Nước son?!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 21 Jan 2024

Cuối thế kỷ 19, Tây tới. Thực dân Pháp chiếm được nước ta bèn chia ra Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ cho dễ bề cai trị. Tháng Chín, năm 1945, Việt Minh cướp chánh quyền. Nước ta lại là: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ. Năm 1954, thời Ðệ nhứt Cộng hòa, Tổng thống Ngô Ðình Diệm. Nước ta lại là: Bắc Phần, Trung Phần và Nam Phần.

Hết Kỳ, Bộ, rồi tới Phần cũng chỉ một nước ta, nơi ông cố, ông cha lập ra đó thôi! Tuy nhiên, người nhạy bén nghe Nam Bộ hay Nam Phần là biết ngay phe ta hoặc phe nó! Do đó gặp ông anh nào khoe tui là dân Miền Tây Nam Phần là mình rủ nhậu. Còn tao là người Tây Nam Bộ chắc còn lâu!

Nam Phần được chia nhỏ ra làm hai: Miền Ðông và Miền Tây. Miền Tây còn gọi là Ðồng bằng sông Cửu Long. Gọi như vậy vì vùng đất nầy do phù sa sông Cửu Long bồi đắp, lấn biển từ cả chục ngàn năm trước.

Gọi là đồng bằng nhưng mặt nó không có bằng như mặt sân đá banh đâu. Nó cũng có chỗ cao như giồng. Chỗ thấp như bưng, biền, lúng, láng, bàu, tràm. Sở dĩ gọi là đồng bằng là vì nó không có núi cao. Nếu có, chỉ là miệt Thất Sơn Châu Ðốc, vùng biên địa sát với nước Kampuchia.

Con sông Cửu Long nầy khi vào địa phận nước ta thì chia ra làm hai: Sông Tiền và Sông Hậu. Sông cái đẻ ra nhiều nhánh sông con, mình kêu là rạch. Con rạch là con sông quá nhỏ, uốn ngoằn ngoèo như ruột ngựa, nối liền qua những lung, bàu, tròn tròn méo méo như hình mấy cái bao tử, gan, lá lách. Cơ thể con người cần mấy cái nầy mang chất bổ đến để nuôi sống. Ðồng bằng sông Cửu Long cũng cần sông, rạch, kinh, mương mang phù sa đến nuôi sống. Hổng có tụi nó thì chết cha hết ráo!

Sông, rạch do thiên nhiên tạo ra ban tặng cho người nên nó quanh co tùy theo thế đất. Còn kinh, mương thì do bà con dùng xáng múc, hoặc đào bằng tay nên nó thẳng băng hè.

Bà con mình ai cũng biết nơi nào có nước là có sự sống. (Chính vì vậy, phi thuyền lên Sao Hỏa, nóng chết cha, cái đầu tiên các nhà khoa học cố tìm cho được là nước.)

Cũng chính vì vậy, phần lớn xóm làng miền Tây đều nằm dọc hai bên bờ sông nước. Có bến nước, có cái cần vó thả xuống kéo lên kiếm cá, kiếm tôm, kiếm tép kho bậy ăn cơm. Có chiếc xuồng ba lá cột vào cây mù u sau đám dừa nước. Cây dầm đem cất trong nhà. Lâu lâu chèo qua sông ăn đám. Hoặc chèo ra ngã ba sông nơi nhà cửa đông đúc hơn, có một chợ nhỏ một vùng quê để mua thuốc ‘ốc lăn xe’ ông già le lưỡi vấn để hút chơi!

Dọc hai bên bờ sông là đường đất. Xịt vô một chút là hàng rào cây bùm sụm, bông bụp. (Chớ hổng có lũy tre xanh gì ráo như các làng ở miền Bắc). Sau cái hàng rào đó, là một khoảng sân nho nhỏ rồi tới hàng ba nhà. Sau nhà là vườn cây ăn trái. Huê lợi do cam, quýt, mận, dừa là tiền đi chợ. Hết chục công vườn, mới tới vài mẫu ruộng. Làm lúa để có cơm ăn.

Ðồng bằng sông Cửu Long rộng minh mông, dẫn thủy nhập điền cũng đâu có phỉ hết. Phải nương theo thiên nhiên, theo mùa mưa hay nắng, theo con nước lớn, ròng mà làm ăn sanh sống. Chính vì vậy nhà nào cũng có bàn Thiên. Nhá nhem tối nào cũng đốt nhang. Trời thương cho bà con mình sống phẻ re như con bò kéo xe. (Chớ hổng có cái vụ hỗn hào, vô lễ thay trời làm mưa như mấy tay CS vô thần!)

Ðất rộng người thưa, biết kính trời thương đất nên cuộc sống dân Miền Tây thuở xưa khá thảnh thơi; vừa làm vừa chơi cũng đủ ăn!

o O o

Mùa nước nổi tự nhiên ở Ðồng bằng sông Cửu Long thường bắt đầu từ tháng 7 âm lịch đến tháng 10 âm lịch (khoảng tháng 8 đến tháng 11 dương lịch) hàng năm.

Năm nào mưa nhiều ở thượng lưu, nước sông Cửu Long từ từ dâng cao ở hạ lưu thành lụt. Nước bò từ từ lên mặt đất nên bà con cũng có đủ thời giờ cụ bị đồ đạc, bồng bế nhau lên giồng hoặc lộ xe che chòi ở tạm. Ba tháng sau, nước giựt thì về nhà cũ.

Miền Tây có lụt chớ không có lũ. Miền Trung hoặc Miền Bắc vừa có lụt vừa có lũ. Lũ nó xảy ra khi mặt sông hẹp, độ dốc của lòng sông cao. Thượng nguồn thời tiết bất thường do bão tố, mưa nhiều làm tốc độ dòng chảy qua nhanh gây ra lũ quét. Lũ quét về cái ào chạy không kịp là chết.

Lũ là thiên tai, gây hại. Còn lụt là hiện tượng của thiên nhiên có lợi. Ðất đai được nước về tắm mát. Nước làm các nguồn sâu bệnh gây cho lúa má bị chết chìm hết ráo.

Tắm mát xong, ruộng vườn lại được nước cho ăn no. Phù sa lờ đờ, lửng lửng lơ lơ trôi vào rạch, vào mương vườn, vào ao. Khi nước ròng, hiện ra một lớp bùn non, gọi là đất mỡ gà (màu giống như mỡ của con gà).

Mùa khô, hai năm một lần gàu xúc sình, tức phù sa, dưới mương vụt lên bồi liếp. Bằng không làm thì mương cạn, nước hết chảy vô.

Năm nào liếp vườn được phủ phù sa, trái sai oằn. Lạng quạng là gãy nhánh như chơi.

Rồi theo con nước, cá linh, cá lòng tong, tôm tép… vào rạch, xuống đìa, tha hồ sanh sôi nẩy nở. Cá linh tươi roi rói nấu canh chua với bông điên điển. Cá lòng tong kho tiêu. Hai món thôi ăn đặng cơm lắm nhe bồ!

o O o

Dân  Miền Tây yêu đất và yêu nước. Nên con trai tên Giang; con gái tên Thủy rất nhiều. Ðất nước là một từ yêu dấu không thua gì ba má với em yêu.

Bà con mình coi con nước như một con người, vì nó có sức sống. Lúc nghèo ít nước thì: nước kém, nước sụt, nước giựt, nước ròng, nước cạn quéo, nước cạn queo.

Hổng nghèo, cũng hổng giàu, nước không nhiều cũng không ít thì: nước đứng, nước nằm, nước chừng, nước nhửng, nước ương.

Còn giàu, nhiều nước, là: nước bò, nước nhảy, nước rong, nước lớn và cuối cùng là nước lụt.

Thế nên anh nào nằm mơ thấy nước lụt minh mông, mình ướt hết; không phải là mình đái dầm đâu mà sắp vô mánh đó!

Tranh Bảo Huân

Nhưng mới đây, tui trộm nghe một ông nhà văn cắt nghĩa nước đầu mùa mới về miền Tây quê mình là nước son, là nước có phù sa gọi là nước đỏ.

“Tôi thấy nước có màu hồng của hoa phượng, của màu gạch ngói đã phai. Nước không thiệt đỏ như thỏi son môi của các chị, các cô trong xóm. Biết là như vậy nhưng sao tôi vẫn thích gọi là nước son như người lớn ở đây đã gọi” (sic)

Sông nước quê nhà, tui thấy màu con nước nó vàng quạch như màu của sương sa chớ đỏ như son hồi nào? Chữ ‘nước son’ nầy là nó có từ thời khẩn hoang Miền Nam trước khi Tây tới chừng 200 năm. Lúc đó người phụ nữ chân quê làm gì có cái vụ son môi còn thắm của mấy bà Ðầm?

(Phụ nữ lúc đó có môi còn thắm nhưng không phải do son môi mà nhờ ăn trầu.)

‘Son’ trong ‘nước son’, theo tui là cái gì đang độ vừa chín tới như trong chữ ‘thời son trẻ’. Vì ca dao cũng có câu: “Lấy chồng từ thuở mười ba. Ðến năm mười tám thiếp đà năm con. Ra đường thiếp hãy còn son! Về nhà thiếp đã năm con với chàng” (Nghĩa là 5 lửa rồi nhưng em đang sung độ đừng có chê nhe cha nội!)

Do đó nước son quê mình là nước dâng lên kha khá (như con gái 16, 17 tuổi) vẫn còn lên nữa; nhưng chưa tràn minh mông thành lụt ở đồng trũng quê mình.

Tác giả còn viết – “Nước son là gì hở, má?”

Miền Tây mình hông có vụ ‘hở’ bao giờ! Bà con mình dùng chữ ‘hả’. Nhưng để kính trọng, thương yêu mẫu thân thì họ sẽ hỏi: “Nước son là gì vậy, má?”

Tui e rằng tác giả viết về sông Cửu Long trong Nam mà lòng lại tơ tưởng tới Sông Hồng ngoài Bắc hay chăng?

Tui không kỳ thị, phân biệt vùng miền. Chữ vùng nào cũng có cái hay của nó. Nhưng dân miệt nào phải nói tiếng miệt ấy. Tiếng nói từ đất, từ nước, từ ông bà mà ra; mình viết trật chìa đâu có được nè!

Tàn canh gió lạnh

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 21 Jan 2024

Ở phố Em bệnh viện trung ương nằm trên đồi cao. Tìm tới nhà thương hoành tráng kia có ba con lộ lớn lòng vòng quanh thân và ơn Chúa, có lắm chuyến xe buýt rậm rật chạy ngang trên những tuyến đường nọ. Hà rầm. Điều chi. Năng nổ. Vượt dốc. Gầm rú. Choáng váng.

Phương tiện vận chuyển công cộng trong thành phố đạt hiệu quả tốt, tổ chức giỏi, lưu tình để quan hoài tới cư dân, giá vé rẻ, mềm, bèo; nói chung chưa nghe ai than thở, hoặc có thở than nhà nước cũng giả bộ điếc. Nước đổ đầu vịt! Quanh khu vực lộng gió lắm khúc quành tử thần kia hai phần ba hành khách ngồi trên xe là học sinh, phu phen lao động. Một phần ba là y tá của nhà thương chen lẫn cùng những kẻ đang gặp sự cố bệnh tình, không lên đồi cao vạch áo cho người ta xem lưng thì coi mòi chẳng êm, bồn chồn thắt thỏm. Một bài toán đố mặt xanh lè muốn biết ngay đáp số.

Nhà ông Phúc mướn ở địa điểm thuận lợi, xét riêng cái khoảng lân cận với hội đoàn thương xá chợ búa quán ăn cà phê cà phiết các thứ của “người mình”. Nhưng cách biệt cả ngàn dậu mồng tơi, xa ngút trăm đoạn đường dài, thở không ra hơi khi leo tới được ngưỡng cửa bệnh viện. Rõ là mấy sông anh cũng lội mấy đèo anh cũng qua. Ông Phúc nói với con: Có bà nào đẹp dàng trời cư ngụ chốn này ỏng ẹo gọi bố tới thì tao sẽ bảo: Dẹp, không rảnh! Con gái ông thuộc diện thông minh, dù qua lâu vẫn chưa quên tiếng nước nhà. Cực chẳng đã nó dắt ông đi bởi tiếng Pháp nó nói như gió cuốn tiếng Anh thì tợ mây bay. Nó hiểu hết những gì cha già tâm sự nguồn cội nhưng đối đáp cho bố thông tình đạt lý thì hơi bị cà lăm. Trong đầu nó giam cuốn từ điển cũ kỹ xác xơ, hơi lâu vì nó bận lật giở tra cứu. Phát âm cũng không chuẩn chẳng cần chỉnh, ai đời tiếng Việt mà nó gọi “tiếng Diệt”. Mai mốt ông Phúc chết, ở hải ngoại thương ca buồn nhiều hơn vui này nó sẽ lấy chồng sinh con thì chắc sẵn trớn nó diệt luôn tiếng mẹ đẻ cũng vừa. Hu ke!

Công tâm thì ông Phúc cũng đâu đến nỗi nào. Chả lưu loát gì nhưng Pháp văn, ông biết viết biết đọc biết nói. Chút chít măng rê moả nơ pa động đậy. Hồi còn thơ ngây ông đã uống lưỡi tựa thế cơ mà, nhằm đính chính rằng thì là chuột nó xơi đấy, tao chả nhúng tay vào đâu! Giờ đây, vấn nạn nằm ở chỗ lắc léo này, đó là càng ngày cư dân xứ lạnh tình nồng càng mặn Anh văn, bỏ quên điều luật 101 mà văn bản tô đậm nét: Nói tiếng Pháp, xin vui lòng. Chính quyền tỉnh bang đốc thúc, cổ suý, bảo tồn, trân trọng chuyện về nguồn. Nhưng đớn đau thay mọi nơi mọi chốn người người đều hồ hởi nói tiếng Anh, và ngay bệnh viện trung ương có đến 70 phần trăm sĩ số cứ fuck cố fuck xác. Ông Phúc chửi: Merde, không chắc có đứa hiểu. Hard to say I’m sorry. Con gái ông đành phải nhọc thân làm người bạn đồng minh không hề tháo chạy, dắt “đại bàng” đi khảo sát mặt trận sức khoẻ.

Muốn ngồi ở đây dài cổ ngó đời hiu quạnh, ông Phúc đã trải qua cả tháng trời xét nghiệm để có được hồ sơ bệnh lý dày như một cuốn tiểu thuyết chuyên đề hình sự. Rất căng những màn tra khảo cật vấn, những giờ đo đạc xét nghiệm với bao cơ man là dụng cụ dễ làm thót tim. Ông Phúc đã lớn xác, tuồng đã khô cạn những suối lệ; chứ còn trẻ nhỏ e ông đã khóc nhè trên vai cô con gái. Khóc vì sợ, khóc vì tủi thân, khóc vì phận người phải một mình đương cự, tả xung hữu đột với sanh lão bệnh tử. Tứ khổ chứ tứ khoái nỗi gì! Bố nói sao ạ. Con không hiểu. Ờ bố nói mình ên, con hiểu làm chi cho nhọc xác. Ông nhìn trộm cô con gái 19 tuổi, cục vàng di động của ông. Thanh tú, thon thẻo, sáng lạng, đẹp dàng trời. Nhan sắc ăn đứt mẹ nó thuở xa xưa, bởi dễ hiểu nó chào đời với sự cộng tác của song phương. Ông từng đùa: không có tao đố mẹ mày làm nên. Và người vợ yêu quý của ông cũng tám lạng nửa cân, chẳng kém cựa khi nói: Chả biết nó giống ai mà ông hàng xóm khi trông mặt phải phát sốt bởi ngộ nhận!

Bà tên Hạnh, lấy chồng mang tên Phúc, và cặp đôi hoàn hảo ấy sinh con gái đặt tên là Bằng An. Chẳng có gì đáng ca cẩm càm ràm nếu vợ ông đừng sớm bỏ cuộc chơi. Tự dưng cuộc đời bắt ông phải hoá thân làm con gà trống. Một con gà thôi biết đá, hết đạp mái, tắt tiếng gáy để ủ rủ nhìn bình minh mà ngỡ là hoàng hôn rút vào chuồng lạnh. Lúc ấy Bằng An vừa xong tiểu học, đường học vấn còn dài; không riêng con, tự thân ông đã phải đương cự với biết bao vấn nạn mà bản chất một thằng đàn ông vẫn bối rối khi đối mặt. Bên con, tay trong tay gượng đỡ nhau qua tháng ngày, ông đã nhìn ra sự biến đổi tâm sinh lý, cái cách u sầu vu vơ thoạt nóng thoạt lạnh của một thiếu nữ mang đôi mắt chứa nhiều bóng tối. Ông cảm nhận rõ hố sâu cách biệt ngày mỗi nhích rộng khoảng trống giữa hai cha con. Đi chợ, khi thấy treo bảng hạ giá, ông đã lấy vội vô số những bông vệ sinh dùng trong thời gian kinh nguyệt. Không đợi một ngõ lời, ông thường tự động dúi tiền vào tay con bởi nó có lắm nhu cầu cần thanh thoả. Ông nghĩ vụng thế. Đôi ba chiếc áo nịt vú chẳng hạn, một hai cái quần lót chẳng hạn, linh tinh những mỹ phẩm chẳng hạn, những thứ mà nó sẽ mạnh miệng vòi vĩnh nếu còn mẹ một bên lưng. Thương con khi thiếu mẹ, nhiều đêm nằm không ngủ, ông tự vấn, chẳng rõ mình có sơ suất bổn phận làm cha?

Ông đi làm, ông đi chợ, ông giặt giũ, ông nấu nướng, ông chùi nhà, ông làm trăm công nghìn chuyện chỉ với một yêu cầu nhỏ: Bằng An, tệ lắm con phải xong đại học như ý nguyện ngày nào của mẹ. Nói có vẻ hàm hồ, ông Phúc đang ba đầu sáu tay ngon cơm vậy tự dưng có ngày, đùng một cái số phận bị điểm danh, tay chân rụng rời. Ngày u ám đó đến, khách không mời nhấn chuông, thoạt kỳ thuỷ là vọng dội nghe đau ở ngực. Rồi chụp quang tuyến X, rồi thử nghiệm máu, nước tiểu, kể cả sự hô hấp hít thở. Rồi CT Scan. Rồi nghi ngờ ung thư. Rồi chấm dứt tất cả đoạn đường chiến binh kia bằng quyết định tối hậu: Giải phẫu.

Mặt ngọc Bằng An xuống sắc, xám tro. Bác sĩ bảo trong ngực bố có một vật gì đó lớn bằng quả trứng gà. Họ sẽ rạch một đường cắt dài hai mươi lăm phân để lấy nó ra. Họ dặn con phải trấn an bố, mức độ nguy hiểm trong quá trình phẫu thuật chỉ leo lên tới 25 phần trăm. Bố chớ ngán, bố đừng sợ. Nó an ủi bằng cách thức của đứa khô cạn từ ngữ. Nó càng lóng cóng tìm lời diễn đạt ông Phúc càng nhói lòng thương con vô hạn. Ông can đảm nuốt ngược nước mắt vô trong không cho Bằng An thấy. Hạnh phúc là gì? Chẳng ai hiểu. Bằng An là gì? Là nhấp nhổm ngồi với bao lo toan, rối trí không biết mai này ổng còn đó hay mình sẽ đối mặt với lẻ bóng, quạnh hiu, lặng như tờ, im thin thít, mồ côi giữa xứ sở giá băng? Không cách chi tịnh tâm, lòng dạ luôn nổi sóng. Đấy là tên gọi, ngữ nghĩa của bình yên chăng?

Mít-tơ Phất. Người ta vừa kêu tên ông, cố đọc đúng mà sự diễu nhại ẩn mình trong ngôn từ. Người mình có ai mang tên Đéo không nhỉ? Không, trăm lần không vạn lần không. Bất quá chỉ nghe ông gì đó, ổng nói: Tao đéo có chơi với mày nữa. Và giả vô phước mang cái tên quái đản ấy e chỉ có nước làm tài xế taxi để thồ mấy bà mang bệnh bành trướng ham xơi của lạ, hiếp đáp cho tới hồi cạn sinh lực mới xù, đéo chơi nữa.

Ông Phúc đứng lên, đi quàng xiên theo vị mặc áo choàng trắng. Đó là hiện thân của những thiên thần, đúng không? Cả thế giới đều nức lòng tán dương vùng đất này ở cái khoảng an sinh xã hội, mà quả có đúng vậy thật, từ khi đặt chân ở thế kỷ trước đến bây chừ, ông Phúc tuyệt chưa giả cho chúng nó một xu hào tháng ngày nằm viện. Lạ, chuyện nhân đạo, lòng từ tâm bác ái ông học trong sách vở từ ấu thơ, phải đợi đến lúc xuất dương sang chốn này ông mới thấy qua mặt ngang mặt dọc của nó.

Cao tay nghề, mát tay, tài năng, những lương y như từ mẫu đã đổ mồ hôi mang ông Phúc qua khỏi cầu tre lắc lẻo. Nằm phòng hồi sức, không kể ban ngày đúng ba cử phải hả họng xơi nguyên cả nạm thuốc xanh xanh đỏ đỏ trẻ nhỏ thấy cũng ưa, canh khuya thanh vắng có bà y tá dịu dàng vén màn vào thì thào hỏi han bên tai, sướng rêm như lọt mình vô trang sách liêu trai chí dị. Thấy bớt đau chưa? Yên cho tôi xem. Tốt lắm, vết cắt may không nhiễm trùng. Tắt đèn bấm, trong bóng tối nhờ nhợ người đàn bà khổ hạnh kia ôm ông Phúc vào lòng để sửa lại gối chăn, bà xem xét những con số nhảy lò cò trên máy đo, bà cho ông uống một viên thuốc khá lớn, thiếu đường bắt ông le lưỡi để kiểm chứng thực sự nó đã trôi chưa hay ông dấu nó dưới lưỡi. Bà đợi ông cạn chén tới giọt nước cuối, khà một tiếng mới chịu đặt ông nằm xuống gối. Cẩn trọng, dịu dàng như bất kỳ một người mẹ nào chăm sóc khi con ốm. Hình như duy nhất bà Marcelle ấy nói tiếng Pháp, tuổi tác hẳn kém ông Phúc chừng mười năm, người đẫy đà, da thịt đàn hồi thơm thứ hương hoa nở thầm vụng trong đêm, ở góc vườn quạnh vắng. Bà chỉ là y tá, nhưng có khi bà hoá phép thành một cái phao, siết ôm lấy nghe hạnh phúc tìm về, đứng vây quanh chỗ nằm để thông báo chuyện đơn giản, đời sống vẫn trôi, ngươi vẫn còn hít thở và còn phân biệt đâu là ác quỉ đâu là thiên thần. Ác quỉ lẫn trốn dưới giường chờ chực một xoá sổ và thiên thần kiên nhẫn thầm thì cho riêng người cần nghe: Chẳng có gì phải sợ hãi nó khi hằng đêm ta đến vỗ về ngươi.

Người ta quyết định cho ông xuất viện sau hai tuần xơi cơm nhạt ở nhà thương, sau mười bốn ngày chứng kiến cảnh ra đi của cụ bà nằm giường bên rồi điền thế một khứa lão thập tử nhất sanh miệng mồm luôn mấp máy như thể siêng ôn lại lời trăn trối. Người ta nhẫn nại đứng nhìn ông thay đổi xiêm y, người ta biểu ông thử bước xuống những bậc cấp xong rồi lại bảo đi lên chớ vịn vào thanh gỗ uốn lượn một bên. Môn trắc nghiệm đạt điểm cao và người ta hoan hỉ bắt tay ông, chúc may mắn khi về lại chốn ngập bụi trần.

Ở phố Em có lắm hội đoàn, không ai dở hơi xoè bàn tay ra để bấm đốt nhẫm tính nhưng đứa chẳng hâm cũng hay biết là chí ít không dưới mười hội. Ở phố Em đơn vị chục được quy ra thành mười hai, thì nói nào ngay siêu thị của bọn Tây tà một vỉ trứng gà cũng chứa đủ mười hai hột đó thôi. Có đâu như người Sa Đéc hoành tráng, nói tội trời, chục tới mười tám lận. Rộng rãi cũng có cái mệt, nhiều quá biết cách gì rờ cho xong xơi cho hết. Bá thở!

Chục mười hai thì đa phần là những hội chính quy, giương tên ra đã nghe uy tín, nhưng chen cài trong tổng số nọ thì hội Lưới Hồng thuộc dạng du kích dấu diếm môn bài mần ăn chùng vụng. Tuy thầm thà thậm thụt không cầu chứng tại toà điệu võ dương oai nhưng Lưới Hồng có thể vì hữu xạ tự nhiên hương hay sao đó mà giang hồ không ngớt đồn thổi rậm rật về cái hội lạ đời kia. Những lão độc thân tại chỗ khi khổng khi không đâm linh hoạt xởi lởi mồm miệng và những ông trở chứng không ưa cơm nhà quà vợ thì tự dưng chỉnh tu lại bộ vó “anh về chải đầu đổi xiêm y lại, ngạo với Lưới Hồng hội một nụ cười”.

Chuyện tới tai ông Phúc khi đi ăn tân gia một người bạn luôn thể mừng sinh nhật gia chủ tròn sáu bó. Sơ khởi ông nắm được chút thông tin: Lưới Hồng có khoảng hai chục hội viên không kể cảm tình viên vô ra mắc cửi thoạt biến thoạt hiện. Điều lệ nội quy chưa có thì giờ minh định rõ nhưng muốn gia nhập thì phải hội đủ: Cơ bản bạn là đàn bà con gái buồn nhiều hơn vui, chả ấn định tuổi tác nhan sắc gì ráo, bạn luôn tỉnh táo nghĩa là chưa mát giây ăn quàng nói xiên. Bạn mãi thất bại trong tình trường, từng góp gạo nấu ăn chung với bọn khác giống mà bị đối tượng lừa phỉnh đem hất đổ chén cháo hẩm một sớm một chiều. Tóm gọn bạn là con gái trời bắt xấu hoặc hồng nhan đa truân, phận gái sở hữu một bến nước đục chả có thuyền nào ngon cơm chịu thả neo dài lâu. Sau hết bạn phải có sẵn năm chục bạc tiền tươi nhằm sung vào quỹ đặng hội ta nhỡ có liên hoan ăn mừng thắng lợi đột suất thì cô thư ký sẵn đô la trong phong bì mà mát tay giỏi chân đi chợ nấu nướng linh tinh bày biện đôi ba món mặn mòi bắt con mắt. Không có địa chỉ thường trú, hội linh động khi tổ chức sinh hoạt nay ở nhà chị X mốt ở nhà chị Y bữa nhiếp thì đóng đô nhà cô Z.

Lạ một điều là con gái ông Phúc do truy cập internet nên nó cũng hay biết cái hội đoàn âm thịnh dương suy kia. Và nó dốc lòng cổ xuý động viên đốc thúc vẽ đường cho hươu chạy. Với thứ tiếng Diệt nửa nạc nửa mỡ nó ra tuyên ngôn: Một ngày nọ con sẽ xa bố thình lình không hẹn trước, không thể ăn đời ở kiếp với bố được, con theo trai chỉnh trang mái ấm riêng tư thì bố cũng nên tranh thủ kiếm ra người ở sát bên lưng dĩ nhiên giống cái, một ma đàm nào đó. Mẹ mất đã lâu và con hiểu bố thiếu thốn cái khoản đó quá chừng, căng chứ không đùa đâu nhé. Phải âm dương hoà hợp mới sống lâu. Nay bệnh tình bố đã qua ải tử thần, còn sung ngày nào thì nên chí thú trả thù đời ngày đó. Con lấy chồng ra riêng, bố mình ên chịu đời chi thấu!

Ông Phúc đi tắm, đứng dưới vòi sen kỳ cọ và cái vật thể biểu tượng nam nhi đại trượng phu vẫn đôi phen ngóc đầu đòi làm cách mạng, ngẫm lời ái nữ mà cảm phục cái ý tưởng thần sầu nọ. Con nói thiệt hợp ý ta vậy! Con có mắt nhìn người, quả là ta đâu đã suy. Ta sẽ chí thú làm nông dân vác cày qua núi đi khai khẩn những cánh đồng xác xơ rơm rạ trong sắc chiều nhá nhem. Con đã bật đèn xanh, ta dậm chân tại chỗ không khéo mà bị ăn giấy phạt làm ùn tắc giao thông. Đời ta lu bu vì con đã lâu e bây chừ nên nhín chút thì giờ mà đoái hoài bản thân hèn mọn. Người bạn vừa mừng sinh nhật sáu mươi lịch duyệt chuyện đời đã đi guốc trong bụng ông Phúc, phán một câu xanh rờn triết lý: Sắc sắc không không lông bông như ông cũng chết, một ngọn nến cháy lẻ loi cũng oải chi bằng kiếm thêm đốm sáng nơi cây đèn dầu sum vầy đặng cố đẩy lùi bóng tối. Mẹ nó chứ, tỉ như ông đang chơi bài cào vậy, đâu có bù trất hoài được, tám chín nút có khi hẳn đến tìm ông.

Bà Sương có gia nhập hội Lưới Hồng và là biểu tượng của thứ tám chín nút nọ, riêng cho canh bài của ông Phúc. Hỏi tuổi đàn bà là chuyện cấm kỵ nhưng ngó đầu mình tay chân “Sương sa hạt lựu” thì lòng hảo ngọt của ông Phúc đã muốn kê miệng mà phá mồi chè cháo. Lưới Hồng là gì? Thét mét của ông Phúc được đối tượng bạch hoá: Anh từng nghe qua câu “lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó thoát”? Còn hồng? Thì chữ ấy nhằm đánh đồng bọn đờn bà, y như cổ thi vẫn nói “phận má hồng” vậy. Ông Phúc làm bộ hãi kinh, ui chao đàn bà mà tung lưới e chỉ có từ chết tới bị thương? Bà Sương cười, lạ một điều là khuôn trăng chẳng lộ ra một vết nhăn, da dẻ đương sự chưa nhão, năng như thuở “em còn ngây thơ đôi mắt chưa vương lệ sầu”. Cái mà ông Phúc chịu đèn là Sương rất đỗi vui miệng khi huỵch toẹt những thứ mà có lắm kẻ chôn trong bụng, ngại không nói. Giả dụ có khi Sương trần tình: Anh có thích đọc sách không? Người đi qua đời tôi trước đây từng minh định sách vở đôi khi không phải là bạn tốt, anh ấy viết thư cho người bạn bị tôi đọc được: Bạn yêu hoa, bạn sẽ tìm cách làm cho khu vườn nhà bạn trở thành một vườn hoa trồng nhiều giống lạ khoe sắc huyền ảo lung linh. Rồi một ngày vườn hoa bạn bỗng dưng trơ trụi, xác xơ. Đó là khi vợ bạn mua được cuốn sách “Nghệ thuật cắm hoa”.

Xét theo khía cạnh phân tâm học, hẳn trước đây Sương luôn vấp phải nhiều buồn bực, nên chi giờ này Sương rất mặn những chuyện tiếu lâm. Linh hoạt trước hoàn cảnh. Lạc quan, xem mọi thứ như một trò đùa để qua ngày đoạn tháng. Những chuyện vui Sương kể luôn gieo vào lòng ông Phúc một tươi mươi giải hạn đằm thắm. “Một phụ nữ suốt đời làm nghề dọn dẹp chùi rửa nhà vệ sinh. Về già, bà chu đáo nghĩ tới phần mộ của mình nên lo đặt trước một tấm bia. Ông thợ hỏi: Thế bà muốn tôi khắc chữ gì trên đó? Rất mau miệng, bà đáp: Ở trong đang có người!”.

Ông Phúc nắm lấy bàn tay bà Sương. Để tôi thử làm tên thợ, tôi hỏi: Thế bà muốn tôi khắc chữ gì nào? Không, xét theo tuổi tác, người ở trong phải là anh chứ tôi vẫn còn yêu đời lắm. Anh có ưa Sương xắn tay áo mà ghi đôi lời lên mộ bia? Ông Phúc nói không suy nghĩ: Sương xuống người tôi lạnh chết thôi.

Con gái ông Phúc đã có khi nhìn ra những khoảnh khắc lung linh của họ. Na mu A mi da butsu! Nam mô A di đà Phật. Con xin cám ơn cô đã trao cho bố con niềm hân hoan để vui hưởng chút bonus cuộc đời. Nó mời hai người đi kéo ghế trong một nhà hàng Pháp, nó nhờ thằng bồi bàn rất mực lễ phép cầm máy ảnh làm phó nhòm chụp ba mái đầu hội tụ và nó đã biểu lộ cảm xúc chân thật dành cho bà Sương khi mua tặng một bó hoa hồng. Bố con mắc cở nên con đại diện vậy, đại khái. Nó nói, mắt long lanh. Lần đầu trong đời được tặng hoa nên ma đam Sương hơi lúng túng, bị choáng ngộp với những động thái dịu dàng đầy bất ngờ ấy. Ôi chao, con cái nhà ai mà dễ thương vậy cà? Nó đâu có nắm bắt được lý lịch của ta mà sớm gửi gạo giúp cho tía nó. Con bé này mai sau sẽ là nhà ngoại giao giỏi hết biết!

Ăn uống xong xuôi, ra đường Bằng An nói lớn: Để con gọi taxi, bố phải đưa cô Sương về tận nhà rồi hẳn chia tay. Con cám ơn cô đã đi ăn cơm chung, chúc cô ngủ ngon. Vào đêm, trời cuối hè vẫn đứng gió, nhưng bà Sương thấy mát ruột mát gan. Cô cám ơn Bằng An mới đúng, nếu có hội ngộ lần sau thì cho cô được quyền thanh toán hoá đơn, nhé.

Chương trình của lần sau không diễn ra, nhưng chính bà Sương đã tự mình thanh toán một cái hoá đơn mắc mỏ, chẳng thể lựa chọn, so đo mặc cả, không thể gia hạn lần khân. Gấp rút trả mà chẳng hay số phận có giúp mình quỵt nợ được phân nao. Bà Sương bị điểm danh lúc chiều nhá nhem và ông Phúc sáng đầu ngày hôm sau thấp thỏm đứng ở trạm đợi xe buýt mang ông lên đồi cao quen mặt. Cửa gương tự động mở rộng lối ra vào, nơi dán tấm bìa cứng: Yêu cầu hãy tắt điện thoại di động. Hoạt cảnh bần thần lại diễn ra ngần ấy thần sắc phông màn đèn đóm. Hành lang sạch bóng sâu hun hút, những chiếc giường có gắn bánh xe cao su thiêm thiếp kẻ ngã lưng bất động trên chăn nhàu, những người đi quờ quạng im tiếng như hồn ma vô thừa nhận, những kẻ đi vùn vụt hối hả tựa chạy đua với thần chết. Ông Phúc hỏi thăm đường đi nước bước và bất ngờ thay có một thiên thần sà xuống sát bên lưng. Sao, ông khoẻ không? Có hẹn để tái khám à? Ô, chào bà Marcelle. Một tay bắt, một mặt mừng. Một dáng dấp và một hồi nhớ. Người đã từng độ lượng ôm ta vào lòng vỗ về hằng đêm. Người từng là cơn mưa trút xuống cánh đồng hạn hán. Rất đỗi lúng túng, ông Phúc trình bày là sức khoẻ mình đang khả quan, mọi thứ ở mức trung bình. Tôi có mặt ở đây chỉ vì hay tin xấu về một người bạn gái, tôi đi thăm, đang tìm nơi đến. Marcelle không đẹp, nhan sắc thua kém Sương, nhưng tấm lòng, cái vô giá mà Marcelle sở hữu bên trong thì không nên mang thứ gì ra để so sánh. Bà sẽ là loài hoa chỉ khoe sắc khi đêm về, tạo ra những cơn mộng đẹp thầm lặng len lỏi vào đầu óc của những kẻ vốn hoài nghi về sự an nguy của đời sống lắm tai ương. Lần trước xuất viện bất ngờ tôi đã không tìm được cách để gặp Marcelle nói lời tạm biệt. Tôi mang ơn bà, tôi vẫn tin phương cách trị liệu của Marcelle luôn mang lại kết quả tốt đẹp. Sự ghẻ lạnh của bác sĩ y tá sẽ khiến người ta chết đi vì buồn tủi. Ông Phúc nói và đón nhận một vòng tay dang rộng, ôm lấy, thiết thân. Bà Marcelle chỉ bày cặn kẻ nơi có Sương nằm, hoặc ít ra đó là khu vực khiến bạn dễ tìm ra. Cho tôi gửi lời chúc may mắn tới người bạn ông.

Không nhìn thấy Sương, chỉ ngó ra có hai phụ nữ đang ngồi trên ghế kê dọc hành lang. Ông Phúc đi ngang, bốn con mắt đậu bám trên người ông, không nháy. Họ là người đồng hương và rất có thể họ là hội viên đảng Lưới Hồng. Tuy là đảng viên nhưng hai mụ ấy tốt. Chừng như anh cũng đang thăm Sương? Dạ phải. Chị biết Sương nằm phòng mấy không? Họ vừa đẩy Sương sang khu giải phẫu rồi, tụi tui tính về chiều tối hẳn vào thăm dò tình hình xem sao. Hai chị biết bệnh tình Sương mang? Ối trời, bệnh đàn bà đó mà, nghe đâu nó dính ung thư tử cung, có thể cắt bỏ luôn buồng trứng. Anh là gì của nó vậy? Ông Phúc làm thinh, nghe tới ung thư mồm miệng chẳng buồn nói năng. Trước, ông cũng bị người ta nghi ngờ ung thư, Marcelle thủ thỉ không răng mô đừng sợ, loại ác tính mới dễ nể hung, cứ rứa mà hồn nhiên sống, đi thăm ôn mệ cũng khó lắm a tề, giỡn chi nơi. Noái rứa mi hiểu chút chi không? Giọng Québec phát âm có hơi nặng đó hỉ! Mụ cô mi, răng cái miệng méo xệch ra rứa. Tabarnak!

Hai người đàn bà phủi đít bỏ dãy ghế xiêu vẹo lại cho hành lang trống lạnh, họ đến cửa thang máy nhấn nút và trông lui ông Phúc với thứ nhãn tuyến của bác sĩ ngó xuống con bệnh ngặt nghèo, thẩm tra. Lẽ nào mi cũng bị cái tử cung làm tình làm tội? Đợi họ khuất bóng, ông Phúc lòng không quyết mà chân mộng du xuống tận cafeteria. Ông muốn nhẫn nha giết thời gian và hoài nghi về một ca phẫu thuật, nó kéo dài bao lâu, có tốn kém như một đứa nhàn cư uống xong tách cà phê, ăn xong cái bánh ngọt, đọc hết 24 trang tờ nhật báo đăng tải đầy ắp những tai hoạ mà thế giới đang hứng chịu từng sát na. Một ngày có bao nhiêu người chết và số nhi đồng được chào đời thực sự lẻ tẻ, chẳng cách gì điền lấp vào khoảng hao hụt kinh khiếp kia. Tre già ức triệu trên cánh đồng mùa hạn mà măng mọc đơn sơ chả bao lăm, tiêu điều ngó ngứa con mắt. Cắt bỏ buồng trứng thì đâu còn nước nôi gì mà đẻ đái cho má nó khinh.

Như có linh tính, ông Phúc đi lộn lên, dọ tìm đúng phòng có Sương nằm thin thít muốn chìm thân vào tấm nệm. Y tá dặn dò, bệnh nhân còn yếu, tốt nhất là đừng quấy phá giấc ngủ mê thiếp của người nhà. Tốt nhất là đừng hỏi han. Tốt nhất là xem bằng mắt chớ bắt bằng tay. Tốt nhất là khe khẻ ngồi xuống chiếc ghế kê bên giường. Điều tốt đẹp sau cùng là người ấy đang hô hấp chứ không phải lạnh cóng phủ bao ny-lông nằm dưới nhà xác. Còn sống là còn hy vọng, đúng không? Hy vọng chuyện gì? Chả ai để tâm thắc mắc. Cứ biết tới hiện tiền đã, ngày mai đâu ai tường mà sân si hy này vọng nọ.

Xét thấy hiện trường quạnh vắng, tứ bề êm ru bà rù, ông Phúc nhẹ kéo tấm màn vải dày vây bọc quanh giường. Với dáng vẻ một con mèo rình chuột, ông Phúc nhẹ người dịch chuyển vén khéo leo được lên giường. Ông nằm nghiêng, sát thân Sương để cẩn trọng quàng một cánh tay ôm lấy người Sương. Sương mặc chiếc áo khoát đặc thù của con bệnh, hay đúng ra đó là tấm khăn choàng khi bạn đã ngồi trên ghế để thợ hớt tóc hỏi han: Sao, chơi kiểu gì đây? Nuôi dài hay tỉa mỏng ngắn chút đỉnh? Da thịt lộ liễu của Sương đang ấm dần qua xúc giác thăm dò. Ông Phúc chỉ úp bàn tay lên một bầu ngực mềm của Sương. Ông sợ lỡ đi hoang sẽ làm rách toạt đường kim mũi chỉ vừa kết khâu ở bụng dưới. Ông thì thầm, ráng tỉnh dưỡng đi cưng, mai kia mốt nọ hồi phục thì anh cố sức mà đền bù cho em chút lạc thú hiếm muộn.

Sương mê man bất động, ông Phúc bất động mê man. Mỗi người một hoàn cảnh. Thứ hoàn cảnh mà khi có người y tá vào canh chừng diễn biến, kéo màn ra và kèm gửi theo một tiếng la cố nén. Ông là chồng đó à? Ông thương vợ đó à? Ông có biết làm vậy là ông hại bà nhà không? Chết như chơi chứ không phải giỡn. Ông về đi, làm ơn. Hết giờ thăm viếng rồi.
Chúa ơi, moa làm ở bệnh viện này gần hai mươi năm, thú thật moa chưa từng ngó ra cái màn tàn canh gió lạnh này. Giời ạ, một đôi khi sự biểu lộ tình yêu cũng đáng để người ta ca cẩm. Thượng đế hiểu cho rằng thực sự thì nó xấu, xấu lắm. Moa nói tiếng Pháp, toa có hiểu không? Mon Dieu!

Ông Phúc bị dựng đầu ra khỏi giường. Cơn choáng váng bất ngờ xô ập tới như kiểu bị nhồi máu cơ tim khiến người đàn ông mấp mé sáu mươi đổ gục xuống. Người y tá mặc váy trắng hoảng hốt bước sang thân ông nhằm xốc đỡ ông dậy. Ông Phúc ngó lên, giữa đôi chân thiên thần giam giữ một bầu trời u tối, không trăng sao, sâu thẳm một lỗ đen cắm giữa vũ trụ hoang vu. Tàn canh gió lạnh!

Hồ Đình Nghiêm

Tắm tiên

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 21 Jan 2024

Khi chưa mang tên John, Dân đã có vợ, dù không chính thức có được tờ giấy chứng minh. Khởi thuỷ là Dân vượt biển mình ên, tạm cư trại tị nạn ở Mã Lai tám tháng. Ai “buồn lâu bi thảm” không biết, nhưng chốn lạ Pulau Bidong như hợp phong thổ đã xúi Dân quen được một người con gái. Tựa sóng biển cứ chuyên cần liếm mãi vào bờ, hai đứa trai đơn gái chiếc đã bồi đắp phù sa, tượng hình ra được một cuộc tình, dắt nhau ra bãi quạnh, đứng giữa mênh mông bốn phương tám hướng trời cao đất rộng mà thề nguyền kiếp này nguyện sắt son gắn bó không lìa. Trời xanh có mắt, cả hai đều được phái đoàn Mỹ tiếp kiến, phỏng vấn và thu nhận cho định cư.

Nhập gia tuỳ tục, đó là lối luận chuyện của Dân. Sang tới thiên đường, Dân mang tên John và “một nửa” của John thì lựa đặt Nancy. Tuy cả hai vẫn ngày hai bữa chan lùa nước mắm, một chữ tiếng Anh cũng không thể bẻ đôi cho êm thắm, Nancy lẫn John chẳng muốn ai hỏi về tên cúng cơm, quên đi ngen, cái quá khứ đau thương đầy tì vết ấy. Có chảnh gì đâu, đi làm việc mang tên mới cho chúng dễ gọi, cho tụi Mỹ nó liệu cơm gắp mắm, chúng nói năng búa xua thì mình chỉ việc OK với Yes thôi, đừng bu-sịt là ổn. Chuyện nhỏ! Chúng có “phất du” thì kệ mẹ chúng, ông bà mình từng dạy một sự nhịn chín sự lành. Trái bồ hòn ngậm riết trong miệng cũng có lúc tiết ra vị ngọt. Qua sông thì phải luỵ đò, hổng chán như con gián đâu nghe.

John làm nhân công trong một công ty chuyên sản xuất vật dụng liên quan tới gỗ. Cưa, bào, xẻ, đục, khoan thảy dễ như ăn ớt vì máy móc nó làm hết ráo, khoẻ re. Do vậy kêu John là thợ mộc thì không xác đáng đâu, bởi nào có biết đóng tủ giường bàn ghế gì cho cam, chưa tính tới việc thu vén dọn dẹp chùi rửa đổ rác y như nhân công sở vệ sinh cao tay nghề. Phần Nancy, như kiểu kiếp trước có tu, sở an sinh xã hội kêu đầu lên để giới thiệu cô đi làm ở chỗ trông coi người già, đôi khi đảm nhận việc giặt giũ nấu nướng tuỳ theo đòi hỏi của họ. Lương căn bản, nhỏ thôi, nhưng phút đầu lạ nước lạ cái mà xoắn được cái job đó thì cũng tạm xem là thơm. Túi bụi lùng bùng, suốt ngày đôi uyên ương mới chim liền cánh vào lúc tám giờ tối, tâm sự kiệm lời, hỏi gì trả lời đó, ăn vội vã, tắm qua loa rồi leo lên giường, tuy đắp chung chăn nhưng hồn ai nấy giữ chìm sâu giấc điệp đặng có sức mà sớm mai tiếp tục cày bừa, cắc củm để dành đô la, chỉ biết có giấy xanh “in God we trust”, bất biết thứ khác bởi muôn đời đồng tiền luôn liền khúc ruột, bắt đầu lây lan học thói tham phú phụ bần. Chơi theo kiểu Mỹ là anh tiền anh tui tiền tui đồng bạc đôi ta chia thế thui chứ không phải anh đường anh tôi đường tôi tình nghĩa đôi ta có thế thôi! Có lúc họ gọi Nancy đi làm thêm vào ngày thứ bảy, đành chấp nhận. Và một tuần ngó lui dòm lại chỉ còn trống ngày chủ nhật dành cho việc đi kéo ghế nhà hàng, tạt qua chợ người Việt mua thực phẩm để đêm về mới rảnh tay săn sóc nhau, chớ quên nhiệm vụ chia ngọt sẻ bùi cho nhau, khám phá từng vuông thịt da của nhau. Khám phá? Vì rằng dưới ba tầng năm lớp y phục luôn đậy đằng nhiêu khê, những khu vực vùng miền trốn đằng sau vẫn luôn ẩn chứa sự mới lạ chẳng hề đơn điệu nhàm chán. Và tới ngang đây thì trời xanh đã không có mắt, đã thui chột chẳng thèm ngó ngàng. John “làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm cọng thêm giờ nghỉ” mà bụng Nancy vẫn mãi phẳng lì hổng chịu bành trướng. Từ mệt quá cỡ thợ mộc John đổi qua làm nhà nông chăm chỉ xới đất gieo hạt mà suốt năm trời cánh đồng thơm tho trắng như trứng gà bóc nọ vẫn tịnh yên không rục rịch nhú mầm theo đúng vụ mùa. Đất khô thì tưới nước, thậm chí cong lưng nhổ cỏ, chăm vác cày qua núi hổn hển đổ mồ hôi mà công sức thành quả đành trôi sông đổ biển. Biển thì luôn có loài vật mang tên Dã Tràng, thế mới đáng giận!

Nancy chưa từng nói “bắt đền anh đó”. Nancy cũng không hát bài nhạc “anh còn nợ em”. Cô câm lặng những biểu tỏ trong khi ái ân, đã đành, cô còn đánh bài chuồn rất mực êm thắm mà chẳng để lại một tờ giấy nêu ra lý do, nguyên nhân vì đâu khiến xảy ra cảnh đường ai nấy đi. John hoang mang cùng cực khi chôn chân trong gian phòng trống, John mụ mị thần hồn dù bị “em” vừa bất ngờ tạt cho một gáo nước lạnh. Nancy chả để lại dấu vết gì ngoại trừ cái lược nhựa còn cuống quít đôi ba sợi tóc dài rối nằm lăn lóc trong phòng tắm. Như vậy giờ đây, ở thì hiện tại, thứ bảy chủ nhật John có toàn quyền sử dụng thời giờ vào mục bia rượu, lái xe đi qua trung tâm thương mại nhìn thấy bảng hiệu Tattoo lòng những muốn vào vạch tay ra xăm hàng chữ “Hận kẻ bạc tình” nằm dưới hình quả tim bị vỡ làm đôi, rướm máu.

Khuôn mặt và điệu bộ của đứa bị đánh mất linh hồn ám nặng vào John đã lọt vào mắt anh Trực, người đồng hương duy nhất trong hãng toàn bọn Mễ với Mỹ đen. Dĩ nhiên họ nói tiếng mẹ đẻ với nhau… cho sướng miệng. Sướng ở chỗ tha hồ đù má với địt mẹ đậm đà bản sắc dân tộc. Nhìn là biết liền, mày khỏi khai, nhưng mà lạc thần hồn kiểu đó coi chừng máy cưa nó xơi ngoẻn mấy ngón tay của mày đó cưng. Tuy đã bảo đừng có khai ra nhưng cuối cùng, cầm lòng không đậu anh Trực cũng hỏi cho ra lẽ. Rồi ảnh chửi thề vang rân, hổng chửi tình đời bạc trắng mà chửi thằng đờn ông chưa đủ nam nhi chi khí. Đờn bà thôi mà, thiếu giống, cái vung đậy không khớp với nồi thì đi kiếm cái khác. Tao muốn bà vợ quay đít chê bai bỏ bê mà chưa được đây này. Mày hiểu chữ freedom là gì không? Đù má, ai trên thế giới này cũng ngán sợ cái khoản bị kềm kẹm cả. So ra mày ngon cơm hơn tao xa chừng. Hay là mày đang giả bộ ngoài héo trong tươi? Tâm qua sự lại, tra tới hỏi về chừng tuần lễ thì anh Trực quan hoài tới số phận John. Mày hiểu chữ trực là gì không? Tao tên Trực, có nghĩa là quang minh chính trực, hoặc nói hẹp hơn thì chính danh là trực tánh, bụng tao thẳng hơn ruột ngựa, phương châm theo đuổi là có sao nói vậy người ơi… Tao còn con em út ở bển, đoan trang hiền thục, gái miền Tây mà hổng biết nhậu gì trơn trọi, thợ may trong một xí nghiệp, buổi tối em chịu khó đi học thêm tiếng Anh. Nếu không ấy, có gì hè này mày bỏ thời gian về dòm ngó cho hay sự tình, biết đâu em tao khù khờ được ông trời độ mà vô tình tao cũng có thêm thằng em rể chuyên cần lao động là mày. Nếu nhắm ô kê thì tao biên thơ rồi cho mày địa chỉ, chỉ bày từng bước tiến quân, khi đó thắng lợi ắt về ta!

Vì nước đến chân mới nhảy nên John phải chi tới hai ngàn đô tiền vé máy bay để nóng lòng về nhìn mặt đứa con gái mới 17 cái xuân xanh mà anh Trực vừa bào láng vừa đánh vẹc-ni vừa quét lớp sơn hồng vào cô em đẹp người đẹp nết. Ảnh tìm cả tuần mới ra “tấm hình hổng biết lạc đâu mất tiêu”, trao tay John với một phụ chú: Nó thuộc loại người không chịu ăn ảnh, ở ngoài nó đẹp lắm kìa! Mày cất trong túi đi, đặng về nhìn nhau khỏi mất công e lệ phút ban đầu.

Dĩ nhiên máy bay thả John xuống tới Sài Gòn trước, hạ hồi phân giải mới đón xe xuôi về miền Tây mà nghe đồn là đa phần thí sinh dự các cuộc thi hoa hậu đều xuất thân là gái miền tây Nam bộ sóng nước hữu tình. Ngực khủng cũng miền Tây mà chân dài miên man cũng miền Tây, thế mới chết một cửa tử. Có đâu như hợp chủng quốc khi nghe nhắc tới miền viễn Tây thì trí óc tự động hiện lên quần bò, ngựa hoang, súng sáu, hoang mạc, cây xương rồng, gió bụi và bắn chậm thì chết. Nhưng mà nói nào ngay, không cứ là phim ảnh, cớ sự ở đời này việc gì cũng thế cả, chẳng lanh tay lẹ mắt chụp giựt thì coi như xôi hỏng bỏng không. Chậm lụt thiệt thà hổng còn đất đứng mà than thân trách phận.

John mướn nhà nghỉ Đêm Xanh. Ông lái xe taxi cho hay: Có ba hạng, thứ nhất chặt đầu chỉ còn dính miếng da để khỏi rời cổ, thứ hai nghe tiếng hét mà chưa thốn màn nhĩ, thứ ba là tiền nào của đó. Và Đêm Xanh nằm ở mức thứ nhì, huy chương bạc theo cách sắp hạng của ông tài xế coi bộ thật thà. Việt kiều lơ ngơ cũng chán khối đứa từng tá túc thân phận xa quê hương nhớ mẹ hiền vào Đêm Xanh. Mười đứa hết tám đều mang nỗi lòng giống John, quê mình chỉ còn có mỗi mục gái gú là lôi cuốn, kỳ dư thảy đều khó chơi, xuống đường nhìn hoạt cảnh trái ngang luân phiên diễn ra trước mắt tâm dễ sanh phẫn hận lòng những muốn biểu tình đả đảo.

Ngoại trừ cậu bảo vệ là đàn ông, kỳ dư chăm sóc, coi ngó, nhân viên làm việc trong nhà nghỉ Đêm Xanh thảy đều đàn bà. Động vật có vú ấy rất giỏi việc giao lưu tình cảm và ngoài giác quan thứ sáu họ có lỗ mũi biết đánh hơi, đôi mắt biết coi tướng số. John chạy trời không khỏi nắng, ngày một ngày hai liền bị một cô em mình xà vặn vẹo tới điểm danh. Người ta rất sai lầm khi ví von đàn bà tựa như rắn độc. Sai tự căn bản bởi một bên là hình thù một con vật ngó bắt gớm trong khi bên kia nuột nà một thể hình mọng thơm hơn cả một múi mít. Nữa, lại ví von! Nhỡ như có người mê ăn sầu riêng thì tính sao? Bá nhân bá bao tử, có đứa thích mãng cầu, kẻ ưa vú sữa, đứa khoái dừa xiêm, kẻ ghiền nhai chuối. Trần tục quá, sao không bảo thơm như hương hoa sen, hoa hồng, hoa lan, hoa huệ… Anh từ Mỹ về phải hôn? Cô gái thơm mùi đinh hương đinh hồi ngò gai húng quế nói. In tuồng cô vừa nhấc đít khỏi tiệm phở từ bên kia đường sang tới. Nếu cô ăn hủ tiếu thì chẳng rõ người cô có thơm nồng mùi xí quách béo ngậy hoà với vị tôm khô nồng nàn? John làm bộ giật mình: Ủa, sao hay quá vậy, tui nào đã tâm sự với ai đâu cà? Nhìn qua cái biết ngay, thiệt vàng sợ chi lửa. Nóng chi nóng lạ, mấy hổm rày trời nực thấy mồ tổ luôn. Cô bé đưa cảm tưởng, rõ là chẳng ngoa ngôn, da thịt cô sao chỗ nào cũng ướt át rịn đổ mồ hôi. Thời tiết mát mẻ đã không xúi vậy, khô ráo chớ chẳng trơn láng thế kia. Anh có thích tắm tiên hôn? Tắm tiên là gì? Tui người trần mắt thịt mà cô! Đừng giả ngộ nhen, thích thì em dắt đi thực tế, hổng thấy tiên hổng lấy tiền. Có phải cô làm ở quán cà phê cuối đường không? Sao anh hỏi gì nghe kỳ khôi quá dậy? Bị sáng nay tui buồn chân lạc bước vào trỏng, nghe có hai ông vui miệng: Quán cà phê kiểu gì mà vô kêu ly nước nào cũng không có. Hỏi một chặp mấy cô ra cười cười, vỗ mông kêu cái độp là biết rồi… Í, hổng phải đâu. Em đẳng cấp hơn, em mần ở tiệm massage Ngàn Vàng.

John nói: Nghe cũng dễ nực thiệt. Nhiêu? Nói chung là giá mềm, tuỳ hạng mục mà anh đòi hỏi. Đấm bóp kiểu Thái, xong cái mình cùng nhau vào tắm chỉ mất có bảy trăm ngàn hà. Nội địa là vậy huống chi anh là người từ Mỹ về, ắt sẽ chơi bảnh hơn, đúng hôn? Lỡ như chưa thấy tiên đâu cả mà quỉ sứ lộ hàng thêm rách việc. Chời, chuyện người ta mần ăn đại sự thì họ phải biết cách bảo vệ nồi cơm chớ, thiệt là lo bò trắng răng!

John nhớ ca dao xưa cổ: Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Giờ này ta tuyệt đối không tắm ao, ta đứng dưới vòi sen xuội lơ cẳng cò cho người đẹp xoa xà phòng nâng niu nựng nịu. Em tên chi? Cứ kêu em là Thuỷ, Thu Thuỷ. Em từng được một anh đẹp giai tặng nguyên bài thơ ngẫu hứng viết toàn chữ T. Thậm thụt tán tỉnh thua trình tự thong thả theo Trần Thị Thu Thuỷ tắm tiên, tâm tư tử thần thấy thế thì tạm tha trọng tội…

Dễ thương quá mạng, ta không vô tư bước vào cảnh sắc tiên giới thì còn ai trồng khoai đất này? Y như coi phim bộ thấy một đạo sĩ chắp tay trước ngực mấy ngón khởi động lần tràng hạt mà rằng: Thiện tai! Ta không vào địa ngục thì ai vào? John nhìn ra địa ngục ở nơi Thuỷ Tiên dẫn vô bài trí hơn chục buồng. Bóng đèn mờ ảo bắt dọc lối đi, Thuỷ cho hay, chừng nào động ổ, nhân viên trực dưới nhà sẽ báo bằng cách mấy bỏng đèn nọ tự khắc sáng vụt lên, chói chang. Cởi áo quần ra đi anh, bắt chước em nè…
Vừa xong công đoạn trần như nhộng để thảnh thơi leo lên giường nằm giao trứng cho ác thì nghe tiếng chân rầm rập như ai kia trỗi khúc quân hành. Một đứa hét tướng: Nằm yên, không được nhúc nhích phản ứng, chúng tôi là cán bộ phòng chống mại dâm của thành phố phối hợp cùng công an đi kiểm tra đây. Ban chiều đã thanh lý làm sạch tụ điểm hớt tóc không dao kéo tông-đơ, sẵn trớn chung địa bàn đột nhập vào cơ sở trá hình chuyên bán dâm đến hẹn lại lên… Có kẻ qua cơn mê, làu bàu: Ủa, sao đèn nó hổng chịu cháy sáng lên cà? Thiệt là mất sướng!

John ngồi vào thùng xe bít bùng chở quá tải cả chục mống mang tội danh mua dâm về đồn. Cơ quan cửa quyền thì phải khác xa nơi chủ trương thư giãn tới bến. Một nơi mờ mịt cảnh sắc sướng rên mé đìu hiu một bên sáng loà đèn đóm chực chờ tra tấn những con mắt chẳng ưa nhìn rõ sự thật.

Anh xa quê hương bao lâu rồi? Đã từng về lại lần nào chưa? Mục đích của anh trong lần về tham quan này? Cán bộ hỏi ngang đâu John trả lời ngang đó. Tôi về lần đầu, tính là về Gò Công Sóc Trăng Bạc Liêu Sa Đéc Vĩnh Long Cần Thơ để nhìn mặt người vợ sắp cưới… Dữ thần không? Tính lấy mỗi nơi một bà vợ hay sao mà đi tới bốn năm chỗ? Có muốn đa thê cũng không đủ sở hụi, lấy chỉ một bà mà chẳng biết có xuôi chèo mát mái không đây! Nghe anh đi mua dâm, nhân thân xấu thế thì liệu phụ nữ họ có chấp nhận lời cầu hôn của anh không? Ủa, có thật thà thì cũng chỉ tuỳ ở mức độ nào đó thôi chớ? Anh lỡ mạnh tay giết ai đó thì anh buộc lòng phải dấu nhẹm chớ.

Cán bộ đập bàn. Láo lếu, mày tưởng Việt kiều là ngon hả? Cho mày ăn cơm tù chết mẹ mày luôn. Ờ, anh nhắc mới nhớ, chuyến này về tôi quyết tìm ra mộ má tôi đặng chỉnh trang tu bổ, làm mâm cơm rồi thắp cho bả ba cây nhang. Má ơi, giờ thì con chịu cảnh thúc thủ ngồi bó tay ở đây, tiến thoái lưỡng nan… Anh tìm nơi vô tư thư giãn vậy chúng nó hét giá là bao nhiêu? Trước mắt là 700.000, đòi hỏi thêm thì du di linh động. Đã trao tiền cho chúng chưa? Tiền trao cháo múc, may mà chưa thấy nồi cháo thì mấy anh nhảy vô. Nhảy sao hay vậy? Ừa, do ở tính nghiệp vụ cao, tôi cho một người giả vào tắm tiên rồi bất thần dũng vũ lực khống chế cái tên có nhiệm vụ bật sáng đèn. Phương án hành động ấy thường mang lại hiệu quả, bởi tính sơ khởi thành phố này có hơn 17.545 cơ sở kinh doanh dịch vụ ám muội này, chúng tôi bỏ công hơn hai năm để làm sạch giải tán những tụ điểm ấy, nói chung là làm tạm vậy thôi bởi vì cà phê ôm, quán Cô chủ mồ côi hoặc những địa điểm ấn tượng khác thì nhiều vô số, đếm không xuể.
Anh chưa trao tiền vì chưa húp cháo? Vậy số tiền ấy nằm ở đâu? Nằm trong túi quần tôi chứ ở đâu? Đơn giản vậy mà cũng hỏi. Anh là Việt kiều, vậy đã quên tiếng mẹ đẻ ít nhiều? Anh biết thành ngữ “dễ như lấy đồ trong túi ra” không?

John ra khỏi đồn khi trời sáng bạch. Suốt đêm ở trỏng “mẵn cuối khíu chọ”. Đặc khu ấy chưa sử dụng tiếng Trung, chỉ được tài nói lái. Ừ, muỗi cắn khó chịu thật đó. Ở Mỹ, vào rừng thì hoạ may mới bị muỗi đốt, coi như hàng độc, khó đụng; nhưng quê nhà thì người ngợm triền miên phải chịu cảnh bị hút máu bất kể địa hình. Ông cán bộ nói thẳng thừng: May mà anh chưa ăn cháo, chưa nhúng chàm, chưa phạm lỗi, kể như mới tiếp cận vòng ngoài, tội chưa đến nỗi nào; nhưng để chi trả một phần vào công sức mất ăn mất ngủ của bọn tôi, đề nghị anh trao số tiền ấy cho tôi thay vì cho đĩ ăn. Vậy đi nhé, anh biết câu “vô duyên đối diện bất tương phùng”? Cả hai phía, chúng ta nào mong cảnh gặp lại cố nhân, có đúng không nào? Đi đường nhớ trông xe cẩn thận nhé.

Về tới nhà nghỉ John làm thủ tục trả phòng, thu vén đồ đoàn ra bến xe liên tỉnh mua cái vé giường nằm trực chỉ miền Tây trước lạ sau quen. John hát bài nhạc ngày nào vẫn thường ám ảnh, chỉ thêm mắm dặm muối cho khớp với tư duy thời đại: Từ thành phố này người đã ra đi, bao năm ước mong kiếm được vợ hiền. Em mười bảy vầng nguyệt nhạt phương ấy, mang qua Mỹ rồi em sẽ sáng tròn hơn trăng Trung quốc cho xem. Tin người đi, nói láo cho bà vật. Đừng nhìn những gì anh lỡ làm, mà nghe những gì anh sắp sửa nói, em ơi!

Hồ Đình Nghiêm

Tái nạm gầu

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 21 Jan 2024

Rét mướt Hà Nội chẳng giống cái lạnh chốn đây. Xứ nầy, tuy vào xuân, cây chưa có được lá, thân khẳng khiu, mốc thếch chẳng cựa mình. Đất trời bạc nhược, co quắp thứ nỗi niềm khó nói nên lời, như tuyết rơi chẳng cần tin dự báo, như mưa đổ tình cờ trong đêm và sáng mai mặt nhựa đường tự dưng đóng băng.

Rét Hà Nội là thứ gì rất đỗi đằm thắm, rét ngọt. Nó đến từ tốn, xâm chiếm dần và nó lân la ở bên ta dài lâu. Ông bà thường bảo: Lạnh từ trong người lạnh ra! Nếu mấy cụ sang đây, chạm phải cái hung hãn của gió tuyết tê cứng, có thể họ lại lập ngôn: Giời ạ! Lạnh từ ngoài lạnh vô thấu xương. Lời phát biểu ấy chả có gì kì cả, diễn tiến của mọi vấn đề bao giờ cũng từ ngoài tác động vào bên trong. Tâm phẫn hận mới sinh ra tội ác. Con gà đẻ ra trứng hay trứng nở thành con gà? Thậm rắc rối!

Hút thuốc nhớ? Một cách tìm kiếm hơi ấm? Vâng, xin bác nhá. Hàng Buồm, hàng Hành, phố bà Triệu, gần Bưu điện, sát bờ hồ… những quán cà phê đục khói thuốc, đồng điệu và hài hòa với thứ khí hậu ẩm lạnh đến mù sương bên ngoài. Cây cơm nguội, cây bàng đứng cúi đầu, và tất cả trôi đi như một đám mây. Mới đó mà gần hai năm. Hai năm, còn mới quá. Tấm gương chưa thể tróc lớp tráng thủy đàng sau, mù mờ chợt vẹt chẳng lai vãng; và tấm kính vẫn rạng ngời soi rọi mỗi một hồi ức. Quê cũ luôn hiện về trong những cơn mộng sắp tàn canh. Thức giấc, có khi nó ập tới vào đầu ngày bằng tiếng chuông điện thoại réo không mong đợi.

– A lô…

– Mầy đấy hở. Mấy giờ rồi? Khiếp! mầy vẫn còn ngủ cơ à? Công ăn việc học thế nào?

– Bố à? Bố mẹ có khỏe không?

– Tao vẫn thế, cương cường. Chỉ có mẹ mầy. Mẹ mầy…

– Sao cơ ạ?

– Bên đấy mầy có hay tin gì không?

– Tin gì hả bố? Đại gia tậu xe Roll Royd hay lại biểu tình dành chủ quyền hai đảo Hoàng Sa Trường Sa?

– Mẹ mầy. Việc ấy đếch có liên quan tới mầy. Mầy như người mù… Ừ, mà không khéo được mù lại có khi hơn. Lại điếc nữa cơ, thế mới đỡ khổ tâm!

– Bên ấy đang còn ba ngày tết, chắc bố lại vừa tợp rượu xong?

– Tết với chả nhất. Hôm nào mà tao không xơi một cốc rượu chứ? Ông nhà thơ gì đấy, ông bảo rằng khi yếu lòng ông vịn câu thơ mà đứng dậy. Còn bố mầy, chỉ có rượu mới vực tao lên thôi con ạ!

Bố. Một nghệ sĩ nhân dân. Có khi bị khai trừ ra khỏi đảng vì tội mạo danh. Lợi dụng hôm đồng chí trưởng phòng bận đi công tác ở Liên-xô, bố sáng tác một vở kịch kí tên người vắng mặt. Chuyện bị lộ, họp kiểm điểm, bố tự biện hộ: Những thành quả lao động trí tuệ của tôi đều bị lãnh đạo phê phán không duyệt kí, nhưng khi để tên người có vai vế vào, vở kịch ấy được trình diễn và được trên đánh giá cao là thế nào? Chế độ ta rất ưu việt, ai cũng sáng mắt sáng lòng nhận ra, nhưng qua vụ việc này… oan cho tôi quá.

Bố. Người đàn ông có thể làm bất cứ điều gì với châm ngôn nhét chật trí não: Hy sinh đời bố củng cố đời con. Bố gặp mẹ ở trong một hội nghị họp liên ngành. Hai người yêu nhau và được sự đồng thuận của tổ chức, của cơ quan, của đảng và nhà nước xếp đặt. Họ đăng kí kết hôn, nghe theo chủ trương, họ chỉ có quyền sinh sản ra hai đứa con. Một trai một gái. Giai được gửi gấm đút lót cho xuất ngoại đi Canada theo diện du học sinh. Gái, theo gương bố, vẫn còn ở Hà Nội đeo đuổi ngành cao đẳng kịch nghệ. Em giống bố, ở đầu óc ưa liều lĩnh và ở thể hình, một vóc vạc lớn cao, sớm nẩy nở. Tựu trung, em có khuôn mặt khả ái, dễ thiện cảm. Tự thân, em là thứ gì có sức hút tựa một thỏi nam châm. Và theo cách nói của bố: Nó là hủ mắm qúy của tao luôn treo đầu giàn. Treo đầu giàn hay treo đầu giường? Ối, thì cũng cùng một nghĩa như nhau.

– Bố đang ở đâu thế?

– Tao ở bưu điện, mỗi bận dùng dây nói gọi đi xa tao đều ra đây.

– Có tốn tiền không hở bố?

– Vài đô thôi. Mầy chớ nói chuyện mắc mỏ cần kiệm với bố mầy! Mầy ít khi nối mạng vào lưới lắm nhỉ?

– Bên nầy thời giờ eo hẹp lắm bố ạ. Ngày chưa đi đêm đã tới rồi. Trời chóng tối, đèn đuốc phải thắp cháy thường trực.

– Mẹ mầy! Ăn nói cứ linh tinh chả ra đầu ra đũa. Phải tranh thủ mà ôm cái máy vi tính vào người. Thời buổi bùng nổ thông tin đại chúng, mầy mang tiếng du học nước văn minh mà xem ra lạc hậu hơn cả bố mầy.

– Cái Lan ra sao hả bố? Chừng nào em tốt nghiệp?

– Con em mầy… Con Lan… Hừ, nó tốt nghiệp rồi. Không thành nhân cũng thành danh. Mẹ kiếp! Khốn nạn đến thế thì thôi!

– Bố say rồi sao? Bố mang cả rượu vào bưu điện uống cơ à?

– Ai bảo mầy thế? Nếu được say tao đã không nói ra những điều tỉnh táo dường ấy! Nhiên tử sự cực tiểu, thất tiết sự cực đại. Mầy hiểu bố mầy nói gì không?

– Từ đầu tới giờ con thật chẳng hiểu bố muốn nói gì. Như vậy thì có phí uổng tiền điện thoại viễn liên không? Bên nầy con vẫn thường, bên kia bố mẹ và em Lan vẫn khỏe, thế là được, là tốt, là điều mà chúng ta cần biết về nhau. Đấy là lượng thông tin cần nối kết.

– Tao bảo mầy nên nối mạng vào nét chỉ là cái nhập đề. Mầy phải nắm bắt rồi bố mới đi dần tới thân bài và kết luận. Mầy mở máy vi tính, nối mạng, đi truy cập hang cùng ngõ tận rồi mầy sẽ chứng kiến cảnh đau lòng. Con em mầy là diễn viên, là siêu sao diễn cảnh nóng vượt chỉ tiêu. Cuộc đời bố từng trải qua nhiều hoạn nạn, từng chạm mặt tử thần, nhưng chưa khi nào đối đầu với vấn nạn tựa hôm nay. Bố mẹ chẳng dám vác mặt ra đường, đi đâu cũng gầm đầu mà đếm bước. Bạc phước đến thế sao hở giời! Oan gia tự thuở nào giờ nầy bắt tôi phải giả!

– Bố nghe miệng xấu thế gian đồn thổi hay chính mắt bố chứng giám?

– Ban đầu thì nghe ong ve ruồi muỗi xì xào nhặng tai, chịu đời không thấu bố phải thân hành lén lút ra tụ điểm cà phê nét đêm khuya lướt mạng nối vào phim đen. Mầy không tài nào hình dung ra được cái tâm cảm của bố lúc đó đâu, con giai ạ. Đất trời sụp đổ là câu văn mang đầy tính hiện thực.

– Bố căng mắt ra xem cảnh em Lan làm tình? Kỳ cục thế!

– Giời ạ! Hoàn cảnh thôi con ạ. Vạn bất đắc dĩ thôi. Trăm nghe không bằng chính mắt mình thấy. Nó rướn thân, nó trăn trở, nó dạng chân, nó rên rỉ, nó thụ hưởng, nó thống khoái… Và cái quan trọng nhất, đấy là Lan nó biết máy thu hình đang hoạt động, chỉnh sửa ở vị trí xét thấy đặt ở đâu là thích hợp nhất. Người ta có thể tha thứ nếu họ hiểu nhân vật chính trong phim là nạn nhân cho một âm mưu tồi bại nào đó. Đằng nầy không, nó trân tráo hướng mặt tới ống kính, vuốt tóc vuốt tai, bẹo hình bẹo dạng…ngó điên tiết cả lên. Ngó tủi hổ ưa uống thuốc trừ sâu mà chết mẹ nó đi cho được việc!

– Thế em nó hiện giờ ở đâu?

– Khi bố ra bưu điện gọi thăm mầy thì nó có đứa bạn đến rũ đi ăn bún ốc uống cà phê. Nghe mẹ mầy báo cáo thế. Mời anh vào quán ca ra, ô kê em đã mở ra sẵn sàng!

– Có nghĩa là Lan vẫn bình an?

– Đầu óc nó thế nào thì tao chẳng rõ, còn ngoại hình nó vẫn thế, chẳng trầy vi tróc vẩy, vẫn diện đồ hiệu, vẫn ngẫng mặt thách thức dư luận. Tuồng như nó luôn chối bỏ cái luận điệu của nhà Phật: Đời là bể khổ!

– Thế thì nó có gây thù chuốc oán với ai không? Sao có đứa nhẫn tâm đem trình làng cái thước phim đốn mạt ấy? Tiếng gì lao xao trong điện thoại thế hở bố?

– Ồ, có con mẹ đi móc túi bị bà con phát hiện. Đấy, chúng nó gọi công an vào rồi đấy. Mẹ kiếp, bọn bất lương thì bao giờ cũng nhiều, như ruồi nhặng. Mầy có sẵn giấy bút đấy không? Ghi xuống cái địa chỉ và số điện thoại nầy. Cất kỹ, chớ đánh rơi.

– Gì mà quan trọng thế!

– Khẩn trương lên. Chuyện còn dài, nói điện thoại kiểu nầy không chừng bố mầy hết cả tiền mua rượu. Nầy, lâu nay mầy có gặp túng thiếu không? Thành thật khai báo để bố chi viện cho. Bây giờ ngẫm lại, cả nhà chỉ có mình mầy là bố mẹ đặt để niềm hy vọng. Thi thoảng cũng nên đi giải quyết cái khoản ấy, đừng để ẩn ức sinh lý, không tốt. Gì chứ đè bọn mắt xanh tóc vàng xuống trả thù dân tộc thì tao hoan nghênh. Đế quốc thực dân thì chả có ai ưa chúng cả. A-lô… Sao mầy câm như thóc thế?

– Con thực sự bị sốc bố ạ. Choáng! Bố mẹ phải trông chừng nó, kẻo có khi yếu lòng em mụ mị đi làm chuyện dại dột. Mẹ phải đầu tư thời gian để chăm cái Lan.

– Mầy bảo nó đi làm chuyện dại dột là thế nào? Nó chủ động cởi áo quần ngủ với trai là khôn ba năm chắc?

– Vụ việc đã lỡ xẩy ra, cái cần làm là chúng ta phải tỉnh trí để đối phó với thực trạng.

– Mẹ mầy bảo may mà không có thằng Dũng ở đây…

– Có mặt con thì sao?

– Bà ấy sợ mày xách dao đi chém thằng khốn nạn ấy.

– Thế bố có biết gã ấy không? Quan hệ giữa nó và em Lan… A lô… Bố…

– Tao mới nhác trông thấy ai như con Lan vừa đi ngang. Bố dừng nhé, có gì bố sẽ gọi sau. Để bố theo dõi xem Lan nó đi những đâu.

Quán phở ấy luôn đông khách. Mở cửa mười giờ, mười một giờ đã chẳng còn ghế trống. Góc quán treo cái T.V màn hình lớn, mỏng lét như tấm tranh và ca sĩ hải ngoại diêm dúa khoe đồi núi phì nhiêu luân phiên hiện hình gào thét trên đó.

– Mẹ nó, cái lão ấy thì vẫn thế, luôn có lối nói xem thường người nghe, lếu láo!

– Được cái nó chả chửi chế độ. Chủ trương thế nên bên nhà có lắm người mua đĩa của chúng nó.

– Mấy giờ thì thằng ấy lại?

– Xem… Nó đến kia kià. Vào đây, vào ngồi đây. Rét nhỉ?

– Vâng, đường nhiều gió lắm anh ạ. Cóng cả tay!

– Tớ giới thiệu nhé, anh Ẩn, đây là Dũng, dân Hà Nội chính hiệu đấy.

– Sao lại đi kèm chữ chính hiệu vào?

– Ậy, không phải nãy giờ chúng ta nói tới băng đĩa ca nhạc thu hình lậu sao? Có giả thì phải có thật chứ? Phải có vàng mới có thau.

– Không lẫn lộn. Sao, chúng ta cùng gọi phở nhé? Và xin phép hai anh cho Dũng được mời bữa nay.

– Cậu giả tiền à? Tớ không khách sáo. Vậy cậu cần gì ở tớ nào?

– Nhờ anh Ẩn sang hộ đoạn phim ấy vào DVD, được không ạ?

– Dễ như ăn ớt. Nói cậu đừng phật lòng, tớ xem đi xem lại đoạn phim ấy mãi. Con bé rất xinh và tớ áng chừng kẻ chịu chơi chí ít phải mất cả ngàn đô chứ không vừa.

– Mà này, tại sao người ta luôn gọi vợ là cơm nguội trong khi cái khoản kia thì là phở? Sao không là mì ăn liền?

– Phở mới hấp dẫn chứ. Mì gói, dù mì con tôm mì cao cấp thảy nghe ngán bỏ mẹ! Rẻ tiền nữa chứ. Chỉ dùng để cứu trợ nạn nhân bão lụt!

– Nó có tải lên hai ba phiên bản khác nhau, cậu muốn tớ lưu lại cái 5 phút hay cái 9 phút? Cái 9 phút thì HD hình ảnh trong vắt rõ mồm một. Tớ mới tìm thấy cái site ấy, có cả “Một đêm với Paris”.

– Đã mất công làm thì đè cái dài nhất mà chơi, hỏi han chi cho nhọc công thế!

– Nhất trí vậy đi.

– Hôm nay Thu đi đâu chả thấy mặt nhỉ?

– Con bé làm ca hai, từ bốn tới mười giờ tối.

– Nó người Hải Dương hay sao ấy nhẩy?

– Hải Phòng đấy ông ạ. Đất cảng và thành phố hoa phượng quê tôi ý. Tuồng như nó có cảm tình với cậu, phải không Dũng?

– Nói sao cơ ạ?

– Anh Dũng nom hiền lành đến thế thì thôi. Là du học sinh chắc tiền đồ sáng lạng?

– Cơ khổ! Bé cái nhầm. Anh Dũng có hiền lành không? Chứ anh thâu vào đĩa cái phim đồi trụy ấy để làm gì nào?

– Xin mấy bác tha cho, nhà cháu có nỗi khổ tâm riêng!

Người con gái bắt đầu thoát y. Dũng đóng máy, đoạn phim ghi hình Lan, đứa em gái rên tiếng cuối rồi tắt ngúm. Coi trăm lần, tuy khó chịu vì tình máu mủ, nhưng dẫu sao thước phim nọ cũng gieo vào người Dũng sự đảo lộn khí huyết. Dũng cần có bạn cùng chia sẻ và Thu đang trần truồng nằm dạng chân trong chăn. Anh Dũng à, em đang khó chịu đây. Khẩn trương lên anh, bốn giờ em còn phải lao động đi bưng phở cho chúng xơi. Vô tình, Thu đã có những động thái giống hệt Lan diễn trong phim, điều này làm Dũng nhập cuộc chẳng cần một hối thúc bên tai. Em phải nói lên một điều gì đi chứ? Nói yêu anh sao? Bắt thề thốt sao? Không, la lên, biểu lộ sự hưng phấn, tục tĩu càng tốt. Bắt Thu la, vậy trước khi gào, anh có nên nói một lời dịu dàng cho Thu mát ruột không? Mẹ kiếp, lúc nầy mà dịu dàng cái nỗi gì nữa. Lý ra Thu phải bắt anh đối xử cực tàn bạo mới hợp nhẽ. Giời ạ, cho em nguyên vẹn hình hài để còn kiếm cơm. Thằng chủ quán ấy sang đây rồi mà vẫn còn đè đầu đè cổ phục vụ viên trả lương rẻ mạt. Lao động chả vinh quang một ly ông cụ nào sất!

Như chiều dài đoạn phim ngắn, Dũng cũng đầu hàng cùng thời điểm. Bận sau anh mua camera về thu hình chúng mình để kỷ niệm Thu nhỉ? Thu ôm mớ áo quần vào phòng tắm, cô nói mà chẳng quay đầu: Để làm cái đếch gì? Để tống tình tống tiền nhau sao? Tiểu nhân thì cũng chừng mực nào đấy thôi!

Ngồi trên đống mền gối nhàu nát, Dũng thấy cái xách đeo vai của Thu móc ở lưng ghế. Chẳng cưỡng được tò mò cậu mở rộng miệng thò tay lục soạn. Thỏi son bôi môi, cây viết, cuốn sổ nhỏ ghi khoảng chục số điện thoại, miếng bông vệ sinh phòng hờ kinh nguyệt không điều hòa và… một con dao bấm của Thái Lan.

– Xấu nết thế, sao lại đi kiểm tra lùng sục đồ dùng cá nhân của phụ nữ?

– Sao em nghèo thế? Chả có xu đen dính túi. Em cầm tạm hai chục bạc lỡ có gì mà chi trả. Anh quan tâm tới sao Thu lại bảo anh xấu nết?

– Có hai chục thôi à? Mất mặt thế, tôi nhận làm gì cho mang tiếng moi tiền của giai.

– Anh hỏi thật này. Đi làm mà sao lại dấu theo cả hung khí trong ấy?

– Đi buýt mí lị metro về tới nhà có khi mười một mười hai giờ đêm, phải biết sắm đồ phòng thân chứ. Nó bén lắm anh ạ, như lưỡi lam ấy. Bổ cam bổ ổi cú một, ngọt như miá lùi. Thằng nào quờ quạng gà mờ nói không giữ lời thì mình thiến cái vật gia bảo lắm chuyện ấy chẳng gớm tay.

– Eo ôi, nói nghe kinh!

– Tin không? Ở quán phở bọn chúng thách và con nầy đã ăn cả thịt bò sống đấy. Có sao đâu! Thôi, đi làm đã nhớ.

– Sao không ghi số điện thoại của anh vào cuốn sổ ấy?

– Chi vậy? Ghi vào đầu chẳng được sao? Nên nhớ, những con số dễ xao lãng mới ghi nó ra giấy. Anh có đổi số phone thì phải thông báo, ok?

– Chừng nào Thu gọi cho anh?

– Mai, mốt, có thể, tùy thuộc vào sức khỏe và lòng ham muốn. Người ta đồn con nhỏ trong phim kia là em ruột anh à?

– Bậy nào. Anh đâu vô phúc đến thế.

Chuông réo hồi lâu, hối thúc dài miên man mới có người rảnh tay nhấc ống nói.

– Bố à. Đang bận chuyện gì thế?

– Tao đang tháo gỡ tấm màn ra. Từ dạo mày đi bố dùng căn phòng mày ở cho con bé dưới quê lên trọ học mướn thuê. Giờ thì nó cũng dọn sang căn hộ khác rồi, nó không muốn chung đụng với những tai tiếng thị phi. Mẹ nó chứ!

– Con đã thử gọi số mà bố cho hôm trước ấy, ông ta bảo rằng bố mày là thằng dở hơi, ở chỗ xa xôi ông ta đâu có nắm vững địa bàn, nhất là Hà Nội giờ này đã thay đổi ngần ấy.

– Có nghĩa là lão từ chối? Lão rửa tay gát kiếm hay lão mặc cả điều gì?

– Lão bảo đường tắc bố chẳng ưa đi lại khổ công đi đường vòng, cẩn tắc vô ưu mà làm cái đếch gì!

– Láo xược! Thế nó còn nói gì thêm?

– Bảo rằng bố đi ăn bún chả gần chợ Đồng Xuân ấy, hỏi ông Tám, trình bày cụ thể thì người đó sẽ giúp cho. Dân anh chị đầu gấu dưới trướng ông Tám chủ trương không giết người, mức độ tàn phế thì toàn quyền do bố định đoạt, giá cả linh hoạt di động theo bao nhiêu phần trăm thương tật. Giá cao nhất là năm triệu để bố dễ nắm bắt. Cơ bản là thế.

– Nếu ngộ nhỡ như thằng sát thủ kia bị công an hỏi thăm sức khỏe, nó có vui miệng khai rõ đầu dây mối nhợ không?

– Không. Họ như mafia vậy bố, chỉ liên hệ với đứa chỉ huy trực tiếp thôi. Chúng ra tay mà ít khi thắc mắc nguồn cội.

– Được vậy tao cũng an tâm. Tao đã gọi người rồi, tấm phản gỗ qúy mày vẫn nằm ấy họ trả hai triệu rưỡi. Mẹ mày tiếc của còn tao thì ưa bán phức cho thông thoáng nhà cửa. Hai triệu rưỡi, ngần ấy đồng cũng thanh thỏa được khối việc con giai ạ!

– Thế giờ nầy bố liệu sao?

– Lâu nay tao chẳng làm gì ra trò trống. Người cứ manh động một ý đồ cần giải quyết cho xong, như cái dằm nằm trong mắt, cần phải nhổ đi. Để cho con em mầy biết rằng bố thương nó vô hạn, vì thương yêu bố phải cho thằng ấy nếm mùi khổ đau. Dám phá đời con tao hả thằng khốn, ông cho mầy ngồi xe lăn suốt cả cõi trần.

Dường như quá đỗi bức xúc, chẳng còn nghe ra tiếng nói của người đàn ông 62 tuổi, vọng trong ống nghe của điện thoại là tiếng thở nhọc mệt và âm điệu xa gần bài hát “Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa”.

Hồ Đình Nghiêm

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 21 Jan 2024

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

THOMAS POLGAR

“Chúng tôi là một đoàn quân chiến bại.”
(Chỉ huy Trung ương Tình báo Mỹ tại Việt Nam)

Hiểu ý định địch quân không khó vì Bắc Việt không giữ bí mật phương hướng, đường lối. Họ thường cho cán bộ học tập kỹ lưỡng cả đến những chi tiết đáng ngạc nhiên về những gì họ làm, hơi giống kiểu Hitler và cuốn Mein Kampf. Họ thường nói trước những gì họ sẽ làm, chúng ta thường không tin những gì họ đã nói. Còn chính sách Hoa Kỳ thì đơn giản là không đáp ứng những tin tình báo mà chúng tôi thu lượm.

Xin đưa thí dụ: Mùa thu 1974, chúng tôi tìm ra được những báo cáo của Hà Nội nói Nixon đã đổ, chúng ta sẽ chơi một trận cầu mới, chúng ta sẽ có nhiều thử nghiệm trong phạm vi quân sự. Tôi xem các tài liệu này rất hệ trọng. Bắt đầu vào tháng 10, 1974, khi tìm được phương án hoạt động 75, tôi lái xe xuống Biên Hoà nói chuyện với viên Trưởng Nhiệm sở Tình báo vùng, nơi họ bắt được phương án này, chúng tôi đã bàn thảo và đi đến kết luận: Cái giọng trong văn kiện này tương đồng khủng khiếp với cái giọng của tập tài liệu 90 nguyên tắc chỉ đạo do Trung ương cục miền Nam đưa ra vài tháng trước cuộc tổng công kích 1972.

Một hôm, tôi có dịp hỏi ý kiến Kissinger về hoạt động tình báo của chúng ta, không phải chỉ riêng ở Việt Nam, mà nói chung. Lúc ấy, ông đang tiếp nhận một lưu lượng khổng lồ các tin tức do Trung ương Tình báo từ khắp nơi trên thế giới gửi về. Tôi hỏi ông nghĩ thế nào về giá trị ngành tình báo chúng ta? Ông suy nghĩ một lúc, rồi trả lời: “Khi nó hỗ trợ cho chính sách của tôi, nó rất hữu ích!” Tôi nghĩ: Đấy, chính đấy là tâm điểm vấn đề. Vấn đề là chính sách Mỹ không được thiết lập để đáp ứng với tin tức do tình báo thâu nhập được nhưng chúng ta thiết lập chính sách trước, rồi cố tìm kiếm các tin tức tình báo để hỗ trợ chính sách ấy mà thôi.

Ở Việt Nam lúc đó có ba nguồn tình báo chính: Quân báo, sở An ninh Quốc gia và Trung ương Tình báo. Chúng tôi không bao giờ gặp những trường hợp tin tức nghịch chiều. Chưa bao giờ Văn phòng Tình báo- Văn phòng Tùy viên Quân sự đưa ra những quan điểm hoàn toàn khác biệt với quan điểm những cơ quan tình báo bạn. Chúng tôi phối hợp chặt chẽ với Bill Legro, người chỉ huy tình báo thuộc Văn phòng Tùy viên Quân sự suốt phần lớn thời gian kể từ sau Hiệp định Ba-Lê. Nhưng trở ngại là chính sách Hoa Kỳ đã được đặt trên căn bản của một tiền đề: Tiền đề đó là Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt. Quân đội Hoa Kỳ đã rút. Và chắc chắn, Tổng thống Ford sẽ không để cho hy vọng tái bầu cử của ông bị đe dọa vì việc có thể đưa quân Mỹ trở lại Việt Nam.

Vào năm 1974, chúng ta đã không gửi tiếp vận cho Nam Việt Nam đúng kỳ hạn. Chúng ta đã chậm trễ trong việc thi hành các nghĩa vụ đồng minh. Lúc ấy, tôi báo cáo: Nếu người miền Nam Việt Nam mất tin tưởng vào sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, họ sẽ sụp đổ. Tôi nhấn mạnh vào sự tin tưởng-vào tinh thần của họ, hơn là vào cả cái mức độ thực sự của việc yểm trợ quân sự.

Hình minh họa

Có năm sự kiện xảy ra trong năm 1973 dù không liên quan gì đến Việt Nam, nhưng đã ảnh hưởng trầm trọng đến họ. Trước hết, cuộc chiến Ả Rập/Do Thái đã làm đổi hướng Bộ Quốc phòng Mỹ và đổi hướng nguồn quân vận sống chết của Nam Việt Nam. Tiếp đến việc phong tỏa dầu lửa, giá dầu thô tăng vọt làm kinh tế Nam Việt Nam bị va chạm, thiệt hại nặng. Rồi các nhược điểm trong chính sách ngoại giao Mỹ đã tạo nên những phản ứng tâm lý mạnh mẽ chống lại việc tiếp tục các cam kết ngoại giao đắt giá. Rồi việc quân nhân đảo chánh, hạ bệ Salvador Allende ở Chí Lợi làm công luận thuộc Khuynh hướng Tự do và Khuynh hướng Tả phái tức giận, họ trút sang đầu Nam Việt Nam. Sau nữa, quốc hội vì ghê tởm vụ bưng bít Watergate, đã tìm cách trừng phạt Nixon, nên cũng gộp luôn cả Việt Nam vào vụ này.

Tôi nghĩ ông Thiệu hiểu rất rõ: Không có Mỹ, ông không thể tồn tại được. Tôi cũng biết Hoàng Đức Nhã, cháu ông Thiệu rất nhiều. Nhã đã học bốn năm đại học ở Mỹ, còn hiểu rõ hơn cái bản chất bất định của nền chính trị Hoa Kỳ, những sự lên xuống thuần túy chỉ do áp lực nội bộ gây ra, thường chẳng liên quan đến đề mục ngoại giao, mà lại ảnh hưởng lớn đến liên hệ ngoại giao. Nhưng làm thế nào một người như Thiệu có thể nhận thức thấu đáo sinh hoạt quốc hội Mỹ, trong khi cách làm việc của ông là chỉ coi quốc hội của ông như một công cụ khúm núm quỵ lụy mà thôi?

Vụ thất thủ Phước Long xảy ra đầu năm 1975 không quan trọng về phương diện quân sự, nhưng cực kỳ quan trọng ở phương diện tiêu biểu: Nước Mỹ đã từ chối không thực hiện lời Nixon hứa với Thiệu rằng sẽ “trả đũa mạnh mẽ và toàn bộ.” Quân Bắc Việt thử nghiệm xong, tất nhiên được đàng chân, lân đàng đầu, họ sẽ tiến sâu hơn nữa.

Khi phái đoàn quốc hội Hoa Kỳ đến Việt Nam, tôi nghĩ cách hành xử của Fraser và Abzug không tha thứ được. Ngay khi bước vào phòng, Abzug lên tiếng hỏi: “Trong mấy người ở đây, ai là Polgar?” Tôi tự giới thiệu. Bà ta nói: “Tốt! Tôi đã được người ta cảnh giác về ông.”

Bấy giờ có một lãnh tụ sinh viên bị nhốt tù, anh này có đôi chút tiếng tăm ở Mỹ. Bà Abzug đầu tiên bảo anh ta chắc chết rồi, Nam Việt Nam giết hắn rồi. Tôi bảo “Không. Nam Việt Nam không làm như vậy. Họ có thể xác định được bất cứ người nào ở đâu trong tù.” Bà ta bảo: “Xác định người này xem.” Chúng tôi xác định ra được địa điểm giam anh ta là ở vùng 3, Tuy Hoà. (Ghi chú của người dịch: Có lẽ là Biên Hòa) Bà bèn bảo bà ấy muốn phỏng vấn. Nhưng đi xe hơi xa quá, phải có trực thăng, bà ấy lại chỉ có thể đi sáng chủ nhật, thực bất tiện cho tất cả mọi người. Nhưng cũng đành, chúng tôi thu xếp trực thăng, thu xếp thủ tục thăm tù. Sau khi tất cả lo liệu xong, bà ấy nói: “À, tôi không lưu ý vụ này nữa” và không bao giờ đi gặp người sinh viên này nữa.

Cùng đi trong phái đoàn có Millicent Fenwick. Bà này tuy không có cảm tình với Nam Việt Nam nhưng vẫn còn cư xử đàng hoàng, đã theo dõi lắng nghe các buổi thuyết trình. Nhưng Abzug và Fraser hết sức quá quắt. Tổng thống Thiệu mời cả phái đoàn dự tiệc, hai người này thản nhiên không dự. Họ chẳng đếm xỉa nghi lễ, không buồn từ chối. Họ lẳng lặng không đến. Trước buổi tiệc ấy là tiếp tân của thủ tướng, họ đến, nhưng họ không thò mặt vào buổi tiệc của tổng thống. Rồi đại sứ cũng mời phái đoàn dùng cơm chiều. Tất cả mọi người đến, trừ Abzug. Tôi rất thất vọng, vì chính tôi đã được xếp ngồi ngay cạnh bà ta.

Về vụ tấn công Ban Mê Thuột ngày 5 tháng 3, tôi không tin có ai đã đoán trước được, nhưng hầu hết mọi người đều biết một cuộc tấn công lớn sẽ xảy ra ở cao nguyên trung phần. Chúng tôi biết họ sẽ cắt đường, sẽ đưa vào nhiều sư đoàn. Tất cả đều đã xảy ra đúng như vậy, nhưng Hoa Thịnh Đốn không bao giờ chấp nhận tin tức tình báo của chúng tôi. Họ không chấp nhận vì-(Chúng ta đang bước vào chuyện xuất xứ các nguồn tin và những phương pháp thâu nhập tin tức tình báo, chẳng rõ tôi có nên nói ra ở đây không)-Nhưng sự kiện xảy ra là giới tình báo Hoa Thịnh Đốn đã không sử dụng tin tức tình báo từ Việt Nam do Văn phòng Tùy viên Quân sự và sở Trung ương Tình báo chuyển đến, nói rằng sẽ có một cuộc tấn công lớn tại cao nguyên vào năm 1975. Họ từ chối không chịu tin điều ấy. Còn miền Nam Việt Nam thì chẳng có được một quan niệm chiến thuật riêng tư nào, ngoài việc đặt một trung đoàn chỗ này, đưa một trung đoàn ra chỗ kia để phòng vệ. Trung đoàn tăng cường Ban Mê Thuột không đủ đương đầu tình hình, họ cũng không được may mắn. Những lực lượng này dùng để giữ các địa phương thì tốt, họ tỏ ra đắc lực để đối đầu vài trận tấn công. Tuy nhiên họ không phải là loại binh đội được huấn luyện và trang bị để chiến đấu với các đơn vị chính quy chủ lực có chiến xa tăng cường.

Hình minh họa

Sau khi mất Ban Mê Thuột, ông Thiệu họp với tướng Phạm Văn Phú tại Cam Ranh, ban lệnh triệt thoái cao nguyên. Tôi nhớ buổi họp ấy nhằm thứ sáu. Phú cho thực hiện kế hoạch vào thứ bảy. Nhận tin sáng thứ bảy ấy, tôi chạy theo tướng Charles Timmes ra Tổng Tham mưu, và nói rằng “Tôi chẳng biết chuyện trời đất gì đang xảy ra đây nữa!” Tôi cho một phụ tá cao cấp đi gặp tướng Đặng Văn Quang, Cố vấn An ninh của Thiệu, hỏi chuyện gì đang xảy ra ở vùng II. Quang bảo: “Ông thấy, tình hình không được tốt. Chúng tôi không mở đường lại được, chúng tôi đang lo ngại về tình hình và sẽ phải thay đổi vị trí một vài đơn vị- chớ chẳng có chuyện gì xảy ra ở vùng II cả.”

Hiển nhiên, ông Quang không hay biết ông Phú đang di tản. Tướng Timmes vào Tổng Tham Mưu Việt Nam, nhưng không gặp tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu Trưởng. Mọi sự ở đấy có không khí của một buổi sáng thứ bảy. Nhưng ông đã gặp tướng Trần Đình Thọ, là Trưởng phòng hành quân để hỏi thăm tin tức vùng II. Ông Thọ nói: “Còn có cái gì xảy ra mà quý ông không hay biết cả đâu?” Rõ rệt, Bộ Tổng Tham Mưu cũng không biết gì việc ông Phú đang triệt thoái. Sau đó tôi nhận tin trực tiếp từ Pleiku gửi về. Phó Đại sứ Wolf Lehman bấy giờ đang bận một số chuyện lặt vặt. Joe Bennett, sĩ quan chính trị đang bận đi chữa răng. Tôi điện thoại cho Moncrieff Spear, Tổng Lãnh sự ở vùng II, bảo ông ta: “Tốt hơn hết ông nên chuyển người của ông ra khỏi Pleiku, theo chỗ tôi hiểu: người ta đang di tản.” Ông ta nói: “Anh khùng à?” Bấy giờ ông ta đang ở Nha Trang, vùng duyên hải, tôi bảo: “Không, tôi có lý do để tin những việc đang xảy ra.” Ông ta nói: “Có phải anh ra lệnh cho tôi di tản Pleiku đấy chăng?” Tôi bảo: “Ông biết thừa tôi không thể làm thế. Nhưng tôi có thể kết luận nếu khôn ngoan thì hãy di tản ngay đi.”
Có một điểm tôi muốn nêu ra đây về tướng Phú trong buổi sáng hôm ấy. Bất kỳ công trạng trước đây của ông thế nào, không kể, nhưng bây giờ ông ta đã hoàn toàn không phối hợp với chúng tôi. Ông ta không thông báo cả cho Tổng Lãnh sự là người mà ông bắt buộc phải thông báo, vì đây là đại diện chính thức của Hoa Kỳ tại vùng II. Ông Quang cũng không biết chuyện gì đang xảy ra, ông ta có vẻ của một người bận rộn, nhưng thực tình chỉ lăng xăng giết thì giờ. Còn ông Thọ Trưởng phòng hành quân, cũng thế, chẳng hay biết gì cả. Trong sự suy đoán của tôi: Những việc xảy ra đó là do tướng Phú hiểu lầm những gì Tổng thống Thiệu nghĩ trong đầu, rồi tự khởi xướng một kế hoạch hành động, không biết việc ấy trong thực tế sẽ khó khăn đến đâu. Thực tế cuộc di tản ấy không thành công. Mọi cuộc triệt thoái sớm hay muộn đều là một sự thất bại khủng khiếp.

Quân đội Bắc Việt bắt kịp cuộc di tản của tướng Phú. Chiến xa của họ đâm ra từ các đường nhánh, gặp đoàn quân tại Phú Bổn. Cuộc tàn sát đã diễn ra ở đấy.

Trước buổi họp Cam Ranh, tôi liên lạc với Hoa Thịnh Đốn để ghi nhận cuộc chơi đã xong. Tôi nhớ tôi nói chuyện với một viên chức có liên hệ khá chặt chẽ với tôi (xin miễn đưa tên), ông ta bảo: Nam Việt Nam không thể nào tiêu hoá nổi việc mất Ban Mê Thuột cùng với cái hậu quả tất yếu của nó là mất toàn thể cao nguyên. Ống là một sĩ quan cấp tướng.

Hình minh họa

Lúc ấy vẫn chưa có gì xảy ra ở vùng I. Rồi tai họa bắt đầu. Thiệu quyết định rút cả Thủy quân Lục chiến lẫn Nhảy dù khỏi vùng I. Quyết định này giống như chợt rút đi cái chiếu trong lúc tướng Trưởng còn đang đứng trên ấy, nó làm ông ta hổng cẳng. Tiếp đến, mất cả sư đoàn Thủy quân Lục chiến. Họ trở nên vô dụng, vì đầu tiên người ta ra lệnh triệt thoái, sau lại ra lệnh “quay đàng sau, quay,” để quay trở lại! Đó là chuyện bất khả thi về phương diện quân sự. Sư đoàn Thủy quân Lục chiến mất rất nhiều chiến cụ vì không thể nào lấy ra được trong cái dòng người tỵ nạn tràn lan. Lúc này ông Thiệu đang ngoi ngóp trong biển nước, ông cố bám lấy vài cọng cỏ. Nhưng lúc này ông có làm bất cứ cái gì cũng không còn có thể thay đổi tình thế lại được nữa. Cuộc chơi đã xong.

Tôi tin tưởng chắc chắn rằng khi người Việt Nam có cảm tưởng chúng ta sắp chạy, tất cả sẽ sụp đổ. Điều này, tôi hoàn toàn đồng ý với đại sứ Martin. Ông đại sứ lúc ấy đã rời Việt Nam sang Mỹ cùng với phái đoàn quốc hội. Ông nghĩ ông có thể vận động được một vài dân biểu, ông sẽ cố ra điều trần trước quốc hội. Đến Hoa Thịnh Đốn, người ta phát hiện tình trạng sức khoẻ của ông cần giải phẫu, việc này đã làm chuyến về của ông chậm trễ. Không muốn mọi người phải quan tâm nhiều, ông đi xuống North Carolina mổ, ngay Bộ Ngoại giao cũng không biết liên lạc với ông ở đâu. Ông là một người kín đáo. Ông trở lại Việt Nam cuối tháng Ba, trước khi Đà Nẵng mất và chuyến C-5A bị rơi.

Về vụ chiếc C-5A thì thoạt đầu đề nghị chuyển vận các cô nhi đi bằng máy bay hoàn toàn chỉ có mục đích vận động nhân tâm. Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Y tế, cũng là bác sĩ y khoa-Bác sĩ Đán cảm thấy cần phải làm một cái gì về các cô nhi. Đại sứ Martin và vài cố vấn cũng cảm thấy nếu đưa được các cô nhi sang Mỹ hàng loạt thì việc này có thể vận động tình cảm công chúng Mỹ, nó sẽ là một câu chuyện khích động lòng xót xa con người. Cùng lúc ấy, Văn phòng Tùy viên Quân sự lại có nhiều nhân viên phụ nữ sẵn sàng di tản, nhưng người ta không thể cấp thông hành cho họ vì Hoa Kỳ chưa chính thức di tản. Như thế ai sẽ trả phí tổn di chuyển bằng đường hàng không từ Việt Nam, Hoa Kỳ chăng? Nên tôi nghĩ có thể xếp đặt cho họ vào những chuyến máy bay quân đội còn trống, xem họ như những người đi kèm các cô nhi, như thế khỏi lo liệu vấn đề lộ phí, tiền bạc. Chính vợ tôi cũng đi với tư cách người kèm cô nhi, nhưng rồi vợ tôi tình cờ đã lên một chiếc máy bay dân sự thuộc hãng Cathay Pacific, đúng một ngày với chuyến C-5A bị rớt.

Tôi có hai bác sĩ thuộc Trung ương Tinh báo, nhân viên của tôi, khi máy bay rớt đã đi khiêng xác chết, xác của những đứa trẻ nhỏ bé này, vào bệnh viện Cơ Đốc ở Sàigòn. Một trong hai bác sĩ ấy mang theo máy ảnh, chụp rất nhiều hình. Khi tôi đưa những tấm ảnh này cho đại sứ coi, ông suy nghĩ khá lâu xem có nên công bố hay không. Nhưng ông kết luận những bức ảnh này quá rõ ràng, quá đẹp, màu sắc sống động, với hình ảnh các thân thể nát vụn của đàn bà trẻ con, thay vì khích động lòng thương xót, lại tạo ảnh hưởng xấu, nên người ta quyết định không công bố nữa.

Vài ngày trước hôm Thiệu từ chức, một nhân viên cao cấp người Hung Gia Lợi thuộc ủy ban quốc tế kiểm soát đình chiến đến gặp tôi, anh ta nói: “Này ông bạn, phải thực tế chút chứ? Ông phải biết các ông đã thua trận chiến này.” Tôi bảo: “Ô kê, tôi nhìn nhận: Trận chiến đã bại rồi.” Anh ta nói: “Mỗi cuộc thất trận đều tạo nên nhiều hậu quả chính trị.” Tôi bảo: “Đồng ý.” Anh ta nói: “Hiển nhiên những hậu quả chính trị này sẽ gây nhiều cay đắng. Nhưng bên phía mà tôi đại diện…” Anh ta bỏ lửng, không nói đại diện cho ai “…Không có ý định hạ nhục Hoa Kỳ một cách quá mức. Có lẽ, có thể tìm ra được một giải pháp nào-Không phải để thay đổi cuộc diện trận chiến, vì nó đã xong, nhưng để thu xếp cho một cái chung cuộc mà..” Một lần nữa, anh ta sử dụng những chữ này: “Không hạ nhục Hoa Kỳ một cách quá mức.”

Hình minh họa

Tôi hỏi: “Ông có ý nghĩ gì trong đầu vậy?” “À vâng.” Anh ta nói: “Ông biết chúng tôi đã ra Tân Sơn Nhứt thảo luận với các đồng nghiệp Bắc Việt của chúng tôi. Chúng tôi có người ở Hà Nội. Tôi có cảm tưởng có lẽ chúng ta có thể tìm được một cách giải quyết trong lúc tình hình đang diễn tiến thế này-Thiệu bắt buộc phải từ chức. Hoa Kỳ cần phải tuyên bố bất can thiệp vào nội tình Nam Việt Nam, ngoại trừ việc duy trì ở đây một cơ cấu sứ quán bình thường. Và chính phủ Nam Việt Nam cần bao gồm một số người Bắc Việt có thể chấp nhận. Đấy là những vấn đề chủ yếu.” Tôi đáp: “Vâng, tốt lắm, cảm ơn ông bạn nhiều. Đương nhiên, tôi sẽ báo cáo cuộc nói chuyện của chúng ta hôm nay. Tôi sẽ thảo luận với đại sứ chúng tôi để chuyển về Hoa Thịnh Đốn, rồi tôi sẽ gặp lại ông. Trong lúc chờ Hoa Thịnh Đốn trả lời, xin ông vui lòng đi gặp các bạn của ông một lần nữa để tìm hiểu xem ai sẽ là những người mà họ có thể chấp nhận được trong chính phủ ấy?”

Vài ngày sau, Thiệu từ chức. Tôi trở lại gặp người bạn Hung Gia Lợi của tôi mà nói: “Đấy, tôi đã chuyển đạt và thực hiện xong điều thứ nhất của ông. Chúng tôi vẫn chưa nhận được hết câu trả lời dứt khoát. Còn ông đã có đề nghị nào về những tên người mà tôi hỏi hay chưa?” Anh ta đáp: “Vâng, thực ra tôi đã có. Nhưng tên người Việt, tôi dở lắm. Để tôi viết ra.” Anh ta lấy một quyển sổ tay con, bắt đầu viết một số tên. Tôi đáp: “Thú vị nhỉ. Tất nhiên tôi sẽ tiếp tục xúc tiến câu chuyện lần trước giữa chúng ta, tôi sẽ trở lại gặp ông.” Nhưng anh ta nói: “Tôi có thêm vài lời nữa từ các đồng nghiệp của tôi ở đây. Họ nói khi họ bảo mọi chuyện cần phải thu xếp cho sớm, điều ấy có nghĩa là trong vòng vài ngày, chứ không phải vài tuần đâu.” Ông đại sứ tỏ ra có thiện cảm với chuyện này. Ông nghĩ có thể chúng tôi thực hiện được một cái gì chăng. Nhưng chúng tôi đã gặp phản ứng tiêu cực của Kissinger, là người không muốn có chuyện thương thảo gì hết.

Đến ngày 26 hoặc 27 tháng Tư, chúng tôi gặp nhau lại, lần này anh chàng Hung Gia Lợi nói: “Tôi nghĩ muộn quá rồi.” Đấy, tôi kể cho các bạn nghe mấy chuyện này bởi vì tôi muốn nhấn mạnh thật ra không bao giờ chúng tôi thương thảo với đối phương, cũng không bao giờ làm điều gì đối phương đòi hỏi. Việc ông Thiệu từ chức là vì những lý do hoàn toàn khác, không liên hệ đến mấy chuyện này, nhưng tôi đã vờ vịt với họ, làm như chuyện ông Thiệu từ chức có liên hệ đến mấy chuyện ấy mà thôi.

Thiệu từ chức ngày thứ hai 21 tháng Tư. Ông đại sứ không yêu cầu Thiệu từ chức, nhưng vào ngày 19 tháng Tư sau khi ông đại sứ nói chuyện với Thiệu, thì hiển nhiên Thiệu đã mất hết tin tưởng vào mọi người, vì mọi người xem Thiệu như chướng ngại vật trong cuộc dàn xếp, trong các thủ tục ngưng chiến, mọi người không có thể cục cựa gì nếu Thiệu cứ luẩn quẩn bên cạnh.

Một bữa đại sứ gọi tôi vào văn phòng nói ông mới gặp Tổng thống Hương, Tổng thống không được thoải mái vì sự tiếp tục có mặt của Thiệu ở trong xứ. Ông cụ Hương nghĩ sự hiện diện của Thiệu làm giảm uy quyền của ông, chừng nào Thiệu còn ở đây thì ông cụ tê liệt không làm gì được cả. Ông cụ khẩn thiết yêu cầu đại sứ Martin lo liệu hộ vì lẽ chỉ Hoa Kỳ mới ở vị thế giúp được chuyện này. Việc đưa Tổng thống Thiệu ra khỏi xứ cần thực hiện tuyệt đối trong vòng “Tối mật!” Vâng, đại sứ Martin là người đầy lý trí, khi nghe cái gì “Tối mật” tất ông nghĩ đến “CIA Trung ương Tình báo,” thế là ông hỏi: “Anh làm được không?” Tôi bảo “Thưa đại sứ, tôi làm được. Với một điều kiện. Ấy là: để yên cho tôi lo. Cứ giao việc để tôi xoay sở, nhưng đừng đem cả một ủy ban dính vào đây.” Việc này xảy ra ngày 24 tháng Tư thì phải.

Hình minh họa

Mọi sự được xúc tiến nhanh chóng ngay sau đó. Tôi biết tôi có thể thu xếp máy bay ở đâu. Tôi lấy tướng Timmes là điểm liên lạc chính. Vào lúc này Thiệu đã rời căn nhà trong Tổng Tham mưu. Các tướng lãnh cao cấp Việt Nam đều có nhà trong căn cứ Tân Sơn Nhất. Chúng tôi đồng ý là với một kế hoạch hành động, cũng có đôi điều cần phải quan tâm: Phải quan tâm công luận. Phải lo ngại chuyện một số quân nhân vô kỷ luật của Nam Việt Nam có thể can thiệp, vài sĩ quan cao cấp có thể manh nha trong đầu cái ý nghĩ làm lịch sử. Cũng phải lo ngại cả chuyện cảnh sát chặn trên đường ra Tân Sơn Nhất, việc này tuy không liên quan gì đến chuyện Thiệu đi, nhưng cảnh sát thường có những điểm chặn trên đường, nên chúng tôi phải bày việc đi dự tiệc trong căn cứ Tham mưu Liên quân. Chúng tôi lấy vài chiếc xe Mỹ kiểu tiêu chuẩn, màu đen, gồm cả xe đại sứ, xe tôi, xe phụ tá của tôi, đủ để chở từ mười đến mười hai người, kể cả các tài xế, tướng Timmes, tôi, và các hành lý- Chúng tôi dặn rõ mỗi người chỉ được mang một vali. Chúng tôi dàn xếp tất cả sẽ gặp nhau tại nhà thủ tướng Khiêm, bởi vì đây là căn nhà lớn nhất, ít bị chú ý hơn là nhà ông Thiệu. Chúng tôi đồng ý sẽ cho máy bay đi Đài Loan, nơi người anh của Thiệu làm đại sứ, như thế ông ta sẽ thu xếp được với nhà cầm quyền Đài Loan để mọi người được nhập nội. Thủ tướng Khiêm cũng từng là đại sứ ở Đài Loan, như thế ông ta cũng có nhiều liên hệ. Khi chọn Đài Loan làm điểm đến, tôi cũng cân nhắc rằng chuyến máy bay DC-6 chỉ có thể bay xa nhất bấy nhiêu, mà khỏi cần đổ thêm xăng.

Tôi chọn vài người làm tài xế mà tôi xem như những tay bảnh nhất, đáng tin cậy và vững chãi nhất. Tôi không lựa tài xế người Việt-Frank Snepp là một trong các tài xế ấy. Tướng Timmes, vì cấp bực của ông, không thể lái xe, tôi cũng thế, cấp bực của tôi không cho phép tôi lái xe. Tôi kiếm một đại tá cảnh sát, cũng là đại tá quân đội, tôi nói: “Cần phải có một người với cái vẻ chỉ huy lẫm liệt.” Tôi dự phòng trường hợp lính gác hạch hỏi gì chăng. Phòng xa thế, chứ tôi biết khi lính gác nhìn thấy bốn cái xe Mỹ do Mỹ lái thì họ sẽ bảo “Các tay tổ đây,” khi nhận ra xe Đại sứ, họ sẽ bảo “Ông đại sứ đi họp” chắc chắn thế, chả trở ngại gì, nhưng phải có một đại tá quân đội cảnh sát để dự phòng cho vững. Chúng tôi không biết Thiệu sẽ mang theo những ai. Chỉ biết một mình ông Thiệu sẽ đi, Khiêm sẽ đi, không biết còn ai khác. Cho nên cứ mang theo một số giấy tờ để trống, rồi tướng Charlie Timmes sẽ điền tên họ vào bằng tay.
Chúng tôi đưa cả cho viên đại úy trên máy bay, bảo: “Khi đến Đài Loan chúng tôi sẽ thông báo cho các giới chức quân sự Mỹ. Anh cứ yêu cầu gặp các sĩ quan cao cấp, và đưa tận tay chiếc phong bì này. Tất cả giấy tờ ở trong ấy.” Trong lúc đó một xe khác chở đại sứ chạy thẳng đến chiếc máy bay vì đại sứ muốn đến chào tạm biệt Thiệu. Tôi nói với đại sứ: “Tôi không muốn đi cùng một xe với đại sứ trong thành phố vì chỉ tạo thêm nhiều rủi ro phiền phức.” Cho nên tôi nhớ chúng tôi đã đổi xe. Tất cả diễn ra chính xác như một cái đồng hồ Thụy Sĩ, cũng như khi chúng tôi thực hiện các điệp vụ. Chúng tôi đã đưa mọi người đến máy bay an toàn, vào máy bay an toàn, sau đó sẽ cất cánh an toàn.

Tôi ngồi chung xe với thủ tướng Khiêm, chứ không ngồi với Thiệu. Tôi nhớ tướng Timmes ngồi với ông Thiệu. Mọi người đều kiềm chế cảm xúc, không ai khóc. Gia đình họ đều đã đi cả. Thực ra, có một điều làm tôi ngạc nhiên. Tôi ngạc nhiên vì trong tất cả các cộng sự viên thân tín gần gũi, ông Thiệu không mang theo ai, trừ thủ tướng Khiêm. Điều này rất lạ vì chỉ mới vài năm trước tại khắp các quán cà phê ở Sàigòn người ta sì sào bàn tán chuyện chia tay giữa Thiệu và Khiêm, chuyện ông này sẽ hất ông kia vân vân…Tất nhiên tôi không đánh giá cao mấy chuyện ấy vì lẽ tôi có liên hệ rất tốt với thủ tướng, tôi luôn luôn coi ông như một viên chức tận tụy trung thành với Thiệu. Tổng cộng gồm mười bốn người đi ra chuyến bay đêm ấy. Tất cả đều là đàn ông.

Tôi luôn dè chừng trường hợp có người nhận ra ông Thiệu ở các trạm kiểm soát, nhưng tôi cũng tính toán: Người ta đã quen cách di chuyển cố hữu của ông Thiệu trong thành phố bằng một chiếc xe Mercedes cũ kỹ, khác với đây là bốn chiếc xe Hoa Kỳ của toà đại sứ có bộ dạng quan trọng. Bấy giờ trời tối, việc chặn xét bốn chiếc xe Hoa Kỳ là việc ít khi xảy ra. Dẫn đầu là chiếc Chevrolet Caprice của đại sứ có vỏ chắn đạn, tôi ngồi trong xe này, có viên đại tá cảnh sát đi kèm. Mối e ngại nhất của tôi là lỡ ở trạm gác, cảnh sát soát căn cước, bật đèn pha soi vào chúng tôi thì sao? Như thế họ sẽ nhận ra ông Thiệu và thủ tướng. Nhưng rồi việc xảy ra là khi thấy bốn chiếc xe với bộ dạng quan trọng như thế chạy đến trạm, mấy người lính canh nghiêm chỉnh giơ tay chào. Đúng là điều tôi mong đợi. Có lần tôi đã đưa một nhân vật trọng yếu đào thoát từ Tây Bá Linh bằng một chiếc xe lớn tựa như vậy, tôi cũng tính rằng lính Liên Sô sẽ chào kính khi họ thấy chiếc xe, và quả thật họ đã làm y vậy.

Hình minh họa

Đêm hôm ấy, Thiệu không hề đem theo vàng xuất ngoại. Câu chuyện ấy chỉ là chuyện cứt khô! Ai điên khùng gì mà lại gói vàng bỏ lỏng lẻo trong va li, trời đất. Tôi muốn nói, tôi có một người bạn Việt Nam đã mang vàng đi, tôi biết vàng phải được bọc chặt chẽ cẩn thận, quấn bằng vải, bằng dây cao su, bằng băng keo, đủ các thứ. Có ai lại để cho vàng kêu lách cách trong hành lý bao giờ. Thực ra số vàng dự trữ của Việt Nam vẫn ở trong xứ, khi quân Bắc Việt đến, vàng vẫn ở đấy. Số vàng dự trữ của ngân hàng quốc gia Việt Nam trị giá từ 18 đến 20 triệu mỹ kim. Trị giá thực sự của số vàng ấy đúng ra cao hơn nhiều, vì lý do giá vàng chỉ được tính có 35 mỹ kim một ounce (0.28g). Đó là cái giá tại Việt Nam trước thời Nixon phá giá đồng mỹ kim. Còn vào năm 1975, giá vàng thực ra ở mức 170 Mỹ kim một ounce. Bấy giờ đã có lúc Nam Việt Nam không còn tín chỉ trên thế giới nữa, quốc hội Mỹ thì lừng khừng từ chối yêu cầu viện trợ, và như thường lệ, đại sứ Martin đã đưa ra sáng kiến nóng hổi: Ông nghĩ Nam Việt Nam nên gửi số vàng ấy sang quỹ dự trữ Liên bang Hoa Kỳ, dùng sổ vàng ấy ký quỹ mà mua chịu võ khí. Vâng, Thiệu đã chấp thuận đề nghị. Tình cờ có chuyến bay chở hàng của Thụy Sĩ thuộc hãng Basel Air đang ở Sàigòn, Nam Việt Nam thương lượng với Basel Air mang số vàng này đi dưới hình thức hàng hoá thương mại thông thường. Mấy người Thụy Sĩ suy nghĩ một hai ngày rồi từ chối không nhận chở, vì lý do bảo hiểm. Họ bảo không cách gì kiếm ra ai chịu bảo hiểm số 70 triệu Mỹ kim vàng ra khỏi Sàigòn. Người ta lại phải tính đến không quân Hoa Kỳ. Việc này được đem thảo luận tại Hội Đồng An ninh Quốc gia. Chở một tấn rưỡi vàng đối với không quân Hoa Kỳ không khó, nhưng tìm đâu ra mối bảo hiểm thương mại khi người ta lại sử dụng máy bay quân đội; chấm hết!

Cái củ khoai nóng nuốt không trôi lại được ném lên bắp vế mấy anh trạng sư ở Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Suốt thời gian này đống vàng vẫn nằm yên tại Ngân hàng Quốc gia ở Sàigòn. “Làm thế nào kiếm cho ra mối chịu bảo hiểm chuyến hàng này nếu chúng ta chở đi bằng máy bay quân sự?” Đó vẫn là cái đề tài làm bù đầu mấy anh trạng sư suốt mấy hôm. Trong lúc ấy Thiệu từ chức, một tốp người mới vào nắm quyền, cụ Hương hôm đầu thì bảo ừ, chở đi, hôm sau lại bảo đừng, đừng chở nữa. Cuối cùng cụ kết luận thôi tốt nhất cứ giữ lấy vàng ở Sàigòn, bởi vì kể từ khi đại sứ Martin bắt đầu nói chuyện này, cho đến lúc ấy tình hình đã biến đổi, dẫu cho có ký thác vàng để lấy vũ khí Mỹ, vũ khí không còn đến kịp và cũng chả giúp ích gì nữa. Ngoài ra họ cũng còn giữ được thể diện khi để lại số vàng ở trong xứ. Như thế, số vàng đã được để lại.

Đêm hôm ấy, cũng là đêm tôi dự buổi dạ tiệc quốc tế cuối cùng ở Sàigòn. Buổi dạ tiệc được tổ chức tại tư thất đại sứ Ba Lan nhân dịp giới thiệu viên Trưởng ngành chính trị Ba Lan với các ngoại giao đoàn. Mọi người đều có mặt. Tất cả các đại sứ còn ở tại Sàigòn đều được mời, và ông Ba Lan mới đến nói ông ta rất mong mỏi gặp tôi. Ông ta bảo rõ rệt chúng tôi đang ở vị trí lưỡng tương hoán chuyển, ông ta muốn biết quan điểm của tôi đối với tình hình. Chúng tôi bèn hẹn nhau một buổi ăn trưa vào một tuần lễ sau ngày hôm ấy. Ngày ấy sẽ là nhằm ngày mùng một tháng năm! Giữa tất cả những chuyện trông ngóng, tôi đã trông ngóng đến ngày mùng một tháng Năm ấy để gặp mặt ông bạn đồng nghiệp người Ba Lan của tôi!

Đại sứ Martin không phải là người thích tiệc tùng, nhưng trong trạng thái bồn chồn của thành phố đêm hôm ấy, ông bảo: “Tôi sẽ đi dự, nhưng đi riêng xe nhé.” Vì vậy tôi quay trở lại căn phòng gửi một điện văn. Điện văn này tôi đã viết sẵn, chỉ cần dùng điện đài để đánh mật mã mà phụ tá của tôi và tôi đã giao ước trước. Suốt một ngày làm việc, đấy là tất cả những gì tôi cảm thấy sau khi hoàn tất việc đưa ông Thiệu ra đi.

Ngày rời Sàigòn là ngày tôi buồn rầu cùng cực, chỉ thiếu điều muốn sụm.

Hình minh họa

Đoạn kịch cuối mở màn ngày thứ hai. Chiều thứ hai là một buổi chiều rất xấu. Dương Văn Minh nhậm chức đêm hôm ấy. Ông vừa đọc xong bản diễn văn nhậm chức, thì giông bão khủng khiếp ập đến Sàigòn. Mưa rơi xối xả. Những cơn mưa đến sớm, lúc ấy chưa đến mùa mưa. Rồi xảy ra vụ chiếc phi cơ phản nghịch, tức là chiếc phi cơ Mỹ với bình xăng phụ 50 ga-lông do mấy phi công dưới sự điều động của Bắc Việt dội bom lên Tân Sơn Nhất. Lúc ấy chúng tôi còn ở tại văn phòng. Mặc dầu đã khoảng bảy giờ đêm, chúng tôi vẫn còn ở đấy vì lúc này Sàigòn ban đêm chẳng có gì khác để làm, thứ nữa Sàigòn và Hoa Thịnh Đốn cách nhau mười hai tiếng, lúc ấy buổi sáng ở Hoa Thịnh Đốn, chúng tôi cố chuyển càng nhiều điện văn càng tốt, để khi bắt đầu làm việc, Hoa Thịnh Đốn đã có đủ thông báo của chúng tôi.

Khi nghe tiếng nổ, chúng tôi đâm bổ xuống núp dưới gầm bàn. Bấy giờ, tôi nhớ tôi đang ở trong phòng viên Trưởng ban Truyền tin. Nhân viên truyền tin là những người lo phụ trách các báo cáo tình báo để gửi đi bằng điện đài.

Chúng tôi rất thận trọng việc soạn thảo các điện văn này, luôn luôn sử dụng Anh ngữ một cách văn vẻ, sửa chữa kỹ càng, dù phải vội vã trong các trường hợp khẩn cấp, y như các phóng viên nhà báo vậy. Lúc ấy chúng tôi đang lom khom núp dưới gầm bàn, tôi sẽ không bao giờ quên kỷ niệm này: Một cô nhân viên truyền tin xinh đẹp hấp dẫn nhổm lên, kéo cái máy chữ xuống, cô ta bắt đầu đánh: “Sàigòn gửi Hoa Thịnh Đốn, bản báo cáo tình hình lúc 19 giờ địa phương. Một vụ pháo kích không xác định được xuất xứ đang phát nổ trong thành phố. Vụ pháo kích đang tiếp diễn quanh chúng tôi, vẫn chưa có ai biết chuyện gì xảy ra!”

Không bao lâu, chúng tôi xác định được chuyện ấy. Chúng tôi chắc chắn đây là câu trả lời của quân đội Bắc Việt phản ứng lại bài diễn văn nhậm chức của ông Minh. Trong bài diễn văn này, ông ta nói ông sẽ tiếp tục chiến đấu, nói đủ thứ lảm nhảm mà một tháng trước đấy ông ta không hề nói. Tôi nghĩ cái hình ảnh chính xác để mô tả ông là hình ảnh một người không đủ tài cán được đặt vào một chức vụ quá khả năng, làm mọi người phải mệt với sự bất lực của ông ta.

Trong tuần lễ cuối cùng, Sàigòn vẫn sinh hoạt tốt đẹp mặc dầu có trận không kích xảy ra. Điện, điện thoại, thực phẩm vẫn đầy đủ, có lẽ chỉ hơi thiếu chút rau xà-lách. Tối ấy tôi đi ngủ muộn, bốn giờ rưỡi sáng đã bừng dậy vì lại có tiếng nổ, lần này nổ lớn dữ dội. Tôi điện thoại cho nhân viên trực của tôi ở toà đại sứ, một nhân viên tình báo; ở đấy, ngoài lính Thủy quân Lục chiến, chúng tôi luôn có hai nhân viên trực suốt ngày đêm. Tôi hỏi anh biết có chuyện gì xảy ra không? Anh ta nói lúc ấy chưa biết rõ, nhưng có pháo kích vào Tân Sơn Nhất, Thủy quân Lục chiến đã trèo lên nóc nhà nhìn thấy có lửa cháy, anh ta đã liên lạc văn phòng Tùy viên Quân sự, họ cũng chưa biết gì đích xác. Nhưng đã có một số thiệt hại đáng kể, hai lính Thủy quân Lục chiến tử thương. Tôi bảo: “Được rồi, tình trạng nghe có vẻ tệ, nhưng có anh đang ứng trực ở đấy là tốt lắm.” Tình cờ, chính nhân viên này cũng là sĩ quan trưởng phòng tài chánh. Tôi bảo: “Sửa soạn mấy cái phong bì khởi hành.” Phong bì khởi hành là những phong bì có đựng một số chỉ dẫn, số điện thoại của những toà đại sứ Mỹ các nơi và tại vùng Đông Á. Mỗi phong bì được bỏ vào số tiền 1500 đô la bằng mỹ kim và bằng một số ngoại tệ các nước khác. Mỗi người sẽ được trao tay một phong bì này để phòng vệ an toàn, dự phòng trường hợp thất lạc. Tôi bèn nói với anh nhân viên trực: Tôi sẽ đến toà đại sứ ngay.

Tôi là người đến sớm nhất. Lúc ấy Thủy quân Lục chiến đã nhận thêm báo cáo từ văn phòng Tùy viên Quân sự. Dựa vào đấy tôi cảm thấy toà đại sứ cần phải được huy động. Tôi điện thoại cho Đại sứ, tôi nói: “Rất tiếc phải gọi Đại sứ vào giờ này- Ông còn có thể được ngủ đến hơn 3 tiếng đồng hồ nữa. Nhưng tôi nghĩ Đại sứ cần phải vào gấp.” Ông Đại sứ bảo ông sẽ vào. Lúc ấy, chúng tôi có một hệ thống tổ chức: cứ một người gọi bốn người, mỗi người lại phải liên lạc gọi bốn người khác v.v…Nên tôi bắt đầu huy động mọi người qua hệ thống này. Buổi sáng sớm hôm ấy, tình trạng sức khoẻ của Đại sứ rất bết bát. Ông đau ốm khặc khừ, và sau này, lúc lên đến chiến hạm, người ta mới khám ra là ông bị viêm phổi. Giọng ông khản đặc, khào khào không ra tiếng. Tinh thần bị kích động trăm phần trăm. Khi Kissinger gọi điện thoại, Martin không nói nổi, ông thì thà thì thào rồi tôi phải nhắc to lên cho Kissinger nghe rõ.

Hình minh họa

Đại sứ đã ra tận phi trường Tân Sơn Nhất, bởi vì ông ta là Graham Martin mà, bạn hiểu không, mặc dù đã có đến mấy ông tướng Không quân phụ trách ngoài phi trường, ông vẫn không chịu tin các lượng giá của họ về việc phi cơ không còn đáp xuống được nữa. Ông đòi phải đích thân đến phi trường xem xét rồi mới chịu!

Ngày hôm ấy khi trời sáng, ngoài Đệ Thất Hạm đội các phi công đã sẵn sàng, trực thăng xăng nhớt đầy đủ, mọi người chuẩn bị xong. Nhưng chừng tám giờ rưỡi, chúng tôi lại được bảo không di tản nữa! Họ bảo chúng tôi sẽ phải thu hẹp số nhân viên, nhưng vẫn giữ toà Đại sứ ở Sàigòn. Họ bảo nhân số toà đại sứ sẽ còn lại 180 người, trong số ấy 50 người sẽ là nhân viên tình báo, nhóm nhân viên tình báo này có nhiệm vụ phụ trách toàn bộ các đường truyền thông của toà đại sứ. Họ bảo các trưởng ban, trưởng phòng khác sẽ nhận lệnh sắp xếp: kinh tế 8 người, chính trị 16 người, y tế, tài chánh, hành chánh…do nơi Hoa Thịnh Đốn xếp đặt. Người ta đoán chừng lệnh này do Kissinger chuyển đến ông đại sứ. Tôi không bao giờ nhìn thấy lệnh ấy trên văn tự, nhưng lệnh ấy được chuyển đến tôi sáng hôm ấy do đại sứ nói. Do đó tôi về văn phòng, tập họp các nhân viên cao cấp của tôi, lúc ấy tôi còn chừng 250 nhân viên tình báo tại chỗ. Tôi nói: “Quý bạn, chúng ta sẽ rút nhân số xuống 50 người, và sẽ phải đương đầu với một số lượng truyền thông nhiều hơn thường. Nào, bây giờ tính thử 50 người nào sẽ ở lại, bắt đầu là tôi!” Chuyện này không dễ dàng như thay lính Thủy quân Lục chiến bởi lẽ nhiều khi nhân viên tình báo không thể hoán chuyển. Mỗi người có những khả năng chuyên biệt. Người là nhân viên truyền tin. Người là nhân viên điều hành. Người là phân tích viên.

Tôi lại cần người với các khả năng ngoại ngữ khác nhau. Tôi cần phải giữ vài người nói được tiếng Việt. Phải có vài người nói được tiếng Ba Lan, để giao dịch với nhân viên Ba Lan tại ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến. Về tiếng Hung Gia Lợi thì khỏi lo, chẳng ai khác ngoài tôi nói được thứ tiếng này. Cứ như thế, suốt mấy tiếng đồng hồ loay hoay xếp đặt. Lại còn phải cân nhắc trường hợp những người đã mãn hạn, có người sắp được hồi hương vào tháng năm, cho dù anh ta mãi đến tháng Bẩy mới mãn hạn, cũng không nên giữ anh ta lại. Có người gặp tình trạng gia đình. Nhiều thứ phải cân nhắc, không để giống như hồi năm 1954 ở Hà Nội, toà lãnh sự Mỹ và các nhân viên ở đấy dù không bị giữ làm con tin, nhưng họ đã tự phong tỏa, tự khoá cửa và phải ở trong khuôn viên hàng mấy tháng, không liên lạc đuợc với ai.

Cái khẩu lệnh ấy cũng đã được chuyển ra ngoài hạm đội: Toà Đại sứ sẽ ở lại. Tư lệnh hạm đội, đề đốc Noel Gayler, tất nhiên không phải là chuyên viên phân tích chính trị. Nghe thế, ông ta bèn nói “Vậy à, toà
Đại sứ ở lại. Phi công! Trở về giường mà phè một giấc!” Thế là xăng lại được hút khỏi trực thăng, vì người ta không được phép chứa trực thăng có xăng ở trên tàu. Người ta lại phải chuyển trực thăng khỏi sàn máy, đưa xuống tầng dưới.

Bấy giờ là 9 giờ sáng, hoặc giả trễ hơn một chút. Rồi đến 11 giờ 30, cuối cùng lại có lệnh ban ra: Tất cả mọi người phải di tản. Tôi không rõ lệnh này chuyển đến đề đốc hạm đội lúc nào. Đại sứ Martin nhận lệnh lúc 11 giờ 30. Xem như cố vấn an ninh Brent Scrowcroft phải thông báo Ngũ Giác đài, nhưng bấy giờ là đang đêm ở Hoa Thịnh Đốn, có lẽ người làm việc không có mặt. Tôi không rõ đề đốc nhận lệnh ấy lúc mấy giờ. Sau này tôi hỏi ông ta trên chiến hạm: “Chuyện gì xảy ra vậy?” Ông ta đáp: “Chẳng có chuyện gì. Khi nhận tin di tản, tôi cho trực thăng đổ xăng, tôi gọi phi công, rồi lại được yêu cầu phải gửi một lực lượng an ninh Thủy quân Lục chiến vào Sàigòn trợ giúp di tản, nhưng lính không có mặt trên những tàu chở trực thăng. Vì thế lại phải lo đưa lính từ khắp các tàu khác đến mấy chiếc tàu chở trực thăng. Mấy công tác ấy phải tốn thì giờ.”

Hình minh họa

Nếu bạn hỏi, tôi sẽ nói: Tôi chả ngạc nhiên gì việc này. Tôi rất hoài nghi khả năng quân đội Hoa Kỳ khi cần đương đầu tình trạng khẩn cấp. Họ làm việc kiểu con rùa hành chánh: chậm chạp, lè phè. Lấy đấy mà xem, họ đã được thông báo tình hình Sàigòn như vậy từ hai giờ trước, mà lính không đặt gần những tàu chở trực thăng, lại đưa tản mác trên những con tàu rải rác khắp mặt biển, thế là làm sao!

Còn một việc nữa cũng không được dự liệu trước. Đó là việc một khi tin tức người Mỹ rời Việt Nam truyền ra, là đông đảo người ta sẽ tụ khắp chung quanh toà đại sứ, việc di chuyển sẽ trở nên vô phương. Do đó làm sao còn có thể sử dụng xe hơi, xe buýt chở người qua lại giữa toà đại sứ và văn phòng Tùy viên Quân sự được, vì hễ mở cổng đủ rộng cho xe đi thì dân chúng sẽ như cuồng phong tràn vào.

Buổi sáng hôm ấy, chúng tôi bắt đầu thiêu hủy tài liệu. Trung ương Tình báo có một thể lệ rất tốt, đó là tất cả hồ sơ đều phải có một phó bản giữ ở Hoa Kỳ, cho nên nếu có một trạm tình báo nào mất hồ sơ thì chẳng hề gì, chỉ mất công chút đỉnh. Vì vậy chúng tôi tiêu hủy tất cả, chúng tôi đi khắp các văn phòng một cách có phương pháp để phá bỏ bất cứ tài liệu nào về những người Việt có liên hệ chặt chẽ với chúng tôi.

Về cái cây me nổi tiếng thì trong tất cả những buổi họp ở toà Đại sứ, qua mọi cuộc thảo luận, tôi chưa hề nghe ai nói, bàn gì về chuyện cưa cái cây này xuống. Tôi có nhiều tình cảm với cái cây me này chỉ vì đấy là một biểu hiệu đẳng cấp trong toà đại sứ: Dưới cái cây là một bãi đậu xe, đậu dưới bóng cây thì mát mẻ, đậu ngoài nắng nhiệt độ như lò lửa. Cho nên được đậu xe dưới bóng cây me ấy tức là biểu hiệu đẳng cấp cao của toà đại sứ! Nhưng trang nghiêm mà nói, chưa bao giờ tôi nghe cái cây này có liên hệ gì đến chuyện di tản. Còn hiển nhiên, chúng tôi sẽ phải mang trực thăng lớn vào bãi đậu xe, cái cây này mọc chính giữa bãi đậu, tất là sẽ phải hạ cái cây thế thôi.

Sáng hôm sau, khi đại sứ đã ra đi, không có chuyện gì để tôi ở lại nữa. Còn các nhân viên truyền tin của tôi không thể đi nếu tôi hãy còn nấn ná ở lại. Viên phụ tá của tôi và mấy người khác cũng bảo nếu tôi còn ở đấy, họ cũng chưa chịu đi. Tôi xếp đặt cho mọi người ra đi theo các thứ tự cần thiết, nói thế không phải là giảm giá người này người nọ, nhưng có người công việc đã xong thì đi trước, ví dụ nhân viên truyền tin không còn gì để làm nữa, những người phụ trách công tác vùng I, II, III cũng thế, các nhân viên hành chánh và quản trị nhân viên cũng có thể đi trước. Nhưng nhân viên lo việc vùng châu thổ vẫn còn cần, vì tôi chưa rõ hết tình hình vùng IV ra sao.

Theo phương pháp ấy tôi quyết định ai đi, đi lúc nào, mọi sự trôi chảy, không gặp phiền phức, không bị tràn ngập. Tuyệt đối tốt. Tuyệt đối không trở ngại gì. Có lẽ những chuyện cuối cùng đáng kể là chuyện chúng tôi kéo người Việt ở bên ngoài vào toà đại sứ qua bức tường. Lúc ấy quanh toà đại sứ có cả vạn người, đúng số là như vậy, với đám đông vây quanh, thật khó cho người ta đến gần toà đại sứ . Nhưng bên ngoài còn có những người mà chúng tôi bắt buộc phải đưa họ di tản, ví dụ người trưởng ngành tình báo, ông phụ tá Cảnh sát Đặc biệt mà thực tế là Cảnh sát Chính trị. Vợ và con của Trung tướng Tổng cục Trưởng Chiến tranh Chính trị. Ông Tổng Trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn. Ông Trưởng ban Nghi lễ và Gia đình. Tất cả đều ở ngoài toà đại sứ. Làm sao chúng tôi có thể mang họ di tản đây? Tôi không còn thể nào liên lạc được với họ. Nhưng phần ông Đôn cũng thu xếp vào được một chiếc trực thăng đậu đại trên một nóc cao ốc (nóc nhà này không được xây cất để trực thăng đáp, riêng đây tự nó cũng là một câu chuyện).

Hình minh họa

Còn một số người khác khoẻ mạnh, quả quyết hơn, lấn được đến rào, chúng tôi nhấc bổng được họ, đưa vào toà đại sứ. Bấy giờ trong đám đông bên ngoài có một số sĩ quan quân đội mà chúng tôi đã thỏa thuận: Nếu họ đưa vào được một số người mà chúng tôi muốn, thì sau cùng chúng tôi sẽ kéo họ vào cho họ đi. Chúng tôi cũng tìm được cách chuyển người đi qua đường phố Sàigòn bằng cách giao dịch, thỏa thuận với cảnh sát, chúng tôi bảo họ: “Cho gia đình các ông vào cùng với mấy người này, chừng nào các ông đưa được họ vào máy bay hay xe buýt an toàn, chúng tôi sẽ bốc các ông đi luôn.”

Những cuộc sắp đặt với cảnh sát có vẻ thần hữu hơn vì chúng tôi biết họ, tin họ, họ cũng tin cậy chúng tôi. Buồn cười nhất là vào ngày cuối cùng, người ta đã đưa một nhóm người di tản như thế bằng cả một đoàn xe mô tô màu trắng oai vệ của liên đoàn an ninh phủ tổng thống, nối đuôi nhau đi.

Tại sân toà Đại sứ, chúng tôi dùng xe hơi cho châu đầu vào phía giữa để khi trời tối thì chạy máy, rọi đèn pha lên, rồi cứ để như thế, hễ còn xăng, còn bình điện thì còn ánh sáng.

Rồi có lệnh chúng tôi phải đi và ông Đại sứ cũng được bảo: “Ngài phải vào chiếc máy bay này.” Còn chúng tôi, lúc đầu họ bảo trực thăng đậu dưới sân, tất cả chúng tôi xuống thang nhưng không thấy trực thăng đâu vì họ đã đổi chương trình, rồi họ lại bảo: “Trực thăng sẽ bốc từ nóc sân thượng.”

Tôi không có một gắn bó tình cảm nào quá lớn đối với Việt Nam như vài bạn đồng nghiệp của tôi đã quả tình yêu mến đất nước này. Nhưng đến giây phút cuối, nhìn thấy chung cuộc xảy ra thế ấy, tôi nghĩ chúng ta đã làm một việc tồi tàn đối với dân tộc này, đáng lẽ họ được khá hơn nếu đừng bao giờ chúng ta đến đây. Ngay từ lúc đầu.

Khi chúng tôi ra đi, trời đã rất tối. Phía Tân Sơn Nhất thấy vài đám cháy, nhưng nói chung ban đêm thành phố vẫn có vẻ bình thường. Đường vẫn sáng đèn, xe cộ vẫn sáng đèn. Thực kỳ dị, đó là một điều lạ lùng trong những ngày cuối cùng. Không phải chỉ những ngày cuối cùng mà suốt cả mấy tuần lễ cuối cùng, mọi sự đều có vẻ không thực, bởi vì tất cả vẫn cứ hiện ra một vẻ rất bình thường. Nó không giống như cuộc vây hãm ở Warsaw, bạn hiểu không. Một ngày trước hôm sụp đổ, bạn vẫn còn có thể ra nhà hàng kéo ghế, còn thưởng thức được một bữa thịnh soạn, vẫn có thể ngồi nhấm nháp một cốc rượu vang ngon lành.

Không có ai nã đạn khi chúng tôi ra đi. Đó là một chuyện khác nữa. Người Bắc Việt là những người có lý trí. Họ không giống những người Hồi giáo cực đoan cuồng tín. Họ không dại gì tạo ra một biến cố nào nữa để có cớ cho người Mỹ can thiệp trở lại; và nếu họ sát hại ông Đại sứ, việc này sẽ trở thành đại sự, ngay cả đối với quốc hội.

Việc tiếp nhận chúng tôi trên tàu Blue Ridge chứng tỏ quân đội Mỹ là hạng bét. Họ bắt đầu lục soát hết thảy mọi người. Tôi nghĩ có lẽ Đại sứ là người duy nhất họ không lục soát. Vào lúc bình thời, cấp bực của tôi còn trên xa cả đề đốc chỉ huy chiến hạm.

Nhưng không một ai phản đối gì. Chúng tôi đều mệt mỏi. Chúng tôi đều trầm lại. Và chúng tôi quả là một đoàn quân chiến bại.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 21 Jan 2024

ĐẠI SỨ GRAHAM MARTIN
“Bước luẩn quẩn với cái rọ trên đầu.”

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Cho đến 1975 Việt Nam không đáng để Hoa Kỳ tốn thêm sinh mạng nữa. Lẽ ra, Hoa Kỳ đừng nên gửi quân tham chiến. Tôi đã chống giải pháp này. Khi làm Đại sứ ở Thái Lan, tôi cũng chống lại việc gửi cố vấn sang Thái, và tôi đã phải đương đầu bốn năm trời ròng rã với Robert Mc Namara (*) để giữ chiến tranh khỏi lan tràn vào đất Thái.

Miền Tây Bắc Thái Lan lúc ấy cũng giống như giai đoạn đầu ở Đông Dương đã có những cuộc nổi dậy nhưng tôi nhất định chủ trương: Chúng ta chỉ cần yểm trợ cho chính phủ, không gửi quân chiến đấu, cố vấn cũng không-vì lẽ bên hàng ngũ đối phương không có một bộ mặt da trắng nào, chắc chắn chúng ta không nên gửi nhân viên quân sự xuống đến cấp dưới tiểu đoàn.

Một ký giả ở nơi nào đó tại vùng Trung Tây nước Mỹ tên Paul Harvey từng mỉa mai: “Có một Đại sứ ở Thái Lan trình độ chỉ đáng đưa đi làm đại sứ ở hòn đảo Johnson, nghĩa là một hòn đảo 1000 bộ chiều dài, 50 bộ chiều ngang, không thể lớn hơn cỡ ấy” chỉ vì tôi đã không cho phép người Mỹ mang súng, ngay ở trong căn cứ cũng vậy.

Đúng. Tôi giữ quan điểm và chấp nhận rủi ro vì lẽ chỉ cần một vụ phục kích xảy ra là công luận sẽ đưa tôi ra mà cắt họng. Nhưng tôi đã bẻ gẫy các vụ nổi dậy. Cũng không để xảy ra một vụ tàn sát Mỹ Lai nào. Tôi đã thành công.

Nhưng ở Việt Nam, Mc Namara và nhóm quân nhân đã áp dụng đường lối của họ. Và một khi quân đội chúng ta đã được gửi sang bên ấy, chúng ta không muốn thấy quân đội thất bại và rồi cho đến 1975, còn một vấn đề quan hệ nữa vẫn phải đặt ra, đấy là lời hứa của chúng ta. Liệu chúng ta có giữ lời hứa và giữ lời cam kết của chúng ta hay không?

Vụ tấn công Ban Mê Thuột và quyết định rút quân ở Cao Nguyên của Thiệu làm tôi hoàn toàn kinh ngạc. Vào giai đoạn này Tổng thống Thiệu yên trí rằng một vài người Mỹ thường hở cho báo chí biết tin, rồi tin tức lọt sang các nhóm chủ hoà, cuối cùng lọt sang đối phương. Không rõ ai đã thuyết phục ông như thế, nhưng suốt thời gian này ông không cho chúng tôi biết gì nữa. Chúng tôi chỉ còn dựa vào tin tình báo để theo dõi hành động Bắc quân, nhưng các tin tức này không phải lúc nào cũng chính xác.

Thời gian này tôi về Hoa Thịnh Đốn để cố xin viện trợ cho Nam Việt Nam. Trong chuyến về Mỹ tháng Ba cùng với phái đoàn quốc hội, tôi đã yêu cầu những người có thẩm quyền quyết định chính sách riêng: Cần phải chuẩn bị vấn đề tỵ nạn, xin hãy sắp xếp mọi thứ liên hệ cho người tỵ nạn ngay. Nhưng rồi, chẳng ai lo liệu gì.

Trong buổi họp cuối tại Bộ Ngoại giao ở Hoa Thịnh Đốn vào tháng 3/1975, Kissinger bảo: “Ông phải trở lại đấy vì dân Mỹ cần có một người để trút hết các trách cứ lên đầu.”

Hình minh họa

Thực vậy, người Mỹ chúng ta vẫn có cái thói ấy và luôn luôn như thế, cho nên tôi bảo:

“Ông hãy nhớ hộ một điều: Đối với mọi chuyện ở Việt Nam, tôi là người duy nhất liên hệ đến toàn thể nội vụ, mà tuyệt đối chẳng có áp lực để làm bất cứ một quyết định nào hầu tránh khỏi các phê bình chỉ trích. Tuyệt đối chẳng có cách gì tôi thoát việc nhận lãnh trách nhiệm sụp đổ Sàigòn. Cái gì cũng đổ cho tôi, từ đầu đến đuôi. Vậy tôi sẽ không thích dính dáng bất cứ chuyện gì khác ngoài một chuyện duy nhất hợp lý vào lúc này, đó là: Mang người Mỹ sống sót ra đi an toàn, mang những người bạn Việt Nam liên hệ với chúng ta đi khỏi càng nhiều càng tốt. Tôi sẽ làm như vậy, và tôi sẽ không để cho ai thúc bách gì, ngoại trừ trường hợp ông giải nhiệm tôi.” Rồi tôi quay lại Việt Nam.

Đối với người Việt, tôi không có mối liên hệ riêng tư, bất kể người Bắc hay ngưòi Nam. Tôi chẳng đặc biệt thích một người Việt nào. Tôi yêu mến người Thái, tôi nghĩ họ là một giống dân kỳ diệu nhất thế giới. Tôi thích một số đông người Tàu, nhưng tôi đặc biệt không thích người Khờ Me, tôi không thích người Lào, tôi không thích người Mã Lai. Tôi thích người Nam Dương.

Tôi có một đứa cháu trai chết ở Việt Nam từ đầu cuộc chiến. Nhưng việc này tôi chỉ oán trách Thủy quân Lục chiến Mỹ đã không chịu gắn lá chắn thép dưới gầm trực thăng trước khi tung nó ra một chiến trường mà bên dưới đầy súng đại liên 50.

Nói như thế là để hiểu rằng: Sự cam kết của tôi đối vói người Việt không quan hệ gì đến cái chết của cháu tôi, cũng chẳng dính dáng gì đến cảm tình riêng tư nào của tôi đối với người Việt Nam. Đối với tôi, vấn đề thuần túy phải đặt ra là: Chúng ta đã tuyên bố một lời hứa. Khi đã hứa mà lại bội hứa thì chúng ta sẽ có ngày phải trả một cái giá đắt khôn lường ở khắp mọi nơi trên cái thế giới máu me tàn khốc này.

Khi trở lại Việt Nam, một người đã đến gặp tôi là Ed Daly bên hàng không World Airways. Anh ta đeo súng lủng lẳng bước vào phòng, tôi yêu cầu bỏ súng ra, để bên ngoài. Thấy anh ta ngần ngừ, tôi kêu Thủy quân Lục chiến đưa ra ngoài tước súng. Hắn trở vào lại, ngồi xuống nói với tôi: “Ông có biết không, mấy người Việt Nam họ bảo nếu tôi cất cánh ra Đà Nẵng, họ sẽ bắn hạ tôi. Ông sẽ làm gì?” Tôi đáp “Vỗ tay hoan hô chứ sao! Ông cho ông là cái thá gì? Ông chúi trong cái lỗ đục dưới đất, đến cái đít của ông, ông cũng cóc dòm ra. Ông không biết một cái đếch gì ở đây cả.” Sau đó, tôi với anh ta không bao giờ nói chuyện gì thêm, anh ta cũng không bao giờ trở lại toà Đại sứ nữa.

Tôi gửi Harry Summers ra Hà Nội trong tháng Tư (1). Chúng tôi vẫn có chuyến bay ra Hà Nội là để chuyên chở người thuộc ủy ban liên hợp quân sự ở căn cứ Davis. Đề đốc Geyler phản đối, nhưng tôi nhất định gửi người đi. Tại sao? Tại vì bấy giờ ở đấy có một việc không một ai biết ngoại trừ tôi và Wolf Lehmann, phụ tá của tôi. Việc ấy là chuyện đi lại của Brezhnev và Kissinger với Hà Nội. Và theo Leonid Brezhnev, Hà Nội đã đồng ý ấn định thời hạn cho chúng tôi rút. Hạn chót là ngày 3 tháng 5. Đó là một thỏa thuận.

Tôi có nói với Kissinger: tôi cần hai tuần lễ. Kissinger cho biết ông đã thông báo cho Hà Nội và Hà Nội đã chấp nhận. Bắt buộc phải chấp nhận luật chơi thôi, lỡ cái xảy nảy ra cái ung thì tôi cũng đành phải chịu (2). Người ta bảo máy bay có thể bị hạ, nhưng tôi nhất định cho đi. Vì thế chúng tôi bốc người từ căn cứ Davis, và Summers đã đưa họ ra Hà Nội, ngồi xuống mà thảo luận với người Việt Nam. Chúng tôi muốn nói chuyện (thẳng) với người Việt Nam là chúng tôi chấp nhận thi hành phần chúng tôi trong cuộc mà cả của Kissinger-Brezhnev. Họ sẽ để chúng tôi yên. Tôi tính là chỉ cần đến ngày 1 tháng 5, không cần đến 3
tháng 5. Tôi không muốn quá ngày ấy.

Hình minh họa

Đâu chừng một tuần trước ngày sụp đổ, tôi gửi một điện văn, lúc ấy Hoa Thịnh Đốn bất đầu tỏ ra bực bội. Tôi nói “Điều duy nhất ở đây chúng tôi có là sự điềm tĩnh của tôi, là khả năng phán đoán tình hình của tôi. Thực sự chúng tôi không còn gì khác. Bây giờ chẳng có gì để mất, vì tôi đang bước đi luẩn quẩn với cái rọ úp trên đầu rồi.”

Ngày 21 tháng 4, Tổng thống Thiệu từ chức. Tôi không thuyết phục ông rời xứ. Chính người kế vị của ông (3) đã gọi tôi, bảo Thiệu vẫn ở trong dinh Tổng thống làm ông khó cựa quậy, đó là cách lịch sự để bảo tôi rằng Thiệu vẫn tiếp tục gặp gỡ các tướng lãnh. Ông hỏi tôi có thể giúp đưa Thiệu đi không? Tôi trả lời tôi sẽ giúp nếu ông Thiệu yêu cầu. Sau đó chừng 15 phút, Thiệu điện thoại nhờ tôi đưa ông ra khỏi xứ. Bây giờ tôi lại phải đương đầu một vấn đề khác. Nên sử dụng quân đội Mỹ để lo việc này hay không? Như thế là gây rắc rối cho Bộ Tham Mưu Liên Quân (Mỹ), gây rắc rối với người Bắc Việt và máy bay có thể bị hạ. Tôi đã yêu cầu quân đội đưa đến Sàigòn một máy bay bốn động cơ bấy giờ cất ở Nakhon Phanom (Thái), và tôi giao việc này cho Polgar (4) thay vì cho quân đội lo. Bên quân đội biết máy bay đến, nhưng họ không rõ sử dụng vào việc gì. Tôi hy vọng bên quân đội sẽ không biết việc chở Thiệu ra khỏi xứ cho đến khi đưa ông ta vào được tàu bay. Đây là tôi muốn nói Quân đội Mỹ, đặt quân đội Việt Nam sang một bên. Vì thế tôi bảo Polgar cho Frank Snepp (5) lái xe vào căn cứ quân sự, lên phía trên chỗ máy bay đậu một chút, rồi tôi đưa họ vào máy bay. Trước đấy, Charlie Timmes (6) và tôi đã đi gặp Nguyễn Cao Kỳ. Timmes có hẹn với Kỳ, nên tôi bảo Timmes: “Rồi, để tôi đi cùng với ông.” Hai chúng tôi lái chiếc xe Volkswagen nhỏ của Timmes, chuyến đi hơi rợn tóc vì thành phố đã bắt đầu hỗn loạn. Tất cả chủ đích chuyến đi là để bảo cho họ biết rằng một cú đảo chánh máu me sẽ không phục vụ bất cứ một cái gì cho cõi trần gian xanh tốt này ngoại trừ một việc: Phục vụ cho cái tôi của Kỳ. Có thể ông ta đã suy đoán được để hiểu rằng thời điểm của ông ta không đúng lúc, và mục đích của tôi là chỉ muốn ông ta bỏ cái ý định ấy đi. Tôi để cho các người khác làm việc với ông ta. Tôi dặn họ: đừng để ý gì nhiều đến ông ta cả.

Nếu có một nhân vật biết được ngọn ngành mọi việc mọi trò của những người ở đấy thì chính là tôi. Nhưng vào giờ phút cuối, có những người khác nữa làm gì, thì chịu, tôi không biết đích xác cho nổi. Một ông đã gây rối cho tôi như thế lại chính là một bạn tốt, mà đến nay tôi vẫn thích, đó là Erich Von Marbod. Erich Von Marbod đến từ bộ Quốc phòng. Ông ta cho không quân Việt Nam bay đi vài chiếc F-5 của họ sang Thái. Chuyện này trái lệnh tôi. Một mặt, chả quan hệ gì. Nhưng mặt khác, lại vô cùng hệ trọng. Bởi vì tôi đã yêu cầu Kissinger một thời hạn, tôi nói là hai tuần. Chúng tôi cố mang đi tất cả các nhà thầu công tác quốc phòng mà chúng tôi không thể rõ hết là những người ấy ở những nơi nào. Không thể bỏ họ lại mà đi. Đó là lúc cần đòi hỏi sự chậm rãi, sự thận trọng, cho nên việc Erich Von Marbod thuyết phục tướng Trần Văn Minh cho mấy cái phi cơ bay sang Thái là một lỗi lầm rất lớn. Nó làm người Thái e ngại. Rồi những người đưa phi cơ sang bên ấy lại bị giấu diếm, họ không được bảo trước rằng sau đó họ sẽ không được phép trở về với gia đình. Để làm họ dịu xuống, người ta phải phục thuốc họ. Và chính những người này đã gây rối khi đến Guam. Lỗi của tôi. Đáng lẽ tôi phải tống cổ Von Marbod từ hai ngày trước. Đáng lẽ tôi cũng phải tống cổ cả Polgar đi: Hắn không biết trời đất gì. Hắn không xứng đáng điều khiển cơ quan tình báo ở đấy. Hắn muốn chơi trội cùng với gã Malcolm Browne bên tờ Times và các ông bạn Hung Gia Lợi của hắn bên ủy hội Quốc tế kiểm soát đình chiến, rồi cả William Colby (7) lẫn Kissinger đều nói lại với tôi việc ấy (8) Và tôi đã nói với Polgar rằng nếu anh cứ tiếp tục làm những chuyện như thế, tôi sẽ cắt hai hòn dái nhét vào mỗi lỗ tai của anh một hòn. Jim Kean đã nghe tôi nói với hắn như thế trong cầu thang máy.

Tôi không có gì để ân hận nhiều ngoài việc ân hận đã không tống cổ cả Polgar lẫn Von Marbod từ sớm. Họ đi hay ở cũng chẳng có gì khác biệt. Chỉ có một khác biệt trầm trọng mà sau đó tôi khám phá ra khi đọc tấm điện văn của các tướng Bắc Việt: Họ nghĩ việc đưa mấy chiếc phi cơ sang Thái là chúng ta nuốt lời hứa với họ. Chúng ta đã nói chúng ta sẽ không mang các chiến cụ đi. Chúng ta chỉ muốn họ để chúng ta yên ổn ra đi trong trật tự. Vì họ nghĩ chúng ta nuốt lời, hôm sau họ pháo kích phi trường, giết mất vài Thủy quân Lục chiến của chúng ta. Vì vậy, đến lúc tôi phải hạ lệnh trực thăng vận. Đây là lúc mọi sự bắt đầu bung ra.

Hình minh họa

Tôi vào Tân Sơn Nhất xem xét sau khi xảy ra vụ pháo kích. Hơn ba mươi năm trước, tôi đã là Đại tá không quân, bổ nhiệm từ 1936, nên những chuyện phi cơ, cái gì bay được cái gì không, tôi nắm trong bàn tay. Tôi đã là Tư lệnh phó sư đoàn Thái Bình Dương thời đệ nhị thế chiến, kiêm chỉ huy quân báo. Việc gì tôi làm, tôi làm cật lực, tôi nắm vững, tôi biết rõ. Buổi sáng 29/4 hôm ấy ở phi trường Tân Sơn Nhất, họ bảo tôi máy bay không đáp xuống được. Chuyện này vô lý. Ra tận đấy quan sát, tôi vẫn thấy chuyện họ nói chả nghĩa lý gì, người ta chỉ cần vác một cái xe Jeep quần ra phi đạo ba mươi phút là dọn sạch mọi thứ vụn vặt. Nhưng lúc ấy, quả là bên quân đội Việt Nam bắt đầu rối loạn. Chỉ huy cao cấp đã chạy, Tân Sơn Nhứt không còn chỉ huy nữa. Trong tình trạng này nếu máy bay đáp xuống là bị tràn ngập bởi đám đông vô kiểm soát. Chúng tôi cần dựa vào quân đội Việt Nam để di tản trong vòng trật tự, và chúng tôi cũng đã hứa với họ phút cuối sẽ bốc họ đi. Nhưng đến giây phút ấy, không còn có sự bảo vệ của họ nữa.
Vì Tân Sơn Nhứt hết bảo đảm được an ninh cho máy bay có cánh đáp xuống, nhưng khu vực văn phòng tùy viên Quân sự hãy còn hệ thống phòng thủ tốt, chúng tôi bèn cho trực thăng đáp xuống khu này thay vì Tân Sơn Nhứt.

Tôi liên lạc với hạm đội, và với sự khẳng định của Hoa Thịnh Đốn, tôi nói với mọi người-tôi nói với rất nhiều người Việt là: “Chúng tôi không thể bảo đảm di tản tất cả quý vị. Nhưng nếu quý vị có thể dùng thuyền ra khơi, chúng tôi vớt.” Chúng tôi đã cho tàu đậu ngoài khơi ba ngày ròng rã để vớt người đến khi tàu chật ních. Khi sĩ quan chỉ huy quân y cho biết nếu cứ tiếp tục, có thể bị bịnh dịch đe dọa, lúc ấy chúng tôi mới cho tàu đi. Tôi cũng ra lệnh cho hai máy bay tại căn cứ Clark đáp xuống Vũng Tàu để bốc gia đình lính Thủy quân Lục chiến Việt Nam. Đề đốc Geyler phản đối, nhưng tôi gạt đi. Hai chiếc máy bay đáp xuống, hoàn tất việc bốc người trong vòng mười lăm phút rồi thẳng cánh bay qua Clark. Từ giờ phút ấy, Thủy quân Lục chiến thuộc quyền điều động của tôi. Họ phụ trách bảo vệ trong trường hợp chúng tôi cần di tản ra từ bãi biển. Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương không có nhiệm vụ di tản người từ bãi biển ra. Từ nhiều tuần trước ngay việc đáp phi cơ trinh sát xuống, họ cũng không chịu, nhưng chúng tôi vẫn cứ làm. Đấy, tôi đã phải đối phó công việc với những cách thức như vậy.

Còn về câu chuyện cây me, thật là một câu chuyện vô nghĩa (9) Hạ cái cây xuống cũng là chuyện hoàn toàn vô nghĩa. Cây me này chả mang một biểu tượng gì. Về chuyện này, mục đích là tôi cố giữ cho Sàigòn một bộ mặt yên tĩnh, phải tránh mấy chuyện rối loạn đã từng xảy ra ở Đà Nẵng, Nha Trang. Ngoài ra, quỷ thần ạ, cần gì phải chặt cái cây ấy để lấy chỗ cho trực thăng? Nên tôi bảo “Để cái cây ấy yên đi!” Đơn giản thế thôi. Khi cần phải chặt, chỉ mười phút là xong. Cuối cùng mọi sự cũng đã xảy ra y như vậy. Chúng tôi không muốn có một hành vi bộc lộ rằng chúng tôi đang thua chạy, để Sàigòn phải nháo nhào lên.

Cái cây này tuyệt nhiên không biểu trưng gì cho sự có mặt của người Mỹ. Nhưng về một phương diện, Jim Kean cũng có lý khi nói vậy. (10) Bởi vì nó là cái dấu hiệu vật chất cho thấy chúng ta sắp rời đi, nên tôi phải che đậy. Việc tôi giữ cái cây chẳng có cái ý nghĩa thâm thúy gì như đó là biểu tượng cam kết của chúng ta cả. Vào những giây phút chót, có nhiều việc không thể làm ngơ. Về những việc này Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger đáng phải lãnh điểm xấu. Ông tỏ ra ngu xuẩn, nhiều phần trong con người ông luôn luôn như vậy.

Hình minh họa

Chúng tôi có một gã tên Stuart Herrington làm dưới quyền Đại tá Madison (11) Gã này đang giúp việc xếp người vào trực thăng trong sân toà Đại sứ. Gã có biết cái gì hơn là xếp người? Nhưng khổ nỗi, gã là thứ mồm loa mép giải, đáng lẽ biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe. Đàng này ai hỏi gì gã cũng trả lời láo lếu. Vì thế khi các phi công bay vào, họ muốn hỏi tôi còn phải chở bao nhiêu người nữa, gã Herrington mau mồm nói “Hai ngàn hoặc hai ngàn rưỡi nữa.” Ông Đề đốc Noel Gayler ở ngoài hạm đội dãy nảy như gái ngồi phải cọc. Chở nhiều quá lỡ xảy tai nạn, ai gánh đây? Ông ấy là người phụ trách công tác, ông bèn áp lực khủng khiếp mà thúc chúng tôi “Di tản người Mỹ! Di tản người Mỹ! Di tản người Mỹ xong là đi quách đi, bỏ những người khác lại.” Chuyện này không được. Đây là chuyện mà tôi từ chối. Brent Scowcroft (12) đã hứa với tôi rằng tôi sẽ có năm mươi chuyến trực thăng người Việt và Đại Hàn mà chúng tôi cam kết. Chúng tôi đã đếm kỹ lưỡng số người khi kéo họ qua bức tường lọt vào toà Đại sứ. Nhiều người là những nhân vật trọng yếu, có người là bộ trưởng chính phủ. Tất nhiên chúng tôi không có ý định mang họ vào rồi bỏ họ mà đi! Khốn thay, lời nói của gã Herrington với viên phi công được chuyển tới ông Đề đốc, rồi chuyển tới Tư lệnh Thái Bình Dương, lời nói ấy chuyển vòng đến Bộ trưởng Quốc phòng Schlesinger ở Ngũ Giác Đài. Các tướng Tham mưu thúc hối Schlesinger rằng: “Hễ cứ hỏi là lúc nào Martin cũng bảo còn 2000 nữa, bất kể đã chở được bao nhiêu. Cứ cái đà này đến phút chót vẫn là 2000!” Trong công tác bê bết máu lửa này dựa trên lời hứa của Scowcroft, chúng tôi đã phải thực sự tính toán cẩn thận: cứ mỗi chuyến chín mươi người. Ông ấy là Cố vấn An ninh của tổng thống, không tin ở ông thì tin vào trời đất quỷ thần nào? Thế rồi đột ngột họ gửi điện văn bảo: Chấm dứt. “Chuyến trực thăng kế tiếp đến, xin ông đi cho!” Tất cả chỉ vì gã Herrington này, và sau đó anh ta lại viết sách rồi trở nên một đại anh hùng !(13)

Tôi cũng lấy làm phiền về viên chỉ huy an ninh toà Đại sứ, người lãnh trách nhiệm di tản cảnh sát Việt Nam. Tôi đã giữ riêng cho họ hai cái tàu trên sông, nhưng ông ta cứ lằng nhằng muốn đưa họ ra đi sớm. Phía tướng tá Việt Nam báo cho tôi biết: không cách gì có thể duy trì trật tự trong thành phố nếu tôi rút cảnh sát Sàigòn đi. Vì thế tôi bảo ông ta khoan lại, đợi đến ba giờ trưa hãy đi. Ông ta bực bội chỉ muốn làm theo ý riêng mình. Nhưng ông ta cũng đợi được đến ba giờ trưa rồi cho cảnh sát lên tàu di tản cùng với gia đình họ. Tôi không có gì để than phiền nhiều về chiến dịch di tản này vì tổng thống và Kissinger đều đứng bên tôi, hỗ trợ tôi cho đến tận giây phút cuối cùng.

Tôi không bảo chiến dịch ấy hoàn hảo, nhưng khi duyệt xét lại, tôi có quyền hỏi: “Ai có thể làm khác hơn trong những hoàn cảnh đặc biệt ấy?”

Khi rời toà Đại sứ tôi biết đấy là giây phút lịch sử. Chắc chắn như vậy. nhưng trước đây tôi từng hỏi Hoa Thịnh Đốn: “Chúng ta có sự lựa chọn. Trong sự lựa chọn đó cần phải hỏi: Sau tôi, còn những việc gì sẽ xảy ra? Đối phương sẽ lấn chúng ta hơn nữa, ở khắp nơi trên thế giới. Chúng ta cần phải giữ những lời cam kết của chúng ta!”

Trong lúc trực thãng bay, tôi nghĩ chúng tôi đã rũ bỏ xong. Chúng tôi đã kinh qua biết bao việc, chúng tôi đã mang hết được người Mỹ đi. Và mang hết người Mỹ ra đi, đó là trách nhiệm chủ yếu của chúng tôi. Chúng tôi cũng mang được một số lớn người Việt trong khả năng chúng tôi. Đáng lẽ chúng tôi nên mang đi nhiều hơn nữa, chúng tôi đáng lẽ phải mang 400 con người cuối cùng ấy ra đi, nhưng rất tiếc chỉ vì sự lôi thôi đã xảy ra trong lúc rối loạn như thế thôi.

Tôi nghĩ người Mỹ có quyền hãnh diện về chiến dịch di tản. Phần tôi tuyệt đối chẳng có gì dính líu đến những chuyện phải xin lỗi cả. Tôi đã nhận lãnh nhiều trách cứ về vụ Việt Nam. Chính vì thế mà rất lâu sau, đợi cho mọi thứ lắng xuống, tôi mới ra trước Quốc hội để mọi người đứng lên lãnh trách nhiệm và nhận lỗi của mình, và họ đã làm như thế.

Hình minh họa

Dẫu sao tôi cũng có nhiều điều thích thú. Tôi không bao giờ lo rằng mình có thể bị giải nhiệm. Tôi đã tính nếu bị sa thải, thì sẽ về ngồi với cái máy chữ mà viết.

Áp lực của nhóm chủ hoà đã áp đặt trên hệ thống giáo dục, và sự mù quáng của cái chủ trương “đừng-làm-một-cái-gì-có-thể-gây-tranh-luận- hoặc-bị-tấn-công” đã có khuynh hướng chế ngự hệ thống giáo dục chúng ta, do đó các nhà xuất bản sách giáo khoa hoặc giả lơ chuyện Việt Nam, hoặc chỉ mô tả sơ sài nhạt nhẽo chẳng giúp cho ai có thể hiểu sự thực thế nào. Điều này đáng tức cười, bởi vì về một phương diện khác, nó lại là điều tốt. Thỉnh thoảng nói chuyện với sinh viên, tôi nhận ra đa số chẳng những không hiểu biết gì, mà còn cực kỳ ngây thơ về chuyện Việt Nam. Nhưng chính vì thế, họ lại có thể tìm hiểu vấn đề với một quan điểm hoàn toàn khách quan. Chính vì thế, họ trở thành nhóm người duy nhất tại nước Mỹ có thể nhìn mọi sự với quan điểm khách quan ấy. Nhưng vì vậy, khi thấy được những sự kiện phô bày đầy đủ rõ rệt trước mắt, họ bực tức vì họ đã bị bưng bít, do đã bị từ chối trong việc tìm hiểu và đã chỉ được đọc một phần của cả vấn đề.

Hiển nhiên, sau này các sử gia sẽ đào sâu mở rộng hơn. Có lẽ họ sẽ đối xử rất tử tế với tôi, có lẽ còn tử tế hơn cả sự xứng đáng của tôi. Dầu vậy, chúng ta hãy còn biết bao nhiêu chuyện trời đất mà những chuyện ấy vẫn chưa từng được kể hết ra!
…
____________________________

(*) Mc Namara Bộ trưởng quốc phòng Mỹ.
(1)Harry Summers là Đại tá văn phòng tùy viên quân sự, DAO.
(2) Người Mỹ gọi là luật Murphy-” Murphy’s Law”-Khi cái gì hư hỏng xảy ra, là nó xảy ra, thế thôi!
(3)Tổng thống Trần Văn Hương.
(4) Trưởng nhiệm Sở Trung Ương Tình Báo Mỹ.
(5)Thuộc Trung ương Tinh Báo Mỹ.
(6) Trung tướng Mỹ văn phòng Tùy viên Quân sự.
(7)Giám đốc Trung Ương Tinh Báo Mỹ.
(8) Đây là việc Polgar tự động liên hệ với nhân viên Hung Gia lợi sắp đặt việc thương thảo với Bắc Việt. Chuyện này sẽ do Polgar tự kể trong chương kế-Polgar không biết những người làm chính sách Mỹ chỉ muốn rút, không thương thảo gì, không có ý định lập chính phủ liên hiệp. Việc này phụ tá Đại sứ Lehmann đã nói ở phần đầu của chương 4. Ghi chú của người dịch.
(9) Xem phần phỏng vấn Phụ tá Đại sứ Wolf Lehmann và phần phỏng vấn Thiếu tá Jim Kean chương 9. (10) Jim Kean, Thiếu tá Thủy quân Lục chiến, sẽ có bài ở Chương 9.
(11) John Madison, Đại tá Bộ binh, thành viên ủy ban Liên Hợp Quân Sự.
(12) Cố vấn an ninh quốc gia.
(13) Xem phần phỏng vấn Stuart Herrington ở Chương 7. Ghi chú của người dịch.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

 Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 21 Jan 2024

Đôi lời của người post bài (Sơn râu):

Xin thưa cùng bạn đọc: về phần hình ảnh trong loạt bài này hầu hết đều do tôi lấy trên Net hoặc trong kho hình ảnh lưu trữ của tôi, hình nguyên thủy trong sách có rất ít không đáng kể. Vì vậy phần hình ảnh chỉ có tính cách minh họa cho quyển sách chứ không phải là hình đi kèm trong sách nguyên tác, xin bạn đọc hiểu dùm.

LACY WRIGHT
(Nhân viên ngoại giao. Trưởng phòng chính trị)
“Hy vọng luôn bừng nở”

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Tôi sinh trưởng ở Springfield, Illinois thuộc miền Trung Tây nước Mỹ. Xong đại học, sang La Mã thụ giáo linh mục hai năm rưỡi. Rồi bỏ dở. Về lại Mỹ dạy trung học tại Chicago một năm. Thời gian ấy tôi dự một kỳ thi tuyển nhân viên ngoại giao và theo học chương trình cử nhân Bang giao quốc tế tại đại học Chicago một năm. Tôi cũng không theo hết chương trình, vì đã được nhận làm nhân viên ngoại giao từ đầu năm 1968. Lúc ấy, ai vào ngoại giao mà chân còn cất bước và mồm còn bỏm bẻm nhai kẹo cao su được là được gửi đi Việt Nam.

Có thể nói lúc ấy đối với đa số người làm ngoại giao, bị đưa sang Việt Nam là một điều cay đắng. Ngành ngoại giao thời ấy, ít hay nhiều, đều có khuynh hướng chống chiến tranh. Chưa kể người ta sợ, chẳng ai muốn mất mạng giữa thời son trẻ. Nhưng phần lớn chúng tôi đều đã được đưa sang Việt Nam.

Sang bên ấy, có điều kỳ lạ làm chúng tôi thay đổi: đa số đâm ra thích Việt Nam. Nhiều người, kể cả tôi, sau khi về, lại tình nguyện xin trở lại.

Trước khi đi, chúng tôi được học mười tháng tiếng Việt tại học viện ngoại giao ở Hoa Thịnh Đốn. Dù không giỏi bằng nhiều người khác, nhưng khả năng Việt ngữ của tôi cũng không đến nỗi nào. Trái với điều người ta thường bảo người Mỹ không hiểu biết gì về xứ sở này, kể ra cũng có phần đúng, nhưng phần lớn nhân viên ngoại giao và nhân viên các ngành đều nói được tiếng Việt, nói rất giỏi. Tất nhiên không sánh được với người Pháp và vài nhóm người ngoại quốc khác tại Việt Nam.

Học viện ngoại giao không phải chỉ gồm có nhân viên ngoại giao. Dù nhân viên ngoại giao chiếm đa số, nhưng còn có cả các sĩ quan quân đội, thường là cấp thiếu tá, trung tá, và nhiều người thuộc các cơ quan khác. Nói chung, sĩ quan quân đội hơi lớn tuổi đối với việc học Việt ngữ, vốn là một ngôn ngữ khó. Trung bình họ ngoài bốn mươi, và cũng không có ai cố theo học. Còn nhân viên ngoại giao đa số đều học tiếng Việt, nhiều người sau khi sang Việt Nam ra ngoài sinh hoạt, làm việc ở các tỉnh, đã trau dồi thêm và nói tiếng Việt rất giỏi.

Sau một năm học Việt ngữ rồi tham dự những lớp thuyết trình chuẩn bị, tôi đã đến Việt Nam vào tháng 3, 1969.

Có vài điều tôi muốn nói. Điều thứ nhất: Dân Việt không phải ai cũng như ai, có người thế này người thế khác, có người khá có người không. Những nhân viên sang bên ấy trước vẫn không có cảm tình với chính phủ Nam Việt Nam, nhưng sau khi tiếp xúc với người Việt, làm việc với người Việt, sinh hoạt với các viên chức địa phương, dần dà nảy sinh nhiều tình cảm. Những người này bắt đầu đứng bên họ, mong cho họ những điều tốt đẹp, hy vọng họ sẽ thắng. Và mặc dầu tất cả chúng tôi đều thấy chế độ Nam Việt Nam có nhiều thiếu sót, nhưng sau khi quen thuộc với chiến thuật đối phương, thấy rõ sự khác biệt của phía Cộng sản và phía bên này, chúng tôi đều nảy sinh nhiều tình cảm đối với Nam Việt Nam. Điều thứ hai: Ở Việt Nam người ta có thể sống một cuộc đời phiêu lưu, với một giá sinh hoạt rẻ. Phần lớn nhân viên dân sự chúng tôi sống tiện nghi thoải mái, tương đối an toàn. Tất nhiên nhiều người phải về những vùng nguy hiểm, nhất là những người đi các tỉnh lẻ. Nhưng với đa số chúng tôi, những hiểm nguy đó chỉ vừa đủ cho cuộc đời thêm thích thú. Nó là cảm giác sôi nổi của cuộc sống thú vị giữa những hoạt động đầy tranh cãi của thời đại chúng ta. Và đàn bà thì vô số! Người ta ở vào một thời gian và không gian mà mọi kiềm chế bình thường được tung hê tháo bỏ, chẳng phải giữ gìn gì. Tất nhiên, đó là một hấp dẫn không ngừng.

Hình minh họa

Thế đấy. Nơi ấy đã có những cái tốt, những cái xấu, có những điều cao quí và cũng có nhiều thứ kém cao quí như vậy.

Một trong những chuyện tôi thích kể là vào năm 1973 sau khi đã ký hiệp định Paris, Bộ Ngoại giao quyết định gửi nhiều nhân viên về lại
Việt Nam. Đưa người sang Việt Nam là bật rễ họ khỏi cuộc sống, gây nhiều trở ngại và thay đổi. Để thu hút chúng tôi, họ tìm cách tạo khích lệ: Trước hết, chỉ cần đi trong vòng sáu tháng để theo dõi việc thi hành hiệp định. Lương được tăng đến 25 phần trăm. Trong thời hạn có sáu tháng, lại được về thăm nhà một chuyến, hoặc tùy ý du lịch bất cứ chỗ nào vói phí tổn tương đương. Và Mỹ ở tận bên kia địa cầu, như thế nghĩa là có thể đi du lịch bất cứ chỗ nào trên thế giới tùy thích.

Sau khi đặt ra đủ thứ khích lệ hấp dẫn như thế, Bộ Ngoại giao lại cho biết nếu được chỉ định là phải đi, không có quyền lựa chọn. Tuy nhiên sau khi công bố, ai cũng muốn đi. Có người gọi cả điện thoại đến sở nhân viên hỏi: “Này, sao không thấy tên tôi trong danh sách trở lại Việt Nam.”

Chuyến đầu tiên tôi sang Việt Nam một năm rưỡi. Vào thời gian ấy chương trình Bình định đạt nhiều kết quả. Chương trình này có hai diện: một là loại bỏ Cộng sản, hai là cải thiện đời sống dân chúng. Nhiều tiến bộ đạt được trong cả hai lãnh vực. Nói chung những tiến bộ ấy bắt đầu kể từ sau vụ tổng công kích Mậu Thân thất bại và tiếp tục được vài năm. Những kết quả này làm cho phần lớn vùng đồng bằng Cửu Long trở nên yên ổn.

Vùng đồng bằng gồm 16 tỉnh, tôi đã làm việc tại một trong 16 tỉnh ấy. Không hề có hoạt động của đối phương. Phần lớn vùng đồng bằng đều như vậy, an ninh rất tiến triển. Vì thế khi trở lại, tôi có một thái độ lạc quan khá ngây thơ. Mọi người đều phấn khởi là chiến tranh đã chấm dứt, hoặc ít nhất, có một triển vọng mới cho hoà bình: Bất kể sự kiện hiển nhiên là hiệp định hoà bình này không thực hoàn hảo gì. Có lẽ vì hy vọng luôn bừng nở? Chúng tôi đã hy vọng: dẫu có thế nào, biết chừng đâu hiệp định này sẽ mang nhiều kết quả!

Vào thời điểm ấy, vẫn còn nhiều người Mỹ ở tại Việt Nam, nhờ đó đời sống vẫn thịnh vượng. Nhưng đến khi chúng ta rút đi một con số lớn người Mỹ, xứ sở này bắt đầu xuống dốc. Họ bắt đầu đối mặt với những khó khăn kinh tế trầm trọng, thiếu tiếp vận cho quân đội, và họ mất tinh thần.

Đầu năm 73 tôi được gửi đi Chương Thiện khoảng một, hai tháng. Rồi tôi lên Cần Thơ, thủ phủ vùng đồng bằng, cũng là thủ phủ quân khu 4. Lúc ấy chúng tôi thiết lập tại đây một lãnh sự quán cũng như các lãnh sự ở các quân khu khác. Tôi trở thành một trong 16 nhân viên ngoại giao làm việc dưới quyền lãnh sự Mỹ ở Cần Thơ.

Tình hình đồng bằng Cửu Long thực ra mỗi lúc một xấu. Đầu năm 74, lãnh sự quán làm một bản phân tích chiến sự rất dài, rất bi quan. Chúng tôi nắm rõ những dữ kiện xảy ra: lính đào ngũ gia tăng, quân vận thiếu hụt, tinh thần xuống thấp. Những dấu hiệu cho thấy sau một thời gian khả quan ở vùng đồng bằng vào năm 73, tình hình tuột dốc kể từ mùa Xuân 74. Vào lúc này, Cam Bốt sắp bị Khmer Đỏ nuốt trọn. Chúng tôi đang đứng ở lằn ranh của diễn trình này. Một sự hiện đáng kể – ít ai biết – là bấy giờ có một số dân tỵ nạn chiến tranh chạy trốn Khmer Đỏ, sang Việt Nam, đến tỉnh Kiên Giang. Một nhân viên lãnh sự quán của chúng tôi đã thẩm vấn họ, đúc kết nhiều bản báo cáo dài. Sau này Khmer Đỏ chiếm đóng toàn bộ Cam Bốt, tạo ra những cuộc tắm máu, thảm sát hàng triệu con người, nhưng thật ra các hành động tàn bạo nổi tiếng ấy đã xẩy từ trước. Các cuộc thẩm vấn cho thấy Khmer Đỏ đã giết chóc dã man tại những vùng họ chiếm trước rồi, chúng tôi đã ghi nhận những sự kiện ấy vào tài liệu rất sớm, ngay từ 1974.

Hình minh họa

Nhưng việc ấy không được công bố rộng rãi. Thật ra, chúng tôi có công bố các tài liệu này tại Hoa Thịnh đốn trên một vài mức độ, tôi nhớ những người như Sidney Schanberg của tờ New York Time hồi ấy đã gạt đi, coi các báo cáo này chỉ là tài liệu tuyên truyền của Mỹ. Nhưng tôi nghĩ, nói chung, dân Mỹ không hoàn toàn xem những vụ chiếm đóng ấy bằng nhãn quan được gọi là tuyên truyền Mỹ, hay Mỹ bóp méo sự thật.

Tôi rời đồng bằng vào tháng 9,1974, nhận nhiệm vụ phụ tá đơn vị Nội chính trong ngành chính trị tại toà đại sứ. Công việc chúng tôi là theo dõi nội tình chính trị Việt Nam.

Khi phái đoàn quốc hội đến vào đầu 1975, tôi đã thuyết trình cho phái đoàn này trong lãnh vực chuyên biệt của tôi. Họ không hề đặt với tôi những câu hỏi như ông Thiệu thế nào, có nên duy trì quyền lực cho ông Thiệu hay không, hay bất kỳ câu hỏi nào khác như vậy. Họ chỉ thích nói về vai trò các đảng phái chính trị, vai trò các nhân vật chính trị khác, ví dụ về ông linh mục nổi tiếng, ông cha Thanh lãnh đạo phong trào chống tham nhũng.

Vấn đề đàn áp đối lập và vấn đề tù nhân chính trị không phải là một vấn đề mới. Nó hiện hữu và đã được quan tâm. Song le điều tôi muốn nói là vào lúc này chẳng nên xoáy vào vấn đề tù chính trị mà trọng điểm của vấn đề phải là sự sống còn của quốc gia này. Đó mới là vấn đề chính đáng. Trong mấy chuyện nhân quyền, vấn đề này cũng quan trọng thiệt, đặc biệt là quan trọng đối với mấy cha ngồi tù. Nhưng trong chuyện chính trị thì trọng điểm lúc ấy của phái đoàn quốc hội là phải đến để thực hiện một phán đoán khó khăn về chế độ Thiệu, phải cân nhắc xem Hoa Kỳ có nên tiếp tục hỗ trợ chế độ này nữa hay là thôi.

Người như Don Fraser là loại người có cái tình cảm của phái Tự Do, họ cố tìm kiếm các dấu hiệu cho thấy chính phủ Thiệu tham nhũng hay không tham nhũng. Tôi nghĩ những người như thế đã vấp phải cùng một cái lầm lẫn của dân Mỹ nói chung thường có khuynh hướng mắc phải, đó là cứ xoáy chặt vào những tội lỗi của chế độ Thiệu. Chế độ này quả có những tội lỗi. Nhưng nếu không cân nhắc xác đáng để thấy tội lỗi của đối phương còn ghê tởm gấp bội, và nếu không suy nghĩ rốt ráo để hiểu việc gì có thể xảy ra nếu đối phương chiến thắng – thì chuyện ấy không thể tha thứ hay bào chữa được.

Trong thời gian đại sứ Martin ở Mỹ, việc tan rã cao nguyên đã xảy ra lúc ông đang vắng mặt. Theo sự hiểu biết của tôi, ông đã lạc quan một cách thiếu bảo đảm lúc về lại Hoa Thịnh Đốn có thể vì ông không ở tại trung ương, ông không nắm vững những gì xảy ra. Vai trò của đại sứ Martin và phương cách làm việc của ông tất nhiên cũng là một đề tài đáng lưu ý.

Khỏi cần nói, nếu quý bạn ở địa vị ông, quý bạn cũng sẽ phải cực kỳ thận trọng mỗi khi tuyên bố, hay mỗi khi mở lời nói một điều gì. Đại sứ Martin cũng vậy. Ông được xem là con cừu đầu đàn. Những gì ông làm đều có giá trị tượng trưng. Khi phân tích phê bình ông, người ta phải nhìn các hoạt động của ông trong bối cảnh ấy, với ánh sáng ấy. Nhìn như thế, người ta sẽ thấy ông bắt buộc phải lạc quan. Một khi đại sứ Martin bắt đầu biểu lộ bi quan, ấy là mọi sự đổ vỡ hết.

Người ta cũng nói đến đại sứ Martin và những lý luận của ông trình bày về sự can dự của chúng ta vào Việt Nam. Ông giải thích tại sao chúng ta ở đây, để làm gì, tại sao cần tiếp tục. Những luận giải của ông hay hơn, vững chắc hơn rất nhiều người khác. Tôi nghe ông nói vài lần và ông đã gây nhiều ấn tượng sâu sắc với tôi.

Nhưng có một điều tôi nghĩ ông đại sứ có thể làm, và nên làm – mà ông đã không chịu làm là đối với giới truyền thông, báo chí. Tôi không bảo rằng truyền thông, báo chí không bao giờ lầm lẫn, thật ra họ lầm lẫn khá nhiều, nhưng đại sứ Martin đã gây ra nhiều đối kháng nơi họ. Ông làm cho những người vốn đối kháng cá nhân ông, đối kháng sự can dự của chúng ta ở Việt Nam trở nên đối kháng mạnh mẽ hơn. Tôi nghĩ việc này có thể đối phó cách khác. Nhưng tôi không hiểu nếu như thế liệu có ảnh hưởng gì đến cái kết quả cuối cùng không? Có lẽ không, chắc chắn cũng chẳng có gì tốt hơn. Thường người ta khó biết bên trong con người Martin, ông thực sự nghĩ gì, tin tưởng gì khi nói chuyện với công chúng và ông phải phủ trên những chuyện ấy một bộ mặt đẹp đẽ.

Hình minh họa

Tôi không dám chắc có ai biết. Nhưng bây giờ, chúng ta đã biết được một điều. Đó là trong trí ông, ông có cái hy vọng sẽ thương thảo như một giải pháp cứu vãn danh dự. Mặc dù giải pháp này chẳng hơn gì một cuộc thất trận được che đậy, nhưng như thế ít nhất còn có thể cho phép thực hiện di tản, giúp những người cần ra khỏi nước có thể đi thoát. Chúng ta cũng biết cái hy vọng ấy chỉ là hy vọng hão huyền, nhưng chính hy vọng ấy đã từng ở trong trí ông lúc ông nỗ lực đối phó tình hình.

Đầu tháng Tư, nhiều chiến dịch nhỏ được thiết trí để đưa một số người ra khỏi xứ một cách lặng lẽ, không bị lưu ý. Đại sứ Martin giao cho tôi việc giúp đỡ những người Việt thân thích của người Mỹ ra đi. Có một số nhân viên ngoại giao kết hôn với người Việt, gia đình ở tại Sàigòn và khắp nơi trong xứ. Các nhân viên này đến ăn vạ ở Bộ Ngoại giao, nằng nặc yêu cầu giúp đỡ gia đình họ. Khỏi nói chúng ta đều biết gia đình họ quả sẽ là những người phải chịu nhiều nguy hiểm.

Chúng tôi thực hiện tác vụ này qua các căn nhà an toàn ở những địa điểm khác nhau. Trong mười ngày cuối cùng chúng tôi bận rộn bù đầu, ngày nào cũng nửa đêm mới về đến nhà như cái xác chết. Sau này tôi tiếc lúc ấy tôi đã không viết được gì để ghi lại, nhưng thật ra cũng không thể làm gì, vì sau mỗi ngày làm việc là kiệt sức, cứ thế cho đến ngày cuối.

Sáng 29 tháng Tư tôi choàng dậy từ sớm vì bom nổ ở phi trường. Lúc ấy tôi ở cách toà đại sứ có nửa khu nhà, tôi thức giấc đi ngay đến toà đại sứ mà không biết ngày hôm nay chính là ngày cuối cùng. Nhưng khi đến, tôi hiểu rõ và chúng tôi cố rút người từ tất cả các trạm ra đi.

Sáng hôm ấy chúng tôi liên lạc gọi tất cả những người Việt thuộc đường dây chúng tôi trách nhiệm đến toà đại sứ hoặc đến một trong các căn nhà an toàn được thiết lập làm trạm di tản. Mọi thứ trên đường phố đều tuyệt đối im lìm vì có giới nghiêm 24/24, không một bóng người lai vãng. Tôi rời toà đại sứ bằng xe hơi đến một căn nhà an toàn mà hôm trước tôi đã bỏ lại một danh sách gồm các tên người – vì tôi tưởng hôm sau tôi sẽ trở lại. Tôi cần phải lấy lại danh sách ấy, tôi không muốn nó rơi vào tay đối phương. Tôi đã đi về an toàn, không trở ngại gì.

Sau đấy tại văn phòng đại sứ, Alan Carter cứ lo lắng suy nghĩ: có vài người Mỹ và một số người Việt vẫn còn đang ở tại trụ sở phòng thông tin Hoa Kỳ. Ông không biết cách nào mang họ đi, ít nhất là mang hai người Mỹ đi. Tôi bảo ông ta để tôi lo, tôi lái xe đến đấy, bốc họ về. Vẫn không có trở ngại. Đường phố vắng tanh. Chúng tôi cứ loay hoay, suốt buổi như thế. Chừng tám giờ sáng, có một Mục sư Tin Lành người Anh lò dò bước đến cổng toà đại sứ, dòm vào. Ông ta hỏi: “Thưa quý ông, chẳng hay tình hình hiện nay như thế nào?” Tôi nói: “Tình hình xấu lắm, mục sư nên vào trong này. Sắp sửa phải di tản. Nơi này sắp rối beng đến nơi.” Ông mục sư bảo: “Ô, chúng tôi nào dám làm phiền quý ông! ” Tôi nói lại lần nữa: “Tốt hơn hết, Mục sư nên vào trong này.” Lúc ấy ông mục sư mới chịu bước vào, sau đó đã được trực thăng bốc đi. Có những người khiêm tốn đến thế! Giữa cơn phong ba bão tố, họ vẫn cứ một mực cung kính mà thưa rằng: “Chúng tôi nào dám làm phiền quý ông!”

Hình minh họa

Chừng buổi trưa, chúng tôi bắt đầu đi đón người. Vào lúc đó, chúng tôi tiến đến một ý tưởng tuyệt vời. Phải nói ý tưởng ấy là quà của Chúa gửi cho chiến dịch di tản: Đó là sử dụng xà lan để đưa người Việt đi bằng đường sông. Thật ra đây là đề nghị của vài người, trong ấy có Mel Chatman đã đưa ra một hai tuần trước nhưng lúc ấy ai cũng cho ý kiến này là “óc thỏ,” nghĩa là: nông nỗi và liều lĩnh. Nay trong tình trạng khẩn cấp, cần đến các hành động quyết đoán, họ đã mang ý tưởng ấy ra sử dụng và cho xà lan chuẩn bị, chờ dưới bến.

Do đó từ trưa cho đến 3 giờ 30 là lúc tôi ngừng, tôi cùng với một người bạn là Joe Mc Bride liên tục chở người ra xà lan bằng chiếc xe thùng. Không bao giờ tôi quên chuyến đầu tiên, nó chật ních hơn cá mòi đóng hộp. Lại thêm không kiếm ra xà lan đậu ở chỗ nào. Mọi thứ không dễ dàng đến thế! Chúng tôi phải qua một cây cầu, lúc ấy dân chúng bắt đầu tràn ra, cả thành phố đã trở nên điên cuồng. Tôi lo không cách gì qua cầu nổi vì đường đã bắt đầu kẹt xe. Tôi tính nếu có đi thoát được thì đây chắc phải là chuyến cuối cùng.

Trời ngó lại! Phép lạ xảy ra là có một người ở toà đại sứ mang theo một nắm tiền. Anh ta biếu hết cho cảnh sát, yêu cầu cứ đứng đấy chỉ chỏ cho xe chạy. Nhờ thế chẳng mấy chốc chúng tôi tiếp tục di chuyển, rồi còn trở đi trở lại căn nhà bốc thêm mấy chuyến nữa.

Hôm ấy tại căn nhà này người ta đến rất đông. Cảnh tượng ấy thực não lòng: Ai nấy đều tuyệt vọng mong đi, ai nấy đều biết thế là hết. Thế là xong. Trên đầu chúng tôi trực thăng bay sành sạch, rõ ràng số người quá đông, Joe và tôi không thể nào mang đi xuể. Tôi sẽ không bao giờ quên chuyến xe chót. Mọi người tuyệt vọng chen lấn lọt vào, tôi đã gần như phải dùng đến vũ lực để giữ trật tự. Tôi sẽ không bao giờ quên một người đàn ông, một ông già đã tự động đứng sang một bên giúp tôi sắp xếp mọi người. Ông không tìm cách len vào xe. Ông bảo mọi người “Đừng lo, anh ta sẽ trở lại.” Lúc ấy tôi biết rất rõ là tôi sẽ không bao giờ trở lại nữa. Toà đại sứ đã bảo tôi: đấy là chuyến cuối.

Sau đó, buổi tối ở toà đại sứ tôi nhận cú điện thoại của một ông đang ở đâu đó trên đường phố. Ông này nói với tôi rằng người ta đã dặn ông đến chỗ này chỗ kia ở một địa điểm nào đó, nhưng chẳng ai đến cả. Ông ta đang ở trên đường, không ở trong trạm an toàn. Điều duy nhất tôi có thể làm là bảo ông tự kiếm cách đi xuống xà lan. Nhưng lúc đó mọi người đều sợ phải đi ra ngoài. Đây cũng là câu chuyện rũ rích: hễ cứ đi với người Mỹ thì người ta mới thấy an toàn, và cảm thấy là có thể đi lọt. Còn tự đi một mình thì người ta sợ! Biết chuyện gì sẽ xảy ra đây? Nhưng tôi đã cố thuyết phục ông này rằng ông phải tự đi lấy, hãy tự bắt lấy cơ hội, và đó là một cơ hội nhiều triển vọng!

Tôi rời Việt Nam từ toà đại sứ Hoa Kỳ vào lúc chín, mười giờ tối ngày 29 tháng Tư. Nếu muốn, tôi có thể đi sớm hơn vì hễ trực thăng đến mà người nào muốn đi và đã sẵn sàng đi là cứ lên sân thượng mà đi. Vì vậy lúc 9 giờ tôi thầm nghĩ: tại sao không đi lúc này? Tôi không còn lý do gì để ở lại lâu hơn nữa. Khi ra đi, có một việc tôi sẽ không bao giờ quên, đó là lúc trực thăng quần một vòng trên thành phố, người ta nhìn thấy ở hướng tây, căn cứ Long Bình đang bốc cháy. Một đám cháy vĩ đại. Long Bình là một trong những căn cứ lớn nhất của chúng ta ở Việt Nam. Nhìn ngọn lửa, tôi nghĩ nó đang thiêu đốt tất cả. Mọi công trình của chúng ta ở đấy đang thiêu đốt ra tro. Và tất nhiên cũng phải nghĩ đến những con người chúng ta đã bỏ lại, một con số to lớn những người chúng ta đã rời bỏ mà đi.

Hình minh họa

Hôm nay tôi lại nhớ đến những người ấy. Tôi cũng nghĩ đến các oán thù bên phía đối phương. Họ đã không tạo ra các cuộc tắm máu như ở Cam Bốt, vâng, có vẻ như thế. Nhưng họ cũng đã giết biết bao người, và đến nay sau bao năm tháng trôi qua, vẫn còn những người bị giam giữ mỏi mòn trong các trại cải tạo. Suốt thời chiến tranh Việt Nam không một người nào dùng thuyền rời nước. Ngay cả vào những năm khi chiến cuộc đến mức khủng khiếp nhất, vẫn không hề có một người Việt nào bỏ nước ra đi. Nhưng từ 1975, một triệu rưỡi con người đã đi, bây giờ vẫn ra đi. Hai mươi lăm ngàn con người mỗi năm tiếp tục rời nước bằng thuyền, chưa kể ba ngàn người mỗi năm vượt thoát bằng đường bộ băng qua ngả Cao Miên.

Từ khi chiến tranh chấm dứt, nhìn những gì Cộng sản đã làm ở Việt Nam và ở Cam Bốt, nhiều người mới hiểu: Khi chính phủ chúng ta nói rằng Hoa Kỳ đang chiến đấu chống lại một bọn người hung ác, thì đây là trường hợp lời nói đã được xác nhận đúng như thế…

Nụ cười Kangaroo!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 20 Jan 2024

Thưa quý độc giả thân mến!

Cuộc đời của chúng ta thường ít ai biết được ngày mai sẽ ra sao. Cách đây vài chục năm người viết không thể nào tưởng tượng được… rồi có một ngày chinh chiến tàn mình lại lang thang tới đây, tới nước Úc nầy, để xin nhận nơi nầy là quê hương vì chỗ nào có bánh mì và bia là người viết âu yếm (hết biết) gọi là quê hương vì xin thú thiệt với bà con cô bác là với người viết trên đời ‘không có gì quý hơn… là… ăn với nhậu!’

Cái tình duyên do ông Trời đưa đẩy giống như cưới con vợ mà mãi tới đêm hợp cẩn giao bôi, nàng mới e thẹn mở cái khăn che mặt ra… thì mình phải buột miệng la là ‘đẹp quá chời!’ Cũng đẹp như ngày đầu tiên tới Úc, rạng hưng hửng sáng, máy bay đánh vài vòng trên bầu trời Melbourne, dưới cánh bay là thành phố, đèn đuốc sáng choang như hội hoa đăng ‘chào đón người tị nạn’ vậy!

Sống hơi (bị) lâu với con vợ do Trời run rủi nầy mới đầu thì thấy ghét sau thì thấy nó cũng dễ thương đó chớ nhứt là con gái Úc. Đừng rặt ri như thổ dân nha, nước nầy một chút, nước kia một chút thì em xuất sắc nghiêng thùng đổ nước như chơi!

Giáp Tết, người viết theo ‘em yêu’ đi chợ Tây sắm vài món về vui ba bữa. ‘Em yêu’ thích đi shop lắm (nếu không nói là ghiền!). Tới cửa là biến mất tiêu. Người viết chờ hoài, chờ hủy mà không thấy em đâu vội vàng đi kiếm… Gần Giao thừa rồi mà đôi lứa tình ta còn lang thang trong siêu thị thì thiệt hổng có giống ai!

Dớn dác nhìn quanh nhìn quất tìm… sợ ông Ba Bị nào đó bắt mất ‘em yêu’ của mình đi thì khổ… Vì từ nay không còn ai rầy rà: “Tối ngày chỉ ăn nhậu rồi nói dóc không hà!” Người viết xớn xác, đâm sầm vô một thằng Úc  “Ê! Xin lỗi nha bồ! Tui bận kiếm ‘em yêu’ của tui nên không thấy!”

Nó nói: “Hổng có chi! Tui cũng đang bận kiếm ‘em yêu’ của tui đây. Thôi hai đứa mình cùng đi kiếm cho vui đi! Mà em yêu của bồ hình dáng ra làm sao?”

“À! Em da vàng, mũi tẹt, cao 1 thước rưỡi, mập như cái hột mít biết lăn và có đeo kiếng lão. Còn em yêu của bồ?” “À! Em chân dài tới nách, da trắng, mắt xanh, mỏ đỏ, mũi lõ, mặc áo hai dây có trưng hai trái bưởi Biên Hòa trước ngực!”

Vậy thì mình bắt đầu kiếm con vợ Việt Nam của ông bạn trước. Người viết trả lời: “Thôi quên con vợ tui đi… kiếm con vợ Úc của ông trước đã!” He he!

Con gái Úc hấp dẫn như vậy đó bà con cô bác ơi; nhưng có ai biết đâu rằng 200 năm về trước, ông sở, bà sơ của em lại là dân chôm chỉa bên Anh bị mẫu quốc đày tới cái xứ nầy rồi… đẻ ra em… để hữu duyên thiên lý năng tương ngộ… gặp được anh yêu… gốc đồng bằng Nam Bộ… khoái đi bộ hơn đi xe! (Chuyện nầy giấu; xin đừng mét vợ tui giùm cái được hông?)

Ngày 26 Tháng Giêng hằng năm là ngày Quốc Khánh của Úc, kỷ niệm ngày những chiếc tàu chở đầy tội phạm đến Sydney đó. Nói là tù nhân bị đi đày nghe thiệt là đầu gấu nhưng thực ra đa số hiền khô… chẳng qua nghèo đói quá… tiện tay chôm vài ổ bánh mì, vài cân đường hay thò tay móc túi người ta vài xu, vài cắc là đủ để bị đi đày. Chứ cướp của giết người thì bị mẫu quốc treo cổ bên đó rồi đâu có đày qua đây chi cho nó lâu lắc. Luật pháp nước Anh hồi xưa nó khó như vậy đó.

Cũng do cái chuyện tội phạm đi đày nầy nên mới có cái chuyện hai thủ phủ Melbourne và Sydney gây lộn với nhau! Sydney thành phố đầu tiên và rộng nhứt của nước Úc còn có tên là ‘Sin City’ (thành phố của tội ác?!); muốn trở thành thủ đô của nước Úc nhưng không được vì Sydney do những tù nhân bị đày biệt xứ lập nên (tay Melbourne nói vậy!)

Melbourne muốn trở thành thủ đô của nước Úc vì được thành lập bởi John Batman, người đứng đắn, đàng hoàng, lý lịch trong sáng, không phải là tội phạm (mà là con của tội phạm mà thôi!) Hí hí! (tay Melbourne nầy cũng nói vậy). Nhưng Sydney lại nói: “Anh trước, chú sau! Nhà mầy lớn nhà mầy cao sao bằng nhà tao?!” Hai đứa gây nhau năm nầy qua tháng nọ! Cuối cùng Canberra được xây dựng giữa đường đi Sydney và Melbourne, làm thủ đô nước Úc, để cho hai ‘cha’ Sydney và Melbourne không giành giựt nhau nữa. Huề!

Một dặm vuông, mật độ dân số trung bình trên thế giới là 117 người!

Nhưng Macao tới 69 ngàn người… Mỹ 76 người; còn Úc chỉ có 6 người mà thôi.  70% dân Úc gom về ở thành thị, sống trong mười thành phố lớn. Ở thành phố, dân Úc phục vụ ăn chơi là chính, chiếm đến 80% sức nhân công! Chỉ có 14% sản xuất chút đỉnh ở nhà máy. Còn làm ruộng chỉ có 5% tạo được 2.3% tổng thu nhập quốc dân. Hầm mỏ Úc chiếm diện tích khoảng 0.02% kiếm được tới 15% GDP đó. Đất dành để xây quán nhậu nhiều hơn là đất dành cho hầm mỏ!

Đó là về kinh tế, là cái phần vật chất còn cái bên trong là tinh thần, là văn hóa… phải mất khá lâu người viết mới hiểu… mà chưa chắc đã hiểu hết?!

Khi tới nước Úc nầy, người viết nghe hoài cái bản ‘Waltzing Matilda’, bài hát nổi tiếng nhứt của Úc nhưng lại là tiếng Đức, nghĩa là mang cái ba lô lên vai. Vậy xin mời bà con cô bác cùng ‘Waltzing Matilda’ nước Úc chút chút cho vui ba bữa xuân về nhe! Tên Australia theo tiếng Latin là: ‘Terra Australis Incognito’ nghĩa là vùng đất phương Nam chưa ai biết, the ‘Unkown Southern Land’.  Rồi đến đây, thấy con quái thú, không giống ai, nhảy tưng tưng cũng hổng biết là con gì? Mấy người da trắng lần đầu tới đây cũng ‘dốt’ như vậy thôi; bèn mon men hỏi Thổ dân. Thổ dân trả lời ‘Kanguru’ nghĩa là: ‘Tao không biết!” Từ đó con quái thú (có người gọi là đại thử, chuột túi)… tên là Kangaroo.

Kangaroo cần rất ít nước, nhiều tháng trời không uống gì hết. Tại sao vậy? Vì hơn 90% diện tích đất đai Úc khô cằn, thiếu nước. Ba phần tư đất đai không trồng trọt được gì ráo nên Kangaroo ở bầu thì tròn ở ống thì dài là phải uống ít thôi! Uống nhiều! Nước ở đâu mà có! Khi cần nước nó tự đào giếng, sâu từ 3 đến 4 feet là nguồn nước cho những sinh vật khác ‘ké’. (Bà con mình có người ước… phải chi rinh được dòng sông Cửu Long qua đây… thì nước Úc nầy sẽ trù phú; sẽ là một quốc gia ‘độc cô cầu bại’!) Chớ dòng sông Maribyrnong trước cửa nhà người viết, (vậy cũng gọi là sông?!), nó nhỏ xíu như kinh Bà Bèo của xứ quê nghèo mình đó bà con ơi!)

Kangaroo là một con thú hiền hòa và dễ thương như dân Úc. Nhưng xin đừng chọc nó. Nó quạu lên, đá một cái, là không còn cái răng mà ăn cháo. Chuyện nầy đã xảy ra rồi chớ tui không có dóc, hổng có ‘ba tăng’, đâu nha!

Một con chó rượt con Kangaroo, nó thường nhảy xuống đập ngăn nước! Nếu con chó ngoan cố rượt theo thì con Kangaroo chơi luôn… bằng cách dùng móng vuốt của mình nhấn đầu con chó xuống cho mầy chết tía mầy. Ông chạy mà mầy cứ rượt nha!

Chuyện Kangaroo xong, tụi mình nói tới chuyện Cá Sấu!

Stephen Moreen, 20 tuổi, đi săn ngỗng cùng gia đình ở một vùng quê hoang vắng xứ Úc tên là Peppimennarti, cách thủ phủ Darwin của lãnh thổ Bắc Úc khoảng 320 cây số về hướng Tây Nam. Khi bắn rớt vài con ngỗng, chúng rơi xuống sông, chàng ta lội ra để vớt… ai ngờ có con Cá Sấu cũng muốn xí phần… gặp đứa phá đám không cho, quạu quá, ngoạm một cái vô cánh tay, lôi xuống nước; tưởng phen nầy đi đứt. Ráng sức bình sinh, Stephen dùng cánh tay còn lại đấm vô mắt mầy một phát.
Con Cá Sấu dài 2 mét rưỡi nầy nổ đom đóm mắt bèn nhả cánh tay ra, chàng lẹ lẹ lội lên bờ, kẻo chết! Trong khi chờ xe cứu thương tới chàng Úc nầy bèn khui vài lon bia Carlton Dry để sát trùng vết thương rồi nhân tiện quất luôn vài lon nữa cho đỡ đau. Nhân viên cứu cấp tới nơi thì chú đã ‘sần sần’. Hồi nãy nhém chết… còn giờ vui hơn Tết! Ha ha! Vậy mới là Úc chớ!

Còn chuyện sau đây cũng là Úc với Cá Sấu nhưng mà Úc gốc Việt nhe bà con!

Nhân ngày sinh thứ 60, một triệu phú người Việt Nam mình tổ chức một tiệc sinh nhựt, ăn đáo tuế, quá cỡ thợ mộc, quá đã ở một lâu đài vùng Toorak, giàu hạng nhứt thủ phủ Melbourne, bang Victoria.

Khách mời toàn là những người giàu có tiếng tăm trong xã hội thượng lưu như: chủ hãng may, chủ shop thịt, chủ tiệm phở, bầu ‘show’; rồi bác sĩ, kỹ sư, luật sư và kế toán khai thuế… Còn nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà giáo là nhà nghèo… tiền… nhưng giàu… chữ cũng được ‘chiếu cố’ mời ăn theo… cho xôm tụ!

Nhậu cửng cửng rồi; anh bạn triệu phú người Việt tuyên bố rằng: “Trong hồ bơi nhà tui có hai con Cá Sấu, vị nào dám bơi ngang qua hồ; muốn cái gì tui cũng móc túi ra cho hết trơn nhe!”

Tuyên bố xong, tiệc nhậu tiếp tục! Nhạc xập xình! Mấy em chân dài tới nách, trang điểm lộng lẫy như nữ hoàng Cleopatra của Ai Cập đi tới đi lui làm ai nấy nhìn cũng đều nhểu nước miếng; phải len lén đưa khăn mù-soa ra chùi; kẻo con vợ nhà nó thấy… tàn tiệc, bò về tệ xá là có chuyện lớn chớ chẳng phải giỡn chơi!

Bỗng mọi người nghe ùm một cái rõ to! Ai nấy vội chạy ra hồ bơi để chiêm ngưỡng hành động dũng cảm và chân dung ‘đen đúa’ của một anh hùng cái thế coi cái chết tựa lông hồng…

Lội qua hồ, leo lên bờ… Té ra lại là anh bạn văn kiêm bạn nhậu, ốm nhom ốm nhách của người viết. Ảnh vẫn an toàn trên xa lộ; thanh lịch trong thành phố. Người viết gãi đầu tự hỏi: “Hay là thằng chả viết văn, viết báo nghèo quá, thiếu ăn nên suy dinh dưỡng, chỉ còn da bọc xương nên hai con Cá Sấu nầy nó chê ‘dai’!”

Tiếng vỗ tay ào ào như sấm, anh bạn triệu phú cầm micro tuyên bố: “Quân tử nói mà giữ lời… là quân tử dại! Quân tử nói đi nói lại mới là quân tử khôn!”

Thưa quý quan khách! Hôm nay tui chọn làm quân tử dại đi! Tui sẽ giữ lời: “Nầy người bạn anh hùng cái thế xem cái chết tựa lông hồng của tui! Anh muốn gì? Một chiếc Ferrari, một căn biệt thự hay một tuần trăng mật bên Tây với con bồ nhí của tui vốn là đương kim Hoa hậu Chợ Cầu Muối. Nói đi! Anh sẽ được hoàn toàn như sở nguyện!”

Lại tiếng vỗ tay hoan hô rào rào như mưa Tháng Chạp quê mình! Anh bạn nhà văn ốm o gầy mòn của người viết đứng lên, run lẩy bẩy cầm cái micro và nói: “Trước tiên tui muốn biết: Tổ cha thằng nào hồi nãy đã đẩy tui văng xuống hồ nước?”

Người viết giờ mới hiểu… Té ra anh run lên vì giận… Chớ không phải vì lạnh. Người viết bèn lẳng lặng lẻn ra cửa sau mà chuồn mất! Vì ngày mai là Giao Thừa rồi; sống mà ăn Tết chớ phải không thưa quý độc giả thân mến.

Chúc mừng năm mới! Happy New Year!

đoàn xuân thu.

melbourne.

Nói mà chú mầy hổng chịu nghe!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 20 Jan 2024

Cách đây 3 năm, tui có viết rằng, thì, là: “Báo chí lề phải trong nước, được lịnh ngầm ở trên, kẻ tung người hứng, bèn chơi cái tựa “Tiền Ở Ðâu Ðể Cung Phụng ‘Bồ Nhí’?” trong loạt bài về ‘quan’ Thanh Hóa.

Rằng ‘quan’ đã bỏ ra hàng chục tỉ đồng chạy chức, để leo lên ngồi trên đầu trên cổ dân ngu khu đen. Như các tỉnh và thành phố khác, ‘quan’ Thanh Hóa hành xử như một lãnh chúa cát cứ, thời Thập nhị Sứ quân.

Mang danh là Tiến sĩ về dâu tằm, nhưng ‘quan’ cũng thừa biết, trồng dâu nuôi tằm là húp nước mắm! Muốn gỡ lại vốn, rồi làm giàu nhanh chóng thì chỉ có đất đai, mỏ… để bán lại cho một số doanh nghiệp thân hữu với giá như bèo rồi được “thối lại” hàng ngàn tỉ đồng.

Dĩ nhiên, ‘quan’ chối bai bải, ngúng nguẩy như đỉa phải vôi! ‘Quan’ đòi đi thưa mấy anh trên Bộ Công An, để ‘nhát’ lại kẻ đã chơi mình.

Nhưng chạy thuốc thì tốn tiền lắm lắm! Công vơ vét bấy lâu, nay nó hù mình, rồi nó hốt hết ráo công sức của mình bấy lâu. Cốc mò cò xơi! Sao được?

“Thôi, tom góp vàng bạc, đô la rồi cuốn nóp dông luôn đi, cha nội!”

o O o

Tui khuyên thằng chả như thầy bói Huỳnh Liên khuyên; vậy mà thằng chả ngu hổng chịu nghe chứ? Cứ ráng ngồi lì hoài! Ngồi mà ăn không được nữa vì bị chúng rình thì ngồi làm chi cho mất thời xuân sắc? Già xồng xộc tới nơi rồi. Có tiền không chơi, chừng ba năm nữa ngồi đuổi ruồi không bay; thì tiền muôn bạc vạn ngẫm có ích chi đâu?

Quả nhiên! Y như kinh, y như lời tui tiên tri hè: Báo chí quốc doanh trong nước vừa cho biết rằng thì là: Bí thư Thanh Hóa vụ ‘nâng đỡ không trong sáng’ chính thức ‘về vườn’. “Ông Trịnh Văn Chiến, bí thư tỉnh ủy nhiệm kỳ 2015-2020 không tham gia Ban Chấp Hành khóa mới.”

Chú (em) Chiến năm nay 60 tuổi, không thấy nói bệnh tật gì, khả năng làm việc còn nhưng mất ghế bí thư tỉnh ủy lại không thấy được điều động về trung ương ngồi ở bộ nào hay cơ quan nào của đảng, coi như bị đẩy về vườn.

Ba năm trước, dư luận tại Việt Nam thật ồn ào chuyện một bà nhan sắc không nhiều lắm nhưng được nâng đỡ “không trong sáng” từ vị trí một người làm công nhật lên chức phó giám đốc Sở Xây Dựng tỉnh Thanh Hóa trong thời gian kỷ lục. Thiên hạ gọi bà là “hot girl xứ Thanh.”

Các lời tố cáo, gièm pha, về tài sản kếch sù với xe sang Cadillac, nhà trị giá triệu đô ở cả địa phương và Hà Nội của bà tên “Trần Vũ Quỳnh Anh” và những chuyện liên quan đến cái “không trong sáng” được khai thác rất giật gân trên báo chí tại Việt Nam. Bà ta có con không biết con của ai, nhưng có người đồn tác giả là ông bí thư tỉnh ủy. Bà được cho là “phòng nhì” của bí thư Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến.

Khi vụ việc còn đang ồn ào thì bà Trần Vũ Quỳnh Anh biến mất khỏi địa phương, biến luôn khỏi Việt Nam và một vài tin trên báo chí Việt Nam hồi năm 2017 nói bà ta chạy qua trốn tại New Zealand. Bà bị “khai trừ đảng” khi vắng mặt.

Sau nhiều cuộc điều tra, ông Trịnh Văn Chiến vẫn giữ vững được cái ghế bí thư tỉnh ủy. Chỉ có ông Ngô Văn Tuấn, tỉnh ủy viên, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh, cựu bí thư Ðảng Ủy, cựu giám đốc Sở Xây Dựng tỉnh Thanh Hóa, là bị cách chức tất cả các chức vụ trong đảng.

Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương của đảng CSVN công bố những sai phạm của ông Ngô Văn Tuấn về việc “nâng đỡ không trong sáng” đối với bà Trần Vũ Quỳnh Anh trong khi ông Chiến được lờ đi.

Một chức sắc cao trong đảng CSVN, ông Vũ Quốc Hùng, cựu phó chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương đảng CSVN, nói trên báo Giáo Dục Việt Nam, rằng ông Ngô Văn Tuấn không thể tự ý “nâng đỡ không trong sáng” cho bà Trần Vũ Quỳnh Anh mà phải có sếp cao hơn đỡ đầu.

Tranh Bảo Huân

Chuyện gái gú của đảng viên CS VN thì thằng nào mà không có. Chỉ có các đồng chí chưa bị lộ thế thôi. Tui thấy ‘đục’ một đứa văng xuống đất bằng thủ đoạn bắt quả tang ‘sợi chỉ xỏ lỗ kim’ nầy không quân tử chút nào.

Chơi nó một cách quân tử là phải lật cái mặt nạ của nó ra là: Ăn cắp bao nhiêu tiền của dân đóng thuế rồi đem đi cung phụng cho gái? Cái đó mới là hay nhe!

Tiền của dân cày sâu cuốc bẫm bị ăn cắp thì dân xót, dân đòi làm cho tới nơi tới chốn mà mấy cha không làm. Lo đi làm chuyện ruồi bu.

Nó chơi đứa nào nếu bằng tiền lương thiện của nó làm ra thì kệ cha nó chớ! Who cares? Còn nó ăn cắp tiền dân để chơi gái là phải cho nó ăn cơm có người gác mới đặng!

Đoàn Xuân Thu.

Tả ngạn

 Hồ Đình Nghiêm 

Post by Sơn râu 20 Jan 2024

Tôi đến thăm người chiều cuối năm. Người không vui người nói điều chao lòng. Tôi cũng mang bao nỗi phiền muộn nhưng hứa thầm hãy nén chặt chút riêng tây. Trời chóng tối người chẳng thiết thắp đèn, lửa trong tôi sáng không đủ cuộc tình xa. Tôi ngước nhìn cảnh sắc bất minh, nhớ ngày cũ lung linh những ngọn nến. Tóc ai phai hay chân tôi lạc bước, đi ngày đàng vẫn học lấy dại khờ. Hương quá vãng đã trôi cùng gió. Và gió ngoài kia, người ạ thổi vô phương. Ngồi xuống ghế với mặt bàn nhiều vết xước, ly nước trà chẳng thấm ướt bờ môi. Đáy năm, cuốn sách đời lật vội. Những tờ rời tôi cúi nhặt số trang. 

Tôi theo người đạp xe lên hướng núi, sương xuống nhiều xoa dịu bớt lao lung. Xin mãi được ngắm nhìn trong mờ tỏ, để tin rằng có cơn mộng trốn quanh đây. Hãy che dấu bao đổi thay lộ liễu và quên đi gã Từ Thức năm nào. Cỏ cây ướt không ai đi hái lộc, đường lặng lẽ với tóc người mãi bay. Hương bồ kết đóng đinh một kỷ niệm, ai tước đoạt ai nhổ rời ai trao tay giấy thế vì khai sinh lần thứ hai? Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông. Tôi lên đồi đột qụy một tai biến, mộ bia ung thư lấm lem hàng chữ lạ lùng. Người thợ hồ nào đã quên chính tả, đồng nhập “ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”: Nguyển thị Liểu… hưỡng dương 54 tuỗi… con cháu đồng phụng lắp… 

Người đứng yên bên mồ không nói, tôi đốt hương và tôi nhổ cỏ loanh quanh. Nằm dưới đất là người tôi bất hạnh, đã chẳng thể gọi một lần: Má vợ ơi! Má ơi con dìa đây má ơi! Nghe gì không thông bên đồi đứng hú, gió cau có mây nhăn nhó và lệ người tuôn. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” là câu tầm bậy. Cớ sự nằm ở chỗ nguyên ủy gì cảnh ngó tang thương? Cảnh ủ dột vì người đan tâm bức hại, người lột truồng người chơi tập thể người bề hội đồng nông trường thủy lợi lao động sắn khoai. Mộ phần người cũng mang ra đào xới, người quy hoạch làm tụ điểm ăn chơi. Người khoe hàng người chân dài siêu mẫu, dài miên man cho tới tận Đài loan hoặc xứ Hàn. Cảnh tang thương cảnh không thốt nên lời, và từ điển có tên gọi ấy là bể dâu. 

Người dắt tôi đi trong thành phố quen thân, đất máu thịt giờ phải có thổ địa. Hãy nói tôi là đứa phản bội, mếu máo đi cúi mặt bước bởi danh xưng Việt kiều. Đường Lê Lợi có ngôi trường người từng học, nay dửng dưng tên gọi chẳng nức lòng. Nói tới Huế phải nhớ ngay Đồng Khánh, sao giết đi một danh xưng chẳng tầm thường? Sài Gòn còn thay tên sá gì Đồng Khánh là “thằng” vua phản động? Ai từng học ở ngôi trường cũ có dậy chút cảm hoài? Ngôi trường ấy chỉ thu nhận toàn con gái, những phận Thuý Kiều sau cuộc đổi đời nghĩ không ra.“Tấm lòng trinh bạch từ nay xin chừa”. Tôi mất trinh từ năm bẩy nhăm và người bảo tôi cớ sao lại đâm ăn quàng nói xiên. Cầm tay người nhỏ nhẹ tôi thưa rằng cuộc đời có bạc ác với chúng ta? Giá nên duyên vợ chồng, không chừng em mang năm chục đứa trấn dưới biển, sớt nửa gia tài anh đầy ải chúng học tập rừng sâu. Ôi tiền nhân, điều gì ám muội khiến ôn mệ sớm học thói bội bạc chia lìa ngăn sông cách núi? Từ ly dị thì người ta mới sáng tạo ra, chia của cải gia tài trách nhiệm thì phải đứng trước quan tòa nghe phán giấy trắng mực đen rạch ròi. Ôn mệ chơi kiểu đó là coi thường luật pháp mà đời thường gọi là luật rừng. Tôi xa người hay người bỏ tôi, nhớ giùm cho mình đã theo vết lăn bánh xe lịch sử! 

Người đến thăm tôi ngày mồng Ba. Tết năm nay tôi ngó hoa mai trên một bức hình, tấm ảnh xấu in ở trang đầu cuốn lịch, lịch chết cứng ghim không cục cựa vào tường vôi. Vách nhà thương có nhiều vệt máu, bệnh nhân đông chật khiến phải huy động thêm giường nằm. Làm Việt kiều đôi khi tìm được điều an ủi, chỗ tôi dưỡng thương ngó bảnh hơn dân bần cùng. Người ái ngại ghé mông xuống tấm chiếu, nhìn thằng bồ cũ như trông con cá ươn có ở chợ chiều. Tôi đã gửi tin nhắn trên cái di động chưa đui què mẻ sứt, iphone 4 nằm túi quần cày đường sâu dưới mặt lộ chẳng có hố tử thần. Người từng dặn như lời Mẹ dọa con thơ: Ra đường ngó trước trông sau chớ bất cẩn. Tôi thành kính vâng lời đi tuốt trong bờ lề nhàn tản làm kẻ bách bộ ham tham quan. Vậy thì chuyện gì đã xẩy tới? Người hỏi chẳng giấu chút nóng ruột. Tôi ngó tay chân bó bột cứng tựa khúc củi treo tòn teng, khi khổng khi không có một cha nội đi xe máy leo lề rồ ga và đâm thốc vào người tôi. Chạy trời không khỏi nắng. Hắn tông, hắn đạp rồi hắn chạy một lèo, hơn cả quất ngựa truy phong! Rứa đó, nghĩ không ra! Gì mà phải lấn cấn. Ai biểu làm kẻ lạ quây lưng với cố hương, ai biểu viết lách linh tinh, ai biểu… nói mãi mà chẳng chịu nghe! Đáng đời! Ừ, thiệt là đích đáng. Ai đó nói “mong chết trên quê nhà” là điều xằng bậy, chết vật vạ chết tủi hổ chết không nhắm mắt chết vô căn cớ, đang sống chuyển qua từ trần vì không có tiền bôi trơn… Người ơi cái chết nhẹ tợ lông hồng là nằm ở tình huống khác, và nói nào ngay đôi khi nó chỉ là sản phẩm của tưởng tượng! Tưởng tượng chốn này không có mặt người thì tôi có là điên mới chảnh tới độ mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua. 

Đầu năm tôi dự trù lì xì mừng tuổi người 500 đô cùng một nụ hôn nhưng giờ bất khả. Nửa thân cứng đơ hay nửa hồn thương đau thì cũng tợ nghĩa nhau, đá nát ngọc tan vàng phai lửa tắt. Bệnh viện moi của tôi gần sạch đồng bạc cuối. Ai biểu làm Việt kiều người mãi trách cứ. Nếu tôi không dông, ở lại bên người thì người thực thi được cảnh sống “một túp lều tranh hai quả tim vàng”? Chỉ cần nhìn nhau cho dù mãi uống nước lạnh, câu cải lương ấy giờ này chỉ dành cho ai từng té giếng.. Tôi chưa mát dây, chỉ bị xe điên đụng thôi mà. Tình cảnh khiến chẳng khóc chẳng cười, nhưng buộc tôi nhăn nhó, bác sĩ chỉnh hình dọa, đầu năm không chịu kiêng cử dị đoan: Coi bộ cậu sẽ phải chống nạng một thời gian. Nhưng tin tôi đi, về lại chốn vật chất bơ sữa cơm thừa canh cặn ấy, chúng nó sẽ chữa lành cho cậu bằng máy móc hiện đại siêu khủng hơn nước nhà. 

Người lì xì cho tôi một hàng chữ viết vào cánh tay bó bột lên đồi xuống dốc, nhớ không lầm đấy là thơ Haiku của Matsuo Basho: 

Trên con đường này

giữa chiều thu ấy

đi về không ai. 

Biết tác giả nhưng hiểu hậu ý của người vừa viết xong thì bù trất. Người nhắn gửi điều gì: Không trông mong một lần gặp gỡ khác? Quạnh hiu. Hắn hành hương và đi lạc vào vùng gió cát tơi bời giữa sa mạc. Nóng, khát. Rét run những ngộ nhận, để cuối đường dứt khoát phải mang thương tật. Thương trong tim và tật ngoài thịt da. Nhớ Quốc văn giáo khoa thư ngày còn bé tí mũi giải lòng thòng mà giật cả mình: “Không có nơi nào đẹp cho bằng quê ta!”

Tết nhất, người chẳng dư thời gian ngồi nán cùng tôi. Người vất tôi nằm cùng với những thân phận, những ngôi sao xấu đứng ngồi thẫn thờ như những linh hồn lạc lối. Người ra về bỏ lại quanh tôi những tiếng thở dài, những vai run thổn thức chẳng còn nước mắt đào thoát khỏi bờ mi. Đồng bệnh tương lân tôi ngó những “đồng chí” mặt cắt không ra giọt máu ăn cái Tết trong nhà thương cạn kiệt tương thân nhân ái. Họ nguyền rủa trời cao họ ca cẩm số mạng và thảy những triết gia bó gối kia tự đặt công án: Đời là gì? Đời có nên cô lại bằng hai mẫu tự: ĐM. 

Vì tai nạn tự tôi khuynh đảo chương trình dự liệu. Không cứ là cảnh vật ngay cả người cũng chẳng biểu lộ một ân cần. Người làm cho đường đi của tôi mãi dài ra, dài hơn cả năm châu bốn bể muôn đời khắc nghiệt chữ anh em. Người đã vô sản và tôi đang sảng. Chưa bình phục tôi vẫn muốn lê thân rời bỏ chốn cắt rốn chôn nhau. Cật ruột thân thích là thứ tôi trắng tay, một khung thành bỏ trống. Banh không lăn, cỏ rậm, người trọng tài đánh mất một tiếng còi. Sân chơi vắng lặng bóng cầu thủ, hậu vệ là người đã cởi áo phơi khô. Rũ bỏ, giải nghệ, cởi giày. Dường như nghe oải đường chuyền bóng lăn. Việt vị tôi đã đặt chân, tỉ số không mở quay lưng thua buồn! 

Nghĩ tình xưa người tiễn đưa, phi trường bữa nọ chia tay diễn tuồng. Tôi xa xứ biết bao lần, mà ngày hôm ấy mưa dầm xót xa. Đối đáp đi đường bình an. Cho mình địa chỉ email. Không có, người nói, máy cháy ổ cứng hay vi trùng thâm nhập, mang đi sửa nghe lời mỉa mai: Cô quẳng nó đi đừng tiếc thương, sắm một cái mới cho le lói kẻo chúng bạn cười. Tôi cực lòng quá đỗi khi biết mình muôn đời chẳng phải khúc ruột ngàn dặm. Việt kiều kiểu gì kỳ khôi vậy cha nội! Đi đường dài mà chẳng có xu nhớt lận lưng. “Tôi xin người cứ gian dối, cho tôi tưởng người cũng yêu tôi…”. Không, nghe thề này, nói láo cho bà vật, mình sẽ về thăm lại hồi nào đi đứng thật bình thường, sẽ giắt một cục tiền sau đít, tha hồ cho bạn đi lựa chọn mua sắm những máy vi tính hàng hiệu. Và rồi mình lên sửa sang ngôi mộ mẹ hiền, thay tấm bia viết đúng chính tả cho khỏi mất mặt bốn ngàn năm văn hiến. 

Tôi về thăm người như dự định qua nhiều thăng trầm toan tính, chuyện nhỏ. Lạ, sao lần này trong bụng mãi đánh lô tô. Sài Gòn chưa đòi lại tên nằm chòng chành chao đảo dưới chân thấy ngứa. Khét rẹt bánh xe cao su cắn đường băng phi đạo bàng hoàng. Người từ Huế vào Sài Gòn hôm qua để rộng lòng tở mở đón đứa hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Tui mặc áo màu xanh hệt như phong thư tình ngày cũ, người dặn, cho bồ dễ thấy. 

Chưa thấy màu áo em thì ngó ra màu vàng ám nơi thân xác hai trự an ninh cửa khẩu. Họ dòm ảnh chụp trong passport, họ đánh vần tên họ, đối chiếu vào tờ giấy cầm tay xong rà trong màn hình điện toán. Cuối mọi công đoạn, hắng giọng trầm: Đất nước nầy không hoan nghênh anh đặt chân ghé thăm. Gia hạn cho anh trong vòng 24 giờ, xem như một ngày quá cảnh, anh nên tìm đường thiên di quy gốc đến. Nửa tiếng nữa có chuyến bay sang Sing đấy, chốn đó đất sạch người đẹp nhưng không văn minh như ta. 

Tôi về không thấy mặt người, mình là dân Việt đâm lười nghĩ suy. Vĩnh biệt người đang kề tuy, nhiên cách biệt hơn biên thuỳ khốn nạn. 

Hồ Đình Nghiêm