Sờ mu rùa

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Tết tới, báo Việt ngữ hải ngoại từ Úc sang Mỹ đều đồng loạt ra báo Xuân. Bài vở đặc sắc; tuy nhiên đôi khi độc giả không có huỡn mà đọc hết những dòng tâm huyết của tác giả vì mắc bận ăn Tết. Nhưng có một mục đăng vào những trang cuối của đặc san số Tết là tử vi, ai ai cũng đọc. Bà già, ông già, con trai, con gái, nếu không mù chữ, đều đọc. Ðọc rồi quên ráo mà cũng hổng có hưỡn để mà tin lời mấy thầy… bói ra ma, quét nhà ra rác.

Bà con mình chắc có nghe bài vọng cổ “Tôn Tẩn giả điên” của soạn giả Viễn Châu do đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn xuống sáu câu mùi rệu: “Ta chép cuốn thiên thơ cho đến khi chữ cuối cùng vừa chấm dứt thì mạng của ta cũng chấm dấu sau cùng…”

Tôn Tẩn bèn giở tờ thiên thư của Quỷ Cốc tiên sinh, đời nhà Chu, là ông tổ của các thuật tướng số, bói toán, phong thủy bói đâu trúng đấy, là sư phụ của mình ra xem. Thì trong bức thư chỉ có một chữ ‘cuồng’…Tôn Tẩn là học trò thông minh, đọc có một chữ ‘cuồng’, hiểu ngay là sư phụ muốn mình bắt chước nhà thơ Bùi Giáng, bèn giả điên để tránh nạn Bàng Quyên.

Chính vì tài nghệ của chú Ba, vua đặt dóc y như thiệt, nên bà con mình, kể cả em yêu của tui rất tin vào bói toán.

Mà có nhiều người đi coi bói theo quy luật cung cầu của thị trường là có nhiều người làm thày bói. Vì thế cho nên tui cứ tưởng nước Tàu, nước ta mới có nghề thầy bói. Ai dè nước Mỹ, siêu cường duy nhứt trên thế giới, với nền khoa học kỹ thuật tối tân hiện đại (đầy ‘hại điện’) lại có quá nhiều thầy bói nghiệp dư, bói đâu trật đó!

Những lời tiên đoán sai bét nhè nầy có thể xếp ra thành hai loại. Một là khoái Tổng thống Donald Trump như Fox News… (hơi bị ít). Hai là hổng khoái Donald Trump (hơi bị nhiều) như CNN, CBS, New York Times và Washington Post…

Phe khoái và sùng bái Trump thì bói toán như vầy: “Cuộc điều tra về việc ban vận động tranh cử của Donald Trump thông đồng với Nga trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vừa qua sẽ chấm dứt vào tháng Chín, trước cuộc bầu cử giữa kỳ quốc hội Mỹ. Không ai bị truy tố ra ba Tòa quan lớn”.

Bói trật lất vì cuộc điều tra vẫn còn đang tiếp diễn, đã truy tố 33 ‘mông xừ’ hơn 100 tội hình sự. Mấy hãng làm lịch của Mỹ coi bộ năm tới, chắc như bắp là làm ăn rất khấm khá!

Rồi chính Tổng thống Doanld Trump bói: “Bầu cử Quốc Hội Mỹ giữa kỳ, màu đỏ sẽ tràn ngập, đảng Cộng Hòa thắng lớn cũng do tui quá giỏi và hay”. Nhưng bói trật lất vì mất tới 40 ghế ở Hạ viện. An ủi một cái là Thượng viện thêm được hai ghế.

Bà con người Mỹ nào hổng thích Donald Trump thì bói: “Quốc hội sẽ luận tội và Tổng thống sẽ ra đi” Bói cũng trật lất vì tới giờ thì Donald Trump vẫn còn ngồi lù lù một đống trong Tòa Bạch Ốc.

***

Dân Úc nầy lại không khoái chuyện đảng phái lắm. Ðối với chánh trị gia, Úc phán là toàn bọn crooks (lừa đảo), nên ‘who cares?’ (ai mà quan tâm). Ðể thời giờ uống beer, ăn thịt nướng, sướng hơn bàn về chánh trị.

Bầu cử bên Úc bắt buộc, đứa nào không đi bầu, chỉ khoái ở nhà để làm em yêu có ‘bầu’, thì bị phạt 50 đô, bằng giá một thùng beer. Nếu không sợ mất một thùng beer là Úc, thứ Bảy, ngày đi bầu tụi nó ở nhà nhậu hết trơn hè!

Nhưng báo chí người Việt ở Mỹ, Canada và Úc đều có ‘bình loạn’ về chính trị dẫu hổng dám bắt phe lắm; vì sợ làm mích lòng độc giả của mình, (kẻ binh, người chống Tổng thống Donald Trump).

Quý chủ nhiệm, kiêm chủ bút, kiêm thư ký tòa soạn chọn thái độ trung dung là vì độc giả là đối tượng phục vụ của tờ báo. Có nhiều độc giả mới có nhiều quảng cáo. Mà quảng cáo nhiều mới có tiền mà sống để tiếp tục làm báo. Tui cho rằng thái độ đó hơi ‘ba phải’ nhưng ‘lém’!

Nhưng bà con người Việt mình ở hải ngoại có lẽ cô đơn buồn nào hơn đêm nay nên khoái lên Facebook làm thầy bói nghiệp dư đoán mò, kẻ nói gà bà nói vịt, cãi nhau chí chóe như mổ bò… Vui lắm.

Thấy thiên hạ làm thầy bói tui cũng ham vui, bèn nhào vô bói vầy nè: “Mai sáng mặt trời sẽ mọc hướng Ðông; chiều tối sẽ lặn về hướng Tây. Lễ Giáng Sinh sẽ tổ chức vào 25 tháng Chạp” Trúng chắc 100%.

***

Có hai lý do chánh, theo tui, những tai to mặt lớn trong chánh giới Hoa Kỳ bói đâu trật đấy và trật bấy là vì làm thầy bói tay mơ, nghiệp dư, không có đào tạo bài bản như mấy thầy bói ‘Mít’ nhà mình.

Lý do thứ nhứt là bói toán giống như mù sờ voi, nên phải khôn lỏi là phân hai, đường nào cũng trúng mới đặng.

“Số cô có mẹ, có cha. Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông. Số cô có được tấm chồng. Sanh con đầu lòng, không gái, thì trai”.

Còn lỡ phán trật, là phải biết lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Miệng không vành nó méo tứ tung. Bói rằng: “Cha cô chết lúc ban ngày..”. “Không phải thầy ơi!” là mình quẹo cua liền “Cha cô chết lúc ban ngày. Thương con nhớ vợ, chết rày ban đêm”.

Lý do thứ nhì thầy bói Mỹ dở như hạch vậy vì trước khi xủ quẻ là mình phải sờ ‘mu’… rùa. Bói trật mình đổ thừa cái ‘mu’ chớ hổng phải tại thầy bói ngu. Vì ‘mu’ rùa là đồ nghề của thầy bói. Làm nghề không có đồ nghề đâu có được. Mu, dáng múp múp, nhô lên trên tay hay chân. Nên có chữ mu bàn tay, mu bàn chân. Còn con rùa cũng có cái múp múp như vậy nên gọi là mu rùa (bắc gọi là mai rùa). Vốn là dân vườn, Lục tỉnh miền Tây nên tui khoái chữ ‘mu’ vì nó tượng hình hơn. Ðem mu rùa hơ lửa. Mu rùa gặp nóng sẽ tạo ra những vết nứt. Nếu vết nứt trên mu rùa chạy song song với đường thẳng chạy từ dưới lên trên thì là điềm lành. Và ngược lại, nếu vết nứt bị cắt ngang bị cho là điềm dữ.

***

Tranh Bảo Huân

Lại nhớ ngày xưa mới đeo đuổi em yêu, vốn là em gái của thằng bạn học chung trường, chung lớp.

Tết tới, chỉ có 500 đồng bỏ túi, tính rủ em đi ăn hủ tiếu bò vò viên trước rạp Ðại Ðồng Cao Thắng để thổ lộ tình anh. Tình cờ gặp sòng bầu cua ở nhà em, bèn thử thời vận năm mới hên xui. Năm đó xui quá, đặt trái bầu em lắc ra ba con cua. Ðặt con cua em lắc ra ba trái bầu. Thua sạch bóc tính đứng dậy ra về thì em yêu cười chúm chím: “Ðen bạc đỏ tình. Cờ bạc anh đen nhưng tình duyên anh đỏ lắm; đưa cái tay cho em bói cho một quẻ đầu năm!” “Hết tiền rồi coi bói không có tiền quẻ đâu có linh hè?” Em cười khanh khách bảo: “Cho anh thiếu chịu, đưa tay đây cho em coi”

Ối cầm tay em hay để em cầm tay mình thì cũng rứa, cũng khoái tỉ tê như nhau mà! Tui bèn xòe cái bàn tay trái (nam tả nữ hữu) ra. Em cầm lấy, ngắm nghía một hồi, rồi cúi xuống, nhổ vào đó một bãi nước miếng.

đoàn xuân thu.

melbourne

Silent Night!

Đoàn Xuân Thu

baotreonline.com

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Ðêm Giáng Sinh năm 1944, rừng Hürtgen ở Đức, gần biên giới Bỉ, tuyết rơi dày đặc. Trong một căn nhà gỗ nhỏ nằm sâu trong rừng, Fritz, 12 tuổi và mẹ cậu, Elisabeth, lắng nghe tiếng máy bay chiến đấu và tiếng đạn pháo ầm ì khi trận chiến Bulge đang hồi khốc liệt. Nhiều tháng trước, nhà của họ ở Aachen gần đó bị bom của quân Đồng Minh phá hủy. Hai mẹ con phải di tản đến một ngôi nhà gỗ hẻo lánh, biệt lập ở trong rừng. Cha của Fritz, Hubert Vincken, người nướng bánh mì cho quân đội Đức, gần đây đã bị gọi đi phục vụ. Fritz và Elisabeth không mấy hy vọng rằng Hubert có thể đi phép để cùng gia đình đoàn tụ đêm Giáng Sinh.

Chưa đầy hai tuần trước đó, Thống chế Gerd von Rundstedt tung 30 sư đoàn đang ẩn náu trong rừng Ardennes mở cuộc tấn công lớn cuối cùng của Đức trong Thế chiến thứ hai. Giao tranh ác liệt nổ ra khắp mặt trận phía Tây. Quân Đồng Minh cố gắng đẩy lùi cuộc tấn công bất ngờ của quân Đức trong trời đầy bão tuyết.

Khi đang chuẩn bị bữa tối đêm Giáng Sinh, hai mẹ con giật mình vì tiếng gõ cửa. Ai? Trong khi hàng xóm gần nhất ở xa hàng dặm. Elisabeth mở cửa. Bà thấy 3 người lính trẻ có vũ khí. Hai người đứng; người thứ ba nằm trên tuyết vì bị thương nặng. Fritz nhớ lại: “Tôi gần như tê liệt vì sợ hãi, mặc dù còn nhỏ nhưng tôi biết luật thời chiến khắc nghiệt đó: “Bất cứ ai giúp đỡ kẻ thù sẽ bị xử bắn”.

Elisabeth cũng biết. Nhưng người lính đang chảy máu trong tuyết còn trẻ như con trai bà. Những người lính Mỹ nầy nói một thứ tiếng mà gia đình Vincken không biết. Không người lính Mỹ nói được tiếng Đức. Elisabeth và một người lính Mỹ giao tiếp bằng tiếng Pháp. Bà ra hiệu cho cả ba bước vào căn nhà gỗ nhỏ. Fritz giúp mẹ mình săn sóc người lính bị thương nặng đang nằm trên giường.Không đủ đồ ăn, Elisabeth nói với Fritz, “Đi bắt Hermann; con gà trống được đặt tên theo Hermann Göring, một lãnh tụ của Đức Quốc xã, đang được vỗ béo để dành nếu Hubert có thể về nhà ăn tối Giáng Sinh. Bất ngờ lại vang lên một tiếng gõ cửa, Fritz nghĩ chắc thêm người lính Mỹ nào đó bị lạc trong rừng. Nhưng không phải. Fritz hoảng hốt khi thấy 4 người lính Đức đã bị lạc khỏi đơn vị của mình và đang tìm nơi trú ẩn để tránh cái lạnh thấu xương

Fritz Vincken, người theo bước cha mình và trở thành thợ làm bánh, mặc dù ở Hawaii, cách xa quê hương Đức. Ông qua đời ở tuổi 69 tại Salem, Oregon. Nguồn legionmagazine.com 

Elisabeth bước ra ngoài và nói họ có thể ở lại qua đêm nhưng phải để vũ khí ở bên ngoài. Khi viên hạ sĩ trẻ Wehrmacht không đồng ý, Elisabeth nhìn anh ta một cách nghiêm khắc và nói: “Đây là Silent Night và sẽ không có vụ nổ súng nào ở đây.”

4 người lính Đức bỏ súng xuống cạnh đống củi. Súng lính Mỹ được gom vào một chỗ. Elisabeth kêu các người lính đứng gần nhau. Những kẻ thù im lặng như đá nhìn nhau. Họ tự hỏi hiệp định đình chiến tạm thời này sẽ kéo dài được bao lâu?

Thấy chỉ làm thịt con gà Hermann thì những người lính nầy không ai được ăn no nên Elisabeth bảo con trai: “Nhanh lên, lấy thêm khoai tây và yến mạch cho mẹ nấu thêm món súp gà”  “Những cậu bé này đang đói, và một người chết đói là một người tức giận.”

Khi người lính Mỹ bị thương rên rỉ, Wehrmacht, người lính Đức, từng là sinh viên y khoa trước chiến tranh nhận ra người lính Mỹ nầy đã mất rất nhiều máu. “Những gì anh ấy cần là đuợc chăm sóc và được nghỉ ngơi”

Sau cùng, mọi người bắt đầu bớt căng thẳng. Họ soát ba lô của mình để tìm thêm thức ăn. Hạ sĩ Wehrmacht góp vào một chai vang đỏ và một ổ bánh mì bằng lúa mạch đen. Chẳng mấy chốc món súp đã được dọn lên, Elisabeth cúi đầu cầu nguyện. Fritz nhìn thấy những giọt nước mắt long lanh của mẹ mình. Vài người lính trẻ cũng lặng lẽ khóc. Có lẽ họ đang nghĩ về gia đình của họ ở xa hoặc cảm thấy biết ơn vì họ không phải giết nhau vào ngay đêm Giáng Sinh.

Sáng hôm sau, những người lính trở lại chiến trường. Một chiếc cáng bằng khăn trải bàn của Elisabeth và hai khúc cây để cáng người lính Mỹ bị thương. Trên bản đồ, viên hạ sĩ Đức chỉ lính Mỹ cách quay trở lại phòng tuyến của mình. Sau đó họ bắt tay nhau và đi về hai hướng ngược nhau. Elisabeth gọi với theo. “Tôi muốn một ngày nào đó các bạn được về nhà. Xin Chúa ban phước lành cho tất cả các bạn!”

Fritz Vincken (phải), 12 tuổi khi mẹ anh tiếp nhận 3 người lính Mỹ tuyệt vọng vào năm 1944, và Ralph Blank, một trong những người lính đó, gặp nhau vào năm 1996. Nguồn legionmagazine.com

Rồi chiến tranh kết thúc, gia đình Vincken được đoàn tụ rồi di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1959. Hubert qua đời năm 1963 và Elisabeth qua đời năm 1966.

Fritz biết cơ hội gặp lại những người lính năm xưa không cao, do số lính tử trận đáng kinh hoàng của đôi bên vào cuối cuộc chiến. Fritz nghĩ kể ra câu chuyện nầy có thể giúp ích. Tạp chí Reader’s Digest, năm 1973 đăng chuyện của ông mà Tổng thống Ronald Reagan đã đề cập trong bài phát biểu năm 1986. Năm 1995, trên truyền hình quốc gia, Fritz kể câu chuyện của mình. Một tuyên úy Viện Dưỡng Lão ở Frederick, MD. xem đoạn phim và nhớ lại Ralph Blank, một cựu chiến binh Thế chiến thứ hai, từng là trung sĩ của Sư đoàn Bộ binh số 8 năm 1944 đã kể câu chuyện tương tự. Năm 1996, Fritz bay tới Maryland để gặp Blank, đã 76 tuổi, sức khỏe yếu.

Cuộc tao phùng gây nhiều xúc động được chiếu trên “Những bí ẩn chưa được giải quyết”. Tại một thời điểm trong tập phim, Ralph quay sang Fritz và nói: “Mẹ anh đã cứu sống tôi khi tôi nằm trên tuyết”

Fritz, chàng trai người Đức, giờ đã là công dân Mỹ, nói với tờ Honolulu Star-Bulletin: “Bây giờ tôi có thể chết trong thanh thản”. “Lòng dũng cảm của Mẹ tôi sẽ không bị lãng quên và nó cho thấy từ tâm sẽ có tác dụng như thế nào.” “Tôi nhớ Mẹ tôi và 7 người con đó, những người lính gặp nhau như kẻ thù và chia tay như những người bạn, ngay giữa trận chiến Bulge đang hồi khốc liệt.”

Không còn sống để được xem buổi ra mắt phim truyền hình Silent Night năm 2002, Ralph qua đời năm 1999 lúc 79 tuổi, và Fritz qua đời năm 2001 lúc 69 tuổi. Những người trong cuộc đều đã chết hết nhưng cái hồn của ‘Silent Night’, Đêm Thánh vô cùng còn ở lại với chúng ta.

ĐXT

Đừng bỏ anh ở chùa

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 14/05/2019 

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Đừng bỏ anh ở chùa. Vụ này, thoạt nghe qua là “ngộ” ngay, buộc phải rùng mình. Hàm nghĩa chữ bỏ cũng ác liệt. Bỏ bê, bỏ xó, bỏ hoang, đồ bỏ… Ngoài ra bỏ cũng tương tự với động từ đặt để, thu cất. Một đàng phụ phàng bỏ rơi, một đàng vị tình cắt đặt vào nơi am trú… Tuy vậy “Đừng Bỏ Anh Ở Chùa”, nghĩ cho tận, thì quá đỗi thương đau, một dấu chấm sau cùng, kết thúc một cảnh đời nhân thế. Khác biệt và trái ngược với một khởi đầu, cũng lắm oan trái, vạn bất đắc dĩ:

“Con ai đem bỏ chùa nầy?
A di đà Phật con thầy thầy nuôi
”.

Hòng làm nhẹ tội, xin thú nhận ngay “Đừng Bỏ Anh Ở Chùa” là nhan một bài thơ của thi nhơn Hoàng Lộc mà tôi mạn phép chôm, không bỏ, tái sử dụng. Bài thơ ngắn, mang đủ cái chất riêng đầy ấn tượng của Hoàng Lộc. Hay đến nỗi dẫn tới cớ sự này đây. Thơ năm chữ, khởi đi với:

lỡ có một ngày kia
em nhận bình tro cốt

Và tới chung cuộc:

đừng bỏ anh như thế
kinh kệ thường không vui.

Tôi chẳng trích trọn bài, vì chỉ bốn câu trên, người đọc đã am tường chút chi về lời trần tình của “anh”. Tôi biết chôm, khoắn, thuỗm, ăn cắp là một trọng tội khó dung thứ vì sản phẩm của một cá nhân đã hoàn thiện làm ra, nó tuyệt không phải là “của chùa” để bá tánh động lòng tuỳ tiện soán đoạt, không tính tiền, free, miễn phí, nó nào phải là thứ “tình cho không biếu không”. Tội trạng ấy nếu mang bỏ vào chùa chưa chắc đã được siêu thoát. Ném cây đao xuống ngoài cổng chùa, tay vẫn còn dính máu; làm sao mong có thể thành Phật trong khi suốt cả cuộc đời còn lại, khi nằm ngủ hắn ta chỉ nhắm được có một con mắt? Một mắt thao láo với ám ảnh, với dằn vặt, với ác mộng, với những gì mình từng gây nên, tạo nghiệp chướng…

Bài thơ năm chữ của Hoàng Lộc chở đủ chất liệu buồn, nghịch cốt làm vui, thứ sở trường của nhà thơ khi dụng chữ, biến thành hấp lực làm tôi bần thần: Khi hấp hối sắp húp chén cháo lú, mình có nên dặn dò “em”: Đừng bỏ anh như thế.

Em là đại danh từ thiên hình vạn trạng: Vợ chánh thất, vợ lẻ, bà ba, bồ nhí, người tình, mèo, một bóng hường nhan mà cũng có thể là một ma-xơ, một vị ni cô nâu sòng mặt nghiêm mà buồn. Em đại diện phía nữ nhân nhan sắc khuynh thành từng làm triều đình sụp đổ (như một vài truyền thuyết, cổ tích). EM nên viết hoa, vô lượng. Em thương anh nên mới “bỏ” anh vào chùa đặng sớm nhẹ gánh hành trang, thong dong tìm tới nước Phật. Nhưng có vài trường hợp cá biệt bởi “anh” là nghệ sĩ, vốn là nhà thơ rất mực ham vui, từng nhắm hướng tội lỗi mà sa chân, cho nên với anh muôn đời “kinh kệ thường không vui”. Đừng bỏ anh như thế! Vậy thì anh muốn em phải nàm thao? Đấy là một dấu hỏi lớn. Một công án tựa như chết, chưa chắc đã hết. Ví như: “Nếu biết rằng tôi đã có chồng? Em ơi đừng tưởng thế là xong!”

Bài thơ của anh Hoàng Lộc đăng trên facebook mà tôi tình cờ vào “đọc lén” cách đây mươi ngày nửa tháng, thấy hay nên có cớ mang ra để lậm bàn. Người Tàu gọi facebook bằng chữ Thiểm Thư, tôi không chơi thư thiểm vì “nàng thơ” có rỉ tai dặn rằng: “Đừng bỏ em như thế”. Coi chùng vụng, cọp dê cũng là một tội đáng lên án. Nhưng ra toà, chẳng đủ tiền thuê luật sư có thể tự biện hộ: Dạ thưa, em coi cọp nhưng em lấy làm tâm đắc chứ em chưa hề có ý nghĩ đả phá bêu rếu nói xấu những chủ nhân Thiểm thư nào cả. Em coi thứ xét cần phải đọc, những gì chẳng hợp tạng thì em bỏ quá, không ư hử một lời. Chánh án, quan toà ắt sẽ gõ búa: Thứ tha.

Mới hôm qua lại lén phén vào, đọc phải bài “Thời Ma” của nhà thơ Bắc Phong:

một bọn hoạ sĩ háo danh
vẽ ma với Phật trong tranh sơn mài
ai xua nịnh nói lành thay
mỗ lắc đầu mắng bọn này đáng khinh.

Tôi thích “mỗ”. Thơ người xưng mỗ làm thường chỉ bốn câu. Tuy ngắn nhưng đưa ra một nhận định “chuẩn và chỉnh” về bối cảnh trầm luân ám khuất chốn nọ. Một thứ tức cảnh sinh tình của người mang lòng quan ngại tới bao số phận lầm than, “mỗ” lên án những kẻ mang bệnh lãnh cảm, dửng dưng khi nhìn đứa sa cơ bị chảy máu.

Nhà thơ Hoàng Lộc, nhà thơ Bắc Phong và cá nhân tôi đều trôi giạt ra biển ngoài. Ở phương này, khi thác đi đa số đều phó mặc cho “lửa tam muội” đốt thân. Cát bụi trở về với cát bụi chỉ là câu nói mang đầy tính văn vẻ, tối nghĩa y như cái gì của César thì hãy trả lại cho César. Thực chất là hình khối xương thịt vẹn toàn đầu mình và tứ chi sau khi qua lò thiêu (dữ thần hơn nạn nhân Do Thái) bỗng co cụm lại thành một nhúm tro cốt… rồi “mang anh đi bỏ vào chùa”.

Lành thay là chùa ngoài này vẫn một mực “tôn sư trọng đạo”, kính cẩn nghiêm minh, khi cởi giày bước vào chánh điện chừng cũng cởi bỏ được chút tham sân si, chắp tay đứng dưới toà sen chờ nghe lòng tịnh độ bên hương hoa quả Phật.

Dữ thay ở bên nhà sống với vấn nạn sư quốc doanh, với mạt pháp, với quỷ sứ lộng hành, với sư tăng gấu ó đánh lộn nhau, với ngàn lẻ một chiêu thức bày thêm cảnh đoạ đày, bến bờ càng lúc càng xa khi ngoái đầu, chẳng một cái phao ném xuống bể trầm luân. Nếu đã thế “xin đừng bỏ anh như thế, chịu đời chi thấu kinh sách đã thành tro than”.

Từ ngày xưa chúng sinh đã có mấy câu để lại:

Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa lại quét lá đa
Bao giờ dân nổi can qua
Con vua thất thế lại ra quét chùa.

Ngày xưa, đồng nghĩa với lạc hậu. Lạc hậu ở chỗ đã đoán sai, chẳng thức thời. Con vua thời nay “sức mấy” mà thất thế. Bỏ đi Tám. “Bố làm quan mà con cũng làm quan, ấy là hạnh phúc của dân tộc”. Và khi dân tộc đã hạnh phúc, người ta đã “vô tư” vẽ tranh Phật có kèm theo ảnh lãnh tụ đã đi đời nhà ma. Một thứ độc lập tự do hạnh phúc đầy mê muội, xuẩn động.

Bước vào chùa có treo tranh sơn mài như vậy, thiện nam tín nữ e mất đi lòng thanh tịnh, trợn mắt lè lưỡi: Chết sướng hơn! Và nếu chết: Má ơi đừng bỏ chùa này, quỷ tha ma bắt sao đày đoạ con.

Ta thán rùng rợn hơn: Má ơi đừng gả con xa, Đài Loan Hàn quốc biết nhà má đâu? Biết chi dzậy? Hạnh phúc thấy mồ tổ mà còn kêu ca. Ở nhà tao chết thì nhờ anh xe ôm bó chiếu cột sau xe tìm cái hố nông nào mà quẳng xuống cho linh hồn thôi lạc lối. Vào chùa lại trông thấy mặt ảnh chớ được ích chi. Sống cả đời đã bị ảnh ám, đến khi chết đi lại chẳng yên thân, đồ cú dòm nhà bệnh. Mặc xác tao. Nghe thế mày chớ có a di đà Phật mà mất linh, nhen mày.

Hồ Đình Nghiêm
Sau ngày Mẹ, 2019

Dư Dục Vô Ngôn

www.art2all.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Là học trò lớn lên ở miền Nam, tôi nghĩ chắc các bạn biết đến đoạn văn ngắn của Thanh Tịnh: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường…”
Thanh Tịnh sinh năm 1911 tại xóm Gia Lạc ven sông Hương, học tiểu học ở trường Đông Ba, trung học ở trường Pellerin, Huế. 1945 chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. 1957 tham gia thành lập Hội Nhà Văn VN. Trước khi nghỉ hưu mang quân hàm Đại tá QĐND. Mất năm 1988 tại Hà Nội nhưng mộ phần lại đặt tại núi Thiên Thai, phía tây thành phố Huế.
Sở dĩ ghi lại vắn tắt những cột mốc trong tiểu sử của Thanh Tịnh bởi tôi đồ chừng tác giả truyện ngắn “Tôi đi học” (viết năm 1941) nổi tiếng kia đã gắn bó với Huế, không ít thì nhiều. Huế, nơi sản sinh ra những đứa con lưu lạc, từng cảm thán và từng được lắm kẻ đồng tình: Là nơi đi để mà nhớ chứ không phải ở để mà thương.
Chạy giặc đầu năm 1975, vô tới Sài Gòn, tưởng êm, hoá ra giọt dầu loang bắt lửa, nuốt chửng toàn bộ. Tuy chẳng bị phỏng tới lột da tôi cũng dấu che tơi tả lộn lui Huế để hoang mang ghi danh học tiếp và 1976 tôi chính thức được đối diện với Thanh Tịnh do ông Trần Hoàn, tác giả bản nhạc “Sơn nữ ca” đang giữ chức trưởng ty Thông tin tỉnh Bình Trị Thiên dàn xếp một buổi tâm tình với sinh viên con em nguỵ quân nguỵ quyền ở Huế. Có lẽ vì là nhạc sĩ nên Trần Hoàn đã chọn địa điểm là trường Quốc gia Âm nhạc làm buổi “giao lưu”, đốc thúc bọn học Mỹ thuật láng giềng xếp hàng tề chỉnh xé rào qua tham dự. Thời điểm đó nếu bạn đi xem chiếu bóng mà bỏ về nửa chừng ắt bạn sẽ đối mặt với một kết thúc không có hậu. Nhưng tình ngay diễn giả là Thanh Tịnh thì nghe thế, anh em chúng tôi thực bụng cũng hồ hởi phấn khởi lắm. Trần Hoàn thì quê quán ở Hải Lăng ngoài Quảng Trị, không kể tới; nhưng Thanh Tịnh rõ là Huế mềnh, lắng nghe xem giọng nói “chàng” đã hao mòn phai nhạt nước sông Hương bao phân sau tháng ngày dài đầu tắt mặt tối phía bên kia vĩ tuyến 17 trời mãi bàng bạc những đám mây trì nặng trôi trên bầu trời hẹp bất kể xuân hạ thu đông.
Có những khuôn mặt nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ mà khi lỡ mang cảm tình với họ, bạn chớ nên gặp mặt. Hình bóng tốt đẹp nằm trong tâm tưởng bạn chóng sụp đổ ở phút “vô duyên đối diện bất tương phùng”. Trước mặt tôi là một ông Thanh Tịnh dáng dấp thường thường bậc trung, hơi đen đúa hơi cốt cách nông dân, hơi ngần ngại… thứ tác phong chẳng phải người ở phía thắng cuộc. Kể chuyện nhạt nhẽo, ấp a ấp úng. Ông luôn ngó trước trông sau và chừng như sự thành thật của phút tâm tình đã không cách gì thể hiện được. Thanh Tịnh áo rộng thênh bỏ ngoài quần dài ngang mắt cá, mang dép Bình Trị Thiên và như tất cả các cán bộ khác, ngôn ngữ của họ đều khoác một thứ “đồng phục” y trang nhau. Cuối bài nói chuyện về “đời sống văn hoá cao ở ngoài ta” là phần hội thảo, giải đáp thắc mắc. Tôi đã rất muốn dong tay: Thưa bác, rứa thì ngoài nớ trong giờ dạy văn họ có mang một đoạn trong bài “Tôi đi học” ra giảng cho học trò như ở miền Nam không? Lại muốn thực lòng ngợi ca đó là một áng văn đẹp khó mờ phai trong lòng mấy em học trò mãi hồn nhiên chẳng biết chuyện đấu tranh giai cấp với xung phong diệt thù. Nghĩ bụng là thế nhưng cứ ngồi im re đầu óc trì nặng chứa lắm mây vân cẩu. Chuyện không có gì để ầm ĩ. Phật nói mọi khổ đau đều do miệng lưỡi phát sinh ra. Tôi cúi đầu, xin chay tịnh vá mồm để tránh phong ba.
Kể lại chuyện xưa chẳng mang hậu ý gì, ngoài gợi nhớ đoản văn kia dễ làm đầu cầu cho một hình ảnh thấy sang bắt quàng làm họ: Hằng năm cứ vào tháng Tư, đầu mùa xuân mà lá ngoài đường rụng nhiều và lòng tôi lại nhức nhối những kỷ niệm hoang mang của đứa phải bỏ trốn quê hương. Huế là nơi đi để nhớ mà ở thì chẳng rõ có êm không… Tháng Tư, ôm đồm mà nói vậy chứ thực chất một đứa xứ Huế bị “lá rụng” từ hồi tháng Ba lận. Đám mây bàng bạc cứ dồn cục trên đầu đến cả tháng trời mới chịu tan đàn sẩy nghé bao phù vân. Ngày tựu trường mẹ nắm lấy tay tôi dắt đi học, hình ảnh an lành đó biết tìm đâu thấy khi cả mẹ lẫn con đã bỏ của chạy lấy người, hoang mang nhìn mưa-rơi-trên-mầu-cờ-đỏ.
Trước 75, trong 12 ống của hộp màu nước, dành cho chủ đề của từng bài vẽ dường như chúng tôi biết cách dung hoà chúng. Nhưng khi “quê hương thống nhất”, màu đỏ trở thành khan hiếm do bởi chúng phục vụ cho tất cả mọi đề tài, đặc biệt là tranh cổ động. Đỏ: màu phát quang rất mạnh, đứng xa cũng thấy. Quan trọng hơn, đỏ là màu cách mạng, màu chiến thắng, đạp đổ các thứ. Hoạ sĩ Cuba, hoạ sĩ Bắc Hàn, hoạ sĩ Trung Quốc và hoạ sĩ đàn em Việt Nam thảy đều mê mệt màu đỏ. Hỏi một ông đang ngồi ngáp vặt: Sao không chịu lao động? Mặt nhăn nhó khổ sở: Chẳng có màu đỏ, lấy gì vẽ?
Hằng năm cứ vào tháng Tư, lá ngoài đường rụng nhiều và lòng tôi lại hoang mang thắt ruột khi nhớ về những tháng ngày chịu sống ngộp thở trong sắc màu đỏ. Để mong nguôi ngoai ít nhiều, có đứa “nhân thân xấu” đã kể chuyện tiếu lâm: Một ông Tây ba-lô băng qua đường khi đèn xanh vừa bật sáng. Hậu quả dính thương tật tới 75%. Bác sĩ ở bệnh viện giải thích: Khổ quá, bác đến từ hành tinh nào thế? Đèn xanh tại sao không chịu đứng lại đợi đèn đỏ? Màu đỏ là màu chiến thắng, nhắc bác hãy xông pha tiến lên bất chấp nguy nan, nhớ? Tây ba-lô hoá ra cũng chán thằng lạc hậu, nhỉ! May mà chưa bị gọi là thái tử, nôm na: chết không toàn thây.
Có đứa rảnh rỗi sinh nông nỗi làm tài khôn: Đố chúng mày vì sao thành hôn, vu quy, song hỷ nói chung là đám cưới người ta đều trang hoàng toàn sắc đỏ? Vì họ coi trọng giọt máu trinh tiết của cô dâu chảy ra ở đêm động phòng. Đơn giản vậy mà nghĩ không ra. Cái đứa mau miệng ấy, nghe đâu bị rụng răng vì bị ba thằng bặm trợn vây đánh hội đồng trong đồn công an. Người bạn tôi thuật chuyện khi tại ngoại sau bảy đêm (khoái lạc) ăn nằm sau chấn song. Bạn tôi vào tù vì bạn láu táu không chịu tính bề dài của bức tường làm khi viết sơn khẩu hiệu bị thiếu mất một chữ “ta” nằm cuối câu: Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng.
Bảy ngày trong lao hắn ngộ chuyện: Tiếng nước ta thật quá nguy hiểm, thiếu hoặc thừa, có dấu hoặc mất dấu sắc huyền hỏi ngã nặng, chữ đang hiền lành bỗng trở nên hung ác ngay. Con dao hai lưỡi mày ạ, người ta chưa gắp lửa bỏ tay thì mày đã bị lưỡi thép cứa đứt rồi. Để minh hoạ thêm dưới câu nói hắn kể là ông anh hắn giờ này vẫn chưa học tập cải tạo xong, trước đây ông ta có viết văn. Mà văn ông ấy cũng mềm như hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều…

Lá rụng? Chữ này tuồng như bà con với qua đời, với nghỉ chơi, với khuất núi, với chu du miền cực lạc? Ai sao chẳng biết, chứ riêng tôi nghĩ trước năm 1975 mặc dù đang lâm vào cảnh chiến tranh nhưng đón nghe tin người chết không nhiều như giờ đây. Ngoài thân bằng quyến thuộc đến anh em bạn bè cứ người này phủi chân xong đến người khác leo lên ngồi trên bàn thờ. Có phải hệ luỵ đến từ cơn buồn đau mất nước? Mỗi năm đến tháng Tư lá ngoài đường rụng nhiều và người tôi quen biết lần lượt vác mạng qua đèo đi vào chốn cát bụi.
Tháng Tư, do vậy trăm người cười thì có vạn người khóc. Đau thương bao giờ cũng vượt mặt, đụng trần so với nụ cười. Chuyện diễn ra hằng ngày kiểu như đọc thấy ở mục tìm bạn câu khẩu quyết: Buồn nhiều hơn vui, ai đồng cảnh ngộ xin thư về… Qua ngày đoạn tháng còn vậy huống hồ là niềm đau nhức của tháng Tư, vốn vô bờ, vốn còn mới bao vết đoạn trường cũ. Tháng này, trên các diễn đàn văn chương đọc thấy bao thơ văn của “những người đồng cảnh ngộ”. Đọc lấy và xin hãy nhìn thấy mình còn may hơn những phần số bất hạnh chẳng thể bày tỏ khác.
Lời Phật: Bốn chín năm truyền đạo, ta không nói câu nào.
Khổng Tử ngôn: Dư dục vô ngôn. Thiên hà ngôn tai. Không muốn thuyết giảng (bởi ngay cả) Trời có nói gì đâu.
Nhưng hằng năm cứ vào tháng Tư, đành vượt khuôn phép để gửi chút “tâm tư” theo chiếc lá rụng ngoài đường. Mây bay chốn này muôn năm bàng bạc và lòng tôi bất chợt hoang mang tuổi nghỉ hưu. Không thanh, chẳng tịnh.
Hồ Đình Nghiêm.

Con ghẻ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 23/11/2018 

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

1.
Hương là con ghẻ, không được như Mùi là con ruột.

Mùi ngó dung mạo “con ghẻ”, rõ là con gái mặt hoa hoặc con ghệ da phấn, thắp đuốc tìm không ra một hột mụn mằn ghẻ nhọt. Cớ gì chim sa cá lặn trắng da dài tóc lại bày chuyện phân bì phân lê?

Chứ gì nữa, vượt biển nè, được nhà nước phỏng vấn thu nhận cho định cư nè, dắt đi sắm áo xống nồi niêu nè, cho đi học tiếng tây tiếng u nè, được tiền trợ cấp hàng tuần nè. Không xem như con ruột thì ai hơi đâu mặn nồng chăm sóc tận răng kiểu đó. Anh chị Hương làm giấy tờ bảo lãnh từ Việt Nam qua, nhà nước đặt điều kiện chúng mày nuôi được nó thì tao chấp thuận. Chân ướt chân ráo sang tới đâu được dúi vào tay chút bổi nào, con ghẻ là ở chỗ đó, đồng không trự nỏ có giắt lưng. Lạnh tanh! Đường ai nấy đi. Bơ ngơ bát ngác!

Ô, thì ra vậy. Cơ khổ! Cứ tưởng bố anh buồn tình đi ăn phở, tái nạm gầu gân sách vè dòn gì đó, xì xụp một hồi rồi lòi ra Hương cùng cha khác mẹ định phận ruột ghẻ các thứ. Thử ba trợn một phát: Trai ruột ngủ nghê cùng gái ghẻ thì có phạm tới luân thường đạo lý? Xì, khéo lo, đại bác có chắp thêm nòng pháo kích ba ngày cũng không tới. Xa miên man. Khúc ruột ngàn dặm về bển cưa gái đổ hà rầm, như cơm bữa, chùi miệng cho sạch, có sao đâu!

Ghẻ lau muỗng đũa cho ruột. Mùi ngắt rau húng quế xé nhỏ cọng ngò gai cho Hương. Sao không gọi bát Xe Lửa giống nhao, đàn ông con trai ai lại xơi tô nhỏ? Cái tên bê phở e phát sanh dị nghị hổng chừng mà âm thịnh dương suy? Mặc xác nó chớ, bác sĩ nói sao máu cậu đậm đặc toàn chất béo, kiêng ăn phở đi nhen, giờ xơi tạm ngày một viên Riva-Rosuvastatin xem có lưu thông kinh mạch chăng. Ở nhà có năng vận động không? Cơ thể phải chăm nhúc nhích cậu ạ. Thế nào là nhúc nhích? Là cà khịa rồi xà nẹo chuyện mần ăn. Mần ăn? Hỏi kiểu dấm dớ như rứa thì biết ngay là cậu chưa có vợ rồi. Cực quá hè!

Mùi ngoắc tay ông chạy bàn: Anh mần ăn có ngon cơm không? Mệt thấy bà tổ, quán có dán tờ giấy cần người đã lâu mà chẳng thấy ai nộp đơn nguyện làm đồng chí cả. Tả xung hữu đột, tối về tay chân nhừ mỏi khiến má sấp nhỏ khi dễ ra mặt. Mùi giả giọng ông bác sĩ: Cực quá hè. Nhờ anh làm cho một cái tái chín lớn mang đi. Chuyện nhỏ, trụng sợi không? Trụng luôn đi anh, về nhà khỏi mất công nấu nước.

Hương: Chi vậy?

Mùi: Kệ, không mấy khi, mang về cho ông cụ xơi.

Hương: Hèn gì ông già cứ một mực nói tốt thằng Mùi thế này thằng Mùi thế kia.

Mùi: Làm như thằng Mùi quen bôi trơn để tập ông già tham nhũng không bằng. Mà cũng ô kê thôi, ai thì bất biết chớ ba của Hương thì cũng nên hối lộ.

Hương: Nói nghe ghét. Sẵn, biểu họ làm cho cái cà phê sữa đá mang về luôn.

Mùi: Ủa, ông già chỉ uống trà Đài Loan thượng hạng thôi mà.

Hương: Sao biết hay vậy? Cha không thích cà phê thì con thích, có sao đâu.

2.
Vợ chồng anh chị của Hương bảo lãnh ông già và cô em gái qua, xong mướn cái apt. cho hai người ở, lý do chính đáng: Như thế ba với con Hương được tự do hơn, mấy đứa nhỏ này phá như giặc, lại ồn ào nữa… Hương kể nhiều thứ nhưng Mùi chẳng nhớ, đại để râu ria lòng thòng đi gần tới thành ngữ “đem con bỏ chợ”. Chợ hơi xa chỗ họ ở, chợ nằm khu những kẻ lao động có lợi tức thấp, chợ nhỏ chỉ một phòng ngủ. Ông Quế, ba của Hương đương nhiên cố thủ ngoài phòng khách: Mi con gái, cần nơi kín đáo, phương chi ngoài này có TV tha hồ cho ba xem truyền hình, có chết thằng Tây nào đâu mà sợ!

Khi Mùi tới, ông Quế ngồi thu lu mình ên, mặt mày khờ khạo trước cái TV. Trống vắng nhưng không lặng ngắt, một thằng người Hàn quốc phát âm giọng Nam: Quả là lòng lang dạ sói, ai bảo gươm đao vốn vô tình? Tình huống này e phải diễn ra cảnh xương chất thành núi máu chảy thành sông…

Mùi: Hương đâu rồi bác? Ông Quế đổi thế ngồi: Anh chị nó vừa mang xe lại chở nó đi cho người ta xem mặt.

Trên màn ảnh nhỏ, diễn viên nhóp nhép miệng nhưng có người Việt làm thông ngôn: Nóng nảy thường làm hỏng việc, ta nên cho người sang điều đình cùng gia đình ông Kim, hai họ hợp sức liên thủ tìm ra phương án đối phó, hành động.

Mùi: Căng thẳng quá. Bác liệu rời bỏ hiện trường có được không? Mình kéo nhau đi ăn phở.

Ông Quế chạm tay vào remote control: Thích thế! Dĩ thực vi tiên, giải trí thì hẳn hạ hồi phân giải, sáng giờ cứ thấy từ chết đến bị thương đếm không xuể, đắng chát cả mồm miệng. Ngồi đó đi, cho thằng già này thay đổi áo xống ngó cho tử tế khi ra đường.

Mùi không ngồi, đứng dựa tường nói với theo: Cho người ta xem mặt là sao ạ? Ờ thì là có cậu kỹ sư nào đó đang cô đơn, theo cách lượng định của anh chị nó thì đối tượng ắt sẽ xứng đôi vừa lứa với con Hương, mai này gia cảnh êm ấm chẳng sợ lâm vào cảnh túng bấn đói rét các thứ.

Mùi buông thân xuống ghế: Bộ phim bác xem thuộc loại tình cảm hay hình sự? Do đâu mà phải dẫn đến quyết định xương chất thành núi máu chảy thành sông?

Ông Quế đứng trong phòng vệ sinh nói vọng ra: Ờ tôi mắc phải bệnh Prostate, ngày đi đái cả chục lần, chán cái mớ đời. Đái một dòng sông.

Mùi: Thế bác sĩ có cấm cản chuyện ăn uống không?

Ông Quế đi ra, vừa đi vừa thắt lưng quần: Sao cậu lại hỏi vậy?

Mùi: Hỏi cho biết. Bị cholesterol bác sĩ đe bớt ăn phở mà mình chẳng ke thì cũng vậy thôi. Mớ đời này quả là chán thật. Hồi nào Hương về?

Ông Quế nắm ở tay xâu chìa khoá: Nghe chúng nhỏ to rằng đi ăn tiệc tùng, nhảy đầm rồi hát ca-ra-ô-kê gì đó. May mà cậu tới tìm tôi bầu bạn chứ nếu không đành lui cui vào bếp bắt nước trụng gói mì. Này, không phải nói đùa chớ thằng Hàn quốc ngon lành quá sức tưởng tượng, xe hơi nè, ti vi nè, điện thoại nè, bóng đá nè… ngay cả gói mì ăn liền của nó cũng đậm đà hơn hẳn thằng Thái, bỏ xa thằng Tàu với thằng Việt Nam.

Câu nói của ông Quế chấm dứt cùng lần với hành động khoá chặt cánh cửa. Bác nhận xét còn thiếu, đàn bà con gái xứ họ đa số đều sở hữu một nhan sắc thiệt quyến rũ, nhất là khoảng da thịt, thi phú kêu bằng “trắng quá nhìn không ra” hoặc “chẳng cần ánh sáng”.

Ông Quế: Tui nói cái này cậu đừng phật lòng nghen. Cảm tình tui dành cho cậu ra sao thì cậu cũng đã hiểu, nghiệt cái anh chị con Hương cứ thích vẽ đường cho huơu chạy, đám cưới rềnh rang hai họ hân hoan rồi ba sẽ nở mặt nở mày…

Đường tới quán phở thu ngắn trong câm lặng, không vọng động như kiểu màn hình bị cắt sóng, chừa cái bản mặt tối đen thôi phát giọng thuyết minh, gươm đao loảng xoảng súng nổ đì đùng. Khi đã yên vị đâu ra đó trong góc, nơi cái bàn đặt hai ghế đối xứng, người già bạc tóc nói cùng đứa nhỏ tuổi đầu xanh: Cậu tuổi con dê phải không? Sao bác biết? Thì tên Mùi, dê không là Mùi thì kêu bằng gì? Chẳng phải thầy bói nhưng tui đoan chắc số cậu sẽ sướng, bởi người ta từng lập luận “tuổi Mùi không chùi cũng sáng”. Bác đang tìm cách an ủi con dê lạc đàn này à? Thôi thì nói gần nói xa không bằng nói thật, trước tiên tui cho cậu coi cái này. Ông Quế nhón đít để moi túi quần ra cái ví da đựng giấy tờ tuỳ thân, có tờ 5 đô nằm bơ vơ trong ví lạnh, lôi từ ngăn “bí mật” lộ hình một ảnh nhỏ cắt vừa với kích thước tấm thẻ căn cước bọc nhựa.

Hai người đã chọn xong chưa ạ? Hai tái chín lớn. Uống cà phê không ạ? Khỏi, mang cho bình trà nóng. Mùi đón tấm ảnh, nghe chủ nhân sửa soạn hát câu vọng cổ. Trong ảnh, chụp bắt dung nhan một thiếu nữ tầm 19, 20 tuổi, cắt tóc ngắn. Tuy da ăn nắng, tuy có vẻ ruộng đồng nhưng khách quan để nhìn nhận là cô ấy đẹp. Một vẻ đẹp tràn sức sống trộn lẫn với chút ngây thơ. Và ông Quế bắt đầu xuống sáu câu:

Có thể xem là bí mật, vì tui là con mèo biết dấu cứt, là con chuột giỏi đi ăn vụng. Không một ai hay biết, riêng con Hương thì mới bị lộ hàng, vặn vẹo tra khảo vì tui lén gửi về cho nó 100 đô. Nó hiện ở Cần Thơ, nhân công trong một xí nghiệp chuyên sản xuất hàng tiêu dùng may mặc. Nó tên Trầm và nó… nó được bà hai đẻ ra. Vì thế, tuy là chị em cùng cha khác mẹ nhưng so ra con Trầm dễ nhìn hơn con Hương. Phía sau ảnh có tuồng chữ nó viết địa chỉ số điện thoại di động… Tui tặng cho cậu tấm ảnh này để hy vọng mai sau hai người có nảy sinh ra thứ tình cảm nào không. Tui rất quý cậu mới thổ lộ chuyện này ra. Trời ơi, tưởng tượng có ngày con Trầm được đặt chân sang đây và có ngày tui được hạnh phúc làm ông già vợ của cậu Mùi.

3.
Mùi nhìn vô mặt Hương. Hương hất mặt lên, vén tóc:

Làm gì nhìn kiểu muốn ăn tươi nuốt sống người ta vậy?

Hương là ruột, còn tui là con ghẻ.

Ngộ hén. Nhân thân xấu bị nhà nước ruồng bỏ rồi sao? Hết được làm con ruột.

Mai mốt thằng em ghẻ này kêu Hương bằng chị thì Hương có thích không?

Bị tình phụ hồi nào mà ăn nói ra chiều quờ quạng như bị té giếng!

Ở đời tình chị duyên em thì chán khối, có đúng không?

Hương thôi đốp chát, Hương ngậm miệng, trên trán xếp những nếp nhăn, chất chồng bao ngờ vực. Không lâu, sự đàn hồi làm việc, vầng trán phẳng lặng như cũ, trán Hương cao; người ta mặc định những ai thông minh đều sở đắc thứ diện mạo ấy.

Chùng lén đi đêm với ông già hồi nào hay vậy?

Chẳng qua là ổng lỡ mặn thằng Mùi, thua keo này bày keo khác, ta những muốn có ngươi làm con rể. Ta sẽ chùi cho mi sáng. Kỵ giỗ lễ lạc các thứ mi sẽ có dịp được thân cận bên người tình cũ. Và ta tin ngươi sẽ hạnh phúc với Trầm hơn những lứa đôi khác.

Có nghĩa là sao?

Vậy mà cũng không hiểu ra! Tui sẽ kết hôn cùng đứa con rơi của ba Hương. Tui cải đổi số mạng một mực ưa làm con ghẻ để gọi Hương bằng chị cho phải phép.

Có nghĩa là…

Tui dìa dinh, mang kiệu rước nàng sang sông, tuyệt đối không cầm theo lồng nuôi sáo mần chi cho lôi thôi việc sổ lồng. Hương có yêu tui chút gì thì nán đợi, Hương và tui sẽ tổ chức đám cưới cùng ngày, cho ông già Hương “thân này ví xẻ làm đôi” chạy qua chạy lợi hết rượu vào với ruột xong cái lời ra cùng ghẻ.

Mùi bỏ đi lấy vợ thì tui biết tính mần sao đây?

Mần sao là mần sao?

Lỡ thằng kỹ sư nọ chơi không đẹp thì tui sẽ rút đi. Chạy làng mà thiếu hậu vệ Mùi thì coi như hỏng giò, việt vị.

Không sợ trọng tài thổi tu huýt “bắt cá hai tay”?

Thôi, người tính không bằng trời tính. Dù sao cũng xin cảm ơn Mùi nhen. Đã không hờn ghen giận lẫy oán thù lại còn rắp tâm bảo lãnh con Trầm qua cho ông già xí xoá tội lỗi phần nào. Cái số tụi mình buộc phải loay hoay trong tình bạn mà thôi. Nhắm mắt lại đi. Để tui hôn miếng tạ từ chữ sắt son.

Ba năm lân la tình hữu nghị môi hở răng lạnh, giờ này mới chính thức diễn ra cảnh lâm ly xâm phạm bờ cõi. Ruột đứng yên như phỗng đá cho ghẻ ngấu nghiến môi dê. Tình lang hỡi, trăm năm biết có duyên gì hay chăng!

Hồ Đình Nghiêm

Trên đường Đông Tiến

Thơ Lâm Hảo Dũng

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Năm xưa Tây tiến nay Đông tiến

Sao nhớ cho vừa – Sao nhớ ơi!

Thèm ngủ dọc đường, cơm vắt nắm

Đêm khuya đèn đóm, lũ ma trơi

Ta có bạn hiền đi chiến đấu

Từ khi sông lạc nước khô nguồn

Nghe tiếng mẹ già rơi nước mắt

Giữa ngày giặc chiếm đất Bồng Sơn

Ai qua Dak-mot, xuôi Ben-het?

Thở gió Tam Biên, gió Hạ Lào

Loáng thoáng một mùi tanh của máu

Những ai buông súng giữa rừng sâu

Năm xưa Tây tiến, nay Đông tiến

Về núi Tà Lơn xuống Biển Hồ

Ta biết người buồn say rất nhẹ

(Một hồn du tử ở phương xa)

Ta biết người buồn trăng chết đuối

Bởi đêm Chùa Tháp thiếu Ngàn Mây

Thoảng điệu dù-kê (*) mùa rước nước

Nghe câu vọng cổ khóc không hay

Bỗng thấy thêm yêu đời trận mạc

Là khi đất nhú một chồi xanh

Một người bỏ phố đi vì nước

Một kẻ lêu bêu khóc vận mình

Năm xưa Tây tiến, nay Đông tiến

Sao nhớ cho vừa đây, Tiếng ơi!

(*) Dù kê: một vũ điệu, ca múa của người Khmer ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh, v.v…

Tôi vẫn đi trong hồn dĩ vãng

 Thơ Lâm Hảo Dũng

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Em ghé nhà tôi mua chút đỉnh
Nỗi sầu nguyên vẹn thuở nguyên khai
Tôi có một hồn cây vỏ giấy
Đuổi hình quá khứ đến tương lai

Dưới kia thung lũng buồn man dại
Như có hồn ai, phải thổ dân?
Chiều nghiêng lảng đảng nằm bên suối
Gác giáo, tai run thấm giọng đàn

Đất đỏ quanh co đùn gốc mối
Họ dừa đuổi bắt cái mênh mang
Những con vắt nhỏ làm du kích
Lấy máu người khinh bạc dọc ngang

Tôi vẫn đi trong hồn dĩ vãng
Cợt đùa nước mắt để làm vui
Trăm năm địa chấn hay hồng thủy
Là những tang thương của đất trời…

Trăm năm tôi vẫn là tôi của
Bụi cỏ hoang vu mọc giữa đời…

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Hình minh họa

Lý Ngọc Thuý
“Ông có hiểu chuyện bị hãm hiếp nghĩa là thế nào không?”

Tôi sinh ngày mùng 5 tháng Năm năm 1967, đến Hoa Kỳ năm 1981. Gia đình tôi gồm tất cả sáu anh chị em. Cha tôi lúc ở việt Nam là người buôn bán. Nói cho ngay, dưới chế độ Cộng sản, gia đình chúng tôi ở tại một tỉnh lỵ nhỏ gần Qui Nhơn vẫn làm ăn khá giả. Gia đình tôi bán máy thâu băng và băng nhạc. Chúng tôi vẫn còn làm nghề ấy dưới chế độ Cộng sản, nhưng trước khi chúng tôi đi, họ bảo vì có vài người trong gia đình tôi đã đi Mỹ, nên họ không cho phép chúng tôi làm ăn buôn bán nữa.

Bây giờ tôi còn nhớ lúc mẹ tôi bảo tôi phải sửa soạn đi. Tôi khóc. Tôi không muốn đi, nhưng mẹ tôi bảo mẹ tôi sẽ thu xếp đi sau. Tôi không sung sướng gì về việc ra đi vì sẽ phải bỏ các bạn bè và mẹ tôi lại nhà. Tôi cứ cảm thấy sợ hãi, như linh tính đã báo trước rồi sẽ có nhiều chuyện không hay xảy ra.

Chúng tôi lên tàu lúc nửa đêm. Chuyến vượt biên đầu tiên vì thời tiết xấu, phải quay về. Lần thứ nhì cũng không xong. Lần này vì tôi có bảo với vài người bạn là tôi đi Mỹ, họ đi nói với các người khác, nên chúng tôi phải hủy chuyến đi, nhiều người biết quá. Cha mẹ tôi rất giận về việc tôi nói cho người ta biết, đáng lẽ phải giấu là đi thăm bà cô.

Chuyến tiếp theo gồm tất cả 48 người trên tàu. Ngay ngày đầu tiên đã hết nước ngọt. Vì thế sau ngày đầu, chúng tôi đã phải uống nước biển, ai nấy ốm la liệt. Tôi phát đau, tháo mửa.

Thế rồi bọn hải tặc Thái Lan đến chặn tàu chúng tôi. Vì hết sạch đồ ăn nước uống, chúng tôi dùng vải trắng ra hiệu cấp cứu, không ngờ chúng lại là hải tặc. Chúng hãm hiếp một người đàn bà trên tàu. Lần thứ nhất thì không hề gì, chúng chỉ đòi vàng. Nhưng rồi bọn hải tặc lại chặn tàu chúng tôi vào ngày thứ hai và ngày thứ ba. Chúng đưa tất cả chúng tôi ra khỏi tàu, chỉ chừa một người đàn bà. Chúng lên tàu, tất cả bọn thay phiên hãm hiếp người đàn bà ấy.

Sau chúng đưa chúng tôi lên một hòn đảo. Trên đảo không người, nước cũng không. Cả hòn đảo khô khốc. Chúng bắt chúng tôi ngồi thành vòng tròn. Xong chúng chọn đàn bà, đưa vào bụi rậm mà hiếp. Thực khủng khiếp hết sức.

Bấy giờ tôi hãy còn là một đứa trẻ gầy gò, nhỏ bé. Tôi hãy còn là một đứa trẻ con ngây ngô chưa biết gì, nhưng chúng vẫn đến bắt tôi ra. Tôi ốm, thân thể trần trụi, lúc ấy hãy còn nhỏ. Chúng nắm lấy tôi, kéo tôi vào trong bụi, làm những chuyện đau đớn hết sức. Tôi không biết mình bị hiếp, thực sự bấy giờ tôi không hiểu gì. Tôi chỉ tưởng chúng định giết tôi. Chúng không thích tôi vì thân hình tôi gầy ốm quá.

Những người đàn ông đi cùng tàu lúc ấy ngồi lặng yên trong vòng tròn. Họ cúi mặt nhìn xuống đất trong lúc chúng hãm hiếp đàn bà con gái, hãm hiếp tôi. Nhưng họ đều biết những chuyện đang xảy ra. Lúc ấy tôi khiếp hãi quá.

Chúng không giết ai, cũng không đánh đập đàn ông. Khi xong xuôi, chúng bỏ mọi người lại trên đảo mà đi. Sau đó, tôi chỉ còn lại một cái quần lót. Chúng đã lấy hết quần áo của chúng tôi.

Chúng tôi phải cố kiếm ra cái ăn, mà kiếm được cái ăn để cầm cự sống trên đảo rất khó. Vài ngày sau, có các thủy thủ trên tàu Hải quân Thái đến. Họ đón chúng tôi lên tàu, đối đãi tử tế. Họ đưa chúng tôi đến trại ty nạn ở Songkhla.

Hình minh họa

Chúng tôi ở tại Songkhla nhiều tháng, rồi sau đó được bảo trợ sang Cali. Lúc đến nơi tôi khá ngạc nhiên bởi vì mọi người ở đây đều giàu có.

Tôi đã nói được đôi chút tiếng Anh khi đến Cali, vì tôi có học Anh ngữ trong thời gian ở Songkhla. Khi đến trường, lúc đầu không được khá. Tôi không biết cách ăn mặc, cũng không có quần áo tốt. Học sinh trong lớp thường trêu chọc tôi. Một đứa con gái hay gây sự đánh tôi trên xe buýt vì tôi ăn mặc xấu xí, tôi đoán thế. Tôi có nói chuyện ấy với bà tài xế, nhưng bà ta bảo không giúp gì tôi được. Chúng xô đẩy, kéo tóc tôi vì tôi nhỏ con, tôi đoán thế. Bấy giờ tôi chỉ cân nặng khoảng 80 cân Anh.

Sau lớp 8, tôi vào trung học, mọi thứ khá hơn. Tôi đã đạt nhiều tiến bộ trong trường. Hiện tôi đã vào đại học. Mẹ tôi hãy còn ở Việt Nam, tôi vẫn thường viết thư cho mẹ tôi.

Sau những chuyện xảy ra, sự thực tại đây tôi không sung sướng gì. Mọi việc xảy ra đã quá sức tôi. Năm ngoái tôi tự tử thêm lần nữa. Tôi đã uống thuốc để đi tìm cái chết.

Liên hệ giữa cha tôi và tôi không đuợc tốt. Sau vụ bọn Thái Lan hãm hiếp tôi, cha tôi không còn có sự gần gũi thân thiết với tôi nữa.

Rất ít người đàn ông nào có thể hiểu được chuyện những người đàn bà bị hãm hiếp là thế nào. Rất ít. Đã có lần tôi từng hỏi mấy người đàn ông là: “Ông có thể hiểu chuyện bị hiếp nghiã là thế nào không?” Nhưng họ không thể hiểu. Họ không biết. Họ chẳng thể hiểu gì.

Nếu có thể quay ngược thời gian thì tôi sẽ không bao giờ rời Việt Nam. Sau khi tôi ra đi, đã có quá nhiều điều thê thảm xảy ra cho tôi.

Tôi hãy còn nhớ những tên hải tặc, đôi khi tôi vẫn còn nằm mơ thấy chúng. Ngay hôm nay đây, tôi vẫn chẳng thể nào quên được. Tôi không thể biểu lộ lòng trìu mến. Tôi không thể nắm tay ai. Tôi không thể yêu đương lãng mạn được nữa.

Tôi mờ mịt trước tương lai. Tôi không rõ rồi đây tôi có sẽ tìm lại cái chết nữa hay không. Có ai biết trước được tương lai.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Hình minh họa

Lily

 Bụi Đời

 “Cháu đã phải chứng kiến nhiều chuyện xảy ra trong đời”

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Tên cháu là Hương, người ta vẫn quen gọi cháu là Lily. Dạ, Lily thôi (chứ không có tên họ gì khác). Cháu mười bảy tuổi. Cháu không rõ ai là cha cháu. Cháu cần phải đi Mỹ. Ở Việt Nam này cháu không được đi học, cháu chỉ đến trường có ba năm rồi phải đi làm.

Ở ngoài phố ngày nào người ta cũng kêu cháu: “Hê lô, Mỹ!” Thấy mặt cháu, người ta biết cha cháu là người Mỹ. Lúc đi học trẻ con trong trường không ưa cháu, chúng cứ bảo: “Mỹ lai không tốt”. Nghe thế cháu buồn lắm. Cháu nói được tiếng Anh là nhờ tập nghe những người nói tiếng Anh đến đây, nên bây giờ cũng nói được. Cháu làm cho du khách; cháu thông dịch cho họ, đưa họ đi xem thành phố. Cháu muốn đi Mỹ, muốn được đi học, sau này làm họa sĩ. Bây giờ làm sao mà vẽ, cháu phải bận đi làm. Cha cháu ở Mỹ tức là theo đạo Chúa, còn mẹ cháu là người đạo Phật. Cháu muốn vẽ các thứ tranh ảnh đạo giáo, mấy tranh ảnh này làm cháu nghĩ đến những chuyện tốt lành, chứ cháu đã phải chứng kiến nhiều chuyện xấu trong đời rồi. Cháu chịu khổ nhiều rồi nên cháu không muốn nghĩ đến nữa.

Cháu thích nhạc Mỹ. Cháu nghe nhạc Mỹ, nhờ thế cũng học được tiếng Anh.

Chuyện chiến tranh, cháu cũng biết chút ít. Cháu có đọc chuyện ấy, nhưng cháu mong không ai nghĩ xấu cho cha cháu vì chuyện chiến tranh cả. Cháu rất mong có một tấm ảnh cha cháu để nhìn cho biết cha cháu thế nào. Cháu không muốn sống với cha cháu. Cháu chỉ muốn gặp cho biết vì hiện giờ cháu không biết gì về cha cháu cả.

Tương lai, sau này cháu muốn có một vài đứa con. Nhưng cháu mong con cái của cháu đừng phải khổ như số cháu, đừng lâm vào cảnh con không cha.

Sau này cháu sẽ dạy cho con cháu kinh nghiệm đời cháu để hiểu cuộc đời khó khăn mà cố làm cho nên người, đừng lâm vào hoàn cảnh cháu bây giờ.

Không, cháu không có gì vui. Cháu cười đây là vì cháu đang nói chuyện, chứ có gì vui.

Cháu hay nghe bài “We are the World” (Chúng ta là thế giới). Nghe bài này cháu thích lắm. Bài này nói về người trên các nước ca hát, họ chẳng có vấn đề khó khăn gì. Cháu thích mọi người đều được như thế. Nghe người ta hát thích hơn là chiến tranh. Những người sung sướng thường hay ca hát.

Hình minh họa

MỸ LINH

“Cuộc sống khó khăn”

Tên cha tôi là Isaac. Má tôi có cho tôi xem ảnh cha tôi. Bây giờ tôi đã có chồng Việt Nam, sắp có con tôi, như thế ông Isaac sắp làm ông ngoại rồi. Tôi mong có thể báo tin cho cha tôi biết như thế.

Tôi đã học lớp Sáu rồi ở nhà phụ má tôi buôn bán lặt vặt ngoài đường thành phố Hồ chí Minh. Tôi muốn đi Mỹ vì cha tôi ở bên ấy. Tôi muốn học nghề may. Cha tôi có viết thư bằng tiếng Mỹ, kể chuyện nước Mỹ.

Cuộc sống khó khăn lắm. “Tôn giáo” là gì vậy? Không, tôi không có đạo nào.

Tôi hy vọng năm nay được đi Mỹ. Tôi đã xin đi từ năm tám mươi mốt đến giờ nhưng người ta không cho tôi đi.

NGUYỄN THỊ DIỆP TRANG, “Ở đây rất khó khăn cho tôi”

Tôi mười chín tuổi. Tôi không được biết gì về cha tôi cả. Cha tôi người Mỹ. Tin tức cha tôi thì không có, nhưng tôi có một tấm ảnh của người bạn cha tôi. Bạn cha tôi là người mối lái cha tôi cho mẹ tôi.

Tôi đã học xong Trung học hồi năm ngoái. Hiện nay tôi đang phụ với mẹ tôi, mẹ tôi làm nghề đở đẻ. Mẹ tôi thường may quần áo cho tôi, nhiều bộ mẹ tôi may giống quần áo Mỹ lắm.

Tôi muốn đi Mỹ vì trông tôi không giống người ở đây, tôi nghĩ tôi giống người Mỹ hơn, sang Mỹ tốt cho tôi hơn. Tôi cũng tự biết khổ người tôi cao lớn hơn các bạn, tôi cảm thấy khác người ta, ở đây khó cho tôi.

Tôi biết được về người Mỹ là nhờ xem hình cha tôi, với lại nhờ các du khách. Tôi cũng có đọc qua báo. Tôi muốn được sang Mỹ đi học Đại học ở bên ấy, để trở thành hóa học gia.

Tôi không biết gì về chiến tranh. Không biết gì cả.

Tôi đoán cha tôi là người cao lớn, vì khổ người tôi cao lớn. Nếu cha tôi biết được tôi ở đây, chắc cha tôi thương tôi lắm. Mẹ tôi bảo hồi xưa cha tôi thương mẹ tôi thật tình. Nhưng họ đứt liên lạc với nhau.

Tôi mong ngày sau có con, tôi sẽ kể chuyện đời tôi, chuyện tôi sang Mỹ như thế nào.

Một ngày kia tôi sẽ lập gia đình, có hai đứa con. Nhưng bây giờ, trước hết tôi mong được sang Mỹ cùng với mẹ tôi và hai đứa em cùng cha khác mẹ của tôi.

MINH
“Thằng lai”

Cháu không có tên nào khác, tên cháu là Minh thôi. Cháu mười sáu tuổi. Cháu sống ở Tây Ninh. Cháu chăn bò cho gia đình cháu. Cháu ở với họ từ lúc nhỏ nên cháu gọi họ là chú thím. Rồi cháu lên Saigon, bây giờ cháu làm ở một quán cà phê.

Có người đưa cháu lên Saigon, cũng không biết người ấy là ai. Bây giờ cháu đang ở với một gia đình mở quán cà phê, cháu ăn ở luôn tại đây. Cháu chưa đi học bao giờ. Cháu không biết đọc.

Hồi ở nhà quê người ta đối với cháu không được tử tế. Cháu lai Mỹ, họ gọi cháu bằng đủ thứ tên. Họ gọi cháu là : “thằng lai”. Nhưng ở quán cà phê này người ta đối xử với cháu tử tế hơn.

Cháu không biết gì cha cháu cả. Chẳng hiểu ai là cha mẹ cháu. Cháu chẳng biết gì hết. Cháu nghĩ cháu thương cha mẹ cháu mặc dầu cháu cũng chẳng biết cha mẹ cháu là ai, cha mẹ cháu ở đâu. Tình thương cha mẹ, cháu nghĩ là vẫn ở trong lòng người ta.

Bây giờ cháu cũng mong được đi Mỹ tìm cha. Cháu thấy người ta đi Mỹ, cháu cũng muốn đi. Cháu không biết gì đất Mỹ, chỉ nghe người ta nói chuyện thôi.

Cháu không biết gì chiến tranh cả. Khi sang Mỹ cháu sẽ làm bất cứ nghề gì. Cháu không có đạo. Chẳng biết là gì. Cháu là người Mỹ. Ở đây người ta bảo cháu là người Mỹ, vì thế cháu biết cháu là người Mỹ.

Hình minh họa

VÕ THỊ QUAN YÊN “Cháu biết cháu là người Mỹ”

Cháu mười lăm tuổi. Lúc đầu cháu tưởng mình là người Việt, nhưng rồi cha cháu liên lạc được, nên bây giờ cháu mới biết cháu là người Mỹ. Trước cháu không biết tên cha, bây giờ mới biết. Cháu học đến lớp Bảy rồi nghỉ để bán chuối ngoài đường. Hiện nay cháu ở với chú thím. Chú thím cháu nuôi cháu. Mẹ cháu cũng có liên lạc. Nhưng cháu không thấy gắn bó gì vì mẹ cháu đã bỏ cháu từ năm lên sáu.

Cha cháu muốn cháu sang Mỹ, nên bây giờ cháu muốn sang bên ấy. Cháu muốn được đi học lại. Ở đây khó sống quá. Cháu mong có ngày trở thành bác sĩ như cha cháu. Cha cháu trước là Bác sĩ ở bệnh viện Grall, bệnh viện Pháp ở đây. Cha cháu đi từ hồi 1973. Cháu không biết gì về chuyện chiến tranh. Nhưng có xem chiếu bóng, cháu nghĩ chính phủ Mỹ đối xử không đúng đắn vói người Việt. Họ đã làm nhiều chuyện khủng khiếp cho người Việt Nam.

Cháu sống thời nhỏ bình thường cho đến năm lên sáu. Nhưng bây giờ ở với chú thím, chú thím nghèo nên cháu phải làm việc. Cháu là người Phật giáo vì chú thím đều theo đạo Phật. Nhưng cha cháu là người đạo Chúa, khi sang Mỹ cháu sẽ theo đạo Chúa. Từ lâu lắm cháu chẳng có thể tưởng tượng mặt mũi cha cháu thế nào, đến khi nhận được ảnh thì bây giờ mới biết cháu giống cha.

Ngày nào cháu cũng phải làm việc. Cháu thích đánh banh và đi bơi, nhưng không được vì cháu phải đi làm. Bây giờ cháu rất mong đến ngày gặp cha, cháu hy vọng cuộc sống cháu sẽ khá hơn.

Cháu muốn đi mà rồi cũng buồn vì phải xa chú thím với đứa em cùng mẹ khác cha. Còn mẹ cháu thì chẳng cần, không ăn thua gì đến cháu. Khi sang Mỹ, cháu sẽ đưa chú thím và đứa em gái cùng mẹ khác cha của cháu sang.

NGUYỄN NGỌC LINH “Cuộc sống sẽ khá hơn”

Cha mẹ cháu bỏ cháu từ nhỏ. Năm 1972 họ có quay lại tìm, nhưng lúc ấy cháu không muốn đi. Cha cháu tên John Small.

Cha mẹ cháu liên lạc được với cháu rồi là mất Saigon, họ lại liên lạc được lần nữa. Cháu đi học đến lớp Sáu thì nghỉ, không thích đi học nữa. Bây giờ cháu không làm gì. Chỉ ở nhà. Cha mẹ cháu ở Mỹ có gởi tiền sang cho. Cháu không nói được tiếng Mỹ. Khi sang Mỹ cháu sẽ học. Cũng chẳng biết khi đến Mỹ cháu muốn làm gì. Cháu nghĩ có lẽ cháu muốn trở thành cầu thủ bóng đá.

Cháu không biết gì về chiến tranh cả.

Cháu muốn đi Mỹ vì cha mẹ và các anh chị em đều ở bên ấy, có lẽ đi thì sống khá hơn.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Hình minh họa

Nguyễn Sơn

(Lính Miền Bắc)

“Khi cùng thì phải cố”

Năm mười chín tuổi tôi xâm lên cánh tay mấy chữ: “Sinh Bắc Tử Nam”. Lúc ấy tôi đang đi học. Xâm tay rồi, lại đổi ý, chẳng muốn chết ở miền Nam nữa. Đến lúc phải nhập ngũ, tôi tìm đủ cách để lẩn trốn. Tôi kéo dài cho đến khi chiến trận miền Nam đã xong. Đến 1977 mới phải nhập ngũ. Cuối cùng vào bộ đội là vì bắt buộc thôi.

Khi xâm tay thì tôi ở Hà Nội, năm 1972, đang học lớp 10. Năm ấy chiến tranh căng thẳng hơn, nhà trường đã sơ tán ra ngoại ô Hà Nội. Tôi ở lại Hà Nội, không đi theo nhà trường. Tôi đã ở Hà Nội suốt thời gian Hà Nội bị đánh bom vào mùa Giáng Sinh 1972.

Cứ như tôi nhớ, tàu bay đã bỏ bom từ 15 đến 27 tháng Chạp. Trước ngày 15 khắp chung quanh ngoại ô Hà Nội đã bị bom, rồi từ 15 đến 27, chính Hà Nội cũng đã bị born đánh xuống.

Đầu tiên họ đánh Đài phát thanh. Sau khi Đài phát thanh trúng, họ dội khắp nơi, cả nội lẫn ngoại thành Hà Nội. Khu An Dương là khu đầu tiên bị nặng nhất. Trên căn bản, họ chỉ đánh bom Hà Nội ban đêm, cho nên ban đêm tôi chả thấy gì ngoài lửa chớp. Nhưng nhớ cũng có lần vào sáng sớm, tôi đã thấy tận mắt tàu bay dội bom. Một lần nữa vào đêm 24 tảng sáng 25, tôi thấy một chiếc B-52 đánh xuống khu Khâm Thiên. Một bệnh viện trúng bom, đấy là bệnh viện Bạch Mai.

Chúng tôi chẳng sợ nếu nhỡ bị Mỹ giết. Tôi nghĩ “Số chết thì phải chết”, nhưng tất nhiên chúng tôi tránh xa các mục tiêu quan hệ, nhiều người đã sơ tán khỏi thành phố. Thế mà cũng khối người đã chết.

Ông cần phải biết lúc ban đầu, trong năm 1964 dân miền Bắc rất sợ chiến tranh, sợ tàu bay Mỹ. Nhưng chiến tranh cứ tiếp diễn mãi thì người ta phải dầy dạn hơn. Họ hết sợ bom, họ không rụt rè nữa. Thay vì sợ sệt, ho muốn chấm dứt bọn bỏ bom.

– Chúng tôi không hề được chính phủ giải thích gì về chuyện bỏ bom cả.

– Tôi chả suy nghĩ sâu xa gì về chuyện bỏ bom. Tôi có thấy mấy phi công Mỹ được điệu đi diễn hành quanh Hà Nội, nhưng đấy là năm 1967 chứ không phải sau này. Nhà tôi gần nhà máy điện, vì nhà máy điện cung cấp điện cho cả thành phố Hà Nội, đã hóa thành mục tiêu trọng điểm trong các vụ đánh bom, nên tôi có thấy phi công Mỹ bị hạ, bị bắt làm tù binh, bị đưa đi diễn hành. Dân không được phép đến gần nói chuyện với tù binh. Tôi chỉ nhìn họ từ xa. Tôi chả biết gì về họ, nhưng tôi cũng tự hỏi tại sao lại dội bom chúng tôi.

– Lúc ấy tôi chẳng có cảm giác gì về chiến tranh, về người Mỹ, tôi chỉ đi học, không lưu ý đến tin chính trị hoặc tin chiến sự trong Nam. Nhưng những người khác ở miền Bắc rất quan tâm đến tin chiến tranh để theo dõi tình hình.

Tôi còn nhớ năm 1972 ông Lê Đức Thọ và Henry Kissinger đã liên hệ gì đấy trong việc hội họp chuẩn bị hiệp định Paris. Hà Nội đã bị bom ngay trong lúc các buổi hoà đàm đang diễn ra.

Ở miền Bắc, nhân dân không thích gì chiến tranh. Vì thế mọi người hết sức quan tâm đến các tiến triển của việc thương thảo, và bất cứ cái gì liên hệ đến việc chấm dứt chiến tranh.

Nhiều người đã chết cho lý tưởng thống nhất đất nước, miền Bắc hay miền Nam cũng đều là Việt Nam cả, nên cần họp lại thành một nước. Lúc lớn, đọc nhiều hơn, tôi mới được hiểu đáng nhẽ vào năm 1956 hai miền phải có tổng tuyển cử để thống nhất đất nước trong hoà bình thay vì bằng chiến trận và vũ khí. Nhưng tôi biết là họ đã không đồng ý thực hiện những việc đáng lẽ phải xảy ra, vì thế mới có đánh nhau.

Tôi nghĩ Hồ Chí Minh là một anh hùng. Tôi thành thực ngưỡng mộ kính trọng vì Bác là một lãnh tụ rất tài giỏi khôn ngoan. Cũng như Hitler ở bên Đức. Đầu tiên Bác chỉ là thường dân, nhưng Bác đã đi du lịch khắp nơi trên thế giới để tìm đường giành độc lập cho Việt Nam từ tay chính phủ Pháp. Bác cũng đã chiến đấu chống Nhật xâm lược. đấy, vì thế tôi hết sức kính phục Bác.

Hình minh họa

Tôi cũng kính phục đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đây, tôi xin kể cho ông nghe. Ông ấy là tướng. Ông ấy ở trong chính trị bộ. Ông ấy là Tổng Trưởng Quốc Phòng. Ông ấy là người tài ba. Ông ấy có thể nói nhiều thứ tiếng. Ông không được nể phục bằng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là đại anh hùng cả nước. Ngay sau 1975 cũng có nhiều người quan trọng mà tên tuổi đáng ghi nhớ trong lịch sử nhưng người ta vẫn chẳng buồn biết đến. Người ta chỉ ghi nhớ: Thứ nhất Hồ Chí Minh, thứ nhì Phạm Văn Đồng, thứ ba là Võ Nguyên Giáp.

Khi tôi còn 17, 18, 19, tôi nghĩ nếu hết chiến tranh thì ít nhất cũng phải đến 1979 hay 1980. Tôi không bao giờ ngờ là sớm như vậy. Chẳng bao giờ nghĩ đến năm 1975 đã hết. Nhưng tôi chưa hề bao giờ nghi ngờ gì, tôi chắc chắn chúng tôi sẽ thắng.

Trừ phi ông sống trong chế độ cộng sản, không thì không thể hiểu tại sao tôi đã đã nghĩ như thế. Đây, người miền Nam nghĩ rằng họ sẽ thắng, còn người miền Bắc thì biết rằng sẽ thắng. Có một câu cách ngôn Việt Nam liên hệ đến chiến thuật quân sự: “Biết mình, biết người, trăm đánh trăm thắng”. Miền Nam không biết gì miền Bắc. Còn miền Bắc biết hết mọi chuyện miền Nam.

Dân miền Bắc chẳng hề bao giờ sợ sệt các lực lượng quân sự Mỹ. Tại sao thế? Lâu lắm rồi, từ khi còn bé tôi đã nghe một câu tuyên bố của một ai đấy trong chính phủ Mỹ – mấy ông tướng thì phải – họ bảo họ sẽ “Ném bom Bắc Việt cho Bắc Việt quay lại thời đại đồ đá”. Tôi đã được nghe nói thế ở trường học. Và tôi nhớ lại Hồ Chí Minh đã gợi lên biết bao nhiệt tình và lòng yêu nước của người miền Bắc. Bác bảo cuộc chiến này có thể kéo dài hàng 5 năm, 10 năm hay 15 năm, do đó chúng tôi phải luôn luôn sẵn sàng. Tôi nhớ ở nhà trường, tôi đã được yêu cầu phân tích những lời tuyên bố ấy. Chúng tôi trở nên thấu suốt và giữ vững lập trường của chúng tôi trong cuộc chiến. Nhờ sự tin tưởng ấy, chúng tôi trở nên không sợ hãi cuộc chiến nữa.

Ông thấy, khi người ta bị dồn chân tường thì còn cách gì khác hơn là đứng dậy đương đầu với vấn đề trước mặt? “Cùng thì phải cố.” Vì thế chẳng còn sợ gì, bởi vì thế chúng tôi phải xông lên. Chúng tôi bị bắt buộc phải chấp nhận vị trí và số phận chúng tôi. Nhìn lên trời thì máy bay Mỹ dội bom, chúng tôi lại chỉ có thể bắn trả từ dưới đất. Giả thử có thể làm giảm bớt được số lượng bom ấy thì tốt quá, nhưng làm gì được, làm ở đâu bây giờ? Chúng tôi còn cách nào khác hơn là chấp nhận tình thế, tốt nhất chẳng sợ gì nữa. Và nếu muốn khỏi bị bom thì phải vào Nam đánh Mỹ ra khỏi nước, chúng tôi chỉ có cách duy nhất ấy để tự vệ thôi.

Cuộc sống miền Bắc không ổn định vì bom đạn liên miên, chiến tranh căng thẳng. Cái gì cần làm, người ta cố làm, việc ai nấy lo. Tình trạng đất nước như thế, làm sao sản xuất hàng hóa có phẩm chất tốt cho được? Hoạ may hoà bình thì mới mong có phẩm chất tốt thôi.

Khi Sài Gòn đầu hàng, mọi người mở liên hoan, ai nấy đều sung sướng. Tôi nghĩ có bốn lý do làm chúng tôi vui mừng mà mở liên hoan.

Thứ nhất, những gia đình có thân nhân vào Nam chiến đấu, họ sung sướng vì đất nước thống nhất, không còn đánh nhau. Những người thân sẽ về với gia đình.

Thứ hai, nó liên hệ đến tình trạng tinh thần và cảm xúc mới của người miền Bắc. Trước kia cuộc sống luôn luôn khó khăn, người ta đều lo lắng, nhưng giờ đây chẳng còn phải ngay ngáy lo đạn bom, chết chóc nữa.

Lý do thứ ba liên hệ đến khả năng sum họp với những người thân yêu. Xin nhớ vào năm 1954, đã có rất nhiều người vào Nam. Trong những năm chiến tranh, người ta đứt liên lạc, chẳng biết ai còn ai mất. Bây giờ đất nước trở lại làm một, người ta lại có thể liên lạc với nhau.

Hình minh họa

Thứ tư, thế hệ trẻ muốn vào thăm miền Nam để so sánh tìm hiểu cuộc sống miền Nam thực sự ra sao.

Còn ở Hà Nội, sau 1975 cuộc sống có tốt đẹp hơn không? Có cái có, có cái không. Đời sống vật chất có phần sút kém đi sau 1975, nhưng lại tốt hơn nếu nói về mặt tâm lý, mặt tinh thần, về cuộc sống nội tâm. Sau 1975, trạng thái tinh thần của chúng tôi được thoải mái hơn cho nên tôi có thể nói là tốt. Nhưng trước 1975, chính phủ miền Bắc đã được các nước bạn ở Âu Châu, được Trung Quốc và Liên Xô giúp đỡ. Trước khi chiến tranh chấm dứt, các nước ấy đã cho viện trợ, nhờ đấy chúng tôi mới có thể giành lại việc kiểm soát miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng với chiến thắng 1975, họ bắt đầu thôi không viện trợ, nên chúng tôi chẳng còn gì nữa. Một chuyện khác là sau bao nhiêu năm chiến tranh, ruộng đồng tiêu huỷ, đường sá, các ống dẫn dầu, dẫn nước đều đã bị tiêu huỷ hoặc một phần, hoặc toàn phần. Làm sao quý ông có thể trông đợi chúng tôi phục hồi ngay được sau chiến tranh, sau bao năm bom tàn phá?

Vì thế cuộc sống dân chúng đã khó khăn hơn bắt đầu từ 1975. Ngay giờ đây, miền Bắc hãy còn chịu khó, chịu khổ. Trong nhiều trường hợp, còn tệ hơn cả thời chiến. Nhưng con người ta không còn ở tình trạng thường xuyên sợ hãi. Chính đấy là phần tốt nhất về chuyện chiến tranh chấm dứt.

Xin cho tôi được dùng một lời ví von. Ở miền Bắc, các bạn tôi và tôi thường hay nói chuyện đời, chúng tôi ví đời mình như những cánh bèo trôi trên sông. Đời là một dòng sông, chúng tôi là những cánh bèo lênh đênh trên mặt nước. Chúng tôi không định được đời mình và số phận mình. Nước chảy bèo trôi, làm sao biết bến bờ nào. Trong nhờ, đục chịu, chúng tôi chẳng lựa chọn gì được cho đời mình. Mỗi khi nghĩ đến số phận và cuộc đời chúng tôi như thế, thì một phần trong tôi luôn muốn phá bỏ cái loại đời ấy đi.

Cũng như các bạn tôi, tôi muốn có thể được là chính mình, được làm những gì mình chọn chứ chẳng để cho ai khác ép buộc mình. Tôi chỉ là một con người sống bình thường, tôi cũng chỉ muốn thế thôi.

Cuộc chiến này do những người khác hoạch định, chủ trương gây ra. Những người dân bình thường chúng tôi không dính dáng gì. Như mọi con người bình thường khác ở khắp nơi trên thế giới, chúng tôi hàng ngày làm lụng và cũng chỉ cố sống một cuộc sống bình thường…