This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
“Má ơi, con đi bây giờ đây. Con sẽ làm cho má hãnh diện vì con”
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Tôi lớn lên ở Saigon. Ba má tôi mở một quán ăn nhẹ, một quán cafeteria bán cho Mỹ. Nhưng khi Mỹ rút vào năm 1973, ba tôi mất cái quán vì chẳng còn buôn bán gì được. Không đủ khách. Ba tôi cũng bảo nhiều người Mỹ đã quỵt tiền, họ ăn đến cuối tháng mới trả, nhưng lúc đi, họ không thanh toán nên ba tôi thua lỗ, mất luôn chỗ buôn bán. Từ đó ba tôi trở nên chua cay, không còn thích người Mỹ nữa. Ba má tôi phải tìm việc khác. Chúng tôi cũng không còn được sống đầy đủ như trước.
Vào khoảng mùa Xuân năm 1975, bạn tôi và tôi rất sợ chuyện Cộng sản chiếm Saigon. Người ta kể Cộng sản sẽ giết hết mọi người giống như chúng đã làm hồi năm 1968 ở Huế. Tết năm ấy chúng đã giết 3,000 người mà chẳng có lý do. Chúng trói giật cánh khuỷu, bắn vào đầu họ. Cho nên chúng tôi rất sợ hãi.
Ba tôi không sợ. Ông bảo toàn chuyện tầm phào. Ông nói Cộng sản có chiếm thì cũng chẳng có chi thay đổi. Tôi không tin, tôi muốn đi khỏi nước, em gái tôi cũng vậy. Nhưng ba tôi nói: “Không đứa nào đi đâu hết nghe. Chẳng chết chóc gì mà lo. Tụi bay không nghe người ta nói sao? Cộng sản không đụng chạm gì tới bay đâu!” Tuy nhiên, tôi vẫn quyết ra đi. Trước, tôi trù tính đi với anh tôi, nhưng rồi ảnh đổi ý, ở lại. Tôi bèn quyết định đi với em gái tôi. Lúc ấy, tôi mới có mười sáu. Em tôi tên Nguyễn Thị Thiết, kém tôi hai tuổi.
Đầu tiên phải kiếm đường dây, tất nhiên tôi không có tiền bạc gì. Nhưng tôi kiếm được một người bạn tên là Nguyễn Thị Xuân. Cha mẹ bạn tôi là chủ tàu. Bạn tôi bảo nếu chị em chúng tôi muốn đi, nó cho đi, khỏi cần tiền nong. Tôi nói tôi muốn đi. Bạn tôi bảo vậy khi nào đi, nó sẽ kêu.
Sáng 29 tháng Tư, bạn tôi kêu tôi đi. Nó biểu tụi tôi ra một góc đường sẽ có xe tới chở xuống bờ sông Saigon. Tôi và em gái tôi mỗi đứa đem theo một túi quần áo, hai chị em phải lén ra khỏi nhà vì ba tôi đâu có muốn cho đi. Do đó chúng tôi không chào ba tôi. Nhưng chúng tôi đi tới tiệm ăn, nơi má tôi làm. Bả nào có biết hôm đó chúng tôi đi. Tôi nói với má tôi rằng: “Má ơi, con đi bây giờ đây. Con sẽ làm cho má hãnh diện vì con”. Má tôi ôm hôn tôi, ôm hôn em gái tôi, má tôi nói “Thôi được. Má cầu Trời khấn Phật cho các con được mọi điều tốt lành”. Lúc đó má tôi thiệt cứng cỏi, bả không khóc khi nói lời từ biệt. Nếu lúc đó má tôi khóc chị em chúng tôi cũng ở lại rồi, có lẽ má tôi biết nhưng bà muốn cho chị em chúng tôi đi. Tên má tôi là Trần Thị Thanh. Má tôi đã giúp cho tôi có đủ nghị lực mà ra đi.
Hình minh họa
Chị em chúng tôi tới góc đường, nơi hẹn xe tới đón. Chúng tôi đợi hoài đợi hủy, xe không thấy tới. Em gái tôi biểu rằng: “Để em đi kiếm điện thoại kêu thử xem họ có tới không rồi quay về”. Em tôi bỏ túi quần áo lại, đi kiếm điện thoại. Khi em tôi đi thì xe tới. Trên xe đầy nhóc người ngồi. Tôi năn nỉ người tài xế chờ em tôi thì ông ta nói chẳng có cách gì: “Bây giờ mà chờ thì hết đi nổi”. Ông biểu vậy, nên tôi đành vô trong xe, bỏ quần áo em tôi lại trên vỉa hè. Lúc ấy, tôi vừa bấn loạn, vừa kinh hoảng vì không có em tôi.
Khi tới bờ sông, mọi người đều phải xuống tàu thiệt lẹ. Vào lúc bối rối như vậy, tôi mất luôn túi quần áo. Như vậy tôi chỉ còn một bộ quần áo trên người mà đi khỏi nước. Chiếc tàu chúng tôi đi tên là tàu Tân Nam Việt. Tàu này lớn lắm, chở được tới năm sáu trăm người. Tôi thầm mong cho em tôi tới kịp trước khi tàu đi, nhưng em tôi không bao giờ đến được nữa.
Khi tàu chạy, tôi rất sợ. Nhiều người đứng trên boong nhìn Việt Nam lần cuối. Hình ảnh cuối cùng là bãi biển Vũng Tàu, nhưng tôi không nhìn lui nữa vì buồn quá. Tôi đã bỏ hết mọi thứ lại nhà, chẳng biết từ nay trôi nổi tới đâu.
Sau này tôi được tin em tôi cũng cố tìm cách đi nữa nhưng bị bắt lại. Nó bị nhốt tù. Ra khỏi tù, nó lại đi nữa, rồi lại bị bắt nữa. Lần này nó bị nhốt vô một nhà giam đặc biệt. Nó vẫn còn kẹt lại ở Việt Nam.
Đêm nào tôi cũng khóc cho Việt Nam. Tôi nhớ và tôi khóc. Trong bóng đêm đen, trí nhớ biến thành nước mắt. Những giọt nước mắt cho bố, cho mẹ, cho các anh chị em tôi, cho tất cả những người đã bỏ đất nước ra đi, cho cả những người không ra đi được. Tôi không muốn ký ức của tôi mất đi như nước mắt trong mưa. Nên tôi xin kể cho ông nghe câu chuyện của tôi để ông kể lại cho những người khác, nhờ thế có thể có nhiều người sẽ biết đến những gì xảy ra ở Việt Nam. Nhờ thế ký ức của tôi không uổng phí. Nhờ thế ký ức của tôi sẽ là những giọt nước mắt trước cơn mưa. Vậy xin lắng nghe. Những gì tôi kể rất quan trọng. Những gì tôi nhớ. Những gì xảy ra cho tôi. Những gì tôi nói đây chính là những giọt nước mắt trước cơn mưa lũ.
Bố tôi tên Trần Phong. Ông theo Phật giáo, sinh trưởng ở Hải Phòng, Bắc Việt. Ông đã đi kháng chiến chống Pháp, nhưng khi Cộng sản chiếm miền Bắc năm 1954, ông di cư vào Nam, định cư ở Sài Gòn. Bố tôi ghét Cộng sản. Bố tôi yêu Tự Do. Chỉ vì muốn một đời sống Tự Do mà năm 1954 ông đã phải trở thành người di cư. Ông rất buồn vì đất nước chia đôi, nhưng ông lại muốn tránh xa Cộng sản. Mẹ tôi cũng sinh trưởng ở miền Bắc. Cũng di cư vào Nam với bố tôi năm 1954. Bà ngoại tôi, các anh chị em của mẹ tôi đều ở lại ngoài Bắc cả.
Cuộc sống chúng tôi tại Sài Gòn rất tốt đẹp. Bố tôi kiếm được khá tiền nhờ nghề sửa tàu biển. Trong gia đình, tôi là đứa con bé nhất, nên bố tôi gọi là thằng “Út”, tiếng Việt nghiã là “đứa con nhỏ nhất”. Tôi có một người anh, hai người chị. Cô tôi cũng ở chung với gia đình tôi trong một căn nhà rộng rãi tại Quận Nhứt, Sài Gòn. Tôi học Trung học Công lập, anh tôi đã học Đại học. Mùa xuân năm 1975, tôi vừa được mười sáu tuổi. Lúc này bọn học trò đều chộn rộn về chuyện Cộng sản xâm chiếm. Có đứa bàn tán cả chuyện bỏ nước ra đi. Nhiều hôm trên đường tan trường về, tôi thấy người ta đứng xếp hàng dài để xin giấy tờ hoặc đổi tiền ra khỏi nước.
Có một buổi anh tôi ở Đại học về, bố tôi bảo hai anh em tôi rằng bố tôi muốn đưa hai đứa ra khỏi nước một thời gian. “Chúng mày hãy còn bé”. Bố tôi nói “Chúng mày còn có tương lai. Khi nào yên ổn, các con lại về”. Bố tôi nghĩ chúng tôi nên sang Mỹ học, khi trở về, tương laì chúng tôi sẽ khá hơn. Nhưng bấy giờ ra khỏi Việt Nam là việc thực khó, nên suốt một thời gian, hai anh em tôi chẳng ai tin là sẽ đi được.
Tôi có một thằng bạn thân tên là Quang. Chị nó tên Hương làm thư ký Tòa Đại sứ Mỹ. Thằng Quang bảo tôi là chị nó có thể đưa chúng tôi đi được. Người Mỹ đã hứa cho chị nó cùng thân nhân ra khỏi Việt Nam. Nếu chúng tôi muốn đi, chị nó chỉ cần thêm tên vào danh sách là xong. Chúng tôi nói thế thì tốt quá. Chị ấy bèn đến nói với thượng cấp cũng là người Việt – rằng chị có hai chú nhỏ muốn rời Việt Nam nhưng không có họ hàng gì. Chị muốn đánh thêm hai tên này lên danh sách, chẳng biết có được hay không? Cấp trên của chị bảo rằng được.
Hình minh họa
Thế là sau khi đã cho tên chúng tôi vào đanh sách, chị ấy bảo chúng tôi phải sẵn sàng, đêm ngày gì cũng vậy, có thể đi bất cứ lúc nào. Chị cũng bảo chị sẽ cho biết địa điểm và lịch trình chuyến đi.
Thế là mười giờ sáng ngày 28 tháng Tư, chị Hương đến nhà nói với tôi: “Sơn ạ, em sửa soạn ngay. Một tiếng đồng hồ nữa phải đi.” Chị cho chúng tôi biết phải đến chỗ nào. Xe buýt sẽ đưa chúng tôi ra phi trường. Chúng tôi chỉ được phép mang theo mỗi người một túi áo quần. Chúng tôi chẳng có thời giờ từ biệt ai cả. Tôi chỉ còn kịp bảo: “Bố ạ, con thương bố lắm. Con phải đi ngay bây giờ”. Sáng hôm ấy bố mẹ tôi đều khóc. Bố mẹ tôi căn dặn anh tôi: “Con phải săn sóc thằng ‘Út’ cho cẩn thận”.
Bố tôi lái xe chở chúng tôi đến địa điểm đón xe buýt. Chúng tôi chẳng có giấy tờ gì đặc biệt, cũng không rõ họ sẽ hỏi han gì. Đến một cao ốc lớn, chung quanh có hàng rào, gõ cửa, một người đàn ông mở cho chúng tôi vào. Ông này có một danh sách. Tên chúng tôi có trong danh sách rồi. Khi qua khỏi bờ rào, chúng tôi ngạc nhiên, bên trong là một cái sân rất rộng đã đầy người đợi. Những người ấy từ khắp nơi, nhiều người rải rác tận các tỉnh ngoài Trung, khoảng ngàn người có mặt. Tôi hỏi thăm vài người xem họ ở đâu đến. Người thì bảo Đà Nẵng. Người thì bảo Nha Trang. Chúng tôi không gặp người quen nào cả, hình như chẳng ai ở Sài Gòn ngoại trừ hai anh em chúng tôi.
Lúc ấy lòng tôi sướng vui rộn rã. Tôi hãy còn nhỏ, tôi không phải sống dưới chế độ Cộng sản, tôi sẽ được đi học ở Mỹ, khi nào hết Cộng sản thì tôi trở về Sài gòn.
Chúng tôi đợi trong sân không lâu thì họ gọi tên. Hai anh em tôi đi ra cổng. Ngoài ấy có tài xế xe buýt đang đứng kiểm người trong danh sách. Lên xe buýt, chúng tôi không tin nổi. Chúng tôi là những người đầu tiên ở trong sân được gọi đi. Hai anh em mỗi người một cái túi, chẳng tiền bạc gì. Bố tôi đã dặn khi đến thì gọi điện thoại, bố tôi sẽ gửi tiền sang vì chúng tôi dự định sẽ đến California ở với một người quen.
Người ta chở chúng tôi ra phi trường. Phi trường đông nghịt người, mặt trời nóng hừng hực. Chúng tôi ra khỏi xe, đứng một bên chờ trong khung cảnh ồn ào ấy: Máy phóng thanh oang oang gọi tên người, hàng quà, hàng nước, người bán hàng rong rao inh ỏi. Bọn đổi tiền lăng xăng gạ gẫm. Nhiều người đứng khóc. Người ta choáng váng chẳng rõ mọi việc ra sao, rồi đây sẽ đến nơi nào.
Chúng tôi cũng chẳng rõ mọi việc ra sao, nhưng đột nhiên máy phóng thanh kêu tên. Ngạc nhiên, tôi hỏi vài người ở đấy xem họ đã đợi bao lâu. Có người bảo: “Cả tuần lễ rồi”. Có người thì hai, ba ngày. Tôi đang nghĩ có lẽ chẳng bao giờ tới lượt anh em chúng tôi, thì chợt họ gọi tên, đưa chúng tôi ra Trạm khởi hành.
Họ khám người, khám hành lỷ. Họ bảo anh em chúng tôi đứng sắp hàng. Một lúc sau, họ dẫn chúng tôi ra máy bay. Bên ngoài máy bay có hai quân cảnh Việt Nam đứng gác để ngăn ngừa những người đào ngũ chạy ra khỏi nước. Họ nhìn mọi người một cách cẩn mật, nhưng không hỏi gì chúng tôi. Anh em chúng tôi bước vào máy bay.
Tôi tưởng là một cái máy bay đàng hoàng, nào ngờ chỉ là một chiếc C-130. Chúng tôi vào theo lối đàng đuôi, bên trong không có ghế. Chúng tôi phải ngồi chen chúc trên sàn như cá hộp. Lúc ấy cửa sổ còn mở, chợt bên ngoài vang lên một tiếng nổ lớn, tôi hoảng hốt nghĩ: “Trời ơi, cái gì thế”. Một tiếng nổ thật lớn ngay đằng sau máy bay.
Chiếc máy bay chuyển dịch. Chạy, trong lúc cửa còn mở. Tôi nhìn qua cửa thấy người ta chạy khắp bốn phía, nã đạn lên trời. Họ đều có vẻ hoảng hốt. Những người bên cạnh tôi trong máy bay rú lên kêu khóc. Vài người bắt đầu cầu nguyện lớn tiếng. Tôi nắm lấy anh tôi mà bảo: “Cầu cho máy bay này đừng rớt”.
Người ta vẫn không có thì giờ đóng cửa. Chiếc máy bay chạy trên phi đạo nhưng cửa vẫn còn mở. Khi máy bay cất cánh, chúng tôi có thể nhìn rõ qua phiá sau, dưới đất người ta chạy toán loạn với hàng trăm tiếng nổ. Trong lửa đạn, cả phi trường đắm trong cơn điên loạn.
Hình minh họa
Theo sau chúng tôi một chiếc C-130 nữa tiến tới. Chỉ vài giây sau khi chúng tôi cất cánh, nó bốc lên theo. Tôi nghĩ đây là hai chiếc máy bay cuối cùng cất cánh từ Tân Sơn Nhất. Chúng tôi may mắn quá.
Lúc chúng tôi rời Sài Gòn, một người lính Mỹ đứng trấn ở cửa sau máy bay ôm súng bắn xuống đất. Máy bay cất lên rồi, anh ta vẫn cứ bắn. Bên trong máy bay, nhiều người khóc om sòm. Lúc nhìn người lính Mỹ đang bắn, tôi tự hỏi chẳng biết anh ta bắn gì. Tôi nghĩ anh ta đang cố chứng tỏ sức mạnh của người Mỹ một lần cuối cùng. Tôi nghĩ anh ta muốn bảo mọi người, với khẩu súng, là: “Đừng bắn vào phi cơ chúng tôi! Đừng lộn xộn với cái phi cơ này! Bọn này là Mỹ đây. Trên phi cơ có súng – tránh ra. Để chúng tôi yên!” Nhưng tôi chỉ đoán thế. Tôi không nghĩ anh ta biết được chuyện gì đang xảy ra. Tất cả chúng tôi lúc ấy đều thực rối ren.
Dẫu sao, đó là hình ảnh cuối cùng tôi thấy ở quê nhà. Trong lúc máy bay cất cánh tôi đã thấy hình ảnh Việt Nam với một người lính đang cầm súng bắn vào đất nước ấy. Chúng tôi hạ cánh ở Phi Luật Tân, tại Phi trường Clark. Người ta đưa chúng tôi đến một nhà kho rất lớn, người Mỹ đã sắp đặt mọi thứ chu đáo làm chúng tôi ngạc nhiên. Họ đưa chúng tôi vào một khu chuyển tiếp khá rộng rãi, có cả máy truyền hình, giường nệm đầy đủ. Ngày hôm sau, người ta bảo Cộng sản đã chiếm Sài Gòn. Chúng tôi đều bàng hoàng. Chúng tôi lo lắng chẳng rõ gia đình ra sao. Bố mẹ thế nào. Cuộc đời chúng tôi khi đến đất nước Hoa Kỳ đi đến đâu. Bao nhiêu câu hỏi nảy ra trong tâm trí anh em tôi.
Chúng tôi xem tin trên truyền hình, nhìn cảnh Bộ đội Cộng sản tiến vào Sài Gòn. Nhiều người khóc khi thấy cảnh đó. Anh em tôi cũng khóc. Gia đình chúng tôi vẫn còn ở Việt Nam. Anh em tôi nhìn nhau tự hỏi: “Rồi ngày mai, cuộc đời chúng tôi sẽ ra sao?”
Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ Post by Sơn râu 2 Feb 2024
Hình minh họa
Hồ Quang Nhựt (Giáo sư Trung học)
, “Người Mỹ cuối cùng tôi thấy ở Việt Nam”
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Bấy giờ tôi là một giáo sư Trung học, dạy ở Biên Hòa. Tôi lên Saigon, có mặt lúc thành phố này rơi vào tay Cộng sản hôm 30 tháng Tư, 1975. Khi vụ đầu hàng xảy ra, tôi đang ở trên Đại lộ Lê Lợi. Tôi đã chứng kiến cảnh dân chúng tan tác tìm đường trốn Cộng sản.
Trên đường phố tôi thấy một người Mỹ. Đó là người Mỹ cuối cùng tôi thấy ở Việt Nam. Anh đứng trước một tiệm ăn. Cặp mắt đỏ hoe. Tôi nghĩ anh rất buồn. Anh đang đợi người đến đón, tôi thầm nghĩ. Hoặc giả anh đang đợi ai đến giúp anh ẩn núp, che giấu cho anh? Nhưng không một ai đến cả. Tôi thấy anh xem đồng hồ vài lần rồi lại dáo dác nhìn khắp đầu đường cuối phố. Nhưng mọi sự đã quá muộn cho anh người Mỹ.
Lúc 4 giờ 45 Việt Cộng chạy xe vận tải qua đại lộ. Thấy người Mỹ đứng đấy, chúng dừng lại. Nhảy ra xe, chúng bắt đầu vặn hỏi anh ta. Hàng trăm người chứng kiến cảnh này. Anh người Mỹ bảo: “Tôi là công dân Hoa Kỳ”. Chúng bèn giáng cho anh một trận đòn. Chúng lôi xệch anh lên xe. Anh người Mỹ vẫn cố bảo: “Tôi là công dân Hoa Kỳ”. Nhưng chúng không buồn nghe. Việt cộng chả thèm nghe những chuyện như vậy. Chúng rồ máy xe đưa anh người Mỹ ra đi. Tôi không bao giờ biết thêm tin tức gì về anh ta nữa.
Hoa Kỳ và Úc vốn là đất của thổ dân da đỏ và thổ dân Úc trước khi người Châu Âu, đa số từ Anh, đến giành, nói đất nước nầy là của tụi tao. Nhưng chuyện nước Mỹ, nước Úc đa phần là da trắng, râu rậm, đầu sói sọi chính giữa, mắt xanh, mũi lõ, coi bộ lạc hậu rồi nhe! Thời hiện đại tức hại điện nầy, Hoa Kỳ có tới một phần sáu dân số trong 330 triệu người; Úc, còn hơn nữa, tới một phần ba dân số trong 25 triệu sanh đẻ ở nước ngoài. Chính vì thế nên nhiều vùng ở miền Nam Hoa Kỳ, như tiểu bang Florida, dân nói tiếng Tây Ban Nha nhiều hơn nói tiếng Anh. Văn hóa mang nhiều nét Tây Ban Nha hơn nhiều so với những gì người ta coi là ‘Người Mỹ”. Úc cũng vậy, thị trấn Footscray, miền Tây thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, nơi tui bèo giạt hoa trôi tấp lại nơi đây, dân nói tiếng Việt nhiều hơn tiếng Anh. Mùi thịt heo át hẳn mùi thịt bò; mùi nước mắm át hẳn mùi bơ sữa.
o O o
Vốn là dân lưu lạc đến vùng đất mới, người Việt mình mang theo những cái rất đẹp về tình nghĩa vợ chồng, tình phụ tử, tình mẫu tử của ông bà mình đã dạy. (Dĩ nhiên cũng có ‘cha’ bỏ con vợ già về Việt Nam rước một em vợ trẻ, chân dài tới nách qua để làm ‘bà nội’ mình; nhưng đó là số rất ít không thể nào đại diện cho tất cả các bậc đàn ông Mít của chúng ta!)
Còn cái văn hóa dở ẹc như: khoái nói dóc, dám làm mà không dám chịu, chúng ta đã bỏ lại cho CS trong nước nó xài rồi.
Giờ thảng hoặc có nói dóc, chối bai bải hổng phải tại tui chỉ để đối phó với em yêu tức con vợ nhà. Còn cái vụ nổ, ít xít ra nhiều, một tấc tới trời, mầy có biết tao là ai không; chỉ thỉnh thoảng xảy ra trên bàn nhậu mà thôi.
Vì đối với lũ trẻ sanh đẻ bên nầy, là cha, ông, mình trót lỡ dạy tụi nó là dám làm thì dám chịu. Dám làm mà không dám chịu là người yếu đuối và hèn nhát! Con nít thì có bao giờ nó chịu yếu hèn đâu nè! Nên trong tánh cách Mỹ, làm sai thì nhận sai để tiến bộ vì sẽ không còn phạm phải lỗi lầm xưa cũ, nên tánh trung thực được xếp hàng đầu.
Vì thế nên có cái chuyện vui như vầy: “Một thằng Mỹ bị vợ bỏ, sầu đời, dắt đứa con trai 15 tuổi, sanh đúng ngày 4 tháng Bảy, về miền đồng không mông quạnh, xa chốn thị thành xa hoa phù phiếm đua đòi về quê cắm câu, bắt con nhái bầu để quên phứt cho rồi một con người đen bạc.
Hai cha con sống trong một căn lều tranh vách đất bên bờ rạch. Mùa Hè nóng ơi là nóng và mùa Ðông lạnh ơi là lạnh. Thủy triều lên, nước lé đé tới nền nhà. Cu cậu căm ghét căn nhà đó lắm! Lòng hẹn lòng, ngày nào đó nó sẽ xô căn lều đó xuống con rạch, để không còn chỗ đụt nắng che mưa nữa, cha cậu sẽ dắt cậu trở lại chốn vui, chốn phồn hoa đô hội!
Cuối mùa Ðông, thượng nguồn tuyết tan, con rạch nước tràn mênh mông bờ bến, cu cậu quyết định ra tay. Cuối cùng, căn nhà rớt cái tùm xuống rạch và trôi đi mất tiêu!
“Hôm nay có người đẩy nhà của chúng ta đổ nhào xuống rạch. Ðó là con, phải không ?”
Cu cậu lúng túng, suy nghĩ một lát rồi thú nhận: “Dạ! Con!”. “Nhưng Bố ơi, hôm nay con đọc và biết rằng George Washington chặt cây anh đào và không bị Bố mình ‘đét đít’ vì ông đã thẳng thắn nói ra sự thật.”
Người cha trả lời: “Chà! George Washington không gặp rắc rối vì Bố của George Washington lúc đó không ngồi trên cây anh đào. Còn tao…”
o O o
Ngoài cái tánh trung thực của người Mỹ ra, tui còn thích cái tính hài hước của một người nữa dù ổng đã chết mất đất tự lâu rồi. Ðó là Tổng thống thứ 40 của đất nước Hoa Kỳ: Ronald Reagan.
Vốn là một minh tinh màn bạc hạng B, chuyên đóng vai cao bồi, chuyên quay ổ đạn súng sáu rèn rẹt, lên cò, rượt mấy tay thổ dân da đỏ chạy chí chết vào trong núi. Làm hoài chỉ có bấy nhiêu! Cứ ỷ súng mà rượt mấy đứa chỉ quen xài cung nỏ; nên tài tử Ronald Reagan chán, bèn bỏ nghề diễn viên để theo đuổi nghề chánh trị. Vì ông cho rằng: “Chánh trị không phải là một nghề xấu. Nếu thành công, bạn có rất nhiều, còn nếu bị thất sủng, bạn luôn có thể viết ít nhứt một cuốn sách”
(Nghĩa là lọt sàng xuống nia! Từ ăn nhiều tới ăn ít chớ hổng có cái vụ phá huề, thì ngu sao mà không làm chánh trị chớ?)
Ronald Reagan ra tranh cử Tổng thống Mỹ khi tuổi đã gần bảy mươi, thiên hạ chê già quá còn ham công danh cái gì hè? Thì Ronald Reagan cười he he, trả lời rằng: “Thomas Jefferson đã nói: Chúng ta đừng bao giờ đánh giá một vị Tổng thống bằng tuổi tác, mà bằng những thành quả của ông ấy. Và kể từ khi biết được chính Thomas Jefferson nói điều đó, tôi đã ngừng lo lắng!”
Rồi ông thêm rằng: “Tôi muốn quý bạn biết rằng tôi sẽ không làm cho tuổi tác trở thành một đề tài của chiến dịch tranh cử này. Tôi sẽ không khai thác, vì mục đích chánh trị, để nhắm vào đối thủ của tôi vốn trẻ tuổi hơn và thiếu kinh nghiệm hơn tôi.”
o O o
Cái tui thích ở Ronald Reagan nữa là ông căm ghét chế độ CS. Vì ngay cả người Nga cũng giống như ông, cũng căm ghét một chế độ CS độc tài toàn trị, chuyên áp bức dân lành.
Nên có chuyện rằng: “Hai đảng viên đảng CS Liên Xô đang đi trên đường. Tên nầy hỏi tên kia: ‘Chúng ta đã thực sự đạt được chủ nghĩa cộng sản hay chưa?
‘Ồ! Chưa đâu, chỉ tới chủ nghĩa xã hội thôi. Khi tới chủ nghĩa Cộng sản thì mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ hơn rất nhiều!’
Hai tay đảng viên Cộng Sản nầy thành thật với nhau nhưng trước toàn thế giới, bộ máy tuyên truyền của nhà cầm quyền CS bao giờ cũng ra rả là: Chế độ CS là ưu việt, là đẹp nhất của nhân loại. Cái cột đèn bên Mỹ nếu nó biết đi, nó cũng ‘bò’ về Việt Nam ta! Ha ha!
Dĩ nhiên thế kỷ 21 rồi, đâu còn ai còn khờ khạo để tin cái bốc phét, bông phèn nầy, nên họ đặt ra cái chuyện xỏ xiên CS như vầy nè: “Một người Mỹ đến Moscow, thủ đô nước Nga, mướn một căn nhà. Sau một tuần, ông không tìm được nơi nào để đổ rác cả. Vì vậy, một hôm, chú Sam nầy đi vào một con hẻm vắng với bọc rác trên tay. Nhưng chú Sam bị một em hàng xóm, đẹp như danh thủ quần vợt Mỹ gốc Nga, em Maria Sharapova, chặn lại: “Này, anh đang làm gì vậy?” ‘Tôi phải vứt những thứ rác rưởi này đi” “Anh không thể vứt ở đây. Hãy đi theo em!”
Người em sầu mộng nầy dẫn chú Sam đến một khu vườn cực kỳ xinh đẹp có nhiều cỏ lạ, hoa thơm và hàng rào được cắt tỉa rất cẩn thận. “Ðây!” Em nói: “Vứt bao nhiêu rác cũng được”
Chú Sam nhún vai như Mỹ, mở túi ra và đổ rác ngay lên những bông hoa. “Cảm ơn em đã chỉ cho tôi một nơi chứa những thứ rác rưởi này. Người Nga thật là lịch sự phải không em?” “Hổng dám lịch sự đâu! Ðây là Ðiện ‘Kremlin’.”
Hằng năm tới ngày 4 tháng Bảy, ngày Lễ Ðộc Lập của Hoa Kỳ, (năm nay nhằm ngày thứ Bảy, weekend, nhậu đã nha), tui mừng vì một Thế giới Tự do đã được sinh ra. Từ Nam Bán Cầu xa xôi, từ một đất nước Úc rộng bao la, mà con ‘kangaroo’ (đại thử) nhiều hơn dân, tui cứ ngóng về Bắc Bán Cầu, để chia vui cùng nước Mỹ. Hổng dám bợ ‘đít’ Mỹ đâu!
Tui vui vì thấy rằng: “Qua biết bao phong ba bão táp, cây Ðuốc trên tay Tượng Nữ thần Tự do ở hải cảng New York chưa bao giờ lụi tắt. Cây Ðuốc tự do nầy vẫn là ánh sáng dẫn đường, là niềm tin của nhân dân trên địa cầu trong cơn tăm tối hướng về Thế giới Tự do. Niềm tin đó không ai lay chuyển được. Cuối cùng, Thế giới Tự do sẽ chiến thắng tất cả các chế độ toàn trị độc ác còn sót lại trên thế giới. Tự do sẽ đưa nhân loại trở về với ‘nhân chi sơ tính bổn thiện’. Sống trên thuận theo trời; dưới hòa theo đất.
Ngày 4 tháng Bảy năm nay, bà con có tụm năm tụ bảy ngoài vườn sau, ăn ‘barbeque’, (thịt nướng), ‘hot dog’ và ‘hamburger’ rồi uống beer Budweiser thì nhớ phần dư còn lại hãy cất vào trong tủ lạnh. Năm tới, khi đã tan mùa dịch Cúm Tàu Covid-19, tui sẽ bay qua. Xin nhớ nhé! Ðừng quên nhe!
Ông bà mình hồi xưa hay lắm nha! Hay ở chỗ cái gì mình không có, mà nó lọt qua tới Việt Nam quê mình, là đặt một cái tên ngay chóc, trúng phóc hè.
Như bên Tàu qua có: mực tàu, táo tàu, trà tàu, chè tàu, (thịt) kho tàu, bún tàu…
Từ Thái Lan, tức nước Xiêm, con vịt ‘cạp cạp’ lội qua; thấy nó khác con vịt của mình, bèn đặt tên là vịt Xiêm… rồi chuối Xiêm, rồi dừa Xiêm, mãng cầu Xiêm, hồng Xiêm…
Hồi xưa ông bà mình, chỉ thắp đèn dầu mù u khói um trời…giống ma trơi; cho tới khi có đèn dầu lửa thì đặt tên là đèn Huê Kỳ!
Chỉ đi xe bò, xe ngựa, xe trâu, tới lúc có xe chạy bằng hơi (nước, hoặc chạy bằng hơi, do dầu xăng cháy nổ, thụt piston xịt khói) thì gọi là xe hơi hay xe Huê Kỳ.
(Huê Kỳ chớ không phải Hoa Kỳ, cũng như người Việt gốc Hoa thì gọi là Huê kiều vì ông bà mình sợ phạm úy. Hoa là tên một bà lớn trong triều đình nhà Nguyễn; chính vì thế thay vì cầu Hoa mình có tên cầu Bông từ đất Đa Kao bắt qua kinh Nhiêu Lộc về Gia Định.)
Khi CS chiếm miền Nam, đánh trống thổi kèn um sùm; sẽ xây dựng bằng mười ngày nay; mà đôi dép làm cũng không được, phải mang dép lào. Chớ trước 75 dân mình mang dép nhựt không hè! (Lào với Nhựt ai ngon hơn?)
Tây nó chiếm Nam Kỳ Lục Tỉnh của mình, rau củ xứ ôn đới nó đem theo để ăn, mà xứ nhiệt đới mình không có trồng, thì mình thêm chữ tây vào gọn hơ hè như: khoai tây, hành tây, dâu tây, dưa tây, bèo tây, gà tây… Đồ Tây mình mặc, mình mang như: quần tây, giày tây. Xưa giờ bịnh hoạn uống thuốc bắc, thuốc nam giờ thì uống thuốc tây.
Riêng cái món bánh tây, bà con miền Bắc đặt tên, thì trong Nam mình gọi nó là ổ bánh mì. Vì hai lẽ: một là nó có hình dạng như cái ổ; hai là nó làm bằng bột mì. Sau người mình kéo nó dài ra như bánh mì ‘ba gết’ (baguette) cho dễ cầm…
Nhà thơ Kiên Giang đã viết: “Đáp tàu khói, về quê ăn Tết/ Gió bấc đầu mùa gợn sóng đêm/ Ôm ổ bánh mì làm gối nhỏ/ Đem về cho mẹ với cho em…” (Sắp nhỏ ở nhà quê mà được ổ bánh mì ăn với đường tán là khoái luôn tới một tháng!)
Chính vì được hoan hô nhiệt liệt như vậy nên Sài Gòn và các tỉnh hồi xưa có biết bao nhiêu lò bánh mì do mấy chú ba tàu làm chủ…
Melbourne bên Úc nầy hồi xưa lò bánh mì là của mấy thằng Ý. Sau dân Việt Nam mình nhào qua, chịu thương chịu khó, chồng chạy xe ‘van’ giao bánh, bỏ mối cho mấy nhà hàng; vợ đứng bán suốt 12 tiếng quần quật một ngày; nên Ý chào thua sang lò lại, chạy mất dép.
Làm lò bánh mì vốn lớn vì phải mua máy móc, nhưng lời nhiều. Cục bột có một chút xíu, ủ men rồi nướng nó nở bự chảng, bành ky nái. Hai đô sáu ổ, lời 1 đô thôi, một lời một mà.
Tuy kiếm bạc cắc như vậy nhưng chủ lò bánh mì chạy Mercedes đời mới… Thế mới kinh chớ!
Còn bánh mì bán tại các siêu thị lớn của Úc: Coles and Woolworths người Việt mình đua chưa lại tụi nó đâu. Chen vô được là giàu khẳm.
Nhưng dễ gì!
Mới đây ‘Ủy hội Khách hàng và Cạnh tranh một cách công bằng’ của Úc, đã phạt nặng mấy siêu thị nầy về cái tội quảng cáo láo là “freshly baked in-store”, tức “mới ra lò”. Chớ thực ra là bánh mì đông lạnh mấy mươi đời vương, vượt đại dương (tới miệng tui) là từ Đức, Ái Nhĩ Lan và Đan Mạch.
(Hèn chi mấy thằng Úc ăn bánh mì nầy mở miệng ra là cứ chửi thề, khoái xài tiếng ‘Đan Mạch’ đó thôi!).
Trên bàn ăn bánh mì là một diễn viên tài năng! Vai phụ, vai chánh, bánh mì đều ‘chơi’ hết ráo.
Vai phụ, trong tuồng Tây, thì đóng với ‘oeufs au plat’, tức hột gà ‘ốp la’ (ăn xong thì ‘la’ vì ngon quá); hoặc với ‘omelette’, hột gà ‘ốp lết’ (ăn xong rồi ‘lết’ vì no cành hông, đi không nổi đành ‘lết’ vậy).
Đó là tuồng thịnh soạn; còn tuồng bèo bèo ăn thì bánh mì đóng với phô mai ‘Con bò cười’ (La vache qui rit). (Ai nói ngu như bò không biết cười đâu nè?!) Hoặc trét bơ mặn Bretel, rắc chút đường cát trắng. Bánh mì chấm sữa đặc có đường hiệu Con chim (Nestlé, Thụy Sĩ). (Ai nói con chim không có sữa đâu nè?)
Còn tuồng Tàu, ăn kiểu Chú Ba, là bánh mì với thịt quay, vịt quay, phá lấu, lạp xưởng, xíu mại…
Còn tuồng Ấn Độ, ăn kiểu anh Bảy Chà, kem đánh răng Hynos, thì bánh mì đóng với cà ri gà, cà ri dê… cà ri chà…
Riêng người Việt mình thì cho bánh mì đóng vai ‘thích đủ thứ’.
Nghèo thì bánh mì chấm cà phê sữa, ăn với đường cát hoặc xịt nước tương… Hoặc xé bánh mì bỏ vào tô phở, tô hủ tiếu mì hay tô cháo lòng, ăn dặm thêm, no bụng mà đỡ tốn tiền kêu tô nữa. Kha khá hơn một chút thì ăn bánh mì với cá mòi sốt cà đóng hộp Sumaco nhập từ Maroc.
Bất cứ trên bàn tiệc nào, từ sang tới hèn, từ giàu tới mạt, thành tới tỉnh, từ quận tới xã, từ ấp tới nhà, đều có bánh mì hết ráo… Đám giỗ, quảy, hỏi, cưới, thôi nôi, đầy tháng có cà ri, có bò kho, có nước là có bánh mì để chấm.
Bánh mì là vai phụ trong các món ngon đó vì không có bánh mì thì bún, cơm đều thay thế được. Nhưng cũng là cơm mà là cơm tay cầm: bánh mì thịt thì là vai chánh, hát mình ên, không đứa nào khác dám chen vô.
Đó là bánh mì thịt! Xe bán bánh mì thịt không cần thêm món nào khác, chiếm một góc ở ngã tư đường phố Sài Gòn nào đó, đã nuôi sống biết bao gia đình người Việt Nam mình cần cù và lam lũ.
Qua nước Mỹ, nước Úc nầy đây, bán bánh mì thịt không chỉ đủ nuôi sống mà còn làm bà con mình giàu hết biết, triệu phú đô la chớ tui hỏng có nói dóc đâu.
Bên Mỹ thì có Lees Sandwiches đó; đâu có thua sút gì với McDonald’s hay Hungry Jack’s…
***
Nhưng quan trọng nhất là bánh mì đóng vai chánh trong nhiều sách lược chánh trị!
Như mấy bữa nay, cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama và Phó Tổng thống Joe Biden đến thủ đô Washington, D.C. gặm bánh mì với ‘cheese’, ‘ham’ và ‘salad’ có ‘mustard’ tại Dog Tag Bakery (Dog tag làThẻ bài) ở Georgetown để ủng hộ cựu quân nhân Mỹ.
Ối cái chuyện nầy em yêu của tui làm hồi xưa rồi cách đây gần nửa thế kỷ để ủng hộ quân nhân VNCH mình!
Nhớ hồi xưa đi lính, tuần nào không đi phép, thì em yêu từ Sài Gòn mang theo một ổ bánh mì bự chảng, dưa leo thái mỏng, ngò, đồ chua, hành tây, hành lá, vài khoanh ớt cay, tiêu cho ngọt muối cho mặn xin đừng bỏ nhau và một lon guigoz thịt chà bông lon ton lên khu Tiếp tân trường Bộ Binh Thủ đức, trên đồi Tăng Nhơn Phú, mà thăm nuôi chàng (đang đường trường xa con chó nó tha con mèo).
Ổ bánh mì với thịt chà bông ngày xưa đó, nợ em yêu tới giờ, tui trả vẫn chưa xong! Vậy mà mấy anh mình dám phán rằng ăn bánh mì rẻ hơn ăn “phở” (có hai cái nháy nháy).
Rồi lại nhớ! Sau khi CS chiếm miền Nam, lùa đồng bào vô hợp tác xã nên bà con mình lãn công, nghe kẻng ra đồng, cứ đứng chổng mông lông nhông chơi hè. Hậu quả là phải ăn độn bo bo, thứ dành để nuôi heo. Rồi dộng thêm mùa lụt tràn bờ năm 1978, dân đói thân sơ thất sở. Sợ dân loạn, Lê Duẩn bèn sai đàn em qua Đông Đức mà ông đi qua bà đi lại, xin bột mì.
Chở từ nơi xa mút chỉ cà tha về tới là bột mì nó mốc cha hết ráo. Giao cho lò bánh mì, (pha bột gạo cho cố vào, ăn cắp bớt bột mì, bán cho mấy chú Ba làm bánh tiêu, bánh bò) nên bánh mì cứng ngắc, chọi chó lỗ đầu.
Tội nghiệp em yêu, cũng rán giành giựt, chòi đạp để mua về cho tía con tui một ổ. Em yêu lấy dao yếm bửa nó ra thành nhiều lát (chớ cắt làm sao đứt); xong đem hấp trong xửng cho mềm, trét mỡ hành, cuốn xà lách và rau thơm hành lá, chấm nước mắm ớt chua ngọt… ăn chóp chép cho đỡ thèm ngày tháng cũ.
***
Bánh mì của Tây cũng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong sách lược giữ nước Ta!
Trong lịch sử Việt Nam cận đại vì thiển cận, bế quan tòa cảng, cấm đạo quyết liệt và sắt máu, rập khuôn theo chánh sách của Tàu phong kiến Mãn Thanh; (bao giờ cũng coi nó là cha, là anh), nên triều đình phong kiến nhà Nguyễn mới thất bại trong việc giữ nước.
(Chớ Nhựt Bản, Thái Lan đều mở cửa ra, nên đất nước họ mới tồn sinh!)
Dẫu từ Bắc tới Nam, biết bao nhiêu cuộc khởi nghĩa của tất cả các anh hùng dân tộc chống Tây đều bị dìm trong biển máu. Vì thực dân Pháp bắn súng ‘ùng oàng’; mình đem tầm vông vạt nhọn, giáo mác mà chống thì làm sao lại?!
Ngộ biến phải tùng quyền! Cây súng Tây nó tối tân nên ông Cao Thắng bắt chước làm theo Tây để bắn Tây.
Và cũng có biết bao nhiêu người con yêu nước khác như: ông Phan Thanh Giản, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện và Petrus Ký… là những người từng đi Tây, đi Mỹ (như Bùi Viện) dùng của Tây mà đánh lại Tây.
Dùng chữ quốc ngữ của Tây sáng chế ra (một phần công của ông Petrus Ký… quảng bá) để mà nâng cao dân trí. Dùng nền giáo dục ca tụng sự tự do của Tây để từng bước đấu tranh ôn hòa nhưng quyết liệt để đòi lại độc lập cho nước nhà như ông Phan Chu Trinh đã làm!
Trong bài: ‘Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc’ năm 1861, nhà thơ đất Ba Tri Nguyễn Đình Chiểu ‘rầy’ mấy đứa theo Tây làm lính mã tà để kiếm rượu lạt, bánh mì! Rầy như vậy là quá phải!
“Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ!”
Nhưng trong chốn nhân gian thời ấy cũng có câu thơ là: “Vân Tiên ngồi dựa gốc dừa/ Tay cầm chai rượu miệng nhai bánh mì/ Nguyệt Nga mới hỏi ăn gì? Vân Tiên mới nói bánh mì thịt quay!”
Bánh mì của Tây, thịt quay của Tàu, ta ăn no bụng rồi tìm cách đối phó, lúc cương lúc nhu với quân xâm lược, bằng quân sự lẫn văn hóa để bảo toàn được nước nhà thì việc gì mà ‘cữ’ ăn bánh mì của Pháp phải không?
Ở Hoa Kỳ, Tổng thống phải là người sanh đẻ ở nước Mỹ!
Chính vì vậy mà cái vụ giấy khai sanh của Tổng thống Mỹ Barack Obama đã bị Donald Trump, mấy năm trước, đem ra hỏi tới hỏi lui hoài làm Obama bực cả mình… phải chạy về nhà Má tuốt bên đảo Hawaii mà in cái giấy chứng sanh còn chưa ráo mực trưng ra để làm bằng: ‘Actually! I’m a Yankee’.
Trừ cái chức vụ tối cao đó ra thì Thống đốc, Thượng nghị sĩ chỉ cần có quốc tịch Mỹ là được.
Chính vì vậy mà ông Joseph Cao, tức Cao Quang Ánh, người Việt mình chánh cống 72 phần dầu, thuộc đảng Cộng Hòa tiểu bang Louisiana, đã từng đắc cử Dân biểu Liên bang Hoa Kỳ.
Rồi bà Stephanie Murphy, con của một gia đình người Việt Nam tỵ nạn CS, đến Hoa Kỳ khi mới chỉ lên một tuổi, thuộc đảng Dân Chủ tiểu bang Florida, đang là Dân biểu Liên bang Hoa Kỳ.
Còn bên Úc nầy đây, trong các chức vụ dân cử, người Việt mình làm được tới Thượng nghị sĩ tiểu bang hay Thị trưởng là hết mức.
Cũng có bà con mình nhẩy ra ứng cử vào quốc hội Liên bang Úc đó chớ… nhưng rớt hết ráo. Hu hu!
Điều đó cho thấy làm Thượng nghị sĩ hay Dân biểu Liên bang Úc khó lắm; vì ‘job’ rất thơm, nên lắm kẻ giành, lương bổng hậu hĩ, năm nào cũng được tăng; trong khi lương cu li thì cứ bị hăm he cắt đầu xén đuôi hoài hè.
Chính vì ‘job’ thơm như vậy, đớp được rồi mà bắt nhả ra tức chết đi chớ! Nhưng luật là luật! Đau hơn hoạn mà hỏng biết phải làm sao bây giờ?
Vì theo điều 44 Hiến pháp Úc Đại Lợi, những vị dân cử chỉ được phép có một quốc tịch Úc mà thôi, song tịch là không được. Còn đẻ ở đâu, như con chim se sẻ nó đẻ ở cột đình, chuyện đó không quan trọng.
Quy định song tịch thì không được vào Quốc hội đã buộc Thượng nghị sĩ Scott Ludlam và Larissa Waters của đảng Xanh đã phải từ nhiệm, ra khỏi Thượng viện Úc hồi tháng trước.
Ông Scott Ludlam sinh tại Palmerston North – Tân Tây Lan đến Úc cùng gia đình khi mới 3 tuổi, nên hoàn toàn không biết mình cũng có quốc tịch Tân Tây Lan.
Thượng nghị sĩ Larissa Waters có quốc tịch Canada cũng đành từ nhiệm khỏi Quốc hội! Sau khi xin thôi quốc tịch Canada rồi sẽ ra ứng cử lại. Còn chuyện đậu rớt sẽ tính sau.
Ở Thượng viện thì có mợ thì chợ cũng đông không mợ thì chợ chẳng không bữa nào. Hai người từ chức thì đảng Xanh cử hai người khác lên thay vậy thôi.
Nhưng tới đảng của bà bán cá lăn bột chiên, chúa kỳ thị, Pauline Hanson, tên là One Nation (một Quốc gia) nhưng cũng có một Thượng nghị sĩ song tịch, hai quốc gia vừa Úc vừa Anh. Quái?!
Rồi ông Thượng nghị sĩ đảng Tự Do Matt Canavan, song tịch, vì má ổng ký tên xin quốc tịch Ý khi ông 25 tuổi mà ổng không có biết (Ai mà tin lời ổng nói là bán lúa giống mà ăn?) đành từ chức Bộ trưởng bộ Tài nguyên nhưng không từ nhiệm Thượng nghị sĩ!
Hai ông Malcolm Roberts và Matt Canavan nhứt định không chịu từ bỏ cái ‘job’ thơm nầy, tự tui đưa tui ra Tòa án Tối cao xem mấy ông Tòa xử ra làm sao vào tháng Chạp? Cho làm nữa thì làm. Bằng không cho thì phải nghỉ… Câu giờ, ăn được tháng lương nào hay tháng đó… Bỏ uổng!
***
Chuyện ở Thượng viện là chuyện nhỏ như con thỏ không ảnh hưởng gì tới sự tồn vong chánh phủ Úc theo hệ thống Westminster vốn cóp pi nguyên xi của mẫu quốc Anh Cát Lợi (đảng nào nhiều dân biểu hơn là thành lập chánh phủ) .
Nhưng nó đâu chịu dừng ở đó nó lan tới Hạ viện mới là chuyện lớn đây nè.
Chẳng qua Chánh văn phòng của bà Penny Wong, lãnh tụ đảng Lao động tại Thượng viện, lần mò hỏi tuốt bên Tân Tây Lan về cái vụ ông Barnaby Joyce. Phó Thủ tướng của nước Úc, có quốc tịch nước Tân Tây Lan hay không?
Khi Thủ tướng Tân Tây Lan, Bill English, lên tiếng ổng cũng là dân nước tui nữa đó thì đảng Lao động mừng như bắt được vàng ròng!
Bởi vì Chánh phủ Malcolm Turnbull chỉ hơn có một ghế dân biểu ở Hạ viện nếu Joyce buộc phải từ nhiệm khỏi quốc hội thì Turnbull sẽ không còn được nắm chánh quyền.
Phải bầu cử bổ sung hay gọi tổng tuyển cử sớm. Cả hai trường họp nầy xác xuất Liên đảng đang cầm quyền thua rất cao! Kỳ bầu cử năm rồi nhém chút nữa là chính phủ Liên đảng đương nhiệm đi tàu suốt; vì đã thò tay vào túi của người dân ngu khu đen hơi sâu nên dân Úc nó quạu.
Người ta nói: Mùa đông lạnh mấy chánh trị gia Úc hay đút tay vào túi của chính mình! Cớ sao lại đút tay vào túi tiền, rất hẻo, của tui làm tui cũng quạu quá đi chớ!
***
Barnaby Thomas Gerard Joyce, cái tên dài thòn lòn như tên của người Việt mình, sanh ngày 17, tháng Tư, năm 1967, nghĩa là năm nay mới có 50 cái xuân xanh, tại Tamworth, tiểu bang New South Wales, Úc Châu.
Mẹ của ông Joyce là Úc và cha ông là Tân Tây Lan đến Úc vào năm 1947.
Trước đó thì Joyce tuyên bố chắc nịch: “Tui đẻ ở bịnh viện Tamworth Base! 100 năm trước bà cố tui cũng đẻ ở đây. Tui là Úc chánh tông mà. Chắc như bắp!”
Nhưng ông Phó nầy chỉ nói tới bà cố ngoại thôi; chớ bà cố nội, ông nội rồi Tía của mình đẻ bên Tân Tây Lan, ông lại cố tình quên.
Đúng là sự thực nhưng sự thực chỉ có một nửa. Nửa ổ bánh mì là bánh mì. Còn nửa sự thực là cố tình nói dóc!
Barnaby Joyce được bầu làm lãnh đạo đảng Quốc gia, liên kết với đảng Tự do nên được làm Phó Thủ tướng Úc thứ 17 cho Thủ tướng Malcolm Turnbull vào ngày 18, tháng Hai, năm 2016.
Như vậy là Barnaby Joyce đã làm ‘đầy tớ nhân dân lậu’ (từ Thượng nghị sĩ tới Dân biểu Úc) suốt 13 năm. Thưa cu li mà làm ”lậu” như Security officer (nhân viên an ninh), mà không có ‘lái sần’ (license) là bị nắm đầu đuổi, rồi còn bị phạt cả đống tiền ‘đô’ nữa đó!
Còn làm tới Phó Thủ tướng mà lại làm ‘lậu’; sao không cuốn nóp cho rồi?!
Thiệt đúng là nước Úc nầy có hai luật. Luật cho tai to mặt bự và luật cho dân ngu khu đen mà. Chơi vậy kỳ lắm nhe!
Khi Thủ tướng Malcolm Turnbull phải đi công du nước ngoài, thì Barnaby Joyce, người Tân Tây Lan,lại làm quyền Thủ tướng Úc! Nghe như diễu, nó tréo cái bảng họng làm sao đâu!
Bill Shorten, lãnh tụ đảng Lao động đối lập, Richard Di Natalie lãnh tụ đảng Xanh đã ngay lập tức chộp lấy cơ hội này, hỏi khó: Thượng nghị sĩ Matt Canavan cũng là Bộ trưởng từ chức còn ông Joyce thì tại sao không?
Nếu Barnaby Joyce sụp lỗ chưn trâu chết chìm thì đương nhiên bà Phó Lãnh tụ đảng Quốc gia, Thượng nghị sĩ Fiona Nash, Bộ trưởng Phát triển Nông thôn sẽ điền khuyết vào chức Phó Thủ tướng. Đã à nha! Nhưng xin đừng vội mừng vì bà nầy cũng song tịch Anh và Úc.
Hỡi ơi mấy ông bà là người làm ra luật, mà cái luật nầy nó có từ năm nẩm, hồi mới thành lập nước mà sao hỏng ai biết hết ráo vậy Trời?
Người ta nói “Thố tử hồ bi” (thấy con thỏ chết con chồn nó buồn). Nhưng trong trường họp nầy thấy Barnaby Joyce ngáp ngáp thì tài tử ‘Những tên cướp biển vùng Caribe’, Johnny Depp và bạn tình Amber Heard (lúc đó chớ giờ hết rồi) vui hết biết. Vì hai bên có cái hận lòng năm ngoái.
Chẳng qua hồi tháng Tư, năm 2016, Johnny Depp và bạn tình Amber Heard đáp máy bay riêng cùng hai con chó cưng là: Pistol và Boo, từ Cali, USA đáp xuống Queensland, Úc để đóng phim.
Hai con chó nầy được em yêu đưa đến ‘Thẩm mỹ viện Chó’ để hớt tóc và làm móng. Mấy tay nhà báo nhiều chuyện hỏi: “Chó ngoại nhập cư có kiểm dịch chưa?” Queensland là tiểu bang nông nghiệp chăn nuôi mà! Dẫu từ Mỹ đi chăng nữa coi chừng nó mang vi trùng Mỹ qua làm thú vật của Úc mình chết hết
Té ra hai con chó nầy đi chui, vào Úc bất hợp pháp nên bị Barnaby Joyce, đang là Bộ trưởng Nông nghiệp và Thủy lợi hăm he: “Hổng mang hai con chó trở ra liền… là tui sẽ chích cho tụi nó chết!”
Thù xưa giờ phải trả chứ! Depp thì chả ”bình loạn” gì ráo, có lẽ vốn làm đàn ông nên dễ tha thứ cho kẻ thù hay chăng?
Nhưng Amber Heard, hổng biết có phải em là con gái, thù bất cộng đái thiên hay không mà nhân cơ hội nầy xát muối vào vết thương đứa đã làm khó làm dễ hai con chó của em!
Amber Heard nói: “Để an ủi, chia sớt nỗi buồn rầu với ông Joyce lúc ông đang cần đến nhứt! Em xin gởi cho ông một thùng trái Kiwi ngon lắm! Thùng trái Kiwi nầy đã được kiểm dịch rồi đó nhe!” He he!
(Kiwi là trái cây biểu tượng cho đất nước Tân Tây Lan; chính vì vậy dân Tân Tây Lan còn được gọi là dân Kiwi)
Thiệt nghe xong chắc Barnaby Joyce tức đến trào máu (Chúc) Anh Đài !
Trong kỳ họp vừa rồi trước khi được nghỉ hai tuần, quá đã, mà lại bị đảng Lao động chơi một vố quá đau, nội các của Malcolm Turnbull, mặt ai nấy xanh chành như đít nhái, rầu rầu như chết chưa chôn vì sợ mất chánh phủ, mất ‘job’ thơm!
Rầu rồi quạu… nên Julie Bishop, Bộ trưởng Ngoại giao vốn khéo ăn khéo nói, uốn lưỡi bảy lần trước khi nói cũng nổi khùng lên, cáo buộc đảng Lao động Tân Tây Lan (cũng đang ở thế đối lập) đã thông đồng với đảng Lao động Úc (cũng đang ở thế đối lập) nhầm lật đổ chánh phủ Úc! (?!)
Hậu quả của chuyện nầy, có thể sẽ gây khó khăn cho mối quan hệ giữa Úc và Tân Tây Lan về sau!
Đúng là giận quá mất khôn! Vì bà con mình ai cũng biết Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan vừa là láng giềng vừa giống như hai anh em ruột vậy! Hồi đầu thế kỷ 20 có lúc tính họp nhứt sống chung một nhà nữa kìa.
Mà nay vì miếng đỉnh chung, sợ mất chánh quyền, nỡ lòng cạn tàu ráo máng với nhau sao?
Ai nói Úc không có óc hài hước. Có chớ! Bằng cớ là trong giờ Chất Vấn (Question Time) của Hạ viện: Dân biểu Tony Burke, thuộc đảng Lao động phe nó, thấy bà ấy giận quá, ‘giả’ càng chọc thêm cho bà ấy tức hộc máu chơi, cười chúm chím: “Dà cho tui hỏi: Nếu bà Bộ trưởng Ngoại giao không thể làm việc được với những người Tân Tây Lan thì làm sao bà Bộ trưởng Ngoại giao có thể làm việc được với ông Phó Thủ tướng?”
(Cũng là người Tân Tây Lan. He he!)
Thiệt là câu hỏi mà không cần đợi câu trả lời vì nó quá xá đểu, tếu đến nỗi ông Chủ tịch Hạ viện Úc, Tony Smith, đảng Tự do phe ta dẫu bị đảng Lao động phe nó chọc quê, phải rán lắm mới nín được nụ cười: ‘cha chả đã’!
Như đa số các căn nhà ẩn mình trong Thành Nội, gia cư Mít có sân trước có vườn sau. Nhà nằm trong kiệt, lối đi nhỏ, hai bên trồng dãy chè tàu thế hàng rào, đôi chỗ có chen cài cây dâm bụt đang nở bông màu đỏ làm vui mắt. Ve kêu vang rân mùa hè, cóc nhái ễnh ương đay nghiến năm canh mùa đông. Hai mùa cứ thế vận hành trôi, dấu chân để lại trên mái ngói đầy rêu xanh và vách tường phải quét lớp vôi mới mỗi độ xuân về.
Mít học lớp đệ Lục trường Nữ trung học Thành Nội. Trình độ ngang nhau, có điều tôi thì học ở trường Hàm Nghi do bởi phân chia rạch ròi chuyện “nam nữ thọ thọ bất tương thân”. Lục Vân Tiên (?) cũng có nói: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái ta là phận trai”. Nhà tôi cuối kiệt mà nhà Mít nằm đầu đường, khoảng giữa lọt thỏm căn nhà có treo tấm bảng “coi chừng chó dữ”. Bộ hành đi bên ngoài có rón rén cách mấy cũng bị nghe phải tiếng sủa đột ngột, đe doạ thêm giọng gầm gừ như kiểu nó đang nhe nanh. Ở Huế ưa dùng chữ “không có răng mô” thì nên xét lại giùm cái kẻo có ngày sẽ bị chó cắn. Răng lởm chởm hai hàng, răng lại nói không có răng. Rứa lỡ hắn cắn tui thì o biết tính làm răng?
Tôi thọ thọ tương thân với Mít đều đều, nắm bàn tay sờ bàn chân là chuyện như cơm bữa. Lý do chính đáng là ba mạ Mít kêu anh tôi sang dạy kèm Toán, Đại số, Lý Hoá cho Mít, tiện thể anh lôi cổ tôi theo, một công đôi chuyện. Anh nói to: Sách vở thương chớ không ai thương mô nghe. Ba của Mít gật gù. Mạ Mít thì coi bộ không lọt lỗ tai: Rứa mà lâu ni tui chỉ nghe “cơm thương chớ không ai thương”. Anh tôi nói nhỏ: Thì cho sách vở thương một hồi, lập công trạng đâu ra đó mới nhường cái thương cho cơm sau. Ba của Mít hô: Nói phải đa !
Mít chỉ là tên gọi ở nhà, ra khỏi đường kiệt, đi tới trường Mít mang một danh xưng rất Huế: Sầu Đông. Thành nội có trồng nhiều cây mù u, nghe cũng ấn tượng mà chẳng hiểu sao tôi không được ba mạ đặt cho. Thằng mù u ơi! Hắn bị mù nên va đầu vô cây (sầu đông) để bị u đầu. Có thể vì nhà toàn con gái nên mạ của Mít thường nói với tôi: Tao coi mi như con cháu trong nhà, cứ tự nhiên. Bà luộc sắn khoai, kêu bằng tẩm bổ, bỏ trong rổ mang tới bàn học: Thời đi, ăn lấy thảo. Tôi thúc cùi chỏ vô eo Mít: Khoai sắn thương chớ không ai thương mô. Mạ Mít cười: Thằng ni ngó lụt lịt khờ khạo rứa mà thiệt sáng dạ chớ đừng tưởng bở! Mít nói: Ăn cho có, vì nhai ba cái thứ ni không sướng chút chi cả, chưa kể là có khi củ sắn làm mình say. Mi đang thèm thứ chi? Tôi ngó Mít đang đút khúc sắn vô miệng: Thèm ăn mít. Họ nói thơm như múi mít thì quá đúng. Mít rầy rà: Đừng đụng chạm nghe, tao tên Mít đó. Tôi ngó Mít: Rứa mới nói, đưa hun miếng coi có thơm không? Ưa hun chỗ mô? Má hí? Tôi hun má Mít, phát biểu cảm tưởng: Cũng rứa thôi, có thơm tho chi mô hè! Tôi ngó vô ngực Mít. Đồ ba de, hoang dễ sợ, liệu hồn tao mét anh mi a nghe.
Rồi Sầu Đông đổi qua học bên trường Đồng Khánh, chỉ cách một con sông ngăn đôi mà chừng như ngỡ đã xa xăm. Nghe đồn mấy thằng ở Quốc Học bỏ công ve, đi theo nói bóng nói gió nói gần nói xa Sầu Đông ơi Sầu Đông hỡi, ai đặt tên em khiến anh sáng quắt chiều quay. Sầu Đông có bực mình hay không thì chẳng rõ, nhưng điều dễ nhìn nhận, chính cái đuôi luôn đi theo ấy vô tình đã làm thay đổi ít nhiều dáng vẻ Sầu Đông mang trước đây. Bắt đầu lạnh lùng, bắt đầu xa cách, bắt đầu “người lớn”. Không mi tao nữa, thôi ấy với mình, xin hãy gọi tên nhau nhưng cấm kêu Mít ở nơi công cộng. Có bữa mạ sai: Mít, con ra chợ Đông Ba mua cho mạ chục nem tré, còn dư tiền thì lựa mua chiếc nón bài thơ mà đội. Và như vậy Sầu Đông réo gọi tên tôi, có sẵn xe đạp đó, chở Đông đi chút nờ. Tôi luôn là đứa được Sầu Đông tin cậy, nhờ vả mà chẳng cắn rứt lương tâm, đã an lòng khi muốn vượt qua tình bạn láng giềng, mơ hồ thức dậy một thứ gì khác thế bằng vòng tay ôm trước bụng tôi, năm ngón cấu vào vải áo. Hy vọng còn thừa tiền để tụi mình làm một bữa cơm hàng cháo chợ. Thân thể Sầu Đông giờ đây đã phát sinh ra hương mùi lạ thường, phải chăng vì tóc gội bồ kết? Vì ngắt lá sau vườn đun vào ấm nước sôi rồi hoà tan trong chậu sành để đêm hôm tắm táp kỳ cọ mịn da non. Chính vì thế, Sầu Đông thôi dại khờ như ngày cũ, thôi đưa má ra cho tôi hun. Cũng chính vì vậy mà làn hương thơm chôn cất sau áo xống kia đã khiến tôi dằn vặt, đè xuống, trấn nước bao nỗi thèm muốn. Tôi nghĩ, tôi yêu Sầu Đông, yêu một cách… mù u.
Tôi ngồi trên yên xe, chống một chân nghe Sầu Đông phát mệnh lệnh: Đứng y chỗ ni đợi Đông, vô chợ không lâu mô. Bóng dáng lụa là khuất chìm chưa lâu thì nghe một anh chàng nói sát bên hông: Mi là chi của người đẹp? Có bà con họ hàng chi không? Tay hắn kẹp điếu thuốc cháy phân nửa, điệu bộ ngang tàng, giọng điệu phách lối như cảnh sát đang hỏi cung tội phạm. Hắn cao hơn tôi, có thể hắn học hơn tôi tới hai lớp. Hắn có vẻ xấu trai con nhà trung lưu học lực thường thường bậc trung. Tôi làm thinh, tôi có quyền câm lặng. Bắt vô đồn, cảnh sát có đập bàn đe nẹt tôi cũng chẳng muốn khai. Nếu mi là người tình của người đẹp thì tao khỏi mất công tán tỉnh, đã hiểu chưa? Nói với người đẹp là anh Lưu xin kiếu. Hắn hút hơi khói cuối, ném mẩu thuốc cụt xuống đất, chà đạp rồi bỏ đi. Giả thử tôi đóng vai Sầu Đông, tôi cũng nghiêng nón che mặt chẳng thèm nhìn “anh Lưu” tới nửa con mắt. Người chi cục súc quá! So ra thằng tôi ngó đặng hơn nhiều. Hắn hiền khô, hắn chịu nghe lời, lúc trước hắn thèm múi mít, không biết bây chừ hắn thèm múi chi? Cam? Bưởi?
Sầu Đông đã trở ra, tay đong đưa cái bao ny-lông đựng nem tré mà chẳng thấy nón bài thơ ở mô cả. “Em” nói một câu nghe cảm động: Không sắm nón, để tiền tụi mình chở nhau đi ăn. Phải trả công “chú” xe thồ ni không thôi lần sau hết cậy nhờ. Thích ăn chi, Sầu Đông đãi. Vô ngồi quán hẳn hoi chứ thức ăn trong chợ lắm ruồi bu kiến đậu. Mất vệ sinh dễ sợ. Và rôi lại một vòng tay ôm, đồ mua cho mạ thì móc vào ghi-đông xe cho thong thả. Một tay quàng thắm thiết đã sản sinh ngộ nhận, ít nhất cũng làm Lưu nhà ta mất nhuệ khí, nản lòng rút lui. Tôi nói, Đông ăn chi mình ăn nấy, lựa chọn là quyền của Đông. Trời chan nắng lửa trên đầu nhưng Đông từ chối một cản che, quyết định dùng tiền đó để qua quán Ngự Bình cùng ăn bánh bèo bánh nậm bánh bột lọc bánh ướt. Có lẽ đời người sẽ tự chia từng cột mốc kỷ niệm mà hắn từng sống qua. Tôi đang hưởng lấy một kỷ niệm khó phai với Sầu Đông. Tôi ăn ớt cay đến nỗi phải chảy nước mắt, ở lưng quần Sầu Đông có ràng giữ một cái khăn tay, Đông trao cho tôi, chiếc khăn gấp làm tư mở rộng, đưa lên chặm, ngọt ngào thơm như múi mít.
Chiến tranh tàn phá, gậm nhắm dần, để nỗi kinh hoàng nó lấn tràn khiến chúng tôi phải lạc xa nhau trong cuộc di tản thất kinh hồn vía. Mạnh ai nấy chạy, chạy bá thở, chẳng đủ thời gian trông lui thốt lời vĩnh biệt. Đã chẳng còn một hy vọng nào nữa, bầu không khí kia đang bị chiếm đoạt, hút đi bao dưỡng khí. Người ta sống với lắm rồ dại hoang đường bóp nghẹt chút tự do riêng tư. Người ta tiếp cận với ngoa ngôn, với giảo hoạt, xảo trá. Nếu còn sót chút hy vọng nào, thì tôi, niềm trông mong có lúc gặp lại Sầu Đông đã vừa thành tựu. Xa nhau chưa lâu, nhìn ra nhau với bao tàn úa khó che đậy. Nhà Sầu Đông đã có người chiếm đoạt, căn nhà có treo bảng coi chừng chó dữ cắm một lá cờ đỏ chói, hoá ra chủ nhân là một tên cán bộ nằm vùng. Tôi bán chiếc xe đạp, tôi muốn mời Sầu Đông đi ăn một bữa cành hông nhằm bù đắp thời gian cùng sống ở địa ngục tăm tối và nghèo đói.
Sầu Đông ở tạm nhà người bà con bên An Cựu. Hai đứa nắm tay nhau đi giữa chiều sẫm màu trên các lối bắt đầu làm mặt lạ. Ăn xong, tôi đưa cô bạn gái thân yêu ngày êm đềm cũ về lại chốn trú thân tạm bợ. Gió làm tóc Sầu Đông rối, giọng lạc trôi, tiếng ngại ngần bị cuốn đi: Đông vào lại Sài Gòn, sẽ sống chung với một người mà mai này Đông gọi bằng chồng, đời sống đã không cho mình một lựa chọn nào cả, thôi cũng đành an phận. Sầu Đông ôm siết lấy hình hài trơ xương của tôi, đánh rơi từng giọt nước mắt xuống vai lạnh. Hương bồ kết đã nhạt phai, tôi hít lấy nhưng chẳng ngửi ra mùi thơm dằn vặt ngày nào. Tất cả chừng đã bội bạc. Một hơi thở nóng, cuống quýt dồn vô tai tôi: Còn thích ăn mít không? Sầu Đông cho ăn, bữa ăn sau cùng giữa hai đứa.
Tôi ôm cứng lấy em, một đứa đắm thuyền chỉ còn duy một cái phao. Tôi thương em và thương cả tôi khi ý thức rõ cái phao đang bấu víu này rồi sẽ vụt mất trong đôi tay tuyệt vọng. Lần này thì tôi khóc trên vũng ngực em, vỡ tan một nhịp đập. Hồ Đình Nghiêm
1. – Cô đưa tay ra. Nam tả nữ hữu, bàn tay phải ấy.
Mộng nghe lời. Như số đông, Mộng thuận tay phải, thử nắm bút tay trái chữ viết xuống xấu tệ nét run như gà bới. Con dao gọt hoa quả cũng vậy, láng cháng sẽ khiến cho mấy ngón ở tay phải đổ máu. Mộng không rõ cớ sao vận mệnh con người lại chỉ định riêng lối: Con trai nằm ở bàn tay trái mà ẩn khuất lại bày ra trên bàn tay phải của con gái, đàn bà, phụ nữ. Có gì khác nhau giữa trái, phải?
Thầy bói là một gã trung niên, dĩ nhiên hai con mắt còn lành lặn, long lanh soi mói là đằng khác. Nếu mù, gã đã chẳng hành nghề việc xem chỉ tay. Tay gã nóng khi mân mê trăn trở bàn tay Mộng, cầm lên đưa gần mắt rồi đặt lại xuống bàn. Bàn nhỏ, trải tấm khăn đỏ chỉ bày ra một bộ bài tây có 52 lá cơ rô chuồn bích đã chất chồng dồn xếp lại nguyên trạng. Không hiểu do đâu Mộng mọc lên cái ý nghĩ, rằng nếu chia bài ra sát phạt xì-lát, cát-tê, xì-phé, xập xám chướng… ắt Mộng sẽ sớm cháy túi trước gã thầy bói. Đứng ngoài mép bàn là cái ly đựng gạo dùng để cắm nhang, nãy giờ cây nhang thắp từ phút trước đang cháy ngún gần hết chiều dài nó mang, cà kê dê ngỗng gì thì cũng sẽ đến hồi chung cuộc.
– Cô sở hữu một bàn tay đẹp, dầy dặn, tròn đầy, nói chung là tốt tướng. Bao đường chỉ chằng chéo đều rõ ràng minh bạch. Đường giao cắt này đâm lên gò vệ nữ cho tôi thấy số cô luôn gặp may mắn mặc dù đường tình duyên thường bị đứt đoạn. Quá khứ, cô từng chịu hai lần đổ vỡ, nếu tôi đoán không lầm; nhưng chẳng sao cả bởi hậu vận của cô rất tốt. Sau này cô sẽ có lắm con, tạm gọi là vượng phu ích tử.
Cũng bằng tay phải, Mộng dùng nó để trao những tờ giấy bạc đến tay người không đủ tài sức huyền nhiệm để nhìn thấy bao bí mật của Mộng. Từng đi chùa cúng vong, nữ thí chủ Mộng luôn thành tâm nguyện cầu đặt tiền vào thùng phước sương nhưng Mộng chẳng mấy tin vào sự độ trì chứng giám của các vị thần linh khuất mặt. Mộng cũng nghi ngờ việc gieo ác thì gặp quả báo nhãn tiền, đứa giết người không gớm tay vẫn sống hùng sống mạnh và chúng đã là một bộ phận không nhỏ nhởn nhơ giữa cuộc sống này. Chúng vào chùa thắp nhang và tâm hồn nghe thanh thản khi nghe câu “vất đao xuống có thể thành Phật”. Chưa thấy biến chuyển thì lại nắm đao lên, tay vấy máu chỉ là bởi hoàn cảnh buộc phải thế. Không có cách chọn lựa.
Mộng đi ra, chẳng gửi tiếng chào đến gã thầy bói. Người đàn ông ngồi vắt chân chữ ngũ trên chiếc xe máy liền sửa thế, khởi động máy nổ chạy lại gần:
– Thấy sao? Người ta đồn thổi có đúng với tài nghệ không?
– Thì có cái đúng có cái sai. Điều mà em không thích là ổng mân mê sờ soạn bàn tay em quá lâu, không chịu buông tha. Xem chỉ tay thôi mà! Làm gì như kiểu muốn bào mòn da tay người ta luôn vậy đó!
Người đàn ông thôi hỏi han. Ông quành xe trở lại thành phố.
2. Đến một lúc nào đó, rồi hắn cũng có được vợ. Vợ biểu hắn thề nguyền một dạ không đổi chuyện yêu thương. Hắn thề, kiểu như nói láo cho bà vật. Kiểu nói sai thì trời đánh thánh đâm, kiểu phụ tình thì ra đường bị xe cán dẹp lép như con tép. Vợ dán kín môi hắn bằng một nụ hôn mê man, cướp mất dưỡng khí, hài lòng không ưa nghe thêm viễn cảnh bi thương nào khác.
Vợ cấn thai, chuyển bụng. Ì ạch lặt lè vô thấu nhà thương máu chảy luôn tuồn giữa hai chân. Cửa mình ù lì không chịu mở rộng thêm, đỏ mặt tía tai bặm môi nín thở rặn hụt hơi vẫn cứ trơ trơ mắt thị. Họ quyết định ngăn tiếng rên la nọ bằng cách mổ bụng hòng cứu hài nhi tím tái bèo nhèo khỏi chết ngạt. Đứa bé cao số đó không phải là con hắn. Mất đến mấy phút mới khóc oe oe chào cuộc đời buồn nhiều hơn vui. Cha mày họ gì thế hử? Mày mang cùng họ với tao thì có ô kê không nè? Địt mẹ mày nhé. Má mày chết đi sống lại vì mày đấy, ông tướng ạ!
Sau này nghe vợ kể, thật thà khai báo rằng tuổi thơ cô chẳng mấy khi được ấm êm, sở dĩ bố mẹ cô mãi cơm không lành canh chẳng ngọt đơn giản là vì cô không phải con ruột của bố, mẹ cô âm thầm đi làm cuộc cách mạng bản thân dấm dúi với một gã làm chung trong cơ quan.
Hắn dắt bố vợ ra quán rượu khi trong túi dư bạc thừa tiền. Đồng bệnh tương lân sương sương giải sầu rượu vào mà lời không ra. Hai mặt trời cùng thắp đỏ chẳng màng thế sự vây quanh kể cả những ánh mắt nhìn đểu, tì tì cứ ly này sang ly khác. Vô đi bố, hồi nào cho chó ăn chè mới hạ hồi phân giải. Mầy nói phải, chuyện gì cũng còn có đó, bởi chăng hai ta nào phải là Tào Tháo để đởm lược lộng ngôn: Thà ta phụ người còn hơn để người phụ ta!
Bên ngoài quán nhậu bình dân chạng vạng lần khân liếm tới bậc thềm u muội, nhọ mặt người trông nhau không rõ hình tướng thoạt gần thoạt xa. Bố vợ hắn hất mặt lên ngọn đèn đường vừa cháy đỏ:
– Quái, chúng đang bận việc gì mà chẳng bỏ thời giờ chạy ra réo chúng ta về xơi cơm nhỉ? Chúng đi lâu thì mình sốt cả ruột mà đến phiên mình giận lẫy bỏ ra ngoài nầy thì chúng cứ mặc xác. Mẹ nó chứ, mấy thằng láng giềng vai u thịt bắp khiến mình đâm mất thế giá hẳn. Này, mày có thông hiểu câu ngạn ngữ “ngựa quen đường cũ” là gì không?
Thấy thằng con rể ngậm câm, ông bố lè nhè vào khoảng trống: Thằng Mạnh Tử bên Tầu từng nói mà chẳng ai nghe “yêu thì xác nhận rằng yêu, không yêu thì cứ nói thẳng là không yêu, như thế mới đích thực là yêu”.
3. – Buông em ra cho em về kẻo muộn mất.
– Vì hoạ sĩ, có thể anh hơi bị méo mó, ngay phút đầu anh nhìn nhận ra ngay là em có đôi bàn tay quá đẹp.
– Anh không phải là người đầu tiên đâu nhé, em từng nghe gã thầy bói mân mê ca tụng.
– Bao giờ thì em chịu khoả thân làm người mẫu?
– Hồi nào anh minh hoạ trình bày bìa và hoàn tất bốn cái phụ bản cho tập thơ em rồi hẳn tính.
Người đàn bà nhìn ra song cửa vừa mở hé, xong lại đảo mắt tới chiếc áo mưa móc gần cửa chính, thì thầm:
– Không, của Trần Huyền Trân. Hai câu này mới là của Hoài Khanh:
“Mai kia đốm lửa tan rồi Về trong gió bụi nhớ thời vong lưu”.
– Liệu tập thơ em in ra có người tìm mua không?
– Nào có hề gì. Đôi lúc niềm vui đâu có ai ban cho, phải tự mình tìm kiếm lấy. Tranh anh góp chung với thi tập em khổ công làm, kỷ niệm ấy không khiến anh vui sao?
– Vui, đáng yêu, đáng nhớ. Nhưng em phải lường trước một chuyện, đó là thứ niềm vui quá lộ liễu, sợ thọ chẳng được lâu.
– Vì sao?
– Vì ác khẩu, vì tiếng ong ve. Vì sự thật vốn là sắc xám.
– Lỗ Tấn nói, phải không?
– Không. Mệnh đề sau là của ông André Gide. Hạnh phúc có khi là một kho báu, chúng ta nên đào chôn thu cất nó ở nơi thật kín đáo. Lạy bà tôi ở bụi này thì niềm vui của đôi ta bị soán đoạt mất. Trước khi chúng giũ áo đoạn lìa ta, anh muốn hối hả vẽ cho em một bức khoả thân là vì vậy. Một người có đôi bàn tay đẹp, người đó hẳn còn phát tiết tinh hoa ra ở những khu vực khác.
– “Vũ vô kiềm toả năng lưu khách” nhưng cơn mưa đang trút nước ngoài kia e xúi em nán lại bên anh dài lâu. Bóng tối nhiều thế kia thì làm sao anh vẽ được?
– Khéo lo! Anh có ba cây đèn đặt ở chỗ đáng đặt nhằm làm tương phản sắc độ giữa ánh sáng và bóng tối. Em nằm nghiêng thân trên giường, tấm chăn mỏng đắp ơ hờ từ mông xuống giữa hai đùi…
Câu nói không đi hết đường vì người nói vừa nhìn ra tấm thân trắng đục màu sữa từ tốn leo lên giường. Không riêng đôi bàn tay suông dài, toàn bộ nhúm tóc người mẫu cũng thuộc dạng đẹp ngất ngây.
Nằm đây ủ mộng cho tròn Chăn đơn gối lệch hao mòn màu xưa.
Người tự nhận là hoạ sĩ đọc lên câu thơ của tác giả Lệ Mộng đang trần như nhộng. Một con ngài cựa mình thành bướm, một con ve sầu lột vỏ thoát xác, hoá thân nào cũng khiến gã xúc động. Không bấn loạn phút ban đầu, nghệ thuật tạo hình làm sao hiện hữu?
4. – Má bận công chuyện, má giao con trách nhiệm xuống thu tiền nhà. Khoai Lang nói sau khi gõ cửa. Chú có đó không?
Cửa mở, đủ rộng để đứa con trai chừng mười hai tuổi lách thân vào. Bà Tám từng vui miệng giới thiệu “cục cưng” cho kẻ đến mướn thuê phòng: Thời mang thai nó gặp khó khăn nên tui chỉ biết ăn khoai, âu cũng nên vin vào tay chân cứng cáp nó mà nhớ lại thời hột gạo phải cắn làm đôi. Cứng cáp dường nào thì chưa có cơ hội chứng minh, nhưng mặt mày thằng Khoai Lang coi bộ lanh lợi, sẵn sàng đại diện cho bà Tám làm hậu phương vững chắc để đối phó những việc linh tinh, ví như đi đòi nợ.
Khoai Lang nhìn những tấm tranh treo chật vách. Tĩnh vật, phong cảnh, người ngợm, xanh xanh đỏ đỏ làm hấp lực dẫn dắt đôi chân Khoai Lang đi thăm thú nhìn ngang liếc dọc.
– Chú là hoạ sĩ à? Đơn thân trong phòng luôn khoá cửa, không ra ngoài tìm công ăn việc làm, chẳng có ai lại mua tranh, chú sống bằng cách gì?
– Hỏi má xem, có bao giờ chú thiếu tiền nhà đâu, bất quá chỉ trả muộn một đôi hôm. Uy tín quá đi chứ.
– Má nói chú thiệt lạ đời, lủi thủi mình ên như một chiếc bóng. Má thích chú ở chỗ đó, không tùng tam tụ tứ, không nhậu nhẹt, không ti-vi, không giàn máy nhạc, suốt ngày nghe êm ru bà rù. Í, ngay cả bếp lò cũng hổng thấy, chú ăn uống kiểu gì đây?
– Khoai Lang nhiều chuyện ghê nơi. Nghe câu này chưa? “Quân tử thực bất cầu no”. Má cũng có khi làm quân tử, cứ nhai khoai lang riết. Hề hề, chú ra đầu đường ăn cơm bụi, hoặc kẹt quá thì thổi harmonica cũng ô kê.
– Thổi harmonica là sao?
– Là gặm khúc bánh mì, chút tương ớt chút xì dầu là đủ để phát tiếng hít hà. Không biết hồi đó má của Khoai Lang có hít hà khi cắn lựu đạn?
– Cớ gì mà kêu là cắn lựu đạn? Sao chú ưa đổ tiếng ác cho má vậy?
– Thì hình dáng mấy củ khoai hổng giống quả cà na lựu đạn sao? Nè, tiền đây, Khoai Lang đếm lại dùm cái, chừng nào đủ số viết cho chú cái biên nhận. Mình cá mè một lứa, xếp chung là dạng người lắm tình cảm, nhưng tình cảm cũng phải có giấy xác nhận giữa đôi đàng cho thêm phần vững chắc khỏi sanh hậu sự lôi thôi.
5. Bà Tám phân bua cùng bà con lối xóm: Tui ra ngoài chợ, đến khi về mới hay cớ sự. Nghe thằng Khoai Lang kể có hai ông một già một trẻ chạy xe máy vô sân đập cửa phòng trọ rồi vây lại hỏi chuyện anh hoạ sĩ. Ông trẻ gọi ông già bằng bố, mặt ông nào ông nấy đỏ lừ xem chừng khí thế hung hăng ngó rất căng. Rồi sao nữa mày?
Khoai Lang tiếp lời: Họ to tiếng với nhau, hai người khách không mời đòi bồi thường thiệt hại tới mười triệu đồng. Ông trẻ tuổi đội nón bảo vệ nên không thấy sừng mọc ở đâu cả, mặc dù ổng nói bị vợ cắm sừng trên đầu. Ổng chỉ mặt chú hoạ sĩ nói thằng chả là tác giả giọt máu vô thừa nhận khiến ổng tự nhiên hành xác phải nuôi con mọn. Mười triệu là giá mềm, nếu nhắm hổng đủ sở hụi để thanh toán thì ổng chở cục thịt ngu ngoe tới dụt vô phòng, đến khi ấy mới biết thế nào là lễ độ. Nhắm mình ên nuôi con mọn có ổn không, bớ thằng tía chạy làng?
Chòm xóm hết ngó bà Tám tới nghía thằng Khoai Lang, có cô gái đại diện đám “dư luận viên” chõ mỏ vô: Hai má con này ghiền phim nhiều tập của Hàn quốc Trung quốc hay sao á, ưa lê thê trên từng cây số chả biết ngã ngũ như nào!
Khoai Lang lớn tiếng: Trong khi hai người trung niên lời qua tiếng lại thì ông già chạy tuốt vô phòng lôi từ đâu ra bức tranh vẽ một bà ở truồng nằm hở hang bức xúc. Ông già la: Tang chứng vật chứng rõ ràng, mày vẽ xuất thần quá mà, nhìn là biết con Mộng ngay. Riêng mình nó chứ còn ai trồng khoai đất này? Ổng hỏi người con rể: Mày làm chồng nó vậy chớ có khi nao đã nhìn rõ ngọn ngành thông thoáng như thế nầy chưa? Mang về nhà mà treo mà thưởng ngoạn kẻo phí của giời con ạ! Chúng ta sẽ gọi xe ba gác để khuân hết toàn bộ tranh ảnh đồi truỵ kia làm vật thế chân, gia hạn trong hai hôm phải kiếm ra mười triệu chúng ta mới trả lại thành quả công sức lao động của nó.
Giọng cô gái hồi nãy lại cất lên: Chuyện nhạt như nước ốc, chưa thấy có cảnh đánh ghen nào mà hiền lành đến thế, chí ít ở hiện trường phải dây chút máu đổ thịt rơi chớ. Tiếng một cậu thanh niên chận ngang: Người ta đàn ông với nhau thì xử sự phải theo cách của nam nhi chi chí, hồi nào có mặt đàn bà xía vô mới làm cho rách việc ra, xé áo lột quần cắt tóc tung nắm ớt bột vào mặt rồi la chết con đĩ mẹ mày chưa, đồ đi giựt chồng thiên hạ. Bà chị thấy tui nói có đúng không?
6. Thìn học trên tôi một lớp. Ra trường trước tôi một năm. Thìn thích giang hồ, xuôi nam, rộng cẳng đi đây đó để mở rộng tầm nhìn, học hỏi. Tóm lại, ngoài chất nghệ sĩ phong sương lăn lóc gió bụi, Thìn còn cao tay nghề hơn đám bạn cũ mãi loay hoay tìm đủ mọi cách mưu sinh, cuồng chân không thoát khỏi địa phận chôn nhau cắt rốn, sống thấp hèn chẳng đơm nổi một mộng ước nào, an phận thủ thường, sợ sóng gió.
Bữa ấy mưa đổ mù trời, tưởng đi mất đất bất ngờ Thìn năm xưa hiện về tìm đúng nhà hỏi thăm tôi, hình hài ướt như chuột lột. Thìn cho hay làm chuyến tàu quy cố hương vừa từ nhà ga bắt xe ôm về. Thìn có bà chị ruột định cư ở Mỹ, mượn tên và địa chỉ tôi để đón nhận một món tiền “cứu đói” từ phương xa lá lành đùm lá rách. Chậm lắm là ngày mai. Thìn nói: Tôi hết đường binh, đành réo người cật ruột xa xôi hơn cả một đại dương sóng lớn.
Tôi cùng Thìn đội mưa đi tìm một quán vắng kiếm thức dằn bụng. Tuy không uống bia rượu, Thìn đổ dốc ra hết những chén đắng. Đại loại Thìn đang là đứa trốn chạy tai ương, chưa tìm ra một giải pháp vẹn toàn hòng tìm nhặt chút an ổn, vật chất lẫn tinh thần. Quá tàn tệ! Thìn chấm câu. Tôi tìm cho Thìn một nhà nghỉ giá bèo đặng ngủ qua đêm, một giấc tiều tuỵ. Rồi tạm chia tay, tin vào số đô-la đầy hứa hẹn, thứ ánh sáng thắp lung linh nằm cuối đường hầm.
Hôm sau, khoảng mười giờ sáng có người đến gõ cửa, gọi tên tôi. Đưa giấy tờ chứng minh để ký nhận một phong thư hào sảng nhét đủ trong đó 500 Mỹ kim. Tôi chạy tới nhà nghỉ, dừng xe ngang phố đèn đỏ để kịp thấy bắt mắt tranh minh hoạ ngoài bìa một tập thơ của tác giả mang tên lạ: Lệ Mộng. Thìn là người hoạ sĩ trình bày bìa cho thi tập “Đổ Cạn Tin Yêu”. Tôi bỏ ra 85.000 và cầm lên săm soi nét vẽ tài hoa của Thìn. Nói theo kiểu thường tình: Hiểu ở mặt nào đó Lệ Mộng và Thìn chính là đồng tác giả, là bố mẹ đẻ ra đứa con tinh thần gần 200 trang mong manh èo uột.
Chúng tôi ngồi uống cà phê trước sân ga. Ở đó, không mấy lâu tai sẽ nghe vang vọng những hồi còi khi tàu chuyển bánh. Trời quang mây tạnh, Thìn nheo mắt nhìn màu nắng rơi từng đốm trên chùm lá me: Tôi lại xuôi nam, số tiền 500 đô này tôi sẽ trao tận tay nhà thơ, tôi không muốn người ta nghĩ xấu về tôi. Ít ra tôi cũng là một người cha đàng hoàng, dẫu không danh chính ngôn thuận.
Tay bắt mà mặt không mừng. Nhà ga muôn đời là sân khấu xúi người ta đóng tuồng xa nhau. Đợi bóng Thìn khuất lấp biệt dạng, tôi mở tập thơ ra:
Đừng bắt em trở dáng nằm Ngoài kia sương lạnh trăng rằm bỏ đi.
Thơ của Lệ Mộng. Thơ của người đàn bà ngoại tình lén đi ăn nằm với bạn tôi, thằng hoạ sĩ nghèo. Nghèo mà ham!
Tàu Thống Nhất rùng rùng chuyển động. Không một bàn tay vẫy cho kẻ quay lưng, không một khăn tay vày vò vừa chặm xong nước mắt, bởi đời sống này đã quen thuộc, đã chai mặt với những biệt ly.
(Yêu cầu cô bán cho tôi, một bó rau muống chịu chơi quê nhà– BG)
Biết mình thích thơ Bùi Giáng, họa sĩ Đinh Cường từ Virginia gửi tặng cuốn “Đười Ươi Chân Kinh” do nhà xuất bản Nhã Nam mới phát hành trong nước. Sách đến vào ngày Montréal đổ tuyết đột ngột, tuyết lạ thường chẳng lạnh một mảy may. “Hờn phố thị để lạc hồn cõi lạ, sầu phố xanh từ bữa nọ em đi, tuyết trời Tây có nguôi lãng những gì”.
Tuyết rơi đầy và mình có nguôi lãng điều gì không? Bao giờ nhận được sách cũng thoáng cảm động, mình hình dung lộ trình anh đi tới bưu điện nhỏ, sau khi lội bộ ra quán Starbucks bằng lối mòn âm u cây lá của vùng Burke tĩnh lặng, xa khuất hồi còi tàu cất mệt tiếng âm u. Cám ơn nhà họa sĩ trầm lặng, mình vẫn thích danh xưng “Thích Từ Từ” ai đó đùa cợt gọi. Một thứ Vui Chân Kinh?
Bùi Giáng, với mình, danh từ riêng ấy như con đường rộng từng mở ngõ cho vô vàn những bàn chân ngang qua. Là bóng lá (hoa cồn) che im trên đầu kẻ lữ thứ. Con đường khai mở giữa cõi miền phiêu hốt và khi dẫm bước ta phải bàng hoàng nỗi buồn vui trước nhiều chướng ngại. Hoa thơm cỏ lạ hoặc gai nhọn cào xước kia vẫn thường hằng tên gọi riêng tây: Bình nguyên đìu hiu, mép rià lưu tồn, vén xiêm cố quận, phố thị song trùng, cảo thơm mơ mòng, ngẫu nhĩ phiêu bồng, chiêm bao tuyệt trù, thập thành rất mực, ngàn thu hỗn mang, đoạn trường rớt hột… Vì thế, trước sau, lạm bàn về thơ ông là điều chẳng dễ. Một cánh cửa khép hờ và mình nghĩ đó là khung cửa hẹp. Mình chưa thấy ai xô nổi cánh cửa ấy dạt rộng thêm ra. Ánh sáng từ khe cửa kia đã làm đôi kẻ hoa cả mắt, để cũng lắm người vì vậy vô hình trung, trong thơ họ tiêm nhiễm ít nhiều thứ khí hậu cầu chứng cõi miền riêng ông. Xa nhau chừng đó cũng vừa, gió trần gian lạnh có chừa ai đâu. Chỉ một, không hai. Đông phương bất bại hay Độc cô cầu bại thì cũng rứa cả. Kể từ khởi sự mọc răng, đến bây giờ vẫn thường hằng chiêm bao.
Mình vẫn nghĩ ông luôn chọn phiá cô đơn. Lẻ bóng trên đường bởi dường như cái sự hiểu vẫn chưa hiện hình, do vậy ông chẳng rao giảng điều gì sất, lời thơ ấy gần là một độc thoại. Hoặc thứ tâm sự chưa bao giờ mình nghe ra điều xót lòng. Ông vui với thảy những chuyện buồn đau, trái khuấy. Ông than thở và khiến người nghe phải bật cười. Mình nói, viết về Bùi Giáng không hề là điều giản đơn do lẽ ấy.
Hồn nhiên? Hãy mang tôi tới giậu rào, cho tôi ngó vịt thì thào với chim.
Ưa bỡn cợt? Suốt đời phải thức suốt đêm, suốt ngày ngủ nướng mới nên con người.
Chẳng xem điều gì là quan trọng giữa cuộc đời? Mai sau còn lại tý gì, ấy là khu vực nhu mì của em.
Ưa nói tới những chuyện nó vốn đã là như thế, tự nhiên như nhiên: Thưa Em nước uống bây giờ, là trong thiên hạ có từ trăm năm.
Thích định nghĩa: Môi là môi của môi hôn, mà không hôn để cho mòn mỏi môi.
Hay nhắc tới những người nữ, gần là một ám ảnh dục vọng: Em đi bên ấy chân tròn khép, hai ống mơ hồ mỏi một hang.
Xem động vật châu chấu chuồn chuồn gấu beo gà vịt chim nai thảy đều thân thích? Nai nhìn nhắm mắt u minh, này trăng cổ độ xô mình lang thang… Từ đây đổi vịt thay gà, chán chường đến thế là ta ngậm lời.
Và cây lá: Ghé thăm cây cối phen này, nhớ phen nọ đã từng phai nhạt lần.
Và ẩm thực: Sáng nay bao tử mơ mòng, cà phê bên nọ cháo lòng bên kia.
Mình chẳng dám thưa thốt nhiều lời, bởi mình nhát gan, không thể Em về có hỏi răng ri rứa, nhắm mắt đưa chân có bận liều. Sẵn có sách trong tay, dưới đèn mình lật giở và chép ghi ra đây đôi ba bài thơ của Bùi Giáng mà mình nghĩ có bài bạn vẫn chưa đọc thấy, để lần nữa ghi nhận lối đùa cợt thật tài hoa của thi sĩ. Mình xin cám ơn các anh chị trong ban biên tập, cũng như nhà xuất bản Nhã Nam đã cất công truy tầm, tom góp thơ và phát hành cuốn “tinh tuyển” cần thiết này.
Mình chẳng có dụng tâm, nhặt ghi sau đây đôi ba thể loại, đường ngang nét dọc mong vẽ ra chút đỉnh một chân dung, một Hoàng Tử bé có tên (lớn) Bùi Giáng đã hồn về Chín Suối.
Bài 1. Tóc Bạc Thưa Rằng
Một bữa trăng sao
Xuống rừng rú dại
Một bữa trời trăng
Buồn không thể nói
Cầm gương lên hỏi
Tóc bạc thưa rằng
Trời đất cách ngăn
Đừng mê con gái
Bực quá liền quăng
Tấm gương xuống đất
Vẫn nghe mãi rằng
– Đó là sự thật.
Bài 2. Ở Trong Rừng
Đây là Ở Trong Rừng
Chẳng có con ma nào ngó thấy đâu
Xin Hoàng Hậu
Hãy cởi áo quần ra tắm khe nước
Có con ma nào đâu mà sợ
Sao Hoàng Hậu thẹn đỏ mặt?
Có tôi?
Nhưng tôi đâu phải là con ma.
Bài 3. Ông Trời Chịu Thua
Bây giờ tôi rất có quyền
Hỏi ông trời: chớ thuyền quyên là gì?
Mà nhân gian nhớ li bì
Từ thiên thu tới tám kỳ càn khôn
Trời rằng: ngươi rất có quyền
Hỏi như rứa đó… nhưng…
Nhưng sao?
Nhưng ta không đủ thẩm quyền đáp đâu.
Bài 4. Có Lẽ
Người nằm ngủ thấy gì
Thấy rất nhiều nắng lạ
Những chùm bông rất xanh
Có lẽ bông là lá
Người nằm ngủ thấy gì
Chắng thấy gì hết cả
Ngài thử nằm ngủ đi
Đừng hỏi gì hết cả.
Bài 5. Tái Tặng Tử Thần
Tử Thần ạ quả nhiên tao chẳng muốn
Chết làm gì cho lạnh cóng tấm thân
Nhưng nếu mày cứ liên miên gõ cửa
Đòi hội đàm một trận thiết như thân
Thì tao cũng thử một phen hội diện
Với mày xem chút ít một thành phần
Và chút nhiều dù rất mực phân vân
Mày mấy tuổi Tử Thần ôi thế hử
Tao trung niên mày chẳng nể nang gì
Làm thi sĩ suốt bình sinh xuôi ngược
Gieo lộn vần sầu não thật lâm ly
Tử thần ạ! Tao không bằng lòng thế
Bài thơ còn dang dở một hoạt sinh
Một biển dâu cũng dơ dáng dại hình
(Tử Thần ạ! Tao không bằng lòng thế).
Bài 6. Kỷ Niệm Chín Suối
Mùa hè tương đối chịu được
Ba mùa kia
Nhất là mùa Đông
Lạnh lẽo quá mức chịu đựng
Không còn đâu sức lực làm thơ
Nhà xuất bản đóng cửa
Im ỉm suốt bốn mùa
Ôi Chín Suối!
Bài 7. Trời Mưa Trên Đầu
Trời mưa lộp độp trên đầu
Thì xin Thượng Đế chia sầu với tôi
Thuở còn trẻ dại rong chơi
Thì sung sướng với mưa rơi trên đầu
Bây giờ cái sướng đi đâu
Cái gì ở lại ra màu dở dang
Chiêm bao rớt hột hàng hàng
Từ xiêm trắng xuống hỗn mang trên đầu.
Bài 8. Huế Làm Thơ
Tôi vào Sài Gòn lúc đầu
Thật là bỡ ngỡ mối sầu thừa thiên
Rồi sau đó thật tuy nhiên
Quen vui với chị thuộc phiền với em
Bây giờ tôi nhớ thừa thiên
Nhớ thôi chút ít chứ phiền thì không
Mỗi mùa xuân lá trổ bông
Quên tờ cung chúc cũng không hề gì
(Chiến tranh nghĩ cũng li kỳ
Những thằng thi sĩ còn kỳ li hơn).
Mình nhớ trong bài “Một vài kỷ niệm với Bùi Giáng”, Mai Thảo viết: “…Nhiều người cho rằng Bùi Giáng điên. Tôi chỉ muốn nghĩ thầm cho tôi là nếu có thêm được ít người điên như Bùi Giáng, thơ ca ta văn học ta còn được lạ lùng được kỳ ảo biết bao nhiêu. Mất Bùi Giáng, thơ ta lại trở về với cái hữu hạn đời đời của thơ”.
Cuốn sách “Bùi Giáng Đười Ươi Chân Kinh” dày 530 trang, tập hợp gồm Thơ, đoản văn và tiểu luận, ảnh và thủ bút. Lại có trích hai hồi bản dịch “Kim Kiếm Điêu Linh” nguyên tác của Ngọa Long Sinh. Ngần ấy tạm xem như đủ đầy cho những ai muốn vọng tưởng chân đi xiêu lạc của nhà thơ, người mà mình đã chẳng thành tựu một ao ước được gặp gỡ. Ông sinh năm 1926. 1933 bắt đầu đi học a, b, c. 1939 ra Huế học. 1940 về Quảng Nam chăn bò. 1949 nhập ngũ làm lính công binh. Giải ngũ sau hai năm. 1952 vào Sài Gòn. 1965 nhà cháy mất trụi bản thảo…(tiểu sử tự thuật gửi ở chùa Pháp Văn Gia Định Sài Gòn ngày 10-11-1993).
Bước qua phần Đoản văn và tiểu luận, như cách bói Kiều, mình nhắm mắt hú họa giở nhằm trang có in bài “Đốn Tre”:
“Khó nhất là đốn tre, khó nhì là ve gái”. Người thường dân thường khuyên bảo dạy dỗ con cái như thế. Thấy thằng con sỗ sàng ve gái, họ không trực tiếp ngầy ngà. Họ không nói: “Ve gái khó lắm lắm. Con phải chậm rãi từ từ…” Họ nói quanh: “Khó nhất là đốn tre khó nhì là ve gái”.
Lời nói ấy về sau sẽ khiến đứa con suy nghĩ. Nó tự nhủ: Bố bảo khó nhất đốn tre? Nhưng mỗi ngày ta có thể đốn được năm mươi gốc tre một cách dễ dàng. Khó nhì là ve gái? Sao suốt mấy tuần lễ nay ta ve con Mận mà nó vẫn dửng dưng chưa có bề nào ngã ngũ?
Từ đó cái câu “khó nhất đốn tre, khó nhì ve gái” đã giúp đứa con thể hội chân lý ngược lại. Ấy là: khó nhất ve gái, khó nhì đốn tre.
Đi vào cõi tư tưởng, chúng ta phải luôn luôn lưu ý tới cái lối ăn nói nghịch lý của người tư tưởng. Họ nói một đường để ta suy ra một ngả. “Ngựa trắng không phải là ngựa”. Đó là lời Công Tôn Long. Ông này là nhà tư tưởng Trung Hoa bị đam ngộ nhiều nhất”.
Lại nhảy sang trang khác: “Mẫu Thân Hà Thanh”
– Hỡi mẫu thân Hà Thanh, mẫu thân tên thật là gì?
– Tên thật của tao là Lục Hà.
– Hỡi mẫu thân Lục Hà! Lúc mẫu thân đẻ con ra đời, mẫu thân cảm thấy thế nào?
– Tao cảm thấy rất đau lòng.
– Tại sao đau lòng?
– Vừa mới sinh mày ra đời, mày đã già nua đến thế, làm sao tao còn có thể ẵm mày vào lòng cho mày bú, hử con!”
Và bài “Khổng Tử Bảo Rằng”
Phàm bọn nào làm thơ quá hay. bọn đó không thể nào sống tới tuổi trung niên. Nếu có một thằng trung niên thi sĩ nào thật sự thiên tài, thì ấy có lẽ rằng nó là ma chăng? Là quỷ chăng? Là chèng đét toi đâm chăng? Ta muốn chẳng nói. Dư dục vô ngôn. Nhưng nhà ngươi đã hỏi, thì lẽ nào ta giả điếc giả câm?
Ông đã cà rỡn trong bài “Giọng Quảng Nôm nói ngọng: Bùi deng Doáng”
Doáng booao diêu tuổi Doáng giòa
Điêng booao diêu tuổi gọi lòa điêng non
Người còn thì của hãy còn
Còn thèng Bùi Doáng hãy còon cái điêng.
Ông đã không còn nhưng người còn thì vẫn còn mãi nhắc đến tên ông, đến những câu thơ “vui buồn huê dạng chẳng có bút mực nào tả đủ”.
Đã bảo không bút mực nào tả xiết thì hà cớ gì mãi vòng vo?
Chẳng cho lần khân thì sau rốt thưa thốt hơi cuối. Ấy là mượn đỡ bài “Viết Thư” để cửa đóng then cài vậy:
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Mùa Xuân 1975 tôi đang làm “ngoại trú” cho chương trình năm thứ năm Y Khoa – Cũng tựa như chương trình thực tập “nột trú” tại Hoa Kỳ. Vào cuối tháng Ba, tôi đang đến phiên làm ở bệnh viện Cơ Đốc, Saigon. Cũng như mọi người khác, tôi cảm thấy tình hình xuống dốc. Nhưng cho đến ngay lúc ấy, tôi vẫn không bao giờ tin là miền Nam sẽ sụp đổ và đầu hàng. Tệ nhất, tôi nghĩ Saigon có thể mất, có thể bị miền Bắc chiếm đóng tạm thời, nhưng sau một thời gian ngắn, mọi sự sẽ trở lại bình thường thôi.
Giữa tháng Tư, mỗi lúc người ta càng quan tâm hơn đến việc di tản các nhân viên trong bệnh viện chúng tôi. Tùy viên quân sự Hoa Kỳ, tướng Homer Smith ký giấy cho phép 175 người ra khỏi nước. Phần bảo trợ được ký trống để nhập nội Hoa Kỳ. Nhưng con số 175 không đủ cho số người muốn di tản. Vì thế chúng tôi đã tìm cách đưa nhiều người đi hơn với biện pháp tải thương. Chúng tôi băng bó một số người muốn đi, cho vào xe cứu thương. Chúng tôi cho xe mở còi hụ lái ra phi trường. Với biện pháp ấy lính gác cho vào, không khám xét gì. Nếu họ khám các bệnh nhân và tìm ra chuyện đóng tuồng, chắc chắn không ai đi nổi. Khi qua cổng phi trường, lập tức chúng tôi cho bệnh nhân lên các chuyến bay tải thương. Những chuyến bay này sẽ chở tất cả sang Phi Luật Tân.
Tôi còn nhớ có một bác sĩ với vợ ba con, tất cả đều khoẻ mạnh. Chúng tôi quấn băng, bó bột cho mấy đứa trẻ, còn giả vờ đặt cả ống truyền nước biển, chúng tôi đã đưa họ vào cổng phi trường bằng cách ấy. Nhưng rồi phải đợi máy bay. Trong lúc đợi, mấy đứa bé bó bột buồn tình ôm cả bông băng chạy quanh chơi đùa nghịch phá. Trong phi trường có lính gác. Tôi phải bảo bà mẹ nói mấy đứa trẻ im mồm, quay lại giả vờ ốm, không thì hết đi.
Chúng tôi thường cho khoảng hai mươi người vào trong hai hoặc ba xe cứu thương để cùng chạy ra phi trường. Các y tá, bác sĩ cùng đi theo để di tản với họ. Bằng biện pháp này, chúng tôi đã đưa đi được hầu hết những nhân viên muốn đi. Còn những người khác không đi bằng cách tải thương thì được cho vào danh sách 175 người có bảo trợ tại Hoa Kỳ.
Hình minh họa
Tất nhiên càng nhiều người đi thì số nhân viên bệnh viện càng hẹp lại, số bệnh nhân chúng tôi săn sóc cũng vậy. Hôm 24 tháng Tư, chúng tôi cho sáu bệnh nhân cuối cùng ra về. Đến hôm ấy, tôi vẫn chưa định đi. Lúc nói chuyện với bác sĩ Trưởng thường trú, ông bảo nếu tôi muốn ra đi thì tôi có thể đi chuyến bay lúc mười một giờ đêm. Như vậy phải có mặt tại nhà thương trước năm giờ chiều. Quá giờ ấy nếu không có mặt, xem như không muốn đi. Tôi hỏi tôi có thể mang theo con trai tôi được không. Ông bảo chỉ mang theo con trai thì được. Lúc ấy nhà tôi và tôi đã ly thân. Con tôi được mười tuổi. Khi nói chuyện về việc ra đi là đã ba giờ trưa. Như thế tôi chỉ còn hai tiếng đồng hồ để quyết định.
Tôi cố tìm người biết chuyện để hỏi ý kiến nếu Saigon mất, tình thế ra sao. Tôi cần nói chuyện để dứt khoát đi hay ở. Cuối cùng gặp người bạn học, cô ấy khuyên tôi nên đi. Tôi hỏi thế chị có đi không. Cô ấy bảo cô ấy là con cả, gia đình đến mười chị em, phải ở lại đỡ đần gia đình. Nhưng cô bạn tôi bảo nếu ở hoàn cảnh tôi, cô ấy sẽ ra đi. Sau khi nói chuyện với người bạn, tôi quyết định đi.
Trở về nhà. tôi nói chuyện với mẹ tôi rất ngắn ngủi. Lúc ấy mẹ tôi đương ốm. Tôi bảo mẹ tôi là con quyết định phải đi. Mẹ tôi khóc. Tôi băng qua đường, bảo em tôi và gia đình tôi rằng tôi sẽ mang con đi . Mọi người đều khóc.
Tôi lấy xe gắn máy chạy vào Khánh Hội, mất ba mươi phút. Tôi muốn đến chào ba tôi, lúc ấy đang làm việc ở đấy. Khi nghe tôi nói, ba tôi đứng sững. Ba tôi bảo: “Sao con không mang thằng cháu nội của ba đến đây. Nếu nó đi với con thì chắc đây là lần cuối ba được nhìn thấy nó”. Quả thật, đây là dịp cuối cùng mà ba tôi có thể gặp cháu nội. Ba tôi đã mất trong lúc mẹ con chúng tôi ở Hoa Kỳ.
Tôi bảo: “Ba ạ, con vội quá nên con quên”. Tôi đã bận bịu sắp xếp giấy tờ, học bạ, và vài ba bộ quần áo. Tôi ôm lấy ba tôi. Ba tôi và tôi cùng khóc. Rồi tôi chạy xe gắn máy về nhà đổi ít tiền, nhưng không đổi đâu ra được nữa. Tôi rời Việt Nam không một đồng xu dính túi.
Đêm mẹ con tôi rời Saigon, trời rất tối. Phi trường hết sức lộn xộn. Mãi đến lúc máy bay cất cánh mới dám chắc là đi được. Mẹ con tôi bay thẳng sang Guam vì bấy giờ chính phủ Phi Luật Tân không còn cho các chuyến bay Việt Nam vào nữa.
Tôi đến đảo Guam lúc Saigon đã mất ngày 30 tháng Tư. Nghe tin trên máy truyền thanh, chúng tôi đều khóc. Chúng tôi nghe tường thuật việc quân đội miền Bắc tiến vào thành phố bằng chiến xa, đi qua đường Thống Nhất vào chiếm Dinh Độc Lập. Trong tâm trí, mỗi chúng tôi đều có thể nhìn thấy hình ảnh ấy xảy ra. Chúng tôi hết sức đau buồn. Đêm hôm ấy, chúng tôi nói chuyện mãi về Việt Nam. Chúng tôi kể cho nhau nghe những chuyện chúng tôi nhớ, những gì chúng tôi yêu mến nhất ở Việt Nam. Chúng tôi nói với nhau rằng thật kinh ngạc khi miền Nam Việt Nam sụp đổ, việc ấy xảy ra như thế nào, có thể làm gì được để cứu vãn.
Nhưng quá muộn, chẳng còn có thể làm gì được. Đêm hôm ấy, tất cả những gì chúng tôi còn lại chỉ là hy vọng mà thôi.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.