Thầy chim lợn

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on August 25th, 2021

Post by Sơn râu 25 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Sau 1975, đi học cải tạo về ai cũng khổ! Nghịch kỳ thiên cái là thiên hạ khổ mà tui lại sướng. Dẫu không có tiền rủng rỉnh trong túi nhưng sống như đế vương. Vì tui được bạn mời nhậu hoài hè!

Sao mà hên vậy chớ? Chuyện vậy nè: Ðầu những năm 80s, thiên hạ đói nhăn răng! Một tối buồn tình, tui đi cà lơ phất phơ ngoài bến Ninh Kiều, Cần Thơ. Ðột nhiên nghe ai gọi tên tui. Té ra là thằng Ba Tèo, thằng bạn chăn trâu hồi nhỏ của tui đang ngồi uống bia lon ở hàng hiên nhà hàng Quốc Tế.

Trong lúc tui đi lính thì thằng Ba Tèo cạo đầu trọc lóc vô chùa tu. Sư cụ trụ trì thấy Ba Tèo thông minh đĩnh ngộ nên thâu nhận làm đệ tử. Và ban cho nó cái Pháp danh là Thích Trí Tuệ.

Một hôm, sư cụ lục trong rương, móc ra một bửu bối truyền cho Thích Trí Tuệ nghiên cứu để lỡ thời thế đổi thay có cái nghề để độ thân. Bửu bối của sư phụ cho thằng Ba Tèo là một cuốn sách dạy về bói toán của Quỷ cốc tiên sinh. Quyển sách nầy bỏ trong rương đã lâu. Mối mọt ăn gần hết chỉ còn trang cuối. Mấy trang đầu chỉ cách bói chim cu. Ðủ loại cu: cu ngói, cu đất, cu đen, cu cườm… Cứ căn theo con cu của gia chủ vóc dáng, màu sắc, tiếng kêu ra làm sao thì mình biết hậu vận của người nuôi nó.

Riêng trang cuối chỉ cách bói chim lợn. Thầy bói chỉ cần nhìn thần sắc của con chim lợn mình nuôi khi khách coi bói đến. Con chim lợn buồn hay vui là mình biết hậu vận của thằng chả hanh thông hay tàn mạt.

Ðược trang cuối chỉ cách bói chim lợn mà Ba Tèo mất tới gần chục năm nghiên cứu. Thời gian dài đằng đẵng bằng người ta dùi mài kinh sử để lấy bằng tiến sĩ!

Chỉ mấy ngày sau 30 tháng Tư, một tối sư cụ gọi Ba Tèo vào hậu liêu: “Thầy bấm đốt tay thấy cả trăm ngàn người bằng tuổi con hết thời nhưng riêng con thời lại tới. Phần số con cũng không có căn tu. Tu suốt đời con, tới hết mức là làm chú Tiểu mà thôi. Không được làm Ðại Ðức hay Thượng Tọa hoặc Hoà Thượng gì đâu nên thầy “đề nghị” con hoàn tục”.

Ba Tèo sụp xuống chưn sư phụ khóc nức nở: “Bạch thầy, bấy lâu con tu tập, có cháo ăn cháo, có rau ăn rau. Dẫu không ngon bằng ăn mặn nhưng đệ tử chưa đến nỗi bị thầy bỏ đói bao giờ. Giờ nỡ lòng nào sư phụ đuổi đệ tử ra khỏi chùa trong lúc tình hình tranh tối tranh sáng, biến động như thế nầy thì đệ tử biết làm gì mà sống?”.

“Hãy tin lời bói toán của ta! Hậu vận của con là Long Hổ hội. Rồng với cọp gặp nhau. Ðường lợi danh của con sẽ sáng như trăng rằm mười sáu”.

“Bạch sư phụ, đệ tử sẽ làm gì mà sống? Chạy xe đạp ôm hay đi bán số đề?”.

“Bậy nè, hậu vận Long Hổ hội ai mà chạy xe đạp ôm hay bán vé số bao giờ? Con thôi làm thầy chùa thì hãy đi làm thầy bói”.

“Bạch thầy, nghe nói chánh quyền cách mạng kết tội bói toán là truyền bá mê tín dị đoan. Thầy bói nào ló ra sẽ bị bắt đi cải tạo râu dài tới rún mới được thả cho về. Thôi con không dám tuân lời thầy để đi làm thầy bói đâu, hu hu!”

Sư cụ thấy đệ tử Thích Trí Tuệ ra khỏi cổng chùa rồi mà cứ nấn ná hỏi tới hỏi lui hoài cũng bực. Bèn lấy đao bổ cau bén ngót cắt đứt dây chuông. Xong sư cụ phán: “Ðã tới giờ ta tịnh khẩu!

o O o

Hoàn tục, Ba Tèo trở lại chợ Cần Thơ. Sáng sáng Ba Tèo mang cái lồng có con chim lợn ra bến đò đi Kế Sách, Phong Nẫm, Cái Côn, làm thầy bói để kiếm ăn.

Một hôm đang ngồi ngáp ruồi vì ế quá. Dân ai cũng mạt thì tiền đâu mà nuôi thầy bói? Bỗng có chiếc xe du lịch mang biển đỏ ngừng cái kịt. Ba Tèo biết ngay là bọn Bảo vệ chánh trị. Ba Tèo cầm cái lồng chim lợn tính vọt thì nghe cái giọng ồm ồm như vịt đực cất lên: “Thầy đừng sợ! Ông Sáu Bí thơ Tỉnh ủy nghe tiếng thầy Chim Lợn nên sai tụi tui ra rước thầy vô dinh, xủ cho ổng một quẻ.”.

Té ra đồng chí Bí thơ Tỉnh ủy vừa được tin mật báo sẽ được (hay bị) triệu về kinh đô Hà Nội. Lành dữ ra sao? Lành thì ra. Dữ thì tom góp vàng bạc bấy lâu kiếm đường vượt biển. Ngần ngừ lưỡng ước chưa biết tính sao, chi bằng nhờ thầy bói Ba Tèo tức thầy Chim Lợn đến. Ông Sáu Bí thơ đối xử với Ba Tèo như Mạnh Thường Quân đối xử tân khách.

Ba Tèo căn vào cử chỉ, tiếng kêu của con chim lợn mà mình ôm theo, bèn bói rằng: “Ra Hà Nội là ông Sáu được Ba Duẩn ưu ái. Nhớ lúc vào Hậu Giang, Ba Duẩn được ông đãi ăn hột vịt lộn với rau răm, uống rượu đế rất là trúng ý ổng. Nhờ thế, ông Sáu sẽ được anh Ba đưa vô Bộ Chánh trị làm Thường trực ban Bí thư Trung ương Ðảng nữa.”.

Quả nhiên y như kinh! Nhưng sau khoảng thời gian huy hoàng rồi chợt tắt; phần đời còn lại của ông Sáu đen hơn cái mõm chó. Ba Tèo giấu biến khúc sau đi. Vì ngu sao mà nói!

Quả nhiên y như kinh, ông Sáu Bí thơ bị băng Sáu Dân chơi sát ván! Tụi nó tố ông lúc bị địch bắt, ông Sáu phun tùm lum tên các đồng chí cấp trên. Một, giả bộ đoái công chuộc tội với địch. Hai, mượn tay kẻ thù để thanh toán bớt những đám cản đường mà còn dám giựt mấy em văn công thơm như múi mít của ta.

Xui cái là lúc đó anh Ba đỡ đầu mới đi “bán muối”. Mãnh hổ nan địch quần hồ, ông Sáu bị tụi nó xúm lại lột hết lon lá; đuổi trở về Cần Thơ chăn vịt.

o O o

Sau cái vụ đó, tiếng tăm thầy Chim Lợn lừng lẫy lan khắp nước từ Nam ra Bắc. Thường vụ thành ủy, tỉnh ủy đứa nào cũng nhờ thầy Chim Lợn làm cố vấn về phong thủy. Ăn tân gia, cưới vợ, gả con đều nhờ thầy chọn giùm ngày tháng. Quan trọng nhứt là làm chức nào có ăn? Ðút lót cho ai để được mau thăng quan tiến chức? Lúc nào phải “quy mã” tức “qua Mỹ” để hạ cánh an toàn?

Thuở hoàng kim đó, Ba Tèo rủ tui đi nhậu nhà hàng Quốc Tế ngoài Bến Ninh Kiều mỗi ngày. Thấy tui kiến thức phổ thông một bụng, lại biết nhiều chuyện heo, nên Ba Tèo ngầm ganh tị, phong cho tui chức “chuyên gia heo”. Cán bộ cấp cao nào nuôi heo tăng thu nhập để che giấu tiền tham nhũng đều mời tui đến tắm heo cho tụi nó.

Ba Tèo tức thầy Chim Lợn còn hỏi khó tui là có quen với nhà thơ Ngô Thế Lân thời Lê mạt không?

“Trời đất! Nhà thơ chết đã mấy mươi đời vương rồi, tao làm sao quen cho được? Nhưng bài thơ con chim lợn của tiên sinh thì tao biết”.

“Than ôi, lạ thay! Tiếng chim lợn kêu. Năm canh kêu thét, gió thổi lạnh lẽo. Thái Sơn xiêu đổ, ban ngày tối mò. Ðất bằng sóng cuộn, mây đen mờ mịt. Ðàn hồng nhạn kêu thương bay tản nơi rừng chầm. Bầy sài lang đi ngang ngược trên lối đường lớn. Trong triều ngoài nội ai cũng nín hơi không dám nói. Than ôi, lạ thay! Tiếng chim lợn kêu!”.

Xã hội nước ta thời Lê mạt, nhuộm một màu tối thê lương; xã hội trong nước bây giờ cũng vậy; tui chỉ ước một điều thôi chớ không cần tới ba, là con chim lợn đến đầu hồi nhà quan chức chuyên nhũng nhiễu dân lành, kêu éc éc, làm điềm, đứa đó sẽ chết chắc 100%.

o O o

Mấy năm sau, tui bỏ nước ra đi. Từ hải ngoại lên Facebook mới hay thầy Chim Lợn đang mần ăn khấm khá gấp trăm, gấp ngàn lần năm cũ.

Thầy Chim Lợn bói đâu trúng đấy. Như Bí thơ Thành ủy Ðinh La Thăng sẽ la làng. Quả nhiên Thăng được cho 32 cuốn lịch nằm đếm mệt nghỉ. Thầy Chim Lợn bói Phó Bí Thơ Tất Thành Cang sẽ tan thành ba chấm. Quả nhiên Cang bị nhốt. Rồi mới đây thầy Chim Lợn bói Trần Văn Nam, Uỷ viên Trung ương Ðảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương sẽ thành Trần Văn Trụi. Quả nhiên Nam vô hộp.

Tui e rằng nếu có đầu thai trở về trần thế, có gặp thầy Chim Lợn tức thằng Ba Tèo bạn chăn trâu ngày cũ của tui, Quỷ cốc tiên sinh cũng phải kêu nó là ông Nội!

ĐXT

Tết ăn, chơi!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on January 19th, 2023

Post by Sơn râu 25 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Từ điển cho biết: tào lao, tính từ, chỉ lời nói, câu chuyện nói ra cho có chuyện, cho vui. Tào lao năm ba câu; hứa tào lao trên bàn nhậu. Thằng nói chuyện tào lao!

Tết đến xin phép bà con cho tui nói chuyện tào lao, chuyện ăn chơi ngày Tết.

Chuyện ăn

Trước hết là chuyện ăn. Không những Tết, đám giỗ, đám cưới, đám thôi nôi, đầy tháng có mần heo là có món thịt kho tàu.

Có một ông chỉ tui cách kho thịt như vầy: Muốn kho một nồi thịt ăn Tết thì mua thịt ba rọi miếng ngon nhứt. Cục thịt bự bằng một gang tay, sau đó lấy dây chuối, dây lạt buộc chặt cục thịt lại. (Ai mà kho cục thịt bự dữ thần vậy cha nội? Làm sao nước mắm thấm vô hết? Cục thịt hình vuông vức, mỗi bề bằng 3 lóng ngón tay út là hết mức rồi).

Kho với nước dừa xiêm Bến Tre cứng cạy, đường cát trắng, nước mắm Phú Quốc. Ðể lửa liu riu. Sôi, bỏ vô chục cái hột vịt trắng phích trong nước màu cánh gián nâu nâu.

Tui nghe rồi để đó; vì xưa giờ tui chỉ biết có ăn. Thịt kho Tàu là do con vợ tui là á xẩm nó kho. Vợ tui xẩm lai nhưng ổng biểu tui không nên kêu là ‘thịt kho tàu’ nữa. Phải kêu là ‘thịt kho rệu’, ‘thịt kho hột vịt”, ‘thịt kho nước dừa’. Ủa chuyện gì mà cữ chớ?

Thì ông cắt nghĩa là: “Người Miền Nam xưa kêu người Tàu là Ba Tàu, Cắc Chú. Nên có người nói: “Thịt kho tàu là của người Tàu vì người Tàu đi tàu qua đây.”  Hay thịt kho tàu vì cục thịt, cái hột vịt nổi lờ đờ trên mặt nồi như một chiếc tàu”

Ông không chịu thịt kho tàu là của người Tàu. Thịt kho tàu là của người Việt trăm phần trăm. Vì người Tàu ăn xì dầu không ăn nước mắm. Cái nầy tui hoàn toàn đồng ý với ổng.

Rồi ngon trớn, tới luôn bác tài, ổng bác bỏ luôn cách giải thích chữ ‘kho tàu’ là kho hơi mằn mặn như nước sông Cái Tàu, Miệt U Minh. (Sông Cái Tàu gần rừng, gần biển nên nước nó mặn lờ lợ) của nhà văn Bình Nguyên Lộc.

Ông Bình Nguyên Lộc cắt nghĩa có lý đấy chớ! Theo tui, một bữa cơm của người Miền Tây thường có 3 món kho, canh và xào. Kho chủ lực phải có. Nghèo, canh, xào không có cũng hổng chết thằng Tây nào. Kho có nhiều tên, tuỳ theo nước mắm trong nồi nhiều hay ít mà chúng ta có kho lạt, kho mẳn, kho khô, kho quẹt…Nên nhớ ngoài thịt kho Tàu còn có tôm kho Tàu nữa.

Kho tàu là nước thịt kho lờ lợ không mặn quá để ăn với rau, dưa giá, củ kiệu, dưa cải. Thịt kho Tàu mặn độ “ph” cao không cho nồi thịt kho bị vi khuẩn làm cho chua nên để lâu được. Thịt có mỡ nhiều nên ăn với dưa cải, dưa giá giúp cho sự tiêu hoá. Cắt nghĩa kho tàu là của người Tàu là cắt nghĩa tầm xàm bá láp. Bác bỏ luôn chữ thịt kho tàu của ông bà mình từ thời khẩn hoang Miền Nam vì ông không thích Tàu là một đề nghị bậy bạ hết sức.

Chuyện chơi

Ðó là tui tào lao về chuyện ăn. Giờ tui tào lao về chuyện chơi, chuyện cờ bạc ngày Tết, chuyện bầu cua cá cọp. Có một nhà văn chín nút viết vầy nè: “Trong sáu ô của trò bầu cua cá cọp không hề có con cọp. Chỉ có: bầu, cua, cá, gà, tôm và nai. Vậy là mượn oai hùm chăng?

Có nhiều giả thuyết cho sự mượn oai hùm này. Thứ nhất: đọc là bầu cua cá cọp nghe cho xuôi tai. Tôi thấy giả thuyết này dở ẹc. Ðọc là ‘bầu cua cá tôm’, ‘bầu cua cá nai’  hay bầu cua cá gà’ cũng xuôi tai vậy.”

Tui thấy ổng nói bầu cua cá cọp không có con cọp là ổng nói không có trúng. Có sao không? Tui nhớ, lúc 10, 11 tuổi, tui từng đứng coi (không chơi vì mậu lúi nhưng ham vui) người ta chơi bầu cua vào Tết Nhâm Dần, Con Cọp, năm 1962, trong hẻm 482 đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, trước cửa Miếu Thần Hoàng gần chợ Hai Mươi

Ðồ nghề của một ông (nhưng làm cái) gồm 3 cái hột hình khối lập phương 6 mặt. Và một miếng vải hình chữ nhựt có vẽ bầu cua cá cọp. Có con cọp màu vàng khè vằn vện nhe nanh đàng hoàng nằm bên góc.

Sỡ dĩ không bằng giấy, mà bằng vải, vì nó bền. Trải miếng vải đó xuống nền xi măng là gầy sòng, ăn vùa thua giựt được rồi. Bằng vải, nhà cái dễ túm lại, trong đó có tiền đặt của tay em, chạy biến vô hẻm sâu mất tiêu nếu bất ngờ có thằng nào hô “Lính tới!”

Ổng cho rằng ai nói gọi bầu cua cá cọp cho xuôi tai là dở ẹc. Tui thấy ông mới dở ẹc!

Tranh Bảo Huân

Theo tui, cọp hay nai là tuỳ người ta có sợ cọp hay không? Sợ không dám gọi tên mà gọi là ông Ba Mươi. Không sợ thì còn giỡn mặt ‘bắt cọp’ hay con gái biểu diễn đánh cọp lúc khai thị chợ Bến Thành năm 1914.

Tui cho rằng một số nhà sản xuất bộ bầu cua cá bằng giấy muốn thay con cọp bằng con nai hoặc con tôm cho bán được nhiều. In con cọp, sợ những người sợ cọp không chịu mua. Mần ăn phải tính chớ.

Ồng bà mình in vậy nhưng không kêu bầu cua cá nai hay bầu cua cá cá tôm không dở ẹc đâu ông? Bầu cua cá cọp dễ nhớ vì cách phát âm của nó. Ông bà mình dùng phép đối xứng về thanh. ‘Bầu cua’ hai thanh bằng đối với ‘cá cọp’ là hai thanh trắc. Còn nói theo ông, ‘bầu cua cá nai’ mới hổng giống ai hết ráo.

Thưa tui ủng hộ phê bình. Vì có phê bình mới có tiến bộ. Phê trúng, tui học. Phê trật tui cự lại cho vui vậy thôi.

Tui thấy nhà văn gốc cây khi phê bình về phong tục tập quán của Miền Nam thì nên cẩn thận đừng nói ẩu, kẻo trật lất!

Tuy nhiên ca sĩ lừng danh Bob Marley (1945-1981) đã từng nói: “Ngay cả mặt trăng cũng không hoàn hảo, nó đầy những miệng núi lửa. Biển đẹp vô cùng, nhưng mặn và tối ở độ sâu. Bầu trời luôn vô tận, nhưng thường nhiều mây. Vì vậy hãy thôi “hoàn hảo” đi!

Nhưng con vợ tui nói: “Em không cầu toàn nhưng anh yêu nên càng lúc càng tiệm cận với hoàn hảo. Bớt nhậu đi một chút được hông?

DXT

Tố Nữ

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 25 Jan 2024

Tội phạm khi vào tù, bước đầu bọn chúng bị lột truồng ra, hả to mồm, biểu ho và chổng mông cho người ta xem có thu dấu vật gì vào trong cái lỗ đen kia. Khác với dân có số má, thành phần bất hảo, tớ cũng trần như nhộng nhưng được người của bệnh viện nhỏ tiếng biểu nằm xuống giường. Hồ sơ bệnh lý của tớ có bề dày ngang ngửa tựa cuốn nhật ký của Anne Frank, họ biết tỏng ngày nào tháng nào tớ bắt đầu làm quen vào ra ba cái nhà thương lớn nhỏ trong vùng. Nhưng bây giờ tình hình coi bộ căng, chớ tại làm răng bắt tớ thoát y toàn phần cứ y như trẻ vừa lọt lòng mẹ? Không vung tay đạp chân, chẳng khóc oe oe như hài nhi khi bị vất ra cuộc đời trống lạnh, đằng sau cửa mình của má là một thế giới thật ấm êm.

Tớ cũng cảm thấy lạnh và có hơi… e thẹn. Từ hồi cha sinh mẹ đẻ chưa có một cọng lông cho tới đầu có lắm sợi bạc như này, tớ chỉ ở truồng khi vào đứng tắm dưới vòi sen. Có dụ con sen làm chuyện người lớn bất quá chỉ hối hả tụt được cái quần, chỉ ngần ấy thôi, chỉ 50 phần chăm thôi. Và đứng tắm thì chỉ mình ên, thực hiện hành vi đồi bại với ô-xin thì chỉ hai mình, chẳng ai ngó ngàng gì tới liễu yếu đào tơ. Bây chừ thì tới tám con mắt “nhìn đểu” một cách không khoan nhượng. Tớ biết chắc một điều chim cò nếu có cánh hẳn sẽ bay đi, hoặc chí ít sẽ thôi điệu võ dương oai, nằm co quắp trong ổ xìu xìu ển ển đợi kinh qua cuộc khám nghiệm đầy rắn mắt.

Thân thể tớ từng cứng người chui vào máy làm cuộc soi rọi gọi là MRI Scans (Magnetic Resonance Imaging) năm lần bảy đỗi. Nghi ngờ ung thư ngực, ung thư tuyến tiền liệt, ruột dư, tim mệt, gan héo. Tai qua nạn khỏi chẳng mấy lâu giờ đây bị dính nạn gẫy xương. Hơi lạnh một chút nhé. Một cô y tá nói trong lúc bôi vào người tớ thứ dung dịch nhờn và… lạnh thật. Sau khi qua x-ray, họ cẩn tắc xem xét như kiểu tớ đang mang thai: Xem kìa, thấy nó chuyển động không. Cái đầu nè, cái chân nè… Có cô y tá tay mang găng sờ nắn bửu bối của tớ. Mẹ, ốt dột thật đó. Còn gì nữa đâu mà khóc với cười. Mời người theo tôi về miền quá khứ thì hoạ may còn nhạy cảm để sừng sỏ ngoan cố chứ bây chừ thì đành buông súng an tâm cải tạo để nhà nước lo…

Tôi ngồi trên ghế kê sát giường nghe hắn thuật chuyện. Hắn vừa được hai ông bác sĩ chuyên khoa phẫu thuật ráp nối xương ra tay tế độ. Kết quả khả quan với vết cắt dài hai mươi phân bên hông xương chậu được những cái móc sắt bấu chặt mong khép miệng. Máu đổ khá nhiều, tuy chưa lại sức, có thể do mừng vui có tôi vào thăm, miệng hắn không kịp liền da non với lối nói ưa thêm mắm dặm muối cố hữu. Tôi cũng mừng cho hắn bởi tôi nghĩ điều nguy nan cho một con bệnh, không gì khác hơn là sự bi luỵ yếm thế. Đã có chán khối đứa nhắm mắt lìa đời vì buồn tủi. Trong mọi trường hợp, tinh thần vững chãi, vui đùa với tai ương vẫn là liều vitamin độc nhất vô nhị.

Tóc rối, đầu đặt trên gối cao, giường chuyển đổi để nâng lưng cho thẳng lên. Mặt xanh, một cánh tay còn dán chặt mũi kim chuyền nước biển hoà với một dung dịch thuốc giảm đau. Mọi dây mơ rễ má ấy chẳng giết được cái biểu cảm ba hồn bảy vía vừa lộn lui mà hắn đang lại thần hồn. Ăn được không? Tôi hỏi. Hắn đáp: Cho có vậy thôi, ăn như mèo. Thực đơn nhà thương mà, đòi hỏi gì? Ngủ được không? Tôi hỏi. Hắn đặt mắt lên trần: Ngủ chi xuống với y tá, mới thiu thỉu chút đỉnh lại bừng mắt ra uống thuốc. Mới nhắm con mắt lại có bàn tay lay dậy: Tôi vào đo huyết áp và xem thử có bị sốt không? Vừa tắc đèn lại sáng loà ngoài mí mắt: Để tôi thay lại miếng băng dán ngoài đường kim mũi chỉ, vết thương không bị nhiễm trùng, tốt lắm. Đại tiện tiểu tiện có khó khăn không? Đại thì chưa nhưng tiểu thì coi mòi trục trặc. Cả ngày rồi mà chưa thèm ứa ra một giọt. Người ta sản xuất ra thuốc kích dục từ khuya, vậy có thứ thuốc nào kích tiểu không? Y tá nói: Bổn cô nương chưa hề nghe qua, nhưng chốn nầy có mũi phi tiêu rất lợi hại và cô nương được dạy “cứ thế mà chơi”.

Đội ngũ y tá đa phần đều trẻ, năng động và dễ thương, có lắm em thơm như múi mít ông ạ. Em tỉnh queo cầm một cây kim có nối ở đuôi cái ống nhựa cà chớn xỏ chỉ luồn kim vào cái lỗ nhỏ xíu dùng để giải thuỷ. Em dặn chịu khó đau chút đỉnh, nhớ buông thả chớ chống cự vì khi phản ứng con cu sẽ co thắt, như thế huynh đài sẽ thấy bỏng rát thêm. Nói vô duyên, tớ nghĩ “nó” sinh ra dùng để đi đâm vào người ta, chứ ai dè có khi “nó” lại bị cái khác đâm vào. Đau thốn dái chứ chẳng đùa đâu nhé. Đau tới độ ù tai, có là hiệp sĩ mù cũng hết đường nghe gió kiếm. Đại trượng phu có khi phải rơi lệ. Đừng phản ứng? Cái mới lạ. Em bị anh đâm em có rên la không? Dĩ nhiên là tớ phải tay bấu vào đầu giường mà oằn thân hứng chịu. Cái múi mít nọ đứng sát bên hông tớ, thơm tho và ngon thịt; giá mà được bấu vào đâu đó, cái chéo áo tròn trịa ấy cũng được thì tớ nghĩ cô có đâm xốn xang vào mắt tớ cũng chả hề hấn gì bởi cô vốn là cái dằm mọng chín trong đồng tử tớ. Xong, người làm công việc lạ kỳ tuyên bố. Cô y tá chừng 20 cái xuân xanh vặn vẹo cái ống dẫn thuỷ để gần cả lít bia vàng khè thông chảy óc ách vào túi ny-lông. Hai mươi tuổi, trắng trẻo, tóc vàng, đẹp gái theo tiêu chuẩn mắt bồ câu mũi dọc dừa môi trái tim đã bao phen “vật lộn” với vũ khí lợi hại của cánh mày râu mà xem chừng cô quá mát tay, đầy kinh nghiệm? Thằng chồng nào khéo tu sẽ lấy được cô, an tâm sẽ không lo chuyện trở ngại tác xạ bởi cô giỏi việc thông nòng, dầu mỡ hẳn hoi, tháo ráp lách cách chừng ba mươi giây. Rồi đó cưng, em dựng bia rồi nè, đạn lên nòng thử lia vài viên coi!

Hãy nói cho tại hạ yên lòng, rằng mọi chuyện đã êm hay cô nương phải nhọc công thao diễn lại động tác dễ gây sứt mẻ lòng người. Bổn cô nương nào có thích thú gì khi làm tổn thương các hạ. Uống nước cho nhiều vào và khi đi đái chịu khó đứng vịn mép giường chớ đừng nằm nguyên trạng. Nếu được nên thử thi triển cước bộ, đi loanh quanh, đi đâu đó, đi dật dờ ra ngoài hành lang hoặc đi tới sát bên cửa sổ vác mặt nhìn đời hiu quạnh bên dưới. Cơ thể có hoạt động thì ắt kinh mạch sẽ lưu thông, lục phủ ngũ tạng làm việc và khi ấy huynh đài đỏ mặt tía tai thải cặn bã trong người ra sẽ thôi bị ùn tắc, sẽ vận hành êm đẹp. Ngày mai bổn cô nương quá bộ trở lui để kiểm tra, cái bình nhựa móc bên giường mà không chứa ba phần nước tiểu thì “chết” với bản cô nương.

Thật là chết tiệt! Tớ thử xuống tấn vận 12 thành công lực mà cái con cù lần kia chẳng chịu nhỏ lệ. Nó như con giun đất khác đồng loại, chẳng ngu nghoe mảy may khi chạm tay vào. Trửng giỡn, vuốt ve, chìu chuộng nó vẫn mặt lạnh như tiền. Này, danh xưng tại hạ nào phải Lâm Bình Chi đang thủ đắc sở học Tịch Tà Kiếm Pháp. Trời sinh tại hạ chỉ cốt tâm phục khẩu phục Hán Vũ Đế: Ta thà nhịn ăn trong ba ngày còn hơn một bữa mà thiếu đàn bà. (Năng tam nhật bất thực, bất năng nhất nhật vô phụ nhân!) Thuốc thang các người cho ta uống bấy chầy quả đã làm tiêu hao ý chí chinh phục nữ giới của ta mất rồi. Than ôi! Trước có gây thù oán gì nhau mà giờ nỡ hạ thủ gây ra nông nỗi này!

Có bình nhựa đựng nước đá lạnh nằm trên bàn, tôi rót cho hắn ly nước. Chiếc áo thụng thịnh hở lưng của nhà thương làm khó định vị cơ thể, thôi tượng hình những bộ phận hắn thu dấu đằng sau. Đừng nói là thằng đàn ông hơn 50 tuổi đầu như hắn, ngay cả bà Tây nằm giường bên, thân thể phì nhiêu là thế mà khi khoác áo bệnh nhân thì có soi đuốc cũng không rõ ba vòng nó nằm ở nơi mô. Một chiếc áo kỳ cục, khi đó dễ sửa lời ca dao: Ghét nhau cởi áo cho nhau, về nhà dối mẹ thương đau chữa lành. Và đã là bệnh nhân ai cũng sớm mong được “cởi áo cho tà huy bay”.

Hắn gọi điện thoại cho tôi. Hắn biết tôi đang ăn tiền thất nghiệp, hắn phán: Nhàn cư vi có việc. Ngồi không ắt hư thân, ông lại tôi tụi mình lai rai ba sợi cho khuây, sương sương ba say chưa chai để khỏi mụ người. Về hồi nào? Mẹ, nằm ba ngày trong đó đã nghe đời tàn phai. Tớ xuất viện đã đúng tuần, đã được vợ bồi dưỡng lắm chất đạm, đã thấy chuyển biến đỏ da thắm thịt dần. Đã đủ dũng khí ngồi trước màn hình lùng sục chuyện lạ bốn phương dễ bức xúc trong internet.

Khu hắn mướn thuê thuộc xóm nhà lá, phu phen lao động có mức thu nhập lợi tức thấp, cũ kỹ tồi tàn và là địa phận luôn nằm trong tầm nhắm của cảnh sát thành phố. Tuy tiền thuê nhà giá chẳng cắt cổ nhưng vợ hắn phải làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, ba đầu sáu tay tả xung hữu đột bởi khi không mà hắn làm đồng minh tháo chạy. Mặt trận kinh tế rất căng, hắn ấm êm cuộn mình ở hậu phương, duy mình vợ Tú Xương ra án tuyến đầu. Hắn từng đọc đoạn thơ của ông Trang Y Hạ ở KBC 6235 cho vợ nghe:

“tao bị thương hai chân
cưa ngang đầu gối
vết thương còn nhức nhối
da non kéo chưa kịp lành
ngày “giải phóng miền Nam”
vợ tao “ẳm” tao như một đứa trẻ sơ sinh
ngậm ngùi rời quân y viện…”

Vợ hắn la: Ông chúa bi thảm hoá, chỉ gãy xương thôi, đâu có cụt giò mà bày đặt ca cẩm. Ủa, chứ em không cõng anh vào phòng tắm là gì. Cõng với ẳm cũng cùng một nghĩa như nhau, theo cách luận chuyện đi với về của ông Du Tử Lê. Và trước khi tắm, em chẳng cởi hộ áo quần anh ra đó sao, anh nào khác chi một đứa con nít vô tư bày hàng.

Bấm chuông hồi lâu cửa mới mở được bởi chủ nhân di chuyển nương nhờ vô nạng chống. Hai chân đi nhanh hơn một chân rưỡi, chuyện ấy người trong giang hồ đều biết, ngoại trừ giang hồ vắng mặt thằng Kha Trấn Ác. Thằng nầy ngoài khinh công vi diệu, cây nạng của hắn là thứ vũ khí tự cổ chí kim chưa từng thấy qua, lợi hại hơn cây gậy “Cẩu bổng đả pháp” của sếp sòng Cái Bang. Hồng Thất Công đi đâu, ở đó bọn nhậu thịt chó đều xuống đường đả đảo. Gậy đánh chó của ngài làm chúng tớ vêu mõ, thị trường cầy tơ đâm khan hiếm. Đời vắng chó rồi vui với ai? Ôi, một bọn khuyển tặc. Thương yêu chó cực kỳ và nhậu thịt chó dã man cũng cùng một nghĩa như nhau vậy!

Trước khi đi làm vợ có dặn rằng: Sợ cô đơn thì ông hú anh ấy lại đàm đạo, đồ nhắm tui đã làm sẵn chêm cùng két bia trong tủ lạnh, tha hồ mà thư giãn thoát cảnh mình ên. Hắn nói khi biểu tôi lui ngồi sau bếp. Cái MacBook Air đặt trên chiếc bàn vuông ở đó còn sáng đèn, hắn đang đọc thơ Luân Hoán có đưa hình minh hoạ một cô đầm cụt giò chống hai nạng đứng với nụ cười hồn nhiên:

“có không tuyệt sắc mỹ nhân
rụng bớt cọng tóc sợi lông cũng buồn
……..
giấu vết đau sợ đời cười
bước mình đã khác bước người chung quanh”.

Hắn bày nhu yếu phẩm do vợ ba đảm đang viện trợ chất đầy bàn. Hắn khui bia: Từ độ bị tai ương phải chống nạng, tớ ưa đọc những gì liên quan tới giò cẳng, tự hồ nghi có phải đấy là thứ đồng bệnh tương lân? Hắn hát ca từ vi phạm bản quyền: Anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về bại tướng gãy xương. Vô êm cái này đi. Hai chai bia lại cụng nhau. Ừ, chúc mừng ông chóng hồi sức để đến hẹn lại lên. Hắn chùi tay vào chiếc áo thun, áo hiệu Diesel có in hình con cọp nhe nanh thoạt trông như phù hiệu của binh chủng Biệt Động Quân ngày cũ. Chừng như tay bớt dính dầu mỡ hắn với lấy cái điện thoại thông minh rồi dí cái màn hình nhạy cảm sát mặt tôi. Trong đó ghi lại tấm ảnh mặt hắn tươi như hoa cụng đầu bên một bông hoa thực thụ. Hoa tươi đẹp nõn nà. Hoa giãn nở thần sắc một cách tự nguyện chứ không lộ sự miễn cưỡng của kẻ bị thế lực thù nghịch dí súng bên lưng. Biết ai đấy không? Hắn hỏi. Làm sao biết được, ngoại trừ một chi tiết về chiếc áo đặc thù cô ấy mặc, tố cáo rõ đích thị nàng là y tá. Tôi buột miệng: Bà xã thấy có nói năng chi không? Nói chớ, càm ràm chớ, nguyên văn như sau: Chao, tình tứ hết biết! Có điều là ông chả biết lượng sức, đang làm đứa đui què mẻ sứt lấy tư cách gì đi dựa hơi người ta!

Hắn nốc bia: Tớ cười ruồi, tư cách của một đứa từng nằm yên cho ẻm cầm cây thông nòng khi trăng treo trên đầu súng. Ẻm cẩn trọng, nâng niu, ý tứ như tân binh học bài bảo quản súng là vợ đạn là con. Là vợ chồng ăn nằm mút mùa lệ thuỷ có khi nào em thèm ngó ngàng tới nó, cự nự là đằng khác, chê bai là đằng khác, phụ rẫy là đằng khác… Ngang như cua! Thật khó đả thông tư tưởng! Vợ tớ phán. Nếu tui làm y tá, vì công việc tui cũng xắn tay áo đi sờ cu thiên hạ vậy. Liệu lúc đó có ai đâm tưởng nhớ “tay em mười ngón thiên thần” của tui không? Rồi dụ tui ra chỗ vắng mà chụp ảnh tự sướng. Tôi nhìn vào vuông hình cái lap top tự động cắt điện tối đen, nghĩ tới điều chẳng thể nói ra: Trong muôn một, không hẳn lời vợ ngôn đều là nghịch nhĩ. Bả nói đúng quá chứ còn gì nữa, cái mà bả nên thông cảm là khi hắn muốn chụp hình chung với người từng sờ nắn hắn, chẳng qua là muốn thu giữ một kỷ niệm đau thương. Mất mặt bầu cua chút đỉnh khi để nữ du kích vào tận mật khu để lùng sục, nhưng ngược lại nàng đã giải phóng được chuyện bí đái mà chẳng hề phỏng dái. Đau khổ gì cho bằng mất tự do, đến buồn đi tiểu cũng hổng xong! Đồng minh xung trận khai thông lộ, tới phiên vợ hiện bả rầy la!

Tớ từng vắt tay lên trán ba hôm, nghĩ là việc nầy chỉ có ông mới giúp tớ được. Mặt hắn phừng đỏ, hắn đã “làm” cạn ba chai bia. Tôi ngồi yên, chọn thế thoải mái trên chiếc ghế có lót miếng nệm xộc xệch chờ hắn đi vào phần thân bài. Ông biết đó, khu tớ ở bị giang hồ gọi là ổ chuột. Cuối đường nầy có bà Maria chuyên nhận đồ về may để lãnh tiền mặt, tớ biết bả vì thi thoảng có mang quần jeans tới để lên lai, hai ống tính 5 đồng, ngồi đó chờ, thời gian chỉ bằng hút xong điếu thuốc. Ông người Việt phải không? Maria hỏi, rồi chẳng cần một xác nhận từ tớ, bả đưa cảm nhận: Tôi luôn yêu thích cách sống của cộng đồng ấy, kín đáo, đèn nhà ai nấy sáng, không lắm chuyện, hiền hoà, chả ưa kiện tụng và… thích xài tiền mặt. Tôi có con cháu vừa sang tới, di dân lậu, đủ tuổi lao động nhưng chưa có giấy tờ hợp pháp. Nếu hàng nhiều, tôi vẫn gọi nó đến phụ giúp một tay… Nếu ông có muốn “thư giãn”, ưa vui vẻ với cháu, ưa thử của lạ thì nhất định cháu nó sẽ lấy giá văn nghệ tượng trưng. Do tôi giới thiệu, nhất định cháu không hét giá đâu.

Ông thấy mặt mũi nó chưa? Ở khu ổ chuột thì chắc chắn không thể thơm như múi mít được, tôi đồ vậy. Không như mít thì chí ít cũng thuộc dạng sầu riêng, con bé ấy nó văm lắm ông ạ, dư sức bẻ gãy sáu cái sừng trâu. Mà tại sao ông lại dự mưu bất chính vậy? Nổi hứng đi cưa sừng làm nghé thì có nước từ chết tới bị thương. Thú thật cùng ông là từ lâu vợ tớ chẳng màng tới chuyện ấy nữa, cơm không ăn thì thử xơi phở xem sao, lại nữa từ khi ê ẩm xuất viện tới giờ tớ muốn xét nghiệm xem tình trạng súng ống của mình có bị hen rỉ trở ngại tác xạ không. Ông giúp tớ một cơ hội để tớ khắc ghi vào lòng “tình đồng chí bất diệt”.

Hai giờ trưa, chí công vô tư tôi chở người đồng chí cà chớn nọ đi lắc léo vào sâu trong ổ chuột. Theo mục tiêu được chỉ định của o du kích nắm vững địa bàn hoạt động, xe dừng bên hông một garage bỏ hoang. Cách một ngả tư có tiệm tạp hoá, hắn biểu tôi đến đó mua tờ nhật báo mua cốc cà phê để giết thời giờ. Tôi nghe lời vì thực bụng cũng chả muốn làm khán thính giả trước khúc phim đồi truỵ đó. Vietnam War nhiều tập dài miên man đang trình chiếu thì ô-kê, dù xem với sự bất bình cố đè nén. Cứ để yên cho hắn “trả thù dân tộc” dù tôi biết mười mươi là hắn sớm giã từ vũ khí. Tôi rút chìa khoá ra khỏi ổ, đóng cửa chiếc xe Cadillac trước khi nghe hắn lập ngôn: Sinh ra ta là cha mẹ ta, mà người hiểu ta chính là nhà ngươi vậy!

Bóng nắng vỡ đốm trên vai tôi. Chiếc xe đằng sau lưng bắt đầu run lên bần bật.

Hồ Đình Nghiêm

Tình Viễn yêu Liên

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 25 Jan 2024

Tiếng chuông réo kêu giữa khuya. Đừng nói nó phá tan một giấc mộng, ngay cả đứa còn lục đục thức, chưa lên giường vùi mặt vào gối mền cũng lấy đó làm điều. Khó chịu.

 Quá mười hai giờ đêm, rạn vỡ một ngày mới bằng chuỗi tiếng reng hốt hoảng liên hồi kỳ trận. Phải giết nó bằng câu đọc chú: A-lô. Xong thì dằn lòng chờ đợi một tin vui buồn sẽ truyền tải vào bên tai. Và thông thường, bực mình là những tin vui chẳng có ai loan vào nửa khuya. Thứ tiếng động “làm phiền lòng hàng xóm” vẫn khuếch đại, vẫn một duột rưng rưng nỗi sầu.

 Người khuất mặt phía bên kia lỡ quan niệm, giờ giấc nọ sẽ hợp cho những tỉ tê muộn phiền. Bóng tối, nỗi quạnh vắng các thứ luôn “ăn” với thì thầm… A-lô… Xin lỗi. Chỉ hai chữ dội vào ống nghe. Đường dây cắt, mất sóng sau đó.

 Có không ít nạn nhân bị kẻ lạ quấy rầy, có lắm đứa chạy lại chỗ mướn điện thoại trình bày lý do và yêu cầu được đổi số. Như sự tìm kiếm may rủi của người đa đoan tin vào phép lạ hàng tuần “cúng” tiền chơi xổ số, tôi không thể “nuôi” 7 con số này nữa, nó ám tôi quá, tôi mất ngủ bởi nó. Một ngày kia, đứa cà khịa bên đầu dây sẽ nghe ra một giọng đọc thâu băng: Số mà quý vị muốn liên lạc đã không còn hiện hữu.

 Trong lúc nó thoi thóp, giữa lúc nó tìm cách thoát xác, đầu thai vào một ký hiệu mới, nó vẫn có khả năng để vất ra giữa căn phòng tiếng dóng chuông riết róng. An ủi cho chủ nhân, nó gọi kêu vào lúc 8 giờ sáng. Một ngày chủ nhật dự báo thời tiết ở đài truyền hình địa phương loan tin, đi chơi xa nên đề phòng vì có mưa tuyết, trơn trợt, dễ lật xe. Tám giờ sáng một ngày xấu trời, u ám. Căn phòng thuê chôn lưng chừng, ngập nửa mình vào đất. Cánh cửa sổ ít khi kéo lên là một thứ màn hình khác, trông ra chỉ thấy những đôi giày rảo ngang, những cọng nắng xoắn bụi hoặc những hạt mưa vỡ nạm kim cương rãi đều tia sáng. Mặt kính đón nhận đường truyền của độ rung nếu có chiếc xe tải hạng nặng xé rào chạy vượt qua con lộ nhỏ rạn nứt nhựa đường. Và gió, nó sẽ tạt bao lấm lem vào đó, một pháo đài nhập nhòa lỗ châu mai trông chẳng rõ những rình rập an nguy sẽ đổ ập tới, sẽ tấn công vào nơi phòng thủ không lấy gì làm kiên cố. Và loạt súng liên thanh khai hỏa vào lúc tám giờ AM.

 – A-lô.

 – Anh Hổ phải không?

 Giọng người đàn bà đặt dấu hỏi, muốn xác tín. Chủ nhật, thường thì “anh Hổ” sẽ nghe tiếp theo: Chúng tôi muốn loan tới tin vui, rằng Chúa thực sự không từ bỏ chúng ta… Những người con của Chúa làm việc thiện nguyện sẽ chẳng từ nan rao giảng tiếp một chương hồi trong thánh kinh. May cho “anh Hổ”, không một ai vác thập tự giá cả.

 – Thật bất ngờ, tháng trước, mình nghe trên đài, người ta đọc truyện của anh… Một tháng, ba mươi ngày, mình dò ra được sợi dây thất lạc… Mình có thử gọi điện thoại, nhưng sực nhớ là bên ấy đang vào khuya, nên thôi. Giờ thì gọi lại, mấy giờ sáng bên đó hở anh?

 – Xin lỗi…

 – Không nhận đoán người gọi? Trí nhớ anh kém hay lỗi do ở Hà Đông?

 – Hà Đông? Bao nhiêu năm rồi? Thực ra thì bạn đang ở đâu?

 – Gì mà thực với mộng! Đông vẫn ở Sài-gòn. Vẫn ngụ quận 3. Để xem, dễ chừng đã 6 năm.

 – Sao im re vậy? Bận chuyện gì không?

 – Mình đang hồi ức, đang thử nhớ lại một khuôn mặt.

 – Một con sư tử, lý ra cọp sẽ phải nhớ đời. Đùa đó, Hà Đông, cái tên ấy dễ khiến người ta quên?

 – Tại hơi bất ngờ. Mình luôn mang khuyết điểm, rất vụng trong ứng xử. Mình là đứa chậm lụt khi tìm ra sự thích nghi. Hà Đông, tóc ngắn, dạo ấy thích mặc quần jeans, đi xe PC.

 – Hú hồn. Một người viết văn hình như thường bỏ quên lắm điều. Sao anh không nói điểm dị dạng có nơi gương mặt nó mang?

 – Bạn ra sao giờ này?

 – Ly dị, một mình nuôi con mọn. Cố tìm một cái gì để thấy đời sống không hẳn chỉ toàn sắc xám. Khẳng định ngay, chẳng phải gọi hỏi thăm bạn cũ là một ý đồ bất chính. Hổ thì sao? Chắc dễ thở ?

 – Không khí hay điều kiện sống?

 – Ở bên này, nhà văn sống ung dung nhờ vào khoản nhuận bút…

 – Mình chật vật khi viết. Hoang tưởng. Nhớ khó khăn tới hình bóng Hà Đông là một chứng cớ.

 – Cho Đông xin cái địa chỉ có được không? Sẽ viết và gửi những lá thư dài e dễ dàng cho Đông hơn là dùng điện thoại viễn liên. Trong lúc này Đông thích viết thư, những tin tức của người kém may biết đâu giúp Hổ có thêm tư liệu sống, thoát khỏi hoang tưởng. Chúng ta nên cô lại ở giới hạn tự đề ra, không nói tới vấn đề kinh tế, tiền bạc linh tinh dễ đi tới ngộ nhận. Đồng ý nhé.

 Chuông thôi reo từ dạo đó. Những con số thủy chung vẫn ở lại với người sử dụng. Nếu có một định nghĩa về niềm vui lúc này, không gì khác hơn là chữ viết đã mang lại cho Hổ chút mong cầu ngoài dự tưởng, quăng ra và đón nhận một tiếng vọng. Hà Đông đã tình cờ làm kẻ cô thân mang niềm vui đến cho đứa xa xứ mãi ôm vào lòng sự mất mát vô bờ. Hổ siêng viết, những tâm sự nhắm riêng cho Hà Đông, ra bưu điện, tiền tem cò cho phong thư có khi phải trả tới 10 đô vì trọng lượng. Hồi âm, người bạn gái nói, thực sự thì đó là những cái truyện ngắn, giúp cô ấy nguôi ngoai ít nhiều ác mộng. Lần hồi, những dòng chữ hé mở ra một cảnh quang u tối, một phần số mà người ta không thể để vuột trôi sự can đảm. Hiện hữu cái can trường thậm phi lý: Tại sao tôi phải sống để cúi đầu chống chọi lấy nó. Một giả thiết được nhắc tới, thoáng qua: Làm một tờ hôn thú giả.

Thoáng qua, chỉ vì cả hai nhận ra ở đó mang lại điều gì hơn cả một hiểm nguy. Chữ giả thì vẫn tượng trưng cho sự sụp đổ chóng vánh. Tình yêu thì dứt khoát phải tuyên chiến ngay với giả dối. Vợ chồng thì lấy thật làm thước đo đi đường dài. Và luật pháp, chẳng phải cái nó tối kỵ hàng đầu là sự man khai? Những lá thư lần hồi sa đà vào những mơ mộng. Và muốn biến giấc mơ thành hiện thực, người ta chẳng loại trừ tội ác. Hà Đông nhắc tới một phương ngữ hàm hồ của người cọng sản: Với sức người sỏi đá cũng thành cơm! Rồi cũng chính kẻ tham sân si kia đi tới cuối biên ảo não, sức người có hạn. Hai đứa mình đứng giữa trùng vây, trên hoang mạc tuyệt không có núi để khả dĩ thốt câu: Đứng núi này trông núi nọ.

 Nhưng Hổ, đứa có điều kiện hơn Hà Đông, bắt đầu bén rễ một tính toan. Giấc ngủ thường muộn và chiêm bao luôn đến với những thước phim sống động không hề là ảo ảnh. Như thể hắn mở mắt ra, ngần ấy hoạt cảnh vẫn sinh động đóng trọn vai diễn, đi tiếp con đường mà nhân vật đang làm trò, tuyệt không hề vùng thoát, tỉnh thức.

 Đứa bé gái đếm số mỗi khi nhổ xong từng sợi tóc ngứa, mỗi khi đưa cái nhíp rà xuống cằm tên đàn ông giựt ra một sợi râu bạc. Tới 50 thì nó ngừng tay. Nó làm một phép tính, nó ghi sổ và đọc to số tiền mà người nó gọi là Dad đang mang nợ: 5 đô. Người đàn ông kê đầu trên gối, mắt vẫn nhắm, chẳng muốn thoát khỏi giấc hưởng thụ đê mê. Ông sờ soạn, rồi nắm được bàn tay của con bé. Không có tiếp thị khuyến mãi gì sao? Phải thương bạn hàng chớ, chẳng giảm giá thì nên làm việc công ích nhổ thêm ít cọng râu. Ông dùng những chữ học được từ con bé, những từ mới toanh mà thế hệ ông chưa biết “đụng hàng”. Ông chấp nhận trong xót nỗi thua cuộc, bởi ông hiểu sẽ khó để làm đổi thay. Ông thương cái hồn nhiên bị vấy bẩn có nơi cô bé chưa thực sự trưởng thành. Nó hay dùng chữ siêu, chữ cực. Bình phẩm cuốn phim hay: Siêu phẩm. Đánh giá một nhan sắc: Cực nóng. Nó hà tiện cách diễn đạt, nó o ép sự trình bày, giản đơn, rút gọn bằng một hai chữ. Chán ốm!

 Nhưng thà vậy còn hơn một ngày kia nó sẽ nói thẳng vào mặt ông một cụm chữ không chia ngôi thứ của Anh ngữ. Gặp thì hai rời ra thì bai. Không già trẻ lớn bé thím cô cậu mợ dì dượng chú bác ông bà ông vãi gì sất, cứ việc you and I mà xổ. Không dạ không thưa, chẳng kính trên nhường dưới tôn ti trật tự họ hàng. Bình đẳng thẳng ruột ngựa tới độ… cực sốc!

 Và giờ này thì ông còn lách vào khe hở để lợi dụng, chứ đôi ba năm sau, tiếp cận gần gũi con bé thì ông sẽ choáng với bản án tuyên xử: Sờ mó xâm phạm tính dục gái vị thành niên. Ông sẽ nắm con dao đằng lưỡi khi quan tòa luận tội: Phải mà, nó đâu phải con ruột nên ông tha hồ làm chuyện xằng bậy, đúng không nào? Khi đó râu tóc ông sẽ tự động rơi rụng mà chẳng cần nhờ vào sự đoái hoài nơi hai bàn tay dịu hiền của con bé. Mang ý nghĩ tựa một đám mây đen trôi chậm trong đầu, nên lòng thương ông dành cho nó ít có dịp biểu lộ bằng hành động ôm ấp. Yêu thương mà cứ loay hoay tìm cách tỏ bày thì cũng nên xem là một tai nạn. Tội nghiệp!

 Sao ba má không ngủ chung với nhau? Nó từng hỏi. Và ông từng nhát gừng:

 -Ủa, chứ không phải theo thói quen, con phải có má nằm một bên sao?

 – Đó là ở Việt-nam. Bây giờ sang đây thì phải thay đổi. Lại nữa con đã không còn bé tí như năm xưa. Nó làm bộ “chảnh”, thấy ghét!

Vấn đề vẫn chẳng cải thiện. Không làm nó nguôi hiếu ký. “Ba má” tự thấy chướng, tự thấy hổ ngươi, tự cắn rứt lương tâm với cẩm nang “ngủ bất khả ép”.

 Cô con gái đi cất cái nhíp vào lại hộc tủ nơi bàn phấn của má. Phải 5 giờ má mới trở về từ hãng xưởng lắp ráp hàng điện tử. Dad sẽ ngồi đối mặt với màn hình máy tính và nó có cả vạn chuyện để làm trong căn phòng biệt lập của riêng nó.

 Hổ rời bàn viết đi nhanh tới hành lang hẹp, nơi cái điện thoại đặt trên giá sách liên hồi đổ tiếng. Ông cho mình cái truyện ngắn nhé, như đã hứa. Mình nhắc lại, chủ đề về chuyện hội nhập đời sống mới. Tôi viết sắp xong, bao giờ là hạn cuối? Đôi ba hôm nữa, đã đủ hết, chỉ đợi bài ông là mang đi in.

 Ngoài đường có người đàn bà đi vào vuông sân cỏ. Hổ gát điện thoại và lại mở cửa, chờ đợi. Mặt người đàn bà xanh, có vẻ mệt mỏi, bên thái dương có cái bớt đỏ mà tóc rủ chẳng tài nào che kín. Thẩm mỹ viện tốt nhất ở khu vực bảo có thể làm nó nhạt phai đi, nhưng nghe tới khoản chi phí phải trả, người đàn bà thoái thác: Cho tôi thời gian để suy nghĩ. Bà có kể với Hổ về câu chuyện đó và tự chấm dứt bằng kết luận, thực ra thì em đã già rồi. Và khi người ta quyết tâm làm đẹp, hẳn người ta đang mang một dự mưu. Em từng nói với anh, em không phải là hạng người đứng núi này trông núi nọ, còn nhớ không?

 Người đàn bà ấy là con sư tử bị cắt hết móng nhọn, mài hết răng khi mang từ rừng về. Từng ly dị, có một con. Tên đủ đầy trên giấy tờ Nguyễn thị Hà Đông.

Tình nhân

quanvan.net

Hồ Đình Nghiêm

Post on 29 Apr 2022

Post by Sơn râu 25 Jan 2024

Đêm, giấc khuya nghe mơ hồ những tiếng động vắng xa. Vườn tối như có phủ màn nhung, tấm màn có khi bất chợt vén lên bởi chiếc xe gắn máy chạt vút qua với ánh đèn quét vội. Tiếng nổ chìm trôi trong quánh đặc vùng ngoại ô đang thiếp vùi canh thâu. Trăn trở. Đốt đèn dầu soi tìm trước đó vẫn để sót đôi ba con muỗi ẩn náu trong mùng, và chúng dường siêng năng trong việc phá rối, lôi người ta ra khỏi một đắm chìm vốn khó lòng dỗ giấc mê muội. Cà phê không hoàn toàn là chất gây tỉnh thức, mất ngủ thì anh có cả ngàn lẻ một thứ lý do. Khuôn mặt một người nữ luôn hiện tới trong trí thì dẫu anh uống cả trăm liều lượng thuốc an thần, đầu óc anh quay mòng và anh vẫn trắng con mắt.

Có khi nghe rục rịch như bước chân ai đi nhẹ bên ngoài hàng giậu. Một thứ trái cây chín héo nào rơi xuống thềm cỏ xác xơ? Tiếng đập cánh của loài dơi hay chùm lá nôn nao cào lên mái tranh, cọ xướt bởi gió? Đêm rơi vào chu kỳ của tuần trăng ở đâu xa chưa hiện hình nên đêm thuần của độc tôn bóng tối. Điện đóm giăng mắc ngoài phía quốc lộ nên “ánh sáng văn minh” chưa liếm sâu vào được chốn thẳm sâu này. Tối tăm đôi khi trùng nghĩa với an toàn, tuỳ vào mỗi lời giải thích, tuỳ vào hoàn cảnh, tuỳ vào số phận. Cũng như sách dụng binh của người xưa: Muốn an toàn anh nên kiếm cách trốn vào ngay nhà kẻ thù để nương náu. Sự cả gan xăm mình kia gây bất ngờ cho đối phương? Nếu đúng thế, những nơi quạnh vắng sẽ là mục tiêu, rơi vào tầm nhắm cho những dốc lòng thanh tra lùng sục. Người ta hiểu tâm lý đứa làm chuyện ám muội vốn ưa thu mình vào góc kẹt, một xó xỉnh sở đắc toàn sắc đen. Phải không, khi quang minh chính đạo luôn là lẽ sống của hạng quân tử? Thứ quân tử vẫn rắp tâm sôi máu trả thù, dù mười năm vẫn cứ đeo đẳng cái ý tưởng muốn nhìn ra huyết lệ đổ. Tuyệt đối không muộn. Là tiểu nhân, đôi khi mười năm nước chảy qua cầu sẽ khiến hắn quên đi thâm thù. Đời khô cằn đói kém đã cải tạo hắn, khiến mòn hao bao nhuệ khí. Hắn ngửa mặt vào cao xanh: Ta sống đây mà như chết rồi vậy!

Bóng tối có cái bất toàn của nó cũng như ánh sáng vẫn tiềm ẩn một sự răn đe. Dẫu sao thì bình minh cũng đã ló dạng, hiện về thứ chân dung của ngày mới. Mặt trời cướp đi cái đêm dài lắm mộng kia để qua tiếng gà gáy sáng, truyền tải ra xa niềm hy vọng, dẫu mong manh. Nhân gian sống thở nếu chẳng đơm sự kỳ vọng thì nhân gian nọ khác gì đang bị đày dưới tầng sâu địa ngục. Người ta vui lòng để ăn cái bánh vẽ còn hơn vô phương nhìn niềm tim bị chôn sống. Da trời dần ửng lên xanh, màu nguyên thuỷ. Hy vọng có khi quan trọng tựa khí quyển, thứ cần thiết cho sự hô hấp.

Củi lửa được hoàn thiện cho kiềng ba chân được nâng đỡ ấm nước. Ông Táo reo vui như tiếng thuỷ sôi sục bởi thần hoả nướng đít. Khói xanh chập chờn làm cay đôi mắt thiếu ngủ. Cái nồi ngồi trên cái cốc chờ chực úng thuỷ thẩm thấu để đái nhỏ giọt chất nước đen dục tốc bất đạt xuống dưới. Cà phê thuốc lá muôn năm vẫn còn đó là món điểm tâm ngon miệng. Ngoài công dụng đả thông hai huyệt nhâm đốc, nó đi qua cơ thể và vực dậy kỳ diệu ba chữ “lại thần hồn”. Người nhấm nháp nó sẽ tỉnh rụi trong nhận thức: Ta hy vọng điều gì ở thì hiện tại này?

Cà phê được khuấy với muỗng đường. Thuốc lá vừa thắp đỏ đầu môi ngậm thì đôi tai hứng đọng một âm điệu rộn ràng tựa nhạc không lời du dương. Thế gian này có bao ức triệu xe gắn máy tựa thế, nhưng với thính giác cá biệt của y, y biết rõ mười mươi tiếng nổ của động cơ chiếc xe kia là của thị. Thị đang hộc tốc thu ngắn khoảng cách để chóng đến bên y. Người ta bảo, yêu nhau yêu cả đường đi lối về; cá nhân y không có ý kiến, y chỉ biết duy một chuyện: Y là con cá lia thia đã quen chậu, đến nỗi dù đóng vai hiệp sĩ mù, y cũng nghe ra tiếng động cơ 90 phân khối dòn dã kia là xế nổ của riêng thị sở hữu, không sai trật. Chuẩn xác thêm chuyện khác, y thuộc nằm lòng trên cơ thể thị có bao nhiêu nốt ruồi, vừa đỏ vừa đen mọc rải rác từ chỗ luôn để trần thơm tho đến chỗ luôn dấu che bốc mùi. Cả thảy là 35 hạt, nhỏ tới lớn. Đúng không em? Trời! Làm sao em biết được? Những vì tinh tú hiện mọc trên bầu trời là do kẻ đứng ngoài hành tinh đo đếm thẩm định chứ thiên thần cư ngụ ở đấy làm sao nhìn ra, hử? Thị nói và nằm dạng chân ra trên giường, người không manh áo. Có chắc không kẻ phàm phu? Hãy đếm lại rõ tiếng cho em nghe. Và thị cười như thể bị ai chọc nhột. Một, hai, ba… Và thị la lên: Thôi, không thèm đâu. Hãy đi sâu vào trong em. Và nhớ đếm năm, mười, mười lăm. Y nghe theo, y lệnh. Và hào hển thở dốc. Đừng ăn gian nhé, em muốn đạt tới con số càng lớn càng tốt. Chiếc giường than van phụ hoạ theo bài toán đố của họ. Và hình như, bao giờ cũng vậy, họ luôn khát khao bày trò đố vui để học đầy phấn khích, đầy mê muội. Đôi khi vợ chồng quen hơi cũng nên học ở họ cái trì chí sắc son một hương mùi. Thuỷ chung có lê vẫn nhớ lựu có trăng vẫn nhớ đèn.

Em bảo chỉ hai hôm thôi sao để anh phải ngóng tới bốn hôm? Y hỏi khi phụ thị mang chiếc xe nóng bỏng vào gian nhà hẹp. Xe ngốn khoảng đường dài nên lưu dấu vết của bụi bặm băng qua. Thi cởi nón bảo vệ ra khỏi đầu, dùng ngón tay xới lại những lọn tóc xoăn rối. Một khuôn mặt thiếu trang điểm, thiếu những trang bị cần thiết cho dung nhan đang mất nhiều thần sắc. Thị buông người xuống ghế, uống cốc cà phê mà y mới tợp qua vài hớp. Những ngón không nuôi móng dài, không bôi son màu mè với lấy thuốc lá và bật quẹt. Châm lửa, rít khói. Thị cũng biết nương nhờ vô đó để lại thần hồn. Tay thị có hơi run. Em giết lão ấy rồi, tạo hiện trường giả nên bốn ngày mà nhằm nhò gì, em ngỡ e phải mất tuần sau mới gặp được anh. Y ngây người, như đầu ngày, bảnh mắt ma quỉ cũng có thể hiện ra hù doạ. Hổm rày y luôn mơ thấy ác mộng, ngủ không xuống, để hôm nay giấc mơ biến thành hiện thực. Một hiện thực chả ai trông mong. Quá độ làm gì cho ra nông nổi của thứ chủ nghĩa xã hội đang mất nhân tính! Em nói sao? Cớ gì lại xé rào ra khỏi phương án kia? Thị ém sâu hơi khói, đầu điếu thuốc đỏ rực như một hòn than để giây sau hai luồng khói thoát ra từ mũi. Sống mũi cao, mọc lên hoàn chỉnh giữa khuôn mặt có nhiều nét thanh tú. Không cần khói thuốc phụ hoạ, nhan sắc ấy vốn sẵn đã tác thành ra sương khói mộng ảo diễm tuyệt để vắng nó y thấy lắt lay một niềm nhớ sa đà lãng đãng đến sôi ruột.

Lão ta ăn gì mà sung khiếp anh ạ. Gói thuốc diệt chuột ấy em đã trộn vào cơm, gieo rắc vào thức ăn nhưng lão không sớm giã từ cõi thế. Lão kêu em lên giường cạo gió cho lão với lời thều thào: Cưng ơi, đóng chặt cửa nẻo lại, tuồng như anh vừa bị trúng gió, tự dưng đâm nhác chơi. Lão nôn thốc tháo rồi ôm cứng lấy thân em, ngó em bằng đôi mắt đầy cả tròng trắng chập chùng bao dấu hỏi. Em chẳng thể vùng thoát được, buộc lòng phải dụng sức leo lên ngồi ngay vào mặt lão. Vùng vằng, dẫy dụa kéo dài khoảng mười phút. Mồ hôi mồ kê và nước đái ướt ngập mặt chiếu. Thiếu dưỡng khí, lão đi đong bằng cái mồm mở rộng không phát được tiếng kêu than khẩn cầu.

Thị chấm dứt lời trần tình ráo hoảnh của một sát thủ bằng cách di động tấm thân lại bên chiếc xe gắn máy. Y nhìn theo, đặt để ánh mắt vào cái vùng nổi cộm một hình tam giác cân, nơi sinh nở ra một kiếp người và cũng là chốn dùng để giết người không gươm đao. Y mường tượng ra cái sống mũi của thằng đàn ông đuối sức nằm dưới bị kềm kẹp bởi tả ngạn và hữu ngạn của cửa mình đang rán sức giãn nở, đay nghiến bóp họng bóp hầu nạn nhân, từ bị thương tới chết chỉ kéo dài trong sát na đo được khoảnh khắc là mười phút. Đó từng là nơi hứng đọng tinh dịch của lão phóng ra khi đã nhất trần đời đồng thời khi cần, buộc lão phải són đái khi đi giã biệt trần ai. Tự cổ chí kim, lần đầu y nghe được thứ phương thức giết người nằm mộng cũng chẳng ngờ. Xưa nay chết vì mỹ nhân thì quá loạn, đếm không xuể; nhưng chết vì bị cửa mình hút hết dưỡng khí quả là liêu trai. Y nhớ rõ mòn một, cửa mình thị có đậu một hạt nốt ruồi. Y chả rành lãnh vực tướng số, nghe phong thanh là nốt ruồi mọc dưới khoé mắt thì được gọi là thương phu trích lệ. Nếu vô phúc mọc ở chỗ kín e nên diễn nôm: Chồng ơi kiếp này em đành phụ anh?

Thị trở lại ghế bàn với một cái túi vải. Gỡ nút thắt, vừa bày hàng ra bàn vừa thuyết minh: Một nhẫn hột xoàn, một cà rá vàng ròng, một sợi giây chuyền hai lượng, một đồng hồ Rolex, hai nghìn tám năm chục Mỹ kim, hai điện thoại iPhone 5, một máy tính bảng. Ngần ấy thôi, những thứ khác cồng kềnh đành bỏ lại vì em đơn thân, tỷ như chiếc Vespa bề thế đành phó mặc bỏ quên vẻ gợi cảm nó chống chân ở góc sân đợi chờ. Muốn khoắn nó thì phải học thuật phân thân, không thì lui lại hiện trường lần hai, nhưng đành dông một lèo vì ngẫm ra lòng tham vô đáy có thể chuốc hoạ vào thân.

Y nốc cốc cà phê nguội ngắt, uống cạn, nuốt trôi cặn lợn cợn hột nhám. Em xoá sạch dấu vết chứ? Dĩ nhiên, thời gian bốn hôm anh đợi là em dùng để nghe ngóng động tĩnh. Em bỏ hiện trường trong khi chưa có ai phát hiện. Nhà còn thứ gì giải khát không anh? Thị dùng tay lùa hết chiến lợi phẩm vào lại túi vải. Công đoạn chẳng đi hết, lần khần đứng yên, dùng tay tuồn vào quần kiểm tra rà soát. Có chết mẹ không? Y ngó khuôn mặt tái của tình nhân, chuyển hướng nhìn vào khoảng bụng trắng hếu vừa hé lộ. Chuyện gì thế? Lão hối thúc đòi hỏi, biểu em vào tắm táp rửa ráy vệ sinh trước và… và em đã bỏ quên cái quần lót màu đỏ trong phòng tắm. Đưa cho chó đặc nhiệm đánh hơi, nó có sủa đúng ngay đít mình không? Đừng nói là chó bẹc-giê khôn vặt láu cá, ngay cả anh, anh cũng ngửi ra mùi em. Chết mẹ, sao lại mụ mị đến thế nhỉ? Hay là này, đôi ta trở lại chốn đó, thấy êm thì em vào khèo lại cái quần xịp trong khi anh chơi mẹ cái xế Vespa, nhẩy? Một công đôi chuyện. Y vòng tay, háy mắt: Thôi đi má, khi không đi hô hoán lạy bà tớ ở bụi nầy!

Y đi mở tủ lấy cho thị chai nước trà sâm đặc sản Trung-quốc với bao bì hoành tráng: Bảo đảm không pha trộn hoá chất. Thiếu lời thề thốt: Nói láo thì bị mất hai hòn đảo! Thị từng hỏi y, giọng chả chớt: Có iu tui hôn? Y xẳn xái: Yêu nhắm nhắm. Thị véo tai: Thề đi. Lỗ tai y đỏ rần: Nói láo thì bị công an uýnh chết trong đồn. Sau khi qua màn thi vấn đáp, thị hớn hở cởi quần để y trả bài thực hành. Năm mười mười lăm hai mươi… Họ uống nước trà sâm của nước lạ và họ tin hậu duệ của Từ Hy thái hậu có pha trộn công thức thuốc tăng nội lực vào trong. Tuy chẳng xứng tầm với Hoa Đà, nhưng chí ít cũng không hề làm mỏi gối chồn chân đau lưng thượng mã phong các thứ vớ vẩn. Đường ra trận mùa này đẹp lắm, súng nổ cắc bụp dòn dã và thị, chánh quán Củ Chi rít trong miệng những chữ không ra câu cú: Sướng wá đê… Chơi em đi… Ui, thương anh nhất trần đời… Nói láo cho bà bắt sang Hàn quốc làm ô-xin…

Anh tính sao? Thị liếm môi sau khi tu chai trà sâm xuất khẩu. Mình sang Cam làm lại cuộc đời anh nhỉ? Cam hay Sin? Đâu cũng vậy, nhưng trước tiên phải để anh bán mẹ nó đi căn nhà cấp 4 này đã chứ. Đã bắn tiếng, với giá rẻ, chẳng mấy lâu sẽ có đứa lại chồng tiền. Bỏ nơi chôn nhau cắt rốn thì dứt khoát túi ta phải nặng tiền, nếu không, qua chốn lạ, người nhẹ e gió thổi bay. Em đã đầu tư công sức vào việc đội đá vá trời y như thể cách mạng vừa thành công đạt lấy thắng lợi, giờ là giây phút em cần ngủ bù mong chóng tìm lại thể lực. Thế anh có ru em ngủ không, bằng cách đếm số? Việc ấy thì ta nên mần vào lúc tối trời. Đưa thơm cái nào, bốn hôm mà nhớ quắt quay! Thôi đi ông thánh, cuồng chân tính chạy những đâu mà nai nịt gọn gàng thế hở? Anh rảo một vòng xem tình hình, luôn thể tạt ngang quán cơm ba miền đẳng cấp mua thức ăn nhức răng bồi dưỡng cho em. Tắm rửa nghỉ ngơi đi, đợi anh về bày sơn hào hải vị đầy bàn ta ăn mừng thành quả, nhớ?

Y dắt chiếc xe máy chưa kịp nguội ra sân, ngó quanh quất rồi thót lên yên dọt chạy ra hướng quốc lộ. Mặt trời chưa đứng bóng, y tấp vào quán Sương Sương ngồi vào cái bàn cạnh ngạch cửa. Móc di động ra để gửi đi một tin nhắn. Y nói với đứa con gái phục vụ đứng đợi phát hiệu lệnh ban đầu: Anh chờ đứa bạn lại mới quyết định chuyện tới bến sau, cưng nhé. Em chỉ muốn thưa trước là quý anh muốn xơi thịt chó thì nên thông báo sớm để tụi em đi xoay nguồn. Chỉ có vậy, kỳ dư những thứ đặc sản khác thì chúng em có đủ. Y ngó đứa con gái ăn mặc hơi bị thiếu vải, tiếc một điều sao lao động trong quán nhậu ê hề thịt thà mà người ẻm lại gầy mòn chả động lòng ôm ấp. Chưa thẩm định xong sinh hoạt làm ăn trong quán thì kẻ nhận tin nhắn đã giỏi chân chạy ùa tới. Xe Honda dềnh dàng ngó choáng với tiếng máy rậm rật gầm rú hơi cuối mới chịu tắt nghỉn, gã chống chân chiếc xe lệch nghiêng bên hàng rào dâm bụt rồi vác bộ mặt nghiêm trọng đến sát bên y. Tuồng như gã nọ ra đời dưới một vì sao đẹp, ăn trắng mặc trơn da dẻ hồng hào tươi nhuận, nhìn là biết sự chật vật là thứ gã chưa từng chung đụng qua, chưa kinh qua những khổ nạn. Hạng người ấy, phàm đã ra đường thì tiền dắt lưng chí ít phải lấy đơn vị triệu mà đếm dần lên, và khi phát ngôn thường ưa dùng chữ: Chuyện nhỏ.

Giờ này có sớm quá chăng, nếu ta gọi bia? Y gióng tiếng khi gã đã ngồi xuống ghế, an toạ. Không sao đâu, chuyện nhỏ. Gã đáp trả, rồi bồi tiếp: Chuyện tới đâu rồi? Thưa với anh, rằng mọi thứ đều diễn ra êm đẹp. Tốt lắm, cụ thể thì như nào? Theo hợp đồng miệng mà anh khẳng định, bẩy mươi nhăm phần trăm thương tật năm triệu, tử mười triệu. Đã trót thì lỡ trét, xin anh mười triệu. Nó chết hẳn? Hẳn. Tôi không là hạng người đa nghi, nhưng tôi muốn bạn xác tín bằng cách trưng ra một thứ tạm gọi là vật bất ly thân của hắn ta. Y kín đáo mở nắm tay ra, chiếc đồng hồ Rolex, hẳn chẳng phải là thứ dễ đụng hàng, thứ thương hiệu chỉ có giám đốc công ty như nạn nhân mới dám chơi ngông phơi bày đẳng cấp. Để an lòng đối tượng, y liệt kê thêm những món không tiện lộ hàng trong phút giây này. Cẩn tắc vô ưu vậy thôi, tôi quả không nhìn lầm anh. Nó đi êm thắm chứ? Rất êm ả. Y kịp ngậm miệng chẳng nói tới chữ chết bởi lá đa. Không gọi bia uống sớm cũng có cái hay của nó. Nhưng giờ này thì nên gọi. Bia mang ra cùng đồ nhắm lòng cật tim gan phèo phổi của lợn đứng xô đẩy nhau trong bát lớn. Uống mừng ngày chúng ta bôi xoá hợp đồng. Hai cốc va nhau trào bọt đẫm ướt tay. Ăn gì bổ nấy nên y thò đũa gắp miếng gan rõ to, bỏ vào mồm ngồm ngoàm. Gã chỉ uống khan, không phá mồi. Tôi đã đóng gói số tiền chính xác mười triệu, hãy xoá hết những thông tin về tôi trong máy của cậu đi, xem như chúng ta chưa từng sơ ngộ. Gã đẩy vuông giấy báo xếp thẳng thớm những góc cạnh. Tôi thăng, bận nhiều chuyện cần phải thanh toán. Tuyệt không cười, không gợn nếp nhăn trên gương mặt lạnh rồi phút chốc gã biến đi như cơn gió xoắn bụi.

Khói trong quán nhậu dạt trôi khi người con gái y phục sơ sài bước lại bàn. Sao lại biếng ăn thế này? Anh có muốn thư giãn không, em mang anh sang bến bờ. Ừ, quả là anh đang cần thư giãn, nhưng em, sao em mỏng người thế? Cũng thuộc hạng biếng ăn nhác chơi sao? Hổng có đâu, em giữ thể hình như ma-nờ-canh đấy chứ. Cầy tơ thì buộc phải ngon hơn chó nung núc những thịt, đấy là chân lý, anh tin không? Vào đây đi, chỉ hai triệu, bèo quá mạng. Với ngần ấy tiền, tin là anh sẽ nói, hề gì mèo rụng sợi lông. Y ôm đống tiền nặng trẹo tay trước khi đưa tay trống vắng còn lại ra thăm dò điện nước cô gái giao liên. Không giao liên thì còn gì, khi người ta hứa dắt anh đi từ a tới z, lâng lâng trên từng cây số. Cơm nhà ăn mãi cũng ngán, thuộc làu một bộ phận không nhỏ cũng nhàm, nên nhín chút thời giờ đi ăn vặt để đổi khẩu vị, xưa nay bọn mày râu vẫn lấy đó làm kim chỉ nam để cảm thấy yêu đời yêu người vậy.

Y xuôi tay cho đứa con gái lột truồng. Y nằm xuống giường êm ái hơn giường nhà ngắm đối tượng ưỡn ẹo thoát y. Mây mưa chưa trút thì nắng nôi nực nội hiện hình. Quán nhậu sôi động tiếng la hét tiếng dẫm chân tiếng biến động như có cuộc binh đao làm náo động phòng the. Và màn che trướng rủ được bạo lực vén lên. Một toán công an võ khí tận răng đứng lố nhố từ cánh cổng treo môn bài cho chí cuối lãnh cung. Gã cầm đầu nói tiếng dõng dạc: Yêu cầu chấp hành nghiêm chỉnh, cấm manh động chống đối hoặc đào thoát. Chúng tôi có nhiệm vụ đi kiểm tra bắt giữ kẻ vừa gây án giết người và soán đoạt của cải… Người cửa quyền chả thèm quan hoài tới bộ vó khó coi trần như nhộng của y. Họ mạnh tay xé toạt vuông giấy báo, họ moi hết thảy những túi quần treo đầu giường của y. Họ săm soi chiếc đồng hồ Rolex hàng xịn quảng cáo rằng trong ba năm, hai cây kim của nó chỉ đi sai có một phút ba mươi giây thời khắc. Con người mà tuân thủ răm rắp theo sự chuẩn xác ấy ắt hẳn thế giới này sẽ văn minh vượt trội hơn hẳn người trên sao Hoả. Còng số 8 cũng là thứ phát minh của người văn minh và phút chốc nó phóng tới ngoạm chặt hai cổ tay y lại. Tang chứng vật chứng, còn gì để nói? Y không nói. Tuyệt không mở miệng khi bị xô đẩy ra ngoài cánh cửa ngập ngụa màu nắng. Một kẻ nào đó đã hào phóng dùng tấm màn cửa phủ đậy lên cơ thể y, hòng che được chút gì hay chút đó khi ra sạm mặt với cõi ta bà lố nhố kẻ hiếu kỳ rách việc săm soi loạn bàn thế sự.

Y chưa phát hiện trên cơ thể đứa bán dâm mỏng người kia hiện mọc bao nhiêu hạt nốt ruồi trong khi đợi chờ ở tư gia, thị sở hữu những ba mươi nhăm hạt đỗ đỏ đen, tính luôn cả vì sao chập chờn mờ tỏ hiện mọc ở rãnh khe. Em ơi, anh đang chết một cửa tử! Y than thầm. Nhưng người ta sẽ trả lại công đạo cho anh, rằng nó chỉ là đứa tòng phạm, bởi chó đặc vụ đã phát hiện trên mũi nạn nhân còn tồn đọng thứ hương mùi u mê phát ra từ cửa mình em. Họ sẽ phát cho đôi ta hai cuốn lịch dày mỏng chẳng đồng nhất số trang, dĩ nhiên em bạc tóc để lần giở không nguôi, chẳng vơi mỏng tháng ngày bộ trường thiên tiểu thuyết. Còn anh? Lạy Chúa, con là người vô tội. Y nói mình ên khi leo lên xe bít bùng có kẻ hộ tống chở về nơi cách biệt với nhân gian.

Hồ Đình Nghiêm

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 24 Jan 2024

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Ken Kashiwahara,
(Hãng tin ABC)
“Chiếc xe buýt chạy nghiến lên đứa trẻ sơ sinh.”

Tôi có mặt ở Việt Nam để làm công tác cho hãng tin ABC trong sáu tuần lễ cuối cùng của cuộc chiến. Tôi đã ở đó từ giữa tháng ba cho đến cuối tháng tư năm 1975.

Khi đến đó, tất nhiên tôi đã chứng kiến cảnh hỗn loạn, nhưng tôi không có cảm giác xứ sở này sẽ sụp đổ. Tôi không hiểu tại sao, có lẽ tôi đã nhiễm tinh thần lạc quan, nó kéo dài đến tận ngày cuối cùng. Rất nhiều người trong giới phóng viên chiến tranh cũng đã lạc quan như thế. Họ đều tin tưởng sẽ có những vụ dàn xếp vào phút chót, có lẽ sẽ có những vụ chia đất.

Một trong những công tác mà tôi phụ trách vào cuối tháng Tư bấy giờ là lấy tin từ phía Quốc hội Việt Nam. Họ đang tranh cãi việc Tướng Minh nắm quyền. Nhiều người lúc ấy rất lạc quan về việc Tướng Minh làm Tổng thống, họ tin ông ta sẽ được Bắc Việt chấp nhận, Bắc Việt sẽ ngừng các cuộc tấn công và thương thảo.

Khi mới đến Việt Nam, tôi đi ngay ra Qui Nhơn. Máy bay vừa hạ tôi đã thấy dân chúng rời thị xã, lếch thếch hàng trăm người, hướng về phía Nam. Ngủ đêm tại nhà một người Mỹ, sáng hôm sau chúng tôi đi thu hình dân chúng di tản, rồi quay trở lại phi trường. Một chiếc máy bay thuê bao đáng lẽ phải có mặt để đón chúng tôi, nhưng chiếc máy bay này không bao giờ đến. Sau này chúng tôi được biết các nhân viên trong đài kiểm soát không lưu đã bỏ chạy, phi công từ chối hạ cánh vì không rõ Bắc Việt hay Nam Việt đang trấn giữ nơi này. Vì thế, chúng tôi cứ ngồi lì mà chờ ở phi trường.

Ngồi như thế suốt mấy giờ đồng hồ, cuối cùng tôi tự bảo “Thế này thực lố bịch.” Nhìn một máy bay đang bốc người trên phi đạo, tôi nghĩ “Phải đi chuyến này thôi.” Tôi bèn chạỵ lại phía phi công, bảo anh ta: “Này bạn, chúng tôi làm cho hãng thông tấn ABC. Chúng tôi đang cần về Sàigòn. Cho đi được không?” Anh ta nói: “Được. Nhưng các ông phải ngồi trên sàn.” Chúng tôi nhảy vào máy bay, ngồi bệt trên sàn phi cơ, cứ thế về Sàigòn.

Hôm sau, Qui Nhơn rơi vào tay Cộng sản.

Bấy giờ tại Việt Nam, hãng ABC có chừng bốn hoặc năm thông tín viên phụ trách những loại tin khác nhau. Loại tin tôi phụ trách chủ yếu thuộc vùng ngoại vi Sàigòn, thu tin về các cuộc hỗn loạn tại vùng quê. Bấy giờ dân chúng đang chạy khỏi các tỉnh lỵ, hướng về ven biển hoặc về phía Nam, chỗ nào cũng đầy hỗn loạn.

Sau khi Qui Nhơn mất, tôi ngược ra Nha Trang. Khi chúng tôi đến, mọi việc vẫn có vẻ khá bình thường. Trên đường phố, không có cảnh đám đông dắt díu tay xách nách mang. Chúng tôi ngủ một đêm trong thành phố, hôm sau lái xe vào Vịnh Cam Ranh vì nghe nói có một số Thủy quân Lục chiến từ Đà Nẵng đổ vào. Chúng tôi muốn gặp họ. Tại Đà Nẵng, một số lính Việt Nam đã nổi điên. Họ bắn giết thường dân. Hãm hiếp phụ nữ. Họ hoàn toàn điên loạn. Chính phủ Nam Việt Nam bốc nhiều Thủy quân Lục chiến lên tàu, đưa họ vào Cam Ranh. Nhưng họ đổ xuống một khu vực cấm, chúng tôi không được phép đến gần. Sau đó chính phủ (Nam Việt nam) lại lùa họ xuống một chiếc tàu khác, đưa vào Vũng Tàu.

Hình minh họa

Trưa hôm ấy khi chúng tôi trở lại Nha Trang, tình trạng đã thay đổi ghê gớm. Toàn tỉnh lâm vào cơn hoảng hốt. Dân chúng bồng bế, mang vác mọi vật dụng, ùa khỏi tỉnh, chạy về hướng Nam. Toà lãnh sự Mỹ bị đám đông vây kín. Chính phủ Mỹ đã thuê máy bay để chở một số người đi, hàng ngàn người Việt Nam muốn tràn vào mấy chiếc máy bay này.

Chúng tôi vào toà lãnh sự sắp đặt chuyến bay. Khi ra phi trường, tại đấy đã có hàng ngàn người. Phần lớn các máy bay thương mại ra Nha Trang bị hủy, người mắc kẹt cả ở phi trường. Chúng tôi thu xếp lên được một chuyến do chính phủ Mỹ thuê bao. Chúng tôi đi kịp thời. Hôm sau, Nha Trang mất.

Khi quân Bắc Việt tiến đến càng gần Sàigòn thì sự di chuyển của chúng tôi càng bị nhiều cấm đoán. Chúng tôi tìm cách ra được Vũng Tàu vài lần để thu tin về các biến cố xảy ra ở đấy. Có một số tàu từ phía bắc đổ tới, chúng tôi thu được hình những người Việt đổ xuống, bị quân đội chính phủ tịch thu khí giới.

Vào những ngày ấy, nỗi bực bội đối với giới thông tín viên gia tăng, chúng tôi e bất cứ lúc nào quân đội cũng có thể quay súng lại chúng tôi. Vì đó chúng tôi dè dặt, không quá xông xáo để lấy tin. Thí dụ thấy lính đưa một số Thủy quân Lục chiến lên xe buýt, chuyến xe hướng về phía Sàigòn. Chúng tôi chỉ chạy theo. Đến một trạm gác trên đường, tất cả Thủy quân Lục chiến đều phải ra khỏi xe để khám xét, rồi lên xe trở lại.

Chính phủ (Nam Việt Nam) không muốn chúng tôi thu hình những cảnh ấy. Nhưng tôi có một nhóm thông tín viên người Việt, và phần tôi cũng thường bị người ta lầm tưởng là người Việt, người phụ trách thâu hình của tôi bèn tìm cách nói với mấy người lính ở Vũng Tàu rằng chúng tôi là đoàn quay phim của chính phủ. Vì vậy họ mới để cho chúng tôi thu hình đám Thủy quân Lục chiến.

Tôi vẫn nhớ vụ dội bom dinh Tổng thống ngày 8 tháng tư. Hôm ấy tôi đang ở trên phòng làm việc tại khách sạn Caravelle, đứng ngay cửa sổ nhìn ra thành phố Sàigòn. Tôi chứng kiến một chiếc máy bay bay rất thấp trên thành phố. Việc này làm tôi kinh ngạc chú ý, vì thường thành phố không có máy bay bay qua, nhất là máy bay chiến đấu. Chiếc máy bay có vẻ sà xuống, tôi thấy những vật từ máy bay rơi ra. Tôi nghe tiếng nổ. Những cột khói lớn bốc lên. Tôi tự nghĩ “Trời ơi, gì đây” chúng tôi ra xe, đua nhau chạy đến dinh Tổng thống. Bấy giờ đủ loại súng đang nhả đạn lên trời, lính chặn hết các ngả đường dẫn đến dinh. Tôi băn khoăn không hiểu chuyện gì. Sau đó, mới khám phá là một phi công Nam Việt Nam đào ngũ lái một máy bay của Không quân Nam Việt Nam dội bom lên dinh Tổng thống. Việc này trở thành đáng sợ vì ở Nam Việt Nam người ta không hề lo máy bay dội bom. Người ta chỉ lo các loại súng cá nhân, rốc-kết hay súng cối. Nhưng bây giờ chúng tôi phải nghĩ đến chuyện máy bay thả bom, tôi sợ nếu đã có một chiếc máy bay dội bom dinh Tổng thống thì chắc chắn sẽ có những chiếc khác nối theo. Nên tôi không còn muốn quanh quẩn ở dinh Tổng thống nữa. Không thể biết chuyện gì có thể xảy ra kế tiếp.

Thế rồi hãng tin ABC bắt đầu rút nhân viên. Họ đưa nhân viên người Việt đi trước. Giữa toà Đại sứ Mỹ và giới truyền thông đã có thoả thuận, nên các hãng thông tấn đã rút nhân viên Việt Nam ra đi rất an toàn. Họ dư dã thì giờ và việc di tản được thực hiện tốt đẹp. Hãng ABC quyết định rút tất cả nhân viên, ngoại trừ hai thông tín viên và hai nhóm làm tin. Tôi là một trong những người được chọn ở lại.

Trách nhiệm mới của tôi là làm tin di tản. Tôi phải bám sát tất cả những gì xảy ra từ phía chính phủ (Nam Việt Nam). Vào ngày 28, chúng tôi đi làm tin vụ tấn phong tướng Minh, diễn ra lúc buổi trưa. Bấy giờ người ta đều có cảm tưởng ông sẽ là nguồn hy vọng duy nhất của Nam Việt Nam, chỉ mình ông mới có thể cứu vãn được xứ này. Chúng tôi chạy đến tư gia ông vào ngày 27 để thu hình, rồi khám phá là ông đã quyết định không làm lễ tấn phong, vì ngày xấu, “không đúng mấy ngội sao”. Thế đấy, vào lúc Bắc quân tới sát cửa ngõ Sàigòn, vào lúc lễ tuyên thệ của Tân Tổng thống là hy vọng duy nhất của xứ sở thì ông Minh hoãn tất cả lại chỉ vì không gặp được ngôi sao tốt. Thực không tin nổi!

Hình minh họa

Sau lễ tấn phong, chúng tôi quay lại văn phòng. Về đấy khoảng thời gian ngắn thì đột nhiên tình trạng khiếp đảm bung ra. Hầu như tất cả các họng súng ở Sàigòn đều khạc đạn. Không một ai trong chúng tôi rõ tại sao. Sau chúng tôi mói biết Bắc quân đã bỏ bom và pháo kích Tân Sơn Nhứt, nên lính tráng đều vác súng cá nhân cứ thế nã đạn lên trời với hy vọng hạ mấy chiếc máy bay kia xuống. Từ văn phòng, chúng tôi nghe như có một trận đánh khốc liệt sát dưới đường phố với những họng súng đang nhả đạn. Vì vậy chúng tôi ra ngoài xem, tôi mang theo người nhân viên quay phim. Chúng tôi xuống dưới đường thì gặp một đám lính đang nã súng bắn lên trời. Thấy chúng tôi tiến lại, họ quay súng về phía chúng tôi. Thấy thế tôi bảo: “Phải ra khỏi đây ngay không thì tiêu mạng”. Chúng tôi vội vượt qua nửa khu đường, tránh xa đám lính. Tôi vẫy tay về phía lính, la lớn “Chúng tôi đi đây.” Họ nhìn chằm chằm đến khi chúng tôi qua phía khác.

Trở lại văn phòng, các đường dây điện thoại đều đã bị cắt. Chúng tôi gửi một bản báo cáo bằng máy vô tuyến rồi leo lên giường ngủ.

Sáng sau, tiếng súng trên đường phố làm tôi choàng dậy. Quân Bắc Việt lại một lần nữa pháo kích phi trường. Lính một lần nữa khạc đạn trên đường phố. Tôi đưa nhóm làm tin vào xe chạy quanh thành phố xem chuyện gì. Vào phút này, Sàigòn hỗn loạn rồi. Trực thăng quần trên thành phố, sành sạch bay tới bay lui. Người ta đang được di tản từ toà Đại sứ (Mỹ) và từ vài căn cao ốc khác. Chúng tôi chứng kiến cảnh một chiếc trực thăng bốc người từ sân thượng một căn cao ốc và đã chụp được tấm hình nổi tiếng ghi lại cảnh những người đứng ở cầu thang dẫn lên sân thượng chờ vào trực thăng.

Chúng tôi lái xe chạy đến cửa hàng hợp tác xã Mỹ. Khi chúng tôi đến, dân chúng đã ùa vào hôi của. Bất cứ cái gì mang đi được họ đều lấy, từ vật dụng nhỏ cho đến bếp điện, tủ lạnh. Ngay cửa ra vào vẫn còn một người lính miền Nam đứng gác, hắn đã để cho mọi người vào hôi của, nhưng vì lý do nào, hắn ta vẫn đứng đấy gác cửa ra vào. Bấy giờ tinh thần chống Mỹ lên rất cao, tôi có thể cảm thấy rất rõ. Khi chúng tôi bước vào, tên lính gác chặn chúng tôi lại hỏi “Người Mỹ phải không?” Người quay phim của tôi đáp anh ta là người Nhật. Tên lính quay lại tôi hỏi: “Người Phi Luật Tân à?” Tôi đáp “Phải,” hắn cho chúng tôi vào.

Chúng tôi thu hình toàn bộ vụ hôi của trong hợp tác xã, rồi quay lại trụ sở. Khi về đến nơi, cuộc di tản đã diễn ra. Mọi người đều được dặn phải đến một địa điểm ấn định để đón xe buýt, chiếc xe này sẽ có nhiệm vụ đưa chúng tôi ra phi trường lên máy bay rời xứ. Nhưng mấy chiếc xe buýt biến đâu mất. Chúng tôi vẫn tin mọi thứ đã được dự trù và được tổ chức, nên không có gì cần lo ngại cả.

Cho nên chúng tôi dồn hành lý tại khách sạn, xuống cầu thang. Trong lúc ra, tôi thấy một người Mỹ đứng ở quầy quản lý trả tiền phòng. Hắn ta đang thanh toán hoá đơn, to tiếng cãi vã với người thư ký khách sạn. Tôi tự bảo “Thiệt lố bịch hết sức. Cả xứ đang sụp đổ, thế mà hai cha này vẫn đứng đây cãi cọ mấy đồng bạc!” Tất cả cảnh tượng diễn ra chẳng khác nào có một hòn đảo điên cuồng đang nằm trong toàn bộ của một thế giới điên cuồng khác. Không nghĩa lý gì nữa. Thêm vào sự điên cuồng toàn bộ ấy, là tín hiệu mật báo lệnh di tản. Đó là bài hát của ca sĩ Bing Crosby: “Tôi đang mơ một lễ Giáng Sinh màu trắng.” Bài hát này phát ra trên đài phát thanh quân đội. Bấy giờ là ngày 29 tháng Tư, họ cho chơi bài: “Lễ Giáng Sinh màu trắng!”

Chúng tôi đến điểm chờ xe buýt. Lúc ấy, tất cả đã vỡ ra, toàn thành phố chìm vào cơn hỗn loạn, hoảng hốt. Người Việt Nam đã cảm thấy được việc người Mỹ di tản, vì người Mỹ đều tụ tập đến những điểm hẹn, do đó họ ùa đến những nơi này, họ tin rằng họ có thể leo lên xe buýt mà đi với Mỹ. Cứ mỗi lần xe buýt đến là xô lấn dằng co, người Việt cố nhảy vào. Vì hỗn loạn, tôi tránh ra nên chiếc xe buýt chở tôi chạy đi mất. Tôi lọt lại. Tôi nghĩ “lố bịch quá. Tôi sẽ không đánh nhau để nhảy vào xe buýt đâu.” Thế là tôi đứng đợi. Tôi lạc mất người quay phim và người trưởng phòng. Cả hai lấn được vào xe, còn tôi thì không. Nhưng tôi vào được chiếc xe kế. Chúng tôi chạy đến Tân Sơn Nhứt. Nhưng lúc ấy lính gác Nam Việt Nam ở cổng phi trường quyết định không cho xe buýt vào nữa. Tôi nghĩ họ hết sức bực tức chuyện người Mỹ ra đi. Họ cảm thấy người Mỹ bỏ rơi họ, họ muốn làm một điều gì để chặn chúng tôi lại. Tài xế xe chúng tôi là nhân viên toà Đại sứ. Anh ta bước khỏi xe, đến nói với mấy người lính yêu cầu cho chúng tôi vào. Cãi vã xảy ra. Mấy người lính chứng tỏ quan điểm bằng cách chĩa súng bắn xuống chân người tài xế và la lớn “không được vào.” Anh tài xế lại lên xe buýt, rồi cứ thế lái chúng tôi đi vòng quanh.

Hình minh họa

Tất cả diễn trình di tản của chúng tôi thế là gãy, tài xế không còn biết làm gì. Hắn ta lại không biết lái xe cho ra hồn. Hắn chưa từng bao giờ lái xe buýt, điều ấy thực hiển nhiên khi hắn ta lái chúng tôi đi quanh. Hắn ta cứ cho xe lòng vòng trong thành phố cố nghĩ xem có chỗ nào cho chúng tôi xuống, xem có ai giúp đỡ gì không. Trong lúc lái quanh như thế, hắn ta đụng hết xe này đến xe khác trên đường, đụng cả mấy sạp trái cây ở những góc đường. Khi thấy chúng tôi chạy ngang, dân chúng trên đường la thét những khẩu hiệu chống Mỹ, như “Bọn Mẽo cút đi”, họ ném đủ thứ vào xe buýt.

Cuối cùng, tài xế chở chúng tôi xuống dưới Cảng để đưa chúng tôi lên tàu. Tới cảng, chúng tôi ra khỏi xe, nhưng vẫn thấy cùng cảnh tượng chúng tôi đã chứng kiến ở những khu vực khác trong thành phố. Hàng ngàn ngàn người đang chờ tàu và xà lan để chạy ra khỏi xứ. Họ đều hoảng hốt. Nhìn cảnh hỗn loạn vô trật tự ấy chúng tôi quyết định không nên ở lại. Chúng tôi bắt đầu quay lui để lên xe buýt. Đúng lúc ấy, người Việt trông thấy, họ ùa đến, tìm cách leo vào xe. Náo động xảy đến, xui xẻo thay, tôi lại là người lọt phía ngoài xe buýt.

Tài xế bắt đầu cho xe chạy trong lúc tôi vẫn còn ở bên ngoài và đang cố tìm cách vào lại trong xe. Đám đông thấy tài xế rồ máy chạy thì nổi giận, họ nắm lấy tôi. Họ cố lôi tôi lại phía đám đông, không rõ tại sao vậy. Trên lưng, tôi có đeo mấy cái túi xách, người ta níu lấy mấy cái túi, kéo tôi lại. Cố vùng vẫy không thoát, tôi quay nhìn mấy người đang níu lấy tôi. Tôi nhớ, lúc quay lại đối diện những bộ mặt giận dữ ấy, tôi thấy hận thù đầy trên mặt họ. Tôi cố lết về chiếc xe buýt lần nữa, chiếc xe chạy vọt đi. Cuối cùng, tôi cởi tuột mấy túi xách, vứt ra, đuổi theo chiếc xe buýt. Tài xế mở cửa. Tôi nhảy vào. Tôi mất tất cả mọi thứ cần mang khỏi Sàigòn. Mất hết.

Rồi chiếc xe rồ máy chạy, tôi nhớ rất rõ một chuyện xảy ra, chuyện này suốt đời không khi nào tôi có thể quên: Một người đàn ông Việt Nam cố chạy theo chiếc xe. Ông ta bế một đứa bé sơ sinh. Ông ta chạy theo xe, chìa đứa bé ra cầu khẩn: “Van ông, van ông, giữ lấy con tôi! Van ông, giữ lấy con tôi.” Chiếc xe buýt tiếp tục chạy. Người đàn ông ngã nhào xuống. Hiển nhiên đứa bé cũng rơi xuống. Người đàn ông buông đứa con. Mấy bánh sau của chiếc xe nghiến lên. Chiếc xe buýt cán qua đứa bé sơ sinh.

Trên xe, tất cả chúng tôi đều chết sững. Người ta rú lên. Vài người cực kỳ kích động. Người ngồi sau thét lên, họ la chiếc xe vừa cán một đứa trẻ. Nhưng tài xế vẫn tiếp tục chạy. Tôi sẽ không bao giờ quên. Lúc ấy tôi ở trong tình trạng điếng người. Tôi đã ngồi trên chiếc xe buýt chạy quanh mấy tiếng đồng hồ. Bây giờ mới bắt đầu cảm thấy sợ hãi – Lần đầu tiên trong suốt thời gian ở Việt Nam tôi mới cảm thấy thực sự sợ hãi. Đột nhiên, tôi nhận ra có thể tôi không còn thoát khỏi xứ này được.

Hình minh họa

Tất cả mọi người trên xe có thể sẽ không ai rời khỏi chỗ này được nữa. Bấy giờ đã có nhiều dư luận về các cuộc tắm máu xảy ra khi Bắc quân tiến vào Nam. Không ai có thể rõ chuyện gì xảy ra khi Bắc quân tiến vào Sàigòn. Người ta đã đồn về việc sẽ có hành quyết tập thể. Sau này không có cuộc tắm máu nào xảy ra, tuy nhiên lúc ấy, những cảm giác kỳ lạ và vô danh ập đến thực mau chóng. Chúng tôi đều tự hỏi số phận chúng tôi ra sao nếu không đi được khỏi xứ này. Cho nên chúng tôi cứ cho xe chạy lòng vòng mãi không biết đi đâu. Bất cứ chỗ nào chúng tôi chạy qua cũng nghe người ta la ó chửi Mỹ. Tôi tự bảo “Lố bịch quá. Mình phải nói tài xế dừng lại mà ra khỏi xe thôi. Cứ về văn phòng, ngồi đó chờ Cộng sản tới. Không thể tiếp tục chịu đựng thế này nữa.”

Nhưng trước khi tôi kịp nói, trong lúc chiếc xe vẫn tiếp tục rời khỏi cảng, tôi nhớ tôi nhìn lên trời, đột nhiên tôi thấy những chiếc trực thăng khổng lồ Jolly Green bay vào, với những chiến đấu cơ F4 và Cobra bay hộ tống. Thực là một cảnh tượng đẹp đẽ. Nó làm tôi nhẹ người, cất đi tất cả gánh nặng, vì tôi nghĩ: “Đây, chính đây sẽ là phương tiện đưa tôi ra khỏi xứ.” Những chiếc trực thăng Hoa Kỳ đáp xuống ngay trong thành phố. Cùng lúc, mấy người trong xe la lên: “Đi tới toà Đại sứ!” Tài xế bèn chở chúng tôi đến toà Đại sứ. Nhưng khi đến nơi, cũng lại gặp cảnh đám đông nghẹt người. Toà Đại sứ bị bao vây bởi một đám đông khổng lồ đầy những người Việt điên cuồng đang tìm cách trèo qua tường. Vì thế, chúng tôi ra khỏi xe, chạy vào mấy sân quần vợt phía bên kia đường đối diện toà Đại sứ. Trong sân quần, có máy điện thoại. Chúng tôi quyết định thử gọi toà Đại sứ xem chúng tôi nên làm cách nào vào. Thực không tin nổi. Cú điện thoại trót lọt, chúng tôi liên lạc được với toà Đại sứ.

Một người trong toà Đại sứ trả lời, bảo chúng tôi không thể nào đi vào bằng các cửa nhỏ hoặc cửa chính được. Nếu họ mở cửa, đám đông người Việt sẽ ùa vào. Họ bảo chúng tôi vòng phía sau toà Đại sứ, cố chen qua đám đông rồi leo lên tường. Thủy quân Lục chiến sẽ để chúng tôi vào.

Thử tưởng tượng quang cảnh xảy ra lúc này. Tất cả đều cực kỳ hỗn độn, hoảng loạn tuyệt đối. Có vài người lính miền Nam Việt Nam đứng canh đâu đó phía ngoài, bên những chỗ đại khái như mấy trạm gác, nhưng hoàn toàn vô hiệu. Họ bắn chỉ thiên, cố làm đám đông dịu xuống, lại chỉ làm cho rối loạn hơn. Chúng tôi đi xuyên mấy trạm gác, vòng qua phía sau toà Đại sứ, nhưng nơi đây, cũng lại một trùng vây đông nghịt đang cố leo tường ùa vào.

Trên đầu tường, Thủy quân Lục chiến Mỹ đang đá người ta xuống. Chúng tôi vượt qua được đám đông, tới điểm ấy thì bắt đầu lo. Bởi vì, suốt thời gian ở Việt Nam, người ta thường lầm tôi là người Việt, tôi đã có lợi thế cho đến lúc ấy. Tuy nhiên, lúc này, mọi việc đảo ngược. Khi leo được đến đầu tường, Thủy quân Lục chiến Mỹ tưởng tôi là người Việt, chắc chắn tôi sẽ được dộng mấy chiếc giầy bốt vĩ đại vào giữa mặt.

Tôi loay hoay suy nghĩ, tìm cách sẽ nói thế nào với lính Mỹ hầu chứng tỏ cho họ biết tôi là ngưòi Mỹ. Vào lúc xung động rối bời đó, mỗi một việc có thể nghĩ ra được, là tôi sẽ la lớn : “Đội khúc côn cầu Dodger đã thắng!” Ngày nay nghĩ lại, thực lố bịch. Nhưng bấy giờ, tôi dự định la lên như thế nếu Thủy quân Lục chiến đạp tôi khỏi tường. Nhưng tôi đã không phải sử dụng đến biện pháp ấy, vì có mấy ký giả Mỹ khác và lính Thủy quân Lục chiến nhận ra chúng tôi. Khi leo lên được đến đầu tường, thay vì đạp chúng tôi xuống, một người đã nắm lấy kéo tôi qua.

Lọt vào, mới hiểu tại sao họ cố chặn người Việt lại. Sân toà Đại sứ đông nghẹt người chen chúc giữa mấy bức tường. Trong toà Đại sứ có hàng mấy trăm người Việt cùng những người đệ tam quốc tịch, nhân viên chính phủ Mỹ và rất nhiều cơ quan khác. Họ đứng ngồi đông đặc quanh hồ tắm đợi trực thăng bay vào bốc họ đi.

Khi đã được an toàn trong toà Đại sứ, tôi mới cố tìm những phim ảnh mà chúng tôi thu hình trong buổi sáng hôm ấy. Một người trên xe buýt đã giữ những phim ảnh này, chúng tôi tìm ra anh để hỏi phim ảnh đâu.

Anh ta nói anh mang cái xách tay đựng phim, đã ném vào toà Đại sứ qua bờ tường, nhưng nay không thấy đâu nữa. Đó là suốt một ngày công trình làm việc của chúng tôi, những cuốn phim đặc sắc không tin nổi. Chúng tôi chạy hỏi quanh, khám phá ra là có người đã giao cái xách tay ấy cho một nhân viên hãng tin CBS, người này đã lên trực thăng bay đi rồi. Chúng tôi không rõ có thực thế không. Không biết rồi có thể tìm lại được không.

Hình minh họa

Chúng tôi vào văn phòng toà Đại sứ, cố kiếm máy điện thoại để gọi báo cáo tin tức xảy ra trong ngày. Nhưng tại đây chỉ có một máy điện thoại duy nhất hoạt động được, và đã có một ký giả đang sử dụng để báo cáo bản tin, chắc chắn anh ta sẽ không rời chiếc máy. Vì thế, tôi tràn đầy bực bội về tất cả những gì xảy ra trong ngày: phim ảnh biến mất, điện thoại không sử dụng được.

Chúng tôi đứng thành hàng chờ trực thăng. Đến chập choạng tối, một chiếc bay tới. Tưởng thế là xong. Nhưng vẫn chưa hết. Chiếc trực thăng hạ xuống bãi đậu xe. Cửa sau hạ xuống, người ta vội ùa vào – chiếc trực thăng bốc đi. Mãi đến khi chiếc của chúng tôi hạ, thì tất cả chen nhau chạy vào, cánh cửa đóng xuống. Chiếc trực thăng cố bay lên. Nhưng được khoảng 20 đến 30 bộ Anh thì ngưng, chiếc trực thăng rơi xuống đàng sau. Đông người quá. Họ mở cửa, xô bớt một số người, thử cất lên lần nữa. Chiếc trực thăng bốc lên được cao hơn một chút, rồi lại rơi xuống lần nữa. Vẫn đông người quá. Ba lần xảy ra như vậy. Tôi tự bảo “Chúa ơi, đã thoát đến đây, vậy mà phải chịu trận ngay tại toà Đại sứ này sao.” Cuối cùng, họ lại bỏ thêm một số người nữa, chiếc máy bay mới đủ nhẹ để cất cánh lên.

Bấy giờ mặt trời đang lặn. Tôi nhìn ra cửa sổ khi máy bay bốc lên. Suốt một vùng quê hình như đang chìm trong biển lửa. Tôi không diễn tả quá đáng. Cả một kho đạn ở Long Bình nằm phía ngoài Sàigòn bốc cháy, mặt trời hạ xuống, và tại một vài khu vực trong thành phố, những ngọn lửa đang dâng cao đến tận trời. Không tin nổi. Khi chiếc trực thăng bay ra hướng biển Nam Hải, tôi có thể nhìn thấy những đám cháy khác nữa chung quanh vùng Sàigòn và Vũng Tàu. Cảnh tượng hệt như toàn thể nước Việt Nam đang bốc cháy.

Bấy giờ tôi rất sợ chiếc trực thăng có thể bị bắn hạ, hoặc do người miền Nam, hoặc do người miền Bắc. Người miền Nam tức giận cực độ vì chúng ta đã ra đi bỏ rơi họ. Nên suốt đường bay, tôi cứ trông chừng rốc-kết, tự hỏi chẳng biết lúc nào phóng tới. Tôi chắc mẩm người miền Nam sẽ bắn chúng tôi bất cứ giây phút nào. Suốt lúc ấy.

Cho đến khi ra đến biển, tôi mới thực cảm thấy thoát nạn. Và đến khi hạ xuống chiếc tàu U.S.S. Hancock tôi tự bảo: “Bây giờ mới là xong.”
Nhưng cho đến lúc ấy, vẫn chưa có thời giờ nghĩ ngợi gì. Tất cả chúng tôi hãy còn căng thẳng cao độ suốt một ngày dài đáng sợ. Vừa khi ra khỏi trực thăng, tức khắc tôi nghĩ: “Thử viết tất cả câu chuyện này xem.” Tôi làm ngay. Ngoài ra, trên tàu Hancock, cuối cùng chúng tôi tìm được mấy cuốn phim. Một người bên hãng CBS quả đã mang ra được cho chúng tôi.

Sáng hôm sau, dù vẫn chưa đủ thì giờ nghỉ ngơi suy nghĩ, thì tôi lại nghe có chuyện xảy ra, tất cả Thủy quân Lục chiến trên tàu đều được báo động chạy lên boong. Các thông tín viên cũng vội lên trên ấy. Nhìn trời, chúng tôi thấy đầy trực thăng. Giống hệt một đàn ong đang tiến lại. Quyết định được đưa ra trên tàu là để cho họ hạ cánh xuống từng chiếc một. Những người trên trực thăng đều là người tỵ nạn Nam Việt Nam. Khi họ hạ cánh, Thủy quân Lục chiến Mỹ đến tước lấy khí giới, rồi xô chiếc trực thăng xuống. Cảnh tượng này cũng không tin nổi. Chúng tôi đều lên boong làm việc, xô những chiếc trực thăng xuống biển, hết chiếc này đến chiếc khác. Trên tàu chúng tôi, cũng như trên tất cả những chiếc tàu khác có mặt, mọi sàn tàu đều chật ních. Khi công tác di tản hoàn tất, tàu chúng tôi hướng về Vịnh Subic Phi Luật Tân. Trước khi cập bến Subic, nhiều thông tín viên đã bay đi trước để đánh tin. Ed Bradley bên hãng CBS bay đi trước nhất, anh mang theo những cuốn phim của chúng tôi. Phần tôi đi trực thăng từ tàu Hancock sang Blue Ridge. Tất cả những người thuộc nhóm làm tin của tôi đều ở cả bên tàu Blue Ridge. Vừa khi hạ xuống chiếc Blue Ridge, viên trưởng phòng của chúng tôi bảo: “Bạn phải lấy một chiếc trực thăng khác đi khỏi đây ngay. Bạn ở đây không ích gì cho chúng tôi, bạn không thể kể được các câu chuyện đã chứng kiến.

Chúng tôi không chắc có kiếm được máy bay cho bạn không, nhưng chúng tôi sẽ cố.” Vì thế tôi được tống vào một trực thăng khác, mang theo mấy cái túi vĩ đại đựng đầy phim ảnh của hãng tin

Hình minh họa

Tôi bay sang chiếc U.S.S. Coral Sea. Từ tàu này, tôi xoay sở tìm cách vào được một chiếc máy bay, và đây lại là một kinh nghiệm khác nữa. Tôi ngồi trên máy bay, hướng mặt về đàng đuôi, và khi chiếc máy bay được bắn ra khỏi tàu, ngồi ngược như thế tôi cảm thấy như toàn thể mặt mày tôi bị kéo tuột ra ngoài. Cuối cùng, tôi đặt chân xuống phi trường Clark ở Phi Luật Tân. Tôi mang phim ảnh đến một đài truyền hình, tại đấy họ chuyển tất cả hình ảnh về Mỹ qua vệ tinh.

Những ngày cuối ở Việt Nam là những kinh nghiệm mãnh liệt, khó quên nhất đời thông tín viên của tôi. Trong suốt thời gian ấy tôi có khuynh hướng không nghĩ ngợi gì về các biến cố xảy ra. Tôi bị tràn ngập với việc chuyển tin, không thì giờ suy nghĩ gì. Nhưng giờ đây, nhìn lại, tôi có thể thấy những ngày cuối cùng trong tháng Tư năm ấy quan hệ xiết bao. Chính đấy là lịch sử. Chính lịch sử đã được làm nên ngay chỗ ấy. Chúng tôi không những chỉ báo cáo tin tức, mà chính chúng tôi cũng đã dự phần.

Mười lăm năm thấp thoáng trôi qua, nay tưởng chừng tất cả những gì xảy ra như vẫn mới vừa đây. Thường ký ức của tôi không khá, vậy mà hai ngày cuối cùng ấy ở Sàigòn vẫn hoàn toàn in đậm trong trí tôi. Làm sao tôi có thể quên? Làm sao bất cứ ai có thể quên? Cho đến hôm nay, nhắm mắt lại, tôi vẫn thấy tất cả mọi thứ xảy ra trở lại: Những xung động hỗn loạn điên cuồng, những tràng đạn bắn ra, những con người cố gắng trèo qua bức tường toà Đại sứ. Và người đàn ông với đứa con bé bỏng sơ sinh…

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 24 Jan 2024

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

“Xin hãy vì Chúa mà ngưng lại! Ngưng lại! Ngưng lại!”

Thomas Moorer
(Tham mưu Trưởng Liên quân Hoa Kỳ)

Khi Quốc hội thông qua bản Tu chính án Cooper-Church vào năm 1971 nhằm ngăn cấm các phi vụ ở Đông Nam Á; lúc ấy tôi đã phát biểu rằng: Ngay khi chúng ta rời đi, hoặc chỉ sau một thời gian ngắn thôi là Sàigòn sẽ sụp đổ.

Trở lại chương trình Việt Nam hoá: Chương trình này được thiết lập dựa trên ý tưởng là để cho Việt Nam phụ trách việc chiến đấu, còn quân đội Mỹ rút đi. Chương trình này trước đã thoát thai từ chủ thuyết Nixon, do Nixon thông báo với Thiệu tại đảo Midway, theo đó chúng ta sẽ yểm trợ không quân, cung cấp tiếp vận, còn việc chiến đấu bằng bộ binh sẽ do các lực lượng Việt Nam đảm nhiệm. Trong tinh thần này có nghĩa là các hoạt động không quân, đặc biệt các phi vụ tấn công sẽ cần được tăng cường để giữ chân quân đội Bắc Việt khi lực lượng Mỹ rút đi.

Trong tinh thần đó, vấn đề luôn luôn được đặt ra là chúng ta cần tăng cường khả năng không quân của Nam Việt Nam để chống trả lại quân đội Bắc Việt nếu họ kéo tới. Nhưng rồi Quốc hội đã cắt tất cả, cắt toàn bộ. Như thế tức là chung cuộc. Là kết thúc, vì quân đội Bắc Việt không cồn một cản trở nào nữa.

Lúc ấy Quốc hội như đã hóa điên, dẫn đầu bởi dân biểu Frank Church tấn công vào tất cả mọi vấn đề. Bất cứ ai có đôi chút hiểu biết về quân sự đều hiểu rõ là nếu để quân Bấc Việt có chỗ ẩn náu an toàn trên đất họ, rồi lại để mặc họ tấn công vào miền Nam Việt Nam mà không có một đối lực nào của Mỹ, không có hoạt động tinh vi của không quân, thì việc chung cuộc chỉ còn là vấn đề thời gian. Cách nôn nóng của Quốc hội Mỹ muốn chấm dứt cuộc chiến đã phản ảnh tính bất kiên nhẫn của người Mỹ. Một điều mà người Mỹ không thể chịu đựng nổi là những cuộc chiến lâu dài. Bất cứ cái gì tổn phí nhân mạng và tiền bạc là bỏ. Chúng ta giải quyết mọi vấn đề đều như vậy. Không cứu chữa được thì quên đi. Chúng ta không có tính kiên nhẫn của người Á Đông.

Thật điên khùng. Phần lớn các vấn đề của chúng ta đều là những vấn đề chúng ta tự đặt cho mình. Đôi khi tôi nghĩ chúng ta là một bọn ngốc. Và chúng ta cứ tiếp tục mắc phải những chứng tật ấy mãi.

Để thí dụ, tôi xin kể một số việc xảy ra ngay từ đầu mà có lẽ tôi là người liên hệ đến những việc ấy hơn bất cứ một ai khác trên mức độ chỉ huy cao cấp. Khi Bắc Việt bắt đầu đưa vào hỏa tiễn SAM, tôi đã yêu cầu Hoa Thịnh Đốn cho tôi được phép tấn công ngay, bởi vì như thế tôi mới có thể đề phòng, ngăn chặn được việc Hà Nội thiết lập các dàn phóng hỏa tiễn – nếu tôi được phép tấn công từ đầu. Tất nhiên, quý vị đều biết là họ lắp ráp hỏa tiễn và các dàn phóng tại ngay trong thành phố Hà Nội, tại đây luôn luôn có một khu vực khoanh vòng 10 dặm Anh mà chúng tôi không được phép tiến vào. Và ông bạn McNaughton, người phụ trách những chuyện này cho bộ trưởng quốc phòng McNamara đã trả lời rằng: “Họ đâu có bắn ông, họ chỉ cố ngăn chận ông thôi. Chừng nào họ bắn ông, chúng tôi sẽ cho phép ông tấn công họ.” Tất nhiên sau đó việc đầu tiên mà họ hành động là bắn hạ máy bay và sát hại các phi công chúng ta. Việc ấy đáng lẽ chúng ta có thể phòng ngừa từ trước.

Hình minh họa

Lại xin kể thêm việc đặt mìn tại cảng Hải Phòng. Tôi là một chuyên gia có tầm cỡ thế giới loại công tác này, bởi tôi đã từng tham gia mật thiết về lãnh vực này trong đệ nhị thế chiến. Tôi đã phụ trách các chiến dịch đặt mìn khi quân đội Anh bắt đầu hoạt động tại Bắc Hải.

Tôi đã viết những bản chỉ dẫn đầu tiên về việc sử dụng thứ mìn gọi là “địa lôi”. Người ta thường nghĩ đến mìn là một cái gì hình tròn ló ra những cái ngòi, có gắn xuống mỏ neo. Nhưng ngày nay mìn tân tiến được đặt dưới đất, trông giống như quả bom vậy.

Bấy giờ hạm đội Thái Bình Dương đặt dưới quyền chỉ huy của tôi, tôi bèn lấy máy bay về Hoa Thịnh Đốn – Lúc ấy là năm 1965 – để xin phép được dùng mìn phong tỏa Hải Phòng. Thế rồi vẫn những câu trả lời rác rưởi cũ kỹ: “Ồ! Đừng làm như thế. Làm thế thì bọn Nga lại đến tháo đi hết thôi.” Tôi bảo: “Người Nga không biết cách tháo gỡ những loại mìn này. Người Nga không có những quyền lợi sống chết để đến đấy đâu.” Sau này tôi vạch ra rằng mỗi năm người Nga chỉ chi tiêu có một tỷ Mỹ kim tại Việt Nam, trong khi chúng ta phải tiêu tốn 26 tỷ, như thế thực là một cuộc đầu tư quá tốn kém, nhưng họ vẫn cứ tiếp tục như thế mãi. Họ không giúp chúng tôi chấm dứt chuyện ấy. Vài kế hoạch gia tại Hoa Thịnh Đốn nghĩ rằng người Nga sẽ giúp chúng ta thương thảo với Bắc Việt, cho nên họ bảo: “Ồ! Không, chúng tôi không thể để cho ông làm chuyện ấy. Như thế ông sẽ đánh chìm tàu của các bạn chúng ta mất vân vân…” Tám năm sau, Nixon hỏi tôi: “Ông cần bao nhiêu thời gian để lập một kế hoạch dùng mìn phong tỏa Hải Phòng?” Tôi đáp: “Ba giây đồng hồ! Tôi lập sẵn kế hoạch rồi, bây giờ chỉ còn lấy ra thôi.” Ông ta nói: “Có lẽ chúng ta sẽ thực hiện việc này. Ông có thể bảo đảm sẽ không bị tiết lộ? Đúng khi nào mìn ném xuống nước, tôi lên đài truyền hình ngay.” Tôi nói: “Tôi bảo đảm sẽ không bị tiết lộ, bởi tôi biết sẽ dùng loại hàng không mẫu hạm nào. Chỉ Hải quân mới có thể bảo đảm được bí mật này. Nếu tình cờ có phóng viên báo chí nào ở trên tàu, thì họ cũng không thể ra khỏi tàu được. Việc này sẽ không bị lộ. Chúng tôi sẽ không cho họ dùng vô tuyến truyền thông.”

Bấy giờ Nixon đang ở tình trạng tuyệt vọng vì quân đội Bắc Việt đã tràn qua vùng phi quân sự trong dịp lễ Phục Sinh năm 1972. Cho nên chúng ta mới thi hành việc này. Bấy giờ ở Đông Nam Á, mỗi ngày chúng tôi có hàng ngàn phi vụ. Việc thả mìn chỉ cần xử dụng có 26 máy bay. Bay đi chỉ trong có một giờ rưỡi. Không một người nào bị thương tổn. Sau đó không còn một con tàu nào có thể vào hay ra hải cảng này cho đến khi nào chúng tôi tới tháo gỡ mìn đi. Sau bảy hay tám năm tôi cố gắng thuyết phục, bấy giờ họ mới làm!

Địch quân phần lớn nhận tiếp vận bằng tàu biển. Nhưng Không quân chúng ta cũng đã bị chỉ trích dữ dội vì không thể cản được việc tiếp vận bằng đường xe lửa. Lý do xảy ra như vậy là vì đường xe lửa từ Hà Nội lên đến biên giới Trung Hoa chỉ dài có 70 dặm Anh, mà đến biên giới Trung Hoa lại có một vùng đệm dài 30 dặm: Người ta sợ chúng tôi thả bom vào người Tàu. Thế rồi lại có một vòng 10 dặm bao quanh Hà Nội. Như vậy 10 với 30 là 40. Với cái đường xe lửa dài 70 dặm Anh, người ta chỉ còn cho phép chúng tôi được đánh bom có 30 dặm! Và thật ra địch quân cũng chẳng cần đến đường xe lửa, vì lẽ họ đã nhận được tất cả mọi thứ bằng tàu biển rồi.
Nếu bạn cần phải tấn công đường chuyển vận, bạn phải tấn công mọi hình thức chuyển vận. Bạn không thể để yên một loại nào đó, hoặc tùy theo những tàu nào. Những tàu Đông Đức, Liên Sô, Nam Yemen, và ngay cả tàu của Anh quốc cứ chạy khơi khơi qua hạm đội chúng ta, chúng ta đều biết quá rõ tàu họ chở đầy đạn dược, súng máy, tất cả mọi thứ mà chỉ một tháng sau sẽ đem ra sát hại các thanh niên chúng ta. Trận chiến tranh này là một trận chiến tranh điên khùng nhất mà tôi chưa hề biết. Tôi đã từng dự ba cuộc chiến, nhưng đến cuộc chiến này mới là kỳ cục.

Hình minh họa

Điều làm tôi lo âu hơn cả là khi tôi chứng kiến rằng chúng ta đã không có gan chiến thắng trận này, như đáng lẽ chúng ta phải làm mạnh ngay từ đầu. Rồi chúng ta bắt đầu rút quân. Việc rút quân làm chúng ta trở thành một quốc gia duy nhất trong lịch sử đã rút quân nửa chừng cuộc chiến. Khi chúng ta bắt đầu rút quân, tôi cứ nhắc đi nhắc lại mãi: “Chẳng bao lâu nữa, những người Mỹ duy nhất ở lại Việt Nam sẽ chỉ còn là các tù binh chiến tranh. Và khi xảy ra như thế, chúng ta sẽ không bao giờ mang họ ra được nữa.” Khi Tổng thống hỏi như vậy phải hành động thế nào, tôi trả lời: Đối phương chỉ là những chú cách mạng tí hon, họ chỉ hiểu được mỗi một thứ chuyện, đó là sức mạnh bạo tàn. Sau khi Kissinger đọc bài diễn văn “Hoà bình trong tầm tay” vào năm 1972, Bắc Việt chẳng hề quan tâm gì đến ý muốn của chúng ta. Cũng như Liên Sô, họ tiếp tục vi phạm những gì Kissinger đã đồng ý. Do đó, nói cho ngay, chúng ta cần phải có những hành động buộc họ chú ý.

Rồi cuộc dội bom Giáng Sinh 1972 xảy ra. Chính Tổng thống là người cần được ghi công bởi vì tôi nghĩ không một người nào khác bên hành pháp hỗ trợ cuộc đánh bom. Tôi đã liên hệ chặt chẽ từng chi tiết trong vụ ấy. Tôi đã viết toàn bộ kế hoạch với chỉ thị Tổng thống. Ông không đi vào chi tiết, nhưng ông duyệt xét và chuẩn nhận từng thứ để cho làm hay không cho làm. Người ta đã lo lắng là chúng ta có thể sát hại một số người Nga hoặc người Tàu khi đánh bom Hà Nội. Vâng, nếu quý vị hỏi thì tôi xin trả lời: Chúng ta đã giết bọn chúng chưa đủ số (đáng lẽ còn phải giết cho nhiều nữa).

Cuộc đánh bom vào lễ Giáng Sinh không tốn kém lắm. Khi Tổng thống hỏi tôi chúng ta có thể thiệt hại bao nhiêu phi vụ, tôi đáp: hai phần trăm. Chúng ta đã cho bay hơn bảy trăm bốn mươi phi vụ. Hai phần trăm con số đó là mười lăm phi vụ, đó chính là con số chúng ta đã thiệt hại.

Điều đó xảy ra đúng như lời tôi nói.

Con số tổn thất ấy thật rất nhỏ để chống lại một cuộc tập trung hỏa lực cao độ nhất thế giới. Và trong mười lăm máy bay tổn thất, chỉ có năm chiếc bị rớt xuống Bắc Việt. Lúc ấy không hề có việc trải thảm bom Hà Nội. Vài người nói có trải thảm bom, điều ấy hoàn toàn vô nghĩa. Trong thực tế, nếu chúng ta có trải thảm bom thì sau đó chẳng ai còn có thể tìm thấy Hà Nội đâu, và ngày nay Hà Nội chỉ còn là một đống gạch cho các nhà khảo cổ đến đào bới thôi. Cho đến ngay ông bạn già Cronkite đi Hà Nội trở về cũng bảo ông ta ngạc nhiên về chỗ Hà Nội không bị động chạm gì. Không có việc trải thảm bom. Sau nữa, các đại sứ ngoại quốc đều ở đó, đều còn sống cả.

Trong hai ngày chót của trận đánh bom, đối phương đã hết hỏa tiễn chống máy bay. Và rồi chính lúc ấy chúng ta ngưng đánh bom do yêu cầu Quốc hội. Chỉ có mỗi một dân biểu đã ủng hộ chúng tôi mà thôi. Tôi phải ra điều trần, vì lúc ấy mọi người đều vắng mặt. Kissinger thì đi
Acapulco. Laird đi Hawaii. Nixon xuống vùng Key Biscayne và tất nhiên đàng nào ông cũng không ra điều trần. Cuộc đánh bom phải ngưng vì lẽ báo chí nói chúng tôi đã trải thảm bom, tiêu hủy tất cả các bịnh viện. Tôi nhận được một cú điện thoại hỏi tôi về lời tuyên bố của Hà Nội rằng chúng ta đã sát hại cả tù binh của chúng ta: Chúng tôi không hề chạm đến một người nào, vì chúng tôi biết rất rõ họ ở đâu. Tờ Washington Post cũng gọi tôi về việc ấy. “Xin làm ơn đừng viết trên báo.” Tôi nói “Bởi vì điều này không đúng sự thực.” Rồi tôi hỏi “Bạn có phải là người Mỹ không?” Họ đáp “Phải chớ, chúng tôi là người Mỹ.” Tôi bèn nói “Là người Mỹ mà tại sao quý bạn lại muốn biến lễ Giáng Sinh buồn bã này trở thành một lễ Giáng Sinh đau thương bất hạnh cho các bà vợ, những người cha người mẹ của các tù binh chiến tranh? Tại sao quý bạn lại muốn làm như vậy? Đó là một chuyện dối trá thực khốn kiếp.”

Hình minh họa

Bà Nixon bấy giờ ở Key Biscayne đang khóc lóc vì lẽ chúng ta dội bom các nhà thương. Nhân viên Hành pháp, nhân viên các Bộ đều bực bội vì họ nghĩ chúng tôi đang triệt hạ cuộc bầu cử kỳ tới của họ. Họ đều la hoảng: “Xin hãy vì Chúa mà ngưng lại! Ngưng lại! Ngưng lại!” Chuyện ấy thực vô nghĩa lý! Đúng ra đừng bao giờ chúng ta ngưng cho đến khi đối phương phải thực hiện bất cứ điều gì chúng ta muốn, kể cả việc phải phóng thích các tù binh chiến tranh và rút đầu ra khỏi Nam Việt Nam. Chúng ta đã có thể giết hết chúng nếu chúng ta muốn. Và vào hai ngày cuối cùng, chúng ta không mất một chiếc máy bay nào.

Tuy nhiên Bắc Việt đã có khả năng làm xảo thuật với báo chí Mỹ, vì đa số báo chí là những người tự do. Họ không muốn chính phủ hoạt động. Họ đã tìm đủ mọi cách trích dẫn câu này câu nọ để cung ứng sự thực, nhưng họ chưa hề rời gót chân ra khỏi mấy cái quán rượu ở Sàigòn! Tôi đích thân lên gặp ban chấp hành của tờ New York Times, nhưng mấy người này thiệt quá tệ. Họ chỉ nói rằng: “Xin ông đừng mất thì giờ. Đừng lên đây làm chi. Chúng tôi chống chiến tranh, nếu chúng tôi có thể viết bất cứ điều gì xấu xa về cuộc chiến, chúng tôi sẽ viết ngay.”

Họ không buồn lắng nghe bất cứ điều gì tôi nói. Tôi chẳng hiểu tại sao. Giới truyền thông không hề bỏ lỡ một cơ hội nào hầu đẩy Hoa Kỳ vào chỗ đen tối trong từng chi tiết. Thế rồi Quốc hội nắm lấy những chuyện ấy. Quốc hội thì biết gì, toàn một lũ ngu dốt. Tất cả sự hiểu biết của họ nằm trong việc đọc mấy tờ Washington Post và tờ New York Times. Mỗi sáng họ chụp lấy mấy tờ báo ấy – Dù họ đến từ những vùng như Omaha hay Seattle hay những vùng quê mùa khác, họ cũng phải chứng tỏ với cử tri là họ chẳng kém sâu sắc gì so với dân miền Đông. Và tin tức họ lấy từ đâu? Chính là từ tờ New York Times. 99 phần trăm tờ báo này là những điều dối trá! Tướng Võ Nguyên Giáp, tư lệnh quân đội Bắc Việt từng công khai tuyên bố: Lực lượng du kích hữu hiệu nhất của ông ta, chính là báo chí Hoa Kỳ.

Tôi có thể liệt kê cho quý vị thấy rất nhiều sai lầm. Nhưng tôi không thể giải thích được tại sao chính dân Mỹ lại có tinh thần chống Mỹ đến thế, tại sao giới báo chí đã xử sự như thế. Tôi ước chi tôi có thể hiểu được!

Tôi có thể kể thêm cho quý vị đôi điều nữa về những năm ấy, là một khoảng thời gian tệ hại của đời tôi. Tôi đã nắm quyền chỉ huy Đệ thất hạm đội. Tôi đã là tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương khi biến cố Vịnh Bắc Việt xảy ra. Rồi tôi đã phục vụ với tư cách thành viên của Bộ Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ trong bảy năm, và bốn năm làm Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ. Những gì chúng tôi đã trải qua phải nói thực là tuyệt đối điên rồ. Chúng ta đã có quá nhiều sức mạnh, nhưng chúng ta không bao giờ sử dụng. Không bao giờ sử dụng đến sức mạnh ấy! Năm mươi năm sau nữa, một việc khó hiểu cho các sử gia là một quốc gia với sức mạnh to lớn đã đưa đến vùng ấy: năm chiếc hàng không mẫu hạm, vào khoảng đâu mười ba phi đoàn oanh tạc, chưa kể các pháo đài bay B-52, để chống với một nước nhỏ bé, ít người hơn cả các quận thuộc vùng Los Angeles và quận Orange County, khoảng một phần năm mươi của các tiểu bang, và thế mà chúng ta đã để cho xảy ra như vậy?

Johnson đã đọc một bài diễn văn, tôi nghĩ là ở Houston, ông bảo: “Chúng tôi không nhắm đến một cuộc chiến tranh lan rộng.”

Hình minh họa

Đây chính là một lời công bố có tính chỉ hướng về vấn đề Việt Nam. Nói cho ngay, ông muốn bảo người Tàu và người Nga hãy tránh ra. Nhưng tàu của Trung Cộng vẫn liên tục chở tiếp vận đến cho Việt Cộng như điên. Họ cứ chạy khơi khơi qua mặt hạm đội chúng ta.

Một điều nữa, chúng ta nói: Chúng ta sẽ không lật đổ Hồ Chí Minh. Thế đấy, lý do của chiến tranh chính là để lật đổ một chính phủ đã làm một điều gì mà người ta không thích. Chiến tranh là sự đổ vỡ của ngoại giao, hoặc, một hình thức ngoại giao bằng vũ lực, muốn nói thế cũng được. Người ta đã cố sức đòi đối phương làm một chuyện gì mà vì họ không chịu làm, cho nên mới phải mở cuộc chiến. Nhưng Johnson lại bảo chúng ta ra trận, mà không có một mục tiêu. Và chúng ta không bao giờ có mục tiêu nào hết.

Rồi sau đó, ông lại bảo chúng ta sẽ không xâm lấn Bắc Việt. Như thế Bắc Việt trở thành một quốc gia duy nhất đã có thể điều động, dàn trận được tất cả các sư đoàn bên ngoài quốc gia họ, bởi họ biết rằng chúng ta sẽ không xâm phạm đến họ.

Tôi rất buồn rầu khi Sàigòn thất thủ. Việc này đem đến những kết quả rất tiêu cực cho uy tín Hoa Kỳ. Nó bảo với cả thế giới rằng hãy cẩn thận khi đánh bạn với Hoa Kỳ. Tôi cũng cảm thấy thế về trường hợp nhân dân Đài Loan. Một khi tôi có bạn, tôi là một người bạn. Tôi không phản bội bạn mình và không ném bạn cho lũ chó sói.

Tôi cũng nhận ra rằng – tôi nghĩ chỉ một số ít người nhận ra được là có một ảnh hưởng rộng lớn về sự thất thủ Sàigòn. Việc đầu tiên đó là sự bỏ rơi bạn hữu, đồng minh. Rồi việc ấy cũng đem lại vài lý do tạo nên nhiều cuộc công kích lớn trong giới nhân viên tình báo mà chính yếu là Trung ương Tình báo CIA. Chuyện ấy vẫn còn tiếp diễn cho đến ngày nay.

Vịnh Cam Ranh làm tôi lo lắng, vì có lẽ đó là một hải cảng tốt nhất thế giói. Chúng ta đã chi tiêu hàng tỉ đô la, chúng ta đã nạo vét, đã lập ở đấy các kho dầu, các phi trường – Nó có đủ nhà thương, căn cứ quân đội, phi đạo, cầu tàu, thứ gì cũng có. Thế mà giờ đây người Nga có mặt ở đấy. Quý vị có biết người Nga đã tiêu tốn bao nhiêu để nắm được hải cảng này chăng? Không một xu nhỏ!

Bây giờ người Nga đã có một đội tiềm thủy đỉnh nguyên tử nơi ấy. Hai đội tầm thám phi cơ giúp họ thám thính khắp nơi. Họ đã dễ dàng làm cho thuyền bè của chúng ta từ Tokyo đến biển Ấn Độ phải đi vòng hàng ngàn dặm dài hơn trước. Họ có thể chặn tất cả các tàu chở dầu từ Trung Đông, là nơi đa số dầu của Nhật Bản được chở đến.

Người Nga đã nắm được tất cả những chuyện ấy mà không phải trả một tổn phí nào. Đến nay, chúng ta hãy còn nghe người ta bảo “chỗ ấy không có một vị trí quan trọng toàn cầu.” Không, chỗ ấy có một vị trí tối quan trọng, quan trọng khủng khiếp. Và lạy Chúa, người Nga sẽ không bao giờ buông tay khỏi chỗ này nữa đâu.

Và bây giờ, người Tàu đang đối diện một vấn đề trước đó họ chưa từng gặp, đó chính là vấn đề người Nga. Người Nga đã chuyển động và thiết lập được một vị thế mạnh mẽ trên toàn cầu, cũng như những gì họ đã thực hiện ở Cuba. Tôi không thuyết phục cho lọt được vào đầu mọi người về những gì xảy ra. Người Nga đã thiết lập được vị thế tại những nơi mà tôi gọi là những hải quan then chốt của thế giới. Họ đã ngồi nhìn xuống ngay cổ họng con kinh đào Panama. Và đã tiến gần đến Nicaragua. Tôi từng mãnh liệt phản đối cái thoả ước kinh đào Panama. Tôi đã ra điều trần sáu lần, bẩy lượt việc này. Tôi đã bảo với Frank Church là “Đừng ngạc nhiên chỉ trong vòng không đầy một năm, những binh đoàn sẽ tràn ra từ Panama mà lật đổ các quốc gia Trung Mỹ.” Quả nhiên chín tháng sau, binh đội đã bay từ Cuba sang Panama trên các phi cơ của Panama, tiến vào Nicaragua lật đổ chính quyền Somoza. Đừng quan tâm đến việc Somoza là một gã chẳng ra gì. Hãy nhìn xem kết quả như thế nào. Nhưng không một ai chú ý đến điều ấy.

Hình minh họa

Trong buổi điều trần, tôi đã nói với Dân biểu Church: “Tất cả mọi thứ ông nói chỉ thuộc về cảm xúc. Ông bảo nếu chúng ta nhượng bộ thì mọi người sẽ yêu mến chúng ta. Còn nếu chúng ta không nhượng bộ, họ sẽ xé nát chúng ta và sẽ thù ghét chúng ta. Cả thế giới sẽ ghét chúng ta.” Ông này không bao giờ có thể hiểu một chút nào về tình trạng con kinh Panama cả. Tại con kinh này mỗi năm có mười hai ngàn tàu qua lại, tám ngàn trong số đó đi đến các hải cảng Hoa Kỳ hoặc rời đi từ các hải cảng của Hoa Kỳ. Người ta không thể nói cho lọt vào đầu những ông ở Quốc Hội để cho họ hiểu được mấy chuyện như thế.

Tôi đã đến thăm viếng đài kỷ niệm chiến sĩ trận vong chiến cuộc Việt Nam, tôi đã có những cảm xúc lẫn lộn về đài kỷ niệm này. Tôi không thích việc đài này không do một người Mỹ vẽ kiểu, không được xây bằng vật liệu của Mỹ, lại làm sâu dưới đất. Tuy nhiên tối thiểu tôi cũng có đôi chút thỏa mãn là họ cũng đã xây đài kỷ niệm chiến sĩ trận vong, chấm hết. Đài này có vẻ làm dịu bớt cái bực bội đau đớn của những người tham chiến, vì lẽ nhiều thanh niên đã cảm thấy xấu hổ khi về nước trong bộ quân phục. Chính vì giới báo chí mà công luận đã không ủng hộ họ.

Đã không có những người anh hùng trong trận chiến Việt Nam theo cái ý nghĩa công bố kiểu cổ điển. Báo chí đã tạo nên việc này. Tuy vậy lại có một hình thức anh hùng hơn. Ta có thể viết thành sách về những người phi công trực thăng kéo người lên từ rừng rậm trong bóng đêm mù mịt mà không nhìn thấy họ. Các phi công này đã thả giây cáp xuống kéo người lên bất kể hỏa lực, bất kể mọi hiểm nguy khác. Chúng ta đã có rất nhiều anh hùng. Tôi tin các thanh niên ấy đã làm những gì mà họ nghĩ họ nên làm, các bậc cha mẹ của họ nghĩ họ nên làm, và xứ sở của họ nghĩ họ nên làm. Họ đều là những bậc anh hùng.

Đã từng có những người nhà báo bảo tôi: Những gì xảy ra cho các tù binh chiến tranh là đúng thôi, họ phải chịu, vì lẽ đa số họ là các phi công tình nguyện. Những nhà báo ấy bảo rằng việc gì mà họ lại phải tình nguyện, thế đó! Tôi không hiểu nổi tại sao giới báo chí lại đối kháng với chính phủ của họ như vậy.

Toàn bộ câu chuyện này – toàn bộ câu chuyện khốn kiếp này – là một kinh nghiệm đáng buồn cho lịch sử chúng ta. Đáng lẽ nó không nên xảy ra với cái cách nó đã xảy ra!

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 24 Jan 2024

Robert Hartmann
(Cố vấn của Tổng thống Ford)
“Đối với nước Mỹ, cuộc chiến đã xong”

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

 Tổng thống Ford đọc bài diễn văn ở Đại học Tulane ngày 23 tháng 4, 1975 xảy ra lúc Nam Việt Nam đang tan rã, lúc chúng ta đang cố đưa người rời Sàigòn. Vào thời điểm này, quan hệ duy nhất là tìm cách bảo vệ các đồng minh hãy còn đứng ở phía chúng ta, và đưa người của chúng ta ra khỏi xứ ấy được an toàn bao nhiêu, tốt bấy nhiêu. Việc di tản đã được quyết định trước khi xảy ra vụ đọc bài diễn văn này. Tuy nhiên cái thời điểm tuyên đọc bài diễn văn là một vấn đề: Nó tạo ra sự kiện đột nhiên chúng ta tuyên bố di tản, và chúng ta có rất nhiều lý do để tin rằng người miền Nam Việt Nam có thể quay ngược lại, ngăn cản không cho chúng ta rút khỏi xứ. Lúc ấy, họ vẫn đang còn kiểm soát phi trường và các đường lộ chung quanh Sàigòn.

Bấy giờ chúng ta ở vào một vị thế đình trệ. Trước đó, Tổng thống (Ford) đã ra Quốc hội xin thêm ngân khoản, mà căn bản chính là để chống đỡ cho chính phủ Nam Việt Nam ngõ hầu chúng ta có thể rút ra một cách trật tự. Nhưng Quốc hội đã không thấy cái quan điểm ấy, quốc hội đã từ chối cấp thêm tiền. Việc này xảy ra sau khi tướng Fred Weyand sang Việt Nam, ông trở về với một bản lượng giá khá u ám. Ông cho rằng: Nếu muốn giữ được bất cứ phần nào của Nam Việt Nam, ngay cả Sàigòn đi nữa, chúng ta cũng phải tăng cường thêm nhiều trợ giúp. Những trợ giúp ấy không phải bằng bộ binh, mà bằng không lực từ các hạm đội. Đây sẽ là một ràng buộc khá lớn lao mà Quốc hội và nước Mỹ sẽ không ủng hộ. Và, điều ấy cũng chỉ làm chậm lại phần nào những gì trước sau cũng xảy ra, trước sau cũng không tránh khỏi. Phần chúng ta thì không còn muốn phải bắt đầu tất cả mọi việc trở lại nữa, cho nên vào thời điểm ấy, vấn đề được đặt ra một cách giản dị: Chúng ta sẽ rút ra như thế nào, chứ không phải là chúng ta sẽ rút đi hay không.

Trước khi xảy ra vụ đọc bài diễn văn này, chúng tôi đã có một cuộc thảo luận. Trong buổi ấy, Tổng thống (Ford) bảo tôi rằng ông muốn đặt trọng tâm vào tương lai, chớ không còn muốn xoáy vào dĩ vãng. Cứ giả dụ bọn trẻ, bọn sinh viên ở Đại học Tulane mặc dầu không có tinh thần phản chiến quá khích như tại nhiều Đại học khác, nhưng lúc ấy tinh thần chống chiến tranh Việt Nam đã lan truyền khắp các Đại học. Cho nên thay vì tiếp tục gặm nhấm dĩ vãng để cố biện minh cuộc chiến, ông muốn nói với thế hệ này về những gì có thể làm cho tương lai. Ông muốn đặt cuộc chiến ra đàng sau. Ông bảo tôi trong buổi thảo luận rằng “Tôi không hiểu tại sao chúng ta cứ phải mất thì giờ lo lắng về một cuộc chiến mà cho đến nay, trong sự quan tâm của chúng ta, cuộc chiến đã xong.” Tôi bèn nói: “Vâng, vậy tại sao tổng thống lại không phát biểu như thế?” Bấy giờ chúng tôi đang tìm kiếm một luận đề căn bản cho bài diễn văn.

Ford bảo: “Tôi e Henry (Kissinger) không thích như thế.” Tôi nói: “Tại sao ông lại phải lo chuyện Henry thích hay không thích? Ông là Tổng thống, nếu ông cảm thấy thế, ông cứ phát biểu như thế. Đôi khi, đến một thời điểm phải nói, thì chính ông phải nói ra, vậy tại sao lại không nói ra lúc này?” Ông bảo: “Tôi sẽ suy nghĩ chuyện ấy. Nhưng ông cứ xúc tiến xem thử ông có thể viết gì trên giấy. Bây giờ thì đừng nói gì với ai về chuyện này cả.”

Hình minh họa

Hiển nhiên, ông có vẻ thích cái ý tưởng mà ông đã đưa ra. Nhưng ông vẫn còn muốn xem thử Henry (Kissinger) và một số nhân vật quân đội khác sẽ phản ứng như thế nào.

Người phụ trách soạn thảo bài diễn văn là Milton Friedman. Tôi là người duyệt lại. Đầu tiên, chúng tôi bỏ ra ngoài cái đoạn văn nói về “cuộc chiến đã xong.” Tất cả bài diễn văn chỉ nói về những cơ hội vô giới hạn sẽ dành cho bọn trẻ trong đại học để làm những chuyện tích cực hơn là xuống đường phản đối. Chúng tôi viết: Không còn chuyện gì nữa để mà phải phản đối, phải lo học tập để mà xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Thế thôi.

Trong toà Bạch ốc, chúng tôi có lệ luân chuyển bản thảo các bài diễn văn cho những người quan tâm, họ cần biết trước những gì Tổng thống sẽ đọc để khỏi bỡ ngỡ, hoặc để chuẩn bị phản ứng nếu có ai hỏi đến. Những người mà chúng tôi lưu chuyển bản thảo có thể sửa đổi tùy theo tính chất và đề mục các bài diễn văn. Tuy nhiên luôn luôn phải có một nhóm người duyệt đọc, họ phải ghi chú trên các bản sao. Nếu có gì họ muốn thay đổi, chúng tôi sẽ chuyển ý kiến đến cho Tổng thống quyết định. Trong toà Bạch ốc có một nhóm nhân viên tối cao, thường gồm những người liên hệ đến chính sách ngoại giao và quân sự, như là Bộ trưởng Ngoại giao và các thành viên Hội đồng an ninh quốc gia. Bấy giờ Bộ trưởng Ngoại giao là Kissinger, Cố vấn An ninh Quốc gia là Brent Scowcroft-. Cả hai đã làm việc chung với nhau từ lâu, sự suy nghĩ của họ rất tương đồng cho nên Scowcroft biết rất rõ những gì ông ta không cần đưa cho Kissinger xem, và những gì ông phải cho Kissinger biết.

Bản diễn văn này đã được lưu chuyển mà không có ai thắc mắc gì nhiều. Sau khi mọi người cho ý kiến, Milton sửa chữa, chúng tôi lên máy bay đi New Orleans. Chúng tôi đã đưa bản diễn văn cho nhân viên báo chí, nhưng trên máy bay, Tổng thống lại đem ra duyệt và sửa chữa lại. Luôn luôn ông thường tự tay sửa chữa các bài diễn văn đôi chút. Trong lúc ấy, Milton và tôi thảo luận để hoàn tất đoạn tuyên bố về Việt Nam. Đoạn ấy ghi là “đối với sự quan tâm của người Mỹ, cuộc chiến đã xong.” Tổng thống chấp thuận rất mau chóng. Chúng tôi sẽ cho đoạn này vào bài diễn văn. Chúng tôi đã làm như thế. Vậy đó, phần tuyên bố này vốn không có trong bản văn trước đấy chúng tôi lưu chuyển, nhưng đã có trong bài viết mà chúng tôi phát ra trước khi Tổng thống đọc. Đoạn ấy được bỏ vào giữa bài viết một cách vô tội. Nếu đọc nó trong toàn bài thì không có vẻ gì gây xúc động mạnh cả, và vào thời điểm này, còn ai chẳng biết chúng ta đang rút khỏi Việt Nam?

Đám cử tọa hôm ấy là một đám cử tọa rất nồng nhiệt. Họ nồng nhiệt chào đón Tổng thống. Và khi ông nói, thỉnh thoảng họ vỗ tay cổ võ. Đầu tiên, Tổng thống diễu cợt đôi chút về banh bầu dục hoặc một chuyện khôi hài gì đại khái như thế. Rồi đến đoạn về Việt Nam, ông nói: “Ngày nay nước Mỹ có thể lấy lại được niềm kiêu hãnh đã có từ trước khi xảy ra chiến tranh Việt Nam. Nhưng niềm kiêu hãnh đó không thể đạt được bằng cách tái tham dự một cuộc chiến mà đối với sự quan tâm của nước Mỹ, cuộc chiến đã xong…” Thế là cả thính đường bỗng bừng bừng lên tiếng hoan hô, làm cho Tổng thống không còn kịp nói dứt câu. Bọn trẻ nhảy dựng lên. Chúng la ó hò reo ầm ĩ làm cho các nhân viên báo chí cũng ngạc nhiên. Rồi tất cả các câu khác mà Tổng thống nói đều bị biến mất. Câu chuyện xảy ra là như thế. Tổng thống cố làm cho họ dịu bớt xuống, nhưng rồi đám cử toạ lại nhảy dựng lên, la ó hoan hô nhiều lần nữa, chẳng khác gì không khí của các buổi đại hội tranh cử quốc gia. Tôi thực lấy làm ngạc nhiên. Tôi ngạc nhiên về cái cường độ mãnh liệt như vậy. Quả nhiên, đó chính là điều mà tất cả mọi người đều đang mong đợi được nghe.

Hình minh họa.

Tổng thống lộ vẻ hân hoan. Về việc này, ông lấy làm hết sức phấn khởi về thành quả của chuyến đi. Các Tổng thống đều thích được nghe hoan hô, ông cũng vậy. Thế rồi Ron Nessen chuyển lời lên phòng Tổng thống là báo chí muốn được phỏng vấn ông trên chuyến bay về Hoa Thịnh Đốn. Tôi cản việc ấy, nhưng Tổng thống gạt đi. Ông bảo ông sẵn sàng đấu với báo chí, và họ không phải là đối thủ của ông! Phần lớn các Tổng thống đều nghĩ như vậy, và trong hầu hết các trường hợp thì đúng như vậy. Thế là ông quay ra khu báo chí trên chiếc máy bay, tôi đeo theo ông. Các phóng viên bắt đầu đặt một số câu hỏi. Một trong những câu hỏi là: “Tổng thống có chắc chắn những gì ông tuyên bố không, và Tổng thống có biết trước đây không ai từng tuyên bố việc này không?” Ông trả lời: “Vâng, đến một lúc việc này tất phải chấm dứt, và mặc dầu kết quả không như ý tôi hy vọng, tuy nhiên, đây vẫn là chung cuộc.” Thế rồi có ngưòi hỏi “Kissinger có chấp thuận bản diễn từ không?” Ông trả lời: “Không!” Các Tổng thống đều không thích chuyện có người bảo phải nói cái này, nói cái kia, cái gì được nói, cái gì không được nói, mà đặc biệt vói Kissinger là người thường có khuynh hướng như thế.

Đấy là lúc chúng tôi quả đang bị phiền nhiễu. Tôi bèn cắt lời ông mà nói: “Thưa Tổng thống, chúng tôi đã luân chuyển để duyệt bản thảo bài diễn văn này theo thông lệ. Tôi nghĩ là tướng Scowcroft đã ký trên bản thảo. Chúng tôi cho rằng bài diễn văn cần phải được quý vị phụ trách về ngoại giao chấp thuận.”

Tôi nghĩ Kissinger không có mặt ở Hoa Thịnh Đốn khi chúng tôi luân chuyển bản thảo bài diễn văn. Nhưng việc đó chỉ là tình cờ, chứ thực ra, phần tuyên bố ấy đã không có trong bản thảo đầu tiên.

Tổng thống bèn phản ứng lại lời tôi với cái cách gần như là: “Câm mồm lại khi tôi họp báo! Tôi không cần ai phải dìu dắt cả!” Sáng hôm sau điện thoại văn phòng tôi reo, Tổng thống gọi. Ông bảo: “Bob, Ngoại trưởng Kissinger đang có mặt ở đây…” Giọng nói của ông như chứa đựng một cái cười thầm giữa ông và tôi về một chuyện chúng tôi đều biết “…Xin ông đến đây và đưa Milton Friedman đến với ông.” Milton Friedman hôm ấy đang còn ngủ muộn, văn phòng tôi lại đặt ngay ở hành lang phía Tây, tôi bèn bảo: “Thưa Tổng thống, tôi đến ngay bây giờ.” Rồi tôi kéo theo Paul Theiss, Chủ nhiệm phòng Soạn thảo Diễn văn, mặc dù anh ta không liên hệ gì đến cái trò xiếc này, nhưng tôi cần có người đi theo mà làm chứng.

Hình minh họa

Kissinger không hăm he gì tôi. Tuy nhiên sau nữa, trong vụ này tôi biết rõ ai chịu trách nhiệm, nhưng tôi không thể nói ra. Cho nên nếu Kissinger cần nổi nóng với một người nào thì tất nhiên phải là nổi nóng với Friedman hoặc với tôi, nhưng tôi không thể phản bội lại Tổng thống được.
Thế là Theiss và tôi cùng bước vào phòng Bầu Dục. Kissinger đang đi lên đi xuống trên tấm thảm trước bàn làm việc của Tổng thống. Tổng thống Ford bảo tôi: “Bob, ông Ngoại trưởng đang quan tâm về một vài điểm gì đó trong bản diễn văn của chúng ta hôm qua mà ông ấy bảo là không được hay trước.” Tôi bèn nói: “Dạ, chúng tôi đã có chuyển cho Tướng Scowcroft. Chúng tôi không rõ ổng có đọc hay không, nhưng có chữ ký của ổng trên bản văn, chữ ký ấy chắc là có giá trị như bất cứ chữ ký của ai ở trong căn phòng này thôi.” Cả Tổng thống và tôi đều biết rõ câu tuyên bố ấy lúc đó không có trong bản văn, nhưng Kissinger không biết chuyện này. Và tôi nói: “Tất nhiên Tổng thống cũng có thay đổi chút đỉnh lúc ở trên máy bay, Tổng thống vẫn thường làm như vậy.” Thế là Henry Kissinger gầm lên: “Những chuyện thế này cần phải chấm dứt! Tôi không thể ngẩng mặt lên nhìn Đại sứ các nước về một lời tuyên bố quan hệ như thế mà tôi lại không được hay biết gì! Tôi thực mất mặt!” Đợi cho Henry Kissinger nói hả, Tổng thống nhìn tôi mà bảo: “Vâng, thực là một sự hiểu lầm đáng tiếc, có sơ suất đây. Bob, từ nay đừng để những chuyện thế này xảy ra nữa nhé!”

Hình minh họa

Tôi đáp: “Thưa Tổng thống, vâng!” Paul cũng nói: “Thưa Tổng thống, vâng!” Chúng tôi bèn ra vẻ ăn năn sợ hãi rất đúng cách, rồi rút lui.

Kissinger đang lúc khá cáu giận. Ông có ý quy trách Friedman là người biên soạn bản thảo gốc về việc đã lén đưa đoạn văn ấy vào phút cuối. Nếu tôi nhớ không nhầm ông ta đã đập bàn Tổng thống mà hăm he Friedman. Trong dịp này ông không hăm he tôi, nhưng trước đây ông ta đã từng làm tôi vài trận.

Tổng thống Ford đã trực tiếp điều động kế hoạch di tản cuối cùng vào lúc một giờ đêm, giờ Hoa Thịnh Đốn, nhằm ngày 28 tháng Tư. Đó là giây phút chót khi họ bảo Đại sứ Martin phải đi, lúc ấy ông ta còn chần chờ về chuyện cuốn cờ mà rút. Tôi có mặt tại toà Bạch ốc trong thời gian di tản này. Những ngày cuối ấy thực căng thẳng. Người Mỹ đến đông nghẹt ở toà Đại sứ, và đám đông dân chúng cứ bám quanh bên ngoài mà nện lên cửa. Lúc ấy tại đó chẳng có bao nhiêu lính Thủy quân Lục chiến để đương đầu cho đủ nếu đám đông trở nên mất kiểm soát.

Đám đông này không giận dữ bạo động, nhưng họ đều muốn được rời đi khỏi xứ.

Ford không hài lòng về tình trạng chiến cuộc. Kể từ thời Johnson làm Tổng thống, ông đã từng luôn luôn tỏ ra có thiện cảm với giải pháp tấn công toàn diện và chấm dứt chiến cuộc một cách nhanh chóng trong thời hạn một tháng. Tuy nhiên Mỹ đã thua trận chiến này từ trước khi Ford trở thành Tổng thống, cho nên mối quan tâm chính của ông về vấn đề Việt Nam chỉ là làm sao rút chúng ta ra với một phương cách hợp lý và chấp nhận được thôi.

Vào những giây phút cuối cùng, chúng ta đã đạt được một vài thỏa mãn trong việc triệt thoái mọi người ra mà chỉ thiệt mạng có hai người lính Thủy quân Lục chiến. Sau tất cả mọi sự việc này, một đề mục đáng quan tâm đã được đặt ra là chúng ta trở thành một đồng minh không đáng tin cậy. Tuy nhiên chính các đồng minh của chúng ta ở Âu Châu đã hò reo mà yêu cầu chúng ta rút khỏi Việt Nam. Chính chúng ta đã lưu ý đến các yêu cầu của họ đấy chứ?

Diễn trình rút khỏi Việt Nam cũng gắn liền với một cuộc vận động trên tầm mức rộng lớn hơn, đó là công cuộc bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Người Tàu muốn chúng ta rời Việt Nam để người Nga khỏi có lý do lộn xộn trong khu vực. Chúng ta đã chiến đấu một nửa cuộc chiến ở đấy với cái ấn tượng sai lầm rằng cả người Nga lẫn người Tàu đều nhiệt thành hỗ trợ Việt Nam.

Nhưng sự kiện hiển nhiên đã chứng tỏ: Chỉ người Nga mới thực sự hỗ trợ Bắc Việt, còn người Tàu chỉ biểu dương một bộ điệu hỗ trợ ngoài mặt mà thôi. Người Tàu không muốn người Nga có mặt trong vùng. Nhưng bây giờ người Nga vẫn hiện diện và người Tàu lại vẫn đang lo lắng chuyện này!

Chuyện cổ tích từ một cuộc chiến

trangvhntnguoncoi.wordpress.com

Đông Kha dịch từ: A Timely Reunion Across Four Decades and the Globe Posted on 09/07/2019

Post by Sơn râu 24 Jan 2024

(Nguồn: Báo Tiếng Dân)

Tác giả: Daniel Hautzinger

Dịch giả: Đông Kha

Câu chuyện cảm động về lời hứa 40 năm của người lính Mỹ với một em bé Hội An

Phil Seymour là trung sĩ của Đại đội C, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn TQLC, Sư đoàn TQLC 1 của Hoa Kỳ, ông đến Việt Nam vào tháng 12 năm 1966 và đã bị thương chỉ 1 tháng sau đó.

Tháng 6 năm 1967, Phil đóng quân ở một đảo nhỏ gần Hội An – Đà Nẵng, nhưng thường xuyên vào đất liền và tham quan ở Hội An. Trong những chuyến đi như vậy, Phil thường mang theo một chú chó nhỏ đằng sau balo của mình. Chú chó này tên là Boot, được ông cứu trong một lần hành quân ở trong rừng. Lúc đó Boot còn chưa dứt sữa.

Mỗi khi Phil và đồng đội chèo thuyền ghé vào đất liền, những đứa trẻ trong làng chạy ùa tới để hỏi xin các loại “đồ Mỹ” như kẹo, đồ hộp và cả thuốc lá. Thường thì toán lính Mỹ này sẽ chia cho bọn trẻ những thứ này trong khẩu phần của họ.

Trong số những đứa trẻ đó có một người tên Cam (có thể là Cẩm, Cầm…), luôn mặc đồ ngủ màu xanh và đi chân không. Cam không nhao nhao lên như những đứa trẻ khác mà đứng lùi về sau một chút. Ban đầu toán lính Mỹ tưởng Cam nhút nhát, tuy nhiên sau đó họ mới nhận ra là Cam rất khôn ngoan: Cậu không đến xin bằng tay không, mà mang đến những thực phẩm địa phương như dừa, chuối, chanh… để trao đổi. Vì vậy Cam rất được lính Mỹ yêu mến.

Một ngày của tháng 6 năm 1967, cậu bé Cam – 9 tuổi – tặng một quả chuối cho Phil. Trung sĩ Phil Seymour lúc này chuẩn bị rời vùng đất miền Trung này để đi nghỉ 1 tuần ở Thái Lan. Phil hỏi Cam rằng cậu muốn ông tặng quà gì. Thật ra một cậu bé nghèo ở làng quê heo hút này không thể biết là Thái Lan là ở đâu, có món gì để mà đòi hỏi. Cậu cũng không nói tiếng Anh được tốt lắm, suy nghĩ một chút rồi cậu chỉ vào cái đồng hồ mà Phil đang đeo. Trung sĩ Phil đồng ý.

Khi ở Thái Lan, Phil quên bén mất lời hứa về cái đồng hồ. Thật ra một anh lính đi du lịch nghỉ phép thì chỉ nghĩ đến việc ăn chơi, không có nhu cầu đi mua sắm. Hết kỳ nghỉ phép, trở lại Hội An, rồi gặp lại Cam, ông mới chợt nhớ tới vụ cái đồng hồ. Khi thấy Phil về, Cam chạy ùa tới, hớn hở.

Nhưng không có cái đồng hồ nào cả.

Ngay sau đó, đơn vị của Phil rời vùng đất này để về vùng phi quân sự, rồi đến tháng 1 năm 1968 thì ông rời Việt Nam.

Phil cho biết rằng cuộc sống của ông rất bình lặng, không có nhiều thứ làm ông hối tiếc, ngoại trừ lời hứa không thực hiện được với một cậu bé ở vùng quê nghèo miền Trung Việt Nam này. Đó thực sự là niềm hối hận lớn nhất trong đời của ông. Ông cũng đã từng nghĩ rằng sẽ phải mang niềm ân hận này theo cho đến khi lìa đời.

Phil Seymour là một người gốc Brookline, Massachusetts, ở trong quân ngũ thêm 27 năm, sau đó lấy bằng Master về luật và trở thành luật sư ở Ngũ Giác Đài, sau đó là trưởng công tố viên trước khi nghỉ hưu năm 1995. Ông đã nghĩ rằng mình không thể trở lại Việt Nam một lần nào nữa.

Tuy nhiên vào năm 2007, vợ của Phil là Lynne cho ông biết là nhóm du lịch chung mà ông bà thường tham gia sẽ có một chuyến đến vùng Đông Nam Á và có dừng chân ở Hội An. Bà Lynne nói ông cân nhắc việc tham gia chuyến đi này, cũng là cơ hội để tìm lại Cam và thực hiện lời hứa 40 năm trước đó.

Đến khi ông Phil quay trở lại thì Hội An đã trở thành một thành phố du lịch nổi tiếng, được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vì kiến trúc của nó hầu như không thay đổi so với thời điểm thành lập hồi thế kỷ 15, là nơi giao thương nhộn nhịp của người Việt với người Hoa, Nhật và Châu Âu sau này.

Phil nghĩ rằng cơ hội để tìm lại được Cam gần như là số 0. Không thể biết được rằng Cam có thể sống sót qua được chiến tranh hay không, vì vùng đất này xưa kia rất ác liệt. Tuy nhiên Phil vẫn mang theo một cái đồng hồ trong chuyến du lịch này.

Hướng dẫn viên đoàn du lịch của Phil là một người Hà Nội, nói rằng anh biết rất nhiều người ở Hội An nên sẽ giúp tìm Cam. Thật bất ngờ là sau ngần ấy năm, ông Phil vẫn còn giữ một số tấm hình gia đình của Cam để có thể mang đi hỏi thăm.

Sau khi đến Hội An, nhận phòng khách sạn xong thì cũng là lúc anh hướng dẫn viên người Việt gọi Phil xuống và qua bên kia đường. Không biết bằng cách nào, người hướng dẫn viên này đã tìm được một người đàn ông đội nón màu xanh, người này nhìn tấm ảnh của Phil và nói trong hình là cha của anh chụp chung với 3 người con, người con trai út trong hình chính là người đội nón xanh này, và Cam chính là anh trai của anh. Ngay lúc đó, anh điện thoại để gọi Cam tới.

Phil lật đật chạy lên phòng khách sạn để lấy máy ảnh và đồng hồ, rồi chạy ngay xuống. Ngay khi băng lại qua đường, Phil cũng vừa thấy Cam tới, lúc này Cam đã là một người đàn ông 49 tuổi, làm nghề thợ mộc.

Hướng dẫn viên giải thích cho Cam hiểu câu chuyện. Anh ngơ ngác, không thể hiểu được rằng có người vừa đi nửa vòng trái đất chỉ để gặp anh và đưa chiếc đồng hồ.

Hướng dẫn viên chỉ ông Phil rồi hỏi Cam là có nhớ người đàn ông này không, Cam trả lời: “Có, ổng thường cõng con chó nhỏ trên lưng”. Hướng dẫn viên hỏi về lời hứa chiếc đồng hồ 40 năm trước, Cam trả lời: “Có, lúc đó tui mới 9 tuổi, nói tiếng Mỹ bập bẹ, nên nghĩ rằng đã có sự hiểu lầm nào đó”.

Theo chiều kim đồng hồ từ trái: Cam và anh trai; Cam và Phil Seymour trong cuộc hội ngộ 40 năm sau; Phil Seymour ở Việt Nam khi là lính Thủy quân Lục chiến; Cam và Phil Seymour năm 1967. Nguồn: Phil Seymour

Ông Phil và hướng dẫn viên đã giải thích cho Cam hiểu là không có sự hiểu lầm nào cả, chỉ là do Phil đã thất hứa.

Phil đưa cho Cam chiếc đồng hồ. Anh Cam rơi nước mắt. Họ cùng ôm nhau khóc.

Hôm sau anh Cam mời ông Phil đến nhà ăn tối. Vợ anh tên là Nở, cùng cô con gái tên Vy chuẩn bị cho bữa ăn, còn vợ chồng Phil – Lynne và anh hướng dẫn viên ngồi ăn. Phong tục của Việt Nam là khách đến nhà chỉ có việc ăn, và ăn, sau đó là đi về.

Vy – con gái đầu của anh Cam – lúc đó 28 tuổi, vừa mới kết hôn, nói rằng cô muốn được học đại học như 4 người em trai của mình, nhưng ở vùng quê này thì phụ nữ thường thiệt thòi, ít được học lên đại học.

Trên đường về khách sạn, Lynne – vợ của Phil – suy nghĩ và ngỏ ý muốn cố giúp Vy được học đại học. Với sự liên lạc, giúp đỡ của anh hướng dẫn viên, Vy đã được đi học ở Sài Gòn cùng với 4 người em trai đã đi học hồi trước đó. Vy nhận bằng liên thông năm 2010 và bằng cử nhân năm 2012.

Phil trở lại Việt Nam – có lẽ là lần cuối cùng – vào năm 2012 để dự lễ tốt nghiệp của Vy. Họ cũng mua vé máy bay cho vợ chồng Cam – Nở vào Sài Gòn. Đó cũng là lần đầu tiên Cam được đi máy bay, anh mang theo vô số quà quê để mở một bữa tiệc mừng tại nhà trọ của Vy. Lynne và Phil còn tặng cho Nở một lò vi sóng để giúp cô nấu ăn thuận tiện.

Hiện tại Vy đang làm việc ở Sài Gòn, vẫn thường xuyên gọi điện cho vợ chồng Seymours.

Một lời hứa tưởng như rất nhỏ, vô thưởng vô phạt, nhưng đã ám ảnh anh lính tên Phil trong 40 năm, khơi gợi lại cho ông những ký ức buồn về một vùng quê đau khổ, tan tác. Ông quyết chí tìm lại cậu bé năm xưa để xua đi nỗi đau đáu trong lòng. Phil cho biết:

“Nếu tôi thất hứa với một người lớn nào đó thì tôi sẽ không bị mang một nỗi ân hận dai dẳng đến như vậy. Đằng này tôi đã hứa với một đứa trẻ tốt bụng, ngây thơ. Nó không thề thốt hay cầu xin gì cả, trên khuôn mặt lúc nào cũng có một nụ cười”.

Chiến tranh mang lại những tổn thương khó lành trong tâm khảm những người lính tham chiến. Chính sự ngây thơ của Cam và những đứa trẻ xin kẹo khác đã làm dịu bớt những trăn trở không yên trong lòng người lính viễn chinh, giúp họ bình thản hơn để vượt qua được những hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc chiến.

Thêm một số hình ảnh trong bài. Nguồn: Phil Seymour

Căn cứ Thủy quân Lục chiến ở trên đảo. Nguồn: Phil Seymour

Phil và chú chó Boot trên ba lô. Nguồn:Phil Seymour

Cam và Phil Seymour năm 1967. Nguồn: Phil Seymour

Lynne Seymour và Vy, con gái của Cam. Nguồn: Phil Seymour

Tên đất quê mình!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on June 9th, 2022

Post by Sơn râu 24 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Danh là tên. Ðịa là ông Ðịa. Ông Ðịa là đất. Như vậy địa danh là tên đất.

Nhìn xa qua bên Nga, thành phố nguyên ủy là Saint Petersburg, Volgograd’. CS vô làm cha đặt tên Leningrad. (Cán bộ đọc VI Lenin là Sáu Lenin) và Stalingrad.

Stalin ngỏm củ tỏi, quẹo củ từ năm 1953. Năm 1991, Liên Xô ‘rã bành tô’. Tên hai thành phố nầy lại châu về hiệp phố. Dân Nga ‘đá’ tên hai thằng chả theo luôn xuống hỏa ngục. Thiệt đúng là: ‘Còn thời cỡi ngựa bắn cung. Hết thời đi lượm dây thun bắn ruồi’

o O o

Sau nầy lưu lạc viễn phương như chiếc lá giữa dòng, đụng đâu tấp đấy, tui lạc tới Melbourne, thủ phủ tiểu bang Victoria, Úc Châu. Melbourne đọc phải uốn lưỡi lên, lưỡi xuống thiệt là mệt quá!

Tò mò, tui hỏi ên mình: Melbourne là tên ai vậy ta? Té ra Melbourne là tên đất ở Derbyshire, nơi Thủ tướng Anh, William Lamb khóc ‘oe oe’ chào đời ô trọc.

Ông sở bà sơ của người Úc toàn là ‘convicts’, tội phạm cò con. Chỉ vì nghèo đói quá, ăn cắp chừng chục ổ bánh mì, rồi phải bị đày ra tới đảo xa hơn nửa vòng trái đất.

Vậy mà Úc không để bụng oán thù. Úc Kangaroo thản nhiên như người Hà Nội, lấy Melbourne, quê của thằng cha căng chú kiết nào đó, xưa giờ chưa hề được nó mời nhậu một lần, để đặt tên cho thành phố mà mình đào vàng chết cha, chết mẹ để dựng nó lên!

Hồi mới qua, tui được cô giáo dạy tiếng Anh dắt vô Tòa Quốc hội tiểu bang ngoài ‘city’ coi chơi. Quốc hội đang họp. Chánh phủ và phe đối lập sùi bọt mép, chửi nhau chí chóe như khỉ. Tui hổng có nói dóc đâu nhe! Tui thấy mấy cây cột nhà bự ế kinh đúc toàn bằng vàng khối!

Còn như Tía tui đến Úc, hổng cần biết tên thằng Anh nào sất. ‘Melbourne’ Tía gọi là ‘Mai Bình’, theo kiểu của dịch giả Hà Mai Anh, cho nó ‘phẻ’ cái miệng?!

Cũng cần nói thêm là Melbourne không phải chỉ riêng ở Úc. Mà còn là ‘Mount Melbourne’, ở Nam Cực; ở Quebec, Canada, ở Arkansas, Florida, Iowa, Kentucky tuốt bên Mỹ.

o O o

Còn trở lại quê xưa, quê mình, tên đất đây có thể là một xóm. Bến sông xưa có ông Năm bán nồi rồi thành xóm Năm Nồi ở Mỹ Tho. Hay Hốc Bà Tó. Cha cái Hốc này tối dữ à ta?!

Từ tên xóm tới tên làng như: Chắc Cà Ðao, Mặc Cần Dưng… tiếng Khmer. Chưa ai biết nghĩa đích xác của nó là gì? Vì các nhà biên khảo vẫn còn đang cãi nhau ỏm tỏi.

Rồi tới tỉnh như Mỹ Tho, tiếng Khmer, nghĩa là “Nàng Tiên, người con gái đẹp”. Mà gái Mỹ Tho đẹp thiệt! Chu choa mẹt ơi! Ngay cả ‘Tông tông Thiệu’ còn phải lòng con gái Mỹ Tho; huống hồ chi là tui! Bằng cớ là Cô Bảy, tức bà Nguyễn Thị Mai Anh là Ðệ nhứt Phu nhân của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa là dân chánh gốc Mỹ Tho.

Tên đất bỗng nghe ai nhắc lại làm người tha hương chạnh nhớ người xưa quê mình tha thiết!

o O o

Còn Cần Thơ là sinh quán người yêu cũ của tui. Nhưng người yêu tha thiết cũ không còn nữa! Giờ đây em đã tót lên đầu làm vợ, làm ‘bà chằn lửa’ để cai trị đời tui.

Tại sao vùng đất nầy nơi đã sản sinh ra ‘em yêu’, một con người kiệt xuất, kinh thiên động địa như thế lại tên là Cần Thơ, mộng mơ đến thế?

Có ba cách cắt nghĩa. Một của Việt Cộng. Một của một số người dân địa phương. Và một của nhà biên khảo Sơn Nam.

Việt Cộng cắt nghĩa là: “Chúa Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu, bằng đường sông để trốn sự truy lùng ráo riết của nhà Tây Sơn. Một đêm, thuyền của Ngài lênh đênh trên dòng sông Hậu. Ðêm khuya thanh vắng, Ngài nghe có tiếng ngâm thơ, đờn địch, hò hát hòa nhau rất nhịp nhàng, từ một khúc sông xa vọng lại. Ngài xúc động và đặt tên con sông nhỏ này là ‘Cầm Thi Giang’. Cầm Thi được đọc trại thành Cần Thơ.

Cắt nghĩa như vậy khó lòng thuyết phục tui. Nguyễn Ánh đang bị quân Tây Sơn ráo riết truy nã. Bắt được là giết ngay để trừ hậu hoạn thì Ngài có huỡn đâu mà thưởng thức đờn địch, ca ngâm, văn nghệ, văn gừng giữa đêm khuya thanh vắng?

Một số người dân địa phương lại cắt nghĩa là: vùng đất nầy có trồng nhiều rau cần và rau thơm. Mỗi khi chèo ghe đi bán trên sông rạch, chủ ghe thường rao: “Ai mua rau cần thơm không?”. Rau cần thơm đọc trại thành Cần Thơ!

“Rau cần rau thơm xanh mướt. Mua mau kẻo hết, chậm bước không còn. Rau cần lại với rau thơm. Phải chăng đất ấy rau thơm có nhiều?”

Theo tui là: Phải đặt tên đất trước; rồi trồng rau sau. Ai mà đặt tên kiểu ngược ngạo như vậy bao giờ?

Nhà biên khảo Sơn Nam lại nói: “Vùng đất sông nước có nhiều cá sặc rằn (kìn tho, tiếng Miên). Kìn tho đọc trại là Cần Thơ!”

Mà quả vậy, Cần Thơ có cơ man là cá sặc rằn. Cá nhiều đến nỗi ăn không hết phải làm khô. Lâu lâu có bạn tới nhà, mình bằm xoài thanh ca trộn khô cá sặc rằn nướng lửa than. Chan nước mắm đường, làm dĩa gỏi nhậu chơi rất bắt.

Không phải thấy Sơn Nam sang mà tui bắt quàng làm họ, tui khoái cách cắt nghĩa của ổng hơn. Vì nó có lý.  Phần ba tỉnh Miền Tây trong Lục tỉnh Nam Kỳ vốn là đất của Miên nên họ đặt tên trước là hợp lý quá rồi. Ðâu phải riêng cái tên Cần Thơ, mà Sa Ðéc là Chợ Sắt. Trà Vinh là Ao Phật. Sóc Trăng xứ có kho chứa bạc. Bạc Liêu là xứ quê mùa. Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu. Là xóm nghèo, làm nghề chài lưới. Rồi Cà Mau là nước đen; do lá mục của các cây tràm, ráng, dừa nước… làm nước có màu vàng sậm.

Bảo Huân

Nhớ những ngày còn kẹt lại ở Cần Thơ, con vợ tui thường đi chợ Tham Tướng. Với số tiền ít ỏi, còm cõi lận lưng, ‘em yêu’ mua cá sặc rằn, về kho khô thiệt mặn cho chồng ăn cơm với cá để còn có sức mà chạy xe đạp ôm.

Du kích Cần Thơ nổ là dân xứ Cầm Thi. Tức biết đàn (cầm) biết làm thi (thơ). Vì VC trong lòng bao giờ cũng bị ám ảnh sợ bị dân chê đồ ở trong rừng dốt nát.

Mấy tay vừa dốt, vừa xạo, vừa nổ, hung hăng đòi đưa nhà biên khảo Sơn Nam ra ba tòa quan lớn vì tội nói xấu Cần Thơ. Ông Sơn Nam dám nói Cần Thơ không phải là đất của thơ gì ráo mà là đất có nhiều cá sặc rằn.

Chuyện văn nghệ mà mấy cha. Hổng thích thì thôi, còn hăm he nhà biên khảo uy tín, xưa giờ chưa hề viết dóc, nói ẩu ra tòa áo đỏ thì chúng đúng là bọn dốt nát thiệt.

Ỷ cầm được cây AK-47 của Tàu cộng trong tay rồi muốn nói bậy bạ gì thì nói hay sao?

Ông bà mình đã từng dạy: “nhập gia tùy tục; nhập giang tùy khúc”. Nghĩa là: vào nhà nào tùy theo tục nhà nấy; vào sông tùy theo khúc sông. Ðó là nghĩa đen. Còn nghĩa bóng là: đến nơi nào phải theo phong tục của nơi đấy.

Nhưng tháng Tư, năm 1975, CS Bắc Việt chiếm được Miền Nam. Tượng thổ thần, thổ địa ngồi gốc cây da, chúng đem vụt tuốt xuống sông hết ráo vì cho đó là mê tín dị đoan. Tên đất xưa là vậy chúng cũng chẳng thèm tôn trọng. Chúng gom Bình Dương, Bình Long và Phước Long thành tỉnh Sông Bé. Sau vài năm, Sông Bé chắc nó bé quá, nên nó tự động biến mất tiêu. Rồi Bạc Liêu và Cà Mau thành Minh Hải. Biển sáng rồi tối hù hồi nào cũng hổng ai hay.

Chân ướt, chân ráo vào mà còn bố láo. Chớ biết khôn một chút là phải bỏ cái thói kiêu ngạo CS. Phải bỏ cái thói ‘chúng ông’, bắt dân Miền Nam phải tuân theo những cái lịnh linh tinh ngu ngốc của mình.

Thay đổi địa danh ở một nơi là phải tùy theo lòng dân. Tự xưng là dân chủ thì phải khác độc tài chớ. Phải họp dân mà hỏi. Ðâu phải muốn đặt tên gì, tên nào cũng được đâu mấy cha? Ðất nước nầy là của chung của ông bà để lại! Chớ đâu phải của riêng của chú mầy; do ông sở bà sơ của chú mầy để lại đâu?

Xem xét địa danh, tên đất là phải có cái đầu. Phải khiêm cung mà học hỏi. Phải đọc, phải suy xét cân nhắc đúng sai. Chớ đọc “Mác Lê” mà không có cái đầu thì tốt hơn là đừng đọc! Tận tín thư bất như vô thư!

ĐXT