Khi ở trung đoàn 41

Thơ Lâm Hảo Dũng

Post by Sơn râu 30 Jan 2024

nay ở Trà Quan mai Mỹ Tho

khi về lưu luyến nhớ đèo Nhông

nhớ đám lao công ngày tải đạn

tối nằm la hét cả thinh không

trước cổng Trung đoàn dăm quán lẻ

dăm cô gái điếm mặt buồn so

hôm nay cuối tháng tiền không có

lính bận hành quân dọc biển xa

mai sáng trời xanh núi củng xanh

đường chông chênh quá xung sao đành

gấp vội làm tư tờ báo cũ

địa bàn không thấy nhớ loanh quanh

khi ở Đại Sơn ngồi nghĩ quẩn

ngày mai xuống núi hát nghêu ngao

lỡ buông tay sung thôi đành vậy

buồn có bao giờ quên hết đâu?

một máy truyền tin hai đệ tử

một hầm trú ẩn chuột kêu vang

sách không có đọc nằm như chết

nhớ mẹ già nua ở Sóc Trăng



Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 30 Jan 2024

Hình minh họa

Đại úy Nguyễn Quốc Định
(Sĩ quan hải quân)

“Các ông ra khỏi tàu tôi ngay!”|

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Tôi là sĩ quan hải quân Việt Nam, lúc ấy phụ trách một chiếc tàu tuần tiễu nhỏ, thủy thủ đoàn chỉ có sáu người. Chúng tôi có nhiệm vụ tuần tiễu dọc vùng duyên hải để chặn các tàu chở hàng lậu và tìm Việt Cộng chở vũ khí xâm nhập. Công tác không có gì nhiều. Việt Cộng chỉ mạnh dưới vùng đồng bằng, nhưng ở vùng duyên hải thì không.

Khi nhận chức với cấp bực đại úy năm 1969, tôi hãy còn rất trẻ. Tôi đã theo học trường đào tạo sĩ quan ở Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ, khi tôi gia nhập hải quân, người ta đang cần nhiều sĩ quan, nhưng chỉ có một trường huấn luyện tại Việt Nam, nên người Mỹ đã giúp huấn luyện sĩ quan tại New Port, Rhode Island. Tôi được học Anh văn ở Việt Nam sau khi tốt nghiệp khoá huấn luyện căn bản. Họ gửi tôi đi học Anh văn tại một trường Sinh ngữ do các binh sĩ Hoa Kỳ phụ trách, tám tiếng một ngày.

Tôi không biết nhiều về chính trị, nhưng hiệp định Ba Lê làm tôi lo ngại. Sau khi quân đội Mỹ rút, người ta cắt giảm tiếp liệu, chúng tôi bắt đầu thiếu xăng nhớt đạn dược. Đôi khi có vài bộ phận trên tàu hư hỏng, chúng tôi phải chờ rất lâu mới có bộ phận thay thế. Rồi, vì thiếu nhiên liệu, chúng tôi phải rút bớt những chuyến tuần tiễu. Trước hiệp định Ba Lê, tôi có thể cho tàu đi tuần suốt ngày đêm. Sau hiệp định này, chỉ còn có thể tuần tiễu vài giờ mỗi ngày.

Mùa Xuân 1975, tôi ở Qui Nhơn. Sau vụ bỏ cao nguyên, tôi cho tàu đi bốc thường dân và binh sĩ dọc bờ biển, đưa họ lên tàu vào Cam Ranh, rồi chúng tôi lại rút thêm người đưa vào Sàigòn.

Tôi thấy tình trạng lúc ấy rất tệ hại. Không có kế hoạch gì đàng hoàng, binh sĩ phải vứt bỏ tất cả mọi thứ mà chạy.
Khi cuộc rút lui bắt đầu, tàu chúng tôi vẫn còn tiếp tục tuần tiễu. Nhiều người tỵ nạn đã ở vào hoàn cảnh thật khốn cùng. Một số binh sĩ lúc rút lui trở nên điên rồ, họ đã biến thành một bọn thô bỉ. Họ hãm hiếp cả những người đàn bà đi cùng tàu với họ.

Những người tỵ nạn đều chạy ra Phú Quốc. Tôi ở đấy, thấy tình trạng nơi này cũng rất xấu. Họ lại chuyển tôi ra Qui Nhơn. Vì địa bàn chiến tranh càng lúc càng thu hẹp, chúng tôi ngưng tuần tiễu. Từ đó, cấp trên bảo làm gì tôi làm nấy. Nếu họ bảo không làm gì, tôi chẳng làm gì. Các sĩ quan cao cấp có vẻ cũng không hiểu tình hình diễn tiến ra sao, nên họ chẳng ban lệnh lạc gì nữa. Họ giữ cho cấp dưới bình tĩnh bằng cách không làm gì cả, tôi nghĩ họ không còn biết hết mọi chuyện. Các thủy thủ trên tàu hỏi “Tinh hình ra sao” tôi trả lời “Chẳng biết ra sao. Chẳng người nào biết được tình hình ra sao cả.”

Thỉnh thoảng, bản thân tôi tự kiểm soát loanh quanh, xem chừng lỡ có người nhái của đối phương đến phá hoại tàu bè của chúng tôi chăng. Nhưng cũng chẳng có chuyện gì xảy ra.

Hình minh họa

Thế rồi đến ngày 29 tháng Tư, là lúc tôi hoàn toàn bối rối, không còn có thể hiểu chuyện gì xảy ra. Hôm ấy tàu của tôi đang phải sửa chữa, máy tàu bị hỏng. Chúng tôi ở cách Sàigòn mười dặm, trên sông Sàigòn. Lúc ấy tôi thấy trực thăng Mỹ bắt đầu bay vào.

Thực tình từ trước đến giờ tôi chưa hề nghĩ đến việc rời khỏi quê hương xứ sở. Ngay cả mơ đến chuyện ấy cũng không. Đến ngày 29, họ bảo Hải quân sẽ phải tái tổ chức. Họ bảo tôi phải ra đảo Côn Sơn để tái tổ chức. Sĩ quan Chỉ huy của tôi sẽ điều động hai mươi tàu, trong đó có cả tàu của tôi. Ông ta bảo sáu giờ chiều ngày 29 phải ra Côn Sơn. Khi nghe ông nói thế, tôi nghĩ có lẽ chúng tôi sắp mất nước rồi. Nhưng bấy giờ gia đình tôi còn ở Sàigòn, tôi không muốn bỏ gia đình tôi lại. Cho nên tôi nghĩ tôi phải về Sàigòn đón gia đình tôi trước.

Tôi bèn đi Sàigòn. Nhưng có vài người trong thủy thủ đoàn của tôi không muốn làm như thế. Vài người đi thẳng ra Côn Sơn. Vài người đi với tôi về bộ Tư lệnh Hải quân, nơi này chỉ cách nhà tôi có một dặm, tại Sàigòn. Mấy chiếc tàu lớn của Hải quân đã rời Sàigòn cả. Tôi không rõ mấy chiếc tàu lớn đã đi đâu, họ không cho một ai hay biết gì.

Tôi vào thành phố, lúc ấy nửa đêm. Tình trạng bấy giờ hết sức đông đảo chen chúc hỗn loạn, dân chúng ùa đến tìm mọi cách leo lên mấy chiếc tàu. Tôi lo người ta cướp tàu của tôi, nhiều người là binh sĩ. Thủy thủ của tôi chỉ có năm người, tôi bèn để lại tàu ba người canh gác. Tôi rời tàu với một người bạn, rồi về nhà.

Dân chúng ai nấy tràn ra ngoài đường. Tôi đi bộ qua toà Đại sứ Mỹ, thấy người bu đông nghịt xung quanh cổng chính. Tôi cố kiếm một chiếc xe gắn máy, bấy giờ xe hơi xe gắn máy bỏ ngổn ngang trên đường. Lúc ấy vẫn có giới nghiêm, nhưng thật ra chẳng hiệu lực gì. Trong đêm, tôi thấy có lửa, tôi thấy người đứng trên sân thượng toà Đại sứ, nhưng tôi không thấy trực thăng đáp xuống. Nhiều người cố tìm cách lọt vào trong toà Đại sứ, nhưng tôi nghĩ họ cũng biết không còn cách gì có thể lọt vào được nữa. Lúc ấy là hai giờ sáng ngày 30 tháng tư. Phải mất một tiếng đồng hồ đi bộ tôi mới về đến nhà. Tôi vẫn còn đội mũ sắt, mặc đồ trận, tôi cảm thấy hệt như mình đang sẵn sàng ra mặt trận.

Gia đình tôi hãy còn đầy đủ trong nhà, họ không biết tình hình ra sao. Họ đều sợ. Cha tôi, trước là cảnh sát Sàigòn, ông có quan tâm về việc ra đi, nhưng không biết làm cách nào ra khỏi xứ. Gia đình tôi gồm cha mẹ và tám đứa con nữa, tất cả là mười người tôi phải đưa đi. Trước đó, có một số phi công bên Không quân đã cố đưa gia đình sang Thái Lan, nhưng họ đều bị bắt, bị đưa trở lại Việt Nam. Người ta bảo chúng tôi rằng nếu chúng tôi đi, họ sẽ chặn lại nhốt tù.

Tôi mang về nhà vài quả lựu đạn, vài cây súng. Tôi bảo mẹ tôi nếu Cộng sản vào nhà, tôi sẽ giết và tôi cũng tự sát cùng với chúng. Mẹ tôi bảo tôi muốn làm gì thì làm. Tôi bảo tôi sẽ giết hết mọi người trong gia đình rồi cùng chết với nhau, mẹ tôi nói thế cũng được. Tôi không biết tôi có thể làm thế được không, nhưng tôi đã nói với cả gia đình như vậy. Cha tôi bảo thế cũng xong.

Lúc ấy, tôi không rõ đất nước mất hay còn. Nhưng trước đấy một tuần, tôi đã mang một số vũ khí về nhà, bởi tôi nghĩ nếu bất cứ chuyện gì xảy ra, sớm muộn tôi cũng chết và tôi muốn gia đình tôi có thể tự vệ được khi tôi không có mặt.

Tôi là người trụ cột trong gia đình. Cha tôi không làm gì được nữa. Phần tôi, lúc ấy thực tình không rõ phải đi đâu, hoặc nếu rời Sàigòn rồi làm gì.

Hình minh họa

Nhưng tôi quyết định phải đi. Tôi nói với cha mẹ tôi rằng nếu muốn đi thì đi với tôi. Tôi có một chiếc xe gắn máy, tôi chở dần hai đứa bé ra cảng, bỏ chúng đấy, rồi quay lại chở hai đứa nữa. Tàu của tôi vẫn còn đấy, có một đám đông bu lại gần nhưng họ không lấy được tàu, vì có lính canh. Tàu đậu giữa sông, mỗi lần tôi mang người trong gia đình đến thì tàu chạy vào, rồi chạy ra, cứ mỗi lần đến, tôi lại phải gọi.

Sau chuyến thứ hai, tôi nhờ người đi về đón số người còn lại trong gia đình tôi. Mấy thủy thủ đâm hoảng, họ lo nếu rời tàu thì tôi có thể bỏ họ mà đi. Tôi hứa bảo đảm vói họ là tôi sẽ đợi cho đến trưa. Vậy mà họ vẫn quyết định cứ ở lại hơn là rời tàu đi đón thân nhân.

Bảy người trong gia đình tôi ra đến tàu. Cha tôi cùng một người em trai và một cô em gái của tôi ở nhà. Họ không đi. Cô em gái tôi là giáo viên, nó và người chồng không muốn đi.

Trong lúc đợi gia đình tôi thì ở ngoài tàu đã có nhiều người lọt được vào trong tàu. Tôi phát điên lên. Mấy người thương gia đưa ra đô-la, đưa ra vàng. Tôi quát: “Các ông ra khỏi tàu tôi ngay!” Tôi rút súng bắn chỉ thiên, đuổi họ đi. Họ van vỉ khóc lóc, nhưng làm sao đủ chỗ cho họ đi. Tôi bảo thủy thủ của tôi ném họ ra khỏi tàu. Vài người có vợ, con, và cả hành lý. Nhưng tôi phải mang gia đình tôi đi. Tôi phải lo gia đình tôi trước.

Cũng nhiều người có súng, nhưng họ không lên tàu vì họ thấy tàu không đi nổi, lúc ấy đã có khoảng bốn chục người trên tàu rồi. Quá đông, chiều dài chiếc tàu chỉ có mười thước, chiều ngang ba thước và có hai tầng.

Chúng tôi đi khoảng 11 giờ sáng ngày 30 tháng Tư, chạy đường sông, ra biển Nam Hải. Chúng tôi phải qua Rừng Sát là nơi đầy Cộng sản, lòng sông rất cạn, qua đây hết sức nguy hiểm. Có hai chiếc tàu nữa cùng đi với chúng tôi. Lúc ấy tôi rất sợ vì lẽ chiếc tàu rất nhỏ, chỉ một quả rốc-két bắn đến là mọi người tiêu hết. Rồi chúng tôi thấy có một chiếc tàu lớn chạy đến, một chiếc tàu dân sự, trên tàu chở đầy những người giàu có. Chiếc tàu này tên là Vong Hong Ni, chở khoảng ba trăm người. Tôi cho tàu cập lại, bắt họ dừng. Tôi rút súng cầm tay, bảo họ nếu không dừng là tôi bắn. Họ sợ, nên dừng tàu, cho tất cả chúng tôi leo lên. Sau đó chúng tôi cắt dây, thả chiếc tàu nhỏ của chúng tôi trôi đi. Đêm hôm ấy chúng tôi đi ngang Vũng Tàu, nghe máy thu thanh nói Sàigòn đã đầu hàng. Tôi tự bảo “Thôi, thế là xong.”

Ra khỏi Vũng Tàu, chúng tôi nhìn thấy Đệ Thất hạm đội Hoa Kỳ. Chúng tôi nghĩ họ sẽ chờ sáng rồi cho chúng tôi lên, nhưng họ biến mất. Rồi một chiếc tàu Hải quân Việt Nam tiến đến, hai tàu chúng tôi cứ thế theo nhau mà đi suốt bảy ngày đêm.

Cuối cùng chúng tôi đến được Subic Bay, Phi Luật Tân, từ đây họ đưa chúng tôi sang đảo Wake rồi đến trại tỵ nạn Fort Chaffee. Sau, chúng tôi đến định cư ở thành phố Nữu Ước.

Sau đó tôi cố viết thư liên lạc vói cha tôi, nhưng không dám viết trực tiếp. Tôi gửi đến địa chỉ mấy người hàng xóm gần nhà để nhờ chuyển cho cha tôi, nhờ vậy em gái tôi biết tin chúng tôi đã tới nơi bình an. Cha tôi bị đưa vào trại cải tạo, ông bị ở đó năm năm. Cha tôi chỉ là một cảnh sát cấp đại úy, tôi không biết tại sao chúng bắt cha tôi đi lâu như vậy.

Ông được thả năm 1980. Ông muốn vượt biên cùng với cậu em trai và gia đình em gái tôi. Tôi tìm cách gửi tiền mua vàng cho họ đi. Nhưng cha tôi không thoát. Chuyến vượt biên ấy chở quá đông. Đáng lẽ chỉ chở được bốn mươi người, nhưng chủ tàu tham lam, hắn đã chở đến một trăm hai mươi người. Hắn tưởng chỉ mất hai ngày là đến được Mã Lai, ngờ đâu phải đi đến bảy ngày đêm. Tàu không có tài công nhà nghề, lại gặp bão trên biển. Cha tôi bị chết đói. Chú em trai, cô em gái tôi và hai đứa con gái của nó sống sót. Nhưng chồng nó chết. Tàu bị rỉ nước, chồng nó cố sức tạt nước cứu gia đình, nên đã chết vì kiệt sức.

Thú thực với ông, cuộc sống của tôi tại đây tốt đẹp hơn. Phần lớn bạn hữu của tôi cũng nói như thế. Nếu có cơ hội về nước thì thực tình tôi chẳng biết làm gì. Đôi khi ban đêm nằm ngủ ở thành phố Nữu Ước này tôi vẫn còn những cơn ác mộng. Tôi mơ thấy mình vẫn đang ở Việt Nam, bị Cộng sản bắt đưa vào trại cải tạo. Tôi bị mộng mị như vậy trong suốt mấy tháng.Bây giờ tôi không còn mộng mị như thế nữa.

_________________

(Ghi chú của tác giả: Sau cuộc phỏng vấn này chỉ một thời gian ngắn, Đại úy Định đã mất vì bị ung thư phổi vào mùa hè năm 1987)

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 30 Jan 2024

Hình minh họa

Lê Văn Hải
(Không quân Nam Việt Nam)

“Hôm ấy là một ngày rất đẹp. Mặt trời soi rạng rỡ, và mọi người đều khóc.”

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Năm 1954 khi đất nước chia đôi, Cộng sản chiếm miền Bắc, cha mẹ tôi di cư vào Nam. Lúc ấy, tôi mới lên một. Cha mẹ tôi biết rõ Cộng sản, họ không muốn sống dưới chế độ này. Vì thế họ đã vào Nam tìm tự do.

Tôi gia nhập không quân, vào trường học lái máy bay. Tôi tốt nghiệp trường huấn luyện không quân đầu tháng Tư, 1975. Vào thời gian ấy, phi công không bao giờ đủ xăng mà bay. Cơ phận cũng thiếu phải lấy bộ phận máy bay này mà lắp sang chiếc máy bay khác. Đạn dược không bao giờ đủ, phải đếm từng viên. Chúng tôi muốn chiến đấu. Nhưng không vũ khí, làm sao chúng tôi chiến đấu!

Bấy giờ trong không quân, vài người bảo nhau có thể chúng tôi sẽ thua trận. Nhưng khi nói vậy, chúng tôi cũng sợ, bởi chúng tôi nghĩ: Biết chừng đâu chúng tôi đã nghe Cộng sản tuyên truyền quá nhiều. Chúng tôi biết thượng cấp chúng tôi là những tướng lãnh tốt. Chừng nào chúng tôi còn có tướng lãnh tốt, làm sao chúng tôi có thể bại trận được?

Ngày 28 tháng Tư, tôi ở trong phi trường Tân Sơn Nhứt khi các phi công Bắc Việt dội bom. Chúng bay đến bằng chiếc A-37, dội bom xuống chúng tôi. Chuyện ấy chẳng làm tôi khiếp sợ. Năm 1968 Tết Mậu Thân, Cộng sản cũng đã vào tận thành phố, mà rồi chúng tôi đã đẩy bật chúng ra. Vì vậy chuyện này đối với chúng tôi chẳng có gì mới lạ. Nhưng đến 29 tháng Tư, chúng tôi nghe nói các tướng lãnh của chúng tôi đã chạy hết. Chúng tôi không tin nổi. Chúng tôi, những người trẻ, đã dự định tiếp tục chiến đấu. Nhưng làm sao chúng tôi chiến đấu được khi các tướng lãnh không còn chỉ huy chúng tôi nữa?

Sáng 30 tháng Tư, các phi công đều nói chuyện với nhau về bản tin họ nghe được ở điện đài trên tần số khẩn cấp. Họ bảo hạm đội Mỹ kêu gọi phi công Việt Nam mang máy bay ra ngoài hạm đội để khỏi rơi vào tay Cộng sản. Sau khi nghe bản tin, nhiều phi công lấy trực thăng nhồi nhét đầy người bay ra hạm đội Mỹ.

Lúc ấy tôi không đoan quyết là tôi muốn đi, vì vậy tôi không ra trực thăng. Tôi biết vẫn còn có các quân nhân đang chiến đấu dưới vùng đồng bằng, nên tôi nghĩ có lẽ tôi sẽ đi Nam tham gia với họ. Nhưng rồi tôi nghe chính phủ đã đầu hàng Cộng sản. Khi ấy, tôi quyết định ra đi.

Tôi và một người bạn xuống sông Sàigòn. Có một chiếc tàu sắp đi, chúng tôi quyết định leo lên. Chúng tôi cảm thấy việc ra đi là rất tệ, nhưng khi chính phủ đã đầu hàng, còn hy vọng gì nữa?

Dân chúng Sàigòn cử hành lễ lạc hoan hô, họ đã bị Cộng sản dối gạt. Họ tưởng Cộng sản thắng thì chiến tranh không còn nữa. Bây giờ họ đã được một bài học.

Khi chiếc tàu của chúng tôi chạy trên sông Sàigòn, không ai nổ súng bắn chác gì. Trên tàu có đến 3000 người, chật ních đàn ông. đàn bà, trẻ con. Chẳng có thực phẩm nước uống, chúng tôi cũng chẳng rõ khi ra đến biển Nam Hải số phận ra sao. Nhưng chúng tôi vẫn đi vì chúng tôi không thể ở lại sống dưới chế độ Cộng sản được.

Hình minh họa

Lúc ra đi, chúng tôi đều nhìn đất nước Việt Nam một lần cuối. Hình ảnh sau cùng chúng tôi thấy là bãi biển đẹp đẽ ở Vũng Tàu. Hôm ấy là một ngày rất đẹp. Mặt trời soi rạng rỡ và mọi người đều khóc. Sau khi chúng tôi nhìn Vũng Tàu lần cuối, một người lính ở trên tàu rút khẩu súng kê dưới cằm, bóp cò tự sát. Vài người nhảy ra khỏi thành tàu, biến mất dưới biển. Tôi chứng kiến hai người đàn ông đã nhảy ra bên thành tàu.

Chúng tôi lênh đênh trên mặt biển ba ngày không thực phẩm, không nước uống. Ngày thứ ba, chúng tôi gặp một tàu Đan Mạch. Họ bốc đàn bà và trẻ con đưa đi Hồng Kông. Còn chúng tôi, họ tiếp tế đồ ăn nước uống, đủ cho chúng tôi không chết trên mặt biển, họ chỉ đường cho chúng tôi đến Hồng Kông. Suốt cuộc hành trình còn lại, chúng tôi im lặng không nói với nhau một lời.

Chúng tôi quá đau buồn. Chúng tôi đã mất quê hương.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 30 Jan 2024

Hình minh họa

Nguyễn Phúc Thiệu
(Thiếu úy Không quân, Nam Việt Nam)

 “Thôi đi, các cậu – Cuộc chiến đã xong.”

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Bấy giờ tôi là một phi công trực thăng. Tính đến năm 1975, tôi đã ở trong binh chủng Không quân được năm năm. Trước tôi đóng ở Đà Nẵng và Nha Trang, sau tại Tân Sơn Nhứt, Sàigòn. Không một ai trong chúng tôi có thể tin đất nước này sẽ sụp đổ.

Lúc ấy chúng tôi nghĩ Cộng sản có thể sẽ vào được Sàigòn, có thể chúng sẽ vào tận thành phố như đã xảy ra hồi năm 1968, nhưng chúng tôi sẽ lại đánh bật chúng ra. Chúng tôi dự liệu đất nước này có thể được phân ranh lại, ranh giới sẽ ở đâu đó khoảng Nha Trang.

Ngày 28 tháng Tư, máy bay Cộng sản dội bom ở Tân Sơn Nhứt. Chúng tôi nghe nói phi công là đào binh từ hàng ngũ chúng tôi. Việc ấy không có gì đáng ngạc nhiên. Với một không lực khá lớn như của chúng tôi, việc hai hay ba phi công đào thoát sang phía bên kia là việc có thể dự liệu được. Số còn lại, tất cả chúng tôi đều là những người trung kiên.

Ngày 29 tháng Tư, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đổ xuống, vây quanh văn phòng Tùy viên Quân sự. Họ bắt đầu di tản người tỵ nạn ra bằng trực thăng tại địa điểm này. Về phần chúng tôi cứ thế ở trong trại, đợi lệnh. Chúng tôi không biết những ngưòi chỉ huy chúng tôi đã bỏ rơi chúng tôi. Chúng tôi có năm chiếc trực thăng đợi sẵn, chúng tôi cứ nghĩ là sẽ sắp sửa tham dự phi vụ. Có lẽ các cấp chỉ huy chúng tôi đang đi họp mật với Mỹ, họ sẽ trở lại cho lệnh mới. Không ngờ các cấp chỉ huy của chúng tôi không bao giờ trở lại nữa.

Sau khi người Mỹ hoàn tất chương trình di tản của họ, họ cho nổ căn cứ Tùy viên Quân sự. Rồi Thủy quân Lục chiến Mỹ bỏ đi, chúng tôi vẫn cứ ở đấy đợi lệnh.

Đêm 29 chúng tôi nghe tướng Kỳ trên máy truyền thanh. Ông đọc bài diễn văn bảo sẽ ở lại, chiến đấu cho đến chết. Ông kêu gọi chúng tôi cũng làm như vậy. Thế rồi, ông bỏ đi.

Sáng 30 tháng Tư, chúng tôi quyết định không thể chờ ở Tân Sơn Nhứt lâu hơn nữa. Năm giờ sáng là lúc chúng tôi quyết định bay xuống miền Nam bằng trực thăng để tham gia các đơn vị vùng đồng bằng tiếp tục chiến đấu chống Cộng. Khi ra trực thăng, chúng tôi mới khám phá hầu hết đã bị phá hoại. Nhiều cơ phận mất, bình điện bị lấy cắp, xăng cạn gần hết. Chúng tôi tháo gỡ nhặt nhạnh các bộ phận chiếc này đưa sang chiếc khác, rồi dồn xăng, bình điện, lắp vào hai chiếc trực thăng để có thể sử dụng được. Tất cả chúng tôi dồn vào hai chiếc trực thăng này, bay xuống Cần Thơ. Chúng tôi cố gọi máy cho các đơn vị Cần Thơ, nhưng không ai trả lời. Khi đáp xuống, có vài binh sĩ chạy đến hỏi: “Các ông làm gì ở đây vậy? Bộ các ông không nghe điện văn của Mỹ hay sao?” Họ bảo chúng tôi là người Mỹ đã kêu gọi các trực thăng Việt Nam bay hết ra ngoài Đệ Thất hạm đội, giữ cho máy bay đừng rơi vào tay Cộng sản. Chúng tôi thảo luận với nhau, cuối cùng quyết định bay ra Đệ Thất hạm đội.

Hình minh họa

Chúng tôi bay qua Vũng Tàu. Bay thấp qua thành phố, có thể thấy cả bộ đội Cộng sản ở đây. Bấy giờ máy bay rất ít xăng, chúng tôi lại không rõ Đệ Thất hạm đội ở bao xa. Khi nhìn thấy tàu chiến Mỹ, chúng tôi chỉ có năm phút xăng còn lại trong bình.

Chúng tôi nghĩ khi đáp xuống tàu chiến Mỹ, họ sẽ tiếp tế xăng nhớt, sắp xếp lại đội ngũ. Rồi, sẽ quay về Việt Nam chiến đấu, và người Mỹ sẽ đi cùng với chúng tôi. Chúng tôi tưởng họ gọi chúng tôi ra lập kế hoạch mới mà phản công. Ý kiến ấy nghe khá tốt, chúng tôi vẫn sẵn sàng chiến đấu. Nhưng ngay khi đáp xuống, Thủy quân Lục chiến Mỹ tiến đến tước khí giới. Chúng tôi lấy làm lạ. Rồi họ đưa chúng tôi sang phía bên kia tàu. Rồi chúng tôi thấy họ bắt đầu đẩy chiếc trực thăng. Vài người trong chúng tôi la lên, họ chạy ra, cố ngăn mấy người Mỹ lại. Nhưng Thủy quân Lục chiến Mỹ chặn người của chúng tôi. Họ nói “Thôi đi, các cậu. Cuộc chiến đã xong.”

Vài người trong chúng tôi bật khóc. Khi thấy chiếc trực thăng của chúng tôi rơi xuống biển, biết rằng sẽ không còn trở lại Việt Nam được nữa, vài người cố nhảy xuống biển. Thủy quân Lục chiến Mỹ ngăn họ lại. Nhiều người trong chúng tôi còn gia đình ở lại Sàigòn, họ muốn trở về với gia đình. Nhưng giờ đây, chẳng còn cách gì nữa.

Tôi cảm thấy rất buồn khi nhìn chiếc trực thăng của chúng tôi chìm xuống. Khi thoạt thấy chiếc tàu chiến Mỹ, tôi cứ tưởng mọi việc sẽ ổn thỏa. Nhưng tôi đã lầm. Đối với chúng tôi, cuộc chiến đã xong.

Tình chỏng gọng

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 30 Jan 2024

Pulau Bidong

Bà con nào sính thơ văn ở hải ngoại nầy chắc đều nghe, biết tiếng nhà thơ Thương Hoài Mộng. Cái bút hiệu nầy đầy nữ tính nhưng thực ra lại là của một chàng đực rựa. Chuyện chàng lấy bút hiệu là nàng, tự mình làm phẫu thuật chuyển giống cho chính mình mà không cần phải bay đi Bangkok, Thailand gì ráo trọi là chuyện cũng thường, đã từng xảy ra xa lơ xa lắc rồi.

Bằng cớ là nhà thơ, nhà báo lừng danh Nguyễn Vỹ cũng từng có cái bút hiệu là: Cô Diệu Huyền (chắc có lẽ nhà thơ nầy có người yêu cũ tên Diệu, hơi bị đen… nên chọn cho mình cái bút hiệu nầy để nhớ người xưa và tình năm cũ hay chăng?)

Nhà thơ Thương Hoài Mộng thực ra tên là Mộng, người Bến Tre, tức tỉnh Kiến Hòa của mình hồi năm nẳm. Tui hay chọc quê anh, bằng cách thêm chữ Dừa cho người ta biết anh là Mộng Dừa, người xứ Bến Tre hay đứng như bóng dừa.

Thân lắm nên anh không có giận lẫy sẩy cùi gì mà chỉ dặn tui rằng: “Cái tên nầy của anh đặt cho tui…Tui xin cám ơn anh lắm; nhưng chỉ nên hai đứa mình thôi nhé, thiên cơ bất khả lậu, đừng cho ai khác hay; kẻo phải nấu chè trôi nước đặt tên lại thêm phiền… vì phải tốn tiền!” 

Tui quen với Mộng Dừa cách đây cũng khá là lâu. Cha! Bấm đốt ngón tay không đủ tay để bấm vì đã gần bốn mươi năm rồi đó! Chẳng qua hai đứa trôi dạt đến đảo Pulau Bidong, một mình một thân, không có ai là thân nhân, nên là con Bà Phước. Ði được là do canh me chớ đâu có vàng cây, vàng miếng gì đâu.

***

Tới đảo, một chiều buồn, tui lang thang ra biển ngóng về phía trời xa; nhớ về con vợ dại và hai đứa con thơ còn bỏ lại bên Trời. Người ta nói, dụng tửu phá thành sầu. Muốn hết buồn nên nhậu; nhưng ngặt nỗi tiền đâu mà mua rượu uống, để hết sầu đây?

Bỗng Trời khiến xui sao đó, trên bước đường lủi thủi tui đi, có tờ giấy bạc, tui nhớ 10 đô la Mỹ rõ ràng, có in hình ông Alexander Hamilton, Bộ trưởng Ngân khố, thời tướng George Washington làm Tổng thống đầu tiên của đất nước Cờ Hoa.

Tờ giấy bạc 10 đô đó như con còng gió chạy lăng quăng trên bãi. Tui chạy rượt theo muốn hụt hơi, chụp hụt, rồi lại rượt theo… chụp hụt. Cho tới khi tờ giấy bạc thấm nước, chịu nằm yên trên bãi cát; tui thò tay ra thì úy trời đất ơi có cái bàn chân ai đó đã đè lên nó, đè lên niềm hy vọng bùng lên rồi chợt tắt của tui rồi.

Cuộc tranh cãi nổ ra. Giữa tui và Mộng xem nó thuộc về ai? Sau cuộc đàm phán rất gay go, căng thẳng, văng biết bao nhiêu là nước miếng.

“Tui thấy trước! Tất nó thuộc về tui. Mộng thì bảo rằng: “Tui đè nó xuống trước! Tất nó thuộc về tui!”

Cuối cùng phải nhờ tới người em bán hàng xén mà hai đứa tui thường đến mua rượu chịu để nhờ em làm Bao Công mà phân xử.

Ai dè em nói: “Hồi chiều em ra biển tắm. Về thay quần, coi lại bị mất mười đô. Giờ thì nó châu về hiệp phố. Mười đô của em làm rớt đó mấy anh ơi!”

Hai đứa, dù lòng đau như cắt nhưng buộc phải tin đó là sự thật. Vì ở khu nầy trên đảo chỉ có mình em là có thân nhân bên Mỹ thường hay gởi tiền tiếp tế. Nên em mới có vốn mà mở tiệm hàng xén, buôn bán cho đỡ buồn, cho qua ngày đoạn tháng để chờ phái đoàn đến phỏng vấn mà rời đảo để đến một nước thứ ba… Em thấy mặt hai đứa tui buồn thiu như đưa đám nên cho trúng số an ủi bằng cách tặng một lít rượu đế, hổng tính tiền và khuyến mãi thêm một dĩa thịt heo xào giấm sửu.

Tui có cái tật xấu là làm chừng một xị là tui buồn ngủ híp con mắt luôn. Ngồi đó, người ta nói đó nhưng hồn tui đã trở về quê cũ, tui ngả lăn ra khỏi chiếc ghế đẩu, nằm ngáy pho pho như con gà nó gáy ó o…

Ðêm thượng tuần, trăng lên khỏi ngọn dừa đang phất phơ trước gió. Tui nhìn ra biển thấy đôi bóng tình nhân trên sóng nước. Thiệt cua gái bao giờ mình cũng thua đứt mấy nhà thơ; vì nghe nói mấy ‘giả’ miệng lưỡi lắm bà con ơi!

Chữ rằng: “Tình Bidong có list thì dông!”… Cuộc tình đang hồi sôi nổi như sóng nước Thái Bình Dương những ngày bão rớt giữa thi sĩ Thương Hoài Mộng, bạn tui, và người em bán hàng xén bỗng gãy ngang như củ hủ dừa trước cơn mưa cuồng gió loạn.

Nghe nói người xưa của em bên Mỹ lãnh em đi… Ngày em đi, Thương Hoài Mộng thẫn thờ ra cầu tàu của đảo làm tui phải chạy theo dòm chừng… Vì sợ thằng chả tự vận bất tử…

Rồi tui đi Úc, Mộng cũng đi Úc…Mộng khước từ đi Mỹ vì không muốn gặp lại con người bội phản. Tui thì cho rằng hai cánh bướm một cành hoa mà anh Mộng Dừa là cánh bướm đậu sau mà ghen ngược sao được hè?

Phần tội nghiệp, cha chả ơi là tội nghiệp, cho người xưa của em bán hàng xén, thương mến thương  gởi cho em mười đô; đâu có ngờ mười đô đó đã dẫn đường cho thằng giặc nó công đồn, xông vào chiến lũy…Thương Hoài Mộng nghe được, giận tui từ độ ấy…

***

Sau nầy qua Úc, mỗi người đi mỗi ngả! Nghe bạn bè nói Mộng không quên được tình xưa trên đảo Bidong, sầu đời quá nên thơ còn thống thiết hơn! Thường đăng báo, trên mục Vườn thơ giao cảm!

Tui gọi lên Tòa soạn, để tìm địa chỉ của bạn hiền xưa. Dè đâu nhà thơ Thương Hoài Mộng đã phiêu bạt tới tận Alice Spring, là thị trấn nằm chình ình trung tâm nước Úc, giữa vùng hoang mạc, nơi nước Úc, thời tạo thiên lập địa, lúc mới sinh, có cái rún lồi lên, là khối đá khổng lồ Uluru.

Và gần đây cũng nghe nhà thơ Thương Hoài Mộng đã chôn lấp mối tình xưa bằng cách tìm một người giống hệt như em mà tiếng Anh nói rằng: “Someone like you!’

Người đó là một em rặt ri thổ dân, có một nhan sắc đương độ xuân thì mà tàn phai thấy thương luôn vì hình như em nhậu… hơi nhiều quá! Ôi thiệt tội nghiệp bạn tui!  Con đường tình của Mộng sao không như là mộng hỡi Trời?

Tui xin chép lại bài thơ tự do, như văn xuôi, hổng có vần điệu gì hết ráo mà nhà thơ Thương Hoài Mộng gọi là Thơ hậu hiện đại, vừa mới gởi cho tui như vầy:

“Anh nghe rằng em đã yên bề gia thất! Ðã tìm được một nạn nhân và em đã tiến tới hôn nhân. Anh nghe rằng giấc mơ em đã trở thành sự thực. Anh tin rằng người ấy đã dâng hiến cho em tiền tài, danh vọng những thứ mà anh không thể cho em.

Lễ vu quy của em dẫu anh chẳng được mời. Anh vẫn đến với nỗi buồn đưa đám. Ðể em thấy anh khuôn mặt thảm sầu và em biết tình ta chưa có chết…

Nhưng xin em đừng lo lắng! Anh sẽ tìm được một người nào đó giống hịt như em.

Người đó là một em thổ dân. Tóc quắn như em bay trong chiều nắng gió! ‘Uluru! Ú u! Ú u! Tay em cầm cái chai và nốc cạn nỗi buồn rầu!

Em đã làm khổ anh giờ anh đi làm khổ người khác. Tình chỉ là làm khổ lẫn nhau thôi…Người ta nói thời gian là phương thuốc nhiệm mầu! Sao lòng anh vẫn sầu đến thế?!

Và để kết bài thơ nầy, nhà thơ Thương Hoài Mộng của tui còn bày đặt chơi mấy chữ tiếng Anh nữa chớ! “No worry! I’ll find someone like you!”

***

An Aboriginal lady at the Tjapukai Aboriginal Park near Cairns, Queensland, Australia, Pacific

Khác với chuyện tình sóng gió nhiều tập, coi bộ dài quá mà chưa tới tập cuối của nhà thơ Thương Hoài Mộng, bạn tui; chuyện tình của tui, êm đềm như mặt nước hồ thu trên Ðà Lạt mà bà con mình gọi là Hồ Than Thở.

Vì thiệt lúc buồn, lúc giận em yêu, tui cũng hổng biết than thở cùng ai? Còn khổ hơn anh Mộng Dừa nhiều vì ảnh còn có tui sẵn lòng cho mượn hai cái lỗ tai để anh trút vào đó biết bao là trái ngang lỡ dở… nên  cũng đỡ… trầm cảm!

Còn tui ư? Chiều cuối năm, tui xin nghỉ hai tuần, mà cứ quanh quẩn trong nhà vào ra… Em đụng mặt hoài là… thấy ghét. Thế nên! Em yêu soạn cái dàn karaoke ra, rồi em hét… để trải cái nỗi lòng mình.Tui bèn mở cửa, bước vội ra sân nhìn Trời hiu quạnh. Anh bạn hàng xóm lấy làm lạ hỏi: “Tại sao?”

Tui bèn trả lời rằng: “Ờ! tui hổng muốn ông bạn nghĩ lầm là tui đang đánh con vợ tui…”

Tay hàng xóm sợ vợ nổi tiếng nầy khuyên tui rằng: “Cái gì mình sửa đổi không được thì ráng mà chấp nhận đi… Ðừng yêu hoài, yêu hủy rồi cuối cùng gặp quỷ… như nhà thơ Thương Hoài Mộng, bạn của ông, mà chổng gọng; rồi chổng mông hết ráo!”

Thấy lời khuyên cũng có lý; nên tui bước trở vô nhà, bắc chảo lên, chiên một mớ thịt bò vụn với củ hành, rắc thêm mớ đậu phọng đâm dốt dốt để làm nốt một thùng beer còn đang dang dở.

Làm sương sương hết 5 lon! Ôi lạ kỳ thay! Huyền diệu thay! Phép mầu thay! Tui nhìn thấy em yêu đẹp nhứt đêm nay.

Tui thỏ thẻ cùng em, thoạt kỳ thủy vốn là người xưa trong mộng của tui, bằng một giọng còn muồi hơn cả ca sĩ Michael Bublé: “Anh mãi mãi yêu em!”

Vợ tui kinh ngạc, há hốc mồm ra, kêu lên: “Ối giời ơi! Có ai cứu chồng tôi!

Anh ơi! Anh có làm sao không?”

đoàn xuân thu.

melbourne

Tìm yêu trên xứ Úc!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Jan 2024

Tranh Bảo Huân

Nhớ hồi mới đặt chân qua nước Úc nầy đây, một thân một mình, vì em yêu tui đã bỏ lại bên trời lận đận… Chẳng qua vì cuộc vượt biên, vượt biển hiểm nguy vô cùng! Nào là sóng gió, bão bùng, đói khát rồi bọn cướp biển Thái Lan…

Nên thôi vọt một mình, vào chỗ hiểm nguy tui đi… Và em ở lại tưởng tui đã mạng vong trên đường vượt biển nên em nén đau thương… đi lấy chồng khác.

Tui đâu có tham đó bỏ đăng nên đâu ai trách được. Có trách là trách người tham đăng bỏ đó! Đó là em.

Nhưng hổng lẽ em phụ phàng duyên kiếp ba sinh theo tình mới mà mình cứ ngồi đó than trời trách đất trong lất phất mưa bay hoài thì thiên hạ nói mình là thằng ngốc như con cóc!

Tui bèn tự an ủi mình là: Đời thiếu gì con gái. Cửa nầy đóng là cửa khác sẽ mở ra… Vấn đế là mình có tìm đúng cái cửa nào khỏ cốc cốc là em cười chúm chiếm như đó hoa hàm tiếu: Mời anh vào! Rêu em bấy nay mọc đầy thềm cũ !

Cũng thuở ấy, con trai thì nhiều như ruồi mà con gái ít như là mật. Cũng nghĩ: Ta về ta tắm áo ta dù trong dù đục cũng là cái ao. Yêu một em Việt Nam mình, cùng nòi giống Tiên Rồng, da vàng mũi tẹt, lỡ bực mình ‘xì nẹt’ lẫn nhau dễ hơn là yêu em Úc. Vợ chồng Việt Nam, mình pháo qua là em phản pháo liền; vợ Úc mình pháo qua nó phản pháo phải chờ phiên dịch lâu lắc mắc công!

Phần tự xét, mình đua không lại quý anh mình rồi nên tam thập lục kế dĩ đào di thượng chạy trước đó bà con ơi!

Dê con gái Việt nam mười lần thất bại đủ một chục; nên tui quá thừa kinh nghiệm đáng cay. Còn đối với con gái Úc bước đầu bỡ ngỡ làm sao tìm yêu mà không bị em thưa lính bắt về tội quấy nhiễu tình dục đây ta?

***

“Con đường tình ta đi… cuối cùng sẽ dẫn tới cái giường!” Chứ đang trẻ, đang sung mà tối ngủ lạnh lùng ai mà chịu đời cho thấu?!

Rạo rực một phần; phần “Nối dõi tông đường” là câu Tía Má tui đã từng kêu réo xưa nay.

“Úc trắng càng tốt; Úc đen như cột nhà cháy cũng không sao… Cái quan trọng là vợ con phải sản xuất cho nhà mình được một thằng ‘cu’ để dòng họ mình không tuyệt tự đó nhe con!”
“Mầy cứ lần lữa, kén canh chọn cá, già quá mà vẫn cu ky, khi Tía má mầy lên bàn thờ ngồi thì lấy ai mà cúng giỗ. Làm nhà mình tuyệt tự là cái tội bất hiếu lớn nhứt trong đời đó nhe con!”

Làm con là phải vâng lời cha mẹ! Sách Luân lý Giáo khoa thư đã dạy tui hồi còn nhỏ thì nào dám quên.

Tui bèn cắp sách quay lại trường đại học; học là phụ mà kiếm vợ mới là cái chánh. Phần để được ăn tiền ‘Austudy’ tiền chánh phủ cho ăn học; chớ làm hãng gạch, gạch vô đơn xin trợ cấp thất nghiệp hoài Úc nó mặt lớn mày nhỏ thấy ghét!

Trong lớp, tui ngồi gần một thằng Úc khá đẹp trai, nhưng có vẻ đẹp của một trang liễu yếu đào tơ. Bàn trên là mấy em Úc. Ngồi sau nhìn lên cái cần cổ của em trắng hồng hồng có điểm tàn nhang là nhểu nước miếng ướt cả mông bởi tưởng tới một phương trời viễn mộng.

Một hôm, em đưa cho tui một tờ giấy nhỏ, gấp làm tư trong đó viết là: “Em yêu anh! Mình đi ăn tối nhé!).

Đã quá chừng; nhưng em thòng thêm một câu làm tan nát lòng tui là: “Làm ơn đưa cho anh ngồi bên cạnh!”

À té ra ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Úc cái khoái Úc đực; mình đâu có cửa ở đây mà mong!

Tui bèn đưa tờ giấy cho thằng ngồi bên cạnh. Đọc xong, nó mỉm miệng cười tình, mắt lúng liếng thì thầm bỏ nhỏ vào tai tui là: “I do love you too!” (Em cũng yêu anh nữa!).

***

Người ta nói thất bại là mẹ của thành công. Thất bại không đáng sợ bằng sợ thất bại lại bỏ ngang xương chuyện tìm kiếm người thương.

Nên một hôm đi học về, ngồi chờ xe ‘tram’, có một em Úc đẹp, xuất sắc trong vai tì nữ ngồi cạnh, tui bèn mở miệng làm quen.

Được thì tốt; bằng không cũng là một dịp thực tập tiếng Anh; vì thầy tôi có dạy rằng: “Muốn giỏi tiếng Anh là: nói, nói và nói; nói tưới xượi hột sen đi!”

Tui bèn mở lời: “Sorry! Hình như mình có gặp ở đâu” “Có lẽ vậy! Vì em làm thư ký phòng nhận bịnh tâm thần củaMelbourne Clinic, ở số 35 Church Street, Richmond. Điện thoại là: 3535. 3535 (tiếng Việt mình đọc là ba lăm và ba lăm!)

Chắc em tưởng tui là khách hàng cũ của em đang đi lạc tìm đường về chuồng cũ. Hoặc là em làm bịnh viện tâm thần khá lâu, bị ảnh hưởng nghề nghiệp, nên ‘tửng tửng’ hay chăng?

Thôi đành lặng câm, không kèn không trống; nấn ná thêm nhục chí nam nhi!

Xe đến, ngừng, cửa mở ra, bước lên, thấy bên cạnh một em Úc khác còn cái ghế trống! Lịch sự có thừa tui bèn xin phép: “Cái ghế nầy còn trống phải không em?” “Đúng! Nếu anh ngồi xuống thì cái ghế nầy cũng trống luôn!”.

Tổ cha con nhỏ Úc nầy kỳ thị chủng tộc.

Sau hai lần thất bại chua cay, tui đâm ra tự ti mặc cảm! “Sao mình đẹp trai và nói dai lại đụng đâu hư đó vậy cà?”

Tui bèn nhờ thằng Úc học chung, thuộc thành phần thứ ba, bề ngoài là anh như trong lòng thật sự lại là em, cuối giờ đi làm vài vại beer để nhờ nó chỉ cách ‘dê’ con gái Úc. Vì nhiều nữ tính như vậy chắc hẳn em hiểu được tâm lý của chị em mình.

Em tưởng tui cùng hệ; khoái quá ‘OK’ liền. Tới chừng nghe tui hỏi; em mới ngã ngửa ra: Người tui tìm yêu không phải là em… Nhưng Úc nó được một cái là mình không yêu nó, yêu ai khác là cứ ‘vô tư’; chớ không có chuyện vác dao mà rượt người không yêu mình chạy có cờ, chạy xịt khói như ở Việt Nam đâu!

“Muốn tìm yêu với một em Úc chỉ cần có tiền, có càng nhiều tiền càng tốt! Xã hội vật chất mà! Tiền là Tiên; là Phật…!

Có tiền để mời em đi ăn! Bàn ăn có đốt đèn cầy trắng như đám ma, cho thêm phần lãng mạn! Gọi chai rượu đỏ Penfolds Shiraz đời 2015 chỉ 179 đô thôi! Đừng hà tiện mua chai Parson’s Paddock Shiraz giá bèo chỉ có 14 đô 99 xu! Coi chừng em chê mình nghèo mà bày đặt trèo leo với cành vàng lá ngọc.

Rót rượu cho em! “Happy Birthday!”; dẫu hổng biết em sanh ngày nào. Để em tưởng mình chúc mừng sinh nhựt của chính mình cũng được.

(Nên nhớ em Úc uống cũng không thua gì mấy anh mình đâu nhe. Tui có thử thi tài nhiều lần rồi và lần nào cũng thua trắng!)

Hãy gọi điện cho em. Khi em đến, hãy ôm chằm lấy em như hồi nhỏ mừng thấy Má đi chợ về có mua cho hai cái bánh ú. Nhưng nhớ là đừng có cọ quẹt vào hai cái bánh ú của em; coi chừng bị thưa ra Ba Tòa quan lớn về tội quấy nhiễu tình dục.

Em có gây lộn với bạn bè, hãy ra mặt ủng hộ em 100%; dù em trật rõ mười mươi. Em nấu ăn không biết là cháo hay miến hãy chịu khó khen em một tiếng. Lời nói không mất tiều mua; lựa lời mà nói cho vừa lòng em.

Gặp em hãy mỉm miệng cười tình; cho dù mới đi đám ma về cũng vậy.

Hãy vảnh tai lắng nghe em kể chuyện đùa rồi cười lên hô hố dù câu chuyện em kể nó nhạt hơn là nước ốc.

Còn em kể câu chuyện cảm động, hãy khóc nức nở lên như đi xem cải lương thấy Lương Sơn Bá vĩnh biệt Chúc Anh Đài vì ho ra máu.

Hãy làm em ngạc nhiên bằng quà tặng đắt tiền như nhẫn hột xoàn 5, 7 ‘carats’. Nhớ tặng em một lần thôi; tặng nhiều lần là mạt!

Em nào cũng khoái đi shopping hết, rán chịu khó đi theo cho dù đi nhậu với bạn ở ‘pub’ vui hơn gấp vạn lần.

Viết thư tình cho em nhớ xịt nước hoa ‘Chanel 5’, để em vừa đọc vừa ‘hửi’.

Đi cùng trời cuối đất vì em; nhớ quay trở lại; trừ trường hợp biết em thèm chua vì ốm nghén thì mình dông luôn vì tiền ‘child support’ hao lắm!

Chu choa màu mè nhiều thứ quá… khó nhớ. Rút gọn là có tiền là em yêu mình hè.

Còn muốn gây ấn tượng với anh, chỉ cần em ở truồng đến bên anh, tay cầm hộp  ‘pizza’ tay cầm một chai beer. Vì muốn bước vào tình anh; làm cho anh mê mệt thì em phải làm cái bao tử của anh đầy và con mắt của anh no!

(Sau đó cơm no bò cỡi. Bên mình ăn cơm; qua Úc nầy ăn pizza; có đổi thay chút chút về ăn; nhưng con bò mình cỡi vẫn y chang!

Thừa hưởng cái truyền thống sợ vợ; tui nào dám coi thường phụ nữ; so sánh họ với con bò. Chị em có chửi rủa thì chửi mấy thằng Úc đó; vì nó nói rằng: “Vợ và bồ khác nhau chỗ nào? Chừng 30 kí lô thôi! Và làm thế nào để biến con cáo thành một con voi. Dễ ợt. Hãy cưới nó về làm vợ!”)

Đó là chơi qua đường rồi quất ngựa truy phong; chớ muốn ăn đời ở kiếp, chọn vợ phải chọn kỹ càng.

Đừng bao giờ đến tiệm giặt công cộng mà ‘cua’ một em. Lẽ dể hiểu là em không có đủ tiền mua một cái máy giặt để xài ở nhà thì tiền đâu em mua bánh pizza và mua ‘beer’ cho mình ăn nhậu chớ?

“Chúc anh yêu may mắn trên đường tình ta đi; còn em về lại với cô đơn!”

Tui an ủi em rằng: “Em ơi đừng tuyệt vọng! Trong hạt nhân nguyên tử cũng có proton, điện tích dương, có electron, điện tích âm, ngoài ra còn neutron, không âm cũng không dương, đó chính là em! Ông Trời cho sao mình chịu vậy!”

Con đường tình ta đi dẫu không có bóng anh cùng sánh bước, anh biết em buồn bã lắm. Tuy nhiên tình yêu là phần số; ngày nào đó em sẽ trúng số tìm được người cùng hệ! Chỉ cần em về điểm phấn tô son lại. Ngạo với nhân gian một nụ cười!”

Sau bữa nhậu với người em khác hệ đó, tui về, bỏ ra 40 đô, đăng 8 kỳ trong mục tìm bạn bốn phương trên báo!

“Trung niên, tốt nghiệp đại học, không cờ bạc, xì ke ma túy; nhậu nhẹt có chút đỉnh… nhưng lận đận đường tình, tìm một nửa của mình.

Xin gởi kèm hình để nhờ thầy ‘Fakir’ Ấn Độ xem bói dùm coi đôi mình có hợp, có ăn đời ở kiếp với nhau được hay không? Nếu được sẽ tiến xa hơn! Xin cám ơn! Hứa hồi âm dù thư đến trễ!”

Hai chục năm rồi mà mục tìm bạn bốn phương của tui vẫn còn chình ình trên mặt báo! Chẳng qua phần số tui lận đận đường tình đấy thôi! Và tui vẫn mải miết tìm yêu trên xứ Úc!

đoàn xuân thu.

melbourne

Lá thư từ Cần Thơ

tiengquehuong.wordpress.com

Steinbeck in Vietnam

Post on 11/01/2023 

Lược dịch Đoàn Xuân Thu

Ngay bây giờ sau gần 50 năm, với kết quả là đời sống dưới chế độ độc đảng của dân VN, nhiều người Mỹ, Pháp, Đức và ..cả thế giới vẫn còn cái nhìn sai lầm về Chiến tranh VN. Truyền thông “dân chủ” vẫn tiếp tục đăng lại những hình ảnh phản chiến một chiều. Nếu đánh vào Google mấy chữ “Chiến tranh VN” bằng tiếng Anh, Pháp, Đức ..chỉ thấy hình ảnh lính Mỹ đứng trước các căn nhà tranh đang bốc cháy, lính VNCH đang dẫn tên VC bị bịt mắt, đang hỏi cung VC nằm vùng là những thiếu niên..nhìn rất đáng thương . Các hình này cho người xem cảm nhận “tội ác Mỹ ngụy”, rằng “Đế quốc Mỹ xâm lược và gây tội ác ở VN”, rằng quân đội VNCH là tàn ác, giết hại đồng bào! Hình ảnh về tội ác của Cộng sản Bắc việt thì không được đưa lên, tội xâm lược miền Nam không bị nhắc đến, chỉ có vài hình thả bom đất Bắc của VNCH…!
Mong có nhiều bài như bài viết của ông Steinbeck! DHM.

………………..

Lá Thư từ Cần Thơ
(Nguồn: Steinbeck in Vietnam: Dispatches from the War; lược dịch: Đoàn Xuân Thu)

Cần Thơ, ngày 21 tháng Giêng năm 1967.

Alicia thân,

Tôi xin viết về một cuộc tuần tra bình an vô sự trên một dòng sông giữa đôi bờ tĩnh lặng và những vì sao nhấp nháy bởi bầu trời đẫm những hơi sương. 
Chúng tôi về bến chưa tới 9 giờ đêm. Một phần trong chiến dịch tên Game Warden đặt căn cứ tại Cần Thơ, thành phố lớn nhất vùng châu thổ. 
Ở Cần Thơ, có vài nhà hàng nhỏ, nơi người Việt dẫn con cái đi ăn, chuyện trò với nhau bằng tiếng Việt, âm vang như đang hát. Nơi đó đèn không đủ sáng. Vì thiếu điện, phải cần thêm những ánh đèn dầu chập chờn, leo lét.
Khoảng 10 giờ tối hai thanh niên đang lảng vảng, chợt dừng lại trước cửa nhà hàng đang đông thực khách, bất ngờ ném hai trái lựu đạn xuyên qua khung cửa mở. 
Một trái lép. Trái còn lại nổ tung và miểng xé nát thân thể người lớn lẫn trẻ con. Không có bất cứ người lính nào lúc đó trong nhà hàng kể cả Mỹ hay Việt. 
Không đạt được bất cứ một ích lợi nào về mặt quân sự cả!
Một viên đại úy Mỹ chạy vào và bế ra một em gái nhỏ khoảng chừng 7 tuổi. Khi đưa tới bịnh viện, anh ấy khóc nức nở vì em đã chết rồi! 
Xe cứu thương chở những thân ngưòi đầy thương tích đến bịnh viện, xưa là của Pháp, giờ là của chúng ta. 
Bác sĩ bắt đầu cưa chân, cưa tay, gắp miếng lựu đạn ra, mùi ê-te lan tỏa cả tòa nhà. 
Vài người bị thương nặng quá đã chết trước khi đến nơi; vài người nữa chết chẳng bao lâu sau đó; còn những người sống sót thì được chữa trị, băng bó. Họ nằm trên những chiếc giường gỗ, ánh mắt thất thần như hỏi tại sao? 
Kim chuyền nước biển găm vào mu bàn tay và nếu họ đã mất hai tay rồi nó được ghim vào mắt cá chân.
Những đứa bé đang chơi đùa trong nhà hàng là bị nặng nhất. 
Những bác sĩ, y tá của đế quốc Mỹ bị gán cho là hung hăng, tàn bạo này đang làm việc suốt đêm để mong cứu chữa những sản phẩm do những người cao quý mệnh danh là bảo vệ tổ quốc mình đã gây ra.
Hai tên ném lựu đạn vừa bị bắt và chúng thú nhận một cách khoái trá, khoác lác về hành động của mình. 
Tôi thật không biết bọn khủng bố này nghĩ gì? 
Tại sao chúng muốn giết người dân của chinh mình, những con người khốn khổ mà chúng thường rêu rao là giải phóng họ? 
Bịnh viện tràn ngập bởi nỗi bi thương. 
Có ai tin rằng Việt Cộng, người đã nỡ nhẫn tâm làm như thế với chính đồng bào mình lại có thể vì dân, vì nước khi chúng chiếm được chính quyền. Tôi không tin. 
Khi hành quân, chúng ta và những người bạn đồng minh đôi khi cũng làm thương vong những người dân vô tội. 
Còn VC thì chắc chắn không quan tâm đến lương dân rồi. 
Chúng đặt súng máy ngay trước cửa nhà dân và buộc trẻ con phải chơi quẩn quanh đâu đó vì chúng biết chắc rằng chúng ta sẽ chần chừ bắn trả lại vì sợ sẽ bắn nhầm dân.
Chúng xây những hầm trú ẩn ngay trong khu dân cư đông đúc cũng nhằm mục đích đó. Vì vậy người dân thường bị vạ lây. 
Chúng ta đã rất cẩn trọng muốn tránh cho dân khỏi bị thương vong nhưng đôi khi lại là điều không thể nào tránh được!
Một dãy nhà trong bịnh viện, hồi xưa của Pháp, dành để cứu chữa những tên VC bị thương. Dĩ nhiên cửa ra vào, cửa sổ có chấn song nhung cách cứu chữa thì không có gì khác cả. 
Nhưng dưới mắt những tù binh chiến tranh VC bị thương này, họ chỉ nghĩ là chúng ta sẽ tàn nhẫn tra tấn; thậm chí là hành hình họ mà thôi. 
Vì suy nghĩ lệch lạc như vậy nên chúng mới có thể đặt mìn ở chợ hoặc ném lựu đạn vào rạp hát đang đông người.
Tôi thực sự tin rằng những người biểu tình tuần hành đông đảo suốt nhiều ngày trước trụ sở Liên Hiệp Quốc và Tòa Bạch Ốc chán ghét chiến tranh. 
Tôi có hàng đống lý do để chán ghét chiến tranh hơn họ nhiều. 
Chán ghét chiến tranh thì tại sao họ lại không gia nhập vào những chương trình cứu trợ y tế? 
Được huấn luyện một cách cấp tốc để cứu người chớ không ai đòi hỏi họ phải giết người. Nếu họ có tình nhân loại tại sao họ lại không phụ một tay để cứu người? 
Đất nước nầy đang rất cần sự trợ giúp về y tế. Có ai dùng sức của mình, thay vì để mang, vác các áp-phích chống chiến tranh thì nên dọn dẹp các giường bệnh viện hay rửa ráy các vết thương đã bị nhiễm trùng chăng?
Đây mới thực sự là hành động phản chiến. Những người này nên biết rằng những người Việt Cộng anh hùng của họ không tôn trọng hòa bình. Họ đặt bom bệnh viện và gài mìn ngay cả xe cứu thương.
Tôi không hiểu được những tên khủng bố bừa bãi này nghĩ gì? 
Tại sao họ lại giết hại chính những đồng bào khốn khổ của chính họ mà miệng cứ ra rả là đang chiến đấu vì sự tự do. Phản chiến theo cách tôi đề nghị có thể là nguy hiểm thật, ngoài ra khi họ rời đất nước, những trợ cấp an sinh của họ có thể bị cắt đi. 
Nhưng bù lại họ có được chút tự hào là đã làm một điều gì đó thay vì chỉ đi biểu tinh hô hào chống đối suông.
Câu hỏi thường được đặt ra từ quê nhà là – khi nào sẽ chấm dứt chiến tranh? 
Tôi chỉ có thể đoán thôi, Alicia, nhưng chí ít ra cũng dựa trên sự quan sát suốt chiều dài của đất nước. 
Tôi đoán rằng việc ngừng bắn sẽ không còn xa nữa bởi vì chúng ta và các đồng minh của chúng ta có thể phối họp nhau lại và đánh bại bất cứ đối thủ quân sự nào dám đối mặt với chúng ta. 
Nhưng một sự ngừng bắn mới chỉ là một sự bắt đầu. 
Trong cuộc hưu chiến lễ Giáng Sinh, cũng là một sự ngừng bắn, đã có hàng trăm vụ vi phạm hưu chiến nhưng không có cái nào do chúng ta cả. 
Đó không phải là sự kết thúc chiến tranh. 
Những tên VC trung kiên, chuyên nghiệp được huấn luyện trong tổ tam chế sẽ phá rối đất nước. 
Chúng phải bị đánh bật ra từng tên một cho đến khi nào các xã ấp có thể tự bảo vệ được lấy mình. 
Và điều này chắc phải cần đến một thế hệ. 
Nhưng bất cứ ai còn nghi ngờ rằng không thể làm được thì nên nhìn vào Nam Hàn. 
Chỉ trong một thế hệ mà một dân tộc đó đã thay đổi, tự hào, hiệu quả và tự tin. Binh lính của họ đã có mặt ở đây, ở Việt Nam, cũng thiện chiến như bất cứ quân đội nào khác trên thế giới. 
Và điều gì đã xảy ra cho họ vẫn có thể xảy ra ở đây (Việt Nam) chớ – chắc chắn là như vậy! Nếu chúng ta vội vã rút quân hay quá ngu muội để so đo cái giá phải trả, chúng ta có thể thắng trận đánh nhưng lại thua luôn cuộc chiến.

Án mạng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 15/07/2019 

Post by Sơn râu 30 Jan 2024

Từ ngã tư chú Ía đi vô đường cụt, bà con đứng lố nhố, láo liên tụm năm tụm ba luân phiên góp chuyện, chuyện nọ xọ chuyện kia bày ra toàn cả nghi vấn, khó hiểu. Lối đi vốn hẹp té giờ tìm không ra một khoảng hở, thuật ngữ báo chí buổi nọ dùng chữ “sự cố gây ùn tắc giao thông”.

Có đội ngũ công an la hét nhằm giải toả đám đông. Trung tá Mộc, trưởng ban điều tra chuyên án xuống xe, được hai ông bảo vệ dang tay vạch lối vào hiện trường nơi xẩy ra thảm kịch. Một anh mặt non trẻ nhưng đeo lon Đại uý trình bày cho “sếp” nghe chút khái niệm ban đầu: Theo lời khai của bà Hai, ngụ ở căn hộ sát vách thì hôm qua, tầm chín mười giờ tối nghe tiếng cãi lộn…

Trung tá Mộc hỏi: Ai là người đầu tiên mở cánh cửa nhà trọ đó ra? Công an khu vực ạ. Ai? Tên gì? Gọi chú ấy tới cho tôi hỏi chuyện. Chừng sáu bảy phút sau nghe báo cáo: Đồng chí ấy vừa xin phép được vắng mặt đột xuất ạ. Mộc cau mặt: Thế nà thế lào? Gã Đại uý vừa nói vừa nhìn cánh cửa khép hờ mà đằng sau là hiện trường xẩy ra án mạng: Em gái chú ấy gặp chuyện chẳng may, điện ngay vào bảo chú bằng mọi giá phải chóng ra giải quyết, gây thêm áp lực. Trung tá Mộc thắp lửa điếu thuốc: Lại án mạng? Đại uý tránh nhìn vào mặt người đang phun khói: Hoá ra Trung tá chẳng nắm bắt thời sự? Theo Vietnam net đưa tin bác sĩ Nguyễn Minh Đức, trưởng khoa sản bệnh viện Đức Thọ ở Hà Tĩnh đã kéo đứt cổ trẻ sơ sinh rồi tự tay khâu lại. Sản phụ chính là em gái của đồng chí công an khu vực đang vắng mặt đột xuất.

Mộc hỏi: Cái gì? Kéo đứt cổ là sao? Dạ, là chỉ lôi được cái đầu của em bé ra thôi ạ. Thi thể vẫn kẹt cứng đằng sau cửa mình. Thế mới sinh chuyện chứ ạ. Vị Trung tá cằn nhằn: Mẹ nó chứ. Chỉ dùng tay thôi à? Làm cái đéo gì mà mạnh tay thế!

Tổ trưởng khu phố được gọi tên. Người đàn ông tầm hơn sáu chục tuổi, người gầy dơ xương, mặt nhiều nếp nhăn dồn đẩy trên gương mặt rám choắt bị điểm danh, giật mình. Trung tá Mộc hỏi: Người ta báo cáo bác đi cùng công an khu vực khi mở cửa nhà trọ này? Dạ đúng, mọi khi vẫn vậy. Đi xét hỏi giấy tờ đăng ký tạm trú cũng luôn có đôi cho hợp thủ tục. Mộc lớn tiếng: Tôi không thích hiện trường bị xáo trộn, khi bác xô cửa vào có lục lọi đồ vật trong đó không? Dạ không, tui đi sau lưng anh Chất công an khu vực, tui lấy tư cách chi để mang tật ngứa tay? Thấy người nằm chết chình ình ra đó đã hoảng vía, nghe lạnh cẳng.

Mộc nhìn xuống tử thi: Ai đắp manh chiếu lên người nạn nhân? Tổ trưởng khu phố rụt rè: Dạ tui… Thấy tội nghiệp chẳng cầm được lòng. Mộc bảo: Có nghĩa là hai người chỉ vào nhìn qua rồi bỏ đi? Ông tổ trưởng đáp: Nghe anh Chất nói mình chỉ nên ghi nhận thời điểm, nhiệm vụ của mình không thể đứng ra vạch lá tìm sâu. Bọn tôi tính đi hỏi bà chủ nhà trọ để nắm bắt thêm thông tin thì anh Chất nhận được tin nhắn, anh nói đéo mẹ bọn giết người không gớm tay, xong cái anh cỡi xe máy chạy mất, điệu bộ lúng túng, khẩn trương.

Trung tá Mộc cúi người dùng tay kéo mạnh tấm chiếu lát, lộ hình cái xác trắng hếu. Nạn nhân khoảng độ hai chục tuổi, nằm ngửa và toàn thân đều trần truồng. Tóc cắt ngắn, sợi dây chuyền vàng rơi khỏi cổ, tượng Phật bằng ngọc xanh còn nằm bên vai, ở tay có đeo đồng hồ. Không thương tích, chẳng máu đổ, chỉ có vũng nước loang ở hạ thể. Có lẽ do bị siết cổ và đớn đau hoảng loạn đã khiến nước đái tự động chảy ra. Mộc nói nhỏ: Không loại trừ khả năng là cô này bị hiếp dâm, sẽ xét nghiệm cửa mình xem có chứa tinh dịch không, nhưng đó chẳng phải chuyện của ta. Nhìn lên gã Đại uý: Chú thấy sao? Kẻ thủ ác không lấy đi vật trang sức, đồ đạc chẳng có dấu hiệu bị lục soạn. Và nạn nhân chừng như quen biết với sát thủ.

Gã Đại uý đi tới chiếc giường ngủ đặt ở góc phòng nhặt lên cái túi xách, đổ hết những vật chứa đựng bên trong xuống mặt nệm mỏng: Không có điện thoại di động, e là đã bị lấy đi. Tiền mặt có 750 ngàn. Thẻ chứng minh nhân dân ghi tên Phạm Trần Anh Thư sinh năm 1994. Lạ. Xách tay của phụ nữ phải chứa lắm thứ lỉnh kỉnh… suy ra sát thủ thuộc loại chuyên nghiệp và có dư thời gian… Nó không để lại dấu vết đã đành, lại còn lấy đi những thứ ta xem là manh mối.

Họ lại moi thuốc ra hút. Ông tổ trưởng tự động bật quẹt đưa đốm lửa lại gần môi hai vị đầy tớ nhân dân. Gã Đại uý mặt non trẻ hỏi: Bác làm tổ trưởng khu phố, vậy có biết người bị hại làm nghề nghiệp gì? Lao động ở đâu? Sống đơn thân hay ở chung với ai khác? Dạ, đó là những thứ mà anh Chất và tôi dự tính đi hỏi bà chủ nhà trọ ạ. Tôi chỉ biết là nạn nhân đến thuê nhà trọ chưa được lâu, đâu chừng mới khoảng hai tháng. Gã Đại uý ra lệnh: Bác đi gọi bà chủ nhà vào đây.

Mới rít có ba hơi khói thì bác tổ trưởng lộn lui, có người đàn bà bước ngại ngần theo sau. Qua khỏi ngạch cửa, khi ngó xuống xác người nằm dưới đất liền cất tiếng hốt hoảng: A di đà Phật. Vậy chớ áo quần đâu mà không chịu mặc hở cháu! Ông tổ trưởng: Chết nguyên trạng là thế. Chẳng rõ áo quần có phải hàng hiệu thuộc loại xịn hay không mà đứa giết người cũng muốn soán đoạt sở hữu, lấy đi mất. Tuy chết toàn thây mà nhìn lại cũng thấy thiêu thiếu, phải không chị Huê?

Bà Huê áng chừng năm chục tuổi, tuy mặc bộ bà ba trông bình dân nhưng da thịt và điệu bộ xem chừng là kẻ có của ăn của để. Làm chủ nguyên căn nhà để ngăn chia phòng trọ cho mướn, người đó không thể nghèo được. Trung tá Mộc hỏi ngay: Tiền thuê nhà trọ là bao nhiêu một tháng? Triệu hai. Bị hại làm nghề gì? Trước làm công nhân hàng may mặc trong xí nghiệp nào đó ở Bình Dương, cổ dọn về đây đã hơn tháng, nghe đâu làm ca đêm trong một nhà hàng ở bên quận 5. Thế bà có hay biết những ai là kẻ thường quan hệ tới lui với nạn nhân? Cổ nhiều bạn lắm, cổ cho hay do công việc nên giao tiếp rộng, nhưng được cái là chưa gây ra điều tiếng, sống kín đáo, ít ồn ào, vẫn được lòng chòm xóm ở quanh. Bà con hiếu kỳ bu đông bên ngoài là vì họ hơi bị choáng, Anh Thư là một cô gái hiền lành, vậy mà có ai dè…

Gia đình nạn nhân ở Bình Dương được thông báo về cái chết đột ngột của con em họ. Má Anh Thư đi cùng dượng ghẻ nạn nhân lật đật vào nhà xác làm thủ tục ký nhận, mang đi lo việc hậu sự. Họ câm lặng khi đối mặt với hung tin, lúng túng với thi thể lạnh ngắt chẳng có mảnh vải che thân. Bị chất vấn, người má trả lời vắn tắc: Anh Thư nó thích sống tự lập. Cháu bỏ chúng tôi đi từ lâu. Những gì tôi biết về nó không chắc đã đủ đầy bằng bà chủ nhà trọ.

Phía công an, họ điều tra ra một việc, họ muốn xác tín: Nguyên nhân bỏ nhà đi xa có phải do vụ Anh Thư bị ông dượng cưỡng dâm năm cháu chỉ 14 tuổi. Nghe thế, người làm má khóc oà, không gật đầu chẳng lắc đầu. Khóc dai dẳng, tuồng chất chứa đã lâu chưa có dịp trào thoát. Lôi nỗi đau ra khỏi, cái vết nhơ vẫn bị kẹt cứng ở buồng tim. Đứt đoạn nhưng không vét sạch được một bi kịch.

Trước khi được tẩm liệm vào hòm gỗ tạp, xác kẻ xấu số bị lật qua lật lại cho ông bác sĩ xuất thân từ Củ Chi đưa tay rà soát xét nghiệm theo chỉ thị của hình sự công an. Kết quả giám định: Cửa mình sạch sẽ, cô Anh Thư không bị hiếp dâm, chết do bởi ngạt thở vì bị siết cổ bằng một sợi dây. Ban chuyên án tập trung điều tra tới hai cô bạn gái thân thiết nhất của nạn nhân, không loại trừ khả năng Anh Thư là người đồng tính, ghét và sợ đàn ông qua chấn thương tâm lý mà người dượng từng bạo hành vào năm cô 14 tuổi. Rắc rối ở chỗ, đêm xẩy ra án mạng, theo lời bà Hai thuê ngụ căn hộ sát vách, thì tiếng cãi lộn nghe được là của Anh Thư gây gỗ với một giọng nam. Chỉ có thể khẳng định, vì ghen tuông nên xô xát dẫn đến tử vong. Gái ghen hay trai ghen thì chưa biết, nhưng bạn gái của Anh Thư có cô thể hình chưa nẩy nở đúng hạn kỳ, sức vóc đâu mà nằm đè lên người để siết cổ? Cái thằng đêm hôm đến nhà Anh Thư để lời qua tiếng lại thì chưa có manh mối, cơ sở để nắm bắt nhằm luận tội, truy lùng.

Theo thống kê, trung bình ở địa bàn thành phố, mỗi ngày có khoảng 5 vụ giết người mà lý do cấu thành tội phạm thường vu vơ do đạo đức suy đồi, tánh bản thiện biến mất, kiểu như hai anh em ruột hùn tiền mua vé số, đến lúc trúng lô độc đắc chia chác không hợp lẽ thuận tình, em cầm dao đâm cật lực vào tim anh, xong ôm tiền bỏ trốn, tuần sau thấy bộ dạng trông nghi ngờ, xét giấy tờ rồi bị chận bắt ở cửa khẩu khi tìm cách vượt biên sang Lào. Lý lịch nạn nhân Anh Thư không phải là đảng viên, dân dã bình thường chả mang công trạng gì cho nhà nước nên công an không rỗi việc để hoàn tất cuộc đi điều tra. Lại nữa, bản thân gia đình bị hại chẳng gào la một mực đòi hỏi trắng đen công đạo. Mệt lắm, công việc ở trụ sở công an chất ngập đầu, mãi tồn đọng chưa giải quyết xong. Thôi, quên đi nha. Người dân ở khu vực Chú Ía có một chữ để mô tả vụ Anh Thư, giản dị, kêu bằng “chìm xuồng”.

Chìm ở địa phận nọ nhưng địa bàn khác, Trung tá Mộc lại đánh hơi ra cái khác thường, những muốn tự mình “gạn đục khơi trong”. Vị Trung tá có mười hai năm mặc đồng phục công an, ba năm công tác ở ban chuyên án đã kín tiếng lặng lẽ tìm cách tiếp xúc với cá nhân Chất, công an khu vực chú Ía. Mộc tự giới thiệu bản thân, để làm Chất bớt hoang mang, liền nhập đề: Việc ở cơ quan chả có gì khẩn trương, mình thường mang tật là thích đi giao lưu hỏi thăm các đồng chí trong ngành, ngoài mặt gầy dựng tình cảm biết đâu lại học hỏi thêm bao điều hữu ích nhằm bồi dưỡng vào công tác bảo vệ trị an mà trên luôn đòi hỏi nâng cấp trình độ. Để tâm sự được cởi mở thông thoáng, hay như này, chúng ta tìm tới một quán cà phê…

Chất tính buột miệng: Chẳng mấy khi mà rồng tới nhà tôm, quả thật đó là niềm vinh hạnh lớn lao cho Chất này… Nhưng dù sao sự đa nghi là bản chất của một thằng công an, Chất cố kềm hãm mọi biểu lộ, giữ bộ mặt tỉnh như ruồi. Khi đón nhận một phong bì trao lén lút vào tay, Chất vẫn mang bộ mặt ấy, quen rồi, cứ vờ như đang nhìn đời hiu quạnh chả thấy độc lập tự do hạnh phúc ở đâu cả. Khi một vị Trung tá xa lạ bất chợt đến han hỏi, ta chớ nên tỏ ra xum xoe bợ đỡ. Mẹ kiếp, sự đột xuất nào mà chẳng mang theo một cú thót tim.

Quanh đây có hàng quán nào uống được không? Chất trả lời: Tốt hơn thì nên đi xa một tẹo cho an toàn, đang giờ hành chánh vào ngồi rung đùi trong quán cà phê quen mặt nghĩ cũng không phải. Mộc khen: Chú nói thậm chí lý, tới quận 3 có chốn khuất lấp đèn mờ ta thoải mái vào thư giãn. Để tôi đèo chú đi.

Phục vụ viên trong quán thấy hai ông công an bước vào thì chẳng mấy hồ hởi phấn khởi. Làm ăn buôn bán trong sạch còn cạy mặt huống hồ một quán cà phê thư giãn thắp đèn ngọn tỏ ngọn lu thường bị dán nhãn đồi truỵ. Thời may chị Thắm đứng bên quầy phát hiện ra người quen: Xời, anh Mộc, ngọn gió nào mang anh tới đây? Tưởng đã có lê quên lựu rồi chớ? Hề hề. Mộc cười. Tiếp xúc với dân thì làm mặt quạu nhưng đứng gần chị em phụ nữ cũng nên tỏ ra xởi lởi kẻo má nó khi. Thắm em, dạo này buôn bán thế nào, có phát không? Dạ cũng đắp đổi qua ngày. Bình thường đến đây thư giãn anh mặc đồ dân sự sao bữa nay đóng nguyên bộ vàng khè trông hăm doạ quá. Ờ, anh có chút công chuyện cần giải quyết, tiện thể tạt qua em xem Thắm dạo này như nào. Không dùng bia đâu, mang cho anh hai cái nồi ngồi trên hai cái cốc. Thắm quan sát Chất: Chiện nhỏ. Sữa, đá, đường gì hông?

Để tránh gây phản cảm xúi khách quen sanh dị nghị, làm ảnh hưởng phần nào uy tín của thương hiệu Hương Đồng Cỏ Nội, Thắm ém hai người diện đồ khó coi vào ngồi ở cái bàn nhỏ nằm khuất trong góc kẹt. Định vị xong đâu đó, Mộc nói cho Chất nghe: Hồi nào xuống tinh thần, việc vàng quá căng chú nên lại đây mà xả xì-trét. Ngoài cái Thắm mát mẻ kia ra còn có gần tiểu đội em gái hậu phương được tuyển lựa từ quê lên nom rất là ngon cơm. Điều quan trọng nhất, nếu chúng biết là người của tôi thì y như rằng đồng bọn sẽ thống nhất chỉ xin lấy giá bèo. Sao, chuyến về quê xa thăm em gái sinh nở gặp sự cố đã giải quyết tới ngang đâu?

Chất ngồi rụt cổ, mắt đọng vào cái lon Trung tá đeo ở cầu vai kẻ “vô duyên đối diện”: Dạ, thì tay bác sĩ nhận chịu trách nhiệm việc làm sai quấy gây tử vong hài nhi suýt giết luôn sản phụ và bệnh viện ấy đứng ra bồi thường 15 triệu đồng.

Chú có trực tiếp làm việc với ban lãnh đạo bệnh viện không? Về Hà Tĩnh ở bao lâu? Mẹ nó chứ, chỉ có bọn bác sĩ là không đi tù khi lỡ giết người. Nhưng nói cho ngay thì các đồng chí công tác trong ban ngành mình cũng thường được ưu đãi. Giả dụ chú giết ai đó, ra toà họ định tội là bảy năm, nhưng suy đi nghĩ lại vì chú là công an thì rốt cuộc chỉ ăn cơm tù có hai năm thôi. Nhập kho chỉ hai năm, chú thấy dài hay ngắn?

Chất nghe miệng đắng. Mồ hôi ứa ra trên trán còn nhanh hơn mấy giọt đen đang thong thả rơi từ cái nồi xuống cái cốc. Chất ngó Trung tá Mộc, mắt mờ chả thấy gì, hoang mang nhìn tới một con mèo đen đương bày ra móng vuốt. Chất tuổi Tý, bổn mạng cầm tinh con chuột. Chuột đánh hơi bị mèo dồn vào chân tường hơi bị sớm.

Giọng mèo nghe giảo hoạt: Tôi ngầm điều tra biết chú không đi Hà Tĩnh. Chú đánh hỏng một nước cờ, dân chuyên nghiệp vẫn luôn tạo được chứng cớ ngoại phạm bằng cách vắng mặt ở hiện trường khi gây án; đằng này chú lại kiếm cách xin nghỉ việc sau khi án mạng xẩy ra. Tối hôm đó chú to tiếng với nạn nhân, mâu thuẫn về điều gì? Hãy thành thật khai nhận. Chú thấy đó, tôi đã mang xe lại mời chú đi uống cà phê, động thái rất ư tình cảm. Vụ này lọt vào tay một thằng Trung tá khác tôi, hẳn chú đã hình dung ra tình huống căng thẳng, xui tận mạng, bị đuổi ra khỏi ngành công an béo bở.

Chất thắp lửa điếu thuốc với bàn tay run. Rít liên tục, khói mù trôi nặng xuống bàn. Anh Thư là hàng độc, sở hữu một ngoại hình bắt lửa, là gái gọi có thế giá. Thằng Chất này làm công an khu vực nên giữa chúng tôi có ký một hợp đồng, rằng tôi bảo đảm sự an toàn của cô ta ngược lại cô ấy sẽ chi trả cho tôi mức 7/3. Ví như được 1 triệu thì tiền tôi nhận là ba trăm ngàn. Trước đó hai đêm tôi đón được đơn khai báo của một Việt kiều Mỹ cho hay vừa bị đánh cắp mất bốn ngàn đô la ở trong khách sạn Hoa Sen. Những chi tiết mô tả về cô gái làng chơi rất trùng với Anh Thư. Tôi đến nhà trọ, cô bảo đừng nghe người ta đặt điều, có thằng Việt kiều nào mà ngốc thế? Điên hay sao mà lận tới bốn ngàn đô khi đi chơi gái. Nè, phần anh là hai trăm đô.

Mộc hỏi: Cớ sao chú lại cởi hết áo quần cô ấy?

Giọng Chất lí nhí như chuột kêu: Ngồi trên giếng khát nước đã lâu, tôi định đòi hỏi về tiết mục nọ nhưng nghe tiếng lục đục bên vách nhà hàng xóm…

Mộc: Siết cổ trước, hiếp dâm sau?

Chất: Có sao đâu? Dù không thoả mãn thì mình cũng nguỵ tạo hiện trường, gây nghi ngờ về cái chết chẳng rõ ràng.

Mộc: Thế điện thoại di động của nạn nhân? Chú bán được bao nhiêu?

Chất: Tôi không bán. Tôi gửi về cho em gái gọi là chút quà nhằm uỷ lạo tinh thần.

Mộc: Bốn ngàn đô. Chú đã làm rách phần nào thứ tài sản từ trên trời rớt xuống đó?

Chất: Chẳng những giữ nguyên vẹn tôi xin góp thêm vô năm trăm đô gói gọn gàng vào ba lô để kỉnh anh.

Mộc cười hể hả: Nghiệp vụ công an chú tuy còn ở cấp mầm non nhưng trình độ suy nghĩ của chú thì xem như đã lên cấp đại học. Bao giờ thì tôi nhận hàng?

Chất nói không suy tính: Tối mai, mười giờ, quán cà phê vườn Hoa Dại.

Khi chia tay với đối tác. Đồng chí Chất từ chối leo lên xe của đồng chí Mộc. Mèo đi đường mèo, chuột tìm về hang ổ riêng tư. Chất bắt xe ôm biểu chở về cầu chữ Y. Xuống ở đầu đường, Chất rẻ vào hẻm đi theo hình chữ chi, gặp đứa con nít đang chơi tán lon, hắn thành đứa giao liên dẫn Chất vào đúng nơi Chất muốn. Trần Văn Tám có ngoại hiệu là Tám Tàng, trước đóng đô dưới chân cầu Nhị Thiên Đường, trong một thương vụ vô phúc bị đụng nặng, thất thoát và hao hụt một số đàn em, Tám Tàng chọn cầu chữ Y làm hiểm địa gầy dựng lại thanh thế. Tám Tàng nổi tiếng ở chỗ “ăn chơi không sợ mưa rơi”, có nghĩa là hắn đứng ra nhận việc từ chuyện nhỏ cho chí chuyện lớn. An tâm đi, từ a tới z thằng Tám này thảy đều đáp ứng, xử gọn. Không đẹp không ăn tiền.

Trước tiên, Chất mở túi áo lấy ra cuốn sổ nhỏ cùng cây viết. Chất vẽ hoạ đồ địa điểm cà phê Hoa Dại cùng ba lối dẫn vào quán. Tám Tàng cười mũi: Như vậy là hơi bị xem thường thằng Tám đó nha. Quá hơn Khổng Minh dặn dò Quan Công nên đi vào tiểu lộ. Chất nói: Không dám đâu. Tôi chỉ muốn “đại ca” ẩn mình phục kích ở đây, một công trình thi công dang dở việc xây dựng gần như bỏ hoang cách Hoa Dại đúng năm trăm thước. Tầm mười giờ tối mai tôi đi cùng con mồi, hắn cũng là công an, đi vào bằng lối này. Sau đó tuỳ cách động binh của đại ca.

Tám Tàng nhổ bãi đờm xuống đất: Công an à? Nói anh hai đừng ngầy ngà chớ khử được ông nào tốt ông đó. Mức độ tàn phế?

Chất nói, lời gọn, nhai chỉ một chữ: Chết.

Tám Tàng quay lưng, tới trang thờ Thổ địa thắp ba cây nhang, chắp tay vái vái. Trong dĩa đặt dưới đất có ba trái xoài héo, nhăn da, co quắp, tuồng như gia chủ bận rộn quá xá việc, chưa tiện thay hoa quả tươi mới.

Hai thứ cần lưu tâm, thứ nhất nạn nhân là công an, thứ hai buộc nó phải chết. Do vậy anh hai nên hiểu giá cả có hơi khác thường, đắt chút đỉnh.

Không thành vấn đề. Tôi chẳng có sẵn ngân lượng xứ mình, đại ca chấp nhận thu nhận 700 đô Mỹ nghen.

Sao lại đề ra con số trông chơ vơ ấy? Nhằm giải quyết êm đẹp, tính luôn cả việc không gây ra hậu hoạn, Tám này đóng chốt 1000.

Xong. Cầm trước một nửa, nửa kia tôi trao nốt sau khi con mồi đi đong.

Bận sau có đi giao việc, anh hai làm ơn đừng mặc đồng phục kiểu này, bộ tính nhát ma bọn trẻ trong xóm sao?

Công an Chất trở ra ngoài đường cái. Người nhẹ cơ hồ có thể phi thân lên nóc nhà hóng mát. Từ giờ cho tới đêm mai, kim đồng hồ chừng như đang uể oải đình trệ việc chuyển dịch. Hừ, mày tưởng Trung tá ban điều tra chuyên án là ngon hả. Nghiệp vụ tao chỉ tốt nghiệp cấp mẫu giáo, nhưng mầm non có cái vô tư của mầm non. Vào ngày mốt, cõi đời oan nghiệt này sẽ có thêm một bóng ma, chúc mày sớm siêu thoát.

Chất đi tìm chỗ ít người qua lại, vạch quần đứng đái, rùng mình.

Hồ Đình Nghiêm

Ẩm và nóng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 01/07/2019 

Post by Sơn râu 30 Jan 2024

tặng Nguyễn Trần Diệu Hương.


Megan Rapinoe, tiền đạo đội bank Mỹ

Thứ Sáu, ngày 28 tháng 6, nhiệt độ ở Montréal lên tới 29oC trong khi ở Paris, cọng thêm độ ẩm, nhiệt kế ghi con số nằm chênh vênh bên lằn mức đỏ: 31. Nực nội dồn về, dường như có sự hừng hực khác thường đang bao trùm lấy sân vận động Parc des Princes, Paris. Nắng nôi mà nói làm gì, chẳng qua là chủ nhà có chút căng thẳng khi phải dàn trận tiếp đón so giày đọ sức với 11 tuyển thủ USA, đội banh từng lập nên kỳ tích “chưa bao giờ chịu dừng chân trước bán kết”.

Hôm đó, anh em cầm bút ở địa phương Mộng Lệ, theo hẹn hò vào lúc 6 PM, cũng sẽ “dàn quân” tới một quán ăn nhằm đón chào nhà thơ Trần Mộng Tú đi cùng phu quân từ Seatle mát mẻ sang thăm Bắc Mỹ đứng gió đôi ngày. Từ hướng cực Tây bay tới mút phía Đông tính theo bề rộng lãnh thổ đôi đàng. Sáu giờ sẽ gặp mặt người thơ nữ tiếng tăm, nhưng ba giờ thì ngồi nhìn trái banh da bắt đầu lăn trên sân cỏ. Đồng hồ Paris chạy trước chốn này những 6 tiếng, có nghĩa là “trông trăng trăng lặn nhìn sao sao mờ”, chờ đèn thắp lên vào lúc 9 giờ tối (kêu bằng đá đèn) đợi giờ đó nai nịt ra quân những mong cơ thể khỏi bị phát sốt và cầu thủ thôi viện dẫn lý do “ta thua là do bởi trời hành cơn hạn đó thôi”.

Trung bình một trận đấu kéo dài gần hai tiếng. Nếu tỉ số đôi bên vẫn cầm hoà, buộc phải đá thêm giờ thì tôi sợ đến điểm hẹn sẽ trễ, mất uy tín với người khách phương xa mới diện kiến lần đầu. Điều đó rất dễ xẩy tới vì ở 30 phút cuối cùng của hiệp hai Pháp đá trên chân Mỹ thấy rõ, kiểm soát và làm chủ cục diện tới 60%. Từ đầu giải đến nay, chưa khi nào tuyển thủ đội Pháp tỏ ra cháy hết mình đến thế, họ muốn chứng tỏ sự quyết tâm, không mất đi niềm kỳ vọng mà tổng thống Pháp trao gửi trước đó. Họ có lợi thế sân nhà, đông chật cảm tình viên và thêm một tác động không nhỏ, phía mày râu vừa đoạt chức vô địch thế giới môn bóng tròn.

Pháp bị Mỹ dẫn trước 2 bàn do công của tiền đạo đeo băng thủ quân Megan Rapinoe ở vào phút thứ 5 và phút 65. Đến phút thứ 81 Pháp mới lập được tỉ số nhờ vào cú đánh đầu thần tốc của hậu vệ Wendie Renard, cao 1m 87. Sóng gió luôn xẩy tới ở trong vùng cấm địa của Mỹ hay nói khác đi, Pháp đang nổ lực muốn tìm cách gỡ hoà. Phút thứ 85 banh chạm vào tay hậu vệ Kelley O’Hara nhưng trọng tài bỏ qua, không luôn cả nhờ VAR xem lại. Nếu nhà dìu dắt tuyển Pháp, bà Corinne Diacre phản đối, tình huống trận đấu có thể sẽ thay đổi. Trung phong áo số 6 Amandine Henry hoặc tiền đạo mang số 9 Eugenie Le Sommer sẽ được đề cử đứng ra đá quả phạt penalty.

Đội tuyển Mỹ, hoặc riêng cá nhân Kelley O’Hara phải ngầm mang ơn trọng tài người Ukraine, bà Maryna Striletska đã châm chước cho lỗi lầm quá ư rõ ràng. Nếu Kelley O’Hara bị thẻ vàng và Le Sommer đá thành công quả phạt đền, rất có thể tiếng gáy của con gà Pháp mãi còn cất cao.

Sau cuộc chạm trán nẩy lửa giữa hai đội, tất cả những trang báo thể thao đều bình chọn cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu (Player of the match): Hậu vệ áo số 19 của tuyển Mỹ, cô Crystal Dunn. Ở bài viết trước, tôi đã ca ngợi người cầu thủ đầy tài năng này và hôm nay cô đã chứng minh, một lần nữa bằng cách đã vô hiệu hoá khả năng tấn công sắc bén của tiền đạo chạy cánh phải Kadiditatou Diani áo số 11 của tuyển Pháp, chẳng những thế Dunn còn kiến tạo ra những đường chuyền thông minh, làm nhẹ đi áp lực bị phong toả. Nếu tiền đạo Alex Morgan mang vẻ mong manh thì ngược lại, Crystal Dunn là một bức tường kiên cố, vững chắc. Cô cho hay: “I had a lot of support and help from my teammates every step of the way”.

Trong đội tuyển Mỹ, người gây “sốc” vẫn là tiền đạo chạy cánh trái, Megan Rapinoe, 33 tuổi, quê quán ở Redding, California. Học vấn: Đại học Portland. Cô tuyên bố một câu mà tất cả những phương tiện truyền thông, kể cả đài CNN đều trích dẫn lại: “US soccer star Megan Rapinoe says she’s not going to the f*****g White House’ if the women’s team wins the World Cup”.

Thắng Pháp 2-1, như vậy Mỹ vào bán kết, gặp tuyển England vào ngày 2 tháng 7. Là trận đấu thứ 49 trên tổng số 52 trận suốt mùa giải bóng tròn 2019. Đội Anh còn có tên gọi là Lionesse, trận gần nhất Anh thắng Norway với tỉ số 3-0, khí thế và cơn say bàn thắng vẫn còn tồn đọng. Tuy vậy, quả đoán Anh thắng Mỹ là khó thuyết phục một ai. Ngoài tài năng, gặt hái thắng lợi cũng vin nhờ một phần vào sự may mắn. Một bàn thắng phạm lỗi offside chẳng hạn. Một cú làm bộ ngã người trong vùng cấm địa chẳng hạn. Và banh chạm vào tay mà không ai la ó kiện tụng chẳng hạn.

Khi trọng tài thổi lên hồi còi kết thúc, trên sân cỏ có kẻ hân hoan nhảy chân sáo có kẻ cúi mặt sầu khổ như gà mắc mưa. Tôi thay đổi xiêm y để tới điểm hẹn cách nơi tôi ngụ mất 1 tiếng di chuyển. Rất đúng giờ vì Pháp-Mỹ đã không chơi thêm extra-time. Nhà thơ (nhà văn) Trần Mộng Tú không thay đổi so với những tấm ảnh chụp đã lâu. Bảo rằng trẻ thì không đúng, kêu bằng dối già cũng sai trật. Giọng Bắc chị nói dịu dàng, cởi mở, thân tình, giống như những người ngồi chung bàn hôm đó chẳng phải mới gặp buổi đầu tiên. Tôi thưa với chị là bài tôi phỏng vấn chị đăng lần đầu ở trang Sáng Tạo đã có rất nhiều diễn đàn khác xin đăng lại, như anh Khê Kinh Kha của Văn Học Nguồn Cội chẳng hạn, đã email cho tôi vì anh rất mến mộ thơ chị Trần Mộng Tú. Bất ngờ hơn là cách đây 3 tuần tôi nhận qua bưu điện một tấm ngân phiếu 50 US của tuần báo Trẻ ở Garland, Texas gửi trả nhuận bút bài phỏng vấn “Mộng”. Chị Trần Mộng Tú cười: Bài đó chính tôi gửi cho họ.

Chúng tôi nói chuyện, trao đổi thuần liên quan tới thơ văn chữ nghĩa. Không ai là dân sành điệu và quởn để thiết tha môn thể thao đá banh thành ra bàn tiệc chẳng rôm rả việc đoán non đoán già, tán hươu tán vượn xem đội nào sẽ vô địch kỳ này. Mỹ gặp Anh, Hoà Lan gặp Thuỵ Điển. Còn lại bốn đội, sẽ có một đội bị loại khi tranh hạng ba. Trận final diễn ra vào ngày song thất 7 tháng 7, match thứ 52. Sau đó bầu đoàn thê tử nhà ai lại về nhà nấy, trả sự bình yên lại cho đất Pháp, khép đóng thực sự những vai diễn đổ mồ hôi sôi nước mắt. Mắt khóc và mắt biết cười. Bất mãn thua và thắng thuyết phục.

Chị Trần Mộng Tú sang đây để dự đám cưới người cháu, lu bu cho xong rồi lại trở về chốn cũ. Hỏi chị hồi nào in một tập thơ? Chi bảo làm biếng quá khi đi tìm chúng về, tom góp lại, lựa chọn… Chưa tính được. Còn bạn thì sao? Tôi cười, cũng chưa biết tính ra sao cho ổn? Sợ làm phiền người khác khi nhờ họ lay-out trình bày các thứ. Méo mó nghĩ thầm về chiến thuật phòng vệ phản công hay theo cách “cơn lốc màu da cam” của Hoà Lan. Thắng lợi có hạnh phúc của thắng lợi mang lại. Thất thế cũng giữ riêng cho nó chút sầu khổ dịu dàng khi gặm nhấm nỗi đau.

Tôi chúc nhà thơ Trần Mộng Tú có được niềm vui trong chuyến đi xa này. Xin chia tay chị. Tin khí tượng dự đoán đêm nay trời có mưa giông. Tôi khởi sự viết bài này khi đất trời chuyển động trút nước rầm rộ. Xin cứ hẹn hò, sau cơn mưa trời lại sáng.

Hồ Đình Nghiêm

Ạch đụi tra lão

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 08/03/2019 

Post by Sơn râu 30 Jan 2024

Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn
Tranh của Thanh Trí

Montréal, thành phố tôi định cư, đã có ai đó thày lay phiên dịch, phụ đề Việt ngữ thành Mộng Lệ An. Thoạt nghe xướng tên, cứ ngỡ như đó là nhan truyện dài kỳ tình diễm lệ chan đầy nước mắt của nhà văn nữ Quỳnh Dao ở tận xứ lạ Taiwan. Nhiều đọc giả “khó tính” bảo: Quỳnh Dao là chưởng môn nhân môn phái Sến. Tôi chưa đọc văn bả nên chỉ biết mần thinh. Tôi nhớ có vị nào đó ở trong nước từng có thơ “mưa rơi không cần thông dịch” hoặc một thứ na ná tựa thế. Tôi lại nhớ một câu thoại “Cái gì của César thì nên trả lại cho César”.

Tôi yêu Montréal, nhỏ bé, hiền hoà, dân tình cởi mở, Anh-Pháp đề huề chẳng yes thì oui. Có khu cổ xuý việc trau dồi Pháp ngữ, lại thày lay mần thông ngôn, như sau: Tình xê la mua, tiền xê lạc răng, đời xê la vi. Ui, trẻ lên ba cũng tường những món gay cấn nọ.

Ở khu chăm nói tiếng mẹ đẻ, tôi thân thiết với hai nhà thơ: Luân Hoán, Hoàng Xuân Sơn. Hai nhà văn: Võ Kỳ Điền, Song Thao. Tôi gọi bốn vị bằng anh, vì tôi tri thiên mệnh trong khi họ thuộc dạng cổ lai hy. Họ chẳng thích nuôi râu, chứ nếu thả giàn để râu ria ra rậm rạp thì e “bác Hồ” phải nể mặt tủi hờn đọ không lại kính nhi viễn chi. Quá khứ, Luân Hoán gốc Đà Nẵng (Trung). Hoàng Xuân Sơn gốc Huế (Trung). Võ Kỳ Điền gốc Phú Quốc (Nam). Song Thao gốc Hà Nội (Bắc). Ba phương lưu lạc dặm ngàn đã tìm về chốn đất lành “chim” đậu này. Cớ sao cứ quen miệng đất lành chim đậu? Những giống loài khác muốn xớ rớ, lân la tới thì không đậu được sao? Giả dụ như ve sầu, như gà mái, như bướm vàng?

“Hoàn cảnh” nhà thơ Luân Hoán giống như tôi: Lấy vợ cùng quê, chung phường khóm. Riêng nhà thơ Hoàng Xuân Sơn và nhà văn Song Thao lại có sự khác biệt. Khác mà hoá ra chẳng khác, cái mới hay! Chị Hoàng Xuân Sơn gốc Hà Nội trong khi chị Song Thao là gốc Huế. Nói dễ mất lòng là thế này (cho dễ hiểu): Chị Hoàng Xuân Sơn mà trò chuyên với anh Song Thao thì nghe ra cung bậc lên bổng xuống trầm chuẩn mực hỏi ngã rất ư thanh lịch của Bắc kỳ 9 nút. Và anh Hoàng Xuân Sơn đối đáp cùng với chị Song Thao thì mỗi chữ tự động chêm vào dấu nặng (y như tôi vậy, Huệ mợ Huệ mộng. Có đáng ghét không?) Bực cả mình, chẳng mộng lệ an gì sất. Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn từng lên giọng, thay tôi, đả phá cách giả giọng Huế của phường ngoại đạo, những hài kịch rẻ tiền, đầy bôi bác. Bác Sơn ta đó chính là Huế chay!

Tôi quan sát ngầm, ngay thời điểm này có bốn vị làm thơ cực kỳ sung mãn: Trần Vấn Lệ, Nguyễn Hàn Chung, Luân Hoán và Hoàng Xuân Sơn. Riêng nhà thơ Huế mềnh thì trải thơ, gửi bài đến hầu hết các diễn đàn văn học trên net. Hơi thơ cá biệt, ý tình đầy ắp. Gần đây, thơ gom chứa chút tự trào, một nụ cười kín đáo, thoạt bắt gặp không khỏi nghe ra lòng xao động. Bỡn cợt nhưng vẫn không bỏ quên chất thơ mộng lay rèm đằng sau con chữ vừa thoát ra. Nếu có ai hỏi tôi câu hóc búa: Thơ là gì? Tôi có ngay câu trả lời: Hãy đọc thơ Hoàng Xuân Sơn. Tôi xin đơn cử một trong muôn vàn bài tôi yêu thích. Bài “Nách”. (Ăn phải món ngon liền ngôn: Ngon nhức nách! Và nách còn có nghĩa là ẵm, bồng, bế, tha: Con nách em đi cho mạ rảnh tay chút nờ!):

một lần. tôi xốc nách tôi
tự mình quên đứng nên ngồi thiệt lâu
nách tôi tới chỗ buồn rầu
trước sau vẫn có một câu chuyện tình
nách tôi ra chốn thình lình
nắng mưa mưa nắng dập dình trăng sao
nách tôi về lại xứ nào
cho tôi đứng dậy cúi chào nguyên tôi.
(11. 2018)

Hay nhức nách! Bài thơ đã “nách” tôi đi một đỗi khá lâu trong bồng bềnh rù quến. Một bài mới hơn, làm xong ngày 27.01. 2019, cũng thể thơ lục bát, bài “Ơn xuân”. Xin trích đoạn:

…
nhờ em
da lão đâm chồi
ơn nuôi nấng
giữa trần ai bít bùng

đời mình có cái chung chung
cái riêng tư của
mịt mùng tai ương
phía trước xông một con đường
sau lưng
ủ mộng bình thường xác xơ

đời quá bộ
như bài thơ
cùng nhau lượm chữ
dăm tờ rối beng
…

Phải đó là lời than van? Không, chỉ một tiếng thở dài, rất nhẹ, dù lượm chữ dăm tờ rối beng có nơi bài thơ muốn đoạn lìa là một việc làm hết sức nặng nề. Một người gánh đá lên non hay con dã tràng chăm xe cát? Công việc nào nhọc sức hơn? Không biết. Không nên đào xới. Thơ là thứ “không cần thông dịch”. Tôi đọc, thấy trong người có biến chuyển, chỉ ngần ấy thôi là đã đủ để cảm ơn người làm ra bài thơ nọ. Dư dục vô ngôn.

Không cứ là lục bát, thơ bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy (bẩy) chữ của anh Huế se duyên cùng chị Bắc (cố đô + thủ đô) cũng mang đủ sự hài hoà giữa da diết hồi ức, van lơn lúc tự hoạ, một trách cứ về lối đi thẳng thớm không dưng bị thế nhân nhộn nhạo ra sức uốn cong, gập ghềnh, đắp mô, xao xác. Hơi hám của thời cuộc tham dự vào, tâm thành thay lời khuyên nhủ lẩn khuất. Và sau hết, lời thơ chuyển tải đã tới đích cuối. Tạm nhặt ra bốn bài, bốn trích đoạn, thay mặt cho bốn, năm, sáu, bẩy:

chớ đứng xớ rớ
tuyết phủ cô hồn
gió luồn tim mạch
ạch đụi bàng môn
…
lâu rồi kiệt quệ
còn chi em ơi
còn một chút đời
vo như tờ giấy
ngồi đây quên đấy
còn một dúm tro
miệt mài tra lão
còn chút mày mò
răng cỏ lộn lạo
(trích từ bài “Tháng giá”. 7. 2. 2019)

đừng xôn xao chữ nghĩa
lúc về sáng, nửa đêm
bạn sẽ là con rối
giữa mộng thực triền miên

chữ mù trong tự điển
héo lánh lên thượng nguồn
không còn ai muốn giở
một chương hồng sách thơm
(trích hai khổ đầu trong bài “Tơ chỉ rối”)

Hết bốn, năm, qua tới sáu. Một liếc xéo (nháy mắt) về quê nhà. Bài “Thời vận”:

bọn trẻ còn dám “đi bão”
thì mình đằng vân chút chơi
miễn là đừng mê mẩn gió
phượt hết yên ba một thồi.

Và thơ 7 chữ, trích ra hai đoạn trong bài “Xướng âm”:

âm quá. không cù rủ mặt đường
giữa mùa băng cực níu tai ương
ngón chân tìm một lỗ để thở
cùng tóc râu túa đời tha phương

40 năm xỏ giày mang ủng
không dám. chưa quen cái lạnh tràn
hồn tóp teo dưới tầng áo xống
bận. hay đừng rồi cũng hở hang
…

Người đọc có tinh ý nhìn ra trong thơ thượng dẫn một đôi từ cá biệt của Huế? Xớ rớ. Ạch đụi. Tra lão. Mày mò. Bận áo xống… Tôi không cố tình đâu, tôi chỉ lựa nhặt ra những bài khác thể loại, cùng lúc muốn chứng minh về thời tiết mùa đông khắc nghiệt vây lấy thành phố chúng tôi cư ngụ, lời thơ bày rõ một quang cảnh “mộng bất an”.

Khác nhà thơ Luân Hoán, nhà văn Song Thao. Hai người Huế chúng tôi tuy cái viết ra khá là bộn bề nhưng mãi không gặp duyên lành việc in thành sách. Ạch đụi. Rị mọ. Mãi lần khân ngoài sân mà chưa lần vào trong bếp: “không còn ai muốn giở, một chương hồng sách thơm”? Hoàn cảnh! Hoàn cảnh như câu thơ của Bùi Giáng:

Sáng ra bao tử mơ mòng
Cà phê bên nọ cháo lòng bên kia.

Mình sẵn cháo lòng mà lại thiếu cà phê. Mình mãi mơ mòng về cái bất toàn nọ. Rất mực gay cấn đồng thời cũng ngộ tới sự buông bỏ:

“lâu rồi kiệt quệ
còn chi em ơi
còn một chút đời
vo như tờ giấy”.

Mặc dù nhịp độ sáng tác luôn đều tay, giàu có thơ, tuy vậy Hoàng Xuân Sơn chỉ mới in ra 4 đầu sách: Viễn Phố (1988) Huế Buồn Chi (1993), Lục Bát Hoàng Xuân Sơn (2004), Thơ Quỳnh (2018). Nhà thơ tâm sự: Bây giờ tự dưng mình đi “làm phiền” bằng hữu thì nghĩ cũng không phải. Hình như có lần chính tôi đã nói ra một câu tương tợ như rứa. Cũng áy náy nếu một hôm trở trời nghe người đó lên giọng hát hỏng: “Anh còn nợ em…”. Tôi có thực hiện loạt bài phỏng vấn các anh chị viết văn làm thơ bốn phương, riêng gặp một người đặc biệt, nhà thơ Bắc Phong. Hỏi: Thấy anh làm thơ có thưa đi? Trả lời: Có lẽ về già, tuổi tác gây ảnh hưởng. Hỏi: Sao anh không in một tập thơ? Trả lời: Tại tôi lười. (Nguồn: Trang Văn Học Nghệ Thuật Phạm Cao Hoàng).

Nếu Bùi Giáng luôn chịu cảnh ngộ “bao tử mơ mòng” thì chúng ta cũng nên thông hiểu “bá nhân bá bao tử”, bụng người này khác bụng người kia. Tôi đã từng mơ mòng nhưng nay tôi tỉnh ngộ, tôi đắc đạo, buông bỏ. Thôi dẫm chân vào sạn đạo, cầm bình bát đi khất thực. Không phải lười, nhưng đã có tuổi, nhìn lui: Mọi thứ là phù vân.

Cảm ơn nhà thơ Hoàng Xuân Sơn:

“hồn tóp teo dưới tầng áo xống
bận. hay đừng rồi cũng hở hang”.

Montréal sắp vào xuân nhưng giá buốt vẫn một mực không thay đổi. Vẫn đậy đệm áo xống ba lớp, bốn lớp, năm lớp, sáu lớp, bảy lớp. May thay, thơ tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục bát, song thất luôn còn đó, lung linh gầy nên đốm lửa làm ấm những giấc mộng không thành, xua đuổi mộng bất an.

“Trăm năm một chuyến về thiên cổ
Tuế nguyệt buồn lay chút bụi vàng”.

Thơ ai đó? Hình như của Nguyễn Đức Sơn khi bái biệt, tiễn đưa Quách Thoại? Có thể chuyển sang ca từ một bản nhạc: Buồn vào hồn không tên…

Buồn, tốt nhất xin cứ vô danh. Hãy để nó dễ siêu thoát. Chớ bắt chước “con ma nhà họ Hứa” làm chi cho nặng nghiệp. Hừ, Mộng Lệ An!

Hồ Đình Nghiêm