This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
“Chúng không cục cựa nổi nên chúng không bắn chúng tôi được”
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Tháng Tư năm 1975, tôi đang hành nghề Luật sư ở Saigon. Bấy giờ tôi mới hai mươi lăm tuổi. Tôi nghĩ nếu Cộng sản chiếm được miền Nam thì tôi không thể nào sống dưới chế độ này nổi. Tôi không sợ bị Cộng sản giết nhưng tôi yêu tự do, tôi biết Cộng sản sẽ tước đoạt tự do của tất cả chúng tôi. Ngay khi Cộng sản mới chiếm được một vài phần đất, dân đã tháo chạy vì không thể sống với chúng. Dân Đà Nẵng, Nha Trang đều đã chạy vào Saigon tìm tự do. Bấy giờ có hàng ngàn người chạy về thành phố Saigon mỗi ngày.
Từ hai mươi tư cho đến hai mươi chín tháng Tư, tôi đã cố sức kiếm đường xuất ngoại, nhưng không xong. Phải có tiền mới đi nổi, mà tiền nong tôi lại chẳng có bao nhiêu. Ngày 30 tháng Tư, tôi với một người bạn xuống bờ sông Saigon. Chúng tôi nghe nói ở đấy có mấy chiếc tàu lớn sắp đi, hy vọng có thể kiếm được chỗ.
Lúc ấy một đám đông đang vây quanh Cảng. Có một tàu sắp nhổ neo. Chiếc tàu này trước bị hỏng máy. Nhưng đến 30 tháng Tư, họ sửa được một trong hai dàn máy. Thế là họ chất người lên tàu mà chạy. Tàu chúng tôi đi rất chậm. Vì chỉ có một máy. Lúc ấy lại là lúc cần phải gấp rút, vì trước khi nhổ neo, chúng tôi nghe tin Tổng thống Minh đã đầu hàng Cộng sản.
Khi qua sông Saigon, cái đáng sợ nhất là hoả lực trên bờ sông. Tàu không treo cờ vì lẽ chúng tôi biết nguy hiểm, chúng tôi không sợ máy bay bằng sợ xe tăng trên bờ. Ngang khách sạn Majestic, chúng tôi thấy một chiếc xe tăng Nga T-54 được đưa đến, hướng mặt ra sông. Đám lính thiết giáp Cộng sản nhìn chúng tôi. Nhưng bấy giờ dân chúng đang bao quanh chiếc xe tăng để chào mừng, nhiều người trèo lên xe tăng đứng phất cờ. Chính vì dân chúng bao quanh, bọn thiết giáp Cộng sản không cục cựa nổi, chúng không bắn chúng tôi được. Chúng chỉ nhìn. Nếu chúng bắn thì chúng tôi bỏ mạng cả.
Khi chạy đến gần Vũng Tàu, phần lớn mọi người kéo nhau xuống núp dưới boong để con tàu đừng có vẻ khả nghi. Chúng tôi sợ nếu lính Cộng sản thấy tàu chất đầy người, chúng có thể bắn. Cho nên chỉ còn một ít người đứng lại trên boong, họ được nhìn thấy hình ảnh Việt Nam lần cuối. Hình ảnh bãi biển Vũng Tàu. Sau chúng tôi, không còn một con tàu nào nữa. Tàu chúng tôi ra đi là chuyến cuối cùng. Ra đến ngoài khơi Nam Hải, chúng tôi gặp một chiếc tàu Hải quân Hoa Kỳ. Chúng tôi đánh tín hiệu cấp cứu SOS, họ cập đến, cho người lên tàu chúng tôi. Họ cố sửa hộ dàn máy đã hỏng, nhưng không xong. Họ bảo tàu chúng tôi chỉ còn một máy, không thể nào đi xa. Vì vậy, họ cho chúng tôi lên chiếc tàu Hải Quân Hoa Kỳ.
Hình minh họa
Khi tất cả chúng tôi đã lên xong, chiếc tàu Hải quân Hoa Kỳ bắt đầu nổ đại bác bắn chiếc tàu chúng tôi. Họ bắn hụt vài lần. Cuối cùng, con tàu trúng đạn, bốc lửa. Hình ảnh sau chót chúng tôi nhìn thấy là con tàu bắt cháy, từ từ trôi dạt lại phiá Việt Nam.
Tất cả chúng tôi đều cảm thấy đau buồn vì chuyện mất nước. Chúng tôi cảm thấy chính người Mỹ đã để cho Cộng sản thắng. Tất cả những gì chúng tôi cần để tiếp tục cuộc chiến chỉ là viện trợ Mỹ. Chúng tôi đã cạn tiếp liệu. Chúng tôi không hiểu tại sao Hoa Kỳ bỏ rơi chúng tôi.
Nhiều người ở miền Nam Việt Nam trước kia không hiểu Cộng sản là gì. Nghe Cộng sản tuyên truyền, nhiều người đã cả tin vào chúng. Nhưng giờ đây Cộng sản chiếm được đất nước, người ta mới hiểu sự thật về Cộng sản. Họ sẽ chiến đấu chống Cộng Sản. Ngay đến bây giờ vẫn còn nhiều người ở Việt Nam chiến đấu chống Cộng.
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Tôi chào đời ở Đà Lạt, lớn lên ở Huế và Đà Nẵng. Tôi học trung học tại thành phố Đà Nẵng. Sau nhờ cha mẹ tôi giúp cho chút ít vốn liếng, tôi mở một gian hàng buôn bán nhỏ ở Nha Trang, một tiệm bán đồ kỷ niệm. Nhờ buôn bán khá, tôi mở thêm một tiệm nữa ở Saigon. Khách hàng đa số là người Mỹ.
Khi Mỹ rút khỏi Việt Nam năm 1973, nhiều người Mỹ đã bảo tôi rằng Nam Việt Nam chẳng thể nào sống sót nổi. Họ nói công chúng Mỹ đã chán ngán chuyện Việt Nam lắm rồi. Không có Mỹ trợ giúp, Việt Nam tất sẽ bị đánh bại thôi. Tại Nha Trang và Saigon bấy giờ cũng có nhiều dư luận cho rằng trong khi Mỹ và Cộng sản thương thảo tại Ba Lê, hai bên đã có những thoả thuận ngầm. Dư luận bảo Mỹ sẽ rút, Cộng sản sẽ chiếm cả miền Nam, chẳng ai sẽ chặn chúng lại được nữa. Dư luận bảo chỉ trong vài tháng miền Nam sẽ bị chiếm. Những dư luận ấy được chứng tỏ là đúng.
Ngay sau khi Hiệp định Ba Lê ký kết, tôi về thăm cha mẹ tôi và nói rằng: “Quốc gia sẽ thua. Mỹ đã bán đất nước này cho Cộng sản rồi. Bây giờ người mình chẳng còn cơ may nào. Việt Nam sẽ chẳng còn nữa đâu”. Tôi nói với cha mẹ tôi nếu không muốn sống dưới chế độ Cộng sản thì tốt hơn hết phải tìm cách ra khỏi nước. Đầu năm 1975, tôi cũng có nghe những chuyện về ong và sâu rầy. Nhưng không phải ai cũng tin những chuyện ấy. Dân quê có khuynh hướng tin mấy chuyện này hơn là dân thành thị. Ớ thành phố, chúng tôi thường không tin dị đoan như thế.
Khi người tỵ nạn từ cao nguyên đổ xuống và từ phía Bắc chạy vào, tình hình Nha Trang hết sức tệ hại. Lính tráng mất kiểm soát. Họ thẳng tay giết người không lý do. Họ dùng súng cướp bóc dân lành. Hãm hiếp các em gái. Họ làm mọi người kinh sợ, không ai ngăn chặn họ được.
Tôi muốn cha mẹ tôi rời Nha Trang vào Saigon, nhưng cha mẹ tôi không chịu. Nha Trang là quê cha mẹ tôi. Tôi cũng muốn đứa em gái tôi ở Đà Lạt vào Saigon cho an toàn, nhưng em tôi không muốn rời xa người bạn trai ở Đà Lạt. Em tôi bây giờ vẫn còn ở đấy.
Nha Trang rơi vào tay Cộng Sản. Người tỵ nạn chạy túa vào Saigon. Tôi biết chúng tôi đã lâm tình thế ngặt nghèo. Những người tỵ nạn vào bảo Cộng sản sẽ giết những ai làm ăn buôn bán với Mỹ. Họ nói Cộng sản có sẵn một danh sách những người chúng muốn xử tử. Vì tôi buôn bán với Mỹ, tôi đâm lo. Tôi nghĩ có thể tôi đã có tên trong danh sách ấy. Nếu chúng vào đến Saigon, chắc chúng giết. Tôi phải đi thôi.
Hình minh họa
Tôi cố xoay sở, bán tiệm. Nhưng không ai mua. Tiền nong vốn liếng đều kẹt cả trong cửa tiệm và căn nhà. Nhưng ngay đến lúc ấy, nhiều người ở Saigon vẫn không tin Cộng sản sẽ vào thành phố. Người ta bảo “Chuyện này sẽ qua, Cộng sản sẽ thua, nếu ngặt nghèo quá, Mỹ lại nhảy vào”. Nhưng cũng có người bảo: “Điên vừa thôi, Cộng sản đang thắng, ta thua đến nơi rồi”. Những người này đều tìm mọi cách ra khỏi nước. Tuy nhiên, muốn ra khỏi nước cũng chẳng phải dễ. Người Mỹ, người ngoại quốc còn có thể đưa gia đình đi, người Việt làm sao? Ít nhất cũng phải có bạn Mỹ. Có người bảo trợ. Phải kiếm ra một người như thế…. Nên khi đến Tòa Đại sứ Mỹ thăm hỏi thủ tục xin đi, người ta chỉ trả lời tôi gọn lỏn: “Chẳng cách gì!”
Nhưng tôi vẫn cố chạy. Tôi thăm hỏi đầu này đầu nọ. Nghe nói có một người Mỹ dân sự làm ở Tòa Đại sứ, người này có vợ Việt, họ có đường dây đưa người đi. Nhưng cũng nghe nói họ đòi giá rất cao. Tiền nong chẳng có nhiều, nhưng tôi thầm nghĩ: Tại sao không thử. Biết đâu họ đưa đi được?
Thế rồi một bà Việt Nam làm việc với người Mỹ ấy cùng đi với vợ ông ta đến gặp tôi. Bà ta bảo có bao nhiêu tiền nong thì phải đưa hết mới đi được. Tôi nói tôi không có nhiều lắm đâu. Bà ta bảo cô phải biết những nhân vật cao cấp trong quân đội đã trả đến ba chục ngàn đô để ra đi. Có tiền mới đi được. Không tiền, đừng hòng đi nổi.
Tôi chạy vạy được một số tiền để thu xếp đến gặp người Mỹ nọ. Tôi nhờ một người bạn lái xe đến điểm hẹn, nơi người Mỹ đặt đường dây đưa người đi. Đó là một cao ốc ở đường Hai Bà Trưng. Tôi bước vào, đi thẳng lên lầu bốn, ngoài cửa chẳng có bảng đề cơ quan gì, nhưng chung quanh có lính Mỹ mặc đồng phục đứng canh. Khi lên lầu bốn, đã thấy rất đông người có mặt. Tôi chờ trong hành lang cùng với những người khác. Đợi rất lâu. Trong cái phòng trên căn lầu bốn ấy có một người đàn bà đang phỏng vấn từng người. Đợi mãi, cuối cùng mới đến lượt họ gọi tôi vào.
Trong phòng có một người đàn bà và một người đàn ông. Họ hỏi: “Bao nhiêu tất cả?” Tôi đưa hết ra. Tất cả nữ trang, tiền nong tôi có. Họ bảo: “Bấy nhiêu sao đủ?” Tôi hỏi: “Vậy ông bà đòi bao nhiêu?” “Mười ngàn đô. Không đủ cứ việc ở lại. Cộng sản nó chiếm đến đây phiền phức rán chịu. Biết đâu Cộng sản chẳng sơi luôn cái mạng của cô!” Tôi bảo tôi đâu còn có tiền nong gì nữa. Tôi khẩn khoản xin họ cho tôi đi. Họ bảo ra ngoài hành lang ngồi đợi.
Thế rồi họ cũng cho tôi đi. Họ bảo cứ chờ trong hành lang với những người khác. Lát sau họ đưa chúng tôi xuống dưới phòng khách. Đợi một lúc nữa, có xe đến đón. Một người Mỹ lái nhưng hắn không mở miệng nói câu nào. Họ bảo vào xe. Bấy giờ tôi chỉ mang theo có mỗi cái va ly, nhưng vội vã chạy vào xe, đã bỏ quên cái va li tại phòng khách. Vậy là tôi hoàn toàn trần trụi. Chẳng còn gì ngoài hai mảnh quần áo che thân. Người Mỹ lái xe đưa chúng tôi đến một cao ốc khác, cũng ở trên đường Hai Bà Trưng. Họ đưa chúng tôi vào, dắt lên từng hai, đến một căn phòng trống. Họ bảo chúng tôi im lặng đợi.
Suốt đêm, chúng tôi ở trong căn phòng, lăn ra sàn mà ngủ. Ai cũng bồn chồn, lo lắng. Chẳng ai nói với ai một câu. Họ cảnh cáo không cho chúng tôi nói chuyện. Không ai biết chắc mình đang ở đâu, rồi đến nơi nào. Cho đến sáng, chúng tôi mới dám mở miệng nói với nhau, đùa bỡn chút đỉnh. Đã mười hai tiếng đồng hồ không hề có miếng cơm, miếng nước, ai nấy đói lả.
Cuối cùng, một người đàn ông đề nghị để anh ra ngoài kiếm ít đồ ăn cho mọi người. “Tui đi kiếm ít ổ bánh mì với vài ly cà phê cho bà con”. Anh ta nói. Tôi bảo: “Ông ơi đừng đi. Không chừng quay lại chẳng kịp đâu”. Những người khác cũng bảo: “Đừng đi”. Anh ta bảo: “Tại sao lại đừng đi? Tui biết người Mỹ chớ. Họ tốt lắm đó. Tui đi vài phút thôi, họ sẽ đợi mà”.
Hình minh họa
Thế là anh ta đi kiếm bánh mì, cà phê. Một người đàn ông hiền lành, tốt bụng. Anh đi mua đồ ăn thức uống cho tất cả mọi người. “Một bữa ăn cuối cùng ở Việt Nam”, anh ấy nói. Vài phút sau khi anh ta đi, mấy người Mỹ đến. Họ bảo chúng tôi tới giờ rồi. Chúng tôi bảo làm ơn chờ cho một người nữa. Họ bảo không được. Thế là chúng tôi phải đi. Khi người đàn ông trở lại, chúng tôi đã đi cả.
Mấy người Mỹ bảo bây giờ họ sẽ lái xe đưa chúng tôi đến phi trường. Chúng tôi dùng thang máy xuống hầm đậu xe. Cửa thang máy mở, chúng tôi thấy để sẵn một cái xe thùng bít bùng. Không cửa sổ. Hệt cái xe chở bánh. Chúng tôi vào cả trong xe. Họ lái chúng tôi lên Tân Sơn Nhất. Bấy giờ mọi người mới bắt đầu cảm thấy âm thầm buồn bã về chuyện rời bỏ quê hương đất nước ra đi. Vài người gạt nước mắt.
Chúng tôi đến phi trường gần trưa. Ra khỏi xe, họ chỉ dẫn cho chúng tôi đến một khu doanh trại lớn. Trong những căn trại này chúng tôi thấy đã có nhiều người chờ. Họ chờ đợi trong những căn trại khác nhau. Mỗi khi có một chuyến bay tới bốc người đi xong, tất cả những người ở căn trại dưới được chuyển lên căn trại kế. Khi chúng tôi đến, họ cho chúng tôi vào một căn ở xa chỗ máy bay nhất.
Tôi bước ra ngoài. Bên ngoài căn trại tôi chợt thấy một người Mỹ. Ông ta là một người bạn quen biết, tên là ông Albertson thì phải. Ông ấy mừng rỡ trông thấy tôi. Ông ta hỏi: “Cô làm gì ở đây”. Tôi bảo: “Tôi sắp đi khỏi nước, tôi đang chờ máy bay cùng với nhiều người ở căn trại kia”. Ông ta bảo: “Những người ấy sẽ không bao giờ đi được đâu. Đã trễ lắm rồi”. Nghe thế tôi choáng váng. Tôi bảo ông Albertson tôi sợ lắm, tôi sợ Cộng sản giết. Rồi tôi bắt đầu khóc. Ông ta nói: “Đừng lo, tôi sẽ giúp cô đi”. Ông ta dắt tôi lên căn trại đầu tiên, ở trên cùng. Ông chỉ cho tôi một chiếc máy bay lớn, một chiếc C-130, bảo đó là chiếc máy bay kế tiếp sắp cất cánh, cô sẽ được đi chuyến này. Tôi bước vào trong căn trại, cùng chờ với những người ở bên trong.
Vài phút sau, chiếc xe buýt đến. Người tài xế bảo chúng tôi lên đi chuyến bay kế. Chúng tôi lục tục vào xe. Tài xế chở chúng tôi chạy ra phi đạo. Rồi ông ta ngừng lại. Chúng tôi cứ thế ngồi chờ rất lâu. Thế rồi trong khi ngồi chờ, trên phi đạo, chợt vài chiếc phi cơ bay đến. Mấy chiếc máy bay này bay rất thấp. Họ dội bom lên phi đạo.
Lúc ấy xế trưa, trời nóng bức, đột nhiên bom nổ khắp chung quanh. Người tài xế thét lên. Ông ta kêu chúng tôi nhảy khỏi xe, nằm trên mặt đất. Khắp nơi rối loạn, súng ống, tiếng nổ rầm trời. Hỏa tiễn bắt đầu đánh vào những cao ốc chung quanh. Lính Thủy quân Lục chiến bên ngoài xe buýt bảo mọi người nằm dán chặt trên mặt đất. Đừng nhúc nhích. Chúng tôi nghe bom xé nổ, tiếng hỏa tiễn rít ầm đánh xuống. Chúng tôi nghe đủ thứ âm thanh trong không gian. Trong phút giây nằm đây tôi chợt nghĩ chắc chúng tôi sẽ bỏ mạng. Mặt đất rung chuyển. Người kêu khóc. Có người thì thầm nói chuyện. Tôi nghe họ bảo Cộng sản đã chiếm Biên Hòa, bây giờ chúng không còn cho ai ra khỏi nước. Họ nói với nhau là Cộng sản đã tiến tới phi trường, giờ này lên máy bay mà chúng thấy ắt vong mạng thôi.
Nhưng rồi bom và hoả tiễn ngừng. Một Thủy quân Lục chiến Mỹ cất tiếng bảo: “Đừng lo, đây chỉ là phản ứng cuối cùng của Nam Việt Nam. Chính quyền Minh chơi đấy thôi!” Tôi chẳng hiểu anh ta nói gì. Chẳng còn ai hiểu gì. Anh ta muốn bảo vụ tấn công phi trường này là do chính phủ chúng tôi, nhưng chúng tôi đều biết không đúng thế. Có lẽ anh ta chỉ muốn làm chúng tôi bớt sợ. Có lẽ anh ta muốn lừa chúng tôi. Lẽ nào chúng tôi tin chuyện chính phủ chúng tôi lại muốn sát hại chúng tôi.
Hình minh họa
Chúng tôi vẫn nằm ép trên mặt đường như thế dăm phút nữa. Lính Thủy quân Lục chiến chợt bảo: “Vào lại xe buýt ngay. Nhanh, đừng mang hành lý. Đi!” Họ lái chúng tôi đến góc sân bay nơi chiếc C-130 đang đợi. Cửa sau máy bay đã hạ sẵn xuống. Cửa xe buýt mở ra. Lập tức người ta thét lên, bảo: “Mau! Mau! Năm giây đồng hồ thôi! Mau! Mau! Chỉ còn năm giây đồng hồ thôi!” Thế là mọi người đẩy nhau ùa ra cửa, nháo nhào chạy vội đến máy bay. Nhiều người hãy còn ôm mấy cái túi xách, lập tức họ vừa chạy vừa quăng đi. Vào lúc đang chạy ra máy bay, tôi nhìn xuống thấy có một cái khăn lông do ai bỏ rớt trên mặt đất. Người ta đạp lên, có người vấp. Có người đá phải mà chạy. Trong khoảnh khắc tôi chợt thấy đống khăn lông động đậy. Tôi ngừng lại một giây, bảo người đàn bà chạy qua tôi: “Có gì trong cái khăn lông!” Người đàn bà tiếp tục lên máy bay, không lưu ý gì cả. Tôi bèn túm lấy đống khăn lông, cảm thấy trong đống khăn rõ rệt có một vật lạ. Vừa chạy, tôi vừa trụt chiếc khăn ló ra cái đầu một đứa trẻ sơ sinh. Đứa bé không động đậy. Tay tôi chạm vào chân đứa bé. Bàn chân không động. Tôi thầm nhủ: “Trời ơi, tôi vừa lượm được một đứa bé đã chết. Làm thế nào bây giờ?”.
Tôi chạy vào máy bay. Cánh cửa bắt đầu đóng. Chúng tôi chen chúc nhau. Bên ngoài phi đạo vẫn còn người chạy đến, nhưng không kịp. Cánh cửa vừa đóng lại, máy bay bắt đầu chuyển ngay ra phi đạo.
Bên trong chúng tôi đều đứng, không cựa quậy. Tôi ôm đứa bé mà tôi nghĩ là nó đã chết fôi. Tôi ôm sát đứa bé, thử nghe tim đập, nhưng chính lồng ngực tôi dồn dập và tiếng động cơ ầm ĩ đã át đi, không nghe gì nữa. Tôi tựa vách máy bay, cố chống vào vách để đừng đè lên đứa bé, đừng để đứa bé ép lên tôi. Mỗi lần nhúc nhích, tôi lại đạp phải người khác. Tôi tự nhủ: “Sao có thể đến nước này hở Trời, khi không ôm lấy cái khăn lông làm gì? Lúc máy bay hạ cánh mà vẫn ôm đứa bé chết queo thì thực rắc rối. Chẳng biết chừng người ta gửi mình về lại Việt Nam…” Nghĩ thế đâm sợ nên tôi lại khóc.
Tôi bắt đầu suy nghĩ: Biết đâu có một trái hỏa tiễn giờ này bắn đến trúng máy bay thì chúng tôi chết hết. Như những người trên chuyến C- 5A. Và tôi tự hỏi vẩn vơ: Nếu bây giờ chết, chẳng hiểu mình lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục? Tôi có gì lầm lỗi trong cuộc đời? Sau một lúc tôi lại nghĩ: Không, nếu chết bây giờ mình sẽ lên thiên đàng. Tôi có làm gì xấu xa đâu? Thượng đế vẫn biết tôi là một người lương thiện. Nếu phải chết thì cũng lên thiên đàng. Thôi… Đừng khóc nữa. Tôi tự bảo và im tiếng. Nhưng lúc máy bay cất cánh, tôi vẫn miên man nghĩ về bức ảnh thiên đàng hoả ngục. Những bức ảnh tôi nhìn thấy từ khi còn là một con bé con. Người ta đã cho chúng tôi xem bức ảnh hoả ngục với cảnh nướng người trên lửa. Bức ảnh những con người gào khóc, lửa cháy bốn bề vây bủa. Bức ảnh những con người khiếp đảm trong một màu đỏ rực. Và tôi nghĩ: “Cảnh ấy nào có khác gì cảnh Tân Sơn Nhất chỉ mới vừa cách đây vài phút”. Tôi biết tôi không muốn chui vào hoả ngục. Tôi không muốn quay về lại Tân Sơn Nhất. Rồi tôi tiếp tục miên man nghĩ đến thiên đàng. Những bức ảnh đã nhìn thấy trong một màu trắng với những thiên thần trắng toát. Những thiên thần hiền hậu nở nụ cười xinh xắn thương yêu. Tôi tự nhủ: ừ, nếu cái máy bay này trúng phải một quả đạn thì đó chính là nơi mình sẽ bay đến ngay khoảnh khắc. Trong cái suy tưởng miên man ấy, tôi đã cất bước đi qua hỏa ngục, Thượng Đế đã mở cửa cho tôi. Giờ đây Thượng đế đang dắt tay tôi lên ngưỡng cửa thiên đàng. Chẳng có gì mà sợ.
Phải mất mấy tiếng đồng hồ chúng tôi mới đến được phi trường Clark ở Phi Luật Tân. Tôi bực bội, đôi chân tê dại vì đã không nhúc nhích được. Tôi cảm thấy bánh xe buông xuống, cảm thấy chúng tôi ở trên mặt đất. Rồi chiếc máy bay dừng hẳn.
Khi cửa sau chiếc máy bay bật mở, chúng tôi ngóng nhìn ra. Một vùng ánh sáng trắng toát, rất sáng, bỗng hiện ra. Những người đàn bà mặc quần áo trắng đang chờ chúng tôi. Họ mỉm cười. Đã đến được Thiên đường rồi. Tôi mê man suy nghĩ. Một cái chết thực dịu dàng. Nào có khó gì. Thế là giải thoát. Tôi đã bước vào ngưỡng cửa thiên đàng. Tôi biết Thượng Đế đã thương tôi bởi vì các thiên thần của Ngài đã đến.
Hình minh họa
Các thiên thần bảo chúng tôi: Ra khỏi máy bay. Tôi trông thấy các thiên thần đều mang chữ thập đỏ trên tay áo. Những thiên thần này đều là những cô y tá của Hội Hồng Thập Tự. Tôi vẫn sống. Tôi không ở thiên đàng, mà đã đặt chân lên đất Phi Luật Tân.
Một cô y tá chận tôi lại, hỏi có đau đớn gì không? Cô ấy nhìn thấy bên mình tôi ướt đẫm. Cô ấy lại hỏi tôi ẵm gì trong cái khăn lông. Tôi kinh hoảng chìa đống khăn cho cô. Cô ấy nhìn vào, rồi bảo hãy đi theo cô. Cô ta dẫn tôi đến phía ông Bác sĩ.
Họ đặt mớ khăn lông lên bàn. Mở chiếc khăn. Bên trong là một trẻ sơ sinh. Một chú bé trai.
Chú bé nhoẻn cười, đạp đôi chân khi họ tháo chiếc khăn. Chú bé mới sinh chưa đầy một ngày. Mọi người đứng quanh bàn nhìn tôi cười. Tôi cũng cười. Rồi tôi lại bắt đầu khóc. Tôi sung sướng quá.
Ông Bác sĩ khám chú bé rồi bảo: “Chả sao”. Tôi bảo: “Thực thế ư? Không có lẽ nào. Người ta đã đạp cả lên thằng bé, đã đá lên thằng bé. Xin Bác sĩ khám lại xem?” Ông Bác sĩ khám lại lần nữa. Ông bảo:
“Đúng vậy. Chả sao, chú bé khoẻ như voi”.
Họ bảo chú bé đói lắm, phải cho chú bú chút chớ. Họ hỏi tôi muốn cho chú bé bú bây giờ không? Tôi dãy nảy: “Bú cái gì?! Lấy đâu ra sữa mà cho nó bú? Ô hay, tôi có phải là mẹ thằng bé đâu?”.
Những người khác cùng đi máy bay đứng vây quanh. Bây giờ ai nấy đều tử tế. Họ bảo nhau: “Tránh rộng chỗ cho bà má và chú bé thoáng chút nào”. Trước đây không lâu, chính họ là những người đã dẫm lên đứa bé mà chạy.
Các cô y tá bắt đầu đi kiếm xem ai là mẹ chú nhỏ. Họ tìm ra được một cô gái trẻ, dưới hai mươi. Xanh xao ốm yếu… Đôi môi nhợt nhạt. Họ vặn hỏi một lúc, rồi đưa cô ấy lại phía tôi. Cô ta nhìn tôi nhỏ nhẹ hỏi “Chị đã cứu con tôi phải không?” Tôi nói: “Vâng”. Cô ấy bảo cô ấy đã sinh đứa bé ngay trong phi trường ngày hôm trước, cô sợ người ta không cho đem đứa bé mới sinh vào máy bay, nên đành để con trên phi đạo, hy vọng người nào có từ tâm nhặt lấy đem về. Cô ta bật khóc nói rằng lúc ở Tân Sơn Nhất cô đã hoảng sợ quá. Chẳng biết đã làm gì. Cô ấy không chồng. Cô đi một mình và quá sợ. Bây giờ cô lại sợ người ta không trả đứa bé. Cô sợ tôi muốn giữ lấy đứa bé.
Tôi ôm chú nhỏ lên, trao vào tay cô mà nói: “Cho con bú đi nào”.
Tại Phi Luật Tân lòng tôi tràn ngập yêu thương. Tôi nghĩ Trời vẫn thương xót dân Việt. Tôi nghĩ biết đâu Thượng đế đã nâng ẵm chúng tôi như tôi đã nâng ẵm lấy chú bé… Tôi bỗng nhìn thấy kỳ diệu biết bao là cuộc sống. Và kỳ diệu biết bao khi được sống còn.
Tôi lại miên man chìm vào những ý nghĩ riêng tư. Tôi nghĩ biết đâu chính đứa bé sơ sinh quấn trong chiếc khăn lông chẳng là một thử thách. Biết đâu chính vì tôi ẵm đứa bé mang theo mà Thượng Đế đã cho chiếc máy bay an toàn đến đất Phi. Biết đâu nếu tôi bỏ chú bé lại, một trái đạn đã nhắm trúng máy bay mà kết liễu tất cả. Tôi đã cúi nhặt đứa nhỏ, đã ẵm nó lên mà Thượng Đế cứu rỗi chúng tôi. Tôi cho rằng đấy chính là sự thực.
Vâng, tất cả mọi sự rồi cũng trở lại yên lành. Và cuộc sống vẫn là cuộc sống đẹp tươi.
Nguyễn Phúc Hậu (Phó Chủ Tịch Hội Đồng Thị xã Nha Trang)
“Vâng, chúng tôi đã chiến đấu”
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Tôi nguyên là Phó Chủ Tịch Hội đồng Thị Xã Nha Trang và Tỉnh Khánh Hòa. Tôi được bầu vào chức vụ ấy năm 1970, sau đó tái đắc cử năm 1974 với nhiệm kỳ bốn năm. Chính trị có sẵn trong huyết quản tôi. Tôi mong tham gia chính trị để phục vụ dân tộc tôi. Tôi sinh năm 1931, thế hệ tôi chính là một thế hệ của chiến chinh. Khi tôi còn nhỏ, bấy giờ là thời Thế giới đệ nhị Thế chiến. Chúng tôi đã chiến đấu chống Nhật. Đến khi tôi trưởng thành, người Việt chúng tôi chiến đấu chống Tàu, chống Pháp, chống Mỹ và chống cả lẫn nhau. Chiến đấu không ngừng.
Tôi thực rất mong có ngày được nói chuyện với Mike Mansfield. Sau khi Saigon sụp đổ, lúc đang ẩn náu ở Saigon, mở đài Tiếng Nói Hoa Kỳ tôi có nghe Mike Mansfield tuyên bố: “Đất Việt Nam không đáng giá mảy may cho một sinh mạng Mỹ!! ” Lời tuyên bố ấy làm tôi rất buồn, vì tôi nhớ đến sự dũng cảm của những cố vấn Mỹ của tôi trong cuộc chiến, những người mà tôi đã có lòng thương mến. Tôi nghĩ những người Mỹ tham dự vào cuộc chiến Việt Nam mà tôi biết, họ đều hiểu rằng họ đã chiến đấu cho một lý do cao cả: Bảo toàn Tự do. Mike Mansfield không hề biết gì về việc đã có bao nhiêu người bỏ mình tại đất nước Việt nam trong công cuộc chiến đấu chống Cộng, ông ta không xem truyền hình để thấy hàng bao nhiêu ngàn con người tháo chạy khỏi các Tỉnh khi Cộng sản tiến vào. Ông ta cần phải biết vì đâu họ chạy. Ngay từ năm 1954 đã hơn một triệu người Việt bỏ chạy từ bắc vào Nam. Mike Mansfield cần phải biết tại sao.
Tôi ở Nha Trang ngày Thị xã này thất thủ. Tôi đã bảo vợ tôi nên vào Phan Rang với người chị cho an toàn, phần tôi ở lại Thị xã Nha Trang vì nhiệm vụ của tôi. Tôi là người đứng tổ chức cứu trợ đồng bào tỵ nạn từ các thành phố khác đến. Hai ngày trước khi Nha Trang sụp đổ, chúng tôi đã gửi một lá thư cho Tướng chỉ huy quân đội đóng quanh Thị xã, chúng tôi yêu cầu một buổi họp với ông nhằm tổ chức phòng thủ Thị xã. Chín giờ sáng, vào ngày Thị xã thất thủ, tôi đến văn phòng tham dự cuộc họp với những người trong tổ chức cứu trợ tỵ nạn và đợi viên tướng đến. Nhưng mười một giờ, vẫn không thấy. Chúng tôi điện thoại cho tòa Tỉnh, ở đó không ai có mặt. Chúng tôi điện thoại cho các viên chức khác. Cũng không có ai. Thế rồi có người đến cho biết tất cả đều đã đi. Họ đều đã ra đi mà không hề mở miệng nói một câu nào. Tôi không còn tin nổi. Mới tuần trước, tôi với ông Chủ tịch cùng với ông Tỉnh Trưởng hãy còn đi Khánh Dương, nằm ở ranh giới hai tỉnh Ban Mê Thuột và Khánh Hòa, nơi lính Nhảy dù đóng. Chúng tôi đưa thực phẩm và đồ tiếp tế đến khích lệ anh em binh sĩ. Chúng tôi nói chuyện với họ, bảo toàn thể dân chúng trong tỉnh đứng sau lưng họ, nhiệm vụ anh em là tiếp tục chiến đấu, giữ vững, đừng để khu vực này rơi vào tay Cộng sản.
Hình minh họa
Chúng tôi hãnh diện vì anh em đã chiến đấu kiên cường, chúng tôi tin tưởng anh em vẫn có thể tiếp tục chiến đấu. Nhưng ngày hôm ấy, thực đáng buồn.
Sau này tôi nghe nói hầu hết những chiến sĩ nhảy dù ấy đã tử trận. Ngày Cộng sản tấn công, họ không hay hậu tuyến đã rút chạy. Họ tiếp tục gọi yểm trợ, gọi không quân, gọi tiếp vận, nhưng không ai trả lời. Bị Cộng sản bao vây, họ vẫn tiếp tục đánh, không chịu hàng nên bị Cộng sản giết sạch. Nhảy dù là những người lính thiện chiến. Những chiến sĩ ưu tú nhất.
Tôi là người rất bướng bỉnh. Có lần vợ tôi đến bảo rằng: “Ông ạ, tôi nghe nói Mỹ đã rút, mình thất trận rồi” Bà ấy hỏi: “Ông định chuyện gia đình thế nào, có chạy đi đâu hay không?” Tôi nói: “Tôi không tin mấy chuyện ấy. Ngu ngốc quá!” Bấy giờ hãy còn là vào khoảng đầu năm 1975. Tôi nói: “Chúng ta vẫn còn có thể đánh Cộng sản được”. Vợ tôi lại bảo đã có nhiều gia đình dọn vào Saigon cả rồi. Tôi vẫn nói “Kệ xác cho họ dọn. Mình cứ ở lại”
Tôi đã tin tưởng rằng ngay cả trong trường hợp mất các Tỉnh khác, người ta vẫn giữ được Nha Trang, chúng tôi vẫn được an toàn.
Nhưng sau các Tư lệnh, các Tỉnh trưởng, Thị Trưởng bỏ chạy thì Nha Trang hỗn loạn. Tù nhân thoát ra, đập phá hàng quán, đốt cháy chợ búa.
Cách thất trận của chúng tôi thực hết sức lạ lùng. Có một gã gác dan trong một ngôi trường dòng ở Nha Trang vốn là Cộng sản, hắn chứa vũ khí Cộng sản trong trường, chính hắn dẫn Cộng sản vào Thị xã. Sau này hắn bảo chúng tôi Cộng sản ở Nha Trang không biết các chỉ huy quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã rời Thị xã rồi. Nếu họ biết thì họ chiếm ngay hôm ấy, như thế đã tránh được việc hỗn loạn trong Thị xã. Hắn kể hắn đi Tuy Hòa báo cáo với Trung đoàn trưởng Trung Đoàn Sao Vàng: “Ổn thỏa rồi, thị xã Nha Trang đã trống rỗng. Dân chúng và các cấp chỉ huy quân đội đều đã chạy. Ta nên vào chiếm lấy thôi”. Nhưng viên Trung đoàn Trưởng vẫn không tin nổi. Hắn kể rằng viên Trung đoàn trưởng vẫn cho hắn báo cáo láo. Hắn phải thuyết phục viên Trung đoàn trưởng cho người theo hắn vào Nha Trang quan sát tình hình. Bọn trinh sát trở lại, báo rằng quân đội Việt Nam Cộng Hòa quả đã rút hết, do đó họ mới vào chiếm thị xã. Chúng tôi chỉ buông xuôi mà bỏ đi.
Chúng tôi đã bỏ đất nước Việt Nam cũng như đã bỏ Thị xã Nha Trang. Chúng tôi đã có thể thắng trận chiến này, nhưng chúng tôi đã buông mà tháo chạy. Việc sụp đổ Nha Trang và việc Cộng sản tiến chiếm thị xã này chính là điển hình cho tất cả cuộc chiến Việt Nam vậy.
Tôi không hiểu được tại sao. Khi ở Vũng Tàu, tôi đã vào Saigon dự phiên họp các cấp chỉ huy Hội đồng Tỉnh để duyệt lại tình hình mỗi Tỉnh. Bấy giờ tôi có liên lạc với một số nhân vật chính trị, chúng tôi đều quyết định là chúng tôi muốn tổ chức và quay lại: Một tổ chức để giữ vững miền Nam Việt Nam. Thắng hay bại không quan hệ. Chúng tôi đã có kế hoạch di chuyển chính quyền xuống Cần Thơ, bỏ trống Sài Gòn cho Cộng sản, chúng tôi sẽ chiến đấu, cố giữ một chính quyền, như thế sẽ có tiếng nói hợp pháp với thế giới bên ngoài.
Kế hoạch này làm tôi thấy phấn khởi. Tôi phát biểu rằng: “Chúng ta sẽ gửi một thông điệp. Bất cứ ai muốn chiến đấu chống Cộng đều có thể xuống mạn Cần Thơ, chúng ta sẽ tổ chức tại đó một tiền tuyến để đánh Cộng sản và giữ cho chính quyền được an toàn”.
Một tuần lễ trước khi Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ, tôi quay trở lại xem xét tình hình thì bạn tôi bảo: “Không được nữa rồi. Bọn Mỹ không chịu.”
Trong năm 1975, tôi đã từng có rất nhiều cơ hội để ra khỏi nước. Tôi có rất nhiều bạn bè từ Nha Trang vào, họ có tàu; nhưng vì tôi rất thất vọng với người Mỹ, tôi bảo: “Tôi sẽ ở lại”. Đấy là một lỗi lầm đeo đẳng suốt đời tôi. Lỗi lầm ấy gây ra cái chết cho người con trai lớn của tôi.
Hình minh họa
Bấy giờ chiến trận mỗi lúc một gần Vũng Tàu, nơi tôi đưa gia đình vào. Ở đấy hãy còn Thủy quân Lục chiến Việt Nam, họ vẫn tiếp tục chiến đấu. Vào hôm mất Vũng Tàu, tôi chứng kiến hai người lính Mỹ cùng với Thủy quân Lục chiến bị Việt cộng bắt. Tôi không rõ số phận họ ra sao.
Vợ con tôi và tôi họp lại cầu nguyện và cùng khóc. Toàn thể đất nước sụp đổ rồi. Cộng sản là bọn sát nhân. Một người bạn tôi rất kinh hoảng. Anh vào một Trung tâm tỵ nạn ở Vũng Tàu, mở buồng tắm khóa chặt cửa lại, suốt ngày ở bên trong. Anh sợ Cộng sản vì anh đã suýt bị Cộng sản chôn sống trong kỳ Tổng công kích Tết Mậu Thân ở Huế. Tôi đến gọi anh ra, mang cho anh ít đồ ăn. Cuối cùng anh ra, rồi chạy mất. Tôi không rõ sau đó anh ra sao.
Sáng 30 tháng Tư, có tiếng súng máy nổ bên khách sạn gần chỗ chúng tôi. Vẫn còn những trận đánh diễn ra, mặc dù nghe đài phát thanh chúng tôi được biết tại Saigon người ta đã trao quyền cho Cộng sản.
Tôi mong ông sẽ kể lại chuyện này cho công chúng Mỹ: Đó là vào buổi trưa ngày 30 tháng Tư, sau khi chính phủ đã chuyển giao quyền hành cho Cộng sản rồi, thì tại một địa điểm ở Thị xã Vũng Tàu vẫn còn một cuộc chiến đấu cho đến tận hai giờ ba mươi phút. Bởi những thiếu nhi. Những thiếu nhi theo học quân trường. Những thiếu nhi, những trẻ em con cái các tử sĩ đã hy sinh trên chiến địa. Các em vẫn tiếp tục chiến đấu sau khi tất cả những người khác đều đã đầu hàng! Các em thiếu nhi của trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu.
Rất nhiều em trong đó đã bị sát hại. Một ngày sau đấy tôi có gặp một em trong nhóm giữa lúc thị xã này náo loạn. Tôi không quen em, nhưng tôi nhận ra nhờ mái tóc cắt rất đặc biệt của các Thiếu sinh Quân. Tôi hỏi thăm: “Chuyện ra sao? Ở đấy các em vẫn còn tiếp tục đánh à?” Em nói: “Vâng, chúng tôi đã đánh với Cộng sản” Em rất hãnh diện đã chiến đấu chống Cộng.
Tôi hỏi thăm thì em kể lại rằng một ngày trước khi Việt cộng vào Thị xã, cố vấn Mỹ đã đến trường đưa Đại tá Chỉ huy trưởng lên trực thăng đi mất với ông ta. Do đó, người chỉ huy kế tiếp là một Đại úy đã tập họp tất cả Thiếu Sinh Quân lại mà bảo: “Được, bây giờ chúng ta sẽ đi đến một địa điểm”. Các Thiếu sinh quân đều đi với Đại úy, nhưng chẳng biết đi đâu. Đại úy không có chỉ thị chính thức nào của Đại tá nên cũng chẳng biết làm gì. Cuối cùng ông cho các em dừng lại, nói rằng ông muốn đưa các em ra khỏi Thị xã, nhưng cũng chẳng biết đi đâu. Vậy bây giờ tất cả phải giải tán mà đi đi. Nhưng các Thiếu sinh quân cũng chẳng biết đi đâu nữa. Có em ở Vũng Tàu. Có em ở Cần Thơ. Chẳng em nào có tiền bạc gì mà đi.
Vì thế các Thiếu sinh quân lớn nhất đã tập họp tất cả các Thiếu sinh quân khác trên đường phố, quyết định rằng những em lớn sẽ quay về lại trường, tổ chức phòng tuyến đánh Cộng sản. Còn các em nhỏ hãy chạy đi, biết đâu có thể may mắn kiếm được gia đình nào nuôi dưỡng các em. Thế rồi khoảng năm mươi em lớn nhất trong bọn, tuổi chừng mười hai mười ba, đã phá kho quân dụng của trường Thiếu Sinh Quân, lấy được một khẩu súng máy, tổ chức phòng tuyến, lập đồn chiến đấu khi Cộng sản đến. Và quả khi Cộng sản đến, các Thiếu sinh quân đã chiến đấu chống lại. Cộng sản không thể nào lọt vào trường. Khi kể lại chuyện này, các Thiếu sinh quân rất kiêu hãnh. Trưa hôm ấy, chính phủ đã trao quyền tại Saigon, nhưng các em Thiếu sinh quân vẫn tiếp tục cuộc chiến. Cho đến hai giờ ba mươi trưa, Cộng sản loan báo là nếu các em không ngừng đánh, chúng sẽ bắn rốc kết vào trường tiêu diệt hết.
Tôi hỏi thế khi Cộng sản vào được trong trường thì chuyện gì xảy ra. Các em bảo chúng tập họp các em trong sân rồi nói các em về nhà.
Phần tôi cùng gia đình cũng chẳng biết đi đâu. Cuối cùng chúng tôi quyết định lấy một chiếc xe vận tải đi Saigon. Trên đuờng đi Saigon, chúng tôi gặp tai nạn chết một người con lớn. Chiếc xe vận tải của chúng tôi bị sa vào hố do rốc kết cầy lên. Bánh trước bể. Đó là một cái xe tải, phần sau trống. Xe lật nhào. Con trai tôi tử nạn.
Tại Saigon bấy giờ tình hình đang hỗn loạn. Người nào cũng ngơ ngẩn, chẳng ai còn hiểu chuyện gì. Chẳng khác nào khi bị xúc động quá mạnh, người ta không còn cảm thấy gì và tin gì nữa.
Chúng tôi chôn cất đứa con đã mất, và cuộc chiến đã tàn.
Mùa Hạ tàn, rừng Úc Châu không còn cháy nữa. Cuối tháng Ba, trời Melbourne đã chớm sang Thu. Lá úa vàng để cuối Thu vèo trông lá rụng đầy sân, chấm dứt một vòng đời ngắn ngủi. Đời người như chiếc lá nhưng tui không muốn rụng theo mùa như vậy đâu nhe. Tui còn yêu lắm cuộc đời ‘ăn nhậu’ nầy; nên mới nghe em yêu ‘hù’: “Cúm theo mùa chết còn nhiều hơn con Cúm‘coronavirus’ nầy nữa!” Nên tui mới đi gặp ông Bác sĩ Gia đình để được chích ngừa. Ông Bác sĩ hỏi tui: “Lão gia có lo lắng gì về con ‘coronavirus’ hông?” Tui cười khè khè: “Trời kêu ai nấy dạ mà Bác sĩ. Ông Trời lỡ có kêu tới tui; tui sẽ giả bộ điếc hổng nghe là phẻ re hè. He he!”
Nhưng ông Thủ tướng Úc không có dám phè cánh nhạn, tỉnh rụi như chú Cuội đâu! Vì hồi mùa Hạ rồi, rừng Úc cháy bừng bừng thì ông dắt em yêu đi Hawaii tắm biển, nên dân Úc cự nự ổng quá chừng. Các cuộc thăm dò dân ý về cái cái uy tín của ổng rớt xuống như đang nhẩy dù mà dù không bọc. Nên lần nầy ổng rét cho cái ghế Thủ tướng của mình. Lỡ chống cái đại dịch ‘coronavirus’ nầy không xong, người chết trước hết là mình.
***
Vậy là Thủ tướng lên ‘media’ kêu la thảm thiết: “Tía má ơi! Cô bác ơi! Anh em ơi! Hỡi những người con Úc đang lưu lạc trên chốn giang hồ gió tanh mưa máu trên toàn thế giới hãy mau bay về dùm con một cái!” Nghe Thủ tướng nhà mình kêu khóc nức nở như thế trên truyền thông, một chú em người Úc đang lang thang leo núi ở nước Peru, Nam Mỹ vội vác bị gậy ra phi trường Jorge Chávez để bay về. Dè đâu phi trường đóng cửa. Bay vô hổng được; bay ra cũng hổng xong. Làm sao con về với Má đây? Hu hu! Nghe nó la làng vậy, Thủ tướng bèn chỉ thị cho Tòa Đại Sứ Úc ở Lima, thủ đô Peru lên danh sách đứa nào còn bị kẹt bên đó. Chánh phủ Úc sẽ mướn phi cơ bay qua chở tụi bây về với điều kiện ‘đầu tiên’ (tiền đâu) mỗi đứa phải móc xỉa 5 ngàn đô. “Giỡn chơi hoài! Con đi du lịch ba lô mà. Hết tiền, phải đi hái cam, hái dâu, hái táo để có tiền đi tiếp thì tiền đâu mà có tới 5 ngàn đô đây cha nội?”
Nói chung cái vụ corona virus ở Melbourne nầy đây tình hình rất là tình hình! Con ‘coronavirus’ nó quyết liệt ‘quánh’ chúng ta. Mới sáng bửng, vừa uống cà phê vừa mở cái ‘Facebook’ ra thì nghe quân hiệu là ông Y sĩ trưởng quốc gia (Chief Medical officer) nhào lên la làng: “Cấp báo! Cấp báo! Cái mà cấp báo! Mặt trận Italy thất thủ. Mặt trận Spain đang lâm nguy! Giặc ‘coronavirus’ đã tiến về nước Đức, nước Pháp rồi lội qua eo biển Manche kiếm Thủ tướng Anh (tóc xù lông nhiếm) Boris Johnson. Nó tới một bầy rồi bà con ơi! Núp trong nhà đi cho lè lẹ” Tin xấu không hè làm tui cũng rét chớ?! Chớ sáng ra, tui có thói quen rất đáng yêu là lên ‘internet’ tìm chuyện vui đọc trước cho ngày nó vui. Cả tháng nay chuyện ‘coronavirus’ nhiều quá, buồn quá, tui đọc cho tới tối. Tối rồi buồn…buồn ngủ; tui leo tót lên giường nằm ngáy. Cả ngày hổng đi đâu hết ráo, tự cô lập, cách ly cho ông Scott Morrison, Thủ tướng Úc, hổng có quạu quọ, cự nự: “Nói hoài mà mấy cha hổng ai chịu vảnh tai nghe!”
***
Mấy bữa trước nè! Trên bãi biển Bondi, nổi tiếng của thủ phủ Sydney, tiểu bang NSW, có hai đứa nằm phơi nắng. Chàng và nàng đeo khít rịt như Sam; không chịu tuân thủ theo yêu cầu cách nhau ít nhứt 1 mét rưỡi gì ráo trọi. Nhân viên trật tự chắc ganh tị, cà khịa, bò lại nhắc nhở. Thì hai đứa nó kêu thằng chả đi chỗ khác chơi, đừng làm phiền tụi tui nữa! Coi chừng phù mỏ đó nhe! Quyền tự do đi lại do ông cố tổ của tụi tao đã đồ mồ hôi sôi nước mắt tranh đấu mới có được mà cái ‘Nany state’ (Nhà nước vú em) nầy muốn cấm là cấm hè! Đâu có được! Chàng và nàng Úc nầy thiệt ngang như cua! Hổng phải đâu! Chẳng qua tụi nó đang bực bội chánh phủ chống dịch dỡ như hạch, làm kinh tế suy trầm, tụi nó mất tiền hưu, mất job, mất nhà, rồi mất xe rồi; có thể mất luôn cả em yêu. Nên ngày nào còn dụ được em yêu ra bãi biễn nằm vọc cát cho đỡ cái sầu đời thì ngu sao mà hổng làm? Thấy vậy, ông Thủ tướng Liên bang rồi mấy ông Thủ hiến tiểu bang hăm nói hổng nghe mấy ổng sẽ cho lính bắt nhốt, hoặc phạt tiền. Úc nó đâu có sợ bị bắt. Vì mấy thầy đội cũng hổng muốn tống nó vô thùng xe, đem về đồn, nhốt 4 tiếng tối đa. Rồi lỡ nó có mang mầm bịnh nó lây tùm lum tà la bỏ cha cả lủ. Còn phạt tiền trên răng dưới dế, mới thất nghiệp mà, tiền đâu mà đóng? Cùng quá bị ông Tòa phán chú mầy phải đóng 5 đô tiền phạt mỗi tháng cho tới chết còn chưa hết thì sợ cái gì hè? Ở xứ tư bản, tuổi đời còn son trẻ mà mất ‘job’ là cuộc đời coi như đã hết, tui như đã chết! Vì không còn em nào thèm yêu một thằng áo vũ cơ hàn. Mà đời không được ai yêu thì sống nữa mà chi?
Cũng do thương nghiệp gì thuộc về bảy món chơi chơi, chánh phủ ra lịnh đóng cửa ráo trọi hè làm kinh tế Úc bị suy trầm. Nên 6 giờ sáng, vẫn còn say ke, cả một triệu người Úc phải đứng xếp hàng dài vằng vặc trước ‘Centrelink’ để xin tiền trợ cấp thất nghiệp. Mấy đứa già về hưu như tui thì chánh phủ cho thêm cuối tháng Ba và giữa tháng Bảy mỗi lần được 750 đô Úc. Tưởng chánh phủ Úc ngon. Hổng dám ngon đâu! Chỉ có còn hơn không trong thời khốn khó. Vì ai còn tiền hưu để dành đầu tư mỗi năm rút ra tiền lời để đi du lịch chơi chờ chết thì banh chành rồi. Ai mất ít cũng hơn cả chục ngàn đô. Nên 750 đô chỉ là của đổ đi rán mà hốt lại. Hu hu!
***
Xưa giờ tui hằng biết Trung Cộng hay nổ sảng lắm. Nổ riết, nên bà con trên thế giới ít ai tin; nên có đặt chuyện vầy nè: Một người Mỹ trước Tết âm lịch, đi du lịch Trung Quốc, hai tuần sau bay về Mỹ. Sáng thức dậy, ông thấy mình thở ‘khọt khẹt’ mà còn bị sốt nữa. Quá kinh hoàng, ông liền đi khám bác sĩ. Bác sĩ từ trước tới nay chưa thấy ‘ca’ nào giống vậy kể cả “SARS”(viêm phổi cấp năm 2003), bèn gởi ông đi xét nghiệm và hai ngày sau sẽ có kết quả. Hai ngày sau ông trở lại và bác sĩ nói: “Tôi có tin xấu cho ông. Ông đã bị lây nhiểm con ‘coronavirus’ tên là ‘Wuhan’. Nó gần như chưa hề xảy ra ở Hoa Kỳ! Chúng tôi biết rất ít về nó.” “Chà! Bác sĩ cho tui uống Ký ninh hoặc một cái gì đó cũng được mà Bác sĩ!” Bác sĩ trả lời: “Tôi rất lấy làm tiếc. I’m so sorry! Ký ninh, thuốc trị sốt rét, không ăn thua gì đâu! Cách duy nhứt có thể làm là cắt bỏ 2/3 hai lá của ông đi! Suốt đời ông phải thở bằng máy” “Không! Không! Tui thà chết chớ nhứt định không chịu làm người máy!” Ngày hôm sau, tuyệt vọng, ông bịnh nhân nầy tìm đến một bác sĩ người Trung Quốc, mong phước chủ may thầy; vì nghĩ rằng Bác sĩ Tàu chắc sẽ biết nhiều về căn bệnh của chính dân tộc mình. Bác sĩ Trung Quốc đã kiểm tra rất kỹ, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, nắn bóp tứ tung, rồi phán: “À đúng rồi! Vi khuẩn ‘Wuhan’! Bệnh phổ biến ở Trung Hoa nhưng rất hiếm xảy ra ở Hoa Kỳ.” Bịnh nhân gục gặc cái mặt nói: “Vâng, vâng! Tui đã biết điều đó! Nhưng, nị, ý quên Bác sĩ có thể làm được gì? Bác sĩ người Mỹ muốn phẫu thuật và cắt bỏ gần toàn bộ phổi của tui đi!” Bác sĩ Trung Quốc lắc đầu và cười hè hè: “Thiệt là tham lam và ngu ngốc! Bác sĩ người Mỹ tay nghề yếu quá nhưng lúc nào cũng muốn kiếm thật nhiều tiền theo cách đó!” Bịnh nhân mừng rỡ vì tưởng đã gặp được Hoa Đà tái thế. “Xin tạ ơn Thượng đế! Như vậy là tôi không cần phải phẩu thuật cắt bỏ nó!” Bác sĩ Trung Quốc nói: “À cái lầy! Đúng thế! Nị đừng lo lắng! Đợi hai tuần, nó sẽ tự động rụng mất thôi!”
Đoàn Xuân Thu. Melbourne.
Phụ đề Việt Ngữ:
Nghe Trường Vũ ‘hăm’: “Sẽ đi thăm từng nhà! Sẽ đi thăm mọi người.”
Thưa! Tây nó thường thề ‘xạo’ rằng: “I love you, and I will love you until I die, and if there is life after that, I love you then.”
Nghĩa là: “Anh yêu em, và sẽ yêu em mãi tới khi anh ‘xí lắc léo’, và nếu có một cuộc đời ở thế giới bên kia thì anh vẫn tiếp tục yêu em.” He he!
Chu choa! Thề non hẹn biển cho em an tâm vậy thôi… Chớ đời mà! Ai “biết ra sao ngày sau” chớ! Nhưng thề mà hỏng tốn cắc bạc nào; lại làm em tưởng bở, em tin, em vui thì hà tiện làm gì vài lời hứa viễn vông phải không bạn hiền?
Thề “Tình đầu là tình cuối người ơi /Suốt đời mình nguyện câu lứa đôi!” mà sao ly dị hà rầm? Cầm bất cứ tờ báo nào lên đọc, cũng có thấy mục bố cáo ly hôn hết ráo?!
Tây là vậy; Việt Nam mình cũng thế, cũng thề, thề tá lả luôn. Thề từ trong ca dao cho đến viết lời, viết nhạc. Ca dao thề: ‘Tóc mai sợi vắn sợi dài. Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm’. Từ câu thề đó, Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương sáng tác bài: Thương hoài ngàn năm như vầy: “Ngàn năm thương hoài một bóng người thôi! Tình đã khơi rồi mộng khó nhạt phai…”
Thưa em yêu cũng bắt tui thề: ‘thương hoài ngàn năm’ đó chớ nhưng tui nhứt định không chịu… thề… với lập luận rất chặt chẽ rằng: “Con người, giờ dẫu y học tối tân, ráng kéo… thì giỏi lắm sống một trăm năm là cùng. Cho hai mươi tuổi mới yêu em, mới cưới em, sống cùng em 80 năm là ‘oải’ lắm rồi… Thề tới ngàn năm là thề hơi “nổ”. Trái lòng mình lắm đó nha!”
Khôn là không hứa, không thề, khỏi mắc công giữ, khỏi kẹt thế làm quân tử nhứt ngôn mà chi. Vì lời nói như mũi tên thoát khỏi cây cung, bay ra; đâu có lấy lại được. Thề… mắc công giữ… mệt lắm! Nên không thề cho nó ‘phẻ’! Cuộc đời mình, không ai muốn bị mất tự do, bị nô lệ bởi lời thề. Mà đời “‘không có gì’: ‘quý hơn độc lập tự do’!”. Đừng hy sinh chữ tự do bay nhảy bông nầy, hoa nọ quý nhứt của đời mình cho bất cứ cái gì hết ráo nhe anh!
Vì thực tế cho thấy rằng dù mình lỡ chết đi thì mình cũng chết một mình. Có em nào dám vì yêu mà bịt lỗ mũi, ngưng thở để chết theo đâu mà mong!
Nên có chuyện vầy: Một ông đi nghỉ hè ở Jamaica. Vợ thì bận công việc sở sùng nên hẹn đôi ta sẽ gặp nhau tuần tới. Đến khách sạn, nhận phòng xong, ông vội vã dùng ‘laptop’ gởi một cái điện thư (email) để em yêu mau mau tới gấp vì anh nóng ran rồi nè! Già rồi hơi lẩm cẩm, đụng đâu bể đó, làm gì trật nấy, ông gởi nhằm vào cái địa chỉ điện thư bà bạn của con vợ, mà em ấy lại có ông chồng vừa mới chết. Em ấy lên máy tính, mở điện thư ra xem, hét lên một tiếng, rồi bị nhồi máu cơ tim, ngã lăn ra mà chết ngắt!
Thì ra bức điện thư nói rằng: “Em yêu! Anh vừa mới tới. Tất cả đều đã chuẩn bị xong, chờ mai em tới. Chồng yêu của em! Tái bút: Ở đây, em biết, nó nóng như hỏa ngục vậy!”
Thưa tuy vậy có người không thề thốt gì hết ráo mà cũng yêu tới bạc đầu đó chớ. Do đó yêu em dài lâu là do tiếng nói của đôi tim cùng nhảy một điệu Rumba tới già… khú đế; chớ không nhất thiết phải thề thốt gì cho mệt. Cái đó mình gọi là “Tình già”. Tình già có hai nghĩa; nghĩa thứ nhứt là yêu tới già; nghĩa thứ hai là già vẫn còn yêu. Mà nhắc tới tình già thì người viết lại nhớ tới học giả Phan Khôi.
Ông Phan Khôi, nhà tư tưởng, nhà văn, chuyên viết nghị luận, ông chỉ làm một bài thơ duy nhứt, tựa là “Tình Già”, hồi tết Nhâm Thân 1932, đăng trên báo Đông Tây Hà Nội và tuần báo Phụ nữ Tân Văn ở Sài Gòn.
Bài nầy nổi tiếng không phải vì nó hay… mà vì nó là một lối thơ mới, khởi đầu phong trào “thơ mới” thế kỷ XX của nước mình. Sau đó là biết bao nhiêu bài thơ ‘ảo diệu’ của nhiều cây đa, cây đề khác lần lượt ra đời để ca tụng tình ta!
“…Hai mươi bốn năm sau/ tình cờ đất khách gặp nhau/ đôi mái đầu đều bạc, nếu chẳng quen lung/ đố có nhìn ra được/ ôn chuyện cũ mà thôi, liếc đưa nhau đi rồi/ con mắt còn có đuôi/”
Thưa tui thấy bài thơ tiên phong trong văn học sử nầy là một lời ‘tiên tri’ cho những mối tình dở dang hồi trẻ kéo dài dài ra tận đất khách, quê người. Đất khách, quê người gặp lại người xưa chỉ dám (con mắt còn có đuôi) trộm nhìn nhau xem dung nhan đó bây giờ ra sao? Em có còn đôi má đào như ngày nào? Chớ hỏng dám nhìn thẳng (‘địa’ em mà chi?!) Vì sợ thằng chồng em, nó ghen nó quánh gãy luôn hai cái hàm răng giả mới làm; thì lại phải tốn tiền đi nha sĩ cho nó hàn lại để có cái mà nhai.
Thưa Việt mình có tình già, có thề thốt. Tây cũng có tình già, cũng răng long đầu bạc, cũng sống đồng tịch đồng sàng; chết đồng quan đồng quách như Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài bên Nam Sơn tiểu lộ đó thôi.
Chuyện rằng: Một ông Tây 90 tuổi cưới một bà Đầm 89 tuổi vào tháng Tám năm 1947. Nghĩa là tới nay đã được 68 năm dài mà đôi lứa chẳng rời nhau.
Già… phải bịnh, hỏng bịnh nầy thì bịnh nọ để chết chớ. Con người chớ đâu phải là con rắn để lột da sống đời hoài… cho chật đất!
Năm rồi, ông Tây bị bệnh ung thư trực tràng và di căn tới bàng quang. Còn bà Đầm bị lẫn và vài lần tai biến mạch máu não.
Những ngày cuối, nằm bịnh viện, ông Tây chỉ lo lắng cho vợ mình: “Xin bác sĩ hãy hết lòng cứu chữa và chăm sóc cho bà ấy. Còn tui sao cũng được.”
Cuối cùng ông Tây hấp hối! Nghe hung tin, sức khỏe của bà Đầm cũng suy sụp nhanh chóng. Theo ước nguyện, bác sĩ cho hai người nằm nắm tay nhau. Ông đi trước và bà đi sau chỉ cách nhau có năm tiếng đồng hồ.
Thiệt là một thiên tình sử thủy chung làm ai biết cũng phải đẫm lệ vì ngưỡng mộ.
Thưa trên là mình bàn về tình già mà trước khi già phải qua tuổi sồn sồn. Mà tuổi nào tình nấy hà. Có tình già thì cũng có tình sồn sồn.
Nửa chừng xuân không muốn gãy tình ta vì em đã mặt nám da nhăn nên em đi ‘tút’ lại.
Nên có chuyện rằng: “Một em đã qua trung niên, chừng năm mấy hà, có lần đau gần chết, nằm trên bàn mổ, em nghe ông Trời phán rằng: “Con nữ kia! Đừng có lo lắng gì hết nha! Ta sẽ cho em thêm 30 năm nữa để vui hưởng cuộc sống trên cõi đời ô trọc nầy!”
Khi hoàn toàn bình phục, em mới tìm cách tận hưởng 30 năm mà ông Trời đã hào phóng hứa cho mình. Em đi Hàn quốc nâng ngực, độn mông, cắt cằm, chẻ môi trái tim. Xong về, năng tập thể dục, đi ‘gym’ mỗi ngày nên thân hình thon gọn, không sồ sề như trước nữa. Nhìn xa tưởng Madonna. Lại gần mới biết em (hơi) ‘già’…chút thôi!
Bỗng một hôm, đang chơi quần vợt ngoài trời để giữ eo cho đẹp thì trời nổi cơn giông gió, mưa và sét đánh cái rầm làm em chết ngắt. Lên trình diện ông Trời, em than phiền:
“Thưa Ngọc hoàng đã hứa cho em thêm tới 30 năm nữa lận mà?”
Ông Trời nghe vậy bèn đeo kiếng lão lên để nhìn cho rõ. Nhìn xong, ông Trời phán rằng: “I’m very sorry!” “Thôi cho ta xin lỗi! Lỡ rồi! Chẳng qua lúc đó ta không nhận được ra ‘em’.”
Còn em yêu của anh bạn văn tui thì cũng đã đi đại tu nhan sắc lại để đua với mấy em chân dài trong nước mà ảnh lại không dòm ngó gì hết… để phòng không ‘mông’ quạnh và bị lạnh! Chờ anh cho mãn kiếp chờ; chờ cho rau muống lên bờ trổ bông, da mặt em cũng đang trổ bông đồi mồi, cuộc tình ‘tù ti’ của đôi ta chẳng còn được mấy niên mà thằng chả lại cứ ngồi thiền hoài mới khổ thân em!
Mới xáp lại gần, anh ơi anh hỡi anh ời, là ‘giả’ cứ giảng đạo: “Em và tôi… thôi đã hết duyên, con cái chúng ta chỉ là một đống nợ, (con là nợ, vợ là oan gia mà) nên tui muốn giải thoát, muốn được siêu thăng tịnh độ, thoát mùi tục lụy…”
Thiệt là kỳ quặc! Cơm no bò cưỡi không muốn, muốn ăn chay, diệt dục, ngơ ngơ ngẩn ngẩn, toàn là chuyện tầm phào?!
Thưa em rầy anh cũng tội nghiệp. Đời ai mà hỏng ham mấy cái vụ đó chớ?! Nhưng tiếc thay! Năm dài chày tháng, hóc môn (hormone) trong máu, gọi là cái ‘tét tốt tơ rôn’ (Testosterone) gì gì đó, nó cạn queo rồi nên “trên bảo dưới hỏng nghe”… thì anh phải biết là sao cho em vui với điệu Tango đây! Thông cảm chút đi!
Bởi: “Ngày xưa súng ngắn ngang hông/ Ngày nay súng ngắn để không trong quần/ Ngày xưa sức mạnh như trâu/ Ngày nay uể oải ngồi đâu ngáp ruồi/ Ngày xưa uống cả chục lon/ Ngày nay ngủ gục; nửa lon vẫn còn!”
Người ta nói tửu sắc. Nhậu còn nổi thì cái vụ kia mới nổi. Còn có nửa lon không hết thì còn làm ăn gì nữa mà mong. Đành phải chịu vậy thôi.
Tánh khí cũng đã trầm đi rất nhiều. Tự nhiên thành nhà hiền triết, tịnh khẩu. Tối ngày chỉ suy nghĩ và nghĩ suy… chớ không làm gì hết ráo. Ai cười, ai chửi mặc ai vì đời chỉ là cõi tạm mà thôi. “Ngày xưa tánh nóng hung hăng/ Ngày nay ai chửi cũng nhăn răng cười”
Cười để gượng sống chờ đi… nhị tì!
Tình già chỉ biết nhìn nhau cười móm mém. Nhưng tình dục không đục nó cũng chết, không còn làm ăn gì được nữa… nhưng tình ghen thì mãi vẫn còn!
“Nếu em chết trước, anh có dắt ai về nhà nầy không?”
“Ôi rảnh đâu mà em lo cái chuyện tầm ruồng như vậy chớ!”
“Con nhỏ đó có vô nằm trên cái giường nầy không?”
“Chắc là không rồi!” “Giường rệp không ai mà nằm!”
“Có mặc quần áo của em bỏ lại không?”
“Chắc là không rồi” “Quần áo bây giờ ‘Made in China’ rẻ rề; đâu ai thèm mặc quần áo cũ đâu em. Phần cái ‘size’ của em bự quá, anh không nghĩ là có em nào thèm mặc… Mà em lo chi chuyện con bò trắng răng chớ?!”
“Con nhỏ đó có xài mấy cây gậy đánh ‘golf’ của em không?”
“À cái nầy anh chắc chắn trăm phần trăm là không rồi!”
“Tại sao vậy?”
“Vì cô ấy thuận tay trái.”
He he! Em chưa chết mà anh đã đi ăn ‘chè’ rồi hè! Nghe vậy, em gầm lên như sư tử hống: “Nếu tui chết trước, anh mà cho con nào bước vào phòng nầy tui sẽ hiện hồn về bóp cổ chết hết hai đứa bây đó nha!”
Đó là chuyện của vợ chồng anh bạn văn của tui! Thưa còn bà vợ Úc của tui thì lại ước nguyện bằng tiếng Anh rằng:
“If I die, I will lay by your side!” “Nếu em chết, em sẽ nằm chết cạnh bên anh”
“Cha! Tui sợ ma lắm bà ơi!”
Nhưng tui không dám mở miệng nói ra. Sợ nói nó biết được; trước khi chết, nó ‘thuốc’ tui chết theo luôn thì uổng lắm.
Lấy vợ Úc bấy nay, mùi bơ sữa, phô mai… ớn quá xá rồi mà vì sợ vợ, tui nào có dám léng phéng gì với ai đâu… Chứ thực trong thâm tâm, tui nhớ vô cùng mùi nước mắm ‘Một Con Cua’ của Phan Thiết quê mình lắm đó bà con ơi!
Thưa! Vừa rồi, ngày 14, tháng Hai hằng năm, tới hẹn lại lên, là ngày Valentine, tức ngày Lễ Tình Nhân. (Ôi hoa hồng nó bán chạy nườm nượp, đủ loại, đủ giá, thượng vàng hạ cám. Có loại hoa phải nhập từ Nam Mỹ hay Nam Phi; nên mấy chú trồng hoa Úc phải la làng rằng: “Người Úc nên mua hoa của Úc… mới là yêu nước Úc?!” Rồi rượu sâm banh rót tràn như suối, để mừng tình ta dài tới một năm, 365 ngày, mà chưa có vãn hát; anh đường anh; tôi đường tôi; tình nghĩa đôi ta có thế thôi…)
Mà nói đến chữ tình, nhứt là tình ta, thì đề tài hấp dẫn nầy, thưa bà con, mấy nhà văn viết tới Tết Congo cũng chưa có hết chuyện!
Trong cái dư âm của Valentine’s Day năm nay, người viết xin hầu quý bà con đã, đang và sẽ yêu… ba câu chuyện tình đối chọi nhau chan chát.
Có tình đẹp như mơ, đẹp như thơ và cũng có tình rất là bết… như con gà chết! Thưa nhân Lễ Tình Nhân: Một rừng phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền hình tụ tập đông đảo trước thềm cửa nhà nàng, để đưa tin về cuộc hôn nhân thế kỷ của một anh ca sĩ Úc lừng danh và một em diễn viên cũng Úc, vốn rất nhiều tăm tiếng (xin bà con đừng đọc nhầm là tai tiếng).
Chàng ‘hồ hởi, phấn khởi’, quơ tay chém gió nhưng lỡ trúng làm chết một con ruồi đang bay vo ve trước mặt (Mùa hè nước Úc, chu choa, ruồi trốn ở đâu hỏng biết, giờ trở về quê cũ, đông như ruồi, ào ào như đi đại hội, chắc canh me Valentine’s Day để xơi chocolate cho đã điếu hay chăng?) “Cuối cùng tôi cũng được toại nguyện vì đã thành hôn được với em yêu sau 20 năm!” Phóng viên hỏi lại: “Dà! Thưa trong khoảng thời gian 20 năm dài đăng đẳng đó, anh và ‘em yêu’ của anh đã làm gì ạ?”
“À! Cả hai chúng tôi luôn… mắc bận lập gia đình!” Thưa còn chuyện hai bên yêu nhau, rồi cũng mắc bận lập gia đình, để mãi chừng ấy 73 năm dài, mới gặp lại người xưa là chuyện có thật 72 phần dầu vừa mới được báo Anh, báo Mỹ, báo Úc nó đăng như vầy nè: Năm ấy, Mỹ, chờ cho cha con tụi nó: Phát xít Đức và Cộng Sản Nga ở Châu Âu đánh nhau u đầu sứt trán, mỏi mòn và mòn mỏi… Mỹ mới nhào vô chấm (mút) dứt Đệ nhị Thế chiến.
Và chàng Norwood Thomas, 21 tuổi, một chú Sam, đi quân dịch là thương nòi giống! Vượt Đại Tây Dương, chàng đến London, thủ đô nước Anh. Ở đó, chàng bị tiếng sét ái tình quánh trúng, khi gặp em yêu, chỉ mới vừa lên 17 tuổi, tên Joyce Durrant, dân Hồng Mao (tức có lông màu hồng). Tình mộng đôi ta kéo chỉ được vài tháng là chàng được lịnh phải ra mặt trận đang hồi khốc liệt, là đổ bộ lên Normandy, bờ biển Tây Bắc nước Pháp, năm 1944 để giải phóng Châu Âu khỏi bàn tay của trùm Phát xít vừa ‘Hít vừa Le’ tức Hitler! “Chàng thì đi cõi xa mưa gió/ Thiếp thì về buồng cũ gối chăn/ Đoái trông theo đã cách ngăn/ Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh!” Dĩ nhiên, xa nhau thì cũng thư từ qua lại để chờ anh em nhé! Nhưng “Thư thường tới, người không thấy tới/ Bức rèm thưa lần dãi bóng dương/ Bóng dương mấy buổi xuyên ngang/Lời sao mười hẹn, chín thường đơn sai?!”
Rồi tin nhạn bặt dần rồi đứt hẳn; hay là chàng đã đền nợ nước? Chiến tranh mà! Cả ngàn câu hỏi cứ quay mòng mòng trong đầu em! Chờ anh yêu cho mãn kiếp chờ hay đi lấy chồng? Mà đời con gái, như một cành hoa, chỉ có một thời! Và em đi lấy chồng, kẻo ế!! Từ London, vợ chồng em phiêu giạt, qua biết bao nhiêu là biển, về tới tận Adelaide, thủ phủ tiểu bang Nam Úc, để làm rẫy.
Rồi, vài chục năm sau, chồng em đi bán muối, bỏ em vò võ một mình. Thì: “Phận trai già ruổi chiến trường, Chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về!” Đúng ra tàn chinh chiến, chàng Siêu cũng bận lập gia đình và em yêu của chàng vài chục năm sau cũng đi bán muối. Tưởng vậy là hết chuyện… Ai dè… chàng giờ góa bụa và nàng giờ góa phụ cô đơn thường lên trang mạng trực tuyến Skype chít chat để giải sầu lẻ bóng, tình cờ gặp lại người xưa! (Ôi trái đất nó tròn quay! Nàng đi về hướng Tây, chàng đi về hướng Đông, quay lưng lại mà đi… cuối cùng cũng gặp được mặt nhau… nhờ mạng ảo!)
Chàng muốn nhìn tận mặt người xưa bằng xương, bằng thịt, bằng da hiện thực đàng hoàng, dẫu nay đã 88 cái xuân xanh, để xem dung nhan đó bây giờ ra sao; chớ không chỉ gặp em xưa trên mạng ảo mà thôi? Vì không sờ tận mặt là không có đã! Nhưng đâu có dễ nè! Chàng, 93 tuổi, ăn tiền trợ cấp cựu chiến binh, không dư một cắc, làm sao đủ tiền mua được vé máy bay (tốn nhiều lắm đó), bay đi Úc? Hãng Hàng không Tân Tây Lan (AirNZ), người em làm quảng cáo tiếp thị, sau khi nghe câu chuyện, phần cảm động, phần nhìn thấy cơ hội quảng cáo bằng vàng, vừa rẻ vừa hiệu quả; nên mau mồm mau miệng bảo trợ, cho bay miễn phí, bắc cầu ô thước từ Virginia (Mỹ) tới Adelaide (Úc) cho Chức Nữ gặp Chàng Ngưu! Ôi! Chức Nữ, Ngưu Lang, tháng Bảy mưa ngâu, năm gặp một lần đã là tội nghiệp; huống hồ đây mãi tới 73 năm là phải tới 73 lần tội nghiệp đó nhe! Ngày đôi ta gặp lại, nhân Valentine’s Day, máy quay phim rè rè. Máy chụp hình tách tách, chớp nháng liên tục. Chàng run run ôm chặt nàng trong vòng tay khẳng khiu đầy những vết đồi mồi! “Joyss (Joyce) của anh đây sao?”
“Ôi! Norwood! Cánh rừng phương Bắc của em!” Tay cầm tay nhắc cái thuở ‘bái bai” rồi thôi! Chớ không có màn phụ diễn ‘lambada’ gì hết ráo” “Thiếp xin muôn kiếp sau này! Như chim liền cánh, như cây liền cành!”
Nhưng chàng chỉ tính ở lại cùng em vài ngày thôi để tìm lại tình mơ thời đã mất?! Gặp được mặt nhau rồi cũng là thơ, là đẹp…
Anh sẽ bay về Mỹ; em ở lại Úc Châu… Lâu lâu nhớ nhau; còn hơn dọn về ở chung… rồi cãi lộn! Thưa đó là cuộc tình đẹp… của Mỹ! Nhưng cuộc tình, tui kể người nghe dưới đây, của Tàu đã không đẹp lại còn chèm nhẹp!
Không biết nàng có đẹp bằng nữ tài tử Hong Kong bên hông Chợ Lớn hay không? Nhưng em người Thượng Hải, dân thành! Đã 27 cái xuân xanh, tuổi cứng cạy rồi chớ không còn là vén cháo! Nên con đường tình em đi đã quá nhiều kinh nghiệm; đâu có cái vụ trẻ người non dạ, lóc chóc hè! Tết Nguyên Đán, theo truyền thống, là ngày đoàn tụ gia đình nên chàng dắt nàng, yểu điệu thục nữ trong chiếc áo dài xường xám, về để ‘Pà-pá và Mà-má’ biết mặt con dâu tương lai của mình tròn méo ra sao? Chàng, người Giang Tây! Pà-pá và Mà-má của chàng làm lò chén từ thời ông tằng cố tổ tới giờ (mới có sứ Giang Tây nổi tiếng chớ!). Nhưng phận nghèo, cam làm mướn; chớ hỏng phải làm chủ cả gì hết ráo… Nghe con trai dắt cái ‘máy đẻ’ tương lai về, mừng: ‘Hè hè! Từ nay ngộ với nị sẽ có một thằng Tửng để nối dõi tông đường rồi! Chết còn có đứa cúng, chớ tuyệt tự, hỏng ai cúng quảy gì hết ráo, đói thấy bà!’ Bèn rán vét tới đồng Nguyên cuối cùng trong túi, mà vẫn không có được món Vịt quay Bắc Kinh, (dẫu nó bán lềnh khênh ngoài chợ); hay món cơm Dương Châu, chỉ là trứng trộn với cơm, với rau, đậu, rồi bắc chảo lên chiên… Bữa ăn thịnh soạn nhứt trong năm (Đói ngày giỗ cha! No ba ngày Tết) mà chỉ có bánh tổ, há cảo, sủi cảo chấm xì dầu… Cơm thì chỉ đậu xào, hẹ xào cũng chấm xì dầu… Tô canh chỉ toàn ‘quốc’ và một con cá bằng hai ngón tay hè!
Gắp vài đũa là sạch trơn… Ai ăn; ai nhịn?
Dù anh có yêu em ngàn lần hơn là anh yêu Mao Chủ tịch; nhưng thời buổi Trung quốc mở cửa ra, nhìn thế giới tư bản rồi bắt chước, đâu còn thời Cách mạng Văn hóa, vài chục triệu người ngã lăn chết như rạ vì đói! Bây giờ Trung quốc là siêu cường thứ hai về kinh tế chỉ sau đế quốc Mỹ; thì nghèo là cái trọng tội; nên em quầy quả ra ga đón tàu về Thượng Hải… để lại anh chồng tương lai phải la bài hải… “Mất em rồi! Xa em rồi! Nị ơi!” Sau đó, em còn nhẫn tâm đưa hình những thức ăn đạm bạc mà Pà-pá và Mà-má dọn lên mâm, để đón em, lên mạng xã hội Weibo, để bêu xấu cái nghèo lương thiện của Pà-pá và Mà-má ‘hụt’.
“Nghèo vầy mà bắt tui kêu Pà-pá, Mà-má sao được hè?!” Mấy Á Xẩm khác, vốn chủ trương thực dụng: ‘No money; no honey’ (Không tiền, không yêu), nói: “Nghèo mạt như vậy bỏ nó là phải rồi!”
Mấy Chú Ba khác, ngẫm lại phận mình, chắc cũng nghèo mạt rệp, vì đâu phải là đảng viên đảng CS Trung Quốc gì đâu mà ăn hối lộ cho được chớ, bèn ngửa mặt lên trời như Châu Du trong Tam Quốc, cười ba tiếng Tàu; cúi mặt xuống đất khóc ba tiếng Tàu rằng:
“Ô hô! Ai tai! Trung Hoa thời hiện đại mà tình thơ dại đã bị chó dại cắn… chết ngắc còn đâu!” Một Chú Ba khác thì dùng photoshop, tẩn mẩn tô màu lên mấy món ăn nầy với lời chú thích rằng: “Em vốn thích màu mè! Lỗi của Pà-pá và Mà-má lội sông bắt cá lên, công nấu cực khổ mà lại quên màu mè, quên tô màu nên em mới phũ phàng dứt áo ra đi như vậy.” Tiên trách kỷ hậu trách nhân! Đời bây giờ! Phải sống màu mè! Phải sống giả dối! Phải sống lưu manh! Còn sống chân thật, sống lương thiện, sống nghèo là… ngu?!
Cộng sản, ai cũng biết, là vương quốc nói dóc! Mình sống chân thật ắt phải thua thôi! Ôi đọc chuyện tình nầy, tui cũng cảm thương cho Chú Ba bị tình đá quá phủ phàng; nên có lời ‘chỉ đại’ rằng: “Đừng có tiếc ngọc thương hương chi một em chảnh chọe như thế. Hãy về quê, mở lò chén… (Nhớ đừng có bóc lột nhân công một cách tàn tệ nha cha nội), Chén, tô, dĩa sẽ xuất khẩu ra toàn thế giới… Made in China! Chẳng bao lâu là giàu thì biết bao đứa khác đẹp cỡ Chương Tử Di hay Cũng Lợi sẽ bu theo cho coi! Thưa! Cùng bị kềm kẹp dưới ách Cộng Sản như nhau, nên xã hội chủ nghĩa Việt Nam giờ cũng vậy thôi, giống như bên Tàu vậy; cũng tình dang dở vì nghèo!
Chắc bà con cô bác anh em mình đều biết dòng sông Lam, phía Bắc Trung Phần nước ta. Sông Lam vì nước nó màu xanh lam, phát nguồn từ Lào xuôi dòng qua Nghệ An và Hà Tĩnh đổ vào biển Đông tại Cửa Hội…
Tại dòng sông nầy, có chàng nhạc sĩ An Thuyên, cứ lang thang tìm kiếm công danh, tức lang thang kiếm tiền, đi bốn phương trời, đục trong nhục vinh hỡi người… Đi hoài! Ai mà chờ cho được chớ? Nên “Cây đến thì trổ hoa/ Chuyến đò đầy rời bến/ Em hát rằng đến duyên/ Em lấy chồng năm ấy!” Rồi một hôm: “Câu đò đưa thầm gọi/ Tôi ghé về tuổi thơ/ Người xưa đâu xa vắng/ Ai đưa tôi qua đò?” Thôi mấy em đã lấy chồng hết ráo vì sợ ế! Mà ông cứ lo đi kiếm công danh hoài hè! Hỏng ai đưa mình qua đò thì mình cởi trần, mặc quần xà lỏn lội qua sông vậy… Đừng dằn vật mình mà chi cho nó nhức mình! Bài toán nan giải nầy: Nghèo thì hỏng ai ưng! Lo đi kiếm tiền thì hỏng ai rảnh mà chờ! Người lương thiện đàng hoàng, không quyền, không tiền vì không chôm, không chỉa gì của ai cho được thì đành phải chịu sống ‘cu ky’ vậy!
Chữ tình, thời kim tiền xã hội chủ nghĩa dã man như rừng rú nầy, coi như kể bỏ. Vì nó không đáng giá một xu… teng!
lão vào nhà thương rồi ra khu kia vực nọ người ma mặt lờn sáu dây bốn sợi níu đờn ghi ta ghì tớ ngậm hờn ngũ cung lão điên vận sự kiết hung cà na tuy lạnh đụng chung kẻ lành phương này tử tế thập thành rộng lòng gia hạn phép dành tháng năm trở trời khó ở vào nằm năm sao khách sạn chả nhằm nhò chi không nghe ra tiếng bấc chì đi tàu suốt hở? lão thì chậm chân bệnh tình tha thứ xác thân lá phong đỏ thắm lần khân vui cành lão chẳng có gì để dành mang đi trả nợ ơn thành người điên
đất lành chim đậu đương nhiên đâu như chốn cũ trường thiên đoạn trường bây giờ có chết cũng tường linh hồn lạc lối bỏ đường lộn lui lão thua chúng bạn tìm vui việt kiều du lịch chột đui đã từng riêng mình ên lão tự mừng giữ thân thanh tịnh quên rừng rú xưa bạn chửi đồ điên dạ thưa tôi ca-na-điên đủ vừa thiệt hơn từng qua sông rộng mừng rơn ao nhà vẫn đục thuốc lờn bó tay
ngày mai xuất viện thời may theo toa bác sĩ mới hay thọ tường tránh đàn bà ngủ riêng giường đêm hai ngày một cột rường bền lâu hồi nào bên đó bò trâu theo nhau xuống lỗ vuốt râu lão về.
Không bận tâm ngày Phụ Nữ Quốc Tế đã qua hay chưa tới? Đang tháng 6, lịch in ngày 16 là Father’s Day. Làm cha, ai cũng ít nhiều gặt hái hạnh phúc. Tôi không ngoại lệ, cậu con út âm thầm “đi đêm”, ký hợp đồng với đài TSN để bảo chúng trực tiếp truyền hình toàn bộ các trận đấu Fifa Women’s World Cup 2019 cho bố ngồi mát mà rửa mắt cảnh đờn bà so giày hì hục nguyên tháng. Ngày lễ cha mà được ngắm các loài kỳ hoa dị thảo trên thế giới về khoe sắc, toàn thân ướt đẫm mồ hôi việc vờn bóng kéo áo giật quần tại mọi đấu trường ở Pháp, há chẳng đã con mắt sao? Cho bố cảm ơn con một tiếng gọi là… trọn đạo làm cha (con lo cho tròn chữ hiếu chí ít cũng bằng trái banh da Adidas). Và cha hoài nghi có phải là con đưa ra đấu pháp muốn cột chân cha tại gia, chẳng cho ổng vui chân mò đi xem “đánh ba” ở những tụ điểm bia không ôm rậm rật gái xinh ở khu tiểu Ý Đại Lợi mãi rù quến? Vì tranh tài có tầm mức quốc tế, bốn năm mới tổ chức một lần nên có mang chuông đi đánh xứ người buộc mỗi quốc gia phải dành nhiều thời gian sàng lọc hòng lựa ra 11 cái chuông có tiếng ngân trong trẻo lắm nội lực để vang vọng ra xa. (Tiếng chuông Thiên Mụ thì muôn đời vẫn rè, tiếng đục muộn phiền, yếu hơi trong khu vực và cái băng vải đỏ chữ vàng “Việt Nam Vô Địch” vô cớ chít trên đầu tựa vòng kim cô, mê muội đi bão rần rần cùng nồi niêu soong chảo móp méo, tất thảy chỉ nhằm đệm vào tiếng ru trẻ con bởi chúng vẫn thích nghe kể chuyện hoang đường Nghìn Lẻ Một Đêm. Đêm xứ mình vốn chôn nhiều bóng tối).
Nếu khẩu hiệu mà FIFA luôn đề ra (giăng đầy các sân vận động có sức chứa tối thiểu 10.000 người) là “Nói không với tệ nạn kỳ thị” thì đội tuyển Anh, đáng yêu ở chỗ, các cô nàng mỗi người cầm tay một tấm bìa đỏ có ghi hàng chữ trắng “Hãy trao cho những kẻ phân biệt chủng tộc cái thẻ đỏ”. Luật đá banh hay soccer (Bắc Mỹ gọi thế) hay football ghi rõ: Trọng tài đưa thẻ vàng lên nhằm cảnh cáo lần đầu khi cầu thủ vi phạm lỗi khó dung thứ. Bị dính hai lần thẻ vàng, trọng tài bèn rút ngay ra cái thẻ đỏ. Người nào không có tinh thần thể thao, chơi xấu kiểu một còn một mất thì kẻ ấy kinh qua thẻ vàng, nhận trực tiếp cái thẻ đỏ, bị đuổi ra khỏi sân gầm mặt xấu xa đi khuất mắt. Như vậy, kỳ thị chủng tộc là một tội trạng nặng nề khó chấp nhận, khó dung thứ, nhất là ở cuộc đọ sức trong các bộ môn thể thao. Đội tuyển bóng tròn nữ vương quốc Anh khi đưa hình ảnh đó ra, động lực ban đầu có thể xuất phát ở ngay thành phố London, nơi vừa xẩy ra một tấn tuồng bạo lực mà lắm kẻ đã ví “thảm kịch này chỉ có vào thế kỷ 17”. Chuyện là cô Melania Gaymonat 28 tuổi hẹn hò cùng bạn Chris. Hai phụ nữ đồng tính (lesbian) đêm 30 tháng 5 đi xe buýt trong nội thành Luân Đôn để tới Camden Town, lên tầng hai kiếm chỗ ngồi và họ biểu tỏ cảm tình bằng những nụ hôn cho nhau, cuống quít, say đắm. Một đám thanh niên 5 tên khoảng tuổi 16 đã vây lấy họ, dùng những lời lẽ tồi tệ đậm chất đường phố, đòi hai cô kia phải tái diễn cảnh tình tứ cho chúng xem. Một trong hai cô đã bị chúng thượng cẳng chân hạ cẳng tay một hồi, náo loạn xẩy tới và chúng rút đi. Nạn nhân, Melania đưa hình khuôn mặt đầy máu của mình lên Facebook: “Chúng tôi luôn bị đón nhận những ánh mắt kỳ thị, nhưng đây là lần đầu “người ta” đã bày tỏ trực tiếp cái thái độ thiếu văn hoá. Thật đớn đau…”. Thị trưởng Luân Đôn đã rất phẫn nộ, ông gọi đó là cuộc tấn công đầy bệnh hoạn và khó dung thứ. (Tin từ BBC).
Tôi ghét những kẻ kỳ thị chủng tộc, giới tính, màu da (không phải do tôi có da vàng). Tôi yêu đoá hồng Estelle Johnson 30 tuổi, hậu vệ khoác áo số 6 của tuyển Cameroon đa phần da màu cà phê nâu bóng. Nhìn qua đoàn cầu thủ Jamaica (cũng cột nhà cháy di động) xui khiến xiêu lòng trong phút giây với nhan sắc của thủ môn Sydney Schneider tuổi chỉ 19. Chân dài đúng nghĩa, thể hình thon gọn, mặt thanh tú làm tối sầm cả cầu môn. Khi đối phương dâng lên, Italy vừa thắng 5-0 chiều ngày 14 tháng 6 chẳng hạn, Schneider rõ là “cánh hoa trong thời loạn”, quay như vụ, một mình nàng dương đông kích tây khi gặp bão tố trong khung thành. Nhà dìu dắt, ông huấn luyện viên (coach) ngồi bên mép rìa sân cỏ mặt sầu khổ chảy dài. Ông mang tên thật “dễ thương”: Hue Menzies. Ông hoá thân là Huế từng chịu qua lắm phen bầm dập, sụp đổ thành quách rêu phong.
Tôi cũng không say máu thù hằn kiểu nhược tiểu thì đâm oán hận đại gia phương Bắc. Hãy khách quan mà nhìn nhận nhà nước Trung Quốc đã bất ngờ góp mặt ở giải tranh tài thế giới hôm nay bằng một đội tuyển có bản lãnh chia đều cả ba tuyến: Phòng thủ, tiếp ứng và tấn công. Tuy mặt mày chả “khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”, có một hai cầu thủ nom như đàn ông cải trang, nhưng các nàng ngoạ hổ tàng long Trung Quốc đá rất có nét, có bài bản, mỗi cầu thủ phải làm tốt vai trò của mình; tuy vậy mộng bá vương muốn thu giang san về một mối là điều bất khả. Họ có thể đá thắng tuyển Nam Hàn nhưng e không qua lọt cửa ải có mấy nàng phù tang Nhật Bản chận đầu (không đứng chung một bảng). Kung-fu của đám con cháu Tập Cận Bình, khả năng đặt được chân vào vòng 16 rất mong manh, sớm cuốn cờ về lại Vạn Lý trường thành không kèn không trống.
Điều khó mường tượng nổi là lực lượng cổ động viên Tung-cọt từ đâu ra mà lắm thế, ngàn dặm hẹn hò tới ngồi lố nhố đông chật khán trường (giai cấp giàu có đâu mà đông vãi, vật giá bên Pháp đắc đỏ lắm mờ, rõ là chúng tiền nhiều như quân Nguyên). Cũng ngập tràn sắc đỏ, cũng la hét vang rân nhưng họ “tử tế” hơn người Việt ở chỗ họ không bê vác theo hình ảnh lãnh tụ đã chết vào trong khán trường hòng nhát ma đối thủ.
Tôi cũng thương cảm cho đội tuyển Thái Lan non yếu về mọi mặt, thể lực cũng như kỹ thuật, đã để cho USA “dội bom trải thảm” những 13 bàn thắng chẳng vị tình kẻ chân ướt chân ráo vừa tới làm quen môn túc cầu. Bóng hồng Thái Lan đúng là hiền lành công dung ngôn hạnh vượt mức quy định, họ chạy đuổi theo trái banh với tất cả nữ tính lộ ra. Ngại va chạm, không mang quyết tâm xương máu như Tàu và như vậy, họ chẳng phạm một lỗi lầm nào cả. Rất con nhà Phật, khi thay người, họ chắp tay trước ngực cúi đầu chào nhau. Tỷ số 13-0 chẳng làm họ bực tức giận dỗi, nóng mặt tủi hổ bởi họ hiểu ra điều cơ bản “biết người biết ta”. (Theo bảng sắp hạng của FIFA, Thái Lan đứng thứ 34). Trước trận đấu, hãy nhìn họ hướng mắt tới lá quốc kỳ và khi bài quốc ca trổi lên, một vài tuyển thủ đã không ngăn được dòng lệ thoát, thổn thức trong vinh dự, những giọt nước mắt hân hoan chảy đẫm khuôn mặt ngời sáng đang cố cất cao đầu. Đừng mơ những điều xa vời, khi Em ưỡn ngực ra đứng sát cánh cùng đồng đội, cả thế giới sẽ không quên gương mặt em, chừng đó không đủ để cảm thấy hạnh phúc sao? Hãy khoan đại ngôn rằng tôi nguyện chết dưới màu cờ sắc áo. Đôi chân em đang dẫm lên sân cỏ ở mọi vận động trường trên đất Pháp, chừng đó cũng đủ để thắp sáng trong lòng một niềm tin. Rồi em sẽ “đi một ngày đàng học một sàng khôn”, em được mở mắt, em nhẫm thầm “ai nên khôn mà chẳng dại một đôi lần”. Trong khu vực, những nước láng giếng đã ganh ghét cái dại em mang, đám con cháu của Phù Đổng thiên vương chẳng hạn. Bọn người này không quen xỏ giày đi xa, lại nữa chúng đào đâu ra tới 5 đô-la US để đóng “phí chia tay” cho nhà nước! Nếu được “số phận mỉm cười”, bầu đoàn sang tới kinh thành ánh sáng với hộ chiếu ma-dzê in Việt Nam, họ có cơ hội pạt-lê phờ-răng-xe nhằm mô tả đội thực dân chủ nhà: Bớp mè pa bớp, luỹ gầm luỹ gừ, luỹ măng-rê moa luỹ măng-rê toa luỹ măng-rê tút. Nôm na là La Vache qui rit? Có phải đằng ấy thích xơi phô-mai nhãn con bò cười? Bọn tớ đang cười bể bụng đây.
Kết thúc trận đấu giữa Mỹ- Thái Lan, người ta không ngớt ca ngợi tiền đạo xinh gái Alex Morgan áo số 13. 29 tuổi, một mình ghi tới 5 bàn. Thực sự, công lớn giúp đội tuyển Mỹ gặt hái thành công hôm đó đều nhờ vào sự năng động của cô hậu vệ trái mang áo số 19, Crystal Dunn, 26 tuổi người da màu. Vai trò hậu vệ, Dunn có tầm mắt chiến thuật bao quát do vậy có khi cô bao luôn vai trung phong, cô dẫn banh lên lấn đất, đã tạo ra những đường chuyền thông minh hiểm hóc khiến đối phương không kịp trở chân trở tay, giúp hàng tiền đạo thoải mái đá tung lưới. Dunn chính là một ngôi sao ẩn mặt trong đội tuyển. Người Mỹ đã từng nói cho nhau nghe: Nếu không có bóng tối làm sao bạn trông rõ những vì sao. Điều đó chẳng sai, nhưng khi đã thốt ra, nó khiến ta băn khoăn về những trường hợp cá biệt, rằng lắm khi sao vẫn hiện mọc giữa trời quang mây tạnh. Tuyển Mỹ đa số đều lớn tuổi, như tiền đạo số 10 Carli Lloyd đã 36, lứa đàn em chỉ có duy Mallory Pugh áo số 2 là sáng giá, cô đang vào tuổi 21 vàng son.
Kinh nghiệm và tuổi tác luôn là nỗi băn khoăn của nhà dìu dắt. Giàu kinh nghiệm thì đôi chân xem chừng đã yếu, ngược lại khi bạn là ngựa non háu đá bạn thường vấp phải lắm sai lầm. Ở mùa giải này, người già tuổi nhất là trung phong Formiga áo số 8 của đội tuyển Brazil, 41 tuổi. Trẻ nhất là trung phong Lena Oberdorf áo số 6 của đội tuyển Đức, 17 tuổi. Hai đội tuyển trẻ trung nhất là Chile và Spain, bình quân, san qua sớt lại tuổi họ chừng 24. Xét về nhan sắc thì Norway, Scotland, Spain, Netherlands, Sweden, Italy, New Zealand là những đội banh sở hữu nhiều bóng hồng nhất. 11 người ra sân thì có đến 4 khuôn mặt đẹp, dễ gây thiện cảm (không bàn tới thể hình có ba vòng khó kiểm chứng).
Tôi định cư ở Canada, lối suy nghĩ của tôi khác mấy người bạn sống tại Úc, tại Anh, tại Mỹ, tại Pháp, tại Đức. Đó là những ông bạn luôn đề cao tới vùng đất đang cưu mang mình, dĩ nhiên họ nhiệt tình tán dương đội bóng nữ của quốc gia đang thi đấu, thay vì “Việt Nam vô địch” thì đèn nhà ai nhà ấy sáng, Úc vô địch, Anh vô địch, Pháp vô địch, Mỹ vô địch, Đức vô địch. Họ nuôi một lòng tin và cứng đầu bảo vệ cho thứ dự đoán đầy cảm tính ấy.
Tôi rất mực yêu thương Canada, nhưng ở bộ môn bóng tròn, tuyển nhà vẫn chưa đào tạo ra những chân sút ấn tượng, các “vua làm bàn” cỡ như thủ quân tiền đạo áo số 12 Christine Sinclair đang sa sút vì cô đã 36 tuổi. Hàng công chỉ vin nhờ vào đôi chân tài năng của cô Janine Beckie đẹp gái áo số 16 chạy cánh trái dũng mãnh xông xáo tuổi vừa 24. So với thế giới, tôi e là Canada khó qua được các đối thủ mạnh (có truyền thống) cỡ như Sweden, France, Germany, England, Netherlands, USA. Hiện tại họ mang quyết tâm tệ lắm phải vào vòng loại 16, những gì xảy tới sau đó còn trông chờ vào sự rủi may.
Nhìn chung, có sự khác biệt dễ nhận thấy về cách chơi giữa nam và nữ. Tuy cũng được đào tạo từ các câu lạc bộ nổi tiếng, đa số ở Anh, Ý, Tây Ban Nha giống bên nam, nhưng những bóng hồng có thói quen là hễ thấy trái banh lăn tới đâu là đâm đầu chạy lại gần, co cụm chen lấn xô đẩy hòng chiếm đoạt lấy. Có thay đổi đấu pháp, khi thì 5-4-1 thủ nhiều hơn công, lúc thì 4-5-1, lại có lần 4-3-3 hoặc 4-2-4, nhưng khi ra sân lâm trận, các đội banh nữ thường bỏ quên vai trò không chịu dàn trải đội hình ra, lớn tiếng kêu gọi nhắc nhở nhau, ơi ới náo nhiệt gây nên cuộc hý trường. Rất đàn bà con gái, hở tí là sửa tóc sửa tai, lau chùi má hoen mặt phấn, móng tay vẫn bôi sơn đỏ, thỉnh thoảng nhìn lên màn hình rộng để phát hiện ảnh hình mình xem có đặng không, môi hồng nở nụ cười vu vơ.
Cho đến giờ phút hiện tại, tạm đứng đầu 6 bảng là những đội banh:
Groups A: Pháp. Groups B: Đức. Groups C: Ý. Groups D: Anh. Groups E: Hoà Lan (Canada cũng 6 điểm nhưng vì ghi ít bàn thắng, chịu đứng sau). Groups F: Mỹ.
Mùa giải 2019 sôi động hơn những mùa xưa cũ vì đa số các đội đều tuyển được một vài cầu thủ trẻ đầy tài năng. Tôi thử so sánh là mỗi khi họ sử dụng đội hình 4-3-3, đấu pháp đó mang lại kết quả rõ rệt. Những đội đứng đầu 6 bảng vẫn áp dụng sơ đồ ấy. Đường còn dài, có thể họ sẽ bị vuột mất, đánh rơi vị trí nhưng dẫu sao họ đã chứng minh ngay từ khi nhập cuộc về tài nghệ họ thủ đắc, từng hun đúc và tựu thành trong gian khó.
Em mang bóng lấn đường vôi trắng da dài tóc banh nhồi một hai cỏ vùng cấm địa chưa phai những là xơ xác chân ai dẫm bừa thu tay kẻo bạn đổ thừa chạm vào oan nghiệt còi vừa ré lên mồ hôi đổ chấm phạt đền lạnh lùng chân sút vang rền lưới tung.
Tôi ghét nạn kỳ thị nhưng thú thật tôi chẳng có mấy tinh thần thể thao khi xem các bóng hồng chạy trên sân cỏ. Cầm lòng không đậu U-60 cũng để trí óc đi hoang, mong được làm cầu thủ Bồn Lừa (nhân vật trong truyện của nhà văn Duyên Anh), thiết tha gì quả banh da ấy, sở dĩ ta đổ mồ hôi cũng chỉ vì ham đuổi bướm vờn hoa thôi, có phơi áo cũng hả dạ, có chấn thương hai bàn tay cũng là… chuyện nhỏ.
Tôi yêu thơ của bà Hồ Xuân Hương, nói tội trời vì “mềnh cùng một họ”. Nhiều người ghét họ Hồ, tôi hiểu được, nhưng không chối cãi rằng có lắm người mến chuộng nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Trong bài “Thân Phận Người Đàn Bà” có hai câu thần sầu qủi khóc:
“Bố cu lổm ngổm bò trên bụng Thằng bé hu hơ khóc dưới hông”.
Tuyệt! Khơi mở ra hình ảnh lắm ẩn dụ, giàu liên tưởng. Xưa từ hồi nảo hồi nào, hình như bà Hồ Xuân Hương là người đi tiên phuông, lén phén bàn qua chuyện cấm kị và lên giọng thoải mái khi đụng tới những vùng “nhạy cảm”. Những Đánh Cờ, những Cái Quạt, những Đánh Đu… Nhiều bài lắm, tạm đưa ra bài Quả Mít dẫn chứng:
“Thân em như quả mít trên cây Da nó xù xì múi nó dày Quân tử có thương thì đóng cọc Xin đừng mân mó nhựa ra tay”. Tôi vụng nghĩ, chỉ nghĩ suy vớ vẩn thôi, rằng thi sĩ Bùi Giáng vào cuối đời thích làm thơ lẻ (hai tới bốn câu) có thể mượn “điển tích” quả mít nọ để bàn qua hoàn cảnh xã hội đẻ ra loạn vị chủ tịch:
“Cây mít ra quả sớm chiều Đại ca chủ tịch còn nhiều bận tâm”.
Bận tâm chuyện gì? Ôi, chủ tịch nước ta thì có chán khối việc để mần, để chấm mút, để đóng cọc. Thơ “vui thôi mà”, rất “tâm tư” việc đùa cợt, chế giễu. Phong vị chừng như chẳng khác mấy Hồ Xuân Hương. Ấy ái uông là chữ của riêng bà Hồ Xuân Hương nhằm đặc tả một bọn ngọng khi đứng xem chuông. Thi sĩ đã tiên tri, nhìn thấy trước cái viễn cảnh “đất nước mình nhiều thằng ngọng lắm phải không anh?” Ngọng với ngộ cũng một nghĩa như nhau. Và trong thơ Hồ Xuân Hương, luôn bày rõ khẩu khí của bà. Ví như:
“Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ Lại đây cho chị dạy làm thơ”.
Nói dại mồm và hơi bị sai quy trình là giả dụ sống tới thời nay, Hồ Xuân Hương mà post hai câu này lên facebook thì đám dư luận viên sẽ lôi trái mít ra đập cho bầm dập. 500 bằng hữu xa gần cạy mặt, nghỉ chơi, thôi kết bạn ngay tắp lự. Con cái nhà ai mà trạng cóc rứa bây! Nhưng “quân tử” sẽ hối hận liền khi nếu hôm sau lén phén đọc thấy thêm thơ “chị” ấy trình làng:
“… yếm đào trễ xuống dưới nương long đôi gò bồng đảo sương còn ngậm một lạch đào nguyên nước chửa thông quân tử dùng dằng đi chẳng dứt đi thì cũng dở, ở không xong”.
Like mạnh đi chứ lỵ. Không biết “chị” tả một bộ phận không nhỏ nào mà mường tượng ra một đặc khu rất dễ dành đất đóng cọc. Ngay cả khi chị tả cái quạt cũng kỳ khôi, nghe đứng gió, thấy nực nội lạ lùng:
“Chành ra ba góc, da còn thiếu Khép lại đôi bên, thịt vẫn thừa”.
“Chị” chỉ được tài làm thơ Nôm thôi, chị khác mấy em lúc nào cũng thích kèm theo ảnh hình “dung tục”. Vừa vừa phải phải thôi, tụi kiểm soát Facebook nó chẳng ưa dòm cái quạt của chị đâu, nó chua hàng chữ làm mình ngọng: “Chưa tiện hiển thị ảnh này lên”. Ui, ấy ái uông.
Đến đây chị bảo đôi điều Quê mình khổ cực ít nhiều lầm than Sao em quay mặt không màng Những lo đi bão nửa tàng nửa điên.
Bà Hồ Xuân Hương không làm thơ lục bát, chỉ thất ngôn. Được hậu thế đánh giá là “Bà chúa thơ Nôm”. Chức vụ ấy có to không? Bà chúa làm sao so bì được với chủ tịch, nhỉ? Chủ tịch hô hào:
Nay ở trong thơ nên có thép Làm nhà thơ phải biết xung phong.
Bỏ đi nha. Đừng ngồi đó mà đánh đu, mà lộ hàng cái quạt (phú ông xin đổi ba bò chín trâu). Quỡn quá lại ra vườn ví mình là quả mít (khiến xui đại ca chủ tịch bận tâm). Mân mê sờ mó (không phải ấu dâm) thì buộc múi mít chảy nhựa. Khi lỡ dính tay, biểu sao đại ca chủ tịch không phát minh ra từ “bôi trơn”. Mang phong bì nằng nặng một tí, nhớ? Ảnh có hỏi “cái gì thế” thì cứ việc thưa “ấy ái uông”. Giả dại qua truông, nói ngọng thì ảnh sẽ ngộ ra: Ờ, lần này để ta xắn tay giải quyết cho, chậm lắm là ba ngày sẽ đạt thành tựu. Nên khuyến mãi tiếp thị thêm, lại gần cho tớ rờ cái nào, ăn gì mà thịt thơm thế?
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương để lại cho văn chương xứ Việt một gia tài không nhỏ về những vần thơ táo bạo, là người đi đầu ở mặt tranh đấu nữ quyền, đả phá bao xấu xa mà xã hội phong kiến bày ra.
Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho quần chúng cuốn Ngục Trung Nhật Ký “đình đám”, nghe đâu “ngài” lỡ cọp dê từ một tác giả người nước lạ:
Đau khổ chi bằng mất tự do Đến buồn đi ỉa cũng không cho.
Đau khổ thật đấy! Nhưng đừng quên cảnh sớm nắng chiều mưa. Có gì hạnh phúc cho bằng khi đi đâu ta cũng được đón tiếp nồng hậu, được ôm ấp nựng nịu các cháu ngoan trong đôi vòng tay năng động? Các chú xử thằng Nguyễn Hữu Linh từ 6 tháng đến 3 năm tù vì tội sờ mó một bé gái trong thang máy là chơi ép nó quá đấy, vì dù gì thì nó đã noi theo gương sáng của ta mà manh động trong nhất thời. Mấy bé ấy chưa tựu thành ra quả mít đâu nhỉ? Da chưa sần sùi và múi chưa tiết ra nhựa đâu nhỉ? Thôi thì ta nên thống nhất mọi việc bằng ba chữ Ấy Ái Uông. Đằng ấy nghe không chuẩn hơn là ma-dzê-in Việt Nam hay sao?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.