Hành hạ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 18/12/2018 

Post by Sơn râu 6 Feb 2024

Tôi viết tặng em bài thơ buồn. Câm lặng. Đôi ba hôm sau nghĩ chẳng đặng, em hồi âm. Mưa lâm thâm ướt dầm lá hẹ, bây giờ em thôi làm mẹ, qua mùa đông sẽ lên chức bà nội, đừng làm tình làm tội nữa nha anh. Sao đứt thắng có người bảo hỏng phanh mà kêu ca cho đến hồi khản tiếng gọi là thất thanh? Rõ là em đã soán đoạt ở anh màu trời xanh. Anh chết máy giữa đường đầy nắng hanh.

Yêu cần tri kỷ viết cần tri âm, hai món hỷ tín này coi bộ anh vô duyên. Nói huyên thuyên tiếc sợi dây nối vào gàu giếng cạn, ừ thì sức người vốn hữu hạn, mình thôi làm bạn từ dạo súng nổ đạn bay. Ớt thì cay mà miệng anh thày lay: Dễ như ăn ớt. Vậy đụng phải trớt quớt trách chi ai? Thơ văn có lúc là thứ mang tai ương đến tha nhân, hành hạ người ta đủ điều lần khân. Đẻ ra chán, oải, nhàm, nản, ngấy… “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.

Khi tôi gửi đăng bài viết về 231 cái tát mà cô giáo xã hội chủ nghĩa say máu vả vào má học trò quàng khăn đỏ, cho vêu mỏ bỏ bú. Hôm sau có người liền lý thú gửi cho tôi nguồn thông tin, lại rất mực khó tin: Sư trụ trì chùa Long Yên tâm bất yên, tra tấn đánh đập trẻ mồ côi (chú tiểu) mà sư nhận nuôi từ 2015. Con ai đem bỏ chùa này, những khi buồn chán đem mày uýnh chơi. Cháu ấy dại khờ vạch áo cho chúng xem lưng, chao ôi bầm dập đường ngang nét dọc rách tợ một bức hoạ đồ đang thi công đào xới đặt móng nghìn tỷ đồng. Tấm lưng chưa hề lấm bụi trần ấy có là biểu tượng một đặc khu cho kẻ lạ tha hồ dẫm nát? Đứa ăn bát vàng mà ngồi trong bóng mát? Đừng vị tình, xin cứ mạnh tay chà xát. Chú tiểu kia vô tình mà sớm đắc đạo: Ta không vào địa ngục thì ai vào? Mong chú sớm giác ngộ ngoái đầu trông lui sư trụ trì buông lời vĩnh quyết: Á đù, tui đi chân đất khoác áo lam ôm bình bát dọ dẫm bước ra khỏi giang sơn đầy chật những hương hoa quả Phật. Tui nói thật, nếu ông chẳng phải quốc doanh thì cũng làm hoanh kiểu sư hổ mang vậy. Từ nay tui lại lang thang, cậy nhờ cõi ta bà, tang bồng một công án mười năm trồng cây trăm năm trồng người.

Đừng có cười khi nghe luật vừa ban hành, nhà nước ta vốn chân thành: “Cấm hành hạ đánh đập Trâu Heo Bò ngay trước mặt đồng chủng loại của chúng”. Thiếu đường lấy thúng mà úp voi! Hãy thử ngẫm coi, thú vật là thế huống gì (lời Bác) “con người vốn quý nhất”. Mẹ nó chứ, chịu khó bắt nóng nó vào kho rồi ta đánh nguội nó cũng chưa muộn. Nhỡ có bề gì rách việc thì ta nhất trí bảo rằng nó tự té. He he he, thế nhé, việc gì ta lại né khi ngoài kia toàn cả bọn lé.

Một cầu thủ khi mải mê tranh bóng bị va chạm gây chấn thương ở đầu. Bác sĩ tận tình khám nghiệm và đưa ra phán quyết: Dính 65% thương tật, một mắt cậu từ nay phải chịu lé đi. Nghe thế “vua làm bàn” khóc thét lên: Con bà nó, có lý nào từ nay ta phải giã từ sân cỏ! Bác sĩ vỗ vai U-21: Đừng bi quan thế, không làm tiền đạo thì cậu cũng có thể làm trọng tài mà.

Việt Nam vô địch. Cả nước oà khóc theo giấc mơ vừa thành tựu. Con gái lột bỏ áo quần, trần như nhộng đi ngoài đường chia sẻ niềm vui đại thắng không ngán tội danh công xúc tu sĩ vì khi ẻm post hình lên phây-bút có hơn 500 cái like chẳng kiệm lời khen thể hình bốc lửa. Bao nhiêu dụng cụ, đồ gia dụng nồi niểu son chảo được trưng dụng cốt gây tiếng động đinh tai nhức óc hoà theo hàng triệu người đang rần rần “đi bão”. Bão lụt mà thiên nhiên vừa tác hại thì nhằm nhò gì, sự nguy hại nó vừa tàn phá khắp nơi không đủ lực dìm chết một cơn say, tưởng bất tận, có chết cũng hả dạ, rửa mặt một lần này thôi. Công trạng của huấn luyện viên Park Hang Seo người Hàn quốc không nhỏ, ông được cổ động viên cho soán ngôi bác Hồ, vào nằm trong ca từ: Như có Park Hang Seo trong ngày vui đại thắng…

Khi “cơn bão” tạm lắng xuống, một bộ phận không nhỏ đâm tức cảnh sinh tình thốt lời nghe rất “tâm tư”: Rồi ngày mai qua cơn mê chúng ta lại phải tiếp tục chống chọi với cuộc đời thực, đầy áp bức bất công luôn ngang trái. Trong các lãnh vực khác, ngoài bộ môn bóng đá, nước nhà đang thực sự cần những ông Park Hang Seo nhằm dẫn dắt chúng ta bước ra khỏi chuỗi ngày mãi ảm đạm này! Thua vẫn hoàn thua. Khiếu kiện vẫn nằm mốc, đơn trương chưa ai giải quyết, chẳng nghe ra một tiếng còi cảnh tỉnh, thổi về tình huống mà lãnh đạo ưa lấn đất việt vị.

Giờ này tôi mới hiểu ra vì sao mất công làm thơ gửi cho em đọc lại bị mắng ngược rằng “thơ kiểu gì kỳ khôi vậy, chỉ chực hành hạ em thôi, cho em nhờ tí”. Tôi đành lí nhí: Anh thật vô ý. Anh hứa sẽ tự sửa mình, thôi làm căng thẳng tình hình, có chuyện gì vui anh xin cố rình, hòng mần ra vần điệu êm ái cho bà nội an hưởng tuổi già thêm thư thái. Anh quá thật thà, nó rõ là một cái tội, nhưng mà… Thì cứ kể chuyện vô hại như hoa nở trong vườn, trăng sáng ngoài biên ải, mây vương chân đèo hoặc ngày xưa mình là bồ tèo. Anh chơi lục bát ngó cũng mát mái chèo, cứ chọc chúng giận thì e phải cực thân lội suối trèo đèo. Anh có nuôi mèo thì đừng đánh nó trước mặt chó, nhớ chưa, cái mặt cứ nhăn nhó. Tin em đi sẽ có lắm người đọc, tha hồ ngồi không mà học, vọc chữ chớ đừng cầm que tìm bánh xe mà thọc.

Hồi nào ấm người nhác chơi cảm lạnh, kêu em sang cầm theo chai dầu Nhị, em vén tay cầm cái 25 xu cạo gió tì tì ắt bệnh tình sẽ thôi chướng lì. Có đỏ bầm sau lưng thì đừng đăng hình lên phây oán trách thế lực thù địch ma nữ quyết phanh thây. Ai đem anh bỏ giường này, trời ơi ngó xuống mặt mày xấu trai. Cười gì miệng tới mang tai, để cho con sáo một hai ngóc đầu. Trời, mới xức mà hết cả chai dầu. Thế mới nói đoạn trường ai có qua cầu…

Hồ Đình Nghiêm

Giấy

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 01/04/2019 

Post by Sơn râu 6 Feb 2024

Trước hết, xin thuật lại mẩu chuyện cười liên quan tới giấy:

Người vợ luôn ca ngợi, hết lời tán dương tới sự tiện ích đa năng do máy điện toán mang lại. Một hôm bị Tào Tháo rượt liền vào ngồi trong phòng vệ sinh, nửa giờ sau bực mình nói vọng ra: Anh đâu rồi, giấy hết rồi nè. Người chồng mau lẹ đưa vào qua khe cửa cái ipad màn hình hiện sáng một cuộn giấy ultra soft.

Tiếu lâm thôi mà, hậu ý của đứa kể chuyện ấy muốn nhắn gửi thì ai trong chúng ta cũng ngộ ra. Giấy có quan trọng không? Tôi có cô bạn gái, tận giờ nầy vẫn giữ khư khư, một mực chẳng chịu “thích nghi với thời đại”, muốn đón đọc những lá thư gửi qua đường bưu điện, những trang giấy xanh ẩn mình trong phong bì đã dán tem cò đầy đủ, vẫn tựa cửa ngóng bóng dáng người phát thư đi ngang.
Tôi ở xứ này thét đã bộn bề bao mùa lá rụng, tóc xanh đi theo định luật nhạt phai đổi màu. Tháng năm chung đụng cùng người bản xứ thâu lượm được một nhận xét, rằng mười như chục, các ông tây bà đầm đều nói: Bọn tớ rất khoái dân Á châu nói chung Việt Nam nói riêng ở một điểm, ấy là quý vị thích xài tiền mặt, luôn có sẵn trong túi mang ra thanh toán nhanh lẹ, khoẻ trí thậm chí cho tiền boa hào sảng.

Tiền, giấy bạc, đô-la, đồng cứng, gọi tên chúng còn có một chữ đáng yêu khác: Bổi. Lắm khi tôi gặp hoạn nạn, chị tôi vẫn “viện trợ” uỷ lạo một phong bì với hàng chữ chú thích: Gửi em chút bổi để có mà xoay trở. Tới ngang đây thì buộc phải hùng dũng để nói to: Giấy, bổi, cho dù cắt xén kích thước thật nhỏ (hầu nằm gọn trong ví) nó vẫn mang đủ sự lợi hại, an tâm khi tứ bề thọ địch. Nhật Bản vừa thí nghiệm thành công một loại giấy từng qua sử dụng, chế biến chúng in thành những tờ quảng cáo, để khi bạn xem xong, bạn vò nó vất vào một cái chậu, châm cho nó chút nước, năm bảy ngày sau nó cựa mình thức dậy với một nụ mầm thực vật sẵn lòng nở ra hoa. Khi đó, tự động bạn phải nhớ tới thơ Quách Thoại: “lặng nhìn em kinh ngạc… ta sụp lạy cúi đầu”.

Giờ đây, chúng sinh trên quả đất mỏi mòn này, đa số đều chẳng mấy có cảm tình với “người Trung quốc xấu xí”. Tuy vậy, chúng sinh vẫn còn nhắc nhớ tới kỳ tích của tiền nhân cha ông họ để lại. Chính họ, vào năm 105 dưới triều Hán đã phát minh ra giấy, món nằm trong Tứ đại phát minh: La bàn, thuốc súng, giấy, in ấn; chưa tính tới gấm lụa nổi tiếng. Sách được hình thành theo sau khám phá nọ nhưng phải đợi tới năm 1450, khi ông người Đức mang tên Johannes Gutenberg chế tạo ra máy in, dần dà sách mới đi dần tới sự hoàn thiện. Vượt qua bao đổi thay, tốn không biết bao nhiêu bút mực, sách có mặt ở đời với sự hãnh tiến về giá trị riêng mang. Và, thế kỷ này sách đang “tóc xanh úa màu”, chịu sự ghẻ lạnh thờ ơ khi cực lòng sống thở trong “triều đại” máy móc công nghệ làm chủ, chi phối. Người có máu khôi hài thì đặt tên cho giàn computer là hôn quân Tần Thuỷ Hoàng.

Chị tôi, người ân cần gửi bổi cho tôi như đã nhắc ở trên là người chung tình với sách. Những người con của chị sẵn lòng mua cho mẹ các phương tiện hiện đại, tận tình chỉ dẫn cách sử dụng, nhưng vẫn không lay chuyển ý thích nằm đắp chăn bông thắp ngọn đèn đầu giường, ôm sách vào lòng trước khi tìm tới giấc ngủ. Muốn hồi âm email cho ai, chị đứng đọc nội dung chuyển tải để người con, cháu tôi, gõ tay vào bàn phím. Có tin tức ly kỳ đăng tải trên internet cũng mở lên hối thúc chị “xem qua cho biết”. Thơ văn nằm trên báo mạng có bài nào hay thì cháu tôi sẽ in ra trên giấy cho mẹ đọc.

Chị hay nhắc lại câu mà ngày xưa ba tôi thường nói: “Sách vở là người bạn tốt không bao giờ biết phản bội mình”. Chị cũng thích câu phát biểu của ông tây bà đầm nào đó: “Hoa là linh hồn của khu vườn, sách là linh hồn của căn phòng”. Phòng chị ngập đầy sách, kệ cao đụng trần, nằm trên bàn, đứng đầu giường, ngã trên thảm, cuộn mình bên gối. Từ đống sách nửa ngăn nắp nửa vung vãi của chị, tôi đọc ra câu của nhà hiền triết nào đó: “Đàn bà giống như một cuốn ebook treo trên lưới mà bạn khó bề đọc ra, lĩnh hội cho thông suốt”.

Một bữa, nhà chị đón bốn người khách phương xa vui chân ghé thăm. Trong tiệc trà cà phê bánh ngọt hàn huyên sôi nổi có ông đọc lên hai câu thơ… kể lại một điển tích… Dù cực lòng, chị tôi buộc phải cắt ngang, dóng tiếng cảnh tỉnh: Anh nói sai, tác giả câu đó phải là ông… Chị bỏ vào phòng, lát sau mang ra cuốn sách… Người khách thay vì đỏ mặt nghẹn lời, ông ta đã thốt nên: Cảm ơn chị rất nhiều khi vừa sửa sai giúp tôi, nói có sách mách có chứng và quan trọng hơn, đầu óc chị quả rất nhạy bén.

Tôi dấu ý nghĩ là chị tôi mang tên Hồ Thị Quý Sách, có bà con xa gần với ông nhà văn Trần Hoài Thư định cư ở New Jersey. Từ ngàn xưa cho đến ngày nay sách vở đã ghi nhận, thuật lại cho chúng ta bao gương hy sinh lẫm liệt của các vị anh hùng, kể cho ta nghe lắm mối tình bất tử, siết bao dường những áng văn thơ diễm tuyệt vẫn chứa giá trị khi cái đẹp đã thăng hoa… Cũng chính những con chữ lưu dấu trên giấy trắng mực đen (lần giở dưới đèn) đã giúp nối kết những tâm hồn đồng điệu dù chân đứng khác biên giới, khác chiến tuyến, khác màu da, khác ngôn ngữ.

Khi nghe tôi đưa thông tin rằng nay mai sẽ có một tờ tạp chí in giấy đàng hoàng mang tên Ngôn Ngữ sẽ chào đời, chị tôi nói chẳng toan tính: Chị sẽ là một đọc giả dài hạn, chị thích báo giấy dường nào thì em đã hiểu. Chị cảm ơn những người vẫn thích đi trên sạn đạo. Sự khó khăn họ gặp phải khiến ta phải cảm động. Chị tin, không riêng chị, sẽ có lắm người “lạc hậu” như chị thích ôm, lật giở từng trang giấy, thứ chứng tích cụ thể về tâm tình dàn trải của các tác giả muốn gửi gấm, chia sẻ tới bạn đọc bốn phương. Chị từng lạc chân vào cửa hiệu Apple, lòng dửng dưng khi nhìn ngắm bao phát minh hiện đại; thật trái ngược khi bước qua cánh cửa của nhà sách, lòng nghe xôn xao hẳn, cảm xúc khó diễn tả khi cầm lên những cuốn sách, phút ban sơ chừng như nghe được tiếng thì thầm xao động qua từng trang giấy.

Ngôn Ngữ số ra mắt sẽ nằm đầu tháng 5, tạp chí cứ cách hai tháng lại chào đời, 7, 9, 11. Một năm ra 6 số. Dự tính dày 260 trang do nhà thơ Luân Hoán cùng nhóm bạn văn khởi xướng. Nhóm bạn văn này vốn ở khác địa hình, đã vin vào sự đồng cảm do thơ truyện mang tới mới tựu thành một gắn bó. Hy vọng tạp chí Ngôn Ngữ sẽ mở rộng được cánh cửa, đón nhận thêm các sáng tác ưng ý từ những ngòi viết thích nhìn thấy chữ nghĩa mình nằm chen vai thích cánh trong tờ báo thuần về văn chương giới hạn 260 trang giấy.

Nhận bài qua hai địa chỉ điện thư:

Nhà thơ Luân Hoán: lebao_hoang@yahoo.com
Nhà văn Song Thao: tatrungson@hotmail.com

Liên lạc về trị sự với nhà thơ Lê Hân: han.le3359@gmail.com

Địa chỉ:
Lê Hân
375 Destino cirle
San Jose CA 95133
USA

Giấy có quan trọng không? Đó là câu hỏi rộng, quá ôm đồm. Thu gọn lại, liệu báo giấy có trường thọ chăng, giữa cuộc lữ máy móc này? Sự trả lời nằm vào ở sở thích của từng cá nhân. Ngôn Ngữ là một tiếng nói, Ngôn Ngữ cũng là một sân chơi, mượn thơ văn góp thành tiếng nói chung. Và tiếng nói ấy đang chất đầy lạc quan, niềm kỳ vọng về một thông lộ, những gì khả dĩ gạt bỏ được mọi chướng ngại.

Cho tôi đùa nghịch chút xíu: Máy móc ích gì cho buổi ấy! Giấy (bổi) vẫn còn đó giá trị riêng mang.

Hồ Đình Nghiêm

Bất tận cuộc đời hung hãn đó

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 23/10/2018 

Post by Sơn râu 6 Feb 2024

Nhạc dạo ban đầu nhịp điệu dìu dặt, chậm rãi mang danh hiệu Trần Tế Xương khởi xướng:

“lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
đứa thì mua tước, đứa mua quan
phen này ông quyết đi buôn lọng
vừa bán vừa la cũng đắt hàng”.

Ánh sáng vẫn nhá nhem, khuất sau cánh gà vọng tiếng ai hò, gửi ra sân khấu:

“Bán đi những thứ dãi dầu mua về những thứ rặt mầu nhà quê”.
Một bóng đèn đỏ chợt thắp cùng lần với giọng nữ cất tiếng, âm vực Hồ Xuân Hương, pha chút giễu cợt:

“Năm ba thằng ngọng đứng xem chuông
nó bảo nhau rằng ấy ái uông”.

Có cô tự nhận con cháu bà, ngứa cổ: Qua truông nhà hồ ắt gặp vở opera đầy chim muông!

Sân khấu sáng thêm nhờ tia màu xanh quét vội, xanh của thủ phận như “Cách Ở Đời” mà Nguyễn Công Trứ từng cắn răng:

“Nghe như chọc ruột, tai làm điếc
Giận đã căm gan, miệng mỉm cười”.

Trên cao, từ bốn góc, những ngọn đèn cùng thắp, chao đảo chiếu xuống, trôi mơ hồ tiếng ai vừa đọc hai câu của Bùi Giáng:

“Hãy mang tôi tới giậu rào
Cho tôi ngó vịt thì thào với chim”.

Có bóng người thất thểu lê chân ra sân khấu, micro chẳng cầm tay nên nghe như lời thì thầm, cho tôi được đọc bài Giã từ thành phố HCM của Nguyễn Đức Sơn:

“Mai tôi về núi em ơi!
Quẩn quanh thành phố ma chơi quỷ đùa
Thời công nghiệp, dạo sân chùa
Tên siêu đảng tử cỡi rùa trong mơ
Ba năm ví bỏ làm thơ
Ba ngàn năm nữa… ai rờ tan toang
Bên này đèn điện sáng choang
Bên kia vách mộ nắng loang tắt rồi”.

Một đứa bé gái xuất hiện đứng kề, ánh đèn tập trung chiếu vào hình nhân gầy yếu, đọng một đốm sáng, lạc loài. Đứa bé lên tiếng, giọng phân trần:

“Ông nội em sống tới tuổi 99 thì chết. Làng xóm đều bảo, cha nội này sống dai thật, còm cỏi tong teo gầy rạc là thế mà vẫn trường kỳ an phận với đời. Bà nội em kêu, tiếc gì mà chả hổng làm thêm 365 ngày nữa, hưởng thọ 100 tuổi có phải bảnh hơn không! Mộ ông nội em có người dựng đặt tấm bia: Đặc Khu, cấm người Việt lu bu bước vô”.

Đèn mờ dần khi đứa bé rút lui. Người đàn ông đứng cạnh nó nhìn theo, sửa giọng Bùi Giáng:

“Sông ơi em bỏ sa mù
Đi thiêm thiếp cõi quân thù gọi nhau”.

Xây mặt lại phía những hàng ghế trống bên dưới:

“Đánh cho Mỹ cút Nguỵ nhào
Đánh cho chết mẹ đồng bào miền Nam”.

Trong vũng tối thẳm chiếm ngự không gian mênh mông ngoài sân khấu nổi lên tiếng trầm đục, giọng đọc mà tựa như đang hát bè: Đó có phải là văn chương cách mạng như Nguyễn Đức Sơn từng ca cẩm:

“Văn chương
cách mạng
lựu đạn
cầm tay
nện ngay
chủ nghĩa
súng tỉa
từng thằng
nhào lăn
trên giấy”.

Người đứng trên sân khấu nói vọng xuống: E cũng nên tin là vậy, xin được bổ sung thêm:

“Anh đi cách mạng bao năm
Từ rừng đến phố dao găm chưa xài
Vẫn chưa dứt điểm sòng bài
Khiến thân ê ẩm khuya dài đau sao
Cứ yêu tha thiết đồng bào
Tuy nhiên hễ thấy máu trào thì ngưng”.

Một tràng ho kéo dài, ho tựa ho lao, may thay chưa nhìn ra máu trào. Phông màn phía sau chuyển cảnh, lại đọc tiếp cho hợp với thứ sắc màu minh hoạ nhá nhem:

“Xe ba gác đã đến rồi
mau mau bàn ghế chảo nồi cất lên
vợ chồng được mấy tấm phên
những đêm hạnh phúc nhà bên khó dòm
giờ này còn cãi om sòm
nhựa nhôm cũng món tiền còm mang theo
đừng quên cái khoản cứt heo
gửi về quê giúp ruộng nghèo đói phân”.

Hí viện bỗng dưng bị ngắt điện, tối như hũ nút. Cửa bật mở, đột ngột mang luồng sáng gắt gao ngoài cảnh đời thực ùa vô, kèm theo bụi bặm, kèm theo hai “chú” bộ dạng có vẻ bà con với “bác”. Hai chú công tác ở Bộ ở Cục gì đó, mặt mày không thể gọi là cục vắt thành hòn, học vị chừng tiến sĩ là chí ít. Một chú la: Phàm đã là đại trượng phu thì chớ nên làm việc mờ ám. Một chú khác tiếp lời: Bởi không ưa mờ ám nên bọn tớ bèn cắt cầu giao cho bỏ ghét, điện nước không đầy đủ đố mầy làm nên. Khai mau, đang dàn dựng kịch bản gì thế? Ơn Đền Oán Trả hay Hận Đời Đen Bạc? Hôm kia đã dẹp yên tụ điểm âm mưu diễn tuồng Đồi Thông Hai Mộ ở phường Bến Nghé rồi. Cứ được tài mượn đầu heo nấu cháo mãi, nói nặng nói nhẹ nhọc công răn đe mãi mà chả nghe bao giờ.

Tan đàn sẩy nghé. Thượng bất chính thì hạ tất loạn. Bầu đoàn thê tử đành dắt díu nhau đi tìm ánh sáng cuối đường hầm. Đầy tớ nhân dân bao giờ cũng có thế giá, người còn chút trí khôn chẳng ai dại “tự té” hoặc thúc thủ đón nhận trường hợp “vô tình có hơi mạnh tay dẫn đến tử vong”.

“Đời sau người có thương ta
Từ lâu xuống lỗ làm ma mất rồi
Đường xa xin chớ bồi hồi
Mả hoang nhảy đại lên ngồi đi cha”.

Cũng may nhà thơ Nguyễn Đức Sơn còn sống để góp cho đời một tiếng “càm ràm”. Và đời bất hạnh mạt pháp này ít ai còn tưởng tới bài kệ Mettika:

“Dẫu ta có đau đớn
Sức yếu, tuổi trẻ qua
Dựa trên gậy, ta đi
Ta leo lên đỉnh núi
Với đại y vắt ngang
Với bình bát lộn ngược
Ta ngồi trên tảng đá
Tâm ta được giải thoát
Ba minh chứng đạt được
Thành tựu lời Phật dạy”.

Tagore có hấp thụ lời Phật dạy để sớm khai nhãn?

“Cái chết không dập tắt ánh sáng, nó chỉ là việc tắt đèn đi vì bình minh đã tới”. Phương Đông ẩn mật là thế, sao phương Tây mãi rềnh rang tiếng chì tiếng bấc tựa như cảm nhận của thi nhân Charles Simic:

“Lịch sử là một cuốn sách dạy nấu ăn.
Bạo chúa làm đầu bếp.
Triết gia viết thực đơn.
Tu sĩ làm hầu bàn.
Quân nhân đứng canh cửa.
Tiếng hát mãi vọng ra là âm thanh các
nhà thơ đang rửa chén.”

Diễn viên nghiệp dư nối đuôi nhau men theo bờ lề sát một chốn bán bia ôm đang chộn rộn, gặp Nguyễn Thanh Văn giải thích “sự cố”:

“trong quán rượu hai nhà thơ cãi lộn
rớt ví tiền và vãi cả thơ
có cô nàng say thơ như điếu đổ
lật đật nhặt tiền dẫm cả lên thơ”.

Kế bên là nhà hàng đặc sản bày bàn ghế trên sân thượng hình như năm 1992 Nguyễn Đức Sơn từng lò dò bước chân lên:

“Cố nhân này cố nhân ơi
Sợ gì bội thực cuối đời đấu tranh
Yêu cầu nhậu tiếp đi anh
Mặc tôi ngồi ngó trời xanh ngập ngừng
Ngày xưa từ chối vô bưng
Tôi đi lỡ thẳng cái lưng quen rồi
Thơ văn không kỵ chảo nồi
Cám ơn gặp gỡ bồi hồi bắt tay
May mà còn có chiều nay
Bánh mì tôi gặm, mây bay anh nhìn”.

Bùi Giáng không nhìn mây bay, đi ngoài đường gầm đầu đếm bước:

“Tháng năm dòng nước trôi xa
Người qua, người sẽ đi qua những người
Tôi qua không một hẹn lời
Hẹn hò chi bấy? Bước dời về đâu?

Tặng đời đoá đoá hoa sầu
Nhớ nhau từ đoá mộng đầu rã đôi
Giọt nước theo giọt mưa rơi
Mỗi mùa mưa đến tôi ngồi chắp tay”.

Dễ chịu. Rất mực nhẹ nhàng của người luôn đối diện, vật vã với những mộng ước khó bề thành tựu, trong câm nín.

“Hỏi rằng: Người ở quê đâu
Thưa rằng: Tôi ở rất lâu quê nhà”.

Quê nhà có Trần Vàng Sao một đời theo cách mạng đã có hôm dụi mắt ra đường thiệt vàng không sợ lửa:

“đêm bây mò
ngày bây rình
dưới giường
trên bàn thờ
trong xó bếp
bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra
bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
lúc bây thật lúc bây giả
khi bây ẩn khi bây hiện
lúc người lúc ma
….
tau chưởi cho bây chết hết
chết sạch hết
không còn một con
không còn một thằng
không còn một mống
chết tiệt hết
hết đời bây”.

Anh biểu chúng chết, chết sao đặng. Chết được chúng chết đã lắm khi. Đó là nói theo khẩu khí của Nguyễn Công Trứ hoặc Trần Tế Xương, toàn những vị sanh bất phùng thời.

Đường dẫn về Thủ Thiêm dân oan đang đổ ra lộ, mặt méo mó. Họ than, họ mất đất đai trên chính đất nước mình, đau hơn bị giặc Tàu đô hộ. Hai mươi năm qua biết bao lời hứa hẹn, Quyết Tâm ơi! Nói chi lời muối xát vào lòng dân. Đừng đau xót, ngừng xin lỗi, day dứt gì khi người Thủ Thiêm ăn bụi ngủ bờ. Đã khô giọng gào đã mất hết điền sản, còn chiếc dép này đành giải phóng buộc ném đi (trúng ai ráng chịu). Nguyễn Thiện Nhân bí thư chừng bất thiện, thiện tâm đâu? Nước mắt dân tuôn cùng máu đổ oan trào, chưa khô.

Anh em dừng lại mường tượng ra con số 1500 tỷ lớn bao dường. Suốt đoạn đường nghe bà con tấu bản giao hưởng hoành tráng hơn khúc đoạn trường. Nguyễn Du có sống dậy cũng bất lực trước thời cuộc, văn hoa chải chuốt ngậm ngùi cung đàn lạc điệu, nhân nghĩa lễ trí tín không ăn thua được với cường hào ác bá. Bóng ai như Tô Thuỳ Yên đổ xuống, chợt về ngang:

“đau khổ riêng gì nơi gió cát
hè nhà bụi chuối thức thâu đêm…
đất trời ủ lứa chiêm bao khác
dâu biển làm mưa nắng lạ đi
bụi rác mỗi thời một dạng loại…
lịch sử qua đường đã cải trang”.

Kịch sĩ cải trang, đào đang trét phấn, thằng hề thì muôn đời bôi mặt; mà lãnh đạo, nhân thân họ khó lường, có thể viết thành ba kịch bản khác nhau. Anh Ba, anh Năm, chú Sáu. Mỗi anh mỗi chú có riêng một chân dung khó đụng hàng, tựu trung là dạng loại bụi rác thời nay thật khó ngửi, gây ô nhiễm không cứ là mặt trận Thủ Thiêm.

Hồ Đình Nghiêm

Kỷ Vật Cho Em

Thơ Linh Phương

Post by Sơn râu 6 Feb 2024

Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời mai mốt anh về
Không bằng chiến trận Pleime
Hay Đức Cơ – Đồng Xoài – Bình Giả

Anh trở về hàng cây nghiêng ngã
Anh trở về hòm gỗ cài hoa
Anh trở về bằng chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng

Mai trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Mai trở về bờ tóc em xanh
Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt

Mai anh về em sầu thê thiết
Kỷ vật đây viên đạn mầu đồng
Cho em làm kỷ niệm sang sông
Đời con gái một lần dang dở

Mai anh về trên đôi nạng gỗ
Bại tướng về làm gã cụt chân
Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân
Bên người yêu tật nguyền chai đá

Thì thôi hãy nhìn nhau xa lạ
Em nhìn anh – ánh mắt chưa quen
Anh nhìn em – anh sẽ cố quên
Tình nghĩa cũ một lần trăn trối.

Hành quân

Thơ Linh Phương

Post by Sơn râu 6 Feb 2024

Hình minh họa

Dăm thằng đánh trận. Dăm thằng chết
Chỉ sót mình ta cứ sống nhăn
Đù má nhiều khi buồn hết biết
Lo mãi sau này cụt mất chân

Mấy tháng hành quân chưa ngơi nghỉ
Tóc tai dài thượt giống người rừng
Kinh Kha vác súng qua Dịch Thuỷ
Thề chẳng trở về với tay không

Chiến hữu ta toàn dân thứ dữ
Uống rượu say chửi đổng dài dài
Bồ bỏ. Tức mình xâm bốn chữ
Hận kẻ bạc tình trên cánh tay

Chiều qua sém chết vì viên đạn
Du kích bên sông bắn tỉa hù
Cũng may gặp phải thằng cà chớn
Thấy mặt ta ngầu bắn đéo vô

Nhớ hôm bắt được em Việt Cộng
Xinh đẹp như con gái Sài Gòn
Ta nổi máu giang hồ hảo hán
Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân

Mai mốt này đây nơi trận tuyến
Gặp ta em bắn chớ ngại ngùng
Cuộc chiến đâu dành cho nhân nghĩa
Đời nào đạo lý với bao dung

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 6 Feb 2024

Hình minh họa

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Bài 4

Mạc Thúy Vân “Nửa Mỹ nửa ta”

Tôi sinh năm 1967 ở Saigon. Cha tôi là người Mỹ. Em gái tôi mười lăm tuổi, khác cha. Mẹ tôi không bao giờ kết hôn với cha tôi cả. Mẹ tôi giúp ông bà ngoại tôi mở một tiệm ăn ở Saigon. Còn ông bà ngoại tôi mở một tiệm ăn nhỏ dưới miệt vườn. Cha tôi rời Việt Nam năm 1973 rồi ông trở lại yêu cầu mẹ tôi sang Mỹ với ông, nhưng mẹ tôi không chịu. Năm 1975 cha tôi viết thư một lần nữa yêu cầu mẹ tôi sang Mỹ. Bà vẫn từ chối, do đó cha tôi lại viết thư sang bảo như thế ông sẽ lập gia đình với người khác. Hiện nay ông đã có gia đình khác.

Tôi sống ở Saigon cho đến 1975 thì dọn xuống miệt vườn. Tôi ở tại một làng giữa Mỹ Tho, Bến Tre, đi học ở đấy. Nhiều người hay nhìn tôi vì trông tôi khác lạ. Tôi lai Mỹ. Người ta không có cảm tình chuyện đó.

Tôi sống ở đấy đến năm 1979 thì rời Việt Nam. Lúc bấy giờ cô chú tôi với hai người con trai muốn ra khỏi nước, chúng tôi đến thăm trước khi gia đình cô chú tôi đi. Hôm ấy ông bà ngoại tôi khuyên là nên cho tôi đi, vì ở Mỹ tôi sẽ có tương lai hơn. Vì thế mẹ tôi quyết định gửi tôi đi.

Chúng tôi vượt biên bằng một chuyến tàu lớn tại Mỹ Tho, lênh đênh trên tàu tám ngày đêm. Đến được Mã Lai thì họ bắn, không cho vào. Vài người trên tàu bị thương, vì thế chủ tàu năn nỉ là chỉ cần xin nước uống thôi. Họ cho chúng tôi nước, và chúng tôi đến được Nam Dương.

Tôi đổ bệnh suốt chuyến đi. Lúc ấy tôi quá nhỏ để ý thức những việc đang xảy ra. Ở Việt Nam tôi được sung sướng nhưng tôi không nghĩ rằng tôi sẽ có một tương lai khả quan. Cuối tuần nào ở trường chúng tôi cũng phải đi lao động. Tôi chẳng học được bao nhiêu. Một vài số điểm trong lớp là tùy thuộc vào việc có lao động tích cực hay không.

Ở Nam Dương tôi đã đổi chỗ đến ba lần. Chỗ đầu tiên là một vùng hoang địa, không bóng người nào khác ngoài chúng tôi. Chúng tôi phải dùng thuyền đi lấy nước. Vài người giàu có đem theo vàng lúc rời Việt Nam, họ dùng tiền để mua đồ ăn quanh vùng trong lúc ở Nam Dương. Còn chúng tôi phải thuê thuyền sang đảo khác mua đồ ăn.

Rồi chúng tôi lại đến một trại khác, nơi đây có người Mỹ giúp. Họ chuyển chúng tôi đến đây. Chúng tôi ở trong trại thứ hai này một năm, nhiều người đã bỏ mạng tại đây. Gần như mỗi ngày đều có người chết vì nước bẩn. Muỗi mòng cũng làm người ta phát bệnh.

Tôi có hai nguời anh chị họ ở Mỹ. Tôi viết thư nhờ, nên họ đã bảo trợ cho chúng tôi sang Mỹ. Tôi không có ai khác bảo trợ cả. Tôi đến San Francisco năm 1981. Lúc ấy không nói được tiếng Anh. Tôi vui mừng, nhưng rất sợ hãi vì chung quanh toàn người da trắng. Tôi không biết rồi đây sẽ làm gì ở Mỹ. Tôi sống với những người bà con trong một căn nhà. Tôi bắt đầu học lớp Bảy, nhưng vì không nói được tiếng Anh nên phải theo học chương trình E.S.L, chương trình Anh ngữ dành cho người không nói tiếng Anh. Trong năm ấy tôi gắng học, bắt đầu có tiến bộ. Sau một năm, tôi có thể nói chuyện kha khá bằng tiếng Anh.

Hình minh họa

Tôi học Trung học Đệ Nhất Cấp, rồi vào trường Trung học Independence ở San Jose. Tại đây tôi được điểm trung bình 3.3. Hiện nay tôi đang theo học kế toán Thương Mại tại Đại học San Jose. Tôi muốn vào ngành Thương mại ở Hoa Kỳ. Hiện tôi làm việc tại một cửa tiệm để lấy tiền trả học phí cho xong chương trình đại học.

Tôi là một người Việt Nam.

Tôi là người Việt, bởi vì tôi đã lớn lên như một người Việt. Về phương diện văn hoá, văn hóa Việt Nam là văn hoá của tôi. Khi mới gặp nhau, người ta thường hỏi có phải tôi “nửa Mỹ nửa ta” không! Họ biết tôi lai.

Sẽ có ngày tôi lấy chồng, có hai đứa con. Ở Mỹ này mà có nhiều con hơn số đó thì tốn kém hết sức.

Khi còn nhỏ đã có lần tôi mong mỏi được gặp cha tôi. Nhưng nay tôi không còn tò mò gì về cha tôi nữa. Tôi biết ông đã có gia đình khác.

Nếu tôi đến gặp ông là chỉ đem phiền phức đến cho ông. Tốt hơn hết đừng gặp. Vì thế tôi nghĩ tôi sẽ mãi mãi không bao giờ tìm cha tôi cả.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 6 Feb 2024

Hình minh họa

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Bài 3

Nguyễn Mộng Thảo
“Lúc nào tôi cũng yêu mến Abraham Lincoln”

Rời Saigon, chúng tôi qua Guam, ở đấy vài tuần rồi sang Fort Chaffee. Cha tôi rời đây trước, có một nhà thờ bên Connecticut nhận bảo trợ cho chúng tôi. Cha tôi đi trước, kiếm được việc làm, những người bảo trợ cũng kiếm được cho chúng tôi một chỗ ở.

Các thày giáo ở Connecticut cứ lầm lẫn mãi về việc gọi tôi bằng tên chị tôi, gọi chị tôi bằng tên tôi. Họ sắp nhầm cả lớp cho tôi. Chúng tôi ở đây một năm. Trong trường, học trò đứa nào cũng tranh nhau làm bạn với chúng tôi. Chúng cãi cọ để được ngồi cùng bàn chúng tôi. Bọn nó thường đem cho tôi quà, các thứ đồ trang điểm, đủ thứ. Còn con bé tên là Tiffany thường hay vẽ hình mấy con ngựa tặng tôi.

Tôi có đến hai ngày sinh nhật, vì chúng tôi dùng cả âm lịch, chuyện ấy làm bọn trẻ Mỹ rối rắm chả hiểu gì. Tôi báo cho bọn trẻ trong trường biết cả hai ngày sinh nhật của tôi. Tôi thấy thực khó giảng cho chúng hiểu chuyện ấy.

Trong lớp, tôi luôn luôn dẫn đầu môn toán, thày giáo bắt tôi phải tiến chậm lại. Lúc ấy tôi không nói được tiếng Anh, nhưng có nói được tiếng Pháp, làm bọn trẻ trong lớp thán phục. Tiếng Anh hoàn toàn mù mịt. Nói chung, bấy giờ tôi phải dùng thủ hiệu, chỉ trỏ để thông cảm nhau.

Cô tôi đã dọn sang tiểu bang Washington. Tôi còn nhớ một buổi sáng kia cô chợt điện thoại cho chúng tôi, bảo con gái cô nghịch súng trong nhà, đã nổ cò trúng đạn. Bấy giờ, cô nói, mọi người đang ở trên lầu, bọn trẻ chơi đùa dưới nhà. Mấy con bé tìm được một khẩu súng vác ra chơi. Súng cướp cò, đạn bắn ngay đầu. Vào nhà thương nó hãy còn kêu khóc: “Má ơi, má ơi”, nhưng em họ tôi chết trong nhà thương. Cô tôi điện thoại báo cho biết, và tôi nhớ là tôi đã kể cho cả lớp hay. Nhưng tôi phải dùng dấu tay, dùng cả tiếng Pháp lẫn tiếng Việt để kể câu chuyện cho bọn bạn học. Và tôi đã khóc.

Tôi rất gần gũi với em họ tôi. Thực kỳ lạ là lúc điện thoại reo vào ba giờ sáng, khi mẹ tôi bốc máy trả lời thì tôi tỉnh dậy đi vào phòng mẹ.

Sau khi cô tôi điện thoại xong, mẹ tôi và tôi bước ra ngoài.

Đêm ấy trời có tuyết. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi thấy tuyết. Ngoài trời đêm rất sáng, vạn vật phủ mầu trắng trong đêm khuya. Lúc ấy trước lễ Giáng Sinh. Cái chết của em họ tôi đã làm tôi xúc động sâu xa. Tôi nhớ đêm hôm ấy tôi đã khóc. Mẹ tôi cũng vậy. Vài tháng sau, vào mùa hè, chúng tôi dọn sang tiểu bang Washington. Từ Connecticut, chúng tôi lái một chiếc xe cũ kỹ mà cha tôi đã mua với giá năm chục Mỹ kim để đi băng nước Mỹ đến tiểu bang Washington. Cha tôi là thợ máy giỏi, ông đã bảo trì chiếc xe chạy khá tốt. Chúng tôi đi băng qua nước Mỹ với chiếc xe Oldsmobile này, ba người ngồi hàng ghế trước, tất cả số còn lại ngồi sau.

Hình minh họa

Trong chuyến đi, chúng tôi đã thấy biết bao công viên và những đài kỷ niệm danh tiếng của nước Mỹ. Chúng tôi đã được nhìn thấy núi Rushmore với tượng Abraham Lincoln trên ấy. Lúc nào tôi cũng yêu mến Abraham Lincoln.

Phải mất cả tháng trường, chúng tôi mới đi băng hết nước Mỹ, chúng tôi cũng học hỏi được nhiều. Trong chuyến đi này, chúng tôi ghé lại nhà bạn quen, ngụ tại các nhà trọ hoặc những trạm nghỉ chân dọc theo xa lộ. Chuyến đi này cũng là một cuộc phiêu lưu lớn, chúng tôi đều thích thú.

Sau đó chúng tôi đến viếng mộ em họ tôi ở tiểu bang Washington. Tôi còn nhớ cảm giác của tôi là tức giận bực bội. Tại sao để súng trong nhà làm gì? Tại sao em tôi lại chết tức tưởi ở đất Mỹ sau tất cả những gì chúng tôi phải trải qua tại Việt Nam? Nhưng tôi cũng không để cho mình vương vấn mãi chuyện ấy, bởi lẽ, nếu thế thì lòng tôi cũng tan nát. Tôi biết, nên tôi không dám luẩn quẩn mãi với cái chết của em họ tôi.

Trong nghĩa địa có trồng một hàng cây với cành lá phủ đầy những hạt nhỏ. Tôi nhặt một hạt cây rồi giữ lấy. Tôi không biết tại sao tôi lại giữ cái hạt ấy.

Chúng tôi dọn đi Seattle. Một người dì tôi đã kết hôn với người Mỹ, một người Mỹ da trắng. Cha tôi cho rằng việc ấy có thể gây ra ảnh hưởng xấu. Cha tôi làm việc với Mỹ, nói tiếng Mỹ, sinh hoạt với họ cũng suông sẻ, nhưng cha tôi lại không muốn ai trong gia đình tôi lấy Mỹ cả. Tôi nghĩ chuyện ấy thực kỳ cục.

Ở Seattle có nhiều người Á Châu hơn ở Connecticut. Lúc ấy tôi vẫn còn phải học E.S.L. (1) Nhưng rồi tôi bắt đầu học khá hơn. Tôi vẫn cứ phải đóng vai học trò đầu lớp, từ khi ở Việt Nam, tôi vẫn đã như thế.

Tôi ở tiểu bang Washington từ khi học lớp Ba cho đến lớp Bảy. Sau đó vì cha tôi có nhiều bạn ở dưới vùng Cali này, và vì ông đã tìm được việc ở đây, chúng tôi bèn dọn cả xuống. Nói thế này thì tôi cảm thấy không tốt, nhưng ở đây đông người Việt quá. Tôi cảm thấy có lẽ không nên nói như thế, nhưng tôi tự hỏi họ là ai. Họ là những kẻ phản bội hay họ là ai? Đông người Việt Nam quá. (2)

Tôi mong có dịp trở về thăm Việt Nam. Tôi có vấn đề dằng co về nhân thân. Đôi khi, tôi quên bẵng mình là người Việt Nam. Đến khi soi gương, mới nghĩ: “Ô! Ô! Ngươi là người Việt mà, Thảo ơi. Đừng quên thế nhé”. Chuyện ấy thực là gay. Vào những kỳ Thế Vận Hội hoặc vào những dịp mùng 4 tháng Bẩy (3), tôi hoàn toàn cảm thấy mình là người Mỹ. Tôi đâm ra thắc mắc. Nếu Việt Nam có tham dự Thế Vận Hội thì tôi vẫn ủng hộ Hoa Kỳ. Xứ sở này, đất nước này giờ đây chính là xứ sở tôi, đất nước tôi. Tôi nghĩ có lẽ chính vì thế mà tôi không muốn quanh quẩn trong đám người Việt Nam đông đảo nữa. Tôi không nằm mơ thấy Việt Nam. Nhìn hình ảnh Việt Nam, tôi không thể nhớ gì. Tôi có nhớ đôi điều, nhưng ít lắm, không thực rõ các chi tiết. Những anh chị lớn nhớ nhiều hơn.

Tôi vẫn bực bội về việc người ta dán nhãn hiệu liệt tôi vào loại nguời nào. Với Mỹ trắng, tôi chẳng hợp gì, mà với Việt Nam cũng không. Ở Tiểu bang Washington, bạn tôi đều là Mỹ trắng. Khi thông thạo tiếng Anh rồi là tôi ăn khớp vào với các bạn một cách rất tốt đẹp. Nếu người ta nghe chúng tôi nói nhưng không nhìn thấy chúng tôi, người ta đều tưởng chúng tôi là Mỹ trắng. Nhưng người ta vẫn khó chấp nhận rằng bây giờ thực sự chúng tôi chính là người Mỹ. Chị lớn tôi hiện sống ở San Francisco. Chị là một nghệ sĩ. Chị rất có tinh thần sáng tạo. Hiện chị đang viết một quyển sách. Tuy nhiên, tôi phải tránh nói chuyện với chị. Ông hiểu không, chị ấy đang sống chung với người bạn trai của chị. Cha tôi đã từ chị, không nhắc đến tên chị nữa.

Hình minh họa

Đôi khi tôi lâm vào tình trạng ưu uất tinh thần. Chuyện ấy bắt nguồn từ gia đình. Tôi không khá trong việc đương đầu với các áp lực khủng hoảng. Chị tôi đã đặt cha mẹ tôi vào những nỗi khó khăn, tôi bực bội với chuyện ấy. Tôi thường bỏ đi chơi, tôi có nhiều bạn trai hơn là bạn gái. Đủ mọi quốc tịch.

Tôi thích trẻ con, nhưng chỉ muốn có con sau khi đã thành tựu sự nghiệp của tôi. Sau đó mới tính chuyện mình muốn gì.

Tôi đang phải theo học đại học, nhưng tôi tự trả lấy học phí bằng nghề thư ký. Ở nhà, cũng như những đứa con khác trong gia đình, tôi không phải trả tiền thuê nhà hay tiền ăn. Nhưng tôi có trách nhiệm phải coi sóc mấy đứa em trai, em gái.

Tôi luôn luôn mơ ước có một căn nhà bếp thật rộng để nấu ăn. Nhưng tôi cũng luôn luôn e ngại cha tôi không thích những món ăn tôi nấu . Tôi yêu cha tôi bằng tất cả tim tôi. Nhưng tôi ghét cay ghét đắng những quan điểm của ông. Cái ghét này cũng gần ngang với lòng yêu thương ông. Tôi hiểu về phía ông, quá khứ của ông. Nhưng cùng một lúc tôi tin rằng cha tôi cũng cần phải hiểu về phía của tôi và của chị tôi. Phía của chúng tôi, của cuộc đời chúng tôi. Chúng tôi không còn sống ở Việt Nam nữa, nhưng hình như cha tôi không nhận thức được những điều như thế.

Trong nhà, chúng tôi thường không nói năng gì. Tôi là người duy nhất hay nói chuyện trong gia đình. Tôi nói, nhưng cha tôi thì không. Khi ông cáu kỉnh, bẳn gắt, ông kêu tôi đi vào trong buồng. Mỗi khi có vấn đề, hoặc mỗi khi các anh chị em tôi muốn gì, thì cuối cùng chính tôi là nguời phải hỏi cha mẹ tôi và phải lãnh chịu hết mọi lời trách móc.

Gần đây, tôi muốn dọn ra ở riêng. Cha tôi bảo: “ Nếu mày mà lấy Mỹ trắng thì tao từ mày”. Và mẹ tôi lên tiếng: “Đấy, tất cả tụi bay nghe rõ chưa?” Tôi hiểu lý do tại sao cha tôi nói thế, nhưng điều ấy vẫn làm cho tôi thương tổn. Tất nhiên, nếu bọn tôi đứa nào cũng lấy Mỹ thì chúng tôi sẽ mất mát một cái gì.

Tuy nhiên có những chuyện cha tôi chẳng bao giờ hiểu được.

(1) English for second language: Anh văn, sinh ngữ thứ hai.
(2) Nguyên văn đoạn này là “I feel bad for saying it, but there are too many Vietnamese here. I feel like I shouldn’t say it. But I wonder who they are. Are they traitors, or who are they? There are so many of them”.
(3) Lễ Độc Lập Hoa Kỳ.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 6 Feb 2024

Hình minh họa

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Bài 2

Melissa Phạm “Lúc ấy tôi chỉ là đứa bé”

Rời Saigon tháng Tư năm 1975, chúng tôi đi thẳng sang Phi Luật Tân, ở đấy một đêm rồi sang Guam. Chúng tôi chỉ ở Guam vài ngày, rồi đi Fort Chaffee thuộc Tiểu bang Arkansas, và được một nhà thờ bảo trợ về Milwaukee, tiểu bang Wisconsin.

Cha tôi không nói được tiếng Anh, muốn nói gì với Mỹ phải có người thông dịch. Chỉ có chị tôi nói được tiếng Anh đôi chút.

Toàn thể gia đình tôi đến ở chen chúc trên gác thượng một căn nhà phụ của nhà thờ, phải trải nệm lên sàn mà ngủ. Sau đó người ta kiếm được cho chúng tôi một căn nhà ba phòng ngủ, một phòng tắm, nhưng gia đình chúng tôi đông, nên vẫn chật chội.

Trường học ở đây khác lạ, làm tôi rất sợ. Cả bốn anh chị em chúng tôi đều học một truờng. Người ta thuê một thầy giáo Mỹ nói được tiếng Việt để dạy thêm chúng tôi mỗi ngày một giờ sau buổi trưa. Chỉ trừ giờ học này, còn chúng tôi vẫn học chung với các học trò khác. Chúng tôi học Anh ngữ khá mau. Đặc biệt chúng tôi rất giỏi toán vì môn này không đòi hỏi tiếng Anh nhiều.

Chúng tôi sống ở đấy được ba năm. Trong thời gian này tôi đã đổi trường đến ba lần, chúng tôi luôn luôn là những người Việt Nam duy nhất tại đây. Chỉ trong những dịp đặc biệt, người Việt trong vùng mới gặp gỡ được nhau. Chúng tôi đã tìm đến gặp gỡ nhau trong những dịp này.

Ở Chicago có một linh mục Việt Nam thường đến giúp đỡ chúng tôi. Cha tôi tìm được việc làm tại một hãng thợ hàn. Công việc này hơi khó cho cha tôi vì cha tôi chưa hề làm việc ấy bao giờ.

Cô tôi di chuyển đi Los Angeles. Một cô khác đi cùng tàu với chúng tôi đã đến Nebraska, rồi lại chuyển đi San Jose. Cô viết thư cho chúng tôi biết ở đấy khá hơn vì đông người Việt, có thể nương tựa nhau được. Ở Wisconsin cuộc sống chúng tôi khó khăn vì ai cũng phải có việc làm mới nuôi nổi gia đình, bọn trẻ con cũng phải vừa học vừa làm.

Vì vậy tất cả chúng tôi bèn quyết định đi Cali. Nhưng trước khi ra đi, chị lớn tôi lấy chồng, chị sang ở Texas, anh lớn tôi lấy vợ, ở lại Winsconsin. Còn những người khác trong gia đình đều đến Cali.

Khi tới San Jose, tôi học lớp Sáu. Qua năm sau thì vào Trung học Đệ Nhất Cấp. Tại đây khó hội nhập hơn. Sống ở vùng Trung Tây nước Mỹ, người ta khác. Còn ở Cali tôi thấy người ta có nhiều thành kiến hơn. Học cùng với nhau nhiều năm mà học sinh vẫn khó làm bạn và chia ra thành nhiều nhóm.

Đa số học sinh to lớn hơn tôi. Đôi khi chúng trêu chọc, nhái giọng nói, tiếng nói của tôi vì tôi là ngưòi Việt. Có lẽ chuyện ấy không đáng chi, nhưng lúc ít tuổi, trẻ con rất dễ tổn thương. Các anh chị em tôi học ở những trường khác cũng để ý thấy như vậy. Đôi khi những người đi đường cũng hay nói những câu độc ác và nhái giọng nói chúng tôi. Sau đó tôi lên trung học đệ nhất cấp. Các giáo sư đối xử với tôi rất tốt, tôi cũng đạt được nhiều kết quả tốt. Tôi trở thành thủ khoa của lớp.

Hình minh họa

Trong những năm trung học đệ nhất cấp, tôi đã là học sinh đầu lớp. Hiện nay tôi đang theo học đại học, ngành kỹ sư điện toán.

Tôi mong ước một ngày kia sẽ lập gia đình, có hai đứa con. Tôi không muốn có một gia đình như cha mẹ tôi. Ở Mỹ này mà đông con thì tốn kém lắm. Có lẽ tôi sẽ thành hôn vói một người Việt. Tôi thích thế vì có chung một văn hóa vẫn dễ thuận thảo với nhau hơn.

Hiện nay, tôi đang đứng giữa hai thế giới mà không dám chắc mình thuộc bên nào. Vấn đề là sự thông cảm và sự suy nghĩ. Đôi khi tôi thấy mình là kẻ lạ trong đám người Việt, và khi đứng trong đám người Mỹ, tôi cũng vẫn là kẻ lạ.

Tôi không có thể nói tiếng Việt thông thạo nữa. Nhưng vì các kinh nghiệm đã trải qua, tôi cũng không thực sự là người Mỹ. Các bạn tôi cũng cảm thấy như thế. Ngay trong giấc ngủ, tôi cũng đã mơ bằng cả hai thứ ngôn ngữ. Thế có lạ không?

Thỉnh thoảng tôi vẫn mơ về Việt Nam, vẫn nhớ đến các bạn hữu của tôi ở đấy. Tôi nhớ cảm giác trong những dịp đặc biệt: những ngày lễ Tết, những ngọn đèn, những cuộc thăm viếng nhà nhau. Tôi nhớ tất cả những thứ ấy.

Bấy giờ tôi hãy còn nhỏ lắm. Rất nhỏ. Khi ngắm nhìn tấm ảnh lúc tôi còn ở Việt Nam, gần như tôi không nhận ra được chính mình. Khi đến Mỹ, gần như tôi đã đến một thế giới khác, đã bỏ thế giới cũ lại đàng sau. Điều ấy thực khó khăn cho tôi bởi vì lúc ấy tôi chỉ là một đứa bé.

Chúc Tết Xuân Giáp Thìn 2024

Post by Sơn râu 5 Feb 2024

Trước thềm năm mới Sơn râu tôi mến chúc tất cả bạn đọc (khắp mọi nơi) bài vỡ do tôi đưa lên trang mạng Blogspot và Facebook một năm mới nhiều sức khỏe, may mắn, gia đạo an khang, mọi việc tốt lành và thân tâm an lạc.

Xuân Giáp Thìn 2024

Sơn râu

First Day Cover Stamp

Sơn Đông mãi võ

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 4 Feb 2024

Tranh Bảo Huân

Hồi tui còn nhỏ chút éc, học tiểu học, niên khóa nào thầy cô cũng gom học trò lại cho nhân viên Y tế chích ngừa. Tùm lum thứ hè: Ðậu mùa, thương hàn, dịch tả, lao phổi, viêm màng não, sốt rét, bại liệt…

Cô giáo lớp Nhì dạy tui nói: “Mấy em chích ngừa đậu mùa, trồng trái  đi. Bằng không lỡ mắc bịnh, làm mặt rỗ như té thùng đinh đó!”

Té thùng đinh thì đứa nào mà hổng sợ chớ? Tàn phai nhan sắc sao? Vậy là cả bọn sắp hàng, con gái đứng trước, con trai đứng sau. Hai nhân viên y tế dùng cái giống như ngòi viết lá tre chẻ hai quẹt quẹt vô cánh tay mỗi đứa. Mấy đứa con gái kêu: “Ái ái! Má ơi!” Rồi nước mắt nước mũi choàm ngoàm hè. Tui cũng ê càng chớ! Nhưng biết trốn đâu cho thoát đành vén tay áo lên mà chịu trận. Xong, mấy đứa đứng cuối hàng, mặt xanh như tàu lá chuối hỏi tui: “Ðau hông mậy?” “Như kiến cắn vậy” “Hổng đau sao mấy đứa con gái lại khóc bù lu bù loa vậy?” “Ối con gái mít ướt mà!”

Rồi lớn lên, tui mới biết hồi nhỏ bị chích mấy em khóc mếu máo; còn lớn lên bị chích mấy em lại cười! Vì thấy nó bự. đừng sợ! Thấy nó rút ra, đừng sợ! Lúc nó đâm vào đừng sợ! Mà hãy thở dài khoan khoái vì chích ngừa sẽ cứu mạng sống của chúng ta!

o O o

Ðúng vậy! Ông Louis Pasteur (1822 – 1895) người Pháp, nhà Vi sinh vật học, phát minh ra việc chích ngừa chó dại và bịnh than đã cứu sống hàng triệu người trên thế giới.

Mà nhắc tới nhà Bác học Pasteur, tui lại nhớ cái Viện Pasteur ở cuối đường cũng Pasteur, khu Tân Ðịnh, Sài Gòn. Chẳng qua là hồi đó con nít bị chó cắn, mèo quào chảy máu là Tía phải chở con mình vô Viện Pasteur để chích ngừa.  Chích tới 13 lần mới đủ liều. Ngày một mũi vô quanh rún, đau thấy bà tiên tổ.

Sỡ dĩ tui có cái kinh nghiệm đau thấy bà tiên tổ nầy là vì năm ấy tui mới vừa 15 tuổi, thuở mới dậy thì. Nhà trong ngõ, nói theo tiếng Bắc, còn tiếng Nam, là hẻm 230 đường Hai Bà Trưng, Tân Ðịnh. Tui có để ý một em, cỡ tuổi tui, học trường Thiên Phước, gần Nhà thờ Tân Ðịnh.

Vậy là chiều chiều ra ngõ đứng trông. Ngõ thời thấy ngõ người không thấy người. Vì chiều đó tan học, em mắc đi ăn đậu đỏ bánh lọt ở Chợ Tân Ðịnh chưa về. Tương tư mà bất diện kiến thì tối nay làm sao mà ngủ? Tui bèn trước sân em, thơ thẩn đăm đăm trông nhạn về. Nhạn chưa thấy về mà con chó nhà em, từ đâu hổng biết, xổ ra táp vào bắp chưn tui một phát. Làm tui chiều chiều ra ngõ đứng trông. Ai dè chó cắn buồn ơi là buồn!

Không những buồn mà còn rầu nữa kìa! Rầu vì Tía tui nói: “Ði với Tía xuống Viện Pasteur chích ngừa chó dại đi con!”. Rầu hơn nữa là Má tui qua nhà em mắng vốn nuôi chó sao không cột để nó cắn thằng nhỏ con tui? Tía em giận lẫy, bèn treo cái bảng: ‘Coi chừng chó dữ’, in hình con ‘Berger’ nhe hai cái răng nanh nhọn hoắt trắng nhởn ra hù!

Vậy là hết chiều chiều ra ngõ đứng trông nữa rồi. Mối tình đầu thơ dại của tui đã vỡ tan cũng chỉ vì con chó!

o O o

Từ đấy, yêu thì đã lỗ; đời tui đã khổ! Thôi thì tui về học lại dăm ba thứ; ngạo với nhân gian một nụ cười thì thấy rằng ‘Vaccine’ ngừa bịnh chó dại, nói nôm na cho dễ hiểu là chích con ‘virus’ gây bịnh chó dại đã bị làm yếu đi để cơ thể mình tự sinh ra chất đề kháng. Cái hành động nầy giống như cơ thể mình tự chiêu binh mãi mã, thao trường đổ mồ hôi, tập dợt trước, rồi chờ quân thù chui vô nhà là ‘quánh”.

Nói nghe dễ ợt! Nhưng trước khi được bác sĩ gia đình chích vào tay, ‘Vaccine’ phải trải qua tới ba giai đoạn, mỗi giai đoạn mất ít nhứt là hai năm. Cái quy trình chế ra ‘Vaccine’ nhanh nhứt phải mất tới 4 năm. Hầu hết phải mất từ 10 đến 15 năm.

Giai đoạn một: Bắt được con ‘virus’ gây bịnh. Ðem nó vô Phòng thí nghiệm tra khảo, làm con ‘virus’ yếu đi. Giai đoạn hai và ba đem đi thử nghiệm trên chuột bạch, trên khỉ! Chắc ăn như bắp mới dám đem thử tới con người. Ðốt giai đoạn, làm ẩu, người thử thuốc có mệnh hệ gì nó thưa cho chết Tía!

Mà muốn chế ‘Vaccine’ phải có rất nhiều tiền mới được. Vậy là Mỹ, Trung Quốc và Liên Âu đổ hàng tỷ đô la vào nghiên cứu. Hy vọng có thuốc chích ngừa COVID-19 trong vòng một năm thôi; hầu có thể kiểm soát được cơn đại dịch đang bùng phát dữ dội trên toàn thế giới nầy.

Người lạc quan thì nói rằng ‘Vaccine’ COVID-19 có thể có vào ngày mùng 3, tháng Mười Một, tức ngày bầu cử Tổng thống Mỹ. Nhưng Tiến sĩ Peter Hotez, Ðại học Y khoa Baylor Hoa Kỳ, nói:  “Không cách chi mà làm cho được!” Ngay cả khi mọi thứ xuôi chèo mát mái theo kế hoạch, thì sớm nhất có thể là ngày Tổng thống Mỹ tuyên thệ nhậm chức, vào cuối tháng Giêng, năm 2021.

o O o

Vậy mà ngày 11, tháng Tám, Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết Nga đã thành công trong việc chế tạo ‘Vaccine Covid-19’ đặt tên là “Sputnik V”. (V viết tắt chữ Vaccine)

(Khoe hiện tại, hổng biết thiên hạ có chịu tin hông? Putin bèn lôi quá khứ ra khoe! Vì vệ tinh Sputnik của Nga lần đầu trên thế giới bay vòng quanh quỹ đạo của trái đất vào năm 1957.)

Vladimir Putin đánh phèng la, bán thuốc Sơn Ðông mãi võ, bán dầu rắn, quảng cáo um sùm là: “Sputnik V khá hiệu quả; vì nó tạo nên hệ miễn dịch vững vàng. Giá mỗi liều chỉ 10 USD. Mại dô! Mại dô!” Con gái của tớ cũng đã thử nghiệm, chích ‘Spunik V’ nầy rồi.

Nga còn ra vẻ đại ca, đòi giúp Mỹ về ‘Vaccine Covid-19’ nhưng Mỹ nói ‘No way’. Dữ liệu của nghiên cứu của Nga chưa đầy đủ, không hoàn tất ba giai đoạn thử nghiệm thì Tía thằng nào mà dám tin tưởng vào loại ‘Vaccine’ nầy của mấy cha? “Không đời nào Mỹ lại thử loại thuốc này trên Khỉ, chớ đừng nói chi tới con người!”

Ngay cả ngay trong nước Nga, cũng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Bác sĩ chuyên khoa hô hấp hàng đầu của Nga, giáo sư Alexander Chuchalin đã giội cho Putin một gáo nước lạnh, bằng cách rời khỏi Hội đồng Y đức của Bộ Y tế, với lý do ‘Sputnik V’ vi phạm nghiêm trọng đạo đức y khoa.

Tiến sĩ Anthony Fauci, Giám đốc Viện Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ, hy vọng rằng ‘Sputnik V’ an toàn và hiệu quả. “Nhưng tôi thực sự nghi ngờ rằng họ đã làm được điều đó!”

Fauci nói thêm rằng Hoa Kỳ đang nghiên cứu hơn nửa tá ‘Vaccine’ ngừa coronavirus. Vì vậy, nếu muốn làm thương tổn nhiều người bằng cách cung cấp cho họ thứ gì đó không hiệu quả, chúng tôi có thể bắt đầu làm điều này ngay trong tuần tới. Nhưng đó không phải là phương cách làm việc của chúng tôi.”

Vậy mà cũng có đứa tin đến sái cổ. Rodrigo Duterte, Tổng thống Philippines kêu đám Sơn Ðông mãi võ của Vladimir Putin qua chích cho tao một mũi trước thiên hạ đi!

Và Quyền Bộ trưởng Y tế CS Việt Nam, Nguyễn Thanh Long đã đặt mua ‘Sputnik V’ của Nga. Ối cái chuyện nầy dễ hiểu quá mà. Chắc bà con còn nhớ cái vụ mua máy thở chớ gì?  Giá 3 tỉ về khai 7 tỉ đó!

o O o

Bạn có biết tình báo Mỹ nói Nga đang làm gì không? NSA, cùng với các nước Liên Âu, cáo buộc Nga đã cố xâm nhập vào hệ thống máy tính của mình để đánh cắp những nghiên cứu về ‘Vaccine’ coronavirus.

Báo giới Mỹ cũng bày đặt hỏi: “Vladimir Putin vừa rút ‘Vaccine’ ra từ một chiếc mũ (làm ảo thuật) và đặt tên nó là ‘Sputnik V’. Bạn có dám dùng nó để ngừa COVID-19 không?”

Trong tình hình dịch bịnh COVID-19 đang tràn lan trên toàn thế giới, ai ai cũng rầu thúi ruột. Cầu mong các nhà khoa học lẹ lẹ, mau mau chế được thuốc chích ngừa COVID-19 cho con nhờ. Thắc thỏm như vậy mà nghe Vladimir Putin, Sơn Ðông mãi võ, kêu bà con ăn bánh vẽ; làm bà con mình dẫu đang rầu nẫu ruột cũng phải chép miệng khen là: “Tổng thống Nga giễu hay ra phết!”

Đoàn Xuân Thu