This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Anh Tám hồi xưa học trường Ðại học Sư phạm ban Việt Hán. Nói nào ngay kinh nghiệm cho tui biết mấy tay học ban văn chương thường hơi bị tửng tửng, cực đoan. Có lần anh Tám làm đơn đòi đổi tên ban Việt Hán thành ban Quốc Văn. Không có Hán (không ‘G’) gì hết ráo. Hổng nghe mấy thầy trả lời, trả vốn gì! Trong lớp, mấy em học chung bèn đặt cho anh Tám cái biệt danh là ‘Tám tào lao’, cháu đích tôn của ‘Tào Tháo’.
Ra trường, thầy Tám dạy môn Việt văn cho lớp 10 và 11. Ðược chỉ có một niên khóa là Miền Nam sập tiệm.
Ngày 30 tháng Tư, cách đây 47 năm, Cộng Sản Bắc Việt chiếm được một Sài Gòn trù phú. Cái đám văn nghệ sĩ của Ðảng chuyên xúi thiên hạ vào chỗ chết, quen thói láu cá vặt ăn cỗ đi trước lội nước theo sau lò mò vô Sài Gòn. Vào trễ hơn đám khác nên chiến lợi phẩm bị đám bộ đội ‘vào, vơ, vét, vọt’ khuân hết ráo rồi còn đâu? Cái đám nầy bèn giành nhau các vị trí chủ chốt trong ngành văn hóa để kiếm ăn vì cái đám VC trong Nam không biết chữ!
Ðược lưu dụng, thầy Tám phải đi học tập chánh trị ba tháng hè. Sách giáo khoa cũ phản động phải bỏ. Phải dạy sách giáo khoa mới của chánh quyền cách mạng. Nên đêm hôm trước, thầy Tám dở sách ra học; sáng hôm sau vô lớp, thầy trả bài cho trò. Dĩ nhiên là có cái thầy Tám chưa thông, giảng bài chưa được trơn tru như cái máy hát; nên học trò nó không có phục. Sau lưng, tụi nó xầm xì: hồi trước thầy Tám dạy thiệt. Sau nầy thầy Tám dạy dóc không hè!
Một hôm, có em học trò ngoài Bắc mới vào, hỏi: “Phim truyện tối qua trên truyền hình là do bố em viết kịch bản thầy xem có hay không? Thầy Tám trả lời: “Nên nói với bố em nhơn vật người Nam phải nói tiếng Nam. Về danh từ, người Nam nói: ‘xe hơi’ chớ không nói ‘ô tô’. “Ðèn cầy” chớ không nói ‘nến’. Về đại danh từ, ‘con nhỏ’ chớ không nói ‘cô bé’; ‘ổng, bả, cổ, ảnh’ chớ không nói ‘ông ấy, bà ấy, cô ấy, anh ấy’. Ðộng từ, ‘ăn hiếp’ chớ không nói ‘bắt nạt’. Tính từ ‘mắc cười’ chớ không nói ‘buồn cười’, ‘mắc dịch’ chớ không nói ‘chết tiệt’. Và liên từ ‘vậy thì’ chớ không nói ‘thế thì’.
Ðâu chừng tuần lễ sau, Trưởng phòng Giáo dục, là một tay ‘Ba ke 75’ kêu thầy Tám lên cho thôi việc. Lý do không đủ tiêu chuẩn để được tuyển dụng. Thầy Tám quạu quá, chửi thề: “Mẹ bà nó! Tiêu chuẩn gì? Sao bố con tụi nó không chịu ra chợ chim Huỳnh Thúc Kháng rinh về một con két?”
Tui mất dấu thầy Tám từ độ ấy. Qua Melbourne, hai chục năm sau, bất ngờ tui gặp lại người xưa. Hồi trong nước, thầy Tám dạy con tui. Qua Úc, thầy Tám dạy cháu Nội tui tại trường Việt ngữ vào ngày thứ Bảy.
Nói nào ngay, tui cũng biết đọc, biết viết, biết nghe, biết hiểu chút đỉnh nên thầy Tám hay kêu tui lại nhà nhậu để nghe thẩy tào lao về bài thầy mới viết xong. Coi tui có nói vô, nói ra gì không? Nói bậy thì thầy rầy. Nói phải thầy nghe rồi sửa lại. Thầy gởi báo đăng, kiếm tiền nhuận bút đãi tui nhậu chơi. Thiệt là quá đã!
Tuần rồi, thầy Tám tào lao nói: VC làm hư tiếng Việt mình hết ráo, rồi thầy chuyển qua ‘iPhone’ của tui một bài viết mới ra lò như vầy nè:
“Tản văn ‘Xa Ðầm Thị Tường’ của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư có quá nhiều chữ ‘Bắc Kỳ lai 75’:
“Trời ơi, giữa trưa mà ăn cơm nguội với mắm thì còn gì bằng, ăn đã dữ lắm. Mắm thì làm hai món: nấu ninh lược nước làm lẩu, ăn với cá rô, cá phổi, khổ qua, rau thì có rau đắng đất, cải xanh… mắm chua thì ăn sống. Mắm cá nâu, cá bống nhỏ tẳn mẳn để nguyên con, trộn gừng, đường cát, vắt tí chanh. Gắp một con mắm cặp với chuối chát, khế xắt lát mỏng dính mà ăn, (chắc lưỡi), nó ngon hổng biết làm sao mà nói.
…Chuyện cá tôm nhiều vô kể quanh năm, chuyện một chiếc xuồng con với vài tay lưới có thể nuôi cả nhà đã quá xa vời. Chuyện xuồng đi tới đâu, đàn cá nược đuổi theo đến đấy…”
Ðọc xong bài nầy, tui vốn là dân nhiều chuyện, Tám tào lao, lại gặp lúc huỡn quá vì không có ai kêu tui đó; nên tui xin có ý kiến, ý cò như vầy nè:
“Bà con mình chắc ai cũng biết nhà văn Nguyễn Ngọc Tư sanh năm 1976, tuổi Bính Thìn tức tuổi con Rồng. Con Rồng nầy bay lượn từ khi cô Tư (lại đoán mò nữa chắc cổ thứ Tư) cầm bút viết từ đầu thế kỷ 21 tức năm 2000.
Nguyễn Ngọc Tư là hội viên Hội Nhà văn tuốt ngoài Hà Nội. Nên mỗi lần đi họp, bàn chuyện văn chương xa quá, chắc cô Tư mỏi cẳng lắm. Rồi ra tới ngoải, chắc cũng có cự cãi lôi thôi về truyện vừa: ‘Cánh đồng bất tận’ nổi tiếng nhứt của cô Tư hồi đó đã bị mấy quan anh (Huyện Trìa bắt Thị Hến) kiểm điểm lên, kiểm điểm xuống.
(Viết truyện là đặt dóc. Ðâu phải viết hồi ký hay biên khảo đâu mà đòi phải viết cho chính xác? Tác giả đặt chuyện mà mình nghi nó viết xỏ xiên đảng ta thì mình viết bài phê bình cự lại! Làm như vậy mới là người có ăn, có học phải không nè? Còn ỷ quyền dù cái quyền đó chẳng là cái khỉ mẹ gì để hiếp đáp một nhà văn còn trẻ lại đẹp nữa thì đâu có được nè?!
Vì có máu Lục Vân Tiên trong người, nên: “Nghe đây bớ đảng hung đồ! Chớ quen làm thói hồ đồ hại em (Tư)” “Ê mấy thằng cường hào ác bá ở cái đất Cà Mau nầy, trong bụng tụi bây muốn ‘o ép’ cô Tư cái gì hả ?
Tóm lại, tui thấy ai bị ăn hiếp, mà lại đẹp cỡ Kiều Nguyệt Nga như ‘Tư Ðầm Dơi’ là tui nhào vô binh hè!
Trời không hại người ngay mà! Như cái tuổi con Rồng của mình, cô Tư bay cao, nổi tiếng tợn nhe! Báo chí quốc doanh của nhà nước như một dàn đồng ca, nó ca tụng văn của Nguyễn Ngọc Tư lên tới chín từng mây. (Văn Nguyễn Ngọc Tư là đặc sản Nam Bộ? Văn đâu phải đồ ăn nhậu đâu mà cái nào cũng đặc sản hết vậy mấy cha?)
Nhưng cũng có ông không biết có cà nanh, ganh tị gì hay không mà lại càm ràm là văn của cô Tư càng ngày chữ dùng Bắc Kỳ lai 75 nhiều quá. Rồi ông dẫn ra nhiều chữ trong văn cô Tư, người Cà Mau không nói mà chỉ có người ngoài ngoải mới nói thôi.
Tui đọc xong rồi bỏ qua; vì tui nghĩ không ai đánh một người phụ nữ dù chỉ bằng một cành hoa. Nghĩa là tui trong bụng vẫn còn binh cô Tư dữ lắm nhe.
Nhưng hỡi ơi khi đọc cái cảm xúc ngắn ngủn ‘Xa Ðầm Thị Tường’ của cô Tư thì tui phải đau lòng công nhận là thằng cha này càm ràm đúng chớ hổng có sai đâu!
Cô Tư nhắc chuyện ‘ăn mắm’ hồi xưa mà kêu bằng ‘lẩu mắm’ ư? Nồi mắm kho cô Tư ơi! Cô Tư viết: ‘nấu ninh’? Tui chỉ nghe nấu cho tới khi xác mắm nó rục, nó rả ra. ‘Ninh’ tiếng cô Tư xài, là tiếng ở ngoải. Cô Tư viết ‘vắt tí chanh’? Dà tụi tui nói ‘nặn chút chanh’. ‘Vắt tí chanh’, tiếng cô Tư, xài là tiếng ở ngoải. Cô Tư viết ‘chiếc xuồng con’ làm tui nhớ tới bài hát ‘Mặt trời bé con’ của một ông lật đít nồi lên, đánh beng beng và nói là tớ chơi nhạc ‘rock’. ‘Chiếc xuồng con’, tiếng cô Tư xài, là tiếng ở ngoải. Cô Tư viết ‘đàn cá nược đuổi theo đến đấy’. Dà tụi tui nói ‘rượt theo’ không hè. Ðuổi theo, tiếng cô Tư xài, là tiếng ở ngoải.
Cuối cùng tui xin ‘chôm’ hai câu thơ lục bát của Nguyễn Bính để nói về cách dùng chữ của cô Tư bây giờ là: “Hôm qua em đi tỉnh về! Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”.
Thưa cô Tư cũng chỉ vì yêu mến lời văn rặt miền Tây sông nước Cà Mau của Nguyễn Ngọc Tư hồi năm nẳm, nên tui mới dám mạo muội phê bình bậy bạ là chữ của cô Tư ngày càng bị ‘Bắc Kỳ lai 75’ nhiều quá xá.
“Xin cô Tư đừng để bụng! Xin cô Tư đừng có ‘cá nhân’ tui nhé!”
Nhớ năm 1965, tui học lớp Đệ ngũ 5 trường Petrus Trương Vĩnh Ký Sài Gòn (học Petrus thời đó là ‘le’ lắm nhe!). Cô Phạm Thị Ngọc Dung, người quê Mỹ Tho, cho bài tập làm văn về nhà: ‘Hãy tả làng em’. Bài của tui, cô Ngọc Dung cho 10 điểm trên 20. Lý do tui không chịu tuân theo dàn bài hướng dẫn của cô. Nhưng ngạc nhiên thiếu điều té ghế khi cô bắt một thằng khác đọc bài của tui cho cả lớp nghe. Xong, cô nói sẽ đem bài nầy đi đăng báo.
Trong bài, địa danh ‘Mỷ Tho’ tui viết với dấu hỏi. Viết vậy là trật lỗi chánh tả, cô sửa lại là Mỹ Tho. Tui nhớ tới già. Nhớ vì hai lẽ: một cô Phạm Thị Ngọc Dung năm ấy mới ra trường còn trẻ. Trẻ nên rất đẹp. Hai là cô rất nữ tính dịu dàng nên học trò trai nó thương, nó nhớ dai vậy thôi! Tui cũng không là ngoại lệ.
Xuân Hồ, người đẹp gốc Mỹ Tho, út cưng của ông bà chủ hãng nước mắm đường đi Gò Công thuộc làng Tân Mỹ Chánh, hiện ở Little Saigon, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Cô nương đăng lên mạng một tấm hình trải dài hơn 50 năm. Tấm hình trước chợ Mỹ Tho đó gợi lại trong lòng tui biết bao nhiêu là kỷ niệm!
Từ mặt tiền nhà lồng chợ Mỹ Tho đi về phía đầu đường Nguyễn Huệ, (đầu đường là tính từ trung tâm tỉnh lỵ ra ngoài rìa ngoại ô) là Hí viện Vĩnh Lợi nằm trên đường Lý Công Uẩn.
Sỡ dĩ tui giữ nguyên tên ‘Hí viện Vĩnh Lợi’ của nó mà không dám tự tiện chuyển qua ‘Rạp Vĩnh Lợi”. Vì tui nghĩ làm vậy là vô phép, tui sợ Hí viện Vĩnh Lợi nó buồn. Nhưng ngoài bưng cẳng không lội vô, VC nó quốc hữu hóa nghĩa là cướp tài sản của dân. Chúng xóa luôn cái tên Hí viện Vĩnh Lợi. Làm khai sanh lại chúng đặt là ‘Rạp hát Tiền Giang’.
Đám cưới cô Nguyễn Thị Mai Anh kết duyên với Trung uý Nguyễn Văn Thiệu. nguồn Wikipedia
Lịch sử có chép lại biết bao hành động giết người, cướp của khi kẻ địch yếu thế. Như Chiêu Tăng và Chiêu Sương chỉ huy quân Xiêm theo chưn Nguyễn Ánh vào cướp phá Mỹ Tho. VC cũng lập lại y chang hành động cướp bóc hãng xưởng, tiền bạc, vàng vòng của dân Miền Nam dưới cái tên là đánh tư sản mại bản và đổi tiền tới 3 lần sau tháng Tư năm 1975.
Năm 1956 khi thay tên đường tiếng Tây, mấy viên chức phụ trách ở Mỹ Tho lại rất ưu ái Nguyễn Ánh (cho dù ông đã dựa vào ngoại bang để giành lại ngai vàng). Ưu ái bằng cách đặt tên một con đường lớn dọc bờ sông Mỹ Tho từ Cầu Bắc cũ tới Vườn hoa Lạc Hồng là Đại lộ Gia Long. Tại sao vậy? Tui ngờ rằng mấy ông này xu nịnh Tổng thống Đệ nhứt Cộng hòa Ngô Đình Diệm để kiếm chút cháo bào ngư? Vì ông Ngô Đình Diệm từng làm Thượng thư Bộ Lại triều Bảo Đại, vị vua thứ 13, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, Gia Long.
Còn lại, mấy ông nầy cứ giở sách sử ký ra, chọn tên thật của mấy vị vua mà đặt. Không biết tên thật đành chịu phải đặt theo tước hiệu như Đại lộ Hùng Vương. Còn nếu biết, thì dùng tên thật như: Trưng Trắc (bỏ bớt người em gái tên Trưng Nhị) thay vì Hai Bà Trưng như ở Quận Nhứt Sài Gòn hoặc Trưng Nữ Vương ngoài Quảng Nam, Đà Nẵng. Các vì vua khác thay vì lấy Ngô Vương thì lấy tên thật là Ngô Quyền. Lý Thái Tổ thì lấy tên thật là Lý Công Uẩn. Đinh Tiên Hoàng như Sài Gòn lại lấy tên thật là Đinh Bộ Lĩnh. Lê Thái Tổ thì lấy tên thật là Lê Lợi. Quang Trung thì lấy tên thật là Nguyễn Huệ. Hành động này, thời phong kiến, phải mang tội khi quân. Bị tru di tam tộc, chém đầu cả 3 họ. Không ai còn có chỗ để đội nón.
Trong hình phía bên tay trái có cái nhà lầu hai tầng là tiệm thuốc Bắc Thọ Nam Đường mặt tiền quay ra đường Võ Tánh. Thân phụ của cô Bảy Mỹ Tho, khuê danh Nguyễn Thị Mai Anh, là thầy Thưởng làm nghề Đông Y bốc thuốc cho tiệm Thọ Nam Đường ở Cửa Nam nhà lồng chợ Mỹ Tho. (Tưởng cũng cần nên nhắc khúc đường nầy Mỹ Tho có tới hai cái chợ: Chợ Mỹ Tho và Chợ Hàng Bông)
Chắc do thầy Thưởng làm nghề cứu nhân độ thế tích đức nên con gái của ông là cô Nguyễn Thị Mai Anh kết duyên với Trung uý Nguyễn Văn Thiệu. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu sau lên Trung tướng Chủ tịch Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia. Rồi sau đó, ông làm Tổng thống của Đệ nhị Cộng hoà tới ngày 21 tháng Tư năm 1975. Bà Nguyễn Thị Mai Anh đương nhiên là Đệ nhứt Phu Nhân.
Tui nhớ Mỹ Tho. Tui nhớ Má tui. Tui nhớ anh tui. Anh tui đã tử trận trên núi Ba Hồ Quảng Trị ngày 13 tháng 8 năm 1971. Má và anh tui còn nằm trên đất cúng, ở ngã ba Hòa Tịnh, Tân Hương, quận Châu Thành, tỉnh Định Tường. Đất cúng là đất của mấy ông điền chủ cúng cho dân làng làm chòm mả. Chòm mả là nơi đất cao, để không bị ngập nước. Ông nhà thơ Kiên Giang gọi là đất nghĩa. Thế nên chửi mấy ông điền chủ Miền Tây ác độc theo kiểu đấu tố địa chủ ở ngoài Bắc là chửi tầm bậy.
Bà con mình ở Miền Tây nhìn dạng cái mả tròn hay dài có thể đoán được người chết quê Quảng Đông, Triều Châu hay Phúc Kiến. Mỹ Tho đại phố có nghĩa địa của cả ba sắc dân nầy. Người Tàu tảo mộ khác ngày với người Việt. Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: “Thanh minh trong tiết tháng ba. Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh”.
Vào những ngày giáp Tết, Chòm mả của bà con mình là nơi đất cao, để không bị ngập nước. Con cháu mang nhang, bánh trái, dao, xẻng, nếu mả đất. Mả xi măng thì mang vôi và chổi quét, đi tảo mộ.
“Tôi cũng có Mẹ già bên ấy. Mẹ tôi đã nằm dưới mộ sâu. Cỏ trên mồ chắc xanh thương nhớ. Mẹ chắc nhớ con, nhớ để rầu. Hai lăm tháng chạp về tảo mộ. Hẹn lần, hẹn lữa, hẹn năm sau. Năm nào cũng vậy, tiền không có. Không tiền, không có vé máy bay! Ngày khánh tận mà tôi khánh kiệt. Chỉ biết tàng xe đến phi trường. Tôi nhớ Mẹ, rồi tôi cũng khóc”
Melbourne buồn, tôi lau lệ mình ên!
Má ơi chiều cuối năm nhớ Má. Ba mươi năm ly hương con không một lần về tảo mộ! Xin Má tha thứ cho con!ĐXT
Tôi ngồi đợi em ở công viên. Muốn đến cái đồi cỏ thoai thoải ấy, tôi tốn hai đồng bảy lăm xu và mất khoảng một giờ cho chuyến xe buýt chở đầy nhóc bọn học sinh với những công nhân còn nguyên nét ngái ngủ trên các khuôn mặt dường như chưa thích nghi với sinh hoạt đầu ngày.
Đêm qua tôi ngủ chẳng đầy giấc. Bần thần không phải là chữ đủ nghĩa để nói lên cái trạng thái mà tôi hứng lấy. Tựa như trước mỗi một cuộc đi xa, quần áo đã gói ghém có thứ lớp, nhưng ngỗn ngang là loại hành lý luôn hiện diện trong tâm tưởng, bừa bộn những cảm giác nửa lo âu nửa thích thú. Người ta có thể đắn đo để sau rốt quyết định vất lại cái khăn tắm, chiếc áo ấm ra khỏi va-ly; nhưng đầu óc thì phải chịu đeo cứng những nỗi niềm chẳng dứt bỏ được, có vẻ như càng lúc càng nặng thêm.
Gió ở công viên mang theo mùi lá mục, chút ẩm thấp. Đồi cỏ hứng lấy vạt nắng vàng, tinh khôi; và nó cho nhãn quang nhận ra sương còn phủ long lanh một lớp mỏng trên màu diệp lục. Yên tĩnh. Vài tiếng chim kêu gần và nơi nào xa gửi theo gió về tiếng còi tàu hú cách khoảng. Tôi chọn một băng ghế gỗ mà khi ngồi xuống tôi có thể dõi trông những bộ hành đi tất bật qua về ngoài con lộ chính. Rồi em sẽ xuất hiện ở hướng đó. Tôi tự nhủ. Mường tượng ra dáng em đi. Khoan thai hay hối hả? Ngó trước trông sau hay cắm cúi bước? Màu áo nào em sẽ chọn mặc vào một sáng lạ thường? Mặt trời chưa lên cao, nó còn ẩn mình đằng sau những khu chung cư, tuy vậy khi đi làm, có những thứ công việc buộc người ta phải rời khỏi nhà khi trời còn nhá nhem. Mưa nắng có thể buồn vui để thay đổi diện mạo cảnh quang, nhưng một cái đồng hồ báo thức thì bao giờ cũng chuyên cần réo gọi, không sai trật một phút giây. Ngoài trời còn tối hay đã sáng? Nó cóc cần. Hà khắc, vô cảm. Một ngày có hai mươi bốn giờ, người ta có được bao nhiêu thời gian để ôm giữ niềm hạnh phúc riêng tư? Tôi không biết. Tôi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp. Đồng hồ là thứ tôi chẳng màng tới. Đó có thể gọi là hạnh phúc? Có lần em biểu tôi nên sắm một cái cell phone. Nó thật tiện lợi, anh thấy không? Em nói, đồng thời lấy từ xách tay ra cái điện thoại nhỏ bé hiệu Motorola như thể làm mẫu cho tôi xem. Tôi ậm ừ cho xong chuyện, để em khỏi mắng lạc-hậu-như-người-âm-lịch. Tôi không mấy cảm tình với máy móc và chúa ghét mấy đứa đi ngoài đường nói huyên thuyên qua máy những điều gần như riêng tư tế nhị. Nói điếc con ráy! Chính bọn chúng đã khiến người ta đi tới một biểu quyết không khoan nhượng: Trong những phát minh tai hại của nhân loại, ngoài súng đạn phải kể thêm mobile phone! Nếu tôi đang làm chủ vật quái qủi đó, không chắc nó sẽ réo lên giờ này. Bởi tôi chẳng quen biết ai. Và em, người thân duy nhất của tôi thì đang bước lại gần. Chẳng được bình thường, điệu bộ kia tựa như một người mẹ nóng ruột đi tìm con thơ mãi nghịch cát ở công viên, quên mất giờ cơm cả nhà đang ngóng đợi.
– Anh đợi có lâu không?
Em hỏi. Mặt em hơi xanh. Tóc đen mượt mà luôn chấm vai, tựa hồ suốt cả cuộc đời thăng trầm nó chẳng chịu dài thêm, và đáng nói là chưa bao giờ tôi nhìn ra một sợi bạc mọc lẫn khuất. Chân tóc luôn chôn dấu một mùi thơm khó giải thích, thủy chung nó khiến tôi mềm lòng khi được vùi mặt mình vào đó. Có lẽ mặt tôi cũng đang xanh, như con nít chơi trò trốn tìm và sơ ý bị đạp mạng, điểm danh, lôi ra ánh sáng.
Em quan sát tôi, rất nhanh, rồi đảo mắt một vòng quanh công viên. Tôi có một kỷ niệm xấu về công viên, dĩ nhiên tôi dấu kín, sống để bụng chết mang theo. Hồi còn ở quê nhà tôi được một chị em ta cho “mở hàng” với giá tượng trưng. Lúc ấy đêm chưa gọi là khuya, nhiều tiếng động còn đồn trú trong công viên, người con gái cỡ tuổi tôi đã trải tấm ny-lông nhỏ nhắn trên cỏ và đắp lên người cô bằng xác thân cứng ngượng của tôi. Ngực cô lớn, mềm mại và ẩm rít. Tay cô mát lạnh, giỏi luồn lách và năng động giúp tôi nhập cuộc. Tôi đi vào cơ thể cô bằng sự vụng dại của đứa con trai vừa vỡ tiếng. Đèn đường ngọn tỏ ngọn lu ngọn bị tháo gỡ, hoặc chúng có chân đã vượt biên? Nói chung ánh sáng ngoài kia không đủ mạnh để lấn soi tỏ tường vào lùm cây bụi cỏ. Và có điều gì đấy mất vệ sinh, mất phẩm giá, chẳng đạt phẩm chất. Niềm sung sướng, tạm gọi thế, qua đi rất mau. Làm tình mất khoảng năm bảy phút nhưng tôi phải tốn cả tháng trời sau đó để nhăn nhó mặt mày chạy đôn chạy đáo tìm mua thuốc trụ sinh trong uống ngoài thoa. Người con gái hào phóng kia đã gieo mầm bệnh cho dương vật tôi vàng vọt. Cô cấy vào người tôi niềm ăn năn khó gội rửa. Thời điểm ấy, mọi người đều sa chân xuống bùn đen, bưng mặt đi làm những việc tồi tệ gớm ghiếc. Tôi tự bào chữa.
– Đi lối này.
Em nói. Lối ấy chẳng phải là con lộ dẫn về nhà. Tôi nghĩ thầm.
– Mình kiếm mua ly cà phê cái đã.
Em bảo với tay dong chỉ hướng. Tôi muốn đan ngón với bàn tay nuột nà kia vô hạn nhưng em từ khước. Em tháo sợi dây thun ở cổ tay và tém vuốt và bó cột một đuôi tóc. Xong xuôi em thu cả hai tay vào túi quần, đi với đôi vai so, cổ rút lại như heo may sang mùa đang làm rét cả phố phường. Tôi không rét. Tôi đang đi trên một sợi giây và điều tốt hơn cả là nên tỉnh trí để khỏi gặp vấn nạn.
Nơi bán cà phê thực ra là một tiệm tạp hóa, em bỏ tôi đứng ngoài bực thềm nhanh chân đi vào vũng sáng ngập ngụa của những ngọn đèn vàng. Tôi ngó những chậu hoa ướt át mà người ta vừa tuần tự mang ra chất đầy hàng hiên như muốn vây phủ lấy tôi. Hoàng Hoa là thứ hoa gì? Sao đấng sinh thành tự dưng dùng nó áp đặt thành tên em?
– Hai đường hai sữa phải không?
Em trao tôi ly cà phê có giấy cứng bọc ngoài cho khỏi nóng tay.
– Thứ bảy này lô độc đắc sẽ lên tới hai mươi triệu. Mua cho anh mười đồng vé số đây.
Em đút tờ giấy nhỏ vào túi áo tôi. Kỳ lạ thay, nó đã yên vị nhưng nó mãi gieo vào lòng tôi những đợt sóng bồi hồi. Khi cột tóc lại, mặt em ngó lạ. Khi trao tấm vé số, ngó mặt em tôi muốn hôn. Không cứ là môi, má cằm mũi mắt, hoặc hàng lông mày cũng được. Nhưng em đã cúi đầu đếm bước.
– Có mua bánh croissant. Về nhà ăn điểm tâm.
Ăn sáng tại sao lại gọi điểm tâm? Điểm tâm. Nghe như em là người luôn hiểu lòng anh, chỉ đúng tim anh. Phải không Hoàng Hoa?
Chỗ em trú ngụ là căn nhà nhỏ nằm ngoài bià, dẫn tới sau đó một loạt nhà có lối kiến trúc giống nhau. Giống hình thù, giống màu sắc, giống vật liệu. Hình như để dễ phân biệt, mỗi gia chủ tự trang điểm cho mặt tiền của mình một chút gì khan khác. Treo chậu cây, treo phong linh, trang trí những mặt nạ bằng gỗ… Tất cả những cánh cửa đều đóng kín. Tất cả đều đi làm, đều đến trường, đều đi nhà trẻ, hoặc thảy còn ngủ nướng. Yên lắng và ngưng đọng tới độ đáng sợ. Tôi lách người qua cánh cửa mở hé khi ly cà phê chỉ mới vơi phân nửa. Có nghĩa là chừng đó dung dịch cà phê đã uống không đủ tác dụng để làm trái tim mình co thắt, đập sai nhịp. Chồng em đã đi làm, tôi biết chắc như đinh đóng cột. Dễ hiểu. Anh ta lao động ở trung tâm thành phố, mất bốn mươi lăm phút lái xe nếu đường sá hanh thông. Và thông thường thì con đường quái đản ấy luôn bị kẹt xe. Mô Phật! Em nói chỗ gì mà việc vàng túi bụi lùng bùng, luôn cày over-time và có khi về nhà đúng mười giờ tối. Anh ta đi tắm, mở TV xem trong khi đợi tóc khô. Nghịch computer nửa giờ rồi lăn đùng ra ngủ. Tôi ngó em lúc đó, lúc em kể chuyện với gương mặt lãnh đạm. Tôi nuốt trôi xuống cổ một lời định thốt ra: Cuộc đời buồn vô hậu!
– Ăn chưa? Chiên trứng gà nhé?
– Thôi, nhọc công.
– Sao vậy?
– Quen rồi. Mỗi ngày ăn hai bữa. Trưa và tối. Và giờ này tuồng như bình minh vẫn chưa bỏ đi.
Tôi đặt đít xuống chiếc ghế nệm chia ba chỗ ngồi cân phân. Đồ vật trang trí không mấy nhiều. Có bức ảnh đóng khung khuôn mặt một người đàn ông đang cười. Ánh mắt linh hoạt như đang ngó về phiá tôi, và trong tất cả những đồ vật bày biện nơi gian phòng này, khung ảnh ấy là thứ xấu nhất. Sự hiện hữu của nó thật khó chịu. Tôi uống hết ly cà phê bắt đầu nguội và đi tìm cái thùng rác để quẳng nó vào. Em đang quây lưng đứng sát bồn nước để rửa tay, thùng rác một bên, bên kia là quầy gỗ chất chứa micro wave, nồi cơm điện, dao thớt, tiêu hành tỏi mắm ruốc xì dầu tương ớt bột ngọt đường muối lu hủ đứng chen chúc có vẻ đề huề. Nửa bừa bộn nửa ngăn nắp. Nó chứng minh căn bếp ấy chưa hề một lần nguội lạnh. Nó yết thị ngầm: nữ chủ nhân chẳng hề từ nan việc bắt tay với ông Táo. Tài nấu nướng của em ra sao? Tôi chưa được cơ may để nếm thử. Hồi học chung lớp ở bên nhà, tai ương ập đến và bọn chúng tôi chỉ biết duy nhất một thực đơn: Bột mì, cơm độn sắn khoai bo bo. Có thánh mới nấu tươm tất ngần ấy vật liệu. Và chưa chắc thánh có đủ can đảm để nếm lại độ mặn nhạt khi thổi tắt củi lửa. Mắt tụi tôi cay, đỏ. Như thường trực phải khóc. Miếng ăn là miếng tồi tàn. Sách thánh hiền dạy, chúng tôi học nằm lòng tự thuở tấm bé và khi lớn khôn chúng tôi đã tàn tệ xuôi tay trút bỏ nhân cách khi ruột réo kêu.
Em vẫn đứng yên, chẳng hoán đổi vị trí. Dường như em đang nghĩ ngợi một điều gì. Vòi nước vẫn chảy, đều đặn, không rỉ rả chẳng xối xả. Những ngón trơn ướt, nước chừng như xâm thực lên tay áo. Tôi ném ly cà phê và sẵn cớ tôi xắn hộ đoạn vải hoen màu ấy lên cao tới lằn mức cuối. Tôi ngửi từ thân nhiệt em một hương mùi. Tôi ngó ngấn cổ trắng để chẳng cầm lòng tôi hôn vào gáy có đám tóc con mọc xoắn xít. Thời sinh viên, tôi lập thệ một nguyện ước, sẽ cố theo em cho đến kỳ cùng. Tất cả những lá thư tôi viết cho em có thể gom lại để thổi lửa mỏi tay nấu chín nồi bánh chưng đêm trừ tịch. Bồng bột, ngây dại, hoang tưởng. Rồi em lặng lẽ vượt biển. Rồi em êm thắm lấy chồng. Rồi một trong sáu câu vọng cổ là cái kết có hậu: Cuối cùng hai đứa gặp lại nhau giữa một tinh cầu cứ ngỡ nó lớn rộng, mênh mông.
Vòi nước vẫn chảy. Chẳng ai rảnh tay để khóa vòi. Vả, tiếng nước rơi khi ấy sẽ nhận chìm những hơi thở gấp. Em quay người lại ôm lấy tôi, hai mắt nhắm nghiền như sợ nhìn thấy hiện thực. Tôi cũng nhắm mắt, tựa kẻ yếu bóng viá đứng ở một nơi quá cao không dám ngó xuống mặt đất đang chòng chành say khướt hụt hẫng dưới đôi chân. Rất vội vã, chúng tôi yêu nhau ngay trong góc bếp chật. Những lọ đựng gia vị run rẩy dời đổi vị trí. Tự thân chúng, mỗi loại có riêng cho nó một hương liệu, góp chúng lại, tạo tác ra một danh xưng: Nhu yếu phẩm. Như nhụy hoa luôn cần thiết cho loài ong. Như da thịt em luôn là thứ ám ảnh tôi, mê muội, bủn rủn tứ chi và sau rốt… trên cả tuyệt vời!
Buông thân xuống thảm, tôi đưa tay cho em gối đầu nằm nghiêng, tay còn lại ve vuốt thân em theo đường lượn từ vai xuống mông. Trắng ngần. Có vẻ mộng mị. Đèo Ngoạn Mục, đèo Rù Rì hay đèo Cù Mông? Một đèo, một đèo, lại một đèo.
– Có điều này Hoa không thể chìu ý anh. Em nói, hơi co thân lại như bị chọc nhột.
– Về điều gì? Tôi mơ màng.
– Về chủ đích buổi hẹn gặp hôm nay. Hoa suy nghĩ rồi, chẳng nên đưa anh mượn Một ngàn đồng.
– Tại sao?
– Nhiều lý do, một trong những lý do đó là Hoa không thích anh về Việt-nam.
– Anh đang thất nghiệp. Đang rảnh. Đang có cơ hội.
– Tự dưng có người cắc cớ hỏi: Số tiền ấy thất thoát đi đâu? Dùng vào việc gì? Xin anh hãy bày cho Hoa một câu trả lời thật hợp lý. Được không?
Em xỏ tay vào áo, chuẩn bị gài kín những hạt nút. Nốt ruồi son đậu bên vú trái lẫn trốn thật nhanh.
– Hãy nói về người đó cho Hoa nghe.
– Ba mươi tuổi. Công nhân viên. Đang theo học ngoại ngữ lớp tối. Cao ráo. Da bầng quân. Ngoại hình cân đối… Anh biết chẳng nhiều, qua miệng bà Dì làm trung gian. Và có thể những tin tức ấy không hoàn toàn là sự thật. Anh muốn về chỉ để nhìn rõ, xác chứng.
– Có kỳ cục không nếu Hoa cho mượn tiền rồi anh bay về xem mặt mũi cô vợ tương lai?
– Hoa không thích anh lập gia đình sao?
– Anh đủ sức để làm điều đó à? Thất nghiệp, quanh năm đi buýt với métro. Thậm chí một cái cell phone cũng chẳng có mà lận lưng. Thỏng tay vào chợ kiểu như anh có ngày u đầu sức trán, đạp bể bánh tráng không có tiền bồi hoàn!
– Là sao? Anh không hiểu.
– Cứ giả thử là mọi chuyện suông sẻ đi. Bảo lãnh sang tới đây ngày một ngày hai cái cô nước da bầng quân đó sẽ cuốn gói chẳng một lời từ biệt.
– Sao Hoa ưa vẽ cảnh vật với toàn cả màu xám?
– Anh chưa đọc tác phẩm của Flaubert sao? Sắc màu của sự thật chính là màu xám.
Tôi muốn hút một điếu thuốc nhưng sợ em cự nự. Chẳng phải vấn đề sức khỏe. Quan trọng hơn, khi đi làm về chồng em sẽ đánh hơi: Uả, vắng anh có thằng nào đến tham quan nhà mình hả honey? Và như thế, hồng thủy dâng tràn, thiên tai bão lụt ập đến, nó hung hãn cuốn trôi cái phao duy nhất mà tôi đang có, đang ôm.
– Tin Hoa đi. Ngay cả màu xanh, nó đã bị đời sống tước đoạt cái ý nghĩa hy vọng mà nó từng tượng trưng.
– Đừng nói thế. Anh hy vọng biết bao về tấm vé số Hoa vừa mua cho. Trái sung rơi ngay vào miệng, anh lồm cồm ngồi dậy để biến thành một thằng triệu phú.
– Nghèo mà ham!
– Nói hay chưa? Nghèo mới ham chứ đã giàu có thì hơi sức đâu nữa mà mơ mòng. Anh ham được cùng Hoa ngủ một giấc tới chiều. Hoặc tham lam, xin được tái hợp chuyện này một vài lần khác.
– Thôi về đi, nếu còn tơ tưởng tới lần sau. Người gì mà bộ phong tróc ảnh!
Em có vẻ thành thật trong việc xua đuổi. Tôi chẳng lạ tính em, cách tốt nhất là nghe lời, chớ cù nhầy kiếm cớ ở nán. Tôi nhét áo vào quần, đầu óc u mê như đi trong đường hầm mãi chưa nhìn ra ánh sáng. Em ơi! Không có tiền chừ anh biết tính làm răng? Em mở cửa đợi tôi. Em vuốt hộ tôi những sợi tóc có lẽ rối rắm, sai lệch đường ngôi, bù xù, ngó không đẹp trai.
– Thứ ba tuần sau Hoa có cái hẹn với bác sĩ để khám định kỳ. Anh đợi ở nhà nhé. Chớ có đi đâu. Một hai giờ gì đó, không chắc.
Vừa nói em vừa vuốt lưng tôi, khi chấm câu em dùng lực ở bàn tay để đẩy tôi ra khỏi cửa. Tôi bước xuống đường, phải nheo mắt lại vì nắng quái vây đầy lối đi. Nếu tôi là bác sĩ tôi sẽ căng mắt ra mà khám kỹ cho em, có nghĩa là Hoa sẽ nằm dang chân trên giường rõ lâu. Tôi từ tốn đeo găng cao su, đưa ngón trỏ thăm dò cửa mình. Cởi khẩu trang, tháo mục kỉnh, rửa đôi tay, kì cọ bằng xà phòng. Lau khô, ném giấy thấm vào thùng rác rồi từ tốn lên giọng: Chuyện hiếm muộn con cái? Tôi không nghĩ vậy. Cô sẽ đẻ con tùy thích nếu gặp đối tượng cùng tầng số. Cớ sự này do đâu thì cô đã hiểu. Xong, cô có thể mặc lại áo quần. Thứ ba tuần sau lui lại tôi cho thứ thuốc này uống thử. Ô kê?
Tới công viên tôi ngồi lại chỗ cũ, bải hoải. Tôi thắp một điếu thuốc, mơ màng cùng khói, cúi đầu ôn lại từng diễn tiến, từng động tác, từng màu sắc, từng âm thanh. Tôi đã khuấy quên đường nét có trên người em lụa là. Chưa đầy mười phút, mới đó mà tôi đã thấy nhớ em. Tôi ngủ trên xe buýt khi trở về chỗ ở đầy trống vắng.
*
Mở computer, tôi vào internet. Tay gõ chậm những mẫu tự, gửi e-mail:
“Giáng Hương thân mến,
Có vài trở ngại vào phút cuối. Hạn kỳ gặp Hương như đã dự định đành phải khất lại. Lỗi này do nhà nước Canada, do chỗ bán vé máy bay làm ăn theo kiểu Việt-nam chẳng tận tâm phục vụ khách hàng và có thể do tôi một phần. Ở xa, xin Hương rộng lòng thứ tha cho khúc ruột ngàn dặm này. Đừng nguyền rủa tôi là con ma nhà họ Hứa, chớ mắng mỏ cái đồ Việt kiều hồi hộp! Nói Hương đừng cười, ai đời mà bỗng dưng tôi tin vô chuyện tướng số. Tôi đi coi bói, xem tử vi. Bà ấy nổi tiếng mát tay, tên Hoàng Hoa. Bả nhỏ thua tôi một tuổi và phát ngôn chắc như bắp: Đương nhiên là anh sẽ lấy được vợ, chậm lắm là sang năm. Vợ anh nhỏ tuổi chừng nào càng qúy chừng đó, 30 là hợp với anh nhất. Hai người sẽ sung sướng. Hạnh phúc không khó tìm, dễ như ăn ớt. Nghe phán, tôi thiệt sảng khoái và thiết tha mong sớm được gặp Hương. Xin Hương ráng đợi. Để giúp Hương khuây khỏa phần nào tôi xin cóp nhặt ra đây mẫu chuyện cười mà tôi nghĩ, đàn ông cũng có nhiều hạng rất mực dễ thương: “Ba người bạn chơi thân với nhau và cùng nghi ngờ vợ ngoại tình. Họ rủ nhau ra quán rượu tâm sự. Một người nói:
– Tôi nghĩ vợ tôi ngoại tình với một thằng thợ điện. Một hôm về nhà, tôi phát hiện có chiếc kềm cắt giây điện nằm dưới gầm giường mà nhà tôi thì tuyệt đối không có món đồ đó.
Người thứ hai buồn rầu:
– Còn tôi thì nghi vợ tôi ngoại tình với một thằng văn sĩ. Có bữa bất ngờ tôi tìm thấy dưới giường nguyên cả xấp bản thảo.
Người thứ ba thở dài:
– Không còn nghi ngờ gì nữa, vợ tôi ngoại tình với một con ngựa!
Hai người bạn lộ vẻ kinh ngạc.
– Tôi không đùa đâu- Anh ta gằn giọng. Hôm nọ về nhà tôi bắt gặp một gã nài ngựa trốn dưới gầm giường.
Xin Hương giữ gìn sức khoẻ. Đi đường cẩn thận đề phòng tai nạn giao thông. Đừng cho thằng đàn ông nào ẩn nấp dưới giường, tội nghiệp. Ngày gặp mặt hiện ở phiá trước. Thân mến.
Đứa con nít vịn chiếc ghế để đứng lên, đi quờ quạng được ba bước lại té xuống. Ngồi bệt, ngó quanh. Nước miếng chảy, môi miệng ướt, mắt long lanh. Hai người đàn bà cùng theo dõi, một người cất tiếng: Bước khởi đầu bao giờ cũng lắm gian nan. Tập lại đi con. Đứa nhỏ hả miệng ngáp, bò tới ôm chân người đàn bà ngồi gần, dụi mặt vào ống quần rộng. Không ưa đi nữa hả? Vậy thì nói. Nói đi, mạ thương. Ạ, dạ, mạ. Ui chao, cái mặt dễ ghét chưa tề! Bà đưa tay nhấc đứa bé lên, hôn ở má phính, hít ở cổ ngắn, ngoạm cắn ở tay. Tiếng đầu đời tuy ngọng ngịu nhưng nghe thật mát ruột mát gan. Thương mạ con để ở mô? Đặt tay lên đầu đi. Đứa nhỏ bắt đầu tỏ thái độ, miệng mếu, vùng vằng tay chân và khởi sự khóc. Cho hắn bú là vừa rồi, ở đó bắt con người ta biểu diễn trò này trò nọ, ngó bắt chóng mặt. Đói bụng chưa con? Bà tha đứa nhỏ, kẹp bên hông bước lại giường, nhẹ nhàng nằm xuống. Áo xống vạch ra, bầu sữa mẹ với cái núm vú nâu, dí ngay miệng con thơ. Đứa nhỏ vẫn khóc, bày đặt chê bai. Hắn có vẻ nhác chơi, răng kỳ cục rứa dì? Bà dì trông như ô-xin giúp việc rụt rè đưa ra nghi vấn: Hay là chỗ ấy nồng mùi thuốc lá hoặc chát đắng rượu bia? Dì đừng ăn nói quàng xiên mà tui đây ế chảy, đang chủ động kiếm tìm cho nó một ông cha như người ta không thì chúng bạn cười. Hay là bị mấy cái răng nó hành? Tay vỗ đít dỗ dành, miệng à ơi tuồng muốn ru ngủ: Lên non đốn củi đụng chỗ đốn rồi, xuống sông gánh nước đụng chỗ cát bồi khe khô…
Đội nón lên, ngoài trời nắng hung. Đi đường đừng cắm cúi mà nhớ dòm ngược ngó xuôi. Xe cộ và cả trăm điều giăng mắc hoạn nạn. Tổ cha mi, nói chưa hết câu đã cụp tai chạy u như ma đuổi. Đường tới trường lắm bụi rác, nhiều khói xăng tức ngực. Cổng trường treo mắc cửi những khẩu hiệu, đỏ lòm át màu phượng vĩ. Phượng ra hoa chỉ mùa hè, băng-rôn tứ thời đều giăng trên đầu thứ màu sắc mà bò mộng rất ghét, ưa húc đầu vào. Bức tường vôi hoen ố có hàng chữ to “Đái bậy là chó”. Mùi hôi khai vờn trong gió. Nhân bất học bất tri lý… Ô thời đội mũ ơ thì thêm râu… Tan trường về nhà thắc mắc: Tại sao thương cha thương một mà thương người nớ phải thương hơn mười lần? Cắc cớ. Người nào? Ở chốn nảo chốn nao? Con dòm rõ mặt chưa? Coi chừng bị mẹ mìn bắt đi ăn xin. Không đủ sỡ hụi chúng uýnh cho bỏ mẹ. Mẹ ơi chớ đánh con đau, để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ…
– I love you. You inside me after class.
– Thôi, tớ không thích nghe đằng ấy nói tiếng nước lạ.
– OK. Đậm đà bản sắc dân tộc nhé, thế bây giờ đang hứng tớ bảo đằng ấy có muốn vào nhà nghỉ với tớ không?
– Đề làm gì cơ, ở đây sông nước quạnh vắng tình tứ siêu lãng mạn bộ không đạt chỉ tiêu sao?
– Nhưng cỏ nhiều đéo sướng.
– Đéo sướng hay đéo không sướng?
– Chết cười! Đéo sướng, cơ bản là thế nhưng phải diễn ra trên chăn nệm hẳn hoi. Tớ nói ở đây đéo không sướng là thế, chưa kể ruồi bu kiến đậu.
– Tiền đào đâu ra mà bày trò đẳng cấp nhà nghỉ?
– Tớ khoắn cái điện thoại di động của con mẹ bán cơm bụi.
– Wow, nhất đằng ấy! Thưởng công nào. Ôm tớ đi. Bú mồm tớ đi. Chóng lên, kẻo thằng công an tới dòm lom lom thì rách việc.
– Thế đằng ấy đã rách cái đó chưa? Với cái thằng trước tớ đấy.
Con bé đưa tay bịt mồm đứa lắm chuyện rồi vật xuống cỏ. Cả hai cùng hinh hích, tiếng cười của chúng làm những bụi cỏ trinh nữ đồng loạt nhắm khép những cánh lá mắc cỡ. Chúng còn xanh mái đầu, đâu khoảng mười bốn mười nhăm. Trang lứa chúng đều có chung một câu châm ngôn siêu khủng, thể hiện đẳng cấp:“Ăn tranh thủ ngủ khẩn trương, học hành sương sương yêu đương là chính”.
– Sao mày bỏ học? Cái bản mặt mày có tối tăm bụi bặm gì cho cam!
Đứa tội đồ dòm đồng bọn nói trổng: Anh hai này ngó bô giai là thế, hết đường binh hay sao mà đầu quân vào công an nhẩy? Bốn đứa đồng loạt cười. Ba cái còng số 8 xâu cổ tay chúng lại, chớ hòng độn thổ, thăng, biến mà chết chùm. Chúng ngồi trên băng ghế dài, thứ băng gỗ thường gặp ở bệnh viện, ở trụ sở công an.
– Người ta khai chúng mày những năm đứa, thế thằng còn lại trốn đâu?
– Không biết.
– Hung khí bọn mày phi tang ở những nơi nao?
– Bờ cây bụi cỏ, lạch nước cống hẽm, qua cầu gió bay, làm sao nhớ hết?
– Tư thù ân oán gì với kẻ bị hại?
– Nó ỉ con đại gia làm chuyện ngược ngạo tày trời, bọn này khử cho xã hội được trong sạch đôi phần, bộ chẳng tốt sao?
– Mẹ kiếp! Mày tưởng mày là thứ gì? Tưởng ngon cơm hả?
– Bọn này chả tưởng gì sất. Ăn chơi không sợ mưa rơi. Khơi khơi có thế thôi.
Một đứa ngồi cuối biên chỏ mõ vào: Đù má, xi-đa mà đòi xông pha hiến máu!
Ông bạn (hay đầy tớ) của dân thổ những tờ giấy rời, xộc xệch đặt vào tấm bià cứng. Có tờ rời bàn rơi xuống đất: Tội phạm xã hội đen nguy hiểm, chưa có tiền án nhưng nhân thân xấu. Chém Nguyễn Tiểu Gia 18 tuổi 20 nhát dao trí mạng dẫn đến tử vong tại quán Ca-ra-ô-kê.
Ông làm nhiệm vụ hỏi cung nhặt giấy lên, cắm cây viết vào túi áo, tiện thể moi ra được điếu thuốc.
– Đại ca còn điếu nào cho em bặp ít hơi để tinh thần thư giãn. Xem chừng đời bắt đầu vã từ đây bố ơi!
Trước mặt thằng côn đồ có hàng chữ đỏ choét uốn lượn trên vách: Trồng cây mười năm trồng người trăm năm.
Đường rối rắm, nhiều vật cản, giờ cao điểm, xe ùn tắt, buộc khựng đứng. Nhưng tiếng động, liên tu bất tận, chẳng bao giờ ngưng. Tiếng động tựa mưa rơi, và thường thì chốn này mưa miên man, mưa xuyên mưa, mưa nối mưa, sợi ngắn sợi dài hột to hột nhỏ. Mưa cần mẫn tuôn, mưa chăm chỉ trút. Mà mưa ập xuống thì phố phường ngập lụt, người ngợm xe cộ thảy đều bị dồn cục. Bóp kèn, chửi thề, gây hấn, quát tháo, đem hai chữ mẹ cha ra mà quần thảo. Và rồi xảy ra sự cố: Chém nhau. Thế mới có câu diễn nôm: Chuyện thường ngày ở huyện. Phường Bình Thạnh, quận Phú Nhuận, đường Đồng Khởi, Cách Mạng tháng 8, Tống Lê Chân hay chân lê hay cà thọt hay cụt giò hay bất kỳ ngõ ngách bộ phận nào trong thành phố cũng thế cả. Thế mới có bài hát Từ thành phố này người đã ra đi. Đi là phải. Càng sớm càng tốt, thế mới lòi ra tục ngữ: Trâu chậm trâu uống nước đục!
Cẩm nang của trâu đương đại: Ngậm miệng đồng nghĩa với sống sót. Phát ngôn linh tinh: Bộ muốn chết hả? Đao kiếm, ám khí, gậy gộc, cường toan, thuốc trừ rầy, xăng dầu, bình ga, hộp quẹt, thậm chí cả ớt bột cũng mang ra chơi ráo. Một bao ớt hiểm xay nhuyễn thời giá là 15.000 cũng đủ làm thằng chả khóc cả tuần lễ, khóc như mưa, khóc đẹp. Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Xưa rồi Diễm! Ớt bột cay xè con ngươi. Nó khóc hu hu. Mình cười ngặt nghẽo. Bộ không phải là chuyện cực khoái giữa đời thường sao? Hehehe. Dui wá. Nói láo cho tàu Trung quốc nó tha đi. Thằng chả khoảng bốn bó hay 7X? Tướng sung, tuồng sinh nhằm thời điểm cuộc cách mạng đã chin muồi dẫn tới thắng lợi thần thánh. Nếu từng lội bộ trên Trường sơn, đông hoặc tây (cũng cùng một nghĩa như nhau), chả hổng có được bộ dạng ấy. Chả mặc đồ xịn, hàng hiệu, dứt khoát chẳng phải đồ hàng bành. Eo ôi, đừng nhắc tới nón cối dép râu mà má nó khinh. Chả nói thế. Quên quá khứ của cha ông đi. Chả tợp bia, rung đùi, dắt lưng đôi ba câu thơ cho ra vẻ ta đây thông thái và thông thoáng: “Hãy lau khô nước mắt đi em, vết thương hôm qua đã thành sẹo”. Đứa con gái trần truồng di động đôi vú sưng sỉa: Ai khóc hồi nào tiá? Da dẻ mịn màng sẹo sần chỗ nào đâu? Đồ dô diên! Chả không có hứng thú với phường thất học. Chả bước ra đường chẳng nói năng lời nào với đứa “phục vụ tình cảm” mang tên Thắm. Thằng chả lầm bầm mình ên: Ô kià trông ai như cô Thắm, đang đứng tắm, đưa hủ mắm, có mồi nhắm, ta ưa lắm, nhịn đánh rắm… Trên đầu chả, tấm bảng hiệu to đùng đong đưa: “Cho tự đắp, tự nặn, tự ve, tự vuốt”. Hãy giỏi chân đi, đứng lén phéng ở đây nhỡ may nó rơi xuống đúng người thì không cách gì tự chôn tự cất tự khắc tên tự làm mộ bia. Và chả đi. Sao lắm người chộn rộn đằng góc đường thế kia? Ồ, có tấm bảng dựng đứng chận bít tầm nhìn ngầm trả lời. Chữ ai viết mà phăng-ta-dzi ngần ấy? “Khuyến mãi: Mua bao cao su trúng bánh Trung thu”. Hề, dân tộc ta làm thơ số một, gieo vần rất chỉnh. Thảo nào ông Bảo Sinh từng phán: “Ai cũng làm được nhà thơ, ai cũng có thể “sù cơ” của mình”. Rườm lời! Cũng tùy thuộc đối tượng, không có cu lấy chi sờ? Đơn cử nhé, cái bảng hiệu của thẩm mỹ viện bên kia đường nó viết: “Làm hồng nhũ hoa, nâng cấp mào gà”. Trật đường rầy! Tối nghĩa, chẳng màng cú pháp mí lị niêm luật. Hỏng! Thằng chả thật quỡn, đang moi từ túi áo ra bao thuốc lá thì bất thần một cậu ngồi sau xe ôm nhảy phóc xuống. Choáng. Sát rạt làm thót tim. Giời, con tìm bố như thể tìm chim, chim bay Đồng Tháp con tìm Củ Chi. Định thần, một tay thọc vào túi quần giữ rịt cái ví da. Cậu tìm tôi? Có lộn người chăng? Lạ lùng gì bố, sao trách con nhầm? Thằng ấy nhỏ con, ốm o xo bại, nhưng bù lại, da thịt để trần của nó nát nhầu vết xâm. Long tranh hổ đấu. Ngọa hổ tàng long. Thập diện mai phục. Trên đỉnh Vu sơn. Thù này phải trả. Tim nầy lỡ dại trao em. Tùm lum tà la những bùa chú ngó bắt gớm. Xâm bấy ban tan nát như thế hẳn phải có bản lãnh chứ chẳng đùa, tợ cắn răng chịu cực hình tra khảo, kẻ nhác gan thì làm sao chịu đời cho thấu! Cái chứng minh nhân dân ấy nó hiển thị thật lắm điều, khiến lỡ nhìn vào thằng chả tự dưng thu bé người lại chả còn kí lô nào cả. Như hài nhi lòn lách ra khỏi cửa mình mang lên bàn cân kim chỉ 4 kí, rỏ nước nhờn đem cân lại chỉ còn 3 ki 2. Vẻ đường bệ thong dong nhàn du ngoạn cảnh của chả nhỏ nước bốc hơi đi đâu? Nhu mì hiền thục như gái về nhà chồng buổi sơ ngộ. Chả thấy yếu ở đôi chân và tim đi cà xịch cà tang trong lồng ngực chưa kịp rít khói thuốc. Bố ạ, thưa với bố con chả lắm thời gian đâu, con còn nhiều phi vụ. Vắn tắt, con cho bố xem cái này để bố dễ định liệu, bởi hình ảnh thì hơn cả ngàn lời nói ra. Báo đài đã ngôn như thế. Thằng ấy nói, những thứ hắn có thảy đều dị dạng, kể cả cái bị rết hắn mang sau lưng, hệt như bọn Tây ba lô. Trong ấy chứa đựng những gì mà nghe loảng xoảng tựa kim loại sắt thép đang va chạm thế kia. Mở nút túi áo, hắn lôi chiếc điện thoại di động thật xịn ra. Nhìn thoáng, thằng chả biết ngay trị giá: 25 triệu, khó đụng hàng. Hắn dùng ngón tay trỏ chỉ chỏ, kéo qua hất lại trên màn hình nhạy cảm. Đoạn phim cực nóng bắt đầu trình chiếu. Bố xem nhé, con bé đang năng nổ diễn xuất ấy tuổi chỉ 16. Ai phá trinh nó thì bố thừa hiểu. Chuyện xẩy ra cách đây một tuần, đúng thế không? Giờ nó đổ bệnh, than đau, chưa thể mang thân đi bệnh viện khám nghiệm. Nó xin bố 10 triệu để về quê xa lánh chốn phồn hoa nhiều cạm bẫy. Nói xong cậu dí xeo phôn hiện đại vào mặt thằng chả. Người nam đóng tuồng dâm ô đồi trụy in tuồng là anh em sinh đôi với ta. Mồ hôi nó xuất hạn dầm dề mà ta giờ cũng thế, chảy lạnh sống lưng. Mười triệu, tối mai 8 giờ ở cà phê Mộng Lành bố nhé. Có cần con mang xe đến tận nhà rước bố đi không? Lùng bùng lỗ tai, thằng chả đực mặt tuồng đang tìm đường binh. Xập xám chướng nói: Thùng thì thủ, cù lũ thì dương. Khốn nạn thật! Ta đã quan sát động tĩnh ngó trước trông sau, vậy thì chúng nó dấu camera ở góc kẹt nào? Chỉnh sửa âm thanh ở mức độ nào mà con nhỏ nó la bai bải như cha chết mẹ chết thế. Lúc ấy sao ta chẳng nghe nó rên la cà? Chơi cháu đi chú. Nó chỉ nói có bấy nhiêu. Bấy nhiêu thôi mà giờ đây ta phải ôm đầu máu. Mười triệu, mười triệu… Chết tôi không, hở Trời! Lão ấp úng, tự răn đe. Tối mai tối mai… Tám giờ tám giờ… cà phê Mộng Lành mộng lành… Quán Mộng Lành có đứa từng ngâm thơ: Xi-đa là bệnh ngoài da, mười năm mới chết thì ta sợ gì?
– Chị nói lạ! Nãy giờ khô hơi mà chưa đả thông. Muốn yên bề gia thất thì dứt khoát phải man khai: Em còn độc thân.
– Ác đức bất nhơn. Thế thằng cu… Thiệt tội trời, tui vất nó cho chó gặm à? Lòng lang dạ sói hay sao mà nhẫn tâm ẳm nó đi cho cô nhi viện. Mà viện cô nhi lúc nhúc trẻ con hằng hà sa số biết họ có mở cửa đón nhận thêm một sinh linh?
– Thiệt ba phải! Nói thế này dễ hiểu. Ra đường chị gặp hai lối. Chọn một trong hai, chớ lôi thôi. Lối cũ, yên phận ôm con thơ mà hò ru em oán trách số phần. Lối mới, nhiều hoa bướm, tương lai sáng lạng, lại rảnh tay mà thong dong bước lại bến hẹn tình trường. Người ta ngán cảnh chị đèo bồng con dại bù lu bù loa. Chị đã rõ chưa? Có điều kiện, ra thông cáo cần người, chị cũng nhắm mấy khứa độc thân chẳng vướng bận, có đúng không? Bản thân em cũng chúa ghét con nít. Đẻ đứa con, cuộc sống tự nhiên đang nằm ngữa bỗng bị lật sấp, bầm dập, lu bu, rối rắm, cột trói chưn cẳng, mất tự do. Đau khổ chi bằng mất tự do, đến buồn đi ỉa cũng không cho.
– Căng thế. Búa bổ đầu người chứ chẳng phải chơi!
– Mệt chị lắm. Mang thân đi làm vợ người ta mà còn nói tới chơi với giỡn.
– Thế ông ta. Ngó tướng ổng có biểu hiện chút đùa nghịch nào không?
– Tầm bậy nà. Người ta thành tâm, người ta sợ nước đến chân, người ta dương thịnh mà âm suy, người ta thèm khát mùi vị đàn bà, người ta bấy chầy tối lửa tắt đèn…
– Ổng có coi bóng tui không?
– Dĩ nhiên, phận sự của em mà. Trong bốn tấm ảnh, ổng chịu đèn chân dung chị nhất. Dòm mà nuốt nước miếng. Chị về ở với ổng chẳng khác chuột sa hủ nếp.
– Tui cũng khát nước. Hay là mang thằng cu bỏ trước cổng chùa?
– Ậy, việc của chị sao đè em ra làm quân sư? Nghề môi giới của em đa phần đều bị tiếng thị phi, có đứa ác khẩu nói mai hậu em sinh con không có lỗ đít. Không dám đâu!
– Cu ơi, chừ mạ biết tính làm răng? Má ơi đừng gả con xa, chim kêu vượn hú biết nhà má đâu!
– Dông dài thấy ghét. Hẹn chị hôm sau, em ngồi quán bún chả hồ Gươm. Hăm bốn giờ cũng đủ để phá án, làm trắng tư duy.
Dứt khoát, cô gái trẻ đẹp đứng lên, tay vẫy chiếc xe ôm. Vất người đàn bà đứng bên lề bụi mờ dõi trông xa vắng. Bà ngồi lại xuống chiếc ghế nhựa gọi ly nước miá uống cho toảnh ngoảnh thần trí. Đứa phục vụ nhanh nhẩu mang thức uống ra.
– Xong hợp đồng rồi ạ? Nó nói, mặt láu cá.
– Ủa, sao biết? Có ký kết hồi nào mà gọi là hợp đồng.
– Nói thật nghe, cô ấy mát tay lắm. Mười vụ nghe đâu chỉ xẩy ra có bốn trường hợp là bị tổ trát.
– Thế còn lại sáu, họ ra sao giờ này?
– Mặt hoa da phấn, kẻ đưa người rước, cơm hàng cháo chợ, vận sự hanh thông, nói chung là thoáng đạt ngã rẽ cuộc sống chứ không đời tàn trong ngõ hẹp.
Đứa ấy cầm chổi quét rác loanh quanh phạm vi hẹp của quán nước. Bẩn thỉu. Sao có đứa buồn tay thả mẩu thuốc hút dở vào trong cốc? Bàn số hai bốn đứa học trò gọi bốn phin cà phê sữa đá, sao giờ này thu vén chỉ còn có một cái phin lọc? Ai đời mà chúng uống được cả nhôm cả i-nốc cả thép cả sắt. Thời buổi!
– Trông như chị lấn cấn mắc nghẹn chuyện gì?
– Cậu hỏi thì tôi phải thưa, lòng tôi chưa quyết vì vấn vương thương con dại, lớn lên không biết mặt cha đã đành, ngay cả mẹ hiền cũng biền biệt bỏ trốn mất tiêu.
– Ối giời, khéo lo. Bố mẹ tôi là ai? Tôi chả quan hoài, đời tôi sương gió đã quen vì lỡ chào đời ngay lùm cây bên bờ đê vắng. Người mình nhiều họ, khó chọn, làm giấy tờ tôi mang họ Hồ cho được oai phong. Bọn nhóc trong xóm này gờm mặt gọi tôi là Thần đao Hồ đại đởm. Ôi chao, hôm nay buồn, tự dưng tâm sự có hơi nhiều. Nếu chị có tâm bồ tát thì tìm người bà con tín cẩn mà trao gửi đứa bé, dúi vào tay họ khoản tiền hậu hỉ để yên tâm lên đường. Xoay xở như vậy là hợp lẽ, nghèo đói mà ôm riết con dại thì khác gì trồng cây mà chả hề tưới nước, lại che chắn ánh dương quan.
Người đàn bà đứng lên nắm tay áo cậu con trai mà lay lay. Cám ơn em đã thông tư tưởng, thu vén cho chị một lối đi tìm đường giải phóng… Em họ Hồ mà tên gọi là chi? Có phải Chí Tình không? Hậu vận chị khá thì nhất định kiếm cách trở lại chốn này quyết tìm ra em mà ơn đền oán trả.
– Đừng nói thế, đừng nhắc tới mai sau. Đời tôi lý nào chôn chặt ở quán cóc này? Phải biết tung hê mà bay nhảy, rày đây mai đó xuôi nam. Có lẽ tạng người tôi hợp chuyện bảo kê hoặc bảo vệ hoặc đi đòi nợ hơn là tối ngày đi dâng mời trà đá chanh đường hầu hạ cà phê cà pháo. Duyên nợ bọn mình e chỉ tồn tại tới bữa nay thôi. Chào chị nhé, chúc chị thuận buồm xuôi gió.
Hắn nhổ một bãi đờm ra đường rồi cầm chổi cùn biến mất vào quán tối. Người đàn bà thở dài, bả hát lí nhí: Đường đời muôn vạn nẻo, đường mòn nào dẫn tới lâu đài tình yêu?
Cánh cửa đóng mạnh tay. Tiếng động làm lão già ngóc đầu lên. Một bóng người vụt thoáng qua. Ai đấy? Chẳng hồi âm. Lão lồm cồm ngồi dậy, ho hen một đỗi mới to tiếng. Đứa nào thế? Thằng con trai bước trở lui, ló mặt: Có chuyện gì không? Í, mầy tan trường rồi đấy à? Cho ông hỏi, mấy giờ rồi cháu? Thằng con trai lắc đầu, nó đến bên cửa sổ, sát vuông chiếu ông nằm. Cửa sổ có những chấn song. Đã bày vẽ nhiều bận mà chẳng chịu khắc ghi. Đây này, nắng rọi tới ngang vạch này thì đã bốn giờ chiều. Hiểu chưa? Ông già lập lại: Đã bốn giờ chiều. Vậy bố mẹ mày còn lâu mới về? Ngớ ngẩn, phải tắt nắng, phải nhọ mặt người họ mới về. Có hiểu không? Thế hôm nào giời đổ mưa làm sao ông hay biết hở cháu? Đéo mẹ, biết làm gì cho khổ thân. Biết ăn ngủ ỉa đái, ngần ấy thôi có phải sướng hơn không! Thằng cháu nội bỏ đi, ông cụ bạc tóc lưa thưa gọi giật lại. Cháu ngồi cho ông hỏi thăm đôi câu. Không dư thời gian. Nó đối đáp. Ông van cháu, có trở về phòng thì lặng yên mà học bài chứ đừng mở thứ nhạc ấy ra tra khảo ông. Thằng con trai cười hiền. Thế à, ông chả ưa nghe nhạc Rap à? Vậy thì mở khóa tủ lấy cho cháu xin năm chục ngàn. Vật giá đắt đỏ, đủ đổ lít xăng và làm cốc nước. Tiền đâu mà đôi ba hôm mày lại réo ông? Mày bày trò trấn lột.
Chẳng mấy lâu căn nhà rậm rật tiếng xập xình kỳ lạ. Lỗ tai bọn trẻ thật quái gỡ. Thứ ấy mà chúng gọi là nhạc. Thử ra chợ Đồng Xuân nghe chúng nó chửi nhau, du dương trầm bổng , có tuồng tích có điển cố có bài bản, choáng và ấn tượng hơn vạn lần. Ông lão nằm vật xuống, bịt tai bằng những thứ ông có được, gối, khăn, vớ, may-ô quần đùi. Đầu bù tóc rối, ông không nghe ra tiếng xe tay ga vừa thắng đứng ngoài cửa. Đứa con dâu nhẹ nhàng bước vào. Tắt nhạc đi con. Mẹ có mua phở cho cả nhà xơi đây nè. Bản nhạc chấm dứt bằng chữ Fuck mà người ca sĩ da đen bỏ công sức rống lên cực mạnh. Tuy bịt tai nhưng mũi ông lão vẫn thoáng khí để hô hấp, lỗ mũi ông nở to, không gian sao chập chờn ngát hương mùi đặc thù dân tộc bốn ngàn năm văn hiến. Ông cởi bỏ hết mọi chướng ngại, ngồi dậy, ngó ra, hồ nghi, ngờ vực, mộng mị, liêu trai, hoang tưởng. Cái gì thế? Ông ném viên cuội dò đường. Sinh nhật đứa nào? Ăn mừng chiến thắng hay liên hoan đám cưới đám giỗ? Mẹ kiếp, già có nhiều cái thiệt thòi, mà lú lấp là thứ đáng lên án nhất.
– Mời bố ăn phở ạ. Dùng ngay kẻo nguội mất ngon.
– Sao hôm nay chúng mày tốt với tao thế? Thằng Cung thì chỉ nghe mới có một bài nhạc lại vội tắt đi. Ôi, cảnh hòa bình an lạc thì ai cũng mến chuộng cả!
– Chẳng dấu gì bố, thằng Cung nó đỗ vào Đại học nên chúng con phải ăn mừng.
– Nó đâu rồi. Biểu nó vặn nhạc lên. Bài gì nghe thật hùng hồn cơ, để kỷ niệm bước vinh quang.
– Bố ưa nghe bản nào?
– Đại loại như Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước…
– Khiếp. Bố lẫn thật rồi! Thời buổi đương đại nầy điên sao nghe ba thứ vớ vẫn ấy? Nhạc ấy chỉ dành cho bọn dở hơi. Bố xơi đi.
Ông ăn, ông khoắng sợi ông húp nước, ông và đũa ông dộng thià, ông chú tâm vào miếng ăn. Ăn như thể nhịn đói từ hồi chống Mỹ tới giờ. Một trong tứ khoái, người đời nói chẳng ngoa ngôn. Mồ hôi ông tươm đầy mặt, ông ợ một tiếng rõ to khi bát phở đã sạch sành sanh. Ông ngó vào mặt cô con dâu hồi lâu, ngó chăm, đồng tử đứng yên, mí mắt không nháy. Ông ném cái bát nhựa không xuống chiếu, cầm đôi đũa tre như nắm một con dao bén nhọn; ông muốn dùng tàn lực để đâm thốc đôi đũa vào ngực đứa con dâu nhưng đã muộn. Ông nằm vật ra, mắt trơ ngó lên trần nhà, nước sủi bọt trắng ứa bên khóe. Tay chân co giật như thằn lằn đứt đuôi, rồi buông xuôi, cứng đờ xác thân.
– Cung ơi, vào phụ mẹ một tay.
Thằng cháu đích tôn bước vô, mặt lãnh cảm.
– Cho bao nhiêu liều lượng mà chóng thế?
– Chả biết, thằng ấy trao cho mẹ gói giấy, nói bảo đảm với chị hàng cực nóng, kẻ mua chưa từng có ai than phiền. Mày rà soát trong lưng quần hộ mẹ.
Đứa con y lời. Da bụng lão nhăn nhàu, còn ấm. Ở lưng quần, phiá cột sống, có dấu cất chiếc chià khóa. Thằng con trai lật ông lão nằm ngữa, ngay ngắn tựa tư thế của kẻ mê ngủ không chiêm bao chẳng ác mộng. Hắn đi lại cái tủ nhỏ, đen bóng chất gỗ tốt, mở khoá.
Trong ấy chứa đựng nhiều bằng ban khen của cấp lãnh đạo, năm sáu cái huy chương nằm đè lên trên, tận bên dưới lộ ra xấp giấy bạc. Hai mẹ con cùng đếm, từ lầm bầm đến to tiếng, lát sau thì thở hắt: Sáu triệu tư, chẳng dư bạc lẻ.
– Tiền miếng đất dưới quê mà bán có bấy nhiêu thôi hở mẹ?
– Mày quên à. Thi thoảng ông còn cấp dưỡng tiền cho đứa con rơi. Thôi, lo thu vén đậy đằng làm sạch hiện trường. Mày chuyên coi phim hình sự thì đạo diễn làm sao ngó cho đẹp, chẳng sơ hở.
– Còn tiền?
– Mày ba tao bảy như hợp đồng.
– Đó là con ngỡ ông có nhiều. Ít thế thì mẹ phải cho con thêm.
– Ừ. Rồi mẹ sẽ đưa. Nhưng phải một thời gian khá lâu. Mày mang đi tiêu pha dân tình họ dị nghị.
Nắng gần tắt, nhìn tới song cửa, thằng con trai chẳng biết đã mấy giờ?
– Bị cáo Huỳnh văn Lương Thiện, tử hình.
– Bị cáo Trần văn Giảo Hoạt, mười năm tù.
Số còn lại, án tù đồng nhất là hai năm.
Luật sư biện hộ đứng lên: Thưa quý toà, tôi có điều muốn thưa. Hoạt và Thiện đều cùng tham gia chém chết người, sao bản án dành cho mỗi người lại có mức sai biệt ngần ấy?
– Ấy là do bởi lý lịch của mỗi tội phạm cơ bản có chuyện khác nhau. Bố của Thiện trước đây là ngụy quân ngụy quyền. Còn bố mẹ của Hoạt dẫu sao cũng gia đình cách mạng. Y án.
Chiếc búa gỗ đánh xuống bàn chan chát. Kết thúc. Màn kéo xuống. Tắt đèn.
Để khỏi mang tiếng bưng bít thông tin, nhật báo ngày mai có tờ tường thuật phiên xử:
Dự báo thời tiết miền Trung sẽ có mưa rơi suốt tuần. Nguyên cả bảy ngày mèo không đái một giọt. Như một chảo rang, đất nức nẻ. Người và chó đều le lưỡi thở giống nhau, nực nội không buồn sủa.
Chốn nầy không mưa thì thôi, hễ trời trút nước thì y như rằng nơi nơi đều ngập lụt khiến trung ương phải ta thán: Mưa cực đoan. Và địa phương bổ túc: Sai qui trình. Nước dâng làm ùn tắc hư hỏng mọi công đoạn sản xuất, suy ra lụt lội là thành phần phản động chực phá rối trị an. Và xét tổng thể, dẫu sao nắng nôi hạn hán cũng dễ thở hơn. Đơn cử như chợ búa nhóm họp đông đủ, công nhân đến hãng xưởng của Đài Loan Trung quốc phấn đấu lao động chuyên cần và nhà nước cũng dễ di động tới lui khi muốn biểu dương sức mạnh của luật pháp nhằm uốn nắn những kẻ lầm đường lạc lối. Chế độ ta sao có lắm đứa ưa vượt đèn đỏ thế! Đã vậy còn đưa đầu trần chả màng chụp nón bảo vệ lên.
Phiên toà bắt đầu lúc 10 giờ. Tuy chẳng loan báo, mới 8 giờ đã có khối đứa bu vào. Bốn cái quạt trần quay như vụ nhưng hơi nóng bên dưới vẫn kiên cường bám trụ, lảo đảo cho lắm cũng như đuổi ruồi. Mấy mụ đàn bà tuồng có kinh nghiệm, ai cũng phe phẩy ở tay cây quạt xếp, tóc mai cứ thế mà rối liên hồi kỳ trận. Tầm hiểu biết về phân định chánh tà của các bà ấy rất dễ nể vì họ mãi thức khuya để xem phim bộ “Bao Công xử án Quách Hoè” do xưởng phim Trung quốc thực hiện. Cả đời họ nào được thấy mặt Bao Công, vậy mà can trường chém gió: Ôi, sao lựa được thằng diễn viên có nhân diện y trang thằng quan toà Bao Công thế nhỉ!
Hôm nay toà án nhân dân diễn ra phiên xử một vụ án tình giữa đôi nam nữ thường trú tại địa phương. Đầu tiên toà kêu bị hại đứng lên trình bày diễn tiến vụ việc đồng thời bắt đưa tay thề rằng không man khai chỉ biết nói ra sự thật. Dạ thưa quý toà, em tên là Phạm thị Hải Dương năm nay đúng 16 tuổi 4 tháng. Chiều hôm đó… Quan toà ngắt lời: Có nhớ rõ ngày tháng không? Trán Hải Dương nhăn lại, nhìn tới hàng chữ đỏ viết lên vách “Chí Công Vô Tư”: Dạ không nhớ ạ. Thôi được, khai tiếp đi. Dạ chiều hôm đó, thằng Trần văn Tường… Chỉ gọi tên là đủ, Trần văn Tường có mặt ở đây không, chỉ cho chúng tôi xem. Hải Dương đưa thẳng cánh tay, dùng ngón trỏ điểm tới mặt một thằng con trai đang ngồi yên trên băng ghế gỗ, hàng đầu. Tóc hắn cắt ngắn, mặc áo màu cứt ngựa y như quân phục của mấy chú bộ đội và bộ mặt thì tỉnh như ruồi.
Em thấy nó rình mò nhà em hai ngày rồi, những lúc bố em vừa rời nhà đi lao động. Em biết nó thích em, nó muốn hiếp em, nhưng em cương quyết không để nó thực hiện được hành vi đồi bại… Quan toà lại ngắt lời: Do đâu bị hại biết được là bị cáo Tường thích và mang ý định hiếp dâm? Dạ… dạ nó từng buông lời trêu chọc em, bảo có hứng thú cùng nó xem phim nóng của Hàn quốc không, nó luôn mang theo mình mấy cái đĩa dvd đồi truỵ. Chiều hôm đó, đứng sau cánh cửa mở, em chủ động tụt quần ra để chờ nó vào xem sao, chứ không dại để nó tự tiện xé rách áo quần em…
Trong đám người dự khán nổi lên những tiếng cười. Búa gõ xuống chan chát để mong vãn hồi trật tự. Những người “thế thiên hành đạo” hội ý với nhau là nên bắt thằng Trần văn Tường lên đứng vào vành móng ngựa. Thưa quý toà, tôi là Trần văn Tường, 19 tuổi, công nhân làm việc ở Công ty trách nhiệm hữu hạn Thuỷ Triều, chuyên phân loại và đóng gói tôm xuất khẩu… Theo như lời khai của bị hại rằng anh đã đột nhập vào nhà Hải Dương chiều ngày… Dạ chiều thứ bẩy, ngày 15 tháng 6, vào khoảng 4 giờ ạ. Hôm ấy bị cáo không đi làm? Trần văn Tường đưa bàn tay trái lên: Dạ bị tai nạn lao động nên công ty cho nghỉ ba hôm ạ. Quan hệ giữa bị cáo và bị hại như nào? Thưa quý toà, bị cáo từng giới thiệu bố em Hải Dương vào làm việc trong công ty, có thể gọi là ân nhân của gia đình em ấy. Đã từng được mời vào nhà ăn bữa cơm để trả ơn, đã từng mang phim đến cho họ giải trí, đã từng nghe lời hứa hẹn của bố em ấy… Hứa hẹn điều gì? Dạ đợi Hải Dương đủ tuổi lớn khôn thì nên duyên vợ chồng… Có nghĩa là sao? Vụ án nầy… Dạ thưa quý toà có nghĩa là oan cho tôi quá, tôi bị bố con họ gắp lửa bỏ tay. Họ lập lại thứ kịch bản có trong bộ phim “Trái Ngang” tôi từng cho họ mượn… Có nghĩa là bị cáo không hiếp dâm bị hại? Thưa quý toà, nhà thì không có ai, một người con gái đứng ngay cửa thoát y có ý đợi chờ, xin hỏi thiệt quý toà mấy ai mà làm ngơ cho đành với cảnh cơm dâng tận miệng.
Nhiều tiếng xầm xì bàn luận nhỏ to, có tiếng bà nào nổi rõ: Chà, thật vất vả cho Bao Công! Chung quy thì bị cáo đã thực hiện trót lọt hành vi đồi bại? Dạ nói vậy cũng không hẳn, bởi Hải Dương nào có hành động chống đối, cô dang tay dạng chân kiểu xúi giục là đàng khác, cô rên những tiếng mà phải cực sướng mới biểu lộ được…Thế hai lượng vàng dấu trong tủ? Cớ sao chiều hôm đó không cánh mà bay? Mắt Tường long lên, quét về chỗ Hải Dương ngồi. Thưa quý toà, sau phút ái ân, Hải Dương biểu bị cáo phải cởi sợi dây chuyền trị giá 8 triệu đồng từ cổ ra trao vào tay em. Anh còn nợ em 42 triệu giao hẹn đúng một tuần phải thanh toán. Về chuyện gì? Về trinh tiết và vì em còn vị thành niên. Bị cáo biết một tin tức ngoài lề: nghe anh em trong công ty nói là bố của Hải Dương mang nợ ngập đầu vì ham cá độ bóng đá.
Đúng ngọ, toà tuyên bố nghỉ giải lao. Thực ra thì tuy không nghe tiếng kẻng ai nấy cũng lo tranh thủ đi ăn cơm. Hơn ai hết, những đứa vô phúc đi nằm ấp hoặc nhập kho sẽ mãi trân trọng chữ “Cơm” bởi triết lý ở sự đời cô lại duy chỉ một câu: “Cơm thương chứ không ai thương đâu!”. Cho dù cơm nhà tù thì… trời sợ! Phải tới 2 giờ mọi người mới lục đục trở lại chốn định phận rạch ròi giữa nhất nhật hoặc thiên thu. Thời tiết khắc nghiệt hay sao chẳng biết nhưng đồ rằng các vị quan toà chừng nghe oải, họ cử người đại diện đứng lên đột ngột làm phần kết luận, giọng sang sảng ngân vang chốn pháp đình: Theo diễn tiến của từng tình tiết câu chuyện, chúng tôi đã thống nhất đi đến chung cuộc. Nổi cộm ở đây là chuyện người con gái tuổi vị thành niên bị đánh cắp mất cái ngàn vàng. Do vậy, nói qua nói về không bằng nói thật, toà tuyên án bị cáo Trần văn Tường bị ba tháng tù nhằm cải tạo thứ nhân thân xấu, đồng thời bồi hoàn thiệt hại cho bị hại một triệu đồng tội đột nhập gia cư không được đồng thuận của gia chủ, nhằm mang ý đồ quấy nhiễu phá rối sự an toàn của người dân.
Thưa quý toà, oan cho tôi quá, bất công quá. Giọng Trần văn Tường gào to, ông bà mình nói thật đúng “sướng con cu để mù con mắt”. Cu của quý toà có sướng không mà mắt quý toà như mù. Búa gỗ được nện xuống bàn rầm rộ biểu lộ sự giận dữ của người nắm búa. May mà chẳng có liềm như thứ thương hiệu búa liềm giao duyên treo sau lưng các ngài tai to mặt lớn.
Liềm chừng như đã về tay thần chết? Vị đại diện pháp luật đưa tay quẹt trán rịn ướt mồ hôi: Tưởng cũng nên nói rõ ở đây, ba vụ khúc mắc tình duyên lọc lừa vớ vẩn như này chỉ tổ làm rách việc thêm, chúng tôi đang dành công sức trí não vào phiên toà sắp khai mở: Xử xét và định tội rạch ròi dành cho những kẻ vừa xách động quần chúng đi biểu tình chống đối Formosa.
Một bà đứng lên phủi đít, tay vung vẫy cây quạt xếp miệng lầm bầm: Thưa quý toà, bố mẹ thằng Bao Công xứ Nghệ An ăn nói láo lếu. Có nhớ mặt bà không? Ngày nào mà bà chẳng xuống đường nói trắng đen về một sự thật. Bà đếch sợ quý toà. Quý toà có giỏi thì tó bà đi cho tiện việc sổ sách.
Không phải suốt tuần, cả ba tháng, rẻo đất sỏi đá miền Trung chẳng hứng được một giọt lệ tự trời cao.
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
DENNIS CHAMBERS (Phi công Tù bỉnh) “Chúng ta thắng trận phải không? Xin làm ơn nói thật”
Tháng Tám năm 1967 trong lần thực hiện phi vụ thứ một trăm lẻ một, tôi đã bị bắn hạ tại Đồng Hới, ngay phía Bắc vùng phi quân sự. Tôi là phi công phụ của chiếc máy bay F-4C. Phi công chính và tôi thoát chết, nhưng sau đó đã bị giam suốt năm năm rưỡi tại nhà tù Cộng sản, Hỏa Lò, nơi người ta vẫn gọi là “Khách sạn Hilton Hà Nội.”
Trước khi xảy ra vụ này, trong tôi đã tan vỡ nhiều ảo tưởng về cuộc chiến. Vì sao? Mục đích cuộc chiến tuyệt đối đúng, nhưng phương thức chúng ta chiến đấu, cách chúng ta muốn đạt đến mục đích thật hết sức sai lầm.
Tôi đóng ở Cam Ranh. Tôi đến đấy vào tháng 3 năm 1967. Ngay sau phi vụ đầu tiên, tôi đã phải viết thư cho dân biểu của tôi mà hỏi: “Chúng ta đang làm gì ở đây?” Chúng ta đang làm một lỗi lầm lớn, ai cũng có thể thấy rõ như vậy!
Ngay lúc mới đến Cam Ranh, người ta đã căn dặn chúng tôi đừng ai ra phố. Không được vượt qua cây cầu vào thị xã. Lý do, họ bảo là vì dân chúng bất thân thiện. Lạy chúa, bất thân thiện! Ngay tại Cam Ranh này mà dân chúng không đối xử thân thiện với chúng tôi. Họ là bạn, họ là đồng minh kia mà? Vậy nếu họ không thân thiện với chúng tôi thì việc gì đang xảy ra ở đây. Hoàn cảnh này là hoàn cảnh nào?
Về việc dội bom: chúng tôi đã dội bom dã man lên tất cả mọi thứ. Không bao giờ lại phí bom thả xuống biển. Sau mỗi phi vụ khi bay về, nếu còn dư bom, chúng tôi luôn luôn cố kiếm ra một cái gì mà dộng xuống. Bọn phi công sẽ kiếm một thứ gì, bất cứ cái gì để dội lên với số bom còn lại. Tôi cũng đã nghe kể nhiều chuyện về lính bộ binh thường nhả đạn giết dân bừa bãi chỉ vì lý do không ưa cái bộ dạng của người ta! Không ưa cách người ta nhìn, họ bóp cò. Tình trạng có vẻ thực vô kiểm soát. Bấy giờ là năm 1967. Sau này tình trạng lại còn tệ hại hơn. Sĩ quan không kiểm soát nổi lính tráng. Chúng ta có rất đông quân, mà chúng ta lại không hề bao giờ chính thức tuyên bố chiến tranh. Chúng tôi cứ bay, cứ dộng bom, và nếu tôi hỏi “Chúng ta đi đâu, chúng ta làm gì đây” thì câu trả lời luôn luôn vẫn là “không biết!” Ấy thế rồi họ trói tay chúng tôi lại. Họ bảo chúng tôi là có một số việc chúng tôi không được phép làm. Ví dụ nếu tìm ra được các chiến đấu cơ MIG, chúng tôi phải làm các thủ tục nhận diện cho chắc chắn là MIG, rồi mới được phép bắn. Trong tình trạng ấy quý ông có biết cơ may sống sót của chúng tôi mỏng manh đến đâu? Một chiếc MIG có khả năng làm lắm chuyện hơn cả mấy chiếc F-4C, F-105, hoặc là F-111. Với những chiếc máy bay nguy hiểm như thế mà chúng tôi lại còn phải cố nhận diện đã, thì sinh mạng của chúng tôi chịu biết bao may rủi? Rồi chúng tôi lại bị cấm không được phép bắn những chiếc tàu dài hơn 50 bộ Anh, hoặc ngắn hơn 20 bộ Anh.
Hình minh họa
Như vậy tất nhiên Việt Cộng cứ cho chở hết mọi thứ trong những chiếc tàu nhỏ là tha hồ an toàn xuôi ngược trên sông! Tôi cảm thấy thực cay đắng với tất cả những chuyện như thế.
Ngoài ra ở đấy người ta đã lừa bịp dối trá như điên. Con số máy bay được đếm là chỉ bằng nửa con số chúng tôi báo cáo. Số máy bay chúng ta mất xảy ra rất đều đặn: Chỉ trong năm tháng tôi ở đấy, chiếc máy bay của tôi đã là chiếc thứ 13 tại Cam Ranh bị mất. Và người ta chỉ ghi vào thống kê những chiếc máy bay mất nếu có người nào nhìn thấy tận mắt. Không nhìn thấy máy bay bị hạ kể như không mất. Thật là khùng!
Trong Hỏa Lò Hà Nội, các tù binh Mỹ còn sống sót được nhờ những lý do khác nhau. Tinh thần bác ái và tinh thần Thiên Chúa giáo đã giúp một số người sống còn. Riêng tôi, chính hận thù giúp tôi sống còn! Tôi hận thù Lyndon Johnson. Tôi hận thù Richard Nixon. Tôi hận thù chiến tranh. Tôi hận thù người Việt miền Bắc. Tôi hun đúc tất cả những hận thù ấy để sống còn.
Những hận thù ấy cũng tạo nên cho tôi một tinh thần hoài nghi sâu đậm. Khi được thả vào năm 1973, họ đưa chúng tôi vào chiếc máy bay C-141 từ Hà Nội đến Phi Luật Tân, lúc ấy tôi không còn một niềm tin vào bất cứ gì nữa. Đặc biệt tôi đã không tin được một lời nói nào của Cộng sản. Tôi cứ nghĩ chúng sẽ không bao giờ thả chúng tôi ra. Cho nên khi máy bay rời Hà Nội, tôi chắc mẩm là chúng sẽ bắn hạ chiếc máy bay này. Tôi đinh ninh chờ đợi một chuyện xảy ra: Có lẽ chúng đã đặt bom. Có lẽ một chiếc chiến đấu cơ MIG, hay một hỏa tiễn SAM sẽ phóng theo. Tôi tự bảo: “Không thể tin được! Chuyện này không thể xảy ra được! Đấy là mơ chứ không thể là thực.”
Thế rồi khi máy bay rời Hà Nội, một nhóm bác sĩ, y tá và những người trợ tá đến săn sóc chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều nắm lấy họ mà cùng hỏi một câu: “Chúng ta thắng trận phải không? Xin làm ơn nói thật.” Và một sĩ quan Mỹ trên máy bay bảo: “Chắc chán là thế. Trên căn bản chúng ta đã thắng. Địch đã bại – Nhờ máy bay B-52, chúng ta đã thắng!” Khi nghe như thế, chúng tôi ngây ngất. Những năm tháng tù đầy của chúng tôi nhờ vậy mà xứng đáng. Không còn chữ nào ngọt ngào hơn mấy chữ “Chúng ta đã kết thúc xong.” Họ nói với chúng tôi như thế.
Rồi khi về nhà chúng tôi khám phá ra cuộc chiến chưa kết thúc. Chúng ta chưa thắng. Chúng tôi lại bị dối trá. Người ta không cho biết sự thật.
Khi Sàigòn sụp đổ, tôi đang sống tại căn nhà ở vùng núi Santa Cruz tại tiểu bang California. Tôi không coi truyền hình nhưng mỗi ngày đều đọc báo và nghe tin trên máy phát thanh. Khi đọc và nghe những chuyện xảy ra bên ấy, tôi có thái độ bi thảm của cái kiểu như là: “Đó, tôi đã bảo mà, thấy chưa.”
Tất cả những gì xảy ra thực sự chỉ là kết quả của hàng chuỗi lỗi lầm nghiêm trọng mà chúng ta đã tạo nên sau nhiều năm tháng. Vào cuối tháng Tư, khi bắt đầu nghe tin về cuộc tỵ nạn và những con người đáng thương bên ấy đang cố ra khỏi xứ, tôi cảm thấy muốn phát bịnh. Bao nhiêu người đã từng làm việc cho chúng ta ở bên ấy giờ đây bị đối xử cạn tầu ráo máng. Chúng ta bỏ lại rất nhiều người. Lời hứa của Mỹ chẳng còn một giá trị gì. Bây giờ, ở Á Châu, lời hứa của người Mỹ không còn đáng một cục cứt!
Những gì đáng lẽ chúng ta phải thực hiện, đó là phải bảo đảm an ninh cho bạn hữu của chúng ta. Nhưng chính dư luận công chúng đã chống lại Việt Nam. Chính khách đã chống lại Việt Nam. Mỉa mai quá! Nếu trước đó họ chống vấn đề Việt Nam sớm hơn, thì mọi việc chẳng xảy ra như vậy. Tôi quy trách nhiệm cho toàn thể nước Mỹ về việc bỏ rơi những bạn hữu của chúng ta ở lại Việt Nam. Không một ai đứng dậy mà phản đối việc chúng ta bỏ rơi bạn, những người đã cật lực làm việc cho chúng ta. Bây giờ chúng ta thản nhiên bỏ rơi họ.
Hình minh họa
Những gì đáng lẽ chúng ta phải làm, thực giản dị. Đáng lẽ chúng ta phải thiết lập một khu vực “Không người” và bảo bọn Cộng sản rằng: “Nếu các anh vượt ranh giới này, chúng tôi giết.” Chúng sẽ hiểu điều ấy. Như thế, chúng ta sẽ mang tất cả những người bạn ra. Và chúng ta đáng lẽ phải nói: “Nga Sô, tránh ra! Trung Cộng tránh ra! Chúng tôi sẽ rời khỏi xứ trong 6 tháng – Nếu Bắc Việt can thiệp, chúng tôi sẽ xoá Hà Nội khỏi bản đồ tức khắc!”
Đáng lẽ chúng ta phải thiết lập tình trạng khẩn cấp, tuyên bố rõ rệt những gì sẽ thực hiện, yêu cầu quan sát viên Nga Sô và Trung Quốc đến để chứng tỏ chúng ta sẽ không quay trở lại. Chúng ta sẽ ra đi, và chúng ta sẽ mang theo các bạn hữu của chúng ta. Chúng ta cần mở những trại định cư tại Mỹ với các tiện nghi tạm cư cho các bạn của chúng ta. Vào thời đệ nhị thế chiến khi xảy ra vụ Nhật-Mỹ, họ dựng trại nhanh lắm. Thế thì chắc chắn họ cũng có thể dựng trại tạm cư rất nhanh cho các bạn của chúng ta vào năm 1975. Nhưng chúng ta đã không làm như vậy. Không ai còn có can đảm quyết định. Không ai muốn chấp nhận trách nhiệm. Chúng ta đã chờ đợi quá lâu. Đáng lẽ chúng ta không nên để kết cuộc phải xảy ra trên cái nóc nhà khốn nạn của toà Đại sứ Mỹ ở Sàigòn. Đáng lẽ chúng ta có thể chấm dứt tình trạng rối loạn với một vài lời đoan quyết. Nhưng không ai đã nói một lời nào. Và bọn Cộng sản khốn kiếp cười vào mặt chúng ta. Chúng ta đã bị một bọn lùn xủn bu lấy đá vào mắt cá chân. Hy vọng là chúng ta có thể học được đôi điều trong chuyện này.
Tôi đã mất cái khả năng yêu thương tại Việt Nam. Tôi không còn yêu thương, tôi cũng không còn sát sinh được. Tôi không săn bắn, tôi không câu cá, mà tôi cũng không còn sức yêu thương. Khi trở về, họ gọi tôi là anh hùng. Không, tôi không phải là anh hùng. Tôi đâu có tự ý tình nguyện xin ngồi tù cho đến năm năm rưỡi? Tôi chỉ tình nguyện chiến đấu cho xứ sở. Tôi chỉ tình nguyện chiến đấu cho tự do. Tôi đã tình nguyện lái một chiếc máy bay.
Khi mọi sự tan vỡ vào năm 1975, tôi cảm thấy thời gian phục vụ của tôi ở Việt Nam thực là uổng phí. Ngày nay tôi chẳng nằm mộng hay thấy ác mộng gì về chuyện ấy. Tôi không nghĩ gì về Việt Nam nữa. Không, tôi hoàn toàn không nghĩ gì về những chuyện ấy nữa. Mọi phương tiện đối với người Mỹ này đều đã được tận dụng, kể cả việc làm giấy tờ giả mạo.
Tôi phục vụ ở Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Warsaw, Ba Lan, cho tới 22 tháng Giêng 1975 thì chuyển về Saigon. Thực tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa.
Tháng Mười năm trước tôi rời Hoa Thịnh Đốn đi Âu Châu vài tuần. Thêm vào chương trình huấn luyện thông thường mà các vệ binh Tòa Đại sứ phải thụ huấn, tôi có tham dự chương trình cận vệ bảo an các yếu nhân. Rồi phục vụ tại Luân Đôn, tại Frankfurt, Tây Đức, sau đó là Warsaw. Tôi chỉ ở Warsaw có mười tuần lễ rồi tình nguyện đi Saigon.
Tại Saigon theo quy định tôi chỉ mặc thường phục, và là cận vệ Đại sứ Martin cho đến ngày 28 tháng Tư.
Khi tới Saigon vào tháng Giêng, tôi nghĩ mình sẽ ở đây một năm, nhưng rồi “Cuộc chơi lớn” bắt đầu.
Saigon khá an ninh lúc tôi đến. Nay mỗi lần nghĩ tới tôi lại càng ngạc nhiên. Sĩ quan an ninh khu vực bảo tôi trong vòng sáu mươi dặm Anh tại Saigon không hề có Việt Cộng. Tuy nhiên Saigon lúc ấy chính là một trại lính. Tòa Đại sứ ở đây có lẽ còn an ninh hơn bất cứ một Tòa Đại sứ nào.
Bên kia thành phố, tại tư thất Đại sứ, chúng tôi gồm tất cả sáu người lo phụ trách bảo vệ cho Đại sứ. Nhiệm vụ của tôi thuần túy là nhiệm vụ bảo vệ Đại sứ Hoa Kỳ. Có một trung tâm truyền thông đặt ngay trong tư thất Đại sứ, tôi là người canh giữ trung tâm ấy. Trong giai đoạn sau, tôi cũng là người phụ giúp việc truyền thông giữa Tòa Bạch ốc và Đại sứ. Có lần một số vị trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia đến đấy, tôi đã có mặt trong lúc quý vị ấy họp bàn kế hoạch.
Khi gặp Đại sứ lần đầu, thấy một ông già mặc cái quần ka-ki cũ, cái áo lụng thụng, lăng xăng trong sân, tôi cứ ngỡ là ông làm vườn. Trông không có vẻ gì Đại sứ cả.
Tôi được giới thiệu với ông vào ngày hôm sau tôi đến. Ông là người lịch thiệp, gây nhiều ấn tượng sâu sắc. Thực là một tay cứng cỏi. Bấy giờ đã ngoài bảy mươi tuổi, nhưng ông còn làm việc bền bỉ hơn tôi.
Trong giai đoạn cuối, Đại sứ tỏ ra rất kiên quyết. Ông không muốn lộ việc người Mỹ di tản vì chuyện ấy có thể gây náo loạn. Vì thế chúng tôi đã phải giữ cho mọi việc có vẻ vẫn bình thường.
Cuộc di tản, có lẽ là một trong những biến cố trọng yếu nhất đời tôi. Ngày 28 tháng Tư, tôi bị giải nhiệm vì tác phong: Tôi nhậu nhẹt quá sá và đã tạo thành vấn đề. Chính Thiếu tá Kean là người đã đề nghị đưa tôi ra tòa quân sự. Nhưng Thiếu tá Kean cũng cho tôi đoái công chuộc tội: Nếu làm việc tử tế, ông sẽ nương tay. Sau đó khi về Mỹ, tôi chỉ bị các hình phạt quân kỷ, khỏi phải ra tòa. Tôi bị phạt và bị thuyên chuyển thôi.
Cấp bậc của tôi là Trung sĩ. Tôi được chỉ định phụ trách một số quân nhân có nhiệm vụ canh giữ doanh trại văn phòng Tùy Viên Quân Sự. Hạ sĩ Mc Mahon và Hạ sĩ Darwin đều là hai người làm việc trong tiểu đội tôi, họ mới đến có hai tuần lễ. Tôi biết họ chưa lâu, mới ít ngày. Hai người bồ bịch thân thiết nhau lắm, tôi cho là chẳng ai tách rời họ được. Họ đến cùng lúc, thân thiết với nhau ngay. Lúc tôi tới, lính tráng thường cười đùa trêu chọc Judge vì anh ta hay nhái giọng nói miền Boston của Mc Mahon.
Hình minh họa
Tôi tới đây vào lúc chiếc phi cơ A-37 của Việt Nam bị tấn công. Chúng tôi vác cả súng trường lẫn súng lục ra mà bắn. Sau khi máy bay được đưa đi hết, yên lắng lại, chúng tôi mới trò chuyện với nhau. Chắc ông từng nghe người ta nói “Chết đến nơi thì phải tin Trời, Phật, Thánh, Thần”. Đúng thế, Judge là người Thiên Chúa Giáo, hắn đã trò chuyện với tất cả mọi người về niềm tin của hắn. Hắn thuyết về đạo giáo cho tất cả lính tráng trong đơn vị trước khi tôi đến, sau đó lại rao giảng với chính tôi. Tôi biết hắn đúng, tôi đồng ý. Trước đây tôi chưa từng nghe chuyện tôn giáo. Bây giờ là lúc quyết định: Đúng ngày hôm ấy tôi đã trở thành một tín đồ Thiên Chúa Giáo. Ngay tại đấy, và từ đó cuộc đời tôi rõ rệt đổi khác.
Cái kinh nghiệm sáng hôm ấy của tôi là kinh nghiệm của một người trở về đối diện với chính mình, nhận được rằng mình đã sống cuộc đời đáng tởm. Tôi ở trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến đã bốn năm, đã sống với cái hình ảnh của tài tử cao bồi John Wayne, cái lối nhậu nhẹt dữ dằn, kiểu sống khó thương của dân Thủy quân Lục Chiến. Đời sống ấy tạo trong tôi một sự trống rỗng, làm cho tôi chẳng còn là tôi, có lẽ đó chính là lý do tại sao bia rượu tàn phá tôi. Tôi đã bị hủy hoại, chẳng sót lại gì. Bao nhiêu điều tốt đẹp khi gia nhập Thủy Quân Lục Chiến chỉ còn lại tro than.
Mọi sự giống như cơn lốc xoáy. Tôi đã khá thành công trong binh chủng Thủy quân Lục chiến. Từ binh nhì lên trung sĩ chỉ trong thời gian ngắn. Nếu đừng vấp vấn đề lôi thôi ở Saigon, có lẽ tôi đã là người trung sĩ trẻ tuổi nhất binh chủng.
Vào đêm hai chú nhỏ bị giết, chính tôi là người bố trí trạm gác.
Lúc ấy 4 giờ kém 15 phút sáng, tụi hắn trúng ngay quả rốc-kết đầu tiên bắn tới. Tôi đoán là một quả 122 ly, sau đó tôi có tìm được cái cơ phận quả đạn. Lúc ấy tôi đang ở căn cao ốc kế cận, quả rốc-két đã đánh bật tôi ra khỏi giường. Ở ngoài ấy với tụi hắn, còn một chú nhỏ nữa. Tụi hắn ở phía góc căn trại, còn chú nhỏ kia tên là Holmes, ở phía cổng. Chú này bị ngay đầu. Có tiếng đạn cá nhân nổ liên hồi, hóa ra là dây lưng đựng đạn cá nhân của Judge phát nổ trong đống xe Honda bốc cháy, thoạt nghe như súng máy nổ ngoài cổng.
Quả rốc-két có lẽ rơi cách Mc Mahon và Judge chỉ khoảng mười tám phân Anh. Trúng đạn tụi hắn chết tức khắc. Không ai có thể nhắm trúng đến thế. Mc Mahon hứng ngay luồng đạn, thân thể hoàn toàn nát bấy, đầu một nơi, mình một nơi, tay chân một nẻo. Judge còn khá nguyên vẹn. Lúc đầu nhìn, tôi cứ tưởng hắn còn sống. Tôi kéo hắn ra khỏi ngọn lửa, nhưng hắn đã chết rồi. Stu Herrinton nhặt cái mũ sắt của Judge mang đi.
Sáng hôm ấy tất cả bắt đầu rung chuyển. Không quân Việt Nam cố di tản máy bay đi, mấy chiếc C-130 trúng rốc-két cháy tại chỗ. Đám nhân viên phi hành chạy vào. Chúng tôi cố núp tránh miểng đạn. Người ta có thể nghe đại pháo 130 ly rít qua đầu, nổ ầm trong đám kho xăng. Tôi nhìn thấy một chiếc C-l 19 cất cánh rồi bị bắn hạ.
Lúc ấy tôi là người tin số mạng, cái gì đến thì đến, nếu số tôi tới thì tới, vậy thôi. Không biết bây giờ tôi còn tin thế không, nhưng lúc ấy tôi tin như vậy. Tôi là loại cứng cổ, dù có sợ cũng không thừa nhận với chính mình.
Thiếu tá Tony Woods là người có trách nhiệm đưa đa số người Mỹ đi khỏi Saigon. Ông và tôi lái xe buýt quanh thành phố để đón người Mỹ tại các khách sạn. Có rất đông nhà báo. Thiếu tá Woods đã được một huy chương sao đồng về các hành động tại đây.
Ông ta và tôi nhảy lên một chiếc Jeep chạy quanh mấy nút chặn của lính Việt Nam trên đường phố Saigon. Chúng tôi lái đến mấy nút chặn ấy xem họ làm gì. Nhiều cha nổi nóng. Họ nổ súng nhưng chúng tôi không trả đũa. Sau đó ông ta và tôi lạc nhau trong một vụ nổ. Ông đi một đường, tôi đi một nẻo.
Việc ấy xảy ra ngay bên ngoài phi trường Tân Sơn Nhất. Người ta cứ đại ngôn về việc chúng tôi có thể đi ra phi trường mà không bị bắn chác gì. Vâng, những người nói chuyện như thế là những người không có mặt ở Saigon.
Hình minh họa
Quân đội Việt Nam Cộng Hòa không bắn chúng tôi, nhưng lính của họ thì có. Vô khối lính đã nã đạn lên trời, cũng vài chiếc xe buýt bị trúng đạn.
Thiếu tá Woods và tôi hộ tống mấy chiếc buýt cho đến khi chúng tôi lạc nhau. Tôi lọt xuống trung tâm thành phố thì chợt phía sau là một xe vận tải đầy lính Việt Nam trang bị súng ống, cứ thế lừ lừ chạy theo. Tôi vòng một khu đường để đi sau chiếc vận tải thì bọn lính chĩa súng về phía chúng tôi. Đến khi chiếc xe buýt về tới Tòa Đại sứ, người trên buýt bước xuống, và khi vừa thoát khỏi bọn lính Nam Việt Nam, tôi chui ngay vào trong Tòa Đại sứ.
Tôi leo tường vào. Lúc ấy tôi mặc đồ rằn của lính Nam Việt Nam để di chuyển trong thành phố. Tôi cũng mang một khẩu M-16 và một khẩu .38. Ngày hôm ấy, họ cho chặt bỏ cái cây để trực thăng đáp xuống.
Tôi đã vào giữ vị trí ở cổng khu giải trí vài tiếng đồng hồ cho đến khi người ta bỏ khu này. Tôi nghĩ tôi là người cuối cùng còn ở bên ngoài. Địa bàn chúng tôi thu hẹp dần. Vài người và tôi đã đi qua tất cả các phòng của Tòa Đại sứ, từng phòng một để kéo mọi người ra. Rồi lên nóc thượng.
Tôi đi trên chiếc trực thăng bay lúc mặt trời mọc. Trên trực thăng này chỉ có lính Thủy Quân Lục Chiến. Chúng tôi ném hết nón sắt áo giáp để ngưòi khác có chỗ vào thêm.
Đến lúc ấy, tôi mệt lử. Tôi nhớ chiếc trực thăng bay, nhưng tôi nghĩ gì thì chẳng nhớ để kể cho ông nghe được.
Tôi đã nhìn xuống thành phố Saigon lúc bay ra. Chắc chắn tôi phải nhìn xuống. Mặt trời vừa mọc. Chúng tôi bay qua bến tàu, qua sông, tôi nhớ đã thấy mấy lằn đạn bắn đến, có lẽ đạn của lính Nam Việt Nam bắn chỉ thiên, hoặc là của súng phòng không. Chúng tôi bay qua bãi biển, đấy là điều cuối cùng tôi nhớ trước khi hạ xuống chiếc tàu Okinawa.
Nói chung tôi cho rằng đây là một sự mất mát không thể tưởng tượng. Và tôi đã có mặt để chứng kiến tới giây phút cuối cùng. Tôi nghĩ chúng ta đã bỏ rơi những người bạn và tôi không thích chuyện mà người ta gọi là “hoà bình trong danh dự”. Chúng ta đã ù té chạy, bỏ họ lại cho bọn Bắc Việt. Và ông thừa hiểu bọn ấy “tử tế” như thế nào.
Lúc ấy tôi chỉ mới hai mươi hai tuổi đầu. Đó chính là thời điểm thay đổi hẳn đời tôi. Tôi vẫn còn nghĩ đến rất nhiều. Tôi có thể quên nhiều thứ trong đời, nhưng không bao giờ quên được lúc ấy mặc dầu đó là một kinh nghiệm bi thảm, và sau khi ra đi tôi đã thay đổi hẳn. Năm 1975 là năm tệ hại nhất đời tôi, tạo nhiều khó khăn cho tôi, nhưng hồi tưởng lại thì chính nhờ đó tôi thay đổi để sống một cuộc sống tốt lành hơn.
Một phần của con người tôi đã chết ở chốn ấy. Nhưng một phần khác đã trỗi lên từ đống tro tàn. Tôi đã phải đối diện một cuộc phấn đấu lâu dài, nhưng nay tôi trở thành tốt đẹp hơn. Tôi tìm thấy sự thiện hảo trong niềm tin vào Chúa.
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
JIM KEAN (Thiếu tá Thủy quân Lục Chiến) “Tôi biết chắc chắn phải có một giải pháp tốt đẹp hơn”
Tôi đã học ở trường Chiến Tranh Thủy Bộ (AWS), một phần trong chương trình huấn luyện trung cấp của tôi. Trước đây, lúc tôi đang dạy ở trường Huấn Luyện căn bản dành cho các sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến, thì có lệnh gọi đi học. Oliver North cũng đã dạy ở trường Huấn Luyện căn bản này và cũng đến thụ huấn tại AWS một lúc với tôi.
Khi mãn khóa vào mùa Hè năm 1973, tôi được sử dụng ngay vì tôi có học tiếng Tàu, và cũng có bằng Á Châu Học tại Đại học Berkeley. Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến điện thoại cho tôi biết: “Còn trống chỗ tại một đơn vị ở Hồng Kông”. Họ hỏi: “Bạn có khoái đi Hồng Kông chăng?” Tôi đáp; “Bắt tôi bơi sang bên ấy, tôi cũng không từ chối”.
Đây là chuyện đi được phép mang theo gia đình, một cơ hội hiếm hoi cho tôi đưa gia đình theo ra hải ngoại. Trong truyền thống Thủy quân Lục chiến, người ta không cho mang gia đình theo. Thế là tôi trở thành sĩ quan Thường vụ của Đại đội C, Tiểu đoàn Phòng vệ Thủy Quân Lục Chiến tại Hồng Kông. Sĩ quan chỉ huy, Thiếu tá Don Evans sẽ mãn phiên trong một năm. Như thế tôi sẽ có cơ hội kế nhiệm ông. Chẳng bao lâu, tôi thăng Thiếu tá, đủ tư cách chỉ huy đơn vị.
Lúc ấy nhiệm vụ của tôi bao gồm việc bảo vệ an ninh chạy suốt từ Ấn Độ đến Bắc Kinh, Tokyo xuống đến Wellington. Cả thảy có hai mươi ba tòa Đại sứ và tòa Lãnh sự Mỹ khác nhau trong vùng mà Thủy Quân Lục Chiến phải phụ trách bảo vệ. Trong năm đầu tiên, tôi chia các chuyến đi với các sĩ quan chỉ huy, nhờ thế tôi có kinh nghiệm để sau này phụ trách Phòng Chỉ Huy. Đến lúc trở thành Sĩ quan chỉ huy đơn vị, tôi đến mỗi tòa Đại sứ hoặc tòa Lãnh sự theo lịch trình bình thường, cứ mỗi nơi sáu tháng một lần. Cũng có những chuyến đi bất thường để giải quyết các vấn đề khẩn cấp. Lính Thủy Quân Lục Chiến gặp trục trặc, thường là chuyện đàn bà gái gấm lôi thôi, là tôi cũng phải đến giải quyết cho bọn nhỏ. Kể ra những chuyến du lịch và những kinh nghiệm ấy cũng đã đem lại cho tôi một nhãn quan rộng rãi hơn để biết những gì thực sự xảy ra ở Á Châu. Nhờ thế tôi biết được cảm giác của người Ấn Độ, hiểu được những người Nhật Bản hay người Đại Hàn suy nghĩ thế nào.
Khi đến nhiệm sở, vì thủ tục an ninh cá nhân, tôi phải nói chuyện với những sĩ quan chính trị vụ, các nhân viên Trung Ương Tình báo, các viên chức Bộ Ngoại Giao. Những cuộc gặp gỡ ấy là một học hỏi thích thú. Từ đấy tôi cũng trở nên tinh tế hơn về vấn đề Việt Nam.
Thế rồi biến cố Việt Nam xảy ra. Thật đột ngột. Tôi biết thiếu gì người có học thức cho rằng chuyện ấy cuối cùng vẫn phải xảy ra, nhưng đối với tôi nó có vẻ đột ngột quá. Đầu tiên là vụ Bắc Việt tấn công Ban Mê Thuột vào tháng Ba, 1975. Rồi cuộc triệt thoái Cao nguyên của quân đội Nam Việt Nam. Sau đó là cả một cơn đại hồng thủy. Một ngọn sóng triều tràn ngập quân đội và chiến xa Bắc Việt. Lính miền Nam rút khỏi Cao nguyên đúng lúc lính miền Bắc nỗ lực tiến vào. Chợt một cái tất cả tan nát từng mảnh vụn.
Khi người ta bắt đầu tuôn chạy, mọi người cứ như thế ào lên chạy. Các đơn vị tan tã. Những người quyết định chiến đấu đến chết thì đã chết dưới lửa đạn, hoặc cũng bị cô lập mà thảm bại. Một số kéo dài việc chiến đấu lâu hơn, cuối cùng cũng thất bại thôi.
Hình minh họa
Bấy giờ nếu ông có dịp du lịch Đông Nam Á, ông sẽ thấy nhiều điều đáng tò mò. Tôi sẽ cho một thí dụ về nước Lào chẳng hạn. Trước khi mất Cam Pu Chia và Việt Nam, Lào đã được cả đôi bên chiếm đóng. Tại thủ đô Lào, quân Pathet Lào và quân chính phủ cứ thản nhiên đi ngược chiều nhau trên đường phố. Nhưng khi tình hình Việt Nam và Cam Pu Chia bắt đầu lộn xộn, sự căng thẳng ở Lào gia tăng. Những vụ đối đầu dần dà xảy ra. Quân Pathet Lào ở Vạn Tượng được từ từ thay thế từng người một bằng lính chính quy thứ dữ của Bắc Việt mặc quân phục Pathet Lào. Lực lượng Pathet Lào nguyên chỉ là lính du kích, làm gì có quân lực nặng? Thế rồi, đùng một cái, người ta chứng kiến đầy những binh sĩ chính quy có kỷ luật, có huấn luyện kỹ càng, người ta đương nhiên phải biết tác giả những vụ ấy là ai.
Cam Pu Chia tan vỡ.
Bấy giờ vào mùa Xuân năm 1975 tôi đang ở Hoa Thịnh Đốn. Tôi về dự một buổi hội nghị thì nhận tin từ Bộ Tư Lệnh Tiểu đoàn Phòng Vệ Thủy Quân Lục Chiến cho biết: “Đã có phiền phức xảy ra. Có lẽ chúng ta sẽ phải di tản khỏi Nam Vang.” Khi nghe Chỉ Huy Trưởng Tiểu Đoàn cho biết thế, tôi nói: “Nếu ông cho phép, tôi cuốn gói về ngay”. Tôi bèn trở về Bangkok.
Thực ra, việc di tản Nam Vang, chiến dịch “Eagle Pull” dễ như sơi bánh. Trước hết bởi vì Đại sứ Gunther Dean chính là một viên Tướng Thủy Quân Lục Chiến mặc thường phục. Nhiệm vụ của ông chỉ có việc đưa đi khoảng hai trăm nhân viên then chốt đến một bãi đáp duy nhất, nơi biệt đội đổ bộ của Tiểu đoàn dự trù đáp xuống. Họ mau chóng thiết lập an ninh vòng đai, ném hết mọi người lên trực thăng mà đi. Bố già ra đi với một lá cờ Mỹ được gói ghém cẩn thận. Mọi chuyện giản dị như học trò làm bài tập, Nam Vang nằm trong tầm tay của hạm đội đổ bộ. Biệt đội của Tiểu đoàn nhảy xuống, làm an ninh khu vực xong là rút đi ngay trong một chiến dịch hết sức gọn gàng. Đấy, những gì xảy ra đúng y như thế. Tôi giữ lại Bangkok vài cậu Thủy Quân Lục Chiến trước đó ở Nam Vang, xếp đặt cho các cậu khác cũng từ Nam Vang ra. Xong, tôi quay về Hồng Kông. Tuy nhiên, các biến cố thê thảm khác tiếp tục mở tung. Chuông báo động đang điểm. Tôi theo dõi thấy tình hình gần Đà Nẵng đã khẩn trương. Khi được lệnh của Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn ở Hoa Thịnh Đốn, tôi tức khắc đi Việt Nam ngay.
Tôi quay lại Việt Nam ngày 19 tháng Tư, trong bộ thường phục. Tất cả lính Thủy Quân Lục Chiến làm cho Bộ Ngoại Giao đều phải mặc thường phục lúc không có nhiệm vụ hoặc khi du hành.
Bấy giờ thực ra không có náo loạn mà tôi chỉ nghĩ lúc ấy là một tình trạng căng thẳng đáng ngại thôi. Chợt một cái, người ta phủi bụi, moi ra những tư liệu cũ viết từ năm 1973 về “kế hoạch di tản khẩn cấp”. Người ta nhìn mà bảo: “Chúa ôi! Những thứ kế hoạch này chỉ là đống cứt khô. Chúng tôi phải làm gì đây hỡi Trời!” Và vào khoảng thời điểm này Tư lệnh Thái Bình Dương, Đề đốc Noel Gayler bắt đầu cho người vào phụ. Tư lệnh Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Tướng Richard Gayler đến xem xét. Những người bên bộ phận truyền thông của Không quân cũng đến xem xét. Rồi họ đi đến kết luận: Nếu muốn di tản một số lượng đông đảo người ra khỏi đây, người ta phải phối hợp với nhau. Lúc ấy tôi là Đại đội trưởng Đại đội C thuộc Tiểu đoàn Phòng Vệ Thủy Quân Lục Chiến, cũng là sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến khu vực trực thuộc Bộ Ngoại Giao, ở Viễn Đông. Tại Việt Nam, nhiệm vụ tôi là điều động Thủy Quân Lục Chiến phụ trách bảo vệ an ninh các cơ sở của người Mỹ tại Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Biên Hòa và Saigon. Đó là tất cả phần nhiệm vụ của tôi với Bộ Ngoại Giao. Khi Đà Nẵng và Nha Trang mất, một số lính bảo vệ chạy vào Saigon đã trải qua nhiều gay go, họ được di tản khỏi xứ ngay. Có những người vào Saigon một cách dễ dàng, nhưng trên căn bản, những người từ Đà Nẵng và Nha Trang đều được đưa ra khỏi xứ. Còn những người ở Biên Hòa khi được kéo về, tôi giữ họ lại Saigon.
Hình minh họa
Hãy nhớ những người lính bảo vệ ấy nói chung đều là Thủy quân Lục Chiến trẻ tuổi. Mà bọn thủy quân trẻ thì rất năng nổ. Những gì đang xảy ra đây có lẽ là chuyện kích thích nhất đời họ. “Nghe ghê nhỉ. Rùng rợn lắm. Nhưng chắc chắn tôi rất khoái ở đây”. Họ có thể nói thế. Tôi không bông lơn đâu. Tôi nghĩ chuyện ấy tuyệt đối đúng như thế. Nhưng sau khi mọi việc đã xong, sẽ có nhiều phản ứng khá mãnh liệt xảy ra. Bọn nhỏ nhiều tên đã phải trải qua những kinh nghiệm khó tin. Cuối cùng những kinh nghiệm ấy đã để lại nhiều vết sẹo rất sâu trong đời họ, nhưng chúng ta chỉ thấy khi mọi việc xảy ra rồi. Còn lúc ấy, chỉ là những chuyện kích thích và căng thẳng mà họ vẫn kiểm soát được. Và Thượng đế mới biết tất cả những gì họ đã phải kinh qua, phải chứng kiến: những đứa bé, những trẻ sơ sinh bị nghiền nát, những con người giết chóc lẫn nhau, dầy đạp lên nhau trong cơn hoảng hốt, tất cả những chuyện như thế đấy.
Tôi là người chỉ huy, nhưng tôi chắc không thể nào lường trước được tất cả những trạng huống xảy ra cho họ. Cụ thể là những thảm kịch của đám lính trẻ phải bỏ lại người yêu, bỏ lại các bạn thân tình mà sẽ chẳng bao giờ hy vọng có ngày còn sống mà gặp lại nhau. Những việc như thế xảy ra luôn. Trừ khi họ đến nói cho tôi biết, còn không thì chẳng thế nào biết được hết. Cũng đôi ba trường hợp, tôi giúp được họ chút đỉnh.
Đôi lúc tôi cho mấy cậu nhỏ ra khỏi bờ tường tòa Đại sứ để tìm các người thân. Điển hình là lúc họ quay về, họ nhoẻn cười, chào mà nói: “Thưa Thiếu tá, em đã cứu được họ rồi. Cám ơn Thiếu Tá”.
Sau đó tôi cũng tìm cách viết cho họ vài tờ giấy ban khen, để họ kiếm cái huy chương đeo ở ngực áo. Nếu họ thực sự có công trạng gì được biết, họ sẽ được những huy chương cao cấp hơn.
Trong quan niệm của tôi, Đại sứ Graham Martin, người đã bị lôi kéo vào công việc ở Saigon, là người đã gắn bó với tất cả những hành động mà ông cảm thấy là tốt nhất cho Hoa Kỳ và cho Việt Nam, đồng minh của chúng ta. Ông thực sự là một thứ chồn già cứng cỏi. Ông rất gắn bó với việc duy trì sự có mặt và duy trì danh dự của người Mỹ trong các cam kết với dân chúng Nam Việt Nam. Ngày hôm nay, trong trí tôi tuyệt đối không nghi ngờ việc đó. Bởi vì ông là một sức mạnh dữ dội, vì ông có một cái tôi bất hủ, nên có lẽ ông đã phạm lỗi trong việc nghĩ rằng với các sức mạnh của cá tính ông và cái sự kiện ông rất cứng cỏi ấy, ông sẽ có thể nhìn thủng vấn đề, dù cho cái ánh sáng lù mù mỗi ngày một tối đi khắp chung quanh ông và ngay tại Hoa Thịnh Đốn kia. Có thể ông đã là đề tài cho người ta phê phán, đả kích vào lúc ấy và ngay cả bây giờ, nhưng xin nhớ cho rằng ông đã là người nắm trách nhiệm. Thực khó cho tôi sau này trong việc ngồi đó mà phê phán ông. Tôi cảm thấy đại sứ Martin đã cố sức giữ cho sự hiện diện của chúng ta ở lại Việt nam càng lâu càng tốt, và có lẽ ông đã không muốn làm những gì vội vàng khinh xuất khi chúng ta rút, ông cố tránh để các tai ương đừng xảy ra. Và nói cho thật công bằng, suốt đến tận năm ngày trước khi chúng ta rút lui, ông đã thành công, bởi vì tất cả đều tương đối trật tự, yên ổn. Nhưng chợt một cái, mọi thứ khốn kiếp trở nên lỏng lẻo. Đã có rất nhiều người thực hiện sẵn các kế hoạch đấy, nhưng làm sao có thể đương đầu chuyện di tản một số lượng người rất lớn lao trong một thời gian ngắn ngủi, với mười bảy sư đoàn địch đang xiết chặt vào? Làm thế nào dự liệu hết những chuyện kẹt đường trong thành phố? Vâng, người ta đã cố gắng hết sức những gì có thể. Họ đã dự liệu kế hoạch cho trực thăng quân đội hoặc trực thăng Air America bốc người từ nóc thượng, nhét người vào những chuyến xe buýt càng đông càng tốt để có thể rút bớt việc nghẽn xe trên đường phố. Nhưng ông cũng hiểu, tôi chắc chắn nếu người ta có tới Hoa Thịnh Đốn vác mấy cuốn cẩm nang phòng vệ dân sự ra xem, thì trong trường hợp bị tấn công nguyên tử, có lẽ người ta cũng chỉ viết mấy chuyện như tài xế xe buýt phải có trách nhiệm chở người ra khỏi thành phố, vân vân.
Đấy, các kế hoạch thường vẫn thiếu phù hợp với thực tế như thế.
Hình minh họa
Và nhiều kế hoạch cũng đã được viết từ trước bởi những người không thể thấu hiểu hết mọi chuyện có thể xảy ra. Cho nên, chỉ đến khi các cậu bé bự bắt đầu bước vào tỉnh, nhìn thấy tận mắt những gì cần thiết thì kế hoạch thật sự mới được làm ra. Như khi họ bảo cần phải có một số hệ thống máy truyền tin cụ thể nào đó, họ có thể nêu ra đủ thứ vấn đề then chốt mà có lẽ họ phải đối đầu, nhưng thật ra, ngay cả đến mức ấy, cuối cùng cũng chỉ là những dự liệu tạm. Đúng như vậy, ông hiểu không? Người ta đã chất đủ trực thăng lên chiến hạm, đã đưa đủ chiến hạm đến biển Nam Hải, đã có đủ Thủy Quân Lục Chiến, đã có đủ các máy móc truyền tin, nhưng cho đến khi bắt đầu vào việc thì cuối cùng cũng phải giơ tay lên mà la ó và ra thủ hiệu thôi.
Trong thời gian di tản, tôi đã nói chuyện với tướng Carey ở ngoài chiến hạm Blue Ridge qua điện đài của Trưởng toán trực thăng. Mỗi khi chuồn chuồn bay vào, tôi thường chạy đến, người trưởng toán thường trao máy để tôi nóỉ chuyện vối ông tướng ngoài chiến hạm.
Bấy giờ trong suốt thời kỳ dự liệu kế hoạch, người ta đã bàn thảo về việc có hai chuyến CH-6 sẽ bốc người trên sân thượng để dành cho đại sứ và nhóm người cuối cùng. Cách người ta tính toán lúc ấy là cứ hai mươi người một chuồn chuồn. Như thế tức là chúng tôi chỉ tính bốc đi có lẽ từ hai mươi đến bốn mươi người ra từ tòa Đại sứ. Còn tất cả những người khác thuộc Tòa Đại sứ và ở trong thành phố sẽ được chở xe ra Tân Sơn Nhất. Rồi một lúc thuận tiện nào đó, sau khi mọi việc xong xuôi, Đại sứ sẽ ra đi.
Trong những ngày cuối tháng Tư ấy, chúng tôi làm việc 24 giờ mỗi ngày. Tôi dàn xếp với Trưởng xạ thủ, Trung sĩ J.J. Valdez, là phải giữ lính Thủy quân lục chiến không có nhiệm vụ ở lại Tòa Đại sứ chứ không cho về trại nữa. Lính tráng lễ mễ khiêng đồ đạc vật dụng vào ngay Tòa Đại sứ, ngủ trên ghế bố trong cao ốc bên cạnh hồ tắm. Chúng tôi tiên liệu tình thế sẽ xấu hơn.
Ngày một ngày hai, chúng tôi đều phải họp bàn xem phải hành động thế nào trong trường hợp đóng cao ốc, liệu có nên mang người vào trong và để cho những người khác ở ngoài không. Rồi làm thế nào chúng tôi thoát khỏi cao ốc, những chi tiết đại loại như thế. Bây giờ việc giữ an ninh cho văn phòng Tùy viên Quân sự ở Tân Sơn Nhất được phụ trách bởi một số người trong Bộ binh, Không quân và một số người khác – Vâng, trong tuần ấy họ đã cho biết là họ cần thêm người phụ giúp, những người thuộc loại bảo vệ an ninh đã được huấn luyện đàng hoàng. Họ yêu cầu chuyện ấy với Phó Đại sứ Wolf Lehman. Đầu tiên, tôi bảo Valdez đến từ chối không gửi được. Nhưng sau, có vẻ như họ thực sự rất cần người, nên tôi tự mình lên gặp Lehman, trình bày việc ấy không phải là ý kiến tốt. Nhưng Phó Đại sứ Lehman khẳng định phải gửi. Tôi nhớ ông ấy bảo phải đưa 16 Thủy quân Lục chiến đến canh phòng vòng rào Văn phòng Tùy viên Quân sự. Vì thế, tôi điện thoại đến văn phòng, nói chuyện với một Đại tá và một Thiếu tá Thủy quân Lục chiến đã ở ngoài ấy. Tôi bảo họ: “Nếu tôi gửi bọn nhỏ đến, quý vị chăm sóc chúng được chớ? Quý vị chắc chắn hộ là khi trực thăng bay đi thì đừng quên mấy thằng nhỏ nhá! Lỡ có gì bọn này chẳng thể vọt qua tỉnh mà lo cho mấy thằng con đâu. Bọn này phải có dự liệu trước mọi chuyện chu tất vậy thôi”.
Họ nói sẽ lo liệu cho mấy thằng nhỏ tôi gửi đến. Thế là với lệnh của Phó Đại sứ Lehman, tôi gửi đi một Trung sĩ xạ thủ tên Martin và mười lăm Thủy quân Lục chiến trẻ tuổi khác. Chúng tôi chọn đám này vì tương đối họ mới đến đơn vị, họ cũng không thắc mắc gì khi được gửi sang bên ấy. Họ cũng hiểu là có lẽ họ sẽ đi thẳng từ bên ấy. Hạ sĩ Darwin Judge và Hạ sĩ Charles Mc Mahon có mặt trong toán này. Judge và McMahon hai cậu cai mới tinh. Họ mới trình diện, chưa hề bỏ một tuần canh nào tại Tòa Đại sứ, vì thế đó cũng là lý do để xếp họ vào toán đi canh văn phòng Tùy viên Quân sự.
Bấy giờ là sáng 29 tháng Tư, sau bốn giờ sáng một chút, quân đội Bắc Việt di chuyển đến, bắt đầu pháo Tân Sơn Nhất, vài quả rốc kết rơi ngay doanh trại văn phòng Tùy viên Quân sự. Rồi tôi nhận tin có một số thiệt hại xảy ra cho lính Thủy quân Lục chiến. Tôi hãy còn nhớ cú điện thoại ấy. Chúng tôi dùng hệ thống điện thoại thường của Saigon gọi đi gọi lại để lấy tin. Tôi nói chuyện với một sĩ quan Thủy quân Lục chiến, với một Đại tá Bộ binh, rồi với đủ mọi người mà tôi có thể bắt được đường dây- Họ cho biết hai thằng nhỏ của tôi đã bị giết – Judge và Mc Mahon. Chết ngay tức khắc vì một cú bắn trực tiếp. Họ đang ra ngoài kiếm thi thể xem còn lại gì chăng. Chẳng gì sót lại. Một mẩu chân cụt đã cháy, dăm miếng thịt còn rơi vãi. Họ nhét tất cả vào bao. Mấy cái bao được ghi chú rõ rồi bỏ lên xe cứu thương chạy vào bệnh viện Cơ Đốc. Đấy là những thủ tục tiêu chuẩn phải thực hiện trước khi chết. Mọi thứ được thực hiện đúng sách vở. Tin tức sẽ chuyển sang Mỹ, gia đình họ sẽ được thông báo và không có gì lầm lẫn trong các bản báo cáo nữa.
Hình minh họa
Tôi định gọi cho sĩ quan khác phụ trách, những người chứng kiến nội vụ để yêu cầu giải thích lý do xảy ra, bởi tôi chẳng cách gì có thể rời tòa Đại sứ ra tận nơi xem xét được. Nam Việt Nam đã di chuyển một số máy bay từ phi trường Biên Hòa đến Tân Sơn Nhất. Tất nhiên, những máy bay ấy đã trở thành mục tiêu của Bắc Việt khi họ đến. Sau khi đã dựng dàn pháo ở khu vực Biên Hòa, và đã tiến đến gần như thế, họ bắt đầu bắn vào các máy bay ở Tân Sơn Nhất. Doanh trại Tùy viên Quân Sự nằm ngay trên đường bắn. Chỉ cần một sai chạy nào đó trên đạn đạo, nếu rơi gần là đạn trúng ngay xuống doanh trại Tùy viên Quân sự thôi. Tôi thành thật nghĩ quân Bắc Việt không có ý định bắn Văn phòng Tùy Viên Quân sự. Họ chỉ bắn máy bay Nam Việt nam mà xảy ra chuyện ấy.
Trách nhiệm của tôi là giúp trực thăng hạ cánh. Tôi đã quan sát một vài địa điểm bên ngoài bờ tường Tòa Đại sứ, và đã ghi chú những địa điểm ấy. Còn bên trong sân Tòa Đại sứ, tôi đi đến kết luận là phải hạ bỏ cái cây lớn cản lối thì trực thăng mới xuống được. Nhưng Đại sứ Martin đến nói riêng với tôi là nếu tôi chỉ chạm một ngón tay lên cái cây ấy, thì tôi sẽ có chuyện lôi thôi với ông ngay. Cái cây đã trở thành một biểu tượng. Đã có khối chuyện tiếu lâm về cái cây này, tôi xin nói cho ông biết.
Đã có lần, có người khoanh dây thừng chung quanh gốc cây, họ buộc vào đấy một cái rìu và một tấm bảng nhỏ. Họ đề là: “Bực bội quá hả? Thử bửa một nhát coi!”. Vâng, tôi đã để mắt đến cái cây ấy vì chừng nào nó còn đứng đấy, trực thăng không thể đáp xuống an toàn. Tôi không nhớ đích xác giờ nào người ta quyết định cho chặt. Bấy giờ, sau buổi trưa, có lẽ khoảng trước ba giờ, cuối cùng Martin đồng ý. Ông ta bảo: “Thôi được, làm đi, hạ cái cây xuống!”. Thế là mọi người xúm vào rất mau. Cả bọn gồm an ninh tòa Đại sứ, lính Hải quân Tạo tác, Thủy quân Lục chiến, ngay cả mấy tay nhà báo úc Đại Lợi, Tân Tây Lan cũng xúm vào. Sau khi cái cây khốn nạn được hạ, bưng vác quét dọn xong xuôi, tôi bèn bảo Thủy quân Lục chiến và Hải quân tạo tác chạy ra ngoài kiếm một mớ sơn phát quang. Tôi muốn vẽ một chữ H thật to. Mọi chuyện đã được thực hiện xong trước 5 giờ chiều hôm ấy.
Tôi biết thời gian gấp rút. Nhưng tôi hãy còn cảm thấy bình tĩnh. Tôi trấn an Đại sứ về việc sau rốt chúng ta cũng phải điều chỉnh lại lịch trình của trực thăng từ văn phòng Tùy viên Quân sự sang bốc người bên tòa Đại sứ, vì chẳng thế nào chỉ sử dụng chỗ đậu xe trên nóc thượng mà thôi. Cần phải có trực thăng lớn để chuyển người đi.
Vâng, chỉ một chặp sau khi chuồn chuồn lớn bay vào Tân Sơn Nhất, tôi điện thoại cho Đại tá A.M. Gray, người phụ trách ngoài ấy, để ông biết chúng tôi đang gặp khó khăn trong việc đương đầu với đám đông. Ông đồng ý gửi thêm Thủy quân lục chiến cho tôi. Tôi nghĩ là có chừng một trăm cậu lính trẻ từ Biệt đội đổ bộ 2/4 của Đại tá George Slade được phái đến tăng cường Tòa Đại sứ.
Từ sau vụ pháo đêm 28, phía Nam Việt Nam ban hành lệnh giới nghiêm ban đêm. Một nỗi sợ hãi đang bành trướng, từ từ trở thành hỗn loạn. Người Việt tụ tập phía ngoài Tòa Đại sứ. Tôi bắt đầu lo ngại thực tình. Đến trưa ngày 29, tôi phỏng định có khoảng mười ngàn người bu quanh phía ngoài tòa Đại sứ, và chúng tôi chỉ có chừng 160 lính canh Thủy quân Lục chiến để giữ an ninh khu vực. Không đủ Thủy quân Lục chiến để canh mấy bức tường giữ cho người ta đừng leo vào trong Tòa Đại sứ. Mấy bức tường có vẻ khá chắc chắn, nhưng một khi họ quyết tâm tràn vào, chỉ có Trời mới gạt họ được. Chúng tôi đặt người trên bờ tường để mong bảo đảm là người bên ngoài không nhảy qua, hoặc leo qua được. Ngoài ra, làm sao biết rõ những bên ngoài là ai? Chúng tôi, và nói chung lính Thủy quân lục chiến đều biết những người bên ngoài đơn thuần chỉ là những người Việt Nam muốn đi Mỹ. Nhưng trong đám đó, cũng có những tay phá rối, có thể có cả những đội ám sát, những tên mang theo khí cụ phá hoại, những thứ như thế. Chúng tôi đã nhận được lời báo động từ phía quân đội Nam Việt nam thông qua Trung ương tình báo suốt buổi trưa hôm ấy.
Hình minh họa
Đại sứ muốn lái chiếc xe của ông ra ngoài cổng để đi vòng về phía tư thất. Ông yêu cầu tôi cho mở cổng (Khúc này đã được một nhóm phóng viên làm tin đứng thu hình hết mọi chuyện). Tôi trả lời: “Vâng, thưa Đại sứ, tôi sẽ cố gắng”. Thế là Trung sĩ xạ thủ Schlager, cùng với vài cậu Thủy quân lục chiến và tôi mở cánh cổng ra. Nhưng chẳng có cách trời trăng gì mà mở cho nổi. Tôi quay lại bảo ông: “Thưa Đại sứ, với tất cả sự kính trọng của tôi, chẳng có qủy thần nào đưa xe ngài ra khỏi đây được. Xin khuyên Ngài trở lên lầu thì hơn”. Đến phút ấy. Đại sứ nổi đoá. Ông bước ra khỏi xe, mặt xám ngoét. Ông đóng sầm cánh cửa lại, bước đi. Tôi bảo Valdez: “Sau vụ này tao tuột xuống binh nhất là cái chắc”. Nhưng trưa hôm đó, Đại sứ Martin đến tìm tôi. Khi thấy tôi, ông đặt tay lên vai mà bảo: “Anh đã làm việc rất đúng đắn”. Ông ta như thế đấy. Bấy giờ người ta đang chịu nhiều áp lực thực khủng khiếp.
Nhưng Trời hành tôi, vì ông ta vẫn lại đi bộ về nhà cùng với đám lính cận vệ của ông. Chúng tôi vội tập họp người đi cửa sau vòng qua Tòa Đại sứ Pháp, ra đường mà đến tư thất ông. Đám Thủy quân Lục chiến vào đến đấy, sử dụng lựu đạn tiêu hủy tất cả mọi thứ còn lại trong cái két sắt. Trong nhà để xe hãy còn chiếc Jeep, chúng tôi nổ máy đưa ông chạy từ tư thất về lại Tòa Đại sứ. Khi ông trở lại, chúng tôi đều biết đã đến lúc ông sắp rời khỏi xứ.
Có một cái cửa hai chiều được dựng ngay trong nhà ăn thuộc khu giải trí, thông sang Tòa Đại sứ Pháp. Tôi giữ kế hoạch nguyên thủy của Đại sứ Martin là sẽ vào trong ấy để nếu có chuyện gì xảy ra, ông sẽ đợi đấy mà trình ủy nhiệm thư. Tôi nghĩ ông đã dự định ở lại, nhưng rồi kế hoạch được thay đổi sau những giờ phút trôi qua.
Suốt buổi trưa, buổi chiều tối hôm ấy, chúng tôi biết có một người chúng tôi cần phải đưa đi nhưng hãy còn kẹt trong đám đông ở phía ngoài. Tuy nhiên, chúng tôi không thể mở cổng được. Cho nên, nếu cần đưa ai vào, chúng tôi cho người leo lên tường, thòng tay xuống kéo lên. Thôi thì nắm cổ áo, nắm tóc, giật lên giật xuống thật là khổ. Bọn Thủy quân Lục chiến kéo người như khiêng thịt. Một tình trạng tuyệt đối hỗn loạn. Suốt buổi trưa hôm ấy tôi đã được nghe nhiều chuyện xảy ra suốt dọc bờ tường. Những chuyện thật kỳ lạ. Nhiều chuyện thật đáng buồn. Một cậu Thủy quân Lục chiến đã được người ta dúi vào tay cả một bao giấy đựng đầy ngọc quý chưa cắt. Hắn trả lại, bao ấy là của một thương gia giàu có người Tàu muốn được đưa cả gia đình ra khỏi nước trước khi quá muộn.
Mấy cánh cổng chúng tôi đã cho xiềng khóa chặt. Chúng tôi đặt Thủy quân Lục chiến đứng canh. Bất cứ trường hợp nào cũng không mở cổng, bởi vì người ta đè vào. Một khi cánh cổng hé ra, nó sẽ bung, người sẽ như nước lũ tuôn, không cách chi chặn được.
Suốt thời gian ấy tôi luôn luôn ý thức cao độ và chính xác tất cả những gì chúng tôi đang làm. Chúng tôi đang tháo chạy. Tất nhiên cũng có nhiều cậu Thủy quân Lục chiến trẻ người non dạ hãy còn nhìn cách khác. Theo cách quan tâm của họ, người Mỹ hãy còn đang tham dự vào cuộc chiến. Thế đấy, có lẽ cũng có khá nhiều người khác cảm thấy như thế, nhưng thật ra, một cách chính thức thì từ 1973, chúng ta đã phủi tay xong xuôi. Bây giờ là lúc chúng ta ra đi thôi. Và nếu phải đi thì có lẽ đây là cách duy nhất để chúng tôi ra đi được. Phải đi với cái cách ấy, hoặc cứ ở lại tái tục cả một trận chiến khốn nạn lần nữa. Rồi rõ rệt quân Bắc Việt đang nhịp chân bước vào. Tôi muốn nói, quỷ thần ạ, họ có đến tất cả 17 Sư đoàn tiến vào Saigon. Mười bảy sư đoàn cả thảy! Nhưng tôi nghĩ, mặc dầu vậy, cái lối quân Bấc Việt kéo đến bao quanh thành phố, là cái lối họ mời chúng tôi ra đi cho. Hiển nhiên họ đã mở một hành lang để trực thăng bay vào bay ra mà không hề có một hành vi thù địch. Họ không muốn lộn xộn gì với người Mỹ. Điều ấy thực rõ rệt. Tuy vậy, hiển nhiên vẫn có một sự kiện nguy hiểm là bất kỳ lúc nào nếu có sự tiếp giáp của những đơn vị nhỏ, chẳng ai có thể kiểm soát hết mọi chuyện cho được. Nếu bất cứ lúc nào họ khai hỏa bắn lính Mỹ, người ta sẽ lại phải chơi toàn bộ một trận mới nữa. Như thế chúng ta cũng phải quay về lại với chiến tranh thôi.
Hình minh họa
Tất nhiên, đệ thất hạm đội cũng đã có sẵn 9,000 lính Thủy quân Lục chiến liên tục đặt trong tình trạng báo động từ 48 giờ qua. Họ được đặt sẵn trên tàu và được trang bị đủ thứ vũ khí đầy ắp đến tận răng.
Buổi trưa hôm ấy chuồn chuồn gặp khó khi tiến vào bãi đậu. Sự việc không người nào bị thương tích gì quả đã là một bản tuyên dương nghề nghiệp cho những tay đi bay. Họ tỏ ra tuyệt vời. Họ đã bị bắn sẻ bởi những bọn hôi của, những bọn có vũ khí ăn cắp mà chúng tôi gọi là bọn cao bồi. Trong lúc tranh tối tranh sáng người ta có thể nhìn thấy những vạch đạn bắn lên, và những khi như thế tôi gọi cho các phi công trực thăng đang tiến vào mà bảo: “Chúng nó đang bắn bạn” thì họ đáp: “Biết rồi! Biết rồi!”. Vài chiếc trực thăng bị những lỗ đạn, nhưng chả làm gì được. Nếu những bọn cao bồi ở trên những cao ốc bên kia mặt đường tòa Đại sứ, và chúng tôi thấy được tia lửa tóa ra từ khu ấy, thì chúng tôi chỉ có cách gọi cảnh sát Việt Nam lên thử dẹp đám khốn nạn bắn bừa ấy thôi.
Các phi công trực thăng cũng gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng. Họ chỉ có khoảng 70 bộ Anh theo chiều thẳng đứng để hạ xuống tòa Đại sứ. Họ phải lượn đến, bay lởn vởn rồi hạ 70 bộ xuống cái lỗ này, và bề rộng không được bao nhiêu. Lỡ mất một cái trực thăng là hỏng hết, tin tôi đi.
Sức chở bao nhiêu là họ phải nhồi người vào trong chiếc chuồn chuồn bấy nhiêu. Sau đó họ phải tìm cách bay thẳng đứng, thay vì theo phương thức “chuyển động tịnh tiến” nghĩa là cho chuồn chuồn bốc khỏi mặt đất rồi liệng về phía trước. Không đủ chỗ làm chuyển động tịnh tiến. Đúng y chang là họ phải bốc thẳng lên khỏi 70 bộ Anh. Tôi còn nhớ rõ một chiếc trực thăng mà tay phóng viên Ken Kashiwahara của hãng ABC đã leo lên. Quỷ thần ạ, cái trực thăng cố bốc mà bốc hết nổi. Họ phải thả bớt người xuống, lại cố bay lên, vẫn không xong. Lại gạt thêm người xuống nữa. Cuối cùng gạt đủ số mới bay lên được. Chúng tôi bảo cha phi công: “Vác bố nó cái trực thăng khặc khừ chó đẻ này cất đi cho được việc!”.
Trong lúc cuộc di tản diễn ra, tôi cũng đã nghe chuyện các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp của quân đội Việt nam bỏ chạy. Tuy nhiên, đích mắt tôi không thấy ai. Lính Thủy quân Lục chiến điện thoại bảo tôi họ thấy một người Việt cao cấp nhảy vào chiếc C-141 ở Tân Sơn Nhất, thắt giây lưng lại mà đi. Trong tình trạng rối loạn ấy cũng chẳng có gì bất thường khi chứng kiến những người bỏ hàng ngũ chạy. Nhưng chúng tôi biết nhiệm vụ chúng tôi cũng giống nhiệm vụ của người lính cứu hoả. Chúng tôi phải ở lại cho đến phút chung cuộc cay đắng. Chúng tôi phải ở lại và phải chứng kiến cảnh tượng đầy những người đang trốn trước chúng tôi.
Với bao con người, với những chiếc chuồn chuồn túi bụi bay vào bay ra, lúc ấy thực ồn ào hết sức. Tất nhiên rất mất trật tự. Có lẽ, tôi có thể nói nó kém trật tự so với các phi trường ở New York, nhưng hãy còn trật tự hơn một trận tranh giải túc cầu ở Peru.
Hình minh họa
Suốt buổi trưa và buổi tối hôm ấy, người ta mặc nhiên xem như tất cả mọi người trong phạm vi tòa Đại sứ sẽ được ra đi, mặc dầu điều ấy không bao giờ được loan báo cả. Tôi không nghĩ là có sự loan báo chính thức nào về chuyện ấy. Nhưng ông biết, bền bỉ như các phi công Thủy quân Lục chiến rồi cũng chẳng bay mãi được. Đôi lúc họ hết xăng. Đôi lúc họ cũng phải nghỉ ngơi, ngủ nghê. Tuy nhiên, chúng tôi cần phải tin rằng tất cả mọi người sẽ được ra đi. Điều tin tưởng ấy làm cho nơi này tương đối êm ả.
Nhưng lúc nào mà chẳng có cái nguy cơ của sự hỗn loạn. Dĩ nhiên, luôn luôn có những kẻ nóng nảy khùng điên. Và mỗi khi trực thăng đến, chúng tôi đều nhét người vào càng nhiều càng tốt, rồi đếm xem số còn lại bao nhiêu. Những người còn lại luôn luôn tỏ ra bồn chồn lo lắng. Nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục tập trung vào công việc. Với sự làm việc, chúng tôi đã rút bớt mối nguy cơ hỗn loạn xuống mức tối thiểu.
Công việc tôi lúc ấy là phải lo kiểm soát truyền thông. Tôi có một máy truyền tin xách tay của Thủy quân Lục chiến, nhờ đó có thể liên lạc được với tất cả các Thủy quân Lục chiến khác. Tôi phải lo bãi đậu trên nóc thượng Tòa Đại sứ. Tôi phải hướng dẫn chuồn chuồn ra vào. Các phi công cần định điểm chỗ tôi đứng, để tôi hướng dẫn họ vào. Tôi có thể nhìn tất cả mọi chuyện diễn ra trên nóc thượng và từ trên ấy tôi có thể thấy hết mọi bờ tường. Tôi cần phải đóng vai trung tâm, luôn luôn hiện diện cho mọi người thấy để đôn đốc công việc. Tôi bận bịu như thế suốt đêm ngày cho đến nỗi mắt cá chân sưng phồng, đi không nổi.
Mỗi lần cần chỉ thị của Đại sứ Marrtin, tôi lại phải tự mình chạy kiếm ông già. Có lúc ban đêm, tôi chạy quanh, khi thì leo bực thang, khi thì đi thang máy để kiếm ông già hỏi xem kế hoạch thế nào. Có lúc lên tuốt nóc thượng, đeo máy truyền tin nói chuyện với chiến hạm, rồi lại ba chân bốn cẳng chạy xuống. Lúc nào cũng bận bịu chạy lên chạy xuống như thế. Một lần tôi và Valdez vừa bước vào thang máy thì ông già – Đại sứ Martin – đã đứng trong ấy với Polgar, viên Trưởng nhiệm sở Trung ương Tinh báo. Polgar đã tuyên bố vớ vẩn gì đó, ông già Martin biết được và không bằng lòng. Tôi còn nhớ lúc ấy Martin rõ rệt đang hết sức giận dữ. Martin bảo anh ta: “Nếu tôi còn nghe anh nói bất cứ chuyện gì như thế thì anh sẽ được xuống Nam cực làm việc cho đến mãn đời!”. Suốt lúc ấy Valdez và tôi đã cố thu mình cho họ khỏi trông thấy.
Lúc ấy Martin trông rất mãnh liệt. Nhưng xin nhớ đã bảy mươi tiếng đồng hồ qua hoặc hơn nữa, ông chỉ được nghỉ ngơi rất ít. Và ông cũng không còn là một thanh niên trai tráng.
Đêm buông xuống. Đám người trong sân tòa Đại sứ vẫn đông đầy. Tôi nhận ra rằng cần có đèn, nhưng mấy cột đèn trong tòa Đại sứ không sáng nữa. Vì thế chúng tôi bèn mang những chiếc xe hơi trong Tòa Đại sứ ra sắp thành vòng bán nguyệt. Chúng tôi xem xét lại xăng trong xe, mở máy nổ, cho để đèn sáng. Sau đó chúng tôi gọi phi công trực thăng khi họ bay vào để soát lại cho chắc: “Các bạn có thấy rõ không”. Họ đáp “Thấy”. Nhưng đêm khuya hôm ấy, tình trạng trở nên rất căng. Chúng tôi hiểu bắt buộc phải đặt một giới hạn cho con số người đi. Thế là chúng tôi chạy quanh để đếm người xem ai được đi, ai phải ở lại. Việc ấy thực nhẫn tâm.
Vấn đề luôn luôn có kẽ hở. Chẳng cách nào Martin có thể định được chính xác số người. Tôi nghĩ có lẽ sẽ đưa đi được khỏi tòa Đại sứ 2,500 người là dứt. Nhưng đêm hôm ấy, bất cứ lúc nào số người trong sân tòa Đại sứ cũng có vẻ y như cũ, không hề suy suyển gì.
Trước đấy vào buổi chiều có lúc các chuyến bay đã tạm ngưng, người ta quyết định chuồn chuồn không bay sau 5 giờ. Nhưng rồi lại đổi, người ta quyết định sau trời tối, vẫn cứ bay. Rồi lại phải quyết định: Bay bao nhiêu lâu sau khi trời tối? Sau này, người ta cho tôi biết: Tướng Lou Wilson, người sẽ trở thành Tư lệnh Thủy quân Lục chiến, lúc bấy giờ đang là Tướng chỉ huy Thủy quân Lục chiến thuộc Hạm đội Thái Bình Dương, đã ra lệnh chuồn chuồn tiếp tục bay đến khi nào bốc hết người trong tòa Đại sứ và tại văn phòng Tùy viên Quân sự mới thôi.
Hình minh họa
Họ tiếp tục bay. Nhưng lại có vụ tạm ngưng lần thứ hai. Lần này là lần chúng tôi được tin đích thân Tổng thống Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ ra lệnh: Chỉ 20 chuyến nữa là phải chấm dứt. Hết.
Và rồi mọi sự đã xảy ra như thế này: Một cậu hạ sĩ quan đứng trên nóc sân thượng với khẩu súng máy đã gọi cho tôi. Hắn bảo: “Chuồn chuồn của Đại sứ đã đến rồi”. Tôi trả lời: “Hãy khoan, cần có thêm chỉ thị đã”.
Chiếc trực thăng đã vào khu vực để đợi Đại sứ Martin và đoàn tùy tùng ra đi. Chiếc trực thăng này được chỉ thị cụ thể là chỉ có nhiệm vụ đón Đại sứ. Ông Đại sứ chưa có mặt trên chỗ đáp. Tôi đến lấy chiếc điện đài của trưởng toán phi hành, gọi thẳng cho tướng Carey. Tướng Carey bảo Tổng thống Hoa Kỳ đã chỉ thị là Đại sứ phải đi ngay bây giờ. “Và những chuyến bay sau đó chỉ được dành cho….” tôi hãy còn nhớ câu nói này, vì lúc đó với tôi, nghe có vẻ thực khôi hài… “Các nhân viên Thủy, Bộ Hoa Kỳ mà thôi”. Tướng Carey lập lại với tôi những khẩu lệnh của thượng cấp như thế. Tôi giải thích với tướng Carey tình trạng bây giờ của tôi như sau: “Lính của tôi đang ở trên bờ tường. Giữa bờ tường và cánh cửa tòa nhà Đại sứ là khoảng bốn trăm người đang đợi di tản…” Tôi không nhớ chính xác từng chữ, nhưng tôi đã nói rất cẩn thận “Tôi mong Ngài hiểu rõ khi rút lính Thủy quân Lục chiến vào tòa nhà Đại sứ, tức là những người ấy sẽ bị bỏ lại”. Tôi muốn chuyện ấy phải được hiểu thật rõ và tôi không muốn trở thành người gánh chịu trách nhiệm về việc bỏ những con người ấy lại. Tôi đã sửa soạn mang họ đi, và tôi hiểu lệnh của ông ta là không bao gồm những con người này. Tôi biết lời điện đàm của tôi đang được phóng thanh trên mấy cái loa tại phòng chiến sự, như thế những nhân vật chỉ huy của chiến hạm U.S.S Blue Ridge đều được nghe thấy rõ. Tướng Carey hiểu thế.
Ông lập lại lệnh một lần nữa: “Tôi muốn anh hiểu rõ: Đây là chỉ thị của Tổng thống Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ”.
Tôi đáp: “Thưa Ngài, vâng”.
Trong lúc Đại sứ đang đợi, tôi cho một cậu hạ sĩ trẻ ôm súng máy đứng canh chiếc trực thăng.
Tôi bảo hắn là tôi không muốn chiếc chuồn chuồn này bay đi cho đến khi nào chuyện này được giải quyết xong. Rồi tôi đến trình với nhóm tùy tùng của Đại sứ biết về các chỉ thị tôi nhận được. Chính đây là lúc mà Ken Moorefield đã nói với ông Đại sứ một câu lịch sử: “Đã đến lúc phải ra đi!”.
Đại sứ Martin nhìn về phía tôi một lát. Ông không nói một lời. Không biểu lộ một xúc cảm nào. Trông ông mệt mỏi. Ông biết giây phút buồn bã này trước sau cũng đến. Chợt nó đến.
Ông lên sân thượng, bước vào chiếc trực thăng, rời Việt Nam. Ông mang theo bên ông lá cờ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Tôi rời văn phòng, xuống nhà. Đại tá Bộ binh John Madison, tùy viên Ủy Ban Liên Hợp Quân sự bước đến phía tôi. Tôi bảo ông không còn chuyến bay nào cho thường dân nữa, và đã đến giờ phải đi
Hình minh họa
Lúc ấy vụ cãi cọ xảy ra. Đại tá Madison muốn đưa tất cả các thường dân đi. Tôi bảo ông không còn cách gì. Ông bảo ông từ chối không đi, trừ phi chúng tôi mang hết 400 người ấy đi. Tôi bảo ông là tôi có chỉ thị của tôi. Tôi nói xin cứ ra ngoài tàu rồi giải quyết chuyện này, còn bây giờ là lúc phải đi thôi. Trong lúc đang cãi cọ như thế thì nhân vật số hai của Đại tá Madison bước đến dòm ngó chiếc trực thăng. Ông ta muốn chắc chắn là sẽ có chỗ trên chuyến bay ra. Đại tá Madison trừng trừng nhìn tôi với vẻ mặt mất tinh thần. Ông không biết làm gì nữa. Ông giơ hai tay trên trời, quay lưng bước đi. Trong số 400 người bị bỏ lại sân tòa Đại sứ, có rất nhiều người tốt. Cho đến nay, tôi vẫn còn cảm thấy áy náy về chuyện ấy.
Bên phía khu giải trí, qua bên kia bức tường, cạnh hồ tắm có một quầy rượu. Mấy ông ngoại giao Nam Hàn đã phóc vào trong ấy. Họ uống hơi quá chén một chút. Anh nào anh nấy lăn ra ngủ khò. Khi tỉnh dậy, cuộc di tản sẽ dứt điểm. Cho nên khi hơi men đã hết, chắc chắn một tràng tiếng Cao Ly sẽ được xổ ra, nó sẽ có nghĩa là: “Đ…đ…đù mẹ! Mấy cái trực thăng bỏ mình lại đây mà bay mất tiêu rồi!”
Trong lúc di tản cũng có nhiều người khác uống rượu. Một số rất đông đã nhậu, nhưng không say. Trong tòa nhà Đại sứ, trên tầng ba cũng có một quầy rượu. Rất đông các nhân vật then chốt đã nhậu, mặt đỏ ké. Thế đấy, chỉ trong vài giờ đồng hồ nữa, cuộc đời họ sẽ rã rời. Nói cho thẳng ra, đó là lý do vì sao tôi chỉ thích tiếp xúc trực tiếp với Đại sứ Martin. Tôi biết ít nhất là mặc dầu mệt mỏi, ông vẫn tỉnh táo. Tôi không thích phải nói chuyện với ai ngoài ông, đặc biệt với mấy cha nhậu nhẹt mặt đỏ nhừ.
Đến gần cuối chiến dịch di tản, tôi rất ngạc nhiên khi thấy một người đàn bà trong tòa Đại sứ. Tôi thường gọi cô ta một cách thân mến, với một cái tên: “Hilda, cô vắt sữa”. Bởi vì cô có bộ ngực bự sự, dáng dấp tháo vát, khỏe mạnh. Đấy là một người đàn bà hết xảy. Tôi nghĩ cô ta là thư ký của một tay Trung ương tình báo, loại đàn bà có thể giúp sắp xếp công việc ngăn nắp đâu vào đấy. Thấy lính vất vả, cô xông vào, chẳng cần ai hỏi. Lăng xăng đưa người này cốc cà phê, hỏi người kia xem có cần gì không. Cô dừng lại bên tôi một lần, làm tôi thấy dễ chịu. Bởi vì cô nắm cánh tay tôi một lúc và nói: “Anh làm việc dữ quá, để em lo cho anh một cốc cà phê nhé?” Tôi còn biết trả lời gì nữa ngoài hai tiếng “Cám ơn”.
Sau khi Đại sứ và tùy tùng đã đi, bây giờ là lúc phải lo cho tất cả những người Mỹ khác ra đi. Chúng tôi dàn xếp với nhau là sẽ ra tín hiệu ở bãi đậu xe bằng hỏa châu loại cầm tay. Chúng tôi chuyển khẩu lệnh cho mọi Thủy quân Lục chiến biết khi tín hiệu ban ra, tất cả đều phải bắt đầu lùi về phía cửa, lập thành một hình vòng cung bao ngay trước mặt tòa Đại sứ. Dĩ nhiên tất cả đều hiểu khi lùi khỏi bức tường là người bên ngoài sẽ tràn vào, những người ở trong sân tất sẽ rối ren hoảng hốt. Hẳn việc ấy sẽ xảy ra vì đám người này bị bỏ lại, trái với lời chúng tôi đã suốt đêm hứa hẹn với họ. Thế là tôi cho người đi vào trong những cánh cửa lớn bằng gỗ lim của tòa Đại sứ. Tôi bảo họ khi Thủy quân Lục chiến lùi về phía họ, họ phải để mắt canh chừng đám đông. Những người đứng trong cửa phải tiếp tay lôi lính ngay vào cho nhanh. Tôi sắp đặt để cho càng ít phải sử dụng bạo lực càng tốt. Mọi sự xảy ra y như vậy. Hỏa châu đốt lên, cuộc rút lui bắt đầu. Lúc đó chả khác địa ngục vỡ tung. Đám đông bên ngoài biết chuyện đang xảy đến, họ ý thức được họ đang bị Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ bỏ rơi, họ ào vào một cách hỗn loạn khủng khiếp. Một sĩ quan Hải quân tạo tác tiến lên. Anh mặc thường phục, người ngợm đồ sộ vạm vỡ. Anh vớ được cái đòn gỗ khổng lồ thường để cài cánh cổng. Anh ta khiêng lên, quài tay quay cái đòn, xoay mòng mòng. Ai vô phúc trúng một đòn là đo đất tức khắc. Đám đông lui trở lại. Anh ta cứ thế múa tới múa lui. Lúc ấy ở phía trong, người ta nắm lấy bọn Thủy quân Lục chiến mà kéo tuột vào rồi.
Tôi đưa tất cả mọi người vào trong nhà được an toàn thì bắt đầu kéo cái cửa sắt sau cánh cửa gỗ lim lại. Cửa này được điều khiển bằng máy, nhưng nó tắc nghẽn lưng chừng. Chúng tôi bèn bảo “kệ mẹ nó” rồi chạy lại phía thang máy. Chúng tôi bấm hai cái thang máy lên đến từng sáu thì cắt điện để không ai sử dụng thang máy được nữa. Rồi chúng tôi ùa chạy vào cầu thang lên từng sáu. Tại từng hai và từng bốn, có hai cánh cửa lưới. Chúng tôi đóng, khóa chặt lại. Tổng cộng chúng tôi có khoảng sáu mươi người, di chuyển lên từng sáu với một tác phong trật tự tương đối. Chúng tôi tiến qua cái hành lang dài từ từng sáu để lên từng thượng. Từ từng thượng lên chỗ đậu trực thăng, có một cái thang sắt ngắn. Chúng tôi cho đi cứ hai mươi người mỗi chuyến đến khi chỉ còn mười một người cuối cùng. Cho đến khi chỉ còn lại mười một người ở sân thượng, chúng tôi chính là lực lượng cuối cùng của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Hình minh họa
Tất cả bây giờ đều mệt lử. Đã mười hai giờ đồng hồ không ngủ. Vài cậu nhỏ ngồi bệt xuống, mắt nhìn mông vào quãng không. Nỗi băn khoăn lo lắng đến cao độ. Những người khác còn lại trong tòa Đại sứ đang kinh hoảng, tuyệt đối kinh hoảng. Họ đều muốn ra khỏi nước. Muốn thế, họ phải leo lên mái nhà, mà chúng tôi lại không cho phép làm chuyện ấy. Với những người còn lại trong tòa nhà, chúng tôi không có thể phân biệt được ai với ai, và những phiền phức có thể đến bất cứ lúc nào.
Hãy nhớ đây là những cậu Thủy quân Lục chiến ít tuổi. Ngày này, giờ này họ sẽ không bao giờ quên được. Nhìn họ, tôi nghĩ: “Trời ạ, mình đến cái chỗ lộn xộn này từ năm 1966. Còn họ, thực khó cho họ hiểu được tất cả những điều này có nghiã gì. Một mai đây, chẳng biết họ sẽ nghĩ sao về chuyện này?”
Chiếc trực thăng không đến đón chúng tôi ngay. Và thời gian trôi qua. Vài cậu nhỏ dựa lưng nghỉ. Rồi trôi vào giấc ngủ.
Ánh sáng bình minh ló dạng.
Chúng tôi đều tò mò muốn nhìn những gì đang xảy ra ở Saigon, trong ánh sáng của buổi sớm mai chúng tôi nhìn ra thành phố, chúng tôi có thể thấy bằng chứng của những gì xảy ra ban đêm. Hiển nhiên đã có những vụ cướp bóc hôi của, rác rưởi vương vãi. Tại một vài khu, lửa đang cháy, khói dâng cuồn cuộn. Những người không ngủ trong bọn tôi, nằm trên nóc thượng ngắm nhìn. Tôi không bao giờ được xác nhận vì chẳng có cách gì xác nhận được, nhưng có một đoàn xe mà tôi đoán là xe của Minh Cồ, tân Tổng thống Nam Việt Nam đã tiến qua ngay cửa Tòa Đại sứ, có xe Cảnh sát Quốc gia hộ tống. Họ rút súng bắn vào lũ hôi của để dẹp đường cho Minh tiến đến dinh Tổng thống. Tôi nghĩ ông ta đang tiến đến để sửa soạn chào đón quân đội Bắc Việt và đầu hàng.
Nằm trên ấy nhìn, chúng tôi cảm thấy khích động. Chúng tôi đang nhìn lịch sử tạo dựng, và cùng một lúc, chính chúng tôi cũng là một phần của lịch sử. Tôi còn nhớ việc ấy đã tạo nên một ấn tượng đặc biệt trong trí tôi, bởi vì chúng tôi chính là những người Mỹ cuối cùng được thấy, được nhìn.
Chúng tôi có thể nhìn thấy ánh lửa loé lên từ họng súng của quân Bắc Việt ở phía xa. Chúng tôi đã có cơ hội để suy tưởng suốt hai tiếng đồng hồ. Đó là những gì mà tất cả mười một con người chúng tôi đã làm: suy tưởng. Chúng tôi nhìn ngược lại các chuyện cũ, chúng tôi nói về những kinh nghiệm đã trải qua, và chúng tôi nghĩ “Trời ạ, thực lộn xộn”. Chúng tôi nhận thức được chính mười một con người chúng tôi đây gần như đã đại diện cho việc can thiệp quân sự cuối cùng của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Vào lúc đó, có người đã bày tỏ nhiều hối tiếc và cay đắng. Nhưng đây là những người khác, không phải tôi. Đấy không phải là cảm giác của tôi, bởi lẽ cái tôi cảm thấy là cuối cùng đây chính là chuyện tốt nhất. Và tôi nghĩ cũng đáng buồn. Tôi nhớ lại cái cảm giác thực rất giống cảm giác của một người lính cứu hoả sau khi đã suốt đêm cật lực chiến đấu chống ngọn lửa bên tiếng còi báo động liên hồi, để sau đó chấm dứt với một nỗi sầu muộn sâu xa. Để thấy sung sướng vô cùng vì ngọn lửa đã tắt. Nhưng nhìn đống tro tàn, vẫn không thể tránh được cái buồn bã u hoài.
Sau khi nói chuyện trầm lặng với nhau một lúc, tôi đã làm một chuyện đáng buồn cười. Trên sân thượng, có một đĩa ăng ten bắt qua vệ tinh. Trong cơn bực bội, tôi bước lại gần. Rút khẩu súng lục 45 ra, tôi trút hết đạn bắn vào cái đĩa khốn kiếp ấy.
Để ngăn người từ dưới nhà tìm cách đi lên, chúng tôi thả hơi cay xuống cầu thang. Chúng tôi sợ họ ùa lên, níu lấy chúng tôi mà tuôn vào trực thăng, nếu họ lên được.
Hình minh họa
Lúc ấy Steven Bauer đã làm một công việc quan trọng. Hắn là một hạ sĩ. Người nhỏ thó, hắn chui lọt vào cái lỗ cuối hành lang. Ở mỗi cuối hành lang có một lối thoát phòng hỏa, một trong những lối đó có cái cửa sổ bằng kính, bên trong là kim khí. Người ta đã đập cái cửa này để cố chui vào. Tay ôm vài trái lựu đạn cay, Bauer ngồi canh trong cái lỗ ấy. Hễ có ai thò vào, hắn lại thả một quả cay để xua ra. Chính hắn đã thủ vai hàng rào cuối cùng cho bọn chúng tôi.
Nhưng rồi có một cha ở phía ngoài tòa nhà cũng đã cố tìm cách leo lên mái với chúng tôi. Chúng tôi bèn giáng cho gã một nhát vào đầu. Cú ấy đủ cho gã tởn. Gã leo đã gần đến từng thượng thì mới có người thấy. Họ bèn ném cái gì đó không rõ, cú ấy đánh bật hắn té rụng xuống bên cạnh tòa nhà.
Suốt cuối đêm ấy cho đến khi mặt trời mọc, không ai biết chúng tôi đâu, trừ những người chạy theo. Những người này vào được cầu thang, quanh quẩn bên mấy chân thang. Những người này chắc chắn không được thoải mái, vì họ phải kiếm cho ra khăn ướt để bụm mặt mà thở. Trong hành lang sặc sụa hơi cay.
Tôi biết rất rõ chúng tôi còn lại bao nhiêu vũ khí đạn dược để ngộ lỡ quân Bắc Việt bắt đầu tấn công. Nhưng những ý nghĩ chỉ chạy thoáng qua đầu. Tôi không mất thì giờ nghĩ nhiều về việc ấy, vì lúc nào cũng phải bận rộn đối đầu với những việc xảy ra trước mắt.
Nhưng tôi muốn nhấn mạnh một sự kiện mà tôi cảm thấy rõ ràng: Quân đội Bắc Việt đã làm tất cả những gì có thể để cho phép chúng tôi đi quách khỏi nơi này trong vòng yên ổn trật tự. Và mối quan tâm của tôi bấy giờ không phải là lo bị quân Bắc Việt bắn, mà là lo phải chiến đấu để khỏi bị cầm tù. Mối quan tâm đó là: Trên phương diện kỹ thuật, đây chẳng là còn cuộc chiến tranh của chúng tôi nữa.
Chúng tôi ngồi chụm với nhau. Hình như Bobby Frain thì phải, moi ra một chai rượu. Chúng tôi chuyền tay nhau. Chúng tôi lặng lẽ chờ trực thăng đến.
Đúng trước 8 giờ sáng, tôi thấy chiếc trực thăng bay vào. Tôi nhận thấy nó tiến đến từ xa. Một chiếc CH 46 không hộ tống, từ phía đông mặt trời mọc, nó tiến đến đón chúng tôi. Tôi thấy nó trước khi nghe thấy tiếng. Tôi bảo mọi người sẵn sàng.
Cuối cùng, chiếc trực thăng đáp xuống, đúng vào lúc 7 giờ 58 hoặc 7 giờ 59 phút sáng. Chúng tôi lên trực thăng. Tôi nghĩ, một vài người trong bọn ý thức được rằng đây là giây phút cuối cùng. Giây phút của lịch sử. Chúng tôi chính là những người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Thoạt tiên, mọi người đều chạy đến trực thăng. Rồi trên sân thượng chỉ còn lại ba người: Bauer, Valdez và tôi. Bauer ngồi xa nhất nên anh ta là người sau chót đến bên trực thăng. Nhưng theo tôi nhớ, Valdez đã dừng lại ở đuôi trực thăng để bấm một tấm ảnh. Thật ra, tôi nhớ hắn đã bấm đến 2 tấm ảnh rất nhanh khi mọi người leo vào trực thăng. Tất cả chúng tôi đều mừng rơn vì được đón đi.
Trong lúc phi công chuẩn bị bốc, chúng tôi bị một luồng hơi lựu đạn cay. Anh phi công cũng bị dính. Bọn tôi không ai có mặt nạ chống hơi độc. Luồng hơi cay thoảng lên từ cầu thang, lọt vào trực thăng. Nhưng bây giờ anh phi công cũng bất kể. Chỉ mong đi nhanh cho thoát khỏi chỗ ấy thôi.
Khi vào trực thăng, ai nấy đều im lặng, mừng được ra đi. Không ai mở miệng nói gì suốt một lúc. Nhưng rồi cậu Trung sĩ Bobby Frain tìm được một cái máy truyền tin PRC-25 lăn trên sàn. Hắn lượm cái máy làm bộ vặn máy. Hắn diễn xuất hệt như đang nói chuyện với người trong máy. Cả bọn chúng tôi ngồi yên, ai nấy đều nghĩ “Mẹ kiếp, đi mau ra khỏi đây cho rồi”. Nhưng Bobby cất tiếng la lên. Tiếng hắn át tiếng cánh quạt bắt đầu kêu phành phạch: “Thưa Thiếu tá! Họ hỏi muốn ăn thứ bánh ‘pizza’ gì khi đến Manila?”
Tôi tin đó chính là câu nói cuối cùng của một Thủy quân Lục chiến Mỹ trước khi chúng ta vĩnh viễn rời khỏi Việt Nam. Chúng tôi bật cười với lời nói đùa của Bobby. Lời nói đùa này phá vỡ sự căng thẳng. Chúng tôi cười vì câu nói, nhưng cũng cười vì chúng tôi đều mừng rỡ là cuối cùng chúng tôi sẽ được về với gia đình.
Sự thực lúc ấy phi hành đoàn chỉ lấy đủ xăng để bay khỏi Saigon. Họ không đổ thêm. Trên lúc bay ra chiến hạm Okinawa, có đèn báo động trên cả hai bình xăng. Tôi khá lo. Tôi thấy chiếc đèn thứ nhất bật lên. Cả phi công chính và phi công phụ cũng đều để ý. Rồi chiếc đèn thứ hai bật lên. Tôi nói “Lạy Chúa, cầu cho cái trực thăng đừng hết xăng trước khi đến nơi đến chốn!”.
Hình minh họa
Nhưng rồi hạm đội hiện ra. Sáng hôm ấy là một buổi sáng trong trẻo. Khi vừa thấy mấy chiếc chiến hạm, chúng tôi thấy ngay các thứ còn sót lại của những chiếc trực thăng trên mặt nước chung quanh tầu. Mọi thứ lộn xộn như cái sở thú. Trên sàn bay của chiến hạm Okinawa người ta xếp thành hàng để làm thủ tục. Vũ khí bị tước lấy, ném đi.
Tôi dám cá rằng mười mấy Thủy quân Lục chiến của nhóm tôi ít nhất có đến 36 món vũ khí. Khi lên tàu, vài cậu đeo súng đầy mình chẳng khác tướng cướp Pancho Villa. Cá nhân tôi có một khẩu Colt 45, một khẩu súng lục tự động 9 ly, và một M-16. Mấy cậu nhỏ khác có cả lô vũ khí đã nhặt trên mái tòa Đại sứ để giữ làm kỷ niệm. Vài khẩu AR-15 báng gấp. Một khẩu súng lục .32 mạ kền. Vài khẩu súng lục Tiệp Khắc. Đủ các thứ vũ khí mà người ta có thể tưởng tượng ra. Ông biết là ngay khi chúng tôi bước lên tàu Okinawa họ tước hết vũ khí ném qua thành tàu. Cũng hơi buồn, nhưng bọn Thủy quân Lục chiến vẫn thường gặp cảnh này luôn. Tôi đoán khi nhặt nhạnh vũ khí, chúng tôi quên bẵng chuyện này. Tước vũ khí tất cả mọi người trên tàu là biện pháp duy nhất để tránh tai nạn vậy.
Chúng tôi thấy người Việt lái trực thăng ra đang cố hạ xuống sàn chiến hạm. Nhưng tôi quá mệt để đứng nhìn cảnh này. Làm thủ tục xong, tôi chui ngay vào túi ngủ, đánh một giấc sáu tiếng đồng hồ. Thế rồi họ thức tôi dậy, bảo tướng Carey muốn gặp tôi bên chiến hạm Blue Ridge ngay tức khắc. Tôi nhảy vào trực thăng. Họ đưa tôi bay qua tàu bên kia. Nhưng vào lúc trực thăng chúng tôi sắp hạ thì đã có một chiếc khác đang cố hạ xuống mũi tàu. Đừng quên đây không phải là Hàng không Mẫu hạm. Chiếc trực thăng Việt Nam ấy đã đụng gẫy một số cột ăng ten, suýt gây thiệt hại nghiêm trọng. Nhưng họ đã tuyệt vọng cố bay ra khỏi xứ. Họ bay vòng vòng khắp trên không trung.
Sau khi tất cả các biến cố trôi qua, tôi vẫn không dám chắc là sẽ được tưởng thưởng hay sẽ bị một cú đá đít đích đáng vì việc đã sử dụng lựu đạn cay. Sau cùng, họ cho tôi một huy chương ngôi sao đồng.
Khi trở lại Hồng Kông, tôi và Bob Lewis, sĩ quan chấp hành của tôi ngồi xuống. Chúng tôi làm sẵn bốn mươi hai bằng tưởng lục cho tất cả những thuộc cấp khắp từ Nam Vang, Nha Trang, Đà Nẵng, Cần Thơ, Biên Hòa và Saigon. Sau khi nhận đủ các báo cáo công trạng, ai làm chuyện gì, chuyện gì xảy ra, tôi ngồi xuống nghiền ngẫm. Tôi biết tác dụng của việc tưởng thưởng, tôi rất quan tâm đến việc làm sao cho mỗi cậu nhỏ đều được để ý đến bằng cách này hay cách khác. Vì thế tôi đã làm hết sức mình. Đôi trường hợp tôi được báo cáo đầy đủ. Đôi trường hợp, tôi phải thêu dệt ra. Cho nên lời khen thưởng nào nghe cũng từa tựa như nhau. Nhưng hiển nhiên, tôi biết họ đã là một phần của hành động, họ đã tham dự. Sau đó tôi đem các bảng tưởng lục đến cho Tổng Lãnh sự tại Hồng Kông ký, như thế các nhân vật của Bộ Ngoại Giao phải tiến cử. Và như thế Bộ Tư Lệnh Thủy quân Lục chiến chắc chắn sẽ không thể gạt đi được.
Kết quả, tất cả mọi người đều được tưởng thưởng. Đa số tuy không được thưởng đúng mức, nhưng cũng có người được huy chương Quân công của Hải quân, hoặc huy chương Tuyên dương của Hải quân. Sau này, tôi ngạc nhiên khi tìm ra nhiều người trong số vẫn còn ở lại binh chủng Thủy quân Lục chiến. Steven Bauer chẳng hạn. Lần cuối cùng tôi gặp, anh ta vẫn ở trong binh chủng, lúc ấy đã trở thành Trung sĩ xạ thủ. Tất cả những cậu lính này đều có một chút gì giống như các cậu lính của Napoléon. Napoléon đã lưa ý đến một sự kiện là người ta thường làm những hành vi can đảm chỉ vì muốn được một miếng huy chương. Tôi thực ngạc nhiên khi gặp những cậu lính vẫn còn tiếp tục ở lại Thủy quân Lục chiến sau biến cố ấy.
Chúng tôi đã cụng ly uống đến say mềm ở Manila. Mười một người chúng tôi. Sau đó chúng tôi không bao giờ còn có dịp tụ họp lại với nhau nữa.
Phần tôi, tôi ở binh chủng Thủy quân Lục chiến cho đến tháng Bảy năm 1983. Nhưng thực ra, tôi vẫn luôn luôn là một người lính chiến. Tôi nghĩ cuộc di tản ở Saigon đã trở thành những gì đáng nhớ nhất trong đời binh nghiệp khá dài của tôi ở binh chủng Thủy quân Lục chiến.
Hình minh họa
Vào thời gian ấy tôi đã nhạy cảm với những gì đã xảy ra với tất cả các ý nghĩa của nó. Đây là lần đầu tiên Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ tháo chạy và đã phải thừa nhận rằng mình cạn hết năng lực.
Tôi đã viếng Đài Kỷ Niệm các chiến sĩ bỏ mình trong trận chiến Việt Nam. Tôi nghĩ đài này rất đẹp với những cái tên, chỉ những cái tên thôi, khắc trên đá hoa đen. Và tôi cảm thấy khi người ta nhìn vào và đọc một số tên, thì cái đài đó đã đạt được những kết quả mong muốn rồi.
Tôi rời Thủy quân Lục chiến, không tình nguyện đăng thêm.
Nói một cách thẳng thắn, cách tôi tham dự cuộc chiến là chỉ vì bản chất tôi thích liên hệ vào mọi chuyện diễn ra. Đó là việc xảy ra trong một thời điểm của đời tôi, tôi đã rất muốn tham dự vào. Đó là một biến cố hệ trọng. Nó cho tôi dịp chia sẻ kinh nghiệm của cha tôi trong kỳ đệ nhị thế chiến.
Bây giờ thỉnh thoảng tôi vẫn ngừng lại và nghĩ nhớ về Việt Nam. Tôi tưởng như vẫn còn thấy những khuôn mặt, nghe những giọng nói, tiếng động, ngửi thấy những mùi vị xa xưa trở về. Đây đó vẫn tưởng ra những giây phút xưa cũ, những biến cố ngày nào. Nhưng tôi không hề bao giờ bị chấn thương vì kinh nghiệm chiến tranh cả.
Ông biết, khi đọc tin trên báo, khi thấy các hình ảnh là tôi đều cảm thấy như quay cuồng về chốn cũ. Tôi có thể cho ông hàng tá thí dụ về những chuyện như thế. Tôi nhớ hình ảnh những đứa bé đẹp đẽ. Tôi nhớ mùi xăng đốt khét lẹt. Tôi nhớ những buổi đi hành quân tuần tiễu.
Tôi nhớ một chuyện đặc biệt khi chúng tôi hành quân qua làng đã gặp một bà già Việt nam. Một bà già nhỏ thó. Ngón tay cái của bà già mưng mủ, nó bị thối hoại. Người lính quân y bèn rửa ráy sạch sẽ, cắt thịt hư, bôi trụ sinh lên, băng bó cẩn thận ngón tay cho bà già. Khi chúng tôi gặp bà già này thì ngón tay mưng mủ ấy được trét phân bò và bó bằng lá chuối. Người lính quân y có nói được đôi chút tiếng Việt, và qua lời người thông dịch, hắn đã dặn dò bà già phải đi bác sĩ. Bởi vì nếu bà không giữ sạch sẽ, vi trùng thối hoại đã sẵn đấy, bà có thể mất ngón tay, hoặc nếu nó lan rộng thì có thể mất mạng như không.
Đó là cái thông điệp chúng tôi đã chuyển cho bà già. Tuy nhiên chúng tôi không thể giải phẫu ngón tay cho bà trong lúc hành quân. Nhưng chúng tôi nghĩ chúng tôi đã giúp bà khá nhiều, và đã cứu mạng bà rồi.
Ba ngày sau trở lại ngôi làng ấy, bà già vẫy mời chúng tôi uống cà phê. Khi bà mang cà phê đến, chúng tôi thấy bà đã vứt hết bông băng rồi lại trét phân bò, quấn lá chuối lên ngón tay. Bà già nhỏ thó ấy, trông như đã 126 tuổi nhưng có lẽ chỉ ngoại tứ tuần, nếu cứ như thế bà sẽ chết thôi. Chúng tôi sẽ không thay đổi được gì hết. Tôi bị kích động vì những chuyện hiển nhiên như vậy.
Một lần khác nữa chúng tôi đi hành quân qua ruộng lúa, có một chiếc chiến đấu cơ Phantom bay qua. Bay rất thấp. Khi nghe tiếng động cơ chúng tôi ngửng nhìn. Kìa trên bầu trời là một chiếc máy bay tân kỳ trị giá mười triệu đô la đang trưng ra với những người làm ruộng mà chắc rằng họ chẳng thể nào biết gì về nó. Tương tự như một chiếc oanh tạc cơ bay qua hòn đảo New Guinea vào thời đệ nhị thế chiến. Những người dân quê sống trong mấy túp lều, đi cày với mấy con trâu khi ngửng lên thấy chiếc Phantom, làm thế nào họ có thể hiểu đây là cái gì, nó bay đến đây làm gì?! Chuyện ấy không thể hiểu được đối với họ. Tất cả những gì họ hiểu ra được một cách chắc chắn, ấy là nó chỉ làm phiền cho cuộc sống của họ thôi.
Tôi vẫn nhớ đến những con người đã ngửng nhìn chiếc Phantom một lát rồi tiếp tục làm việc. Những nỗi hoài niệm phiền muộn ấy cứ quay về trở đi trở lại mãi.
Hình minh họa
Tôi xin nói với ông là ký ức rất quan hệ đối với tôi, bởi vì nó chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa. Mỗi khi mắc kẹt với các câu hỏi như việc can thiệp của Hoa Kỳ ở Trung Mỹ, tôi lại nhớ đến những điều ấy, bởi vì đấy là những kinh nghiệm thực của tôi. Những lúc ấy tôi thường nói: “Chúng ta không thể xuống dưới vùng ấy với những lý tưởng kiểu Mỹ để giải quyết vấn đề của họ, bởi vì chúng ta sẽ không có câu trả lời”. Có lẽ cách tốt nhất là nằm ở nhà, tránh quách những chuyện ấy, ngoại trừ việc cấp viện trợ kinh tế, hoặc hỗ trợ các kế hoạch hoà bình. Chúng ta phải nhớ bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế của mỗi xứ đã mâu thuẫn phân chia giữa những “cái có” và những “cái không có” thì đều có triển vọng cho các xáo trộn thực sự xảy ra. Không một người đàn ông nào đáng giá một hột muối lại sẽ đứng thụ động quá lâu để chứng kiến cảnh gia đình mình đói khổ cả.
Cách tệ hại nhất mà chung ta làm chính là đưa giải pháp quân sự xuống dưới ấy, ấn vào tay những người không cần đến. Và đấy cũng là lý do tại sao tôi đã hoàn toàn phủ nhận các giải pháp quân sự. Xin ông hãy tin tôi, giải pháp quân sự không giải quyết được vấn đề gì. Tôi nghĩ người ta phải có khả năng tự vệ, nhưng hệ thống ngày nay đã có vẻ hoàn toàn mất kiểm soát rồi. Hiện nay tôi chính là một người thực sự chủ trương hòa bình. Đặc biệt là với vấn đề ngân sách quốc phòng, ngày nay đã trở thành quá sức tưởng tượng.
Với tất cả lòng thành của tôi trước Thượng đế, tôi không cho rằng tôi sẽ là một người cha thành công nếu con cái của tôi thích chuyện súng gươm. Tôi thành thực tin như vậy. Tôi mong các con tôi sẽ làm một chuyện gì xây dựng – một người thợ nề lương thiện xây nhà, dựng tường, một người viết văn lương thiện viết một cuốn sách tốt đẹp. Chứ tôi không muốn một đứa con nào đi vào binh nghiệp cả.
Tôi không bao giờ sử dụng đến súng nữa. Trong nhà – tôi không giữ một khẩu súng nào. Tôi không vui khi thấy con tôi mở mấy cuốn sách quảng cáo để xem mấy khẩu súng bắn đạn bi, hoặc đứng nhìn mấy khẩu súng trường bày bán ở các tiệm thể thao. Mỗi khi thấy thế, tôi cắn môi. Tôi muốn người ta vứt hết mấy thứ rác rưởi ấy đi cho xong.
Tôi biết (Tổng thống) Ronald Reagan cùng tuổi với cha tôi. Trong khi Reagan đóng phim ở Hollywood thì suốt bốn năm đệ nhị thế chiến, tôi không được gần cha. Tôi không muốn nói xấu về việc ấy, vì ít nhất Reagan cũng đã còn giơ tay lên mà tình nguyện làm một chuyện gì. Nhưng tôi tuyệt đối phẫn nộ đối với bọn chủ chiến không ra gì, chúng bao quanh lấy ông ta. Những cái lỗ đít ấy chẳng từng bao giờ ở trong quân đội, những thằng mập xịt ngồi ứ để chơi trò sức mạnh võ biền. Bọn nó xắn tay áo, phun nước bọt, gửi những thằng bé mười chín tuổi đầu ra chỗ chết. Thê thảm.
Cho nên một Tổng thống cần phải biết nghe khuyến cáo mỗi khi những bọn hiếu chiến bắt đầu khua động loảng xoảng gươm dao. Ông Tổng Thống cần phải nhớ rằng cả một thế hệ đã lớn lên và không hề biết một chút gì về Việt Nam. Thế hệ ấy dễ tin, dễ cảm vào mấy thứ rác rưởi như “Rambo”. Những thứ như thế thúc đẩy bọn trẻ con máu nóng nhảy ra chiến đấu và chết. Chúng sẽ không chết ở Việt Nam. Cuộc chiến ở đấy đã xong. Nhưng chúng sẽ chết ở một nơi xa xôi nào khác nữa.
Chiến tranh là một sự phí phạm. Thế thôi. Tôi là người đã chứng kiến. Đã sống sót. Và ngày nay vẫn còn thấy trong tâm trí cuộc chiến ấy. Tôi biết chắc chắn rằng phải có một giải pháp tốt đẹp hơn.
Ai có cho rằng tôi mê tín dị đoan nhảm nhí mặc kệ, tôi vẫn tin rằng có duyên “tiền định” mới nên vợ chồng. Chồng tôi người Việt nhưng quốc tịch Mỹ, lấy tên là Charles Lee, thường gọi là (Đít) Dick. Dick tốt nghiệp đại học Mỹ. Trong khi chờ ngày đi làm, bố chồng tôi có ý định đưa con trai về Việt Nam kiếm vợ. Anh ta học giỏi, đẹp trai, mặt mũi sáng láng nhưng khờ đặc trong việc giao tiếp với bạn bè. Ngay thời còn ở high-school, nhiều cô bạn cùng trường đến làm quen, anh ta cứ thụt lùi mãi, khiến các cô phát nản.
Trước năm 1975, bố anh ta là hạ sĩ quan an ninh phi trường Tân Sơn Nhất, ông có người bạn đồng ngũ rất thân. Sau 1975, bố anh ta về quê, xoay xở đưa cả gia đình vượt biên, còn người bạn thì về nhà, kế nghiệp cha mẹ, làm chủø một tiệm hủ tiếu ở đường Hai Bà Trưng, trước chợ Tân Định. Người bạn nầy gốc Tàu, tính cần kiệm và kín đáo nên không bị đánh tư sản (bị tịch thu gia sản, đuổi đi kinh tế mới).
Ở Mỹ, bố anh chàng Dick thường thư từ cho người bạn bán hủ tiếu ở Tân Định. Khi biết ông ta có ý định về Việt Nam kiếm vợ cho con thì người bạn đồng ngũ nầy ngỏ ý muốn giới thiệu con gái của mình với anh Dick. Hai ông bạn trao đổi hình ảnh con của mình cho hai đứa nhỏ nghiên cứu, tìm hiểu nhau. Thấy hình cô gái cũng đẹp, chưng diện coi bộ còn thời trang hơn cả các cô gái Việt ở Mỹ nên Dick thích lắm, nhưng đỏ mặt, không có ý kiến. Thế là ông gọi cho người bạn, hẹn năm nay về ăn Tết, sẽ cho tiến hành lễ hỏi và lễ cưới cho hai đứa.
Hôm gia đình anh ta xuống phi trường Tân Sơn Nhất, cả nhà cô gái long trọng đón về. Vừa là bạn chí cốt, lại sắp thành thông gia nên hai gia đình rất vui vẻ, thân mật. Cô gái đẹp hơn cả trong hình, nên chàng Dick thích mê, nhưng mắc cỡ. Hễ đối diện với cô ta thì mặt đỏ lên, miệng ấp úng, nói không nên lời. Hơn nữa, vì không rành tiếng Việt nên anh ta cứ ngập ngọng, nhưng nhờ cô gái đang học đại học, ban Anh văn nên cả hai không đến nỗi khó khăn khi chuyện trò. Cô ta rủ anh chàng đi chơi Sài Gòn, đi mua sắm, đôi khi còn chở Dick sau xe gắn máy, vi vút ra ngoại ô hóng gió, ăn uống ở các nhà hàng đồng quê. Được ngồi sau, ôm eo người đẹp, anh ta thích quá, nhất là khi được người đẹp ngồi bên cạnh tựa ngực vào người, giọng thủ thỉ, nũng nịu khiến anh chàng chết mê, chết mệt. Thế nên, trong một buổi cơm tối, cô cậu được hỏi ý kiến, có bằng lòng nhau không? Chàng ta trả lời “Dạ chịu!” Còn cô gái chỉ liếc anh ta và tủm tỉm cười. Thế là đám hỏi diễn ra ngay hôm sau.
Thời đại hỏa tiễn, gì cũng tốc hành cho nhanh gọn. Buổi sáng, nhà trai đi sắm nhẫn đính hôn, nhẫn cưới, trang phục cô dâu, chú rể và các vật dụng cần thiết, ý là đám hỏi xong thì tiến hành đám cưới ngay. Buổi chiều hai họ kéo nhau ra nhà hàng nhậu nhẹt tưng bừng. Trong buổi tiệc gọi là tiệc đám hỏi đó, hai ông bạn nghéo tay nhau hẹn tuần sau nhà trai (từ dưới tỉnh) sẽ lên đón cô dâu về quê làm đám cưới cho xôm tụ. Nhà gái, dĩ nhiên phải o bế cho cô dâu thêm phần xinh đẹp để bà con dưới tỉnh rõ mặt gái Sài Gòn.
Dick về dưới quê nhưng đã bị cô gái hớp hồn rồi nên người cứ sững chừng, suốt ngày lơ ngơ, không nghe, không thấy gì chung quanh, rồi than buồn. Cha mẹ anh ta biết ngay là thằng con đã bị cô gái bắt mất vía nên gợi ý cho anh ta lên Sài Gòn, ở lại nhà cô vợ tương lai trước khi làm đám cưới. Biết con mình chánh hiệu con nai vàng ngơ ngác, nên ông bà dặn dò rất kỹ, nào là không được qua đường một mình (sợ xe tung), đi đâu phải có cô vợ tương lai bên cạnh để khỏi bị bọn bất lương lường gạt, cướp giật. Ở chơi đúng hai ngày sau thì về để chuẩn bị làm đám cưới.
Chiều hôm đó, Dick đón xe đò lên Sài Gòn. Về đến bến xe Miền Tây thì đã khuya, Dick là người lịch sự theo kiểu Âu Mỹ, không muốn làm phiền người khác nên anh chàng đến khách sạn qua đêm.
Sáng hôm sau, Dick đón xe đến tiệm hủ tiếu. Anh ta nghe người đẹp nói là thường đi học lúc tám giờ sáng, nên dự định đứng ngoài chờ, hễ thấy cô ta bước ra để đi học thì Dick sẽ bước vào tiệm, mục đích tạo bất ngờ với người đẹp, chắc chắn cô ta sẽ mừng rỡ, nghỉ buổi học để hai người cùng đi chơi. Vì thế, khi đến tiệm hủ tiếu, anh ta không vào mà đứng bên kia đường, chờ. Đúng tám giờ, thấy người đẹp đi ra, đứng trước cửa tiệm ngó quanh, Dick định băng qua đường nhưng xe cộ nhiều quá, cứ lúng túng, chưa dám bước xuống lòng đường thì bỗng nhiên có một thanh niên đi xe gắn máy, dừng lại trước tiệm hủ tiếu, và cô vợ sắp cưới của chàng Dick phóc lên yên sau, ôm eo ếch chàng thanh niên kia. Chiếc xe vọt đi. Cả hai chìm vào đám xe cộ, biến mất tiêu. Chàng Dick dại gái chưng hửng. Anh ta bèn bước lui lại lên lề đường, mặt bắt đầu nóng, tim đập thình thịch, chân tay bủn rủn, người run lên như bị bịnh sốt rét, ngực nặng trịch, thở không nổi. Đó là “triệu chứng lâm sàng” của người nổi cơn ghen. Nhưng vốn đã được giáo dục về phép lịch sự ở xứ Mỹ, lại nhút nhác, chàng Dick bối rối, không biết làm gì cho hạ hỏa. Giận lây bố mẹ vợ tương lai nên không vào tiệm hủ tiếu, anh ta cũng bước qua đường, nhưng tấp vào một hàng quà rong ngay bên hông tiệm. Đây là một con hẻm, được biến thành những “tiệm ăn chồm hổm” buổi sáng bán bún, mì, cà phê… Mỗi hàng ăn chiếm một khoảnh đất, đặt vài cái bàn thấp ngang đầu gối, chung quanh là mấy chiếc ghế nhỏ xíu, không vừa cái bàn tọa. Bình thường từ sáng sớm, người ta mang thức ăn, đồ uống ra, đến trưa, bán hết thì “dẹp tiệm”, dọn về. Chàng Dick ngồi đại xuống một hàng cà phê. Chủ là một cô, tuổi đôi mươi, nhà nghèo, ăn mặc đơn sơ, không trang điểm, nhưng đôi mắt cô đen láy, long lanh, miệng cô cười thật tươi, phô bày hàm răng trắng đều, đẹp hết sức!. Nhờ đôi mắt và nụ cười nầy mà hàng cà phê của cô đông khách. Mấy cậu trai sáng nào cũng ra đây, gọi một ly cà phê, ngồi ngắm cô cũng đỡ buồn cảnh thất nghiệp của mình. Đôi khi tâm hồn rung động, vài cậu nói bóng gió để tỏ tình, cô chỉ cười không trả lời. Cô biết mình đẹp nên có quyền chờ đợi, tối thiểu cũng một anh chàng trông được con mắt, có công ăn việc làm kha khá, chứ thứ thất nghiệp, chỉ giỏi tán phét như mấy cậu khách hàng nầy, thì cô coi thường. Hơn nữa, ngay bên cạnh là hàng bún bò Huế của mẹ cô. Mẹ cô cũng biết giá trị con gái mình, nên thường xuyên nhắc nhở, kiểm soát cô rất chặt chẽ. Bà ta chỉ vẽ cho cô cách từ chối sao cho khách hàng biết nhưng vẫn vui vẻ, tiếp tục đến ăn uống để trồng cây si. Quán bún, cà phê của mẹ con cô hàng tựa vào vách tường của tiệm hủ tiếu của bố mẹ vợ tương lai chàng Dick. Sau tiệm có cửa hậu thông ra gần hàng cà phê, thỉnh thoảng nước dơ trong tiệm hắt ra, mấy con chó xúm lại nhặt nhạnh thức ăn thừa.
Khi Dick vừa ngồi xuống là cô hàng đã nhanh nhẩu hỏi “Anh uống gì? Ăn bún nghe!” Chàng Dick bối rối “Cô cho tôi lon cốc (Coca cola)” “Tôi không bán cóc. Anh ăn bún, uống cà phê nghe!” “Dạ, cô cho tô bún”.
Nghe cách đối đáp, giọng nói ngọng nghịu, cùng lối ăn mặc của Dick, cô hàng biết ngay là Việt kiều, nên cô để ý xem con cừu non nầy lạc lối đến đây làm gì? Có lẽ còn quá sớm nên mấy cậu thanh niên thất nghiệp chưa ra, nếu không, làm gì anh ta cũng bị mấy tay nầy tìm cách chọc ghẹo hoặc ăn hiếp ngay. Ăn xong tô bún anh ta mở cái túi nhỏ cột trước bụng, móc tiền trả rồi ngồi ngó mông ra đường. Dick chờ người đẹp trở về, nhưng không biết giờ nào nên thỉnh thoảng đứng lên, ra nhìn trước cửa tiệm rồi vào ngồi lại chỗ cũ. Dick dự định, nếu người đẹp về với thằng tình địch thì anh ta sẽ bước đến, hiên ngang nắm tay người đẹp dẫn vào nhà, coi như là cách công bố quyền sở hữu đóa hoa biết nói đó.
Có chí thì nên, khoảng mười hai giờ, quả nhiên cô vợ tương lai của chàng Dick trở về với thằng tình địch. Vừa thoáng thấy, cơn ghen lại nổi lên khiến anh chàng đứng chết sững, chưa kịp phản ứng thì cô gái xuống xe, hôn thằng kia đánh “chụt” một cái mới bước vào nhà, còn thằng kia thì rồ xe chạy đi. Chàng Dick lại ngớ ra, đành quay về chỗ hàng cà phê, kéo ghế, gọi một ly cà phê, ngồi suy nghĩ xem mình nên làm gì bây giờ? Lúc nầy, các hàng quà rong đang chuẩn bị dọn dẹp ra về, nhưng thấy cậu Việt kiều, cô hàng cũng nấn ná pha cho khách một ly. Thình lình chàng ta nghe từ cửa sau tiệm hủ tiếu vẳng ra tiếng la lối “Tao bảo mầy có từ thằng đó ra không? Ít bữa nữa mầy lấy chồng rồi. Thằng chồng mầy nó biết, nó cạo đầu mầy” “Tía đừng lo tía ơi. Người ta ở bên Mỹ làm sao biết được chuyện của con. Mà con đâu có làm gì mà tía phải la? Bạn bè chút chút mà tía”
Tiếng cãi cọ càng lúc càng cao giọng, càng nhanh khiến chàng Dick chịu thua, không nghe kịp, nhưng chừng đó cũng đủ cho anh ta mất tinh thần. Bao nhiêu hứng thú tiêu tan, Dick quyết về dưới tỉnh mét bố mẹ, không thèm lấy vợ nữa.
Tối đó, nằm trong khách sạn, Dick không ngủ được. Phần nhớ người đẹp, phần cảnh tượng lúc trưa khiến cho máu nóng bốc lên đầu nên anh ta lăn qua, trở lại mãi. Cuối cùng thì tình yêu và ghen tương sống chung hòa bình trong quyết định của anh ta. Nghĩa là cứ để đấy nhưng theo dõi, tìm hiểu, nhất là để ngắm lại xem, cô ta có đủ đẹp để mình tha thứ không?
Sáng hôm sau, Dick lại ra hàng cà phê ngồi, nghĩ cách hỏi cô hàng về cô gái, con chủ tiệm hủ tiếu. Cô hàng cà phê, thấy thằng con trai trắng nõn, ngây thơ như em bé, cô thích lắm, mặc dù anh ta là Việt kiều, cô không hi vọng gì, nhưng yêu là việc của quả tim, xin khỏi bình luận. Tuy nhiên cô hàng cũng phải giữ kẻ vì sợ mấy thằng con trai, khách hàng, sẽ mỉa mai vì ghen tức “Thấy Việt kiều như mèo thấy mỡ”. Nhưng anh chàng Việt kiều nầy hỏi chuyện thì mình trả lời, còn có thể hỏi lại mấy câu để tỏ tình quen biết. Đại khái Dick nói là về Việt Nam chơi chứ không nói về cưới vợ. Anh ta bảo rằng thấy con gái chủ tiệm hủ tiếu đẹp nên hỏi thăm cho biết, và hình như cô ta có bồ thì phải? Cô hàng nói là không biết chắc đó là bồ bịch hay chỉ là bạn bè, dù cô thấy hai người chở nhau đi mỗi ngày.
Khi yêu, người ta dễ tha thứ. Nghe cô hàng nói vậy, dù thấy rõ ràng hai đứa hôn nhau, Dick cũng không thấy trở ngại trong việc hôn nhân của mình. Vả lại Dick đã nhiễm văn hóa Âu Mỹ, chẳng xem trinh tiết là quan trọng, thế nên anh chàng vừa tự an ủi vừa hãnh diện “Cho mầy chở đi, ít bữa nữa, tao cưới nó, đem về Mỹ thì mầy no way!”. Và Dick lại vui vẻ nói chuyện với cô hàng cà phê. Anh ta bảo tuần tới sẽ về Mỹ nhận việc. Cô hàng thất vọng. Tình cảm của cô chỉ mới quen biết chứ chưa đủ thân mật để cho nhau địa chỉ, sau nầy còn thư từ, tặng ảnh nhau khi hai người cách xa nhau nửa vòng trái đất. Thật tâm, cô buồn vì không còn được gặp anh ta nữa chứ cô không hề nghĩ đến chuyện Việt kiều có nhiều tiền, sung sướng. Giá mà anh ta là một người Việt “nội địa” dù thất nghiệp, cô vẫn yêu như thường.
Khi về dưới tỉnh, bố mẹ hỏi, Dick chỉ trả lời có, gì cũng nói có chứ không giải thích. Tưởng con mắc cỡ, hai người không hỏi thêm. Họ cứ theo chương trình mà thực hiện. Ở dưới quê, cưới hỏi, giỗ quãi đều làm tại nhà. Ngã heo, vật bò cũng chẳng tốn bao nhiêu. Ông bà Việt kiều nầy chơi sang, mời bà con hàng xóm, kể cả xã ấp, tập trung một chỗ hẹn, sẽ có xe đến rước lên nhà hàng trên tỉnh dự tiệc cưới, còn dặn xin đừng quà cáp. Mấy khi được đi nhà hàng sang trọng dự tiệc cưới Việt kiều nên mọi người rủ rê, bàn tán coi bộ sôi nổi và sốt ruột lắm.
Đó là chuyện chuẩn bị tiệc cưới ở dưới quê, tức bên nhà trai. Trên Sài Gòn cũng có một bữa tiệc ở nhà hàng trong Chợ Lớn do con gái ông chủ tiệm hủ tiếu tổ chức đãi đằng bạn bè trước khi cô lên xe hoa. Cô ta nói “Thưa các bạn, ngày mai tôi sẽ lên xe hoa, hôm nay hai đứa tôi mời các bạn nhậu một bữa, xong lên lầu nhảy nhót”
Các bạn cô tưởng rằng đó là đám cưới của cô với người tình, không ngờ, sau đó mới vỡ lẽ là cô lên xe hoa với người khác. Bạn bè càng ngạc nhiên hơn khi thấy người tình của cô vẫn vui vẻ chứ không buồn bã hay ghen tức gì cả? Rượu ngà ngà, hai người mới thổ lộ âm mưu là cô sẽ làm đám cưới với anh chàng Việt kiều và qua Mỹ sống độ mấy năm, khi đã vô quốc tịch, cô sẽ li dị chồng rồi về Việt Nam cưới anh chàng tình nhân nầy. Đây là mánh thường làm của các cô lấy chồng Việt kiều.
Về phần nhà trai ở dưới quê, theo đúng ước hẹn, khởi hành từ bốn giờ sáng dự định trưa sẽ đến Sài Gòn. Cô dâu chú rễ làm lễ tổ tiên bên nhà gái xong, sẽ lên xe hoa về dưới tỉnh vừa kịp giờ đãi tiệc.
Tiệm hủ tiếu đóng cửa từ hôm qua để treo đèn kết hoa, thiết trí bàn thờ, mời bà con, bạn bè đến dự buổi đưa dâu. Đúng mười một giờ, phái đoàn nhà trai gồm ba chiếc xe lớn và một chiếc xe nhỏ có kết hoa dừng lại trước tiệm hủ tiếu. Bà con xuống xe, ẹo qua, ẹo lại cho đỡ mỏi lưng sau một chuyến đi dài. Mấy cô bưng quả, mấy cậu phù rể sắp hàng ngay ngắn chờ nhà trai vào xin giờ rước dâu theo đúng lễ nghi. Trong khi đó, nhà gái đã đứng chờ sẵn, vẻ mặt mọi người rất long trọng. Ông chủ tiệm hủ tiếu kêu vọng lên lầu “Hỏi A Muối sẵn sàng chưa? Nhà trai đã đến rồi đó nghe!” Tiếng mấy cô phù dâu trả lời “Tụi con kêu hoài mà cửa chị Muối đóng chặt, không nghe trả lời gì cả!” “Má nó đâu? Sáng giờ làm gì mà không kêu nó dậy? Người ta tới rồi kìa!” “Tôi đây. Có gì mà quýnh lên? Cứ nói chuyện đi. Nó dậy thay đồ, trang điểm là xong ngay” Rồi nghe tiếng lao xao trên lầu, một lát, cô phụ dâu xuống thì thầm báo cáo “Chị Muối không có trong phòng. Tìm khắp nơi cũng không thấy” “Chết cha! Vậy chớ nó đi đâu? Tìm về ngay. Coi thử nó có đến nhà bạn bè nào không? Đứa nào xách xe đi tìm nó coi. Lẹ lên!” “Thằng Tửng nói chiều hôm qua, bạn của chỉ đến đón đi ăn tiệc chia tay, khi hôm không thấy về”
Ông chủ tiệm hủ tiếu, trước đây là lính kiểng, chưa hề đụng độ ngoài chiến trường bao giờ, nay bỗng lưỡng đầu thọ địch. Đối phương đã đến trước cửa mà mình thì không có gì để nghênh chiến! Ông muốn lên lầu để la hét cho hả giận nhưng nhà trai đã bước vào nhà rồi. Ông như Khổng Minh tọa lầu, cười nói vui vẻ mà bụng đánh lô tô. Nhưng Khổng Minh còn hi vọng lừa được đối phương chứ ông thì chắc chết! Ông giận mụ vợ cưng con mà vô tâm, không chịu nhắc nhở, dặn dò, để nó đi từ chiều hôm qua, đến nay vẫn không biết! Trong lúc đó, bà chủ cũng bấn xúc xích lên. Bà nhờ các cô cậu nào có xe gắn máy, tức tốc đến nhà các bạn của cô Muối để “Lôi cổ nó về đây ngay!”. Nửa giờ sau, các đặc phái viên trở về lắc đầu “Không thấy A Muối đâu cả!” Bà cho một cô xuống thì thầm với ông chủ. Ông chủ lắng nghe, cười và gật đầu ra điều chẳng có gì quan trọng. Nhà trai thấy thế mới đứng lên có mấy lời. Đại ý đã chọn được ngày lành, giờ tốt, xin cho chú rể và cô dâu lạy bàn thờ tổ tiên. Ông vui vẻ gọi lên lầu “Má nó đâu. Cho con xuống làm lễ. Đến giờ rồi!” Đó là kế hoãn binh chứ ông biết tỏng là làm gì có A Muối. Thế rồi nhà trai, nhà gái lại tiếp tục vui vẻ chuyện trò. Nhưng chờ mãi chẳng thấy gì! Ông bạn nhà trai co tay xem đồng. Ông bạn hủ tiếu làm vẻ ngạc nhiên “Ủa. Sao lâu quá vậy cà?” Rồi ông bình thản đi lên lầu làm như tìm hiểu nguyên nhân, và ông lại xuống lầu, coi bộ hơi bối rối một chút. Ông khèo ông bạn sui gia tương lai vào nhà trong, lôi luôn ra sau hẻm, vì sợ mấy đứa người làm biết chuyện. Người ta xúm cả cửa trước xem đám cưới, chỉ có hai mẹ con bà hàng bún bò, cà phê đang lui cui dọn hàng về. Cô hàng cà phê, lúc nãy chạy ra dòm đã thấy anh chàng Việt kiều là chú rể, bèn chạy vào báo cáo với mẹ rằng đó là người khách “gà rù” thường đến mấy hôm trước, nay đi cưới cô A Muối, con gái ông hủ tiếu. Hai mẹ con đang bàn tán thì hai ông sui tương lai kéo nhau ra ngoài cửa sau xì xầm. Tuy nói nhỏ, nhưng hai mẹ con bà hàng nghe tất cả. “Chết tôi rồi anh sui ơi! Con A Muối nó đi từ hôm qua đến nay chưa về” Ông sui trai chưng hửng, rồi nổi xùng “Thật hay giỡn đó anh sui? Tụi mình nghéo tay nhau từ lâu rồi mà! Anh muốn “xù” tôi sao không nói trước? Báo hại tôi đặt tiệc mời bà con làng nước ngồi chờ ở nhà hàng dưới tỉnh. Bây giờ tụi tôi lên đây, anh nói một câu “bù chốc” !?” “Tôi lạy anh mà anh xui, anh thông cảm cho tôi. Tôi đâu ngờ con nhỏ trốn đi! Anh với tôi, bạn bè mấy chục năm rồi, anh biết tôi mà. Tôi đâu lòng dạ nào hại anh!” Ông sui trai cũng hạ hỏa “Nói vậy chứ, tôi với anh…Đơn vị mình còn ai đâu. Thôi, chuyện anh xù tôi vụ nầy cũng chẳng sao. Nhưng bây giờ mình tính sao đây? Không lẽ đi cưới vợ cho con mà không có cô dâu thì mất mặt tôi quá! Hay là anh tìm đại cho tôi một con nhỏ nào đó, đóng tạm vai cô dâu, khi về dưới tỉnh ra mắt bà con, làng xóm xong thì trả nó về. Không ai biết” “Anh tính vậy mà hay. Nhưng gấp quá. Chà! Khó dữ!” “Anh coi mấy đứa trong nhà, có đứa nào mặt mũi sáng sủa một chút, mướn nó, tôi sẽ trả khá tiền” Hai mẹ con bà hàng bún bò, nãy giờ giả bộ làm việc nhưng dỏng tai nghe hết ráo. Đến khi ông kia nói “trả khá tiền”, bà ta sốt ruột vọt miệng nói. “Ông trả bao nhiêu? Tôi cho con nhỏ nầy làm cô dâu giả được không?” Ông sui trai quay nhìn cô hàng cà phê, gật đầu. “Được quá đi chớ! Tôi trả hai trăm” “Hai trăm tiền gì? Được bao nhiêu?” Ông chủ tiệm hủ tiếu mừng rỡ. “Hai trăm là nửa cây vàng đó. Không ít đâu” “Vậy hả. Nhưng tôi giao hẹn trước, xuống đó, ra mắt bà con dự tiệc xong là tôi dẫn con nhỏ về Sài Gòn ngay chứ không có lộn xộn gì cả. Chịu không?” “Được mà bà chị. Bà chị đòi gì tôi cũng chịu hết, miễn là có cô dâu về dưới tỉnh là được”
Thế là tất cả cứ rối lên như chạy giặc. Bàn ghế, nồi niêu, son chảo của bà bún bò Huế được lùa hết vào gậm cầu thang tiệm hủ tiếu. Mẹ con bà hàng bún được đẩy gấp lên lầu. Quần áo, phấn son, nữ trang, tròng vào, bôi trét hết cho cô hàng cà phê. Bà hàng bún bò thì diện bộ đồ vía của bà hủ tiếu. Chỉ mười phút sau là các diễn viên đã xong y trang. Tiền trao cháo múc, bà hàng bún đòi ngay hai trăm đô lận lưng cho chắc ăn. Thế là cô dâu giả cũng e lệ, lúng túng bước xuống thang lầu, theo sau là bà bún bò Huế và các cô phụ dâu. Rồi thì cũng lễ gia tiên, cũng diễn văn ngắn gọn của nhà trai, nhà gái, cũng nhẫn cưới đeo tay, đủ mọi thủ tục. Cuối cùng cô hàng cà phê bước lên xe hoa cùng với đoàn hộ tống của nhà gái. Bà chủ tiệm hủ tiếu cũng tháp tùng phái đoàn để khi xong bữa tiệc sẽ thu hồi trang phục, vòng vàng mà bà đã sắm cho con gái là cô Muối. Khán giả tụ tập trước tiệm hủ tiếu ngạc nhiên khi thấy cô dâu không phải là A Muối mà là cô hàng cà phê. Họ bàn tán rồi phịa chuyện nầy nọ để ra điều ta đây biết hết “từ lâu rồi”! Nào là cô Muối bị ép duyên, đòi tự tử nên phải thay người khác làm cô dâu, nào là cô hàng cà phê dụ dỗ được anh chàng Việt kiều, nhưng nhà nghèo quá mới thuê tiệm hủ tiếu làm nhà gái.
Khi xuống dưới tỉnh, quan khách, bà con đều trầm trồ cô dâu đẹp quá. Mà cô đẹp thiệt! Khi là cô hàng cà phê, cô đẹp một, giờ đây, đóng vai cô dâu, cô đẹp mười. Giá như tỉnh tổ chức một cuộc thi sắc đẹp, chắc chắn cả tỉnh sẽ bầu cô là hoa hậu. Hai con mắt và miệng cười của cô, đẹp đến độ anh chàng Dick ngắm mà chóng mặt, không nghĩ rằng đó là cô hàng cà phê. Trong bữa tiệc, theo đúng tập tục của người văn minh tiến bộ, cô cậu đến từng bàn cám ơn quan khách dự tiệc, uống chút rượu bà con ép mời và ôm nhau hôn trước mặt mọi người. Rồi cũng vỗ tay, gõ muỗng lên ly, chén leng keng, tiếng cười nói, la hét của mấy tay say rượu…đủ thứ. Dick đã hoàn toàn quên cô Muối rồi. So với cô hàng cà phê, cô Muối thua xa. Sắc đẹp của cô hàng cà phê hớp hồn chàng Dick còn mạnh hơn cô Muối rất nhiều. Nhưng giây phút thần tiên cũng qua mau. Tối đó, sau khi tiệc tan, ai về nhà nấy thì bà hàng bún bò bảo cô con gái cởi trả nữ trang, áo quần đẹp, (nhất quyết) ra ngủ phòng ngủ ở bến xe để sáng hôm sau về Sài Gòn sớm. Cô hàng cà phê nhìn chàng Dick rơm rớm nước mắt.
Ngay lúc đó lại xảy ra chuyện rắc rối mà không ai có thể ngờ được. Dick không cho cô hàng cà phê về lại Sài Gòn. Cậu lớn tiếng với cha mẹ cậu, đòi cưới thật cô hàng cà phê chứ không phải cưới kiểu giỡn chơi như vậy. Cha mẹ chàng ta lại phải điều đình với bà hàng bún bò Huế, xin cưới thật cô con gái của bà ta. Mấy người buôn bán bao giờ cũng linh mẫn chuyện đầu cơ. Bà ta lạnh lùng lắc đầu, vì bà biết con cá đã cắn câu rồi thì bà cứ thế mà kéo con mồi lên, chiên, kho là quyền của bà. Cha mẹ chàng Dick thấy cô hàng cà phê đã đẹp còn hiền lành, dễ thương nên lại càng quyết tâm cưới cô ta cho con mình. Sau khi được năn nỉ, bà bún bò Huế phán mấy câu. “Ông bà nói vậy chẳng khác gì bắt tôi bán con gái tôi cho ông bà. Mà vợ chồng tôi chỉ có nó là đứa con duy nhất, tôi chỉ muốn nó lấy chồng gần chúng tôi để sau nầy, về già còn nhờ vả được. Ngay hiện tại, nó cũng phụ giúp tôi trong việc buôn bán sanh nhai. Nay ông bà đòi bắt nó về Mỹ, tôi mất con mà chẳng còn ai để nương tựa lúc tuổi già. Hơn nữa, nếu tôi gả con gái tôi cho ông bà thì chẳng khác gì con tôi giành chồng của cô Muối. Thử hỏi tôi có yên ổn mà buôn bán ở đó không? Rồi tôi phải làm sao đây?”
Chỉ mấy lời thôi mà bà hàng đã nêu vấn đề một cách minh bạch. Câu đầu bà gợi ý cho đối phương thấy “chủ đề” ở đây là tiền, mấy câu sau bà quảng cáo món hàng của bà và bà bắt chẹt.
Cha mẹ chàng Dick hiểu ngay điều đó nên đưa ra một cái giá mà họ nghĩ có thể thuyết phục đối phương. Tuy nhiên họ cũng biết văn hoa một chút. Đại ý là họ hiểu tình cảnh bà hàng bún bò, nhưng xin bà yên tâm, khi cô con gái qua Mỹ, nó sẽ gửi tiền về nuôi bà, chồng nó là kỹ sư, tiền bạc dư dã, hiện tại, họ sẽ gửi bà một số tiền để bà tìm chỗ khác, hoặc có thể sang một sạp hàng trong chợ mà buôn bán. Nói trắng ra, họ chồng một số tiền lớn để mua cô gái cho con trai họ. Bà hàng bún không ngờ con gái mình lấy Việt kiều một cách ngon lành, khỏi tốn công, tốn thì giờ mà mình lại ẳm được mấy nghìn đô. Thế là nhà trai lại điều đình với bà sui hụt, mua lại tất cả nữ trang, áo quần mà họ đã sắm cho cô Muối.
Tối đó, Dick và cô hàng cà phê ngủ chung một phòng (riêng).
Kể câu chuyện chồng tôi lấy vợ trên đây để quí vị thấy, rõ ràng vợ chồng đến với nhau là do “tiền định!”. Có ai nghĩ rằng cô Muối lại mất chồng sau bao nhiêu công sức, cố mồi chài cho được anh chàng Dick, để rồi “công trình kể biết mấy mươi” trở thành công cốc.
Nhưng nguyên nhân vì đâu? Tại sao cô lại không về làm cô dâu để thực hiện chương trình đánh lừa anh chàng Dick ngơ ngáo kia?
Số là tối đó, sau khi nhậu nhẹt say sưa, nhảy nhót tưng bừng cho đến gần sáng, cô Muối cùng tình nhân thuê khách sạn ngủ, dự định sáng mai về cũng còn kịp chán. Muốn cho đêm ân ái thêm nồng nàn, họ phi một đợt xì ke (ma túy), sau đó họ lăn ra ngủ. Đến gần chiều cả hai mới giật mình tỉnh dậy. Cô Muối hối hả lên xe, chạy về.
Trước 75, ở miền Nam tui không nghe, không thấy, không đọc, không viết động từ “sửa sai”.
Mãi cho tới lúc xe tăng T54 của Trung cộng ủi sập cổng Dinh Ðộc Lập ở đường Công Lý, CS xích hóa toàn cõi VNCH, tui mới nghe cái động tác cà lăm quái đản: sửa sai, sai rồi sửa!
Sai là tiếng Bắc. Còn nói theo kiểu dân miền Tây là làm trật, làm hư bột hư đường hết ráo, phải sửa lại cho nó trúng.
Ủa sao sửa sai, sai rồi sửa hoài vậy mấy cha nội? Chẳng qua CS đụng tới đâu hư tới đó. Nhưng sửa lại càng sai và loay hoay sửa riết. Sửa miết 47 năm rồi mà vẫn còn sai! Nên ông bạn nhậu của tui tính mua cờ lê (clé), mỏ lết (molette) về bán cho CSVN để cho chúng tiếp tục sửa.
Chớ thực ra Boris Yeltsin, người kế nhiệm Mikhail Gorbachev, ít ngu hơn, đã phản tỉnh: “Cộng sản không thể nào sửa chữa, chúng phải bị đào thải”.
Nhưng CSVN vẫn không nghe. Tự mình nhắm mắt để không thấy, bịt tai để không nghe sự thật đó thôi. Cứ loay hoay sửa sai; sai rồi sửa. Cái đó là do cái thói không bao giờ dám thú nhận rằng mình đã sai. Ðó là cái thói ngạo mạn cộng sản đấy thôi.
Chớ, nếu khiêm tốn chịu học hỏi một chút thì dễ ợt hè. Tại sao mấy nước theo chế độ tư bản, nó giàu hơn, nó công bằng hơn mấy nước theo chế độ cộng sản? Nếu thực sự yêu nước thì mình phải chọn theo chế độ nào? Con nít nó cũng biết câu trả lời!
o O o
Thói ngạo mạn cộng sản nó còn hiện nguyên hình trong lãnh vực chữ nghĩa văn chương.
Dưới đây mình chỉ bàn chơi hai thành ngữ: “cao chạy xa bay” và “vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”.
Xưa mấy ông nhà văn miền Nam viết là “cao chạy xa bay”. Thì mấy bố từ miền Bắc vô, sửa là: “Xa chạy cao bay”. Vì mấy giả nói “bay xa” thì được nhưng ai “cao chạy” cho được?
Xong mấy giả đem một bụng Hán văn ra mà giải nghĩa như vầy nè: “Xa chạy cao bay” tức “cao phi viễn tẩu” có trong câu: “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, cao phi viễn tẩu dã nan tàng”. Nghĩa là: điều tốt, điều xấu do mình làm, cuối cùng sẽ là quay đầu lại với người làm ra nó. Bay cao, chạy xa cũng không thoát được.
Cũng cùng một ý “tam thập lục kế dĩ đào vi thượng”, Nguyễn Du cũng dùng chữ “xa chạy cao bay”. Thúc Sinh khuyên Thúy Kiều hãy chạy thiệt xa, bay thiệt cao; vì cách đánh ghen của Họan Thư thâm độc “number one”! Tui đồng ý chỉ một nửa. Ghen như Hoạn Thư chỉ đáng “number two”. Ghen như em yêu của tui mới là hạng nhứt. Con vợ tui không dám hành hạ tình địch; em yêu quay qua hành hạ tui mới chết!
Hoạn Thư ghen thâm độc bằng cách sai gia nhân bày tiệc cho hai vợ chồng ăn nhậu. Rồi bắt Kiều đàn hát và hầu rượu coi chơi: “Bắt khoan bắt nhặt đến lời. Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay…”.
Thúc Kỳ Tâm buộc phải nghe và thấy. Hai lỗ tai, hai con mắt của Thúc Sinh mặc tình bị Hoạn Thư hành hạ: “Bốn dây như khóc như than. Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng. Cùng trong một tiếng tơ đồng. Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm”. Ôi Kiều, cục cưng của ta! Em đang khóc bằng tiếng đàn tỳ bà kia. Mắt ta thấy hình hài em đến nông nổi nầy chắc ta chết quá.
Thúc Sinh đành khuyên Kiều trốn đi: “Liệu mà xa chạy cao bay. Ái ân ta có ngần này mà thôi…”. Vậy là Kiều chôm chuông vàng khánh bạc, xa chạy cao bay tức là dông luôn.
Ngoài ra dân gian còn nói: “Chạy đằng trời” (không chạy thoát được; chỉ chạy đằng trời mới thoát); “Tìm đằng trời” (không thể tìm được; chỉ có nước lên trời mới tìm được).
Nói nào ngay, bà con miền Nam mình dư sức biết cái vụ “cao phi viễn tẩu” trong câu ca dao: “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo. Cao phi viễn tẩu dã nan tàng. Từ khi anh xa cách con bạn vàng. Cơm ăn chẳng được như con chim phụng hoàng bị tên”.
Nghĩa là làm ác thì gặp ác chạy đâu cho thoát. Ðây là cái luật nhân quả.
Nhưng nói “cao chạy xa bay” cũng hổng có gì sai. Sửa lưng nhau làm gì?
Ðời mà khi gặp nguy hiểm, mình phải cao chạy xa bay, tức là chạy cao lên núi hay bay đi thật xa mới mong bảo toàn được tính mạng.
Trong huyền sử có biết bao nhiêu người đã chọn cách “cao chạy xa bay”. Phạm Lãi dắt Tây Thi cao chạy xa bay, vì biết ham hố công danh, nấn ná ở kinh thành thì trước sau gì cũng bị mần thịt vì Câu Tiễn sợ cái đầu của Phạm Lãi.
Rồi nhà thơ Nguyễn Ðức Sơn, tự Sơn Núi đã dắt vợ con “cao chạy xa bay” lên đồi Phương Bối, Bảo Lộc để trốn. Vì ông biết nếu nấn ná ở chợ trước sau gì CS sẽ bắt ông ở tù cải tạo.
o O o
Rồi cái vụ “Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm” đầu đuôi gốc ngọn vầy nè: Em yêu nói: “Nếu anh chết trước, em sẽ về ở với em gái của em”. Tui gật gù: “Ờ nếu em chết trước, anh cũng vậy”.
Nghe vậy, em bèn đóng quần áo vào va li, bay về với má em, ở Adelaide, ít bữa cho nguôi cơn giận.
Tui hoan hỉ đưa em ra tận phi trường Tullamarine. Xong vội vã gọi điện cho nhà thơ Ba Bốp và nhà văn Rô Bẹt đến nhậu. Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm!
Tui viết vậy thì có một em tốt nghiệp Khoa Văn Ðại học Hà Nội, sửa lưng tui là: “Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm, bác ạ”.
Nghe tới bác, là tui bị dị ứng, ngứa tay ngứa chưn. Sao không kêu tui bằng anh cho nó mùi tình Bắc duyên Nam?
“Vọc mà là cử chỉ của một con gà? Nhỏ lớn tui mới nghe. Mà tại sao lại “vọc niêu tôm” mà không vọc cái gì khác? Chẳng “make sense” gì hết ráo.
Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm tức là “boss” đi vắng là nhà nó mọc ngay cái đuôi tôm vì nó cho rằng mình đã lớn rồi không cần phải nghe lời ai hết ráo!
Nhắc tới gà, tui tủi thân tui quá xá! Con gà trống kiếm mấy em gà khác để đạp mái rồi gáy khơi khơi chơi. Gà mái phải tuyệt thực ốm nhom, ốm nhách nằm ấp trứng. Có đàn con là đi đâu cũng phải dắt nó theo. Dạy tụi nó kiếm mồi. Phải bảo vệ chúng khỏi bị chó, mèo, diều, quạ xơi tái.
(Sao con vợ tui lại không chịu học tập con gà mẹ nầy hết ráo vậy hè? Ông Trời giao con gà trống là duy trì nòi giống. Bà Trời giao con gà mái là đẻ trứng và nuôi con. Con gà mái đâu có ghen tuông bậy bạ bao giờ? Thằng chả đi đạp mái đứa nào, em cũng “đông ke” – don’t care).
Rồi từ cái thuở kêu chiếp chiếp nháo nhác như gà lạc mẹ, cái đuôi gà con nhú lên hệt cái đuôi (con) tôm, như con nít tới tuổi dậy thì. Cái tuổi thấy vắng chủ nhà là chúng quậy tưng lên.
Thế nên tui chọn “vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”. Chớ tui không chọn “vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm” gì hết ráo!
Ðời mà! Ngoài con vợ tui ra nói cái gì cũng trúng nên tui sợ. Còn tất cả các người phụ nữ trên thế gian nầy kể cả má tui, tui cũng không sợ. Nên tui lên giọng thầy đời: “Thầy Mạnh Tử có nói: Tận tín ư thư bất như vô thư (tin hoàn toàn vào sách thì thà đừng có sách còn hơn). Em hai nên bỏ cái lối thánh hiền nói gì mình cũng a thần phù tin mà không chịu suy xét gì ráo thì mới tiến bộ được”.
Xong, tui kể cho em nghe: Tò mò về cái văn hóa Việt Nam, thằng bạn Úc nó hỏi tui là: “Who wears the pants in your house?” (Ai mặc quần trong nhà của chú mầy). Tui trả lời là: “Cũng tùy lúc, ban ngày hay ban đêm?”.
Nó nói, người mặc quần trong nhà tao là con vợ của tao. Tui hỏi lại: “Nhịn hoài mầy chịu sao nổi?”. “Nó nói bị ăn hiếp riết, nhịn rồi quen”.
Té ra thành ngữ “ai mặc quần trong nhà” là trong nhà ai làm sếp. Chớ hổng phải cái vụ kia đâu. Thế nên em hai ơi, khiêm tốn một chút đi. Nên học, học nữa, học mãi như đồng chí VI (Sáu) Lê Nin phán mới đặng nhe em!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.