Những chuyến xe

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

1.
Tiếng người chộn rộn. Gà vịt kêu vang rân. Máy nổ hậm hực, chiếc xe đò đứng bên ruộng vắng mãi lắc lư. Trời rất nắng và khói từ ống bô chổng ngược cứ phun từng chặp một cơn suyễn, ho ra khói đen hôi xăng dầu. Gió từ vuông đất xanh cỏ đi lên, mơn man để làm rõ mùi dầu Nhị thiên đường. Con bé ngồi sát ô cửa tóc rối gục đầu che gương mặt hệt tàu lá chuối, nó luôn để lại ám hiệu trên suốt chặng quốc lộ Một chẳng thể chạy suốt, nó ăn thứ gì mà khi nôn oẹ toàn cả đắng cay và chua lét le. Con đổi chỗ cho Dì chứ mày ngồi đó không chừng mà trúng gió rồi đổ đau.

Những giỏ cần xé bị quăng xuống đất, đôi ba kiện hàng được ném lên trần xe. Không lâu có tiếng quát từ trển vọng xuống: Chiếc xe Honda này là của ai? Một người đàn ông bật người ra khỏi chỗ ngồi: Dạ của tui. Ông đứng lên, khó nhọc trườn thân ra tới cửa lên xuống. Có gã thanh niên mặc bộ áo quần màu vàng đón đầu: Cho xem giấy đi đường. Vuông giấy gấp làm tư trải rộng thành hình chữ nhật, hai ba con mộc đỏ có hình ngôi sao khằn đóng bảo chứng cho hàng chữ cuối: Yêu cầu mọi cơ quan dành sự dễ dãi cho đương sự khi đi công tác. Thế giấy chủ quyền chiếc xe, giấy phép được mang ra khỏi địa phương? Người đàn ông gãi đầu, mặt luôn thay đổi độ sáng tối. Da mặt xanh tái khi chiếc xe Honda từ trên mui được đưa xuống bằng sợi dây thừng. Nó là tài sản và khi mang tài sản đi xa cần phải có giấy chứng minh cho phép di dời. Cơ quan chúng tôi nằm sau luỹ tre kia, ông kiếm ra tờ giấy rồi chạy tới đó thu nhận lại chiếc xe. Đứa con gái trước khi đổi chỗ ngồi cho bà Dì còn thò đầu ra cửa mửa xuống đất một bãi nhờn lỏng bỏng đôi ba hột cơm. Thấy chưa, nói có nghe đâu, lột áo ra cho Dì xức chút dầu cho ấm ngực.

Người đàn ông như tỉnh thức, như câu nói của bà Dì kia là một mật khẩu, ông moi từ túi quần ra xấp bạc để dúi vào tay gã công an. Cái gì đây? Ồ, cứ an tâm, tôi hứa sẽ bảo quản chiếc xe ấy, chả mất mác đi đâu mà sợ. Từ đây vào trong ấy có khoảng 12 cái trạm gát, tôi không giữ hộ bác chiếc xe này thì thằng khác cũng kiếm cớ sang đoạt nó. Tin tôi đi, chả mấy ai tử tế bằng tôi đâu. Đi đường mạnh giỏi.

Chiếc xe đò già nua vừa thay con heo dầu đâu tháng trước húng hắng lạch bạch hát tiếp bài ca “đường trường xa con chó nó tha con mèo”. Quê hương vừa thống nhất xuôi ngược hai miền với rất nhiều thương tật, oan hồn lãng vãng giữa trưa đứng bóng lọng chừng đi với Phật mặc áo giấy đi với ma mặc áo cà sa. Động vật thưa vắng suốt liên tỉnh lộ và chim chóc tuồng cũng nhác về chao cánh trên vuông trời ảm đạm có cờ đỏ bay ngập lối hân hoan một cảnh giới rất gần cổng địa ngục. Thôi chết, dầu Nhị thiên đường lóng rày coi mòi như giả mạo, sao xức cạn chai mà người mi cứ lặt lè như cọng bún thiu. Khổ thân! Hay gió máy giờ đây cũng hung hiểm, lơ ngơ đưa đầu trần dễ dính chấu đoàn viên cùng ông bà cha mẹ từng sống khôn thác thiêng một cuộc bể dâu nào.

2.
Chiếc xe đò êm ru tấp vô khoảng sân xi-măng có kẻ từng đường sơn vàng. Người tài xế nói hai thứ tiếng Pháp-Anh: Đã tới biên giới, yêu cầu quý vị xuống xe trình giấy tờ cho nhân viên cửa khẩu. Người đàn ông sắp hàng không mấy lâu thì tới phiên. Sau bệ chắn có người mặc sắc phục, lá cờ Mỹ may một bên tay áo: Ông Ngu you uên tính đi đâu đây? Nguyễn Văn Tình đáp, tiếng Anh không chuẩn cũng chẳng cần chỉnh: Tui đi New York. Nguyễn cầm thêm ở tay, cho chắc ăn, một cái thiệp cưới màu đỏ in loè loẹt những chim phượng những rồng vàng những song hỷ những họ hàng đôi bên đuề huề một sánh đôi trăm năm đầu bạc răng long. Qua bển làm gì thế? Sorry… ờ tui đi ăn đám cưới con cháu. You know, nó mới lấy chồng. Tính ở lại lâu mau? Dạ, đâu chừng năm bữa, một tuần là cao tay. Có mang theo những thứ tựa như rượu, thuốc lá, trái cây nói chung là thực phẩm? Hổng có đâu, tui chủ trương đi mạng không là kế sách vẹn toàn, kinh nghiệm quá mà! Lôi thôi nhỉ! Chúc vui vẻ toàn gia, tiệc cưới suông sẻ. Người kế tiếp.

Nguyễn Văn Tình đón lấy giấy tờ tuỳ thân, tiếng Tây tiếng u chẳng ghi chú “yêu cầu mọi cơ quan liên hệ dành sự dễ dãi cho đương sự”. Chịu chơi hết biết, sao nó chẳng hoạnh hoẹ làm khó để bắt mình chùng vụng đút lót một cái phong bì. Tổ cha cái bọn tư bản dẫy chết, hèn chi mà chịu cởi giáp quy hàng lực lượng nhân dân Việt Nam anh hùng oanh liệt trong hai trận đánh thần thánh sạch bóng quân xâm lược. Rách cái lai quần vẫn say máu đánh đấm và người vượt biển từ chết tới bị thương không tài nào đếm xuể.

New York là thành phố không biết chuyện ngủ, rậm rật suốt. Hoặc nó ký hợp đồng kiểu như Cuba ngủ thì Cucon thức để canh giữ cho hoà bình nhân loại, máu đến thế thì thôi! Điện thoại di động bật mở, Nguyễn Văn Tình đứng giữa gió lộng ngập mặt mùi phồn hoa đô hội hét tướng vô cái iPhone: Tui vừa xuống tới bến xe, sao dòm quanh quất chả có con ma nào bỏ công ra đón, đời thằng Tình này vẫn chúa ghét cảnh vất con bỏ chợ. Anh đừng nóng, New York chớ có phải Sè-gòn quận 10 ra quận 1. Nó mênh mông chi xứ nên buộc lòng nó phải chạy quàng xiên, thằng cu Tommy lái xe rất xịn, hổng chừng anh vừa dập máy là xe nó rà sát bên hông. Có sôi ruột thì đốt thắp điếu thuốc mà ngó khói huyền bay lên cây. Sao rồi, mọi chuyện đã đâu vào đó? Nói dậy mà hổng phải dậy, lu bu như du kích quân mà việc đâu cứ bầy hầy ra đó, nội cái chuyện may chiếc áo đẳng cấp cũng phải mang đi sửa những ba bốn dạo mới chịu ôm bó thân mình, khổ thế. Chưa kể thực đơn nhà hàng, cứ thêm bớt thay đổi xoành xoạch vì có mấy mống dứt khoát phải đòi thức ăn chay mới chịu nhá, khổ thế! Anh nhìn em chắc hổng ra, dạo này hư người trông ốm o như con mực ống. Này, nghe anh tâm sự đây này, anh tính lì xì đôi uyên ương 50 đô mà sợ chúng chửi, mất linh; không ấy em cho anh mượn chút chút để bỏ thêm vô để khỏi mất mặt bầu cua. Đời người có một lần sang ngang, nói em nghe, anh sang biên giới kỳ này cũng phải chịu mẻ đi một nạm tiền. Khó khăn này ai chịu hiểu cho! Được rồi, ngày xưa bọn em mang ơn anh cũng đã bộn bề, mấy lượng vàng ngồi trên ghe hình như cũng chưa chịu thanh thoả. Anh hy sinh nhiều thứ quá, căn nhà bị đoạt, vườn tược bị soán, thậm chí chiếc Honda bỏ trên mui xe đò cũng bị chúng lấy. Haizz, nghe như chuyện dài nhân dân tự vệ.

Tommy tới, để tóc kiểu kỳ lạ tránh đụng hàng. Mặc bộ vest cũng rắc rối y như mấy danh ca hải ngoại lùng tùng xèng. Được cái hắn biết nói tiếng Việt, chút chút kiểu thịt ba rọi, nghe rất đã cái lỗ tai, sướng vãi. Du đợi lâu hôn? Mi đi đường mòn, lúc lai đường chim bai. Very nhanh. Lên xe đi, trói dây lại. Có hân-ry thì cứ nói, hot dog chốn đây rất là gút. Nguyễn Văn Tình dóng cả hai tai lên, mẹ rượt, thằng này mưu toan về bển kiếm em chân dài làm vợ e sẽ gặp sự cố, chúng nó quỵt cho trắng máu rồi tha hồ mà phất du fuck me. Tiếng là người Diệt với nhau mà xem chừng như ngôn ngữ bất đồng, để đối tượng thông hiểu nắm bắt ý tứ không chừng phải thượng cẳng chân hạ cánh tay, khổ thế! Tuổi già có nhiều cái bất lợi, hết thông minh hết lanh lợi, chẳng mấy duyên với ngôn ngữ lạ, mắt mờ chả mấy ưa ngắm cảnh phố phường, răng giả chả ưa nhá hot dog và tấm thân vừa nuốt đường dài vượt biên trên 14 tiếng nghe chừng đã long bù lon rêm mình mỏi chắc. Ai kia có hỏi: Mày có ô-kê? Thì cũng giả bộ lên gân như gà đen sắp đá. Khoẻ chán, nhằm nhò chi ba cái lẻ tẻ, tớ đi đái chưa hề bị ướt chân dù chẳng thèm vin vô viagra trợ lực. Văn năng ôn võ năng luyện, nói thật nghe, tớ vắng đàn bà đã lâu mà kim đồng hồ chưa có vấn đề. Hổng tin hả, dắt tớ về bển một chuyến xem, tớ quậy cho tiệm hớt tóc Thanh Nữ phải la bai bải. Giá càng bèo mình càng sung, ấy là đạo lý vậy!

Tiệc cưới xôm tụ, nói theo ngôn ngữ đương đại là rất hoành tráng, người nước lạ thấy e phải bức xúc, miệng há ra, môi hở răng lạnh. Nguyễn Văn Tình cũng không tránh khỏi lòng dạ hoang mang khi chân bước lên cái tapis màu đỏ trải từ thềm dẫn sâu vào nhà hàng. Có mời dàn sao Hồ Ly Vọng không, sao thấy quen như sắp trao giải oscar tới nơi. Bà con vô ra xiêm áo lụa là xẻo trên hở dưới mặt hoa da phấn. Và nhân vật chính, con bé tí tẹo như cây kẹo ngày nào dắt đi vượt biển, ngồi trên xe đò cứ ba chừng bảy đổi là nôn oẹ tưng bừng dầu khuynh diệp nhị thiên đường cho chí cù là hiệu con cọp cũng gạt lệ thua buồn chào thua gió máy. Sang tới đảo thì người nó nhỉnh hơn, từ cây kẹo quá độ thành cà rem cây ba vòng trên cơ thể đều cùng một số đo, hổng có nơi nào chịu lấn đất dành dân cả; suông đuột ngó dễ mũi lòng. Mấy mươi năm nước chảy qua cầu bèo dạt hoa trôi bây chừ thì nó phổng phao điện nước thừa mứa chớ đừng nói đầy đủ. Chồng nó là ai, cái thằng nào khéo tu đến vậy. Muốn đưa nó dìa dinh thì dứt khoát phải tốn cả nạm tiền. Chẳng phải sao, nó chơi cha thiên hạ bằng cái phô trương rất mực đình đám bữa tiệc này. Nguyễn Văn Tình được xếp ngồi vào bàn nhân vật quan trọng, kề cận với bà Dì cô dâu. Bàn tròn mười ghế trải khăn chưng bông y như có trong phiên họp hiệp định ngưng bắn ký kết giữa 4 phe. Hai ông bà mặt lạ hoắc lạ huơ đưa tay ra bắt, tự giới thiệu phía đàng trai, phát âm giọng nặng phía bên kia cầu Hiền Lương, áng chừng người Vinh, Nghệ An, Quảng Bình xa xôi cỡ đó. Nguyễn Văn Tình tự hào là kẻ đi nhiều, lê la trên khắp bốn vùng chiến thuật từ vĩ tuyến 17 cho tuốt mũi Cà Mau, nhưng tình ngay cảnh sắc bên cầu biên giới nó tròn méo cỡ nào thì Tình bù trất. Chưa thấy qua nhưng đã là dân miền Nam thì hẳn cũng mường tượng ra nó thê lương xám xịt nào khác gì Bắc Hàn mí lị Đông Đức. Lạ cái là hai ông bà phía đàng trai này ngó béo tốt phương phi đỏ da thắm thịt như kiểu quen ngồi mát ăn bát vàng, chớ có hàm hồ nói họ là giai cấp bần cố nông từng chôn sống bọn cường hào địa chủ. Họ vừa mới bay từ phi trường Nội Bài sang tới, dùng hãng hàng không Air France chơi một lèo chỉ quá cảnh ở LA. Tư trang vàng bạc mấy hột lanh lợi đeo kín người trông xuống Nguyễn Văn Tình với ánh mắt ba phần khi dễ bảy phần hổng có kí lô nào ráo trọi. Đại gia mà ngó ô-xin cũng ngần ấy sóng mắt khinh miệt. Ngó là ngó vậy thôi chứ đọng vào con ngươi là chuyện bất khả. Nguyễn Văn Tình thoáng có chút tủi thân, một thằng tư bản mại sản ngày nào bị đánh cho toe tua trong đợt cải tạo thương nghiệp, còn sót được bao nhiêu vàng thu cất trong ruột tượng để nhắm triều cao sóng cả mà leo lên ghe một liều ba bảy cũng liều chết bỏ bể bỏ gạt lệ xa quê mực xạ đêm đen. Ngồi làm thinh hoài cũng buồn miệng, Tình khèo tay bà Dì ra chỗ thiếu ánh sáng: Vậy chớ thân phận chú rễ với dây mơ rễ má bên đàng trai thuộc giai cấp nào mà xem chừng đẳng cấp quá vậy. Ậy, bấy chầy không một ai làm bảng báo cáo sơ khởi với anh sao? Thằng rể là du học sinh sắp lấy bằng tiến sĩ. Bố nó làm chủ một công ty mua bán và cung cấp hải sản thuộc hàng đại gia. Bác nó trước đây nhảy núi năm 68, sau 75 về làm Thành uỷ ngoài quê mình đó, thế lực nghiêng trời lệch đất. Tóm tắt thằng chồng của con Lọ Lem thuộc dạng hoàng tử đỏ chớ không vừa.

Nguyễn Văn Tình say dù chưa chạm môi vào cốc rượu nào cả. Anh sao vậy? Mặt không dưng thấy xanh lè? Sao em không nói sớm, sao em nỡ lòng nào bày binh bố trận kiểu này? New York thiệt không bằng chốn thành đô yên hàn vô sự như bên Canada nơi anh trú thân, em có thủ sẵn chai Nhị thiên đường đó không, bôi bên trán để xua đi gió chướng lạ mặt. Anh lạc hậu cũng vừa vừa phải phải, người ta hoà hợp hoà giải từ đời tám hoánh cơ. Hận thù nên cởi không nên buộc, gặp nhau đây rồi chia tay thì có chết thằng Tây nào đâu. Kệ mẹ đi mà, hổng ưa chung bàn thì em an bài cho ghé đít chỗ khác, chịu khó vui một đêm nay ngày mai lên đường cho bá tánh khỏi dị nghị, dậy đi hén. Anh rất tâm tư, chôn những hồn đau chưa tiện thổ lộ, hôm nào quỡn anh sẽ rót trôi tâm sự đắng lòng cho em nghe. Xưa mà sao cứ mưng mủ y như mới!

Nguyễn Văn Tình đi quàng xiên ra hướng cửa thì đụng mặt Tommy. Mày chịu chơi không? Mày có thương cái thân già này không? Nếu có thì chơi đẹp chở tao về chỗ má mày? A du crây-di? Giờ này mà tính gâu? Tao quên mang theo nạm thuốc bác sĩ cho, ăn ba cái đồ này có mà cô-lét-tê-rôn, tiểu đường với lại nhồi máu cơ tim. Làm ơn làm phước đi mà, không thì quen ai hú nó một tiếng đặng tếch-ke tao, cho tao nếm qua món hot dog cũng đủ ấm lòng chiến sĩ. Mai tao về lại xứ lạnh tình nồng, giữ trong lòng ấn tượng đẹp nhất là hình ảnh Tommy chứ chẳng là ai khác. Du nâm bờ oan. Có ô-kê không nè.

Chiếc xe Taxi màu vàng thương hiệu uy tín của Nữu ước trờ tới, Tommy xi lô xi la nói với gã tài xế: Ông cầm 50 bạc rồi chở lão già này về đúng địa chỉ sau đây, làm ơn nhé. Có thiếu thì nói với lão “money money” tự khắc lão lòi tiền ra. Không thành vấn đề. Xe vụt chạy trốn cảnh náo nhiệt, giảm tốc độ trước một ngọn đèn đỏ. In tuồng ông người Việt, đúng không nào? Gã tài xế nói khi nhìn vào kính chiếu hậu. Ủa, sao đoán ra hay vậy? Ừa, cứ xem tôi là chó biết đánh hơi đi. Bố tôi trước đây qua Nam hai lượt, Trung uý thuỷ quân lục chiến chứ chẳng giỡn chơi nhé. Ông nói, đù mẹ tao từng bắn rụng ba thằng Vi-Xi và đổi lại chịu hy sinh một cái giò dụt ở Khe Sanh. Nguyễn Văn Tình lập lại, tiếng Mỹ ngon ơ: Ừ, đụ mẹ mấy thằng vi-xi. Son of a bitch.

Hồ Đình Nghiêm

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Bài 60

Phần 59

Sau tháng đầu với những thay đổi bắt buộc về chỗ ở, có khi cả về nhân sự; hiện tại đội 17 được đưa về nhà 5, ở chung với đội 13 và đội 7. Ở nhà 4 nằm chung trong một vòng rào có ba đội bạn là đội 25, đội 5 và đội 30. Điểm mặt hầu hết “nhân vật” của sáu đội này, không ai nói ra nhưng cả trại đều ngầm công nhận rằng đây là những đội gồm những kẻ “xấu”, nếu không có thành tích trốn trại thì cũng phải có thành tích âm mưu… đốt trại. Công tác lao động của sáu đội này tuy giản dị nhưng nặng nề. Họ không được thoải mái như đội văn nghệ kiêm canh tác rau xanh; chẳng được tin yêu như đội lâm sản, sáng vác rìu đi tối vác về và trên lưng anh nào cũng lủng lẳng mấy cái măng rừng để bồi dưỡng; không ngon lành như đội mộc hoặc đội cơ giới (sửa công xa cho trại), được ở một khu riêng biệt ngoài vòng rào trại và tự do lai vãng đó đây; đội càng không được “quơ tay cũng có tí no lòng” như đội anh nuôi… Nói tóm, sáu đội trong hai dãy nhà số 4 và số 5 chỉ lao động quanh trại và khu xây cất mà thôi. Chưa bao giờ Vĩnh, trong một tháng qua, có dịp bước sang vùng đất bên kia con suối. 
Riêng đội 17, nhiệm vụ hiện tại là đào ao và đắp một con đường từ cuối khu trại đang ở sang tới khu trại mới đang bắt đầu được xây cất. Công tác đào ao nơi đây quả không dễ ăn! Trước khi thi công đào ao, bọn tù phải khai quang cả một vùng đất rộng lớn. Khai quang ở đây lại cũng không phải là thứ khai quang ở Trảng Lớn hay An Dưỡng. Làm công tác khai quang nơi đây là suốt ngày bì bõm dưới những bãi lầy có từ thời… tạo thiên lập địa – nơi có đầy đỉa, vắt và muỗi mòng – để đào cho bật gốc những thân buông già trăm tuổi. Khi thân buông đổ xuống rồi, cả đội lại xúm vào dùng sức lăn thân buông trên những bãi lầy đến một nơi quy định. 
Bọn công an gác tù nơi đây ác có lông bụng. Chuyện đánh đập, bắt quỳ hoặc kêu Trật Tự trói dẫn về trại nhốt cachot là chuyện cơm bữa. Nhưng chuyện ấy chưa hẳn đã làm một con người phải đau đớn. Chuyện đau đớn là, nơi đây, như được hưởng sự giáo dục đặc biệt của một chế độ đặt căn bản trên sự oán thù, bọn công an có lối mạt sát mà chỉ đến ngày xuôi tay nhắm mắt mới có thể hết thấy đau. Vĩnh không sao quên được tuần rồi, trong lúc bọn anh đang khênh những ki đá tảng nặng nề đến công trường xây cất, thì đội 30 làm công tác bên cạnh bờ suối; chẳng hiểu cuốc đất thế nào, ông Lý Trung Dung, một bác sỹ tuổi đã gần lục tuần, bị một thằng công an vệ binh tuổi chừng 17, 18 kêu đến trình diện. Bác sỹ Dung bỏ cuốc, đến trình diện thằng công an đang ngồi trên một cái ghế đẩu tránh nắng dưới một gốc buông rợp bóng mát. Thằng công an hầm hầm nhìn ông bác sỹ già, chỉ tay ra lệnh. 
– Ngồi xuống! 
Bác sỹ Dung đành ngồi xuống đất, bó gối ngước mắt nhìn lên thằng công an. Lấy một ngón tay chỉ chỉ vào mặt ông Dung, nó hằn học lên lớp. Anh già kia! Nơi đây tôi đại diện đảng giáo dục anh, thì tôi là thầy anh, có phải không? 
Bác sỹ Dung khẽ nhắm mắt thay cho một cái gật đầu. Tên công an lại tiếp. Nơi đây không có bố mẹ anh, tôi thay mặt bố mẹ anh chăm cơm chăm áo cho anh học tập, thì tôi có phải là bố nuôi của anh không? 
Nghe nó chửi một ông già nặng nề như thế, mấy thằng tù trẻ đứng quanh quất uất hận tràn hông. Nhưng ông già Dung vẫn chỉ khẽ gật đầu, nói lý nhí vài câu gì đó. Lắng nghe ông Dung nói xong, thằng công an bỗng đứng vùng lên, khoa chân múa tay. Đấy! Nó tiếp. Tôi vừa là thầy anh lại vừa là bố anh, thế mà tôi chỉ yêu cầu anh cuốc cho đều tay, lát nào cho ra lát ấy, tại sao anh vẫn tỏ thái độ ngoan cố chống bố chống thầy? 
Ít phút sau, dù chữ nhẫn của ông có thể đã to gấp đôi chữ nhẫn của đức Phật, bác sỹ Lý Trung Dung vẫn bị trói dẫn về nhốt hầm tối… 

Bọn Vĩnh lúc này đang phải quần quật khổ dịch dưới những đôi mắt giám sát của bọn công an gian ác như thế. Mặc khác, đội trưởng Tầm với sự trợ giúp “rất có kỹ thuật” của đội phó Hùng, hiện không còn nhỏ nhẹ dễ thương như những ngày đầu nữa. Một mặt nó lấy sức vóc của một lực sỹ để lao động làm gương, một mặt nó đeo sát anh em để báo cáo với thằng Thường, cán bộ quản giáo hiện tại của đội 17, về tất cả những gì đã xảy ra trong ngày. Gần đây, do sự tiến bộ quá nhanh của Tầm, nhanh đến độ đội phó Hùng là người của Ban Giám Thị công khai gài vào đội 17 cũng thấy bực mình. Đã có đôi lần, hai tay chức sắc này kéo nhau ra một chỗ kín đáo gấu ó nhau về lề lối điều động anh em trong công tác lao động. Sở dĩ Hùng cự nự cũng có lý. Hùng dù gì cũng là một anh tù không được to con cho lắm. Nếu đem cân giỏi lắm Hùng cũng chỉ hơn cái “trung tâm y tế toàn khoa Phạm Vĩnh” đôi ba ký là cao. Chưa kể anh ta tuổi tác đã vào cỡ 45. Mặc khác nữa, theo như anh em đoán già đoán non, Tầm đã dám qua mặt Hùng trong những công tác báo cáo về tình hình đội cho Ban Trật Tự. Điều này hẳn Tầm đã dẫm chân bạn một cách trắng trợn vì qua tìm hiểu, cả đội biết Hùng vốn là gà nòi của Ban Trật Tự. 
Ngày tháng cứ lầm lũi trôi qua dưới những cơn mưa mù tháng Mười Một. Cả một khoảng rừng buông giờ đã biến thành một vùng đầm lầy nước đỏ như ráng trời và tanh chua như mùi mẻ hư. Theo đúng quy hoạch, khi việc khai quang trong một diện tích quy định đã xong, đội 17 phải bắt tay ngay vào việc đào ao và đắp đường. 
Bốn tổ hiện nay của đội như hòa vào làm một cho công tác cực nhọc này. Người tay leng, người tay xẻng xúc từng tảng đất sình lầy quăng lên con đường đắp mỗi ngày một cao thêm. Phía bên này con đường đứng gần Vĩnh là Huy, Ý, Điểu, Trương Hồng, Dũng, Thương (hai người này là người cũ ở đây, mỗi người đều có thành tích trốn trại hai lần nhưng lần nào cũng bị bắt lại!)… Phía bờ bên kia, đối diện với bọn Vĩnh là đám Hóa, Dũng, Danh, Tuyến… mấy tay này đều là những sỹ quan và hạ sỹ quan trẻ tuổi, rất đoàn kết, vui nhộn và hay hòa nhạc với nhau. 
Bọn quản giáo và công an vệ binh sợ bùn văng nên hiện nay chúng thường kiếm một chỗ ngồi khá xa nơi bọn tù lao động, nhờ vậy, cả đội lao động tương đối thoải mái, càng thoải mái hơn khi gần đây, do hậu quả lao động quá nhiều để làm gương, đội trưởng Tầm chịu không nổi cái đói, đã thường xuyên bỏ mặc đội lao động, lần mò sang những gốc buông bị đốn ngã để tìm nấm. Phải nói rằng Tầm là một người săn tìm nấm rất hay. Trại này đã nhiều tay trong dĩ vãng chết thê thảm vì ăn nhằm nấm độc, nhưng những mẻ nấm Tầm kiếm được không hề độc tí nào, bằng chứng chiều nào lao động về, Tầm cũng ngồi trước một xoong nấm xào thơm phức để ăn chung với chén bo bo của nhà bếp phát. Tuy nhiên, sự thoải mái nhất của bọn tù đội 17 là vừa đắp đường vừa tự do nghe anh chàng Tài xún răng kể chuyện chưởng. Tay này từng là một hạ sỹ địa phương quân dưới vùng 4. Chả hiểu vì cớ gì cũng tù tội từ 75 đến nay. Hắn “mồ côi” không ai thăm nuôi, nhưng nhờ có tài kể chuyện chưởng và tính tình dễ thương, Tài luôn luôn được anh em cung cấp đủ thuốc hút và rủng rỉnh mì vắt tôm khô nấu ăn mỗi ngày không kém ai. Mặc khác, cũng có một số anh em rất thích nghe những câu chuyện kể “rất hoang đường” của Tuyến về nước Mỹ, vùng đất Hứa của những con người thiếu thốn và khao khát Tự Do. Dù rằng trong đội có nhiều người từng du học Mỹ, nhưng những câu chuyện “dựng đứng” một cách hồn nhiên của cậu ấm Tuyến – con trai của đại tá Tồn cựu tỉnh trưởng Gia Định – vẫn làm mọi người hồi hộp theo dõi. Những câu chuyện Tuyến kể đại loại “trời Đông Bắc Hoa Kỳ sương mù và tuyết lạnh ghê gớm. Sương và tuyết đến độ có dạo cùng một lượt 4 cái phản lực cơ đã tông vào tượng Nữ Thần Tự Do, ấy thế mà chỉ có bức tượng bị rụng đầu còn bốn chiếc máy bay vẫn không bị xây xát một tí nào!”. 

Nghe ngứa lỗ tai, có người lên tiếng. 
– Chuyện phong thần! 
Tuyến vẫn hồn nhiên và nói như thật. 
– Mày không biết thì im mồm đi. Khi nào về, mày lục tìm tờ New York Time số… bộ… ngày tháng năm… có tường thuật đầy đủ câu chuyện này lúc ấy mày sẽ tin tao. Nói tới đây, Tuyến xuống giọng thật hề. Anh tiếp. Nói chưa hết chuyện đã cãi! Bốn phản lực cơ vĩ đại ấy đều được chế tạo từ xưởng máy bay vĩ đại của miền Bắc xã hội chủ nghĩa vĩ đại chở phái đoàn Đảng và nhà nước ta vĩ đại đi tham dự hội nghị Liên Hợp Quốc vĩ đại!… 
Trong không khí lao động như vậy, dù đói lạnh, ao đào vẫn mỗi ngày mỗi rộng mỗi sâu và đường đắp mỗi ngày mỗi dài mỗi cao. Tuy nhiên quản giáo Thường không phải là một người dễ tính. Hắn còn trẻ, tuổi độ 21 hoặc 22. Một lần nhìn thấy lề lối lao động của đội, hắn đã nổi giận đùng đùng và tập họp đội lại chửi bới một trận. Sau lần chửi bới này, chẳng hiểu do tranh chấp quyền lực thế nào, đội trưởng Tầm bị gọi làm tự kiểm vì cái tội bỏ bê đội đi kiếm ăn, và ban giám thị trại đọc lệnh bổ nhậm Đặng Xuân Hùng làm đội trưởng. Tổ trưởng tổ 2 là Mai Văn Lễ, một thiếu úy địa phương quân ở Thủ Đức trước kia, một thanh niên có sức khỏe như trâu được đôn lên làm đội phó. Đội trưởng là cháu Trường Chinh, đội phó là em một đại tá đang tại chức phục vụ trong BTL Quân Khu 7. Cả hai ông chức sắc này bắt đầu đưa đội 17 vào một “bước ngoặc quan trọng” ở tương lai. 
Khi con đường đã nối được hai khu vực theo đúng kế hoạch, và trên mặt ao bắt đầu được thả rau muống thì bọn Vĩnh được chuyển công tác. Công tác mới là xén cắt những thế đất cao đổ vào thế đất thấp để biến một vùng đồi thành một giải đất bằng phẳng, làm nền cho những dãy trại sẽ được xây dựng sau này. 
Mùa mưa đã bắt đầu lui dần để nhường lại cái lạnh của rừng rú ập đến với lũ tù vào những ngày tháng cuối năm. Công tác đào, khênh, đổ, đập đất chẳng thua gì công tác đào ao; nó cũng rất cực khổ cho lũ tù đói lạnh. Lại nữa, đây là một công tác lớn có nhiều trăm tù tham dự, do đó, chuyện thi công là chuyện không thể tránh khỏi. Nhưng với đội 17, hoặc 5, hoặc 13 thì chuyện có thi công hay không thi công thì cũng đến thế mà thôi. Anh em nhất định chấp hành tốt một câu nói lỡ của cách mạng, rằng “lao động tùy sức hưởng tùy lực”. Một số đội già yếu được biệt phái làm gần những đội như 17, 5… dần dần cũng bị tiêm nhiễm cái phong thái làm cầm chừng. Trong lúc đứng xúc đất đổ lên những chiếc xe cải tiến cho anh em “chạy hàng”, Vĩnh khoái trá nhìn mấy ông già của đội 47 và 12. Hiện tai nhìn họ lao động, bọn Vĩnh phải thú nhận mấy ông già ấy vừa bắt chước nhưng đã qua mặt ngay bọn trẻ. Họ cuốc đất nhát đực nhát cái và chủ yếu đứng nói chuyện gẫu với nhau. Chỉ trừ khi có người báo động “kiki đến!” họ mới tỏ ra lao động tốt, bằng không cứ thế mà cơm chúa múa tối ngày. Cái không khí phè này đã khiến những tay chức sắc kỳ cựu nơi đây phải lắc đầu, điển hình là đội trưởng Hùng của đội 17. Trong những lúc ngồi hút thuốc lào với nhau, vui miệng Hùng đã nói. 
– Mấy ông già trước đây lao động hăng lắm đấy. Gần mấy ông đổ đốn ra! 
Nhớ lời than thở có vẻ chịu đựng của Hùng, Vĩnh liếc nhìn mấy ông già lao động gần chỗ anh. Họ là ai? Kìa cha Bộ, vị linh mục cựu giám đốc Trung Tâm Fatima, người gần đây đã khẳng định với anh em rằng 30 tháng Tư tới đây, ông sẽ về làm lễ ở nhà thờ Bình Triệu… Cầm cuốc nhìn trời nhìn mây bên cạnh cha Bộ là cha Tường, vị linh mục khá béo tốt, vui vẻ nhưng lại rất ít nói. Cạnh đấy còn có ông Lê Sáng, một trong những người sáng lập ra môn phái Vovinam. Ông Mão, theo như ông nói, từng là một trong những nhân vật quan trọng hàng đầu của ban quản trị Việt Nam Thương Tín. Nhà báo già Lam Giang. Ông Đại móm, phó quản đốc trại cải huấn Đà Lạt, người mà cả mồm chỉ còn ba cái răng hàm và hai cái răng cửa nhưng nói tục còn dòn hơn cả bọn trẻ. Bác sỹ Lý Trung Dung, người một thời từng tổ chức hội chợ Thị Nghè, cầu sập chết bao nhiêu người. Ông cựu trung tá Thức, người tình nổi tiếng của vũ nữ nổi tiếng Cẩm Nhung. Đứng cạnh ông Thức là ông cha Thục, cựu giám đốc trường Chân Phước Liêm và nhiều trường công giáo khác, đã hoàn tục khi tuổi sắp về chầu Chúa!… 

Nói chung chung, quý vị sồn sồn hay cao niên ấy đều lao động không lấy gì làm hồ hởi phấn khởi cả, cho dù có nhiều đội trưởng rất tích cực, lắm khi tích cực còn hơn cả bọn kiki trong việc đôn đốc anh em học tập tốt, lao động tốt. Nhưng dù có đôn đốc cách gì, đến thời điểm này các vị chức sắc cũng đều nhận thấy sự bất lực của chính mình. Đã ba năm rưỡi trời tù tội, cái sợ phải học tập lâu dài, nếu có, đã giảm đi quá nửa; cái hy vọng học tập tốt, lao động tốt, cải tạo tốt để được về sớm, nếu có, cũng đã mất đi chín lăm chín bảy phần trăm. Chưa cùi còn sợ ghẻ. Cùi rồi còn sợ gì? Mà giả như có sợ đi nữa, thì chắc bọn tù chỉ có hai cái sợ. Sợ cấm thăm nuôi và cấm… tắm cả đội. 
Vĩnh còn nhớ trong hơn hai tháng trầm mình dưới bùn đào ao, chỉ vì cả đội không đạt chỉ tiêu và gặp ngày quản giáo Thường không vui, đã hai lần hắn cấm cả đội không cho ra suối tắm. Thật là kinh khủng. Bốn mươi người đã phải đem cả cái thân mình lẫn quần áo đầy bùn lầy hôi thối về phòng vốn đã chật như nêm cõi… Đó là chưa kể trường hợp vi phạm nội quy trong lao động, quản giáo có quyền cúp phép thăm nuôi một kỳ, hai kỳ hoặc ba kỳ liên tiếp không chừng.
Ba tháng qua, bọn Suối Máu vẫn chưa mấy người được gia đình lên thăm, dù trại Hàm Tân, dưới chế độ công an quản lý, những phạm nhân không vi phạm nội quy đều được gia đình lên thăm đều đặn mỗi hai tháng một lần (tỉ như gia đình có đủ sức lên thăm!). Có lẽ sự chậm trễ này là lỗi của con rùa bưu điện, vì chỉ sau hai tuần đầu, hầu hết bọn Suối Máu đều đã được phép viết thư về gia đình báo tin nơi ở để gia đình lo thủ tục giấy tờ đi thăm. Nhưng dù chưa được thăm, bọn Vĩnh vẫn không đến nỗi mù mờ tin tức như thời còn ở các trại cũ. Nơi đây, ngày nào cũng có người được thăm, do đó tin tức bên ngoài đưa vào nghe không hết. Những lúc đứng cuốc đất, Vĩnh có thể nghe được đủ loại tin tức do anh em đưa ra bàn. Tuy nhiên nghe để mà nghe, bọn Suối Máu hầu như đều mất đi cái thú… bình luận những tin đồn. Có lẽ vì trên này nhiều tin quá nên chán không muốn nghe nữa? Vĩnh không biết. Chỉ biết rằng chính anh cũng đang rơi vào tình trạng muốn buông xuôi hoàn toàn, mà triệu chứng rõ ràng nhất là mọi tin đồn nghe xong đều được bỏ ngoài tai tức thì. 
Nhưng trong bọn Vĩnh có một người không bao giờ chịu nghe xong rồi bỏ ngoài tai. Anh ta nghe rồi là giữ cứng lấy nó và đem nó về phòng ngủ để quấy rầy bạn bè. Người ấy là Phạm Xuân Huy. Từ ngày di chuyển về Hàm Tân, anh Huy đổi chứng và giao du rất bừa bãi. Gặp ai anh cũng moi ruột ra để lấy cảm tình mà… khai thác tin tức. Nhóm ăn từ trước chỉ có năm người gồm anh Huy, Ý, Điểu, Dương và Vĩnh; bỗng một ngày mọi người miễn cưỡng nhận thêm một ông bạn mới của anh Huy tên là Nguyễn Tú Cường. Thực ra anh em chẳng ai ghét Cường, quý là đàng khác vì Cường trẻ và gan dạ. Hạt muối cục đường Cường thường được thỏa mãn mỗi khi cần đến. Chỉ kẹt cái tội Cường hay ba hoa, chưa kể cái dĩ vãng hơi bất thường của anh khiến đa số anh em khó chịu mỗi khi Cường hồn nhiên đem ra khoe.

Cường vốn là một hạ sỹ đào ngũ, tuy nhiên đã lấy được một cô vợ con nhà giàu nhờ mấy năm trời qua lại bằng cái lon đại úy giả. Sau khi mất nước, vợ chồng Cường đã có đâu hai ba con. Cường bỗng dưng ở vào cái thế khá kẹt vì cả xóm ai cũng biết Cường là… đại úy. Ngay vợ con anh cũng không hề ngờ anh đã mang lon đại úy giả mấy năm trời. Cuối cùng, Cường bấm bụng đi trình diện học tập theo diện đại úy với ý nghĩ rằng thôi thì đi mười ngày rồi trở về làm thường dân sống nuôi vợ con. Ai ngờ cách mạng nói vậy mà không phải vậy! Tù tới năm thứ hai Cường chịu hết thấu, bèn xin gặp cai tù khai thật hoàn cảnh. Chả hiểu may hay rủi, bọn cai tù liên lạc với địa phương yêu cầu gia đình Cường xác nhận Cường là đại úy hay là hạ sỹ. Sau khi được địa phương kêu lên hỏi, vợ Cường một mực khai rằng chồng tôi là đại úy. Sau vụ đó Cường bị bọn cai tù lôi lên đập cho một trận rồi đem nhốt cachot cả tháng trời. Anh Huy cảm kích cái dĩ vãng nằm cachot ấy bèn kéo Cường vào ăn cùng nhóm. Trong bữa ăn, cả bọn vừa nhai bo bo vừa lắng nghe Cường nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, nhất là những “tin tức quan trọng” mới thu thập được trong ngày, thứ tin tức rất hợp “khẩu vị” của anh Huy. 
Chiều nay, khi các đội được lệnh cho ra suối tắm như mọi chiều, Cường trang trọng thông báo một cái tin nóng hổi mà anh ta mới thu thập được, theo đó nay mai trại Hàm Tân sẽ nhận lãnh thêm một số tù nhân quan trọng khác nữa. 
Cái tin nóng hổi của Cường không làm cho Dương và Ý đổi ý chiều nay phải bơi nhiều hơn chiều qua; không làm cho Điểu thôi cằn nhằn rằng nhóm ăn đã không còn một hạt muối nào; và nhất là không làm cho Vĩnh mất đi sự bình thản tắm xong lên một hòn đá ngồi nhìn sang bờ suối bên kia. Bên ấy, xa xa là bìa rừng, chỗ mà Thương và Dũng đã nói với Vĩnh rằng trông vậy đấy, chứ bên trong nó có đầy chốt của tụi công an. Mấy lần trốn trại Thương và Dũng hầu như thua chỉ vì những cái chốt ấy…




Đại học máu

Hà Thúc Sinh
Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Bài 59

Phần 58

Hình như có nợ nần gì từ kiếp trước với con số 17, sau gần hai mươi tiếng đồng hồ bị giam trong phòng, Vĩnh và các bạn được dẫn đi tắm sau khi đã chính thức trở thành một đơn vị của trại tù Hàm Tân dưới tên Đội 17.

Đội trưởng đội 17 dĩ nhiên vẫn là Lê Văn Tầm. Đội phó, thật đáng ngại, lại là một ông chức sắc vốn ở trại này từ mấy năm qua, được “biệt phái” sang làm đội phó đội 17. Ông này tên Đặng Xuân Hùng, cựu thiếu úy cảnh sát “ngụy” và cũng là người gọi Trường Chinh Đặng Xuân Khu bằng chú ruột!

Đội 17 hiện cũng đã được chia ra làm bốn tổ. Vĩnh nằm trong tổ của đội phó kiêm tổ trưởng tổ 4 Đặng Xuân Hùng. Anh Huy và Ý cũng được sắp chung tổ với Vĩnh.

Từ nhà 8 (tức dãy phòng hiện Vĩnh đang ở), cả bọn được dẫn lên hội trường. Nếu tính từ cổng trại vào thì hội trường tọa lạc ngay bên tay phải. Lên tới hội trường, Vĩnh đã nhìn thấy các anh em từ Suối Máu ngồi đầy trên những hàng băng ghế. Ngó quang cảnh hội trường, Vĩnh thấy nơi đây có vẻ “văn minh văn hóa” hơn ba trại trước rất nhiều. Điểm nổi bật là sự ngăn nắp sạch sẽ. Cái gì cũng như có công thức, có quy mô cả. Bỗng dưng Vĩnh nghĩ một cách chua chát rằng Thế Giới Tự Do làm sao ngờ cho được ở Việt Nam ngày nay, trong những vùng rừng sâu như thế này, lại có những trại tù được sắp xếp một cách khoa học, tinh vi đâu vào đấy như nơi đây!

Gặp nhau nơi hội trường, những người từng là bạn nhau gọi nhau ơi ới và liên hệ qua lại rất là linh tinh trước mấy cặp mắt bực bội của mấy ông chức sắc trại. Rồi thì sau đó ít phút, xuất hiện trên sân khấu một ông tù chức sắc người tầm thước, dáng điệu từ tốn. Ông này chính là người mà hôm mới đến, ngồi ngoài cổng trại, Vĩnh đã nhận ra mặt mà không nhớ ra tên. Vĩnh đập trán cái bốp. Đúng rồi. Vĩnh không khỏi reo thầm trong bụng. Anh ta là Hùng, Nguyễn Quốc Hùng, tay làm phú mà theo Vĩnh có thời bảnh nhất miền Nam dưới bút hiệu Thầy Khóa Tư. Hùng còn là dịch giả của bộ sách đồ sộ Hồng Lâu Mộng.

Trên sân khấu Hùng đã bắt đầu lên tiếng. Dù không dùng máy vi âm nhưng hội trường ít người dồn cả lên gần chân sân khấu, nên Vĩnh vẫn nghe rõ mồn một những lời Hùng nói với giọng khá nghiêm khắc và lãnh đạm.

– Thay mặt Ban Giám Thị và thay mặt anh em trong Ban Trật Tự trại Hàm Tân, tôi chào mừng các anh về học tập ở trại này. Như cán bộ trực ban đã nói, khi bước qua cổng trại Hàm Tân tức là các anh đã được cách mạng tạo thêm điều kiện để phấn đấu thêm ba năm nữa trong học tập cải tạo, để phát huy những thành quả đã đạt được trong quá khứ…

Suy nghĩ một lát như để lựa lời, Hùng tiếp. Với chức năng trưởng ban Trật Tự trại, tôi chỉ nhắc nhở anh em làm sao chấp hành nội quy cho tốt, đừng làm cái gì có hại cho đời sống sinh hoạt tập thể. Nếu anh nào ngoan cố vi phạm nội quy, mà các anh sẽ được học nay mai, Ban Trật Tự chúng tôi buộc lòng phải báo cáo lên trên để có biện pháp xử lý. Bây giờ, Ban Giám Thị cho các anh đi tắm. Tôi nhắc nhở trước rằng các anh phải đi theo đội hình từng đội một. Không được rời hàng ngũ. Đội trưởng đội phó, các tổ trưởng tổ phó phải nắm vững tình trạng nhân số đội tổ của mình. Các tổ viên cũng phải cảnh giác những thành phần xấu bên cạnh có thể có những hành động như trốn trại, gây tổn thương đến thành tích phấn đấu chung của cả tập thể. Dứt khoát chỉ tắm nơi quy định. Không được liên hệ với những người cũ trên đường nếu gặp và dù quen biết…

Hùng còn nhắc nhở thêm một lô quy định tạm thời nữa. Và rồi sau cùng, ai cũng thấy vui trong lòng vì biết sẽ được dẫn ra suối tắm. Óc tưởng tượng của mọi người được dịp thả đi xa. Quãng ba trăm người từ Suối Máu lên cứ hàng hai lần lượt rời hội trường. Bước qua cổng trại, tất cả phải đi chậm hẳn lại để Ban Trật Tự và hai thằng công an ngồi chễm trệ trên trạm canh đếm số kiểm tra. Đoàn người được hướng dẫn quẹo trái khi ra khỏi cổng. Tất cả vừa đi vừa nhìn ngắm cảnh vật chung quanh. Ngoài tòa nhà lợp ngói đỏ nằm theo hình chữ U và có lót sân gạch nung, giờ đây bọn tù mới đến còn nhìn thấy một lô trang trại khác nữa tọa lạc về phía phải dọc theo con đường đi xuống suối. Đây là những dãy nhà vách ván, mái tranh, nền đất. Vĩnh đoán chừng những dãy nhà này là chốn ngủ nghê của bọn công an. Đi một lát, nhìn sang cánh trái, dọc theo lớp hàng rào tre gai bên hông trại, ở mút đầu kia, bọn Vĩnh thấy một công trường xây cất đang trong tình trạng kiến tạo. Quanh khu ấy có rất nhiều tù đang lao động. Vì bị những bụi tre cao ngất che khuất nên mọi người khó nhận ra quang cảnh công trường ấy một cách rõ rệt để mà sợ; nhưng gần hơn, cách chỗ đoàn tù đi tắm chừng mươi thước, một số người mình trần trùng trục đang giơ cao những cái búa “tài xồi” to lớn đập xuống những tảng đá trên lề đường…

Vượt qua chỗ đập đá ít bước bắt đầu gặp những thân buông già. Những tiếng ầm ầm bắt đầu vọng tới tai bọn tù. Con đường khởi sự đổ dốc và khi xuống tới cuối con dốc, tất cả đều tự động dừng chân lại tức thì. Dưới ấy, một con suối đang cuồn cuộn chảy. Nơi những khúc quanh, giòng nước tông vào đá xủi bọt trắng và tạo những tiếng động nặng trầm. Hiện nay đang mùa mưa, có lẽ vì thế mà bề rộng con suối khá lớn, phải rộng đến hai mươi thước hoặc hơn. Một cây cầu gỗ khá vững chắc bắc ngang con suối. Vĩnh nhìn sang bờ bên kia. Anh phát hiện ra nhiều nhóm người đang lao động bên đó. Những nhác cuốc giơ lên hạ xuống cho Vĩnh đoán biết bên đó phải là một nông trường. Nhìn mặt trời chiếu chênh chếch, Vĩnh định phương hướng và biết nông trường này nằm về hướng Tây của trại. Cái công trình xây cất ban nãy nằm về hướng Nam. Dãy nhà ngói đỏ hình chữ U nằm về hướng Đông Bắc. Riêng về hướng Đông Vĩnh chưa thể hình dung ra được nơi ấy có cái gì.

Tới bờ suối, một tay trong Ban Trật Tự tập họp tất cả lại và nhắc nhở vài điều phải cẩn trọng trong lúc tắm. Mùa mưa nước lớn rất dễ chết đuối và đã có người chết đuối. Anh ta cũng cho bọn mới đến biết trong rừng buông phía bên kia suối có cọp. Những người lao động trong đội lâm sản đã rất nhiều lần nhìn thấy dấu chân cọp và cả phân cọp. Thế nên, anh ta khuyên đừng ai dại dột mò sang vùng bên kia bờ suối… Rồi thì lệnh cho tắm bắt đầu. Cả ba trăm tù đồng loạt cởi quần áo và phóng xuống suối bất kể nông sâu. Mấy năm nhốt nơi các trại giam thành phố, thấy suối ai cũng muốn được vùng vẫy bơi lội một lúc cho dù có chân đi không muốn nổi vì sức khỏe yếu kém. Vĩnh “khỏa thân” theo bạn bè và phóng mình xuống suối. Trời chiều trong rừng buông vốn đã âm u lạnh, nước suối chảy qua các ghềnh đá còn lạnh hơn; Vĩnh tự biết sức mình, anh tắm vội và là một trong vài người leo lên bờ mặc quần áo sớm nhất. Kiếm một gốc cây ngồi tựa lưng, Vĩnh thả mắt quan sát chung quanh. Nơi một gốc buông gần đấy, Vĩnh thấy một người không xuống suối tắm mà ngồi ủ rũ ngó về phía tòa nhà chữ U. Một thoáng anh ta quay lại và Vĩnh nhận ngay ra anh là Trương Hồng, người bạn tù không hẳn điên cũng không hẳn tỉnh từ dạo còn ở An Dưỡng. Biết có bắt chuyện anh cũng chẳng thèm trả lời, nên Vĩnh lại hướng mắt về phía các bạn dưới suối.

Quả nhiên thiên nhiên làm mọi người trẻ lại. Những mệt mỏi như biến mất hết. Trong một khoảng khắc người ta như quên hẳn đi kiếp người tù tội còn đeo nặng trên vai. Họ bơi, họ cười nói và họ đùa giỡn. Nơi một vũng nước sâu và lặng nhất, Vĩnh để ý thấy một người bơi tới bơi lui một cách say mê. Lối sải của anh ta đẹp và nhẹ của một tay bơi nhà nghề. Khi anh ngừng bơi và leo lên bờ, Vĩnh mới biết anh ta là Tầm, đương kim đội trưởng.

Nơi chân cầu, Vĩnh cũng vừa mới phát hiện ra Phạm Xuân Huy và Nguyễn Văn Ý. Nhìn dáng dấp của Ý, Vĩnh không khỏi không ngạc nhiên. Trông kiểu cách Ý đứng dưới nước và lần mò từng bước trên giòng suối, Vĩnh biết chắc chắn anh là người không biết bơi. Thế tại sao hồi sửa soạn vượt ngục An Dưỡng, Ý không nói ra điều này? Bỗng dưng Vĩnh thấy quý Ý hơn. Tay ấy quả thực có nhiều đức tính của một người đàn ông đích thực: Điềm đạm, can đảm và kín đáo.

Cũng ở dưới một chân cầu khác, Phạm Điểu đang tập cho Vũ Duy Dương bơi. Dương to và khỏe như gấu, nhưng những ngụm nước suối đục ngầu uống phải trong những lúc hụt chân đã khiến mặt mày hắn nhợt nhạt hẳn ra. Vĩnh đảo mắt quan sát thêm chung quanh. Từ bên kia bờ suối, trên một lối mòn, ba bốn người đang ỳ ạch đẩy một cái xe cải tiến. Theo sau xe đẩy có hai cái bóng áo kaki vàng. Một lúc sau hai cái bóng ấy biến vào một gốc buông lớn. Chiếc xe cải tiến cũng ngừng lại ở đầu cầu. Một người tù rách rưới đứng ngay đầu cầu bên kia nói lớn xuống suối.

– Nè! Mấy đội trưởng đâu? Cho anh em lên bờ mặc quần áo lẹ lẹ lên. Nữ cán bộ ra lệnh đó. Giờ này còn là giờ lao động sao tắm truồng sấp lượt vậy? Cản trở lối đi lại của nữ cán bộ.

Nghe câu hò hét đó, anh chàng Trật Tự 1 ngồi chơi trên bờ suối chợt đứng ngay lên. Anh ta hét ầm ỷ.

– Lên bờ hết! Chấm dứt tắm! Mặc quần áo nhanh lên! Cho các anh ba phút!

Dưới suối đã có người bò lên. Có nhiều tiếng xầm xì bàn tán.

– Ủa! Ở đây có nữ công an nữa ta?

– Kệ mẹ nó! Mình cứ tắm xem nó làm gì?

– Thích ngó thấy mẹ còn bày đặt láu cáu.

– ĐM. tụi nó “hộ lý” không hà! Làm bộ làm tàng cho có!

Anh chàng Trật Tự thấy bọn tù mới đến còn lắm kẻ nhì nhằng dưới suối, anh ta cáu chửi um sùm. Có lúc anh lượm mấy quả buông ném sang những người còn bơi nơi bờ suối bên kia. Anh hét.

– ĐM. mấy cha không lên tui xin lệnh cùm mấy cha ráng chịu!

Mặc cho tay Trật Tự chửi rủa đe dọa, phải mười phút sau bọn tù mới kéo hết lên bờ và mặc quần áo vào người. Bên kia bờ suối, như đã được thông báo, hai mụ nữ công an rời khỏi gốc buông và tiến tới đầu cầu lù lù như hai con gấu. Chúng lầm lũi tiến lên cầu và đi thẳng một lèo sang bên này bờ suối. Khi thấy có nhiều tên tù đang chiếu những cặp mắt “ăn tươi nuốt sống” vào hai cái tấm thân nở nang quá độ của mình, hai ả nhăn mặt bực bội nhưng vẫn thẳng bước về phía dãy nhà tranh vách ván. Trên cầu bây giờ tới lượt ba ông tù đẩy xe cải tiến chở đầy bí ngô qua suối. Cầu ván như chòng chành dưới sức nặng của cái xe. Xe chưa qua hết cầu Vĩnh lại thấy đầu cầu bên kia lần lượt xuất hiện rất nhiều người. Họ đi từng cặp một để gánh những sọt rau muống và củ cải nặng trĩu. Nhìn những đòn tre cong lại dưới sức nặng ước tính cả tạ của các sọt rau, Vĩnh thấy lạnh mình. Ở đây sao anh em tù lại có thể gánh nặng đến thế? Rồi thì lần lượt, những người gánh rau cũng qua cầu hết và họ ì ạch đi về phía vuông sân lót gạch.

Những đội tù mới đến đã chấm dứt buổi tắm. Lúc này trời cũng đã phải bốn giờ chiều. Anh chàng trong Ban Trật Tự cho so hàng. Anh cằn nhằn một lúc về chuyện ồn ào thái quá dưới suối, chuyện không tuân lệnh lên bờ mặc quần áo thật nhanh khi có nữ cán bộ đi qua. Anh răn đe.

– Ở đây, ngoài những hình phạt có ghi trong nội quy, còn nhiều loại hình phạt khác mà các anh coi chừng sẽ vướng phải. Các cán bộ quản giáo có thể cấm tắm trong nhiều ngày…

Trên đường trở về sau buổi tắm suối đầu tiên ở trại Hàm Tân, Vĩnh đồng ý hoàn toàn với sự nhận xét của Ý.

– Trại này tháp cánh cũng khó bay thoát. Nó nằm dưới đáy một lòng chảo. Bắc giáp quốc lộ. Một vòng bán nguyệt ôm lấy đường kính quốc lộ đều là rừng buông già. Kiểu này gay lắm!

Buổi lãnh cơm chiều nay không như hôm qua phải kêu gọi người tình nguyện, tổ 1 trực đã tự động cắt năm người xuống bếp khi kẻng báo phát cơm vang lên vào lúc năm rưỡi. Có lẽ đây là những bữa đầu đi lãnh cơm, nên đội phó Hùng cũng lẽo đẽo đi theo để hướng dẫn. Nhìn thấy Điểu nằm trong bán tổ đi lãnh cơm, Vĩnh vội chạy theo nói nhỏ.

– Điểu! Để tao đi lãnh cơm cho. Xem có ai bà con dưới đó không.

Điểu chưa kịp trả lời thì một người trong đám đã vui vẻ lên tiếng.

– Thêm một tay khênh đỡ mệt chứ gì. Nhào vô!

Thế là Vĩnh được nhập bán tổ đi nhận cơm để có dịp quan sát một vòng nhà bếp. Nhà bếp tập thể của trại Hàm Tân cũng quy mô hơn tất cả các trại cũ. Nó nằm gần hội trường và chiếm một vị trí khá rộng rãi. Điều hành nhà bếp có nguyên một đội anh nuôi 40 người. Ông trưởng bếp hiện tại, theo Đặng Xuân Hùng cho biết, là một nhân vật Chiêu Hồi khá nổi tiếng trước kia: Huỳnh Cự 2.

Vĩnh đứng ngó Huỳnh Cự. Anh ta có nước da xậm màu, to con và trên lưng có một vết sẹo dài…

Hùng còn cho đám Vĩnh biết bếp tập thể hiện nay đang nuôi gần 1.600 tù kể cả những người mới đến.

Trong lúc đợi lãnh phần ăn, Hùng còn nói thêm.

– Các anh trước ở quân quản hả? Tôi cũng vậy. Hùng suy nghĩ tí chút như tìm lời. Ở quân quản dù sao tập thể cũng tương đối thống nhất. Ở đây thập cẩm! Chính trị gia có, văn nghệ sỹ có, các đấng phụ mẫu chi dân có (chỉ những công chức xuất thân Quốc Gia Hành Chánh), sỹ quan có, chiêu hồi có, cảnh sát như tôi có, tù vượt biên bị bắt lại có, và ngay thứ đâm cha chém chú cũng có! Tôi muốn nói đến bọn hình sự. Phiền toái lắm!

Trong câu chuyện làm quen, Hùng còn cho bọn Vĩnh biết trại Hàm Tân hiện còn một phân trại nữa, đó là phân trại B. Phân trại B ở về phía bên kia con suối và cách suối một cây số đường rừng. Trong ấy hiện chỉ có chừng hơn trăm tù. Họ là những người, theo sự đánh giá của cán bộ, không nguy hiểm, cho sang đó canh tác và xây dựng cơ sở doanh trại mới. Trong tương lai, phân trại B cũng sẽ lớn như phân trại A là nơi mình đang ở. Tuy nhiên, một sự tiết lộ khác của Hùng làm bọn Vĩnh không khỏi bận tâm. Hùng nói. Khi nãy đi tắm các anh có thấy những dãy nhà đang xây về hướng Nam không? Rồi đây, theo lời các cán bộ, chúng ta đều “được” ở nhà xây tử tế…

Bọn Vĩnh chỉ đứng yên nghe. Một lúc sau Hùng hỏi khẽ mọi người. Mấy anh có biết gì về anh Tầm không?

Một người hỏi lại.

– Tầm nào?

– Thì anh đội trưởng của mình ấy.

Nghe Hùng hỏi, quả thực Vĩnh hơi gờm gờm. Đây là một lối điều tra có kỹ thuật cao, hay chỉ là một câu hỏi vô tình xảy ra giữa những người đồng hội đồng thuyền?

Dù sao câu hỏi của Hùng không được ai trả lời. Và khi thấy anh em đều ơ hờ trước câu hỏi cả mình. Hùng vui vẻ nói. Đội mình chắc sẽ khá. Theo kinh nghiệm của tôi, cứ đội nào có cái đầu tầu to con, khỏe mạnh là thế nào cũng lập thành tích cao trong lao động. Anh Tầm có thân hình đẹp đấy chứ! Nghe anh ấy nói anh ấy là hạ sỹ nhất người nhái. Hùng nhún vai. Chà! Người nhái coi vậy mà dữ lắm nha! Trước đây tôi nghe nói để trở thành người nhái phải tập luyện cực khổ lắm. Muốn ra trường phải trải qua một đoạn đường thật gian khổ, chẳng hạn phải lặn ngụp chui lòn sao cho qua được cái hệ thống cống của thành phố Sài Gòn. Nói tới đây Hùng bỗng quay sang Vĩnh, hỏi khơi khơi. Đúng không anh Vĩnh? Hình như anh là hải quân mà?

Kể từ giây phút đó dù hồn có mây gió đến đâu, Vĩnh cũng bắt đầu ớn nhợn ông tổ trưởng kiêm đội phó của mình. Mới chân ướt chân ráo đến đây, mới gặp nhau chưa quá nửa ngày, vì đâu mà ông đội phó đã thông suốt tiểu sử của các đội viên, tổ viên của mình nhanh và tài đến thế?

Trên con đường khênh cơm khênh rau về phòng, băng qua vuông sân rộng giờ đầy người qua lại, Vĩnh vừa đi vừa cố gắng hết sức để tìm xem có người nào quen biết hay không. Thế nhưng trong cái đám người rách rưới, lù đù, đang đi tới đi lui ngoài sân trại chờ giờ phát cơm ấy, Vĩnh chưa nhận ra được một người nào từng quen biết cả.

Mấy tháng qua trại Suối Máu liên tiếp cho tù ăn mỗi bữa một cục bột, bữa ăn đầu nơi trại mới được ăn Bo Bo trở lại bỗng nhiên thấy ngon miệng. Tuy nhiên ngon miệng là đối với những người còn hai hàm răng tốt, riêng với Vĩnh, dù tuổi mới trên ba mươi nhưng qua ba năm tù đã mất đi bốn cái răng hàm và một răng nanh, do đó anh nhìn bát bo bo còn nguyên mày mà ngao ngán. Vừa lúc đó anh Huy và Ý đã khênh vào một nồi mì vật nấu với tôm khô. Vĩnh, Dương và Điểu đều xúm cả lại nhưng chưa ai kịp múc ra bát thì kẻng điểm danh chiều đã vang rền ngoài sân trại. Diễn tiến này bọn Vĩnh đã biết từ chiều hôm qua. Lúc ấy bọn anh đang còn bị nhốt kín trong phòng, nhưng nằm nhìn ra ngoài sân, Vĩnh và các bạn đã hiểu rằng ở đây, tất cả đều trở về từ hiện trường lao động muộn nhất là năm rưỡi chiều. Tù được nhận phần ăn, được cho phép nửa tiếng nấu nướng nơi những cái ông Táo bắc nơi vuông sân đàng sau mỗi phòng. Khi tiếng kẻng 6 rưỡi vang lên, đám Trật Tự túa vào các khu hò hét bắt tắt lửa để sửa soạn tập họp điểm danh. Sau khi giám thị trực đến từng khu nhận báo cáo nhân số, giám thị và trật tự đứng kiểm soát từng cặp hàng hai lần lượt chui vào “chuồng”. Khi cặp cuối cùng bước qua ngưỡng cửa, Trật Tự sẽ đóng ngay và khóa chặt phía bên ngoài. Đến lúc này bọn tù mới bắt đầu thoải mái ngồi ăn uống với nhau dưới một ánh điện tù mù.

Vĩnh ngồi ăn và lắng nghe những nhóm anh em bên cạnh vừa ăn vừa trò chuyện. Nằm gần chỗ Vĩnh có một số anh em còn rất trẻ tuổi. Họ ăn uống thật nhanh và kéo mấy cây guitar tự chế ra hòa nhạc với nhau. Nghe họ chơi nhạc trẻ thật nhuyễn, Vĩnh đoán biết đám này hẳn đã phải ở với nhau lâu ngày trên Suối Máu. Một cái đầu từ dưới chợt trồi lên tầng trên, chỗ mấy người hòa nhạc, cự nự.

– Mấy cha đừng chơi nhạc vàng chứ. Kẹt cho tui lắm nghe!

Một giọng phát ra từ đám người hòa nhạc.

– Nhạc vàng hồi nào? Đỏ au không thấy sao?

Người đứng bên dưới đã ló hẳn mặt lên tầng trên, Vĩnh nhận ra anh ta là Tầm. Câu nói kế tiếp của Tầm làm nhiều người chung quanh đều cảm thấy bất bình.

– ĐM. nói đàng hoàng không nghe tui oánh à…

Có một anh bạn trẻ rất cao, người chơi guitar solo trong đám, chợt hầm hầm buông đàn tính đứng dậy. Tuy nhiên mấy người bạn vội níu anh ta ngồi xuống.

– Đừng nóng mày Hòa. Điều nghiên kỹ đã mày. Dù không tấp thôi. Tấp ăn trùm mới tấp.

Bây giờ Vĩnh đã biết đám anh em trẻ ấy thuộc gia đình Dù.

——————————–

1          Ban Trật Tự: để áp dụng triệt để chính sách dùng tù cai trị tù, nơi các trại giam dưới chế độ công an, bọn cai tù đã lập ra một ban đặc biệt gọi là Ban Trật Tự. Ban này gồm những tù nhân được chọn lọc, được hưởng nhiều ưu tiên và đặc biệt được tự do lai vãng bất cứ chỗ nào trong phạm vi trại. Họ không phải lao động, đêm ngủ không bị khóa cửa phòng; nếu lập nhiều thành tích sẽ được đi phép thăm gia đình. Nhiệm vụ chính của họ là kiểm soát, đôn đốc, o ép anh em về nhiều mặt trong đời sống tù; đặc biệt họ thiết lập hệ thống ăng ten ở tất cả các đội các nhà…

2          Trước năm 1975 Huỳnh Cự làm việc tại Bộ Chiêu Hồi của chính phủ VNCH. Khi ra chiêu hồi anh khai mang quân hàm trung tá của cộng sản. Sau 30 tháng Tư năm 75, Cự bị bắt giam như tất cả các anh em chiêu hồi khác. Khi ở Hàm Tân, có lần bị giam cùng phòng với Cự, Vĩnh thấy cái nhãn dán nơi đầu chỗ năm của Cự đề hàng chữ Huỳnh Cự, cựu trung úy mà không phải là cựu trung tá.

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Trại Hàm Tân
9/78 – 2/80

Bài 58

Phần 57

Nguy nga, quy củ và sạch như lau như ly! 
Quang cảnh mới hiện ra trước mắt không khỏi làm non ba trăm tù từ Suối Máu đến nẩy sinh những cảm giác e dè đến sợ hãi. Dần dần cảm giác e dè đến sợ hãi ấy dẫn qua sự kinh ngạc. Quả thế! Không ai có thể ngờ được ngay giữa cái rừng buông mù mịt này lại có thể có một tòa nhà xây, mái lợp ngói đỏ, có những hành lang lót gạch hoa bóng lộng rộng rãi như thế kia! Bên ngoài tòa nhà ngói đỏ ấy, phía dẫn xuống những dãy nhà tranh ngăn nắp dưới kia là một vuông sân lát gạch đỏ y như loại gạch Bát Tràng rộng thênh thang thường tìm thấy ở những gia trang giàu có ngoài Bắc thời xưa. 
Vĩnh ngồi trong hàng, giữa các bạn, ngó tòa nhà ngói đỏ, ngó những tên cán bộ cộng sản mặc đồng phục vàng, đội nón cối vàng trông lạ mắt đang lặng lẽ đi qua đi lại trên dãy hành lang. Hết ngó tòa nhà Vĩnh lại ngó cái cổng trại gỗ cao ngất với hai trạm gác hai bên. Nhìn sâu vào bên trong Vĩnh thấy hai bên một giải sân rộng là những dãy nhà nằm cách nhau bằng những khoảng cách đều đặn. Những dãy nhà này cao và dài hơn những dãy nhà mà Vĩnh và các bạn từng lưu ngụ trong những năm qua. Chúng được lợp tôn, vách ván và vây chung quanh từng hai dãy một có hàng rào tre bao bọc. Bên trong, có lẽ hiện tại đang là giờ lao động nên có rất ít bóng người qua lại. Vĩnh nhìn dọc theo lớp hàng rào trồng toàn bằng tre gai chạy dài hai bên cổng trại. Phía bên trái Vĩnh chưa thể biết được nó dẫn về đâu, nhưng phía bên phải hình như dẫn xuống một cái trũng thật thấp. Xa xa nơi bìa rừng, nằm về phía bên kia cái trũng thấp ấy, Vĩnh thấy thấp thoáng những bóng người mờ nhạt. Hình như nơi đó là những hiện trường lao động… 

Nhờ cái bảng treo ngang cổng sơn đỏ chữ vàng, có vẽ cả dấu quốc huy của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam to tướng, mọi người được biết đây là trại cải huấn Hàm Tân. Một người thì thầm. 
– Bỏ mẹ! Mình bị giao cho công an rồi! Thế này là tù thực rồi, tù mịt mù mất thôi! 
Một giọng khác. 
– Chứ bộ từ trước đến nay mình đi du lịch và ở Hotel Hilton của bọn quân quản chắc!? 
Lại một giọng khác nữa. 
– Nhìn mặt mũi tụi công an lạnh lùng quá, chắc kỳ này tiêu! 
Một giọng có vẻ tự an ủi. 
– Tái ông thất mã. Hơi đâu lo lắng cho mệt! 
Bây giờ việc bàn giao có lẽ đã xong. Lũ bộ đội của trại Suối Máu đã lần lượt leo lên những chiếc Molotova và đoàn xe từ từ lăn bánh trở lại con đường đất dẫn ra quốc lộ. Một tên cán bộ công an từ một căn nhà tranh nhỏ nằm xế nơi cổng trại bước tới trước lũ tù với một tờ danh sách trên tay. Thấp thoáng phía trước căn nhà tranh ấy có mấy người mà qua y phục, Vĩnh đoán họ cũng là tù, duy họ chỉ khác đám Vĩnh ở điểm họ đều mặc đồ xọc xanh trắng như nhau. Đặc biệt hơn, sau lưng áo mỗi người đều có đóng một con dấu màu sơn đỏ với hàng chữ số CTZ-30C. 
CTZ-30C là cái gì? Hàng chữ số thốt nhiên biến thành một ẩn số lạ lùng, bí hiểm và ngầm chút đe dọa mà nhất thời chưa tên tù nào có thể giải ra! 
Anh Huy ngồi sau lưng Vĩnh thầm thì hỏi Vũ Duy Dương. 
– Dương, ông đoán ra hàng chữ số ấy là gì không? 
Dương cười. 
– Anh đoán thử coi? 
– Tôi đoán CT là chính trị, tức tù chính trị. Còn Z và 30C chắc là cái bí số riêng của trại này. Ông nghĩ sao? 
Dương nhún vay. 
– Chả nghĩ sao cả. Tôi đoán hơi nôm na. CTZ-30C rất có thể là Cu to dzài 30 Centimètres! 
Anh Huy hơi nặng tai kể từ thời bị đánh ở An Dưỡng, hỏi giật. 
– Cái gì? 
Dương chưa kịp lập lại câu nói thì thằng cán bộ áo vàng đã dõng dạc cất tiếng, giọng có vẻ vui. 
– Sao, đường xa các anh có mệt lắm không? Có đói không? 
Vài giọng tù trả lời nhát gừng. 
Tên cán bộ công an lại tiếp. Thôi để tôi tranh thủ quán triệt các anh vài điểm quan trọng trước mắt phải chấp hành đã nhé. Rồi sẽ cho hướng dẫn các anh về phòng nghỉ ngơi sửa soạn ăn cơm chiều. 

Nói tới đây tên cán bộ lại ngoắc gọi một anh tù đang đứng chầu chực trước cái nhà tranh. Anh tù chạy ngay đến và giở nón chào kính rất lễ độ. Dù trong bộ quần áo sọc tù tội, Vĩnh vẫn nhận ra người tù ấy quen mặt lắm. Nhất định anh đã gặp anh ta một hai lần. Vĩnh cố nhớ nhưng chịu. Anh không thể nhớ ra mình từng gặp người ấy ở đâu! Tên công an nói nhỏ với người tù vài điều, kế anh ta quầy quả đi vào trong trại, và trước khi vượt qua cổng, anh vẫn không quên giở nón lễ phép chào hai thằng Kiki ngồi chễm trệ trên hai trạm gác hai bên cổng. 
Tên công an đã quay lại với đám tù. Hắn nói tiếp. Hôm nay, thay mặt ban giám thị trại cải tạo Hàm Tân, tôi chào mừng các anh được cách mạng chuyển tiếp về đây để tiếp tục phấn đấu học tập cải tạo. Điều trước tiên tôi muốn quán triệt các anh là, ở đâu không biết, riêng ở đây, khi bước qua cổng trại kia là coi như các anh bắt đầu một mốc mới trên con đường phấn đấu học tập cải tạo. Tôi cũng cho các anh biết rõ, mỗi mốc phấn đấu ở trại này được tính bằng thời gian ba năm! 
Có những tiếng xầm xì to nhỏ trong bọn tù. Tên công an phớt lờ đi và vẫn tiếp tục. Điều thứ hai tôi muốn quán triệt các anh là, ở đây, chế độ quân quản hoàn toàn chấm dứt. Các anh bắt đầu được sống dưới chế độ giáo dục của các cán bộ công an nhân dân. Việc xưng hô cũng không còn giống như bên quân quản. Các anh sẽ gọi chúng tôi là cán bộ và xưng tôi. Chúng tôi sẽ gọi các anh bằng anh và xưng tôi. Hắn cười cười một chút rồi tiếp. Dĩ nhiên chúng tôi chỉ anh anh tôi tôi với những người học tập tốt, không vi phạm nội quy trại mà thôi. Các anh nhớ cho điều này! Điều thứ ba là, các anh phải biết trại ta thống thuộc Bộ Nội Vụ. Và để cho thẳng thắn, chúng tôi nói thẳng nơi đây là trại giam. Các anh là can phạm. Còn chúng tôi là cán bộ giám thị. Điều này có nghĩa là Ban Giám Thị trại có đầy đủ mọi quyền hành đề nghị trực tiếp lên Trên xét thả những người có hạnh kiểm tốt, học tập lao động tốt; và dĩ nhiên, chúng tôi cũng có đủ quyền tiếp tục giam giữ để cải hóa những kẻ không chịu tiến bộ, hoặc chưa tiến bộ đủ, thêm ba, hoặc năm, hoặc mười, hoặc mười lăm cái “mốc” nữa cũng không chừng. Cứ nhớ một điều ở trại Hàm Tân này, dưới chế độ quản lý của lực lượng công an nhân dân, chúng tôi có đủ cách giúp các anh ngay sớm mai được rời cổng trại về đoàn tụ gia đình; ngược lại, chúng tôi cũng có đủ quyền lưu giữ các anh ở đây vô thời hạn. 
Một hai ngày nữa, các anh sẽ được hướng dẫn lên hội trường để học bản nội quy, lúc ấy các anh sẽ được quán triệt đầy đủ hơn về các mặt sinh hoạt, học tập và lao động ở trại này. 
Tên cán bộ công an còn nói thêm vài điều nữa trước khi hắn ngoắc gọi mấy tay tù khác cũng đang đứng chầu chực nơi gian nhà tranh gần đấy lại gần. Rồi thì với bản danh sách có sẵn trong tay, hắn đọc tên từng người và cứ bốn mươi người lập thành một nhóm. Những anh bạn tù trong ban tiếp nhận mà Vĩnh đoán là hàng chức sắc nơi đây, lần lượt tiếp nhận từng nhóm một. 
Mươi phút sau, người hướng dẫn đưa nhóm Vĩnh vượt qua cánh cổng, vượt qua vuông sân dài rộng thênh thang để tiến về một trong những dãy nhà nằm góc trong cùng bên cánh phải. Đứng tập họp trước dãy nhà, Vĩnh có thể quan sát kỹ hơn nội cảnh của trại Hàm Tân này. Bên tay mặt của Vĩnh, phía trong cùng, một dãy nhà ba gian nằm ngang cắt đứt giải sân rộng là nhà y tế. Nhìn qua những khung cửa sổ vào trong, Vĩnh thấy có giường chiếu và dăm ba người nằm. Có lẽ họ là những tù bệnh. Nơi góc trái, chỗ giao tiếp giữa nhà y tế và những dãy trại ở, xa mút gần lớp hàng rào tre bao bọc trại, Vĩnh nhận thấy có những dãy nhà thấp tè và lợp tôn tứ bề. Thực ra gọi những dãy này là nhà thì hơi quá, mà phải gọi là những dãy chuồng chó có lẽ đúng hơn. Nó có chiều cao không tới thước rưỡi, bề ngang của mỗi gian trong dãy rộng chừng sáu mươi phân. Vĩnh chưa thể đoán ra những dãy chuồng này dùng để làm gì vì nó được vây kín mít chung quanh. 
Sự quan sát của Vĩnh phải ngừng lại vì anh chàng tiếp nhận đã mở cửa phòng và quay trở lại lên tiếng với bọn mới đến. 

– Cán bộ khi nãy đã quán triệt sơ bộ các anh những điểm cơ bản. Giờ trước khi nhập phòng, tôi nhấn mạnh vài điểm nội quy tạm thời quy định để các anh quán triệt và yêu cầu trước mắt chấp hành cho tốt. 
Bọn Vĩnh chẳng mấy người mà không lộn tiết nghe cái giọng của anh chàng tù đại diện. Hắn bắt chước ngôn ngữ của bọn cán bộ Việt cộng không sai lấy một chữ! 
Tay tiếp nhận bỗng nhiên chỉ tay về phía dãy “chuồng chó”, dọa. Các anh có biết mấy dãy nhà nho nhỏ kia là cái gì không? 
-…..? 
– Đó là khu cachots, tức hầm tối. Ở đây vi phạm nội quy là cầm bằng nằm cachot. Mong các anh đừng phải vào đó. Vừa nóng, vừa tối, vừa khát, lại nhiều muỗi, nhiều kiến lửa, bị cùm chân lên trên vách nằm chết một chỗ và nhất là bị hạ khẩu phần ăn rất nhiều! 
Đe dọa một hơi rồi như thấy mình lạc đề, tay tiếp nhận quay trở lại vấn đề chính. Hắn tiếp. Khi ở trong phòng, tuyệt đối không được cãi vả đánh lộn, không được tụ tập bàn tán chuyện phản động, không được nổi lửa nấu nướng linh tinh, không được ca hát đàn địch nhạc vàng, không được… 
Sau khi hắn lôi ra một lô những cái tuyệt đối không được, hắn ngừng lại nhìn vào nhóm bốn mươi người một lúc ra dáng suy nghĩ. Kế hắn tiếp. Cũng cho các anh biết ở đây cứ bốn mươi người lập thành một đội. Mỗi đội sẽ có một cán bộ quản giáo phụ trách. Để điều hành đội, đội sẽ có một đội trưởng, một đội phó. Đội sẽ được chia làm bốn tổ, mỗi tổ có tổ trưởng tổ phó. Hiện giờ chưa đến lúc bầu bán, để có người trực tiếp làm việc tạm thời với tôi trong vấn đề tiếp nhận cơm canh cho anh em, vấn đề nhận và truyền lại những chỉ thị của cán bộ quản giáo vân vân và vân vân, tôi đề nghị một anh nào đó tự nguyện đứng lên nhận trách nhiệm này. Có anh nào tình nguyện không? 
Chẳng ai tình nguyện! 
Tay tiếp nhận cũng biết rõ sẽ chẳng ai tình nguyện trong trường hợp này, thế nên hắn chỉ luôn một người đứng ở đầu hàng bên trái. Anh này! Anh trông khỏe mạnh nhất đám, tạm thời làm đại diện nghe chưa! 
Câu nói nửa đề nghị nửa ra lệnh khiến người mới đến không dám từ chối. Hắn lại tiếp. Anh tên gì? 
Người mới đến nhỏ nhẹ trả lời. 
– Dạ tôi tên là Lê Văn Tầm. 
– Được rồi. Kể từ bây giờ anh Tầm sẽ là đại diện tạm thời của đội này. Bây giờ anh cho anh em vào phòng sắp xếp và ổn định chỗ nằm. Nằm phòng này chắc cũng chỉ tạm thời… 
Ít phút sau bọn Vĩnh đã được phép đặt chăn mùng mền vào đúng nơi ấn định cho mình. Anh chàng tân đại diện tên Tầm giờ đang xăng xái chạy tới chạy lui điều động anh em dù rằng thực tế chẳng có gì cần điều động. Anh ta lúc này đã cởi phăng chiếc áo ra, tuồng như không phải vì nóng nực mà vì muốn khoe cái tấm thân lực sỹ của anh. Quả thực Tầm có một thân hình thật đẹp của một người từng có dĩ vãng trung thành với những phòng tập thẩm mỹ. Hắn trông còn trẻ, bảnh trai; sau này chưa biết sao chứ hiện tại ăn nói khá nhỏ nhẹ. Khi anh em đã có chỗ ngả lưng, Vĩnh bắt đầu ngồi quan sát căn phòng. Nơi đây hoàn toàn khác biệt với Trảng Lớn, An Dưỡng hoặc ngay cả Suối Máu.

Nói chung trại tù này là một trại tù hoàn toàn mới được dựng lên sau ngày 30 tháng Tư năm 75, và nó chẳng có tí dây mơ rễ má nào với chế độ cũ cả. Dãy nhà hiện tại Vĩnh vừa được đưa vào cũng giống như mười lăm dãy khác nằm song song nhau hai bên sân trại. Mỗi dãy có chiều rộng chừng 6 thước, chiều dài chừng 20 thước, nằm cách nhau chừng 10 thước và đặc biệt có hàng rào làm bằng cọc tre đan mắt cáo cao hơn đầu người vây quanh từng hai dãy một. Khu Vĩnh hiện đang ở gồm hai dãy mang số 8 và 9. Phía bên dãy số 9 còn để trống. 
Bên trong phòng quang cảnh và cách sắp xếp cũng khác hẳn các trại trước. Hiện cảnh cho Vĩnh đoán biết từ đây bọn anh đã thực sự “được hưởng” quy chế tù của xã hội mới. Linh tính cho Vĩnh biết sẽ chẳng còn cái cảnh đêm đêm anh em được tụm năm tụm ba ngồi bên một cái lò than nhỏ ngoài sân trại tán gẫu, hoặc giả được đi lồng từ nhà này sang nhà khác tìm gặp bạn bè chia xẻ hạt múi cục đường. Kinh khủng hơn, Vĩnh và các bạn đang khởi sự được sống dưới một chế độ khét tiếng thế giới: Chế độ công an của các nhà nước cộng sản! 
Đúng như sự quan sát của Vĩnh từ lúc còn ngồi ngoài vuông sân trước cổng trại, dãy nhà bên trên lợp tôn, vách ván, có nhiều khung cửa sổ với chấn song sắt. Bên trong lòng nhà có một lối đi chính giữa chạy suốt từ cửa chính (và cũng là cửa duy nhất) cho tới cuối dãy, được kết thúc bằng một cầu tiêu có ba lỗ. Hai bên lối đi là chỗ nằm của tù. Chỗ nằm được dựng thành hai tầng và hoàn toàn làm bằng gỗ giác xần xùi không được bào láng. Mùi gỗ giác thấm mồ hôi người, mùi chuột bọ, mùi phân và nước tiểu nơi những thùng chứa cuối phòng không được dọn sạch tỏa ra làm ngầy ngật người mới tới. Quang cảnh cũng cho Vĩnh biết những người cũ đã mới di chuyển khỏi phòng này giỏi lắm được hai ngày. 
Mãi mười lăm phút sau Vĩnh mới ngừng quan sát cảnh vật chung quanh và bắt đầu quen với không khí ẩm thấp hôi thối nơi đây. Và cũng đến lúc này anh mới để ý tới các bạn. Vĩnh nhận ra nằm cùng dãy tầng trên bên cánh phải với anh có anh Huy và Dương. Nằm tầng trên phía đối diện có Ý và Điểu. Thôi thế cũng tạm yên, có bạn cũ bên cạnh đời đỡ cô đơn và cũng có thể đỡ vất vả. Vĩnh tính nhắm mắt lại ngủ đại một lát cho đỡ mệt, nhưng giọng người đại diện đã cất lên nơi đầu phòng. 
– Nè! Xin anh em chú ý. Nè! Xin anh em làm ơn chú ý giùm cho. 
Nghe giọng ra lệnh hơi… nhà quê của anh chàng Tầm Vĩnh không khỏi buồn cười. Nhưng rồi những câu kế tiếp của người đại diện làm Vĩnh và mọi người phải chú ý. Nè! Tôi thông báo anh em theo Trên cho biết, tụi mình sẽ nằm yên trong này cho đến khi có lệnh mới. Cửa phòng đã khóa. Cấm… 
Đến lúc này mọi người mới nhìn ra hai cánh cửa phòng to lớn và chắc chắn đã được khóa chặt. Anh bạn tù trong ban tiếp nhận ban nãy không còn thấy mặt mũi đâu. Vĩnh nằm lan man nhớ lại những ngày đầu tiên nhập trại Trảng Lớn. Thời ấy cũng bị nhốt kín như bây giờ, dù bây giờ, dưới chế độ công an, mọi việc xảy ra có vẻ từ tốn hơn, nhẹ nhàng hơn nhưng Vĩnh có cảm giác ghê sợ hơn vì thấy mình đã hoàn toàn lọt vào tay một bọn cai tù ác độc chuyên nghiệp. Bọn này trong mấy chục năm thống trị miền Bắc hẳn đã nhuần nhuyễn những quái chiêu kềm kẹp mà người quốc gia khó có thể hình dung ra trước được. Bỗng nhiên, thật buồn cười, Vĩnh lại thấy “tiếc” cái thời quân quản vừa trôi qua. 
Phạm Xuân Huy đã bò qua chỗ Vĩnh nằm với cục bột luộc mang theo từ Suối Máu. Anh nhẩn nha nhai cục bột và hỏi Vĩnh xem có biết tí gì về địa danh nơi đây không. Khi nãy ngồi trong hàng Vĩnh chỉ nghe lõm được hai anh em khác trò chuyện với nhau, rằng Hàm Tân là một quận huyện cận duyên, nằm về hướng Đông Sài Gòn và trực thuộc tỉnh Thuận Hải (trước năm 75 là tỉnh Phước Tuy) 
Anh Huy lại cất tiếng khơi khơi đúng với cái lối mỉa mai cố hữu của anh. 

– Mẹ bố tụi này nó chơi chữ độc lắm! Một “mốc cải tạo” có giá trị thời gian ba năm. Thế rồi mình sắp sửa tiến bộ đủ sau một quá trình phấn đấu gần chết, thi đua lao động, thi đua tố giác nhau, thi đua… ăn cứt cho chúng nó, để đến khi sắp hết một cái mốc, chúng nó lại chuyển mình đến một nơi khác để khởi sự cho một cái mốc mới! Ôi thôi! Năm bảy cái mốc như thế là xong cuộc đời! 
Vĩnh cười. 
– Trốn nữa? 
Anh Huy nhìn qua khung cửa sổ trên đầu chỗ nằm ra vuông sân bên ngoài, than thở. 
– Tôi có hỏi Ý. Hắn lắc đầu, nói vùng này hắn mù tịt và hình như có cọp. 
Vĩnh lại cười. 
– Lạ nhỉ! Tôi nghe nói “cọp Tuy Hòa ma Bình Thuận”. Nơi đây rất gần với Bình Thuận, tôi tưởng chỉ có ma thôi chứ!? 
Anh Huy như chẳng chú ý tới câu nói đùa của Vĩnh, anh vẫn tiếp tục. 
– Nói thì nói vậy. Hà chính mãnh ư hổ. Thà để cọp ăn sướng hơn ở với lũ phi cầm phi thú này! Tôi nghe nói vượt rừng buông chừng mười lăm cây số là ra tới biển… 
– Tính chơi trò Bướm Vượt Ngục sao đây? 
Anh Huy vẫn tỏ ra bình tĩnh trước lối đùa của Vĩnh. 
– Không, không thể ra biển được. Tụi này dân bộ binh. Đôi chân phải làm chủ vận mệnh. Chỉ có cách lội ngược về hướng Tây Bắc, đi qua Xuân Lộc lên Định Quán. Tôi có bà con ruột thịt ở Di Linh. Ta sẽ nấn ná ở đó một thời gian rồi tìm đường lên vùng Tam Biên. 
– Lên vùng Tam Biên làm gì trên đó? 
Bị hỏi thình lình, anh Huy lại ú ớ. 
– À… à… thì mình tìm cách vọt sang Thái Lan. 
– Nếu không vào rừng tìm kháng chiến mà muốn sang Thái Lan sao không đi đường dưới cho gần? Về Sài Gòn rồi băng qua ngả Tây Ninh. 
Anh Huy lại mơ mộng. 
– Ấy! Người ta nói bên ngoài bây giờ nếu muốn vượt biên chỉ có hai cách, một bằng đường thuyền hai bằng đường bộ. Riêng đường bộ phải đi bằng ngả Tam Biên mới chắc ăn! 
Nghe Anh Huy bàn chuyện vượt biên bằng ngả Tam Biên quả Vĩnh không biết nói sao. Vĩnh chỉ ậm ừ góp thêm vài câu cho qua chuyện. Đã có lúc Vĩnh tính đùa anh Huy một câu rằng đường Biên Hòa Sài Gòn bằng cái tí teo, ấy thế mà anh còn bị chúng nó vồ trở lại; giờ còn đến cả chuyện mình trần trôn chả bò lên tới vùng Tam Biên nghe nó làm sao ấy! Nghĩ thế nhưng Vĩnh không nói ra. Anh sợ anh Huy mích lòng. Anh Huy nhìn Vĩnh một thoáng. Đôi mắt anh hơi bối rối như người đang ân hận về một điều lầm lỗi ngày qua. Anh nói nhỏ. Kỳ này có đi thì nhất định phải có ông bằng mọi giá. 

Vĩnh nhẹ cười. 
– Thôi cám ơn anh. Nói anh đừng giận. Giờ đây tôi kiệt sức thật rồi! 
Anh Huy có vẻ buồn. Anh đứng lên lom khom đi về chỗ nằm. Bên phía đối diện Ý đã lôi điếu cầy ra. Nhiều người bu lại hút nhờ điếu. Vĩnh đứng lên, nắm cái đà dọc lấy đà tung mình nhảy sang dãy sạp gỗ đối diện. Chưa kịp ngồi xuống, Vĩnh đã thấy cái sạp bên dưới có tiếng người la. 
– Ý trời đất ơi! Mấy cha nằm trên làm cái gì vậy? 
Có mấy tiếng lục cục rồi tiếng la chợt đổi giọng hẳn, vừa thất thanh vừa giận dữ. Ý mèng đéc ông bà tui ơi! Tụi bây đổ nước điếu xuống đầu tao hả? 
Tiếng la thất thanh vừa dứt thì một cái đầu từ tầng dưới đã ló lên tầng trên. Một bộ mặt hầm hầm ngó vào đám người đang ngồi quanh cái điếu cầy chỗ Ý nằm như tìm kiếm một cái gì. Vĩnh đã hiểu ra nguyên do. Một anh chàng vụng tay gạt đổ cái điếu, và cái thứ nước điếu hôi hám ấy chảy xuống tưới cả lên đầu người nằm tầng dưới. Biết anh bạn cáu lắm nên mọi người đều lên tiếng xin lỗi giùm cho anh chàng vô ý. Người nằm dưới biết là có la hét mấy thì cũng không làm gì khác hơn được. Anh ta ngồi thụp xuống, chui vào chỗ nằm, miệng vừa lẩm bẩm chửi thề vừa lấy một cái bao cát rách lau đầu lau cổ và lau luôn mấy miếng ván lót dưới chỗ nằm của anh. 
Vĩnh hút xong điếu thuốc lại nhảy về chỗ. Anh ngó ra ngoài vuông sân lần nữa. Từ chỗ này Vĩnh có thể nhìn thấy nhà y tế thật rõ ràng. Hơn thế, Vĩnh còn có thể nhìn qua lớp hàng rào tre gai sau nhà y tế, chỗ ấy hiện có nhiều bóng người đang cuốc hay đào một cái gì đó. 
Đang lơ mơ nghĩ ngợi, giọng của người đại diện phòng bỗng lại cất lên. 
– Nè! Yêu cầu mấy người chú ý giùm cho! Anh đại diện vừa nói qua kẽ vách chút xíu nữa phòng ta sẽ cử năm người xuống bếp khiêng cơm canh về phát cho anh em. Giờ mình chưa có đội tổ gì ráo trọi, vậy anh nào thấy mình khỏe mạnh thì tình nguyện đi với tui. 
Vĩnh rất muốn tình nguyện để được đi thăm thú một vòng, tuy nhiên nhìn lại tấm thân hiện tại cân không tới 40 kgs của mình Vĩnh lại thôi. Chắc chắn chẳng có ai dám cho anh đi theo xuống bếp khênh cơm, điều ấy rất có thể sẽ khiến cả đội đói nhăn răng vì máng cơm tuột tay rơi xuống đất. 
Vĩnh lại tiếp tục nằm quan sát quang cảnh bên ngoài khung cửa sổ. Một người nằm cạnh Vĩnh lục túi đồ của anh ta và nhón ra một cục đường thẻ nằm nhâm nhi. Vĩnh bỗng thấy mình vô sản đến cùng cực. Anh tự trách mình sơ hở, phút cuối thay vì chỉ đem phơi mấy vắt mì bị ướt mốc, anh đã móc cả cái túi thực phẩm khô lên hàng rào giữa dãy cách ly và K.4, để đến nỗi bị một anh chàng nhám tay nào đó thuổng mất cả. Vĩnh tiếc nhất là tấm ảnh chụp ba thằng con trai của anh mà vợ anh mới đưa cho trong lần thăm kỳ Tết.






Tôi và chị Hằng

Hồ Đắc Vũ

September 15th, 2022

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Thẩm Thúy Hằng thập niên 60. Nguồn. wikidipia  

Lời Giới Thiệu: Với vai diễn đầu tiên là vai Tam Nương trong phim Người đẹp Bình Dương  của hãng phim Mỹ Vân do nghệ sĩ Năm Châu đạo diễn, ra mắt năm 1958, Thẩm Thúy Hằng đã chinh phục khán giả màn ảnh rộng lúc bấy giờ. Cái tên “Người đẹp Bình Dương” đã theo Thẩm Thúy Hằng đi suốt cuộc hành trình nghệ thuật của nữ tài tử. Bà góp mặt trong khoảng 60 phim và trở thành minh tinh số một thời bấy giờ.

Bà qua đời ngày 7 tháng 9 tại Sài Gòn ở tuổi 82.

Bài viết của Hồ Đắc Vũ ghi lại một kỷ niệm với minh tinh Thẩm Thúy Hằng.

Tôi quen chị Hằng trước 75, tại Alfa phim, lúc đó tôi làm việc cho Lidac Film. Mùa thu năm 1982, tôi, đạo diễn phim hoạt hình và chị Thẩm Thúy Hằng (lúc này được gọi là “diễn viên” phim truyện, thay vì trang trọng là “Nữ tài tử” như trước 75) cùng tham dự Liên Hoan Phim Quốc Tế tại Tashkent, thủ đô của nước Uzbekistan, Liên Xô.

Cầm tờ chương trình liên hoan phim và vài thư mời tham gia những sự kiện đặc biệt của ban tổ chức gởi riêng cho từng người được mời. Tôi nói.

– Nè! Chị có 2 thư mời đặc biệt.

– Ngon vậy? Làm gì em?

– Một, của ban tổ chức mời chị (Nguyên văn tên thư mời: Miss Tham Thuy Hang, Vietnam) khai mạc lễ liên hoan phim thế giới kỳ này.

Chị H., ngồi phịch xuống ghế.

– Trời! Hãnh diện quá! Chị phải làm cái gì?.. Tao phải làm gì V?

Tôi cười.

– Thì diện cho thiệt đẹp, lúc nào cũng tươi cười, duyên dáng, họ mời làm gì thì làm theo, họ nói tiếng Anh mà.

– Nhưng em phải theo bên chị, cho chắc ăn.

– Ừa! tui lúc nào cũng sát bên, đừng lo.

Ðang ăn tối ở khách sạn, có người đàn ông Nga, lịch sự trong bộ vét trắng, tới chào, tự giới thiệu.

“Tôi là Ðại Tá Giám Ðốc Công An của Tashkent, xin được gởi thư mời” Ông đặt chiếc phong bì màu đỏ, tận tay chị H, chào, quay đi.

– Trời! sao có vụ công an nữa, em coi giùm

Tôi cũng thấy lạ, run run mở bao thư.

– Giám Ðốc Công An (Chắc là KGB!) hân hạnh…Vậy là hổng sao chị ơi, thường thì ở bên mình “…Mời lên văn phòng LÀM VIỆC! Mới là mệt.

Tay tôi hết run.

– Ðọc tiếp em.

– Mời… Ðến khách sạn… vào lúc. Dự dạ tiệc do Giám Ðốc Công An thành phố khoản đãi nhân dịp Liên Hoan Phim Tashkent-82.

Hồ Đắc Vũ (thứ 2 bên trái), Thẩm Thúy Hằng (thứ 2 bên phải) và 2 đạo diễn Mỹ tại Liên Hoan Phim Tashkent-1982. Nguồn. HDV.

Tôi ngồi xuống bàn thở phì.

– Xong! Nhớ tối mai, 8 giờ tối.

Tôi ra cửa, nhắc.

– Mai chị dậy 6 giờ sáng, dự lễ khai mạc.

– Xe rước lúc 11 giờ trưa, sau khi ăn sáng, dậy 6 giờ làm gì chớ?

– Hóa trang, trang bị đồ nghề cho sắc đẹp, 5 tiếng đồng hồ mới đủ cho chị.

Chị H. cười hà hà.

Xe đưa các đoàn điện ảnh quốc tế tới nhà hát lớn của Tashkent.

Ðoàn Việt Nam được ngồi ngay hàng ghế đỏ đầu tiên, bao nhiêu cặp mắt đổ vô chị Hằng, bởi bộ áo dài nhung đỏ rượu chát, đính hạt cườm hình con rồng uốn mình từ trên vai xuống tới tà áo dưới, lấp lánh ánh đèn màu. Chị thả nụ cười chiến lược, đôi mắt đẹp chớp chớp.

Tràng vỗ tay chào đón.

Một người trong ban tổ chức tới nhắc chị H về cách cắt băng khai mạc trên sân khấu, đưa chị đến ngồi ngay dãy ghế đặc biệt dành cho Trưởng ban Tổ chức, Thị trưởng, những cấp cao của điện ảnh Liên Xô, Tashkent, ngay trước mặt tôi.

Dàn kèn đồng vang vang, lễ khai mạc bắt đầu, sau vài bài diễn văn dài thông lệ, các cô gái trong quốc phục áo đầm dài tay dài bằng lụa, nhiều sọc màu rực rỡ, nón vuông trên đầu màu trắng kiểu Hồi sắp thành hàng dài, trên tay là những lẵng hoa hồng đỏ

Tới giờ cắt băng khai mạc.

Theo kịch bản, một thanh niên trong quốc phục bước tới, đưa chị H. lên sân khấu…

Nhưng.

Hồ Đắc Vũ tại Moscow, 1982. Nguồn. HDV

Chị H, vừa nhổm dậy, ngồi ngay xuống, quay lại.

– V! Chị bị kẹt áo không đứng lên được.

Tôi bước lên, đúng là tà áo dài phía sau kẹt sát vô hông chiếc ghế lật (Loại trong rạp xi nê).

Tôi cúi xuống kéo ra, chị H thì thầm rất nghiêm trọng.

– Chết! Nó bung 2 nút áo mậy!

Mọi người chung quanh quay đi, cả rạp hát im lặng, chờ.

– Bây giờ chị ngồi sát xuống, nhổm mông lên một chút, tui sẽ lật ghế, kéo vạt áo dài ra.

Ðúng như vậy! vạt áo sút ra, anh thanh niên dìu chị H lên sân khấu.

Tôi thở hắt, ngồi xuống, nhìn lên.

Trên sân khấu, chị Hằng đẹp ngây ngất, chiếc áo dài nhung với con rồng lấp lánh càng tôn vinh vẻ đẹp dịu dàng của một tài tử điện ảnh nổi tiếng, nét đẹp rất Việt Nam của chị H rực sáng cả rạp hát lớn.

Những tiếng vỗ tay, huýt sáo, xì xào, chị H bước tới cắt chiếc băng dài, nối với những lẵng hoa hồng trên tay các cô gái.

Tối, dự dạ tiệc.

– Hay chị mặc đồ Tây cho gọn, khỏi kẹt như hồi sáng.

Chị H hỏi tôi.

– Không! Áo dài đẹp rực rỡ luôn, khỏi đồ Tây.

Chiếc áo dài trắng đính cườm của chị H làm bao nhiêu khách đổ xô vô xin chụp hình và mời những buổi tiệc riêng, chị H đều cám ơn, không Yes, không No.

Tôi về khách sạn, lên phòng, 2 chị em uống lai rai thêm chai chát đỏ, vài lon bia với món khô tuần lộc, món nổi tiếng địa phương. Ngon quá luôn!

Tôi là đà.

– Mai 12 giờ trưa, xe đón chị đi cắt băng khánh thành một tượng đài chiến sĩ gì đó, sau đó bà vợ của ông lớn điện ảnh đích thân mời chị đi chơi, mua hàng.

1 giờ trưa, nắng hơi gắt. Tại khu tượng đài chiến sĩ của thành phố Tashkent mới xây xong.

Những toán lính bồng súng chào, sắc phục khác nhau sắp hàng ngay ngắn chung quanh, dân chúng tham dự khá đông.

Chị H, tôi, ông bà Thị trưởng, các nhân vật quan trọng của điện ảnh Tashkent, Liên Xô ngồi trong lều, uống cà phê, ăn bánh ngọt đợi giờ khai mạc.

– Chết tao rồi.

– Gì nữa chị? Chết hoài vậy.

– Cái lông của tao rớt!

Tôi xanh mặt.

– Lông của chị rớt? Mà lông gì?

Tôi chồm qua.

– Ðâu?

Chị H cười chúm chím, đưa ngón tay trỏ.

– Nè! Cái lông mi giả, nó khô keo rớt ra!

– Thì chị dán lại.

– Nó hổng dính.

– Tiêu rồi!

Tôi thở dài.

Thẩm Thúy Hằng, Hồ Đắc Vũ với đạo diễn nổi tiếng của Tashkent. Nguồn. HDV

– Chị tưởng tượng… Một tài tử điện ảnh Việt Nam, người có vinh dự khai mạc và đẹp nức nở, nổi tiếng trong Liên Hoan Phim Tashkent đi cắt băng khai mạc tượng đài chiến sĩ Tashkent với chỉ một lông mi giả! À! Người ta sẽ nghĩ sai về chị.

Chị H ái ngại nhìn tôi.

– Hay em cho chị mượn cái mắt kính đeo vô là xong.

– Trời đất! Người ta sẽ điên lên khi một diễn viên tuyệt đẹp như chị lại chơi mắt kính điệp viên đen thui không không thấy đi cắt băng khánh thành, họ nghĩ là chị đi đám ma!

– Hay chị lấy cái lông bên mắt kia ra là yên.

Chị H giẫy lên.

– Hổng được, mắt tao đẹp thêm nhờ cái lông đó.

Chị H đứng dậy.

– Vậy thì dắt chị vô phòng vệ sinh giùm.

Tôi dắt chị vô phòng vệ sinh, người cứ hồi hộp cho cái lông mi giả, của chị H.

5 phút sau, chị H bước ra lều, mặt đẹp như thường, đôi mắt chớp chớp làm điệu.

Chị ngồi xuống, cười hí hí.

– Xong “Gồi”, dính “Gồi”.

Lễ tan, bà vợ ông lớn tới chào tiếng Anh lưu loát.

– Rất cám ơn bà và anh, tôi xin mời dạo chơi.

Xe chạy một vòng phố xá, thành phố Tashkent mang đầy màu sắc của văn minh Hồi, khá giống với Thổ Nhĩ Kỳ. Có nhiều nhà thờ với những tháp cao màu trắng.

– Ðây là khu mua sắm lớn nhất thành phố, nơi các bạn có thể mua đồ Châu Âu, Nhật, Tàu hoặc Liên Xô.

Bà lớn giới thiệu.

Những người bán hàng, khách đều nhận diện chị H qua TV phỏng vấn, lễ khai mạc, nên vây quanh cười chào, xin chụp hình.

Bà lớn.

– Vui quá! Ðứng hết vô với nhau.

Bà đưa cái máy Canon FTB, tôi bấm liên tục.

Bà lớn kéo chị H.

– Chị thích gì, tôi xin tặng.

Chị H rất lịch sự, chỉ mua mấy khăn lụa tơ tằm nội địa.

Ði chừng vài bước, chị H quẹo người muốn té.

– Sao vậy?

– Cha ơi! Gãy gót giày.

Chị rối rít.

Tôi đưa chị H tới quán cà phê, gọi cà phê, kem.

– Chiếc giày bên trái gãy gót, nên chị cà thọt.

Tôi chọc.

– Người ta nói “Nếu Liz Taylor có cạo trọc, thì vẫn là Liz” vậy thì…

Chị H.

– … Thẩm Thúy Hằng có đi cà thọt vẫn là chị Hằng… chứ gì?

Chị lên giọng, nói nhanh (khi cấp bách, chị H thường nói rất nhanh).

– Em trai! Em nghĩ sao khi thấy Thẩm Thúy Hằng đi cà thọt ở xứ người? Hả? Hả?

Chị xuống giọng.

– Qua tiệm giày, mua cho chị một đôi trung bình, da màu đen.

Tôi chạy vô tiệm giày, người ta biết, mang ra cho chị mấy đôi giày đẹp.

– Giày ở đây còn thua giày Chợ Lớn!

Tôi quay lại cám ơn mọi người.

Chị H đứng dậy, rút luôn đôi giày, lòi đôi chân trần.

– Em bỏ đôi giày vô thùng rác giùm.

Chị H mặc áo dài vàng yến, đi chân không dạo chơi cả khu shopping, mọi người reo hò, chào hỏi.

Tôi thấy quá có lý.

Vì đôi chân gót đỏ hồng, cũng đẹp không thua gì chị…

HĐV

* Sau thời gian sức khỏe suy yếu, ‘Người đẹp Bình Dương’ Thẩm Thúy Hằng, 82 tuổi, đã qua đời tại nhà riêng ở Thanh Đa, TP HCM, ngày 7/9/2022

Từ Má hồng đến Những mảnh đời tị nạn

phusaonline.free.fr

Nguyễn Mạnh Trinh PSN – 21.1.2013

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

“… Bác tiếp tế cho tụi nó những gì? 

Một cánh tay bà bỏ thòng chạm đất, mấy ngón tay quều quào gãi gãi mép bàn chân nứt nẻ. Một vài tiếng nói ngắt quãng bay ra: 

– Sữa. Cơm. Thuốc nhức đầu.

– Tụi nó gặp bác ở đâu để lấy đồ?

– Ngoài ấp. 

Im lặng. Có tiếng chim líu ríu trên cành. Chắc một đôi vành khuyên đang tập bay chuyền. Tôi hỏi tiếp: 

– Bác thích tụi nó lắm sao? 

Vuông khăn đen động đậy qua lại: 

– Không

– Sao bác giúp tụi nó?

– nó là con trai tôi…” 

Và một đoạn khác, những đối thoại chân thực mà đầy chất sống. Những chuyện không thể nghĩ tới, từ một nơi chốn đầy đe dọa chém giết. 

“… Bà già khóc nhỏ hơn lúc nãy. Cái đầu bà nằm bẹp xuống khuỷu tay đặt khòng khoèo trong lòng. 

– Sao ông Tỉnh Trưởng biết bác tiếp tế?

– Tôi nói cho ổng nghe

– Bác nói làm chi?

– Ổng hỏi. 

Tôi gắt như với một người thân thiết, trời, phải giấu chứ. Ông ấy bắt là đúng lắm….”

Những đoạn như thế có rất nhiều trong “Má Hồng”. Chỉ mô tả thôi nhưng chứa đựng bao nhiêu điều muốn nói, muốân ngỏ. Một cuộc chiến kỳ lạ. Và một đời sống cũng cực kỳ lạ lùng. Chẳng ai hiểu nổi cái mặt trái và mặt phải của chiến tranh. 

Bây giờ đọc lại những trang sách sau ba mươi năm sau, những liên tưởng mà hồi trước đã có như biến dạng đi. Thay vào đó, là những suy nghĩ khác. Chiến tranh đã chấm dứt. Những dư âm cũng dần dần mai một. Chuyên chết chóc đau thương nhiều quá đã thành nhàm chán. Nếu tính sổ, những cái chết oan khuất của hai bên lên tới cả triệu sinh linh. Có những câu hỏi. Tại ai? Vì sao? Mà nên nông nỗi… 

Đọc lại tác phẩm tái bản, tự nhiên tôi thấy lại những chân dung con người thực. Họ sống, thản nhiên, bình thường cả những cái chết và những cái sống. Trong nhân vật của “Má Hồng “không có điểm tô vẽ vời. Và chính vì thế mà qua đãi lọc của thời gian, những nhân vật ấy vẫn còn sức lôi cuốn. Đời sống một thời vẫn còn hiển hiện những nét của con người chân thực. 

Một tác phẩm khác của nhà văn Đỗ Tiến Đức viết ở hải ngoại. 

Truyện dài “Tháng tư, 1975”. Đó là một thời điểm lịch sử mở ra biết bao nhiêu là sự kiện. Chiến tranh đã hết ngoài chiến trường nhưng một cuộc chiến khác bắt đầu khốc liệt. Một mặt trận của những người tự coi là chiến thắng muốn xóa bỏ một xã hội của những người bị coi là thua trận. Mặt trận ấy, cũng có số tổn hại khá lớn. Hàng ngàn người chết trong lao ngục và hàng trăm ngàn người chết khi vượt biển Đông. Đất nước rơi vào một tình trạng kiệt quệ, đói nghèo và bị cô lập. Sau tháng năm ấy, là một thời kỳ rất là u ám của đất nước Việt Nam. Bây giờ, nhìn lại, hình như trong văn chương vẫn chưa đủ để lột tả hết thực trạng lúc ấy. Mặc dù, đã có nhiều tác phẩm viết về, nói về. 

“Tháng tư, 1975”. Cũng là nhan đề của một tác phẩm của nhà văn Đỗ Tiến Đức. Một cuốn sách khởi đầu từ những trang nhật ký của một người lính của quân lực VNCH, trung tá Phan Trần Lê, người đã trải qua những ngày thơ ấu ở miền Bắc, di cư vào Nam năm 1954 và trưởng thành ở xã hội miền Nam. Câu chuyện kể từ những hồi ức ấy có nét chung mang của những người chung thời thế hoạn nạn từ định mệnh của cơn hồng thủy. Một điều trớ trêu là người con của nhân vật Phan Trần Lê ấy lại không đủ khả năng Việt ngữ để đọc và hiểu tập nhật ký nên tác giả là người đọc và kể lại cuộc đời đầy bi kịch. 

Trong “Tháng tư, 1975”, một xã hội vỡ vụn tan tác được phác họa. Nhất là số phận thảm thương của những người bại trận. Nhân vật chính thì gia đình ly tán, cố gắng vùng vẫy tìm phương tiện để ra đi nhưng vô vọng, rồi vào tù, trải qua những cảnh đầy ải khốn khổ. Nhân vật Quỳnh Lan thì vì tình yêu mà trốn gia đình ở lại, bị cưỡng hiếp rồi đuổi khỏi ngôi nhà của gia đình, rồi khi đi vượt biển thì bị bắt, bị lột trần truồng, bị xúc phạm xác thịt đến nỗi ngất xỉu. Thế mà sau này lại trở thành vợ của một thứ trưởng bộ Công An đầy quyền uy của chế độ Cộng Sản. Những chuyện ấy, đối với mọi người có lẽ không lạ. Bởi ở xã hội Việt Nam, đã xảy ra thường hằng những chuyện như vậy. Nhưng với những người trẻ lớn lên, nhất là ở ngoài nước khó mà tưởng tượng được. Thành ra, ăn cơm mới nói chuyện cũ có phải là một phương cách để làm sống lại lịch sử. Những tội ác phải được nhắc đến, sự thực phải được tôn trọng sự chân thực. 

Như bây giờ, dù câu chuyện đã xảy ra từ hơn nửa thế kỷ mà vẫn có nhiều người cầm bút trong nước kể về, viết về phong trào cải cách ruộng đất, về vụ án Nhân Văn giai phẩm, về những oan khuất chập chùng, những khổ ải đớn đau, mà nạn nhân không phải riêng một cá nhân mà còn ảnh hưởng đến mọi người thân như kiểu “tru di tam tộc” ngày xưa nữa. 

Viết về tháng tư, 1975 trong văn học có nhiều người viết, ở trong nước. Từ những chiến tuyến, sự thật được nhìn ngắm khác nhau nên chỉ là một góc sự thật. Và diễn tả sự thật ấy theo một phương cách làm méo mó sự kiện đi. Như Bảo Ninh, viết vớisự chỉ đạo để có chân dung một người lính Bắc quân, tuy có sắt máu với đối phương nhưng khoan hòa với dân chúng. Dù tới nay, đã có nhiều chuyển biến, nhưng cái nhìn vẫn chưa đổi. Trong một tâp truyện ngắn mới nhất của Bảo Ninh “Lan man khi kẹt xe”, vẫn thái độ mỉa mai những người thua trận, và đánh bóng những người chiến thắng. Như truyện ngắn “301” chẳng hạn. Lối nhận định địch ta đã làm Bảo Ninh nhắm vào cả xã hội miền Nam thành kẻ thù. Một người đã nhìn chiến tranh với con mắt khác lề lối tuyên truyền một chút còn như thế, huống chi cả chục, cả trăm nhà văn khác đang đồng ca một dàn hợp xướng theo sự chỉ đạo của chế độ. 

Đọc Tháng tư, 1975, độc giả sẽ tìm được những sự kiện chân thực của một thời đại đầy bi kịch. Những chuyện mà sau này dẫn đến tình cảnh “cây cột đèn đường mà cũng muốn bỏ đất nước để vượt biển ra đi”. Sau tháng tư, 1975 là cơn hồng thủy cuốn trôi đi tất cả. Thân phận những người như Phan Trần Lê cũng như thế. Họ cuốn theo cơn loạn cuồng của thời thế. Cuộc đời của nhân vật này có nhiều kỳ lạ, có vợ và con ngoài Bắc trước lúc di cư rồi lại tình cờ gặp lại đứa con trong trại tù với địa vị của người tù và người quản giáo, rồi những mối tình và liên hệ xác thịt với Thanh, với Quỳnh Lan, với Yến, đều là những chuyện tình cờ ít ai tưởng tượng được. Có lẽ, trong những giây phút đặc biệt, trong những hoàn cảnh đặc biệt, tình cảm cũng như xác thịt đã gây ra những hậu quả tuy bất thường nhưng lại là thường tình với những người sống trong thời thế ấy. 

Chuyện mà ai cũng biết nhưng vẫn lạ lùng trong thời đại bây giờ, những chuyện ông thành thằng, thằng lên ông, những người bất đắc dĩ đóng những vai trò ngoài ý muốn, những câu chuyện thật của những người miền Bắc vào Nam òa vỡ những điều bị chế độ tuyên truyền xuyên tạc làm thành bức màn che giấu sự thực… Tất cả những điều ấy, đã được nói, đã được viết từ nhiều người nhưng dường như chẳng đủ. Có người cho rằng những đề tài như thế đã bị bão hòa, đã thành những điều quá quen thuộc đối với độc giả và không thể nào trở thành một đề tài lớn cho văn học. Tôi phân vân về chữ “đề tài lớn”. Nếu cần phân tích không thể chỉ vài dòng chữ là đủ và những đề tài mà có người cho là đề tài có tính thời sự như thế theo thời gian sẽ bị lu mờ và đào thải. Theo tôi thì nghĩ ngược lại. Dù thời gian đã lâu, những đề tài như vậy vẫn cần thiết để nhắc lại. Để cho lớp sau, nhìn vào quá khứ thương đau với những kinh nghiệm chua xót, để có cái tâm trong trẻo hơn và tầm mắt viễn kiến hơn, cho một đất nước tốt đẹp hơn. . . 

Đọc “Tháng tư, 1975” của tác giả Đỗ Tiến Đức, tôi lại nghĩ tới những ngày tháng ấy của tôi. Dù giống như trăm ngàn người khác nhưng cũng đầy dủ bi thảm, thất vọng, hy vọng của một tấn kịch thời thế. Đọc lại những trang sách, nhớ lại những tháng ngày, tôi đã ngạc nhiên khi soi rọi lại chính cuộc đời mình và tự hỏi tại sao mình đã vượt qua được những khổ nạn như thế để có ngày hôm nay, có một nghề nghiệp để nuôi thân, có một gia đình êm ấm và một đời sống tinh thần thoải mái tự do. Tôi chạnh nghĩ tới những người, vì lý do này hay lý do khác, vẫn còn tìm đủ lý do để bào chữa cho kẻ ác, dù họ cũng bị nhiều nghiệt ngã khi sống trong nước. Qua đây, sống tự do, họ quay lưng lại cái quá khứ đen tối mà họ phải chịu, để cam tâm chạy theo những mưu đồ những thủ đoạn của bạo quyền. Họ nói trong nước đã thay đổi khác trước. Nhưng, có khác được không, cái tâm của những kẻ không từ một thủ đoạn nào để tạo thành một thời đại của lừa gạt và che dấu của chế độ độc tài toàn trị như nhà văn Solzhenytsin giải Nobel văn chương đã lớn tiếng lên án. 

Chiến tranh. Tị nạn. Vượt biển. Định cư. Hội nhập. Tất cả những đề tài ấy có lẽ sẽ là những pho sách triệu triệu trang của các tác giả, không phải với riêng người Việt Nam mà cả với những tác giả ngoại quốc khác. Bên cạnh những nét tích cực, những tấm gương cần cù, can đảm làm lại cuộc đời từ bàn tay trắng còn có những nét tiêu cực, của những bi kịch, của những hãnh tiến, của những người lợi dụng thời htế để sống cho mình và hưởng thụ cho mình. Trong đời sống có nhiều mặt tương phản ấy, tác giả Đỗ Tiến Đức vừa là người kể chuyện, vừa là người diễn tả một phần nào tâm tư của mình, đã phác họa bằng văn xuôi, bằng truyện phim, bằng thơ trong tác phẩm “những chuyện rất Việt Nam”. Có chủ đích muốn diễn tả những mảng đời, có thể là điển hình của một thời đại đầy biến động của đất nước, tác giả muốn tác phẩm của mình như một tấm gương soi để phản ánhlại một thế thời… 

Trước năm 1975, Đỗ tiến Đức viết “Má Hồng”, một tiểu thuyết có tham vọng muốn ghi chép lại để mô tả một xã hội chiến tranh, mà ở đó những người trí thức trẻ đã hoặc tự lao vào hoặc bị lôi kéo đưa đẩy vào một thời thế mà những chuyện bi đát thương tâm xảy ra thường hằng một cách lạnh lùng bình thản. Sau năm 1975, ông bị cải tạo và vượt biển sang Mỹ. Đời sống của ông và những người chung quanh đã tạo nhiều cảm hứng cho văn chương ông. Ba tuyển tập truyện ngắn: Lối Vào, Vầng Trăng Trong Mưa, Tiếng Xưa, hình như đều có chung một mục đích mô tả những nhân vật có nét biểu trưng độc đáo của những người Việt Nam lưu lạc xứ người. Mỗi khuôn dáng, đều có ẩn tàng hoặc chuyên chở theo những nỗi niềm tâm sự, mà những bất hạnh dường như nhiều hơn và che khuất hạnh phúc. 

Đến những truyện ngắn trong tuyển tập này như: Một Chuyện Rất Việt Nam, Cõi Trần, Sợi Tóc, những bi kịch dường như bất tận với các nhân vật. Từ mối tình vượt qua chiến tuyến giữa ông bác sĩ “ngụy”  và cô sĩ quan Công An trong “Một Chuyện Rất Việt Nam” đến người đàn bà thân phận long đong như Thúy Kiều của cụ Tiên Điền, đã lỡ làng với mấy đời chồng mà khi nhắm mắt lâm chung chẳng có ai là thân nhân ruột thịt đưa tiễn của truyện “Sợi tóc”. Đời sống, dù ở trong nước nghèo khổ, hay ở nước ngoài sung túc cũng đều trải dài những nỗi buồn, mà, đôi khi do chính loài người tạo ra cho nhau.

Có phải những nhân vật như thế rất gần với chúng ta? Ông bác sĩ dù vẫn còn yêu người tình cũ nhưng vẫn phải giả ngơ dưới bàn tay chỉ đạo của người vợ hiện tại- Chuyện ấy, không lạ với chúng ta, có rất nhiều những người»tương cận»với ông Nguyễn Ngọc Luận trong “Một chuyện rất Việt Nam”! Hay, những chuyện luyến ái giữa các cụ cao niên ở những trung tâm người già, có biết bao nhiêu những người giống như ông Henry Trần bệnh hoạn dâm đãng đầy dẫy trong xã hội người tị nạn chúng ta trong truyện ngắn “Sợi tóc”? Chuyện trở về du lịch hoặc sống ở Việt Nam luôn luôn vẫn là đề tài gây nhiều tranh cãi và tác giả đã kể chuyện một vị tướng cảnh sát thời VNCH về thăm quê hương với những chuyện bi thảm xảy ra trong cuộc hành trình ấy. Dĩ vãng, và hiện tại, là những cơn ác mộng. Trong xã hội tha hóa, con người hình như đánh mất đi những nét thiên lương và, bóng tối mầu đen đã phủ chụp lên những tầm mắt, những cảm nghĩ. Đọc “Cõi Trần”, để thấy rằng dù ở đâu, xứ người hay quê nhà, chúng ta vẫn còn rất nhiều nạn nhân chiến cuộc, dù cuộc chiến tranh ấy đã dứt hơn ba chuc năm … 

Tác giả Đỗ Tiến Đức còn là một đạo diễn phim ảnh và một người viết truyện phim chuyên nghiệp. Tác phẩm mới này có lẽ là tất cả những sở trường của ông, nên có một truyện phim” Khu chợ ở Little Saigon”. Lại là một phản ánh đời sống, vừa xác thực, lại vừa có tính thời đại. Những hoạt cảnh của một đời sống mà thực giả, đạo đức và vô đạo đức, trộn lẫn trong đời sống đã có nhiều phức tạp mà tốt xấu như trong trạng thái mù mịt không phân tỏ được. 

Cũng có vài bài thơ, mà, tác giả đã làm trong những cảnh huống đặc biệt của đời mình. Riêng tôi, bài thơ cuối cuốn sách làm tôi cảm xúc. Bài thơ Tạ Ơn Anh: 

“Bài thơ được viết vào một dịp Lễ Tạ Ơn khi một độc giả gửi tới cho Thời Luận tấm hình chụp anh phế binh lê lết xin ăn ở một tỉnh lẻ Miền nam Việt nam và cùng lúc nghe tin một hội cựu quân nhân tổ chức khiêu vũ Thanksgiving ở vũ trường thủ đô tị nạn:

Anh không còn đôi chân

Lướt trên sàn khiêu vũ

Anh không còn đôi tay

Gối đầu em giấc ngủ

Anh không còn là người

Cũng không thành con thú

Môi anh sao vẫn cười

Mắt như vì tinh tú.

Anh ngày xưa ngày xưa

Là thiên thần Mũ Đỏ

Chân anh mang giày sô

Tay lái dù trong gió?

Hay anh là nghĩa quân

Giữ làng cho dân ngủ

Hay anh là Mũ Xanh

Tuyến đầu anh trấn thủ?

Đất mẹ chưa ru anh

Cuộc chiến tàn cờ rủ

Tay chân làm phân xanh

Vài ba bông dại nở

Xưa lựu đạn dao găm

Nay chiếc lon nho nhỏ

Xưa đánh pháo diệt tăng

Nay cơm thừa nước đổ

Xưa đồng đội như rừng

Gót giày vang mặt phố

Nay xa cách muôn trùng

Một thân nơi xó chợ

Những người hai mươi năm

Thoảng như cơn mộng dữ

Còn mỗi khúc thân tàn

Vinh danh ngày tháng cũ.”

Đỗ Tiến Đức là một khuôn mặt văn chương đa diện. Dù bất cứ trong vị trí của công việc nào, làm thơ, viết văn, làm báo, đạo diễn ông vẫn là người quan tâm nhiều đến đất nước và dân tộc với cả tâm huyết của mình. Vai trò một chứng nhân lịch sử để ghi chép lại một thời đại bằng những nét phác thảo sắc nét đã khiến ông viết được những tác phẩm phản ánh được nỗi niềm của thời thế. Đọc văn ông, có lúc như nhìn thấy chính mình trong cơn lốc cuồng quay mà mọi người như chia sẻ với nhau những cảnh ngộ tưởng chỉ có trong tiểu thuyết…

Nguyễn Mạnh Trinh

Ngụ ngôn thời cộng sản

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Tháng Chạp năm 2013, Kim Chính Ân vừa mới lên ngôi lãnh đạo tối cao của Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đã ra lệnh cho những con chó ngao hung hãn, bị bỏ đói nhiều ngày, xé xác Jang Song-thaek, chồng của người cô ruột.

Jang Song-thaek, một thời “hét ra lửa mửa ra khói”, khuỵu đầu gối xuống, khóc lóc, van xin: “Dượng đã trung thành hết dạ, đã cúc cung phục vụ hết lòng Kim Nhựt Thành, ông nội của cháu là cha vợ của ta; rồi Kim Chính Nhựt, cha của cháu là anh vợ của ta, trong suốt bao năm. Sao cháu lại nỡ quên tình cốt nhục mà đối xử với ta tàn ác đến mức độ như vầy?”.

Kim Chính Ân chỉ cười khẩy: “Ta không bao giờ tha thứ cho những ai bất tuân mệnh lệnh của Tổng tư lệnh tối cao nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Nhà ngươi đã phạm tội bất trung, tội phản bội vì dòm ngó cái ghế thiên tử của ta. Nhà ngươi phải chết để diệt trừ hậu họa. Không có dượng cháu gì ở đây hết ráo!”.

Trước giờ bị đem ra pháp trường hành quyết, Jang Song-thaek tuyệt vọng cầu xin một ân huệ “Xin hãy cho ta 10 ngày trước khi ném ta vào chuồng cho lũ chó ngao xé xác”.

Kim Chính Ân suy nghĩ rất lung về điều đó. Bắt được nó rồi; thôi cho nó sống thêm mười ngày trong sợ hãi cùng cực cũng là một cách trừng phạt rất hay. Phần chưa tới 30 tuổi, còn con nít nên tò mò, coi nó làm cái gì trong mười ngày cuối cùng của cuộc đời đã từng lên voi giờ xuống chó này nên Kim Chính Ân đồng ý.

Trong 10 ngày đó, Jang Song-thaek đến gặp người giữ chó và muốn tự tay mình cho chó ăn trong 10 ngày tới. Ðược lịnh của Kim Chính Ân nên người giữ chó đồng ý. Thế là Jang Song-thaek bắt đầu chăm sóc, phục vụ những con chó ngao hung hãn nầy. Jang Song-thaek chiên beefsteak cho chúng ăn. Bắt ve cho chúng. Tắm rửa sạch sẽ bằng xà bông Dove, hong khô và chải lông đàng hoàng cho chúng.

Mười ngày mau chóng trôi qua. Kim Chính Ân ra lịnh cho toàn thể văn võ bá quan trong Bộ Chánh trị Ðảng Lao động Triều Tiên, đến chứng kiến Jang Song-thaek bị hành hình. Hành động “giết gà dọa khỉ” nầy của Kim Chính Ân nhằm răn đe những đứa nào còn coi ta là con nít “ke”, ngốc như con cóc, mà toan tính câu kết với nhau rắp tâm tạo phản.

Khi Jang Song-thaek bị ném vào chuồng chó, tất cả đều run lẩy bẩy, lấy tay bịt mắt lại, không dám nhìn cảnh tượng kinh hoàng  sắp sửa diễn ra trước mắt. Nhưng tất cả mọi người đều ngạc nhiên thiếu điều té ghế khi thấy những con chó ngao hung dữ, xô đến tử tội vẫy đuôi mừng rỡ; thậm chí còn liếm cả vào mặt của Jang Song-thaek.

“Chuyện gì đã xảy ra với những con chó hung ác của ta?”, Kim Chính Ân gầm gừ. Jang Song-thaek nói: “Ta phục vụ những con chó ngao hung dữ này chỉ trong 10 ngày và chúng không quên được sự phục vụ của ta. Ta đã phục vụ gia đình ông trong suốt 50 năm; vậy mà mới lên ngôi cửu ngũ, ngồi chưa ấm đít, ông đã quên tất cả điều đó”.

Căm tức vì bị Jang Song-thaek chơi khăm, chửi xỏ mình cư xử còn thua con chó nên Kim Chính Ân truyền lịnh thay thế những con chó ngao hung hãn nầy bằng một bầy cá sấu!

Bảo Huân

o O o

Còn nhớ giữa thế kỷ hai mươi, thời trang để ria rộ lên giữa những tay độc tài uống máu người thay nước lã. Phát xít Ðức có Hitler ria mũi, Cộng sản Liên Xô thì có Stalin ria mép.

Ngoài cái vụ ria mép vảnh lên rất được các nhà độc tài ưa thích, Các nhà độc tài đều chia nhau cái bịnh “bách hại cuồng” từ thời Tào Tháo trong Tam quốc chí! Cái bịnh nhìn đâu cũng thấy kẻ thù rắp tâm chống đối, phản bội, mưu toan ám hại mình nên có chuyện rằng: Một tay mật vụ Liên Xô đang đi ngang qua Quảng trường Ðỏ thì nghe: “Ðả đảo tên bạo chúa và bộ ria ngu ngốc của hắn ta!”. Ngay lập tức, tay mật vụ còng tay và dẫn giải ông vừa hô đả đảo nầy đến chỗ Stalin để biện minh cho rõ hơn những gì ông ta đã la lối.

Stalin giận dữ hỏi:“Tại sao chú mầy lại dám hô: Ðả đảo tên bạo chúa và bộ ria ngu ngốc của hắn ta?”

“Thưa đồng chí Stalin, lãnh tụ tối cao kính yêu! Tui đang đả đảo Hitler đấy ạ!”.

Ðược xưng tụng là lãnh tụ tối cao kính yêu, Stalin lấy làm khoan khoái lắm bèn: “Ðồng chí dân ngu khu đen Nga nầy đã đả đảo đúng người, đúng chỗ” nên ra lịnh tháo còng thả cho nó đi.

Tay mật vụ tuân lịnh và cũng định đi ra nhưng Stalin chặn lại nói: “Ðồng chí nói cho tôi biết, khi nghe người dân Nga đả đảo tên bạo chúa có bộ ria ngu ngốc thì trong đầu đồng chí nghĩ tới thằng nào?”.

Sau đó hình như tay mật vụ nầy bị Stalin ra lịnh đem vô Sở Thú Moscow cho bầy cá sấu làm bữa ăn chiều!

o O o

Vậy mà Tổng thống Nga Vladimir Putin vẫn còn hoài vọng một quá khứ kinh hoàng của nước Nga Xô Viết thời chiến tranh Lạnh, cho dù chủ nghĩa Cộng sản chỉ là một chủ nghĩa phong kiến hôn quân vô đạo trá hình mà thôi.

Nhưng người Nga, một dân tộc lầm than do chủ nghĩa Cộng sản gây ra trong suốt thế kỷ 20, chịu nhiều đau thương nhứt, không có một ngày biết được thế nào là tự do, từ lúc sanh ra cho tới chết. Vì vậy, Alexei Navalny, chỉ mới 44 tuổi, tố cáo: “Ðảng Liên hiệp Nga của Putin là đảng của bọn đầu trộm đuôi cướp”. (Stalin cũng từng là một tên cướp, chuyên bắt cóc người đòi tiền chuộc để kinh tài cho đảng Cộng sản Liên Xô).

Alexei Navalny & Vladimir Putin

Chống lại Vladimir Putin là từ chết tới bị thương. Trước khi lên máy bay từ Tomsk trở về Moscow, Alexei Navalny chỉ uống một tách trà nóng (có chất độc ức chế thần kinh Novichok).  Alexei Navalny phải nằm nhà thương của nước Ðức suốt 32 ngày. Ðức và các quốc gia dân chủ phương Tây yêu cầu Nga trả lời coi Vladimir Putin có đứng đằng sau vụ nầy hay không? Thì đệ tử của Putin nói: “Alexei Navalny làm việc cho cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ CIA”. Cái câu nầy nghe rất quen quen!

Vì bất cứ ai đứng lên phản đối, bất đồng về chánh kiến thì Putin ra lịnh: “Thịt nó cho ta!” nên bây giờ các nước phương Tây không còn coi Nga là một quốc gia tự do, dân chủ nữa.

Vậy mới có chuyện rằng, “Bộ trưởng Ngoại giao Nga đến gặp Tổng thống Vladimir Putin với vẻ mặt lo lắng nói rằng, ông muốn từ chức. “Tại sao?”, Putin hỏi. “Dạ thưa Tổng thống! Tôi thấy mình không còn khả năng quán xuyến những công việc đúng theo kế hoạch đã đề ra; vì những bất tiện của việc chênh lệch múi giờ trên thế giới nầy!”

Tôi bay đến một thành phố khác, gọi điện về nhà thăm thì “em yêu” của tôi đã ngủ say. Lần cuối, tôi đánh thức Tổng thống vào lúc 4 giờ sáng; nhưng tôi lại nghĩ thời điểm đó là 4 giờ chiều.

Tôi gọi cho Angela Merkel, Thủ tướng Ðức, để chúc mừng sinh nhựt của bà ấy thì bà ấy nói với tôi rằng bà ấy đã ăn mừng sinh nhựt của mình vào ngày hôm qua rồi.

Tôi gọi cho Tập Cận Bình, Chủ tịch Trung Quốc muôn năm, để chúc mừng năm mới: “Tân Xuân Vạn Hạnh” thì ông ấy nói ngày mai mới là năm mới!

“Chà, đây chỉ là những bất tiện nho nhỏ thôi! Nhằm nhè gì?”, Putin nói: “Ông có nhớ chiếc máy bay Polish Air Force Tu-154 chở Tổng thống Ba Lan Lech Kaczynski và vợ rơi lúc nào không? Tôi đã đánh điện cho nhân dân Ba Lan để chia buồn, trong lúc đó máy bay vẫn còn chưa cất cánh!”.

Đoàn Xuân Thu

Ngủ đò?!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, một người tuổi trẻ, phải xa quê, đi vào một cuộc chiến mà không biết ngày mai sống chết ra sao nên: “Mai ta đụng trận ta còn sống. Về ghé Sông Mao phá phách chơi. Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm. Ðốt tiền mua vội một ngày vui!”

Với tui, thơ ai viết sao tui để vậy. Tui không dám sửa một chữ nhứt một. Là nhà thơ nổi tiếng, tui đoán chọn một chữ cho thật đắt, đôi khi ổng phải trằn trọc suốt mấy đêm liền.

Nhưng anh bạn trẻ của tui, cũng có máu văn nghệ, tánh hơi ngang tàng nên dám phán rằng: “Mai ta đụng trận ta còn sống” nên thay bằng chữ ‘Lỡ mai’ hay hơn nhiều. Lỡ mai là có chút ân hận! Sao bạn lính của mình chết để riêng mình còn sống?

Chú em nho nhỏ nầy năm nay chưa tới sáu mươi, chưa ăn đáo tuế. Chiến tranh vệ quốc của miền Nam chống lại bọn CS Bắc Việt xâm lược, chú em chưa tới 18 tuổi, tuổi lính. Trong bữa nhậu tân niên, chú nghe bậc đàn anh, tức là tui, đã từng đi lính, từng lội ra tới Vùng Một Chiến Thuật, nên hỏi: “Anh có ngủ đò sông Hương ngoài Huế không? Em nghe thiên hạ xầm xì là ‘đã quá đã’! Sao ‘đã quá đã’ vậy anh Hai?”

Nghe chú em hỏi vậy, tui bèn tự ên dàn ý, sắp xếp ý tứ thứ tự lớp lang cho hợp lý rồi tui cũng tự ên trả lời cho thằng em nắm rõ cái sự tình. Cho chú em nắm được cái chuyện nó ‘đã ơi là đã’, ra làm sao để nó thèm nhểu nước miếng chơi.

Ngủ đò’ hay ‘ngủ giả đò’? ‘Ngủ đò thiệt là đêm trăng thanh, gió mát, mơ màng giấc điệp, ke chảy đầy mồm. Nhưng tay nào ngây thơ lắm mới xuống đò sông Hương mà ngủ thiệt! Còn sự thực trần truồng nhong nhỏng là cha nào bước xuống đò sông Hương đều cố ý ngủ giả đò hết ráo. Ðó là chuyện trần tục giữa giống cái và giống đực, giữa ‘female’ và ‘male’.

Ðời mà có những chuyện tế nhị nếu nói trần trắng trợn ra, nó mất hay cái tiếng Huế của quê mình. Thế là ngủ đò sông Hương có hai tiếng lóng rất hay là: ‘Ngủ chay’ và ‘ngủ mặn’?

Hồi còn đi lính, tiền lính tính liền, có đồng nào xào đồng nấy; vì tui còn độc thân tại chỗ, chưa vợ con gì. Nhưng giờ cắt nghĩa cho chú em nầy nghe, tui sợ con vợ tui nó nổi ghen (sảng) lên, làm ẩu (như Thị Quờn đốt chồng hồi năm nẳm ở Sài Gòn) làm tiêu tùng bộ đồ giữa của tui hết ráo là báo.

Nên tui giả bộ là con nai vàng ngơ ngác, đạp lên lá vàng khô, cắt nghĩa đen chuyện ‘ngủ chay’ là: Dọc theo dòng Hương giang, phía dưới cầu Trường Tiền có một bến đò ‘dã chiến’. Nơi đây luôn có vài chục chiếc đò nhỏ đậu rải rác ngày cũng như đêm để rước khách nhàn du.

Khách có thể là bạn văn nghệ, bạn thơ, bạn nhậu xuống để đàn hát, ngắm trăng và ngâm thơ. Bởi Huế là đất thơ, đất của những tao nhân mặc khách; xưa giờ cũng vậy! Lên đò xong, khách có thể đặt mua một vài thức uống (thường là rượu) và vài món nhắm. Chủ sẽ đưa đò ra khỏi bờ và thả dọc theo dòng Hương giang nước lững lờ, nhẹ nhàng trôi xuôi ra hướng biển. Thời gian trên thuyền có thể một, vài giờ hoặc cả ngày, đêm tùy hai bên thoả thuận.

Ðó là ngủ chay! Còn ngủ mặn (đoạn nầy tui nói nhỏ chỉ đủ cho chú nó nghe) là đem một ngã ba sung sướng của riêng mình hoặc của chủ đò tiến cử (dắt mối) xuống đò sông Hương.

Khách, một đôi nam nữ, có thể là Từ Hải râu hùm, hàm én, mày ngài và Thuý Kiều dày dày đúc sẵn một toà thiên nhiên xuống để đánh cờ người, để pháo nổ đùng ra ‘chiếu’!

Tui hồi đó hổng có làm cái vụ nầy rồi nhưng tui biết. Có những chuyện mình chưa hề làm mình cũng biết đó thôi. Ðứa nào, ‘bà’ chưa khảo mà chú mầy thày lay, lẹ miệng, huỵch toẹt khai ra hết ráo là ngu lắm đó!

Tranh Bảo Huân

Mấy anh mình (khoảng 70 đổ lên) xưa đi lính, ‘tôi thường đi đó đây, bùn đen in dấu giày, áo đường xa không ấm gió phương xa, nghìn đêm vắng nhà’ ra Quảng Trị, Vùng Một, đánh nhau với bọn CS Bắc Việt, lúc về Huế, thằng lớn dưỡng quân, ‘thằng nhỏ’ lại hành quân, khoái ‘công đồn đả viện’ đều biết tỏng cái vụ nầy!

Tiền nhiều (vì trong rừng cả tháng) thì ‘ngủ đò’ nguyên đêm. Tiền ít vì lỡ đánh bài thua hết ráo thì ‘lắc đò’ chút chút, làm tài tử màn bạc Ðại Hàn: Choi Song Dong (‘Chơi Xong Dông’)

Tóm lại, ngủ đò hay lắc đò trên ‘Sông Hương’ nghĩa là: xuống đò mà ngủ với mấy chị em ta, ‘o’ gái Huế! He he!

o O o

Ông Bùi Giáng, người Duy Xuyên, Quảng Nam, hồi sanh tiền ra Huế, từng phán rằng: “Dạ thưa phố Huế bây giờ! Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”. Nghĩa là Huế xưa sao giờ vậy chớ không có cái vụ thương hải biến vi tang điền gì ráo trọi. Rồi gần đây, tui nghe mấy cha xứ Huế trở về rồi trở qua nói nhỏ vô lỗ tai tui trong bàn nhậu là nó còn tưng bừng gấp trăm lần xưa nữa. Mấy giả nổ bốp trời thiên là đã về để ‘ôm Huế vào lòng sẻ chia đắng cay gian khổ mặn nồng’ Rồi bay lại qua đây, khoe khoang thành tích. Thiệt là cái miệng nó hại cái thân. Con vợ nhà của mấy chả chắc chắn trăm phần trăm sẽ ‘tra hỏi’, rồi đôi khi ghen quá mất khôn sẽ tăng cường độ lên là ‘tra khảo’. “Về Huế, anh có đi ngủ đò, lắc đò không vậy?” Nếu có, thì cái chắc ông anh mình bị con sư tử Hà Ðông nó bẻ giò (giữa) về cái tội ngủ đò!

Xin thành kính phân ưu, thành thật chia buồn với ông anh mình đã già mà còn khoái chuyện trăng hoa! Tức khoái ngắm ‘Hoa’ (danh từ riêng nên viết hoa) dưới trăng bàng bạc dải sông Hương.

o O o

Huế là đất thần kinh, là cố đô, đẹp và thơ. Huế có hai câu lục bát hồi xưa mà tới khi CS chiếm được cố đô vẫn còn chính xác như một lời sấm tiên tri: ‘Sông Hương nước chảy lờ đờ, Dưới sông có đĩ, trên bờ có vua!’ Vua đây là Hồ Xuân Mãn, Ủy viên Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế.

Chuyện rằng: Một hôm, Hồ Xuân Mãn cùng một số đệ tử vào một nhà hàng ở ven đô. Một tiếp viên trẻ, đon đả mở bia cho các ‘quan’. Cầm lòng không đậu trước nhan sắc của cô tiếp viên chỉ đáng tuổi con mình, Hồ Xuân Mãn ghì đầu cô ta rồi hôn đánh chụt một cái vào má. Cô tiếp viên xứ Huế đã đáp trả ngay lập tức. Một cái tát như trời giáng vào mặt của ‘vua’! Cái tát làm cả nhà hàng “chết lặng” như sóng thần xuất hiện!

Ðó là chuyện xảy ra vào năm 2005 và năm 2010 Hồ Xuân Mãn được đảng CS phong cho làm ‘Anh hùng lực lượng vũ trang’. Cả đống chuyện ruồi bu, bê bối, ăn chơi dơ dáy không chỉ bọn CS ở thành ủy Huế mới có. Mà nó có đều trời từ khi CS chiếm được Miền Nam.

Tui nhớ nhà thơ Thảo Am (1881 – 1968) ở Huế hồi xưa với hai vần thơ bất hủ: ‘Núi Ngự không cây, cu ngủ đất. Sông Hương vắng khách, đĩ kêu trời”

Hồi chiến tranh ác liệt, sống nay chết mai, vùng đất nào có lính tráng, là những chàng trai trẻ đang ‘sung’, giã nhà đeo bức chiến bào, đi qua đều có cái vụ ‘ăn bánh trả tiền’ chớ không riêng cái đất Thần Kinh mới có ngã ba sung sướng đâu nhe!”

Xin bà con xứ Huế đừng cho tui là cái thằng cà chớn! Sao tui dám nói xấu Huế mộng mơ, Huế xứ thơ bằng chuyện trần tục, ‘ẹc ẹc’ dơ đến thế? Nghe phát ớn!

Bà con xứ Huế tình cờ đọc bài nầy, nếu hiểu lầm tui như vậy rồi ‘sạt xà bông’ vô mồm tui đắng nghét cho nó sạch, cho tui tởn tới già không dám viết bậy bạ về Huế của em thì tội nghiệp cho tui lắm lắm! Xin: Kính báo và kính cáo!

ĐXT

Nhị trùng

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Quán cà phê nằm bên hông chợ. Người đàn bà ngồi ở góc khuất, chưa gọi thức uống thì gã đến. Và gã đã không nhìn lầm đối tượng. Ngạc nhiên chỉ một thoáng, thay vì xác tín, người đàn bà hỏi: Có khó tìm không? Gã nhún vai: Với ai chẳng biết, riêng tôi, chuyện nhỏ.

Người đàn bà quan sát khi gã kéo ghế ngồi xuống, đối diện. Bàn nhỏ, ghế nhựa lùn tịt khiến gã trông dềnh dàng. Da rám nắng, tóc chẳng nhiều, cặp mắt nhỏ nhưng đôi tai to lớn. Tai của Phật khi không lại đi gắn vào một nhân diện ngó không mấy cảm tình, trông thô lậu. Gã như người hành nghề chạy xe ôm, hợp lý hơn là một thám tử tư. Nhưng đã là thám tử, với bộ vó ấy e dễ trà trộn, khó phát hiện, lẫn vào đám đông mà chẳng cần nguỵ trang, sau đó thì không khó để bắt được tay day được cánh, nói có sách mách có chứng.

Thành phố này có không dưới một tá thám tử. Bà bạn hàng trong chợ, trông coi cái sạp bán vải đã giới thiệu riêng gã, chẳng quên đi lời phi lộ: Thằng chả rất giỏi, nhanh tay lẹ mắt, làm ăn vén khéo, kinh nghiệm đầy mình… Tựu trung toàn những lời có cánh. Được người từng kinh qua truyền đạt chỉ bày cũng an tâm, nhưng trước khi giao việc cậy nhờ, người đàn bà thử đưa ra một trắc nghiệm: Chỗ hẹn gặp nằm trong hóc xó lại kiệm lời chẳng cho biết phương danh cũng như dấu vết dị hình ám vào mặt. Vậy mà gã đến, đúng hẹn, đúng nơi chốn, đúng thân chủ. Có thể mượn đỡ chữ dùng của chợ búa để phán: Linh như cái miễu! Như vậy, phút ban sơ đã nghe ra thiện cảm lân la.

Gã cũng nói đúng số tiền thù lao y như bà bạn đã bật mí trước, không buồn thêm bớt xu hào nào sất dù giá cả thị trường đang sồi trụt lao đao, nào là tiền điện vụt thăng, nào là xăng nhớt phi vọt, tái mặt máu khi châm đổ đầy bình xe gắn máy có phân khối lớn. Trước sau vẫn vậy, như đinh đóng cột, tựa hồ ở nhà gã có xây bàn thờ tổ để lập thệ và một lời thề nguyền thì chớ nên xoá bôi, thánh vật. Chịu thiệt thòi chút đỉnh cũng là cách đầu tư chữ uy tín vào cái môn bài khác thường. Nhưng, đó là xét theo cơ bản, ít nhiêu khê thì hô vậy, chứ gặp tình huống nan giải cỡ như bỏ công đi điều tra một hồn oan thì phải hét giá khác. Và nghe người ta đồn, chuyện càng khuất tất ly kỳ gã càng lý thú động não hòng moi nó ra ánh sáng. Gã lập luận, dưới bầu trời này chẳng có thứ gì trốn được ánh mặt trời. Hơi văn hoa, hơi thiếu biện chứng, nhưng làm an lòng không ít kẻ rối lòng nhờ gã đi điều tra giúp. Gã yêu nghề, đã không đi thì thôi, đi phải tới cuối đường mới hả, xé rào leo tường chui lỗ chó gã chẳng từ nan khi muốn phanh phui bao thế sự mờ ám của những đứa nhắm chốn đoạn trường mà lén lút dẫm chân.

Sao, chẳng hay chị đang đối mặt với vấn nạn gì nào? Gã đổi thế ngồi. Người đàn bà ngó vào bếp tối của quán nước, phục vụ viên nào vừa đánh rơi một cái ly thuỷ tinh xuống nền xi-măng. Cũng chả có gì nghiêm trọng, số là chồng tôi lóng rày có biểu hiện khác lạ, cơm nước uể oải, tinh thần hay bỏ đi hoang, ít tập trung, linh tính mách cho tôi hay ổng đang có mèo, một con bồ nhí nào đấy. Tôi hiểu. Gã ngắt lời. Chị uống gì? Tiện thể gọi giúp tôi một cốc cà phê đen. Gã hơi nghiêng người khi moi từ túi quần ra cuốn sổ nhỏ, có cây viết được ràng buộc ở đó bởi đôi ba sợi dây thun xanh đỏ. Người đàn bà không có giấy viết, nhưng cũng xài dây thun xanh đỏ, chỉ để cột túm một lọn tóc. Trời nóng, mồ hôi rịn ứa làm ướt tóc mai. Tuổi khoảng năm mươi nhưng nhan sắc chưa có biểu hiện của tàn phai, của xuống cấp. Một người đẹp, có thể nói vậy, hơi sầu muộn và nhan sắc ấy buộc phải tự ái, nóng mặt muốn trông rõ hình dáng con yêu bánh nậm nghiêng thùng đổ nước cỡ nào khiến cha già dịch kia đâm lậm nhớ đến độ biếng ăn nhác chơi. Chớ bàn việc đại sự, ngay cả tầm thường là nuôi một con chim, khi khổng khi không nó vụt bay mất ngoài tầm tay nghĩ cũng giận chứ! Để cho con sáo sổ lồng bay đi. Lỗi ấy nào phải tại tôi!

Điện thoại thì thế nào? Có cuộc gọi nào bất thường không? Người đàn bà ngó xuống cuốn sổ mà gã vừa mở ra, lật giở tìm trang chưa gạch xoá bôi bẩn. Giấy tái sinh vàng hơn cả màu nắng liếm bậc cửa. Chuông không đổ, tuyệt đối êm ru bà rù. Đợi ổng ngủ, tôi thử dọ tìm trong điện thoại di động một con số khả nghi, ngay cả tin nhắn cũng chả có. Tôi trằn trọc canh khuya, nghĩ thằng chả chùi miệng quá sạch sau khi ăn vụng. Dạo gần đây ổng có tâm sự với chị điều gì không? Đại loại như công ăn việc làm, giả dụ như một dự tính sắp tới phải hoàn thành, hoặc lên kế hoạch về một cuộc đi chơi xa? Không, tôi đã nói rồi, ổng trở chứng đâm lãnh cảm đâm ít nói, chẳng lại thần hồn như một kẻ mộng du; hay dính bùa của chằn ăn trăn quấn? Ra đường thì sao? Chị có để ý là ổng đâm chải chuốt, xức dầu thơm tóc chải tém chẳng hạn. Hổng có đâu, y phục lùi xùi chẳng chưng diện đúng với bề ngoài một anh công chức hạng trung.

Thuỷ chung gã vẫn nghịch cây viết trên những ngón mà chưa ghi xuống sổ một dấu hỏi, một ngôi sao, một hoa thị, một “code name”. Gã ngớ sực là thân chủ chưa gọi cà phê đãi đằng mình. Phải cà phê phải thuốc lá mới làm đầu câu chuyện chứ, như muốn nổ máy thì ta phải châm xăng vô bình, phải làm bu-gi xẹt ra lửa. Gã đưa tay làm hiệu với con bé vừa bị chủ mắng tội sơ ý làm vỡ ly tách. Cưng mang cho chú cốc cà phê đen. Chị uống gì nào? Chị nên biết là con người khi bất an, thường do bởi cơ thể bị thiếu nước. Khi uống thuốc cũng vậy, bác sĩ luôn khuyên hãy nhớ ực cho nhiều vào. Một đôi khi nước lạnh là thứ cực tốt cho sức khoẻ. Người đàn bà nói: Vậy sao? Vào đây rồi chả nhẽ lại xin cốc nước lạnh. Này, cho cô nước dừa tươi nguyên chất, nhé.

Phải vậy chứ. Vào quán người ta, rậm rật kéo ghế để mượn địa bàn mần ăn kẻ khác mà chúi mũi chuyện riêng tư ơ hờ việc bôi trơn là cái khó dung tha. Ngồi lâu tí nữa không khéo mà chủ sẽ động dao động thớt để cảnh tỉnh nhắc chừng thì quê mặt cả đám. Thức uống được mang ra, nhanh như thể người ta đợi người ta chờ bấy lâu, nghe tiền hô là hậu ủng tức thời, theo đúng phương châm: Vui lòng khách đến vừa lòng khách đi. Nước dừa nguyên chất thì bảo đảm rồi, chua hay ngọt là tuỳ vô cây dừa nó cắm chân xuống vùng đất nào, chủ quán không nhúng tay vô, không có ý kiến. Nhưng cà phê, công tâm mà nói, tuy cà phê bụi, cà phê vỉa hè, cà phê hông chợ mà uống cũng đặng lắm, chẳng mạnh tay pha phách linh tinh gọi là quyền phát huy sáng tạo. Gã nói với người ngồi cùng bàn: Một đôi chỗ tôi từng uống một thứ nước đen gọi là cà phê, mẹ rượt, sao người mình ưa hiếp đáp chữ cà phê của bọn đế quốc đến thế. Bóc lột tới độ Tây ba-lô kêu là cà phê đặc sản Việt-nam.

Sinh hoạt của ảnh ra sao, chuyên cần đi về đúng giờ, mẫu mực? Đời nào, được vậy thì chúng ta đã không có buổi gặp gỡ này. Thường thì ổng về khuya lắc khuya lơ. Ngửi chẳng nghe mùi bia mà cứ bảo là anh em trong cơ quan kéo nhau đi nhậu, mình từ chối thiệt không phải phép sanh đố kỵ hổng lấy được cảm tình rồi chúng bạn chê cười: Cha này sợ dzợ thí mẹ. Vợ chồng ăn ở với nhau suốt đời trong khi anh em thì bèo bọt nay ở mà mốt dông, đường đời trăm vạn nẻo trên họ bố trí đi xa thì phải cắn răng hát bản tạ từ, còn trông rõ mặt nhau thì cứ vui cho trọn đêm nay. Và tôi làm phép cọng sơ khởi cũng đã hơn ngàn lẻ một đêm, một hai giờ sáng ảnh mới rón rén trở về. Nực gà quá mà, chơi vậy biểu sao không sinh nghi. Buổi sơ ngộ chẳng gây ấn tượng, nhạt nhoà thuần là một vụ gần như đi bắt ghen. Làm cái đuôi để về báo cáo cụ thể ngày giờ vụ việc những gì đối tượng đi giao lưu tình cảm bên ngoài. Mang máy ảnh để chụp lén làm tang chứng vật chứng về trình “bà chủ”. Bả có thuê xã hội đen đánh dằn mặt hai đứa ưa ăn chả ăn nem thì tớ cóc biết. Tớ ghét bạo lực, đao kiếm với cường toan là thứ chả ăn nhậu gì với công việc tớ. So ra thứ nghiệp vụ này hơn hẳn bọn công an, bởi dù sao giang hồ cũng đã từng bình phẩm: Thằng ấy tuy là thám tử nhưng mà nó tốt!

Dĩ nhiên người trả tiền nước là chị đàn bà “bất hạnh” kia. Chỉ cũng móc hầu bao ra ứng nước nửa triệu cho “anh” có đó mà cơm hàng cháo chợ dầm mưa dãi nắng để chóng hoàn thành nhiệm vụ. Người đàn bà trao cho gã tấm hình người từng ôm ấp nay bạc tình theo giỡn gió vờn hoa. Chăn ấm nệm êm không nằm lại dại khờ ra ngồi rình bên bụi môn. Anh nhớ chụp hình con “Nguyệt Nga” cho tôi ngó mặt ngang mặt dọc của nó, xem điện nước nó thừa mứa phồn vinh giả tạo tới cỡ nào. Và bả chấm câu: Thôi, vạn sự thảy đều trông cậy vào anh. Tôi mong làm cho ra lẽ thì từ nay mới ngủ say một giấc không mộng mị. Gã thám tử nhét cuốn sổ kẹp tấm ảnh “kẻ không may” vào túi quần nằm sau đít, gã chẳng hứa hẹn điều gì cả ngoại trừ một nhắc nhớ: Đúng tuần sau tụi mình gặp lại, ngay cái quán “thị tại môn tiền náo” này. Chị về nhà bằng cách gì? Có ngại không nếu để tôi thồ đi. Khỏi, cám ơn anh.

Và họ lặng lẽ chia tay.

Biết chồng thích ăn phở, người đàn bà dành trọn nửa ngày để ninh hầm theo phương thức mà internet họ chỉ bày. Người đứng biểu diễn có thu hình trong thước phim dài nửa tiếng kia nói thứ giọng Bắc 9 nút, nghe êm ái, dịu dàng, có cảm tình và đâm tin tưởng, đó phải là thứ phở gia truyền dẫu chịu di cư năm 54. Năm với bốn là chín. Chín nút, tự thân con số ấy đã tượng trưng cho một thứ gì gần với hoàn hảo. Hào phóng cho thêm một điểm hoá ra lại hại nó: Bù!

Nồi nước lèo thơm ngào ngạt mang chồng đi qua bất ngờ tới ngạc nhiên. Ngờ vực không chôn được lòng, miệng buộc phải thốt thành lời: Lóng rày anh để ý thấy em có nhiều đổi thay, anh chùng vụng quan sát và anh tự tìm đáp số, dường như đàn bà khi mãn kinh đều phải trải qua chút trắc trở của biến đổi tâm sinh lý. Hôm nay tự em vào bếp bắt tay ông Táo, mồ hôi mồ kê thấy thương hết biết. Nhà có khách hả em? Sao không dưng em lại “chân cứng đá mềm” thế kia?

Chồng cũng muốn tìm cách làm cho đá mềm nên vào đứng cạnh vợ chờ được sai bảo, tỉ như thái hành cắt chanh trụng giá lặt húng quế cho bánh phở vào bát… Muốn ăn phải lăn vào bếp, hầu như đã quá lâu đôi ta bỏ quên phút giây kề cận đáng yêu này, nhỉ? Vợ ngó chồng, muốn soi cho tận những tì vết ẩn dấu. Hai hôm nữa thôi, sẽ gặp tay thám tử và sẽ đón nghe sự thật. Khao đãi chồng bữa ăn trái khuấy này cũng là một phép thử trong khi giải một phương trình rắc rối hơn cả lãnh vực toán học.

Em không có khách để mời, anh thì khác, sao anh không thử gọi ai đó đến ăn chung? Em quyết chẳng lấy đó làm điều, rất hoan hỉ để nhìn mặt. Chồng nhìn cái tạp dề mà vợ cột ngang bụng, ở đó có may cái túi lớn với hình vẽ một con mèo mắt lim dim như tận hưởng sự thư giãn gần trùng với biếng nhác. Bạn anh toàn cả một bọn người ăn to nói lớn, là thành phần mà ngay cả giàu lòng từ bi như Quan Âm cũng phải cau mày khi đối mặt. Làm sao anh có thể mang chúng về để phá hỏng cái phút giây cần sự riêng tư mà ta đang có? Vợ liếc xéo: Sao hôm nay anh đâm nhiều lời và thái độ của anh khiến em phải nghi ngờ tới cái cay của gừng cái mặn của muối. Em tính là khi cùng nhau so đũa xơi phở tại gia, em sẽ hỏi anh một vài thứ, làm bạch hoá những ám muội mãi ám trong trí em.

Người chồng cười lớn, sang sảng. Đã quá lâu, căn bếp này vắng ngắt một tiếng động. Một giọng cười oà vỡ, biểu tượng niềm hạnh phúc, nhưng giờ đây nó khiến người đàn bà phải ngưng công việc, vòng tay đứng với kinh ngạc, trân trối nhìn chồng, hoang đường như một trang cổ tích. Chồng bỏ miệng vài cọng giá sống: Thật là chí lớn gặp nhau, anh cũng dự định sẽ mời em đi ăn ở nhà hàng nào đó một bữa thật đình đám. Để nói cho em hay cái đứa em hằng chê bai lưng dài vai rộng này đã vừa lập nên kỳ tích. Sao, anh vừa được đề bạt lên chức trưởng phòng à? Sai lầm, đi làm việc chỉ là một thứ xem như bị ép buộc, chẳng hứng thú khi mình phải chung đụng với một bọn không ngang tầm với mình. Anh có nghề tay trái, em tin không? Anh câm lặng vì muốn gây bất ngờ cho em ở phút cuối. Và đây là phút cuối, trùng hợp thay, em bỏ công đi chợ, vào bếp nấu phở để thế một cuộc liên hoan ăn mừng thành quả. Sao rồi, người ta thôi bỏ bùa anh rồi à? Đạo sĩ nào đã giúp anh, phương danh của ông ấy? Nói để em sắm lễ vật hậu tạ.

Người chồng tiến lại gần vợ, vừa đi anh ta vừa moi sau túi quần ra cuốn sổ tay, cong góc, trầy trụa như thể bị săm soi lật giở nhiều lần. Một cây viết chì cụt ngắn và sợi dây thun ràng chặt lấy. Chồng nói: Tuy không chuyên, ban đầu là vì cả nể người bạn giúp vợ chồng chúng nó đoàn viên. Từ sau vụ ấy anh mát tay, nhập cuộc thêm ba vụ khác thảy đều thuận lợi. Họ trả tiền thù lao khá bộn và vô tình, tất cả đều phong anh chức vị: Thám tử tư. Em ngạc nhiên không? Hãy thứ tha những đêm anh về muộn mà không phân trần, anh tập cách hành sử bí mật y như một đứa thám tử ít nói, chỉ dùng đầu óc, chẳng minh bạch như mèo dấu cứt. Bạn bè anh có đứa rất bái phục, mới hôm qua linh tính báo cho anh biết mình bị theo dõi. Bằng động thái học được trên phim ảnh chuyên đề điệp viên, anh đã chận đầu nó. Xin lỗi anh, em trông nhầm người. Gã ấy nói, nó sở hữu được hai cái tai rất tốt, nhìn là ưa véo cho bằng thích.

Sao khi không em lại chảy nước mắt ra thế kia? Không sao đâu anh ạ, anh thử thái mỏng củ hành tây thì mắt anh cũng đổ lệ vậy. Người đàn bà nói, với tay trì kéo chồng lại, sát sao, ôm lấy và khóc thầm trên vai người thám tử nghiệp dư. Tuy ảnh là thám tử nhưng ảnh rất tốt. Sóng gió giang hồ bên ngoài đã ngôn thế!

Nhị vị Hương quán

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Từ trái: Hồ Đình Nghiêm và Luân Hán

Quán Nhị Vị Hương nằm trên đường Côte des Neiges, đông khách hơn quán Ngũ Vị Hương ở phố Beaubien. Năm gia vị, nhiều hương liệu đâm thất bại; trong khi chỉ cần hai vị, đơn sơ ít pha phách chế biến, thực đơn lại mặn mòi, đuổi khách đi không hết.

Lý lịch sơ sài của ông bà chủ quán: Chồng, anh Tư, người Đà Nẵng. Vợ, chị Tám, người Huế. Vợ đứng bếp. Chồng gồng mình lo từ hạ tầng cơ sở lên đến thượng tầng kiến trúc. Cả anh lẫn chị tánh tình vui vẻ, xởi lởi với khách Việt. Tám cộng Tư ra mười hai, nhiều quá, tới một tá lận. Bọn tui giản lược bớt, một cộng một bằng hai. Đặt tên quán là nhị vị do bởi cái cô đọng ấy. Gừng cay muối mặn, phải không bà xã? Anh Tư từng trải lòng.

Quán có món “đưa cay” mà ai cũng thích gọi: Tôm rang muối tiêu hành nước mắm tỏi. Chúng tôi từng thử qua nhiều chỗ, sau chốt lại ở Nhị Vị làm nơi hẹn hò gặp gỡ. Anh Tư chị Tám gần như đã thuộc khẩu vị của từng cá nhân trong số chín người chúng tôi. Ông ăn chả bà ăn nem thì đâu có gì để bàn cãi, đằng này tới chín cái mồm, chín vùng chiến thuật khác nhau hội tụ thì muốn dẹp yên e chỉ có mỗi Nhị Vị Hương Quán mới đủ hoả hầu. Một lần nữa, chị Tám, vô tình làm thơm thảo tài nghệ nấu ăn của một người nữ chánh quán Huế. Tuy vậy khi thử dùng món bún bò, mọi người xuýt xoa thì chị Tám chẳng ưỡn ngực ra: Dạ xin thưa thiệt với mấy anh, món ni do chính tay anh Tư làm từ a tới z. Em không noái láo mô tề! Em không cướp công trạng của ông dôn em.

Anh Tư, như bao người đàn ông khác, khi được vợ khen, hai mắt ảnh nhắm trít. Lúc đó thực khách nhặng xị cỡ chúng tôi tha hồ làm tình làm tội ông chủ quán: Cho thêm nước đá nghen. Trời, ớt trái nhiêu đó đâu đủ anh. Không ăn giá sống đâu, trụng nước sôi giùm. Ông này chả ăn nước mắm, anh cho ổng chén xì dầu. Ừ, tàu vị yểu, có Maggi thì tốt hơn… Quay như vụ. Quay mà không chóng mặt đã đành, còn biểu lộ cái sướng khi được quay, thấy thương hết biết.

Nhị Vị Hương Quán có đăng cái quảng cáo nhỏ trong tờ tuần báo ở địa phương. Thi thoảng báo ấy là nơi gửi gấm chút tâm sự của anh em chúng tôi, vì vậy cả anh Tư lẫn chị Tám vẫn “tranh thủ” ghé mắt đọc qua mỗi bận quán vắng. Bài có đăng ảnh, ảnh có khi chụp ở trong “bổn tiệm” thành thử anh Tư chị Tám rất mết bọn tôi. Ngoài tâm đắc chuyện thơ văn lại chẳng ngờ được quán ta là nơi dừng chân của mấy “ông nội” kia, do vậy khi nghe đòi hỏi thứ này thức nọ buộc đôi vợ chồng hèn tui cung kính không bằng phụng mạng. Trước cửa quán có đóng khung một bài báo do anh chàng phóng viên Tây tà địa phương ca ngợi hết mực món ngon vật lạ của Nhị Vị Hương và cái ông Rắc ông Răng nào đó đã rộng lòng chấm điểm tới 4 sao. Chị Tám tâm sự: Phải mời nó ăn lia chia, phải trả nhuận bút hẳn hòi mới có được trang nhật báo màu mè nớ chớ giỡn chơi chi nơi. Lạ, chúng nó cứ đè mấy món dở mà khen cố xá. Bún bò ngon dàng trời, ăn nhức răng lại chẳng dám thử. Được cái tụi nó dễ tính lắm nghe, đa số đều ưa xơi Sà Bì Chưởng. Í, ngộ hén, là thức gì mà nghe tợ môn kung-fu dị anh Tư? Anh chồng đứng sau lưng vợ, hai mắt lại biết cười: Là cơm sườn bì chả đó. Wow, hay à nghen, không ấy anh thử diết dăn mần thơ đi. Chị Tám vội khiên cái bình phong tới: Mấy bác cứ vẽ đường cho hươu chạy, chúng cháu hổng dám mô, kính nhi viễn chi. Động dao động thớt mới có tiền vô tiền ra chứ múa bút thì xưa nay chúng cháu chưa nghe ai thành đạt cả. Nghề gì kỳ cục!

Bữa đó xem chừng món ăn nào mang ra cũng thấy nhạt mồm. Lời thật thường mất lòng. Chị Tám tuy vô tư mà vô số tội. Nhậu đang bắt, đang phừng phừng khí thế khi không bị bả dội một thau nước lạnh. Thiệt là chẳng biết kính trên nhường dưới, không đẳng cấp chút nào! Dễ chia tay quán vắng quá. Sao kinh doanh nhà hàng mà chẳng biết câu “khách là thượng đế”. Mấy vị thượng đế đó thuộc dạng đặc sản ít đụng hàng, bởi nữ nhân muốn đẹp tới cỡ nào họ cũng dư sức vẽ rắn thêm chân. Chương một đề cao thằng đẹp trai con nhà giàu học giỏi, qua chương hai buồn tình biểu nó chết là nó chết, rất mực quyền uy. Thật là bức xúc nếu thượng đế ra đường mà trong túi không có đô-la để chêm. Gió hiu hiu chẳng màng nhưng lỡ gặp cuồng phong hổng chừng nó thổi bay thượng đế. “Trên trời có một vì sao, dưới đất có mỗi mình tao anh hùng”. Câu này quá sức lạc hậu. Hiu hiu tự đắc dễ bắt đi cải tạo. “Thương tôi chỉ ngọn núi cao, hiểu tôi riêng có vì sao cuối trời”. Câu này dễ chấp nhận, làm ra sau thời gian vừa trải qua cải tạo? Có chút lễ độ.

Một hôm lợi dụng vợ lui cui sau bếp, anh Tư cầm chai bia đi quanh bàn đòi cụng chai. Bọn thượng đế chúng tôi ai nấy tửu lượng đều kém. Ba say đã chai, tuy vậy cũng chẳng nề hà chuyện tới bến. Lạ hén, cha chủ quán hổm rày in tuồng có mang tâm sự, đột biến tâm tư. Cà kê dê ngỗng một hồi luỹ mới nhập đề: Thú thật với các bác, giá như mà trong số các bác có cảm tình với bọn cháu để vui lòng viết một bài về cái quán Nhị Vị Hương này thì… Thiệt khéo ăn khéo nói, cắt ngang xương cũng có cái ưu điểm của nó. Đi không hết đường đôi khi lại tốt hơn chạm đích. Dễ thôi. Một bác nói. Vui thôi mà! Một bác khác bổ sung. Hai bác đã xong phần thân bài, anh Tư còn đợi gì mà không viết nốt phần kết luận? Chưa ra đầu ra đũa thì cái phong linh bắt sau cửa kêu tiếng vui tai. Khách vô làm anh Tư vui xuân không quên nhiệm vụ. Đặt chai bia xuống bàn, cầm tấm thực đơn lên, đang lề mề thoắt cái lanh lợi trở lại. Phục vụ là nghề của chàng.

Mấy bác ngồi đăm chiêu, tợp lắm chất lỏng có nồng độ cao làm ai nấy thảy biến dạng thành Quan Công, mặt đỏ au như tôm cua luộc chín. Cả đời chưa biết nắm Thanh Long đao chưa cỡi Xích Thố nhưng vốn là bạn cật ruột với Mao Tôn Cương, bèn có lời bàn: Hổng biết thằng cha Tư có chơi đẹp không, chứ ai sức đâu bỏ công viết chùa cho nó. Đôi khi ta phải nên lộ hàng cho nó hay là văn chương tuyệt đối chẳng rẻ như bèo đâu nhớ. Bỏ đi tám, chớ ngộ nhận rằng bọn ta chảnh! Có thực mới vực được đạo, câu vỡ lòng ấy nhà ngươi nên khắc ghi.

Có bữa mát trời ông địa, chị Tám giỏi chân từ nhà bếp mang ra một món gỏi thật hoành tráng, ngó xôm tụ cỡ tiểu đội đủ quân số mới tiêu thụ hết. Dạ cái ni nằm ngoài chương trình, mời các bác xơi lấy thảo. Ui, sự cố nào đã xúi thế? Kỷ niệm mười năm thành hôn của hai ông bà? Hay sinh nhật quán được năm tuổi? Anh Tư tay bưng chồng chén tới làm đồng minh không hề tháo chạy, lần này thì hai mắt đương sự mở lớn: Dạ chẳng giấu gì, mụ vợ tui mới bảo lãnh được cô em gái từ cố đô sang. Quán phải cần trợ thủ mà cái o ni thì rất đảm đang quyết xắn tay áo giúp sức. Trước khi qua đây o nớ bỏ tiền đi tầm sư học đạo trau dồi tay nghề, món gỏi này do o đích thân nhào nặn ra, không mặn miệng không ăn tiền.

Trong mấy bác hiện diện có bác bà con với Trương Phi, tính nóng như lửa: Người đẹp đâu rồi, sao chưa khoan thai di dời gót ngọc vén màn lộ diện? Dạ em nó đang đốt lò thử nghiệm một món lẫu đặc sản Sài Gòn Gia Định, gia công xong hẳn bước ra chào cũng chưa muộn. Nói nghe được a! Vậy thì hổng chừng mai này quán sẽ đổi tên thành Bát Vị hoặc Thập Lục Vị? Ăn riết bún phở cháo nghe cũng oải. Sà bì chưởng xét ra cũng xoàng.

Khi không mà đâm chộn rộn. Thì bởi vậy, sống mà được hoán đổi không khí chuyện ấy hẳn cần kíp. Nhưng nói nào ngay, giả anh Tư chị Tám bảo lãnh một cậu em trai thì e tình hình có khác. Kệ mẹ nó chứ, để nó lao động trong bếp chứ quen biết chi mà ra chào hỏi. Đừng mua hàng Trung quốc, chớ bỏ hoá chất trong thức ăn là quý lắm rồi. Mình người Việt với nhau sao nỡ xuống tay chơi khăm thắt họng! Lịch sự vòng tay thưa gửi, đôi lúc ta phải giả bộ quên thứ văn hoá lề mề ấy đi. Chớ học thói bún chửi, phở quát, cháo mắng thì đã độc lập tự do hạnh phúc lắm rồi, chẳng mong chi hơn. Lạ cho cách hành xử của bọn quân sư, giá mà ngày đó nó dắt ngài Obama đi xơi bún chửi xem thử con mẹ ấy có động thái nào trước người đàn ông quyền lực nhất thế giới. Hay bọn quân sư đã tường mười mươi, sợ mất mặt bầu cua: Chả xách đít tới ăn thì bà đây đéo cần, cha ông chúng mày từng bị đất nước này đánh cho rách bươm cái quần đấy. Mẹ! Đế quốc mí thực dân, đồ láo lếu! Đồ cọp giấy! Đồ ăn vụng chẳng biết chùi mồm! Đồ mặt người mà dạ thú! Đồ…

Dạ thưa các bác ạ! Ui, con cái nhà ai mà đẹp người đẹp nết rứa bây! Cả bàn không hẹn mà cùng ngồi ngây người ra. Tấm màn nhựa in biểu tượng ba miền Chùa Một Cột Chùa Thiên Mụ Chợ Bến Thành treo ngăn ở nhà bếp mãi còn rung động dù o con gái đã đứng dậm chân chốn đây. Áng chừng hai chục, tóc dài, da bầng quân, mắt lá răm, núng đồng tiền và giọng Huế chưa từng pha tạp, còn trinh nguyên, nghĩa là chữ nào cũng thêm dấu nặng. Dạ mậy bạc cọ khoẹ khộng. Oan cho cô ta quá. Thường khi mấy bác có tới chín người, hình như bữa ni không đụ số. Răng, món gỏi con chào hàng có ngon nhức nách không?

Không ai vọng động. Quen nhìn chị Tám rồi, nhàm khuôn trăng đầy đặn ấy rồi nên chi thiệt bất ngờ khi ngó ra cái nét ngài nở nang kia. Giả thử có bán gỏi chửi e rằng hàng quán ấy cũng có lắm đứa bỏ quên cây đàn. Đụ chi được, bị có hai người tới không được, một thì con đau, một thì vợ càm ràm. Hai bác nớ tuần sau sẽ tới nếu biết có o con gái mới ở Huế qua. Rứa thì o tên chi hè? Chị em mà răng hai người mặt mũi không giống nhau? Dạ, cháu tên Chín. Ui, đậm chất phèn chua nước mặn quá, sang tới đây rồi đặt cái tên khác nghe cho oách chớ tội tình chi. Bậy nà, người ta chín nút, số đẹp vậy đòi chi hơn. Đi casino mà dụ cô Chín này theo thì chắc mẫm. Đụng đâu thắng đó. Đánh nhỏ thắng nhỏ đánh vừa vừa thắng vừa vừa đánh lớn thắng lớn.

Có người không mặn chuyện bình loạn, thích phá mồi, tấm tắc gật gù: Gỏi ngon thiệt! Cô Chín mát tay ghê! Cô gái cười chúm chím, má lúm hào sảng hai đồng tiền rõ to: Dạ, bác nói răng lạ rứa, chỉ có bác sĩ mới mát tay thôi chứ tay ai cũng nóng cả. Hề hề, nói cũng có lý, đôi bàn tay kia mà nhờ cạo gió thì khỏi cần xức dầu. Người chị của Chín, chị Tám tới chữa cháy: Em ạ, mấy bác đây họ vui tính lắm, họ toàn là chiếc sĩ trên mặt trận văn hoá cả đấy, thơ văn đầy mình, em nhớ giữ mồm giữ miệng kẻo bị ngộ nhận hàm oan. Mấy bác cũng rứa, có chi không phải thì châm chước bỏ qua cho.

Lời bình của chị chủ quán thật hàm hồ, đầy sai lạc. Thứ nhất là mấy bác đây hổng có vui tánh lắm đâu nhá. Thứ nhì, đừng áp đặt rằng các bác là chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, nghe kinh! Chỉ riêng mấy bác mới hiểu lòng nhau, vui được phút nào hay phút đó bởi mấy bác thảy đều tri thiên mệnh, thảy nghi bất hoặc, thảy cổ lai hy. Và nói cho rốt ráo thì mọi thứ thảy là phù vân. Lần hồi cứ hao hụt dần chuyện tùng tam tụ tứ. Gầy cuộc vui mà sanh ra ngộ nhận thì còn nước nôi gì, vì vậy những cuộc gặp gỡ cứ không đụ mặt, cứ mai một dần. Bây chừ có ai hỏi quán Nhị Vị Hương mần ăn có khấm khá chăng cũng chả biết đường mà lần. Cô Chín có chấm được vị khách nào mãi bỏ công rù quến để so lại đôi đũa cho ngay thì cũng bù trất. Tuần báo vẫn còn sống tuy vậy mấy vị thượng đế nọ đã nhác chơi không thèm xắn tay viết đôi hàng “lăng-xê” Nhị Vị Hương Quán. Người ngoại cuộc có thể phát sanh dị nghị, vụng nghi ngờ mấy “cha nội” kia đang giận lẫy cuộc đời bạc bẽo với văn chương giã từ vũ khí. Nghĩ vậy cũng hàm oan, tiểu đội nọ vẫn còn đó một vài người sung mãn, thường hằng ghẹo gió giỡn trăng. Chữ viết ra không nhất thiết phải mượn không khí của quán Nhị Vị. Ồn ào quá, tốn kém quá, nhọc sức quá. Thảng hoặc có tiện đường, sau khi đi chợ, sau khi đi khám bệnh thì tìm quán cà phê mà nhăng cuội đôi điều. Ừ, mỗi thời mỗi giai đoạn. Gian đoạn ưa bù khú ở tiệm ăn cũ đã lật trang, đánh dấu một thời “Phách Lối”:

Với những nội dung đàng hoàng
tôi nghiêm chỉnh viết chững chàng thành thơ
khi bày những chuyện bá vơ
tôi thường phóng bút hồ đồ thành thi

thi, thơ khác nhau những chi?
không cần tìm hiểu, điều ni rầy rà
người đời quen gọi thi ca
chẳng mấy ai gọi thơ ca bao giờ

làm thơ là nuôi ước mơ
thành thi sĩ viết dật dờ thi ca
vậy là tôi đã vậy là.

Thơ thi trên là của anh Luân Hoán, người cùng kẻ hèn này luôn sát cánh trong những buổi phá mồi bởi tửu lượng chẳng giống ai. Luôn sát cánh vì chung khẩu vị khi ăn nhậu, kén cá chọn canh. Ai sao chẳng biết nhưng chúng tôi thích quán Nhị Vị Hương giản dị vì chủ nhân là anh Tư người Đà Nẵng mà chị Tám người Huế, chúng tôi đồ rằng ấy là một kết hợp vẹn toàn. Chúng tôi có mua vé số xổ hàng tuần để mơ màng với ước mơ chuyện lạ sẽ xẩy tới. Sẽ mua lại quán Nhị Vị Hương, sẽ giữ o Chín làm đầu bếp và như thế chúng tôi tạo dựng ra được một địa chỉ khác lạ làm trạm nghỉ chân cho các văn nghệ sĩ phương xa bốc đồng đi thăm thú phố lạnh. Ngồi mát mà ăn bát vàng là ước mơ hoang đường, bất khả!

Hiện thực, giấc mộng khác nhau những gì? Không cần tìm hiểu điều ni rầy rà. Chín nút bây giờ ra sao? Chú ơi cho cháu yên thân làm giàu. Hồi nào cháu lấy được chồng, quán tên Tam Vị mời chú ghé thăm. Ôi, viết về một cuộc tình thì dễ mà ca ngợi một quán ăn thì thậm khó vậy! Dễ đi tới dật dờ thi ca. Mà thi ca thì tự thuở nào tới giờ hổng có hưởng được đồng bạc nhuận bút. Trần thân thay!

Hồ Đình Nghiêm