Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Hình minh họa

Vũ Thị Kim Vinh

“Chúng tôi bật khóc khi nhận ra rằng: Thôi thế là xong”

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Năm 1961, mẹ tôi sinh tôi ở Tây Ninh rồi đưa tôi về Saigon. Chúng tôi là người Công giáo. Cha mẹ tôi có mười người con, tôi là con giữa. Tôi có sáu chị lớn, hai anh trai và một em gái. Bây giờ tôi chỉ còn lại một anh trai. Một người đã mất vì chứng sưng ruột mà anh bị từ lúc còn ở trong trại tỵ nạn Mã Lai. Vượt biên đến Trại, anh đã mổ một lần tại đây. Sang Mỹ, mổ thêm năm lần nữa, chết lúc hai mươi bảy tuổi.

Tôi vẫn còn nhớ chiến tranh diễn ra từ khi tôi còn bé, vì tôi thường được mẹ tôi đưa đi thăm ba tôi, lúc ấy ở trong quân đội, đóng tại tỉnh Bình Dương. Lúc còn bé, có lần đau nặng, tôi đã xuống ở với ba tôi vài tháng để nhờ các Bác sĩ Quân Y săn sóc cho tôi. Những gì làm tôi nhớ nhiều đến cuộc chiến và những hiểm nguy của cuộc chiến là vào năm 1968, khi Cộng sản tấn công trong dịp Tết. Lúc ấy gia đình tôi đang ăn trưa, cha tôi nhận điện thoại của ông Tướng bảo phải trở về đơn vị ngay lập tức. Mọi người trong gia đình đều lo lắng vì đang dịp Tết, ai nấy đang vui Xuân. Chỉ còn mẹ tôi bên cạnh, chúng tôi đều lo sợ cầu cho cha tôi được tai qua nạn khỏi. Mẹ tôi hết lòng khấn nguyện. Cha tôi lúc ấy là Trung tá trong quân đội.

Tôi rất hãnh diện về cha tôi. Ông hồi hưu từ trước 1975. Sau những trận đánh 1968, ông đã nhận được nhiều bằng tuyên dương công trạng của Tổng thống Nixon và của tướng Westmoreland, bởi chính ông là người đã lấy lại tỉnh Bình Dương, mở đường cho các đơn vị khác, do đó Cộng sản bị đánh bại. Ông là người rất can đảm. Sau đó xin về hưu, ông nghĩ mọi chuyện dây dưa quá nhiều đến chính trị. Cha tôi đã du lịch nhiều nơi. Ông nói được tiếng Anh, tiếng Pháp. Ông không xa lạ gì với đất Mỹ vì ông đã từng được đi huấn luyện ở Mỹ.

Khi dư luận xôn xao về những chiến thắng của Cộng sản vào năm 1974 và 1975, chúng tôi không lo lắng vì lẽ cha tôi tỏ vẻ không quan tâm. Cả đến khi họ tiến tới gần Saigon, chúng tôi vẫn không lo, cha tôi tin Cộng sản sẽ chẳng bao giờ thắng nổi.

Chị tôi lấy một người chồng, anh này có một người cha giàu có. Cha anh quen biết nhiều sĩ quan cao cấp trong chính quyền ông Thiệu, biết rõ tình hình xảy ra. Anh rể tôi khuyên cha tôi nên thu xếp tiền nong, gói ghém quần áo ra khỏi Việt Nam vì lẽ đã tuyệt vọng rồi, đồng minh không giúp chúng tôi nữa. Lúc ấy khoảng đầu tháng Tư. Cho đến 21 tháng Tư chúng tôi vẫn tin là với một quân đội và binh lính mạnh mẽ, không cách gì thua được. Mặc dầu chúng tôi không ưa chính quyền ông Thiệu, nhưng chúng tôi cũng chẳng thích gì Cộng sản. Chúng tôi đâm ra bối rối. Nghe dư luận bảo Cộng sản sẽ tiến đến thiết lập một chính quyền mới, nhưng chúng tôi chẳng còn gì khác để tin, chẳng có một đường lối nào ở giữa để chiến đấu. Mặc dầu chúng tôi đã chiến đấu, nhưng đó chỉ vì bó buộc mà phải chiến đấu thôi.

Hình minh họa

Chúng tôi đều đã chán ngán chiến tranh. Chúng tôi sợ cho gia đình và tính mạng lâm nguy nếu Cộng sản chiếm đóng. Và vấn đề là, đến giữa tháng Tư, thì những người quan trọng trong chính quyền bắt đầu di tản cả. Điều ấy làm cho mọi việc náo loạn, kinh hãi. Sau đợt di tản đầu tiên, nhiều người đã trở nên hoảng hốt.

Chú tôi làm việc cho ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến. Ông xếp đặt cho những người rời khỏi nước, đưa họ ra phi trường lên máy bay. Khi mất Ban Mê Thuột, rồi mất đến Nha Trang thì mọi người thất kinh. Gia đình tôi bắt đầu kiếm đường đi, chỉ vì thấy ai cũng đi cả. Quan niệm gia đình Việt Nam là quan niệm gia đình mở rộng, họ hàng gần gũi thân thiết nhau. Nếu gia đình này đi mà gia đình khác không đi, người ta thấy vắng vẻ buồn bã vì không có thân nhân bên cạnh, cho nên người này đi, người khác cũng đi. Nhưng gia đình tôi bị kẹt, chính vì có quá nhiều lựa chọn. Một người chị tôi làm cho ngân hàng Mỹ. Chị cho biết ngân hàng của chị sẽ di tản nhân viên, họ sẽ cho chị mang theo một người nữa. Gia đình tôi quyết định cho một chị nữa đi cùng. Và rồi một người chị khác, là người lấy chồng con nhà giàu, cũng muốn mang con đi. Bà chị này đi sớm hơn, ra đến Tân Sơn Nhất mới biết hễ ai lọt qua cổng phi trường là đi được, không hạn chế gì. Chị ấy cố tìm cách điện thoại kêu chúng tôi đi, nhưng điện thoại tại phi trường kẹt. Cả một hàng dài người đứng chờ nên không thể nào gọi được. Nếu chị ấy gọi được, có lẽ chúng tôi đã cùng đi được với chị ấy rồi. Chị có đứa con tám tháng, lại thêm đứa nhỏ của người chị khác nữa, cứ phải lu bu cho bú. Đêm hôm ấy, chị bay được sang Guam. Sau đó gia đình tôi bắt đầu gặp hết chuyện này đến chuyện khác. Người anh rể tôi trở về nhà thì cha mẹ anh ấy đã đi cả mà không hay. Anh hoảng hồn tìm đến chúng tôi. Bấy giờ anh đang ở trong Không quân, lại về Saigon không giấy phép. Chúng tôi phải đưa anh trốn rồi tìm đường cho anh đi trước.

Người chú làm ở ủy Hội Kiểm Soát Đình Chiến cố giúp đưa tên anh vào danh sách. Nhưng nhiều người biết anh là con triệu phú, người ta nghĩ anh phải mang nhiều vàng và đô la lắm nên có người báo cảnh sát. Anh ấy là phi công. Bấy giờ luật không cho quân nhân được rời Việt Nam không giấy phép, nên nếu anh bị bắt thì có thể bị bắn không cần xét xử gì. Anh bị bắt ngày 27 tháng Tư, vì thế chúng tôi kẹt lại. Mẹ tôi là người rất tử tế. Một người đàn bà can đảm với trái tim vàng. Đôi khi bà lo lắng cho người khác còn hơn cả cho con đẻ của mình. Thấy anh rể tôi bị bắt, mẹ tôi bảo bà chỉ chịu đi khi nào thấy tận mắt anh rể tôi lên được máy bay.

Hôm 28, chị tôi – vợ của anh phi công , ra đi. Chị có thai nên đi trước. Mẹ tôi hỏi tôi có muốn đi theo săn sóc cho chị không. Tôi trả lòi tôi muốn, nhưng em tôi lại thân với chị tôi hơn. Nó khóc khi thấy chị tôi đi. Vì thế tôi đã rất ngu mà bảo nó thay chỗ tôi mà đi. Quyết định này làm tôi phải trả giá năm năm dưới chế độ Cộng sản.

Tất cả những vấn đề lôi thôi gây ra là do chú tôi. Đáng lẽ phải lo cho bà con đi trước, ông lại lo cho những người giàu có hơn, họ trả ông vàng và đô la, vì thế ông đã trì hoãn những chuyến đi của chúng tôi để sắp đạt cho các người lạ đi thế vào. Tôi không trách chú tôi vì ông cần tiền, ông phải lo cho gia đình, và chẳng biết ngày sau sẽ ra sao. Phần ông cũng định sẽ đi sau chót. Một hôm về nhà ông nói: “Trời ơi! Hôm nay có tới ba chỗ trống người ta bỏ chuyến đi. Đáng lẽ em có thể xếp cho chị đi được”. Mẹ tôi rất giận, hỏi sao chú lại đối xử với chúng tôi như thế. Chú tôi chỉ bảo chú không có thì giờ. Chính chú tôi cũng bị kẹt. Hôm 29 là ngày cuối cùng, chú về nhà khóc mà nói: “Tuyệt vọng rồi”. Mẹ tôi kinh hoàng hỏi chú tại sao. Chú tôi đáp các nhân viên ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã đi hết, chúng tôi không đi được.

Hình minh họa

. Ở Tân Sơn Nhất người đông quá, chú không lọt qua nổi. Các nhân viên khác không đợi, họ đã đi cả.

Chị tôi bèn gọi cho người bạn làm ở Tòa Đại sứ Mỹ, nhưng điện thoại đã cắt, nên chúng tôi tới thẳng Tòa Đại sứ. Hôm ấy là 28, một đám đông đang vây quanh khu này. Người ta la thét, khóc lóc, xô lấn nhau tìm cách vào cổng. Bấy giờ lại có những người biết gia đình nào đã đi thì họ tràn vào nhà hôi của: lấy tủ lạnh, bàn ghế V..V… Bọn hôi của có thể là bất cứ người nào trên đường phố.

Đến Tòa Đại sứ, chúng tôi biết chẳng cách nào vào được. Bây giờ tôi không thấy sợ hãi, chỉ bực bội giận dữ, và tê hết cảm giác. Tôi cứ nghĩ “Thế này thực không công bằng”. Tôi không thể hiểu vì sao mọi chuyện đã xảy ra với dân tộc tôi như thế. Nhưng ai có thể nói là có công bằng trong cuộc đời này?

Tôi còn nhớ lúc ấy trời mưa, cha mẹ tôi bảo không thể nào đứng đợi mãi, nên chúng tôi quay về kiếm đường khác. Chúng tôi cần về nhà cũng vì cũng lo bọn hôi của có thể đến nếu họ thấy chúng tôi đi lâu quá. Nhưng khi về nhà rồi, cha tôi không muốn đi nữa. Bà nội tôi vẫn còn ở ngoài Bắc, tôi biết cha tôi muốn gặp lại bà. Ông bảo thôi bất kể chuyện gì xảy ra, ít nhất cũng được gặp lại mẹ và các chị em của ông. Nhưng mỉa mai thay, cha tôi sẽ không bao giờ có dịp gặp lại bà tôi. Ông bị đi “cải tạo”, và bà nội tôi mất trong khi ông hãy còn đang cải tạo.

Ngày 29 chúng tôi mở truyền hình xem chương trình cuối cùng của chính phủ tự do. Chúng tôi nghe ông Vũ Văn Mẫu lên án người Mỹ, yêu cầu người Mỹ ra khỏi xứ. Chúng tôi thấy một người trong đám sinh viên cấp tiến từng bí mật hoạt động cho Cộng sản nay mới ra tù, lên tuyên bố rằng: “Bây giờ là lúc thanh niên sinh viên học sinh hãy sửa soạn đón chào niềm vui mới. Niềm vui thống nhất đất nước Việt Nam”.

Lúc ấy tôi ngây thơ hy vọng người ta sẽ không phản bội lời nói mình. Tôi nghĩ những người bên kia cũng yêu nước, như thế có lẽ mọi sự cũng ổn thoả thôi.

Sáng sớm 30 tháng Tư, tôi không thấy có quân đội nào trên đường phố. Chừng chín giờ sáng mở máy phát thanh thì nghe tướng Minh kêu gọi quân đội ngừng chiến đấu. Ông tuyên bố cuộc chiến chấm dứt.

Chừng buổi trưa chúng tôi thấy bộ đội Cộng sản đi xe Jeep có cắm cờ chạy qua nhà tôi. Điều đầu tiên sau khi thấy họ là chúng tôi đi thay quần áo. Chúng tôi đều đổi sang mặc quần áo đen. Dư luận nói họ không thích thấy ai ăn mặc tử tế vì lẽ như thế chứng tỏ có tiền, sẽ bị họ giết. Tướng Minh tuyên bố ông không còn là Tổng Thống nữa. Chúng tôi bật khóc khi nhận ra rằng thế là xong. Cha tôi cũng khóc.

Tôi là người đem đốt tất cả giấy tờ văn bằng mà cha tôi đã nhận được do người Mỹ và do chính phủ cấp, các giấy tờ do ông Thiệu, do Nixon và tướng Westmoreland đã gửi cha tôi để cám ơn về các công tác ông đã thực hiện. Tôi cũng đốt hết các hình ảnh cha tôi vẫn giữ làm kỷ niệm. Tôi bật khóc. Tôi lên sân thượng, thấy chiếc máy bay cuối cùng rời khỏi nước, một chiếc DC-3. Tôi thấy cái máy bay cố cất cánh, rồi bùng nổ trong không trung. Tôi thấy rõ một cái hỏa tiễn bắn trúng, cái máy bay bùng nổ. Tôi thấy những mảnh vụn và những thây người rơi ra ngoài trời rồi rơi xuống đất. Đó là buổi sáng ngày ba mươi.

Chúng tôi cũng thấy một chiếc trực thăng quần trên ngôi nhà một Bác sĩ quân y, cũng là Giám đốc quân y viện. Chiếc trực thăng cố bốc ông Bác sĩ ra đi, nhưng cái dây hơi ngắn, thả xuống không đủ, ông không sao lên được. Chiếc trực thăng quần trên ngôi nhà một lúc, nhưng ông Bác sĩ không vào nổi, chiếc trực thăng bay đi, bỏ ông lại. Bao nhiêu người đang cố tìm đường đi, đây là người có phương tiện ra đi, nhưng không vào trực thăng được. Sau ngày 30, người ta vẫn có thể rời khỏi Việt Nam khá dễ dàng. Nhưng kẻ chiến thắng vẫn còn bận ăn mừng nên đã không kiểm soát mặt biển kỹ càng. Cha mẹ tôi cố tìm cách trả tiền kiếm tàu đi. Nhưng trên đường, cha mẹ tôi gặp mấy người lính Cộng sản đi nhờ xe. Cha mẹ tôi nói chuyện với họ, họ nói mọi sự yên ổn, sẽ không có chuyện tắm máu đâu. Cha mẹ tôi hỏi thăm về việc nghe nói những người ở trong quân đội sẽ phải vào trại tập trung, họ bảo: “Không! Không có đâu! Mọi sự sẽ yên ổn thôi”.

Hình minh họa

Rồi họ kể cho chúng tôi nghe con gái ở ngoài Bắc ăn mặc đẹp còn hơn con gái trong Nam như thế nào. Họ bảo chẳng có chuyện trả thù: “Đừng biến chúng tôi thành những con quỷ, chúng tôi không phải thế đâu”.

Nhưng rồi ngày mùng Một tháng Năm là một ngày rất buồn. Một ngày nặng nề u ám. Điện tắt nhưng Cộng sản không sửa được. Chúng tôi nghe trên đài phát thanh một giọng nói miền Bắc to và sắc buốt của người xướng ngôn viên lên án Mỹ và những người cộng tác với Mỹ. Anh ta hạ nhục chúng tôi bằng cách nói chúng tôi là lũ đầy tớ, lũ chó săn của chính phủ Mỹ, bởi chúng tôi đã hoạt động với họ trong công tác chống Cộng. Chúng tôi hết sức tổn thương khi nghe như thế.

Việc đi ra phố hãy còn nguy hiểm vì người ta vẫn thường đột nhập vào nhà, nếu họ tưởng người nhà đã di tản cả. Tình trạng hết sức rối loạn. Nhiều người có súng đã cướp ngay trên đường phố, gây một bầu không khí cực kỳ kinh sợ.

Tôi đạp xe đạp ra đường thấy vài người lính miền Nam. Họ vừa lột bỏ đồng phục vừa khóc. Người ta thấy họ và trong lúc giao thời mới cũ này, có người đã xua đuổi lính miền Nam để lấy điểm với chính quyền mới. Bấy giờ tôi là một đứa bé, nhìn thấy thế tôi thật ngượng ngùng. Tôi phát tởm khi chứng kiến cảnh tượng ấy. Rồi cũng chính những người này đã đi hoan hô lính Cộng sản. Họ ôm lấy lính Cộng sản như những người anh em thất lạc lâu ngày. Tôi thật ngạc nhiên khi nhìn thấy thế, và cảm thấy không vui vẻ gì.

Vào thời gian này nếu gia đình nào có bà con làm cho chính quyền miền Bắc, dù chỉ một tên lính quèn, người ta cũng cảm thấy ít nhất là được an toàn. “Đấy, gia đình chúng tôi cũng có người chiến đấu chống miền Nam”. Tâm lý ấy làm chúng tôi rối rắm, bởi vì trước đó chẳng ai dám nói có quen người miền Bắc hoặc có thân nhân trong quân đội bên kia. Chẳng ai bảo ai nhưng rồi tức khắc người ta đã biết phải làm gì: Chợt một cái, nhà nào cũng treo cờ Việt Cộng. Cờ Việt cộng trở thành một cái thẻ an ninh hoặc một tín chỉ có thể cứu mạng người ta. Nhà nào cũng phải có một lá cờ. Tôi trở nên sợ hãi bởi vì mọi người quá sợ hãi gần như mất lý trí. Người ta không còn nghĩ được nữa. Tôi có một cái áo xanh mà tôi rất thích, nhưng chúng tôi đã phải xé ra làm cờ. Tôi khóc khi làm như thế, tôi nhớ lại mình thật kỳ khôi. Anh tôi là tay thể thao, ảnh có một cái quần đùi màu vàng. Chúng tôi xé ra để cất một ngôi sao may lên cái cờ treo trước nhà. Khi lá cờ treo lên rồi, gia đình tôi mới cảm thấy yên. Người nào cũng phải làm thế, bầu không khí sinh hoạt đã khác lạ lắm. Chợt một cái, mọi người đều nhìn ngoại giới với một nhãn quan khác hẳn.

Những người giải phóng sử dụng một ngôn ngữ lạ lùng – mặc dầu vẫn là tiếng Việt. Nhiều người bắt đầu bắt chước giọng ấy. Thật lạ lùng. Sau một tuần lễ, họ chia chúng tôi thành khu vực, mỗi khu vực có một ủy viên Chính Trị. Họ giảng về chủ nghiã Mác Xít, Lê Nin nít và chúng tôi phải thảo luận trong các buổi họp. Thật nhục nhã. Trong các buổi họp này họ bắt chúng tôi phải phê bình kiểm thảo lẫn nhau. Ngay cha tôi cũng phải kiểm thảo trong buổi họp này. Ông nói ông đã giết người vô tội, nhưng tôi biết ông chẳng giết ai vô tội cả. Nếu ông không giết chúng, chúng sẽ giết ông. Thế mà ông đã phải nói rằng ông là người có tội, ông xin khoan hồng về việc “giết người vô tội”. Tôi chứng kiến cảnh cha tôi khóc trước mặt mọi người. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi thấy cha tôi khóc. Chính tôi cũng phải làm như thế. Tôi cũng đã phải nói rằng tôi không đồng ý cách sống của cha mẹ tôi. Việc này xảy ra sau khi nghe cán bộ nói về chủ nghiã Mác, Lê, nói về sự nghiệp hy sinh của miền Bắc giải phóng miền Nam. Cho nên tôi đã buộc phải nói rằng tôi rất thù ghét những người như cha mẹ tôi về những gì họ đã làm. Tôi đã nói như thế, chỉ để mong được sống còn.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Hình minh họa

Trần Trâm

“Nhìn họ kìa, toàn những thiên thần”

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Tôi chưa bao giờ từng thấy quê hương tôi có hoà bình. Lúc nào cũng chỉ thấy lính, hoặc lính Việt, hoặc lính Mỹ. Bấy giờ tại Saigon, xóm tôi có hai căn nhà to lớn, kín cổng cao tường, bên trong có hồ bơi và đủ các tiện nghi giải trí. Người ta gọi đây là những biệt thự cho Mỹ ở. Những cánh cổng luôn luôn khoá kỹ. Thỉnh thoảng vài người Mỹ mở cổng cho những người Mỹ khác ra vào, rồi cánh cổng lại đóng chặt. Tôi nhớ khi còn nhỏ tôi vẫn tò mò đến nhìn. Họ có nuôi những con chó to để canh gác. Mỗi lần cửa mở, bọn trẻ lảng vảng đến gần nhòm ngó, nhưng khi chó ầm ĩ sủa thì ù té chạy. Đó là một trò chơi cho bọn chúng tôi. Đó là một nơi đầy bí mật. Và đối với lính Mỹ, lũ trẻ con cũng rất thân thiện. Chúng tôi thường vẫy tay mà nói “Hê lô, Salem”, như tên thuốc lá vậy. Họ cũng tươi cười vẫy tay. Lúc ấy chúng tôi ré lên mà chạy. Tôi kể cho ông nghe chuyện ấy bởi vì cuối cùng, khi đi khỏi Việt Nam, tôi đã từng rất ghét Mỹ. Những cảm xúc của tôi trải qua trạng thái biến đổi ngược ngạo chỉ trong thời gian ngắn, và tôi không biết chính xác tại sao đã xảy ra như vậy.

Cha tôi làm ăn với Mỹ bằng nghề may cờ. Một hôm, có mấy người Mỹ đến đặt cha tôi may khá nhiều cờ cho các đơn vị của họ. Họ muốn thêu hình con chó Snoopy lên mấy lá cờ. Họ đưa cho cha tôi xem tấm hình con chó Snoopy. Cha tôi bảo cái hình này xấu quá, người vẽ này chả biết vẽ con chó ra làm sao. Nên ông bảo để đó, ông sẽ vẽ lại. Lúc đầu, mấy người Mỹ đồng ý. Suốt ba, bốn ngày sau cha tôi cặm cụi vẽ một loạt hình đủ thứ chó. Rất giống. Con nào con nấy đều dữ dằn để thêu lên mấy lá cờ. Ông đắc ý, chắc mẩm họ phải thích công trình của ông lắm, những cái hình này giống hệt như chó thật. Nhưng mấy người Mỹ không thích chút nào. Họ kêu lên: “Không phải! Chúng tôi muốn con Snooopy kia!” Cha tôi không thể hiểu tại sao họ thích cái hình một con chó như thế. Chó mà chẳng giống chó, tức cười quá. Dầu bất mãn ra mặt, ông vẫn phải đồng ý làm cho họ một loạt cờ khác với hình chó Snoopy. Sau này cha tôi bình phẩm rằng bọn Mỹ không thích người Việt. Chúng không biết kính trọng các binh sĩ Việt Nam đang chiến đấu dưới lá cờ của họ. Bọn Mỹ có thể xông pha ra chốn hiểm nghèo để chết cho con chó Snoopy, chứ không phải cho người Việt Nam.

Rồi họ lại đặt ông làm một lá cờ Mỹ cỡ lớn. Cha tôi nghe nói hai Tiểu bang Hawaii và Alaska đã nhập vào Hiệp Chủng Quốc, ông muốn làm cho họ một lá cờ tân tiến, gồm đủ các tiểu bang mới. Cho nên ông cẩn thận cải tiến tấm hình lá cờ Mỹ họ giao cho ông. Ông nghĩ tổng cộng có 52 tiểu bang thì phải mang đủ 52 ngôi sao. Suốt mấy đêm, ông thức trắng để xếp đặt 52 ngôi sao cho được cân đối. Khi mấy người Mỹ đến nhận hàng, họ thấy có chuyện trục trặc, nhưng loay hoay chẳng rõ tại sao. Họ đếm mấy ngôi sao. Té ra có tới 52 ngôi sao tất cả, nhưng đành lấy vậy. Cho nên, lúc ấy ở một chỗ nào đó tại Việt Nam, có những người Mỹ đã treo lá cờ 52 ngôi sao cả thảy mà đứng chào.

Hình minh họa

Cha mẹ tôi là người Bắc di cư, rất chống Cộng. Người miền Bấc biết rõ Cộng sản, họ đã sống dưới chế độ ấy. Phần tôi mặc dầu nghe nói Cộng sản, Cộng sản, nhưng chưa bao giờ thấy mặt mũi Cộng sản ra sao, cho đến trước khi chiến tranh chấm dứt. Tôi cũng nghe những chuyện Cộng sản hay lén lút vào thành phố bí mật phao tin đồn, nhưng tôi chưa gặp gỡ tiếp xúc Cộng sản bao giờ. Tôi cũng chưa bao giờ nhìn thấy một xác chết nào tại Saigon cả. Gia đình tôi là một gia đình âm nhạc, chỉ vì thích âm nhạc, chứ không hẳn giỏi nhạc. Sài gòn bấy giờ có một Nhạc sĩ nổi tiếng là ông Lê Văn Khoa, ông đã để ý đến gia đình tôi, vì các cô tôi thích nhạc. Ông sử dụng hết mọi người trong gia đình tôi vào các sản phẩm âm nhạc của ông. Ông dạy một số bản nhạc cho tất cả lũ trẻ chúng tôi, các cô tôi, cả mẹ tôi. Ông dạy chúng tôi một số bản vũ cổ truyền Việt Nam. Chúng tôi cũng tự chế ra một số bản vũ riêng. Thế rồi ông đưa tất cả chúng tôi đến các nhà thương, lúc đầu ở Saigon; sau, ra các vùng quê, nơi quân đội đóng. Chúng tôi đi đến các địa điểm mỗi lúc một xa Saigon hơn để giải trí cho binh sĩ. Có những bệnh viện ở các vùng quê chỉ là những dãy lều được dựng vội lên cho các thương binh.

Thỉnh thoảng chúng tôi đi trực thăng, đôi khi bằng xe Jeep. Đến những nơi đó, chúng tôi đều được giới thiệu với các thương binh, các bác sĩ mặc đồng phục. Đa số thương binh không bị nặng lắm, và đang bình phục. Những người đang bình phục thường đến lều thăm chúng tôi, đôi khi chúng tôi cũng đến tận lều họ để cho họ phấn khởi. Chúng tôi thường hát những bài ca vui tươi và luôn luôn được mọi người tán thưởng. Tôi cảm thấy đây là giai đoạn lãng mạn nhất đời tôi. Tôi cảm thấy mình là một thiên sứ mỗi khi trình diễn trong bộ đồng phục học sinh hoặc trong bộ quần áo trắng tinh. Tôi luôn luôn thích quần áo màu trắng vì tôi thấy mình như một nàng tiên bé nhỏ mỗi khi trình diễn.

Tuy nhiên, không khí ở đây làm người ta choáng váng. Mùi hôi hám bốc lên khủng khiếp, thường trời rất nóng. Nhưng tôi vẫn không để ý, vì tôi đã sung sướng ngất ngây khi được làm nàng tiên bé nhỏ cho các chàng chiến sĩ. Nên một bên là nỗi buồn bã khi nhìn thấy cái đau đớn, bên kia chúng tôi đóng vai vui sướng để tạo ra và tiếp nhận nguồn vui.

Ở Việt Nam, tuổi thơ được xem là thời gian của niềm vui và hạnh phúc. Những chiến sĩ muốn tin rằng vì sự hy sinh của họ, vì sự đau đớn của họ mà các thiếu nhi Việt Nam vẫn được sung sướng. Cho nên tôi đáp ứng lòng mong ước ấy bằng cách rũ bỏ đau buồn của riêng tôi, mà dù trong thâm tâm cảm thấy, tôi vẫn không lộ ra cho họ biết.

Suốt thời thơ dại của tôi, tôi không biết chuyện gì khác ngoài chiến tranh. Trên một mức độ, tôi đã tự bảo cuộc sống là như thế, đời là thế, vì tôi nào biết một cuộc sống khác đâu. Trên lý thuyết, tôi có thể phỏng đoán: có lẽ còn có những gì khác nữa. Nhưng tôi luôn chịu đựng một nỗi buồn trong thâm tâm, tôi chấp nhận như chẳng thế nào còn cách khác. Khi đến Mỹ, thấy như chẳng ai buồn khổ, thì nỗi buồn riêng tư trong tôi lại càng thấm thía sâu đậm hơn. Đến nỗi, có lúc tôi từng muốn hủy mình. Tôi cũng đã nói chuyện với nhiều người khác muốn tự tử sau khi tới Mỹ. Tôi nghĩ nhiều người Việt Nam cũng có một tâm trạng như tôi, nhưng chỉ vì tự ái mà không nói ra thôi. Có một lần, trước buổi du ca của chúng tôi, chẳng may tôi đạp phải một cái đinh, sắp tham dự một buổi trình diễn lớn thì vết thương tấy mủ. Tôi bực bội vì muốn đi trình diễn mà vết thương đau quá. Cho nên tôi chịu đựng nó. Tôi sống với cái đau. Đến lúc đi, vết thương làm độc, trời nắng nóng, tôi đau và cái đau lộ liễu quá. Tôi cảm thấy lần đầu tiên trong đời tôi đã đau cái đau của những người lính. Tôi đau đớn mà vẫn phải giả tảng như không. Đấy, biết bao người lính đã sống cuộc đời như thế. Và tôi nghĩ, dầu hãy còn là một đứa bé con, tôi đã cố chia sẻ cái đau của những người lính trẻ. Lúc ấy thực khó khăn cho tôi. Tôi cảm thấy nỗi đau và những bất hạnh xảy ra khắp chung quanh, nhưng mọi người vẫn mong đợi ở tôi, một đứa bé gái vui tươi hạnh phúc.

Hình minh họa

Năm 1973 tôi nghe người ta đoán sau khi Mỹ rút, Việt cộng sẽ tấn công trở lại. Chẳng ai tin Việt Cộng sẽ tôn trọng Hiệp định Ba Lê. Có lẽ, Mỹ thì tin, ngoài ra chẳng ai tin cả. Sau khi Mỹ rút, hai căn biệt thự trong xóm tôi không còn lính Mỹ nữa. Bây giờ vẫn còn Mỹ ở, nhưng là Mỹ dân sự. Tôi tin Việt Cộng sẽ tấn công, nhưng tôi không sợ. Tôi luôn luôn tin phe chánh thắng phe tà. Tôi luôn luôn tin Cộng sản sẽ thua, và đến bây giờ mới nghĩ rằng quả đó chỉ là nhãn quan của đứa trẻ nhìn ra thế giới. Tôi đã được dạy rằng bên ngoài có một lực lượng tốt, đó là Hoa Kỳ. Họ giúp đỡ chúng tôi, đặc biệt vì chúng tôi là những người bị tấn công chứ chúng tôi không tấn công ai. Chúng tôi là những người bị xâm lấn. Dẫu cho họ có được một số trận chiến thì cuối cùng chúng tôi vẫn thắng thôi.

Vào năm 1975, hầu hết mọi người trong gia đình như các cô chú tôi đều đã ra đi từ đầu tháng Tư. Nhà cửa trống rỗng. Bà tôi bắt đầu đem đốt tất cả thư từ giấy tờ chứng tỏ chúng tôi có liên hệ đến chính quyền. Tất cả những gì Việt Cộng có thể thấy quá khứ chúng tôi, bà nhặt nhạnh đốt hết. Khi thấy bà lặng lẽ ngồi đốt giấy tờ, tôi hỏi bà ơi tại sao bà đốt. Bà không trả lời, nhưng rồi tôi cũng hiểu. Chúng tôi thiêu hủy mọi hình ảnh, tất cả, kể cả giấy tờ khai sinh. Bây giờ hồi tưởng lại, tôi vẫn còn nhớ căn nhà đã trở nên trống trải, nhiều người thân thích đã ra đi, những lá thư ra tro bụi, tất cả đã đổi thay hết cái không khí và tình cảm gia đình. Đó là lúc tôi ý thức được chúng tôi đã thua và chuyện ấy thực là trầm trọng.

Nhiều thân nhân tôi đã ra khỏi nước, đến được đảo Guam trên đường sang Mỹ. Mấy bà cô tôi làm cho Mỹ, tôi biết chắc chắn họ cũng sẽ ra đi. Những người ra đi không hề một lời từ biệt. Chỉ thấy một hôm, bỗng nhiên họ biến mất.

Tôi trở nên sợ hãi. Tôi nhớ tôi đã bật khóc vì không muốn phải đối diện với nỗi đe doạ Cộng sản tiến đến Saigon. Tôi lại còn sợ những gì đã xảy ra ở miền Bắc rồi đây sẽ xảy cho chúng tôi. Con người sẽ dòm ngó nhau, kiểm soát nhau. Trẻ con sẽ rình mò báo cáo cha mẹ. Cuộc sống mà chúng tôi đã biết trong quan niệm tự do rồi đây sẽ tan rã hết. Chúng tôi ngưng đến trường. Lúc nào cũng luẩn quẩn ở nhà vì giới nghiêm. Tôi được gia đình dặn kỹ là không được hở môi từ biệt ai, như thế nếu lỡ không đi được thì cũng không bị kết tội bỏ nước. Chúng tôi giữ mọi thứ bí mật.

Vào ngày gia đình quyết định đi, tôi đang ở trong nhà thờ. Cha mẹ tôi kiếm tôi khắp nơi không ra. Sáng hôm ấy tôi đến nhà thờ, ở lại suốt ba Thánh lễ Chủ Nhật. Cho nên cha tôi đành bảo mẹ tôi mang hết mấy đứa trẻ đi trước, ông sẽ cố đi sau với tôi. Lý luận của cha tôi là hai người sẽ có nhiều cơ may hơn là cả chín người túm tụm với nhau. Tôi rất sùng đạo. Suýt có lần đã trở thành nữ tu. Tôi rất sợ, và trong buổi rước lễ, tôi nghĩ tôi rất gắn bó với ngôi Thánh đường. Trong hai buổi lễ đầu, tôi đến giúp nhà thờ góp tiền quyên, rồi trong khi hành lễ, tôi coi hộ xe gắn máy cho các tín hữu khỏi bị mất cắp. Tới Thánh lễ thứ ba, tôi bước vào. Trong lúc đang ngồi, chợt một người bạn quen bước đến. Vừa thấy anh, đột nhiên tôi cảm thấy rồi đây chẳng bao giờ tôi còn được nhìn lại khung cảnh này nữa. Linh tính đã báo cho tôi biết. Tôi hiểu là anh tìm đến tôi.

Hình minh họa

Anh lại gần nói thầm vào tai tôi làm tôi đứng sững. Anh ta bảo “gia đình đang tìm cô”. Tức khắc tôi hiểu chúng tôi sẽ ra đi. Hôm ấy là Chủ Nhật 27 tháng Tư. Người bạn bảo lên xe gắn máy để anh chở đi, nhưng tôi từ chối. Tôi chạy một mạch về nhà. Tôi nhảy ngay lên chiếc xe Vespa của cha tôi, chúng tôi cố đuổi theo cho kịp những người trong gia đình đã ra đi. Suốt một tháng trường, chúng tôi đã gói ghém quần áo sẵn sàng để phòng bị ngày ra đi. Chúng tôi chạy đến một điểm đón xe buýt ra phi trường. Một người cô tôi đáng lẽ đã có thể đi từ trước, nhưng tình nguyện ở lại, cô biết nếu không có cô giao dịch mọi chuyện thì gia đình tôi không thể nào đi được. Cả gia đình tôi chắc chắn không cách gì ra đi, nếu cô không ở lại giúp đỡ chúng tôi.

Vài tuần lễ trước, một người cô khác bảo người cô này đến sở bà để dọn dẹp bàn làm việc của bà, rồi bất cứ có món gì đáng giá để lại cứ việc lấy. Vì thế bà cô này đã đến dọn dẹp cái bàn làm việc ấy. Tại văn phòng này có một ngưòi Mỹ vừa đến Việt Nam được có một ngày. Ông tưởng cô tôi là nhân viên trong văn phòng nên ông sai phái cô tôi đủ thứ việc. Chừng đến giữa ngày, ông hỏi cô tôi một số giấy tờ, cô tôi trả lời chẳng biết đâu. Ông ta quát mắng, bảo tại sao làm việc ở đây mà không biết gì. Cô tôi bảo là chỉ đến lau chùi hộ cái bàn làm việc cho người chị, chứ đâu có làm ở đây. Ông ta áy náy xin lỗi, nói với cô tôi rằng nếu cô chịu ở lại làm việc với ông thì bù lại, ông ta sẽ đưa cho cả gia đình ra đi.

Đó là nguyên do đã giúp gia đình tôi ra khỏi nước. Tôi vừa vui vừa buồn lẫn lộn. Buồn vì mặc dầu mới mười ba tuổi đầu nhưng đã đủ lớn khôn để hiểu việc rời bỏ đất nước ra đi là việc quan trọng đến đâu. Nhưng tôi cũng mừng vì tôi cảm thấy như thế là tôi sống sót.

Chúng tôi bắt kịp những người khác trong gia đình tại cao ốc, nơi xe buýt đến đón chúng tôi. Chúng tôi kẹt lại đó cho đến tận ngày 28. Chúng tôi ở trong cao ốc đợi, mãi đến sáu giờ chiếc xe mới tới. Chúng tôi suýt đã định về nhà nếu cha tôi không cản lại, bảo rằng ông đã mất công tìm kiếm mọi người suốt một buổi sáng. Cha tôi bảo tất cả phải ở lại, dẫu có ngủ đêm ở đấy cũng vẫn phải ở. Cách gì đi nữa, mọi người cũng phải ở sát bên nhau. Có một số người mất kiên nhẫn, họ đã ra về trước khi xe buýt tới.

Phi trường xảy ra vụ pháo kích đúng đêm 28. Người ta chạy túa ra núp ở mấy hầm cát. Nhưng cha tôi nói: “Bây giờ không được lạc nhau nữa. Nếu bom rơi trúng hầm cát thì cũng vậy thôi”. Do đó chúng tôi cứ chụm lại với nhau giữa trời đất. Chúng tôi không thấy máy bay, nhưng thấy lửa cháy và những vụ nổ tung lên.

Đối với trẻ con, chuyện đó rất kích thích. Tôi không đến nỗi quá sợ mà lại thấy hào hứng. Chỉ sau này khi đã đến Hoa Kỳ, sống trong cuộc sống an bình tôi mới bắt đầu nghĩ chiến tranh là chuyện bất thường. Nhưng lúc đó, chiến tranh là những gì rất bình thường đối với tôi, cho nên vụ pháo kích lại làm tôi sôi nổi.

Một năm sau khi đến Mỹ, chúng tôi tới phố Tàu ở San Francisco dự Tết Nguyên Đán, em tôi chợt vụt chạy, ré lên khóc. Lúc ấy em tôi mới năm tuổi. Nó vừa khóc vừa bảo: “Pháo kích! Pháo kích!” Tôi mới biết chuyện ấy chỉ hào hứng với tôi, nhưng với em tôi thì không hào hứng chút nào. Không phải chỉ có pháo kích mới làm tôi sôi nổi. Mọi thứ đã lẫn lộn pha trộn nhau trong những ngày tháng đó: Sướng vui pha lẫn kinh hoàng. Nửa này nửa nọ làm cho mọi cảm giác của tôi chia xẻ ra từng mảnh.

Đêm hôm ấy chúng tôi ở trong phi trường Tân Sơn Nhất. Ngày hôm sau, cuối cùng chúng tôi đi được bằng trực thăng. Chúng tôi thấy những người Thủy quân Lục chiến Mỹ từ trực thăng đổ tới phi trường. Tôi phải nói lính Thủy quân Lục chiến Mỹ rất đẹp. Tôi chăm chú nhìn khi họ đến. Bấy giờ ý nghĩ của tôi là: “Nhìn kìa! Toàn những Thiên Thần!” Đối với tôi, họ thực đẹp đẽ, bởi vì họ đã đến để giải cứu chúng tôi.

Cả gia đình chẳng ai biết nói tiếng Anh ngoài cô tôi, nên chẳng ai chuyện trò gì được nếu cô tôi không phiên dịch. Trong phi trường, người rất đông, tôi quan sát hết mọi gia đình. Việc quan sát các gia đình khác đối với tôi còn thú vị hơn là nghĩ ngợi về chính mình lúc bấy giờ.

Tôi thấy một bà bụng chửa rất to đi cùng với ông chồng. Mỗi lần di chuyển, lại thấy ông chồng nhét một mớ tiền dưới bụng bà vợ chửa, rồi dùng băng keo dán lại. Nhìn thấy như vậy khá mắc cỡ nhưng cũng thú vị. Đấy là lần đầu tiên trong đời tôi thấy rõ bụng đàn bà chửa, và thấy một người đàn ông lấy băng keo dán tiền dưới bụng bà. Bà ta chắc sẽ sanh đứa nhỏ trên tàu, vì lúc ấy bụng chửa đã lớn lắm rồi.

Hình minh họa

Đêm hôm ấy chúng tôi đổi chỗ hoài vì có nhiều đàn ông trong tuổi lính. Nếu Cộng sản đến, họ bị bắt, mà Cộng Hoà đến thì cũng chẳng tha. Ông xếp Mỹ của bà cô tôi lúc ở phi trường cũng tận tình săn sóc chúng tôi. Ông rất tử tế, nhưng tôi không nhớ được tên ông ta. Lúc ấy tên Mỹ đối với tôi xa lạ quá.

Trẻ em đều im lặng vì chúng tôi cảm thấy được là tình hình nghiêm trọng. Người Mỹ mang cho chúng tôi đồ hộp. Khi họ đi rồi, đồ ăn vung vãi khắp phi trường. Tôi còn nhớ một miếng phô mai to tướng bỏ lại. Trước kia mấy thứ ấy ở Saigon đắt kinh khủng, giờ đây trở thành miễn phí, chúng tôi ngấu nghiến ăn phô mai bằng thích. Lại còn cả những hộp súp mì gà hiệu Campbell. Đang đói lại được ăn thoả thích. Bấy giờ có một nhóm người đứng thành hàng để dọn súp mì gà Campbell cho chúng tôi ăn, nhưng chúng tôi không biết họ là ai.
Tôi chỉ có một túi nhỏ, nhưng khi ra đi, phải vứt cái túi lại vì trực thăng không chở nặng được. Nhưng lúc ấy tôi đã mặc hết vào người đến ba cái quần, ba cái áo. Cần nhất là phải lo đứng chung với nhau cho khỏi lạc. Bấy giờ em gái tôi mới lên bốn, đứa kế lên sáu. Khi người ta bảo chạy, tất cả mọi người trong gia đình chụm lại chạy, cả đứa em bốn tuổi cũng đã chạy rất nhanh. Nó hiểu chuyện ấy bấy giờ quan trọng đến đâu.

Chuyến trực thăng chở chúng tôi đi là chuyến cuối cùng. Đáng lẽ chúng tôi được đi với nhóm đầu nhưng vì chúng tôi quá bi quan về việc ra đi, nên khi người ta kêu tên, chúng tôi đã không lên chuyến bay đầu tiên. Vì thế chúng tôi phải chờ suốt ngày, người ta không kêu tên chúng tôi nữa. Chúng tôi vừa bắt đầu sợ không có tên trên danh sách thì một ngưòi Mỹ tiến lại hỏi. Cô tôi trả lời. Ông ta nói gia đình tôi đã được kêu tên trước rồi sao chưa đi. Vì thế chúng tôi được đi buổi chiều tối hôm đó.

Tôi đã từng đi hát cho lính bằng trực thăng nên đây không phải là lần đầu tiên lên trực thăng. Nhưng lần này tôi ý thức được là phút giây hệ trọng. Cả gia đình có mười ba người, gồm chín người trong gia đình trực tiếp,- tức là cha mẹ và các chị em chúng tôi – rồi thì cô tôi, bạn cô tôi và ông bà tôi bước vào chiếc trực thăng. Chúng tôi đã chờ lâu quá. Tôi nhớ khi chiếc trực thăng đầu tiên bay tới, người ta gọi người Mỹ đi trước, rồi đến lượt người Việt. Bấy giờ ai nấy đều lo bị bỏ, nhưng họ hứa. Họ bảo: “Đừng rối lên, chúng tôi sẽ trở lại đón quý vị”. Chúng tôi chờ khoảng một giờ nữa thì đột nhiên đủ các loại trực thăng bay tới trên đầu chúng tôi. Mọi người vỗ tay, vẫy, khóc, người thì cầu nguyện. Ai nấy đứng cả dậy, quá vui mừng.

Trước đây khi thấy người Mỹ để lại đồ ăn thức uống trong phi trường, cha mẹ tôi đã lo người ta bỏ rơi. Phản ứng của cha mẹ tôi và tôi thực khác nhau. Phần tôi, mặc dầu biết phút giây nghiêm trọng nhưng cũng không kiềm được vui mừng với những đồ ăn mà lần đầu tiên trong đời mới thấy nhiều như thế. Khi Mỹ đi rồi, những người làm cho Mỹ bưng đồ ra ăn tùy thích, chả khác đồ ăn từ trời rơi xuống.

Khi người Mỹ quay trở lại, trời vẫn còn ánh sáng ban ngày. Trước khi nhìn thấy họ, chúng tôi đã nghe thấy và tôi chợt có cảm giác sung sướng biết bao. Từ lúc rời nhà thờ cho đến lúc lên trực thăng, tôi đã có cảm giác sẽ đi được và tôi đã giữ niềm tin suốt lúc ấy. Cha mẹ tôi và những người chung quanh có lo lắng, riêng tôi không lo lắng gì. Tôi nhớ khi trực thăng đến, gió cánh quạt đã đẩy chúng tôi lui lại. Em tôi nắm chặt lấy tay tôi mà đỡ gió. Tất cả chúng tôi ào chạy tới cho nhanh, nhoài mình về cái trực thăng. Tôi nhớ một lần còn bé khi một cơn bão từ đại dương thổi vê cũng giống hệt như vậy. Ở cửa trực thăng có hai ba người Mỹ giúp chúng tôi vào. Tôi nhớ chúng tôi đã chạy lọt giữa mấy người Mỹ, một người bế bổng tôi đưa vào trực thăng. Tôi được dịp ngồi bên cửa sổ cạnh người bạn của gia đình tôi. Ông ta bảo “Cầu nguyện đi”. Ông muốn tôi đọc kinh Cám ơn. Rồi ông ta bảo: “Hãy nói cám ơn!” Tôi nhìn ông ta và chợt thấy mắc cỡ. Mắc cỡ hết sức.

Hình minh họa

Bởi vì đột nhiên đó là giây phút đầu tiên tôi thấy tôi ghét người Mỹ quá.

Tôi cảm thấy rất tổn thương. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ khi chiếc trực thăng cất lên. Cảnh tượng cuối cùng tôi thấy ở Saigon là một màu đỏ rực chiếu từ mặt trời, trên những ngọn lửa hắt ra.

Tôi không còn hào hứng gì. Lúc ấy tôi bắt đầu thấy ghét người Mỹ. Tôi đã bị chấn thương. Khi máy bay cất khỏi mặt đất, tôi ý thức có một điều tệ hại lắm đang xảy ra. Tôi cố khóc, nhưng chỉ dăm ba giọt nước mắt chảy xuống chứ không nhiều như tôi muốn. Tôi muốn bi thảm hóa những cảm xúc trong tôi, nhưng chỉ có vài giọi nước mắt còn sót lại. Tôi ngồi bên cửa sổ nhìn, thấy những người hãy còn lại Tân Sơn Nhất. Họ bé dần đến khi mất hẳn.

Chúng tôi qua bãi biển, rồi ra tới biển Nam, tôi đều nhìn thấy hết qua cửa sổ. Nhưng những cảnh tượng Saigon mới làm tôi nhớ đến rõ rệt nhất. Tôi không biết những người khác đang làm gì, họ có khóc hay không, vì cuối cùng tôi đã tự chặn lại hầu hết những ký ức khác trong ngày hôm ấy. Chiếc trực thăng rất đông người. Tôi không sợ hãi. Tôi có một cái cảm giác khá vô lý là tất cả mọi chuyện đều ổn thoả. Một trong những ý nghĩ cuối cùng của tôi là đã không mang theo một nắm đất Việt Nam. Tôi đã đọc đâu đó trong một câu chuyện lãng mạn về một chàng đàn ông đã mang theo nắm đất của quê hương chàng. Tôi cũng định làm như thế, nhưng với đủ các chuyện đã xảy ra ở phi trường nên tôi không còn có dịp. Tôi đã bi thảm hoá mọi chuyện, có lẽ tôi không nên làm như thế.

Chúng tôi đáp xuống tàu Midway. Sau khi chúng tôi đến khoảng hai tiếng đồng hồ, họ đưa cho chúng tôi một sợi dây thừng để nắm lấy mà bước qua boong tàu. Trên con tàu, tôi vẫn còn những cảm giác lẫn lộn. Tôi hãy còn phật ý, nhưng cùng một lúc lại thấy những người Mỹ đẹp quá, bây giờ họ chính là những người bảo vệ chúng tôi. Tôi cảm thấy phải đặt niềm tin vào những người lính Mỹ trên chiếc tàu Midway này. Họ có một thể lực đẹp đẽ, cao lớn và khoẻ mạnh.

Rồi chúng tôi được chuyển sang một chiếc tàu nhỏ. Tôi còn nhớ mãi là mặt biển cứ dập dờn và con tàu lên cao xuống thấp. Ba ngày trời rồi không có đồ ăn. Một trong những giả thuyết là có lẽ trên tàu không đủ tiếp liệu, họ phải giữ đồ ăn cho lính Mỹ trên tàu. Giả thuyết thứ hai là họ muốn cho chúng tôi đói lả để chúng tôi khỏi phải gây sự với nhau hoặc với họ đấy thôi. Mẹ tôi bảo thằng em tôi ngủ đi, nhưng nó kêu suốt ngày không ăn, đói quá. Chúng tôi có nước, nhưng lại chẳng có gì ăn. Cuối cùng tôi ăn vụng một ít đồ ăn. Đến bây giờ tôi hãy còn mắc cỡ. Tôi khám phá được một thùng cá hộp vẫn để ở một chỗ, tôi nhón lấy vài con rồi đậy hộp lại. Ngon hết nói. Mùi cá tanh và lạnh, nhưng lúc ấy rất ngon. Sau đó tôi phát bệnh, nhưng tôi không thể nói cho ai biết là tôi đã lấy trộm cá hộp mà ăn.

Chiếc tàu nhỏ chuyển chúng tôi đến Phi Luật Tân. Trên tàu, tôi cứ nghĩ mãi về Tân Sơn Nhất và những đồ ăn vất ở đấy. Phải chi lấy một ít đem theo. Trên tàu chúng tôi nằm chật cứng, ngủ ngay trên sàn. Còn đến Subic thì như thiên đàng, chúng tôi ở lều, nhưng ngủ có nệm đàng hoàng. Chúng tôi được chích thuốc, chủng đậu trước khi sang Guam.
Người ta cũng cho chúng tôi tắm rửa để khỏi mang chấy rận sang Guam rồi đưa chấy rận vào đất Mỹ. Gia đình tôi muốn đến định cư ở California vì chúng tôi nghe nói ở đây có nhiều người gốc Á Châu và ở đây khí hậu tốt. Vì thế, lúc ở Guam, khi người ta bảo có chỗ đi Fort Chaffee thuộc Tiểu bang Arkansas, gia đình tôi từ chối. Chúng tôi muốn đi California chứ không muốn đi Arkansas. Do đó chúng tôi phải ở lại Guam lâu hơn. Chúng tôi không biết gì nhiều. Nhưng hễ biết được gì, chúng tôi dứt khoát. Chúng tôi biết chúng tôi muốn đến California.

Dớ eng Sử Mặc

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 11/07/2019 

Post by Sơn râu 2 Feb 2024

Nắng hung huê héo
đó tề
Huế chưa nóng đít
lề mề
khu xa
Ghế mô
mông toạ bàn tra
Đít lạnh hàn khí mà ra
lộn hồn

Hai mui miếng
ngậm cái
lon
Mô tê noái mãi cũng lờn nết na
Mềnh đi ma bắt quỉ tha
Rứa chơ ngoái lại mạ cha cũng ngầy
ngà thêm vận sự bầy hầy
Đã tra có hột
chưa đầy nhân
sâm
Nắng cực chui tìm bóng dâm
Đứng chặp xớ rớ tà tâm chộ
nghèo.

Bây chừ nhớ cái nậm bèo
Hỗn mang giấc điệp chống chèo
vượt biên
Thèm cơm hến, chửi đồ điên
Con ngựa thượng tứ xỏ xiên làm tàng
Dễ như ăn ớt nghe nàng
Công tằng tôn nữ tím vàng chổng mông
Chiều buồn hất mặt ngóng trông
Cố đô tàn phế lũ ngông dựng cờ
Mụ cô mệ nội
lờ. tờ
kinh xưa đã rách khiến đờ đẫn em

Bao lần hồ phụ rơi tem
Ông ăn chả bà xơi nem đã tường
Gừng cay muối mặn nghe dường
Chuyện xưa tích cũ thôi chường mặt ra
Giờ ni đậu xứ người ta
Nói thánh nói tướng rằng đành nhạt phai
Ruốc nêm cọng sả là hai
Húp cho sạch đọi bún lai rai nồng
Lon cô ca đợi úp chồng
Cô la một trộ tồng ngồng tóc che
Mấy thuở mới được làm le
Long sàng có rệp nỏ ke gối chồn

Sao thơ anh có vần ồn?
Bộ phong tróc ảnh còn tồn đọng lâu
Em về quê cũ trình tâu
Cây đa bến nọ rụng đầu xuống sông.

Hồ Đình Nghiêm

Đi hết chuyến tàu tết (Rồi hẳn chết)

www.gio-o.com

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 2 Feb 2024

Sợ vỡ đầu do trẻ con ném đá, những ô cửa trên tàu đều có gắn lưới chắn kín bưng. (Bởi biết sợ nên mới sống còn). Người đàn ông đen đúa truyền đạt kinh nghiệm đường dài: “Lấy đôi dép kê dưới đít, kẻo có khi bất cẩn dép không cánh mà bay”. Đôi chân trần của ông hình như chưa biết mặt mũi đôi giày, những ngón to, khỏe ngầm bảo nhằm nhò gì chuyện lẻ tẻ tui đi bộ đeo ba-lô từ Trường sơn đông qua Trường sơn tây ba mươi giây.

Thiên nhiên bên ngoài đóng khung, mất tự do những đám mây dật dờ bị khói tàu nhuộm chất độc màu da đen. Chim ở núi bay về, đậu trên giây giăng chùng giữa những cột điện trông như nốt nhạc phơi thầm lặng trên năm dòng kẻ. Thành phố giờ này rất nhiều dây điện. Người đàn bà kể, mắc cửi, tựa đám màn nhện chực trói mỗi số phận con người, có cô gái dịu hiền xa nhà trọ học chiều về lội nước chật vật nghĩ tới một chén cơm lưng chờ đợi trong căn hộ tập thể; vì cớ làm sao chuyện thật hoang đường dây điện đứt sà xuống người em, con rắn đương đại quấn cổ cắn vào giấc mơ bình dị đột tử, từ đời thường xã hội chủ nghĩa em nhắm mắt bước vào vườn địa đàng mê muội muôn đời không có thật. Báo cáo ở bệnh viện Vì dân nghe cắc cớ: Sinh viên hưởng dương ở tuổi hai mươi không thân nhân họ hàng người nám đen như khúc củi ẩm để già lửa. Niềm đau bạn cùng lớp dành cho em ùn tắt những giọt lệ chẳng chịu rơi khỏi cằm tái tê. Thằng trưởng lớp kể lể hôm động quan: “Tớ thật bức xúc, cái Bĩm rất thông thoáng cởi mở, tớ đi xe tay ga chở em mấy bận về nhà trọ những hôm mưa giăng nhẹ hạt. Sự cố ấy làm em bày rõ nội y và số đo ba vòng phải nói là điện nước đầy đủ. Ôi, Bĩm đã chết! Uổng phí thật! Tớ chẳng rõ em có là một hồn oan trinh nữ!”

Tàu chòng chành người lắc lư. Tàu hú còi người khạc nhổ. Quang gánh đồ đoàn nghiêng ngã, chộn rộn. Một đứa cụt chân đi lòn lách mắt láo liên môi miệng chẳng liền da: “Bà Ba bán bánh bèo bị bác Bảy Búa bán bánh bò bề bướm, biết bụng bầu bác Bảy bèn bỏ bê. Bà Ba bị bắt bí, buồn bã ba bốn bữa…” Thằng con trai ngó sương gió phong trần, cây đàn ghi-ta chỉ có năm giây thùng gỗ bể dán miếng băng keo to đùng bằng miếng bông dùng khi có tháng. Khoảng mười một mười hai mà cà nhắc đi thong dong giữa dòng đời nhiều oan nghiệt hoành tráng. Hắn hát không bài bản lề luật, đa phần thể hiện do cảm xúc, ăn đứt nhạc Rap, da diết hơn kẻ thành tâm sám hối ê a gõ mõ tụng kinh. Ngoài vần B, mày còn biết chơi vần gì khác? Ai đó hỏi. “Lan là lan Liễu là liễu, lã lơi lắm lúc lại là Lọ lem. Lan Liễu Lọ lem lưu lạc luôn làm lụng lắc léo, làm lòi lông l…” Ủa mà sao nãy giờ chưa thấy cho tiền bo? Địt mẹ! Nghèo dớt mà bày đặt đòi hỏi! Hắn bỏ đi, mang giọng hát khản tiếng ma túy y trang Khánh Ly thời đi chân đất vắt ngang những toa tàu uốn lượn: “Nếu biết tôi mang kiếp cầm ca… Hỏi rằng em còn yêu tôi nữa chăng?” Có hai mẹ con, có vẻ thành phần nông dân, dõi mắt trông theo, mẹ chắc lưỡi: Không cứ là phận đàn bà, đàn ông con trai cũng khối đứa đèo bồng niềm đau nỗi khổ, chặt dao bén cũng chẳng đứt lìa. Tội nghiệp! Con lên tiếng, bày tỏ nỗi lòng: Má ơi đừng gả con xa, chim kêu vượn hú biết nhà má đâu?.. Mồ tổ mày lục bát với lại ca dao, ô-sin nghe xịn hơn là nghề nông. Ở làng chỉ có mình mày, tiên phong đi trước mở đường xuất dương. Đài-loan tuy gần mà xa tìm đâu ra dậu mồng tơi xanh rờn? Ra đi nhẹ gánh hành trang, điện thoại di động có tao xí phần.

Người đàn ông bạc tóc đứng hút thuốc cuối toa lầu bầu: “Tôi van bạn chớ làm thơ, ngoại trừ trường hợp thiếu nó, bạn sẽ chết”* Ông trải rộng tờ nhật báo: “Trương thị Kim Hoàn, đăng ký hộ khẩu tại phường Cô Giang Q.1 Thành phố Hồ Chí Minh tù oan 4 năm được đền bù 143 triệu”. Mẹ kiếp, 143 triệu mà làm cái đếch gì?! Tôi van bạn chớ nhận số tiền ấy, ngoại trừ trường hợp thiếu nó, bạn sẽ chết. Mắt ông đảo qua mục khác: Fidel Cu-ba, Bác Hồ cu con, con thức ba ngủ, con ngủ cu ngổng ba hổng ưa… Khôi hài nhỉ? Lại chuyện cười: “Anh Sáu đọc báo, thấy báo nói hút thuốc hại cho sức khỏe, liền bỏ hút thuốc. Thấy báo nói uống rượu có hại cho sức khỏe, liền bỏ bia rượu. Thấy báo nói mê đắm sắc dục có hại cho sức khỏe, liền bỏ đọc báo”. Người tóc bạc vày vò tờ báo ném xuống đường rầy. Có tiếng thét:

– Sao lại thế?

– Chuyện gì cơ ạ!

– Con mẹ bán xôi thằng cha bán lạc rang thảy đều cần đến nó. Mà ngay cả tôi, nói điều không phải thầy bỏ qua cho: Đến buồn đi ỉa phải cậy nhờ đến báo bổ lau đít hộ cho.

– Đồ dở hơi, sao không nói sớm? Cơ khổ! chùi thứ ấy thì có nước… Gì nhẩy? Cho đít đen thêm. Dân ngu khu đen.

Tàu chui vô hầm, hầm đục xuyên núi. Núi to thì hầm dài, đi rõ lâu giời mới tỏ. Núi bé thì thoắt cái, tàu đã thấy ánh sáng cuối đường hầm. To hoặc nhỏ, nhớn hay bé thì đều chịu chung một hoàn cảnh: Tối thui. Đêm hôm nhà gianh cũng như nhà ngói, bóng tối luôn đồng lõa với tội ác. Cô gái sắp đi Đài-loan đổi đời làm kẻ hầu người hạ cho người nước lạ la toáng như gặp phải ma. Má cô hỏi: Chuyện gì mẩy? Bị không có mặt tiá, có ổng đố mày dám. Con này, tao hỏi chuyện gì mà loạn xị dớn dác? Có đứa nào mới bóp vú con đó má. Mặc xú-chen dày như áo giáp mà cũng hơi bị đau. Tàu rùng mình trước khi chui ra khỏi bức màn tối dày. Ánh dương quan chẳng có gì lạ ngoại trừ bày rõ sự trơ trẽn của những thứ xấu xa. Quanh chỗ hai má con nạn nhân ngồi tịnh không nhìn ra mặt một đứa tiểu nhân mang hội chứng ngứa tay. Ai cũng kẹp tay vô nách như bị trói, mắt lim dim như thiền giả đối mặt với công án chẳng bận tâm thế sự ô trược đang vận chuyển từng sát na. Nhìn rốt ráo chỉ ngó ra hai đứa trung niên là có khoảng cách gần với hiện trường, (nhất cự ly nhì cường độ) và chỉ có hạng đàn ông mới thích bóp vú thiếu nữ (rờ mềm mềm bóp êm êm- có bài đồng dao đã hát thế). Nhưng nói tội trời, hai kẻ râu ria lún phún ấy in tuồng bị khuyết tật, họ như chưa hề dòm rõ cuộc đời. Một người làm tài khôn: Ủa, mới đó mà tàu chạy ngang Phan Thiết rồi sao? Bỏ đi tám, mù mà ưa làm trạng. Sao trong không gian độ chừng như mặn nồng mùi nước mắm nhĩ vậy cà? Thằng chột cười ré lên, nước mắt đọng vũng trong hố sâu độc nhãn: Chẳng qua là anh ngồi cuối hướng gió, gần cửa thì có con mẹ mặc quần rách đáy đang lộ hàng đó thôi. Bả bày hàng hơi bị vô tư chứ Phan Thiết đâu giờ này cha nội! (Trong thế giới những kẻ mù, thằng chột làm vua). Ông vua anh minh này bận bịu với quần thần đui mù, ai hơi đâu rảnh rang để bóp vú. Sướng sung gì? Ích lợi gì? No cơm ấm áo không? Vắn tắc: Ăn được cái giải gì cho phí sức, nhọc công? Chưa nói tới chữ dơ dáy. Ông mù hay xuống sáu câu vọng cổ, có lời độc đáo hình như do vua Duy Tân (?) phát ngôn (nhà nước quên kiểm duyệt): “Tay dơ thì lấy nước mà rửa, nước dơ thì lấy gì mà kì cọ đây?!” Chao ôi, hoàng thượng anh minh thứ thiệt, hậu duệ đời sau muôn đời không sánh kịp.

Tàu lại hú còi, án chừng sắp dừng ở một nhà ga, người lên kẻ xuống. Moa và toa, về quê choa, đi hái hoa, rồi được thoa, cho tiền boa, ôi xuýt xoa…Việt kiều hay Tây ba-lô? Đừng điêu ngoa, ưa bù lu bù loa, đợi tàu dừng, moa leo lên đầu toa moa ỉa. Ba người khách mới lên ăn vận cũng xuềnh xoàng. Ngoại trừ đứa có bộ tịch lăng xăng của thổ công làm hướng dẫn viên, hai gã nọ da dẻ chưa rám nắng, để lộ phong thái của kẻ “xa quê hương nhớ mẹ hiền”. Khúc ruột ngàn dặm trẻ trung dồi dào chất dinh dưỡng tướng tá thuộc loại ngon cơm. Tết năm nay đất nước mình thay đổi nhiều. Một đứa nhận xét. Ừ, moa nhớ năm kia moa về chơi em người mẫu chân dài bao trọn gói chỉ ba trăm đô. Bây chừ giá chót phải mất ngoẻn năm trăm. Chắc lưỡi: Đất nước khấm khá thời buổi kinh tế thị trường trông thấy. Thằng hướng dẫn nói: Vào tới thành phố là tui hết nhiệm vụ, đúng không? Tui còn phải trở ra kẻo ông bà già chửi: Ba ngày Tết chẳng chịu về thắp cho ôn mệ ba cây hương. Cũng được, bọn moa sẽ hợp đồng với mấy cô làm dịch vụ tình nhân hờ. Tui nói điều mất vui thì anh bỏ lỗi chứ vợ anh đi mô mà anh bạo gan kiểu nớ? Vợ moa đi thẩm mỹ viện. Cả tuần phải nằm một chỗ đợi da dẻ lành lặn, kiêng cử bụi bặm gió máy nắng mưa. Họ bảo sửa sắc đẹp ở quê nhà giá rất linh động thông thoáng, rẻ như bèo mà hậu sự cũng không đến nỗi, về lại bển chó nuôi ở nhà phải sủa vang rân, nhận không ra. Gái Việt-nam hơn gái Tây tà hay sao mà ghiền dữ rứa? Để moa nói cho nghe, ăn lê táo nho dâu lâu ngày phải ngán, tự dưng được cắn ngập răng vào trái khế ngọt bảo sao không phấn khích? Chưa kể nó nói tiếng Diệt: Chơi em đi anh, đừng sợ, em không mang mầm bệnh nào hết chơn hết chọi, đứa nào nói láo cho xe cán.

Mẹ con nhà nông được tập đoàn môi giới lấy chồng nước ngoại cử nhân viên ra đón ở sân ga, mừng mừng tủi tủi nhận tiền theo hợp đồng và chia tiền cò. “Sao mầy giẫm lúa nhà ông hở cò!” Đồ ác đức bất nhơn! Ngồi không ăn bát vàng! Chia tay, bịn rịn, nói chẳng nên lời. Có đi, mày đi như kiểu Kinh Kha nghe con, chứ dăm ba bữa trốn về tan hoa nát ngọc thì tao có nước gầm đầu trước mặt bà con lối xóm.

Ông đen đúa sẽ lội bộ về Đồng Tháp nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ để liên hoan cùng hội những người kháng chiến cũ. Ông rất hồ hởi lòng như ngọn cờ căng gió bởi ông biết chắc buổi liên hoan nào cũng có rượu. Nam vô tửu như kỳ vô phong. Từ Lúa Mới cho tới rượu Vốt-ka của Nga. Từ rượu trắng của Trung quốc môi hở răng lạnh cho tới rốt ráo rượu Uých-ky của thằng Mỹ phản động. Ông xơi ráo và ông lập ngôn cùng những người đồng chí cũ: Dô, uống đi, không say không về. Khi đã ngà ngà, ông sẽ nhân danh, sẽ thay mặt những đồng đội cũ để đọc bản cáo trạng lên án thành phần bóc lột, đồ vắt chanh bỏ vỏ, đồ lợi dụng xương máu của anh em. Giờ này chúng ngồi chóp cao quyền lực trong khi chúng ta cơm không có mà ăn, bụng réo sôi mắt mờ mãi ngắm ba cái huy chương bằng ban khen chẳng cầm cố đánh đổi được một xu hào.

Đi sau lưng ông là thằng thanh niên bất cẩn không chêm đôi dép dưới đít. Sỏi sạn trên lối đi khiến hắn nhăn mặt. Thế nào quanh đây cũng có quầy bán giày dép cũ. Tin tao đi. Giống như con đường lởm chởm cả đinh thì cuối đường thế nào cũng có thằng đinh tặc ngồi vá lốp xe. Ông đen đúa lại thêm một lần truyền đạt kinh nghiệm. Chú em đi đâu? Về nhà ăn Tết hả? Dạ không, vào thăm Má. Bệnh viện ngoài kia thiếu thốn dụng cụ y khoa nên họ chuyển bả vào tận trong này. Má nói má ưa chết cho rảnh nợ tại vì tiền nằm viện quá tốn kém, mấy cha con bây làm lụng suốt đời cũng không trả nổi. Chao, năm hết tết tới mà nói chi lời buồn bã. Như tao đây thì thiệt đơn giản, muốn chết cứ biểu mấy thằng bạn cũ, mày sẵn K-54 dắt lưng quần không? Ak-47 cũng được, ra ngoài sân lia cho tao vài viên. Mẹ, cuộc đời này đầy cả bội bạc!

Sân ga nhốn nháo bởi ba bốn ông công an xô dạt đám đông cản trở nhân viên thi hành nhiệm vụ bảo vệ trị an. Bắt nó. Địt mẹ, chúng ông theo mày lâu rồi. Chớ để nó thoát lần này. Cây đàn guitar nổ khi bị đập vỡ nghe như tiếng pháo chuột đốt lẻ loi. Thằng cụt chân bị đè lưng bằng bốn năm bàn chân mang giày dép đường bệ. Đám đông bu lại thành một vòng tròn khép kín, hiếu kỳ. Chuyện gì vậy? Sao không dưng lại ức hiếp kẻ tàn tật? Bà con cô bác không biết đó thôi. Thằng này chúa phản động, nó biên tập một bài hát toàn vần H nhằm bôi xấu hình ảnh bác Hồ thân thương. Có người đứng dấu mặt trong đám đông lên tiếng: Không tin, biểu nó hát nghe coi. Không dám đâu, như vậy những đồng chí của tôi lại bảo tôi thông đồng xúi dục khuyến khích tội phạm. “Nếu biết tôi mang kiếp cầm ca…” Mếu máo, giọng run, nước mắt chảy, thằng cụt chân bị lôi đi. Chẳng được cẩn trọng cho lắm, tệ hơn người ta lôi con chó đi trấn nước, về làm thịt ở quán Hương Đồng Quê. Ngay tình, con chó có giá hơn thằng người tàn tật ấy. Ông bạc tóc bình phẩm. Ông đốt thuốc ba số nhìn dòng người xô bồ qua lại. Nhà ga chưa chuẩn bị đón Tết, tường vôi có nhiều chỗ bị bôi bẩn. Câu khẩu hiệu Không có gì qúy hơn độc lập tự do đang mờ nhạt bởi nắng mưa, cũ kỹ, chẳng mới. Những người ở ven đô đang lật đật gánh hoa về thành phố tranh thủ bán kẻo héo hon xuân thì. Hoa chỉ đẹp khi còn hiện hữu nguyên trạng với thân cành, bức lìa nó, dồn đống nó, bó chung nó, nhan sắc nó tơi tả ít nhiều. Người đàn ông nhìn trời, nát nhàu những sợi dây điện cắt đường ngang nét dọc vụn vằn một góc phố. Ông đọc thầm, chùng vụng mấy câu của Nguyễn Đức Sơn:

“Đù mẹ cây bông

Mầy không lao động

Tao nhổ mày đi

Máu trào thiên cổ”.

Hồ Đình Nghiêm

Tết con cọp 2010

Dấu Che Suối Nguồn

http://www.art2all.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 2 Feb 2024

Mẹ hiền – Họa Sĩ Thanh Trí  


(Chuyện thật, từng xảy ra ở thành phố Montréal. Năm mươi phần trăm là hoang tưởng của đứa thuật lại.)
Câu chuyện bắt đầu chỉ xảy tới riêng cho cá nhân Linda. 29 tuổi, mẹ của đứa con nhỏ vừa tròn bốn tháng tuổi. Linda đẩy xe có thằng cu đang say ngủ vào thương xá, nóng bức tháng bảy bị chận ngay sau cánh cửa gương vừa khép đóng. Những cái máy lạnh có thể đang chạy hết công suất, và diệu kỳ thay, nó lột thật mau những màu da đỏ ké, mồ hôi chóng khô, để sự tươi tỉnh dội ngay xuống thần sắc con người.
Đang mùa sale, những cửa hàng đều dựng bảng giảm giá, tới 75 phần trăm. Linda sẽ tới gian hàng My Angel để lựa mua áo quần cho thằng cu. Nó đã thức giấc, như đa số các thiên thần nhỏ, nó bắt đầu mếu máo và làm trì hoãn chân đi của mẹ nó bằng tiếng khóc. Con đói bụng rồi đó hả? Linda cúi mặt xuống âu yếm hỏi, cô tìm tới băng ghế trống, ở góc khuất và ẳm nó lên. Linda cởi ba hạt nút áo, dùng một tay khai mở một bên ngực, bày biện cái bầu sữa mà thằng cu đang tơ tưởng tới. Dĩ nhiên là nó nín khóc ngay, lim dim mắt thụ hưởng. Môi ướt với dòng sữa mẹ ngọt ngào tuôn chảy, chút chít, mút, nuốt. Không quá năm phút, một gã đàn ông lù lù dẫn xác tới sát hiện trường. Madame, xin lỗi, bà không được phép vạch áo (cho người xem ngực) ở chốn này. Trời đánh tránh bữa ăn, hẳn thằng người không ưa nhìn vú ấy chẳng biết mô tê gì về tầm mức quan trọng nọ. Ngay cả thiên lôi cũng lo mà thu búa sau lưng chờ kẻ xấu số xơi xong tiệc cuối mới hậu tính. Tại sao? Tôi làm điều gì không phải? Linda ngước mặt lên hỏi. Nếu bà cho cháu bú bình thì ok, bằng không xin bà chịu khó ra khỏi chu vi cửa tiệm, nó nằm trong những điều lệ ngăn cấm của bổn hiệu. Xin lỗi nếu tôi nói điều không phải…
Đó là tất cả câu chuyện mà Linda đã đưa lên Facebook, chỉ sau một ngày có tới 46 người đưa ý kiến. Tuyệt đại đa số đều tỏ rõ bất bình, có người trách cứ là Linda hiền quá, phải làm lớn chuyện, nó tệ hại hơn cả nạn kỳ thị chủng tộc. Ngày thứ hai, số người truy cập là 52 và tất thảy đi đến quyết định: Hãy vận động rũ rê quý vị phụ nữ đang có con thơ, chúng ta hẹn gặp trước cửa hiệu đó vào lúc 12 giờ 30 ngày Chủ nhật tới và đồng loạt vén áo cho con bú. Phải cho bọn đàn ông làm việc trong cửa hàng đó hiểu, lúc bé má mày cho mày măm bằng cách gì? U mê bú sữa bò sao mậy?
Rồi sao nữa?
Rồi thì sự việc diễn tiến đúng như hẹn ước. Y như một cuộc biểu tình bất bạo động. Khu thương xá ấy có hơi chộn rộn phút đầu, những người đàn bà đi thơ thẩn mua sắm quanh đó khi nghe chuyện cũng sà tới ủng hộ. Mẹ rượt, cho con bú thôi mà, có ai ưa chơi trò lộ hàng công xúc tu sĩ đâu mà la làng. Cho tớ nói thiệt nghe, bản thân tớ từng vén áo cho con bú, ngay cả thằng chồng tớ đứng xớ rớ ra đó cũng bù trất, chẳng thấy khuôn trăng đầy đặn nuột nà nơi ngực tớ.
Em thuật chuyện cứ y như rằng em cũng có mặt tham gia.
Ủa, anh nói hay. Em đẩy con em tới lúc 1 giờ, em ngồi sau lưng Linda.
Em cũng bày hàng?
Nực gà. Sao lại dùng chữ bày hàng? Cái đầu baby nó án che toàn diện…
Thế kết quả ra sao?
Kết quả là đích thân thằng quản lý phải chạy ra xin lỗi toàn thể quý bà mẹ. Chúng tôi sẽ có biện pháp thích đáng nhằm giáo dục những nhân viên ăn nói thiếu lễ độ và trên hết, chúng tôi sẽ hủy bỏ những điều lệ cứng nhắt không phù hợp kia. Mẹ tôi biết chuyện cũng la tôi quá chừng chừng. Ông ta pha trò trong khi đi bắt tay từng người. Và ông sai một nữ nhân viên trong cửa hàng đi trao tặng mỗi đấng nhi đồng một cái yếm cột ở cổ để kỷ niệm về câu chuyện không hay lỡ xảy ra dễ làm sức mẻ uy tín của thương hiệu.
Đã tới giờ em cho con bú chưa?
Hỏi chi vậy? Nó đang say ngủ mà. Đừng nói với em là lúc bé anh cũng chỉ biết tu bình.
Đâu có. Mẹ anh nói cho con ngậm vú rất lợi hại. Khỏi uống thuốc ngừa thai nè, tránh ung thư vú nè, con thông minh cực giỏi nè… tiếc một điều là vú mẹ anh nhỏ, sữa không có mấy, nên…
Nên anh trường kỳ chơi sữa ông Thọ chứ gì.
Đâu có, mẹ anh tha qua nhà hàng xóm, người đàn bà láng giềng kia luôn than đau ngực vì căng sữa quá mạng. Bả thấy mặt anh là xởi lởi vén áo lên ngay, cho con hết đó, bú đi để chóng lớn, mà lớn rồi thì đừng quên hai bầu sữa này nha.
Và dĩ nhiên là anh quất ngựa truy phong.
Sao em dùng chữ nghe kỳ khôi thế!
Chứ không phải à? Cũng ăn nằm với người ta, được người ta cho bú mớm. Nói cho anh biết khu vực đó của phụ nữ chỉ dành riêng cho đối tượng đáng yêu mà thôi.
Giặc giã, anh bỏ làng bỏ nước đi xa, làm sao hơn. Bây giờ anh chẳng được thông minh như ông này bà nọ thì không khéo là do bởi nguồn sữa bà kia dường như thiếu vitamin X. Bú riết nên hơi bị chậm lụt.
Cái gì gọi là vitamin X cha nội?
Ý anh muốn nói là anh thiếu chất xám. Xám là x chứ còn gì nữa. Em làm như X chỉ dành độc quyền cho chuyện đó không thôi. Chồng em ngon lành không?
Chữ ngon lành đó trừu tượng quá. Ảnh rất ngon cơm.
Ngon cơm cũng rất mơ hồ. Chồng em thích ăn phở không?
Hổng có đâu. Điện nước em đầy đủ mờ, với lại em có cách để miệng lưỡi ảnh không khi nao thấy nhạt mồm ưa ăn chùng ăn vụng.
Giỏi hén! Ngẫm lại anh quả vụng tu, quen được em mà chưa một lần cầm tay nắm chân thì em vội sang ngang mất đất.
Hỏi thiệt nghen, anh ở không vậy chẳng thấy sốt ruột sao?
Em có nghĩ tình xưa không? Nếu có thì giúp anh một phen.
Ý, chết cha, thằng cu dậy rồi, tới giờ cho con măm rồi.
Em làm anh thấy đói bụng muốn sôi ruột.
Anh ngó lơ chỗ khác cho mẹ con em được tự nhiên.
Cũng dễ thôi, em cho nó bú đi. Có ưa nghe chuyện tiếu lâm không?
Anh kể đi, vừa kể vừa ngó ra ngoài đường.
“Trên tàu hỏa, một bà mẹ trẻ cho con bú nhưng đứa bé cứ khóc nằng nặc, không chịu ngậm vú. Bực mình, bà mẹ mắng: Bú đi nào, không thì mẹ cho chú kia bú bây giờ. Mắng tới ba lần mà đứa con vẫn không chịu bú. Đến lúc đó, cậu thanh niên ngồi đối diện mới lên tiếng: Chị nói cháu quyết định nhanh lên, tàu đã chạy qua những 5 ga rồi đấy!”
Thôi đi cha, coi chừng thằng con em bị sặc bây giờ. Lấy từ đâu hay chính anh sáng tác đó. Tức cảnh sinh tình.
Anh từng thử sữa mẹ rồi, em tin không? Mới đây thôi.
Có bà hàng xóm nào tốt bụng với anh thế?
Anh có dịp sang London, trước khi Kate vợ của Prince William hạ sinh cơ. Anh vào một quán cà phê ở khu thị tứ Piccadilly. Ở đó họ quảng cáo, cà phê sữa người 15-pound một cốc.
Và anh đã thử? Ngon dàng trời?
Không. Cực kỳ thất vọng. Lơ lớ, ngọt, nhạt, mặn, hơi tanh. Anh nói thật, sao con nít nó ghiền vú mẹ đến thế được nhỉ!
Xì, ai biểu dộng nó vào cà phê làm chi. Uống không xem thử ra sao mà bày đặt chê bai. Nè, sao cái đầu anh tự động đi hoang thế.
Có thấy gì đâu mà nạt nộ. Tình xưa nghĩa cũ sao đối xử với nhau khắt khe dường ấy!
Em còn đứa em ở bển. Đẹp hơn em, dễ thương hơn em, thông thoáng hơn em, trẻ hơn em, bắt buộc rồi. Anh ưng ý thì gọi em bằng chị hai, có ô kê không nè?
Vậy à. Có nghĩa là anh sẽ lặn lội “vinh quy bái tổ” áo gấm về làng ẵm cô nàng dìa dinh Canada.
Ậy, không lẽ vô cớ mà nó xuất dương đi tìm chồng. Sao ngược ngạo khó nghe quá! Nó vẫn còn ở Sa Đéc, mình mẩy trù phú đồi núi uốn lượn cò bay thẳng cánh. Anh biết Sa Đéc ngon lành hào sảng ở chỗ nào không?
Nói nghe ham. Thằng nhỏ chê vú em rồi kìa.
Sao bú lẹ vậy cưng? Bị có người lạ dòm lén mắc cỡ quá cưng hén!
Anh mà lấy em của em làm vợ thì ra nghiêm lệnh dứt khoát cho con bú bình.
Sao vậy?
Lỡ má nó tiếp khách đúng lúc nó đói thì khách cũng như má nó khỏi phải cắn rức lương tâm, căng thẳng hồi hộp các thứ.
Đồ quỷ nà! Để hát tiếp bài ca ngợi Sa Đéc. Anh về Sài-gòn há, ra chợ mua trái cây một chục: Mười trái. Anh xuôi Mỹ Tho hoặc Bến Tre, một chục: mười hai. Cái Bè, Vĩnh Long hoặc Cần Thơ bảnh hơn, một chục: Mười bốn trái. Tới Sa Đéc? Khà khà. Chục, mười tám. Ăn chơi không sợ mưa rơi. Sướng chưa. Nghĩ mà xem. Chị bán cho tôi chục vú sữa. Dạ, để em lựa cho anh 18 trái căng mọng mịn màng. Xời, những mười tám trái vú sữa, tha hồ măm!
Điệu này không về không xong. Nhưng mà tự dưng khi khổng khi không kêu em bằng chị nghe ngượng ngùng quá xá quà xa.
Mắc cỡ nữa à tía? Xưa nay tình chị duyên em thì cứ xảy ra hà rầm, hơi đâu lo bò trắng răng. Dị đi nghen, có ưa hôn?
Ưa không hay ưa hôn? Ưa, hôn ở đâu?
Già dịch gì đâu không á. Trước, may mà tui hổng lấy anh làm chồng. Trời ngó xuống mà coi, làm vợ ảnh thì làm sao chịu đời cho thấu.
Làm bộ hoài. Biết vậy sao còn đem tui đi cặp đôi với cô em. Nè, bảo lãnh xong, đợi vợ chồng đoàn tụ, bọn mình góp tiền mua cái nhà lơn lớn để ở chung cho đề huề nhá?
Xí, nghèo mà ham. Thôi, đến giờ trở vào hậu cung rồi. Chồng tui đi mần về mà ngó ra cảnh này bụng ảnh hổng vui. Cơm không lành canh không ngọt thì buộc lão phải đi đớp phở thôi, trách chi ai?
Thì bất quá nói lớn tiếng với ảnh: Thằng cha này tới xin địa chỉ ở Sa Đéc, không chừng mai mốt tụi mình có thằng em đẹp giai không bằng chai mặt. Anh ẳm thằng cu cho em được rảnh tay chút xíu nào. Bậy thật, cứ lu bu miết, khách tới nhà chẳng cho hắn miếng nước nào cả, nghĩ cũng tội.
Chiếc áo chủ nhà chưa kéo xuống vì không được rảnh tay. Trước khi bước ra hướng cửa, khách còn nuốt nước bọt vì trời sinh ra quả vú sữa nhiệm màu. Trời ạ! Chục mười tám nghe ham. Không cách chi khô cạn nguồn cơn được. Sữa chảy lai láng. Mút mùa lệ thủy!

Hồ Đình Nghiêm

Sanh ngày 4 tháng Bảy!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 2 Feb 2024

Hoa Kỳ và Úc vốn là đất của thổ dân da đỏ và thổ dân Úc trước khi người Châu Âu, đa số từ Anh, đến giành, nói đất nước nầy là của tụi tao. Nhưng chuyện nước Mỹ, nước Úc đa phần là da trắng, râu rậm, đầu sói sọi chính giữa, mắt xanh, mũi lõ, coi bộ lạc hậu rồi nhe! Thời hiện đại tức hại điện nầy, Hoa Kỳ có tới một phần sáu dân số trong 330 triệu người; Úc, còn hơn nữa, tới một phần ba dân số trong  25 triệu sanh đẻ ở nước ngoài. Chính vì thế nên nhiều vùng ở miền Nam Hoa Kỳ, như tiểu bang Florida, dân nói tiếng Tây Ban Nha nhiều hơn nói tiếng Anh. Văn hóa mang nhiều nét Tây Ban Nha hơn nhiều so với những gì người ta coi là ‘Người Mỹ”. Úc cũng vậy, thị trấn Footscray, miền Tây thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, nơi tui bèo giạt hoa trôi tấp lại nơi đây, dân nói tiếng Việt nhiều hơn tiếng Anh. Mùi thịt heo át hẳn mùi thịt bò; mùi nước mắm át hẳn mùi bơ sữa.

o O o

Vốn là dân lưu lạc đến vùng đất mới, người Việt mình mang theo những cái rất đẹp về tình nghĩa vợ chồng, tình phụ tử, tình mẫu tử của ông bà mình đã dạy. (Dĩ nhiên cũng có ‘cha’ bỏ con vợ già về Việt Nam rước một em vợ trẻ, chân dài tới nách qua để làm ‘bà nội’ mình; nhưng đó là số rất ít không thể nào đại diện cho tất cả các bậc đàn ông Mít của chúng ta!)

Còn cái văn hóa dở ẹc như: khoái nói dóc, dám làm mà không dám chịu, chúng ta đã bỏ lại cho CS trong nước nó xài rồi.

Giờ thảng hoặc có nói dóc, chối bai bải hổng phải tại tui chỉ để đối phó với em yêu tức con vợ nhà. Còn cái vụ nổ, ít xít ra nhiều, một tấc tới trời, mầy có biết tao là ai không; chỉ thỉnh thoảng xảy ra trên bàn nhậu mà thôi.

Vì đối với lũ trẻ sanh đẻ bên nầy, là cha, ông, mình trót lỡ dạy tụi nó là dám làm thì dám chịu. Dám làm mà không dám chịu là người yếu đuối và hèn nhát! Con nít thì có bao giờ nó chịu yếu hèn đâu nè! Nên trong tánh cách Mỹ, làm sai thì nhận sai để tiến bộ vì sẽ không còn phạm phải lỗi lầm xưa cũ, nên tánh trung thực được xếp hàng đầu.

Vì thế nên có cái chuyện vui như vầy: “Một thằng Mỹ bị vợ bỏ, sầu đời, dắt đứa con trai 15 tuổi, sanh đúng ngày 4 tháng Bảy, về miền đồng không mông quạnh, xa chốn thị thành xa hoa phù phiếm đua đòi về quê cắm câu, bắt con nhái bầu để quên phứt cho rồi một con người đen bạc.

Hai cha con sống trong một căn lều tranh vách đất bên bờ rạch. Mùa Hè nóng ơi là nóng và mùa Ðông lạnh ơi là lạnh. Thủy triều lên, nước lé đé tới nền nhà. Cu cậu căm ghét căn nhà đó lắm! Lòng hẹn lòng, ngày nào đó nó sẽ xô căn lều đó xuống con rạch, để không còn chỗ đụt nắng che mưa nữa, cha cậu sẽ dắt cậu trở lại chốn vui, chốn phồn hoa đô hội!

Cuối mùa Ðông, thượng nguồn tuyết tan, con rạch nước tràn mênh mông bờ bến, cu cậu quyết định ra tay. Cuối cùng, căn nhà rớt cái tùm xuống rạch và trôi đi mất tiêu!

“Hôm nay có người đẩy nhà của chúng ta đổ nhào xuống rạch. Ðó là con, phải không ?”

Cu cậu lúng túng, suy nghĩ một lát rồi thú nhận: “Dạ! Con!”. “Nhưng Bố ơi, hôm nay con đọc và biết rằng George Washington chặt cây anh đào và không bị Bố mình ‘đét đít’ vì ông đã thẳng thắn nói ra sự thật.”

Người cha trả lời: “Chà! George Washington không gặp rắc rối vì Bố của George Washington lúc đó không ngồi trên cây anh đào. Còn tao…”

Ngoài cái tánh trung thực của người Mỹ ra, tui còn thích cái tính hài hước của một người nữa dù ổng đã chết mất đất tự lâu rồi. Ðó là Tổng thống thứ 40 của đất nước Hoa Kỳ: Ronald Reagan.

Vốn là một minh tinh màn bạc hạng B, chuyên đóng vai cao bồi, chuyên quay ổ đạn súng sáu rèn rẹt, lên cò, rượt mấy tay thổ dân da đỏ chạy chí chết vào trong núi. Làm hoài chỉ có bấy nhiêu! Cứ ỷ súng mà rượt mấy đứa chỉ quen xài cung nỏ; nên tài tử Ronald Reagan chán, bèn bỏ nghề diễn viên để theo đuổi nghề chánh trị. Vì ông cho rằng: “Chánh trị không phải là một nghề xấu. Nếu thành công, bạn có rất nhiều, còn nếu bị thất sủng, bạn luôn có thể viết ít nhứt một cuốn sách”

(Nghĩa là lọt sàng xuống nia! Từ ăn nhiều tới ăn ít chớ hổng có cái vụ phá huề, thì ngu sao mà không làm chánh trị chớ?)

Ronald Reagan ra tranh cử Tổng thống Mỹ khi tuổi đã gần bảy mươi, thiên hạ chê già quá còn ham công danh cái gì hè? Thì Ronald Reagan cười he he, trả lời rằng: “Thomas Jefferson đã nói: Chúng ta đừng bao giờ đánh giá một vị Tổng thống bằng tuổi tác, mà bằng những thành quả của ông ấy. Và kể từ khi biết được chính Thomas Jefferson nói điều đó, tôi đã ngừng lo lắng!”

Rồi ông thêm rằng: “Tôi muốn quý bạn biết rằng tôi sẽ không làm cho tuổi tác trở thành một đề tài của chiến dịch tranh cử này. Tôi sẽ không khai thác, vì mục đích chánh trị, để nhắm vào đối thủ của tôi vốn trẻ tuổi hơn và thiếu kinh nghiệm hơn tôi.”

o O o

Cái tui thích ở Ronald Reagan nữa là ông căm ghét chế độ CS. Vì ngay cả người Nga cũng giống như ông, cũng căm ghét một chế độ CS độc tài toàn trị, chuyên áp bức dân lành.

Nên có chuyện rằng: “Hai đảng viên đảng CS Liên Xô đang đi trên đường. Tên nầy hỏi tên kia: ‘Chúng ta đã thực sự đạt được chủ nghĩa cộng sản hay chưa?

‘Ồ! Chưa đâu, chỉ tới chủ nghĩa xã hội thôi. Khi tới chủ nghĩa Cộng sản thì mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ hơn rất nhiều!’

Hai tay đảng viên Cộng Sản nầy thành thật với nhau nhưng trước toàn thế giới, bộ máy tuyên truyền của nhà cầm quyền CS bao giờ cũng ra rả là: Chế độ CS là ưu việt, là đẹp nhất của nhân loại. Cái cột đèn bên Mỹ nếu nó biết đi, nó cũng ‘bò’ về Việt Nam ta! Ha ha!

Dĩ nhiên thế kỷ 21 rồi, đâu còn ai còn khờ khạo để tin cái bốc phét, bông phèn nầy, nên họ đặt ra cái chuyện xỏ xiên CS như vầy nè: “Một người Mỹ đến Moscow, thủ đô nước Nga, mướn một căn nhà. Sau một tuần, ông không tìm được nơi nào để đổ rác cả. Vì vậy, một hôm, chú Sam nầy đi vào một con hẻm vắng với bọc rác trên tay. Nhưng chú Sam bị một em hàng xóm, đẹp như danh thủ quần vợt Mỹ gốc Nga, em Maria Sharapova, chặn lại:  “Này, anh đang làm gì vậy?” ‘Tôi phải vứt những thứ rác rưởi này đi” “Anh không thể vứt ở đây. Hãy đi theo em!”

Người em sầu mộng nầy dẫn chú Sam đến một khu vườn cực kỳ xinh đẹp có nhiều cỏ lạ, hoa thơm và hàng rào được cắt tỉa rất cẩn thận. “Ðây!” Em nói: “Vứt bao nhiêu rác cũng được”

Chú Sam nhún vai như Mỹ, mở túi ra và đổ rác ngay lên những bông hoa. “Cảm ơn  em đã chỉ cho tôi một nơi chứa những thứ rác rưởi này. Người Nga thật là lịch sự phải không em?” “Hổng dám lịch sự đâu! Ðây là Ðiện ‘Kremlin’.”

Hằng năm tới ngày 4 tháng Bảy, ngày Lễ Ðộc Lập của Hoa Kỳ, (năm nay nhằm ngày thứ Bảy, weekend, nhậu đã nha), tui mừng vì một Thế giới Tự do đã được sinh ra. Từ Nam Bán Cầu xa xôi, từ một đất nước Úc rộng bao la, mà con ‘kangaroo’ (đại thử) nhiều hơn dân, tui cứ ngóng về Bắc Bán Cầu, để chia vui cùng nước Mỹ. Hổng dám bợ ‘đít’ Mỹ đâu!

Tui vui vì thấy rằng: “Qua biết bao phong ba bão táp, cây Ðuốc trên tay Tượng Nữ thần Tự do ở hải cảng New York chưa bao giờ lụi tắt. Cây Ðuốc tự do nầy vẫn là ánh sáng dẫn đường, là niềm tin của nhân dân trên địa cầu trong cơn tăm tối hướng về Thế giới Tự do. Niềm tin đó không ai lay chuyển được. Cuối cùng, Thế giới Tự do sẽ chiến thắng tất cả các chế độ toàn trị độc ác còn sót lại trên thế giới. Tự do sẽ đưa nhân loại trở về với ‘nhân chi sơ tính bổn thiện’. Sống trên thuận theo trời; dưới hòa theo đất.

Ngày 4 tháng Bảy năm nay, bà con có tụm năm tụ bảy ngoài vườn sau, ăn ‘barbeque’, (thịt nướng), ‘hot dog’ và ‘hamburger’ rồi uống beer Budweiser thì nhớ phần dư còn lại hãy cất vào trong tủ lạnh. Năm tới, khi đã tan mùa dịch Cúm Tàu Covid-19, tui sẽ bay qua. Xin nhớ nhé! Ðừng quên nhe!

Đoàn Xuân Thu

Phú Kiết thời chinh chiến

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 2 Feb 2024

Phú Kiết là quê nội của tui, một vùng đất miệt vườn máu và nước mắt trong bão lửa chiến tranh. Tía tui cắt nghĩa Phú Kiết, tên làng, tiếng Hán Việt (giống tiếng Anh, tính từ đứng trước danh từ). Phú là: dồi dào. Còn Kiết là: cỏ cây tốt tươi, rậm rạp.

Cây cỏ tốt tươi vì có nước của dòng kinh Bảo Ðịnh. Chớ thiệt ra xưa đất nầy là đồng bưng đầy những cỏ tranh. Chính vì vậy mới có địa danh Bến Tranh gần làng Phú Kiết, một bến nước chuyên bán tranh lợp nhà.

Kinh Bảo Ðịnh dẫn nước từ sông Vàm Cỏ Tây chảy qua Phú Kiết rồi tới đầu đường Trưng Trắc, cuối đường Gia Long thuộc thị xã Mỹ Tho, hòa vào Tiền Giang chảy xuôi ra biển.

Sau nầy coi bản đồ, tui thấy hồi thì đề sông; hồi thì đề rạch lúc là kinh Bảo Ðịnh. Trống đánh xuôi; kèn thổi ngược. Tui trộm nghĩ rằng: sông lớn, rạch nhỏ là do thiên nhiên tạo ra. Còn kinh lớn, mương nhỏ là do con người đào bằng tay hay bằng cơ giới, bằng xáng (chaland).  Sau 75, tiếng Bắc gọi là kênh, không giống với từ địa phương. Không phải mình phân biệt vùng miền gì đâu mà nơi nào phải ra nơi nấy. Dùng quyền lực chánh trị để đồng hóa tiếng địa phương là làm nghèo tiếng Việt, là một tội ác về văn hóa. Nên gọi kinh Bảo Ðịnh là đúng quá xá rồi.

o O o

Hồi thời Chúa Nguyễn, dòng kinh nầy là một hào lũy để ngăn quân giặc xâm nhập từ miền biên cảnh tấn công vào Mỹ Tho đại phố phồn vinh. Chính vì vậy làng Phú Kiết mới có chợ Thang Trông (nơi cái thang cao để trông chừng, quan sát địch quân)

(Dòng kinh Bảo Ðịnh nầy cũng giúp ngăn chặn được một phần quân VC tấn công vào Mỹ Tho qua ngã Bến xe mới, chợ Thạnh Trị, vào Tết Mậu Thân, năm 1968)

Rồi năm 1861, Pháp đưa tàu chiến xuôi dòng kinh Bảo Ðịnh từ Sài Gòn xuống đánh chiếm tỉnh Ðịnh Tường. Năm 1867, thực dân Pháp dùng xáng múc làm mặt kinh rộng hơn lòng kinh sâu hơn. Tính từ chợ Thang Trông qua Hốc Ðùn, gần Ngã Ba Trung Lương đến bến Mỹ Tho thì chiều dài của kinh khoảng 14 km, rộng độ 6 m và sâu khoảng 3.50m.

Vì lúc đó chưa có xe hơi, chưa có đường lộ, kinh Bảo Ðịnh là đường chuyển công văn cho Pháp. Tây đổi tên kinh Bảo Ðịnh lại thành ‘Arroyo de la Poste’ (kinh Bưu điện).

o O o

Phú Kiết vườn tược tốt tươi nhờ tưới bằng nước của dòng kinh Bảo Ðịnh nhưng cũng ướt đẫm máu đào của những con người yêu nước.

Xưa thì có Thủ Khoa Huân (đỗ đầu kỳ thi Hương trào Vua Tự Ðức). Ông tên thật là Nguyễn Hữu Huân (1830-1875) người làng Tịnh Hà (sau là xã Mỹ Tịnh An), huyện Kiến Hòa, tỉnh Ðịnh Tường liền ranh với làng Phú Kiết.

Pháp xâm lược Ðịnh Tường, nhiều lần đứng lên chống lại từ năm 1859, đến năm 1875, ông bị sa cơ thất thế, bị bắt. Dụ hàng không được, Tây chở ông Nguyễn Hữu Huân từ Mỹ Tho ngược dòng Bảo Ðịnh về Mỹ Tịnh An và hành quyết ông lúc 12 giờ trưa. Máu của ông đã thấm đẫm phù sa vùng đất quê ta.

Rồi đầu thập niên 60, VC đặt mìn dưới cái cống gần chợ Thang Trông, Phú Kiết sát hại Trung tá Trần Hoàng Quân, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Ðịnh Tường. Tên Trần Hoàng Quân được đặt cho một con đường ở Mỹ Tho và ở Chợ Lớn. Sau CS Bắc Việt vô, ở Mỹ Tho tụi nó đổi là đường Tết Mậu Thân; còn ở Chợ Lớn là đường Nguyễn Chí Thanh.

o O o

Ðó là những người yêu nước; còn hai trong đám ruồi bu lầm đường lạc lối là: nhà thơ Bảo Ðịnh Giang và soạn giả Trần Hữu Trang của CS.

Tôi nhớ hồi còn kẹt lại trong nước, Tết về, tui mượn một tờ báo Xuân để đọc (chớ nghèo chết Mẹ, phải ăn độn bo bo thì tiền có đâu mà mua báo Tết?). Bao giờ trang đầu cũng đăng thơ của ông Bảo Ðịnh Giang nầy; dù nó như vè, dở như hạch.

Bảo Ðịnh Giang (1919-2005) tên thật là Nguyễn Thanh Danh người làng Mỹ Thiện, Cái Bè, tỉnh Ðịnh Tường.

(Như vậy ổng ăn theo, chớ hổng có lan can gì ráo với tên dòng kinh quê nội của tui). Nghe nói ổng học tới bằng ‘Diplôme’ (Ðút rơm trâu ăn mê!) xuất thân từ một gia đình điền chủ sạt nghiệp, nên đi theo CS.

Ăn theo thì giấu đi, lại nổ ùng oàng là: “Thủ Khoa Huân bị quân Pháp đóng gông chở đi bằng thuyền xuôi dòng Bảo Ðịnh đến Mỹ Tịnh An để hành quyết. Với lòng biết ơn sâu sắc, buộc tôi chọn cái tên Bảo Ðịnh Giang đặt làm bút danh.”

Viết có một câu ngắn ngủn mà trật tới hai chỗ! Một là: từ Mỹ Tho về Mỹ Tịnh An là phải ngược dòng kinh chớ? Hai là chọn bút hiệu là do ý của mình; chớ ông Thủ Khoa nào mà nhào vô đây buộc? Cái vụ chọn tên một dòng sông quê hương kỷ niệm làm bút danh thì thiếu cha gì đứa làm; chớ đâu phải một mình ông. Chẳng hạn như nhà thơ Thu Bồn, lấy tên một dòng sông ở Quảng Nam. Thế mới có hai câu lục bát tiếu lâm gieo vần lộn là: “Thu Ba ca ngợi Thu Bồn. Thu Bồn khoái chí sờ (‘vai’) Thu Ba”. Ha ha!

Kinh Bảo Định, Phú Kiết – nguồn wikipedia

o O o

Bảo Ðịnh Giang là em sanh đôi của Tố Hữu (1920 – 2002), dù lớn hơn một tuổi, là đao phủ thủ về văn nghệ, siêu nịnh Ðảng. Lúc CS Bắc Việt đem quân xâm lược Miền Nam, Bảo Ðịnh Giang đưa các văn nghệ sĩ từng tập kết ra Bắc xâm nhập lại vào Nam; rồi họ đi luôn xuống địa ngục như: Nguyễn Thi, Anh Ðức, Lê Anh Xuân…

Tháng Tư, năm 75 xích hóa được Miền Nam, những ông kia đã chết thì Bảo Ðịnh Giang mò về Sài Gòn và tiếp tục làm cha. Chắc nhờ chém vè, ngậm ống đu đủ, hụp lặn dưới mương nên ông Bảo Ðịnh Giang sống cũng hơi dai, tới 87 tuổi năm 2005, năm Giáp Thân, Khỉ mới nhắm mắt về lại rừng xưa tại Bệnh viện Thống Nhất (Bệnh Viện Vì Dân của bà Thiệu hồi xưa)

o O o

Còn một người nữa lầm đường theo CS là: Soạn giả Trần Hữu Trang. Chuyện rằng: năm 2005, tui hân hạnh được gặp Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn từ Hoa Kỳ qua Melbourne dự Ðại hội Cựu Học sinh Phan Thanh Giản Ðoàn Thị Ðiểm Cần Thơ toàn thế giới.

Tui nhắc lại tấm hình hồi xưa, ông Quận trưởng Cái Bè Nguyễn Bá Cẩn cùng thân phụ tui (nghề tay trái là viết báo cho ông Trần Tấn Quốc) chụp chung một tấm hình với cô đào Ngọc Hương, năm đó còn rất là son trẻ mới 18 tuổi và soạn giả Việt Thường là ông Cựu Thủ tướng nhớ ngay lập tức hè!

Soạn giả Việt Thường là con của soạn giả Trần Hữu Trang tức Tư Trang (1906- 1966) người làng Phú Kiết.

Tía tui kể: “Hồi nhỏ bà nội làm kẹo đậu phộng mạch nha có rắc mè trên nền bánh tráng để Tía đội qua chợ Thang Trông làng Phú Kiết bán. Tía hay ghé tiệm hớt tóc Chú Tư Trang. Lúc nào vắng khách là ổng bày đàn hát ra cứ tích tình tang hè. Vài năm sau, ổng thôi nghề hớt tóc, (chắc tại ế quá), đi theo gánh cải lương bán vé và chép tuồng.

Từ cái vụ chép tuồng, được bậc đàn anh trong nghề kèm cặp thêm, ông Tư Trang tập tành viết tuồng. Những vở Tô Ánh Nguyệt (1934) Ðời cô Lựu (1937) với kép Minh Vương và đào Lệ Thủy nó hát tuyên truyền hà rầm trên đài Truyền hình sau 75.

Năm 1960, VC dậy, ông Tư Trang đi theo, làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng và bị bom B 52 chết tại Suối Cây, vùng Xa Mát, Tây Ninh giáp với biên giới Kampuchia, năm 1966.

o O o

Tháng Tư lại về trên quê người viễn xứ, tui nhớ làng quê Phú Kiết, nhớ thân phụ của tui. Tôi tha thứ cho ông Bảo Ðịnh Giang và ông Trần Hữu Trang, những người lầm đường lạc lối. Dẫu cuối đời vẫn còn ngoan cố chưa chịu chiêu hồi, tung cánh chim tìm về tổ ấm?!

Chúng ta đấu tranh là để chống độc tài, để san bằng mọi bất công; chớ không phải tháo cái cùm buộc chặt chân của người dân ra rồi tròng vào cổ họ cái gông cùm xích xiềng của CS Nga Hoa. Tui nói vậy, có không nè hai ông nội con nít?!

Đoàn Xuân Thu

Pháo xịt!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 2 Feb 2024

Hồi xửa, hồi xưa mình kêu là quận Nhứt; giờ CS kêu là quận Một. Xưa mình kêu tên quận theo số thứ tự; giờ CS kêu theo số đếm.

Dù khác nhau như vậy nhưng quận Nhứt thời nào cũng là trung tâm của ‘Sè Gòn’ hoa lệ, là thành phố lớn nhứt nước Việt Nam.

Quận Nhứt lớn nhứt ‘Sè Gòn’ thì quận Nhứt cũng là quận lớn nhứt của cả nước Việt Nam, dù diện tích chỉ 7, 73 cây số vuông mà dân số lên tới hơn 185 ngàn người. Mật độ hơn 24 ngàn một cây số vuông.

Đây là chỗ đất vàng! Đất vàng thì đẻ ra vàng. Được về làm quan trấn nhậm cái đất nầy không phải là người thường mà phải là người Thượng, tức là con ông cháu cha, con cháu cả cụ cả; chớ hạng bình dân thường thường làm sao giành cho lại cái cục thịt mỡ (bầy hầy) nầy chớ?.

Sau 75, những tầng lớp thượng lưu của VNCH, các tầng lớp tư sản giàu sụ đã bỏ của, chạy lấy người, thì những căn nhà vắng chủ ở quận Nhứt trở thành chiến lợi phẩm để đám từ miền Bắc tràn vô chia chác.“Tớ vài căn; đồng chí vài căn… Cứ thế nhé!”

Thế nên có câu: “Nhà mặt phố là bố phải làm to rồi!” Huống hồ lại là nhà mặt tiền của quận Một, (quận number one)!

Mấy hôm nay thì báo chí trong nước lại rầm rầm rộ đưa tin: Phó Chủ tịch quận Một, Đoàn Ngọc Hải, được anh ở trên xúi dại làm đại đi, có anh chống lưng; nên Hải hừng chí lên đồng, thân chinh cầm còi, nhí nhăng, nhí nhố xuống phố phát động chiến dịch giải phóng vỉa hè, hiện thực hóa giấc mơ, biến quận Một thành một “Singapore thu nhỏ!”

Làm quan ở cái đất ‘Sè Gòn’ nhưng Hải chắc chưa bỏ được cái tật bốc phét mang từ miền Bắc CS vào, nên vẫn còn hung hăng tiết canh vịt:“Làm tới nơi tới chốn, không ngại đụng chạm đứa nào hết ráo.”

Làm không được, xưa thì gọi là treo ấn từ quan, giờ Hải nói sẽ cởi áo về vườn?!

Bộ tính ăn thua đủ sao cha nội? Cởi áo về vườn tức ở trần… thôi cũng được đi; đừng có cởi luôn cái quần… để tô hô, e khó coi lắm đó!

Bất cứ một trận đánh nào, người có bản lĩnh một chút cũng tính tới đường thua trước! Rút chạy bằng cách nào để bảo vệ nồi cơm, nhứt là nồi cơm có đầy sơn hào hải vị, bảo vệ vàng vòng, hột xoàn, cà rá cho ‘ bu’ nó!

Còn nếu thuận buồm xuôi gió là mình cứ làm tới tới. Cứ ‘Đánh cho quán cút, tiệm nhào/ Đánh cho chết (mẹ) đồng bào bán rong!’

Đồng bào bán hàng rong mà đòi đánh chết (mẹ), đồng bào thì dễ ợt hè. Bởi dân ngu khu đen, bám vỉa hè kiếm sống, chỉ trên răng dưới dế, thì quá dễ! Làm sao chúng nó dám cự cãi với quan dù đã phải đóng hụi chết, không thiếu một cắc, cho bọn Công an phường, Công an khu vực và Cảnh sát cơ động 113.

Chiến dịch của Phó Hải bước một là sai Ủy ban phường rình người đái đường, quay phim để có bằng chứng, phạt tới cả triệu rưỡi đồng (một số tiền không nhỏ với dân).

Nhưng có chú cự cãi: “Tui mới quay mặt vô tường, chưa móc súng nước ra mà phạt cái gì?!”. Chưa có tang chứng, vật chứng… thì đành cho nó đi vậy!

(Muốn dân không đái đường thì phải có chỗ cho dân xả bầu tâm sự chớ! Chuyện nầy thì không thấy ai lo! Lo phạt để kiếm tiền ăn nhậu không hè!)

Bước hai là phạt xe gắn máy chạy hay đậu bậy trên vỉa hè, lề đường… Mấy chiếc xe chở cán bộ thành phố đi nhậu đêm, mang bảng xanh, cũng bị cẩu về bót.

Bước ba là: phạt các quán nhậu, nhà hàng, kể cả cơ quan nhà nước… lấn chiếm vỉa hè .

Trạm gác của công an trước Chi nhánh Ngân hàng nhà nước cũng bị bứng, một quan chức hỏng biết lớn bé tới cỡ nào, ra càm ràm: Làm, sao không báo trước nhưng đã bị Hải đuổi ra và ra lệnh tháo sạch.

Hải chắc có coi phim Tàu khá nhiều nên nhập tâm chăng?

Phim Tàu thì nói: “Người đâu? Lẹ lẹ lên nào!” Hải thì: “Lực lượng đâu? Khẩn trương lên!”

Khẩn trương chớ Hải không dám nói: ‘Lẹ lẹ lên nào!’ lên sợ nói ngọng thành: ‘Nẹ nẹ nên lào!’ dân ‘Sè Gòn’ nó cười cho mà thối cái mặt.

Đám Ngân hàng Nhà Nước nầy giữ kho bạc và chi tiền nên đàn anh của Hải còn phải cạch mặt, nên sai Hải và đám lâu la mang trạm gác đến trả.

Thế là Hải phải co vòi lại, ra lệnh Đội quản lý đô thị quận Một lắp lại các vọng gác ngay sau đó, đến 6 giờ tối là phải hoàn tất.

(Lắp lại không xong là bọn bây chết với chúng ông nhe! He he!)

Bất cứ thành phố lớn nào, vỉa hè phải thông thoáng cho bộ hành không phải bước xuống đường xe chạy, nguy hiểm. Đây là nhiệm vụ của ban Quản lý Đô thị lên kế hoạch và sau đó để cho những bộ phận trách nhiệm thi hành.

Các diễn viên láu cá, có thừa kinh nghiệm, chỉ đóng tuồng trong tích tắc rồi chuồn đi nhậu cho nó sướng; nhưng phó Hải khoái đóng tuồng chèo hơn, lì hơn, không làm kiểu: bắt cóc bỏ dĩa, mà làm liên tục suốt năm, đến khi nào hoàn tất được sự nghiệp giải phóng vỉa hè mới thôi!

Dân nghèo ‘Sè Gòn’, vốn chui rúc trong hẻm, có hai ba cái ‘xuỵt’, thấy tụi nó ở mặt tiền chơi nhau cũng đã; nên bình luận rôm rả: “Hay đó tới luôn bác tài!”

Hải nghe khoái chí tử, càng thêm hăng vịt tiết canh!

Nhưng cái đám con ông cháu cha, con cháu các cụ cả, nhà mặt tiền nầy mất quyền lợi, chúng cũng điên lên đi chứ.

Chúng bảo: “Ông Hải là Phó chủ tịch quận, còn có bao nhiêu việc để làm, nhưng đã tuyên bố từ nay đến cuối năm ông chỉ làm mỗi một việc là dọn vỉa hè. Chẳng lẽ quận Một biên chế hẳn một ông “Phó chủ tịch đặc trách vỉa hè”?”

Ông làm quan, là đầy tớ của nhân dân, mà dám hỗn hào, gọi dân bằng nó ! “Ở đây nó biết rồi, nó dọn hết rồi… Đấy! Anh em báo hết rồi. Tôi nói các đồng chí, cứ như thế này thì bao giờ mới làm được.” “Bây giờ ai cũng rút kinh nghiệm hết thì xã hội này nó loạn.”

(Ủa mãi tới bây giờ quan mới biết được cái xã hội nầy nó loạn sao cà?)

Cho dù Hải có ô dù thì bọn nhà mặt phố bố làm to nó cũng đâu có ngán! Chọc vô ổ kiến lửa là tụi nó chơi lại hè.

Bọn chúng bảo: “Hải hành xử như một ông trời con, một quan lại thời phong kiến, không biết thượng tôn pháp luật!”

Theo luật thì đầu tiên phải nhắc nhở và ấn định thời hạn tháo dỡ, đến khi quá hạn mà không thay đổi thì mới phá và gia chủ phải chi trả toàn bộ chi phí đập phá, dọn dẹp.

Phó trưởng văn phòng báo Đời Sống & Pháp Luật chơi đểu, gửi cho Đoàn Ngọc Hải một công văn có đóng mộc cái cộp đàng hoàng, yêu cầu được tiếp xúc để làm rõ “nghi vấn chiếc điện thoại Vertu hạng sang” và “chiếc đồng hồ Patek Philippe cũng hạng sang” trong một bức ảnh đăng trên báo khi Phó Hải đang tiến hành chiến dịch “dọn vỉa hè, dành đường lại cho người đi bộ”.

Chúng tính cản mũi kỳ đà bằng cách ‘hù’ Phó Hải đây mà!

Từ đó Hải có thêm cái biệt danh là Hải Vertu, mặc áo ngắn tay, bỏ ngoài quần, giắt túi bút máy mạ vàng, đi giày Italy đánh ‘xi ra’ bóng lưỡng!

Phó Vỉa hè chắc có về méc lại và khóc lóc bù lu bù loa… nên mấy anh ở trển nhẩy vô binh, cách chức tay Phó trưởng văn phòng nầy, rút luôn thẻ nhà báo. (Tội mầy dám giỡn mặt với bố mầy nha!)

Nhưng mấy tay quan chức tại Thủ đô Hà Nội, không vội được đâu, cười he he, phán rất đểu như thế nầy: “Hà Nội đã làm thường xuyên mấy năm rồi, đâu có làm một ngày một buổi mà xong đâu! Dẹp vỉa hè của ông Hải chả có gì mới, đâu có gì mà ồn ào hè!”

Đám quan chức Hà Nội nói thế: Vì những con đường đắt (giá) nhất là của các tư bản đỏ, đám con cháu của các công thần đảng, tỏa rộng khắp 36 phố phường. Mỗi căn nhà, mỗi hàng quán hay khách sạn, cửa tiệm tại các khu vực đắc địa của trung tâm thủ đô đều có những quan hệ quyền lực sâu dày, là sân sau hay tài sản người nhà, con cháu của quan chức rất bự.

Còn nhớ cái đường Trường Chinh, đúng ra phóng thẳng nhưng đâm vào nhà bọn tướng tá Bộ Tư lệnh Phòng không nên nó phải cong vòng như cái ‘ghi đông’ đó thấy hông?

Còn 180 quán bia vỉa hè ở Hà Nội, có tới 150 quán do Công An chống lưng. Còn bãi giữ xe lềnh khênh, choán chỗ hết cả lề đường, thu tiền vô thiên lủng là của con cháu mấy ông to, bà nhớn…thì tụi bây dám lảng vảng léo hánh tới mà chọc vô cái đám ong vò vẻ nầy hay không?

Ở ‘Sè Gòn’, bắt quá là chọc vô ổ kiến lửa, bị chúng nó xúm lại cắn, nhức cẳng là cùng… Nhằm nhè gì so với Hà Nội, cái đất ngàn năm ‘văn vật’ nầy đâu?!

Chọc vô cái tổ ong vò vẻ, chúng nó sẽ xúm lại đánh cho đầu bù tóc rối, áo mão cân đai văng hết trọi, hết trơn là lơn tơn về vườn chăn vịt, đuổi gà cho bu nó.

Singapore có một đô thị xinh đẹp, là nhờ cơ chế pháp trị của nó. Hỏng có đứa nào dám ngồi xổm, ngồi chồm hổm trên luật pháp như cái bọn kiêu binh như ở nước ta!

Đã bao nhiêu cuộc ra quân, bao nhiêu chiến dịch, bao nhiêu phong trào?! Lúc đầu thì trống giong cờ mở, rầm rầm rộ rộ, khí thế ngất trời, lùng tùng xèn, sau thì tắt lịm như đèn dầu lụi bấc! Kết quả vũ như cẩn, chả đi đến đâu, đâu lại vào đấy, mèo lại hoàn mèo, ném đá ao bèo, đánh trống bỏ dùi, đầu voi đuôi chuột… nhắt!

Nên Hải Vertu ơi! Đừng có nói khoác, nói phét, nói dóc, nói láo, nói trạng, nói nói thánh, nói tướng nữa! Đừng có “nổ banh nhà lầu”, “nổ văng miểng”, “nổ banh xác”. Bộ tưởng nổ như vậy là đe dọa được các các loài yêu tinh quỷ quái nầy hay sao? “Kêu lắm lại càng tan xác lắm”

Hải Vertu múa may quay cuồng, lên đồng như vậy làm tui lại nhớ đến tài tử Trần văn Nhơn, từng xuất sắc trong vai một cán bộ CS, xách động quần chúng đứng lên đấu tố địa chủ trong phim: “Chúng tôi muốn sống”!

Hải Vertu chỉ là một tay sai, xách động dân chúng ‘Sè Gòn’ (trong đời thiệt) cho dân cả nước quên đi cái vụ Formosa cá chết hàng loạt ở miền Trung; nhưng dù phùng mang trợn má, ráng nổ ì oàng, cuối cùng cũng chỉ là một quả pháo xịt mà thôi!

đoàn xuân thu

melbourne

Ngày xưa ở Kontum

Thơ Lâm Hảo Dũng

Post by Sơn râu 2 Feb 2024

Thành phố buồn run nóc giáo đường
Chiều qua Phương Qúi nắng vương chân
Một mùa đông nữa trên miền núi
Tôi thấy lòng cay nhớ cố hương
Dòng Dakbla kia vẫn chảy thầm
Ngược, xuôi đành hỏi gái Kontum 
Trăm năm em vẫn qùi bên Chúa
Như hổ gầm vang điệu nhớ rừng
Sương mỏng nhưng nghe đằm thắm lạnh
Ai lên Trung Nghĩa ghé Pơ Krong
Đẹp thay vào những đêm trăng tỏ
Mẹ trước sân nhà dệt ước mong
Konhơring có nằm say ngủ

Như giữa làng quê với phố phường
Như ở Dakto nhìn khói đục

Buôn làng hiu hắt mấy hàng thông
Thời chiến người đi đến những đâu
Đá khô chân núi, cát sông sâu
Mấy mươi năm vẫn chưa lành hẳn
Vết cắn em còn rõ máu đau..



Ngày trở lại Bồng Sơn

 Thơ Lâm Hảo Dũng

Post by Sơn râu 2 Feb 2024

Dễ có một ngày ta trở lại

Bồng Sơn xa quá cuối trời xa

Mấy cụm nhà hoang trơ mái xám

Chân đèo Phù Củ nhận không ra

Ta đứng bên cầu xe lửa cũ

Quê em còn cách một dòng sông

Nhớ đêm máu chảy người quên khóc

Em có u buồn trong mắt trong?

Đã mất rồi quận lỵ Hoài Nhơn

Đời đi lính trận cỏ xanh hồn

Là khi theo gió về trên núi

Còn gởi sương chiều mộng cuối thôn

Em cắn dùm ta những quả sim

Như ngày đói khát lúc hành quân

Đã cho ta biết hoài chân lý

Chẳng có thanh bình ở Việt Nam