Nước Mắt Trước Cơn Mưa,

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Hình minh họa

Đại Tá Bùi Tín

 “Tôi trở thành một người của chiến cuộc dù tôi không hề bao giờ muốn thế”

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học SathJose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Khi Tổng thống Diệm bị ám sát vào tháng Mười Một năm 1963, tôi không nghĩ chính quyền miền Nam sẽ sụp đổ. Ngay cả sau cái chết của Kennedy, tôi cũng không nghĩ như thế. Tôi biết là cần phải chiến đấu trước đã. Vào thời điểm ấy, chúng tôi tăng cường nỗ lực tại miền Nam. Chúng tôi quyết định phải đưa dần các đơn vị cỡ Sư đoàn vào đánh chế độ bù nhìn miền Nam. Đa số bộ đội các đơn vị này là người miền Nam tập kết ra Bắc, nhưng sau đó, chúng tôi bắt đầu tuyển mộ cả người miền Bắc.

Hai tuần sau cái chết của Diệm, tôi đã ở trong phái đoàn Bộ Chỉ Huy đến Cao nguyên tham quan tình hình tại chỗ nhằm mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh, hoàn bị việc tổ chức. Tôi cũng đã tổ chức các Sư đoàn và Trung đoàn tại Cao nguyên. Về con đường mòn, lúc đầu chúng tôi chỉ có thể đi bộ, nhưng cho đến 1963, bề rộng con đường đã đủ lớn, tổ chức đã đủ tốt để chuyên chở tiếp vận bằng xe đạp thồ. Lúc ấy hãy còn lác đác máy bay Việt, Mỹ bỏ bom trên đường mòn này.

Khi Mỹ viện trợ thiết vận xa cho chính quyền miền Nam, chúng tôi không chắc có thể địch lại, vì trước đây chúng tôi chưa hề đối đầu loại chiến cụ này. Trước trận Ấp Bắc, chúng tôi vẫn chưa có đúng vũ khí với khả năng tiêu diệt thiết vận xa. Vì thế chúng tôi báo cáo Bộ Tư Lệnh để liên hệ với Liên Xô và Trung Quốc xin cung cấp cho chúng tôi những vũ khí có thể đối địch được. Họ bắt đầu tiếp vận cho chúng tôi hoả tiễn tiêu diệt thiết vận xa.

Khi Tướng Westmoreland trở thành Tư lệnh Hoa Kỳ, chúng tôi lại phải tự kiểm điểm xem chúng tôi có thể thành công trong việc đánh Mỹ hay không. Nhưng sau trận đánh với Mỹ tại Thung Lũng Ia Drang năm 1965, chúng tôi kết luận có thể chiến đấu trực diện với người Mỹ. Bấy giờ chúng tôi không dám nói có thể thắng Mỹ, nhưng chúng tôi biết chúng tôi có thể đương đầu được, thắng hay không lại là chuyện khác.

Càng ngày chúng tôi càng đạt được nhiều kinh nghiệm hơn trong những trận đánh mà Mỹ sử dụng thiết vận xa và trực thăng. Khi họ đưa ra cái gì mới, chúng tôi cũng phải có cái mới. Chúng tôi đã học được sức mạnh Mỹ, nhưng cũng thấy được những chỗ yếu của chúng tôi. Vì thế sau trận la Drang là nơi Mỹ vận chuyển lính đến bằng trực thăng, chúng tôi rút lui để suy nghĩ lại các phương án chiến đấu chống Mỹ, tìm cho ra những chiến thuật mới. Lúc ấy chúng tôi đang có vấn đề.

Tiếp đến lại tăng thêm vấn đề oanh tạc cơ Mỹ, đặc biệt B-52. Chúng tôi cũng phải suy tính cách nào đối đầu được với họ suốt dọc đường mòn Hồ Chí Minh.

Hình minh họa

Tôi hết sức lo lắng, nhưng không mất niềm tin. Tất cả bộ đội chúng tôi trong suốt thời gian ấy đều duy trì tinh thần rất cao, mặc dầu không biết sẽ thắng cách nào, nhưng chưa hề bao giờ chúng tôi nghĩ có thể thua. Hễ chính phủ Mỹ dở dói đòn nào, chúng tôi đều có thể gỡ đòn ấy. Vào thời gian đầu, quả thật B-52 hết sức kinh hoàng, làm tôi cực kỳ lo lắng. Nhưng rồi quan sát kỹ các máy bay này, chúng tôi tìm được đội hình máy bay, phương hướng đánh bom trên trận địa, nhờ đó chúng tôi có thể vào hầm trú ẩn trong các khu vực mà chúng tôi nghĩ rằng bom không đụng tới.

– Làm thế nào để duy trì tinh thần bộ đội chúng tôi? Chúng tôi đã chiến đấu cho nền độc lập và cho sự thống nhất đất nước. Và chúng tôi biết sẽ sống còn trong cuộc chiến. Trong buổi đầu quả có lo ngại với những trận dội bom, vì nhiều người bị giết, đôi lúc chúng tôi đã có phần giao động không rõ có thoát khỏi các cuộc đánh phá của Mỹ không. Nhưng khi khám phá ra mặc dù Mỹ có vũ khí và kỹ thuật hiện đại, nhưng chúng tôi vẫn có thể tránh được, khi biết như thế, chúng tôi thấy có thể thắng.

Hoa Kỳ và Nam Việt Nam có phải là những đối thủ đáng kể trên chiến trường không? Tôi đã suy nghĩ việc này trong một thời gian khá lâu. Kết luận của tôi là họ có rất nhiều nhược điểm. Lính Mỹ là lính nhà giàu, đến từ một đất nước giàu, họ có đủ vũ khí đạn dược cần đến, nhưng họ cũng có nhược điểm, do đó đánh họ không khó. Chỉ nhờ nguồn tiếp vận đầy đủ thôi không đủ giúp họ vượt qua các nhược điểm ấy.

Nhược điểm lớn nhất của lính Mỹ chính là thái độ của họ. Họ thực sự không hiểu chiến đấu cho cái gì. Họ chiến đấu cho một đất nước không phải của họ. Họ nhớ gia đình. Mặc dầu phải làm tròn nhiệm vụ với quốc gia họ nhưng họ không quá quan tâm với cuộc chiến vì vậy tinh thần họ yếu. Họ lệ thuộc quá nhiều vào không lực và pháo binh. Khi bắt buộc phải đánh giáp lá cà mà không có không quân và pháo binh yểm trợ, nếu chỉ hai bên mặt đối mặt thì thường họ đâm ra hoang mang hoảng hốt.

Bộ đội miền Bắc chúng tôi chiến đấu có mục tiêu. Chúng tôi thực sự muốn giải phóng đất nước. Còn lính Mỹ đánh trận vì đó là nghề, đa số chỉ muốn hồi hương. Họ không dốc lòng vào việc chiến đấu như chúng tôi. Đây là một khác biệt chính yếu giữa đôi bên.

Tiếp theo việc ký hiệp định Pa-ri, tôi được đưa vào Nam tham dự ủy Ban Liên Hợp Quân Sự bốn bên để thanh toán các điều khoản trong hiệp định. Tôi đã đến trại Davis với tư cách thành viên phái đoàn miền Bắc mà tôi là phát ngôn viên. Tôi đã ở đây 60 ngày, và đây là lần đầu tiên tôi gặp gỡ người Mỹ. Tôi gặp Trung tướng Gilbert H. Woodward và bà vợ. Tướng Woodward là Trưởng phái đoàn Hoa Kỳ trong ủy Ban Liên Hợp Quân sự. Chúng tôi đã hội họp, gặp gỡ tại Saigon, Mỹ Tho và Đà Nẵng khi làm việc với ủy ban.

Ngày 29 tháng Ba năm 1973 tôi hướng dẫn một nhóm đến thanh sát việc Mỹ rút quân. Bấy giờ tôi mặc quân phục. Tôi nhớ tôi đã chứng kiến những người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Tôi bắt tay người lính Mỹ cuối cùng ra đi mà tôi còn nhớ tên là Trung sĩ Bienco. Tôi đã bắt tay anh, nói lời chào từ biệt. Tôi tặng anh một khung hình nhỏ với tấm ảnh hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội, cái hồ của “lưỡi gươm trở về.” Tôi chúc anh Bienco được hạnh phúc khi về đoàn tụ với đất nước anh, tôi chúc anh bình an mạnh khỏe, và hy vọng anh sẽ không bao giờ quay lại đất nước Việt Nam nữa. Sau đó tôi trở về Hà Nội đúng ngày cuối tháng ba.(*)

Năm 1975, tôi trở lại miền Nam với tướng Văn Tiến Dũng. Lần này tôi là một nhà báo. Tôi ở trong đơn vị Bộ chỉ huy, đến Saigon với toán quân Bắc Việt đầu tiên tiến vào thành phố.

Vì không có các sĩ quan cao cấp đi với chúng tôi vào Saigon, nên tôi đã phải lãnh nhiệm vụ tiếp nhận cuộc đầu hàng vô điều kiện của chính quyền miền Nam. Tôi ở trong toán gồm ba chiến xa đầu tiên tiến vào thành phố.

Nhờ có mặt ở Saigon năm 1973 và đã đi xem đường phố, nên trong các chiến xa này, tôi là người sĩ quan duy nhất biết đường đi trong thành phố. Cũng năm 1973 nhờ đã chụp hình dinh Tổng Thống mà tôi biết phải nhắm hướng đến chỗ nào. Hồi ấy trên đường đi Tân Sơn Nhất để gặp phái đoàn Hung Ga Ri, tôi đã chụp ảnh dinh Tổng Thống và vẫn giữ bên mình.

Tôi hướng dẫn các chiến xa qua các đường phố, tiến đến dinh Tổng Thống. Trở lại Saigon, tiến vào khu vực của dinh (Tổng Thống) thực là một xúc động lớn lao. Trước đấy tôi luôn lo ngại sẽ có những trận chiến xảy ra trong thành phố. Tôi nghĩ có lẽ chúng tôi sẽ phải đánh chừng một tuần trong thành phố.

Rồi khi tiến vào tôi nghe có tiếng súng, tôi đoán có một trận đánh lớn đang xảy ra, nhưng chỉ là binh sĩ đang bắn chỉ thiên, báo hiệu cuộc chiến tranh đã chấm dứt thôi.

Chúng tôi lái chiến xa tiến đến dinh Tổng Thống để tiếp nhận cuộc đầu hàng.

Thực tình tôi không chuẩn bị rằng tôi sẽ là người tiếp nhận cuộc đầu hàng sau chót của chính quyền miền Nam. Chỉ tình cờ tôi đã có mặt để hướng dẫn những chiến xa đầu tiên tiến đến dinh Tổng Thống vì tôi biết nó ở đâu. Nhưng việc này không trù liệu trước, chỉ xảy ra tình cờ thôi.

Tôi được người chỉ huy đơn vị thiết giáp hướng dẫn đến gặp Tướng Dương Văn Minh. Tôi đến văn phòng Tướng Minh. Ông đứng đấy nói rằng ông đang đợi người tiếp nhận cuộc đầu hàng. Tôi nhìn quanh, thấy tất cả mọi người trong phòng đều có vẻ hết sức lo lắng. Tướng Minh mặc áo sơ mi cụt tay, vẻ mặt mệt mỏi. Trông ông như mất ngủ khá lâu, và đã mấy ngày không cạo râu. Ông nói ông muốn chuyển giao chính quyền Nam Việt Nam cho tôi “Tôi đã đợi ở đây từ sáng sớm để chuyển giao quyền hành cho ông”. Ông nói. Và tất nhiên, tôi đã nói một câu mà bây giờ trở thành nổi tiếng: “Ở đây không có vấn đề chuyển giao quyền hành. Quyền hành của quý ông đã tan tành. Quý ông không có gì trong tay để chuyển giao, vì thế quý ông không thể chuyển giao những gì quý ông không có”.

Tất cả những người trong chính quyền Nam Việt Nam đều có vẻ rất lo lắng, vì thế tôi nhìn quanh mà bảo họ “Hôm nay phải là một ngày vui của đất nước chúng ta vì chiến tranh đã chấm dứt. Nếu quý vị yêu nước, quý vị nên lấy đó làm vui mừng”. Khi nghe tôi nói thế, họ có vẻ thoải mái, không quá lo lắng nữa. Rồi để cho không khí căn phòng được nhẹ nhõm, vui vẻ, tôi hỏi thăm gia đình ông Vũ Văn Mẫu, nói vài câu khôi hài, vài chuyện vặt. Tôi hỏi thăm tướng Minh chuyện đánh quần vợt. Tôi biết tướng Minh trồng phong lan, nên tôi nói chuyện với ông về phong lan. Tôi làm họ ngạc nhiên vì tôi biết rõ mọi chuyện của họ. Tất cả mọi chuyện. Còn họ không biết chút nào về tôi cả. Hà – Hà!

Rồi tôi đến tòa Đại sứ Mỹ. Tôi chụp hình cái cây lớn ngoài tòa Đại sứ mà người ta đã đốn xuống. Rồi tôi lên mái nhà chụp ảnh với các đồng chí của tôi. Khắp nơi trên mái nhà vứt rất nhiều mũ sắt, súng ống, đồ vật ngổn ngang. Họ bỏ lại rất nhiều thứ trên mái nhà. Tôi cũng đến xem chỗ người Mỹ tiêu hủy tài liệu của họ. Rồi tôi lại ra phi trường Tân Sơn Nhất xem chỗ họ giữ các tài liệu. Lúc ấy hãy còn đang cháy.

Tôi rất vui mừng. Điều làm tôi thích nhất là người miền Nam đã đến trò chuyện, hỏi thăm chúng tôi. Những người trẻ cũng đến trò chuyện, tìm hiểu chúng tôi, để về báo cho gia đình biết. Nhân dân có vẻ hoan nghênh chúng tôi nhưng họ lo ngại. Phần tôi say sưa chuyện trò với mọi người, say sưa đi xem Saigon mà quên cả nhiệm vụ nhà báo, mãi đến chiều tối mới ngồi đặt bút viết bài về những biến cố trong ngày.

Chiều tối hôm ấy, tôi ngồi ở cái bàn giấy trên tầng hai dinh Tổng Thống viết một mạch bốn trang về chiến thắng của chúng tôi. Tôi không biết cách nào gửi bài viết ấy về Hà Nội, rồi mới sực nhớ là có thể sử dụng hệ thống điện báo tại văn phòng Tùy viên Quân sự Mỹ ở phi trường Tân Sơn Nhất. Nhưng khi đến đấy thì người Mỹ đã phá hủy hệ thống điện báo, tôi bèn đến trại Davis nhờ họ chuyển bài ra Hà Nội. Bài này chính là bản tin đầu tiên vê cuộc chiến từ Saigon gửi ra trong ngày hôm ấy.

Hình minh họa

Dòng đầu tiên là: “Tôi đang viết bài này trong lúc ngồi tại bàn giấy, trên tầng hai dinh Tổng Thống ở Saigon. Cuộc chiến tranh lâu dài đã chấm dứt”.

Ngày nay, người Mỹ cần nhớ rằng cuộc chiến ấy thật đáng tiếc. Đáng lẽ cuộc chiến ấy ngăn ngừa được. Đáng lẽ cuộc chiến ấy không nên xảy ra. Đây là trận chiến đáng tiếc nhất trong lịch sử Mỹ. Nhân dân Mỹ, đặc biệt chính phủ Mỹ luôn luôn tỏ ra chậm chạp trong việc nhận thức bản chất đích thực của các sự việc tại Á Châu. Bây giờ đây, tất nhiên Mỹ đã có quan hệ ngoại giao với Liên Xô và Trung Quốc, nhưng không có quan hệ ngoại giao với chúng tôi. Tại sao không? Chúng ta từng có lúc đã là bạn hữu vào cuối đệ nhị thế chiến. Người Mỹ từng huấn luyện chúng tôi chiến đấu lúc chúng tôi hãy còn là Việt Minh, người Mỹ cũng đã cung cấp cả vũ khí cho chúng tôi. Đáng lẽ chúng ta nên duy trì tình hữu nghị, đáng lẽ trận chiến này đừng bao giờ xảy ra. Thực bi thảm.

Ngày nay, người Việt không có gì để cay đắng về cuộc chiến này. Tại sao? Lý do là bởi chúng tôi không làm gì sai trái về phương diện đạo đức. Chúng tôi không bao giờ thả bom xuống đất Mỹ. Chúng tôi không bao giờ bắn giết tù binh và thường dân. Còn những gì lính Mỹ đã làm, chúng tôi cũng hiểu rằng họ được yêu cầu để làm cho đất nước họ mà thôi. Tôi từng nói chuyện với hơn 100 phi công Mỹ tại Hà Nội sau khi bị bắn hạ. Chúng tôi đã từng giam hơn 500 người trong tù tại đây, vào thời chiến. Đáng lẽ họ không bao giờ nên là kẻ thù của chúng tôi.

Ngày hôm nay, tôi đã rất chán nản mệt mỏi về chiến trận. Những ai đã phải tham dự chinh chiến mới biết cảm tạ hoà bình. Tất cả nhân dân thế giới đều mong mỏi hòa bình.

Tôi đã trở nên một người của chiến cuộc và chính tôi chưa hề bao giờ muốn như thế. Chúng tôi bị bắt buộc phải tham dự trận chiến. Nhân dân Việt Nam thù ghét chiến tranh. Chúng tôi yêu chuông hòa bình. Tôi yêu chuộng hòa bình.

__________________

(*) Ghi chú của tác giả Larry Engelmann: Tờ “Thống Nhất,” của Bắc Việt đã mô tả tình tiết này trong số báo ra ngày 23 tháng Ba năm 1974 như sau: “Người lính Mỹ cuối cùng bước lên máy bay tên là Bienco. Những người chiến thắng bắt tay anh, chúc anh những điều tốt lành và trao tặng cho anh một tấm bưu ảnh có hình chùa một cột ở Hà Nội. Anh lính Bienco ngạc nhiên, há hốc mồm ra nhìn họ một lúc, lẩm bẩm vài lời cám ơn, rồi bước vào máy bay. Những cánh cửa đóng lại. Chiếc máy bay Mac DC-9 40169 từ từ lăn bánh, cất cánh lên và biến mất trong bầu trời”.

Santa Claus là có thật!

petruskyaus.net

 đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Chuyện rằng: Một hôm, một thằng ‘cu’ Úc hỏi Má nó: “Mommy! Ai là Daddy của con vậy?”

Má nó buồn bã, thả hồn về cái thời sung sướng cũ mất gần năm phút, bỗng bừng tỉnh giấc mơ hoa trả lời là: “Daddy của con là Santa Claus!”

“Cuối năm, đêm hè áp Lễ Giáng Sinh, chàng đến phát quà cho Mommy là một con lăng quăng. Rồi một đi không trở lại!

Con lăng quăng đó, sau chín tháng mười ngày nở ra, là con đó Johnny!”

Johhny là một thành viên trong băng tầng nhậu của tui. Tụi tui mỗi lần bù khú với nhau đã có ba thằng ‘Mít’. Johnny hân hạnh lắm mới được ba thằng tui kết nạp vào, để Việt Úc đề huề, đa văn hóa vậy mà!

Chẳng qua, ông bà mình nói rằng: ‘Trà tam, rượu tứ’.

(Tại sao uống trà chỉ cần ba người? Thú thiệt, tui bù trất hỏng biết trả lời sao?)

Chớ uống rượu, tức nhậu, cần bốn người là quá phải. Cạn vài ly whiskey, nghe ót ót, như cái máy có châm xăng nhớt đầy đủ là bắt đầu ‘đề pa’, chạy!

Một cái miệng chiếm đài phát thanh, ‘on air’.  Một đứa nói ba đứa nghe. Màn hai thì bắt cặp: một đứa nói một đứa nghe. Màn cuối cùng là bốn đứa nói mà hỏng có đứa nào nghe hết trơn hết trọi. Lúc đó là tới giờ tan hàng cố gắng rồi nhe quý bạn.

Hai giờ sáng, Johnny đi xiên xẹo trên đường phố để về nhà. Cảnh sát Úc đang chạy đi rỏn, lo sợ cho an nguy của người chiến sĩ cô đơn trên đường phố, bèn dừng xe lại hỏi: “Khuya rồi! Ê bồ! Còn đi đâu đó?” “Ờ! Tui đi nghe diễn thuyết.”

“Dóc tổ hoài cha! Ai rảnh đâu mà diễn thuyết giờ nầy?” “Có chớ! Người diễn thuyết là con vợ của tui!”

Thầy đội nghe vậy cũng cám cảnh đàn ông với nhau bèn mời ông Lưu Linh nầy lên xe, về bót ngủ 4 tiếng, cảnh cáo không được quyền say xỉn ngoài đường nhe nhưng miễn đóng tiền phạt; vì biết rằng có bao nhiêu tiền nó mua rượu uống còn không đủ; thì tiền đâu mà nó đóng!

Đó là chuyện của Johnny thằng Úc bạn của chúng tôi. Mà cái tình bằng hữu chi giao giữa bọn tui với nó cũng do ông Trời xui khiến mà thôi.

Chẳng qua cách đây gần chục năm, mấy thằng ‘cáo sồ’ tức hội đồng quận hằng năm đều cho phép tổ chức hội chợ Tết Việt Nam ở những khu thị tứ, có đông người Việt mình sinh sống như St Albans, Richmond, Footscray, Springvale!

Sau rốt mới là hội chợ Tết cho cả cộng đồng người Việt mình ở Melbourne Showgrounds, sát bên trường đua ngựa Flemington, đối diện nhà tui, chỉ cách một con sông Maribyrnong, bề ngang chừng vài chục thước. Tui bịt lỗ mũi nhảy qua cũng được mà Úc dám gọi là sông? He he!

Hội chợ Tết Footscray năm nào, băng tầng nhậu của tụi tui cũng được nhà hàng quen, ưu ái vì tới nộp tiền hoài, bày bàn ngay trước cửa.

Cả bọn vừa uống beer cho mát, mùa hè mà, vừa hút thuốc xả giàn, vừa ngắm mấy em mặc áo hai dây lòi hai trái bưởi tròn tròn, quần cũn cỡn lòi rún và luôn hai cái mông đít, đi qua đi lại! Khoái hết biết!

Vì thế cho nên dù em yêu có kè kè một bên, ngăn cản tui đi rửa mắt hỏng tốn tiền, ở nhà có mà hỏng chịu dòm cứ lom lom đi dòm của thiên hạ không hè? Có khác gì đâu chớ!

Lời em yêu không thuyết phục được đôi mắt sáng ngời của tui nên tui quyết dùng tam thập lục kế dĩ đào vi thượng để trốn đi ra bù khú với bạn hiền.

Huynh đệ như thủ túc, phu thê như y phục; nếu vì sợ vợ bỏ đám bạn nhậu cô đơn, thiệt tui hỏng có đành lòng!

Gần Tết Việt Nam, theo truyền thống tui lấy phép thường niên, nghỉ hai tuần xả hơi; chớ cày hoài oải quá.

Ở nhà với em yêu, vô đụng mặt, ra cũng đụng mặt, chu choa nó buồn như dế kêu; nên tui rinh một thùng beer về, giấu ở nhà xe phía sau nhà, lâu lâu tui trốn em ra, làm vài ve để dục tửu phá thành sầu… xa xứ!

Nhậu riết, râu ra xồm sàm như Santa Claus vậy. Một chiều đã khá là say, nghe em yêu mắng chó chửi mèo: “Trời ơi ngó xuống mà coi, chồng với con cuối năm rồi mà vẫn còn say với xỉn!”

“Thôi em ơi! Chuyện nhà người ta đừng có chen vào!” “Chuyện nhà người ta nào? Chuyện nhà nầy đó. Em nói anh! Chớ nói ai!”

“Đi cạo râu đi! Để râu, mỗi lần hun nhột muốn chết hè!” “Trời đất! Chọc lét mới nhột! Hun thì ‘đã’ chớ nhột cái gì hè?”
Nói vậy nhưng vốn thờ bà, tui tuân lịnh em yêu, bước vào nhà tắm soi gương! Một khuôn mặt, vì rượu chè be bét, làm tàn phai nhan sắc hiện ra như nhát tui vậy đó!

“Thôi! Tui dẫu không biết anh bạn là ai mà dám vô tới phòng tắm nhà tui nhưng vì tình chiến hữu với nhau, tui cũng cạo râu giúp dùm anh bạn vậy!”

Cạo mặt xong thì “Ô kìa kìa! Mặt ai mà mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao như Mã Giám Sinh vậy cà?” Té ra là cái bản mặt của tui!
Ngay lúc đó thì cái mobile phone trong túi quần kêu ò e í e! Chiến hữu hú ra ngoài chợ Footscray nhậu tiếp; kẻo tàn một đêm vui.

Vậy là bấm cái nút cửa cuốn của nhà xe kéo lên, tui bèn dông luôn ra chợ. Mới đặt đít ngồi xuống, là thò tay chộp ngay chai beer VB (Victoria Bitter) mà người Việt mình đặt tên VB là Vợ Bỏ; thì một trong những thằng bạn nhậu của tui hỏi đố, nếu aitrả lời được thì tiệc hôm nay nó trả; bằng không ghi sổ, mai ba thằng chôm tiền vợ đem tới trả cho nhà hàng.

 “Từ Melbourne chạy xe tới Sydney mất bao lâu?” “Tùy chú mầy chạy xe hiệu gì, chạy nhanh hay chạy chậm nhưng trung bình mất 8 tiếng.”

Nó hỏi tiếp: “Như vậy từ Sydney chạy xe tới Melbourne mất bao lâu?”

Thằng Johnny tình cờ đang ngồi nhậu bàn sát bên, nóng mũi, chỏ mỏ qua:

“Ê bồ thiệt là ngu hè! Vậy mà cũng hỏi?”

“Ê! Bồ biết câu trả lời không mà dám xía vô hả? Dám cá một thùng beer 24 chai không?” Johnny OK! “Câu trả lời là cũng y như vậy!”

Thằng bạn nhậu của tui cười rất đểu vì thấy một con nai tơ đang ngây thơ bước vào bẫy rập của nó: “Như vậy bồ cắt nghĩa tại sao khi từ Lễ Giáng Sinh tới Tết Tây chỉ có năm ngày; mà từ Tết Tây tới Lễ Giáng Sinh lại mất tới một năm?”

Thằng Johnny cà lăm một hồi, rồi chịu thua! Chung hết thùng beer VB, tốn 50 đô tiền chôm của con vợ nó!

Có beer chùa uống là tui vui hè nhưng trong bụng nghĩ cái thằng Úc nầy ngu như con Kangaroo vậy!

Đem không gian, đường dài mà so sánh với thời gian làm sao được hè?

Nhưng tui nín khe không mở miệng ra; vì sợ thằng bạn nhậu chê tui thiệt là ngu, beer chùa tới miệng không biết uống mà còn lên mặt thầy đời!

Từ câu đố đó; Johnny đâm ra khớp bọn ‘Mít’ tụi tui, nên xin gia nhập vào băng tầng nhậu, vì vui quá hè, nhưng cũng không quên phân ngôi thứ giữa Tống Giang, Triều Cái, Lâm Xung và Lỗ Trí Thâm trong Anh Hùng Lương Sơn Bạc.

Jonhnny kính cẩn gọi ba thằng tui là: ‘Đường sơn Đại huynh’; chớ không còn là bồ nầy bồ nọ, bằng vai, bằng vế, cá mè một lứa như trước nữa.

Đã không kết nghĩa kim bằng thời thôi! Kết nghĩa rồi thì ba đại ca đối đãi với tiểu đệ Úc Johnny bằng tấm chân tình chớ không hề chơi ‘đểu’ nó thêm lần nào nữa.

***

Nói nào ngay chơi với Johnny tui cũng học được rất nhiều điều. Trước hết là tiếng Anh giọng Úc. Dù đã ở cái xứ nầy hơn 20 năm ròng rã, tui vẫn còn nghe tiếng Úc, tiếng được tiếng không! Bây giờ nghe cũng hơi thông; tui còn biết cả tiếng chửi thề!

Cái quan trọng hơn là cái phong tục tập quán của người Úc. Khi không biết là tụi tui xúm lại hỏi để mở mang đầu óc mà; vì chữ có câu rằng: “Học thầy không tầy học bạn!”

Chẳng hạn như mùa Giáng Sinh năm nay lại về, mấy lần đi bù khú với nhau, tui ra đề tài mới cho Johnny thuyết trình! Nó lấy làm khoái chí vì được dịp khoe khoang cái kiến thức chưa đầy cái lá mít của mình.

“Người Úc nghĩ gì,làm gì trong mùa Giáng Sinh vậy Johnny?”

Ực một hơi, thiếu đều cạn hết chai beer, nó hắng giọng trả lời: Hồi nhỏ nó khoái Lễ Giáng Sinh lắm. Khoái ngọn lửa bập bùng, khoái cây thông lấp lánh ánh đèn và kim tuyến. Khoái treo những chiếc vớ dưới cây thông Giáng Sinh mà lòng cứ tự hỏi Santa Claus làm sao mà tuột qua ống khói cho được; khi ông bị bịnh béo phì, mập quá? Rồi làm sao mấy con tuần lộc lại có thể bay được như phi cơ không người lái?

Nhưng Johnny lại có thằng bạn con nhà giàu, gốc Do Thái, có tới mấy chục căn nhà, căn shop cho mướn; tưởng giàu là khôn nhưng nó lại ngu hết biết.

Có lần, ông già Santa Claus đến gỏ cửa nhà chắc để xin tiền giúp cho người homeless. Nó mở cửa ra ngạc nhiên hỏi: “Ủa Santa Claus! Có nhận được email của con rồi phải không?”

“Trong email đó, con chỉ xin một chiếc Ferrari, Made in Italy; với chừng chục triệu đô trong tài khoản ngân hàng; để lâu lâu buồn buồn con ra ‘casino’ chơi ‘roulette’.”

Santa Clau gục gặc cái đầu: “Ờ! Nhưng cho ta hỏi: Năm nay con được bao nhiêu tuổi hả?” “Dạ con được 40.”

Santa Claus bèn phán một câu nghe rầu hết sức: “40 tuổi đầu rồi mà vẫn còn tin có Santa Claus hay sao?”

Tui lại binh vực thằng bạn nó: 40 tuổi đầu bạn của chú còn tin có ông già Santa Claus thì cũng phải. Vợ ta ăn đáo tuế đã mấy năm rồi mà còn tin có ông già Santa Claus nữa đó!

Trước Giáng Sinh, em gởi email cho ta như vầy: “Năm nay, Santa Claus được tiền nhuận bút khoảng vài ngàn, xin đừng mua vàng cho em đeo nữa; trặc cần cổ; cứ đưa cho em 20 tờ 100 đô Úc, dễ cất trong áo gối là em vui rồi hè!”

Johnny có vẻ tò mò tọch mạch hỏi: “Rồi đại ca xử sự ra sao?”

“Còn trăng sao gì nữa? Ta chuyển 2000 đô từ cái tài khoản của ta qua cho em!

Anh hỏi chú mầy là: Khi mua quà Giáng Sinh cho thiếm ở nhà; chú mầy có tốn nhiều hơn tiền mua quà cho mẹ ruột của chú, vốn là người đã chín tháng mang nặng đẻ đau rồi ba năm bú mớm hay không?

Anh đây cũng vậy thôi! Dẫu không sanh đẻ ra ta; nhưng công nuôi dưỡng thật là lớn lao! Mình phải bồi đáp cho em tới 2000 đô Úc, cũng là chuyện nhỏ!”

Johhny gục gặc cái đầu đồng ý: “Đại ca phán y như kinh vậy! Giờ thì em lại tin là đời có Santa Claus rồi đó nha!” Ha ha!

 đoàn xuân thu.

melbourne.

Quyền tự do ăn nói!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Cứ tưởng mấy chục năm đã trôi qua, mở cửa với người ta, thì CS Việt Nam cho dân được ăn nói rồi chớ! Nhưng đọc cái tin này, tui ngã ngửa ra là “nguyễn y vân” là vẫn y nguyên!

Chẳng qua bà Nguyễn Thị Xuân, làm Công an lên tới lon Đại tá, Phó Giám đốc; lại còn là Đại biểu Quốc hội tỉnh Daklak.

Đại biểu quốc hội tức là “dân… biểu”. “Dân… biểu” “bả” làm gì… thì bà “í” phải làm mới phải chớ!

Ai dè “bả” lại biểu nhà nước hãy nhốt dân, nhốt mấy đứa nào ăn nói linh tinh, bôi nhọ lãnh đạo. Hỏng nhốt tụi nó lừng vì càng ngày tụi nó càng xúm lại, lấy lọ nghẹ, bôi nhọ bản mặt lãnh đạo của đảng ta.

“Thôi nịnh vừa vừa… chừa chỗ cho mấy đứa khác nào nhào vô nịnh với chớ!”

***

Sao giống quá xá giống thời phong kiến thuở xưa?! Có tay chọc trời khuấy nước, trên đầu nào biết có ai, sau khi sương sương vài ba xị, phát biểu linh tinh là: “Cái mặt như con… cá sặc! mà cũng bày đặt làm Vua”

Tội khi quân, đem ra pháp trường chém cả ba giòng họ nhà mầy!

Chính vì cấm, không cho người dân được tự do ngôn luận nên các vương triều phong kiến đều phải tiêu vong.

Không cho dân nói thì biết trật chỗ nào mà sửa? Bịt lỗ tai lại mà cai trị, không chịu nghe dân ta thán thì sụm bà chè là chuyện đương nhiên!

Bất cứ một chế độ chánh trị nào muốn tồn tại một cách dài lâu thì quyền tự do ăn nói, tự do phê phán giới lãnh đạo là một điều “tối” cần thiết! Mà ban ngày cũng cần luôn!

Tổng thống Donald Trump, uy quyền tột đỉnh như thế mà còn bị dân Mỹ lôi ra diễu cợt mỗi ngày mà có ai bị Trump hăm nhốt tui bây hết ráo vì tội “láo” với đấng quân vương đâu nè?

Ngay cả khi đi dự hội nghị thượng đỉnh với lãnh tụ 27 nước trong khối NATO, Donald Trump xô Thủ tướng Milo Đukanovic của Montenegro qua một bên, để Trump chen lên đứng chánh giữa, làm cục nhưn, chụp hình cho thiên hạ chiêm ngưỡng cái vị thế cầm đầu một siêu cường duy nhứt còn lại trên thế giới.

Bà con bên Mỹ cười khúc khích nói: “Tổng thống của xứ mình hành xử như một đứa con nít!” He he!

Phê bình như vậy rất có ích cho kinh nghiệm làm Tổng thống của Trump từ giờ trở về sau. Đó là cái lợi thấy liền, nhãn tiền, của quyền tự do ngôn luận.

***

Quyền tự do ngôn luận, quyền bày tỏ ý kiến khác nhau không những chỉ xảy ra bên ngoài xã hội Mỹ mà trong gia đình người Mỹ cũng được luôn.

(Hỏng có cái vụ “vợ chúa chồng tôi”, vợ nói chồng không được quyền cãi lại như hoàn cảnh của tui đâu nhe!)

Đệ nhứt Phu nhân Melania Trump đã nhiều lần bày tỏ, không phải bằng lời nói, mà bằng hành động để giúp “anh yêu” ngày một tế nhị hơn!

Nhà Trump làm lễ chào cờ. Quốc ca trổi lên. Melania và Barron, con trai út đặt tay phải áp vào ngực phía trái tim. Donald Trump thì đứng xuội lơ cán cuốc!

Em yêu bèn phát vào mông một cái, làm Trump mới sực nhớ: “Ờ! Chào cờ, quốc ca, quốc thiều trổi lên… là mình phải đặt tay về phía trái tim để chứng tỏ lòng yêu tha thiết nước Mỹ vĩ đại của chúng ta… Chớ không phải chỉ yêu một đống đô la!”

Rồi bước trên thảm đỏ đi công du nước ngoài, kèn thổi “í e í e“.

“Cà chớn tới nơi! Cà chớn tới nơi! Cà chớn tới! Vào hàng! Phắc!”

Thì Trump lại thò tay ra phía sau để nắm lấy tay Melania; nhưng nàng lại gạt ra, như ý muốn nói là: “Không trúng chỗ và không trúng lúc?!”

Khó tưởng tượng được là Bành Lệ Viện, Đệ nhứt phu nhân Tàu Cộng, có dám xăm mình mà sửa lưng Tập Cận Bình mỗi khi thấy chồng mình sai sót?

Đó đó! Cái khác nhau giữa một chế độ độc tài và tự do dân chủ ở chỗ đó đa.

***

Như vậy đem cái chủ nghĩa CS mà cấy vào cái chủ nghĩa phong kiến mấy ngàn năm của Tàu, quyền tự do ngôn luận không có trong số từ vựng của “Hoàng đế” Tập Cận Bình hay xài… thì cực kỳ tai hại cho đất nước!

Bằng cớ! Tốt nghiệp hạng xuất sắc, Dương Thư Bình được trường Đại học công lập Maryland chọn đọc diễn văn tốt nghiệp vào Chủ Nhật, ngày 21 tháng Năm.

Dương Thư Bình ví von nước Mỹ như là một thành phố đầy ánh sáng, nằm trên ngọn đồi, nơi không khí trong lành mà cô em được hít thở khi vừa bước ra khỏi phi trường, đặt chân vào nước Mỹ.

Dương Thư Bình lớn lên bên Tàu, mỗi lần ra đường phải đeo khẩu trang, giấu mặt mình đi để khỏi bị bệnh.

Từ cái hình tượng cụ thể này, em nâng lên một tầm cao mới, bằng cách ví von sâu sắc đầytrí tuệ là: Cái “fresh air”, cái không khí trong lành này, cũng là cái không khí trong lành của tự do và dân chủ, tự do ngôn luận mà em không được hưởng ở quê nhà!

Đúng ra người dân ai cũng được quyền thụ hưởng chớ không cần nhà cầm quyền ban phát. Mà nếu phải tranh đấu để có được tự do thì cũng đáng phải làm lắm đó!

Cô du học sinhTàu này nói đâu có gì sai? Dân chủ nước Mỹ có; nước Tàu không có! Tự do ngôn luận nước Mỹ có; nước Tàu của cô không có!

Bằng cớ là: Có tới hơn 200 luật sư, đã bị nhốt tới 5,7 năm, bị quy chụp tội âm mưu lật đổ chánh quyền Trung Cộng!

Tập Cận Bình từng nói tư tưởng tự do đe dọa sức mạnh của Đảng Cộng sản.

Còn về môi trường, hôm 24 tháng Năm, năm 2017, mấy chú Củ Sâm Đại Hàn đã đưa mấy Chú Ba Tàu Cộng ra Tòa vì tội ở dơ, làm ô nhiễm không khí, làm người dân các nước láng giềng, gặp nguy hiểm trầm trọng về hô hấp!

Mấy Củ Sâm đòi bồi thường mỗi người 2.600 đô la. Tiền hỏng bao nhiêu nhưng làm “quê” nó chơi!

Nhà nước Trung Cộng, tệ hơn vợ thằng Đậu, mà có ai chê thì nhẩy đong đỏng lên hè! Đăng đàn, phản đối tùm lum trên mạng xã hội Weibo bằng cả tiếng Hoa và tiếng Anh, cáo buộc Dương Thư Bình làm xấu mặt đất nước và đòi cô đừng quay về nữa.

Nhưng đại học Maryland đã nói rằng: “Cần lắng nghe những lập trường khác nhau! Chúng tôi ủng hộ Dương Thư Bình được quyền tự do chia sẻ quan điểm khác biệt!” 

***

Kết luận là tui hoàn toàn giơ tay đồng ý, kể cả giơ hai chân luôn cho té lăn cù; để cổ vũ cho quyền tự do ngôn luận, quyền nghĩ gì nói nấy mà không bị ai cấm cản. Tui cực lực chống lại sự kiểm duyệt hà khắc của mấy chế độ độc tài.

Nhưng hỡi ơi ngay chính trong gia đình tui, tui đã bị em yêu, (tức con vợ tui) tước đoạt quyền tự do ăn nói vô tội vạ này một cách “tàn nhẫn… nại”!

Con vợ tui đã từng dạy dỗ tui rằng: “Khi em nói! Chỉ được nghe thôi! Cấm cãi lại!” Phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói, như lời Khổng Tử dạy. Vì lời nói như mũi tên bắn vào lỗ tai người khác. Rút ra là lỗ tai chảy máu. Do đó phải cẩn trọng lời ăn tiếng nói mới được. Đừng bao giờ tranh cãi!

“Tranh cãi với khách hàng, anh thắng, khách hàng đi mất! Tranh cãi với đồng nghiệp, anh thắng, thì nó sẽ đâm sau lưng anh bằng cách đi méc với chủ: “Anh là vua làm biếng!” Tranh cãi với chủ, anh thắng, thì nó sẽ nắm đầu anh mà đuổi cổ! Tranh cãi với con vợ, anh thắng thì chịu khó ôm mền ra sa lông mà ngủ… một mình!”

Tui hoàn toàn phản đối lời con vợ của tui; vì quyền tự do ngôn luận này được Hiến pháp nước Kangaroo bảo đảm mà!

Thế giới sẽ cực kỳ buồn bã nếu không còn ai tranh cãi nữa! Xung quanh ta sẽ im lặng như tờ, im ru bà rù, thì anh em mình sẽ buồn ngủ biết bao!

Không cho tranh cãi được với vợ; thì tui đi tranh cãi với bạn nhậu! Vì tụi nó cũng y hệt hoàn cảnh tui là: Vợ cấm cãi thì đi kiếm bạn nhậu để cãi cho nó đã cái mồm!

Đưa cốc rượu đỏ lên môi, quất nghe cái ót, tui bèn phê phán một nhân vật quyền lực nhứt trên thế giới, cách đây hơn nửa thế kỷ, (cho nó an toàn trên xa lộ).

Dù muốn hành xử quyền tự do ngôn luận hết sức nhưng mỗi lần phê phán một tai to mặt lớn nào, tui cũng còn bị di chứng thời bị CS kềm kẹp cả chục năm sau 75, nên tui vừa đưa ý kiến phản biện của mình ra và vừa hơi run nhe!

Chắc bà con mình đã từng nghe Tổng thống Mỹ, John F. Kennedy (từ 1961 tới 1963) tuyên bố: “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc?”

Hai đứa bạn nhậu của tui đều gặc, gặc đầu: “Nói như vậy quả là phải phải… thì còn cãi được chỗ nào hè?!”

Tui thì thiên hạ nói A, tui nói B. Thiên Hạ nói C; tui nói D… Đến chừng nào hết 27 chữ cái cũng chưa thôi. Nghĩa là trúng trật gì cũng cãi… Cãi tưới hột sen!

“Tại sao lại không? Đối với Tổ quốc, mình đã làm đầy đủ cái “bổn phận sự” là đi cày, nai lưng ra đóng thuế đầy đủ không thiếu một xu! Thì Tổ quốc phải làm cái bổn phận sự của nó chăm lo phúc lợi của người dân, trong đó có tui và vợ con tui thì mới công bằng! Tui phải được quyền hỏi Tổ quốc đã làm cái gì chớ!

Chớ cái mang cái Tổ quốc ra mà kêu gọi lòng yêu nước vô điều kiện, kêu gọi hy sinh hoài hè? Mình lao động mà nó vinh quang… thì quả là bất công!

Vin vào hai chữ tổ quốc để chơi cha hoài sao được!”

Tui xin phản đối Tổng thống Kennedy!

Chủ nghĩa quốc gia cực đoan hẹp hòi, chủ nghĩa CS độc tài, đàn áp nhân quyền, cấm cản quyền tự do ngôn luận, quyền bày tỏ chánh kiến khác nhau của người dân đúng ra là phải cáo chung từ lâu rồi mới phải.

Khi được sinh ra làm con người trong vũ trụ này rồi, là mình thuộc về nhân loại, đã vượt ra khỏi biên giới một quốc gia nhỏ hẹp.

Cho nên thế giới bây giờ bất cứ một quốc gia nào cũng không còn là một ốc đảo cô lập! Không một chánh phủ độc tài nào được quyền đè đầu, cỡi cổ áp bức dân lành, đàn áp khốc liệt quyền tự do ngôn luận mà không bị toàn nhân loại xúm lại chửi bới đâu nhe!

Do đó! Bà con ở hải ngoại hãy thoải mái hành xử quyền tự do ngôn luận của mình ngoài xã hội cũng như trong cả gia đình.

Con vợ mình không cho nói… thì mình cũng nói… để giúp em yêu “cai trị” mình ngày một tốt hơn!

Đừng sợ vợ nữa hỡi quý anh! Hãy vùng lên! Chào quyết thắng!

Tranh Bảo Huân

đoàn xuân thu.

melbourne

Phán chuyện ruồi bu! 

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Thị trấn Dandenong, phía Đông Nam thủ phủ Melbourne., tiểu bang Victoria, Australia, có ông tài xế chạy xe vượt đèn đỏ. Cảnh Sát bèn tức tốc rượt theo chớp đèn lia lịa nhưng thằng chả cắm đầu chạy miết, chạy riết cho tới cổng nhà thương mới chịu ngừng.

Lúc đó mấy thầy đội mới vỡ lẽ ra là có một bé gái mới sinh khóc ‘oe oe’ trong xe. “Hello! Cháu xin chào mấy thầy đội ạ!”

Người mẹ, Meta Ouk 25 tuổi, Úc gốc Khmer, sanh con so trên băng sau chiếc xe Lexus nói rằng: “Cháu nó chui ra lẹ quá! Tui lo cho mạng sống của con tui. Tui sợ lắm. Tui chỉ muốn ông xã vọt lẹ lẹ vô nhà thương càng sớm càng tốt!” “Ảnh vượt đèn đỏ, qua mặt luôn xe cảnh sát, một chiếc rồi hai chiếc, rồi ba chiếc cho tới khi tui tới nhà thương!”

Vợ chồng đang sống ở vùng Keysborough nầy lần đầu đi sanh em bé nên hổng dám lè phè đâu! Họ đã đến nhà thương lúc 8 giờ 45 phút tối hôm trước; nhưng cô mụ phán như đinh đóng cột: “Về đi! Sớm quá! Còn tới 10 ngày nữa! Chưa đẻ đâu mà lo! Mà nhà gần xịt! Lo gì chớ!”

Té ra mấy cô mụ phán trật lất. Nửa đêm bà Meta Ouk chuyển bụng! Từ nhà tới nhà thương khoảng 15 phút mà em bé đã chui ra giữa đường rồi!

Ông chồng, Seyha Ing, nói: “Tui thấy mấy thầy đội cố dừng xe tui lại ở đường Stud, Dandenong khoảng 1 giờ 45 phút sáng Thứ Tư. Nhưng chuyện chết sống của vợ con mà! Nên tui cứ chạy riết! Chuyện gì rồi sẽ tính sau nha!”

Khi vỡ lẽ ra, mấy thầy đội bèn:  “Tụi tui không phạt ông bà đâu! Chúc mừng ông được lên chức Tía nhe!”

***

Cháu gái nầy theo người viết xủ quẻ: Lớn lên! Bét lắm là làm Tổng Toàn Quyền hoặc Thủ Tướng Úc; vì mới sanh ra có vài giây mà một đống xe cảnh sát phải chớp đèn, hụ còi hộ tống… Đúng là số ‘chánh vì vương’ nha!

Mấy tay Úc đọc tin vui nầy trên ‘facebook’ của phú lít, rất lấy làm phấn khích, bình luận rôm rả rằng: Cái vụ đẻ rơi, đẻ rớt nầy và cách hành xử có tình người của mấy thầy đội Úc được rất nhiều ngưởi ‘comment’, bấm ‘like’; vỗ đầu khen ngợi.

“Vợ đẻ, đau, la um sùm! Cớm hú còi rượt theo! Tình hình cực kỳ căng thẳng mà ông chồng vẫn chạy xe được! Tài xế giỏi!”

Nhưng đời mà! Lưỡi không  xương nhiều đường lắc léo; miệng không vành nó méo tứ tung nên cũng có thằng Úc cà khịa đòi ‘méc’ ban quản trị trang facebook của ‘phú lít Victoria’ nên xem lại và rút cái bài nầy xuống vì hành động ngồi xổm trên luật giao thông của Úc là không thể chấp nhận được!

Tay Úc bên Perth, Tây Úc cà chớn nầy biện luận rất ‘cà cháo’ và ‘cà pháo’ nổ, rất ‘robot’ tức người máy, rằng: “Nguy hiểm! Tình huống con vợ đang la làng la xóm:  “Bà không chịu mà mầy cứ ép! Giời ơi đau quá Mẹ ơi!; chắc làm ổng phân tâm quá rồi! Lỡ vượt đèn đỏ, ông đụng người ta hay bị người ta đụng ổng! Rồi chết tới bị thương! Sao không kêu xe Hồng Thập Tự hả?!!”

Nghe vậy thiên hạ reply, xúm vô chữi thằng chả thiếu điều tắt bếp! “Kêu chờ xe Hồng Thập Tự trong khi cách bịnh viện có 15 phút lái? Ngu sao mà chờ! Biết chừng nào nó lại?! Trời khuya ít xe cộ, trước khi vượt đèn đỏ, ổng cũng ngó trước ngó sau chớ! Va vô vợ con ông chắc ông ‘bay’ hỏng cẳng; chớ ở đó lên giọng thầy đời, dạy khôn bằng cách chờ xe cứu thương!”

“Thôi! Nín đi cha nội! Đừng phán chuyện ‘ruồi bu!” nữa được hông?” He he!

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

Dòng sông nước mặn

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 27/09/2019 

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Nhà Mùi chẳng thuộc loại lớn rộng tường cao kín cổng. Hình dáng nó tựa một cái hộp hình chữ nhật thấp té nằm chỏng chơ giữa vuông đất đầy cỏ cháy. Chốn đây thì chán khối, mọc la liệt những cái hộp thường thường bậc trung kiểu ấy, khắp hang cùng ngõ hẹp. Ai sao ta vậy. Mùi kể, mặt tỉnh như ruồi khi phân bua: Nhà mình trước đây “hoành tráng” lắm cơ, nhưng cơn bão “thế kỷ” dạo đó đi ngang và rồi mọi thứ trở thành bình địa. Mình sống sót, mình đứng giữa tan tành với ý nghĩ vật đi thay người. Rồi mình cắc cớ nhớ lại chuyện cổ kể về một tay đại đế: “Hãy chôn tôi xuống đất nhưng chừa hai bàn tay lại, như vậy bọn chúng sẽ thấy là khi chết tôi nào có mang theo được thứ gì đâu!”.

Mùi ra phi trường Tampa Bay đón bạn về nhà: Ở lâu mới ngán chứ một tuần lễ thì nhằm nhò gì, chỉ sợ là cơm hàng cháo chợ ở chốn này e hèn kém thua bên chỗ ông ở thôi. Thân, bạn Mùi đưa cảm nhận sau khi được Mùi dắt đi quanh một vòng sân trước vườn sau: Ngon lành quá, mình vẫn mua vé số, nhờ trời chó ngáp phải ruồi sẽ chạy qua đây mua cái nhà y như ông vậy thì chẳng còn thiết tha gì nữa! Mùi cười: Nhớ đừng chôn vùi giấc mộng ấy nghe. Mùa đông bọn chúng bên đó thường bay sang trốn lạnh. Khi đó cả hai đang đứng bên một cây xoài sai quả chôn thân ở sân sau, có thể trông ra cành phượng đỏ nằm án trước cổng nhà. Cây trái hoa màu chúng hiện hữu giữa đời mà không nhất thiết phải tựu thành thức ăn cho người chăm bón. Người ngắm nhìn thôi cũng nghe cảm động về một bóng hình cũ, một hương mùi lẫn trốn xa xăm. Giá trị nó mang lớn vô cùng, chưa tính tới cành lá dệt đan luôn tạo ra bóng im mát, bảo bọc một góc sân, ngó sướng con mắt. Xứ Thân sống đời ký gởi có đi ngàn dặm thì cũng chỉ tuyền một loài cây phong, cây tùng, cây thông, những loài thảo mộc không hề sợ băng tuyết. Nó dẻo dai, nó cứng cáp và muôn đời dung mạo nó kém rạng ngời nếu so với những anh chị thích sống xứ nhiệt đới. Anh nhãn, chị vú sữa. Anh mít, chị chôm chôm. Anh chuối, chị đu đủ. Anh mãng cầu, chị khóm dứa thơm…

Mùi ở Xen Bí. Thân nghe bạn giải thích một địa danh được Việt hoá từ chữ St- Petersburg. Thỉnh thoảng Mùi dậy sớm vác cần câu ra biển nhọ mặt người và buổi trưa loay hoay chế biến món hải sản đành đạch tươi rói. Mùi làm món chả, quết thịt cá với tiêu hành tỏi, thêm chút bột nổi rồi vo viên thả vào nồi dầu đun sôi. Thực phẩm tươi, nhiều chất đạm và an toàn đó được bảo quản trong ngăn đá. Bữa cơm đầu tiên Thân được bạn chiêu đãi bằng món cây nhà lá vườn kia. Mùi đọc tên loài cá rồi mang sách chỉ cho Thân xem. Nó tựa như loài cá mú, da vàng, thân ngắn, mình dầy, đặc biệt thịt rất ngọt, không tanh. Cuốn sách dày hơn ba trăm trang đó có chú thích cho kẻ thích thú đi câu về hình dáng một vài loại cá mà bạn chớ nên ăn thịt nó, sẽ ngộ độc ngứa ngáy da thịt nôn mửa các thứ. Lại lưu ý về trọng lượng nhưng Mùi phớt tỉnh ăn-lê, lớn nhỏ gì thì chàng ta cũng xơi ráo, cho bõ những ngày cá buồn đời cá chẳng cắn câu. Cá nhỏ, chàng ta có món kho khô với ớt trái, ăn rất bắt cơm. Chàng không hề là ngư ông nhưng chàng lập luận nghe cũng bùi tai: Sống cạnh biển mà chẳng biết thu nhập nguồn lợi hằng hà từ biển dâng, hoá ra ta là kẻ dại khờ chăng? Thế nào ông cũng phải cùng mình đi câu một lần cho biết. Thân nói: Mình dở dang, một đời lầm lỗi vì không biết đọc thông chữ nhẫn. Già rồi, hết thời rồi thì đừng bắt mình trì chí buông cần câu đợi chờ.

Người Việt chọn bang Florida để định cư so ra không mấy đông, do vậy tìm ra tung tích những người bạn cũ thêm khó khăn. Cứ “nghe nói trước ở đó mà giờ thì chẳng biết về đâu”. Hoặc “hình như”. Ai? Con Diễm Hồng hả? Hình như nó dọn đi Miami thì phải. Chỉ có một nguồn tin chắc như bắp, không sai trật và chẳng hồ nghi gì ráo trọi. Nhớ thằng Giáp không? Trần văn Giáp ấy. Giáp lùn ấy. Nhớ, nhớ. Nó hiện ở đâu? Giờ này nó vào ở hẳn trong chùa rồi? Xuống tóc hồi nào vậy? Xuống mẹ gì. Con nó gửi tro cốt nó vào ăn nhờ hương hoa quả Phật. Câm lặng chừng tàn một nén nhang. Có thể chở mình ghé chùa vái lạy nó ba cái? Chuyện nhỏ. Đang tá túc nhà thằng Mùi hả? Đã thưởng thức món chả cá danh trấn Xen Bí của nó chưa? Mẹ, ngon cho nhức nách. Vợ tao gặp phải bác Mùi là vòng tay bẩm sư phụ liền khi, cung kính không bằng phụng mạng.

Mùi hỏi: Ông gọi ai thế? Thân đặt điện thoại xuống: Ờ, vợ chồng thằng Tuất. Mình đâu ngờ mà thằng Giáp chết đã hai năm rồi. Thế vợ chồng nó có mời tới nhà tham quan không? Khoảnh sân sau nhà chúng nó, ông nhìn mà không mê thì thôi. Đu đủ nhé, ổi nhé, khế nhé, quýt nhé, chuối nhé, mãng cầu nhé. Cuối tuần chúng nó mang ra chợ trời bán, tiền nhét cả cục sau đít, ăn gì hết! Thân than: Ôi thôi Florida! Cái xứ gì mà đất vàng biển bạc nhường ấy! Nếu không làm ngư ông thì ta làm nhà nông, rồi một ngày kia sẽ trở thành đại gia thôi. Thì bạn Giáp cũng từng ngôn như ông vậy, sức người có hạn đành phải rửa chân leo lên bàn thờ ngồi. Kiếp người thật khó phân giải ở thì tương lai, mưa đó nắng đó ai đâu ngờ được!

Tuất tới, xe Nissan bảy chỗ ngồi mới cáu. Thân lại biết thêm một chuyện làm giàu trí khôn: Cuộc đua trèo đèo lội suối vượt qua bốn lộ trình đất đai khác nhau thì mới đây Nissan đoạt chức vô địch ở hạng mục xe 4×4, hơn cả BMW, hơn Honda, hơn Audi, hơn Toyota… Qua Tuất, Thân lại ngộ thêm một việc: Việt Nam cờ xí bay khắp hang cùng ngõ hẹp, thừa mứa đến độ mang cờ trao tặng cho ngư dân treo vào thuyền đánh cá hoặc dúi vào tay bà con nông dân đang cạp đất ở chốn khỉ ho cò gáy. Ở Florida này, chỉ có cờ bay phất phơ nơi các chỗ bán xe hơi. Đếch có phô trương tự hào như giống nòi con rồng cháu tiên nhỉ? Mùi bình phẩm: Ông chỉ được tài nói cạnh nói khoé thôi. Con rồng cháu tiên gì mà u mê ám chướng cỡ chúng nó? Sao, có tiết mục gì lạ dành cho thằng Thân vừa chân ướt chân ráo tới không? Tuất ngó Mùi: Nên làm một chuyến đi Orlando chăng? Phải đa, không chừng hữu duyên thiên lý gặp được cố nhân. Năm ngoái Hiền nó từng hát hò ngâm vịnh gì đó, văn nghệ văn gừng làm khuấy động và làm khởi sắc một Orlando mãi buồn như chấu cắn.

Hiền? Bạn cũ của Thân có ba người đều mang cùng tên ấy. Một trai hai gái. Một hiền lành mà hai thì tính khí chưa chắc đã hệt tên mang, nhưng chốn này nếu gặp lại được một trong ba Hiền kia thì có bị ăn hiếp như ngày xưa cũng lấy làm thoả dạ. Không rõ là Mùi có hậu ý gì khi thuật lại chuyện bạn ấy vừa xem trên các trang mạng: Ở Phi Luật Tân một nhóm bạn học cũ đã tổ chức buổi họp mặt gọi là nhớ trường nhớ lớp thuở trung học thân thương nhiều kỷ niệm. Liên hoan đang vui nhộn bỗng có tiếng rú cất lên, một ông già tay nắm con dao đẫm máu phân trần giữa bàn tiệc: Thằng Y. trong suốt thời trung học đều quen thói bắt nạt tôi, đã thế vừa rồi lại ngựa quen đường cũ, giọt nước cuối làm tràn ly. Nó chết cũng để chứng minh cho câu “chớ nên dồn chó vào chân tường”. Tuất than: Trời ơi sao có đứa khắc ghi nỗi thù lâu quá mạng! Từ thưở đầu xanh cho chí bạc đầu. Vậy chớ ở đây mình chửi sự ngu xuẩn của bọn Việt cọng lại có bạn trách sao anh thù dzai thế!

Xa lộ thênh thang, trời xanh mây trắng, êm như ru thoáng cái xe đã vào địa phận Orlando. Tuất bảo, để mình thử đến hội quán Hương Giang cho bạn Thân thăm thú qua cho biết sự tình. Hương Giang? Việt Nam chỉ có một dòng sông Hương lắm huyền thoại bao bọc lấy Huế. Những người con Huế lưu lạc phương xa đã mang chút lưu lượng con sông chốn cũ tới đây nhằm vỗ về, không nhất thiết phải nghe tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương. Trường lưu thuỷ thầm lặng chảy vào lòng người, việc úng thuỷ kia có giúp cho nguôi ngoai chút niềm riêng e cũng khó nói nên lời. Phô trương thanh thế cái đã, những thứ bao đồng khác thì từ từ tính sau. Nhưng phải thú nhận là chưa khi nao Thân ăn ngon miệng một tô bún bò như bữa đó. Rất cay nồng, rất sả ruốc, rất Huế. Huế chay. Vậy thì bún bò Huế ngon nhờ vào nước sông Hương là một giải thích đầy sai lạc. Giò nghéo heo Mỹ, thịt bắp đùi bò Mỹ và nước của Orlando cũng tác thành ra một thức ăn danh bất hư truyền. Thử nhớ lại mà xem. Bún bò Đà Nẵng, bún bò Nha Trang, bún bò chợ Tân Định Sài Gòn Phú Nhuận, bún bò trôi sông lạc chợ vào lục tỉnh, vào miền Tây, ra tận Vũng Tàu thảy đều ngậm mà nghe, đều ngon nhức nách đấy thôi. Thẩm định nó đều vin nhờ vào miệng lưỡi, vào không gian, thời gian và quan trọng hơn, lệ thuộc vào tâm sinh lý cái hôm được gục mặt vào “đọi” bún quốc hồn quốc tuý mà lùa mà húp. Ăn để sống chứ không phải sống để mà ăn cũng là một quan niệm cần bàn cãi. Anh ăn trường kỳ bo bo, sắn khoai, bột mì bỗng một hôm được “phục vụ” một chén cơm trắng. Mọi thứ triết lý về cuộc đời khi ấy đều đổ biển trôi sông.

Mùi mang tới bàn cho Thân xem một tờ tạp chí địa phương đã vừa đánh dấu số trang. Mùi nói: Bài viết của Hiền đó. Đọc đi, coi như thế món tráng miệng. Hiền nào? Ngày đó mình chơi tới những ba bạn Hiền. Chưa có ông bạn nào vén màn bí mật cho. Tác giả mang tên Thượng Hiền không bày thêm chút le lói nào cả:

“Mùa đông ở Huế đi lội nước lụt: Chuyện thường ngày ở huyện. Nếu chộn rộn cảnh chó mèo gà vịt cùng gia chủ leo lên nóc nhà ngồi nhìn đời hiu quạnh, khi ấy nhà nước gọi là sự cố sai quy trình. Mùa hè ở Sài Gòn dắt xe máy lội bì bõm giữa tụ điểm thoát nước cao ngang rốn: Chuyện nhỏ! Người Nam bản tính xuề xoà, có sao nói vậy, họ kêu thành phố đầy ấn tượng ấy là Hồ Chứa Mưa. Vậy chớ vùng cao cỡ như Đà Lạt thì sao? Nhà nhà mang lu ra phòng chống ngập cũng đành bó tay, dân tình bèn đồng ca bản “Khóc Một Dòng Sông”…

Đọc chưa xong thì Tuất đi vào cùng một bóng hồng: Đó, Thân đó, bạn cũ lưu lạc đã lâu vừa từ ngàn dặm vượt biên qua thăm. Đây là Hiền, Trần Thị Hạ Hiền. Hiền cười chẳng được tự nhiên trong khi trí nhớ Thân đang lao đao về dung mạo một hình bóng cũ. Cô Hiền này in tuồng mình chưa gặp qua. Hiền kia dáng liễu mềm và gầy xanh hơn. Hiền có da có thịt khép nép ngồi xuống bên Thân, nhỏ nhẹ: Ba má em đẻ ra hai người con gái đều mang tên Hiền chỉ khác ở chữ lót, chị Thượng Hiền xưa là bạn anh, và hồi đó em còn nhỏ chắc anh chẳng nhận ra. Thân nhìn qua một mái tóc mềm mại đã đổi sang màu nâu đậm: Nếu anh muốn đến thăm chị Hiền thì phải làm sao?

Chừng năm phút sau, người con gái mang tên Hiền đã hiền từ đưa lời đề nghị cùng Mùi cùng Tuất: Em là địa phương quân, em muốn “bắt cóc” anh Thân đi một vòng ngoạn cảnh chốn này, hẹn sáng mai sẽ hoàn trả về lại chỗ cũ, mấy anh cho phép nhé. Tuất đùa: Muốn tha đi đâu thì tuỳ thích, chỉ xin khi đi ra sao thì khi về còn nguyên trạng bổn cũ kẻo bọn này khó ăn khó nói việc đem con bỏ chợ.

Hạ Hiền chạy xe Lexus, cách cô điều khiển nó chẳng mấy thuần thục mà theo Thân nghĩ do bởi lòng cô không kềm giữ được những cảm xúc. Hình như cô cũng đang tìm cách giải bày những rắm rối, nghe sao cho ổn khi nói ra. Anh qua chơi bao lâu? Độ chừng năm bảy ngày, anh rất vui khi biết có hai Hiền cùng ngụ nơi này, thoả lòng khi gặp mặt. Em chẳng muốn loan tin này ra, nhưng buộc lòng phải nói và trao lại một kỷ vật… Chị Hiền đã mất vì bạo bệnh, rất đột ngột. Và theo ý nguyện, chị muốn ra đi trong lặng lẽ, chớ nên cho ai hay biết. Cũng vì lẽ ấy mà em cả gan thế mặt chị, gửi đăng thơ lên mặt báo, em sẽ ngừng khi đếm đủ số 49 bài. Em chở anh đến chùa nhìn di ảnh chị Hiền, thắp nhang xong em sẽ trao lại cho anh chồng thư ngày cũ anh viết mà chị Hiền vẫn còn lưu giữ như một kỷ niệm thân thương.

Thân ngồi trong lòng ghế chật, thấy cơ thể mỗi lúc một thu nhỏ lại, kể cả miệng mồm cũng thế, thở không ra hơi. Tiếng than chẳng thốt ra lời. Mây bay ngang trên mái chùa cong, xe lảo đảo lao vào một mặt sân rộng, thoáng, vắng. Hiền ơi Hiền… A di đà Phật.

Hồ Đình Nghiêm

Đồng hành

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 25/04/2019 

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Người con gái lấy tay che mặt. Ban đầu thấy vai rung, sau bật thành tiếng khóc. Bên cạnh, gã thanh niên ngồi đưa lưng, lúng túng thắp lửa điếu thuốc. Hắn lầm bầm điều gì nghe không rõ rồi đứng lên, băng qua phía bên kia đường.

Trời đen thui, gió đi qua những bụi cây nghe xào xạc. Có tiếng côn trùng kêu rỉ rả vọng tới theo gió, và tiếng xè xè của một tia nước được bắn xuống mặt đất.

Ngụy thấy lạnh và phát hiện ra cô gái ngồi thật sát mình. Cảm nhận hơi ấm từ phía cô ta đi mon men qua vòng tay để trần đang bó gối. Ngụy đập con muỗi đang cắn hút vào cánh tay thấy ngứa. Vô tình làm giật mình cô gái. Gã thanh niên bên vũng mờ trở lại, vừa đi vừa kéo phẹc mơ tuya quần. Miệng vẫn ngậm điếu thuốc cong queo chưa đốt.
– Đừng khóc nữa. Thua keo này bày keo khác.

Câu an ủi của hắn chẳng có hiệu lực. Ngụy thấy người con gái quẹt mũi vào đầu gối rồi tiếp tục tức tưởi.

– Anh có lửa đó không?

Ngụy trao cho người hỏi cả hộp diêm. Hắn đánh cái xoẹt rồi bụm tay che. Ngọn lửa sáng làm Nguỵ thấy cặp lông mày nhăn nhíu của hắn, một bên mai không có tóc bởi vết sẹo nằm đó láng trơn. Điều này cho Nguỵ cái cảm tưởng kỳ quặc là bộ mặt hắn trông có vẻ mất thăng bằng, làm mắt phải chú ý tới để nhìn rồi khó chịu. Y như một chiếc xe hàng chất đồ đoàn nặng về một phía. Ngụy bỗng cười vu vơ…

– Nhằm nhò chi mấy ký bột ngọt đó. Má tui đi buôn có khi bị tịch thu hết hàng hoá, rồi đem cả đống bạc vốn liếng đi đút lót xin tha mà ai ngờ cũng bị tụi nó ăn cho sạch sẽ. Đi về còn cái mạng già trơ trụi, chẳng thèm rớt một hột nước mắt.

Câu nói này coi bộ ép phê dữ. Người con gái ngẫng mặt lên nhìn hắn bán tín bán nghi.

– Bả chỉ chửi thôi. Chửi hai ba ngày thấy đỡ ấm ức lại khăn gói ra đi. Tui nói thua keo này bày keo khác là vậy.

Cô gái quay qua Ngụy. Mấy giờ rồi anh?

– Tôi không có đồng hồ. E cũng tới mười một mười hai giờ đêm rồi cũng không chừng.

Ngụy nhìn lên sao trời lưa thưa như phỏng đoán một con số qua đó. Gã thanh niên chép miệng đằng hắng rồi nhổ nước miếng kêu cái chách, bắn đi đâu đó. Phía dưới dốc, nơi có ánh đèn nê ông tạo thành vuông sáng đâm ngang chặt đứt con lộ đen, ở đó bỗng túa ra đám người xôn xao. Ngụy thấy những vòng thép gai, tấm bảng viết nguệch ngoạc chữ dừng lại mù mờ và sau cùng hai ba tên đeo súng từ trong trạm kiểm soát vừa đi ra vừa xua tay. Chúng nó kéo rào cản để thu hẹp mặt nhựa hắc ín lổ hê lổ hủng trong khi bóng những kẻ bị xua đuổi ăn xuống đường thành mấy vệt đen loạng choạng nghiêng ngửa trở lại xe.

Ngụy buồn ngủ ngáp đến chảy nước mắt sống. Trong đôi mắt mỏi mệt, hình ảnh vừa thu nhận đó như cho Nguỵ cái ảo giác mình đang “nhìn” cảnh vật trong một giấc mộng, trong một nhắm mắt chập chờn, giữa một cuộc hành trình quá dài không thấy đích tới: quá khốn đốn, căng thẳng và rã rời.

– Đù má, có nhúm cà phê mà tụi nó cũng hốt. Thiệt bực mình.

– Nói đàng hoàng, nói lý lẽ, nói rất biện chứng mà tụi nó cũng dê kêu. Mày thấy không, nhất trung ương nhì địa phương là vậy.

Gã thanh niên nhìn theo hai người trung niên “thọ nạn”. Hắn nhún vai. Biện chứng cái gì giữa đời là bể khổ? Rồi cười búng điếu thuốc bay xuống lập loè giữa lòng đường.

– Thôi, leo lên xe lại đi. Còn cả chục trạm nữa chứ đã hết đâu.

Hắn tới đu người ở ô cửa bên hông và vào trong xe bằng lối đó. Đôi dép đã mòn vẹt đế của hắn chòi chòi đạp đạp nơi chữ T.P.Hồ Chí Minh có ai mửa xuống một vệt xám mốc, đã khô nhưng còn mùi hôi chua. Ngụy bắt chước hắn nhưng đu người lên ở khoảng giữa xe, nơi chữ Nha Trang nước sơn đã tróc.

– Anh vào trỏng chơi hay sao?

Gã thanh niên hỏi khi Nguỵ trở lại ghế của mình.. Người con gái vẫn chưa lên. Lòng xe chật chội quang gánh và người ngợm bắt đầu chèn ép xô đẩy.

– Ừ, có chút công chuyện.

– Cô nhỏ đó cũng tội há! Phải chi có kinh nghiệm thì khác.

– Có lẽ. Hình như học sinh mới đổi nghề thì phải.

– Chứ gì nữa. Anh không thấy cổ khóc sao? Chỉ biết khóc mà không biết làm trận.

– Làm trận là sao?

– Là năn nỉ, là cười tình, là hứa hẹn, là lạy lục. Mà không xong nữa thì vén quần vén áo chửi tán loạn lên.

– Chửi được không đó. Giữ mạng mà đi chớ.

– Thì đã nói là chẳng phải con buôn mà. Anh chưa gặp má tui, bả chửi từ trên xuống dưới, chửi tuốt luốt có ke ai đâu.

– Má anh đã già chưa? Họ nói thí mạng già là vì vậy. Cô này còn trẻ, chửi ẩu là mệt với tụi nó. Đừng nói gì, đêm hôm khuya khoắt bị giữ ở chỗ đồng không mông quạnh này, bộ không ớn sao?

– À há. Nghĩ cũng phải. Tụi nó động lòng là tiêu đời hoa.

Ngụy đá vào chân gã ra dấu. Người con gái đang cực khổ len lỏi tới. Tóc rối và mặt mày sưng húp, làm như cô đã khóc bằng cả thất khiếu lục phủ ngũ tạng.

– Này, đường còn dài, cần tụi này giúp gì không?

Gã thanh niên hỏi, ép người nhường lối cho cô gái vào trong.

– Nói thiệt đó. Giả dụ như còn hàng thì chia làm ba, dấu mỗi người một ít cho chắc bụng. Nhớ lúc trước, má tui làm bà già mang thai mà cũng qua mặt bọn thuế vụ cái rẹt. Chừ bổn cũ soạn lại chứ ngán chi.

Người con gái ngần ngừ, nhìn vết sẹo không mọc tóc của gã ngồi bên, xong lại hướng mắt tới Nguỵ thăm dò.

– Bộ cái bản mặt của tui gian tà lắm sao?

– Không phải. Tôi chỉ sợ làm liên lụy tới mấy anh.

– Ời, Đừng nói mấy cái lẻ tẻ đó mà mất vui. Tụi mình đồng hội đồng thuyền, khi khổng khi không mua vé ngồi gần với nhau thì coi như đã có duyên tao ngộ… Cũng như bây giờ nói chuyện vô duyên là xe đò này có chết máy giữa đàng thì tui là người gánh vác xuống đẩy trước tiên. Mình vì mọi người, phát huy quyền làm chủ tập thể. Phải không anh?

Hắn quay qua Nguỵ đá lông nheo một phát chớp nhoáng. Ngụy lấy thuốc hút cho đỡ lạt miệng, thấy khó chịu với những chữ hắn dùng và thầm sợ tên này mồm mép quá đỗi láu cá. Đòi lại hộp diêm hắn vẫn chưa trả lại rồi thắp thuốc thổi khói xuống đùi mình. Kẹp ở đó, cái túi vải eo xèo đựng bên trong hai bộ quần áo nhàu nát làm hành trang.

– Nếu cô thấy cần, cô tin tưởng, thì tôi giấu bớt cho ít đồ.

– Đó, thấy chưa. Tụi tui thấy cô không nhanh lẹ nên có ý tốt vậy mà. Nếu tui là cô, cứ nhờ vả ngay từ lúc khởi hành thì chuyện đã đâu đến nỗi.

Người con gái vẫn chưa quyết, dấu chút bối rối bằng cách moi ở túi áo cụt ra ve dầu Nhị Thiên Đường, vặn mở nút nhựa rồi đưa lên mũi hít hít. Gã thanh niên chừng như không tha, sẵn đó ngưỡng tay xin tí dầu thoa cho đỡ gió máy. Hắn nói vậy rồi đưa ngón trỏ bịt lấy miệng ve dầu lúc lắc, bôi bôi bên thái dương trơ trụi tóc.

– Có dạo má tui biểu đi theo phụ một tay. Xe chạy êm thắm dư sức qua cầu ai dè giữa đường tụi nó đặt khơi khơi một trạm kiểm soát để chận bắt con buôn. Đột ngột trái phép bất tử vậy mới chết người. Má tui quýnh quá không biết dấu đâu cho hết biểu tui ôm bớt đống hàng nhảy đại xuống xe. Tui cũng quýnh theo bả, ừ nhảy thì nhảy, ba mươi sáu kế thượng sách nhất là kế di tản. Xe từ từ tắp vô lề, tui phóng chúi nhủi xuống đường ôm hàng chạy le te. Tụi nó hô đứng lại nhốn nháo rồi nổ súng loạn xạ…

Vậy mà chuyến đó tui yên hàng về được thành phố trót lọt. Nói có ai tin không? Cái sẹo này là kỷ niệm nhớ đời. Mẹ ơi! Chẳng biết vì đụng đá sạn giữa đường khi té xuống hay đạn AK đuổi theo vi vút cũng phải nể mặt thằng điếc không sợ súng này. Từ đó má tui chừa mặt tui luôn, nói cái gì… Phước bất trùng lai họa vô đơn chí. Vậy chớ tui tâm nguyện mai sau có lấy nhằm mụ vợ đi buôn chắc tui phải ra chốn sa trường gác đờ co cho bà xã quá.

Hắn cười hề hề. Nhét ngón tay còn dính dầu vào trong lổ mũi ngoáy ngoáy tận hưởng “tàn dư” của hơi hám chất nước nồng cay.

Ngụy tính hỏi đùa vậy chớ lỡ bây giờ cô gái giao cho hắn giữ ít đồ hắn có định “di tản” lần nữa không. Định vậy nhưng thôi, xe đã bắt đầu nổ máy bằng những tiếng gầm gừ. Máy từ thời nào lao động tới giờ nên tiếng nổ nghe hục hặc dữ dội. Những cây hương thắp đàng sau kính chắn gió, bên cạnh người lèo lái, cắm đứng trong cái vỏ đạn đồng run rẩy như giữa nghĩa địa có cuồng phong. Ngụy nhìn tới, nghĩ không ra sự dị đoan thầm kín nào của chủ chiếc xe tội nghiệp này. Mong được an toàn xa lộ? Cầu xin đường dài thu bớt cản trở khó khăn, hoặc từ khó khăn lơi đi cho đôi phần dễ dãi.

Mấy cái bánh mòn bắt đầu nghiến sỏi lăn ra bờ lề, trước mỗi một di chuyển, sau đít xe có tiếng đập rầm rộ và ai đó gióng lớn tiếng hò hét: tới luôn bác tài. Ngụy có ý tưởng về cái thông lệ như một điệp khúc đó, là chiếc xe đã thành một con trâu để biết nhận cái đau từ tay vỗ, biết nghe chừng ấy tín hiệu để rục rịch uể ải lên đường. Cày dài cái luống quốc lộ một tang thương màu cờ đỏ nhiều vướng mắc từ Trung vào Nam. Quê hương thống nhất, hai chữ Chạy Suốt viết sơn trắng bên mỗi chiều dài thân xe không khi nào giữ lời cho con trâu già mệt nhọc kia được yên ổn đi một lèo yên thắm.

Ngụy thử dỗ giấc ngủ nhiều lần, nhưng vừa chợp mắt đã nghe tiếng máy khò khè thắng đứng lại và sau đó tiếng khóc tiếng chửi tiếng tả oán tiếng hâm dọa đồng loạt dấy lên. Ngụy thường nhìn ra cảnh vật tiêu điều bên ngoài mỗi bận xe đứng, lòng mong vô cùng cái thành công của chuyến đi thứ hai. Cuộc hải hành xin được thuận buồm xuôi gió để đem Nguỵ tới một miền đất lạ. Xa súng ống xa ngược ngạo xa dối trá xa cướp đoạt…. và sẽ chẳng còn nhìn nghe những điều chướng tai gai mắt. Ngụy lim dim…

– Bộ tính tranh thủ riu riu ngủ bù sao anh? Đường dài lắm mộng, thức để nói chuyện với nhau cho vui có phải hơn không. Lại còn để người đẹp nhờ nữa chi.

Sau câu nói của hắn, xe chạy ngang một ổ gà dằn xóc đến ê đít. Ngụy nghe heo kêu en éc trên trần xe và gần gũi đâu đó tiếng vịt cạp cạp xướng họa “đồng khởi”. Át hết mọi thứ tiếng là giọng ai đó the thé chửi rủa về một món hàng treo không rõ từ đâu bỗng rớt xuống giáng họa trên đầu.

– Mồ tổ cố nội bây, bộ tính giết người không gươm giáo chắc?

Cái gói hàng “gây sự đầu tiên” kia được ném đi liền khi, ném không thương tiếc và chẳng thèm dòm trước trông sau để kéo theo trận bóng chuyền kỳ cục với những tràng chửi rủa được bắn liên thanh. Bắc Trung Nam ba miền đều có bí cấp tuyệt chiêu riêng biệt. Không hĩm thì tôm he, chẳng bướm thì lá đa. Mà lá đa không chịu thì cái của quý nhà bà.

Gã thanh niên vòng tay, quá quen thuộc hay sao mà bộ mặt hắn tỉnh queo điềm nhiên tọa thị. Ngụy nhìn sang cô gái bắt gặp đôi mắt lớn mỏi mệt hướng tới phía mình. Ngụy nghĩ trong đầu và “nói” bằng mắt: Nản quá phải không? Cô gái cúi đầu như phủ nhận. Nản chưa đúng, trần sanh kinh khủng như Tam Tạng đi thỉnh kinh e rõ ràng hơn…

Xe bỗng dưng cà giựt chạy chậm lại. Một giọng nói hốt hoảng cất lên có hiệu lực làm chận đứng và đánh dạt những ngọn sóng võ mồm.

– Công an bộ đội đứng chận cả bầy nơi kìa, liệu mà ở đó mắng chửi nhau.

Im lặng hết thảy. Bắp rang hết nổ. Trật tự tái lập liền khi. Ngụy thoáng thấy nét mặt bất an hiện đầy khi cô gái ngẩng mặt, đầu tóc rối với một nhón chân lên trông chừng ra trước gương. Ở cái màn ảnh chật vật ấy đóng khung một rào cản bằng người đứng lố nhố đưa tay múa may giữa đường biểu xe dừng lại. Và hai ngọn đèn pha của xe đâm thọc bóng đêm đen kịt làm nỗi rõ những tên lăm le súng ống. Heo lại rên rỉ trên trần xe, có bước chân dẫm mạnh làm dội xuống lòng xe những đe dọa mới, âu lo không thành lời.

Ba cái nón cối lộ diện ở cửa lên xuống. Mấy nòng súng lách cách lạnh lùng đi lên. Ánh đèn pin quét hỗn xược vào từng mặt hành khách đã nguôi lắng trận xung đột vừa rồi. Ngang dọc, quay cuồng, từ trước lui sau. Cái luồng ánh sáng gần nhất dừng yên trên mặt gã thanh niên hồi lâu. Người cầm đèn đã soi thấy vết láng bóng.

– Giấy tờ đâu?

Gã thanh niên cực khổ moi được từ túi quần ra một miếng giấy mỏng gấp làm tám trao tay người hoạnh hoẹ.

– Công nhân đường sắt đi đâu đây?

– Dạ bị tai nạn lao động sau kế hoạch thi đua nên được phép vào thăm gia đình.

Vết sẹo còn mới với màn da non màu đỏ có lẽ chứng minh hợp lý cho câu trả lời của hắn hơn là cái mộc lem luốc đóng ịn vào chữ ký lăng quăng trên tờ giấy bẩn. Và cũng có lẽ vì vậy mà đến phiên Nguỵ hứng đầy ngọn đèn bấm được chiếu thẳng mặt chói chang.

– Công nhân viên của Bộ Y Tế tỉnh Bình Trị Thiên đi công tác à?

– Phải.

– Anh tên gì? Nguyễn Văn… gì?

– Nguyễn Văn Nguỵ.

– Trước đây có đi lính có tham gia đánh phá cách mạng ngày nào không? Đưa giấy chứng minh nhân dân ra xem.

Ngụy trình thêm miếng giấy bọc nhựa. Thấy lại cái hình đen đúa lơ láo mặt mày ép bên dưới, ở trên nặng nề hai nhánh lúa có búa liềm có sao vàng đè xuống với hàng chữ Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc . Ngụy nhìn thẳng mặt kẻ mặc đồ vàng. Không riêng gì cái ảnh chụp đỡ đâu đó, bây giờ tôi đây cũng láo liên bần thần dầu trên đầu chỉ có heo nằm trong rọ thống thiết kêu đến khản tiếng.

Người cầm giấy tờ, cầm đèn, cầm súng biểu Nguỵ ngồi vắt chân lên cho hắn dọi đèn săm soi. Ngụy nghi hoặc làm theo, không khi nào ngờ tới có ngày bàn chân tội nghiệp quen tản cư chạy giặc của mình lại có kẻ tò mò muốn xem. Ngụy nghĩ rồi có một lúc nào đó, ở thành phố chắc xuất hiện lắm ông thầy bói ngồi trải chiếu thử xin đăng ký môn bài xem chỉ chân. Vận mạng con người đã hết linh nghiệm trên đôi bàn tay? Đã vượt biên xuống chân. Những bàn chân vào trại tù, đi vùng kinh tế mới, chạy tất tưởi kiếm miếng ăn, hay chạy bán sống bán chết ra điểm bốc để bước phiêu dạt xứ người???

Ngụy muốn thở dài thành tiếng khi ánh đèn tắt đi. Đón lại giấy tờ tuỳ thân từ bàn tay lạnh ngắt sần sùi. Cô gái cũng lấy đó làm vui, nhìn thân xác kia quay lưng để hoàn hồn trở lại.

Gã thanh niên huýt lên một tiếng sáo: tới luôn bác tài. Vậy mà trùng hợp, xe chạy thật. Mọi người lại nhốn nháo đề tài mới. Không rõ họ muốn cái chi mà chỉ quan tâm dòm ngó đàn ông con trai. Một giả thuyết được đưa ra mà Nguỵ thấy đáng tin nhất: trại cải tạo nào đó có tù bỏ trốn vượt ngục. Gã thanh niên thì thào. Biết đâu chừng họ lùng bắt mấy ông phục quốc. Hồi nãy, bàn chân anh mà có vài chỗ bị chai thì coi như tiêu đời trai. Hắn đổi giọng làm ca sĩ… lính mà em… Rồi bổn cũ soạn lại với cô gái.

– Hồi hộp quá! Tui thấy mặt cô xanh lè mà muốn đứng tim theo. Đã nói là cứ bình chân như vại, đưa mỗi người một ít thủ trong bụng thì phần thắng ắt về ta. Đường đời còn nhiều cạm bẫy chứ đã hết đâu.

Cô gái coi bộ xiêu lòng. Hắn nói văn vẻ như vậy thì biểu sao cô ta chẳng nghe. Vừa văn hoa vừa nhiều kinh nghiệm lịch lãm. Ngụy đâm đòn gánh vào bánh xe:

– Bộ ông là công nhân đường sắt thiệt sự à?

– Ôi da… Chỗ anh em mới nói nghe. Có khi tui từng giữ chức cán bộ cung ứng vật tư, rồi buồn đời làm Tổng Cục Hoá Chất chơi dăm ba bữa. Đổi nghề lia chia, đổi đều chi trước cái lúc ăn sẹo vô mặt. Bây chừ xí trai đành nhìn đời hiu quạnh đóng vai công nhân đường rầy.

Cô gái đang lay hoay bới móc tìm kiếm đồ trong xách cũng ngẫng lên góp ý.

– Tôi mà làm tên công an vừa rồi là anh lãnh sẹo. Í, xin lỗi… anh bị lôi thôi ngay. Công nhân đường sắt được cấp giấy phép đi đường sao không đăng ký xe lửa cho thuận lợi mà lại vác mạng leo lên xe đò? Lộ liễu quá!

Hắn chống cằm, tay che dấu vết dị hình, mặt khờ câm.

– Nói cũng phải a. Dại quá dại quá. Sao tui nghĩ không ra hè. Nhưng mà khổ một điều là tụi nó bán thứ giấy chi thì đi thứ giấy đó. Bộ đồ công nhân màu xanh, mặc cho hợp thời trang này sắm cũng bộn tiền chứ phải chơi sao.

– Đi đứng gian khổ thức ni mà sao anh siêng đi thế?

– Lớn sầm đầu như tui chẳng lẽ ăn bám thành quả lao động của bà già tui à? Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.

– Đi đêm có ngày gặp ma. Bộ anh không sợ tụi thuế vụ với công an nó nhớ mặt sao?

– Thì bị rồi chớ phải yên đâu. Nhưng mà ma cỏ chi cũng phải thua bùa chú hết. Đức Thánh Trần không còn thì còn ông khác dài râu hơn. Xanh xanh đỏ đỏ trẻ nhỏ cũng ưa… cho nên chi tui mới nói cô không nhanh lẹ chút nào cả. Tụi nó từng quen với cảnh khóc ngoài biên ải rồi, vì thế nên mình tội chi mà năn nỉ khóc lóc cho mệt thân. Cứ nhá ra vài lá bùa cho tụi hắn sáng mắt sáng lòng thì mười ông thiên lôi đứng đó cũng bỏ. Nhưng mà cô phải biết xem tướng, có đâu như má tui bả chưa già mà mắt lem nhem dúi tiền vào nhằm tay… con ma nhà họ hứa. Ba xạo đủ điều để bà già quờ quạng tiền mất mà hàng cũng tiêu.

Ngụy ngồi yên nghe hai người đối đáp, cười không nổi những chữ lạ lùng gã thanh niên dùng. Bên ngoài cửa xa bóng mờ cây cỏ lùi dần. Ngụy thấy và hay đêm đã gần hết. Tím xanh quầng thâm đường chân trời ở hướng biển có nhạt nhoà đôi ba cụm mây đứng đợi ánh dương quang. Ngụy nhắm khép mắt lại nghe rã rời châu thân. Mai này đời mình có thấy được một vài tia sáng? Một vài đổi thay? Một thoát ly ra khỏi đêm dài cứ triền miên kéo trì trệ trên chính quê hương mình.

Người con gái lại khóc, nhưng khóc không thành tiếng. Màn nước mắt ứa ra, đổ dồn bên khoé để hội tụ thành giọt long lanh rơi xuống, rơi xuống. Ngụy nghĩ mình đã quen một người đồng hành ướt át và luôn hư hao. Ngụy đẩy sự vu vơ trong trí đi xa hơn: cớ sao nước mắt con người lại mặn mà không ngọt? Có phải nó hình thành bởi sự xót xa đau khổ? Mai kia tôi trôi nổi gặp lại nàng trên đất người, niềm hân hoan nỗi hạnh phúc cũng có thể làm lệ trào dâng. Khi ấy đưa tay hứng và nếm thử vị nó coi sao.

Ngụy đứng sững ra, nhìn cô gái chậm tay áo lên mắt mà không biết an ủi cách chi, lời nào. Ngụy thấy mình như có lỗi một phần, tự giận mình đã dễ tin người chẳng nghi hoặc. Gã thanh niên ngồi kế bên dông mất tiêu khi xe chưa tới bến. Có lẽ hắn đã nhảy ra cửa sổ khi mình đang nhắm khép một ngơi nghỉ cho đôi mắt cay? Vậy còn cô gái khổ chủ? Phải thức mà trông chừng chớ. Ngụy thấy chút khó chịu dấy lên.

– Dầu sao thì cô phải vào đứng đằng kia cho đỡ nắng. Cứ khóc vậy hoài đâu có giải quyết được chi.

– May mà em chỉ đưa cho hắn phần ít nhất.

Cô ta nói như tự mình an ủi lấy đồng thời nghe lời Nguỵ ôm cái xách đi tới bóng im có bởi tấm bạt căng rộng của một xe bán nước mía.

– May mà em có linh tính, ngó cái mặt hắn thấy chẳng yên tâm.

Lại vỗ về, tự trấn an vào những tổn thất. Chẳng yên tâm mà cũng đưa con vô nội, giao trứng cho ác… Rõ là cô không có chút kinh nghiệm như thằng mặt sẹo đã nhìn thấy từ đầu.
Ngụy bông lơn:

– Còn tôi thì sao. Cái mặt ngó có thường thường bậc trung không?

Người con gái mặt bỗng đỏ ké. Ngụy quay lưng nhìn hàng chữ giải khát tuyệt hảo, đưa hai ngón tay ra dấu với người đứng sau xe đang mĩm cười đuổi ruồi, trông vô cái thau màu ngà đục trôi lều bều những cục nước đá ngó như xô nước mã nuôi heo.

Ngụy đưa cho “bạn đường” ly cối nước “lụt”:

– Uống cho hạ hỏa đi, tôi đãi.

Nói rồi buông thân xuống ghế đẩu, thấy nhột ở bụng những bọc ny lông giấu trong lưng quần châm chích. Cô gái ngồi xuống một bên ké né. Ngồi để tay lên đùi và mắt nhìn mông ra phía đường cái, xe đạp dập dìu hỗn loạn như chạy giặc ở đó. Có lẽ ai cũng đương kiếm mánh để sống để ăn để thở và để tự hành hạ mình.

– Tôi đếm tới ba mà không uống là tôi xách bị bỏ chạy à nghe.

Ngụy nói rồi cười khục khặc trong cổ. Trông cô gái vội bưng ly lên đặt ly xuống, như nghe theo mệnh lệnh. Dễ thương. Môi cô ta ướt, thấm lên vành môi những sợi lông măng còn giữ chút bọt trắng li ti. Thần sắc đã trở lại cùng với nắng lên cao, đè lai láng quanh chỗ ngồi làm Nguỵ thấy cô gái không xấu như mình tưởng.

– Tên tôi cô đã biết. Còn cô?

– An.

Chỉ hô lên một tiếng trong cúi mặt. Ly nước An còn đầy trong khi của Nguỵ đã vô gần trăm phần trăm. Mật ngọt chết ruồi, nước mía làm Nguỵ lâng lâng.

– Giao hàng bây giờ hay giao tận nhà cho bảo đảm?

An ngẫng đầu, năm ngón tay thế răng lược cào chảy tóc rối. Áo cụt nâu, hàng lụa nội hoá có dệt chìm mấy chữ Phước chữ Lộc hay chữ Thọ chi đó. Chất vải nhăn nhúm, bạc màu có sẵn chứ không do hai ngày đường tắm bụi vừa kinh qua trong gian khổ.

– Làm phiền anh như vậy nhiều rồi….

– Có chi đâu…

Ngụy tính dài dòng hơn nhưng nhớ sực những lời “đạo diễn” của gã thanh niên có sẹo bên thái dương nên bỏ trống câu nói. Nhìn quanh quẩn mọi phía để yên tâm lôi những bao bì ra, thảy vào cái xách hở miệng của An.

– Tôi trả lại hết rồi đó. Cái gì vậy?

– Thuốc Tây. Trụ sinh, cảm mạo, nhức đầu, thuốc bổ.

Ngụy le lưỡi làm bộ sợ hãi.

– Có thuốc liều không, cho tôi một viên.

An cười: cái đó phải hỏi anh mới đúng. Cán bộ y tế mà.

Ngụy nhún vai, lòng thầm hỏi không biết mình nói bây giờ có nên không, hay đợi trời tối để tránh phiền hà.

– Chữ cán bộ đó giải nghĩa ra sao cho đúng? Bác sĩ thời trước hay sinh viên y khoa bỏ học đi làm?

-Là không gì cả. Giống như tên ăn cướp hàng của An vậy. Nó đâu phải công nhân đường sắt.

– Giấy giả? Anh có uống thuốc liều không? Anh…

An bỏ dở câu nói để cười miệng ngậm. Hai bên má chỉ mọc một lúm đồng tiền bên phải. Lởn vởn trong trí nhớ của Nguỵ, người con gái đang ở một nơi thật xa cũng có nụ cười như vậy. Cũng mang một nét đẹp mà phải gần gũi dài lâu mới phát hiện ra. Phát hiện rồi đắm đuối, rồi dằn vật một nỗi nhớ khôn nguôi mà không uống thuốc liều con tim cũng thúc giục hoài hủy một lên đường tìm gặp lại. Không. Nào phải thế. Đó chỉ là một yếu tố phụ, một “nghiệp dư”.

– An đâu phải là người đi buôn, phải không?

– Không phải, An đi thăm nuôi người anh.

– Thăm nuôi bằng bột ngọt, thuốc Tây?

– An sẽ bán những thứ đó ở đây, được giá hơn. Người ta bày vẽ vậy đó, rồi mua sắm nhu yếu phẩm mà anh ấy cần. Thức ăn mang đi đường xa để bới xách thì đâu có giữ được lâu.

– Ừ, cũng đúng. Anh của An là sĩ quan?

– Dạ, trung uý. Bị giam ở Hàm Tân. Còn anh?

– Tôi? chưa từng đi lính mà vẫn mang tên Nguỵ. Giả làm y tá để mạo hiểm vào đây…

– Mạo hiểm? Hồi nãy trên xe mặt anh có run sợ chi đâu. Có tật thì giật mình, mà sao thấy anh làm như công nhân viên thứ thiệt của nhà nước.

– Tim gan của tôi lớn lắm, đâu phải như cô. Hay vì làm đàn ông thì có khác?

– Có lẽ… Anh có thân nhân bị cải tạo không?

– Ai mà không có, nhưng mấy ông anh tôi đều bị nhốt ở ngoài Bắc. Xa xôi mịt mờ lắm. Mấy ông ấy tim gan hẳn còn lớn hơn tôi gấp bội. Chắc khó có ngày gặp lại nhau.

– Tại sao? Anh sợ những người bị học tập đều phải chết đi lần hồi?

– Không biết có đúng không. Có điều, chắc tôi phải bỏ đi xa.

An lấm lét. Đôi mắt tròng nâu như màu áo, mở lớn đồng tử.

– Vượt biên?

Ngụy thu tay đang chống cằm, tìm thuốc hút. Ánh mắt An đổi xuống nhìn những sợi khói mỏng bay lên. Ngụy chợt thấy lòng mình tự dưng buồn lạ lùng. Nỗi buồn dật dờ và xanh xao như làn khói. Cuộc sống của mỗi chúng ta đã bị ai đó làm cho tàn lụi dần. Cháy đi âm thầm, đắng nghét, nồng cay và vô vị ở cuối một chặng đời vứt bỏ. Sao người ta chẳng còn gì để mơ ước nữa vậy? Chỉ gom góp hết mọi điều mọi chuyện để đánh đổi bằng được hai chữ: vượt biên. Thu hút nhưng nguy hiểm vô cùng. Ngụy để hai chữ An vừa hỏi đó lùng bùng trôi đi hoang mang trong đầu. Không biết có gì trở ngại từ đây cho tới cái thời điểm đặt chân lên ghe thuyền chòng chành sóng nước? Ngụy thở dài.

– Ừ. An đã từng đơm cái ý nghĩ đó lần nào chưa?

Cô gái không trả lời, bưng ly nước mía uống một hơi dài.

– Hồi nào An đỡ mệt và muốn về nhà thì cứ nói. Tôi sẽ gọi cho An một chiếc xe thồ.

– Chừng nào anh đi?

– Đi từ đây về nhà hay đi từ nơi này đến một nơi khác?

– Đến một nơi khác?

– Chưa biết đích xác, nhưng cứ nghĩ là rồi tôi sẽ không còn ở đây nữa.

Ngụy nói như cho chính mình nghe lấy. Còn thì sao, mà vắng mặt thì có gì hệ trọng? Một phân bua chẳng cần thiết. Ngụy nghĩ thầm, ở mỗi một chuyến đi ai trong chúng ta cũng bị mất mát không ít thì nhiều. Mấy ký bột ngọt của cô vào tay thằng thảo khấu nào đó, vài vỉ thuốc tây của cô giờ này đã chạy ra chợ trời qua tay thằng mặt sẹo gian manh. Còn tôi? Cái mãnh đất cháy nắng ngộp thở này khi bị mất đi tôi có nên kêu ca phàn nàn không?

– Dầu sao quen được An trước khi đi cũng là một chuyện đáng nhớ.

– Nhớ cái chi?

– Nhớ đủ thứ… Tôi có thằng bạn đi đã lâu, trong thư gửi về An biết hắn viết gì không? Thèm đi dưới đường có lá me hoặc sầu đông hoặc phượng vĩ, có viên gạch vỡ có vũng nước đọng bên lề. Thèm ngồi uống nước ở quán cóc vệ đường như tụi mình đây. Thèm dầm mưa cho thiệt ướt, thậm chí thèm có ai gọi hắn để chửi thề. Hắn thèm, vì trước đó đầu óc hắn không chịu thu nhận, chẳng chịu nhớ cho đầy và đã để cho quên.

– Thật sao? Hay là vì nhớ quá nhiều kỷ niệm để rồi sống trong một hoàn cảnh khác, thiếu thốn những thứ đó lòng đâm buồn và so đo thèm thuồng.

– Mình không nên giải thích những chuyện chẳng được rõ ràng đó. Điều tôi muốn nói là quen An … cứ bắt chước lời tên mặt sẹo đi, là hình như đã có duyên số.

Cô gái cười, nhưng nụ cười không tạo được một lổ trủng nào ở bên má. Và nụ cười đó tắt biến rất mau. Một người đàn bà vừa mới lộ diện, nón lá trên đầu, xách ny-lông kẹp nách với một giọng nói ồ ề nghe được từ xa.

– Vào từ hồi nào đó An? Có biết là Dì nóng ruột ngày nào cũng chạy lại bến xe để tìm đón không?

– Con mới vừa tới, nãy giờ có ý đợi Dì đó chớ.

Cái nón được tháo ra, bắn tia nhìn đầy nghi hoặc tới Nguỵ.

– Cậu nào đây?

Hỏi nhưng không cần nghe trả lời. Người đàn bà kéo cô gái bước ra khỏi chu vi vuông im tấm bạt. Nắng dội xuống vai An với cái tần ngần ngoái đầu nhìn lại. Ngụy thấy hai người thì thầm với nhau hồi lâu. Và hồi lâu, An trở vào lấy cái xách.

– Mong anh đi được bình yên. An phải về.

– Cám ơn.

– Anh giữ lấy một ít thuốc cảm sốt này để phòng thân.

Cô gái mở những bao ny lông để tìm đúng loại thuốc như cô nói. Ngụy cảm nhận vết cứa sắc cạnh của mấy vỉ thuốc trong tay và làn da mềm mại ấm lạnh của An đặt lâu ở đó. Ngụy bóp nhẹ, sửng sốt và cảm động.

– Chính anh của An mới cần đến nó. Tôi…

– Anh ấy trốn thoát được rồi. Dì đang tìm mối cho ảnh vượt biên.

An nói nhỏ bên tai Nguỵ. Ngụy thấy hơi thở An nóng và như nghe được tiếng đập gấp rút từ tim cô gái vọng dội ra. Hay của chính mình? Ngụy giàu tưởng tượng, trong một thoáng cái hình ảnh trốn chạy ra biển lại hiện tới, và biết đâu chừng trên chiếc ghe mong manh liều lĩnh lại có mặt một ông trung uý vừa “vượt” hai lần. Anh của An.

Tay buông tay. Người con gái quay lưng bước đi. Một chiếc xe xích lô đã chờ sẵn có dáng người đàn bà ngồi trong nôn nóng. An leo lên, gửi vội những ngón tay múa may chào tạm biệt. Ngụy ve vẩy lách cách mấy vỉ thuốc chào trả. An không thấy. Những vòng bánh xe đã quay, nhập trong lòng đường lúc nhúc người luôn có sẵn ngoài kia.

Ngụy moi túi lầm bầm: tôi yêu An.

Người bán nước nhăn răng. Hả? Cái gì? Anh cho mười đồng bạc mới.

Hồ Đình Nghiêm
Nguồn: VĂN, số 77, tháng 11-1988; độc giả N. Nguyên gửi

Đôi Kẻ Lạc Loài

www.art2all.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Trước hôm chính thức giã từ Québec để xuôi đổ về phương Nam, chúng tôi bày ra cuộc chia tay khá rậm rật, khá ồn ào, khá cuồng say. Thú thật là tôi không cưỡng chống lời đề nghị của Jessica khi cô muốn vào một discothèque nhốt chặt thứ âm thanh kích động lớn hết cỡ cùng thứ ánh sáng vằn vện luôn thay phiên liếm vào châu thân ngập sắc màu đọng nhiều ảo giác. Bia đổ vào người và những giọt mồ hôi tẩm đầy độ cồn chóng bốc hơi giữa khe ngực ướt át đàn hồi. Nếu bạn chưa từng một lần thử xàng xê khiêu vũ, bạn sẽ an lòng khi chôn chân vào giữa những kẻ đang bị động kinh, chúng luôn phát ra những điệu bộ chẳng giống ai và như có một hấp lực giây chuyền, một sự nhiễm xạ đang lây lan, bạn cũng sẽ hoa tay múa chân lắc lư đầu mình, sống động hơn lũ zombie bị cướp mất thần hồn.
Tôi làm công việc rửa chén và đôi lần đứng ra phụ bếp, nấu những thứ đơn giản nhất theo cách chỉ bày của sếp. Bố Carlo người Tây Ban Nha lấy vợ Ý, hắn ra đời thay vì thừa hưởng huyết thống là giỏi đá banh thì trời lại phú cho hắn đôi bàn tay thích vọc môn gia chánh. Nấu ăn đủ vị cay nồng trên thế giới, ngon miệng, đẹp mắt, trình bày nghệ thuật trên cái đĩa sành bắt mắt có đường kính 25 phân. Jess làm tiếp viên, cô sẽ xô cửa bước vào vuông bếp luôn nóng như một cái chảo rang để mang hai ba đĩa bốc khói ấy đi trên cánh tay có vắt sẵn một chiếc khăn trắng được gấp làm tư. Và mười lần hết tám, mông cô phải chịu bàn tay lão Carlo phát yêu vào, hoặc nhéo một cái, hoặc xoa theo cái độ cong gợi mời. Nếu Carlo không tác nghiệp kiểu sàm sỡ “linh tinh” thế e rằng khi nấu ăn sẽ thiếu đi hương vị, mất ngon? Jess câm lặng, tôi vụng nghĩ cô sẽ ném cái đĩa xuống chừng nào bàn tay lông lá kia lấn lên thăm dò vòng số một của cô phục vụ viên đẹp người đẹp nết.
Tôi làm chủ chiếc xe Toyota Tercel giá 450 đô la mà người rao bán bảo đảm một chuyện: Nó còn ngon, mày không việc gì phải tu bổ, nếu có ra nghĩa địa sắt thép nằm thì chí ít nó phải thọ thêm một mùa đông nữa. Chiếc xe màu lá mạ ấy chỉ thồ duy nhất một kẻ chừng như luôn lỡ đường: Jessica. Có khi cô biểu tài xế chạy ra ngoại ô, đun vào một cánh đồng trống để khi sương giăng đầy chúng tôi ngó lên tấm màn ảnh rộng đang chiếu phim thần thoại hoang đường, kiểu thời đại hang động ăn lông ở lỗ. Thông thường, có thể vin vô không gian khoáng đạt của đồng không mông quạnh nên Ciné-parc thường trình chiếu những thước phim trên 16 tuổi. Tôi từng đi hớt tóc và từng đọc báo nhảm nhí trong khi chờ tới phiên: Thống kê là 58% thanh thiếu niên ở Québec thử làm chuyện người lớn ở vào độ tuổi 13. Môi trường thuận lợi: 69% trong xe, 28 % ở mọi nơi trong nhà khi bố mẹ vắng mặt và 3% diễn ra trong nhà vệ sinh ở trường trung học. Vì vậy tôi chẳng lạ gì khi chứng kiến một vài chiếc xe tự nhiên run rẩy dưới màn hình đang phát ra tiếng thở vội của diễn viên. Tôi quay sang ngó Jess, cô cũng nhìn tôi. Hai đứa hôn nhau. Lát sau Jess nói, chẳng dấu nỗi bực bội: Thật khờ khạo. Sao anh lại chẳng bao giờ biết thủ sẵn trong ví một cái áo mưa?
Jessica luôn thích đón nghe tôi thuật lại quãng đời niên thiếu ở bên nhà, đúng hơn, cô thích nghe kể về những trận đánh, những bom rơi đạn lạc, vì sao giống người cùng họ mang trùng tên lại say máu giết nhau như thể không đội chung một khoảng trời bé bỏng. Hỏi tôi có từng đầu quân vào lính chưa? Cô có theo dõi để biết rằng trong cuộc chiến ấy phe đồng minh đã góp tay nhằm giúp miền Nam làm lá chắn ngăn chận bọn Cộng sản xâm lược. Ngoài Mỹ, Đại Hàn, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan… có luôn cả một đội ngũ Canada, những quốc gia ghê sợ khối cộng sản tàn ác. Tôi chỉ kể đại khái vì khả năng hạn chế của thứ tiếng Pháp tôi vừa học xong trong 3 tháng khi đến định cư cọng với thứ sinh ngữ mài đít mấy năm trung học giờ đây lợn cợn muốn đóng phèn. Tuy lạc đề tôi vẫn đọc ra lời của thi nhân Rilke: “Là où croit le danger, croit aussi ce qui sauve”. Ở đâu có hiểm nguy, ở đấy có sự cứu rỗi. Tôi được cứu rỗi lắm lần vin nhờ tới những mối tình hồn nhiên tuổi học trò và chuyện nam nữ hồi đó, ở xứ sở ấy, cách trao gửi đằm thắm tuyệt đối không giống như sinh hoạt bên này, đó là lý do trong túi tôi chả bao giờ có condom phòng khi đối mặt với một tình huống dầu sôi lửa bỏng. Tôi cũng chẳng hiểu do đâu tôi như có duyên với những gì liên quan tới quân đội. Tôi cho Jessica biết ngày đầu đến xứ lá phong hoà bình và nhân đạo này tôi được chính phủ sắp xếp chỗ tạm trú ba ngày trong một trại lính vừa tân trang. Cách một hàng rào giăng lưới cao mỗi sáng tôi đón nghe những binh sĩ vừa ôm súng chạy bộ vừa ca hát khúc quân hành. Chúng tôi giống như tân binh chờ sắp xếp được học lý thuyết về cơ bản quân sự và ngày ba bữa được ăn thứ thực đơn chẳng khác các quân nhân. Họ gieo cho tôi thứ ý nghĩ, rằng quân đội Canada hiền hoà và dễ thân cận. Họ bảo họ ghét thứ chiến tranh du kích, sự ám muội đáng nguyền rủa từng xẩy ra trên đất nước Việt Nam.
Giữa một góc phố đông người qua lại thuần để chỉ mua sắm hàng thời trang đang giảm tới 75% tôi để ý tới một khẩu đại bác cỡ 132 ly không dưng có mặt thật lạc loài, nó được phủ tấm lưới nguỵ trang, những chiếc xe quân sự có thể chạy êm trên bất cứ địa hình nào, một căn lều chứa đựng bên trong giàn máy móc điện tử, những ống liên hợp gắn bên chiếc máy truyền tin… và như đã nói, tôi có duyên với army, tôi đứng khựng lại khi nhìn ra một nhân dáng quen thuộc. Nói là bóng hồng thì có hơi hàm oan, Jessica đã thay da đổi thịt để biến tướng thành một nữ quân nhân. Mặc vào người bộ quân phục rằn ri, tóc bối gọn dấu vén khéo trong chiếc nón béret màu lục và có lẽ cô mang lon hạ sĩ nhất. Tôi nhớ lại là khi bỏ Québec để xuống tới thành phố này chúng tôi có viết thư cho nhau, chừng hai ba tờ thư mỏng và rồi chấm dứt một trò chơi xét thấy vô bổ. Bao nhiêu năm rồi? Tôi ít khi hồi tưởng, để nhớ. Kỷ niệm không nhiều và chừng nào nó gây ra giông bão mới khiến bạn lao đao, để lại trên da thịt một vết cứa gần là một ám ảnh khó gột rửa.
Jessica được cử đi làm nhiệm vụ tuyển quân, cô cho hay, sẽ trao thông tin và giải đáp mọi thắc mắc nếu bạn muốn vào sống đời quân ngũ. Bạn nên tự hào khi đóng góp tuổi trẻ cho quân đội Canada. Jessica ôm tôi, siết cứng trong vòng tay nữ quân nhân từng nếm trải bao gian khó, ngực mềm vì đã là lính bạn không có quyền được mặc áo nịt vú? Và phần khác cô đã chẳng còn là Jessica ngày xưa từng ngồi trong lòng tôi đơm đặt những ước muốn bình thường tới tầm thường. Tại sao đang sống trong một xứ sở an bình Jess lại thích lân cận với vũ lực, súng đạn và kỷ luật nghiêm khắc gần là một hành xác? Tôi hỏi về cuộc sống? Cũng ô kê. Jess trả lời, lương 32 ngàn 1 năm, buổi tối ghi danh ở đại học nghiên cứu về quân sử thế giới. Không nghĩ đến chuyện lập gia đình, thấy chả cần thiết. Anh còn viết văn như dạo đó? Cô hỏi. Tôi đáp: Vẫn. Tôi như một quân nhân đánh mất thẻ bài, lạc mất đồng đội, không la bàn để biết tìm về nơi đơn vị đóng quân. Cô đơn, hoang mang và dĩ nhiên rất đỗi buồn lòng. Hiện anh đang viết những gì? Tôi có người bạn đồng hương, thằng con ông là sĩ quan cảnh sát chuyên điều tra những vụ hình sự. Tôi từng theo gạ hắn, hồi nào có xảy ra án mạng, sát nhân cấp độ một đầy lắc léo thì nhớ mang tôi tới ngó qua hiện trường để có một khái niệm, tôi muốn viết một truyện liên quan tới “tình tiền tù tội” mà không thể chỉ vin vào sự tưởng tượng. Hắn hứa, hắn rút cuốn sổ nhỏ ra khỏi túi áo, chú ghi cho cháu số phone, có gì dẫn chú đi thực tế một phen nhìn cảnh máu đổ thịt rơi. Và đã lâu, vẫn im thin thít tiếng reo sảng hồn của hồi chuông điện thoại truyền về.
Tôi mua cho Jessica một chai nước suối vì phát hiện môi cô khô. Đứng dưới nắng để huyên thuyên giới thiệu những ưu điểm mà quân đội Canada sở hữu cho khách nhàn du thích sống trong tiện nghi do hoà bình mang lại, chuyện ấy dễ khiến người bạn hao hụt lượng nước tích tụ trong cơ thể. Cảm ơn anh. Nào có gì đâu, cỡ như anh muốn đầu quân, đóng đồn sát bên em thì có khó khăn không? Giờ đây anh già quá rồi, không thể gian dối, ngay cả “đại bàng” của em cũng trẻ thua anh cả chục niên. Anh thích viết về em không?
Môi Jessica đã thấm ướt. Cũng lạ, nước chảy vào miệng không lâu đôi mắt liền sớm long lanh. Như thể khi đất ngấm nước thì cành hoa mới chịu phô bày chút rạng ngời. Trong tiểu đoàn của em có một vị sĩ quan người Việt, ông ấy tốt nghiệp ưu hạng với ước muốn gia nhập binh đoàn tác chiến, sang giúp các mặt trận bên Trung Đông. Vị chuẩn tướng có thẩm quyền cai quản đại bản doanh đã gọi ông người Việt lên: Tôi rất quý anh, thay mặt các quân nhân tôi xin tri ân sự dũng cảm của anh, nhưng với kinh nghiệm cá nhân, tôi thành thật khuyên anh nên chọn một công việc nhàn hạ ở hậu cứ, bởi tôi đồ rằng khi anh nắm chức đại đội trưởng, sợ bọn lính dưới trướng nó không chịu nghe mệnh lệnh anh ban ra. Anh hiểu điều tôi nói không? Ý tôi chẳng khơi đến vấn đề kỳ thị chủng tộc…
Ông sĩ quan người Việt đó có liên quan gì tới em? Không, nó như một phần nhập đề vậy thôi. Giờ thì vào thân bài nhé. Lý ra giờ này em đang đóng quân ở Alaska, vào lính em những mong được rộng cẳng đi đây đi đó nhưng vận xui đã xảy tới. Em bị sách nhiễu tình dục, một tên Thiếu Uý ỉ có thế lực đã bức hại em. Em rất muốn kiện ra toà án quân sự, nhưng ông già tên râu xanh kia làm chỉ huy căn cứ tiếp vận. Ông bảo chuyện không hay này chớ làm lớn ra, thiệt hại cho song phương và là vết nhơ sẽ ám vào danh dự của trung đoàn. Chúng tôi sẽ âm thầm bồi thường cho những yêu sách cô đòi hỏi ở một mức độ khả thi, đồng thời cất nhắc cô về trông coi một công việc dễ thở quanh các thành phố. Cô sẽ có thời gian theo đại học toàn phần và biết đâu nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cô khi muốn dựng xây một tiểu gia đình. Trước, em mặc bộ quân phục khác với giờ này. Em trải qua một cuộc xét nghiệm y khoa nhằm bảo đảm những lần xâm hại kia không gây ra dị ứng lâu dài, tránh để lại hậu hoạ…
Anh cho em số điện thoại đi. Chẳng có vụ án nào nên nữ quân nhân sẽ gọi thay vì ông cảnh sát mãi ngậm câm. Bọn em công tác ở đây ba hôm, được rảnh một đêm để đi thăm gia đình. Hiện tại, anh là “gia đình” duy nhất, gần nhất mà em có… Sao anh đứng ngây người ra thế? Ồ, tự dưng anh sực nhớ bài hát của Barbelivien, em còn nhớ giai điệu không? “À toutes les filles que j’ai aimées avant qui sont devenues femmes maintenant… A nos nuit de plaisir, je suis resté adolescent”. Jessica nắm bàn tay tôi, sờ soạn những ngón. Tối mai em sẽ tìm cách đến bên anh, tuy biến dạng thành đàn bà, đứa con gái anh thầm yêu ngày cũ vẫn còn giữ được cái đáng thương. Thôi anh đi đi kẻo bạn đồng đội em ghen tuông.
Tôi gập chân lại, đưa tay ngang trán nghiêm chỉnh chào người “đồng chí” hạ sĩ nhất Jessica. Cô chào lại, cất tiếng đùa: Chào Đại Uý dễ thương của em. Cũng nên thưa với đại uý là đừng thắc mắc điều gì hết, ngay cả một chiếc áo mưa em cũng sẵn có bên mình, đồ của quân đội, ăn chắc mặc bền. Em sẽ cho anh những gì em có thể, thế một kỷ niệm êm đẹp trên đoạn đường dừng quân đầy duyên may.
Tôi vẫy tay chào tất cả các quân nhân đang dàn trải đội hình tiếp xúc với con dân hiếu kỳ đến han hỏi. Lãnh thổ Canada không thể mọc được một đồi tím hoa sim nhưng oan trái thì chốn nào cũng tựa nhau, tôi hát thầm lời nhạc cải biên: Nhưng không chết người em gái khói lửa mà chết anh trai khờ dại hậu phương… Và như vậy, tôi sẽ dọn lòng đón đợi Jessica đến gõ cửa phòng, nơi một cái motel nằm chỗ khuất lấp. Chưa gì tôi đã hình dung ra một khung cảnh, nghe rợp những âm thanh quá đỗi bồi hồi, chật chội bao tình huống, khó sắp xếp chúng nằm thuận hoà vào một chương truyện kỳ tình giả tưởng. Giết người có tính toán: Tội sát nhân cấp độ 1. Yêu người mù quáng: Cuộc tình ấy liệu có mang cấp độ nào không?

Hồ Đình Nghiêm
mùa hè 2018

Quên chăng bụi đỏ sương mù Pleiku? 

 Thơ Lâm Hảo Dũng

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Đường phố em còn khoe áo mới?

Rừng xanh cây vẫn mãi màu xanh?

Với tôi có khoảng buồn chưa nói

Nhặt từng hạt bụi giấu trong tim

Tôi gói thời gian trong chiếc túi

(Kim Long tiệm giặt áo nhà binh)

Cô chủ gật đầu không muốn nói

Hỏi người mới biết gái xuân câm (1)

Tôi theo làn gió tôi bay mãi

Như gã cuồng say bụi chiến trường

Khói súng vẫn làm ray rức nhớ

Bên đường mười bốn, gọi Kontum

Tôi gom sương sáng làm sương tối

Hai mối dây rời buộc thắt chung

Nắng sớm em bên cầu Hội Phú

Đợi người hay đợi chuyến xe lam?

Bụi tắm hồn đau còn trẻ mãi

Hôm nào hiện thực của hôm nay

Những thước phim buồn khi chiếu lại

Nước không màu pha rượu đắng cay

Thưa em tôi ngủ giấc mơ ngày

Tay em làm gối tóc làm mây

Tôi đi quay ngược thời gian cũ

Nghe đất miền cao gió lạnh đầy…

(1)- Cô chủ bị tật câm bẩm sinh

Nhà tôi

Thơ Lâm Hảo Dũng

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Ơi những ngày xưa dưới mái nhà

Mẹ ngồi lựa thóc ngắm mây xa

Những lo mưa sớm bên đồng nội

Làm mất màu tươi mấy gốc cà

Xanh ngắt một màu bên liếp rẫy

Giàn dưa leo sớm bỏ vòi cong

Còn ghen đậu đũa vừa đơm trái

Hay lũ rau thơm đám cúc tần

Có mấy hàng cau nhỏ thế thôi

Mẹ thường nhắc nhở những khi vui

Một mai đám cưới không lo thiếu

Trầu tốt cau ngon thuốc đượm mùi

Đây đống rơm khô dưới gốc gòn

(Là nơi tôi rải mộng lang thang)

Chờ em từ thuở con trăng tối

Cho đến trăng đầy em mới sang

Thèm quá nồi canh chua cá lóc

Chút bông so đũa cọng rau om

Ai lên phố thị mà không nhớ?

Mùi vị dưa nồng điên điển thơm

Mười mấy năm rồi đi biệt xứ

Nhà tôi còn đó mẹ tôi không?

Nghe thương những cánh chim tu hú

Mãi gọi bên sông điệp khúc buồn.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Hình minh họa

Trần Thị Mỹ Ngọc

“Họ như đàn kiến vây quanh chúng ta”

Cha mẹ tôi thôi nhau khi tôi mới vừa sinh. Cha tôi đang học luật nhưng rồi phải gia nhập quân đội. Mẹ tôi quen sống dựa dẫm, nương tựa nhiều vào cha tôi, do đó cha tôi chán nản. Vì thế cuộc tình duyên của cha mẹ tôi tan vỡ từ khi tôi mới ra đời. Mẹ tôi một mình gánh hai con thơ. Tôi có một người chị lớn hơn tôi ba tuổi.

Mẹ tôi không có tiền. Chúng tôi sống trong một xóm bình dân. Những người hàng xóm coi vậy mà rất tốt và thân thiện. Họ giúp mẹ tôi trông nom săn sóc tôi. Bỏ mẹ tôi rồi, cha tôi lập gia đình khác sau một thời gian ngắn và đem chị tôi về nuôi. Tôi tiếp tục ở với mẹ cho đến khi gần sáu tuổi.

Mẹ tôi làm nghề buôn bán. Ở Việt Nam có nghề buôn vé số. Bà vào nghề bằng cách bán vé số lẻ, sau đó từ từ khá lên cho đến khi trở thành nhà thầu, phân phát vé số ra miền Trung cũng như lục tỉnh. Mẹ tôi kiếm tiền bằng nghề này.

Khi tôi khoảng sáu tuổi, cha tôi mang tôi về sống với ông để tôi có cơ hội học hành. Mẹ tôi vì buôn bán nên quá bận rộn. Từ đó, tôi lớn lên bên cha, chỉ về thăm mẹ vào cuối tuần. Trong thời gian tôi sống với cha thì ông đã trở thành một vị quan toà của toà áo đỏ. Với chức vụ này, ông đã xử nhiều vụ án gian thương. Sau đó, chuyển về làm tại Toà án quân sự mặt trận cho đến ngày Sàigòn thất thủ.

Khi sống với cha, tôi rất hồn nhiên vì cuộc sống của tôi nay được bao che đầy đủ. Tôi làm bạn với những trẻ em cùng giai cấp khá giả. Tôi học trường Pháp, trường Marie Curie trên đường Công Lý. Tôi học trường Pháp từ khi còn bé cho đến khi Sàigòn mất. Tôi biết đọc biết viết tiếng Pháp trước khi biết đọc biết viết tiếng Việt. Tôi vẫn không quên ngày bắt đầu học tiếng Việt, tôi cứ bị bà Thầy rầy mắng vì tôi khó dạy. Tiếng Việt có nhiều dấu, không sao nhớ hết nổi. Tôi bị thầy đánh luôn cho đến khi tôi khôn ra bằng cách cố học thiệt mau thiệt giỏi. Đây là một cách tự bảo vệ lấy mình.

Từ đầu năm 1975, tôi bắt đầu thấy nhiều việc không ổn. Trước Tết, theo phong tục Á Đông, chúng tôi đem quà biếu lẫn nhau. Hôm đó cha tôi và mẹ kế tôi đem quà đến thăm và biếu ông bộ trưởng tài chánh. Ông là bạn thân của cha tôi, cha tôi và ông nói chuyện rất lâu. Hồi đó, tôi còn nhỏ nên không để tâm mấy đến cuộc đàm thoại này, nhưng khi về nhà, tôi nghe cha tôi và mẹ kế tôi nói chuyện: Bạn cha tôi bảo là cha tôi cần phải ra khỏi Việt Nam ngay, Cộng sản đã vây quanh Sàigòn rồi. Bạn cha tôi nói họ đang tiến vào. Tôi nhớ mãi câu nói ám chỉ sự việc quân cộng sản đến: “Họ như đàn kiến vây quanh chúng ta”.

Bạn cha tôi từ chức ra đi. Vào khoảng thời gian này, cha tôi phải đi xử án tại Cần Thơ. Ông xử những người đào ngũ và những Việt cộng bị bắt tại miền Tây. Cha tôi không muốn rời Việt Nam. Mẹ tôi và mẹ kế tôi rất sợ hãi. Họ đều khuyên cha tôi đừng đi xử vì lo sẽ có việc không hay xảy ra. Nơi miền Tây có vẻ không được yên. Nhưng cha tôi nói: “Tôi phải làm nhiệm vụ của tôi.” Ông cứ đi. Chuyến đi cuối cùng của ông vào tháng Tư, nhưng ông phải bay về Sàigòn lại vì tình hình chiến sự. Tôi thì vẫn đi học bình thường trong thời gian này với một tâm trạng không mấy lo sợ vì Sàigòn chưa hề bao giờ thất thủ. Năm 1968, họ đã từng vào nhưng bị chúng tôi đánh bật ra.

Hình minh họa

Tôi chỉ cảm thấy kỳ kỳ nhưng không biết sợ vì tôi thật sự không biết người Cộng sản là gì. Tôi hiểu chúng tôi đánh với họ, nhưng thật sự không biết họ là những người như thế nào. Vào thời kỳ này có rất nhiều dư luận như là: họ sẽ giết người, giết những người nào ăn mặc đẹp, người nào sơn móng tay. Hoặc nếu bắt được những người sơn móng tay, họ sẽ kéo tróc móng tay những người đó. Tôi nghe vậy thì có sợ, nhưng nghĩ lại, tôi có sơn móng tay đâu.

Ngoài ra, tôi vẫn còn cảm thấy an tâm phần nào. Lời đồn, tin đồn thì đủ thứ. Tuy nhiên, gần cuối tháng Ba, trong Nam thấy có nhiều người mới đến. Bà con bạn bè từ Nha Trang chạy vào. Tôi vẫn chưa cảm thấy sợ. Mọi việc xảy ra quá nhanh, nhưng cha mẹ tôi vẫn chưa có hành động gì, tôi cũng không biết làm sao. Tôi vẫn cứ nghe rất nhiều tin đồn.

Khi cha tôi trở về Sàigòn sau chuyến đi miền Tây cuối cùng, ông nói tin đồn bị rút móng tay là có thật, vài làng nhỏ có mấy cô giáo đã bị hình phạt như thế.

Tin đồn nào cũng kinh khủng. Có tin họ sẽ tra tấn những người làm việc cho chính phủ. Vào khoảng thời gian này, bạn bè cha tôi bắt đầu đi. Họ sắp đặt cho ông đi, nhưng cha tôi không thể bỏ đi, vì họ chỉ dành một chỗ cho riêng ông, chớ không có chỗ cho cả gia đình. Vì thế, cha tôi không chịu đi.

Lúc đó, chính phủ cũng có ra thông cáo nếu ai bỏ nước ra đi mà bị bắt lại, có thể bị xử bắn hoặc đưa ra toà án mặt trận. Cha tôi lại là một chánh án của Toà án quân sự mặt trận.

Tôi có một người chị bà con lấy chồng người Phi. Bấy giờ họ đang chuẩn bị rời Việt Nam và đang chờ tại Tân Sơn Nhứt. Tôi và em tôi ra đi với họ. Đây là vào khoảng tuần lễ thứ hai của tháng Tư. Chúng tôi chờ ba ngày, đợi máy bay đến. Tôi không hiểu vì sao nhưng tình hình Tân Sơn Nhứt rất điên cuồng. Chúng tôi ở đấy chờ vì toà đại sứ Phi đang chuẩn bị đem dân họ về. Chị họ tôi và chồng chị ấy có tên trên danh sách. Họ sẽ đem chúng tôi theo với tư cách thân quyến.

Tôi rất bình tĩnh. Đó là bản chất của tôi. Khi ở trong tình thế hiểm nghèo, tôi bình tĩnh, nhưng sau đó, tôi sẽ bị xúc cảm.
Chúng tôi chờ hoài đâm mệt. Cha mẹ chúng tôi lo sợ nên đón chúng tôi về. Vừa khi cha mẹ chúng tôi đưa chúng tôi về, thì đêm đó, máy bay đến, gia đình chị họ tôi ra đi. Họ không liên lạc được với chúng tôi do đó họ ra đi, còn chúng tôi kẹt lại.

Kế tiếp, gia đình hàng xóm tôi, có cô con gái lấy chồng kỹ sư Mỹ. Chị ấy rời Việt Nam năm 1972. Lúc đó vợ chồng chị ấy sống tại Iran, ở thủ đô Teheran. Chị yêu cầu chồng sang Việt Nam mang gia đình chị ra. Nhân số gia đình chị cũng cỡ nhà tôi, khá đông người. Cha tôi bàn vói nhà hàng xóm, hỏi xem họ có thể đem hai đứa trong đám con ông đi không.
Nghĩ cũng ngộ. Cha mẹ tôi quyết định chỉ cho tôi và một em trai cùng cha khác mẹ đi thôi. Tôi còn có chị cả và một đàn em trai cùng cha khác mẹ nữa. Tôi không hiểu tại sao chỉ có tôi và em tôi được sắp đặt ra đi.

Người chồng của chị hàng xóm về đến Việt Nam. Lúc đó, anh gặp sự ngăn trở của chính phủ Mỹ. Họ nói đồng ý mang chúng tôi đi nhưng phải làm thủ tục giấy tờ. Anh ấy nói với cha mẹ tôi là, nếu anh mang chúng tôi đi, thì sau này phải lo nhiều phí tổn cho chúng tôi, phải tốn kém trong việc trông coi chúng tôi. Cha tôi nói “Không sao, tôi sẽ lo việc tiền nong cho anh.” Anh người Mỹ này tên là David. Khi đó anh khoảng ba mươi mấy tuổi. Tôi nhớ anh ấy rất tốt. Vào khoảng thời gian này, mọi sự như một trò chơi đối với tôi. Tôi thật không biết sợ. Tôi được nuôi dưỡng trong sự bao bọc từ lâu cho nên không nghĩ việc đời có thể thay đổi. Tôi không nghĩ đến việc phải đi khỏi Việt Nam vĩnh viễn hay dù chỉ tạm thời. Lúc đó, gia đình tôi còn nhiều tiền trong nhà băng, đang cố chuyển tiền qua ngoại tệ.  

Hình minh họa

Tuy nhiên, nhà băng chỉ có thể cung cấp 2,000 đô thôi, sau đó, ngưng đổi ngoại tệ. Hết tiền đô rồi. Vì thế, mẹ tôi phải mua tiền đô ngoài chợ đen. Anh David lo hoàn tất tất cả các giấy tờ cần thiết, ngày ra đi được ấn định vào 27.4.75. Tôi vẫn còn nhớ mãi. Anh ấy nói tình hình rất khó khăn, và có lệnh người Mỹ không được đi ra đường nữa. Anh ấy dặn chúng tôi lúc nào cũng phải sẵn sàng để đến Tân Sơn Nhứt. David thu xếp giấy tờ, nói “Tôi sẽ trở lại đón các em, khi tôi đến, chúng ta sẽ phải đi liền”. Anh ấy cũng dặn gia đình vợ như thế. Nhưng rồi anh vào Tân Sơn Nhứt và không được phép trở ra nữa. Anh ấy gọi điện thoại, khóc. David nói: “Nếu tôi ra là sẽ bị bắn ngay!” Tôi nhớ sân bay đóng cửa vào ngày 24- 4-75 gì đó. Anh ấy nói: “Tôi bị kẹt rồi và không thể trở ra. Vậy bây giờ tất cả hãy chuẩn bị chờ, có thể tôi sẽ cho xe ra đón đi. Hãy chuẩn bị.”

Chúng tôi chờ đến ngày 28. Anh vẫn không ra được. Cũng không có xe đến. Rồi anh ấy phải rời Việt Nam trở lại Iran.
Tôi nghĩ cha tôi bắt đầu lo sợ. Tôi cũng cảm thấy vô cùng buồn bã vào những ngày cuối đó. Chúng tôi không biết miền Nam sẽ mất vào ngày 30 tháng Tư. Chỉ thấy mọi người chạy như điên cuồng vào khoảng 28 tháng Tư. Nhiều người đổ vào thành phố. Mọi sự tán loạn. Thiên hạ chạy tới lui ngoài đường phố. Tôi không hiểu họ đi đâu, nhưng chỗ nào cũng thấy họ đi với hành lý. Bây giờ đã có thể nghe tiếng bom rơi gần Sàigòn. Chưa bao giờ trong đời tôi nghe chiến tranh đến gần như thế.

Ngày 29, nhìn lên trời tôi thấy có hai máy bay trong tư thế đánh nhau. Lúc đó vào buổi trưa. Chúng tôi không biết đó là máy bay gì. Tôi không biết gì về máy bay cả, nhưng tôi biết có hai chiếc máy bay đang bắn phá.

Sau khi ông Minh tuyên thệ nhậm chức, cha tôi nói: “Thế là hết. Chúng ta thua rồi. Mình phải đi. Tất cả đều đã mất.”
Gia đình chúng tôi chuẩn bị đồ đạc sẵn sàng vào ngày 29. Điện thoại reo vang từ sáng. Hễ cúp điện thoại xuống là lại reo. Những cú điện thoại do người quen gọi, những người khuyên gia đình chúng tôi đi, những người gọi lại hỏi ý kiến cha tôi. Có nhiều người quyết định việc ra đi hay không căn cứ theo gia đình chúng tôi. Nếu cha tôi chưa bỏ đi thì có lẽ tình thế không đến nỗi nghiêm trọng. Họ chờ và cũng chờ đợi ý kiến cha tôi. Cứ thế, điện thoại không ngừng reo.

Tôi bắt đầu cảm thấy buồn. Tôi có cảm tưởng một việc gì rất xấu đang sắp xảy đến. Tôi biết bà hàng xóm, chồng đang ở Canada. Ông ấy đi vào tháng trước. Bộ dạng bà vô cùng rối loạn, cứ chạy tới lui với hai đứa con. Sau cùng, bà thu xếp đồ đạc và bỏ đi. Tôi nghĩ là bà ấy biết có một chuyến tàu sắp đi.

Có lần tôi thấy một chiếc máy bay trực thăng bay trên trời, nhưng không biết chiếc trực thăng này thuộc về ai, bay đi đâu. Chiếc trực thăng này muốn đáp xuống gần toà cao ốc của một nhóm tôn giáo. Tôi thấy viên phi công muốn đáp xuống mà không được vì có nhiều cột ăng – ten và dây điện. Cuối cùng, viên phi công phải bay đi. Lúc trước, ông ta muốn đáp xuống và khi gần xuống thì người ta đã tranh nhau muốn leo lên. Cha tôi không cho chúng tôi ra đường vì có quân lính bắn nhau ngoài đường. Nếu lái xe đi ngang là có thể bị bắn. Vì thế chúng tôi bị nhốt cứng trong nhà.

Cuối ngày 29, chúng tôi biết chắc chắn thành phố coi như mất rồi. Tôi nhớ cha tôi nói rằng hai kẻ thù lớn nhất của chúng tôi là Thiệu và Cộng Sản. Cha tôi nói: “Đừng bao giờ quên những gì họ đã làm! Thiệu và Cộng Sản.”

Hình minh họa

Điện bị cúp vào ngày 29, chúng tôi phải dùng đèn cầy. Cha tôi lấy giấy tờ tài liệu đem đốt, đổ tro xuống cầu tiêu. Ông cũng lấy hết súng đạn ra, bỏ vào thùng rác công cộng. Cuối cùng, ban đêm, khoảng 11 giờ khuya, gia đình tôi nhận cú điện thoại của người chỉ huy trưởng một chiến thuyền. Ông đã gọi vài lần, cuối cùng ông ấy nói với cha tôi là phải quyết định mau nếu muốn đi. “Tôi sẽ cho mấy chiếc xe Jeep đến đón gia đình anh và cả gia đình vợ trước của anh nữa. Anh có thể mang mọi thứ anh cần!” Cha tôi suy nghĩ nhiều. Cuối cùng khoảng nửa đêm, bạn ba tôi gọi một lần nữa, nói: “Tôi phải đi, không thể chờ được nữa.” Cha tôi nói: “Thôi anh đi vậy”. Cha tôi quyết định ở lại.
Ngày hôm sau, Cộng sản tiến vào Sàigòn bằng xe tăng. Họ lái đến Dinh Tổng thống. Mẹ tôi khuyên ba tôi dời nhà, đến một căn an toàn hơn để tránh mặt Cộng sản. Vào buổi sáng, cha tôi chất chúng tôi lên xe hơi, chở chúng tôi đến đó, bởi ông sợ gia đình chúng tôi sẽ bị giết hại, nếu vẫn ở tại nhà. Thiên hạ xem chừng rối loạn, không được bình thường. Buổi sáng đó, khi ba tôi lái xe chở chúng tôi đi, tôi chứng kiến nhiều cảnh. Tôi thấy xe tăng tiến vào dinh tổng thống, cán dẹp hàng rào sắt của dinh. Tôi không nhìn thấy nhiều và rõ hơn vì ba tôi lái lẹ quá.

Tiếp đến, tôi thấy lính cầm cờ với ngôi sao vàng. Tôi nói: “Thôi rồi ! Thế là hết!” Lúc đó nỗi sợ hãi lan tràn. Chúng tôi sợ bị giết. Tôi thật lo sợ cho cha tôi hơn là lo cho bản thân chúng tôi. Trong thân quyến, ai cũng sợ cho ba tôi.
Đường xá vắng hơn những ngày trước. Vào buổi sáng đó, có lẽ xe tăng nhiều hơn người.

Nơi chúng tôi ở lúc trước có 36 căn nhà. Có một gia đình tỏ vẻ thật là vui. Liền sáng đó, họ đeo băng tay đỏ, chứng tỏ họ là Cộng sản. Họ ra mặt, ngày 29 thì chưa. Nhưng ngày 30, họ lộ diện. Có lẽ vì vậy cha tôi mang chúng tôi đi thật lẹ sáng hôm đó. Mẹ tôi khuyên cha tôi mang chúng tôi đến toà nhà lầu này, gần nơi mẹ tôi ở, vì những người ở đó là bạn mẹ tôi, họ sẽ giúp đỡ chúng tôi.

Đường xá vắng tanh, giống như sau một trận giặc. Đồ đạc ngổn ngang, đầy rẫy y phục quân nhân, có nhiều món đang cháy. Rác rưởi um sùm. Nhiều chiếc xe bị vất bỏ ở ngoài đường. Đường phố chỉ thưa thớt vài chiếc xe chạy. Không có các trạm kiểm soát, không có những quân lính cướp bóc. Họ mắc bận xục xạo các dinh thự.

Quân đội Cộng sản chạy vượt ngang xe chúng tôi, nhưng họ không tỏ vẻ quan tâm. Chúng tôi nhìn họ, họ nhìn chúng tôi, ba tôi lái xe vượt qua thật lẹ. Tôi có ý nghĩ là quân đội Cộng Hoà ăn mặc chỉnh tề, quân phục đẹp và vừa vặn hơn. Mấy người lính cộng sản mặc quân phục quá rộng, có vẻ như lạc lõng, cũng như chúng tôi. Ông có biết họ giống cái gì không? Giống như là du khách đi lạc vậy?

Không ngờ nơi chúng tôi đến lại là nơi ở của người Cộng sản. Thật ra là những người nằm vùng. Chúng tôi rất quí mến ba người bạn mẹ tôi mà tôi gọi là dì và người đàn ông chúng tôi gọi là chú, chúng tôi biết họ từ khi còn trẻ thơ. Nhưng chúng tôi không bao giờ ngờ họ là cộng sản. Chúng tôi hỏi xem có thể tạm ở đó không, họ nói không sao. Mẹ tôi biết rõ mọi chuyện nhưng cha tôi thì không. Cha tôi lo lắng, mẹ tôi cũng lo cho cha tôi. Nhưng họ nói không ai có thể xâm phạm căn nhà này. Người ta có thể vào các nhà bỏ hoang, nhưng trong căn nhà này, cha tôi và chúng tôi sẽ được yên ổn, không ai hãm hại gia đình chúng tôi cả. Cha tôi nói “Tốt lắm”, ông đưa chúng tôi vào. Ông chạm trán những người mà ông chưa hề gặp. Những người này có bộ dạng rất khác lạ. Cha tôi liền bước ngay trở ra khỏi căn nhà. Ông dặn: “mấy con ở đây, các con sẽ được an toàn, nhưng ba phải đi liền”.” Chúng tôi không hiểu tại sao cha tôi phải đi vội vã như thế. Tôi nói: “sao ba kỳ vậy? Sao không ở đây? Nơi này rất an toàn mà” Cha tôi nói: “Im đi cứ ở đây. Cứ làm như bình thường, đừng nói nhiều, như vậy các con sẽ bình an”. Cha tôi không nói cho chúng tôi biết ông sẽ đi đâu.

Tôi có một cái giỏ nhỏ, trong đó chứa những vật dụng cần thiết như thuốc, bàn chải đánh răng, kem đánh răng, tôi nghĩ cũng có tiền nữa. Cha tôi gởi bảy chị em tôi ở đó với những người lạ lùng này. Họ có điệu bộ kỳ kỳ. Họ có vẻ thư thái, vui vẻ. Chúng tôi sợ muốn chết, còn họ cứ nhìn chúng tôi mỉm cười.

Hình minh họa

Họ hỏi chuyện chúng tôi, nhưng cha tôi đã dặn là không được nói nhiều. Họ hỏi: “Bây giờ đất nước được giải phóng rồi, các cháu cảm thấy ra sao? Có thích không? Các cháu nghe chính phủ ngụy nói gì về Việt cộng?” Tôi còn khờ dại nên nói: “Mấy bác biết không, nếu cộng sản bắt được người nào sơn móng tay, họ sẽ rút móng tay và hành hạ những người đó. Thêm nữa, ai giàu có và làm việc cho chính phủ trước, họ sẽ bắt và hành hạ những người này. Tụi con nghe vậy đó!” Họ cười xoà khi nghe thế.

Họ không nói gì khác, ngoài việc hỏi chúng tôi đã nghe những gì, cảm thấy thế nào. Tôi kể cho họ những gì tôi đã nghe. Họ nói: “Ở đây các cháu rất yên ổn, không việc gì xảy đến cho các cháu đâu. Vậy bây giờ cháu nghĩ sao?”. Khi họ nói thế, tôi bắt đầu thấy không ổn vì có lẽ tôi đã nói quá nhiều. Do đó tôi nói: “con nghĩ đó là tin đồn chính phủ nói láo thôi!” Tôi biết có việc gì đây. Họ không tuyên truyền cho Cộng sản, họ chỉ nói là: “Bây giờ cháu đã thấy sự thật. Chúng tôi không hại người.” Từ đó, tôi ngậm im luôn.

Chúng tôi ăn ngủ ở đó. Thiệt khó chịu. Sau trận hỏi đáp, tôi bắt đầu hiểu. Tôi hiểu họ không phải là người ở phía chúng tôi. Tôi thật không sợ hãi, chỉ lo lắng. Một cảm giác kỳ cục. Tôi chẳng có thể làm gì được, chỉ phải chờ. Tôi không hiểu chuyện gì sẽ xảy đến cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ phải ở đây bao lâu, khi nào cha mẹ chúng tôi mới đến đón chúng tôi về. Chúng tôi không đi ra ngoài đường, chỉ nhìn qua cửa sổ.

Sau ngày 30, mọi nơi đều im lặng vắng vẻ. Mọi người đều ở trong nhà. Không có ai mua bán gì.

Ba bốn ngày sau, mẹ tôi đến đón chúng tôi về. Chúng tôi về nhà mẹ ruột tôi, ở gần đó. Cha tôi đã vào Chợ Lớn vì có bà con trong ấy. Thật ra, lúc đầu chúng tôi không biết cha tôi ở đâu, không ai chịu nói cả. Gia đình tôi sợ người Cộng sản sẽ hỏi chúng tôi. Cha tôi ở trong Chợ Lớn đến tháng Năm, khi tình hình có vẻ tạm yên và chính phủ mới nói là người chế độ cũ phải đi học tập cải tạo. Căn cứ trên chức vụ, ông sẽ phải đi từ ba tuần đến ba tháng. Những người chức nhỏ hơn thì đi một cho đến ba tuần.

Chúng tôi không biết gì nhiều về cha tôi nữa. Tôi nhớ mẹ tôi đã mang tôi vô Chợ Lớn gặp cha tôi. Tôi nghe cha tôi than phiền với mẹ tôi về việc đem chúng tôi đến căn nhà bạn bà: “Bộ bà điên hay sao? Bà kêu tôi đi thẳng vô hang cọp.” Mẹ tôi nói: “Tôi đâu có biết”. Cha tôi nói: “Sao bà biểu tôi đến đó? Bộ bà không biết là đó là hầm rắn hay sao? Vừa bước chân vô cửa, tôi biết ngay họ là ai, bởi thế tôi đã phải để mấy nhỏ đó và bỏ đi ngay đó.” Tôi không hiểu sao cha tôi biết.

Cha tôi tiếp tục ở trong Chợ Lớn cho đến khi ông bị gọi. Tôi nghĩ là ông đã đắn đo nhiều về việc nên đi trình diện hay không, nhưng sau cùng ông nghĩ là đi phứt cho rồi vì không thể nào lẩn mặt được mãi. Vả chăng, chỉ đi ba tháng thôi. Do đó, ông đành đi.

Vào khoảng tháng Năm, chúng tôi trở lại nhà. Gia đình Việt cộng ở khu nhà tôi đã bắt đầu tổ chức, trở thành lãnh đạo 36 căn nhà trong khu đó. Ai nấy phải theo kỷ luật mới. Thật ra cũng không có gì rõ rệt. Họ chỉ kiểm soát chúng tôi vậy thôi. Chúng tôi không dám mua bán gì. Chúng tôi không dám đi chợ. Tôi không nhớ đã ăn gì để sống. Có lẽ chỉ ăn đồ khô dự trữ thôi.

Cha tôi đi trình diện tại một địa điểm mà nhiều người phải đến để trình diện. Chỗ đó gần sở thú. Người ta xếp hàng thiệt dài, người nào cũng có hành trang. Họ không biết họ phải cần món gì, do đó họ mang theo áo quần và vài thứ cần dùng. Có nhiều hàng dài và người Cộng sản ngồi ở bàn để nhận người. Chúng tôi, gồm có mẹ kế tôi, chị lớn tôi, và tôi đứng đó chờ với cha tôi. Đến phiên cha tôi tiến lại bàn. Tôi nhớ là ông được biểu phải lột đồng hồ và vài món đồ khác. Và ông đã trình diện xong. Chúng tôi không biết họ sẽ đem những người đến trình diện đi đâu, nhưng cha tôi phải đi. Từ đó, chúng tôi không còn biết họ đưa cha tôi đi đâu.