This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ðặt chưn tới Úc, ai cũng được chánh phủ cho đi học tiếng Anh 510 giờ miễn phí. Học “cầu vừa đủ xài”. Ðể không phải cái gì cũng động từ “to quơ”. Biết “Yes” và “No” để đi làm cu li cho Úc.
Mới đầu Úc hỏi cái gì, tui cũng “yes” hết ráo. Nói “no” sợ nó giận; nó đì mình sói trán. Sau thấy trả lời “yes” là mình ngu. Vì có lần thằng boss nó cự nự: “Chú mầy say “yes”; đồng ý rồi sao không làm?”. Tui đâu có hiểu nó sai cái gì đâu mà làm? Từ đó, nó hỏi cái gì tui cũng nói: “No”. Làm nó hết sai tui luôn. Quá phẻ!
Sau khi học tiếng Anh chút đỉnh để dằn bụng, huỡn huỡn tui tìm hiểu cái hệ thống chánh trị của Úc coi nó tròn méo ra sao mà dám vỗ ngực, xưng hùng, xưng bá là tự do dân chủ! Chưa tới 4 năm là nó nắm đầu bắt tui đi bầu tiểu bang rồi tới liên bang. Hổng đi bầu, nó phạt gần cả trăm đô chớ có ít đâu!
Bà con mình ai cũng biết dân Úc rặt hồi xưa vốn là dân chôm chỉa bên Anh bị đày qua đây. Truyền thống chôm chỉa đó vẫn còn nhe. Thấy thiên hạ có cái gì hay hay là Úc nó chôm về xài. Mắc công suy nghĩ sáng chế mà chi? Ðể thời giờ uống bia vì đời ngắn lắm mà!
Ai cũng biết chôm dễ nhứt là chôm của má mình. Chính vì vậy, Úc chôm của mẫu quốc Anh cái hệ thống chánh trị kiểu Westminster. Theo hệ thống đó, đảng nào có nhiều dân biểu thì có quyền thành lập chánh phủ. Ðảng có số ghế dân biểu đứng hàng thứ hai là đảng đối lập. Quanh năm suốt tháng, hai đảng họp hành ở Hạ viện, cãi nhau chí chóe như khỉ, sùi bọt mép như con nít.
Úc còn tiện tay chôm của chú Sam cái hệ thống tiểu bang và vùng lãnh thổ. Cái khác là Thống đốc được dân Mỹ trực tiếp bầu. Thủ hiến thì Úc chọn theo hệ thống Westminster.
Bà con mình thường nghĩ Thủ tướng bao giờ cũng quyền lực hơn Thủ hiến. Trật lất! Thời ôn dịch nầy, Thủ hiến có quyền nhốt dân. Như tiểu bang Victoria của tui bị nhốt lâu nhứt trên thế giới. Nhốt nhiều lần, hơn 230 ngày và vẫn còn đang nhốt. Hổng biết tới ngày nào mới được tự do đi nhậu để nói dóc như xưa?
Mới sáng ngày đầu tháng Mười, Gladys Berejiklian, Thủ hiến New South Wales, đông dân nhứt nước Úc, được tờ The Financial Review phong là một trong “10 người quyền lực nhất ở Úc trong năm 2021”.
Nhưng oái oăm thay tới 1 giờ trưa, thay vì họp báo về số người nhiễm và chết vì COVID-19, phải nhốt ai thì nàng đột ngột rủ áo từ quan, lên non tìm động hoa vàng với anh, làm ai nấy đều chưng hửng!
Gladys Berejiklian, cái tên dài thòng khó đọc vì nàng vốn là một đứa bé 5 tuổi người Armenia nhập cư. Vào tiểu học, Gladys mới học nói tiếng Anh. Gladys Berejiklian sinh nhựt năm 20 tuổi mặc chiếc áo “Superman”, chứng tỏ nàng rất đam mê quyền lực.
Ðời mà! Làm đàn bà, con gái đẹp thì đi làm tài tử đóng phim. Còn Trời không cho đẹp thì đi làm chánh trị. Gladys Berejiklian bắt đầu hoạn lộ công danh bằng con đường làm chánh trị. Tốt nghiệp Ðại học Sydney năm 1993, lúc 23 tuổi, chỉ cần 4 năm, nàng đã làm Chủ tịch đoàn Thanh niên Ðảng Tự do NSW. Lần đầu tiên tranh cử vào Quốc hội NSW, năm 2003, Gladys Berejiklian thắng sít sao, vỏn vẹn có 144 phiếu. Nhưng các cuộc bầu cử tiếp theo ghế đơn vị Willoughby, Gladys đã thắng một cách dễ dàng.
Mới nhiệm kỳ đầu, Gladys Berejiklian đã được giao làm Bộ trưởng Giao thông đối lập năm 2006. Năm 2015, làm Bộ trưởng Ngân Khố, nàng chấm dứt việc ngân sách bị thâm thủng dài hàng thập kỷ. Năm 2017, Gladys Berejiklian làm Thủ hiến tiểu bang NSW.
Cuối năm 2019, những đám cháy rừng nghiêm trọng vào mùa Hè xứ Úc là một thử thách rất lớn. Nhưng với tài lãnh đạo, Berejiklian đã thành công trong việc đối phó với thảm họa cháy rừng do biến đổi khí hậu gây ra.
Lửa rừng, khói chưa kịp tan hết thì đại dịch COVID-19 ập đến. Berejiklian buộc phải cô lập tiểu bang. Một mặt tăng tốc việc chích ngừa cho dân. Số ca nhiễm COVID-19 đang cao, giảm từ từ và nàng định ra thời điểm tiểu bang sẽ mở cửa trở lại.
Thủ tướng Scott Morrison và người dân ai nấy cũng đều ca ngợi, tuyên xưng Berejiklian là “Người phụ nữ đã cứu nước Úc”. Ðàn bà dễ có mấy tay?
Nhưng giờ đây Gladys Berejiklian lại không thể cứu được cái “job” thơm như múi mít của mình. Nàng té ghế, vì nàng chỉ là một nhi nữ thường tình, lụy bởi một chữ tình.
Bởi cuộc đời rắc rối, cuộc tình rối rắm, ôi biết nói gì, thì đành nói dối. Mối tình lãng mạn kéo dài 5 năm trong bí mật. Không ai biết cho đến khi nàng bị Ủy ban độc lập điều tra về tham nhũng triệu tập ra làm nhân chứng trong vụ anh yêu, dân biểu vùng Wagga Wagga, là hạm, đụng gì táp nấy.
Từ chức dân biểu, anh yêu chuẩn bị vác chiếu ra Tòa. Còn nàng như ngồi trên trái bom hẹn giờ, nổ chậm. Và giờ định mệnh đã điểm. Ủy ban độc lập điều tra về tham nhũng đang coi nàng là một nhân vật cần phải điều tra. Họ đang xem xét coi bà Thủ hiến có hành vi xung đột giữa thi hành công vụ và thủ lợi riêng tư, vi phạm lòng tin của quần chúng không. Vì lúc làm Bộ trưởng Ngân khố, Berejiklian đã cấp 5 triệu đô cho một câu lạc bộ ở khu vực bầu cử của anh yêu vào năm 2017. (Hành động nầy giống như xài tiền thuế của nhân dân để mua phiếu cho bồ Tèo của mình)
o O o
Vậy là từ hoạn lộ thênh thang, nàng đành rủ áo từ quan! Mắt mũi đỏ hoe, cố kềm tiếng khóc, Thủ hiến Gladys Berejiklian tuyên bố: “Tôi rất đau lòng khi thông báo rằng tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc từ chức Thủ hiến, không còn làm dân biểu nữa. Nhưng tôi khẳng định một cách rõ ràng, tôi luôn hành động với mức độ chính trực cao nhất. Từ chức Thủ hiến không có nghĩa là tôi có tội”.
Nói xong, Berejiklian với vẻ đau khổ hằn sâu trên khuôn mặt, nàng bước vào hậu trường. Cửa đóng lại. Hoàng hôn đã sụp xuống. Ðàn đứt ngang cung, cuộc đời chánh trị của một người chỉ mới có 51 cái xuân nồng.
Em Ba Lùn, “se” phòng nhà tui, bất ngờ nghe tin dữ về thần tượng, mắt em cũng đỏ hoe như đi đám ma. Em hỉ mũi rột rột thấy gớm. Tui cười khè khè, nói: “Thần tượng của em Ba làm bằng đất sét bỗng gặp mưa. Nên nó rã bèn ra! Em Ba dư nước mắt khóc như cha chết mà không sợ người đời chê mình kém trí? Há em không nhớ: chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài hay sao?”.
Nghe tui chọc quê như vậy, em Ba Lùn tức ói máu, nên rống họng, lên lớp tui một bài về chánh trị nhập môn. Em nói là: “Bà Thủ hiến từ chức để cho Ủy ban điều tra là đúng. Trước khi Ủy ban điều tra kết luận là bà chưa có tội. Anh đừng vội kết luận gì cả.”.
Tui cãi: “Không có cái Ủy ban bài trừ tham nhũng nào dám rớ tới cọng lông chưn của Thủ hiến; nếu bà ấy không có làm gì sai trái? Nếu là em, không làm gì trật em có chịu từ chức, bỏ cái “job” thơm như múi mít hay không?”.
Người dân đã bị gạt quá nhiều bởi các chánh trị gia. Cứ mỗi lần mở miệng ra là sống liêm khiết, là sống vì nước, vì dân. Nhưng sự thực lại không phải vậy! Người dân tiểu bang NSW hào phóng trả cho Thủ hiến tiểu bang New South Wales một năm tới $407,980. Rồi đủ thứ phụ cấp nữa. Không đủ hay sao mà còn ngắt véo đầu nầy, đầu nọ? Thiệt là làm anh thất vọng não nề!
Khi bàn về một chánh trị gia, em Ba đừng để cảm tính che lấp mất tánh khách quan. Ðuối lý, em Ba Lùn thua me, gỡ bài cào nói: “Tại em yêu anh lầm lỡ? Em trao duyên lầm tướng cướp. Em nghe lời thằng chả xúi bậy!”. Tui hỏi móc họng: “Bộ thần tượng của em là con gái mới tới tuổi dậy thì hay sao?”.
Chính những người dân ngu khu đen NSW chổng khu đóng thuế, mới trao duyên nhầm tướng cướp. Cãi không lại, em Ba Lùn tuyên bố: “Từ rày về sau, nhậu cửng cửng về, đừng có xin tui cho hun một cái nữa nhe”.
Ðóng cặp với tài tử lừng lẫy lúc bấy giờ là Michael Douglas trong phim Basic Instinct (Bản năng gốc, 1992), Sharon Stone mặc chiếc váy trắng ngồi bắt chéo chân. Cái lối ngồi đó, dân Lục tỉnh Nam Kỳ gọi là ngồi chành bành rồi tréo ngoảy. Cái kiểu ngồi táo bạo nầy đã làm Sharon Stone nổi danh toàn thế giới. Mấy anh mình gọi em là ‘biểu tượng sex’.
Vài chục năm sau, viết hồi ký, Sharon Stone thuật lại: Ðạo diễn Paul Verhoeven bảo em: “Hãy đưa quần lót của em cho anh”. Sharon Stone còn nói thêm là mình được thông báo sẽ không có cảnh khỏa thân trực diện nào của em xuất hiện trong phim.
Nói tóm lại, đạo diễn muốn tài tử khoe ‘Thị Hến’. Khoe chi vậy? Khoe tô hô để hấp dẫn đám đàn ông háo sắc. Chớ mấy em khác cũng có nên chẳng thiết tha gì?
Quả nhiên tiền vô như nước, thu tiền vé tới 352 triệu đô Mỹ. Nhưng em Sharon Stone chỉ được có 500 ngàn đô. “Ê! Bắt lột rồi lủm hết như vậy thì bất công quá! Làm vậy coi sao đặng?”
Ðạo diễn Paul Verhoeven chối bai bải: “Tôi không có kêu nhe! Thật nực cười! Là một tài tử kỳ cựu, em biết chính xác những gì trên cơ thể em mà ‘camera’ sẽ chiếu tướng. Em không mặc quần lót dù biết Thị Hến sẽ bị lộ ra. Em muốn vậy. Chớ ai có thể ép, buộc nếu em không muốn?”
Chưa hết giận, Ðạo diễn Paul Verhoeven còn tố em Sharon Stone đặt chuyện nói dóc. Ông nói: “Khi các tài tử già đi, họ sẽ hối tiếc về một số điều trước đây họ đã lỡ làm trong đời. Nên họ cố tìm cớ để biện minh hoặc cố gắng che đậy chúng”.
Tóm lại, chuyện bên Mỹ, tài tử tố đạo diễn. Ðạo diễn nói không làm. Thầy đổ bóng; bóng đổ thầy về cái vụ khoe Thị Hến của em.
Ðúng là chuyện ruồi bu. Dẫu ruồi bu nhưng lại được giới hoa hậu trong nước tận tình bắt chước. Chánh quyền CS, tự nhiên như người Hà Nội, bật đèn xanh. Cứ khoe đi cho mát trời ông địa.
Như năm 2019, trước cái thời COVID-19 từ Vũ Hán tràn lan khắp thế giới, tối 19 tháng 5, người đẹp Vĩnh Bình mặc váy xẻ khoe hết cơ thể trên thảm đỏ LHP Cannes.
Tức em sao lại đem ‘Hến’ của quê mình cho mấy thằng đế quốc săm soi nên anh chửi um lên: “Nhục cho giới người mẫu Việt Nam. Hãy biết cách tẩy chay những kẻ mặt dày, vô văn hóa như thế”.
Xài xể em nặng lời đến thế nhưng cứt trâu để lâu hóa bùn. Huề tiền! Cơm ai nấy ăn; nhà ai nấy ở. Tui muốn khoe thì tui khoe! Chánh phủ không nói gì, thì làm gì nhau? Vậy là tùy theo nhà nươc CS thế thôi. Bả khoe ‘Thị Hến’. Em khoe ‘sò lông’. Cuối cùng cũng chỉ để tiếp thị, để tìm quan chức CS tham nhũng đất đai giàu sụ bao tiêu sản phẩm.
Sắc đẹp mà để lâu nó xệ tới rún. Bộ không nghe nhà thơ Xuân Diệu nói hay sao? “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ. Em, em ơi, tình non đã già rồi. Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi. Mau với chứ! thời gian không đứng đợi.”
Thị Hến lần nầy sanh năm 1998, cao tới 1m77 chân dài miên man. Vòng một, vòng hai và vòng ba là: 82-61-90 cm. Em học trường chuyên Lê Hồng Phong. Trường nầy vốn là Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký. Hồi xưa, niên khoá 1966-1967, trường có vài nữ sinh từ trường khác qua học vì chỉ có Petrus Ký dạy sinh ngữ hai là tiếng Ðức. Mà ngay cả các trường nữ danh tiếng như Gia Long, Trưng Vương hoặc Luật Khoa, Văn Khoa sinh viên nổi tiếng đẹp như Thanh Lan cũng không có em nào dám ăn mặc tục tĩu đến như thế!
Tối ngày 23, tháng Chạp, năm 2022, Chung kết thi Hoa hậu Việt Nam. Là Hoa khôi Áo dài Nữ sinh Việt Nam 2015. Rồi Á hậu Việt Nam năm xưa, giờ em trao vương miện cho Á hậu năm nay.
Ðèn sáng trưng. Ðèn máy ảnh chớp nháy liên tục. Hình chiếu trực tiếp trên đài truyền hình cho người coi một chút, Họ thấy hầu như em không có mặc gì. Nói tiếng Nôm na là em ở truồng như nhộng. Làm thằng Cu Tí thấy vậy hãi hùng, buột miệng kêu lên: “Bố ơi! Cái gì ghê quá vậy?”
Xét cho cùng, chế độ CS chỉ là cái tên thời “Lê Văn Nin” đầu thế kỷ 20. Thực chất nó là chế độ phong kiến độc tài. Hồi xưa, bên Tàu gọi là tuyển phi tần để tiến cung. Giờ gọi là thi Hoa hậu. Thời nhà Minh bên Tàu, dân cả nước làm ruộng nghèo sặc gạch. Thấy con mình có nhan sắc nghiêng thùng đổ nước bèn dắt lên kinh ứng thí.
Sĩ tử lều chõng mang theo một bụng tứ thư, ngũ kinh. Còn mấy em mang theo hai trái dưa hấu. Sĩ tử đậu đầu bảng làm Trạng Nguyên. Nếu không xấu trai như Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Ðĩnh Chi thì vua gả công chúa cho. Làm phò mã tức để giữ con ‘ngựa bà’.
Tiếng Anh ‘bitch’ dịch sát nghĩa là con chó cái. Nghe nặng nề quá, nên tui dịch là con ‘ngựa bà’ nghe cho nó thanh tao!
Nên có chuyện là: Cô giáo hỏi cả lớp lớn lên em sẽ làm gì? Cu Tí giơ tay lên và nói: “Lớn lên, em muốn trở thành tỉ phú đô la Mỹ như Elon Musk. Có tiền nhiều vô thiên lủng, em tìm một ‘con ngựa bà’ trong giới thi Hoa hậu. Em sẽ mua cho nó một căn biệt thự sân trước vườn sau giá năm ba triệu đô Khu đô thị Phú Mỹ Hưng. Em mua cho nó một chiếc Ferrari chừng nửa triệu đô. Em mua cho nó vô số kim cương, hột xoàn.
Em sẽ mướn nhà thời trang thiết kế cho nó một bộ trang phục bằng tơ trong suốt. Ðể em mặc như em đang ở truồng cho nó hấp dẫn”.
Cô giáo nghe xong mồm há hốc thiếu điều ngã lăn ra chết giấc. Nhưng khi thấy Thị Hến giơ tay lên, cô mới choàng tỉnh hỏi: “Hến! Lớn lên em sẽ làm gi?”
Thị Hến trả lời: “Lớn lên em sẽ là con ngựa bà của thằng Tí. Em sẽ thi Hoa hậu. Nếu đậu, em bỏ thằng Tí lấy thằng Tèo đảng viên cao cấp tham nhũng đất đai giàu sụ hơn thằng Tí gấp mấy lần.
Sau đó, tụi em ‘quy mã’, tức qua Mỹ. Tụi em tới Quận Cam mua nhà sống tới già tới chết. Vì ở lại có ngày sẽ bị chúng mần thịt!”
MỘT. Bây giờ thân gửi vào đây, ngủ thức với thuốc dưa dây chập chờn, thế rồi con bệnh dỗi hờn, cô y tá nói chớ sờn lòng tin, hãy nên tạo dựng chỗ vin, vịn vào bám lấy một thin thít buồn. Ngoài kia gió tuyết luôn tuồng, ô kìa cảnh sắc lạnh ruồng bỏ ai? Ấy là đích thị thiên tai, nhà thương chứng nhận lai rai từ trần. Tôi nằm rất mực bần thần, cớ sao mình lại lần khân ra vào? Hỏi han ai biết đâu nào, đường đi luôn đặt mương hào thế thôi, chân sa mắc kẹt hỡi ôi, đành xem hài kịch chương hồi đổi thay. Màn chưa hạ là đã may, đợi người viết kịch đưa cay vở tuồng. Nằm hoài không tốt đâu nha, hãy nên ngồi ghế thở ra hít vào. Bao lời khuyên nghe mưa rào, đất này hạn hán xin chào liền khi. Chiếc ghế sắt lạnh làm chi, để trao hơi ấm tôi ghì đặt mông. Ngó qua giường mắt đặt trông, nệm chăn xô lệch thưa ông vi trùng, xin đừng hát câu tương phùng, mai kia mốt nọ lén chùng tôi đi. Đừng nên trơ mặt ngồi lì, ra hành lang đó so bì bước chân, vận động cho máu chạy rần, rật lên rần xuống tần ngần lời thương. Em xin vâng lệnh cô nương, nghe lời chỉ dạy bủa hương quanh mình. Lắm khi cũng muốn tỏ tình, nhìn cô tôi nhớ mẹ thình lình xa, ngờ đâu quỷ bắt ma tha, ngày đoàn viên chắc cũng là gần thôi. HAI. Tôi không để ý giường bên, có người con gái thường rên khóc thầm. Cô mơ gì tiếng lâm râm, ngữ ngôn xa lạ điếc câm tôi chùng, lén nhìn tóc rối một vùng, ươm màu vàng sáng lạ lùng gối cao. Tôi nghe gió lạ lao xao, màn che rung động mày tao chia bờ, canh khuya lặng ngắt như tờ, tôi từng rách mộng mãi chờ hồ keo, dán giúp tôi lành lặn treo, đàn hồi tim đập làm reo chút tình. Hai đứa gọi là chúng mình, lẻ tôi ra một cũng mình mình tôi, chợt thèm nhấp giọng liếm môi, hỏi han cớ sự ỉ ôi hạn kỳ. Em đau có buốt xuân thì, thơ ngây ai đoạt cũng vì chữ yêu? BA. Ngoài hành lang, nằm cuối phía tay trái, nếu tính từ cửa thang máy mở, chận bít lối đi là bức tường có gắn tấm gương lớn nhằm hấp thụ chút ánh sáng thiên nhiên từ ngoài hắt vào. Tôi thấy “người chung phòng” đang vòng tay nhìn ra thế giới mãi sinh động ở bên kia lãnh địa này. Vì nằm tầng bốn, ngang tầm mắt chỉ là mảng màu nâu của khu chung cư đối diện, như vậy muốn thấy những gì chuyển đổi có chút vui mắt thì ta buộc phải cúi đầu xuống. Tôi bước lại gần, gục mặt sát tấm kính dày, con đường nhựa đen trơn bóng có đàn xe luân lưu trôi đi trong vô thanh, đôi ba bộ hành áo xống kín bưng đi bước dài như sợ trễ một cuộc hẹn. Có thể họ sẽ băng qua một ngã tư để vào chốn này thăm ai đó đang mỏi mòn ngóng đợi một uỷ lạo tinh thần. Cũng có thể người yêu đang ngồi chờ trong quán ăn vừa có người mang cây thông ra dựng trước cửa treo đèn kết hoa trang trí cho Giáng sinh sắp về. Họ hôn nhau, ngồi xuống, mở tấm thực đơn: Em ăn gì? Vây quanh họ là thứ không gian ấm cúng, ánh nến lung linh theo tiếng nhạc nhẹ trỗi từ đâu đó. Một khung cảnh hoàn toàn trái ngược với chốn này. Hạnh phúc, khổ đau? – Chào ông. – Chào cô. – Ông vào đây đã lâu chưa? Ngày đầu nhìn qua đã thấy ông nhắm mắt nằm trên chiếc giường đặt cạnh tôi. – Ơ, để tôi nhớ lại. Hình như đã bốn ngày. – Ngày thứ ba tôi thấy ông ngồi trên giường mãi viết gì đó vào cuốn vở, mặt thất thần, đầu bù tóc rối. – Ơ, một cách giết thời gian thôi cô ạ, nó chi phối mình để tránh nhìn khung cảnh ảm đạm vây quanh. – Ông có thể cho tôi một vài trang giấy không? Tôi có nhiều điều muốn ghi xuống kẻo quên mất, bút thì tôi mượn ở người y tá. – Tôi xé ra làm đôi nhé, chia đều. Thật thú vị với hình ảnh là cả hai bệnh nhân cùng hí hoáy ghi chép đè nén cơn đau. Cô nghe chuyện cười này chưa? Đôi vợ chồng giận lẫy nhau, trước khi ngủ người chồng viết vào tờ giấy “nhớ thức tôi dậy lúc 6 giờ” đặt bên gối. Khi anh ta tỉnh giấc, nhìn thấy có hàng chữ “ngủ say như con nít, 7 giờ rồi đó”. – Mỗi chiều đều có người vào thăm, bà đó là gì của ông? – Là vợ tôi, vì công việc nên chỉ rảnh vào giờ đó thôi. Thế người đàn ông thường vào hỏi han cô? – Ông chú tôi. Tôi dặn là chớ thông báo cho cha mẹ tôi biết tôi nhập viện. Họ ở thành phố khác, khiến họ phải hoang mang lo lắng là điều cần tránh. Này, làm ơn cột thắt lại sợi dây sau áo tôi, có hở hang lắm không, sao tôi nghe lạnh. Cả hai, cũng như bất kỳ khách tạm trú trong này đều phải khoác thân thứ “đồng phục” tựa nhau. Đó là một tấm áo kỳ khôi, tựa như khoăn choàng có ở tiệm hớt tóc, ba múi dây may phía sau lưng, vòng hai tay lui để tìm cột múi dây lại cho khít khao luôn không được như ý, bung rời gút thắt là chuyện thường xảy ra. Và lưng cô “láng giềng” đang bày hai hai vạt áo đi hoang. Hiện ra khoảng da trắng. Trắng rợn cảm, trắng nổi da gà. Cô chỉ mặc quần lót, nhỏ như chiếc khăn tay lau không khô những hàng lệ tủi thân hàng đêm thầm đổ. Chỉ có manh vải hình tam giác ấy là vật riêng do cô sở hữu, thêm đôi vớ, thêm đôi dép, kỳ dư chiếc áo kỳ cục kia là do bệnh viện phát ban. Nó từng bao che cho biết bao thân thể trần truồng nam phụ lão ấu, có thân thể hoàn hồn lai tỉnh, có thân thể lặt lìa ngồi xe lăn và có thân thể co rúm lại thu nhỏ bằng nắm cát “bị cái số xúi vậy”. – Cảm ơn ông. Cần tôi giúp không? – Khi nhận thuốc uống tôi đã nhờ y tá cột giùm. Bà ta luôn khuyên tôi phải nên năng động việc đi lại. Cô đi cùng tôi không? Chúng ta xuống thăm thú cafeteria. Miệng lưỡi mình sắp hư vị giác khi mỗi ngày phải ăn thực phẩm bổ béo, mình nên “phá giới”. Bạn láng giềng, cô nằm giường bên cười. Từ khi chợt thấy khuôn mặt ám buồn cô ấy, hình như đây là nụ cười lần đầu tiên hồi sinh, xoá bớt đi vẻ xanh xao. Cửa thang máy mở, bấm vào nút S1. Lòng thang máy rộng, chỉ nhốt hai đứa đứng câm nín, nó rơi xuống với thứ nỗi niềm đồng bệnh tương lân. Trong túi may trước ngực, tôi có tờ giấy 10 đô la do vợ tôi đút vào hôm qua: Để nhỡ anh buồn miệng thì cho có mà tìm mua bánh trái. – Cô thích gì? Tôi hỏi. – Cho xin một ly cà phê size nhỏ thôi. Cảm ơn ông. Ông có thấy hình các loại bánh họ quảng cáo trên vách không? Muffin Rosa, đứng hàng thứ hai đấy. Không tưởng được là tên tôi có khi dùng đặt cho một thứ bánh ngọt. Còn ông? Đừng bảo là Expreso nhé. – Tên tôi? Ơ, để xem, nghĩa của nó gần trùng với kẻ không biết đùa nghịch. – Thật không? – Thì đó chỉ là mong mỏi của cha mẹ thôi. Tôi thích vui vẻ cười đùa, tôi ghét những đứa ưa đóng vai đạo đức mẫu mực. – Khi trở vào lại tháng máy, ông chớ đùa nghịch bằng cách ôm tôi nhé. – Bánh Rosa có thơm ngon không? – Đừng nói thế. Tôi khóc ở đây cho ông xem. BỐN. Khi tôi thức giấc, có hai người vào thay chăn gối, trải lại tấm ny-lông mới lót dưới mền mỏng. Tôi nhìn ra chút khác thường và tôi nén lòng chờ đợi. Đến giờ ăn điểm tâm, nỗi trống lạnh từ bên ấy dồn thổi qua. Tôi hỏi cô y tá. Rosa được chuyển xuống khu phẫu thuật. Tôi khởi sự ăn. Một quả trứng gà hấp chín còn nguyên vỏ. Hai lát bánh mì nướng, một hộp mức dâu nhỏ. Một chén súp. Một hộp nước trái táo. Một cốc nước trà, một gói đường. Muỗng nĩa dao. Một tờ giấy ghi sẵn thức ăn, chừa các ô trống dùng đánh dấu, tự chọn thứ hợp khẩu cho hôm sau. Tôi không rõ người ta sẽ làm gì với những trang viết của Rosa, họ vất bỏ vào thùng rác? Việc cần kíp phải làm là tiêm thuốc tê, mê, họ lột truồng, họ đặt lên chiếc bàn sắt có những lỗ thủng cho máu đổ xuống sàn. Tôi ngó ra vuông cửa, tuyết bay hỗn loạn ở đó. Tôi hình dung những người đi khó khăn dưới lề đường hun hút gió trắng. Tôi thấy lạnh, trong thân thể mỗi sinh vật đều tích tụ một mầm bệnh khác biệt nhau, mang thân vào ký gửi ở đây là mong cầu những người tốt bụng sẽ săm soi lấy đi giùm mình những vướng mắc chí tử. Không sớm ra tay, mày sẽ chết. Trò chơi điện tử gọi là game over. Trò chơi nọ có quyền trở lại phút ban đầu, trò chơi này tuyệt chẳng được diễm phúc đó. Tôi cầu mong cho Rosa sớm ngồi dậy, với đôi chân run, cô còn trẻ, còn phải bước trên con đường lắm bất toàn. Hãy tạm về thành phố xa sống với bố mẹ một thời gian. Gia đình luôn là bến đỗ an toàn mà chúng ta mãi cần sự bao che của tình thương vô biên ruột rà máu huyết. NĂM. Tôi được cho về vào buổi trưa sau khi vượt qua những trắc nghiệm nhỏ. Vợ tôi xin nghỉ làm, vào bệnh viện với những hạt tuyết chưa tan trên áo ngự hàn. Tôi tìm ra khu hồi sức nằm ở tầng hai và tôi nói cùng vợ, mình nên ghé thăm cô ấy lần cuối, một chia tay cần có. Vợ tôi mua một hộp chocolat cùng một cành hoa hồng gói trong giấy kiếng. Đàn bà với nhau, vợ tôi hiểu chứng bệnh Rosa mang cũng như hiểu thêm về một sẻ chia cần thiết. Rosa xanh xao, cô nằm mà thân thể như bị chìm trong tấm nệm mỏng. Cô khóc khi vợ tôi trao quà, thì thầm điều gì đó. Cô nhìn lên tôi, cánh tay không có mũi kim dán băng chuyền vào gân thứ dung dịch gì đó vừa dong lên. Mừng ông đã bình phục, xin hãy ôm tôi, trao cho tôi niềm may mắn. Hôm đi uống cà phê, ông đã không biết đùa nghịch khi vào thang máy. Tôi thích được đùa nghịch. Tôi lau nước mắt cho Rosa. Vợ tôi lớn hơn Rosa 17 tuổi. Mười bảy năm trước, hai đứa tôi vẫn còn là tình nhân. Tình nhân xưa ấy và Rosa giờ này có điểm trùng hợp, cả hai đều ngực nhỏ, nhưng đằng sau, họ thu dấu một con tim lớn, sẵn lòng dìu người đi qua những nỗi đau, trấn an và tha thứ. Vợ tôi nói: Tôi sẽ thay anh ấy vào thăm cô. Cần gì xin cứ cho hay. Tôi từng trải qua một giai đoạn sống giống bạn vậy. Và tôi đã vượt khỏi. Rosa nắm lấy tay vợ tôi, rồi sực nhớ ra cô hỏi: Ông còn dư trang giấy trắng nào không, cho tôi xin cả cây viết nữa. Tôi cần viết một bài thơ, tôi xúc động quá, tôi may mắn được quen cả ông lẫn bà. Y tá vào có ý xua đuổi chúng tôi, bạn phải hiểu tình trạng sức khoẻ của cô ấy. Trong lúc này hãy cho người bệnh nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. SÁU. Chiều nay, vợ tôi đi làm về muộn hơn lệ thường, và kín tiếng. Ăn tối xong, đâu ra đó mới cho hay: Rosa mất rồi anh, mất trước khi em vào thăm. Một người đàn ông tự nhận là chú sẽ đứng ra lo hậu sự, nghe bác sĩ nói là cô ấy ra đi thanh thản, như một kẻ lỡ ngủ quên, chẳng buồn thức dậy. Mình nên thắp cho Rosa một cây nhang. Tôi đi tìm những trang viết cẩu thả khi ngồi trên giường bệnh viện, tôi đọc lại, tôi nhớ khuôn mặt ngây thơ của Rosa, cái thơ ngây làm dẹp được những rào cản để bước qua chuyện trò với một bệnh nhân xa lạ. Nhớ lời cô: Cả hai chúng ta đều lạc lõng ở thành phố này, đều xa gia đình và cả hai đều bệnh hoạn. Những gì cô tâm sự chừng như vướng mắc nơi hàng chữ tôi mê muội viết lúc đó. Tôi đi tới bàn, mở laptop ra. Ngoài cửa sổ, tuyết câm nín rơi xuống. Trong sự vần vũ bay lượn nát nhàu kia chừng như vừa che lấp một bóng trắng, trên bàn tay có cầm cái bánh muffin mang tên Rosa đang vụn vằn rơi rụng. Tôi đánh chữ vào màn hình. Tôi yêu em. Tôi chẳng biết nói gì. Mà nói gì nữa khi em đã lìa bỏ trần gian này. Mai tôi trở vào cafeteria trong bệnh viện để mua loại bánh mang tên em. Tôi bày ra dĩa, đi pha một cốc cà phê và tôi đốt cho em ba cây nhang. Ở chốn thẳm sâu vô tận xin em đừng hờn tủi nhé. BẢY. Uống thuốc xong tôi tìm tới chùa. Bức tượng Quan Âm đứng ngoài sân tiệp màu với tuyết, lạnh trắng chôn lấp toà sen dưới chân. Bao cánh cửa đều đóng kín, chỉ có lối bên hông ghim một vuông giấy trên mặt gỗ màu xám “Hãy kéo mạnh tay”. Không gõ mà kéo. Kéo cật lực thì cửa sẽ mở. Ánh sáng đèn neon và hơi ấm chào đón, vây bọc. Đó là phòng ăn, góc bếp có ba người thầm lặng loay hoay công việc nấu nướng. Tôi gật đầu chào họ trong lúc cởi giày, bước tới ba bậc cấp để lên nơi thờ phụng những người đã phiêu diêu về miền cực lạc, cảnh giới ở đó có hứng chịu cơn lạnh tái tê như mùa đông chốn này? Lâu rồi, tôi cần ghé tới nhìn lại ảnh mẹ mình. Trước, coi bộ thong dong, giờ này bà con lối xóm đâu mà đông đúc thế, chen chúc và ép sát vào nhau, hoa cả mắt mới trông rõ chân dung mẹ nằm khiêm nhượng ở trên đó, càng lúc càng vàng vọt sắc màu. Tôi thắp nhang, tôi chắp tay, tôi cúi đầu, lòng trống trải không tượng hình ra được một lời cầu mong. Tôi nghĩ tới những người theo đạo khác, như Rosa chẳng hạn, hẵng sẽ chẳng bao giờ được nghe lời kinh tiếng mõ sáng tối. Linh hồn còn dùng dằng ở nán đâu đó hay tan biến, hay siêu thoát về thế giới khác? Tôi đứng giữa bốn bức tường, một mình giữa ngàn người già trẻ vây quanh, một bức ảnh nhỏ để lại làm bằng chứng về cái mất tăm tích của họ. Một bình hoa đặt trên bàn có trải khăn đỏ chừng vừa thức dậy, rơi xuống một cánh hoa. Chỉ có hoa nhìn nhận ra tôi, chỉ có khung hình đức Phật lộng kiếng đặt trên bàn đọng lấy nhân dáng tôi phản chiếu, mù mờ. Tôi bước đi khi hoa kia thầm lặng rụng cánh thứ hai. Sự tuần hoàn mà mình cần nhẫm đọc cứu khổ cứu nạn? Lùi sâu ở góc sân chùa có một cây thông, cô đơn ở dáng lạ, ở vĩnh hằng một dáng đứng chẳng cần ai quan tâm. Ra khỏi chùa, nhà nhà đều mang thông về nhằm trang trí, giăng đèn kết hoa, nhưng là một cây thông bị cưa thân cho thấp lại, bứng mất cội rễ, để tháng sau tất cả chúng bị dồn đẩy vào xe chở rác. Giáng Sinh đang về và người ta sẽ than phiền nếu trời không đổ tuyết xuống. Tôi muốn đi thăm Rosa nhưng chẳng biết bia mộ cô dựng đặt ở đâu. Những ngày cuối năm, những tờ lịch vơi mỏng, trời đất hư hao và rất đỗi lạnh lùng, bạc nhược. 14. 12. 2019
Rồi sau cùng, hạn kỳ của trông đợi đã điểm, mỗi đứa nắm được trong tay tờ quyết định riêng cho từng số phần. Cuối đường là ngã rẽ hay bức tường án lối? Bạn đi và bạn không có quyền nhìn ra viễn ảnh. Đời sống luôn làm công việc của nó: Xô đẩy con người. Lạnh lùng, nghiêm khắc, chẳng khoan nhượng. Tác động của thứ quy luật kia gây phản ứng: Bạn thi hành, bạn lần khân, hay bạn tránh né? Miếng cơm, manh áo là vật chất. Quan trọng không kém, khi có việc làm, đầu óc bạn nguôi ngoai thứ mặc cảm bị bó tay, nó vỗ về bạn: mình chẳng hề là đứa ăn bám. Hãy ưỡn ngực ra, đi tới.
Mình nắm trong tay tờ quyết định, bổ đi làm cán bộ Thông tin Văn hóa ngoài Đông Hà, Quảng Trị. Lương 52 đồng một tháng. Đứa nào lên vùng cao nguyên thì được cọng thêm 4 đồng, không chú thích lý do. Một vài đứa đạp xe ra ngồi cà phê vỉa hè gọi là sum vầy lần cuối. Nắng rát lưng, mặt đăm chiêu, hồ hởi phấn khởi là thứ phương ngữ đầy hoang tưởng. Hãy trao cho chúng tôi sự hoang mang để chúng tôi tự tìm cách chống đỡ. Cà phê rất tệ, thực chất nó không đủ “tư cách” để khoác thân chữ có nguồn gốc từ phương Tây. Một thứ nước giải khát đã bị giải phóng ra khỏi tay bọn địa chủ để dân bần cố nông phát huy sáng tạo với thành phần buồn vui khi pha chế: xác vỏ cau khô, chút bột ngọt, ít giọt nước mắm, quế, va-ni. Vân vân và vân vân. Thuốc lá cũng rứa. Sau khi ngâm tẩm hương liệu, trước khi xắc vụn, ủ những chiếc lá to không rõ nguồn cơn vào cái thùng phuy, thảy vào quả lựu đạn khói, dĩ nhiên là màu vàng, đậy nắp lại, hôm sau sẽ gia công làm nên thuốc thơm sợi vàng. Ngon thì cho nó cái cán, qua quýt thì cứ lấy giấy quyến ra mà vấn. Rõ là thuốc có người lái. Nói đồng hồ không người lái là cả một sự xuyên tạc lộ liễu. Phải có sức người sỏi đá mới thành cơm được. Tin không?
Đông Hà Quảng Trị thì mình chẳng lạ gì nhưng hoang mang là thứ tâm lý quen thuộc đang hiện diện. Tựa như hoang là áo mang là quần, và bạn ạ, ra đường bạn không thể đưa mình trần như nhộng được. Khi học năm cuối, mình vẫn hay bị ông giáo viên chính trị gọi lên để lột truồng thân phận. Lý lịch anh rất xấu, gia đình toàn cả thành phần liên hệ sâu đậm với bọn Mỹ Ngụy. Anh phải thấy rõ điều này, do đâu mà anh còn được ngồi yên trên ghế nhà trường, ấy là sự ưu việt của cách mạng. Anh sẽ là con người mới, hãy đấu tranh bản thân và phải biết mang ơn sự khoan hồng của chế độ. Nói sùi bọt mép, cằm bạnh ra, mặt vàng màu nghệ có khi xanh tái. Ông dội sự căm giận một cách hào phóng và mình, cách hứng đỡ duy nhất là ngồi mường tượng ra những chuyện tiếu lâm. Chuyện anh bộ đội thương bạn mình, đã mua sẵn cây cà-rem để dành chiêu đãi, khi bạn tới, mừng vui trao quà: dơ que! Mẹ nó, lếu láo thật, mới sờ sờ ra đấy. Toàn cả bọn lừa phỉnh. Chuyện một du khách bị xe cán phải nhập viện. Khi lai tỉnh, bác sĩ tận tâm giải thích: Bác lạc hậu quá. Đèn xanh thì bác phải đứng lại, hẵn đợi đèn đỏ cái đã. Đỏ là màu cách mạng, là sự đạp đổ, là một xung phong, không phóng tới trước thì xe cán cũng đúng thôi, ca cẩm nỗi gì?
Mặt mình xanh, thường trực. Xanh vì sợ hãi, xanh vì thiếu ăn. Món ăn dễ nuốt nhất vào thời điểm nọ là bánh canh. Dễ nuốt và dễ nấu. Kiếm đâu ra vài thanh củi, kê ba cục gạch, lấy cái nón đồng (lại Mỹ Ngụy!) đặt lên, múc nước giếng đổ vào, chút muối chút mì chính, đợi sôi hẵn nhón tay bốc từng nhúm bột mì thả vào, khuấy đều tay, hồi nào thấy nước sền sệt hoặc khi nào que củi cháy rụi bề dài thì xơi được. Ngó sơ sịa vậy đó chứ đôi khi sơn hào hải vị cũng phải chào thua. Chuyện đi ẻ mới căng, vì khan hiếm giấy, nhưng… đến hẹn lại lên thì… cho mình thông qua, không kể chuyện trần tục, mất sướng.
Mình láo liên đạp xe đi trong vẻ mặt xuống cấp của thành phố. Người ta đang thay nhau tìm đường vượt biên, người ta thay nhau bị sa lưới vì đổ bể. Người ta tố cáo nhau để giữ vững nồi cơm hộ khẩu. Người ta xuôi Nam để mong cầu có được khoảng không khí, dù nhỏ, để tự hít thở lấy. Thất tán là chữ đúng đắn nhất để dùng mô tả thảm trạng, đi kèm với lạc hồn. Trong lúc này, cụm chữ bình dân “kêu Trời không thấu” thì rất đắt, quá hay, thấm thía. Vì nó bao phủ, trấn áp tất cả những từ mà con người bất hạnh muốn kêu gào, bởi nó nhận ra thực thể, sự hoài công. Hãy cắn răng, hãy mơ đến những thứ siêu hình. Bạn thấy không, những người cộng sản vô thần, hơn ai cả bọn họ luôn mong mỏi được thần linh Chúa Phật độ trì cho chóng phất sự nghiệp. Chiếm nhà này đoạt nhà khác. Xua đuổi người ta đi vùng kinh tế mới. Trấn lột từ cái tủ sách cho đến một mảnh vườn còi cọc quả. Họ tin những hoang đường, những báo mộng, để lần mối tìm thấy tử thi kẻ quen thuộc lỡ chết trong chiến tranh. Họ phán, trí thức không bằng một cục phân. Họ có lý do, vì họ vinh hiển ngày hôm nay không do con đường học vấn mang lại. Lá bùa họ trang bị là máu lạnh và sự thiếu thốn đạo đức của sinh vật hai chân mang tên loài người.
Sáng tối cùng những vòng quay, đạp xe từ tả sang hữu ngạn, từ An Cựu lên Kim Long. Từ nhà ga xuôi đổ Vỹ Dạ. Đi như đứa không có chốn dung thân, trôi như một hồn ma chẳng am miếu lưu trú. Mình còn đôi ba hôm để dứt khoát có Bắc tiến không? Mình nhẫm gọi thầm: Đông Hà. Nửa lạ nửa quen. Siêng đi cũng có thể đang nuôi vốn, lỡ mai sau biền biệt còn thu cất ít nhiều ảnh hình cố đô, dẫu sầu muộn. Đang thơ thẩn thì có người phát hiện, một người bạn của ông anh. Anh cầm súng cho Ngụy nên vào rừng học tập, tù vô thời hạn. Bạn ông anh là giáo viên nên còn thong dong thành phố, nhưng là phố không đèn. Chẳng được lưu nhiệm, dứt khoát không cho đứng trên bục giảng. Mất dạy! Nhỡ mày nói điều không phải thì học trò chúng nó nghĩ sao? Cẩn tắc vô ưu. Bọn tao dùng người như dụng binh, phải lập ra một đội ngũ áo quần giống nhau ăn uống giống nhau suy nghĩ giống nhau hành sử giống nhau nói năng giống nhau. Mày đừng ví von giống con vẹt con nhồng con cắc kè là chết với ông đấy, cải tạo mút mùa lệ thủy chớ giỡn chơi chi nơi!
Đường Lê Lợi lộng gió, những tấm băng-rôn đỏ kẻ khẩu hiệu giăng mắc cửi bay phập phồng những con chữ nói tới một cái gì nghe mơ hồ quá sức. Kéo nhau vào đứng khoảng đất trống trước trường Đồng Khánh đã bị thay tên. Ôn mệ ơi, nhắc tới Huế thì trí óc buộc phải nhớ đến những o con gái đẹp người đẹp nết thướt tha vào ra ngôi trường nớ. Mai sau xướng tên trường Trưng Trắc, trường Hai Bà Trưng thì người nghe mặt nghệch khờ câm. Sao không giỏi thì đổi luôn cả cái tên Huế cho khỏe trí? Đồng Khánh, tên lạ, khó đụng hàng, nghe dễ thương, nghe hoài nhớ.
Anh ấy hỏi, mình thành thật: Tạm thời thất nghiệp. Anh nói có tính kế chi chưa? Mình vọt miệng. Vượt biên à? Tiền bạc mô có mấy hột mà nói chuyện đại sự nờ! Anh ấy cười. Mi thày lay, ai đá động chi tới chuyện trời ơi đất hỡi nớ. Rứa áp-phe của anh ra răng, nói nghe chơi. Anh ấy mời thuốc. Thực sự thì mình đãng trí chưa kịp nhớ ra tên anh. Hai anh em cứ ngồi yên trên xe mà ho sặc máu vì thuốc lập lòe khi đỏ khi bùng cháy khi tắt ngúm. Mất sướng, cực chẳng đã! Rứa chừ tau hỏi thiệt, mi ưa hùn vốn tụi mình mở quán bán cà phê không? Ngó điệu bộ thành thật của đương sự, mình mơ màng. Một thằng hầu hạ pha chế cà phê “cơm dâng nước rót” cho khách e không cực thân bằng một ông nội cán bộ thông tin văn hóa ôn hoàn dịch vật. Hắn sẽ vác xác đi vẽ tranh cổ động dựng bên góc chợ, hắn sẽ viết khẩu hiệu dài thậm thượt ca ngợi cuộc chiến tranh thần thánh mang đến thắng lợi vĩ đại. Hắn sẽ lải nhải truyền bá đạo đức con người mới xã hội chủ nghĩa, mình vì mọi người mọi người vì mình. Hắn sẽ oang oang trong ba mặt trận, mặt trận văn hóa tư tưởng là quan trọng nhất. Và sau rốt, hắn sẽ cạp đất mà ăn vì lương 52 đồng một tháng, bèo hơn cả bèo nuôi cá.
Nhất trí. Mình dùng ngôn ngữ mới để tỏ bày sự đồng ý. Khẩn trương thật, bởi nghe đề xuất có hơi bị đột xuất. Từ ngữ mới nghe choáng, lậm tới nó có bị xem là chảnh không? Địa điểm ngon lành, anh ấy nói, nằm trên đường Trần Thúc Nhẫn. Tao có hội ý với chị Bích Đào, mà ngay cả anh Uyên, chồng chị cũng cho phép mượn cái phòng khách để bày bàn ghế. Mi biết cô Bích Đào? Không, ai rứa? Già trẻ, đẹp xấu? Anh ấy ngó qua ngôi trường vôi hồng. Cô Bích Đào từng là hiệu trưởng trường Đồng Khánh. Để coi, hẹn mi ngày mai, uống cà phê xong tao dắt mi tới dòm mặt cái quán tương lai, họp sơ bộ với bà Bích Đào để sắp đặt công việc, bàn sâu chi tiết.
Vậy là mình nhảy vô liên doanh hành nghề bán nước (nghe phản động), bán nước ngọt, trà đá chanh đường cà phê thuốc lá. Cô Bích Đào thấp người, tóc cắt ngắn, mặt tròn, khi nói hay cười, có duyên, dễ thương (không khó khăn như cô Tiểu Bích hiệu trưởng trường nữ Thành nội thời trước). Chồng là anh Uyên, cũng giáo sư, dáng cao, đạo mạo nhưng không nghiêm nghị, anh cũng biết đùa theo những ước mơ của bọn người chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Vợ chồng anh chị có được hai con, cháu đầu con trai cháu sau là gái, và họ hy sinh co cụm lại, sinh hoạt trong cái phòng ngủ chẳng mấy lớn. Thằng cu Bi siêng học (sách vở ích gì cho buổi ấy!), mình ái ngại vặn nhỏ âm thanh cái máy hát mỗi khi tới quán. Mình vừa đóng tiền hùn vốn, vừa lo pha chế, phục vụ viên trong quán. Cô cựu hiệu trưởng ngôi trường tiếng tăm mặc dù đang còn đứng trên bục giảng, thì khi về nhà lại lo đun nước, rửa ly tách, đi chợ mua đường sữa nước đá linh tinh các thứ. Anh ấy cũng vậy, lu bu mỗi người một công việc. Ngó cả ba loay hoay bày hàng, mình đùa, có khác chi mấy đứa trẻ con đang chơi trò đi chợ nấu ăn, bức lá ngoài vườn thế thịt thà rau quả và xé giấy vở làm ngân phiếu tiền bạc để bán mua.
Biết mình vừa tốt nghiệp Mỹ thuật, ai nấy đổ xuống vai mình trách nhiệm thiết kế nội thất, trang trí trình bày sao cho hợp nhãn. Mình xắn tay, thay cái này đổi cái nọ. Chỗ này nhiều nguồn sáng cần án che, chỗ kia cần thắp đỏ một ngọn đèn. Không ngày nào ngồi yên, đồ vật xoành xoạch bị lôi kéo. Vẫn thấy thiếu một thứ gì, trống vắng. Và chợt ngộ ra.
Mình quen họa sĩ Bửu Chỉ, lúc đó anh vừa cưới vợ xong. Anh có vẽ tặng một tấm chân dung bằng bút sắt, xuất thần. Mình rất thích cái ngông của Bửu Chỉ, dáng dấp nghệ sĩ dù trước đây anh học Luật khoa. Người không mấy cao, luôn đội nón béret, phủ chụp những lọn tóc quăn. Quần jeans xanh, chemis đen. Gương mặt có khi thoạt trông như Che, có lẽ một phần vì tóc và chiếc nón nỉ kia. Đôi lúc thoáng nhập nhòa hình ảnh của số 10 thủ quân tuyển Argentine: Maradona. Tóm gọn, có điều gì vướng vào anh tạo nét quyến rũ riêng biệt, khó trùng lẫn nơi người họa sĩ trú thân Vỹ Dạ. Anh nói to tiếng, lấn át đám đông và thường thuyết phục người nghe bằng những chứng cớ chẳng sai trật. Mấy năm trường Luật như để lại chút dấu tích, nhưng tự thẳm sâu, trái tim một nghệ sĩ vẫn không ngớt vùng vẫy, hiện hình. Anh dễ thương hơn mình tưởng. Anh chia sẻ những kinh nghiệm về cuộc đời cũng như riêng lãnh vực sáng tạo. Dư luận vỡ ra scandal “kinh khủng” giữa anh và nhà thơ Lâm thị Mỹ Dạ nhưng anh vẫn trầm lắng sáng chiều đạp xe qua về cầu Tràng Tiền “tội lắm em ơi”. Như thể đã là nghệ sĩ bạn phải đi giữa lối đoạn trường. Không là ngụy biện. Nó đã xảy đến và trước sau mình vẫn quý anh, nể anh hơn. Anh vui lòng cho mình mượn hai tấm tranh sơn dầu khổ lớn để treo vào quán cà phê không tên, chỉ một điều kiện, hãy ngó ngàng tới nó, đừng cho một đứa mang tật ngứa tay sờ soạn vào bề mặt. Anh thường ghé quán thăm mình, ngồi chỗ đặc biệt, ngó say sưa hai đứa con tinh thần nín thở trên vách. Chữ ký Bửu Chỉ bên dưới, vào thời điểm chưa có điều kiện như sau này, đã có kẻ gọi đùa: Hết Chỉ rồi, giờ đây phải bảo là Lượng mới đúng.
Hôm mang tranh tới, mình xuống tận nhà chở anh. Mùa hạ sông Hương hao hụt nước, qua Đập Đá có nơi để lộ bùn lầy cạn kiệt với rêu xanh. Hai tấm tranh gập làm một, đâu mặt nhau, ràng buộc bằng những sợi ny-lông xanh đỏ. Anh thích chính tay bế lấy và chính nó đã là vật cản gió làm vất vả hai kẻ đưa đầu trần đi thồ một tài sản nặng nề qua con đường dài ba bốn cây số. Nhọc cho anh quá, phải nặng lòng cho nhau mới cư xử đối đãi kiểu đó. Sự cảm động làm mình yếu đuối, mặt khác nó xúi dục mình phải cố sức đạp xe đi trong an toàn, không được sơ ý cọ quẹt.
Mình quen biết hầu hết những họa sĩ đã thành danh hay còn ẩn thân trong bóng tối của Huế nhiều tài năng, nhưng chẳng hiểu sao khi treo tranh của anh Bửu Chỉ lên vách, mình thôi nghĩ tới những tên tuổi khác. Một phần, nó đã có được riêng cho nó một “khí hậu”. Phần khác, không chắc ai cũng mang tâm hào sảng như Bửu Chỉ. Nhắc tới anh, mình có nhiều kỷ niệm, mà đáng nhớ nhất một sáng giông bão đầy trời. Áo mưa sùm sụp, dựng vội vã chiếc xe đạp bên hiên nhà và anh nói: Moa mang tới cho toa cái mà hôm trước moa có hứa. Mưa lấn chỗ mình đứng, khô ướt thất thường nhưng toàn thân Bửu Chỉ như tượng hình con cháu của Thủy tinh, nghe ngói dù có áo đi mưa. Nước ràn rụa đổ. Anh mò tay trong túi xách nhà binh, thứ dùng đựng mặt nạ chống hơi độc của lính Mỹ trước đây, có bán ở chợ trời. Những ngón móp méo vì bị ngấm nước lâu mang ra được miếng thạch cao kích cỡ nhỏ bằng nửa cuốn vở học trò. Moa tự khắc lấy để tự in những tấm thiệp cưới. Mình ngó hình hai con chim bồ câu dang rộng cánh, quấn quýt nhau để cách điệu nên hình một trái tim nằm giữa. Đường nét giản lược nhưng nghệ thuật vốn sinh ra từ những cái cô đọng, đơn sơ, thanh đạm kia. Toa cất giữ đi, mai sau có mà dùng. Và mình đã dùng, tái sử dụng cái thông điệp loan tin về nỗi hạnh phúc lứa đôi. Hai con chim xoắn lại bởi cuộc đời ngoài kia luôn bủa lưới bằng tất cả những bất hạnh chẳng thể cưỡng chống.
Quán đóng cửa sau hai tháng cầm cự với thua lỗ, với cách làm khó của công an, với vạn điều không hiểu được. Khi kinh doanh dù với thứ nghề mọn, chẳng ai trên trái đất này mang sự hồn nhiên làm vốn. Thất bại là mẹ thành công, phương châm kia vốn dành cho đứa đã đưa đám ma hồn nhiên từ khuya, chí ít đó là những đứa sống chai lì với mọi cảm xúc.
Mình xuôi tay, hai bàn tay thực sự trắng, thực sự nắm bắt hư không. Vốc một nắm cát thì khác, cát tuôn rơi qua kẽ tay nhưng dấu tích còn lưu lại ít nhiều qua đầy vơi chẳng như ý. Thâm thủng, cạn vốn, nợ nần. Những người có tâm hào sảng ngó mình cười khan trong cổ: Tướng tá như mày mà bày đặt bán buôn, chết tới bị thương là điều dễ hiểu thôi em ạ!
Không ưa làm cán bộ công nhân viên nhà nước. Ưa mưu sinh đếm bạc lẻ cũng chẳng xong. Đa mưu lắm kế như Khổng Minh e rồi có lúc phải bó tay. Mỗi người có riêng cho họ một cảnh sống, một hoàn cảnh, một thời đại. Và thời đại này… Mình manh nha một cuộc trốn chạy, đánh hết rác ván bài cuối. Đò qua Bao Vinh, xuôi chèo mát mái gần tới cửa biển, chờ hoài không ngó ra “taxi” để rồi bể ổ. Cả bọn bị trói xâu dài dắt thất thểu mộng du giữa rạng sáng một Huế lạ mặt. Cách ly đàn ông đàn bà riêng biệt khi tới đồn công an, viết bảng kiểm điểm tự khai để nhận án: Phản bội Tổ quốc.
Ở sau chấn song thì cuồng chân, con nít lên ba cũng tường mười mươi chuyện nọ, huống chi những kẻ làm nhiệm vụ chăn dắt dân. Họ dẫn bọn người thất cơ lỡ vận qua sân vận động mỗi chiều Chủ nhật lúc 6 giờ. Trận bóng đá đã kết thúc, đã tan hàng và để lại không biết cơ man những rác rưới. Đội hình dàn trải ra, không vai vế hậu vệ trung phong tiền vệ gì sất, cứ làm thủ môn khom lưng đi nhặt đồ phế thải, tổng vệ sinh. Mỗi đứa được phát cho cái túi ny-lông để chứa đựng thành quả. Công sức lao động của bạn được nhìn nhận chí công vô tư qua trọng lượng nặng nhẹ mà cái túi ấy chứa đựng được. Thuốc lá cháy cụt, lá chuối gói bánh, giấy vụn… thượng vàng hạ cám đều không bỏ sót.
Hoàng hôn đổ ập xuống vòng chảo sân vận động tối lửa tắt đèn. Bên kia hàng rào kiên cố là quán “cơm Âm phủ” chộn rộn gửi sang mùi thịt nướng khói loãng trong gió hít hà. Chân mây tím mọc thầm kín đôi ba vì sao nhạt nhòa. Trăng ngày ấy thắp sáng nỗi lẻ loi. Bỉ cực.
Mình “tạm trú” trong lao được mười ngày. Thời gian đủ dài để mẹ mình chạy đúng đầu mối mà gỡ rối cứu chuộc đứa con bạc phước. Cái đứa ác đức bất nhơn nào đó đã khoắn bà cụ một lượng vàng Kim Thành, moi từ khư khư ruột tượng này sang đút túi quần khác, nhẹ nhành như phủi bụi bám, êm ả như cơn gió thoảng đêm hè.
Mình gọi xe thồ khi ra khỏi cổng với ngất ngưỡng những vòng thép gai phô trương “thương hiệu”. Mình không về nhà vội, mình đọc lên một tên gọi của cái quán vắng nằm dựa thân bên dòng sông An Cựu nắng đục mưa trong. Sông cũng như người, biết buồn vui với khí hậu. Tình cảm tỏ bày thường thầm lặng và trong muôn một, có những điều xúc động chẳng thể đạt hiệu quả khi bạn lớn tiếng phân trần.
Mình có lớn tiếng không? Không, chỉ là tiếng thở dài chẳng nhẹ nguôi ngoai. Bạn có từng qua cầu và nhịp cầu gián đoạn sụp gãy? Mình đã băng qua thời tuổi trẻ bằng những bước đi lần khân vướng mắc hoang mang chẳng định hình. Không có diêm để đốt sáng một que. Bóng tối u minh chẳng được quyền nguyền rủa. Sự đớn đau thì muôn kiếp sẽ không bao giờ được thăng hoa. Vết thương chẳng bao giờ thành sẹo! Xin hát bài tình ca trôi trên trùng dương phủ sóng bạc đầu. Vỡ vụn bọt trắng, một lần rồi chìm trôi.
“Nếu như hoa biết chiều nay rụng, Âu cũng vui mà nở sáng nay”. Tô Thùy Yên
Tôi thuê phòng trọ ở một nơi khuất lấp. Đường vào lắc léo, lối đi quanh co. Ngay cả tôi, những đêm về muộn đã có khi bước nhầm, chân ngao ngán dẫm sai ngõ tối.
Địa hình chẳng thuận lợi đối với bất cứ ai muốn đến gõ cửa, kể cả lão phát thư. Ông ta có máu khôi hài đen: “Cậu quỵt nợ, lường tình, gạt bạn hay sao mà trốn chui trốn nhủi ở chốn sơn cùng thủy tận này?” Tôi luôn cảm tình với những kẻ có óc hài hước, vì vậy, theo lời gạ gẫm, tôi đã bán chiếc xe đạp cho ông ấy với giá rất “văn nghệ”. Bèo? Không đúng. Lấy giá tượng trưng, đủ để trả vài món nợ nhỏ và khao Thuyền Quyên một chầu cơm bụi. Quyên cũng có máu diễu trong người. Cô hỏi tôi: “Sao khi không anh hạ thủ chặt đứt đôi chân mình đi?”
Quán cơm bụi nằm không xa. Và ăn xong chúng tôi quyết định đi bộ về chỗ sơn cùng thủy tận ấy. Thuyền Quyên nắm lấy tay tôi, để tôi ý thức về một tương lai gần đầy hư hao, mất mát. Tay cô ấy mềm mại, kèm gửi theo những xúc cảm khó diễn đạt. Tôi gầm đầu bước, tự ngờ vực chính mình đã chẳng dấy lên một nỗi buồn nào cả, như thể thay vì ăn cơm bụi tôi đã vừa húp xong một chén cháo lú.
Đường vào chỗ trú thân hôi khai nước tiểu. Và vì thế chữ cấm đái được viết đầy tường. Viết cẩu thả, viết nghiêm túc trịnh trọng cũng có. Như truyền đơn, như bích chương, như biểu ngữ. Trời chạng vạng không làm khó đôi mắt, có đứa nào văn nghệ đầy mình, tức cảnh sinh tình ngứa tay viết bậy câu lục bát, than đen trên màu vôi trắng nhờ nhợ: “Ở đây nước đái thơm tho, ngoài kia thịt chó hôi khai xóm nghèo!”. Thuyền Quyên nói: “Nhân vật nào viết nên câu đó đáng được bầu làm tổ trưởng”. Thấy tôi không góp lời, Quyên nhún vai: “Chắc là không. Vai trò tổ trưởng thì chỉ viết được có hai chữ cấm đái thôi. Là đã khá”.
Chúng tôi không bịt mũi, nhưng đồng loạt bước nhanh. Sơn cùng thủy tận hẳn hơn đây, bởi chốn ấy không khí trong lành, chẳng có gì gây ô nhiễm. Hơi bần thần khi tới được cửa, vào nhà tôi mở ngọn đèn neon lên, cài khóa bên trong và hít thở hương mùi từ người Thuyền Quyên. Cô không xức nước hoa, dĩ nhiên, nhưng đó là thứ mùi rất cần thiết cho sự hô hấp. Cô đứng gần và cô không hề biết bản thân mình đang mang lợi ích cho đứa đứng thầm lặng phiá sau. Tắt nắng đã lâu nhưng mái tôn là thứ gì quái qủi biết trung thành thu giữ nhiệt lượng. Ngoại trừ mưa năm canh, bằng không thì đêm trường sẽ còn đó thứ hơi nóng làm mờ người. Rỉ rả phả xuống từ trên cao và mình sẽ trăn trở bên dưới với một manh chiếu ẩm rít, đổ mồ hôi sôi nước mắt. Những con rệp sẽ bơi trên chiếu. Những con muỗi sẽ vo ve tiếng kêu buồn ngoài mùng. Và những con thằn lằn sẽ chắc lưỡi trên vách suốt đêm thâu.
Không phải đến lần đầu, nên dường như Thuyền Quyên có vẻ quen thuộc với thứ khí hậu khó thương ấy. Cô biết chỗ dấu cái quạt xếp bằng giấy, trương nó ra thành hình bán nguyệt rồi liền tay phe phẩy vào đầu. Đèn không sáng lòa, nhưng xanh xao. Xanh luôn những giọt mồ hôi ứa ra trên mũi Quyên. Tóc mai không phất phơ theo quạt, nó bận dính vào thái dương. Một vầng trán có thoáng hiện vài nếp gấp: “Nhà còn cà phê không?”
Đó là một câu nên hỏi. Tạo ra cái cớ để chúng tôi lãng tránh sự bối rối đang tới. Tôi mở hai cánh cửa tủ. Trong đó chứa lu hủ đựng mấy thứ gia vị cay nồng, các gói mì ăn liền, đường muối linh tinh và sau cùng nhặt ra được gói giấy báo. Bên dưới, bốn cái chân bằng gỗ ngâm trong bốn tô nước lạnh đang run rẩy khi tôi đóng tủ. Thực ra cái “gạt-măng-rê” này chẳng được phồn thịnh no căng để hấp dẫn lũ kiến, gián tràn vào. Đặt bốn tô nước nhằm ngăn ngừa chúng, lí do duy nhất là vì tôi luôn nhớ mẹ tôi. Những bài học bổ ích ngày xưa mẹ đã dạy, tôi chẳng bao giờ thành tâm nghe theo. Tôi bất hiếu tới độ lớn lên, biến thành kẻ khánh kiệt mọi thứ.
Thuyền Quyên dành phần đun nước sôi. Cô thò tay vào túi quần tôi, năm ngón vọc giỡn không lâu đã mang ra ngay cái bật quẹt gaz. Có lẽ với Thuyền Quyên, tôi chẳng thể thu giữ một bí mật nào cả. Có chăng, đó là tình yêu tôi dành cho Quyên nhiều hơn sự tưởng tượng của cô. Tôi muốn hoá thân làm cái chậu nước lớn để Quyên ngâm người vào. Như vậy Quyên sẽ thôi bị phiền nhiễu bởi những thứ vặt vãnh tới quấy phá. Quyên được bảo bọc, an toàn hiểu ở một nghĩa hẹp nhất.
Cái lò bê từ dưới đất lên, thứ lò nhỏ bé mà ta vẫn thường thấy nằm trên bàn nhậu để đun nóng mấy cái lẩu thập cẩm. Quyên bật lửa. Lửa chao đảo vì tay cầm bật quẹt có hơi run. Tôi ngó Quyên, khi gặp vấn nạn tay người ta thường biểu lộ ra vậy. Khóc, cười, ngọn lửa cũng run bần bật tựa thế. Tâm bình lặng thì lửa sẽ đứng yên, cháy sáng. Khó khăn giây lát, Thuyền Quyên hoàn tất thứ công việc xét ra rất đơn giản. Tôi múc bột cà phê vào hai phin lọc. Hai cái nồi ngồi trên hai cái cốc, như chữ dùng ngô nghê của người đến từ phương Bắc. Ngồi đường bệ đợi nước sôi rót xuống để chắt lọc tinh hoa. Tôi và Quyên cũng đang ngồi, nhưng thấp thỏm như trên ghế có lửa bỏng.
“Em đi rửa mặt một lát”.
Quyên nói. Nhà chia làm hai, biên giới là chỗ đặt bếp núc. trước là bàn ghế tủ giường mùng màn giá vẽ, sau là lu nước gáo nhựa thau ngâm áo quần dơ và khoảng vuông xi-măng luôn ẩm thấp. Nước trên lò chưa sôi nhưng nước đằng sau đã reo vui. Quyên đang đái hay đang vốc nước rửa mặt? Lao xao, róc rách, tí tách, lỏn tỏn. Giải thủy hay tạt nước lạnh vào mặt đều có chung một kết quả: Nó làm mình sảng khoái ngay sau đó. Không phải sao? Những tên bị tra tấn đến độ ngất xỉu, muốn lấy cung tiếp ta chỉ cần đổ xuống người nó một xô nước lạnh. Nó sẽ hoàn hồn, nó sẽ tỉnh thức lại ngay.
– Mày làm nghề gì?
– Họa sĩ,
– Đói như mày sao lại có kẻ phải lòng đâm thương yêu?
– Tôi không biết.
– Man khai. Tại sao mày không biết?
– Có ai hiểu được tình yêu là gì không? Xin rộng lòng chỉ bày cho tôi.
– Ngụy biện. Mày câm mồm đi, ông uýnh cho bỏ mẹ bây giờ.
Mẹ tôi khuất núi đã lâu. Mẹ ơi, con chẳng bỏ mẹ cớ sao mẹ đành đoạn bỏ con?
Nước réo sôi giục giã. Tôi tắt lò cùng lúc Thuyền Quyên trở lại với một vạt áo đẫm ướt. Mẹ tôi cũng có chiếc áo tựa thế, khác biệt là bên trong mẹ tôi không mặc áo nịt vú, mẹ mặc áo lót bằng vải phin trắng có may túi và tôi biết đó là nơi mẹ dấu những tờ bạc mới, thơm tho. Mẹ dè xẻn chẳng tiêu pha, chỉ móc ra khi đứa con út đặt điều nan giải để lấy cớ moi tiền. Nếu có tiền, Thuyền Quyên sẽ nhét nó ẩn náu vào sau nịt vú. Và có lẽ những tờ giấy bạc khi đó cũng thơm tho không kém. Áo quần Quyên đang mặc là thứ người ta dùng che thân ở trong nhà, như thể đánh lừa ai đó, rằng tôi chưa hề bước chân ra ngõ, đi đâu xa.
“Cho Quyên mượn tạm một chiếc áo để thay”.
“Đàn ông hay đàn bà?”
“Sao lại có đàn bà vào đây?
Tôi lục soạn ở đầu giường, dưới gối kê đầu là chiếc áo ngày xưa của mẹ tôi. Kỷ vật được gấp làm tư, thẳng nếp và hầu như từ sứa vải úa màu kia vẫn còn tỏa nhẹ một hương mùi. Xa vắng, phảng phất, thầm lặng. Lạ lùng thay, nó như liều thuốc trấn an tôi nhiều ở những đêm đối đầu với mộng dữ.
“ Mặc thử đi, cho anh mường tượng ra hình dáng một người mẹ”.
Thuyền Quyên thay đổi xiêm y, cài lại những hạt nút trong khi tôi phơi chiếc áo ướt của cô lên giá vẽ. Mai này, bên chỗ nằm, tôi lại trăn trở ngủ với chiếc áo từng lưu giữ hương mùi của hai người đàn bà dấu yêu.
“Hơi chật. Đúng không?”
Thuyền Quyên dang hai tay ra cho tôi ngắm.
“Vừa vặn, khít khao. Anh không tưởng được là mẹ mình cũng có da có thịt cỡ đó”.
Tôi dối gian. Chiếc áo có hơi nhỏ so với cơ thể Thuyền Quyên. Dĩ nhiên là đôi vú móp méo cạn kiệt từng nuôi sáu đứa con của một người già làm sao bì với ngực Thuyền Quyên? Để tránh đào sâu sự so sánh, tôi quay lưng pha đường vào cà phê. Cà phê chỉ là một tên gọi. Người ta đã cưỡng hiếp nó tận tình bằng đủ mọi thủ thuật pha phách hỗn tạp. Và người ta hãnh diện vì tính sáng tạo ấy. Cho nên muốn thưởng thức một tách cà phê thơm ngon đúng nghĩa, chỉ còn cách duy nhất: Vượt biên. Đâu cũng đưọc, càng xa càng tốt, ở phương Tây.
“Đậm quá!”
Thuyền Quyên phê bình. “Có làm mình mất ngủ không anh?”
“Người ta chẳng ngủ được vì một nguồn cơn khác. Thứ này thì nhằm nhò gì”.
“Cho em điếu thuốc”.
Tôi ngó Thuyền Quyên.
“Đừng nhìn em kiểu đó. Chỉ phung phá lần sau chót”.
Tôi không nói gì. Tôi đã câm lặng nhiều ngày khi nghe Quyên bảo: Giải pháp tốt đẹp cho hai đứa là sự chia tay. Chúng ta chẳng có lựa chọn nào khác. Anh thấy không? Tôi xé toạt bao thuốc cho Quyên dễ lấy. Tôi đưa ngọn lửa tới gần môi Quyên. Quyên nhìn xuống, nhưng trong đáy mắt thu cất từng đốm sáng lung linh. Đôi mắt kia từng là gương soi để tôi nhìn ra tất cả vẻ muộn phiền bám trên mặt tôi. Khói xanh xám tuôn lãng đãng. Hai đứa cùng hút thuốc và chúng tôi tự làm cho mặt mày của mỗi đứa trở nên nhòe đi. Ở bức vách đối diện có treo tấm ảnh mẹ tôi. Bà trông xuống tôi với đôi mắt chứa đầy sự thất vọng. “Một cái nhìn hơn ngàn lời nói ra”. Ai đã thốt nên thứ phương ngữ thấm thiá kia?
Không có đồng hồ nhưng tôi biết đã muộn, đối với riêng Thuyền Quyên. Tôi muốn nhắc chừng, cảnh tỉnh. Tôi như con gà đang mắc đẻ.
“Sao hôm nay anh mang đầy vẻ lạ thường?”
“Anh tính hỏi Quyên câu ấy. Sao hôm nay khác với những lần trước?”
“Có trận bóng đá cúp châu Âu trực tiếp trên truyền hình. Dĩ nhiên là ai nấy đều háo hức, bận bịu dõi trông. Em đang lợi dụng nó. Em sẽ thong dong chuyện đi đứng”.
Thuyền Quyên sẽ rời tôi, khi trên sân cỏ ở một nơi xa, người trọng tài dong tay thổi dứt một hồi còi lãnh lót. Trận đấu kết thúc. Và tôi ở lại với khoảng trống lớn, thua cuộc. Điều mừng vui duy nhất, là Thuyền Quyên không lấy chồng Đài-loan. Cô tuyệt không rơi vào tay một đại gia có máu mặt. Chừng ấy thôi. Tôi chẳng cần biết gì khác hơn và tôi nghĩ là Quyên đủ sáng suốt khi bỏ tôi để tìm lấy một thằng đàn ông khác làm chồng.
“Khi về nhớ mang bức tranh. Anh chẳng có gì khác làm quà”.
“Có lộ liễu lắm không nếu em mang tranh về. Cái đó người ta gọi là “chưa đánh đã khai”.
Vụng trộm. Tôi đã lỡ khuấy quên. Cái địa chỉ heo hút này không phải thuê nó để làm chốn ẩn nấp sao? Và rồi thì kín đáo hò hẹn. Năm bữa nửa tháng một lần gặp vội.
“Em sẽ gửi thiệp cho anh”.
“Đừng. Chẳng vui thú gì!”
‘Hay là một cái bưu thiếp chụp cảnh Đà-lạt?”
“Quyết định hưởng tuần trăng mật ở đó sao?”
Thay vì trả lời, Thuyền Quyên đến sát chỗ tôi ngồi, vòng tay ôm ấp lấy đầu tôi, ghì chặt vào ngực; có vẻ vỗ về, dỗ dành. Trái tim Thuyền Quyên vọng vào tai tôi những nhịp đập, rung động trong mềm mại. Tôi từng áp tai vào ngực mẹ mình, nhưng đó là khi mẹ đã thực sự ra đi. Tim đứng yên và một cơ thể đang lần hồi lạnh giá. Tôi đã khóc. Tôi thực sự yếu đuối vỏn vẹn chỉ lần đó. Hôm nay tôi như cậu bé con đã trưởng thành, tự dưng cứng rắn một cách kỳ lạ.
“Anh đừng thay đổi chỗ ở. Một ngày kia có khi em sẽ trở lại tìm”.
“Để làm gì?”
“Anh thực sự không muốn nhìn lại mặt em? Hoặc ít ra đó là lúc em an lòng thu nhận bức tranh kia. Em tới đòi nợ. Được không?”
Thuyền Quyên cúi xuống hôn tôi. Chất cà phê thấm đẫm bọc quanh môi mềm Thuyền Quyên thứ hương vị ngọt ngào. Mật ngọt chết ruồi. Còn tôi, tôi muốn chết bằng kiểu ngạt thở. Mắt tôi nhắm nghiền. Liệu có lối chết nào êm ả hơn không? Ngưng thở trong vòng tay tình nhân.
Nụ hôn không kéo dài. Quyên vất trả tôi về với hiện tiền, đòi lại những mộng tưởng. Quyên cởi áo, chậm rãi, chẳng ngượng ngùng. Da thịt phô bày và thịt da bưng bít. Quyên mặc lại chiếc áo đã khô. Chiếc áo may vừa kích nên chi nó làm mất đi cái vun đầy trước đó luôn khiêu khích.
“Em đi”.
Thuyền Quyên nói nhỏ. Cô tính vung phát một cử chỉ gì đó nhưng đôi tay buông xuôi, cúi đầu đi tới cánh cửa. Tôi ôm chiếc áo của mẹ tôi vào lòng, xoắn trong tay, hoảng hốt như tên tư sản mại bản bị kiểm kê lần sau chót. Nghèo rớt mồng tơi!
Chút gió mát lẻn vào. Rất yên lặng. Khi cánh cửa đóng ập lại, tôi có ý nghĩ đó là tấm màn vừa buông ở sân khấu để chấm dứt một vở kịch chẳng mấy hay. Diễn rất tồi.
* * *
Lão phát thư dựng chiếc xe đạp sát vách.
“Hôm nay cậu có thư”.
Ông nói với tôi qua chấn song. Cánh cửa sổ tôi luôn mở để đón gió. Mặt ông khi đó trông như tên tù nhân sắp được thả. Ông ngó vào, có thể ông sẽ mọc dấu hỏi trong đầu: Nó lui cui làm gì trong thế giới tù túng kia?
Tôi trả lời. Thấy khát. Với hai chục ngàn bạc cuối cùng, tôi đã mua bao thuốc Con mèo và ly cà phê đá. Uống hồi sáng, giờ này thì trưa, một hai giờ gì rồi. Có thể tôi đang héo người, dật dờ.
“Mỏi chân quá!”
Ông ta than, đồng thời dắt theo xe khi vào nhà, tự-nhiên-như-người-Hà-nội.
Tôi mang cho ông chiếc ghế, chờ được đón nhận lá thư ông sẽ trao. Sở bưu điện thì hẳn là không tài nào biết được cách thức làm việc của nhân viên. Và đã là nhân viên nhà nước thì họ luôn có lối lao động chẳng giống ai. Ông ngó vào tấm tranh tôi vẽ chưa xong trong khi tôi ngờ vực nhìn tới chiếc xe đạp. Tôi biết chiếc xe ấy nhờ những dấu vết đặc thù nhưng tôi không tưởng được là nó đã thay hình đổi dạng đến thế. Tôi quả là đứa chẳng biết giữ gìn, sang tay ông ta nó được o bế chùi rửa đến độ phát quang. Nếu Thuyền Quyên đi thẩm mỹ viện về, gặp ngoài đường, tôi cũng mang nỗi hoài nghi tựa thế. Lạ tới độ chó nuôi trong nhà cũng phải sủa lên, tiếng cảnh tỉnh.
“Này, không phải nói đùa chứ cậu có cái tủ đẹp ra phết. Xịn hết biết!
“Tranh thì sao?’
“Giai cấp tôi thì biết chó gì đến nghệ thuật tranh ảnh mà hỏi. Nhưng thắc mắc thì có đấy, cậu sống sao được với thứ thành quả lao động vô bổ kia?”
Mắt ông không rời mục tiêu. Chiếc tủ ấy là gia tài cuối cùng. Mẹ để lại cho tôi năm sáu món, nhưng tất cả đều lần hồi đội nón ra đi. Chỉ còn nó, đứng thu mình, thầm lặng ở chỗ thiếu ánh sáng, vậy mà cũng bị ông điểm danh. Ông phát thư có đôi mắt thật tinh tường, nếu làm giám khảo chấm điểm cuộc thi hoa hậu, hẳn sẽ không có cô nào khóc thét lên khi nghe tuyên bố kết quả. Một đôi mắt biết lột truồng sự vật, lượng định thật giả chẳng sai trật.
“Nghèo như tôi cũng có thể vay được một hai triệu để ẳm cái tủ ấy”.
Ông nói vào khoảng không. Ông ném một viên đá dò đường. Ông thử phát họa một hình ảnh, vẽ nên một con số.
“Hình như bác vào đây với thứ công chuyện khác?”
“Phải. Cậu có thư. Nhưng đi đâu mà vội. Thủng thẳng, chuyện gì cũng còn có đó”.
Tôi nhìn ông ta. Với tuổi tác kia, tôi có thể gọi ông bằng bố chứ không phải giỡn. Thỉnh thoảng tôi nghe thằng thanh niên nhà hàng xóm cằn nhằn ông già nó: “Địt mẹ bố, bố chơi kiểu đó thật chẳng giống ai!”. Tôi rất mệt. Tôi chẳng có ý kiến. Tôi phó mặc cho ông ta diễn tuồng một mình. Tôi đốt ba cây hương và cúi đầu thành khẩn dưới ảnh mẹ mình. Tôi cắm hương vào cái ly đựng gạo hứng đầy tàn nhang. Nhà buồn quá, lạnh lẽo chẳng có bàn thờ và hoa trái. Cầu dừa đủ xoài. Ai mà dại dột vậy cà? Đã trót xin, thì xin cho được tới bến luôn. Mẹ có linh thiêng, phù hộ để con chơi số ẳm phải lô độc đắc, cho ấm đời!
Ông phát thư vẫn lì lợm ngồi yên trên ghế. Muốn xua đuổi, tôi sủa:
“Bác có tiền sẵn đó không?”
“Hỏi chi vậy? Nhiều nhặng thì phải chạy vạy đi vay”.
“Ít thôi, đủ để chở tôi đi kiếm cái gì uống. Khi đã tỉnh táo, chúng ta mới sáng suốt bàn tính chuyện đại sự”.
“Cũng có lý. Tôi sẵn lòng cho cậu mượn chút tiền. Kiếm quán bia, cậu vừa nhậu vừa xem thư mới đã”.
Tôi đóng cửa. Rất nản, tôi để cho ông già thồ cái xác ngầy ngật của tôi đi.
“Đến chỗ Lan và Điệp nhé. Con mắt mẹ chủ quán bao giờ cũng có đuôi, cái mới ăn tiền. Văm đéo chịu được!”
Ông làm nghề giao thư phát biểu cảm tưởng. Lan và Điệp? Tên một tụ điểm ăn nhậu sao? Chưa hề nghe qua. Nghe chăng là nghe Lan cắt tóc hay Điệp đi tu gì đó. Chuyện tình chảy nước mắt. Họ dựng thành vở cải lương, và cuối cùng, tất cả đều lẩm cẩm, vớ vẫn.
Quán nhậu chưa đông khách, ruồi buồn bay dật dờ trên những mặt gỗ trống lạnh. Thực đơn viết chữ to lên tường, xanh đỏ như bùa chú. Rất nhiều món lạ, dài thậm thượt. Khởi đầu là châu chấu chiên dòn và cuối cùng là rắn hổ mang xào chua ngọt. Tôi kéo ghế ngồi, quây lưng với thứ “sơn hào hải vị” quái đản kia. Tôi muốn dòm con mắt có đuôi và “văm đéo chịu được” nơi mụ chủ quán nhưng không thấy, hiện diện là đứa con gái đang quạt lò than và thằng bé mặc xà lỏn cầm dao răng cưa bặm môi chặt nước đá. Hai đứa coi bộ xung khắc nhau, đứa hỏa đứa thủy; cả hai thi gan ngó lơ chỗ khác mặc tình cho khách kéo ghế rậm rật còn giả bộ ho hen nhắc chừng.
“Cho bác hai chai bia cưng”.
Cuối cùng thì ông phát thư lên tiếng, có vẻ nhượng bộ. Ông ngồi buông rũ tứ chi, chờ đợi trong dáng điệu thoải mái. Thỉnh thoảng ông rung đùi, thỉnh thoảng ông liếc xéo, ngầm thắc mắc về sự vắng mặt của mụ chủ.
“Chúc sức khỏe”.
Tôi nói. Cụng bia với ông già. Có chất xúc tác kì diệu, ông mới linh hoạt moi túi lôi bức thư nhăn nhàu ra. Thư của Thuyền Quyên, khuôn dấu có khắc chữ Đà-lạt. Từ cao nguyên xuống chứ không phải từ miền duyên hải xô giạt vào, vậy mà tờ thư mềm như úng thủy đã lâu, chữ nghĩa đều nhòe nét mực tựa mắt khóc khi tay viết xong. Lòng tôi vô cớ mà thổn thức, cẩn trọng mở rộng lá thư ngấm nhiều mồ hôi của kẻ đưa thư. Người ông ta hôi chua, chưa nói đến mùi dầu Nhị thiên đường luôn chôn dưới chân tóc. Đón nhận một lá thư như vậy người ta khó hình dung ra nội dung. Nếu thư tình, chắc nó phải thơm? Quyên dùng viết mực đỏ, thứ màu mà thuở đầu đời cắp sách đi học thầy cô luôn giáo dục: Mấy em chớ nên đụng tới viết đỏ, nó bất lịch sự khi dùng để viết thư cho ai. Nó chỉ được sử dụng khi chấm bài, cho điểm, phê vào thông tín bạ; hầu như màu đỏ dùng để ngầm cảnh cáo, răn đe…
“Có gì gay cấn không?”
Ông phát thư hỏi sau khi tôi chấm dứt đọc những hàng chữ lên đồi xuống dốc. Có lẽ nó được viết trong một thần thái căng thẳng. Hoặc ngồi trên xe đò dằn xóc? Hoặc hí hoáy trong bóng đêm, hối hả?
“Bác muốn biết không?”
“Buồn thì cứ mặc tình dấu nhẹm. Nếu là tin vui, tôi nghe cũng tốt thôi”.
“Người ta viết thư hỏi tôi nếu đồng ý bán, thì họ mua cái tủ đó với giá hai triệu rưỡi. Rất khẩn cấp. Bác thấy họ viết bằng mực đỏ không? Quan trọng chứ chẳng đùa”.
Ông nhân viên bưu điện đưa mắt dòm tôi. Quan sát hồi lâu như thể xem con tem dán trên phong bì còn sống hay đã chết. Nó trinh nguyên hay đã bị con mộc đè lên trên?
“Người nào vậy? Ra giá như thế không sợ bị hớ sao?”
“Gỗ ấy thuộc loại gỗ qúi hiếm. Lí ra bác phải khuyên tôi đừng nên bán mới phải. Hai triệu rưỡi. Tiền đó mua được cái gì hở trời!”
“Được, Tôi khuyên anh. Nghe lời khuyên không nào? Tại sao lại bán cho người dưng mà ngó lơ chỗ quen biết. Tối nay tôi đến chồng đủ tiền, thuê xe khiêng về ngay”.
Tôi biểu ông già gọi thêm bia, Người tôi trống vắng tựa căn nhà để bảng cho thuê. Mẹ ơi! Cuối cùng thì con chỉ còn giữ được chỉếc áo cũ của mẹ thôi. Giữ riết bên mình cho tới khi chết.
“Kỳ lạ thật!”
Tôi ngó điệu bộ nhấp nhỏm của ông “bạn nhậu”,
“Chuyện gì thế?”
“Tôi nghĩ là đằng sau bức vách kia có kê giường chiếu ngang dọc. Có thể mụ chủ quán đang lu bu để cho khách ôm?”
Tôi cười mũi:
“Thì đã sao? Chết thằng Tây nào đâu?”
“Sao không? Nếu được ngủ với mụ ấy, có chết tôi cũng mãn nguyện”.
“Làm gì ghê gớm thế? Bác để dành tiền, khoảng hai ba trăm đô là cùng, nói với bả một tiếng, cả hai tắm rửa sạch sẽ, leo lên giường… Sau đó, vấn đề còn lại là do ở tài năng bác”.
“Này bạn hiền, cuộc đời đơn giản có bấy nhiêu sao? Tôi từng ỡm ờ bóng gió với mụ ta, biết mụ nói gì không? Thôi đi tiá, tưởng có tiền là ngon hả? Tiá nên về soi gương, biết tự lượng sức mình chớ! Tha cho con đi mà!”
“Nói vậy nghĩa là sao? Đầu gối bác còn xịn quá mà, đạp xe chạy như ma rượt có hề hấn gì đâu?”
“Hổng biết nữa. Đàn bà cũng khó hiểu. Đôi khi họ ưa trai tráng nhỏ nhít mới ngon cơm. Chí ít cũng cỡ cậu. Mẹ nó, già có nhiều cái thiệt thòi!”
Ông tu hết chai bia, dằn mạnh xuống bàn thế tiếng thở dài.
“Để mắt coi chừng chiếc xe một lát. Tôi lui đi đái, giả bộ tham quan một vòng cho biết sự tình”.
Còn một mình, tôi đốt lửa điếu thuốc và giở lá thư ra đọc lại: “Tuần trăng mật tẻ nhạt chậm chạp trôi. Có người buồn giận. Lý do giản dị: Vợ mới cưới của ông ta đang rơi đúng vào chu kì kinh nguyệt. Máu. Màu đỏ buộc phải ngừng tựa như đèn hiệu giao thông. Quyên không biết mình buồn hay nên vui? Hỏi thử anh xem sao. Buồn? Có tháng. Vậy là chúng ta không thể có riêng với nhau một đứa con. Vui? Vậy là chúng ta an tâm chẳng hề dối gạt một ai về xuất xứ một hòn máu. Đà lạt lạnh, có lẽ vì vậy mà cà phê uống được hơn dưới đó. Uống cà phê trong khi hậu ấy, dĩ nhiên làm Quyên nhớ tới anh. Mong sớm tìm gặp lại nhau. Ký tên: Một người vợ ở kiếp sau”.
Tôi ôm đầu hồi tưởng lại. Lần đó, chúng tôi chỉ có cho nhau mười lăm phút. Thuyền Quyên nhắc nhở, theo giọng điệu của người tường thuật bóng đá: Chỉ có mười-lăm-phút-phù-du. Tôi lật úp tấm ảnh mẹ mình không cho chứng kiến và phút giây sau Quyên vật ngã tôi trên giường. Tôi đón nhận một thứ trọng lực từ tốn phủ chụp xuống. Niềm thống khoái vỡ oà ra, có thể làm phát khóc đi được. Suốt cả cuộc đời, chỉ có duy nhất lần đó là tôi hiểu tường tận về chữ hạnh phúc.
Tôi thả điếu thuốc hút dở vào trong chai bia. Tôi nhớ lời ông phát thư: “Ôm mụ ta ngủ một đêm có chết cũng mãn nguyện”. Qủi, sao lại xem cái chết nhẹ tựa lông hồng thế! Nhưng mà nghĩ cho kỹ, lão ấy là người có đầu óc chứ chẳng giỡn chơi. Đang nhậu chim chuột rắn rít bỗng lăn đùng ra, ngộ độc: Chết. Đang đi trên lề đường không dưng chiếc xe tải từ đâu leo lề va vấp vào người, chấn thương sọ não: Chết. Nấu nướng bất cẩn lửa táp chảo dầu lan qua tay bỏng rộp, vào nhà thương băng bó, nhiễm trùng: Chết. Đang say giấc điệp, nhà lầu bê tông dổm sập nguyên ba tầng lầu đè lên đầu mình tứ chi, ngắc ngoải: Chết. Thiên hình vạn trạng, hằng hà sa số những tai ương lãng xẹt. Thân nhân ôm tử thi ngửa mặt kêu gào: “Cao xanh ơi hỡi cao xanh, sao trời lại không có mắt mà ngó xuống?” Bậy thật, trời làm gì có mắt chớ. Sao cứ ỷ y dại khờ thế? Cho nên rốt cuộc thiệt là đẹp ý nếu được chết như nguyện. Thuyền Quyên bỏ đi và tôi chưa biết cách xếp đặt ra một cái chết. Lão phát thư đã tìm được đối tượng, và giờ này thì lão xong xuôi việc đi đái.
“Sao rồi? Bắt gặp con mắt có đuôi không?”
“Mụ ngồi đếm tiền, tính toán sổ chi thu. Mụ than lóng rày buôn bán có phần sa sút ế ẩm”.
“Người ta mở đường cho bác đấy”.
“Tôi biết chứ, mụ đồng ý ngủ nhưng đưa cái giá cao tận mây xanh. Như vậy có khác chi từ chối. Mẹ kiếp, tôi chỉ là kẻ đưa thư thôi mà, nào phải trộm cướp gì cho cam. Một triệu đồng, ai mà chịu đời cho thấu!”
“Thì đừng mua cái tủ nữa, để tiền ấy mà ra sức bồi dưỡng cái mạng già”.
“Thấy chưa, ngay cả cậu cũng nói tôi già. Thế thì còn cơm cháo gì nữa! Bao lâu? Cứ cho là mười phút đi. Chỉ mười phút mà phải cúng cho mụ ta một triệu đồng. Bỏ đi tám. Đành ngồi trên giếng mà khát nước vậy!”
Ông với tay nhặt cổ chai bia lên, đổ xuống cuống họng, ừng ực. Như cố nuốt trôi viên thuốc đắng, tựa dìm chết một ước mơ chẳng lành lặn. Tôi tính nói: tan hàng. Tôi định biểu ông chở tôi về thì nhác trông lên một người đàn bà từ nhà sau bước chân ra. “Văm đéo chịu được!” Câu văn tả người của lão phát thư chẳng sai trật một mảy may. Tôi choáng váng. Hai chai bia không làm tôi say. Tôi bị hớp hồn bởi con mắt có đuôi. Nếu có Thuyền Quyên ở đây hẳn cô phải sửng sốt bởi nhan sắc kia gần là giọt nước thứ hai, hoặc chính Thuyền Quyên là bản sao của người đàn bà kia. Đấy là nói riêng cái khoản diện mạo, vòng một vòng hai vòng ba trên cơ thể Thuyền Quyên chỉ là em út so với mụ chủ quán. Nói mụ thì có vẻ hàm hồ, bà ta đâu khoảng bốn mươi, chừng đó xuân xanh gọi là nàng thì chả có gì phải hổ thẹn. Nàng, chữ ấy rất ăn với bảng hiệu “Lan và Điệp”. Đôi khi phải nên cải lương một tị, vấn đề mới hanh thông!
“Tối nay bác tới chở cái tủ đi, phải không?”
“Cậu nói bao nhiêu? Tôi quên rồi”.
“Hai triệu rưỡi. Tứ mã nan truy!”
“Được thôi. Nhưng bớt chút đỉnh để tôi còn trả công cho thằng kéo xe”.
Tôi nắm những tờ giấy bạc eo xèo trong tay ẩm. Người đàn bà nhìn tôi từ lúc tôi xô ghế đứng lên cho đến khi mặt đối mặt. Khoảng cách gần, tôi ngửi từ người “nàng” xông lên thứ mùi vị nửa quen nửa lạ. Như nàng là món ăn đặc sản mà đầu bếp tốn rất nhiều gia vị để gia giảm phân lượng. Một cái siêu thuốc bắc mà đàn bà vừa đẻ xong sẽ nhăn mặt uống cho lại sức cũng không thơm bằng. Tôi nuốt nước miếng, gần cả lít bia đã bốc hơi đi đâu làm miệng lưỡi đắng khô.
“Một triệu hả?”
“Cái gì? Anh trả tiền bia cho ông kia luôn phải không?”
“Phải… Tôi còn trẻ so với ông ấy, lại sạch sẽ vệ sinh hơn…”
“Già thì khỏe kiểu già, trẻ thì mệt kiểu trẻ. Một triệu, đó là chưa tính tiền phòng”.
“Bao giờ thì được?”
“Tùy anh. Tôi rảnh từ tám tới mười giờ tối”.
“Gặp ở đâu?”
“Góc đường Công-lý, tôi sẽ dẫn anh tới nhà nghỉ. Vấn đề an toàn, anh hiểu không?”
Tôi ngó nàng. Thuyền Quyên xa tôi đã lâu và đã lâu nỗi nhớ tôi dành cho cô dài thậm thượt. Ông già phát thư thật dại khờ. Một triệu, rẻ như cho; khi ta muốn trả thù niềm nhớ mong. Tôi vỗ nhẹ lên mu bàn tay nàng:
“Chín giờ tối nay, góc Công-lý”. Hừ, công lý! Lẽ phải bao giờ cũng thắng!
Nàng cười. Trời ạ! Ngó xuống mà coi, nàng có vẻ như là chị ruột của Thuyền Quyên.
Ông già phát thư rất mẫn cảm, hoặc trời sinh ông có đôi tai thật bén nhạy, nghe được cả tiếng vo ve của ruồi muỗi bay xa.
“Mẹ kiếp, già cả bao giờ cũng thiệt thòi!”
Ông ta thán khi dắt xe đi. Thấy tội nghiệp, tôi dành phần đèo chở ông nhưng ông nạt.
“Đừng lộn xộn, chớ làm hoanh, lo mà dưỡng sức để tối còn lao động phục vụ”.
Chở một đỗi, ông hạ giọng:
“Vẫn một triệu?”
“Vẫn”.
“Quyết định vất tiền qua cửa sổ à?”
“Vất”.
“Đừng trách tôi nhiều chuyện, ăn xài như cậu thì mai hậu có mà cạp đất”.
“Có quán cà-phê đèn mờ đặt mua tranh tôi vẽ. Hai bức sơn dầu. Bác tin không? Chúng nó trả bằng đô-la của Mẽo mới ác liệt, cầm tiền quê hương nặng đến trẹo tay, thật bất tiện, chúng nó nói vậy. Tháng sau giao hàng, tiền trao cháo múc”.
“Này, cậu có máy thu hình không? Máy quay vidéo?”
“Chi vậy?”
“Trước khi nhập cuộc cậu lột truồng mụ ta ra quây lén, xong bán khúc phim ấy cho tôi, tiết kiệm được chút đỉnh”.
Ông thở nặng nhọc khi gặp phải đoạn đường dốc. Mùi dầu Nhị thiên đường ông xức cho khỏi trúng gió làm tôi chóng mặt. Khi chia tay, tôi nói với ông:
“Có thể tôi sẽ chết đêm nay khi ôm mụ chủ “Lan và Điệp”. Bác thấy như thế có mãn nguyện không?”
“Chứ còn đòi gì nữa? Chắc tôi phải học cách móc ngoặc hoặc tham ô. Mẹ, cuộc đời này u ám quá!”
Tôi ngó theo cái dáng đạp xe trong xiêu vẹo của ông già. Tôi vạch quần, tiểu tiện trên hàng chữ cấm đái bậy. Tôi la trong ngõ vắng: Thuyền Quyên, anh sẽ hiếp dâm em đêm nay. Hiếp tả tơi cho xứng đồng tiền bát gạo!
Mọi vật quạnh quẽ, im thin thít. Cả chó cũng chẳng còn sót một con để đáp lời, sủa cho vui tai. Thật khốn nạn!
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Ngày cuối cùng của tôi ở Sàigòn, giản dị là một ngày điên cuồng. Vào buổi sáng 29 tháng Tư, đài phát thanh quân đội Hoa Kỳ đang chơi những bản nhạc thông thường. Đột nhiên ngưng nhạc, họ loan báo: “Sàigòn nóng một trăm lẻ năm độ, nhiệt độ đang gia tăng.” Tiếp theo là bài “Giáng Sinh Trắng” do ca sĩ Bing Crosby hát. Bạn phải nhớ lúc ấy đang cuối tháng Tư. Việc này cho thấy trình độ tinh thần của những người trong quân đội Mỹ. Thực tế, muốn biết cuộc di tản bắt đầu lúc nào, chỉ cần nhìn qua cửa sổ. Bạn sẽ thấy những anh Mỹ mắt thao láo, tay xách va li bước trên đường phố. Và khi người Việt thấy thế, họ cũng thừa hiểu người Mỹ đang ra đi, họ bắt đầu chạy theo. Họ cũng muốn được rời khỏi xứ.
Chúng tôi ra khỏi khách sạn, đến các địa điểm di tản được ấn định, nhưng chẳng có ma nào. Chúng tôi đợi một lát, quyết định đến địa điểm thứ hai. Cũng chẳng có ai. Rồi địa điểm thứ ba. Nơi này là một trường học, toà nhà đã khoá. Khi chúng tôi sắp rời nơi này để tới địa điểm thứ tư, tôi bảo: “Thấy chưa. Hiển nhiên mọi việc không được tổ chức chu đáo. Nhưng cứ đợi đây, có lẽ sẽ có xe buýt tới đón.” Tôi nói đúng. Có những ba chiếc xe buýt chạy đến. Nhưng tới lúc này, đã có đến gần 150 người tụ lại chờ xe. Tôi giúp người ta bước lên xe buýt một cách trật tự. Rồi họ lái đến phi trường. Tới cổng phi trường, bọn lính gác bắn chúng tôi. Chúng tôi vòng xe lại, chạy về thành phố. Lúc ấy mấy chiếc xe buýt đã lạc nhau chạy riêng rẽ cả.
Sau khi quay khỏi phi trường, tài xế chẳng biết phải làm gì. Anh ta mất bảy tiếng đồng hồ lòng vòng trên đường phố Sàigòn để tính xem có thể đi đâu, làm gì. Tài xế là một gã vô tích sự. Thoạt đầu, hắn không tìm ra chìa khoá. Hắn phải câu dây bình để nổ máy xe, máy chạy thì hắn lại để chết máy. Mỗi lần máy tắt, chúng tôi phải xuống câu dây, vậy mà, chắc bạn không tin nổi, hắn tự gọi mình là “Tổ sư lái xe.” Sau nữa, hắn cóc lái được xe buýt. Từ nhiều năm trước, chính phủ đã cho chặt hết cây trên một số đường ở Sàigòn để các xe nhà binh đi lọt. Bạn nghĩ là cha tài xế sẽ tìm mấy con đường rộng rãi mà chạy chăng? Cố nhiên không! Hắn tìm mấy con đường nhỏ, chật chội khít khịt nhất mà đi. Bạn hãy nhớ ở các ngã tư đường Sàigòn đều có đầy những quán ăn bé tí. Đó là những quán mì, gánh phở, với mấy cái nồi kê trên lửa, bên trên che bạt mà họ gọi đó là những tiệm ăn. Vâng, cứ mỗi lần cha tài xế quẹo qua một góc đường, hắn lại xô sập chừng ba cái tiệm ăn. Cứ thế suốt bảy tiếng đồng hồ!
Sau cùng, hắn quyết định đưa chúng tôi xuống dưới Cảng chờ trực thăng đến đón. Thế là hắn lái xe chạy tuột xuống dưới cảng, nơi đây đã có khoảng mười ngàn người đang cuồng loạn tranh nhau nhảy lên tàu. Có người hụt, lộn đầu xuống sông. Thấy cảnh tượng ấy, tôi bảo tài xế: “Bộ anh thả chúng tôi xuống đây mà đi sao? Anh bảo chúng tôi là trực thăng sẽ hạ xuống ngay đám đông người Việt này mà đón chúng tôi à? Và lại không có lính gác? Bộ anh nghĩ những Việt này sẽ ngồi yên nhìn chúng ta bỏ họ mà đi sao? Anh khùng quá rồi!”
Hình minh họa
Nhưng lúc ấy có nhiều người bước khỏi xe buýt. Tôi cảnh cáo đừng nên. Một cha Việt Nam bước ra với gia đình, anh ta không có căn cước hay bất cứ giấy tờ gì. Thế rồi chúng tôi cho xe chạy, anh ta không quay lại kịp. Tôi nhớ tôi đã nhìn qua cửa sổ lúc xe trở bánh chạy, anh ta đang vùng vẫy chen vào đám đông. Một tay xách va li, một tay dắt vợ, vợ anh lại kéo lê hai đứa nhỏ. Những người ở đấy dằng cái va li, chụp lấy cái đồng hồ của anh ta. Chúng tôi bỏ gia đình này lại. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn nhìn thấy vẻ kinh sợ trên mặt anh khi chiếc xe bỏ anh ta lại.
Cuối cùng, chúng tôi tới toà Đại sứ, leo tường vào. Đêm hôm ấy tôi đi bằng trực thăng từ nóc Toà Đại sứ. Trên đường bay ra, tôi có thể nhìn thấy lửa cháy chung quanh thành phố, tôi biết Bắc Việt đang trên đường tiến quân vào. Tôi không thấy một dấu hiệu nào về bọn chúng, nhưng toàn thể cảnh tượng này trông như không thực. Nhìn xuống thành phố, chúng tôi biết chúng tôi sẽ ra đi mãi mãi, tất cả những gì tôi nghĩ bấy giờ là: “Vậy mọi sự cũng đều dẫn đến bước này!”
Những ngày chót ở Sàigòn quả là những ngày đáng kể. Chẳng khác trận chiến Waterloo. Những ngày này là những ngày lịch sử quan trọng. Cho đến nay hiển nhiên người Mỹ vẫn chưa bình phục được sau vụ Việt Nam. Người Việt Nam vẫn chưa bình phục lại được tại Việt Nam. Người Cam Bốt, người Lào đều chưa bình phục khỏi cơn bịnh Việt Nam. Không có gì khác trong đời tôi có thể quan trọng hơn Việt Nam. Đó thực là một thảm kịch. Chúng ta đã gửi đến biết bao thanh niên lương hảo. Biết bao con người lương hảo. Để làm gì?
Bạn biết, khi tôi thoạt đi Việt Nam lần đầu vào mùa thu 1972, những người chỉ huy quân đội Mỹ bảo tôi: Có ánh sáng ở cuối đường hầm. Năm 1975 tôi lại nghĩ đến câu này. Quả thực có ánh sáng ở cuối đường hầm. Chính đó là lúc chúng ta bay ra khỏi xứ lần cuối cùng.
Khi Ban Mê Thuột thất thủ, cuộc triệt thoái cao nguyên bắt đầu, tôi đi với thông tín viên Peter Collins để thu hình “Đoàn xe nước mắt” từ Pleiku đổ xuống theo con lộ 7B. Cả một đoàn quân tương đương với ba sư đoàn rút khỏi cao nguyên mà không nổ một phát súng. Lúc ấy, một người bạn bên sở Tình báo điện thoại cho tôi, anh ta nói: “Này Mike, cậu biết cao nguyên mất rồi chứ?”. Tôi bảo “Hả, Đ.M. không!” Anh ta bảo: “Nghe đây, tôi có một chuyến bay” – đó là chiếc Air America hai động cơ – “Tôi sẽ cho bay lên trên ấy đón người của tôi trước khi họ bị bắt. Nếu cậu đi với bọn tôi, sẽ bảo đảm cho cậu một ghế trở về. Sẽ có một trực thăng của Trung ương Tình báo đưa cậu đến khu vực quay phim. Đang có hàng ngàn, hàng ngàn người tháo chạy. Tôi sẽ cho cậu một máy vô tuyến, bỏ cậu xuống khoảng trước đoàn xe. Cậu có thể đợi đoàn xe đến mà thu hình, sau đó tránh khỏi đoàn xe, ra phía ngoài đồng, dùng vô tuyến gọi trực thăng đến. Chúng tôi sẽ tới bốc cậu.”
Thế là chúng tôi đổ đến khoảng giữa vùng cao nguyên. Ở đúng vào một chỗ chẳng đâu ra đâu, đột nhiên vào một tầm xa mà mắt có thể trông thấy, bỗng xuất hiện hàng trăm ngàn con người khốn khổ, lính tráng, xe tăng, thiết vận xa, hướng lại phía chúng tôi. Tôi thu hình tất cả, rồi chúng tôi rời đi.
Suốt thời gian ấy tôi không hề lo ngại gì đến việc rời khỏi Sàigòn, cho đến khi có một viên Đại úy Cảnh sát định bắn tôi. Lúc ấy có biến cố xảy ra tại dinh Tổng thống. Một chiếc máy bay liệng đến oanh kích, tạo nhiều lộn xộn trên các đường phố nên chúng tôi ra ngoài thu hình. Tôi thấy một viên Đại úy Cảnh sát đang bắn một chiếc xe taxi với khẩu súng 45. Chiếc taxi không chịu chạy, vì nó không thể chạy được, máy đã hỏng. Viên Đại úy nhắm bắn vào người trong xe. Người này sợ hãi thất thần. Tôi thu hình. Viên Đại úy thấy thế, quay họng súng chĩa vào tôi rồi thét lên: “Bọn Mỹ phản bội! Bọn Mỹ phản bội! Bọn Mỹ phản bội!” Tôi phản ứng lại: “Ê! Khoan chút chớ! Tôi là người Úc mà.” Tôi cố nghĩ ra một chuyện gì đánh lạc hướng làm cho hắn đừng bắn tôi. Nhưng hắn đã chạy đến, kê mũi súng chỉ cách đầu tôi một gang tay. Hắn lẫy cò. Không chuyện gì xảy ra. Hắn mở khoá nòng. Tôi có thể thấy nòng khoá khẩu 45 bị kẹt. Hắn bỏ ngón tay vào, kéo ra, nhưng hắn hoảng hốt, run rẩy, không kéo được. Hắn lẫy cò ba lần, nhắm đầu tôi. Cái máy quay phim của tôi lúc ấy không chạy. Đến nay tôi vẫn không rõ tại sao. Tôi không dám hướng cái máy quay phim vào hắn. Tôi không dám động đậy hay làm bất cứ cái gì bất thường để hắn nhận ra được là nếu hắn xoay cái vòng khoá, hắn có thể giết được tôi. Vì thế tôi nhìn trừng trừng vào mắt hắn, cứ giữ cái nhìn như thế. Sau lần thứ ba lẫy cò vẫn không có gì xảy ra, hắn quay ngược khẩu súng, cầm1ấy nòng, dộng báng súng lên đầu tôi.
Từ đó tôi quyết định sẽ không ở lại thành phố để thâu hình quân đội Bắc Việt và Việt Cộng khi chúng tiến vào. Trong lúc chạy thoát khỏi viên Đại úy Cảnh sát, tôi quyết định: “Không, không, không thể được. Thây kệ lũ Cộng sản. Mấy cha này là đồng minh mà còn định bắn mình, thì thôi đừng lởn vởn đây là hơn.”
Tôi rời Sàigòn đêm 29 tháng Tư tại Văn phòng Tùy viên Quân sự ở Tân Sơn Nhứt. Tôi bay ra tàu Blue Ridge bằng chiếc trực thăng Jolly Green Giant (CH-53). Lúc ấy tôi cảm thấy buồn bã vô bờ. Tôi không hề sung sướng được thoát khỏi nơi này. Một mặt, tôi lại cảm thấy kiêu hãnh vì từ hai tháng trước, ngay cả trước khi mất Đà Nẵng, tôi đã tiên đoán xứ này sẽ sụp đổ. Bấy giờ, các bạn tôi cười cợt chế giễu. Họ bảo: “Làm sao thế được. Quân đội sẽ đánh chứ.” Tôi nói: “Này, các ông 1ầm.” Và bây giờ, tôi đang có cái cảm giác là: “Cục cứt, tôi đoán đúng! Thiệt đáng buồn.”
Khi rời Tân Sơn Nhứt, chiếc trực thăng bay khá thấp. Chúng tôi bay dọc sông Sàigòn một đoạn ngắn. Qua khỏi dòng sông, chúng tôi gặp vài chiến đấu cơ F-4 hộ tống cho mọi người bay ra. Tôi nhớ lúc ấy tôi nhìn xuống dòng sông. Chợt tôi nhận ra căn chung cư nơi tôi ở, căn phòng hãy còn đầy đủ mọi thứ sở hữu của tôi. Tôi nghĩ: “Chúa ơi, Đ.M. mấy thằng Đại tá Bắc Việt chắc sẽ chiếm hết các thứ ấy. Sáng mai bọn hắn sẽ diện rất kẻng với mấy bộ vét của tôi đây.” Đó là những ý nghĩ thực kỳ cục, vâng tôi biết thế.
Hình minh họa
Khi chiếc trực thăng bốc lên cao, tôi ở đàng sau với cái máy quay phim đang chạy. Một xạ thủ ở phía sau với tôi. Anh ta nhìn tôi, thấy nước mắt đang chảy xuống mặt tôi. Anh ta lại gần, quàng tay lên vai tôi mà vỗ vào lưng. Rồi anh ta quay đi, bắt đầu đốt hỏa châu ném ra phía sau trực thăng. Nếu có hỏa tiễn SAM bắn lên thì những hỏa châu với chất bạch hoàng, những hỏa châu có buộc dù sẽ hứng lấy các hoả tiễn ấy, vì các hoả tiễn tầm nhiệt sẽ đuổi theo hỏa châu, nó nóng hơn và sáng hơn động cơ trực thăng. Sau khi hết phim trong máy, tôi bỏ máy quay phim xuống, giúp người xạ thủ châm hỏa châu. Lúc ấy trực thăng đang bay qua vùng quê, hướng đến biển Nam Hải và đến hạm đội Hoa Kỳ.
Sáng hôm sau, trên tàu Blue Ridge tôi thấy vô số trực thăng Việt Nam bay tới, quần trên biển. Quá nhiều trực thăng, họ không thể hạ hết lên sàn tàu, nên cứ bay lởn vởn quanh chiếc tàu chẳng khác đàn ong. Khi hạ xuống họ nhảy ra, chiếc trực thăng được lật nhào xuống biển.
Tất cả các viên chức toà Đại sứ , cũng như các nhân viên Trung ương Tình báo và nhân viên Văn phòng Tùy viên Quân sự đều ở trên chiếc Blue Ridge. Họ lúng túng sỉ vả rằng chính là giới báo chí đã gây ra thất trận. Ngay lúc ấy, họ đã nói nước Mỹ thua trận vì chúng tôi. Viên trưởng nhiệm sở Trung ương Tình báo Thomas Polgar là kẻ nói ra mồm nhiều nhất. Ông ta không ưa bọn tôi. Tướng Kỳ cũng có mặt trên tàu Blue Ridge. Ông ta vẫn vênh váo. Vẻ tự mãn của ông ta làm bọn tôi phát bịnh. Ông ta là triệu triệu phú, một trong những người nhũng lạm nhất hạng. Cố nhiên, ông đã ra khỏi xứ với những người thân tín của ông ta.
Cách đây chẳng bao lâu tôi đã đến viếng thăm đài Chiến Sĩ Trận Vong cuộc chiến Việt Nam với 57,000 cái tên. Tôi rất buồn, bởi vì tôi nhận ra rằng chúng ta đã hy sinh biết bao nhân mạng một cách vô ích. Tôi kinh tởm chiến tranh. Tôi rất thù ghét chiến tranh.
Tôi nghĩ vào giai đoạn cuối ấy, những người làm tin truyền hình chúng tôi đã nói lên tất cả sự thực về Việt Nam. Những gì mà giới quân sự phản đối – tuy tôi không nói tất cả mọi người trong giới này – đó là chúng tôi đã trình bày cho khán giả chương trình CBS Tin Tức Buổi Chiều những nỗi kinh sợ có thực của chiến cuộc, trình bày sự vô ích của vấn đề Việt Nam. Người ta buộc tôi rằng có vài thông tín viên đã dàn cảnh một số hình ảnh. Tôi không biết chuyện ấy. Nhưng tôi biết rõ một chuyện. Đó là bất kể quan điểm người ta thế nào, nhưng người ta vẫn thấy thực tế là có các nạn nhân bị bom xăng đặc na-pan, có những thanh niên Mỹ đã chết trên tay đồng đội. Và những chuyện ấy có thực, chẳng ai dàn cảnh. Đó là thực tế cuộc chiến. Tôi nghĩ chúng tôi quả đã thay đổi nhãn quan người Mỹ về cuộc chiến. Nhung chúng tôi không làm công việc ấy một cách khinh suất và thâm hiểm. Chúng tôi làm công việc ấy, chỉ vì đấy chính là sự thực đã diễn ra.
JOHN DEGLER, (Nhiếp ảnh viên tàu U.S.S. Midway) Khi chiến dịch di tản “Frequent Wind” bắt đầu ngày 29 tháng Tư, chúng tôi đều ở trong một trạng thái kích xúc tinh thần. Mặc dầu cảm giác kích xúc ấy được kiểm soát, chúng tôi vẫn thấy căng thẳng, vì chắc chắn chiến dịch này là một chiến dịch hết sức đặc biệt, nó ở ngoài mức độ bình thường. Chúng tôi đều là thành viên của một lực lượng đặc nhiệm khổng lồ. Suốt đời, tôi chưa hề có dịp chứng kiến cảnh tượng có nhiều chiến hạm đến như thế và đều tập trung vào cùng một chỗ như trong những ngày cuối tháng Tư năm ấy tại biển Nam Hải.
Nhiệm vụ của tôi bấy giờ là thu hình chiến dịch để lưu trữ trong hồ sơ của tàu. Sau ngày đầu tiên, mệt nhoài, nhưng tôi nghĩ tôi đã làm một công việc tốt đẹp.
Vào sáng sớm ngày 30 tháng Tư, tôi đứng trên từng năm để thu hình tàu (từng năm là boong thứ năm kể từ boong chính). Người sĩ quan phụ tá đứng cạnh trong lúc tôi quay phim. Tôi đưa máy lướt qua chân trời bỗng thấy một cái gì như bụi lốm đốm trên ống kính. Tôi quay máy lại, lau bụi bám trên mặt kính rồi hướng máy về lại chân trời. Đầu tiên, tôi thấy một cái gì như đàn ong khổng lồ đang vượt qua mặt nước, hướng về phía chúng tôi. Nhưng khi đến gần, hoá ra là chi chít những chiếc trực thăng Hueys. Tôi bước lui, đụng phải người sĩ quan phụ tá. Anh cũng đang chăm chăm nhìn những chiếc Hueys mà nói: “Cái quỷ quái gì thế?” Rồi anh ta bảo: “Ôi, Chúa ơi” và rời khỏi từng thứ năm.
Cảnh tượng thực phi thường, bởi lẽ đột nhiên cùng một lúc tất cả những chiếc trực thăng kia bay tụ về hạm đội. Họ không liên lạc vô tuyến, không hề báo trước. Trong khoảnh khắc chúng tôi lo ngại không rõ đây là bạn hay địch. Thế rồi những chiếc Hueys rà rà bay đến, mọi người trên boong la ó, vẫy tay ra hiệu đuổi họ đi. Nhưng rồi mọi người chạy tứ tán: trực thăng bắt đầu hạ xuống. Bất cứ chỗ nào trống, họ hạ cánh. Sự rối loạn tập thể diễn ra. Mọi việc xảy ra gần như người ta muốn bảo: “Kệ các ông nói gì thì nói, chúng tôi cứ đến.”
Tất cả đều đã được theo đúng kế hoạch – cho đến giây phút ấy. Tôi bắt đầu cho chạy máy quay phim để thu hình những chiếc Hueys đang tiến đến gần. Rồi đột nhiên, tôi cảm thấy một luồng gió nóng ngay sau lưng, và tiếng “hụp, hụp” của cánh quạt trực thăng Hueys. Tôi quay lại, thì ngay sau lưng, những lưỡi cánh quạt đang quay tít, chỉ cách tôi từ sáu đến mười bộ Anh. Tôi có thể thấy rõ cả mắt viên phi công. Anh chàng này đang cố hạ xuống giữa một chiếc cần trục khổng lồ và mé thành tàu. Bấy giờ vì chiếc tàu lắc lư và những cơn gió mạnh cuốn đến, chiếc trực thăng chao đảo trong không trung hệt như một chú ong ngớ ngẩn. Tôi gần va phải sàn tàu, tôi biết không cách gì người phi công này có thể hạ xuống một khoảng hẹp như thế trong cơn gió. Thế mà anh ta vẫn cố hạ xuống.
Sau cùng, anh ta cho trực thăng lui ra. Bên dưới, người ta hoảng hốt vẫy tay làm hiệu cho anh tránh đi, vì nếu chiếc máy bay rớt xuống thì tất cả công tác di tản sẽ rối rắm, chiếc máy bay sẽ sát hại không ít nhân mạng trên tàu. Anh ta vừa lùi sang hướng khác, lập tức người ta dùng một chiếc trực thăng trên tàu để trấn ngay khoảng trống ấy hầu cho những chiếc khác đừng cố hạ xuống chỗ này.
Hình minh họa
Cảnh những chiếc Hueys hạ cánh thực không tin nổi. Những chiếc trực thăng nhồi nhét chật ních đàn bà, trẻ con. Có một chiếc, tôi sẽ không bao giờ quên, đã chất đến 53 người, chưa kể viên phi công chính và phi công phụ.
Tôi thu hình một trong những chiếc Hueys đầu tiên hạ xuống tàu. Cảnh tượng này có chút khôi hài: Viên phi công nhảy ra, đến nói chuyện với thủy thủ đoàn. Tất cả đều chăm chú nhìn vào một chiếc bản đồ. Chỉ có trời biết họ nhìn bản đồ làm gì. Trông cảnh này, có vẻ như các thủy thủ đang cố giải thích cho viên phi công hiểu là anh ta đã đi lạc, cần phải quay trở lại. Thật tức cười!
Sau khi những chiếc Hueys đáp xuống, lập tức Thủy quân Lục chiến tiến đến khoá trục quay cánh quạt, tước khí giới hành khách. Chúng tôi lúc ấy rất sợ xảy ra chuyện có kẻ phá hoại chiến dịch di tản, và nếu xảy ra thì chả cách nào chặn lại. Với quá nhiều trực thăng Hueys đổ xuống như vậy, giả thử chỉ một chiếc chở chất nổ bay đến, sức phá hoại sẽ gây thiệt hại khôn lường.
Để săn sóc cho những người tỵ nạn, chúng tôi vội vã tổ chức mọi thứ. Chúng tôi cố sắp đặt trật tự trên sàn trực thăng hạ cánh. Nhất thời, chúng tôi gặp nhiều trở ngại không lường. Các cánh quạt trực thăng quá mạnh, những người Việt lại nhỏ con, một vài người đầu tiên bị thổi trượt ngã, bay sang phía bên kia boong tàu. Do đó để giữ an toàn, chúng tôi sử dụng giây thừng để hướng dẫn, lúc họ rời trực thăng thì nắm lấy băng qua boong tàu, xuống dưới cầu thang đến trung tâm làm thủ tục. Phương pháp này giúp họ an toàn qua boong, giữ cho họ khỏi bị những chiếc trực thăng khác đụng, đồng thời ngăn ngừa việc đám đông tụ lại ở một điểm trên boong. Khi người ta dắt họ đi băng qua boong bằng sợi giây thừng, họ giống như một đàn sâu tiến ra khỏi những chiếc Hueys mà đến phía thành tàu.
Suốt hai ngày trong chiến dịch “Frequent Wind” tôi hoàn toàn đắm vùi vào công tác di tản. Tôi biết đây chính là lịch sử. Tôi biết giá trị cao độ của công tác thu hình tôi đang phụ trách, nó chẳng khác công cuộc quay cuốn phim vĩ đại “Chiến thắng ngoài biển cả.” Tôi hy vọng một ngày kia những tài liệu tôi thu được có thể đem sử dụng cho một cuốn phim tương tự. Vì vậy tôi làm công tác một cách hăng say, thâu tất cả mọi thứ vào phim. Nhưng tất cả mọi thứ chỉ đều được tôi nhìn qua ống kính, qua các góc độ và ánh sáng. Cho đến khi có một chi tiết đặc biệt xảy ra. Ấy là lúc tôi quyết định theo một nhóm người để thu hình, từ lúc trực thăng hạ cánh xuống, lúc người ta ra khỏi boong tàu, lúc làm thủ tục, khám xét, ăn uống, rồi theo một trực thăng khác để đưa sang một chiếc tàu khác nữa trong hạm đội.
Lúc ấy tôi chọn một chiếc trực thăng vừa bay tới. Chỉ một giây sau khi chiếc này hạ cánh, tôi tiến ngay đến thu hình những người vừa xuống tàu. Tôi thu hình họ bước ra, trao vũ khí mang theo, rồi được hướng dẫn băng ngang sàn bay. Tôi tiến theo họ đi dọc con tàu, lùi lại đầu kia sàn bay, nơi có một chiếc trực thăng đưa họ sang tàu khác. Tôi hạ mình thấp xuống để bắt hình ảnh họ bước lên trực thăng, cái cầu kéo lên, chiếc trực thăng cất cánh. Khi chiếc trực thăng cất lên, tôi vẫn nằm dài trên sàn bay tiếp tục thu hình, tôi cảm thấy bị sức quạt đẩy tuột về cuối sàn bay. Tôi bị đẩy suốt sàn tàu, mắc lại phía cuối, một chân thòng qua mé tàu. Tôi vẫn tiếp tục quay. Cho đến khi chiếc trực thăng đi khỏi, hạ máy xuống, mới bắt đầu nghĩ: “Chết chửa làm gì thế.” Tôi hoàn toàn quên bẵng mối an nguy của tôi, tôi đã thu hình với tất cả cảm giác về những người tỵ nạn kia. Đúng lúc ấy tôi mới chợt nhận thức tất cả ý nghĩa việc ấy, cái ý nghĩa thực sự của nó. Ngay lúc ấy, tôi đã ở trong trạng thái bàng hoàng về những hoạt động liên tục, những kích thích, vội vã, tiếng rú động cơ, sức đẩy của cánh quạt, tiếng quay của cánh trực thăng bay vào, bay ra. Nhưng đột nhiên tất cả chợt đập mạnh vào nhận thức tôi, tôi hiểu ý nghĩa của nó là gì. Chúng tôi đương cứu người. Tất cả những con người này đang tơi tả vì đất nước họ. Tất cả những nỗi thống khổ đang hiện rõ trên mặt họ. Rất nhiều người trong bọn họ đã rời quê cha đất tổ chỉ giây phút trước khi cái chết chụp lấy. Khi tất cả các công tác này xong xuôi, chúng tôi sẽ có một mái nhà để trở về, nhưng họ thì không. Vào lúc ấy, tôi hiểu tôi đang thâu hình những giây phút đầu tiên của một cuộc đời hoàn toàn xa lạ sẽ dành cho những con người khốn khổ này đây. Tôi rất hãnh diện về công việc mà tôi đã phụ trách. Tất cả những người làm việc trên tàu Midway đều tràn ngập niềm hãnh diện sau khi công tác hoàn tất. Chúng tôi nhận ra chúng tôi đã cứu được một số không ít những người đang lâm tình trạng hiểm nghèo. Chúng tôi đã làm được một điều chưa từng làm trước đây. Mỗi nhân viên trên tàu, từ sàn bay đến hầm máy, chúng tôi đều hãnh diện đã làm việc chung trong cùng một tập thể, chúng tôi đã thành công.
Hình minh hoạ
Sự nhận thức đó giúp chúng tôi gắn bó nhau. Có lẽ người ta khó cảm thấu được điều ấy trừ khi người ta thực sự trải qua.
Chỉ trong vài giờ đồng hồ, con tàu đã trở nên một thành phố chứa hàng ngàn người tỵ nạn. Chúng tôi săn sóc giúp đỡ họ, cung cấp cho họ đồ ăn thức uống, thuốc men và tiện ích vệ sinh. Các thủy thủ đã nhường chính giường mình cho người tỵ nạn nằm nghỉ khi họ có mặt trên tàu chúng tôi. Chúng tôi dành cho họ những sự đối xử vương giả. Tôi tìm cách nói chuyện với vài người, hỏi họ từ đâu đến. Họ hết sức khiêm tốn, biết ơn và sợ sệt. Họ luôn luôn nhắc đi nhắc lại nhiều lần những lời “Cảm ơn. Cảm ơn.” Mỗi khi chúng tôi biếu một thứ gì, hoặc đối xử lịch thiệp, họ lại tràn ngập chúng tôi với những lời cảm ơn.
Tôi cũng chứng kiến rất nhiều nước mắt ràn rụa trên mặt người tỵ nạn. Nhiều người ôm ghì lấy nhau khi tìm ra bạn hữu đến được tàu Midway. Ngày hôm đó, biết bao xúc động biểu lộ trên con tàu.
Vào giờ phút cuối của chiến dịch di tản, chúng tôi gói ghém mọi thứ, sẵn sàng rời khu vực. Tất cả đều đã được sắp xếp ngăn nắp. Trực thăng đều đã đặt vào hàng lối trên tàu. Thế rồi, đúng giây phút cuối cùng ấy, một chiếc máy bay nhỏ bé đơn độc hiện ra trên bầu trời.
Khi chúng tôi đang ngồi trên con tàu ở vùng biển Nam Hải, anh chàng này bất ngờ chẳng rõ từ đâu bay tới. Anh ta cho chiếc máy bay lượn vài vòng chung quanh con tàu. Chúng tôi không rõ anh là ai, muốn gì, vì lẽ không có máy vô tuyến để liên lạc với anh ta. Cứ mỗi lần lượn qua, anh ta lại ném một vật xuống. Ba lần hụt sàn. Đến lần thứ tư, anh ta ném một cái mỏ lết vặn đinh ốc, cái mỏ lết rơi trên sàn tàu. Buộc quanh mỏ lết là một tấm giấy viết ghi chú. Tấm giấy nói rằng anh ta là Thiếu tá Bường, anh ta có vợ năm con trong chiếc máy bay nhỏ này, anh ta muốn hạ cánh xuống sàn bay chúng tôi. Cái máy bay của anh giống như một chiếc Cessna nhỏ, loại O-1.
Ngay khi được tin, Thuyền trưởng lập tức huy động chúng tôi bắt tay vào việc. Trong vòng ba mươi phút, chúng tôi dồn tất cả trực thăng và máy bay lên mũi tàu để trống sàn bay cho Thiếu tá Bường hạ cánh. Tất cả mọi người trên tàu đều hiểu việc hạ cánh này nguy hiểm thế nào. Đó là một chiếc máy bay quá nhỏ, chở quá nặng, con tàu lại đang chòng chành giữa đại dương. Tất cả mọi người hăng hái dọn dẹp để giúp anh hạ cánh dễ dàng hơn, nhưng cuối cùng, chính anh mới là người phải tự đương đầu việc hạ cánh máy bay. Tôi mở máy chuẩn bị thâu hình lúc anh ta bay xuống, chắc chắn chờ đợi một vụ rớt máy bay xảy ra. Nhưng rồi anh ta trôi lượn đến như một cánh chim. Máy bay nẩy lên hai lần, lăn chậm và dừng lại. Lúc ấy tất cả mọi người trên tàu ùa lên hò reo hoan hô. Chúng tôi vỗ tay, nhảy cỡn, chúng tôi quá vui mừng cho anh
Hình minh họa
Cả một đám người ào đến vây lấy chiếc máy bay, vừa vỗ tay vừa cười vang. Đám người kéo đến mỗi lúc một đông. Tôi vác máy quay phim chạy đến thu hình anh bước ra khỏi chiếc máy bay. Trong lúc anh ta đang giúp vợ và mấy đứa con bước ra, một người la lên: “Ê! Cậu học lái máy bay ở đâu vậy?” Anh chàng quay mình lại, đáp: “Texas!” Thế là cả đám đông ồ lên la ó. Chúng tôi mừng vui điên lên về anh chàng ấy.
Đấy là kết thúc chiến dịch di tản – cuộc hạ cánh của Thiếu tá Bường. Đấy là một kết thúc vui vẻ. Chúng tôi không thể nào trù liệu được cách gì tốt hơn nữa. Đấy là một chiến thắng nho nhỏ khá tốt đẹp vào giây phút cuối cùng.
Ngày ấy, tôi mới hai mươi bốn tuổi đầu. Kinh nghiệm này làm tôi thay đổi sâu đậm hơn. Trước kia tôi đã từng trải qua nhiều việc, nhưng chỉ những ngày ở ngoài khơi nước Việt mới thực sự mở mắt cho tôi. Tôi đã chứng kiến cuộc đời của những con người khác, nó đánh thức tôi dậy, nó làm tôi hiểu trên thế giới này có nhiều nơi có nhiều việc đáng khiếp sợ xảy ra. Là một người Mỹ, tôi chưa từng bao giờ có thể tưởng được những việc như thế xảy cho con người.
Sau chuyến đi, tôi có một sức mạnh mới. Tôi nghĩ tất cả những người làm việc trên tàu Midway chúng tôi đều có một sức mạnh mới. Chúng tôi khám phá rằng chúng tôi có đủ khả năng hoàn tất công việc nếu chúng tôi được giao phó. Sau những ngày ấy, chúng tôi đều trở nên trưởng thành. Tốt đẹp hơn hết thảy, là khi công tác hoàn tất, chúng tôi biết chúng tôi là những người thiện hảo, chúng tôi đến để cứu nguy. Chúng tôi đã làm những gì đúng đắn.
Khi trở về, chẳng ai nghênh đón. Nhưng bây giờ nghĩ lại, tôi ước chi người ta đã ra nghênh đón chúng tôi. Bởi vì, ước chi có được nhiều người hơn có thể biết đến những gì chúng tôi đã làm ở ngoài khơi nước Việt vào những ngày cuối cùng của tháng Tư năm ấy.
Ông già Randy bán hot dog trên chiếc xe đẩy bằng nhôm sạch sẽ ở góc đường Washington, ngay khu đi bộ downtown Boston, sát cửa tiệm Macy, tới Halloween này là chẵn 15 năm.
Mỗi ngày, mùa nào cũng vậy, 9 giờ sáng là ông Randy đã đứng đó với chiếc xe nồng mùi xúc xích bò ướp tỏi, hot dog Ba Lan thơm lựng.
– Hi, Randy!
Bà Rosa, bán hàng ở cửa tiệm nữ trang, đồng hồ xéo bên kia đường đưa tay chào:
– Ok! Một xúc xích Ý, lớn, nướng thật cháy, không bỏ tỏi chua như thường lệ, lúc 12 giờ!
Ông Randy, vừa chào vừa nói, tay đảo mấy cái xúc xích trên lò:
– Bà có một ngày thật đẹp! Chúa ở với bà!
Bà Rosa mập mạp, bước tới bỏ tờ $20 vô hộp giấy, cười thật điệu, nụ cười ỡm ờ của người lớn tuổi, không chồng:
– Cha ơi, tôi cần đàn ông ở với tôi. Không phải Chúa! Giữ lấy tiền thối!
– Cám ơn!
– Hello Randy!
– Hi, Nicky!
Vicky ẹo ẹo bước tới, đưa tay điệu đàng như đứa con gái:
– Nhớ 2 cái xúc xích bò nhe cưng!
Ông Randy cười, Vicky cũng bỏ vô hộp giấy $20, ẹo ẹo băng qua đường, vô tiệm áo quần thời trang.
Ông cảnh sát ở trạm thường trực ngay đường xe điện ngầm:
– Randy! Một dog và coke.
– Hi, chưa về à? Randy hỏi.
– Chưa. Mấy ngày gần Halloween hay lộn xộn. Bữa nay tao trực tới 10 giờ tối.
Randy đưa gói giấy hot dog và lon coke cho người cảnh sát:
Hôm nay không khí như nghẹt lại dưới những đám mây xám, một ngày tháng 10 không đẹp của Boston. Halloween nào cũng vậy, làm như ma quỷ hiện về nhiều quá nên giăng ám khí đầy trời, mấy cây đèn đường cứ nèn nẹt khét mùi điện cháy.
3 giờ chiều, hơn 20 bao chips đủ loại sạch trơn.
Nancy, cô gái trẻ, bán mỹ phẩm trong cửa hàng Macy, cười:
– Randy, ông làm tôi tăng ký vì mấy bao khoai lang khô.
Randy cười, đưa tay lên trời:
– Alah, chips là của tui. Cô ăn là do ý Chúa.
Nancy cười, lấy bao chip khoai lang, biến sau cửa kính.
Giờ ăn nhẹ tấp nập với những người làm việc quanh khu này, Randy có một ngày đắt hàng như mọi ngày.
Vắng khách, ông Randy kéo chiếc ghế vải, đúng lúc đang khom người định ngả lưng thì anh ta, người đàn ông trẻ mặc quần áo lính, đội nón vải đi rừng, quấn mình trong chiếc mền loang những vết nâu đậm, đã ngồi thù lù ở đó, ngay góc cửa tiệm Macy, cách Randy chừng 20 feet.
Randy nghi ngại hỏi:
– Hi, khỏe không?
– Cám ơn. Tôi không bao giờ khỏe. Ông thì sao? Buôn bán phát đạt?
Randy nhún vai:
– Yeah! Một ngày như hôm qua.
Randy ngồi xuống ghế vải, có thì giờ nhìn người lạ rõ hơn.
Anh còn trẻ, tóc tai như nùi giẻ chùi nhà nhét trong chiếc nón vải đi rừng sụp xuống che đôi mắt đen mệt mỏi trên khuôn mặt trắng xanh có những vệt xám ám khói. Chắc là mấy tay cựu chiến binh hồi hương bụi đời thường thấy trên khu downtown chứ gì. Randy nghĩ vậy.
– Du lịch?
Randy hỏi.
– Không, lính rừng. Ngồi chơi.
– Góc này buồn thiu.
– Nhưng tôi thích.
Anh cười.
– Xin lỗi, tôi là Mark.
– Randy.
– Tôi biết.
– Hê, sao biết?
Anh nhún vai:
– Tự nhiên. Ở đây ai cũng biết.
Mấy người khách tới, Randy bán buổi chiều ngon lành, hộp xúc xích bò 20 cây sạch trơn.
– Ông bán đắt hàng quá.
– Ô, ngày may mắn. Mấy người thích ăn xúc xích bò ướp tỏi của Ý, mình bán rẻ hơn người khác 50 xu. Hơn nữa, chắc họ thấy lớn tuổi, thương tình.
Ông lau tay, quay lại:
– Anh có muốn làm một cái xúc xích Ý không?
Mark cười nhẹ dưới vành nón:
– Tôi không tiền, xin lỗi tôi không xài tiền!
– Tôi mời.
– Cám ơn tôi không ăn được.
– Không ăn được? Anh ăn chay?
Mark cúi mặt:
– Không.
Ông Randy cười:
– Vậy tui ăn. Anh uống gì? Làm ly coke đi.
– Tôi cũng không uống.
Randy đứng dậy, đưa 2 tay lên, bất mãn:
– Không ăn, không uống. Anh nên coi lại mình! Man, cây trụ điện còn phải uống nước tiểu của chó đái mà.
Mark cười, tiếng cười như xe gắn máy nghẹt ống bô. Dãy đèn hiệu của tiệm đồng hồ bên kia đường bỗng chớp nháy, mùi kim loại cháy lại bốc lên.
Ông Randy bắt đầu thu dọn.
Ðã 8 giờ tối, trời tháng 10 se lạnh, ông khoác chiếc jacket, quay lại, định chào Mark. Nhưng Mark đã không còn ở đó, ngay góc Macy chỉ là đống mền dù.
– Có thể nó đi ăn phố Tàu. Cũng có thể ra đó làm một màn chích choác. Mẹ, ai biết.
Hôm sau, đúng ngày Halloween, ông Randy dọn hàng như mọi ngày, chỉ khác là bữa nay ông có thêm hai thau đủ thứ kẹo cho tụi nhóc con tối nay. Mấy người khách du lịch đi ngang, nhìn nhìn, bỏ đi.
Như mọi năm, ngày Halloween lúc nào cũng ế, chắc là ngày ma quỷ, con người biếng ăn.
3 giờ chiều. Ông Randy tắt lò nướng, uống hết ly trà đá, lim dim ngả người ra ghế vải định nhắm mắt vài phút, thì có tiếng điện xẹt xè xè.
Một giọng nói lạnh ngắt:
– Hello, ông Randy!
Ông bật dậy. Mark như đã ngồi trong đống mền dù từ bao giờ, anh nhìn ông với đôi mắt cá ươn:
– Bữa nay ế phải không?
Ông nhún vai, Mark tiếp:
– Halloween mà! Người ta dành cho ma quỷ ăn.
Lần đầu tiên ông Randy thấy Mark cười, nhe hàm răng trắng.
Ông kéo ghế gần bên Mark:
– Hê, dân bụi đời?
– Ừ. Không nơi nương tựa.
Mark buồn bã.
– Không một nơi trú thân.
Ông Randy thở dài.
Mark nói, tiếng của anh nghe như bản lề cửa khô nhớt.
– Mới năm rồi…
o O o
Tiểu đoàn Ranger của anh đóng tại trại Pratt, thuộc vành đai đầy núi đá và đèo quanh co ở thành phố Mazar-e-Sharif với trách nhiệm truy lùng, tiêu diệt hang ổ của Taliban và những căn cứ mật phía biên giới Ðông Bắc, sát Pakistan. Lần nào tiểu đội 6 A của Mark đi tuần vòng đai, họ cũng ghé tiệm tạp hóa trong khu làng nhỏ sát chân đèo Termez, nghỉ và dò la tin tức của bọn Taliban.
– Chào Esin.
– Chào các anh.
Esin là con gái bà chủ quán góa chồng (hoặc có chồng chạy theo Taliban), cô 17 tuổi, đẹp hơ hớ giữa vùng núi đá khô hốc Mazar-e-Sharif này.
Mark phải lòng, anh hay nói chuyện và cho cô vài bao thuốc lá (dù anh chưa bao giờ thấy cô hút), mấy bao kẹo chocolat, chai whiskey.
– Esin khỏe không?
Esin cúi xuống ho, bộ ngực căng cứng dưới tấm khăn choàng mỏng như mạng nhện.
– Em ho, khó thở vì bị lạnh mỗi đêm.
Vậy là 2 ngày sau.
– Ðây, mền và đồ ấm, thuốc ho cho em.
Mark đã vi phạm điều lệ của quân đội, tiếp tế cho dân vùng địch, nhưng anh không quan tâm vì Mark yêu Esin.
Toán trưởng, đại úy Andy đã cảnh cáo, nhưng ông thông cảm vì số vật liệu cung cấp cho Esin không là bao nhiêu.
– Mark, Ðừng làm chuyện tầm phào.
– Tội nghiệp, nhà cổ nghèo.
– Cả khu này ai cũng nghèo như nhau.
Andy cúi xuống Mark:
– Tụi nó làm tuồng để sống bám vô quân đội Mỹ.
Ông nổi nóng:
– Mẹ, mình phải nuôi báo cô mà lúc nào cũng nơm nớp… Hở ra là nó chơi B-40 vô mặt mình.
Chỉ tay vô Mark:
– Bao nhiêu thằng con đã “rửa chân” vì tụi nó…
Andy bỏ ra ngoài.
o O o
Ông Randy kéo chiếc ghế, lấy cây xúc xích bò, cuốn trong giấy nhôm, kéo tủ, lôi chai Vodka nhỏ bọc trong bao vải:
– Làm một chút, nghe chuyện lính tráng của mầy.
o O o
… Hôm sau lại đi tuần tra dưới cái nắng khét da, tiểu đội ghé tiệm của Esin.
– Chào các anh.
– Chào Esin.
Cô rất ưu ái Mark, mang ra một miếng dưa hấu to và bình nước trà pha sữa dê, kiểu Ả Rập:
– Mời anh.
Mark định trả tiền, Esin ngăn tay.
Và chỉ như vậy, 3 tháng sau, 2 người rớt vô tình yêu. Lần mặn nồng nhất là Mark hôn Esin lúc cô đang ngậm miếng dưa hấu của Mark mời, cô nghẹn thở, trợn mắt, Mark có cớ làm cấp cứu, và hôn cô tới tấp, cả tiểu đội cười, riêng Esin vẫn trợn mắt nhìn Mark vì phong tục khó khăn của dân Afghanistan trong quan hệ trai gái.
– Hê, Mark, tới đây.
Andy gọi, Mark ngồi xuống.
Andy nhỏ giọng:
– Quân báo cho biết, Taliban ở vùng đèo Termez có cấp số đại đội.
Mark nhún vai:
– Mình vẫn đập tụi nó như thường.
– Không phải chuyện đập. Họ tình nghi lão Shahram là chỉ huy.
– Thì xơi luôn cha đó.
– Nhưng lão chột Shahram là người cha thất tung của Esin.
Mark há miệng, Andy tống thêm:
– Mà anh lại dan díu với Esin.
Andy ngồi xuống ghế, nhìn chằm chằm vô mặt Mark.
Mark đóng miệng, nhìn chằm chằm vô mặt Andy.
Yên lặng…
Cùng lúc đó, tại một hang núi đá gần đèo Termez.
Ba máy đèn chạy bình rải ánh sáng xám xanh yếu ớt trên mặt của vài chục tay chiến binh Taliban, đầu quấn khăn đen, mình trùm vải xô, như con bù nhìn di động, những ánh mắt đỏ ngầu, môi che không hết mấy hàm răng đen ố vàng vì nhựa thuốc phiện. Một đống giẻ rách khác từ hốc đá bước ra, tay đưa cao khẩu AK báng xếp, bầy Taliban rú lên như gặp Alah tới ăn cháo khuya.
Giọng rè rè:
– Alah sẽ trợ lực cho chúng ta hốt ổ bọn Mỹ ở trại Pratt của Mazar-e-Sharif trong chiến dịch hành quân vào tuần tới.
Ðám Taliban lại rú lên. Bỗng ánh sáng tắt ngúm.
Tiếng lao xao “Chuyện gì?” “Tại sao vậy?”.
Tiếng trả lời thật lớn:
– Mẹ, hết bình.
Khuya đó, Esin được 2 người chở bằng xe tải nhỏ tới căn hầm mù mờ trong núi đá. Người đàn ông bịt mặt đã ngồi sẵn trên gối.
Ông đưa tay mời Esin ngồi, hai người cùng gỡ khăn.
Esin buột miệng:
– Alah!
Cô nhào tới ôm người đàn ông râu quai nón dài.
Không phải Alah, ông là Shahram, người cha bỏ nhà bao nhiêu năm theo Taliban của cô. Tất nhiên là vui mừng và tỉ tê kể lể…
Sau màn ăn uống phủ phê, Shahram đưa con gái vô phòng bên, bàn luận cả giờ. Chỉ biết Esin buồn thiu, thút thít khóc khi người tài xế đưa về nhà…
o O o
…Bốn đứa trẻ hóa trang, cùng đi với mẹ đứng trước xe, ông Randy chìa ra hai chiếc thau kẹo.
– Cám ơn ông Randy.
Ông Randy quay qua:
– Như vậy là nguồn tin từ quân báo rất chính xác.
– Tất nhiên, nhưng lại rắc rối cho tôi.
o O o
Từ đó mỗi lần vô tiệm của Esin, mọi người dè chừng nhìn cô ta như một tay sát thủ Taliban. Taliban bắt đầu có những trận đánh du kích, pháo chạy (gài pháo tự động rồi chạy) phục kích quanh khu này.
Một hôm ghé Esin, mọi người ngồi ngoài nhà, chỉ có Mark vô trong.
Esin rót một ly trà sữa dê, Mark đưa cho cô gói áo quần, thuốc men anh tự mua tại đơn vị. Anh ôm Esin:
– Khi về nước, anh sẽ làm bảo lãnh hôn thê cho em, và tụi mình sẽ đoàn tụ tại Mỹ.
Mặt Esin buồn như sắp chết, cô không nói năng gì, chỉ hôn đôi mắt của Mark:
– Em cảm ơn anh.
Cô ôm đầu Mark vào lòng:
– Những ngày tới Taliban sẽ đánh mạnh.
Giọt nước mắt rơi trên má Esin.
– Nói với tiểu đoàn, đề phòng khi tới đèo Termez…
Cô lắc đầu:
– Nguy vô cùng…
o O o
– Vậy thì Esin dễ thương quá! Cô giúp lính Mỹ.
Ông Randy hào hứng.
Mark từ tốn:
– Ðúng!
– Nên anh mang cô về nước.
– Ðó chỉ là dự định.
– Nhưng là bằng chứng của tình yêu.
Hai đứa nhóc ghé vô.
Ông Randy đưa thau kẹo.
– Cám ơn ông.
Ðã 7 giờ tối, ông Randy tắt lò nướng, dọn dẹp qua loa, ngồi xuống ghế, lấy chai Vodka, làm một ngụm, cười hà hà:
– Mark! kể tiếp chuyện tình Romeo lính và thôn nữ Juliet của cha đi. Sắp tới đoạn chia tay mùi mẫn chưa? Nói trước cho tao khóc. Mẹ, lâu quá rồi chưa được khóc.
Mark lặng yên, ông Randy quay lại, đống mền nhúc nhích, chiếc nón đi rừng ló ra, hai con mắt trắng dã nheo lại:
– Chuyện buồn lắm.
Mark cúi mặt:
– Buồn hơn Romeo và Juliet nhiều. Chưa có cuộc chia tay nào bi thảm bằng.
– Tao không biết, xin lỗi mày.
– Nhưng vì hôm nay là Halloween…
o O o
Mark nói tiếp.
… Tuần đó, đơn vị tung ra 4 toán tuần tra, quần nát khu vực gần chân đèo Termez, nhưng bọn Taliban đã biến trong các hang núi đá chung quanh, lệnh là tuyệt đối không được xâm nhập vô hang. Ði ngang nhà của Esin, cửa đóng chặt, chỉ còn đống vỏ dưa hấu và bầy ruồi bu kín đen, Mark hoang mang, không biết Esin ra sao.
4 giờ chiều, mặt trời xuống thấp ở vùng núi đá Mazar-e-Sharif. Phòng hành quân, 3 toán Rangers chuẩn bị xuất phát.
Toán trưởng Andy:
– Các “mẹ” nghe cho rõ…
Lặng yên.
– Ðây là màn “hit & run”, đúng 5 giờ chiều, khi tụi “rệp” đang mần lễ Maghrib (cầu nguyện)
Andy đập tay xuống bàn:
– Ầm! Trực thăng MH6 thả cấp kỳ, sát đất, mình nhào vô hang A 1, ngay đèo.
Các khuôn mặt Rangers nghẹt thở.
– Chỉ đánh tới 20 feet trong hang và…
Andy lấy cái zippo trong túi quần, bật nhanh, ngọn lửa xanh lè bùng lên.
– Chơi màn hỏa công, hun khói bắt chuột.
Cả đám Ranger cười.
– Mấy “mẹ” mang mỗi người 5 trái mìn lửa sát thương, có lệnh là mần.
Andy cười.
– Mần xong chạy liền, trước khi chopper xuống thấp, chơi rốc kết thẳng vô hang.
Andy dang hai tay:
– Xong, tiễn bọn chuột về với Alah.
Nhưng chuyện không xảy ra như vậy.
5 giờ chiều hôm sau, cả trăm đứa Taliban không làm lễ Maghrib, tay chỉ huy khát máu Shahram, ba của cô gái tội nghiệp Esin, lùa đám khủng bố ra đèo Termez chơi màn phục kích hạng nặng với dã tâm tàn sát quân Ranger ngay từ đầu.
Shahram với cặp mắt đỏ như ăn ớt:
– Sau màn của Esin, tụi bay mần luôn 30 cây B40, nổ ngay 2 loạt lúc đầu, áp sát đánh lựu đạn sẽ hốt gọn tụi nó trước khi chopper yểm trợ tới.
Nhưng bên Rangers và Shahram của Taliban đều trật lất hết.
Ðúng là 3 toán Rangers và Mark đã nhảy trực thăng gần dãy núi đá, ngay vô vòng phục kích của Taliban.
“Nói với tiểu đoàn, đề phòng khi tới đèo Termez…”, Esin đã cho Mark hay, nên cuộc phục kích không gây ngạc nhiên lắm cho Ranger. Gần 20 cái hỏa tiễn cá nhân M72 đập lại.
Khói lửa vừa tan thì bên Taliban có người nhắm tuyến tác chiến của Ranger đi tới.
Mark đưa tay:
– Ngừng bắn, có chuyện!
Người đi tới quấn mình trong chiếc áo trận rằn ri của Ranger, mặt phủ khăn đen, bỗng đứng lại, rút khăn ném theo gió.
Mark rú lên:
– Esin!
Cả đám Ranger chưng hửng, Andy kéo khẩu đại liên M60 sẵn sàng bắn.
– Ðừng bắn Andy!
Mark la.
Esin nói lớn:
– Các anh hãy quay lại để còn sống, nếu tiến lên…
Esin đưa cao tay cầm chốt phát nổ, người cô như còm xuống với 2 vòng C-4 quanh người.
Esin bước thêm hai bước, cô ngừng lại:
– Các anh đang trong vòng sát thương, rút lui nhanh đi.
Tiếng cô khàn lại, nức nở:
– Mark, em sẽ không còn trên đời này. Anh chỉ có 3 giây để chạy về cõi sống.
Esin thét lên:
– Run!
Andy cũng la lớn:
– Run!
Toán Ranger bỏ chạy, riêng Mark đứng sững, anh gào lên:
– Esin!
Mark ngu ngốc nhào tới phía Esin.
Bỗng Esin quay phắt lại đám Taliban lố nhố sau những mõm đá, cô bắt đầu chạy nhanh về phía họ, phía ba cô, người đã bắt buộc cô đánh mìn hy sinh.
– Esin, Esin!
Mark như điên dại, chạy theo.
– Ầm!
o O o
Ông già Randy đang chùi lò nướng, hỏi:
– Vậy là Esin tự chết thảm?
– Ừa! Còn thêm một đám Taliban quá giang về với Alah.
Ông ngập ngừng:
– … Mark cũng đi đời luôn khi chạy theo Esin?
– Ủa, bộ ông tưởng tui còn sống à?
Ông Randy giật mình, quăng miếng vải chùi, quay lại.
Nơi Mark ngồi, chỉ còn lại tấm mền dù rách, loang những vết máu nâu khô, tấm mền mà các đồng đội đã gói xác Mark ngày nào ở đèo Termez.
Chuyện rằng: “Cô ấy dạy Toán ở thành phố Malappuram thuộc tiểu bang Kerala bên Ấn Ðộ. Một ngày nọ, học trò của cô nhìn thấy một người ăn xin gần ga xe lửa. Và sau đó, người học trò đó nhận ra người ăn xin đó đã từng dạy lớp của mình.
Cô ấy nói: “Sau khi về hưu, các con tôi đã bỏ tôi đi. Từ đó, tôi không biết về cuộc sống của chúng” Vì vậy, để sống còn, tôi bắt đầu ăn xin trước Ga xe lửa.
Nghe xong, người học trò cũ khóc và đưa cô về nhà mình. Em cho cô ấy ăn, cho cô ấy mặc.
Con của cô đã bỏ đi; nhưng những đứa trẻ ngày xưa ấy từng được cô dạy dỗ sẽ không bỏ cô. Ðó là sự vĩ đại của nghĩa ân sư.
Ở nước ta, thời triều Nguyễn, cũng có một câu chuyện cảm động như thế. Năm 1862, ông Phan Thanh Giản vào Nam nhậm chức Kinh lược sứ ba tỉnh: Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
Ðến Gia Ðịnh, ông ghé Gò Vấp thăm tôn sư Võ Trường Toản. Khi gần đến lều tranh của thầy, ông truyền xếp võng điều và lọng lại. Ông xuống đi bộ vào bái thăm thầy để hàn huyên ấm lạnh. Lúc bái tạ ra đi, ông dâng cho tôn sư hai nén bạc để uống trà. Tôn sư cho ông một chục bắp. Ông Phan Thanh Giản tự mình xách, không để lính hầu cầm. Ông đi bộ một đỗi xa mới dám lên lại võng lọng. Dẫu làm quan lớn, Kinh lược sứ ba tỉnh Miền Tây, ông Phan Thanh Giản vẫn giữ trọn đạo nghĩa tôn sư.
Nhưng sau 75, cái truyền thống đáng quý nầy trong thời quỷ lộng thần suy không còn nữa.
Chuyện rằng: “Có một ông thầy tên Xuân dạy lớp đệ tam ở một trường trung học tại một huyện thuộc Vĩnh Long. Thầy rất ngạc nhiên vì trong lớp thầy có một em học sinh lúc nào cũng ngủ gục trong lớp. Một bữa, vui miệng thầy hỏi em: “Bộ ban đêm đi đắp mô sao mà thiếu ngủ vậy?!)
Sau ngày 30 tháng Tư, đứa học trò đó làm Chủ tịch huyện. Thầy Xuân bị bắt đi học tập cải tạo trên 3 năm vì cái tội làm thầy giáo mà còn làm cho “xịa” (CIA). Nếu không làm cho CIA, thì làm sao thầy biết tối nào thằng học trò đó cũng đi đắp mô?
Ông độc giả nầy kể xong rồi còn thòng thêm câu: “Chuyện có thật 72 phần dầu đấy nhé!” Chắc ông sợ tui nghĩ làm sao có một đứa học trò trời đánh thánh đâm, tàn nhẫn với thầy cũ của mình như vậy chớ?
Nói nào ngay, nghe xong là tui tin ngay đó là chuyện thật. Vì cách nay chừng hơn chục năm, một ông Phó Giáo sư ngoài Hà Nội có kể một câu chuyện như vầy: “Có một tay đã học và đã tốt nghiệp ở một trường Ðại Học loại có tiếng ở nước ta. (Nước ta xin quý độc giả hiểu là nước VNCS). Sau khi ra trường mấy năm, không hiểu trời xui đất khiến hay tổ tiên phù hộ, độ trì gì đó mà hắn được ‘bắn’ sang một nước ngoài nào đấy sinh sống và làm ăn. Rồi nghe nói: hắn ta dần dần nổi tiếng; trở thành một đấng trượng phu?!
Cô giáo dạy toán Ấn Độ và các học trò – nguồn outlookindia
Rồi hắn muốn về nước chơi, thăm thú quê hương, mong góp sức mình cho đất nước trong thời kỳ đổi mới. Hắn về thăm lại trường xưa, vinh quy bái tổ. Hắn muốn có một cuộc ‘giao lưu’ với thầy, cô giáo cũ.
Cuộc họp cũng không ít người. Các bạn trẻ đến vì tò mò. Các thầy giáo già đến vì muốn xem mặt học trò cũ mà trước đây mình không chú ý nên không nhớ ra.
Sau vài câu xã giao thường lệ, con người thành đạt ấy dừng một lúc để mọi người tập trung chú ý và hỏi: “Ai đã từng dạy tôi thì giơ tay!”. Phòng họp đột nhiên im lặng như tờ. Không một cánh tay khẳng khiu nào giơ lên. Rồi có tiếng bàn ghế di chuyển. Các thầy cô giáo cúi đầu lẳng lặng ra về”
Ối! ông phó Giáo sư chỉ kể chuyện một con cắc ké. Tui chơi ngon hơn, tui kể chuyện con kỳ nhông. Chuyện rằng: Ông Quang Ðại tướng, Chủ tịch nước về Kim Sơn, Ninh Bình thăm thầy cũ. Cờ xí rợp trời. Kèn trống tưng bừng. Dân cả huyện, cả làng đi rước Ngài Chủ tịch nước vinh quy bái tổ.
Trò cũ lịch bịch như con vịt, vì mập quá, leo lên bục quơ tay chém gió, vừa dạy bảo các thầy cô của ngôi trường mình đã từng theo học là hãy thi đua dạy tốt và học tốt. Còn thầy cũ thì đáp từ phát biểu cảm tưởng: “Dạ thưa Ngài Chủ tịch nước! Ngày xưa, người thường hay trốn học, tụ tập với bọn chăn trâu, lấy cờ lau tập trận như ông Ðinh Bộ Lĩnh rồi làm nên nghiệp bá.”
Phùng Xuân Nhạ Bộ trưởng Giáo Dục cộng sản bắt tay thầy giáo cũ – nguồn facebook
Ông Phó Giáo sư Hà Nội chắc cũng có thấy, có nghe, có đọc chuyện tụi bồi bút viết kiếm cơm. Nhưng ông nín khe không dám phê bình ông Chủ tịch. Vì ngu sao mà chọc vô ổ kiến lửa. Ðừng xúi bậy nhe cha.
Ông Phó Giáo sư Hà Nội chỉ dám nghĩ: “Cho dù người học trò cũ có làm ông to, ăn trên ngồi trốc thì đối với người thầy cũ, mình vẫn phải khiêm cung”
Rồi ông Phó Giáo sư kể chuyện đời của tớ: “Tôi nhớ người thầy đã dạy tôi bài học tôn sư trọng đạo ấy ở ngôi trường làng”. “Thầy thường đánh vào mông tôi; mỗi khi tôi viết sai chính tả hoặc làm ồn trong lớp.” “Tôi cứ mong ước một ngày nào đó, tôi sẽ quay về đúng cái lớp học này, mở cửa bước vào. Tui không chỉ cúi đầu như ông Tổng thống nước Pháp Francois Carnot. Tôi sẽ quỳ xuống trước mặt thầy và nói: “Thưa thầy! Thầy còn nhớ con không?”.“Tôi không dám mất dạy, hỗn hào hỏi: “Ai đã từng có dạy tôi thì giơ tay lên.”
Một em độc giả thân mến của tui lại cắc cớ, thắc mắc: “Ờ tụi CS nó về thăm Thầy cũ là vậy. Còn anh, sao tui hổng thấy bài viết nào, anh thuật lại chuyện tưng bừng về thăm trường cũ hết vậy anh?
Tui cười khè khè, trả lời: “Tui giống ngài Tổng Bí Thư Lê Duẩn, chưa có đi học ngày nào thì làm sao có trường cũ, thầy cũ để về thăm để nổ, để khoe, để kêu ai từng có dạy tui thì giơ tay lên cho được?”
Hỏi thiệt ngặt, ông bạn tui mà chơi tao! Vạch cái dốt của tui ra cho thiên hạ cười? Thiệt làm tan nát lòng tui! He he!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.