Sherlock Tôm!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Tên của anh bạn thân nầy hồi cha sanh mẹ đẻ ở Việt Nam là: Nguyễn văn Tép.
Anh nói hồi tui mới sanh ra nhằm nạn đói năm Ất Dậu vì Phát xít Nhựt Bổn bắt đồng bào mình nhổ lúa bỏ đi, trồng cây đay cho nó sản xuất quân trang, quân phục; nên đâu có đủ gạo mà ăn, người mình đói chết như rạ, nhiều hết biết. Tội nghiệp!
Và cũng vì vậy, lúc đẻ ra, tui nhỏ xíu nên Thầy, U tui mới đặt tên con là: Tép!
Nhưng khi vượt thoát Cộng Sản chạy qua được tới Melbourne, nước Úc nầy rồi; tui nghĩ tên Tép coi bộ hỏng có ‘oai’ nên tui lựa cái tên lớn hơn con Tép một chút là con Tôm.
Phần tui đọc sách, đọc chuyện trinh thám rất nhiều, rất ái mộ Sherlock Holmes, thám tử lừng danh Anh Cát Lợi, nên tui lấy tên là Sherlock Tôm, na ná Sherlock Holmes cho xếp Úc trong hãng dễ kêu, dễ sai, dễ biểu mình làm.
Còn với anh, mình là người Việt Nam cả thì anh gọi tui tên ‘Tép’ hoặc ‘Tôm’ gì cũng được!
Người viết thì tế nhị lắm?! Nghe anh từ bỏ tên ‘Tép’, cái tên cha sanh mẹ đẻ của mình, mà lấy tên ‘Tôm’ vì mặc cảm nhỏ con; thôi muốn là chiều! Từ đấy, người viết gọi anh bằng hai tiếng thân thương: ‘Sherlock Tôm!’

***

Anh Sherlock Tôm rót bia ra ly cho người viết. Cụng một cái cho đã! “Chúc mừng năm mới há!”
Uống bia bằng ly mới có vẻ quý tộc, anh nói, còn bằng lon sao tui hỏng chịu ông ơi! Trông có vẻ lè phè làm biếng sao đâu! Mình bây giờ là “Việt kiều’ rồi mà! Hí hí!

***

Sau vài tuần bia, anh bắt đầu nổ máy, phát thanh. Anh Tôm rất dễ thương là khi anh nói đố ông nào chen ngang vô được; nên mỗi lần nhậu với anh là người viết lễ phép ngồi nghe; mặc dầu đôi khi cũng ngứa miệng quá trời!
Thần tượng, thầy của Sherlock Tôm là Sherlock Holmes xuất hiện lần đầu trong tác phẩm của nhà văn Tô Cách Lan, Arthur Conan Doyle năm 1887 ở Luân Đôn.
Sherlock Holmes nổi tiếng nhờ trí thông minh, khả năng suy diễn hợp lý và quan sát tinh tường, dựa vào những chứng cứ rồi tìm ra ý nghĩa của những chứng cứ đó!”
Ví dụ khi Sherlock Holmes gặp bạn mình là Bác Sĩ Watson, căn cứ vào cách ăn mặc và chiếc giày bên trái của bạn mình có sáu vết xước gần như song song. Sherlock Holme bèn suy luận rằng: Rõ ràng là những vết xước đó gây ra do một người bất cẩn khi lau bùn chiếc giày. Người lau giày cho bác sĩ chỉ có thể là người hầu gái của ông. Người lau bùn mà để lại những vết xước như vậy hẳn phải là người bất cẩn và vụng về. Đôi giày có nhiều bùn đến mức phải lau chứng tỏ là người mang nó vừa phải đi trong bùn, trong thời tiết giá lạnh và ẩm ướt.
Thấy chưa? Anh Sherlock Tôm nói, Sư phụ tui chỉ từ những chứng cớ tưởng chừng nhỏ nhặt hết sức mà đưa đến một kết luận trúng ngay chóc không cãi vào đâu cho được.

***

Giỏi thiệt! Nhưng ‘Sherlock Holmes’ giỏi chưa bằng ‘Sherlock Tôm’, ‘Made in Việt Nam’ nầy đâu! Chu choa! Lại tự hào dân tộc nữa rồi!
Bữa nay, ghé nhậu với anh chiều cuối năm, để an ủi anh vì chị vắng nhà, thám tử lừng danh Sherlock Tôm nầy sẽ truy tìm “Ngày xưa Hoàng Thị’ Em là ai? Là ai? Cho anh phải ngã nón cuối đầu khâm phục Sherlock Tôm nầy đó nhá!
Trước hết, anh lên YouTube chơi cái bản “Ngày xưa Hoàng Thị’ của Phạm Duy phổ thơ Phạm Thiên Thư; mà phải em vợ Phạm Duy là Thái Thanh hát mới được!
Xin tuân lịnh thám tử nhà ta!
Sau khi lim dim thả hồn theo tiếng nhạc, hết rồi mà mấy chục giây sau Sherlock Tôm mới mở mắt ra mà bừng tỉnh.
Sherlock Tôm nói: “Theo ca từ thì ông thi sĩ nầy phải là người Bắc; mà ổng viết bài thơ nầy trong Nam thì chắc là ổng phải di cư, vượt biên lần thứ nhứt vào Nam.
Và viết thơ tình những năm cuối 50 là ổng phải sanh khoảng độ năm 1940. Cái nầy thì đúng y như kinh!
Cái thứ hai đây là mối tình đầu, thuở học trò! Nhà thơ nhát hít hà, chưa có kinh nghiệm tình trường; nên hỏng dám hó hé gì hết, chỉ lẳng lặng theo em.
Cái thứ ba là nhà thơ và người thơ ít nhứt phải học lớp đệ tam. Trọng trọng một chút mới biết thơ thẩn trông vời áo tiểu thư chớ? Từ đệ tứ trở xuống còn nhỏ lắm chưa biết ‘yêu’ đâu’? Cái nầy cũng đúng luôn!
Phần có thể suy luận thêm là ông nhà thơ nầy đi học trường tư. Gọi là ‘em tan trường về’ mà con nhỏ đó cùng chung lớp thì có nước là mình học hơi trễ so với số tuổi của mình nên mới phải học với em thôi? Tức là nhà thơ phải lớn tuổi hơn em thơ! Phải không? Đúng nữa!
Còn tại sao lại học trường tư? Vì Việt Nam mình thuở đó, Sài Gòn, chỉ có vài trường công lập; đệ nhứt cấp từ đệ thất đến đệ tứ là phải học buổi chiều. Còn đệ nhị cấp từ đệ tam lên tới đệ nhứt là phải học buổi sáng. Cho con nít học buổi chiều vì buổi sáng làm sao mà nó thức dậy sớm cho nổi!
Anh nhớ hông trường công lập thời đó nam nữ học riêng. Nam sinh là Petrus Ký, Chu văn An, Võ Trường Toản, Trần Lục. Còn nữ sinh: là Gia Long, Trưng Vương, Lê văn Duyệt.
Nhà thơ nầy học chung với con gái, lại học buổi chiều, thì chắc trăm phần trăm là học trường tư rồi.
Người viết tán đồng: Đúng vậy! Ông Phạm Thiên Thư học trường Văn Lang ở Tân Định!
Sherlock Tôm nói tiếp: Cái quan trọng nhứt là tên người thơ!
Trên tựa đề, có Hoàng Thị rồi; trong bài thơ còn có chữ Ngọ, được viết hoa vì là danh từ riêng, chỉ tên.
Do đó, kết luận tên ‘em tan trường về’ nầy là Hoàng Thị Ngọ. Người thơ nầy tên Ngọ ắt sanh năm Ngọ. Chính xác phải là năm Nhâm Ngọ, năm 1942, nếu người thơ có em gái thì em phải nhỏ hơn chị ít nhứt là 2 tuổi, sanh năm 1944, năm Giáp Thân thì phải tên là Hoàng thị Thân!
Người viết lên mạng xem lại thông tin thì thấy chàng thám tử lừng danh ‘Sherlock Tôm’ nhà ta nói trúng y bon.

***

Chỉ dựa vào ca từ của một bài nhạc phổ thơ, Sherlock Tôm dùng tam đoạn luận thu thập biết bao là dữ liệu. Mà cái nào cũng trúng hết trơn! Thiệt là tâm phục và khẩu phục!
Thám tử Sherlock Tôm nghe người viết tán dương nồng nhiệt, tạch tạch đùng đùng như pháo tết, khoái quá, bèn “nổ’ thêm: Cái nầy mới là chính nè! Nhà thơ nầy và người thơ ‘áo tà nguyệt bạch’ nầy không lấy nhau vì thường thường mấy đứa con gái coi mấy đứa con trai học cùng chung lớp với mình là con nít. Mấy em kêu mình bằng ‘thằng’ không hà. Kêu bằng ‘thằng’ thì cách chi mà yêu cho được hả?
Thứ hai là muốn người ta mà người ta không muốn nên mới vác bộ giò đi xuống đi lên. Đi hoài mòn giày, mòn dép nên mới có bài thơ trải lòng tâm sự tình đơn phương tha thiết để ra khỏi nỗi buồn u uất! Tuy xa; nhưng tiếc hoài mới có cái cảm xúc mãnh liệt mà làm thơ.
Chớ lấy nhau rồi, tui bảo đảm với anh là mình chẳng có bài thơ nầy đâu mà đọc và ông Phạm Duy cũng không có bài thơ nầy mà phổ nhạc đâu nha.
Thành thử cái lỡ dở đôi khi lại là cái hay! Nhứt là đường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn; lấy nhau không được thương hoài ngàn năm là vậy! Chớ còn về với nhau thì hôn nhân sẽ ‘bóp cổ’ tình yêu chết ngắc! Hí hí!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Se chỉ ấm trôn kim!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Chắc bà con mình ai nấy cũng đều biết thi sĩ Hoàng Cầm (1922 – 2010) rất nổi tiếng về nhiều bài thơ tình; vì ông yêu cũng kha khá, nghe nói tới 13 em lận. Nhỏ ông cũng yêu; mà ‘sồn sồn’ lớn hơn ông chừng chục tuổi, ông cũng yêu luôn như trong bài thơ tình nổi tiếng ‘Lá Diêu Bông’.

“Váy Ðình Bảng buông chùng cửa võng.
Chị thẩn thơ đi tìm.
Ðồng chiều Cuống rạ.
Chị bảo.
Ðứa nào tìm được lá diêu bông.
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em tìm thấy lá.
Chị chau mày.
Ðâu phải lá diêu bông.
Mùa đông sau em tìm thấy lá.
Chị lắc đầu;
Trông nắng vãn bên sông.
Ngày cưới chị.
Em tìm thấy lá.
Chị cười
Se chỉ ấm trôn kim!
Chị ba con.
Em tìm thấy lá.
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn
Từ thuở ấy.
Em cầm chiếc lá đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi.
Diêu bông hời…ới diêu bông…!”

***

Nhạc sĩ Phạm Duy và Trần Tiến chắc cùng chung tâm sự, phổ bài thơ Lá Diêu Bông nhưng Hoàng Cầm lại phủ phàng cho rằng cả hai bài nhạc nầy hổng được hay! (nghĩa là dỡ ẹc hè).
Như vậy nhạc sĩ phổ thơ của thi sĩ thì đừng có nghĩ phổ thơ ông là tui thi ơn bố đức cho ông đâu nhe. Phổ thơ mà hiểu không tới, cảm không tới tới tứ thơ của người ta; nên làm dỡ ẹc hè thì xin nhạc sĩ hãy tha cho thi sĩ một bàn!
Tui e rằng hai ông nhạc sĩ nầy ‘a thần phù’ phổ thơ của người ta mà làm biếng không chịu 3 lần ‘tam cố thảo lư’ để coi Khổng Minh, ổng viết như vậy mà nghĩa nó là gì hè?
(Cái vụ nhạc phổ thơ từ cái vụ ‘đốp’ lời thơ của người ta để làm ca từ cho bài hát của mình thì cũng nên siêng siêng một chút đi nhe mấy ông làm nhạc).
Rồi một bài thơ mà (bị hoặc được) phổ nhạc, thường điệu nhạc làm hạn chế nhạc thơ trong bài! Rồi nhấn nhá, ngân nga không đúng, chỗ đáng lý cao thì thành thấp, chỗ đáng lý thấp thì thành cao làm bài thơ mất hẳn đi niềm cảm xúc.
Nhạc thì có công chuyên chở bài thơ tới độc giả, thính giả nhiều hơn; nên bài thơ dễ được nhiều người biết đến hơn. Nhưng từ thơ qua nhạc, bài nhạc phổ thơ cho hay, may lắm đạt chừng vài chục phần trăm ý của nhà thơ là mừng rồi ạ!

Tui vốn khoái là cái thằng rất khoái đọc thơ, cho dù tài thô trí thiển, hiểu chẳng bao nhiêu. Nhưng hề gì? Hiểu tới đâu thì hiểu. Hiểu kiểu nào cũng được nếu đừng nói ra chi để bị lòi chành cái dốt thì đâu bị ai rầy.
Tuy nhiên dấu dốt hoài, tui e có ngày tui dốt ‘toàn tập’ luôn nên đành mở miệng ra bàn ngang tán dọc về vài chữ, chớ hổng dám toàn bài thơ nổi tiếng nầy chơi. Nếu có trật, xin các bậc cao minh chỉ giáo cho tui học thêm. Học không phải tốn tiền học phí thì tại sao không? (Why not?)

***

Tại sao tui bị ám ảnh bởi bài thơ nầy? Chẳng qua là tui khoái chữ ‘vãn’ trong câu ‘trông nắng ‘vãn’ bên sông’.
Dân Miền Tây mình đi coi cải lương màn chót là ‘vãn’ tuồng, là hết, là ‘on-bon- phi-nan’, là ‘ò e rô be đánh đu’. Như vậy ‘nắng vãn bên sông’ là bên sông’ là Trời (là đời chị) nó tối hù rồi em ơi!
Nhưng tui còn khoái hơn nữa, khoái chí tử câu “Chị cười se chỉ ấm trôn kim”
Tui tự nghĩ ‘ấm trôn kim’ chị cười quả là phải phải.
Giờ, may thay, nhờ thi sĩ Hoàng Cầm, tui mới ‘ngộ’ được ý nghĩa của bài dân ca quan họ ‘se chỉ luồn kim’ nó diễn tả cái chuyện gì? Chớ xưa rày, tui cứ nghe mấy em ca sĩ cứ ‘í a’ không hà; chớ hổng phải mắt chớp chớp lúng liếng đưa tình, nếu mấy em hiểu được ý câu ca nấu ắt mắt em phải ‘chớp giựt lia lia’ mới đúng!
(Rồi cũng trộm nghe một thằng bạn học cũ, giờ ở tiểu bang Minnesota, (lạnh chết cha) vùng Trung Tây, cực bắc nước Hoa Kỳ, kể rằng:
“Mùa đông rét căm căm, có ông già ra Ngũ đại hồ (Great Lakes), đục băng, thả cần câu xuống câu cá.
Ngồi kế bên có một chàng thanh niên trẻ và khỏe cũng làm y hịt vậy. Cái cần câu của ông già hổng có con cá nào chịu ăn; còn cái cần câu của chàng thanh niên trẻ và khỏe nầy oằn luôn vì cá đốp lia lịa hè.
Tức quá, ông già hỏi:
“Bộ chú mầy chơi ‘bùa yêu’ hả?
Thì chàng thanh niên cười hè hè đáp: “Muốn câu con cá nào dính con cá nầy thì con ‘trùn’ của mình phải ‘ấm’ mới được! He he!”
Mới đầu nghe, tui đâu hiểu con ‘trùn’ là con gì? Sau đọc được chữ ‘se chỉ ấm trôn kim’ của nhà thơ Hoàng Cầm, giờ thì tui’ ngộ ra rồi, hiểu ra rồi nên cười thiếu điều té ghế.)
Tui xin ‘bái’ nhà thơ Hoàng Cầm ba bái, vì cách dùng chữ chọn lọc, đa tầng, đa nghĩa của ông nhe!

***

Chính vì khoái ‘se chỉ ấm trôn kim’ tui bèn lên ‘google’ tìm ông Hoàng Cầm để nghe nhà thơ dạy bảo thêm.
Rất tiếc lúc sinh tiền, ông không có phụ đề Việt ngữ mấy chữ nầy mà chỉ nhẩn nha kể lại rằng:
“Chẳng qua: Từ làng quê chuyển lên sống ở một phố nhỏ dọc đường quốc lộ, cách thị xã Bắc Giang chừng 6 cây số, cha tôi có tủ thuốc Bắc và gánh hàng xén của mẹ.
Năm đó tôi lên 10, đã học đến lớp ba (cour élémentaire). Một buổi chiều có một người con gái mặc chiếc áo phin trắng, ngoài có chiếc gilê màu thẫm. Khi đó nắng xiên khoai dọi vào nhà, lúc chị ngửng đầu lên thì cả khuôn mặt chị được ráng vàng chiếu sáng, tôi thấy bừng lên một khuôn mặt khiến tôi choáng váng cả người. Tên chị là Vinh.”
Và nhà thơ thầm yêu trộm nhớ. Nhưng than ôi! Sau đó “Nó đi lấy chồng rồi con ạ.” vì có một ông Quản lính khố xanh qua đây, mê vì nhan sắc, đưa chị Vinh về Phủ Lý làm vợ lẽ…
Năm 17 tuổi, nhà thơ vừa thi đỗ tú tài, đang sống ở Hà Nội, về Phủ Lý ăn đám cưới của người bạn, tình cờ gặp lại người xưa.
“Cậu Việt ơi!” Tôi nhìn sang bên kia đường, thì thấy chị Vinh đang ngồi bên một cái tủ bày bánh kẹo, cạnh một cái chõng bán nước chè.
Chị kéo tôi ngồi xuống chõng, chị ngồi cạnh ôm ngang lưng tôi. Chị lấy ông Quản đã có một mặt con. Nhưng dần dần ông Quản ruồng bỏ chị, đi theo người khác.
Tôi ái ngại nhìn chị. Lúc này trong tôi không còn cái tình yêu say mê của thời thơ ấu. Tôi chỉ cảm thấy thương cho một con người tiều tụy, nhan sắc đã tàn phai!”

Tui thấy cái vụ chơi trèo nầy, trong thực tế cuộc đời nó xảy ra hà rầm hè.
Hồi xưa ngắm một người đẹp, mình thầm yêu, đâu ai cần xét căn cước làm chi? Tình yêu thánh thiện chớ đâu có tình dục, nhục dục linh tinh gì đâu? Nhỏ quá làm sao biết?
Chẳng hạn cậu học trò 13, 14 tuổi thầm yêu trộm nhớ cô giáo của mình.
(Đố cha thằng nào dám nói ra để về nhà bị ăn đòn ‘nứt đít’ vì tội làm con nít quỷ chớ?)
Theo nhà thơ thì Lá Diêu Bông là chiếc lá huyễn hoặc, là cuộc tình thơ, người thơ theo đuổi mãi vậy thôi! Vậy mà có đứa ganh tài, tố Hoàng Cầm đầy ẩn ý xỏ xiên, là có ‘vấn đề’.
Dẫu đây chỉ là yêu thầm lặng, không có sờ sẫm, mò mẫm, hun hít gì ráo vậy mà phải đi ở tù mới báo. Ði ở tù không phải vì hành vi tính dục, nhỏ mà đòi ‘trèo lên, trèo lên cây bưởi hái hoa’ mà bị bắt bỏ bót chỉ vì một bài thơ tình cũng hơi là lạ!
Cơ khổ viết thơ tình mà cứ bị bọn cà chớn chụp cho cái mũ phản động như thế nầy mà mấy đứa có chức có quyền lại tin sao?
(Chừa chỗ cho tui ngu với chớ! Chắc quan anh hổng đến nỗi ngu hết biết, ngu như vậy đâu!).
Nói trắng ra tội của Hoàng Cầm là tội dám làm thơ hay hơn thơ của anh Lành (Tố Hữu) (?!)
Hoàng Cầm bị buộc phải làm tờ kiểm điểm, rồi ở tù 18 tháng, bị đuổi ra khỏi Hội Nhà văn, cấm in và lưu hành (chuyền tay) tác phẩm.

***

Cảm thương nhà thơ Hoàng Cầm suốt một đời đi tìm lá, nhưng chẳng có chiếc lá nào là lá Diêu Bông cả. Nghĩa là tìm hoài nhưng hổng gặp được tình yêu, vì không có ai yêu hết ráo; bèn bị bắt đi vô hộp để tiếp tục đi tìm!
Tui cũng vậy! Tui đã từng đi tìm lá Diêu Bông gần suốt cả đời người mà chưa thấy, chưa gặp nè.
Giờ thì tui nghỉ đi tìm rồi vì mỏi cẳng! Mệt quá! Hi hi!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Sao quên mùi nước mắm?!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Tranh Bảo Huân

Thưa chắc quý anh mình, ai cũng đã từng nghe bài hát ‘Thân Phận’ do ca sĩ Giáng Thu trình bày mỗi tối trên đài phát thanh Sài Gòn vào cuối những năm 60, thế kỷ trước.

Em than rằng: “Tối qua có người đến nhà xin bỏ trầu cau/ Ba me đón chào chuyện hỏi cưới bàn thật lâu/ Em buồn em khóc biết bao nhiêu/ Nhớ anh và thương anh thật nhiều/ Nhưng lòng giận anh mình yêu nhau/ Cớ sao không tìm nhau?

Me thương em đến bên giường nằm/ Hôn trán em thì thầm: “Con nhỏ này dại ghê!  Mẹ chọn nơi quyền quý/ Người ta thế mà chê?!

Nhà họ sang giàu lắm/Một bước lên xe hơi /Con khỏi phí cuộc đời/Cưng nghe mẹ đi con/Hai lần hai là bốn/Thực tế vậy mà khôn”

Thưa theo tui thấy thực tế như Me em chẳng khôn chút nào cả?!

Cái nầy đâu phải là gả con, gầy dựng cho con gái mình nên vợ nên chồng mà là bán con mình cho những tay trọc phú. Con mình đâu phải là một món hàng mà đem đi, chỗ nào có giá cao là bán hè. Thiệt là bậy bạ quá!

Phần em nữa! Than cái gì? Thân mình mình lo! Lỡ có yêu anh chàng trên răng dưới dế, thì cứ can đảm dứt áo ra đi, bỏ nhà ‘dzọt’ theo chàng! Cho dù chàng có chết nhát, sợ lính bắt về tội dụ dỗ con gái người ta… thì mình phải phân bày cặn kẽ khúc nôi là: “Dụ dỗ gái vị thành niên mới bị lính bắt! Còn em đã trên 18 tuổi rồi, đã có thẻ căn cước, thì ai làm được gì ai mà sợ chớ?

Nên ru chàng bằng câu ca dao: “Ði đâu cho thiếp theo cùng/Ðói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam!” Chỉ đừng có no thì thiếp ở, lạnh lùng thiếp dông, là được! Vài năm sau, ván đã đóng xuồng, Tía Má em nguôi giận thì em cứ thản nhiên bồng thằng cu về thú phạt. Tới lúc đó banh chành hết ráo rồi, dù Tía Má em có chịu hay không cũng huề cả làng…

Ðừng có thèm năn nỉ ỉ ôi Má em gì sất! Ðừng kèo nài: “Má ơi đừng gả con xa / Chim kêu vượn hú biết nhà Má đâu?” Tự do luyến ái mà. Nghĩa là: yêu thằng nào là lấy thằng nấy.

Ông Trời ép uổng còn hổng được, huống gì Tía Má em là người phàm mắt thịt phải hông nè?

Thưa bà con, xúi dại mấy em như vậy nghe tưởng chừng hợp trào lưu hiện đại nữ quyền nhưng bây giờ thế kỷ 21 rồi mà nhìn quanh quất lại không phải vậy mới chết!

Vì nghe nói mấy em, nhứt là ở Miền Tây mình giờ, lấy chồng không cần yêu đương gì hết ráo! Ngay cả không cần biết thằng chồng tương lai mặt mày tròn méo ra sao hết. Cứ lấy đại, để bỏ cái quê nhà dấu yêu, bỏ luôn cái thằng Ðực chăn trâu cùng xóm đã từng cùng em thề non hẹn biển để em được bay đi Ðài Loan, Hàn Quốc gì đó cũng được.

Có em thành thật khai báo rằng: Nghe mấy chị em làm trước, lấy chồng nước ngoài được đi máy bay nên em ham! Thế nên Tía, Má em gả em cho Chệt Ðài Loan là em ưng liền để có dịp đi máy bay cho biết với người ta.

Phần anh Ðực cùng xóm, phèn quá thể! “Ðường về đêm tối canh thâu/ Nhìn anh em tưởng con trâu đang cười!” Nên em ỉ ôi với Má em là: “Má ơi đừng gả con gần/ Con qua xúc gạo nhiều lần má hao!”

Hậu quả là con gái trong xóm em, rủ nhau đi một bầy, lên Sài Gòn cho bọn Ðài Loan, Hàn quốc đến săm soi, sờ mó coi bự nhỏ… như đi mua một miếng thịt heo ngoài chợ vậy, thiệt là nhục!

“Hồi đó phải đi theo ‘Ðoàn’. Tức là có người mai mối, họ xuống tận nhà, ngỏ ý rồi đưa con chúng tôi lên Sài Gòn. Họ thuê nhà ăn ở để chờ ngày ‘ra mắt’ các chú rể Ðài Loan, cam kết là sẽ chắc chắn có chồng người nước ngoài.”

Cỡ nào cũng gả! Xứ này phần lớn các gia đình là có con gái lấy chồng Ðài Loan, chỉ trừ những gia đình không có con gái mà thôi. Tới tháng Giêng năm 2015, quận Thốt Nốt có hơn 3,000 phụ nữ kết hôn với người nước ngoài, trong đó nhiều nhất là lấy chồng Ðài Loan với 1,680 người và Hàn Quốc với 1,198 người!

Thưa! Ðảo là một vùng đất nổi lên giữa biển khơi, nhỏ hơn thì gọi là Hòn, nhỏ hơn hòn, là Cù lao, thường là một dải đất nhô lên, nhờ phù sa bồi đắp lâu năm, ở giữa con sông lớn (sông cái) tư bề sóng vỗ, như Cù lao Năng Gù ở An Giang, Cù lao Dung ở Sóc Trăng, Cù lao Bảo, Cù lao Minh, Cù lao An Hóa ở Bến Tre…

Mà cái tăm tiếng (hay đúng hơn là cái tai tiếng nầy) rùm beng hơn hết thảy là Cù lao Tân Lộc, cách Cần Thơ hơn 40 cây số, thuộc Thốt Nốt, bây giờ có cái hỗn danh là Ðảo Ðài Loan.

Từ quốc lộ 91, qua đò Thuận Hưng, Cù lao Tân Lộc nằm giữa con sông Hậu hiền hòa có tổng chiều dài trên 20 cây số, hình thành cách đây khoảng 400 năm.

Thoạt kỳ thủy, Cù lao toàn là bần gie đom đóm sáng ngời cùng lau sậy, trên cành cây là những chiếc tổ của chim dòng dọc, tựa như những ống tay áo, chiếc vớ vắt vẻo, đung đưa trong gió.

Sau đó ông bà mình díu vợ con từ miền Trung khô cằn, chó ăn đá gà ăn muối, đất hẹp người lại đông, vào đây đổ mồi hôi sôi nước mắt suốt nhiều đời, lập được hơn 3,200 mẫu đất phù sa màu mỡ, không cần đến phân phướng gì hết ráo, để trồng dừa xiêm, dừa lửa, dừa dứa (nước ngọt, mùi thơm dịu), vườn cây ăn trái như mít, mận, ổi sầu riêng, chôm chôm, rồi trồng mía, nấu đường nên còn có tên là Ðảo Ngọt.

Hồi đang chiến tranh ác liệt khắp cả miền Nam thân yêu của chúng ta thì Cù lao Tân Lộc vẫn là một ốc đảo bình yên, dân chưa hề chịu đói bao giờ. Vậy mà sau 41 năm mất miền Nam, bậc làm cha làm mẹ ở cái đất Cù lao nầy lại phải bán con mình cho Chệt Ðài Loan, để từ những cái tên mỹ miều đáng yêu như Cù lao Tân Lộc, Cù lao Sa Châu (Cù lao cát), ‘Cù lao Tam Tỉnh’ (vì nằm giáp ranh ba tỉnh: Sa Ðéc, An Giang, Cần Thơ), Ðảo Ngọt… thành Ðảo Ðài Loan mới thật là chua xót!

Hồi thời Pháp thuộc cũng có những gia đình túng quẫn đến cùng cực phải bán vợ đợ con để trang trải nợ nần, nhưng bà con lỡ lâm vào cảnh cùng khốn đó giấu biệt, không dám hé môi vì coi đó là một nỗi nhục gia phong, vậy mà giờ có ông lại cảm thấy đó là hay, là hên… vì bán con gái mình cho Chệt Ðài Loan được giá!

“15 năm trước, gia đình sống nhờ vào mấy ruộng trồng mía, cả nhà có đến 8 miệng ăn, quay qua quay lại lúc nào cũng thiếu trước hụt sau. Những lúc túng thiếu phải đi hỏi nợ, cứ vậy ngày qua ngày, nợ mẹ đẻ nợ con, 7 công đất ruộng lần lượt mang ra bán, không trả đủ. Cùng đường, đành gả bán đứa con gái duy nhất ‘cho Ðài Loan’ đã được hơn 10 năm rồi, với hy vọng nhỏ nhoi là con sẽ biết báo hiếu. Nhờ thế mà trong 5 năm đầu, tôi đã trả hết nợ nần. Sau mấy năm tích cóp thêm, tôi cũng xây được căn nhà tường cao vừa mới cất, rộng rãi và thoáng mát với những tiện nghi chẳng thua gì nhà ở thị thành, tốn hết 700 triệu (khoảng $35,000).” Rồi ông vui vẻ khoe thêm là: “Nó vừa gửi về cho tôi hơn 100 triệu (khoảng $5,000) để tôi trị bệnh!”

Nhưng có người không mừng đâu mà rầu hết sức! Ðó là những thằng Cu của đất Cù lao Tân Lộc, lỡ sanh ra phận nhà nghèo, một cục đất chọi chim cũng không có.

“Bây giờ trai làng ế vợ nhiều lắm. Tôi 35 tuổi mà vẫn chưa có vợ. Ngày trước cũng quen một cô trong làng này, nhưng gia đình họ không cho cưới, vì tôi nghèo. Họ chỉ muốn con gái mình lấy chồng nước ngoài, bởi thế mà cô ‘người yêu’ cũng vì chữ hiếu mà vâng lời cha mẹ!”

Mấy thằng Cu nầy thấy thế thái nhân tình như thế nản bèn thành nhà thơ hết ráo: “Buồn buồn ra ngõ đứng chơi/ Ai ngờ chó cắn buồn ơi là buồn!” 

Ðứa khác thì sau vài xị sương sương, thương nhớ một mối tình xưa, cũng vì tiền mà tan vỡ, hát rằng: “Có con chim đa đa nó đậu cành đa/ Sao không lấy chồng gần mà đi lấy chồng xa?” Rồi một ngày: “Tình cờ tôi gặp lại em/ Ta đi chung trên một chuyến đò/ Con đò chiều đưa khách sang sông / Tình cờ ta nhận ra nhau/ Nghe mênh mông nhớ chuyện hôm nào/ Ðể đò chiều sóng vỗ lao xao…!”

Chú em ơi! Em yêu ngày cũ, nói cho tận cùng bằng số, tội nghiệp em, cũng là nạn nhân của tệ nạn buôn người (có Tía, Má em và sự ngầm dung dưỡng, khuyến khích để kiếm thêm ngoại tệ của chế độ thối nát nầy, vui vẻ nhúng tay vào đó) đấy thôi!

Chớ trong sâu thẳm lòng của mấy em đi lấy Ðài Loan nầy, cũng đau đớn như cắt ruột vì duyên số chia lìa. Vì chữ hiếu, vì chín chữ (cũng) cù lao nữa hè, buộc phải xịt nước tương, chan xì dầu thì cũng không thể nào quên được mùi nước mắm của chú em đâu?

đoàn xuân thu

melbourne

Chuyện thật ngắn (ngán)

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 07/11/2018 

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Ruồi bu

Trái đất có nóng không? Cu Tí hỏi.

Ông bố nói: Mầy đang tập trả bài cho cô hở? Nóng, bắt buộc rồi. Nóng chết bố! Mầy không thấy tao đương ở trần sao?

Mẹ cu Tí chen vào: Hoa hậu trái đất là gì thế bố thằng cu? Mặc bikini trông nóng con mắt mới gớm.

Là Miss Earth. Để phân biệt với người đẹp ngoài hành tinh.

Lắm trò nhỉ! Đoạt được chức ấy có vẻ vang không? Có nhận được lắm tiền bằng ba lần bán trôn không?

Mai mốt tôi xem báo đài mới hay biết sự tình bà ạ. Nhưng mà vẻ vang thì người mình đã từng đoạt lắm danh hiệu rồi chứ đâu đợi tới giờ nầy.
Mẹ à, cô con bảo dân mình vô địch thế giới, đánh thắng thằng thực dân Pháp xong cái quay qua nện cho thằng đế quốc Mỹ tơi tả buộc phải cút.

Thì tao cũng biết vậy, khu phố mình từng lĩnh bằng ban khen của lãnh đạo là gói được đòn bánh tét phải huy động tới bốn chục người gánh đi.

Thế mẹ có biết ám số 24 t/ 1.71/ 80- 58- 94 là gì không hở?

Hỏi bố mày đấy, đừng mang chuyện toán học với giáo dục nhức đầu ra hỏi tao.

Có những bài toán mà mày không nên tìm ra đáp số con ạ. Cả bố cũng vậy. Nhưng dân thắc mắc thì lãnh đạo phải nên giả nhời cho đúng lệ làng. Số ấy là của riêng cô Nguyễn Phương Khánh sở hữu, không đụng hàng. Minh bạch là 24 tuổi, cao 1 mét 71. Ngực to 80 cm, eo thon 58 phân mà mông nở cực đoan tới số 94.

Bố mày rắc rối quá, cứ bảo là số đo ba vòng thì có phải dễ đả thông tư tưởng cho thằng cu Tí không.

Cô con dạy đã là con gái thì vừa hồng vừa chuyên mới quan trọng. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, đẹp cách mấy cũng chả ăn thua, chỉ tổ làm cho xã hội bát nháo gây thêm tội phạm.

Cô nào? Cô dạy văn hay cô chủ nhiệm? Cô Lựu hay cô Đào? Nói thật chớ mấy bà giáo viên từng gõ vào đầu mầy toàn cả hạng vừa xấu gỗ vừa xấu nước sơn. Đói cơm cứ y như con mắm ấy. Có sao người ta mới cất công đi tìm người đẹp để thi thố chuyện hơn thua. Nước sơn đẹp thì làm cho quần chúng mát con mắt, nên biểu dương cu Tí ạ.

Bố mày thường nói sai nhưng lần nầy e là đúng. Quần chúng nhờ vào những vụ bóng đá đẳng cấp với thi hoa hậu đủ loại như thế mà quên đi phần nào những oan ức bắt bớ tù đày. Cứ chém người ta xong thì nghĩ ngay tới chuyện xức thuốc. Chưa êm việc Thủ Thiêm thì để tâm tư vào việc ca ngợi um sùm người đẹp Bến Tre đoạt chức hoa hậu. Họ chủ trương bày ra toàn những thứ ruồi bu cho qua cơn hạn.

Cu Tí nói: Quê hương là chùm khế ngọt thì con biết, nhưng ruồi bu… Ruồi bu là gì hở mẹ?

Kiến đậu

Cô Vân Anh, sinh năm 1997, sinh viên năm thứ Tư Đại học Văn hoá Hà Nội là người có nhan sắc, được thầy cô lẫn bạn bè chí công vô tư khen ngợi. Vân Anh có lắm người theo đuổi, nhằm bảo toàn việc đang phiêu lưu vào con đường tình nhiều săn đón, Vân Anh buộc phải học thuật “mèo biết dấu cứt”. Tài nghệ cao cường tới độ lỡ bụng mang dạ chửa lớn bộn mà kẻ thân cận nào hay biết.

Một ngày đẹp giời, Vân Anh ghé ngang chung cư có căn hộ do đám bạn bè thuê ngụ trên tầng 31. Chuyện trò rôm rả liền ngưng huyên thuyên, Vân Anh đi vội vào phòng vệ sinh vì thời khắc vừa điểm, tức ăn khó ở, đến hẹn lại lên. Cô sinh viên 21 tuổi một mình dương đông kích tây cắn răng xử lý việc vượt cạn. Cô hốt gọn món nợ đời bầy nhầy cho vào một túi ny lông, xong theo ứng xử thói quen thường ngày cô thẳng tay ném “cái bịch rác” nọ qua cửa sổ xa đất gần trời 31 từng mây. Tạo dáng thanh thản khi bước ra. Bạn bè có đứa quan ngại khi nom dáng vẻ trông bất bình thường. Chuyện gì? Vân Anh hất mặt lên. Ờ, bị kinh nguyệt nó hành tớ. Mặt xanh đít đỏ chỉ là chuyện nhỏ.

Con thỏ nó lớn bao lăm thì chả rõ nhưng một hài nhi nát thân dưới mặt lộ thì xúi bá tánh đâm chộn rộn bàn ra tán vào. Bầy hầy một đống ra đó, chạy trời sao khỏi nắng? Có người trắc ẩn thắp cháy nguyên cả bó nhang đặt kề, khói ùn xám ngoét bên vũng máu loang có bầy kiến nhanh chân vừa tranh nhau đậu lại. Không riêng (dáng đứng) Bến Tre, mặt đất Hà Nội thủ đô ngàn năm văn vật càng lúc càng nóng.

Hồ Đình Nghiêm

Cái bóng đen

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 04/12/2018 

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Nói tới bóng đen, không thể không nhớ lại một câu chuyện cổ. Truyền thuyết chất đủ sự nông nổi, vụng dại, đầy kịch tính:

Hai vợ chồng có con mọn. Chồng mang họ Trương, vì lính thú phải đi trấn nhậm đồn xa. Vợ ở nhà đơn thân nuôi con dại, để dỗ dành con và làm nguôi nỗi nhớ chồng, mỗi tối thắp đèn lên, chỉ tay vào bóng chiếu trên vách: “Cha con kìa”. Lâu ngày, Trương được phép về thăm nhà, mừng vui gọi con lại nhưng đứa bé lắc đầu: “Không, phải đợi trời tối kia, khi ấy thì cha mới về”. Trương đau lòng nghĩ là vợ đã ngoại tình. Vợ chẳng tìm ra cách minh oan, lẳng lặng gạt lệ ra tới bên sông, trầm mình tự tử. Chiều xuống, đêm về, Trương thắp đèn lên. Nhìn bóng đen hắt vào vách nghe tiếng con reo vui: “Cha về rồi, đó mới đúng là cha”. Trương chợt hiểu, giật mình, nhưng đã muộn. Hối lỗi tìm ra bờ sông lập đàn chay mong giải oan cho vợ… Về sau vua Lê Thánh Tông hay chuyện đã hạ bút làm nên bài thơ trách cứ, cho khắc vào bia đá trước miếu vợ chàng Trương. Hai câu cuối là:

“Qua đây mới rõ nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng”.

Lính thú đóng đồn phương xa, ngẫm lại, chàng Trương kia tốt phước hơn lính tráng thời Việt Nam Cộng Hoà mang thân tù tội bị bắt vào rừng sâu “cải tạo”. Khắp 4 vùng chiến thuật, trên từng cây số từ Bến Hải vào tới Cà Mau có mấy chục ngàn chàng Trương? Thời cuộc phũ phàng nhưng chàng Trương buổi ấy “ngon lành” hơn chàng Trương cổ tích. Trương nói cùng vợ: Xin em hãy cố quên anh đi. Em xuống sắc quá trong khi em còn cả đoạn đường thanh xuân trước mặt. Hãy tha lỗi cho anh, gắng nuôi đứa con mình thành người… Cực thân em quá, xin đừng oán trách anh, có tàn hơi anh cũng gắng nguyện cầu cho em được an vui bên ngoài cảnh giới này… Giới hạn cuối giờ thăm nuôi đã điểm, sương xuống lạnh, gió hiểm ác từ Trường Sơn len lỏi về cứa rách da thịt. Trong lán, ngọn đèn dầu vừa thắp lên: Miếu ai như miếu ngàn chàng Trương, ngọn đèn dầu tắt đừng nghe chúng, để tôi thì thầm với bóng đen, sót lại chỉ mảnh tình riêng ta với ta.

Ngày xưa (hoà bình an vui?) sao bá tánh có được một ông vua nhân hậu và rỗi việc đến thế nhỉ? Nhân hậu khi phê hai chữ phũ phàng, trong khi lỗi lầm chàng Trương mắc phải cần phải roi vọt cần phải đánh đòn răn đe: Chính mi đã làm nước nhà mất đi một người phụ nữ đức hạnh, thật thà. Rỗi việc là bề trên ham đi ngoạn cảnh, nghe chuyện trái ngang liền lấy đó làm điều, tức cảnh sinh tình, đề thơ vào bia đá rành rành, cho dù hậu sinh không ghé qua Thăng Long thành (để hoài cổ), chẳng bước chân tới đèo Ngang bóng xế tà cũng nhìn nhận là thơ mọc cùng khắp, thơ chen lá, lá chen hoa trăm loài đua nở. Hình như buổi ấy, oan ức kiện tụng muốn trình lên bề trên, đơn trương thảo ra đủ đầy niêm luật tựa như một bài thi phú? Ngày xưa lính thú Trương mù quáng trách vợ bạc tình phản bội. Ngày nay (sau 75) lính tráng miền Nam lại tự đấm ngực mình: Lỗi tại ta mọi đàng, vì ta mà em khổ tâm khổ trí tự hành xác trèo đèo vượt suối nhịn ăn để bới xách cho ta nắm xôi, cục đường. Nếu không thể “tô son điểm phấn ngạo với nhân gian một nụ cười” thì xin em hãy ôm con thơ dại mà tìm đường vượt biên. Con cháu, hậu bối của Lê Thánh Tông có làm ra thơ trách cuộc bể dâu cũng chỉ lén lút, hoặc nhẫm học thuộc lòng. Một trang kinh thấm đẫm mồ hôi nước mắt, có thể là huyết lệ sống để bụng chết mang theo. Họ sinh hoạt dưới ba tầng địa ngục, và họ, thực sự chỉ còn là cái bóng đen. Nói dông nói dài cũng chỉ cô lại: Chàng Trương cổ lỗ sĩ thật đáng bị nhận đòn roi, gián tiếp giết vợ mình và trực tiếp mang hạnh phúc mình có ra trấn nước. Suy ra, lên án chàng Trương xưa cũ chừng nào thì càng trân trọng tán dương những chàng Trương hiện đại chừng đó. Trang sử họ thầm lặng viết nên, hậu thế đáng khắc ghi, tưởng niệm, vì đâu nên nổi? Nhớ về một thời kỳ ngùn ngụt cả khói nhang, mờ quyện trên cuộc đất hung hiểm, vô thần, chẳng am miếu.

Không riêng ngọn đèn hiu hắt mà vợ chàng Trương thắp lên mỗi tối dùng để dỗ dành, vỗ về niềm đơn lẻ, ở trong văn học vẫn thường sử dụng tới hình ảnh bóng chiếu vào vách, bóng đọng dưới đường, bóng đi theo, lập lại trùng khít những động tác của chủ thể. Bóng và người là một, lại tách hai, song hành. Buồn miệng với cô quạnh, người mang tâm sự ra tỉ tê cùng bóng, nghĩ là bóng hiểu thấu, nguôi ngoai (?). Ở đâu có ánh sáng, ở đó có sự phản quang, soi chiếu. Ánh sáng làm xoá đi chút mông muội thường ẩn trốn vào bóng tối. Văn chương Trung Hoa ví ánh sáng là người quân tử, quang minh chính đại, phơi mặt ra khi xử sự, không hoá trang, đường đường chính chính. Ngược lại kẻ tiểu nhân vẫn thích hành động trong bóng tối, bóng tối đồng loã với tội ác. Những sách lược hiểm độc thường được bàn thảo, lên kế hoạch trong bóng đêm, tối như hủ nút. Và đối phương khi tìm cách đối kháng chống trả, người ta họp bàn dưới ánh mặt trời. Quan Công dẫn lính đi chinh phạt quân Tào Tháo vẫn luôn nhắm tới đại lộ, ngôn rằng chỉ hạng tiểu nhân mới quen đi tiểu lộ. Lỡ không bắt được đứa gian ác, liền ngửa mặt lên cao xanh mà quyết đoán: Lưới trời lồng lộng tuy thưa nhưng khó thoát. Câu ấy chả có ai phán dưới bầu trời đen kịt cả. Thắp đuốc cũng khó mà lần ra “nó” đã lẩn trốn phương nao. Thế mới đẻ thêm một phụ chú: Chạy trời sao khỏi nắng hở thằng kia, con nọ!

Nhưng ở phương Tây, người ta nói khác đi: “Nếu không có bóng tối, bạn chẳng tài nào trông rõ những vì sao”. Họ chẳng bận tâm phân loại môi trường, điều kiện nào sản sinh ra hai hạng quân tử, tiểu nhân. Họ thích màn đêm, họ chuộng bóng mờ, họ lập luận: Những suy nghĩ thấu đáo nhất là khi bạn ngồi thu lu trong bóng đêm, ban ngày bạn thường biểu lộ sự bẳn gắt, nông nổi, bộp chộp. Những đứa ngủ giấc trưa, cho dù có vắt tay lên trán cũng không thể đơm đặt những ước mơ kỳ vỹ bằng đứa trằn trọc canh khuya. Bóng tối, với họ là căn nguyên của thơ mộng, của lãng mạn đằm thắm. Hitler từng để cho đời câu bất hủ: Khi anh ở trong hào quang, mọi thứ đều chạy theo anh; nhưng khi anh chìm vào bóng tối, đến ngay cả cái bóng của anh cũng chẳng hề bám theo.

Ngày đó, nhà văn nữ Nguyễn Thị Thuỵ Vũ viết nên cuốn “Nhang Tàn Thắp Khuya” (bốn chữ này vay mượn từ ca dao: Anh buồn còn chỗ thở than, em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya), sang nhà văn nữ khác, Tuý Hồng có truyện dài mang tựa “Tôi Nhìn Tôi Trên Vách”. Nhang tàn thắp khuya thế cho điều gì rất mực đơn côi, héo hắt, câm lặng. Mà Tôi nhìn tôi trên vách cũng làm rõ nỗi cô đơn tuyệt cùng, xao xác hơn cả Bà Huyện Thanh Quan khi viết “Một mảnh tình riêng ta với ta”. Ba nữ nhân kia tuyệt không đụng tới chữ bóng, nhưng tựu trung có thể bảo đó là thứ “ý tại ngôn ngoại”. Một thủ thuật của phép phân thân. Nhìn ngắm, tự khắc thấy chữ dùng nọ hàm chứa ý tuy một mà hai, tôi nhìn lấy bóng của tôi hoặc nhang đang cháy cụt kia là nỗi lòng của chính tôi vậy.

Nhà văn Mai Thảo cũng mang lời cảm thán vào câu thơ ông viết: “Nơi góc tường in cái bóng gầy”. Và dằn vặt hơn cả là Tô Thuỳ Yên, thơ ông nhốt chật những chiếc bóng tang thương: “Ta về một bóng trên đường lớn…” Khởi thuỷ đã dựng nên thứ cảnh quang mông quạnh, cô độc đến thắt lòng.

Ở phương này, cuối năm trời chóng tối, mở đèn lên ngó ra tuyết đổ lạnh, cơ hàn ngay cả chiếc bóng mỏng dính vừa in vào vách tường ở căn hộ cũ kỹ. Hắn vẫn ngồi co ro một mình viết vẩn vơ và chiếc bóng thầm lặng kia đôi lần như biết thì thầm sinh nhiễu sự: Viết cái gì đó? Viết để làm gì? Ừ nhỉ. Để làm gì? Làm gì? Không là gì cả. Nếu trời Hè hẳn đã bước chân xuống đường “ôi ta buồn ta đi loanh quanh chẳng vì đâu?”. Nhưng đang Đông, lịch hao mòn đi gần tới Giáng Sinh se sắt âm độ, đành trói chân ngồi đối bóng và trả lời bóng: Viết để chống đối với bó tay (chấm com). Viết để bắt đầu óc tập thể dục, ngầm biện hộ: Không phải về già ai cũng đều bị lú lấp. Chỉ ngần ấy, kỳ dư chẳng đèo bồng thêm một tham vọng nào khác. Bạn hiểu rồi mà, trong lúc này in ra được tập truyện, điều nọ chẳng phải là thứ đơn giản. Nhiêu khê không bút mực nào tả xiết. Và vướng mắc vào sự phi lý, tốn công hao sức rồi vô cớ tốn tiền hao bạc. Một đứa viết văn phải nên thủ thân chút tự ái làm vốn liếng. Văn chương chứ không phải là một món đồ để mang ra mặc cả, nói thách, xuống nước, van nài, bớt một thêm hai, quỵ luỵ. Hắn vốn rất dở dang ở mặt “ngoại giao” kiểu đó. Hắn ghét thương lượng, kì kèo chì chiết mặt chai mày sạn, hắn yêu hình ảnh một con bồ câu “vui thì đậu mà buồn thì bay”. Thong dong là thứ đáng ngợi ca, vô ngại. Nhớ Trịnh Công Sơn: Tôi như ngọn đèn từng đêm vơi cạn, lửa lên thắp một niềm riêng.

Hắn dự tính sẽ có một món quà mọn gửi tới các bạn văn đó đây nhân dịp năm cùng tháng tận, nhưng phút cuối đành cực lòng để trấn nước mộng tưởng. Bất thành, ướt nghe ngói, thấm lạnh lòng. Đành khôi hài: Bó tay chấm, hết. Hắn chẳng thông hiểu rộng Hán nôm. Hữu xạ tự nhiên hương là gì? Bù trất. Khi bạn cao tay nghề, thủ pháp thần sầu quỉ khóc, e rằng khi ấy sẽ có một nhà xuất bản đứng ra kêu đích danh tên bạn: “Thít hông? Chơi tới bến lun. Đừng bùn nữa mờ. Dị đi nhen”. Cái bóng đen nói: Nếu đó là sự thật thì há lẽ những đầu sách đang lần lượt xuất hiện đều do những kẻ có võ công thâm hậu bày ra thứ kung-fu huê dạng vung cước múa quyền? Đừng nói thế, chớ đơm đặt sự so sánh, sẽ vấp sai lạc quàng xiên bởi bá nhân bá bao tử, trăm họ bất đồng không thể ngồi chung êm thắm một nhà.

Không dưng nhớ sực tới câu thơ của Vũ Hoàng Chương:

“Riêng có mình ta phai áo lục
Còn em sau trước vẫn hồng nhan”.

Hắn đã từng phơi áo, phơi luôn mộng mị trên dây chùng, thảy bạc màu. Bạc như sắc tuyết đang vây bủa, xuống đầy ngoài kia. Viết để làm gì thì đã dóng hỏi, giờ cắc cớ để thắc mắc thêm: Vậy chớ in sách ra để làm gì? Ngồi không vọng động, bóng đen cũng im sững. Ừ, cũng chẳng biết để mần chi! Mấy trăm trang giấy in đầy mực đen ấy ví như hồng nhan. Mà hồng nhan thì đa truân, hồng nhan bạc mệnh, hồng nhan thật vắn số. Phai áo lục mà thấm béo gì hòng mang nó ra đối chiếu với sắc khuynh thành?

Những ngày cuối năm nói toàn những điều “không phải”. Hắn để ý: Có ai dầm thân đi trong băng giá mà chu miệng để huýt gió? Hề, không một ai. Cắn răng mà quờ quạng lê thân, rùn vai mà cắm cúi bước kẻo trợt ngã. Nhiệt độ mỗi khi một xuống thấp, nhiệt đổi qua hàn. Lạnh ơi, ta xin chào mi. Tắt ngọn đèn, bóng đen chẳng còn đậu ở đó nữa, biến mất. Đi thắp một cây nhang, cọng khói xám vụt lẩn trốn nhanh, hơn một chớp mắt. Trống không.

Thấm thía lời Mai Thảo:

Sách một dẫy nằm trơ trên giá
Cạnh người thân thế cũng trơ trơ
Sách, người hai cõi cùng hư hoại
Nơi một ngàn chương thiếu một tờ.

Hồ Đình Nghiêm

231

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 10/12/2018 

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Thời nhỏ, tôi là học trò kém. Kém là chữ cô dùng, không như những người khác đều kêu: Đồ học dốt! Thấy chưa hả, lại thòng thêm chữ “đặc”. Dốt đặc là chi? Tôi nào có thông minh để hiểu thấu. Chỉ biết trong mấy nồi chè của o quen mặt thường gánh vô sân nhà bán có hai loại: Chè đậu ván đặc hoặc đậu ván nước. Con nít kêu đậu ván đặc là chè cứt mũi và tôi vẫn thích ăn đặc (sền sệt) hơn là nước (lỏng bỏng).

Con Nữ, tên họ đầy đủ là Trần Lê Trinh Nữ, học cùng lớp, ngồi bàn đầu đã khai mở trí óc tôi: Dốt đặc vì mi đặc biệt dốt, dốt một cách đặc biệt. À, té ra là rứa. Từ bữa ni trở về sau tau kêu mi là Nữ đẹp đặc, vì mi đặc biệt đẹp, có sướng hung không? Trinh Nữ nguýt: Đã dốt còn bày đặt ba trợn. Liệu hồn, tau mét anh tau đánh cho mi sặc gạch.

Trường Tiểu học Trần Quốc Toản nằm gần Trung học Hàm Nghi. Anh con Nữ học lớp đệ Lục bên đó vẫn thường ghé đón em gái. Học trò ở bậc tiểu học thì rõ là áo xống chỉ dùng để che thân, đồ tam toạng vá chùm vá đụp màu này chen màu nọ thảy trông không chướng mắt; nhưng mà lớn đôi chút, khi đã “nhảy” vô được trường Hàm Nghi, mấy trự nam sinh đều diện đồng phục le lói áo trắng bỏ vô quần dài xanh đậm, có thêu bảng tên trên túi áo ngó đường bệ rất dễ nể. Chọc con Nữ mà lỡ đến tai anh hắn thì ắt lôi thôi lắm, cứ sợ bị đứa lớn con cao hơn cả cái đầu nhảy ra chận đường, vất cặp-táp xuống rồi bụm tay tẩn một trận quắn đít thì làm trò cười cho chúng bạn rắn mắt, chảy máu cam làm loà làm lện pha trộn với nước mắt ắt chỉ biết chửi thầm: Đồ ba de, chơi kiểu chi mất dạy rứa bây!

Trong các món, tôi rất ngán môn toán. Từ ngán sinh ra sợ, sợ đẻ ra dốt (đặc). Môn luận văn nếu có dốt thì cũng nên châm chước cho rằng dốt vừa phải, dốt lỏng. Cô ra đầu đề: “Em hãy tả về người em yêu thương nhất nhà và hãy trình bày tình cảm ấy ra”. Ngồi cắn bút một chặp thì chữ tuôn trào, lè lưỡi mà viết xuống: Ở nhà, ba mạ em có nuôi một con mèo và một con chó. Con mèo em đặt tên là Nữ, còn con chó thì kêu bằng Đực. Con Đực ni in tuồng không phải trời sinh ra vì hắn không biết sủa người lạ, bạ ai cũng chạy theo vẫy đuôi, chẳng biết giữ nhà chút chi cả, không đúng như tấm bảng ba em gò chữ viết: “Coi chừng chó dữ”. Còn con Nữ thì nhác chi nhác vô hậu, chuột đứng ngay trước mũi có vễnh râu lên hắn cũng làm bộ giả lơ. Nhưng được cái là hắn thích em ve vuốt, buổi túi Nữ ưa phóc lên giường em nằm, đúng như câu “Giỡn mèo, mèo lờn mặt”. Nếu cô biểu em thương con mô nhứt thì thiệt khó mà trả lời cho ra đầu ra đuôi. Một con ưa chạy rông ngoài đường còn một con thì ưa lim dim việc ngủ ngáy. Em rất muốn có một con chim chích choè hay con chào mào đứng hót trong lồng, ba em noái mi học giỏi thì tau mới mua cho. Nếu có, khi nớ em sẽ thương con chim nhất nhà.

Cô phê mực đỏ: “Lạc đề! Trợn trạc không chịu đọc kỹ đầu đề. Đã lâu, học lực trò vẫn chưa thấy có chút tiến bộ, thiệt uổng công cô từng uốn nắn!”. Và cô vị tình cho điểm 1. Lớp có 42 trò tôi luôn khoanh vùng từ số 40 trở đi, ba phen leo lên con số 35 dù không phải đặt đít ở xóm nhà lá, nơi mà bọn “vai u thịt bắp” luôn chiếm cứ hai bàn cuối lớp. Riêng bài tả cảnh tả tình dài cả trang giấy vở của Trinh Nữ thì được 10 điểm, cô chọn để đọc cho cả lớp nghe. Cái mặt Nữ được dịp vất lên trời, coi trời bằng vung, hiu hiu tự đắc, nhưng ngộ ở chỗ là ngó không dễ ghét chút mô, vì tình thiệt mà nói cái đầu tóc cắt kiểu “bum bê” nọ rất ăn với khuôn trăng múp máp, ba phần sáng choang bảy phần chảu lảy. Tức cười ở chỗ là ngay cả cô giáo mà cũng mò không ra, thui chột trước chữ chảu lảy. Cô hỏi: Em học mô ra hai chữ kỳ khôi thức nớ? Dạ thưa cô, em nghe mệ em nói. Mệ em lúc mô cũng đòi hun em, cho mệ làm một miếng, ai đẻ mi ra mà cái mặt chảu lảy chộ bắt dễ sợ a rứa. Vậy thì chữ đó mang nghĩa chi? Dạ thưa cô, nghĩa là bộ vó bắt con mắt, đẹp ác ôn, đẹp ác liệt. Đẹp đặc biệt. Đẹp đặc.

Tuy dốt đặc, nhờ trời tôi cũng thi đậu vô trường Hàm Nghi, tiền thân ngôi trường này mang tên Quốc Tử Giám, chuyên dạy dỗ mấy đứa con quan hoặc quý tử các vị cận thần có công trạng với nước nhà. Học đâu thì gân cổ ra bệnh vực nơi mình dùi mài kinh sử, bên hữu ngạn có ngôi trường Quốc Học nó ngon lành chỗ mô mà ai cũng ưa nhắc tới, hơn cả Hàm Nghi đóng đô tả ngạn là tại vì răng? Nghe rất dễ giận. Điểm duy nhất tôi thích Quốc Học là vì nằm sát bên hông nó, cách con đường nhỏ là trường Đồng Khánh có Trinh Nữ vừa đầu quân vô. Đội nón lá bài thơ, hai tà áo trắng vướng chân đi, dù ngực còn chín giú, chưa ra cau nhưng cái mặt Nữ đã coi mòi tra cảy. Chữ ni cũng nghe mệ tôi nói, nôm na là tra có hột, là già đời, là khôn nẻ vỏ. Thưa cô, mệ em cũng ưa dùng chữ chèm bẽm. Chữ ni thì cô biết, nghĩa là phơi mặt , nằm sờ sờ ra đó, có đúng không? Thông tín bạ gửi về nhà em tìm cách thu dấu hay để nó nằm chèm bẽm trên bàn cho ba mạ em thấy? Ui, cô hỏi câu chi mà nghiệt quá, tình cảm em dành cho cô bấy chầy e dễ bị sứt mẻ tới nơi.

Nghe đố nì. Số 231 là chỉ vô cái chi?

Là số vùng, nằm trong ngoặc đơn, ở đầu dãy số điện thoại khi mình gọi viễn liên. Đang ở vùng mô đó? Có cách trở xa ngái với chốn ni không?

Nói cho đúng thì mới bật mí.

Để coi. Là ngày 23 tháng 1 lúc xưa mình mân mê bàn tay Nữ. Nhớ dai hung hè?

Nữa, người chi mà cứ quen thói ăn mắm ăn muối ưa nói tầm bậy tầm bạ miết. Thiệt là nắng mấy hoa cũng không héo!

Tạm gát việc giải phương trình toán học nhiều ẩn số đi, Nữ biết tỏng là mình dốt toán mà, từ nhỏ tới lớn cũng chưa lỏng được chút chi. Dốt đặc là… nghề của chàng.

Cứ chưa chịu mở mắt dòm đời thương đau? Ăn ở chi tệ lậu rứa bây!

Ừ, tệ lậu thuở mô chừ. Nhưng cái ngày 23 tháng 1 nọ mình có chép trong vở bốn câu thơ của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn để khắc ghi tâm trạng hoảng hốt:

“Năm mười bốn có lần anh ngó thấy
Em nằm truồng ngoe nguẩy cuối vườn trăng
Hồn thảo dã trong đêm vừa thức dậy
Khắp bầu trời ướt rượt cả lông măng”.

Cậm hèn chi phải. Học không lo học cứ đi sưu tầm ba chuyện quàng xiên của người lớn. Ông anh Nữ nói, cái thằng nớ tiếng là học dốt nhưng cái mặt hắn ngó cũng chảu lảy, vì rứa cứ thập thò ngoài cổng mà tau không nỡ chạy ra khỏ cho hắn u đầu. Coi bộ cu cậu muốn tìm cách hối lộ, vái tau tôn làm sư huynh, anh của hiền muội e thẹn đang nép sau tường cao kín cổng.

Ủa, bộ anh Quân không kể chuyện thằng chảu lảy xớn xác chạy xe Yamaha tới rước “anh vợ tương lai” đi uống cà phê hay răng? Anh ấy còn dụ khị, mi có câu thơ chi ác liệt đọc ra cho tau ghi để tán con Nguyệt người đẹp trường Bồ Đề…

Thiệt à? Có chuyện nớ nữa à? Rứa thì trong nhất thời người dốt đặc có đáp ứng được lời đòi hỏi của anh Quân không?

Dễ như ăn ớt. Vì mình thì lúc mô cũng có thủ sẵn trong ruột cả chục câu lận. Toàn của các thi bá tiếng tăm. Lần nớ mình chọn hai câu của Bùi Giáng:

“Cổ tay em tròn như đẵn mía
Anh về thèm ngọt đến trăm năm”.

Nguyệt bỏ anh Quân đi lấy chồng. Số chị ấy cực, ly dị chồng xong lại vui duyên mới với một ông say sưa mang tật ham cá độ bóng đá. Chị Nguyệt từng làm giáo viên, nay đã nghỉ hưu. Sở dĩ Nữ hỏi có biết ám danh con số 231? Vì chị Nguyệt vừa gửi cho xem tin một cô giáo mang tên Thuỷ ở Quảng Ninh đã tát vào mặt học sinh tới 231 lần…

Đồ ác đức bất nhân, đồ vô hậu kế đợi! Bà này kiếp trước làm nữ võ sĩ quyền Anh hay sao á? Trong Kinh thánh có ghi câu: “Nếu ai vả bên má phải của con, thì hãy đưa má bên kia cho nó nữa”. Sao lại có hạng cuồng điên say máu vả vào mặt con người ta lên tới con số đến Chúa không tin Phật cũng á khẩu.

Chị Nguyệt thì bảo là trong phim bộ của Tàu có câu: Hạng người như mi khi đẻ con sẽ không có lỗ đít!

Chỉ là một ác khẩu đi trù ẻo người ta, nhằm nhò chi với người xứ Việt, trăm họ đều hạnh phúc khi chổng khu đi ẻ vất ngoài đồng. Khi xưa mình học kém nhưng thầy cô mô có đánh kiểu tàn canh gió lạnh như rứa, đánh tới hồi gãy tay mới thôi hay răng? Lý lịch cô giáo Thuỷ nọ chắc ba đời đều có người công tác ở bộ công an? Nghe thêm tin là có cô còn bắt trò uống cả nước ngâm giẻ chùi bảng đen nữa, giáo dục kiểu chi hang động rừng rú quá, kêu trời không thấu!

Hết chuyện nói hay răng mà mang thời mạt pháp này ra so sánh với thời hoàng kim xưa cũ của bọn mình. Nì, có khi mô buồn tình mà nhớ lại trường xưa lối cũ không?

Như cơm bữa, nhớ mấy cái đường kiệt nhỏ xíu, nhớ hai dãy hàng rào hẹp té đỏ thắm màu hoa dâm bụt, nhớ cái hình tam giác cân hở da bên eo, dưới là lưng quần luồn dây thun của Nữ…

Đó, đó… Không khéo mà giờ ni bắt làm luận thì trò chắc được điểm 10 dù có bị lạc đề. Vài ngày nữa Nữ chạy đi mua vé máy bay, mua trễ sợ bị chặt đẹp.

O tính đi mô rứa o?

Đi Việt Nam, những ai muốn về quê ăn tết đều hối nhau sớm đi đặt vé cả. Nếu thích làm bạn đường thì Nữ sẽ mua thành hai vé, nói trắng ra là Nữ bao cho, từ A tới Z.

…..

Vì răng mà làm thinh làm tịnh, không nói chẳng rằng chi cả rứa eng?

Nhớ khi xưa mỗi khi tan học Nữ thường quay đầu lui doạ: Tau đi lối ni có hoa có bướm, mi đi ngả nớ có ma quỉ chận đầu… Thôi, cho mình ngồi yên một chỗ mà nhớ lại một thời thơ mộng đã vuột mất.

Nghĩa là sao? Sợ gặp ma quỉ? Ngại vấp bẻ bàng?

Người về ta chẳng cho về
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ:
Thương cha nhớ mẹ thì về
Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng.

Mình thật thà như rứa không chừng mà bị Nữ mắng cho. Cũng chẳng sao vì mình lỡ làm đứa học trò dốt, mình lạc hậu, mình dị ứng với nơi chốn từng soán đoạt hết bao niềm vui của bọn mình, đổi trắng thay đen, chôn xanh để bồi đỏ.

Trò ni cứng đầu quá!

Dạ thưa cô, nếu em được phép vả vào hai má của cô Thuỷ tới 231 lần thì có tổn thất tốn kém bao nhiêu em cũng vui vẻ tháp tùng cô một chuyến ra tận Quảng Ninh. Hơn bốn mươi năm qua em “tu” gần đắc đạo rồi thì hà cớ gì phút này nông nổi nghe theo lời cô vẽ đường cho hươu chạy. Trong đời chúng mình chỉ duy một lần được đi trên lối có hoa có bướm thôi!

Trinh Nữ ngụ ở bên Houston. Người học trò giỏi năm xưa bạn tôi vừa mất chồng, Nữ hiện vẫn đi làm, nuôi hai cô con gái chưa đủ tuổi trưởng thành. Nữ quyết tâm từ chối ý tôi muốn vượt biên sang bên đó thăm cô, tôi không nghĩ là Nữ giận khi tôi chẳng muốn theo cô về thăm lại đường xưa lối cũ. Tôi thưa với Nữ, rằng chúng ta mỗi người có riêng một quan niệm sống và tôi mang thứ suy nghĩ là tại sao tự mình lại dây vào những phiền muộn đắng lòng khi về đó chứng kiến bao cảnh sống đau lòng mà người dân sa cơ lỡ vận mãi nhẫn nhục chịu đựng trong câm nín. Tôi cũng chẳng vin vào cớ gì để trách Nữ được, hãy thực hiện những việc mà nó chẳng làm mình vấn vương tới ăn năn hoặc mặc cảm các thứ. Cuối email, tôi thành thật chúc Nữ có được chuyến đi dài ngày gặp được cảnh thuận buồm xuôi gió. Và chấm dứt với hai câu của Bùi Giáng:

“Biển dâu sực tỉnh giang hà
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo bay”.

Hồ Đình Nghiêm

Tôi là sông vẫn âm thầm chảy 

 Thơ Lâm Hảo Dũng

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Tôi là cát lún chiều sa mạc

Là bãi bùn hoang nước ngập phèn

Tôi là đất lỡ bên vàm xáng

Là trấp nằm phơi rợp sắc đen

Tôi là đá xám ngàn năm đứng

Chờ trăng vuốt tóc để soi đường

Tôi là sỏi vụn ôm hình bóng

Đem tuổi cô đơn xếp mặt buồn

Tôi là sông vẫn âm thầm chảy

Là biển mênh mông, biển gọi hồn

Tôi là hạt nước không thanh sắc

Đừng hỏi vì sao đổ lệ thầm

Tôi là giây phút trong giờ phút

Thời khắc không màu không lãng quên

Tôi là ngày tối trong ngày sáng

Một tháng tư đen nghiệt ngã buồn…

Từ tôi thao thức đêm thao thức

Quá khứ đi về đau mãi đau

Từ tôi đem mạng giang hồ bước

Manh áo lưu vong áo đẫm sầu?…

Lâm Hảo Dũng

Sơn nữ còn không ở lại rừng?

 Thơ Lâm Hảo Dũng

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Trong tiếng còng khua ráng đỏ chiều

Bước chân rừng dậy tiếng thu reo

Mưa mùa chưa đến chim chưa hót

Sơn nữ về ngang dưới góc đèo

Ta lên biên trấn hay biên tái

Chỉ thấy mây mù mây đuổi mây

Lòng lính thật tình hay cảm khái

Thương quê hương mù khói đạn bay

Rượu cần chưa uống ta say khước

Môi đổi môi đầm hạt nếp thơm

Mùi của rừng thiêng hay đất rẩy

Hay hồn dân tộc gái Sédang

Riêng ta quẳng chiếc linh hồn nhỏ

Trải chiếu mời ai một chỗ ngồi

Trăng gió sao đêm làm bạn hữu

Cây, chim, muông thú đến đùa vui

Sơn nữ một chiều đi hỏi núi

Suốt đời “bỏ mã” ở trong buôn?

Ta đến rồi đi không trở lại

Bỏ quên màu mắt đục em buồn

Và trong tiếng gió rơi trầm lắng

Sơn nữ còn không ở lại rừng…?

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ
Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Hình minh họa

Tướng Trần Bạch Đằng

 “Chúng tôi tin vào sự tha thứ và rộng lượng bỏ qua”

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Mùa xuân năm 1975 tôi ở trong ban lãnh đạo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đặt tại Tây Ninh. Tôi công tác với các chỉ huy cấp cao để hoạch định cuộc tiến công mùa Xuân đánh chính quyền Nam Việt Nam. Tất nhiên tôi đã có liên lạc chặt chẽ vói tướng Văn Tiến Dũng, người chỉ huy quân đội Nhân Dân Việt Nam.

Đạo Cao Đài đặt trung tâm tại Tây Ninh. Mặc dù là một tôn giáo, nhưng đạo này vẫn có vũ trang, binh sĩ riêng. Tuy nhiên họ chia làm hai nhóm. Một nhóm hoạt động như lực lượng phụ của chính quyền miền Nam, nhóm kia lại hoạt động với người của Mặt Trận Giải Phóng miền Nam.

Ở Ban Mê Thuột vùng cao nguyên năm 1975, người Thượng cũng vậy. Một số ở trong tổ chức Fulro, thiết lập bởi cơ quan Trung ương Tình báo Hoa Kỳ. Nhưng cũng có một nhóm người Thượng khác do Ibid Aleo lãnh đạo, nhóm này hoạt động với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam từ lâu. Và khi trận Ban Mê Thuột bắt đầu, nhiều người Thượng đã đi theo quân đội của tướng Văn Tiến Dũng, chống lại binh sĩ Nam Việt Nam mà tham gia lực lượng chúng tôi. Còn một nhóm khác cũng hoạt động cho chúng tôi tại khắp vùng cao nguyên.

Chúng tôi đã trà trộn vào được hàng ngũ cao cấp của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Tổ chức chúng tôi cũng bị xâm nhập, nhưng chỉ ở những cấp dưới thôi.

Tôi muốn làm sáng tỏ một điểm quan trọng: Tướng Dũng chỉ là môt bộ phận nhỏ của cả tổ chức lớn lao. Ông là tư lệnh tiền phương. Ông không liên hệ gì đến các chiến thuật và việc ấn định thời điểm cả. Ông có các nhiệm vụ khác tại tiền tuyến. Vị Tổng tư lệnh bấy giờ là Tướng Võ Nguyên Giáp.

Mối quan tâm chính là làm sao loại bỏ được sự can thiệp của chính quyền Mỹ tại Việt Nam. Chúng tôi đã tập trung vào Hiệp định Pa-ri để tìm cách loại bỏ sự hiện diện của Mỹ. Chừng nào lực lượng ấy rút, kế hoạch lấy miền Nam sẽ chỉ còn là một bước toan tính dễ dàng. Và một khi người Mỹ đi rồi, thực là dễ, vì cuối cùng chỉ còn người Việt đánh người Việt mà thôi. Khoảng đầu năm 1975 khi lấy Phước Long, chúng tôi biết có thể tiến nhanh hơn dự liệu, vì sẽ không còn Mỹ can thiệp. Và quân đội Nam Việt Nam cũng đã không thành tựu trong việc phản công Phước Long. Trước kia họ luôn luôn đánh lại, nhưng nay họ không còn hành động gì để tái chiếm tỉnh lỵ Phước Long, nên chúng tôi tin lần này chúng tôi có thể tiến, tiến nhanh. Sau khi Phước Long thất thủ, Tổng thống Thiệu đã gửi một phái đoàn quốc hội sang Hoa Kỳ để xin thêm đạn dược và tiếp vận. Phái đoàn này được hướng dẫn bởi ông Đinh Văn Đệ, Chủ tịch ủy Ban Quốc Phòng tại Quốc Hội. Ông yêu cầu Tổng thống Ford 300 triệu Mỹ kim quân viện. Ông đã trình bày hình ảnh Nam Việt Nam với Ford. Sau khi tổng thống Ford nghe xong những gì ông Đệ trình bày thì Ford biết chẳng có thể nào ngăn cản sự thất trận của miền Nam được nữa. Khi phái đoàn quay về Việt Nam, ông Đệ đã soạn một bản báo cáo gửi cho Lực lượng Cách mạng ở Hà Nội, báo cho Hà Nội biết những gì xảy ra. Đấy, ông thấy, ông Đệ là một dân biểu Nam Việt Nam, nhưng ông ấy cũng hoạt động cho Mặt Trận Giải Phóng. Ông đã luôn luôn thông báo hết cho chúng tôi biết những gì xảy ra. Đó là mức độ chúng tôi đã trà trộn vào chính quyền miền Nam Việt nam. Một mức độ rất cao. Ông Đệ đã trình bày vấn đề bằng một cách làm chính phủ Hoa Kỳ phải từ chối, phải cho là viện trợ không ích lợi gì nữa. Khi nhận báo cáo của ông Đệ, chúng tôi biết chẳng thế nào chính phủ Hoa Kỳ sẽ quay lại can thiệp vào Việt Nam nữa.

Hình minh họa

Chúng tôi đã không lọt vào tòa Đại sứ Hoa Kỳ và cơ quan Trung ương Tình báo tại Saigon ở cấp độ thấp, như thư ký chẳng hạn. Chúng tôi thực sự cài người vào những chức vụ rất cao trong các tổ chức này. Những chức vụ tuyệt đối cao. Chúng tôi đã gửi một Đại tá của Mặt Trận Giải Phóng miền Nam cũng là Đại tá miền Nam, vào làm việc trong hệ thống Quân báo Hoa Kỳ. Một trong những người nằm vùng khác của chúng tôi, ông Phạm Xuân Ẩn, là người đã viết rất nhiều cho tạp chí Time. Một cố vấn đặc biệt của ông Thiệu cũng là người của chúng tôi, đó là ông Huỳnh Văn Trọng. Với tư cách cố vấn của ông Thiệu, ông đã gặp gỡ nói chuyện với Kissinger và với Nixon, thế mà suốt thời gian ấy, ông đã hoạt động cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Hà! Hà!

Chúng tôi không sử dụng đến đàn bà để ngủ với viên chức Mỹ hay với các sĩ quan tình báo. Ông thấy tại sao chúng tôi không hoạt động cách đó, là bởi vì chúng tôi đã nhìn ra được việc gài người vào tòa Đại sứ Hoa Kỳ và cơ quan Trung Ương Tình báo không đến nỗi quan trọng, bởi vì thực ra họ chẳng biết được bao nhiêu.

Tôi đã nhiều lần nằm vùng ở Saigon, đã vào Saigon năm 1975 mà không sợ ai phản bội. Hệ thống chúng tôi rất chặt chẽ, ở đấy tôi đã tổ chức tất cả, nên tôi biết hệ thống an ninh chúng tôi rất tốt. Tôi là Bí thư Đảng bộ miền Nam đầu tiên đặt trụ sở tại Saigon, trong những năm 1960 tôi đã ở đây. Rồi đến năm 1975 tôi ở Tây Ninh cho đến khi tôi tiến vào lại Saigon với các lực lượng Cách mạng.

Tôi vào Saigon với đơn vị chỉ huy buổi sáng ngày 30 tháng Tư. Tôi không đến dinh Tổng Thống, đấy không phải là nhiệm vụ của tôi. Tôi đã được ủy nhiệm giám sát việc tiếp thu tất cả các phương tiện truyền thông và báo chí trong thành phố. Tôi lãnh nhiệm vụ coi sóc phương diện tâm lý và tư tưởng trong thành phố.

Người miền Nam có sợ tắm máu khi quân đội miền Bắc tiến đến không? Tôi không tin là như thế. Hãy nhớ tôi đã đến từ thành phố, trong năm 1968 tôi đã tổ chức và chỉ huy cuộc tổng công kích Saigon. Tôi biết rõ người trong Thành phố, tôi biết họ nghĩ gì. Họ đã tràn ra đường hoan nghênh quân đội tới, nên tôi biết họ không sợ.

Bây giờ xin kể chuyện về căn nhà của cựu Đại tá Mỹ William Porter. Đấy là nơi cả ông Mc George Bundy cùng nhiều giới chức Mỹ cao cấp khác đều đã đến thăm viếng. Nhưng quý ông có biết ai ở cạnh nhà ông Phó Đại sứ Mỹ hay không? Chính là tôi! Trong lúc Porter cùng nhiều giới chức Mỹ cao cấp khác đứng nói chuyện trong sân, tôi sống ngay sát cạnh nhà. Ngay đấy, tôi có thể nhìn thấy họ, nghe họ nói. Không việc gì mà tôi phải sợ tại Saigon. Tôi được quần chúng bảo vệ. Nhân dân biết tôi là ai, họ biết tôi làm gì.

Đáng lẽ, nếu Hoa Kỳ để lại một số nhân viên cấp dưới tại tòa Đại sứ lúc ra đi vào năm 1975 thì sẽ thuận lợi cho cả đôi bên. Đại sứ Graham Martin đáng lẽ không phải đi. Vũ Văn Mẫu đã đòi người Mỹ ra đi chỉ vì, theo ông ta nói, là do Mặt Trận Giải Phóng đòi hỏi điều ấy. Nhưng thực ra, các chỉ thị không nhắm tòa Đại sứ cùng các nhân viên ngoại giao, nó chỉ nhắm đến những người bên văn phòng Tùy viên quân sự là những người chúng tôi muốn họ ra khỏi nước thôi. Thực là một lỗi lầm lớn. Người Mỹ hiểu sai điều ấy mà rút tất cả nhân viên tòa Đại sứ ra đi.

Hình minh họa

Trước khi tấn công Phước Long cuối năm 1974, kế hoạch chúng tôi là chiếm miền Nam vào khoảng 1976. Thật thế. Chuyện này đã ở ngoài tầm tay chúng tôi. Sau khi đánh Phước Long, rồi đến Ban Mê Thuột, bấy giờ chúng tôi định lên Kontum, và Pleiku, hoặc là sang phiá Đông. Những gì xảy ra sau đó hoàn toàn chỉ là lỗi lầm của quân đội Nam Việt Nam. Họ cứ thế tháo chạy. Vì vậy lập tức chúng tôi phải sửa lại các kế hoạch khẩn cấp. Đột nhiên chúng tôi không còn phải đợi đến 1976 mói hoàn tất các kế hoạch. Chúng tôi biết rõ Thiếu tướng Ted Serong đã từng đề nghị một kế hoạch rút quân cho Tổng thống Thiệu, nhưng chúng tôi không hề nghĩ Thiệu sẽ sử dụng đến. Ngay khi kế hoạch này vừa được trình bày với Thiệu, cùng một lúc chúng tôi đã tức khắc biết ngay từng chi tiết kế hoạch, chúng tôi cũng đem cả kế hoạch ra phân tích. Theo kế hoạch ấy, quân ở cao nguyên sẽ được rút đi, miền Nam sẽ được bảo vệ. Nhưng Thiệu đã ra lệnh triệt thoái, một cuộc triệt thoái tán loạn, thế là hết chuyện. Sau khi lấy Ban Mê Thuột, chúng tôi có buổi họp các cán bộ cao cấp để cân nhắc việc Mỹ có thể can thiệp trở lại hay không. Buổi họp này có đồng chí Lê Duẩn tham dự. Kết luận là chẳng cách gì Mỹ sẽ tái can thiệp vào việc đánh cứu miền Nam nữa. Do đó chúng tôi nhất quyết đạt thắng lợi cuối cùng vào năm 1975, sớm hơn dự định một năm.

Trong cao điểm đêm 30 tháng Tư, tôi đã ngủ ở dấy. Tôi hết sức bận rộn trong nhiệm vụ mới để giám sát ngành truyền thông báo chí, làm việc 24 giờ một ngày nên hôm ấy chẳng có thể còn ý nghĩ riêng tư nào. Tại Saigon có đến 400 thông tín viên, vì thế nhu cầu quan hệ là phải duy trì việc cung cấp tin tức cho các thông tín viên ngoại quốc. Trong suốt tuần lễ đầu tháng Năm, tôi rất bận rộn trong công tác duy trì việc cung cấp tin.

Lúc ấy vẫn có nhiều thông tín viên Tây phương ở lại Không phải tất cả đều chạy. Tôi nhớ Alan Dawson đã ở đây, tôi đã gặp ông ta.

Về việc Đại sứ Graham Martin quan tâm đến câu hỏi tạo sao chúng tôi pháo kích đêm 29 tháng Tư, và cho rằng đấy là bởi vì Không quân Nam Việt Nam đã được phép đưa máy bay sang Thái Lan. Thật ra đây chỉ là câu chuyện dựng đứng. Không bao giờ có việc thoả thuận với người Nga về thời điểm Mỹ rút đi. Người ta đã dựng lên chuyện ấy. Vào lúc này người Nga không kiểm soát gì ở Việt Nam cả. Chúng tôi hoạch định thế nào, chuyện gì xảy ra, ngay như thế chúng tôi cũng không thông báo gì cho người Nga biết.

Lý do thực sự tại sao chúng tôi đã pháo phi đạo Tân Sơn Nhất không phải vì lẽ Không quân miền Nam đã rút máy bay đi. Chúng tôi pháo phi trường giản dị chỉ vì lúc ấy đơn vị pháo binh đã vào đến tầm bắn Tân Sơn Nhất mà thôi.

Chúng tôi không pháo người Mỹ trong lúc họ di tản, bởi đã có một phái đoàn Nam Việt Nam tới Tân Sơn Nhất thương thuyết với người của chúng tôi tại trại Davis. Tướng Minh nắm quyền hôm 28 đã cho người đến phi trường nói chuyện với chúng tôi. Chính vì thế chúng tôi đã ngưng các kế hoạch tấn công thành phố. Chúng tôi dự định bắn vào thành phố 150,000 quả đạn, nhưng vì lời thỉnh cầu của phái đoàn từ ông Minh mà sau đêm 28 tháng Tư, chúng tôi đã ngưng pháo kích thành phố. Đến Tân Sơn Nhất để thương thảo với Mặt Trận Giải Phóng miền Nam là Linh mục Chân Tín và ông Trung Ngọc Liêng.

Minh đã chỉ thị cho những người này đến nói chuyện với phiá chúng tôi. Bấy giờ chúng tôi có một nhóm đại diện từ miền Bắc đặt tại Tân Sơn Nhất, suốt thời gian ấy vẫn có nhiều liên lạc diễn ra.

Về sự an toàn của đường bay từ Tòa Đại sứ ra biển thì nếu muốn bắn trực thăng, người ta phải đặt vị trí ở những chỗ có thể bắn được. Nhưng súng của chúng tôi đặt ở các khu đầm lầy, vì thế chúng tôi không thể bắn các máy bay ấy. Và cũng chẳng có lý do gì để làm thế, vì lẽ trên máy bay chỉ có dân sự chứ không có nhân viên quân đội. Chúng tôi chẳng có lý do gì để bắn họ cả. Có hai điểm nữa. Thứ nhất, bởi vì phía chúng tôi là phía chiến thắng, chúng tôi vui mừng và không thù hận. Thứ hai, chúng tôi tin vào sự tha thứ và rộng lượng bỏ qua. Khi hai phía là địch thù, chúng ta phải đánh, nhưng một khi cuộc chiến đã qua, chẳng còn lý do gì để thù hận nữa. Đấy là một đặc tính văn hoá của người Việt Nam.

Hình minh họa

Năm 1954 chúng tôi đã từng nỗ lực giải phóng toàn thể đất nước, nhưng chỉ đạt được một nửa, ấy là lúc chúng tôi cay đắng hận thù. Nhưng bây giờ chúng tôi đã thắng, chúng tôi không thù ghét gì nữa cả.
Tất nhiên hiện nay chính phủ Mỹ đang mắc nợ người Việt một nghiã vụ đạo đức. Chẳng nghi ngờ gì. Nghiã vụ ấy có phải là một nghiã vụ tài chánh hay không, điều ấy tùy cách người ta tin tưởng. Đấy là một đề tài tranh luận, và có nhiều quan niệm khác nhau. Tuy nhiên, tôi tin chính phủ Mỹ nên góp phần vào việc tái thiết Việt Nam, nhưng không cần phải là bồi thường chiến tranh. Trong mấy tháng qua tôi đã gặp một số ký giả và các nhà nghiên cứu. Một số là người Mỹ. Họ đều đã hỏi cùng một câu hỏi: Nay chiến tranh đã qua rồi, người Mỹ nên làm gì ở Việt Nam?

Quá khứ đã trôi đi. Chúng ta có thể miêu tả quá khứ bằng bất cứ nhãn hiệu nào chúng ta muốn: là lỗi lầm, là tai họa, là tính sai. Bất cứ cách nào. Riêng cá nhân tôi, tôi tin chiến tranh là điều đáng tiếc. Tôi muốn dừng ở đấy. Nhưng cái gì đã qua là qua đi. Chúng ta không làm cho những người bỏ mình sống lại được. Và vì thế, chúng ta cần phải cùng nhau tiếp tục cuộc sống, chúng ta đều cùng nhau chung sống trong cùng một hành tinh này, nếu cứ ôm ấp mãi hận thù, điều ấy chẳng ích lợi gì cho ai.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 3 Feb 2024

Hình minh họa

Trung Tướng Trần Công Mân (Bắc Việt)

 “Việc gì cũng cần phải có thời gian”

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Tỉnh Phước Long được giải phóng vào đầu năm 1975. Sau khi giải phóng, cuộc tiến công Phước Long đã đặt cho chúng tôi hai hậu quả có thể xảy ra: Hoặc tỉnh này sẽ bị chiếm lại, hoặc sẽ mãi mãi nằm trong tay chúng tôi. Và chính đây là cuộc thử nghiệm đầu tiên của bộ đội chúng tôi nhằm đo lường tình thế miền Nam. Để lấy lại Phước Long, chính quyền Nam Việt Nam cần phải có viện trợ quân sự cao độ của chính phủ Mỹ, nhưng chúng tôi nghĩ việc ấy không xảy ra, vì cuộc tiến công đã được thi hành sau vụ Watergate, lúc ấy đã có những dấu hiệu rõ rệt cho thấy công chúng Mỹ chán ngán chiến tranh rồi, quốc hội Mỹ đã bắt đầu lãnh đạm với Việt Nam rồi.

Muốn thắng một cuộc chiến, người ta cần hiểu đối phương, cần hiểu chính quyền họ. Có thể những người thiết lập kế hoạch ở Hà Nội không có đầy đủ chi tiết hơn về sự vận hành của người Mỹ, nhưng với mô thức tổng quát mà chúng tôi đã thấy, đã hiểu, thì chúng tôi biết khá rõ về thái độ người Mỹ, do đó có thể dự tính về họ được.

Về lính miền Nam thì tinh thần của họ gắn liền với sức mạnh Không quân Mỹ. Khi sức mạnh Không quân Mỹ giảm sút, tinh thần lính miền Nam cũng giảm. Về những người lính bình thường của miền Nam thì họ đã mệt mỏi chiến tranh, họ đã phải kéo dài một trận chiến không đi đến đâu. Nhưng đối với các sĩ quan quân đội miền Nam thì tinh thần họ cao hơn, vì họ biết nếu chiến tranh chấm dứt, sự nghiệp của họ cũng chấm dứt luôn.

Cuộc tiến công Phước Long là một cuộc trắc nghiệm đã được tính toán hết sức thận trọng. Chúng tôi muốn thử cả chính quyền Mỹ lẫn chính quyền Việt Nam. Nếu tấn công Quảng Trị, hoặc Đà Nẵng chẳng hạn thì xa quá, chúng tôi không trắc nghiệm được phản ứng họ. Nếu tấn công Saigon thì gần quá. Cho nên Phước Long là một địa điểm chúng tôi cảm thấy có một khoảng cách vừa phải đối với Saigon. Tất nhiên, đã không có phản ứng nào xảy ra. Đó chính là điều chúng tôi muốn tìm hiểu: Họ sẽ phản ứng, hay họ sẵn sàng buông xuôi? Câu trả lời là họ đã buông xuôi.

Trước khi cuộc tiến công xảy ra, tôi đang ở Ban Mê Thuột, nhưng khi tiến công, tôi ở Hà Nội. Tôi đã ở Hà Nội cho đến hết cuộc chiến này.

Về cuộc tấn công Ban Mê Thuột chúng tôi đã làm cho quân đội miền Nam ngạc nhiên nhưng mặt khác, chính họ cũng làm chúng tôi ngạc nhiên vì họ tan rã quá mau, chúng tôi không lường trước sự việc xảy ra như vậy. Chúng tôi cứ tưởng sau cuộc tấn công Ban Mê thuột, quân đội miền Nam sẽ tái lập phòng tuyến phản công. Chúng tôi dự liệu một trận mãnh liệt lâu dài hơn với quân đội miền Nam ở vùng chung quanh Ban Mê Thuột. Nhưng ngay cả trong trí tưởng tượng, chúng tôi cũng không hề nghĩ đến việc Thiệu đã phản ứng lại cuộc tấn công với cách như thế.

Hình minh họa

Trong thực tế, phản ứng của Thiệu đã tạo một câu hỏi lớn trong trí óc chúng tôi, làm chúng tôi tự hỏi phải chăng đây là một cái bẫy, một chiến thuật khôn khéo để nhử chúng tôi. Không thể nào chúng tôi tin nổi những chuyện ông ta đã làm. Chính vì hành vi đó của ông Thiệu, chúng tôi nghĩ chúng tôi sẽ phải đương đầu một chiến thuật phòng thủ cực kỳ sáng tạo mới mẻ, do đó trước hết các cấp chỉ huy của chúng tôi phải tiến lên hết sức cẩn thận, xem chừng đừng rơi vào bẫy.

Trong mấy ngày đầu, chúng tôi đinh ninh quân đội miền Nam đã hoạch định một vài ngạc nhiên lớn dành cho chúng tôi. Nhưng đến khi Thiệu rút quân ở Pleiku, đột nhiên chúng tôi nhận thức được là chẳng có cạm bẫy, chẳng kế hoạch gì, miền Nam đã bỏ cuộc, không chiến đấu nữa. Lúc ấy là lúc chúng tôi quyết định đuổi theo càng nhanh càng tốt.

Lúc đầu, khoảng những năm 1970, chính phủ Mỹ sử dụng máy bay B-52 làm chúng tôi lo lắng. Nhưng trong năm 1975 vấn đề ấy không còn nữa, vì lẽ vào năm 1972 người Mỹ đã không thành công trong việc đánh bom chúng tôi ở miền Nam, nên chúng tôi biết ít khi người Mỹ thử lại lần nữa.

Sau khi chúng tôi đã giải phóng xong miền Trung, thì có vài cuộc vận động ngoại giao giữa chính phủ Mỹ và Hà Nội nhằm mục đích làm chậm những cuộc tiến công của quân đội miền Bắc.

Việc này không thực hiện trực tiếp giữa đôi bên, mà qua một số nước khác, qua những người trung gian. Người Mỹ yêu cầu chúng tôi cho quân đội đi chậm lại để họ có đủ thì giờ hoàn tất cuộc rút quân khỏi Saigon. Họ cảnh cáo nếu chúng tôi không thực hiện như thế, họ sẽ can thiệp vào Việt Nam trở lại và sẽ tiến hành những cuộc tấn công đắt giá cho chúng tôi. Đấy là những gì chúng tôi đã được thông báo.

Tuy nhiên chúng tôi không còn coi điều ấy quan trọng nữa. Đấy chỉ là một sự đe doạ vô nghiã vào năm 1975, chúng tôi biết rõ như thế. Người Mỹ sẽ không còn quay trở lại.

Vì thế, gác bỏ những cảnh cáo nhằm làm chậm cuộc tiến quân, ngược lại, chúng tôi còn cố tiến nhanh hơn để khỏi đánh vào mùa mưa. Chúng tôi muốn đến Saigon trước khi mùa mưa khởi đầu. Nếu có một lúc nào cuộc tiến công có vẻ chậm lại, đấy chỉ vì nhu cầu chiến thuật dàn quân mà thôi.

Tôi không ở trong một số ít người có đặc quyền được biết điều này, tuy nhiên quan niệm của tôi là cuộc tiến công hoàn toàn do chúng tôi tiến hành, tuyệt đối không ai khác, tuyệt đối không có Liên Xô hay Trung Quốc liên hệ gì đến việc hoạch định cả.

Sau hiệp định Pa-ri, có việc rút giảm tiếp vận vũ khí từ các nước Xã Hội Chủ Nghiã. Nhưng Trung Quốc lại khác, vì trước cả hiệp định Pari, Trung quốc đã ký hiệp định Thượng Hải với Mỹ. Dựa trên sự công bố hiệp định này thì rõ ràng Trung Quốc không hỗ trợ chúng tôi và không thực sự muốn chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Trung Quốc không thực sự hài lòng vui vẻ gì về việc cuối cùng trận chiến đã được giải quyết, họ không hài lòng vui vẻ gì về cuộc Đại thắng mùa Xuân của chúng tôi.

Các viên chức cao cấp Nam Việt Nam bấy giờ đã cố gắng nhằm đạt đến một thoả thuận trong việc kết thúc cuộc chiến. Khi thấy rõ sẽ thua, đột nhiên họ muốn có chính phủ liên hiệp. Nhưng chúng tôi đã ra lệnh bộ đội cứ gia tăng áp lực để đạt chiến thắng càng nhanh càng tốt, chúng tôi không chú ý đến bất cứ một hình thức chính phủ liên hiệp nào ở Saigon. Đã quá muộn rồi.

Chúng tôi chỉ nhằm đánh quân đội miền Nam, chúng tôi không muốn làm bất cứ một hành động nào liên hệ đến người Mỹ. Vì thế chúng tôi không đụng chạm gì đến người Mỹ, tuyệt nhiên không bắn họ. Chúng tôi chỉ muốn người Mỹ ra khỏi đất nước chúng tôi càng sớm càng tốt, ngõ hầu chúng tôi có thể dốc toàn lực vào thanh toán quân đội miền Nam.

Chúng tôi nghĩ toà Đại sứ Mỹ là cánh tay của Ngũ Giác Đài, nên chúng tôi cho rằng biện pháp tốt nhất là để tất cả người Mỹ ra đi từ Tòa Đại sứ mà hồi hương. Chúng tôi không làm thoả thuận nào với miền Nam về bất cứ điều gì. Chúng tôi không hề thoả thuận gì về việc Không quân của họ ở lại Saigon. Tất nhiên là không. Thực tức cười!

Hình minh họa

Mặc dầu ở Hà Nội, nhưng tôi vẫn được thuyết trình hàng giờ về những gì xảy ra chung quanh Saigon. Các tin tức về việc Saigon sụp đổ đã được thông báo cho các cán bộ lãnh đạo cao cấp ở đây trước. Tôi không phải là người duy nhất được nghe tin. Tất cả mọi người đã nhận được tin ấy vào khoảng buổi trưa ngày ba mươi. Tất cả đã tràn ra ngoài đường, vô cùng sung sướng. Chiến tranh đã dứt.

Chúng tôi cử hành liên hoan mừng Giải phóng Saigon. Thực tình chúng tôi nghĩ rằng còn phải khó khăn chứ không ngờ dễ dàng như vậy. Chúng tôi hết sức ngạc nhiên.

Việt Nam đã lâm vào tình trạng chiến tranh quá lâu, mọi người đều mong mỏi chiến tranh kết thúc nhưng chẳng ai biết bao giờ mới chấm dứt. Vì thế chiến thắng cuối tháng Tư là nỗi ngạc nhiên lớn cho tất cả mọi người. Ai nấy đều vui mừng. Mọi người chạy cả ra đường hò reo, hô khẩu hiệu, ca hát nhảy múa.

Lúc ấy tôi bận quá, không thể về nhà được. Tôi là Tổng Biên tập tờ Nhân Dân nhật báo nên phải viết bài cho tờ báo ấy.
Liên hệ vào cuộc chiến này là một lầm lẫn của chính phủ Mỹ. Họ đã không nhận thức được sức mạnh thực của những người mong muốn thống nhất và giải phóng đất nước họ.

Chúng tôi không đặt trách nhiệm cho nhân dân Mỹ về những gì xảy ra ở Việt Nam. Những thanh niên chiến binh Mỹ được gửi đến chiến đấu ở đây đã bị chính phủ họ lừa dối để tham dự vào việc sai trái. Khi những người này đến Việt Nam bắn giết, thực sự họ không rõ họ đã làm những gì.

Giờ đây chiến tranh đã qua. Giữa dân tộc của đất nước quý ông và dân tộc đất nước chúng tôi không còn thù hận gì nữa. Không lý do gì để chúng ta không thể làm bạn với nhau được.

Chính phủ Mỹ đã gây ra cuộc chiến, nên chính phủ Mỹ cần có nghiã vụ đạo đức và nghiã vụ tài chánh đối với nhân dân Việt Nam. Nhưng nhân dân Việt Nam không chạy theo xin xỏ những chuyện này. Tuy nhiên tốt hơn hết, ngay bây giờ chính phủ Mỹ nên xúc tiến việc thiết lập quan hệ bình thường với Việt Nam. Chúng tôi không yêu cầu gì hơn.

Trận chiến này chính là trận chiến dài nhất trong lịch sử Mỹ. Trận chiến này cũng là trận chiến dài nhất lịch sử Việt Nam, đã đem đến ba mươi năm đau đớn xót xa, khốn khổ cho người Việt. Tuy vậy, vào lúc kết thúc, nó cũng đem đến được một điều tốt đẹp, đấy là cuối cùng, đất nước đã thống nhất, độc lập. Cho nên cuộc chiến cũng đã đem lại nhiều kết quả và cảm xúc lẫn lộn. Nhân dân chúng tôi mất mát nhiều mạng sống, nhiều của cải nhưng nhân dân chúng tôi đã đạt độc lập, thống nhất, hòa bình, nên cuối cùng cuộc chiến cũng đáng giá cho những mất mát ấy.

Cũng xin đừng quên đây là một đất nước nhỏ bé, nghèo nàn mà vượt qua được một quyền lực lớn lao, giàu có. Cho nên cuộc chiến cũng đáng giá cho những mất mát ấy.

Có lẽ chính đây là một đặc tính của dân tộc Việt Nam, ngày nay chúng tôi không hề mang niềm cay đắng nào đối với người Mỹ. Chúng tôi đã từng phải trải qua rất nhiều năm chinh chiến với nhiều thế lực ngoại quốc đã muốn chiếm đóng Việt Nam. Nhưng khi cuộc chiến đã xong, không lý do gì để ôm mãi những mối hằn học nữa.

Đối với những người Mỹ đã phản đối, đã không cộng tác với cuộc chiến chống Việt Nam, như Jane Fonda, Tom Hayden, Harrison Salisbury, họ đã làm những gì đúng đắn, người Mỹ cũng không nên hằn học với họ. Nếu người Mỹ vẫn duy trì chính sách mà người Mỹ đã thiết lập từ năm 1945 với ông Archimedes Patti của O.S.S. đối với dân tộc Việt Nam thì cuộc chiến này đã không bao giờ xảy ra. Nếu quần chúng Mỹ được thông báo rõ về các mục tiêu và ước vọng của dân tộc Việt Nam, thì chắc chắn họ đã phải hỗ trợ cho các nỗ lực của chúng tôi trong công cuộc thống nhất đất nước chúng tôi.

Dù sao đi nữa, nếu chính phủ Mỹ có thể thoải mái dễ dãi hơn trong chính sách cho tin tức được loan chuyển tự do, không có thành kiến chống chính phủ Việt Nam, thì con người có thể hiểu rõ hơn về nhau, về các vấn đề của đất nước này ngày hôm nay.

Tôi hiểu người Mỹ cảm thấy không thoải mái với người Nga tại đây. Tuy nhiên quả có một vấn đề trong việc trình bày tin tức từ Việt Nam. Quần chúng Mỹ đã được bảo rằng ngày nay Việt Nam là một thuộc địa của Nga, nhưng nếu có những tin tức thông thạo chính xác thì quý vị sẽ thấy chúng tôi độc lập. Chúng tôi không thuộc về ai ngoài chúng tôi.

Chính phủ Mỹ sợ người Nga hơn sợ người Tàu. Tôi không rõ tại sao. Cả hai đều là Cộng sản. Tôi không rõ tại sao vậy.
Sẽ cần phải có thời gian để chính phủ Mỹ thoát ra được cảm giác thù nghịch Việt Nam. Việc gì cũng cần phải có thời gian.