Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by6 So7n ra6u 18 Jan 2024

Bài 67

Phần 66

Có lẽ chỉ Vĩnh và một vài người khác có đủ dữ kiện đoán biết rằng, lần vượt ngục hồi tháng Nam của Tân Dân và Dũng có hẹn hò trước với nhau. Cuộc vượt ngục ấy đã thất bại thê thảm bằng kết quả Tân Dân bị bắn chết. Dân đã làm đúng như lời anh từng nói với Vĩnh: Sẽ có lần tôi chạy thử xem tôi và đạn AK cái nào nhanh hơn cái nào! Riêng Dũng của đội 17 bị bắt ngay chiều hôm ấy, bắt tại dòng suối! Khi đội trưởng Lễ phát hiện ra Dũng vắng mặt, Dũng đang còn ngậm một cái ống tre và lẩn trốn dưới đáy một vực nước sâu. Việc ngậm ống sậy hay ống tre để nằm trốn dưới nước chỉ xảy ra một cách an toàn và dễ dàng trên phim ảnh, còn thực tế khác hẳn! Chỉ ít phút sau khi đội 17 rời địa điểm trở về trại, bọn an ninh hiện trường đã lùng kiếm và bắt gặp Dũng trồi đầu lên thở…

Dũng bị đánh đập thê thảm và bị nhốt cachot tính đến nay đã non hai tháng trời. Trong non hai tháng vừa qua, trừ những người đang nằm cachot là không có gì thay đổi, còn bên ngoài thì khác; thêm hai cuộc trốn trại khác đã xảy ra, trốn ngay từ trong trại trốn ra vào những giờ khắc tinh sương, khi các cửa phòng vừa được mở cho tù ra ngoài đánh răng xúc miệng. Hai cuộc trốn trại này đều thoát cả, và đó là lý do ban chỉ huy trại mở một chiến dịch lớn nhằm dựng lại tất cả hệ thống hàng rào trong trại, đồng thời hạn chế tối đa việc được thong thả đi lại của bọn tù.

Từ trước, cứ mỗi hai dãy nhà lại được vây quanh bằng những cọc tre khô trồng đan mắt cáo vào nhau. Hiện nay, tất cả những cọc tre khô ấy đều đã được thay thế bằng hàng rào thép gai đan thật dày trên những cọc sắt vững chắc. Việc đi lại ngoài sân trại sau những giờ lao động về đã bị cấm hoàn toàn. Mọi sinh hoạt đi lại chỉ có thể xảy ra trong phạm vi hàng rào nhỏ của mỗi khu. Đặc biệt hơn, riêng khu 1 và khu 2, hàng rào thép gai còn được đan dày hơn và việc di chuyển còn ngặt nghèo hơn. Đối với tất cả các khu khác, dù không còn được đi lại ngoài sân chính của trại, nhưng trước giờ tập họp đi lao động, họ được phép đi xuống bệnh xá khai bệnh tỉ như có bệnh. Còn khu 1 và 2 tuyệt đối không được cái ân huệ đó. Trước khi tập họp đi lao động, buổi sáng và buổi trưa, ban y tế (cũng là tù với nhau và được cầm đầu bởi một anh y tá gốc hồi chánh) sẽ xuống tận từng khu khám bệnh cho người khai bệnh. Thường thì chúng khám lấy lệ và bắt đi lao động hết theo lệnh ngầm của Ban Giám Thị, trừ những trường hợp đau liệt hai năm rõ mười.

Vì đâu có sự gắt gao đặc biệt này? Thật giản dị! Chính khu 1 và khu 2 là những nơi xuất phát ra mọi cuộc trốn trại. Những đội nổi tiếng nhất đương thời là đội 17, 45, 13, 25… Đây là những đội mà Ban Giám Thị thường tuyên bố thẳng thừng chỉ gồm những kẻ phản động nhất… Vì những lý do trên, cho dù trong non hai tháng qua đã có một cuộc chuyển đổi nhân sự giữa các đội với nhau, các đội nói bên trên nhân sự vẫn hầu như không có gì thay đổi; nếu có thay đổi chăng là đổi đội 17 từ nhà 5 sang nhà 4, đội 45 từ nhà 2 sang nhà 3 hoặc đội 25 từ nhà 3 sang nhà 5… Sự thay đổi này dù chẳng có gì lớn lao hay mới lạ, nhưng ít nhất cũng giúp Vĩnh biết được một vài người mà ở ngoài đời chưa chắc gì Vĩnh đã có dịp làm quen.

Chẳng hạn làm sao trước kia Vĩnh biết được ông cụ Hoàng Kim Quy là tay nghiện thuốc phiện nặng? Và mỗi lần hút thuốc lào, ông ấy đã phải sửa soạn đến mười phút đồng hồ? Nhất là, sau một lần được thăm, trong cái tình lối xóm nằm gần nhau, Vĩnh biếu ông cụ một khúc cơm nắm với mấy miếng giò kho; con người từng là một tỉ phú tăm tiếng đã thốt lên một câu nói mà có lẽ suốt đời Vĩnh khó quên.

– Cám ơn ông. Bây giờ tôi mới thấy Vũ Trọng Phụng nói đúng, đúng lắm: Sống trên đời không còn gì sướng hơn là được ăn cơm!

Hoặc giả làm gì Vĩnh có dịp tìm ra được cái định đề cho riêng mình: Sướng và khổ cho một con người hoàn toàn tùy thuộc vào lề lối sống của con người đó! Định đề ấy nẩy sinh khi Vĩnh đã nhìn thấy tận mắt ông dân biểu triệu phú Trần Quý Phong trúng đòn “Thiên Địa Đồng Thọ” của một thằng du đãng, chỉ vì ông không chịu hòa mình với đám đông, nhất là không hiểu ra cái ý nghĩa tuyệt vời của sự chia xẻ. Ông Phong đã từ chối vài thìa muối hay đường gì đó với thằng tù hình sự nằm bên cạnh khi nó xin ông. Thế là, cứ mỗi khi nằm nhìn lên đầu chỗ nằm, thấy những bao quà đồ sộ của ông Phong, thằng du đãng đâm ức và đâm thù ông. Và mối thù của một thằng có máu giang hồ một khi lên tới cao điểm, thì nhất định nó sẽ “chén sành đổi chén kiểu xem thằng nào thiệt cho biết!”. Thằng du đãng đã dàn cảnh một cuộc trốn trại và cố tình để cho giám thị bắt lại. Khi cung khai, nó đã nói rằng nó được ông cựu dân biểu “ngụy” cung cấp phương tiện đồ ăn thức uống và thuốc men tiền bạc để… trốn trại! Số ông Phong đâm ra vất vả và sau đó ông bị đưa đi mất!

Hoặc giả đặc biệt hơn, Vĩnh còn được nằm gần cả một nhân vật mà chỉ ít tháng trước đó hắn ngồi ở một vị trí cao của giai cấp mới, một giai cấp mà cả nước đang thù hận nhưng chưa có cách nào lật đổ xuống được, giai cấp lãnh đạo và cán bộ cộng sản! Vâng, nhờ chuyển đổi qua lại, Vĩnh được nằm gần một người tên Lân. Vài tháng về trước, Lân đã ngồi ghế tương đương với ghế giám đốc thương cảng Đà Nẵng trước kia, một chức vụ tiền không là tiền! Thề rối, không hiểu ăn không đồng chia không đủ ra sao đó, Lân bị gài và bị bắt tại chỗ tội tham ô cửa quyền. Bao nhiêu năm theo đảng, những bằng cấp tốt nghiệp ở Nga, ở Ba Lan, ở Tiệp Khắc về bỗng chốc biến thành mây khói. Lân vô tù và theo hắn nói, vốn liếng duy nhất còn lại là bộ quần áo trên người với cặp kính cận trên mắt. Cả phòng không ai chơi với “thằng chó đẻ” cả. Không đóng đinh vào tai nó thì thôi chứ lại chơi bời với nó à!? Vĩnh đâu phải mình đồng da sắt gì mà dám đi ngược lại cuộc tẩy chay tập thể của cả phòng. Nhưng nhiều lúc anh thấy Lân ngồi một mình trong bóng tối nhai mấy hạt ngô, lòng Vĩnh lại dấy lên mối thương cảm. Hắn cũng là con người thôi. Và hiện nay rõ ràng hắn đang là một con người khổ hơn bọn Vĩnh. Khổ từ tinh thần đến vất chất. Tinh thần thì cô đơn, sợ hãi. Vật chất thì thiếu thốn như một kẻ thiếu thốn nhất trong tù, vì hắn không có vợ con cha mẹ nào thăm nuôi cả. Nỗi thăng trầm của bọn Vĩnh dù sao cũng lâu rồi, vết thương tương đối đóng vẩy rồi; nỗi thăng trầm của tay này còn mới quá, vết thương lòng của hắn còn tung tóe máu… Nghĩ thế, có đôi lần Vĩnh bắt chuyện với ý nghĩ vui vui trong đầu: Ít nhất mình cũng giúp cho hắn một dịp để khỏi quên đi tiếng nói êm ái của loài người! Nhờ vậy, Vĩnh được nghe, tận tai nghe lời tâm sự chân thành nhất của một cán bộ trung kiên cộng sản từ ngày miền Nam rơi vào tay chúng đến nay.

– Anh Vĩnh à! Nói thật với anh, đến nay cá nhân tôi có thể khẳng định rằng từ ngày tiến chiếm miền Nam, điều tôi sợ nhất không còn là đảng, là kỷ luật đảng; mà, điều tôi sợ nhất là Nhân Dân Miền Nam!

Nhưng có lẽ niềm vui lớn nhất của Vĩnh trong tháng Bảy, tháng sinh nhật của anh, là, một lần nữa tái ngộ người bạn thật tốt của anh từ thời Suối Máu là Mai Mạnh Liêu. Cùng một vài người khác, Liêu được lôi khỏi đội 48 và được sáp nhập vào đội 13 ở cùng nhà 4 với Vĩnh. Nơi đây và ở thời điểm này, Liêu đã kể cho Vĩnh nghe một câu chuyện quan trọng xảy ra ở Suối Máu vào dịp lễ Giáng Sinh cuối năm 1978, nghĩa là chỉ sau khi Vĩnh rời Suối Máu lên Hàm Tân được ba tháng.

°

Vụ nổi loạn tại trại tù Suối Máu đã được nhiều anh em tù cải tạo của cả năm K nhen nhúm phối hợp tổ chức từ tháng Mười năm 1978. Vì những điều kiện sinh hoạt khác nhau tại mỗi K, cuộc nổi loạn đã không thể thống nhất hoàn toàn về mặt tổ chức, tuy nhiên về nhiều điểm khác như nguyên nhân, lề lối làm việc… để tiến tới cuộc nổi loạn mà cao điểm của nó là vào dịp lễ Giáng Sinh năm 1978, thì giống nhau.

1. Nguyên nhân:

a. Tháng Mười biến động:

Tháng Mười năm 78 là tháng khởi sự của nhiều biến động về các mặt chính trị, quân sự và xã hội bên ngoài – có thể những biến động này đã có từ nhiều tháng trước, như các vụ lộn xộn vùng biên giới Việt Miên và Hoa-Việt; hoặc những tin đồn có nhiều tác động trực tiếp đến thân phận những tù nhân, chẳng hạn tin đồn quốc tế đang đánh những đòn rất nặng nề về mặt nhân quyền ở Việt Nam đến độ nhiều nước Tây phương đã cúp hoàn toàn viện trợ nhân đạo cho Hà Nội; hoặc vụ đánh tư sản mại bản và Hoa Kiều – nhưng cho dù những biến động ấy đã hay mới xảy ra, điểm nóng của chúng vẫn khởi sự vào tháng Mười năm 78 đối với tù cải tạo Suối Máu. Điểm nóng ấy khiến nhiều anh em tù không còn muốn ngồi yên bó tay…

b. Năm 78 được coi như chấm dứt một hạn kỳ ba năm cải tạo:

Phải nói thực rằng, trong tất cả các thành phần sỹ quan quân đội và viên chức chính quyền ra trình diện các trung tâm tập trung cải tạo của cộng sản vào năm 75, có những người đã biết đặt một dấu hỏi thật lớn về cái chính sách gọi là “khoan hồng tập trung cải tạo mười ngày cho cấp úy và ba mươi ngày cho cấp tá tướng”. Nhưng vì cái thế cá nằm trốc thớt, họ đành “cũng liều nhắm mắt đưa chân, để xem con tạo xoay vần đến đâu”. Nhưng ở mặt khác, cũng phải thú nhận rằng một số đông, đông lắm, đã bị lừa hoàn toàn. Và sau khi vào rọ rồi, người biết đặt dấu hỏi hay người bị lừa đều có cùng một thân phận như nhau và nẩy sinh ra một ý nghĩ như nhau: Thôi lỡ rồi! Giờ ráng nín thở qua sông. Chấp nhận một thời gian lao tù rồi khi về tính sau. Và thời gian ấy, dựa trên những lời nói úp mở của bọn quản giáo, trên những tin đồn triền miên quấy nhiễu, đã tự động biến thành một bản án dài tối đa là ba năm! Hầu như ai cũng nghĩ như thế, đặc biệt ở thành phần sỹ quan trẻ tuổi chưa có nhiều kinh nghiệm lắm về thủ đoạn của cộng sản. Rồi thì ba năm đã qua, ba năm “nín thở qua sông” vẫn chưa thấy bờ bến đâu, tù cải tạo bắt đầu ngộp và ngộp thật. Họ muốn ngóc đầu lên thở một hơi dài cho dù hậu quả muốn đến đâu thì đến.

c. Thay đổi chế độ cai tù:

Nhờ lươn lẹo (và lươn lẹo một cách khá thành công!) chế độ quân nhân đã khiến tù cải tạo lúc nào cũng có ảo tưởng mình chưa hẳn là tù. Chuyện một sớm mai thức dậy bỗng dưng được gọi thả không phải là chuyện không thể xảy ra. Đùng một cái, vào tháng Mười chế độ quân quản chấm dứt. Các “cải tạo viên” được bàn giao cho công an – những cai tù chuyên nghiệp của chế độ – quản lý. Sau khi bàn giao, công an thẳng thừng tuyên bố “từ đây các anh là can phạm, là tù nhân của chế độ. Dưới chế độ quản lý của công an nhân dân, các anh sẽ khởi sự một mốc mới trong phấn đấu học tập lao động. Và mỗi mốc có một lượng thời gian là ba năm!”.

Ba nguyên nhân trên có thể là ba nguyên nhân chính dẫn tới biến cố Suối Máu.

2. Thành phần lãnh đạo và tham dự tích cực trong biến cố Suối Máu:

Hầu hết đều thuộc thành phần sỹ quan trẻ có cấp bậc từ chuẩn úy lên tới trung úy. Đại úy và cấp tá cũng có nhưng rất ít.

° Câu chuyện xảy ra khởi từ một người tên Ngô Phước Việt, một sỹ quan trẻ tuổi, mập mạp, vốn được biệt phái làm nghề sửa quân xa cho ban chỉ huy K.5; Việt bị một ăng ten báo cáo về tội ăn cắp dầu xăng cho anh em dùng bật lửa và bị bắt nhốt connex. Sau khi quân quản bàn giao trại Suối Máu lại cho công an, Việt được thả ra khỏi connex. Về tới K.5, việc đầu tiên Việt cho một số anh em bạn trẻ tuổi biết ai là kẻ đã đi báo cáo anh.

Sự kiện này lại trùng hợp với việc một số anh em lên làm tạp dịch trên ban chỉ huy, đã nhặt được nhiều bản báo cáo của bọn ăng ten nằm trong những đống rác do bọn quân quản xé bỏ lại. Sở dĩ có việc này cũng vì bọn quân quản không ưa gì bọn công an; khi ra đi, chúng đã không bàn giao lại hệ thống ăng ten mà chúng đã thiết lập được từ trước trong các K. Giấy trắng mực đen được đưa về K. Những kẻ phản bội vô phương chối cãi. Tên ăng ten đầu tiên bị hỏi tội là tên đã báo cáo Việt. Rồi như vết dầu loang, anh em K.5 mở luôn chiến dịch đánh ăng ten. Chỉ nội một tuần lễ vào cuối tháng Mười năm 78 đã có đến trên hai mươi ăng ten ở K.5 bị ăn đòn tập thể. Cũng nên biết rằng, hành động đánh ăng ten lúc này chỉ mới là hành động đột phá và chưa hề được chỉ đạo bởi một tổ chức rõ rệt.

Tuy nhiên, việc muốn dọn dẹp sạch đống rác ăng ten đã đòi hỏi nhiều điều kiện, mà điều kiện tiên quyết là phải đoàn kết và có tổ chức. Đoàn kết để thống nhất lề lối làm việc và có tổ chức để hữu hiệu hóa công tác diệt trừ ăng ten cũng như tự kiểm soát hàng ngũ của chính mình. Do động lực này, những nhóm gọi là Nhóm Dù, Nhóm TQLC, nhóm Không Quân, Nhóm Hải Quân… khởi sự ra đời. Tình trạng này kéo dài đến đầu tháng Mười Hai thì những nhân vật vận động sự kết hợp giữa năm K tương đối đi đến thành công. Các hàng rào ngăn cách giữa các K được tù tự động tháo gỡ để các K có thể thông thương qua lại khi cần thiết. Đầu tiên K.5 mở rào qua lại với K.1. Tiếp đó K.4 mở rào liên lạc với K.5. Riêng K.2 và K.3 anh em đa số lớn tuổi và cấp bậc thường từ đại úy trở lên, do đó họ có nhiều trì lực và việc khai mở hàng rào có vẻ tiến rất chậm. Vào trung tuần tháng Mười Hai, K.1, K.3, K.4 và K.5 coi như đã hoàn toàn thông thương với nhau. Riêng K.2 thì chưa, chỉ mới có những lỗ nhỏ đủ cho một số anh em chui qua đi họp hoặc có việc cần gặp những anh em bên các K bạn.

Nhưng dù điều kiện có khác nhau tí chút, một số anh em trẻ vẫn đứng ra nhận sứ mệnh bắt liên lạc và tổ chức một cơ cấu lãnh đạo chung cho cả năm K. Sau nhiều lần gặp gỡ và bàn thảo, những nhân vật hoạt động ấy đồng ý thành lập ở mỗi K một Ban Đại Diện K với cơ cấu tổ chức như sau:

– Trưởng Đại Diện K.

– Phó Đại Diện K.

– Ban An Ninh Trật Tự: Có nhiệm vụ theo dõi tình hình trong ngày, báo động kịp thời đến các nhà, các đội sự xuất hiện đáng nghi ngờ của bọn Bò Vàng (công an giám thị).

– Ban An Ninh Hành Động: Gồm những người có võ nghệ khá. Ban này hoạt động bí mật, có nhiệm vụ theo dõi, phá vỡ tổ chức và trừng trị kịp thời bọn ăng ten lúc chúng tìm cách báo cáo những tin tức trong trại ra ngoài cho bọn cai tù.

– Ban Tuyên Huấn: Thực hiện những buổi “Văn Nghệ Vàng” cho cả trại thưởng thức. Thông tin và truyền đạt những bản tin sinh hoạt hoặc những huấn thị của ban đại diện K đến tận các phòng các đội.

– Ban Y Tế: Phụ trách việc băng bó, an ủi và kêu gọi sự hồi tâm của những ăng ten bị anh em khám phá và trừng trị.

Rồi cũng qua nhiều lần gặp gỡ và hội thảo, đại diện các K đưa ra một quyết định khởi sự “kiếm chuyện” với cai tù. Và việc đầu tiên là các K sẽ đồng loạt công khai tổ chức mừng lễ Giáng Sinh năm 1978.

Các hang đá được thực hiện. Anh em công giáo ở các K đều đổ sang K.3 để được cha Thông và cha Thiên giải tội tập thể.

Vào nửa đêm Giáng Sinh, K.1 khởi sự hành lễ ngay khu lò bánh mì. Đang trong lúc hành lễ thì tên Lưu, giám thị trưởng K.1 chạy vào cùng với một tiểu đội công an trang bị đầy đủ súng ống. Chúng nổ súng vây bắt nhưng chỉ bắt được ba người gồm đại úy Hoàng (KQ), thiếu úy Bé (ANQ Đ) và một trung úy có hỗn danh Luca (TK/BH).

Bắt được ba người chúng giải ngay lên khung, sau đó đem nhốt connex. Vì biến cố này, tất cả các K đồng loạt báo động và người nổi tiếng kẻng báo động đầu tiên là trung úy Phạm Ngọc Đông (HQ) của K.5. Đại diện các K lập tức gặp nhau để tìm biện pháp đối phó với tình hình. Trong giai đoạn này, mặc dù các K đều đã có ban đại diện, nhưng hoạt động mạnh nhất và có tổ chức rõ ràng nhất vẫn chỉ là K.4 và K.5.

Những nhân vật hoạt động tích cực nhất của K.4 gồm: Thiếu úy Lê Hùng (PB), thiếu úy Nguyễn Sỹ Chí (TĐ/ĐPQ/QĐ3), thiếu úy Nguyễn Ngọc Khang (TG), thiếu úy Phạm Văn Thế (TG), thiếu úy Nguyễn Văn Hóa (TK/ ĐT), thiếu úy Đặng Thế Tiến (BLHQS/VL).

Và của K.5 gồm: Trung úy Phạm Ngọc Đông (HQ), thiếu tá Hứa Trịnh Tùng (BK), thiếu úy Lê Hoàng Ân

(Phủ TT), thiếu úy Đỗ Văn Trình (SĐ5), thiếu úy Lê Văn Minh (ĐPQ), đại úy Lê Ngọc Dung (KQ).

Hai K trên với từng đó nhân vật tích cực hoạt động, đã khéo léo lôi được hầu hết mọi người trong K lên hội trường biểu tình ngồi, và đưa ra yêu sách đòi thả những anh em vừa bị bắt giữ. Họ đã lên trước anh em trình bày vấn đề, đại ý.

– Ban chỉ huy trại đã vi hiến khi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng đã được quy định rõ ràng trong hiến pháp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Để tỏ thái độ, yêu cầu tất cả các anh em đoàn kết lại, biểu tình ngồi, chấp nhận tuyệt thực cho đến khi nào khung thả hết các bạn của chúng ta ra khỏi connex.

Hào khí lan nhanh như ánh bình minh. Để đáp ứng lời kêu gọi đưa ra từ các ban đại diện K.4 và K.5, tất cả các K còn lại cũng lần lượt đi vào hàng ngũ và tham dự cuộc biểu tình ngồi. Những tiếng vỗ tay liên tiếp vang dội cả một vùng. Rồi thì tiếp theo đó, hơn 4.000 tù của trại Suối Máu đồng loạt cất tiếng hát theo K.4, khi thiếu úy Nguyễn Văn Hóa bắt nhịp cho anh em hát bài Đêm Đông.

Trong khi ấy, ban đại diện K.1 bắc loa yêu cầu khung phải thả ngay các “cải tạo viên” ra khỏi connex và trả họ về trại trong tình trạng lành lặn an toàn.

Bọn giám thị các K, đặc biệt K.4, có vẻ kinh ngạc trước hiện tượng xảy ra. Chúng phản ứng rất chậm dù có điều động đến sáu chiến xa đến án ngữ tại các vị trí quan trọng của trại. Ba chiếc nằm trước K.4 và ba chiếc nằm ngay góc K.3 chỗ đi thẳng xuống bệnh xá. Ngoài ra, chúng còn điều động thêm ba đại đội công an từ Biên Hòa xuống. Công an cơ hữu dàn đội hình phía ngoài hàng rào các K. Chúng còn bố trí một thượng liên nhắm vào khu hàng rào ngăn giữa K.4 và K.5, đồng thời ở các K khác đều có đại liên từ ngoài chỉa vào. Để cầm chân những anh già luôn luôn muốn đào ngũ khỏi hội trường, và cũng để anh em lên tinh thần, các Ban Tuyên Huấn liên tục bắt nhịp các bài hùng ca do anh em tù từng soạn ra và những bài ca Giáng Sinh để mọi người cùng hát. Họ đang phát huy tối đa câu châm ngôn của chính “cách mạng” đã “giáo dục” họ: Tiếng hát át tiếng… bom!

Rồi thì giờ phản công của bọn cai tù Suối Máu cũng phải đến. Với sáu công an hộ tống, tên giám thị trưởng K.4 Trần Hằng tiến đến sát hàng rào và yêu cầu tù bên trong giải tán, bằng không, hắn sẽ cho lệnh nổ súng. Bên trong tù không đáp ứng lời kêu gọi. Họ vẫn tiếp tục hát. Sau ba lần yêu cầu, Trần Hằng cho lệnh nổ súng thẳng vào hội trường K.4. Ngay loạt đạn đầu đã làm bị thương bốn người, một người được nhận diện là thiếu úy Nguyễn Ngọc Hải (TG).

Dược sỹ Bằng, trưởng ban y tế và Nguyễn Sỹ Chí (có nghề châm cứu) phụ trách băng bó cho các nạn nhân.

Sau những loạt súng đầu K.4 vẫn tiếp tục ngồi hát. Bọn giám thị bên ngoài quay lưng bỏ đi. Đại diện các K tức khắc liên lạc và gặp nhau thảo luận. Có hai trường hợp được đặt ra. Một là, nếu chúng không tiếp tục nổ súng thì tương đối dễ giải quyết. Hai là, nếu chúng tiếp tục nhả đạn vào hội trường thì phải làm sao?

Các ban đại diện đồng ý bằng một giải pháp chung: Vậy thì cùng vượt rào ra ngoài và nếu có chết trên hàng rào sẽ có nghĩa lý hơn.

Quyết định được đưa ra và các nhân vật hoạt động tích cực của các K, đặc biệt K.4 và K.5 sửa soạn ngay những thanh gỗ lớn bắc qua hàng rào và đồ nghề phá rào.

Mặc dù đại diện các K.1 và K.3 rất xuất sắc, chẳng hạn đại úy Trần Đình Ngọc (Dù), đại úy Hoàng (KQ), thiếu úy Nguyễn Văn Thịnh (TQLC) của K.1; trung úy Phạm Đắc Hiện của K.3… đều là những người rất hăng hái tích cực, nhưng vị trí các K này nằm vào chính giữa trại Suối Máu, nên họ không thể điều động anh em làm những công tác sửa soạn vượt rào ra ngoài như anh em bên K.4 và K.5.    

Dù sao các K đều có một điểm giống nhau, là họ có tổ chức những đội xung phong quyết tử gồm toàn những người trẻ để ăn thua đủ nếu bọn giám thị tràn vào với ý đồ tàn sát tập thể.

Trong khi chưa thể biết bọn chỉ huy các K đang tính toán chuyện gì, anh em vẫn tiếp tục ngồi hát trên hội trường và chờ đợi biến cố xảy ra.

Quãng một giờ sáng một chiếc xe Jeep xuất hiện trước K.1. Tù bên trong nhận diện được người ngồi ghế trưởng xa là thượng tá Đào Lưỡng. Đào Lưỡng sau khi quan sát một vòng quanh các K, hắn bỏ đi và không bao lâu sau đó, ba người của K.1 từng bị bắt giam được trả về trại.

K.1 tức thì gửi liên lạc viên đi cám ơn các K đã tiếp tay trong cuộc đấu tranh này. Anh em được giải tán để về nghỉ ngơi. Tinh thần mọi người đều lên rất cao vì họ biết chắc họ là những người tù đầu tiên ở miền Nam đã bắt bọn cai tù cộng sản nhượng bộ trước sự đoàn kết của họ.

Sáng ngày kế tiếp, 26 tháng 12 năm 1978, đại diện các K sang K.1 để họp và thiết lập một ủy ban điều hành chung cho các K. Ủy ban này lấy tên là Ủy Ban Liên K Bảo Vệ Danh Dự Các Sỹ Quan QLVNCH. Theo quyết định của phiên họp, các K vẫn duy trì Ban Đại Diện riêng; và chỉ phối hợp hoạt động dưới danh nghĩa Ủy Ban Liên K khi cần thiết mà thôi. Đại úy y sỹ Lê Văn Lẫm (Dù) được bầu làm chủ tịch Ủy Ban.

Rút ưu khuyết điểm về biến cố đêm Giáng Sinh, các K thấy rằng điều tiên quyết là phải củng cố nội bộ và cải thiện lề lối làm việc, có thế mới mong đạt được nhiều kết quả hơn đối với những bước sơ khởi mà Ủy Ban đã đưa ra.

– Chứng tỏ cho kẻ thù thấy tù cải tạo là một tập thể có trật tự, có chỉ huy.

– Tù cải tạo sẽ không yên lặng hoàn toàn như trước nữa, mà họ sẽ tích cực lên tiếng đòi hỏi những quyền lợi chính đáng khi cần thiết.

Để đạt được bước đầu, Ban Đại Diện các K đặt ra những chức vụ mới. Những chức vụ này sẽ điều hành các tập thể đội trong bóng tối. Thí dụ bên cạnh chức đội trưởng được bọn giám thị chỉ định, có một đội trưởng hoạt động trong bóng tối do Ban Đại Diện chỉ định. Điển hình K.4 có mười sáu nhà và bốn đội thì Ban Đại Diện K cũng có ngay mười sáu chức vụ đại diện nhà và bốn chức vụ đại diện đội.

Những người từ trước đã ra mặt hành động nay được rút vào bóng tối vì vấn đề an ninh cá nhân. Đợt lãnh đạo mới hoàn toàn bí mật và không ai biết mặt. Những nhân vật trong bóng tối này khởi sự làm những việc đầu tiên như:

– Hủy bỏ tất cả các huy hiệu, quốc hiệu, các khẩu hiệu của cộng sản giăng mắc từ trước bên trong các K. Có những K đã lôi cả thủ cấp Hồ Chí Minh, vốn được đặt thờ trên hội trường, ra để ngoài cầu tiêu công cộng và nơi ấy đã có sẵn một bảng kẻ chữ rất trang trọng: Lăng chủ tịch HCM vĩ đại! – Tổ chức chiến dịch Bài Trừ Văn Hóa Đỏ. Tất cả các sách báo của cộng sản đều được Ban An Ninh Hành Động thu lại và đem đốt.

– Thực hiện hàng đêm Giờ Phát Thanh tại các nhà. Ban Tuyên Huấn phụ trách công việc này. Để thực hiện nó, hàng đêm, Ban Tuyên Huấn cử một người bịt mặt đến từng nhà để đọc nhật lệnh và các chỉ thị chung cho ngày mai. Họ cũng thông báo những chuyện đã xảy ra trong ngày như đã phát hiện được bao nhiêu ăng ten, trừng trị ai, phạt treo ai… Những người trong nhà còn được nghe tin tức về những biến động bên ngoài xã hội và cả tin tức thế giới, chẳng hạn cô ca sỹ phản chiến Joan Baez đã hồi tâm như thế nào, thực trạng Việt Nam ngày nay, Trung cộng đã dàn bao nhiêu quân dọc theo biên giới Hoa-Việt, nhà nước cộng sản Hà Nội đã túa đi tứ phương tám hướng ăn mày viện trợ của thế giới tự do… (những tin tức này, thực may, đã được một anh thiếu tá không quân tên Nam – một chuyên viên sửa radio cho ban chỉ huy K.4 – thường xuyên bắt được làn sóng BBC và VOA cung cấp).

Ngoài ra Ban Tuyên Huấn còn nhắc nhở anh em phải cư xử với nhau như những sỹ quan cư xử với sỹ quan. Phải giữ tư cách và đừng bao giờ cư xử với nhau như những tù nhân cư xử với tù nhân.

Thường khi nhà trưởng tắt đèn để đón đại diện Ban Tuyên Huấn đến đọc nhật lệnh mỗi tối, người bịt mặt thường trước tiên đọc lớn câu tâm nguyện: Các bạn hãy luôn luôn nhớ các bạn là những sỹ quan, và các bạn hãy đối xử với nhau như các bạn đang đòi hỏi kẻ thù phải đối xử với các bạn…

– Chiêu hồi ăng ten. Mặc dù những ăng ten nổi tiếng của Suối Máu đều bị trừng trị đến trọng thương vào thủa ban đầu như Nguyễn Ngọc Đảnh (K.5), Huỳnh Văn Bé (K.1), Nguyễn Bắc Hải (K.4)… nhưng trong cái sôi nổi lúc ban đầu ấy, cũng có một số người đã ăn đòn oan. Rút kinh nghiệm, các Ban Đại Diện K khởi sự kêu gọi sự tự giác của các ăng ten trở về với anh em, hơn là để anh em thẳng tay trừng trị. Riêng những người bị đánh đập đều được y tế băng bó và cho thuốc men đầy đủ, sau đó Ban Đại Diện cho mời đến nói chuyện phải trái. Đa số những ăng ten đều tỏ ra hối hận, thí dụ Nguyễn Bắc Hải, kẻ sau khi hồi tâm đã phát biểu rằng: Kể từ lần tôi bị anh em trừng trị cái tội phản bội, tôi thấy bỗng dưng yên tâm lạ thường. Tôi biết chắc anh em không nỡ xuống tay giết tôi, chỉ tìm cách cảnh tỉnh tôi mà thôi…

– Thực hiện những đêm văn nghệ liên trại. Từ đêm Giáng Sinh 78 đến Tết ta năm 79, bằng vào một đề nghị được thông qua bởi một phiên họp giữa K.1, K.4 và K.5, các K này đã lần lượt thực hiện những đêm văn nghệ dưới tên Văn Nghệ Cho Quê Hương, công khai hát những bài Chính Huấn cũ cũng như một số bài do anh em sáng tác trong tù.

Đêm văn nghệ đầu tiên tổ chức ở K.1 có anh em từ K.4 và K.5 sang tham dự. Với số khán giả tham dự lên tới quãng sáu trăm người. Không khí K.1 đã nổ tung với những bài hát “tự biên tự diễn” quen thuộc từ mấy năm trước đó, chẳng hạn bài Ta Sẽ Leo Lên Khỏi Vực Sâu, bài Im Lặng Là Đồng Lõa…

Con chim đầu đàn của văn nghệ liên K vẫn là Nguyễn Văn Hóa, anh chàng mập mạp, từng là ca trưởng một ca đoàn công giáo lớn tại Sài Gòn, cựu thiếu úy phân chi khu trưởng, có giọng hát to và khỏe như bò rống, hiên ngang đơn ca bài Ta Sẽ Leo Lên Khỏi Vực Sâu.

… Ta sẽ leo lên dù chết chết một lần

Ta sẽ leo lên để sống sống muôn năm

Ta sẽ leo lên như hoa mọc trên đá Lúc trái tim chưa ngừng đập giữa ngực ta…

Hoặc giả.

… Khi chúng ta quay lưng im hơi

Khi chúng ta không buông nhiều lời

Bọn cộng nô, bọn gian ác

Khi chúng ta quên thân phận mình

Khi chúng ta không ai thật tình

Là kéo dài cuộc sống trăm ngàn điêu linh …

Sự yên lặng là đồng lõa…

Hết K.1 đến phiên K.4. Và K.4 đã làm một cách long trọng hơn ngay trên hội trường của K. Có chào quốc kỳ đầu năm, có cờ vàng ba sọc đỏ treo đàng hoàng trên sân khấu, có phút tưởng niệm các chiến hữu đã bỏ mình vì tổ quốc và bỏ mình trong các trại giam cộng sản. Sáu mươi cây đàn guitar tự chế đã hòa tấu bài Quốc Ca và bài Chiêu Hồn Tử Sỹ. Mười sáu ông chức sắc nhà trưởng (của Ban Giám Thị trại cắt cử) được Ủy Ban Tổ Chức mời đứng vào vị trí danh dự. Sau giây phút mặc niệm những người đã khuất hầu như không ai mà không rơi lệ…

Nói tóm, những đêm văn nghệ này rõ ràng là những đêm văn nghệ có nội dung chống cộng công khai.

Cho dù ăng ten đã gần như dẹp sạch, nhưng như thế không có nghĩa là bọn giám thị không hề hay biết gì về nội tình các K. Đã nhiều lần chúng phát hiện và dẹp bỏ những tấm bảng đề hàng chữ Lăng Chủ Tịch HCM Vĩ Đại nơi các cầu tiêu. Nói chung là chúng biết hết những diễn tiến “phản động” trong trại, chưa ra tay chỉ vì chưa nắm được những người chủ chốt mà thôi.

Vào đầu tháng Hai năm 79, giờ hành động của bọn giám thị tại Suối Máu đã đến. Chúng khởi sự bằng một cuộc bắt bớ tập thể bên K.5 trước Tết Nguyên Đán vài ngày. Tai biến này xảy ra vì những bản báo cáo lên khung của Hoàng Mai Dõng, một ăng ten bị bỏ sót của K.5 hiện làm việc tại lò bánh mì của trại. Trong cuộc bắt bớ tập thể này, trọn bộ đầu não của K.5 bị bắt hết. Trịnh Tùng, Phạm Ngọc Đông, Đỗ Văn Trình, Lê Hoàng Ân, Lê Văn Minh và Lưu Văn 1.

Bên K.1 cũng bị bắt một số nhưng không rõ tên tuổi. K.2 và K.3 chưa bị đả động tới. K.4 nhờ diệt sạch ăng ten từ đợt trước Giáng Sinh, do đó bọn giám thị vẫn chưa tìm ra “bọn thủ phạm”, chỉ khủng bố tinh thần bằng cách cho công an vào trại, gặp tay nào không chào kính, mặt mũi có vẻ “gân guốc” là tóm nhốt dằn mặt. Ba người ở K.4 bị bắt trong đợt này là Hùng có hỗn danh Hùng Cống, Phạm Văn Lợi à Tạ Văn Hóa 2.

Do vụ bắt bớ tập thể, Tết Con Khỉ ở trại Suối Máu đã đến trong một bầu không khí buồn tênh như có đám ma. Đã thế, vừa sáng mùng 3 Tết bọn giám thị lại tràn vào các K để bắt đi một số nữa. Ca trưởng Nguyễn Văn Hóa cũng bị bắt đi vào dịp này. Những người còn lại, đặc biệt Ban Đại Diện K.4, đã tích cực tìm cách đối phó với tình hình. Công tác trước mắt phải làm là tìm cách yểm trợ vật chất và tinh thần cho anh em, những người mà họ đã biết giờ đây đang nằm trong những kiện sắt connex, nóng và tối như địa ngục rải rác bên ngoài các K.

Cuộc họp các đại diện còn lại của các K đã đưa tới một quyết định quan trọng. Mở cuộc lạc quyên quà cáp từ những anh em được gia đình thăm nuôi. Điều này chính các nhà trưởng phải đích thân thực hiện và trách nhiệm trực tiếp với Ban Đại Diện. Mặc khác, các nhà trưởng còn phải sắp xếp với đội anh nuôi – những người nấu ăn cho tập thể kiêm thêm nhiệm vụ đưa khẩu phần nuôi những người đang nằm trong connex – để tìm cách tiếp tế đều cho những người bạn lâm nạn. Ngay những anh nuôi này còn phải nhận thêm một nhiệm vụ phụ nhưng không kém quan trọng, ấy là làm cái cầu liên lạc giữa những người bị biệt giam và Ban Đại Diện. Mọi lời khai đều được bên ngoài chỉ đạo.

Về phía bọn giám thị, ngoài việc bắt bớ khủng bố, chúng còn mở nhiều buổi học tập đặc biệt dành cho những thành phần có nhiều triển vọng được thả trong tương lai. Mỗi K chúng lọc ra chừng hai mươi tới ba mươi người và đem hết sang K.5 “huấn luyện”. Anh em tù đã mỉa mai gọi khóa học tập đó là “Khóa Điệp Viên Okinawa”. Trong khóa học đặc biệt này, bọn giám thị thẳng thắng lên tiếng kêu gọi.

– Các anh là những thành phần phạm nhân nhẹ tội, có thân nhân là cách mạng, cải tạo có tiến bộ cụ thể và sẽ được nhà nước tha về đoàn tụ gia đình nay mai; nhưng, để hoàn tất thủ tục tha về, các anh phải làm một việc cần thiết sau cùng. Khai tên một người hoặc kể lại một sự kiện cụ thể trong vụ tổ chức bạo loạn đêm Giáng Sinh vừa qua. Các anh cứ viết vào giấy và nộp cho cán bộ quản giáo là đủ. Phải nhớ, thiếu mảnh giấy ấy cách mạng cũng chẳng giam các anh cả đời ở đây đâu, mà ngày về của các anh cùng lắm chỉ chậm lại thêm một mốc phấn đấu nữa mà thôi. Một mốc cũng không lâu gì, có ba năm…

Sau “khóa học tập đặc biệt” đầu tiên, K.1 thua nặng nề! Đợt đầu bị bắt bốn mươi người với toàn bộ ban đại diện. K.5 bị bắt thêm một số không rõ bao nhiêu. K.2 và K.3 cũng bị bắt một số nhưng không nhiều lắm. Chỉ K.4 nhờ tổ chức chặt chẽ, không ai bị bắt trong đợt này. Ban Đại Diện bên K.4 tồn tại là nhờ những người được kêu đi học “khóa đặc biệt” lại hầu hết là anh em ta. Còn những người không nằm trong tổ chức đại diện, được Ban Tuyên Huấn tích cực khuyên giải phải bình tĩnh, đừng mắc mưu cộng sản; mặc khác, Ban An Ninh Hành Động cũng bắn tiếng, kỳ này nếu ai tiết lộ, sẽ không đánh nữa mà sẽ giết thẳng tay.

Sau những đợt bắt bớ tập thể, Đào Lưỡng đã đến trại Suối Máu nói chuyện với tù nhưng cuộc nói chuyện bị tẩy chay và thất bại hoàn toàn. Không hiểu bằng cách nào và do ai, chỉ trước khi Đào Lưỡng đến chừng vài phút, trên mặt bàn chủ tọa trong hội trường K.5 đã nằm chình ình một đống phân người to tướng. Bọn giám thị tức lồng lên và phải thay bàn vào phút cuối.

Nằm nghe Mai Mạnh Liêu kể lại những chuyện đã xảy ra nơi trại Suối Máu, Vĩnh không khỏi ngậm ngùi. Một số đông là những người bạn cũ của Vĩnh, nếu không từng thân mật ăn uống, tâm sự với nhau nhiều tháng ngày như Đặng Thế Tiến, như Nguyễn Văn Hóa, như Tạ Văn Hóa… thì cũng là những người từng uống với nhau một miếng nước giữa nông trường nắng cháy, hoặc hút với nhau một điếu thuốc dưới ruộng sâu lạnh lùng.

Liêu còn cho biết.

– Khi tao được đưa lên đây, không khí dưới ấy còn sôi sục lắm. Thế nào rồi cũng còn nhiều thằng bị tóm nữa. Tao cũng nghe hình như thằng Đào Lưỡng bay mẹ nó mất chức rồi!

Ghi Chú: Khi quyển sách này được viết đến những chương cuối thì tác giả may mắn tái liên lạc được với một người bạn tù ngày cũ, anh Đặng Thế Tiến. Anh Tiến vượt thoát khỏi VN năm 1983 và mới được định cư tại thành phố Aurora, tiểu bang Colorado năm 1984. Qua cuộc tiếp xúc, với tư cách một người trong cuộc và may mắn còn sống thoát được ra ngoài, anh Tiến xác nhận những sự kiện kể bên trên là đúng và đã cung cấp thêm cho tác giả một số sự kiện khác như sau về biến cố Suối Máu.

– Tháng Sáu năm 1979 Ban Đại Diện K.1 bị bắt toàn bộ.

– Giữa tháng Sáu 1979 anh Phạm Đắc Hiện đại diện K.3 cùng một số anh em khác bị bắt và bị tra tấn rất nặng. Vì sự tra tấn này, thêm hai người nữa bị khai ra như là hai liên lạc viên của K, đó là thiếu úy Giang Văn Hai và thiếu úy Nguyễn Quốc Bảo. Hai anh này đều là người của K.4, bị bắt, bị đánh chết đi sống lại nhiều lần.

– Tháng Bảy năm 1979 thêm hai người trong ban Đại Diện K.4 bị bắt đó là thiếu úy Đặng Thế Tiến và thiếu úy Nguyễn Ngọc Khang.

Tổng kết về cuộc nổi loạn Suối Máu dịp Giáng Sinh năm 1978 đến quãng tháng Mười Một năm 1979, bọn giám thị công an Suối Máu đã bắt biệt giam chừng 300 người. Con số bị tra khảo đến chết chưa ai nắm vững được. Sau này, nhờ chuyển trại qua lại, người ta được biết những nhân vật có dính líu xa gần đến biến cố trên đều bị đưa về giam ở các xà lim khám Chí Hòa. Có người chết vì bị tra tấn, có người bị đánh đến tàn tật, có người chết vì chịu không nổi chế độ biệt giam, cũng có nhiều người chịu nổi những cực hình và sau đó được đưa đi khổ sai ở các trại Hàm Tân, Tống Lê Chân, Khe Sanh…

——————————–

1          Lưu Văn sau này bị đánh chết ở khám Chí Hòa.

2          Tạ Văn Hóa, một người bạn cùng khối 10 với Vĩnh từ những ngày đầu ở L4T3. Một hảo thủ bóng chuyền. Anh cũng bị đánh chết ở khám Chí Hòa.

Người đưa tin… độc địa

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 13 Feb 2017 

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Tặng “xếp” cũ của tôi,

trung tá Huỳnh Kiêm Mậu.”

hlh

Đưa ống nghe điện thoại xa ra khỏi tai, hướng mặt về phía trung tá Mậu, Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị, tôi nói, không lớn tiếng, đủ cho mọi người trong phòng nghe:

-“Có khách rồi, không biết có kịp tết không?”

Trung tá Mậu hỏi ngay:

-“Ma chay hả? Từ đâu về?”

-“Thiết Đoàn 16, tử trận ở Kompong Trạch, mẹ ở Gia Định.”

Trung tá Mậu ngữa lưng, dựa vào ghế. Tôi nghe tiếng ông thở ra. Chỉ còn bốn ngày nữa là tết. Ông “mệt” cho ông hay ông “cám cảnh” cho tôi, “năm hết tết đến” còn lo việc an táng cho đồng ngũ.

Tôi lại đặt ống nghe vào tai, tiếp tục với người ở bên kia:

-“Huế còn đó không?

-“Có”. Tiếng thiếu úy Huế trả lời. Tôi hỏi tiếp:

-“Lên đường về đây rồi phải không?”

-“Vâng!” Huế trả lời. “Tui cho một trung sĩ đi theo với tài xế. Làm sao anh?”

Tôi vẫn giữ cái thói hay nói đùa:“Làm sao cũng chẳng làm sao!” Ở đây có người lo tiếp cho tử sĩ. Ông trung sĩ đi theo có điện thoại của tui không? Gần tới nơi thì gọi cho tui. Tui chờ ở Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp.” (Hồi ấy “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa đang chuẩn bị hình thành – tg)

-“Tui dặn rồi. Có phải điện thoại của anh là 30.240?”

-“Đúng! Yên tâm đi nghe. Có chi trở ngại, tui sẽ gọi ông.”

Huế -Trần Huế – bạn cùng khóa Bộ Binh, Thiết Giáp với tôi. Anh ta cũng như Phạm Văn Nga lại là học trò cũ của tôi, khoảng chừng hơn năm năm trước ở Huế. Cả hai thua tôi khoảng 10 tuổi.

Sau tết Mậu Thân ở Huế, buồn tình, tôi tự  động bỏ dạy –“bỏ cục phấn bấm cò súng” – câu tôi thường nói đùa với bạn bè – Hai “ông bạn đồng khóa” thì tới tuổi động viên, thành ra, “cùng nhau đi lính Cộng Hòa”, hết Quang Trung, lên Thủ Đức, vô trường Thiết Giáp. Ra trường, tôi và Nga chọn Thiết Đoàn 17/ Kỵ Binh, đóng ở Phước Tường. Huế về Thiết Đoàn 16 ở Long Xuyên; sau tháng 3/ 1970, Thiết Đoàn thường hành quân vượt biên qua Kamphuchia. Tôi được giữ lại Bộ Chỉ Huy, tiếp nối tờ báo “Kỵ Binh”, “giữ cái nghiệp làm báo tự chọn” do một ông bạn cũ từ thời học tiểu học, đại úy Lương Thúc Trình giao cho vì Trình được biệt phái về “nhiệm sở cũ”, giáo sư ở trường trung học Trần Quí Cáp, Quảng Tín.

Tôi kiêm luôn công việc mà tôi thường gọi đùa là “Người đưa tin… độc địa”, nghĩa là đưa tin “báo tử các chiến hữu” của binh chủng cho thân nhân của họ ở Saigon và Gia Định.

“Tin… độc địa” vì gia đình người ta đang yên ổn, bỗng tôi tới gõ cửa báo tin thân nhân họ… tử trận. Thế là cả nhà, có khi còn cả cha mẹ già, vợ con, chị em… òa nhau lên khóc.

Nghe tiếng họ khóc, tôi đứng như “chết trân” tại chỗ. Nhiều khi muốn trốn khỏi nhà họ nhưng không trốn được; nhiều khi muốn làm “ông Tề độn thổ” cho xong, nhưng lại không có 72 phép thần thông.

&

Về nhận việc ở đơn vị mới được mấy hôm, Trung Tá Mậu gọi tôi tới bàn ông, biểu ngồi xuống ghế. Đứng bên cạnh ông là trung úy Nguyễn Đăng Đức, tay cầm xấp hồ sơ không dày không mỏng. Trung tá Mậu nhìn tôi một lúc, mặt hơi có vẻ nghiêm, nói:

-“Giao việc nầy cho anh tôi yên tâm hơn. Mấy lâu nay, trung úy Đức đảm nhận nó, chưa có gì sai trái nghiêm trọng, nhưng ông Đức có bệnh hay quên; nhiều khi ông ta quên làm tôi đứng tim luôn. Việc ma chay phải hết sức cẩn thận. Gia đình người ta có người “hy sinh vì Tổ Quốc”, mình lo giúp người ta việc an táng là phải chu toàn. Lôi thôi, thân nhân thưa lên tới Tổng Thống chớ không phải tới ông Đại Tướng đâu. Vậy là họ gõ đầu thuộc cấp, từ trên gõ xuống, gõ tới mình là coi như… khăn gói ra Vùng 1, Vùng 2. Ngại lắm! Mình không sợ tác chiến nhưng khăn gói quả mướp kiểu ấy thì mất mặt anh hùng.”

Theo lệnh trung tá Mậu, trung úy Đức trao tập hồ sơ cho tôi. Nhìn hàng chữ ngoài bìa, tôi đâm lo, “hơi lạnh giò” vì tưởng có “âm khí nặng nề” như khi Kiều gặp mộ Đạm Tiên. Đây là một cái tên có lẽ tôi chưa từng nghe bao giờ: “Hồ Sơ Ma Chay”.

Tôi cũng “thấm” lời trung tá Mậu căn dặn: “Gia đình người ta có người hy sinh vì Tổ Quốc”… Chuyện nầy… dễ “thông cảm”, vì chính gia đình tôi, cũng không “ngoại lệ”, cũng đã có người tử trận, còn như thấy, thì thấy không ít lần.

Tôi từng ngạc nhiên vì mấy chữ “Nhà Vĩnh Biệt” treo trước cái nhà nhỏ nằm riêng một góc phía trong Cửa Hậu, ở thành Mang Cá / Huế, cuối quân y viện Nguyễn Tri Phương mà tôi từng thấy khi mới học lớp Nhì. Tôi có bà chị, nhà ở đường Lê Văn Duyệt, con đường song song với sông đào An Hòa / Bao Vinh; bên cạnh con đường nầy, phía ngoài cửa Hậu là “Nghĩa Trang Quân Đội”. Biết bao nhiêu mồ mả ở đó. Cũng có lần tôi đi thăm chị, ngang nghĩa trang, nhằm lúc người ta sắp hạ huyệt, tiếng kèn Tây nổi lên: “Tọ ti tè, tọ ti tè…” bọn trẻ từng nhại theo “Tôi chưa tề. Tôi chưa tề!” Cái nhại nầy có phần nghiêm trang vì người ta không dám đùa với người… chết.

&

Về chỗ, tôi mở tập hồ sơ… nghiên cứu. Ấy là nói cho ra vẻ… chớ “nghiên cứu” gì đâu! Trước hết là coi thử… phải làm gì: Báo tin là một. Thứ hai là hỏi tang gia có yêu cầu gì: phương tiện, xe cộ di chuyển (bao nhiêu xe, bao nhiêu người), nơi an táng (tại nghĩa trang quân đội hay đưa về nhà cũ, những nhà có vườn như ở Lái Thiêu, Bình Chánh, tang gia yêu cầu đưa về nhà của họ, chôn trong vườn nhà hay nghĩa trang gia đình. Cũng ngại đấy vì có vài gia đình ở vùng “mất an ninh”, lỡ khi đang làm lễ thì Việt Cộng tấn công. Đừng nói nhân đạo với “tụi nó”, có lúc nào Việt Cộng không thẳng tay giết người?!)

Có những điều phải về làm tờ trình “xin thượng cấp”, có những cái phải làm “Bưu điệp cầm tay” đem ngay sang cho “Trung Đội Chung Sự” ở Gò Vấp để xin họ giúp đỡ…

Không có gì khó, cái gì cũng dễ.

Quân Đội VNCH có bài bản cả rồi: đơn vị nào, người nào, ai lo việc nấy, ngoại trừ khi yêu cầu của tang gia vượt ra những điều thông thường. Cũng may, phía Quân Đội thì dự trù hoàn hảo, về phía tang gia, không đòi hỏi gì quá đáng, chỉ cần mình: “Thi hành công vụ” với một tấm lòng như thế nào đó để tang gia được chút an ủi.

Khó nhất, chính là việc “báo tin”. Khó mở miệng nói câu “Thưa ông (hay thưa bà, thưa chị), anh (gì đó)… đã tử trận.”

Và kinh hoàng, và sợ hãi, và cũng lắm khi đau xót, tội nghiệp vì những tiếng khóc òa lên, nghe… não lòng.

&

Nửa giờ sau, tôi báo cáo với trung tá Mậu tôi đi “báo tin tử sĩ”, bắt đầu lo ma chay. Tài xế Chính dừng xe chờ tôi ngay cửa trước. Tôi khoái đi với “ông” tài xế nầy. Tuy không phải là dân Saigon, nhưng anh ta rành rẽ đường sá, thông minh, nhạy bén, “tìm nhà” rất nhanh.

Hồi bấy giờ xã Phú Nhuận, xã Bình Hòa, tuy thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, nhưng “Saigon hóa” mất rồi. Từ Saigon, qua khỏi Cầu Bông, Cầu Kiệu, nếu không tò mò, mấy ai để ý bên nầy cầu là Saigon, bên kia cầu là Gia Định: Nhà cửa san sát, cái cao cái thấp, phần nhiều mới xây, nhà cũ mất dấu cũng không ít, hết hẽm nầy, tới hẽm kia, tìm ra địa chỉ gia đình tử sĩ phải chăm chú tìm đường, hỏi thăm, có khi phải tới ngay trụ sở phường…

Bởi vì làm công việc “báo tin dữ”, nên tôi biết nhiều con đường, và cả nhiều con hẽm nữa của “Saigon ngày nay”, và tôi có cái tên mới do các bạn cùng đơn vị đặt cho tôi: “Thổ công phía sau Saigon”. “Phía sau Saigon” là những xóm nhà lộn xộn, đằng sau những con đường lớn.

Saigon khác với Huế.

Huế gọi là “kiệt”. Saigon gọi là “hẽm”.

Huế có từ Kiệt 1 tới Kiệt 5, Kiệt 10 đã là nhiều. Saigon thì hàng trăm “con hẽm”.

Huế gọi là “trên”: Nhà số 5, “trên” 9 chẳng hạn, là đã tới chỗ tận cùng của kiệt.

Saigon khác, bởi vì Saigon là “thành phố quốc tế”: Tiếng Tầu, tiếng Tây, tiếng Anh trộn bậy với nhau khá buồn cười.

Đi xe Lam thì dùng tiếng Anh: “Tốp! tốp”. Là “Xì tốp” đấy. Khách đi xe lam, muốn xuống thì nói tiếng Anh với tài xế: “Tốp” (stop). Muốn ăn thì gọi “hủ tiếu”; muốn uống cà phê thì “Xí nại”, “xây chừng” là tiếng Tầu chớ gì. Tìm nhà trong hẽm thì gọi là “xiệc”: 5 “xiệc” 20, lại “xiệc” 19, v.v… “Xiệc” gốc là tiếng Tây: “sur”: 5 sur 20, sur 19. Mới tới Saigon thấy lạ, lâu ngày thành quen.

Nhà mấy “ông lớn” nằm ngay ngoài đường lớn, khỏi “xiệc”, tìm dễ lắm. Nhà lính tráng là nhà nghèo, dân lao động, thợ  thuyền, “buôn thúng bán mẹt”, phải trố mắt nhìn gần chục cái “xiệc” mới tới nơi. Có khi khóm phường ghi không rõ, người đi tìm phải đi quanh, không phải “năm phút đã về chốn cũ”, mất vài chục phút “lại về chốn cũ” là chuyện thường.

“Trăm hay không bằng tay quen”. Nhờ cái “quen” ấy tìm nhà cũng nhanh, tuy nhiên tôi cũng có lần kiếm hụt hơi.

Một lần tôi với tài xế Đãnh tìm một ông già, địa chỉ ghi rất gọn: “Phi trường Tân Sơn Nhất”.

Tử sĩ con ông già chắc không quan tâm lắm về nơi cư trú của thân phụ mình, nên anh ta, trong hồ sơ nhập ngũ, ghi đại khái như vậy. Đến phiên tôi đi tìm nhà, đâu có thể “đại khái” mà phải tìm cho được, để báo tin rằng “Con trai bác đã tử trận”. Rồi chờ…

Ông già góa vợ khi còn trẻ, “một cha một con” sống với nhau, cho đến khi người con trai, thấy mình cần đăng lính, sau khi bị thôi thúc vì câu hát của Lam Phương: “Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên”… Và “anh hãy nói khoác chiến y rồi.”

Tôi đi bộ gần như “đứt hơi” từ đầu tới cuối phi trường Tân Sơn Nhất, để hỏi thăm ông thân sinh tử sĩ; tôi mới biết thêm ông là nhân viên “Sở Quản Lý Phi Trường”. Đến ngay “Sở Quản Lý Phi Trường” cũng chẳng ai biết ông là ai vì “ở đây đông người lắm”. Phải tìm đến “ban phát lương”, bởi vì nếu ông ta có đi làm thì phải có lương.

Bấy giờ “bà Thủ Quỹ” mới cho hay rằng, người cha của anh lính tử trận của binh chủng tôi là một ông Tô Vũ của phi trường, thời kỳ đã có nhiều Boeng 727 lên xuống phi đạo.

Chắc chắc ông không phải là nhạc sĩ Tô Vũ của “Em đến thăm anh một chiều mưa”, “phục vụ đảng và bác ở ngoài Bắc”, đang ở ngay Hà Nội hay “sơ tán” máy bay Mỹ lên miền Trung du Bắc bộ; ông ta lại càng không phải là ông Tô Vũ bị rợ Hung Nô bắt làm con tin đời Hán Vũ Đế bên Tầu, mà chính là một ông già chăn dê cho phi trường. Chắc là mấy ông lớn “quản lý phi trường” khoái ăn thịt dê, đất phi trường thì rộng, tại sao họ không nuôi một bầy dê để có thịt dê mỗi khi tiệc tùng.

Hỏi “bà Thủ Quỹ” chăn dê ở đâu? Bà lắc đầu: “Thiếu úy tìm quanh phi trường thì gặp ổng. Ổng không cho dê ra khỏi phi trường đâu!” Vậy là tôi lại phải “một chiều lang thang” trong phi trường” không phải để xem “người đi, người tiễn”, hay “người chia tay nơi cuối đường” (băng) mà để đi tìm ông già chăn dê.

Hơn một giờ sau, “lội bộ rã giò”, mới gặp “ông Tô Vũ thời đại” gần Cổng Số 6 (?), chỗ gần Tổng Y Viện Cộng Hòa. Ông đang “thả dê” ăn ở đó; “thả dê” là tôi nói theo đúng nghĩa đen của hai tiếng nầy.

Báo tin cho ông già xong, tôi phải ngồi chờ ông khóc tỉ tê.

Ông không khóc òa như các mẹ, các chị. Ông khóc không thành tiếng, ông khóc thầm; không “thê thảm” như người đàn bà khóc con bị cọp vồ trong “Cổ Học Tinh Hoa”. Ngày trước, khi khóc vợ qua đời, ông cũng khóc thầm như thế chăng? Rồi bao nhiêu năm “gà trống nuôi con”, nếu có khi nào ông thấy thương cho người vợ chết sớm, “đầu gói tay ấp”, bên cạnh đứa con trai độc nhất, ông cũng khóc thầm như thế chăng?

Ngày trước ông khóc vợ, nay ông lại khóc con, cũng âm thầm như hồi ông khóc vợ. Có ai biết cho ông? Có ai thông cảm cho ông, một người cha vừa mới nghe tin con “mất ngoài chiến trường”. Ông ngồi dựa lưng vào cây bã đậu mà khóc! Ông không thấy đau khi những cái gai nhọn ở thân cây đâm vào lưng ông. Nỗi đau quá lớn trong lòng ông làm ông quên đi cái đau nơi thân thể ông rồi chăng?

Đứng chờ lâu mỏi chân, vả đi bộ nãy giờ, chân tôi cũng đã chồn, tôi cũng ngồi xuống dựa lưng vào một cây bã đậu bên cạnh.

Một lúc thật lâu, ông đứng dậy lùa bầy dê về chuồng, cách đó cũng khá xa.

Tôn trọng nỗi đau của người cha mất con, tôi lặng lẽ đi theo. Cho dê vô chuồng, khóa cửa lại, “việc công” xong rồi ông mới mời tôi về một cái chòi lợp tôn gần đó, để lo “việc tư”, để hỏi thăm về việc người con trai ông đã hy sinh, và hỏi thăm về việc chôn cất.

Dĩ nhiên, đó là một “kỷ niệm đời lính” khó quên cho tôi!

&

Công việc của tôi như thế. Bây giờ là lúc tìm nhà người mẹ tử sĩ.

Con hẽm bên cạnh trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt trên đường Đinh Tiên Hoàng, Gia Định, gần như đối diện với Lăng Ông Bà Chiểu là một con hẽm xa hun hút. Tôi có cảm tưởng như nó rẽ phải, rẽ trái rất nhiều lần, cuối cùng sẽ “đụng” với “đường Hàng Keo”, là một con đường nhỏ, chưa tráng nhựa, đối diện với Ty Canh Sát Gia Định trên đường Võ Tánh. Có phải xưa là “bót Hàng Keo” như người ta thường gọi?

“Kinh nghiệm” không sai. Theo địa chỉ, tôi phải đi qua bao nhiêu cái “xiệc”. “Tin tức đầu tiên” khi hỏi người trong hẽm, mới hay rằng đó là một “bà già Tầu” trên năm mươi tuổi, “một mẹ một con”, con đăng lính, mẹ ở một mình. Đây không hẳn là một bà “mẹ Việt Nam” như kiểu cục Tâm Lý Chiến tuyên truyền, mà chính là một “bà mẹ Tầu” có con đi lính Việt Nam, chống “tay sai Tầu Cộng”. Nói vậy cho đúng bài bản.

“Tin tức thứ hai”, bà vốn dĩ gốc Tàu Chợ Lớn, “yêu” một người Việt Nam, bị gia đình cấm cản. Đó cũng là “chuyện thường tình”, như dân chúng từng nghe. Đến khi có bầu, bà theo người chồng Việt Nam về ở xóm nầy; chưa được bao lâu, người chồng tử nạn xe lửa; “sinh nghề tử nghiệp”, người chồng là công nhân hỏa xa.

Bà cũng đành ở vậy, nuôi con, không tìm về Chợ Lớn, nhà cũ, cha mẹ ruột, vì cha mẹ đã từ con. Người con trai lớn lên, giống như thanh niên cùng xóm, mười tám tuổi, anh đăng lính mũ đen. Lính mũ đen là lính Thiết Giáp. Hơn nửa năm sau, anh “hy sinh trên chiến trường Kamphuchia”. Anh ta đúng là một con người “quốc tế”: Cha Việt, mẹ Tầu, chết ở Kam-pu-chia. May mà chưa có vợ Tây hay vợ Mỹ.

Tôi giả bộ đi chầm chậm qua căn nhà tôn nhỏ, nơi bà sinh sống một mình, tự hỏi lòng: “Làm sao mà báo tin cho bà đây?” vì chắc chắn bà thương con lắm. Nghe tin con tử trận, chết giả hay bất tĩnh là việc dễ xảy ra.

Và bà già Tầu ngất xỉu thật, sau khi bà hỏi lại tôi một lần nữa về tin người con trai bà: “Nó “chiếc” dzồi a?”

Nhưng rồi bà tỉnh lại ngay, chụp ngay con dao để bên cạnh, giáng lên cao và… chém tôi, kèm theo một câu chưởi: “Cha cái “xằng Xiệu” giết con… ngộ.”

Tôi không kịp hay cố nghe cho rõ tiếng cuối “ngô” hay “ngộ” hay gì đó. Tôi bước lui vài bước thật nhanh, có tạo một khoảng, tin chắc con dao bà cầm chém không tới… tôi.

Rồi bà già Tầu khóc, khóc to, bà la to lên, chưởi mắng ai đó tôi không nghe rõ; rồi bà té xuống đất, lại ngồi lên, lại tiếp tục chưởi “xằng Xiệu”. Bà chưởi tổng thống đấy…

Nhìn cảnh ấy, tôi nói với tài xế Chính, đứng bên tôi, mặt cũng tái xanh đi, không phải vì sợ, mà có lẽ vì ngạc nhiên, vì thấy lạ, một cảnh anh ta chưa từng gặp. Tôi nói: “Bà điên rồi mầy ơi! Bà điên rồi.”

Nghe tiếng tôi, Chính hơi bình tĩnh trở lại, hỏi tôi:

-“Làm sao thiếu úy, bây giờ làm sao?”

Trí tôi cũng chưa ổn định hẳn, tôi trả lời:

-“Cũng không biết làm sao?”

Binh thư của trường Bộ Binh chỉ dạy tôi nhiệm vụ của một trung đội trưởng. Binh thư trường Thiết Giáp dạy tôi về “Thiết Quân Vận” M-113, xe tăng M-41, và đội hình hành quân, tấn công; binh thư cục Tâm Lý Chiến không có mục nầy. Tôi phải tự mình xoay xở lấy, không phải để “đối đầu với địch” mà ứng xử tốt đẹp với… đồng bào tôi như lời trung tá Mậu dặn dò.

&

Mấy người hàng xóm chạy lại. Có người vỗ vỗ nhẹ vào má bà già Tầu, có lẽ muốn cho bà tỉnh lạị, có người la to: “Lấy chai dầu…” Có lẽ họ muốn xức dầu cho bà. Rồi họ làm gì đó, tôi không thấy rõ. Đúng là “tình Chòm Xóm”. Tình nầy không có ở… Mỹ.

Có vẽ như việc bà bị ngất đi, bà bị điên, không có gì nghiêm trọng. Chưa ai biết bà vừa nhận tin con trai bà tử trận. Hồi nãy, trên con đường đi hỏi nhà để vào đây, tôi “giữ kín miệng”. Kinh nghiệm dạy tôi như thế, “không nói với ai về tin người tử trận, trước khi báo cho gia đình.”

Yên tâm như thế, tôi quay lui, đi ra đầu ngõ. Chính đi kế bên tôi, hỏi liên tiếp:

-“Làm sao thiếu úy? Làm sao bây giờ?”

Tôi không trả lời, lầm lũi đi. Đến kề bên cổng trường, tôi ngồi xuống cái ghế nhỏ của một quán “càphê cóc”. Chính cũng ngồi xuống. Tôi và anh ta không ai gọi gì. Cô gái bán quán đứng chờ bên cạnh. Tôi đưa tay ra dấu biểu chờ, cô ta bỏ đi vào trong.

Một lúc sau, tôi nói với Chính:

-“Chờ một chút, tìm cách nào gặp bà!”

Chính nói:

-“Hồi nãy có mấy bà hàng xóm, thiếu úy không nói luôn đi.”

-“Đâu được! Thấy mặt mình, bà xỉu nữa là mệt chết đó.”

Nói với Chính câu đó là tôi nhớ một chuyện cũ. Hồi tôi còn đi học, anh Trương, hàng xóm, thường qua chơi với tôi. Anh kể, nhà quen có nuôi một con khỉ. Anh ấy hay chọc ghẹo và cho khỉ ăn vặt. Một hôm, anh đập chết một con rắn. Tinh nghịch, anh gói con rắn trong tờ giấy báo, đem cho khỉ. Con khỉ tưởng là đồ ăn, kêu cheng chéc, cầm chắc trong tay, rồi mở tờ giấy báo ra. Thấy con rắn, con khỉ nắm tay lại, chết giấc. Đến khi con khỉ tỉnh lại, mở mắt ra, lại thấy con rắn trong tay, lại chết giấc lần nữa. Tôi không biết chuyện anh ấy kể thật hay đùa, nhưng tôi thấy vui và nhớ mãi.

Bây giờ cũng vậy. Nghe tin tôi nói, “bà mẹ Tầu” chết giấc. Nếu tỉnh lại, lại thấy tôi, chắc gì bà ấy không chết giấc lần nữa. Chuyện thiệt hay giả, tôi tránh mặt “bà mẹ Tầu” là hay nhất, suy nghĩ một chút rồi tính sau.

Một lúc sau, tôi hỏi Chính:

-“Khu vực nầy chắc thuộc xã Bình Hòa?”

-“Đúng rồi, hôm trước, em tới trụ sở xã một lần.”

-“Xe để đâu?” Tôi lại hỏi.

-“Em gởi tại Cảnh Sát.” Chính trả lời.

-“Cứ để đó đi. Mình tới trụ sở xã, phải nhờ địa phương.”

Tôi đứng dậy, Chính đi theo, đến trụ sở xã phía chợ Bà Chiểu.

Ông phó xã trưởng nói, sau khi nghe tôi bày tỏ ý kiến nhờ báo tin cho “bà già Tầu”: “Phải xuống khóm. Xã nầy dân đông lắm, chỉ thua Phú Nhuận. Khóm họ gần dân hơn.”

Rồi ông ta hăng hái đi trước, đến trụ sở khóm. Phải chờ hơn nửa tiếng đồng hồ, anh trung sĩ khóm trưởng mới về tới nơi. Tôi đoán chừng trường hợp của anh ta. Anh trung sĩ, có một cái dù ông lớn nào đó, được biệt phái về làm khóm trưởng ở đây, mỗi ngày tà tà lui tới với khóm, xa súng đạn, giữ được chữ “thọ” cho bản thân. Không rõ vì bản tính hay vì muốn lập công, anh ta hết lòng giúp tôi.

Anh đến gặp “bà mẹ Tầu”, lúc chòm xóm còn ngồi đứng quanh bà, báo tin và an ủi; xong anh cho người gọi tôi vào, để tôi “chia buồn”, hỏi bà có yêu cầu gì cho đám ma người con trai.

Tôi nghiệp “bà mẹ Tầu”, bà chẳng xin xỏ, đòi hỏi gì hết, bà chẳng biết gì về việc lo chôn cất con trai bà, chỉ sớm mai, đón bà lên nghĩa trang, cho bà “bịt khăn cho con”, và chứng kiến cảnh hạ huyệt. “Năm hết tết đến”, bà mẹ Tầu cũng như các ông bà hàng xóm, theo phong tục của người Việt, “không để đám ra ngoài năm.”

Tôi hẹn với “bà mẹ Tầu”, sáng mai, tôi đến để đón bà lên nghĩa trang. Các bà hàng xóm cũng muốn đi đám, tôi hứa sẽ có một xe Dodge đưa các bà đi và về.

Trước khi ra về, tôi gặp riêng ông trung sĩ khóm trưởng, hỏi:

-“Tình hình an ninh ở đây có yên không?”

-“Tình hình an ninh” là cái gì?” Ông trung sĩ hỏi lại.

-“Bây giờ người ta hay biểu tình “đả đảo”, “hoan hô”, nhất là đám “phản chiến”, “thành phần thứ ba”, bọn chúng có lợi dụng hoàn cảnh “bà mẹ Tầu” để làm gì không?”

-“Không! Ở đây không ai theo họ!” Ông trung sĩ nói chắc.

-“Hồi nãy tôi quên hỏi, “bà Tầu” có mời sư sãi nào không? Cần thì ở nghĩa trang có mấy ông tuyên úy. Đạo nào cũng có.”

-“Không đâu!” Nói xong, ông trung sĩ đổi ý. “Hay thiếu úy mời một ông “tuyên úy Phật giáo”. Khóm nầy cũng có nhiều bà hay đi chùa!”

-“Được! Có thôi. Cũng nên có một thầy cho lễ an táng, kinh kệ thêm nghiêm trang, “đủ lệ bộ”. Tôi trả lời.

Một lúc, tôi lại hỏi:

-“Vậy Nguyễn Thị Trừ thì sao?”

-“Nguyễn thị Trừ nào?” Ông trung sĩ hỏi, vẻ ngạc nhiên.

-“Ni sư Huỳnh Liên đó! Bả “nằm vạ” hoài, mấy lần tôi bị kẹt xe. Chùa bả gần đây nè! Bả tới mấy hồi.”

-“Ở đây không ai hoan hô bả đâu. Láng cháng dân người ta đuổi bà đi, không cần cảnh sát của đại tá Đệ.”

-“Bà nhà quê đó, bị tụi nó lợi dụng. Tôi nghĩ bả không có trình độ hiểu biết gì đâu, ngoài mấy cuốn kinh Phật. Tôn giáo mà cũng xông ra làm chính trị. Khỉ thật.”

Chính hỏi tôi:

-“Thiếu úy gọi Nguyễn thị Trừ nên khóm trưởng không hiểu.”

-“Tôi gọi xách mé chơi, “không ưa được”. Người ta đang đánh giặc ngoài mặt trận, chết sống từng giây, đám phản chiến ở nhà quậy cho đã, thiệt không có lương tâm gì cả.”

&

Nói xong, tôi đi qua hướng Cuộc Cảnh Sát Bình Hòa để lấy xe. Vừa ngồi lên ghế xong, tôi nói với tài xế Chính:

-“Trễ rồi, xe của Thiết Đoàn 16 chắc về tới nghĩa trang, mình lên đó ngay.

-“Kiếm ổ bánh mì thiếu úy. Em đói rồi.” Tài xế Chính nói.

-“Coi chỗ nào có xe bánh mì thì tấp vô.” Tôi trả lời.

&

Sáng hôm sau, sau khi đến “Trung Đội Chung Sự” làm việc với toán an táng, xem huyệt và kim tỉnh xong, tôi về lại đơn vị tôi, rồi cùng mấy người nữa đi đến nhà “bà mẹ Tầu”.

Sáng sớm, tôi nói với đại úy Trang, trưởng phòng xã hội: “Cô gọi Phòng Tư cấp xe cho cô. Xe của phòng tôi phải xử dụng một mình.” Thường chúng tôi dùng chung một xe mỗi khi đi công tác chung.

Nói như vậy là tôi có chủ ý. Tôi không muốn “bà mẹ Tầu” đi chung xe Dodge với những người khác. Ít ra, cũng phải trân trọng bà một chút. Một đời nuôi con gian khổ, nay con tử trận, đem xe Jeep đến đón bà an táng cho con là một “đãi ngộ” quá ít ỏi đối với công ơn của người mẹ. Còn như “trợ cấp tổ phụ” có Phòng Xã Hội lo, không phải việc của tôi.

Khi tôi tới nhà “bà mẹ Tầu” mọi người tụ họp đã đông. Tôi vào nhà, chào bà và mọi người xong thì mời họ lên xe. Các bà cùng xóm đã lo xong một mâm lễ gồm hoa trái, nhang đèn… Tài xế Chính vội bưng lên để trên xe Dodge, và mời mọi người lên xe Dodge cùng với khóm trưởng.

Thấy “bà mẹ Tầu” loay hoay tính lên xe Dodge, tôi nói với bà ấy: “Tôi đưa bà đi”, rồi chỉ tay về phía chiếc xe Jeep. Bà hơi ngạc nhiên, rồi vội vã đi tới phía xe. Tôi lại nghĩ thầm: “Một lần rồi thôi”. Sau nầy, chẳng còn ai đưa đón bà như thế nầy đâu. Cuộc đời nầy bạc bẽo thật, trong cả tình người, không chỉ trong việc trai gái yêu nhau bỏ nhau mà thôi.

Hôm ấy, tôi để ý thấy có một cô gái còn trẻ, người hôm qua tôi không thấy. Cô đứng sát bên “bà mẹ Tầu”, mặt còn dấu đẫm nước mắt. Hình như cô ta vừa hết khóc khi thấy chúng tôi tới nơi. Không ai giới thiệu với tôi cô ấy là ai. Chắc không phải là vợ vì “hồ sơ quân bạ” của tử sĩ tôi xin ở “Phòng Một” ghi anh ấy còn độc thân. Vậy thì ai? Một người bà con, một người bạn học, một “cô láng giềng” hay một “em gái hậu phương”. Rồi loay hoay công việc, tôi bỏ qua cái thắc mắc ấy. Khi lên xe, tôi thấy cô theo sát “bà mẹ Tầu”, tôi bèn mời cô lên ngồi ghế sau cùng tài xế Chính. Bữa đó, tôi đích thân lái xe đưa “bà mẹ Tầu” lên nghĩa trang.

Trong nhà quàn, một dãy dài hơn mười cái quan tài phủ cờ nằm song song với nhau, trong cái không khí ảm đảm của nơi làm đám ma. Có mấy người đang ngồi khóc quanh một cái quan tài ở phía xa. Nhờ buổi sáng tôi đã lên đây trước, tôi biết “chỗ” của người con trai “bà mẹ Tầu”. Tôi dừng lại trước quan tài anh ta. “Bà mẹ Tầu” hiểu là con bà trong nằm trong đó, bà khóc nức nở: “Con ôi! Con bỏ má mà đi…”  Cô gái cũng ngồi sụp xuống bên cạnh “bà mẹ Tầu” khóc theo.

Tôi đưa hàm răng trên cắn nhẹ vào môi dưới để nước mắt tôi khỏi chảy xuống theo tiếng khóc của hai người đàn bà. Thấy ông trung sĩ khóm trưởng cùng vài ông già lo đặt lễ và bịt khăn cho “bà mẹ Tầu”, tôi lặng lẽ đi ra sân. Vốn dĩ biết mình dễ xúc động, tôi tránh cái khung cảnh đau đớn nầy.

Sau khi mọi lễ lược xong, đạo tì đưa quan tài ra huyệt. “Bà mẹ Tầu” vẫn khóc nức nở, nhưng may mắn, bà không bị ngất xỉu như ngày hôm qua. Cô gái ấy đi theo, tay nắm vào cánh tay “bà mẹ Tầu”, đỡ bà đi theo quan tài.

Cô ấy khóc và mọi người cùng khóc.

Tôi đi sau cùng, bâng khuâng nghĩ tới mấy câu thơ của Huy Cận: “Kẻo thân đau chưa quen nệm giường đời. Ai đi đưa xin đưa đến tận nơi. Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi. Người đã chết một vài ba đầu cúi.”

Không phải “một vài ba đầu cúi”. Ai cũng cúi đầu và ngậm ngùi, kẻ khóc nho nhỏ, người khóc to.

&

Ba ngày sau, là ngày “ba mươi tết”, cũng là ngày cúng “mở cửa mả” cho người chết, theo phong tục người Việt Nam.

Hôm qua, tôi báo cáo với trung tá Mậu: “Tôi đem xe đưa bà lên nghĩa trang một lần nữa, kẻo tội nghiệp “bà mẹ Tầu”; con chết rồi, một thân một mình, không ai giúp đỡ.”

Khoảng mười giờ sáng, tôi đưa “bà mẹ Tầu” tới nghĩa trang. Cô gái hôm trước, hôm nay cũng đi theo. Cô gọi “bà mẹ Tầu” bằng “má”, khiến tôi hơi ngạc nhiên.

Sau khi cúng xong, cô gái mời mấy người lính ở nghĩa trang “dùng cơm”, tức là dùng các “đồ cúng” họ mang lên hôm đó. Trong khi mấy anh lính “ăn nhậu” vui vẻ, “bà mẹ Tầu” ngồi nhìn họ có vẻ trìu mến. Vì thương con nên bà thương những người lính trẻ nầy bằng tuổi con bà, tôi nghĩ vậy. Tôi không ngồi chung với mấy người ấy; vẫn với thói quen, tôi ngồi ngoài sân. Trung úy trung đội trưởng “Trung Đội Chung Sự” ngồi bên cạnh tôi nói chuyện bâng quơ. Thấy cô gái đi ngang, tôi gọi lại, dặn vài điều. Tôi nói:

-“Bữa nay tết rồi, các nơi đều nghỉ hết. Cỡ sau tết ít hôm, đơn vị của anh Nghĩa – tên của tử sĩ – họ sẽ gởi giấy tờ về để lập hồ sơ “trợ cấp tổ phụ” cho bà cụ. Cô có rảnh, giúp bà cụ điền các thứ giấy tờ được không?”

-“Được chớ.” Cô ấy trả lời.

Tôi nói tiếp:

-“Giấy tờ đôi khi có chỗ khó hiểu. Cô có thể vô đơn vị tôi, hỏi cô đại úy Trang, hay cô Thanh Nhàn, các cô giúp đỡ cho.”

-“Được. Tôi biết chỗ thiếu úy làm việc.”

-“Cám ơn”. Rồi tôi nói tiếp. “Đúng ra thì cô có “trợ cấp quả phụ”, nhưng bởi anh ấy khai còn độc thân nên chỉ có “trợ cấp tổ phụ” thôi.

Câu trả lời làm tôi chưng hửng:

-“Tôi có phải là vợ anh ấy đâu!”

Tôi vội nói:

-“Xin lỗi. Thấy cô gọi bà ấy bằng “má” nên tôi hiểu lầm.

-“Không có gì đâu. Từ nhỏ, tôi coi bà như má tôi.”

-“Vậy cô là hàng xóm anh ấy hay, xin lỗi, hơi tò mò một chút, “hai người có yêu nhau?” Tôi nói.

-“Chòm xóm thì có, nhưng người yêu thì không, bởi vì anh ấy đâu có yêu tôi hay yêu ai!” Cô gái trả lời.

-“Yêu ai cũng không, yêu cô cũng không. Vậy chắc cô là “em gái hậu phương” của anh ấy.” Tôi lại tò mò.

-“Cái đó cũng không luôn.” Cô gái trả lời, hơi mĩm cười.

-“Anh ấy không yêu cô nên cô không làm vợ anh ấy?” Tôi lại hỏi.

-“Cũng không thiếu úy à. Lấy chồng nghèo cực lắm. Nhà anh ấy chỉ một mẹ một con, làm sao mà giàu?” Cô gái trả lời, vẻ ngậm ngùi.

-“Lại tò mò một chút nghe! Chắc cô lấy chồng giàu?” Tôi hỏi.

-“Thiếu úy biết tôi sợ nghèo! Chồng tôi là một “chú ba Tầu giàu” trong Chợ Lớn.” Một lúc sau, cô ta lại nói: “Nói cho đúng, anh Nghĩa mới là người tôi yêu!” Cô ta nói, mắt nhìn ra xa ngoài đường lộ, hơi có vẻ đăm chiêu.

-“Cô có vẻ rắc rối đó. Tôi xin lỗi.” Trung úy trung đội trưởng ngồi bên tôi, góp ý vô.

-“Có gì đâu! Chồng tôi là “lính kiểng”. Anh có cái giấy phép 15 ngày đổi một lần. Một hôm, đang đi với tôi, gặp Quân Cảnh hỏi giấy, mặt anh tái mét, sợ líu lưỡi, nói không ra hơi. Anh Nghĩa thì khác, mặc đồ lính vô, tướng anh ấy ngon lành ghê! Các anh nghĩ, con gái như bọn chúng tôi, “thần tượng” ai chớ. Đời không như mình nghĩ.”

Khi ấy có tiếng gọi của “bà mẹ Tầu”, cô ta “dạ” rồi quay quả đi vô phía trong.

Một lúc sau, cô gái đi ra, nói với tôi:

-“Mẹ anh Nghĩa xin gặp “ông tổng thống.”

Chết cha! Tôi nhớ câu trung tá Mậu dặn dò hôm bắt đầu giao việc cho tôi. “Thân nhân người ta thưa lên tới tổng thống.” Tôi có làm gì sai để “bà mẹ Tầu” đòi thưa lên tới tổng thống đây. Tôi vội hỏi lại:

-“Có chi quan trọng không?”

Cô gái cười:

-“Hình như bữa hổm bà chưởi tổng thống. Bà hối hận. Chắc bà muốn xin lỗi.”

Tôi hoàn hồn. May! Tôi không có lỗi chi. Tôi nói:

-“Cô nói giúp với bà. Ông tổng thống không chấp nhất gì đâu. Ông cũng thương lính, thương các bà mẹ lính vậy mà.”

Bỗng “bà mẹ Tầu” từ phía trong đi ra, tới chỗ tôi, bà ngồi thụp xuống, chấp tay lạy tôi, khóc, nói: “Tui có tội, tui có tội.”

Tôi vội vàng đứng dậy, cùng cô gái nâng bà đứng lên. Tôi nói với cô gái:

-“Cô nói giúp với bà ấy đi. Không có gì đâu. Tổng thống là người cao thượng mà, ông có trách chi.”

Cô gái nói lại với bà ta. Có vẻ như bà yên tâm hơn.

Tôi nói với trung úy trung đội trưởng và cô gái: “Bữa đó tui nghe, chớ tổng thống đâu có ở đó mà nghe. Ông không biết đâu!”

Bà di vô phía trong, chắc để chuẩn bị về.

Đang ngồi chờ, ông trung úy trung đội trưởng nhìn tôi, nói, giọng không vui: “Thiếu úy nhớ câu cô ta nói không. “Đời không như mình nghĩ.” Cô ta yêu một người hùng, nhưng lại sợ cho người đi giữa súng đạn, đành phải lấy một “thùng nước lèo”. Tội nghiệp cô ta nhỉ!

hoànglonghải

Như vậy cũng nên mừng!

Đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Mới đây trên báo mạng, tui thấy nhà độc tài đương đại của nước Nga là Vladimir Putin, trong khi chờ họp với Tập Cận Bình của Trung quốc, nổi hứng bất tử, ngồi xuống trước chiếc dương cầm, chơi một bản nhạc du dương để chứng tỏ mình cũng là một con người tình cảm, yêu văn nghệ, văn gừng.

Các nhà độc tài khát máu đều diễn kịch y hịt như nhau đó thôi! Stalin hồi xưa cũng y chang như vậy!

Một hôm, Stalin đến dự đến dự liên hoan phim hài toàn Liên Xô. Stalin xem phim khoái chí quá, cười toe toét, tuyên bố: “À! Ta thích vở hài kịch nầy lắm nhưng có tên hề để ria mép giống hệt như ria mép của ta. Hãy xử bắn hắn!”

Tất cả đều sững sờ đến không nói nổi nên lời!

Cuối cùng có một diễn viên, với lòng nhân hậu, lấy hết can đảm, rụt rè đưa ý kiến: “Đồng chí Stalin! Hay là để anh ấy cạo sạch hàng ria mép đó?”

Stalin đáp “Đúng là một ý kiến hay! Hãy cạo ria mép nó trước; rồi bắn nó sau!”

Với thường dân, Stalin cư xử tàn ác, coi mạng người như rơm, như rác nên ngay những đồng chí cấp cao trong đảng dù có quyền lực không thua kém nhà độc tài thép nầy bao nhiêu, dẫu bực bội, cũng chỉ dám nói lén sau lưng mà thôi!

Chuyện rằng: Một nữ thư ký đang đứng chờ ngoài cửa. Thống chế Zhukov sau khi họp với Stalin bước ra.

Cô nghe hắn ta lẩm bẩm: “Thằng ria mép giết người!” bèn hào hển chạy vào báo cáo với Stalin rằng: “Tôi vừa nghe Zhukov nói: “Thằng ria mép giết người”.”

Zhukoz được gọi trở vào. Stalin cật vấn: “Đồng chí Zhukov nghĩ tới ai khi nói “Thằng ria mép giết người vậy?” Zhukov trả lời: “Dĩ nhiên là tôi nghĩ tới Hitler.”

Stalin cho Zhukov lui ra; rồi gọi viên nữ thư ký vào cật vấn:

“Như vậy theo đồng chí “Thằng ria mép giết người” là ai vậy?”

Zhukov nhạy bén nên thoát chết trong đường tơ kẽ tóc nhưng tay Bí thơ thành ủy Leningrad thì phần số hẩm hiu hơn nhiều!

Sergei Mironovich Kostrikov sinh ngày 27, tháng Ba, năm 1886, trong một gia đình nghèo, có tới 7 anh em. Bốn đứa chết khi hãy còn niên thiếu.

Miron, cha của Kostrikov, là một tên nghiện rượu bê tha đã bỏ gia đình từ năm 1890. (Tương tự như cha của Stalin cũng nghiện rượu! Sao cha của mấy lãnh tụ đảng CS Liên Xô ai cũng nhậu hết ráo vậy hở Trời?”)

Yekaterina, mẹ của Kostrikov chết vì bịnh lao năm 1893. Kostrikov bị gởi vô Trại Mồ côi.

Năm 1901, nhờ học bổng của các nhà hảo tâm, Kostrikov tốt nghiệp kỹ sư ở Kazan. Năm 1904, Kostrikov thù đời thời thơ ấu nên theo CS, tham gia cuộc Cách mạng năm 1905.

Năm 1906, Kostrikov đổi tên thành Kirov cho đồng đảng dễ nhớ, dễ hoan hô giống như Stalin vậy!

Sau cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Kirov tham gia vào cuộc nội chiến tới năm 1920, tàn ác cũng không thua gì Stalin, đã xử bắn một nhà tư sản Nga về tội tẩu tán tài sản. Tổng cộng hơn 4000 dân Nga phản động đã bị Kirov ra lịnh giết.

Kirov vẫn ủng hộ Stalin một cách mạnh mẽ cho dù chánh sách Nông trường tập thể của Stalin đề ra bị thất bại thảm hại khiến hơn 7 triệu người chết đói!

Kirov được Stalin tưởng thưởng cho lòng trung thành bằng chức Bí thơ Thành ủy Leningrad.

Kirov thích sống xa hoa và một tay mạnh rượu; uống như hũ chìm, ăn nói bổ bả; ngay cả chửi thề trước công chúng nên được các đồng chí đại biểu đảng ta ưa thích hơn là phải sống hầm hè, sống khắc khổ kiểu Stalin.

Năm 1934, uy tín trong đảng ngày một tăng, Kirov được bầu vào Trung ương đảng với một số phiếu rất cao. Cao hơn cả Stalin. Điều nầy làm Stalin không hài lòng.

Chuyện gì tới là phải tới! Stalin ra lịnh cho Trùm Mật vụ Yagoda tiến hành việc mưu sát Kirov để diệt trừ hậu hoạ.

Leonid Nikolayev, một đảng viên CS bị khai trừ, hậu quả là thất nghiệp, làm vợ con phải nheo nhóc!

Có lần Nikolayev nói với người bạn thân là y muốn giết tên cầm đầu đảng bộ đã tước đảng tịch, làm y phải thân tàn ma dại đến nông nỗi nầy.

Tên bạn quý nầy đi mật báo và bọn Mật vụ đã chọn Nikolayev làm sát thủ.

Nikolayev được trả tiền, được cấp cho một khẩu súng lục 7.62 mm.

Chiều ngày 1, tháng 12, năm 1934, Nikolayev ung dung lận súng lên lầu ba, văn phòng Thành ủy, mà không bị nhân viên an ninh nào ngăn lại!

Kirov bước vào hành lang vượt qua Nikolayev để quẹo vào lối khác; Nikolayev liền rút khẩu súng lục giấu trong người ra, bắn vào phía sau ót của Kirov.

Ra Tòa, Nikolayev nhận là sát thủ theo lệnh của bọn Phát xít phản động nước ngoài, ám chỉ Đức quốc xã của Hitler.

Nikolayev bị xử bắn đêm 29, tháng 12, năm 1934. Mẹ, anh, chị, em, bà con nội ngoại đều bị xử tử hay phải đi đày. Giống như ‘tru di tam tộc’ thời phong kiến bên Tàu.

Tất cả mọi người liên quan dù ít hay nhiều đến cuộc ám sát nầy đều bị Stalin ra lịnh xử bắn để hầu xóa tan hết mọi dấu vết! Sát nhân diệt khẩu!

Kirov được chôn tại Nghĩa trang tường Điện Kremlin trong một lễ quốc tang. Đích thân Stalin là một trong những người khiêng quan tài.

Vụ án Kirov đã được Stalin lợi dụng làm cái cớ để thanh trừng toàn bộ hệ thống đảng CS Liên Xô.

Hồng quân Liên Xô có 103 vị tướng thì 81 bị xử tử. Có 93 trên tổng số 139 Ủy viên Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô bị xử bắn. Chừng một phần ba trong số 3 triệu đảng viên ở Liên Xô bị giết trong giai đoạn 1934-1938.

Tuy vậy, người dân Nga bình thường nhứt là mấy cụ già đã quá chán ngán sống trong cái thiên đường XHCN khủng bố, đầy chết chóc nầy, cũng tìm cách khuây khỏa bằng những chuyện đùa! Dẫu biết chọc quê lãnh tụ là giỡn mặt tử thần; là chơi dại, kéo đuôi một con cọp!

Chuyện rằng: Một cụ bà phải đợi tới 2 tiếng đồng hồ mới được lên xe bus. Xe bus đầy nhóc hành khách; mãi lúc lâu bà cụ mới chen được vào, bèn cảm thán: “Xin tạ ơn Thượng Đế!”

Viên tài xế xe bus nghe vậy, bèn sửa lưng: “Má ơi! Không nên nói thế! Má phải nói là: Xin tạ ơn đồng chí Stalin!”

Bà cụ bèn đáp lại: “Xin đồng chí lái xe tha lỗi cho tôi! Già nầy từ rày về sau sẽ nói y như đồng chí đã dạy bảo! “

Nhưng lỡ có ngày nào đó đồng chí Stalin từ trần thì Già phải nói làm sao?”

“À! Lúc đó thì Má nói: Xin tạ ơn Thượng đế!”

***

Thế đấy cuộc thanh trừng trong đảng CS Liên Xô đàn anh đầy sắt máu; còn cuộc thanh trừng trong đảng CS VN mới đây chỉ là chuyện nhỏ. Chuyện ném chuột mà không bị vỡ cái bình mà thôi!

Sài Gòn bây giờ trời mưa hay nắng? Sài Gòn bây giờ ai khóc thương ai?

Hỏi vậy chơi thôi chớ khi Đinh La Thăng đi rồi, không người dân ngu khu đen Sài Gòn nào khóc thương gì hết ráo mà còn kháo nhau cho đáng đời… Tội của chú em mầy vô cái đất nầy đây… dân thường ăn ngay nói thật, mà chú em mầy lại ưa nổ… sảng!

Đi vớt lục bình cũng lên báo, phán vài lời ba xạo về cái vụ đập vỉa hè cũng lên báo! Đám bồi bút  cứ chực chờ mỗi lần Thăng phun ra cái gì đó, hỏng biết đúng hay sai; hay hay dỡ cũng cũngđồng loạt ‘ca’: “Sướng quá!” (?!)

Giờ thì người ta không còn nhận ra được Bí thư Thăng, vì cái mặt như cái bánh bao chiều! Hình ảnh chém gió, nói văng bọt mép mới đây thôi; giờ chìm lỉm trong mù khơi dĩ vãng!

Nói nào ngay Đinh La Thăng cũng chịu chơi và chịu chi và chi rất sộp (tiền của dân đóng thuế) để cho đám đệ tử nầy tung hô, nịnh bợ. Hỏng lì xì, hỏng ăn cơm chúa bảo múa tối ngày, ai mà chịu hè?

Dân Sài Gòn tò mò có, hả hê có, cũng muốn biết Đinh La Thăng bị thanh trừng tới mức nào. Có vô hộp hay không?

Sau khi bị đuổi ra khỏi Bộ Chính trị, cách chức Bí thư thành ủy, Thăng bước đầu chỉ bị hạ tầng công tác, về làm Phó ban Kinh tế Trung ương, ngồi chơi xơi nước.

Đám đệ tử, nói nào ngay, cũng còn chút tình nghĩa từng ăn nhậu với nhau, mừng dùm: “Anh Thăng hạ cánh an toàn”. Anh Thăng thoát tội rồi! “

(Tội đây là khi làm xếp của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam! Lúc giá dầu lên ào ào hơn cả 100 đô Mỹ một thùng; Thăng tưởng chính mình trúng số nên xài tá lả chỉ chừng 9 tỷ đô Mỹ mà thôi?)

Chuyện đó ắt vậy rồi! Vì đảng thả một bầy chuột, mà con chuột cống là Đinh La Thăng vô hũ nếp rồi kêu nó hỏng ăn cạn khạp luôn sao được hè?

Margaret Thatcher, Bà đầm thép, Cố Thủ tướng của nước Anh, đã từng nói: “Vấn đề của chủ nghĩa xã hội là đến một lúc nào đó một số ít người sẽ tiêu hết tiền của số đông còn lại!”

“The problem with socialism is that you eventually run out of other people’s money.”

Dân Hà Nội xót của, đồng tiền liền khúc ruột, nên cự nự: “9 tỷ đô Mỹ! Đâu phải giấy tiền vàng bạc mà xử chìm xuồng, nhẹ nhàng như vậy chớ?”

Thì Chúa đảng Tàu Ô trả lời rằng: “Hạ tầng công tác Đinh La Thăng mới chỉ về mặt đảng, còn hình sự ta đang làm”.

Muốn vậy là phải khai trừ đảng, phải bãi miễn chức Đại biểu Quốc hội, tước ‘quyền bất khả xâm phạm’ thì mới phải ra vành móng ngựa, làm bị cáo!

Bà con kháo nhau rằng: Đinh La Thăng có thể là Bạc Hy Lai, Bí thư Trùng Khánh, bị Tập Cận Bình, năm 2012, nhốt đến chung thân.

Dẫu Thăng đã ngoan ngoãn chịu nằm xuống cho mấy anh mình đét đít. Xong đứng dậy, còn khoanh tay xin lỗi đảng ta, xin lỗi đồng chí rồi mới xin lỗi đồng bào?! Có người cho vậy là ‘láo’. Phải xin lỗi ‘đồng tiền’, rồi xin lỗi ‘đồng bào’ mới phải; vì “Dân vi quý! Xã tắc thứ chi” mà!

Thôi bắt khoan bắt nhặt mà chi! Hồi nào hét ra lửa mữa ra khói giờ bị đét đít, còn bị làm quê ‘xệ’ trước toàn thể bá quan văn võ như vậy là nhục quá xá… rồi còn gì?

Có thể Đinh La Thăng đã buồn nào hơn đêm nay khi gió loạn ngoài Trời, khi bị bứng đi khỏi cái đất Sài Gòn như bị đuổi tà! Thậm chí không có được một bữa nhậu chia tay ‘đồng bào, đồng chí miền Nam’ Hu hu!

Tui lại cho rằng Thăng bị ‘đét đít’ sơ sơ như vậy cũng nên mừng! Chớ như bên Liên Xô, thời Stalin, là chết chắc, chết ngắc như Sergei Kirov chớ hỏng phải chuyện giỡn chơi!

Đoàn xuân thu

Melbourne

Nhớ Nguyễn Phương!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Biên khảo cần chánh xác như cách viết của nhà văn Sơn Nam.

Ông không trích dẫn lòng vòng lẩn quẩn, không có lối ra như con kiến bò quanh miệng chén. Và do đó “nguồn” là cái quan trọng nhất, nghĩa là từ người đầu tiên được trích dẫn.

Tôi đọc được những bài biên khảo về cải lương của miền Nam, nhưng trích dẫn lại từ tài liệu của người Bắc 75 viết.

Muốn trích dẫn tài liệu về nghệ sĩ cải lương, thiết nghĩ mình nên tìm đến người rành rẽ nhứt, nhiều chuyện nhứt, có học nhứt trong giới cải lương. Ðó là soạn giả, là ông thầy tuồng.

Tui thấy ông thầy tuồng Nguyễn Phương, gần suốt cả đời ăn cơm tổ nên rành sáu câu vọng cổ chuyện hậu trường sân khấu.

Rất tự trọng, ổng viết lách đàng hoàng nên tin được chớ không dám tán hươu, tán vượn, tán phét.

Hoặc đối đế thì tìm đến tham vấn các ký giả phê bình kịch trường mới hy vọng là mình viết ít sai sót.

o O o

Soạn giả Nguyễn Phương là ai? Ông tên thật là Nguyễn Văn Hòa sinh ngày 1-7-1922, tại làng Ðiều Hòa, tổng Thuận Trị, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho, thời VNCH là tỉnh lỵ của Ðịnh Tường.

Mỹ Tho một thời tưng bừng với ghe hát Huỳnh Kỳ do Lê Công Phước (1901-1950) tức Phước George, tức Bạch Công Tử, lập ra cho vợ mình là Trương Phụng Hảo tức nghệ sĩ Phùng Há, nơi chôn nhau cắt rún ở làng Ðiều Hòa, làm đào chánh.

Mỹ Tho trên đường Lý Công Uẩn cũng có rạp hát Vĩnh Lợi của Thầy Năm Tú, Châu Văn Tú.  Nói không ngoa, Mỹ Tho là cái nôi của cải lương.

Ông Nguyễn Văn Hòa, tức soạn giả Nguyễn Phương sau nầy, học Trường Collège de Mỹ Tho. (Viết tắt là “CM”, mà học trò liến khỉ hồi xưa hay diễn dịch bậy bạ)

Nơi soạn giả Nguyễn Thành Châu tức kép Năm Châu, quái kiệt Trần Văn Trạch rồi thân phụ và anh em và kể cả người viết từng theo học.

Tốt nghiệp Trường Pratique d’industrie Saigon (Bách Nghệ Sài Gòn năm 1940). Ông ra Hà Nội học Trường Technique spécial Hà Nội (Trường Kỹ thuật chuyên nghiệp) và tốt nghiệp năm 1943. Ông về làm việc tại Sở Bưu Ðiện Saigon, Bureau Technique từ năm 1943 – 1948.

Nhưng sau đó, ông bỏ nghề Bưu Ðiện để theo Ðoàn cải lương Tiếng Chuông năm 1948 và bắt đầu soạn tuồng với bút hiệu Nguyễn Phương.

Ông đã cộng tác với các đoàn hát như: Tiếng Chuông (Bầu Căn), Ánh Sáng (Bầu Tập). Diễn Kịch Năm Châu, Kim Thoa, Thanh Minh (Bầu Lư Hòa Nghĩa tức kép Năm Nghĩa xuống vọng cổ muồi rệu với giọng ngân ‘ơ ơ’) Thanh Minh – Thanh Nga (Bầu Thơ), Dạ Lý Hương (Bầu Xuân).

Ông Nguyễn Phương còn là Trưởng ban Cải lương và ban Kịch “Phương Nam” trên Ðài Phát thanh, đài truyền hình Sài Gòn.

Soạn giả Nguyễn Phương còn là tác giả của các bộ phim nổi tiếng như: “Triệu phú bất đắc dĩ” (hãng phim Mỹ Vân), “Sống đời tôi”, “Lệnh bà xã” (hãng phim Mỹ Ảnh), “Chàng ngốc gặp hên” (hãng phim Trùng Dương), “Con ma nhà họ Hứa” (hãng phim Dạ Lý Hương).

Ông đã sáng tác hơn 100 tuồng cải lương và kịch nói như: ‘Người mặt cháy’, ‘Chiếc lá giữa dòng’, ‘Ðôi mắt người xưa’, ‘Ngã rẽ tâm tình’ (phỏng theo tiểu thuyết của Ngọc Linh), ‘Bọt biển’, ‘Tình xuân muôn tuổi’…

Soạn giả Nguyễn Phương là người có thập bát ban võ nghệ, nội công rất thâm hậu, mười tám thành công lực.

Soạn giả Nguyễn Phương theo gánh hát hơn 40 năm, từ năm 1948. Mãi tới năm 1989, soạn giả Nguyễn Phương bỏ nước ra đi đến định cư ở Canada rồi trở thành ký giả kịch trường. Ông có các bài viết rất đặc sắc về các nghệ sĩ cải lương giá trị và nhiều giai thoại đáng tin, rất lý thú phát trên báo chí và các Ðài phát thanh ở Hải ngoại.

Năm 2000, soạn giả Nguyễn Phương xuất bản “Ngũ đại gia của sân khấu cải lương”. Năm 2005, Hồi ký “Buồn vui đời nghệ sĩ” gồm 24 bài viết liên quan đến các nghệ sĩ Hùng Cường, hề Thanh Việt, Bà Năm Sa Ðéc, kép độc Trường Xuân, kép mùi Thanh Cao, hề Tám Củi, quái kiệt Ba Vân, hề Lập, Diệu Hiền, Hồng Nga, Phượng Mai… với giọng văn dí dỏm rất Miền Tây, lục tỉnh quê mình.

Soạn giả Nguyễn Phương nói:  “Viết hồi ký ‘Buồn vui đời nghệ sĩ’, tôi ghi lại những kỷ niệm của một thời mà tôi lang thang trên bước đường nghệ thuật sân khấu…Chuyện của các bạn nghệ sĩ đồng nghiệp của tôi chiếm một số trang quan trọng, tôi là người chứng kiến và cũng là người cùng chung số phận, cùng chia sẻ với các bạn đó những nỗi vinh, nhục của nghề hát cải lương”

Soạn giả Nguyễn Phương là cuốn biên niên sử sống thời hoàng kim của sân khấu cải lương Miền Nam suốt nửa thế kỷ.

Nguyễn Phương khép lại một đời nghệ sĩ gạo chợ nước sông qua mấy câu thơ: “Phường hát đêm nay qua chợ nhỏ. Một đêm mưa gió, rất thưa giàn. Vé không bán được, cho vào hết. ‘Thả cửa’ thêm đông dễ kéo màn!”

Soạn giả Nguyễn Phương đã qua đời vào ngày mùng 1 tháng Bảy, năm 2020 (ông từ trần đúng ngay ngày Sinh nhựt của mình) tại Canada, hưởng thọ 98 tuổi.

Dẫu hưởng ‘thượng thượng thọ’ mất ông vẫn là một mất mát lớn. Nó đóng một trong những chiếc đinh cuối cùng vào cái áo quan của nền sân khấu cải lương, vốn một thời huy hoàng giờ đang giãy chết.

Mỗi khi đọc bài của nhà văn nào viết về nghệ sĩ và sân khấu cải lương còn lơ mơ, tôi lại nhớ tới ông!

Nhạc mẫu và hiền tế?!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Trong tuyển tập Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam, có kể câu chuyện “Cô Út về rừng”.

Cô Út xứ Long Tuyền, Cần Thơ xuất giá tòng phu, theo chồng về tận Cà Mau, xứ Cạnh Ðền, muỗi kêu như sáo thổi… nên mới chạng vạng tối là vợ chồng son rút vô mùng… nói chuyện. Vậy là con, đứa dứt thôi nôi đứa thôi đầy tháng. Con cái đầm đìa nên khỏi có ‘dìa’ thăm cho tới khi má mình đi bán muối…

“Một mai ai đứng bên kinh/ Ai phò giá triệu, ai rinh quan tài?

Bên kinh đã có con trai/ Giá triệu con gái, quan tài nàng dâu

Hỏi nào chàng rể ở đâu?/ Chàng rể uống rượu đi sau nói xàm”

(Bà già vợ chết, thằng rể vui mừng vui hết biết, nhậu lết bánh luôn đó thấy chưa? Ðâu phải má của nó đâu, mà nó buồn nó khóc chớ!)

Ðọc xong “Cô Út về rừng” nầy, anh bạn nhà văn của tui cảm cái thân phận bị bắt rể của mình, chép miệng, ta thán rằng: “Ông chồng tên Quỳnh trong câu chuyện nầy là một người may mắn vì cha mẹ dù ở trong rừng nhưng có đất có vườn, có ruộng, có rẫy nên cưới vợ là rước dâu chớ không chịu làm thân trâu ngựa như tui đã từng đi ở rể. Ôi bầm giập, cay đắng lắm anh ơi!

Bên vợ chỉ sợ tui là thằng rể ham đất, ham cát sẽ đốc xúi con vợ tui đòi chia.

Ðất điền không phải của tui là tui hổng có ham mà cho dù có ham cũng hổng có được… Vì đám anh, em vợ… đông như quân Nguyên vậy! Có mấy công vườn hè, chia mỗi đứa một khoảnh, chó nằm còn ló đuôi, thì nhận làm chi cho chúng nó khi!

Tui rù rì rủ rỉ: vợ chồng mình ra riêng đi để anh khỏi phải gánh nước đêm trăng hay chẻ củi thước gì ráo… để giếng đâu thì dắt anh ra kẻo anh chết khát vì cả nhà em.

“Rồi làm sao mà sống?”  “Thì anh đặt cái bàn ngoài lề đường, làm đơn mướn, kêu oan cho bà con mình bị CA nhốt ẩu. Nhiều lắm, chắc sống được mà! Em đừng lo!”

“Tội nghiệp con vợ tui nhe! Thương chồng phải lụy cùng chồng, Ðắng cay phải chịu, mặn nồng phải theo. Ai ở lại cứ tự nhiên mà giành đất hương hỏa đi nhe!”

Cuối cùng, hai vợ chồng tui dắt được hai thằng ‘cu’ vượt biên qua được tới đây.

Tự do đã đành rồi. Mà cái quan trọng không kém là đi xa gia đình bên vợ tui thêm được ‘mile’ nào là tui vui thêm ‘mile’ ấy.

***

Thưa ‘MIL’ là viết tắt chữ ‘Mother-in-law’, nghĩa là bà già vợ hay bà già chồng. Mà có hai bà nầy chen vô là vợ chồng trước sau gì cũng gấu ó, có thể đưa đến chuyện anh đường anh, em đường em, tình nghĩa đôi ta có thế thôi.

Lôi nhau ra Tòa ly dị, chia của, chia con làm sắp nhỏ khóc mò.

Nên Adam và Eve là cặp vợ chồng may mắn và hạnh phúc nhứt nhân loại. Vì Adam không có bà già vợ và Eve cũng không có bà già chồng.

Nhac mau va hien te 03Rồi mấy bữa nay đọc báo tui thấy có kể chuyện thằng Tây ‘ba xạo’ cưới được con vợ Việt, nhờ cái chiêu: đi qua nhà má cái tay con xá, cái cẳng con quỳ, lòng thương con má sá gì cái thân con, được bà già vợ nó khen quá xá?!

Hồi đó thằng rể Tây nầy dê con bả: “Có muốn làm vợ anh không?” “Quê em chưa có ai lấy chồng Tây. Em sẽ không phải là người đầu tiên.”

Nhưng ba em là người nhìn xa trông rộng. Cái cột đèn có chưn nó cũng đi nên khuyên em nên lấy cho rồi để nhờ thằng Tây, mập lù như con heo nầy, bắc cầu qua biển cho em vọt khỏi chế độ độc tài toàn trị.

Cá cắn câu, lậm bùa mê thuốc lú nên rể Tây phải làm đám cưới đàng hoàng: Rước dâu đâu chừng chục chiếc xe bò.

Cưới nhau về, vợ nấu món gì cũng khen ngon, dẫu ăn cơm trắng với nước mắm kho quẹt mà vẫn vui vẻ khen ngon. (Ðúng là cái thằng lẻo lự!)

Còn lớn họng tuyên bố là: “Vợ con là tất cả đối với tui. Tài sản quý nhứt của đời tui.”

Rể Tây thương vợ thương con thiệt… cũng giống rể Ta thôi. Cái khác là khi vợ nó không còn thương nó nữa, muốn bỏ đi để xây tổ uyên ương với đứa khác… là nó vác súng rượt hai đứa bây chạy xịt khói. Báo đăng hoài.

Nhưng cái văn hóa cả ngàn năm của Tây khác với ta là: cưới được vợ rồi thì Tía, Má vợ hổng có ra ‘cà ram’ nào hết ráo.

Tệ hơn nữa là: Chàng rể với má vợ là kẻ thù không đội trời chung, như chó với mèo, như nước với lửa vậy.

Nên Tây mới có chuyện rằng: Vua Solomon, một vì vua thông thái, nên thần dân ai có xung đột chuyện gì cũng đến nhờ người phân xử.

Một hôm có hai bà lôi một chàng trai trẻ đến trước mặt đức vua.

Bà thứ nhứt nói: “Thằng nầy là rể của tui!” Bà thứ nhì: “Không phải! Nó mới là rể của tui!”

Cãi qua cãi lại, làm rùm quá khiến vua Solomon kêu: “Nín đi!”  Hai bà mới chịu khép cái mồm lại.

Vua Solomon: “Trẫm sẽ cho lính bổ dọc thằng nầy ra làm hai. Mỗi bà vác về một nửa.”

Bà thứ nhứt: “Xin đồng ý ngay lập tức! Vậy mới thực là công bằng.”

Bà thứ nhì lại không chịu cách giải quyết đó: “Tại sao bệ hạ lại giết người vô tội?”

Vua Solomon bèn tuyên xử: “Chàng thanh niên nầy phải là con rể của bà thứ nhứt!”
Quần thần bất mãn, nhao nhao lên phản đối: “Xử vậy đâu có được hè. Bà ta muốn bổ dọc thằng nhỏ ra làm hai đó!”

Nhà vua vuốt râu cười khè khè: “Chính thế! Vì cư xử tàn nhẫn với con rể như vậy đã chứng tỏ 100% rằng bà ấy đúng là bà mẹ vợ.”

***

Thằng John, bạn nhậu người Úc của tui, nghe vậy cũng gật đầu xác quyết:

“Tao cũng vậy hè! Cưới vợ xong là đèn nhà ai nấy sáng; cơm ai nấy ăn; nhà ai nấy ở. Rể là người dưng, rể là khách mà… Bên vợ, có ai thương tưởng gì mình đâu?!

Mấy thằng Úc khác nó cũng nghĩ như tao nên đặt chuyện là: “Bà già vợ của ông bị nhồi máu cơ tim!” “Làm gì có chuyện đó? Bà già vợ của tui làm gì có tim mà bị nhồi máu chớ?”

Rồi điều tệ hại nhứt mà một bác sĩ phòng cấp cứu nói với mình là: “Chúng tôi có thể cứu được bà già vợ của ông!”

Vậy là để trù cho bà ấy ngoẻo, năm ngoái, John bỏ ra tới gần một chục ngàn đô mua sẵn một cái huyệt trong nghĩa trang để tặng cho bà già vợ làm quà sinh nhựt.

Sinh nhựt bà già vợ năm nay, John đi tay không! Con vợ cự nự: “Sao anh không mua quà gì cho má em hết ráo vậy?”

“Món quà năm ngoái anh tặng, má em chưa có xài thì mua chi nữa cho tốn tiền?”

***

Chắc bà con mình ai cũng đã từng nghe bài hát: “Những chuyến xe trong đời” do ca sĩ Giáng Thu trình bày vào cuối những năm 60 ở quê mình.

“…Vòng tay cũng xuôi theo… Xe đơn lạnh tiễn ai trong này?”

Một chiếc xe tang có tới hai cái quan tài đang tiến về nghĩa trang. Nhạc ò e í e.

Theo sau là một ông dắt theo một con ‘bulldog’. Sau đó là một hàng dài có tới khoảng hai trăm người đàn ông nối bước theo sau.

Nhà báo chuyên săn tin xe cán chó, không ngăn được tính tò mò, cho rằng đây có thể là một cái tin hay lạ, sẽ làm ông chủ nhiệm rất hài lòng vì báo bán đắt, bèn chen vào sau xe tang để phỏng vấn tang chủ: “Chuyện gì đã xảy ra? Xảy ra như thế nào?”

“Quan tài đầu tiên là của vợ tui. Bả bị con ‘bulldog’, nuôi trong nhà cắn chết khi bả vác chổi chà rượt đánh tui, vì tối hôm kia tui đi nhậu suốt đêm không chịu về nhà rửa chén.

Còn quan tài thứ hai là của bà già vợ tui. Bả nhào vô cứu con gái mình nên cũng bị con chó cắn chết luôn.”

“Thiệt là tội nghiệp!” Nhà báo hỏi: “Chắc gia đình bên vợ ông tu nhân tích đức khi còn sinh tiền nên mới được tới cả hai trăm ông đưa tiễn!”

“Ðâu có! Hai trăm ông nầy đang sắp hàng để tính mượn con chó của tui đấy mà! Phần ông nhà báo nếu muốn, xin chịu khó sắp hàng nhe!”

***

Ðể kết luận bà già vợ Việt Nam nào có rể Tây cũng đừng nên nổ sảng.

Rể Tây, rể Ta gì cũng có đứa tốt đứa xấu; dâu Tây, dâu Ta cũng có đứa ngọt, đứa chua lè.

Rể thảo, dâu hiền là mừng rồi. Vợ chồng nó, khác chủng tộc màu da, mà biết tha thiết yêu nhau là mừng rồi. Còn mong rể Tây nó cho tiền đô để xài cho đã thì còn lâu nhe Má!

đoàn xuân thu

mellbourne

Rắn

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Khi hắn tới, Lài bận tiếp khách. Hắn ngồi ngoài cửa ngó sang đám bụi mù. Họ đang phá nốt những gì còn lại. Trong xóm đồn đãi, tương lai đống gạch đá ấy sẽ hiện lên bề thế một cái khách sạn ba sao. Công nhân xây cất đang cố sức làm vượt chỉ tiêu, hoàn thành hợp đồng trước mùa mưa. Hắn mường tượng ra một hình khối đứng án ở ngã tư. Như vậy, sự tăm tối ở đây sẽ phải tối tăm thêm. Nắng không tài nào đi sâu, liếm bóng chiều tà trên những mái tôn xiêu đổ.
Khách đi ra. Lặng câm, vội vã. Đó là một cậu thanh niên. Nếu còn cắp sách đến trường thì án chừng cậu học tới lớp 10. Hắn nhìn cái lưng con ong trẻ nhỏ ấy vừa bay khỏi một đài hoa và phát hiện bức tường vôi nham nhở bên kia còn nuối tiếc một hàng chữ ám trên thân: … sống mãi trong sự nghiệp của chúng… Chữ ở hai đầu bị rơi rụng đi. Bức tường thu ngắn dần như một ổ mì có hai miệng ăn. Tiếng động không ngớt dồn đẩy qua. Một cái chết, hay một sự hồi sinh thảy đều ồn ào giống nhau. Phá vỡ cái cũ, dựng xây cái mới thảy đều đinh tai nhức óc.

Dì Chín rót cho hắn một ly nước đun sôi để nguội.

– Ngồi chơi. Tui đi chợ.

Người đàn bà có hai thứ tóc trên đầu đội nón đi ra khỏi nhà. Chân bà tuồng như dẫm trùng lên vị trí những sãi bước của thằng con trai hồi nãy. Hắn nghĩ tới sự diệu kỳ của đồng tiền, về cái cách phiêu dạt truân chuyên của nó. Thằng con trai trao tiền cho Lài, qua tay bà dì, tới tay hàng tôm hàng cá, và cứ thế nó luân lưu sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Nó bất tử, ngoại trừ nhà nước buồn tình ra sắc lệnh: Đổi bạc!

Hắn dắt xe vào nhà, khép đóng cánh cửa gỗ. Bản lề kêu lên, tiếng đau thương.

– Đến lâu chưa?

Lâu rồi, và khô dầu. Hắn nói thầm. Khi mắt quen với bóng mờ hắn nhìn thấy Lài đang cầm ở tay một cái thau nhựa đỏ, nhỏ nhắn. Cô đã tạt nước đi, hiện tại một đôi giọt nhểu thầm lặng xuống nền nhà. Bộ đồ lụa nhăn nhàu, ăn với mái tóc rối bung. Lài có một vẻ đẹp khó cắt nghĩa. Một đoá sen nở trên mặt bùn? Không. Hắn chưa từng tĩnh tâm để nhận ra vẻ đẹp rạng ngời của sen. Hoa, hắn không bao giờ bị mê hoặc, bị mềm lòng trước bất kỳ một giống hoa nào. Cái mong manh của hoa không phải là nơi tiềm ẩn vẻ đẹp. Trước tiên, nó biểu hiện ở đấy niềm bất an.

– Thằng đó nó xưng hô với Lài cách sao?

– Em đừng ngại. Anh không phải là hạng người dập liễu vùi hoa. Hắn nói thế.

– Lài mà hoang sớm có thể đẻ con bằng thằng ấy.

– Ác khẩu. Bụng dạ lúc nào cũng chứa đầy dao!

– Nó còn con nít chay. Cái mặt ấy chắc chỉ biết bú.

– Thôi đi ông thánh, nó xịn không tưởng được. Điệu đàng. Và nó có khối tiền dắt sau đít.

Lài thả chiếc thau nhựa xuống đất, đưa chân gạt nó vào dưới gầm giường. Giường trải chiếu lát, hai gối có thêu chim. Mùng buông rủ một góc, thấy hai ba miếng vải vá khác màu, trông như một cổ bài thu cất chẳng vén khéo, còn vướng mắc con chuồn con rô. Lài kéo tấm màn che đậy giang sơn đó lại. Vải màn nội hoá in hình lem nhem, xô động và đẩy đưa một mùi ngai ngái. Chăn chiếu ẩm mốc không có được thứ mùi lạ thường đó.

– Hẹn mấy giờ?

Lài hỏi khi kẹp lại mớ tóc đen, quăn, nhiều, rậm.

– Hai giờ.

– Sao chẳng nghe động tĩnh gì vậy?

– Ai biết. Trong khi chờ đợi, để anh ngả cái lưng một tẹo.

– Thôi, nằm mà làm gì? Em mới lau chùi, chiếu chưa khô.

Hắn ngó Lài. Áo lụa mỏng. Ở ngực như tuồng có dính hai hột đậu phụng, ở phiá trong. Thứ đậu phụng còn nguyên lớp lụa hồng chưa bóc.

– Có gì nhậu không? Lạt miệng quá!

– Được tài đòi hỏi. Chờ chút, nhờ dì Chín đi mua rồi. Ông đó ra sao ?

– Ngó cũng đặng.

– Cái gì đặng?

– Lài tự khám phá lấy. Như thế thích hơn.

– Thích? Thằng Dần bảo: Ngó ông ta tự nhiên em đâm nhớ tới ba em. Anh biết tuổi ông ấy không?

– Sao biết được? Hôm kia nhậu thịt rắn ông ta nói: Ai đời mà mình xơi cả bổn mạng mình.

– Xỉn chưa mà ăn nói ra chiều khó hiểu?

– Ông ấy phát ngôn: Tui không tin dị đoan. Năm nay là năm tuổi của tui, biết đâu chừng lại lấy được vợ xinh.

– Tuổi Tỵ à? Có lý nào ổng hơn Lài những hai giáp?

– Thì đã sao? Chả chưa già đâu. Đỏ da thắm thịt. Coi bộ còn sung. Nhậu lai rai mà mất ngoẻn hai vé. Lài phải chứng kiến bộ mặt dửng dưng của khứa lão khi móc ví. Mê mẩn luôn!

– Dầu gì thì đi với bọn nhỏ cũng đã hơn. Thằng chả chắc đồng trang lứa với dì Chín?

– Bậy nà. Tóc còn đen mun. Da săng, người thơm như Đường tăng.

– Anh ăn được cái giải gì mà hôm nay trở chứng đi bốc người dưng.

– Chả ăn được gì. Chẳng qua muốn Lài sa chân vào cái hủ nếp béo bở ấy thôi. Dầu sao anh cũng đóng vai anh, quyền huynh thế phụ. Mấy khi mà có kẻ chìu lòn mình, thích quá đi chứ!

– Giao xe cho thằng Dần đi đón à? Thằng quỉ sứ. Hẹn hai giờ sao kỳ vậy?

– Lui dội qua một miếng nước cho toảnh ngoảnh. Thay đổi xiêm y và nếu cần thì chơi chút dầu thơm. Làm bộ tịch con nhà lành à nghen.

– Cái gì lành, cái gì rách? Phá đời người ta rồi còn lên giọng kiểu cọ này nọ. Con nhà lành thì đéo có xài dầu thơm.

– Ừ… Đéo xài…

Lài kéo màn. Sợi dây thép căng trong góc nhún nhảy. Chiếc quần lót màu xanh láng lườm phơi trên dây bị lôi xuống. Lài chỉ có hai quần, như vậy thì em đang mặc chiếc màu đen. Tất cả đều chẳng còn mới. Lài bảo: phiá trong ai thấy mà lo. Nếu lỡ thấy thì mắt sẽ mù loà khi đó. Bởi chúng ưa vội vã lột ra để thấy cái đáng thấy. Lài nói thật chí lý, vì vậy hắn định tâm mua cho Lài một chiếc mới, màu đỏ; đôi ba bận nhất trí như thế rồi lại đành lòng lãng xao. Tiền ấy làm một hớp rượu cay thì đáng đồng tiền bát gạo hơn. Vã lại Lài không thích màu đỏ. Đứa nào có máu Việt cộng thì nó đỏ cho tới cả cái quần lót. Em nói thế, xanh dờn ác cảm, váng vất chút miệt thị. Dì Chín đội nắng trở về, khi ở phiá sau Lài bắt đầu dội xuống những gáo nước. Hắn ngó hai ba bịch ny-lông, sau cùng lôi ra được một lon bia lạnh.

– Nghe nói nhà có khách Việt kiều?

– Dạ. Ông về tìm vợ và coi bộ mết Lài.

– Biết con Lài hồi nào hay vậy?

– Trong túi áo thằng Dần lúc nào cũng thủ sẵn cái hình Lài chụp ở bãi biển Vũng tàu. Hắn ngửa cổ đổ bia vô mồm. Thấp thoáng trong đầu hắn hình những cánh bướm đang bay. Đúng hơn, áo tắm hai mảnh nhỏ xíu bó căng cơ thể Lài sũng nước. Lài thật ăn ảnh. Bắt mắt. Em như nàng tiên cá từ biển sâu lên bờ thoát y. Buồn tình, thằng Dần có thể mang tấm hình ấy ra mà thủ dâm. Em khiêu gợi tới độ người ta dễ trút bỏ muộn phiền, tuôn trào ra những mộng mị thầm kín.

– Không phải đùa, người có số cả! Chọn lựa cho lắm cũng chẳng đi tới đâu. Không hiểu con Lài nó chê cậu ở điểm nào?

Hắn làm thinh, ngó dì Chín chất đồ lên bàn có thứ lớp.

– Cơm nước chiều nay biết tính sao đây?

– Khỏi nấu nướng. Lài không cho dì hay à? Đi kéo ghế nhà hàng, đó là bổn phận của ông Việt kiều.

– Ừ, tha cho tui một bữa. Nói Lài là tui sợ đám đông, tui chuồn sớm cho mấy người tiện làm việc, chiều tui ăn cơm bụi. Khỏi thắc mắc.

Nắng chưa dịu sắc lửa bên ngoài. Người đàn bà bước đi, chân dẫm lên bóng; và trong phút giây con đường nhỏ ngập bụi nuốt rất mau cái bộ dạng le te vung vẫy ấy. Tất cả mọi cánh cửa đều đóng kín, chòm xóm coi bộ chưa một ai hay biết công việc của Lài. Hãy cầu mong thế. Hãy đợi cái khách sạn ba sao kia thành hình rồi hẳn phát hiện cũng chưa muộn. Con đĩ Lài. Hắn thật chẳng muốn nghe chữ ấy. Có lần hắn nói gần xa với Lài chuyện làm ăn lương thiện và đón nhận ở Lài một nụ cười khinh miệt. Quê hương mình đau khổ lắm ai ơi! Lài nói. Vu vơ, trống không. Một dấu chấm lửng lơ. Buồn như hết đường binh với mười ba lá bài xập xám chướng. Đằng sau những căn hộ đóng kín cửa có tiếng ca cải lương rất ngọt của một thằng bé. Chuyện tình oan trái nhiều nước mắt đã được thằng bé nhuận sắc lại, ca cẩm nghe vui tai. Lài cũng biết xuống sáu câu, thê thảm; nhưng không theo một bài bản nào cả. Đại loại như khi nhà nước đổ nhựa nâng cao mặt đường lên, Lài chửi rủa những cơn mưa tự trời xanh đổ xuống. Không có chỗ rút, mưa đọng vũng trong nhà, bởi cái nền giờ này đã chịu thiệt thòi trũng thấp so với mặt đường. Lài biết tân cổ giao duyên khi mặc cả với cái bọn làm nghề nâng cấp nền nhà. Hệt như chuyện thần thoại Sơn tinh Thủy tinh, một mình Lài phải chiến đấu theo từng độ cao của con đường ưa chơi trội. Lụt lội không chỉ tới với nhà cửa, nó còn chảy vào người làm úng nước những tấm lòng. “Anh đã từng biểu em đừng đi tắm sông tắm hồ tắm ao tắm biển, để cho mấy con cá lia thia nó rỉa mấy sợi lông..a.. à.. mày”. Hắn hồi hộp theo dõi tiếng ca vút cao. Hú hồn, thằng nhỏ chấm câu bằng một chữ thật đắt địa. Câu vọng cổ như biết diù hắn lui sau bếp, nuốt nước miếng ngó Lài lau mình lau mẩy. Đôi lông mày Lài thoáng nhíu:

– Phá mồi chi sớm vậy cha?

Mặt hắn đỏ. Chắc Lài tưởng hắn đã tợp ba bốn lon bia? Tương xứng với mái tóc, những chỗ khác cũng phồn thịnh mọc rậm rạp. Riêng lông mày thì suy một đường cong, sắc lẻm. Nếu tắm sông, hẳn cá sẽ không rỉa vào lông mày làm gì. Moi tiền của thằng giàu chứ ai lại đè kẻ nghèo mà bóc lột.

– Vẫn chưa đến à?

– Chưa. Cha con nó giờ này dám ngồi rung đùi trong quán bia ôm.

– Kỳ cục. Buổi sơ ngộ đầu tiên mà chơi vậy mất linh!

Hắn ngó hai lúm đồng tiền duyên dáng trên mông Lài:

– Để giết thì giờ ta vầy cuộc vui.

– Nghèo mà ham!

– Lâu rồi. Lài không nhớ sao? Anh đã quên bén mùi em.

– Trửng giỡn gì giờ này. Thằng chả lò dò vác mặt tới lại nghĩ bọn mình anh em mà vô luân… Chơi dầu thơm không?

– Kệ, bôi một ít cho đời lên hương.

– Thông thường người ta xức ở chỗ nào. Cổ, cườm tay hay hai bên má?

– Thằng chả ưa nhậu thịt rắn thì em cứ đè chỗ ấy mà xức.

– Sao kỳ vậy?

– Rắn có mùi nồng y chang. Không tin em thử đi tắm sông tắm hồ, rắn đánh hơi nó chui đầu vào cho xem.

– Nói nghe ghê.

Lài mở hộp giấy rút lọ nước hoa ra ngắm nghía. Dung dịch màu vàng sóng sánh như bia, nhưng chất nước ấy đắt tiền hơn bia cả vạn lần. Đó là món quà mọn của người đàn ông hơn Lài những hai mươi bốn tuổi. Ông uống rượu ngũ xà, bảo đó là thuốc cường dương. Năm thứ rắn độc chảy vào người chưa đủ, ông nói chuyến này về tôi còn mang theo thuốc Viagra. Trời! Phải biết lượng sức mình chứ. Nhìn ảnh Lài mặc đồ tắm kiểu này thì biểu ai mà cầm lòng cho đậu! Ông tuyên bố một cách nghiêm trang, ít nhiều thành khẩn trong khai báo.

Mùi thơm lan tỏa, dật dờ cả căn bếp. Lài kéo quần lên rồi cất lại chai Romance vào hộp giấy có in chữ Ralph Lauren.

– Hôm nào vơi bớt đổ tí nước trà vào rồi mang ra chợ trời là xong. Xu-chiên xì-líp coi bộ cần thiết hơn.

Lài nói trong khi mặc áo. Hắn không nhớ rõ là Lài có bao nhiêu cái nịt vú. Với hắn, có lẽ xú-chiên cũng là thứ nằm trong danh mục những loại chẳng cần thiết. Rườm rà, nhiêu khê. Lấn át vẻ đẹp thân thể của một người nữ. Hắn đưa tay tính gài hộ Lài những hạt nút áo thì có tiếng xe gắn máy vừa thắng đứng. Cả hai nhìn nhau, sau cùng Lài giả bộ ho hen: Chung cuộc thì Tào Tháo đã tới.

Hắn đến bên lu nước múc một gáo, rửa mặt, vuốt cho tóc ướt. Hôm nay hắn cần minh mẫn để bàn tính chuyện trọng đại, hắn phải diễn vai khó, nửa vui mừng nửa đau thương khi bàn giao đứa em gái cật ruột duy nhất đến tay ông… khúc ruột ngoài ngàn dặm. Khi đi lên nhà trên hắn cũng đằng hắng mấy bận cho thông cổ:

– Ủa, vậy chớ ổng đâu?

– Xảy ra sự cố.

Thằng Dần loan tin. Tóc rối bụi đường, da ăn nắng, mặt mồ hôi mồ kê.

– Mẹ kiếp. Cái gì gọi là sự cố mày? Trở ngại kỹ thuật à?

– Ừa. Ổng bận họp công ty quỉ quái gì đó. Cho qua xin lỗi nghe cưng, nói Lài tối nay qua sẽ đền tội. Chả nói vậy đó. Đứng ngoài khách sạn chờ chả muốn chết luôn.

Lài ngó chăm vô mặt thằng Dần:

– Tin được mấy phần? Cái mặt mày sao tao nghi quá!

– Quỉ thần ơi! Hết chuyện giỡn chơi rồi sao, mánh mung gì ba cái vụ này.

Dần ngồi xuống ghế. Hắn tự động khui một lon bia:

– Nhưng mà như thế này, trong khi đợi trước khách sạn, tui có làm quen được một thằng Tây ba lô.

Lài đặt tia nhìn hướng về hắn và cô tới kéo ghế ngồi gần thằng Dần.

– Chuyện lạ! Mày có áp phe gì ngon nói tao nghe.

– Nửa vé. Chị tính sao?

Hắn đứng vòng tay dõi trông tình hình. Lài rót bia ra ly, uống từ tốn. Cô liếm môi, cái nốt ruồi nằm bên khóe trở nên đen bóng.

– Bổn cũ soạn lại hả mày?

– Uả, ảnh đẹp như vậy không khoe cũng uổng. Thu cất trong túi làm gì cho nó mốc meo.

– Ngại lắm mày…

– Chị ngại gì, thằng chả nói tiếng Việt xịn lắm à nghen. Chị đâu có tốn công hoa tay múa chân.

– Mày không nhớ tuồng cải lương Củ Chi kiên cường đánh thắng giặc Mỹ sao? Tao nhớ như in trong vở đó có câu: Cái vật ấy to dài thế nào gần xa ai nấy cũng đều hay…

– Thôi mà bà chị. Họ ca ngợi khẩu B-40 đó. Chớ đừng có méo mó nghề nghiệp mà chúng cười.

– Bà tổ mày… Tây ba lô thật à?

– Thật. Mắt xanh mũi lõ đàng hoàng.

– Lông lá đầy mình à?

– Lông lá cả ổ. Nơi ngực mọc từng nạm xum xuê. Y như râu bắp. Coi ngộ lắm.

Lài nuốt nước bọt.

– Đừng tả cảnh nữa mày… Nửa vé. Năm mươi đô, nghe cũng ham. Tao đang cần tiền để nâng cấp căn nhà, chí ít cũng ngăn được cái buồng, toang hoang trống trải như vầy không chừng có ngày mà mắc phong.

– Chị mà nhất trí thì tui làm tài công. Hắn nói chiều nào cũng ra ăn nơi nhà hàng nổi.

Lài có vẻ bồn chồn. Ngồi trong nhà mà bềnh bồng như đang tọa mông trên sông nước. Sau cùng Lài đứng lên:

– Uống hết bia rồi chở tao đi.

Thằng Dần nhìn lên hắn:

– Ở nhà ngơi một giấc điệp cho khoẻ khoắn. Ngó cái mặt anh kià, y như dân choác thứ thiệt đang chờ tới cử.

– Nó nói đúng đó. Ngủ đi, tối nay có sức mà nhậu thịt chó. Thịt chó hay thịt rắn mày? Trời, thực đơn của thằng cha già kia coi bộ khó nuốt.

Hắn không nói. Hắn ngồi xuống bàn và bắt đầu phá mồi thực sự. Ai nói tiền của đĩ bỏ ra ăn không ngon miệng? Sai lầm. Hương vị tôm khô củ kiệu vẫn tanh nồng. Men bia vẫn đắng như đã từng, chẳng suy suyển. Hừ, chân lý ấy ngàn năm cứ không đổi!

Lài chẳng thưa thốt gì với hắn khi bước ra ngoài. Leo lên yên xe dream, ôm eo thằng Dần và tiếng động cơ dòn dã vất lại, khuấy động lòng đường hẹp, đâm thốc vào người hắn, ghìm chặt hắn ở bàn ghế, không động đậy trong nhất thời.

Hắn lui chỗ Lài tắm, đứng đái. Gục mặt nhìn cái vòi nước vẽ rồng vẽ rắn uốn lượn. Hắn lên giường của Lài lật chiếu, moi bao gối, kéo những hộc tủ lục soạn. Không tìm ra được một tờ giấy bạc. Bắt ghế đứng thò tay vào ống xối thăm dò, trống không. Thọc năm ngón bóp bóp sờ soạn trong hủ gạo, chẳng có. Cũng lạ, nhà như cái lỗ mũi, chẳng biết Lài thu dấu ở ngóc ngách nào? Thất bại trong việc kiểm kê tài sản, buồn tình hắn đóng cửa bỏ đi. Chiếc xe đạp quay từng vòng chậm rãi trong khi hắn động não về một đích đến. Nửa giờ sau hắn dẫn xác vào một căn nhà có nhiều tấm bià cứng trám nơi vách tôn rỉ sét. Đứa con gái nằm trên giường tre ló mặt sau tờ báo mở rộng.

– Chà lâu ngày dữ. Cứ tưởng là có lê quên lựu có trăng quên đèn. Rồng tới nhà tôm có chuyện gì không?

Hắn mang xe vào kê sát bên giường, ngồi xuống xoa tay nơi hai đầu gối.

– Chuyện gì? Thì nhớ mùi tôm nên chủ đích là tới xơi tôm đây.

– Tiền trao cháo múc.

Đứa con gái nói. Vẫn nằm yên như đang đọc dở dang một trang báo.

– Cho anh ghi sổ, mai trả cộng với tiền lời.

– Không tin. Đưa thẻ chứng minh nhân dân cho em cất.

– Xong ngay.

Đứa con gái đón nhận miếng giấy bọc nhựa. Một ảnh trắng đen đóng khung cái sọ người hốc hác bên trong.

– Của anh hay móc từ túi thằng nào mà cái mặt lạ hoắc.

– Đừng đùa. Ảnh chụp lúc anh chưa mất trinh.

Hắn moi túi quần ra một viên thuốc. Ông già Việt kiều cho hắn hôm qua, bảo là thần dược đó cưng, Hoa Đà tái thế thấy cũng sáng mắt sáng lòng. Hắn nuốt khan, chẳng cần chiêu một ngụm nước. Lý ra Lài là người đón nhận sự thử nghiệm này. Thôi, phi vụ này xin em chịu khó trải thân làm vùng oanh kích tự do.

Hắn thong thả thoát y chờ chuyển biến rạo rực trong máu. Hắn lột quần đứa con gái ra. Cô ta cũng xài thứ quần lót như Lài. Người cô cũng có hương nồng y chang. Đàn bà con gái có nhiều điểm trùng hợp (ngoài ý muốn). Rập khuôn. Trăm hoa nở cùng một thứ. Đàn ông như hắn thì sao? Chuyện đó thì hắn chẳng thể giải thích. Chắc cũng đồng phục y trang? Có sao Lài mới đi thực tế nơi người thằng Tây ba lô. Mắt xanh mũi lõ, lông lá rậm rạp, to lớn dềnh dàng, đế quốc tư bản. Chừng ấy thứ đã là khoảng cách mênh mông rồi, nói chi tới chuyện ăn độn mãi cũng nhạt mồm, mấy khi mà được dùng bữa sơn hào hải vị! Tới luôn bác tài. Phải không Lài?

Hắn dùng hai tay nâng đôi chân đứa con gái lên. Tờ báo thủy chung vẫn ở vị trí cũ. Đó là giai phẩm Xuân in bìa bốn màu lộng lẫy. Cái anh hoạ sĩ nhân dân nào chắc là có con tim bồ tát, vẽ rắn hổ mang mà từ đầu cho chí mình mẩy đều hiền từ trông như một khúc dồi nằm cuộn mình trên bàn nhậu. Hắn giật tờ báo ném xuống gối, hắn muốn nhìn mặt đứa con gái hơn. Hắn ưa theo dõi từng biểu lộ sẽ hiện lên trên dung nhan kẻ nằm dưới. Mồ hôi bắt đầu tuôn chảy trên sống lưng hắn trong khi đứa con gái tỉnh queo nằm hát vu vơ. Trong trang ruột tờ báo bị lật ngửa, hắn đọc thấy hàng chữ : Năm mới thắng lợi mới. Dưới góc là những tin tức coi bộ khó gặt hái thắng lợi: Xì ke ma túy lộng hành, trộm cắp đĩ điếm như rươi, nghèo nàn lạc hậu đứng gần chót ở bảng thống kê toàn cầu. Bán máu, đua xe gắn máy trở ngại lưu thông, bệnh Sida lan tràn đến mức báo động đỏ…

Hắn thở hổn hển với trái tim co thắt. Chiều nhuộm đen rất mau khung cửa nhỏ mở tầm nhìn tới một bãi rác vắng. Thoang thoảng ở mũi hắn mùi hôi nách của chủ hộ. Hay gió lùa hương chua từ bãi rác xô dạt về? Hắn gục xuống trên bụng trần đứa con gái. Cái lỗ rốn ấy thật sâu, thật đen. Như mộ huyệt. Tiếng đứa con gái cất cao: Đừng đùa dai cha nội. Bộ muốn chết hả? Năm mới năm me chơi vậy là triệt đời tui. Nè, lai tỉnh đi chớ. Ba hồn bảy viá đâu về…

Hồ Đình Nghiêm

Quỉ đạo

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Năm ngoái lên vùng cao, năm nay đổ xuôi về miệt biển. Năm ngoái trú ngụ vùng kinh tế mới vừa khai hoang, đêm nghe vọng tiếng hú lạ thường từ núi rừng ngân nga giữa hun hút bóng tối trùng điệp. Năm nay gửi thân vào làng chài nằm dọc theo một eo biển lặng gió. Chuyến đi thực tế thường kéo dài nguyên tháng, trước kỳ nghỉ hè. Ba mươi ngày tạm biệt phố, đời sống thu hẹp lại với sự chịu đựng những nỗi nhớ, nhớ đèn đường nhớ quán cà phê nhớ con sông đổi màu khi trôi ngang cầu. Nhớ và nhớ. Vụn vặt, lăn tăn. Đi vào đầu những thứ chẳng đáng cất giữ. Bụi bặm của kinh kỳ.

Nhớ chuyến tàu rời sân ga một sáng mưa bụi. Đường sắt song song loáng ướt dẫn vào một quang cảnh tù mù. Tàu chạy, đâm vào những hư ảo. Tiếng còi tàu cũng đâm vào lòng nghe buốt ngọt. Hành trang chẳng nhiều nhặng, một ba lô mua ở chợ trời nhét ba bộ áo quần còn lỏng lẻo, cọ màu nằm chung với gói bột cà phê và nhúm đường cát. Ba lô thì máng sau lưng, tay thì xách một cặp vẽ có bọc bao ny-lông bảo quản chứa những vuông giấy trinh nguyên. Những đứa học trò học bè kỳ dị chậm lụt tìm chỗ giữa bao đồ đoàn của con buôn giàu kinh nghiệm trên chuyến tàu chợ. Họ biết ngang đâu thì sẽ đứng lên để nhận những bao tải từ dưới đất ném vào không sai trật. Họ biết ở khúc quành nào thì sẽ dụt quang gánh xuống. Điểm dừng của họ sẽ bình an, lành lặn tuyến đường băng qua mà không bị bọn thuế vụ gây nhiễu nhương tai hoạ. Nhờ vậy mà họ còn sống thở và con cái họ luôn tô đậm chữ tảo tần, chữ công ơn sinh thành dưỡng dục. Con cái họ sẽ chảy nước mắt khi ngó lên bởi vì họ đã chảy quá nhiều mồ hôi khi cúi xuống.

Nhân nói, chị tao cực lòng lấy một thằng an ninh đường sắt nhằm thong dong những chuyến đi. Người tình mà chị bội bạc đưa ra câu hỏi, vậy thì suốt cả cuộc đời em đều trôi nổi trên những toa tàu? Em mưu sinh hay em mưu cầu hạnh phúc? Tôi nói, tuần trước tao có gặp chị ấy trong chợ trời và dường như chị chẳng muốn ngó thấy tao.

Tôi buông cái ba lô xuống khi tìm được một chỗ ngồi. Ba lô quân đội Hoa kỳ đã cũ xơ, nguyên thuỷ có in sơn đen mẫu tự US ARMY mà trước ngày dùng nó để lên đường tôi đã cạo sửa, bôi che ARMY và điền thêm ở đằng trước ba chữ A TIME FOR. Lần tậu nó vô tình tôi đứng sát người chị của Nhân. Chị đã có lần ngồi yên cho tôi vẽ chân dung và chị đã cho tôi cái khăn mù-soa có thêu tên chị bên góc. Người ta thường dị đoan kiêng cử chuyện trao khăn tay cho nhau, nhưng chị ấy và tôi thì không. Vuông khăn trắng, chất vải mềm mại, thơm tho.Tôi đùa, hãy mang giữ như bùa thiêng rồi dùng nó để lau nước mắt hôm nào chị sang sông. Chị vày vò trái tai tôi, dịu dàng, đớn đau: Không, chị không lấy chồng đâu. Chuyện xưa nhưng không cũ tới độ phải vùi quên. Hôm ấy tôi tính chào nhưng chị ấy giả lơ giả điếc. Hình như khi đã lấy chồng người ta cần thay đổi một số tư duy, đoạn tuyệt tháng ngày quá khứ? A time for us.

Lớp học chúng tôi lần lượt xuống khi tàu dừng ở một nhà ga lộng gió. Mưa đã bị giữ lại bên kia đèo nhưng địa phận này vẫn xám mây. Gió mang theo chút hơi muối mặn và trong tiếng gió lùa ngang hàng cây thưa lá nghe lao xao như thể lời thì thầm của sóng biển sớm vọng một lời chào. Đồng bọn chúng tôi gồm mười ba đứa. Mười trai ba gái. Và nếu học ngoan vẽ đẹp chúng sẽ trở thành những cán bộ thông tin văn hoá đi bất cứ đâu để phục vụ nhân dân. Vẽ làm gì? Vẽ cho ai? Khẩu quyết ấy chúng tôi đã nghe rao giảng đến độ nằm mộng cũng văng vẳng một duột chẳng sờn lòng. Giảng viên chính trị họ bảo: Đào tạo một thằng hoạ sĩ kinh phí tốn kém gấp đôi nếu so với việc xuất xưởng một thằng bác sĩ. Phải nắm lấy điều cơ bản ấy mà phục vụ cho tốt, nhớ? Trong ba mặt trận, mặt trận văn hoá tư tưởng là then chốt. Eo ôi, mùa ra trận mùa này xấu lắm!

Tranh thủ đi đái đi ẻ, cảo dược phì phà đốt khói thuốc rồi chúng ta đợi phà đi sang bên kia đầm. Thằng trưởng lớp loan báo. Mười đực rựa đứng yên tìm hơi ấm nơi đốm lửa đầu môi, riêng ba giống cái thì nháo nhào đi tìm chỗ kín giải quyết bầu tâm sự. Những thị đã điểm tâm gì để bụng dưới tức căng sinh chóng mắc tiểu thế? Nếu đường xa vạn dặm mãi lắc lư con tàu đi, họ giải quyết vấn nạn đó bằng cách nào? Chị của Nhân nói, trong mọi trường hợp thì đàn bà con gái họ giỏi chịu đựng hơn bọn đàn ông con trai, tin không? Tôi tin, tôi từng tin tôi đã tin. Mẹ tôi là một tấm gương. Tao đâu có ba đầu sáu tay gì cho cam. Bà hay than kiểu đó và lời than kia minh chứng rõ một sự cam chịu quá mức tưởng tượng. Mẹ tôi đã mất và tôi đã bơ vơ lạc loài với những đớn đau không ai chia sẻ. Là cuốn tự điển dãi dầu một sớm một chiều bị trái ngang mang đi hoả thiêu.

Đầm đục màu nước lợ, có nghĩa là nửa mặn nửa ngọt do sông giao duyên cùng biển mà tạo nên. Nghe nói tôm cua sò cá trú thân dưới dòng nước pha tạp này thịt thà thảy đều hàng độc ở cái khoản ngon nhức răng, ngọt lừ, không tanh. Mọi loài đều đặc sắc, thịt “hiền”. Có loài cá quen tung tăng biển rộng, khi ăn thịt nó có kẻ ngứa ngáy trúng độc; mà khi chúng lưu lạc vào vùng nước lợ thì biến đổi thân phận, ăn chúng vào chỉ có nước ngậm mà nghe. Nước lợ, nước hai, không chừng là am miếu lớn cho thuỷ sinh vật trú thân an tâm dưỡng tánh. Mới hôm qua anh ác đến dường ấy, ăn vào mữa mật mà hôm nay anh co mình nằm trên bếp riu riu, gắp thịt anh cho vào mồm và miếng cơm, ui chào thiệt ấm bụng cách chi! Cơm với cá như mạ với con chứ chưa nghe ai than van cơm với cá như con với mụ dì ghẻ!

Mỗi đầm phá có riêng cho nó một đặc sản, vùng thì nổi tiếng sò huyết, vùng vang danh cá mú, vùng danh trấn giang hồ cua xanh mực ống hằng hà sa số. Nhưng đầm cau có dưới mạn ghe thuyền đang trôi này nổi tiếng những vụ gieo mình tự tử. Khi người ta tìm tới cái dấu chấm đen tối ấy, đường sống người ta bị dồn vào nơi không lối thoát. Chúng tôi băng qua trên những lượng sóng. Bề mặt của nó thuỷ chung chẳng bao giờ thay đổi, quen thuộc tới độ nhàm nhán bởi sự đơn điệu nó mang. Đi hang cùng ngỏ hẹp thay đổi địa hình ra ta bà thế giới, sóng nước vẫn ngần ấy một dung mạo nhấp nhô. Cái khiến người ta bợn lòng đến thắt ruột là dưới bề mặt kia, trường lưu thuỷ ấy đang chôn dấu niềm bí mật nào?

Đi thực tế có nghĩa là anh va chạm, hoà lẫn vào cuộc sống của dân dã nơi anh nhắm tới với tư trang anh mang: Ba cùng. Cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Anh sẽ ghi lại, phát hoạ ra giấy đời sống, tư thế họ lao động để khi đưa vào tranh, điều cần thiết là cái thành quả mà anh vừa thâm nhập phải biểu lộ rõ, đề cao sự vinh quang do lao động mang lại. Và như thế cũng có nghĩa là anh, không khác gì hơn một đứa buộc phải bóp mép sự thật. Anh sáng tạo ra những điều khác hẳn với thực tại đớn hèn mà quần chúng đang nai lưng hứng chịu. Người ta không chấp nhận một bức tranh vẽ nên một cảnh sắc quá đỗi ám tối. Cái đấy là của bọn tư bản dẫy chết, phông màn cảnh quang của chúng ta phải tươi hồng, phải mạnh khoẻ phải rạng rỡ nụ cười tin tưởng vào tương lai sáng lạng dưới màu cờ đỏ thắm ngồn ngộn sức sống. Anh đừng gạn đục khơi trong vướng mắc ý nghĩ quàng xiên do đâu mà cái đầm mênh mang sông nước kia đã có lắm kẻ gieo mình tìm vào một lối thoát bất khả lựa chọn.

Mỗi gia đình thu nhận hai “trò” cho vào ở chung. Nhân và tôi ký gửi trong căn nhà ngói sồi trụt mái rêu phong mà gia chủ là người đàn ông thấp bé đứng ngác ngơ tranh tối tranh sáng như đối mặt với một bản cáo trạng vừa được tuyên xử lấp liếm trước toà án nhân dân. Không bàng hoàng, không buồn bã như gió cát quanh năm ở đây đã đắp lên mặt ông sự dửng dưng tựa vô cảm. Tiếng nói địa phương âm vực rất nặng, khó nghe nhưng điều ấy chẳng làm phiền ai. Tôi cám ơn ông đã chỉ chỗ ngủ tươm tất cho hai đứa. Thường thì đây là nơi tui phơi khô sắn khoai nhưng độ rày mất mùa nên bỏ trống. Muỗi chốn ni to hơn con ruồi đồng, nếu treo mùng thì sẵn cây đinh ở đây, đầu kia thì cột dây vô song cửa.

Cửa nhìn ra một vườn thưa cây, cát trắng ở đó có thể làm người ta hoa mắt trông xanh chanh chua ra cam vàng lớn ngọt. Hai cây cau cao vút với thân khẳng khiu không tạo ra bóng im và một cái giếng có người đàn bà đang ngồi vo áo quần trong cái thau nhựa chứa nước bẩn đục. Con vợ tui. Người đàn ông cho biết. Thằng con trai tui thì theo ghe đi đánh cá chiều mới về. Lạ quá, thời buổi chi mà cá tuồng cũng biết bỏ trốn. Đi cả ngày cuối buổi hắn đem về mô khoảng vài con lớn chỉ bằng ngón chân cái. Lãnh đạo họ nói rừng vàng biển bạc mà tui đời mô tin. Thằng con tui nói bao nhiêu cá lớn thì người quyền thế họ thu mua hoặc dâng lên cho lãnh đạo. Mình không có đầu óc, họ có trí não họ cần bồi dưỡng hơn mình để họ tận tuỵ lao động tìm ra phương án dụ khị cá tôm quay đầu vào vùng biển của mình.

Chữ được chữ mất nói vấp váp như bị ma đuổi nhưng tôi nghe hiểu thông suốt. Nhất là câu cuối: Buồn miệng thì nói năng lung tung rứa thôi, mấy anh đừng đi báo cáo phản ánh cho một ai hay. Con vợ tui cứ đe tui hoài mà chứng nào tật nấy. Nói bỏ lỗi chớ tui điếc mà cũng sợ súng, cái mới khổ! Ông chấm câu bằng một nụ cười, nụ cười của kẻ suốt đời đi tìm bới một niềm vui đã tuyệt mệnh, thôi hiện hữu. Nhân nói tụi mình được lọt vào đây là đúng ổ, giả thử vô đúng một căn hộ tiên tiến thì khó mà làm vịt nghe sấm được, điên đầu chứ không giỡn.

Bữa đầu mới tới lạ nước lạ cái nên cho anh em ngồi định thần, thăm thú vườn tược giao lưu cảm tình và đóng vai người thành phố văn minh biết tôn trọng đời sống riêng tư cũng như của cải bà con đã rộng lòng cho ăn nhờ ở đậu. Tôi ra giếng chào bà chủ nhà. Mấy anh là người ra răng? Bà hỏi mà không ngước mặt lên. Chỉ có hai ba cái áo vải mà dường như bà chăm chú giặt rõ lâu. Tôi thưa với bà tụi con chỉ là học trò thôi, bây giờ khác xưa, họ bắt học trò phải đi về nông thôn, đi lên vùng cao hoặc ra tới miệt biển để mở mắt để khôn vặt để làm phiền lòng những người hảo tâm khi không bị quấy rối cảnh sống. Tụi con sẽ đi ra ngoài suốt ngày, chiều mới về ăn qua loa rồi lịm người ở góc kẹt nào đó mà ngủ. Có nghĩa là tụi con cố không làm cho hai bác phải bận lòng. Nếu có việc gì nặng nhọc xin hai bác cứ sai bảo để tụi con có dịp trả ơn.

Người đàn bà chẳng nói gì, bà tạt thau nước ra sân cát. Bà vắt ráo ba chiếc áo rồi mang phơi chúng trên một sợi dây căng ngang giữa hai thân cây cau. Chiếc áo màu tím, chiếc màu xanh lá non và cuối cùng là màu “vô sắc”. Tất cả đã cũ, đã giã từ màu nguyên thuỷ, hiện tại thì chúng bị ngấm nước làm đậm chất phôi pha. Tôi dùng chữ vô sắc theo nghĩa là màu đó chưa có một tên gọi chính xác và những thứ màu có trên áo đó chưa khi nào tôi sử dụng để bệt vào tranh. Nó sống sượng quá, nó không thuộc vào màu lạnh cũng như nó cách ly với màu nóng. Nó sẽ nằm trên những tấm tranh mà dân học Mỹ thuật gọi là tranh bờ hồ do bọn ngoại đạo siêng thao tác để kiếm cơm. Xã hội này luôn nghi ngờ những thứ toàn bích, những hoàn hảo và những bức tranh đẹp, ngây thơ hồn nhiên các thứ sẽ chịu chung số phận úp mặt vào vách nghe mốc thếch xâm thực sau tấm bố bị thời gian mù loà khuynh đảo xếp xó. Tôi ngó ba chiếc áo khi không làm cho sợi dây căng bị chùng xuống. Nước rỉ rả ứa ra từ chất vải để nhỏ giọt xuống, chậm rãi, trong vắt tựa những hạt lệ thầm lặng rơi. Và mất khoảng một hai phút sau khi nhìn ngó tôi mới phát hiện ba chiếc áo kia thật nhỏ nhắn, hoàn toàn không vừa kích của người vừa giặt, rũ phơi. Rồi màu sắc chưa chín nó mang ngầm thông báo chủ nhân phải là một người trẻ tuổi. Một thiếu nữ vừa qua tuổi dậy thì chẳng hạn. Một bà già mòn chân qua sạn đạo sẽ không đời nào sở hữu những vật mang thứ màu mè tươi mươi nông nổi kia.

Nhân và tôi thường tách đám bạn học khi túa ra biển tìm kiếm một bố cục, một khung cảnh để ký hoạ. Chiếc thuyền nhỏ lật úp trên bãi, những sào tre dùng để căng trải tấm lưới, những hoa màu thích hợp với cát đang độ ra quả, sai trái bên luống nương, từng mái tranh xiêu vẹo chẳng đồng dạng giam giữ nhiều bóng tối thường là nơi bị anh em vây bủa chụp bắt hí hoáy vẽ. Chúng tôi ngồi trên một hòn đá cao nghe sóng hát miên man để định thần một dong duỗi. Hai đứa giao hẹn sẽ đi hai lối riêng sau đồi cát kia rồi gặp gỡ đằng cái vòm tối trông như một hang động có nhiều bọt sóng. Nhân rẽ trái nhắm hướng tây, tôi hướng mặt trời mọc ngó bóng mình lầm lũi biến tướng ăn đen vào cát vàng thoạt ẩm thoạt khô. Tôi không mấy thích biển, cảm giác luôn bị choáng ngộp khi đứng đối mặt. Sự trống trải nó chiếm ngự khiến tôi luôn hoang mang. Nó bắt trí óc mình phải liên tưởng về một cội nguồn của thời tiền sử, và rồi thì bỏ băng rất nhanh, vụt cái, thoáng chốc nghĩ tới ngày tận thế. Chẳng có âm thanh nào được can dự, không tạp nhạp, chỉ thuần là sóng gào ngoài xa và bên tai tiếp cận với gió ve vãn tiếng vi vu. Chân đi mất quân bình trên cát sồi sụt, không nhìn ra sinh vật, giao thoa giữa bầu trời và mặt biển là sợi chỉ đậm màu căng ngang, xanh thứ sắc màu vừa là biểu tượng của tự do vừa là vô ngôn một răn đe của thần chết.

Tôi lạc hồn đi nửa ngày chưa nhìn ra một cái gì bắt mắt. Tôi lên dốc thoi thỏi để buông thân xuống cát mịn, nửa nằm nửa ngồi bên cụm cây ngoi đầu giữa nơi chẳng được lựa chọn. Chăm sóc nó là gió cát là hơi nước của trùng dương và nó ra được hoa, những chùm màu trắng nhỏ nhít đến tội nghiệp. Tóc tôi rối trong gió nhưng nụ hoa vẫn an nhiên chẳng hề rung động. Nó hiện diện như nói với tôi những gì buồn bã nhất khi ta sống thở với lẻ loi, với một mình một bóng. Bất chợt tôi nhìn thấy một vết nhơ sẫm màu phơi trên cát trắng, nó tựa một cái dằm khó chịu đâm vào nhãn tuyến. Tôi nheo mắt, dùng cặp vẽ để đội lên đầu che bớt nắng nôi oà vỡ. Hình như là một đám rong bề thế bị lạc trôi tự lòng biển hay một con cá lạ lùng lên bờ để hoàn xác thành một mỹ nhân? Một sự thôi thúc vô hình lôi đầu tôi dậy, trao hiếu kỳ vào đôi chân để bắt tôi đổ người chạy xuống bãi. Càng thu ngắn khoảng cách cái vật ngắc ngoải do sóng liếm kia càng rõ dần hình tướng. Rõ cho tới khi phải đứng khựng lại, tim đập sai nhịp. Một thây người. Một chiếc áo bị bức hết khuy nút, một đôi vú chực bung ra, một mái tóc dài chôn rối đất cát. Một cái xác có nơi trương phình bắt đầu phân huỷ. Khuôn mặt cứng như được làm bằng chất sáp, hai mắt đục lờ tròng đứng yên ngó tôi bất động. Nó thu cất được gì vào đồng tử trước khi chết mà không chju đóng lại võng mô? Tôi rất muốn kề cận để dùng tay vuốt mắt người xấu số nhưng nỗi sợ hãi đã làm tôi cóng tay. Cuối cùng tôi quyết định dùng chiếc khăn tay của người chị Nhân trao gửi luôn xếp vuông vắn trong túi áo, lấy ra, giũ rộng rồi thu can đảm tôi lại gần phủ đắp lên mặt cô gái bạc phước.

Tôi không vẽ được gì. Chuyến đi thực tế kết thúc. Thành phố trông già nua sau một tháng đoạn lìa tưởng nhớ. Phượng đỏ nở rộ làm bầu trời thêm nung lửa, chật chội. Tôi bị đánh rớt kỳ thi cuối năm, bài làm bị phê bình và ai đó không ngớt xỉ vả tôi. Bức tranh tôi dùng toàn màu xám chủ đạo, ửng hiện chút xanh của màu trời chút trắng của bọt sóng, của chiếc khăn tay. Ba nhân vật được thu tóm: Ông bà gia chủ ở tư thế đứng và cái xác cô gái nằm trên giường tre. Tôi không muốn dài lời giải thích về “tác phẩm” ấy. Tôi đã vẽ nên nó do một thôi thúc tự mình cũng không cưỡng lại được. Ông bà cho Nhân và tôi tá túc thực sự thì họ có hai người con. Một trai một gái. Trai mưu sinh đánh cá, sớm tối kề cận chăm nom cha mẹ. Gái gửi theo ghe người bà con quyết định vượt biển đổi đời. Người cha không khóc than như bà mẹ luôn sùi sụt nước mắt nước mũi. Ông bấu víu vào vai tôi, cám ơn cậu đã phát hiện ra cháu, cám ơn cậu đã đắp mặt cho cháu. Chúng tôi là dân chài nên chúng tôi biết đã có một vài loài cá, khi sắp chết chúng dùng tàn lực để bơi về nơi chốn chúng tự giao ước để chôn thây, một thứ nghĩa địa. Trường hợp con gái bất hạnh của chúng tôi cũng thuộc dạng tương tự, nó muốn về thăm lại cố hương nhìn mặt anh nó, cha mẹ nó. Tui nói điều không phải thì xin cậu bỏ ngoài tai, đó là con gái tui chắc sẽ linh thiêng, cậu có nguyện ước gì xin bình tâm thắp cho em nó một cây nhang cúi đầu mà khấn vái.

Khi làm lễ động quan, ba chiếc áo bị bỏ quên vẫn còn phơi ngoài sân đồng loạt run lên. Chất vải bị già nắng khô quắt tựa mo cau xao động kiểu hứng gió lớn. Tôi bước ra, trời hầm hập lá cây im sững tịnh không chút heo may. Tôi nói thầm: Thôi em đi. Anh cũng yên lặng trở về thành phố. Anh sẽ vẽ cho em tấm chân dung để gia đình thờ phượng. Anh thực chẳng có nguyện ước gì cả cũng như anh chưa từng xin xỏ ai một điều, dẫu nhỏ bé.

Tôi rời trường, không đủ tư cách để làm một hoạ sĩ. Tôi đi buôn. Tôi leo lên tàu Thống Nhất xuôi Nam và định mệnh xúi tôi ngồi gần người chị Nhân. Nhan sắc người ta dễ phôi phai sau khi lấy chồng hay tại vì đang cấn thai, xuống sắc? Chúc mừng chị. Lớn thế này thì chắc đã đi siêu âm để biết trai hay gái? Chi kéo tay tôi, lôi tôi sát sao vào lòng, hơi thở nóng: Suỵt! Chớ manh động. Đẻ đái gì, thai thiết gì. Toàn cả thuốc tây không đó, thương nhau thì cởi áo cho nhau, mang hộ chị một nửa lô này nhé, êm xuôi tới bến chị sẽ hậu tạ. Đã có bồ chưa? Nhân nó bảo em bỏ học đi giang hồ à? Có thế chứ. Giờ thì chúng ta luôn nhìn thấy nhau. Một đôi khi chị nhớ em vô hạn, có tin không?

Tôi nhìn sâu vào mặt chị. Với biệt nhãn của đứa mộng làm hoạ sĩ tôi nhìn ra, không trùng lẫn, dung mạo này với cô gái chết trôi tuy hai mà một. Hèn gì bức chân dung tôi vẽ bằng màu nước đặt trên bàn thờ cô gái ai cũng tấm tắc: Cậu chỉ ngó em khi em đã là cái xác mà đã lột tả được thần sắc rạng ngời em mang khi còn trên trần đời.

Tôi không phải là hoạ sĩ. Tôi chỉ là một con buôn mà thuật ngữ lúc ấy gọi là bọn mánh mung. Mọi định nghĩa, sự quy chụp, xét cho cùng đều mang tính khiên cưỡng. Tôi cũng không rõ tôi là ai? Một con cá sông hồ bơi không ra khỏi cái đập chắn kiên cố mà người ta dùng ngăn chận với bên kia là trùng dương biển gào mặn muối. Cá không ăn muối cá ương. Tôi suốt đời không dám cãi lại mẹ cha vậy mà muôn đời tôi vẫn hư thân.

Hồ Đình Nghiêm

Phước sương

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 5 May 2022

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Trụ xi-măng chôn bên quốc lộ bị đứt lìa nửa thân, rụng mất con số đánh dấu còn bao nhiêu ki-lô-mét thì tới thành phố. Tài xế cũng như lơ xe đò biết mồm một mỗi địa danh trên từng cây số và họ sẽ thắng xe lại nếu có hành khách dặn, làm ơn cho tui xuống ở ngã ba Chuồn.

Có con đường chưa trải nhựa đâm thẳng góc với quốc lộ. Xóm Chuồn nằm cuối đường, sâu nữa đã là núi chắn với ruộng nước hiếm thấy bóng người còng lưng khai khẩn thu hoạch hoa màu. Con đường nhiều bụi đỏ khi trời nắng ráo, hôm nay thì trơn trợt lắm bùn vì đang mùa giông bão, phủ trùm tự bắc chí nam thứ sắc màu ủ dột, nặng nề. Lầy lội, ướt át, lạnh lẽo. Áo mưa sùm sụp, bộ hành đồng dạng, ai cũng tựa ai. Co ro, run rẩy, đi vật vạ quàng xiên.

Một quán bán thức ăn mọc trơ trọi giữa hương lộ. Vách lá mái lá và xiêu vẹo giữa gió mưa. Một sự tạm bợ không thể làm khác hơn, tuy vậy nó là nơi dừng chân cho đám con buôn đi đường dài tạt vào nghỉ lấy sức. Ăn dằn bụng thứ gì đó hợp túi tiền, lui sau tìm chỗ khuất lấp để xổ bớt cái óc ách mãi dằn xóc trong bụng căng nước tiểu, rửa sơ cái mặt cho lại thần hồn và rồi buồn miệng nói với chủ quán biết bao nhiêu chuyện ruồi bu. Vô tình, vai trò dì Chuồn, danh xưng của bà chủ quán, gần giống một cấp lãnh đạo về thông tin văn hoá. Ngồi thu lu một chỗ mà tường tận mọi lẽ đương vận chuyển bên ngoài luỹ tre làng. Ai giết ai, ai cướp ai, ai hối lộ, ai biển thủ, ai tạt a-xít, ai nhập viện, ai táng gia bại sản, ai lừa đảo, ai nhập kho… dì Chuồn thảy đều nắm vững thứ tin tức từ thành đến tỉnh. Dì Chuồn sẽ trở thành kẻ lạc hậu nếu mưa gió tiêu điều xe đò chạy suốt chẳng chịu thả khách dừng chân trong quán. Tắt nghẽn nguồn thông tin, bó gối ngồi ngáp ruồi chờ ngày mai trời lại sáng.

Trời chưa sáng, chập choạng dù ban trưa thì có đứa dẫn xác tới. Bà chủ quán la lên:

– Chứ lâu ni mi trốn biệt đi mô?

– Gì mà phải trốn? Tui ở trên chùa, không biết hả?

– Ủa, chớ làm chi trên nớ?

– Buồn đời đi tu, ai cấm cản?

– Đạt đạo chưa đó? Đi khất thực hay răng mà khi không vác mặt về thăm chòm xóm cũ? Xa lánh bụi trần lâu quá mà, ngó một hồi tao mới nhận ra.

– Mần ăn buôn bán khấm khá không? Dì thì với tui muôn đời vẫn không đổi.

– Mi hoàn tục rồi a, chứ áo xống nhà tu để mô mà không tròng vô thân.

– Chiếc áo không làm nên thầy tu, dì chẳng hay sao? Múc cho tui tô bún.

– Tao không bán thức ăn chay, chỉ chuyên trị bún bò giò heo, e chẳng hợp khẩu vị mi.

– Tui đâu phải đứa dốt mặt chữ, tấm bảng to đùng còn ghi giá là ba chục ngàn. Đừng khinh rẻ là tui không có tiền. Đây, năm chục ngàn, trả luôn cả tiền cà phê thuốc lá. Được chưa?

– Ui chao, thằng ni ngon cơm hè. Có mi mở hàng thì trên cả tuyệt vời. Rứa pháp danh mi là chi? Kêu là chú tiểu e không đặng mô hỉ?

– Cha mạ đặt tên Trung thì cứ rứa mà kêu, thắc mắc chi cho rắc rối cuộc đời!

– Không ưa chú tiểu thì tao gọi chú trung, mà ngã mặn xong xuôi thì lên chức chú đại, có khó chi hè!

– Răng chưa múc bún ra tô?

– Thì phải đợi củi lửa réo sôi đã chớ. Để tao pha cà phê trước. Thủng thẳng, đi mô mà vội.

– Nhà tui vẫn bình an?

– Mấy năm rồi? Răng mi bạc tình thức nớ. Ba mạ mi cùng chị em mi khăn gói xuôi Nam đã lâu hung, còn có ai nơi mà thăm hỏi!

– Xảy ra sự cố chi?

– Nhà đất bán được giá thì họ tống khứ làm cuộc đổi đời. Họ chẳng đến chùa thông báo uỷ lạo cho mi chút tiền lận lưng hay răng?

– Chùa nằm địa phương khác, xa khuất, lắc léo khó tìm. Và chuyện tôi cạo đầu không chắc họ đã nghe tin.

– Bún đây, quen biết nên tao bỏ nhiều thịt cho mi. Đây là chén nước mắm ớt nếu thấy lạt miệng. Mô Phật, tao có bị mang tiếng ác đức bất nhân không mi? Ngay cả bếp núc củi lửa cũng vô hậu, phải ngó thấy đồng tiền mới chịu phừng phực cháy to.

Dì Chuồn ngó xấp tiền vừa bó cột lại bằng sợi giây thun. Tay thằng Trung run khi nhét cất lại vào ruột tượng. Hắn gầm đầu xuống khi nói:

– Mang tiếng thì có chi mà sợ. Người ta ở ác cả đời mà họ cứ tỉnh bơ, vô tư gây tội. Ui chao, bún ngon dễ sợ mà sao quán vắng tựa chùa bà Đanh!

– Nghe nói cầu đường hư hỏng ngập nước vì thuỷ điện chi đó. Quốc lộ gián đoạn, xe cộ nằm ì, ông đi qua bà đi lại là hồi mô thiên tai mưa bão chịu rút lui kia. Trời xấu thế này dễ làm cuồng chân, ăn xong mi tính đi mô?

– Nạp năng lượng cho sung thì tui qua làng bên thăm người quen. Tình hình chốn này ra sao?

– Sao là sao?

– Mấy ông phường ông xã ông công an ông trưởng ban ông khu vực…

– Thì vẫn vô ra cũng thằng cha khi nãy. Họ bám trụ, họ tham quyền cố vị, họ vẫn còn sống nhăn. Nghiệt! Họ mà tổ chức liên hoan tiệc tùng thì tao phải sứt mẻ một nạm tiền. Họ nói, phàm ở đời phải biết qua biết lại dì ơi.

– Thôi, tui đi. Muốn bắt xe ôm chắc phải trở lui quốc lộ?

– Mi không tính đi vô núi thăm mộ ông bà tổ tiên hay răng? Đi thì tao tự nguyện dẫn đường sắm sửa lễ vật nhang đèn hoa quả các thứ.

– Trời, nghe phát oải. Sống sót mới tới thăm hỏi này nọ chứ đã ngậm cười nơi chín suối thì biết nói năng chi, mất thì giờ với ba cái linh hồn tượng đá.

– Mồ tổ mi. Phát ngôn linh tinh kiểu nớ thì chùa chiền nào mà dung thứ cái xác phàm ô uế kia.

Thằng con trai gửi lại tràng cười hền hệt rồi quay lưng. Áo mưa màu vàng sùm sụp xa dần trên lối đi lầy lội. Dì Chuồn ngó theo, bà moi điện thoại di động ra ghi hình rồi tiện tay bả gọi số đã lưu vào bộ nhớ máy thông minh.
Đừng nói dì Chuồn chỉ biết nấu bún bò mặn mà ngon nhức nách thơm điếc mũi, ngay cả những ngón tay quen động dao thớt nọ cũng tường lãnh vực công nghệ thông tin. Dì sử dụng máy móc hiện đại chả kém bất kỳ một thằng ranh con nào mãi chơi game bạo lực ở những tụ điểm cà phê net.

Ra đường Trung vẫy một chiếc xe ôm. Thằng cha già rồi, run lẩy bẩy mà còn hành thân kiếm cơm dưới mưa to gió lớn, đã thế còn bày đặt nói thách dễ sợ. Hét giá kiểu ấy ngay Tây ba lô cũng phát hoảng. Ổng ngửa mặt dòm trời nại lý do. Không thấy sao, thời tiết kiểu này anh nên thông cảm, xăng thì leo ngất ngưỡng cực choáng, vào đó rồi thì tui phải vác xe không chạy ra mình ên. Vắn tắt thì hy sinh đèo chở anh đi gấp đôi đoạn đường đã quy định. Khổ thế!

Đành phải ngồi trên yên trơn láng của con ngựa hom hem ho khục khặc xăng pha dầu hay sao đó. Khói phun đen, khách ôm eo lão xe thồ rành bài bản xuống sáu câu. Thời buổi này ai không biết ca cải lương mới là chuyện lạ. Đại gia thì chỉ biết chơi nhạc rap, lời xưa rồi diễm: Ăn hột mít địt tầm phào, ra ngoài rào địt cái ộn, lên côi độn địt cái rầm, chui xuống hầm địt cái tút.

Xe chạy quàng xiên một đỗi thì dừng trước căn nhà vôi xanh mét lợp mái tôn. Nước chảy thành dòng tựa màn lệ mà cánh cửa đóng kín là con mắt đương nhắm trít bỏ mặc tiếng sụt sùi luôn nấc cục ngoài hàng hiên. Thanh thoả tiền bạc, ngó số nhà, xe quày quả phun khói, đâu vào đó rồi thằng con trai mới đưa tay gõ cửa, từ thong thả tới nôn nóng. Hắn dõi trông con lộ vắng, màu hắc ín đen láng co cụm từng vũng bùn loang lổ trông như con trăn lớn làm biếng nằm phơi thân.

Và cửa mở. Và vũng đen đằng sau trồi ra một nhân diện kháu ó như giấc ngủ vừa bị quấy rầy, lôi đầu dậy. Thoắt cái là tỉnh thức, là linh hoạt dự phần, là bối rối một niềm vui khó che đậy.

– Đồ quỉ sứ gì đâu không á! Bắt người ta nằm cô quạnh đợi trong lạnh lẽo. Có dễ tìm không?

Tấm áo mưa màu vàng lẻn vội sau cánh cửa. Cửa đóng, chập choạng nguồn sáng yếu của cây đèn dầu thắp tù mù sụt sùi tim bấc đứng trên bàn thờ nguội lạnh khói nhang. Những khung ảnh người được thờ cúng đồng loạt xây mặt trông tới vị khách đường đột. Họ thảy có chung một chuẩn dạng: tắc tiếng, ngó ơ hờ, mở mắt mà mù câm.

Áo che mưa cởi sột soạt. Đứa con gái chủ nhà giật vội, máng trên một cây đinh nhô ra sau cửa gỗ. Vắng lặng, chớ ba mạ em mô? Ba chở mạ ôm mấy con gà ra chợ bán. Mới đi độ nửa giờ e tiếng nữa mới trở về. Họ biết anh tới thăm hay sao? Biết, em có thông báo. Họ sẽ mời anh ăn cơm tối, chiêu đãi anh gọi là hậu tạ.

Đứa con gái tính mở sáng ngọn đèn nê-ông nhưng khách cản ngăn. Khách mặn cái nhạt nhoà tựa thế bởi nguồn sáng điện đóm sẽ kệch cỡm thô lậu khi chiếu xuống một hừng hực khát khao. Giải hạn trước tiên là môi hôn ngấu nghiến, khi lửa của song phương bốc cao nực nội thì cả nam lẫn nữ chẳng hẹn mà đồng loạt trút bỏ y phục vướng víu trong tiếng thở bấn loạn. Họ quấn lẹo vào nhau và nhắm mắt nhảy bản luân vũ dặt dìu tới chiếc giường tre ọp ẹp. Họ quên giông bão, họ chẳng màng thế sự nhích gần mỗi sát na. Và cánh cửa lớn bị mở toạt, khủng khiếp hơn một nhát chém chia hai thân thể, chết điếng.

Ba mạ cô gái từ luồng sáng gắt gao bên ngoài trời lạnh run rẩy bước qua ngạch cửa, sau lưng là bốn năm ông công an lẫn dân phòng bảo vệ lỉnh kỉnh đồ đoàn nêm chật gian nhà trống. Đột ngột quá, không nảy ra phản xạ quơ đại một thứ gì để che thân. Sững sờ. Trụy tim.

Một người công an đọc lệnh bắt tội phạm Trung có hỗn danh Cu Rô xóm Chuồn khi ngọn đèn giữa nhà bật sáng, soi tỏ. Lời lẽ đanh thép, bắt đúng người đúng tội, chí công vô tư. Đứa con gái bưng mặt khóc khi nghe rõ từng chữ từng lời. Cu Rô giả dạng khoát áo tu hành từng đào trộm cổ vật nơi đền đài miếu mạo, từng đục khoét ăn cắp tiền trong thùng phước sương để đi hành lạc ở những địa bàn khác. Mùa lụt vừa qua, tình cờ cứu được cô Trần thị Cơ, hiện có mặt ở đây, khỏi chết đuối, đã lợi dụng sự ngây thơ của trẻ vị thành niên, đương sự đã nhiều lần giở trò đồi bại giao cấu mà cớ sự hôm nay là tang chứng vật chứng. Chúng tôi đã giăng bủa lưới, mất công sức cả tháng trời mới bắt được đối tượng quỉ quyệt này. Thành quả có được bữa nay phải nên ghi công dì Chuồn lập quán bán bún để nghe ngóng tin tức thu thập dữ liệu làm tai mắt bảo vệ cho địa bàn chúng ta sớm phát hiện những thành phần băng đảng xã hội đen.

Mưa quất xuống thân Cu Rô xóm Chuồn hàng triệu đòn roi. Nhân viên công lực trói ké tội phạm dẫn ra đường cấp kỳ chẳng có thời giờ cho hắn mặc áo mưa vàng che bớt cái xấu xa phơi bày lủng lẳng.

Mưa mang cả sự ướt át dội đẫm vào tuốt trong nhà. Đứa con gái thút thít tính nói điều cực lòng cho mạ nghe: Nếu con lỡ có thai thì biết mần răng hả mạ! Cơ, mười lăm tuổi lau vội nước mắt hoen mờ để trông rõ sự vật. Nằm mộng cũng không tưởng được, cái ruột tượng nằm dưới giường tre lòi ra cả xấp tiền hoành tráng. Cơ giả bộ nằm vật mình xuống giường than khóc số phận, thò một tay thu vội gói tiền dưới gối. Khả năng tính toán của đứa học cấp một trung học phổ thông đưa ra con số dễ gây choáng, chí ít thì ta đang sở hữu không dưới hai chục triệu đồng. Mẹ rượt, ta sẽ gội bỏ chất quê mùa mãi ám thân. Cơ này sẽ lên phố thị, ăn chơi không sợ mưa rơi. Cùi chẳng sợ hủi. Cơ lầm bầm. Vô vàn cám ơn anh Cu Rô giải phóng Cơ này thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu.

Đứa con gái thu tay vào hạ thể giữa hai chân. Sao bọn khốn kiếp ấy không chịu dùng dằng trễ nải chậm chân cho khoảng mười lăm hai chục phút? Mưa rơi, mưa rơi. Mưa ngoài trời và mưa rớt hột lấp đầy cửa tử. Sướng dàn trời.

Hồ Đình Nghiêm

Đại học máu

Hà Thúc Sinh
Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Bài 66

Phần 65 Vào đầu tháng Năm đội 17 được chuyển công tác, một công tác mới thật nặng nề và cực khổ, ấy là công tác khênh đá từ chân núi bên kia bờ suối về công trường xây cất nhà ăn ở cho ban chỉ huy trại. 
Cứ hai người một, người trước người sau khênh một cái ki trên chất một trọng lượng đá xanh nặng không dưới bảy tám chục ký. 
Vĩnh và anh Huy bắt cặp đi với nhau. Đoạn đường dài hơn hai cây số dưới trời nắng cháy da cháy thịt, hai người lầm lũi nối gót những người khác băng qua những địa thế khác nhau, vượt qua con suối, vượt qua vuông sân lát gạch, đổ đá thành đống nơi công trường đang xây cất dở dang. Mỗi ngày, chuyển đá theo lối con thoi, Vĩnh tính thầm mỗi người phải khênh nặng một đoạn đường tổng cộng hai mươi cây số và chuyển được trên hai tạ đá xanh. Công việc này quả quá nặng so với hai bát ngô “Vỏ Nguyên Giáp”, khẩu phần hàng ngày của mỗi người. Do công việc quá nặng, ngay đội trưởng Mai Văn Lễ, vừa trẻ vừa khỏe vừa to con đến thế mà cũng xọp hẳn người xuống. 
Vĩnh thì khỏi nói. Anh chỉ còn da bọc xương. Hàng ngày nín thở lấy hết sức đi dưới sức trì nặng nề của ki đá, Vĩnh cố hướng đầu óc mình đến một cái gì có màu xanh của hy vọng. Nhưng rồi không thể! Những cơn khát cháy cổ làm Vĩnh muốn lả người đi. Anh Huy cũng chẳng hơn gì. Mới mấy tháng trước anh còn là một người trung niên khỏe mạnh, giờ trông hóm hém như một ông già. Thế nhưng có lẽ anh Huy không mệt mỏi bằng Vĩnh. Anh có hai thói quen trong lúc lao động nặng. Có khi anh lầm lỳ như một hòn đá, vừa đi vừa lẩm bẩm như đang đọc kinh cầu nguyện; bằng không, anh hớn hở nói lên những ước ao của mình. Những khi Vĩnh muốn ngất đi vì mệt, muốn vứt mẹ nó ki đá xuống và ngồi bệt bên vệ đường cho nó khỏe, thì anh Huy vẫn hăng hái cất bước, miệng huyên thuyên nói. 
– Ông biết giờ này tôi ước ao điều gì nhất không? 
-…..! 
– Tôi ước ao một chai 33 ướp thật lạnh. Tôi sẽ cầm thật chặt nó trong tay để nghe hơi lạnh chuyền dần lên tới xương bả vai. Sau đó, tôi mở nút và ngửa cổ đổ nó vào họng. Đổ một hơi không ngừng nghỉ… 
Mặc anh Huy lẩm bẩm vừa đi vừa cầu nguyện hoặc vừa đi vừa ước ao chai bia, Vĩnh vẫn cố gắng đeo theo những hình ảnh nẩy ra trong đầu. Hình ảnh sau cùng đã kết nên một ý nhạc mới. Vĩnh dặn lòng sẽ viết một bài nhạc, hoặc ít ra một bài thơ ghi nhận về cơn khát ghê gớm trong thời gian khuân đá cho công trường xây cất ở trại tù Hàm Tân này… 
Quản giáo Phú có lẽ cũng thông cảm phần nào cho nổi cực khổ của bọn tù dưới tay. Hắn có vẻ tương đối thả nổi cho đội 17 trong giờ nghỉ giải lao được lâu hơn các đội khác dăm bảy phút. Những khi ngồi lẩn khuất trong đám đông, dưới bóng mát của một cái nhà lô, Vĩnh hay ngó ra ngoài khu xây cất. Đám tù được sử dụng vào nghề mộc, nghề hồ coi vậy chứ không lấy gì làm khỏe. Họ leo trèo, họ trộn hồ, họ chuyển gạch, họ xây, họ cưa, họ xẻ… họ cũng vất vả trăm đường dưới sự đốc công của bọn giám thị trại. 
Ý bỗng vỗ vai Vĩnh và chỉ ra đám người đang trộn hồ, nói. 
– Me xừ mập mập kia kìa, ông thấy không? Nghe nói hình như hắn là con trai ông Lương Trọng Tường đấy. Là đại úy. 
Vĩnh mệt mỏi. 
– Ông Lương Trọng Tường cũng chết chứ nói gì đến con trai ông Lương Trọng Tường! 
Ý moi trên lỗ tai xuống một bi thuốc, chia cho Vĩnh một nửa, nói. 

– Ai chả biết thế, nhưng nghe thằng Thương nó bảo tay ấy rành vùng này lắm. Tôi tính lân la hỏi thăm xem sao. 
Vĩnh hoàn toàn không có ý kiến gì về vụ này. Anh xoay ngang kiếm cái điếu hút nhờ bi thuốc của Ý vừa trao cho. Hút xong Vĩnh lại ngồi nhìn quanh quất với một cái đầu trống rỗng không ngờ. 
Anh chợt nghe lõm được một câu chuyện thật lý thú do đám người đội hình sự cùng hành nghề khiêng đá như đội 17, đang kể cho nhau nghe. Một giọng nói. 
-… nhưng chỉ có vậy mà đập nguyên cái chai xì dầu lên đầu nó thì hơi nặng. Nằm cachot kỳ này cầu cả tháng… 
Một giọng khác. 
– Thế cũng đáng. Thằng ấy cà chớn lắm, chuyên môn chọc ghẹo người khác. Thằng Hùng tính lại cọc! 
Thì ra câu chuyện mấy người ấy kể cho nhau nghe như thế này. Bên nhà 1, nơi ngủ nghê của đám Trật Tự và một số hình sự, chiều hôm qua đã xảy ra một vụ đánh lộn giữa hai người chơi rất thân với nhau. Việc đánh nhau được mô tả là nặng vì có đổ máu. Nguyên do cũng vì một sự đùa giỡn không đúng chỗ của một người. Hai người ban nãy, một người có gia đình còn một người “con bà phước”. Nhưng dù điều kiện sống có khác nhau, họ vẫn chơi thân với nhau. Anh có gia đình thường nhận được thư nhà, và mỗi lần mở thư đọc, thằng bạn hay đùa giỡn của anh lại xà đến chọc ghẹo. 
– Thư con vợ già hả? Có gì dâm dâm đọc nghe chơi mày! 
Chiều hôm qua người có gia đình lại nhận được thư. Anh chui vào chỗ nằm mở thư ra đọc. Đọc một lúc mặt anh tái lại, kế đó ngồi thừ ra như một xác chết. Người bạn của anh ta, như mọi lần, lại xà đến chọc ghẹo bằng câu nói quen thuộc. 
– Thư con vợ già hả? Có gì dâm dâm đọc nghe chơi mày! 
Lần này thì câu chọc ghẹo thân mật ấy được trả lời bằng một cái chai xì dầu phang thẳng cánh lên đầu. Anh bạn chọc ghẹo lăn đùng chết giấc! Còn người đánh thì bị trật tự lôi lên giám thị, sau đó bị tống cổ vào cachot tức thì. 
Tai nạn xảy ra thực ra là một cái vận không may cho cả hai người từng chơi thân với nhau. Anh chọc ghẹo bạn nào biết rằng bạn mình hôm nay đâu phải đang đọc những lá thư của vợ hay của mèo, mà anh ta đang đọc thư Mẹ; ác hơn, trong lá thư ấy mẹ anh lại báo tin cho anh biết rằng, con vợ anh ở nhà nó đã mua để dành cho anh cùng một lượt đến mấy cái sừng tê giác! 
Giờ giải lao chấm dứt, các đội trưởng nhanh chóng đứng lên và thúc anh em trở lại lao động. Vĩnh lại cầm ki lên và bước theo anh Huy sau khi nhấp nhấp thêm một miếng nước. Đi bên cạnh Vĩnh và anh Huy lúc này là ông đội phó Nguyễn Văn Thuận. Ông Thuân đi cặp với Hòa “nhảy dù” vì hai người có chiều cao tương đương nhau. Lúc này ông tương đối không còn bị anh em cô lập nữa. Dĩ vãng ông đã làm gì ở trại này không còn ai để ý tới. Trước mắt, ông đang là một người mệt mỏi, mệt cả thể xác và tinh thần, điều ấy đủ để Vĩnh xích lại gần ông và chuyện trò thân mật. Và có lẽ, nếu không chủ quan, Vĩnh có thể nói rằng cả đội 17 chỉ có Vĩnh là người mà ông Thuận tỏ ra “quý” cũng như sẵn sàng đưa chuyện văn chương chữ nghĩa ra luận với nhau trong những lúc nhàn rỗi, hoặc ngay cả những lúc lao động để hy vọng làm ngắn lại khoảng thời gian dài cực nhọc. Đây cũng là dịp cho Vĩnh tìm hiểu thêm về nhân vật này, về cả những điều thường ngày ông ghi ghi chép chép. Ông mong sau này, khi mà điều kiện cho phép, ông sẽ lại soạn sách giáo khoa, nhưng là một bộ sách giáo khoa được viết bằng một ý thức mới, làm sao để tạo ra những thế hệ nhiều thiên tài hơn nhân tài và nô tài. Ông cũng nói với Vĩnh, theo ông, tài trên đời có ba hạng. Hạng nhất là thiên tài, gồm những người có óc sáng tạo, có đảm lược và khí phách, thí dụ những nhà giải phóng đích thực, những văn nhân thi sỹ đích thực, các khoa học gia, các nhà kinh tế chính trị; hạng nhì là nhân tài, chẳng hạn thành phần sinh ra chỉ để đi làm thầy giáo cô giáo, làm ông quan tòa, ông bác sỹ; hạng thấp nhất theo ông là hạng nô tài, loại cũng có học cao hiểu rộng nhưng tài chỉ đến đi làm cố vấn, thầy dùi cho thiên hạ, hoặc cũng có quyền cao chức trọng nhưng tài chỉ đi làm tay sai cho ngoại bang (Loại này thì cả hai miền Nam Bắc trong suốt cuộc chiến tranh gọi là Quốc-Cộng vừa qua có quá nhiều!). 

Thường trong lúc đi khuân đá, nghe ông Thuận luận về cuộc đời, một phần nào Vĩnh cũng thấy quên đi gánh nặng trên tay và đường dài dưới chân. Nhưng anh Huy thì khác. Rõ ràng đến hôm nay anh vẫn có vẻ thủ thế tối đa với ông Thuận. Đặc biệt hôm nay, để trả lời cho một câu mỉa mai xa xôi của anh Huy dành cho ông, ông Thuận đã luận rằng: Các ông có biết luật Cái Bang không nhỉ? Một tên ăn mày một khi được bầu lên hàng trưởng lão, để hợp thức hóa, hắn phải đi qua một hàng ăn mày dàn chào bằng đờm dãi nhổ trên người… Nói tới đây ông Thuận nhìn anh Huy, tiếp. Ông Huy cũng đồng ý với tôi sau 30 tháng Tư, nội thành phần bị đi học tập cải tạo thôi, xét rộng rãi ra chỉ quãng năm mươi phần trăm đáng sống và đáng hy vọng… sau này thôi, ông đồng ý không? Anh Huy chỉ cười cười mà không trả lời. Ông Thuận tiếp. Ông không trả lời nhưng tôi biết một phần nào ông cũng nghĩ như thế. Cái số lượng thối nát và đê tiện lớn lắm, có cách triệt tiêu đi được tôi cũng không ngần ngại gì mà không triệt tiêu… 
Nghe ông Thuận luận, Vĩnh lại nhớ có lần ông đã nói với riêng Vĩnh. Biến cố 30 tháng Tư chưa hẳn là không may cho tiền đồ đất nước. Nhờ biến cố này, cái lớp vỏ lở lói của miền Nam đã tự nhiên được hớt quăng bỏ sang Anh sang Pháp sang Mỹ. Tôi không dám nói một trăm thằng di tản bỏ chạy đều là hạng tồi tệ cả. Nhưng rồi ông xem, Anh Pháp Mỹ vân vân sẽ khốn nạn với bọn đó. Chúng nó sẽ đem cái lối sống giành giựt, quấy hôi bôi nhọ, đạp lên nhau mà sống, nham nhở bẩn thỉu, bè phái sang các nước đó và sống như thế cho đến ngày chúng nó chui xuống mồ. Nhưng thôi kệ chúng nó. Các nước tự do đã đón cái lớp vỏ lở lói ấy thì ráng mà chịu. Nhưng chúng ta, những người ở lại, chúng ta bắt đầu phải có cái nhìn đúng đắn về cái khối quốc gia của mình. Liệu những thằng ở lại có đáng sống hết không? Có đáng tin cẩn cho một công cuộc trọng đại ở tương lai không? Riêng tôi nghĩ là không. Vậy thì muốn làm đại sự phải có sự thanh lọc hàng ngũ ngay từ khởi thủy. Nói thì nói vậy. Người như ông như tôi làm sao cầm dao giết người được. Nhưng có thằng nào nó làm giùm công việc ấy tôi cũng chẳng từ… 
Quả thực nghe ông Thuân lý luận Vĩnh thấy cũng hay, nhưng không khỏi không lạnh mình. Anh nghĩ là buồn quá, phẫn quá ông nói chơi cho vui thôi. Riêng anh Huy chỉ cười khẩy. Hố sâu giữa hai người đã sâu lại càng sâu thêm. Rồi thì để tránh chuyện hai anh già có thể đôi co, Vĩnh đẩy mạnh cái ki thúc anh Huy nhanh chân vượt qua mặt mấy cặp đi phía trước. 

Ông Thuận bỗng trở thành một vết hằn trong trí nhớ Vĩnh. Ông ta là một nhà giáo? Hay một nhà chính trị? Hay một tay có tài quỷ biện? Hình như ông là tất cả những thứ đó. Ông cũng còn là người từng nói nhiều cho Vĩnh nghe về nhóm Duy Dân, về cả nhóm Hàn Thuyên của cụ Nguyễn Đức Quỳnh… Dù sao, Vĩnh biết chắc một điều, Vĩnh chưa rút ra được một ưu điểm nổi bật nào nơi ông Thuận để mà học hỏi. Ông ta tỏ ra quý Vĩnh, Vĩnh quý lại… 
Khi chuyến khuân đá lần thứ tư trong ngày sắp về tới đích, có nghĩa là đám Vĩnh sắp sửa vượt qua cây cầu bắc ngang con suối, thì có nhiều loạt đạn từ sâu trong rừng buông vẳng ra. Tiếng đạn xa lắm, tuồng như được bắn mãi bên vùng phân trại A. Cả bọn hơi ngơ ngác tí đỉnh về loạt đạn nổ, nhưng rồi ít phút sau đó, tất cả lại trở về với thực tế, lầm lũi đi hết đoạn đường khổ nạn. 
Giọng một người lên tiếng vu vơ. 
– Mấy giờ rồi không biết? 
Không ai trả lời. Vĩnh nhìn mặt trời và ước lượng giờ này cũng phải ba giờ chiều. Còn lâu mới hết một ngày lao lực. 
Khi đội 17 đổ loạt đá lần thứ tư vào nơi quy định thì bỗng nhiên quản giáo Phú cho nghỉ. Đội trưởng Lễ và đội phó Thuận nhận lệnh dẫn anh em ra ngồi dọc theo bên hông xưởng mộc có nhiều bóng mát. Một lúc sau nữa, Vĩnh và các bạn nhận thấy rằng không riêng đội 17 mà tất cả các đội khênh đá đều được lệnh nghỉ. Không cần biết vì sao được nghỉ, bọn Vĩnh tìm cách chạy vào xưởng mộc xin xỏ những thanh củi vụn và ngồi bó lại từng bó. Đời tù chứ củi vẫn cần như thường. Chiều về ai cũng phải tranh thủ nấu nướng tí đỉnh, thiếu củi là cả một vấn đề. Trung lúc đang thi nhau lượm lặt củi vụn của trại mộc thì quản giáo Phú lại xuất hiện. Hắn ngó đồng hồ tay, ngẫm nghĩ tí chút rồi bảo đội trưởng Lễ cho tập họp. Đội 17 tập họp thật nhanh, vì ai cũng biết quản giáo Phú có nhiều cái cao hứng bất ngờ. Nhiều lúc vui vui chuyện gì, tù vừa lao động được hai tiếng hắn đã cho tập họp và dẫn đi tắm. Sau khi tập họp, mọi người biết rằng hôm nay quản giáo Phú lại cũng cao hứng và sẽ dẫn cả đội đi tắm thật xa, không phải thượng nguồn mà xuống mãi hạ nguồn, nghĩa là dưới cả khu canh tác rau xanh, nơi có những vực sâu và nước đầy quanh năm. Trên con đường đi xuống hạ nguồn con suối, trước nhiều cặp mắt thèm thuồng của anh em các đội khác, đội 17 bước những bước thật nhanh và thật vui. Ai cũng có cảm giác sung sướng là hôm nay sẽ được tắm một trận thả giàn, bù cho những ngày “tắm búng” vừa qua dưới mấy vũng nước bùn nơi chân cầu. 
Đoàn người đi theo con đường dọc bờ suối. Những cây tre được cắm từ mùa mưa vừa rồi, dùng để ngăn cách khu trại đang ở với khu công trường xây cất giờ đã xanh um và khó mà chui lọt qua được. Nhìn những lớp hàng rào thiên nhiên này, Vĩnh mới nhận ra cái lợi hại của lối phòng thủ mà Việt Cộng áp dụng. Thực chẳng có loại hàng rào thép gai nào bền vũng cho bằng những lớp tre gai kia! 
Vượt qua khu nhà tù đang xây cất là tới khu ao rau bát ngát, nơi mà đội đã tham dự và đổ bao công sức để hoàn thành từ dạo mới đến. Đây đó những gốc buông bị đốn ngã đã mục rữa dưới nắng mưa. Những lớp nấm lâu ngày không ai thu nhặt mọc trắng theo những bẹ buông. Vĩnh bỗng nhìn quanh tìm Lê Văn Tầm. 
Vượt qua khu ao là tới khu rau xanh. Nơi đây có đến ba đội phụ trách. Rau xanh đủ loại mọc xanh ngát một vùng. Nhưng tù làm gì được ăn những thứ rau tươi ngon ấy! 

Khi xuống gần hạ nguồn con suối. Vĩnh đã nhận ra khu nghĩa trang bên kia bìa rừng với những ụ đất nằm ngổn ngang chẳng ai biết được đó là những phần mộ hay gò mối. Rồi thì cái guồng nước bằng gỗ do tù thiết lập để dẫn nước lên khu canh tác đã hiện ra. Không khí nơi đây bỗng mát hẳn. Tiếng nước suối ồ ồ chảy làm ai cũng thấy khoan khoái. Những bước chân như bước nhanh hơn. Khi đội tiến đến chỗ nước sâu nhất, quản giáo Phú cho phép dừng chân để sửa soạn tắm. 
Giòng suối hạ nguồn bỗng ầm ầm như có địa chấn. Lũ tù trần truồng thay nhau nhào lặn và vẫy vùng cho thỏa những ngày qua. Hôm nay thì Vĩnh phải vui chung với cái vui của mọi người. Nhưng rồi chỉ một lát, có nhiều người bỏ ngay cái vui tắm rửa khi họ phát hiện ra trên bờ suối có những bụi Càng Cua hấp dẫn. Một số đông tức khắc bỏ con suối và bò lên hái rau. Nơi đây rất gần bìa rừng. Dù thông cảm cách mấy, quản giáo Phú và hai công an vệ binh đi theo vẫn phải cảnh giác tối đa. Thấy có nhiều người leo lên bờ suối bên kia hái rau, quản giáo Phú kêu đội trưởng Lễ ra lệnh cho họ phải quay trở lại. Nhưng lệnh thì lệnh, chỉ một lát sau đó bọn tù ốm đói lại bò lên bờ suối và chạy tứ tán tìm hái rau với hy vọng chiều về sẽ có một bữa rau sống thật đạt chất lượng. 
Vì bệnh phổi, Vĩnh không chịu được cái lạnh buổi chiều ngâm mình lâu dưới suối. Anh lên bờ sớm nhất và mặc quần áo tìm chỗ có nắng ngồi… run. Dãy núi, nơi bắn đá và là nguồn cung cấp đá cho công trường xây cất của trại như nhìn thấy ngay trước mặt. Câu thơ nhen nhúm trong đầu từ trưa lại nổi lên trong trí nhớ Vĩnh. Anh nhẩm lại cho thuộc lòng. 
… Gánh đá đôi vai người 
Ngày đi rồi ngày tới 
Chất mãi cho thêm dầy 
Ngục thất nhốt ta thôi… 
Buổi tắm suối khá đặc biệt chấm dứt khi những đội canh tác đã thấp thoáng tập họp đội hình trên con đường đất ngoằn ngoèo chạy dọc bờ suối. Đội 17 được lệnh lên bờ sửa soạn tập họp điểm danh. Như mọi ngày, đội trưởng Lễ nhanh chóng mặc quần áo trước nhiều người và quay lại kêu gọi anh em. 
Người sau cùng đã đứng vào hàng. Lễ bắt đầu đi dọc đội hình hàng hai và đếm. Quản giáo Phú chậm chạp và lơ đãng thả bước trên con đường đất hướng về phía trại. Hai tên vệ binh cũng lơ đãng đứng ôm súng nhìn trời nhìn đất. Đội trưởng Lễ đếm một lần từ hàng đầu đến hàng cuối. Đếm thêm lần nữa. Anh nhăn mặt, ngó dáo dác rồi lại đếm thêm một lần nữa. Đội phó Thuận nhận ra sớm nhất nét mặt hơi đổi khác của đội trưởng Lễ. Ông lên tiếng hỏi. 
– Gì thế? 
Lễ vẫn yên lặng và bắt đầu đi dọc đội hình đếm lần thứ năm. Sự bình tĩnh của Lễ biến ngay sau khi anh đã kiên nhẫn đếm hết lần thứ năm. Anh thốt kêu lên như một người thình lình bị bắn trúng một phát đạn vào bả vai. 
– Chết mẹ rồi! 
Cả đội bắt đầu tin rằng đã có một kẻ chơi trò Bướm Vượt Ngục. Chẳng hiểu sao Vĩnh ngó ngang dọc tìm ngay Ý và Huy. Anh thở phào, một cái thở phào khó định nghĩa. Mấy người bạn của anh vẫn còn nguyên cả đấy và họ cũng đang ngó dáo dác như anh. 
Đội trưởng Lễ thốt quay xuống bờ suối, hỏi lớn. Còn ai dưới đó không? Lên điểm danh ngay! 
Đến lúc này thì mọi người đều đã tự tìm ra được người vắng mặt là ai. Đó là Dũng, Dũng nhỏ, Dũng hình sự và là bạn của Thương của Tân Dân. 
Đội trưởng Lễ cũng mau chóng tin rằng Dũng đã trốn trại. Anh vừa chạy lui về hướng quản giáo Phú, miệng vừa gọi inh ỏi. 
– Dũng! Dũng! Tập họp! Tập họp! 

Quản giáo Phú và hai tên vệ binh đã nghe biết tự sự. Chúng phóng tới phía đội 17 hỏi nhanh vài tiếng với mọi người rồi phóng chạy hết xuống suối. Được nửa đường, nghĩ sao quản giáo Phú lại chạy lui về phía đội trưởng Lễ, hỏi lớn. 
– Khi nãy có thấy nó tắm không? 
Lễ vội đáp. 
– Báo cáo cán bộ có. Chính tôi thấy anh ấy nhặt rau càng cua nữa. Không biết có chết đuối không!? 
Hai tên công an vệ binh vác súng chạy dọc bờ suối để lùng bắt kẻ mà chúng tin rằng đã trốn trại. Riêng Phú đã lấy lại bình tĩnh. Hắn thở dài. 
– Chết đuối cái gì! Trốn mất rồi chứ chết đuối cái gì! Quản lý nhau mà như thế kỳ này cấm cả đội tắm một tháng cho biết tay! 
Nói rồi Phú rút K.54 bên hông bắn lên trời ba phát. Bắn xong, Phú gọi lớn về phía hai tên vệ binh. Đồng chí Tịnh đồng chí Phẩm ơi! Thôi dẫn đội về. Để các đồng chí an ninh hiện trường làm việc của họ! 
Rồi thì đội 17 được lệnh cất bước trở về trại. Trong hàng, đủ thứ giả thiết được đặt ra để thầm thì với nhau. Vĩnh liếc nhìn Thương. Nó vẫn bơ đi như không có chuyện gì xảy ra. Vĩnh thầm phục thằng nhỏ can đảm. Chả bù cho Vĩnh. Hồi Dương Ý Huy trốn ở An Dưỡng, anh mất bình tĩnh rõ ràng. Vĩnh bỗng thấy ngượng cho sự hèn nhát của chính mình. Rồi Vĩnh lại nghĩ tới Dũng. Nó trốn đi đâu? Bằng cách nào? Sao nó liều thế? Chả ai thấy Dũng sửa soạn một cái gì! Không đem theo thực phẩm, quần áo, thuốc men làm sao băng rừng nổi? Thằng ấy quá tam ba bận, thế nào lần này nó cũng thoát! 
Vĩnh cố gắng không tham dự những lời bàn chung quanh. Anh chỉ cầu sao cho Dũng nó thoát. Nó là một trong những thằng nhỏ dễ thương nhất mà Vĩnh từng gặp trong tù. Lại can đảm nữa. Đảo mắt một vòng về hậu cảnh rừng rú của trại Hàm Tân trước khi đội hình bắt vào con đường mòn để xuyên qua những gian nhà tranh, nơi làm việc của các đội đan tre, Vĩnh vẫn không tránh khỏi cái linh tính kỳ cục, theo đó kỳ này Dũng vẫn chưa thoát được! 
Những tiếng súng vang lên trong bìa rừng. Chẳng riêng Vĩnh mà chắc nhiều người khác đều cảm thấy như cơn đau tim thình lình bộc phát. Buổi chiều đổ xuống thật nhanh. Những tiếng súng vẫn nổ nhưng thưa thớt dần. 
Vĩnh và các bạn về tới cổng trại và lại ngồi nối vào những hàng người đã ngồi từ trước, chờ điểm danh cho nhập trại. Những tiếng thăm hỏi của các đội khác đều hướng cả vào đội 17. Thốt nhiên tim Vĩnh như ngừng đập hẳn khi một người nói với một người khác. 
– Vậy là hôm nay phân trại A và phân trại B đều có thằng tếch. Thằng bên phân trại B bị bắn chết rồi. Không rõ thằng bên này có may mắn hơn không!? 
Một giọng khác. 
– Nghe nói thằng nào cũng thứ dữ cả. Thằng bên kia nghe đâu từng là phóng viên của một tờ báo lớn ở Sài Gòn thủa trước…







Đại học máu

Hà Thúc Sinh

Post by Sơn râu 17 Jan 2024

Bài 65

Phần 64 Cái Tết thứ tư trong tù cộng sản đã qua đi thật nhanh. Những cơn mưa lũ theo đó cũng thưa dần và mất hẳn. Cảnh bì bõm lao động dưới mưa, hoặc trước giờ về được vùng vẫy dưới con suối cuồn cuồn chảy không còn nữa. Sự nhàn hạ của những đội rau xanh mấy tháng qua chỉ cần chăm bón tí đỉnh, không cần nghĩ tới việc gánh nước tưới rau mà rau vẫn xanh tốt, đã chấm dứt hoàn toàn. 
Mùa nắng đến, mà cao điểm vẫn luôn luôn là tháng Tư, bọn tù bắt đầu lè lưỡi cả đám! Nước suối gần như khô cạn, chỉ còn lại những vũng nước tù lớn nhỏ không đều và biến thành vũng bùn tức thì khi có một người nào đó nhảy xuống. Những vũng nước như thế bị lũ tù khai thác triệt để. Tinh sương đội anh nuôi đã phải dậy sớm ra suối quẩy nước về cho công tác nấu ăn. Trong ngày, các đội rau xanh nằm xa hạ lưu con suối (chỗ có nhiều nước) phải ghé quẩy nước lên tưới rau. Chiều về cả ngàn tù nhảy xuống gạn từng lon guigoz lấy cái rửa mặt và rửa chân tay. 
Với điều kiện thiếu nước dùng như thế; trại Hàm Tân liên tiếp tháng vừa qua còn phải nhận thêm gần 500 tù từ các nơi đổ về. Họ gồm nhiều loại và từ nhiều nơi khác nhau. Loại đầu tiên là các phục quốc quân mà một trong những lãnh tụ từng bị sa cơ thất thế ở Rừng Lá trước đây, bị đem về nhốt Chí Hòa và giờ được chuyển tiếp về Hàm Tân là cha Nguyện, một linh mục 31 tuổi. Loại thứ hai gồm thêm một loạt các viên chức hành chánh và các vị chức sắc của giáo hội Hòa Hảo từ miền Tây chuyển lên. Loại thứ ba gồm hình sự và tù vượt biên bị bắt trở lại. Loại thứ tư là thành phần tư sản mại bản. Ông vua kẽm gai tức tỉ phú Hoàng Kim Quy, ông Khai Trí… bị chuyển về Hàm Tân cũng vào đợt này. Ngoài ra, trong số mới lên còn có một số tù trại Suối Máu. Vĩnh đã nhận ra một người bạn là anh thợ rèn Mai Mạnh Liêu. 
Hiện tại, phân trại A Hàm Tân với tổng số tù lên tới 2.000 được chia thành 50 đội. Tất cả những dãy nhà trống trước đây giờ đã chật hết. 
Riêng về công tác lao động hiện nay phân trại A có những công tác chính như sau: 
1. Tiếp tục công trình xây dựng những dãy nhà tù đang dang dở. 
2. Xây thêm hệ thống nhà ăn nhà ở cho cán bộ trại. 
3. Tiếp tục khai quang sâu về hướng Tây Bắc của trại để lấy diện tích trồng lạc (đậu phọng). 
Ba công tác chính này, theo như một buổi lên lớp để quán triệt tầm quan trọng của nó, tên giám thị trưởng trại đã tiết lộ rằng “đây là những công tác được trên quy hoạch và khoán cho trại ta phải thực hiện xong trong vòng 12 tháng. Những báo cáo thành quả sẽ được chính đồng chí Đào Lưỡng kiểm tra từng quý một…”. 
Vì bị trên đốc thúc, bọn giám thị và quản giáo trại Hàm Tân đã tích cực sử dụng một số lượng tù tối đa cho ba công tác xây dựng và sản xuất nói trên. Trại Hàm Tân hiện nay đang biến thành một nông trường và công trường tập thể có lẽ “nhộn nhịp” nhất nước. 
Đội 17 hiện đang nằm trong thành phần các đội làm khổ dịch bên nông trường trồng lạc. Đạo quân khổ dịch này gồm mười hai đội. Chín đội phụ trách việc khai quang lên luống và ba đội còn lại lo việc tách, phơi và gieo lạc. Để cho công bình, mấy công tác này được các đội xoay vòng. Tuần trước đội 17 đã lên luống, tuần này, do vòng xoay, được làm công tác tách, phơi và gieo tương đối nhàn hạ. 

Từ sáng sớm, ngay khi rời cổng trại, các đội tách lạc đã tiến sang những dãy kho hậu cần trại. Họ khênh những bao lạc giống còn cả vỏ ra những vị trí quy định ngồi tách. Để tránh việc ăn vụng làm thất thoát “của cải vật chất xã hội chủ nghĩa”, những đội tách lạc được chia làm thành từng tổ và cứ vài tổ lại có một công an vệ binh đi tới đi lui kiểm soát. Khi số lượng lạc đã đủ chỉ tiêu, tổ tách lạc đem đổ ra sân gạch phía sau bộ chỉ huy phơi. Nắng tháng Tư chỉ cần hai nắng là hột lạc đã quắt queo và đủ điều kiện cho vào kho trở lại, chờ những luống mới được khai quang và được cán bộ kiểm tra chấp nhận đủ điều kiện để gieo trồng. 
Vĩnh thăng trầm chung với các bạn trong những chuỗi ngày trồng lạc này. Càng ngày Vĩnh càng hiểu tại sao hơn hai mươi năm miệng tuyên truyền inh ỏi, tay dí súng vào lưng người, bọn lãnh tụ miền Bắc vẫn không tài nào lôi được một nửa đất nước phía trên ra khỏi cảnh cơ hàn. 

Chỉ nội cái việc tổ bóc lạc nơi mà Vĩnh làm việc sáng nay thôi, cũng đã cho thấy mỗi người có khả năng đẻ ra nhiều cách đánh cắp hoặc ăn vụng lạc giống của “nhà nước cộng sản”!. Điển hình là anh Huy, người bạn già thân mến của Vĩnh. Anh Huy không bao giờ chủ trương đánh cắp để đem lạc về trại. Điều này nguy hiểm vì trước khi về được tới phòng, mọi người phải trải qua ít ra cũng ba lần khám xét. Anh chủ trương ăn tại chỗ, ăn càng nhiều càng tốt vì theo anh “lạc là thực phẩm tốt nhất trần gian vì nó gồm đủ cả ba chất đạm béo và đường!”. 
Có lần Vĩnh khẽ đùa anh. 
– Người ta bảo ăn lạc sống nhiều sẽ bị hôi nách! 
Anh cười bảo nhỏ vào tai Vĩnh. 
– Cả thế giới này cộng sản đã làm hôi nách gần phân nửa. Hôi nách thêm một người nữa không chết ai! 
Nói rồi anh lại tiếp tục bóc lạc với đôi mắt luôn luôn nhìn ngang liếc dọc. Vì cả tổ mười người chẳng ai mà không tìm cách ăn vụng, do đó chẳng ai thèm để ý tới ai. Họ bóc lạc rồi ném hột vào cái rá để kế bên. Anh Huy cũng làm như vậy. Nhưng khi cảm thấy an toàn, anh Huy thò tay xuống rá lạc bốc lên một nắm cho vào mồm.
Đó mới là ăn lạc tại chỗ. Nhiều người khác lại có những cách đem lạc về trại mới tài. Trong lúc bọn công an sơ hở, họ dồn lạc vào một cái bao nylon đem theo. Vào giờ giải lao, họ sẽ đem ra giấu một nơi đã được hẹn hò trước với một người bạn lao động ở một “bộ môn” khác, thí dụ lao động trong đội mộc chẳng hạn. Anh bạn này dĩ nhiên khi về trại sẽ không bị khám xét như những người đang công tác trong những đội trồng lạc. Khi “tan sở”, anh bạn đi qua chỗ hẹn sẽ hiên ngang bê nó về nhà mà không một giám thị nào khám phá ra được. Lối trộm lạc này có lẽ là cách làm tiêu hao lớn nhất đối với kho lạc giống của bọn giám thị trại. 
Từ ngày làm công tác trồng lạc đến nay, không thiếu anh bị bắt quả tang, bị đánh gãy răng, trào máu họng tại chỗ, cũng có anh nằm cachot cả tháng vì tội danh phá hoại sản xuất; nhưng dù thế nào, việc thất thoạt lạc giống vẫn không tài nào tránh khỏi. Số lượng lạc giống mỗi ngày bị tống vào và được tích trữ trong những cái bụng đói meo không phải là nhỏ. Nói tóm, từ khi hạt lạc còn nằm trong vỏ cho đến khi được đem ra gieo, số lượng lạc bị tù ăn sống nuốt tươi có thể lên tới hai phần mười, chưa kể khi tồn kho, một số lượng lớn khác bị ngay các cán bộ hậu cần đánh cắp đem bán ra ngoài cho dân chúng quanh vùng dùng làm hạt giống cho riêng họ. 
Về phía anh em lên luống gieo hạt cũng thế. Họ có trăm phương ngàn kế để nếu không ăn cắp được lạc thì cũng có cách phá hoại; miễn sao vốn của chúng xuất ra phải tốn gấp năm gấp bảy dự tính họ mới hả dạ! 
Hiện nay, những đội gieo hạt đã bắt đầu chịu thua trong việc ăn lạc. Bọn cán bộ trại, để bảo quản hạt giống, đã được trung ương chỉ thị cho ngâm lạc vào dầu hôi trước khi phát ra cho tù khai thác trồng tỉa. Để trả đũa, bọn tù chỉ còn cách phá hoại bằng việc quăng hạt giống xuống suối hoặc “lạm gieo”, có nghĩa là mỗi lỗ đáng ra chỉ bỏ hai tới ba hạt giống, họ bốc cả nắm quăng xuống và lấp đất lại. 
Hành động dại dột này chiều nay đã khiến một đội trồng lạc dính búa nặng nề. Một tên cán bộ có lẽ từ trung ương xuống thanh tra, đã bới và lôi lên một mớ lạc giống từ một lỗ trên luống. Hắn đưa mớ lạc ra trước mặt mấy tên giám thị gộc của trại. Tai họa thế là ầm ầm xảy ra cho cùng một lúc mười hai đội trồng lạc. Tất cả được lệnh tập họp tức khắc. Rồi chuyện gì đến phải đến. Nguyên một tổ dính líu đến mấy cái luống có những lỗ lạm gieo bị kết tội phá hoại sản xuất, bị dẫn giải về thẳng khu cachot. Số còn lại bị lên lớp tại chỗ bài học thế nào là cần kiệm liêm chính và thế nào là mình vì mọi người mọi người vì mình. 
Để kết thúc bài học, tên cán bộ nói. 

– Không phải trên không biết tới những bản năng thấp kém của con người, ấy là làm mà không được hưởng thì không làm, hoặc làm nhưng với tinh thần phá hoại. Tôi nói để các anh nghe, các anh nhìn vấn đề phát triển đất nước như thế là nhìn chưa xa hơn lỗ mũi. Tại sao các anh không nghĩ rằng nếu ta tích cực gieo trồng và thu hoạch tốt vụ lạc năm nay, ta có thể đổi được lạc lấy gạo từ các vùng khác, và bữa ăn của chính các anh sẽ được cải thiện? Các anh mà trồng lạc với tinh thần như vậy sẽ cả đời ăn sắn cùng ngô thôi! 
Bài học cũ rích ấy bị nhai đi nhai lại cả tiếng đồng hồ. Vĩnh lẳng lặng đứng ngó trời ngó đất. Bên kia bờ suối, cách nông trường lạc không quá hai trăm thước là nông trường bắp. Những đội thu hoạch bắp đang được nghỉ giải lao. Họ nằm ngồi ngổn ngang khắp mọi nơi. Đây đó những cái bếp kê bằng dăm ba hòn đá dùng nấu nước cho tù lao động uống, nhả những cụm khói nhạt lên bầu trời hực lửa tháng Tư. Vĩnh không muốn để ý tới trời tới đất, mà chỉ để ý đến đám bạn tù bên đó. Họ thật sung sướng. Giờ nghỉ ngơi, người nào cũng cầm trên tay cả bó thân bắp tươi và rúc đầu vào bếp nướng. Vĩnh từng có lần được đi thu hoạch bắp tươi như vậy. Dẫu rằng không được ăn bắp tươi nhưng những thân cây bắp thì tự do. Sau khi thu hoạch hết bắp và khuân ra nơi quy định cho hậu cần, bọn tù được tự do thu hoạch thân cây bắp. Đem những thân cây này nướng trên ngọn lửa rồi ngồi nhai với nhau thú vị vô cùng. Phải nói nó thơm và ngọt không thua gì món mía hấp của người miền Nam hay bán ngoài phố vào những đêm Sài Gòn lạnh. Giờ đây những người bạn bên đó đang được hưởng cái thú nhai thân cây bắp nướng, trong lúc Vĩnh và các bạn bên này bờ suối đang bành lỗ tai nghe chửi. Ngay lúc ấy một ý nghĩ khôi hài không rõ rệt nẩy ra trong đầu Vĩnh và nếu không cầm giữ kịp thời, chắc Vĩnh đã phát cười to tiếng… 
Bài học đạo đức cách mạng chấm dứt cùng với những tiếng kẻng tập trung điểm danh vang lên từ các gian nhà lô. Một số đội đã bị cấm tắm. Và suối cũng làm gì có nước mà tắm! Riêng đội 17 được quản giáo Phú lầm lỳ dẫn theo con đường nhỏ chạy bên hông trại mộc lên thượng nguồn con suối. Anh em thấy vậy ai cũng mừng. Giờ này, quả chỉ đi lên thượng nguồn hoặc mò xuống hạ nguồn may ra mới có tí nước trong để mà tắm. Nhưng ít khi nào quản giáo Phú dẫn lên tới đó trừ những ngày hắn thấy vui vui chuyện gì trong lòng. Vừa bị tổ trác cả đám, chả nhẽ quản giáo Phú lại thấy vui? Nhưng rõ ràng hắn đang dẫn đội 17 lên thượng nguồn con suối… 
Trên con đường từ suối trở về địa điểm tập trung điểm danh trước khi nhập trại, Vĩnh may mắn hết sức gặp lại được người bạn cũ từ Suối Máu lên. Mấy ngày nay Vĩnh biết anh ta đã được chuyển lên đây nhưng chưa làm sao có dịp trò chuyện. Người bạn này là Mai Mạnh Liêu. Hiện Liêu đang nằm trong đội 48, đội có nhiều anh em cũng mới được chuyển từ miền Tây lên. 
Gặp nhau cả hai đều mừng hú. Trong đời tù Hàm Tân, chỉ có một thời gian và địa điểm chỗ điểm danh nhập trại sau một ngày lao động là giúp bọn tù được liên hệ với nhau dễ nhất. Dẫu rằng bọn Trật Tự thường chạy tới chạy lui kiểm soát, nhưng cũng khó mà bắt được. Lúc đội 48 và đội 17 cùng đến địa điểm tập họp và anh em đã kiếm chỗ ngồi nghỉ chân, Vĩnh nháy Liêu lết sang ngồi cạnh nhau gần những đống gạch to tướng, xếp phía trước dãy nhà ngủ của mấy ả công an. 
Liêu gặp Vĩnh cũng mừng lắm. Vẫn vóc dáng to lớn trẻ trung, vẫn mái tóc bạc hơi sớm, hắn đập vai Vĩnh cười cười. 

– Mừng quá! Thế là mày chưa chết! 
Vĩnh nhìn quanh một vòng, hỏi vào vấn đề ngay. 
– Từ Suối Máu lên hả? Đông không? 
– Có khoảng ba mươi thằng đợt này thôi. 
– Anh em dưới đó ra sao? 
Liêu nhăn mặt, khoa tay. 
– Chuyện dài chuyện dài. Sẽ nói hết cho mày nghe sau. 
Nói đoạn Liêu nhìn quanh. Quang cảnh nơi đây có lẽ còn lạ mặt lắm với hắn. Vĩnh lại hỏi. 
– Chắc lạ lắm hả? Đến đây là nếm mùi công an nhân dân rồi… 
Liêu không nhìn Vĩnh mà nhìn vào dãy nhà tranh gần ngay đống gạch, nơi có vài đồng chí gái công an đi ra đi vào. Vĩnh giải thích. Mấy con đượi ấy là nữ công an cán bộ cả đấy. Lạ lắm hả? 
Liêu lắc đầu. 
– Lạ gì! Mày tưởng Suối Máu còn quân quản à? Cũng đổi sang chế độ công an từ tháng Mười năm rồi. 
Một lô những đội hình khác lại nối đuôi nhau từ phía suối tiến về địa điểm tập họp. Hầu hết những người ấy Vĩnh đều đã nhẵn mặt vì ngày nào cũng thấy nhau nơi địa điểm này. Kìa cái đội 18 toàn những tay già, thế nào cũng tiến đến chiếm chỗ ngồi cạnh hàng rào để có nơi tựa lưng. Vĩnh nhận ra một lô khuôn mặt cả cũ lẫn mới. Từ ông Lê Sáng Vovinam, ông nhà báo già Lam Giang, ông bác sỹ “cầu Thị Nghè”… đến những người mới tới nhưng thiên hạ biết đến ngay vì tiếng tăm ngày cũ của họ, chẳng hạn ông Khai Trí, nhất là ông cựu tỉ phú Hoàng Kim Quy. Ông Khai Trí tóc và bộ râu quai nón của ông đã bạc phơ. Ông Hoàng Kim Quy đi lao động luôn luôn đem theo cái bình nhựa loại bốn lít đựng nước uống. Trên cái bình không hiểu ông kiếm đâu ra tí sơn, đã kẻ nguyệch ngoạc một hàng chữ: Hoàng Kim Quy, 78 tuổi… 
Sau đội 18 là đội 23 lâm sản. Cái đội này luôn luôn dẫn đầu bằng một anh chàng có chiều cao vượt hẳn mọi người một cái đầu. Và trên đường về, mỗi người luôn luôn có vài cái măng đeo ngang hông hoặc vắt ngang vai. Thường thường đi sau là đội canh tác có ông nhạc sỹ Nhật Bằng làm đội trưởng. Đội nay gánh gồng nhiều nhất. Thường họ gánh thẳng về trại những cái thùng chứa phân để lấy phân cho ngày kế tiếp. Chẳng ai nói ra nhưng Vĩnh và các bạn thừa biết trong những cái thùng đựng phân ấy thế nào cũng có kẻ giấu một quả bầu, một quả bí hoặc vài quả đậu bắp… Điều này hơi dơ bẩn một tí nhưng nó là một cách duy nhất để thoát qua được sự kiểm soát của Ban Trật Tự hoặc giám thị trực… 
Liêu ngồi nhìn quang cảnh này mà không nói một câu gì. 
Vĩnh đành hỏi. 
– Lạ lắm hả? 
– Lạ gì! Đâu thì cũng thế. Có điều ở đây tao thấy nhiều nhân vật nổi tiếng quá. 
– Mày thương họ? 
Liêu cười. 

– Thương mẹ gì! Có điều tao thấy ở đây có nhiều điều kiện để giúp người ta dễ trở thành một triết nhân. Như hiện tại tao đang nằm giữa hai người, người bên phải tao là triệu phú kiêm chủ phòng trà Đêm Màu Hồng, kiêm dân biểu Trần Quý Phong; người bên trái tao là một thằng hình sự loại đâm cha chém chú. Thế nhưng tao chỉ có thể xin được mấy hạt muối từ thằng hình sự! 
Vĩnh thấy giờ điểm danh nhập trại đã bắt đầu cho những đội hình đứng phía bên trên, anh vội vàng đứng lên và cắt lời bạn. 
– Mày đã được viết thư về gia đình chưa? 
– Rồi. Có thể cuối tháng này tao được thăm. 
– Tao muốn hỏi mày nhiều chuyện về bạn bè ở Suối Máu lắm… Mày hiện làm công tác gì? 
– Công tác gì là sao? 
– Thì lao động ấy mà. 
– À! Tao đang đập đá. Đội tao đập đá cung cấp cho công trường xây nhà tù. 
Ngẫm nghĩ tí chút rồi Liêu đứng lên. Trước khi chạy nhanh về đội hình của hắn, hắn nói nhỏ. 
– Mày có biết vụ Suối Máu nổi loạn không? Bạn bè mình bị bắt tùm lum hết. Giờ sống chết chưa biết ra sao. Để có dịp tao kể cho mày nghe. 
Nói rồi Liêu đứng lên chạy về phía đội 48 của hắn. Vĩnh cũng đứng lên trở về với đội 17. Cái tin vừa rồi của Liêu làm Vĩnh ngầy ngật cả người. Thốt nhiên anh nhớ tới một góc nhà thuộc dãy cách ly trên bệnh xá Suối Máu, nhớ tới khuôn mặt của một người bị rỗ hoa, khuôn mặt của Phạm Ngọc Đông, một người bạn Hải quân từng hỏi Vĩnh nơi bệnh xá rằng ở đây ông có quen thân với ai không? Bên K.30 như thế nào? Làm loạn nổi không?… 
Những đội đầu tiên đã hàng hai bước vào cổng trại. Vĩnh từ từ tiến theo mọi người. Anh nghe thấy đủ thứ chuyện bàn tán. Thật lạ, chiều nào cũng thế, cứ đang ngồi với nhau chờ điểm danh nhập trại thì mọi người hầu như đều thừ ra như những xác chết, hoặc có chuyện trò cũng chỉ có tính chất riêng lẻ và lặng lẽ giữa hai ba người với nhau; nhưng cứ hễ bắt đầu điểm danh cho nhập trại, thì y như rằng cả ngàn cái miệng bắt đầu nhao nhao lên bàn đủ thứ chuyện với nhau. Họ làm như đây là những giây phút cuối còn nói được, vì khi bước qua cánh cổng kia không khác nào như người Do Thái bị đẩy vào phòng hơi ngạt; nơi đấy chỉ còn một tí thần trí quằn quại để đón lấy cái chết thầm câm, ngoài ra chẳng còn hơi sức đâu thị phi chuyện trần gian nữa! Trong những câu chuyện ấy, có những chuyện nói về tai họa của các đội trồng lạc trưa nay, có những chuyện về con suối cạn khô, có những lời than thở của kẻ đau răng không cách nào chữa trị, có những câu nguyền rủa bọn y tế làm khó làm dễ nhau… 
Rồi thì đội 17 cũng lần lượt hai người một tiến vào cổng trại. Như các đội trồng lạc khác, đội 17 tiến hẳn sang cánh trái của sân trại và dừng lại so hàng chờ Trật Tự đến khám. Tất cả các lon gô đem theo uống nước đều bị mở nắp để sẵn dưới chân, áo mưa cũng bỏ nằm dưới đất. Vĩnh làm theo anh em như cái máy. Anh nhìn ra giữa sân, nơi ấy, ông trưởng ban trật tự Nguyễn Quốc Hùng đang đứng bất động như một bức tượng. Hai tay ông để ra sau đít và quan sát từng người tiến vào cổng trại. Thỉnh thoảng ông chỉ một anh tù, nạt. 
– Gài cúc áo lại! 
Hoặc. 
– Tại sao lúc bước qua cổng không bỏ nón chào cán bộ? 
Đội 17 đã được khám xét xong. Dĩ nhiên chẳng có ai bị phiền hà gì. Lạc giống có lấy thì cũng đã được cất yên trong bao tử, có đâu để cho Trật Tự khám xét lấy lại được! 
Trên đường về phòng, Nguyễn Tú Cường reo khẽ bên tai Vĩnh và anh Huy như báo một tin chiến thắng. 
– Tụi nó thua tôi rồi. Chúng ta sẽ có ít nhất một ký lạc sống để đâm với muối ăn khoai. 
Nói đoạn Cường phóng chạy nhanh về phía nhà 2. Có lẽ hắn đã móc ngoặc được một tay nào đó làm bên đội mộc, và áp dụng chiến thuật “đem con bỏ chợ”, tức ăn cắp lạc giống bỏ vào nơi bí mật có hẹn hò trước. Người đội khác đi qua sẽ lấy đem về.