Đinh Tiến Luyện nằm chỗ nào anh? Người nằm ở đầu nhà chỉ tay vào một người đang nằm võng khoảng giữa gian nhà. Vĩnh nhanh chân tiến lại. – Ông Luyện hả? – Ừa! – Hà Thúc Sinh đây! Người nằm võng vội ngồi bật dậy. Tay bắt mặt mừng và hỏi thăm nhau mới được dăm ba câu Vĩnh đã phải vội cáo từ. Anh cho Luyện biết anh nằm bên bệnh xá, khi nào có dịp qua đó, nhớ ghé khu cách ly trò chuyện với nhau. Trong gần ba năm tù, Luyện là người bạn văn thứ tư Vĩnh được gặp. Ngày tháng trôi qua, người điên còn lại là Hồ Công Min cũng được xuất viện. Đại đức Hồ Công Min xuất viện chẳng vì khỏi bệnh, mà vì bọn y sỹ Việt cộng chỉ huy bệnh xá nhất định trả về K.3 với lý do bệnh xá không phải là nhà thương điên, và nhất là không có phương tiện để chữa trị cũng như giam giữ người điên. Từ đó, những trưa nắng ra bờ giếng tắm, bọn Vĩnh thỉnh thoảng lại được nghe thấy những câu chửi quen thuộc vang lên nơi dãy nhà trống một đầu hồi “Tao là Hồ Công Min. Tao không phải là thằng Hồ Chí Minh…”, tiếp theo đó thế nào cũng có những tiếng huỳnh huỵch đi kèm và những tiếng chửi thề tục tĩu của bọn vệ binh K.3.
Rồi cũng có lúc, y như được xem chiếu lại một cuộn phim, Vĩnh và anh em bên trại bệnh lại thấy Min phóng chạy ra khỏi dãy nhà, trần truồng, dơ bẩn, miệng hò hét như một kẻ đang bị một bầy chó dữ rượt đuổi. Anh chạy lại phía mấy luống rau, nhổ đại vài cụm và cho lên miệng nhai ngấu nghiến. Tuy nhiên càng về sau, Vĩnh càng thấy Min mất dần đi vóc dáng của một con người. Anh xanh mướt, mắt thụt sâu và mất thần. Dễ sợ nhất là cái bụng của anh, cái bụng ngày một chướng to trông như một cái trống, nằm nặng nề trên một cặp chân khẳng khiu như hai ống sậy. Vẻ chạy nhảy của anh cũng không còn mạnh và hùng hổ như trước. Anh yếu ớt, xiêu vẹo và số lượng người rượt đuổi theo anh không còn đông như xưa! Thường chỉ một hai tên tù bạn rượt theo đã đủ sức vật anh xuống, nhét giẻ vào miệng để tránh cho anh chửi bậy bạ, hoặc lôi ngược anh trở về phòng một cách dễ dàng. Con người ấy quả thực đã cận kề mộ huyệt! Riêng Vĩnh vẫn tiếp tục được nằm bệnh xá. Công tác hàng ngày hiện giờ là đút cơm cho một ông bạn già. Ông này đã hoàn toàn tê liệt kể từ ngày được khênh từ K.4 sang. Ông đã bị một người bí mật đánh một thanh củi vào đầu khiến bán thân bất toại vì cái tội, theo như anh em bên K.4 cho biết, làm ăng ten cho giặc. Vì cú đánh quá mạnh khiến ông bất tỉnh nhân sự liên tiếp mười ngày trời. Khi tỉnh dậy, ông chỉ có thể bập bẹ nói như một người đã bị cứng mất ba phần tư lưỡi. Những lúc đút cơm cho ông ăn, Vĩnh thấy thương xót ông kinh khủng. Nhưng những lúc ông mê sảng và ngọng nghịu nói những câu như “báo cáo anh… chúng nó… đêm nào cũng… tụ… họp dưới… bếp… tôi nghĩ chúng… nó là CIA…” thì Vĩnh chỉ muốn để mặc cho lão già bẩn thỉu ấy chết phứt cho xong! Thế nhưng để cho một người “chết phứt” coi vậy mà không phải dễ. Vĩnh và Nhỏ vẫn ngày đút cơm cho ông ăn, thay quần rửa đít cho ông lúc ông làm bậy trên giường và đêm đến lại phải nghe những lời báo cáo bẩn thỉu của ông thốt lên trong cơn mê ngủ. Sau đợt thăm tháng Bảy, Vĩnh khỏe hẳn nhờ gia đình tiếp tế thuốc men khá đầy đủ. Những ngày kế tiếp Vĩnh được gặp Hóa, rồi gặp Tiến nơi bệnh xá. Mấy anh chàng này nghe tin Vĩnh đóng đô lâu dài bên bệnh xá nên hễ có dịp đưa người bệnh qua là họ luôn luôn tình nguyện. Anh em gặp nhau hàn huyên và không quên chia sớt cho nhau những món quà gia đình đem vào. Thế nhưng bước vào tháng Tám, cái êm ả đôi lúc cô đơn nơi bệnh xá bỗng bị khuấy động hẳn lên với những cái tin, theo đó ở các K đều xảy ra những cuộc trốn trại có cả thành công lẫn thất bại. Nội cái đám đi xúc than đá bên K.3 cũng đã có hai người trốn thoát. Họ là những người thường được bọn quản giáo tín nhiệm đem theo xe hậu cần ra Biên Hòa xúc than đá về cung cấp cho toàn trại Suối Máu (Thời gian này trại Suối Máu được dùng than đá thay củi). Nhân lúc bọn vệ binh bất cẩn, họ nhảy khỏi xe và lẩn vào chỗ đông dân cư khu chợ Biên Hòa. Hai người thoát. Người thứ ba vô phúc trốn ngay vào nhà một thằng công an khu vực và bị bắt giao lại cho bọn vệ binh trại.
Tuy nhiên, một câu chuyện vượt ngục ngoạn mục hơn có lẽ là câu chuyện vượt ngục của một anh bạn đại úy cảnh sát bên K.1. Nghe phong thanh anh ta là con trai của một chủ tiệm đàn lớn đường Cao Thắng trước kia. Sự vượt ngục của anh đã thành công nhờ ở sự tiếp tay của gia đình. Anh đã bắt liên lạc và hẹn hò với người em ruột, vào mỗi buổi sáng, đem xe gắn máy Honda quần tới quần lui trên con đường chạy trước trại Suối Máu. Thế rồi vào một buổi sáng may mắn, anh được dẫn ra lao động trên vùng đất bên kia con đường nhựa. Người em đã nhận ra người anh và lướt xe qua hớt gọn người anh đi trước bao cặp mắt ngỡ ngàng không kịp phản ứng của bọn vệ binh. Kế nữa là câu chuyện vượt ngục tập thể bằng đường xe hỏa. Một số tù K.4 đi lao động gần đường sắt. Do kinh nghiệm, mỗi lần có chuyến xe lửa chạy qua, dân ngồi trên mui xe lửa thường ném gạch, đá và những đồ dơ bẩn xuống phía những chiếc áo xanh bộ đội lúc họ phát hiện ra bọn này đứng gần đường xe hỏa; vì thế mỗi khi đưa tù đi lao động quanh khu vực này, bọn quản giáo và vệ binh thường đứng cách xa đường xe hỏa một khoảng cách xa đủ bảo đảm an toàn. Dựa vào điểm này, một ngày kia một số anh em lao động K.4 đã tập thể bỏ cuốc bỏ xẻng, phóng nhảy theo đoàn xe hỏa Thống Nhất trước sự ngơ ngác và hoàn toàn bó tay của bọn cai tù… Cũng vì những cuộc vượt ngục liên tiếp xảy ra, bọn y sỹ Việt cộng và quản giáo trại bệnh duyệt xét lại tất cả các bệnh án của tù bệnh. Chúng đuổi về trại một số anh em bên khu thường bệnh. Vĩnh không bị đuổi về trại, ngược lại, theo như lời rỉ tai của bác sỹ Khái, anh và Nhỏ sẽ được ra hội đồng y khoa nay mai. Nghe được tin này, Vĩnh không khỏi không vui trong bụng. Và rồi cùng với Nhỏ, Vĩnh vật một con gà nuôi mấy tháng qua của Nhỏ nấu cháo đãi cả trại bệnh. Khi nồi cháo gà được bưng để trên một tấm sạp trước sự chứng kiến của mấy ông bác sỹ và mấy người bạn thân thiết, Vĩnh mở vung ra. Từ già tới trẻ, từ trên xuống dưới, đồng loạt đặt bát của mình quanh nồi cháo với đôi mắt thèm thuồng. Mùi gà bay quyện trong không khí thơm lừng. Vĩnh thọc hai cái thìa lớn banh thây con gà trong nồi cháo để một phần nước béo trong con gà được hòa vào với nồi cháo. Ngay lúc ấy, một vài điểm trắng to hơn hạt gạo bỗng từ trong con gà nổi phều lên trên mặt nồi cháo. Chưa ai nhìn thấy nhưng Vĩnh đã nhận ra ngay. Đó là những con dòi, những con dòi ngoài cầu tiêu mà không con gà nào nuôi trong trại tù không biết tới. Vĩnh đang lúng túng thì thêm một số nữa nổi lên. Ông Thiết là người thứ hai khám phá ra. Ông la lớn. – Ối trời ơi hai thằng cha này làm gà bộ bỏ sót bộ đồ lòng hả. Sao dòi không vậy này? Tiếp theo đó là tiếng cự nự, cằn nhằn của mọi người nổi lên. Người bị quy trách nhiều nhất là Chung Văn Nhỏ vì Nhỏ làm bộ đồ lòng, đã quên không mổ phao câu lại còn để nguyên cái bầu diều quăng vào nồi cháo. Thế nhưng, không quá năm phút sau đó, nồi cháo vẫn hết sạch, hết không còn một tí gì…
Đúng mười ngày trước cái Tết thứ ba trong tù thì Vĩnh lại kiếm ra chuyện để được đi bệnh xá. Việc đi bệnh xá vì chứng ho lao ra máu của Vĩnh xảy ra vào lúc toàn trại Suối Máu, đặc biệt K.5, đang nháo nhào lên vì mấy sự kiện đặc biệt. 1. Tù được phát đồ sọc đúng như tin đồn. 2. Chừng hai chục người từ Bắc được đem vào và được để ngủ tạm trên hội trường K.5 một đêm. 3. Một trung tá nghe nói là người từng xin rời Mỹ trở về Việt Nam bằng tàu Thương Tín, bị giam ở Chí Hòa và hiện được chuyển vào K.5 nằm chung với các đàn anh ở đội 20. Buổi chiều trước khi rời cổng K.5, trong lúc đợi ông Triển về phòng sửa soạn vài thứ cần thiết để dẫn Vĩnh tới bệnh xá, Vĩnh may mắn hết sức được trò chuyện đôi câu với những anh em được chuyển từ Bắc vào. Đang loay hoay buộc lại túi quần áo trước cửa hội trường (vì có người mới đến tạm chiếm ngụ, những người cũ bị cấm chỉ bén mảng vào trong hội trường và hai bên không được liên hệ qua lại với nhau) thì một anh bạn tù bên trong hội trường bước ra, chỉ vào mấy người cũ đang kéo nước ngoài bờ giếng, hỏi Vĩnh. – Sao ở đây trông mấy ông “hèn” quá vậy? Vĩnh chới với trước câu nói báng bổ của người anh em. Chưa kịp trả lời thì người anh em đã tiếp luôn. Ngoài Bắc tụi tôi tối kỵ đội cái “bô đi ỉa” kia lên đầu. Thà rằng đội nắng đội mưa đi lao động… Dù chới với nhưng Vĩnh không khỏi không thích thú trước lối nói thẳng thừng và ví von lạ tai của người anh em mới từ Bắc vào. Chính Vĩnh cũng nhiều lần thấy gai mắt trước cái cảnh mấy anh già bần tiện, từ buổi bọn hậu cần thảy xuống các đội một lô nón cối rách cũ của lũ bộ đội phế thải, đã chia chác giành giật bắt thăm để có được một cái nón cối rách đội trên đầu. Bản chất cái nón cối nào có xấu! Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, suốt ngày đội xùm xụp cái nón cối phế thải của kẻ thù trên đầu, trông nó tệ hại và khó coi làm sao ấy! Những người anh em ngoài Bắc mới được đưa vào, quả tình chưa rõ họ thuộc thành phần nào, nhưng với lối nói bộc trực của họ, Vĩnh có cảm tình tức thì. Nghĩ ngợi tí chút, Vĩnh đáp. – Đồng ý là hèn! Ở đây chúng tôi đều hèn cả anh ạ. Có hèn mới tự động dẫn xác đi nộp cho cách mạng! À còn các anh sao vậy? Sao lại được chuyển vào Nam vậy? Một người khác cũng từ trong hội trường bước ra, trả lời thay người bạn của anh ta bằng một câu ngắn ngủi. – Tụi này thằng nào cũng trên mười năm cả. Chúng nó hết gạo nuôi nên thả! Cuộc trò chuyện chưa đâu vào đâu thì ông bác sỹ Triển đã xuất hiện trước cửa hội trường. Ông lên tiếng giục Vĩnh. – Đi thôi! Liên hệ linh tinh coi chừng làm cả tôi mang vạ vịt bây giờ!
Những người mới đến nghe thấy ông bác sỹ Triển nói đều bỉu môi bỏ vào trong. Vĩnh mệt mỏi vác túi quần áo của mình lên vai, lầm lũi bước theo ông Triển sau khi lặng lẽ giơ tay chào mọi người. Trên con đường từ K.5 lên bệnh xá, Vĩnh vừa đi vừa nhìn ngắm bộ quần áo sọc mà ông Triển vừa “diện” lên người. Bộ quần áo có hai màu xanh trắng, may theo kiểu bà ba, sọc chạy theo chiều dọc và chiều ngang của sọc to gần gang tay. Áo không có khuy nhưng có dây buộc. Trước mắt Vĩnh, quả thực bộ quần áo đã không hề làm cho ông Triển lạ lẫm hơn tí nào. Ông vẫn là ông Triển của mọi ngày: Chậm rãi, đẹp lão, sạch sẽ, hơi khó tính với anh em và rất lễ độ với những vệ binh gác cổng. Vĩnh chợt lên tiếng hỏi. – Cái ông về bằng tàu Thương Tín được đưa vào nằm ở phòng bác sỹ hả bác sỹ? Ông Triển vẫn lầm lũi tiến bước. Ông đáp khẽ. – Ừ. – Cấp bậc gì vậy? – Thiếu tá. – Nghe nói là trung tá mà? – Lão trung tá còn nhốt ở Chí Hòa. Họ đưa về đây một thiếu tá và nghe nói hai ba anh cấp úy nữa. Đám cấp úy hình như đưa sang K.1 hay K.2 gì đó. – Sao họ về làm gì bác sỹ nhỉ? Ông Triển đã trở lại với sự yên lặng cố hữu của ông. Ông không trả lời câu hỏi của Vĩnh nữa. Lúc hai người đi tới chỗ ngã rẽ ở góc K.3, một sự việc xảy ra làm ông Triển chùn bước đứng sát vào lề đường. Vĩnh dừng lại theo ông. Trên đường, xế trước cổng K.3 hai người tù đã trọng tuổi đang đứng nghiêm bên cạnh một thùng phân rất lớn có quang có gánh đầy đủ để lắng nghe một thằng vệ binh chửi rủa. Cái cảnh này gần đây không còn lạ gì với tù cải tạo Suối Máu. Chửi không mà ăn thua gì! Ở K.5 chúng còn bắt quỳ ôm cột đèn nữa ấy chứ! Thấy ông Triển tự dưng đứng dạt vào một bên đường, Vĩnh thầm thì. – Đi cho rồi bác sỹ. Chả nhẽ đứng lại để thưởng thức thêm cái cảnh này sao? Ông bác sỹ Triển không trả lời. Thốt nhiên Vĩnh giật mình vì một câu chửi lạ tai của thằng vệ binh vừa cất lên. – Mày, thằng già này này. Từ lâu rồi tao đã chú ý đến cái lông mày rậm rạp của mày. Nội cái lông mày thôi trông cũng đã muốn đánh rồi! Vĩnh nhìn người bị chửi. Ông ta chừng năm mươi lăm tuổi, râu tóc đã bạc nhiều. Vĩnh chú ý nhìn kỹ và nhận ra ông có một bộ lông mày lưỡi mác rất rậm. Không hiểu ông trả lời ra sao mà thình lình thằng vệ binh xốc lại đập luôn một báng súng vào mặt ông. Đến lúc này ông Triển có vẻ đã hết e dè. Ông quàng bước tiến lên. Vĩnh vội vã đi theo. Lúc bước qua gần chỗ thằng vệ binh đứng, dù nó không hề để ý tới, ông Triển vẫn lột thật nhanh cái nón xuống khỏi đầu. Vào tới bệnh xá thì giờ phát cơm chiều đã chấm dứt. Những cái bếp con từ mấy dãy phòng bệnh nhả qua cửa sổ những sợi khói mỏng manh. Nơi hàng rào bên hông dãy cách ly, chỗ tiếp giáp với K.30 tức khối mộc, Vĩnh nhận ra mấy người bạn cũ, trong số có cả Nông Hải Sơn, đang lúi húi nấu nướng. Vĩnh được dẫn thẳng vào phòng nhận bệnh. Giờ này mấy ông bác sỹ cũng đang mỗi người một phần ăn, ngồi trên giường của họ, mặt quay vào vách nhàn nhã nhai khẩu phần của mình. Thấy ông Triển và Vĩnh, bác sỹ Châu nhanh nhẹn bỏ đũa đứng lên. Ông nhìn ông Triển, hỏi. – Khỏe không anh Triển? Ông Triển uể oải.
– Cũng nhàng nhàng vậy thôi. Nói đoạn ông chỉ vào Vĩnh. Bàn giao các ông cái “trung tâm y tế toàn khoa” này đây! Tổ bác sỹ “ngụy” ở đây đã quá rành về Vĩnh. Duy lần này có lẽ có một điều họ không hề biết, ấy là Vĩnh đã thực sự… ho ra máu! Hôm nay bác sỹ Châu trực, thành thử ông đứng lên đưa thẳng Vĩnh xuống khu cách ly như đưa một bệnh nhân đã quá quen thuộc. Vĩnh đặt đồ đạc vào đúng cái giường nằm lần trước. Cả khu cách ly giờ chỉ còn lại mình Chung Văn Nhỏ. Thấy Vĩnh Nhỏ mừng ra mặt. Anh cuống quýt lên tiếng bên cạnh Vĩnh. – Nằm đây nè! Nằm gần đây cho vui nè. Chỗ đó mưa tạt dữ lắm! Vĩnh chưa kịp trả lời Nhỏ thì ông Châu đã dặn dò. – Bệnh anh tôi biết rồi. Kỳ này cho nằm mịt mù. Bây giờ nhập băng với tên Nhỏ ăn uống cái gì đi. Tôi ăn cơm xong sẽ đo máu cặp mạch xem sao. Chỉ nói thế rồi bác sỹ Châu lui gót. Dù đã được Nhỏ khuyến cáo chỗ nằm bị mưa hắt nhưng Vĩnh vẫn không đổi ý. Nằm ngay mé cửa dù gì vẫn thoáng hơn. Chui sâu vào phía trong ngộp chịu không nổi. Vĩnh nhìn sang cái giường trống ngay bên cạnh. Đó là nơi ông cụ Nguyễn Thụy Hòa đã nằm trước kia. Ông Hòa đã chết hôm 17 tháng 12 vừa rồi. Vĩnh đã được nghe anh em kể lại cái chết đau thương của ông. Lúc chết đầu ông rụng không còn sợi tóc và thân thể chỉ là một bộ xương khô. Trước khi chết, ông được biên thư về nhắn người lên thăm. Tuy nhiên vì viết không đúng với nội quy quy định, tên quản giáo trại bệnh kiểm duyệt và xuống hoạch họe ông, ông chửi lại và đêm đó ông mất… Chiếc giường trống bên cạnh như nhắc lại bao nhiêu kỷ niệm Vĩnh có với ông cụ Hòa trong lần nằm viện kỳ trước. Chung Văn Nhỏ chợt lên tiếng thúc hối. – Tui đang nấu mì đây. Lại đây. Lại đây sửa soạn tụi mình đá một bữa mì đánh dấu ngày hội ngộ. Nằm một mình buồn thúi ruột ông ơi! Ngày hôm sau, sau khi chẩn bệnh, bác sỹ Châu cho biết phổi Vĩnh lần này đã bết bát thực sự. Không cẩn thận sẽ là một Nguyễn Thụy Hòa thứ hai. Ông khuyến cáo trong lần thăm tới, phải cầu cứu gia đình cung cấp ngay thuốc chữa lao bằng không nguy to. Đôi ba ngày kế tiếp, khi Vĩnh đã một lần nữa hòa mình được vào nếp sống nơi bệnh xá, thì không khí đón Tết đã thấy phảng phất khắp nơi. Thực ra ở trại Suối Máu không có cái cảnh đón Tết như ở Trảng Lớn và An Dưỡng; không có văn nghệ văn gừng, không múa lân múa võ nhưng không khí đón Tết vẫn thừa hớn hở: Ở đây tù sẽ được thân nhân vào thăm và tiếp tế trước dịp Xuân về. Việc viết thư thông báo cho gia đình vào thăm đã hoàn tất mấy ngày qua. Vĩnh sang bệnh xá và được viết thư báo gia đình lên thăm theo diện bệnh nhân. Ở diện này, người được thăm có rất nhiều hy vọng được gặp gia đình lâu hơn chút đỉnh. Khi đã viết thư thông báo gia đình xong, Vĩnh lại lân la đi thăm các bạn cũ. Ông Nguyễn Bảo Tụng đã xuất viện tự bao giờ. Những người cũ bên khu thường bệnh chỉ còn anh Nguyễn Văn Đông và anh chàng đại úy quân cảnh tên Chiêu. Riêng Chiêu lúc này bệnh đã nặng lắm. Anh ta suốt ngày cởi truồng và đắp ngang mình một mảnh bao cát che ruồi. Mùi hôi thối từ bộ phận sinh dục của anh ta coi mòi còn nặng mùi hơn mấy tháng trước thật nhiều. Chiêu cứ nằm trên võng suốt ngày và chẳng thèm trò chuyện với ai một lời. Dù sao bên cạnh Chiêu lúc này đã có thêm vài người bạn mới. Họ đều là những người nằm chờ chết vì chứng bệnh ghẻ mủ đã tới hồi lở lói toàn thân…
Riêng anh Đông lúc này khép mình dạy nhạc lý căn bản cho mấy thằng bộ đội. Một buổi chiều, Vĩnh nói với anh. – Anh Đông à, anh đau ốm lê lết thế kia còn nhận dạy nhạc cho tụi nó làm gì? Để sức mà nghỉ ngơi! Anh Đông mệt nhọc chống tay ngồi lên trên tấm sạp gỗ của anh, lắc đầu nhè nhẹ. – Phải dạy chúng nó chúng nó mới biết được giá trị của chúng ta chứ… Vĩnh hết ý kiến trước lập luận của anh Đông, một lập luận trước sau chỉ đem đến cho anh sự mệt mỏi cùng cực. Dù quan điểm khác nhau tí chút về vụ dạy nhạc cho mấy thằng vệ binh, tình cảm giữa anh Đông và Vĩnh vẫn duy trì thật tốt. Miếng ngon miếng ngọt chẳng quên nhau. Khi vui vui, anh còn lục thư nhà ra cho Vĩnh đọc. Trong những lá thư ấy, anh khoe có cả thư của một cô ca sỹ học trò của anh, cô ca sỹ Giao Linh. Trước Tết năm ngày thì ngoài khu thăm nuôi đã có những đợt thân nhân đầu tiên vào thăm. Theo lịch trình thăm viếng dành cho các K, bệnh xá mãi 28 Tết mới bắt đầu được thăm và thăm riêng, thăm lâu – Đó là lời nhấn mạnh một cách cực kỳ vui mừng trước đám tù bệnh của đại tá bác sỹ Nguyễn Khái, xếp sòng tổ y sỹ “ngụy” của bệnh xá Suối Máu. Trong thời gian chờ thăm, cũng như các K khác, bác sỹ Cường, hậu cần trại bệnh, bắt đầu bận bịu với những công tác đi nhận thực phẩm cấp phát đặc biệt cho tù bệnh hưởng trong ba ngày Tết. Như bao giờ, trại bệnh không thể cáng đáng được việc nấu ăn, thế nên gà heo rau tươi đều được giao khoán cho bếp K.30 lo giùm. Trước hôm thăm hai ngày, vào buổi chiều, trong lúc ngồi đánh cờ tướng với Chung Văn Nhỏ bên hiên nhà, chỗ nhìn ra con lộ đi lại của K.4, Vĩnh và Nhỏ chợt thấy bốn tên vệ binh lôi một người tù phía ban chỉ huy K.4 đến dãy connex nằm sát hàng rào đối diện với dãy cách ly. Người bị lôi trên đường trông gày guộc xanh xao chứng tỏ đã bị đánh đập rất nhiều. Bốn tên vệ binh lôi anh ta đến trước một connex, mở khóa cánh cửa sắt nặng nề rồi quăng anh vào trong. Trước khi cánh cửa sắt được khóa lại, một tên cất giọng hằn học. – ĐM. mày cố tình phá hoại sản xuất phải không? Tụi tao sẽ quại mày đến trào thịt lợn ra ngoài mới thôi… Chửi xong mấy thằng vệ binh kéo nhau đi. Vĩnh và Nhỏ vội đứng lên. Vĩnh tính chạy một vòng báo động với anh em, nhưng nhìn sang phía khối mộc, anh đã thấy một số anh em đứng nấp sau những bụi Dâm Bụt rậm rạp theo dõi cùng sự kiện bên ngoài đường tự lúc nào. Khi màn ảnh TV trên dãy nhà nhận bệnh được bật lên thì nơi cái connex bên ngoài hàng rào có nhiều tiếng huỳnh huỵch vang lên. Bọn tù bệnh tò mò nhưng không dám ra gần hàng rào khi đêm đã xuống. Tất cả chỉ ngồi trong nhà lắng nghe. Lâu lâu trong connex lại vọng ra ít câu chửi thề tục tĩu và tuyệt nhiên không ai nghe thấy một tiếng rên la nào. -… đánh cho mày chừa…. Mày giết lợn của tổ chức phải không?… ĐM… ai đạo diễn?… Cứ thế, những lời chửi rủa vang lên rồi tiếp theo đó là những tiếng huỳnh huỵch của chân đá, của báng súng đánh vào một thân xác người. Bọn tù bên trong ai cũng thấy xốn xang vì biết chắc có một người bạn đang bị kẻ thù đánh hội đồng trong cái connex ngoài kia. Kinh khủng hơn là ai cũng đoán được người bị đánh hiện đang bị nhét giẻ vào mồm. Đây là lối tra khảo tàn bạo bậc nhất của cộng sản. Ăn đòn mà thở ra được khó chết. Nhưng ăn đòn trong lúc miệng bị nhét giẻ sẽ ứ hơi và chết như chơi. Nông Hải Sơn từ K.30 lần sang chỗ Vĩnh và Nhỏ ngủ. Sơn thầm thì. – Mấy ông biết chuyện gì chưa? -…..!?
– Khi nãy tôi liên lạc được với bên K.4, bên đó cho biết người bị nhốt là một đại úy tên Hiền. Anh ta gốc K.4 và bị giải giao từ Trảng Bom về… Qua câu chuyện Sơn kể, Vĩnh và Nhỏ còn được biết chi tiết tại sao Hiền bị tra khảo dữ dội như vậy. Số là, Hiền được bọn bộ đội giao nhiệm vụ chăm sóc đâu non chục con heo cho chi nhánh K.4 trên Trảng Bom. Sau một thời gian heo được nuôi mập mạp thì chúng khởi sự chết. Nay chết một con, vài ba ngày sau chết thêm một con, rồi vài ba ngày sau nữa… cho đến lúc bầy heo chỉ còn lại hai con. Phân trại 4 trên Trảng Bom nhờ đó được ăn thịt heo đều đều. Đùng một cái có một thằng ăng ten chó đẻ đi mách bọn hậu cần trại, rằng thì là Hiền giết heo để cả trại có thịt ăn; giết bằng cách vài ngày lại bỏ vào lỗ tai một con heo mấy hạt đậu xanh. Heo vốn rất yếu, lắc lư đầu một lúc bị trật xương cổ là hết thuốc chữa. Hiền, do đó đã bị bọn an ninh Trảng Bom cùm và đánh đập tra khảo mấy ngày liền; sau được hoàn trả về cho bọn an ninh K.4 Suối Máu tiếp tục tra khảo. Hiện tại cuộc tra khảo đang diễn ra trong cái connex bên ngoài hàng rào. Bên trong Vĩnh và các bạn đang còn nghe rõ mồm một những tiếng chửi rủa và đánh đập Hiền của bọn an ninh. Ba người gồm Sơn, Vĩnh và Nhỏ ngồi yên lặng lắng nghe. Một lúc sau có vài ánh đèn pin loáng thoáng ngoài phía connex. Tiếp theo có mấy tiếng cằn nhằn và chửi tục nho nhỏ giống như mấy thằng bộ đội đang gấu ó nhau chuyện gì. Rồi thì cửa connex được đóng lại. Chúng bỏ đi. Khu connex được hoàn toàn trả về với bóng tối, với những tiếng côn trùng rả rích khởi sự một điệu buồn về đêm… Sáng ngày kế tiếp, trong lúc trại bệnh và khối mộc thình lình bị trải qua một cuộc kiểm nghiệm đồ đạc cá nhân, thì nơi cái connex nằm bên lề đường đi lại của K.4 lại diễn ra một trò lạ mới. Quãng tám giờ sáng, trong lúc vừa thu đồ trải ra ngoài sân cho bọn bộ đội và quản giáo khám xét, bọn Vĩnh vẫn chú mục theo dõi những sự việc xảy diễn ra nơi khu connex. Cánh cửa connex đã được bật mở. Vì connex nằm chếch về phía ban chỉ huy K.4, nên những người đứng trong sân trại bệnh không thể nhìn thấy những gì đang xảy ra bên trong connex, tuy nhiên, có một điều chắc chắn ai cũng nhìn thấy là bọn cán binh cộng sản đang chụp ảnh rất nhiều góc cạnh từ trong ra tới ngoài connex. Tại sao lại có màn chụp hình chụp ảnh? Bọn tù trong sân trại bệnh đều ngạc nhiên tự hỏi. Ngó mấy thằng an ninh K.4 làm việc rất gấp, cộng với những lời thì thầm to nhỏ của bọn chúng, không nói ra nhưng bọn Vĩnh đều đoán biết hẳn phải có một cái gì khá hệ trọng đã xảy ra… Một lúc sau đó, bên kia cái hàng rào đơn ngăn cách trại bệnh và K.4, chỗ gần cổng ra vào, Vĩnh và các bạn thấy một người ngồi ủ rũ dưới đất. Hình như anh ta đang cố gắng nuốt vào ngực một tiếng khóc đứt ruột. Chưa ai đoán ra chuyện gì thì một cái băng ca được hai thằng bộ đội khênh vào bên trong connex, một lát chiếc băng ca được khênh ra, bên trên có một người nằm và tấm vải bẩn thỉu màu cứt ngựa đắp trên mặt anh ta cho mọi người biết anh đã chết. Đến lúc này anh chàng ngồi nơi cổng ra vào của K.4 hình như không còn cầm được tiếng khóc nữa, anh ta bỗng rống lên như một đứa trẻ, đầu gục vào hàng rào thép gai. Bọn Vĩnh lắng nghe được những tiếng kể lể đứt ruột của anh như sau. -… cách mạng ơi… xin cho tôi được nhìn mặt anh tôi lần cuối cách mạng ơi… anh ơi! Làm gì mà chết khổ vậy anh ơi… ai cũng ăn heo mà chỉ mình anh chết thôi anh ơi… Khi người chết được đưa đi và người than khóc bên K.4 bị vệ binh chĩa súng đuổi vào bên trong, thì bọn tù bệnh đã được khám đồ xong. Vĩnh và Nhỏ lần lượt thu vén đồ đạc mang trở về phòng. Trước vuông sân bên dãy phòng thường bệnh, Vĩnh thấy anh Nguyễn Văn Đông đang bò lên trên đất thu nhặt từng cái lon cái cóng. Lúc này bệnh sưng khớp của anh đã quá nặng, nặng đến độ anh không thể đứng, không thể đi mà chỉ có thể chậm rãi bò từng chút trên mặt đất.
Bọn cán bộ khám xong đồ đạc của bệnh nhân thì khởi sự khám đến đồ đạc của các ông bác sỹ “ngụy”. Ông Khái, ông Cường, ông Thiết, ông Các… đều đang sửa soạn bày “chợ trời” ngoài sân để đợi quản giáo tới khám. Tuy nhiên bọn chúng cũng chẳng ngu gì. Trong lúc mấy ông bác sỹ đang lúi húi thu vén đồ đạc trong phòng khuân ra sân, thì tên quản giáo đã ập vào khám tại chỗ. Người mang họa đầu tiên và duy nhất là ông bác sỹ Châu! Ông Châu đã hàm oan một chuyện mà không thể đính chính với bọn cai tù, ấy là chúng khám trong sắc của ông và tìm ra một số tiền 250 đồng bạc mới. Số tiền này thực ra đối với giới danh vọng giàu có như ông Châu chẳng là bao, nhưng đối với một cán binh cộng sản thì đó là cả một gia tài lớn. Muốn có số tiền đó chúng phải dành dụm trong nhiều năm họa may mới có thể có được. Khi khám thấy số tiền khổng lồ (!) này, chúng đã lôi bác sỹ Châu ra hạch hỏi. Vì sợ liên lụy cho gia đình, ông Châu đã không dám nói thật ra rằng đó là số tiền vợ con ông đã dấm dúi cho ông trong mấy lần thăm trước. Ông sợ nếu khai thật, vợ con ông có thể rắc rối với địa phương, vì chúng sẽ đặt dấu hỏi ở đâu ra mà lắm thế!? Thế rồi chả hiểu nói quẩn nói quanh như thế nào, bọn quản giáo quy ông vào tội “lợi dụng cách mạng ưu đãi cho lên bệnh xá hành nghề chữa bệnh cho các cải tạo viên, đã trổ máu gian tham ngày cũ, ăn thù lao trái phép và nhận hối lộ của các cải tạo viên giả ốm bệnh trốn học tập lao động cải tạo!”. Ông Châu bị mạt sát thậm tệ rồi bị làm tự kiểm. Số tiền 250 đồng của ông rốt cuộc được khung… sung công!
Lần thăm nuôi đã qua để cái Tết thứ ba trong tù kéo đến. Ăn Tết ở bệnh xá hình như không vui nhộn bằng ăn Tết ở K. Câu chuyện xảy ra vào sáng mùng một Tết bên K.5 Vĩnh đã được Nguyễn Đình Tạc tường thuật đầy đủ, lúc hắn và một người nữa khênh một bệnh nhân lên bệnh xá trong một trường hợp cấp cứu. Gặp nhau, Tạc khoe rằng trong lần thăm nuôi vừa rồi, anh đã được cô em gái từ Bắc lặn lội vào thăm. Dù sao điều này cũng đáng vui cho riêng Tạc. Năm 1954, ông cụ Tạc dẫn thằng con trai duy nhất vào Nam tìm tự do. Bà cụ tiếc vườn tiếc ruộng không đi, chấp nhận ở lại với đứa con gái nhỏ. Hơn hai mươi năm sau, theo như Tạc sung sướng diễn tả, quả thực “máu đâu ruồi bâu đấy!”. Sau khi nhấp chút rượu thuốc Vĩnh trao cho (gia đình Vĩnh vào thăm đã tiếp cho Vĩnh một chai rượu thuốc ngụy trang trong một chai nước mắm!), Tạc mới kể tới mấy câu chuyện ly kỳ xảy ra bên K.5. Khởi đầu là chuyện tên an ninh gác khu thăm viếng bị em vợ Bùi Vịnh vác guốc bổ vào đầu vì hắn lợi dụng khám đồ khám luôn người ngợm cô em thế nào đó. Chỉ tội cho Vịnh, đã bị cấm thăm còn bị khung kêu lên chửi bới một trận, rằng thì là… không biết dạy dỗ thân nhân! Hết chuyện Bùi Vịnh lại đến chuyện mấy bà đi thăm nuôi dàn cảnh bợp tai cán bộ nhà nước ngay trên xe đò về tội “rờ ngực gái già giữa thanh thiên bạch nhật”… Tuy nhiên câu chuyện xảy ra đúng sáng mùng một Tết bên K.5 mới đáng nhớ và đáng đi vào văn chương truyền khẩu dân gian. Tạc kể. -… mãi đến chín giờ sáng một thằng vệ binh vào kiểm soát hội trường mới khám phá ra. Trên bàn thờ thủ cấp Hồ Chí Minh, không biết tự bao giờ, đã được một nhân vật vô danh đặt một chén sắn trộn bo bo và dán một câu đối như sau. Mừng xuân đảng nuốt tròn sông núi, Cúng bác tôi nhường nửa chén khoai.
Tệ hại hơn, nơi cằm Hồ Chí Minh dính đầy đờm dãi và được gắn lưa thưa ít cọng râu làm toàn bằng lông bậy bạ lấy ra từ nơi kín đáo của con người! Dĩ nhiên thằng vệ binh nhảy cỡn lên như gà mắc đẻ. Nó phóng chạy về ban chỉ huy báo động ầm ĩ. Rồi thì kế đó chuyện gì đến phải đến. Sáng mùng một Tết con Dê, tức cái Tết thứ ba trong tù, tù cải tạo K.5 trại Suối Máu bị tập trung lên hội trường để nghe tên trưởng trại chửi bới thê thảm. Tuy nhiên càng bị chửi bọn tù càng khoái, vì chính nhờ sự chửi bới này, một vấn đề mà lẽ thường thì phải giấu nhẹm đi thì lại được công khai hóa trước hơn bảy trăm người vốn chẳng lấy gì làm “kính yêu bác” cho lắm. Tên trưởng trại đã nói. Bác kính yêu là một người mà đến ngay kẻ thù cũng phải hết lòng kính trọng, ấy thế mà đêm hôm qua, lợi dụng lúc mọi người chờ đón giao thừa, một kẻ cực kỳ phản động trong trại ta đã dám làm thơ văn nhục mạ bác, lại còn dán cả lông d… lên cằm bác! Thế là, sáng mùng một Tết cả K.5 coi như được lì xì một trận cười miễn phí no nê. Qua Tạc, Vĩnh còn được biết hai chục anh em đã được đem từ Bắc vào toàn thành phần tù binh. Có những người đã bị giam từ 1960 vì bị bắt trong những cuộc nhảy toán thực hiện từ thời đệ nhất cộng hòa. Họ là những người rất can trường và cứng đầu. Đám này đã được chuyển đi và nghe nói họ được đưa về căn cứ Sóng Thần làm thủ tục cho về đoàn tụ với gia đình.
Khoác áo lông xù giả làm tráng sĩ Lên dòng sông đá bước nghênh ngang Cây gậy trúc trông sặc mùi vũ khí Múa tưng bừng vào thinh không giá băng
Khoái thay đời ta một đời quái đản Hai mươi năm xưa làm thằng nhỏ di cư Hai mươi năm sau thành nhà thơ di tản Một đời quê hương khét mùi súng đạn Một đời xót xa bằng hữu lao tù
Khoái thay chân ta những chân phiêu bạt Đi dọc quê hương, đi vòng địa cầu Đi thênh thang thở đồi cao gió mát Đi ngất ngây thương lúa vàng, hương cau Đi hội trùng phùng, đi chia tan tác Đi tràn hạnh phúc, đi ngập thương đau Đi sỏi đá mềm, bếp hồng trước mặt Đi bùng bão biển, quê hương phía sau Những bước thú hoang lạc rừng đất lạ Những bước ngậm ngùi đi chẳng về đâu
Sông không đầu đuôi sông màu đá cục Dưới trên lẫn lộn, trời đất mang mang Ta ngửa cổ làm thằng khùng Bắc Cực Một mình cười cùng thinh không giá băng
Khoái thay hồn ta một hồn dị thường Khi bốc lên: núi lưng trời cũng thấp Khi bi ai: thân cỏ mọn bên đường
Sông dài! Sông dài! Ta đi chẳng hết Thân trượng phu, hừ, mục trong áo cơm? Núi cao! Núi cao! Ta về không đến Chí trượng phu, hừ, chôn trong giá băng?
Trong ví ta này chứng chỉ tại ngũ Mất nước rồi còn hiệu lực hơi lâu Chiều lưu lạc chợt thương tờ giấy cũ Tái tê cười: giờ gia hạn nơi đâu
Trong ví ta này một thẻ căn cước Hình chụp ngay đơ rất mực cù lần Da nhợt nhạt như bị đời nhúng nước Má hóp vào như cả tháng không ăn
Mười tám tuổi thành công dân nước Việt Tên chụp hình làm ta xấu như ma Thằng khốn nạn làm sao mà nó biết Ta sẽ thành dân mất nước tan nhà
Hai mươi mốt tuổi ta đi làm chiến sĩ Bước giày đinh lạng quạng một đời trai Vừa đánh giặc vừa lừng khừng triết lý Nhưng thằng này yêu nước chẳng thua ai
Hình căn cước anh nào mà chẳng xấu Tên chụp hình như một lão tiên tri Triệu mặt khôi ngô bàng hoàng xớn xác Cùng đến một ngày gẫy đổ phân ly
Nhìn hình chim in trên tờ chứng chỉ Chợt nhớ câu thơ Gẫy cánh đại bàng Ngàn lẫm liệt tan trong chiều rã ngũ Muôn anh hùng phút chốc hóa lang thang
Quanh mình xôn xao chuyện thay quốc tịch Ngậm ngùi bày dăm giấy cũ coi chơi Thời cũ ố vàng rách rời mấy mảnh Xót xa đau như bỗng qua đời
Hỡi kẻ trong hình mặt xanh mày xám Người sắp thành tên mọi Mỹ rồi ư Hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm Mày lang thang đất lạ đến bao giờ
Ôi trong ví những người dân mất nước Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ Ôi trong trí mỗi anh hùng thuở trước Còn dậy trời lên những buổi tung cờ
Vách tàu dựng vút lên như núi Một bãi mênh mông sắt thép trùng trùng Hải âu lượn vòng, biển xanh phơi phới Hồn dậy vu vơ một chút hào hùng
Tay búa tay kìm thấy đời chắc nịch Sắt nâng hàng tấn linh hồn nhẹ tênh Mặt mũi lấm lem che đời bí mật Thần trí lang thang cuối bãi đầu ghềnh
Buổi trưa nghỉ nằm chơi trong thùng sắt Ngửa cổ coi trời thấy đúng một khung vuông A, khi không ta biến thành con ếch Đáy giếng sâu mơ mộng rất khiêm nhường
Con ếch không tin đất trời nhỏ bé Biết ngoài kia còn một cõi bao la Lẩn thẩn nghĩ về chuyện đời dâu bể Hay vơ vẩn chờ chút mây bay qua
Nhớ thơ Trường Anh thủa nào khoái đọc (Ông Trường Anh có lạc đến phương này?) “Tiền thân ta phải chăng là con cóc Thơ nghiến răng trời chuyển bốn phương mây.”
Một năm nữa con tàu sẽ xuống nước Tháng ngày nào mới đi qua Biển Đông? Biển Đông giờ này bao thuyền hấp hối Ôi con tàu đến trễ cả nghìn năm
Lòng bắt đầu mơ những điều huyền hoặc Mơ con tàu cảm được những thương tâm Nghe được tiếng đàn bà con trẻ khóc Và xót xa như có một linh hồn
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.