“Sữa”!

baotreonline.com

April 14th, 2023

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 23 Jan 2024

Cà phê vợt – nguồn sài gòn tiếp thị 

Hồi xưa sáng sớm, chừng 4, 5 giờ, trời chưa sáng bửng, thầy thông (phán), thầy ký, mấy ông làm công chức hay ra tiệm nước (tiếng Quảng Ðông gọi là “chà thỏi”) đầu đường ngay ở ngã tư đông ông đi qua, bà đi lại để “dẩm chà” (tức uống trà). Uống trà còn có nghĩa là ăn điểm tâm trước khi đi làm việc. Tàu khoái uống trà; Tây khoái uống cà phê (café). Người Việt khoái cả hai. Uống cà phê trước; uống trà sau. Cà phê tốn tiền; trà miễn phí; nhứt là trà ‘Thái Ðức’ (xin bà con đừng nói lái nhe!)

Ra tiệm nước, tía tui ăn mặc bảnh tỏn lắm. Áo bỏ vô quần, mang giày. Tóc của tía quăn dợn tự nhiên, rẽ đường ngôi bảy ba, xức ‘bi-ăng-tin’ (brilliantine) bóng lưỡng con ruồi đậu còn phải chống gậy kẻo té.

Ăn thì có mì, hủ tiếu, bánh bao, há cảo, xíu mại…Uống thì một ly xây chừng, (cà phê đen nhỏ) hay tài chừng (cà phê đen lớn). Phé nại (cà phê sữa) hoặc ‘bạt xửu’, ‘bạt xỉu’, ‘bạt xẩy’, nhiều sữa ít cà phê.

o O o

Còn trọng tài đá banh ‘xây phé nại’ là trọng tài không công bằng; vì thằng chả có uống ‘xây phé nại’ của đội bên kia nên xử ép đội của mình.

Ngoài ra còn có tiếng lóng nữa. Sữa nước sôi thì ‘hoảnh sủi nại’, là ‘len chẩy’ (anh đẹp trai). Cà phê đen là ‘hắc quẩy’ hắc xịt (hắc là đen như trong chữ dầu hắc). Melbourne xứ lạnh không thấy, chớ Miền Nam xứ nhiệt đới, xứ nóng hay uống cà phê đá là: ‘hắc quẩy sún lường’, nghĩa là anh Chà Và (đen) đi tắm.

Tiệm nước pha cà phê bằng cách cho cà phê bột (không phải cà phê Ban Mê Thuột nguyên chất đâu mà còn có trộn với một ít bột bắp, giá rẻ hơn, rang hơi khét khét) vào cái vợt may bằng vải xe lửa trắng đặt trong cái siêu đất (sau này là chiếc bình nhôm hoặc ‘inox’ có vòi).

Gọi là vải xe lửa vì nó từng được dùng lót các ghế hoặc treo trên các khung cửa sổ của chiếc xe lửa ngày xưa. Do nó mỏng nhẹ, thông thoáng, nước dễ thấm nhưng bền chắc.

Rót nước sôi vào dùng đũa quậy đều. Cầm cái siêu nghiêng miệng vòi chế cà phê vào ly trên mức chệt đẻo (vạch giữa ly) một chút thôi; đừng rót đầy quá, đổ! Ðặt ly cà phê lên dĩa, cho phổ ky (chạy bàn) bưng ra cho khách. Phổ ky quen tay có thể một tay bưng tới hai ly cà phê đi vù vù mà không đổ.

Ly cà phê phải có dĩa. Không phải chỉ làm đẹp mà vì đôi khi khách thích rót cà phê ra dĩa cho bớt nóng, rồi bưng dĩa lên húp.

Chúa Nhựt nghỉ làm, nhưng tía tui theo thói quen mỗi ngày vẫn ra tiệm nước ăn điểm tâm nhưng lần nầy có dắt tui theo.

Tương tự cha dẫn con đi ăn sáng, ông Bình Nguyên Lộc có kể: “Người cha kêu cà phê đen cho mình, nhưng kêu bằng thổ ngữ Quảng Ðông là ‘xây chừng’, nên thằng bé không hay biết. Chừng phổ ky đem món uống lại, nó mới nói: “Ba ơi, con muốn uống cà-phê như ba!”  “Ê, trẻ con không nên uống cà-phê”. Người cha vừa nói, vừa xé cái bánh tiêu, nhét xíu mại vào để làm nhưn, rồi trao cho con.

Thình lình, Kỳ ngây người ra: Chàng vừa thấy người cha gọi cho đứa bé cái ‘bạt xẩy’ tức cà phê ít có sữa nhiều.”

Rồi cũng theo Bình Nguyên Lộc, thời tiền chiến, các phổ ky trong tiệm nước Ba Tàu có kiểu kêu vào bếp bằng tiếng Quảng Ðông:

– Bàn số 3, bên Ðông, bà lùn, xây bạc xỉu!

Bàn số 4, bên Ðông, hủ tiếu không giá!

Bàn số 1, bên Tây, thêm bánh bao ngọt thằng nhỏ!

Bàn số 2, bên Tây, ông già râu, cà phê đen ly lớn, xíu mại to!

Tại sao cần phải xác định tọa độ bàn khách ngồi để làm chi? Ðể người trong bếp vốn biết rõ sở thích của từng vị khách quen mà pha cà phê cho đúng ý khách.

Phổ ky có óc hài hước thường đặt cho mỗi ông khách một cái tên thuộc loại ‘hỗn danh’ mà ông khách không biết mình đang bị thằng nhỏ chọc quê.

Khi khách ăn xong, phổ ky đếm dĩa, tô tính tiền. Khách lại quầy trả tiền thì phổ ky rao những câu hóm hỉnh, có vần có điệu như hát bằng tiếng Quảng như:

– Ông đầu hói mang khăn rằn, một đồng hai cắc.

– Bà Hai mập, ba đồng sáu cắc.

– Ông chủ ốm nón nỉ, tám đồng tư, hai bánh bao mang về.

Quảng cáo sản phẩm hãng Foremost trên vỏ hộp quẹt

Hồi đó, tía tui hút thuốc Melia vàng, ghiền cà phê nặng nên uống cà phê đen ít đường. Còn tui, là con nít, nên khoái ít cà phê nhiều sữa.

Tui khoái ‘Con Chim’ sữa đặc có đường của hãng Nestlé (Thụy Sĩ) đến Việt Nam vào năm 1916. Trên nhãn có in hình con chim. Chớ không phải sữa của con chim.

Sữa Kim Cương vì nhãn có in hình viên kim cương. Nghĩa là sữa nầy quý lắm, quý như kim cương. Chớ nó không phải là sữa của kiều nữ Kim Cương, con bà Bảy Nam, làm địch vận cho VC đâu nha.

Sữa Ông Thọ, Longevity, hãng Foremost. Ý muốn quảng cáo uống sữa ông Thọ sẽ sống thọ. Kêu sữa ông Thọ; chớ ông Thọ làm sao mà có sữa?

Sữa nầy của con “cow”, tức con bò cái, cô đặc lại, bỏ thêm đường rồi đóng lon đem đi bán tứ xứ, từ thành thị tới tuốt chợ xã, làng quê.

Hồi xưa, má kêu ra ông Mười Tiệm mua một lon sữa bò về để má pha ly cà phê sữa cho ba uống trước khi đi làm, pha bình sữa cho em bú tí. Uống hết sữa, lon dùng để đong gạo nấu cơm. Nấu một nồi cơm hai, ba lon gạo. Hoặc đem lon không ra sân tráng xi măng (ciment) trong xóm, trong hẻm để tạt lon. Hoặc làm xe đẩy bằng ống chỉ, lon sữa bò có đốt đèn cầy khi quay cháy lập lòe để chơi tối Trung Thu.

Rồi ca dao có câu: “Con tui khát sữa bú tay. Ai cho bú thép ngày rày mang ơn”.

Hồi nhỏ, má vắng nhà, đói bụng khóc thiếu điều lòi rún, anh bồng tui qua bà Ba Tèo xin cho bú thép. Tui cứ lắc lắc cái đầu không chịu. Chắc tui chê núm vú đen thui thấy gớm. Lớn lên, vợ vắng nhà, con tui khóc, bú thép, mầy dễ chịu chút đi, của ai cũng được mà. Vì sữa nầy cũng ngọt và ấm 37 độ rưỡi; bình sữa cũng đẹp cực kỳ của cô em hàng xóm.

ĐXT

Rừng đất khách bạt ngàn màu áo trận!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 23 Jan 2024

Trong chiến sử của loài người xưa giờ, dù là chiến tranh vệ quốc chống quân xâm lược hay cuộc nội chiến giữa những thế lực phong kiến để thâu tóm thiên hạ về một mối thì chịu biết bao đau thương thống khổ là toàn dân tộc, đa số là người dân thường không một tấc sắt trong tay.Dĩ nhiên người lính là người phải hi sinh nhiều nhứt! Hi sinh cả cuộc đời đang tuổi xuân phơi phới với biết bao nhiêu là ước vọng chưa thành bỗng chợt vỡ tan! Tàn chiến trận, có thể là “Anh về hòm gỗ cài hoa. Hay anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về bại tướng cụt chân!” Kế phải kể đến sự hi sinh của vợ con, cha mẹ, anh em hay người yêu của lính!

Hồi thời Trung học, chắc anh chị em mình đều có học những đoạn thơ não lòng trong Chinh Phụ Ngâm (Lời than vãn của người phụ nữ có chồng đi đánh trận), của Đặng Trần Côn, ra đời trong khoảng năm 1741. “Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi.Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề!”.

Trước đó khoảng ngàn năm, Trương Tịch (768-830) bên Tàu, cũng khóc thương cho người chinh phụ có chồng bỏ thây nơi chiến trận!

“Tháng chín Hung Nô giết biên tướng/ Quân Hán tiêu tan dưới Liêu Hà

Xương phơi muôn dặm không người nhặt/ Trăm họ đầu thành cất đám ma

Thân gái xưa nay nhớ chồng con/ Nghèo hèn có nhau, hả dạ hơn

Chồng chết chiến trường, con trong bụng/ Như ngọn nến ngày thiếp mỏi mòn!”

Trương Tịch cũng có một người anh ra trận, rồi thất tung, mất tích, không thấy trở về; không biết sống chết ra sao bằng những vần thơ đẫm đầy nước mất mà cả ngàn năm sau, mình đọc lại vẫn còn thấy bùi ngùi thương cảm!

“Đánh Nhục Chi theo quân năm trước/ Toàn đạo binh bị diệt trên thành

Hán, Phiên vắng bặt tin anh/ Cho dù sống chết cũng đành xa nhau

Màn trướng nát không ai thu lượm/ Ngựa trở về cờ phướn rách tan

Cúng anh, nghi vẫn sống còn/ Chân trời xa tắp, khóc trông quê nhà…”

***

Từ năm 1960, khi Mặt trận dân tộc giải phóng, tức VC được thành lập!

Cứ 4 năm một lần (trong kế hoạch ngũ niên), CS Bắc Việt và VC tay sai ở miền Nam lại bắt đầu những trận đánh lớn.

Năm 1964, trận Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả, những quận lỵ heo hút của miền Nam.

Năm 1968, 44 tỉnh thành trên toàn cõi VNCH bị CS, không từ một thủ đoạn đê hèn nào, bất ngờ tấn công; dù đã cam kết hưu chiến!

Gần trăm ngàn người bị giết! Máu chảy thành sông; thây phơi đầy nội xảy ra đúng 50 năm trước, tức đã nửa thế kỷ, một khoảng thời gian quá dài trong đời người mà cứ tưởng như nó mới vừa mới hôm qua vì tánh cách khốc liệt của nó.

Rồi cũng 4 năm sau, năm 1972, còn gọi là mùa hè đỏ lửa, Cộng quân dốc toàn lực tấn công vào Quảng Trị ở Quân khu Một, Kon Tum ở Quân khu Hai và Bình Long ở Quân khu Ba.

Người ta sanh ra không ai muốn mình cầm súng cả; mà chỉ muốn đất thanh bình ba trăm năm cũ. Nhưng không làm lính, không nẻo binh lửa cũng không được!

CS Bắc Việt, tuân lịnh quan thầy Nga Hoa, ồ ạt đưa quân tiến chiếm Miền Nam thì làm trai khi đất nước hưng vong thất phu hữu trách, giã nhà đeo bức chiến bào là để bảo vệ tổ quốc chớ đâu phải muốn làm anh hùng. Vì muốn hòa bình là phải chuẩn bị chiến tranh.

Từng lớp lớp thanh niên nối tiếp nhau lên đường ra mặt trận theo lịnh Tổng động viên của Bộ Quốc Phòng. Đang trên giảng đường đại học, năm thứ nhứt, năm thứ hai, chúng tôi xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của non sông.

“Quang Trung vào ai nỡ gọt đầu tôi?” Tóc cắt ngắn ba phân. Quân trang, quân dụng, hai chiếc thẻ bài, khắc họ tên, số quân và loại máu, đeo tòn teng trên cổ.

Rồi Chứng chỉ tại ngũ. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Bộ Quốc Phòng.  Số… Họ và Tên. Cấp bậc. Số quân.  Đơn vị. KBC (Khu Bưu Chính của đơn vị)

Thẻ căn cước quân nhân, cũng y như vậy, nhưng có hình chụp chân dung, được bọc nhựa. Sau nầy mất nước, nhà thơ Cao Tần di tản qua Hoa Kỳ năm 1975, vẫn còn cảm khái bằng những lời thơ trác tuyệt:

“Trong ví ta này chứng chỉ tại ngũ/ Mất nước rồi còn hiệu lực hơi lâu?

Chiều lưu lạc chợt thương tờ giấy cũ/ Tái tê cười: giờ gia hạn nơi đâu?”

“Trong ví ta này một thẻ căn cước/ Hình chụp ngây ngô rất mực cù lần!

…Tên chụp hình làm ta xấu như ma /Thằng khốn nạn làm sao mà nó biết? Ta sẽ thành dân mất nước tan nhà!

Hình căn cước anh nào mà chẳng xấu/ Tên chụp hình như một lão tiên tri

Triệu mặt ngây ngô bàng hoàng xớn xác/ Cùng đến một ngày gẫy đổ phân ly

…Ngàn lẫm liệt tan trong chiều rã ngũ/ Muôn anh hùng phút chốc hóa lang thang!”

Nhà thơ Cao Tần may mắn vượt thoát trong những ngày VNCH hấp hối; còn những người, đồng đội, đồng ngũ bạn lính của ông, còn kẹt lại phải đi tù CS.

“Có thằng bạn nào tàn đời học tập/ Cõng gông xiềng lê lết một thân đau!

Còn kiên cường sống sót ra tù CS rồi tìm đường vượt biển! Đau đớn thay lại bỏ mình trong cơn sóng dữ!

“Này biển chiều sóng xô ào lớp lớp/ Những tiếng đời tan nát khóc thương nhau…”

Bọn chúng tôi là lớp ‘Mùa hè đỏ lửa’! Gần 800 đứa từ giảng đường đại học vào Tiểu đoàn 2 của Trường Bộ Binh Thủ Đức, tháng Tám, năm 1972, khóa 4/72/SQTB TĐ.

Ngày 27, tháng Giêng, năm 1973, các SVSQ tiểu đoàn 2 đi chiến dịch Hiệp định Paris. Mỗi đợt 2 tháng, sau 4 tháng, trở về trường Bộ Binh, ra Vũ đình trường làm lễ mãn khóa! “Quỳ xuống các Sinh viên Sĩ quan! Xin thề! Đứng dậy các tân Sĩ quan!”

“Ân tình theo gót chân, bọn đi xa đánh trận, gặp gỡ trong cơn lốc!

Xưng tao gọi mày thương quá gần. Bốn vùng mang lưu luyến bước bâng khuâng của vạn người thân!”

Thế hệ thanh niên miền Nam Việt Nam mình, trong đó có chúng tôi, sanh từ 1945 đến 1955, thời điểm ác liệt nhứt của cuộc chiến tranh bởi CS Bắc Việt xâm lược miền Nam nên thế hệ nầy hi sinh nhiều hơn hết thảy.

Cuộc chiến tranh đã tàn gần 43 năm qua! Thân phận là lính; chúng ta không ai đem thành bại để luận anh hùng!

Ra Footscray, Melbourne, Victoria, Úc Châu thảng hoặc gặp bất cứ ông nào đầu bạc, muối nhiều hơn tiêu, những nếp nhăn hằn trên trán, đôi mắt màu khói như còn vương lửa của chiến trường thì chắc chắn rằng họ đã có một thời giầy sô, áo trận đó thôi!

Chiều cuối năm, rừng đất khách bạt ngàn màu áo trận. Nhưng Tiểu đoàn 2 năm xưa đó, nằm gần Khu Gia Binh Thiết Giáp, tuyến B, gồm 4 đại đội gom lại chỉ còn được có 5 thằng lưu lạc tới tận phương trời nầy!

Nguyễn Văn Rạng (222), Trinh sát Dù; Nguyễn Văn Luyến (231), Thiết Giáp;

Phùng Ngọc Thái (224), Thiết Giáp; Trương Ngọc Đông (242), ông Địa, Mộc Hóa, Kiến Tường và Đoàn Xuân Thu (242).

(Sydney cũng được vài ba đứa: Đặng Hữu Hiếu (242), Nguyên (223), Địa phương quân ; Thanh (224); Há (223), Không quân; Lại văn Bính, Thủy Quân Lục Chiến và Nguyễn Bằng Dương, Sư đoàn 23!)

Chúng tôi như những mũi tên đã bật ra khỏi cánh cung, bay khắp bốn phương trời.

Những địa danh trường cũ tưởng chừng như đã mù khơi trong tiềm thức bỗng chợt về lay động cánh rừng xưa.

Nào đồi Tăng Nhơn Phú, Vũ đình trường, Trung Nghĩa đài, Cổng số 9, sân bắn Long Thạnh Mỹ, cầu Bến Nọc.

Nào bãi Nhà sập, đồi 31, (đêm ngóng về Sài Gòn quầng sáng phía xa xa), đồi Bác sỹ Tín (ngang nghĩa trang Quân đội Biên Hòa).

Rồi đêm hành quân dã trại, (để từ Tân Khóa sinh để sáng hôm sau thành Sinh viên sĩ quan) trời đổ trận mưa to, trùm poncho kín mít nhưng giày sô sũng nước. Về tới doanh trại, cởi giày, cởi vớ ra, thay quần áo lính ngồi hút thuốc với bạn bè… Ôi nó đã biết làm sao đâu?!

Giờ đây, trên bàn rượu chỉ vỏn vẹn năm thằng nhưng có tới 6 cái ly. Ly thứ sáu dành cho những thằng bạn lính đã không về được nữa vì đã ngã xuống chiến trường năm ấy!

Rót đầy ly rượu, chuyền tay nhau, người một hớp để uống cùng những oan hồn tử sĩ còn tức tưởi đâu đây.

Nầy Khôn ngã xuống ở Cái Côn, quận Phong Thuận. Nầy Tuấn chuyển qua Cảnh sát, mang ngay lon Thiếu úy, làm trưởng cuộc, ngã xuống ở quận Thuận Nhơn, tỉnh Phong Dinh… Rồi Lưu, rồi Đa… và nhiều nhiều nữa!

Tôi nhớ Nguyễn Quang Mẫn, cùng trung đội 242, gốc cố đô Huế, 18 tuổi, vừa đậu Tú tài Một là tình nguyện vào Thủ Đức.

Ngày mãn khóa Thủ Đức, Mẫn tình nguyện về Biệt Cách 81 Dù. Chỉ đi lính trong vòng chưa tới 3 năm mà Nguyễn Quang Mẫn từ chuẩn úy sữa đã lên tới đại úy; vì lập được nhiều công trạng được đơn vị đưa về lại trường Bộ Binh để học khóa Tham mưu Trung cấp.

Sau 75, tù CS, Mẫn giựt súng của bọn vệ binh, toan vượt trại nhưng bị bắn chết! Đúng là một anh hùng!

“Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm/ Mộ bia kín trong nghĩa địa buồn

Bạn anh đó đang say ngủ yên/ Xin cám ơn, xin cám ơn người nằm xuống!”

Lũ chúng tôi, người lính thuở ấy, đã từng mơ ước: “Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn… Xin trả lại đây, bỏ lại đây thép gai giăng với lũy hào sâu/ Lỗ châu mai với những địa lôi, đã bao phen máu anh tuôn…”

Trả súng đạn này khi sạch nợ sông núi rồi? Anh trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất năm nao! Thiên đường này mơ ước bao lâu?”

Nhưng mộng đẹp đã tan tành theo vận nước. “Mơ thấy cả một quê hương đổ vỡ/ Mình lên đường ngơ ngẩn, lang thang!”

Chỉ mong là: “Hãy đem hết những đổi đời tan tác/ Gói giùm vào cơn mộng dữ đêm qua”.

Chiều cuối năm quê người. Đứa nào cũng tha hương vì mất nước đều tự hỏi:

“Hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm/ Mày lang thang đất lạ đến bao giờ?”

***

Sân trước cửa nhà tôi, em yêu có trồng một cây bông giấy. Mùa hè hoa nở đỏ cả một góc sân vườn, gợi tình quê tha thiết!

“Này cây bông giấy bên rào năm xưa…/ Chẳng qua trời đổ cơn mưa/ Thì thương cành mọn đong đưa một mình!”

Đời chúng tôi, những người lính của mùa hè đỏ lửa năm đó, chìm trong màu lửa, màu máu như màu bông giấy quê nhà trong tiềm thức còn vương vấn đến màu bông giấy của quê người!

Quê người chiều cuối năm! Những người lính thất trận, mất nước, rồi mất cả quê hương buồn lắm phải không?

Năm thằng mặc đồ dân sự, ngồi uống rượu quê người nhưng trong tâm cảm đứa nào cũng còn là lính.

Chỉ mong ước là “Ôi! Xóm xưa ơi, khi nào đổi kiếp? Ta về thành chim hót trước hiên nhà!”

đoàn xuân thu.

melbourne.

Thư đen

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 2 July 2021

Post by Sơn râu 23 Jan 2024

Tôi đến chỗ làm lúc bảy giờ thiếu năm phút. Tôi đứng hút thuốc, dựa lưng vào tấm bảng đồng khắc nổi hàng chữ “Roberto & Son”. Con đường lát gạch lồi lõm chưa ăn nắng và đám khói đằng nhà máy tái sinh giấy cũ giạt bay như một đám mây mờ đục.

  Tôi chào trả với người đàn bà dắt chó đi dạo sớm mai. Bonjour. Con chó không lớn, nhiều lông và cổ thắt nơ đỏ trông như thứ đồ chơi lên giây thiều. Nó nhìn tôi, vẫy đuôi, có vẻ mừng vui như gặp phải đồng loại và sau cùng thì vội vã chạy tới bên một cột sắt rướn thân làm công việc đại tiện. Người đàn bà moi ở túi áo ra một cái bao ny-lông, sột soạt đưa lên vẫy chào tôi trước khi khom mình thu nhặt đống phân. Bà làm từ tốn, cẩn trọng, vén khéo, như một công nhân nhiều kinh nghiệm lao động ở cửa hàng sản xuất kẹo cà-phê. Tôi nhìn lên tấm bảng cấm đậu xe và tự hỏi thành phố này có treo bảng “Cấm phóng uế- Cấm đái” như ở đất nước giàu mạnh của tôi? Cái xứ sở mà chó mỗi lúc một khan hiếm, chẳng có đất sống, chui vào mồm những thằng thú vật hai chân. Bụng tôi có hơi đau khi nhát thấy Henry xuất hiện. Cặp da ở tay này và tay kia xách túi vải có in chữ lunch bên ngoài. Henry cỡ tuổi tôi, quyền hành thấp thua chủ chút đỉnh, mặt cau có, ít khi thấy hắn vui đùa bông lơn.

– Trời đẹp quá phải không? Mày đợi chờ ai đây?

– Tôi chờ ông.

  Tiếng hú của xe cảnh sát hay xe cứu thương từ đâu chợt ré lên từng hồi, thảng thốt, bất an.

– Chuyện gì vậy?

  Mặt trời lên ở sau đỉnh nhọn tòa nhà ngân hàng thành phố, vàng rực rỡ trên những ô kính láng bóng.

– Tôi nghỉ làm hôm nay… Má tôi đau nặng…

  Henry nhìn vào mặt tôi như tìm kiếm một điều gì.

– Vào nhà thương bây giờ hay sao đây?

– Phải.

– Đi đi. Chuyện bất khả kháng phải không? Mai hẳn trở lại làm.

  Henry vỗ vai tôi. Khuôn mặt tôi chắc lộ ra nhiều nét khổ đau?

– Bà cụ lớn tuổi chưa?

  Tôi nói đại một con số. Năm mươi. Bậy thật! Nói sáu mươi thì nghe hợp lẽ hơn không? Năm mươi? Cuộc đời còn dài, sao vội đi dưỡng thương?

– Mong là mọi thứ được suông sẻ.

– Cám ơn.

  Tôi cúi đầu bước đi, ở cái lối mà tôi tin là sẽ chẳng phải đụng mặt một đứa công nhân nào khác. Má tôi chết đã lâu, hồi còn ở bên kia đại dương Và giờ này tôi đã khuấy quên bà hiện diện được bao lâu trên cuộc đời. Hưởng dương? Hưởng thọ? Má tôi chết vì bệnh gan, nhưng phiền muộn nhiều thì nó cũng có thể vật ngã một người đang khoẻ mạnh. Ba tôi có vợ bé, má tôi khám phá được chuyện vụng trộm kia và bà không mất hồn mất viá cũng uổng!

  Tôi lấy métro đi xuôi về hướng trung tâm thành phố. Sáu trạm cả thảy, không xa xôi gì nhưng khi trồi đầu bước lên mặt đường, tôi có cảm tưởng như mình vừa đặt chân vào một thành phố khác với tất cả sự dằn xóc của chuyến xe vừa lên đèo xuống núi. Đầu tôi có hơi nặng, trì trệ và tôi đứng định hướng khá lâu. Khi tìm ra quán cà-phê, Tưởng đã ngồi sẵn ở đó rồi. Má hắn còn sống và  trông hắn lúc nào cũng đỏ da thắm thịt.

– Xin nghỉ nguyên ngày luôn hay sao? Hắn hỏi.

– Ừ. Nguyên ngày.

  Tôi ngồi xuống chiếc ghế nhựa, ở vỉa hè. Tấm bạt căng trên đầu còn lưu giữ một phần bóng tối mà bình minh chưa xua đi nổi. Chiếc ghế nhẹ, đứng chông chênh trên nền xi-măng tráng có hơi nghiêng. Tôi nghĩ tới những điều dối trá mà người ta phải ngụy tạo khi có chuyện cần. Sự dửng dưng khi đó và lòng dấy lên chút thỏa mãn về tài đóng kịch của mình.

– Ông làm ở đó lâu chưa nhỉ?

– Bốn năm.

  Tôi trả lời Tưởng. Nói lên một con số mà chính tôi cũng ngờ vực về mức độ chính xác. Hy vọng đúng. Khoảng đó, không lâu hơn được. Những cổ máy ở đấy hằng năm còn phải tu sửa huống gì con người, chịu đời chi thấu! Bốn năm. Lương mỗi năm được tăng thưởng cho thêm hai mươi xu. Thứ “dầu mỡ” đó chẳng đáng gì với một đầu óc lâu lâu tự biết kiểm thảo bản thân. Mồ hôi đổ ra trong khoảng thời gian dài ấy có thể ví như chó nghiêng chân đái rầm rộ một trộ. Không đùa. Thật khiếm đảm!

– Tại sao ông hỏi vậy?

  Tưởng nhìn cô bồi bàn đang bày thêm bàn ghế ra ngoài trời:

– Để biết là khi đó ông đã thành hôn với Hân chưa?

  Người bồi bàn tiến lại gần. Cô chít băng-đô đen, tóc vàng mịn, vầng trán cao, mặt thanh thoát và có vẻ học thức. Chắc cô chỉ làm bán thời gian cho quán Van Houtte này.  Khuôn viên đại học có lẽ là chỗ đứng thích hợp với cô hơn.

– Ông dùng gì?

– Cà-phê đen, loại pha đậm, xin vui lòng.

  Tôi nói trong khi nhìn tách cà phê sữa đặt trước mặt Tưởng. Hắn thắp thuốc, hắn thở khói:

– Tôi suy nghĩ nhiều. Mình có rảnh việc không? Mình có nhiều chuyện không? Nhưng sau cùng, vì tình bạn, tôi thấy khó chịu và quyết định làm chuyện này giúp ông.

  Tưởng phát biểu cảm tưởng. Có vẻ ái ngại và tôi nghĩ lý ra kẻ bối rối phải là tôi thì trông hợp tình hơn. Tôi nhìn sâu vào trong quán. Những ngọn đèn vàng, bóng tròn, buông xuống lưng chừng trên mỗi vuông bàn. Nó không sáng lắm, nhưng nhìn lâu, mắt tôi hoa lên.

– Ông nghĩ gì?

– Tôi nghĩ trước sau ông vẫn là người bạn tốt.

  Tôi trả lời và tôi tự đo lường mức thành thật có trong câu nói.

  Cô gái đi ra, lùa theo chân bước là mùi thơm của tất cả những loại cà-phê rang chín quyện lẫn trong sự chuyển dịch ấy. Nếu là tình nhân, tôi sẽ nói với cô: Cà-phê trên thế gian không ngon bằng đôi môi em. Cô đặt từ tốn tách cà-phê xuống bàn cho tôi. Mặt nước đen sóng sánh và kề cận là đôi môi tô vén khéo màu son hồng. Hân dùng son môi hiệu Shishedo, khi thì Lancôme, lúc khác lại thấy Dior. Tôi không hiểu được sự thay đổi ấy, trong khi đôi môi Hân trước sau vẫn thốt lên một chữ “Bye” mỗi sáng tiễn tôi bước ra khỏi nhà.. Thủy chung, không nhiều lời. Chẳng sáng tạo thêm thắt chữ gì khác. Khô khan.

  Tách cà-phê nóng, ngon, đậm đà. Tôi nhớ hình ảnh Má tôi ngày xưa vẫn luôn cúi mặt xuống tách trà vừa pha, để cho khói xông thẳng vào đôi mắt mở lớn. Làm vậy để được gì? Tôi không biết. Bà nói với tôi: Con muốn có đôi mắt đẹp thì cắt hộ má đống hành kia. Tôi kể cho Hân nghe chuyện đó với một phụ chú: Lúc nhỏ anh là đứa khóc nhiều.

– Đây, chỉ có hai tấm ảnh này là rõ nhất.

  Tưởng nói khi tôi vừa đặt tách xuống dĩa. Chùi tay vào quần, tôi đón lấy cái “món quà” mà Tưởng hứa sẽ trao. Nó xa xỉ, nó tốn kém thời giờ. Nó làm Tưởng mệt mỏi và nó có thể làm đổ vỡ tan hoang tất cả những thứ mà người ta kiểu cách gọi là lâu đài tình ái. Tôi nhắm mắt giây lâu, nghĩ là hãy cố giữ sự bình thản tối thiểu trước mặt Tưởng. Hắn điện thoại cho tôi và hắn lập ngôn: Cái gì cũng vậy, nói có sách mách có chứng, vấn đề là ông có chịu đựng nổi không.

  Tôi mở mắt nhìn xuống. Đôi nhân tình ôm eo nhau đứng đợi đèn lưu thông chuyển màu ở một ngã tư đông đúc xe cộ. Đôi tình nhân nhắm mắt hôn nhau ở bên một quầy hàng bán hoa tươi. Hai tấm ảnh có hiện rõ ngày tháng ở bên dưới và khoảng cách sai biệt là ba hôm. Một tấm chụp Hân mặc áo xanh. Tấm kia thì áo trắng khoét rộng cổ. Tôi nhìn gã đàn ông trong hình. Cao ráo, chải chuốt, bảnh trai. Và nói tóm hắn có cái vẻ gì đó khó nhìn.

– Hắn là kỹ sư làm ở công ty điện lực thành phố. Ngồi ở đây ông có thể thấy cái cao ốc đó, cách chỗ Hân làm chỉ một block.

  Tôi lật úp hai tấm ảnh vào nhau rồi đặt xuống bàn. Tôi đốt một điếu thuốc, cố tập trung ý nghĩ.

– Ông xin nghỉ việc nguyên ngày phải không? Nếu muốn, trưa nay tôi dắt ông vào cái quán ăn mà hai người thường hẹn hò.

– Để làm gì? Để ăn trưa hay sao?

  Tưởng thở khói thuốc vào mặt tôi:

– Tôi vẫn ngỡ là ông muốn nhìn thấy thái độ của Hân khi đó.

– Tôi không muốn. Ông thì sao? Ông dằn lòng được trước cái cảnh ngộ kỳ cục ấy không? Nó khó xử quá. Cho bản thân ông và luôn cả vợ ông. Thật bẻ bàng!

  Tưởng cười khan trong cổ. Tiếng cười có thể diễn dịch ra ba chữ: Hết ý kiến.

– Vậy chứ ông tính sao?

– Tôi không biết. Có lẽ cái tôi mong muốn giờ này là sự tỉnh táo. Ông uống thêm cà-phê không?

  Tưởng đứng lên:

– Không. Tôi đi làm bây giờ.

– Cám ơn ông đã bỏ công sức trong mấy ngày qua..

– Nếu còn cần gì ở tôi thì hãy gọi điện thoại và nhớ là đừng làm chuyện dại dột.

  Dại dột. Tôi lập lại chữ đó trong đầu. Thật là khôi hài. Tôi nhớ lại ngày vượt biển, ngồi trên ghe giữa phong ba, đầu óc tôi cũng đã từng lập lui lập tới hàng trăm lần: A di đà Phật cứu khổ cứu nạn. Sau đó tôi tới bến bờ tự do trong bình yên và nghĩ lại thấy con người đôi khi phải dại dột liều thân ra đi kiểu đó. Không dại dột không yên thân với bọn bất nhân.

  Tưởng vỗ vào vai tôi trước khi bỏ đi. Sáng nay thằng Henry cũng vỗ về y hệt và hắn mong cho tôi được suông sẻ mọi chuyện. Tôi gọi thêm cốc cà-phê để nhâm nhi, tự nhủ lòng, mình đang là kẻ hạnh phúc, hiểu theo nghĩa tôi đang thảnh thơi trọn ngày mà chẳng phải đứng vật lộn với cổ máy gây nhiều tiếng động. Một ngày nào đó tôi sẽ bị lãng tai vì nó, và về già tôi sẽ bút đàm với Hân để cô khỏi khô hơi rát cổ. Nghĩ cũng có cái thích thú. Bởi lẽ, có những điều mình sẽ ngượng mồm biết bao khi nói ra. Viết thì dễ hơn, thoăn thoắt; đại loại như: Con bà mày, đồ phản bội theo trai… Chữ viết của tôi ai cũng bảo là chững chạc, cứng cáp, rồng bay phượng múa; đẹp hơn chữ của bác sĩ cả ngàn lần.

  Nắng xâm thực vào chỗ tôi ngồi. Người bồi bàn thay cho tôi cái gạt tàn thuốc mới và cô bắt đầu trương những cây dù ra, trên những chỗ ngồi trống vắng khách. Tôi theo dõi mọi động tác của cô rồi vô tình ngó thấy chiếc áo cô mặc để hở hai hạt nút trên cùng. Tôi nhìn lại tấm ảnh Hân mặc áo rộng cổ, nếu Hân khom mình cúi xuống, có lẽ thằng đàn ông kia sẽ thấy thấu suốt những gì có ở bên trong. Ngực tôi hơi đau, thứ râm ran khác thường, chẳng giống như đang ôm một kiện hàng nặng bá thở đi từ xe tải lạng quạng chất đống vào kho. Thằng Henry có một nhận xét mà tôi không mấy tin: Người Việt tụi mày làm việc cần cù và giỏi chịu đựng! Giỏi chịu đựng? Thì cũng tới một chừng mực nào đó thôi. Dồn chó vào chân tường thì e câu chuyện sẽ tới hồi gay cấn. Tin không?

  Tôi chào cô bồi bàn mặc áo hở ngực khi bước ra đường. Nếu được ôm cô ta vào lòng để hôn say đắm, Hân nhìn thấy và liệu Hân có lồng lộn ghen tuông? Tôi chui xuống métro, đứng đợi chuyến tàu sẽ tới với điệu bộ của một kẻ vô gia cư. Khi người ta không có cho mình một chỗ trú thân, có lẽ người ta sẽ hoang mang về một đích đến. Tôi muốn trở về nhà ngủ một giấc nhưng chăn nệm mền gối bừa bộn ở đó làm tôi ngại ngần. Nó là thứ hình ảnh dễ dẫn dắt trí tưởng người ta đi xông xáo tới một bến bờ tồi tệ cùng cực. Những cọc nhọn trơ ra dưới thủy triều nước rút.

  Đường hầm đầy gió, cuốn theo nó là tiếng động u u và rồi thì hơi nóng bỏng rát chạy vụt qua. Tôi bước vào thân tàu điện, con rắn khổng lồ này chuyên chở hơn cả triệu hành khách tất bật đi về mỗi ngày. Nó xâm xoàng cảm mạo, cả triệu sinh linh kia sẽ xớn xác túa ra đường, hoảng loạn tìm cách tới chỗ làm như thể đang chạy giặc với cái miệng léo nhéo chửi rủa: Đồ ác đức bất nhơn! Một ngày nào đó, bọn khủng bố sẽ mang bom đi dạo chơi dưới ấy. Bạn làm gì nếu vấn nạn thực sự xảy ra? Câu hỏi được dân chúng nêu lên và trăm câu trả lời từ phiá thẩm quyền chưa hề làm an lòng một ai. Người dùng phương tiện di chuyển công cọng chỉ biết thốt một chữ. Và chữ ấy tôi cho là đúng đắn nhất, hay ho nhất: Fuck. Chữ dở tệ là chữ: Oh,my God!

  Lạy Chúa tôi! Sao giờ này rồi mà métro vẫn đông người thế? Đồ cái thứ chây lười lao động. Một ông già ngưng đọc tờ nhật báo trải rộng để phóng đôi mắt đục lên. Sau cùng ông thu xếp mọi thứ lỉnh kỉnh để nhường chiếc ghế trống cho tôi. Người ông ta hôi khai, tệ hại thua một đứa trẻ con không làm chủ được cái vòi phun nước của mình. Tôi nhớ tới bố của Hân, đã lâu tôi chưa có dịp gặp lại ông. Cái lão già mà ngày xưa luôn treo tấm bảng “Coi chừng chó dữ” trước nhà, ông tạo ra đủ thứ chiến tuyến kiên cường mà tôi buộc phải đánh thắng để lấy được con gái ông. Thời trai trẻ, ông có địa vị và dưới mắt ông tôi là thứ không đáng để ông ngó tới, dù chỉ nửa con mắt. “Mày biết thơ văn không?” Ông hỏi. “Chút chút” Tôi thành thật khai báo. “Nếu biết rằng em đã có chồng. Mày nhớ câu sau là gì không?” Tôi gãi đầu: “Em ơi đừng tưởng thế là xong!”. Được lắm. Vô nhà đi. Hân ơi, có cậu nào tìm mày đây này. Hân xuất hiện, cô la toáng lên: “Kỳ cục, bố chả biết gì ráo! Nguyên văn của người ta là: Nếu biết rằng em đã có chồng. Trời ơi người ấy có buồn không?…”. Ông gạt ngang: “Câu mày diễn ngâm chẳng thể sánh với câu kia được. Phải biết hăm dọa chứ. Buồn làm đếch gì?”

  Tôi  ngồi khoảng mười phút thì xuống trạm Victoria, nơi có đặt trụ sở sinh hoạt hội cao niên. Sáng sớm, ông đã ngồi ở đó, bên tách trà, trước mặt là bàn cờ tướng gần tàn quân với một mái đầu bạc khác làm đối thủ. Tôi nhìn xuống vuông cờ có hàng chữ “Hạ thủ bất hoàn” kẻ giữa biên giới hai nước xanh đỏ. Bố của Hân không để ý tới sự hiện diện của tôi, mọi chú tâm ông đã dành cho ván cờ đang tới hồi bị vây kín. Có thể ông băn khoăn chẳng biết sẽ lên con sĩ hay kéo con xe về án ngữ bên hông. Con pháo của ông đứng ở một vị trí lý ra không nên đóng trụ ở đó. Tưởng nói với tôi: “Moa là người ngoài nên sáng suốt hơn toa, kẻ ở trong cuộc”. Bố của Hân không sáng suốt bằng tôi là chuyện đương nhiên. Ông đi hỏng một nước cờ để đổi lại được giọng cười rộn ràng của đối phương. “Chiếu. Đã chịu thua chưa?” Nếu tôi lâm trận, có lẽ tôi cũng chẳng thay đổi được cục diện. Mọi chuyện đã trễ mất rồi. Câu nói còn nước còn tát e không áp dụng được trong trường hợp này.

– Bố rút con pháo về đứng ở đây thì chưa hẳn đã thua.

– Khỉ, sao không nói sớm!

  Ông nhìn lên tôi và chẳng hề thắc mắc vì sao tôi lại đứng ở sau lưng ông vào giờ phút đó.

– Cậu này là con ông đấy à?

– Phải. Con rể. Kiếm bố có chuyện gì?

– Lâu lâu cũng nên tạt ngang rũ bố đi ăn trưa.

– Cậu này mặt mày ngó đàng hoàng hiếu thảo hơn mấy đứa con tôi.

  Ông già lạ mặt nhận xét, dù ông không ngó tôi phút giây nào cả. Có lẽ ai rũ mình đi ăn, kẻ đó đích thực là đứa có bộ mặt đàng hoàng đẹp trai. Ông đang dàn quân ra, đầy đủ quân số để gây chiến một trận khác. Bố của Hân cũng thế, những con cờ đặt lóc cóc xuống lại vị trí ban đầu của nó.

– Bố chưa đói. Phải gỡ hòa ván nầy mới tính được.

– Ông xuất quân đi.

  Bố của Hân kéo cổ pháo vào giữa:

– Dạo nầy con Hân nó ra sao? Giời ạ, nó đi đâu biệt tăm cả tháng nay?

  Nếu tôi đưa hai tấm ảnh ra cho ông xem giờ này, hẳn ông sẽ phát biểu: “Sao ở chốn công cộng mà chúng mày giở trò tình tứ kiểu văn minh Tây phương đồi trụy thế hở!” Tôi đứng yên, lòng nhủ thầm chẳng biết tuổi thọ của mình có bằng hai khứa lão này không?

– Nó hứa hẹn hôm nào nhà cửa rộng rãi khang trang sẽ thỉnh bố mẹ về ở cho vui. Mẹ chúng mầy đoán già đoán non, không khéo mà cái Hân nó có chửa ông ạ! Có tôi bên lưng, chỉ bày kinh nghiệm đẻ đái để được mẹ tròn con vuông … Coi, để tôi đập con chốt này xem sao.

  Ván cờ khởi đầu thường chẳng có gì hứng thú để xem. Tôi đi loanh quanh trong trụ sở vắng lạnh. Đèn néon thắp màu sáng xanh, vách treo đầy những tấm bảng, dán đầy những tấm hình chụp qúy vị bô lão có chú thích bên dưới: Sinh hoạt trại hè…Làm việc từ thiện công quả ở chùa… Đi du ngoạn Ngũ đại hồ… Tham quan nhà thờ nổi tiếng bắc Mỹ… Dọc theo bờ tường là những bản tin ghim đầy tựa như bích báo. Có tờ cong queo vàng úa của ba bốn năm trước, có tờ nặng nề mang một nội dung nửa trịnh trọng nửa ngô nghê nằm dưới chữ thông cáo. Không ai thấy, tôi gỡ xuống được ba vuông giấy. Tôi đi lại góc phòng, nơi đặt cái máy photocopy. Tôi xé nhỏ những chữ cần thiết, chắp vá và xếp đặt chúng vào máy. Photocopy ở đây giá rẻ hơn bên ngoài, chỉ năm xu cho mỗi lần sử dụng. Bấm nút, tôi nôn nóng đợi chờ thành quả, rồi tờ giấy sẽ được máy nhã ra.

– Ông cứ đập con mã đó đi, bất quá thì tôi thí cờ thôi. Ngựa đổi pháo cũng chẳng hề chi.

– Để xem, tôi đập con ngựa. Xe ông ăn qua. Tôi bỏ đây chiếu, rồi ông tính sao?

– Chả tính gì cả. Ông thua ván cờ này nữa chứ không khỏi. Nói năng chi lôi thôi.

– Ủa, chớ đi đâu thế?

– Con sẽ trở lại. Bố cứ xơi con ngựa ấy đi, nó đứng án ở đó lợi hại quá.

  Bố của Hân nghe lời. Có đồng minh, ông dùng cờ đánh mạnh tay xuống con ngựa đỏ. Chát. Chết mày chưa?

– Ái dà. Một mình tôi đọ sức với hai cha con hay sao đây?

– Thôi, mày đi đi, kẻo bố ăn ván này chẳng có gì vẻ vang. Mày có tiện đường ghé mua cho bố ổ mì thịt.

  Tôi bước ra khỏi phòng sinh hoạt hội cao niên. Tôi đi dáo dác như một lão già lạc mất con cái. Đừng bỏ ba một mình, trời lạnh quá sao đành… Phố phường chộn rộn, quẹo trái, quẹo phải. tôi băng qua hai ngã tư thì đụng mặt với nhà bưu điện. Tôi mua một cái phong bì cọng thêm con tem giá nội địa. Tôi dùng tay trái, viết khó nhọc tên họ Ngọc Hân lên trên cái địa chỉ quen thuộc của tôi. Kềm giữ lắm hàng chữ cũng bị lên xuống run như giun bò. Cũng ngộ thật, chưa bao giờ tôi viết chữ bằng tay trái, lần đầu tiên thử nghiệm lại đè vợ mình ra mà lè lưỡi gò tới gò lui. Có là thánh, Hân cũng không tài nào biết được thư này do chính tay chồng cất công gửi đi. Tôi nhét hai tấm ảnh vào phong bì và đọc lại tờ giấy phô tô cọp dê trước khi gấp làm tư để niêm kín: “Nhằm gầy dựng và phát huy truyền thống đạo đức của người Việt… đời sống hội nhập quả có khó khăn… nay xét nghĩ… phạm vào luân thường đạo lý… khẩn thiết yêu cầu qúy vị nên tránh… khuyến cáo lần đầu… hạnh phúc gia đình… đáp ứng tình hình… chú tâm bồi đắp… đồng kính gửi… để kính tường…”

  Tôi đưa lưỡi ra liếm vào bề trái cái phong bì. Keo ngọt, cạnh giấy sắc như muốn cứa đứt lưỡi. Ừ, ở đời thiếu gì thằng cụt lưỡi bị vợ chê. Chả làm ăn gì được. Bỏ. Những đứa miệng trơn như có bôi mỡ, lưỡi dẻo nẹo thì hồi nào đến giờ cũng đông gái.

  Tôi ghé tiệm bán bánh mì thịt nguội mua cho ông già vợ một ổ. Trong góc quán có treo cái TV. Cô gái mặc váy ngắn ngồi thái thịt xíu, khoanh giò lụa lâu lâu ngưng động tác để ngửa cổ lên theo dõi khúc phim bộ đang chiếu. “Nói thật nghe, anh là đứa không ngại mang giày cũ đâu”. Tôi nhìn thằng tài tử Hồng-kông vừa phát ngôn (lồng tiếng) có cái bản mặt trông đáng ghét. Xấu thua khúc thịt mà cô gái đang trăn trở trên tay. Ruồi bay quờ quạng nơi bắp chân trần.

– Xin anh hai đồng. Sao không mua năm ổ để được tặng không một ổ?

– Độc thân mà cô. Biết ăn cách gì cho hết?

  Người con gái đứng két nhìn tôi khi nhận tiền. Có thể cô này là chị cô kia, thảy mặt hoa da phấn và cũng có thể cô biết rõ tôi là hạng ba hoa chích chòe. Đã là hạng người đó thì hơi đâu mà đùa dai. Tôi cũng vậy, làm thinh là thượng sách. Tối nay không biết tôi sẽ nói những gì với Hân? Hai nhân vật chính trên màn ảnh truyền hình bỗng dưng la lên nhốn nháo. Cửa phòng mở, xuất hiện thêm thằng đàn ông mặt điên dại cầm dao nhảy bổ vào: “Đôi gian phu dâm phụ kia…”

  Tôi quay lưng, âm thanh cuốn phim DVD đuổi theo bén gót. Chạy băng qua đường tôi xém bị xe cán chết. Tiếng vỏ bánh xe cắn xuống mặt đường nghe kiêng răng, mặt nhựa bốc khói. Tiếng chửi thề tràng giang đại hải tuôn ra, như thể cái miệng ấy vốn ngứa đã quá lâu, chẳng biết lấy gì mà gãi cho đã. Hừ! Nếu chết tôi sẽ là một hồn oan. Tôi chết mà không nhắm mắt, bởi lẽ hai tấm hình đã gửi đi. Giả như nó còn trong túi áo thì ít nhất khi khám nghiệm tử thi, người ta cũng tìm được một lý do để nói thay tôi, khép đóng hồ sơ vĩnh viễn: “Dễ hiểu quá mà, thằng này tự tử vì vợ nó ngoại tình” Còn ổ bánh mì thịt nắm chặt trong tay thì sao? Chẳng lẽ tiểu ban điều tra tội phạm cũng chóng tìm ra đáp số: “Thằng này khôn dàng trời, lo đầu cơ tích trữ lương thực, sợ đói bụng trong khi sắp hàng đứng chờ được húp chén cháo lú. Phải đó mày. Bánh mì thương chớ không ai thương đâu!”

  Nắng trưa hung tợn đổ xuống người tôi thứ màu mè nổ đom đóm. Mắt mờ, chân run, tôi ngồi bệt xuống bờ cỏ lề đường, mở giấy gói, nhai ổ mì thịt, ngấu nghiếng.

Hồ Đình Nghiêm
30 tháng Tư đen ngoài quê cũ.

Thôi thì tưởng tiếc tình thân thủ túc

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 20222

Post by Sơn râu 23 Jan 2024

Chỉ còn đôi ba hôm nữa là đến Giáng Sinh. Ở đây trời âm u ban ngày và đêm về có mưa rơi lặng lẽ. Thứ mưa tựa mèo đái, chẳng gội xoá bụi bám và hai hàng cây non tuổi không buồn lắc lay những chùm lá vừa loáng ướt. Chúng mang vẻ sầu muộn, như diện mạo của đám bé con suốt đời vẫn đợi chờ một món quà có được trong dịp lễ Noel đầy mộng mị. Cây cối, đã nhiều người có chung một cảm nhận, chúng là thứ hàng hiếm còn sót lại trong thành phố bon chen lắm nhà cửa. Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn là nhà tiên tri, là nhà ngoại cảm đã buông lời báo mộng sớm: “Đụ mẹ cây bông, hắn không lao động, ai trồng chật chỗ, mày nhổ xem sao, máu trào thiên cổ”.

Phố phường luôn nêm chặt người, lượng máu chẳng luân lưu chảy về tim. Người có khi là kiến, thứ động vật chẳng hiếm quý chen chúc lê chân đi về một khoảng trống, chốn chẳng bị ùn tắc. Và đô hội này đang chứng minh sự phồn hoa bằng bao cơ man đèn đóm mang ra giăng mắc rối rắm, trình bày những biểu tượng đặc thù mừng hôm Chúa sinh ra đời. Những kẻ lo phần mỹ thuật, trang hoàng thiết kế cho các cửa hàng hẳn đã cóp nhặt vay mượn nguồn từ sách báo hoặc các trang mạng nước ngoài và với tất cả sự thiếu thốn “cái khó bó cái khôn” họ đã bày ra một cảnh sắc diêm dúa loè loẹt như phông màn có trước một gánh hát cải lương rộn ràng tiếp thị mệt nghỉ suất diễn vở tuồng “Từ quê lên tỉnh”. Lạy Chúa, lỗi tại tôi mọi đàng. Amen!

Không đợi trời xám, trời cau có, trời buồn, trời rét, thứ nguyên cớ dễ xúi người ta thèm khát một cốc cà phê nóng, tôi cố thoát khỏi nạn kẹt xe để điên đầu chạy về quán bán nước Hiền Hữu. Giống với tên gọi, ở đó tôi có người bạn hiền, xuất thân là sinh viên nhưng không tài nào tốt nghiệp đại học. Cô tom góp tất cả những sách vở còn lưu giữ của thời học trò mang ra thổi lửa nấu chín được một mâm cơm có ba món tươm tất thế bữa giỗ nhằm đoạn tuyệt con người cũ. Cô chính thức hạ sơn, đi lại trong giang hồ một thời gian rồi quyết định dựng bảng hiệu kinh doanh bán nước. Cô là một cây bông và có đám người đã hùng hổ bứng nhổ đi. Bạn bè an ủi cô: Chớ buồn, nên vui mới đúng. Bị bứng khỏi mái trường xã hội chủ nghĩa là thứ hân hoan cần phải đi kéo ghế ăn mừng thành tựu thoát cảnh bị nhồi sọ. Cô đặt tên quán cà phê là Hiền Hữu hẳn có lý do.

Quán nằm phía tay trái con đường thẳng góc, ở ngã tư đèn đỏ vô tình tôi gặp lại Mai. Tôi không tài nào đếm được chính xác bao phút giây thì đèn báo hiệu lưu thông sẽ chuyển màu nhưng chừng ấy tích tắc đang ngưng đọng, cả hai đã trao nhau một sóng mắt đầy hư ảo. Thành phố chẳng mấy lớn và cuộc đời đã khiến hai đứa phải lạc nhau giữa bộn bề tháng ngày. Đêm thánh vô cùng này Chúa bày một hội ngộ sững sốt. Mai quẹo phải và tôi rồ ga chạy đuổi một hình bóng từng chơi trò cút bắt. Theo Mai làm gì? Thì ít ra cũng nên han hỏi nhau một tiếng, Mai khoẻ không? Không. Mai trả lời với tốc độ chiếc xe đang gia giảm thấy rõ. Chừng như người lèo lái cũng cảm nhận là có khi phải nên dừng hẳn cuộc lữ để nói rõ trắng đen nhằm cắt đi cái đuôi gây phiền toái. Mình biết một chỗ có bán thứ nước sinh tố giúp những người không khoẻ lấy lại được thần hồn khi uống vào. Mai cười không tròn nụ: Đi với trai, chồng thấy có ghen tuông? Tôi hỏi, gần như hét: Mai đã lấy chồng? Đã, nói không khoẻ là vì vậy. Nếu không tấp vào uống nước, mình sẽ theo Mai về nhìn mặt ông xã một lần cho thoả. Căng thế! Không sợ hãi sao, chồng Mai là công an. Đừng đùa. Đâu ai rỗi hơi đi đùa nghịch. Được, mình sẽ theo Mai cho tới giọt xăng cuối xem hậu vận nó kết thúc như nào. Mình thích nhìn phản ứng Mai khi ông chồng còng tay mình. Không than van, không kêu gào, không biện minh, chỉ ngó Mai chẳng nháy mắt.

Mai chủ động dừng xe trước một quán cà phê đèn mờ. Nhạc vẳng ra nghe như có ai hát “bài thánh ca buồn”. Chúng ta chỉ được phép hàn huyên tối đa là một tiếng thôi, sợ con dại dài cổ ngóng mẹ ở nhà. Mai nói. Tôi nhìn khuôn mặt khả ái của cô bạn cũ, người từng cho ba đứa bạn trai chung lớp phải leo cây và riêng tôi thì được cô cho ngồi máy bay bằng giấy. Tại sao ngần ấy đứa đều là con nhà tử tế có ăn học, cô lại cự tuyệt phụ rẫy để đâm đầu lấy một gã công an làm chồng? Và cô đã sinh nở “gái một con trông mòn con mắt”. Tôi tắt máy xe bắt đầu bỏng khét. Giả dụ tuyết rơi xuống thành phố nhiệt đới này thì bao lâu máy móc sẽ bị cảm hàn, nhưng tôi cá cược rằng nếu phanh ngực áo để đi bên Mai dưới tuyết đổ tôi tuyệt đối vẫn thấy ấm áp. Tôi nhớ lại vị ngọt từ môi hôn năm xưa Mai trao. Một nụ hôn thần thoại, cổ tích. Lạy Chúa, môi hôn ấy nó có giá trị duy một điều, bịt kín và ngăn chận lời thề thốt tôi suýt nói cùng Mai. Chẳng có gì muối mặt cho bằng anh không giữ tròn lời hứa với người anh yêu.

Mai dắt tôi vào trong góc quán, ngồi kề bên bàn thờ thổ địa đang cháy cụt ba chân nhang. Mai nói vào khoảng không, lảng vảng mùi trái cây chín rục: Nô-en năm nay rơi vào đêm trăng tròn, có lạ không? Đầu tôi hiện lên đoạn nhạc của Trịnh Công Sơn: Chúa đã bỏ loài người Phật đã bỏ loài người, này em xin…

Mang theo bao nhiêu tiền? Mai sẽ lựa chọn một thứ nước giải khát mắc mỏ nhất. Xin tuỳ nghi, Mai khinh tôi cũng chừng mực nào thôi chứ. Tôi ngó chiếc nhẫn rạng ngời có trên bàn tay Mai, tôi chẳng biết giá trị của nó nhưng tôi hiểu nếu có vợ, suốt đời tôi hẳn không tài nào sắm cho bà xã một cái hột lanh lợi kiểu đó. Ngoại trừ tôi có sẵn gói thuốc mê, lén cho Mai uống rồi cướp đoạt lấy nó trong êm thắm. Không cứ là nhẫn, khi đối tượng đã ú ớ mê sảng, sẵn trớn ta sẽ thò tay vào người đối tượng mày mò lục soát hẳn sẽ khoắn thêm lắm thứ phiêu hốt khác. Ngày ấy tôi đã đặt được một bàn tay lên ngực trần Mai, bọn con trai lớp 12 A1 đã phong danh hiệu: Diệu thủ thư sinh. Linh thiêng huyền hoặc chỉ xảy ra một lần trong đời bạn, ngàn năm sau bạn sẽ thừ người ngồi hoài nhớ tưởng tiếc thời vàng son cũ. Lớp 12 ngày đó đã tan tác đánh giạt mỗi đứa một phương trời mất tung tích, diệu kỳ chỉ ngó ra Mai hôm nay và Mai đang ngồi gần với thứ lý lịch đầy khắc nghiệt: Đã có chồng, mà chồng lại là sĩ quan ngành công an. Mọi thứ chốn này đã xáo trộn với thứ quy luật khó hiểu của đời sống, cũng như thế giới từng bị đảo lộn bởi hai người Do Thái: Karl Marx, kẻ khám phá ra “giá trị thặng dư” và xây dựng học thuyết kinh tế chủ nghĩa cộng sản thay cho chủ nghĩa tư bản. Người còn lại là Jesus Christ.

Giáng Sinh có gì vui không? Tôi hỏi. Mai nói: Chả có. Thằng chả suốt ngày bù khú tiệc tùng cùng cơ quan và than công việc chất đống ngập mặt. Mai trông con, kiếm ra cơ hội thì vác xe chạy như ma rượt để ngó phố phường. Tôi nói tiếp, và chợt gặp con ma cũ hiện hồn ra nhát. Chúng tôi đổi số điện thoại của nhau, để những hôm trái gió trở trời Mai có nơi để trút đi bao nỗi phiền muộn, nếu muốn. Tôi nói thêm cho rõ nghĩa, để nhỡ khi gặp tai ương tôi sẽ mang phong bì nặng nề tới gõ cửa nhờ ông xã Mai giúp. Một giờ đang trôi tới vạch cuối, Mai rục rịch chuẩn bị rời quán. Cô bảo mình là đứa vô thần nhưng sẵn dịp cũng thử chúc giáng sinh an lành. Tôi ôm Mai nhưng bị cô đẩy ra. Tôi sẽ mất ngủ đêm nay, tôi nói. Vì sao? Vì uống nhiều cà phê hở? Không, vì ôn lại những kỷ niệm cũ có khuôn mặt Mai ám ảnh. Lần này thì Mai dang rộng tay ra để ôm siết lấy tôi, Mai nói: Mình cứ nghĩ là bạn sẽ khinh miệt mình khi biết lấy chồng làm công an. Có khi dễ Mai không? Không, để chứng minh mình sẽ hôn Mai. Mai la lên: Đồ quỉ!

Cùng một đường thẳng nhưng chúng tôi chạy ngược hướng, một thứ hình học không gian với phương trình khó giải. Mai rồ ga về phía sáng đèn, tôi quành xe về ngõ nhạt nhoà bóng tối. Tôi sẽ uống thêm ly cà phê ở quán Hiền Hữu và kể cho cô bạn nghe về cuộc gặp bất ngờ hôm nay. Tấm bảng Hiền Hữu mù mờ như bóng đèn thắp phía sau sắp đứt dây tóc, như sắp lâm chung thì loé sáng lần cuối. Chữ kẻ lối chân phương bằng sơn vàng do tôi gia công gò tỉa nét sắc và qua thời gian nó đang dần phai nhạt màu. Một tấm bảng hiệu cũng có riêng cho nó một mệnh hệ, tôi linh cảm về điều chẳng lành đã vừa xảy tới.

Cửa quán vẫn rộng mở nhưng không có khách, năm bảy kẻ tụ tập nhỏ to bên bậc thềm. Một tiếng nói từ đó bắn tới tôi: Đi đâu nãy giờ? Sao khi bạn gặp nạn lại thiếu mặt cậu? Đôi ba tiếng súng liên thanh tiếp nối khạc lửa: Hiền bị chúng bắt đi rồi. Anh em đang bàn tính làm cuộc nhóm họp trước đồn để đòi người. Chẳng làm lớn chuyện e không khéo mà Hiền phải đón giáng sinh trong tù. Dự trù khoảng hai mươi nhân mạng ngồi bên nhau trước đồn công an thức trắng đêm. Ông vào viết giúp bọn tôi ít hàng chữ đòi người ở mặt sau các tấm bìa Mừng Chúa Giáng Sinh. Hãy trả lại công đạo, giả dụ thế. ĐMCS, giả sử vậy. Bắt người vô tội chỉ xẩy ra ở xứ sở không có luật pháp. Đá đảo luật rừng… Viết càng nhiều càng tốt, mang theo chăn chiếu các thứ. Có bạn đã vác theo đàn guitar, có bạn đã pha sẵn bình trà và cà phê nóng.

Hiền trước đây đã hơn một lần ngồi tù đến bốn hôm. Cô đi biểu tình chống bọn bành trướng xâm lược Trung quốc, an ninh đã bóp vú Hiền, đã sờ nắn cửa mình Hiền và chúng đánh cô gái thất thế đến độ phải rối loạn kinh nguyệt. Hiền nhập viện và bác sĩ chỉnh hình phát hiện một hai cái xương bị dời đổi vị trí, mức độ chấn thương là 46%. Cơ thể bầm dập nhưng đầu óc Hiền vẫn còn nguyên sự sáng suốt. Cái sáng suốt khiến bằng hữu hân hoan, bởi bằng hữu từng ê chề khi đọc phải bảng thống kê trong năm 2015 dân Việt luôn truy cập tới hạng mục giải trí đốn mạt thấp kém về mặt dân trí. Bao vấn đề sinh tử thù trong giặc ngoài thảy đều vô cảm ngó lơ, bàng quan chẳng liên hệ tới một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ.

Tôi theo anh em đi tới tụ điểm đòi người. Giáng Sinh năm nay rơi vào đêm trăng tròn, đó là nơi chốn thanh bình khác, thành phố này trời mù câm, trời xám xịt, trời đổ lệ lắc nhắc như mèo đái. Tôi hát thầm, Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người… và rồi tôi á khẩu. Tôi biết chế ra ca từ gì để nhằm nói lên nỗi đau dân tộc tôi mang? U uất, phẫn hận. Buồn không bút mực nào tả xiết.

Hồ Đình Nghiêm

Thị phi

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 23 Jan 2024

“Đồng Xuân nô nức tiếng đồn,
Có cô bán trứng vịt lộn rất to
”
(Bút Tre)

Thuở ấy, ở chợ Đông Ba thổi ra nguồn tin: Có nàng tiên cá thường xuất hiện mỗi sáng. Cô xoã tóc xách giỏ khép nép đi giữa những lối luôn lầy lội.

Mỗi sáng, tôi vẫn thường ngồi ở quán cà phê lộ thiên bên sông, dưới cầu Gia Hội. Tôi kiếm cơm bằng cách chạy xe thồ, bay tóc trán. Uống cốc cà phê đen đầu ngày cũng tựa như châm xăng vô bình. Động cơ xe máy phải cần xăng, chuyện đổ cà phê vào người cũng na ná, để lai tỉnh, khởi động.
Tôi ngồi, vác mặt ngó qua cái xô bồ bất tận bên hông chợ, để từ đó dồn đẩy về tôi những tiếng động tạp nhạp. Lời đồn đãi kia là một trong vô vàn thứ liên tu rậm rật rót vào tai kẻ luôn ngồi bần thần. Lạ chưa! Giữa cuộc đời bầm dập này sao đày đọa một nàng tiên cá sống trên mặt đất lao lung? Tôi tuyệt không để tâm tới những chuyện lạ. Tôi từng chở người vào Tây Lộc, họ trả tiền công khá bộn chỉ để tận mắt ngắm một cây chuối chen chúc trái đến lạ thường trong mảnh vườn mà dường như đêm qua có thứ hào quang từ cao xa phủ ập xuống. Khách rời khỏi xe, tôi cất tiền rồi quay đầu rồ máy, chẳng màng sự cố chuối chiếc “siêu khủng” chộn rộn sau lưng. Tôi từng thồ một người đàn bà cầm bình nhựa lớn lắc léo chạy quanh núi Ngự Bình tìm cho ra cái giếng linh để bà ấy khó nhọc mua được bốn lít nước chữa bá bệnh trong uống ngoài thoa. Người ta hỏi: Cậu tin không? Tôi nói: Bắt buộc, tin quá đi chớ. Và rồi tôi câm lặng, chẳng diễn nôm thêm. Một nàng tiên cá? Ừ, chớ hoài nghi, để cuộc sống có chút thi vị.

Có người truyền đạt kinh nghiệm: Cậu không nên ngồi mãi ở quán cà phê ấy, phải thay đổi địa điểm, trụ một chỗ có kẻ đâm dị nghị: E đứa ấy bỏ công quan sát địa hình ngầm mang âm mưu bất chính… Xét thấy chí lí, tôi nghe lời, tìm quán khác, rồi lại tìm quán khác. Tôi bắt đầu học thói bội bạc. Những ông bà cô bác chủ quán cũ sẽ có lời giải thích về sự vắng mặt của tôi, tùy vào tâm cảm: Ai? Hắn hả? Chắc vượt biển mất đất rồi! Cái cậu chạy xe ôm đó hả? Ừ, nó bị xe khách đụng, hiện nằm nhà thương, thập tử nhất sanh. Trời, lạ lùng gì, tin tui đi, hôm qua hắn bị công an trói ké dẫn vào đồn, láo chết!

Tôi vẫn còn chạy xe toát mồ hôi hột trong địa bàn thành phố tới ngoại ô bụi mờ, sáng tới khuya, mở mắt tới nhắm mắt. Tôi làm sao có điều kiện để xớn xác vượt biên, tôi chưa bị xe cán dẹp lép như con tép, chưa bị công an sờ nắn hỏi thăm sức khỏe; nhưng với tôi nhất nhật có khi là thiên thu, đời thường có khi hoang đường tựa mộng mị. Hôm ấy, một người con gái đã vẫy gọi tôi. Dáng ngại ngần, tóc xõa, có những lọn uốn cong và thú thật tôi chưa bao giờ thấy ai có nước da trắng ngần tựa thế, trắng đến hoang mang. Cô khoảng tuổi hai mươi hoặc hơn. Tôi tin chẳng một ai đoán được tuổi cô, khuôn mặt đó hiển lộ một thứ mà bạn không thể cắt nghĩa được, sự ngờ vực vừa hiện lên rồi tức thì nó chìm đắm rất nhanh và tâm bạn bị xao động bởi một điều gì thật huyễn hoặc. Chú chở con lên nhà ga. Cô nói, giọng nhẹ, trong. Và câu nói thiếu cái hệ trọng mà kẻ khác luôn xem là chính yếu: Bao nhiêu tiền? Nhà ga bao giờ cũng là sân khấu luôn phô diễn cảnh chia lìa, đoàn tụ. Cô đi mạng không, chẳng thể nhập vai kẻ bỏ xứ. Vậy thì cô đón người, chỉ có vậy thôi. Tôi câm lặng với một chút bồi hồi vây bọc. Xe chạy, gió trên cao lùa xới từng đám lá cây, xôn xao. Tiếng máy nổ và con đường thu ngắn dần. Chiều mát trời, những chân mây tím và hương mùi trên người cô gái luôn vấn vương sang tôi. Chú đợi cùng cháu ở sân ga có được không?

Tôi tắt máy xe, dựng chân chống lên để nghe lời cô tôi đi hỏi thăm tàu tới vào lúc mấy giờ. Bảy giờ, có thể trễ, khoảng bảy giờ mười lăm. Tôi lập lại nguyên câu trả lời kia với người con gái đứng bồn chồn bên xe. Chết, có gì trở ngại cho chú không? Tôi không hiểu. Cháu bao chú… Cô gái nói, thoáng đỏ mặt. À, như vậy nè, lát nữa chú sẽ chở cháu về, cứ cho là tám giờ tối đi, cháu sẽ trả cho chú nửa triệu. Được không chú? Chắc cô chưa bao giờ đi xe ôm? Sao chú biết? Nửa triệu, số tiền ấy không nhỏ đâu. Và dĩ nhiên là tôi đồng lòng. Cám ơn chú. Mình đứng đây có vẻ lộ liễu quá, vào quán nước ấy ngồi chờ đi chú.

Tôi dắt xe theo, nếu có một lời đề nghị thì câu tôi sẽ nói là cô nên đeo một cái khẩu trang. Đã có lắm cậu thanh niên nhìn cô với tất cả vẻ tọc mạch nằm trong những con mắt có đuôi. Kỳ lạ thay, cô như đọc được ý nghĩ của tôi. Chú có thừa cái mũ nào không? Sau rốt thì chúng tôi vào ngồi trong quán vừa mới bật sáng ngọn đèn néon tám tấc và chiếc nón tai bèo đã che bớt cái hào quang từ khuôn mặt cô luôn tỏa sự rạng ngời. Chiếc nón bèo nhèo, chẳng sạch sẽ gì, cô chẳng quan hoài và đối diện tôi là một kịch sĩ hóa trang rất vụng. Anh chị dùng gì? Cháu uống nước mía, còn chú? Cho tôi ly cà phê đen đá. Đợi người phục vụ quay lưng, cô rút từ lưng quần ra một phong bì. Cô lấy đi hai chục ngàn rồi đẩy cái bao thư màu vàng tới trước mặt tôi. Chú cất đi, trong ấy có thể hơn nửa triệu. Còn tiền này dùng để trả tiền nước, chú hút thuốc gì thì cứ gọi. Cà phê ở đây chua loét nhưng thực sự thì tôi không chỉ uống cà phê, tôi uống từng lời nói, uống không chừa cặn những chữ chú cháu thật ngọt ngào. Tôi mong bảy giờ chết tiệt kia sẽ nằm ụ trên đường rầy và tiếng hú còi tàu vẫn nghẹn cất dưới chân đèo Hải Vân, còn khuya mới tới. Trong quán có TV, đang phát chương trình ca nhạc, âm thanh kia thật đáng phàn nàn, không dưng chúng làm phá sóng những hoang tưởng của tôi. Chú có xem TV không? Tôi không thích coi, thêm nữa tôi thực sự không dư thời gian. Một tháng trước họ có trình chiếu bộ phim “Nàng Tiên Cá”, buồn cười, cháu đi chợ nghe người ta gán ghép đặt cho mỹ danh là nàng tiên cá. Tôi ngồi cứng đờ, như thể những viên đá trong ly cà phê đã làm tôi tê liệt hết các giác quan. Đơn giản chỉ vì cháu giống cô diễn viên ấy thôi. Nàng tiên, không dám đâu. Cá thì phải có vảy, có đuôi có vi, chú có sợ khi kề cận một người cá không? Mùi tanh của rong rêu nữa chứ! Tôi không biết, nhưng tôi thích ăn cá, canh chua nè, cá kho tộ nè, chá thu chiên nè. Nục, ngừ, hồng, mú, hanh, diếc, bạc má, bông lau… Tôi sẽ hỏi lại, ngồi gần kẻ thèm ăn cá cô có sợ không? Không trả lời, “nàng tiên cá” gầm mặt vào ly nước miá và cái ống hút từ môi cô đang làm cho mực nước xuống thấp gần cạn đáy. Tôi hiểu điều gì đang xảy ra, hồi còi tàu đang xẻ rách không gian, mang con tàu đi dần vào nhà ga. Nàng tiên cá đứng lên, tôi chẳng biết mình sẽ phải làm gì sắp tới. Khiên đồ đoàn của kẻ vừa đến? Thồ một kiện hàng cồng kềnh ngoài mức tưởng tượng?

Người, quang gánh, đồ đoàn, tiếng ơi ới, chân bước rậm rật túa ra chật sân, đánh dấu một dong duỗi đã kết thúc trong bình an. Những nụ cười hân hoan đón gặp. Chú thấy người đàn ông mặc áo xanh đang ôm eo cô gái áo trắng chuẩn bị lên xích lô không? Nàng tiên cá nói bên tai tôi. Chú chở cháu theo sau họ, dĩ nhiên là mình chạy thật chậm nhưng không để lạc lối. Trong túi quần tôi là chiếc phong bì chứa đựng nửa triệu, kề sát sau lưng tôi là một nàng tiên, như vậy thì không một ai ngu dại để khước từ mọi yêu cầu, và suy tính mà xem, yêu cầu ấy quá dễ chịu. Nỗi tò mò kích thích tôi, xúi tôi tham dự trò chơi chẳng có lề luật, cũng như không thể biết hồi nào thì nó thực sự buông màn. Đèn đường đã cháy đỏ hai hàng song song, cách khoảng bằng cái nhem nhuốc gần quánh đặc của màu đêm. Tôi tìm điểm dị dạng của chiếc xích lô để theo đuổi, rất thong dong. Chú thấy lạ không? Về chuyện gì? Giống như mình là kẻ tùy tùng đi sau nhằm bảo vệ họ. Cô gái nói, tay bấu chặt vào một hông áo tôi. Cũng lạ, lần đầu trong đời tôi chở khách đi với thứ tốc độ nhàn du như thế này. Thông lệ họ sẽ giục giã, chạy nhanh hơn, có được không? Vô tình, nàng tiên cá đã cho tôi cái cảm tưởng tôi không hề là đứa chạy xe ôm, tôi đã rũ bỏ mọi thứ phiền muộn để dọn lòng chở người tình đi hóng gió, đi giết thời gian.

Chiếc xích lô dừng lại ở một nhà nghỉ có bậc thềm hứng xanh đèn điện. Ánh sáng ăn ra tận lòng đường. Vũng màu ấy làm phát quang kẻ vừa rời xích lô. Chú có thích vào nhà nghỉ với cháu không? Để làm gì? Để ngủ qua đêm. Tôi đứng cúi đầu, mệt mề cùng bao dấu hỏi. Với áo xống lam lũ này nhất định sẽ gây cho nhân viên trong đó vô vàn ngờ vực. Mất nhiều thời gian không nếu chú về nhà tắm rửa và thay đổi áo quần? Thôi, nhiêu khê lắm, quên đi. Ừ, quên, chú đi đi. Cô gái xua đuổi, cô bước lên triền cỏ rồi dựa người vào một thân cây. Không về nhà? Tôi hỏi. Nàng tiên cá quyết liệt nói: Không.

Trước đây tôi chưa hề bước chân vào đồn công an. Giờ này nếu ai hỏi cảm tưởng thì tôi sẽ dễ dàng trình bày: Lòng dạ rối bời, hoang mang. Có thứ gì đấy làm đốt rất mau dưỡng khí, bạn chóng mệt mỏi. Miệng khô, nhịp tim đập không bình thường. Thời gian có vẻ đang đứng lại dù ánh sáng luôn thay đổi ngoài những chấn song. Người hỏi chuyện tôi còn trẻ, mặc đồng phục và thú thật khi nhìn lon lá găm ở cổ áo tôi chẳng tài nào biết hắn mang cấp bậc gì. Khoảng tám giờ tối hôm kia, anh ở đâu và đang làm chuyện chi? Tôi chạy xe thồ, giờ đó tôi chở một cô gái từ nhà ga về. Cô ấy tên gì, có biết không? Không. Ngang đâu thì anh bỏ cô ấy xuống? Ngang nhà nghỉ Dạ Hương. Tốt, anh nhận ra chiếc nón tai bèo này là của ai không? Của tôi, tôi cho cô ấy mượn. Chuyện gì đã xảy tới với cô ấy? Gã công an đốt thắp một điếu thuốc, hắn nhìn tôi qua cọng khói xanh, mắt nheo lại như gặp phải khói cay. Chia tay xong anh đi đâu? Tôi còn chở thêm hai người khách nữa thì về nhà. Anh vẫn đăng ký hộ khẩu ở phường Thuận Thành, không dời đổi. Vẫn ở chỗ ấy, đã tám năm nay. Được, tạm thời anh có thể về, có gì chúng tôi sẽ tìm gặp để làm việc thêm.

Trời chạng vạng khi tôi ra khỏi đồn. Tôi chạy xe ngơ ngáo như đứa chẳng thuộc địa hình. Tới chợ An Cựu tôi tấp vô quán cơm bụi đang mờ mịt khói thịt nướng gọi dĩa cơm sườn. Chỉ mất năm tiếng dành cho mục vấn đáp ở đồn bót, bụng dạ bạn sẽ đói cơm như tôi giờ này, đói như nhịn ăn đã hai hôm. Bàn bên cạnh có đám thanh niên đang nhậu, thỉnh thoảng nghe chúng hô: Vô, vô. Và luôn luôn chúng áp đặt chữ đù má trong mỗi câu nói, như thể thiếu chữ ấy buổi tợp bia phá mồi sẽ nhạt nhẽo vô cùng. Đù má, tao nói mọi chuyện đều có số phần cả, đúng không? Thằng Dương học dốt thí mẹ mà giờ này bảnh nhất đám. Đù mẹ, má nó ở Mỹ gửi tiền về thì hà cớ gì mày lôi chuyện học hành của nó ra đây. Vô, vô, mừng bà già thằng Dương ở Mỹ, mừng thằng Dương học dốt. Đéo chơi được, bọn mày cứ nói sảng thì tao cóc trả tiền cho biết thế nào là lễ độ. Thôi mà Dương, tha cho bọn ăn quàng nói xiên. Bọn bây bép xép cái mồm kiểu đó nó cạy mặt ra thì vêu mỏ. À mà này, bọn bây có biết trên cõi ta bà này có một nàng tiên cá hiện hữu không? Mẹ kiếp, con nhỏ đó thật khờ dại, nó vào nhà nghỉ để rồi tự tử trước mặt người tình mang thói trăng hoa. Nó cực đẹp mà sao gã đàn ông kia lại ngoại tình đi ăn vụng, nghĩ không ra.

Ăn xong, dắt tăm cửa miệng tay cầm ly trà đá lò dò ba bước tôi đứng sát bàn bọn nhậu. Chuyện gì đại ca? Có đứa cà khịa. Tôi là người thân của nạn nhân xấu số, các bạn kể lại ngọn ngành sự việc cái chết của cô gái cho tôi nghe có được không? Bỏ đi đại ca, bọn này cũng nghe lời đồn thổi thôi ai đâu biết rõ nguồn cơn chân tướng. Đù má, tui nghe công an nhập cuộc rồi đó, xem xét hiện trường họ nghi có kẻ dàn dựng ngụy tạo ra một vụ tự tử. Là sao ông thánh? Là có thể ai đó ra tay bức hại nàng tiên cá. Đéo phải tao nói à nghe, công an họ ngờ vậy. Rắc rối bỏ mẹ, vô cái này đi. Vô vô… Cả bọn chẳng thèm ngó ngàng tới tôi, sợ tôi giả bộ tạo cớ để lân la xin chút hơi men. Tôi bước lại trả tiền cơm, cô con gái bà chủ quán nói: Chú xạo phải không? Bà con kiểu gì kỳ khôi vậy? Sao cháu lại bảo thế, người ta quan tâm thật mà, cái chết ấy quả là mờ ám. Ai nói cô gái ấy chết? Nhân viên nhà nghỉ phát hiện sớm nên đã gọi xe cứu thương, hiện cô ấy nằm phòng hồi sinh bên bệnh viện trung ương.

Hỏi thăm và được chỉ bày, cuối cùng tôi tìm ra chỗ nàng tiên cá dại khờ nằm điều trị. Sau ba ngày, cô đã lai tỉnh, ánh mắt loáng chút sinh khí khi nhìn nhận ra tôi. Chú đó à? Giọng yếu, run, gãy gập; nhưng tai tôi phút đó thính như tai chó, rót vào rõ mồm một. Ừ, chú đây. Chú trông lạ. Ừ, đi thăm người đau thì mình nên ăn vận ngó cho sạch sẽ thôi bụi bặm thường hằng. Một giọt nước mắt trườn ra khỏi hàng mi nhắm mở, một vệt ướt lăn đổ khỏi khóe. Bàn tay lạnh giá bò khỏi chăn đắp bấu chặt tay tôi. Phải mà đêm ấy chú vào nhà nghỉ với cháu thì… Năm ngón tay tôi bóp lấy sự mềm mại nuột nà. Chú xin lỗi, hãy đổ thừa mọi chuyện cho chú, và tốt nhất hãy cố quên đi. Một người mặc đồng phục của bệnh viện bước vào. Người nhà hả, có mang tiền theo đấy không? Tôi lôi cái phong bì màu vàng ra. Ông ta khởi sự đếm xấp giấy bạc. Nửa triệu, tôi viết biên nhận cho anh. Đúng một tuần, bệnh nhân sẽ xuất viện, anh đến đón và thanh toán phần còn thiếu, đúng không? Giờ thì nên ra về cho người nhà được tĩnh dưỡng. Nội quy, giờ giấc thăm nuôi ghi rõ ngoài cánh cửa. Tôi ra làm giấy tờ, cho anh nán ở năm phút nữa. Trên giấy nhập viện cháu mang tên Nguyệt, nhưng xin chú hãy gọi tên ở nhà, giờ đây cháu thích được gọi là Lọ Lem. Mai chú vào thăm không? Vào chứ, với cái lem luốt quen thuộc cho Lọ Lem dễ nhận. Cám ơn chú, cháu thiết tha được sống nếu có chú bên cạnh. Lọ Lem quay mặt đi như ánh đèn trên trần làm khó dễ đôi mắt. Tôi bước ra ngoài với đôi mắt cay.

Bạn à, cho tôi tâm sự điều này, với một chút cải lương: Đôi khi dòng sống tình cờ đẩy mình tới những khúc quanh trắc trở khó lường. Tâm trí bạn hụt hẫng, rơi sai lạc như câu lục bát gieo lộn vần. Và bạn ơi, dẫu sao sự lầm đường nọ cũng có chút đáng yêu của nó. Bạn có trách tôi lạc hướng mê muội khi yêu cô cháu Lọ Lem ra đời sau mình những 30 năm?

Hồ Đình Nghiêm

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 23 Jan 2024

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

CLINTON J. HARRIMAN, JR.
(Thủy thủ tàu Greenville Victory)
“Mình ơi, ít nhất mình được cùng chết bên nhau.”

Tôi bắt đầu làm cho Bộ Chỉ huy quân Hải vận kể từ 1967. Trước đây tôi đã ở trong nghề đi biển này nhiều năm rồi. Dạo đang làm hoa tiêu dẫn tàu vào bến cho một hãng tư ở Virgin Island, tôi bỗng khoái đi Việt Nam. Tôi đã đến Viễn Đông nhiều lần, nhưng chưa từng tới Việt Nam bao giờ. Dạo ấy là lúc xảy ra trận tổng công kích Tết Mậu Thân, nhưng nói cho ngay, khi tôi đến Việt Nam, tình hình đã tốt rồi.

Như vậy là tôi đến Việt Nam lần đầu vào năm 1968 với tư cách đệ nhất sĩ quan của tàu Robinson. Sau tôi trở thành thuyền trưởng tàu này. Công việc chúng tôi là chuyên chở đạn dược võ khí từ Hoa Kỳ sang Việt Nam. Chúng tôi đã đi vài chuyến như vậy. Tôi lấy vợ Việt Nam. Vợ tôi tên Trần Thị Tất. Hôm đám cưới, có ông Hội đồng làng đến chủ tọa, rồi ghi vào gia phả, thế là xong. Ở xứ ấy, đấy là hợp pháp, nhưng việc ấy chẳng giá trị khỉ mốc gì. Sang đến Mỹ, sau này chúng tôi phải cưới lại. Chúng tôi có một đứa con gái đặt tên là “Thu Hồng,” nghĩa là “đoá hoa hồng mùa thu,” nó sinh ngày 10 tháng 2, 1970. Một đứa con trai tên Minh, cha nó là chồng trước của vợ tôi. Còn đứa con trai út của chúng tôi sinh ở Mỹ, chúng tôi đặt tên là “Chiến Sĩ,” có nghĩa là “anh hùng đánh giặc.”

Vào lúc tình hình đang tanh bành ra vào mùa Xuân 1975 thì tôi đang ở Mỹ. Vì vợ con ở cả Việt Nam, tôi cố về lại mà không được. Tôi kẹt ở Nữu Ước. Tôi hiểu cái tình thế khốn nạn này tuột dốc nhanh lắm, cho nên tôi tìm gặp viên Chỉ huy hải cảng, xuống nước năn nỉ để xin một chân đi Việt Nam trên chiếc tàu Greenville Victory. Đây là chiếc tàu duy nhất của chúng tôi ra đi và chiếc tàu duy nhất tôi có hy vọng đi theo.

Nhưng vào tháng Ba, lúc sắp sửa đi, tôi đạp nhằm một cục nước đá, gẫy giò. Tôi vẫn cứ cố đi. Tôi khập khễnh bước, mặc dù đau thấu trời. Nhưng đến lúc cái cẳng sưng vù lên, tôi đành tới Bác sĩ Hải quân. Ông này thấy thế, bảo: “Cái cẳng như vầy, làm việc sao được? Ông không thích hợp với công tác.” Tôi nói: “Khỉ mốc! Tôi bắt buộc phải đi chuyến này.” Ông ta bảo: “Không, tôi không cho phép anh đi.” Tôi vẫn nói: “Tôi phải đi,” tôi giải thích lý do cho ông ta hiểu. Nghe xong ông ta bảo: “Lạy Chúa, anh chịu đựng nổi chớ?” Tôi nói: “Được mà. Trời đất ơi, tôi là sĩ quan trợ y trên tàu này chớ bộ.” Vì thế ông ta đành để cho tôi đi.

Hôm lên tàu, Thuyền trưởng Ray Iacobacci cõng tôi trên lưng, bước lên cầu mà vào chiếc Greenville Victory. Suốt tuần lễ, tôi chả làm được công việc khỉ mốc gì.

Chiếc tàu chở đầy đạn dược đến Cát Lái. Sau đó, đi Đà Nẵng, rồi rỡ hết hàng ở Cam Ranh. Rồi chúng tôi đi Thái Lan và cứ ở ì một chỗ ấy. Chúa ạ, có đêm ở trên tàu đúng là chỉ có mỗi một mình cha thuyền trưởng ngồi chỏng chơ. Thành phố này là chỗ ăn chơi động trời mà. Đến lúc nhận được lệnh trở lại Việt Nam di tản người, thì Thuyên trưởng phải chui vô xe taxi sục sạo khắp thành phố mới kiếm đủ người đưa về tàu.

Tôi có một căn trong chung cư tại Sàigòn và một căn nhà ở vùng ngoại vi Tây Ninh. Căn nhà này ngon lành hết xẩy. Vợ tôi là gái quê, khi nào tôi đi biển thì mụ vợ lui cui ở nhà. Khi tàu đến thả neo ở Vũng Tàu, tình hình đến lúc cận kề lắm rồi. Tôi bảo thuyền trưởng Ray Iacobacci rằng: “Đây là cái cơ hội hiếm hoi để tôi đưa vợ con đi đây”. Ray bảo: “Ô Kê, Harry, đi đi.”

Hình minh họa

Cái cớ để tôi đi là tháo cái băng bó bột ở chân. Mỗi ngày tôi phải đứng từ mười bốn đến mười sáu tiếng, cái băng bột mềm èo, cẳng tôi đã sưng phồng lên rồi.

Tôi đến bịnh viện Cơ Đốc với mụ vợ để tháo cái băng bột chết tiệt này ra. Mấy cha ở đấy bảo: “Chúng tôi không cho phép ông xuất viện, trừ phi ông bước được từ đây đến cuối phòng.” Tôi nói: “Lạy Chúa, tôi không dám nghĩ là tôi bước nổi.” Nhưng rồi tôi cũng bước được.

Khi tôi ở Sàigòn, Thuyền trưởng Iacobacci đã đem tàu ngược lên hướng Bắc để thi hành công tác. Bấy giờ là lúc bọn “cứt” tiến đến. Chúng tôi có một căn chung cư rất đẹp bên kia sông, trong một nhánh nhỏ của sông Sàigòn, và vợ tôi nói: “Hổng có chuyện gì đâu, rồi cũng êm thôi,” vân vân, vân vân… Tôi thì tôi biết không thể êm được. Tôi đi gặp một người bạn, Đại tá Vọng, một cha ngon lành hết xảy, ông ta đề nghị cho chúng tôi ra Tân cảng. Ông ta là Chỉ Huy trưởng căn cứ ấy, ông ta có một căn nhà rất to lớn đẹp đẽ. Chúng tôi ở đấy mới được một đêm thì họ hàng nhà ông đại tá kéo đến, nào mẹ, nào chị em, cô chú đủ thứ. Người Việt Nam lạ lùng hết chỗ nói, bất kể trí thức hay nông dân gì cũng vậy, cái chuyện mười lăm con người ngủ chung một phòng, họ coi như không. Tôi tự bảo: “Lạy Chúa tôi, cha này dễ thương hết sức, nhưng tôi chỉ là khách ở đây. Thôi xuống tỉnh kiếm cái khách sạn mà ở.” Với cái chân sưng to như cái cột cắm dù, chúng tôi đến khách sạn Majestic, thuê một phòng rộng thênh thang. Rồi cứ ở đấy chờ tàu. Tôi tự bảo: “Mẹ kiếp phải vọt khỏi đây thôi.” Bà má vợ tôi vì đã trải qua hai trận giặc Pháp và Nhật Bổn, cứ cho rằng đây chỉ là một trận giặc nhỏ của hai trận ấy thôi, không có gì đáng sợ, mấy chuyện như thế ông hiểu không.

Nhưng tôi biết chắc chắn kỳ này là cáo chung. Chắc chắn đến tận mạng rồi. Vì thế tôi đi kiếm cho được một người bạn nữa tên là Brit, hắn điều khiển một công ty thuyền bè nhỏ. Cha này thu xếp được cho tôi một cái xe Renault, đời 39,40 gì đấy. Cái xe coi bộ ngon lành lắm, với một tay tài xế già.

Chúng tôi dùng xe chạy đi tìm chiếc tàu Greenville Victory khi tàu này trở lại Vũng Tàu. Đường đi mỗi lúc một xấu, nhiều chướng ngại vật. Có khoảng năm hay sáu dặm đường, chiếc xe chỉ rì rì chạy được với tốc lực mười lăm dặm một giờ. Nhưng rồi cũng tới nơi. Chúng tôi đến cổng hải cảng, nhìn bừa bãi heo lợn, rổ rá bỏ lại. Mấy chiếc xe Lambretta đổ lăn kềnh sang một bên. Tôi đã có thể nhìn thấy cả chiếc tàu đậu trong cảng. Nhưng khi xe tiến đến gần hàng rào chướng ngại, thì một thằng lính chết tiệt mặt đầy mụn tiến đến dí khẩu súng vào cửa xe, chỗ tài xế lái. Tôi và vợ con ngồi cả ghế sau. Thằng lính nói: “Ra khỏi xe, đi bộ!” Giêsu ma lạy Chúa tôi, làm sao tôi đi cho nổi? Lợi dụng việc thằng lính không hiểu tiếng Anh, tôi bảo vợ tôi là: “Nói với cha tài xế quay mẹ cái xe khốn nạn này mà về lại Sàigòn.” Người Việt Nam họ nói tiếng còn dịu hơn là người Ái Nhĩ Lan. Vợ tôi nghiêng người sang nói rất nhẹ, đến nỗi tôi cũng không nghe thấy tiếng. Cha tài xế già lúc ấy đang hoảng sợ tận mạng, vội vọt chiếc xe vòng trở lại, chỉ trong gang tấc suýt đụng một chiếc xe vận tải. Thế là vèo một cái chúng tôi quay ngoặt trở lại đường cũ.

Đó là một con đường khá đẹp, do Mỹ làm. Nó chẳng khác gì cái xa lộ bốn lằn, ở giữa có rào ngăn hai chiều: một chiều chạy hướng Bắc, một chiều chạy hướng Nam. Bấy giờ ở chiều bên kia, xe đạp, xe lam, xe gắn máy, xe vận tải, xe nhỏ xe lớn lũ lượt nối đuôi nhau. Còn chiều bên này trống như bãi tha ma, chạy thả dàn. Trên đường bên này chúng tôi chạy được chừng đâu hai mươi lăm dặm, thì bắt đầu thấy mấy cha để một mớ thùng xăng loại 55 ga-lông làm chướng ngại vật chặn đường. Đến lúc ấy tôi tự bảo “Rồi, tới lúc rồi.”

Ông tài xế già rút tốc lực lại. Trong xe, tôi để sẵn trên sàn một thùng lựu đạn tay, một khẩu tự động 45. và một khẩu 38 đến bây giờ tôi vẫn còn giữ. Tôi còn có bốn năm hộp đạn 45, thêm hai ba hộp đạn 38. Tôi bảo vợ tôi: “Hãy nói với lão già này…” – Mặc dầu xin ông tin cho, tôi không bao giờ thích chạy xe tốc lực nhanh, nhưng ngày hôm đó, có lẽ trên đời không còn thứ xe nào có thể chạy cho đủ nhanh như tôi muốn “…Nói lão già này dậm ga tối đa. Chúng ta phải vọt qua mấy cái thùng mắc dịch kia đi. Tôi không muốn kẹt ở cái chỗ khốn kiếp này đâu!”

Hình minh họa

Cha tài xế già nói với vợ tôi: “Chèn đét, họ bày mấy cái thùng kia, tui làm chi được bây giờ?” Tôi bảo: “Nói với chả nếu không vọt qua là tôi để ngay một phát đạn này vào đầu chả.” Tới lúc này, gã nhấn ga.

Chúng tôi bay trên đường, phóng đến. Mấy cha lính bấy giờ đang lấy sỏi dưới bờ đường để đổ vào trong thùng, nếu họ đổ vào thùng rồi mà chúng tôi đụng tới là tiêu thôi… Thế là cha tài xế già hung hăng phóng tới chả khác tướng Grant ào ạt đánh chiếm thành Richmond, nhưng chả chỉ đụng cái thùng chút đỉnh. Cái thùng bay lên không trung. Lúc này mấy cha lính nằm trườn lên bờ đường, mỗi cha chơi hai ba phát, nhắm vào chiếc xe. Chả biết lý do nào, hoặc vì chiếc xe đang quay vòng trở lại, hoặc vì mấy chả bắn tồi quá, nhưng chúng tôi không mảy may xây xát gì.

Bấy giờ cha tài xế nói: “Nè, nghe tui nói nè, hình như họ cắt đường rồi. Hồi trẻ tui có đi làm đồn điền cao su, hổng xa đây lắm đâu. Ở đó có con đường nhỏ. Nếu đi chậm lại, rẽ tay trái, lấy đường ấy mà đi cũng được.”

Tôi nghĩ: “Mẹ kiếp, vô bẫy rồi sao đây?” Nhưng trên đường chính mấy thằng cha lính mắc dịch vẫn chờn vờn đó, nên tôi đành biểu chả đi đi. Chả phóng qua khỏi con đường mấp mô thì đến một con đường nhựa rất nhỏ, có lẽ đã làm từ đời những năm 1920. Chả cho xe vào đường ấy. Nhìn sang tay phải, qua cửa sổ xe, chúng tôi thấy xa lộ chính, chúng tôi thấy có hai chiếc trực thăng đậu, trông không có vẻ gì là của phe ta.

Bất kể mấy cha sử gia của trận chiến này sẽ nói chuyện khỉ mốc gì với ông, nhưng bấy giờ, trong cái xe ấy, tôi biết chuyện gì đang xảy ra sờ sờ trước mắt: Tôi thấy rõ bọn lính Bắc Việt mặc quân phục ôm súng AK 47 đang bước ra khỏi trực thăng.

Tôi bảo vợ: “giờ phút này mình có thể vĩnh biệt bất cứ lúc nào,” và tôi tự bảo: “Mẹ kiếp, tôi mà tiêu thì cũng phải mang vài thằng cùng xuống địa phủ!” Vợ tôi lúc ấy can đảm bảo tôi rằng: “Mình ạ, ít nhất mình được cùng chết bên nhau.” Bả nói câu ấy làm tôi vững bụng trở lại. Tôi chẳng rõ bả có hiểu mình nói cái gì không, nhưng nghe vậy cũng mát lòng.

Chúng tôi bèn cho xe chạy rù rù xuống con đường nhỏ dọc dòng sông, rồi chạy vụt vào ẩn trong rừng một lúc. Sau đó chạy khoảng tám mươi dặm nữa, chúng tôi đến được một cánh cổng có bốt gác, nơi này có mấy thằng cha lính khốn kiếp, người nhỏ thó, cực kỳ khó chịu. Bọn lính ít khi ưa chuyện đàn bà Việt Nam đi với đàn ông da trắng. Chúng tôi bèn trình đủ thứ giấy tờ có hình tôi, hình vợ tôi, thông hành Mỹ của tôi, mấy tờ thông hành có chữ ký của Đại tá Vọng. Chữ ký của Đại tá Vọng làm cho chúng chú ý ngay lập tức, tôi xin nói rõ như thế. Nhờ vậy chúng tôi đi được vào cổng, một nơi mà tôi vẫn chưa rõ là đâu. Hoá ra chúng tôi đã vào một căn cứ, nơi đây bây giờ vắng hoe. Quanh quẩn tôi nhìn ra cái câu lạc bộ thủy thủ, một cái câu lạc bộ đẹp đẽ to lớn. Đến lúc này cẳng tôi đau thấu trời, tưởng sắp gẫy lìa đến nơi. Bấy giờ, vợ tôi nói: “Mình ơi, ông già muốn uống nước ngọt!” Tôi bảo: “Lạy Chúa, mụ vào kiếm cho ổng một chai.”

Vợ tôi bước vào, đến cánh cửa gương thứ hai, bả dòm vào rồi bước trở ra nói: “Vô trỏng tui sợ lắm.” Tôi hỏi: “Sao vậy?” Bả nói: “Hổng có ai trong đó cả.” Tôi chụp khẩu súng, đi cà nhắc bước vào. Đây là một toà nhà rất lớn, bấy giờ êm lặng như tờ, đánh rơi cái kim cũng nghe tiếng. Mấy cha trước làm việc ở đây đã biến đâu hết. Tôi tự bảo: “Cách nào tôi cũng kiếm được một món uống chùa, khỏi phải trả tiền.” Cái quầy rượu nằm cuối phía dưới, tôi đi xuống dưới ấy và Chúa ơi, trong máy tính tiền còn vương vãi cả tiền bạc đủ thứ. Không một bóng ma. Bồi bàn, đầu bếp, không một người ở đấy.

Hình minh họa

Tôi vòng ra sau quầy rượu, tự rót cho mình một cốc Vốt-ka ngon lành, đầy nhóc, ực một cái. Vào giây phút ấy chẳng cần rượu thì kích thích tố đã bốc rạo rực rồi. Tôi rót cho mình một cái Vốt-ka nữa, kiếm cho ông già taxi một chai nước ngọt, rồi đi cà nhắc trở ra. Đưa chai nước cho ông ta. Vợ tôi bảo: “Cho ổng ít tiền.” Chà, tôi còn lại sáu trăm đô trong túi, làm sao cưu mang mụ vợ với đứa con gái nhỏ đến tận Thái Lan với sáu trăm bạc đây?

Tôi bèn hỏi: “Hai chục đủ không?” Vợ tôi nói: “Hai chục được rồi.” Tôi đưa cho ông già hai chục bạc. ông quay ra chiếc xe Renault, rút chìa khoá, đề máy. Cái máy xe chó đẻ không nổ. Sau một trăm sáu mươi dặm với tốc lực rì rì như thế, có lẽ đã hết nhớt rồi.

Hình ảnh cuối cùng tôi thấy là lão già cuốc bộ ra cửa, vừa đi vừa ực chai nước ngọt. Tôi không rõ sau đó chuyện gì xảy ra cho ông ta.

Tôi vẫn còn lại 580 đô và hai khẩu súng ngắn. Thế cũng đủ dễ chịu. Bấy giờ mọi việc có một vẻ lắng dịu trước cơn bão tố sắp xảy ra. Tôi điện thoại cho Bill Ryder, hoá ra hắn ở ngay trong căn cứ này. Đúng ra, hắn chỉ cách chỗ chúng tôi vài trăm thước thôi! Tôi bảo vợ: “Thả bộ xuống chỗ ấy nào!”

Văn phòng Bộ Chỉ huy quân Hải vận đầy nhóc bọn con gái Việt Nam coi hết sức ngon lành làm việc ở đấy. Các cô này không muốn ở lại. Thời bấy giờ bất cứ cô nào làm việc cho Mỹ cũng chỉ cho yêu mà không được hôn. Vui chơi thôi, không tình nghĩa gì. Tin tôi đi, bấy giờ xứ ấy đang ở vào một giai đoạn đầy náo động.

Ryder là một gã tuyệt vời hết sức. Hắn cố thu xếp cho tôi đi bằng chiếc Pioneer Contender để ra Vũng Tàu. Tàu ấy được điều khiển bởi một thằng cha thuyền trưởng tên là Flink. Cái văn phòng của Ryder đầy bọn con gái Việt Nam ngồi rỉ rả cắn móng tay, mặc những bộ áo dài đẹp nhất của họ, trong lúc máy vô tuyến cứ phát tin ra, nhận tin vào.

Thế là họ thu xếp cho chúng tôi một cái xe hơi to tổ bố, có lẽ là xe Buick thì phải, với tài xế đàn bà lái để chở chúng tôi đến chiếc tàu chuyển vận tư nhân Hoa Kỳ, chiếc Pioneer Contender. Đường lên cầu tàu dài dằng dặc, vì cái cẳng khốn kiếp của tôi giờ đây sưng phù như cái ống bễ rồi.

Thường thường vợ tôi vẫn cho con mặc quần áo Mỹ vì mỗi lần về nước tôi lại đem sang ít quần áo. Nhưng hôm ấy, Chúa ạ, đứa con gái của tôi lại mặc bộ bà ba Tàu. Con gái tôi rất trắng, nhưng bộ quần áo khốn nạn nó mặc hôm ấy như thế là sai lầm.

Tôi lên tàu, ở đó thằng cha thuyền trưởng Flink đang ngồi sau bàn làm việc của Công ty Chuyển vận mắc dịch này. Tôi nói: “Bill Ryder gửi tôi xuống đây nhờ ông chở tôi và con gái tôi đi.” Vợ tôi lúc ấy ở trên cảng bà ấy sẽ phải đi tìm thằng con trai. Tôi nói bả cứ chờ đó với người tài xế cho đến lúc tôi ra hiệu hãy đi. Tôi rất sợ không có xe, với cái cẳng của tôi như thế mà leo được vào phòng thuyền trưởng là đã chả khác leo lên tận Hy Mã Lạp Sơn.

Vậy mà thế đấy, vào giờ phút Sàigòn sắp đổ, mà hai thằng Mỹ là cha Flink và tôi vẫn còn ở đây, và cái thằng thuyền trưởng mặt mẹt vênh váo ngồi chành bành sau bàn giấy ấy lại bảo tôi rằng: “À há, còn phải đợi chớ. Tôi không thể nhận ông làm hành khách được.” Tôi nói: “Chúa ơi, ông không có ý định bỏ chúng tôi lại cái cảng khốn nạn này chớ?” Hắn nói “Nè! Còn phải có luật lệ? Công ty chúng tôi làm ăn có luật lệ đàng hoàng.”

Ông biết không, sau này không lâu cái công ty chuyển vận hàng hải ấy phá sản. Lúc đó tôi đã nói với hắn: “Cứ theo cách làm việc của mấy người như ông thì công ty ông đến phá sản thôi.” Tôi quả không thể tin nổi thái độ làm việc của mấy thằng cha như vậy.

Hình minh họa

Tôi đành quay lại văn phòng tìm Ryder, nhưng khi nghe có vài phát súng, cô tài xế đã chở vợ tôi đi mất. May tôi không phải cuốc bộ. Tình cờ gặp được một cậu lính Việt Nam có xe gắn máy, tôi bèn nhờ chở tôi với đứa con gái thẳng tới văn phòng. Bill Ryder vẫn còn ngồi đấy với lũ con gái cắn móng tay. Bill hỏi: “Mày làm cái con mẹ gì mà còn chờn vờn ở đây thế?” Tôi đáp: “Cái thằng chó dưới ấy không chịu đưa đi.” Bill Ryder nói: “Bố tiên sư nó.” Thế là hắn lấy một cái xe khác đưa tôi chạy lại tàu, leo lên phòng thuyền trưởng. Bill Ryder bảo: “Nè, anh phải đưa người này đi ngay.” Thằng cha Flink lúc ấy ấp a ấp úng vì có Bộ Chỉ huy quân Hải vận thì các công ty hàng hải này mới sống nổi, cho nên Bill Ryder bảo: “Mấy anh nghe tôi nói đây. Nếu anh không chịu, tôi cho các anh treo giò.” Treo giò có nghĩa là không được trả tiền, mỗi ngày khoảng 27,000 đô la. Chà, nghe như thế thằng cha Flink nhẩy nhổm. Cuộc đời thuyền trưởng của hắn kể như xong. Hắn lắp bắp: “À, trong trường hợp này thì…” Thế là chỉ trong vòng nửa giờ sau mọi chuyện êm thắm. Hắn đưa chúng tôi ra sông, nhắm hướng Vũng Tàu mà đi.

Thằng cha thuyền trưởng Flink bấy giờ có lẽ đã đái trong quần, hắn cho tàu chạy hết tốc lực ra Vũng Tàu. Thuyền trưởng Iacobacci phái một xuồng cấp cứu chạy đến bốc chúng tôi. Vợ tôi bấy giờ đã về nhà quê đón con trai. Đại tá Vọng cũng giúp đỡ sắp xếp cho mọi việc. Bả đi, tay vác cái va li, tay dắt con lội bộ hơn hai mươi ba dặm đường. Phải đi qua nào rừng cao su, nào rừng dừa, đủ các thứ cứt ỉa như vậy, khó khăn lắm mới qua được, cũng đều nhờ Đại tá Vọng cả. Bả về được đến Sàigòn. Vào căn cứ, tại đó bả là người đàn bà duy nhất. Nhờ có mấy tấm giấy với chữ ký của Đại tá Vọng, bả đi được bất cứ chỗ nào. Đại tá Vọng là tổ sư luật pháp ở đây mà.

Phần tôi và con gái đi tàu Greenville Victory, đến Phi Luật Tân. Vợ tôi và con trai đi tàu Boo Heung Pioneer, chuyến tàu cuối cùng.

Tôi còn nhớ khi tàu đậu ở bến có một cha mặc bộ vét đen coi trịnh trọng lấm, hắn leo lên tàu, rồi chạy sục sạo khắp nơi. Hắn đi kiếm con chó của ông Đại sứ! Thực thế đấy. Trong lúc người ta đang bận rộn bốc đi 11,000 người di tản, thì thằng cha hình như là đệ nhị bí thư – Chức tước mả mẹ gì không rõ – Cứ chạy sục sạo từ tàu này sang tàu khác để kiếm con chó của ngài Đại sứ Martin!

Chúng tôi đến Phi Luật Tân, ở đó tôi gặp một cha thuyền trưởng tên là Ruebasmen, quen biết từ trước. Cha này là tay tổ bên Bộ Chỉ huy Quân Hải vận thì phải. Lúc ấy tôi đang ngồi trong câu lạc bộ sĩ quan tại căn cứ Hải quân ở Vịnh Subic, cha này tiến đến chào hỏi, hắn nói: “Tiện thể xin cho bạn biết, vợ bạn đang ở East Le Grande. Bả vừa mới tới bằng tàu Boo Heung Pioneer.” Tất nhiên như thế tôi biết vợ tôi đã đón được Minh ra đi. Cả Bill Ryder và Đại tá Vọng đã giúp bả ra đi trên tàu này, bả còn được ngủ ngay trong phòng thuyền trưởng. Bấy giờ đã mười giờ rưỡi đêm rồi. Ruebasmen nói: “Sáng mai bạn có thể lấy xuồng của tôi mà chạy đi tìm vợ.” Thế là mọi sự đã ổn. Sáng hôm sau, tôi phóng đi tìm bả. Nhưng bả lại đi mất. Họ đã mang bả sang Guam. Ít nhất tôi cũng yên tâm là bả đang ở trên đường sang Mỹ. Tiếp theo, tôi nghe tin bả được đưa đến trại tỵ nạn Indian Town Gap, ở Pennsylvania. Tôi gọi ngay điện thoại tới bảo: “Không nhúc nhích đi đâu hết! Ở đâu ở nguyên đó!”

Tôi xin kể thêm cho ông nghe một việc; Căn nhà của chúng tôi tại ngoại vi thành phố Tây Ninh là một căn nhà rất thần tiên. Một toà nhà đẹp tuyệt trần. Bọn Cộng sản ngày nay cứ gọi Việt Nam là “Cộng Hoà” này, “Cộng Hoà” nọ, “Nhân dân” này, “Nhân dân” kia, đều là chuyện cứt khô! Mấy thằng cán bộ cao cấp trong chính phủ Cộng sản còn sống đế vương hơn cả hoàng đế Nga! Ông có biết mẹ vợ, các anh chị em vợ tôi ngày nay ở đâu không? Họ đang ở trong mấy cái nhà kho. Thế ông có biết ai đang ở trong căn nhà đẹp đẽ của chúng tôi không? Thằng cha tỉnh ủy Cộng sản. Tụi nó chỉ đổi cái huy hiệu trên cái mũ. Thế thôi. Đ.M. Bọn nó gỡ cái huy hiệu cũ ra, gắn lên một cái ngôi sao, rồi dọn ngay vào ngôi nhà mắc dịch của chúng tôi mà ở, thế thôi.

Hình minh họa

Nhưng chả sao. Chúng tôi được an toàn, hạnh phúc êm ấm tại đây. Đứa con trai lớn là con riêng vợ tôi, bả lấy một người chồng Việt Nam đã chết trong chiến tranh. Khi tôi gặp bả, thằng bé chỉ lớn hơn ổ bánh mì chút xíu, hắn không biết ai là cha hắn ngoài tôi. Cho đến năm hắn mười lăm tuổi, tôi mới kể chuyện cho hắn nghe, bởi vì một lần tôi có nói với hắn rằng: rồi đến lúc mười bảy tuổi nhìn vào gương hắn sẽ nhận ra tôi không phải cha đẻ của hắn. Hắn có vẻ mặt rất Á Đông, nhưng hắn ngoan lắm, như con ruột tôi vậy. Ngoài ra chúng tôi cũng có hai đứa con đẻ.

Các ký ức chiến tranh không làm phiền tôi vì tôi đã trải qua nhiều chuyện rồi. Hồi đệ nhị thế chiến tôi đã sống sót trong một vụ đắm tàu ngoài khơi biển Ba Tây. Tôi cũng không nói là tôi không sợ, vì suốt một hai tuần lễ đầu khi trở về Mỹ cứ nghe chuông điện thoại là tôi ớn, chả khác gì còi báo động. Nhưng chỉ một vài tuần là hết. Rồi tôi lại làm một chuyến đi nữa trên tàu Mayaguez vào năm 1975, nhưng đấy lại là một chuyện khác.

Nếu phải bắt đầu tất cả mọi sự, tôi sẽ không ngần ngừ một phút. Nói thẳng ra, trong thực tế, bây giờ chả có gì khoái trá hơn đối với tôi trong cõi đời mắc dịch này là: Được bước về căn nhà của chúng tôi ở Tây Ninh, đá đít cái thằng cha Tỉnh ủy Cộng sản mắc dịch, cho nó đi chơi chỗ khác.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 23 Jan 2024

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

HAROLD J. MURPHY
(Thợ mộc, thủy thủ tàu Greenville Victory)
“Chúng tôi là những cứu tinh”

Vào năm 1975 tôi lại nghe biển cả thôi thúc. Tiếng réo gọi của biển đôi lúc vọng về. Ông ạ, nếu ông có thân quyến hoặc bạn bè đi biển, ông sẽ hiểu điều tôi muốn nói. Tôi đã nghe tiếng biển khơi réo gọi từ khi còn trẻ, cho nên chẳng bao giờ có thể ngừng đi. Có kẻ nào đi biển – khi đã lên đất liền – mà lại không nghĩ đến chuyện trở về với biển đâu?

Cho nên năm ấy, tôi đi Nữu ước. Ở đó, trên chiếc tàu Greenville Victory người ta đang thiếu một chân thợ mộc. Thế đấy. Tôi lại ra khơi trên chiếc tàu Greenville Victory với tư cách là một bác phó mộc. Chúng tôi sang bờ biển miền Tây, đến Port Chicago, chất một chuyến vũ khí
đạn dược, rồi vượt sóng đại dương đến vịnh Cam Ranh và Đà Nẵng.

Bấy giờ, người Việt Nam không hiểu rõ tình hình đã tệ hại đến mức nào. Tôi chắc chắn như vậy. Chúng tôi cũng không biết trời trăng gì hơn. Nói cho đúng, chúng tôi biết tình hình rất xấu, đất nước này chẳng tồn tại được lâu. Tuy nhiên tôi nghĩ là không có ai biết được việc đổ vỡ đã xảy ra nhanh chóng đến như thế.Đầu tiên, chúng tôi cho tàu đến Vịnh Cam Ranh, rồi đến Đà Nẵng. Đà Nẵng lúc ấy căng thẳng. Người ta đã cảm thấy được có chuyện sắp xảy ra. Địch quân thường cho người nhái lội đến gài mìn, người ta phải để hàng thùng lựu đạn trên tàu. Cứ khoảng năm mươi bộ Anh lại để một thùng, thỉnh thoảng liệng xuống nước vài trái phòng ngừa. Chúng tôi đến Thái Lan, chất một mớ hàng quân dụng, rồi quay về Mỹ. Nhưng vừa cập bến, mọi chuyện đã bùng ra. Người ta yêu cầu tàu quay lại Việt Nam. Bấy giờ nhằm ngày chủ nhật, lễ Phục Sinh, khoảng cuối tháng ba, chúng tôi được yêu cầu đi Đà Nẵng. Họ bảo đi giải cứu những người sống sót. Lúc ấy, chúng tôi đã hiểu những gì đang xảy ra. Hiệp Chủng Quốc đã rút quân khỏi Việt Nam từ một, hai năm trước. Tôi hiểu người miền Nam Việt Nam đang lôi thôi to. Chúng ta đã gây nhiều tệ hại cho họ, tôi cảm thấy có mặc cảm phạm tội về chuyện này. Địa điểm đầu tiên tàu vào lần này cũng là Cam Ranh. Chúng tôi bốc người tại bến tàu, nhưng việc bốc người trở nên hỗn loạn nên chúng tôi phải đưa tàu ra ngoài bỏ neo. Tại đây, người ta dùng thuyền nhỏ bơi ra, chúng tôi bốc họ lên. Những người ấy sinh sống trên những con thuyền, ông có hiểu không, nhiều người đã đem theo tất cả của cải. Nhưng tất nhiên làm sao chúng tôi có thể bốc lên tất cả mọi thứ, ngoại trừ người, một ít đồ ăn, và những chiếc xe Honda 50 phân khối be bé của họ. Những chiếc xe này, chúng tôi cho phép họ đem theo, cũng chẳng rõ đã chở đi tất cả bao nhiêu chiếc.

Hình minh họa

Thôi thì đủ loại người: thường dân, đàn bà, con trẻ, nhà binh, mấy người này hiển nhiên đang tháo chạy, chúng tôi phải cố mọi cách tước khí giới, không thể để cho họ giữ đủ các thứ vũ khí lung tung trên tàu được. Chúng tôi làm việc cật lực, nhưng ông phải có mặt ở đấy mới thấy, tình trạng hết sức hỗn loạn xô bồ. Chúng tôi sử dụng mọi phương tiện bốc họ vào tàu: nào trục từ bên thành tàu, nào câu họ vào bằng lưới bốc hàng. Chúng tôi bốc người như bốc hàng hoá, họ cứ đeo nhau, len lấn mà lên tàu.

Chúng tôi tìm cách tước khí giới họ bằng mọi giá – súng trường, súng lục, lựu đạn, đủ thứ vũ khí chất đầy một phòng, mà vẫn còn sót, không lấy được hết.

Trên chuyến tàu này, chúng tôi chở khoảng mười ngàn con người. Ông nhớ cho, đây là chiếc Victory, dài 500 bộ Anh. Tàu chở đạn trọng tải chín, mười ngàn tấn, với 5 năm khoang chở hàng. Cứ thế chúng tôi nhét họ vào như nhét hàng. Chỗ nào cũng là người. Ngay trên mấy tàu cấp cứu cũng đầy người.

Chúng tôi cố ngăn không cho họ vào khoang chính trong lòng tàu, là khu vực thủy thủ làm việc. Ấy thế mà người ta vẫn tràn vào. Mặt khác, chúng tôi cố lo cho họ đồ ăn thức uống, nhưng số người đông quá sức. Chúng tôi chỉ có thể lo liệu được trong khả năng thôi. Chúng tôi – ít nhất, chính bản thân tôi – đã cảm thấy cần phải chuộc lỗi chút đỉnh với họ về những chuyện tệ hại chúng ta đã gây ra. Đúng thế, chúng ta đã gây nhiều tệ hại cho họ. Đáng lẽ ngay từ đầu, chúng ta đừng nên đến đất nước ấy, có lẽ như thế, nhưng khi đã đến đấy rồi thì cần phải xử sự cho đúng đắn. Nhưng không, chúng ta đã bỏ rơi họ và nói rằng: “Đấy, bây giờ các anh tự làm lấy mọi thứ đi.” Và họ làm sao có khả năng làm chuyện ấy?

Trên tàu không thực phẩm, không nước uống, không cả tiện nghi vệ sinh. Xin ông bỏ lỗi, mười ngàn con người, ông thử tưởng tượng xem? Tàu không có đồ ăn, nhưng họ có mang gạo – với máy lọc nước, tàu chỉ có thể cung cấp chừng mười lăm tấn nước ngọt mỗi ngày, nhưng họ đã dùng đến ba mươi tấn.

Chúng tôi tìm cách bắt vòi rồng, chạy bơm nước cứu hỏa để ít ra người ta có thể tắm gội bằng nước biển, và để chùi dội những thứ họ bài tiết trên khoang tàu. Tình trạng hết sức tệ.

Những khoang chứa có lót ván gỗ để bảo vệ đạn dược, người ta phá vách tháo gỗ ra chụm lửa thổi cơm. Còn nói gì nữa, hỏa hoạn phải xảy ra thôi. Có nhiều vụ cháy chúng tôi bở hơi tai mới dập tắt được. Sau chúng tôi cho cắt đôi các thùng sắt đựng dầu loại 50 ga-lông, chúng tôi cho họ dụng cụ tháo gỗ và chẻ củi cho tử tế, rồi dùng các thùng sắt này làm bếp nấu cơm để tránh xảy ra hỏa hoạn.

Ông ạ, lối vào Vịnh Cam Ranh bao quanh bởi những vách đá cao có đặt đại liên 105 ly. Chúng tôi lo, chẳng biết các họng súng này có nhả đạn vào chúng tôi không. Nhưng may mắn, lúc bốc lên tàu đủ số người có thể chở được rồi, thì một trận mưa gió mù mịt nổi lên. Không ai còn có thể nhìn thấy gì nữa. Chính trận mưa gió mù mịt này đã che chở cho tàu ra khơi.

Bấy giờ hạm đội ở cả bên ngoài. Có lệnh không được vào gần bờ ba mươi hải lý, nên họ ở cả ngoài khơi, nhưng tất nhiên chúng tôi liên lạc với họ bằng vô tuyến để nhận lệnh chỉ huy từ hải quân. Thủy thủ đoàn chúng tôi đều là dân sự, nhưng tàu là của hải quân.

Họ bảo chúng tôi đưa người tỵ nạn đến một hòn đảo, tên là đảo “Phú Quốc,” hòn đảo này nằm ở ngoài khơi giữa biên giới Việt Nam và Cam Bốt. Tôi nhớ hải trình mất đến hai hay ba ngày. Khi đến đảo, chúng tôi thả neo, định cho người xuống, rồi trở lại xem có thể giúp thêm một số người khác chăng. Nhưng họ từ chối không ra khỏi tàu.

Mấy chiếc xuồng đổ bộ đáng lẽ phải ra đưa người vào, nhưng xuồng không thấy ra. Cho nên chúng tôi cứ bỏ neo chờ, chừng đâu một ngày thì phải. Người tỵ nạn trở nên bứt rứt bực bội. Sau cùng, họ đưa một phái đoàn đến tận phòng lái. Về chuyện này, tôi nhớ là vì về sau thuyền trưởng Ray Iacobacci cứ bảo ông ta may mắn lắm mới sống sót. Phái đoàn gồm có một ông cha Công giáo, một số đại diện những người trên tàu. Những đòi hỏi họ đưa ra là chúng tôi phải rời vùng ấy ngay tức khắc. Họ sẽ không lên bờ. Họ bảo, điều thứ nhất, Phú Quốc nguyên là chỗ đi đày, nghe như thế họ đã không thích rồi. Điều thứ hai, lỡ Cộng sản đến, họ mắc kẹt. Chẳng có lối nào thoát ra khỏi đảo, cứ ở đấy thì sẽ trở thành những cái tử thi thôi.

Tiếp theo, họ bảo họ có vũ khí, có chất nổ trong tay – đủ sức phá tung chiếc tàu. Nếu chúng tôi không chịu rời đi ngay, họ sẽ làm đúng y chang những lời họ nói. Họ mang theo một bản đồ hải hành. Chúng tôi hỏi thế họ muốn đi đâu. Họ chỉ “Vũng Tàu.” Đó là một cái cảng ở ngay cửa sông dẫn đến Sàigòn. Trong tình thế ấy, tất nhiên quyết định tối hậu phải là: “Khôn hồn đi quách khỏi nơi đây.”

Hình minh họa

Phải nói tôi có cảm tình với những người này. Tôi không trách họ, nếu ở hoàn cảnh ấy, tôi cũng làm thế thôi. Cho nên khi thuyền trưởng hỏi: “Phải làm gì bây giờ?” Tôi bảo: “Kệ xác. Nhổ neo đi quách khỏi nơi đây.” Thật giản dị. Tôi nghĩ mọi người đã hiểu rõ những gì họ nói. Ớ góc đảo ấy, lấy đâu ra lối thoát?

Bấy giờ, ông hiểu không, tôi biết họ nói là họ làm. Tôi không ngờ vực gì chuyện họ dọa nổ chìm tàu. Họ sẽ làm đúng điều họ nói. Thế mà, ông hiểu không, suốt lúc ấy tôi không hề cảm thấy một nỗi hiểm nguy nào cho tính mạng tôi cả.

Họ không hề dọa dẫm bất cứ một cá nhân nào trong thủy thủ đoàn. Ô, thưa ông không. Chúng tôi chính là những cứu tinh của họ.

Thế đấy, chúng tôi đã rời đảo Phú Quốc quay lại Vũng Tàu. Tôi quên mất tổng cộng số thời gian ở trên tàu bao lâu, nhưng ít nhất phải năm ngày trời. Năm ngày ròng rã không thức ăn nước uống gì trên tàu cả.

Cập đến Vũng Tàu, sau rốt chúng tôi thả hết được họ xuống. Xuồng đổ bộ chạy ra, đưa tất cả những người trên tàu vào đất liền. Chúng tôi bèn cho tàu ngược dòng sông, đến Sàigòn chùi rửa. Chuyện này thì hết chỗ nói.

Trong suốt tác vụ, chỉ thiệt một nhân mạng. Lúc bốc người từ thuyền vào tàu, một đứa bé rơi xuống biển, giữa khoảng cách của thuyền và tàu, không ngoi lên được nữa. Đó là thiệt hại nhân mạng duy nhất. Tuy nhiên trong thực tế, nhân số lại sinh sôi, bởi lẽ đã có hai đứa trẻ ra đời ở trên tàu.

Khi quốc gia này mất, chúng tôi vẫn còn ở Vũng Tàu. Tại đây, chúng tôi nhìn thấy trực thăng từ toà đại sứ bay qua, chúng tôi hiểu mọi sự đến lúc cáo chung rồi. Lúc ấy, sự rối loạn hỗn độn lại bục ra. Hàng ngàn chiếc tàu: tàu lớn, tàu nhỏ, ghe thuyền đủ thứ đủ loại chạy túa ra. Chúng tôi bốc người lên tàu đa số bằng cách thả lưới bốc hàng. Trước khi rời thuyền, họ đục lỗ ở thùng xăng, châm lửa để Cộng sản không lấy được thuyền của họ. Cả một khu vực trên mặt biển lúc ấy đầy những ghe thuyền tàu bè bốc cháy. Những ghe thuyền này đều là nhà của họ. Thật đáng buồn khi nhìn người ta tự thiêu đốt chính căn nhà của mình.

Với những gì đã xảy ra, với những gì tất cả những con người này phải trải qua, nếu là trường hợp người Mỹ, tôi nghĩ người ta đã hoá điên hết mất thôi. Họ châm lửa đốt nhà cửa của cải. Họ không thể đem đi theo bất cứ một thứ gì. Tàu chúng tôi lúc ấy chốc chốc phải di chuyển, vì lẽ họ kéo đến đông quá. Với bấy nhiêu ngàn con người, chúng tôi còn có thể làm gì được. Thỉnh thoảng, chúng tôi cho tàu ra chừng một hải lý, rồi lại quay trở vào, cứ thế vài lần. Chúng tôi đánh chìm mất một thuyền tỵ nạn, vì chân vịt của tàu chặt xuống trong lúc lùi. Bấy giờ là một lúc hoàn toàn rối rắm. Chúng tôi tiếp tục bốc và chất người lên tàu trong tình trạng như thế cho đến tối mịt thì đầy. Chúng tôi chở số người ấy nhắm hướng đến Vịnh Subic ở Phi Luật Tân. Chúng tôi không gặp khó khăn nào. Chúng tôi đã cố tịch thu vũ khí càng nhiều càng tốt. Một số vũ khí được giữ lại trên tàu, hàng ngàn món vũ khí khác cứ thế liệng xuống lòng biển.

Hình minh họa

Vì người ta mong muốn ra đi, nên họ đã hết lòng cộng tác với chúng tôi – Tất cả những người trên tàu làm được gì, họ làm nấy – Bất kể việc gì cần, họ làm, từ bồng bế di chuyển trẻ qua những đường cầu tàu: Vô số trẻ con, trẻ sơ sinh đã phải chuyển dần từ người này qua người khác dọc theo đường từ mũi đến lái.

Toàn bộ thủy thủ đoàn nỗ lực tham dự mọi việc trăm phần trăm. Những việc này, tất nhiên mang nhiều ý nghĩa hơn là việc khiêng vác chuyên chở đạn dược. Những con người này đang gặp hoàn cảnh cực kỳ bi đát khốn cùng. Cuộc sống của họ treo trên chỉ mành, và chúng tôi là tất cả mối hy vọng duy nhất để giúp họ rời khỏi xứ. Trong nhãn quan của người miền Bắc, họ là những cảm tình viên của người Mỹ, họ là những người cộng tác với Mỹ, họ là “Ngụy”. Chúng ta là kẻ thù của Cộng sản, họ là những người đã cộng tác với chúng ta. Điều này đây chính là một bản án tử hình cho họ.

Suốt hải trình đi Subic, không nhân mạng nào mất mát. Chưa kể lại thêm một chú bé ra đời, tăng nhân số người tỵ nạn lên trong chuyến đi.

Chuyến này chúng tôi chuẩn bị chu đáo hơn chuyến trước. Khi ghé Sàigòn, nhiều cơ quan cứu trợ đã tiếp tế lên tàu hàng tấn thực phẩm. Chúng tôi đã chu đáo tổ chức những khu nấu cơm, cung cấp cho họ những cái bếp ba chân để chụm lửa. Chuyến thứ nhất, quả thực chúng tôi không hề rõ những gì sẽ xảy ra. Bấy giờ chỉ biết: Đi, đi xem có thể giải cứu gì một số người tỵ nạn chăng.

Những người tỵ nạn xét ra là những người rất thân thiện. Tương đối so với tất cả những gì đã xảy ra, những gì họ đã phải trải qua, họ là những con người tuyệt diệu – và quá sức là đông. Chỗ nào cũng là – người. Mỗi lần tôi đi từ giữa tàu đến mũi tàu là phải đi ngang đám người đông đảo ấy, họ đều dãn ra hai bên nhường lối cho tôi qua. Mỗi một phân vuông trên tàu đều chen chúc toàn người là người.

Tại Vịnh Subic, một hòn đảo được sử dụng làm khu tạm ngừng – Mọi người đều được đưa đến đảo ấy, tôi đoán mục đích để kiểm chứng tên tuổi, căn cước và thiết lập hồ sơ, nên tất cả đều phải chờ ở đây. Thủy thủ đoàn chúng tôi cũng đều phải ở lại Vịnh Subic một hoặc hai tháng dự phòng trường hợp chúng tôi cần đưa họ sang Guam, là khu vực tạm cư chính. Nhưng sau đó người ta không cần chúng tôi làm công tác ấy nữa. Đa số người tỵ nạn được đưa sang Guam bằng máy bay, nhưng chúng tôi vẫn cứ nán lại suốt thời gian ấy để dự phòng.

Tôi nghĩ chúng tôi đã thi hành công tác này một cách tốt đẹp. Chúng tôi đã đưa đi được mười tám ngàn người. Thật ra, ước chi chúng tôi có thể đưa đi được nhiều hơn nữa.

Sau khi rời Vịnh Subic, tàu chúng tôi vượt biển về Mỹ, đến thành phố Mobile ở tiểu bang Alabama. Tại thành phố này, người ta đã dành cho chúng tôi một cuộc tiếp đón hết sức trọng thể. Thị trưởng và tất cả dân chúng trong thành phố đã ùa ra nghênh đón với ban nhạc kèn đồng, và nhiều thứ tốt đẹp khác, chắc ông cũng biết. Mỗi chúng tôi đều nhận được một tấm giấy, họ nói cảm ơn chúng tôi đã làm việc tốt, cử chỉ này thực là khả ái.

Ông ạ, có nhiều việc sau khi làm rồi thì người ta mới kiếm cách giải thích, chứ thực ra trước đó có nghĩ gì đâu? Bấy giờ đối với chúng tôi mọi chuyện giản dị hết sức: “Đó, người ta đầy ra đó. Bốc họ đi khỏi chỗ ấy ngay!” Thế là xông vào làm thôi, những lúc ấy, kích thích tố trong cơ thể dâng lên làm cho người ta hăng hái, người ta xắn áo, bắt tay vào việc thôi. Bọn đi biển kỳ khôi lắm, ông biết đấy. Việc gì cần làm, họ làm gọn. Họ là những người rất tốt, những người tốt nhất đời mà tôi được biết. Họ luôn luôn làm tròn công việc của họ. Đây là tôi nói bọn đi biển chuyên nghiệp, chứ không nói về bọn nhà binh. Bọn đi biển chuyên nghiệp làm gấp mười bọn nhà binh. Ông thấy chiếc tàu Greenville Victory đấy, chiếc tàu trọng tải mười ngàn tấn mà thủy thủ đoàn chỉ cần có ba mươi tám mạng. Nếu là tàu hải quân, họ phải xài ba trăm năm mươi thủy thủ là ít. Bọn tôi là bọn đi biển chuyên nghiệp, nó khác, bao giờ tôi cũng hãnh diện mà nói như thế, thưa ông.

Hình minh họa

Từ sau những chuyến đi ấy đến nay, thật đáng tiếc là tôi chưa hề có dịp gặp lại một người tỵ nạn Việt Nam nào từng ở trên chiếc tàu chúng tôi đã đưa đi.

Tôi vẫn ao ước phải chi tôi có giữ được tên của một trong những người ấy mà gặp gỡ chuyện trò, bất cứ người Việt Nam nào đã đi trên chiếc tàu Greenville Victory năm ấy mà nay đã đến Mỹ định cư.

Cách đây chẳng lâu, tôi có dịp đọc nhật trình cũng thấy nói về cộng đồng Việt Nam bên miền Tây. Báo chí nói họ được thành công, nhiều người đã khá lắm. Họ là những người chăm chỉ, những người tốt đấy. Họ chịu khó làm việc cực nhọc chớ không chịu ăn trợ cấp, họ luôn luôn cố gắng làm việc để nuôi con cái ăn học. Gần đây, tôi còn nghe nói có một người Việt đã đỗ cả thủ khoa trường võ bị. Người Việt Nam là những người rất thông minh, chăm chỉ. Tôi đã ở Viễn Đông khá lâu, với những kinh nghiệm trải qua ở Việt Nam, tôi hiểu những người Việt Nam như thế nào.

Còn mấy đứa con tôi, đứa ba mươi bảy, đứa ba mươi lăm, đứa ba mươi ba, một thằng cháu nội đã mười lăm tuổi đầu. Khi tôi về, kể chuyện chúng ta đã bỏ rơi dân tộc ấy, chẳng đứa nào buồn hỏi câu gì. Không đứa nào hỏi một câu, ví dụ quan niệm tôi thế nào, chúng ta có nên rút đi và bỏ lại những người ấy hay không?

Những buồn tiếc không thể kể hết được, ông ạ. Khi tôi nhìn vào mắt những người Việt Nam lúc ấy, tôi cảm thấy một cách sâu xa cái câu hỏi chứa đựng trong lúc họ ngước nhìn: “Tại sao bỏ rơi chúng tôi? Tại sao người Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi?” Các cặp mắt ấy không hề tỏ lộ oán thù. Những cặp mắt ấy chỉ như mắt đứa bé con ngước nhìn cha mà hỏi: “Bố ơi, tại sao bố lại đánh con?” (!)

Người Việt Nam là những người tuyệt diệu. Tôi yêu mến họ lắm. Tôi ước chi tôi có thể mang hết tất cả người Việt ra đi. Nhưng tất nhiên, tốt hơn nữa, tôi ước chi đã không để xảy ra những lý do làm cho họ cần phải ra đi. Đáng lẽ, họ không phải bỏ xứ ra đi.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 23 Jan 2024

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before The Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

STUART HERRINGTON
(Đại úy – Ủy ban Liên hợp Quân sự, phái bộ Hoa Kỳ)
“Không ai se bi bo lai! Dung lo!” (Không ai sẽ bị bỏ lại! Đừng lo!)

Tôi rất lạc quan khi trở lại Việt Nam vào tháng 8 năm 1972. Nhưng vào khoảng thời gian vụ ngưng bắn được ký kết, tôi bớt lạc quan đi. Lúc nghe tin Nixon giải nhiệm, tôi bắt đầu cảm thấy khá chắc chắn: Xứ này có lẽ sẽ sụp đổ. Khi Nixon rời nhiệm sở ngày 8 tháng tám năm 74, tôi lắng nghe tin trên máy thu thanh trong văn phòng tôi tại Sàigòn, và đối với tôi, tin này mang một giá trị then chốt. Niềm tin tưởng Nam Việt Nam có thể thắng và sống còn đã tuyệt đối rúng động. Rồi đến vụ thất thủ Phước Long đầu năm 1975 mới là cái biến cố đã làm cho tôi phải gửi hết vật dụng sở hữu về nhà, làm tôi viết thư cho ông bà già mà nói rằng “Con sẽ về, có lẽ trước tháng tám.” Nó đã làm tôi viết đơn cho Ngũ giác đài để bắt đầu tìm kiếm nhiệm vụ mới. Chính đấy là biến cố đã làm cho tôi đưa vợ con ra khỏi vùng đồng bằng, về Sàigòn ở sát bên tôi.

Bấy giờ tại văn phòng Tùy viên Quân sự, chúng tôi sống trong cái không khí ngày qua ngày, tùy thuộc vào việc Quốc hội Mỹ chấp thuận hay khước từ những yêu cầu viện trợ thêm. Và lúc bấy giờ chỉ còn hàng loạt khước từ. Tùy viên Quân sự lúc ấy, Tướng John Murray rất thất vọng, đôi khi ông than thở với tôi. Ông cay đắng và chua chát. Việc ra đi của tướng Murray và sự cay đắng của ông ghi lại nhiều ấn tượng sâu đậm trong tôi. Tình cờ, tôi có mặt trong văn phòng ông sau khi ông lớn tiếng trong điện thoại với một nhân vật nào đó từ Bộ Quốc phòng. Nhân vật này đã gọi để khiển trách ông vì cuộc phỏng vấn nói về việc “đổi máu lấy đạn” với một phóng viên tờ New York Times. Ông kể cho tôi nghe cuộc phỏng vấn, rồi bảo: “Tôi vừa nói với họ là nếu họ còn gọi điện thoại cho tôi chuyện ấy nữa, tôi sẽ mở hẳn một cuộc họp báo tại Hạ Uy Di mà kể huỵch toẹt tất cả cái câu chuyện khốn nạn này ra.”

Chuyến đi Hà Nội cho Ủy ban Liên hợp Quân sự vào ngày 11 tháng Tư là chuyến đi Hà Nội cuối cùng của tôi. Sau đó, Harry Summers phụ trách vụ đi này. Dầu sao, không còn nghi hoặc gì nữa, bọn Bắc Việt đang nói một cách dõng dạc và minh bạch rằng: “Chúng tôi sẽ để cho bọn các anh ra đi, hãy mang theo người của các anh. Sẽ không có tắm máu. Máu chảy đã đủ rồi. Chúng tôi sẽ cần có sự ủng hộ của nhân dân miền Nam để tái thiết đất nước.” Nhưng cái thông điệp dõng dạc và minh bạch nhất, đó là: Bắc Việt không có ý định cản trở việc ra đi của chúng tôi.

Hình minh họa

Họ muốn phái bộ Mỹ trong Ủy ban Liên hợp Quân sự ở lại – Họ muốn giữ hiệu lực cho Hiệp định Ba Lê, bởi vì Hiệp định này chứa đựng những cam kết của Hoa Kỳ hứa hẹn trả tiền hàn gắn vết thương chiến tranh trong điều khoản XXI. Họ mong muốn củng cố hiệp định ấy, mặc dầu ngay việc ngưng bắn tự nó cũng đã đổ vỡ do sự vi phạm của Thiệu, và mặc dầu, chẳng cách gì chúng ta có thể hoàn tất được điều khoản VIII (b) là điều khoản liên hệ đến việc tìm kiếm người mất tích trong khi thi hành công tác. Bắc Việt cảm thấy hiệp định Ba Lê là một thứ khí cụ pháp lý để đạt viện trợ Hoa Kỳ.

Do đó, hiọ đã nói với tôi, với Harry Summers và bất cứ ai chịu lắng nghe, rằng phái bộ Mỹ nên ở lại Sàigòn, bất kể tình trạng xảy ra cách nào, chúng tôi vẫn sẽ được an toàn.

Tôi gửi các vật dụng sở hữu của tôi ra khỏi xứ chỉ vì tôi cảm thấy tất cả mọi người đang rời đi. Cho đến bốn tuần lễ cuối cùng, chúng tôi mới bắt đầu nghĩ phái bộ Mỹ trong ủy ban liên hợp quân sự có thể sẽ ở lại. Đại tá John Madison liên lạc với Roger Shields, họ nói với ông ta: “Chúng tôi nghe rõ rệt là người ta muốn chúng tôi ở lại. Chúng tôi cần được chỉ thị về việc này.” Chúng tôi được họ bảo sửa soạn mà ở lại. Cho đến tận buổi sáng ngày 29 khi vào toà Đại sứ, chúng tôi vẫn còn nghĩ chúng tôi sẽ ở lại.

Buổi sáng cuối cùng hôm ấy khi rời Tân Sơn Nhứt, chúng tôi đã có: thuốc men, máy thu thanh, thực phẩm. Chúng tôi có một đoàn ba chiếc xe chất đủ thứ, chúng tôi tuyển mộ cả một tay phụ trách truyền tin ở lại với chúng tôi. Lúc ấy có một khoảng thời gian chừng như các nhà lãnh đạo quốc gia muốn chúng tôi ở lại, và đây là một hành vi tượng trưng chứng tỏ rằng Hoa Kỳ đã sẵn sàng lo liệu vụ những người mất tích. Vì thế, giống như những người lính tốt, chúng tôi chuẩn bị thi hành, mặc dầu nói cho ngay cá nhân tôi không lấy gì nồng nhiệt cho lắm về việc ở lại Sàigòn sau khi người Mỹ rút đi. Chúng tôi cười đùa với nhau việc này, chúng tôi nói là chúng tôi sẽ chui vào một căn phòng trong toà đại sứ, khoá cửa lại cầu nguyện để chờ bộ đội Bắc Việt kéo đến. Lại còn phải chuẩn bị đối phó một chuyện nữa, ấy là: Chúng ta đã bỏ rơi những người miền Nam Việt Nam. Họ không lấy gì làm vui lắm về chuyện này đâu.

Khoảng một giờ sáng ngày 28 tháng tư, Đại tá Summer, Đại tá Madison và tôi đến khu hồ tắm tại căn cứ văn phòng Tùy viên Quân sự, nơi chất người lên xe buýt đưa ra máy bay di tản. Tôi định đến văn phòng leo lên ghế dài chợp mắt vài ba giờ. Tôi lái một chiếc xe Land Rover, đi ngang Trạm gác số 2 của Thủy quân Lục chiến Mỹ. Trạm này ở ngang bên lề đường, sát căn cứ, lúc ấy có hai Hạ sĩ Darwin Judge và Charles McMahon đang ứng trực. Tôi ngừng lại, hỏi: “Mọi việc ra sao, các cậu.” “Tốt thôi, thưa Đại úy.” Cả hai đều mặc áo giáp. Tôi vào văn phòng, ngả lưng một lúc trên cái ghế đệm dài của Đại tá Madison. Trong phòng, có hệ thống vô tuyến truyền thanh để liên lạc với Thủy quân Lục chiến ở toà Đại sứ. Hệ thống này liên hợp tất cả các trạm gác, tôi cho máy chạy. Đến bốn giờ sáng, địch pháo kích. Một quả sang bên kia đường, trúng ngôi nhà của ông tướng. Một quả đúng chỗ hai anh Hạ sĩ Judge và McMahon đứng. Một quả nữa vào khu để xe moóc. Sức công phá của rốc-kết 122 ly thật dữ dội làm rung chuyển cả toà nhà văn phòng Tùy viên Quân sự. Tôi nhớ lá cờ đặt trên bàn làm việc của Đại tá Madison rơi xuống. Lập tức, tôi nghe tiếng la trong máy vô tuyến là khu tập thể dục đã trúng đạn, bị nhiều thiệt hại. Tôi chạy ra khỏi văn phòng. Tôi đến trạm y tế, phá cửa ra. Các Thủy quân Lục chiến tại cao ốc bấy giờ đang ở cả trong công sự trú ẩn nằm phía ngoài cổng bộ chỉ huy văn phòng Tùy viên Quân sự.

Lệnh báo động vẫn còn. Tôi la lớn: “Ở đây có ai phụ trách cứu thương không?” “Thưa, có tôi.” Tôi bảo người lính Thủy quân Lục chiến chỗ để thuốc, tôi bảo anh ta lấy một chiếc xe chạy ra khu tập thể dục. Trước đấy tôi đã thấy khoảng bốn trăm người trong khu này. Tôi nghĩ nếu quả rốc-kết đánh trúng khu này thì thật lôi thôi.

Hình minh họa

Rồi tôi chạy đến cổng gác số hai. Chiếc xe cứu thương đang đậu ở đấy, viên Trung sĩ Kevin Maloney đang đứng đấy, rồi chiếc xe cứu thương trở bánh chạy đi. Còn Maloney vẫn đứng như trời trồng. Hắn đứng thẳng đuỗn người. Tôi hỏi: “Anh làm gì vậy?” Hắn đáp: “Trình diện Đại úy, tôi Trung sĩ Maloney, Tiểu đội Trưởng Cảm tử. Tôi đang canh gác vị trí. Hai người của tôi đã tử thương.” Hắn vừa dứt, thì một quả rốc-kết phóng đến nổ tàn bạo bên kia đường. Đây thực là một thứ vũ khí khủng khiếp. Cả hai chúng tôi nhảy ùm vào một đường rãnh. Tôi nói: “Bạn già Maloney ơi. Nếu muốn canh gác thì chỗ này tốt hơn. Nằm chỗ này mà canh.”

Đúng lúc quả rốc-kết 122 ly bắn đến, đại liên bắt đầu khạc đạn. Toàn thứ dữ, loại một trăm ba mươi ly. Đạn bay phía dưới đường, bên kia đường. Nhìn lửa cũng có thể biết một loạt ngắn đã rơi xuống ngay bên kia đường, trước mặt chúng tôi. Gần đến phát khiếp. Miểng đạn văng ra, đụng mấy sợi xích cánh cổng kêu rổn rảng ngay phía sau chúng tôi.

Tôi không có mũ sắt, chỉ đội mũ vải. Cái mũ sắt đã để trong khu Cư xá Sĩ quan độc thân. Tôi bò đến lượm một cái mũ sắt nằm lăn lóc trên mặt đất, đội vào đầu, rồi bò về lại chỗ Maloney. Lúc ấy họa có khùng mới đứng dậy. Tôi cứ nằm đấy, chờ dịp bò ra. Trong không khí nặng nề của lệnh báo động và những loạt đạn rơi, chẳng ai dại đánh bạc với tính mệnh để đứng dậy đi quanh. Cho nên chúng tôi nằm phục ở đấy. Đây sẽ là vị trí canh gác của Maloney, khi nào hoàn hồn, hắn sẽ ngồi đấy mà canh. Lửa phụt từ phía bên kia đường, chỗ dốc Tân Sơn Nhứt. Có nhiều tiếng phát nổ. Maloney chợt thấy bóng người băng ngang đường chỉ cách chúng tôi năm mươi, sáu mươi bộ Anh về phía trái. Hắn nhắm mũi súng, dù không biết đấy là ai. Chúng tôi nhảy vọt ra. Hắn cầm khẩu M- 16, tôi cầm khẩu 45, chặn họ lại. Hoá ra là hai an ninh người Việt làm cho một hãng thầu Mỹ. Maloney bắt họ dừng. Tôi nhận ra họ. Họ nói tiếng Việt bảo tôi họ phải chạy ra vì đạn bắn rất chính xác, ở đây nguy hiểm quá.

Một vài chiếc máy bay cất cánh trong lúc vẫn còn lệnh báo động, ít nhất có một chiếc AC-119 bay lên. Rồi một chiếc thám thính cơ cũng bay lên. cả hai đều bị hoả tiễn tầm nhiệt bắn hạ. Hàng ngàn người chứng kiến việc ấy.

Tôi nhớ còn có một chiếc Hueys của hãng Air America bay lởn vởn, nhưng tôi nhớ chắc chắn một chiếc AC-119 và một chiếc máy bay bà già L-19 đã cất cánh, cả hai đều bị bắn hạ trong tầm chứng kiến của cả thành phố Sàigòn.

Chúng tôi về nằm lại chỗ đường rãnh một lúc. Bấy giờ trời bắt đầu hửng sáng. Maloney và tôi ngồi dậy – Lệnh báo động đã rút. Chúng tôi đi quanh. Chúng tôi tìm thấy mảnh vụn các tử thi rơi vung vãi. Một chiếc giầy bốt còn nguyên bàn chân bên trong. Một phần của khẩu M- 16 với cò súng và cơ bẩm còn nguyên danh số nhờ đó sẽ xác định được của ai. Vài miếng thịt da người văng lên, mắc vào sợi giây xích sắt móc trên cổng ra vào.

Sau đó tôi tìm ra là loạt đạn đại liên đã rơi ngay vào sân đánh banh tay của văn phòng Tùy viên Quân sự. Những bức tường gỗ của sân banh găm đầy miểng đạn. Tôi nghĩ chỉ có một, hai người bị thương nhẹ, thế thôi. Mấy vòng bắn tạo ra sợ hãi hơn là thiệt hại. Còn Hạ sĩ Judge và Hạ sĩ McMahon chẳng may đã đứng ở một chỗ xui vào một lúc xui.

Tôi mang khẩu M-16 vào trung tâm chỉ huy đưa cho Đại tá Thủy quân Lục chiến Slade, đụng đầu Joan là vợ của tướng Homer Smith khi bước vào. Bà ấy thét lên khi thấy tôi. Tôi chẳng hiểu tại sao bà ấy thét dữ dội thế, tay cứ chỉ vào tôi.

Tôi dở cái mũ sắt khỏi đầu. Cái mũ sắt tím bầm máu. Tôi vào phòng vệ sinh, cạo rửa lớp máu, thấy một cái lỗ to tướng ngay trên thành mũ. Giống như có ai đã dùng dao mở hộp mà khoét một cái lỗ trên ấy.

Đó là cái mũ sắt của Hạ sĩ Judge mà tôi nhặt được và đã đội lên đầu. Sau đó tôi đội cái mũ này trong suốt cuộc di tản. Tôi đội cái mũ ấy ở Bangkok. Rồi tôi gửi cái mũ sang Mỹ kèm lá thư kể rõ lai lịch cho Bộ Tư lệnh Thủy quân Lục chiến Hoa kỳ. Tôi nói tôi cảm thấy họ phải giữ cái mũ này, cái mũ có viết tên Hạ sĩ Judge với một cái lỗ to tướng trong ấy. Tôi gửi cho Thủy quân Lục chiến để đưa vào viện bảo tàng của họ, nhưng không bao giờ nhận, một chữ hồi âm. Tôi nghi có thằng chó đẻ nào đã xoáy mất cái mũ này. Đáng lẽ, tôi cứ giữ lấy cái mũ thì hơn. Tôi đã định gửi cái mũ cho gia đình người lính trẻ, nhưng tôi suy ngẫm, tự bảo: “Đừng làm thế, Herrington ạ. Làm thế hơi quá. Có những người bố muốn giữ cái mũ của con, nhưng có những người bố không thể chịu đựng nổi. Hãy để yên cho các đại diện tang ma của Thủy quân Lục chiến đến mà chia buồn với gia đình nạn nhân.”

Hình minh họa

Vào Trung tâm Chỉ huy, tôi lấy một tấm bản đồ – bởi vì không phải tôi cứ nằm phưỡn mà chơi. Tôi cố tính toán xem đạn bắn đến từ hướng nào. Tôi vẽ mũi tên chỉ hướng đạn bay tới, tìm cách định điểm vị trí đặt súng. Tôi tính toán đầy đủ, để sẵn trong trung tâm ngõ hầu có ai cần phản ứng gì, hoặc dội ít quả bom xuống bọn chúng chăng. Rồi người ta bảo là Đại tá Madison và Đại tá Harry Summers đang kiếm tôi, chúng tôi được lệnh phải làm báo cáo cho toà Đại sứ.

Tôi liên lạc với Đại tá Madison và Đại tá Harry Summers lúc bảy giờ sáng. Chúng tôi ăn điểm tâm trong văn phòng Đại tá Madison. Bữa ăn do tôi nấu. Vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra, lúc nào mới được ăn bữa kế, nên với cả đống đồ ăn ở đây, chúng tôi ăn thả dàn. Tôi chiên trứng với thịt heo muối, khui một chai sâm banh, nghe thật tởm, nhưng tôi nhớ tôi đã làm như thế. Ăn nhậu kiểu này, coi như sẵn sàng chấp nhận mọi tai ương của số mệnh, mà hỏi “Tốt lấm, cái gì bây giờ đây?” Thật hiển nhiên chung cuộc đã gần kề. Chúng tôi lai rai một lúc, giữ liên lạc với toà Đại sứ cho đến khi được lệnh lên đấy.

Lái xe đi, chúng tôi sẵn sàng một chuyến sôi nổi, vì lúc ấy mọi con đường đều dẫn đến Tân Sơn Nhứt. Khắp nơi, lũ lượt người Việt tỵ nạn kéo đến Tân Sơn Nhứt, người Mỹ nào thò mặt ra đường trong bối cảnh này đương nhiên phải chấp nhận mọi rủi ro rắc rối thôi. Vì thế, chúng tôi phải đi hai, ba xe. Tôi lái chiếc Land Rover. Madison và Summers đi chiếc Ford đen – cho xe ra cổng, chúng tôi bảo: “Phải đi sát nhau. Lạy Chúa. Cầu cho chúng ta đi đến nơi về đến chốn!”

Bấy giờ đường phố đang hỗn loạn, rất dễ trở thành nạn nhân của lính Việt Nam Cộng Hoà. Họ đang bất bình. Cái ấy mới đáng lo, chứ chúng tôi không nghĩ gì đến lính Bắc Việt. Vừa ra cổng đã thấy có chuyện lộn xộn, tôi phải quành xe ra rìa đường, leo qua rãnh mà tránh đám chướng ngại. Tôi không còn nhớ có chuyện quỷ quái gì xảy ra, nhưng tôi nhớ đã phải chạy trước với chiếc Land Rover như vậy. Tôi nhìn gương chiếu hậu, van vái cho Madison và Summers cùng qua được. Và họ cũng vọt qua được. Trên đường đến toà Đại sứ chúng tôi nhìn thấy những đám đông chạy quanh như cơn lốc, mọi thứ xảy ra đều có một vẻ rất là bất định. Sau lưng chúng tôi, những cột khói bốc lên từ Tân Sơn Nhứt. Tôi cảm thấy nhẹ người khi thoát được khỏi cổng Tân Sơn Nhứt, bởi sau đó sẽ còn nhiều chuyện xảy ra đến rợn tóc.

Chúng tôi lái xe chạy đến toà Đại sứ. Trong toà Đại sứ, có một trung úy Thủy quân Lục chiến phụ trách máy truyền tin đứng trên sân thượng gọi chuồn chuồn vào. Cha này trượt chân khỏi bãi đáp trực thăng, rơi lộn cổ từ sân thượng toà Đại sứ xuống mái nhà cách khoảng 15 bộ Anh, cấm đầu xuống, phải chở hắn ra ngoài hạm đội chữa trị. Lúc ấy, thỉnh thoảng mới có trực thăng bay vào, rất rời rạc, chúng tôi không biết tại sao. Máy truyền tin của lính Thủy quân Lục chiến không được tốt để liên lạc với văn phòng Tùy viên Quân sự. Họ có thể nói chuyện với trực thăng, nhưng không gọi vào văn phòng Quân sự được.

Hình minh họa

Khi chúng tôi biết như thế thì trời đã tối. Chúng tôi đều sửng sốt. Đại tá Madison bảo: “Lạy Chúa tôi. Đây là một chuyện ngu xuẩn nhất mà tôi chưa hề được biết.” Vì vậy tôi vào, tóm một cha, tôi hỏi: “Này, lôi thôi quá. Bạn biết tần số của Trung tâm Điều hành Di tản tại Tân Sơn Nhứt không?” Hắn cho biết, tôi bèn đi ra cái xe thùng trong đó có máy vô tuyến. Tôi lôi máy ra, gắn một cây ăng-ten dài, sử dụng tín hiệu của Thủy quân Lục chiến tại toà Đại sứ mà gọi vào văn phòng Tùy viên Quân sự.

Hóa ra mấy cha bên văn phòng không biết chuyện gì đang diễn ra bên toà Đại sứ cả. Khi họ nghe tiếng gọi trong đêm, có một người đến trả lời máy. Tôi bèn hỏi: “Chuyện gì vậy? Chúng tôi đợi mãi sao không thấy trực thăng đến?” Hắn bảo: “Tình trạng ở đấy ra sao?” Tôi đáp: “Tình trạng ở đây là có vài ngàn người đang đợi trực thăng. Trực thăng đâu?” Hắn bảo tôi đợi.

Thế đấy, chúng tôi chỉ cách nhau có năm dặm Anh mà lại không có phương tiện truyền thông. Lúc ấy khoảng tám giờ đêm 29 tháng tư. Sau đó, chúng tôi biết việc di tản ở văn phòng Tùy viên Quân sự tiến hành nhanh chóng, không trở ngại gì nhiều, và việc di tản đã được dành ưu tiên cho nơi này. Chừng nửa đêm sau khi công tác tại đấy hoàn tất, ưu tiên của chuồn chuồn sẽ chuyển sang chúng tôi. Chúng tôi chỉ cần bình tĩnh đợi thôi.

Nhưng khoảng nửa đêm, gần như tất cả các chuyến bay tại toà Đại sứ đều ngưng. Nếu biết trước như thế, chúng tôi đã có thể sắp xếp. Sắp xếp, nghĩa là chúng tôi đã có thể nói cho mọi người được biết. Vì tình trạng như thế làm người ta tưởng chúng ta đã bỏ rơi họ, nên chúng tôi phải vất vả đương đầu với những người này. Họ rất sợ bị bỏ rơi. Chúng tôi cứ phải đi quanh nói với mọi người rằng: “Đã có lời hứa tất cả chúng ta sẽ ra đi – Trực thăng sẽ đến. Đừng lo, cuộc di tản chưa chấm dứt. Ngoài ra, tôi vẫn còn đang ở đây với quý vị, chính phủ tôi chắc chắn sẽ không bỏ rơi tôi. Hãy bình tĩnh. Chừng nào tôi còn đây thì tôi sẽ đi chuyến chót sau khi tất cả quý vị đã ra đi. Vậy xin hãy cộng tác với chúng tôi bằng cách trở lại hàng cho ngay ngắn, đứng vào với gia đình, đừng xô đẩy, chen lấn nữa.”

Bấy giờ rất tối. Nhiều lộn xộn xảy ra. Người ta chen khủng khiếp, đến độ kinh hoàng. Một thông dịch viên người Việt trẻ tuổi chạy đến thầm thì vào tai tôi, nói mấy người xô đẩy đó là đám người Đại Hàn. Họ không hiểu chúng tôi nói gì, nên cứ xô đẩy chen lấn. Vì vậy tôi cầm cái loa nói bằng tiếng Anh hỏi xem có sĩ quan Đại Hàn nào ở đấy không. Một sĩ quan Hải quân Đại Hàn, tùy viên Đại sứ Đại Hàn, cùng vợ tiến đến. Tôi nói: “Ông phải giúp chúng tôi điều khiển người của các ông.”

Họ có chừng bốn mươi, năm mươi người đàn ông đàn bà, nhân viên toà Đại sứ Đại Hàn. Ông Đại sứ, bí thư, các Tùy viên Quân sự, Tùy viên Hải quân, cùng với gia đình họ đều có đấy. Đầy đủ cả mà chúng tôi không biết.

Ông Đại sứ Đại Hàn, bí thư Đại sứ, các Tùy viên Quân sự sau cùng đều đi được, nhưng họ đã cố quyết mang vào trực thăng những chiếc vali của họ, nên tôi phải bắt bỏ lại. Chúng tôi đã bảo mọi người không được mang theo vali. “Xem lại vali của quý vị, lấy ra những gì quý giá: thư từ, giấy tờ…đem theo. Nhưng vali không được phép mang đi. Trực thăng chỉ chở người, không chở hành lý.” Tất cả những người Việt Nam đều tỏ vẻ chịu đựng tuân hành. Chúng tôi bảo mọi người là họ có thể mang theo mấy cái xách tay nhỏ, hay cặp giấy nhỏ, thì được. Bấy giờ tôi kiểm soát lối vào trực thăng, nên khi một người Đại Hàn tiến đến với một cái vali, tôi giật vali khỏi tay hắn, ném vào mấy bụi cây. Một cha thứ hai lại cố làm như vậy, tôi lại giật cái vali, ném vào bụi. Người thứ ba là một phụ nữ, kéo lê một cái vali nữa, tôi giật lấy khỏi tay, lại ném vào bụi cây. Cô ta rú như tử thần, bò lăn lộn, nhào ra lấy lại cái vali, cố đưa vào trực thăng lần nữa. Tôi giật khỏi tay cô ta lần thứ hai, ném cái vali bảo cô vào trực thăng mau. Cô ta lại chạy trở ra, nhặt cái vali. Cô ta bíu chắc lấy cái quai xách, nhất định không buông. Cuối cùng, tôi lấy khẩu M-16 dộng báng súng vào cánh tay cô ta khoảng ba lần, tôi hét lên những câu không thể in ra đây được, cho đến khi cô ta la thét lên vì đau mà buông cái vali ra. Tôi nhấc bổng cô ta, ném vào trực thăng, chiếc trực thăng bay đi. Cái trực thăng này là chuyến cuối cùng chở thường dân. Sau này tôi được biết đó là thư ký riêng của Đại sứ Đại Hàn. Cô ta bị bầm khắp cánh tay. Sau này Đại tá Harry Summers cũng có nói với một sĩ quan Đại Hàn rằng: “Anh nên giải thích cho cô ấy biết nếu Đại úy Herrington không nhét cô ấy vào trực thăng thì giờ này có thể cô ấy đang nằm tù ở Hà Nội. Ông ta đã cho cô ấy đi. Nếu ông ta để cô ấy ở lại với cái vali thì giờ này cô ấy vẫn còn ở đấy với cái vali.” Chiếc vali đựng vàng và nữ trang. Nó nặng phát khiếp. Hiển nhiên, nó đựng tất cả những gì quý giá thu nhặt của tất cả những người Đại Hàn. Đại tá Harry bảo người sĩ quan này hãy thuyết phục cô ta rằng cô đừng phiền trách gì tôi, bởi chính tôi đã cứu cái mạng còm của cô ta.

Hình minh họa

Một hai tuần lễ trước khi xứ này sụp đổ, tôi lấy làm ngờ về việc cá nhân tôi có thể ra đi trong vòng danh dự. Tôi hết sức lo lắng, tôi nói với ông bà già của tôi rằng với cách giải quyết tình hình đã xảy ra từ nhiều năm qua, thì chẳng lý do gì để mong đợi một sự đối phó mã thượng vào giây phút cuối. Tôi lo lắng cực độ rằng chúng tôi sẽ bỏ rơi người của chúng tôi, các nhân viên chúng tôi, gia đình họ, các bạn hữu của tôi. Là một người Mỹ, mặc dầu chính tôi đang phụ trách việc di tản tất cả những người Việt có lý do chính đáng ra đi, tôi thực lo sợ vào phút chót, có thể người ta sẽ bảo “Hãy cứu lấy người Mỹ, quên mẹ nó những bọn khác đi.” Tôi lo lắng việc ấy ngay từ đầu. Không có bao nhiêu người Mỹ quan tâm về những người Việt trong cái bối cảnh ấy, nhưng có tôi, có Đại tá Madison, Đại tá Harry Summers đã lo lắng về họ.

Nhưng đêm hôm đó tại toà Đại sứ, trực thăng bay rất nhanh, chỉ kịp đủ thì giờ cho chúng tôi quẳng người vào. Khoảng đâu chừng từ nửa đêm đến ba giờ sáng (ba giờ rưỡi là chuyến chót bay vào), Đại tá Madison đã phát biểu nhiều câu rất nặng với Wolf Lehman, Phó Đại sứ, người thực sự phụ trách công việc. Theo quan niệm của tôi và của rất nhiều người khác, Đại sứ Martin đã đau yếu trầm trọng vào cái bối cảnh của cuộc chơi này. Ông có ra ngoài, tự xem xét công việc với một vệ sĩ, nhưng ông run lẩy bẩy, cho nên người có thẩm quyền để chúng tôi liên lạc chính là Wolf Lehman. Lehman rất điềm tĩnh, ông ta lạnh như tiền. Ông ta bước ra, nói: “Quý ông biết là phải tranh thủ gấp, sắp hết giờ, Hoa Thịnh Đốn mất kiên nhẫn rồi.” Madison bảo: “Chúng tôi đã đếm đầu, còn lại 420 người ở đây, chúng tôi còn cần vài chiếc trực thăng nữa.” Và Lehman nói: “Được, ông sẽ có những gì ông cần.” Cho đến lúc đó, chúng tôi đã tuyệt đối kiểm soát tình thế. Chúng tôi đã cho người tỵ nạn đứng thành nhóm, chỉ còn sẵn sàng đẩy họ vào mấy chiếc chuồn chuồn. Suốt đêm đó khi chuồn chuồn bay vào, chúng tôi đặt sẵn từng nhóm, chỗ này 50 người, chỗ kia 50 người. Nếu là chuồn chuồn lớn, chiếc CH- 53 đến thì chúng tôi đẩy cả nhóm vào. Nếu là chuồn chuồn nhỏ, chiếc CH-46, thì một nửa nhóm vào. Lúc Lehman ra kiểm điểm tình hình, Madison báo cáo với ông ta còn lại bao nhiều người, còn cần bao nhiêu trực thăng, thì Lehman nói: “Được, tôi sẽ thu xếp,” chính đến lúc đó, mọi việc đổ vỡ.

Hình minh họa

Cầu thang lên nóc thượng toà Đại sứ chen chúc người. Vì nếu chỉ dùng bãi đáp tại khu đậu xe không đủ, nên phải dùng cả sân thượng cho chuồn chuồn đậu. Chúng tôi đã nhồi vào cầu thang mấy trăm người Việt giống như bóp ống kem đánh răng. Họ sẽ đi bằng trực thăng CH-46 trên nóc thượng. Người ta từng bảo sân thượng này không chịu đựng nổi sức nặng của chiếc CH-46, nhưng chúng tôi vẫn cứ phải dùng.

Rồi người ta bảo chúng tôi là chỉ còn sử dụng một bãi đáp thôi, hãy mang hết người Việt trong cầu thang, đẩy họ ra, để tất cả mọi người ở ngoài. Lehman lại bước đến bảo Madison: “Tôi nghĩ sắp dứt điểm rồi.” Madison nói: “Sao được, hãy còn 420 người nữa, việc này chắc chắn làm được, chúng ta đã cam kết với họ.” Madison khá cứng rắn việc ấy. Lehman trả lời: “Được, tôi sẽ sắp đặt chuyện này.”

Cho nên khi Lehman bước khỏi bãi đậu xe thì Madison tưởng chúng tôi đã nhận được lời bảo đảm của người điều khiển chương trình là sẽ lo liệu cho tất cả mọi người ra đi. Nên ông bảo tôi đi loan báo cho tất cả mọi người được biết. Do đó tôi đã thi hành.

Tôi nói với họ bằng tiếng Việt: “Không ai se bi bo lai! Dung lo!” (Không ai sẽ bị bỏ lại, đừng lo!) Tôi nhắc đi nhắc lại như thế nhiều lần. Chính tôi cũng đã tin như thế. Madison đã tin như thế. Summers đã tin như thế. Rồi đột nhiên không còn chuồn chuồn nữa.
Kean bước đến gần Madison, tôi thấy họ nói chuyện với nhau một cách trầm trọng. Bấy giờ tối trời, nhưng có đèn pha và đèn xe hơi rọi. Madison cãi với Kean, ông ta bảo: “Phải có mấy cái trực thăng mà họ đã hứa với tôi, nếu không tôi sẽ trình chuyện này lên ông Đại sứ.” Kean nói với Madison rằng: “Đây là lệnh Tổng thống, tôi không thể cho lính của tôi chịu thêm hiểm nghèo ở đây nữa.” Madison bảo: “Được, nếu cần hãy để tôi trình Đại sứ.” Kean nói: “Ông không trình được nữa đâu. Đại sứ đã đi rồi.” Kean chỉ tay lên chiếc CH-46 vừa cất cánh khỏi nóc sân thượng, chiếc máy bay mang số 09 do phi công Gerry Berry lái. Bấy giờ là lúc 4 giờ 47 phút sáng.

Madison ngẩn người. Ông gọi Harry Summers và tôi lại bàn tán “Cứt thiệt – Chúng ta làm gì bây giờ.” Madison nói: “Thủy quân Lục chiến đang rút. Đây là lệnh Tổng thống. Chúng ta là bọn thua cuộc rồi.”

Và Madison bắt buộc phải ra một cái lệnh cứng rắn. Ông ta nói với tôi: “Stu Herrington, anh ra đứng với mấy người Việt Nam. Hãy cho Harry và tôi đủ thì giờ thu xếp rồi lên sân thượng. Xong, anh lên nóc thượng.” Bấy giờ hãy còn lính Thủy quân Lục chiến ở ngoài, trên bức tường. Những người Việt còn lại, 420 người lúc ấy tất cả đều ở trong bãi đậu xe. Họ ngồi thành hàng. Những hàng này sắp ngay sau những chiếc xe mở máy, đèn pha đều bật sáng. Tôi ra ngồi trên thành một chiếc xe với một cái máy truyền tin. Vào thời điểm này, không có gì để nói trong máy cả, vì lẽ khi đóng toà Đại sứ lúc nửa đêm, người ta đã phá hủy toàn bộ hệ thống truyền tin rồi. Cái máy truyền tin chẳng là gì, nhưng tôi chỉ làm bộ như tôi đang liên lạc với trực thăng mà thôi. Tôi bảo những người Việt: “Đừng lo lắng gì cả, sẽ có một cái trực thăng to lắm đến đây, rồi tất cả chúng ta sẽ ra đi.” Đó là một điều khó nói, bởi lúc ấy tôi đã biết rõ, như vậy tức là tôi đã lừa bịp người ta. Tôi cứ ngồi đấy như thế đến 15 phút, có lúc đã định buột mồm bảo “Thây kệ” và tôi tự tranh cãi với mình về dự định tự đem tôi ra làm con tin mà bảo “Đem thêm trực thăng vào đây, không thì tôi không đi.” Và rồi tôi nhận ra lính Thủy quân Lục chiến đang ra đi, người ta sẽ không bao giờ đưa trực thăng đáp xuống vùng không an toàn, như thế tôi sẽ bị cầm tù, và rồi sẽ hồi hương. Đường binh nghiệp của tôi sẽ tàn vì bất tuân lệnh Tổng thống, rồi tôi nhận ra hiển nhiên mặc cho tôi có buồn đau về việc này thế nào chăng nữa, tôi cũng không thể đưa họ đi được. “Đừng có khùng, anh không thể đưa những người này đi nổi. Anh có vợ con, có một sự nghiệp trong quân đội. Anh sẽ không đưa họ đi làm gì. Như thế tốt lành gì cho anh? Anh chẳng đạt được gì cả.” Tất cả những ý nghĩ ấy cứ thế chạy qua trong đầu tôi.

Trong đám người lúc ấy, nhiều gia đình có trẻ con. Tôi còn nhớ rất rõ những người lính cứu hỏa Việt Nam mặc áo choàng mầu vàng trong đám người này. Tôi sẽ không bao giờ quên những người lính cứu hỏa ấy. Tôi nhớ họ, vì trước đấy tôi đã hỏi họ có muốn đi chưa, nhưng họ đều nói “Chưa đâu, chúng tôi còn phải ở lại, lỡ có chiếc trực thăng nào trục trặc gì thì chúng tôi mới biết sử dụng các khí cụ mà cứu chữa.” Gia đình họ đi trước để họ rảnh tay làm việc. Vì thế tôi đã đưa hết gia đình họ lên một chiếc chuồn chuồn vào lúc giữa trưa.

Hình minh họa

Trong lúc tôi đứng đấy thì một chiếc chuồn chuồn đến, đáp xuống sân thượng rồi cất cánh. Madison không dặn tôi nên đứng đấy bao lâu. Tôi nghĩ “Chà, không chừng mình phải nên ở trên cái máy bay này.” Lúc ấy rất tối, tôi cố nhìn xem có ai ra hiệu gì không. Liệu tôi có thể thấy họ ở trên nóc thượng không? Cuối cùng sau 15, 20 phút, trong lúc làm bộ như đang gọi máy nói chuyện với một cái trực thăng, tôi nhìn người Việt Nam ngồi gần nhất mà nói: “Tôi phải đi tè một cái nhé.” Người ấy cười, tôi lẻn vào bụi rậm với điệu bộ như sắp đi tiểu.

Chỗ ấy có một căn nhà và một hàng rào cây chung quanh. Tôi bước vào hàng rào, luồn quanh căn nhà, khuất khỏi tầm mắt họ, tôi đi vào cổng hậu toà Đại sứ. Trước đó, lúc ban ngày, có một tấm bảng kỷ niệm, một chút lịch sử mà tôi có nhiệm vụ phải lấy mang đi. Tôi đã tìm gặp một ông Hải quân hồi hưu, kỹ sư Toà Đại sứ, ông này kiếm được một cái xà beng, hai chúng tôi đã cố nậy tấm bảng ra. Tấm bảng rất lớn, rất nặng. Chúng tôi đặt tấm bảng lên sàn nhà, ngay phía trong cửa, dựng bên chân tường. Khi ra đi tôi sẽ phải lấy tấm bảng này mang theo.

Tấm bảng khắc hàng chữ “Để tưởng niệm những người Mỹ can đảm đã bảo vệ toà Đại sứ này trong trận tổng công kích Tết 1968.” Và ghi tên những người quân cảnh, những người lính Không vận, những người Thủy quân Lục chiến đã chết. Có năm người đã chết, tên họ ở trong tấm bảng ấy. Tôi đã nghĩ tôi không nên bỏ lại tấm bảng. Nhưng khi đi ngang phòng khách, nơi để tấm bảng, tôi đang buồn phiền tức giận về lệnh di tản. Tôi nghĩ “sau khi mấy ông này đã chiến đấu và bỏ mình ngay tại chỗ tôi đang đứng đây, họ đã chết để bảo vệ cái toà Đại sứ này, mà bây giờ tôi lại chạy đám Cộng sản ngoài ngưỡng cửa thành phố, bỏ rơi tất cả những người ngoài kia, thì chắc là họ phải lăn lộn ở dưới mồ.” Rồi tôi tự bảo: “kệ xác cái tấm bảng này”, tôi bỏ nó lại đấy.

Tôi chạy lên tầng thứ hai. Tôi vào hành lang văn phòng Đại sứ – Hành lang trống rỗng. Tôi chạy thêm bốn, năm bước nữa, nhòm vào văn phòng Đại sứ. Mọi thứ vẫn ngăn nắp như ông Đại sứ sắp sửa triệu tập một buổi họp. Tôi chạy trở lại cầu thang, soát xét thử văn phòng Quân vụ xem còn thứ gì của chúng tôi không. Tất cả đã như biến mất hết. Tôi chạy lên sân thượng thấy Trung sĩ Xạ thủ Pace và Bill Bell ở đấy. Madison, Summers và Bill Herron đã đi cả rồi. Bell, Pace và tôi nhảy vào chiếc CH-46. Bell mệt lử, hắn bỏ lên thành cầu mà vào máy bay. Từ trong bóng tối, thêm một lính Thủy quân Lục chiến nữa chạy đến. Như vậy chiếc trực thăng cất cánh chỉ chở có bốn người. Bốn người Mỹ thôi! Chuyện ấy thật tởm. Cái trực thăng này ít nhất còn có thể chở thêm bốn mươi lăm người nữa. Tôi nhìn lui, thấy đám người chờ bên dưới, thấy đèn đường Sàigòn và ngôi toà Đại sứ.

Hình minh họa

Trong trực thăng mọi người im lìm như chết. Tất nhiên tôi cảm thấy tởm đến phát bịnh. Chưa bao giờ trong cuộc đời tôi thấy tệ hại như lúc bỏ rơi những người ấy mà chạy. Sau khi chuồn chuồn cất cánh, đến một cao độ nào đó, họ đóng cánh cửa hầm sau lại. Tôi nhớ khi bốc lên, nó nghiêng sang một bên, tôi nhìn thấy toà Đại sứ, bãi đậu xe, những ngọn đèn đường. Và nỗi yên lặng. Đường phố im lìm, không xe cộ, không đám đông, không có gì cả. Trông như lệnh giới nghiêm đang được tuân hành.

Khi chúng tôi đến tàu U.S.S. Okinawa thì Madison đã gặp Jim Bolton. Tôi thấy Jim Bolton, nhưng tôi không tò mò nghe câu chuyện riêng giữa anh ta và Madison. Sau đó Summers và Madison bảo tôi là họ đã nói chuyện với Bolton. Tất cả chúng tôi đều giận phát điên. Chúng tôi tức tối vì trong nhóm chúng tôi, tất cả đều đã bị bức bách phải phản bội những người Việt Nam. Chúng tôi đã phải nói dối người Việt, mặc dầu đó không phải là chủ tâm chúng tôi. Chúng tôi đã bỏ rơi những con người đáng thương ấy ở lại. Không một ai trong chúng tôi không cảm thấy giận ghét chuyện này.

Một gã phóng viên của tờ Cleveland Press ở trên tàu Okinawa đã phỏng vấn Summers, rồi sau đó phỏng vấn tôi. Summers hỏi gã: “Anh có biết anh vừa chứng kiến chuyện gì không?” Gã phóng viên trả lời “Sự sụp đổ của Sàigòn.” Summers nói: “Anh vừa chứng kiến một sự phản bội cực kỳ hạ tiện.”

Gã phóng viên phỏng vấn tôi những gì đã xảy ra ở toà Đại sứ, bởi tôi là người cuối cùng ra đi. Tôi nhớ là tôi không cầm được nước mắt khi gã phỏng vấn tôi. Cứ nghĩ đến việc bỏ rơi những người ấy, khi nói chuyện tôi lại khóc. Tôi xấu hổ hết sức về việc tôi đã bỏ lại những ngưòi ấy.

Sau đó tôi bay sang vịnh Subic, đến Thái Lan. Đến Thái Lan chẳng bao lâu, lại được triệu về Vịnh Subic để gặp một ủy ban thuộc bộ Tham mưu Quân đội có nhiệm vụ điều tra cuộc di tản. Tôi được triệu về đó (Madison và Summers đã được gọi sang Hạ Uy Di, tôi đoán thế) để báo cáo những việc xảy ra vì tôi là người sĩ quan chót ra đi, tôi là chứng nhân cho những biến cố tại toà Đại sứ. Cái bí mật lớn lao nhất chính là ở toà Đại sứ. Họ không có một kế hoạch nào cho những tác vụ di tản lớn từ toà Đại sứ cả. Kế hoạch đã có của toà Đại sứ quá sức đơn giản: tối đa vài trăm người sẽ được chở bằng xe buýt ra Tân Sơn Nhứt, còn lại năm sáu chục người gồm Đại sứ và nhân viên sẽ được bốc đi bằng máy bay Air America từ nóc sân thượng. Phương tiện xe buýt sẽ là một phần của kế hoạch để chở tối đa vài trăm người ra Tân Sơn Nhứt. Thế thôi. Cho nên khi toà Đại sứ trở thành trung tâm điểm của những vụ trực thăng vận lớn, đó chỉ là do hoàn cảnh tình cờ. Và bởi họ đã không hoạch định việc này, nên họ đã không biết cái gì. Hiển nhiên đã không có phương tiện truyền thông giữa toà Đại sứ và văn phòng Tùy viên Quân sự trong nhiều tiếng đồng hồ. Không ai biết một chuyện gì xảy ra ở tòa đại sứ cả.

Cho đến tận giây phút cuối cùng, tất cả những người di tản với tướng Smith, những người ở văn phòng Tùy Viên Quân Sự, những người đã ra tàu, những người ở bộ tư lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương, ở Bộ Tư Lệnh tại Thái Lan, không một ai hay biết chuyện gì xảy ra cả.

Vì lẽ đó, tôi đã bị gọi ra trước ủy ban để thẩm vấn, họ đã thẩm vấn nhiều người bên Thủy Quân Lục Chiến, nhưng cái trở ngại là những người này đã mô tả một hình ảnh tổng quát của chiến dịch di tản ” Frequent Wind” mà thôi.

Tôi không hẵn tin người ta cố ý trình bày sai sự thật, mặc dầu nhiều người từng châm biếm là các Thủy Quân Lục Chiến đã bóp méo sự thật để chứng tỏ họ là những chiến sĩ can trường: Họ là những người đầu tiên đã đến chiến đấu, họ cũng là những người cuối cùng đã chiến đấu trong đơn độc. Tôi không nhất thiết phải tin như vậy, mặc dù có lúc tôi từng cả tin như thế.

Hình minh họa

Thủy Quân Lục Chiến từ hạm đội được đưa tới tòa Đại Sứ thì ngay từ đầu họ đã nhận tin có 2 người chết trong lúc thi hành nhiệm vụ. Tất nhiên ai chẳng biết Sài Gòn lúc bấy giờ đang bị bao vây bởi 16 sư đoàn với trọng pháo, tức là chỉ trong vòng có 20 đến 30 cây số. Chẳng có gì bí mật chuyện quân đội Bắc Việt có thể và sẽ vào Sài Gòn. Địch quân đem theo cả hỏa tiễn địa không SAM đi từ miền Bắc dọc đường số 1, đi từ khu vực Khe Sanh xuống, đây là tin do bên tình báo ước đoán. Như thế tất nhiên  khi Thủy Quân Lục Chiến vào Sài Gòn, họ đã biết rõ họ chỉ là một lực lượng rất nhỏ nhoi, có thể bị chụp dưới lửa đạn của toàn thể quân đội miền Bắc Việt Nam. Và rồi xảy ra những chuyện 2 Thủy Quân Lục Chiến tử thương, chuyện bắn rốc -kết, bắn đại liên.

Chúng tôi biết việc quân Bắc Việt tấn công Sài Gòn vào buổi sáng ngày thứ 30. Chúng tôi biết có một đạo quân vào từ hướng Tân Sơn Nhứt. Một đạo quân khác từ phía bắc qua lối Tân Cảng. Và có một gọng kìm của ít nhất 3 đạo quân nữa thọc vào Sài Gòn nhằm tiến chiếm các mục tiêu là Bộ Tổng Tham Mưu, Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia và Dinh Tổng Thống.

Sự việc quả như thế, nhưng các Thủy Quân Lục Chiến ở vịnh Subic lại tạo ra một ấn tượng rằng chúng tôi đã thoát được trong đường tơ kẽ tóc với lửa đạn dữ dằn để chống lại cuộc di tản.

Các Thủy Quân Lục Chiến tạo ra ấn tượng trong buổi thuyết trình là tình trạng Tòa Đại Sứ nóng bỏng. Tôi ngồi yên suốt buổi thuyết trình ở Subic. Đôi khi lạc lõng. Ba mươi ông Thủy quân Lục chiến ăn nói hùng hồn trong phòng thuyết trình. Ông Tướng Carey cứ ngồi đó mà nghe trình bầy. Phiền quá. Những điều tôi nghe họ nói về toà Đại sứ thiệt không giống gì với những điều tôi đã chứng kiến và trải qua. Tôi bèn viết một mảnh giấy chuyển cho tướng Cleveland, Chủ tịch ủy ban. Tôi nói: “Tôi rất phiền. Tôi sẽ phải đứng dậy để trình bày về tòa Đại sứ, nhưng những gì sẽ nói lại mâu thuẫn hẳn mấy ông Thủy quân Lục chiến này.” Trước giờ nghỉ ăn trưa, Tướng Cleveland bảo: “Tôi biết ông phiền muộn lắm, Đại úy Herrington ạ.” Tôi nói: “Thưa ông vâng. Nếu đó là cái toà Đại sứ như cách họ mô tả thì tôi không còn rõ là tôi đã ở đâu, bởi vì nó không giống những điều họ nói chút nào.” Ông ta bảo: “Tốt, bởi thế mà anh đã ở đây. Tôi muốn anh trình bầy đúng sự thực xảy ra – Có lẽ tốt hơn hết chúng ta sẽ ở lại đây trong giờ ăn trưa và cùng làm việc với nhau.” Tôi đáp: “Thưa vâng”. Do đó tôi đã ở lại trong giờ ăn trưa. Tôi vẽ ngay ngắn một tấm bản đồ khu vực toà Đại sứ, đâu là hồ tắm, đâu là các bức tường, tất cả đầy đủ rồi tôi thuyết trình. Phải bạo phổi mới nói được bài thuyết trình này, vì ngay lập tức, các ông Thủy quân Lục chiến dựng đứng cả lên.

Tôi trình bầy với họ cuộc di tản tại toà Đại sứ diễn ra không có một đối lực nào cản trở. Không có chuyện khói lửa dữ dằn tại toà Đại sứ. Chẳng có súng nhỏ, súng máy, tiểu pháo, đại pháo, chẳng có lửa khói gì sất. Chung cuộc của toà Đại sứ đã diễn ra thật hấp tấp vội vã – điều này chúng tôi không thể hiểu nổi – là tại sao không quét dọn cho sạch sẽ. Mấy ông Thủy quân Lục chiến đã trình bầy rằng cuộc di tản tại toà Đại sứ hoàn tất tốt đẹp, và đây là một thành công cực kỳ vĩ đại. Nếu Kean có ở đây, anh ta sẽ có thể nói thẳng cho mọi người rõ: cuộc di tản ấy chẳng thành công vĩ đại chút nào. Hiển nhiên, mấy ông Thủy quân Lục chiến không hề có mặt tại toà Đại sứ. Họ chỉ thuyết trình theo cái cách họ hiểu chuyện dựa trên lời mấy phi công trực thăng nói với họ qua máy vô tuyến mà thôi.

Hình minh họa

Tôi chấm dứt bài thuyết trình – Tướng Carey loại riêng ra những gì tôi nói. Tôi bèn bảo: “Thưa, điều duy nhất mà tôi có thể nói là tôi đã thuyết trình dựa trên trí nhớ đã phối kiểm, đã xác nhận của cả một nhóm nhiều người, gồm năm trung sĩ xạ thủ Thủy quân Lục chiến và tôi. Sáu người chúng tôi có lẽ đã có tổng cộng từ hai mươi lăm đến ba mươi năm kinh nghiệm chiến đấu. Nếu quả vụ di tản tại Tòa Đại Sứ bị ngăn trở, thì tại sao chẳng có một binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến nào bắn lấy một phát đạn? Cái quy luật đầu tiên của sự dấn thân chiến đấu là bắn trả lại kia mà? Có nhiều người, thí dụ các phi công Thủy Quân Lục Chiến đã nhầm lẫn. Thấy khói bốc ra do việc nhân viên trung ương tình báo sử dụng khí cụ phá hủy hệ thống truyền tin trên mái nhà, họ đinh ninh rằng Tòa Đại Sứ bị tấn công bằng hơi ga, họ gọi máy la hoảng lên. Khói trên nóc Tòa Đại Sứ là khói do việc tiêu hủy tài liệu đã được mô tả thành ra “Tòa Đại Sứ bị cháy”. Lúc ấy nghe bất cứ một tiếng nổ nào quanh Tòa Đại Sứ – nhưng ở tận ngoài Sài Gòn- là lính Thủy Quân Lục Chiến cũng nháo nhào chạy mà kêu thét ầm ĩ “Địch lọt vào bờ tường phía Bắc”, “Địch lọt vào bờ tường phía Nam”. Những chuyện ấy lập đi lập lại suốt đêm, họ cứ chạy từ bờ tường này sang bờ tường kia la hoảng là địch xâm nhập chỗ này, địch xâm nhập chỗ nọ… nhưng thật ra chẳng có chuyện gì. Mấy cậu lính Thủy Quân Lục Chiến non choẹt đã sợ mất hồn vì 2 người bị giết, chỉ bấy nhiêu thôi. Còn chuyện Tòa Đại Sứ đặt trong tình trạng bị tấn công, cuộc di tản ở Tòa Đại Sứ bị đặt trong tình trạng chiến đấu thì KHÔNG!.

Tôi trình bày với lối như thế, và bảo họ rằng có khoảng 420 người bị bỏ rơi tại đấy. Tôi có cảm tưởng các Thuỷ Quân Lục Chiến có mặt không thích bài thuyết trình của tôi chút nào. Tôi tin họ đã nhìn thấy các hình ảnh của vụ di tản ấy chỉ qua lời kể của các phi công, và đã hiểu sai những sự kiện diễn ra trên mặt đất. Cái ấn tượng tổng quát họ vẽ ra là chúng ta khó khăn lắm mới thoát được nơi ấy, xe tăng Bắc Việt đã đến gõ tận cửa rồi. Quý vị đã rõ: Sự việc không xảy ra như thế.

Tôi đã viếng thăm Đài Kỷ Niệm Chiến Sĩ Trận Vong Chiến Tranh Việt Nam vài ba lần. Lần đầu tiên đến đấy, tôi cố kiếm tên những người tôi biết ở Việt Nam. Tôi kiếm tên của Judge và McMahon. Tôi không có cảm xúc sâu đậm về Đài Kỷ Niêm này. Không giống những người đã gặp trở ngại trong việc đương đầu với các kinh nghiệm Việt Nam mà Đài Kỷ Niệm này gợi lên cho họ thêm ưu tư phiền muộn, lòng xấu hổ và niềm ân hận, những cái ấy không xảy ra trong tôi. Tôi nghĩ đó là một cái Đài Kỷ Niệm Chiến Sĩ Trận Vong khá trang nghiêm, nhưng nó không gợi lên những cảm xúc nào khác trong tôi nữa cả. Tôi cũng chẳng hào hứng gì về những chuyện kiến trúc của cái Đài này. Nó chỉ là một bức tường.

Tôi không thấy đấy là một ý tưởng kiến trúc kỳ diệu gì, tôi cũng chẳng có gì để phê bình, công kích. Tôi chỉ thấy đó là một bức tường với vô khối tên người, tôi cũng chẳng rõ tại sao người ta phải tranh cãi chuyện ấy. Đối với tôi, đài này là một lời phát biểu, bởi vì khi nhìn thấy năm mươi tám ngàn cái tên của năm mươi tám ngàn con người được khắc vào cùng một chỗ, thì cái ý tưởng được phát biểu ra ấy là sự tàn ác trong việc hy sinh tính mạng con người. Nhưng tôi không gặp vấn đề khó khăn trong việc đương đầu với chuyện này. Mặc dầu bản thân tôi đã trải qua rất nhiều thời gian ở Việt Nam, và bản thân tôi có rất nhiều lý do để cảm thấy nhờm tởm khủng khiếp về những gì đã xảy ra, nhưng may mắn thay, tôi thuộc vào nhóm đại đa số thầm lặng của những cựu chiến binh Việt Nam đã đương đầu được tình trạng này một cách khá tốt đẹp.

Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng hình ảnh của những cựu chiến binh Việt Nam râu ria lởm chởm, mặc những bộ đồ trận cũ kỹ, khóc than trách móc về những thất bại của cuộc đời họ là do chiến tranh Việt Nam, đây chỉ là một số rất nhỏ của tập thể cựu chiến binh Hoa Kỳ dự trận Việt Nam. Họ không phải là những người đại diện. Những người cựu chiến binh Hoa Kỳ dự trận Việt Nam điển hình là những người đã khá thích nghi lại đời sống bình thường một cách tốt đẹp, họ là những người lứa tuổi bốn mươi thành công trong công ăn việc làm hoặc bất cứ công cuộc nào họ theo đuổi. Tôi không chấp nhận ý niệm rằng những cựu chiến binh của trận địa Việt Nam bình thường là những người quý vị đã thấy: họ tự nhốt mình trong cái cũi nhốt cọp bên đài kỷ niệm chiến sĩ trận vong để cố thuyết phục mọi người là họ vẫn đang còn sống như những tù nhân. Bản thân tôi đã cứng cáp thêm sau chiến tranh Việt Nam bởi vì cái viễn tượng đã truyền đạt được toàn bộ triết lý của đời sống tôi. Và tôi nghĩ rằng có nhiều người như chúng tôi hơn là những người mặc đồ trận, đội mũ rừng ôm nhau khóc sướt mướt vào những ngày lễ truy điệu chiến sĩ trận vong. Tôi không có ý bảo tôi không có lòng thương cảm những chuyện đó, nhưng tôi rất tiếc mà phải nói rằng: Hình ảnh của tập thể cựu chiến binh trận Việt Nam trước mắt dân chúng Mỹ đã mù mờ và bất chính xác như là chính cuộc chiến tranh xảy ra – Tôi chẳng nên ngạc nhiên gì về việc báo chí truyền thông Mỹ đã bóp méo cái hình ảnh của các cựu chiến binh Việt Nam. Toàn bộ cuộc chiến này, sự thực về cuộc chiến này cũng đã bị họ bóp méo rồi.

Người lính bắn tỉa

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

May 19th, 2023

Post by Sơn râu 22 Jan 2024

Ðèo Termez bỗng tối sầm như nhật thực, Brian trưởng toán viễn thám T4 thuộc đội 91 lính rừng đưa tay ra hiệu phân tán, toán lính dạt thành hình cánh cung, núp sau những mỏm đá, quan sát hang động tình nghi bên núi Orgun.

Smith, hạ viễn kính, gọi máy.

– Hey B, không có con chuột nào khả nghi.

– Mở mắt coi cho kỹ, khói ở hướng 2 giờ.

– Thợ săn nướng dê núi.

– Ô! Mụ Smith ngây thơ ơi! Trinh sát của Taliban đó.

– Ðược! yểm trợ, tao chạy xuống, tới gần quan sát.

Smith len lỏi qua những mỏm đá, mấy phút đã tới bờ suối cạn, cách nhóm thợ săn chừng 300m.

Brian gọi.

– Smith, mầy tính đi gặp Ala hả? lùi lại

Anh chỉ Kent, người lính bắn tỉa nổi tiếng của đơn vị 91.

– Yểm trợ tối đa cho nó.

Kent bò lên chỗ khuất, đặt khẩu súng bắn sẻ nhà nghề M110A.

– Có 2 thằng giấu 2 khẩu Ak trong túi vải, đang nướng dê, không có động tác nguy hiểm.

– Nè mụ Smith! Tụi nó đang rình đại đội 4 để làm cú hốt ổ! Rút lui cho kỹ!

Smith vừa nhổm dậy khỏi mỏm đá, chạy được vài bước.

– Cắc bùm!

Tiếng súng bắn tỉa xuyên ngang núi, Smith bật lên, lăn xuống đồi.

Brian la lớn.

– Tụi bay núp kỹ! Bắn tỉa hướng 9 giờ.

Anh đưa viễn kính, quan sát, gọi máy.

– Khẩn cấp anh cả! Bắn tỉa chơi thằng con rớt địa ngục! Rút gấp.

Kent gọi.

– Bắn tỉa nằm trong hốc núi hướng 9 giờ, không bắn được, nếu không có người mồi.

Brian.

– F! Khỏi bắn! rút về. tính sau.

3 hôm sau, toán T4 đang tuần tra truy lùng bọn Taliban và tay bắn tỉa, khi về qua hẻm núi đá gần ngôi làng nhỏ, cả toán nghỉ chân sau những tường gạch đổ nát. Jay, cởi chiếc máy liên lạc, để trên đống gạch, lấy chai nước, ngửa cổ uống một ngụm lớn.

– Cắc bùm!

Jay lật xuống, viên đạn xuyên nát chai nước

– Núp! Bắn tỉa!

Phòng hành quân tiền phương đại đội 3, lính rừng 91.

Brian chỉ vô bản đồ.

– Hello trung tá Jones, hôm nay tôi lại rớt thêm 1, dưới điều kiện ánh sáng tệ hại, tay bắn tỉa quá giỏi, xơi gọn thằng con.

Trung tá Jones đỏ mặt.

– Tiếp tục trinh sát khu vực M12, truy tìm vị trí bắn tỉa, liên lạc trực tiếp máy bay không người lái, lấy tọa độ chính xác.

Tối đó, Brian buồn bã khui chai whiskey đỏ, nốc một hơi dài.

– 6 tháng nay không một ai bị trầy da…

Anh đá cái ghế nhựa

– Mẹ! Chỉ 15 ngày, 2 thằng con rớt vì bắn tỉa

Chụp vai Kent.

– Phải làm gì?…

Lắc mạnh.

– Tụi mình phải làm gì! Không thể để nó làm sát thủ được.

Brian nằm vật ra giường.

Kent đứng dậy, lấy chai rượu trong tay Brian, bỏ vô góc lều, anh khoanh tay.

– Tao cần truy lùng tay bắn tỉa, và tìm cách hạ đo ván, trước khi nó tiếp tục giết mình.

Brian bật dậy.

– Ðược! Nhưng làm gì.

– Ðây là kế hoạch mật, mày xin lệnh của chỉ huy trưởng, tao zulu (vọt) tối mai.

– Cho tao chi tiết.

– Trong 2 tuần, tao xâm nhập các làng, tìm tung tích tay bắn tỉa ở những khu vực nghi ngờ, sau đó chúng ta sẽ câu nó bằng hình nộm, drone từ trên cao theo dõi vị trí, tao đích thân làm cú chấm hết cho thằng chó hoang này…

Kent tới góc lấy chai whiskey, nốc một ngụm lớn.

Ðưa chai rượu cho Brian, anh cầm lấy, rớm nước mắt…

– Vì các thằng bạn lính rừng nghiệt ngã!

Nốc cạn.

Người bán dạo, râu tóc lùm xùm, 2 cái răng vàng lấp lánh ở hàm trên, anh phủi bụi chiếc áo ngoài màu trắng đã ố, rách nhiều chỗ. Ðưa tay chào ông già bán thịt dê.

– “Sawlaam Alaykum”

Cột con lừa vô cây gỗ ngay trước tiệm thịt, anh trải miếng vải nhựa xanh xuống đất, lấy 2 bao hàng, bày ra, rao lớn.

– Giấy vệ sinh, khăn mặt, xà phòng, kem đánh răng, kính mát… Xin mời!

Nắng trưa hừng hực, dãy núi đá Orgun đầy những bụi gai rừng vàng khô, lớp cỏ nằm rạp sát đất lốm đốm như tấm thảm Ả Rập bị lỗi, cả khu làng nhỏ yên lặng, nín thở dưới cái nắng khô da đầu. Tiếng vo ve của đám ruồi bu trên mấy miếng thịt dê ở chiếc bàn gỗ xiêu vẹo bay tới đậu trên chiếc áo lùng thùng tanh rình của ông bán thịt, hòa với tiếng ngáy của anh bán giấy vệ sinh thành một điệu nhạc lạ kỳ, chỉ có 2 âm, một thật cao, và rầm rì rất thấp.

– Sawlaam Alaykum! Tôi cần mua ống kem đánh răng.

Anh bán dạo mở một con mắt.

– Ngay bên trái cô, 15$.

– Cám ơn.

Cô gái đưa cánh tay thon dài lấy ống kem, anh bán dạo mở luôn 2 mắt, bật dậy.

– Cám ơn cô.

Anh cầm tay cô gái.

– Tôi chỉ tính 10 đồng với người xinh đẹp như cô.

Cô gái cười, rụt tay lại, trả tiền, lấy ống kem, đi khuất sau bức tường rực nắng trước mặt.

Bà già từ căn nhà sau lưng bước ra.

– Tôi cần miếng thịt sườn.

Ông bán thịt ngồi bật dậy.

– Sawlaam Alaykum!

Ông lấy miếng sườn dê treo trên móc, đặt xuống bàn, rút con dao, chặt mạnh, gói miếng sườn trong tờ giấy báo, cột dây.

– Dạ cám ơn bà, 25$

Bỏ tiền vô túi vải đeo trước ngực, ông chùi tay vô quần, quay qua anh bán dạo.

– Nhỏ đó là cháu gái của tao! Cô giáo dạy tiểu học…

Ông chỉ tay vô cuối xóm.

– Trường ở dưới.

Nhìn anh bán dạo.

– Mày ở đâu tới?

– Ở tuốt trên đường núi AH-76.

– Ði bán xa vậy?

– Kiếm sống, nên phải đi xa, mỗi nơi 1 tuần, rồi đi làng khác.

Ông già thân mật.

– Tao là Harem, nhà cũng dưới đó, gần trường.

– Dạ tui là Asadi, lúc trước ở cái lều bên đường AH-76, bây giờ thì tối ngủ đường.

– Mầy có thể ghé qua tao ngủ nhờ cho đến khi ra đi, vợ chết, tao ở một mình, còn dư cái giường gãy 1 chân của bả,

– Dạ! Cám ơn ông.

Tối đó Asadi có chỗ ăn ngủ, anh phụ ông già 10$ mỗi ngày cho bữa tối và cái giường 3 chân.

Sáng hôm sau, lúc anh đang chất 2 bao hàng lên lưng con lừa, có tiếng chào nhỏ nhẹ.

– Sawlaam Alaykum! Chào anh… Anh ở đây à?

Thì ra cô gái mua kem đánh răng là hàng xóm.

– Chào cô! Ala cho cô một ngày tốt đẹp.

– Anh cũng vậy! Anh đi bán?

– Chỗ ông già bán thịt, chủ nhà này, nơi tôi đang ở nhờ.

– Là chú tôi.

– Tôi là Asadi

Cô gái cười trên đôi mắt đen như nhung.

– Gọi tôi là Afri.

Cô bước ra khỏi nhà, quay lại.

– Tôi đi dạy học, sẽ gặp sau.

– Sawlaam Alaykum!

Ngay sáng đó, Asadi quyết định dời chỗ bán hàng tới ngôi nhà bên trường, từ đây anh có thể đưa tay chào Afri và say đắm nhìn cô dạy học.

– Mầy chịu con cháu Afri của tao, chứ gì?

Asadi đang gặm chiếc sườn dê nướng, để xuống bàn, nhìn ông Harem.

– Tôi mong muốn gặp lại cô, ông có thể giúp?

– Dĩ nhiên! Tại mầy còn độc thân.

Và những cuộc gặp gỡ tiếp tục trong cả tuần, đêm nào Asadi cũng ăn tối với Afri, với ông chú Harem kèm theo chai rượu chà là rẻ tiền, họ vui vẻ chia nhau những cơn say, quên đi cuộc sống khó khăn, nghẹt thở với chiến tranh đang lảng vảng trong vùng.

Asadi nhận tin nhắn từ đơn vị.

“Bên không thám đã cung cấp vết tích nhận dạng của tay bắn tỉa”

“Con chó hoang có hình xăm bên cổ tay trái, với giòng chữ “Eala” (Vì Ala), phía dưới là 3 giọt máu”

Asadi nhắn.

– Ðã liên lạc được với thường dân ở khu vực nghi ngờ.

Sáng sau, Asadi đang dọn hàng thì thấy một người đàn ông mặc toàn đen, đang đứng tranh cãi gì đó với Afri trong phòng học, có lúc cô quay ra ngoài, nét mặt lo lắng nhìn Asadi.

Hôm đó, sau bữa ăn tối, Afri bước tới cửa sổ.

– Cô có chuyện gì?

Afri im lặng.

– Tôi thấy người đàn ông…

Afri quay lại.

– Có chuyện, tôi sẽ không gặp anh nữa.

Afri ra cửa, bước nhanh trong bóng tối.

Ðêm lạnh ngắt ở Orgun, trong một hang đá sâu, lờ mờ ánh đèn yếu ớt trên mặt một nhóm Taliban. Người quấn khăn đỏ, ngồi xe lăn, chính là Mali Khan, tay chỉ huy sắt máu của bọn khủng bố ở vùng này.

– Tôi yêu cầu Afri hợp tác với tôi và Ghani để hạ sát tay bắn tỉa tên Kent của toán viễn thám T4 thuộc đội 91 lính rừng…

Ông run run chống tay, đứng lên, đôi mắt rực lửa.

– Năm ngoái, viên đạn oan nghiệt của thằng Kent khốn nạn đã xuyên nát háng tao, tiêu chân phải và tuyến tiền liệt…

Ông cúi đầu.

– Làm tao trở thành con dê cà thọt bị thiến, 3 con vợ đều bỏ ra đi…

Ông lăn xe tới bên Afri.

– … Chúng tôi đã có tin, thằng chó đội lốt bán dạo để dò la tin tức tay bắn tỉa cừ khôi của chúng tôi.

Ông cười gằn.

– Và nó đang ve vãn cô…

Xuống giọng.

– Cô chỉ kéo nó dạo chơi…

Afri nhíu mày, Mali Khan búng tay.

– Tụi tao bùm một phát, là nó đi tàu suốt xuống địa ngục.

– Nhưng tôi không làm được.

– Vì Taliban, vì Ala, cô hãy làm…

Mali Khan, cúi sát mặt Afri.

– Nếu không…

Ghani đưa hai tay lên, mắt đỏ như sói.

– Coi như làng này sẽ không còn cô giáo…

Tối đó, Afri cho Kent biết sự việc. Sáng hôm sau anh từ giã ông Harem, tức tốc trở về đơn vị. Lúc đợi xe võ trang tới rước, Kent núp sát góc tường, lấy viễn kính, nhìn vào lớp học.

Afri, đang khoanh tay trước người đàn ông hôm trước đang hung dữ chỉ tay vô mặt cô nhiều lần.

Ngay cổ tay trái, có hình xăm, Kent cho máy nhìn cận ảnh.

Ðúng như thông báo của đơn vị.

“Chó hoang bắn tỉa có xăm hình bên cổ tay trái, với giòng chữ “Eala” (Vì Ala), phía dưới là 3 giọt máu”

Phòng hành quân viễn thám T4.

– Tôi đã nhận dạng tên bắn sẻ, chúng ta chỉ cần lùa vô bẫy, nhử bằng hình nộm, nó nổ súng là drone biết vị trí…

Kent đưa tay cắt ngang cổ

– … Tao sẽ đưa nó về chầu Ala!

Hai hôm sau, toán T4 hành quân tập trung về phía núi Orgun, với mục đích truy lùng, hạ sát tay bắn sẻ nổi tiếng của Taliban.

Theo kế hoạch, Kent nằm ở một hốc đá, xéo góc, cách vùng trinh sát của toán T4 khoảng 800m, Brian, đeo một hình nộm giống như lính trinh sát thật trên lưng, nên khi anh nằm, hình nộm trong thế ngồi, khi anh quỳ, núp sau các mỏm đá, hình nộm cũng vừa ló đầu bên trên, giống như trong tư thế tác chiến.

Nhóm viễn thám bắn vài loạt đạn khiêu khích vô dãy núi đá Orgun.

Brian nghe máy.

– Drone cho biết, hình do thám hồng ngoại, có nhận vật đang ở trong hang núi, cách 550m hướng 2 giờ, với vũ khí cá nhân.

Anh gọi ngay Kent.

– Hello! Chó hoang đang ở ống cống hướng 2 giờ, khoảng cách 550m, di chuyển gấp.

– Roger!

Kent ôm khẩu M110A, trườn nhanh dưới những mỏm đá, tới điểm, anh chọn một khe, đủ lọt nòng súng và tầm quan sát về hang núi tình nghi.

Qua kính hồng ngoại, tay bắn sẻ mờ ảo trong hang.

“Khoảng cách từ vách hang phải tới đầu tay bắn tỉa là 2m, khoảng cách vách bên trái tới ngực nó là 1m, anh dự tính, sẽ bắn 2 phát: phát đầu vô vách núi phải, đầu đạn sẽ trượt đi với góc 165 độ trái, chắc chắn sẽ trúng ngay phần đầu, hoặc cổ, phát thứ 2, anh nhắm vô vách trái, với độ lệch góc 150 độ phải, sức công phá của đầu đạn M110A sẽ xuyên thấu phần hông của thằng con hoang.

Brian.

– 2 đứa bò vòng hướng 9 giờ, trấn các ngách gần hang, 2 đứa vòng 3 giờ bọc hông, tao và Nick trực diện.

Toán T4 bắt đầu bò thật chậm theo kỹ thuật đặc công núi, cái đầu lính giả lấp ló sau những tảng đá, Brian chồm lên nã một loạt đạn đánh lạc hướng vô bên phải hang.

Ngay lập tức.

– Cắc bùm!

Viên đạn bắn sẻ xuyên nát đầu lính giả.

Drone gởi text: Tọa độ F:529, H:29, V:15

Kent, kéo cò, phát đạn tung vách đá phải, sức dội từ đầu súng rung nhẹ, cho biết đã trúng mục tiêu, Kent lên đạn, bắn phát thứ nhì…

Ðám Taliban đã phục kích sẵn, nhào ra tấn công, tưới đạn vô toán T4.

– Rút lui, núp vô các tảng đá!

Brian la trong máy.

– Pháo, ó đen làm cỏ tụi nó.

Trong 3 phút, đại bác rót chính xác vô đám Taliban, tụi nó rút vô núi gần đó, 3 phút sau, chiếc trực thăng AH-64 Appache cũng vừa tới, dộng 2 hỏa tiễn vô hang…

Brian.

– Hello! Anh cả, đã tiến vô hang, chỉ có cây súng, không thấy xác của tay bắn tỉa.

2 tháng qua, tay bắn tỉa tịt ngòi, có thể nó đã về chầu Ala hoặc bị thương nặng với 2 viên đạn thần sầu của Kent.

Kent nhận huy chương khen thưởng từ tư lệnh quân đội.

Orgun trở nên yên tĩnh.

Lệnh quân đội Mỹ rút toàn thể ra khỏi Afghanistan ban hành.

Kent trở lại gặp Afri.

Ông già Harem mừng rỡ, mời Kent mấy miếng dưa hấu.

– Anh sẽ nhờ chỉ huy làm thủ tục di tản em ra khỏi đây, em cố gắng tự bảo vệ, đợi.

– Tại sao?

Kent ôm lấy Afri.

– Tại anh muốn em làm cô giáo cho các con của mình!

Afri tròn đôi mắt đen.

– Của mình?

– Sau khi em tới Mỹ, anh sẽ làm đám cưới.

Afri, mở mạng che mặt, ôm hôn Kent.

Kent ra xe, chạy về đơn vị.

– Tao và anh cả đã làm bảo lãnh cho Afri di tản về Kabul, tại đây nhân viên Ðại Sứ Quán Mỹ sẽ làm thủ tục nhập cảnh cho cô.

Kent ôm người chỉ huy.

– Cám ơn! Nợ ông thầy!

Ðơn vị T4 thuộc đội 91, được lệnh làm hành lang bảo vệ cho thường dân Afghanistan có liên hệ với Mỹ di tản khỏi Kabul.

Nhân viên, thân nhân, những người làm việc, có liên hệ với Mỹ đều được đưa đến khu tập trung, làm thủ tục nhập cảnh, lên đường đi Mỹ.

3 chiếc máy bay trực thăng chiến đấu AH-64 Appache, cao hơn là 2 máy bay không người lái võ trang MQ-9 Reaper liên tục bay bảo vệ khu vực di tản, phi trường quân sự Mỹ ở Kabul.

Kent đặt bao vải hành lý của Afri xuống, anh chào người quân cảnh đứng ngay cổng, đưa tờ giấy.

– Hello! Chào Trung Úy, đây là Afri, vị hôn thê của tôi.

Anh quay qua cười với Afri.

– Chúng tôi sẽ làm đám cưới khi về tới Mỹ.

Anh Quân Cảnh.

– Xin chúc mừng cô và Kent, tay bắn sẻ cừ khôi của lính rừng.

Kent chạy lên lầu 1 của căn nhà hậu trạm, anh đưa tay chào Afri, ngồi khuất góc cửa sổ nhỏ, ôm khẩu súng bắn tỉa M110A chĩa qua căn nhà chứa máy bay.

Tay Afri cầm tờ giấy phép, quay lại vẫy chào Kent, bước nhanh tới cầu thang máy bay đang đợi.

– Cắc bùm!

Ðầu Afri bỗng giật nghiêng qua, trên trán, một lỗ tròn bung máu. cô lảo đảo, sụm xuống, Kent la lên trong máy.

– T4, bắn tỉa hướng 11 giờ.

Kent nhích nòng súng, nhắm ngay khe cửa sổ khép hờ ở lầu 1 của nhà chứa máy bay, anh bóp cò.

– Bùm…

Người lính kéo chiếc xe lăn ra ngoài, Brian lôi xác quấn trong áo choàng đen, đặt xuống sàn nhà,

– Nó ngồi xe lăn.

Kent bước tới, 1 cái lỗ sâu, ứ máu nằm ngay giữa trán của xác chết, anh cúi xuống, vén tay áo bên trái.

Hình xăm bằng mực đen, đã hơi mờ, với giòng chữ “Eala”, phía dưới là 3 giọt máu.

Ðúng nó! Thằng bắn tỉa ngày nào.

2 viên đạn xạ kích thần sầu trước đây của anh, 1 viên đạn đã cắt bay phần hàm dưới, viên thứ 2 làm rụng cái chân trái cho tới háng.

Kent đứng dậy.

Cuối cùng, thì anh cũng đòi được món nợ cho các đồng đội lính rừng và cho Afri đã ngã xuống.

HĐV

Rạp Định Tường

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

November 11th, 2023

Post by Sơn râu 22 Jan 2024

Hồi xưa, ở Miền Tây, muốn biết tỉnh đó lớn hay nhỏ chỉ cần căn cứ vào số rạp chớp bóng của nó. Sao vậy? Dễ ợt! Tỉnh lớn dân đông, đi coi hát nhiều; nên xây nhiều rạp hát để kiếm tiền vậy thôi! Như tỉnh Phong Dinh, Cần Thơ được xưng tụng là Tây Đô, có tới 6 rạp: Casino, Huỳnh Cẩm Văn, Huỳnh Lạc, Li Do, Minh Châu, Tây Đô. Tỉnh vừa vừa như Kiên Giang, Rạch Giá có 3 rạp: Châu Văn, Đồng Thinh, Hòa Lạc. Tỉnh trộng trộng hơn một chút như Định Tường, Mỹ Tho có 3 rạp: Định Tường, chuyên chiếu phim Tây, mỗi vé tới 12 đồng. Viễn Trường cho đoàn cải lương trung ban mướn. Vĩnh Lợi cho đại ban mướn diễn phúc khảo tuồng mới vài bữa cho đào kép thuộc tuồng rồi mới về Sài Gòn hát ở rạp Nguyễn Văn Hảo, Hưng Đạo hay Quốc Thanh. Còn không có ai mướn, thì chiếu thường trực vé 5 đồng, phim cũ xì thời Bành Tổ.

Khương Hữu chủ nhà máy xay lúa cũng là chủ rạp hát Định Tường ở đường Trưng Trắc, Mỹ Tho. Cứ mỗi tam cá nguyệt, tức 3 tháng, họ gởi biếu ba tui Trưởng ty Bưu Điện Mỹ Tho một xấp 10 tấm vé. Ba má tui con một bầy đông như quân Tôn Sĩ Nghị có huỡn đâu mà đi coi chớp bóng. Tui thì lại ở không, rất huỡn. Rủ em Thuý sạp bán bánh da lợn cuối đường Trưng Trắc, gần Ty Điền Địa thì em không dám. Vì má em không cho con gái cưng của mình chui vô rạp chiếu bóng với cái thằng quỷ sứ. Vô, đèn tắt tối thui, nó quờ quạng như Huyện Trìa đòi khám điền thổ của Thị Hến thì đứt chến. Tui bèn rủ thằng bạn đi coi. Vậy là hai thằng cu đến “guichet” bán vé đổi hai vé mời ra hai vé có ghi số ghế. Bà chủ rạp mặc áo dài, phấn son loè loẹt mấy lớp dày cui, giàu nứt đố đổ vách, đi xe Peugeot 404 đời mới nhứt mà đích thân ngồi bán vé. Cháu bả soát vé cửa. Bả chỉ mướn một ông trong phòng chiếu phim, một ông bấm đèn pin chỉ chỗ cho khán giả. Mướn chú Ba Tứ Hải vẽ ‘panneaux’ quảng cáo. Nhưng chú Ba nầy giao cho thằng đệ tử tên Hui. Thời buổi chiến tranh, chết nhiều, tràng hoa hột cườm đắt như tôm tươi. Chôn xong, chú đi mua lại tràng hoa cũ, chùi rửa, gắn băng tím mới vô bán tiếp. Khẳm địa.

Rạp Định Tường – nguồn wikipedia 

Mặt bả có vẻ quạu quọ vì thấy hai thằng nhóc đi coi phim bằng vé mời ông Trưởng ty. Cái nầy ngộ? Vé mời người được biếu không rảnh đi coi thì cho con của họ bộ hổng được sao chớ? Chắc chính vì hận kẻ làm tàng, tui có ác cảm với người giàu. Nên sau nầy tui đi cưới vợ nghèo, nghèo miết từ đó tới giờ.  Giờ nghĩ lại ghét đứa giàu là mình ngu. Con vợ tui nghe vậy nó “sùy” một tiếng: “Giàu? Có con nào chịu lấy anh? Bộ nó khùng sao? Phải môn đăng hộ đối” Rồi bả cật vấn tui: “Ông có biết môn đăng hộ đối là gì không hả thằng cha quỷ hó?” Chết tía tui rồi! Tui dại mồm, dại miệng, lỡ lời chê bà Hoạn Thư nầy là dân áo vũ cơ hàn, nghèo rớt mùng tơi?! Tui bèn trả lời xụi lơ: “Dạ thưa má không biết!” Bả lớn tiếng: “Ông gọi ai là má?”“Gọi bà chớ ai? Má của con tui, bộ không phải hay sao?” Qua Úc mà không chịu học Úc? Bà vô ngân hàng, tới siêu thị, mấy con nhân viên nó hay gọi bà là “mum”  có nghĩa bà là ‘bà má Hậu Giang’ của con bà; chớ bà không phải là má nó. Đừng có nghĩ nó là con dâu của bà! Hà Mã thấy bà còn chạy mất dép. Em yêu của tui vặn vẹo lại: “Sao có con Hà Mã chen vô đây?” Bình Long anh dũng, Kontum kiêu hùng, Trị Thiên thừa thắng xông lên, tui kể cho em một cái ‘joke’ để làm dịu bớt tình hình đang căng thẳng. Chuyện rằng: Em muốn bỏ chồng. Toà hỏi nguyên do? 10 năm trước, ổng kêu em là Hà Mã! Chuyện đã 10 năm, sao giờ mới đòi ly dị? “Tại hôm qua em đi chơi Sở Thú!” “À ạ! Hồi nãy ông chê ba má tui nghèo; giờ ông chê tui xấu như Hà Mã phải không?” Rồi xong! Tui sẽ ăn mì gói một tháng là cái chắc đó bà con ơi.

Sau khi hành hạ anh yêu lên bờ, xuống ruộng, em yêu lên giọng thầy đời cắt nghĩa: “Môn đăng hộ đối nghĩa là từ ngoài cửa cho đến trong nhà đều tương xứng với nhau. Thành ngữ nầy là của ba tàu. Mao Trạch Đông, Tập Cận Bình đọc ‘đương’, mình đọc ‘đăng’ (làm gì nhau?). Nên thành ngữ nầy trở thành ‘môn đăng hộ đối’ như ngày nay.

Em yêu của tui quả thật là người trên thông thiên văn; dưới tường địa lý; giữa là một bụng không phải chứa đầy mỡ sa mà chứa đầy ba bồ chữ. Chính vì vậy tuần rồi đi siêu thị với em, tui mặc cái ‘T- shirt’ có in hàng chữ “I don’t need Google. My wife knows everything (Tui không cần Google. Vợ tui biết tất cả). Mấy em Úc mắt xanh mỏ đỏ nhìn em cười tủm tỉm. Làm em tưởng mấy con Úc nầy rất “friendly”?!

Tối nay đổ nước sôi vô tô mì gói vắt chút chanh tui quất láng. Mì gói dở hạch như tình em. Nhưng ngày nào cũng ăn. Sáng mì gói, trưa gói mì, tối tối lại một tô mì gói. Riết tui ghiền cả hai. Nên con vợ của tui với mì gói tui đều không bỏ được.

Sau vài ly rượu đỏ, tui bùi ngùi nhớ lại những cuồn phim tui coi ở rạp Định Tường thời thơ ấu. Tui nhớ phim cao bồi Django nhưng của thằng Ý làm, Franco Nero sắm vai chánh. Còn phim chánh hẩu Viễn Tây Texas Huê Kỳ thì do tài tử John Wayne trừ gian diệt bạo. Phi ngựa, bụi tung trời. Móc súng ra, nhanh như chớp, bắn ‘pằng pằng’. Kẻ ác, cướp ngân hàng, rồi chạy. Cảnh sát trưởng, đeo ngôi sao bạc, nhảy phóc lên yên, phi ngựa đuổi theo. Thằng nhỏ là người viết tin quá, ngồi dưới vỗ tay hối lẹ lẹ lên!

Sau nầy, lớn lên bớt hơn một chút, nhưng vẫn còn khờ. Thấy tại làm sao mấy thằng ác vẫn làm cha? Còn anh hùng đôi khi bị rượt chạy té khói! Nên anh hùng cao bồi Texas nào rồi cũng ‘nhạt phai’ đi?!

Ôi! Tui nhớ rạp Định Tường! Tui nhớ mấy em yêu của tui còn kẹt lại ở quê nhà, bên kia đời lận đận.

ĐXT