Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Bài 64

Phần 63

Đầu tháng Giêng năm 1979, trại Hàm Tân trải qua một cuộc học tập và thảo luận về việc “thủ đô Nam Vang được giải phóng khỏi tay bọn đồ tể Pon-Pot và Ieng-Xary”. Trong lần học tập này, Ban Giám Thị trại cũng hân hoan loan báo.
– Việt Nam và Kampuchea là hai nước anh em xã hội chủ nghĩa, vì thế chúng ta không bao giờ được phép để hai nước phải rơi vào tình trạng môi hở răng lạnh. Nhờ đảng, nhờ nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nhờ nhân dân Việt Nam tích cực giúp đỡ, ngày nay nước Kampuchea anh em đã thực sự thoát khỏi bàn tay diệt chủng của bọn đồ tể phản bội Pon-Pot và Ieng-Xary, được hưởng hòa bình tự do no ấm và hạnh phúc thực sự. Cũng như nước ta khi mới giải phóng, nước Kampuchea anh em hiện gặp một số khó khăn mà cơ bản là những khó khăn về kinh tế. Do vậy, trong tình thân ruột thịt thắm thiết, tình láng giềng tối lửa tắt đèn, Đảng nhà nước và nhân dân ta đã quyết định thắt lưng buộc bụng để có cái chi viện trợ giúp nước anh em trong cơn khó khăn. Hạt gạo hạt muối bây giờ ta lại phải cắn làm ba làm tư… Ban Giám Thị trại nêu rõ vấn đề để các anh em phạm nhân đừng lấy làm thắc mắc khi khẩu phần tinh bột của trại ta từ nay sẽ có giảm sút chút ít!… 
Tin nhân dân Kampuchea được “thực sự độc lập tự do, ấm no hạnh phúc” bỗng nhiên mờ hẳn đi trước tin khẩu phần tù bị cắt giảm khi ngày Tết ngày nhất vừa tới nơi. Những lời bàn Mao Tôn Cương tha hồ có dịp nổi lên. Và những lời bàn ấy còn nổi lên dữ dội hơn khi vào ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung cộng tiến quân cấp quân đoàn đánh vào các tỉnh biên giới dưới chiêu bài “dạy cho CSVN một bài học”. 
Bạch thư tố giác “chính sách bá quyền Trung Quốc và chủ nghĩa Sô-vanh của bọn phản động và phản bội” được Hà Nội ấn hành và tuyên truyền rùm beng đến tận cái xó xỉnh tù Hàm Tân này. Bọn tù một lần nữa được lôi lên hội trường để nghe cán bộ đảng khởi sự tố khổ người anh em Trung quốc vĩ đại, đồng thời cũng là bố nuôi của chúng trong suốt quá trình cuộc chiến tranh ăn cướp miền Nam tự do. 
Trong văn chương bình dân Việt Nam có nhiều kiểu chửi thật tuyệt vời, từ chuyện chửi gà chửi qué đến chuyện chửi chó chửi mèo; nhưng có lẽ đây là câu chuyện chửi nghe sướng nhất mà cả nước lần đầu được nghe, ấy là chuyện thằng con Hà Nội chửi bố Trung Quốc. Thôi thì hết xẩy! Thế giới tự do bỗng dưng không tốn một xu teng mà có ngày được cả một tập tài liệu đầy đủ nhất về những cái lươn lẹo, đểu cáng, những cái bất lương, bịp bợm, lưu manh… đã xảy ra trong suốt quá trình cuộc giao du của bọn anh em ruột thịt nhà cộng sản. 
Bọn tù, mới đầu nghe cha con chúng nó đánh nhau, rồi chửi nhau, rồi công khai vạch áo cho người xem lưng thì cũng lấy làm khoái. Tuy nhiên nghe riết, nghe cả tuần lễ bắt đầu đâm nhợn. Khi tụi nó khen nhau mình cũng phải nhắm mắt nhắm mũi mà khen để tránh tội phản động. Khi tụi nó chửi nhau mình cũng phải nhắm mắt nhắm mũi mà chửi kẻo mang tội Việt gian! 
Nhưng cuộc chửi bới dù có dài đến đâu cũng có lúc phải chấm dứt. Lần lên lớp sau cùng, tên tổng giám thị trại kết luận. 
– Đất nước ta mấy mươi năm chịu đựng gian khổ, vừa thoát ra khỏi sự thống trị bạo tàn của bè lũ Mỹ ngụy, cả nước đang như một con bệnh vừa phục hồi và khởi sự bắt tay vào công cuộc tái thiết đất nước, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa trên cả hai miền Nam Bắc, thì bọn phong kiến nghìn đời, bọn phản bội chủ nghĩa xã hội, tức bọn bành trướng Bắc Kinh, đã chạy theo lợi nhuận được đế quốc Mỹ chia chác, trở mặt xua quân đánh phá và xâm chiếm lãnh thổ biên giới miền Bắc nước ta. Tội ác của chúng đã phạm với nhân dân ta như lá trên rừng, như nước biển Đông. Mặc dù chúng đã bị quân dân ta quyết liệt đánh đuổi và đã dành lại từng tấc đất quê hương, nhưng thiệt hại chúng để lại đã không phải là nhỏ. 

Bọn tù bên dưới đều ngồi phỗng ra nghe cán bộ đảng tả oán. Rồi thì, cũng như lần trước, gần 1.600 tù đều hoảng hốt ra mặt với câu kết luận. Trọng tâm tái thiết và cấp dưỡng hiện nay của chính phủ ta là các cơ sở vật chất bị hư hoại, cũng như đồng bào sống ở các tỉnh biên giới bị bọn bành trướng Bắc Kinh tiến công khiến mất mùa đói kém. Để tích cực đóng góp vào chiến dịch lá lành đùm lá rách của nhà nước đưa ra trong giai đoạn hiện tại, trại ta sẽ nhất trí giảm khẩu phần ăn của mỗi người xuống thêm một chút nữa… 
Rốt cuộc, xét cho cùng, số phận tù đúng là “khóc cười theo vận nước nổi trôi”. Nhà nước cười mình cũng bị thắt ruột mà nhà nước khóc mình cũng bị buộc bụng. 
Bọn tù ai cũng than thở. Mới đầu năm đến nay chưa quá hai tháng mà nhà nước đã cười và khóc hai lần, chả hiểu hết quý đầu nhà nước còn phải cười khóc mấy phen nữa!? 
Khi vãn tuồng trời lại đổ mưa tầm tã. Có người đội mưa chạy về phòng, cũng có người tà tà ngồi lại với nhau trong hội trường đợi mưa tạnh. Bên cạnh những cái điếu cày, anh em kẻ thầm thì bàn tán, người cao giọng nói xa nói xôi. Thụy kỳ chung, mọi người từ trẻ đến già, ai cũng lấy làm khôi hài cho chuyện bố con nhà cộng sản Tàu Việt đánh nhau. 
Ông Đại móm, người từng giữ chức phó quản đốc trại cải huấn Đà Lạt, thường có lối Kiều lẩy thật duyên dáng trong những lúc đấu láo với bọn trẻ, xà tới hút nhờ điếu thuốc. Sau khi ngửa cổ nhả một hơi khói no nê, ông đảo mắt quan sát một vòng; lúc biết chắc chẳng có tay trật tự hay giám thị nào, ông mới cười khẩy đọc luôn một câu thơ. 
Từ trong gian khổ bước ra, 
Vươn vai một cái rồi ta… đi vào! 
Cả bọn chả hiểu câu thơ ấy ông lượm được ở đâu, hay trong lúc ngồi nghe cán bộ đảng tả oán, ông đã cao hứng sáng tác ra; nhưng trong hoàn cảnh này, bỗng dưng được nghe một ông già chịu chơi đọc một câu thơ mỉa mai chế độ có tầm đại pháo ấy ai cũng thích thú. 
Một anh chàng trẻ tuổi cười lên tiếng. 
– Khẩu phần bớt nữa chỉ ông Đại mừng! 
Ông già Đại lại nhe hai hàm răng toàn lợi của ông ra cho mọi người thưởng lãm, rồi ông cười đáp. 
– Đúng đấy. Các cậu còn trẻ cái gì cũng nhai được. Thằng già này dẫu được cách mạng nuôi ăn rất đầy đủ sơn hào hải vị, gan trời trứng trâu, nhưng chắc có ngày chầu ông bà vì bệnh chết đói! 
Nghe ông Đại than thở Vĩnh mới sực nhớ ra cái thảm cảnh gần đây của những ông già yếu răng hoặc đã rụng gần hết răng như ông Đại. Thực ra gọi là thảm cảnh cũng không lấy gì làm quá đáng. Từ đầu năm đến nay, chẳng những tù bị giảm khẩu phần tinh bột (còn độ 300 grs mỗi ngày!), mà ngay loại tinh bột cũng bị thay đổi. Trước kia tinh bột chính trại Hàm Tân cấp phát cho tù là khoai mì lát. Và dù ai cũng biết thứ thực phẩm này không ngon lành bổ béo gì, mà còn có thể có mầm mống nguy hại cho đường tiêu hóa, vì nó còn cả vỏ; nhưng trên phương diện nhét cho đầy bụng, thì món khoai mì lát hầm tương đối già trẻ còn có thể tiếp thu được một cách dễ dàng như nhau. Gần đây, món thực phẩm này chỉ còn được cấp phát vào bữa trưa, còn bữa chiều cấp phát ngô (bắp). 
Người bạn khi nãy nói đùa rằng khẩu phần càng sút giảm càng làm ông Đại mừng cũng có lý do của anh ta. Ngô, món thực phẩm mới là một món ăn rùng rợn! Bọn tù đều kinh ngạc không hiểu nổi nguồn gốc của những hạt ngô to như đốt ngón tay, cứng như sỏi, mày của nó dai và dày như thứ nylon tốt từ đâu mà ra. Nga? Tiệp Khắc? Ba Lan?… Không ai biết được! Chỉ biết khi những bao ngô được nhận từ kho hậu cần về, anh em trong đội anh nuôi vội vàng đổ hết vào những dãy thùng phuy đặt sau bếp. Họ đổ vôi và nước vào ngâm suốt đêm. Sức nóng hầm của vôi sống có thể làm rục xương một con bò nhưng đã chịu thua trước những hạt ngô của phe xã hội chủ nghĩa! Lúc khẩu phần ngô được phát đến tay bọn tù, nó không phải là những hạt ngô bung mềm mại, mà vẫn cứng như đá và lỳ lợm nằm ngủ trong lớp mày dày như áo giáp. Vì những hạt ngô bung như thế, ngoài bọn trẻ dám ngồi nhẫn nha nhai… cả đêm cho hết khẩu phần, kỳ dư các cụ cỡ ông Đại thì đành phải đầu hàng vô điều kiện. Vô điều kiện! 

Vĩnh hút xong mấy điếu thuốc đứng lên nhìn ra trời mưa. Kết thúc một chuỗi ngày nhồi sọ chính trị bằng một chiều mưa lòng bỗng lạnh và trống khôn cùng! Đời sống tuyệt mù khốn quẫn, thụ động và chán chường. Thốt nhiên Vĩnh lại nhớ đến những dặn lòng, những tính toán, những an ủi chính mình từ những ngày đầu tiên đi tù: Ta sẽ trở thành một phóng viên chiến trường hậu chiến! Và cho tới nay Vĩnh đã “làm phóng viên” được gần 45 tháng. Bốn mươi lăm tháng số phận của cả triệu tù nhân như những hòn đá rơi xuống vực sâu, âm u, biền biệt và có cơ mất tích luôn… 
Người ra đi thì biệt vô âm tín, người ở lại thì tù tội chung thân. Thốt nhiên một câu thơ của Lưu Vân trôi qua đầu làm Vĩnh cóng lạnh. 
… Có những người không sinh ra cùng một ngày, 
Mà chết cùng một giờ… 
Chả nhẽ số phận giống nòi Việt Nam thê thảm đến thế sao? 
Vĩnh lại xà vào những đám đông kiếm thêm bi thuốc. Hội trường lúc này đã vơi thêm nhiều người. Những tiểu ban chuyên môn đã bắt đầu làm việc trở lại nơi những dãy bàn cuối hội trường. Vĩnh để ý thấy nhà thơ Ninh Chữ, trưởng ban kiêm luôn nhân viên duy nhất của Ban Thống Kê đang ngồi ghi ghi chép chép trên một đống hồ sơ. Nơi căn phòng bên cánh trái sân khấu, dịch giả kiêm thầy đồ Nguyễn Quốc Hùng, đương kim trưởng ban Ban Trật Tự trại Hàm Tân cũng đang ngồi duyệt xét một đống giấy tờ trên mặt bàn… 
Cơn mưa bây giờ đã ngớt. Mới bốn giờ chiều mà trời đã âm u tối. Vĩnh phóng chạy thật nhanh ra ngoài sân. Anh men theo hàng hiên hội trường, rồi men theo hàng hiên bếp trại. Gặp một đôi người quen mặt đứng trong bếp nhìn ra. Ông trung tá Sâm – người giờ đây đã phải đi nạng vì chân trái của ông đã hoàn toàn bại xụi – thấy Vĩnh kêu ơi ới. Vĩnh trả lời cho qua chuyện và hứa sẽ cho ông một ít mỡ rồi phóng băng qua vuông sân chạy về nhà. 
Vừa chui vào chỗ nằm Vĩnh đã nhận ngay ra vẻ xôn xao nơi một số anh em. Anh Huy xà tới bên Vĩnh, nói ngay. 
– Cha Bộ bị bắt rồi! 
Vĩnh nhìn anh, hỏi lại. 
– Bị bắt là sao? 
– Nằm cachot rồi! 
Quả thực lòng Vĩnh không xúc động lắm khi nghe tin cha Bộ bị tụi nó tống vào cachot. Nhưng anh Huy thì khác. Anh có lẽ là người ở vào thế hệ cuối cùng của những người công giáo Việt Nam xem cha là Chúa. Đụng tới cha là đụng tới Chúa. Cái tinh thần này một phần đã tạo thành cá tính đặc thù của những người công giáo Việt Nam, đặc biệt ở những người công giáo di cư năm 1954. 
Tuy thế Vĩnh vẫn hỏi để biết cho rõ chuyện. 
– Mà sao vậy? Khi nãy tôi mới gặp ngài ngồi trên hội trường mà!? 
– Thì vậy. Nhưng sau khi tan hàng về phòng, Trật Tự đem lệnh Giám Thị xuống còng dẫn nhốt cachot rồi. 
Câu chuyện được anh Huy tiếp tục kể, theo đó Vĩnh được biết rằng cha Bộ bị nhốt cachot vì ngài đã hơi quá lạc quan trước viễn tượng sụp đổ của Hà Nội. Trong lúc đi lao động, ngài đã công khai tuyên bố với anh em cùng đội rằng, 30 tháng Tư tới đây ngài sẽ về dâng lễ tạ ơn chung cho mọi người tại nhà thờ Bình Triệu. Khổ cho ngài, đội trưởng Minh của ngài, một con chiên ngoan đạo và nghe nói hình như cũng từng một thời ở chủng viện, một chức sắc kỳ cựu của trại, có cái đầu sói bóng lộng, đã vì chức năng đội trưởng mà báo cáo câu nói phản động của vị linh mục lên Ban Giám Thị. 

Cha Bộ, liên tiếp mấy ngày qua đã nghỉ lao động và được gọi lên trình diện giám thị trực để trả lời về những câu thẩm cung của cách mạng. Hôm nay cha mới bị cùm vào khu biệt giam do bởi câu xác nhận của cha: Chính tôi đã nói câu ấy! 
Vĩnh ngồi lắng nghe anh Huy kể tự sự. Sau cùng anh hằn học kết luận. 
– Tôi không ngờ thằng Minh nó lại Judah như thế! Đến cha mà nó cũng… 
Rồi thì trước khi bỏ đi, anh nói câu cuối. Chúng nó khám đồ của cha lấy mất hộp đựng Mình Thánh Chúa rồi. Tuần trước tôi mới chuyển cho cha gần một trăm bánh thánh. Cha giữ giờ mất cả. Khổ quá! 
Vĩnh mệt mỏi ngả người xuống sạp gỗ. Vào giờ này anh em đã bắt đầu sửa soạn nồi niêu và những thực phẩm cho việc nấu nướng ban chiều. Những người “nghèo” thì nằm khoèo chờ khẩu phần ngô bung xã hội chủ nghĩa hiện đã có cái tên mới là ngô “Vỏ Nguyên Giáp”, tức ngô còn nguyên lớp mày cứng như cái áo giáp bọc ngoài. 
Chiều nay Vĩnh chẳng lý gì tới chuyện bếp núc. Tất cả giao khoán cho đám Ý, Huy và Điểu lo. Anh nằm nghĩ ngợi với một cái đầu trống rỗng. Hình ảnh ông luật sư Lê Quốc Việt vẫn như mọi chiều xuất hiện trong tầm nhìn của Vĩnh. Ông đang rón rén chiết ra khỏi keo chao tí mỡ, rón rén múc ra khỏi lọ tí mắm ruốc, rón rén moi ra khỏi bao vắt mì rồi rón rén bưng nồi chạy ra sau bếp với mấy thanh củi nhỏ kẹp nơi nách. Hoặc hình ảnh của đội trưởng Lễ. Trong lúc ngồi sắp xếp những cái cần cho một cuộc nấu nướng, đôi mắt hắn vẫn đảo nhanh chung quanh như sợ có kẻ thình lình đánh vào gáy mình… Cũng nằm nơi đây, trong bóng chiều nhá nhem đang đổ xuống khung cửa sổ còn ướt nước mưa, có lúc Vĩnh nghe thấy những bước chân chạy rầm rập phía ngoài, những tiếng la hét báo động. 
– Mưa nữa! 
– Chạy! 
– Coi chừng đổ cái nồi! 
– Kéo mớ củi vào! Kéo mớ củi vào! Ướt hết! 
Đó là những tiếng la hét của những người đang tranh thủ thời gian còn lại của buổi chiều để nấu một nồi mì, một nồi nui hay bất cứ cái gì mà họ có thể nấu được, để nhét cho đầy bụng trong bữa ăn tối. Cũng có lúc đầu óc Vĩnh lại trôi dạt về phía hội trường, lại nghe rõ mồn một tiếng tố khổ “người anh em ruột thịt Trung quốc” của tên tổng giám thị. Cũng có lúc Vĩnh nhìn sang phía đối diện với cái đầu tỉnh táo hơn. Anh thấy ông đội phó Thuận, người mà ngày nay Vĩnh đã biết rõ hơn về tiểu sử, rằng ông có bút hiệu Châu Sơn khi soạn sách giáo khoa Việt văn và bút hiệu Thái Vị Thủy khi cao hứng làm thơ. Quả thật ở với nhau một thời gian rồi, ấy thế mà Vĩnh chưa có dịp nào trò chuyện với ông đội phó cả. Ông xuất hiện trong đội 17 này như một người thật cô đơn. Hàng ngày ông lao động vừa phải, hình như pha chút mệt mỏi; từ ngày ông về đây, phải thú nhận ông chưa hề làm một điều gì phật lòng anh em cả. Thế nhưng ông vẫn cô đơn và anh em vẫn chưa ai bắt chuyện tâm tình với ông. Có lẽ đây là sự công hiệu của những cái tin do những người cũ nơi đây bắn qua: Coi chừng, tổ sư bồ đề đấy! 
Vĩnh nằm nhìn ông Thuận. Quả trong lòng Vĩnh không hề có tí ác cảm nào với ông. Rất có thể Vĩnh chưa bị đứt tay nên chưa thấy xót? Nhưng Vĩnh biết chắc chắn một điều, đối với ông đội phó ít khi nấu nướng linh tinh, không chơi thân với ai, rất chịu khó đọc sách cách mạng và rất năng ghi chép những gì hay đọc được trong sách, Vĩnh chả hề có một cảm giác e ngại nào. Chưa tiện dịp để mà bắt chuyện với nhau đấy thôi. 
Nhớ tháng trước, lúc trại còn cho mượn sách đọc, trưa nào đi lao động về ông Thuận cũng xếp hàng đứng chờ người kéo xe chở sách đi qua để mượn cho bằng được vài cuốn. Đội 17 hình như chỉ có ba người thường mượn sách đọc. Người thứ nhất là ông Thuận. Người thứ hai là anh Huy. Người thứ ba là người điên Trương Hồng. Cũng có đôi lần Vĩnh tự nhủ, muốn đánh cộng sản phải hiểu rõ cộng sản về cả hai mặt tri và hành của chúng. Sống dưới nách chúng tức nghiễm nhiên được hấp thụ kiến thức về sự hành của chúng; còn muốn biết chúng tri cái gì thì không gì bằng siêng đọc sách của chúng viết. Biết thế, nhưng trưa đi lao động về, phải nối đuôi nhau xếp hàng dưới trời nắng, chờ cái xe cải tiến chở đầy sách đi tới trước hàng rào nơi khu mình ở, để ghi tên mượn được quyển sách, vài ba lần khiến Vĩnh phát mệt và đâm chán. Chỉ có ba vị trên của đội 17 là trung thành với việc đọc sách mà thôi. Gần đây, việc xếp hàng mượn sách đã chấm dứt, vì ban giám thị trại đã thông báo rằng: cách mạng cho các anh mượn sách đọc nhằm bồi dưỡng tinh thần các anh về mặt tư tưởng của xã hội mới; nhưng qua theo dõi và nghiên cứu, Ban Giám Thị thấy rằng hầu như những người năng mượn sách không đọc với tinh thần học hỏi, mà đã đọc với tinh thần bới lông tìm vết, tìm những cái sơ hở của các tác giả cách mạng để đặt điều xuyên tạc công kích… 

Từ ngày cách mạng hoảng hốt cấm không cho tù đọc cả sách do chính cách mạng viết ra, ông Thuận càng năng ghi chép hơn nữa. Đã nhiều lần Vĩnh dặn lòng sẽ bắt tay anh già xồn xồn này xem anh ta nghiên cứu gì về Mác-Lê mà ghê thế!? 
Rồi thì buổi chiều đã thật sự ập xuống. Mưa đã tạnh hẳn. Ngoài sân trại, những người trực lãnh phần ăn cho các đội từ bếp chạy về với những thau ngô vàng au. Bóng những chiếc áo vàng của bọn giám thị có trật tự đi theo đã chập chờn đó đây. Chúng kiểm soát ngoài khu bếp, hò hét vài ba anh tù nấu nướng sai chỗ quy định, hoặc chận hỏi một người mà chúng tình nghi đang tìm cách liên hệ linh tinh với một người khác nhà khác đội ngoài sân. 
Tiếng kẻng tắt lửa và tập họp điểm danh đã vang lên. Nồi mì to tướng của đám Vĩnh đã được anh Huy khệ nệ khuân vào đặt ngay chỗ nằm của anh. Vĩnh ngó sang khu nhà 2 và 3. Bên đó họ điểm danh xong và từng cặp từng cặp đang nối đuôi nhau lặng lẽ chui vào chuồng trước nhiều cặp mắt cú vọ của bọn cai tù và trật tự. Một tiếng la lớn ngay ngoài cửa nhà 5 cất lên. Vĩnh nhận ra khuôn mặt quen thuộc của anh chàng trật tự. Anh phóng vào phòng, du người lên tầng trên xem có ai còn nằm nướng hay không, miệng hét inh ỏi. 
– Ra hết! Ra hết! Ốm đau gì cũng phải ra điểm danh hết! 
Câu hét quen thuộc ấy nghe đã nhàm nhưng chẳng ai mà không tuân theo. Vĩnh rời khỏi bục nằm và nối đuôi anh em ra ngoài vuông sân bên hông phòng…




Người đi tiên phong

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 27 Nov 2016 

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Tôi và V. ngồi ở ban-công lầu hai khách sạn Sông Thương trên đường Đào Duy Anh, nhìn xuống đường. Giờ nầy, con đường hơi vắng, không xe cô ồn ào như trong giờ cao điểm.

Chỉ xuống một bóng người ngồi bên kia đường, V. nói với tôi:

_ “Đó! Danh ca của anh đó!”

Tôi nhớ đã mấy lần tôi nghe tiếng hát đó, từ phía dưới đường vẳng lại, trong khi tôi còn ngủ mơ màng. Nghe nhạc, mà nghe trong giấc ngủ mơ màng, là điều tôi từng thích, khi còn trẻ.

Hồi ấy, không có phương tiện âm thanh dồi dào như bây giờ. Nhà nào có radio điện đã là khó. Khu vực ngoại ô tôi ở hồi ấy chưa có điện, radio transistor chưa ra đời, thành ra, mỗi buổi sáng, khi tôi còn ngủ mơ màng, nghe tiếng hát, chính là tiếng hát cô em gái tôi. Em tôi thường dậy sớm, đang làm một công việc gì đó, quét nhà hay dọn dẹp mùng mền, vừa làm vừa hát – con nhỏ thích hát – dù hay hay dở, giọng hát trẻ bao giờ nghe cũng dễ nghe. Đầu thập niên 1950, bài hát chưa có nhiều, quanh đi quẩn lại, cũng chỉ những bài quen thuộc. “Đời lạnh lùng trôi theo dòng nước mắt”, hoặc là “Người ơi! Nhớ chăng, mắt cô lái nhìn theo là lòng dân chờ mong” hay “Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối”…

Nhà tôi ở là nhà từ đường. Bát nhang trên bàn thờ nhiều hơn người trong nhà, nên trong cái vắng lặng của buổi sớm mai, trong cái lành lạnh của hơi nước sông Thạch Hãn kế bên nhà bay lên, trong cái âm u của hồn ma bóng quế đang lấp ló đâu đó sau những bức rèm trước bàn thờ, tôi cảm nhận cái hay của âm nhạc một cách dễ dàng, trong cơn ngủ muộn, vừa thấm đậm vừa buồn, như ăn sâu vào tuổi niên thiếu của tôi.

Tôi có mê nhạc cũng không có gì lạ cả. Ấy là chưa kể, cái tính mê ca hát, từ nơi mẹ tôi ảnh hưởng đến tôi – mẹ tôi thường ca Huế, nghêu ngao mỗi khi mẹ tôi rảnh rổi – ấy là chưa kể ông cậu họ tôi, là một người nổi tiếng vui thú cầm ca trên sông Hương ở đất Thần kinh.

Một lúc sau, tôi nói với V.:

_ “Con nhỏ hát hay lắm đó!”

Quả thật, cái bóng nhỏ nhoi ngồi bên kia đường là một con nhỏ, một con nhỏ mù bẩm sinh. Nó ngồi bên kia đường, sau một cái thùng gỗ, có thể là cái võ bằng gỗ đựng bia chai. Trên cái thùng gỗ là những tấm vé số được chưng bày theo hàng lối ngang dọc đẹp mắt. Phía sau nó là một cây đàn “ghita” thùng, dựng vào bờ tường rào ngôi nhà phía trong.

Đầu nó đội cái nón lá hơi cũ, chưa đến nỗi rách bươm như người ta thường thấy ở mấy người ăn mày. Trên mình là chiếc áo sơ mi tay lững, màu xanh biển, quần đen, có lẽ quần ta.

Một lúc, tôi nói với V.:

_ “Em chê anh nói sai à? Nó hát như một danh ca.”

_ “Không! Em không nói vậy. Cả khu nầy, ai cũng khen nó hát hay, hay lắm.” V. trả lời.

_ “Làm ca sĩ, người ta cần có một là giọng, hai là hơi và ba là gì, em biết không?”

_ “Ba là cái hồn trong câu hát. Hát mà vô hồn thì ai nghe!”

_ “Hồn là sự xúc cảm của người hát, có hồn mới có truyền cảm. Có người hát tự nhiên mà có hồn, có xúc cảm, như Sĩ Phú chẳng hạn, phải không?” Tôi hỏi V.

_ “Còn anh nghĩ Khánh Ly, Lệ Thu thì sao?”

_ “Hồi trước, báo chí Saigon nhận xét, Khánh Ly “hát từ nơi miệng”, Lệ Thu thì hát từ trong bụng”. Vậy mà người nào hát cũng hay.”

_ “Khánh Ly chỉ hay khi hát Trịnh Công Sơn.” V. nói.

_ “Có lần tổng thống Thiệu cũng nói vậy. Nhạc Trịnh Công Sơn mà lên là nhờ Khánh Ly.”

_ “Tổng thống mà cũng mê nhạc dữ!” V. nói.

_ “Cả miền Nam, riêng gì ổng. Trước 1975, cả miền Nam ai cũng mê nhạc, nhạc lính, nhạc tình, nhạc Bolero.”

_ “Con nhỏ nầy nó hát Bolero hay lắm. Anh có để ý không?” V. hỏi.

_ “Hôm qua nó hát mấy bài của “vua Bolero”: “Trên bốn vùng chiến thuật”, “Kẻ ở miền xa”, “Đò Chiều” làm anh nhớ hồi còn ở lính. “Áo nhà binh thương lính, lính thương quê”. Không biết Trúc Phương có ở lính không mà ông viết hay vậy, đúng tâm trạng người lính.”

_ “Hôm ông qua đời, báo chí ở đây mai mỉa ông “đi chuyến “Đò Chiều”. Hận thù chi mà lâu dữ.” V. nhắc lại chuyện cũ.

_ “Người ta dạy như vậy mà. Còn chế độ thì còn hận thù. Hận thù không còn thì chế độ cũng “đi đoong”. Họ không mai mỉa người nhạc sĩ chống lại chế độ sao được, dù chống bằng âm nhạc.” Tôi nói.

_ “Bằng tình thương mới là nguy hiểm.” Tôi nói thêm.

_ “Trước thì vậy! Bây giờ hát tùm lum. Đài nào, văn nghệ nào, không có nhạc vàng, ai mà nghe.” V. nhận xét.

_ “Có hai điều cần nói: “Nhạc vàng là nhạc của dân miền Nam, nói chung. Phần đông, ai cũng thích nhạc vàng, ai cũng hát nhạc vàng, ngoại trừ số người già, người ở quê thích cải lương. Nhạc vàng, cải lương, tính giai cấp tiểu tư sản cũng như nhau, ngoại trừ một số nhỏ, bần nông, cố nông mới không ưa thứ văn nghệ nầy. Người Bắc vô Nam, sau 1975, ban đầu thì tuyên truyền, vì bản chất nông dân vô sản, chê nhạc vàng, chê quần ống loe, coi như “ngon lành” lắm, nhưng rồi càng ngày càng khá lên, giàu lên, càng mở rộng nhãn quan xã hội, hoặc có khi “thừa cơm rửng mỡ”, “phú quí sinh lễ nghĩa”, đâm ra thích nhạc vàng. Không nghe nhạc vàng là còn “quê Bắc Kỳ” đó, phải không? Bây giờ mà không nghe nhạc vàng thì nghe gì? Không lý nghe “Như có bác Hồ…”

Nghe câu chót, tôi và V. cùng cười.

_ “Ca sĩ hải ngoại bây giờ về nước hát nhiều lắm!” V. nói

_ “Về là phải!” Tôi tán thành.

_ “Anh nói nghe lạ! Không phải bên Mỹ người ta chống dữ lắm?”

_ “Chống chớ! Anh thì không?” Tôi nói.

_ “Anh nói kỳ! Không lý đầu hàng?” V. nói.

-Vấn đề nầy có hai mặt: Một là về kiếm ăn, là “đầu hàng”. Hát trong nước, “cachet” cao hơn. Hai là về với tinh thần…” Tôi nói.

_ “Tinh thần gì?” V. hỏi.

_ “Em nhớ vụ “Nhân Văn” ngoài Bắc hồi trước không? Mấy chả kéo nhau đi ở tù hết, nhưng cái dư âm của nó đến bây giờ chưa dứt. Họ đúng là những người “Nay ở trong thơ nên có thép” như Hồ Chí Minh nói vậy. Nhưng thép đó lại đâm vào chế độ Hà Nội.

_ “Còn bây giờ?” V. hỏi

_ “Với những người về nước kiếm ăn hay những người trong nước ra với “nghị quyết 36” thì không nói. Còn những ai cho rằng tiếng hát của mình có thép thì anh hoan hô.”

_ “Tiếng hát có thép là sao?” V. hỏi.

–“Việt Nam tôi đâu?” không phải là thép sao? “Hãy đứng lên” không phải là thép sao? Thép trong nước và thép hải ngoại đứng chung một giới tuyến thì thành cái gì? Chế độ không sợ sao?” Tôi giải thích.

_ “Anh nói vậy thì em hiểu! Nhưng khó lắm.” V. nói

_ “Không những khó mà phải trường kỳ, cam đảm, không biết sợ. Thời “Nhân văn” khó hơn bây giờ, dễ sợ hơn bây giờ, như ông Nguyễn Hữu Đang là cái gương đấy. Có người sẽ như họ, can đảm hơn họ, không “biết hèn” như Nguyễn Tuân. Theo đó thì ca sĩ, nghệ sĩ là người tiên phong vậy!” Tôi nói.

_ “Võ khí của họ là tiếng hát. Họ hát gì?” V. hỏi.

_ “Họ hát như Việt Khang vậy. Nếu chưa hát được như Việt Khang thì họ hát “Bạch Đằng Giang”, “Bóng cờ lau” thậm chí cả “Dòng Sông Hát”, những bài ca lịch sử,  hoặc có bài mới soạn, khi phổ biến tràn lan, nhà cầm quyền với hiểu, mới cấm, cũng đã trễ. Hy vọng đến một lúc nào đó, không chỉ ca sĩ hát mà thanh niên cũng hát, ca đoàn cũng hát, công nhân cũng hát, nông dân cũng hát thì chính quyền có cấm cũng không cấm được nữa, không kiểm soát nổi. “Đồng thanh tương ứng” mà.

_ “Anh hơi lạc quan phải không?” V. hỏi.

_ “Cũng có thể, nhưng một lúc nào đó, hy vọng không xa, nó sẽ tới. Sự sụp đổ của một chế độ, phong kiến, đế chế, quân chủ, độc tài… là từ trong lòng chế độ ấy, không phải từ bên ngoài…”

***

Bỗng tôi hỏi V.

_ “Con nhỏ nầy hát toàn nhạc vàng, phải không?

_ “Không thì ai mà nghe! Người ta nghe đông lắm, nhất là khi nó hát Bolero.”

_ “Công An không bắt?” Tôi hỏi.

_ “Công An cũng nghe, bắt gì!” V. trả lời.

_ “Cũng là một “vai trò” đấy. Chế độ đành bất lực, càng ngày càng bất lực.” Tôi lên tiếng.

_ “Cứ cái đà Bolero nầy, nó sẽ “khuấy động” cả miền Nam cho mà coi, không chừng cả miền Bắc nữa, chế độ sẽ không yên với cái thép Bolero nầy đâu!” Tôi giải thích.

_ “Sao vây? V. hỏi.

_ “Em biết không? Bolero là âm nhạc của miền Nam, nó phát triển sâu rộng – vừa sâu vừa rộng – khắp cả miền Nam, bất phân già trẻ, đàn ông, đàn bà, thành thị thôn quê. Điệu nhạc du dương, êm đềm, nhẹ nhàng ấy sẽ là một vũ khí mạnh mẽ, chế độ không làm gì được đấy. “Nhu thắng cương” là vậy.” Tôi nói.

_ “Anh nghĩ “Nước chảy đá mòn.” Mà sao điệu Bolero phổ biến như vậy anh?” V. hỏi.

_ “Công của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đó.” Tôi giải thích.

_ “Anh nói em không hiểu. Em không nghĩ cụ Diệm là người ưa âm nhạc mới. Âm nhạc cải cách.” V. nói.

_ “Đúng đấy! Thởi ông làm tổng thống, ổng cấm “Tư đổ tường.” Tôi nói.

_ “Tứ đổ tường là gì?” V. lại hỏi.

_ “Em không hiểu là phải, lúc ấy, “Năm anh hai mươi, em mới sinh ra đời” mà.” Tôi cười nhìn V. và nói.

_ “Thôi đừng giởn nữa. Anh giải thích đi. Em muốn biết đây.” Vừa cười, V. vừa cằn nhằn.

_ “Như thế nầy. Tổng thống là cụ đồ Nho, đạo đức Nho phong dữ lắm nên ra lệnh cấm “hút xách, cờ bạc, đĩ điếm, rượu chè. Bốn thứ là “tứ”. Nhảy đầm cũng bị cấm, trai gái ôm nhau mà nhảy là gai mắt cụ, phạm “thuần phong mỹ tục” nên cụ cấm.” Tôi giải thích.

_ “Nhạc Bolero cũng là nhạc nhảy đầm?’ V. hỏi.

_ “Em từng nhảy đầm mà hỏi trật lất. Valse, tango, blue mới nhảy đầm. Khi vũ trường bị cấm, âm nhạc bèn “xuống đường”. Nhạc “xuống đường” đâu có thể là nhạc vũ trường. Với lại thời bấy giờ hòa bình, giáo dục, âm nhạc, nghệ thuật, văn học đều phát triển thì nhạc ở nơi công cộng phải là Bolero chớ! Bolero là âm nhạc của đường phố”.

Một lúc sau, tôi nói tiếp:

_ “Nhạc cổ điển thì mạnh ở châu Âu, nhạc nhảy đầm nơi công chúng đông đảo, giữa trời nắng chang chang, là âm nhạc của Nam Mỹ. Người Mỹ họ gọi những bữa ăn ngoài trời, thường nướng thịt bò, khoai Tây là “cook out”. “Cúc ao” là vừa ăn, vừa nhảy đầm giữa trời. Cảnh nầy anh chỉ đọc trong sách với nghe nói. Thấy thì thấy trong phim “Giant”, có diễn cảnh đó.

_ “Rồi mình bắt chước?” V. hỏi.

_ “Nhạc Tây phương thì nhạc sĩ mình bắt chước. Nhưng nhạc sĩ miền Nam hồi xưa khéo lắm. Họ dùng điệu Bolero của Nam Mỹ, nhưng người “Mếc-xì-cô” họ hát nhanh, mình chơi chậm lại, chậm là vì tâm hồn người Việt mình. Người Tây phương thì sôi nổi, cuồng nhiệt; người Việt mình thì trầm lắng, êm đềm, nhẹ nhàng, dễ diễn tả tâm hồn người Việt. Thiệt tài tình.”

***

Tôi nói:

_ “Anh hỏi hơi tò mò một chút. Con nhỏ “danh ca” có cha mẹ không. Chồng nó đâu?”

_ “Cha mẹ mất ở Kinh Tế Mới. Người ta đưa nó về Trường Mù khi nó mới năm, bảy tuổi gì đó.” V. giải thích.

_ “Rồi có chồng?” Tôi hỏi.

_ “Thằng chồng nó cũng con mồ côi, quê đâu ở miền Tây. Cả hai đều mê âm nhạc. Khi thằng chồng cùng bạn bè tới biểu diễn ở trường mù, anh chị phải lòng nhau. Con nhỏ bỏ trường đi theo. Hồi đó hai đứa có cái xe “loa”. Con vợ đẩy xe, chồng bán vé số dọc đường phố. Được một năm, thằng chồng bỏ vợ theo một ban nhạc, đi biểu diễn ở các tụ điểm. Mê âm nhạc hơn mê vợ.”

_ “Không đem vợ đi theo?” Tôi hỏi.

_ “Chưa kịp đem theo thì chồng vô tù.” V. nói.

_ “Vô tù? Vụ gì?” Tôi nôn nóng hỏi.

_ “Vụ gì nữa, cũng dùng âm nhac để phản kháng, như Việt Khang vậy” V. giải thích.

Một lúc, V. kể tiếp:

_ “Mất chồng. Con nhỏ về đây, bán vé số sống qua ngày.”

_ “Tôi nghiệp chưa? Tôi than.

_ “Ban đầu mới tội. Lợi dụng con nhỏ mù, người ta ăn gian nó. Mất tiền, ngày nào cũng khóc. Bây giờ thì hết rồi.” V. nói.

_ “Người ta không còn ăn gian nó nữa?” Tôi hỏi.

_ “Sức mấy! Saigon bây giờ là “thành phố bác” mà anh! Nhờ nó biết “sờ” tiền. Nó “sờ” tiền hay lắm! Cầm tờ giấy bạc, nó “sờ sờ” là biết tờ giấy giá bao nhiêu. Người ta không còn ăn gian nó được nữa. Tài không? “Sờ” tờ giấy mà nó biết. Sao vậy anh?” V. hỏi.

_ “Tạo hóa em à! Tạo hóa nhiệm mầu. Mất giác quan nầy, trời cho phát triển cái giác quan khác. Bên Mỹ, thằng mù casĩ Bocelli hát hay kinh khủng. Mất thị giác, âm thanh, xúc giác trở thành nhạy bén, “sờ” là biết đồng tiền. Trời cho cả đó!” Tôi giải thích.

Một lúc, tôi hỏi:

_ “Em hay cho tiền nó không?”

_ “Cho hoài. Thương lắm anh à! Số phận con người sao mà nghiệt ngã vậy! V. nói.

  1. lại hỏi tôi:

            _ “Anh nghĩ, hai đứa nầy có bỏ nhau không?”

            _ “Em nghĩ sao?” Tôi hỏi ngược lại.

            _ “Em thì không! Linh tính cho em thấy hai đứa nầy không bỏ nhau!” V. giải thích.

            _ “Anh cũng nghĩ vậy. Anh căn cứ cái bản chất của nó. Hai đứa cùng đam mê âm nhạc mà đến với nhau. Theo Tây phương thì “Yêu không phải là nhìn nhau mà cùng nhìn về môt hướng.” Hai đứa nhìn nhau thì bỏ nhau dễ lắm, còn nhìn về một hướng thì họ sẽ nắm tay nhau mà đi, đi tiếp”.

            _ “Câu nói đó là của một nhà văn Pháp anh à!” V. góp ý.

            _ “Đúng đó” – Tôi nói – của Exupery, ông nầy viết hay lắm. Nhưng Việt Nam mình viết hay hơn, tình cảm hơn.”

            _ “Ai?” V. đột ngột hỏi.

            Tôi không trả lời ngay câu hỏi, đọc bốn câu thơ:

                        “Âm thanh trống rỗng, còn chi nữa

                        Gắng gượng chi cho hồn Nhạc đau!

                        Ba kiếp lang thang, ngồi chụm lại,

                        Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau!

_ “Anh làm?” V. hỏi tôi.

_ “Sức mấy. Thi bá đó em!” Tôi cười trả lời.

_ “Vũ Hoàng Chương?” V. hỏi.

_ “Có lẽ ông ấy làm bài thơ nầy sau tháng Tư, Bảy lăm. Không những bi quan mà còn tuyệt vọng. Em nghĩ “ba kiếp lang thang” là cái gì không?” Tôi hỏi.

  1. giải thích:

_ “Quá khứ, hiện tại, tương lai. Ba kiếp chụm làm một, có phải sau ngày đó, người miền Nam không còn quá khứ, không có tương lai, còn hiện tại thì trơ cứng lại. Phải không?”

_ “Mai mốt em thế anh làm giáo sư Việt Văn được rồi đó.”

_ “Ai cho anh dạy học mà mơ! Bỏ đi Tám.” V. chọc quê tôi.

Tôi nói:

_ “Bây giờ tình hình khác hồi đó. Người ta bản lĩnh hơn, ít sợ hơn, dũng mãnh hơn. Bi quan cũng không, nói chi tuyệt vọng như Vũ Hoàng Chương. Con nhỏ mù sẽ mở mắt ra, đón thằng chồng trong tù về…”

  1. nói:

_ “Nhưng số phận vẫn còn nghiệt ngã. Mù bẩm sinh. Cho nó ra đời mà bắt nó mù. Tôi nghiệp cho nó.”

_ “Em nói tội nghiệp là nói theo nhà Phật. Cái nghiệp của kiếp trước là cái mù của kiếp nầy. Ai tin thì tin, anh không tin. Nhân quả thì có, nhưng cho đó là cái nghiệp của kiếp trước thì tin sao đươc? Đó là sự tình cờ của Tạo hóa. Đời không có số phận, chỉ có hazard. Tự mình tìm tới đó chớ. “Cứ tìm những chốn đoạn trường mà đi” Cái đoạn trường của Kiều là do cô tìm tới mà thôi.” Tôi nói.

_ “Vậy cái mù của con nhỏ do đâu mà ra?” V. lại hỏi tôi.

_ “Do đâu à? Do ông Trời, do Hóa Nhi, do Trẻ Tạo, do Lão Tặc Thiên, do “Chết đuối người trên cạn mà chơi.”

_ “Ông trời độc ác?” V, cười hỏi tôi.

Tôi không góp chuyện nữa, lại đọc mấy câu thơ của Huy Cận:

            Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán,

            Khi đã nâng bình sữa ấp lên môi

            Thì hẵn Chúa cũng thẹn thùng hối hận

            Đã sinh ra thân thể của con người.

ThanksGiving 2016

hoànglonghải

Mẹ Việt Nam!

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 27 May 2018 

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Trước 1945, – rõ ra là trước khi Cộng Sản nắm chính quyền ở nước ta, – hồi đó cũng đã biết khôn, tôi không thấy có việc ca ngợi “Mẹ Việt Nam” như sau nầy, phía vùng Cộng Sản cũng như vùng Quốc Gia.

Bấy giờ, chỉ có “Lễ Hai Bà Trưng”, nhưng mà do Tây xúi người Việt Nam thực hành.

Chuyện khá buồn cười phải không?

Sau khi Tây đầu hàng Đức ở bên Tây (1940), thì Tây bên xứ Đông Dương nầy thấy lạnh giò. Sợ người “dân An Nam” lợi dụng cơ hội nầy nổi lên chống Tây, Tây bèn lập mưu đổi hướng kẻ thù. Thay vì kẻ thù là Tây cướp nước ta, Tây bèn “vẽ” lại lịch sử nước ta “chống Tầu”. Thay vì kẻ thù là “ông Tây mắt xanh mũi lõ’, thì Tây làm nhiều việc tuyên truyền, nhiều nhất là “bích chương” dán ở các trường học, vẽ lại câu chuyện “Hai Bà Trưng chống Tô Định”, “Lê Lợi chống quân Minh”, “Sông Bạch Đằng” với Ngô Quyền phá quân Nam Hán, giết Hoàng Thao, Hưng Đạo đại phá quân Mông Cổ… Kẻ thù là “chú Ba tóc bỏ đuôi chuột”.

Các bài ca lịch sử của Hoàng Quí, Hoàng Giác xuất hiện trong thời gian nầy, nhiều nhất là được hát trong các đoàn Hướng Đạo.

Tôi không thấy tranh truyện Quang Trung phá quân Thanh vì ông Bảo Đại (nhà Nguyễn, dòng dõi vua Gia Long) còn ngồi trên ngai vàng hay chăng? Ca ngợi ông Quang Trung sợ “đụng chạm” với ông Nguyễn Ánh?). Ấy là chưa nói tới chuyện thể thao như đá bóng, đua xe đạp vòng Đông Dương của De Couroix, v.v…

&

Khi chiến tranh Việt Pháp (1956-54) bùng nổ, trong vùng Việt Minh xuất hiện nhiều câu chuyện ca ngợi “Mẹ Việt Nam”, “Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng”. Nhiều hoạt động như thế được căn cứ trên sự thực, cụ thể như câu chuyện “Bà Mẹ Gio Linh” ở một bài hát của Phạm Duy. Có nhiều chuyện có tính tổng quát, hình ảnh chung của người Mẹ Việt Nam như bài hát “Bà Mẹ Quê”, cũng của Phạm Duy. Dĩ nhiên trong “vùng Việt Minh” mà Việt Minh gọi là “vùng Tự Do” có nhiều câu chuyện ảo về Bà Mẹ Việt Nam, chuyện bịa, giống như chuyện Lê Văn Tám (Đuốc Sống) do Trần Huy Liệu bày đặt ra.

Việt Cộng bịa nhiều chuyện cũng hay, nghe bùi tai, cảm động, nhiều chuyện bịa trắng trợn, nhưng các “Bà Mẹ Quê” chất phát, thật thà, thường dễ bị Việt Cộng lừa.

Những chuyện bịa, tuyên truyền thường có tính cách lợi dụng, xúi bậy người dân quê Việt Nam, hy sinh cho “cách mạng” qua những việc như các Mẹ chăm sóc cơm nước cho bộ đội, tiếp tế cho cán bộ, làm giao liên, v.v…

Sự việc không thật lòng, chỉ nhằm lợi dụng các bà mẹ nhẹ dạ, thương người, thương con cháu… chỉ tạo nên những điều đau lòng.

Còn thực tế thì sao? Sẽ nói ở đoạn sau!

Chính quyền miền Nam cũng tuyên truyền, tổ chức, hoan nghênh, ca ngợi, tưởng nhớ có khác ít nhiều với Việt Cộng. Người quốc gia không nặng tuyên truyền mà thực tâm hơn, thậm chí có những tác phẩm văn, thơ, kịch nhạc ca ngợi Mẹ một cách chân thành. Lòng yêu kính người Mẹ của người nghệ sĩ miền Nam bắt nguồn từ trong lòng hiếu thảo, thương yêu cha mẹ từ trong truyền thống văn hóa của dân tộc, từ những văn nghệ sĩ chân chính chớ không phải từ bộ Thông Tin, Dân Vận Chiêu Hồi, cơ quan Tâm Lý Chiến hay từ Ban Dân Vận Trung ương như Việt Cộng…

Năm 1949, khi ông cả của tôi bị Tây bắt bỏ tù vì tội “làm Việt Minh, chống Tây”, – lúc đó, tôi mới 12 tuổi -, theo Mẹ tôi đi thăm nuôi ông anh đang ở trong tù, có khi đi ngang qua “càphê Lạc Sơn” trước chợ Đông Ba (Huế), tôi từng nghe trên loa của tiệm càphê nầy phát bài “Bà Tư bán hàng có bốn người con” của Lê Thương. Trần Văn Trạch hát diểu rất “vô duyên” thành “Bà Tư bán hàng có bốn người…yêu” và bài “Con chim hòa bình đang đau nặng, Ngày và đêm (có người hát “Mẹ Việt Nam”) càng thêm lo lắng”. Có lẽ đó là lần đầu tiên tôi nghe hát mấy tiếng “Mẹ Việt Nam”…

Được viết ra từ những tâm hồn chân thật, người miền Nam xúc động thật sự về những tác phẩm ca ngợi Mẹ như “Lòng Mẹ” của Y Vân, “Huyền thoại Mẹ” của Trịnh Công Sơn, “Lá thư gửi Mẹ” của Nguyễn Hiền, “Lối về đất Mẹ” của Duy Khánh, “Mẹ Việt Nam ơi” Nguyễn Ánh 9, tất cả không dưới 10 bài… Về thơ ca ngợi Mẹ thì nhiều vô số, không kể hết được.

Năm 1980, bọn tù cải tạo chúng tôi xa gia đình đã 5 năm, nỗi nhớ gia đình và thương mẹ chống chất cũng đã lên cao vời vợi. Chiến sự biên giới Việt Trung năm trước đó, tạo nên nhiều nỗi khắc khoải thương nhà nhớ nước lại càng cao hơn. Do đó, tết âm lịch năm đó, – Canh Thân 1980-, Đội Văn Nghệ của Trại tù Z30A (của “bầu Trừ” trên đồi Phượng Vĩ (Long Khánh) tổ chức “Mẹ Việt Nam đi thăm các con còn trong trại tù Cộng Sản”.

Sáng mồng một Tết, được “nghỉ lao động”, sau khi “ăn sáng” xong, Mẹ Việt Nam (do thiếu úy Chương đóng vai), cùng các nhạc sĩ, ca sĩ và “các con yêu của Mẹ” rước Mẹ đi từng nhà trong trại tù để thăm các con. Đám rước có kèn trống rộn ràng, có hát đồng ca (“Tám Điệp Khúc” của Anh Việt Thu), có fan đi theo hoan hô, hô khẩu hiệu…

Dĩ nhiên, mấy ngày sau, bọn Công An đàn áp dữ dội. Sau khi một số đông vô nằm “cachot”, đội Văn Nghệ bị chuyển vào “Trại Đá” sát trong rừng sâu vì sợ các anh em trong đội trốn trại.

Đối với những người tù cải tạo Z30A, khó quên biến cố ấy!

Trong chiến tranh, dù phía bên nầy hay bên kia, sự hy sinh của người Mẹ thật to lớn, nói bằng lời không hết được. Bây giờ, phía chiến thắng dựng tượng đài cho “người Mẹ chiến thắng”, còn “người Mẹ phe thua trận” thì sao? Âm thầm ngồi bên bếp tro mà nhớ con: đứa còn trong tù, đứa lưu lạc quê người, đứa làm “dân biểu” (Dân biểu đạp xe tới đâu thì đưa người ta tới đó), đưa làm rừng nơi núi cao rừng thẳm, đứa làm ruộng ở kinh cùng rạch chẹt???!!!

&

Mẹ tôi chính là Mẹ Việt Nam, không được ai ca ngợi – Mà tôi cũng không cầu ai ca ngợi. Nói vậy là thật lòng đấy!

Khi tôi đi tù thì mẹ tôi đã già, 72 tuổi. Khi tôi ra tù thì Mẹ tôi qua đời đã 5 năm. Mẹ tôi không đủ sức để mà sống, chờ tôi về.

Khi tôi về, tôi mới biết Mẹ tôi đã qua đời. Vợ tôi, và các anh chị tôi giấu kín, không muốn cho tôi biết cái tin đau lòng ấy.

Không cần “tiểu thuyết hóa”, Mẹ tôi là một người đàn bà Việt Nam từng gánh chịu nhiều đau khổ vì chồng con, vì gia đình, vì đất nước… Tôi xin kể cho quí độc giả nghe:

Năm 1946, theo “lệnh Việt Minh toàn dân kháng chiến”, “tiêu thổ kháng chiến”, Mẹ tôi đem 8 người con, 4 trai, 4 gái, chạy “tản cư” theo lệnh chính quyền hồi đó. Chị cả tôi bấy giờ mới 18 tuổi, chưa có chồng. Cha tôi không theo gia đình, ông đi theo “cơ quan”.

Gia đình tôi tản cư 3 năm. Mẹ tôi gánh chịu 3 cái tang lớn.

-Năm 1947, người chị cả, vì bệnh mà qua đời, an táng ở ngọn đồi cát thuộc làng An Mỹ, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.

-Năm 1948, vì bệnh, thân phụ tôi qua đời ở “Bơơng”, gần chiến khu Ba Lòng, huyện Hương Hóa (tên cũ), tỉnh Quảng Trị.

-Năm 1949, anh cả tôi, chủ trương tờ báo “Ý Dân” ở Huế, bị Tây với “Việt Gian” thủ tiêu, không tìm được thi thể, không biết chết ngày nào, chôn ở đâu, khi ông mới 21 tuổi!!!

Ông nầy là “anh cả”. “Hùng móm” là em út. “Hùng móm” Đại đội trưởng 112 Dù, hy sinh ở chiến trường Quảng Trị ngày 14 tháng 7 năm 1972.

Trong 4 người con trai của Mẹ tôi, có hai người “hy sinh vì Tổ Quốc”: Một người hy sinh cho phía bên kia (Việt Minh); một người hy sinh cho phía bên nầy (Việt Nam Cộng Hòa). Phía bên kia: “chống Pháp giành độc lập”, Mẹ tôi hy sinh một người con trai. Phía bên nầy: “chống Cộng Sản bảo vệ Tự Do cho miền Nam”. Mẹ tôi cũng “đóng góp” một người con trai.

Khi tôi còn nhỏ, tôi vẫn nhớ và không bao giờ quên được nỗi đau khổ của Mẹ Tôi, khi biết tin anh cả tôi bị Tây giết, cũng như những nỗi đau khổ của Mẹ tôi trong đám ma “Hùng móm”.

Khi ba tôi qua đời, Mẹ tôi cũng có khóc, nhưng không khóc nhiều. Khi các con của Mẹ tôi qua đời, Mẹ tôi khóc dữ. Có một lần, ở Huế, tôi đưa Mẹ tôi đi bác sĩ khám mắt. Mẹ tôi nói: “Hết đứa nầy, qua đứa kia chết, “Mạ” (tiếng Huế) khóc không hết nước mắt, mắt “Mạ” kém đi, nhìn cái chi cũng không rõ. Không chắc bác sĩ chữa được.”

Tôi làm thinh, thấy thương Mẹ!

Đó là chưa kể những nỗi đau khổ, cực nhọc của Mẹ tôi vì tôi, nhất là sau khi tôi nhập ngũ. Đời lính dài chỉ có 7 năm mà tôi đi rất xa: Cần Thơ, Long Xuyên, Hà Tiên trong khi quê tôi ở tuốt ngoài kia: Quảng Trị. Bất cứ ở gần ở xa, Mẹ tôi cũng tìm đến thăm con.

Mẹ tôi là “Mẹ Thật”, có hình dáng, quê mùa, già nua, cười khi gặp tôi, đau khổ và khóc thầm khi nhớ các con của Bà, đứa còn sống cũng như đứa đã chết. Nói thật lòng, tôi không thương kính được “Mẹ Ảo”, – người Mẹ tôi chỉ nghe nói, qua tranh vẽ, qua hình tượng, bằng đất, bằng gỗ hay bằng ngọc, bằng bạc, vàng… được người trần tục ca ngợi bằng những lời tuyên tuyền, huyền hoặc, thời trang, thời thượng. Đó là “Mẹ Maria” hay “Mẹ Phật Bà” hay “Mẹ Thanh Hải”. Nói vậy thôi! Nói nhiều “mất lòng” người đời.

Có lẽ người ta không vui khi thấy có người “ít thương” người mẹ sinh ra ta vì một lý do nào đó, chẳng hạn như cho rằng “mẹ ích kỷ”, “mẹ ta không thương ta”, mẹ làm điều gì đó xấu xa, mang tiếng cho ta, v.v… Nói chung là một người mẹ không tốt. Mẹ tốt thì thương mà mẹ xấu thì không thương hay sao? Cách đây ít lâu, – khi đó tôi cũng vừa góa vợ -, trong một buổi “họp mặt” gì đó, một người đàn ông cũng vừa góa vợ than vản: “Tôi thương vợ tôi lắm, vợ tôi tốt lắm”. Tôi thấy buồn cười. Anh ta thương vợ vì vợ anh ta tốt với anh ta lắm. Nếu vợ không tốt với anh thì anh không khóc vợ hay sao? Đâu có phải vậy. Khi đã là vợ hay chồng mình thì tốt xấu gì cũng thương. Sống với nhau, có con cái, gian khổ sung sướng có nhau, chia ngọt xẻ bùi thì thương nhau, nghĩa vợ chồng, “tào khang chi thê”. Tôi nghĩ rằng anh chàng nầy không có chiều sâu, dễ “tục huyền”. Quả đúng vậy thật, ít lâu sau nghe người ta nói anh ta về Việt Nam “bê” một cô vợ trẻ, bằng tuổi con anh, đem qua Mỹ! Tình đời!

Tình yêu mẹ, cũng giống như tình yêu quê hương vậy. Yêu quê hương vì yêu, thế thôi, đâu có phải vì quê hương đẹp hay xấu, giàu hay nghèo, sang hay hèn. “Chốn quê hương đẹp hơn cả”, không vì một lý do nào cả. Người dân Quảng Trị khi đã đi xa, bỗng thấy nhớ nhà vì “có những ông già rách vai, cuốc đất bên đàn trẻ gầy, vui vì nồi cơm ngô đầy…”. Không đủ gạo, cơm phải “độn” với ngô mà mấy đứa trẻ cũng vui thế sao! Vậy mà đố ai quên được!!!

Mấy câu nầy trích trong bài hát “Que nghèo” do Phạm Duy sáng tác năm 1948, khi ông còn theo Việt Minh, “công tác” ở vùng biển phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

&

Năm 1959, tôi là sinh viên của giáo sư Lê Hữu Mục về môn Văn Học Sử ở năm Dự bị ở Đại Học Văn Khoa, Huế. Lúc ấy, ông cũng phụ trách tờ Mùa Lúa Mới rồi tuần báo Rạng Đông ở Huế. Tôi đang làm “mầm non văn nghệ” viết cho hai tờ báo của “ông thầy”.

Tôi thường “ghé tòa soạn” gặp các văn nghệ sĩ (đàn anh), trong đó có anh Lê Hòa Mộng. Nhà thơ mà! Tên tuổi phải có “môt chút mộng mơ” cho ra nhà thơ chớ. Anh ấy, nguyên là “nhà thơ quân đội”, ngâm thơ (trên đài quân đội) rất hay, tình thoảng có thơ, có văn đăng báo ở Saigon, ở Huế. Trước kia, anh ta có “đi theo Việt Minh mấy năm”, rồi bỏ kháng chiến mà về, gia nhập Quân Đội Quốc Gia. Năm 1955, 56, Quân Đội Quốc Gia được chỉnh đốn lại để “trở thành “Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa”. Anh ấy “bị giải ngũ” vì có dính dấp tới “đảng phái”.

Anh đem vợ con về ở với Mẹ, phía sau nhà tôi. Anh thường sang chơi với tôi.

Mọt hôm, tôi vừa ăn cơm, xong, Mẹ tôi nói:

_ “Bựa nay, con đừng “bạn bè chi” vớ anh “Hòa Mộng” đó nữa nghe chưa!

Hơi ngạc nhiên, tôi hỏi:

_ “Răng Mạ?”

_ “Cả xóm nầy người ta chưởi anh em nhà nớ ghê lắm. Anh em chưởi nhau. Mạ nó rầy. Nó nói: “Mạ thương chi tui. Cha mạ ăn nằm với nhau, nghĩ tới cái chuyện sướng, chớ có nghĩ tới chuyện đẻ tui ra mô mà nói thương con.” Rồi Mẹ tôi mắng tiếp: “Cái thứ “vô đầu vô vị (vĩ) mới coi cha mạ như rứa.”

Tôi cười, không trả lời, nhưng từ đó về sau, tôi vâng lời Mẹ.

Tôi biết đây là “lý luận” của chủ nghĩa Mác. Ở Đại Học Huế, chương trình Văn khoa không dạy tôi đề tài nầy. Sách triết “Chủ nghĩa Các Mác” của giáo sư Trần Văn Toàn cũng không bàn tới đề tài nầy, nhưng sách nói về Mác hay phê phán chủ nghĩa Mác, người ta nói không ít.

Chủ nghĩa khoa học phát triển – Việt Cộng thì rất mê khoa học, kế hoạch, chương trình gì cũng chủ trương phải “khoa học”.

Sau khi bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa cải tổ chương trình giáo dục ngày 12 tháng 8 năm 1958, cũng chủ trương “Nhân Bản, Dân Tộc, Khai Phóng”, trong một buổi họp ở tòa sạn báo “Rạng Đông”, giáo sư Lê Hữu Mục trả lời một biên tập viên nào đó, giải thích về hai chữ “khai phóng”, có nghĩa là mở ra: Mở ra khỏi cách học từ chương khoa cử như thời kỳ cũ, trước 1945; và phóng là hướng tới, đi tới một phương hướng học hành mới, có tính cách khoa học và thực tiễn để thích hợp với thời kỳ mới về sự tiến bộ của nhân loại. Chế độ Cộng Sản thì tin tưởng tuyệt đối vào khoa học, chế độ Việt Nam Cộng Hòa dùng khoa học như một phương tiện để đi tới, không sùng bái như Cộng Sản.

Trong tình trạng đó, một người từng theo Việt Minh như nhà thơ Hòa Mộng, dù có là đảng viên hay không, thì sự tiêm nhiễm về lý luận “duy vật biện chứng”, dù có tin tưởng chủ nghĩa Mác hay không, thì cũng phải “tư duy” theo cách của Mác để được tiếng là người tiến bộ, vui lòng cấp trên, phần tử trung thành để được “vô đảng”, “lên chức lên quyền”… cũng không có gì lạ! Điều đáng buồn, những người Cộng Sản hay “theo đuôi Cộng Sản” đã bỏ vào sọt rác văn hóa dân tộc, phỉ nhổ nó, cho nó là “phong kiến phản động”, lạc hậu…

Dĩ nhiên, tôi nghe lời Mẹ. Mẹ là lương tâm, Mẹ là dạy dỗ tôi, theo ý nghĩa đó, Mẹ là người bảo vệ văn hóa dân tộc, theo phương cách “bình dân” nhất, bằng những lời ca dao, tục ngữ, chuyện cổ tích… Mẹ tôi thường răn con bằng những lời ca dao, tục ngữ như tất cả các bậc phụ huynh trong xã hội ta, từ mấy ngàn năm trước.

Những câu chuyện “chưởi cha mắng mẹ” như thế nầy, đâu có phải chỉ xảy ra nơi nhà thơ Hòa Mộng tôi quen biết. Trong “Cải Cách Ruộng Đất”, ông Nguyễn Ngọc Trìu từng mắng mẹ: “Bà không phải là mẹ tôi, bà là con mẹ địa chủ “bóc lột nhân dân”, “tàn ác với nhân dân”… Sau đó, mẹ ông ta qua đời vì bị đấu tố, và vì lời nói của con, làm cho bà đau khổ. Khi mẹ đi xuống thì đời ông Trìu đi lên: Phó thủ tướng. Đảng “trả công” cho ông ta đấy.

Cũng trong “Cải Cách Ruộng Đất”, “đội Cải Cách” ở làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, thấy một ông già quần ống sớ, áo gấm, dép hạ, đi ngang họ. Họ hỏi: “Ông già kia, ông là ai?”

Ông già trả lời:

_ “Tao ấy à? Tao là bố thằng Khu đây.”

“Đội” (cải cách ruộng đất) là người từ nơi khác đến, đâu biết ông già là ông Đặng Xuân Viện, là bố Đặng Xuân Khu, (tức “đồng chí Trường Chinh”).

Phải chi ông Viện nói “tao là bố thằng Trường Chinh”, may ra có đứa còn biết; còn như ông ta nói “Tao là bố thằng Khu” thì bọn chúng đâu biết “thằng Khu” là thằng nào. Chúng bèn trói “bố thằng Khu” lại, đem ra đấu tố “tên địa chủ ăn trắng mặc trơn”.

Trường Chinh có biết bố bị đấu tố thì cũng làm ngơ. Ông đang lo cho “sự nghiệp của đảng”.

Dưới nhãn quan của những người “sự nghiệp” là trên hết, cha hay Mẹ của chính họ hay Mẹ Việt Nam! Đâu có nghĩa lý gì, chỉ là “mượn danh Mẹ”, giống như câu tục ngữ “thờ bụt ăn oản” mà thôi!

Quan điểm “tận tín khoa học” của Cộng Sản kinh khủng thật! Người xưa dạy “Tận tín thư bất như vô thư” (Hoàn toàn tin vào sách không bằng không có sách thì hơn).

Khoa học cũng vậy. Nó có hai mặt: Nâng cao đời sống của con người, nhưng nhiều khi ngược lại. “Tận tín khoa học” nên cho rằng cha mẹ “ăn nằm” với nhau vì ham khoái lạc chớ đâu phải muốn sinh ra con cái. Niềm tin đó đã tạo ra anh nhà thơ Hòa Mộng nửa mùa, là con tằm ăn dâu nhả ra dâu, và một đảng Cọng Sản “đấu tố” cha mẹ như đấu tố một con vật bốn chân.

Những người từng ở Bắc Bộ phủ trước kia, và bây giờ, đều thế cả, phải không?

hoànglonghải

Nhà thơ, nhà văn ăn Tết!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Bà con mình nhận xét rất xác đáng là: “Nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo cộng lại thành nhà nghèo”. Quả có vậy!

(Sở dĩ có ông nhà giáo chen vô mấy nhà nầy vì nhà văn, nhà thơ, nhà báo thường là nghề tay trái; còn nghề tay mặt cũng đi bán chữ là nhà giáo đó thôi.)

Nhân dịp xuân về, chúng ta thử đốt lò hương cũ, tìm lại bóng hình xưa để xem mấy ‘nhà’ nầy hồi xưa ăn Tết ra làm sao?

Trước hết là nhà thơ Trần Tế Xương!

Ông sanh ngày mùng 5, tháng Chín, năm 1870. Còn gọi là Tú Xương vì ông thi Tú tài 9 lần mới đậu… thi Cử nhân tới 5 lần đều rớt cả nên không được làm quan.

(Thời nào cũng vậy thực dân Pháp hay CS… làm quan mới có đường tương chao mà chấm mút chớ!)

Nhà thơ Tú Xương bất đắc chí, hay tức cảnh sinh tình làm thơ, nhứt vào dịp xuân về, Tết đến. Mà bài nào cũng chua với chát.

Nhưng cái may mắn nhứt trong đời nhà thơ (không phải ai cũng có được kể cả tui) là có một người vợ “Quanh năm buôn bán ở mom sông. Nuôi đủ năm con với một chồng!”

Bù lại là lòng biết ơn vợ, nhà thơ làm xong một bài dán trên gốc cột: “Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay?” “Thưa rằng hay thật là hay!”

Rồi ông cười khè khè tiếp ngay: “Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài?!”

Người vợ cũng là một độc giả hiểu thơ Tú Xương đâu thua gì nhận xét của Tản Đà, nhà thơ nổi tiếng ‘ngông’ của giao thời cũ mới: “Trong những thi sĩ tiền bối, tôi khâm phục nhất Tú Xương”.

Rồi Nguyễn Khuyến, lớn hơn Tú Xương tới 35 tuổi, nhưng lại mất sau ông 2 năm, khi nghe tin nhà thơ từ giã cõi đời vào ngày thứ Ba, ngày 29, tháng Giêng, năm 1907, nhằm ngày 16, tháng Chạp, năm Bính Ngọ, nghĩa là còn 2 tuần nữa tới Tết ta, chỉ mới 37 tuổi, cảm thán rằng: “Kìa ai chín suối Xương không nát. Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”

Thơ Tú Xương thâm trầm, ý nhị, hay là khỏi phải bàn cãi rồi! Như trong bài thơ “Năm mới”: “Khéo báo nhau rằng mới với me. Bảo nhau rằng cũ, chẳng ai nghe. Khăn là bác nọ to tầy rế. Váy lĩnh cô kia quét sạch hè. Công đức tu hành, sư cô lọng. Xu hào rủng rỉnh, Mán ngồi xe. Phong lưu rất mực ba ngày tết. Kiết cú như ta cũng rượu chè”.

Nhà thơ xứ Bắc nầy nghèo kiết xác, mà nói kiểu trong Nam là nghèo mạt rệp; nên Tú Xương chua chát rằng tiền mình cũng có nhưng chưa lĩnh, rượu cúc đã ‘ó đơ’ (order) rồi mà hàng rượu làm biếng chưa ‘delivery’.

Rồi trà rồi bánh mứt đủ cả…

Nhưng kết luận là thôi đành để Tết khác hẳng ăn.

“Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo. Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu

Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy. Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu

Bánh đường sắp gói e mồm chảy. Giò lụa toan làm sợ nắng thiu

Thôi thế thì thôi đành Tết khác. Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo”.

***

Nhưng tại sao những nhà thơ nước ta ông nào cũng nghèo hết ráo? Vì thơ bán có ai mua đâu mà có tiền! Tản Đà làm thơ còn tính đem lên bán cho ông Trời nữa là.

Đó là một lẽ nhưng lẽ thứ hai là có đồng nào mấy ông nhà thơ xào đồng nấy. Có nhiều xài nhiều; có ít xài ít. Xài cho mình rồi chia cho bạn văn, bạn thơ của mình nữa.

Giai thoại ghi lại là: Tết Giáp Tuất 1934, tờ Đông Pháp thời báo của ông Diệp Văn Kỳ ở Sài Gòn làm xong số Tết; thợ thầy, nhà văn, nhà thơ, cộng tác thường xuyên, có tên trong Ban Biên Tập, được lãnh thêm một tháng lương thứ 13.

A lê hấp! Tản Đà đã xài sạch sành sanh, xài sạch bách! Hình như để tiền trong túi bị tiền cắn làm cho ngứa ngáy sao đó.

(Tui cũng vậy! Em yêu của tui thừa biết tâm tính các nhà văn, nhà thơ, nên có chút đỉnh tiền nhuận bút là em yêu tình nguyện giữ hết hè.)

Tết đến nơi, không còn một cắc, nên Tản Đà hỏi mượn tiền, ông Chủ báo Diệp Văn Kỳ cũng thông cảm, bèn lì xì cho tiên sinh thêm 5 đồng.

Tản Đà ra Bưu Điện gởi cho ông Ngô Tất Tố, là bạn văn (chắc cũng nghèo mạt như ông) 3 đồng ăn Tết.

Rủ bạn thơ Tùng Lâm mướn xe ‘xịn’ chạy vòng vòng Sài gòn chơi cho nó oách hết 1 đồng. Còn 1 đồng, lấy 2 cắc mua rượu khề khà trước. Còn 8 cắc, nhờ Tùng Lâm đi mua một hũ rượu Mai Quế Lộ và một con gà mái tơ luộc làm mồi nhắm cho ba bữa Tết.

Trên đường về, qua một sòng bầu cua, thấy một đám đánh lộn, Tùng Lâm đứng lại xem. Mã tà ùa tới, còi tu huýt inh ỏi, cả bọn lên xe cây về bót trong đó có nhà thơ Tùng Lâm.

Sáng hôm sau, mùng Một, ông Cò thương tình Tết nhứt, nên ra lịnh thả cả bọn ra.

Mã tà vào thấy nhà thơ Tùng Lâm còn quá xỉn, nằm ì ra đất, bên cạnh mớ xương gà và cái hũ rượu cạn queo.

Về đến nhà thì Tản Đà đêm qua chờ hoài hổng thấy bạn về, nên ‘quất’ hết 2 cắc rượu đế, xỉn ngủ mê man tàng tịch, giờ chưa dậy.

Tùng Lâm ứng khẩu 4 câu thơ để biện minh cái lỗi không phải của mình: “Cao hứng vì yêu bác Tản Đà. Một chai Quế Lộ, một con gà. Suốt đêm trừ tịch nằm trong bót. Nhớ lại buồn cười lúc tỉnh ra!”

Nhắc đến Tản Đà là chúng ta lại nhớ tới Nguyễn Vỹ. Ông nầy nhiều nhà lắm. Nào là nhà thơ, nhà báo, nhà biên khảo… Có lúc nghèo mạt và cũng có lúc giàu sụ.

Nghèo là lúc Nguyễn Vỹ làm báo ở Hà Nội. Tết đến không một xu dính túi, bèn viết thơ mượn ông Nhất Linh cũng 5 đồng bạc. Cho dù hai người chỉ nghe tiếng nhưng chưa biết nhau lắm. Cái ngạc nhiên là ông Nhất Linh Nguyễn Tường Tam cũng gởi cho.

Ông Tản Đà gởi cho ông Ngô Tất Tố 3 đồng thì Nguyễn Vỹ cũng cho nhà văn Trương Tửu 3 đồng để ăn Tết.

Sau nầy vô Sài gòn làm ăn khấm khá, Nguyễn Vỹ có trả 5 đồng lại cho nhà văn Nhất Linh. Ông Nguyễn Tường Tam lại chơi ngon, dắt Nguyễn Vỹ đi nhậu hết để kỷ niệm một giai thoại.

Vậy là các nhà thơ, nhà văn của chúng ta đều nghèo đói như nhau cả; nhưng có chút đỉnh là chia sẻ với bạn văn nghệ của mình, lá rách đùm lá nát.

Nguyễn Vỹ chuyên làm báo và chuyên đi ở tù. Tù thời thực dân Pháp đến phát xít Nhựt. Mãi đến sau khi vào Nam, ra tạp chí bán nguyệt san Phổ thông rất ăn khách, xuất bản hàng tuần lên tới 25 ngàn ấn bản. Rồi tuần báo Bông Lúa, Tuần báo thiếu nhi Thằng Bờm bán rất chạy… nên ông Nguyễn Vỹ ‘thoát nghèo’, tiền bạc rủng rỉnh, cư xử hào phóng với bạn văn chương; có lẽ vì nhớ thuở xưa thân sơ thất sở mới bắt đầu vào nghề viết báo giống mình hay chăng?

Nguyễn Vỹ viết đủ thể loại từ thơ tới văn và biên khảo. Nhưng bài thơ “Gửi Trương Tửu” mới thực là kiệt tác.

“…Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác. Mà vẫn coi tiền như cỏ rác. Kiếm được đồng nào đem tiêu hoang. Rủ nhau chè chén nói huênh hoang. Xáo lộn văn chương với chả cá. Chửi Ðông, chửi Tây, chửi tất cả. Rồi ngủ một đêm mộng với mê. Sáng dậy nhìn nhau cười hê hê!

…Bây giờ thời thế vẫn thấy khó. Nhà văn An-nam khổ như chó! Mỗi lần cầm bút viết văn chương. Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương. Rồi nhìn chúng mình hì hục viết. Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết!…”

Sau khi tuần báo Phụ nữ Hà Nội đăng bài thơ, Nguyễn Vỹ thuật lại là: “Một buổi chiều, tôi đến chơi ở tòa báo, ngõ Hội Vũ, bỗng thi sĩ Tản Đà từ ngoài bước vào. Một chiếc khăn đóng đã mòn viền, đáng lẽ đội trên đầu ông lại đeo tòn ten trong cánh tay. Vẫn chiếc áo lương thâm cũ giống chiếc áo mà tôi đã thấy ông mặc năm năm trước. Ông hỏi: “Có ông Nguyễn Vỹ ở tòa báo không?” Cô bạn thơ ký Tòa soạn liền cười, chỉ tôi: “Thưa cụ, Nguyễn Vỹ đây ạ!”

Ông ngạc nhiên ngó tôi: (chắc còn nhóc quá) “Ông muốn đi chơi với tôi không? Ông có rảnh không?”“Dạ thưa cụ, cháu rảnh ạ!”

Ông đưa tôi đến nhà ở ấp Thái Hà. Ông lấy chai rượu ra và hai cái cốc, bảo một chú bé chạy đi mua hai gói lạc rang (đậu phộng) để làm mồi nhắm.

“Tôi thích bài thơ ‘Gởi Trương Tửu’ của ông, nên mời ông uống rượu. Trương Tửu là ai? Ông ấy biết uống rượu không?”“Dạ, tên anh ấy là Trương Tửu, thì cụ khỏi hỏi!” “Hôm nào ông rủ ông ấy đến uống rượu với tôi!”

“Nhưng tôi giận ông lắm vì sao ông lại bảo: Nhà văn An Nam khổ như chó? Ông so sánh nhà văn chúng ta với kiếp chó, mà ông không hổ thẹn ư?”

“Thưa cụ, nếu cháu so sánh nhà văn với chó, thì chó nó thẹn, chớ sao nhà văn lại thẹn?”

Ông Tản Đà làm thinh nốc hết ly rượu, rồi rót luôn một ly nữa. Xong, ông nói, không ngó tôi: “Ông làm tôi buồn cười!” Rồi ông rưng rưng nước mắt!

(Thiệt đúng: Cười là tiếng khóc khô không lệ!)

***

Còn nhà thơ nhà văn nhà báo hải ngoại nầy sống ra sao ăn Tết ra sao? Thiệt tình tui không biết.

Lẽ thứ nhứt là viết văn, viết báo với tui chỉ là một thú vui. Trong cái làng văn nghệ đầy dẫy cây đa, cây đề tui chỉ là một thằng hề… vô danh tiểu tốt, đứng sớ rớ ngoài cửa nhìn vô, hóng chuyện nghe các nhà văn… ăn nói lung tung… xèng (?!)

Hai là cũng học câu: Có công mài sắt có ngày nên sắt… nên tui tính kiếm sống bằng ngòi bút, chỉ mong rau cháo qua ngày thôi; chớ hỏng dám đòi khô lân, chả phụng, rượu Hennessy gì đâu. Vậy mà có lần tui ngu ngơ, tâm sự ‘vặt’ với một em Chủ bút bên Canada rằng: “Qua tới Úc mấy chục năm rồi, cày suốt, oải quá. Giờ đến tuổi về hưu, tui tính nghỉ để có nhiều thời giờ rảnh rỗi hơn, đọc và viết chơi. Sau đó có thêm tiền nhuận bút kha khá để bù vào cái lương hưu còm cõi của mình!”

Nhưng người em văn nghệ (đất lạnh tình nồng) phán một câu thiệt là chánh xác; nhưng nghe đau lòng hết sức như đọc bài thơ “Gởi Trương Tửu” của Nguyễn Vỹ vậy! Em phán rằng: “Ở hải ngoại nầy đây, đâu có ai sống được bằng ngòi bút của mình đâu chú?!” Nghe xong tui muốn bắt chước ông Tản Đà (mà đập đầu vào gối) khóc hu hu!

Đó đó bà con nào thắc mắc hỏi ở hải ngoại nhà thơ, nhà văn ăn Tết ra sao? Câu trả lời của tui là: “Dà hổng dám ăn đâu!”

Vậy mà thằng bạn nhậu, kiêm độc giả của tui, lại phán một câu rất ư ‘cà chớn’ rằng: “Viết một bài chỉ có 2000 chữ, nhuận bút tới 50 đô Úc, bằng bà con mình trong nước bán vé số suốt một tuần. Vậy mà cứ than thở hoài hè.

Các nhà thơ nhà văn các ông là bọn: “Được voi đòi Hai Bà Trưng!”

đoàn xuân thu.

melbourne

Nhà thơ siêu nịnh!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Bà con mình khoái coi hát bội hay cải lương Hồ Quảng đều thấy kép hát đóng vai chánh là trung, vai tà là nịnh.

Và theo Cử Trị: “Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc. Ðứa nịnh râu hoe mấy sợi còi”. Nên kép vai trung hoặc nịnh đều hóa trang giống hịt theo hai câu thơ đó.

Nịnh không chỉ có trong tuồng hát đâu nhe mà chốn quan trường nó đông như ruồi mùa Hạ vậy!

Chính sử nước ta ghi rằng: “Vua Trần Dụ Tông đam mê tửu sắc, tính tình nông cạn, khoái bợ đỡ, tâng bốc. Trong triều chính, nịnh thần cấu kết nhau hoành hành. Bên ngoài, dân tình đói khổ. Giặc giã nổi lên cướp bóc.

Nhà giáo Chu Văn An (1292-1370) tính tình cương nghị, thẳng thắn, không cầu lợi lộc, dâng Thất trảm sớ, đòi chém đầu 7 kẻ nịnh thần. Vua Dụ Tông phớt lờ. “Ðâu được nè. Ðem chém hết ráo thì còn ai ru ta bằng những lời nịnh nọt chớ?”

Can Vua không được, Chu Văn An từ quan về quê dạy học. Như vậy trung chỉ có một Chu Văn An mà nịnh tới 7 đứa lận!

o O o

Ðó là nịnh trong chế độ phong kiến, còn trong thể chế dân chủ cũng có nịnh luôn nhe bạn! Chuyện rằng: “Một chánh trị gia và một bác sĩ với một kỹ sư cùng leo lên đỉnh Everest, biên giới giữa Nepal và Tây Tạng, cao nhất trên Trái đất. Ðó là một cuộc leo núi rất nguy hiểm, đầy vất vả và gian nan! Họ phải dừng lại nhiều lần, phải dùng dây để kéo nhau lên dọc theo sườn núi.

Ðược nửa chừng, sợi dây bắt đầu tưa ra sắp đứt!

Ông bác sĩ nói: “Chúng ta nên chờ toán cứu cấp đến giúp!” Tuy nhiên không ai tin rằng họ sẽ đến kịp vào lúc nguy cấp nầy.

Ông kỹ sư nhanh chóng tính toán sức nặng của mọi người, sức chịu tải của sợi dây; rồi đưa ra giải pháp: “Một trong số chúng ta phải buông tay! Nếu không, tất cả chúng ta đều chết hết!” Không ai muốn buông. Mọi người khư khư dùng cả hai tay mà bám rịt lấy, giữ chặt sợi dây.

Cuối cùng ông chánh trị gia thở dài nói: “Các đồng chí là tài nguyên vô cùng hữu dụng, tài nguyên vô cùng quý giá cho đất nước của chúng ta. Một bác sĩ có thể cứu sống rất nhiều người. Một kỹ sư có thể sáng tạo ra nhiều thứ để giúp ích cho đồng bào thân yêu của chúng ta! Còn tôi? Tôi chỉ là một chính trị gia vô dụng! Tôi có làm bất cứ việc gì hữu dụng cho đồng bào, cho đất nước của chúng ta đâu? Không có gì cả! Tôi chỉ biết nói, nói và ‘nịnh’ mà thôi.”

Rồi ông chánh trị gia lại thở dài, vẻ mặt rất chân thành. Bài diễn văn ngắn gọn nhưng xuất sắc, rất hay! Thế là mọi người bắt đầu vỗ tay hoan hô!

Vậy là trừ ông chánh trị gia ra tất cả đều chết cha hết ráo. Nhưng tại sao trong tình thế nguy nàn mà chỉ có mình ông chánh trị gia còn sống sót để còn tiếp tục ăn nhậu, chơi bời gái gú bằng tiền thuế của dân? Tại vì ổng biết nghệ thuật ‘nịnh’ dân.

Trong chế độ tự do, qua lá phiếu, dân sẽ quyết định cho ổng ngồi nữa hay đi chỗ khác chơi. Hổng nịnh để xí gạt dân, kiếm phiếu bầu là chỉ còn nước đi móc bọc.

Rồi khi được dân bầu lên, có chức, có quyền, có tiền để ban phát, cha nào cùng khoái chí tử lời nịnh nọt của đàn em phe ta. Vì đời, cuối cùng, chỉ là hai chữ lợi danh. Tiền ai hổng khoái? Còn danh thì khoái quá đi chớ, cho dù là danh hão! Vì “Gian thanh nhập nhĩ nịnh nhân tâm” (Tiếng gian tà vào tai làm mê hoặc lòng người).

Nhưng dân ngu khu đen Tây dẫu trong sở có ra sức nịnh nọt thằng đốc công thì cũng không có lợi lộc gì. Nên khi thấy đứa khác nịnh dơ là nó chửi: ‘kiss someone’s ass’ (hun đít) hay ‘lick someone’s boots” (liếm giày)… Ta thì có: nịnh bợ, nịnh hót, nịnh nọt, tà nịnh, gian nịnh, xu nịnh. nịnh thần. Chữ ‘nịnh’ của Tây để chửi coi bộ ít hơn Ta nhiều!

Tranh Bảo Huân

o O o

Nhớ những năm 1960s, mỗi khi rạp hát Ðịnh Tường đường Trưng Trắc, Mỹ Tho quảng cáo phim Tàu Hong Kong với minh tinh màn bạc: Lâm Ðại (Linda Lin) hay Lý Lệ Hoa (Teresa Li) là bà con ùn ùn kéo nhau đi xem chớp bóng.

‘Minh tinh’ là ‘sao sáng’ đấy ạ! Hai Á Xẩm nầy vừa hát hay, múa giỏi mà còn rất đẹp làm mấy anh mình nhìn nhểu nước miếng ròng ròng vén lên không có kịp.

Rồi tiếng Việt ngày một tiến bộ. Hồi xưa ‘minh tinh’ chỉ ngôi sao màn bạc, là đàn bà, con gái đóng phim mà thôi. Sau nầy đàn ông, con trai chơi bóng rổ, bóng chày, bóng bầu dục, đánh ‘tơ nít’, đá banh mà hay đều  được xưng tụng là ‘sao’ ráo trọi!

Tuyệt đỉnh công phu, đá banh hay quá xá là hay, ngàn năm có một như Lionel Messi của đội Barcelona phải gọi là siêu sao (superstar).

o O o

Trong chế độ CS VN cũng có một người tài giỏi không thua gì Lionel Messi là nhà thơ Tố Hữu (1920- 2002). Cái khác giữa hai người là: Messi dùng đôi chân thì Tố Hữu dùng hai đầu gối. Thì ra trong chế độ độc tài cộng sản vai nịnh còn hơn chế độ phong kiến rất nhiều!

Tố Hữu nịnh Bác, Ðảng thuộc bậc thượng thừa nên được dân Việt xếp vào hàng ‘Super nịnh’ (Siêu nịnh).

Tại sao Tố Hữu phải nịnh? Không nịnh làm sao mà có ăn; vì thực ra Tố Hữu chẳng có tài cán gì. Thời hoàng kim của Tố Hữu là từ năm 1980 đến năm 1986. Tố Hữu là Ủy viên Bộ Chính Trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tướng) phụ trách về Kinh tế. Với quốc sách ngăn sông cấm chợ, Tố Hữu làm dân sắp chết đói tới nơi. Cả nước phải nuốt nhục, bị gậy ăn mày toàn thế giới.

Còn về tài làm thơ? Nghe nói hồi trên chiến khu Việt Bắc, một lần Tố Hữu định đọc cho Văn Cao nghe thơ của mình. Nhưng Văn Cao thẳng thừng đóng hai cái lỗ tai lại: “Thơ cậu như hò vè có gì đâu mà đọc”

Chắc hận người dám sỉ nhục ‘ai da’ nên Tố Hữu ngày nhổ râu, đêm bứt tóc làm thơ nịnh từ Karl Marx, Vladimir Lenin (Người đứng đó, Lenin), Stalin (Ðời đời nhớ Ông), Mao Trạch Ðông. (Ðường sang nước bạn) Tố Hữu nịnh cả Fidel Castro (Từ Cuba), râu xồm ăn chuối trên TV mà mấy anh mình tưởng được xem phim ‘sex’!

Siêu nịnh Tố Hữu

Nhờ xuất sắc nịnh toàn mấy tay đồ tể nầy nên Tố Hũu leo ngày càng cao trên nấc thang quyền lực. Có quyền lực trong tay, Tố Hữu rắp tâm trả thù làm ai cũng rét!

Rét nên các nhà phê bình văn học Miền Bắc chỉ dám chê lén là: “thơ Tố Hữu là thơ thời sự, thơ phải đạo, là một cốc ‘siro’ pha loãng! Là “Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt. Máu ở chiến trường, hoa ở đây!”

Nhà lộng gió là ngôi biệt thự có ‘cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt’ số 76 đường Phan Ðình Phùng, Hà Nội.

Rồi một nhà thơ xứ Bắc không dám xưng danh, trong đói rét lầm than, đã chọc quê Tố Hữu bằng hai câu lục bát: “Bầm ơi có rét không bầm? ‘Volga’ con cưỡi; gà hầm con ăn!”.

o O o

Tuy nhiên cũng có kẻ nịnh nọt Tố Hữu để kiếm chút cháo. Chuyện rằng: Tết đến tất cả các báo, báo nào cũng đăng thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh và thơ Tố Hữu.

Một bài thơ lúc đó nhuận bút từ 8 đến 10 đồng ở báo Trung ương. Cỡ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên có thể từ 12 đến 15 đồng. Giá bát phở là 3 hào thì một bài thơ cũng cỡ vài ba chục bát. Nhưng nhuận bút cho Tố Hữu, báo nào cũng trả, dù chỉ đăng một bài giống hệt nhau, 500 đồng cộng một cành đào và một cặp gà trống thiến.

Chính vì ăn trên ngồi trốc trên đầu, trên cổ thiên hạ như thế nên khi Liên Xô tan rã (1991), Tố Hữu đòi tự vận “Ôi! Nỗi đau này là nỗi đau chung. Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát”.

Anh bạn tui, bút hiệu là ‘Google’, chuyên phê bình văn học nói: “Tớ rất nể vợ chồng nhà thơ Tố Hữu. Dẫu đều là Mít ‘đặc’ hết mà đẻ ra con ‘Nga’. Còn đứa bé nếu không mũi lõ mắt xanh mà vẫn da vàng mũi tẹt thì tớ vẫn nể. Ðúng là một thần đồng về ngoại ngữ vì: “Tiếng gọi đầu đời con gọi ‘Xít Ta Lin”.

Hi hi!

Phong thư tình

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

  Lãnh Sơn Tự xắn đất, nằm lưng chừng núi. Cô quạnh, mái xanh rêu, trầm mặc tuồng như muốn thu mình vào đá tảng. Thị trấn Gia Hoà an ổn ngụ dưới bình nguyên. Đứng bên hai cây tùng bách thế cổng chùa mùa này sương đọng mây chùng để nhìn xuống, ngoái trông, thì toàn thể cấu trúc Gia Hoà chẳng còn nguyên dạng dưới lũng thấp. Thị lực đâm yếu đi, mờ mịt. Hoặc có nhìn thấy ẩn hiện chút gì thì lòng dâng ngờ vực: Ảo ảnh chăng? Chân bước vào chùa mà cõi hư thực sau lưng vẫn còn sân si đuổi theo, khó đoạn dứt.   Người am tường về thuật phong thuỷ vẫn chấm điểm thị trấn Gia Hoà là vùng đắt địa, quanh năm mưa thuận gió hoà, bởi chăng chùa Lãnh Sơn đã án ở đó tựa bình phong can ngăn và xua đuổi được tà khí. Gia Hoà là gì? Nếu nghĩa nó không nằm ở chữ ấm êm, mọi nhà hoà thuận?   Coi ngó chùa là vị cao tăng pháp danh Vô Lộ, nổi tiếng đức độ. Tuổi hạc đã cao nhưng người còn năng động, dáng đi nhẹ hẫng khinh khoái tuồng chẳng có gì vướng bận vào người. Dân tình dưới Gia Hoà có bàn luận cũng chưa một ai hay biết số tuổi sư mang. Bách niên? Cửu thập? Ngài đã tám mươi? Dẫu sao hình ảnh cao tăng Vô Lộ vô tình đã đánh đổ lập thuyết cổ lai hy. Xưa nay hiếm? Những bài thuyết pháp của vị sư trụ trì Lãnh Sơn Tự từng rao giảng quanh chữ vô thường. Hãy bỏ rơi ý niệm hiếm, quý. Đừng tự buộc mình vào một lằn mức lượng định nào cả. Khổng Tử khi chia từng cột mốc đời người phải thế này thế nọ thì cũng chỉ nhất thời mà lộng ngôn. Khi ta mở miệng, hãy nhớ cho, đấy là khẩu nghiệp.   Bình thường chùa Lãnh Sơn vẫn cô tịch. Tháng chỉ có hai lần là chộn rộn đón khách lai vãng thắp nhang khấn nguyện rồi gia công vào chuyện củi lửa nấu thức ăn chay hằng dọn lòng đón đợi xem sức khoẻ Vô Lộ ra sao, xếp bằng dưới chiếu nghiêng tai nghe kể những gian khó khi tì kheo một mực dầm thân vào sạn đạo để cốt tìm nguồn sáng mà khai nhãn cho chúng sanh, đổi lấy niềm đau của bản thân hòng cứu chuộc bể khổ muôn loài.   Như thế, hai mươi tám ngày còn lại của tháng, khuôn viên Lãnh Sơn vẫn chìm trôi trong tĩnh lặng. Ngoại trừ tiếng chuông gửi vào hư không, tiếng mõ của bốn người đệ tử trì chú tụng kinh, tiếng chim hót lời ẩn mật trong khóm trúc, tiếng gió đi xào xạc, tiếng lá rơi… và rồi tất thảy ngưng đọng trong vô thanh. Lãnh Sơn Tự chẳng phải là Chùa Núi Lạnh đó sao? Hãy trả lại cho nó những gì nó từng sở hữu.   Nhưng trưa hôm ấy, khác thông lệ, Vô Lộ đại sư phải tiếp khách. Hai vị đại diện cho nhà Nguyễn Trần có biệt phủ thật lớn dưới trấn Gia Hoà hình như vừa mang theo hành trang họ là cả một sự hoang mang tột cùng. Sợ hãi còn đọng ở gương mặt họ, ngay cả khi được đối mặt vị cao tăng họ vẫn chưa làm chủ được nhịp thở. Chuyện gì thì khi thuật lại hãy cố giữ tính trung thực. Các vị nên bình tâm, thời giờ ta nào có eo hẹp, ta sẵn lòng đợi chờ sự phân giãi. Vô Lộ rót nước trà, khoan thai. Tay không run, nước sóng sánh đầy ly chẳng rơi ra một giọt.   Nguyễn nhập đề: Đã ba hôm, toàn gia chúng tôi không tài nào chợp mắt. Nghĩ là chỉ có mình đại sư mới cứu giúp cho…   Vô Lộ: Hãy nói tiếp.   Trần góp lời: Dạ bẩm đại sư, tóm gọn là nhà có bóng ma hiện về.   Ngưng trong khoảnh khắc, nghe ra một cánh hoa sen rơi khẽ xuống bệ thờ. Cái rời thân ấy chừng xô đẩy quanh chỗ ngồi giữa chủ khách một hương mùi xa vắng. Có đó rồi giạt bay. Ngửi xong đâm thẫn thờ.   Hết Trần tới Nguyễn thay phiên thuật lại đầu đuôi ngọn ngành. Vô Lộ nhắm lại đôi mắt, chuẩn bị đón nghe một đoạn kinh đọc sai lạc vấp nhiều lầm lỗi.   Nguyễn Thị Vàng Son là con gái độc nhất của thương gia thành đạt Nguyễn Cát Tường trấn nhậm một thương hiệu lẫy lừng đồ sộ dưới thị trấn Gia Hoà. Sắc đẹp hiển lộ sớm, lại là người hiếu học văn hay chữ tốt. Do muốn mai này con mình được vinh hiển nên Nguyễn Cát Tường quyết định gửi Vàng Son lên kinh đô theo học một ngôi trường danh giá, có tốn kém bao nhiêu tiền của cũng vui lòng theo đuổi ước nguyện. Vàng Son nghe theo sự định đoạt của cha, chẳng hay biết cớ sự ấy là một cuộc sắp đặt ngầm ký kết với Trần đại gia. Ông này có cậu công tử cùng trang lứa, lỡ chùng lén phải lòng nét kiều diễm trên dung mạo và hình hài của Vàng Son. Tốt nghiệp xong, người đẹp sẽ về làm dâu nhà họ Trần. Nhất nhất mọi thứ đều thuận theo con đường đã vạch của hai họ, ký kết một hợp đồng gắn bó keo sơn, môn đăng hộ đối. Một lần nữa Nguyễn Thị Vàng Son xuôi tay bỏ mặc cho số phận, không biết cách chống đối. Bốn năm làm vợ chồng, Vàng Son sinh được cậu con trai và chẳng hiểu vì đâu cơ thể lá ngọc cành vàng kia đâm suy kiệt dần để dẫn tới cái chết quá bất ngờ.   Hôm động quan xong, chiều lại cả hai nhà đang ngồi mặc niệm tưởng tiếc bên bàn thờ kẻ xấu số thì đột nhiên đứa con trai bốn tuổi từ trên lầu chạy xuống, loan tin: Mẹ con đang đứng bên tủ áo quần trong phòng ngủ. Lời con trẻ thì e phải nên tin, hiếu kỳ đã hối thúc mọi người nối đuôi lên xác tín hư thực. Trong ánh tà dương len qua cửa sổ, chiếu vàng úa vào dáng đứng tần ngần của Nguyễn Thị Vàng Son đang gục đầu cúi nhìn vào ngăn tủ đựng y phục cũng như nữ trang của riêng cô. Vàng Son vẫn mặc bộ áo đầm trắng y như lúc tẩm liệm.   Quá đỗi kỳ dị, rất lấy làm sợ hãi khiến cả bọn chỉ biết ú ớ rồi thay nhau chạy xuống ngồi lại bên bàn thờ chưa ngún tắt những chân nhang. Để đánh tan nỗi sợ, người mẹ chồng của Vàng Son cố giữ giọng nói khỏi lạc: Là đàn bà, tôi hiểu phụ nữ vẫn thường yêu quý những vật tư trang, con dâu tôi có đứng đó thì chắc là nó đang quyến luyến đồ vật từng theo bên người bấy lâu. Chúng ta chỉ biết giải thích vậy thôi. Bản tính Vàng Son hiền hoà, mọi người chẳng việc gì phải sợ để rồi gây ra lời đồn đãi không mấy hay cho gia đình. Họ ngồi chụm đầu lại bàn tính, sau cùng đi tới một thuận lòng: Hãy dọn sạch cái tủ ấy, gom hết áo xống tư trang hiện vật của Vàng Son mang ra sân hoả thiêu. Đốt chúng đi, một cách gửi xuống dưới cho Vàng Son thoả lòng.   Không linh nghiệm, đêm hôm sau Vàng Son vẫn về, lặng lẽ đứng bên cái tủ trống, cúi đầu câm nín. Những suy đoán của bao người thân thích đã sai trật, điều này cũng có nghĩa là họ sẽ phải nhìn thấy mỗi đêm bóng dáng sầu khổ của Vàng Son đứng nguyên vị trí cũ, xiêu lạc và đau lòng chẳng thể biện minh. Chết thì bặt câm mà sống cơ hồ cũng á khẩu.   Cái phao cuối cùng để bấu víu, để dìu qua khổ nạn không gì khác hơn là nhà sư Vô Lộ. Chúng tôi đi lên Lãnh Sơn Tự, kể hết sự tình để mong đại sư gia ơn, phá lệ một lần xuống núi giải hạn. Cả Trần lẫn Nguyễn đứng lên, chắp tay vào nhau, nghiêm cẩn chờ đợi. Vô Lộ mở mắt ra. Được, nhờ nhị vị dẫn đường, đã công khó lên đây thỉnh cầu người tu hành như ta đâu lẽ từ nan chối từ. Giúp người vốn là bài học cơ bản của kẻ xuất gia.   Họ về thị trấn Gia Hoà khi bóng chiều đã rút. Đại sư Vô Lộ bước qua cánh cổng Trần gia trang vẫn lung linh cháy tỏ sụt sùi những giọt bạch lạp. Không khí của một nhà đang chịu tang vốn buồn lặng còn lưu trữ ở đó một linh hồn chưa siêu thoát vẫn kiếm cách vãng lai. Vô Lộ chắp tay trước ngực đọc thầm: A di đà Phật. Mọi người vây lấy bóng áo cà sa. Ta đã nghe chuyện, khỏi nhọc lòng kể thêm. Hãy dắt ta vào phòng kia và xin quý vị tôn trọng, chỉ để mình ta trong đó. Không một ai đường đột đi vào, nếu có thể, xin quý vị hãy kính cẩn ngồi yên dưới bàn thờ kẻ vắn số.   Vô Lộ đại sư đi vào phòng ngủ trước đây vốn của Nguyễn Thi Vàng Son. Trong hương mùi khó giải thích dồn tới khứu giác, Vô Lộ nhìn ra ngay một nữ thí chủ mình hạc xương mai đứng gục đầu bên những ngăn tủ trống. Có nhìn nhận ra ta không? Vô Lộ nói. Ta đến đây chỉ với thành ý, những mong giúp đỡ chứ chẳng mang một hậu ý nào khác. Theo ý nghĩ ta có, hẳn ngăn hộc kia còn ẩn dấu một thứ gì thật hệ trọng mà cô muốn kiếm tìm. Hãy an lòng, rằng ta sẽ khiến cô toại nguyện. Vàng Son khẽ gật đầu, thân mình lướt nhẹ sang một bên. Vô Lộ đeo chuỗi tràng hạt lại vào cổ để rảnh tay, vị cao tăng bước tới dùng mười ngón rà soát từng ngăn một. Tủ có lót giấy dán sát vào mặt gỗ. Tủ chia làm bốn ngăn, tất cả đều trống, kể cả một cái kẹp tăm, một hạt nút áo lỡ đánh rơi cũng chẳng ẩn mình trong đó. Ngăn hộc thứ ba, bàn tay rà soát của Vô Lộ bỗng khựng lại năm ngón. Dưới mặt giấy dán dường như có vật gì nổi cộm được ép bên dưới. Dùng móng tay để cạy đi mép giấy mỏng, xé nó và vật dấu bên dưới chỉ là một phong thư mỏng manh. Vô Lộ cầm vuông giấy úa màu lên. Có phải đây là vật mà cô chẳng đành lòng bỏ đi? Cô muốn tìm thấy và rồi mang theo nó? Vàng Son gật đầu, lộ vẻ mừng tủi. Vô Lộ hỏi tiếp: Cô có an lòng để ta thủ tiêu nó. Về chùa, ta sẽ thiêu huỷ, lửa tam muội sẽ đốt cháy nó. Và như vậy, ta cam kết chỉ duy mình ta biết được niềm bí mật này thôi.   Vô Lộ muốn tìm lời giải thích thêm nhưng Vàng Son đã không còn đứng ở đó. Vô Lộ chắp tay đọc tiễn một đoạn chú bằng tiếng Phạn. Căn phòng chừng như đã bớt đi cái lạnh lẽo ủ ê trước đó. Vị cao tăng đi ra, khép cửa lại. Ông bước xuống lầu để đón nhận những ánh mắt ngầm tra hỏi. Ta đi về chùa đây. Dạ thưa thầy, thầy có gặp ma không ạ? Có, đã gặp mặt. Và sau đêm này, ta xin hứa, rằng quý vị sẽ thôi gặp… ma.   Giữ đúng lời hứa cùng Nguyễn Thị Vàng Son, về tới Lãnh Sơn Tự, cao tăng Vô Lộ vào lạy trước bàn thờ Phật, đặt phong thư trước mặt, dâng hương, đọc một bài kệ ngắn trong kinh Lăng Nghiêm, gióng ba tiếng chuông rồi mang theo một cái thau nhôm bước ra sân trước. Mọi thủ tục hoàn tất chỉ cần thắp lên một ngọn lửa, nhưng nghĩ sao Vô Lộ tần ngần. Ông muốn biết lá thư kia chứa đựng những gì nhằm tạo ra sức mạnh để khiến trói buộc Vàng Son lại, không đành lòng giã từ cõi thế. Chỉ mình ta biết niềm bí mật này thôi, ông đã trấn an Vàng Son và ông đang run tay bóc vội lá thư ra đọc. Một trang thư tình đầy sân si thống khổ, đôi chữ hoen ố do hứng đọng nước mắt. Dĩ nhiên đó là hàng lệ đổ của Vàng Son, người nhận. Một cuộc tình không may và Vàng Son âm thầm chôn dấu nỗi oan khiên tận đáy hộc tủ. Ngọn lửa trong tay Vô Lộ bùng lên vồ chụp lấy, nuốt co quắp những con chữ, biến thành tro than rồi tàn lụi trong thau nhôm. A di đà Phật.   Đêm ấy Vô Lộ chẳng ngủ tròn giấc, ông ngồi dậy thắp đèn giữa canh khuya, đến giá sách lật giở từng cuốn kinh chép tay mà ông từng cậy nhờ Nguyên Tánh viết lại. Nguyên Tánh là đệ tử thứ tư của thầy Vô Lộ. Diện mạo sáng sủa hiền lương, chữ viết đẹp, nguyện xuống tóc nép thân vào chùa những mong đoạn lìa thế tục. Trì chí với kinh kệ như vậy đã bốn năm. Bốn năm? Đứa bé thấy mẹ hiện về cũng tròn bốn tuổi. Cuốn sách  có viết chữ Nguyên Tánh ngoài bìa, mở ra, những tuồng chữ nhảy múa dưới mắt thầy Vô Lộ không sai một mảy may so với lá thư tình vừa bị thiêu đốt.   Na mu A mi da butsu!  Cao tăng Vô Lộ nhắm nghiền mắt lại.  
  Phóng tác dựa trên bản tếng Anh A Dead Secret do Lafcadio Hearn (1850-1904) chuyển ngữ từ truyện cổ Nhật Bản. Cảm ơn chị ĐLK.  
Hồ Đình Nghiêm

Phố xưa nằm bệnh

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Hồ Đình Nghiêm
qua nét vẽ Trịnh Công Sơn

Quà thưởng Tết phát hiện ra hàng giả, anh em công nhân viên đồng loạt mang trả lại. Tôi không thích gây căng thẳng, phản đối hò hét chửi rủa các thứ, tôi ôm quà im re đón xe đi về quê. Tôi chẳng mở lớp bao bì, trong đầu tôi lơ mơ hiện hình đối tượng để chuyển giao. Quê tôi nghèo đói lạc hậu muôn niên, cho dầu là hàng nhái họ cũng lấy làm hoan hỉ xuýt xoa khi được trao tay. Ừ, mang tiếng đi xa mần ăn, người về từ phố phường rậm rật, ba ngày tết phải biết móc hầu bao lì xì thứ gì đó, ngó cho được, cho nở mặt nở mày.

Xe đò có giường nằm, tôi mua giá bèo nên ngồi cứng người ở góc ghế hẹp. Đây là chiếc ghế tự chế, phát huy sáng kiến để nhồi nhét những kẻ muốn quá giang vào giờ cuối. Đò có đắm không khi chở quá tải khách muốn qua sông? Trước giờ khởi hành tôi an tâm khi thấy cậu lơ xe đốt cả bó nhang lớn, đi quanh xe rồi cắm cái nạm khói nghi ngút ấy vào đụn đất đen nằm ngoài rìa cỏ. Hãy nên tin dị đoan, hãy nên nhìn nhận cảnh giới này có sự hiện hữu thầm lặng của những người khuất mặt. Họ là cơn gió heo may, giọt sương đọng đầu ngọn lá, cánh hoa bất chợt rụng xuống trong vườn khuya. Họ hoá thân thành những điều vụn vặt, kề cận mà bạn vô tâm chẳng nhìn nhận được. Và như thế, bạn dễ nhắm mắt ngủ giấc phiêu bồng khi xe chạy ra liên tỉnh lộ vốn luôn dằn xóc. Tôi chẳng thích nhìn ngó cảnh vật bao quanh, mỗi bận đi xa tôi thường khép đóng đôi đồng tử. Tôi xem trên đài truyền hình trực tuyến cảnh tai nạn giao thông, một chiếc xe khách kềnh càng đã đâm trực diện vào chiếc xe nhỏ có bốn chỗ ngồi. Bố mẹ ngắc ngỏi thoi thóp, hai bé gái ngồi sau thì đang sống chuyển sang từ trần. Bà con bu lại tìm cách lôi nạn nhân ra khỏi khung sắt méo mó dị dạng, có người nói: Chỉ mong sao khi xe bị đụng nát, hai cháu kia đang nhắm mắt ngủ say. Tôi có cảm tình với lời phát biểu của người nọ. Rằng như thế, hai cháu bé không phải chịu sống qua giây phút hãi hùng ập đến bất thần. Ra đi trong mộng mị hẳn sẽ êm ả hơn khi bạn đang tỉnh thức.

Tôi nhắm nghiền mắt, đóng cửa sổ tâm hồn lại. Nhắm, nhưng kỳ thực thì tôi trông rất rõ hình bóng của một người. Bạn tin không, có những nhân vật mà khi muốn thấy họ, buộc lòng bạn phải là kẻ tựa đang mớ ngủ. Người ấy bước ra khỏi cuộc đời tôi, vắng mặt vĩnh viễn một thân cận. Cô chỉ hiện ra trong những thước phim hồi ức tôi chẳng đủ khả năng làm chìm trôi, quên đi. Tôi luôn nhớ tới cô, dai dẳng. Nỗi nhớ mà mọi người đã đồng thuận vào lời giải thích: Mối tình đầu hồ dễ mấy ai quên.

Trong facebook của người bạn, hắn post hình cô ấy lên. Và đó là tấm ảnh tình cờ tôi mãi xem, không chán. Tôi chẳng mấy ưa Fb bởi đa phần người ta thích nói về mình quá. Dài lời thì đâm vô duyên, vô duyên dẫn tới những việc vụng về: Chưng ảnh món ăn mới nấu xong, chụp hình tự sướng, áo quần giày dép thậm chí cả nội y. Người ta lột trần những thứ xét ra rất riêng tư cần chôn dấu. Đi đâu, làm gì, con đau, vợ ốm đều thật thà khai báo. Ngay cả cách dụng chữ cũng thế, ai đó viết: “Chít mịa rùi, túm lợi, đời không Fb rất là chơi vơi”. Tôi không thích mó tay vào “phây”, loạng quạng lạc chân vào cảnh giới kia chỉ duy một mục đích, ngó tấm ảnh rạng rỡ nụ cười của cô. Tôi đã nhấn vào chữ Like bên dưới mà im re không ký gửi một lời bình. Cô mặc áo dài màu đỏ, đội cái vương miện ngời sáng như thể một hoa hậu vừa đăng quang. Bàn tay mang găng trắng muốt, ôm bó hoa lớn bộn, cầu kỳ. Trên đầu cô, bụi hoa giấy bò quanh bên tấm bảng có chú thích hai chữ: Tân Hôn. Nếu bạn là tôi, bạn cũng đồng ý là cô dâu kia xinh đẹp thập phần. Một vẻ đẹp tự tại, riêng lẻ. Nó chẳng cần những trợ giúp nào khác. Nói kiểu dân gian: Em xinh em đứng một mình cũng xinh. Em chẳng hề là cây trúc phải nương nhờ tới cái đình làng để tôn tạo nên dung mạo bắt mắt. Cô đẹp vì cô lẻ loi, cô sẽ xấu nếu đứng dựa đầu vào vai chồng. Tôi đồ thế. Bạn tôi, đứa sở hữu tấm ảnh kia đã an ủi tôi bằng vào câu nói của người ngoại quốc: Chết cho người phụ nữ mình yêu vẫn dễ hơn là phải sống chung cùng họ.

Chiều dâng bóng tà chập choạng mù mờ khi tôi về tới mái nhà xưa. Con Lu đã chết nên vắng tiếng sủa mừng vui mỗi bận thấy lại thằng bạn cũ lưu lạc đi mất đất. Trong tất cả những loài động vật, chó là con vật đáng yêu nhất. Lòng trung thành của nó là tấm gương mà loài người hổ thẹn chẳng dám soi mặt vào. Nó chết, do bởi đã có một hạng người nhẫn tâm “nhậu” nó. Nghe tin, lòng tôi luống những ngậm ngùi. Cái đuôi luôn vung vẫy, cái mặt ưa dụi vào người tôi, bốn chân vướng víu đi quanh. Sự quyến luyến của nó, cảm tình nó biểu lộ vẫn nằm sâu trong lòng tôi. Thực tình tôi rất bất mãn khi nghe tiếng mắng la của một người đàn ông ở sát phòng trọ: Người gì đâu kỳ cục, có chó mới thương mày! Tôi thích sự hoán đổi này hơn: Chó gì đâu kỳ lạ, có người mới thương mày! Phải la toáng lên, phải ưỡn ngực ra, bởi theo tôi hiểu, người phải hơn chó chứ! Nghịch lý tồn tại ở chỗ: Có lắm người đã thua chó.

Nhà vắng đến lạnh rợn. Chỉ có thằng cháu đang ngồi chơi trò bắn giết trên máy điện toán. Hắn chỉ nói đúng một câu: Chú về ăn Tết à? Súng tiếp tục nổ dòn, máu tiếp tục đổ và hắn xanh mái đầu vẫn lậm ước muốn trừ gian diệt bạo. Hắn từng bị ăn đạn cho nát thây. Game over. Nhưng hắn bất tử, tái lập lại một tình huống bạo động, đơn thân đương cự với cả một guồng máy toàn kẻ xấu xa. Anh Tư đi đâu hổng thấy? Tía tui lao động chưa về.

Vì neo người, sợ phí phạm khoảng trống, anh tôi đã tự thu bé lại căn nhà, ngăn phân nửa cho một gia đình từ dưới quê lên mướn. Thằng cháu tôi sống nhờ vào số tiền thu nhập hằng tháng kia. Lương lậu của người anh chỉ đủ cho ông ăn tiêu dè xẻn. Ông dơ xương vì ông ham uống hơn ham ăn. Ông làm con gà trống hết sung để gân cổ lên gáy. Vợ bỏ từ khuya, nghe nói đi tay không, giang hồ sang tận Campuchia. Mỗi khi có rượu vào, ông lè nhè duy một điệp khúc: Ăn xà lon bon tê? Ông đè đứa con ra chất vấn, mày biết tía nói gì hôn? Tiếng Miên đó mậy. Em có yêu anh không? Đù má, hỏi câu bù trất. Nếu yêu thương ai đành lòng bỏ cha con bây ở lại mà lưu lạc xứ người chuyên trị mắm bò hóc. Tính móc họng người ta sao hỏi câu dô diên dậy cha nội?

Tôi đứng trước bàn thờ nguội lạnh nhang đèn. Những khung ảnh đứng xiêu vẹo kia thảy phủ chụp một nỗi buồn xa vắng. Sắp chia có thứ lớp từ già tới trẻ. Ông bà xong tới cha mẹ, tía má xong tới anh Năm anh Bảy chị Hoa chị Hoè. Đứng chen vai thích cánh mà nhỏ tuổi nhất trong đội hình là thằng Quy, em tôi. Nó là út, lên Bình Dương lập thân, chui vào làm công nhân cho một tập đoàn người Trung quốc làm chủ xí nghiệp. Quy bị vu oan mang tội trộm cắp hàng thiết bị của công ty. Công an bắt vào đồn, viết chưa xong bản tự khai thì chết mờ ám ở trong lao. Anh Tư tôi đón nhận tử thi mang về an táng sơ sài. Đứng thắp nhang cúng vái trước mồ, anh nói: Đù má mày đừng trách tao nhen Quy. Mày đâu muốn thằng Tư rọm rơ này làm châu chấu đá xe, trứng chọi đá. Biết là khuất tất trái ngang oan ôi ông địa nhưng đù má tao đành phải để vụ việc chìm xuồng. Tao đi nhậu, mới nói ba câu đạo lý làm người liền bị chiến hữu can ngăn. Tư, địt mẹ mày đâu đủ tư cách để bàn chuyện đời. Mày trị không xong con vợ mày thì nên muối mặt mà ngồi làm thinh. Sương sương cưa ngã chai này cho trôi hết phiền não.

Tôi đốt ba cây nhang, thắp sáng hai bóng điện giả bộ làm đèn cầy đỏ quạch. Bây giờ sao người ta ưa chơi đồ giả, ưa xài hàng nhái. Ngay cả cây nhang đốt lên mũi ngửi ra mùi kỳ lạ và thoáng chốc chúng tàn lụn rất mau. Tôi ngó những khuôn mặt nửa thân thuộc nửa xa lạ mà lòng tịnh không chao gợn một nỗi buồn. Ừ, bậy thật. Chẳng rơi nước mắt thì ít ra phải cắn rức lương tâm khi nhìn rõ cái xác xơ trống vắng chiếm ngự bàn thờ. Không nước nôi, không hoa quả, không lau chùi phủi bụi, không huơ tay gạt đi tấm màng nhện giăng trên lư đồng.

Tôi hỏi đứa cháu vẫn kiêng cường bám trụ bên màn hình mỏng lét. Chiều tối rồi sao mày ham chiến đấu thế? Thế vấn đề cơm nước tính sao? Ái dà, thì đợi ổng về nghe chỉ thị, bất quá tui trụng gói mì tôm. Có sao đâu. Tôi bước ra bậc cấp trông vời bóng tối hiu quạnh. Thường thì mấy giờ ổng về? Có là tài thánh mới biết, ổng có quyền tự do đi lại mà chú, ai cấm cản? Có bữa nhậu xỉn ngủ bụi ngủ bờ đâu đó, có hôm về sớm quẳng cho tui hai chục ngàn. Mày nghỉ chơi đi, ra ngoải kiếm cái gì ăn, trả lại sự bình yên đặng cho tao ngáy một giấc. Đù má mai bảnh mắt phải ra nông trường mần ăn rồi. Thật khổ cái thân già. Ăn xà lon bon tê?

Tôi nói, mày biết chỗ nào ăn được không, dắt tao đi. Hai chú cháu đánh chén chuẩn bị tinh thần mừng năm mới tới. Hắn “save” cái trò chơi máu me bất tận, tắt máy rồi hất mặt về phía tôi. Được là sao? Ăn ngon, hơi đắt chút đỉnh hay tìm chỗ giá bèo, cơm bụi? Tôi ngó đứa cháu 13 tuổi. Hắn phổng phao, xương cốt lều khều, ngần ấy tuổi mà đứng vượt đầu tôi cả năm bảy phân. Nhà tôi ai nấy thấp người, thằng này chắc giống má nó, chị dâu tôi. Trước khi đẻ nó, lúc mà anh tôi chưa biết câu tiếng Miên kia, ảnh lại sính chữ Hán. Đù má con vợ tao thuộc diện trường túc bất chi lao. Kiểu này chắc tao phải siêng tu rượu rắn để có sức mà phục vụ người đẹp. He he he. Anh Tư cười. Đù má rượu rắn lợi hại lắm nghe mậy. Tôi làm thinh. Ngay từ trứng nước, tôi đã có sẵn một linh tính, thế nào anh cũng bị người ta ruồng rẫy bỏ bê. Anh hiền lành, tốt bụng, miệng hùm gan sứa và đàn bà họ chẳng cần những thứ đó. Họ trông cậy vào những kẻ ít nói, chăm làm, chớ rượu chè be bét, mang trách nhiệm trên vai, mang chung thuỷ trong lòng.

Trước khi đóng chặt cửa nẻo, tôi tìm giấy viết và hỏi tên quán ăn mà hai chú cháu sẽ tìm đến. Dĩ nhiên là nơi ngó xôm tụ, cả năm chỉ một lần, ngồi quán cơm bụi sao đành lòng, cho má nó khinh. Tôi cài vuông giấy nơi cửa, tôi nhắn, nếu không oải, anh Tư chạy xe ra tìm hai chú cháu tui nha.

Phố phường làm mặt lạ với tôi. Chỉ cần xa nó một năm, bụi trần gian chất chồng khiến nó ghẻ lạnh trước những hồn ma cũ. Tôi hỏi đứa cháu: Mày thấy chú có gì thay đổi không? Hắn nói mà không thèm nhìn: Ngon cơm, trắng da dài tóc, ngó biết hổng phải dân địa phương.

Đi hết con đường thắp đèn vàng xỉn thì đụng phố chính, thằng cháu hô: Tới rồi. Hắn dắt tôi đi vào một khu vực đầy khói, người ta đang nướng thịt, người ta đang chiên cá, người ta đang xào mì. Những cái chảo đen đúa luôn bị lửa táp, phừng phực. Nhà hàng gì lạ đời, phải băng qua khu nhà bếp hiểm nghèo mới nhìn ra bàn ghế. Đứa cháu giải thích, trước nằm ở trỏng, bị thần hoả hỏi thăm cho một vố, giờ mấy ổng ngán, mang ra ngoài đặng có gì dễ bề xoay xở. Tôi nói, họ mà bất cẩn sẩy tay thì thực khách vô phương chạy làng, có nước tự thiêu, để già lửa cháy khét. Làm gì ra nông nổi, vác giò chạy băng qua phòng ngủ con mẹ chủ quán là đụng đầu con đường nhỏ phía bên kia. Xời người ta nghiên cứu cả rồi. Cứ vô tư ăn nhậu đi chú.

Ngồi chưa nóng đít, lựa chưa xong món ăn thì anh Tư xẹt vô. Người mồ hôi mồ kê như lực sĩ môn điền dã chạy nước rút. Ốm nhách như cây củi, tóc tai bờm xờm như kẻ trăm công ngàn chuyện đầu tắt mặt tối không tiện chỉnh trang bộ vó. Năm cũ sắp sang trang mà ngó anh cứ muôn năm cũ, chẳng có biểu hiện chút mới dính thân, hơn cả chuyên chính vô sản.

Mày về hồi nào?

Mới xuống tới, khoảng hơn tiếng.

Chèn đét ơi, hết chỗ sao chui dô đây? Dao quán này tụi nó mài sắc lẻm, bén ngót. Mài chín tháng chém ba tháng.

Lâu năm mới có một lần, hổng sao đâu.

Người ở tỉnh thành về ưa chơi bảnh giựt le hả?

Anh Tư ngó thằng con: Cái dụ này kêu làm sao cho đúng hả Đực?

Kêu bằng: Chú đã trở lại, lợi hại hơn xưa.

Đúng vậy. Người xưa nói: Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn. Đi khỏi chốn ao tù nước đọng này nếu không khôn, chí ít cũng phải biết mánh mung kết bè lập đảng như thiên hạ.

Anh tan tầm cũng tối dữ hén?

Đù má phải chạy nước rút, Tết nhất tới rồi. Cha con nó lúc nào cũng ưa nâng bi, bày chuyện mần vượt chỉ tiêu, oải hết biết! Gì thì gì mày nên gọi cho tao chai bia để thông cần cổ, chuyện phá mồi hạ hồi phân giải từ từ nhá sau.

Tôi giao cho thằng Đực toàn quyền lựa chọn món ăn. Nó ít ăn ít nói, không đù má đù cha giống tía nó và thường thì những đứa đó dễ gây sự tín nhiệm cho ai kia muốn cậy việc. Tôi sẽ nhờ nó đi dọ hỏi giùm tôi địa chỉ thường trú của người ấy. Gái mà lấy chồng, lên xe bông, ắt sẽ theo “chàng” dìa dinh. Và má hẳn không nỡ lòng để con nghe chim kêu vượn hú ở phương trời biền biệt xa xăm. Chung khu vực đặng chạy qua chạy lợi mỗi khi tối lửa tắt đèn lòng dấy lên bao nguồn cơn khó ăn khó nói chỉ biết rủ rỉ rù rì riêng cho má nghe. Chớ tại làm sao khi khổng khi không bị tắt kinh, buồn miệng ăn gì vô cũng bắt dợn ói.

Chưa gì anh Tư đã tu hết nửa chai bia. Với ai chẳng biết chứ ông anh tôi một khi có bia đổ vào người thì coi bộ đầu óc sẵn sàng phát huy chất xám. Lại nữa bia ngoại, khiến ổng rất bốc: Mày nên tranh thủ đi thăm con Xuân, tình cũ không rủ cũng đến, ba ngày tết dù gì cũng là cơ hội ngàn năm một thuở, chẳng ai nỡ lòng làm mặt lạ ra nghiêm lệnh khoan khoan đừng có xáp vô, tui là phận gái chàng là phận trai.

Anh còn nhớ Xuân sao?

Mày tưởng là mèo dấu cứt hả em, đồ vải sưa mà che mắt thánh! Chuyện gì mà tao hổng rành. Đâu phải đợi hoa mai nở mới biết xuân về hay chưa. Nói mày nghe, lóng rày con Xuân nó xuống sắc dữ thần, y như cành hoa héo. Hôm bữa thấy nó mang cái bụng thè lè, hổng biết giờ này đã đẻ đái chi chưa. Mặt xanh nhợt nhạt ì ạch di chuyển lặt lè thấy thương hết biết.

Sao tía sung chuyện tả tình tả cảnh quá mạng, làm vậy chú đâm thẫn thờ ăn nhậu mất ngon. Đường đang thông xe khi không tía mang cục gạch ra chêm ngoài lộ, khiến xui người ta phải chịu chết một cửa tử.

Mồ tổ mày, bụng tao thẳng như ruột ngựa, luôn vô tư có sao nói vậy người ơi. Đi đường mà có đứa đưa ra biển báo thì sẽ tránh cảnh ùn tắc sập hố tử thần. Thôi thì hổng nói nữa, vô cái này coi, gọi là mừng xuân sum họp.

Khác với điều thằng Đực dự phỏng, tôi ăn rất ngon miệng. Quán Khói Chiều có nhiều món đặc sản chế biến mặn mòi cực bắt khi đi chung với bia. Thằng Đực làm Bao Công mặt đen vì lai rai uống nước xá xị trong khi anh Tư đang chuyển sắc làm Quan Công mặt đỏ phừng. Quan Công phán, đù má lâu lắm tao mới có một bữa ăn ngon, mày không biết chớ tao vẫn khắc ghi câu tình huynh đệ đời đời bất diệt. Nhà mình phúc phận hẩm hiu, phải mà thằng Quy còn sống, nó kéo ghế ngồi đây thì có phải là mùa xuân đoàn viên đại thắng không? Haizz!

Bữa cơm gia đình kết thúc với chén bát muỗng đũa chỏng cọng, sạch sành sanh. Ăn không chừa cặn, chẳng để lại hiện trường một cọng rau. Ăn như hôm sau sẽ là ngày tận thế. Anh Tư chủ trương cơm thương chớ không ai thương nên tận tình vơ vét. Thêm thay mày hổng nên bỏ mứa mà mang tội với những kẻ chết đói. Đù má chỗ này chuyên trị chặt chém, chẳng vào thì thôi, vào rồi phải đớp hít cho xứng đồng tiền bát gạo. Đực, tao giao cho mày một nhiệm vụ, nội trong ba bữa phải tìm ra hang ổ nơi chứa người đẹp của chú mày. Chú mày sẽ đường bệ tới thăm, chính nhân quân tử từ phố thị trở về. Em sao rồi? Ăn xà lon bon tê?

Nữa, bắt đầu xỉn rồi hả tía. Ăn xà lách thì nhuận trường chớ mô tê nỗi gì mà lè nhè. Đực đứng lên, chỉ có nó mới đủ sức càm ràm tía nó, tôi với anh Tư cũng tựa như “tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Phê bình kiểm thảo nhau thì ở cơ quan họ xúi thế chứ anh em cật ruột nên chủ trương một điều nhịn chín điều lành. Nói điều không phải sanh ra hỗn láo.

Chúng tôi cùng bước ra. Quán thôi xông khói mù cay, phố bắt đầu thưa vắng, lâu lâu có chiếc xe máy chạy vụt qua, xớn xác như bị ma rượt. Tôi đã làm thân con ma bị cuộc sống rượt đuổi ra khỏi chốn này. Tôi bị tình phụ, âu cũng nên vin vào cớ ấy mà đi xa, chạy về miền phồn hoa đô hội đặng kiếm miếng cơm manh áo đắp đổi tuổi thanh xuân không nhìn ra ánh sáng cuối đường hầm. May mà trời đãi kẻ khù khờ, chỗ tôi lao động đầu tắt mạt tối chẳng bị tư bản bóc lột, lương lậu họ trả cũng đôi phần thông thoáng. Chắt mót dè xẻn để cuối năm về quê ăn Tết có dịp mà làm hoanh. Anh Tư nói đường bệ với lại chính nhân quân tử, nghe mà thót bụng. Hổng dám đâu. Thằng Đực, con ảnh rêu rao “lợi hại hơn xưa” thì có chút đỉnh hợp tạng, đúng chỉ một chút xíu, ấy là thằng chú hắn đã giã từ những ngày đói rã họng, co quắp trong mặc cảm nghèo hèn. Người giàu có, khi phát ngôn, dễ lừa đứa nhẹ dạ. Đứa đói khổ khi nói ra lời, có chó mà nghe theo. Nữa, lại lôi chó vào cuộc. Thiệt là chó má!

Tôi trao cho anh Tư hai trăm ngàn để sắm sửa hoa quả mứt món đặng bày lên bàn thờ. Xuân làm sao đi vô đạp đất khi nhà cửa ngó lạnh tanh y như chùa bà Đanh, thấy bắt ớn. Anh bức tóc vò đầu, điệu bộ ăn năn hối cải. Bình thường ăn nói rổn rảng to điếc con ráy, giờ cầm tiền thì giọng xuống tông hát lý quạ kêu dằn vặt khoan hò: Khốn khó quá, lu bu quá, trói tay trói chân quá… còn sót chút lòng thành thì hổng biết thổ lộ cùng ai. Mày có thông cảm cho tao không? Đừng để bụng nhen. Có gì cũng nên tha ra ngoài mồ thằng Quy để cúng cho nó một trận đình đám. Đốt nguyên bó nhang cho trời sầu đất thảm.

Tôi tặng đứa cháu món quà dỏm mà cơ quan “lì xì”. Đực à, mày hổng xài thì bán nó đi nhét tiền cho ấm đít. Hẹn năm tới dìa quê ắt phải hoành tráng hơn. Hắn vui ra mặt, vậy cô Xuân, tính sao? Hổng lẽ lâu tháng chầy năm tới thăm người xưa lại đút tay vô túi nhìn đời hiu quạnh? Tôi nói, sẵn mày làm quân sư giúp tao coi. Anh Tư xía vô, việc chí tử là nên quan sát tình hình, không ấy thằng chồng nó sanh dị nghị ghen tuông thượng cẳng tay hạ cẳng chân uýnh thằng chú mày sứt đầu bể trán oan ôi ông Địa. Du Xuân mà đổ máu thì còn ra thể thống gì nữa! Ất Mùi chứ đâu phải Mậu Thân oan nghiệt năm xưa.

Thằng Đực làm con ma xó, kiếp trước chắc nó công tác ở bộ công an. Sáng đi chiều về đã có đủ bản báo cáo cụ thể, nắm vững một bộ phận không nhỏ của gia cảnh nhà người. Hắn nói: Nhưng mà làm cuộc tấn công tổng nổi dậy đột xuất thì chẳng đặng đừng, bị nhà người ta nêm cứng quan khách hàng họ phương xa về quân quần, tiếng cười nói rậm rật vang rân ra tuốt ngoài đường khoắn bụi. Hình như sẵn trớn họ tổ chức tiệc ăn đầy tháng đứa con cô Xuân. Úi chào, mình vác mặt lạ tới e sanh căng thẳng hiện trường. Tam thập lục kế ở nhà là thượng sách. Tui sẵn lòng làm du kích anh hùng vác cái thiệp mừng Xuân mang lại, nếu chú muốn thố lộ tấc lòng. Tôi cười méo mó: Thực bụng thì tao đâu có ưa ngó ra cảnh người ta hạnh phúc. Không thăm thú, không hiện diện, mà cũng không nhắn gửi tin tức gì ráo trọi. Rước phiền não là điều nên tránh.

Anh Tư đi vô đi ra như gà mắc đẻ, làm vẻ vô can mà hai lỗ tai gửi lại hiện trường: Nói thiệt nghe, sao mày nhác như con cáy. Mười hai con giáp mày hổng giống con nào trơn trọi. Đù má nam nhi chi khí, cứ tới nhìn nhau cho thoả dạ chứ dậm chân tại chỗ thậm thụt bàn ra tính vào chi cho mất linh. Chí ít nên nói trắng đôi điều cho đối tượng hiểu, anh yêu em một dạ không đổi duyên nợ hổng thành xin hẹn kiếp sau.

Tía được tài vẽ đường cho hươu chạy, tía ca vọng cổ mà sập gánh hổng có ai nghe. Anh hùng cũng tuỳ vô hoàn cảnh, liệu cơm gắp mắm là cách dụng binh của kẻ thức thời. Sáng suốt như chú là thứ tía cần học hỏi.

Ba ngày Tết trôi qua trong tẻ nhạt. Tôi vào facebook và ngó tấm ảnh cô dâu mặc áo đỏ tay ôm bó bông, hoa xấu thua người. Người ở gần kề bắt xe ôm đi khoảng hai chục phút là giáp mặt mà người cũng ngàn trùng như đời vốn bày những hố ngăn. Tôi tiêu hết những đồng bạc cuối, những đồng bạc đổ mồ hôi sôi nước mắt chắt mót tằn tiện suốt những năm dài xa xứ. Anh Tư bảnh mắt đi mần “vượt chỉ tiêu” như người ta đòi hỏi. Đưa tôi ra bến xe đò duy chỉ mình thằng Đực, học trò học bè chúng nó có thứ lịch nghỉ khác với công nhân bởi dùi mài kinh sử xem ra chẳng có gì phải khẩn trương cả. Tập đoàn lãnh đạo đất nước tuồng như học lực chỉ mới xong tiểu học, có sao đâu.

Hai chú cháu ngồi uống cà phê chờ giờ xe chuyển bánh. Hai thế hệ có riêng lối tư duy khác biệt, không khiến kẻ này đâm quyến luyến kẻ kia. Liên hệ máu mủ đôi khi chẳng sánh bằng người dưng nước lã, một vài trường hợp. Cũng tựa như chó thương người đứt ruột mà người thì luôn tìm cách hãm hại người. Nếu con chó Lu của tôi chết mà có mồ mả hẳn hoi, e tôi phải ra trước nắm đất của nó mà đánh rơi đôi ba giọt nước mắt.

Tôi leo lên xe, vẫy một bàn tay lui cho Đực. Buổi sáng trời âm u chực đợi mưa xuân. Tôi chẳng hứa hẹn xuân sau trở lại. Tự năm nảo năm nao, hình như trong tôi đã không biết tới mùa xuân. Xuân ơi, ăn xà lon bon tê.

Hồ Đình Nghiêm

Phố Gió

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

1

Thông thường, người đàn bà về nhà khoảng sáu giờ. Một vài lúc chậm trễ, sai lệch mươi mười lăm phút. Tuy thế, đó là một sự điều độ đáng yêu. Hắn không nhìn con số màu đỏ thay đổi nơi cái đồng hồ điện. Đôi khi do bởi linh tính, hắn vén màn cửa và đón nhận ngay cái vuông màu mà hắn đợi chờ: Ô cửa kính tầng năm của khu chung cư đối diện vừa sáng đèn.

Trong bóng mờ, hắn sờ đúng ngay cái ống nhòm đặt trên đầu tủ. Hắn không điều chỉnh độ gần xa, bởi ống nhòm ấy đã tuyệt hảo cho cái khoảng cách bốn mươi lăm thước. Rõ mồm một như nhìn con tem đặt dưới kính lúp, kề cận.

 Thông thường, người đàn bà ném xâu chìa khoá trên mặt bàn. Vừa cởi áo vừa tiến tới chiếc tủ lạnh đặt hơi khuất tầm nhìn. Hắn biết đó là tủ lạnh do bởi ánh sáng vừa giảm đi và người đàn bà đang cầm một lon nước ngọt khi trở ra bên máy điện thoại kiểm soát thử có ai nhắn gửi tin tức?

Người đàn bà cởi giày, móc chiếc áo ấm màu mỡ gà ở đâu đó. Hôm nay phiá trong là váy xám và áo thun đỏ. Màu xám khiến bắp chân trắng lên và phần trên, khuôn mặt người đàn bà ửng hồng tựa như vừa uống rượu xong. Hắn nhìn lui mặt bàn, lon diet pepsi còn đặt ở đó. Luôn luôn là diet pepsi. Một thứ nước giải khát mà sách vở bảo là nó không bao giờ tốt cho cơ thể bạn. Nhưng cơ thể người đàn bà? Đó là một thân hình khó tìm ra lời bình phẩm. Người ta đã đặt ra một tiêu chuẩn để lượng định và họ mạnh miệng gióng hô: Tỷ lệ vàng! Hắn không rành những con số ấy. Hắn dõi mắt theo người đàn bà vào phòng ngủ và thảng hoặc tim hắn hụt hẫng đi. Người đàn bà cởi áo xống, hờ hững đổi thay. Áo nịt ngực và quần lót thảy đều màu lục, thứ màu ve chai phơi mình dưới nắng. Hoàn toàn đó không phải là màu sắc trầm lắng ảm đạm. Nó reo vui phát quang do bởi nó có viền đăng-ten bằng lụa và nó biết đặt đúng chỗ: Che kín những nơi mà hắn háo hức muốn thấy. Một hôm đẹp trời nào đó hắn sẽ thấy tường tận, và bữa nay vẫn chưa tới ngày đó! Người đàn bà đã biến mất sau cánh cửa. Vẫn là cách lách mình đi, rất thông thường, như trăm khi. Cánh cửa đó tựa một tấm màn buông vội xuống, lúc mà vở kịch chưa thực sự chấm dứt. Tiếc!

Hắn ném cái ống nhòm xuống giường. Mở sáng đèn đặt ở bàn viết và ghi vào cuốn vở: 26 tháng 10. Áo đỏ váy xám. Vẫn sáu giờ, vẫn một mình và vẫn chẳng có gì đổi thay.

   2

27.10. Jeans xanh, sơ-mi trắng, đồ lót màu đen. Khuôn mặt lộ vẻ nhọc mệt, váng vất chút chán chường. Về nhà lúc 6.30 PM, uống cà phê thay diet pepsi. Đi nằm sớm mặc dầu ngày mai thứ bảy.

   3

Đầu đường có cái công viên. Trời trở, không mấy ai ngồi trên những băng ghế. Trơ trụi, chẳng có lấy một bức tượng làm cảnh. Cỏ xanh, nhưng hàng cây bao chắn đã phả xuống nó thứ sắc màu của chớm thu. Lá phong vàng, nhiều chiếc rời cành và khi chết đi mỗi lá có một dáng vẻ khác nhau trong động từ rơi rớt. Gió mang nó đi, rãi đều, cho buổi chiều hực sáng mà hoàng hôn nhọ mặt không đủ sức can dự tới. Đèn đường cháy lên hàng loạt và công viên như co mình lại từ chối sắc lạnh ấy đang xâm thực vào. Ở bậc thềm nhà ai đốt lên ngọn lửa trong trái bí rỗng ruột, một cái đầu quỷ sứ hiền từ với tay chân bằng rơm có mặc áo quần tử tế. Cuối tháng đã là Halloween. Phim ảnh ngoài rạp đang chiếu những tuồng tích kinh dị. Chúa Phật có lúc phải chết đi nhưng yêu ma thì luôn bất diệt. Chúng cấy lại truyền nhân và cảnh sát đã tăng cường nhân viên hành sự trong đêm lễ hội Halloween, phòng hờ bất trắc.

Hai người ngồi xuống một băng ghế. Heo may làm mặt gỗ lạnh tanh. Có chút không khí của Đà-lạt vây quanh họ, nếu đừng nhìn hình nộm nhe nanh.

– Tôi không ngờ trước đây chị ở đường Phan đình Phùng.

– Có gì đáng ngạc nhiên?

– Thấy trái đất có khi nhỏ bé đến ngờ vực. Tôi ở bên Hai bà Trưng. Hai đường đó là hai đường thẳng song song.

– Còn bây giờ? Điều tôi không thể hiểu được là tại sao bạn lại làm thế? Trước đây  bạn học ở đâu?

Hắn nhìn xuống. Hai chân người đàn bà bắt chéo nhau. Vải quần dày nhưng hắn có thể định vị đâu là chỗ có cái nốt ruồi đen nằm ẩn trốn, không sai trật.

– Tôi học trường Việt Anh.

Hắn trả lời và hắn tự nghĩ, một đứa có ăn học sẽ không bao giờ dòm trộm người khác khỏa thân?

– Tôi vẫn đọc những lá thư bạn gửi. Bạn có khiếu viết văn, tiếc một điều là thư gửi sai địa chỉ.

– Chị có phát hiện điều gì trong những lá thư ấy không?

– Tôi xem đó chỉ là trò đùa của một kẻ dư thời gian. Và nó gây cho tôi cái tâm trạng chờ đợi.

– Chị chờ chuyện gì?

– Chờ trò đùa chấm dứt. So ra tôi thích ngồi nói chuyện đối mặt như thế này hơn.

– Nhưng ít ra muốn có buổi chiều ngồi kề cận này, trước tiên phải bày biện ra những nguyên cớ.

– Tại sao bạn nhọc công như vậy?

– Có những sự thật chị không nên tìm hiểu.

– Thật không? Tôi chẳng đủ lãng mạn để tin là mình đang có một người yêu thầm.  Hãy buông tha tôi.

– Tuổi tác. Chị muốn nói tới vấn đề đó?

– Không. Tôi đang tu thân. Tôi muốn lòng được bình an. Tôi còn một cô em lành lặn ở Đà-lạt, nếu muốn tôi sẽ cho bạn địa chỉ. Và tuyệt đối đừng nghĩ đó là sự lợi dụng mong muốn bạn bảo lãnh nó qua.

– Chị không cảm thấy thiếu thốn?

– Bạn muốn nói tới điều gì đây? Đừng để sách báo ám ảnh đầu độc. Hay bạn đang  suy bụng mình ra bụng người?

Hắn nhắm mắt. Hắn thấy rõ chiếc nơ nhỏ có đính hạt cườm nằm trên chiếc quần lót. Từ đó lên lỗ rốn là phần bụng mượt mà của người đàn bà. Bao lâu rồi vùng da gợi cảm ấy thiếu vắng một bàn tay đặt lên, mơn trớn?

– Có một người để chuyện trò chẳng hạn, điều đó không cần thiết sao?

– Làm sao bạn biết được là tôi thiếu người để trò chuyện?

– Khi một kẻ dốc lòng quan tâm tới người khác, hắn sẽ biết nhiều điều về người đó.

– Bạn biết thêm điều gì về tôi?

– Một người vừa trải qua chặng đường tình không may… Hắn nói. Và hắn kê khai cái lịch trình thay đổi màu sắc trên xiêm y lụa là người đàn bà. Ra đường lúc bảy giờ sáng về nhà lúc sáu giờ tối. Và lộ trình mà người đàn bà phải đi qua để tới chỗ làm. Một vận hành buồn rầu như kim đồng hồ quay mãi miết  giữa vòng tròn đóng kín.

Người đàn bà ôm choàng hai tay vào thân mình như bị nhiễm lạnh. Hắn ngó qua, bắt gặp một khuôn mặt tựa thạch cao. Hắn cởi chiếc áo nỉ đen đang mặc ra nhưng người đàn bà từ chối một hơi ấm sẽ phủ xuống vai.

– Bạn đã thất tình lần nào chưa? Bạn hiểu gì về tình yêu?

– Tình yêu là điều mà không ai có thể hiểu được. Tại sao chị hỏi vậy?

– Bởi vì tôi muốn nhìn ra sự thành thật có ở người bạn.

– Suốt buổi nói chuyện hôm nay tôi cố không để sự thành thật vuột mất. Dối gian là điều tôi không mấy ưa, đúng hơn là tôi không thể đặt điều khi ngồi gần chị. Nếu tôi nói yêu chị thì chuyện gì sẽ diễn ra?

– Chuyện có thể xảy ra là sự minh chứng về lời nói đó.

– Chị muốn tôi chứng minh bằng cách nào? Ngắt đầu thằng hình nộm kia xuống và mang quả bí vàng ấy tới đây? Mang đặt xuống ghế mà ngọn đèn cầy bên trong vẫn không tắt?

– Đừng. Việc gì phải nhọc công thế?

– Chị nhắm mắt lại đi rồi tôi sẽ làm một việc nhẹ nhàng đằm thắm.

– Tôi đã qua khỏi cái tuổi bị đánh lừa rồi. Bạn trẻ con cũng vừa phải thôi.

Không được hôn, hắn lục tìm thuốc lá để hút cho khỏi nhạt mồm. Khi bật lửa, hắn phát hiện đôi tay đang run. Hắn không lạnh, ấm là đằng khác, nhưng lòng chao đảo để dư âm của nó tràn dâng ra những ngón.

– Tôi muốn biết cớ gì bạn theo dõi tôi còn hơn cả công an?

Hắn nén vào lồng ngực những đám khói. Uống pepsi không tốt, hút thuốc thì vô cùng độc hại. Chuyện ấy gần xa ai nấy cũng đều tỏ tường, tuy thế có những lúc người ta cần phải tìm lối vào địa ngục để dẫm chân. Để thấy là trần gian sẽ nhạt nhẽo biết bao nếu sống miết với những cấm kỵ, phục tùng những điều răn.

– Tôi quen một người đàn ông, biết tôi ở đối diện nhà chị ông ta trao cho tôi cái ống  nhòm. Đó là người đàn bà ngoại tình, ông ta nói vậy. Cậu sẽ nhìn thấy những màn hấp dẫn với chiếc ống nhòm này. Khi nào có pha gay cấn nhớ kể cho tôi nghe.

Hắn ném điếu thuốc xuống đất, nhìn sự tàn lụn mà không dập tắt bằng bàn chân đay nghiến.

– Tôi ghét những kẻ ngoại tình cho nên tôi đồng ý lời đề nghị, mặc dù nhìn trộm là một việc làm khó thứ tha.

Gió lay động trên cành khẳng khiu. Có người dắt chó đi dạo vụt ngang qua, câm lặng tựa một bóng ma, vất lại đôi hòn bi lửa nơi mắt chó ngoái đầu nhìn với thứ nhãn tuyến long lanh kỳ dị. Những chiếc lá xoắn lên rồi dạt trôi theo người và thú. Sương xuống bít đặc một tầm nhìn.

– Tôi lạnh. Người đàn bà nói khi đứng lên. Những ngọn tóc rối xô lệch đường ngôi.

Hắn cũng nhìn ra niềm rối bời trong tâm trí. Nửa nhẹ nhàng khi nói  hết và nửa khác là sự hối hận của lỡ lời.

– Quái đản! Không tưởng tượng nổi…

– Chị nói sao?

– Cái ống nhòm hiệu Canon phải không? Tôi mua nó trong một buổi đi xem trình diễn nhạc. Buồn cười! Chẳng bao giờ tôi nghĩ là nó còn có một công ích khác.

Người đàn bà bước đi, xào xạc xác lá, băng chéo công viên. Đó là đường chim bay, lối đi ngắn để chóng về nhà. Hắn sánh vai, chờn vờn sự im lặng chen giữa khoảng cách. Thay vì dừng chân trước dãy chung cư mang số chẵn, người đàn bà băng qua đường để đứng dưới mái hiên thoi thóp ngọn đèn vàng đục.

– Dẫn tôi lên thăm chỗ bạn ở. Có được không?

– Thang máy hư…

– Chẳng hề gì, mấy khi mới được vận động đôi chân?

Hắn dẫn lối. Hắn không tin là người đàn bà ngoại tình. Suốt cả tháng hắn chưa bắt gặp bóng dáng một thằng đàn ông lai vãng tới. Có điều gì không ổn nơi thái độ và lời nói của kẻ trao ống nhòm cho hắn. Một người chồng cũ hẹp bụng?

   Hắn bật đèn. Đóng cửa bằng lưng.

– Chị uống gì? Tiếc là chẳng có diet pepsi. Cà-phê nhé?

– Không, tôi không uống gì cả, bởi lẽ tôi có ý định sẽ khao đãi bạn một chầu gì đó dưới phố. Sự thành thật của bạn đáng được đền bù.

Hắn vòng tay nhìn người đàn bà đang ngó quanh quất. Căn phòng nhỏ, đồ vật chẳng có gì nhiều. Nó đúng nghĩa là một chỗ trọ, tạm dung.

– Chỉ để ngã lưng mỗi tối… Quan trọng là có được một giấc ngủ yên. Chị hiểu không.

Hắn nói, như bào chữa về cái tổ chim sơ sài thiếu thốn của hắn.

– Có chắc là được ngủ yên không?

Người đàn bà thở dài. Đi hết bề dọc căn phòng, tới vén màn án che cửa kính. Bóng tối đặc quánh buông rèm bên ngoài, khu chung cư đối diện có vài ô cửa sáng đèn, vàng ố.

– Chẳng thấy gì phải không? Tựa như ở đường Hai bà Trưng ngó sang bên Phan đình Phùng một đêm mù sương.

Người đàn bà cười với lối ví von của hắn. Như thể hắn di dân tị nạn chưa được lâu, lòng còn bề bộn trăm điều ray rức với chốn cũ. Hoặc đời sống mới dựng đứng nỗi bất an, chạm mặt nó và thấy phảng phất đâu đó niềm nuối tiếc về điều gì đã cổ xưa, đã mất mát. Đã không thể tìm lại được.

   – Đi.

Người đàn bà nói. Hắn mở rộng cửa chờ đợi. Đó là một ý kiến sáng suốt. Bởi còn cà kê dê ngỗng giữa bốn bức vách yên ả này, thì cớ sự không hay sẽ rất dễ xảy tới. Hắn ghét đối đầu với tình hình gay cấn. Và ở người đàn bà, hoàn toàn chẳng phát sinh một cử chỉ gợi mời phủ dụ nào cả.

– Bạn có xe chứ?

– Có. Nhưng cũ kỹ, cà rịch cà tang.

– Càng tốt. Tôi ghét ngồi trên những chiếc xe mới, bóng lộn.

Cà rịch cà tang chỉ là một cách nói. Máy nổ êm và hắn điều khiển xe theo đúng sự giao hẹn có nơi tấm bảng dựng bên triền cỏ: Tốc độ không được quá 40 cây số giờ. Nếu mọi tấm bảng có trong thành phố đều đồng loạt đánh số tựa thế thì hắn càng thú. Chở người đàn bà đi trong đêm, đó là hình ảnh dù nằm mơ hắn cũng không tài nào bắt gặp. Sự thật có khi hoang đường hơn cả mộng mị.

– Tôi lái xe còn chị thì chỉ đường, nhé?

– Bạn qua đây đã lâu mau?

– Gần bốn năm. Tôi chưa nhập tịch. Tôi thích nói tiếng Việt hơn là nói tiếng Pháp tiếng Anh.

– Kỳ cục! Có ai xổ tiếng tây tiếng u hồi nào đâu?

– Ý tôi muốn nói là được trò chuyện với chị thì đó là cả một hạnh phúc.

– Vẫn còn thành thật chứ?

– Vẫn. Trong hãng cứ phải chung đụng giao tiếp với bọn tây tà thiệt là không khoái khẩu.

   Xe chạy lên hướng phố. Những luồng sáng xanh đỏ lần lượt hắt lên mặt người đàn bà.

– Lâu lắm tôi mới đi chơi đêm.

  Lời nói nghe chừng như ta thán, phát ra trên cửa miệng một vị nữ tu.

– Điều gì khiến chị tự giam thân lại?

  Thay vì trả lời câu hỏi người đàn bà đưa tay chỉ đường.

   – Đi lối này. Mình xuống Saint-Laurent, đằng kia thì đường một chiều mất rồi.

Người đàn bà thay đổi ý định những hai lần. Hắn nghe theo và sau cùng như chợt nhớ điều gì người đàn bà biểu hắn dừng xe trước một quán cà-phê của Ý. Họ kiếm được một chiếc bàn nhỏ. Ánh sáng, khói thuốc, tiếng nhạc; không khí trong quán làm hắn háo hức. Những cô chạy bàn xinh đẹp, mỗi chân đi là mỗi xao động những hương mùi. Ngọt, thơm, và nó lơ lững tấp vào lòng những ý nghĩ tà đạo. Hắn nhìn người đàn bà, ở trong xe mũi hắn cũng ngửi ra một mùi hương, nhưng đó là thứ nước hoa đằm thắm nhẹ thoảng, không khiêu khích lộ liễu như bọn ma nữ vây quanh này. Người đàn bà gọi cà-phê, cho cả hai.

Hắn khuấy đường rồi nâng tách.

– Uống mừng được quen chị.

Người đàn bà nhăn mũi.

– Hãy cho tôi một điếu thuốc.

 Hắn bật lửa. Người đàn bà có chút lúng túng khi thở khói.

– Tôi sẽ hút hết ba điếu. Sau đó chúng ta ra về và chia tay.

– Một sự giao ước quá đỗi hạn hẹp! Trong bao thuốc này còn lại mười một điếu. Chúng ta phải đốt cho hết nó, đồng ý không?

– Để xem sao. Tuỳ thuộc vào nỗi buồn vui của mỗi người.

 Hắn nhìn sâu vào đôi mắt màu cà-phê của người đàn bà. Khói thuốc vấn vương làm mắt loáng ướt như chực khóc. Thế ngồi chẳng được tự nhiên, có chút hồi hộp, thấp thỏm.

– Hãy kể một chút về bạn cho tôi nghe.

– Những lá thư tôi gửi không đủ cho chị hiểu biết về tôi sao?

– Tôi đọc nó trong một tâm cảm khác với giờ này. Bởi tôi đọc mà tôi không hình dung ra người gửi. Khi bạn nhận được một lá thư nặc danh bạn sẽ thấy rõ tâm trạng bất an của bạn lúc đó.

– Nói về mình là điều không nên. Vả lại tôi chẳng biết phải bắt đầu từ đâu.

– Thôi khỏi. Hãy chồm qua bàn và hôn tôi đi… Nhanh lên.

Hắn không nhìn ra sự đùa cợt trên gương mặt người đàn bà. Rất trang nghiêm. Hơi bất ngờ, nhưng hắn quyết định phải nghe theo. Không nhanh, chậm rãi là đằng khác. Hắn nhắm mắt, đặt để môi hắn trùng nhập khít khao với môi mềm son đỏ. Cơ thể hắn nhẹ, tưởng như tan biến hoà nhập vào người đàn bà. Rất lâu, hắn nghĩ vậy, một nụ hôn dài. Và hoang tưởng. Mọi tiếng động tạp nhạp trong quán không thể chui vào tai hắn. Tịch mịch và chìm lắng. Khi hắn mở mắt ra, trong tấm gương soi treo dọc sau quầy đang hứng đọng một khuôn mặt quen. Khuôn mặt ấy thoáng bàng hoàng, có phần tái đi và rồi quay đầu bỏ trốn.

– Ông ta nói với bạn ra sao? Đó là một người đàn bà ngoại tình? Giờ này ông ta đã thấy, vậy thì có gì đáng phải ngạc nhiên!

Người đàn bà đưa tay chùi vết son trên môi hắn. Hắn có cảm tưởng như bàn tay ấy đã vừa xoá bôi hết những quan hệ giữa hai người.

– Đã đến giờ về, phải không? Dù mỗi người chỉ mới đốt cháy một điếu thuốc.

Người đàn bà đặt tờ mười đồng dưới tách cà-phê.

– Đã vãn tuồng rồi phải không? Chị nhẹ người chưa khi vừa trả thù xong?

Không mở miệng, người đàn bà câm lặng lục ví tìm hộp phấn. Mở nắp ra, chiếc gương nhỏ ở đó hắt lên mặt người đàn bà luồng sáng lạnh, soi rọi nét dửng dưng khó tả. Lạ lẫm như đã chết hết những giác quan.

   4

Sáu giờ mười lăm, người đàn bà tra chià khoá phòng. Sự yên lặng bên trong luôn chờ đợi, như thường lệ. Công tắc đèn được đụng tới, oà vỡ vùng ánh sáng bao bọc. Chùm chià khoá kéo lê tiếng động khô khi rơi xuống bàn. Lon diet pepsi cầm ở tay trái và tay phải đóng mạnh cánh cửa tủ lạnh. Uống một hơi không nghỉ, người đàn bà đứng nhìn nốt đỏ nhấp nháy phát tín hiệu nơi máy điện thoại. Tôi gọi chị để chào từ giã. Từ nay sẽ không còn ai nhìn lén chị nữa. Ba nốt ruồi trên thân thể chị và một nụ hôn, đủ để tôi mang giữ một hình bóng. Tôi chẳng giận chị chuyện gì cả, có điều mối tình của tôi đã bị tổn thương. Tôi sẽ về thăm nhà, đi trên đường Phan đình Phùng và biết đâu sẽ tìm ra một người giống chị, nếu đời sống còn đó chữ định mệnh. Tôi sẽ gửi bằng bưu điện đến chị cái ống nhòm Canon và cuốn nhật ký của tôi, xem như một kỷ niệm chẳng mấy đẹp. Mong sao tâm hồn chị được bình an…

Người đàn bà nghe cuốn băng hai lần. Tiến tới sát cửa kính nhìn sang khu chung cư đối diện. Đen đúa một màu. Đi xuống đường, băng ngang mặt lộ ngập lụt xác lá, người đàn bà bấm chuông ở thùng thư có dán chữ Nguyen không dấu. Hắn tên gì, người đàn bà cũng chẳng biết. Có lẽ hắn đi thật rồi. Năm phút. Mười lần nhấn chuông. Cửa không mở. Người đàn bà trở về nhà.  Vào phòng ngủ thay áo quần nhưng cố tình đứng ngay cửa. Nếu còn ẩn mặt bên kia hắn sẽ trông thấy. Người đàn bà cởi áo, cởi nịt vú. Ngực bên trái là một mặt phẳng nhăn nhàu. Là hậu quả một cơn bệnh, buộc lòng phải đau đớn ngó phần thịt da đoạn lià thân thể. Cắt rời nó và rồi kéo theo bao tổn thương khác. Nguồn cơn để xảy ra ly dị, để trở mặt, để mang người đàn bà về đây thu mình với cô đơn. Nếu thấy rõ sự tàn khuyết, liệu hắn còn giữ trọn một mối tình, không đổi?

Người đàn bà tắt đèn đi tới dán mặt vào ô cửa lạnh nhìn xuống đường. Hai ba đám con nít làm bộ tịch yêu ma phô bày lộ liễu niềm sung sướng nối hàng xôn xao đi xin kẹo bánh. Đêm Halloween chập chờn những bộ y phục cổ quái dị thường. Tối nay hắn lang thang vất vưởng ở chốn nào? Hắn có tham dự vào trò chơi hoá trang không? Nếu giữa canh khuya hắn gõ cửa phòng và xuất hiện dưới lốt một con yêu râu xanh thì thích biết mấy! Hãy làm thinh, xin chớ đánh rơi mặt nạ xuống; bởi như thế sẽ dễ dàng cho chúng ta nhập vai một cuộc bù đắp trọn vẹn. Đớn đau và hoan lạc cho tới sáng.

Người đàn bà ngó sững hàng cây mỏi mòn trút lá. Tay ôm buồng ngực rỗng, hư hao.

  Hồ Đình Nghiêm

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Bài 63

Phần 62

Đúng sáng ngày 25 tháng 12 năm 1978, trại tù Hàm Tân xảy ra một cuộc tổng biên chế. Những dãy nhà tù trước đây còn nhiều chỗ trống đều bị dồn cho đủ số người quy định. Người nhà này bị lôi qua nhà khác, đội nọ bị đổi qua đội kia… Thậm chí có một số được điều qua phân trại B và một số từ phân trại B lại được đưa về phân trại A. Dãy nhà 1, dãy duy nhất nằm lẻ loi, sát ngay cổng trại và không có hàng rào vây quanh, chỗ ngủ cho đám trật tự và một số hình sự thân tín của Ban Giám Thị, cũng có một số bị lôi đi và một số được đưa đến. Nói tóm đây là một cuộc cải tổ nội bộ quy mô nhất từ trước đến nay. 
Tuy nhiên, một điểm đặc biệt đáng ghi nhận là những đội thuộc khu 1 và 2 dường như không có gì thay đổi quan trọng. Chỉ một vài người bị lôi đi và một vài người khác được bổ sung vào. Căn bản là đâu vẫn nằm yên đấy! Sau khi ổn định nơi ăn chốn ở, bọn giám thị cho tất cả nghỉ luôn lao động buổi chiều và lên hội trường nghe giám thị trực nói chuyện. Ngược hẳn với lối nói mập mờ của bọn quân quản, bọn công an thường nói thẳng thừng với bọn tù về những diễn biến sẽ xảy ra mà chúng xét rằng cần phải có một thông báo cụ thể. Giả dụ chúng thẳng thắn gọi tù là tù, là can phạm; chúng không mập mờ gọi tù là cải tạo viên như bọn quân quản trước đây. Cũng thế, hôm nay chúng thẳng thắn tuyên bố rằng, sở dĩ chuyện biên chế lại các nhà đội là vì trại cần một số phòng cho một số đông can phạm các nơi sẽ gửi đến nay mai. Lời tuyên bố của tên giám thị trực làm cho mọi người đều thấy rằng những tin đồn từ trước đến nay quả không phải là vô căn cứ. Và Vĩnh phải công nhận cái tin Nguyễn Tú Cường cho cả tháng trước đây hoặc của Lê Quốc Việt mới hai ba ngày trước không phải là tin thất thiệt. 
Dù trải qua một ngày xáo trộn, và lỗ tai mọi người đều đã nghe đủ lời răn đe của tên giám thị trực về cái gọi là “cấm mọi tụ tập làm việc tôn giáo mê tín dị đoan…”, nhưng lễ Giáng Sinh vẫn là lễ Giáng Sinh, một cái lễ mà tinh thần của nó gần như đã vượt ra ngoài phạm vi hạn hẹp của một tôn giáo, mà đã biến thành một biểu tượng cho sự yên ổn tinh thần, sự cứu rỗi chung cho con người. Vì lẽ đó, hầu như không tên tù nào ngày hôm nay lại không để lòng hướng về lễ Giáng Sinh. 
Riêng với những anh em công giáo, ngay sau khi trở về nhà, họ đã tái liên lạc với nhau để chia công tác tổ chức Lễ Giáng Sinh dưới nhiều hình thức khác nhau tùy theo điều kiện hiện tại. Nói chung, tất cả đều tìm cách xưng tội và dự “lễ đi”. Kẻ lo nấu nướng một vài món ăn đặc biệt để sẵn trong phòng, khi chiều xuống bị lùa vào chuồng, họ sẽ tụ tập ăn mừng lễ với nhau. 
Trong khu 2 (nhà 4 và 5) không có linh mục, nhưng bên khu 3 (nhà 6 và 7) có cha Bộ. Mặc dù ai cũng biết trong thời điểm như thế này mấy linh mục bị theo dõi sát nhất, nhưng các cha vẫn rất khôn ngoan để thực hiện được sứ mệnh linh mục của họ. Sau màn móc nối qua lại của anh Huy, một số chừng hai mươi anh em công giáo của hai nhà 4 và 5 kéo ra sau bếp nhà 5, sát dãy cầu tiêu, tản mát mỗi người một nơi nhưng ai cũng hướng về dãy hàng rào bên nhà 6. Bên ấy, cha Bộ đang đứng chờ mọi người một cách kiên nhẫn. Khi anh Huy nói xong vài điều với anh em về cách thức xưng tội tập thể, anh quay sang ra dấu cho cha Bộ biết. Bên kia hàng rào, nét mặt vị linh mục như nghiêm hẳn lại. Ông thầm thì đọc lời giải tội và để kết thúc, ông giơ tay làm một dấu Thánh Giá hướng về phía những người đứng bên này hàng rào. Sau khi được giải tội tập thể đúng như sự sắp xếp của anh Huy, anh em cứ hai người một đi tới đi lui dọc theo hàng rào. Phía bên kia cha Bộ cũng đi như thế với hai người bạn đi hai bên. Đây là lúc mọi người đang tham dự Thánh Lễ do cha Bộ cử hành phía bên kia hàng rào. Vì để tránh sự nghi ngờ của bọn trật tự và bọn giám thị, các cha “chế” ra phương pháp làm “lễ đi” như thế này. 

Rồi thì “lễ đi” cũng chấm dứt. Buổi chiều đã thực sự bắt đầu buông xuống. Việc đi lại chưa cấm hẳn nhưng trên thực tế đã bị hạn chế thật nhiều vào những lúc gần đây. Do vậy, khi đi lao động về, trừ khi có việc phải xuống bệnh xá hoặc đi lãnh cơm lãnh nước dưới bếp chính của trại, anh em chỉ lẩn quẩn trong phạm vi hàng rào của từng khu để tránh phiền phức bị trật tự nghi ngờ theo dõi hoặc bị giám thị trại chận hỏi. Vì lý do ấy, sau khi “lễ đi” chấm dứt bọn Vĩnh cũng chẳng ra sân trại làm gì. Anh em trở lại chỗ nằm lôi ra những cái gì có thể nấu ăn được đem ra sau bếp nhóm lửa nấu nướng. Để ăn mừng ngày Giáng Sinh trong tù, nếu là người đã được thăm nuôi thì sẽ có được một nồi mì, hoặc nui tương đối ngon lành với đủ gia vị như mỡ, nước mắm, hành khô, bột ngọt, tiêu ớt. Nếu tệ hơn thì có nồi bột Bích Chi quấy chung với mấy cục đường làm chè. Bằng nếu là con bà phước, hoặc lâu rồi không được thăm nuôi, người muốn ăn mừng lễ chẳng còn cách nào khác hơn là đem đổ phần khoai mì được cấp phát của mình vào nồi, xin xỏ anh em thêm một vài vắt mì khô, một chút nước mắm để có được một nồi xà bần tương đối đặc biệt hơn mọi ngày. 
Riêng đám Vĩnh vì anh mới được thăm, do đó ăn uống có vẻ xôm trò. Điểu và Dương kiếm củi, anh Huy nhóm lửa, Cường sai vặt, Ý và Vĩnh lo nấu. Chỉ mười lăm phút sau một nồi mì vĩ đại với đầy đủ gia vị thơm phức đã hoàn tất. Kèm với nồi mì còn một nồi đậu xanh nấu với đường cát… Anh Huy vội vàng lấy lon cóng múc ra một ít đem biếu những nơi cần biếu, đặc biệt là các cha ở các dãy nhà khác. Sau đó tất cả được đem vào đặt nơi chỗ nằm chờ giờ tập họp. 
Sau khi vào chuồng, trong lúc ngồi ăn với nhau, bọn Vĩnh mới có thì giờ bàn đến những thay đổi trong ngày. Đối với đội 17, điều thay đổi quan trọng nhất là việc đội trưởng Đặng Xuân Hùng đã được điều sang làm đội trưởng đội khác. Sự ra đi của Hùng đã khiến anh em thấy lời nói của Hùng quả “rất có trọng lượng” đối với Ban Giám Thị. Chính Hùng đã từng than thở: Mai mốt tôi xin đi đội khác. Ở đội này các ông bựa quá, chịu không nổi. Nấn ná mãi ở đây có ngày mang họa lây! 
Hùng đi Mai Văn Lễ được đôn lên làm đội trưởng, đồng lúc một nhân vật khác được điều đến làm đội phó. Người đội phó mới này hiện tại chưa ai biết rõ anh ta là gì, thuộc thành phần nào và tính tình ra sao. Chỉ thấy từ chiều đến giờ anh xuất hiện như một người đã khá lớn tuổi, quãng 48 hoặc 49; vóc người cao lớn, dáng đi hơi gù với một nét mặt thật trầm tĩnh… 
Trong lúc ăn anh Huy nhìn về phía người đội phó mới (anh ta đang lặng lẽ trải chiếu trên chỗ anh nằm) hỏi bâng quơ. 
– Thằng cha ấy chắc to tuổi hơn tôi. Không biết cỡ nào mà lại được đem vào đội này làm đội phó!? 
Không ai phụ họa, anh Huy lại tiếp. Tên gì không biết? 
Cường với bản tính thích chứng tỏ biết hết mọi chuyện, vừa múc mì ra bát vừa trả lời. 
– Thứ dữ đó. Chả tên Thuận. Trước từng là đội trưởng đội 20. Không biết vì lý do gì mất chức một thời gian. Hôm nay lại được điều về đây làm đội phó. 
Vĩnh chỉ lắng nghe nhưng không góp ý kiến. Ăn uống xong như mọi người, Vĩnh sắp xếp lại chỗ nằm có một chút thay đổi của mình. Số phận đưa đẩy, ông Trương Hồng điên điên khùng khùng lại một lần nữa đưa đến nằm sát bên Vĩnh. Thấy Vĩnh, hắn chỉ liếc xéo một cái rồi thôi, rồi quay trở lại với bức vách trên đầu chỗ nằm như một người đang ngồi thiền. 

Vĩnh nằm nhìn qua cửa sổ có chấn song sắt. Cũng như đêm hôm qua, đêm nay bọn công an gác đêm bồng súng đi tới đi lui và thỉnh thoảng nhìn vào phòng qua các cửa sổ như để quan sát một cái gì. Thực ra chúng chỉ có mục đích khám phá và ngăn chặn kịp thời những ai chúng nghi ngờ đang ngồi tụ tập “làm những việc tôn giáo mê tín dị đoan”. 
Nơi cửa sổ gần dãy cầu tiêu cuối phòng chợt có một tiếng hét từ ngoài hắt vào. 
– Này anh kia! Làm cái gì đấy? Làm việc mê tín hả? 
Tiếng một người từ bên trong trả lời. 
– Tôi có làm gì đâu! Tôi đang bắt rệp mà! 
Giọng bên ngoài hơi hách dịch hơn một chút nữa. 
– Bắt rệp ngồi xích ra ngoài. Cấm ngồi quay mặt vào vách như vậy nghe chưa! 
Sau câu ra lệnh ấy trong phòng không còn ai nghe thấy gì thêm nữa. Có lẽ tên công an gác đêm đã bỏ đi chỗ khác. 
Vĩnh ngồi bật dậy và bắt đầu lôi chăn mùng mền ra. Một ngày bận rộn khiến Vĩnh và hình như nhiều người khác nữa đã quên phéng đi một công tác quan trọng không thể không hoàn tất trước khi đi ngủ. Công tác bắt rệp. 
Vào quãng nửa đêm cả trại thình lình thức giấc vì những tiếng động ngoài sân, tiếp theo là tiếng súng nổ ròn rã vang lên khắp nơi. Bọn tù đều chồm tới những khung cửa sổ nhìn ra ngoài. Đang lúc ấy cửa nhà 5 bật mở. Bọn công an súng ống ập vào và bắt tất cả hạ mùng. Kế nữa những người nằm tầng trên phải xuống hết tầng dưới cho một cuộc điểm danh bất thường. 
Xưa kia chuyện báo động nửa khuya ở Trảng Lớn hay An Dưỡng là chuyện thường. Tuy nhiên từ ngày về đây, đây là lần đầu tiên xảy ra việc này khiến ai cũng thầm thắc mắc. Chuyện gì đây? Trốn trại chăng? Nhưng trốn bằng cách nào khi ở đây đêm đến đều bị nhốt kín trong phòng như thế này? 
Vài phút sau, tù nhà 5 đều ngã ngửa vì quả thực có trốn trại, và cho thấy riêng nhà 5 đã có ba người trốn, một người của đội 45, hai người của đội 13. Bọn giám thị sau khi biết chắc nhà 5 biến mất ba người, chúng cho lệnh các đội trưởng trong nhà đi cùng với chúng tìm xem những người trốn trại đã thoát ra ngoài bằng cách nào. Sau cùng, chúng khám phá ra một khung cửa sổ có những song sắt bị cưa đứt. 
Khi bọn giám thị lui gót và trật tự khóa cửa phòng lại như cũ, hầu như cả nhà không còn ai ngủ được. Đám vượt ngục đều là anh em gốc Hòa Hảo, từng được chuyển từ miền Tây lên sau đợt Vĩnh không quá tuần lễ. Thường ngày họ đều là những người lao động rất hăng, ít tỏ lộ những hành vi chống đối và rất đoàn kết với nhau. Không ai ngờ đúng vào nửa đêm ngày 25 rạng ngày 26 của tháng Tây lịch cuối cùng năm 78, họ hè nhau trốn một lượt đến năm người như thế, và nhất là trốn được một cách êm ru. 
Tuy không nói ra nhưng ai cũng thầm lo cho thân phận những người trốn trại. Dân vốn gốc ở đây mà nhiều anh còn thất bại, huống chi họ là dân miền Tây, phong thổ địa dư nơi đây đều lạ, làm sao mưu sinh thoát hiểm cho nổi! 
Qua cơn lục soát tìm kiếm, điểm danh báo cáo… cả trại lại chìm dần vào sự yên lặng của đêm tối. Quãng ba giờ sáng, một lần nữa Vĩnh và nhiều người đều giật mình thức giấc; lần thức giấc này hoàn toàn không vì những tiếng súng nổ, không vì những tiếng chân chạy mà vì những tiếng huỳnh huỵch vang lên từ phía cổng trại, bò vào tới giữa sân trại và lần lượt tiếng huỳnh huỵch ấy lết tới phía bệnh xá cuối trại. Vĩnh nhìn ra sân qua chấn song sắt. Dù đã quá quen với cái cảnh này, Vĩnh vẫn không khỏi không xúc động. Ngoài sân, một chuỗi năm người bị trói vào nhau như một lũ tù dây, đang lê lết bò trên sân trại. Đi theo họ là một bầy công an súng ống đầy đủ. Xa xa còn có vài anh chàng trật tự đi theo. Riêng bọn công an quả như một bầy chó dữ đang ùa theo cắn xé năm người bị trói. Đoàn người ấy cuối cùng biến mất nơi góc bệnh xá và dãy nhà số 11. 

Trong phòng ai cũng bần thần cả người. Thế là bị bắt rồi! Những tiếng thầm thì cứ liên tục nổi lên. Vĩnh không bàn thảo với ai. Anh cứ ngồi nhìn ra ngoài cửa sổ. Thình lình một cái đầu đen thui xuất hiện phía bên ngoài, la lớn vào trong khiến Vĩnh giật bắn mình. 
– Xầm xì gì đấy? Ngủ đi không ông tấn cho cả đám một trận bây giờ! 
Mặc tên công an từ ngoài đe dọa, bên trong anh em vẫn xầm xì bàn tán đến hiện tượng vừa xảy ra. Tên công an cáu quá, hét. Các đội trưởng đội phó đâu? Bắt tất cả đi ngủ xem nào! 
– Thôi đi ngủ đi. Mấy người ấy chắc chắn bị nhốt cachot hết rồi. Cachot ở đây muỗi và chuột ghê gớm lắm… 
Một tiếng nói thầm bên tai Vĩnh làm Vĩnh giật mình ngoái lại. Hóa ra đội phó Nguyễn Văn Thuận đã chồm tới chỗ Vĩnh tự lúc nào để ngó qua cửa sổ chỗ anh nằm. Vĩnh nhún vai không biết trả lời ra sao. Dưới ngọn đèn điện nhợt nhạt, Vĩnh cố bắt thêm đôi ba chục con rệp nữa mới mắc màn và chui vào ngủ trở lại. 
Tuy nhiên chẳng cách gì Vĩnh ngủ trở lại được. Những biến cố xảy ra trong ngày Giáng Sinh nơi đây, thực ra chả mới lạ gì, thế mà nó vẫn có một ảnh hưởng trầm trọng đến suy nghĩ của Vĩnh. Vĩnh nằm cố nhớ lại những câu thơ, những đoạn nhạc đã viết ra trong đầu. Lẩm nhẩm một lúc Vĩnh lại thấy phát buồn cười. Ta đang cố làm một việc tuyệt vọng. Thơ nhạc sẽ làm được gì ích lợi trong hoàn cảnh này? Ấy là chưa kể… Bỗng nhiên Vĩnh nhớ đến cặp mắt của tân đội trưởng Mai Văn Lễ khi chiều, lúc hắn ngó anh và Ý quàng vai nhau đi tới đi lui ngoài hàng rào để tham dự cuộc “lễ đi” do cha Bộ làm bên kia hàng rào nhà 6 và 7. Rõ ràng đôi mắt ấy là một đôi mắt theo dõi kín đáo. Và nếu không chủ quan, Vĩnh có thể khẳng định gần đây Lễ đã chiếu những ánh mắt tương tự như thế vào đám ăn cơm chung của Vĩnh rất nhiều lần! Nếu như Vĩnh không “có tật” thì cũng chẳng lấy gì đáng để giật mình, đàng này, Vĩnh tự biết mình có một tật rất nặng, ấy là tật đêm hôm tí toáy làm thơ và viết nhạc trong mùng. Chuyện này những người bạn thân của anh đều rõ và có lên tiếng khuyên can, tuy nhiên, nếu không viết ra để sau đó học thuộc lòng vào bụng, thì chắc chắc Vĩnh sẽ quên hết và không cách gì nhớ nổi. Thế nên dù biết rằng nằm viết ra giấy là điều cực kỳ nguy hiểm nhưng Vĩnh không có cách nào khác hơn. 
Dù sao sự cảnh giác của Vĩnh rất cao. Những tháng ngày qua anh thủ thật kỹ, không bao giờ để một dấu tích chữ nghĩa nào trong đồ đạc đầu giường cả. Viết được cái gì ra, Vĩnh cố học thuộc lòng ngay và thủ tiêu vào hầm cầu trước khi ngày rạng. Đã hơn một lần trong lúc đi lao động, đồ đạc của Vĩnh đã bị giám thị và trật tự lôi xuống khám xét. Ở đây, việc khám xét nhiều khi không cần áp dụng đồng loạt như ở dưới chế độ quân quản. Nếu một người bị ăng ten báo cáo lên trật tự hoặc giám thị trại về một việc đáng nghi ngờ nào đó, trong lúc người ấy đi lao động, ở nhà chúng tự động lôi hết đồ đạc xuống “kiểm nghiệm”. Sơ hở để lộ một chứng tích của “tư tưởng phản động” chết tươi như chơi! 
Hết chuyện thơ chuyện nhạc, chuyện lo âu về đôi mắt của đội trưởng Lễ, Vĩnh lại nhớ đến những tin đồn mà vốn đã nhiều phen anh tích cực muốn loại bỏ nó ra khỏi đầu óc. Những đêm khó ngủ trí óc sẽ là miếng mồi ngon cho móng vuốt của sự hồi tưởng! 
Theo tin đồn, tình hình đất nước coi mòi rất lộn xộn. Những chuyện đánh đấm hoặc căng thẳng giữa những vùng biên giới với các nước láng giềng chắc chắn đã là sự thật trăm phần trăm. Thốt nhiên Vĩnh thấy thật hoảng hốt khi tưởng tượng tới cái cảnh một ngày nào Việt Nam tràn ngập hình ảnh “đoàn quân Tàu ô đi, sao mà ốm thế!”. Dù chưa hình dung ra sự nguy hại trong việc xung đột giữa bố con chúng nó lần này ra sao, Vĩnh vẫn linh tính thấy rằng mối bang giao giữa hai nước đã thật sự cáo chung. Tự biết mình không phải là một chính trị gia, Vĩnh không lường được (và cũng chẳng có hơi sức đâu mà lường) đến những hậu quả lâu dài sau này; mà, cũng như đa số những người đang nằm trong vòng rào trại tập trung cải tạo, Vĩnh phải ưu tư nhiều đến số phận của ngay chính mình. Điều giản dị trước mắt để ai cũng có thể thấy, rằng nếu không có chiến tranh Việt-Miên hay Hoa-Việt sẽ xảy ra, thì số phận của bọn Rau Răm Ở Lại này tương đối còn có nhiều hy vọng sống còn; bằng ngược lại, Việt Nam một lần nữa rơi vào cơn lốc của máu lửa, kể cả thế giới Tự Do, ai còn có thì giờ đâu mà nhìn ra một cọng rơm trôi dạt giữa giòng nước lũ! 

Bỗng dưng Vĩnh lại muốn trỗi dậy để viết một cái gì; đúng hơn, Vĩnh chợt tha thiết thèm được cầm bút viết trên giấy một cái gì. Cảm giác này không khác lắm một người ghiền nặng thèm một hơi thuốc vào lúc nửa đêm trời trở lạnh. Không có thì cũng không chết nhưng chắc chắn nó sẽ ray rứt, sẽ trăn trở và khó mà ru được giấc ngủ. 
… Trời đất ơi ăn khoai mì nóng quá! 
Từ giải phóng vô đây… ăn khoai mì dài dài… 
Một tiếng hát cất lớn trong đêm thâu làm Vĩnh giật mình, nhưng anh cũng nhận ra được đó là giọng Nguyễn Công Danh. Danh là tay thường hòa nhạc với đám Hòa, Tuyến. Hắn gầy như con mắm, tính tình cũng ngang như cua. Theo Danh khai báo, hắn từng là chuẩn úy BĐQ, đào ngũ và nghiện ma túy. Hàng ngày đi lao động, buồn miệng hắn lại rú lên mấy câu hát nhại theo bài Miền Đông Đất Đỏ. Giọng hát khởi sự rú lớn rồi nhừa nhựa tan dần như một người hết hơi khiến Vĩnh biết rằng Danh đã hát câu hát ấy trong cơn mơ. 
Một cơn gió thật lạnh vào lúc rạng sáng thổi qua cửa sổ. Vĩnh co người lại trong chăn. Thốt nhiên anh tiếc một giấc ngủ ghê gớm. Đêm trường thế là đã sắp hết. Một ngày Giáng Sinh buồn thảm và có khá nhiều biến chuyển đáng nhớ đã qua đi. Nhật ký tù của Vĩnh có thêm một trang gửi vào trong tiềm thức. Hình ảnh của một ngày lao động sắp đến lại đầy tràn trong tâm trí Vĩnh với nỗi buồn thảm và xót xa. Bỗng dưng, một ý nghĩ pha trộn giữa sung sướng mặc cảm tội lỗi nảy ra trong đầu Vĩnh, ấy là Vĩnh thấy mình, ít ra sáng mai đây, vẫn còn được “đỡ khổ” (!) hơn năm anh bạn đạo Hòa Hảo vừa trốn trại thất bại đêm qua. Họ đang ra sao và sẽ ra sao? Hình phạt phải chăng vẫn như thông thường? Có nghĩa là vào trước giờ tập họp đi lao động buổi sáng, trước 1.600 tù ngồi xếp hàng theo từng đội hình trên sân chờ điểm danh xuất trại đi lao động, bọn trật tự sẽ khênh ra trước sân cái bục thuyết trình để trên hội trường. Tên giám thị trực sẽ xuất hiện với một bản án trên tay. Hắn sẽ tuyên đọc bản án trước mọi người với nội dung như sau. 

LỆNH BẮT GIAM. 
Vào lúc… giờ ngày… tháng… năm…, các can phạm Nguyễn Văn X, Lê Văn Y… hiện ở tại tổ… đội… nhà… đã can tội trốn trại với ý đồ phản động đen tối. 
Chiếu nghị quyết của Ban Giám Thị trại cải huấn Hàm Tân, nay tuyên bố: 
Các can phạm X và Y sẽ bị: 
– Giam hầm tối hai tháng. 
– Cấm thăm viếng sáu tháng. 
– Cùm hai chân. 
– Hạ khẩu phần ăn còn chín cân mỗi tháng. 
Ngoài ra, hình phạt trên có thể tăng giảm tùy mức độ ăn năn hay ngoan cố không chịu hối cải của các can phạm. 
Ban Trật Tự trại chiếu thi hành lệnh này kể từ ngày ký. 
Thay mặt Ban Giám Thị 
Trại cải huấn Hàm Tân 
Cán bộ giám thị trực. 
Ký tên. 

Tiếng kẻng báo thức cho Vĩnh biết đã tới giờ anh phải tranh thủ hạ mùng mền thực mau, để có thì giờ bắt giết thêm được mớ rệp nào hay mớ rệp đó!

Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 16 Jan 2024

Bài 62

Phần 61

Những ngày cuối năm Tây lịch 1978, không khí trại Hàm Tân nhộn nhịp hẳn lên. Hầu như mọi tin tức về sự căng thẳng quân sự vùng biên giới Việt-Hoa và Việt-Miên bọn tù đều nắm vững hết. Giai đoạn này, nếu bình tâm mà xét, có lẽ là một giai đoạn bi hài nhất trong suốt quá trình lịch sử mấy ngàn năm của Việt Nam. Không bi hài sao được, khi mà hầu như cả nước, vì hận thù một chủ nghĩa và một bọn người đồng chủng có chính sách cai trị bạo tàn, đều cùng mong có một thế lực nào khác, dù thế lực ấy là bọn Tàu có mối thù nghìn đời với dân tộc, kéo đến đập tan cái bọn đồng chủng tàn bạo vô nhân kia đi, rồi sau đó ra sao thì ra, cùng chết hết một lượt cũng được! 
Trong cái không khí ấy, Vĩnh và mấy người bạn thân cận lần lượt được gia đình lên thăm. 
Ở đây chuyện thăm viếng khác nhiều với chuyện thăm viếng dưới chế độ quân quản. Thằng quân quản phải nói rằng nó hơi “văn nghệ”, do đó chuyện thăm viếng của tù nó tổ chức tùy hứng, trồi sụt rất là bất thường! Có khi thì ba tháng được thăm một lần, có khi buồn buồn nó để đến năm tháng mới cho viết thư về nhà báo tin được phép lên thăm. Dưới chế độ công an, việc thăm viếng được quy định rõ ràng trong nội quy: “Bất cứ phạm nhân nào không vi phạm nội quy đều được trại cho phép gia đình lên thăm và tiếp tế nhu yếu phẩm thuốc men cần thiết mỗi hai tháng một lần”. Dù sao, do cái mỗi hai tháng một lần ấy, bọn tù ở trại Hàm Tân đã mất dần đi cái cảm trạng sung sướng được gia đình lên thăm và tiếp tế. Trừ những anh nhà giàu, còn những anh nhà nghèo sau đôi ba lần thăm, tự nhận xét thấy bao quà mỗi ngày mỗi teo nhỏ lại và vợ con cha mẹ mặt mũi lần thăm thứ ba xanh hơn lần thứ hai, lần thứ tư nhợt nhạt hơn lần thứ ba… thì bắt đầu thấy việc thăm viếng của gia đình không còn vui nữa. Anh cải tạo có gốc quân nhân công chức bắt đầu tìm cách can khéo sự thăm viếng quá đều đặn của gia đình! 
Dù sao đối với Vĩnh đây là lần thăm đầu ở Hàm Tân, do đó Vĩnh vẫn được hưởng nguyên vẹn cái cảm trạng sung sướng. Thêm nữa, tính Vĩnh thích quan sát và ghi nhận, vì vậy lần thăm đầu có thêm một lý do cho anh nôn nóng tận tình. 
Như tất cả mọi gia đình khác, khi nhận được thư báo thăm, gia đình Vĩnh phải chạy đủ mọi loại giấy tờ ở địa phương; từ giấy phép đi đường, giấy phép xin miễn thuế những món quà đem theo, giấy phép thăm nuôi phạm nhân… Nói tóm chỉ nội vụ giấy phép thôi, gia đình đã phải bỏ hết công ăn việc làm chạy tới chạy lui cả tuần lễ. Sau khi có giấy phép lại phải chạy khắp bà con lối xóm hỏi đường hỏi xá, và khi vấn đề đường xá xe cộ đã nắm vững, gia đình bắt đầu một chuyến đi thăm bằng một buổi sáng tinh sương. Rồi thì qua nhiều nẻo đường đất nước, thường thường người nhà từ Sài Gòn lên tới khu thăm viếng của trại Hàm Tân vào lúc giữa trưa. 
Tuy nhiên, để vào được tới khu thăm không phải là chuyện dễ ăn. Từ đường nhựa, nơi xe đò thả xuống, thân nhân phải thi nhau gồng gánh những bao quà nặng nề (nếu nghèo phải hà tiện tiền bạc, không thuê những trẻ em gánh thuê ngồi đầy ngoài quốc lộ), vào tới khu thăm. Từ ngoài ngã ba quốc lộ vào tới khu thăm cũng xa hơn một cây số. Hơn một cây số ấy không phải là không vất vả với con đường đất mưa ướt trơn trượt. Nhưng rồi có cực nhọc mấy, cuối cùng người đi thăm và quà cáp cồng kềnh đều vào tới khu thăm cả. Sau những màn khai báo, trình khám… người đi thăm được vào ngồi nơi phòng đợi. Một anh trật tự có nhiệm vụ nhận danh sách từ tên công an trực khu thăm đem về trại để thông báo kịp thời tới người có tên thăm nuôi. Công việc này anh chàng trong ban trật tự chỉ phải làm hai lần trong một ngày, lần thứ nhất vào lúc bảy giờ sáng, lần thứ hai vào lúc một giờ trưa. Nói tóm danh sách những người được thăm phải được đưa vào trình giám thị trực trại trước giờ tập trung đi lao động. Do điểm này, nếu người nhà đến được khu thăm vào trước mười hai giờ trưa, thì có rất nhiều hy vọng được gặp thân nhân sau hai giờ trưa và trở về Sài Gòn kịp trong ngày. Còn nếu đến khu thăm nuôi mười hai giờ trưa, cầm bằng người đi thăm phải ngủ lại ngoài khu thăm để chờ các đợt thăm sáng ngày hôm sau. Nhưng việc phải ngủ lại đêm ngoài khu thăm không chỉ xảy ra cho những bà con ở các tỉnh xa đi thăm mà ngay người ở Sài Gòn cũng vẫn bị kẹt ngủ lại cả đêm là chuyện thường. 

Mặt khác, tuy những thủ tục trên đã hoàn tất êm xuôi nhưng chưa chắc gì phút cuối đã được gặp thân nhân, tỷ như Ban Giám Thị thông báo ra khu thăm nuôi rằng, trong hai tháng qua, phạm nhân A đã vi phạm nội quy nên Ban Giám Thị đã quyết định cấm thăm kỳ này… 
Trong lần thăm đầu, dù sao Vĩnh đã được suôn sẻ mọi bề, điều ấy có nghĩa là Vĩnh đã được ra gặp thân nhân vào lúc hai rưỡi trưa ngày 22 tháng 12 năm 1978. Quang cảnh khu thăm nơi đây cũng chẳng khác mấy với quang cảnh khu thăm của An Dưỡng và Suối Máu. Cũng từng đó thủ tục tập họp, báo cáo nhân số, giở nón chào kính… Trong phòng thăm, hai bên người thăm lẫn người được thăm, đều phải ngồi vào một dãy bàn có mặt bàn rộng đến độ vói tay hết sức cũng chẳng chạm được tay nhau. Đã thế, đôi bên còn phải ngồi thăm hỏi nhau trước đôi mắt cú vọ của tên cán bộ trực. Hai mươi phút thăm qua cái vèo. Người về nước mắt đầm đìa, người quay trở lại trại tù lòng cũng nặng như những bao tải quà kéo lê trên đất! 
Lúc trưa tập họp ra khu thăm mọi người đi đều có hàng có lớp, bây giờ trở về, dù bực mình tới đâu, tên công an đi theo cũng không làm cách nào khác hơn được. Kẻ thì đi trước, người đi sau; kẻ ngồi lại thở dốc bên những bao quà đồ sộ, người gánh chạy nhanh đến độ tên công an chỉ sợ hắn chạy luôn vào khu rừng khoai mì chập chùng hai bên đường… Kỳ thăm này Vĩnh được khá nhiều đồ tiếp tế. Một bao tải đầy mì vắt và bánh mì khô. Bao tải kia đựng đủ thứ đồ khô. Đã vậy, Vĩnh còn phải kéo thêm một cái làn có đủ loại chai lọ đựng mắm đựng tương, đựng chao đựng mỡ… Với từng đó quà, sức gì Vĩnh gánh nổi! Thế nên quang gánh đem theo Vĩnh đều cho người khác mượn. Anh áp dụng chiến thuật kéo lê từng chặng. Cứ kéo bao số một chừng hai mươi thước anh lại trở lại kéo bao số hai. Hết hai bao lại kéo tới cái làn. Với lối kéo này rất dễ làm cho thằng công an đi theo lộn tiết lên đầu, nhưng không kéo như thế làm sao giải quyết được vấn đề? Sau mấy lần cự nự, cuối cùng tên công an bỏ mặc Vĩnh trên đường. Nó quầy quả đi theo những người phía trước – những người ấy có kẻ đã bỏ Vĩnh xa đến mấy trăm thước. 
Vừa đi vừa kéo, Vĩnh vừa cố gắng quan sát hai bên đường. Anh thấy vườn khoai mì ở đây mênh mông bát ngát không thua gì vườn khoai mì trên trại An Dưỡng. Nếu mình lẩn vào đây, Vĩnh chợt nghĩ, thì liệu chúng nó có tìm ra mình không? Thế rồi Vĩnh lại nghĩ tiếp. Nhưng lẩn vào đây rồi mình sẽ làm được gì nữa? Liệu sức mình ngày nay sống nổi không nếu trải qua một đêm ngủ bờ ngủ bụi dưới gió núi mưa bưng? Một người bạn tù già kéo bao quà của ông ta vào lề đường ngồi thở dốc tưởng như một người sắp hết hơi. Vĩnh chợt thấy đau nhói trong tim óc. Ta hơn gì người bạn già kia!? Vài chục cân quà kéo không muốn nổi còn nói chi đến chuyện nghìn dặm ra đi! 

Đoạn đường từ khu thăm vào đến trại quãng một cây số. Lết lê trên quãng đường non tiếng đồng hồ, rốt cuộc Vĩnh cũng về hội trường – nơi phải bày ra mọi thứ cho cuộc khám xét tỉ mỉ – với đôi ba tay già lão bệnh hoạn khác. 
Như mọi người, Vĩnh bày tất cả mọi thứ lên những hàng băng ghế để cho trật tự có cán bộ đi theo đến khám. Ngoài gạo là đồ “quốc cấm” và đã bị chận giữ ngay ngoài khu thăm, kỳ dư hầu như tù được nhận tất cả. Chỉ có một món duy nhất tù trại Hàm Tân luôn luôn thấp thỏm sợ mất là món cà phê. Dù rằng nội quy không có mục cấm đoán món cà phê, nhưng trên thực tế cà phê thường bị cán bộ tịch thu. Đúng ra, gần đây việc tịch thu hoặc không tịch thu cà phê được cán bộ thả nổi; điều ấy có nghĩa là tùy lượng cà phê tích trữ dùng cho các cán bộ giám thị còn nhiều hay ít. Nếu lượng cà phê của chúng đã vơi, chúng sẽ ra lệnh cho bọn trật tự khám xét quà cáp nơi hội trường thẳng tay tịch thu với lý do cà phê là nguồn gốc của mọi sự tụ tập, bàn tán chuyện phản động và trốn trại. Khi nào lượng cà phê tịch thu đã đủ dùng, chúng lại cho tù được phép nhận. 
Số Vĩnh hơi xui. Hôm nay nhằm ngày các quan giám thị cần cà phê nên một cân cà phê của Vĩnh được cách mạng chiếu cố và quốc hữu hóa tại chỗ! Sự mệt nhọc quá đáng khiến Vĩnh không còn bụng dạ đâu để mà tiếc của. Anh thu đồ thật nhanh vào bao bị và khởi sự kéo từng bao một về phòng. 
Giờ lao động trại vắng tanh. Bước vào nhà, Vĩnh chỉ thấy một hai tay ốm bệnh nằm nghỉ. Dù sao họ không quên lên tiếng thăm hỏi Vĩnh một cách thân mật hơn ngày thường, và kết thúc mấy câu hỏi thăm bâng quơ là câu: Có bi nào xiện xiện làm một bi chơi? 
Rồi như mọi người được thăm, Vĩnh lần lượt mở tất cả mọi thứ đồ ăn thức uống bày ra sạp. Đồ khô bỏ vào một bao. Tất cả những đồ ăn đã nấu chín đều bỏ vào nồi hoặc chia ra một ít phần nhỏ để sẵn sàng đem biếu một số bạn bè lúc họ đi lao động về. Ngoài đám bạn ở cùng tổ cùng đội ăn chung với nhau, Vĩnh còn một số bạn bè khác không thể không nhớ đến. Người đầu tiên phải nhớ là Vũ Duy Báu, cựu phó quận hành chánh hiện ở bên nhà 4. Anh là người đã giúp đỡ và chia xẻ cho Vĩnh thật nhiều thứ kể cả một tình bạn chân thành… Lại còn mấy việc rắc rối khác nữa Vĩnh cũng phải lo toan, giả dụ những món đồ của anh Khoan do gia đình anh ta nhờ gia đình Vĩnh chuyển vào. Anh ở mãi nhà 11 gần ban y tế. Chuyển được cho anh mấy đòn bánh tét và ký tôm khô này cũng ná thở! 
Sửa soạn đâu vào đó xong, Vĩnh vòng ra sau dãy nhà nhóm bếp và hâm lại tất cả những món ăn để sửa soạn một bữa ăn linh đình chung với các bạn lúc họ đi lao động về. Khi việc nấu nướng đã xong, Vĩnh khoan khoái trở về chỗ nằm hút thuốc vặt và trò chuyện với mấy người cũng vừa được thăm như anh chiều hôm nay. 
Nhà 5 hôm nay có hai người nữa được thăm. Luật sư Lê Quốc Việt và bác sỹ Anh. Hai ông này đều giới trí thức khoa bảng nhưng tính tình khác nhau một trời một vực. 
Ông Anh trước kia là thiếu tá y sỹ. Ông ở Hàm Tân trước bọn Vĩnh. Hơn nửa năm trước, ông đã mất đi cái công việc nhàn nhã là làm y sỹ chữa bệnh cho tù nơi đây để trở về đội đi lao động chân tay như mọi người. Lần thăm hôm nay là lần thăm “ân xá” của ông sau hơn nửa năm ông bị cấm thăm. Chuyện cấm thăm của bác sỹ Anh không vì ông trốn trại, cũng chẳng vì ông vi phạm nội quy; ông bị cấm thăm vì ông đã bợp tai cô con gái cưng của ông ngoài khu thăm và nhất định từ chối không chấp nhận ông con rể cách mạng. Số là, chả hiểu ở nhà bàn khôn tính dại ra sao, cô con gái rượu của ông đã đồng ý lấy một anh thượng úy Việt cộng để noi cái gương nàng Kiều bán mình chuộc cha. Một ngày đẹp trời, cô con gái dẫn chồng lên thăm bố. Sau màn giới thiệu, ông bố trợn trắng con mắt ngó ông thượng úy của tân chế độ mắt trắng môi thâm đang ngồi cạnh con gái mình. Ông bố vội vàng đứng lên, tiện tay nựng nhẹ vào má cô con gái chí hiếu một cái tát nổ đom đóm và lễ phép nói. 
– Từ đây xin bà thượng úy đừng gọi tôi là bố! 
Cái tát lịch sử ấy đã đem bác sỹ Anh trở lại trại tức thì. Sau màn “đấu lý” với Ban Giám Thị, ông Anh được đưa vào nằm cachot để tâm sự với chuột, gián, muỗi, cùm và đói khát một thời gian. Sau đó, thành tích tẩy chay con rể cách mạng của ông được đọc trước trại với biện pháp xử lý của cách mạng là cấm thăm một thời gian. 

Riêng ông luật sư Việt trẻ trung hơn ông bác sỹ Anh nhưng tính tình thì rất kỹ. Dù anh Huy và Ý ghét cay ghét đắng ông, nhưng Vĩnh vẫn coi ông như một người bạn. Ông cũng tỏ ra thích Vĩnh và hay lân la đến chỗ Vĩnh nằm hút ké điếu thuốc và kiếm chuyện tán gẫu. Dù gì, nói chuyện với ông luật sư Việt, Vĩnh vẫn cảm thấy mình học hỏi được một số điều nơi ông, đặc biệt về phương diện luật pháp, ấy là chưa nói tới việc Vĩnh còn được nghe ông kể về những nhân vật tăm tiếng trong giới luật ông từng tiếp xúc sau 30 tháng Tư. Chẳng hạn việc luật sư Trần Văn Tuyên đã không chịu ra đi mà ở lại vì lý do nào; bà luật sư Đại bị xỉ vả trong cư xá sỹ quan Chí Hòa ra sao; trí thức Sài Gòn đã phải tham dự những cuộc biểu tình hô hoán ủng hộ chế độ ra sao sau ngày mất đất mà trong đó ông ta có tham dự… Luật sư Việt đã gửi hết những chuyện này vào trí nhớ của Vĩnh với một kết luận (và luôn luôn như thế!): Trước họng súng tất cả là bầy cừu! 
Những lúc nghe luật sư Việt nói thế, Vĩnh lại đùa. 
– Nếu vì lý do gì bầy cừu có súng, ông có sẵn sàng cầm súng để khỏi phải làm cừu nữa không? 
Ông Việt nói tỉnh khô. 
– Ông đã đọc Mario Puzzo chưa nhỉ? Nhân vật Don Corleone trong The Godfather đã nói với con trai thế nào về khả năng của một luật sư nhỉ? -… con đừng quên, với cái cặp dưới nách, một thằng luật sư nó có thể đánh cướp một món hàng mà dù con có cả một tiểu đoàn trang bị súng ống ngập tới răng chưa hẳn đã làm nổi… Nói tới đây luật sư Việt lại cười cười. Trong công cuộc cướp lại Tự Do, chả nhẽ ông chỉ muốn tôi cầm một khẩu súng như mọi người lính khác trong cùng một tiểu đoàn? 
Biết có nói gì đi nữa cũng khó mà cãi lại một… thầy cãi, do đó Vĩnh cũng chỉ cười cười với ông ta và đó cũng chính là lý do ông luật sư Việt không thể nói chuyện với ai khác ngoài Vĩnh! Tệ hơn, khi ông kẹt hạt muối cục đường, ông Việt cũng không thể chạy đâu ra ngoại trừ nơi Vĩnh. Sở dĩ như vậy vì ông Việt là người trước sau như một, trung thành tuyệt đối với khẩu hiệu Tâm Tam Vô y như một số mấy ông tá già ở trại Suối Máu: Vô chung chạ, vô mời mọc và vô chia xẻ! Điều ấy có nghĩa là “tới bữa xoay đầu vào vách ngồi nhai một mình”, và cũng có nghĩa là “những món gia đình cung cấp cho ta, ta có quyền hưởng đủ 101 phần trăm!”. 
Một khi những người vừa được thăm xúm lại hút thuốc và trò chuyện, thì câu chuyện dứt khoát sẽ xoay quanh những tin tức mà cá nhân đã thu thập được. Mỗi người một tin, nhưng nguồn tin phong phú nhất dù sao vẫn xuất phát từ ông luật sư Việt. Theo ông Việt, tình hình biên giới Hoa-Việt rất căng thẳng. Riêng bọn Pon-pot thường xuyên vượt biên giới tấn công vào các khu kinh tế mới và nhiều lúc đã ra tay tàn sát không chừa cả chó mèo. Dân chúng trước đây bị đày đi kinh tế mới, giờ lũ lượt kéo nhau về Sài Gòn và nằm la liệt trên các lề đường. Cũng có những lời bàn tán của dân Sài Gòn, theo đó thế nào Hà Nội cũng phải đổ quân sang chiếm đóng Miên nếu muốn vãn hồi được tình hình biên giới. Từ sự kiện này, người ta đã nghi ngờ rằng các vụ tàn sát người Việt Nam nơi các vùng kinh tế mới biên giới chưa chắc gì đã do bọn đồ tể Pon-Pot gây ra, mà tác giả lại rất có thể là chính bọn cán binh CSVN, mục đích tạo ra một cái cớ để sửa soạn dư luận cho một cuộc tiến chiếm Miên. 

Hết chuyện chiến sự, ông Việt lại xoay sang chuyện tù. Ông nói gia đình ông cho biết tù Chí Hòa mấy lúc gần đây được di chuyển đi rất nhiều. Ngày nào cũng có dăm ba chuyến Molotova chở tù ra khỏi khám lớn và đi về nhiều phương hướng khác nhau. Trại Hàm Tân rất có thể trong tương lai rất ngắn sẽ tiếp nhận một số tù nữa. Riêng cái tin này thì Vĩnh đã nghe Nguyễn Tú Cường nói từ lâu, đến nay vẫn chưa thấy gì lạ. 
Trong lúc mấy người ngồi nói chuyện thì ngoài sân anh em tù lao động đã bắt đầu trở về. Vuông sân trống và rộng mênh mông mỗi lúc mỗi đông người từ ngoài kéo vào. Vĩnh vội vàng xách cái bao cát bên trong để hai đòn bánh tét, nửa ký tôm khô, mấy viên thuốc cảm và một cây kem đánh răng của anh Khoan lên. Vĩnh cẩn thận bước qua cửa, ngó trước ngó sau để phòng trật tự rồi chuồn ra ngoài sân. Vĩnh đứng canh chừng đội 51 mới vào tới cổng trại. Vĩnh bám sát tức thì, nhưng khi đội về tới sát hàng rào phòng 11, Vĩnh mới xáp lại được gần anh Khoan và trao cái bao cát cho anh ta. 
Khi trở về phòng thì anh em đã chia cơm chia canh xong. Rồi thì giờ điểm danh đến, tù lại hàng hai lần lượt chui vào chuồng. Cửa khóa. Trong cái phòng chật ních và đầy mùi ẩm mốc, mùi mồ hôi, mùi phân người bốc lên; lờ mờ dưới ánh điện vàng cạch yếu ớt, bọn tù ở tất cả các nơi bắt đầu ngồi nhai khẩu phần của mình. 
Đến ngày hôm nay thì Vĩnh đã có thể khẳng định rằng khẩu phần ở trại Hàm Tân tệ nhất so với các trại mà Vĩnh đã đi qua. Nơi đây chỉ chiều thứ Bảy được phát mỗi người hai chén bo bo, còn được gọi là Cao Lương theo mỹ từ cộng sản. Những ngày khác khẩu phần duy nhất là mỗi bữa tù được phát một chén đầy khoai mì lát nấu nhừ. Khoai mì này là loại khoai già, được xắt cả vỏ và phơi khô lâu ngày. Vì để cả vỏ, và lại được phơi khô, do đó khi nấu lên khoai mì mang một màu tím than quắt queo như đống cứt chó bị dầm mưa dãi nắng nhiều ngày với một mùi vị vừa hôi mốc vừa nhầm nhậm đắng như có lộn một hai vị thuốc Bắc. Được phát kèm với bát khoai mì ân huệ của bác và đảng ấy là ít cọng rau muống, hoặc một tí bí ngô, hoặc một tí củ cải kho nước muối. Tất cả sự dinh dưỡng của chế độ lao tù nơi đây chỉ có thế và có thế! 
Người không được thăm nuôi hay chưa được thăm nuôi, hoặc giả không có bạn bè được thăm, ngày này qua ngày khác chỉ được nhai từng đó thứ và nuốt vào bụng từng đó thứ. Riêng đám Vĩnh chiều nay phải khác hơn nhiều! Bữa tiệc bày ra chiếm hết ba bốn chỗ nằm. Vì theo đúng truyền thống của đội 17 gần đây, ai được thăm đều có nghĩa vụ chia xẻ, ít nhất đối với những anh em trong cùng tổ. Do đó cả tổ không ai từ chối mỗi khi có dịp đụng chén đụng đũa này. Đó là màn ăn mặn. Màn thứ hai luôn luôn phải là màn trà nước (có tí bánh kẹo càng tốt) và thuốc lá thuốc lào. Màn này được mở rộng rãi hơn để đón tiếp cả những người sơ nhất nằm quanh chỗ mình. Tuy nhiên khi tới màn này thì Vĩnh buộc phải rút về chỗ nằm để mặc anh em muốn làm gì thì làm. Một phần để tránh bị chửi bới (bọn Vĩnh hiện đang nằm tầng trên) nếu nhỡ có người sơ sẩy đổ nước điếu xuống tầng dưới; một phần Vĩnh muốn tránh chuyện bị cật vấn những tin tức mà chính anh cũng chẳng biết hơn ai. Nhưng dù cho có về chỗ nằm, cuối cùng anh Huy cũng mò tới nằm bên cạnh. Vĩnh sửa soạn tinh thần để trả lời những câu “phỏng vấn” của anh, nhưng ngược với dự đoán của Vĩnh, anh Huy không hỏi gì về những tin tức bên ngoài xã hội cả. Anh chỉ nói nhỏ với Vĩnh một chuyện. 

– Khi chiều đi lao động, quản giáo gọi tôi vào nhà lô làm việc. Hắn hỏi lung tung. Từ chuyện đám Hòa Danh Tuyến hòa nhạc vàng mỗi đêm, đến việc Dũng và Thương vẫn ăn cơm chung với nhau, tuy nhiên điều làm tôi lưu ý nhất là nó hỏi về ông. Nó nói nghe anh em bảo ông giỏi nhạc lắm mà tại sao không hề thấy ông đàn địch ca hát với đám Hòa Danh Tuyến bao giờ. Nó còn hỏi có phải ông là sỹ quan chiến tranh chính trị không? 
– Vậy anh trả lời sao? 
– Tôi chỉ nói mỗi một điều. Một người ho lao như anh Vĩnh, lại không có cả khu cách ly mà nằm nghỉ ngơi mà vẫn phải đi lao động như mọi người thì chẳng còn thơ nhạc nào quyến rũ được anh ấy nữa cả. Riêng việc anh ấy có phải là sỹ quan CTCT hay không thì tôi hoàn toàn không biết. Đó là sự thật! 
Vĩnh không khỏi không nghĩ ngợi. Anh nằm nhớ lại những lần quản giáo Phú kêu anh vào nhà lô nói chuyện sách báo, rồi có lần ban giám thị trại kêu anh lên văn phòng làm việc cũng hỏi những câu chuyện bâng quơ như thế về một vài người khác. Tụi nó tính cái chuyện khỉ gì đây? Vĩnh tự hỏi và chưa nghĩ ra câu giải đáp. 
Giọng anh Huy lại nổi lên. Mấy ngày nay tôi thấy đám me-xừ Hòa và Tuyến bắt đầu không ăn cơm với nhau nữa. Mấy cu cậu cũng đều đã lần lượt bị giám thị kêu làm việc… 
Tự dưng Vĩnh buột miệng. 
– Coi chừng bị ly gián đấy! 
Anh Huy gật đầu liền. 
– Đúng! Mục đích tôi nói chuyện với ông là để báo cho ông biết mà bình tĩnh. Dù ngày mai nó kêu ông lên để hỏi về tôi, hoặc ngày mốt nó kêu Điểu lên để hỏi về Ý… 
Vĩnh ngồi lên sửa soạn một điếu thuốc. Anh nhìn anh Huy và cương quyết. 
– Tụi mình tan sòng thế nào được. Thôi làm bi thuốc cái đã! 
Vừa lúc ấy một tiếng hét vang lên từ phía dưới. Tiếp theo là một lon nước hắt ngược lên trên. Vĩnh nhìn sang chỗ luật sư Việt nằm cách anh bốn người. Việt bị ướt hết chăn mùng mền vì lon nước ở dưới hắt lên. Tuy nhiên, hình như anh ta không bận tâm lắm chuyện bị hắt nước. Việt đang lúng túng với một mớ lon cóng ngay đầu chỗ nằm của ông ta. Người bên dưới đã thò đầu lên. Vĩnh nhận ra ông Mão VNTT. Ông thò đầu lên với nét mặt thật tức giận. Ông chửi đổng. 
– Mẹ tiên sư có thì đổ vào họng hết đi. Nước mắm nước muối sao đổ lên đầu người ta!? 
Ai chứ ông Mão và ông Việt cãi nhau thì cả phòng này đã chán nghe rồi. Một anh già và một anh xồn xồn quanh năm cãi nhau vì những chuyện thật trẻ con. Đã có lần hai vị suýt tí nữa thì thượng cẳng chân hạ cẳng tay nhau. Hôm nay, chả hiểu dấm dúi san qua xẻ lại thế nào, ông luật sư Việt ở tầng trên đánh đổ nước mắm xuống đầu ông Mão ở tầng dưới. Khu Vĩnh nằm mọi người đều hồi hộp chờ nghe hai ông đấu lý với nhau. Nhưng có lẽ còn quá bận bịu với mấy lọ nước mắm và mấy keo chao đựng mỡ, ông Việt cứ lờ đi trước những lời xỉa xói của ông Mão. Vĩnh nằm nghĩ ngợi vẩn vơ, thỉnh thoảng nhìn về phía ông Việt và không khỏi buồn cười lúc thấy ông ta quẹt tay trên sạp gỗ rồi đưa ngón tay lên miệng mút. Có lẽ một giọt nước mắm nào đó vừa rơi xuống sạp. Bỗng dưng Vĩnh sực nhớ hồi chiều lúc anh đem thức ăn ra sau bếp hâm lại. Ông Việt cũng đem hâm vài món của ông. Trong lúc hâm thức ăn, thỉnh thoảng ông lại cầm lên một keo chao đựng mỡ, múc ra một thìa nhỏ, đảo mắt ngó quanh một vòng rồi húp một cái chụt. Thấy ông húp những thìa mỡ sống ngon lành làm Vĩnh đã thầm bái phục trong lòng. Giờ thấy ông lại quẹt một giọt nước mắm rơi trên sạp và đưa lên miệng mút, Vĩnh đã hiểu ra nguyên do vì đâu anh Huy và Ý lại ghét ông thậm tệ đến thế!