This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Angela Merkel sanh ngày 17, tháng Bảy, năm 1954, ba ngày trước khi nước Việt Nam mình bị chia đôi qua lằn ranh quốc cộng, qua dòng sông Bến Hải. Angela Merkel làm Thủ tướng Đức từ ngày 22, tháng Mười Một, năm 2005 tới nay. Bà tính năm tới, năm 2020, sẽ về nhà để vui thú điền viên! Một là đã 66 tuổi, là già rồi. Một là làm Thủ tướng mệt quá xá. 15 năm là đã quá đủ, tui hổng ham đâu. (Chớ hổng tham quyền cố vị, leo lên được cái ghế là tìm cách bắt vít cái đít mình vô cái ghế; để một bước không đi một ly không rời như thằng cha Vladimir Putin độc tài của nước Nga thời hậu Cộng sản). Hai là nước Đức đâu phải có một mình Angela Merkel tài giỏi ăn trùm thiên hạ như Donald Trump của nước Mỹ đâu! Còn rất có người khác tài giỏi khác! Chẳng hạn như ông Bác sĩ chuyên khoa giải phẩu tim Philipp Rösler, (tên Việt Nam là Nguyễn Tân Định) sanh tại Khánh Hưng, tỉnh Ba Xuyên, Việt Nam ngày 24, tháng Giêng, năm 1973, vốn là một trẻ mồ côi, được nhận người Đức nhận nuôi lúc mới lên 9 tháng tuổi; đã làm tới ‘Vice Chancelor’ (Phó Thủ tướng Đức từ năm 2011-2013) đó sao? Chính vì một chế độ dân tự do dân chủ, trọng dụng người tài, lãnh tụ nước Đức không tham quyền cố vị, mình nghỉ có người khác lên thay đôi khi còn giỏi hơn nữa. Dân vi quý; xã tắc thứ chi nên không ai quyết ngồi lì! Chính vì vậy sau khi trùm phát xít Hitler tự sát, để lại một đất nước tan hoang vì bom đạn; rồi bị mấy thằng cường quốc quánh ăn, nhào vô xâu xé; chia cho mỗi thằng một miếng?! Vậy mà chỉ 60 năm sau, GDP của nước Đức thống nhứt và tự do là 3 ngàn 3 trăm tỷ USD, nền kinh tế lớn nhất Châu Âu. Thiệt đáng kể và đáng nể!
***
Thân phụ của Angela Merkel làm mục sư; mẹ là cô giáo. Angela Merkel học tới tiến sĩ Vật lý! Tiếng Anh, tiếng Nga rốp rốp như bẻ mía. Hồi mới tốt nghiệp Tiến sĩ, Angela Merkel xin vô trường đại học để tiếp tục nghiên cứu nhưng không được; vì Mật vụ Đông Đức kêu làm điềm chỉ, chỉ chọt lung tung nhưng bà không chịu. Năm 1986, được phép đi Hamburg, Tây Đức thăm bà con; bà đã tính vọt luôn rồi nhưng suy đi, nghĩ lại sợ Ba Má ở nhà bị tụi nó nhốt; nên đành phải quay trở về mà nộp mạng cho chằn? Mãi 3 năm sau, năm 1989, nghe bức tường Bá Linh sụp đổ, Angela Merkel khui một lon ‘beer’, nhậu để ăn mừng! (Cha! Lon ‘beer’ đó mới đã khát nước (nghĩa bóng) làm sao đâu?)
Rồi vật đổi sao dời, được Thủ tướng Helmut Kohl (1930-2017) dẫn dắt, Angela Merkel lên làm Thủ tướng Đức từ năm 2005. Đầu năm 2006, các cuộc thăm dò dư luận cho thấy Angela Merkel, sau 100 ngày cầm quyền, giành được sự ủng hộ cao nhất trong các Thủ tướng nước Đức kể từ năm 1949. Angela Merkel lập nhiều kỷ lục: Thủ tướng nữ đầu tiên và trẻ nhứt của Đức, kể từ sau Đệ nhị thế chiến; xuất thân từ Đông Đức! Theo tạp chí Forbes, bà là ‘number one’ trong 100 người phụ nữ quyền lực nhứt trên thế giới suốt ba năm liền 2006, 2007 và 2008. (Angela Merkel vốn là người rất hâm mộ môn túc cầu; nên nói theo kiểu đá banh là 3 năm liên tiếp bà đoạt quả bóng vàng!) Angela Merkel cũng là Thủ tướng Đức đầu tiên đi thăm nhà tù Hohenschonhausen nơi ‘Stasi’, cơ quan an ninh Đông Đức thời Xã hội Chủ nghĩa (hồi xưa đã từng cà khịa với bà) giam người một cách bí mật! Bà minh họa cho thế giới hiểu thêm về chủ nghĩa cộng sản: “Đây là ví dụ cho thấy sự tàn bạo, vi phạm nhân phẩm của con người”.
***
Sự sụp đổ của bức tường Bá Linh vào ngày mùng 9, tháng Mười Một, năm 1989, cách đây đúng 30 năm. Liên xô sụp bà chè, kéo theo hàng loạt những nước theo chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ theo. Giờ chỉ còn trụi lủi có năm chú đang rung rinh nhưng vẫn cương quyết đi theo con đường của Mác-Lê là:
1. People’s Republic of China (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) 2. Democratic People’s Republic of Korea (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên) 3. Socialist Republic of Vietnam (Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) 4. Lao People’s Democratic Republic (Laos). (Cộng hòa Dân Chủ Nhân dân Lào) 5. The Republic of Cuba (Cộng Hòa Cuba).
Năm chú nầy, ai cũng vỗ ngực xưng tên là ‘Cộng hòa’ hết rào hè?! Cộng hòa của người ta nghĩa là người dân cùng tham gia vào việc điều hành đất nước, qua bầu cử tự do. Nó hoàn toàn khác với chế độ CS độc tài, chuyên chế! Những chế độ CS độc tài chuyên chế nầy sở dĩ còn sống sót tới ngày nay là nhờ nói dóc và mị dân như câu chuyện dưới đây: “Ông Thủ tướng một nước CS về thăm một ngôi làng ở thâm sơn cùng cốc và hỏi người dân sở tại đang cần gì? “Chúng tôi cần 2 điều rất cấp thiết! Kính thưa Ngài Thủ tướng” Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã trả lời! “Điều thứ nhứt là: chúng tôi có một bệnh viện nhưng không có bác sĩ.” Khi nghe điều này, ông Thủ tướng móc điện thoại ra, sau khi nói một lúc, ông nói với họ đừng lo lắng, một bác sĩ sẽ có mặt ngay vào ngày mai!” “Còn điều thứ hai?” “Điều thứ hai thưa Ngài! Trong ngôi làng này, xưa giờ chưa có trạm chuyển sóng điện thoại để liên lạc được với các nơi khác”
***
Ngày mùng 8, tháng Bảy, năm 2014, diễn thuyết trước sinh viên tại đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, bà Angela Merkel nói: ‘Pháp luật phải bảo vệ người dân. Muốn vậy! Phải đa nguyên, đa đảng, phải tự do mới được!” Bà Angela Mekel đã sống cả một thời thanh xuân dưới sự kềm kẹp của CS Đông Đức thì rành sáu câu rồi. Bởi chữ có câu rằng: Nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Dẫu vậy, Tập đoàn Trung Nam Hải chắc hổng tay nào muốn học một bài nầy! Làm như vậy mất ghế, mất quyền, mất tiền sao? Uổng lắm!
***
Tài kinh bang tế thế của nữ Thủ tướng Angela Merkel còn lan tỏa ra khỏi biên giới nước Đức thống nhứt, xa tới năm nước CS còn lại nữa nhe! Người dân các nước nầy đã từng ước bà Thủ tướng Đức Angela Merkel thành Thủ tướng nước mình ! Rồi sau đó, bà Angela Merkel được đem ra so sánh với quý ‘lãnh đạo CS’! Họ đối với người dân chúng tôi như con giun con dế. Một đất nước quả không may khi quá nhiều lãnh tụ có tham vọng chính trị nhưng lại thiếu trầm trọng một chút tài năng! Người dân Đức may mắn có một Thủ tướng như thế! (?) Người ta thường nói: hay không bằng hên ở cái chỗ sanh ra! Làm gì có chuyện may mắn ở đây? Dân Đức hay (có hên xui may rủi gì đâu?) vì chọn được một Thủ tướng giỏi! Vì họ được quyền chọn và biết chọn! Đơn giản như 1 cộng với 1 là 2 vậy! Xin đừng theo thuyết thiên mệnh, đừng đổ thừa cho ông Trời làm đất nước mình không may; nên không có được một ‘minh quân’! Oan cho ông Trời lắm! Vì Lãnh tụ phải là con đẻ của nhân dân và từ nhân dân mà ra chớ không từ Trời rớt xuống thế thiên hành đạo gì hết ráo. Muốn có ‘minh quân’ xuất hiện thì phải tạo điều kiện cho họ ra đời chớ. Điều kiện đó giống như bà Thủ tướng Angela Merkel đã từng nói với Tập Cận Bình là: ‘Dân chủ, tự do và đa nguyên’. (Dễ ợt nhưng Tập hổng dám làm, hổng dám đua, vì đua là thua! Chạy một mình là tui về hạng nhứt!) Kinh tế thị trường cho đua mà chánh trị thì cấm; vốn theo sách của Đặng Tiểu Bình bắt dân Tàu cắm đầu cắm cỗ cày như con trâu! Làm ngu như vậy, tỉ như chiếc xe hổng xả thắng tay thì làm sao nước Tàu chạy cho ngon trớn vào tương lai cho được chớ? Tập không dám xài cái hệ thống chánh trị tiến bộ đó! Còn chú thím ba cứ cầu Trời, khẩn Phật cho ‘minh quân’ xuất hiện chỉ là chuyện nằm mơ rồi mớ! Muốn có được một lãnh tụ anh minh, yêu nước, thương nòi, có tài và đức, không phải là chuyện trên trời rớt xuống hay dưới đất nẻ chui lên. Hổng có cái vụ hên xui ở đây, mà phải làm như sinh viên Hong Kong đang can đảm đối đầu hằng mấy tháng nay với dùi cui, vòi rồng và Cảnh sát mặt nạ heo để kêu gào đòi dân chủ mới được!
Chuyện rằng: Sau một ngày lang bạt trên xa lộ quá lâu, một chú Ba tài xế xe tải rất muốn về nhà. Sống ở thủ đô Bắc Kinh, thủ đô của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, chú Ba biết giao thông sẽ rất gay go, trắc trở vào giờ cao điểm chiều nay. Còn hơn cả sự dự đoán, phía trước mặt chú là một hàng xe dài vằng vặc nhúc nhích từng centimet một. Ngơ ngác, vì chưa nghe tin tức gì, chú Ba tài xế thò đầu ra ngoài và chỉ thấy cả đoàn xe như rùa bò tiến về phía trước trong bóng chiều sắp lặn ở chân mây! Đột nhiên, một ông đến gõ cửa kiếng. Chú Ba tài xế bấm nút để hạ kiếng xuống, rồi hỏi: “Có chuyện gì xảy ra vậy?” “Bọn khủng bố Tân Cương đã cầm giữ toàn bộ đoàn Đại biểu Nhân dân Trung quốc!” “Ối giời ơi!” “Và chúng đang đòi 100 triệu đô la Mỹ tiền chuộc!” “Ối giời ơi!” “Nếu không có 100 triệu đô, chúng sẽ tẩm xăng lên người những con tin rồi châm lửa đốt” “Ối giời ơi! Xin Mao Chủ tịch mở lòng thương xót, cứu giúp dùm! ” Chú Ba tài xế xe tải thổn thức. “Ngộ đang đi từ chiếc xe nầy đến chiếc xe khác, để quyên góp.” “Trung bình mỗi người cho bao nhiêu?” Chú Ba tài xế xe tải hỏi. “Hà cái lầy! Mỗi người đã góp khoảng một chục lít xăng!”
***
Câu chuyện nầy chép trong thiên thư của Quỷ Cốc tiên sanh từ ngàn năm trước! Cuốn thiên thư nầy bị Mao Trạch Đông trong Cách mạng Văn hóa xúi bọn Hồng vệ binh châm lửa đốt. Cháy hết ráo, chỉ còn sót lại một trang cuối. Các chú thím ba đừng bỏ qua rất uổng rồi ân hận cả đời mình và cho cả cho cháu chắt đời sau! Chú, thím ba đang ở đại lục mà hiệp sức cùng nhau, một lòng quyên góp như câu chuyện kể trên là CS Trung Quốc sụp cái rụp! Mà Trung cộng đi bán muối thì mấy nước đàn em còn sót lại như Hàn cộng, Việt Cộng, Lào cộng và Cu cộng sẽ đi chầu ông bà ông vải hết trơn hè! Chắc như bắp!
Cuối năm, cơ quan phát quà cho nhân viên. Tôi giữ lại những bao thuốc lá, mấy thứ nhu yếu phẩm khác tôi mang ra chợ bán.
Buổi trưa âm u. Bao giờ cũng vậy, vào thời điểm giao mùa, huyện lỵ này thường mang thứ sắc diện sẵn lòng chôn sống niềm vui chợt le lói. Tôi nghĩ tới đứa con gái vóc vạc nhỏ thó giỏi luồn lách giữa những lối đi lầy lội có trong chợ. Có gì chú cứ trao hết cho con, con thề chẳng ăn lời của chú một tơ hào, láo chết.
Tôi lấy xe đạp ra khỏi cổng cơ quan. Cái băng-rôn đỏ có dán hàng chữ “Vui Xuân không quên nhiệm vụ” căng ngớ ngẩn cùng gió tái tê hồi sáng còn nguyên vẹn, giờ thì chữ nhiệm vụ đã đánh rơi hai dấu nặng. Chẳng biết trong bao lâu thì biến mất hẳn chữ Xuân? Thời tiết kỳ cục, mãi ui ui thế này thì cũng khó hồ hởi phấn khởi.
Tôi đứng thập thò trước chợ không lâu thì con bé hiện tới. Lạ một điều là nó luôn phát hiện, nhìn nhận ra tôi trước; trong khi tôi còn hoài nghi về cái tác hại của một sự đổi thay. Hôm nay con bé đã gần là một thiếu nữ mất rồi, ngó chưa quen mắt. Mặt nó hồng, mắt đen long lanh dưới vành nón quai lụa tím. Và ngực nữa chi, nẩy nở cựa mình sau hai ba lần áo ấm. Chỉ có tôi, soi gương không tìm thấy lạ lẫm, có nghĩa là tụt hậu. Còn chung quanh thảy điều đổi khác. Thấy tôi ngó chăm, nó cũng nhột. Có lẽ vì nhột, chữ dùng đã thôi còn chú với con. Có chi bán không, tui mua cho. Hết thề thốt, hết láo chết. Tôi đưa cái bao bố chứa toàn bộ những thứ tống khứ vào tay nó mà chẳng nói năng. Tôi chẳng biết thời giá, tôi không tự lượng định được một con số. Cái mà tôi biết duy nhất, nó không dã tâm trốn chạy, vất con bỏ chợ. Tôi từng bị người ta lừa phỉnh nhiều phen ê chề, nhưng riêng với cô bé này tôi linh cảm cô là một người tử tế. Tôi định bụng sẽ hỏi tên cô, người mà sẵn lòng mang tiền về cho tôi một cách nhanh lẹ, êm thắm.
Tôi đốt thắp một điếu thuốc. Tôi nhớ ra từ sáng tới trưa chưa có gì bỏ bụng. Tôi cố mường tượng ra cái hoạt cảnh sum vầy của gia đình mỗi khi Tết tới. Đã ba năm tôi chẳng về nhà ăn Tết, có đầm ấm không khi căn nhà đó càng lúc càng rộng thêm ra bởi phải chia tay những đồ vật. Chúng đội nón ra đi, thắt lòng kẻ ở lại, nhưng sau những đêm thức trắng, đó là giải pháp cuối cùng nhằm cầm cự, nuôi dưỡng một trông mong: ngày mai trời lại sáng. Tôi đi phương xa lao động cũng chỉ mong cho ba mẹ tôi đỡ cực lòng khi san sẻ từng hột cơm. Nghe đâu họ đã chia hơn phân nửa diện tích căn nhà để cho người ta thuê mở cửa hàng bán sửa radio và ti vi.
Trời lạnh nhưng đứa con gái tuôn mồ hôi, da mặt đỏ và môi khô khi trở lại. Tôi hỏi tên. Thường. Cô gái nói và đồng ý để tôi thồ đi kiếm cái gì lót lòng. Thường chỉ đường tới một quán ăn bình dân, giá mềm nhưng mặn mòi. Cô nói. Tui đang cần tiền tiêu Tết, hồi nãy tui tính ngoắt xe ôm dông một lèo nhưng không đành lòng. Sao chú ngác ngơ dại khờ đến thế! Tôi ngó xuống cánh tay Thường vừa đưa ra ôm eo: Thường sẽ dại khờ nếu làm vậy, bởi lần sau tôi biết nhờ ai bán giùm mình chiếc xe này. Thật à? Ở chốn này tôi chỉ biết có mỗi mình Thường để giao dịch nhờ vả, Thường tin không? Tin. Cái mặt lạ hoắc không phải là người địa phương. Giọng lại lơ lớ thế kia.
Nhà tôi ở xa và tôi chẳng tính về thăm. Tôi trả lời Thường khi nghe cô hỏi dự tính ăn Tết của tôi, làm gì, ở đâu, đình đám không, vui nhộn không. Tôi đùa: Tôi không vui xuân và tôi chả có nhiệm vụ gì sất. Thường nói cô sẽ vắng mặt đôi ba hôm, cô về làng và phụ giúp gia đình chặt mai mang lên chợ bán, như thông lệ hàng năm. Trời đất kiểu này thì đúng ý ba tui, chứ nắng nôi quá thì hoa mai chóng nở trước thời hạn quy định, xôi hỏng bỏng không.
Chúng tôi gọi món ăn giống nhau vì thực ra chẳng có gì để lựa chọn. Bà bán hàng phân bua, tại sớm quá mà, chộn rộn củi lửa phải giấc ba giờ chiều cho tới chín giờ tối. Thực khách chẳng ai nói gì, họ kiên nhẫn ngồi trên những cái ghế nhựa thấp chờ đến phiên đón lấy dĩa cơm thập cẩm. Đa số đều gầy yếu, đen đúa, dáng vẻ chịu đựng và đa số họ hành nghề điều khiến xe ôm. Tôi dự tính sẽ cố hết sức tằn tiện, dành dụm tiền để sắm một chiếc xe gắn máy đừng cũ quá, nhưng ba năm nước chảy qua cầu đã dìm ước muốn ấy sặc nước, chẳng trồi đầu lên được. Thời bây giờ, xe đạp hình như bị thu nhỏ vai trò. Bố chở con đi hóng gió, tình nhân chở nhau thong thả đạp xe về nơi quạnh vắng. Và tôi sẽ chở Thường, mang cô về lại chợ, nơi không có đất sống cho thành phần thật thà. Tôi không thích làm công nhân viên cán bộ nhà nước, tôi thích được chạy xe ôm. Tôi biết chắc một điều, rồi Thường sẽ không còn hồn nhiên đáng yêu như hôm nay. Nhân danh một kẻ đang lao động cho phòng thông tin văn hoá để nói thế. Và có lẽ, bước sang năm mới, đó là cột mốc nhằm đánh dấu một đổi thay. Xuân nay hơn hẳn xuân xưa. Người ta từng lập ngôn thế.
Thường xuống xe, cúi đầu đi vào chợ. Được hơn thước, Thường trở lui: Chú biết Hiệp Phố không? Tôi nghe tên nhưng chưa thấy mặt. Nếu đạp xe thì mất khoảng một tiếng, nằm phía Tây Nam. Tôi ngó Thường, chiếc áo ấm màu nâu tối của cô có lỗ thủng một bên vai, phai màu những nếp gấp quanh ống tay. Tôi chờ Thường nói tiếp nhưng một bạn hàng đã nhanh tay lôi cô vào chợ. Có lần tôi đã buồn miệng khi nhận ra vẻ nghi ngại có trên mặt một trong những cô gái ấy: Hãy nói tôi là đứa đầu đường xó chợ chứ đừng bao giờ nghĩ tôi là thành phần công an thuế vụ. Oan cho tôi lắm!
Tôi đạp xe, bớt thấy lạnh vì vừa được xơi cơm bụi. Đôi lúc, tôi nhận ra cái thằng người nhỏ nhen trong tôi, nó yếu đuối mãi bị miếng ăn ám ảnh. Tôi nói với Thường sẽ bán đi chiếc xe này là vì tôi nghĩ tại sao mình không có quyền bước chân vào một cửa hàng đặc sản một ngày đẹp trời nào đó. Cái nhà hàng mà lúc nào cũng treo đằng sau cửa gương hình chụp những con cua bể hoành tráng, những con tôm hùm siêu khủng, những miếng heo quay da chín nâu mượt mà. Tất thảy những bức ảnh siêu hình ấy dễ mang lại một sự xúi dục, nếu anh không mang tật khiếm thị, có ngày anh sẽ yếu lòng cầm dao đi gây án.
Tôi khoá xe cẩn thận ngay sát thềm, bình thường Quý đặt để ở đấy một cái bàn nhỏ và bình thường đó là chỗ tôi thích ngồi. Hôm nay lạnh, điền thế một vũng nước không thể bốc hơi cùng đôi ba chiếc lá rụng rơi. Quý làm chủ tiệm bán cà phê, hắn nói cũng đắp đổi đủ sống và hoàn toàn đó là thành ngữ của bọn láo khoét miệng có bôi mỡ. Tôi biết nó giàu ngất và tôi chẳng ngạc nhiên về bất kỳ điều gì. Khi giàu có, khẩu khí của bọn đó rất khác lạ. Bạn tin không, về tất cả những nội dung người ta bỏ công viết trịnh trọng trên những biểu ngữ giăng mắc cửi phố phường.
Quý giở lật cuốn vở thu dưới quầy, hắn tẳn mẳn chia ngôi thứ con nợ theo mẫu tự từ A tới Z. Người Việt mà cũng có đứa tên Zời, cái mới lạ! Anh Zui chị Zẻ, nghe kinh! Làm việc khoa học, minh bạch đâu ra đó nên Quý lật trang có ghi tên tôi thậm mau lẹ, chuẩn xác. Dò theo ngón trỏ Quý kéo xuống tận hàng cuối, tôi moi túi đếm tiền thanh thoả. Tôi đùa, lão Diêm vương phải nên học ông khi muốn lập cuốn sổ nợ đời. Ông đã tha cho con chưa? Quý làm bộ tịch kẻ quyền hành: Chưa, làm phép tính trừ đâu ra đó hẳn còn thiếu mười lăm ngàn. Điệu này là nợ vướng tới sang năm.
Quý pha cà phê cho tôi. Tôi đã uống cái chất nước đắng ấy cả vạn ly ở quán “Khoảnh Khắc” này. Tôi đã thức cả ngàn lẻ một đêm sau đó. Tôi đã viết xong năm cái truyện ngắn. Và sáu tháng qua, những tờ báo từ tỉnh lớn tới tỉnh nhỏ đều câm như thóc, họ chẳng buồn thông tin phản hồi về số phận phiêu giạt những đứa con tôi muốn ăn nhờ ở đậu. Họ đã vứt bỏ nó vì nó chứa vấn đề, có lẽ vậy, lợn cợn thứ gì đấy nuốt không trôi. Và sau cùng, tôi chẳng thể có chút tiền nhuận bút nhằm cải thiện những ngày sắp hết năm cho thêm phần tươm tất. Tôi rất buồn, dĩ nhiên. Khi buồn, bạn rất dễ ghi sổ nợ và bạn đốt thuốc tựa khói bay trên đầu toa tàu hoả. Những người có quê xa đã đăng ký vé tàu, nghe đâu giờ này thì cháy vé. Mấy ngón tay tôi vàng khói thuốc và lòng tôi cháy bỏng hình dáng gầy mòn mẹ ngóng sau vuông cửa tối. Tôi chẳng tha thứ khi một thằng con về nhà mà không mua nổi cho mẹ nó một gói trà, một hộp mứt. Nhẫn tâm quá, vô hậu quá, khốn nạn quá.
Thời con gái, mẹ tôi thích đọc cuốn “Châu về hiệp phố”. Hình như truyện phóng tác, thể loại trinh thám. Hiệp Phố, qua sự chỉ bày của người dân, tôi tìm tới chẳng mấy khó. Tôi tin là sẽ nhìn thấy bóng Thường lẫn khuất, trốn tìm như một câu nói lưng chừng, chưa đi hết đường, tối nghĩa. Nhà cửa ở đây chẳng y như tên gọi, mọc cách khoảng, rời rạc. Đa số là nhà vườn, cũ kỹ, vắng tẻ. Màu xanh của lá như biết đóng khung ranh giới của từng đơn vị gia cư. Thu cất riêng niềm bí mật sau màu lục sẫm trầm mặc.
Tôi thắng đứng xe bên một hàng dậu thưa, trong sân có sợi giây giăng ngang và vui mắt khi ngó thấy có chiếc áo ấm màu nâu phơi trên giây. Chiếc áo sờn cũ, xộc xệch, mang vẻ độc đáo vì dường như nó đơn lẻ, có một không hai. Chủ nhân bước ra, đưa tay thăm dò xem nó đã thực sự khô ráo chưa và chủ nhân như nhìn thấy ma, hét lên tiếng lớn.
Tôi ngó cách Thường che đậy vụng về sự lúng túng. Khuôn mặt chợt đỏ lên ấy dễ khiến người ta mang ý nghĩ rằng đó là một nữ sinh. Do đâu mà chú dừng xe ngay đây vậy? Do trời xui đất khiến, do ngoài chợ tự nhiên thiếu mất một người. Ngày mai mới ra chợ… chú đợi ở đây chút xíu.
Trời không nắng, thời gian như đứng yên vì độ sáng tối mãi chẳng đổi thay. Im vắng. Tôi đứng bên ngoài hàng rào và vùng đất bên trong, khi Thường xuất hiện, cô vực dậy toàn bộ sự chuyển động, âm thanh, sự tỉnh thức. Hãy vượt biên, hãy bước chân ra, chúng ta đi uống nước. Không, bữa nay, thực sự thì bây giờ đang tối lửa tắc đèn. Ba đang chuẩn bị hạ từng cành mai để sáng sớm chở ra chợ bán. Nè, cho chú một nhánh nhỏ, chúc mừng năm mới.
Toàn là nụ, chỉ mới nở hai bông mai. Màu vàng của hoa, dù khiêm nhường vẫn lay lắt một đốm sáng dưới mắt kẻ nhận quà. Rất tiếc là chẳng mời chú vào nhà vì ai cũng lu bu. Chú về đi, mai gặp nhau ở chợ.
Tôi về. Tại sao Thường tặng một cành mai gầy, bé mọn? Tôi biết làm gì với nó. Sẽ mang tới quán thằng Quý, chưng trên quầy và mày nhớ gạch bỏ số nợ tao còn thiếu?
Nghe có tiếng khóc trẻ thơ, từ đâu đó, sau cánh cửa đóng im bặt len lỏi gửi ra một giọng hò ru em: “Chàng ràng chi lắm bướm ơi. Đậu mô thì đậu một nơi cho thành”. Giọng rã rượi. Buồn. Nhiều tâm sự. Tại sao lại trách cứ về nỗi hoài nghi nó mang? Hay chỉ nóng lòng mong cho bướm kia sớm tìm ra một bến đỗ?
Tôi cầm nhành mai đứng giữa độc đạo, sương mờ vây quanh, trên đầu mây tụ một màu xám bẩn và giọng hò chì chiết dằn vặt suốt lối đi, rõ mòn một.
1. “Em hỏi anh bao giờ trở lại? Xin trả lời, xin trả lời…” Nhạc bốc mùi trong quán phở nhạt. Câu hỏi đáp thời chiến tranh mãi nhắc lại điệp khúc tranh chiến. Kinh Kha sang sông, rồi hắn có quy cố hương? Nào ai hay biết, con dao nhỏ đùi lây thủ làm ám khí cắt đứt được khúc ruột dặm ngoài mãi than van? “Trở về bại tướng cụt chân?” Vẽ làm chi hình ảnh thân bại danh liệt! Phó thường dân nghe cũng luống những ngậm ngùi. Thưa em gãy một giò anh mang hờn tủi đi trên ngày lắc lẻo tháng chênh vênh sao đủ hồi hộp tựa diệt kiều? Hoàn cảnh! Nói dzậy mà hổng phải dzậy, người ta dìa hà rầm anh cà chớn cà khịa quá đi nha. Tự nhủ thầm mình đang rảnh, cơ mà mình được chảnh. “Người từ trăm năm về qua sông rộng”, cơ khổ anh không biết bơi, từng ngồi đò mặt xanh như đít nhái. “Đưa người ta không đưa sang sông” chỉ đứng trên bờ nghe xâm xoàng chóng mặt. Người ác thì cũng chừng mực nào thôi chớ, “xa quê hương nhớ mẹ hiền” như chén rượu cay. Đồ bất hiếu, biết vậy thà tao đẻ ra cái hột dịt ngồi nhậu khan. Ủa, thế 99 hột còn lại đâm cháy hàng định hướng kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tiền nhân mới đếm đủ trăm trứng, sao có người tham ô hủ hoá làm phép tính sai qui trình ưa chơi tư bản đỏ, con sâu cực đoan làm rầu nồi canh đậm đà bản sắc dân tộc.
Em ơi cho thêm chanh và trái ớt hiểm, bị hồi nào tới giờ anh cần chua cay. Khách là thượng đế, phục vụ viên nên lấy đó khắc ghi, sao em mặt phụng mày phịu làm đày làm láo tướng đi cứ y như mô-đồ chân dài miên man đang chạy sô. Ở bên mình có xài tô xe lửa không cha? Sao, tàu thống nhất vẫn chạy còn không thì leo xe đò có giường nằm. Mới sáu bó mà lỗ tai tuồng như điếc, ông có sợ súng không? Cái gì, ờ người hà lội đi tham quan sang chốn này từng cự nự: Phở nầy đếch còn là phở truyền thống. Gì mà tái nạm gầu chín vè giòn ăn ngán bỏ mẹ. Người thanh lịch dùng phở trong bát nhỏ cơ, nước trong vắt chỉ mì chính không người lái. Phố hàng bạc phố hàng hành phố hàng thiếc, ô quan chưởng cho chí ga khâm thiên chợ đồng xuân đều vậy cả. Muốn gọi bát lớn thì cứ giỏi chân đến phở quát, nhớ? Địa chỉ à? Ôi, hang cùng ngõ hẹp nào mà chẳng có chi nhánh. Không thích quát thì lại thằng chửi, đi một đỗi thì gặp ngay anh mắng. 36 phố phường đã khoác đồng phục y trang. Hề hề, bác hồ ta đó chính là bác mao. Con cháu ba đời của bác ấy đang chốt đầy ở đà nẵng mí lỵ nha trang. Chúng nói tiếng nước lạ đôi khi vào google cũng bù trất, biết chết liền! Hơi đâu để tâm ba chuyện trời ơi đất hỡi kia, mới hôm kia kìa, đài truyền hình của ta đưa tin một thằng nhân thân xấu “nghiện xe máy trộm ma tuý” thì ông có hiểu không? Tân hình thức với hậu hiện đại cả đấy. Rất đương đại. Nó mà in ra báo giấy thì đổ thừa là lỗi ở phông chữ, còn mồm lỡ nói điều không phải thì chả xem đấy là sự cố. Lỗi lầm chỉ xảy ra một hai lần, khi cứ tái phạm thì rõ là anh đã có dự mưu, chủ đích. Một ông bộ trưởng bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phán: “Thế giới có 7 tỷ người, mỗi người ăn một ký tôm, là 7 triệu tấn. Trong khi nguồn cung mới có 5 triệu tấn, rõ ràng chỗ này còn rất lớn”. (Trích nguyên bổn, không thất thoát một “con tôm” nào sất).
Mẹ nó chứ, đêm qua thằng đầu bếp bị “cơm nguội” quát mắng hay sao ấy mà hôm nay nó ninh phở nhạt cả mồm, chả nuốt trôi. Kinh nghiệm nhé, nếu xem dĩ thực vi tiên thì bận sau ông đừng mang chuyện nước nhà ra kể, nhớ? Xin yên tâm, bỏ đi tám, tự cổ chí kim có ai đương xơi phở mà bị trào máu họng đâu, cho em nhờ tí! Ấy, sao dvd của tiệm ăn này hơi bị hổ lốn nhỉ? Cô ca sĩ trên màn hình kia có mang nỗi oan nào mà lớn tiếng gào la thế nhỡ? Đâu, xem nào. Đấy là người đẹp Thanh Lam ông ạ. Cô ta đẻ ở chốn ngàn năm văn vật mới chứng minh rằng thì là bọn ca sĩ trong nam thảy đều không có trình độ gì sất, sao mặn boléro suốt kiếp cầm ca vậy nhỉ? Có gì lạ đâu, ông nghiệm ra không? Trăng mỹ quốc sao tròn bằng chị hằng trung quốc, đồng hồ hai cửa sổ mười hai trụ đèn không người lái của anh liên xô thì buộc phải tốt hơn thằng thuỵ sĩ. Sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng cách suy nghĩ kia sẽ không đời nào thay đổi. Nôm na là mặt trời chân lý chói qua tim. Mẹ rượt, đi tìm chốn thanh vắng ngồi uống cà phê cho qua cơn hạn. Xỉa răng đã chứ, đi đâu mà vội mà vàng mà vấp phải đá mà quàng phải dây. Này, người chết để lại cái gì thì tớ không biết nhưng trâu chết thì để lại bộ da. Cha ông ta từng dạy thế. Da trâu thì làm được mẹ gì? Bậy nào, chí ít cũng căng ra để làm mặt trống. Ngày xưa dân mang nỗi oan nào thì cứ tới huyện đường mà cầm đùi lên để đánh vào mặt trống kêu ca. Quan huyện nghe, tự khắc biết tới giờ mình cân đai áo mão chỉnh tề để giải nỗi oan khuất của đứa thấp cổ bé miệng. Luật pháp thời kỳ đồ đồng thật đáng yêu cơ man nào kể xiết. Thời nay soi gương những đáng thẹn thùng, sao chân không bước tới mà cứ thụt lùi, người không thích chỉ ưa làm dã nhân. Thùng thùng trống đánh ngũ liên, giục người đồng nhập đảo điên linh hồn. Làm thơ xin chớ vần ồn, chị em phụ nữ ắt lồng lộn lên. Lóng rày can cớ không tên, mưa như cầm chĩnh chẳng phên dậu rào. Thơ hành con chữ thì thào, khóc ngoài biên ải cạn tào nước non. Nào đâu được mẹ gì con, mai này ta thác chỉ còn nắm tro.
“Về đây đi anh, về đây đi anh, mặc áo the đi guốc mộc..” Không dám đâu. Xin cho anh hai chữ bình an. Xỉa răng chưa? Đi uống cốc cà phê kẻo đắng mồm. Ta muốn tịnh khẩu mà tại sự tình nhiễu nhương, sáu chục rồi mà tai vẫn nghe lời ngang trái, tuyệt chẳng nhi nhĩ thuận. Thiên hạ bá tánh thảy vậy hay chỉ riêng phận người giao chỉ? Làm con rồng cháu tiên quả bất hạnh lắm thay!
2. Hạnh chừng năm mươi. Một người rơi vào hạng tuổi đó, nhất là đàn bà ắt phải nương nhờ chút son phấn. Nhưng phấn son đôi lúc là con dao hai lưỡi. Đẹp xấu không bàn tới, điều duy nhất làm anh thất vọng là Hạnh đã dối gian. Trong cõi facebook, ảnh đại diện Hạnh chưng lên như từng qua phẫu thuật của photoshop, giờ đối mặt bản lai diện mục luống những ngậm ngùi!
Hẹn ở starbucks, anh ngờ vực người đàn bà á châu lẻ loi vừa xô cửa đi vô. Và chính người đó chủ động tiến tới bàn anh, kéo ghế. Anh dốt lượng định, chẳng biết trông mặt mà bắt hình dong, thành ra con số 50 cũng chỉ là một mô phỏng hồ đồ. Hai đứa được facebook nhắc nhở: Chúng mày kết bạn đã tròn hai năm rồi đấy. Hai năm mãi nhìn nhau qua hư ảo, nước đến chân không thể không nhảy và do sự sáng suốt ấy, Hạnh bảo mình nên gặp gỡ nhau một lần ngoài đời thật. Một lần rồi mãi mãi. Hay một lần rồi xa nhau. Vệ tinh truyền đi mỗi ngày bắt được cả tỷ tín hiệu, lý nào Hạnh cùng anh chẳng nên duyên mới, xẹt điện, tinh tú quay cuồng?
Với thứ kinh nghiệm chưa ghi vào văn bản thuật ứng xử, phút đầu người ta không nên nói huyên thuyên về mình cũng như hỏi han đối tượng. Gia cảnh, công ăn việc làm, xe hơi nhà lầu các thứ tựu trung là điều cấm kỵ giăng ngang ở vườn địa đàng, sơ ý là bị đày xuống trần gian lắm phủ phàng oan nghiệt. Hình ảnh tuy lãng mạn nhưng bất kỳ lứa đôi nào cũng không thích nhìn ra cảnh nàng gói lọn tóc xanh vào khăn tần ngần trao tay chàng một ngày giá buốt. Lệ nào chảy đủ hòng nhấn chìm đau thương? Nàng ẩn mình sau hậu liêu quạnh quẽ, lá rơi đầy vai áo chàng chôn chân trước am tự. Tốt hơn là thí chủ làm ơn rời khỏi nơi chặt đứt hồng trần, sau lưng bần đạo chỉ có người mang pháp danh Lãng Nghiêm. Áo lam khoác thân sạch nghiệp chướng, quay đầu đã thấy bờ, xin niệm tình cho kẻ giác ngộ chóng tìm ra thông lộ.
Hạnh, hy vọng là tên cúng cơm. Qua những gì Hạnh post lên, anh tin Hạnh đích thị là một phật tử thuần thành. Có lần anh từng đọc comment của cô bạn Hạnh: Wow, bồ làm đồ ăn chay trên cả tuyệt vời, về nhà ăn mặn nghe ra thức ăn nó tanh làm sao í. Để tỏ lời mình nhận xét có duyên, cô thêm ba chữ he he he. Minh hoạ thêm bằng hình một ngón cái đưa lên ám chỉ rằng bồ tèo là độc cô cầu bại. Anh thích tên Hạnh. Đức hạnh, công dung ngôn hạnh, hạnh phúc, hạnh ngộ. Chữ hạnh tuồng như nói về một cái gì rất đỗi an lành. Như hạnh của đất.
Hai đứa chọn thứ cà phê giống nhau, có nghĩa là dung nạp chất kích thích ấy vào, nhỡ như bị táo bón thì cả hai cùng mặt đỏ tía tai giống nhau khi xả bầu tâm sự. Nói chuyện nắng mưa một hồi, vô thưởng vô phạt một đỗi, tin tức gần xa một thôi, thì anh ném thử viên đá dò đường: Mình muốn mời Hạnh đi ăn, nhưng vắt óc không biết đâu là nhà hàng chuyên bán thức ăn chay. Hạnh nhìn anh, rụt rè. Thu hòn cuội kia để ném trả lại: Thành phố này có ba vạn quán với lắm sơn hào hải vị, sao lại nổi hứng đòi ăn chay? Có mang hậu ý gì chăng? Không, vì hôm nay rằm hay mồng một gì đó, nghe chúng sinh bảo tháng hai lần nên ăn chay cho lòng tìm được chút thanh tịnh. Nếu không êm thì thực phẩm đầy chất xanh kia sẽ giúp cơ thể chẳng nở bề ngang cũng mạnh cho bề dọc. Hạnh cười không cần che dấu: Chưa nghe ai nói vậy cả. Toàn cả so đo, toan tính và cân nhắc. Khi nhai mà mang đầy tạp niệm thì dù nuốt nhân sâm ngàn năm cũng chả lợi gì sất! Chẳng tiêu hoá được. Anh tính trưng bằng cớ về sự tác động rõ rệt của viên viagra nhưng kịp chận lại ngôn từ của bọn phàm phu tục tử. Không rõ Hạnh đang làm việc gì, nhưng nếu là giáo viên, e rằng sẽ thích hợp lắm. Nghiêm khắc, bắt bẻ, giáo huấn và nếu cần sẽ dạy dỗ, thương cho roi cho vọt. Em không lễ độ thì cô bắt lên quỳ, hoặc chép phạt 100 lần câu: Từ nay em xin thôi nghịch phá.
Anh hỏi: Mình có thể biết Hạnh người miền nào không? Bởi nghe Hạnh nói mình chẳng thể đoán ra nguyên quán. Ờ, bố mẹ di cư vào Nam năm 54, Hạnh lớn lên ở Đà Lạt. Hỏi gì thêm không? Anh nhìn bàn tay Hạnh đang vọc tờ giấy thấm, chẳng hiểu sao năm ngón kia có bao phủ thứ gì khiến lôi kéo một đặt để mắt: Đà Lạt có cà phê Tùng nổi tiếng, bọn mình thì đang ngồi uống cà phê. Gốc Hạnh là Bắc kỳ vậy thì mình mời Hạnh đi ăn phở vậy. Hôm nào hẳn hay, hôm nay Hạnh ăn chay. Thế à, vậy cho mình xin địa chỉ quán ăn ấy, xin vui lòng. Hôm khác đi, một ngày rằm nào đó, đường đột quá quán ấy sẽ từ chối. Hạnh chỉ đặt chỗ có một người.
Lời qua tiếng lại chừng hơn nửa giờ, anh phát hiện giữa hai đứa nổi cộm một thứ gần với giả dối, không thật lòng. Anh tự tìm lời trần tình, chỉ là sơ ngộ ban đầu, người ta là đàn bà chẳng còn trẻ dại, họ có đầy kinh nghiệm để phòng thủ. Cà phê đã cạn, Hạnh nhìn đồng hồ tỏ ý muốn rời đi. Ô kê, anh nhủ thầm, người ta lú lấp khi cà kê trên mạng ảo giờ này qua ngày khác thì không sao cả, nhưng mặt đối mặt thì… Hạnh nhìn ra cửa kính: Anh hẳn từng đọc qua nội dung có trên những dòng chữ kết bạn bốn phương? Linh hồn của thứ “truyện chớp” ấy cô trong mấy chữ “đẹp xấu tuỳ người đối diện, nếu hợp sẽ tiến xa”. Tụi mình sẽ tiến xa ở dịp khác. Có gì Hạnh sẽ nhắn tin cho anh.
Anh mở cửa cho Hạnh thong dong bước ra. Quán starbucks nằm sát một thương xá thành ra phải loanh quanh một lát trong parking Hạnh mới tiến gần chiếc xe. Hạnh chạy một em nhiều sức ngựa còn láng nước sơn, Lexus khởi động mà êm ru tiếng nổ. Anh đứng hít khói cho tới hồi bóng dáng người bằng xương bằng thịt vụt mất, như chợp mắt cơn đồng thiếp. Anh tỉnh thức một phần do bởi có ai vừa réo tên mình. Bước chân đến gần, kèm theo câu: Quen bả hồi nào vậy? Ờ, tình cờ gặp gỡ nhau, chưa tới một canh giờ. Người bạn đi cùng vợ, họ vừa trong chợ Costco đẩy xe chất hàng ngập mặt lù lù dẫn xác tới. Vợ người bạn, như đa số quý vị phụ nữ khác, mau miệng: Bà Hạnh này từng gây thương tích cho ông anh tui. Thiệt vậy sao? Ừa, bả làm tiệm nail, người Hải Phòng mà gióp ông anh tui thì chuyên giao hàng phụ kiện những ghế những bàn những chậu những lu hủ hoá chất cho tiệm ấy, cái hai người hẹn hò nhau, cái chừng hai tháng bả bỏ ảnh mu đi chốn khác. Ảnh lao đao, ảnh tâm sự tao “cúng” cho ẻm hơn ba ngàn tiền quà cáp mà chẳng thể gỡ được vốn. Xui quá, mạt rệp quá, dại khờ quá. Biết vậy nhờ mày làm quân sư thì đâu ra nông nổi.
Anh chất đồ vào xe giúp người mẹ trẻ “trưởng ty thông tin văn hoá”. Có nghĩa là sao? Có nghĩa là tiếp cận với Hạnh thì chỉ có nước từ chết tới bị thương. Gì ghê vậy? Ừa, nhan sắc chẳng hơn ai nhưng bả có độc chiêu riêng. Người bạn buồn tình chêm cục gạch: Thôi đi em, từ thành đến tỉnh sao chuyện gì em cũng rành sáu câu vậy? Ông này đang ngồi trên giếng mà khát nước, không nối giúp ổng sợi dây dài thì chớ, hà cớ gì cắt cụt sợi dây của người ta? Ậy, anh nói hay, tui ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói láo. Đã vợ chồng mà chẳng hiểu lòng nhau, chán cha nội này quá!
Cả ba cùng phá ra cười. Đôi chim uyên ương này dứt khoát là không gặp nhau trên facebook đâu nhỡ? Hoặc nói theo chiêm tinh gia thì họ khéo tu tự kiếp trước, nay duyên do tiền định, nồi nào úp vung nấy, đôi đũa so lại tuyệt chẳng lệch một mảy may, y như chữ in trong thiệp mừng đám cưới mãi lạm dụng “hạnh phúc trăm năm”. Oải thật! Đời người có bao lăm mà lộng ngôn hô lên tới con số trăm. Thọ tới bảy mươi, xưa nay vốn hiếm vậy! Ba mươi năm bonus kia nên để lại cho con cháu nó tiêu pha, ấy mới là kẻ thức thời.
Thôi, khi khác nói chuyện, đừng có dài hơi răng ri rứa mãi, về còn cho con bú nữa đó em. Họ leo lên xe, bà vợ thò đầu ra ô cửa chẳng nói lời chia tay, thay vào: Anh có ngon thì cứ xáng lại gần bà Hạnh mà giả lờ biển báo. Nếu hận đời đen bạc thì xem như tui hổng có díng dáng xía phần. Mới nấu thành công món hủ tiếu, đợi bữa đẹp trời lại tui đãi cho ăn. Hủ tiếu chay!
Anh lại đứng yên vị mà ngửi khói lần nữa. Thất bại là mẹ thành công, chúng sinh từng quyết chiến đấu mà không nản lòng. Khi ấy dạy cho Hạnh biết câu ngạn ngữ “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”. Trời, tưởng gì, làm móng là nghề của nàng,10 năm kinh nghiệm em từng cắt trụi biết bao bàn tay. Hạnh, sao mưa cứ rơi không ngất tạnh? Nghe đến tên người thấy ớn lạnh. Thân anh vốn không được khoẻ mạnh, lấy tư cách gì đứng chống nạnh. Hạnh, cầu cho em mãi được cáu cạnh. Mùa này Hải Phòng chợt nổi gió tru tên em, phượng rỏ máu rơi đầy phố biển.
Sợ vỡ đầu do trẻ con ném đá, những ô cửa trên tàu đều có gắn lưới chắn kín bưng. (Bởi biết sợ nên mới sống còn). Người đàn ông đen đúa truyền đạt kinh nghiệm đường dài: “Lấy đôi dép kê dưới đít, kẻo có khi bất cẩn dép không cánh mà bay”. Đôi chân trần của ông hình như chưa biết mặt mũi đôi giày, những ngón to, khỏe ngầm bảo nhằm nhò gì chuyện lẻ tẻ tui đi bộ đeo ba-lô từ Trường sơn đông qua Trường sơn tây ba mươi giây.
Thiên nhiên bên ngoài đóng khung, mất tự do những đám mây dật dờ bị khói tàu nhuộm chất độc màu da đen. Chim ở núi bay về, đậu trên giây giăng chùng giữa những cột điện trông như nốt nhạc phơi thầm lặng trên năm dòng kẻ. Thành phố giờ này rất nhiều dây điện. Người đàn bà kể, mắc cửi, tựa đám màn nhện chực trói mỗi số phận con người, có cô gái dịu hiền xa nhà trọ học chiều về lội nước chật vật nghĩ tới một chén cơm lưng chờ đợi trong căn hộ tập thể; vì cớ làm sao chuyện thật hoang đường dây điện đứt sà xuống người em, con rắn đương đại quấn cổ cắn vào giấc mơ bình dị đột tử, từ đời thường xã hội chủ nghĩa em nhắm mắt bước vào vườn địa đàng mê muội muôn đời không có thật. Báo cáo ở bệnh viện Vì dân nghe cắc cớ: Sinh viên hưởng dương ở tuổi hai mươi không thân nhân họ hàng người nám đen như khúc củi ẩm để già lửa. Niềm đau bạn cùng lớp dành cho em ùn tắt những giọt lệ chẳng chịu rơi khỏi cằm tái tê. Thằng trưởng lớp kể lể hôm động quan: “Tớ thật bức xúc, cái Bĩm rất thông thoáng cởi mở, tớ đi xe tay ga chở em mấy bận về nhà trọ những hôm mưa giăng nhẹ hạt. Sự cố ấy làm em bày rõ nội y và số đo ba vòng phải nói là điện nước đầy đủ. Ôi, Bĩm đã chết! Uổng phí thật! Tớ chẳng rõ em có là một hồn oan trinh nữ!”
Tàu chòng chành người lắc lư. Tàu hú còi người khạc nhổ. Quang gánh đồ đoàn nghiêng ngã, chộn rộn. Một đứa cụt chân đi lòn lách mắt láo liên môi miệng chẳng liền da: “Bà Ba bán bánh bèo bị bác Bảy Búa bán bánh bò bề bướm, biết bụng bầu bác Bảy bèn bỏ bê. Bà Ba bị bắt bí, buồn bã ba bốn bữa…” Thằng con trai ngó sương gió phong trần, cây đàn ghi-ta chỉ có năm giây thùng gỗ bể dán miếng băng keo to đùng bằng miếng bông dùng khi có tháng. Khoảng mười một mười hai mà cà nhắc đi thong dong giữa dòng đời nhiều oan nghiệt hoành tráng. Hắn hát không bài bản lề luật, đa phần thể hiện do cảm xúc, ăn đứt nhạc Rap, da diết hơn kẻ thành tâm sám hối ê a gõ mõ tụng kinh. Ngoài vần B, mày còn biết chơi vần gì khác? Ai đó hỏi. “Lan là lan Liễu là liễu, lã lơi lắm lúc lại là Lọ lem. Lan Liễu Lọ lem lưu lạc luôn làm lụng lắc léo, làm lòi lông l…” Ủa mà sao nãy giờ chưa thấy cho tiền bo? Địt mẹ! Nghèo dớt mà bày đặt đòi hỏi! Hắn bỏ đi, mang giọng hát khản tiếng ma túy y trang Khánh Ly thời đi chân đất vắt ngang những toa tàu uốn lượn: “Nếu biết tôi mang kiếp cầm ca… Hỏi rằng em còn yêu tôi nữa chăng?” Có hai mẹ con, có vẻ thành phần nông dân, dõi mắt trông theo, mẹ chắc lưỡi: Không cứ là phận đàn bà, đàn ông con trai cũng khối đứa đèo bồng niềm đau nỗi khổ, chặt dao bén cũng chẳng đứt lìa. Tội nghiệp! Con lên tiếng, bày tỏ nỗi lòng: Má ơi đừng gả con xa, chim kêu vượn hú biết nhà má đâu?.. Mồ tổ mày lục bát với lại ca dao, ô-sin nghe xịn hơn là nghề nông. Ở làng chỉ có mình mày, tiên phong đi trước mở đường xuất dương. Đài-loan tuy gần mà xa tìm đâu ra dậu mồng tơi xanh rờn? Ra đi nhẹ gánh hành trang, điện thoại di động có tao xí phần.
Người đàn ông bạc tóc đứng hút thuốc cuối toa lầu bầu: “Tôi van bạn chớ làm thơ, ngoại trừ trường hợp thiếu nó, bạn sẽ chết”* Ông trải rộng tờ nhật báo: “Trương thị Kim Hoàn, đăng ký hộ khẩu tại phường Cô Giang Q.1 Thành phố Hồ Chí Minh tù oan 4 năm được đền bù 143 triệu”. Mẹ kiếp, 143 triệu mà làm cái đếch gì?! Tôi van bạn chớ nhận số tiền ấy, ngoại trừ trường hợp thiếu nó, bạn sẽ chết. Mắt ông đảo qua mục khác: Fidel Cu-ba, Bác Hồ cu con, con thức ba ngủ, con ngủ cu ngổng ba hổng ưa… Khôi hài nhỉ? Lại chuyện cười: “Anh Sáu đọc báo, thấy báo nói hút thuốc hại cho sức khỏe, liền bỏ hút thuốc. Thấy báo nói uống rượu có hại cho sức khỏe, liền bỏ bia rượu. Thấy báo nói mê đắm sắc dục có hại cho sức khỏe, liền bỏ đọc báo”. Người tóc bạc vày vò tờ báo ném xuống đường rầy. Có tiếng thét:
– Sao lại thế?
– Chuyện gì cơ ạ!
– Con mẹ bán xôi thằng cha bán lạc rang thảy đều cần đến nó. Mà ngay cả tôi, nói điều không phải thầy bỏ qua cho: Đến buồn đi ỉa phải cậy nhờ đến báo bổ lau đít hộ cho.
– Đồ dở hơi, sao không nói sớm? Cơ khổ! chùi thứ ấy thì có nước… Gì nhẩy? Cho đít đen thêm. Dân ngu khu đen.
Tàu chui vô hầm, hầm đục xuyên núi. Núi to thì hầm dài, đi rõ lâu giời mới tỏ. Núi bé thì thoắt cái, tàu đã thấy ánh sáng cuối đường hầm. To hoặc nhỏ, nhớn hay bé thì đều chịu chung một hoàn cảnh: Tối thui. Đêm hôm nhà gianh cũng như nhà ngói, bóng tối luôn đồng lõa với tội ác. Cô gái sắp đi Đài-loan đổi đời làm kẻ hầu người hạ cho người nước lạ la toáng như gặp phải ma. Má cô hỏi: Chuyện gì mẩy? Bị không có mặt tiá, có ổng đố mày dám. Con này, tao hỏi chuyện gì mà loạn xị dớn dác? Có đứa nào mới bóp vú con đó má. Mặc xú-chen dày như áo giáp mà cũng hơi bị đau. Tàu rùng mình trước khi chui ra khỏi bức màn tối dày. Ánh dương quan chẳng có gì lạ ngoại trừ bày rõ sự trơ trẽn của những thứ xấu xa. Quanh chỗ hai má con nạn nhân ngồi tịnh không nhìn ra mặt một đứa tiểu nhân mang hội chứng ngứa tay. Ai cũng kẹp tay vô nách như bị trói, mắt lim dim như thiền giả đối mặt với công án chẳng bận tâm thế sự ô trược đang vận chuyển từng sát na. Nhìn rốt ráo chỉ ngó ra hai đứa trung niên là có khoảng cách gần với hiện trường, (nhất cự ly nhì cường độ) và chỉ có hạng đàn ông mới thích bóp vú thiếu nữ (rờ mềm mềm bóp êm êm- có bài đồng dao đã hát thế). Nhưng nói tội trời, hai kẻ râu ria lún phún ấy in tuồng bị khuyết tật, họ như chưa hề dòm rõ cuộc đời. Một người làm tài khôn: Ủa, mới đó mà tàu chạy ngang Phan Thiết rồi sao? Bỏ đi tám, mù mà ưa làm trạng. Sao trong không gian độ chừng như mặn nồng mùi nước mắm nhĩ vậy cà? Thằng chột cười ré lên, nước mắt đọng vũng trong hố sâu độc nhãn: Chẳng qua là anh ngồi cuối hướng gió, gần cửa thì có con mẹ mặc quần rách đáy đang lộ hàng đó thôi. Bả bày hàng hơi bị vô tư chứ Phan Thiết đâu giờ này cha nội! (Trong thế giới những kẻ mù, thằng chột làm vua). Ông vua anh minh này bận bịu với quần thần đui mù, ai hơi đâu rảnh rang để bóp vú. Sướng sung gì? Ích lợi gì? No cơm ấm áo không? Vắn tắc: Ăn được cái giải gì cho phí sức, nhọc công? Chưa nói tới chữ dơ dáy. Ông mù hay xuống sáu câu vọng cổ, có lời độc đáo hình như do vua Duy Tân (?) phát ngôn (nhà nước quên kiểm duyệt): “Tay dơ thì lấy nước mà rửa, nước dơ thì lấy gì mà kì cọ đây?!” Chao ôi, hoàng thượng anh minh thứ thiệt, hậu duệ đời sau muôn đời không sánh kịp.
Tàu lại hú còi, án chừng sắp dừng ở một nhà ga, người lên kẻ xuống. Moa và toa, về quê choa, đi hái hoa, rồi được thoa, cho tiền boa, ôi xuýt xoa…Việt kiều hay Tây ba-lô? Đừng điêu ngoa, ưa bù lu bù loa, đợi tàu dừng, moa leo lên đầu toa moa ỉa. Ba người khách mới lên ăn vận cũng xuềnh xoàng. Ngoại trừ đứa có bộ tịch lăng xăng của thổ công làm hướng dẫn viên, hai gã nọ da dẻ chưa rám nắng, để lộ phong thái của kẻ “xa quê hương nhớ mẹ hiền”. Khúc ruột ngàn dặm trẻ trung dồi dào chất dinh dưỡng tướng tá thuộc loại ngon cơm. Tết năm nay đất nước mình thay đổi nhiều. Một đứa nhận xét. Ừ, moa nhớ năm kia moa về chơi em người mẫu chân dài bao trọn gói chỉ ba trăm đô. Bây chừ giá chót phải mất ngoẻn năm trăm. Chắc lưỡi: Đất nước khấm khá thời buổi kinh tế thị trường trông thấy. Thằng hướng dẫn nói: Vào tới thành phố là tui hết nhiệm vụ, đúng không? Tui còn phải trở ra kẻo ông bà già chửi: Ba ngày Tết chẳng chịu về thắp cho ôn mệ ba cây hương. Cũng được, bọn moa sẽ hợp đồng với mấy cô làm dịch vụ tình nhân hờ. Tui nói điều mất vui thì anh bỏ lỗi chứ vợ anh đi mô mà anh bạo gan kiểu nớ? Vợ moa đi thẩm mỹ viện. Cả tuần phải nằm một chỗ đợi da dẻ lành lặn, kiêng cử bụi bặm gió máy nắng mưa. Họ bảo sửa sắc đẹp ở quê nhà giá rất linh động thông thoáng, rẻ như bèo mà hậu sự cũng không đến nỗi, về lại bển chó nuôi ở nhà phải sủa vang rân, nhận không ra. Gái Việt-nam hơn gái Tây tà hay sao mà ghiền dữ rứa? Để moa nói cho nghe, ăn lê táo nho dâu lâu ngày phải ngán, tự dưng được cắn ngập răng vào trái khế ngọt bảo sao không phấn khích? Chưa kể nó nói tiếng Diệt: Chơi em đi anh, đừng sợ, em không mang mầm bệnh nào hết chơn hết chọi, đứa nào nói láo cho xe cán.
Mẹ con nhà nông được tập đoàn môi giới lấy chồng nước ngoại cử nhân viên ra đón ở sân ga, mừng mừng tủi tủi nhận tiền theo hợp đồng và chia tiền cò. “Sao mầy giẫm lúa nhà ông hở cò!” Đồ ác đức bất nhơn! Ngồi không ăn bát vàng! Chia tay, bịn rịn, nói chẳng nên lời. Có đi, mày đi như kiểu Kinh Kha nghe con, chứ dăm ba bữa trốn về tan hoa nát ngọc thì tao có nước gầm đầu trước mặt bà con lối xóm.
Ông đen đúa sẽ lội bộ về Đồng Tháp nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ để liên hoan cùng hội những người kháng chiến cũ. Ông rất hồ hởi lòng như ngọn cờ căng gió bởi ông biết chắc buổi liên hoan nào cũng có rượu. Nam vô tửu như kỳ vô phong. Từ Lúa Mới cho tới rượu Vốt-ka của Nga. Từ rượu trắng của Trung quốc môi hở răng lạnh cho tới rốt ráo rượu Uých-ky của thằng Mỹ phản động. Ông xơi ráo và ông lập ngôn cùng những người đồng chí cũ: Dô, uống đi, không say không về. Khi đã ngà ngà, ông sẽ nhân danh, sẽ thay mặt những đồng đội cũ để đọc bản cáo trạng lên án thành phần bóc lột, đồ vắt chanh bỏ vỏ, đồ lợi dụng xương máu của anh em. Giờ này chúng ngồi chóp cao quyền lực trong khi chúng ta cơm không có mà ăn, bụng réo sôi mắt mờ mãi ngắm ba cái huy chương bằng ban khen chẳng cầm cố đánh đổi được một xu hào.
Đi sau lưng ông là thằng thanh niên bất cẩn không chêm đôi dép dưới đít. Sỏi sạn trên lối đi khiến hắn nhăn mặt. Thế nào quanh đây cũng có quầy bán giày dép cũ. Tin tao đi. Giống như con đường lởm chởm cả đinh thì cuối đường thế nào cũng có thằng đinh tặc ngồi vá lốp xe. Ông đen đúa lại thêm một lần truyền đạt kinh nghiệm. Chú em đi đâu? Về nhà ăn Tết hả? Dạ không, vào thăm Má. Bệnh viện ngoài kia thiếu thốn dụng cụ y khoa nên họ chuyển bả vào tận trong này. Má nói má ưa chết cho rảnh nợ tại vì tiền nằm viện quá tốn kém, mấy cha con bây làm lụng suốt đời cũng không trả nổi. Chao, năm hết tết tới mà nói chi lời buồn bã. Như tao đây thì thiệt đơn giản, muốn chết cứ biểu mấy thằng bạn cũ, mày sẵn K-54 dắt lưng quần không? Ak-47 cũng được, ra ngoài sân lia cho tao vài viên. Mẹ, cuộc đời này đầy cả bội bạc!
Sân ga nhốn nháo bởi ba bốn ông công an xô dạt đám đông cản trở nhân viên thi hành nhiệm vụ bảo vệ trị an. Bắt nó. Địt mẹ, chúng ông theo mày lâu rồi. Chớ để nó thoát lần này. Cây đàn guitar nổ khi bị đập vỡ nghe như tiếng pháo chuột đốt lẻ loi. Thằng cụt chân bị đè lưng bằng bốn năm bàn chân mang giày dép đường bệ. Đám đông bu lại thành một vòng tròn khép kín, hiếu kỳ. Chuyện gì vậy? Sao không dưng lại ức hiếp kẻ tàn tật? Bà con cô bác không biết đó thôi. Thằng này chúa phản động, nó biên tập một bài hát toàn vần H nhằm bôi xấu hình ảnh bác Hồ thân thương. Có người đứng dấu mặt trong đám đông lên tiếng: Không tin, biểu nó hát nghe coi. Không dám đâu, như vậy những đồng chí của tôi lại bảo tôi thông đồng xúi dục khuyến khích tội phạm. “Nếu biết tôi mang kiếp cầm ca…” Mếu máo, giọng run, nước mắt chảy, thằng cụt chân bị lôi đi. Chẳng được cẩn trọng cho lắm, tệ hơn người ta lôi con chó đi trấn nước, về làm thịt ở quán Hương Đồng Quê. Ngay tình, con chó có giá hơn thằng người tàn tật ấy. Ông bạc tóc bình phẩm. Ông đốt thuốc ba số nhìn dòng người xô bồ qua lại. Nhà ga chưa chuẩn bị đón Tết, tường vôi có nhiều chỗ bị bôi bẩn. Câu khẩu hiệu Không có gì qúy hơn độc lập tự do đang mờ nhạt bởi nắng mưa, cũ kỹ, chẳng mới. Những người ở ven đô đang lật đật gánh hoa về thành phố tranh thủ bán kẻo héo hon xuân thì. Hoa chỉ đẹp khi còn hiện hữu nguyên trạng với thân cành, bức lìa nó, dồn đống nó, bó chung nó, nhan sắc nó tơi tả ít nhiều. Người đàn ông nhìn trời, nát nhàu những sợi dây điện cắt đường ngang nét dọc vụn vằn một góc phố. Ông đọc thầm, chùng vụng mấy câu của Nguyễn Đức Sơn:
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Mùa Xuân 1975 tôi đang điều khiển văn phòng hãng tin CBS tại Saigon, nên đã phải dính líu vào việc di tản nhân viên hãng tin cùng với gia đình quyến thuộc họ. Khi những nhóm đầu tiên bắt đầu ra đi là tin tức lọt ngay ra ngoài. Những tin tức về người ra đi được loan truyền rất nhanh trong cộng đồng người Việt. Chính vì thế, tôi bắt đầu phải tiếp đón những người khách lạ với những cuộc thăm viếng lạ lùng, đến nỗi cuối cùng tôi phải thuê bốn căn phòng trong bốn khách sạn khác nhau. Ban đêm tôi đổi khách sạn, vì người ta săn đuổi, bám theo tôi suốt đêm ngày, mà tôi vẫn phải lo công việc điều khiển hãng tin.
Một đêm kia, Đại úy Anh – người thông dịch của phòng báo chí chính quyền Việt Nam – đến thăm tôi tại khách sạn Continental. Ông ta bảo có nghe nói về kế hoạch này, ông ta biết một số nhân viên người Việt đã ra đi, một số khác nữa cũng sẽ đi. Tôi bảo “Tôi không hiểu ông đang nói chuyện gì”.
Ông ta nói: “Tôi muốn ông thu xếp đưa Trung tá Hiền và tôi ra đi”. Tôi bảo: “Tôi không nghĩ có thể làm như thế. Ông là quân nhân. Tôi không liên hệ chuyện này. Thực ra, nếu tôi biết có ai lo liệu được, họ cũng chỉ đưa các dân sự ra đi thôi”.
Lời nói ấy không hiệu quả. Đêm sau, ông ta trở lại. Lần này ông ta đeo một khẩu súng lục. Ông ta vào phòng tôi, ngồi xuống. Rút khẩu súng để lên lòng. Tay vỗ nhẹ khẩu súng, ông ta bảo việc ông và viên Trung tá của ông ra đi là việc rất khẩn thiết.
Thông điệp đưa ra thực rõ ràng. Nếu khôn hồn phải rán lo cho họ đi.
Bây giờ tôi suy nghĩ: Quả là một vụ phiền phức lớn: Vì nếu giúp họ đi thì làm sao biết họ sẽ mang theo những ai? Tôi sẽ phải di tản toàn bộ quân đội miền Nam Việt Nam hay sao? Tôi bèn tìm đến Đại sứ Martin, yêu cầu một cuộc hội kiến khẩn cấp. Tôi nói: “Tôi đang gặp một vấn đề nghiêm trọng với Đại úy Anh và Trung tá Hiền. Tôi không biết giải quyết ra sao. Bây giờ xin đặt trách nhiệm vào ông Đại sứ. Mấy người này làm cho chính phủ. Tôi nghĩ, nếu họ biến đi, thì đó sẽ là một sự cáo giác sinh tử. Hãy nhớ rằng chưa ai chứng kiến việc di tản. Chưa ai tuyên bố gì về sự cáo chung của miền Nam. Chưa ai nói năng gì về việc ra đi cả”. Bấy giờ chúng tôi đang thực hiện việc di tản một cách bí mật vì lẽ Đại sứ Martin đã khẩn khoản yêu cầu chúng tôi đừng gây ồn ào náo loạn.
Đại sứ Martin nói: “Để tôi lo chuyện ấy”. Tôi không rõ ông đã làm gì, nhưng sau đó, tôi không bị Đại úy Anh và Trung tá Hiền phiền nhiễu nữa. Ngày cuối ở sân tòa Đại sứ, tôi có thấy họ. Tôi biết Graham Martin đã lo liệu cho họ rồi.
Có một số chính khách và quân nhân cũng chạy lòng vòng, đề nghị với tôi đủ thứ, từ vàng cho đến con gái họ. Tôi ở địa vị hết sức khó chịu vì phải quyết định, phải chọn lựa, phải tự hỏi việc mình làm có đúng hay không. Người ta có thể bảo “Chà, thực là một địa vị đáng thèm”, vì lẽ tôi có thể kiếm khối tiền, có thể chơi bời thoả thích, nhưng tôi không dính vào những chuyện này. Tôi nhớ có lần một người mang đến cho tôi một bộ quân cờ bằng ngà tuyệt đẹp. Trời mới biết bộ cờ này trị giá bao nhiêu. Họ đề nghị tặng bộ cờ nếu tôi đưa họ đi. Trước đó, họ đã đề nghị đưa tiền và tôi có nói “Tôi không cần tiền, tôi không ham thứ ấy”, thì họ cho rằng tôi thích thứ gì khác, đồ cổ chẳng hạn, bởi lẽ nhiều người thích sưu tập đồ cổ. Hôm sau, người này đợi tôi ở cửa khách sạn từ sáu giờ rưỡi sáng. Anh ta cặp dưới cánh tay cái hộp bọc giấy. Anh ta đến gần, theo tôi vào phòng đợi khách sạn Caravelle, nói: “Xin cho tôi trình ông cái này”. Anh ta mở hộp. Trời đất, món đồ ngà hết sức đẹp. Tôi không thể đoán trị giá bao nhiêu. Hẳn đây phải là một món đồ cổ của gia đình họ vì họ là một gia đình khá giàu có.
Hình minh họa
Thế rồi lại những ông nhà báo Mỹ nhờ vả cho các cô bạn gái ra đi. Tôi nhớ một gã điện thoại cho tôi, hắn có cô bồ, muốn nhờ tôi đưa đi. Tôi bảo “Rắc rối quá”, nhưng rồi tôi cũng đã giúp cô ta. Tôi không biết cô ta là ai. Tôi đã mở một cánh cửa mới: nếu tôi bắt đầu đưa các cô bạn gái ra đi là tin tức lộ ra ngoài ngay. Vâng, đôi lúc tôi cũng làm một vài ngoại lệ. Tôi đã bẻ gãy một số quy luật của chính tôi. Tình trạng thực phức tạp. Tất cả đều khó khăn. Trong vài trường hợp, người ta cứ giản dị đến doạ dẫm tôi. Một lần, có một tay – giờ đây đang ở Hoa Kỳ – dọa giết tôi. Anh ta muốn mang đi nào là cha, mẹ, mẹ vợ, đủ thứ thân thuộc khác, một nhân số quá đáng: mười một con người không phải là trực hệ của anh ta (1). Tôi bảo: “Chúng tôi không thể làm thế được. Nhưng cứ cho tôi tên mấy người ấy”. Anh ta là nhân viên của một cơ quan khác. Tôi nói: “Nếu anh quyết định như vậy, tùy ý, nhưng tôi không thể phá lệ. Nếu tôi làm cho anh thì tôi cũng phải làm cho những người khác. Nếu anh mang các thân nhân đi thì tất cả những người khác cũng phải được mang đi. Tôi không làm thế được”. Chuyện xảy ra khá gay go.
Đến đêm, anh ta trở lại. Anh ta bảo nếu anh ta không đưa gia đình đi được thì sẽ không ai đi nổi. Kể cả tôi… Anh ta bảo anh ta sẽ chặn tất cả lại bằng cách chặn tôi. Tôi bảo: “Anh muốn nói cái gì?” Anh ta nói: “Tôi sẽ giết ông”.
Lúc ấy, tôi không xem chuyện ấy quan trọng. Anh chàng này chỉ quá lo lắng cáu giận. Nhưng bây giờ nghĩ lại, tôi e biết đâu lúc ấy hắn dám làm ẩu. Làm sao biết. Tôi không muốn nghĩ đến chuyện ấy nữa.
Cho đến ngày cuối cùng, ông Ba, một trong bốn tài xế của hãng CBS chúng tôi, biết rằng tất cả mọi người đã đi hết, tất cả những nhân viên người Việt đều đã đi cả. Ông Ba bảo: “Ông phải đưa tôi đi”. Ông này có một gia đình mười ba mạng người, mười một đứa con, chẳng rõ còn những ai nữa. Tôi bảo: “Ông Ba ạ, tôi rất muốn giúp ông, nhưng tôi không có quyền. Mang mười ba người trong gia đình ông lên máy bay là một chuyện không thể làm nổi”. Nhưng tôi vẫn cố gắng. Cho đến tận buổi sáng hôm chúng tôi ra đi, tôi hãy còn cố đưa người di tản. Sáng hôm ấy tôi hoàn thành một chuyến nữa là hết sức. Nhưng ông Ba vẫn nhất định đòi tôi phải đưa đi cho được. Tôi không biết ông ấy sẽ phản ứng thế nào.
Tôi làm việc ở văn phòng. Chúng tôi vẫn làm tin. Đêm hôm ấy đối phương pháo vào Tân Sơn Nhất. Khi về phòng ngủ, tôi không vào được. Cửa khoá. Tôi nhớ tôi không hề khóa cửa. Tôi lấy chìa khóa ra, vẫn không mở được. Tôi gọi xuống lầu dưới yêu cầu nhân viên lên mở, họ cũng không mở được. Họ bảo: “Có người trong phòng”. Tôi hỏi: “Ai vậy”? Họ đáp: “Ông Ba và toàn thể gia đình”. Tất cả mọi người đều ngồi trong ấy, họ từ chối mở cửa không cho tôi vào lấy đồ, trừ phi tôi hứa đưa họ đi.
Ông Ba đã nhờ một người bồi đưa vào. Tôi không bao giờ khóa cửa. Không rõ có đủ mười ba người trong ấy không, nhưng chắc chắn ông ta đang có mặt trong phòng với các thân nhân của ông. Sau khi tôi đã ra đi, ông vẫn cứ ở trong căn phòng ấy.
Hình minh họa
Ông ta tin rằng tôi phải đưa ông đi nếu tôi muốn vào phòng. Vì thế, tôi bỏ quách đồ đạc. Khi tôi rời khỏi Saigon rồi, ông ta vẫn còn ở trong ấy.
Sau này, năm 1985 tôi có trở lại Việt Nam. Tôi cố kiếm ông mà không gặp. Một người đáng thương, tôi cảm thấy tội nghiệp cho ông.
Khoảng 28 tháng Tư, tôi chắc chắn kết cuộc đã đến, vấn đề là chỉ trong vòng vài ngày. Bấy giờ tôi có dịp vào căn cứ David trong phi trường Tân Sơn Nhất, có gặp mấy tay đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Hôm ấy, nhằm phiên họp hàng tuần, trước khi Thiệu từ chức, tôi nghĩ thế. Khi cuộc họp ngắn đã xong, vài người chúng tôi đang đứng nói chuyện thì một tay đại diện chính phủ Cách mạng Lâm Thời đến hỏi tôi rằng tôi đã định chương trình đi nghỉ phép năm nay chưa. Cuộc đàm thoại với anh ta đủ cho tôi hiểu nếu tôi muốn đi, bây giờ đã đến lúc rồi. Chúng tôi cớt nhả chút đỉnh, tôi hỏi: “Chừng nào quân đội miền Bắc kéo tới?” Anh ta nói: “Thưa ông Ellis, ông biết mà. Làm gì có quân đội Bắc Việt tại miền Nam”. Vẫn cái lưỡi không xương lắt léo. Tuy nhiên với những điều anh ta nói, tôi đi đến kết luận là nếu có gì không chắc chắn cần phải kiểm chứng, tôi chỉ việc vào căn cứ David là xong.
Bây giờ tôi quan tâm đến một điều: tôi muốn ở lại đến tận ngày cuối cùng. Tôi nghĩ sẽ còn nhiều chuyện hay, tôi không sợ sệt gì cho tính mạng tôi cả. Nhưng sau khi nghe chuyện Ed Bradley và Mike Marriott bị cảnh sát xua đuổi, tôi bắt đầu lo lắng. Vài lần ra phi trường tôi đều bị cảnh sát làm khó dễ. Rõ rệt, họ đang phẫn nộ. Mọi người đang ra đi, họ nghĩ họ bị bỏ rơi. Tinh thế bắt đầu bất tiện. Tôi lởn vởn ý định ở lại, nhưng là một người có gia đình, tất nhiên tôi có bổn phận với gia đình tôi. Vì thế tôi gửi một điện văn sang Nữu Ước, lúc ấy điện thoại không sử dụng được nữa, người ta chỉ còn có thể đánh điện. Và Dick Salant, Chủ tịch CBS ra lệnh cho tất cả ra đi: “Tôi không muốn ai làm anh hùng”. Ông đánh thêm một điện văn nữa: “Không cần anh hùng. Đây là quyết định của tất cả các hệ thống thông tấn”.
Rõ rệt đã có một cuộc họp ở Nữu Ước. Họ quyết định không cho ai ở lại, tất cả phải ra đi. Nếu có người nào ở lại thì mọi bài vở của người này sẽ được đem ra “tổ hợp”, và đó là chuyện tôi không khoái chút nào. Nói cách khác, tức là mọi bài vở tin tức của người này sẽ được đem chia cho cả ba hệ thống thông tấn cùng sử dụng. Việc đó đối với tôi là bất công và bất khả thi.
Thế rồi đến lúc di tản. Đại sứ Martin cho biết khi nào nghe bản nhạc “Giáng Sinh Trắng” trên Đài phát thanh là phải hiểu giờ ra đi đã đến. Nhưng làm sao tôi quay về để bảo mọi người: Khi nghe thấy bản “Giáng Sinh Trắng” thì phải biết ấy là lúc đi đến các địa điểm di tản được ấn định?
Bây giờ là tháng Tư, họ lại chơi bản “Giáng Sinh Trắng”. Họ nghĩ họ lừa được ai? Trước tiên, bọn Bắc việt tất chẳng biết gì chuyện này. Thứ đến, việc chọn nhạc xem chừng quái gở, ít ra cũng phải nói như thế. Bấy giờ ở Saigon, còn cái gì bí mật nữa. Đến giây phút này có ai trong thành phố mà không hay biết. Người ta huýt gió bản “Giáng Sinh Trắng”. Chúng tôi đều cười cợt chuyện ấy. Thế rồi, tôi nhớ lúc ngồi trong văn phòng thì chợt người ta phát thanh bản nhạc này. Một người đột ngột nói: “Tốt lắm. Đến lúc phải đi”. Người ta đứng dậy, xuống thang. Tôi nhớ Ed, Mike, Keyes Beech, Bob Shaplen, và một số người nữa cố len vào chiếc xe buýt. Họ chạy ra Tân Sơn Nhất, gặp trở ngại, rồi chạy ra Cảng. Đã có một danh sách liệt kê những địa điểm di tản được ấn định trước. Danh sách này chỉ dành cho người Mỹ.
Tới thời điểm ấy, tôi chẳng rõ sẽ đi đâu. Mặc dầu giữ chức vụ Trưởng phòng, nhưng tôi không phải là công dân Mỹ. Tôi là “Công dân đệ tam quốc gia”, nên không được quyền lên xe buýt. Tôi cũng chẳng có thể ra Tòa Đại sứ Hoa Kỳ. Người Mỹ không có trách nhiệm gì về tôi cả. Thế là tôi cứ ngồi thườn ra nghĩ ngợi: “Ai xui tôi đến chốn này? Hữu thân hữu khổ kêu ai bây giờ!” Tôi biết người Anh đều đã ra đi từ lâu, và chắc chắn tôi sẽ không đến cầu cạnh nhờ vả bọn Pháp, mặc dầu phải nói là bọn họ cũng khá tử tế với mấy ông ở Nam Vang.
Hình minh họa
Tôi xuống Tòa Đại sứ Mỹ. Tôi để một ông bạn người Anh ở lại văn phòng CBS, anh ta tên là Eric Cavalero, cảm ơn tấm lòng tốt của anh bạn. Anh đã từng ở Việt Nam rất nhiều năm, là một thứ linh hồn lập dị Ăng Lê, luôn có những câu châm biếm hết sức quái gở. Anh là người trực đêm, thường trông coi văn phòng. Chúng tôi chia tay nhau theo kiểu rất Ăng Lê, tôi chúc anh mọi điều tốt đẹp nhất. Tôi bảo anh là tôi xuống Tòa Đại sứ Mỹ, tôi sẽ cố, nhưng không rõ có vào được hay không. Anh ta nói: “Tốt. Tôi sẽ đợi đây khi anh về lại”. Chả khác như anh muốn bảo: “Cái ấm đun nước vẫn hâm sẳn. Chúng ta sẽ nhấm với nhau một chung trà”. Thế là tôi đến Tòa Đại sứ. Hàng ngàn người vây quanh. Quân cảnh đòi xem thông hành, tôi đưa tấm thông hành Anh quốc. Họ bảo thông hành này không ích gì, họ khuyên tôi nên về tòa Đại sứ Anh Quốc. Đúng lúc ấy, tôi thấy có người vào, không nhớ rõ ai, hình như John Hogan. Tôi gọi anh ta qua cổng, bảo: “Tôi cần nói chuyện với anh”. Anh ta nói: “Được, được, ô kê, ô kê”.
Vì thế họ hé cửa ra. Tôi bảo: “Này, tôi đã quyết định khôn hồn thì tôi phải đi khỏi xứ”. Anh ta nói: “Họ bảo anh không vào đây được, không có chỗ cho anh đâu”. Anh ta giải thích tràng giang đại hải về chuyện không có chỗ dành cho giới báo chí. Thế rồi tôi trông thấy Bob Simon cùng với David Green và toán quay phim đang thu hình những người cuối cùng ra đi, có một người nào khác nữa, đang ở cả trong sân. Vào lúc này trực thăng đã bắt đầu. Mấy chiếc trực thăng hạ xuống sân tòa Đại sứ, họ đang thu hình người ra đi, trong lúc tôi vẫn còn bị nghe giải thích và khuyên nên sang tòa Đại sứ Anh. Tôi bèn đi quanh, cố ý tìm Đại sứ Graham Martin. Cuối cùng tôi lọt được vào trong tòa Đại sứ bằng cách leo qua tường. Lúc vào được bên trong thì có một túi xách tay đựng đầy phim ảnh do người nào đó ném qua tường. Do linh tính, tôi cố với tay nhặt lấy, đeo lên vai. Cái túi này có lẽ cần phải được đưa đến một nơi nào đó, chỉ phiền là phải vất vả đeo kè kè trên vai. Bên trong, Tòa Đại sứ trở nên náo động khi trực thăng bay đến, người ta chạy, cố trèo qua tường.
Phần tôi cuối cùng lên được tầng sáu để gặp Graham Martin. Tất nhiên ở đây cũng đang náo động, người chạy ra, chạy vào tấp nập.
Tôi gặp Đại sứ Martin. Chúng tôi đưa đẩy vài câu ngắn ngủi, rồi tôi nói: “Ông xem, tôi nghĩ tôi không có phương tiện nào để đi khỏi xứ”. Ông ta bảo: “Cứ ở đây, chúng tôi sẽ đưa ông đi”. Thế là tôi loanh quanh ở đây, rồi đi xuống dưới sân ngắm trực thăng. Bấy giờ bắt đầu sẩm tối. Số người còn lại chẳng bao nhiêu, những chuyến trực thăng bay vào sẽ là những chuyến cuối. Vài tay Thủy quân Lục chiến nói: “Những ai muốn đi, tốt hơn hết nên chạy lên từng thượng trong vòng 15 phút, hoặc kể như hết đi”.
Thế là tôi lại tất tả chạy vào Tòa Đại sứ, leo cầu thang lên mái nhà. Tôi ngồi bệt ở đấy chờ, nhưng không thấy gì. Chỉ vài người im lìm lặng lẽ. Rồi chiếc trực thăng đến. Một chiếc Huey của hãng Air America. Viên phi công vẫy ngón tay làm hiệu. Chúng tôi không rõ anh ta muốn nói gì vì không có vô tuyến truyền thông, chiếc này không thuộc quân đội. Không có một tần số nào để anh ta nói chuyện được với Thủy quân Lục chiến. Chiếc trực thăng đậu xuống nóc thượng tòa Đại sứ. Thủy quân Lục chiến kéo cánh cửa xuống. Bấy giờ tôi là người duy nhất đứng đấy. Những người khác đã kéo nhau xuống đợi dưới sân rồi. Lính Thủy quân Lục chiến nắm lấy tôi, nói: “Nếu muốn đi thì nhấc đít lên mà vào”, họ ném tôi vào chiếc trực thăng. Vừa lọt, tôi thấy ít nhất đã có ba người Việt ngồi phía sau. Viên phi công cho cất cánh. Ba gã Việt Nam đã cướp chiếc máy bay!
Hình minh họa
Đây là một chiếc trực thăng của Air America đang sắp rời Tân Sơn Nhất thì ba người lính Việt Nam Cộng Hòa nhảy vào với mấy khẩu súng lục. Tôi nói: “Tôi mày mò mãi mới vào được đây, thế mà bây giờ lại chui phải chiếc trực thăng đang bị không tặc uy hiếp!”
Chúng tôi bay ra. Tôi ngồi giữa viên phi công và mấy cha lính. Viên phi công quay lại bảo: “Chào mừng quý khách đã vào chiếc phản lực 707 đi Havana (Cuba). Tôi không dám cả quyết sẽ đi đâu, nhưng mấy chú này đang đòi ra mấy chiếc tàu của chúng tôi”. Viên phi công la lên. Tôi nghe câu được câu mất, khó khăn lắm mới hiểu mọi chuyện đang xảy ra. Rối cả đầu.
Chúng tôi nhìn thấy những chiếc trực thăng khác đang bay ra, vì chúng tôi phải ngồi ném hỏa châu để tránh hỏa tiễn tầm nhiệt. Chúng tôi qua sông, bắt đầu hạ cao độ. Chúng tôi bay qua một bãi biển nhỏ, dưới ấy có trực thăng đậu, chúng tôi xuống rất thấp, gã Việt Nam đang nói gì đó với viên phi công. Chúng tôi vòng lại bãi biển nơi có mấy chiếc trực thăng đậu, rồi tiếp theo tôi nhìn thấy mấy chiếc trực thăng ấy bốc lên khỏi bãi biển. Mấy cha này đang tìm cách bay theo một người nào đó. Họ không biết tàu Mỹ đậu ở đâu. Tôi đoán họ không phối hợp gì với ai. Sau này mới suy ra được, nhưng lúc ấy tôi không biết điều này.
Ánh sáng bấy giờ còn lờ mờ, vẫn có thể nhìn thấy được. Tôi thấy đằng sau là cả một đoàn lũ trực thăng bay theo. Chúng tôi định điểm một Hàng không Mẫu hạm, đó là chiếc U.S.S. Hancock. Chúng tôi bắt đầu hướng đến, viên phi công liên lạc được với chiếc tàu.
Khi trực thăng hạ xuống vừa chạm sàn tàu thì lính Thủy quân Lục chiến đã đứng ôm súng chờ lăm lăm. Viên phi công đã báo với họ “Chúng tôi có người với vũ khí trên trực thăng”. Nên khi vừa bước ra thì đám lính Mỹ thổ tả ào tới bắt tôi nằm úp xuống đất, hai tay dang thẳng như chim bay cò bay để lục lọi khám xét. Một tên lục cả vào đít tôi, tưởng có giấu giếm gì trong đó. Đây là chuyện lố bịch nhất chưa từng xảy cho tôi. Mọi sự làm tôi vừa giận vừa ngượng. Tôi luôn miệng nói: “Tôi không liên can gì đến chuyện này sất cả”. Vì thế họ mới kéo tôi sang một bên rồi vặn hỏi mấy cha kia. Đến lúc này tất nhiên các trực thăng khác bay đầy tới, không còn chỗ trên sàn nữa, người ta phải xô sang một bên, đẩy xuống biển. Tình trạng hỗn độn như cái sở thú. Một chiếc đậu xuống mũi chiến hạm. Chiếc này quạt bay hết mọi thứ ở mũi tàu, nó đậu nhào xuống một chiếc trực thăng khác. Một chiếc chở theo xe gắn máy. Nhiều chiếc mang theo cả những đồ lộn xộn đại loại như vậy mà móc trên lưới. Không phải chỉ trên chiến hạm chúng tôi mà cả trên những chiếc khác người ta cũng phải xô trực thăng xuống biển vì không còn chỗ. Sau cùng, chúng tôi xuống từng dưới, nơi đây chật ních người. Tôi vào một phòng riêng, nơi đây có một số thông tín viên. Ken Kashiwahara đang ngồi đấy. Tôi bước vào: Cái túi đựng phim chính là của anh ta.
Tôi chưa hề bao giờ tranh cãi về việc báo chí đã dự phần vào việc làm cho nước Mỹ thất trận. Các cuộc biểu tình đã diễn ra từ lâu, cả trước khi tôi đến Việt Nam. Có rất nhiều cuộc biểu tình phản đối chiến tranh xảy ra và cứ tiếp tục lan rộng. Tôi không rõ chúng tôi có thể hành động gì ngõ hầu làm cho người ta có thể chấp nhận được cuộc chiến ấy. Song le, chiến tranh quả là một chuyện xấu xa bỉ ổi. Và người ta có thể hỏi tại sao chúng tôi không viết về những chuyện chiến thắng? Vâng, chúng tôi không phải luôn luôn chỉ viết về những tin chiến bại, có thời chúng tôi đã làm những bản tin rất tốt về người Mỹ và người Việt, những loại bản tin được gọi là tin tích cực.
Tuy nhiên, nếu quan sát kỹ mọi chuyện ở đây thì người ta không thể nào tích cực nổi. Chúng tôi đã chứng kiến quá nhiều lầm lẫn. Chúng tôi phải làm gì bây giờ, phải nhìn các sự kiện ở một chiều hướng nào khác mà bảo các sự kiện ấy không bao giờ xảy ra hay sao?
Tôi không nói nhiều về chuyện Việt Nam. Đã có quá nhiều quyển sách được viết, trong đó họ nhắc đến tôi, trích dẫn việc tôi đã nói câu này, câu kia. Tôi cảm thấy phiền về những điều ấy, chắc chắn thế. Có nhiều lần tôi đã từng ao ước phải chi tôi có thể làm khác hơn, cả về phương diện cá nhân lẫn phương diện chuyên nghiệp. Đã có thời tôi từng nhìn lại dĩ vãng mà nghĩ tất cả đều chỉ là một sự uổng phí thôi.
Hình minh họa
Tôi không đến đấy với hành trang dư thừa như những người khác. Tôi không mang súng ống bắn chác ai. Tôi không phải giáp mặt chuyện ấy. Nhưng tôi cũng đã trải qua ba năm ở đất nước này. Tôi đã mất nhiều bạn tốt người Việt, trong đó có một nhân viên quay phim mà tôi rất yêu mến, anh ta đã bị giết. Thực chẳng vui sướng gì khi phải khiêng xác nạn nhân về để thông báo với gia đình anh. Những người ấy bị sát hại vì họ đã làm tin cho truyền hình Mỹ. Họ chết trong các cuộc tấn công. Trong khi ấy gia đình họ nào có ý niệm truyền hình Mỹ là gì, nào biết chồng họ làm gì.
Tôi đã tới viếng Đài Kỷ Niệm Chiến Sĩ Trận Vong Việt Nam lần đầu tiên với một Cựu chiến binh. Mọi người thường tưởng người tù binh chiến tranh bị giam lâu nhất là Edward Alvarez, nhưng thật ra có một người khác bị giam lâu hơn nhiều. Anh này ở dưới vùng Key West. Anh mới bị chứng trúng phong cách đây không lâu. Năm 1985 khi đang làm một chương trình truyền hình, tôi vẫn cố tìm những cựu chiến binh Mỹ trở lại thăm Việt Nam, đến lúc ấy tôi vẫn chưa hề viếng Đài Kỷ Niệm Chiến Sĩ Trận Vong. Anh chàng này tới Hoa Thịnh Đốn, tôi gặp anh trong một tiệm ăn. Hiển nhiên tôi không thể nào phỏng vấn anh: Anh đã bị trở ngại trong việc phát âm. Tôi nói: “Ngày mai có muốn đi thăm Đài Chiến Sĩ Trận Vong không?… Anh đã đến thăm chưa? Anh có muốn đi không?” Anh ta bảo: “Ừa”.
Hôm ấy anh ta thắng bộ quân phục. Tôi không rõ đã bao nhiêu năm anh không mặc quân phục, nhưng hôm đó anh đã cảm thấy phải mặc quân phục để tới thăm Đài Kỷ Niệm. Chúng tôi đi bộ đến. Nó giống như một bức tường với đầy những cái tên. Tôi không lấy gì xúc động lắm với bức tường này. Chúng tôi bước lần qua, anh ta không ngừng nhìn bức tường. Anh không ngừng lắc đầu nói: “Những cái tên này…. Tất cả những cái tên này!” Rồi chúng tôi bước đến chỗ bức tượng, anh ta đứng đấy nhìn. Và anh bắt đầu khóc. Anh nói “Chúng nó toàn là mấy thằng bé, những thằng bé tử tế tốt lành đó thôi…” Đột nhiên điều ấy đập mạnh vào tâm khảm tôi, những gì anh nói, chúng chỉ là những thằng bé. Người ta thường phân biệt một đàng là những người lính, những người được trả lương, được huấn luyện để đi giết chóc, một đàng là những đứa trẻ con. Nhưng những người lính này, họ cũng đều là những đứa trẻ. Vào giây khắc ấy, tôi chợt nhận ra rằng chi chít trên bức tường kia chỉ là một lũ trẻ con. Điều ấy làm tôi choáng váng. Và đây, người lính đứng đây, người đã từng kéo lê gần mười bốn năm trời trong tù ngục, anh đang tiếc thương cho họ. Anh đứng lặng lẽ, nước mắt chảy dài xuống má. Và lúc ấy, tôi cũng đứng nhìn thời gian trở ngược lại bao năm tháng đã trôi qua.
Về nhiều mặt, may mắn cho tôi vì đã không có một cái tên nào trên bức tường ấy là người mà tôi quen biết riêng tư. Nhưng dẫu thế nào, bức tường vẫn có một sự gắn bó với tôi. Vì về một mặt khác, chính nó đã là một mảnh đời của tất cả chúng tôi.
(1) Quan niệm gia đình trực hệ của người Tây phương chỉ là vợ chồng con cái.
“Lạy Chúa toàn năng, tại sao họ có thể làm như thế?”
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Trước khi nói về Á Châu và Việt Nam, tôi cần mở lời mào đầu rằng tất cả chúng ta đều là sản phẩm của thời đại và môi trường chúng ta. Tôi thuộc thế hệ Đệ nhị thế chiến. Tôi vẫn thích chiến thắng hơn chiến bại. Kể cả chiến tranh Việt Nam cũng vậy. Cho nên, có lẽ dù tôi là một kẻ thua cuộc tệ hại, nhưng tôi vẫn không thích cái lối mà mọi sự đã diễn ra ở đấy.
Tôi không thích cái lối mà mọi sự đã xoay chuyển ở đấy, và tôi cho rằng không cần phải để xảy ra cách thức ấy. Nhưng đây là một câu chuyện thật dài, tôi không muốn phải… đánh một trận chiến Việt Nam từ đầu trở lại một lần nữa.
Tôi là một loại già nua lỗi thời và đã biết quá nhiều về cuộc chiến ấy, ngay cả từ trước khi đến Việt Nam. Đối với đa số thông tín viên có mặt ở đấy, họ đều là những người trẻ dễ thương, chịu khó, đôi khi rất gan dạ, xông xáo tìm tin, đủ mọi thứ, tuy nhiên đây vẫn là cuộc chiến đầu tiên họ tham dự. Phần tôi, tôi chẳng lấy gì hứng thú lắm về cuộc chiến này. Tôi cũng gần như chẳng bị xáo trộn gì về ý niệm đạo đức, như phần lớn các thông tín viên khác đã bị. Đối với tôi, mọi cuộc chiến đều vô-đạo- đức, và một vài cuộc chiến này có thể ít vô-đạo-đức hơn một vài cuộc chiến khác, có lẽ. Tôi đã là Thủy quân Lục chiến tại Thái Bình Dương thời Đệ nhị thế chiến. Là thông tín viên chiến trường của Thủy quân Lục chiến trong trận Triều Tiên. Rồi từng làm tin ở rất nhiều nơi khác, từ các cuộc cách mạng nho nhỏ đến các cuộc chiến be bé khắp Á Châu, phần lớn tại Đông Á, tại các cuộc chiến Ấn Hồi. Và chót hết, là trận chiến Pháp tại Đông Dương. Cho nên tôi không phải là kẻ lạ mặt trong bối cảnh này.
Tôi cư ngụ tại Sàigòn từ năm 1965. Bấy giờ tôi đang viết cho tờ Chicago Daily News và cho Dịch vụ hải ngoại của Chicago Daily News. Cùng thời ấy, cũng có các tay ký giả khác đến Việt Nam với tôi như David Halberstam, Mai Browne và Neil Sheehan. Trước đó tôi vẫn phải di chuyển giữa Tokyo, nơi tôi cư ngụ, và Sàigòn, cho mãi đến năm 1965. Bấy giờ vì chúng ta đã gởi quân chiến đấu sang và phải viết thường trực, nên tôi đến ở luôn đấy. Tôi ở đây mãi cho đến 1971, trừ một thời gian ngắn rời khỏi xứ. Rồi tôi đi Hồng Kông. Nhưng không bao giờ tôi thực sự rời xứ này. Người ta không bao giờ thực sự rời Việt Nam, và tôi vẫn cứ đi đi, lại lại như thế.
Khi bản hiệp định Ba Lê được công bố, ngay đám phóng viên phản chiến – Đám phóng viên trẻ – cũng phải thốt lên rằng: “Đây quả là chuyện bán đứng.” Tất nhiên, đó là việc bán đứng. Cho đến thời điểm này, chúng ta chỉ quan tâm có một việc duy nhất thôi: Làm sao lấy được tù binh về. Chúng ta cóc cần chuyện gì khác. Đúng vậy. Và để đổi lại việc lấy tù binh về, chúng ta hợp thức hoá cho sự hiện diện của quân Bắc Việt tại miền Nam, dàn xếp cho Bắc Việt có thể tùy thích đánh thắng người miền Nam. Đó chính thực là khởi đầu của một sự kết liễu. Tôi không hề thấy Hoa Kỳ đặt cho miền Bắc một mối đe dọa nào sau đó. Tôi cho rằng chẳng một ai bị bịp gì về việc này. Thực quá rõ rệt chúng ta đã rút ra, cuộc chiến đã kéo dài hơn chúng ta mong muốn. Tôi nghĩ làm ăn như thế là không tử tế. Tôi cảm thấy việc chúng ta đối xử với chính phủ Nam Việt Nam, một chính phủ hoàn toàn tùy thuộc vào chúng ta, như thế là đê tiện. Thiệu không đích thực là người thuộc cỡ chính trị gia uy tín, nhưng trong quan điểm của tôi, ông không tệ hại như cách chúng ta tạo ra. Tôi nghĩ ông đã cố gắng hành động tốt nhất với tất cả khả năng của ông, trong điều kiện và hoàn cảnh ấy. Tôi nghĩ chính chúng ta mới là bọn đê tiện trong sự đối xử với ông Thiệu.
Hình minh họa
Xin quý vị nhìn xem cách chúng ta áp đặt các tiêu chuẩn luân lý của chúng ta, những thứ quy tắc dân chủ của chúng ta lên một quốc gia chưa hẳn là một quốc gia, Lạy Chúa tôi! Đây chỉ là một nửa miền Nam của cái bán đảo chưa được thống nhất và đã có hai ngàn năm lịch sử. Vậy mà chúng ta đã đòi hỏi, đã yêu cầu họ phải sắp xếp, phải bầu cử, phải làm đủ mọi trò tử tế với cái lối chúng ta vẫn muốn những chú đồng minh bé nhỏ của chúng ta phải làm, phải tôn trọng nhân quyền, Lạy Chúa, chúng ta giờ đây vẫn đang tiếp diễn những trò ấy dưới miền Nam Mỹ.
Tôi sẽ không đi quá xa để nói rằng chính là giới báo chí đã làm chúng ta thất trận, nhưng quả họ đã phụ giúp sự thất trận. Họ không cố ý như thế, nhưng những bài viết, những bản tin tiêu cực một cách tàn nhẫn, không xót thương, không đếm xỉa đến viễn tượng, thì trong quan điểm của tôi, đã là những gì xói mòn sự yểm trợ cuộc chiến. Tất nhiên, cũng còn nhiều dữ kiện quan hệ hơn thế. Ví dụ như việc Lyndon Johnson không bao giờ cố gắng giải thích cho dân chúng Hoa Kỳ hiểu ý nghĩa cuộc chiến này là gì. Ông e sợ dân chúng nổi nóng và sẽ thiệt hại phần nào đến chương trình “Đại Xã Hội” của ông ta.
Tôi cũng cho rằng các ký giả truyền thanh truyền hình đã tạo nhiều tác động mãnh liệt hơn giới ký giả làm báo. Một thông tín viên làm báo không có danh dự gì lắm trong xứ anh ta đến làm tin bởi lẽ ít khi người ta nhìn thấy được đồng nghiệp của họ làm gì. Còn đối với tôi, mặt khác trong ngành truyền hình, dẫu các thông tín viên có giỏi đến đâu, bản chất truyền hình vẫn là việc làm ăn kiểu sân khấu điện ảnh. Tôi xin cho quý vị một ví dụ. Tôi quen một phóng viên làm việc cho hãng thông tấn AP (Associated Press). Một tay sáng sủa, nhiều khả năng mà tôi sẽ không nêu tên. Anh ta đã chán hãng tin AP.
Thông tấn truyền hình ABC đề nghị việc làm. Anh ta nhận làm cho họ. Tôi bảo “Thế là cậu vào kỹ nghệ sân khấu điện ảnh rồi phải không?” Anh trả lời: “Không. Tôi sẽ làm việc cách khác. Tôi sẽ làm một cách thẳng thắn. Tôi chắc chắn sẽ thực hiện được. Tôi tin như thế.”
Thế rồi có một vụ biểu tình của một vài nhà sư Phật giáo. Một tên nào đó ném chai bom xăng làm bắt lửa, cảnh sát chạy đến, đuổi theo hắn. Họ chẳng đánh đập ai, chính tôi đi ngang qua, đã đứng lại chứng kiến mọi việc, ở Sàigòn, chuyện này chẳng đáng gì. Việc xảy ra chỉ có mặt chừng hơn chục người tham dự. Tuy nhiên, trong mọi biến cố, người của chúng ta đều có mặt. Anh cựu phóng viên AP đang thu hình, quay phim. Anh ta thâu cảnh ấy, cẩn thận đưa máy lướt qua khắp đường phố để chứng tỏ khách quan rằng mọi người vẫn đi lại bình thường, vẫn làm ăn buôn bán trong đời sống hàng ngày, như thường lệ, trên đường phố Sàigòn.
Tất nhiên phim của anh ta đã làm thành đoạn tin buổi tối. Bản tin truyền hình có lửa khói bốc lên! (Lửa của chai bom xăng trở thành lửa nhà sư tự thiêu!) – Đấy, mọi việc bây giờ trở thành như vậy. Điều ấy cũng hoàn toàn dễ hiểu thôi. Ai mà muốn xem hình ảnh một đống xe cộ chạy qua, chạy lại trên đường? Người ta chỉ muốn xem bóp cò bắn súng “pàng, pàng,” thế thôi.
Anh bạn quả có kèm lời dẫn giải, quả có nói mọi việc làm ăn buôn bán ở Sàigòn vẫn bình thường. Nhưng trong những vụ xáo trộn ở Sàigòn trở lại từ thời 1960, người ta vẫn cứ tưởng cả Sàigòn chìm trong biển lửa. Còn vụ biểu tình này chỉ có mặt vài người. Nhưng người ta đã chiếu ra thế, với đầy đủ màu sắc sống động, lại đặt ngay vào bản tin quan hệ của chương trình truyền hình buổi tối.
Hình minh họa
Tôi biết, Morley Safer là một phóng viên truyền hình, một người rất đáng tự hào về các công việc của ông ta tại Việt Nam. Dĩ nhiên ông có quyền đưa ra các quan niệm riêng của ông. Bản tin mà Morley làm ở Cảm Nê năm 1965 (thu hình lính Thủy quân Lục chiến Mỹ dùng hộp quẹt Zippo châm lửa đốt nhà dân làng), bây giờ đã trở thành cổ điển, nhưng tôi vẫn nghĩ loại ấy chỉ là loại giật gân gây xúc động. Khi nói thế, người ta có thể bảo tôi sai lệch, vì chính tôi từng là cựu Thủy quân Lục chiến. Tôi có thể bị người ta cáo buộc có thành kiến, nhưng tôi không nghĩ rằng tôi là người có thành kiến. Sự thật xảy ra thế này: Đây là một ngôi làng rất ương ngạnh. Lính Thủy quân Lục chiến đã nhiều lần cảnh cáo. Họ lập đi lập lại nhiều lần rằng nếu có ai tiếp tục bị bắn mỗi khi qua làng, họ sẽ đốt làng. Và tôi nhớ viên Tiểu đoàn Trưởng Thủy quân Lục chiến – người mà tôi quen biết từ nhiều năm tại cuộc chiến Triều Tiên, lúc ấy hãy còn đeo lon thiếu úy – sau khi xem câu chuyện Safer chiếu trên truyền hình, anh ta buột miệng nói: “Vâng, một xạ thủ Thủy quân Lục chiến dưới lằn lửa đạn tất nhiên không thể hành xử như một viên Đại sứ thiện chí được.” Nhưng câu chuyện của Morley Safer trên truyền hình đã không nói gì về những điều như thế.
Một thời gian ngắn sau đó, Safer ra Đà Nẵng bị Thủy quân Lục chiến chơi một vố. Ông ta tìm tôi yêu cầu giúp đỡ. Tôi hỏi: “Ông muốn tôi làm cái gì?” Tôi không phải là loại người hay giúp đỡ đâu. Chưa kể, Morley là một người Gia Nã Đại. Tất nhiên chẳng phải vì ông ta là người Gia Nã Đại mà tôi chống báng, nhưng có lẽ tôi không khoái chuyện người Gia Nã Đại nhảy xổ vào dạy dỗ chúng ta phải vận hành cuộc chiến khốn kiếp ấy thế nào. Tôi nghĩ trong thời gian ấy mọi chuyện đều có vẻ như vậy.
Tôi không tin người ta có thể thực sự đưa ra được sự thật trên vô tuyến truyền hình. Không bao giờ có sự thông hiểu toàn diện giữa một phóng viên tại chỗ và các nhân viên mãi tận New York, nơi người ta phát hình. Tôi cho có lẽ như vậy. Tôi đoán việc ấy dĩ nhiên cũng có thể thực hiện được, nhưng tôi biết đã không xảy ra trong thực tế như thế.
Về mặt khác, tôi nghĩ: Thực cũng rất khó biện hộ cho một số viên chức Việt Nam (miền Nam). Việc người ta cố ý làm cho hình ảnh của họ trở thành xấu xa tệ hại, việc này không khó, vì chính họ cũng đã tự làm cho hình ảnh của họ xấu xa tệ hại rồi.
Nhưng tôi cũng nghĩ sự thiếu hiểu biết của các thông tín viên đã rất lớn lao. Nhiều điều người ta thường mãnh liệt kết án người Việt Nam (miền Nam), nhưng trong quan điểm chính họ, những điều ấy không nhất thiết xấu xa. Lấy thí dụ: Chức vụ Tỉnh Trưởng, một chức vụ được rất nhiều người mong muốn. Đối với Mỹ, tất cả các Tỉnh Trưởng Nam Việt Nam tự trong định nghĩa, đều là những kẻ tham nhũng. Theo tiêu chuẩn chúng ta, họ tham nhũng, vì lẽ họ đã nhận tiền, họ thâu góp mua bán chức vụ: Chủ tịch Xã trả bao nhiêu, Trưởng ấp trả bao nhiêu, người ta đều phải trả tiền cho ông ta. Tuy nhiên trong cặp mắt người Việt, những việc ấy không chướng tai gai mắt đến độ khủng khiếp, vì viên Tỉnh Trưởng cũng sẽ bị xem là xao lãng bổn phận đối với gia đình, nếu ông ta không lo săn sóc cho gia đình, cho bà con ông ta trước. Chúng ta gọi việc này là chế độ gia tộc (nepotism), thói bao che dung túng người nhà, nhưng người ta vẫn thường dễ dãi chấp nhận trong truyền thống. Việc ấy, bấy giờ đã xảy ra như thế này: Thoạt đầu, có lẽ người Việt cũng chẳng nhũng lạm gì hơn mọi xã hội cổ truyền khác. Nhưng rồi chúng ta đã đến với đầy rẫy tiền bạc, mọi thứ đều cùng đến với sự hiện diện của người Mỹ, và người ta trở nên nhũng lạm hơn bao giờ hết, vì đã có quá nhiều thứ để mà nhũng lạm. Với một đề tài như thế, làm sao người ta có thể giản dị diễn tả ra trong một bản tin chỉ có ba phút vào phần tin tức truyền hình buổi tối?
Nội việc nhắc đến những đề tài ấy trong hình thức bản tin cũng đã là một hành vi lăng nhục thái quá. Làm sao có thể diễn tả đầu đuôi, có thể nói hết trong truyền hình, trừ khi làm hẳn một phim tài liệu để diễn tả hoàn cảnh, phong tục, tập quán, tinh thần của người miền Nam Việt Nam. Nhưng không ai chú trọng việc này. Lúc ấy tôi có viết chuyện ấy, thỉnh thoảng nhiều bài được đăng lên báo, nhưng tôi không rõ có ai để ý đến không.
Hình minh họa
Tham nhũng trở thành một vấn đề khủng khiếp tại Việt Nam khi nó lan tràn xuống các cấp dưới. Nguyên thủy, đời xưa vấn đề tham nhũng trong xã hội Việt Nam chỉ xảy ra ở giới cao cấp thôi. Một phú thương muốn hưởng vài đặc ân, anh ta có thể đến xin yết kiến quan thượng, ông quan này có thể phán: Nhà ngươi đang làm xáo trộn cái dòng yên tĩnh ở đây! Câu đó có thể được hiểu: anh ta cần phải đền bù lại việc đã làm gợn sóng trên mặt nước yên tĩnh của dòng lịch sử đang chảy trôi. Và việc này không ảnh hưởng gì đến nhiều người khác.
Tôi nhớ người đầu bếp của tôi, tên Nguyễn Văn Minh, có lần đến tìm tôi. Anh ta rất xúc động, giận dữ. Anh ta nói Cảnh sát gọi anh, họ chẳng kể gì đến việc anh đã có tám đứa con và đã trên bốn mươi tuổi, nay họ tống giấy bắt anh nhập ngũ. Anh ta không có khai sinh của mấy đứa con để chứng minh. Tuy nhiên Cảnh sát cho biết có thể tìm ra những giấy khai sinh này nếu anh chịu mười lăm ngàn đồng bạc. Vâng, anh Minh nổi giận không phải về việc Cảnh sát đòi ăn hối lộ. Anh Minh nổi giận vì Cảnh sát đòi nhiều quá. Anh Minh cho rằng tổng số mười lăm ngàn là quá nhiều, anh phải thương lượng để hạ bớt, nhưng họ vẫn không chịu – Vâng, chính tôi là người đã trả cho anh ta số tiền hối lộ đó. Anh đã được tha, không phải nhập ngũ nữa.
Tôi ở vị thế khó biện hộ cho người miền Nam Việt Nam, vì chính tôi cũng đã từng chỉ trích họ. Tuy vậy, tôi vẫn không cho rằng họ quá xấu như người ta sơn phết ra. Mặt khác, hãy thử nhìn xem họ có đặc điểm nào đáng đề cao để bù đắp lại hay không? Vâng, nhiều người đã tận tình chiến đấu. Trong hầu hết các cuốn sách viết về những ngày cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam, đều thấy bằng cớ nói về các đơn vị đã chiến đấu cực giỏi. Một số sĩ quan, thay vì đầu hàng, đã tự sát.
Cũng đừng nên quên khi Quốc hội cắt viện trợ, sự kiện này có một ảnh hưởng tiêu cực cao độ giáng lên tinh thần binh sĩ miền Nam. Bấy giờ chúng ta đang có mặt trong một xứ sở mà trên nguyên tắc đáng lẽ phải có đầy đủ phương tiện để chiến đấu, và khi rút đi, tối thiểu chúng ta cũng phải cung cấp phương tiện cho họ. Nhưng rồi kết cuộc, chúng ta cắt cổ họng họ bằng việc cắt viện trợ. Tôi không cho hành vi này là một hành vi tử tế.
Khi Ban Mê Thuột mất vào tháng ba, 1975, tôi cảm thấy đây chính là màn khởi đầu của sự kết liễu. Bấy giờ tôi đang ở Tokyo, trên đường về Hoa Kỳ nghỉ phép. Tôi vừa rời Hồng Kông, nhưng vẫn theo dõi mọi sự, tôi bèn vài lần đề nghị văn phòng cho tôi trở lại Việt Nam, vì e một người làm việc không đủ. (Lúc ấy chúng tôi đã có một người tại Việt Nam). Thế là tôi quay lại và đã chứng kiến tình trạng hiển nhiên đang xảy ra. Quả thực Ban Mê Thuộc chính là điểm khởi đầu của kết cuộc.
Trong những ngày cuối cùng ấy, biết bao phái đoàn đã lui tới Việt Nam. Tôi không buồn để ý đến việc lấy tin viết về họ vì lẽ tôi nghĩ các phái đoàn ấy toàn là những tên độc ác ghê tởm. Thực sự mà nói: Không phải tất cả đều xấu. Ngay cả Bella Abzug cũng trở nên mủi lòng khi bà ta chứng kiến những chuyện ở Cam Bốt. Họ không phải là người xấu, nhưng tôi không tin những bọn du khách lượn lờ đến thăm viếng chiến tranh. Về một mặt, chính họ là những kẻ khai thác chiến tranh. Tôi còn nhớ khi Nghị sĩ Ted Kennedy, người mà tôi xem thường – thực vậy, tôi vẫn xem thường ông ta – một lần có đến Việt Nam, rồi đi ra thăm Bình Định, một tỉnh tình hình khá dữ dội. Bấy giờ ông ta đang nói chuyện với một số nhân viên AID (cơ quan phát triển quốc tế) và một vài thường dân Mỹ ở đó. Ông ta bảo: “Thưa quý ông, có điều gì quý ông cần tôi giúp đỡ chăng?” Một anh tên là Krieger bèn bảo “Vâng, có chớ. Ông có thể nằm nhà để yên cho chúng tôi làm việc ở đây.” Kiểu nói chuyện này có lẽ không nên dùng để đối xử với một quan khách thăm viếng, nhưng đấy chính là điều mà anh ta thực sự cảm thấy như thế vậy.
Hình minh họa
Tôi không bao giờ tiên đoán được cái chung cuộc xảy ra thê thảm như cách chúng ta phải tuôn chạy từ trên nóc nhà toà Đại sứ. Tôi thực sự không muốn nghĩ đến chuyện chúng ta thất trận. Có lẽ, với lý trí, tôi biết chúng ta sẽ thua, nhưng trong tình cảm, tôi khó chấp nhận việc này vì lẽ chúng ta đã đầu tư vào đấy quá nhiều, và theo quan niệm của tôi, chúng ta không cần phải thua cuộc. Tuy thế, lúc ấy, hiển nhiên chúng ta đã bại trận rồi. Trong mắt tôi, chúng ta đã thua cuộc chiến ngay tại Hoa Kỳ, chớ không phải ở Việt Nam. Tôi biết, đó là một bản đúc rập khuôn, chúng ta không bao giờ thua ở các trận đánh, nhưng chúng ta đã thua một cuộc chiến tranh. Và tôi không thể mường tượng giờ chót đã xảy ra như thế. Tôi chẳng bao giờ nghĩ chính tôi cũng phải leo tường chui vào toà Đại sứ tuôn chạy khỏi Sàigòn ngày 29 tháng Tư năm 1975 ấy.
Giữa tháng tư, tôi có ra Xuân Lộc. Tôi không bao giờ nghĩ họ có thể giữ được nơi này. Tôi nghĩ họ sẽ cố đánh một trận ngoạn mục, nhưng tôi không nghĩ nơi này có thể tồn tại lâu được.
Ngày 14 tháng Tư, tôi viết một bài dựa trên các dữ kiện của Trung ương Tình báo mà chúng tôi có, trong bài này tôi nói Hà Nội sẽ tiến chiếm, họ sẽ không buồn chú trọng gì đến các giải pháp tô điểm để giữ thể diện cho miền Nam Việt Nam. Sẽ không có một giải pháp chính trị nào. Họ sẽ vào thẳng mà chiếm đất thôi. Tất nhiên, đấy quả là những gì họ đã làm.
Có một số thông tín viên ở lại, tổng cộng khoảng đâu chừng tám mươi người. Tôi không ở lại, vì hai lý do. Lý do thứ nhất: Tôi biết câu chuyện lớn sẽ là sự sụp đổ Sàigòn. Tôi muốn mang câu chuyện này ra. Tôi không dám chắc tôi có thể gửi bài viết về câu chuyện này ra nếu tôi ở lại. Đó là vấn đề có tính thực dụng. Thứ hai, và cũng quan trọng như lý do thứ nhất, tôi không muốn ở lại. Không, cảm ơn quý vị. Về phương diện tình cảm, tôi không thích chứng kiến bọn Cộng sản kéo vào. Điều ấy không có nghĩa là tôi sợ khi bọn chúng vào, chúng sẽ bắn giết người Mỹ hay đại loại những gì như thế. Và đây là sự thật, sau khi rời Sàigòn, đang ở trên một chiến hạm ngoài biển Nam Hải, người ta loan báo trên máy phát thanh rằng tất cả các thông tín viên ở lại Sàigòn đã bị Cộng sản hành quyết. Tất cả thông tín viên trên tàu cười ồ, bảo “Cứt khô!” Không ai tin chuyện ấy. Không đúng như thế. Tôi không rõ mẩu tin này từ đâu ra, có lẽ chỉ là cái sản phẩm từ lòng mong muốn của bọn quân đội thôi.
Tôi mong được đi Sàigòn sau khi chiến tranh đã chấm dứt. Nhưng người ta trả lời tôi: “Ô, thưa ông Beech, nếu ông trở về Sàigòn, e chừng ông sẽ đụng phải một vài phần tử xấu trong đám bạn bè cũ của ông ở nơi đây.” Tôi bèn bảo: “Tôi không biết vì sao, nhưng tất cả các phần tử xấu mà tôi quen biết tại Sàigòn, bây giờ đều ở Mỹ cả rồi. Tôi nghĩ họ đều đã ra đi cả. Họ được an toàn, chứ không như bọn khốn khổ đáng thương các anh lúc nào cũng phải tự hỏi bữa cơm sắp tới đây, lấy cái gì bỏ vào mồm!”
Đứng về phương diện nghề nghiệp mà nói, tôi rất thích trở lại Sàigòn.
Nhưng tôi sẽ không van nài họ để xin phép trở lại. Tôi là một thông tín viên hải ngoại chuyên nghiệp. Tôi có một tiểu sử ba mươi ba năm làm việc ở Á Châu. Tôi không thuộc loại những cậu phóng viên đặt bản doanh ở Hoa Thịnh Đốn hay ở Los Angeles hoặc nơi nào khác.
Tôi quen (Tướng) John Murray, Tùy viên Quân sự đầu tiên, từ lúc ông hãy còn là một Đại úy ở mặt trận Triều Tiên. Ông là một người rất tử tế. Trước khi rời Việt Nam, ông thường nhiều lần giãi bầy tâm sự với tôi bởi chúng tôi đã có nhiều năm quen biết. Một hôm, ông đầy xúc động. Ông ngồi, nước mắt chảy dài trên hai má. Và ông bảo “Lạy Chúa toàn năng, tại sao họ có thể làm như thế?” Ông biết rằng nhiều đơn vị quân đội miền Nam không còn đủ đạn dược nữa.
Người ta có thể bảo: Ừ, trước sau người miền Nam cũng vẫn bị đánh bại, có cho thêm quân dụng thì chỉ giản dị là kéo dài nỗi thống khổ của cơn hấp hối trước cái chết vậy thôi.
Nhưng nếu người ta có mặt ở Việt Nam lúc ấy, người ta sẽ không có cái nhìn như thế.
Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990.
Tôi đến Việt Nam lần đầu vào năm 1962 với tư cách sinh viên cao học đi du lịch,tôi đã dừng lại đấy vài tuần để thăm viếng loanh quanh. Bấy giờ tôi đang ở Đài Loan với học bổng Fulbright, tôi ghé Việt Nam, ở tại nhà vài người Tàu. Chiến tranh đang tiếp diễn. Mấy người bạn Tàu đưa tôi đi thăm một vùng quê. Nơi này rất quyến rũ, nhưng tôi hơi e sợ vì không rõ chuyện gì có thể xảy ra. Lúc ấy sự hiện diện của người Mỹ đã rõ rệt. Lính và cố vấn Mỹ đã ngồi quanh các quán rượu và mấy tiệm ăn. Tôi bị mê hoặc vì đất nước này, tôi rất thích ở lại, nhưng mấy ông thầy ở Đại học Harvard bấy giờ không ngừng thúc dục tôi mau trở về, do đó tôi phải về lại trường. Lãnh vực học vấn của tôi là môn Lịch sử Trung Hoa, và tôi cũng đọc khá nhiều về Việt Nam, do đó tôi trở nên quan tâm đến đất nước này. Tôi từng cầm đầu nhiều cuộc biểu tình phản chiến tại Đại học Harvard.
Bấy giờ về phương diện chính trị, tôi có quan điểm tả khuynh. Tôi đã tiếp tay thiết lập một nhóm hoạt động tên là TOCSIN, vài năm sau, trở thành SDS -(1) Chúng tôi là nhóm hoạt động chống chiến tranh nguyên tử. Vào khoảng năm 1960-1961, chúng tôi nỗ lực kêu gọi ngưng thử nghiệm nguyên tử trong bầu khí quyển. Hoạt động của chúng tôi có kết quả, Kennedy đã ký với Khruschev một thoả hiệp cấm thử nghiệm nguyên tử trong bầu khí quyển.
Kinh nghiệm trực tiếp của tôi sau đó về Việt Nam là vào năm 1969. Ông của tôi là Cyrus Eaton, một thứ Armand Hammer (2) của thời bấy giờ nhận được giấy của một số bạn hữu người Nga mời đến thăm Hà Nội. Lúc ấy, tôi đang làm luận án cao học tại Đài Loan, đồng thời cũng làm việc phụ cho báo New York Times. Ông tôi gọi điện thoại hỏi cháu có muốn đi Hà Nội không. Tôi trả lời muốn lắm, tuy nhiên tôi không xem việc này nghiêm chỉnh. Thế rồi, một tuần lể sau, ông tôi điện thoại đến, bảo: “Mọi việc sắp đặt xong xuôi, đến Nam Vang gặp ông.”
Chuyến đi này đã ảnh hưởng tôi theo một chiều hướng ngược lại với những người khác. Sau khi đã đọc nhiều bài báo của ký giả Harrison Salisbury, tôi đinh ninh sẽ chứng kiến nhiều cảnh tàn phá vì các cuộc dội bom ở Hà Nội. Thực tế, tôi không tìm thấy gì. Tôi trở nên hoài nghi. Tôi không ngừng yêu cầu người ta đưa tôi đi xem những chỗ bom tàn phá, nhưng chẳng ai có thể làm được chuyện đó. Tôi thấy thiệt hại do bom gây ra không đụng chạm gì đến thành phố. Nó dừng lại ở ngoại ô. Như thế những tuyên bố của Hoa Kỳ về việc đánh bom trên căn bản là đúng. Một số thiệt hại nhỏ người ta chỉ cho tôi mà nói do bom gây ra, thực tế chỉ do rốc-kết của chính họ bắn lên, rồi rơi xuống thành phố mà thôi. Tôi nghĩ Salisbury và nhiều ký giả khác đã đánh lừa độc giả với những tin tức sai lạc. Các thông tín viên sau này sang bên ấy vào những ngày cuối của cuộc chiến cũng nói như thế. Thực tế, những tàn phá do bom gây ra không đúng như những gì Bắc Việt tuyên bố. Hoa Kỳ đã rất thận trọng trong việc đánh bom Hà Nội. Họ quả đã đánh nát khắp nơi, nhưng trừ Hà Nội.
Hình minh họa
Kết luận do tôi thu lượm được trong cuộc thăm viếng Hà Nội là tôi đã tiếp xúc với một chế độ cực kỳ độc đoán. Tôi cũng thấy là họ nghèo khó đến độ không tin nổi. Về một mặt, tôi có thể thấy đây là do hậu quả chiến tranh. Về mặt khác, một trong những việc đập vào trí tôi, là họ đã quyết tâm theo đuổi chiến tranh, bất kể đến việc phát triển xứ sở. Các thủ lãnh Bắc Việt không quan tâm gì đến phát triển kinh tế, không quan tâm đến sự no đủ của dân chúng. Họ chỉ quan tâm đến một mục tiêu quốc gia duy nhất, đó là phải nắm được toàn bộ quyền hành.
Trong chuyến đi này, chúng tôi trở thành những người đầu tiên, ngoài Kissinger ra – đã nói chuyện với Lê Đức Thọ, người bấy giờ đang bí mật thương thảo với Kissinger. Chúng tôi đã gặp Phạm Văn Đồng và chừng nửa tá các thủ lãnh khác của miền Bắc. Tôi thấy họ là những người vừa cứng rắn, vừa thông minh. Họ không quá quan tâm đến con người. Tôi có một ấn tượng mạnh mẽ về quyết tâm đạt đến mục đích của họ, đó là chiến thắng miền Nam, thống nhất xứ sở. Họ kiên định chấp nhận trả bất cứ giá nào để đạt mục tiêu ấy.
Tôi xin kể một việc làm tôi phát sốt. Đó là việc tù binh chiến tranh, bấy giờ đã trở thành đề tài lớn. Bắc Việt không hề cung cấp thống kê, tên tuổi, hay bất cứ gì liên hệ đến tù binh Mỹ, nên không một ai hay biết gì nhiều về chuyện này. Bên Mỹ, dân chúng xúc động về chuyện tìm hiểu tin tức tù binh, nên tôi lợi dụng cơ hội có mặt tại đấy để đặt vài câu hỏi. Tôi không đòi đi gặp tù binh, nhưng tôi có đặt vấn đề là người Mỹ thành thực quan tâm đến việc muốn tiếp nhận một danh sách tù binh. Vì lẽ Hà Nội xem đây là một đề tài không khoan nhượng, nên tôi nói, nếu họ có thể cung cấp một danh sách như vậy, có lẽ họ sẽ đạt được nhiều hỗ trợ ở Mỹ.
Phản ứng lời tôi là những cái nhìn nhạt nhẽo. Họ hỏi: Tại sao người Mỹ phải quan tâm về chuyện này? Sau đó tôi có đề cập với một vài nhà ngoại giao Đông Âu, người Đông Đức và người Hung Gia Lợi, và chúng tôi có vài buổi họp với viên Đại sứ Nga về đề mục này. Tôi nhớ một người Hung Gia Lợi bảo chúng tôi rằng: “Anh biết, người Bắc Việt giản dị không hiểu tại sao người Mỹ lại quan tâm đến các tù binh của mình. Hãy nhìn chung quanh mà xem. Anh có thấy một thương phế binh nào ở đây chăng?” Câu nói làm tôi bàng hoàng. Tại Hà Nội, không hề thấy một thương binh nào. Không hề thấy một người què cụt nào. Tôi hỏi: “Tại sao vậy?” Ông ta bảo “Nếu suy nghĩ thì anh sẽ thấy câu trả lời hết sức giản dị. Đường mòn Hồ Chí Minh là con đường một chiều. Tất cả những người được gửi đi sẽ chiến đấu đến chết, hoặc là sẽ bị bỏ lại đấy.
“Không hề có một ai trở về.” Tại miền Bắc, lệnh nhập ngũ là một bản án tử hình. Họ cũng cho tôi biết có rất nhiều người đã cưỡng lại việc nhập ngũ ở miền Bắc, vì người ta đều hiểu một khi vào bộ đội là sẽ chẳng bao giờ trở về. Cũng đừng quên, gần như không có dịch vụ thư tín ở miền Bắc. Gia đình ở Bắc không bao giờ nhận được thư của người con hoặc người cha vô Nam. Khi vô Nam, kể như người ta chết rồi.
Tại miền Bắc đã xảy ra nhiều việc cưỡng chống lệnh nhập ngũ. Rất nhiều. Nhưng chuyện ấy không bao giờ được nói trên báo chí. Những việc như vậy làm tôi rúng động, về một mặt, tôi nghĩ, người ta đã thi hành những hy sinh cao quí. Nhưng mặt khác, thực đáng sợ! Tôi có cảm tưởng về một mặt các thủ lãnh người Việt miền Bắc thực sự tin tưởng vào nhiệm vụ của họ, là thống nhất đất nước. Nhưng mặt khác, những người dân bình thường ở miền Bắc không hề bao giờ có nhiệt tình đặc biệt gì với cuộc chiến tranh này.
Hà Nội nghèo khó khủng khiếp. Thật khủng khiếp. Nơi này mang nặng một nỗi buồn. Chiến cuộc kéo dài quá, những hy sinh to lớn quá, làm cho con người bình thường trở nên quá sức bơ phờ. Họ kiệt quệ, thiếu thốn từng miếng ăn. Tôi đã từng du lịch qua rất nhiều quốc gia nghèo khó, nhưng chưa hề bao giờ chứng kiến một nơi nào nghèo khó như vậy trên khắp thế giới này.
Hình minh họa
Các thủ lãnh miền Bắc đã vận dụng nhiều khí cụ văn hoá để theo đuổi cuộc chiến: Lòng trung với đất nước, lòng trung với đảng Cộng sản được vận dụng khéo léo, và đã có kết quả với những người dân ấy. Sau này khi phỏng vấn tù nhân Bắc Việt tại miền Nam, tôi khám phá được họ là những thiếu niên bất hạnh. Trong hàng ngũ họ, nhiều người bỏ trốn, nhiều người đào ngũ. Ngày nay, người ta lại có thể chứng kiến một lần nữa sự bất hạnh nơi những thuyền nhân, nơi kinh tế Việt Nam bây giờ xáo trộn tới đâu.
Các ký giả đến Bắc Việt là một nhóm người được lựa chọn cẩn thận. Họ trở về với những hào quang rực rỡ, giống như những người đã đến Trung quốc vào thời Cách mạng văn hoá. Nhưng những người Đông Âu biết rõ các thủ lãnh Bắc Việt đều hỏi: “Bọn khùng nào thế?” Họ đã chứng kiến những gì xảy ra.
Khi tôi nói chuyện với Lê Đức Thọ và Phạm Văn Đồng về các tù binh chiến tranh, họ chăm chăm nhìn tôi với cặp mắt lạnh lẽo mà hỏi: “Anh nói cái gì? Hai, ba trăm con người à? Kể gì chuyện ấy. Chúng tôi tổn thất cả 200,000 người ở miền Nam, và sẽ không bao giờ gặp họ nữa, vậy có ai quan tâm không?” Thái độ ấy rất nhẫn tâm, và cùng một lúc, cũng làm người ta nghẹt thở. Nó bật sáng những ngọn đèn trong đầu óc người ta. Sau này tôi bảo: “Tất nhiên, làm thế nào họ có thể hiểu tại sao chúng ta quan tâm đến vài trăm tù binh, trong khi họ không có cách gì biết được số phận hàng triệu người của họ?” Đời sống của họ là như thế. Tôi tự bảo: “Chúa ơi, kinh khủng quá.” Thế nên ý tưởng của tôi về “cái lý do thần thánh” đã sứt mẻ nghiêm trọng vì chuyến đi Hà Nội. Tôi là một kẻ đáng tức cười. Khi đi, tôi là người chống chiến tranh. Lúc về, tôi thành người chống Bắc Việt. Tôi nghĩ những người như Jane Fonda đến Bắc Việt đã không chịu quan sát. Những người ấy hoặc chưa được huấn luyện đầy đủ, hoặc căn bản là không nhìn ngó. Họ bị thôi miên vì tiệc tùng, vì những cuộc nghênh đón hoan hô, mấy chuyện như vậy thôi.
Tôi trở nên một phóng viên báo chí trong thời gian này. Tôi viết một loạt bài về chuyến viếng thăm Hà Nội cho báo Times. Sau khi bài đầu tiên xuất hiện, viên Tổng giám đốc phát hành cho gọi chủ bút lại hỏi “Butterfield là ai vậy? Hắn làm gì ở Hà Nội? Tiểu sử thế nào? Hắn là ai?” Một thời gian ngắn sau đó, tôi làm cho tờ New York Times ở New York. Tôi bỏ chương trình lấy Tiến sĩ vì một số lý do. Trước nhất, đề tài luận án mà tôi soạn là thứ đề tài chẳng đi đến đâu. Thứ hai, tôi đã theo ban cao học quá lâu. Thứ ba, bấy giờ là thời của những tay tranh đấu. Tại các Đại học Mỹ bấy giờ người ta chỉ muốn tham dự vào hành động. Cho nên việc lấy bằng không hấp dẫn tôi nữa. Và khi bắt đầu viết cho báo Times, ngày hôm sau nhìn thấy bài của mình in trên báo, thì Chúa ơi! Còn gì thích cho bằng.
Mùa Xuân năm 1971 tôi được gọi đến phụ giúp việc thực hiện “Tập tài liệu Ngũ giác đài.” Sau khi tập tài liệu này phát hành, báo Times gửi tôi đi Newark chừng một tháng, rồi gửi tôi sang Sàigòn. Được nhận công tác này quả là một phần thưởng cho việc biên soạn tập tài liệu Ngũ giác đài ấy. Về các cá nhân đã đi Hà Nội với tư cách thông tín viên, không một ai sau đó đến Sàigòn, ngoài tôi. Những người đã đi Hà Nội cho rằng “Chúng tôi đã biết tất cả những gì cần biết về Việt Nam rồi.” Harrison Salisbury là một ví dụ về việc này. Ông ta quá tệ trong vấn đề Việt Nam. Hãy đọc các cuốn sách của ông. Hãy đọc các bản tin của ông mà xem. Ông ta đã sai lầm trong tất cả những đề tài trọng yếu về Việt Nam.
Sàigòn là một thành phố sung túc, dân chúng tương đối tự do, vậy mà người ta đã mô tả một cách xấu xa với đầy rẫy cô nhi trên đường phố. “Vâng, đúng như vậy”, tôi có thể bảo họ, “nhưng thử ra Hà Nội mà xem tình trạng xấu đến đâu.”
Tại miền Nam, quả có những người tù chính trị, nhưng ở miền Bắc lại có nguyên những nhà tù to lớn để giam biết bao tù nhân chính trị. Tôi đã nói chuyện với một số ký giả Đông Âu ở miền Bắc, họ đều nghe nói việc ấy.
Hình minh họa
Lúc tôi đến Việt Nam lần này, lính Mỹ đã trở nên bê bối, lường biếng và bất cần. Đó là năm 1971. Tôi nỗ lực gặp gỡ và gần gũi càng nhiều người Việt càng tốt, thay vì gặp gỡ người Mỹ.
Lần này, tôi đến với một viễn tượng cụ thể. Trước kia, những người đến Việt Nam đều tin tưởng vào chính nghĩa Hoa Kỳ. Sau này, các thông tín viên đến Việt Nam để hoạt động chống chiến tranh. Rất ít người như trường hợp tôi: Khởi đầu bằng các phong trào chống chiến tranh, rồi đã có những thay đổi trong suy tưởng, trong các kết luận. “Việc ấy không phải đơn giản như thế.”
Vì chương trình học vấn của tôi, tôi muốn tìm đến một ngôi làng Việt Nam có nhiều tiếng vang, tôi muốn kiếm một ngôi làng Cộng sản. Tôi xuống Long An. Trước đấy, tôi đã có đọc một cuốn sách của Jeffrey Race nhan đề là “Long An trong chiến cuộc,” một cuốn sách hay nhưng sai lầm từ đầu đến cuối. Thật ra cuốn sách đúng 100 phần trăm, nhưng tới khi tác giả viết xong thì quyển sách đã mất nội dung thực tế. Quyển sách được viết cho đến thời điểm Mậu Thân 1968, và sau cái Tết này, mọi việc đã hoàn toàn thay đổi. Tất cả du kích trong vùng vào Sàigòn chiến đấu đều tử trận. Rồi sau đó Sư đoàn 9 Hoa Kỳ càn đến vùng này, đã quét sạch tất cả cán binh Cộng sản còn sót lại. Cho nên tôi đã bình thản đến làng này mà đi quanh. Quả đó là một ngôi làng từng có cơ sở ủng hộ Cộng sản, nhưng lần này khi đến, tôi có thể tản bộ và ngủ đêm tại đây. Tôi mang theo một thông dịch viên, Nguyễn Ngọc Lương, và tôi đi lại nơi ấy đến mấy lần.
Kết luận của tôi về ngôi làng này là các lý do chính trị của cuộc chiến đã mất rồi. “Suốt những năm chiến tranh khủng khiếp, những hy sinh, bắn giết đã ảnh hưởng nặng nề trên dân chúng, làm cho họ thực sự không còn quan tâm gì nữa. Họ chỉ muốn sinh tồn. Họ khinh bỉ chính phủ Sàigòn về tình trạng nhũng lạm và sự bất tài của chính phủ này, nhưng họ lại sợ hãi Cộng sản về đường lối nặng nề tàn bạo chỉ kêu gọi mộng tưởng mà không kể gì đến bản tính con người. Đối với dân chúng, cái đúng cái sai của một chuỗi mâu thuẫn dài dặc, đã hoàn toàn bị vất bỏ, mà vấn đề thiết yếu chỉ giản dị là làm sao để sống còn thôi.”
Cuộc chiến này không tốt hơn mà cũng không xấu hơn tất cả những cuộc chiến tranh khác. Tướng Weyand có nói rằng bài học chúng ta nhận được tại Việt Nam đó là: Chiến tranh thực bỉ ổi, nhưng đã lâm chiến thì phải dấn mình vào tất cả mọi khía cạnh cuộc chiến. Chiến tranh là giết hại, chết chóc, kinh tởm. Chiến tranh là những gì tuyệt đối xấu xa, nhưng người ta không thể nghĩ khác hơn. Còn nếu không chấp nhận được chuyện ấy, hãy tránh ra.
Nhiều người cho chúng ta có những ác tâm hiểm độc ở Việt Nam, chúng ta xấu xa, người Cộng sản Việt Nam là những người lương hảo. Điều đó là tin tức sai lầm về những chuyện khủng khiếp của cuộc chiến này. Chiến tranh Việt Nam cũng chẳng kém gì những cuộc chiến khác mà chúng ta đã tham dự, tuy nhiên nó đã quá dài so với cuộc đệ nhất hay đệ nhị thế chiến, chúng ta nên nhớ như vậy thôi.
Việc miêu tả về những vụ đánh bom là một ví dụ. Tôi nhớ khi chính tôi tuyên đọc những bài diễn văn phản chiến về các vụ dội bom tại Việt Nam, tôi đã nói về hàng tấn bom mà chúng ta dội xuống. Thế rồi, khi đến Việt nam, đầu tiên tới Hà Nội, tôi cố tìm những chỗ bom tàn phá mà chẳng thấy đâu, thành thực mà nói. Và rồi khi đến miền Nam, tôi sửng sốt về hàng tấn bom chúng ta đã dội nhưng cũng lại chẳng thấy những chỗ tàn phá ở đâu. Chúng ta quả đã dội hàng triệu tấn bom, nhưng chúng ta dội ở trong rừng. Có lẽ, chúng ta đã giết hại một ít người, nhưng chúng ta không hề tiêu hủy các thành phố. Những mô tả về các vụ đánh bom là không chính đáng. Người ta dội bom ở trong rừng, chứ không dội ở đâu khác.
Đến thời điểm 1972, tôi không lấy làm lạc quan nữa. Sau khi hiệp định Ba Lê ký kết, người miền Nam cần phải được Mỹ tiếp tục viện trợ mới giữ cho miền Nam sống sót về phương diện kinh tế, và phải được Mỹ tiếp tục hỗ trợ không lực, thì mới sống sót về phương diện quân sự.
Hình minh họa
Vào tháng Chín năm 1973, tôi rời khỏi xứ. Tôi nói với người đến thay tôi rằng: “Bạn hãy nhớ, cuộc chiến này sẽ có một kết thúc quân sự. Chớ quên điều ấy. Bạn sẽ phải ra đi và phải nắm lấy những tin tức ấy.”
Tôi sang Tokyo năm 1973, cho đến tháng Ba năm 1975, người ta yêu cầu tôi trở lại Việt Nam.
Tôi lên Pleiku tháng ba năm ấy, nơi đây tôi đến tìm gặp người sĩ quan báo chí tại Bộ Tư lệnh quân đoàn II. Người sĩ quan này luôn luôn giữ một cuốn sổ báo chí nho nhỏ, mỗi lần có các thông tín viên đến, anh ta yêu cầu mỗi người ký tên vào quyển sổ. Lần này khi anh mang cuốn sổ cho tôi ký, tôi thấy người thông tín viên cuối cùng đã ký vào đấy lại chính là tôi đã ký năm 1972. Từ đó đến nay không hề có ai. Không một thông tín viên nào đến cao nguyên, họ đã quên bẵng cuộc chiến vùng này.
Sau năm 1973, các phóng viên tin ở hiệp định Ba Lê, họ đều bị mê hoặc và chú ý vào việc Sàigòn và Bắc Việt đã có các nhân viên tề tựu trong cái căn cứ nhỏ ở Tân Sơn Nhứt. Không ai buồn ra ngoài chứng kiến cuộc chiến thực sự thế nào nữa.
Ở Pleiku, tôi đến thăm một số người Việt. Tôi biết nhiều người ở đó. Tôi gặp một người Việt làm liên lạc cho Trung ương Tinh báo Mỹ, một tay khá lanh lợi, và thăm một số người làm cho tình báo của văn phòng Tùy viên Quân sự Mỹ. Những người Việt và người Mỹ tại đây vạch rõ cho tôi thấy một cách chính xác những gì đang diễn ra. Những người tại đây trên căn bản đều biết rõ quân đội Bác Việt đóng tại đâu, số hiệu các đơn vị, vị trí và mục tiêu của họ. Tôi lên vùng ấy chính là để được nghe những trình thuyết này.
Tôi bèn viết một bài nói về kế hoạch Bắc Việt đang sửa soạn tổng tấn công. Tôi vạch ra mối hiểm nguy của cuộc tấn công này đang treo lơ lửng trên đầu chúng ta, tôi nói cao nguyên sẽ sụp đổ và không một ai có thể lường trước được những hậu quả tàn khốc đến đâu.
Tôi cũng tìm ra một sự kiện nữa trên vùng cao nguyên là giá bán bạch phiến hạ xuống rất thấp sau khi lính Mỹ rút đi. Những tay buôn người Tàu đang kẹt một khối lượng bạch phiến khổng lồ mang từ Thái Lan vào. Những binh sĩ vùng cao nguyên không có việc làm nhiều thường mắc phải bạch phiến. Loại bạch phiến này gần như hoàn toàn nguyên chất, rất mạnh, không pha chế.
Binh sĩ rất xuống tinh thần, lúc bị căng thẳng họ trở nên hoàn toàn vô hiệu quả. Tại một sân bắn nọ, không ai làm gì, suốt ngày chỉ ngồi một chỗ say lơ mơ. Sau khi nói chuyện với họ, tôi tìm ra được là có một tỷ số rất cao trong hàng ngũ binh sĩ chiến đấu tại vùng cao nguyên đã trở nên nghiện ngập. Riêng tại Pleiku, việc này đặc biệt chính xác vì đầu nậu bạch phiến chính lại là con trai viên tỉnh trưởng. Người này làm tại trung tâm hành quân, giá bạch phiến của anh ta rất thấp, rất dễ mua. Vùng này ở trong điều kiện tệ hại, lính tráng lại đầy nhược điểm như thế nên rất dễ tấn công.
Tôi đi thăm khắp cao nguyên, viết thêm một số chuyện nữa, sau đó xuống đồng bằng để viết một số chuyện khác, tôi luôn luôn tìm hiểu các lực lượng quân đội căn bản ra sao.
Dân chúng Hoa Kỳ đã quay lại chống đối chiến tranh. Bất cứ việc gì xảy ra trong cuộc chiến đều bị coi là hoàn toàn không thích đáng. Thế rồi chúng ta rút đi. Việc rút quân của Mỹ chẳng những gây các hậu quả chiến thuật mà còn gây nhiều tác hại tâm lý. Nay binh sĩ Nam Việt Nam mỗi lần đi tuần tiễu đều đinh ninh trong đầu rằng: “Chúng tôi không còn không quân yểm trợ, cũng chẳng có pháo binh yểm trợ, và các tư lệnh địa phương chỉ còn bắn hai loạt mỗi ngày.”
Đúng như vậy. Những phương tiện chủ yếu đều mất. Chẳng hạn việc đi cao nguyên, người ta chỉ có thể đến đó và trở ra mau chóng bằng đường hàng không. Nay khi các yểm trợ không quân của Mỹ không còn, người ta chỉ trông nhờ vài chuyến trực thăng mỗi ngày. Như thế làm sao có thể chống đỡ cho hai sư đoàn? Làm sao nổi, trong khi tại miền này Bắc Việt có đến bốn, năm, sáu Sư đoàn?
Hình minh họa
Tôi đã chứng kiến những hậu quả vụ tấn công tháng chạp tại vùng đồng bằng. Kể từ sau Mậu Thân, trận tấn công lớn đầu tiên của Cộng sản tại đồng bằng xảy ra tháng chạp 1974. Sự thành công ở trên mức mong đợi của họ. Nam Việt Nam mất một khoảng đồng bằng mà họ đã từng không bị mất kể từ Tết Mậu Thân. Thực rõ rệt, người miền Nam không còn ý chí ngăn chận Bắc quân nữa.
Tôi ở Việt Nam trong ba tuần lễ vào tháng Ba 1975, đã chứng kiến nhiều điều đáng kinh ngạc. Bắc quân mở cuộc tiến quân quy mô và Nam quân đã xuống tinh thần một cách cực kỳ bi thảm. Ở cao nguyên họ là một mục tiêu dễ dãi – họ ngồi như vịt, không hành động gì, không kế hoạch gì. Tôi viết một bài về chuyện này, nhưng không ai chú ý. Không người nào chú ý đến việc ấy cả.
Tôi trở về Tokyo. Sau đó, sang Áo trượt tuyết, kỳ nghỉ này đã được định trước. Khi đang đi trượt tuyết được ba ngày thì Ban Mê Thuột bị tấn công. Tôi đọc tin này trong tờ International Herald Tribune.
Tôi điện thoại cho viên chủ bút phụ trách phần hải ngoại của tôi mà nói: “Chuyện này có vẻ như cái khởi đầu của chung cuộc đã xảy ra đây. Nếu ông cần người, tôi sẽ về bên đó.” Tôi muốn biết chuyện gì sẽ xảy ra, tôi nghĩ tôi vẫn có thể làm công việc một cách tốt đẹp. Một vài ngày sau, cuộc triệt thoái cao nguyên bắt đầu.
Tôi điện thoại lần nữa. Lần này viên chủ bút bảo “Được rồi. Đi đi.” Tôi nhảy lên tàu lửa sang Zurich, bắt một chuyến bay sang Sàigòn mang theo cả đôi giầy trượt tuyết.
Khi tôi đến, Pleiku đã mất, cuộc tấn công bắt đầu thành tựu. Tôi khám phá ra viên trưởng phòng của tờ báo Times là Jim Markham đã lánh sang Bangkok và không bao giờ thò mặt quay lại Việt Nam nữa. Tuy nhiên viên trưởng phòng cuối cùng này đã làm được một việc lỗi lạc. Ông ta tìm được một chiếc máy bay thuê bao. Chiếc máy bay này thuộc hãng dịch vụ hàng không Continental,ở đó hãng này có vài chiếc máy bay. Đây là loại máy bay gián điệp, do một tay nguyên ở Lực lượng Đặc biệt lái, một tay lớn con lúc nào cũng đeo kè kè khẩu súng lục. Trong sáu tuần lễ cuối cùng của cuộc chiến, chúng tôi đã được anh ta lái quanh với chiếc máy bay ấy.
Chuyến đầu tiên tôi đi với anh ta là chuyến ra Đà Nẵng, chính xác đó là ngày cuối cùng Đà Nẵng còn ở trong tay người miền Nam Việt Nam. Rồi tôi bay đến Nha Trang, cũng là ngày cuối mà người miền Nam còn kiểm soát được. Rồi tôi lại đi Phan Rang. Chúng tôi đi rất nhiều nơi, luôn luôn là người cuối cùng rời khỏi những nơi ấy vì lẽ chúng tôi có máy bay riêng.
Tôi trở nên liên hệ mọi chuyện xảy ra với đầy xúc cảm. Cái ngộ nghĩnh là trong vài tuần lễ đầu tiên của cuộc tiến công, người Sàigòn vẫn không thể tin là những tệ hại nhất sẽ xảy ra. Nhưng người Mỹ ra vùng ngoài, đã chứng kiến những gì xảy ra ở Huế, Đà Nẵng, đã chứng kiến những vụ hỗn loạn, đều biết chung cuộc đến rồi. Và những vụ hỗn loạn bắt đầu lan rộng, nhưng cũng phải mất một thời gian ba, bốn tuần mới đến Sàigòn. Chẳng bao lâu, tất cả những người Việt quen biết đều tới yêu cầu chúng tôi giúp đỡ. Tại văn phòng, chúng tôi đã trả lời họ rằng chúng tôi sẽ chỉ làm được những gì trong khả năng chúng tôi thôi.
Bấy giờ giới thông tín viên rõ rệt chia ra làm hai nhóm. Một nhóm theo quan điểm của toà Đại sứ cho rằng sẽ có thương thảo. Một nhóm khác không tin là sẽ có sắp đặt thương thảo gì. Phần tôi nghĩ đời nào người miền Bắc chịu nhận nửa ổ bánh mì trong khi họ có thể lấy trọn ổ. Đồng thời tôi cũng không tin chiến thắng của Bắc Việt sẽ cải thiện Việt Nam hoặc cải thiện gì thế giới. Nhưng người Mỹ không có sự lựa chọn. Không cách gì chúng ta có thể làm cho Bắc Việt trả giá và ngưng lại nữa. Một khi chúng ta đã quyết định, làm sao có thể thay đổi. Cái bi đát là chỉ người Việt Nam đã thua thiệt xiết bao.
Cuộc di tản cuối cùng trở nên lộn xộn đến độ khôi hài. Tôi có một căn phòng trên tầng thượng khách sạn Caravelle. Tôi là người khách duy nhất trên tầng thượng, nơi đây có một quán rượu. Chỗ này làm tôi bồn chồn vì nếu Bắc quân pháo thành phố, nếu có quả rốc-kết nào rơi xuống phía đường trước khách sạn, cái tầng thượng này sẽ bị thổi tung.
Hình minh họa
Đêm cuối cùng tại đó, tôi ngủ một giấc không yên, thỉnh thoảng giật mình. Mặt trời vừa lên là tôi đi ngay đến văn phòng, chỉ cách đấy một khu đường. Tôi viết đi viết lại những câu chuyện từ đêm trước, thêm các chi tiết cập nhật, ghi việc hai người lính Thủy quân Lục chiến Mỹ tử thương tại Tân Sơn Nhứt, và việc lính Bắc Việt bây giờ đã có mặt trong thành phố này rồi.
Những bài viết đó chiếm một khoảng thời gian. Thế rồi, tôi nghe bảo lính Bắc Việt đã tiến đến khu vực gần ngay Sở thú Sàigòn. Tôi và thông dịch viên Lương định đến đấy xem sao. Tôi chạy xuống thang, cái xe của văn phòng đã đi mất, nhưng Jim Markham còn bỏ lại một chiếc Volkswagen. Tôi nhảy vào xe, xe không nổ. Tôi mất chừng mười lăm phút cố mở máy, xe vẫn không chạy. Cuối cùng Bal Browne ra đường, rồi vào nói: “Rút dây rồi. Chúng ta sẽ phải di tản. Đi thôi.” Bấy giờ tôi đang ở phía ngoài văn phòng. Bấy giờ giới nghiêm 24 giờ, không ai được ra đường. Tôi quay vào văn phòng, mở ngăn kéo, bốc mớ hồ sơ giấy tờ của tôi. Tôi nghĩ nếu cần phải bảo vệ cái gì quý báu, thì chính là những giấy tờ này. Rồi tôi quay lại khách sạn Caravelle, lấy một cái túi hàng không cỡ nhỏ của tôi. Tôi bỏ hết giấy tờ vào túi, xuống thang. Chúng tôi đi bộ đến điểm hẹn, nơi chúng tôi đã được dặn trước, ở phía dưới đường Tự Do. Chúng tôi đến chờ xe buýt, nhưng không một chiếc xe buýt nào đến. Chúng tôi đợi đấy không lâu, nhưng hiển nhiên, không có gì xảy ra ở đấy. Chúng tôi cuốc bộ tới một khu bịnh xá, lại chờ buýt, xe buýt lại không đến. Chúng tôi đợi chừng một, hai giờ đồng hồ nữa thì lúc ấy người Việt đã kéo đến đông hơn người Mỹ. Gần đấy có một khu chung cư, chúng tôi nẩy ý nghĩ là có thể trực thăng sẽ đến đậu trên nóc mà đón chúng tôi. Tuy nhiên cửa khoá, chẳng có lối nào vào chung cư này. Vì thế chúng tôi cứ đợi, rồi (các ký giả) Keyes Beech và Bob Shaplen đều đến nhập bọn với chúng tôi.
Tôi bắt đầu lo. Cái lo lắng nhất của chúng tôi là làm sao đương đầu với các thường dân Việt Nam trên đường phố lỡ có chuyện gì xảy ra. Lẽ tự nhiên trong một tình trạng như thế, họ rất dễ mất bình tĩnh. Trong thực tế, không kể xiết số người Việt đang cố len vào xe buýt, và quả có một số cũng đã vào được.
Khi đến Tân Sơn Nhứt, trong lúc cố vào bên trong thì nghe tiếng súng nổi lên. Cổng vào được cản lại, bên trong có lính. Họ đang tức tối giận dữ. Họ chận chúng tôi một lúc, cuối cùng cho phép chúng tôi vào. Chúng tôi đi xe vào, vừa đến ngang căn cứ Mỹ bên phía trái chúng tôi, thì một quả rốc-kết bay ngang, chúng tôi có thể nghe tiếng rít rồi xé nổ tung căn cứ Mỹ, chỉ cách xe buýt chưa đầy 50 thước. Miểng đạn và các thứ văng qua xe. Rất gần. Chúng tôi có thể nhìn rõ những chiếc trực thăng bên trong bốc lửa.
Giây phút ấy khá kinh hãi. Cuối cùng, chúng tôi rút vào căn cứ văn phòng Tùy viên Quân sự. Chúng tôi đứng thành hàng dài, chia từng nhóm, mỗi nhóm 50 mươi người mà lính Thủy quân Lục chiến Mỹ gọi là mỗi “cột.” Họ có súng máy, súng cối, họ đang bắn. Tôi bước đến hỏi họ bắn cái gì. Họ trả lời họ đang bắn “bọn bất hảo.” Nhưng tôi không thấy có ai ở đấy cả. Trong lúc đứng xếp thành hàng dài và chuyển dần lên, có nhiều người pha trò. Họ bảo: “Này, mấy bạn đứng phía cuối. Khi đi, xin vui lòng tắt cái ánh sáng ở cuối đường hầm nhé!”
Hình minh họa
Khi chúng tôi tiến lên được đầu hàng, một viên Đại úy Thủy quân Lục chiến nói “Vứt hết mọi thứ xuống, chạy cho kịp!” Vài người vội vã vứt tất cả xuống đất, có người lễ mễ ôm cái máy đánh chữ, vân vân. Tôi chỉ có cái túi xách quần áo lót, mấy đồ vặt, ném hết, chỉ giữ những tấm giấy ghi chú. Và khi họ hét: chạy, là chúng tôi chạy. Tôi đợi cho tất cả mọi người trong hàng “cột” vào cả trực thăng, thì tôi nhảy vào.
Tôi vẫn cầm bằng là mình không đi thoát trong lúc bay ra. Tôi tự hỏi không biết đối phương sẽ nã rốc-kết lúc nào. Trên đường vào Tân Sơn Nhứt, chúng tôi đã chứng kiến một máy bay của không quân Nam Việt Nam, một chiếc C-119 vừa cất lên được từ 600 đến 1000 bộ Anh thì đụng ngay một trái rốc-kết, vỡ tan tành. Chiếc máy bay chở đầy người. Tôi lo nghĩ: nếu họ có thể hạ chiếc ấy thì họ cũng có thể hạ chúng tôi. Tôi tiếp tục có cảm giác bất an như thế cho đến khi bay tới biển Nam Hải.
Trên đường bay ra khỏi Việt Nam, tôi cảm thấy buồn bã cho những người đang mất nước. Khi theo học về Trung Hoa, tôi biết những gì đã xảy ra ở đấy sau năm 1949. Bây giờ, những gì tương tự chắc chắn sẽ xảy ra ở miền Nam Việt Nam. Tôi biết tất cả cung cách của đời sống cũ sẽ chấm dứt, và những người trước đây từng liên hệ đến chúng ta, nay thế là tuyệt đối kết thúc.
(1) Students for a Democratic Society – Sinh viên tranh đấu cho Xã hội Dân chủ. (2) Arm and Hammer là một tỉ phú Mỹ nổi tiếng. Ghi chú của dịch giả.
Hắn vào nghề này hoàn toàn bởi sự tình cờ. Hồi ấy hắn mất việc thậm chí xuýt nữa phải” nhập kho” (1) vì bị gã đồng sự phản thùng sau lần tổ hắn biển thủ cả một xe điện thoại di động bắt được của bọn buôn lậu ở dốc Đá Trắng. Hắn thoát khỏi bộ quần áo sòng sọc không phải do thế mạnh của dây rợ hay ô dù gì, mà đơn giản chỉ vì, ông giám đốc vốn là thường vụ tỉnh uỷ, đang ngấp nghé ghế phó chủ tịch, nên đã ỉm chuyện đi. Hắn chỉ bị xử lý nội bộ rồi lặng lẽ cuốn gói không kèn không trống.
Trên đường về, qua thị trấn Đông Ký, một phố huyện mới phất lên từ thời mở cửa, hắn bước vào quán thịt chó. Trước khi hoàn dân, hắn muốn đập phá lần cuối cùng để đưa ma cho sự nghiệp mười sáu năm tận tụy với nghề bây giờ bỗng chốc trắng tay. Tại đây, hắn nhận lời chạy hàng cho bà chủ quán tên là Trần Thị Vinh nhưng khách vẫn quen gọi là “mụ Béo”. Bà chủ quán, bốn mươi hai tuổi, mặt rỗ hoa, giống như một cây thịt với bộ ngực đồ sộ và cặp mông núng nính tuy nhiên dáng đi lại khá nhẹ nhàng uyển chuyển. “Hàng” đây là các chú cầy tơ với đủ các thứ gam màu đen, vàng, vằn, vện… để ngày ngày các tay đầu bếp chuyên nghiệp chế tạo ra thứ “mộc tồn” (2) bảy món nổi tiếng phục vụ các “thượng đế” có nguồn thu nhập mờ ám nhưng khá ổn định từ các dự án xoá đói giảm nghèo.
Lúc hắn đang ăn có một người đàn ông béo tốt bước vào. Nhìn thấy chủ quán, ông ta nói ngay:
– Chị làm gấp cho hai mâm. Nhớ là loại cầy tơ…-
Bà chủ đang thái bánh phở, quẳng dao, nhìn khách nhăn nhó:
– Gay lắm, từ sáng đến giờ chẳng mua được con nào cả ông ạ.
– Chị nói thật hay đùa đấy? – Người đàn ông chợt nghiêm giọng – Hôm nay lãnh đạo uỷ ban làm việc với các sếp tài chính và ngân hàng tỉnh xin kinh phí. Quan trọng lắm. chị cố thu xếp cho.
– Tôi không đùa đâu. Chú có biết các quán khác đã đóng cửa từ cả tháng nay chỉ vì cái lệnh “cấm” của ông chủ tịch nhà chú không? Chung quanh đây hết chó rồi, mà đi xa thì không có người. Thà dẹp tiệm cho khoẻ.
Nghe câu chuyện nhấm nhẳng giữa hai người, hắn chợt nảy ra một ý. Chờ ông khách ra khỏi quán, hắn bước lại gần bà chủ khẽ bảo:
– Tôi có thể cung cấp …chó cho bà.
– Chú ở đâu ta?
– Bên Nam Thành, cũng gần đây thôi. Huyện tôi chưa thấy có lệnh cấm.
Bà chủ bưng ra một đĩa dồi hấp, một bát nhựa mận, một chai 65 (3) rượu ngang đặt trước mặt hắn:
– Coi như tôi đãi chú. Buổi sơ giao, tuy chưa biết rõ lai lịch nhưng tôi quý chú ở tính hào hiệp.
Hắn rót rượu, và nhấm nháp các món đặc sản vừa hỏi nhỏ:
– Cái ông béo vừa rồi là ai thế?
– Ông chánh văn phòng uỷ ban vừa đi nghỉ mát Đà Lạt bằng tiền “chùa” (4) về. – Bà chủ quán hất hàm – Mới về nên ông ta chưa biết cái lệnh cấm nuôi chó. Với lại văn phòng đã ghi nợ ở quán tôi hơn chục triệu rồi, bây giờ cho ký nữa thì hết vốn.
– Ra thế…
– Vậy cứ hai ngày một lần chú mang đến cho tôi.
– Mấy con thì vừa?
– Được ba bốn thì càng tốt nhưng ít nhất cũng phải có hai. – Bà chủ hướng cặp mắt lá răm lúng liếng dưới hai hàng lông mày rậm xoăn tít, nặng sùm sụp, nói chẳng biết thật hay bỡn – Dù sao đây cũng là một hợp đồng làm ăn, tôi sẽ sửa cái lễ vào cửa “Cô” để “Cô” phù hộ cho.
Hắn nheo mắt cười, giọng chớt nhả:
– Thế nhỡ tôi phá hợp đồng thì sao?
– Chú cứ đùa. – Bà chủ lấy ngón tay vuốt quết trầu hai khoé miệng, thản nhiên bảo- Đã làm ăn với nhau thì phải lấy chữ tín làm đầu. Trên đời, hay gì những quân lừa lọc, tráo trở…
Hắn gật đầu cảm ơn rồi bước ra với bộ mặt tái nhợt, thong thả dắt xe đạp. Bà chủ quán như chợt nhớ ra điều gì, gọi khẽ:
– Này, chú gì ơi!
Hắn quay lại:
– Chết, quên, tôi chưa thanh toán…
– Không, đã bảo tôi đãi chú kia mà. Chú tên là gì?
Hắn nói, tất nhiên là một cái tên giả.
– Cầm trước lấy trăm nghìn làm vốn.
– Chị không sợ tôi cầm tiền rồi “phắn” (5) à?
– Đã bảo làm ăn bây giờ phải lấy chữ tín làm đầu. Tôi tin chú vì trông chú có vẻ lương thiện.
Trên đường về hắn phác ra một kế hoạch. Dù sao thì cũng rất ít người biết hắn là viên cảnh sát bị “tuột xích” trong một vụ án mập mờ do ăn chia không đều. Hắn chỉ là gã tốt đen, thấp cổ bé họng làm vật hy sinh cho các sếp sòng, sau đó những “đại ca” đểu giả và tham ăn như chó này trở mặt làm cho hắn thân bại danh liệt.
Quê hắn là xứ đồng chiêm trũng, xa tỉnh, xa huyện, lại chậm phát triển, ít thông tin. Trừ mấy thằng bạn khác ngành ở các xã loanh quanh đã được dặn trước, còn nói chung bà con dân làng vẫn yên trí hắn là cán bộ nhà nước. Hắn lại có mối quan hệ khá tốt với ông chủ tịch nên mọi bí mật về đời tư đều được giữ kín.
Việc làm đầu tiên là hắn thuê đan lồng sắt và tự tay làm chiếc thòng lọng bằng dây dù, cán tre. Với bộ đồ nghề đó, hắn dọc ngang khắp các làng gần làng xa (tất nhiên trừ làng hắn) trong bộ quần áo bò tàng tàng, cái mũ lá rộng vành và cặp kính đen gọng to bằng ngón tay, tìm cái thứ đặc sản mà bà chủ quán phố huyện Đông Ký hợp đồng. Xong việc, hắn gửi bộ đồ nghề trong nhà một thằng bạn mới quen làm nghề lái công nông, lên thị trấn tá túc ở cái nhà bẹp của thằng bạn độc thân vừa đi trại Vân Lĩnh về. Vài tuần một lần, hắn đảo qua nhà đưa tiền cho vợ nuôi con. Phần còn lại, hắn không tiêu pha phung phí mà tích cóp lại, cho vay lãi qua bà chủ quán làm trung gian. Công việc của hắn khá thuận lợi, có những hôm gom được cả chục con. Hắn nhốt lại ở nhà thằng bạn, bán dần từng cặp hoặc ba con một. Bà chủ là người rộng rãi và sòng phẳng. Có lần, hàng mang đến không phải cầy tơ, bà ta vẫn trả đến hai mươi nghìn một ký, và lần nào cũng vậy, đều đãi hắn một bát phở bốc khói. Còn rượu thì tuỳ thích, uống bao nhiêu cũng được.
Điều làm hắn suy nghĩ đôi chút có lẽ là ở hai việc đáng buồn sau đây. Vào một hôm trời mưa, hắn đến làng Bía ở phía nam đường 183 tìm hàng. Người ta mách ông Vấn có con chó hay ăn gà muốn bán. Hắn dựa xe ở cổng rồi vào nhà. Ông Vấn là phó chính uỷ trung đoàn hồi hưu hơn chục năm, trình độ học vấn chưa hết lớp ba nhưng thuộc nằm lòng tất cả các nghị quyết từ trung ương đến địa phương của Đảng, thấy một thanh niên sức dài vai rộng, tướng mạo xem ra cũng khá mà lại làm nghề buôn chó, ngứa mắt bảo:
– Anh không kiếm đựoc nghề nào đỡ nhếch nhác hơn à?
Hắn điên tiết quát vào mặt lão già kiêu binh:
– Ông về hưu, ngồi mát ăn bát vàng, cứ ngồi đấy có Đảng nuôi, cần đếch gì đến ai. Còn tôi, bị mất việc, nhục như con chó nên mới phải buôn chó nuôi vợ con. Đề nghị ông đậy cái miệng lại cho.
Chuyện thứ hai. Hôm hắn sang sông vào làng Giành. Gần trưa, hắn đã mua được hai con, định kiếm thên con nữa, chiều đi luôn, sáng mai về. Đến cổng ngôi nhà có giàn thiên lý trước cửa, hắn đánh tiếng. Nhà chủ đang ăn cơm. Chẳng ngờ, người ra mở cửa lại là cô trung uý phụ trách hộ khẩu phòng Quản lý hồ sơ đang kỳ nghỉ phép. Thế là chẳng kịp nói câu nào, hắn nhảy phốc lên xe co cẳng đạp như bị ma đuổi.
Được hơn một năm, thị trường “mộc tồn” bắt đầu biến động. Mặt hàng đặc sản này vốn hấp dẫn khách nên số lượng quán nhậu đột nhiên nở rộ như nấm mùa xuân. Đội ngũ “di vu cho” (6) phát triển theo cấp số nhân, đông đảo đến mức đi đâu cũng chạm nhau. Hơn nữa, lệnh cấm đã bắt đầu được ban bố ở một số vùng trong huyện của hắn. Chó hiếm dần mà yêu cầu của bà chủ ngày cang cao, hắn đâm lo. Sau tết âm lịch, nghĩa là vào đúng thời kỳ các quán nhậu bắt đầu mở cửa cho một năm mới thì “cầy” (7) các loại ở địa bàn hắn gần như cạn kiệt. Đây là thứ dịch vụ tạm thời kiếm ra tiền. Vợ con trông cậy vào chiếc thòng lọng, hắn không thể giải nghệ. Làm cách nào đây?
Sau một đêm vắt óc suy nghĩ, hắn bỗng nhớ ra đàn “cầy” đông đúc ở làng, vốn là vùng hẻo lánh nên chưa bị lệnh cấm đe doạ. Tuy nhiên phải hợp lý hoá bằng cách nào để không lộ tẩy? Mấy con đầu có thể nói phứa mua cho cơ quan liên hoan tổng kết chiến dịch truy quét tội phạm hoặc hội nghị an ninh khu vực, nhưng còn những con tiếp theo? Bài toán dù hóc búa dến đâu cũng có lời giải. Hồi trước, một thằng bạn làm quản giáo bên trại Ba Lăng có truyền cho hắn chút ít về nghiệp vụ chó, hơn bao giờ hết, đây chính là lúc hoạ vô đơn chí, hắn quyết định tận dụng nó như một thứ cẩm nang trời cho.
Làng Chòi rộng, nhà tranh vách đất tuềnh toàng, nhiều đường ngang ngõ dọc. Cả một cộng đồng đông đúc từ chó đen, chó vàng, chó vá đến chó vện, chó lai cứ theo nhau biến mất không để lại dấu vết làm dân chúng nháo nhào. Ông trưởng công an, sau hôm mất con chó vàng “tứ túc mai hoa” (8) nói với bố vợ hắn:
– Bọn này chủ trương diệt hết chó làng ta rồi mới chuyển sang bước thứ hai là gây án có tổ chức đây. Đểu nhất là nó lại nhè đúng nhà mình…
Ông bố vợ hắn, tuy chưa bị mất nhưng xem ra đã nổi cơn điên, giọng hậm hực:
– Các ông làm ăn chán bỏ mẹ, chưa tối đã rúc váy vợ, nó xỏ mũi là phải. Tôi đã thuê phó Viện rèn một ngọn mác, thằng nào lớ ngớ mò vào là xiên luôn cho hết giống trộm cắp. Mà cũng lạ, nếu bảo bị đánh bả thì cũng có những con không mang đi được, đằng này hầu như con nào cũng mất tăm, tựa như có phép tàng hình.
Hắn cười thầm. Trừ những trường hợp nhốt cũi để trong nhà, còn nói chung, không mấy con thoát khỏi bàn tay như có phép màu của hắn. Hắn có thứ thuốc khá hiệu nghiệm giống như chất ma tuý đặc biệt hấp dẫn đối với chó. Ngửi thấy mùi “ma dược” ấy, bất cứ con nào, dù khôn ngoan đến mấy cũng bị thôi miên. Nó sẽ tự động bỏ vị trí canh gác, chúi mũi tìm đến nơi có mồi. Hắn chỉ việc dùng thòng lọng chẹt cổ, xoa thuốc vào mõm rồi mang đến căn hầm bí mật cho vào lồng sắt. Chừng vài giờ sau, thuốc mê hết tác dụng, lũ chó tỉnh lại, khoẻ mạnh như thường. Đến lúc ấy thì hắn đã ung dung đạp xe trên quốc lộ 183, đàng hoang, lương thiện như bất cứ “di vu cho” nào khác.
Hết chó bên ngoài, hắn bắt đầu “tỉa” chó của của họ hàng. Đầu tiên là ông chú ruột, một con xám tro nặng mười bảy ký rưỡi, được ba trăm năm mươi ngàn. Bà thím tiếc đứt ruột, đắp mả hờ, trồng cây chuối ngược, thắp hương chửi đúng bốn mươi chín ngày đêm. Nhưng rồi chó của các ông chú, bà thím, ông cậu, bà cô cũng dần dần biến sạch. Bà chủ quán thấy ngày càng hiếm, tăng lên hai mươi mốt ngàn một ký và yêu cầu hắn vẫn duy trì hợp đồng. Hắn, sau khi làm xong chén rượu với bát phở nhựa mận, mặt nóng bừng, nhưng giọng vẫn tỉnh, bảo:
– Bà cảm phiền cho. Dạo này họ cấm ngặt. Hết chó rồi. Hôm qua tôi phải lạy van mãi bà dì mới được con này…
Bà chủ tỏ ra thông cảm, giọng năn nỉ:
– Bây giờ tôi chỉ còn trông cậy vào mánh của chú. Hôm rằm vừa rồi, tôi đã đến điện Trầm bốc hai bát hương và xin với “cô” phù hộ cho chị em mình ăn nên làm ra, không phản lại nhau.
Sau vụ chết hụt do bị ông chủ nhà xóm Giữa lao mũi mác vào chân, hắn đâm tin vào trò đồng cốt, bói toán. Nghe bà chủ nói, hắn thoáng thấy sợ. Trên đường về, hắn tự nhủ, cũng chỉ còn hơn chục ngày nữa, thôi đành cố vậy, rồi sau sẽ liệu.
Con thứ nhất và con thứ hai của ông chủ tịch. “Ông thông cảm. Chẳng còn cách nào khác. Xong việc. tôi sẽ mang toàn bộ số tiền bán hai con chó đặt vào khe cửa nhà ông”. Con thứ ba của chính ông bố vợ hắn. Đối với hắn, xích sắt, khoá và lưỡi mác sáng loáng của phó Viện không là gì. Hắn mang đi con chó đen “huyền đề” (9) và để lại cửa buồng một bọc tiền. Ông trưởng công an biết chuyện, sang chia buồn. Cả hai nhìn nhau lắc đầu, không biết nói thế nào về vụ trộm lạ đời.
Nhà hắn có một con chó trắng. Hắn tự bào chữa, mang chó nhà đi không phải là ăn trộm. Hắn sẽ cầm tiền về cho vợ. Tuy nhiên, quyết định rồi nhưng trong thâm tâm vẫn có điều lấn cấn. Hắn bán chó, chẳng may trộm mò vào nẫng sạch đồ đạc trong nhà thì biết tính sao? Mà hắn lại thường xuyên đi vắng. Nghĩ thế nhưng rồi hắn lại tặc lưỡi: “Cứ biết thế đã, ở đây lệnh cấm chỉ có tính tượng trưng, nay mai mua con khác”. Vậy là đêm ấy chính nhà hắn mất chó.
Còn hai ngày nữa mới hết hội. Hắn phải kiếm bằng được con cuối cùng cho đủ số lượng giao kèo. Làng hắn gần như đã hết, trừ vài con chó ghẻ, trụi sạch lông, gầy giơ xương chẳng bõ động tay. Hắn chợt nghĩ đến làng Trụ bên kia sông. Tình cờ, chiều ấy từ xóm Trại về, hắn nghe ngoài đê có tiếng chó sủa. Đó là nhà bà Tảo goá chồng, ngôi nhà duy nhất ngoài bãi mà hắn chưa mò đến. Bà Tảo gần bảy mươi, mắt kém, có con chó vện mới đẻ chừng già nửa tháng. Chó mẹ tuy nuôi con nhưng khá béo và cái chính là rất khôn.
Chung quanh nhà có vườn chuối tây tốt như rừng. Đêm ấy, hắn huýt sáo nhẹ rồi vứt miếng mồi có tẩm “ma dược” vào góc vườn. Con chó khịt mũi đánh hơi nhưng nhất định không ra. Hắn chờ đến nửa tiếng, con Vện vẫn đứng nép dưới gốc chuối cảnh giác, thỉnh thoảng lại rít lên khe khẽ. Nóng ruột, hắn xoa thuốc làm mất hơi người vào mặt và chân tay, sau đó lách cổng chui vào ném miếng bả thứ hai. Con vật hình như chưa hoàn toàn tê liệt mọi giác quan. Cặp mắt nó mở trừng trừng, lóng lánh như mắt ma. Biết rõ trong nhà chỉ có một người đàn bà hoàn toàn không còn khả năng tự vệ, cùng với máu liều của một gã lưu manh từng được đào luyện trong bộ máy công quyền, hắn càng thêm vững tâm trong phi vụ cuối cùng. Lúc này con chó vừa nhìn xoáy vào hắn vừa lấy hai chân cào cào xuống đất rồi quay đầu chạy vào vườn chuối. Hắn cảm thấy lạnh và thất vọng. Bỗng nhiên có tiếng chó con gọi mẹ khe khẽ. Hắn áp tai vào đầu nhà và bất ngờ phát hiện ra đàn chó ở trong gian bếp nhỏ, cửa không khoá, nằm đối đầu với ngôi nhà chính. Lặng lẽ như một tên kẻ trộm chính cống, hẳn lẻn vào bếp lần đến ổ chó bắt hai con. Quả nhiên, hắn vừa ra đến cổng, con chó mẹ lại xuất hiện. Nó rên ư ử, nhe răng lao vào hắn. Hắn nhanh tay vứt miếng mồi thứ ba. Con Vện vội lùi lại nhưng “ma dược” đã làm nó mất mọi phản ứng. Hắn quẳng lũ chó con vào vườn chuối, rút thòng lọng tròng vào cổ con chó mẹ…
Sáng hôm sau, đúng vào ngày cuối cùng của mùa hội, hắn đạp xe vượt chặng đường mười bảy cây số đến thị trấn Đông Ký. Bà chủ quán đang sốt ruột, thấy hắn, mắt sáng lên:
– Hôm nay chú không đến thì tôi sập tiệm. Và mới có một đoàn khách của huyện uỷ đặt ba mươi tám suất mà chưa biết trông vào đâu.
Hắn đỡ chén nước nóng uống một ngụm rồi bắt đầu mở cửa lồng. Con chó bị trói hai chân trước quặt ra đằng sau, nằm bẹp một góc. Bị quăng xuống đất, nó giãy giụa, quằn quại, nhớt dãi chảy lòng thòng, một bên mõm dĩnh đấy cát. Như có luồng điện khá mạnh xuyên qua người, hắn không dám nhìn vào mắt nó nhưng linh tính báo cho hắn biết có chuyện chẳng lành. Con chó thở hồng hộc và bỗng nhiên tru lên một hồi dài thê thảm như tiếng loài sói bị thương hú gọi đàn. Tiếng hú âm âm, ghê rợn làm bà Béo phát hoảng, chắp hai tay vái lấy vái để lên bàn thờ Thổ công. Hắn cười gằn, vớ cây gậy ở gầm giường vụt vô tội vạ. Nhưng có lẽ do tâm thần bắt đầu hoảng loạn nên hắn toàn đập trượt. Con chó cố sức vùng vẫy, và, chẳng biết trong lúc hiểm nguy, nó làm cách nào giựt tung được dây trói, nép vào góc tường tránh đòn. Hắn quyết định trừng phạt đến cùng con chó láo lếu liền cầm gậy bằng cả hai tay vung lên quá đầu. Trong khoảnh khắc, con chó ngẩng lên, hai cánh múi phập phồng, run run. Từ cặp mắt thất thần của nó lăn ra những giọt nước trong suốt như thủy tinh pha lê. Lần đầu trong đời nhìn thấy sự lạ, hắn tái mặt, quẳng gậy, lùi dần về phía sau. Được tự do, con chó lưỡng lự vài giây rồi mới cúp đuôi rông thẳng ra đường.
Hắn ngồi xệp xuống, mắt trợn ngược, toàn lòng trắng. Mọi phản xạ lúc này có vẻ không theo quy luật tự nhiên nữa. Hắn tựa như kẻ mất hết khả năng suy nghĩ mà lần mò trong thế giới vô thức. Và rồi, chẳng biết thứ ma quỷ nào ốp vào, thốt nhiên, hắn bỏ quán bà Béo, bỏ cả xe đạp với chiếc lồng sắt chạy bổ ra đường đuổi theo con chó khốn khổ. Đầu hắn lao về phía trước, hai tay chới với, miệng sùi bọt, sủa váng lên :
– Gâu! Gâu!
Đặng Văn Sinh
(1) Đi tù
(2) Là chó theo cách giải câu đố của Trạng Quỳnh
(3) Chai thủy tinh dung tích 65cc
(4) Tiền do nhà nước cấp
(5) Chạy (tiếng lóng)
(6) Di vu cho: Dịch vụ chó (tên gọi tắt theo kiểu Tây)
Nói nào ngay, tui mới quen ông bạn văn có bút hiệu là Người Trà Vinh. Ổng có làm một cái ‘audio’ bài: “Ba tôi người đánh máy mướn” của tui rồi bắn lên ‘YouTube’.
Bài nầy một em bên Quận Cam, Orange County, Little Sài Gòn, tức Sài Gòn nhỏ, có đọc. Em lớn lên ở Mỹ, nên chữ ‘job’ em đọc đúng ngay chóc. Nhưng chữ ‘ronéo’, chữ ‘stencil’ em đọc trật lất. Vì nó là tiếng Tây nên em bù trất! Tui không chấp nhứt vì em rất đẹp! Mà tui lại có máu dê, máu ‘galant’, nịnh đầm.
Nhưng ông người Trà Vinh cũng là đực rựa như tui, nên tui cằn nhằn, cửi nhửi quá xá!
Trong cái ‘video clip’, thay vì hình nhà thờ Tân Ðịnh thì ông lại chiếu hình nhà thờ Ðức Bà!
Thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, ổng lại chơi vô cái hình nhà hát Con Sò của thủ phủ Sydney, tiểu bang New South Wales. Vì Melbourne cách Sydney tới 713 cây số lận!
Trật chìa hết ráo!
Nhưng cái đoạn quan trọng nhứt trong bài viết của tui là đem CS ra mà “bụp” cho bỏ ghét thì ổng lại tự ý cắt đi! Ổng làm bài viết của tui mất hết 50% ý nghĩa.
Tuy nhiên, tui cũng quan niệm rằng: một tác phẩm không bao giờ toàn bích. Nó hổng trật chỗ nầy; thì sai chỗ kia. Chỉ ra cái trật, chỉ ra cái sai đó là điều nên làm. Còn áo thụng vái nhau thiết nghĩ mình nên đợi lúc đi cúng đình!
Sửa lưng ổng thì ông phải đau. Ổng phải cự tui chớ! Nhưng lạ thay, khác với đám dư luận viên, ổng không giận tui!
Ông không giận là phải! Vì cái tình của tui với cái đất Trà Vinh của ổng cũng nặng lắm nhe! Năm 1971, lúc mới 20 tuổi, tui đã từng yêu mê mệt, yêu muốn xỉu luôn một em ở Cầu Mới, Trà Vinh!
Tui xin cám ơn ông bạn văn Người Trà Vinh đã bỏ công làm ‘audio’ bài của tui mà còn bị tui chê.
Dân Miền Tây mà! Hổng chơi thì thôi! Chơi là chơi tới cùng! Gọi là chịu chơi! Hổng bạn thì thôi! Nhưng là bạn rồi thì chơi xả láng sáng về sớm nhe ông Người Trà Vinh!
o O o
Thưa Trà Vinh, thời mình gọi là Vĩnh Bình, nằm bên bờ sông Tiền, cách Sài Gòn khoảng 202 km và cách Cần Thơ khoảng 100 km, cách Biển Ðông khoảng 40 km.
Ðất Trà Vinh chia cắt bởi sông rạch chằng chịt. Trên đất liền là gò, là giồng, lan ra tới cửa biển. Có nơi độ cao, so với mực nước biển, chưa tới một mét, nên năm mười hai tháng, Trà Vinh ngập mặn tới nửa mét trong vòng từ 3 tới 5 tháng.
Hồi xưa đất Kampuchia gồm Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp, (tức cái đồng bằng sông Cửu Long mình bây giờ). Vua Chân Lạp, Chey Chetra II (1618 – 1628) là con rể của Chúa Nguyễn Phước Nguyên, là chồng của Công chúa Ngọc Vạn. Vua nước nào cũng có nhiều vợ: Miên, Lào, Việt nên nhiều dòng con, mạnh ông nào cũng muốn giành lên ngôi báu, nên giết nhau, hổng anh em gì ráo.
Một hoàng tử yếu thế hơn, trên bước đường bôn tẩu để tồn sanh, thuyền bị chìm nhưng nhờ Phật độ nên thoát chết. Sau lên ngôi, bèn lập chùa tạ ơn. Có chùa là phải có tượng Phật linh thiêng! Và truyền thuyết ra đời rằng: Préah Trapéan (tiếng Khmer), Trà Vinh (âm tiếng Việt), có nghĩa tìm được tượng Phật đá trong ao mùa nước lụt năm đó, dân rước tượng Phật về Chùa thờ phượng!
Sau nầy cứ mỗi lần ông nầy lên ông kia xuống, thay tên đổi họ vùng đất nầy hoài, nhưng người dân vẫn gọi đất Trà Vinh.
Ðất Trà Vinh là một đất đa sắc tộc. Cứ mười người là có bảy người Việt, hai người Khmer và một người Tàu. Rồi yêu nhau ‘sa cạ’! (Khoái là yêu hè! Không phân biệt chủng tộc gì hết ráo)
Rồi sanh con đẻ cái, nên Trà Vinh có đầu gà đít vịt, Tiều lai Miên (!), hoặc Miên lai Việt…
Nên con lai, nhứt là con gái, thừa hưởng nên em nó đẹp não nùng cỡ Ngọc Trinh.
Ðẹp đến nỗi mấy anh xứ Nẩu quê mình, tuốt tự Quảng Nam, phiêu bạt vào sông quê nước chảy đôi bờ. Rồi đời bể dâu nên anh cũng dạt quê người. Nghĩa là ổng vượt biên đó!
Nhưng “Ngọn gió reo buồn trong nhánh mù u” là tui hổng chịu rồi. Reo là vui rồi kêu lên! Buồn mà reo cái gì? Viết là lay buồn hay ru buồn mới đúng!
Ðất Trà Vinh cũng tự mình sản sinh ra một nhạc sĩ nổi tiếng. Ðằng sau đôi mắt kiếng cận thị dày cui, nặng độ, Trúc Phương rất tài hoa với điệu Bolero. Và tui khoái nhứt là bài “Bông cỏ may”. “Những ngày chưa nhập ngũ, anh hay dắt em về, vùng ngoại ô có cỏ bông may”. Rồi lúc đi lính thì: “Ngủ trên cỏ may, thường khi vào tối, nhớ hương may, nhớ cả người”
Ðêm nay, tui lại nhớ cửa Trà Vinh. Nhớ Ba Ðộng, ngày xưa, đêm vượt biển! Nhớ gần Tết năm 1989, khi các nước vùng Ðông Nam Á hăm he sẽ đóng cửa trại tị nạn. Theo lời xúi biểu của thằng em đang ở Adelaide, bên Úc tui liều mình xuống thuyền, dông ra biển.
Tranh Bảo Huân
Chiều 28 Âm lịch nè, 34 năm về trước, bãi đáp ở Lò đường, Kinh Ngang, Mỏ Cày, Bến Tre, cái máy Ray 6 ù ù ra biển. Tài công sợ chạy gần bờ, du kích bắn sảng, nên cứ giữa dòng mà bường tới. Nước ròng, sát cửa biển có cái cồn cát, lé đé mặt nước. Trời tối hù ai thấy, thuyền lủi vô cái ịch, mắc kẹt sình, hết nhúc nhích, phải chờ nước lớn. Tui ló cái bản mặt của mình lên khoang, vừa nhìn mấy đứa nhỏ dân địa phương, trần truồng, mặt mày lấm lem bùn đất, đi bắt sò, bắt hến trên cồn, vừa hút thuốc nhìn trời hiu quạnh. Chắc xuân nầy anh hông về! Thôi phần số tới đâu hay tới đó. Cá chui vô rọ, chỉ biết chờ chiếc vỏ lãi của bọn công an biên phòng ra xúc về, nhốt Khám Lớn Vĩnh Bình.
Nhưng may thay cha con nó mắc bận nhậu Tết nên hổng có đứa nào rảnh mà đi ruồng bắt đám vượt biên. Mười hai tiếng sau, chiều tàn, đêm bủa lưới, bóng tối lan tỏa mặt sông đầy, nước lên, thuyền ra hàng đáy ngoài cửa biển, trái giờ, ngược gió. Sóng nó đánh đùng đùng. Thôi chạy trở vô!
Chín giờ đêm, tui nhảy cái tùm xuống bến sông, xã Mỹ Long, Cầu Ngang bì bõm, nước ngang cần cổ, chòi chòi leo lên bờ, rượt theo một em vợ xuân thì của thằng tài công về nhà em là quán cà phê trong xã trốn. Quần áo ướt nhẹp, em giấu tui trong cái mùng của em, sao mà ấm quá trời! Be he!
Rạng sáng sớm hôm sau, em đưa tui bằng xe Honda ôm ra bờ rẫy, đất giồng, cách bến xe chừng hai, ba cây số, để tui đón xe về Sài Gòn. Sau khi gom cả trăm ngàn đồng tiền dằn túi, tui đền ơn em.
Em cười hí hí, mà rằng: “Ði chuyến sau, xuống tìm em để em lo! Ðừng có thối chí nhe anh Hai! Có người đi tới chục lần mới được. Anh Hai mới có năm, ba lần mà nhằm nhò gì, Lần tới lại đi với em nhe! Em chờ!”
34 năm! Giờ người xưa của tui chắc đã thành bà Ngoại. Xin hẹn Ngoại Trà Vinh kiếp sau nhe!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.