This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ôi nhớ xưa, thời đi học, bữa nào hổng có ai đưa đò là tui trốn học để lạng quạng đường quê; để: “Ngô mướt dài bãi quê. Gió chiều chiều dịu mát. Đàn trâu chậm ngoài đê. Vẫn đi về lối cũ!”
Sau nầy, lớn lên vào Đại học, có lần cắc cớ, tui hỏi Thầy tui rằng: “Thưa Thầy! Hồi xưa Thầy có từng trốn học hay không?” Thầy thành thật: “Có chớ! Nhưng hổng có nhiều! Tui có thằng bạn thân trốn học, rủ trốn theo, hai đứa cho vui; nhưng sợ Má tui buồn, nên tui hổng chịu! Giờ thấy tiếc thời thơ dại!”
“Tiếc gì ạ?” “Tiếc nhiều lắm: Tiếc không biết bắn chim bằng giàn ná! Tiếc không biết ôm bập dừa tập lội. Còn bạn tui cái gì cũng biết hết! Thiệt là đáng khâm phục!”
“Vậy giờ bạn của Thầy làm nghề gì ạ?” “Ờ! Nó chăn trâu!”
***
Rồi qua đây thấy mấy thằng bạn Úc cũng có cái tư tưởng lớn giống như Thầy tui vậy! “Cần cái gì học cái nấy! Không cần không học! Đời ngắn lắm mà!”
Có để ý chữ ‘studying’ (học vấn) là do hai chữ ‘study’ (học) và ‘dying’ (chết) ghép lại hay không? Bỏ thời giờ đi học cái mình không cần thì mình đã giết chết một phần của đời mình đó! Uổng lắm!
Mới đây thôi, em Rosabella Dahu, 7 tuổi, đang theo học tại Sheldon Elementary School ở Houston, đã rời trường về nhà sau khi tự thay quyền cha mẹ mình mà viết giấy xin nhà trường cho mình về sớm. Cô bé học trò mới lớp 2 này vì không ăn ‘pizza’ buổi trưa nên bị đói bụng. Khi chuông tan trường vừa reo, Rosabella bỏ ngang giờ học thêm đúng ra phải tới 6 giờ chiều lận. Làm sao về sớm bây giờ? Rosabella bèn viết một tấm giấy, giả danh cha mẹ mình: “Hôm nay tôi muốn bé Rosabella về nhà theo chuyến xe buýt số 131.” (Chuyến xe buýt đưa các học sinh không phải ở lại để học thêm như Rosabella mỗi ngày).
Lúc đầu quý thầy, cô cũng nghi! Vì bức thư xin phép nầy sai chính tả tùm lum, tà la. Nhưng rốt cuộc, quý thầy coi đây là thư do cha mẹ em viết (vì mới lớp 2 làm sao nó nghĩ ra được cái diệu kế nầy chớ?) nên cho em về. Nhưng Tía em, Charlie Dahu, thì trách là Thầy cô không chịu xem xét chữ viết trên tờ giấy đó mà cứ cho phép con mình về sớm.
Bị Tía em cật vấn, thì thầy cô biện minh là: “Thời buổi này, phụ huynh học sinh viết một lá thư trật bấy bá như vầy cũng không phải là ít! Thôi cho tụi tui chịu lỗi đi nhe!” Nhưng ông Charlie Dahu hổng hài lòng, lặng lẽ cho con mình chuyển trường đi nơi khác.
***
Bà con mình xưa ai đi học đều biết từ trốn học và cúp cua (coupe cours)! Trốn học khác cúp cua nha. Trốn học là trốn nguyên buổi học. Cúp cua là trốn một hay hai giờ thôi.
Một nữ độc giả của tui hồi xưa từng làm cô giáo kể rằng: “Con gái tới tuổi dậy thì là ngứa ngáy toàn thân, bắt ngồi hoài trong lớp thì làm sao chịu cho nổi. Thế nên có em mới học lớp Đệ Tứ thôi (tức lớp Chín bây giờ) ôm bụng mếu máo xin cô giáo cho về! Thông cảm phận nữ nhi với nhau, cô giáo gật đầu. Ai dè hết giờ dạy, tui về thì thấy em ngồi sau ‘bọt ba ga’ ôm eo ếch thằng bạn trai cùng lớp, miệng cười toe toét. Vui hết biết!
Thế nên lần sau em cũng ôm bụng mếu máo xin về, tui gọi xe cứu thương chở em thẳng vô phòng cấp cứu luôn. Bởi dù nghi em làm người ‘nhái’, lặn để đi chơi với bồ nhưng lỡ lần nầy em đau thiệt thì sao? Ai dè từ đó em không còn đau bụng bất tử nữa!”
***
Trong tự điển của đời tui không có chữ phấn đấu. Nhưng thằng bạn học của tui thì có. Hồi Tiểu học hai đứa thường trốn học, đi bắn cu li hay đuổi bướm cạnh bờ ao. Sau nó thức tỉnh, hổng lẽ đời ta mãi thế nầy nên quyết chí tu tỉnh bằng cách xin đi học thêm. Tía Má nó nói con học giỏi vậy thì học thêm chi cho tốn tiền hè?
Nó bèn mượn cái ‘bảng điểm kinh hoàng của tui’ về để chứng minh cho ba má nó thấy tại sao nó phải đi học thêm?. Nhờ vậy, sau nầy nó làm Tiến sĩ Hàng không, chuyên vẽ đường bay cho phi thuyền Appolo bay vào cõi hư vô!
***
Bịnh là phải chữa. Cúp cua, trốn học là bịnh của thời học sinh. Chắc chắn rồi! Nhưng tại sao? Dà! Có nhiều nguyên nhân lắm! Có đứa sợ bị cô kêu lên trả bài mà không thuộc thì mất mặt bầu cua cá cọp với đám con gái học chung một lớp.
Cúp cua rồi đi về nhà? Dễ gì. Về sớm là ăn chổi chà nên mấy em cà rà đi coi thiên hạ đá gà. Cho tới khi thi đâu rớt đó, Tía Má biết được sự thực phũ phàng… là đã quá muộn màng!
***
Tía tui đã từng năn nỉ tui rằng: “Rừng Nhu, Biển Thánh không ham! Nhỏ mà không học lớn làm cu li!” Dẫu vậy không phải đứa học trò nào từng cúp cua, trốn học hay ngay cả bỏ học cũng đều làm cu li hết ráo như tui đâu, thưa bà con.
Như ông Thomas Alva Edison chẳng hạn. Hồi nhỏ, Edison ốm yếu, gầy gò, đầu óc lơ tơ mơ nhưng hay tò mò, hỏi nhiều câu hóc búa, trật bản họng, làm thầy giáo bí rị, hổng biết đường đâu mà trả lời. Thầy quạu, xếp Edison hạng bét lớp, tức đội sổ, còn ghi vào học bạ: “Trò này dốt, lười, hư và hơi tửng tửng! Tốt nhất nên cho trò ấy đi chăn bò! Vì trò ấy có học nữa thì sau này cũng không làm nên trò trống gì… ”
Từ đó, Edison không đến trường nữa mà ở nhà tự học với mẹ. Và có thể vì lời phê phũ phàng đó làm Edison tự ái, nên dù hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, vừa đi bán báo kiếm tiền giúp Mẹ, vừa mày mò nghiên cứu những chuyện khác thiên hạ, Edison đã trở thành thiên tài.
Edison đã phát minh ra bóng đèn điện để thắp sáng toàn thế giới. Rồi nào là máy hát, máy ghi âm, máy quay phim, hệ thống điện báo, ngay cả tàu điện…Bổ đồng cứ 11 ngày là ông có một phát minh. Tổng cộng 1907 cái được cấp bằng sáng chế! Edison là người đứng đầu trong danh sách 12 vĩ nhân của nước Mỹ thế kỷ 20. Xưa đội sổ nay sổ đội ông lên! Ngoài Edison ra còn nhiều người khác cũng bỏ học giữa chừng như vậy vì cái đầu quá lớn như tỉ phú Bill Gates của Microsoft; tỉ phú Mark Zuckerberg của Facebook.
Thế nên bà con mình không thể kết luận võ đoán là mấy ông nầy cúp cua, trốn học rồi bỏ học nghĩa là họ bước chân ra khỏi cổng trường vôi trắng là lắng nhắng chơi không đâu. Chẳng qua cách học của họ khác hơn cách của thiên hạ. Học cái họ say mê; học ngay cả ở trường đời.
***
Người viết làm Tía của hai thằng cu. Con mình chắc hổng phải là thiên tài rồi nên lúc nào tui cũng phải chạy theo năn nỉ tụi nó: “Học đi con! Học đi! Để nữa vợ con hổng dám khi dể con như Má con đối với Tía.
Tía chỉ cần hai đứa học hết cái lớp 12 cũng đặng. Vậy là giỏi hơn Tía cả một trời một vực rồi; vì như tụi con đã biết: xưa Tía chỉ học hết cái lớp Đệ Tứ, tức lớp Chín ngày nay, rồi bỏ ngang việc học vì mắc bận yêu đương nhăng nhít với Má con. Tía ân hận lắm!
Nên bằng bất cứ giá nào, hai đứa bây không bao giờ cúp cua, không bao giờ trốn học, không bao giờ bỏ học ngang xương như Tía khi xưa. Rán hết sức bình sinh để rinh được cái Tú tài 2. Rồi mang cái bằng cấp đó về cho Tía treo trên giàn bếp cho Má tụi con biết rằng dòng dõi gia đình mình, (theo cái ‘gene’ di truyền của Tía cho hai đứa)… toàn là dân khoa bảng ?! Kẻo Má tụi bây lại phán rằng: “Làm biếng học, chuyên cúp cua, di truyền từ Tía tới con!”
Khác với các địa danh như Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu nguyên là từ tiếng Khmer, Rạch Giá là do ông bà mình đặt tên. Rạch là con sông nhỏ. Giá là cây giá.
Con sông nhỏ gần ra biển, hai bờ có cây giá ken dầy. Rải rác vài cây giá khá to, lá xanh, khi về già chuyển sang màu đỏ chớ không đổi ra lá vàng. Rễ cây giá không to, chằng chịt quấn vào nhau theo vòng tròn, sóng đánh mạnh, gió thổi ù ù thì thân cây cứ lúc lắc qua phải, qua trái. Rễ không ăn chặt vào đất bùn như cây mắm, cây tràm, cây đước. Vùng đất đó gọi là Rạch Giá đấy thôi.
Còn xa biển phía trong nầy là truông, đầy lau sậy. Chính vì thế mà “Anh đi Rạch Giá qua truông. Gió rung ngọn sậy ngồi buồn nhớ em!”
Thời trước, đất đai hoang vu, heo rừng khoái lau sậy non lắm. Heo rừng sống lâu năm, có hai cái răng nanh dài và nhọn hoắt, có thể chống lại cọp dữ.
Từ Rạch Sỏi vào Rạch Giá mình gặp con rạch nhỏ, hai bên tràn lan dừa nước (cây của vùng nước lợ) bà con mình gọi là rạch Vàm Trư. (Trư là con heo đó ạ; nhưng là heo rừng).
Tây tới cất cây cầu quay, cầu Vàm Trư. Ðể thuyền bè qua lại là nó thụt vô chớ không chổng đầu lên như cầu quay ở gần nhà lồng chợ Rạch Giá.
Cầu quay gần nhà lồng chợ Rạch Giá bắc ngang sông Kiên, nối liền khu thị tứ với khu hành chánh. Sông Kiên là sông Cái Lớn bắt nguồn rạch Cái Lớn, quận Long Mỹ, tỉnh Chương Thiện, U Minh Thượng. Rạch Cái Lớn rộng dần thành sông khi vào xã Vĩnh Thắng, quận Gò Quao tỉnh Kiên Giang. Từ đây sông chảy theo hướng Tây-Bắc đổ ra biển tại tỉnh lỵ Rạch Giá. Sau này, đường bộ phát triển lấn át đường sông, cầu không còn quay nữa, thay bằng cầu bê tông cố định. Vì hai bên cầu, phía nhà lồng chợ Rạch Giá, năm 1919, Tây cất hai cái chợ cá, chợ cá đồng và chợ cá biển nên bà con mình gọi là cầu Chợ Cá.
***
Ca dao về Rạch Giá có câu: “Chợ Sài Gòn cẩn đá. Chợ Rạch Giá cẩn ‘xi mon’ .Giã em ở lại vuông tròn. Anh về xứ sở, không còn ra vô”. ‘Xi mon’ phát âm theo phương ngữ miền Trung chính là ‘xi măng’ theo phương ngữ miền Nam. Anh vốn ở miền Trung, lang bạt vào vùng Rạch Giá, rồi trở lại quê nhà, bỏ lại em yêu, lòng đau như cắt. Vĩnh biệt tình ta, lời trăn trối!
Ngoài ra Rạch Giá còn có người Khmer, người Hải Nam (bán cơm gà, cơm thố, ngon lắm. Hồi nhỏ, tui được ba má dẫn cho đi ăn chỉ một lần mà nhớ tới bây giờ. Nhớ cái bùi bùi của cơm do hạt gạo hấp trong thố, nhớ cái màu vàng ươm của miếng thịt gà bày ngay ngắn trên cái dĩa trẹt.) Rồi người Triều Châu, chuyên cần làm rẫy hoặc cuốc khoai trên những giồng đất gần biển.
Cầu quay gần nhà lồng chợ Rạch Giá ngày xưa.
Nhiều sắc dân chung đụng như vậy nên con gái Rạch Giá đẹp một cách ‘não nùng’.“Tháng hai tháng ba anh đi chở cá. Không khá anh qua Rạch Giá chở khoai lang. Tìm người bạn ngọc thở than đôi lời. Biết làm sao lên đặng ông trời. Hỏi thăm duyên nợ đổi dời về đâu?
Từ nhà lồng chợ Rạch Giá đi qua cầu Chợ Cá, băng ngang công trường Thủ tướng Thinh (1888-1946), là tới ngay trước cổng Ty Bưu Ðiện. Phía sau lưng Ty Bưu Ðiện, cách một con đường, là Ty Công An. Con đường nầy dẫn ra biển, chạy ngang Dinh Tỉnh trưởng có trồng mấy hàng sao. Chiều chiều những con cồng cộc, một loài chim bói cá, bay về rợp, đậu đen đầu trên những nhánh cây sao.
Con đường phía bên phải Ty Bưu Ðiện chạy thẳng luôn sẽ tới bến xe đi Hà Tiên, chỉ lèo tèo vài chiếc xe đò nhỏ hiệu Renault, chạy từ Rạch Giá tới thẳng Hà Tiên.
Danh sĩ đất Rạch Giá Huỳnh Mẫn Ðạt đã từng làm câu đối: “Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa! Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần!” Nhựt Tảo và Kiên Giang là địa danh ghi lại hai chiến công ‘kinh thiên động địa’, lừng lẫy của ông Nguyễn Trung Trực.
Ngày 10 tháng Chạp 1861, ông Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân đốt cháy tàu L’Espérance (Hy Vọng), án ngữ nơi Vàm Nhựt Tảo (nay thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An).
Vào 4 giờ sáng ngày 16 tháng Sáu năm 1868, ông Nguyễn Trung Trực và nghĩa quân từ Tà Niên (nay là xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang) được nội ứng giúp sức, đã đánh úp và chiếm được đồn Kiên Giang do Trung úy Sauterne chỉ huy. Có hai tên Pháp may mắn chạy thoát được ra ngoài, len lỏi trốn tới một xóm nhà thưa thớt, gặp cái tiệm bán hàng xén của người Tàu lai Khmer! (Mới hừng sáng, sao có hai thằng Tây hớt hải chạy đến, xin trốn vào nhà bếp. Ðành phải cho nó trốn!)
Khi quân Pháp từ Sa Ðéc kéo xuống tái chiếm tỉnh lỵ, ông chủ tiệm tạp hóa đưa hai tên lính Pháp may mắn sống sót trở về; được Tây thưởng công, phong cho chức Cai tổng.
(Có chức có quyền, ông Cai tổng nầy xin Pháp cho mình trưng khẩn những phần đất tốt trong tỉnh, rồi cho tá điền mướn lại để thâu lúa ruộng, trở nên giàu có. Con cái qua Pháp du học; rồi đi luôn không về xứ nữa.)
Nghĩa quân làm chủ Rạch Giá được 3 ngày, quân Pháp phản công ác liệt, ông Nguyễn cùng nghĩa quân rút ra Phú quốc.
Ngày 19 tháng Chín 1868, tên quan tư của Pháp chỉ huy 125 lính mã tà tấn công Hàm Ninh, Dương Ðông. Cuộc chiến diễn ra rất ác liệt, ông Nguyễn bị thương, sa vào tay giặc. Thực dân Pháp dụ hàng nhưng ông Nguyễn khẳng khái từ chối: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”.
Chưa đầy một tháng sau, ngày 27 tháng Mười 1868, giặc Pháp đem ông Nguyễn và một số nghĩa quân ra pháp trường, là một miếng đất trống, có cây da ở giữa, (tức công trường trước cổng Ty Bưu Ðiện sau nầy) xử chém.
“Sanh vi tướng, tử vi thần!” Ông Nguyễn linh thiêng lắm. Người dân kính phục người đã bỏ mình vì nước, lập đền thờ ông Nguyễn Trung Trực và bộ tướng là Phó cơ Nguyễn Hiền Ðiều (Rạch Giá có đường Phó Cơ Ðiều, học Sử tui không nghe nói đến, giờ mới biết), phó Lãnh binh Lâm Quang Ky, và các nghĩa quân đã bỏ mình vì nước.
Hồi đó, chiều Thứ Bảy Tây hay có một đội kèn đồng thổi kèn ‘tò le’ đi vòng vòng thị tứ. Có người cho rằng Tây cho thổi kèn để xua đuổi những oan hồn uổng tử, bởi lúc đánh chiếm lại đồn Rạch Giá nghĩa quân của mình chết khá nhiều nhưng không ai chôn cất vì thời xưa đất gần đồn là rừng rậm, dân cư gần như không có.
Tui không nghĩ như vậy, vì những người quyết tử cho tổ quốc mến yêu thì đâu có phải là oan hồn uổng tử (?!). Những vị anh hùng vị quốc vong thân nầy tự quyết định đi vào chỗ chết để dân mình không phải sống đời nô lệ cho Tây.
Mãi sau nầy, năm 1960, cứ mỗi chiều Thứ Bảy, tui vẫn còn thấy một tiểu đội kèn đồng của tiểu khu sắp hàng, vừa đi vừa thổi kèn, đánh trống. Ðầu hàng là một ông trưởng ban quân nhạc, đánh nhịp bằng cái thanh bằng đồng sáng choang, đầu nhọn có kết tua. Hàng kế là mấy ông thổi kèn ống. Rồi mấy ông đeo cái trống trước bụng, vỗ thùng thùng. Hàng cuối có ông mang cái kèn mà miệng nó to tổ nái. Tui nghĩ, nếu lỡ trời mưa ông chỉ cần quay ngược cái kèn, chụp lên đầu là không bị ướt.
Ðó là nét đẹp về văn hóa, Tây mang từ ‘mẫu quốc’ qua đây, sau nầy những năm đầu 60s ông bà mình thấy cũng hay hay nên vẫn còn giữ đó thôi!
Sau 75, chắc bà con mình vì thời cuộc phải sống tha hương. Tui đoán, chắc hổng trật, Sài Gòn là nhiều nhất, vì dân đông. Nhưng tính theo tỉ lệ trên số dân tui e rằng dân Rạch Giá (sát biển) sẽ đứng đầu bảng.
Ðêm quê người, tui chợ nhớ rạch Vàm Trư. Nhớ gần biển, nước chảy thao thao, lục bình trôi từng giề, riu ríu, đơm bông màu tím dợt, đẹp; nhưng mềm yếu, cắt đem chưng vào bình chừng mươi phút đà héo rũ.
“Lênh đênh bèo nước biết về đâu?” Ðời tui vậy đó bà con ơi! Chỉ hai năm ở Rạch Giá rồi theo Ba tui đổi đi nơi khác, nhưng tình hoài hương, hình bóng cũ, con đường xưa – hơn 60 năm rồi mà cứ tưởng như mới hôm qua.
Mụ Mậu chuyển bụng sớm trước mười ngày tính theo lịch ghi ngày cúng ông Táo về trời. Chồng mụ không biết chuyện đó, Trung sĩ đóng đồn ở Đá Bạc gửi lá thư tay nhờ thằng Đực lơ xe đò mang về, chữ viết tháo: “Tết nhất hẵng hay, phép cho đúng tuần mình kỳ kèo tới mươi ngày nửa tháng, Đại Bàng nói vợ mi bụng mang dạ chửa là trường hợp đặc biệt tao sẽ du di cho, khi nớ tha hồ chuyện trò dông dài và sẵn dịp dắt bà đi đẻ luôn. Mẹ, gần hai năm mới có cái phép dài ngày. Súng là vợ đạn là con kiểu ni thiệt quá khổ!”. Ổng nói sao thì nghe vậy, như đã từng nói: Em ơi tiền lính là tính liền. Nghèo chết cha mệ nội luôn. Chừ đẻ con, lòi ra thêm miệng ăn, dễ tắt quạt quá. Nhưng o Dậu mồm năm miệng mười: Khéo lo, trời sinh voi sinh cỏ. Như tui ưa có mụn con mô có dễ chị ơi, rứa mới là đời chớ, quan hoài chi cho thêm cực thân!
Vô nhà thương nhỏ nhăn nhó nửa ngày mới rặn được cục nợ. Cô y tá la to: Là con gái, nặng 3 kí 2. Lạ, một cục thịt đỏ hỏn, nhầy nhụa, trơn tuột rơi khỏi cửa mình, bản mặt đứa nào cũng giống nhau, nhăn như khỉ ăn ớt và khóc còn hơn cha chết mẹ chết. Vậy mà o Dậu phán: Răng mà hắn giống chị như hai giọt nước. Rứa là anh Cử yên lòng, chớ đẻ con trai lớn lên có mà vô lính, rập khuôn cha nào con nấy! Ngủ bụi ngủ bờ ngủ lăn ngủ lóc chưa kể không biết sống chết khi mô.
Trong khi đợi ông Trung sĩ có thẩm quyền về đặt tên, cả hai người đàn bà Dậu và Mậu đều đồng tình gọi đứa sơ sinh là Chó. Tên ở nhà thôi mà, kêu rứa mới dễ nuôi cho chi ăn nấy. Mà sau này có yêu thương rất mực thì dễ chuyển đổi Chó sang Tó, bốn phần nũng nịu sáu phần âu yếm. Ui, Tó con của mạ, lớn mau mà phụ đỡ cho mạ nhờ. Đẻ đứa con, nuôi cho nên người, cực như kiểu ăn cả trăm cục cứt. Tó của mạ có nghe không?
Làng nước thấy chẳng có chi hệ trọng vô danh xưng bà con tự quyền chọn lựa. Làng nước nghĩ, chữ tó hay à nghe, bắt ai thì sửa thành “tó nó ngay”. Ai sao ta vậy, kiêng cử vẫn hơn. Như con người ta dễ thương là thế mà mở miệng là hô: Ngó cái mặt dễ ghét chưa tề, ưa thơm quá! Thương với ghét cách xa cả ngàn cây số mà đành nói trại ra, nghe gần, nghe quen tai. Cô y tá là người ở phố, cách ly và không quen lề thói dân quê, nhăn mũi: Tui không có ý kiến nhưng gọi tên Bướm nghe nó êm dịu lãng mạn hơn hẳn. Bởi vì khi ta giận nhau liền hét vào mặt nhau: Đồ con chó! Hoặc: Cái thứ như mi có chó mới ưa! Nói thiệt nghe, thuở mô chừ, cái chi xấu xa cứ đổ vấy lên mình con chó cả, em bé ni đã mang tội tình chi, hở bướm yêu?
Mụ Mậu làm thinh nhưng cô em là Dậu lại khác. Trưng Trắc ngồi đăm chiêu trên lưng voi nhưng Trưng Nhị cầm gươm nhảy xuống đất: Ở làng tui bà địa chủ có ruộng cò bay thẳng cánh tên là mụ Chó, có sao đâu. Ngồi mát ăn bát vàng, mặt hoa da phấn, nữ trang ngọc ngà châu báu đeo cho gãy cổ và, và làng bên có tới ba ông lắm tiền của cứ thầm thà thậm thụt như mèo rình cục mỡ, phải lòng người ta mà y như mèo dấu cứt! Giống như người vậy, chó cũng có năm bảy loại chó. Và người, có hạng thua xa cả chó, cô tin không? Cô y tá ngậm miệng như kiểu vừa nhổ răng sâu, sưng cả má, dùng mắt gửi cái háy nguýt rồi quay lưng đi một lèo lên văn phòng chẳng ư hử. Mới thấy Mậu khù khờ mà Dậu sách hoạch, đối mặt Dậu khó bề luận chuyện phải trái, ngô ra ngô mà trần ai khoai củ thì nhất định phải là củ khoai ai trần. Nói vắn tắc như ri cho dễ hiểu: Đừng thấy bọn nhà quê như chị em tui mà người thành thị ưa lên mặt dạy đời. Đỡ đẻ, dao kéo bông băng thuốc sát trùng thì tui thua nhưng ba cái chuyện tào lao ngoài trường đời thì đừng hòng, chưa biết mèo nào cắn miêu nào, hỉ?
Khi đi đẻ, kêu xích lô chở vô nhà thương mấy ổng ngồi trên yên ai cũng hất mặt dòm trời hiu quạnh, giả câm giả điếc sợ xui xẻo chi đó, rứa mà đến khi về, gói đứa bé gọn bân trong tấm chăn y như con mẹ đi buôn ôm nặng hàng, đi áp phe chuyện đại sự thì ba lão già gân chạy tới tranh giành mối, kỳ kèo bớt một thêm hai. Tó con ngủ ngoan nhe, đừng vung tay đạp chân miệng khóc thét lạy ông tui ở bụi này thì “lộ hàng” nghe Tó. Biết có hài nhi nằm trong tay người vừa vượt cạn thì không chừng mà mấy lão lại sợ phong long xúi quẩy. Phong long là chi, ai mà tường tận sự hiểu? Mẹ tròn con vuông rồi, êm ru bà rù rồi, xuôi chèo mát mái rồi mà sợ gió máy chi nữa mấy cha. Quá hơn hai mụ đàn bà này là Thanh xà Bạch xà yêu khí chờn vờn quanh thân ôm thu cục thịt nặng hơn hai ký lô đặng về hang động nhắm mút tu luyện cho mau thành chánh quả.
Chó con về nhà khóc inh ỏi vì nói tội trời mụ Mậu lỡ sở hữu hai trái vú mà chẳng có mấy sữa. O Dậu ngực tuy to nhưng chưa có hơi trai nên nào khác gì, cả đời cứ phải chịu chín giú chưa tiện lấp ló một nắng hai sương nên có thương Tó cũng chỉ biết ôm vào lòng mà hò ru em, lắc qua lắc lại:
Chất giọng o Dậu mạnh hơi, dài lâu, lại tuồng như biết ký gửi chút tình vào thành ra nghe áo não sầu đời nẫu ruột truyền cảm. Cây sầu đông đầu đường nếu có chân nó dám về mọc rễ trước cửa mà lao xao cành lá. Cây thì vậy nhưng người thì khác, cách bốn năm phên dậu là nhà ông Tá có trồng cây trứng cá, tiếng hò ru em mang nội hàm cực khủng đã làm dạ Tá nôn nao hơn đụng đầu gió chướng. Cứ trên may-ô dưới xà-lỏn, xâu vội đôi dép rồi giỏi chân chạy qua cà khịa: Ủa, chớ con ai đó? Em lấy chồng hồi mô mà tui không được nhắp chút rượu thừa? Ác vừa vừa thôi chứ, nghe con nít khóc tui đây cũng thất thần, chịu đời không thấu. Dạ, chó con của chị Mậu, mấy bữa ni chỉ biết húp nước cháo trắng, hắn khát sữa mà chẳng biết nói ra, chỉ được tài khóc, dỗ hoài chưa thấy nín. Tá nhìn Dậu, Dậu ngó Tá, cả mèo lẫn chó bình thường chẳng hợp nhau, tự dưng sao hôm nay nghe hoà thuận, thôi gầm gừ mè nheo bẳn gắt sủa. Tá đã có vợ, đang nuôi con mọn, thành ra sẵn vỏ bọc uy tín dễ lân la biểu lộ tình chòm xóm, bà con xa thua láng giềng gần. Sợ là sợ thằng thanh niên ưa bày trò rắn mắt chớ đàn ông gia đạo an vui cho tiền hắn cũng ngần ngại sợ bể nồi cơm.
Ui, tội chưa tề, rứa thì em cứ tha hắn qua bên nhà tui, vợ tui sẵn lòng vạch áo cho hắn bú mớm. Đàn bà có tới hai bầu sữa, một để không nghĩ cũng phí. Hề hề… Buồn ngủ mà gặp chiếu manh, lỏng bụng mà gặp cơm cháy, đang hạn mà trời rắc mưa, lời bày vẽ như cởi tấc lòng, vạch đường cho hươu chạy. Dậu không thèm thông báo cùng chị Mậu, ba chân bốn cẳng quấn thêm tấm khăn cho cháu mà đạp đất nhà người tốt bụng. Vợ Tá mới đẻ con so thôi mà tướng tá coi moi sồ sề như có cả tá nhóc tì. Chị than, nhiều khi căng sữa tới đau cả ngực, đưa hắn đây cho tha hồ chút chít, một công hai chuyện, con no cành hông mà dì vì vậy cũng nghe nhẹ người. Sữa dì tốt lắm nghe con, ông Thọ nghe được cũng phải ganh tị chớ giỡn chi nơi.
Vạch áo ra liền sau câu nói, ba lăm tuổi là cùng mà núm vú chóng nhuộm nâu đen, chị Mậu tuy sữa không mấy hột nhưng đầu vú còn giữ được sắc hồng, hồng như chưa có hơi trai tựa mềnh vậy. Dậu quan sát, đứng sát sau lưng Dậu, Tá cũng bận hít thở. Lạ, con vợ mình tuyệt chẳng có được mùi thơm như người Dậu, người ngợm chi mà hương nồng quá mạng, gà luộc da vàng lườm nằm gọn trong dĩa để cúng ông bà cũng chào thua, làm chi bay mùi lú lấp như thân nhiệt Dậu. Tá ngó eo thon, chiếc áo bà ba xẻ vạt làm lòi miếng thịt hình tam giác nơi lưng quần. Nói bỏ lỗi, thấy dễ gắp lửa bỏ tay quá.
Mắt chó con lim dim thụ hưởng, môi ướt sữa ngó đã ghiền. Không biết mai này lớn lên có nhớ về nguồn thực phẩm dồi dào nọ đặng quyến luyến chút tình tương lân? Tá nói với vợ, em nhắm cho nó bú có được dài ngày không? Lỡ ăn quen bén mùi, bữa mô cũng tương tư thèm khát thì tính răng cho vẹn toàn? Thì cho nó măm chừng nào hay chừng đó, mà nói vô duyên chớ tương lai số trời định, thằng cu nhà mình cưới vợ nhằm cái hĩm ni thì vui hết biết, anh hè? Người ta luận, trái đất có khi nhỏ chỉ bằng… trái cam. Tá lại có dịp nhìn ngang liếc dọc, ủa hoá ra những thứ Dậu mang trước ngực có khi lại lớn hơn trái đất.
Tuy không có con mắt gắn sau ót, Dậu cũng vin nhờ vô linh tính để biết tỏng rằng tuổi Tá cầm tinh con dê. Anh tuổi Mùi phải không? Tầm bậy nà, người ta tuổi Dần đàng hoàng, xóm mình ít chộn rộn vì có con ngoạ hổ này đây. Anh làm thư ký ở quận, việc làm giấy khai sinh cho con chó này anh sẵn lòng ký tên người chứng, xong đưa cho ông phó đóng mộc, chỉ ba mươi giây. Dậu nói, dạ tụi em chờ anh Cử về phép rồi mới tính, mô dám qua mặt, chưa kể là không biết ba nó lựa chọn mỹ danh chi.
Mụ Mậu nghe em chồng kể ngọn ngành việc mang cháu đi bú chực nhà hàng xóm, không than van chi chỉ nói thằng cha Tá coi bộ tìm cách gỡ vốn dù sữa ấy đâu phải từ thằng chả nặn ra. Mậu hỏi, gỡ bằng cách chi? Ui chà, chị hỏi cái mới ngặt, may mà em đứng ngay mặt mụ vợ chứ nếu không hả, hai bàn tay ác ôn kia đã bóp vú con Dậu này rồi. Mậu đang ở thời gian hậu sản, cứ trùm chăn xông nước nấu sả hoặc lá chanh. Xông cho toát mồ hôi hột lại lom khom đi quạt trách than hồng rồi ngồi lên hơ cho cửa mình thun lại tợ thuở ban đầu. Quá nhiêu khê và hơi bị hành xác. Kiêng tắm gội, cử gió máy, mọi việc ngoài ngõ đều giao cho mình Dậu tuỳ nghi định liệu. Mậu tin là Dậu dư sức qua cầu, thằng cha Tá có là tài thánh mới ăn hiếp được cô em chồng. Tuy vậy Mậu lo xa, nếu vất vả như rứa thì đừng qua bên nớ nữa, cháu hắn không bú sữa người dưng thì mình liệu cơm gắp mắm. Không răng mô. Dậu trả lời, em từng cảnh báo, anh tui Trung sĩ quen đánh đấm, súng đạn cột quanh người, trang bị tận răng và đôi ba bữa nữa là về phép thăm vợ con.
Dậu làm bài luận văn tả người anh hôm trước, hôm sau Tá vất tờ nhật báo trước mặt Dậu: Nghe tin chiến sự chưa? Dậu trao chó con vào vòng tay vợ Tá, người đàn bà lúc nào cũng ướt vạt áo trước ngực. Chuyện chi rứa? Tá sửa giọng, cải biên lời bài hát “mẹ ơi xuân này con vắng nhà”: Việt cọng đang bao vây cái đồn mà hoa mai không chịu nở. Chẳng biết ông anh Trung sĩ của em có kịp về ăn Tết chuyến ni? Không tin hả, anh làm trong quận nghe người ta bàn luận lung tung beng, gửi cả sư đoàn cấp kỳ đi tiếp viện giải cứu. Tình hình coi bộ căng thẳng hung. Tá chấm dứt bản tin bằng điệu boléro chẳng giống ai: Tết nhất làm chi, ai bày? Mặt Dậu thôi hoa nhường nguyệt thẹn, con tim có co thắt không mà ngực đàn hồi co giãn. Đừng nói là con nít vô tâm ngây thơ trong trắng nghe, răng bữa ni chó con nhác măm thấy rõ. Ba hắn có bị chi không mà hắn đòi đình công tuyệt thực. Miệng mếu như kiểu bầu ngực kia bị ô nhiễm mùi rượu bia, mùi thuốc lá. Mất sướng, vợ Tá nói, sữa thương chớ không ai thương đâu nghe con, ở đó mà bày đặt ỏng ẹo chê bai. Nì, trả lại cho bà o mi nghe khoan nhặt hò khoan “mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời mẹ ghẻ mà thương con chồng”.
Dậu tha đứa nhỏ về nhà thông báo điềm gỡ cho chị Mậu nghe. Hèn chi, cứ tưởng ông già mi ham vui xuân mà quên nhiệm vụ. Chừ biết tính làm răng con ơi! Làm mẹ mà Mậu không biết hò ru em. Hò kiểu đó còn hơn tra tấn hai cái lỗ tai, con nít không ngủ đã đành, người lớn còn quàng xiên như gà mắc đẻ. Mậu ra bàn thờ ôn mệ thắp đỏ cây nhang, mấy cái mặt đen đúa chợt vẹt câm lặng ngó xuống gái một con trông mòn con mắt. Có linh thiêng thì xin đoái lòng phù hộ che chở cho chồng con tai qua nạn khỏi. Đàn bà thời buổi ni cực quá, chưa già mà lo âu xúi tóc muốn bạc cả mái đầu. Mậu kể lể một hồi, sau cùng cầm lòng không đậu: Tổ cha bọn việt cọng!
Dậu: Chừ chị tính răng?
Mậu: Leo xe đò tới gần đồn hớt hóng hư thực coi thử anh Cử có bị chi không.
Dậu: Em đi e tiện hơn, chó con hắn nhớ hơi chị ằng ặc khóc canh thâu thì ai mà chịu thấu.
Mậu: Ừ, trăm sự nhờ em, chứ sức chị giờ ni e chẳng kham nổi bụi đường. Chị là cầu tre lắc lẻo mà em là cầu ván đóng đinh. Khôn ngoan đối đáp người ngoài thì đích thị là Dậu nhà mình. Ở trong chợ chị nghe họ từng giải nghĩa: Mậu là không mà Dậu là có. Mậu binh là hết cách binh, còn dậu xín là lắm tiền bạc. Rõ là Mậu ni không đủ tư cách bằng Dậu. Nói xong, Mậu tháo chiếc nhẫn vàng hai chỉ từ ngón tay ra trao cho cô em chồng. Bán đi mà làm lộ phí đường dài. Bóng đen hai người đàn bà con gái chiếu hắt vào vách vôi xám ngoét đã mấy cái tết chưa có cơ hội bồi quét nước vôi mới. Họ đứng mần thinh, nhường nước mắt cho hài nhi khóc giữa gian nhà lạnh.
Sớm mai Dậu thu vén chút áo quần dộng vô xách ny-lông có quai. Người ta bảo xứ mình ra ngõ gặp anh hùng, riêng Dậu bảnh con mắt đã đụng mặt Tá. Em đi mô? Đi công chuyện. Rứa còn anh? Ôi dào, việc làng việc nước ngập cả đầu, bắt đi họp hành lên kế hoạch phòng thủ hoặc rút đi có trật tự. Tình hình ra răng rồi anh? Xe đò có chạy ngang qua chỗ giao tranh không? Chạy chớ, quốc lộ chẳng bị ảnh hưởng, vì cái đồn nớ nằm gần trong núi lận. Em tính đi tới đồn? Thì phải liều mạng mà dọ hỏi một lần cho an tâm. Rứa chó con tìm được cái vú khác mà chê cái vú vợ anh? Nói tào lao chi rứa, chỉ biết vin vô nguồn viện trợ nớ thôi. Hắn khóc lóc thì chị em sẽ mang nó qua xin chút sữa. Đi ba bữa rồi em trở lui, chưa chi mà đã thấy nhớ chó con rồi đây nì.
Chiều tối, Tá tắm rửa thay áo đổi quần. Vợ Tá nhìn bộ tịch lăng xăng của chồng. Đi mô đó? Đã báo cáo trong buổi cơm mà không nghe hay răng? Đi trực đêm trên quận chớ còn biết đi mô nữa. Mấy giờ về để tui biết đường mà đợi cửa. Xào, ai biết được nà, bữa ni còn phối hợp với lực lượng nhân dân tự vệ đi rảo quanh khu vực quận nhằm phát hiện khả nghi.
Ra đường, Tá đứng châm lửa điếu thuốc, hít hơi sâu. Thuốc Capstan, giễu nhại mỗi đầu chữ thành: Con Anh Phá Sản Tại Anh Ngu. Cho Anh Phút Sướng Tại Anh Nhớ. Tá dòm quanh, con đường thu giữ bóng tối, hút sâu. Những ngọn đèn mọc cách khoảng chỉ khiến màu đêm lối ấy thêm loang lỗ chứ không đủ sức để cắt xẻ thành từng đoạn. Chó trốn đi đâu mà chẳng buồn ngứa miệng cất giọng sủa vu vơ? Con đường một nửa hiện thân ra cảnh bình yên và nửa khác thu cất cái bất an chờ đợi cuộc đột biến bởi bộ mặt chiến tranh đang nằm kề. Thay vì bước chân đi tới quận có đắp đầy bao cát xây thành pháo đài ngay cổng, Tá thong thả nhàn du bỏ băng cây trứng cá, dẫm khuất cây sầu đông rồi đạp đất vuông sân nhà Mậu. Tá không đọc sách, chẳng nghe ai kể điển tích câu chuyện Thị Mầu, trong đầu Tá lúc này đọng chật hình bóng thị Mậu. Thang điểm từng có theo cách đánh giá của riêng Tá, Mậu là Thuý Kiều mà Dậu là Thuý Vân. Thể hình Dậu ăn đứt Mậu, nhưng nhan sắc gái một con là thứ quyến rũ mà Dậu chẳng có được. Bầu vú phì nhiêu nhiều sữa của vợ Tá cũng kém gợi cảm, chỉ đạt 5 điểm, trong khi vòng số một khiêm nhượng của Mậu lại ẩn tàng vào đó cái thanh tú khó giải thích: 8 điểm. Đó là chưa tính tới “một bộ phận không nhỏ” nằm xuôi theo bình nguyên trôi về hạ lưu con sông tương tư.
Tá đưa tay gõ nhẹ cửa, nghe được tiếng hồi âm: Ai đó? Tui đây. Ban đêm nhà ngói cũng như nhà tranh là lối ví von xằng bậy. Chinh xác thì ban đêm mò mẩm hơi lâu mới mở được cánh cửa. Tá lọt người vào ngay căn nhà nửa ngói nửa tranh. Vì sợ chói mắt quý tử nên giữa gian nhà đỏ lẻ loi ngọn đèn vàng yếu. Tui nghe tin tức là chồng chị đang bị đụng nặng, ngày mai trên quận có bố trí một chiếc xe GMC đi theo đoàn y tá của quân y viện Nguyễn Tri Phương, nếu chị muốn thăm hỏi anh, tui có thể dàn xếp cho chị một chỗ ngồi ra tiền đồn. Dạ, cảm ơn anh Tá, sáng sớm hôm ni o Dậu đã sốt ruột đi xe đò rồi. Tui có con dại thành ra mãi bị vướng chân… Tá đặt mắt vô chiếc áo ngủ phong phanh của Mậu: Lương thực cho cháu thì răng? Ơ, ý tui muốn hỏi sữa chị chảy có ngon lành không? Ở bệnh viện họ có cái máy ngộ lắm nghe, nếu chị cần tui đi hỏi mượn giúp. Tại hồi nớ vợ tui sinh con, sợ không có sữa đã có người bày đường. Mậu tự động bắt tréo hai tay trước ngực: Dạ, e mình cũng nên thử cho biết, mang cháu qua nhờ chị cho bú nghĩ cũng bất tiện. Trong túi quần Tá nổi cộm, kéo ánh mắt thị Mậu ngó xuống. O Dậu từng quở thằng cha Tá cầm tinh con dê. Ủa, hoá ra không phải, bé cái lầm. Tá moi ra một chai nước óc ách, màu sắc hình dáng tựa như chai thuốc xi-rô trị chứng ho. Tá vặn mở nắp đổ chất thuốc lỏng vào chiếc khăn mù-soa và rồi tia nhìn hiếu kỳ, ngờ vực của Mậu vội khép kín khi mũi đã bị vuông khăn kia bít kín. Thuốc gây mê đó em. Tá nói khi ôm siết tấm thân mềm oặt của Mậu dìu đỡ xuống giường. Chó con đang ngủ, nếu mi thức giấc thì tao sẽ cho mi đi tìm mộng đẹp luôn.
Ba hôm sau, thành phố tràn ngập và bị chiếm đóng bởi bọn bắc quân và tụi phản phúc. Chúng xuất hiện ở đâu, ở đó trở thành đồng không mông quạnh, ngay cả thú vật cũng sợ hãi dấu mặt. Dậu không về nhà được, Dậu nằm trong trại tạm cư nằm ngoài vòng đai thành phố. May phước là anh Cử chỉ bị thương, ngực áo được gắn Anh dũng bội tinh. Khói súng và nước mắt hoà quyện thành giọt lệ đen khi nghe tin vợ sinh mẹ tròn con vuông. Dậu cũng khóc theo Cử khi ngồi bên giường đặt ở bệnh viện dã chiến chờ trực thăng tải thương về nơi an toàn. Dậu à, anh quyết định đặt tên cho nó là Bội. Bội là nhiều gấp bội, như bội thực, như bội đạn bom. Hai anh em không biết là thị Mậu ở hậu phương cũng vừa bội thương đau. Mê man chờn vờn trong quánh đặc đêm xuân để sớm mai tỉnh thức đón ngay sự bỏng rát có ở cửa mình.
Tháng sau, trong khi khai quật một mồ chôn tập thể, vợ Tá xỉu lên té xuống khi nhìn nhận dấu vết dị hình kia là chồng mình. Một người thư ký trong quận bị liệt vào thành phần có nợ máu với nhân dân và bị chúng xử theo cách man rợ của chúng. Số trời đã định. Cũng nhờ trời, vì trải qua tột cùng đớn đau hay sao đó mà ngực vợ anh Trung sĩ Cử đã căng sữa, chảy lai láng nuôi Trần Thị Bội thôi khóc nhè. Khi mới đẻ, mặt chó con xấu hoắc, nhưng giờ này dung mạo Bội chớm hiện vẻ đẹp tiềm ẩn của mẹ Mậu và o Dậu ghép lại, hoà quyện. Một nhan sắc nổi lên như một bi kịch, đẹp não nùng. Đẹp không cần thông dịch lắm lời.
Ba mình có lối “bắt mạch” rất lạ, anh mình dẫn bạn về nhà, tay nào ngoại hình hơi bị ốm o gầy còm, ba mình đặt cho tên gọi: thằng ho lao! Chẳng rõ họ có nghe ra lời bình phẩm ấy, bạn anh mình thưa vắng dần, đến nhà thăm thú chỉ còn đôi ba người tương đối đỏ da thắm thịt. Mình có chị, không chừng ba mình vì thương con gái nên ông lo ngăn ngừa, tao thực bụng chẳng ưa có thằng rể… ho lao.
Nói rõ ra, tính tình ba mình có hơi chướng, ngang; khư khư ôm giữ lấy sự chủ quan. Nếu cố thuyết phục rằng một đứa mặt xanh nanh vàng không hẳn kẻ “trời bắt xấu” ấy mang vào thân căn bệnh ho lao quái ác thì ba mình lại có lối lập luận khác: Tao chẳng ưa phường đói cơm, người ngợm như thế thì sức lực đâu làm chuyện trọng đại, chí ít thì có kham nổi việc khó để sau này nuôi vợ nuôi con?
Ba mình sai lầm, những đứa “ho lao” ấy bỏ đô thị để lên xanh mưu toan làm chuyện trọng đại, sau bẩy nhăm chúng xuất hiện với giai cấp mới, sấp thành ngửa và ba mình trở thành kẻ đói cơm. Chúng có thể vặn vẹo: Chào ông già ho lao. Nếu được, ba mình có thể thổ huyết cho cuộc đổi đời kia. Tuột dốc, tan hoang và da thịt tóp teo là chuyện tất yếu. Trán thường trực nhăn nheo nếp gấp động não, ông rất ngán khi nhìn ra sắc diện của kẻ đang làm chủ vận hội mới. Biết tin chị mình đã lập gia đình với một ông ngụy quân ngụy quyền, một đứa đằng hắng: Đàn ông con trai thiếu gì đứa sao lại gả con gái mình cho thằng ác ôn ấy? Ba mình nín khe, câm như thóc. Mình cũng cá mè một lứa, đứng không cục cựa ngậm bồ hòn làm ngọt. Bắt bố con mình leo lên bám vào cây đu đủ e thứ cây ốm o xo bại đó cũng chả phản ứng lay động thân cành. Mọi thứ chết trân, chịu đựng.
Chúng tôi muốn sống, hai bố con mình ngầm nói câu ấy, kiếp người có dài bao nhiêu, biết thế, nhưng tin rằng trong hữu hạn kia sẽ bày ra một vãng tuồng, hấp hối chờ đợi được xem, bởi ngược ngạo tàn độc vốn chẳng bao giờ trường thọ. Giày dép còn có số huống gì một lũ người bạc ác. Quần chúng họ rỉ tai vậy và e mình nên tin vào chân lý kia. Không gì qúy hơn được sống với mộng tưởng. Ước ao được thoát khỏi chế độ kềm kẹp luôn sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Ba mình mất ở thời điểm chưa chết đố kỵ và chôn cất công ơn nặng tựa thái sơn xong, mình làm thằng phản động xem quê hương nhẹ tợ hồng mao.
Nhờ trời Phật ghe mình tới được đảo bình yên. Nhiều người đã thành tâm khấn nguyện trên sóng dữ để khi đặt chân lên bờ cõi tự do họ thực thi ngay lời thề nguyền bằng cách lập bàn thờ dâng hương đèn lễ vật rồi dập đầu vái lạy bốn phương tám hướng đất trời đã độ trì cưu mang phận thuyền nhân bạc bẽo, yên hàn vô sự sống nốt kiếp bèo giạt hoa trôi.
Khoảng hơn tháng, giữa bao hân hoan nụ cười chung chạ viên mãn chúng sinh, lần đầu tiên tai mình đón nhận tiếng khóc la. Ai chết thế nhạc sầu chi lắm thế! Không, người vừa phủi chân lên nằm giường bên cạnh nói. Tui mới đi xem hoạt cảnh ấy về, bốn năm kẻ vây đánh một trung niên, toe tua bầm dập, nghe giọng van nài ỉ ôi in tuồng người cùng quê với ông. Do cớ sự gì? Trộm cướp chăng? Mình dằn lòng đưa ra câu hỏi. Trộm cướp chuyện nhỏ, người kia rung đùi, cớ sự là tay này đích thị Việt-cộng nhảy núi vào năm 68. Có người nhận diện và rồi thì thượng thẳng tay hạ cẳng chưn. Lịch sử đã sang trang, nạn nhân nói, giờ thì chúng ta cũng tựa như đồng hội đồng thuyền, tui xin thề độc, tiếng là Việt cọng nhưng K-54, AK-47 suốt đời chẳng biết sử dụng, con kiến bò ngang dưới chân thì dép râu ngại tránh qua bên chẳng nỡ dẫm đạp.
Mình ngại dây dưa với thành phần kia nhưng tò mò dư sức đánh đổ những cảnh tỉnh, mình đã tìm tới dòm mặt kẻ “in tuồng người cùng quê ông”. Một diện mạo khó đoán số tuổi, người gầy nhỏ như thể… bị ho lao! Và mặt sưng mày sỉa vì hứng đỡ ngọn đòn thù hơi bị mới. Đau không? Mình hỏi với chút ái ngại. Có thuốc không? Lên bệnh xá mà xin. Xì, thuốc lá kìa, đang vêu mỏ đây. Mình đưa thuốc có cán, thỏa đáng yêu sách. Mình ngó những ngón tay bẩn, ngờ vực nó từng giết hại ai chưa? Ba mình từng phát biểu: Buông đao xuống có thể thành Phật là câu nói dở, tựa như đi ăn đám cưới mà chúc đôi trẻ trăm năm hạnh phúc vậy!
Hạnh phúc, đó là thứ đáng nghi ngại. Người ta xả thân đi mưu cầu tìm kiếm nó và để đạt ước nguyện, người ta tạm quên ông Phật đi. Mài dao bén, dắt mã tấu quanh người, nhân danh giai cấp này chặt đầu giai cấp kia. Cái này chẳng phải ý mình mà do Tài nói, người đàn ông vừa nhận điếu thuốc mình trao. Tôi quan niệm chớ nên ăn to nói lớn, chỉ xin hưởng được những vụn vặt tầm thường, tỉ như ai đó hiểu được lòng mình, tỉ như được thảnh thơi ngồi hưởng thụ trọn vẹn những hơi khói này thì đó là cả một hạnh phúc. Một thằng Việt cọng mà xấc bấc xang bang vắt giò lên cổ chạy ra xứ người thì bạn phải hiểu có điều khuất tất bên trong. Ngày dài tháng rộng tôi sẽ tâm sự và bạn toàn quyền quyết định có nên dây với hủi không?
Mình muốn nghe ông Tài kể chuyện đời nhưng nhiều bạn trong trại đã răn đe. Gây ngộ nhận có thể mang thương tích và không chừng sẽ ảnh hưởng tới hồ sơ, khó đi định cư. Một lần nữa, vô tình giữa mình và ông Tài đã mọc lên lằn ranh biên giới mà sự an toàn chỉ đến khi mình buộc phải quay lưng. Ngày mình leo lên xe cảnh sát giã biệt đất tạm dung, có người gọi tên từ xa và Tài mang tiếng nói hào hển chạy đuổi gần: Bạn làm ơn gửi hộ lá thư này giúp tôi khi đã tới bên đó. Muôn vàn cảm tạ. Xe xoắn bụi, mờ che một cánh tay dong cao vẫy biệt. Xe dằn xóc, mình ngó xuống phong thư. Người nhận là tên có lót chữ thị, tên của loài hoa chỉ nở khi đêm về, lẻ loi với bóng tối ngự đầy.
Lê thị Dạ Quỳnh nhỏ thua mình một tuổi, không đẹp chẳng xấu. Ở nơi xa lạ vắng tẻ bóng người đồng hương nên tụi mình dễ đi từ tình cảm này sang mau một tình yêu khác. Dạ Quỳnh không dấu mình điều gì, cô đã qua hai mối tình hư hao và một hôn nhân chóng tàn lụn. Cô dọn về thành phố nhỏ này như kiểu dưỡng thương, lại nữa muốn nhìn mặt mình, kẻ lạ đã chuyển giúp thư ngày nào. Dạ Quỳnh là em cùng cha khác mẹ với ông Tài, nếu có mệnh hệ gì thì chắc mình phải nên cám ơn “thằng ho lao” một tiếng cho phải phép. Qua Quỳnh, mình biết ông Tài đã đi định cư ở đất nước nằm ngoài dự kiến của thuyền nhân: Đan Mạch. Cái xứ sở có ngôn ngữ khó nuốt, hơi rắc rối, (nói không phải phép) khi bạn chửi thề bằng hai chữ đê-em-mờ thì người nghe sẽ vị tha: Mày xổ tiếng Đan Mạch đấy hở!
Ban đầu Dạ Quỳnh xưng tớ và gọi mình là đằng ấy. Chẳng hạn: Đằng ấy thích ăn phở không, tớ nấu cho đằng ấy xơi nhé? Tháng sau thì tui, ông. Tóc ông chóng bạc thế, ưa tui nhuộm đen cho. Cô nhảy lò cò trên từng cây số, thấy mỏi chân hoặc gần tới lằn vạch cuối, cô nhỏ nhẹ: Em mới thuê DVD phim In the land of blood and honey do Angelina Jolie đạo diễn, tối nay anh xem cùng em nhé. Mẹ mình mất sớm, chị mình lấy chồng xa nhà từ hồi mình bé thơ. Mình thương Quỳnh và chẳng nên vin vào cớ gì để minh giải. Cô ấy thực sự quan tâm tới mình và bạn ạ, giữa cuộc sống lao lung này đây chẳng có thang thuốc huyền nhiệm nào ví ngang một tình yêu chân thật. Quỳnh trao thân cho mình một hôm trời trở, tuyết ngoài trời rơi câm nín, lạnh lẽo và Quỳnh trong phòng tối nở bung nhụy đài ẩm ướt nồng đậm đứt khoảng tiếng rên.
Tụi mình thành vợ chồng chẳng có ai chứng giám, chỉ có ngày gió đêm tuyết, chỉ có bóng đèn 60 w cháy đỏ soi rọi hai mái đầu và lời khấn nguyện lưu trong tâm tưởng chẳng đứa nào nói thành lời. Nói làm gì khi biết ra sắc son chẳng hề là vĩnh cửu. Thề thốt chi khi xứ lạ vẫn sáng nắng chiều mưa! Duy nhất, anh Tài là người gửi điện thư chúc mừng. Có thể do bởi xem nhau như người trong nhà nên anh Tài luôn tuồng kể lể về quãng đời cũ. Dần dà, ráp những vụn vặt ấy lại nó hiển lộ một ảnh hình gây cho mình chút chấn thương. Đem hỏi Quỳnh, cô lãng tránh. Tớ không nhớ, hỏi làm gì cho mất vui… Đằng ấy ưa đón nghe sự thật?
Gạo đã thành cơm. Bạn nghĩ đó có phải là sự thật? Sự thật mà mình cực lòng tâm sự cùng bạn khác xa việc vo gạo bỗ củi cay mắt thổi lửa bắt nồi lên kiềng ba chân. Vợ mình trước đây từng làm giao liên, từng là đặc công đặt chất nổ ở các nhà hàng… Thôi, tha cho mình, đừng bắt mình dông dài thêm. Nhiều người nói, cuộc chiến ở xứ mình chẳng khác gì nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn, gà cùng một mẹ vẫn hoài đá nhau. Mình nghe sao thì biết vậy không dám có thêm ý kiến. Và giờ này, mình cũng chỉ biết ngồi vò đầu trước loang loáng viễn ảnh rời xa. Thực sự thì mình rất quẫn trí. May thay chính Quỳnh đã lấy đi tảng đá trì nặng gieo tận đáy lòng. Tớ về Việt-nam thăm nhà một tháng, đằng ấy đi không? Không. Trên trái đất tròn trịa coi bộ chật chội này bộ hết chỗ tham quan rồi sao? Quỳnh lấy vé về đúng tháng Tư lễ hội tưng bừng chốn ấy. Cô gọi taxi lặng lẽ kéo hành lý đi trong khi mình ngủ nướng trên tấm nệm trải ngoài phòng khách. Kinh Kha có khi lên đường không chỉ mục đích làm kẻ thích khách. Việt kiều lắm đứa đã một đi không trở lại và mình cầu mong hành động ấy là một nghĩa cử.
Mình tự đi chợ nấu nướng, mình xem lịch để nhớ ra ngày ba mình qua đời và lui cui thầm thì bày cỗ cúng vái. Mùi đồ ăn chẳng thơm tho, cốt lòng thành. Khói hương cay và lòng thành rướm lệ. Nếu ba còn sống hẳn ba sẽ từ con. Nếu con một mực khăng khăng ăn nằm với nữ du kích anh hùng hẳn xuống suối vàng sẽ bị bà con chòm xóm ngoảnh mặt? Gay cấn thế. Tình yêu hóa giải được điều gì? E không đủ sức mạnh đâu. Thôi, xin được thanh thản phút này. Con sẽ dọn đi ở chốn khác. Đi đâu thì chưa biết nhưng tránh nhìn mặt nhau e cũng có thể diễn nôm: Buông mụ vợ ác ôn xuống có thể thành Phật.
Tháng Tư, tháng mà ba quay mặt với đời sống. Tháng có người về từ nghìn trùng chia xẻ nỗi hân hoan ở cố quốc. Đoạn lià rồi sum họp, cái ấy muôn đời là một vở kịch khôi hài nhiều hoang tưởng. Đợi năm bảy phút, hầu tàn con sẽ xơi cơm sau ba. Ba ạ, xin ba đoái lòng gia hộ độ trì, năm sau, ngày này, con có vợ mới. Tóc vàng mắt xanh cũng ô kê, con bắt nó ra bàn thờ cúi lạy: Bonjour Monsieur tối kỵ màu đỏ. Chịu khó thưởng thức món Spaghetti do chính moa nấu. Ngày mai moa theo anh ấy đi biểu tình chuyện dài Hoàng Sa Trường Sa. Hẹn nói chuyện dài lâu cùng papa vào ngày này, năm sau. Ngủ ngon.
Tôi đưa A ra phi trường. Buổi sáng có mưa nhỏ, đủ ướt hai hàng cây đã trụi lá. Thân cành khẳng khiu dong lên, trơn láng, như thể muốn phân bua một điều gì. Con đường trống trải, ẩm lạnh và chúng tôi co ro trên ghế không nói ra được những xúc cảm.
Nếu còn lá, diện mạo cây trôi ven đường hẳn sẽ đổi khác, lùi đi với lao xao màu lục sẫm muôn đời sức sống. Mùa đông, nó bị bóc lột tới mức tự thân nó đồng nghĩa với cái trơ trọi tột cùng. Tuyết sẽ chuyên cần lấp đầy, chôn nó từ tốn, lập mộ bia bằng giá băng, nhưng tất thảy chỉ là tấm chăn đắp lên nhằm ru ngủ; nó sẽ thức dậy, vươn vai, rùng mình khi Xuân về. Nó không chết, nó biết tuân theo luật chơi định kỳ của mùa màng. Nó hiện hữu, nhắc ta nhớ về chân đi của thời gian, hiểu ra giới hạn đâu là tuổi trẻ và đâu là sớm mai nhìn nhận một mái đầu sương điểm.
A sẽ trở lại vào mùa xuân và thú thật A không hẳn là nhựa sống riêng cho tôi. Tình bạn sẽ vun đầy nếu người ta chỉ nghĩ tới nhau, quan ngại để bồi đắp cái mà bạn đang thiếu thốn. A không có ba đầu sáu tay và cô thì có chán khối việc để lo toan. Đi Việt-nam vào mùa này chẳng phải A muốn trốn lạnh. A chịu bỏ tiền mua một cái vé khá đắc đỏ vì bất ngờ A nhận nghe điện thoại từ Sài-gòn rót xa xăm giọng người mẹ già vào màn nhĩ chưa thể điếc đặc: Em con tự dưng bị an ninh vây đánh khi tan trường, má đưa nó vào bệnh viện với tình trạng tồi tệ. Nó tồi tệ đã đành, má cũng bấn loạn vì gia cảnh đang hồi khó khăn. Ở nhà thương câu đầu tiên người ta hỏi má: Có tiền không? Bao nhiêu triệu? Con liệu giúp má với em con?
Khi gặp tôi, mắt A còn mọng nước. Và A quyết định đi xa. A nói mình như ngồi trên đống lửa, mình đã gửi vội cho bà cụ hai trăm. Đứa em mình là sinh viên năm cuối, là con gái mà công an cứ nhè mấy chỗ hiểm trên cơ thể để mạnh bạo ra tay. Mình muốn chính mắt nhìn thấy sự bất hạnh của đứa em, sự bất hạnh của một dân tộc.
Tôi chẳng có gì để nói. Chửi thề là điều cần tránh khi đối diện A. Tôi nghe theo những tỏ bày của A và làm đúng những gì A nhờ cậy. Đi mua thuốc chống nhiễm trùng, chống tiêu chảy. Mua thuốc hồi sức, thuốc bổ, cũng như đau đầu nhức mỏi cảm sốt linh tinh. Đổi Gia kim ra Mỹ kim. Mua một cái va-li có tay kéo và hai bánh xe bên dưới.
Tôi ngó A cong lưng sửa soạn hành lý, đem thứ này theo vất thứ kia lại, chẳng dứt khoát, mất tập trung. A nói, mình vừa xem trên internet, có cô nông dân bị công an hành hung đến nỗi bị vô sinh, chẳng đẻ đái gì được. Em gái mình… A không nói thêm, cô cố gắng để đậy điệm cái va-ly căng phồng dù dọn quyết tâm nên gọn nhẹ. Tại lần về lần khó, khi trở lại mình sẽ vác mạng không. Lần đầu tiên A đi xa, và một mình vượt dặm dài, về tới vùng đất của bạo ngược. Tôi câm lặng vì nếu nói ra, tôi sẽ chẳng biết dừng lại. Bạn sẽ không thể nhiều lời nếu bàn về khung cảnh một địa ngục, nhưng Việt-nam… Cách tốt nhất là tránh nghĩ tới nó phút giây nào thì tâm thân an lạc phút giây đó.
Đổi vé lên máy bay, cân hành lý. Chộn rộn cái hoạt cảnh quen thuộc như bất cứ nơi nào. Ở bến tàu, ở sân ga, hoặc lạnh lẽo tựa phi trường quốc tế chốn đây. Người đi, lòng thường bồi hồi dự cảm không khí của chốn đến. Kẻ đưa, quay đầu với tạp niệm mình đã vừa vuột mất một thứ gì đó, hư hao. Hãy tươi tỉnh nói tới một hẹn hò, một đón gặp. Điều ấy ngầm xác định cái an toàn trong chuyến đi hành xác. Mong cho người em gái chóng hồi phục. Tôi nói khi A ôm tạm biệt. Và A biến rất mau sau tấm cửa kính dày đục cách ly. Quên bén một môi hôn dù khô kiệt niềm vui.
S.
Thank God for Friday. S nói sau lời chào buổi sáng. Như thế, làm việc nửa ngày, người ta có quyền buông bỏ mọi thứ chốn này để tuỳ nghi phung phá bốn mươi tám tiếng sẵn lòng chờ chực vào hai hôm cuối tuần.
S từng phát biểu, lý ra họ phải nên sắp xếp thời khoá biểu một cách hợp lẽ hơn. Thứ hai tới thứ năm thôi, như vậy có phải là OK không? Con người, có biết bao điều để lo toan chứ đâu phải chỉ biết duy mỗi chuyện lao động. Khi đó tôi đã chia sẻ cùng S. Vậy thì chúng ta sẽ nói, cám ơn thượng đế về ngày thứ năm, rồi phủi đít ra đường sau khi nhận ngân phiếu.
Những trưa, vào giờ cơm, S không buồn che dấu từng cái ngáp rộng miệng. Tóc rối, trũng mắt đen. Thả một đồng vào máy đặt ở cafeteria và cầm lon nước ngọt ra ngồi trên băng ghế gỗ thắp thuốc hút. Mỏi mệt lẫn khuất trong dáng đi, cách buông thân xuống và ngồi im sửng.
Hai mươi ba tuổi, gia đình ở chốn xa, S có những vấn nạn nhưng cô vẫn chống đỡ trong cách thức riêng. Có khi yếu lòng, S buông xuôi cũng bằng cách của S. Cô không thích đón nghe lời an ủi. Cái tôi cần là bạn có thể qua đêm với tôi? S nói. Hôm đó rơi vào ngày thứ sáu. Tôi đã nhẫm thầm Thank God for Friday.
Chỗ S trọ xa nơi làm việc bốn mươi lăm phút khi dùng cả buýt lẫn métro. Tan sở, S đề nghị chúng ta nên lội bộ, đi theo đường chim bay. Đó là những lối hoàn toàn xa lạ với tôi. Định cư hơn hai mươi năm trong một thành phố, không hẳn điều đó khiến bạn thông thuộc mọi con đường. Đôi chân ưa lùng sục khám phá của bạn vẫn có khi e dè dẫm trên một ngã rẽ mới tinh khôi.
Tôi đi theo, S dắt tôi đi qua một nỗi niềm lạ mặt. Tôi ngửi ra mùi cà-ri và ngay sau đó S xô cánh cửa gương có tiếng phong linh rơi ngang đầu. Một tiệm tạp hoá của Ấn-độ chẳng mấy sáng sủa, lối đi hẹp vì đồ vật bày biện lan tràn. Nếu có thực phẩm thì tất cả đều là đồ khô, kể cả chuối, ớt trái, táo…Chúng chen lấn để hoà quyện dâng lên thứ hương mùi rất dễ làm nhảy mũi. S hỏi cái gì đó và người đàn ông có bôi một vệt vôi giữa trán cong lưng đi đào xới vào những thúng mủng lu hủ bày dưới kệ sắt.
Lấy gì thêm? À, cho tôi một bao nhang, thứ ít mùi nhất. S đứng sát quầy, nơi đặt để cái máy tính tiền kiểu cổ xưa, có nghĩa là nó sẽ làm việc hồi nào bạn phải ra sức vận công vào những ngón tay để chọc mạnh xuống mặt số. Nó sẽ phát tiếng để cuối cùng thở hắt ra cùng lần với hộc đựng tiền vừa bung mở. S mặc quần jeans bó và khi moi bạc khỏi túi cô như biết khiêu vũ theo điệu nhạc kỳ quái đang phát trên cái loa ám đầy bụi. Hình như Ấn-độ là dân tộc thích hát hò, ngay cả cuốn phim hình sự dài gần hai tiếng thì mất nửa thời gian phá án đã phải để cho các nhân vật gân cổ lên hát mới dẫn tới một kết cuộc chính thắng tà. Việt-nam cũng chả kém, tiếng hát át tiếng bom, hát đinh tai nhức óc, hát xem thường cha già mẹ yếu, hát chết bỏ bể bỏ. Ngôi nhà cũ của bố mẹ tôi nằm gần một ngã tư, ở đó họ gắn hai cái loa trên cột điện và nhà nước đã dùng làn sóng phát thanh để thay món vũ khí tàn độc nhằm tra khảo tinh thần nguyên một con phố. Chúng tôi đã tàn hơi khi bơi trong bể trầm luân ấy, họ tra tấn kiểu như bạn nuôi cá và mỗi ngày bạn thả một muỗng muối vào chậu nước ngọt. Đằng nào thì bạn cũng chết, có người nói với tôi, mình thích nhìn thấy mặt trùng dương, sông dài biển rộng mới khoan khoái nhắm mắt. Tôi là một con cá, diệu kỳ thay, tôi đã bơi qua một đại dương mênh mông. Quan trọng hơn, những ngư phủ sống quanh bờ bãi chốn lạ họ đón nhận bọn trầy vi tróc vảy bằng một tấm lưới mượt mà thân thiện đan bằng chất liệu từ tâm nhân ái. Họ đã hát ca, nhưng giai điệu tình ca đó là liều thuốc an thần có công hiệu chữa lành vết thương ngày cũ.
Mẹ S, theo lời cô tâm sự trước đây, đã có khi tiêu phí hai năm bay sang Phi-luật-tân làm việc thiện nguyện trong một trại đón tiếp người Việt tị nạn cộng sản. Bà biết chút ít tiếng Việt khi dạy Anh ngữ cho bọn người bất hạnh, và công tâm mà nói, vô tình bà đã có một cái nhìn để khi tôi gặp S, cô chẳng ngần ngại khi ngó tôi. Một nhãn tuyến chẳng hề xa lạ, một định lượng không chen cài sự phòng thủ, ngờ vực. S đã phát âm, ngô nghê, cứng nhắc ba chữ: Tối yếu ành. Bạn có thể không hiểu, nhưng tôi, nhìn vẻ tập trung khi S cố uốn lưỡi diễn đạt, trong tôi đã mọc lên những cảm xúc rối rắm.
Đường chim bay kết thúc khi S nói: Tới rồi. Nằm trên tầng ba, cầu thang lộ thiên quay tròn như vụ với thanh sắt sơn đen chống rỉ sét. Những bậc gỗ không mấy vững chãi và tôi phát hiện người mình như đang say sóng. Đừng ngó xuống bãi cỏ sụt lở bên dưới, tôi ngó lên, chú mục vào cái mông tròn đầy của S để tìm gặp lại sự quân bình chẳng liên hệ tới định luật sức hút của quả đất. S moi chìa khoá, có bốn chìa cả thảy và S mở cửa bằng chiếc khoá có dán miếng băng keo. Tôi ngó, nghe S cười: Mình làm dấu để đêm hôm trong bóng tối, mình sờ mó để tiện cho việc mở, êm xuôi. Khi S lấy xấp thư ra khỏi hộp, tôi kể cho S nghe câu chuyện tiếu lâm: Một dân nhậu trở về nhà trong cơn say xỉn, anh ta đút chìa vào nhưng không tài nào mở được cửa. Bật hộp quẹt lên xem thì hoá ra đang nắm một điếu thuốc gãy vụn. Anh ta sửng sốt: Chết chửa, vậy thì hồi nãy mình đã hút nhầm chiếc chìa khoá mất rồi.
S cười, hưởng ứng câu chuyện vui bằng cách xô tôi vào cái giang sơn riêng biệt của cô. Một cái ấp hai phòng rưỡi, không lớn chẳng bé nhưng rõ nhất là sự lạnh lẽo đang hiện hữu. Ở đây không bao sưởi và cách hay nhất là mình tắc nó đi khi ra khỏi nhà. S nói. Đôi khi mình phải mặc áo ấm khi ngủ dù có mở sưởi. Ngoài thời tiết, cái giá lạnh đôi khi xâm thực bằng một nguồn cơn khác. Uống cà phê nhé?
Tôi đi theo S lui tận bếp, khoảng hai mươi lăm bước chân. Tôi dành phần đun nước, rửa phin lọc trong khi S biến thân sau cánh cửa phòng vệ sinh. Bên ngoài dán tấm poster khuôn mặt nhà văn Mark Twain cùng hàng chữ: “Never argue with stupid people, they will drag you down to their level and then beat you with experience”. Tôi nghĩ sao S lại không dán nó phía bên kia cánh cửa để mỗi khi ngồi trên bàn cầu ta lại có dịp nghiền ngẫm thứ chân lý kia?
Chúng tôi ngồi uống cà phê ngay xó bếp. Chiếc bàn nhỏ khiến nhìn nhau có thể thấy những tàn phai ghi dấu trên hố mắt, những gợn nhăn, những mụn mằn, những xác xơ. Chúng tôi cùng đốt thuốc để cho khoảng cách ấy bị chen cài bằng khói mù, và cũng có thể tìm nhặt được một ý tưởng sáng suốt cần có. Căn phòng yên lặng quá, cái thinh không dễ xúi dục một ríu mắt, một mặt nệm và rồi vùi sâu chăn chiếu chẳng mộng mị.
S đứng lên, cô mở lò, lấy son hứng nước rồi đổ hết những thứ cô vừa tha từ tiệm chạp phô về. Có thể là khởi sự nấu món súp, ninh thuốc bắc hoặc làm nồi chè sâm bổ lượng. Tôi không biết chính xác bởi vật được bắt lên lò thảy đều là thân cành cây lá hoa quả thảo mộc đã chết khô. S nói, mình xem trên internet họ chỉ bày, đây là phương thuốc nhằm trị chứng mất ngủ, giảm căng thẳng bởi công việc và sau cùng thì máu huyết lưu thông rất tốt cho phụ nữ. Bạn có thể canh lửa giúp trong khi tôi đi tắm?
S mang tới cái laptop, bạn vọc nó trong lúc tôi bận vọc nước. Đừng để nước trong nồi phải trào ra, nếu nhiều bọt quá thì làm ơn vớt giùm.
Tôi mở máy vi tính. Chẳng có gì đáng xem, tin tức luôn tràn đầy những tai ương, những bạo động, những phương cách nhằm huỷ diệt loài người trong thoáng chốc. Tôi mò về địa chỉ hòm thư mình và đọc lá thư A gửi trong tiếng reo của nước chực tràn trên bếp lửa. Mở nắp, vớt bọt như S dặn rồi hạ lửa nhỏ. Khói bốc mùi ngai ngái, thứ mùi mà bạn sẽ vấp phải khi lạc bước vào căn phòng kín gió của một người nằm dưỡng sức sau thời gian hậu sản. Không thơm, chẳng hôi. Không xua đuổi, chẳng trì kéo. Mùi nồng và bạn tự hiểu, rồi vết thương sẽ chóng lành, sớm hồi phục để chu toàn trách nhiệm mới. Trách nhiệm của một người vừa nặn ra mầm sống, bày giữa đời vốn chật tai ương.
A viết: Em mình xuất viện được hai hôm thì tới phiên bà cụ. Nhà không có đàn ông và chẳng rõ mình còn đủ sức để trở lại bên ấy. Tức hộc máu chẳng phải là chữ trừu tượng, mình đã thổ huyết, ứa máu khi tiếp cận những rắc rối mà người ta bày ra, ngược ngạo để hành hạ nhau. Chưa khi nào mình mong có mặt bạn bên cạnh như giờ này. Dù chỉ nói cho mình nghe những lời uỷ lạo thừa thải. Có lẽ mình sẽ đổi vé máy bay dời lại ngày về. Mình đi không đành lòng, trong lúc này, mặc dù ở nán ngày nào là chấn thương ngày đó. Tạt ngang chỗ mình và cất giữ hộ mình những lá thư. Nếu có thể, làm ơn thanh toán giùm những cái hoá đơn. Ngàn lần cám ơn. A.
S đã tắm xong. Cô tới gần và mang theo một mùi hương tượng trưng về một thứ gì thanh khiết. Tôi đóng lại laptop, nghĩ tới A đang ngập trong bao cơ man là bụi bặm. Thân thể người ta chia làm ba phần: đầu, mình và tứ chi. Bụi có khi chui vào tận trí óc, phủ bám khiến A tiến thoái lưỡng nan.
Tóc khô thì có thể tắt lò. S nói. Sẽ uống một bát đầy, nguyên chất và sẽ đi nằm đợi chờ một phản ứng. Bạn sẽ nằm bên tôi, làm cho tôi bải hoải lịm ngất, như vậy có thể gọi là trong uống ngoài thoa. Đón đường một giấc ngủ sâu ít khi tìm gặp.
M.
May mà chúng ta không có con với nhau. Đó là câu M hay thốt, như thể một hài lòng mà tình huống đã an bài, sắp đặt như vậy. Như thể nếu có con thì đôi đàng dùng dằng khó cất bước để rời xa nhau.
Thỉnh thoảng tôi ghé ngang tiệm ăn của M để làm đỡ nhớ, đỡ buồn miệng với món Mì Quảng do chính tay M nấu. M sòng phẳng xem tôi là một trong hàng ngàn thực khách có ăn có trả, đôi khi cao hứng người vợ cũ chả thèm tính tiền, còn bê ra bàn cốc cà phê ngút khói đậm đà. M nhắc lại những kỷ niệm ngày cũ và thường thì đó là một bức tranh nhốt kín những gam màu ảm đạm. M là hoạ sĩ để ký tên dưới bức tranh trừu tượng đó, rồi giảng nghĩa, rồi phân tích, rồi rung đùi: Thành tựu này nhờ tôi biết nhắm đúng thời điểm để bức rời anh.
Thường thì tôi ngậm câm mỗi bận ngồi đối diện M. Tôi nhớ tấm hình treo trước cửa phòng vệ sinh đằng nhà S và lời phân giải của người văn sĩ nổi tiếng ấy. M không đẹp nhưng cô biết cách trang điểm. Với số tuổi đó mà M còn giữ riêng cho mình chút mượt mà thì rất đáng hoan nghênh. Tôi không bận dọ hỏi chuyện riêng tư, nhưng nếu muốn M có thể chọn và nhặt ra một trong vạn thằng đàn ông sẵn lòng điêu đứng bà chủ quán Hương Vị Xưa để rồi đóng vai phu quân, để rồi “may mà chúng ta không có con với nhau”.
Bàn tay M xấu, những chớp nháy hào quang của hột xoàn tròng vào chả giúp được gì cho mười ngón có móng sơn đỏ. Tuy nhiên, công tâm mà nói M nấu ăn rất khá. Quán luôn đông khách nhằm chứng minh miệng lưỡi tôi không tồi. Thường, M luôn chỉ định chỗ ngồi cho tôi. Đó là cái bàn nhỏ khuất sau một cây chuối có bẹ lớn che chắn. Tôi vẫn ngó thấy ông thổ địa, ông Quan Công, ba cây nhang điện và dĩa trái cây nhăn nhàu nằm sát chân. Nếu tôi ngồi lâu, những cậu phục vụ sẽ phải bưng bát đi ăn chỗ khác sau khi gửi lại những tia nhìn không mấy thiện cảm. Giả chúng tôi có con với nhau, tôi mang cháu lại xơi thức ăn Việt thì tình hình e sẽ đổi khác. Ngồi ở chỗ quang minh và chẳng quên cho tiền boa hậu hỉ. Bố à, sao bà chủ quán cứ nhìn tới bàn mình hoài vậy bố? Chẳng biết cháu có nói tiếng nước nhà được như thế không? Đôi lúc ấp úng cà lăm quên tiếng mẹ đẻ mà lại hơn. Cứ fuck cố fuck xá rồi cũng nguôi ngoai!
Hôm nay M cho ăn free, hổng tính tiền. M bỏ mặc mọi chuyện để ra ngồi bên tôi. M vận công xê dịch cây chuối chướng ngại để lá nó khỏi cọ quẹt vào người dễ nổi gai ốc. Mặt M buồn rượi. Anh à, M xuống giọng. Nhờ anh giúp tui chuyện này một phen, có được không? Một áp-phe. Mười lăm ngàn đô bỏ túi, sẽ bao trọn gói việc di chuyển ăn ở chơi bời các thứ. Tui mua vé cho anh đi về bển, xuống Cần Thơ tổ chức tiệc cưới một người con gái…
Tôi cướp lời: Có con với người vợ ấy có đặng chăng? Bậy nà, giả thôi mà, anh sẵn tiền tha hồ thử của lạ chứ đèo bồng chuyện con cái chi cho khổ thân. Vả lại theo hợp đồng thì cô ấy sang đây là do tui muốn phát triển chuyện làm ăn, mở chi nhánh. Cô ấy nấu Hủ tiếu Mỹ-tho ngon nhức răng.
Cây chuối xấu xí được về lại vị trí cũ sau khi tôi đứng lên. Sao? Đột ngột quá, để cho tôi suy nghĩ chút xíu chớ. Suy nghĩ lâu mau? Tuần sau là hạn chót, bị tui tin tưởng ở anh mới đề nghị thế chớ việc này hô lên thì khối đứa nhào vô tranh công.
Tôi viết email gửi A: Mình luôn mong được kề cận bên bạn những lúc bạn gặp khó khăn, nhưng xin hiểu cho, Việt-nam là nơi duy nhất mình không thể đặt chân, ít ra là trong thời điểm này. Với thành tâm, mình cầu mong bác gái, em bạn, cũng như chính bạn sớm bình phục, chóng tránh khỏi những tai ương mãi giăng bủa. Hôm nào trở lại mình sẽ đứng đợi bạn ở lối ra phi trường. Nhớ bạn lắm. Thương.
Tôi đốt thắp cây nhang hôm nọ S mua cho. Căn phòng nhỏ, tôi co ro ngồi nhìn tuyết rơi ngoài cửa kính. Mùi nhang luôn mang trí óc người ta đi về những nỗi nhớ, về khuất mặt của siêu hình. Tôi ngó cây nhang cụt dần. Có ai tự đốt cho linh hồn mình một hương mùi xa vắng?
BECKY MARTIN (Nữ nhân viên hành chánh, phòng tình báo – Văn phòng Tùy viên Quân sự). “Ánh sáng cuối đường hầm vừa phụt tắt.”
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Năm 1974 tôi đang làm việc cho bộ Quốc phòng ở Hoa Thịnh Đốn. Thấy công việc nhàm chán, tôi muốn được nhìn thế giới bên ngoài. Vì thế một hôm tôi xin ghi danh vào tất cả các chức vụ chính phủ còn bỏ trống mà tôi có thể đảm nhiệm, tại hai mươi quốc gia khác nhau. Tôi xin đi, không phân biệt nơi nào. Hai tuần sau, vấn đề Việt Nam bỗng nổi bật, người ta gọi tôi đến cho đi.
Lúc đó tôi nghĩ “Ờ, chiến tranh chấm dứt rồi.” Có “Hoà bình trong danh dự rồi.” Đâu còn cái nhạc khúc của quá khứ nữa. Tôi không một chút ưu tư. Đã quyết định đi bất cứ nơi nào, và tôi nghĩ mọi chuyện thật tuyệt vời!
Tôi có thời hạn hai tuần lễ để trình diện nhiệm sở mới, kể từ khi được thông báo. Tôi cần thông hành, cần sắp xếp việc di chuyển, nhưng người ta đã lo liệu hết mọi thứ. Điều duy nhất làm tôi áy náy trước khi đến nhiệm sở mới là chuyến bay Pan Am 747 từ đảo Guam đến Manila đông nghịt hành khách, nhưng từ Manila cất cánh đi thì chiếc máy bay hoàn toàn trống rỗng. Tôi nhìn quanh, chợt nhận ra rằng ngoài phi hành đoàn, tôi là người da trắng duy nhất. Tôi nhìn thấy có bốn cho đến sáu người Việt Nam mặc quân phục. Tất cả chỉ có vậy, trên một chiếc máy bay 747 khổng lồ! Khi cất cánh khỏi phi trường Manila, một chiêu đãi viên đến bên tôi, hỏi “Tại sao chị đi Sàigòn?” Tôi trả lời: “Đi nhận việc làm ở đấy.” Cô ta bảo “Chị nói dỡn?” Tôi nói “Không đâu. Thật đấy. Thế mỗi tuần cô bay vào Việt Nam bao nhiêu chuyến?” Cô ta nói: “Mỗi tuần hai chuyến.” Tôi hỏi: “Những chuyến ấy có đông người hơn chuyến này không?” Cô ta bảo “Không.”
Hãng Pan Am có khế ước chuyên chở thơ tín. Họ bay vào Việt Nam với những chuyến phi cơ gần trống rỗng như thế. Đó là mối nghi hoặc đầu tiên của tôi khi tôi nghĩ có thể tôi đã phạm một chuyện sai lầm gì đây. Hiển nhiên rất nhiều người đã biết một chuyện gì đang xảy ra, mà tôi lại hoàn toàn mù tịt. Tôi đến nhận việc với tư cách Phụ tá Tình báo, nhưng khi đến nơi, tôi không thích công việc ấy nữa. Bởi vậy, tôi lựa một chức vụ hành chánh, làm việc với bộ phận tình báo của văn phòng Tùy viên Quân sự.
Cứ giả dụ chiến tranh đã chấm dứt, thì có nhiều vùng đất đã lọt vào tay Việt Cộng và quân Bắc Việt tại khắp miền Nam Việt Nam rồi. Điều ấy, tôi không được biết. Vào buổi thuyết trình đầu tiên mà tôi tham dự, là buổi thuyết trình về tình hình chiến sự trong nước, người ta treo lên tường tấm bản đồ Quân Khu I. Tôi nhìn thấy những dấu hiệu màu đỏ lẫn lộn với những dấu hiệu màu xanh. Lúc ấy những dấu hiệu này chẳng có ý nghĩa gì với tôi. Tôi không rõ ý nghĩa các dấu hiệu, nhưng màu sắc vẫn giúp tôi dễ dàng nhận ra mọi chuyện. Tôi thấy trên bản đồ, phần lớn màu đỏ. Tôi nghĩ “Chúa ơi, thật bất thường. Đỏ tượng trưng cho bọn dữ. Đỏ thường chẳng bao giờ tượng trưng cho người hiền lương cả!”
Rồi đến bản đồ Quân khu II. Trời ạ! lại có gì lầm lẫn nữa đây. Nhưng ít đỏ hơn, nhiều xanh hơn. Tôi quay sang Đại úy Stu Herrington-người trước đây mói chỉ gặp một lần – tôi thúc khuỷu tay anh ta, hỏi “Đỏ là ai? Xanh là ai?” Anh ta trả lời: “Đỏ là bọn dữ.” Tôi than thầm.
Đến bản đồ Quân khu III. Ờ, chúng ta có nhiều xanh hơn. Nhưng không nhiều lắm. Tôi nghĩ “Chết thiệt, mình làm gì thế này! Khùng hay sao mà đến nơi đây? Hoà bình trong danh dự, dỡn sao đây chớ? Chúa ơi, chúng ta đã để Việt Cộng lấy hết nửa nước này rồi.”
Sau buổi thuyết trình, Jim Wink hỏi “Cô nghĩ thế nào?” Tôi nói: “Jim, không xong. Mất một nửa rồi còn chi.” Ông ta nói “Không, không đâu.” Tôi nói “Đúng! Đúng! Đúng thế! Có cách gì chúng ta đẩy bọn chúng ra được nữa?” Mấy người ùa vào tranh luận, Jim Wink, Jimmy Harris và mấy người khác. Họ nói “Không, chả sao. Chúng ta sẽ cung cấp cho người miền Nam những yểm trợ chiến thuật mà họ cần. Chúng ta là đồng minh của họ…” vân vân, vân vân. Tôi rút lại, không tham dự vào cuộc tranh luận này. Tôi không muốn phải lải nhải với họ về những đề mục này nữa.
Chiều hôm ấy Stu Herrington đến phòng tôi. Anh ta nói “Cô có vẻ rầu rĩ về buổi thuyết trình hôm nay phải không.” Tôi bảo “Phải.” Anh ta nói” Ờ, vì thế tôi đến đây nói chuyện với cô để dự kiến lại mọi việc.” Tôi mời anh ta vào. Anh ta mô tả tình hình cho tôi nghe, sắp đặt mọi sự vào một viễn tượng thuộc phạm vi quân sự. Nói cách khác, với tất cả những dấu hiệu trên bản đồ, anh ta cho rằng vẫn không có nghĩa là chúng ta sẽ bị thua mau chóng trong giây lát đâu.
Nhưng một chuyện khác làm tôi vô cùng áy náy trong suốt ba tháng đầu tiên ở xứ này. Đó là có rất nhiều thanh niên trẻ ngoài đường phố: Họ đã khai gian tuổi, họ trốn quân dịch, họ sử dụng căn cước giả. Các thành phần đào ngũ rất đông. Cuộc chiến không được lòng dân chấp nhận nữa. Đã có nhiều sinh mạng tổn thất, đã đánh giết ròng rã bao nhiêu năm rồi. Tôi nghĩ ý dân Việt Nam không còn muốn chiến tranh nữa.
Tôi nghĩ một cách rất thành thực trước Thượng đế: Việt Nam là một trường hợp phí phạm khủng khiếp. Chúng ta đã hủy hoại đã phí phạm nhiều nhân lực, và đó là tổn thất lớn nhất của chúng ta. Chúng ta đã phí phạm nhiều tiền bạc. Chúng ta đã phí phạm nhiều năm tháng chiến đấu, đáng lẽ chúng ta phải hoàn tất trong một thời gian rất ngắn. Nhưng đây là vấn đề chính trị. Các chính trị gia không bao giờ cho phép quân đội thực hiện một điều lẽ ra quân đội phải làm: Đến đấy chiến đấu và chiến thắng.
Một buổi sáng hôm sau khi Nixon từ chức, chúng tôi nhận bản “Tóm lược tin tức tình báo và phân tích các hiểm nguy trong tháng.” Tùy viên Quân sự lúc ấy, tướng John Murray tỏ ra kiệt quệ vì xúc động. Ông nói: “Thưa các bạn, ánh sáng cuối đường hầm vừa phụt tắt.”
Thực ra, Cộng sản không bao giờ có thể nắm hết được những thủ đoạn của cáo già Nixon (Người Mỹ gọi là Tricky Dicky, tay Nixon mưu mẹo. Ghi chú của dịch giả). Đối với họ, ông là một ẩn số. Ông ta không suy nghĩ theo kiểu người Á Đông suy nghĩ. Lấy ví dụ điển hình như trong cuộc hoà đàm ở Ba Lê với Kissinger, có lúc mọi việc đã không diễn tiến êm đẹp với Lê Đức Thọ. Đùng một cái Hà Nội bị dội bom! Hai phe không tiến đến được thỏa hiệp thì Nixon quay lưng, mở chốt khai hỏa. Chỉ một thời gian ngắn, Bắc Việt vội vã trở lại bàn hội nghị. Như vậy, chúng ta tạo ra được hoà bình trong danh dự. Nhưng cuộc dội bom đã gây tổn thất nặng cho Bắc Việt. Cuộc dội bom chẳng những đánh vào Hà Nội, đánh vào các hệ thống và căn cứ chiến thuật tại miền Bắc, mà còn đánh vào các hệ thống và căn cứ chiến thuật của Cộng sản tại phía Bắc miền Nam Việt Nam. Nhưng rồi Nixon từ chức. Điều đó làm tôi quan ngại. Báo chí lúc đó toàn nói chuyện Watergate, nhưng chúng tôi chẳng đọc bao nhiêu. Chúng tôi cũng không bị các bản tin truyền hình tràn ngập. Chúng tôi không có đài truyền hình tin tức. Ở đây, chỉ có mỗi một tờ báo Anh ngữ duy nhất thì vụ Watergate không phải là một vụ quan trọng đối với tờ báo này. Thực ra, những người sống ở nước ngoài bấy giờ không am tường bao nhiêu về vụ Watergate. Họ không rõ tại sao người Mỹ phải tự hành xác về những chuyện không đáng gì đối với họ như thế.
Bởi vậy, vụ từ chức của Nixon làm thay đổi hết mọi sự đối với chúng tôi. Chúng tôi bắt đầu giải kết. Chúng tôi dành hai ba tháng trời để làm vi phim các tài liệu, rồi hủy hoại tất cả các tài liệu này sau khi vi phim thực hiện xong. Chúng tôi xé bỏ thiêu hủy hết. Những khối lượng giấy tờ vĩ đại trước đây sĩ quan an ninh chỉ nhìn thấy cũng đủ lên cơn đau tim, nay đều phải được tiêu hủy. Chúng tôi tìm cách thu nhỏ các tài liệu đến một kích thước rất bé để lúc cần là có thể vận chuyển ngay.
Vậy mà tôi vẫn không bao giờ thực sự cảm thấy Việt Nam có thể đổ vỡ cho đến lúc mất Đà Nẵng. Sự kiện này có tính tượng trưng đối với tôi. Tôi đã được đọc những bản phúc trình của các nhân viên văn phòng Tùy viên Quân sự ngoài ấy. Những bộ phận tiếp thu và liên lạc đều có đại diện ngoài Đà Nẵng. Tôi đã đọc phúc trình của họ về những gì đã xảy ra: Bỗng nhiên, địch quân kéo đến! Bỗng nhiên, cả mười bốn, mười lăm sư đoàn đã kéo đến!
Vào ngày 4 tháng Tư, chúng tôi lại có một bản tóm lược tin tức tình báo hàng tháng. Sáng hôm ấy, một Đại tá đến văn phòng chúng tôi. Ông nói: “Chúng ta sẽ khởi sự cuộc di tản đầu tiên. Bắt đầu ngay từ hôm nay!” Trước đó, chúng tôi đã lập một danh sách ưu tiên: Những ai ra đi, đi lúc nào, những người ít quan hệ nhất sẽ đi trước. Đại tá cho biết những người ở danh sách thứ nhất sẽ phải ra đi ngay hôm ấy, tức là ngày mùng 4 tháng tư. Tôi biết như thế sẽ gồm có một người nhân viên thư tín và một thư ký của chúng tôi, cũng sẽ gồm ba chuyên viên phân tích cao cấp của văn phòng chúng tôi ra đi. Tôi nói: “Vì chúng ta phải làm bản tóm lược tình báo hàng tháng, tại sao không tiếp tục cứ ở lại một thời gian nữa, rồi sẽ đi những chuyến bay sau?” Ông Đại tá nói: “Vâng, tôi cũng đang nghĩ như vậy.” Tôi nói: “Tốt quá.” Lúc sau, ông trở lại bảo: “Đại tá Legro đã đồng ý. Mọi người cứ ở nguyên.” Bởi vậy văn phòng chúng tôi thuộc bộ phận tình báo đương nhiệm là cơ quan duy nhất không có một người nào ra đi ngày 4 tháng Tư cả.
Tuy nhiên người ta vẫn tiếp tục chương trình di tản ngay từ hôm đó. Họ quyết định di tản một số trẻ em Việt Nam. Họ nghĩ đây là phương cách tốt để cùng di tản một số lớn phụ nữ làm việc cho văn phòng Tùy viên Quân sự. Vì thế sáng hôm đó, sau khi đến văn phòng làm việc, các nữ nhân viên được báo cho biết họ phải ra đi. Người ta triệu tập các nữ nhân viên ở phòng họp, cho biết quyết định, rồi cho họ được phép về nhà thu xếp hành lý. (Tôi nghĩ mỗi người được mang theo hai túi xách). Phần lớn các nữ nhân viên quay lại điểm hẹn, rồi được xe buýt của văn phòng Tùy viên Quân sự đưa vào phi trường lên máy bay. Một vài nữ nhân viên không đến. Vài người cảm thấy những ràng buộc với gia đình, họ không thể ra đi không mang theo gia đình. Họ không trở lại làm việc cho đến ngày hôm sau.
Hôm ấy chúng tôi đang làm việc trễ thì một nhân viên an ninh bước vào nói: “Chiếc máy bay C-5A bị rớt, vừa được đem trở lại Tân Sơn Nhứt.” Họ cần người phụ việc di chuyển các thi hài và các người bị thương ra khỏi mấy chiếc trực thăng sắp đáp xuống Tân Sơn Nhứt. Tất cả chúng tôi đổ xô, chen chúc nhau lên chiếc xe vận tải ra phi trường đứng chờ trực thăng, nhưng cũng không có nhiều chiếc đáp xuống.
Trước hết, họ đưa vào một số thi hài, một số người sống sót, đa số là trẻ con. Chiếc C-5A là một chiếc máy bay ba tầng. Phần lớn trẻ con ở tầng trên, nên sống sót, nhưng bị phỏng nặng. Điều làm tôi kinh hoàng là thấy tất cả những đứa trẻ đó đều bị thương, cháy da, thân hình ướt đẫm nước tiểu, nhưng không một đứa nào khóc. Chúng nằm im lìm như hình nộm. Tôi nghĩ chúng phải kêu la thảm thiết, nhưng không. Chúng nằm im. Không tiếng động. Không kêu. Không phản ứng gì.
Các bạn tôi thuộc văn phòng Tùy viên Quân sự đều thiệt mạng. Tôi hầu như mất đi các người thân của chính gia đình mình. Tôi đã có linh cảm họ chết, ngay cả trước khi chiếc máy bay trực thăng đem bọn trẻ con về. Nhiều người vội vã chạy đến cứu trợ, nhưng tôi đứng sững nhìn. Tôi cứ nghĩ “Họ chết hết rồi.” Một cơn tê dại lan từ sống lưng lên suốt đỉnh đầu. Tôi bàng hoàng trước sự mất mát. Có một cái gì giống như phản ứng hoá học xảy ra trong cơ thể tôi, làm tôi tê liệt. Tôi không đối phó được nữa. Trước đây, tôi chưa từng bao giờ cảm thấy tê dại như thế.
Hình minh họa
Một chiếc trực thăng khác bay rất lẹ, chở đến nhiều trẻ em khác. Tôi chạy đến, giúp mấy đứa trẻ ra khỏi trực thăng lên xe cứu thương. Tôi thấy thi hài một phụ nữ, chính là Barbara, một nữ nhân viên làm chung tại văn phòng Tùy viên với tôi. Con gái bà còn sống. Nó ngồi ngay bên xác mẹ. Mũi và miệng Barbara ngập bùn. Ngoài ra, chẳng thấy dấu vết nào khác. Sau này, họ bảo bà đã chết vì sợ. Bà có chứng đau tim. Một chiếc trực thăng khác đáp xuống, chở thi hài một nhân viên phi hành đoàn. Đầu anh ta dập vỡ, hẳn anh ta chết tức thì. Chiếc kế chở mười hai bao thi hài khác. Thấy vậy, tôi quay lưng lại, bỏ đi.
Dù ở bất cứ đâu, tôi cũng không bao giờ coi nhẹ những dịp lễ Tết gia đình. Tôi luôn luôn mời bạn bè thân thích đến nhà riêng trong những dịp này. Bàn ăn được bầy biện trang trọng như ở quê nhà. Không dùng đĩa giấy. Tôi luôn luôn giữ gìn truyền thống lễ lạc của dân Mỹ. Lễ Phục Sinh vừa cử hành hôm chủ nhật vừa qua. Mới đây, tất cả những người đàn bà ấy đã đến nhà tôi dùng bữa Phục Sinh. Bây giờ, tất cả đều đã chết. Chỉ chưa đầy một tuần, họ đều chết cả.
Đêm đó chúng tôi trở lại văn phòng, cố tìm xem những ai đã ở trên máy bay. Lúc ấy, chưa có danh sách phối kiểm. Có một người nữa, cùng tên với tôi, cũng là Becky Martin, đã ở trên máy bay. Cô này quê quán Texas, làm việc tại phòng không lực – Một nhân viên an ninh hỏi tôi: “Có muốn tôi điện thoại cho ông bà thân sinh của cô không?” Tôi nói: “Liệu gọi được không?” Anh ta bảo: “Không rõ nữa.” Lúc ấy, mọi liên lạc viễn thông đều bị cắt đứt, người ta không muốn mọi người gọi gia đình, cũng không muốn ai gọi vào. Người ta cần kiểm soát cho đến khi nắm vững những ai ở trên máy bay để đưa ra một bản thông báo chính thức. Không ai muốn xảy ra tình trạng phải nhận những cú điện thoại hỏi thăm, phải rầu rĩ trả lời: “Em ạ, tôi xin chia buồn, má em đã mất.” Mà có lẽ người mẹ lại vẫn còn sống.
Một nhân viên an ninh đã điện thoại được cho cha mẹ tôi. Anh ta nói với mẹ tôi trên đường dây rằng: “Thưa bà Martin, vừa xảy ra một tai nạn nghiêm trọng. Một vụ rớt máy bay. Nhưng con gái bà vẫn bình yên. Cô ấy không có mặt trên chuyến bay này.” Nhưng họ cắt điện thoại, không kịp cho anh ta nói rõ là có tên tôi trên danh sách nạn nhân, nhưng đấy chỉ là một cô Becky Martin khác.
Cha tôi có bạn bè làm việc ở Thái Lan, cả ở Sàigòn. Mấy người này điện thoại vào hỏi văn phòng tôi, rồi điện thoại lại cho cha mẹ tôi, xác nhận: “Đúng đấy, cô ấy vẫn bình yên.” Nhưng có người ở Cali lại gởi đến cho cha mẹ tôi một danh sách nạn nhân. Danh sách này làm cho cha mẹ tôi băn khoăn. Họ kinh hoảng, không biết đâu là thực. Phải một tuần rưỡi sau đó, khi tôi nói chuyện điện thoại thẳng với mẹ tôi, bà mới chịu tin là tôi thực sự bình an.
Sau tai nạn, tôi gói ghém tất cả hành lý vật dụng của các bạn tôi, xem xét giấy tờ của họ, liệt kê tất cả những gì họ có – Tôi làm việc này cho các nạn nhân để nếu vật dụng của họ không đưa được về, thì gia đình họ có thể được bồi thường. Khá nhiều nữ trang, đồ vật đắt tiền, hình ảnh, kỷ vật. Làm công việc này thật đau lòng, nhưng nó cũng giúp ích cho tôi. Nó làm cho tôi cảm thấy các bạn của tôi vẫn còn ở bên tôi.
Trước ngày xảy ra tai nạn này chừng một tháng, tôi đã nằm mơ. Trong giấc mơ tôi thấy tất cả chúng tôi ở chung một căn phòng, giống như phòng làm việc của chúng tôi. Một căn phòng rất lớn, rộng và dài, bàn làm việc sắp xếp nhiều hướng khác nhau. Trong phòng, có một hệ thống âm thanh. Thật là tuyệt. Sáng thứ ba, chúng tôi thường theo dõi những chương trình chơi banh bầu dục của đêm thứ hai. Rồi chúng tôi mở nhạc, và những bàn làm việc chợt lật ngược lên. Các ngăn kéo chợt mở tung ra. Tất cả giấy tờ đều bị lấy đi. Tất cả trống rỗng. Trong giấc mơ, tôi đang ngồi ở đấy với một vài người thì Anne Reynolds, Joan Prey, vài người nữa chạy vụt qua văn phòng. Joan đến chỗ chúng tôi, nói “Lẹ lên, chúng ta đi.” Tôi bảo “Khoan. Chưa đến lúc phải đi.” Cô ấy bảo “Cũng được, thế thì gặp lại chị sau,” rồi cô ta đi. Tôi nghe điện thoại, Anne và vài người nữa gọi đến nói “Lại đây. Chúng ta sẽ gặp nhau ở chỗ ấy, chỗ ấy nhé.” Tôi không biết chỗ ấy là chỗ nào. Trong giấc mơ, trời mưa xối xả điên cuồng, cánh cửa lắc lư đập ra đập vào trong gió. Tôi nghe một người nói tiếng Việt, một tên Việt Cộng. Tôi lo lắng tự hỏi “Các bạn tôi đâu hết? Lẽ ra họ phải ở đây, nhưng sao chẳng còn ai ngoài tôi?” Tên Việt Cộng mở tung cánh cửa, tôi bừng tỉnh.
Hình minh họa
Giấc mơ ấy làm tôi ray rứt. Hôm sau, tôi đến chỗ Anne ở, nhấm nháp một cốc rượu. Tôi bỗng bảo: “Bọn khỉ mốc chúng mày bỏ tao đi sạch!” Anne hỏi: “Này, bạn nói cái gì vậy?” Tôi kể cho cô ấy nghe giấc mơ của tôi, cô ấy bảo rằng: “Không đâu Becky, bọn này không bao giờ bỏ bạn mà đi đâu.”
Nhưng sau này quả họ đều đã bỏ tôi. Họ đều đã bỏ tôi mà ra đi. Đấy là một giấc mơ kỳ lạ. Nó ám ảnh tôi suốt mấy ngày sau, nhưng rồi tôi đã cố khỏa lấp nó đi.
Hai ngày sau khi máy bay rớt, vài người trong nhóm chúng tôi xuống họp an ninh tại toà đại sứ. Người ta trình bày kế hoạch di tản người Mỹ khỏi Sàigòn. Họ chỉ cho chúng tôi một vài cao ốc mà họ trù tính sẽ cho trực thăng đáp xuống bốc người. Họ cũng trù tính cho những người có đệ tam quốc tịch đến những cao ốc ấy để di tản. Nhiều trực thăng chỉ có thể bốc ba hay bốn hành khách một lúc, như vậy nếu xảy tình trạng rối rắm khẩn cấp thì chẳng bốc đi được bao nhiêu.
Người ta nghĩ Bắc Việt sẽ để yên cho chúng tôi đi. Tại sao lại phải hủy hoại cả một thành phố, trong khi họ có thể chiếm cứ được một cách trọn vẹn, không đổ vỡ gì? Nhưng nếu người miền Nam đâm ra hoảng hốt, họ cũng muốn di tản thì họ sẽ đi đâu? Tất là họ sẽ tìm đến những trực thăng Mỹ! Chúng tôi sẽ phải kiểm soát cho được cái đám đông ấy. Và chúng tôi lại không nói được ngôn ngữ của họ!
Khi văn phòng tôi được nghe kể chương trình di tản do toà đại sứ đề ra, họ đã văng một loạt ngôn ngữ mà tôi không tiện kể. Chúng ta không nên in ra những ngôn từ ấy. Không thể tin được! Tôi cứ ngồi yên như phỗng mà suy nghĩ. Người có trách nhiệm mà hành xử như vậy sao? Đến trẻ con tiểu học cũng nhìn thấy những lỗ hổng trong kế hoạch ấy! Nếu tất cả mọi người dồn cục ở các cổng vào, thì sao? Chúng tôi sẽ cho ai vào, ai không?
Đến lúc này, tôi nghĩ tốt hơn hết phải tự lo liệu một số việc riêng của mình. Tôi chưa bao giờ viết chúc thư. Vì vậy tôi ngồi xuống, viết thư cho cha tôi và làm giấy ủy quyền cho luật sư. Lúc ấy thực dốt nát, tôi đã ký giấy ủy quyền bỏ trống cho luật sư. Tôi viết thư cho cha tôi, nói “Trong trường hợp con không về nhà vào cuối tháng năm, hãy giải quyết cái xe của con như thế này, giải quyết trương mục tiết kiệm của con như thế kia, giải quyết các vật dụng sở hữu khác như thế này…”
Tôi viết một danh sách dài những điều yêu cầu cha tôi làm, rồi tôi đưa cho Stuart nhờ viết địa chỉ lên phong bì. Tôi sợ nếu mẹ tôi thấy tuồng chữ của tôi, bà sẽ bóc. Trên bì thư chúng tôi cũng đề “Thư riêng.” Mẹ tôi không bao giờ mở thư của ba tôi, nhưng tôi có cảm tưởng trong cơn rối ren này nếu mẹ tôi thấy tuồng chữ của tôi, bất kể thư ai, bà cũng bóc ra xem.
Sau này mẹ tôi quả đã mở thư ra thiệt. Lạy Chúa! Thư đến từ Sàigòn, chắc phải có chuyện liên quan đến tôi. Cha tôi không có mặt để bóc thư, mẹ tôi cứ thế bóc ra.
Gửi xong lá thư, tôi nhẹ nhõm người. Sau đó Doug Dearth nói với tôi “Nhăn nhó chuyện gì vậy?” Tôi bảo: “Vừa phải lo xong đủ thứ chuyện” Anh ta hỏi: “Thế nghĩa là thế nào?” Tôi trả lời: “Anh biết đó, trường hợp chúng ta có khó khăn gì trong việc ra khỏi xứ này thì tôi đã lo liệu xong xuôi mọi chuyện của tôi rồi.” Anh ta lại hỏi: “Cô làm gì vậy, gửi chúc thư về nhà à?” Tôi nói: “Tất nhiên không phải chúc thư. Chỉ là giấy ủy quyền thôi.” Anh ta bảo: “Becky ạ, nếu cô chết thì giấy ủy quyền cho luật sư có ăn thua gì?” Tôi nói: “ờ, nhưng cũng trễ rồi. Mọi việc sẽ ổn thỏa thôi!”
Chúng tôi bắt đầu cho nhân viên ra đi, từ bộ phận này sang bộ phận khác. Vì là viên chức chỉ huy, tôi là người cuối cùng trong bộ phận của chúng tôi ra đi. Việc chúng tôi đi được thực hiện trong vòng trật tự. Vì sẵn có phương tiện, nên khi có lệnh đi là chúng tôi đi.
Hình minh họa
Đêm 21 tháng Tư, cũng là đêm Thiệu từ chức, tôi ra phi trường Tân Sơn Nhứt rời khỏi Việt Nam. Chờ đợi suốt đêm. Những máy bay C-130 đến và đi đều đặn như vòng quay đồng hồ. Muốn đưa ai ra đi lúc ấy, bạn chỉ cần đến bảo họ thế này: “Tên tôi như vậy, như vậy… Tôi có một số người như vậy, như vậy… cần phải đem đi.” Họ sẽ đưa cho bạn một cái thẻ. Có vậy thôi. Thế là tên bạn và số người đem đi sẽ được đưa vào danh sách. Khi người ta gọi, bạn cứ việc vào máy bay. Những máy bay C-130 có thể chở hàng trăm người mỗi chuyến. Cứ như vậy giờ này sang giờ khác. Cứ diễn tiến như vậy suốt mấy ngày.
Đến tảng sáng hôm sau tôi mới rời khỏi Việt Nam. Chúng tôi được xe buýt đưa ra tận máy bay, có nhân viên không lực Mỹ khám người, khám hành lý. Người ta cũng mang đến cả một đơn vị Thủy quân Lục chiến để bảo vệ an ninh khu vực. Khu chờ chuyến bay lớn nhất là khu bể bơi, khu đánh “Bowling,” khu nhà tập thể dục thuộc phòng Tùy viên Quân sự. Những khu này đông nghẹt người. Người ta ở đấy, chờ đến lượt, rồi lên máy bay.
Lúc chúng tôi tôi lên máy bay, vài phi công Việt Nam lái mấy chiếc chiến đấu cơ phản lực chạy rà qua. Chúng tôi dơ lên ngón tay cái, dấu hiệu chiến thắng, bạn ơi mọi sự vẫn tốt đẹp, cứ tiếp tục tiến lên! Chúng tôi cố làm cho họ tin rằng người Mỹ không rời đi đâu cả! Nhưng ngoài thành phố người ta biết rõ hơn, mặc dù không bao giờ có một xác nhận chính thức nào về việc người Mỹ đang di tản.
Chiếc máy bay đầy nhóc người. Tiếng động cơ inh ỏi. Trời gây gấy lạnh. Tôi đếm được năm người da trắng trên chuyến bay. Tất cả số còn lại đều là người Việt, khoảng một trăm người trên mỗi chuyến. Từng đơn vị gia đình một. Khi máy bay ra đến biển, tôi bật khóc.
Chúng tôi đáp xuống phi trường Clark ở Phi Luật Tân. Tôi tìm cách sang một chuyến bay khác, sau cùng lên một chiếc máy bay chở trẻ con Việt Nam. Hoá ra, có vài em sống sót trong vụ chiếc C-5A rớt cũng ở trong chuyến bay này. Chiếc máy bay này là chiếc C-141 cải biến, ghế hành khách quay mặt về phía đuôi máy bay. Ở đuôi máy bay, người ta bố trí những chiếc giường cũi để giữ cho trẻ an toàn.
Tôi bảo tôi nhận việc đi “hộ vệ” đám trẻ con. Tôi nghĩ chuyện ấy khá mỉa mai, nhưng tôi đã làm chuyện ấy, và chẳng nghĩ ngợi gì hơn nữa. Quá nhiều chuyện đã xảy ra và quá nhiều người đã thiệt mạng! Người ta buộc trẻ con vào những người đi kèm để khi máy bay đáp xuống, lỡ có tai nạn gì thì mấy đứa trẻ sẽ không bị bắn ra.
Tôi ôm trong tay một bé sơ sinh. Đúng ra, đó không phải là một bé sơ sinh, mà là một chú bé đã ba tuổi, nhưng nó ốm o, nhỏ thó như đứa trẻ con một tuổi. Tôi cũng coi sóc cho hai bé con nữa. Hai chị em đứa bé con! Chúng đã sợ sệt trong suốt chuyến bay trên đường về quê hương nước Mỹ.
DIANE GUNSUL (Nữ nhân viên văn phòng Tùy viên Quân sự tại Biên Hoà)
“Nhấm nháp sâm-banh, ngắm nhìn cuộc chiến.”
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
“Nhấm nháp sâm-banh, ngắm nhìn cuộc chiến.”
Cuối thập niên 60, tôi là một thành viên hoạt động cho phong trào phản chiến tại Hoa Thịnh Đốn. Tôi đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản chiến tại toà nhà quốc hội. Tôi đã tham gia nhiều buổi tuần hành, xuống đường – Tôi không bao giờ nghĩ quân đội Mỹ nên tham chiến ở Việt Nam. Nhiều người như tôi đã tin tưởng rằng chúng ta không nên gửi thanh niên sang bên ấy để rồi bị sát hại chỉ vì một cuộc nội chiến. Tin tưởng như thế không có nghĩa là chúng tôi thiên Cộng.
Ngày 29 tháng Ba năm 1973, có tin từ Việt Nam cho biết quân đội Mỹ đang rời khỏi xứ. Người ta đang cần tuyển nhân viên dân sự sang giúp việc cho các nhóm cố vấn. Vì lẽ tôi đã từng kịch liệt chống chiến tranh, tôi tự nhủ “Ờ, họ thường sỉ vả là mình cóc biết gì, vì mình chưa bao giờ ở đấy. Vậy thây kệ, thử xin đi cho biết.” Tôi nạp đơn. Có hai mươi lăm người xin việc, và tôi được tuyển. Tôi đến Việt Nam ngày 2 tháng Tư, 1973. Quân đội đã triệt thoái ngày 29 tháng Ba. Khi tôi vừa đến sở làm tại Biên Hoà thì một quân nhân Mỹ bật đứng dậy, bước ra khỏi văn phòng, hãy còn để lại trên cái gạt tàn thuốc một điếu xì gà. Mọi sự tưởng chừng như anh ta sẽ còn quay trở lại. Người ta nhặt vội túi hành trang rồi ra đi. Tôi thấy hơi sờ sợ vì có chuyện kỳ cục.
Tôi làm việc tại một nơi gọi là Trung tâm Tiếp vận. Đơn vị chúng tôi gồm từ hai mươi lăm cho đến một trăm nhân viên dân sự. Tướng Richard Baughn là một trong những người chỉ huy của tôi, họ đều ở Sàigòn. Có một đại tá đặc nhiệm tại Biên Hoà. Ông đại tá này rõ rệt chưa bao giờ làm việc chung với các nhân viên dân sự, ông không hiểu nổi đám nhân viên dân sự chúng tôi.
Sáu tháng đầu tiên tôi sống ở Sàigòn, đi xuống Biên Hoà bằng xe buýt. Nhưng Việt Cộng thường hay cắt đường, nếu lỡ hụt xe buýt hay phải đi những chuyến xe muộn thì cũng rợn. Không di chuyển ban đêm được. Phải dùng trực thăng. Cuối cùng tôi chuyển xuống ở hẳn dưới Biên Hoà. Chúng tôi ở khu chung cư Franz Blau, trước đây từng là một nhà chứa gái điếm.
Tại Việt Nam, tôi đã gặp người sau này là chồng thứ hai của tôi, trên một chuyến xe buýt, ngay ngày đầu tiên. Chúng tôi cùng làm việc ở Biên Hoà.
Khi mới đến, tôi làm phụ tá quản trị với cấp bực thấp nhất, bậc7. Tôi leo lên bậc 9 ở đấy, trở thành một cấp chỉ huy hành chánh, nhưng ở Biên Hoà, nhân viên ít, người ta phải phụ trách đủ thứ việc khác nhau.
Vì vậy, tôi phải tự sắp xếp các chương trình dự phòng khẩn cấp. Tự sắp xếp các kế hoạch an ninh – Phải lo đủ thứ giấy tờ hành chánh cho các nhân viên ngắn hạn, các nhân viên tạm thời. Tôi cũng là viên chức phụ trách nghi lễ, vì thế tôi có dịp đi gặp đủ mọi hạng người.
Tôi hiểu được người Việt là một dân tộc đầy nhiệt tình, rất cởi mở. Họ nhiều nhiệt tình và cởi mở hơn cả người Hoa hay người Nhật. Họ khác hẳn người Nhật Bản. Chúng tôi thường nói chuyện về chiến cuộc, về những ảnh hưởng tệ hại của chiến tranh đã đè nặng thế nào lên các gia đình mà tôi quen biết. Tôi lui tới thăm viếng nhiều gia đình. Chính chồng tôi đã nhận làm cha đỡ đầu cho một chú bé mới sinh lúc tôi ở đấy, chú bé con của một trung úy Việt Nam. Suốt đời họ là một cuộc chiến tranh dai dẳng, dai dẳng đến nỗi chiến tranh, đối với họ, chỉ là chuyện thường tình. Đó là một khung cảnh phù du, không thực.
Khi Phước Long thất thủ đầu năm 1975, người ta bối rối, nghi hoặc, nhiều hơn là sợ hãi. Người ta luẩn quẩn với các câu hỏi “Phải chăng đây là khởi đầu của một đoạn cuối thực sự?” Hoặc câu hỏi “Liệu người ta có đủ khả năng chặn đứng chuyện ấy hay chăng?” Rồi đến lúc người miền Nam triệt thoái khỏi Cao Nguyên, dòng người tỵ nạn lũ lượt lê bước kéo đi, đến đây mới là lúc người ta bắt đầu chạm mặt cảm giác sụp đổ hoàn toàn.
Chúng tôi lại còn thường hỏi những chuyện như “Liệu người ta có đủ khả năng phục hồi hay không?” Tôi vẫn không tin tình trạng xấu sẽ kéo dài mãi mãi. Tôi vẫn còn nghĩ như vậy cho đến tháng tư 75 sau khi di tản khỏi Biên Hoà.
Đầu tháng Tư, một điện văn từ Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ gửi đến nói: “Di tản ngay tất cả đàn bà Mỹ.” Vỏn vẹn có thế. Tôi đọc tấm điện văn, giận run. Ông đại tá Chỉ huy trưởng liếc nhìn rồi cho gửi một điện văn phúc đáp, nói “Không có đàn bà Mỹ nào ở đây cả! Chỉ có các nhân viên tiếp vận các nhân viên hành chánh. Xin cho biết loại nhân viên nào không còn cần thiết ở đây?” Lúc ấy, dưới quyền đại tá Chỉ huy trưởng, có đến mười phụ nữ làm việc ở Biên Hoà. Họ gửi lại một điện văn khác, nói “Hoan hô!”
Đại tá Chỉ huy trưởng lúc ấy bèn thiết lập một danh sách nhân viên ở Biên Hoà theo thứ tự ưu tiên. Vài phụ nữ được đưa ra khỏi nước, vì xem như không cần thiết. Vài phụ nữ khác được xem là cần thiết, chẳng hạn như tôi, được giữ lại. Chính thức ra, chưa có chương trình di tản.
Để thực hiện chương trình này, đầu tiên người ta tìm người tình nguyện đi kèm đám trẻ con, đây là một cách gián tiếp di tản. Một nữ nhân viên của chúng tôi là Selma Thompson, vì quá sợ pháo kích và đạn súng cối, không chịu xuống Biên Hoà nữa. Lúc ấy cô ở Sàigòn. Bên toà đại sứ cho tin những ai muốn đi thì liên lạc. Họ cho có 24 giờ đồng hồ để sửa soạn.
Các phụ nữ làm việc ở Biên Hoà không được tin tức gì vụ này, cũng không biết về việc có chuyến C-5A chở trẻ con ra đi. Riêng Selma vì ở Sàigòn, biết được, nên đã xin. Cô ta vì sợ pháo kích và súng cối mà đã ở lại Sàigòn, rồi chính vì thế đã leo lên chiếc máy bay này. Cô ấy đi chuyến C-5A vào ngày 4 tháng tư. Khi nhận được tin chiếc C-5A bị rớt, chúng tôi cực kỳ bàng hoàng. Chỉ đường tơ kẽ tóc, biết đâu tôi đã chẳng leo lên chiếc máy bay ấy? Suốt đêm, chúng tôi chờ tin. Cuối cùng điện thoại từ Sàigòn đánh xuống cho biết Selma hãy còn sống sót và đã được di tản ra khỏi xứ. Đấy là cái kinh nghiệm đầu tiên của chúng tôi về cái gọi là di tản.
Tôi rời Biên Hoà ngày 10 tháng Tư. Trước đó, đại tá Chỉ huy trưởng đến, nói: “Được rồi; bây giờ đưa hết mọi người ra đi.” Ông đã có danh sách lập trước, mỗi ngày kiểm lại, cứ thế chỉ định những người đi. Đến lúc chỉ có bốn, năm người còn lại, trong đó có tôi. Chồng tôi còn ở lại lâu hơn nữa.
Tôi đi lúc mười giờ sáng. Chúng tôi di chuyển bằng chiếc xe chuyên chở nhỏ, xe buýt tiêu chuẩn của chính phủ Hoa Kỳ. Bốn năm người chúng tôi ngồi trong xe, chạy qua nhiều nút chặn, rất nhiều trạm kiểm soát suốt từ Biên Hoà lên đến Sàigòn.
Đã nhiều tháng qua tôi không đi lại con đường này vì mỗi lần đi Sàigòn, tôi thường sử dụng trực thăng. Bây giờ đi xe buýt trên đường này, tôi kinh ngạc thấy đầy những vòng kẽm gai kéo loằng ngoằng trên đường, tại các trạm gác. Mãi đến khi ra khỏi xe mới không nhìn thấy kẽm gai và trạm gác nữa.
Hình minh họa
Trên chuyến xe, đây là lần đầu tiên tôi bắt đầu cảm thấy một nỗi đe dọa từ các bạn đồng minh người Việt. Họ biết chúng tôi đang rời Biên Hoà. Thực quá dễ biết, dù chúng tôi đã bỏ lại tất cả, mỗi người chỉ đem một túi nhỏ xách tay. Đây là lần đầu tiên tôi đâm lo sợ là chính những người bạn đồng minh có thể giết chúng tôi. Người Mỹ đang bỏ họ ra đi. Cho đến phút cuối, vẫn còn có những người Việt hỏi “Khi nào máy bay B-52 trở lại” Họ không thể tin nổi người Mỹ sẽ không còn trở lại với những chiếc oanh tạc cơ nữa.
Một việc chúng tôi đã làm là lo di tản cho các nhân viên cộng tác với chúng tôi. Họ không cần phải đến xin, chúng tôi hỏi họ có muốn đi không, cũng có vài người không muốn đi.
Tôi đến toà Lãnh sự Mỹ với một người đàn ông Việt Nam từng làm việc với tôi. Trước, anh ta ở trong quân đội Việt Nam, đã giải ngũ. Anh ta muốn rời khỏi nước với vợ và hai con. Vợ con anh đã ra đi được với tư cách là vợ và con của chồng tôi. Bây giờ chúng tôi đến toà lãnh sự, tôi sẽ ký một tờ khai xác nhận người đàn ông này là “chồng theo thông luật.” Theo thủ tục này người Mỹ khỏi cần khai vợ chồng theo hôn thú. Họ có thể đến tuyên thệ rằng đây là vợ hay chồng đã sống chung theo thông luật, họ muốn xin cho vợ hay chồng di tản, mặc dầu họ chưa được quy định là nhân viên không cần thiết để sẵn sàng ra đi.
Tôi mang theo một chứng thơ xác nhận tôi là nhân viên không cần thiết, mọi thứ để trống, khi nào cảm thấy muốn đi chỉ việc điền vào ngày tháng rồi đi. Tất cả chúng tôi lúc ấy đều có những chứng thơ này.
Chồng tôi đã theo thủ tục này mà giúp được đến ba phụ nữ đi với tư cách là “vợ” của anh vào ba lần khác nhau! Tất nhiên các nhân viên lãnh sự Mỹ đều biết chúng tôi nói láo. Họ bị ràng buộc bởi các luật lệ của chính phủ Việt Nam, không thể cho người đi nếu những người này không có thông hành xuất ngoại. Nếu những người này không phải là nhân viên cơ quan Mỹ thì vẫn có cách giúp họ là đến toà lãnh sự mà thề là đã lấy nhau.
Tôi xấu hổ phát chết khi đến đấy thề rằng tôi có một anh chồng sống chung. Anh ta tất nhiên vẫn thường gọi tôi là “Cô Diane,” vì đấy là tên tôi. Tôi dặn đi dặn lại rằng: “Đến toà Lãnh sự thì đừng có gọi tôi là cô Diane nữa nhé.” Và tất nhiên mỗi khi Lãnh sự hỏi anh ta câu gì, tôi phải mau miệng trả lời. Tôi bảo “Thưa đây là chồng tôi, tôi cần đưa ông ấy đi di tản.” “Cho xem hôn thú!” Tôi nói “Chúng tôi chưa lập hôn thú, nhưng đã sống chung với nhau.” “Sống chung bao nhiêu lâu rồi?” Tôi bảo “Dạ, dạ…chừng một năm rưỡi… rồi!”
Ông Lãnh sự nheo mắt nhìn. Ông ta thừa biết tôi khai láo. Ông ta quay sang hỏi “ông chồng” của tôi…”ông chồng” vội vàng quay sang tôi lắp bắp “Cô Diane…” Tôi bảo “Khổ quá! Đã dặn là đừng có gọi tôi bằng cô Diane nữa!” Nhộn thật!
Còn về ba gia đình quân nhân làm việc với chồng tôi, cả ba đều đã nhờ chồng tôi giúp đưa vợ con đi, nhưng không ai nhờ giúp cho bản thân họ. Họ không hỏi tôi giúp. Vì tự ái, không ai đến nhờ tôi đưa bằng cách ấy. Nhưng rồi cả ba người cuối cùng trong vòng một tháng đều lần lượt đến được Guam bằng tàu. Lúc ấy, vì chúng tôi làm việc trong trại tỵ nạn ở Guam, chúng tôi đã chứng kiến cảnh đoàn tụ mừng tủi của họ với những bà vợ mà chồng tôi giúp đưa đi.
Còn “ông chồng” mà tôi đưa đi, đã sang được Phi Luật Tân, rồi sang Guam, cuối cùng đoàn tụ được với vợ con, hiện nay họ đang định cư ở San Diego.
Chúng tôi đã thực hiện những việc như thế cho những người đã cộng tác với chúng tôi. Họ đã sợ hãi, sợ hãi như thế cũng đúng thôi. Một trong những người chúng tôi không đưa đi, vì anh ta không yêu cầu ra đi, một trung úy muốn ở lại với gia đình. Vợ anh có con sơ sinh. Anh đã bị đưa vào trại cải tạo hơn bảy năm, bị đánh đập tàn nhẫn. Chúng tôi nhận được một số thư và lời nhắn của vài người cho biết tin tức về anh ấy.
Vào những giờ phút cuối, người ta có cảm giác Cộng sản sẽ tàn sát tất cả những ai có liên hệ với người Mỹ. Nỗi sợ hãi này lan tràn như bệnh dịch.
Hình minh họa
Tôi không còn biết tin vào đâu. Tôi nghĩ có lẽ họ sẽ giết một số lớn những người trong quân đội. Bất kể ở Đông Phương hay Tây Phương, kẻ chiến thắng nào có cái-gì-gọi-là-danh-dự? Đã nhiều cuộc tắm máu xảy ra! Tôi không biết Cộng sản rồi đây sẽ tàn sát hay sẽ chỉ hành hạ họ. Và sau này điều Cộng sản đã làm, nói chung, chính là đã hành hạ cuộc đời họ với đầy thống khổ.
Thời gian này mọi người đều mang vũ khí. Nhưng là một người theo chủ nghĩa hoà bình, tôi không muốn giữ vũ khí làm gì. Ai nấy đều bỏ súng trong cặp, sau này còn đeo cả vào bao súng. Họ cấp phát vũ khí, hỏi tôi muốn lấy thứ nào. Tôi bảo: “Không, tôi không muốn thứ nào.” Họ hỏi: “Thế lỡ Việt Cộng mở cửa hầm, chĩa súng vào cô thì sao?” Tôi bảo: “Ờ, có lẽ chết thôi.” Họ không tin. Tôi bảo họ: “Khi tình nguyện sang Sàigòn, độc thân (lúc ấy người chồng thứ hai của tôi và tôi chưa lấy nhau) không con cái, không người phải nuôi dưỡng, không nợ nần, không có cái gì cả, tức là tôi đã sẵn sàng để nếu phải chết thì cũng chết thôi. Tất nhiên tôi không mong chết, nhưng có bị bắt cũng chẳng sao.” Một ông đại tá Thủy quân Lục chiến lúc ấy nhìn tôi, nói: “Chuyện cô bị bắt sẽ không bao giờ xảy ra.” Tôi hỏi “Sao thế” Ông ta nói “Vì tôi sẽ giết cô trước!”
Tôi hơi cáu hỏi lại: “À, vậy đại tá đứng ở phía nào?” Ông bảo ông sẽ không bao giờ để cho Việt Cộng cầm tù một phụ nữ Mỹ. Tôi nói: “Đại tá ơi, này nhé: Cứ để Việt Cộng bắt tôi đi. Cứ cho là chúng hành hạ tra tấn tôi vài năm nhé, đủ các thứ trò ngoạn mục ấy mà, rồi đại tá xuất hiện, tung cửa bước vào giải cứu tôi, rồi chúng mình sẽ viết sách nhé, làm phim nhé, kiếm hàng triệu đô la như chơi!” Tôi đùa, nhưng ông đại tá này vẫn không xem đấy là chuyện đùa. Ông ta bảo: “Tôi sẽ không cho phép những bọn người như thế cầm tù phụ nữ Mỹ!” Ông ta là một tay bảnh trai, nhưng khó quên nổi cái kiểu nói chuyện với giọng “nam nhi tay tổ” của ông.
Chồng tương lai của tôi đã được xếp vào loại không cần thiết. Khi anh rời xứ, tôi vẫn còn ở lại. Tôi viết thư cho ba người anh và em tôi để giải thích tại sao tôi còn ở lại, tôi nói tôi cảm thấy điều ấy là cần thiết và nếu lỡ mệnh hệ gì, thì tôi đã sửa soạn sẵn sàng cả rồi. Tôi làm chúc thư, tôi đã làm hết mọi điều có thể làm nhưng tôi cũng hy vọng sẽ ra khỏi xứ này.
Chúng tôi nỗ lực di tản tất cả ngưòi Mỹ ra đi trong khả năng chúng tôi. Cũng cố mang đi càng nhiều thân hữu của người Mỹ càng tốt. Đối với những người đã cộng tác, đã giúp đỡ chúng tôi, mang được họ đi là giúp cho đời sống của họ tốt đẹp hơn. Tôi cảm thấy tôi đang làm một công việc xứng đáng và có giá trị, sẵn sàng chấp nhận mọi hiểm nguy.
Trước đây đã một lần tôi cũng có cái cảm giác này, là vào lúc Tổng thống Kennedy bị ám sát. Cảm giác ấy là: Nếu họ giết tôi để Kennedy được sống, tôi cũng sẵn sàng chấp nhận cái chết. Cảm giác này xảy ra lần nữa khi chúng tôi xuống đường tuần hành tại toà Bạch ốc lúc người Mỹ xâm phạm Campuchia vào mùa Xuân 1970. Cuộc xuống đường bất hợp pháp, người ta có thể nổ súng vào đám biểu tình tại toà Bạch ốc. Nhưng lúc đó, cảm thấy mãnh liệt tính chất bất công của việc tiến vào vùng Mỏ Vẹt ở Campuchia, chúng tôi vẫn cứ tuôn vào cuộc biểu tình. Như thế đã ba lần trong đời tôi có cảm giác này. Khi tôi tin tưởng mãnh liệt, tôi sẵn sàng chết cho niềm tin của tôi. Tôi không mong chết, tôi không tìm cái chết, nhưng đôi khi nếu cảm thấy phải chết cho niềm tin, thì cái chết ấy cũng chính đáng.
Lúc ở trong căn hầm trú ẩn tại căn cứ văn phòng Tùy viên Quân sự, tôi có một thư ký, người này có vợ hai con. Tôi bảo anh ta hãy ra đi. Nghe thế, đề đốc Owen Oberg nói: “Sao được. Lấy ai phụ trách việc tống thư văn.” Tôi bảo: “Anh này có vợ hai con. Anh ta cần di tản khỏi xứ. Tôi hãy còn độc thân, chẳng có gì ràng buộc. Nếu phải đánh máy giấy tờ, tôi lo lấy cũng được.”
Hình minh họa
Về việc di tản ra khỏi xứ, gần như bất cứ lúc nào tôi muốn là tôi có thể đi. Người ta chỉ cần giữ một số người tối thiểu. Mọi người Mỹ còn lại đều mang theo mình một chứng thư để trống tên, trống ngày. Chứng thư xác định “Người này tên là… không phải là nhân viên cần thiết kể từ ngày…” Và khi muốn đi, chỉ việc đề tên, đề ngày tháng, rồi đi thẳng ra chỗ người ta đang sắp hàng vào máy bay mà bảo: “Ô kê! Tôi muốn ra đi.”
Tôi rời Việt Nam đêm 28 tháng tư. Bấy giờ là lúc một giờ sáng. Tôi quyết định ra đi vì tôi biết giờ cuối cùng sắp điểm. Chúng tôi có một hệ thống truyền tin chặt chẽ với Hoa Thịnh Đốn bằng mật mã, mặc dầu không phải là nhân viên truyền thông, nhưng trong công việc tôi vẫn phải sử dụng hệ thống này.
Tôi biết hệ thống giải mã, mỗi ngày tôi đều có nhiệm vụ phải thay đổi các mật mã truyền tin. Do đó khi nhận tín hiệu mật đánh vào, giải mã xong tôi biết chuyện gì đang xảy ra. Tôi tự nhủ: “Ô kê, đã đến lúc phải đi.” Tôi biết tình hình không còn kéo dài hơn nữa.
Tôi đã kiệt quệ, biết rằng chẳng còn làm gì hơn được. Chồng sắp cưới của tôi đã ra đi. Với các mật hiệu đánh vào, tôi hiểu giờ cuối cùng đã điểm, và tôi không muốn phải đi bằng tàu hạm đội. Lúc bấy giờ các đề đốc hải quân vào căn cứ văn phòng Tùy viên làm việc và thường bay ra hạm đội mỗi đêm – Địch quân thắt chặt vòng vây, mỗi lúc một gần căn cứ, người ta có thể nghe rõ tiếng đạn, và nhiều cuộc chạm súng xảy ra. Một hôm, đề đốc Oberg bảo tôi: “Sao cô không theo chúng tôi? Ban đêm chúng tôi có thể đưa cô ra ngủ ngoài hạm đội.”
Tôi bảo: “Thưa đề đốc, ông đã ở ngoài biển bao nhiêu lâu rồi?” Ông nói chừng bảy tháng hay chín tháng gì đấy. Tôi bảo: “Thế đã bao lâu ông chưa lên bờ?” Ông nói lâu lắm rồi, nhiều tháng rồi chưa lên đất liền. Tôi bảo: “Đề đốc ơi, thế thì thà tôi ở lại với Việt Cộng còn hơn!” Trung tâm điều hành di tản lúc nào cũng căng thẳng, người ta luôn luôn cứ phải khôi hài. Hết gọi máy bay, lại đến điều hợp các chuyến đi. Không tán dóc, không tiếu lâm, không còn xả nổi những áp lực trong các công việc căng thẳng.
Giữa bầu không khí như thế, một lần đề đốc Oberg nhờ tôi ra trung tâm thành phố bằng chiếc xe màu đen có cửa kính gương, xe chính phủ Mỹ. Tôi rành về mỹ thuật, lúc làm việc trong hầm trú ẩn, chúng tôi thường nói chuyện về đề tài này nên ông muốn nhờ tôi mua hộ một bức tranh, hoặc một món đồ thủ công nghệ tiêu biểu của Việt Nam để làm quà kỷ niệm cho người bạn ở Mỹ có đứa con trai chết tại Việt Nam. Ông cho tôi biết chừng giá tiền, rồi nhờ tài xế người Việt chở tôi ra phố.
Ra trung tâm Sàigòn, tới đường Tự Do, nơi có nhiều tiệm bán đồ mỹ nghệ, tôi không tin nổi là mọi sự vẫn có vẻ bình thường. Không có gì rối loạn. Chỉ yên tĩnh hơn một chút. Điều ấy có một cái gì kỳ cục, giống như trong những cuốn phim của Fellini.
Từ Tân Sơn Nhứt, người ta đang dốc hết nỗ lực bốc người di tản trong một bầu khí căng thẳng gần phát điên lên được, mà rồi đi xuống Sàigòn… Tất cả vẫn bình thường. Tôi nghĩ: “Nhưng người ta làm gì được bây giờ? Chẳng lẽ điên cuồng chạy vòng quanh hay sao! Chắc chắn là không!” Tôi bước vào một tiệm bán đồ mỹ nghệ, nấn ná xem vài giờ đồng hồ cho đến khi chọn được một món quà tiêu biểu. Rồi tôi lên chiếc xe hơi màu đen của chính phủ Mỹ trở về lại Tân Sơn Nhứt. Thực kỳ cục. Tôi đã sợ khi xuống phố với chiếc xe hơi ấy. Tôi sợ dân chúng nhìn thấy có người Mỹ ngồi trong xe, họ đã biết chúng ta đang rời xứ.
Đêm rời Việt Nam, tôi leo vội lên chiếc xe buýt chạy ra phi trường. Chúng tôi len lấn lên máy bay, tôi nhớ hình như chiếc máy bay vẫn tiếp tục lăn bánh trong lúc chúng tôi dồn vào. Chắc chắn chiếc máy bay đang đậu, nhưng trong tâm trí tôi, hình như chiếc máy bay chỉ rà trên mặt đất hai phút đồng hồ, vì việc bốc người rất điên cuồng, nhưng rất nhanh chóng. Vừa rời khỏi xe buýt, người ta thúc: “Đi tới, nhanh, đi, nhanh!” Họ đẩy chúng tôi thật nhanh vào khoang chứa đồ.
Hình minh họa
Chúng tôi ngồi bệt trên sàn, bám tay vào những sợi giây ràng hàng hoá. Mọi người im phắc trong một bầu khí sợ sệt, kỳ cục. Tôi còn nhớ những nhân viên phi hành Mỹ đứng ở cửa sổ máy bay, lăm lăm mấy khẩu súng hoả châu. Họ giật mình khi thấy một người đàn bà Mỹ, tôi nhớ thế. Họ nhìn tôi như muốn hỏi “Cô là ai?”
Họ lấy làm lạ vì lúc này tất cả những người di tản đều là người Việt, chỉ còn lại rất ít người Mỹ. Cũng còn một vài người đàn bà Mỹ trong xứ, nhưng rất ít, sau này họ đều được chuyển ra bằng trực thăng.
Tôi mệt bã người, lúc ấy chẳng nghĩ ngợi. Điều duy nhất chỉ còn mong cho máy bay đến được phi trường Clark an toàn, không trúng đạn. Đó là nỗi lo lắng duy nhất bởi vì lúc cất cánh thì máy bay bị bắn, không biết đạn đồng minh hay của Việt Cộng. Người ta đã kể nhiều chuyện về việc bạn đồng minh bắn lên lúc máy bay cất cánh, họ đã cay đắng. Họ đã cay đắng quá nhiều.
Lúc ấy, tôi biết tôi đang rời xa một xứ sở mà tôi đã đem lòng yêu mến. Đất nước ấy thật là một đất nước đẹp đẽ. Tôi lấy làm buồn khi biết dân chúng miền Nam đã thua cuộc và có lẽ họ sẽ tiếc hận việc này. Tôi vẫn nghĩ có thể họ đã thắng cuộc chiến, nếu chúng ta đừng dính đến. Nhưng tôi cũng nghĩ cuối cùng Tự do vẫn sẽ chiến thắng bởi vì họ đã từng được hưởng mùi vị của Tự do. Tôi thành thực tin tưởng ở bất cứ một nơi nào con người bị đàn áp, bất cứ dưới một chế độ cai trị nào chăng nữa, cuối cùng Tự do cũng vẫn thắng thế trở lại thôi.
Tôi bay đi Phi Luật Tân. Chúng tôi hạ cánh, mặc dầu phi trường đã đóng. Chúng tôi được rời khỏi máy bay nhưng không được phép ra khỏi xưởng chứa máy bay. Tôi thiếp một giấc trên ghế, khi tỉnh dậy chỉ còn lại mỗi mình tôi, tất cả người Việt đã đi khỏi. Tôi hỏi họ đâu? Người ta cho biết họ đều đã được đưa sang Guam. Người ta không đánh thức tôi dậy, tôi cũng không nghe thấy tiếng họ rời. Trong xưởng chứa máy bay, ngồi trên mấy cái ghế của câu lạc bộ các bà vợ sĩ quan, tôi nhớ tôi đã đứng bật dậy, hỏi: “Những người Việt của tôi đâu?” Họ trả lời: “Chúng tôi đã đưa họ sang Guam vì Tổng thống Ferdinand Marcos ra lệnh đóng cửa, không cho họ vào Phi.” Tôi mệt nhoài. Tôi kiệt quệ. Khi họ bảo những người Việt của tôi đã đi hết, tôi bật khóc. Mấy người Mỹ lẳng lặng tránh ra, mặc tôi một mình. Họ muốn gửi tôi đi Guam ngay, nhưng tôi bảo tôi có chiếu khán vào Phi Luật Tân. Tôi đã xin chiếu khán này ngay khi mới đến Sàigòn. Tôi đưa cho một viên đại tá xem hai cái thông hành, một thông hành công vụ và một thông hành du lịch. Ông ta không tin nổi. Ông ta nói: “Được rồi, vậy tôi sẽ đích thân đưa cô đến khu vãng lai của sĩ quan, kiếm cho cô một cái phòng.” Tôi ngủ một giấc ở đấy, khi thức giấc, cuộc chiến đã xong.
Thức giấc, tôi xuống dưới cầu thang, thấy ngay cái tựa lớn trên trang nhất của tờ báo quân đội Mỹ: “Sàigòn đã sụp đổ.” Đọc bài báo tôi có cảm giác kỳ lạ, gần như đã giải thoát, thế là xong. Xứ sở ấy đã sụp đổ, thế là hết. Kết thúc. Trong tất cả những cuộc tình đổ vỡ, người ta đều cảm thấy một nhu cầu tâm lý, đó là nhu cầu kết thúc. Đối với tôi, tôi nghĩ tôi cũng có cùng một nhu cầu này, bởi vì tôi cũng đã có một cuộc tình gắn bó với đất nước Việt Nam.
Xong xuôi. Tôi đến gặp các nhân viên Trung tâm Tiếp vận, bảo họ: “Khi liên lạc với Guam, xin nhắn với Roy – Chồng sắp cưới của tôi – là tôi hiện ở đây.” Nhưng họ đã quên không nhắn, nên tôi phải mất ba ngày mới lấy được chuyến bay. Anh ấy tưởng tôi vẫn kẹt ở Sàigòn. Khi đến Guam, người ta loan báo là họ cần những người đã ở Việt Nam tình nguyện ở lại giúp trại tỵ nạn. Mặc dầu không muốn ở lại, chúng tôi muốn tiếp tục đi ngay, nhưng họ đang quá cần các nhân viên thiện chí, vì người tỵ nạn đang dồn dập kéo vào, và họ đang bù đầu để lập thủ tục những người mới tới. Nên chúng tôi tình nguyện.
Hình minh họa
Chúng tôi ở lại đấy một tháng. Rồi chúng tôi đi nghỉ đổi gió ở Hạ Uy Di hai tuần trước khi về lại Cali.
Ngày nay hỏi chuyện người Mỹ, bạn sẽ thấy nhiều người không biết chiến tranh Việt Nam chấm dứt lúc nào, cũng không biết rằng khi Sàigòn thất thủ, quân đội Mỹ đã không còn hiện diện ở đấy. Nhiều người không biết chuyện quân Mỹ đã rút đi từ hồi 73, rồi nhân viên dân sự kéo vào. “Quân đội Mỹ đã mất mười năm để thua trận. Còn nhân viên dân sự chỉ mất có hai năm.” Thiệt là một chuyện diễu dở, nhưng mà…
Suốt hai năm, tôi không muốn nói năng gì về chuyện Việt Nam. Khi về lại Mỹ, đáng lẽ phải viết ngay một tờ khai các vật dụng mất mát để được chính phủ bồi thường, khoảng đâu mỗi Mỹ kim được nhận lại mười xu. Tôi đã bỏ lại rất nhiều đồ đạc, áo quần, giấy tờ hình ảnh cá nhân, nhưng phải đúng một năm và mười một tháng sau, tôi mới có thể ngồi xuống đặt bút viết tờ khai.
Trở về Mỹ tôi cảm thấy mình như một con ngốc vì mỗi lần nghe tiếng động lớn tôi vẫn chúi mình núp dưới đất. Những chiến binh đều đã trải qua kinh nghiệm này. Phải một hai năm sau mới hết. Rồi lại lan man nghĩ ngợi đến những người bên kia, giờ này họ ra sao. Đấy là một giai đoạn thực quan trọng của đời tôi. Thỉnh thoảng tôi nói những chuyện ấy với người ở bên đây, nhưng đôi khi tôi cảm thấy mình thật lạc lõng như người tự cung trăng. Có người cũng chú ý lắng nghe, nhưng chẳng ai có ý niệm gì về tất cả những điều tôi đã trải qua.
Ngay bây giờ, trong lúc nói chuyện với ông đây, tôi vẫn đang run rẩy. Mỗi lần nói về những chuyện này, tôi không bồn chồn hốt hoảng, nhưng vẫn đầy xúc động. Tất cả những gì trải qua, giờ đây đã là những xúc động in đậm trong lòng tôi.
Tôi cũng có lúc nghĩ rằng ký ức cá nhân tôi và những chuyện của thời đã qua được tô điểm bằng những màu sắc của một chuyện tình, vì Việt Nam là nơi tôi gặp chồng tôi, việc ấy đã làm cho tôi có một cái nhìn khác biệt về xứ sở này chăng. Tôi yêu mến xứ sở này bởi vì đó là nơi tôi đã trải qua những tháng ngày hạnh phúc. Tôi nghĩ những người khác vì không có cái gắn bó như thế, biết chừng đâu họ có thể nhìn mọi việc với một nhãn quan khác chăng. Phần tôi, tôi đã đạt được một cuộc hôn nhân nhiều hạnh phúc.
Cho nên trong trí nhớ, tự nhiên tôi chỉ muốn hồi tưởng lại những gì hạnh phúc. Tôi cũng chỉ còn muốn nói đến những gì hạnh phúc. Những hạnh phúc ấy, như ngồi với chồng tôi trên một bãi biển ở Vũng Tàu năm xưa, nhấm nháp một cốc rượu sâm-banh mà nhìn ngắm chiến tranh, nhìn ngắm một đám khói đen như đám mây khổng lồ bay đến từ những vùng đất đang cầy lên bom đạn, rồi tự bảo “Không thể nào tin nổi. Chúng ta đang ngồi đây, trên một bãi biển đẹp nhất thế giới, nhìn cuộc chiến tranh này mà nhấm nháp một cốc rượu sâm-banh.”
Henry Hicks (Nhân viên văn phòng tùy viên quân sự)
Tôi ráng tới sở làm nhưng họ cứ nổ súng bắn tôi.
Ngày 24 tháng 4, tôi đưa gia đình ra khỏi Sài Gòn, tôi nghĩ khi tình trạng khẩn trương qua đi, gia đình sẽ trở về. Tôi không bao giờ tin đất nước này sẽ sụp đổ, ngay cả vào giây phút cuối. Tuy nhiên tôi vẫn đưa gia đình ra khỏi xứ. Tâm trạng tôi lúc đó giống một anh suốt đời vô thần, lúc gần chết, gọi người bạn đến yêu cầu kiếm hộ một mục sư. Khi người bạn hỏi: “Tại sao cần mục sư?” Bèn trả lời: “Bởi vì tôi có thể lầm”. Tôi không nghĩ đất nước này sẽ sụp đổ, nhưng tôi nghĩ tôi có thể lầm. và nếu tôi lầm, tôi không muốn gia đình tôi phải trả giá cho sự lầm lẫn đó.
Trung Tướng Homer Smith giao cho tôi nhiệm vụ di tản nhân viên văn phòng Tùy viên Quân Sự. Mọi việc tiếp diễn tốt đẹp cho đến đêm 28 tháng 4. Chúng tôi đang làm việc cật lực để đưa người đi, bỗng xuất hiện vài chiếc máy bay khốn kiếp. Chúng thả bom. Mấy tên cựu sĩ quan không quân Việt Nam đào thoát sang phía bọn khốn kiếp Bắc Việt đã lái những chiếc máy bay này. Chúng thả bom phi đạo khiến máy bay chúng ta không thể hạ cánh được Rồi đúng đêm hôm đó chúng nã hỏa tiễn vào.
Khoảng 2 giờ sáng ngày 29, tôi quyết định về nhà đánh một giấc ngủ. Tôi lái xe qua thành phố, trời tối đen như mực, chẳng có một ngọn đèn. Sớm hôm sau tỉnh giấc, lái xe trở lại Tân Sơn Nhất thì mấy tên lính gác nổ súng cảnh cáo khi đến gần cổng phi trường. Tôi trở về, điện thoại đến Văn Phòng Tùy Viên Quân Sự xem có chuyện gì xảy ra tại đó . Người ta bảo hãy đậu xe ở ngoài rồi đi bộ vào cổng, như vậy không có vấ đề gì. Vì thế, tôi lái xe trở lại, đậu xe, bắt đầu tiến vào cổng phi trường, thì một lần nữa bọn lính gác khốn kiếp lại nổ súng. Dĩ nhiên họ không cố ý giết tôi, tôi nhớ thế. Họ chỉ tìm cách dọa nạt thôi. Tôi đứng cách khoảng 200 bộ Anh, họ vẫn tiếp tục bắn. Tôi quay lưng lại , rời phi trường lần thứ hai. Tôi lên xe lái về nhà, lại gọi văn phòng Tùy viên Quân sự. Tôi nói: “Bọn nhân viên khốn kiếp của các ông đã nhận được lệnh chưa? Chuyện gì kỳ cục xảy ra vậy ? Tôi ráng đến sở làm nhưng họ cứ nổ súng bắn tôi ? ” Lần này họ bảo đến số 191 đường Công Lý. Tôi nghĩ khi đến đó, sẽ có người đưa tôi đến nơi làm việc. Nhưng khi đến nơi, người ta đưa thẳng tôi lên sân thượng. Một chiếc máy bay đã đậu sẵn- chiếc trực thăng của hãng Air America. Chiếc máy bay vẫn đợi … Đợi cho đến 3,4 giờ đồng hồ khốn kiếp! Vì vậy tôi lại gọi Văn phòng Tùy viên Quân sự hỏi: “Sao cha phi công này không chịu đưa tôi đến Tân Sơn Nhất ?” Họ nói :”À, hắn được lệnh đợi thêm vài người nữa.” Chúng tôi lại đợi. Rồi nhiều người khác xuất hiện. Cuối cùng viên phi công nói:” Xong, chúng ta đi.” Cả bọn người khốn khổ bước vào trực thăng, đông đến nỗi viên phi công không cất cánh được , hắn phải bỏ bớt một số người ra. Cuối cùng hắn cất cánh, nhưng không trực chỉ Tân Sơn Nhất. Hắn bay về hướng Vũng Tàu.
Viên phi công hạ thấp máy bay. Tôi nhìn xuống. Tôi nghe được cả tiếng súng nổ, nhưng tưởng tiếng pháo. Tôi trông thấy vài đứa trẻ vẫn nô đùa trong sân trường học khi bay qua thành phố. Mọi việc vẫn có vẻ êm đềm…Nhưng tôi cảm thấy một nỗi buồn tê tái khi rời khỏi nơi này. Một nỗi kinh tởm lớn lao. Tôi không thể tin là chúng ta đã để cho bọn Cộng Sản thắng trận chiến này.
Chúng tôi bay qua Vũng Tàu, trực chỉ biển Đông. Nhìn qua cửa sổ trực thăng, tôi bỗng thấy cả một hạm đội dưới biển. Quang cảnh giống như caqcsw bức hình trong thời đệ nhị thế chiến, khi các hạm đội tập hợp. Chúng tôi tiến về chiếc Blue Ridge, nhưng chưa được phép hạ cánh, trực thăng quay lại vòng thứ hai, rồi đáp. Ngày hôm sau, nhiều máy bay trực thăng nữa cũng đáp xuống chiếc Blue Ridge. Ngay sau khi hạ cánh, người ta lật nhào mấy chiếc trực thăng xuống biển. Đó là một cảnh tượng tệ hại nhất mà chưa bao giờ người ta được thấy.
Hình minh họa
Trên chiếc Blue Ridge, bọn nhà báo có một căn phòng riêng, một căn phòng đặc biệt dành cho họ làm việc. Tôi không muốn chuyện trò giao lưu gì với họ. Thực ra, tôi cũng từng có những quan hệ tốt đẹp với bọn nhà báo cho đến cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân. Sau đó, tôi nhớ họ đã gọi cái Tết này là một “Đại Thắng” của Cộng sản. Tôi hiểu quá rõ là không phải như vậy. Bọn nhà báo cũng hiểu như vậy. Khi ấy tôi đã nghĩ:” Vậy bọn nhà báo muốn những chuyện khốn nạn gì đây?” Tôi từng coi một vài tấm hình, dĩ nhiên xếp đạt trước, họ chụp sau Tết, khi vụ tấn công đã xảy ra. Những tấm hình này có tác dụng khiến cho lòng người tan nát.Rồi tôi cũng lại được coi thêm nhiều bức hình nữa cũng đã dàn cảnh trước. Tôi bắt đầu nghĩ ngợi: “Chẳng còn có gì bọn nhà báo lại không thể dàn cảnh ra được nữa!”
Trước hết vào đầu cuộc chiến, chúng tôi đã tổ chức nhiều buổi họp báo để cung cấp tin tức cần thiết cho báo chí viết bài. Nhưng chẳng bao lâu, bọn nhà báo gọi những buổi thuyết trình này là : Trò điên lúc 5 giờ “. Họ luôn luôn có nhuwngxchuyeenj khốn kiếp như thế. Thật ra chúng tôi chưa bao giờ cảm thấy ai là người có trách nhiệm phải bảo đảm các bài viết tốt để bọn nhà báo bán báo kiếm lời, rồi chia lời cho các cổ đông của họ. Thật ra, đối với họ, báo chí chẳng qua cũng chỉ lkaf việc làm ăn buôn bán. Họ làm ăn buôn bán kiếm lợi thế thôi! Vậy mà họ cứ vo ve, ra vẻ như một nhóm người cực kỳ đặc biệt trên cõi đời.
Bọn truyền hình lại là bọn tệ hại nhất. Bọn khốn nạn này là bọn chẳng bao giờ nói ra sự thật, chẳng bao giờ chịu nhìn thấy sự thật. Tôi không bao giờ hiểu nỗi bọn truyền hình đã làm những chuyện trời ơi đất hỡi gì ở Việt Nam… Nhưng rõ ràng: SỰ THỰC KHÔNG BAO GIỜ ĐƯỢC HỌ NÓI LÊN.
Ai cũng biết có nhiều loại rau ăn với mắm kho. Ðó là bông bí rợ, điên điển, lục bình, so đũa; đọt bầu, đọt bí đao, đọt bí rợ, đọt mướp; lá chùm ruột, lá lốt, lá vông nem; rau càng cua, rau đắng, rau dền, rau diệu, rau dừa, rau má, rau mát, rau muống chẻ, rau ngổ, rau nhút, và cải trời; có đầy dẫy trong vườn hay ngoài ruộng.
Nhiều loại rau như vậy nhưng khi ăn mắm kho có ít nhứt ba loại không thể nào thiếu cho được! Ðó là rau ngổ, cọng bông súng và hẹ ruộng (hẹ nước).
Ở Mỹ Tho có cái địa danh ‘Chợ Bưng’! (quê của bà Ngoại tui). Hồi xưa tui cứ tưởng bà con mình đi chợ nầy mua gánh, bán bưng không hè; sau ngẫm lại không phải.
Chợ Bưng là chợ của đồng Bưng; nơi đất nhiễm phèn nên có rất nhiều hẹ nước. Không có bán hẹ nước ngoài Chợ Bưng vì một lẽ muốn ăn với mắm kho thì cứ ra ruộng mà nhổ về ăn, ngu sao mà mua hè?
Bà con mình thường nói đồng ruộng. Xài riết quen nên mình không phân biệt được đồng và ruộng. Cứ tưởng là một thứ. Ruộng rộng chừng vài công. Nó có bờ đê và đường nước. Ruộng để trồng lúa. Từ ruộng, ông bà mình đào mương lên liếp để lập vườn. Sống ở vườn ít cực hơn ở ruộng. Nên mẹ mong gả thiếp về vườn. Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh.
Còn đồng rộng hơn ruộng nhiều. Trên đồng có đưng (cói), tranh, lác. Nó rộng đôi khi cả ngàn mẫu. Rộng đến nỗi chó chạy cong đuôi. Chạy tới ngáp ngáp mà vẫn chưa có giáp. Nên có tên là Ðồng Chó Ngáp.
Ðồng dọc mé sông nước lên nước xuống thì gọi là biền. Còn đất giồng bao vòng vòng thì mình gọi là đồng bưng. Vì trên đồng đó nó có cái bưng. Bưng và biền đều có nhiều Việt Cộng. Vì sình bùn không lính quốc gia làm sao mà lội cho nó giáp?
Mà nổi tiếng nhứt là Ðồng Tháp Mười, Tây gọi là “Plaine des Joncs”, tức là Ðồng Cỏ Lác. Chiều ngang Ðồng Tháp Mười từ Hồng Ngự tới Tân An khoảng 120 cây số. Chiều dọc từ Cao Lãnh tới Svay Riêng (bên Miên) khoảng 70 cây số tính ra khoảng 8,000 cây số vuông tức 800 ngàn mẫu tây. Nếu kể cả khu giữa hai sông Vàm Cỏ thì non một triệu mẫu Tây, tương đương 10,000km².
Tháng Bảy tới tháng Mười âm lịch hằng năm vào mùa nước nổi. Vùng trũng Ðồng Tháp Mười, nơi giáp ranh biên giới Campuchia, do mưa kéo dài nên nhiều sông ngòi, kinh, rạch, đồng đất đã có nước về. Dẫu nước chưa nhảy lên bờ nhưng cũng bắt đầu lé đé và đó cũng là lúc những đám hẹ nước không biết từ đâu ngoi lên giữa mênh mông mùa nước nổi.
Tuy vậy không ít dân Sài Gòn hay ngay cả người Miền Tây vẫn chưa biết tới loại hẹ nước độc đáo nầy. Như miệt Cần Thơ, mấy em mình hỏi tui rằng sao em hổng thấy hẹ nước đó anh Hai?
Tại sao vậy? Chẳng qua thằng Tây nó ‘ác’ lắm. Nó cho xáng cạp, xáng múc đào kinh dẫn nước rửa phèn. Rồi phù sa sông Hậu theo nước của con kinh bồi lấp bưng, biền ngày một chút. Lâu ngày chày tháng vùng trũng đó thành đồng bằng, thành đất thuộc để bà con mình đào mương lên liếp lập vườn hết ráo.
Vì hẹ nước chỉ khoái mọc hoang trong bưng biền còn nhiễm phèn vào mùa nước nổi; nên miệt vườn Cần Thơ làm sao có nó cho em thấy để em nhổ về ăn với món mắm kho?
o O o
Nhắc tới mắm kho là tui nhớ tới 2 người. Một là Má tui. Trên cõi đời nầy không ai kho mắm ngon bằng Má tui. Kể cả ‘bà chằn lửa’ của tui.
Hai là tui nhớ ‘Cú Sin’, tên tiếng Tàu. Còn tiếng Việt là gì? Em nói Quế Thanh. Quế Thanh giống tên mấy người đẹp trong truyện chưởng của Kim Dung. Tui nịnh em! Quế Thanh tên đẹp quá! Tên em làm anh nhớ tới tài tử Chân Trân trong phim ‘Mùa thu lá bay’ phỏng theo tiểu thuyết của Quỳnh Giao. Em nghe tui nịnh sảng, tui sánh sắc đẹp của em với Chân Trân nên em khoái quá trời!
Chẳng qua tháng Giêng, năm 1973 tui đang là SVSQ khoá 4/72 Trường Bộ Binh Thủ Ðức. Ði Chiến dịch Hiệp định Paris, tui về xã Tân Phú Trung, quận Bình Ðại, tỉnh Kiến Hoà (Bến Tre). Xã Bốn cho ba đứa tụi tui vô ở trong cái phòng hội đồng nhân dân xã trước cửa đồn nghĩa quân.
Tranh Bảo Huân
Tranh Bảo Huân
Quế Thanh dân Chợ Lớn về thăm Má. Nhà là tiệm bán bánh thuẩn cho đám cưới, kế bên đồn. Năm đó tui mới 21 tuổi, khờ câm hè. Quế Thanh mới 17 tuổi coi bộ còn khôn hơn tui.
Lương sinh viên sĩ quan bằng lương trung sĩ độc thân chỉ có 4,500 đồng. Cơm tháng do vợ một trung đội trưởng nghĩa quân nấu một tháng tới 4 ngàn. Nên tui đành sống cầm hơi, bữa đói, bữa no nhờ đồng bào mời ăn đám giỗ. Quế Thanh chắc thấy tội nghiệp nên kêu tui ăn khính cơm em nấu. “Anh đừng đi xuống ấp kiếm cơm nữa; coi chừng VC nó giết anh”.
Uý trời đất ơi! Giờ nhớ lại 4 tháng đi Chiến dịch Hiệp định Paris ở cái làng quê đó, tình cờ được Quế Thanh nuôi cơm là khoảng thời gian đẹp nhứt của đời tui. Tàn mùa đi chiến dịch, tui trở về trường Bộ Binh. Quế Thanh trở lại Sài Gòn.
Ngày 10, tháng Tám, năm 1973, tui ra Vũ Ðình Trường quỳ xuống đứng lên thành chuẩn uý. Ðược 15 ngày phép mãn khóa, tui vô Cư xá Lữ Gia, đường Nguyễn Văn Thoại, Chợ Lớn tìm gặp Quế Thanh. Em không mặc sườn xám như hồi còn ở quê. Quế Thanh diện đầm đẹp như nữ tài tử Chân Trân thiệt. Gặp tui, em nhí nhảnh cười tươi như hoa mười giờ nở. Quế Thanh dắt tui đi ăn mắm kho và uống beer 33 tại một nhà hàng gần rạp Ðại Nam trên đường Trần Hưng Ðạo.
Sau đó tui được biệt phái về đi dạy ở trường Phan Thanh Giản Cần Thơ. Một chiều đi dạy về, con gái ông chủ nhà trọ nói có Quế Thanh từ Sài Gòn đến tìm anh. Chờ hoài không được nên cô ấy đã trở lại Sài Gòn.
Vậy là đôi ta mất nhau từ độ ấy. Nhơn duyên ai cũng có phần số hết trơn. Nếu có trách gì nhau xin Quế Thanh hãy trách ông Trời; chớ nào phải lỗi tại anh đâu!
Hơn 50 năm rồi mà tui vẫn còn nhớ như in bữa đi ăn mắm kho với Quế Thanh ngày cũ! Hu hu!
Tui nhớ hồi tui 8, 9 tuổi, tía tui làm nghề tay trái là ký giả chuyên phê bình tuồng cải lương cho trang kịch trường báo Tiếng Dội của ông Trần Tấn Quốc ở thủ đô Sài Gòn.
Hồi đó gánh cải lương nào có tuồng mới dựng thường về rạp Vĩnh Lợi của thầy Năm Tú gần chợ Mỹ Tho để hát phúc khảo. Hát phúc khảo là tổng dượt lại. Thầy tuồng tức soạn giả coi lại từng cảnh, từng màn, nên thêm chỗ nào; bớt chỗ nào để vở tuồng được hay hơn. Tuồng hay, sau về rạp Nguyễn Văn Hảo ở đường Trần Hưng Ðạo, Sài Gòn hát tất ăn khách hơn; hát được nhiều suất hơn, hát lâu hơn. Hát phúc khảo cũng là dịp để đào kép hiểu tích, thuộc tuồng. Có vậy, nghệ sĩ mới nghĩ ra cách diễn xuất như thế nào để lấy được nước mắt của bà già trầu ở chợ Cầu Ông Lãnh hay mấy em bán mì ở chợ Nancy. Mà muốn có ai chỉ ra được cái hay, cái dở của tuồng tích không ai bằng ký giả kịch trường. Ðó là nghề của chàng.
Rồi những lời khen tặng của ký giả kịch trường sẽ in trên báo nhằm lăng-xê trước cho vở hát, được bầu gánh cho in ra giấy quảng cáo để xe ngựa đi phát ra, dụ khị bà con đi coi hát tối nay.
Sau khi cánh màn nhung khép lại, vãn tuồng rồi, soạn giả mời ký giả đi ăn cháo khuya. Hai người lai rai ba sợi, rượu vô lời ra, nhắc nhỏ nhau nghe, kêu thêm thắt chỗ nầy mà bỏ chỗ kia. Còn bài lên báo là hổng có cái vụ chê; chỉ có khen. Vì giết kẻ thù chớ giết bạn đành sao!
Chính vì thế mà soạn giả rất trọng vọng ký giả kịch trường. Mời ổng đi xem hát hai ghế thượng hạng. Ghế ngồi chính giữa, gần xịt bên sân khấu. Kép lấy hơi lên gân cần cổ để xuống vọng cổ tới sùi bọt mép mình còn nhìn thấy nữa đó!
Những lần như vậy, má kêu tía phải dắt tui theo. Mãi sau nầy lớn lên, tui mới hiểu má tui làm vậy là để bắn tiếng cho mấy cô đào thinh sắc là tía tui đã vợ con đùm đề rồi, sẽ không dám rủ rê tía tui đi “ăn chè” bất tử.
Tám giờ tối mới mở màn. Coi chưa hết màn đầu là tui buồn ngủ híp hai con mắt. Kèn thổi tò te, trống của dàn nhạc Tây nó đánh rầm rầm, đang mơ màng giấc điệp, ke chảy đầy mồm, bỗng giựt mình thức giấc. “Ò e Rô Be đánh đu, Tạc Zăng nhảy dù, Zô Rô bắn súng” là tui biết màn nhung đã khép lại rồi. Tuồng đã vãn. Mình thức dậy, đi về!
Sau nầy bèo dạt hoa trôi tới nước Úc này đây, đêm giao thừa đi nhậu, tui gặp lại bản “Ò e Rô Be đánh đu”. Té ra nó là dân ca “Auld lang syne” xứ Scotland.
Hồi chưa có dịch, mỗi chiều cuối năm, tui thường lang thang thả bộ ra pub (quán rượu) ở Footscray chỉ cách nhà tui khoảng 10 phút đi bộ, nhậu. Lúc đó còn đi cày, mệt thiệt nhưng tiền bạc cũng hơi rủng rỉnh.
Tui lại quầy mua bia để uống chơi, ngồi tán dóc để học thêm chút đỉnh tiếng đường phố của bọn Úc đá cá lăn dưa.
Người ta nói hổng có sai mà. Muốn giỏi tiếng Úc hãy học trên giường với con vợ Úc. Nếu không có con nhỏ Úc nào chịu làm vợ mình hết ráo thì nên học ở quán nhậu hàng đêm. Không phải tốn tiền học phí; chỉ phải tốn tiền bia. Tốn tiền nhiều chừng nào bụng bự và tiếng Úc mau giỏi chừng nấy.
Chính vì nghe cái giọng tiếng Úc lơ lớ, tá lả như xổ tràng đạn đại liên M60 của tui, con nhỏ Úc gốc Ý phục vụ bia bọt, “sexy” vì em cổ nhũ, mắt xanh mỏ đỏ nó rất khoái nói chuyện với tui.
Nhưng năm rồi nè, dịch bùng phát dữ dội, tiểu bang Victoria (trong đó có thủ phủ Melbourne của tui) mông xừ Thủ hiến Daniel Andrews ra lịnh đóng cửa quán nhậu một lèo tới 112 ngày.
Chiều chiều không đi nhậu tán dóc được với em, ở nhà cuồng cẳng, cuồng chân. Tui nhớ cái không khí ồn ào của quán nhậu vui hết biết chiều cuối năm mà buồn biết bao trong tấc dạ.
Giao thừa năm nay được thằng cha Thủ hiến tiểu bang xả cảng, tui vội vác càng tôm đến quán để gặp lại người xưa.
Em nháy mắt với tui rồi hỏi xỏ: “Bộ sút chuồng hả?”. Tui trả lời: “Tại nhức đầu!”. Em có vẻ lo lắng: “Nhức đầu sao đi nhậu?”. Tui trả lời: “Tui sung lắm! Nhức đầu là con vợ của tui”.
Em đặt trước mặt tui một ly bia đầy bọt. Tui ngửa cổ làm một hơi nghe cái ót, cạn hết nửa ly. Xong, tui kể cho em nghe câu chuyện tựa đề Thượng đế cho con hỏi như vầy nè:
Thượng đế ra lịnh: “Adam, ta muốn con làm một chuyện rất quan trọng này cho ta”. Adam đáp: “Tâu Thượng đế! Ngài muốn con làm gì?”. “Ði xuống thung lũng”. Adam hỏi lại: “Thung lũng là gì?”.
Thượng đế cắt nghĩa cho Adam nghe, rồi nói: “Qua sông”. “Sông là gì?”. Thượng đế lại cắt nghĩa cho Adam nghe, rồi nói: “Ði qua ngọn đồi”. “Ðồi là gì?”. Thượng đế lại cắt nghĩa cho Adam nghe, rồi nói: “Ở phía bên kia của ngọn đồi, con sẽ tìm thấy một cái hang cỏ mọc um tùm”. “Hang là gì?”. Thượng đế cắt nghĩa cho Adam nghe, rồi nói: “Trong hang, con sẽ tìm thấy một con nữ”. Adam hỏi: “Nữ là gì?”.
Thượng đế lại kiên nhẫn cắt nghĩa cho Adam nghe, rồi nói: “Ta muốn con sản xuất bé bi”. “Làm thế nào để con làm được chuyện đó?”. “Trời ạ!”. Thượng đế thở hào hển. Sau đó, ngài thở dài và đem hình ảnh con ong, con bướm ra làm giáo cụ trực quan để cắt nghĩa cho Adam nghe. Adam rất thích cái chuyện đó. Nên Adam háo hức xuống thung lũng, băng qua sông, qua đồi và chui vào một cái hang. Nơi đó Adam tìm thấy một con nữ. Một lúc sau, Adam quay lại và hỏi: “Tâu Thượng đế, nhức đầu là gì ạ?”.
Con nhỏ phục vụ bia bọt khoái chí cười hí hí. Tui bèn ướm lời: “Ðêm nay em có nhức đầu hông?”. Nó thè lưỡi nói: “Hổng dám đâu!”.
o O o
Trong lúc tui đón Giao thừa trong quán nhậu thì dân Úc lại túa ra đường xem bắn pháo bông. Mèo chuột ôm nhau hun hít và cười vui như con nít.
Khi nửa đêm ập đến, năm 2021 đáng để quên, lùi vào lịch sử. Màn bắn pháo bông đêm giao thừa dài 12 phút, nổi tiếng trên toàn thế giới tại cầu cảng Sydney, thủ phủ của tiểu bang New South Wales đông dân nhứt Úc Châu bắt đầu.
Mọi năm cả triệu người bu lại để xem bừng sáng pháo bông nói lời tạm biệt năm cũ. Nhưng năm rồi con Delta gây chết người nhiều quá. Năm nay con biến thể Omicron lây lan dữ quá, dân Sydney không còn xúm lại chùm nhum một đám. Tụi nó đổ ra đầy bãi biển Bondi. Vì nơi đó thông thoáng hơn; nguy cơ lây nhiễm cũng thấp hơn.
Rồi sau đó, những cảnh tượng hùng vĩ tương tự lần lượt nổ tung ở Adelaide, thủ phủ tiểu bang Nam Úc, Darwin thủ phủ lãnh thổ Bắc Úc và Perth, thủ phủ tiểu bang Tây Úc vì khác múi giờ.
Không chịu thua kém Sydney, bầu trời đêm Melbourne cũng bừng sáng pháo bông.
Úc này cũng vui! Cưới vợ là đặt dấu “on bon phi nan” cho đời sống độc thân tự do. Chấm dứt những ngày vui. Những ngày muốn làm gì làm. Giờ làm bất cứ cái gì cũng phải xin phép. Nghĩa là bắt đầu một cuộc đời nô lệ. Vậy mà cũng có một thằng Úc cho rằng mình là một người may mắn mới cưới được một con vợ thổ dân. Ðêm Giao thừa, nó dắt con vợ mới ra đứng giữa đường. Hai đứa ôm nhau xà nẹo. Chụp hình rồi post lên facebook khoe với bàn dân thiên hạ là tao vừa bị con vợ tao tuyên án chung thân.
“Ò e Rô be đánh đu”, thiệt là ngu như một con kangaroo!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.