Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Bài 61

Phần 60

Mỗi đội đều có một cái kho nhỏ chứa cuốc leng xẻng nằm ngay phía sau khu đan tre. Mỗi sáng sau khi rời cổng trại, những đội làm nhiệm vụ đào xới hoặc đắp đường đắp đê phải đến kho nhận đồ nghề, cũng như chiều về tổ trực đều phải kiểm kê và đem nộp về kho cho đầy đủ. Mọi hư hỏng phải báo cáo để được đội sáng chế và bảo quản dụng cụ sản xuất sửa chữa kịp thời. Nhưng gần đây, những “dụng cụ sản xuất” cứ từ từ không cánh mà bay. Đội 17 có 40 người lao động mà dần dần chỉ còn độ nửa số người được trang bị cuốc xẻng. Công tác do đó ngày mỗi chậm lại đến độ Ban Giám Thị trại phải lưu ý. Bọn quản giáo các đội chả hiểu vì cớ gì, dù được đội trưởng báo cáo rất thường xuyên nhưng chúng vẫn lờ đi, coi như sự thất thoát nằm ngoài trách nhiệm của chúng. 
Riêng bọn tù các đội càng thấy vui khi sự thất thoát đồ nghề ngày càng nhiều. Không cuốc xẻng để hai tay được nghỉ ngơi một cách hợp pháp không sướng hơn hay sao? Suốt ngày, vừa dựa dẫm cho qua chuyện vừa nghe anh Huy nhai nhải hát một bài ca cách mạng bằng lời ca mới. “Cây cuốc cong thì cầu mong cây cuốc gãy. Cây cuốc gãy thì ta thảy nó vô lò…” mà đâm vui. Hơn thế, vì đói lại rảnh rang, anh Huy khởi sự bắt chước nhiều anh em khác lùng bắt cắc kè, kỳ nhông, cào cào, châu chấu nướng ăn tại chỗ. Dù cũng đói lê lết như các bạn nhưng Vĩnh vẫn không cách gì ăn được những thứ ấy. Cứ nhìn hình ảnh Dũng nhảy dù ngồi ăn rắn thằn thằn Vĩnh đã muốn phát lợm. Hắn chụp được một con thằn lằn có chửa ném ngay vào đống lửa. Con rắn sau vài cái giẫy giụa bắt đầu bốc mùi khét và như nở lớn ra. Dũng vội cầm lên. Hắn phành bụng con rắn và ghé mồm vào mút cái chụt. Cả một bộ đồ lòng lẫn cái thai rắn chui luôn vào bụng Dũng. Ăn xong bộ đồ lòng, Dũng ngả người tựa lưng vào một thế đất cao, chậm rãi lột da và ăn luôn phần thịt rắn còn lại vốn đã cháy nham nhở. Bên cạnh đấy anh Huy và những ông bạn phàm ăn khác ngồi nhai rau ráu những con cào cào nướng cháy. Gần đây, cũng có lúc Nguyễn Tú Cường len lỏi ra chỗ mấy thân buông đổ nát gần ao cạnh tranh với Tầm – kẻ giờ đây cả đội đều ghét bởi cái tật để quản giáo chửi hoài chuyện đi kiếm ăn linh tinh – để tìm nấm. Cũng có chiều Cường đem về cả túi nấm và đem luộc. Tuy nhiên mớ nấm ấy chỉ có Cường, anh Huy và Dương ăn với nhau. Vĩnh, Điểu và Ý tuyệt nhiên không đụng đũa. Hình ảnh những anh chàng chết vì nấm độc, ngũ khếu đều xuất huyết, nằm la hét cào cấu và giẫy giụa cho đến chết, không cách gì phai mờ được trong óc Vĩnh. 
Thế nên, dù hiện nay thiếu đồ nghề lao động, Vĩnh vẫn không thể nào có được những giờ phút “thần tiên” như anh Huy hay như vài người bạn khác. Vĩnh đứng làm việc cầm chừng, hoặc chạy xe cải tiến, hoặc đứng nghe Lợi nghe Tuyến kể chuyện, hoặc suy nghĩ nhớ nhung vẩn vơ. Tất cả những hình ảnh của ngày qua một lần nữa trôi qua óc Vĩnh, nhiều cái thật rõ nét, nhiều cái lại mập mờ như những tấm phim hư… Tại sao mình không tìm cách mua chuộc bọn công an quản giáo nhỉ? Trại này, như Đặng Xuân Hùng tiết lộ, trước đây đã có hai lần tù móc ngoặc và mua chuộc được cán bộ quản giáo. Bọn quản giáo đã cung cấp đồng phục công an cho tù, rồi dẫn tù đi đường tắt trốn khỏi trại; sau đó, hai tên quản giáo cũng đào ngũ luôn. Chuyện này đã gây chấn động lớn trong giới công an đến độ tên thượng tá Đào Lưỡng, kẻ chỉ huy tổng quát các trại tù Chí Hòa, Suối Máu, Hàm Tân và Tống Lê Chân (sau này coi luôn một số trại ngoài miền Trung) phải cho nhân viên thân tín xuống điều tra nhưng không hề tìm ra manh mối. Ban Giám Thị trại hầu như đều bị phạt dây chuyền vì đã không quản lý tốt lẫn nhau, nhất là để cho hai tên đồng bọn đào ngũ đem theo cả súng cá nhân… Nhung mua chuộc chúng bằng cách nào? Vàng ư? Đào đâu ra vàng?

Tên quản giáo hiện thời của đội 17 không còn là tên Thường nữa. Thằng ấy đã đi phép về Bắc và nghe nói sẽ đi luôn đến đơn vị mới. Quản giáo hiện thời của đội 17 là một anh chàng mập mạp tên là Phú. Hầu như cả buổi lao động Phú ngồi lỳ trong nhà lo đọc chưởng. Tay này phải nói là một tay mê đọc sách. Bọn Vĩnh không hiểu trình độ văn hóa của hắn tới đâu, nhưng thấy hắn mê đọc sách đến độ lơi là cả việc kiểm soát tù lao động, cũng thấy có cảm tình với hắn. Không hiểu hắn có đọc tiểu sử tù hay không, bỗng một ngày quản giáo Phú gọi Vĩnh vào nhà lô hỏi han chuyện trên trời dưới đất, sau cùng hỏi đến chuyện sách báo miền Nam. Thấy Phú ăn nói tương đối biết điều, Vĩnh bấm bụng đi một tràng tuyên truyền. Phú ngồi nghe say mê ra mặt. Hồi lâu, Phú hỏi. 
– Vậy tủ sách cá nhân của anh chắc cũng phải trăm quyển? 
Vĩnh cười. 
– Nói thật với cán bộ, sách của tôi trước khi cách mạng cho phường đội vào tận nhà tịch thu, ít ra cũng phải ngàn quyển, đủ loại. 
– Tịch thu hết? 
– Vâng, tịch thu hết! 
Quản giáo Phú có vẻ tiếc rẻ. Sau cùng, hắn thở dài và an ủi Vĩnh một câu. 
– Thôi anh cũng cứ lấy làm vui đi. Số sách ấy chẳng mất đâu. Để nhân dân làm chủ tập thể cũng tốt thôi… 
Chẳng hiểu sao Vĩnh không cầm lòng được, anh nói toạc ra luôn. 
– Cán bộ không biết đấy thôi! Nếu mà được nhân dân làm chủ tôi đã chẳng lấy làm tiếc; đàng này, đám thanh niên thiếu nữ ở phường đội đưa mấy xe ba gác đến tận nhà tôi, tự động gỡ hết các sách trên kệ xuống và vứt vào một đống như cái núi giữa nhà. Sách rách bươm hết. Sau đó họ hốt từng đống quăng lên xe ba gác như quăng đồ rác rưới. Đi dọc đường đồng bào trong xóm chạy theo xin xỏ. Họ quăng đại cho mỗi người ít cuốn để xe đỡ nặng. Tôi biết chắc đồng bào khu tôi ở chẳng ai tiếc gì những quyển sách ấy mà giữ gìn. Buổi giao thời thiếu củi lửa, họ xin mà nhóm bếp đấy thôi! 
Từ đó, quản giáo Phú càng tỏ ra có cảm tình đặc biệt với Vĩnh. Hắn hay gọi Vĩnh đến nói chuyện cho qua những giờ lao động. Quả tình trong thâm tâm, Vĩnh rất ngại phải ngồi nói chuyện tay đôi với bất cứ thằng cộng sản nào trong hoàn cảnh này. Trong lao tù, phải nói rằng không có gì dễ gây ngộ nhận cho anh em bằng việc cứ thường xuyên phải tiếp xúc với cai tù. Chẳng hiểu có lần nào Vĩnh tỏ một thái độ khó chịu hay không, mà Phú có lần nói. 
– Tôi thấy anh là người yếu nhất đội. Lại đang ho ra máu. Ban y tế nơi đây lại không có chỗ nằm cho người bệnh lao… Thôi thì ráng khắc phục vậy. Nói rồi Phú tươi cười. Để giúp đỡ riêng anh, tôi cho phép anh lao động tùy sức… Khỏe thì làm, yếu thì nghỉ. 
Thế rồi chả hiểu sao, sau một lúc suy nghĩ, Phú nhìn Vĩnh, tiếp. Tôi hiểu các anh bất mãn nhiều với chế độ! Nhưng tôi cũng nói để anh nghe, những điều họ đang làm hiện nay là đang phá nát giấc mơ của bác (!?). Tôi bảo thật đấy. Giai đoạn này đúng ra cách mạng đâu có cần chuyên chính triệt để như thế này nữa!… 
Dù có kinh ngạc trước lời tâm sự ngang xương của thằng cộng sản, Vĩnh cần thấy thương ngược cho tên quản giáo. Số nó u tối thì đến chết vẫn u tối! Đến ngày nay nó vẫn tưởng bác Hồ của nó ghê gớm lắm, nhân đạo lắm, tài ba lắm! Nó đâu có biết rằng già Hồ mà còn sống, chưa chắc gì đất nước này đã có trại tù Hàm Tân mà là cái nghĩa địa Hàm Tân không chừng! 
Từ buổi đó, Phú cũng không kêu Vĩnh nói chuyện khơi khơi nữa. 
Đang thơ thẩn cuốc đất và nhớ lại những ngày qua, Vĩnh bỗng giật mình vì một tiếng gọi lớn từ con đường chạy giữa những lũy tre và giòng suối. 
– Anh Hà Thúc Sinh! 
Vĩnh ngó ra con đường. Anh nhận ra người gọi mình là Tân Dân. Dân đang đứng thở dốc bên một gánh rau rất nặng. Bên cạnh Dân còn có một người bạn nữa cũng đứng thở dốc như Dân. 

Vĩnh bước vài bước tới gần hàng rào tre, nói nhỏ. 
– Làm gì đứng đây? 
Dân vui vẻ. 
– Sang khu A gánh rau về cho bếp bên đó anh! Anh khỏe không! 
Vĩnh gật đầu. 
Tân Dân mới biên chế sang khu B chừng ba tuần nay. Trước Dân ở cùng nhà với Vĩnh. Dân chơi thân với Thương và Dũng. Thực ra, hồi mới dời vào nhà 5 chính Dân là người nhận ra Vĩnh. Rồi nhờ đôi ba câu chuyện. Dân kể lại một cách nồng nhiệt sau đó, Vĩnh mới biết rằng đã có lần anh và Dân gặp nhau nơi cái quán cà phê cơm tấm đối diện với tòa soạn báo Sóng Thần… Bẵng đi tám chín năm sau, Vĩnh và Dân lại gặp nhau trong tù. Dân vẫn trẻ và… lùn như xưa, duy có gầy đi thật nhiều. Quả tình Vĩnh không đi sâu lắm vào đời từ của Dân trong thời gian hai người ở cùng nhà, nhưng qua lời kể, Vĩnh biết sơ qua tiểu sử của Dân có vợ một con và nhà cửa ở Vũng Tàu. Dân bị bắt theo diện phục quốc, từng bị giam ở Chí Hòa trước khi chuyển về đây. Dù sao đám ba tay trẻ ăn chung với nhau là Thương, Dũng và Dân là một cái gì đáng lưu ý cho mọi người. Ba người đều trầm tĩnh và ít nói trước tuổi. Ngồi ăn cơm với nhau và ít khi thấy họ mở miệng cười đùa hay chuyện trò thân mật như những đám khác. Ngoài Dũng và Thương đã có thành tích trốn trại, còn Dân thì chưa thử lửa lần nào. Tuy nhiên, Vĩnh đoán biết thế nào cũng có ngày Dân vượt ngục. Điều ước ao thầm của Vĩnh là đừng bao giờ Dân vượt ngục theo cái kiểu điên rồ mà Dân từng hỏi ý Vĩnh trong một lần tắm dưới suối. Liệu lúc mình tắm lên, tụi nó đang sơ hở, mình có thể phóng chạy vào bìa rừng đàng kia không anh? Nghe Dân hỏi Vĩnh tưởng hắn đùa. Anh ước lượng khoảng cách từ rừng buông tới bờ suối, đáp. Đạn AK nhất định nhanh hơn đôi chân cậu! 
Nghe Vĩnh nói, Tân Dân bỗng đăm chiêu và nói một câu thật nghiêm chỉnh. 
– Sẽ có lần tôi thử xem cái nào nhanh hơn cái nào… 
Sau đó Dân được chuyển sang phân khu B. Thỉnh thoảng có lúc nằm nhớ tới Dân, nhớ tới tính tình của hắn và lời hắn nói, Vĩnh không khỏi e ngại sẽ có ngày Dân chạy đua thử với độ nhanh của đạn AK như hắn từng nói… 
Giờ lại gặp Dân chỗ này. Hai người nhìn nhau chẳng biết nói gì hơn. Dân và người bạn gánh rau đã ngồi bệt xuống lề đường. Hình như họ chờ những người bạn khác từ phía sau. Vĩnh hỏi. 
– Lấy rau từ đội nào vậy? 
– Rau đội văn nghệ đó anh! 
– Có gặp anh Nhật Bằng không? 
Sở dĩ Vĩnh hỏi thế vì Vĩnh biết đội trưởng đội văn nghệ kiêm canh tác rau xanh là nhạc sỹ Nhật Bằng. Hồi mới về đây, Vĩnh có gặp anh ta một hai lần nhưng lâu nay không có dịp gặp lại. Vĩnh cũng biết Nhật Bằng không ở tù theo diện trình diện cải tạo (dù anh là sỹ quan cấp úy làm việc lâu năm cho đài phát thanh của cục tâm lý chiến). Chẳng rõ vì lý do gì, theo lời anh kể, bọn công an thành đã Sài Gòn xuống tận Biên Hòa bắt anh tại nhà. Về trại Hàm Tân, bọn giám thị đưa anh vào đội văn nghệ và anh giữ chức đội trưởng đội này, dưới tay có một ông tiến sỹ âm nhạc từng tốt nghiệp tại Nga, đã trốn qua tây phương và chiêu hồi VNCH từ giữa thập niên 60. 

Dân đã chui qua bụi tre, ngồi tụt vào một thế đất thấp ngay trước mặt Vĩnh. Hắn nói. 
– Ngồi đại đây nói chuyện anh. Lâu nay có tin gì lạ không? Thằng Thương thằng Dũng có lao động gần đây không? 
Vĩnh chỉ tay về phía những người tù đang đẩy xe cải tiến, nói. 
– Hai thằng khỉ nó đang chạy xe cải tiến đầu ấy. Bên phân khu B lúc này ra sao? 
– Cũng vậy thôi anh. Đang trong tình trạng dựng thêm nhiều dãy nhà ở nữa. Cũng tốt thôi! Nhưng nổi lửa đốt nó được thì tốt hơn! 
Ngay lúc ấy Vĩnh phải chấm dứt câu chuyện. Đội phó Mai Văn Lễ đã tiến lại gần Vĩnh. Hắn nói khẽ. 
– Vệ binh nhìn anh từ nãy đến giờ. Anh coi chừng họ cùm anh vì tội liên hệ linh tinh đấy. 
Nghe một người lên tiếng báo động, Dân vội vàng chui qua hàng rào ra đường và thúc người bạn đồng hành quang gánh lên vai. Hắn chỉ giơ cao cái nón lá rách bươm lên ngoắc chào Vĩnh rồi cùng người bạn gánh gánh rau bỏ đi. Theo lời yêu cầu khéo của đội phó, Vĩnh quay trở lại chỗ có đông anh em đang cuốc xới những thế đất cao quá đầu người. 
Nhưng rồi Vĩnh chẳng cuốc thêm được mấy lát nữa thì kẻng tập họp đã nổi lên. Khắp nơi, như những xác chết vùng sống dậy, bọn tù đều nhanh chóng thu đồ nghề và kéo đến vị trí tập họp. Một ngày kết thúc đem đến niềm vui khó tả cho bọn tù khổ sai vô hạn định như bọn Vĩnh. Cũng như mọi ngày, trừ khi có một hiện tượng vi phạm nội quy trong lao động quá rõ ràng đến độ quản giáo Phú không thể tránh khỏi chuyện lên lớp, đội 17 thường là đội được dẫn ra suối tắm trước nhất. Quả thực niềm vui nơi đây chỉ xảy ra khi một ngày sắp tàn. Vùng vẫy dưới suối mươi mười lăm phút, cái mệt nhọc tích tụ trong ngày như trôi hết theo giòng nước. Rồi kế đó trở về trại, nhận phần ăn, có gì thì xúm lại nấu nướng với nhau một chút trước khi bị dồn hết vào chuồng. Đêm đến, chỗ đàn địch, chỗ cờ tướng, chỗ domino, chỗ kể chuyện kiếm hiệp… 
Vĩnh đứng tắm dưới suối và như mọi ngày, anh ngó quang cảnh với mọi biến chuyển đang xảy ra chung quanh. Dù đã bao lần cố gắng, chả hiểu sao Vĩnh không tài nào tham dự hay chia xẻ được tí niềm vui vào một cuối ngày của anh em. Lòng Vĩnh cứ trơ ra như đá. Có lúc anh Huy, với bản tính hay đùa giỡn, lặn từ xa đến nắm chân Vĩnh kéo mạnh đến hụt hơi uống nước, Vĩnh vẫn không thể nào bắt được cái đà đùa giỡn với các bạn. Nghĩ tới lúc về phòng, ngồi nhai bo bo với những cọng rau muống già cỗi Vĩnh còn buồn hơn và thốt phát rùng mình. Những cọng rau muống! Thật kinh khủng! Vĩnh chợt nhớ tới những buổi sáng, đám tù trực lấy phân nhào đến các dãy cầu tiêu giành giật từng thùng phân để đổ vào thùng của tổ mình. Những thùng phân ấy đầy ắp những hạt bo bo to gần bằng hạt ngô, vẫn căng mọng, vẫn óng ánh màu vàng, an toàn trong lớp mày dày như nylon dù nó đã trải qua một quá trình tiêu hóa trong bụng dạ con người. 
Những thùng phân bo bo ấy được cung cấp cho các đội rau xanh lấy bón ao rau; nói bón cho đẹp đẽ, thực ra các đội rau xanh đem rải lền khên xuống các ao rau và dù mưa nắng dập vùi cả tuần, hạt bo bo vẫn chưa có dấu hiệu nào tiêu tán. Khi cơn mưa làm cho các ao rau muống dâng nước lên, các hạt bo bo nổi lềnh bềnh và bám vào lá, vào thân cây rau muống. 
Mỗi ngày, đội rau xanh thu hoạch rau muống từ các ao rau về cung cấp cho đội anh nuôi. Với không quá năm người được cắt cử việc nhặt, rửa và luộc rau để cung cấp cho 1.600 khẩu phần; có ba đầu sáu tay năm người ấy cũng không thể nào chấp hành công tác một cách vệ sinh đầy đủ được. Từ chỗ thiếu vệ sinh vì phải làm thật nhanh cho kịp giờ ấy, mỗi chiều, khi tổ trực xuống bếp nhận khẩu phần về phát lại cho anh em, Vĩnh và các bạn ngồi trong bóng chiều nhá nhem lọt qua chấn song của phòng giam khóa kín, chậm rãi nhai chén bo bo với những cọng rau muống cũng dính những hạt bo bo như thế; tuy nhiên Vĩnh thừa biết những hạt bo bo ấy đã từng bị trải qua nhiều lần tiêu hóa! 

Dù sao chuyện ăn chưa đáng buồn bằng chuyện ngủ nơi đây! Trảng Lớn và An Dưỡng dù sao còn được nằm trên nền xi măng của “Mỹ ngụy” để lại! Suối Máu dù có phải trở về với truyền thống dân tộc kiểu Hồ Chí Minh, nghĩa là nằm đất, nhưng cuộc đời coi vậy mà đỡ thê thảm. Ngày nay sống dưới chế độ văn minh văn hóa kiểu công an, cuộc đời bọn tù bước vào một bước ngoặt vĩ đại, ấy là ban đêm không chỉ phải đánh vật với cơn buồn, mà còn phải đánh vật với ba kẻ thù khác nữa: Muỗi, chuột và rệp! 
Muỗi thì tương đối trị được khi bọn tù có mùng. Chuột cũng trị được khi cả phòng không thiếu người thèm thịt. Riêng rệp thì chịu thua! Chịu thua hoàn toàn! Rệp đã, trên thực tế, biến thành cơn ác mộng của bọn tù trại Hàm Tân! 
Nơi đây nằm sạp hai tầng. Sạp được làm bằng gỗ giác (tức lớp gỗ vỏ được đội mộc của trại thải ra). Vì lâu ngày, gỗ giác thấm mồ hôi của tù, cộng với không khí ẩm thấp của rừng buông, gỗ giác bắt đầu sinh rệp. Đã nhiều chủ nhật, bọn tù tự phát động phong trào diệt rệp, bằng cách nấu nước sôi đem đổ vào những kẽ ván. Bọn giám thị trại cũng có lần cung cấp cho tù một ít bột DDT để dùng vào công tác diệt rệp; tuy nhiên, sau những lần dội nước sôi hoặc rắc bột DDT, không hiểu có phải làm như thế là tăng thêm độ nóng cần thiết cho hàng tỉ cái trứng rệp nở ra hay không, mà rệp trong các phòng sinh sản còn dữ dội hơn trước thập phần. Trước giờ ngủ, một trăm hai mươi người của mỗi dãy phòng đều giở chăn chiếu mùng mền ra bắt rệp. Suốt ngày đi lao động, phòng yên lặng và rệp tha hồ rúc vào những chăn những chiếu nằm mai phục sẵn. Khi bọn tù mở ra, rệp bị giết hàng loạt. Có đêm, chỉ nội một cái màn, Vĩnh bắt và giết chừng bốn mươi con rệp. Sáng ngủ dậy, vừa mở mắt ra, trên đỉnh màn rệp đã bám đen như rải đậu. Có khác chăng là những con rệp buổi sáng to hơn, đen hơn vì trong bụng chúng đều đã có chứa một lượng máu người! 
Rệp! Nỗi sợ rùng mình, cơn ác mộng khôn nguôi của tù trại Hàm Tân, một thứ kẻ thù lỳ lợn, dai dẳng và hút máu mủ con người bạo tàn không thua gì kẻ thù cộng sản. Có thể nói rệp là một thứ ký sinh trùng có nhiều điểm giống cộng sản nhất, và người ta chỉ thực sự diệt được nó khi có can đảm đốt hết, đốt sạch tất cả để rồi sẽ chấp nhận làm lại tất cả. 
Với hai cái ăn và ngủ nơi đây cũng làm cho người ta thấy cuộc đời “kém vui” rồi, đùa giỡn tươi cười thế nào được nữa!? 
Tắm xong, Vĩnh leo lên bờ mặc quần áo và ngồi đợi anh em. Đội trưởng Hùng bỗng xà tới chỗ Vĩnh ngồi, kể lể đôi ba câu chuyện. Anh ta lôi cái điếu cầy đặt bên hông ra và bật lửa kéo một điếu. Vĩnh cũng kéo ké một hơi. Hùng lùng bùng than thở mấy chuyện xảy ra trong đội, nào là Lê Văn Tầm mất tư cách quá, nào là đám Hòa Danh Tuyến lúc này đêm nào cũng hòa tấu nhạc vàng, nào là trong nay mai Hùng có thể sẽ được sang đội khác để được sinh hoạt hợp với tuổi tác của anh ta hơn… Trong những câu chuyện kể lan man của Hùng, có một câu chuyện Vĩnh lưu ý nhất. Khi trưa, Ban Giám Thị trại có bắt giữ mấy người dân từ ngoài quốc lộ mò vào đào xới ăn cắp khoai mì. Tệ hại hơn, những cuốc xẻng mấy người dân này sử dụng đều được nhận diện là cuốc xẻng của trại từng bị đánh cắp. Nghe nói qua lời khai của những người bị bắt, có một số cán bộ trại bị liên lụy vì chính họ đã ăn cắp dụng cụ sản xuất của trại, bán rẻ cho nhân dân bên ngoài lấy tiền bỏ túi…




Bên kia đèo Bá Thở

Hoàng Khởi Phong

Post by Sơn râu 15 Jan 2024

Anh ta vừa mới qua khỏi tứ tuần. Bốn mươi năm làm người ấy quả tình là anh đã làm được nhiều việc cho mình và cho người.

Anh ta tên là Chiêu. Vào lính từ năm mới mười hai tuổi, nghe như chuyện giễu, nhưng mà thật bởi vì anh ta là một Thiếu Sinh Quân. Năm 1969 khi quỳ xuống trong một ngày lễ mãn khóa ở Vũ Đình Trường Thủ Đức anh là một Sinh Viên Sĩ Quan mười chín tuổi. Khi đứng lên đã là một Tân Sĩ Quan, mặt búng ra..sữa. Thế mà anh đã có bảy, tám năm ở lính, trong khi các bạn đồng khóa chỉ mới thâm niên quân vụ đâu có chín tháng và đâu có đôi khi có thêm mười ngày lẽ, một thời gian khiêm tốn cỡ thời gian anh khai bệnh và..bị phạt. Đã từng có một ông nhà văn viết tiểu sử của mình là hoạt động kháng chiến chống Pháp vào năm sáu tuổi. Sáu tuổi mà đã ý thức được..kháng chiến.. thì đúng thật là..thần đồng kháng chiến. Còn anh, anh đâu có tự xưng là thiên tài…quân sự thì hiển nhiên không một ai có cớ để phiền lòng.

Chiêu khác người ta đủ điều. Là sĩ quan hiện dịch nhưng được đào tạo bởi một quân trường chuyên huấn luyện các sĩ quan trừ bị, mà ngược ngạo thay sổ quân bạ đã có tới bảy tám năm, trung bình cứ mỗi năm mười ngày phạt là đã thấy chiếm bằng nửa giai đoạn một huấn luyện của các tân sĩ quan trong quân trường Thủ Đức này. Cái chất lính đã ám vào tận trong xương, trong tủy nên anh đã chọn Thủ Đức để có thể ra trường sớm hơn, chứ đáng lý ra sau khi là một Thiếu Sinh Quân đậu Tú Tài, chổ của anh phải tới là Trường Võ Bị Quốc Gia Đà lạt. Anh tâm sự là đã ngán ngẩm quân trường tới cổ. Anh muốn bay nhảy sớm hơn, rộng cẳng sớm hơn. Cốt của anh là hiện dịch, đằng nào cũng là Sĩ Quan thì Thủ Đức cũng thế mà Đà Lạt cũng vậy. Đó là chưa kể anh sẽ là Thiếu Úy trước các bạn cùng lớp gần một năm, vì đi Đà Lạt phải thụ huấn thêm hai năm trong khi anh chỉ phải học bốn tháng giai đoạn hai của trường Thủ Đức là đã trở thành một Chuẩn Úy, một năm sau cũng đã Thiếu Úy như thông lệ. Đó là chưa kể đến những chiến công sẽ có trong một con người mà cái chất lính nó đã ăn vào tới tận trong xương, trong tủy.

“Đã là lính từ thời niên thiếu. Ngày ra trường chẳng lẽ chọn…Quân Bưu”. Chiêu cùng một người bạn cũng là Thiếu Sinh Quân tên là Minh Lai đã khởi đầu binh nghiệp với một con cọp bay nơi tay áo, mủ đỏ ở trên đầu. Sau khi mãn khóa ở quân trường Thủ Đức cả hai đi huấn luyện về Biệt Kích ở Long Thành. Cả hai học thêm khóa 172 Nhảy Dù tại trung tâm huấn luyện của binh chủng này. Trung tâm này khi đó do Thiếu Tá Nguyễn Văn Vinh, một cựu Thiếu Sinh Quân từ thời Pháp làm Chỉ Huy Trưởng.

Cho tới nay nhiều người ngoài quân đội vẫn còn lầm lẫn giữa chúng tôi: Nha Kỹ Thuật, Phòng 7 và Lực Lượng Đặc Biệt. Đó là ba cơ quan khác nhau, nhiệm vụ khác nhau. Nha Kỹ Thật chúng tôi mà dân chúng thường gọi là Biệt Kích Lôi Hổ có hai Sở là Sở Bắc và Sở Nam. Sở Bắc gồm toàn những người chuyên nhảy và hoạt động tình báo trong lãnh thổ Bắc Việt. Tôi thuộc Sở Nam chuyện trị miền Nam cùng những nước trong lãnh thổ Đông Dương. Đối với Mỹ chúng tôi là MACSOG mà nhiệm vụ chính là “Undergrounds Activities Rescue và Strategic Technical Directorate” (Nha Kỹ Thật) nghe thì có vẽ như là lành, nghịch ngợm với máy và móc. Trông vậy mà không phải vậy. Nếu anh nhới tới vụ Biệt Kích Mỹ nhảy dù vào một trại giam ở Sơn Tây thì đó là một trong những kiệt tác của Sở Bắc.

Mài nanh dũa vuốt đã xong cả hai chú cọp nhỏ được thả về rừng xanh. Cọp thì phải thả về rừng, để ở thành phố thì lâu dần sẽ trở thành cọp giấy. Cả hai cùng trực chỉ Kontum. Đơn vị đầu đời của cả hai là B15. Chiêu kể cho tôi nghe:

2

…Lúc đó chương trình Việt Nam hóa chiến tranh đã bắt đầu. Chúng tôi là những sĩ quan nhẩy toán. Trước khi chiến tranh được thực sự chuyển hẳn lên trên vai những người lính Việt Nam thì trại B15 có tất cả 48 toán nhẩy. Những toán nhẩy này điều động do Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, lãnh lương Mỹ, doanh trại Mỹ, cái gì cũng Mỹ. Những toán này lấy tên là tên của những tiểu bang Mỹ. Toán của tôi mang tên là Hawaii, toán của Minh là Nevada. Và rồi quân Mỹ bắt đầu triệt thối. Để có thể phủi tay dần dần, trong mười toán đầu tiên hoạt động dưới sự chỉ huy hỗn lợp của cả Mỹ lẫn Việt đó có cả hai toán của chúng tôi. Toán Hawaii của tôi giờ đây có thêm một cái tên Việt là Hỏa Lôi, trong khi toán Nevada của Minh là Hoàng Lôi.

Trong năm đầu tiên mới ra trường đó cả hai nhẩy hai chuyến đầu tại chiến trường Hạ Lào, có lẽ là gần Tchépone. Hai thằng, mỗi thằng một toán, tiến về một hướng và cùng may mắn trở về được chổ hẹn với trực thăng. Cứ mỗi lần nhẩy toán mà còn sống trở về, trong túi có tiền nhiều thì những ngưới lính đặc biệt chúng tôi còn biết gì hơn là xà vào quán rượu, chui vào nhà chứa kiếm gái. Riêng tôi không hạp cả hai khoản này…do đó tôi vẫn học…thêm. Tôi vẫn lấy “cua” của Luật đem theo lên trại. Không đi hành quân thì ở nhà đọc sách. Tất nhiên cũng có vào làng Phương Hòa, Phương Nghĩa dê mấy cô nổi tiếng trong hai làng công giáo này. Nhưng ai đã có một thời gian ở Kontum thì biết hai làng này, gọi là làng, song đường xá rộng rãi, nhà cửa khang trang. Phần lớn là nhà ngói cây mít, mít ở đâu mà nhiều thế. Và đặc biệt là con gái thì khá đẹp. Tôi đâu có phải là thánh, tôi không thích uống rượu, không thích nhà thổ, nhưng cái khoản phụ nữ đó…ai mà không thích?

Lần nhẩy toán thứ ba, toán của Minh và tôi lại lên cùng một chiếc trực thăng, nhắm hướng Hạ Lào trực chỉ. Trên không ảnh hành quân, thì khu vực bao la, bát ngát, bạt ngàn, man dã là rừng này chỉ có một chổ khả dĩ có thể dùng làm bãi đáp. Đó là một ngọn đồi thấp, tương đối trống trải, chỉ thuần có cỏ lau cao, chen kẻ với những bụi cây rừng thấp.

Trực thăng xà xuống thấp, thấp hơn nữa. Chúng tôi đáp xuống ngon lành, chiếc trực thăng lại bốc lên cao, cao hơn nữa. Tôi và Minh chưa kịp bắt tay từ giã, nói lời chúc lành nhau như hai lần nhẩy trước thì phèng la ở đâu nổi lên ầm ầm, kẻng báo động vang rền đồi núi. Thế là chúng tôi mạnh ai nấy chạy theo hướng đã định sẳn cho mình. Chúng tôi bị truy kích ngay lập tức, những tiếng gọi nhau, hò hét ơi ới trong buổi chiều có nắng vàng rực rỡ phủ xuống ven rừng. Họ cũng đâu có nhiều lính, tôi nghĩ có lẽ chúng tôi đã nhẩy xuống ngay đầu một đơn vị của họ mới đóng quân cũng không lâu, vì trên trực thăng nhìn xuống chúng tôi đâu có thấy một dấu hiệu nào của nhà cửa, doanh trại. Cái thằng chó đẻ nào đánh kẻng báo động mới quái ác làm sao. Nó mà đánh sớm hai, ba phút, biết là bị động thì chúng tôi đã đeo theo trực thăng mà về nghỉ khỏe. Giờ đây lo chạy lấy cái mạng không biết có nổi hay không?

Tôi dẫn mấy người lính chạy thục mạng vào rừng, chúng tôi trốn thật kỷ trong một khu cỏ lau chi chít đến độ tôi nghe họ quát tháo chỉ cách chúng tôi độ hai chục thước. Họ túa ra làm nhiều toán, súng có lắp lưỡi lê, đâm chĩa lung tung, có một lần họ đâm ngay vào chổ tôi, gần đến độ mũi lưỡi lê cách mũi tôi không đầy một thước. Tôi ngồi im bất động, bởi nếu tôi bắn tôi đã không còn mạng mà về. Lúc đó mặt trời sắp lặn, trong rừng lau ánh sáng bớt hẳn đi. Tôi nghe thấy họ nói với nhau cho vài người trở về mang chó tới. Tôi nghĩ thầm trong đầu thế là bỏ mẹ, thế là phải đụng, không thể nín nhịn được nữa.

Từ lúc đó cho tới khi bóng tối thực sự bao phủ núi rừng bọn họ và tôi chơi đuổi bắt, chúng tôi chạm súng cả chục lần trong khoảng một thời gian không đầy hai tiếng đồng hồ. Không có lần nào đáng gọi là giao tranh, chỉ vài tiếng súng bất ngờ, một người ngã vật xuống, kẻ bị bắn nằm thẳng cẳng, kẻ mới bóp cò lập tức bò đi chổ khác. Qua một vài lần bắn như thế tôi nghiệm được một điều là mỗi lần họ bị chết một người thì họ hung dữ hơn. Thấy mạng của đồng đội mình nằm xuống thì bất cứ một người lính thật sự của phe nào cũng âm ỉ một ý nghĩ trả thù. Nhưng nếu người bị bắn chỉ bị thương, thì tiếng rên la, kêu gào trong buổi chiều chạng vạng nghe mới ghê rợn làm sao. Nó làm cho những kẻ săn đuổi và những kẻ bị săn đuổi đều đứng tim lại vì sợ. Lại nửa phải lo cấp cứu bạn, phải dìu nhau đi do đó cuộc truy kích phải bớt đi tính chất bạo tàn. Từ khi phát giác ra điều này tôi chỉ nhắm bắn họ từ háng trở xuống. Tôi còn được có ba người lính theo sát, tôi dặn họ những điều tôi mới phát giác. Cứ bắn dưới rốn, thằng nào xui thì trúng chim, hên thì trúng đùi. Chẳng phải vì tôi nhân đạo gì, chúng tôi chỉ tính sao cho có lợi cho cái mạng của chúng tôi mà thôi.

Đêm ập xuống, mấy thầy trò chui được vào một cái hang. Bọn người săn đuổi tụi tôi cũng trở về chỗ nghỉ ngơi của họ. Tình cờ gặp nhau nơi rừng hoang xứ người, bắn giết nhau như thế đã đủ cho hôm nay, mai lại làm tiếp. Chúng tôi và bọn họ có cả một không gian rộng lớn để săn đuổi còn thời gian bây giờ thì đang ở trong tay họ, đi đâu mà rộn, hãy về ngủ đi các bạn ta, mai này chơi tiếp trò cút bắt, mèo vờn chuột.

Đêm đó trong hang, tôi nghe tiếng súng nổ nhiều đợt ở hướng của Minh bạn tôi. Múc độ súng nổ cho tôi biết Minh bị đụng liên tục. Suốt đêm tôi nghe có lúc súng nổ dồn dập, có lúc súng nghe thưa hơn, nó cho tôi biết ở phía Minh đúng là giao tranh chớ không phải cút bắt như chổ tôi. Tôi nghĩ tới người bạn mười năm đèn sách này, nghĩ tới những lần nhẩy tường đi chơi đêm ở trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tầu khi chúng tôi mới bắt đầu lớn, nghĩ tới lúc vừa thoát khỏi tình trạng thiếu niên, trong nhà tắm công cộng của trường, chúng tôi bắt đầu khám phá một cách thích thú những sợi râu mọc ở chổ bất ngờ. Vũng Tầu là chổ phong cảnh đẹp, nhiều lính đồng minh, nhiều snack-bar, nhiều nhà chứa. Nên vì đó mà nhiều bạn tôi mười sáu, mười bảy tuổi đã hiểu thế nào là trai hai ba lần “lậu” mới nên con người.

Tảng sáng hôm đo tôi lôi cổ mấy tên lính còn lại. Giờ này người anh em bên kia còn đường an giấc nồng, còn chờ gì mà không kiếm đường dọt. Phương hướng mất hết, đồ đạc, máy móc chẳng còn. Chúng tôi lê lết trong rừng gần một tháng trời, nên nhớ đây là rừng của nước người ta, chớ không phải rừng trong nước mình. Cũng có đụng độ lẻ tẻ và sau cùng mò được về đơn vị còn một thầy, một trò. Đơn vị đã báo cáo… mất tích. Trong thời gian nằm dưỡng thương tôi vẫn hy vọng thằng bạn thưở thiếu thời sẽ cũng mò về được. Nhưng không, không bao giờ Minh Lai bạn tôi về nữa. Bạn tôi đã nằm xuống đâu đó trong rừng hoang xứ Lào.

3.

Năm 1972, tuy người Mỹ đã rút về gần hết, nhưng thật ra họ vẫn còn nhiều hoạt động có tính cách tình báo. Họ vẫn còn một số Lực Lượng Đặc Biệt đi với chúng tôi hay là hiện diện bất ngờ nơi các trại Lực Lượng Đặc Biệt. Kỳ đó Cộng sản tràn qua một trại, đa số quân trú phòng đều tử trận. Có một số thoát được ra ngoài và toán của tôi lãnh nhiệm vụ đi nhảy tiếp cứu, nghề của chúng tôi mà. Chúng tôi đi rescue một toán Mỹ. Khi tôi bắt được liên lạc với họ và dẫn họ ra tới chổ chờ trực thăng thì địch quân truy nã tới. Súng nổ mù trời đất. Bốn người Mỹ mà chúng tôi có bổn phận đi đón chẳng may tử trận hết. Làm sao mà mang xác họ về được. Trước mắt phải lo cho cái mạng của chính mình, trở  về bằng mọi giá cái đã.

Tôi vùi xác họ tại chổ, sau khi đã đánh dấu thật kỹ địa điểm để sau này tới mang…các bạn ta về. Chúng tôi đã từng được huấn luyện kỹ lưỡng về việc này., kể cả việc có thể kiểm chứng xác người, xương người để dung cho công tác của chúng tôi. Ngay lúc đó tôi cũng không ngờ là nhiều năm sau tôi sẽ quay trở lại, thu hài cốt những người này. Lúc đó ngay trong khi đang vùi xác tôi có nhớ là tôi thầm hứa với vong linh mấy người anh em này là tôi sẽ đem họ về với gia đình họ. Nào ngờ mấy bố đó linh thiệt. Tôi sẽ trở lại việc này sau.

Trước sau tôi nhảy ba mươi ba chuyến. Ba mươi ba chuyến đều nhảy ở đồng đất nước người, khi thì Lào, khi thì Miên. Cũng có đôi lần nhảy xuất phát từ Thái Lan, nhưng chưa hề nhảy ra Bắc lần nào. Tính cho đến ngày cuối của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tôi mới hai mươi lăm tuổi đầu, mười ba, mười bốn năm lính. Sáu năm Sĩ Quan, hai lần nằm bệnh viện. Tôi cũng chẳng bao giờ để ý đến huy chương. Nguyên con người tôi còn sống mà về đã là một cái huy chương sáu mươi lăm ký, mang mấy cái chiến thương bội tinh đó làm gì chỉ tổ cho bạn hữu nó cười. Giễu nhất là hai lần tôi bị báo cáo đào ngũ, mà thật ra trong lúc bị báo cáo đó tôi đang hoặc là năm nhà thương, hoặc là đang bị người anh em bên kia quần cho tơi tả. Do hai lần báo cáo đào ngũ này cái sổ quân bạ sĩ quan của tôi nó…sạch như chùi, và vì vậy tôi đứng luôn ở cấp bậc thiếu úy hơn năm năm. Cho tới ngày “ò e, rô be đánh đu, tặc giăng nhảy dù, dô rô bắn súng …”

Cho tới khi sổ quân bạ của toàn thể Quân Lực miền Nam phải thiêu hủy vào cái năm 75 đó, trong lòng tôi luôn tri ân những người bạn thiết của chúng tôi. Trước tiên phải kể là những người mũ xanh Mỹ, nhiều người trong bọn họ đã không còn sống trên cõi đời này. Kế đó là vài phi đoàn trực thăng H34 chuyên đưa chúng tôi đi bằng “cửa trước” và rước về bằng “cửa sau”. Đó là Phi đoàn Thần Phong Long Mã mà những ngươi anh em lã lướt gốc Không Quân còn gọi bằng một cái tên Mỹ là King Bee 219. Những người anh em này nhiều khi đi đón chúng tôi và trở về không. Nhưng nếu phải trở về không thì các phi công đó đã làm hết sức những điều họ có thể làm. Chúng tôi ghi nhận tình chiến hữu lặng lẽ, nơi những người bạn đã nhiều lần bất thần trong rừng xanh  núi đỏ , chợt ở trên mây nhào xuống cõng chúng tôi về.

4

Trên bản đồ quân sự cũng như trên bản đồ của Nha Địa Dư không bao giờ có địa danh “Đèo Bá Thở”. Bởi vì đặt cái tên cho ngọn đèo này chính là tôi và một vài người bạn. Chúng tôi là nhà binh, thứ dữ. Năm 75 lại không bỏ của chạy lấy người nên bị vồ trọn gói. Lính thì thứ dữ như vậy nhưng khi bị bắt ở tù thì lại hiền khô. Chứ không hiền thì làm gì được ai. Khi còn là “Lôi Hổ” thì chưa ăn thua gì huống hồ bây giờ bị “Hổ Lôi” đi một mạch từ trong Nam ra ngoài Bắc thì hiền khô là vừa. Nói nào ngay mấy người anh em lôi được “hổ” đi vẫn còn nghĩ tôi là thứ dữ nên mới mang một cậu thiếu úy mới có hai bốn hai lăm tuổi ra ngoài đó nơi mà giá chót cũng là ba bông mai trên cổ áo mới có “tư cách” định cư.

Khi chúng tôi đặt cho ngọn đồi cái tên là “Đèo Bá Thở” thì thật tình chúng tôi không biết dân địa phương gọi nó là là “Đèo Bò Rống”. Ngọn đồi nằm không xa trại giam chúng tôi trong tỉnh Yên Bái. Ngày ngày đội chúng tôi có mười anh em phải băng sang bên kia cái đèo khốn nạn này, tới một khu đồi toàn thị là tre, nứa, giang …Nghĩ cũng buồn cười, xưa cũng mấy thằng lặn lội trong rừng, nay cũng mấy cậu trong rừng lội, lặn. Chỉ khác một điều là xưa vai vác súng. Nay “Đẵn tre vác nứa trên ngàn, ngày ngày lao động tối dồn tự phê. Miệng ăn măng trúc, măng mai, hữu thân hữu khổ lấy ai bạn cùng…”

Mấy ngày đầu chúng tôi không chú ý tới cuối dốc bên kia có một cái nhà tranh đã xập, người chủ nhà lấy vài than tre to, chống cái mái lên, nên mái nhà chạm đất, tất nhiên trong tình trạng đó nó không có cửa. Chúng tôi đã vài lần đi về ngang đó và tưởng là nó đã bỏ hoang, bởi vì trông nó còn thua một cái chòi chăn vịt ở miền Nam. Một hôm cả bọn chúng tôi thấy trời còn sớm, nên nghỉ lại bên kia dốc một lát trước khi “bá thở”. Chúng tôi nghe có tiếng lục đục trong cái chòi bỏ hoang và phát giác được một bà cụ già thật già. Nét mặt bà cụ nhăn nheo hệt như những vết nẻ của ruộng bị hạn hán nhiều ngày. Bà già có một cặp mắt nâu đục, lờ đờ và đầy rỉ mắt. Bà già mặc một cái áo bông vá chằng vá đụp . Phải gọi đây là cái áo vá trên những miếng vá. Nó nặng dễ chừng đến năm ký chứ không chơi. Chúng tôi gạ chuyện song tất nhiên bà già biết chúng tôi là tù “Ngụy” nên không hé răng một nửa lời.

Hôm sau trong lúc đốn tre chúng tôi hội ý. Chúng tôi lấy dư ra mỗi ngày vài cây khi về giấu ở gần căn lều của bà cụ. Được vài ngày đủ tre để dựng lại căn lều , chúng tôi để hai người ở lại sửa, còn tám người vào rừng đốn tr echo đủ số lượng của mười người. Chúng tôi cũng cắt gtranh về để dậm lại những chổ quá mục nát. Căn nhà sửa xong có cửa để chui ra chui vào. Bà già khi đó tự động nói chuyện với tụi tôi.

Bà nói với tụi tôi: “Mấy cậu ở tù mãi rồi cũng có ngày về. Còn con lão thì không về được nữa rồi”. Tụi tôi ai nấy đều cảm được bà già nói gì nên đều tôn trọng nổi đau của bà già bằng cách im lặng. Bà già lại nói tiếp: “Lão có ba đứa con, một đứa đã có giấy tử sĩ, hai đứa kia thì chiến tranh đã hết lâu rồi , nhưng lão không hề nhận được một chữ của chúng từ ngày chúng đi. Lão mới có giấy mẹ liệt sĩ, mỗi tháng có tiền nhưng chả đâu vào đâu”.

Tôi không hiểu các bạn tôi nghĩ gì, nhưng riêng tôi trong đêm ấy tôi mất ngủ. Làm như tôi mắc một cái tội nào đó không diễn tả được. Trong tù tôi được nghe xì xầm là trại tôi dang ở trước kia giam một số tù binh Mỹ. Dấu vết của họ còn hiện lờ mờ đâu đó trên những vách nhà, trong phòng tắm. Đằng sau trại tôi, trên một ngọn đồi kế cận chỉ cách một khoảng không đầy một cây số, tôi nghe được còn một trại khác, ngầm ở dưới đất … và hình như họ vẫn còn giam giữ những tù binh…da trắng. Tôi là một tay biệt kích có thể gọi là ngoại hạng. Tôi đã quan sát rất kỹ và rất nhiều lần. Tôi biết chắc sau ngọn đồi có doanh trại ngầm, nhưng tôi không biết là tù binh Mỹ còn hay không?? Tôi nghĩ nếu có những người tù Mỹ này thì tội nghiệp họ biết bao. Họ ở đâu đến đây. Năm chục ngàn đã chết. Hàng ngàn  người bị bắt và giam giữ như là súc vật. Hết chiến tranh rồi mà vẫn còn những kẻ đang chờ chết lần hồi. Tôi tự thề là nếu Chúa cho tôi trở về, thì một trong những việc đầu tiên là tôi sẽ trở về vùng Kontum, kiếm lại xác của bốn người Mỹ tôi đã vùi từ năm 72 và nếu như tôi có những dấu hiệu nào của những người Mỹ mất tích, bị cầm tù thì tôi sẽ tìm đủ mọi cách để thông báo cho gia đình họ, cho người Mỹ…

Khi vào tù tôi còn trẻ lắm, mới ngoài hai mươi. Lại nửa binh nghiệp của tôi là được dạy dỗ, huấn luyện để được tồn sinh trong mọi trường hợp. Lạc trong rừng cả tháng còn mò về được, thì ở tù chỉ là bị câu thúc than thể mà thôi. Sức mấy mà những cực nhọc đó có thể quật được tôi ngã quỵ. Tất nhiên ngoài sức khỏe trời cho, ngoài sự huấn luyện để rèn cho thể xác, tôi cũng phải biết điều một chút để giữ cho được cái mạng của mình. Trong tù tôi đã vuốt mắt cho vài người đồng cảnh.

Đau lòng nhất là tôi đã vuốt mắt cho một niên trưởng của tôi. Ông cũng là một Thiếu Sinh Quân, lại là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù trong lúc tôi đã theo học. Ông chính là Trung Tá Nguyễn Văn Vinh. Về cái chết của Trung Tá Vinh có một điều tôi nhớ mãi. Khi tôi đi thực tập Nhảy Dù ông cao to, nặng tới bảy chục ký. Hôm đi chôn ông chỉ còn thuần da với xương, trông như những cái xác ở trại tập trung Do Thái, ông chỉ còn nặng một nửa là cùng. Tôi là người vuốt mắt cho ông và hứa nhất định khi về sẽ đem được lời trăn trối của ông tới gia đình ông. Chúng tôi không có cả vài tấm ván để đóng cho người đàn anh đúng nghĩa này một cái quan tài. Thôi thì hãy tạm bằng lòng với cái chiếu mà đàn em kiếm được. Sống đã chẳng làm gì được cho nhau.

Cái giá mà tôi một tên Sĩ Quan “Lôi Hổ” nhảy toán phải trả coi bộ khá bộn. Cỡ cấp bậc của tôi mà là bộ binh thì nhiều lắm hai năm là cùng, mà sẽ không bao giờ biết đến Yên Bái là gì, Bắc Kỳ là gì. Khi đi lính tôi chơi bạo với người anh em nên khi vào tù người anh em chơi bạo với tôi, thế là có vay có trả. Có điều tôi phải trả lời nặng quá, những bảy năm tù.

Ở tù người ta học được nhiều điều, trước tiên là cái lối sống tập thể. Lối sống tập thể trong quân trường khác. Ở tù khác, anh phải có bạn. Nhưng coi chừng anh chết vì bạn. Anh chết vì chọn lầm bạn cũng có. Anh chết vì bạn thương anh quá cũng có, hay anh thương bạn quá cũng có. Anh cũng phải học cách cho và nhận. Có những cái không cho được thì đồng thời đó cũng là những cái không nhận được. Người nche61t vì ích kỷ quá thì nhiều chứ hiếm ai chết vì rộng rãi quá ở trong tù. Những bài học này chẳng ai dạy được cho ai, phải tự học lấy, kinh nghiệm lấy. Có những bài học trả bằng sinh mạng, còn những bài học trả bằng kiểm thảo, biệt giam, cùm chân thì chẳng qua là thực đơn hằng ngày. Cũng giống như hồi đi học ở thủ Đức thực đơn có bốn món chính là bò, gà, cá, heo. Thay vì đi và đếm bước một, hai, ba bốn tôi nghe rõ ràng có nhiều anh em đếm bò gà cá heo.  Bây giờ chúng tôi chẳng qua là cá năm trên thớt. Làm sao mà ra tới biển được đây.

Nói nào ngay tôi khá thất vọng khi nhìn thấy nhiều vị đàn anh. Nhưng nghĩ cho kỹ thì tôi lại tha thứ cho họ.  Ngay cả những người quản giáo đã từng chà đạp lên tôi, đã từng đem sự ngu dốt của họ đùa trên đầu, gtre6n cổ và trên sinh mạng tôi mà tôi còn tha thứ được thì huống hồ gì mấy ông đàn anh đã già, đã cỗi, đã cùn và mỗi ngày mỗi gần đất hơn, xa trời hơn thì có gì đáng kể. Vả lại ở đời mình cũng chả nên phán xét ai, vì ai sẽ phán xét mình đây?

Tôi chú tâm vào để Sống, tự đặt cho mình một mức độ đạo đức tối thiểu là sẽ sống nhưng không phải tìm sống trong cái Chết của người khác. Kỳ dư tôi chẳng chú trọng tới những lỗi lầm của ai và cũng tránh không để cho những lỗi của mình nếu có ảnh hưởng tới người khác. Nói với anh thì dễ, nhưng trong khi ở tù thì những điều đó khó vô vàn…

5

Rút cục có Chúa thật anh à. Tôi được thả ra và lại còn trở về được thì hiển nhiên phép lạ đã có. Phép lạ không phải đến với mình tôi. Có những người ngày mới vô trại tôi tưởng chừng chịu đựng được vài con trăng là cùng thế mà cái lòng ham sống làm con người sống dai vô cùng. Tất nhiên cũng đã chết bộn, nhưng ngôi mộ vùi nông thiếu gì nơi các trại tập trung học tập. Nhưng mà con người ta mau quên lắm anh ạ, có nhiều người bây giờ ngồi đây hay nói về thành tích của trong lúc ở tù. Tôi nghĩ nếu họ chịu khó nghĩ cho thật kỹ chắc họ sẽ nhớ hơn và ít nói hơn về những điều họ đã trãi qua.

Tôi thì không dễ gì quên được những điều tôi đã hứa, nhất là với những người đã chết. Tôi được trả về với đời sống bình thường 1982. Thoắt một cái mà đã nhảy một cú vọt qua gần bảy năm trong tù, gần bảy năm sống mà như không sống. Tôi làm quen lại với đời sống thường khá khó khăn. Còn gì không khó, khi mình đi là một xã hội khác, khi trở về mọi chuyện như một mớ chỉ bòng bong. Đừng nói gì đâu xa, ngay một cái khoản ngôn ngữ nó cũng làm tôi muốn điên. Tất nhiên ở trong tù không phải là chúng tôi câm, chúng tôi có nói đấy chứ, nhưng tiết kiệm đến mức tối đa. Nội chỉ có làm quen với những ngôn ngữ mới này mà tôi đã muốn rụ ng lưỡi. Thế thì còn làm ăn gì được nữa. Thế thì còn làm sao mà đi mang mấy ông bạn bá vơ nằm giữa rừng về.

Khi tôi bắt lại được nhịp sống thật sự, có nghĩa là không bị ai nhòm ngó, mà ngay cả chính mình không còn bỡ ngỡ, lạ lùng với xã hội bên ngoài thì cũng đã là năm 1986. Năm đó khắp miền Nam người ta túa đi tìm…xương Mỹ. Dân nước mình sao mà cơ khổ, hết đi mua con Mỹ lai, lại đi lùng xương Mỹ chết.

Nước gì mà ai cũng muốn bỏ mà đi, vượt biên không đắm tàu thì gặp hải tặc, đến được nơi có khi còn bị tống xuất ra ngoài khơi lại. Đi đượng bộ thì gặp Khmer đỏ. Thế mà người ta cũng đâu có sợ, người ta bỏ đi hà rầm, suốt một miền biển từ Bắc chí Nam và dọc biên giới Miên Việt ngày nào mà không có người bị bắt. Những năm tôi mới đi tù về phố xá sao mà tiêu điều. Cả một cái xã hội vật vờ như những bóng ma. Người ta ai cũng lặng lẽ tìm đủ mọi cách để bỏ mà đi. Tôi nhủ thầm đã đến lúc đi … cõng mấy bộ xương khô về. Tôi nhắc lại với anh là tôi không cần mấy bộ xương khô này mới đi được. Tôi đã có đủ hồ sơ ODP cũng có, HO cũng có. Mà nó thật với anh nếu cần con lai tôi cũng xoay được. Tôi là lính biệt kích chứ không phải là …thầy tu. Tôi làm việc này vì tôi đã hai lần thề với lòng mình, với Chúa. Lần thứ nhất chính là lúc vùi nông thể xác họ ở trong rừng. Lần thứ hai chính là lúc ở tù khi đi chôn xác trung tá Vinh. Tôi đã phát thệ lần thứ hai là nếu về được thì sẽ mang lời trối trăn của người niên trưởng không may mắn này về tới vợ con ông, cũng như sẽ thông tin tức cho mấy người Mỹ tù binh hay tử trận mà tôi biết.

Đặt chân lại xuống cái đất Kontum sau hơn mười năm vật đổi sao dời nó mới buồn làm sao. Mỗi một góc phố, mỗi một con đường đều làm cho tôi thổn thức. Tôi vào ngủ ở nhà người quen, tôi dành trọn một buổi chiều đứng trên cầu Dakpla, ngắm dòng nước vòng ngược lại phía núi. Tôi soi bóng tôi xuống dòng nước, tôi bồi hồi ngẫm lại đời mình. Tôi nghĩ tới việc tôi đang làm. Nhiều khi tôi nghĩ tôi hơi khùng. Nhưng tuyệt nhiên trong lòng tôi không một lúc nào tôi nghĩ đến chuyện bỏ  về, trái lại như có một sức mạnh vô hình nào đó thúc tôi tới trước.

Cõng được mấy bộ xương khô của mấy ông thần nước mặn này về đến nhà tôi cũng là thiên nan vạn nan, đủ để viết một quyển truyện phiêu lưu đường rừng. Nói để anh biết giả dụ như bố tôi có chết thì cũng quàn ở nhà năm ngày, ba bữa là cùng. Mấy bộ xương này mang về thì người của Bộ Nội Vụ Cộng sản họ không chịu tiếp nhận, họ nói tôi mang về chờ người Mỹ tới giảo nghiệm. Tôi dấu vợ tôi bó làm mấy bó để trên căn gác xếp tại nhà. Người chết thì dẫu sao cũng không làm phiền tôi lắm, nhưng người sống thì đến là phiền hà. Lớp thì người của bộ nội vụ, lớp thì công an phường và buồn cười nhất là mấy người có hài cốt Mỹ nghe tiếng tôi là một tay chuyên môn về …xương người chết nên tới triệu thỉnh tôi hà rầm. Họ nhờ tôi khám nghiệm hộ, những lóng xương của người, của cả thú nữa. Mắt tôi đã nhìn, đã khám, đã xem cả trăm bộ xương. Cái nào thật tôi nói là thật, cái nào giả tôi nói là để đó tôi coi lại, tôi không phải là muốn lừa bịp gì ai bởi vì tôi coi hộ miễn phí. Tôi chỉ không muốn làm người ta tắt hy vọng ngay lập tức mà thôi.

Tôi đã ra tận Bộ Nội Vụ ở Hà Nội để yêu cầu họ giải quyết cho mấy bộ xương tôi giữ làm …mả tổ ở nhà. Cái lối làm việc của Cộng sản nó lạ lắm. Nó hù dọa phủ đầu mọi người khi đến trước mặt những cơ quan công quyền , nhưng nếu anh đổ bựa ra không sợ. Có điều anh phải có lý lẽ cứng thì người cán bộ lại nhũn như con chi chi, cái giọng thớ lợ, giả lã trông mới tởm làm sao. Kêu đến tận bộ, gặp gỡ tới thứ bự, chỉ nhận được những con ma nhà họ Hứa. Cái gì chứ ma thì tôi có sẵn ở nhà, có điều Hứa là tôi Hứa chú không phải mấy con ma đó Hứa.

Mấy bộ xương cứ im lìm nằm trong gác xép, đến độ người chết cũng phải…sốt ruột. Nhà tôi càng lúc càng lạnh lẽo, không khí lúc nào cũng nhuốm màu tử khí. Có lần vợ tôi nói là thấy một người…Mỹ ngồi ở trên gác xép, thò chân xuống. Tôi nghe xong mà lạnh gáy. Ở với người chết như thế gần ba năm trời mới thấy có mấy ông ở Hà Nội vào tiếp thu và từ đó thì là công việc của những toán chuyên đi tìm MIA của Mỹ với Cộng sản Hà Nội. Hồi đó tôi ăn nói cũng ngang ngược với họ lắm là bởi vì làm cái gì tôi cũng gởi giấy tờ sang cho người Mỹ ở bên này, cũng như cho Tòa Đại Sứ Mỹ ở Thái Lan. Cái số chết thì đã chết như Minh lai bạn tôi , chứ không nhảy được ba mươi ba chuyến. Cái số chết thì đã năm xuống đâu đó ở Yên Bái chứ không phải đợi đến bây giờ. Tôi theo dõi hồ sơ của vụ này kỹ lắm, mãi cho tới giữa năm 90, tôi gần đi Mỹ mà cũng chưa giải quyết ổn thỏa. Hiện nay tôi vẫn tiếp tục theo dõi nội vụ, nhưng cái kết quả thì tuyệt vô âm tín, chẳng hiểu cái công mò mẫm trong rừng của tôi đã được Cộng sản trao trả cho các thân nhân người chết hay chưa? Hay là họ vẫn giữ lại lâu lâu thò ra một bộ…xương khô để đổi lấy một vài điều kiện nào đó trên lãnh vực chính trị.

Tôi đặt chân lên nước Mỹ này vào năm 1991. Tôi được Fort Bragg bảo trợ. Ngày đặt chân tới Mỹ, cả gia đình tôi được đón tiếp khá nồng nhiệt. Một tờ báo lớn nhất ở địa phương đó viết một bài dài thòng về tôi, về những việc làm của tôi. Họ đã mở rộng vòng tay than ái đón tôi một cách khá muộn màng. Tiểu bang North Carolina đó mới lạnh làm sao, tôi phải về nơi nào đó có nắng ấm, có đông đảo người đồng hương. Tôi bỏ về California sau một thời gian ngắn và bắt đầu làm lại một cuộc sống mới ở nơi có nhiều đồng hương mà cũng không ít bực mình này.

Anh hỏi tôi mơ ước gì hả? Tôi muốn nhiều thứ lắm, có điều tôi là lính…Biệt Kích, tôi hiểu được một điều không phải như là những câu danh ngôn hồi nhỏ tôi tọng nó vào cái đầu óc bé tí của tôi. Cái câu “muốn là có thể”dịch từ cái câu “vouloir c’est pouvoir”nó mới giễu làm sao. Muốn hả, thì phải làm cho cái điều mình muốn nhòe người ra mà có khi chưa chắc đã đi đến đâu, ở đời chẳng có điều gì dễ cả. Nhất là anh định mưu đồ một việc gì đó cho đám đông. Nói ra có người lại cho tôi là khùng. Mà có lẽ là tôi hơi khùng thật. Tôi là lính thứ thiệt, Biệt Kích chứ không phải là Nhân Dân Tự Vệ (Tôi đã nhiều lần tự nhủ, đừng nói tới vụ Biệt Kích này nữa). Tôi đã mục kích nhiều cái chết dấp dúi trong xó rừng. Tôi cứ bị ám ảnh mãi về Minh lai, người bạn Thiếu Sinh Quân thời niên thiếu của tôi. Anh đã ở lại đâu đó trong rừng xanh, núi đỏ của xứ Hạ Lào. Anh hiện còn đang cách quê nhà một con sông Cửu Long mênh mông bát ngát… Khoảng cách thì đâu có xa xôi gì, nhưng lòng người thì đã nguội như một đống tro tàn. Lòng người thì rộng như một đại dương không bờ bến. Trên cõi đời này ngoài tôi ra, có ai còn nhớ tới Minh lai???

Nếu như có thể được tôi sẽ đi tìm lại những người mất tích trong chiến tranh vừa qua. Nhiều lắm anh ạ, người chết ở đồng bằng, trong thành phố đã nhiều, nhưng mà cái con đường mòn Hồ Chí Minh đó nó đâu có ở ven đô, nó ở tuốt luốt trong rừng. Bọn Biệt Kích chúng tôi mà nhằm nhò gì. Tôi đã từng gọi máy bay B52 để chỉ định mục tiêu cho họ đánh, ít khi nào tôi gọi khi phát hiện một tiểu đoàn, cỡ trung đoàn trở lên không à. Mình đánh nhau đã đủ rồi, nên có một tổ chức nào đó đi nhặt xương những người đã chết cho đất nước trở về làm một cái mộ chung anh ạ. Cái mộ này theo tôi nghĩ thì đúng là phải to bằng một trái núi, cái câu “Đống xương vô định đã cao bằng đầu”cao bằng đầu mà nhằm nhò gì. Cao bằng đầu thì phải rộng bằng sân banh Cộng Hòa mới đủ chỗ.

Cái thế kỷ 20 đã sắp hết, tôi nghĩ là bước sang thế kỷ 21 con người Việt Nam nói chung nên có một cái nhìn khác hơn. Tôi là lính Biệt Kích (Rõ chán, suốt ngày chỉ Biệt Kích) bởi vì thế giới cũng khác hơn quá nhiều. Tôi cũng có đi tham dự vài buổi sinh hoạt có tính cách chính trị ở đây. Cái nhìn chung của tôi mà giờ này còn chống Cộng cái kiểu thập niên 40, 50. 60,70…đó thì không khá được. Tôi cũng chẳng hiểu cái kiểu chống Cộng sắp tới của thế kỷ tới nó như thế nào. Nhưng mà phải khác, cứ bổn cũ soạn lại đó thì mình chỉ làm chơi thôi chứ không phải là làm thiệt.

Tôi khoái làm thiệt. Tôi không còn trẻ, nhưng chưa đến nổi già, mới có ngoài bốn bó, còn trẻ chán để làm việc, nhưng việc phải ra việc. Vào việc là phải xăn tay áo bắt tay vào, chứ không phải đứng đó mà hò người khác làm và tưởng là mình đang…làm thì không có tôi. Tôi nói thiệt điều này với anh nghe khá tức cười là tôi có vẽ mê…xương người. Nếu như hôm nay bà vợ tôi có đôi lúc như là người bị ma ám thì đó là lỗi của tôi, vì tôi đã quá chậm chạp trong khi đưa xác các bạn tôi về. Tôi nhớ tới những bài văn tế chiến sĩ trận vong trong văn học của chúng ta, những bài văn đó dường như khá nhiều. Tôi có đọc Tam Quốc, cái cảnh Khổng Minh tế những oan hồn đã chết trong khi đi đánh Mạch Hoạch đó nó mới u buồn làm sao. Hầu như trong mọi trận đánh , mọi cuộc chiến mỗi khi xong người ta đều làm những bổn phận với người nằm xuống. Hoàn cảnh chúng ta thật khó mà có thể làm được điều gì cho những người còn sống, đừng nói tới những người chết. Nhưng dù sao đó cũng là một nỗi ám ảnh lớn trong tôi. Thôi thì ai làm được điều gì lớn thì cứ làm, tôi nghĩ đến những điều nhỏ thôi. Tôi học thì chẳng bằng ai, duy có một tấm lòng thì làm được cái gì hay cái đấy.

Ở nơi đây sướng thì có sướng nhưng mà buồn quá, cảnh thì đẹp, người thì đông. Cảnh thì chẳng ăn nhậu gì đến tôi, còn người thì mới ngán ngẩm làm sao. Tôi nói người đồng hương đó chứ không phải nói người Mỹ. Họ dù sao cũng khác máu tanh lòng, nhưng người mình với nhau nhiều khi cũng tanh lòng đáo để.

Nói một điều gì chót hả. Tôi mong rằng tôi đã không làm anh mất thì giờ với những…bộ xương của tôi. Tôi là lính Biệt Kích (Rõ chán, lại Biệt Kích) có sao nói vậy văn hoa mà làm gì. Tình hình này thì sớm muộn gì tôi cũng về lại. Để làm gì hả. Tôi là một con cọp đã từng “Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt”nhưng không vì thế mà tôi đòi giết hết những người Cộng sản, mà nói thật anh nghe anh có sứ để giết họ không? Đừng có đại ngôn. Nói nhỏ, làm nhỏ và làm tới nơi tới chốn. Muốn về thì nên sửa soạn cho ngày về và nhất định là phải biết mình về để làm gì? Mình đang đứng ở đâu? Đừng có mơ mơ màng màng. Tôi biết rất rõ tôi sẽ về để làm gì? Tôi là một con cọp đã toan về già, cũng sắp sửa đến ngày rụng răng rồi. Cáo chết ba năm còn quay đầu về núi thì bề gì mình cũng là cọp. Chẳng lẽ lại thua mấy con cáo cụp đuôi sao. Tôi sẽ về để chết trên vùng đất đã sinh ra, giản dị thế thôi. Tới ngày đó anh có về với tôi không?

À mà này anh, trái đất quả là có nhỏ. Tôi sang tới Mỹ, trời đất mênh mông vô tận như thế này đi đâu mà tìm vợ con ông Trung Tá Vinh. Tôi gặp lại một trự Pilot trực thăng. Cái tay Như này ngày xưa đối với chúng tôi cũng có tình chiến hữu. Hắn đưa rước tụi tôi, sống chết với tụi tôi nên vì đó mà thân. Chẳng cứ riêng gì Như, mà các phi công khác cũng vậy, nhiều anh em tụi tôi hiện nay còn sống trên đời này là nhờ cái tình giữa những người lính thứ thiệt. Chuyện qua chuyện lại thì vợ của Như bây giờ chính là con ông Vinh. Thế là tôi đã hứa với vài người chết, tôi đã hoàn tất chẳng thiếu một ai, chua làm xong mấy điều mình đã tự nhủ thầm này nó cứ tức anh ách. Giờ thì tạm xoa tay được rồi.

6

Anh ta vừa mới qua khỏi tứ tuần. Người lính Biệt Kích tên là Chiêu đó quà là đã làm được nhiều việc cho mình và cho người trong suốt hơn bốn chục năm có mặt với đời.

Kể chuyện Quảng Trị, Thầy cũ: “Ông Ngân”

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 15 Jun 2017 

Postr by Sơn râu 14 Jan 2024

(Trích trong “Xóm cũ”, hồi ký)

hoànglonghải

Tôi là thằng học trò “mất dạy”.

Điều đó tôi nói thật. Cả trường (niên khóa 1951- 52 / niên khóa đầu tiên và 1952-53, niên khóa thứ hai của trường Trung Học Quảng Trị), bọn học trò gọi ông Lê Đình Ngân một cách kính cẩn là “Thầy Ngân” hoặc, đàng hoàng hơn “Thầy Lê Đình Ngân” thì tôi, – và một vài thằng “mất dạy” như tôi nữa, như Nguyễn Tri Châu, Hồ Diện, sau nầy thêm vô tiếng đệm nữa là Hồ Xuân Diện, Hồ Trọng Toàn…cũng gọi trổng “Ông Ngân” như tôi.

Không riêng gì ông Ngân đâu. Các thầy khác cũng bị “bọn tôi” gọi trổng như thế. Chẳng hạn: Ông Bích, ông Hùng, ông Phụ, ông Khánh đều “bị” chúng tôi gọi như thế cả. Ngoại trừ ông Nguyễn Văn Hải, hiệu trưởng đầu tiên, thì gọi là ông Tham Hải, tiếng gọi chung của mọi người. Ông Hồ Duy Tình gọi là Ông Hội Tình (Hội viên hội đồng thành phố bầu năm 1952 hay 53?). Ông nầy là thủy quỹ của trường, cũng chỉ một niên khóa đầu tiên mà thôi.

Những thằng gọi trổng tên thầy như tôi, xét cho kỹ, đều là “dân thành phố cả”. Bọn nhà quê, bọn Đông Hà, bọn Diên Sanh lễ phép hơn. Chúng nó gọi “thầy” đàng hoàng.

Tôi còn “được” bạn bè gọi bằng một cái biệt danh khác nữa: “Thằng lãng tử”. Bọn chúng gọi đúng đấy. Từ trước năm tản cư (1945), tôi mới 6 tuổi, đã đi khắp thành phố Quảng Trị rồi: Ga, Long Hưng, Văn Thánh (bạn có biết ở đâu không? Bên Nhan Biều đấy), Ái Tử, An Đôn, Qui Thiện, Trí Bưu, Cổ Thành, Nại Cửu, Cửa Việt, Cửa Tùng… tôi đi khắp rồi.

Còn trong chiến tranh?

Chợ Cạn, Đồng Bào, Liên (hay Linh?) Chiểu, Gia Đẳng, An Cư, Hiền Lương, Chợ huyện, Chợ Phủ, Huỳnh Công, Hạ Cờ, Thủy Bạn, Cát Sơn, An Mỹ, Lệ Môn, Trấm (xã Phong An), “chiến khu” Ba Lòng… tôi cũng đi khắp.

Trước 1954 – năm tôi bỏ xứ mà đi – tôi cũng đã lang thang tới “Cây đa bến cộ” ở làng Diên Trường, Bến Đá (cầu Trường Sanh), Vân Trình, Mỹ Chánh… Những năm tôi với Hường, vợ tôi sau nầy, “bắt bồ” với nhau thì “hai đứa” đi chơi càng dữ: Không phải La Vang đâu! Xa hơn nữa: Nhà thờ Phước Môn, “đồi thông hai mộ”: Mộ ông Nguyễn Hữu Bài và vợ ông, xa hơn nhà thờ Phước Môn một chút xíu nữa, gần chân núi Trường Sơn rồi qua Tân Lệ, Như Lệ…

&

Niên khóa đầu tiên (1951-52), trường Trung học Tư Thục Quảng Trị (gọi như thế mới đúng tên trường), có 3 thầy chính:

-Ông Thái Mộng Hùng, mới đậu tú tài 2, ban gì không biết, con thầy Trợ Liên (Thái Tăng Liên, bạn với “cậu” (cha tôi đấy, gọi bằng cậu, con khó nuôi), quê ở Cam Lộ. Ông Hùng dạy: Việt Văn (rất buồn ngủ), vạn vật (buồn ngủ hơn).

-Ông Lê Bích, mới đậu tú tài 2, ban toán. Anh ông Lê Bích là ông Lê Oanh, công chức Bưu Điện Quảng Trị, huynh trưởng gia đình Phật tử Quảng Thiện, gia đình Phạt tử duy nhất ở thị xã Quảng Trị (ngoài ra còn có gia đình Phật tử thứ 2 của anh Nguyễn Quang Toản ở Đông Hà, tên là gì tôi không biết). Ông Tư Đồ Minh muốn thành lập một gia đình nữa ở Diên Sanh, nơi ông sinh sống, nhưng Diên Sanh lúc đó dân chúng ít quá, không đủ “nhân số” để tập họp thành một gia đình. Qua năm sau mới có.

Có lẽ qua ông anh nên ông Bích mới ra dạy ở Quảng Trị. Ông Bích dạy toán (đệ Lục) và Anh văn (dùng sách “Anglaise Vivant” blue. Ông Bích đọc tiếng Anh nghe rất rõ múi ruốc Huế nấu bún bò. Học trò ông, Hoàng thị Lệ Khanh, dân Đông Hà, đọc tiếng Anh còn pha thêm một chút “con hến luộc” của làng Điếu Ngao.

-Ông Lê Quít, người thứ ba. Có lẽ ông Lê Quít mới đậu trung học, cỡ như Brevet Elementaire, nguyên là hiệu trưởng trường Tiểu Học Đông Hà. Ông dạy Toán và Pháp Văn.

Các thầy dạy phụ:

Ông Phan Minh Phụ, công chức tòa án Quảng Trị, dạy Pháp Văn Đệ Lục. Ở lớp nầy có hai học trò con của ông là Phan thị Thu Thủy, xấu đẹp tôi không nhớ, có lẽ cũng có thước tấc, như ông bố vậy. “Đàn chị” mà! Để ý làm gì (?!), mất công; và em của Thủy là Phan Minh Ân.

Ông Nguyễn Vọng, cán bộ ty Thông Tin, dạy Hán Văn. Ông nầy có “tâm hồn văn nghệ” lắm. Ông viết lại câu chuyện ngắn “Bóp thì bóp” (1), đem vô lớp đọc cho học trò nghe. Chỉ có tôi thích mà thôi. Mấy đứa kia “vô tri bất mộ”, “đàn gãy tai trâu” biết gì! Ông Vọng đi kháng chiến, có lẽ bị Việt Cộng “biên chế” vì gốc “tạch tạch sè”, đuổi hay ông bỏ về? Ông dáng người cao, ốm, đeo kính trắng, già nhất trong số các thầy.

-Ông Lê Khắc Khánh, dòng Lê Khắc ở Huế, phía ông bác sĩ Lê Khắc Quyến. Ông Khánh dạy nhạc, vợ ông đẹp lắm, là con gái “ông Xạ Đồng”, chị ông Lê Huân.

-Hiệu trưởng là ông “Tham Hải”. Ông nầy chưa có bằng tú tài, chỉ là Agent technique, sau nầy gọi là cán sự, ngành Công Chánh. Ông gốc Huế, hồi nầy ra Quảng Trị làm thầu xây cất cho lính Tây – xây đồn bót hay doanh trại –

-Ông Hội Tình, “nhân vật quan trọng” vì ông thu học phí, trả lương thầy (dạy giờ – dạy giờ nào, ăn giờ nấy). Ông Hội Tình nguyên là thầy giáo làng, ở làng Hội Yên, phủ Hải Lăng. Mới đây, ông Nguyễn Hữu Tuấn ở Boston cho tôi biết ông Hội Tình không phải quê ở Hội Yên mà ở một làng gần đó. Hội Yên có nhà thờ lớn, ông thường đi nhà thờ nầy.

Chiến tranh bùng nổ, ông Hội Tình sợ Việt Minh, Việt Minh thường cầm mã tấu đi tìm những người có đạo, nên ông trốn ra thị xã, núp bóng Tây cho yên thân. Ông làm nghề “xanh xít đít đui” (cho vay 5 (cinq) trả thành 6 (six), vay 10 (dix) trả thành 12 (douize). Thỉnh thoảng, ông đứng ra tổ chức hội chợ “cứu trợ” cái gì đó như bây giờ chùa với nhà thờ tổ chức tùm lum vậy đó.

Ông Hội Tình thuộc hàng ngũ “hễ thấy hơi tiền thì mê” nên cùng ông Tham Hải, vận động thêm một số “thân hào nhân sĩ”, đặc biệt là cụ Tôn Thất Dương Thanh, trưởng ty Tiểu Học Vụ, đứng ra mở trường trung học cho học sinh nghèo ở thị xã Quảng Trị và vùng chung quanh…

Tôi cám ơn trường nầy vô vàn.

Năm đó, 1951, tôi đậu tiểu học. Nếu “các cụ” không mở trường trung học thì tôi học ở đâu? Không lý chui vô vùng Việt Minh mà học như Lê Hữu Thăng. Ai không có tiền vô học trung học ở Huế, như tôi chẳng hạn, thì học nghề: Sửa xe đạp, thợ giày, thợ hớt tóc, thợ may… có thể. Nếu không học trung học, tôi dã thành thợ nề (thợ hồ); lỡ như Việt Cộng bắt đi “xây lăng bác Hồ” thì bỏ mẹ!!!!!

Cũng may, năm đó, ông Phạm Đình Ái, theo kháng chiến, dù đã được ông Hồ Chí Minh thưởng “Kháng chiến bội tinh” cùng với ông Trần Đại Nghĩa, chế ra vũ khí cho Việt Minh (SKZ và Bangalore) đang ở Thanh Hóa thì trốn về, làm giám đốc nha Học Chanh Trung Việt. Ông lo mở mang giáo dục nên việc thành lập trường Trung Học Quảng Trị được dễ dàng.

Mấy cụ “thân hào nhân sĩ” phần đông “đi chùa”, bỗng dưng thấy hai ông “đi nhà thờ” Tham Hải và Hội Tình, nắm thủ quỹ trường Trung Học, thu học phí, vô lý quá, không có lợi chi cho bọn học trò nghèo cả, bèn xin chính phủ cho quốc hữu hóa trường nầy. Năm sau, bọn học trò khỏi đóng học phí, khỏe quá.

Người đúng ra vận động, vô Huế xin ông giám đốc Phạm Đình Ái cứu xét “công lập hóa” ngôi trường là cụ trợ Đãi, tên đầy đủ là Phan Quang Đãi – thân phụ anh Phan Quang Nam và anh bạn học Phan Quang Dinh và “cô nường” Phan thị Ngọc Tĩnh – vô ra Huế nhiều lần, mới thành việc. Bọn học trò năm ấy, bắt đầu khỏi đóng học phí thì nhờ ơn nhiều nhất là cụ Đãi. “Tụi bây” phải biết nhớ ơn.

Niên khóa sau, mấy thầy rời khỏi trường:

Ông Lê Bích ra Hà Nội học kiến trúc sư. Ông Thái mộng Hùng, ông Lê Quít bị động viên, đi sĩ quan Thủ Đưc. Ông Quít không có mạng “làm quan võ”, đi lính gần hai chục năm mà lon lá chỉ tới đại úy hay thiếu tá gì đó. Khi ông là sĩ quan, có người còn mang lon trung sĩ, nhờ ông thi giùm cho đi học sĩ quan, sau lên tới đại tá. Gặp bạn cũ, chắc ông Quít chào mỏi tay luôn. Vậy mà bạn cũ đành lơ!

Vậy là thiếu thầy!

Niên khóa 1952 – 53, tôi học Đệ Lục. Bấy giờ ông Lê Đình Ngân, thường gọi là ông Phán Ngân, hình như làm việc ở phòng (hay ty?) Tài Chánh của Tỉnh Đường, và ông Lê Đình Trình, thường gọi là ông Phán Trình, làm Tòa Án, sang làm giáo sư phụ, dạy học trò. Mấy năm sau thì ông Trình thôi dạy, còn ông Ngân thì xin chuyển hẳn sang làm giáo sư trung học.

Cũng năm ấy, hai vợ chồng ông Tôn Thất Dương Kỳ – bà Khuê, tôi không nhớ họ, ở chiến khu về, được bổ dụng làm giáo sư. Năm sau nữa có ông Nhơn và cô Bích. Bấy giờ thì tôi đã trốn nhà “lưu lạc giang hồ” mất rồi.

Cũng năm tôi học Đệ Lục, ông Ngân dạy Việt Văn, mấy năm sau, ông chuyên dạy Pháp văn.

Tôi là học trò “ba lơi khơi”, xuất hiện đầu phố cuối chợ nhiều hơn ở trường.

Ôi! Đời học trò đáng yêu biết bao nhiêu:

                        “Làm học trò nhưng không sách cầm tay

                        Có tâm sự đi nói cùng cây cỏ!

                        …

                        “Nắng thuở đó khiến lòng ta hồi hộp

                        Phố phường vui cuộc sống mới lên hoa!

                        Ta ngồi nghe những tiếng thị thành xa,

                        Hồn lơ đảng mộng ra ngoài cửa lớp!

Thơ Đinh Hùng đấy! “Thần tượng học trò” của tôi đấy!

Thứ hai nữa, tôi ham đọc sách – truyện thì đúng hơn – cho nên “Phòng Thông Tin Hoa Kỳ” – ở nhà Vạn An, bên hông chợ Quảng Trị, đường Trưng Trắc, và Thư viện tỉnh Quảng Trị, ở nhà ông Cửu Trình – Lê Văn Trình, ở góc chợ Quảng Trị, phía bờ sông, cuối dãy phố Diệp Đức Ký là nơi tôi xuất hiện nhiều hơn, không ngày nào là không có mặt tôi. Ở Phòng Thông Tin Hoa Kỳ, báo nhiều hơn sách, ở Thư Viện, chỉ có sách mà không có báo. Bao nhiêu sách ở đây, tôi “ngốn” hết, không chừa cuốn nào.

Người coi thư viện là bác Trình – cũng tên Lê Đình Trình – là người rất “ưu ái” tôi; nói dại, không thua gì bố Dương Khai Tuệ với Mao Trạch Đông. Tiếc rằng bác Trình không gã con gái cho tôi như bố Dương Khai Tuệ gã bà nầy cho ông Mao làm vợ. Hơn nữa, tôi không biết bác Trình có con gái hay không! Nếu có chăng, con bác còn nhỏ xíu!

Tụi bạn tôi, mượn sách thường trả trễ. Chúng nó có đọc đâu mà trả sớm. Còn tôi, ham đọc sách nên “ngốn” nhanh lắm. Mượn bữa trước, bữa sau trả. Bác Trình tưởng tôi không đọc, có lần hỏi thử tôi, tôi trả lời vanh vách sách nói gì. Trúng phóc, được bác Trình khen. Nhờ vậy, tôi mượn sách dễ dàng.

Khi đọc báo ở Phòng Thông Tin Hoa Kỳ, có mấy tờ báo tôi thích lắm, kể theo thứ tự:

Thứ nhất là báo “Đời Mới” của ông Trần Văn Ân, thứ hai là báo ảnh “Thế Giới Tự Do” của cơ quan Thông Tin của Hoa Kỳ. Tuy gọi là báo ảnh nhưng có nhiều bài viết hay: Những bài về địa lý thế giới, lịch sử Hoa Kỳ, khoa học (nói về năng lượng nguyên tử), nói về “đại nông canh tác” của miền Nam nước Mỹ. Thứ ba là nhật báo “Ánh Sáng” của ông Hoàng Hồ. Trong báo nầy, có câu chuyện phiêu lưu “Bên hào Vạn Lý” của ông Lê Minh Hoàng Thái Sơn hấp dẫn lắm. Về sau mới biết người ta tố giác ông Lê Minh Hoàng Thái Sơn chỉ ở Saigon. Ông chẳng đi đâu cả, chưa qua tới Hồngkông, nói chi tới Vạn Lý Trường Thành ở miền Bắc xa xôi của nước Tầu rộng mênh mông. Ông nằm bên bàn đèn mà tưởng tượng ra những câu chuyện ly kỳ gay cấn ở Vạn Lý Trường Thành để câu độc giả, trong đó có tôi, tôi mê truyện của ông muốn chết.

Trên báo “Đời Mới”, tôi thường chép lại những bài thơ hay. Trong đó, tôi còn nhớ bài “Kẻ Ở” của Quang Dũng:

            Kẻ ở

 Quang Dũng
Mai chị về em gửi gì không?
Mai chị về nhớ má em hồng
Đường đi không gió lòng sao lạnh
Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong

Quê chị về xa tít dặm xa
Rừng thu chiều xao xác canh gà
Hoa rơi khắp lối, sương muôn ngã
Ngựa lạc rừng hoang qua lướt qua

Ngựa chị dừng bên thác trong veo
Lòng chị buồn khi nắng qua đèo
Nơi đây lá giạt vương chân ngựa
Hươu chạy quay đầu theo ngó theo

Rừng đêm nhòa bóng nhớ hoang mang
Ngựa chị dừng bên thác trăng vàng
Sao rơi đáy nước vương chân ngựa
Buồn dâng đôi mi hàng lại hàng.

            Chú thích:
Bài thơ này có chút nghi vấn về nguồn gốc. Bài thơ được coi là của Quang Dũng vì nó xuất hiện trong một cuốn sổ tay của ông. Tuy nhiên, Quang Dũng chưa bao giờ nhận đó là tác phẩm của mình cả. Xét cho cùng, tứ thơ, phong cách và nhạc điệu của bài thơ cũng rất… Quang Dũng.

            Quang Dũng đang theo Việt Minh, là “cán bộ Việt Minh”, nhưng báo chí vùng Quốc Gia vẫn đăng thơ của ông như thường, coi như “không có gì xảy ra”. Người Quốc gia không “chật bụng” như người Cộng Sản.

&

Thế rồi một hôm tôi gặp “ông Ngân” ở thư viện. Ông cũng đi mượn sách như tôi.

Gặp thầy, chào thầy xong, tôi đang tính đường “rút lui (sao cho được) “hoàn toàn vô sự” thì ông Ngân hỏi tôi.

_ “Năm ngoái trò bị thi lên lớp?”

Tôi “dạ”!

_ “Có lẽ trò kém về các môn khác, không kém về Việt văn?”

“Biết trả lời sao?”

Năm ngoái, môn nào tôi chẳng dốt, riêng chi Việt Văn, môn do ông Thái Mộng Hùng dạy, chán chết. Ông Hùng dạy dở ẹt. Dạy bài “Nhà Mẹ Lê” của Thạch Lam, một nhà văn trong “Tự Lực Văn Đoàn”, có khuynh hướng xã hội, mà ông chẳng giảng một chút gì về sự kỳ thị của người dân của làng đối với kẻ “ngụ cư”, chẳng có một chút lòng thương những người nghèo khổ như tác giả mô tả trong bài. Đúng ra, ông thầy phải giảng về nội dung đó chứ! Tại sao ông chẳng nói một chút gì hết. Dạy bài “Làng Từ Lâm” trong “Người Quay Tơ”, tiểu thuyết đầu tay của Nhất Linh, ông biểu Võ Tử Cầu đọc. Trong bài có câu: “Tôi đến một nơi gọi là Từ Lâm, xa xa toàn là núi, ngọn nọ ngọn kia không dứt”. Tôi xúi Cầu đọc “không dứt” thành “nhúc nhích”. Cả lớp ai cũng cười, núi mà nhúc nhích? Ông cũng cười, chẳng la rầy gì cả. Năm 1954, Cầu tập kết ra Bắc, năm 1975, về tiếp thu Saigon là “kỷ sư Việt Cộng” đấy!

Tôi không trả lời được!

Ông Ngân cũng chẳng nói gì cả.

Hôm sau vô lớp, khi phát bài luận văn, ông Ngân đọc bài tôi viết cho cả lớp nghe, khen “nức nở” tôi viết văn hay. Tôi khoái lắm. Từ đó về sau, tất cả những bài luận văn của tôi, bài nào ông cũng khen hay, không những ông chỉ đọc ở lớp tôi, ông còn đọc ở các lớp khác nữa. Do đó, tôi “nổi tiếng” toàn trường, rằng “một thằng học trò ham chơi, mất dạy” lại viết văn hay. Năm sau, tôi lại học băng, vô Huế, tôi học nhảy từ Đệ Lục, lên Đệ Tứ, thi đậu Trung Học. Bọn học trò không “ngưỡng mộ” tôi làm sao được nhỉ?

Ông Ngân là một nhà văn có truyện ngắn xuất bản trước năm 1945. Một hôm, ông đem cuốn truyện cũ của ông vô lớp đọc cho chúng tôi nghe một bài viết in trong đó.

Truyện nhan đề là “Phong Lan”, kể rằng có một cô gái đẹp đứng bán hàng ở một cửa tiệm. Nhiều người “ngắm nghé” cô ta. Dĩ nhiên, trong đó có ông Ngân và các bạn ông. Một hôm, bọn họ giả tình cờ gặp nhau trước của hàng người đẹp. Mỗi người “nổ” một vài câu, để cho người đẹp lưu ý. Cuối cùng, chẳng anh chàng nào được người đẹp “ban” cho một nụ cười hay một cái “liếc mắt đưa tình” nào cả. Có lẽ ông “vô duyên” và truyện ông viết cũng “vô duyên”.

Tuy nhiên, tôi vẫn ngưỡng mộ thầy giáo tôi như thường vì ông là thầy tôi.

Thật ra, văn ông hay đấy. Trong cuốn sách “tập đọc” bậc tiểu học, tôi không nhớ tên, người soạn sách có trích lại một đoạn trong một truyện ngắn của ông, mô tả cảnh một buổi trưa hè ở thôn quê, để làm bài giảng văn cho học sinh.

Có phải vì “cua” gái ở thành phố bị “vô duyên” như tôi kể ở trên mà ông Ngân trở về quê “lấy vợ nhà quê”.

Vợ ông – gọi một cách kính cẩn là “cô”, – là một cô gái quê “trăm phần trăm”. Cô không xấu, nhưng chắc là “quê lắm”. Chị Diệu Minh – hiện ở Canada – vợ ông anh bà con Phan Văn Luân của tôi, kể: “Chú ấy cưới vợ về mới bắt đầu dạy a, b, c… cho thím”. Chị Diệu Minh là con thầy Lê Đình Khởi, thầy giáo lớp Nhì của tôi, là anh em chú bác ông Ngân.

Có lần ông Ngân nói giữa lớp, với bọn học trò chúng tôi: “Nên lấy vợ nhà quê. Con gái nhà quê thật thà, chất phát hơn con gái thành phố”. Ấy là nhận xét của người thời đó. Bây giờ thì “chắc chi”. Con gái nhà quê còn “quá cha” con gái thành phố. Con gái thị trấn Đông Hà không “quá cha” con gái thị xã Quảng Trị hay sao?

Nghe lời thầy, ông bạn chí cốt Lương Thúc Trình của tôi, sau mấy lần thất vọng vì tình, bèn hát bài “đường về quê” để cưới một cô thợ may làng Phước Tích – tục gọi là làng “đôộc đôọc”, làm đồ gốm bằng đất sét nung – quê nội của anh.

Đang làm giáo sư trường Trần Cao Vân ở Tam Kỳ, Quảng Tín, anh bị gọi động viên, ra trường làm sĩ quan Chính Huấn tại trường Thiết Giáp ở Thủ Đức. Có một khóa sĩ quan Thiết Giáp nào đó, khi ra trường, tổ chức “liên hoan nhảy đầm”, có mời “ông thầy” của họ, tức anh bạn tôi tham dự.

Đang nhảy đầm lã lướt với một em “ca-ve” nào đó, thì vợ Trình tới ngay nơi họp mặt. Đứng phía ngoài sàn nhảy, vợ Trình gọi chồng ra và “tiện tay” tát cho Trình một cái bốp trước bàn dân thiên hạ. Tát chồng xong, vợ Trình bảo: “Về”. Anh chàng “râu quặp” lặng lẽ theo vợ ra về.

Năm tôi học khóa Thiết Giáp, bấy giờ Trình là huấn luyện viên của tôi. Khi mãn khóa, bọn khóa sinh chúng tôi cũng tổ chức “liên hoan nhảy đầm”. Tôi biểu Trình ra nhảy đầm chơi. Anh bạn ngồi im re. Anh bạn tôi nhớ lời Ông Ngân hay nhớ cái tát của vợ và cay đắng nhận ra rằng ông thầy của chúng tôi nói sai.

Ông Ngân là người rất biết thưởng thức văn chương.

Năm dạy chúng tôi, ông chỉ trích một bài trong sách “giảng Văn” của Nguyễn Xuân Hiếu và Đào Mộng Chu. Bài “Nhành lúa mới”: “Tôi tới một miền quê, kề bên một trận địa, vào một buổi chiều hoe nắng. Ở đây, cánh đồng loáng nước nằm dài, vắng bóng người nông phu cần mẫn.

            . . . . . . .

            Qua một đêm ngủ đổ, hôm sau tôi trở dậy lên đường, tôi thấy cánh đồng loáng nước chiều qua đã xanh rì ngọn mạ. Tôi nghĩ tới bóng trăng đêm trước, đến những đoàn người lũ lượt trở về đây, đến những bàn tay mền mại cấy từng hàng mạ trên cánh đồng rộng mênh mông, trong khi bom đạn vẫn cứ tơi bời trên các làng mạc tiêu điều…

            . . . . . . .

            Nhành lúa mới vẫn cứ vươn lên, tượng trung cho sức sống: Sức sống của một dân tộc.

Trong “văn chương Việt Nam thời tiền chiến”, người ta thấy có bốn người viết tùy bút hay nhất. Đó là Nguyễn Tuân với “Vang Bóng Một Thời”, với Đoàn Văn Cừ, tác giả những bài thơ “Hội Tết”, “Chợ Tết”. Hai tác giả kế sau, ông Ngân trích dạy cho chúng tôi mỗi người một bài.

Đó là Tô Hoài, với một bài trích trong “Xóm giếng ngày xưa”:

Ngõ thăm thẳm xuyên vào ruột hai hàng tre, tre mọc liền sát khích gốc, ở trên, cành và lá giao nhau, che con đường đất mịn, lối mòn đi giữa đôi bờ tre cũ.

            . . . . .

            Ngoài kia, lượn một con sông xinh.

            Dòng nước về mùa hè trong và mát, liếm vào bờ cỏ chảy lừ đừ. Con sông bé bỏng đựng bóng bờ tre theo đường ngõ xóm rồi vòng ngoèo sang phía khác. Đến đằng kia, sông lại ló hình nhưng đã xa đi rồi, con sông vui vẻ.

            Nó đem nước giởn vào những cánh đồng xa lạ khác, để cái ngõ tre ngơ ngác đứng lại một bên bờ. Con đường xóm thì ngẩn ngơ bò vào trong ngõ, qua một vòm cổng gạch cỏ và rêu xanh ngun ngút.

Mọt tác giả khác nữa: Lưu Nghi. Bài “Mùa sao” ông Ngân trích giảng cho chúng tôi, ông trích trong tạp chí Phổ Thông, xuất bản ở Hà Nội năm 1951, của nhóm ông Vũ Quốc Thúc, không phải tạp chí Phổ Thông của ông Nguyễn Vĩ, xuất bản sau năm 1955 ở Saigon.

“Đêm đêm trời lặng gió lành, nằm ngữa mặt nhìn ngàn sao, lòng ngưòi êm dịu một cách kỳ lạ. Nằm sát mặt đất mà tưởng như đứng đỉnh núi cao, nhìn ra đại hải.

            Những chấm thuyền li ti xê dịch dọc ngang, cái xê dịch chỉ thoáng nhẹ như chút hoài nghi, mắt người không thấy được, nhưng long người lâng lâng say một cuộc cuộc viễn hành. Trong tư duy dấy lên những bụi đường và chừ đây, dừng chân nằm lặng bên bờ hồ mát ngọt.

            Lậu rồi, những giọt mồ hôi nhỏ trên đường đời. Những giọt mồ hôi nối dài đánh dấu bước đi, chập chững từ nơi mẹ, bỡ ngỡ bước vào đời và bâng khuâng về huyệt mả.

            Mỗi người đi về huyệt mả đều mang một chuỗi hột sao, kết tinh từ nơi mẹ, bằng những giọt nước mắt nhỏ trên lòng bàn tay và chấm dứt bằng những giọt nước mắt nhỏ trên ván quan tài.

            Giũa lúc thoát thai và giờ quá vãng, đời người đếm biết bao nhiêu giọt mồ hôi và nước mắt. Mồ hôi và nước mắt biểu hiệu cho lao khổ và thương đau, nhưng cũng biểu hiệu cho sức sống.

            Con người không đổ mồ hôi trong đời mình là con người bằng gỗ. Chất gỗ mất lần nhựa sống, tan rã lần vì mục nát. Người đó có cũng như không!

Năm 1965, tôi đi chấm thi Trung Học ở trường Trần Quốc Tuấn, Quảng Ngãi, lại gặp ông Ngân cùng làm giám khảo ở đó. Thầy và học trò cũ gặp nhau, tạm trú trong một phòng học do ông hiệu trưởng Nguyễn Khoa Phước chuẩn bị cho các giám khảo ở xa tới.

Lại một chuyện buồn cười xảy ra.

Chủ tịch hội đồng thi là ông Nguyễn Đình Phiên, tú tài ân khoa (2), giáo sư trường Nguyễn Tri Phương, cùng ở lại một phòng với chúng tôi. Sáng thức dậy xong, ông Phiên được một vài ông sĩ quan cấp tá, đang phục vụ ở bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2, cùng đóng ở thị xã Quảng Ngãi, là học trò cũ của ông, mời ông đi ăn sáng.

Khi ăn xong trở về, cũng đã gần tới giờ thi, nhưng đề thi – do bộ giáo dục làm sẵn giao cho chủ tịch hội đồng thi chịu trách nhiệm – để ở đâu, ông Phiên không nhớ.

Hoảng hốt, ông Phiên hỏi quanh chúng tôi có ai biết ông bỏ “bộ đề thi” ở đâu không. Vốn tính cẩn thận, ông Phiên giấu kỹ, sợ “lộ đề thi”, làm sao chúng tôi biết ông để ở đâu. Ông chạy qua bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, hỏi thăm mấy người cùng ăn sáng, có ai thấy đề thi ông để ở đâu không? Không ai thấy. Hỏi ở quán Anh Vũ, nơi ông vừa ăn xong, cũng không ai thấy.

Thấy ông Phiên lo lắng, hốt hoảng… Ông Ngân, cũng đang đứng chung trước lớp học làm phòng ngủ cho giám khảo, từ tốn nói với ông Phiên:

_ “Anh bình tĩnh một chút, nhớ lại coi. Sáng nay, anh lấy đề thi ra khỏi va li của anh lúc nào, rồi sau đó, anh làm gì…”

Ông Phiên nghe lời ông Ngân, trầm ngâm. Một lúc sau, ông Phiên, như nhớ lại được, hốt hoảng la to: “Thôi! chết tôi rồi!” Rồi ông vội vàng chạy ra nhà cầu tiêu.

Té ra, sáng nay, khi thức dậy, ông lấy bộ đề thi ra, bỏ vào túi áo pajama, xong ra nhà cầu. Nhà cầu kiểu cũ, ngồi kiểu “nước lụt”. Sợ đề thi rớt xuống cầu tiêu, ông Phiên bèn lấy bộ đề thi ra, nhét lên mái tôn nhà cầu, gần ngang trên đầu ông. Giải xong “bầu tâm sự”, ông khoan khoái trở về phòng, thay áo quần đi ăn sáng, quên mất bộ đề thi nhét trên mái nhà.

Sau khi chạy vội ra nhà cầu, ông Phiên mừng rỡ thấy bộ đề thi còn ở đó. Ông vội vàng đem vào, phát đề cho các phòng thi, vừa lúc trống đánh giờ thi bắt đầu.

Chúng tôi thì cười ông Phiên ngớ ngẩn. Ông Ngân thì tỉnh bơ, coi như không có gì xảy ra.

Đó là lần cuối cùng, tôi gặp thầy cũ.

Ông vẫn như ngày xưa: Y phục là bộ “vét-can” màu gạch nhạt. Túi trên gắn cây bút máy. Hai túi dưới trống không. Tóc hớt ngắn, chân mang giày “xăng-đan” và… cái “túi rết”, thường gọi là cái “bị rết”, loại của lính, có giây máng vào vai.

Và cái gì đặc biệt nữa, các bạn học trò của ông Ngân có nhớ không?

Ông đi khập khiểng. Hai chân không đều nhau! Ông bị tật ở chân. Nếu ông ở lính, bọn “lính tráng chúng tôi” gọi đùa là “một người lính chấm phét”.

Mấy chục năm rồi, hơn nửa thế kỷ. Đối với ông Ngân, tôi vẫn còn là đứa học trò “mất dạy”, mặc dù, ông là người, như các bạn học nói, đã phát hiện ra “tài năng” của tôi, và bao giờ tôi cũng cảm ơn và kính mến thầy.

Mùa hè 2017.

Massachusetts

(1)-Vùng núi Trường Sơn, phía tây Quảng Trị, có môt loài chim đặc biệt. Khi đêm xuống, con chim mái bay quanh rừng, cất tiếng kêu nghe giống như “bóp thì bóp”. Truyện cổ tích kể rằng, xưa có hai chị em đi vô rừng. Đứa em thấy vú chị, bèn đòi bóp. Người chị không cho, còn dọa về sẽ mách bố mẹ. Đứa em sợ quá, bèn trốn vô rừng. Chị thương em, đi tìm, tha thứ gọi em “bóp thì bóp”. Rồi cả hai chị em lạc mất, không tìm được đường về, hóa thành một loài chim.

Khi con chim mái ngưng kêu thì trời vừa sáng.

(2)-Thời Chính phủ Trần Trọng Kim, giáo sư Hoàng Xuân Hãn làm

bộ trưởng giáo dục, áp dụng chương trình mới, dùng tiếng Việt làm

chuyển ngữ. Vì vậy, năm đó, Tú Tài 1 và Tú Tài 2 được thi chung

một khóa. Dân chúng thường gọi là “Tú tài ân khoa”

Hàn Mặc Tử, những nỗi uất hận!

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 26 Jul 2016 

Post by Sơn râu 14 Jan 2024

            Trong số các thi sĩ tiền chiến, có quan hệ với Huế nhiều nhất là Hàn Mạc Tử, mặc dù, trong “Bàn Thành Tứ Hữu”, (bốn thi hữu ở thành Đồ Bàn – tên cũ của Bình Định), gồm Quách Tấn, Chế Lan Viên, Yến Lan (tác giả bài thơ nổi tiếng “Bến Mi-Lăng”) thì không người nào sinh sống ở Huế lâu dài. Xuân Diệu, người mà nhiều người lầm tưởng có sinh hoạt ở Huế lâu dài nhất thì lại không phải. Ông quê ở Hà Tĩnh lớn lên ở Qui Nhơn. Người học hành ở Huế lâu năm, sau nầy lại tham gia trong “phái đoàn 3 người Việt Minh” đến Huế để nhận ấn kiếm vua Bảo Đai thoái vị, chính là Huy Cận.

            Hàn Mặc Tử, tên là Nguyễn Trọng Trí, quê ở Quảng Bình, nhưng lớn lên ở Qui Nhơn, chỉ học ở Huế một thời gian ngắn tại trường Pellerin, sau nầy có tên là trường Bình Linh, là người, theo người ta tưởng, có quan hệ với Huế lâu dài, chỉ là người có thơ viết về Huế mà thôi.

            Thật vậy, bài thơ “Đây Thôn Vĩ” làm cho người ta tưởng lầm như thế:

                        Đây thôn Vĩ

                        Sao anh không về chơi thôn Vĩ,

                        Nhìn nắng hang cau nắng mới lên.

                        Vườn ai mát quá xanh như ngọc,

                        Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

                        Gió theo lối gió mây đường mây,

            Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay.

                        Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

                        Có chở trăng về kịp tối nay?

                        Mơ khách đường xa, khách dường xa,

                        Áo em trắng quá nhìn không ra

                        Ở đây sương khói mờ nhân ảnh.

                        Ai biết tình ai có đậm đà.

            Bài thơ nầy từng được phổ nhạc. Có người cho rằng toàn bài thơ không hay, nhưng theo tôi, trong bài thơ nầy, Hàn Mặc Tử có mấy câu hay lắm. Tự nhiên, trong thơ ông, đột khởi vài câu, vài ý thơ thật hay, nâng cao giá trị toàn bài thơ.

Chẳng hạn như, trong bài thơ nói trên, đột nhiên tác giả hỏi:

“Thuyền ai đậu bến song trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay?”

Đây là ý thơ rất mới và rất lạ. Trong thơ ông, và cả văn của ông nữa, có nhiều trăng. “Chơi giữa mùa trăng” là một thí dụ. Trong bài thơ nói trên thì có “sông trăng”, và… “bến trăng”. Dĩ nhiên, sông đã trăng thì bến cũng có trăng. Và thuyền thì “chở trăng”. Trong thi ca, trước nay, không ai nói “thuyền chở trăng”. Cũng lạ đấy, sông thì lớn, thuyền trên sông thì nhỏ. Thuyền nào chở hết trăng về “đổ” trên sông cho ông?

            Trong ánh trăng sáng vằng vặc và lung linh đó, Hàn Mặc Tử  viết:“Áo em trắng quá nhìn không ra” là phải. Phải là cái áo màu thì người ta mới dễ thấy. Áo tím chẳng hạn. Đàn bà con gái Huế, có hai mầu áo rất “thịnh”. Áo trắng cho học trò, những cô còn trẻ, và áo tím (tím Huế – “tím than”, tím của Tử Cấm Thành) cho người đã có gia đình hay lớn tuổi hơn.

            Đó là những ý hay trong bài thơ nầy.

            Ông có một bài thơ khác nói về Huế nữa, đúng hơn là về một cô gái Huế, một người có thực chứ không tưởng tượng; Cô Hoàng Thi K.C., sau nầy là giáo sư nữ công Trường Đồng Khánh. Năm 1968, sau Tết Mậu Thân, tôi nhập cũ, không biết cô còn dạy ở đó nữa hay không?!

Vội vàng chi lắm!
Vội vàng chi lắm nhạn lưng mây
Chầm chậm cho mình giữ chút đây
Về đến Thần Kinh khoan nghỉ đã
Ghé miền Gia Hội tỏ tình ngay
Suốt năm canh mộng hồn mê mỏi
Chỉ một lòng son muốn giải bày
Này nhạn! Ta còn quên chút nữa
Con tim non nớt tặng nàng đây.

            Ai ở Gia Hội vậy?

            Là cô Hoàng Thị K.C. hay Thương Thương?!

                        Đêm qua trong mộng gặp Thương Thương

                        Má đỏ au lên đẹp lạ thường.

Bàn tay mềm mại nên duyên quá

Tà áo lung linh dàu tợ sương!

            Hoàng Thị K.C, là em gái thi sĩ Hoàng Diệp, một bạn thơ của Hàn Mặc Tử. Hoàng Diệp giới thiệu em mình cho nhà thơ bị bệnh phung. Đó cũng chỉ một cách an ủi mà thôi bởi vì bấy giờ bệnh của Hàn Mặc Tử đã nặng rồi, đâu còn hy vọng gì sống còn vì cái bệnh nan y ấy mà nói chuyện yêu đương, vợ chồng…

            Người thứ hai là Thương Thương, tên thật là Quỳnh Tiên, con ông Trần Thanh Đạt, anh trai Trần Thanh Mại và Trần Thanh Địch. Hình như Hàn Mặc Tử có gặp Thương Thương một lần, khi nhà thơ từ Saigon ra Huế. Khi ấy Thương Thương mới 12 tuổi. Khi “cô em đã lớn”, biết đến thơ văn và tình yêu, ngưỡng mộ nhà thơ tài hoa, thì nhà thơ sắp nhập vô trại cùi Qui Hòa. Tình cảnh cũng như cô Hoàng Thị K.C. vậy thôi!

            Dù vậy, Hàn Mặc Tử vẫ yêu và hy vọng:

                        Em là Trần Thương Thương

                        Anh là Hàn Mặc Tử.

Không phải cách âm dương

Còn có khi hội ngộ”.

            Hai người, Quách Tấn và Trần Thanh Mại, đều có giữ nhiều bài thơ của Hàn Mặc Tử, khi ông Hàn viết xong gửi cho hai người ấy. Vì vậy, sau khi Hàn Mặc Tử qua đời, có sự tranh chấp về tác quyền thơ của Hàn Mặc Tử. Không rõ việc thưa kiện được thua như thế nào, nhưng những bài thơ Hàn Mặc Tử gởi cho Quách Tấn, ông ta vẫn giữ. Đến khi Tây lại xâm lăng nước ta một lần nữa, sau Thế Giới Chiến Tranh Thứ hai, thì các bài thơ của Hàn Mặc Tử do Quách Tấn giữ đều bị cháy cả, vì nhà ông ở Nha Trang, bị Tây đốt cháy rụi. Ông Quách Tấn vẫn tự cho mình có lỗi với nhà thơ bạn ông và với văn học, vì ông đã không bảo tồn được những di cảo của Hàn.

            Với Hoàng Thị K.C. cũng như với Thương Thương và Mai Đình, Hàn Mặc Tử thường tỏ tình yêu thương và không oán trách gì. Nhưng với Mộng Cầm thì khác.

            Bài thơ sau đây, Hàn Mặc Tử bày tỏ lòng cám với Mai Đình, sau khi Mai Đình bỏ Saigon, ra Qui Hòa, sống với nhà thơ trong cái chòi tranh bên bờ biển, để chăm sóc cho ông:

                        Thắm thiết
Cười cho lắm cho dầm dề nước mắt
Chết ruột gan mà ngoài mặt như không.
Anh nhìn Mai chua xót cả tấm lòng
Không biết nói làm sao cho da diết!

Trắng như tinh và rất nên thanh bạch
Cốt cách đều rất mực đồng trinh
Mai của anh, chiều phong vận xinh xinh.
Say một nửa và thơm một nửa.

Bay chới với điệu quỳnh dao hương múa
Mê cầm trăng trong một tối xa hoa.
Nâng âm thanh trên những ngón tay ngà
Giây phút ấy rượu say, trời lảo đảo.
Thêm nóng mặt, ân tình thôi gượng gạo
Sững lòng đi trong một tối tân hôn.
Đây Mai Đình, tiên nữ ở Vu Sơn
Đem mộng xuống gieo vào muôn sóng mắt,
Nàng! Ôm nàng! Hai tay ta ghì chặt
Cả bài thơ êm mát lạ lùng thay!
Ta là người uống muôn hận sầu cay
Nàng là mật của muôn tuần trăng mật.
Ôi khoái trá thấm dần vô thể chất
Hồn trong sương, ảnh hưởng đến mê tơi!
Quý như vàng, trọng như ngọc trên đời
Mai! Mai! Mai! Là Nguyệt Nga tái thế.
Tình rất nặng và nghĩa đầy lượng bể,
Tôi ôm nàng, muốn cắn chết nàng đi!
Bao não nùng sầu hậ n trong mêly
Anh thấy rõ rằng anh đang trơ trọi.
Em xa quá, biết làm sao nhắn với?
Anh đưa lòng cho tới huyệt lòng em!
Mai! Ôi Mai, là em vẫn còn nguyên,
Hay đã chết như tình anh đã chết?

Tuy Hàn Mặc Tử nói như thế, nhưng ông ta không yêu Mai Đình bằng yêu Mộng Cầm. Vì vậy, Mai Đình mới viết bài thơ sau đây, để “phân bì” (tình yêu) với Mộng Cầm:

Phân bì Mộng Cầm

Mộng Cầm hỡi! Nàng là tiên rớt xuống
Hay là vì tinh tú giáng trần gian?
Diễm phúc thay! Sung sướng biết bao vàn
Đầy đủ quá, nàng thương chăng kẻ thiếu?
Tôi là kẻ thiếu nhiều và thiếu mãi
Đã ra người hành khất bấy lâu nay
Mà người đời toàn ban vị đắng cay

            Theo ông Nguyễn Quảng Thành, hiện cư ngụ ở Boston, người gọi Mai Đình bằng cô, thì  Mai Đình, trước tình yêu Hàn Mặc Tử dành cho Mộng Càm còn rất say đắm, nên cảm thấy “chán”, không muốn ở với Hàn Mặc Tử nữa, bỏ về nhà ở Khánh Hội (Saigon cũ).

            Nếu độc giả đọc bài thơ “Phan Thiết! Phan Thiết!” sẽ thấy Mộng Cầm là người Hàn Mặc Tử yêu nhất, và cũng oán hận nhiều nhất:

Phan Thiết! Phan Thiết!

Nhớ khi xưa ta là chim Phượng Hoàng
Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất
Bay từ Dao Ly đến trời Đâu Suất;
Và lùa theo không biết mấy là hương
Lúc đằng vân gặp ánh sáng chận đường
Chạm tiếng nhạc, va nhằm thơ thiên cổ
Ta lôi đình thấy trăng sao liền mổ
Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao
Trăng tan tành rơi xuống một cù lao
Hóa đài điện đã rất nên tráng lệ
Ở ngôi cao, ngước mắt ra ngoài bể
Phong lưu ghê, sang trọng chẳng vừa chi
Ta mê man như tới chốn Phượng Trì
Ở mãi đấy không về Thiên cung nữa.

Nhưng phép lạ có một vì tiên nữ
Hao hao như nường nguyệt cõi Đào Nguyên
Ta đắm mê trong ánh sáng trần duyên
Và van lạy xin cô nường kết ngãi
Mỉa mai thay cho phượng hoàng si dại
Là ta đây đương ở kiếp muôn chim
Trở lại trời tu luyện với muôn đêm
Hớp tinh khí lâu năm thành chánh quả
Ta trở nên như ngọc đàng kim mã
Rất hào hoa rất phong vận: Người Thơ
Ta là trai khí huyết ước ao mơ
Người thục nữ sanh giữa thời vô thượng
Rồi ngây dại nhờ thất tinh chỉ hướng
Ta la thang tìm tới chốn Lầu Trăng
Lầu ¤ng Hoàng, người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết
Ôi trời ôi! là Phan Thiết! Phan Thiết
Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi
Ta đến nơi Nường ấy vắng lâu rồi
Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ
Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ!
Ta nhìn trăng, khôn xiết ngậm ngùi trăng
Ta vãi vung thơ lên tận sông Hằng,
Thơ phép tắc bỗng kêu rên thống thiết
Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!
Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu
Mi là nơi ta sầu hận ngất ngư.

Qua thơ của ông Hàn, người ta thấy ông có bốn người ông yêu, và ai nữa thì tôi khng biết. Ông yêu người ta, còn người ta có yêu lại ông ta hay không thì không chắc. Bốn người yêu đó, kể theo thứ tự thời gian, có thể là: Mộng Cầm, trước nhất; Ba người sau là: Mai Đình, Hoàng Thị K.C. và Thương Thương thì không biết chắc ai trước ai sau.

Hàn Mặc Tử yêu Mộng Cầm khi ông cò ở Saigon, rồi đi chơi với Mộng Cầm ở “Lầu ông Hoàng”. “Lầu ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang.” (Xem phụ lục 1).

Mộng Cầm là dân Phan Thiết, một nhà thơ nữ, yêu Hàn Mặc Tử, ban đầu chỉ qua thơ văn. Người ta thường nói “Địa linh nhân kiệt”. Nếu kể về mặt nghệ thuật, Phan Thiết cũng là nơi nhân kiệt đấy. Xứ nầy “sản xuất” nhiều nghệ sĩ: Nhật Trường (TTT), Anh Khoa, Thanh Thúy (hình như bà nầy gốc Huế), đều là “Dân Phan Thiết” cả đấy. Thậm chí, nhà thơ Huyền Chi, tác giả bài thơ “Thuyền Viễn Xứ”, Phạm Duy phổ nhạc, gốc Bắc, sau nầy cũng định cư ở Phan Thiết. Bà Huỳnh Khanh, nữ diễn viên điện ảnh đầu tiên của làng phim ảnh Việt Nam, vợ của ông Phạm Ngọc Thìn, có thời làm Thị Trưởng Phan Thiết, là ông bà nhạc gia của nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Thiếu Tá Trần Minh Hải, nguyên xã trưởng xã phát triển Phan Thiết, là thi sĩ Cao Châu, bạn tù của tôi ở trại Xuân Lộc, chính là người cho xây “Đoạn Tình Kiều” ở thị xã nầy.

Hàn Mặc Tử tự ví mình như Lý Bạch, một “trích tiên” vậy. Khi xưa Hàn cũng ở trên Thiên Đình, rồi vì môt lý đo nào đó, ông bị đọa xuống trần gian, làm một nhà thơ, như Lý Bạch vậy. Và rồi ông ta yêu Mộng Cầm, như Lý Bạch với Dương quí Phi? Hai người du ngoạn ở “Lầu Ông Hoàng”, một đêm trăng nào đó. Xong rồi, ông bị bệnh phung.

Khoảng năm 1957, nhân dịp ngày sinh hay ngày tử gì đó của Hàn, “Hội Văn hóa Thành phố Huế, tổ chức lễ “tưởng niệm nhà thơ”. Dĩ nhiên có nhiều người lên diễn thuyết, trong số đó, có hai người bạn cũ của ông Hàn là thi sĩ Quách Tấn với thi sĩ Hoàng Diệp.

Quách Tấn kể:

Không để cho Hàn ở chung trong nhà được, sợ truyền nhiễm, gia đình nhà thơ dựng cho ông môt căn chòi bên bờ biển Qui Hòa, cách Qui Nhơn không xa, để ông ở riêng. Khi Quách Tấn đến thăm Hàn tại căn chòi lá nói trên, Hàn Mặc Tử đọc (hay diễn ngâm?) bài thơ “Phan Thiết! Phan Thiết!” cho Quách Tấn nghe. Đến đoạn cuối: “Ôi trời ơi là Phan Thiết! Phan Thiết! Mi là nơi ta sầu hận…” thì giọng ông Hàn như nghẹn đi vì uất hận! Cái uất nghẹn đó cho người ta thấy Hàn Mặc Tử hận Mộng Cầm như thế nào!

Người ta cũng kể, Hàn Mặc Tử, sau đêm “đi chơi” ở Lầu Ông Hoàng với Mộng Cầm về thì mắc bệnh phung.

Tại sao?

Ông chú họ tôi, một người trong nhóm “theo cụ Ngô” khi cụ còn “lê gót nơi quê người” (theo lời ca đầu tiên của Nguyễn Hiền trong bài hát “Suy tôn Ngô Tổng Thống”), là một nhân vật không lạ gì trong giới văn học Huế, có lần đang ăn cơm, ông nói với chúng tôi (chúng tôi là kể thêm Huỳnh Hữu Tuệ và Huỳnh Hữu Ủy): Tụi bây có bồ đừng chơi bời tầm bậy. Trên mồ trên mả người ta dễ bị phung!”

Có phải đó là trường hợp Hàn Mặc Tử với Mộng Cầm. Quách Tấn kể: Đêm họ đi chơi “Lầu Ông Hoàng”,  trên đường về thị gặp mưa. Cơn mưa biển lớn lắm. Hai người vào núp trong một nhà mồ ở trong nghĩa địa. Rồi việc gì xảy ra nên Hàn Mặc Tử bị bệnh phung, như lời ông chú họ tôi nói ở trên, cũng là theo quan điểm y học dân gian của người Việt ta?!

            Bị mắc bệnh phung, và thêm lý do gì nữa mà Mộng Cầm phụ tình ông Hàn, khiến ông phải uất hận. Hay vì sướng thì sướng chung, mà bệnh thì riêng một mình ông Hàn gánh chịu?! Việc nầy, y học dân gian không chứng minh bằng khoa học được, nên đành chịu vậy!

            Trong bài thơ “Lang Thang”, Hàn Mặc Tử viết:

Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói?
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng?
Để trả thù duyên kiếp phũ phàng?

            Hai chữ “khỏi đói” trong bài thơ là viết theo nghĩa đen. Bấy giờ, ở trong cái chòi tranh nói trên, Hàn Mặc Tử đói thật, nghĩa là thiếu ăn hay không có cái ăn. Thi sĩ thì không giàu. Giàu khó làm thi sĩ. Dĩ nhiên, không nghe ai nói Hàn Mặc Tử giàu. Gia đình Hàn Mặc Tử có thể thuộc hàng khá giả chứ không giàu. Vả lại, khi ông Hàn bị bệnh phung thì ông bố cũng đã qua đời. Vì vậy, theo lời kể của Quách Tấn, khi ông đang làm “công chức” ở Đà Lạt, thường gởi tiền về giúp đỡ nhà thơ bị bệnh phung. Căn chòi của Hàn Mặc Tử ở bờ biển Qui Hòa, bị mưa gió làm thủng nát nhiều chỗ, không sửa sang được, ông Hàn kiếm mấy tấm bìa chèn vô.

            Cứ tình hình như thế, “Đói là mối hận thứ hai” trong đời của một nhà thơ thiên tài.

            “Hồn tôi đây thiên hạ bỏ đìu hiu” là một câu thơ trong bài “Trình Bày” của Huy Cận, nhưng mỗi khi đọc câu thơ nầy, hay khi giảng về “Thơ mới” trong những năm tôi còn cầm cục phấn đứng trước bảng đen, tôi thường lẫn lộn giữa Huy Cận và Hàn Mặc Tử về nỗi cô đơn của các nhà thơ, và cả Hàn Mặc Tử nữa, trước sự hững hờ của thiên hạ với các nhà thơ thiên tài. Xưa thì phải kể Trần Tử Ngang với “thiên địa chi du du”, hoặc “Lau lách đìu hiu” của Bạch Cư Dị trên bến Tầm Dương.

            Hình như sự “Cô Liêu” của Hàn Mặc Tử kinh khiếp hơn:

Ai đi lẳng lặng trên làn nước,
Với lại ai ngồi khít cạnh tôi?
Mà sao ngậm kín thơ đầy miệng
Không nói không rằng nín cả hơi?

Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng,
Một vũng cô liêu cũ vạn đời!
Chao ôi ghê quá! Chao ghê quá!
Cảm thấy hồn tôi ớn lạnh rồi!

            Chữ “ai” ở đây cứ như là ma vậy! Một mình trên bãi biển Qui Hòa, không có “ai” với ông Hàn cả. Tiếng sóng vỗ vào bờ cát làm cho ông tưởng như tiếng chân ai đang đi vậy! Và ông lại tưởng tượng như có “ai” đó, một người nào đó ở bên cạnh ông, một người mà ông đã từng yêu, Mộng Cầm hay Mai Đình? Rồi cũng chẳng có ai cả! Người đó không nói, không đọc thơ mà chỉ “ngậm cứng thơ đầy miệng”. Hàn Mặc Tử lẫn lộn giữa người và ma hay chăng?!

Tất cả những điều đó, tạo nên những ý tưởng kinh hoàng trong trí ông. Tư tưởng, hay cảm tưởng đó chính là sự cô liêu của hoàn cảnh ông đang sống, cô đơn trên bãi biển, và cả một nỗi cô liêu trong cuộc đời.

            Có lần tôi tranh cãi với một người bạn đồng nghiệp về chữ “Vũng” hay “Bãi” trong câu “Một vũng cô liêu cũ vạn đời”. “Bãi” nói về chiều rộng, như bãi cát chẳng hạn. “Vũng” nói về chiều sâu. Ngồi một mình bên bờ biển, về chiều rộng (horizontal), có thể Hàn Mặc Tử đã thấy rõ, nhưng ông thấy nỗi cô liêu ấy, không chỉ ở chiều rộng mà cả ở cả chiều cao (vertical).  Thành thử, trong bài thơ nầy, Hàn Mặc Tử cảm nhận nỗi cô liêu của ông ở cả hai chiều: Chiều rộng và chiều cao. Nỗi cô liêu ở cả hai chiều như thế khiến Hàn Mặc Tử phải than “Chao ôi ghê quá, ôi ghê quá!”

            Nỗi cô liêu của ông là “cũ vạn đời” có nghĩa là không có gì mới đâu! Trần Tư Ngang, Bạch Cư Dị ngày xưa đã thế, và Huy Cận hay Hàn Mặc Tử người đời nay vẫn thế!

            Thi sĩ là người mơ mộng. Do đó, hơn ai hết, họ là những người thường lẫn lộn  giữa mộng và thực. Thực là đời thực, mộng là những gì chỉ ở trong tâm tưởng mà thôi.

            Xưa có anh tiều phu, một hôm vào rừng lấy củi. Tình cờ anh hạ được một con nai. Anh tự bảo, phải đi đốn củi đã, giấu con nai ở đây, chờ khi chiều tới, trên đường về, sẽ đem nai về luôn. Đến khi chiều về, anh quên mất con nai. Đêm nằm bên vợ, anh mới sực nhớ đã bỏ quên con nai trong rừng. Hôm sau, khi vào rừng, không thấy con nai đâu cả, anh ta cứ nghĩ nằm mơ, không phải thực anh đã hạ một con nai. Hôm sau nữa, lại vào rừng, tình cờ lại tìm thấy con nai, anh lại cho là thực.

            Con người cứ lẫn lộn giữa thực và mộng, giữ mộng và thực, quả thực anh thợ rừng không phải là thi sĩ, mà tâm hồn là một t âm hồn thi sĩ, như Hàn Mặc Tử vậy.

            “Làm sao giết người trong mộng?” Người ta hiểu “người trong mộng” đó là Mộng Cầm. Mộng Cầm là con người thực, là con người đã phụ rẩy Han Mặc Tử. Nếu Hàn Mặc Tử không phải là thi sĩ, một người “thực tế” như người Âu Mỹ, thì anh ta đã ra tòa rồi, khi muốn “giết người” (trong mộng). Tuy gọi là (Mộng) Cầm, nhưng Mộng Cầm là người thực, có phải là “người trong mộng đâu!”

            Cứ lẫn lộn giữa mộng và thực thì người ta không được cái gì cả. Không được người tình nên “hận tình”. Đói, không có ăn, hận người đời đã bỏ quên mình. Và hận “Cô liêu” (trên bãi biển), là mối hận ngàn đời của thi nhân. Huy Cận đã từng than như vậy: “Chiều ơi hãy xuống thăm ta với, Thiên hạ lìa xa đời trống không!”

            Ba mối hận, một đời người ngắn ngủi (1), quá đủ cho một thiên tài.

hoànglonghải

(viết để tặng Nguyễn Thị Vân, mới gặp lại sau 45 năm xa cách, chúng ta đâu còn thấy cô liêu nữa, và cũng chẳng hận ai!)

(Phụ lục 1)

Vào năm 1911, Công tước De Montpensier qua Việt Nam du lịch và săn bắn. Nhận thấy phong cảnh tại những ngọn đồi xung quanh Phan Thiết rất hữu tình, nên ông đã mua lại mảnh đất rộng 536m2, cách Tháp Po Sah Inư 100 m về hướng nam đê xây dựng biệt thự.

Tòa biệt thự được khởi công xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 với quy mô 13 phòng rộng cùng nhiều tiện nghi phụ trợ, như máy phát điện đặt dưới tầng hầm, bể chứa nước có thể dùng đủ cả năm. Khi xây xong, biệt thự được xem là công trình hiện đại nhất Bình Thuận lúc bấy giờ. Tên gọi Lầu Ông Hoàng xuất phát từ cách gọi dân dã của người dân về sự sang trọng của vị công tước người Pháp cư ngụ ở đây. Lầu Ông Hoàng có một vị trí đẹp, cao 105 m so với mặt nước biển, cách trung tâm Thành phố Phan Thiết 7 km nằm trên khu vực đồi Bài Nài.

Tháng 7 năm 1917, Công tước De Montpensier bán lại biệt thự cho một chủ khách sạn người Pháp tên là Prasetts. Sau này, vua Bảo Đại mới mua lại nó. Sau khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam năm 1945, quân Pháp đã xây dựng một hệ thống đồn bót với nhiều lô cốt để canh giữ toàn vùng Phan Thiết. Lầu Ông Hoàng trở thành nơi diễn ra nhiều trận đánh ác liệt. Kể từ đó trở đi, Lầu ông Hoàng không còn được ai chăm nom và dần trở nên xuống cấp, hoang phế.

(Theo Wiki)

(1)-Hàn Mặc Tử qua đời ở bệnh viện phung Qui Hòa ngày 11 tháng 11 năm 1940, khi ông mới 28 tuổi)

(Phụ lục 2):

            Trong buổi “Tưởng niệm Hàn Mặc Tử” do Hội Văn hóa thành phố Huế tổ chức năm 1957 như tôi nói ở trên, có nhiều diễn giả lên nói chuyện thơ của Hàn Mặc Tử. Hội nầy do linh mục Cao Văn Luận làm chủ tịch. Các vị diễn giả, ngoài Quách Tấn và Hoàng Diệp, còn có Giáo sư Lê Hữu Mục (thầy giáo của tôi) và ông Võ Long Tê. Hai ông nầy lên diễn đàn giới thiệu bài thơ “Ave Maria” của Hàn. “Maria linh hồn tôi ớn lạnh, Run như run thần tử thấy long nhan.”

            Hai ông giáo sư nầy ca ngợi cái gì hay trong bài thơ nầy tôi không nhớ, nhưng các ông ấy đã dẫn dắt rằng đạo Thiên Chúa là đạo của mọi người. Con người, cuối cùng, như Hàn chẳng hạn, cũng phải về với Chúa Giê-Su.

            Sau khi đi nghe diễn thuyết về, ông chú họ, như tôi nói ở trên hỏi chuyện tôi đi nghe cái gì người ta nói trong buổi diễn thuyết ấy. Tôi kể lại hết những gì tôi đã nghe, nhưng sau khi nói về hai diễn giả Lê Hữu Mục và Võ long Tê. (Ông Tê lúc đó là giáo sư Pháp Văn của Huỳnh Hữu Tuệ ở trường Nguyễn Tri Phương), ông chú tôi bảo: Mấy ông nầy chỉ lợi dụng cái chết của người ta để truyền đạo, bắt giò Cậu Cẩn! Tôi không nghĩ rằng ông chú tôi nói sai.

Trước đây ít lâu, trong một buổi họp đảng Cần Lao của Chi bộ Thành phố Huế, có người đề nghị ông chú tôi bổ đi làm quận trưởng, một quận nào đó, nhưng ông phải “rửa tội” mới được cái chức đó.

            Kể chuyện được đề cử làm quận trưởng xong, ông chú tôi nói: “Tao theo cụ Ngô là để chống Tây. Tây “mắt xong mũi lõ”. Chúa Giê Su cũng như thế, tao thờ Chúa Giê Su sao được.”

            Tình hình chính trị hồi bấy giờ là như thế, phía đạo Thiên Chúa dựa vào thế lực anh em nhà Ngô để bành trướng đạo của họ, như trước kia, họ từng dựa vào thế lực của Thực dân Pháp vậy.

            Hôm đó, tôi có nhắc lại một câu thơ trong bài “Ave Maria” để hỏi ông chú tôi: “Ave Maria mà lại viết “Chiếu rọi khắp ba ngàn thế giới.” Ba ngàn thế giới là tư tưởng của đạo Phật, sao nó lại xuất hiện ở đây.

            Té ra, dù có thờ lại Chúa Giê Su thì tâm hồn Hàn Mặc Tử vẫn là tâm hồn của một người Việt Nam. Một người Việt Nam thì có văn hóa Việt Nam, mà trong văn hóa Việt Nam, mang nặng dấu vết của Phật giáo không phải là ít vậy. Khi người Việt Nam nói một câu gì đó, một câu tục ngữ chảng hạn, nhiều khi người ta không biết rằng mình đã nói một câu mang tính cách giáo lý nhà Phật.

Lòng ta sầu thảm hơn mùa lạnh,
Hơn hết u buồn của nước mây,
Của những tình duyên thương lỡ dở,
Của lời rên siết gió heo may.

Cho ta nhận lấy không đềm đáp,
Ơn trọng thiên liêng xuống bởi trời,
Bằng tiếng kêu gài say chếnh choáng,
Bằng tim, bằng phổi nóng như sôi.

Và sóng buồn dâng ngập cả hồn,
Lan tràn đến bến mộng tân hôn.
Khóe cười nức nở nơi đầu miệng,
Là nghĩa, trời ơi, nghĩa héo hon.

Cô liêu

Gió lùa ánh sáng vô trong bãi
Trăng ngậm đầy sông, chảy láng lai
Buồm trắng phất phơ như cuốnglá
Lòng tôi bát ngát rộng bằng hai.

Tôi ngồi dưới bến đợi nường Mơ,
Tiếng rú ban đêm rạn bóng mờ,
Tiếng rú hồn tôi xô vỡ sóng,
Rung tầng không khí bạt vi lô.

Ai đi lẳng lặng trên làn nước,
Với lại ai ngồi khít cạnh tôi ?
Mà sao ngậm kín thơ đầy miệng
Không nói không rằng nín cả hơi ?

Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng,
Một vũng cô liêu cũ vạn đời!
Chao ôi ghê quá! Chao ghê quá!
Cảm thấy hồn tôi ớn lạnh rồi!

Lang thang
Lãng tử ơi! mi là tiên hành khất,
May không chết lạnh trước lầu mỹ nhân.
Ta đi tìm mộng tầm xuân,
Gặp vua nhà Nguyễn bay trên mây.
Rượu nắng uống vào thì say.
Áo ta rách rưới trời không vá,
Mà bốn mùa trăng mặc vải trăng
Không ai chết cả sao lòng buồn như tang?
Cho tôi mua trọn hàm răng.
Hàm răng ngà ngọc, hàm răng đa tình,
Một chắc ta lại với mình.
Có ai vô đó mà mình hồ ngươi?
Lãng tử ơi, mi là tiên hành khất,
Nay không hộc máu chết rồi còn đâu?

Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói?
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng?
Để trả thù duyên kiếp phũ phàng?

(Xuân Như Ý)

Ra đời Hàn Mặc Tử
Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc
Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác
Rất phương phi, trên hết cả anh hoa
Xuân ra đời
Điềm ngọc ấm như ngà
Thơ có tuổi và chiêm bao có tích
Và tâm tư có một điều rất thích
Không nói ra vì sợ bớt say sưa
– Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua
Mùa xuân tới mà không ai biết cả.
Biển hồn ta
Máu tim ta tuôn ra làm bể cả
Mà sóng lòng rồn rập như mây trôi
Sóng lòng ta tràn lan ngoài xứ lạ
Dâng cao lên, cao tột tới trên trời.
Ôi ta đã mửa ra từng búng huyết
Khi say sưa với lượn sóng triền miên
Khi nhận lấy trong thâm tâm cay nghiệt
Giọng hờn đau trăm vạn nỗi niềm riêng. Ta muốn níu hồn ai đương hiển hiện
Trong lòng và đang tắm máu sông ta
Ta muốn vớt ai ra ngoài sóng điện
Để nhìn xem sắc mặt với làn da.
Ôi ngông cuồng! Ôi rồ dại, rồ dại!
Ta đi thuyền trên mặt nước lòng ta
Ôi ngông cuồng, ôi rồ dại, rồ dại
Ta cắm thuyền chính giữa vũng hồn ta.

 
Hồn là ai
Hồn là ai là ai? Tôi không biết
Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi
Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười
Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng
Tôi chết giả và no nê vô vạn
Cười như điên, sặc sụa cả mùi trăng
Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng
Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên
Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm
Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực
Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức
Rồi bay lên cho tới một hành tinh
Cùng ngả nghiêng lăn lộn giữa muôn hình
Để gào thét một hơi cho rởn ốc
Cả thiên đường trần gian và địa ngục
Hồn là ai? Là ai! Tôi không hay
Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay
Hồn mệt lả mà tôi thì chết giấc


Nhớ Trường Xuyên
Trường Xuyên ơi! Trường Xuyên ơi!
Viết chẳng nên câu nói nghẹn lời
Mây nước bao la tình lẳng lặng
Gió sương mờ mịt nhớ chơi vơi
Tương tư mộng thấy năm canh mộng
Luyến ái trời vương bốn phía trời
Đây nhớ đây thương mình tệ quá
Có ai khắng khít lại quên ai.

“Gió Nam non…”

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 14 Dec 2015 

Post by6 Sơn râu 14 Jan 2024

“Gió Nam non thổi lòn hang cóc…”

Tôi yêu Quảng Trị của tôi vì tôi sinh ra và lớn lên ở nơi ấy, dù ở đó cảnh sắc có đẹp hay không.

Dù không đẹp, nhưng vì nó là nơi tôi chôn nhau cắt rốn, nơi tôi lớn lên cùng với gia đình, cha mẹ, anh chị, bà con xóm làng, học hành vui chơi cùng bạn bè, thì không đẹp, quê hương tôi cũng cứ đẹp vô ngần. Tôi yêu quê hương tôi là tôi yêu cảnh sắc nơi ấy, tôi yêu người dân ở nơi ấy, không cần biết ai giàu ai nghèo, ai bần cùng, ai sang trọng. “Chốn quê hương đẹp hơn cả”, sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư nói vậy đấy!

Người dân quê tôi càng nghèo, tôi càng thấy yêu họ hơn, mà Quảng Trị tôi thì nghèo nhất trong các tỉnh nghèo của miền Trung. Miền Trung nghèo vì miền Trung chỉ là cái đòn gánh, oằn lên vai chị, vai mẹ, như câu tục ngữ “đòn gánh đằn vai”. Hai đầu Nam Bắc mới giàu, hai đầu là hai thúng gạo: “Gạo Nam, gạo Bắc, ấy đòn miền Trung”. Phạm Duy viết như thế.

Miền Trung nghèo vì “đất cày lên sỏi đá”. “Quê hương anh, nước mặn đồng chua, quê hương tôi đất cày lên sỏi đá”. Đất ấy chỉ có thể trồng khoai sắn. Dọc miền Trung, tỉnh nào cũng nhiều khoai sắn, ăn khoai sắn thay cơm. “Bên nồi khoai mới luộc, ngát thơm vườn ngâu thưa…” Phan Lạc Tuyên viết như thế khi theo Quân Đội Quốc Gia “tiếp thu” Bình Định năm 1954.

Phạm Đình Chương cũng viết giống như thế về Thừa Thiên: “Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi! Mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm”.

Quảng Trị có khá hơn không? Về Quảng Trị, Phạm Duy cũng viết trong “Quê Nghèo”: “Đàn trẻ vui vì nồi cơm ngô đầy”. Cơm độn với ngô (bắp). Vậy mà bọn trẻ thấy vui vì được ăn no.

Phạm Duy, cũng như nhiều nhà thơ, nhà văn khác, chưa ai thấy hết cái nghèo của Quảng Trị của tui đâu! Quảng Trị nghèo lắm, nghèo hơn ăn ngô, ăn khoai, ăn sắn nhiều.

            Hồi còn nhỏ, tôi đã từng nghe cầu hò (văn chương bình dân):

                        Gió Nam non thổi lòn “hang cóc”,

                        Phận em ngheo nên mồng đóc em khô”

            Sách địa lý gọi là Gió Lào, dân địa phương gọi là gió Nam. Đó là hiện tượng gió Foehn (“phơn”, gốc từ Fơn, tiếng Đức) ở miền Trung Việt Nam. Theo địa lý địa cầu, nói chung, nhiều châu lục, có hiện tượng gió Foehn.

Khi ngọn gió được hình thành, vượt qua những vùng núi cao, làm gió tăng tốc và mất hết hơi nước, nên trở nên khô và nóng, có khi rất nóng, gây nên nạn cháy rừng. Nhờ có gió Foehn vượt qua dãy núi Alpes nên vùng Trung Âu về mùa đông được ấm hơn. Ở Mỹ và Canada, gió Foehn vượt qua vùng Rocky Mountains, có tên là gió Chinook.

Vùng Đông Nam Á, theo sách địa lý của frère Jerôme Lê Văn Ba, và vài giáo sư dạy ở Khải Định, (tên trước 1957), gió Foehn phát xuất từ vịnh Thái Lan, thổi dọc theo sườn phía Tây dãy Trường Sơn. Càng lên hướng Đông-Bắc, gió càng mạnh và khô vì cây rừng Trường Sơn lấy hết nước.

Từ đèo Lao Bảo trở ra Bắc, rặng Trường Sơn thấp xuống, nên gió quay ngược lại theo hướng Đông-Nam, thổi suốt một vùng, từ phía bắc Thừa Thiên ra tới Thanh -Nghệ-Tĩnh.

Sách địa lý thường gọi là gió Lào vì gió từ Lào thổi xuống Việt Nam. Dân địa phương gọi là gió Nam, có lẽ người ta biết gió thổi từ vùng vịnh Thái Lan ở phía Nam mà lên.

Gió Nam, như đã nói, khô và nóng. Các vùng Thanh Nghệ, lá chuối bị khô cháy vì hơi nóng của gió. Theo kinh nghiệm của tôi khi còn nhỏ ở Quảng Trị, gió Nam thổi từ nửa đêm cho tới trưa hôm sau. Gió Nam thổi mạnh, nên buổi tối, trước khi đi ngủ, mùng đã chằn kín dưới chiếu, vẫn bị gió thổi tốc lên. Mùa gió bắt đầu từ tháng 5 cho đến tháng 9 (Dương Lịch), mạnh nhất là vào khoảng tháng 7 tháng 8, khiến nhiệt độ nhiều khi lên đến trên 40 độ C. Cây cỏ đều khô cháy hết. Do đó, ở Quảng Trị có câu tục ngữ: “Nắng tháng 8, nám trái bưởi”.  Sau khi gió Nam dứt thổi, mùa thu tới và sau đó là Mùa Gió Bấc, tức “Gió Mùa Đông Bắc thổi mạnh trên biển Nam Hải” như câu tiên đoán thời tiết trên đài Saigon trước kia).

Vì từ đèo Lao Bảo trở ra, dãy Trường Sơn thấp xuống, gió quặt về phía Việt Nam, nên ngay ở đây, gió thổi mạnh lắm, ngang qua đèo. Dân địa phương gọi địa điểm gió vượt qua núi là Khe Gió hay Cửa Gió. Gần địa điểm nầy, có động Ông Đô là căn cứ của Quân Đội Bắc Việt Nam trên đường di chuyển xuống miền Nam, trên đường Trường Sơn. Các đơn vị tác chiến ở vùng nầy thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh, các tiểu đoàn Biệt Động Quân 21 và 37 của Quân Đội miền Nam, từng tham chiến ở Làng Vei và trận Khe Sanh cùng với các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 1968, không lạ gì với động Ông Đô.

Kế Lang Vei có hai bản làng của người Thượng (người Vân Kiều hay người Stiêng? Tôi không biết chắc). Hai bản đó tên là Bản Hoong và Bản Cóc. Đây là những làng du canh du cư, dân chúng rất nghèo.

Theo tôi nghĩ, câu ca dao tôi trích dẫn ở trên, nói là “Gió Nam non thổi lòn hang Cóc…” là không đúng. Nếu nói tới Cửa Gió, Khe Gió thì có lẽ câu ca dao nói tới tên hai bản làng dân tộc thiểu số ở vùng nầy, có nghĩa là “Gió Nam non thổi lòn Hoong, Cóc”, là gió từ Lào thổi qua bản Hoong và bản Cóc rồi từ đó thổi về Quảng Trị.

Tôi không tin có hang nào gọi là hang cóc. Hang cóc thì nhỏ, làm sao có gió thổi qua?

Người xưa không mặc đồ lót, nhứt là các “nụ cười sơn cước”. Vậy thì có cái gì giữ “cái ấy” cho gió Nam khỏi làm cho khô. Cây lá còn phải khô nữa là!

Nhưng trời ơi! Có cái xứ nào trên đời nầy nghèo đến nỗi làm cho khô cái ấy. Mà đó là  vì “Phận nghèo” (Phận em nghèo nên…” Nghèo ăn khoai ăn sắn, ăn độn ngô khoai, có đâu mà nghèo đến cái độ phải khô cái ấy như vầy như ở quê tôi hỡi trời???!!!

Nói phận nghèo là nói tại Trời. Không phải vì biếng nhác, ham chơi bời, cờ bạc, phá phách mà nghèo. Nghèo là tại Trời, “Trời làm cơn lụt mỗi năm” hay “trời làm gió thổi mỗi năm”. Thật vậy, dân Quảng Trị tôi không làm biếng, không ham chơi, không cờ bạc, chẳng qua vì Trời sinh tôi ra ở đấy, số phận tôi ở đấy, số phận đồng hương, đồng bào tôi ở đấy, khiến cô sơn nữ than phận nghèo nên “cái ấy” phải khô….

Để kết thúc, và để rõ hơn cái ý nghĩa tôi trình bày, xin nhắc lại câu ca dao một cách trọn vẹn và trung thực:

                        Gió Nam non thổi lòn Hoong, Cóc,

                        Phận em nghèo nên mồng đóc em khô!”

hoànglonghải

(trích lại trong “Một lần về Thủ Đô,

Thăm các vị La Hán”)

Nhà nước vú em

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 14 Jan 2024

Khi đào thoát khỏi cái chế độ độc tài cộng sản, cũng như bà con, tui mừng hết lớn. Không còn cái cảnh bọn khuyển ưng, Công an Phường, nửa đêm súng ống, xồng xộc vô nhà mình xét hộ khẩu. Rồi dắt mình về đồn nhốt cho muỗi cắn mình chơi. Không còn cái vụ: “Ngày xưa đại tướng cầm quân. Ngày nay đại tướng cầm quần chị em”, nghĩa là chuyện tư riêng của mình, cha con nó hết có dịp chõ mỏ vô để ngu ngốc dạy đời.

Ðặt cả hai chưn vô nước Úc là mình được tự do. Muốn làm gì thì làm. Té ra nghĩ như vậy là trật lất. Nước Úc nầy nó không dám hứng sảng, còng đầu mình giải về đồn nhốt chơi như cộng sản. Nó chơi xỏ mình kiểu khác. Nếu vi phạm luật lệ của nó đặt ra thì nó quánh vô cái túi tiền của mình. “Ðồng tiền liền khúc ruột”, mất tiền đóng phạt đau lắm chớ!

Có người nói: “Sợ đau thì sống cho nó đàng hoàng. Ðừng vi phạm cái gì của Úc đặt ra thì ai phạt được mình?”. Nói vậy chỉ đúng về mặt lý thuyết. Còn thực tế sống đàng hoàng như Bụt cũng bị phạt như thường. Ở Úc gần 30 năm dài, tui chưa hề được gặp một “cao nhân” nào không bị phạt hết ráo.

Vì luật lệ của Úc đặt ra nó thiên la địa võng. Nhiều đến nỗi, đặt ra rồi nó không nhớ là mình đặt ra cái gì và hồi nào.

Không đi bầu cũng phạt. Ði chợ, đi khám bịnh đậu xe quá hai tiếng đồng hồ: phạt. Con nít 6, 7 tuổi chạy chiếc xe đạp ba bánh nhỏ xíu, cũng phải mang nón bảo hiểm. Không đội ba má nó bị phạt. Một đoạn đường chừng 10 cây số, giới hạn tốc độ thay đổi tới ba lần. Ngã tư đèn xanh đèn đỏ nào cũng có máy chụp hình. Lóe sáng một cái, bay hết 200 đô; trừ bằng lái 3 điểm.

Nhà hàng, quán rượu bán phải có giờ giấc. Ăn nhậu, chơi bời phải đúng nơi đúng chỗ. Làm trật: phạt. Nên mới có 9 giờ tối, thành phố chỉ có ma.

Bao bì thuốc lá phải in đơn giản, không màu mè. Giấu kín trong hộc tủ và bán mắc nhứt trên thế giới. Một điếu gần 2 đô Úc. Ai lỡ ghiền mà bỏ thuốc không được, chỉ còn nước mạt. Té ra Úc nó đạo đức giả. Nói là chăm lo sức khỏe của người dân, không nên hút thuốc. Nhưng thực ra làm như vậy để thu thuế cho thật nhiều.

Qua Úc chơi, dân Canada, dân Mỹ nói: các thành phố của Úc vệ sinh quá mức. Xả rác: phạt! Làm riết, làm quá quốc gia này đang trên đà trở thành quốc gia ngu ngốc nhất thế giới như Singapore.

Do đó bà con mình bên Mỹ, bên Canada muốn trở về tuổi thơ thì cứ xin di dân qua Úc mà sống. Vì nước Úc là một “nanny state”, một nhà nước vú em. Vì nó can thiệp quá nhiều, quá sâu vào cách sống của người dân. Chánh quyền đối xử với người dân như một đứa con nít. Hở một cái là phạt!

Rồi hơn hai tháng nay, hai tiểu bang Miền Ðông nước Úc là New South Wales và Victoria mặc dù đang bị phong tỏa nhưng tiền phạt có liên quan đến COVID-19 lên tới hàng chục triệu đô Úc.

Nhưng tất cả chúng có đúng luật hay không? Nhiều người trên khắp New South Wales và Victoria đã không trả tiền phạt vì họ cảm thấy bị chánh quyền đối xử rất bất công. Người dân NSW mới đóng 11% giấy phạt nầy.

Samantha Malnick làm nhà hàng, bị thất nghiệp. Tinh thần khủng hoảng nên việc gặp được người bạn trai của mình, chỗ dựa tinh thần để giúp cô còn bình tĩnh, vượt qua những khó khăn trong thời buổi ôn hoàng dịch lệ này. Nhưng một hôm đang ra bãi biển để tập thể dục thì cả hai bị cảnh sát chặn lại và phạt vì tội không đeo khẩu trang lúc ngồi chung xe.

“500 đô la là một số tiền rất lớn đối với tôi – cô Malnick cho biết – thật là khó hiểu khi mình có thể ôm và hôn bạn trai rồi ở lại qua đêm với nhau; nhưng lại không thể ngồi chung xe với anh ấy mà không đeo khẩu trang”.

“Tôi không chắc liệu họ có mong chúng tôi đeo khẩu trang trong suốt thời gian tôi đến thăm anh ấy tại nhà của ảnh hay không? Nhưng tôi nghĩ điều đó khá nực cười nếu đúng như vậy. Tôi không thể hiểu được”.

Còn Nikeah Dunn và mẹ cũng bị phạt vì không đeo khẩu trang lúc hai người đang ở trong xe. “Mẹ tôi và tôi đeo khẩu trang khi chất đồ. Nhưng khi lên xe, chúng tôi tháo khẩu trang ra. Tôi lái ra khỏi bãi đậu xe, và cảnh sát đã chớp đèn, chặn tôi lại”.

“Bạn và mẹ của bạn bị phạt bao nhiêu?”. “Tổng cộng cả hai chúng tôi là ba nghìn đô”. “Số tiền đó có ý nghĩa như thế nào đối với các bạn?”. “Ðó là một số tiền quá lớn. Ðặc biệt là trong lúc tôi mất việc vì đại dịch COVID”.

“Nếu chúng tôi đi chung Uber hoặc taxi thì chúng tôi phải đeo khẩu trang là đúng! Nhưng đây lại là xe của chính chúng tôi, tôi không hiểu gì cả”. “Tôi cảm thấy ông ta đối xử với chúng tôi không công bằng chút nào. Tôi cảm thấy mình bị hiếp đáp và sau khi ông ấy đuổi tôi đi, tôi bắt đầu khóc. Tôi cảm thấy không thể lái xe được nữa; nên mẹ tôi phải thay tôi lái xe về nhà”.

Cũng lại tiểu bang NSW, James và một người bạn đã bị phạt 1,000 đô la khi đang ăn phở. “Ăn phở mà bị phạt?”. “Trớ trêu thay, vừa ăn xong, tôi đeo khẩu trang lại. Thì ngay lúc đó viên cảnh sát đến. Còn bạn của tôi vẫn còn đang ăn dở.”. “Tôi rất ngạc nhiên. Tôi không nghĩ rằng mình đã làm gì sai. Ðó là một tô phở rất đắt tiền”.

Chuyện tức cười tới té ghế là chánh phủ tiểu bang Victoria vừa cho phép người dân được quyền tháo khẩu trang khi uống rượu ngoài trời (hổng cho tháo thì làm sao mà uống?)

Còn chánh phủ NSW, giảng “moral”: Ưu tiên hàng đầu và quan trọng nhất là đảm bảo sức khỏe và sự an toàn của người dân NSW. Bất kỳ vi phạm lệnh nào theo Ðạo luật Y tế Công cộng 2010 đều là một tội hình sự và sẽ bị phạt nặng.

Kể từ ngày 25 tháng Sáu, NSW đã có 47,375 giấy phạt: từ $1,000, $2,000, $5,000 vì COVID. Tổng cộng lên tới 42.9 triệu đô.

Các quy tắc luôn thay đổi ở NSW đã làm cho mọi người nhầm lẫn. Vì những luật y tế công cộng này đã được sửa đổi hơn 60 lần. Rất khó để tuân thủ những mệnh lệnh phức tạp này. Ngay cả cảnh sát đã cũng không nắm hết. Chính phủ NSW phải dọn dẹp đống lộn xộn này.

Coi nước Úc là một điển hình cực đoan về các cuộc phong tỏa và các hạn chế vì Covid, các nhà bình luận ở Hoa Kỳ cho rằng những luật cấm đoán chặt chẽ vì Covid-19 của Úc giống như một biện pháp bắt người dân phải trả cho tội làm biến thể Delta tràn lan. Các nhà biếm họa vẽ bản đồ nước Úc với dòng chữ: “Nhìn từ ngoài không gian nhà tù lớn nhất thế giới trông như thế nầy”. Thiệt là nhục!

Rồi cuộc biểu tình “Cứu nước Úc”; cờ Úc tung bay trên thành phố New York. Ðám đông tụ tập bên ngoài lãnh sự quán Úc sau khi họ tuần hành qua Manhattan. Dân Mỹ ở New York, “thủ đô của thế giới” biểu tình cứu nước Úc là quá phải. Vì thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria đã vượt qua thủ đô Buenos Aires của Argentina, nơi người dân bị nhốt lâu nhứt trên thế giới. Nhốt hơn 260 ngày, kể từ khi đại dịch Coronavirus tấn công vào năm ngoái. Melbourne là thành phố ma. Thành phố vắng vẻ, hoang vu nhất thế giới. Khu trung tâm thành phố chỉ là một vùng đất hoang bị vẽ bậy. Nền kinh tế tiểu bang thiệt hại 700 triệu đô la mỗi tuần.

Chánh phủ tiểu bang cứ chống dịch kiểu cà lăm. Mở he hé rồi lại đóng suốt 18 tháng nay. Người dân Melbourne đã ngán tới cần cổ. Họ buồn và mệt mỏi. Họ sợ hãi khi nhìn vào tương lai. Họ bất chấp hiện tại. Cuối tuần nào cũng biểu tình. Cảnh sát rượt đuổi dân như mèo vờn chuột.

Buồn thay cho nước Úc mến yêu dưới quyền cai trị của một nhà nước vú em!

Nhà báo khăn rằn

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 14 Jan 2024

Cô Tư Đầm Dơi

Cà Mau, tiếng Khmer, là nước đen. VC vô không khoái đen mà khoái trắng, khoái sang, nên tụi nó sửa tên lại là Minh Hải. Biển sáng mà đời tối thui. Hổng ai xài cái tên mắc dịch, mắc gió nầy nên tụi nó de lại ‘vũ như cẩn’: Cà Mau. Tui thấy Tư Ðầm Dơi quấn khăn rằn bắt chước Trùm Việt Cộng Ba Ðịnh; giờ tui lại thấy ông nhà báo cũng quấn khăn rằn.Xin hỏi khăn rằn dùng để đi tắm lau mình. Ði chụp hình mà tròng chiếc khăn rằn quanh cái cần cổ chi vậy cha nội? Hay ông muốn dùng chiếc khăn rằn để chứng minh tui là ‘Vi Xi’ đó nghe!Hai ông bà nầy, kẻ tung người hứng, áo thụng vái nhau nên ‘đắc danh’ hết biết. Danh tui cũng khoái; vì tui thuộc loại háo danh! Háo danh là phải cà nanh. Tui bèn vạch lá tìm sâu, dùng kính lúp săm soi chữ nầy, chữ nọ, bắt bẻ nọ kia, đá giò lái ổng chơi!

Là dân Cà Mau, ông dùng chữ lai Bắc Kỳ hai nút 75 nhiều quá. Không phải tui kỳ thị miền nào nhưng dùng chữ phải cho nó đúng. Chẳng hạn như ông viết về nữ nghệ sĩ cải lương Út Bạch Lan và danh cầm Văn Vĩ như vầy nè: “Hai người mẹ bị bỏ rơi, dắt hai đứa trẻ đi lang thang giữa chợ đời, tình cờ gặp nhau rồi kết nghĩa chị em, sống trong một trạm gác cũ bên hông chợ Bình Tây.” Dân Sài Gòn nói: “Ðem con đi cho: bỏ rơi con. Bị chồng bỏ?! Viết ‘hai người mẹ bị bỏ rơi’ là trật lất!

Rồi: “Mỗi sáng, Út Lùn được các bà chủ sạp sai đi mua thức ăn và được trả công bằng những thứ hàng của sạp như trứng vịt, rau cải, thịt heo, tôm cá… đủ để nuôi sống hai bà mẹ và người anh trai mù lòa. Ban đêm, hai người mẹ ngủ trong lô-cốt, hai anh em ngủ trên sạp hàng.”

Dân Sài Gòn không ai nói: “bà chủ sạp sai đi mua thức ăn” mà nói “sai đi mua đồ ăn”. Nói trứng cút; nhưng không ai nói trứng vịt mà nói hột vịt. Cái hột nó lớn hơn cái trứng nhe. Ði học, làm bài tập không được bị thầy cô cho hai cái ‘trứng vịt’. (Hồi xưa, thang điểm thầy cô cho từ hai cái trứng vịt tới hai mươi). Chữ trứng nó hay lắm. Ðàn bà cũng có; ông cũng có!

Còn ‘Lô cốt’, “blockhaus” gốc tiếng Ðức. Lô cốt được xây dựng kiên cố bằng gạch, đá, bê tông, có lỗ châu mai để lính phòng thủ bắn ra. Lô cốt có nhiều trên quốc lộ 4 thời Tây. Nói ‘lô cốt’ trong chợ Bình Tây thì thú thiệt lần đầu tui mới nghe ông nói. Cái bót gác thì đúng hơn.

Nhà báo khăn rằn

Rồi ông viết: “Khi bài Dạ cổ hoài lang cất lên cùng với tiếng đàn guitar trên hè phố, trời đất như chim sa cá lặn, những kẻ qua đường dừng lại lắng nghe, những đồng tiền xu rơi xuống chiếu”?  “Chim sa cá lặn” là một điển cố bên Tàu để diễn tả sắc đẹp của các mỹ nhân như: Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Ðiêu Thuyền và Dương Quý Phi. Tây Thi đẹp đến nỗi ‘trầm ngư’ là cá trông thấy phải chìm sâu dưới nước.  Vương Chiêu Quân đẹp đến nỗi ‘lạc nhạn’ là chim nhạn sa xuống đất. Ðiêu Thuyền đẹp đến nỗi ‘bế nguyệt’ là mặt trăng phải giấu mình. Và Dương Quý Phi đẹp đến nỗi ‘tu hoa’ là khiến hoa phải xấu hổ.

Nhưng hát hay, đờn hay thì tại sao chim phải sa và cá phải lặn? Nghe hát hay, nghe đờn hay thì chim phải bay lại gần, cá phải trồi đầu lên nghe; chớ chim rớt cái bịch xuống đất; cá lặn hết sùi bọt tăm chuồn hết ráo thì hay cái giống gì? Viết khen hay viết chửi đây cha nội?

Muốn diễn tả giọng hát buồn hòa với tiếng đờn tha thiết thì thiết nghĩ ông nên ‘cọp pi (copy) tức cọp dê (copier) Nguyễn Du viết đoạn Hoạn Thư cuồng ghen, bắt Kiều đàn hầu rượu Thúc Sinh với mình: “Bốn dây như khóc như than. Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng” là đúng sách vở nhứt.

Rồi ông viết: “Nghệ sĩ Thành Công nói rằng: “Ðã thành ca sĩ (?) của đài rồi thì phải chọn một nghệ danh chớ không thể gọi là Út Lùn được. Bên đài Quốc Gia có ca sĩ Bạch Huệ, hay là ta đặt tên em là Bạch Lan”.

Sầu nữ Út Bạch Lan

Viết thời nào phải dùng chữ thời đó. Ổng dùng chữ ‘ca sĩ’ cho giới cổ nhạc vào những năm 50 là trật lất. Ca sĩ dành cho người hát tân nhạc. Hát cổ nhạc phải là nghệ sĩ.

Rồi ông còn cho rằng: “Ký giả kịch trường Trần Tấn Quốc đã bình luận về cô như vậy trong một bài viết có nhan đề “Sầu nữ Út Bạch Lan”, rồi thành danh cho đến bây giờ.”

Nói ký giả kịch trường Trần Tấn Quốc là không đúng. Ông Trần Tấn Quốc là tên thiệt của ông chủ báo Tiếng Dội, Ðuốc Nhà Nam để mần ăn và để cúng cơm. Còn khi viết bài, tuỳ thể loại, ông có những bút hiệu khác nhau. Bình luận ông ký Cao Trần Lãnh. (Người họ Trần quê Cao Lãnh”. Phê bình kịch trường ông ký Thanh Tâm. (Ông có lập ra giải Thanh Tâm cho giới cải lương).

Sầu nữ Út Bạch Lan là biệt danh do soạn giả cải lương Kiên Giang Hà Huy Hà đặt. Ông Kiên Giang còn đặt: “Nữ hoàng sân khấu” cho Thanh Nga…

Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga…

Rồi ông nhà báo khăn rằn viết là: “Có thể nói, sau thế hệ của nghệ sĩ Phùng Há, thế hệ Út Bạch Lan là những người tiếp tục xây dựng nền móng cho sân khấu cải lương Nam bộ.”.

Nói vậy là không đúng. Thời của nghệ sĩ Út Bạch Lan là nền móng đã xây xong. Nó là thời hoàng kim của sân khấu cải lương Miền Nam. Khi CSBV vô cải lương mới tàn lụi đi.

Tóm lại, theo thiển ý của tui, mặc dù là dân chánh gốc Cà Mau, Cô ba xà bông Trương Văn Bền 72 phần dầu, mà ông lại lấy từ những bài báo của các cây viết ‘Ba Ke hai nút’. Hậu quả tất nhiên là dùng phương ngữ đã sai. Tài liệu lại không chánh xác.

Bút pháp của nhà báo Bake 75 là: Vừa viết vừa tán láo, bốc phét, bợ đỡ quá đáng người nghệ sĩ rồi đem đời tư những thân nhân của người nghệ sĩ để câu độc giả. Tui đọc, thấy chướng tai gai mắt về những dữ liệu nầy nên ngứa miệng chõ mỏ vô bài của ông; chớ tui không dám có ác ý với ông đâu.

Người Nhựt vẫn cao hơn người Việt

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 14 Jan 2023

Tranh Bảo Huân

Nói nào ngay ở nước Úc, theo văn hóa của nó cũng thấy hay hay là không bao giờ phê bình hình dáng của một người khác. Nhứt là chê một người phụ nữ mập ốm cao, lùn. Cặp giò dài miên man hay ngắn ngủn.

Ông bà mình xưa còn có văn hóa hơn Úc nữa kìa. Không những không chê, đứa nào chê là vô duyên, mà còn biện hộ nữa. Bằng cớ là: ca dao quê mình có câu: “Hát vài câu giải sầu con đom đóm. Cảm thương người ôm ốm mà cao!”.  Theo luật bù trừ, em lỡ tròn như cái hột mít biết lăn, nhưng nói chuyện có duyên dùng thì phải kiếm cho được anh chàng nào cao như cây tre miễu, hay hươu cao cổ. Chi vậy? Vói sao tới? Hổng lẽ lấy sào mà quơ? Chẳng qua là để lúc có con, bù qua sớt lại, thằng cu hay cái hĩm, con mình sẽ có chiều cao kha khá hơn mình, vì được ‘ké’ theo chiều cao của Tía nó!

Anh nào thấp kiếm được mấy em chân dài tới nách cũng không khó lắm đâu nếu quý anh mình có thiệt nhiều tiền, cỡ vài triệu đô la Mỹ thôi. Chớ nghèo sặc gạch và lè tè như tui thì đừng có mơ mộng hão huyền. Nên chỉ biết chống chế: “Em đừng thấy anh nhỏ mà rầu. Chớ con ong bầu kia bao lớn nó đâm bầu, bầu thui!”

Vốn chỉ thước mốt hè, nhưng tui lại khoái chơi với mấy thằng cao ráo! Cái lợi trước mắt là đi chốn đông người, Má tui không bao giờ sợ không thấy con mình ở đâu. Má sợ tui bị lạc hay bị xe bắt chó bắt thằng con cưng của Má đi rồi! Má cứ nhìn vô đám đông, thấy được cái bản mặt chần vần của thằng Bảy Cao, bạn của tui là êm ru như cái lu…Vì nhìn thấy nó, là Má sẽ kiếm được tui; vì tui luôn tò tò đi sau đít nó. Thằng bạn cao nhòng của tui là ngọn hải đăng của má tui theo để kiếm tui!

Chỉ có điều hơi bất tiện mỗi lần nói chuyện là nó phải cúi xuống: “Tèo! Mầy nói cái gì tao nghe không rõ?”

“Ê! Cao như cây tre miễu; ai biểu cây tre tàn, tre bao nhiêu mắt, anh thương nàng bấy nhiêu. Vậy ngoài cái vụ đắt mèo, còn cái gì khác hay hơn nữa không hả Bảy Cao?” “Má tao không cần tốn tiền mua thang. Muốn lấy cái gì cất trên đầu tủ, cứ việc biểu tao lấy là xong ngay.”

“Cao thì khoái thật nhưng tao lại sợ và ghét cái nhà nào có cái quạt gắn trên trần nhà như nhà của mầy, người bạn bé bé của tui ơi!” Nghe vậy hơi chạm tự ái, tui chọc quê lại: “Tao thấp, tao không sợ bị cánh quạt máy trên trần nhà phang trúng. Tao chui vô xe hổng bao giờ bị u đầu một cục như mầy!”

Sau nầy qua Úc, bà con cô bác nào hay có chụp hình toàn thể tam đại đồng đường, để làm kỷ niệm và để bắn lên ‘facebook’ là thằng cháu ‘đít teo’ của tui, hình từ trái qua, mới ra nha sĩ! Ai muốn nhổ răng không đau, (răng không đau mới nhổ), nó bớt cho 50%. Bởi bà cô, bà dì có quen thân, có chơi đánh bài tứ sắc với bà nội nó. Ông, bà nội đứng trước; ba, má đứng sau. Và hàng cuối cùng mới là đám cháu nội, ngoại sanh đẻ ngay tại cái nước Úc nầy đây. Sở dĩ sắp xếp như vậy vì theo truyền thống gia đình người Việt mình, kính lão đắc thọ. Phần sắp nhỏ càng nhỏ lại càng cao. Phải sắp sau, nếu sắp trước, hình chỉ có sắp nhỏ; còn sắp già bị che mất tiêu, ai mà thấy cho được cà?

Sắp nhỏ sau nầy cao lớn vì có đủ thịt để ăn, có đủ sữa để uống. Thế giới, nam cao trung bình 177 cm. Nước Úc, nam cao tới 180cm. Trong khi, Việt Nam mình, nam cao chỉ 164 cm. Các nước láng giềng vòng vòng ai cũng cao hơn dân Việt ít nhứt là 3cm. Ngay cả đàn ông nước Lào, cao trung bình 170 cm, hơn người Việt đến 6cm. Muốn cao, cái ăn là cái quan trọng nhứt, như có phân phướng thì mới có cây cao bóng cả! Dân bị lùn do bị đói. Ðừng có đổ thừa là do hậu quả của chiến tranh để lại nhe mấy cha nội! 47 năm rồi mà cứ đổ thừa hoài hè!

Nhựt Bổn hồi năm 45, lúc xâm chiếm nước ta, sĩ quan Nhựt đeo cây kiếm bên hông cho oai, đi là phải vén kiếm lên, kẻo quét đất! Tụi phát xít Nhựt dẫu hung hăng nhưng còn lùn hơn dân Việt mình thuở đó. Sau khi thất trận, kinh tế Nhựt tanh bành ráo trọi! Vậy mà chỉ trong vòng có 40 năm, dân Nhựt đã cao lên 10cm, đạt mức 172cm với nam và 158cm với nữ, Nhựt chỉ thua thế giới có 5 cm. So với Việt Nam, đàn ông Nhựt cao hơn 8.3cm; đàn bà Nhựt cao hơn 4cm).

Từ “Nhựt lùn”, những năm 50 của thế kỷ trước, giờ hầu như đã biến mất. Sao kỳ vậy? Ðâu có gì kỳ! Vì chánh phủ Nhựt thương dân, lo cho dân; chớ không cướp bóc của dân! Dân Việt mình thì bị bọn quan chức tham nhũng đè đầu cưỡi cổ, bị bốc lủm (còn hơn là bóc lột), phải ăn cơm với nước mắm kho quẹt đều chi, con nít thay vì bú sữa sẽ được bú nước cơm. Thì cao lớn làm sao cho nổi chớ?!

Sau 75, CSBV ‘vào, vơ, vét, vọt’ qua Mỹ. Trong khi  dân nghèo đói xanh râu. Hãy nhìn vào những cái mặt ‘mẹt’ của các quan chức trong những chế độ độc tài CS để thấy điều tương phản. Mặt bọn chúng phúng phính toàn những mỡ, cằm nọng như heo. Cả bầy heo nầy đang bị nhốt vô chuồng vì bọn chúng lợi dụng đại dịch COVID-19 mà ăn tạp!

doanxuanthu

Phía dưới chân đèo

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

Chưa tới trưa mà nắng thiệt dữ. Nắng ghìm cây cối gục đầu chết trân. Sắc lửa trải thảm trên con đường nhựa, hừng hực lung linh bốc hơi quáng gà. Không ngóng ra ngoài thì thôi, ngó xong quay đầu vô con mắt như có phủ tấm màn đen, đồ vật trong quán biết trò trốn tìm, chạy nhảy giây lát mới chịu đứng yên chường rõ mặt. Hơn cả nhức mắt, nắng muốn nổ con ngươi.

Ông Chu than trời oán đất nãy giờ mà chẳng nghe Mạnh góp lời hưởng ứng, buồn tình dẹp mấy cái ly dơ mang đi rửa. Điệu bộ hằn học như thể giận ai, những cái ly thủy tinh kêu rít rát khi bị kỳ cọ. Con chó thủy chung vẫn nằm xuội lơ ở ngạch cửa, le lưỡi, mắt lim dim, bụng dạ thoi thóp theo nhịp thở.

– Trăm lần như một, nhờ có chút xíu mà đi đã ác ôn chưa! Có thấy con yêu tinh la cà ở mấy cửa hàng không?

Mạnh ngáp rộng miệng:

– Không.

– Con ni chắc đến tuổi rượng rồi. Biểu đi mua đường từ sáng mà giờ này vẫn mất đất biệt dạng.

Thau nước dơ được mang ra, sóng sánh. Đứng trước cửa, ông Chu khom mình dùng sức tạt hắt ra sân. Nước dội xuống đất, tưởng nghe được tiếng xèo đáp trả. Con chó kê mõm trên chân, vẫy đuôi ít cái.

– Thấy đàn ông trai tráng là con mắt sáng trưng lên. Đồ dịch vật. Bị thằng nào dụ mất rồi à?

Mạnh nhìn con ruồi bò loanh quanh trên bàn. Ly trà đá đổ mồ hôi làm tích tụ một vòng tròn đọng nước bên dưới. Mạnh nhúng ướt ngón tay vẽ bậy bạ lên mặt gỗ, những chữ đê em mờ đê em mờ chóng khô.

– Dầu gì thì nó cũng con ông. Rầy la kiểu đó, nghe được nó cũng nản về nhà.

– Nói nghe hay, chính vì con nên mới chửi mắng, chứ vợ hoặc mẹ thì cho tiền cũng không dám. Bộ ngu sao?

Ông Chu quăng cái thau nhựa vô góc quán, nó lăn từ tốn rồi nằm xuống ở góc như tuân thủ ý muốn chủ nhân.

– Làm thêm cái chi không?

– Khỏi, hết tiền rồi.

– Cho ký sổ đó.

– Không.

– Bữa ni ăn cái giải gì mà sật sừ như mất hồn.

– Ai? Tui hả? Có gì đâu. Trời nóng quá mà, không thấy sao?

– Ừ. Trời nóng. Mà tui cũng nóng ruột nóng gan. Cái con ni…

– Lan nó lớn rồi, nhỏ nhít gì mà lo toan.

– Phải. Nó lớn tồng ngồng, hủ mắm treo đầu giàn, quả bom nổ chậm, lo trắng con mắt chớ giỡn chơi sao!

Có tiếng động cơ khuất tất bên kia đồi gửi về. Một chiếc xe mang tiếng nổ nặng nhọc làm run rẩy những cành lá. Hai con chim sẻ từ cây trứng cá ít bóng dâm sà xuống sân ngó dáo dác. Chiêm chiếp bay đi khi ông Chu vắt chiếc khăn ướt ở vai trần ra đứng ngóng. Máy nổ lạch bạch, khói xanh đen từ xa đến gần.

– Ủa, xe lam từ chợ đã lên rồi à? Mới đó mà tiêu nửa ngày. Ôi chao, buôn với bán! Ế với ẩm. Con với cái. Trời với đất…

Quả nhiên là xe lam, nó bò chậm rãi như tốc độ là thứ nó chưa hề biết qua. Nó ho sặc máu để tới được sân đất, rung rung bộ dạng nhỏ thó để cho thằng lơ cầm cục gạch chêm sau bánh xe. Điệu bộ thuần thục nhuần nhuyễn y như nhà ảo thuật nhanh tay cất dấu một cục vàng ở chỗ khuất lấp. Xe yên vị nhưng máy vẫn nổ, cà xịch cà tang. Hai ba người đi xuống vặn vẹo tấm lưng mồ hôi làm ướt nhàu áo xống. Có mụ đàn bà đội nắng quàng xiên vào quán ông Chu:

– Nước đá bữa ni hiếm như vàng. Tui chặt cho ông một phần tư cây thôi.

– Thì tui cũng tính nói với chị hệt thế. Một phần tư cây e tiêu thụ cũng phải tới ngày mai.

– Mà giá cả thì có thay đổi chút chút đó nghe.

– Cái chi?

– Tui không ép. Một là một hai là hai. Còn dọt cho lẹ kẻo nó chảy mòn đi. Bán ba cái thứ này thiệt y như ngồi trên lửa. Tiền bạc mà chảy nước thì xót ruột xót gan.

Ông Chu lôi từ đâu ra một cây đại đao, lăm lăm ở tay cầm ngó bắt gớm. Một con dao bất bình thường, dùng chỉ để chặt nước đá. Thô kệch, dày nặng, đen đúa, lởm chởm những răng nhọn rỉ sét.

– Khẩn trương dữ không? Nghe tiền bạc chảy nước nên Ba tui lo.

Một đứa con gái từ ngoài bước vô. Mặt đỏ ké, mồ hôi bện ướt những sợi tóc mai.

– Không đi luôn cho tao nhờ…

Cây dao vung vẫy theo câu nói. Mặt đứa con gái tỉnh khô, như quen rồi. Mắt nhìn mụ đàn bà đi giao hàng đang hả miệng, xong dừng trên mặt Mạnh.

– Ba đừng có làm quá, có ngày tui cũng đi luôn mà không đợi ba đuổi.

– Mồ tổ mi. Vậy chứ đường đâu?

– Ba ra cửa hàng mà hỏi. Sắp hàng chầu chực bắt oải cuối cùng nói gọn bân: hết rồi. Thiệt là mất thì giờ vô lối!

Bà bán nước đá theo dõi, chen giọng vô:

– Cần đường hả? Lấy không? Sẵn tui mang vô một thể.

Ông Chu không nói. Ông nhìn con ông mà như mụ chủ chứa quan sát đứa con gái cùng đường ngày đầu lạc loài tới Bạch Mi sơn trang. Mắt hết đặt để vào ngực lại lộn xuống dòm eo trông mông. Đôi mắt chẳng khác mấy lưỡi dao răng cưa ông cầm.

– Mi có đi tìm gặp thằng Sáu bên hợp tác xã không?

– Chi vậy?

– Để lợi dụng nhờ vã hắn chứ chi. Lớn đầu mà ngu!

– Ba mới là người thiếu suy nghĩ. Bộ muốn dẹp tiệm sớm hay sao? Nay quan hệ thằng công an mai rù quến thằng hợp tác xã. Nhờ vã mà được à? Phải hợp đồng trao đổi linh tinh.

Mạnh đứng lên. Chiếc xe lam vẫn còn phun khói giữa sân. Tiếng máy nổ của xe đò thì hẳn phải rống to hơn bộn lần. Chưa có chiếc xe đò mang thằng Tân đến như giao hẹn. Con đường quốc lộ vắt ngang ngoài kia vẫn nằm thin thít dưới nắng chảy nhựa đường. Mạnh đi băng qua lối mòn uốn lượn giữa đồi cỏ tranh mọc cao ngang người. Cỏ sắc cạnh cọ quẹt làm ngứa da thịt và nó trả thiệt hại ấy bằng chút mát mẻ mà nó biết thu dấu trong lau lách. Nó xua đuổi nhiệt lượng đi bằng tất cả những sương đêm mà nó đã ra công tích tụ. Đám cỏ phồn thịnh sum suê này, một đêm trăng, Mạnh từng đứng co mình để làm thứ công việc khó chịu nhất: canh giữ sự an toàn cho Tân và Lan thổ lộ chuyện bí mật. Mạnh xao lãng ít nhiều trong nhiệm vụ được giao phó nhưng may mắn là chẳng có ai phát hiện. Cỏ tranh nó chỉ làm rách da tùy vô từng hạng người, tùy hoàn cảnh. Đôi nam nữ mình trần vật nhau lăn lộn chẳng nghe đứa nào than về nỗi xót xa bầm dập ấy. Da Lan nuột nà dưới ánh trăng. Đầu thằng Tân chởm đen như một con nhím linh động bò khắp người Lan. Những ngón tay Lan bấu vào hai tai, chủ động kéo đầu Tân lôi đi và đặt để những nơi nào Lan muốn. Hai chân Lan mở rộng rồi xoắn lại khóa thân đứa nằm trên đang đổ mồ hôi sôi nước mắt phun tinh dịch. Hắn cất cao đầu, rất mau, con nhím tái hiện vẻ cộc cằn: Địt mẹ, nãy giờ mày dòm lén tụi tao hả? Sau đám cỏ, Lan đang ngồi đái. Mạnh nghe tia nước vụt bắn xối xả, tưởng tượng một đám bọt đang sôi lên và hình dung khuôn mặt đỏ ké của lão Chu: Con đĩ ngựa, vác cái bụng bầu mà đi cho khuất mắt tao…

– Anh Mạnh… Anh Mạnh…

Mạnh ngoái đầu:

– Không sợ bị ông già bằm hay sao mà còn bỏ đi?

– Lan nói để thử nhờ anh Sáu mua đường giúp là ổng cho đi ngay.

Cả hai đi như chạy xuống triền cỏ đổ nghiêng ra quốc lộ. Lan reo lên ở những lần suýt trượt ngã, quơ tay bấu víu thân áo Mạnh.

– Vẫn chưa gặp anh Tân sao?

Mạnh không trả lời, tìm tay Lan đan ngón:

– Ông già có vẻ chịu thằng Sáu?

– Ổng nói thằng đó nghề nghiệp vững chắc, gia đình cách mạng, ổng ưa có một thằng rể như vậy.

– Lan tính sao?

– Lan thấy mình như con chim chưa mọc lông, tù túng quá. Lan ưa bay xa, ưa rời bỏ chỗ heo hút này. Anh Tân có gieo sự tin tưởng vào anh không?

– Dĩ nhiên. Ngoài Tân ra tôi đâu còn gì khác để hy vọng!

Những cánh hoa dại mọc lưa thưa dưới chân đồi. Những bánh cứt trâu khô cứng và những lon sắt rỉ sét méo mó nằm lăn lóc bên đường. Mạnh ngồi trên một trụ cột xi-măng sức mẻ cắm đầy dấu đạn. Cột sơn trắng đỏ, khắc nông ám hiệu 78 km. Chỉ ngần ấy cây số mà thành phố khuất lấp bên kia núi trông xa diệu vợi, tách bạch hẳn như một thế giới khác. Giờ này dóng cổ lên ngó, chỉ có nắng chỉ có mây và chút gió từ hướng biển thổi vào, mặn đắng. Chẳng có vệt màu nhấp nháy phản quang của khối sắt di chuyển, ngay cả tiếng động sật sừ vẳng lại từ lòng vòng chân đèo cũng chẳng nghe ra.

– Giả như bữa nay không gặp anh Tân thì sao anh?

– Thì đành phải ngậm đắng nuốt cay như hai bữa trước.

– Chắc là anh Tân gặp sự cố không may rồi.

– Thì ít ra nó nhờ ai nhắn gửi tới mình một lời để khỏi chờ đợi. Ngày nào cũng ra ngồi chờ có khi mà hoá đá.

– Hoá được à? Phải khắc phục chớ.

– Nó hứa hẹn gì với Lan không?

– Nói sẽ giải phóng Lan ra khỏi chốn đèo heo hút gió. Biểu Lan làm con buôn rày đây mai đó để khấm khá cuộc đời.

– Tôi bắt đầu nản rồi. Nó cũng nói với tôi hệt một luận điệu như vậy.

– Anh Mạnh, can đảm lên, phải nên thử thời vận một chuyến.

– Khi xưa những người nuôi mộng bình thiên hạ họ đi thỉnh quân sư ở trong núi cũng chỉ ba lần chứ mấy. Quá tam ba bận, Lan biết không?

– Khi xưa khác, giờ này khác. Anh đi mánh mung chớ đâu phải đi rước quân sư.

– Ừ mánh khác, quân sư khác.

Mạnh cúi đầu, giọng nhỏ tựa chẳng thốt nên lời. Lan cởi chiếc nón lá, gầm mặt sửa lại đoạn lụa làm quai cho thẳng thớm.

– Anh đừng làm Lan phải lo âu theo.

– Tôi có dọa dẫm chi tới Lan đâu nào.

– Anh quen anh Tân đã lâu chưa?

– Bạn học cũ. Sau bảy lăm hắn lặn đi đâu mất tiêu. Chú hắn có chiếc xe đò… cái ấy thì Lan biết rồi.

– Có thân nhau lắm không?

– Không thân. Lớp học đông vô kể, tính hắn lấc cấc. Hạp thì chẳng hạp nổi, thời đó…

– Tân lại nói với Lan kiểu khác. Hai người tình thâm như thủ túc, cùng yêu một người con gái, sau rốt anh Tân nhường người đó cho anh và anh mang ơn vì hành động cao thượng của anh Tân.

– Cũng gần giống với tiểu thuyết đó chớ. Cuốn truyện của Lan thì sao?

– Cái gì?

– Chuyện của Tân với Lan đó.

– Cả năm rồi. Chuyến xe đò của anh Tân cứ cách hai ba ngày lại tạt vô. Cơm sườn trà đá cà phê. Anh năng động, vui tính, ưa pha trò đùa giỡn và Lan… và…

Lan đội chiếc nón lại. Vành nón không còn lành lặn nhưng nó che khuất một gương mặt đang khóc thầm.

*

– Đù má mày. Việc gì mà tao phải tìm cách trốn tránh chớ?

Mạnh đưa mặt ra cho Tân xả óa. Hắn có quyền chửi nếu hắn còn giữ lời hứa. Một đứa bạn học cũ, một thằng lơ xe đò, hai thứ ấy chắc hẳn có sai biệt. Hắn đang biến tướng, mặt lem luốt bụi đường. Cau có phun sủa khạc nhổ e là cách để phủi bụi, để lấy lại thần sắc.

– Phải xâm mình thôi. Tao không cách chi kiếm cho mày tờ giấy phép đi đường.

Tân nhổ cục đờm xuống đất, quánh đặc một đốm vàng. Hắn có vẻ khát nước, sao không chạy vào quán ông Chu nốc một ly cối trà đá cho khoái người nhỉ? Da mặt hắn vằn vện như lính đang ngụy trang. Không, phải nói là một anh hùng lao động của cái cửa hàng chất đốt nào đó đang trong chiến dịch thi đua sản xuất vượt chỉ tiêu.

– Xâm kiểu nào đây?

– Mày nằm yên trên trần xe, phiá dưới này có động tĩnh gì hãy để tao tùy cơ ứng biến.

Mạnh nghe tiếng gà vịt la quang quát chộn rộn trên đầu chỗ đứng. Những giỏ cần xé mập ú lấn ra bên ngoài dễ giáng họa xuống cho mấy tên mộng du đi mất hồn bên hông xe. Tổ cha mày. Xâm mình kiểu gì kỳ lạ thế? Nói là cùi không sợ hủi thì nghe lọt lỗ tai hơn.

– Lạnh cẳng rồi hả? Quyết định đi, xe chạy liền bây giờ đó.

– Kể cũng lạnh cẳng thiệt. Mày có tấm bạt nào để tao đắp vào người không?

– Điên hả? Trời nóng thế này bộ muốn tự thiêu sao?

Tân dùng chân đá đá vào mấy cái vỏ xe đã mòn nhẵn gai. Hắn nói thầm thì điều gì tuồng đang đọc kinh. A di đà Phật. Mạnh lẩm nhẩm bốn chữ đó trong miệng. Tân thắp điếu thuốc, khoan khoái thở khói:

– Tùy mày. Như kiểu đánh ván bài xì-phé, đặt cược may rủi vào đỏ đen. Đừng hối hận, chớ nghĩ quàng. Suốt đời, cái tao vẫn sợ là bị nghi oan. Tức đến hộc máu mà chết.

Mạnh cười. Mai sau con Lan thình bụng cóc cũng không ai ngờ tới mày đâu. Mày đi một lèo “tới luôn bác tài”. Con Lan không thổ huyết thì thôi, mày có tư cách gì để hộc máu?

Ông chú của Tân gọi nó lại đằng mũi xe dặn dò nhỏ to. Tân trở lui và hai tay vặn vẹo tờ nhật báo. Gói trong đó là một bó hương. Mạnh nghe có tiếng eo éo của người đàn bà chỏ mỏ ra khung cửa xe:

– Thì đó, phải có tuồng có tích chớ. Chắc là chỉ có nước chán sống thôi, ai đời mà cắm đầu chạy u ra giữa đường để cho xe nó tông một cái độp. Nằm vật vã giật mình giật mẫy chi ít cái thì hồn lià khỏi xác. Ôi chao, nhắc lại mà da bắt nổi hột, nghe mấy anh lơ xe nói cô gái đó linh hơn một cái miễu… Thì bởi vậy, thắp một bó hương cho người ta là việc cần kíp của những người lấy đường dài làm bạn quanh năm bôn ba xuôi ngược.

Tân ngoắc tay biểu Mạnh bước theo phụ việc. Hắn đi xuống bờ mương khô hạn có những gò đất thấp cao như mộ hài nhi. Hắn đốt cháy tờ báo rồi dí cả bó hương vào đốm lửa bùng lớn. Khói hương xám xanh ẻo lả cuốn quanh thân hắn, mùi hương dằn vặt cà một không gian quạnh quẽ. Tân chia bó hương làm hai.

– Mày có tâm nguyện gì thì sẵn dịp cầu xin luôn.

Một con quạ bay tới đậu trên giây điện kêu ca vô cớ. Trong tất cả loài chim, có lẽ giọng của quạ khó nghe hơn cả, nó bắn ra thứ âm thanh rất khó chịu, chứa đầy bất an. Nó đen đúa và to lớn một cách dị thường, gần bằng một chú bồ câu hiền lành, thủng thẳng.

– Đi xa hơn một chút, cắm rãi rác một ít ở đằng kia.

– Cũng vậy thôi Tân à. Tao linh cảm có chuyện không hay.

– Mày chúa lộn xộn. Vậy thì hãy đợi chuyến sau, tao còn qua lại dài dài trên đường này.

– Khi tao cắm hương xuống đất, tao thấy mặt con Lan đầy cả máu, nó cười với tao và nói cám ơn.

– Đừng có tào lao đặt điều nhảm nhí.

– Mày hứa hẹn thề nguyền đủ điều sao không tìm cách vớt nó theo?

– Ôi dào, thằng này thật đa sự. Đa sự chỉ vì một đứa con gái. Nhiều kẻ có uy quyền chuyên môn hứa cuội thì đã chết con ma nào đâu? Đừng có cà chớn tao vất lại dọc đường cho biết thân.

– Con Lan nó tin tưởng vào mày dữ lắm. Một điều anh Tân hai điều anh Tân. Mai đây nó vác cái bụng bự chỉ đợi chiếc xe đò này chạy ngang là húc đầu vô thì…

– Địt mẹ mày, đồ ăn mắm ăn muối, đồ ăn cháo đá bát. Trù ẻo tới sinh kế người ta hả? Biết là của đứa nào chớ? Thằng Sáu hợp tác xã này. Thằng Mười công an này. Chưa kể đôi khi có bàn tay mày nhúng vô. Mày ngủ với nó rồi chứ gì?

Mạnh cúi đầu. Có đêm ông Chu bận đi họp chuyện cải tổ thương nghiệp làm ăn cá thể tập thể gì đó. Mạnh ghé quán tính mua chịu ít điếu thuốc lẻ. Lan đang tắm, nghe giọng Mạnh, ra mở cửa. Đầu tóc ướt mùi chanh và vùng thịt để trần nổi da gà tiết ra thứ nước mặn ngọt kích thích…

– Ngó cái mặt kià. Nói trúng tim đen rồi phải không? Thôi, chạy ra xe lẹ đi. Từ đây vô tuốt trong kia có cả vạn cái quán cơm, rồi mày sẽ thấy em nào em nấy ăn đứt con Lan, thơm như sầu riêng ngọt như măng cụt láng như vú sữa lởm chởm như chôm chôm và rít tay như múi mít.

Chiếc xe đề máy một hồi cứ không nổ. Khục khặc như ông già hết xí quách. Nắp ca-bô được mở lên, như miệng con cá mập chực nuốt thằng Tân đang bẻ cong người chúi đầu máy mó cái gì đó.

– Bà con cô bác chịu khó xuống xe mỗi người đẩy giúp cho một tay.

Hai ba gã đàn ông vặn vẹo chui người ra khỏi cửa hẹp bên hông xe nhảy xuống đất kêu lịch địch. Tất cả đều gồng mình dồn sức theo tiếng hò dô ta của thằng Tân luôn hô hoán.

– Anh Mạnh… Anh Mạnh…

– Mày nghe gì không Tân? Có ai vừa gọi tên tao.

– Nghe con qủy! Rán đẩy đi.

Mạnh ngó con đường, vắng tẻ, thênh thang. Phiá sau gò đất, những chân hương cắm tua tủa ở đó đã thôi cháy, tắt ngúm. Chiếc xe kềnh càng như có bàn tay vô hình nào chận lại làm mất trớn trì giật một cái. Tiếng máy hú lên, uất nghẹn. Khói đen phun từng cụm quánh đặc. Mọi người hớn hở trèo vào lại trong xe, chộn rộn.

– Tới luôn.

Bên triền đồi có bóng người lao xuống, cuống quýt như một hành khách chột dạ bị bỏ quên thôi ỉa đái. Muộn trễ rồi. Nếu biết môn khinh công chưa chắc kẻ chậm lụt kia đã chạy đuổi kịp. Mạnh quay đầu ngó thấy con dao chặt nước đá múa may loạn xạ.

– Ông Chu… Mạnh bật ra tiếng kêu.

Ông mặc bộ bà ba màu ngà nhăn nhúm, xộc xệch. Chân đất lượng sức chẳng so bì với xe cộ nên dồn sức để hét lên một tiếng lớn, tức tối. Mặt đỏ tiá tai vung tay lấy đà để ném cái vật đang cầm đó ra, cây dao chặt nước đá bay lưng chừng rồi rơi xuống đường, xẹt lửa. Bộ đồ ông mặc gieo cho người nhìn một cảm nhận: Ông là chiếc áo tang vừa đoạn lìa, bỏ cuộc, sớm rời khỏi xe; xe mang quan tài ngon trớn chạy về miền an nghỉ cuối cùng.

Hồ Đình Nghiêm

Nội y

http://www.art2all.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 13 Jan 2024

* Anh em như thủ túc, vợ chồng như y phục. (Ngạn ngữ Trung-hoa).

1.

Ở trang bià hồ sơ nhập viện, người ta ghi chú: Ty, Le Van. 48 tuổi. Phái tính: Nam. Gia cảnh: Độc thân. Địa chỉ nơi cư trú. Số điện thoại nhà và ở sở làm…

Rất nhiều tờ giấy kẹp bên trong: Giấy giới thiệu của các bác sĩ. Giấy chứng thực của trung tâm chuyên khoa phổi. Quang tuyến X. Hình chụp từ CT scan. Kết quả của hai lần thử nghiệm sự hô hấp. Mẫu máu, nước tiểu. Những xét đoán mơ hồ về căn bệnh ung thư… Tóm tắt, hồ sơ ấy có bề dày bằng bản thảo một cuốn tiểu thuyết khoảng hai trăm trang với những diễn tiến đầy rắc rối xảy ra giữa mười nhân vật: Bốn bác sĩ, năm y tá và một bệnh nhân.

– Bệnh nhân Le van Ty.

Một giọng nói cất lên, hơi lấn cấn khi đọc xong ba chữ ghi trên góc trang bià. Hành lang sáng đèn, nền gạch hoa trơn bóng như đang hứng phải nước mưa. Có thể nó làm cho âm thanh được đẩy đi xa. Có thể nó ngầm bảo, ở bệnh viện sự sạch sẽ là điều chính yếu. Máy lạnh không mở, nhưng giá rét từ đâu luôn lãng vãng, thầm lặng thổi qua.

Người đàn ông đứng lên từ hàng ghế đợi. Ba bệnh nhân khác hiếu kì ngó. Rồi họ sẽ được gọi tên. May mắn điểm danh hay thần chết chỉ mặt thì chẳng tài nào đoán được, mặc dù trước đó bác sĩ phẩu thuật đã đưa ra lời bình: “Mức độ nguy hiểm cho việc mổ xẻ khâu may chỉ leo lên tới lằn vạch 37 phần trăm thôi, chớ quan hoài”. Niềm tin vào y khoa hiện đại là thứ mà mọi người phải luôn thủ đắc trong tâm tưởng. Sợ hãi là điều phi lý! Vậy thì 63% còn lại có giúp người ta ngồi yên trên đò? Thuận buồm xuôi gió tới được bến bờ xa xăm? Cái bến bờ hằng xảy ra những hoạt cảnh chẳng lấy gì làm lí thú nhưng ai cũng thiết tha mong muốn đừng vội bỏ cuộc. Miếng cơm manh áo, tình thương yêu và sự bội phản. Từ một người có gia đình bỗng chốc thấy mình trơ trọi giữa xứ lạ. Họ phải học hỏi lại từ đầu những điều ấu trĩ nhất với cuốn cẩm nang: Phải cố gắng để không chết hai lần!

Y tá là người đàn bà có hơi đẩy đà. Bảng tên cài trước ngực lớn, nhô ra hàng chữ: Maria. Bệnh nhân Tỷ đọc thầm: “linh hồn con ớn lạnh!”

– Anh vào phòng kia tắm rửa với thứ dung dịch đựng trong lọ này rồi mặc vào người chiếc áo cột giây này. Trong phòng tắm có máng sẵn cái bao để đựng áo quần anh cởi ra. Họ sẽ chuyển nó lên phòng anh sau. Có hiểu tôi nói không?

– Hiểu.

– Cởi tất cả. Cởi tuốt luốt. Trần như nhộng. Chỉ cho phép mang đôi vớ thôi. OK?

– OK.

– Đưa tay đây.

Maria tròng vào cổ tay Tỷ một vòng nhựa, họ tên và những con số lòng thòng in đầy đủ trên đó, và có lẽ  nó sẽ bám theo Tỷ trên suốt những chặng đường phiêu dạt trong cái bệnh viện mênh mông này. Nó là tấm căn cước tạm thời, chứng thực sự hiện hữu của bệnh nhân Tỷ, chẳng có được sự lựa chọn nào khác.

Phòng tắm hơi nhỏ, cửa khép hờ với ngọn đèn vàng chôn sâu trong tường. Lỗ thoát nước dưới chân và nước còn lai láng chưa kịp bốc hơi. Như thế có nghĩa là một con bệnh nào đó mới vừa rời khỏi chỗ này, ra đi chưa được lâu. Hắn có thổi sáo mồm khi đứng dưới vòi sen không? Chắc chắn không. Đầu óc hắn lưu trữ hình ảnh người thân nào trong gia đình phút giây đó? Điều gì mang tới sức mạnh cho hắn? Bệnh nhân là đàn ông hay đàn bà? Tóc vàng, nâu, đen? Hay muối tiêu tựa Tỷ?

Mất năm phút cho việc tắm táp lẫn thay đổi xiêm y. Tỷ bước ra với chiếc áo kì cục luộm thuộm chẳng che kín lưng. Tựa như tấm khăn choàng mà người thợ hớt tóc thường phủ lên thân chủ trước khi động kéo động tông-đơ: Sao, chơi kiểu gì đây? Trọc, ba phân, hay nuôi dài chỉ tỉa mỏng?

Maria dòm, tỏ vẻ hài lòng.

– Ngồi đó đợi chút, người ta sẽ mang giường tới đẩy anh đi.

Tỷ ngó lên cái thánh giá màu nâu máng trên tường, cố nhìn ra khuôn mặt kẻ chịu đọa đày nhưng mơ hồ một hình khối đọng vào mắt. Tại sao ông ta bị đóng đinh vào thập tự? Tỷ không biết. Tại sao người ta cầm nó trong tay và ma quỉ sợ hãi che mặt khi bị dí cái hình tượng ấy lại gần? Tỷ nào hay. Nó là thứ bùa chú, ít ra gieo được niềm tín cẩn vào tâm hồn những kẻ ngoan đạo. Rồi con sẽ hưởng được phước lành từ ơn Chúa. Amen!

Bệnh nhân Tỷ thuộc tuýp hắc bạch giang hồ, phường ngoại đạo. Gia đình ở cố quận thờ cúng ông bà, mỗi năm làm dăm ba cái giỗ tưởng nhớ người khuất mặt. Và đó là dăm ba lần được ăn ngon khi nhang đèn vừa ngúm tàn nguội lạnh. Khung ảnh đen trắng ố vàng nước thuốc đứng chen vai trên bàn thờ nhìn xuống đám con cháu chen chúc tất bật xuýt xoa. Tỷ nhớ dường như ông bà cha mẹ khi khuất núi đều nhẹ gánh hành trang, họ ra đi không phải vì chứng bệnh ung thư. Họ có tuổi thọ khá cao và những người tới phúng điếu đều nói hệt nhau một câu: “Thôi, vậy là êm đẹp rồi! Giã từ cuộc đời này mà tựa như ngủ quên một giấc chẳng thèm mở mắt gượng dậy. Êm thắm không bút mực nào tả xiết! Tịch lặng như hoa rụng trong vườn khuya”.

Một chiếc giường có bốn bánh xe xuất hiện ở cửa thang máy. Người đẩy giường to lớn, mặc bộ đồ trắng mang giày thể thao Nike cũng màu trắng. Người và giường êm ả thoảng qua như một cơn gió. Ông ta chào bà Maria, nhận xấp giấy tờ kẹp ở bảng gỗ rồi gọi tên Tỷ. Nắng ở ô cửa gương đã giảm bớt sắc lửa. Lá xanh lao xao bên ngoài và Tỷ leo lên giường nằm ôm ấp xấp hồ sơ vừa đặt để trên bụng. Những bóng đèn néon bắt trên trần lùi dần. Tỷ nhắm mắt, cảm giác như ngồi co quắp trên ghe vượt biên ở một đêm nhiều sóng bạc đầu ngoài cửa biển. Sự may mắn của đêm ấy xảy ra đã quá lâu. Lâu đến độ quên mất hình khối của niềm sợ hãi khi đó mỗi lúc muốn hồi tưởng lại. Chòng chành, nghe từng tràng AK47 bắn vãi theo, léo nhéo lời nguyền rủa độc ác. Say sóng, nôn mữa, biến thành một con cá ương. Chỉ có bấy nhiêu là còn lưu giữ vào tiềm thức. Trí nhớ tựa tấm màn nhăn nhàu khép lại, buồn bã với bản án: Những kẻ phản bội tổ quốc!

2.

Màn đêm. Yên lặng. Khung cảnh đã khác trước. Tỷ mở mắt, những gì thu nhận vào nhãn quang đánh động lên não bộ, buộc phải đặt ra câu hỏi: Sự sống, cái chết. Cảnh giới này hoang đường hay hiện thực? Mù mờ, có thể cái miếng nhựa ụp vào miệng mũi truyền dưỡng khí làm hơi nước biến thành một màn sương mỏng vây quanh mặt Tỷ. Những con số xanh đỏ nhảy cách khoảng trên máy đo tim phổi, giây nhợ tiếp nối vào cơ thể đâm thốc tới động mạch tĩnh mạch. Toàn thân không có trọng lượng, tựa nó đã trải ra trên mặt nệm, chìm sâu. Tỷ nhớ lại những bóng đèn vàng bắt nhô ra trước mỗi phòng mổ. Đèn thắp sáng, có nghĩa là đang bận. Tỷ nằm chờ ngoài hành lang, đợi một bóng điện tắt. Y công sẽ mang đồ lỉnh kỉnh vào làm sạch gian phòng ấy trong khi có người tới xem xét lần cuối tập hồ sơ bệnh lý đặt trên bụng Tỷ. Họ ngó vào mặt Tỷ: Mày nói tiếng Pháp hay tiếng Anh? Có đeo răng giả không? Có chiếc răng nào đang lung lay? Rồi không đợi câu trả lời, người ấy tiếp: Mặt xanh dờn thế? Đang sợ té đái phải không? Này, tin moa đi. Ở đây mỗi ngày có khoảng mười lăm ca phẩu thuật và tất cả đều OK. Ông ta đưa bàn tay ra, giả làm con dao đi một đường trên ngực Tỷ: Sẽ như vậy đó, dài khoảng hai mươi lăm phân, họ sẽ lấy cái vật dư thừa nằm trước lá phổi mày. Thắc mắc làm chi cho ốm người!

Lòng Tỷ chẳng gợn niềm lo ngại nào cả. Đáp trả lại bằng nụ cười rộng miệng. Nụ cười mà những chuyên gia đã mất công khảo sát là muốn tươi tỉnh yêu đời như vậy con người phải huy động tới gần một trăm cơ bắp chằng chéo nơi mặt mày. Đời còn dài, cười được phút nào hay phút đó, dẫu có khi tai nghe trách cứ: Cười gì vô duyên vậy?  Cười hở mười cái răng!

3. 

Trời ơi! Oh, my God! Đã xảy ra cớ sự gì?

Đường đột. Tỷ cũng nén một tiếng hô hoán. Sylvie đứng dưới chân giường, như một người của quá vãng bỗng hiện ra, ma đưa lối qủi dẫn đường. Cả hai nhìn nhau, săm soi. Giường có nếp gấp ở giữa, nên Tỷ nằm mà tựa như đang ngồi, chông chênh, lấn cấn, ngượng ngùng. Khoảng cách của hai đứa là cái miếng gỗ bắt cứng vào giường làm mâm đựng thức ăn. Khay nhựa đặt để lên đó. Một hộp sữa loãng 2%. Một hộp nước cam. Khoai tây nghiền, miếng cá hấp, vài cọng đậu đũa luộc chín. Từ một người đứng máy sắp trang cắt xén sách trong nhà in Sylvie giờ này là kẻ mặc đồng phục bệnh viện và cô con gái hai mươi ba tuổi ngồn ngộn sức sống kia vừa mang thức ăn tới cho Tỷ. Chẳng có gì để nói. Phút giây ấy người ta bận hồi tưởng, người ta tự truy cứu lấy những đổi thay và chẳng tài nào họ bới tìm được một đáp số. Phải hỏi lấy nhau thôi, sau khi ngỡ ngàng đã rón rén rời đi. Mái tóc vàng cắt ngắn di chuyển lại gần, những nốt tàn nhan, cánh mũi thon cao, đôi môi hồng có hơi khô:

– Vẫn làm chỗ ấy?

– Vẫn.

– Sao vậy?

– Một hôm thức giấc thấy đau ở ngực. Đi rọi hình thấy ở lòng mình có đeo thêm một trái tim.

– Đừng đùa.

– Ừ. Một cục gì đấy lớn hơn trái chanh. Vậy đó, và họ quyết định lấy nó ra. Bác sĩ án chừng nó nằm trong ấy đã ba bốn năm, tăng trưởng khá nhanh, lấy sớm chừng nào tốt chừng ấy. Còn bạn?

– Boy friend làm y tá ở đây, nó kiếm giúp mình một việc làm ở khu nhà bếp. Tất cả đều tạm bợ. Bạn hiểu không? Tất cả đều chẳng mấy vui.

– Bao lâu rồi?

– Hơn ba tháng. Đi giao thức ăn và thường trực giáp mặt với bệnh nhân. Cuộc đời luôn buồn tẻ. Đúng vậy không?

– I don’t know. Có lẽ phải mang thương tích mới nhận thấy cuộc đời có đôi lúc đáng để sống thở, thụ hưởng.

– Vậy sao? Chưa bao giờ mình dám đặt chân vào khu tâm thần. Một bức tranh màu xám có khi còn nhìn ra vẻ đẹp. Mà thôi, mình phải đi đây. Bạn cần gì xin cứ nói.

– Cám ơn Sylvie.

– Ở khay chứa thức ăn có cây bút chì cùng tờ giấy in sẵn những món ăn. Bạn lựa chọn menu cho ngày mai bằng cách đánh dấu vào mỗi ô. Mai gặp. Take care yourself.

Tỷ muốn bắt tay nhưng khoảng cách chẳng mấy gần. Với người ra không chắc đã được. Vết thương còn nhức buốt. Tựa hồ một lưỡi kiếm đâm vào, chưa rút ra.

– Bai. Ngày mai.

Tỷ nói. Tỷ từng thốt ra những chữ ấy và có khi nó chẳng như ý. Một mai nào đó, Sylvie đã không trở lại. Những ngày tháng cũ, Sylvie đi và cô chẳng ngờ đã để lại ở Tỷ một sự hụt hẫng khó giải thích. Cái khoảng trống mà Tỷ tìm mọi cách cố lấp đầy, nguôi ngoai. Không phải dễ. Tỷ ngờ vực: Đó có phải là tình yêu?

Một bà y tá bước vào, tay cầm bốn năm ly giấy nhỏ đựng thuốc. Những viên thuốc hình dạng không đồng đều, màu sắc khác biệt. Thuốc chống nhiễm trùng, thuốc giảm đau, thuốc hồi phục sức khỏe, thuốc chống táo bón… Bà chờ Tỷ uống hết mới quay lưng rời đi. Một ngày cái việc uống thuốc kia sẽ tái diễn đến ba bốn bận, kể cả canh khuya. Họ nhẹ nhàng đánh thức Tỷ dậy, lấy gối kê lưng thận trọng dìu Tỷ ngồi lên, soi đèn pin, vỗ về như hình ảnh một người mẹ chăm sóc con thơ. Có người còn vạch chiếc áo ra để thăm dò đường kim mũi chỉ may chằng lên vết cắt. Họ ngó xuống dương vật Tỷ, đưa tay rờ thử cái ống gắn vào đấy có bị sút rời không. Tỷ cũng nhìn, cái ống cao su dẫn tới cuối đường là một bình nhựa chứa thứ dung dịch màu xanh pha trộn nước tiểu, lợn cợn máu chảy ngóc ngách qua từng tầng có vạch ngấc đánh số bên ngoài. Nó móc bên thành giường và đi đâu con bệnh phải xách nó theo, lủng lẳng, vật bất ly thân.

– Tốt đẹp cả. Bà y tá thầm thì. Tỷ cho đó là lời trấn an chẳng đúng lúc. Bởi cái bộ phận tiểu tiện của con cháu Adam kia đã biến dạng một cách kỳ cục, đầy thảm hại. Nó hệt cái vòi của chú voi con thu bé đến hết cỡ, mốc thếch và nhăn nhàu. Nó sẽ làm trò cười cho những cô sinh viên y khoa đi thực tập. Và đương nhiên, trong đầu óc mấy em sẽ mọc lên ý nghĩ: Bất hạnh thay nếu chúng ta lấy chồng gặp phải một ông anh “nhược tiểu” kiểu ấy!

Sylvie đã nhìn thấy nó. Nhưng cái động từ ngắm nhìn kia chia ở thì quá khứ, lúc chưa hoạn nạn thân bại danh liệt. Bấy giờ nó râu hùm mày én lưng hai tấc rộng thân mười thước cao. Nó đường bệ, hữu dõng, đích thực là chiếc cày sẵn sàng khai mở những vùng đất hoang để gieo mầm sống xuống. Sylvie biểu nó phải mặc áo và cuối cùng là lưng Tỷ có rất nhiều vết xước hằn in. Cuộc tình diễn ra không lâu, có vẻ tạm bợ. Nhớ về nó là nhớ tới một mặt nệm xộc xệch chăn chiếu, da Sylvie trắng muốt trong bóng mờ và cả hai nằm mơ màng với thứ trạng thái bải hoải một cách dễ chịu. Bye, ngày mai nhé. See you. Và một mai đã không trở lại. Những lúc làm tình quyết liệt, chú tâm, những thứ ấy chẳng khiến người ta đâm quyến luyến nhau sao? Quên biến một cách dễ dàng quá, như kì cọ rửa sạch một vết nhơ vừa bám trên da thịt. Tỷ không hiểu được, nằm mộng cũng chẳng ngờ.

4.

Mặt sau tờ giấy lựa chọn món ăn, Tỷ viết đầy đủ một cái địa chỉ. Tờ giấy vốn nhỏ, lớn gấp đôi bao thuốc lá, nên muốn chú thích thêm nó không còn chỗ để rườm lời. Nó tựa một tờ điện tín ngày xa xưa, thông thường lời nhắn nhủ in trên đó sẽ rất cô đọng. Ví dụ: “Con cần tiền. Gửi gấp cho 5000”. Hoặc: “Mai con về. Chuyến bay AC 1234. Đến lúc 5 giờ”. Hay: “Anh luôn nhớ em. Anh yêu em”.

Sylvie cầm tờ giấy, cô xếp đôi:

– Tôi còn giữ tấm ảnh chụp hai đứa mình đứng trước metro Atwater. Tôi sẽ cho họ xem.

– Em gái tôi rất hiếu khách. Nó học sư phạm ban Anh văn. Nó sẽ mừng vui khi gặp Sylvie, tôi nghĩ thế. Nó sẽ giúp bạn những thứ bạn cần. Đừng ngần ngại.

– Bao giờ xuất viện?

– Ngày mai, có lẽ vậy. Sáng sớm hôm nay bác sĩ đã làm cuộc trắc nghiệm, tôi đi bộ lên xuống xầu thang, vững chải, đạt yêu cầu. Chẳng có gì phàn nàn.

– Hy vọng mọi chuyện đều tốt đẹp.

Sylvie đưa tay sờ soạn vào ngực Tỷ. Ở đó người ta dùng những cái móc bằng kim loại để níu kéo vết mổ cho thực kín miệng. Chính những cái chân rết ấy làm da thịt hai bên phải chịu bầm tím, thoạt trông cứ ngỡ là ở ngực có bắt cái zipper, tiện cho việc đóng mở nhìn ngó vào bên trong. Một cái fermeture lạ đời chẳng sợ “đụng hàng”. Mười ngày sau, y tá sẽ dùng thứ kềm đặc biệt tháo gỡ từng cái ra, chùi thuốc khử trùng rồi cắt đi những gút thắt của sợi chỉ đen đâm tua tủa như râu loài chuột cống.

– Có nên báo cho người nhà bạn biết tình trạng này không?

– Chẳng ích gì. Bên đó con người luôn quần quật với những lo toan, đừng bắt họ phải chất thêm gánh nặng. Sylvie cho họ xem tấm ảnh. Đấy, nó vẫn tươi cười như thế, chẳng mảy may hư hao. Đi bao lâu?

– Hai tuần. Nhưng ở Viet-nam chỉ sáu ngày thôi.

Tỷ nhìn Sylvie. Da dẻ trắng ngần kia sẽ rám nắng miền nhiệt đới. Cô mặc áo thun, quần cụt, chân mang dép và rồi cô sẽ có được một tên gọi: Tây ba-lô. Thế nào đứa em Tỷ cũng dắt cô đi ăn bánh khoái, lên Kim-long thưởng thức món bánh ướt thịt nướng, xuống Gia-hội ăn bánh bột lọc bánh nậm mụ Đỏ. Và để giữ lời hứa, cô sẽ vô Thành-nội, đứng trước ngôi trường cũ của Tỷ để chụp hình. Ngôi trường như mộ huyệt, chôn dùm Tỷ biết bao kỉ niệm êm đềm. Có hồi sinh, hoán đổi được tiền kiếp cũng chẳng tài nào tìm lại nguyên vẹn cảnh sống đẹp đẽ kia. Tỷ tin chắc thế. Mỗi người chỉ có cho riêng mình một gian đoạn đáng sống, và đa phần đó là những ngày của quá khứ xa xăm, tuổi thơ ngây.

– Đủ sức để xuống cafeteria không?

– Sao không? Mình từng lội bộ xuống mua cà phê và journal. Đi lâng lâng như cỡi mây, thú vị lắm.

– Tốt. Tôi mời bạn, như một lời giã từ.

– Đợi tôi thay áo quần. Không lâu đâu.

Sylvie kéo màn vây bọc che lấy chiếc giường. Trong cái túi nylon có đánh số chứa đựng áo quần của bệnh nhân Tỷ, vô tình người ta đã đánh rơi đâu mất chiếc quần lót. Xóc xáo hoài chẳng thấy, cứ mãi loay hoay tìm. Sylvie nhìn cái vật thể bèo nhèo xấu xí của Tỷ. Nó chưa thực sự bình phục, họ giật cái vòi cao su rồi mang cái bình nhựa kì cục ấy đi đã bao lâu? Sao dung nhan cái vật nọ ngó tội nghiệp, có vẻ như bị tấy sưng bỏng rát? Sylvie mặc váy, một chiếc jupe không mấy bó và thật dễ cho cô khi cởi tuột nội y.

– Mặc tạm cái này đi.

Quần lót CK for her, bằng cotton màu xanh da trời. Chẳng có gì dị biệt. Và nó sạch, chắc thế, qua sự tự tin của Sylvie khi cô đưa nó tới tay Tỷ. Tròng vào chân với bàn tay giúp đỡ của khổ chủ. Vừa vặn, ấm áp dù phút đầu cảm thấy chút rợn cảm mọc vội lên da thịt. Tỷ ôm lấy Sylvie, lâu lắm rồi, nhưng Tỷ còn hít được, còn nhận ra thứ hương mùi rất đỗi trung thành từ cơ thể Sylvie. Bệnh viện nghiêm cấm nhân viên làm việc trong đó xức nước hoa, sợ gây dị ứng cho bệnh nhân. Nội quy ấy rất đáng hoan nghênh, cho nên Tỷ ngây ngất mùi da thịt của Sylvie. Nguyên chất, thực thụ, chẳng giả dối lừa gạt bằng mỹ phẩm.

– Tôi đổi ý định.

– Về chuyện gì?

– Tôi muốn đứng lặng như thế này thay vì đi uống cà phê.

– Tùy bạn. Nhưng người ta sẽ kéo màn ra, y tá sẽ mang thuốc vào và chúng ta sẽ thôi không còn được ôm nhau.

Quần jean Tỷ mặc là loại cài nút đồng, những năm khuy. Muốn gài kín Sylvie phải tốn khoảng hai phút và Tỷ đã tiêu khoảng thời gian ngắn kia bằng tất cả sự bồi hồi. Đứng chết trân, mường tượng tới những điều nhảm nhí.

Kéo màn ra, bệnh nhân nằm cạnh giường ngó Tỷ bằng đôi mắt đong đầy sự ganh tị. Thảng hoặc Tỷ thấy vợ ông ta vào thăm, vỗ về ông, đút thức ăn, rót nước, lau mặt, chải tóc, rồi một đôi khi cao hứng bà leo lên giường nằm “kể chuyện đời xưa”. Ông ta thuộc loại đẻ bọc điều, nhưng Tỷ hiểu niềm ganh tị kia phát sinh từ một cuộc so sánh: Ta đã già mất rồi, chẳng cơm cháo gì. Còn hắn? Ờ, với số tuổi đó ngày xưa ta chơi bời chết bỏ bể bỏ!

– Sau kỳ nghỉ hè, bạn còn trở lại làm việc ở đây không?

– Có thể. Chẳng ai biết chuyện ngày mai cả.

– Mỗi ba tháng tôi phải đến tái khám. Mong gặp lại bạn ở những lần ấy.

Sylvie im lặng, cô nắm tay Tỷ dẫn ra hành lang. Một người đàn bà bước đi khi chẳng mặc quần lót. Họ khó chịu hay dễ chịu với cái trống trải nhột nhạt?

– Thích gì ở Viet-nam? Tôi mua mang qua…

– Chẳng thích gì cả.

– Bao lâu rồi? Bạn có về thăm lại lần nào chưa?

– Gần ba mươi năm. Tôi không về. Có quá nhiều thay đổi và kì cục một điều là tôi ghét nhìn những đổi thay.

Cafeteria đông người, chật kín, lố nhố. Tỷ cũng ghét chuyện sắp hàng rồng rắn, chỉ để mua một cốc cà phê.

– Vậy thì thôi, tôi đi. Có thể mai sẽ vào thăm.

Môi Sylvie có hơi khô, như người tập thể hình ở gym đã lâu, như chạy bộ đường trường, như đang gặp vấn nạn lòng dạ rối bời. Muốn nó ướt, cũng dễ. Tỷ đặt môi hôn lên đó. Không lâu, Sylvie cúi đầu:

– Tôi không muốn James nhìn thấy. Anh ta làm việc ở quanh đây.

Ngoài sân chói nắng. Màu tóc vàng của Sylvie phản quang, hoa mắt. Tỷ ôm ngực, nếu cơ thể mọc thêm một trái tim, có lẽ Tỷ sẽ kháng cự đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ nó. Sẽ không vào bệnh viện, sẽ không phẫu thuật cắt bỏ, sẽ đau đớn ôm giữ lấy nó, dẫu nó chứa đựng toàn những mối tình dở dang.

 Hồ Đình Nghiêm